<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title>Nét đặc sắc của các dân tộc ở Việt Nam - 10E by nguyễn xuân</title>
      <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq</link>
      <description></description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2023-04-14 00:33:33 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2026-03-25 01:27:56 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url></url>
      </image>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553843982</link>
         <description><![CDATA[<div>-Dân số: 67 858 vào năm 2019</div><div>-Địa bàn cư trú: cư trú tại 39 trên 63 tỉnh thành của Việt Nam. Người Giáy tập trung chủ yếu ở Lào Cai (50%), Lai Châu (18%), Hà Giang (27%) và Yên Bái (4%).</div><div>-Ngôn ngữ: thuộc ngữ hệ Thái-Ka Đai</div><div>-Nét đặc sắc về văn hóa:Người Giáy vốn có truyện cổ, thơ ca, tục ngữ, câu đố, đồng dao,… Có nhiều truyện giải thích hiện tượng tự nhiên, có nhiều truyện thơ dài, có truyện kết hợp lời kể với lời hát. Dân ca phong phú, gồm nhiều loại, mỗi loại có nhiều bài, điệu khác nhau, đặc biệt các hình thức hát giao duyên nam nữ là sinh hoạt sôi nổi và hấp dẫn.</div><div><br><br></div><div>-Population: 67 858 in 2019&nbsp;</div><div>-Residence: residing in 39 out of 63 provinces of Vietnam. The Giay are living mainly in Lao Cai (50%), Lai Chau (18%), Ha Giang (27%) and Yen Bai (4%).&nbsp;</div><div>-Language: belongs to the Thai-Ka Dai language family -Cultural features: The Giay people have ancient stories, poems, proverbs, riddles, folk songs, etc. There are many stories explaining natural phenomena. many long poetic stories, some stories combine narration with lyrics. Rich folk songs, including many types, each type has many different songs and tunes, especially male and female forms of love singing are lively and attractive activities.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1817047056/50fd5c45c773182ddd7c6d1d507789eb/4074EB0E_8DEC_4D03_A1E2_D2DAB75157B7.jpeg" />
         <pubDate>2023-04-14 00:41:28 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553843982</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553846262</link>
         <description><![CDATA[<div><br>Bản tiếng việt</div><ul><li><strong>Người Sán Chay</strong>, tên gọi khác là <strong>Cao Lan</strong>, <strong>Sán Chỉ</strong>, <strong>Hờn Bán</strong>, <strong>Sán Chấy</strong> là một <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/D%C3%A2n_t%E1%BB%99c">dân tộc</a> cư trú tại miền bắc Việt Nam.</li><li>Dân số: Người Sán Chay gồm hai nhóm Cao Lan và Sán Chỉ chủ yếu tập trung ở ba huyện Sơn Dương, Yên Sơn, Hàm Yên thuộc tỉnh Tuyên Quang, huyện Phú Lương thuộc tỉnh Thái Nguyên, huyện Sơn Động thuộc tỉnh Bắc Giang và rải rác các tỉnh đông bắc Bắc Bộ khác như <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Y%C3%AAn_B%C3%A1i">Yên Bái</a>, <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A3ng_Ninh">Quảng Ninh</a>, <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Cao_B%E1%BA%B1ng">Cao Bằng</a>, <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/L%E1%BA%A1ng_S%C6%A1n">Lạng Sơn</a>. Hiện tại có một nhóm người vào <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2y_Nguy%C3%AAn">Tây Nguyên</a> lập nghiệp được tổ chức thành các làng.</li><li>Địa bàn cư trú: Theo <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/%C4%90i%E1%BB%81u_tra_d%C3%A2n_s%E1%BB%91">Tổng điều tra dân số và nhà ở</a> năm <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/2009">2019</a>, người Sán Chay ở Việt Nam có dân số 201.398 người, có mặt tại 58 trên tổng số 63 <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%89nh_(Vi%E1%BB%87t_Nam)">tỉnh</a>, <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_(Vi%E1%BB%87t_Nam)">thành phố</a>. Người Sán Chay cư trú tập trung tại các tỉnh:</li><li><a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Tuy%C3%AAn_Quang">Tuyên Quang</a> (70.636 người, chiếm 36,2% tổng số người Sán Chay tại Việt Nam),</li><li><a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A1i_Nguy%C3%AAn">Thái Nguyên</a> (39.472 người, chiếm 19,2% tổng số người Sán Chay tại Việt Nam),</li><li><a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/B%E1%BA%AFc_Giang">Bắc Giang</a> (30.283 người),</li><li><a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A3ng_Ninh">Quảng Ninh</a> (16.346 người),</li><li><a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Y%C3%AAn_B%C3%A1i">Yên Bái</a> (10.084 người),</li><li><a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Cao_B%E1%BA%B1ng">Cao Bằng</a> (7.908 người),</li><li><a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%AFk_L%E1%BA%AFk">Đắk Lắk</a> (5.220 người),</li><li><a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/L%E1%BA%A1ng_S%C6%A1n">Lạng Sơn</a> (4.942 người),</li><li><a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%BA_Th%E1%BB%8D">Phú Thọ</a> (4.278 người),</li><li><a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/V%C4%A9nh_Ph%C3%BAc">Vĩnh Phúc</a> (1.912 người)…</li><li>Ngôn ngữ: Tiếng Cao Lan thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai) còn tiếng Sán Chỉ thuộc nhóm ngôn ngữ Hán (ngữ hệ Hán Tạng).</li><li>Nét đặc sắc về văn hoá: rang phục: Hiện nay trang phục của người Sán Chay thường giống <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Kinh">người Kinh</a> hoặc <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_T%C3%A0y">người Tày</a>. Thường ngày phụ nữ Sán Chay dùng chiếc dây đeo bao dao thay cho thắt lưng. Trong những dịp lễ tết, hội hè, các cô gái thường thắt 2-3 chiếc thắt lưng bằng lụa hoặc bằng nhiễu, với những màu khác nhau.</li><li>Dân tộc Sán Chay có nhiều truyện cổ, thơ ca, <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/H%C3%B2">hò</a>, <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/V%C3%A8">vè</a>, <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%A5c_ng%E1%BB%AF">tục ngữ</a>, <a href="https://vi.m.wikipedia.org/w/index.php?title=Ng%E1%BA%A1n_ng%E1%BB%AF&amp;action=edit&amp;redlink=1">ngạn ngữ</a>. Đặc biệt <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/H%C3%A1t_s%C3%ACnh_ca">sình ca</a> là hình thức sinh hoạt văn nghệ phong phú hấp dẫn nhất của người Sán Chay. Các điệu múa Sán Chay có: múa trống, múa xúc tép, múa chim gâu, múa đâm cá, múa thắp đèn... Nhạc cụ cũng phong phú, gồm các loại <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Thanh_la">thanh la</a>, <a href="https://vi.m.wikipedia.org/w/index.php?title=N%C3%A3o_b%E1%BA%A1t&amp;action=edit&amp;redlink=1">não bạt</a>, trống, chuông, kèn...</li><li>Vào ngày hội đình, hội xuân, tết nguyên đán... người Sán Chay vui chơi giải trí, có những trò diễn sôi nỗi như: đánh quay, "trồng cây chuối", "vặn rau cải", <a href="https://vi.m.wikipedia.org/w/index.php?title=Tung_c%C3%B2n&amp;action=edit&amp;redlink=1">tung còn</a>...Nhà cửa: Nói là nhà Cao Lan, nhưng đây chỉ là của một nhóm nhỏ ở <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/S%C6%A1n_%C4%90%E1%BB%99ng">Sơn Động</a>, <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/B%E1%BA%AFc_Giang">Bắc Giang</a>. Nhà của người Cao Lan ở các địa phương khác cũng như nhà của người Sán Chỉ có nhiều nét gần với nhà Tày - Nùng. Riêng nhóm Cao Lan ở <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/S%C6%A1n_%C4%90%E1%BB%99ng">Sơn Động</a> nhà cửa của họ có những nét rất độc đáo, chúng tôi không thấy giống bất kỳ nhà cửa của một dân tộc nào khác trong nước. Nhà sàn, vách che sát đất, xa trông tưởng là nhà đất.</li><li>Bộ khung nhà với vì kèo kết cấu đơn giản nhưng rất vững chắc. Có hai kiểu nhà là: "nhà trâu đực" và "nhà trâu cái". Nhà trâu cái vì kèo bốn cột. Nhà trâu đực vì kèo ba cột. Về tổ chức mặt bằng sinh hoạt giữa nhà trâu cái và trâu đực đều có những nét tương tự như vậy là để phân biệt nhà trâu cái và nhà trâu đực chỉ là ở vì kèo khác nhau.</li><li>Người Cao Lan là một bộ phận của dân tộc Sán Chay.</li></ul><div>Bản tiếng anh:</div><div><br></div><div>- The San Chay, also known as Cao Lan, San Chi, Han Ban, and San Chay are an ethnic group residing in northern Vietnam.</div><div>- Population: The San Chay people include two groups Cao Lan and San Chi, mainly concentrated in three districts of Son Duong, Yen Son and Ham Yen of Tuyen Quang province, Phu Luong district of Thai Nguyen province, and Son Dong district of Bac Giang province. and scattered other northeastern provinces such as Yen Bai, Quang Ninh, Cao Bang, and Lang Son. Currently, there is a group of people who have entered the Central Highlands to settle down and are organized into villages.</div><div>- Place of residence: According to the 2019 Population and Housing Census, the San Chay people in Vietnam have a population of 201,398 people, present in 58 out of 63 provinces and cities. The San Chay people reside in the following provinces:</div><div>* Tuyen Quang (70,636 people, accounting for 36.2% of the total number of San Chay people in Vietnam),</div><div>* Thai Nguyen (39,472 people, accounting for 19.2% of the total number of San Chay people in Vietnam),</div><div>* Bac Giang (30,283 people),</div><div>* Quang Ninh (16,346 people),</div><div>* Yen Bai (10,084 people),</div><div>* Cao Bang (7,908 people),</div><div>* Dak Lak (5,220 people),</div><div>* Lang Son (4,942 people),</div><div>* Phu Tho (4,278 people),</div><div>* Vinh Phuc (1,912 people)…</div><div>- Language: Cao Lan belongs to the Tay - Thai language group (Thai - Ka Dai language family) and San Chi belongs to the Han language group (the Sino-Tibetan language family).</div><div>- Cultural features: traditional costumes: Currently, the costumes of the San Chay people often resemble the Kinh or the Tay. Usually, San Chay women use a knife holster instead of a belt. During the holidays and festivals, the girls often wear 2-3 silk or silk belts, with different colors.</div><div>- The San Chay people have many ancient stories, poems, chants, verses, proverbs and proverbs. Especially, singing is the most attractive form of cultural and artistic activities of the San Chay people. San Chay dances include: drum dance, shrimp shoveling dance, woof dance, fish stabbing dance, lamp-lighting dance... Instruments are also abundant, including la la, brain tarpaulin, drums, bells, trumpets.. .</div><div>- On family festivals, spring festivals, Lunar New Year ... the San Chay people have fun and entertainment, there are exciting performances such as: spinning, "planting banana trees", "twisting vegetables", tossing ... .House: Said to be Cao Lan's house, but this is only for a small group in Son Dong, Bac Giang. The houses of the Cao Lan people in other localities as well as the houses of the San Chi people have many similarities with the Tay - Nung houses. Particularly for the Cao Lan group in Son Dong, their houses have very unique features, which we do not see like any other ethnic group's houses in the country. House on stilts, walls close to the ground, from afar it looks like a house.</div><div>- The house frame with truss structure is simple but very solid. There are two types of houses: "male buffalo house" and "female buffalo house". Female buffalo house with four-column truss. Male buffalo house with three-column truss. Regarding the organization of living space between male and female buffaloes, there are similar features to distinguish female and male buffalo houses just in different trusses.</div><div>The Cao Lan people are part of the San Chay ethnic group.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-14 00:43:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553846262</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc: Xtiêng</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553846729</link>
         <description><![CDATA[<div>Dân số: 100.752 người<br>Địa bàn:&nbsp; tỉnh Bình Phước và một số địa phương của các tỉnh lân cận<br>.Ngôn ngữ: Người Xtiêng nói tiếng Xtiêng,<br>Văn hóa<br>Nhà ở: Người Xtiêng cư trú trong các ngôi nhà sàn&nbsp;<br>- Trang phục: Thông thường, đàn ông Xtiêng đóng khố, ở trần, còn đàn bà mặc áo, quấn váy. Họ thích đeo nhiều trang sức như vòng, hoa tai<br>- Tôn giáo, tín ngưỡng: Người Xtiêng tin vào vạn vật hữu linh.Vì vậy họ thờ thần sấm sét, trời, đất, mặt trăng, mặt trời, núi, sông,<br>- Ẩm thực: Thức ăn chính của đồng bào là cơm, sắn luộc, cá và các loại rau.&nbsp;<br>- Nhạc cụ:&nbsp; cồng và chiêng.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-14 00:43:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553846729</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc Mường</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553848770</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Dân số:&nbsp;</strong>1 452 095 (2019)<br>Địa bàn cư trú: Người Mường ở nước ta cư trú trên một vùng đồi núi khá rộng, trong các thung lũng chân núi, có địa lý môi sinh thuận lợi cho trồng trọt, nằm giữa vùng người Việt ở phía đông và vùng người Thái ở phía tây, chiều dài khoảng 350km, chiều rộng khoảng 80-90km; tập trung chủ yếu ở các tỉnh Hòa Bình, các huyện Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập, Thanh Thủy của tỉnh Phú Thọ; các huyện Ngọc Lặc, Thạch Thành, Cẩm Thủy, Bá Thước, Như Xuân, Lang Chánh của tỉnh Thanh Hóa và rải rác ở các tỉnh Sơn La, Ninh Bình, Yên Bái...</div><div>Ngôn ngữ: Tiếng Mường, thuộc nhóm ngôn ngữ Việt-Mường, ngữ hệ Nam Á.</div><div>Nét đặc sắc về văn hoá:&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-14 00:45:48 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553848770</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Bản tiếng việt:- dân số: Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Chơ Ro ở Việt Nam có dân số 26.855 người, cư trú tại 36 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Chơ Ro cư trú tập trung tại các tỉnh: Đồng Nai (15.174 người, chiếm 56,5% tổng số người Chơ Ro tại Việt Nam), Bà Rịa-Vũng Tàu (7.632 người), Bình Thuận (3.375 người), Thành phố Hồ Chí Minh (163 người), Bình Dương (134 người), Bình Phước (130 người)[3]- Tại Đồng Nai, người Châu Ro sống tập trung chủ yếu tại ấp Lý Lịch, xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu; xã Túc Trưng huyện Định Quán; xã Xuân Vinh, xã Xuân Bình, xã Bàu Trâm, xã Hàng Gòn huyện Long Khánh; xã Xuân Trường, xã Xuân Phú, xã Xuân Thọ... huyện Xuân Lộc. Một số hộ dân Châu Ro sống rải rác ở huyện Long Thành, xã Xuân Thiện, huyện Thống Nhất.- Địa bàn cư trú: Các địa phương có đông người Châu Ro sinh sốngSửa đổiĐồng Nai:* Ấp 6, xã Phước Bình, huyện Long Thành* Ấp Lý Lịch, xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu* Ấp Bình Hòa, xã Xuân Phú, huyện Xuân Lộc* Ấp Thọ Trung, xã Xuân Thọ, huyện Xuân Lộc* Ấp 3, xã Xuân Hòa, huyện Xuân Lộc* Ấp Bình Hòa, xã Xuân Phú, huyện Xuân Lộc* Ấp Trung Sơn, xã Xuân Trường, huyện Xuân Lộc* Ấp Đức Thắng, Đồng Xoài, xã Túc Trưng, huyện Định Quán* Ấp 5, xã Thanh Sơn, huyện Định Quán* Ấp Chợ, xã Suối Nho, huyện Định Quán* Ấp 5, xã La Ngà, huyện Định Quán* Ấp Suối Sóc, xã Xuân Mỹ, huyện Cẩm Mỹ* Ấp 4, xã Lâm San, huyện Cẩm Mỹ* Ấp Xuân Thiện, xã Xuân Thiện, huyện Thống Nhất* Ấp 9/4, xã Xuân Thạnh, huyện Thống Nhất* Ấp Nhân Hòa, xã Trung Hòa, huyện Trảng Bom* Ấp Ruộng Lớn, xã Bảo Vinh, thị xã Long KhánhBà Rịa, Vũng Tàu:* Thị trấn Ngãi Giao, huyện Châu Đức* Xã Bàu Chinh, huyện Châu Đức* Ấp Tân Thuận, xã Long Tân, huyện Đất Đỏ* Ấp Cầu Ri, xã Sông Xoài, Tx. Phú Mỹ* Ấp 1, xã Hắc Dịch, Tx. Phú Mỹ* Thôn Tân Ro, xã Châu Pha, Tx. Phú Mỹ* Ấp Bàu Hàm, xã Tân Lâm, huyện Xuyên Mộc- Bình Thuận- Ngôn ngữ: Tiếng Chơ Ro (còn gọi là Chrau, Jro, Ro, Tà Mun, Charuo, Choro, Chíoro) là một ngôn ngữ thuộc ngữ chi Bahnar được nói bởi 22.000 người Chơ Ro ở miền nam Việt Nam. Không giống như hầu hết các ngôn ngữ tại Đông Nam Á khác, tiếng Chơ Ro không có thanh điệu từ ngữ, mặc dù nó có ngữ điệu câu rõ rệt.[2]- Nét đặc sắc về văn hoá: Trên những địa bàn cư trú như hiện nay, người Chơ Ro sống gần gũi với người Việt nên trong ngôn ngữ của mình, lượng từ tiếng Việt tham gia ngày càng nhiều hơn, đến nay đại đa số dân cư Chơ Ro đều biết chữ quốc ngữ. Xu hướng xích lại gần với người Việt được biểu hiện trên nhiều lĩnh vực của đời sống hàng ngày, các hoạt động sản xuất, các quan hệ xã hội, những biểu hiện văn hóa vật chất như nhà cửa, y phục, đồ gia dụng,...Vốn văn nghệ dân tộc của người Chơ Ro phong phú. Nhạc cụ có bộ chiêng 7 chiếc, đây đó còn thấy đàn ống tre, có ống tiêu và một số người còn nhớ lối hát đối đáp trong lễ hội.- Cho đến nay, kiến trúc nhà của người Chơ Ro đã có nhiều biến đổi căn bản, ngôi nhà cổ truyền không mấy khi tìm thấy trong vùng cư trú hiện nay của họ. Từ vài chục năm trở lại đây, người Chơ Ro đã quen xây dựng những ngôi nhà ở theo lối của người dân nông thôn Việt. Đó là những ngôi nhà có kèo, bộ khung bằng tre kết hợp với gỗ, phần nhiều lợp bằng cỏ tranh, vách được thưng lên bằng vách nứa, cửa ra vào mở về phía mái, nhà nằm ngang. Quy mô một ngôi nhà thường có ba gian và thêm một chái hồi để làm bếp, đồng thời là nơi để nông cụ. Nét truyền thống còn lại trong ngôi nhà hiện nay của người Chơ Ro là cái sạp làm bằng tre nứa, chạy dọc theo suốt chiều dài ba gian nhà, bề ngang chiếm nữa lòng nhà- Xưa phụ nữ Chơ Ro quấn váy, đàn ông đóng khố; áo của người Chơ Ro là loại áo chui đầu; trời lạnh có tấm vải choàng. Nay người Chơ Ro mặc như người Kinh trong vùng, chỉ còn dễ nhận ra người Chơ Ro ở tập quán thường đeo gùi theo và ở sở thích của phụ nữ hay đeo các vòng đồng, bạc, dây cườm trang sức nơi cổ và tay.Bản tiếng anh:Vietnamese version:- population: According to the 2009 Population and Housing Census, the Cho Ro people in Vietnam have a population of 26,855 people, residing in 36 out of 63 provinces and cities. The Cho Ro people reside mainly in the following provinces: Dong Nai (15,174 people, accounting for 56.5% of the total number of Cho Ro people in Vietnam), Ba Ria-Vung Tau (7,632 people), Binh Thuan (3,375 people), Thanh Hoa. Ho Chi Minh City (163 people), Binh Duong (134 people), Binh Phuoc (130 people)[3]- In Dong Nai, Chau Ro people live mainly in Ly Lich hamlet, Phu Ly commune, Vinh Cuu district; Tuc Trung commune, Dinh Quan district; Xuan Vinh commune, Xuan Binh commune, Bau Tram commune, Hang Gon commune, Long Khanh district; Xuan Truong commune, Xuan Phu commune, Xuan Tho commune... Xuan Loc district. Some Chau Ro households live scatteredly in Long Thanh district, Xuan Thien commune, Thong Nhat district.- Place of residence: Localities with a large number of Chau Ro people livingRevisionDong Nai:* Hamlet 6, Phuoc Binh commune, Long Thanh district* Ly Lich Hamlet, Phu Ly Commune, Vinh Cuu District* Binh Hoa Hamlet, Xuan Phu Commune, Xuan Loc District* Tho Trung Hamlet, Xuan Tho Commune, Xuan Loc District* Hamlet 3, Xuan Hoa commune, Xuan Loc district* Binh Hoa Hamlet, Xuan Phu Commune, Xuan Loc District* Trung Son Hamlet, Xuan Truong Commune, Xuan Loc District* Duc Thang Hamlet, Dong Xoai, Tuc Trung Commune, Dinh Quan District* Hamlet 5, Thanh Son commune, Dinh Quan district* Hamlet Cho, Suoi Nho Commune, Dinh Quan District* Hamlet 5, La Nga commune, Dinh Quan district* Suoi Soc Hamlet, Xuan My Commune, Cam My District* Hamlet 4, Lam San Commune, Cam My District* Xuan Thien Hamlet, Xuan Thien Commune, Thong Nhat District* Hamlet 9/4, Xuan Thanh Commune, Thong Nhat District* Nhan Hoa Hamlet, Trung Hoa Commune, Trang Bom District* Large Farm Hamlet, Bao Vinh Commune, Long Khanh TownBA Ria Vung Tau:* Ngai Giao town, Chau Duc district* Bau Chinh commune, Chau Duc district* Tan Thuan Hamlet, Long Tan Commune, Dat Do District* Cau Ri Hamlet, Song Xoai Commune, Tx. Phu My* Hamlet 1, Hac Dich Commune, Tx. Phu My* Tan Ro village, Chau Pha commune, Tx. Phu My* Bau Ham Hamlet, Tan Lam Commune, Xuyen Moc District- Binh Thuan- Language: Cho Ro (also known as Chrau, Jro, Ro, Ta Mun, Charuo, Choro, Chioro) is a language of the Bahnar family spoken by 22,000 Cho Ro people in southern Vietnam. Unlike most other Southeast Asian languages, Cho Ro has no word intonation, although it does have a pronounced sentence intonation.- Cultural features: In the current residential areas, the Cho Ro people live close to the Vietnamese, so in their language, the number of Vietnamese words is more and more involved. Cho Ro residents all know the national language script. The tendency to get closer to the Vietnamese people is manifested in many areas of daily life, production activities, social relations, and material cultural expressions such as houses, clothes, and household appliances. ,...The cultural capital of the Cho Ro people is rich. The musical instrument has a set of 7 gongs, here and there you can see a bamboo pipe, a pipe, and some people still remember the way of singing and responding in the festival.- Up to now, the house architecture of the Cho Ro people has undergone many fundamental changes. Traditional houses are rarely found in their current residence. From the past few decades, the Cho Ro people have been used to building houses in the style of Vietnamese rural people. These are houses with trusses, bamboo frames combined with wood, mostly thatched roofs, walls are raised by bamboo walls, doors open towards the roof, houses are horizontal. The scale of a house usually has three compartments and an additional gable for kitchen, and also a place for farming tools. The remaining traditional feature in the current house of the Cho Ro people is a bamboo stall, running along the length of three rooms, occupying half the width of the house.- In the past, Cho Ro women wore skirts, men wore loincloths; the Cho Ro&#39;s shirt is a pullover; It&#39;s cold with a blanket. Now, the Cho Ro people dress like the Kinh people in the area, it is only easy to recognize the Cho Ro people in the custom of carrying bags and in the preferences of women or wearing copper, silver, and beaded jewelry around the neck and hands.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553850741</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-14 00:47:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553850741</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553850986</link>
         <description><![CDATA[<div>Dân tộc Mnông là một dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Họ tự gọi mình là Bunong hoặc Phnong. Họ nói tiếng Mnông, một ngôn ngữ thuộc ngữ tộc Môn-Khmer của ngữ hệ Nam Á.</div><div><br></div><div>Dân số và địa bàn cư trú</div><div><br></div><div>Theo điều tra năm 2019, dân số người Mnông ở Việt Nam là 127.334 người, cư trú chủ yếu ở các tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, Quảng Nam, Lâm Đồng và Bình Phước. Họ sống ở những vùng núi cao và có nhiều nhóm địa phương như Bu Dang, Preh, Gar, Nong, Prang, Rlam, Kuyenh và Chil Bu Nor.</div><div><br></div><div>Ngôn ngữ</div><div><br></div><div>Tiếng Mnông là một ngôn ngữ thuộc nhánh Bahnaric của ngữ tộc Môn-Khmer. Tiếng Mnông có nhiều phương ngữ khác nhau như Bu Dang, Preh, Gar, Nong và Prang. Tiếng Mnông không có chữ viết truyền thống. Hiện nay, họ sử dụng chữ Latin hoặc chữ Khmer để ghi tiếng Mnông.</div><div><br></div><div>Nét đặc sắc về văn hóa</div><div><br></div><div>Người Mnông có nhiều nét đặc sắc về văn hóa như:</div><div><br></div><ul><li>Tôn giáo: Người Mnông theo đa số là Saman giáo hay vật linh giáo. Họ tin vào các thần linh tự nhiên và tổ tiên. Họ có nhiều lễ hội và nghi lễ để cầu mưa, cầu mùa màng và cúng các thần linh. Một số người Mnông cũng theo Phật giáo hoặc Kitô giáo.</li></ul><div><br></div><ul><li>Nhà cửa: Người Mnông chủ yếu ở nhà sàn bằng tre, gỗ và nứa. Nhà sàn có hai phần: phần trước để sinh hoạt và tiếp khách; phần sau để thờ cúng và ngủ.</li></ul><div><br></div><ul><li>Trang phục: Người Mnông mặc trang phục được may từ vải bông hoặc vải lanh. Trang phục của nam giới gồm áo khoác dài tay và quần dài; trang phục của nữ giới gồm áo yếm và váy xòe. Trang phục của người Mnông có nhiều hoa văn trang trí bằng chỉ thêu hoặc chỉ len. Họ cũng sử dụng trang sức bằng kim loại hoặc động thực vật.</li></ul><div><br></div><ul><li>Kinh tế: Người Mnông chủ yếu làm nông nghiệp và lâm nghiệp. Họ trồng lúa nương rẫy, ngô,</li></ul><div><br></div><ul><li>Họ có nhiều lễ hội và nghi lễ để tôn vinh các thần linh tự nhiên và tổ tiên, như lễ hội rượu cần, mừng lúa mới, lễ cưới hỏi, lễ trưởng thành, lễ cúng voi, lễ bỏ mả,…</li></ul><div><br></div><ul><li>Họ mặc trang phục được may từ vải bông hoặc vải lanh, có nhiều hoa văn trang trí đẹp mắt. Trang phục của nam giới gồm áo khoác dài tay và quần dài; trang phục của nữ giới gồm áo yếm và váy xòe. Họ cũng sử dụng trang sức bằng kim loại hoặc động thực vật.</li></ul><div><br></div><ul><li>Họ chủ yếu làm nông nghiệp và lâm nghiệp, trồng lúa nương rẫy và nuôi voi. Họ cũng có những món ăn đặc trưng như thắng cố, cơm lam, thịt trâu gác bếp…&nbsp;</li></ul><div><br></div><ul><li>Họ sử dụng cồng chiêng làm công cụ giao tiếp giữa con người và thần linh, cũng như làm phong phia cho các hoạt động văn hoá như kể chuyện sử thi, dân ca, dân vũ…</li></ul>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2021188694/cc8d06eaad7c56c49fc06267f3ddb914/image.jpeg" />
         <pubDate>2023-04-14 00:47:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553850986</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553851283</link>
         <description><![CDATA[<div>The bru-Van Kieu people has a population of about 94,598 people. They mostly live in Quang Binh ,Quang tri,Thua Thien-Hue.Their languge is Mon-khmer group .They growing rice,teraced field ,raising cattle and poulty for living. They have ceremony held before sowing seeds.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-14 00:48:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553851283</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553851852</link>
         <description><![CDATA[<div>Dân số: Theo điều tra dân số năm 2019, dân tộc Dao có 891.151 người, chiếm 0,96% dân số cả nước và xếp thứ 9 trong 54 dân tộc của Việt Nam</div><div><br></div><div>Địa bàn cư trú: Người Dao sinh sống chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc như Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Yên Bái, Lai Châu... Họ cũng có mặt ở một số tỉnh trung du như Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hòa Bình, Hà Nội và miền biển Quảng Ninh&nbsp;</div><div><br></div><div>Ngôn ngữ: Người Dao sử dụng các ngôn ngữ thuộc nhóm Miêu-Dao của ngữ hệ Hmông-Dao. Các ngôn ngữ này có nhiều phương ngữ khác nhau tùy theo các nhóm địa phương của người Dao. Người Dao cũng có chữ viết riêng là nôm Dao hay chữ Dao&nbsp;</div><div><br></div><div>Nét đặc sắc về văn hoá: Người Dao có nhiều nét văn hoá đặc sắc và phong phú, trong đó có thể kể đến:</div><div><br></div><div>- Trang phục: Người Dao có trang phục rực rỡ và đa dạng. Trang phục của nam giới gồm áo khoác dài tay và quần dài; trang phục của nữ giới gồm áo yếm và váy xòe. Họ cũng sử dụng trang sức bằng kim loại hoặc động thực vật. Mỗi nhóm địa phương của người Dao có những nét riêng về trang phục như: Dao Đỏ, Dao Quần Chẹt, Dao Thanh Y, Dao Áo Dài, Dao Quần Trắng...</div><div>- Lễ hội và tín ngưỡng: Người Dao có nhiều lễ hội và nghi lễ để tôn vinh các thần linh tự nhiên và tổ tiên. Họ tin rằng thần linh trú ngụ khắp nơi: thần đất, thần rừng, thần núi, thần suối... Họ cũng coi trọng tổ tiên ông bà và Bản Hồ (Bàn Vương), một nhân vật huyền thoại của họ. Một số lễ hội và nghi lễ quan trọng của người Dao là: lễ Tết Nguyên Đán (Tết Đinh), lễ mừng lúa mới (lễ Cóc), lễ cưới hỏi (lễ Tảo), lễ bỏ mả (lễ Té), lễ cầu mưa (lễ Nào), lễ cầu an (lễ Có)...</div><div><br></div><div>- Văn hóa dân gian: Người Dao có kho tàng văn hóa dân gian độc đáo và giàu tính nhân văn. Họ có các thể loại văn học miệng như truyện cổ tích, truyện sử thi, truyện ngụ ngôn, tục ngữ, ca dao, thơ lục bát... Họ cũng có các loại hình nghệ thuật biểu diễn như kể chuyện sử thi, hát Páo Dung (làn điệu dân ca), múa rùa (múa Tết Nhảy), múa cồng chiêng... Họ sử dụng cồng chiêng làm công cụ giao tiếp giữa con người và thần linh, cũng như làm phong phú cho các hoạt động văn hóa</div><div>- Nghề thủ công: Người Dao có nhiều nghề thủ công truyền thống như dệt vải, nhuộm chàm, may áo yếm, thêu hoa văn, rèn sắt, làm giấy bản, ép dầu, làm đường mật... Họ cũng có nghề thợ bạc làm các đồ trang sức như vòng cổ, vòng chân, vòng tay, vòng tai, nhẫn, dây bạc, hộp đựng trầu... Những sản phẩm thủ công của người Dao không chỉ mang giá trị sử dụng mà còn phản ánh nét đẹp văn hóa và nghệ thuật của họ.</div><div>- Y học dân tộc: Người Dao có nền y học dân tộc cổ truyền phong phú và hiệu quả. Họ biết sử dụng nhiều loại cây thuốc quý để chữa bệnh cho con người và gia súc. Họ cũng biết các phương pháp chữa bệnh bằng cách xoa bóp, bấm huyệt, châm cứu... Họ có các sách y thuật được viết bằng chữ nôm Dao hay chữ Hán để lưu truyền kiến thức y học cho các thế hệ sau.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-14 00:48:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553851852</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc Cơ Ho - Trần Thị Thục Linh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553853085</link>
         <description><![CDATA[<div>Dân số&nbsp; | 200800 người&nbsp;<br>Địa bàn cư trú | Cao nguyên Di Linh, tỉnh Lâm Đồng<br>Ngôn ngữ | Thuộc ngữ cứu Bahnar thuộc ngữ hệ Nam Á&nbsp;<br>Nét đặc sắc về văn hoá: Ẩm thực | Người Cơ Ho thường ăn ba bữa, theo tập quán ăn bốc, lương thực chính là gạo ăn với thực phẩm như cá, thịt, rau.<br>Trang phục&nbsp; | Trang phục của đàn ông là khố bằng vải bản rộng, dài khoảng 1,5 – 2 m, có hoa văn theo dải dọc. Phụ nữ dùng váy bằng một tấm vải quấn quanh người rồi giắt cạp.<br>Nhà ở: | Người Cơ Ho ở nhà sàn dài bằng gỗ, hai mái uốn cong, lợp bằng cỏ tranh, có liếp nghiêng ra phía ngoài và cũng lợp tranh để chống lạnh.<br>Tín ngưỡng | Tín ngưỡng dân gian, vật linh, Tin lành Công giáo</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-14 00:49:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553853085</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân Tộc Tà Ôi - Nguyễn Lê Quyên</title>
         <author>nguyenlequyen131107</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553853236</link>
         <description><![CDATA[<div>Hay tên gọi khác là Tà Ôi, Pa Cô, Tà Uốt, KanTua, Pa Hy...<br>(<em>Also known as Ta Oi, Pa Co, Ta Uot, KanTua, Pa Hy...)</em></div><ul><li>Dân số: 52.356 người tại Việt Nam</li></ul><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; <em>&nbsp;(Population: 52,356 people in Vietnam)</em></div><ul><li>Địa bàn cư trú: Thừa Thiên Huế (34.967 người, chiếm 67,35% tổng số người Tà Ôi tại Việt Nam), Quảng Trị (16.446 người, chiếm 31,81% tổng số người Tà Ôi tại Việt Nam), Đà Nẵng (237 người)...</li></ul><div><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;(Place of residence: Thua Thien Hue (34,967 people, accounting for 67.35% of the total number of Ta Oi people in Vietnam), Quang Tri (16,446 people, accounting for 31.81% of the total number of Vi in Vietnam, Da Nang (237 people)&nbsp; )…)</em></div><ul><li>Ngôn ngữ: Tiếng Tà Ôi, Việt, Lào</li></ul><div><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;(Languages: Ta Oi, Vietnamese, Lao)</em></div><ul><li>Tôn giáo, tín ngưỡng: Vạn vật hữu linh, thờ Thần Nước, thờ Thần Chỗ Ở Gia Đình, Thần Hổ Phật Giáo</li></ul><div>&nbsp; &nbsp; <em>&nbsp; &nbsp; (Religions and beliefs: Animism, worshiping the God of Water, worshiping the God of Family Accommodation, Buddhist.)</em></div><ul><li>Văn hoá:</li></ul><div>- Có nhiều tục ngữ, ca dao, câu đố, có nhiều truyện cổ kể các chủ đề phong phú. Dân ca có các điệu Ka-lơi, Ba-boih, Rơin và đặc biệt là điệu Lum Tang Wai. Chiêng, cồng, kèn, trống, đàn, sáo, khèn là những loại nhạc cụ thường gặp ở vùng của người Tà Ôi</div><div>- Nhà ở của người Tà Ôi là nhà sàn dài phổ biến.<br>+Trang phục nam: Nam giới đóng khố, mặc áo hoặc ở trần.<br>+Trang phục nữ: Phụ nữ có áo, váy, có nơi dùng loại váy dài kéo lên che ngực thay áo.<br>(<em>Culture: <br>- There are many proverbs, folk songs, riddles, there are many ancient stories telling rich topics.&nbsp; The trumpet, drum, lute, flute, and trumpet are common musical instruments in the Ta Oi area<br> - The house of Ta Oi people is a popular long house on stilts.<br> + Men's clothing: Men wear loincloths, tops or tops.</em><br> <em>+ Women's clothing: Women have tops, skirts, and some places use long skirts that stretch up to the chest to change clothes.)</em></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-14 00:49:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553853236</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553853380</link>
         <description><![CDATA[<div>Dân tộc Hoa</div><div>-Dân số: 749466 người</div><div>-Địa bàn cư trú: Chủ yếu ở thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, các tỉnh Hậu Giang, An Giang, Đồng Nai, Cà Mau, Kiên Giang.</div><div>-Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Hán (Ngữ hệ Hán - Tạng)</div><div>-Nét đặc sắc về văn hoá: Người Hoa thích cá hát “sơn ca” hay “san cưa”, với các chủ đề khá phong phú như tình yêu đôi lứa, quê hương, cuộc sống, tinh thần tranh đấu</div><div>English:</div><div>-Population: 749466 people</div><div>-Residential area: Mainly in Ho Chi Minh City, Hanoi, Hai Phong, Hau Giang, An Giang, Dong Nai, Ca Mau, Kien Giang provinces.</div><div>-Language: belong to the group of Chinese languages (Chinese - Tibetan languages)</div><div>- Cultural features: Chinese people like fish to sing ‘son ca’ or ‘san cua’, with quite rich themes such as love for couples, homeland, life, spirit of struggle</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-14 00:49:40 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553853380</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Người Co còn có tên gọi khác: Cor (Kor), Col. Người Co là một trong số 54 dân tộc ở Việt Nam.Người Co nói tiếng Co (KOR), một ngôn ngữ thuộc ngữ tộc Môn-Khmer.Người Co cư trú chủ yếu ở khu vực thung lũng thượng du các sông Trà Bồng, sông Rin và sông Tranh thuộc huyện Trà Bồng và Tây Trà tỉnh Quảng Ngãi. Người Co ở Quảng Nam khoảng 4,500 người, sống chủ yếu ở các xã Trà Kót, Trà Giáp, Trà Nú, Trà Giang huyện Bắc Trà My và một số ít sống ở xã Tiên Lập (Tiên Phước), Tam Sơn, Tam Trà (Núi Thành).Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Co ở Việt Nam có dân số 33.817 người, cư trú tại 25 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Co cư trú tập trung tại các tỉnh: Quảng Ngãi (28.110 người, chiếm 83,1% tổng số người Co), Quảng Nam (5.361 người), Kon Tum (118 người).Người Co làm rẫy là chính. Người Co trồng lúa, ngô, sắn và nhiều loại cây khác. Đặc biệt, cây quế Quảng là đặc sản truyền thống ở Trà My. Quế ở vùng người Co có chất lượng và năng suất cao được các địa phương trong nước và nhiều nơi trên thế giới biết tiếng. Hàng năm quế đem lại nguồn thu đáng kể cho người Co. Tại các vùng Quảng Nam, Quảng ngãi, một thời đã trồng giống lúa Co, và lúa Trì trì. Có lẽ lúa Co là đó, là của người Co, Lúa Trì Trì là của người Chăm.Người Co thích múa hát, thích chơi chiêng, cồng, trống. Các điệu dân ca phổ biến của người Co là Xru, Klu và Agiới. Các truyện cổ của người Co truyền miệng từ đời này sang đời khác luôn làm say lòng cả người kể và người nghe.Trước kia vòng rào làng được dựng lên cao, dày, chắc chắn với cổng ra vào đóng mở theo quy định chặt chẽ, với hệ thống chông thò, cạm bẫy để phòng thủ... Tùy theo số dân mà làng có một hay vài một nhà ở, dài ngắn, rộng hẹp khác nhau. Thường nóc cũng là làng vì rất phổ biến hiện tượng làng chỉ có một nóc nhà. Nay vẫn thấy có nóc dài tới gần 100m. Người Co ở nhà sàn. Dân làng góp sức làm chung ngôi nhà sau đó từng hộ được chia diện tích riêng phù hợp với nhu cầu sử dụng. Ngôi nhà có thể nối dài thêm cho những gia đình đến nhập cư sau. Dưới gầm sàn xếp củi, nhốt lợn, gà. Hầu hết người Co đã và đang chuyển sang làm nhà đất. Không ít người ưu kiểu nhà &quot;xuyên trĩnh&quot; ở đồng bằng miền Trung. Xưa kia, khi dân làng phát triển đông đúc mà việc nối nhà dài ngôi nhà thêm nữa không thuận tiện cũng không muốn chia làng mới thì họ kiến trúc kiểu &quot;nhà kép&quot;, mở rộng theo chiều ngang. Như vậy là người Co đã đặt song song mặt hành mặt bằng sinh hoạt của hai dãy nhà, phần gưl của chúng ghép liền với nhau, tạo thành khoảng rộng dài ở giữa gồm gưl và truôk càn hai dãy tum ở đôi bên.Người Co không dệt vải, vì vậy vải và đồ may mặc đều mua của nơi khác, phần lớn là mua của người Kinh và người Xơ-đăng. Theo sắc phục truyền thống, nam giới thường ở trần, đóng khố, nữ quấn váy, mặc áo cộc tay, yếm. Trời lạnh mỗi người khoác tấm vải dài, rộng. Người Co thích đeo vòng cổ, vòng tay, hoa tai bằng đồng hoặc bạc, nhưng thích nhất là bằng hạt cườm. Phụ nữ quấn nhiều vòng cườm các màu quanh eo lưng.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553853439</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-14 00:49:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553853439</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Người Giẻ Triêng (Jeh-Tariang) là một dân tộc cư trú chủ yếu tại miền trung Việt Nam và nam Lào, sinh sống chủ yếu (trên 99,2%) tại vùng miền núi tỉnh tỉnh Kon Tum.Người Giẻ Triêng nói 2 ngôn ngữ là tiếng Giẻ (Jeh) và tiếng Triêng (Tariang) cùng thuộc ngữ chi Bahnar của ngữ hệ Nam Á.Người Giẻ Triêng còn biết qua các tên: Đgiéh, Ta Reh, Giảng Rây, Pin, Triêng, Treng, Ta Liêng, Ve, La-Ve, Bnoong, Ca Tang. Các tộc người tại Lào gồm Katang, Talieng, Jeng, Brao, Laven.Người Giẻ Triêng cư trú tập trung tại các tỉnh: Kon Tum (32.644 người, chiếm 62,1% tổng số người Giẻ Triêng tại Việt Nam), Quảng Nam (19.007 người, chiếm 37,3% tổng số người Giẻ Triêng tại Việt Nam), ngoài ra còn có tại Đắk Lắk (78 người) và một số ít ở các tỉnh khác.Người Giẻ Triêng sống chủ yếu bằng nghề làm rẫy. Ngoài ra họ còn săn bắn, đánh cá, hái lượm các loại rau rừng, hoa quả, nấm... làm thức ăn hàng ngày. Người Giẻ Triêng còn nuôi trâu, bò, lợn, gà nhưng chủ yếu chỉ dùng vào lễ hiến sinh.Người Giẻ Triêng khi chết được chôn trong quan tài độc mộc, có đẽo tượng đầu trâu, huyệt đào rất nông, đưa đám tang chỉ có vài người nhà và sau một thời gian thì làm lễ bỏ mả để đoạn tang.Người Giẻ Triêng ở nhà sàn dài, nhiều nơi làm mái đầu hồi uốn khum hình mu rùa. Thường thì các nhà trong làng được xếp thành hình tròn xung quanh nhà rông. Khác với nhà rông của một số dân tộc khác, nhà sàn Giẻ Triêng được hành lang chạy dọc chia đôi: một nửa dành cho nam giới, nửa kia dành cho phụ nữ.Hiện nay, người Giẻ Triêng ở Kon Tum làm nhà sàn ngắn và vài hộ gia đình cùng chung sống với nhau. Những nhà này cũng có những đặc trưng đáng quan tâm: nhà sàn mái hình mai rùa, hai đầu đốc được trang trí bằng hai sừng trâu.Nam giới để tóc ngắn hoặc đội khăn chàm theo lối chữ nhất trên đầu. Thân ở trần hoặc mặc tấm áo, khoác ngoài chéo qua vai, màu chàm có các sọc trang trí. Họ mang khố khổ hẹp, dài không có tua, thân và các mép khố được viền và trang trí hoa văn ở hai đầu trên nền chàm. Nam cũng đeo vòng cổ, vòng ngoài khố mang chuỗi hạt vòng. Trong các dịp tết lễ, họ mang thêm tấm choàng rộng màu chàm, có các sắc màu trang trí phủ kín thân.Phụ nữ Giẻ Triêng để tóc dài, quấn sau gáy. Họ không mặc áo mà mang loại váy dài, cao sát nách. Đây là loại váy ống tương đối dài rộng. Đầu váy, giữa thân và gấu váy được trang trí các sọc hoa văn màu đỏ trên nền chàm. Lối mặc có tính chất vừa váy, vừa áo này là một đặc điểm rất khác biệt của phụ nữ Gié Triêng, ít gặp ở các dân tộc khác từ Bắc vào Nam. Đây cũng là một lý do trang phục Giẻ Triêng được chọn vào &quot;Làng văn hóa các dân tộc&quot;. Lối mặc váy, đặc biệt là quấn mép ra trước giữa thân, đầu váy còn thừa (váy loại này thường dài - cao gấp rưỡi váy bình thường), lộn ngược ra phía trước hoặc quấn thành nhiều nếp gấp ra xung quanh trông như một chiếc áo ngắn. Phụ nữ còn mang vòng tay vòng cổ.Trang phục Giẻ Triêng là đặc điểm riêng, cùng với một số dân tộc khu vực Trường Sơn - Tây Nguyên có giá trị quan trọng cho việc nghiên cứu lịch sử trang phục ở Việt Nam.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553853961</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-14 00:50:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553853961</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Ê đê - Quốc Đạt</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553854026</link>
         <description><![CDATA[<div>Ê đê là một dân tộc có vùng cư trú truyền thống là miền trung Việt Nam và đông bắc Campuchia. Tổng số dân người Ê đê bao gồm khoảng gần nửa triệu người (490.000 người), cư trú chủ yếu tại Việt Nam(398.861 người)và rải rác ở khắp nơi trên thế giới như Thái Lan, Hoa kỳ, Canada , Pháp , Thuỵ Điển, … .Người Ê đê nói tiếng Ê đê, một ngôn ngữ thuộc phân nhóm ngôn ngữ Chăm thuộc ngữ chi Malay-Polynesia</div><div>Người Êđê có kho tàng văn học truyền miệng phong phú: thần thoại, cổ tích, ca dao, tục ngữ, đặc biệt là các Khan (trường ca, sử thi) nổi tiếng với Khan Dam San, Khan Dam Kteh Mlan, Khan Dam Khing Jŭ,... Người Êđê yêu ca hát, múa Rom Wong (kdŏ dar) nhịp nhàng, múa kông tuôr, thích tấu nhạc và thường rất có năng khiếu về lĩnh vực này. Nhạc cụ có cồng chiêng, trống, sáo, Gôc, Kni, đàn, Đinh Năm, Đĭng Buôt là các loại nhạc cụ phổ biến của người Êđê và được nhiều người yêu thích.Người Ê Đê có lòng trung thực, kiên nhẫn với sự khó khăn, chịu đựng nhọc nhằn trong lao động, chăm chỉ, nhiệt tình trong công việc, nhưng dễ nổi loạn chống lại khi bị chèn ép và áp bức. Điều này đã minh chứng trong suốt ngàn năm lịch sử đấu tranh bảo vệ cộng đồng của người Êđê. Vì vậy đối với người ÊĐê, dù chỉ một lần thôi thì cũng đủ để mất hết lòng tin thậm chí dẫn đến hiềm khích kéo dài đến cả thế hệ sau.</div><div>Eng:</div><div>The Ede are an ethnic group whose traditional residence is central Vietnam and northeastern Cambodia.&nbsp; The total population of the Ede population includes nearly half a million people (490,000 people), residing mainly in Vietnam (398,861 people) and scattered all over the world like Thailand, the United States, Canada, France, and Sweden…. The Ede people speak Ede language, a language belonging to the Cham language group of the Malay-Polynesian language family.</div><div>&nbsp;The Ede people have a rich treasure of oral literature: myths, fairy tales, folk songs, proverbs, especially the famous Khans with Khan Dam San, Khan Dam Kteh Mlan, and Khan Dam.&nbsp; Khing Jŭ,... Ede people love singing, dancing Rom Wong (kdŏ dar) rhythm, kong tuor dance, enjoy concerts and are often very gifted in this field.&nbsp; Instruments with gongs, drums, flutes, Goc, Kni, lute, Dinh Nam, and Dong Buot are popular musical instruments of the Ede people and are loved by many people.&nbsp; The Ede have honesty, can endure difficulties,and enthusiasm in work, but they easily rebel against their backs when they are oppressed.&nbsp; This has been proven throughout the thousand years of history of fighting to protect the community of the Ede.&nbsp; Therefore, for the Ede, even once is enough to lose all faith and lead to a feud that lasts for the next generation.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2021193655/a3e3586a8224b387c2ae1a56bb0eedf2/image.jpeg" />
         <pubDate>2023-04-14 00:50:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553854026</guid>
      </item>
      <item>
         <title>- Hôn nhân: Dân tộc Hrê thực hiện chế độ hôn nhân nội tộc người là chủ yếu và ngoại hôn dòng họ.- Lễ tết: Người Hrê có nhiều nghi lễ, lễ hội trong cuộc sống như nghi lễ nương rẫy, nghi lễ liên quan đến chu kỳ nông nghiệp lúa nước, nghi lễ thờ cúng tổ tiên (vaha), hội mùa, hội đầu năm (htend), lễ hội đâm trâu và các nghi lễ liên quan đến vòng đời người. Trong các nghi lễ nông nghiệp, việc thờ thần lúa Yeang Sarì là quan trọng nhất</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553854074</link>
         <description><![CDATA[<div>- Nhạc cụ: Nhạc cụ thường dùng của người Hrê là bộ chiêng ba chiếc, bộ cồng ba chiếc, trống, các loại đàn ống tre hoặc có vỏ bầu làm hợp âm, sáo, nhị, đàn môi, nữ giới thì chơi bộ ống vỗ hai chiếc.<br>- Trang phục: Nam giới Hrê thường đóng khố, dài tới 4-5m, có phần tua ở đầu khố, dài thêm 20cm. Phụ nữ Hrê mặc áo năm thân, cài khuy bên sườn phải, mặc dài xuống quá thắt lưng.<br>- Tôn giáo, tín ngưỡng: Trong thế giới tâm linh truyền thống, người Hrê tin vào sự tồn tại của linh hồn, họ tin có làng ma (goong kieesk chók) là nơi linh hồn người chết ở, có tính chất đối lập với thế giới con người. Họ thường thờ thần linh (Yang) với niềm tin Yang quyết định đến nhiều vấn đề trong cuộc sống (được hay mất mùa, bệnh tật, đau ốm...). Yang cao nhất là trời, ngoài ra còn rất nhiều Yang khác như đất, nước... Người Hrê cũng thờ cúng tổ tiên.<br>- Ẩm thực: Cơm gạo tẻ là thức ăn chính của người Hrê, vào các dịp lễ tết họ có thêm cơm nếp. Họ rất thích uống rượu cần, rượu của người Kinh, rượu tự nấu với men lá. Đàn ông và đàn bà Hrê thường xuyên hút thuốc và ăn <br>- Nhà ở: Nhà truyền thống của người Hrê là nhà dài và nhà sàn. Nhà ở trong làng đều dựng ngang triền đất dốc.<br>Người Hrê sống chủ yếu ở miền tây tỉnh Quảng Ngãi (các huyện Sơn Hà, Ba Tơ, Minh Long) và tỉnh Bình Ðịnh (huyện An Lão), một số ít ở tỉnh Kon Tum (huyện Kon Plông).<br>- Dân số:Theo số liệu điều tra 53 dân tộc thiểu số 1/4/ 2019, tổng dân số người Hrê: 149.460 người<br>- Ngôn ngữ: Người Hrê dùng ngôn ngữ thuộc nhóm Môn-Khơ Me (Ngữ hệ Nam Á). Từ thời kỳ trước năm 1975, người Hrê đã có chữ viết dùng hệ thống kí tự La-tinh. Chữ viết này từng được sử dụng rộng rãi nhưng nay đã bị mai một.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-14 00:50:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553854074</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553854365</link>
         <description><![CDATA[<div>-Dân số: 15 126 vào năm 2019</div><div>-Địa bàn cư trú: Cư trú chủ yếu ở các xã Bản Phùng, Bản Díu và Bản Máy của các huyện Xín Mần, Hoàng Su Phì (tỉnh Hà Giang), ngoài ra còn một số cư trú ở huyện Mường Khương và Bắc Hà (tỉnh Lào Cai). Người La Chí ở Việt Nam có dân số 13.158 người, cư trú tại 38 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người La Chí cư trú tập trung tại tỉnh Hà Giang (12.072 người, chiếm 91,7% tổng số người La Chí tại Việt Nam), ngoài ra còn có tại Lào Cai (619 người), Thành phố Hồ Chí Minh (152 người), Tuyên Quang (100 người)</div><div>-Ngôn ngữ: thuộc hệ ngôn ngữ Tai-Kadai</div><div>-Nét đặc sắc về văn hóa:Người La Chí có nhiều truyện cổ, kể về ông tổ tiên của dân tộc là Hoàng Vần Thùng, về Pủ Lô Tô sinh ra các giống các loài và dạy họ mọi phong tục tập quán, về sự xuất hiện các hiện tượng tự nhiên,…. Trai gái La Chí thường hát ni ca. Nhạc cụ có trống, chiêng, đàn tính 3 dây, đàn môi bằng lá cây... Dịp lễ hội thường tổ chức các trò chơi ném còn, đánh quay, đu quay, đu dây, leo trèo ,.... nơi bãi rộng cho đông người tham gia. Người La Chi ăn Tết Khu Cù Tê vào tháng 7 âm lịch khi việc cấy cày đã xong xuôi.</div><div><br></div><div>-Population: 15 126 in 2019</div><div>-Residence area: Lives mainly in Ban Phung, Ban Diu and Ban May communes of Xin Man and Hoang Su Phi districts (Ha Giang province), in addition, some reside in Muong Khuong and Bac Ha districts. (Lao Cai Province). The La Chi people in Vietnam have a population of 13,158 people, residing in 38 out of 63 provinces and cities. La Chi people reside concentratedly in Ha Giang province (12,072 people, accounting for 91.7% of the total number of La Chi people in Vietnam), in addition, there are also in Lao Cai (619 people), Ho Chi Minh City (152 people). ), Tuyen Quang (100 people)</div><div>-Language: belongs to the Tai-Kadai language family</div><div>Cultural features: The La Chi people have many ancient stories, telling about the nation's ancestor, Hoang Van Thung, about Pu Lo To giving birth to species and teaching them all customs and traditions, about natural phenomena appear. La Chi boys and girls often sing ni ca. Musical instruments with drums, gongs, 3-stringed zithers, lip lutes made of leaves, etc. On the occasion of the festival, there are often games of throwing, spinning, swinging, swinging, climbing, etc. at the beach. wide for a large number of participants. La Chi people celebrate Tet in Cu Te in the 7th lunar month when the plowing has been completed.</div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-14 00:50:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553854365</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553854497</link>
         <description><![CDATA[<div>- Dân số: 74,143 người (theo số liệu năm 2019)<br>- Tại Việt Nam, dân số dân tộc Cơ Tu khoảng trên 62 nghìn người, cư trú tập trung tại các tỉnh: Quảng Nam (chiếm khoảng 75%), Thừa Thiên-Huế (chiếm gần 24%), còn lại sinh sống rải rác ở Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh<br>- Ngôn ngữ: Tiếng Cơ Tu,một ngôn ngữ thuộc ngữ tộc Môn-Khmer trong ngữ hệ Nam Á<br><br>- Nét đặc sắc về văn hoá: Hằng năm, người Cơ Tu thường tổ chức lễ hội đâm trâu trước mùa tỉa lúa, dựng lều giữa sân. Một nét đặc sắc khác là nhà Guơl.<br>- Nam giới người Cơ Tu đóng khố, ở trần, đầu hoặc vấn khăn hoặc để tóc ngắn bình thường. Khố có các loại bình thường (không trang trí hoa văn và ít màu sắc), loại dùng trong lễ hội dài rộng về kích thước và trang trí đẹp với màu sắc và hoa văn trên nền chàm. Mùa rét, họ khoác thêm tấm choàng dài hai, ba sải tay.&nbsp;<br>- Phụ nữ Cơ Tu để tóc dài búi ra sau gáy, hoặc thả buông. Xưa họ để trần chỉ buộc một miếng vải như chiếc yếm che ngực. Họ mặc váy ngắn đến đầu gối, màu lanh khoác thêm tấm chăn. Họ thường mặc áo chui đầu khoét cổ, thân ngắn tay cộc<br>|English translate|<br><br>- Population: 74,143 people (according to 2019 data)<br>- The Co Tu ethnic group resides in the following provinces: Quang Nam (accounting for about 75%), Thua Thien-Hue (accounting for nearly 24%), the rest live scatteredly in Da Nang, Ho Chi Minh City. Ho Chi Minh<br>- Language: Co Tu<br>- Cultural features: Every year, the Co Tu people often organize a buffalo stabbing festival before the rice pruning season, setting up a tent in the middle of the yard. Another unique feature is the Guol house.<br><br><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2027838505/19a72b51efafde3ccfc8fa9ceb8662be/8_hoa_van_co_tu_19_20_13_896.jpg" />
         <pubDate>2023-04-14 00:50:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553854497</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Người Bru-Vân Kiều có dân số khoảng 94,598 người.  Họ chủ yếu sống ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế. Ngôn ngữ của họ là nhóm Môn-khmer. Họ trồng lúa, ruộng bậc thang, chăn nuôi gia súc và gia cầm để kiếm sống.  Họ làm lễ trước khi gieo hạt.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553854647</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-14 00:50:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553854647</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc Nùng - Nguyễn Mạnh Cường</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553854782</link>
         <description><![CDATA[<div>— Dân số các năm:</div><div>+ 2019 có 1.083.298 người</div><div>+ 2009 có 968.000 người</div><div>+ 1999 có 856.412 người</div><div>— Địa bàn cư trú: tập trung chủ yếu ở miền Bắc và một số ít miền Nam</div><div>+ Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Giang, Hà Giang, Thái Nguyên, Đắk Lắk, Gia Lai</div><div>— Ngôn Ngữ: Người Nùng chủ yếu sử dụng tiếng Nùng, tiếng En, tiếng Việt</div><div>— Văn hoá:</div><div>+ Người Nùng có nhiều truyện kể dân gian, truyện thơ và kho tri thức về tự nhiên, địa lí, lịch sử</div><div>+ Người Nùng có kinh nghiệm chữa bệnh bằng thuốc dân gian</div><div>+ Người Nùng đề cao vai trò của rừng, luôn có ý thức bảo vệ trồng rừng</div><div>+ Người Nùng chủ yếu trồng lúa nương, ngô, đỗ tương và một số cây hoa màu</div><div>+ Người Nùng thường mặc những trang phục đen với những đường màu sáng ở gần ống tay, cổ áo.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-14 00:51:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553854782</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553855655</link>
         <description><![CDATA[<ol><li>Tiếng Việt</li></ol><ul><li>dân số: theo kết quả điều tra dân số và nhà ở năm 2019, dân số của người Ơ Đu có 428 người. Đây cũng là 1 trong những dân tộc có số người ít nhất ở Việt Nam, được gọi là dân tộc thiểu số. Trong đó nam là 237 người, nữ là 191 người. Tỷ lệ dân số sống ở khu vực nông thôn: 93,2%.</li><li>địa bàn cư trú: dân tộc Ơ Đu hiện nay sinh sống tập trung ở huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An</li><li>ngôn ngữ: Hầu hết người Ơ Ðu sử dụng các tiếng Khơ Mú, Thái để giao tiếp hàng ngày. Ngày nay, có nhiều lớp học dạy tiếng Ơ Đu được mở và thu hút đông đảo học sinh tham gia học.</li><li>nét đặc sắc về văn hoá:&nbsp;</li></ul><div>- Ăn Uống : Người Ơ Ðu thường ăn 1 bữa phụ (sáng), 2 bữa chính (trưa và tối). Trước đây họ ăn xôi đồ, nay có cả cơm gạo tẻ, khi mất mùa ăn củ nâu, củ mài, hoặc sắn, ngô thay cơm. Họ thích uống rượu, hút thuốc lào.<br>- Trang phục: Hiện nay, nam và nữ đều ăn mặc theo kiểu người Thái, Việt. Những bộ trang phục cổ truyền còn rất ít.<br>- Nhà ở: Trước đây, ngôi nhà truyền thống, nhà sàn. Khi dựng cột phải tuân theo một thứ tự nhất định. Nay kiểu nhà này không còn nữa. Họ ở sàn nhà giống như nhà sàn người Thái.<br>- Quan hệ xã hội: Do số lượng dân số ít, sống xen kẽ với người Khơ Mú và Thái cho nên các mặt quan hệ xã hội văn hóa của họ chịu nhiều ảnh hưởng hai dân tộc này.<br>- Lễ tết: Người Ơ Ðu ăn tết Nguyên đán, tết cơm mới. Ngày hội lớn nhất là lễ đón tiếng sấm trong năm. Ngày đó, cư dân khắp nơi đổ về mở hội tế trời, mổ trâu, bò, lợn ăn mừng tại bản Xốp Pột, xã Kim Ða, Tương Dương, Nghệ An<br>- Văn nghệ: Người Ơ Ðu sử dụng thành thạo các loại nhạc cụ của người Khơ Mú, Thái như: sáo, khèn, chiêng, trống; thuộc các làn điệu dân ca Khơ Mú, Thái, kể chuyện dã sử.<br>  2. Tiếng Anh:</div><ul><li>population: according to the results of the 2019 census and house, the population of the O Du people has 428 people.&nbsp; This is also one of the ethnic groups with the least number of people in Vietnam, known as ethnic minorities.&nbsp; Of which, there are 237 men, 191 women.&nbsp; Percentage of population living in rural areas: 93.2%.</li><li>Area of ​​residence: O Du ethnic group currently lives in Tuong Duong district, Nghe An province</li><li>language: Most of the O Du use Kho Mu and Thai languages ​​for daily communication.&nbsp; Today, there are many O Du language classes open and attracting a large number of students to study.</li><li>Cultural features:</li></ul><div>- Eating and drinking: O Du people usually eat 1 snack (breakfast), 2 main meals (lunch and dinner).&nbsp; In the past, they ate sticky rice, now they also have plain rice. When the crop fails, they eat brown tubers, grated tubers, or cassava, corn instead of rice. They like to drink and smoke.<br>- Costume: Currently, both men and women dress in Thai and Vietnamese styles.&nbsp; There are very few traditional costumes.<br>- Housing: Formerly, traditional house, house on stilts.&nbsp; When erecting columns must follow a certain order.&nbsp; This type of house is no longer available.&nbsp; They live on stilts like Thai stilts.<br>- Social relations: Due to the small number of the population, who live alternately with the Kho Mu and Thai, their social and cultural relations are heavily influenced by these two ethnic groups.<br>- Tet holidays: The O Du celebrate the Lunar New Year, the New Year of rice.&nbsp; The biggest festival is the festival to welcome the thunder of the year.&nbsp; On that day, residents from all over the world flocked to open a festival to sacrifice to heaven, slaughter buffaloes, cows and pigs to celebrate in Sop Pot village, Kim Da commune, Tuong Duong, Nghe An.<br>- Performing Arts: The O Du people are proficient in using musical instruments of the Kho Mu and Thai people such as flute, Khen, gong, drum;&nbsp; belonging to the folk songs of Kho Mu and Thai, telling stories of wild history.</div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-14 00:51:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553855655</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553855719</link>
         <description><![CDATA[<div>Dân số&nbsp; | 200800 người&nbsp;<br>Địa bàn cư trú | Cao nguyên Di Linh, tỉnh Lâm Đồng<br>Ngôn ngữ | Thuộc ngữ cứu Bahnar thuộc ngữ hệ Nam Á&nbsp;<br>Nét đặc sắc về văn hoá: Ẩm thực | Người Cơ Ho thường ăn ba bữa, theo tập quán ăn bốc, lương thực chính là gạo ăn với thực phẩm như cá, thịt, rau.<br>Trang phục&nbsp; | Trang phục của đàn ông là khố bằng vải bản rộng, dài khoảng 1,5 – 2 m, có hoa văn theo dải dọc. Phụ nữ dùng váy bằng một tấm vải quấn quanh người rồi giắt cạp.<br>Nhà ở: | Người Cơ Ho ở nhà sàn dài bằng gỗ, hai mái uốn cong, lợp bằng cỏ tranh, có liếp nghiêng ra phía ngoài và cũng lợp tranh để chống lạnh.<br>Tín ngưỡng | Tín ngưỡng dân gian, vật linh, Tin lành Công giáo</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-14 00:51:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553855719</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553856351</link>
         <description><![CDATA[<div>-Dân số xấp xỉ 287000 năm 2019</div><div>-Địa bàn cư trú:Địa bàn cư trú của họ khá rộng ở nam Kon Tum, bắc Gia Lai và phía tây tỉnh Bình Định.</div><div>-Ngôn ngữ:tiếng Ba Na,tiếng Anh,tiếng Việt</div><div>-Nét đặc sắc văn hoá:</div><div>+Dệt thổ cẩm: nghề dệt thổ cẩm đã có từ lâu đời. Sản phẩm thổ cẩm dệt bằng tay của người Ba Na nổi tiếng bởi những hoa văn trang trí rất tinh tế. Không chỉ đẹp về hình thức, mà trong mỗi sản phẩm dệt truyền thống còn ẩn chứa sắc thái văn hóa, thể hiện một tâm hồn phong phú, phóng khoáng.</div><div>+Cồng chiêng:Với người Bana, cồng chiêng là biểu tượng của sự linh thiêng,&nbsp; có mặt trong mọi nghi lễ cộng đồng cũng như của từng gia đình, cá nhân..&nbsp;</div><div>+người Ba Na còn có nhiều nhạc cụ khác như đàn T’rưng, đàn Blơng khơng...&nbsp;</div><div>+Kiến trúc nhà ở của đồng bào Ba Na cũng có những nét độc đáo riêng. Nhà ở của người Ba Na thuộc loại hình nhà sàn, trong đó nhà rông là tiêu biểu khi là nơi sinh hoạt chung của bà con trong buôn làng.&nbsp;</div><div>+Trường ca, truyện cổ của dân tộc Ba Na cũng là những tác phẩm dân gian độc đáo, có giá trị trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam.&nbsp;</div><div>+Trong cuộc sống, lễ hội là điều không thể thiếu. Người Ba Na có nhiều lễ hội như; Lễ tạ ơn cha mẹ, lễ đâm trâu, lễ bỏ mả, lễ tạ ơn thần lúa. Những lễ hội không chỉ là dịp để đồng bào tạ ơn trời đất cho vụ mùa bội thu mà còn là dịp vui chơi, đánh cồng chiêng, uống rượu cần...và cũng là dịp để người Ba Na thể hiện tài năng chế biến những món ăn vô cùng độc đáo.</div><div><br></div><div>=&gt; Ngày nay, những lễ hội cầu an, cầu mùa của đồng bào Ba Na vẫn được lưu giữ, cũng như lễ hội cúng bến nước- cho thấy đời sống tinh thần của người Ba Na gắn bó mật thiết với thiên nhiên.Nét đẹp trong văn hóa được thể hiện ở nhiều mặt, từ hoạt động sản xuất, sinh hoạt hàng ngày đến các lễ hội.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-14 00:52:27 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553856351</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553857285</link>
         <description><![CDATA[<div>— Dân số các năm:</div><div>+ 2019 có 1.083.298 người</div><div>+ 2009 có 968.000 người</div><div>+ 1999 có 856.412 người</div><div>— Địa bàn cư trú: tập trung chủ yếu ở miền Bắc và một số ít miền Nam</div><div>+ Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Giang, Hà Giang, Thái Nguyên, Đắk Lắk, Gia Lai</div><div>— Ngôn Ngữ: Người Nùng chủ yếu sử dụng tiếng Nùng, tiếng En, tiếng Việt</div><div>— Văn hoá:</div><div>+ Người Nùng có nhiều truyện kể dân gian, truyện thơ và kho tri thức về tự nhiên, địa lí, lịch sử</div><div>+ Người Nùng có kinh nghiệm chữa bệnh bằng thuốc dân gian</div><div>+ Người Nùng đề cao vai trò của rừng, luôn có ý thức bảo vệ trồng rừng</div><div>+ Người Nùng chủ yếu trồng lúa nương, ngô, đỗ tương và một số cây hoa màu</div><div>+ Người Nùng thường mặc những trang phục đen với những đường màu sáng ở gần ống tay, cổ áo.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-14 00:53:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553857285</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Khơ me - Izach Mạnh Cường</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553857903</link>
         <description><![CDATA[<div>Khơ-me - Đậu Mạnh Cường</div><div><br></div><div>Người Khơ-me (Khmer) là một dân tộc cư trú phần lớn ở Campuchia. Dân số Khmer chiếm đến khoảng 23 triệu người ở khắp thế giới, còn ở Việt Nam, dân tộc Khmer có 1.319.652 người.&nbsp;</div><div><br></div><div>Dân Khmer cư trú đến 90% là ở Campuchia. Ngoài Campuchia, nhiều người Khmer định cư như người bản địa ở các vùng lân cận tại Thái Lan (Khmer Surin), và đồng bằng sông Cửu Long ở Việt Nam (Khmer Krom). Ở Việt Nam, người Khmer cư trú chủ yếu ở tỉnh Sóc Trăng (406.595), Trà Vinh (326.653), và Kiên Giang (210.879).&nbsp;</div><div><br></div><div>Tiếng Khmer cũng gọi là tiếng Campuchia và là ngôn ngữ chính của người Khmer, đây là ngôn ngữ được sử dụng nhiều thứ hai trong hệ ngữ Nam Á (sau tiếng Việt). Ngoài ra, còn có ngôn ngữ Khmer Surin hay còn gọi là Phương ngữ Bắc Khmer, là một phương ngữ được sử dụng bởi người Khmer địa phương ở các tỉnh Surin, Roi Et, và Buriram của Thái Lan sử dụng. Tất cả đều được phát triển từ chữ Phạn.&nbsp;</div><div><br></div><div>Đa số người Khmer là tín đồ Phật giáo Khmer - một kiểu Phật giáo hòa trộn nhiều thành phần của Ấn Độ giáo, thuyết vật linh, và tục thờ cúng tổ tiên. Cụ thể hơn, Phật giáo của người Khmer là Phật giáo nguyên thủy, tên phổ thông là Phật giáo Nam tông. Phật giáo Nam tông là Phật giáo gốc mà đức Phật Thích ca khai sinh và các quan niệm Phật giáo, giáo lý cũng được người Khmer bảo tồn nguyên vẹn.</div><div><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-14 00:53:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553857903</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553858334</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://docs.google.com/document/d/15TeJJxEcduVILB2sdhd3LmyDlLTvpnmrF_DHXqD54Vo/edit" />
         <pubDate>2023-04-14 00:54:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553858334</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc Xinh Mun</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553860895</link>
         <description><![CDATA[<div>DÂN TỘC: Xinh Mun - Tên gọi khác: Puộc, Xá, Pnạ <br><br>+Dân số: Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số 01/4/ 2019: <br>&nbsp;-29.503 người trong đó dân số nam là 14.793 người và dân số nữ là 14.710 người. <br>&nbsp;-Quy mô hộ: 4,7 người/hộ. <br>&nbsp;-Tỷ lệ dân số sống ở khu vực nông thôn: 99,4%. <br><br>+Địa bàn cư trú: Tập trung ở một số huyện vùng biên giới Việt - Lào: Yên Châu, Sông Mã, Mộc Châu, thuộc tỉnh Sơn La (đa số) và một số ít cư trú ở huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên,... <br><br>+Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á). Người Xinh Mun giỏi tiếng Thái. Trước đây, một số người biết sử dụng chữ Thái, nay dùng chữ phổ thông. <br><br>+Nét đặc sắc về văn hóa: <br>&nbsp;<strong>-Phong tục:</strong> Trước kia, người Xinh-mun sống du canh, du cư, nay đồng bào đã sống ổn định và lập những làng đông đúc. Người Xinh-mun đa số mang họ Lò, họ Vi. Mỗi họ đều có kiêng cữ riêng. Các con theo họ cha. Trong nhà, khi người bố chết, thì con trai cả giữ vai trò quan trọng.<br> -<strong><em>Ma chay</em></strong><strong>:</strong> Tiếng súng trong nhà báo hiệu có người chết, cùng lúc đó người con trai ném ông đầu rau vào nơi thờ cúng tổ tiên bày tỏ một sự giận giữ truyền thống. Không dùng quan tài gỗ mà chỉ bó cót. Chọn đất đào huyệt bằng cách ném trứng trên khu vực định sẵn, trứng vỡ ở đâu thì huyệt được đặt ở đó. Nhà mồ được làm cẩn thận, có đủ thứ cần thiết tượng trưng cho người chết. Người Xinh Mun không có tục cải táng và tảo mộ.<br> -<strong><em>Thờ cúng</em></strong><strong>:</strong> Thờ cúng tổ tiên hai đời, bố mẹ và ông bà. Biểu trưng cho nơi thờ tổ tiên là một chiếc xương hàm lợn, ít trầu đựng trên nắp giỏ cơm, ống tre đựng nước. Cúng vào các dịp cơm mới, đám cưới, nhà mới. Việc thờ cúng tổ tiên, tuỳ nơi, có thể chỉ do anh cả, cũng có thể do các anh em trai cùng đảm nhiệm. Bố mẹ vợ được thờ riêng ở một chiếc lán nhỏ, bên cạnh nhà, cơm nước cúng được nấu ở ngoài nhà. Lễ cúng bản hàng năm rất được coi trọng.<br><br> +Lễ hội: <br> <strong>-</strong>Vào mùa Xuân, đồng bào thường tổ chức Lễ hội Mạ ma thể hiện ước vọng trời yên vật thịnh và tài diễn xướng văn nghệ dân gian của dân tộc mình<br> -Lễ hội A Ma (lễ hội cầu mùa) là nét văn hoá tiêu biểu, đặc sắc của đồng bào dân tộc Xinh Mun.<br> -Lễ hội KSaisatip - Lễ hội lộc hoa của dân tộc Xinh Mun Điện Biên&nbsp;<br><br>TIẾNG ANH:&nbsp;<br> Ethnicity: Xinh Mun; other names: Puoc, Xa, Pna&nbsp;<br><br>+ Population: According to the census of 53 ethnic minorities on April 1, 2019:<br> -29,503 people in which the male population is 14,793 people and the female population is 14,710 people.<br> Household size: 4.7 people per household.<br> -Proportion of population living in rural areas: 99.4%&nbsp;<br><br>+ Place of residence: concentrated in a few districts of the Vietnam-Laos border area: Yen Chau, Song Ma, Moc Chau, in Son La province (most), and a few in Dien Bien Dong district, Dien Bien province,...&nbsp;<br><br>+ Language: Belongs to the Mon-Khmer language group (Southern Asian language family). Xinh Mun people are good at Thai. In the past, some people knew how to use Thai characters; now they use common characters.&nbsp;<br><br>+ Cultural features:<br> -Traditions: In the past, the Xinh-mun people lived on nomads and nomads; now the people have settled down and established crowded villages. Most of the Xinhmun people have the Lo and Vi family names. Each of them has their own fasting. The children follow their father's last name. In the family, when the father dies, the eldest son plays an important role.<br> - Funeral: The sound of gunfire in the house signaled that someone died, and at the same time the son threw the vegetable head into the ancestral place of worship to express a traditional anger. Do not use wooden coffins but only bundles. You can choose the soil on which to dig a grave by throwing eggs on a predetermined area; where the egg breaks, the grave is placed there. The tomb is carefully made, with everything necessary to represent the dead. Xinh Mun people do not have the custom of reburial and grave digging.<br> -Worship: Worshiping the ancestors of two generations, parents and grandparents. The symbols for the place of ancestor worship are a pig's jaw bone, a little betel nut on the lid of a rice basket, and a bamboo tube containing water. offering on new occasions: weddings, new homes. Ancestor worship, depending on the place, can be done by only the eldest brother or it can also be done by brothers. The wife's parents are worshiped separately in a small shack next to the house, and rice is cooked outside the house. The annual village offering ceremony is very important.<br> + Festival:<br> -In the spring, the people often organize the Ma Ma Festival to express their wish for peace and prosperity and their ability to perform folk music.<br> -The A Ma festival is a typical and unique cultural feature of the Xinh Mun ethnic group.<br> -KSaisatip Festival: Flower Bud Festival of the Xinh Mun ethnic group in Dien Bien<br><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1781527680/5d4125c9bc2e5b5733feac472193d801/image.png" />
         <pubDate>2023-04-14 00:56:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553860895</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553861136</link>
         <description><![CDATA[<div>-Dân số của người Raglai 146 613 người</div><div>-Người Ra Glai cư trú chủ yếu ở tỉnh Ninh Thuận và huyện Khánh Sơn, phía nam tỉnh Khánh Hòa cũng như tại Bình Thuận.</div><div>-Ngôn ngữ:Người Raglai nói tiếng Raglai, một ngôn ngữ trong ngữ chi Malay-Polynesia thuộc ngữ hệ Nam Đảo.</div><div>Nét đặc sắc văn hoá:</div><div>- chữ viết&nbsp;</div><div>+Năm 1964-1965, chữ viết của người Raglai được hình thành; từ đây, mở ra một nền văn hóa đồ sộ suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Raglai.</div><div>-Phong cách ăn mặc:</div><div>+Đó là chiếc khố (cà giọt) và áo khoang. Thân áo không chia thành hai phần đen (dưới), trắng (trên) mà có nhiều vòng đen - trắng xen nhau liên tục từ dưới lên trên, mỗi vòng rộng chừng 4 ngón tay.</div><div>-Lễ hội của người raglai</div><div>+Lễ hội ăn mừng lúa mới là một trong những lễ hội lớn nhất của người Raglai. Lễ hội mừng lúa mới chỉ diễn ra sau khi lúa đã được thu hoạch, đưa về kho và người Raglai tổ chức nghi lễ để tạ ơn trời đất, tổ tiên đã ban cho vụ mùa bội thu.</div><div>Bản tiếng anh</div><div>-Number of Raglai people 146 613 people</div><div>&nbsp;The Ra Glai people live mainly in Ninh Thuan province and Khanh Son district, in the south of Khanh Hoa province as well as in Binh Thuan.</div><div>&nbsp;-Language: The Raglai people speak Raglai, a language in the Malay-Polynesian family of Austronesian languages.</div><div>&nbsp;Cultural features:</div><div>&nbsp;- writing</div><div>&nbsp;+ In 1964-1965, the writing of the Raglai people was formed;&nbsp; From here, opening up a massive culture throughout the history of the Raglai people.</div><div>&nbsp;-Clothing style:</div><div>&nbsp;+It's a loincloth (dropper) and a coat.&nbsp; The body of the shirt is not divided into two parts, black (bottom), white (top), but has many black - white rings alternating continuously from bottom to top, each ring is about 4 fingers wide.</div><div>&nbsp;-Festival of the raglai</div><div>&nbsp;The New Rice Festival is one of the biggest festivals of the Raglai people.&nbsp; The new rice festival takes place only after the rice has been harvested, brought to the warehouse and the Raglai people hold a ceremony to thank heaven and earth, their ancestors for the bountiful harvest.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-14 00:56:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553861136</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553861622</link>
         <description><![CDATA[<div>Dân số : gần 2122000 người</div><div>Địa bàn cư trú : sinh sống chủ yếu ở tỉnh Kon Tum, một bộ phận ở tỉnh Quảng Nam</div><div>Ngôn ngữ : tiếng Xơ-đăng - một ngôn ngữ thuộc nhóm Môn - Khơ me (ngữ hệ Nam Á), gần với tiếng Hrê, Ba Na, Gié Triêng.</div><div>Đặc sản văn hóa:Người Xơ Đăng thích hát múa, tấu chiêng cồng, chơi đàn, kể chuyện cổ. Đàn ông không chỉ có tinh thần thượng võ, mà còn tài nghệ trong kiến trúc, điêu khắc và hội họa, tạo nên những sản phẩm tiêu biểu, đó là ngôi nhà rông và cây nêu trong lễ đâm trâu.</div><div>Population : approximately 212000 people</div><div>Place of residence: living mainly in Kon Tum province, a part in Quang Nam province</div><div>Main language: Sodang - a language belonging to the Mon - Khmer group (Southern Asian language family), close to the Hre, Ba Na, and Gie Trieng languages.</div><div>Cultural specialties:</div><div>The Xo Dang people like to sing and dance, play the gongs, play the lute, and tell old stories. Men not only have the spirit of chivalry, but are also talented in architecture, sculpture and painting, creating typical products, which are the communal house and the tree mentioned in the buffalo stabbing ceremony.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-14 00:57:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553861622</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>nguyenpt824</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553862301</link>
         <description><![CDATA[<div>Dân số: 903 người (01/04/2019)Là dân tộc thiểu số ít thứ 3 trong 54 dân tộc ở Việt Nam<br>&nbsp;Địa bàn cư trú: cư trú tập trung ở vùng biên giới Việt - Trung thuộc các tỉnh Hà Giang, Phú Thọ, Tuyên Quang<br>Ngôn ngữ: giỏi nói tiếng H’mông và Quan thoại<br>Nét đặc sắc về văn hóa: Màu chủ đạo trong trang phục và hoa văn là màu đỏ và xanhThiếu nữ Pu Péo vấn tóc quanh đầuThiếu phụ thì búi tóc trước trán, có giắt một chiếc lược gỗ bên trênPhụ nữ đội khăn trong dịp lễ tết hay tiếp kháchĐàn ông thường mặc quần áo nhuộm màu chàm hoặc màu xanhLễ cúng thần rừng<br>-------------------------<br>Population:&nbsp;<br>- 03 people (01/04/2019)<br>- the third least people in 54 ethnic groups</div><div>Place of residents:<br>- concentrated in the Vietnam - China border area in the provinces of Ha Giang, Phu Tho, Tuyen Quang<br>Language:<br>- good at speaking H’mong and Mandarin<br>Cultural Speciality:<br>- costumes and patterns are red and blue</div><div>- Pu Peo girl with hair around her head</div><div>- The young woman has her hair in a bun in front of her forehead, with a wooden comb on top</div><div>- Women wear scarves during the holidays or receive guests</div><div>- Men usually wear indigo or blue dyed clothes</div><div>- The ceremony of worshiping the forest god</div><div><br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-14 00:57:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553862301</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553864513</link>
         <description><![CDATA[<div>*Dân tộc Thái- Diệu Anh<br>Tiếng Việt<br>-Dân số: Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số năm 2019, dân tộc Thái có 1.820.950 người. Trong đó, có 910.202 nam và 910.748 nữ.<br>-Địa bàn cư trú: Người Thái cư trú ở một số tỉnh chủ yếu sau đây tại Việt Nam: Hòa Bình, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Thanh Hóa, Nghệ An. Quá trình di cư từ đầu những năm 1990 đã mở rộng địa bàn cư trú của tộc người này ra một số vùng khác, trong đó có các tỉnh ở khu vực Tây Nguyên.<br>Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái – Kađai).<br>-Nét đặc sắc về văn hóa:<br>&nbsp;Trên mảnh đất Điện Biên, đồng bào Thái chiếm gần 38% trong tổng số hơn 55 vạn dân của tỉnh. Cộng đồng người Thái ở Điện Biên gồm hai nhóm ngành là: Thái đen và Thái trắng. Trải qua quá trình xây dựng và phát triển lâu dài, cộng đồng dân tộc Thái đã tạo dựng cho mình một nền văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc.<br>&nbsp;Trong nền văn hóa ấy trước tiên là kho tàng văn học dân gian phong phú với nhiều nét tinh hoa. Đồng bào Thái đã sáng tạo nên cả một kho tàng thần thoại, truyền thuyết truyền kể về những địa danh linh thiêng, kì bí. Đó là cả một hệ thống các truyền thuyết kể về thuở khai thiên, lập địa, sinh ra loài người. Truyền thuyết Tẩu Pung hay quả bầu mẹ sinh ra các tộc người; truyền thuyết Ải Lậc Cậc được vua trời cử xuống trần gian khai phá đất Mường Thanh.v.v. Hay các hình thức diễn xướng dân gian đặc sắc của dân tộc, những bài then cổ, âm nhạc, dân ca, dân vũ truyền thống.<br>Tiếng Anh<br>&nbsp;-Population: According to survey data of 53 ethnic minorities in 2019, Thai people have 1,820,950 people. In particular, there are 910,202 men and 910,748 women.<br>-Initudes: Thai people reside in some main provinces in Vietnam: Hoa Binh, Lai Chau, Dien Bien, Son La, Lao Cai, Yen Bai, Thanh Hoa, Nghe An. The migration process from the early 1990s has expanded the residence of this ethnic group to some other areas, including provinces in the Central Highlands.<br>Language: belongs to the Tay - Thai language group (Thai - KaĐai).<br>-The special cultural:<br>&nbsp;On Dien Bien land, Thai people account for nearly 38% of the total of more than 55,000 people in the province. The Thai community in Dien Bien consists of two industries: black and white Thai. Experiencing the long -term construction and development process, the Thai ethnic community has created a culture of national identity.<br>&nbsp;In that culture, it is first a rich treasure of folk literature with many elite features. The Thai people have created a whole treasure of myths and legends telling the sacred and mysterious places. It is a system of legends telling about the childhood, setting up, giving birth to humanity. The legend of Pung Pung or the pregnant mother gave birth to ethnic groups; The legend of the high -ranking was sent by the king to the earth to explore the land of Muong Thanh, etc. Or the unique forms of folk performances of the nation, ancient Then songs, music, folk songs, traditional dance.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-14 00:59:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553864513</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc Chu Ru- Phương Trà</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553864782</link>
         <description><![CDATA[<div><br></div><div>&nbsp; &nbsp;<strong>Dân tộc Chu Ru - VN</strong></div><div>1. Dân số: 23 242 người (2019)</div><div>2. Địa bàn cư trú: Chủ yếu ở Lâm Đồng, Ninh Thuận</div><div>3. Ngôn ngữ: Đa số tiếng Chu Ru - một ngôn ngữ thuộc chi Malay-Polynesia trong ngữ hệ Nam Đảo. do cư trú lân cận với người Cơ Ho, nên một bộ phận dân tộc Chu Ru cũng nói tiếng Cơ Ho, thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer.</div><div>4. Nét đặc sắc về văn hoá:<br>4.1 Chuyện cưới hỏi: vẫn giữ theo chế độ mẫu hệ<br>4.2 Phong tục tập quán:&nbsp;<br>- Sinh sống theo làng và người đứng dầu do dân trong làng lựa chọn<br>Đồng bào dân tộc Chu-ru thường sống thành một đại gia đình lớn, gồm 3-4 thế hệ<br>4.3 Truyền thống: làm nông nghiệp - lúa là lương thực chủ yếu<br>4.4 Trang phục:&nbsp;<br>- Đàn ông và phụ nữ đều sử dụng khăn đội đầu<br>- Đàn ông Chu-ru thường mặc trang phục truyền thống có nền trắng, tấm choàng buộc chéo từ nách bên này sang nách bên kia, quần dài, tấm khăn quấn trên đầu cũng màu trắng -&gt; Mặc dịp lễ hội + đám cưới + đám tang. Ngày thường ăn mặc đơn giản: quần trắng + áo trắng<br>- Phụ nữ Chu-ru thường mặc áo sơ mi khoác bên ngoài một tấm choàng, Tấm choàng màu trắng được mặc trong các dịp lễ còn tấm choàng màu đen sử dụng hàng ngày. Váy thường có màu xanh đen.<br>4.5 Văn nghệ: Người Chu-ru có vốn ca dao, tục ngữ, truyện cổ, trường ca rất phong phú và họ cũng lưu giữ được nhiều loại nhạc cụ đặc sắc như trống, kèn đồng la, r’tông, tenia…</div><div><br><br></div><div><strong>Chu Ru ethnic group - VN</strong></div><div>1. Population: 23 242 people (2019)</div><div>2. Place of residence: Mainly in Lam Dong, Ninh Thuan</div><div>3. Language: Most of Chu Ru - a language belonging to the Malay-Polynesian genus in the Austronesian language family. Due to living in the vicinity of the Co Ho people, a part of the Chu Ru ethnic group also speaks the Co Ho language, which belongs to the Mon-Khmer language group.</div><div>4. Cultural features:</div><div>4.1 Wedding story: still follow the matriarchy</div><div>4.2 Customs:</div><div>- Live in the village and the leader is chosen by the villagers</div><div>- Chu-ru ethnic people often live in a large family, consisting of 3-4 generations</div><div>4.3 Tradition: farming - rice is the staple food</div><div>4.4 Clothes:</div><div>&nbsp;- Men and women both wear headscarves</div><div>&nbsp;Chu-ru men often wear traditional clothes with a white background, a scarf tied from one armpit to the other, long pants, and a white scarf on the head -&gt; Worn for festivals, weddings and funerals. Normal day simple dress: white pants, white shirt</div><div>&nbsp;- Chu-ru women usually wear a shirt over a cape, the white robe is worn on holidays and the black cape is used daily. Dresses are usually dark blue.</div><div>4.5: Entertainment, arts: The Chu-ru have a rich capital of folk songs, proverbs, old stories, and epics and they also preserve many unique musical instruments such as drums, brass, r'ton, tenia...</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-14 01:00:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553864782</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân số: 25.539 người (Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số 01/4/2019).Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến (ngữ hệ Hán-Tạng), gần với Miến hơn.Phân bố địa lý: Người Hà Nhì Hoa chủ yếu cư trú tại các huyện của hai tỉnh Điện Biên và Lai Châu; người Hà Nhì Đen cư trú chủ yếu tại các xã trong huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, một bộ phận cư trú ở hai tỉnh Điện Biên và Lai Châu.Cưới xin: Tuỳ từng vùng phong tục cưới xin khác nhau nhưng một điểm chung nhất là các cuộc hôn nhân do trai gái tự tìm hiểu. Ở vùng Bát Xát (Lào Cai), cưới qua nhiều bước. Sau ba lần dạm hỏi, lễ cưới thứ nhất được tổ chức nhằm đưa con dâu về nhà chồng. Lần cưới thứ hai ăn uống linh đình ở nhà gái. Lễ này chỉ diễn ra sau khi đôi vợ chồng làm ăn khá giả, lúc đó họ đã có con, cháu, có người 50-60 năm sau hoặc cho đến khi chết vẫn chưa tổ chức được lễ cưới này.Ở Tây Bắc, sau lễ hỏi, con rể đến ở rể. Nếu trả ngay tiền cưới thì không phải ở rể, lễ cưới được tổ chức ngay, từ đó con dâu mang họ của chồng.Ma chay: Quan tài bằng thân cây khoét rỗng, có nắp đậy kín. Nơi đào huyệt được chọn bằng cách ném trứng, trứng vỡ ở đâu thì đào ở đấy. Kiêng chôn vào mùa mưa, vào thời điểm đó quan tài người chết được treo xuống huyệt nhưng không lấp, bên trên có nhà táng hoặc đặt trên giàn. Hết mùa mưa mới đem chôn quan tài có người chết.Thờ cúng: Họ tin có linh hồn, thờ cúng tổ tiên, cúng bản và các nghi lễ nông nghiệp.Lễ tết: Người Hà Nhì ăn tết năm mới vào đầu tháng 10 âm lịch. Trong năm còn có Tết cơm mới, Tết mồng năm tháng năm, rằm tháng 7.Học: Người Hà Nhì chưa có chữ viết riêng, việc giáo dục chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống được truyền từ đời này qua đời khác.Văn nghệ: Người Hà Nhì có nền văn học dân gian với nhiều thể loại như truyện thần kỳ, cổ tích, trường ca, ca dao, thành ngữ...Dân ca, dân vũ là những hình thức văn nghệ được mọi lứa tuổi ưa thích. Các loại nhạc cụ có trống, chiêng, đàn tính, đàn môi, sáo.Trang phục truyền thống: Áo của nam giới được làm bằng vải tự dệt, nhuộm màu chàm hoặc đen. Quần chân què, cạp to, gấu có viền, chiều dài phù hợp với chiều cao của người mặc. Phụ nữ ở hai nhóm Hà Nhì ăn mặc khác nhau. Phụ nữ Hà Nhì Đen chủ yếu mặc áo và đội khăn màu chàm, không trang trí, thêu thùa, áo ngắn đến đầu gối, gấu to và hơi nhô ra ở phần giữa, cài cúc bên nách phải và chỉ trang trí bằng cách đính những đồng xu, khuy bạc. Chỉ phụ nữ có chồng mới đội khăn. Áo của phụ nữ Hà Nhì Hoa được may hai lớp, dài đến mắt cá chân, tay áo được trang trí hoa văn và đầu đội khăn màu sặc sỡ.Tín ngưỡng: Người Hà Nhì luôn tin vào “vạn vật hữu linh” - mọi vật đều có linh hồn và luôn có thần linh đại diện ngự trị. Vì vậy vào những ngày nhất định trong năm, người Hà Nhì thường tổ chức các nghi lễ cúng truyền thống để cầu mong thần linh che chở, phù hộ cho con người được bình yên, mạnh khỏe, mùa màng bội thu. “Gà tu tu” là nghi lễ cúng thần linh đầu tiên vào mỗi dịp đầu năm mới. Đây là nghi lễ căng dây cấm đường, cấm người lạ vào, ngăn không cho ma xấu vào làm hại dân bản, thường được tổ chức vào ngày Dần đầu tiên của tháng Giêng. Lễ cúng thần nước: cúng tại nguồn nước thiêng “Lù khụ sụ” để nguồn nước không bao giờ ngừng chảy. Buổi chiều ngay sau lễ cúng thần nước, người Hà Nhì sẽ làm lễ cúng “Gạ ma gio”, một trong những nghi lễ lớn và quan trọng đối với họ. Vào tháng ba hằng năm, người Hà Nhì làm lễ cúng thần rừng “Mu thu gio”, cầu mùa màng tốt tươi, gia súc phát triển, con cháu trong làng đông đúc. Lễ hội cúng cầu mùa “Khô già già”: một trong những lễ thức lớn nhất trong năm và đặc sắc nhất của người Hà Nhì, để cầu thần linh bảo vệ mùa màng, ban mưa thuận gió hòa cho cây cối phát triển, mùa vụ bội thu. Ngoài ra, hằng năm người Hà Nhì còn cúng thần Thổ Ty và cây thần, bảo vệ cuộc sống bình yên cho người dân.Population: 25,539 people (according to the census of 53 ethnic minorities on April 1, 2019).Language: The language belongs to the Tibeto-Burmese language group (the Sino-Tibetan language family), closer to Burmese.Place of residence: Ha Nhi Hoa people mainly reside in the districts of Dien Bien and Lai Chau provinces; Black Ha Nhi people live mainly in communes in Bat Xat district, Lao Cai province; a part of them also reside in the two provinces of Dien Bien and Lai Chau.Weddings: Depending on the region, wedding customs are different, but one thing they have in common is that marriages are conducted by boys and girls. In the Bat Xat area (Lao Cai), marriage goes through many steps. After three requests, the first wedding ceremony was held to bring the daughter-in-law to her husband&#39;s house. The second marriage involved eating lavishly at the bride&#39;s house. This ceremony only takes place after the couple is well off; at that time they will have children and grandchildren; some 50–60 years later, or until their deaths, they may not have yet held this wedding ceremony. In the Northwest, after the interrogation ceremony, the son-in-law comes to stay. If you pay the wedding money right away, you will not have to stay with the groom; the wedding ceremony will be held right away, and the daughter-in-law will have her husband&#39;s last name.Funeral: The coffin is made of hollow tree trunks with a tight lid. The place to dig the grave is chosen by throwing eggs; where the eggs are broken, they are dug there. Abstain from burying in the rainy season; at that time, the coffin of the dead is hung in the grave but not covered, either with a funeral home or on a truss. At the end of the rainy season, the coffins of the dead are buried. Worship: They believe in spirits, ancestor worship, village worship, and agricultural rituals. Tet holiday: The Ha Nhi people celebrate the New Year at the beginning of the 10th lunar month. During the year, there are also the New Rice Festivals, New Year&#39;s Day in May, and the full moon of July. Art: The Ha Nhi people have folk literature with many genres such as miracle stories, fairy tales, epics, folk songs, idioms, etc. Folk songs and folk dances are forms of art enjoyed by all ages. like.  Instruments include drums, gongs, zithers, lutes, and flutes. Traditional clothing: A man&#39;s shirt is made of self-woven fabric, dyed indigo or black. Pants with lame legs, a big waist, hems with hems, and a length suitable for the wearer&#39;s height Women in the two Ha Nhi groups dress differently. Black  Ha Nhi women mainly wear indigo shirts and scarves, unadorned, embroidered, short to the knee, with a large and slightly protruding bear in the middle, buttoned on the right armpit, and decorated only by attaching silver coins and buttons. Only married women wear scarves. Ha Nhi Hoa&#39;s women&#39;s shirt is sewn in two layers, reaching to the ankles; the sleeves are decorated with patterns; and the head wears a colorful scarf.Belief: Ha Nhi people always believe in &quot;animistic things&quot;—everything has a soul and always has a representative god. Therefore, on certain days of the year, Ha Nhi people often organize traditional worshiping rituals to pray to the gods to protect and bless people with peace, health, and good harvests. “Chicken tu tu” is the first ritual to worship the gods at the beginning of each new year. This is a ritual to stretch the rope to block the road, ban strangers from entering, and prevent bad ghosts from harming the villagers. It is usually held on the first Tiger Day of January. ceremony of worshiping the water god: making offerings to the sacred water source &quot;Lù kù su&quot; so that the water source never stops flowing. In the afternoon, right after the water god worshiping ceremony, the Ha Nhi people will perform the &quot;Ga ma gio&quot; ceremony, one of the big and important rituals for them. In March every year, Ha Nhi people make offerings to the forest god &quot;Mu thu gio,&quot; praying for good crops, cattle development, and descendants in the crowded village. Festival to pray for the season &quot;Dry and old&quot;: One of the biggest and most special ceremonies of the year of the Ha Nhi people is to pray to the gods to protect the crops and to grant favorable rain and wind for the trees to grow and the season to grow. bumper crop.  In addition, every year, Ha Nhi people also worship the god Tho Ty and the tree, which protect the peaceful lives of the people. </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553865091</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-14 01:00:29 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553865091</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc Hà Nhì</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553866713</link>
         <description><![CDATA[<div>Dân số: 25.539 người (Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số 01/4/2019).<br>Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến (ngữ hệ Hán-Tạng), gần với Miến hơn.<br>Phân bố địa lý: Người Hà Nhì Hoa chủ yếu cư trú tại các huyện của hai tỉnh Điện Biên và Lai Châu; người Hà Nhì Đen cư trú chủ yếu tại các xã trong huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, một bộ phận cư trú ở hai tỉnh Điện Biên và Lai Châu.<br><br>Cưới xin: Tuỳ từng vùng phong tục cưới xin khác nhau nhưng một điểm chung nhất là các cuộc hôn nhân do trai gái tự tìm hiểu. Ở vùng Bát Xát (Lào Cai), cưới qua nhiều bước. Sau ba lần dạm hỏi, lễ cưới thứ nhất được tổ chức nhằm đưa con dâu về nhà chồng. Lần cưới thứ hai ăn uống linh đình ở nhà gái. Lễ này chỉ diễn ra sau khi đôi vợ chồng làm ăn khá giả, lúc đó họ đã có con, cháu, có người 50-60 năm sau hoặc cho đến khi chết vẫn chưa tổ chức được lễ cưới này.<br>Ở Tây Bắc, sau lễ hỏi, con rể đến ở rể. Nếu trả ngay tiền cưới thì không phải ở rể, lễ cưới được tổ chức ngay, từ đó con dâu mang họ của chồng.<br><br>Ma chay: Quan tài bằng thân cây khoét rỗng, có nắp đậy kín. Nơi đào huyệt được chọn bằng cách ném trứng, trứng vỡ ở đâu thì đào ở đấy. Kiêng chôn vào mùa mưa, vào thời điểm đó quan tài người chết được treo xuống huyệt nhưng không lấp, bên trên có nhà táng hoặc đặt trên giàn. Hết mùa mưa mới đem chôn quan tài có người chết.<br><br>Thờ cúng: Họ tin có linh hồn, thờ cúng tổ tiên, cúng bản và các nghi lễ nông nghiệp.<br><br>Lễ tết: Người Hà Nhì ăn tết năm mới vào đầu tháng 10 âm lịch. Trong năm còn có Tết cơm mới, Tết mồng năm tháng năm, rằm tháng 7.<br><br>Học: Người Hà Nhì chưa có chữ viết riêng, việc giáo dục chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống được truyền từ đời này qua đời khác.<br><br>Văn nghệ: Người Hà Nhì có nền văn học dân gian với nhiều thể loại như truyện thần kỳ, cổ tích, trường ca, ca dao, thành ngữ...Dân ca, dân vũ là những hình thức văn nghệ được mọi lứa tuổi ưa thích. Các loại nhạc cụ có trống, chiêng, đàn tính, đàn môi, sáo.<br><br>Trang phục truyền thống: Áo của nam giới được làm bằng vải tự dệt, nhuộm màu chàm hoặc đen. Quần chân què, cạp to, gấu có viền, chiều dài phù hợp với chiều cao của người mặc. Phụ nữ ở hai nhóm Hà Nhì ăn mặc khác nhau. Phụ nữ Hà Nhì Đen chủ yếu mặc áo và đội khăn màu chàm, không trang trí, thêu thùa, áo ngắn đến đầu gối, gấu to và hơi nhô ra ở phần giữa, cài cúc bên nách phải và chỉ trang trí bằng cách đính những đồng xu, khuy bạc. Chỉ phụ nữ có chồng mới đội khăn. Áo của phụ nữ Hà Nhì Hoa được may hai lớp, dài đến mắt cá chân, tay áo được trang trí hoa văn và đầu đội khăn màu sặc sỡ.<br>Tín ngưỡng: Người Hà Nhì luôn tin vào “vạn vật hữu linh” - mọi vật đều có linh hồn và luôn có thần linh đại diện ngự trị. Vì vậy vào những ngày nhất định trong năm, người Hà Nhì thường tổ chức các nghi lễ cúng truyền thống để cầu mong thần linh che chở, phù hộ cho con người được bình yên, mạnh khỏe, mùa màng bội thu. “Gà tu tu” là nghi lễ cúng thần linh đầu tiên vào mỗi dịp đầu năm mới. Đây là nghi lễ căng dây cấm đường, cấm người lạ vào, ngăn không cho ma xấu vào làm hại dân bản, thường được tổ chức vào ngày Dần đầu tiên của tháng Giêng. Lễ cúng thần nước: cúng tại nguồn nước thiêng “Lù khụ sụ” để nguồn nước không bao giờ ngừng chảy. Buổi chiều ngay sau lễ cúng thần nước, người Hà Nhì sẽ làm lễ cúng “Gạ ma gio”, một trong những nghi lễ lớn và quan trọng đối với họ. Vào tháng ba hằng năm, người Hà Nhì làm lễ cúng thần rừng “Mu thu gio”, cầu mùa màng tốt tươi, gia súc phát triển, con cháu trong làng đông đúc. Lễ hội cúng cầu mùa “Khô già già”: một trong những lễ thức lớn nhất trong năm và đặc sắc nhất của người Hà Nhì, để cầu thần linh bảo vệ mùa màng, ban mưa thuận gió hòa cho cây cối phát triển, mùa vụ bội thu. Ngoài ra, hằng năm người Hà Nhì còn cúng thần Thổ Ty và cây thần, bảo vệ cuộc sống bình yên cho người dân.<br><br>Population: 25,539 people (according to the census of 53 ethnic minorities on April 1, 2019).<br><br>Language: The language belongs to the Tibeto-Burmese language group (the Sino-Tibetan language family), closer to Burmese.<br><br>Place of residence: Ha Nhi Hoa people mainly reside in the districts of Dien Bien and Lai Chau provinces; Black Ha Nhi people live mainly in communes in Bat Xat district, Lao Cai province; a part of them also reside in the two provinces of Dien Bien and Lai Chau.<br><br>Weddings: Depending on the region, wedding customs are different, but one thing they have in common is that marriages are conducted by boys and girls. In the Bat Xat area (Lao Cai), marriage goes through many steps. After three requests, the first wedding ceremony was held to bring the daughter-in-law to her husband's house. The second marriage involved eating lavishly at the bride's house. This ceremony only takes place after the couple is well off; at that time they will have children and grandchildren; some 50–60 years later, or until their deaths, they may not have yet held this wedding ceremony. In the Northwest, after the interrogation ceremony, the son-in-law comes to stay. If you pay the wedding money right away, you will not have to stay with the groom; the wedding ceremony will be held right away, and the daughter-in-law will have her husband's last name.<br><br>Funeral: The coffin is made of hollow tree trunks with a tight lid. The place to dig the grave is chosen by throwing eggs; where the eggs are broken, they are dug there. Abstain from burying in the rainy season; at that time, the coffin of the dead is hung in the grave but not covered, either with a funeral home or on a truss. At the end of the rainy season, the coffins of the dead are buried.<br>&nbsp;Worship: They believe in spirits, ancestor worship, village worship, and agricultural rituals. Tet holiday: The Ha Nhi people celebrate the New Year at the beginning of the 10th lunar month. During the year, there are also the New Rice Festivals, New Year's Day in May, and the full moon of July.&nbsp;<br>Art: The Ha Nhi people have folk literature with many genres such as miracle stories, fairy tales, epics, folk songs, idioms, etc. Folk songs and folk dances are forms of art enjoyed by all ages. like.&nbsp; Instruments include drums, gongs, zithers, lutes, and flutes.<br>&nbsp;Traditional clothing: A man's shirt is made of self-woven fabric, dyed indigo or black. Pants with lame legs, a big waist, hems with hems, and a length suitable for the wearer's height Women in the two Ha Nhi groups dress differently. Black&nbsp; Ha Nhi women mainly wear indigo shirts and scarves, unadorned, embroidered, short to the knee, with a large and slightly protruding bear in the middle, buttoned on the right armpit, and decorated only by attaching silver coins and buttons. Only married women wear scarves. Ha Nhi Hoa's women's shirt is sewn in two layers, reaching to the ankles; the sleeves are decorated with patterns; and the head wears a colorful scarf.<br>Belief: Ha Nhi people always believe in "animistic things"—everything has a soul and always has a representative god. Therefore, on certain days of the year, Ha Nhi people often organize traditional worshiping rituals to pray to the gods to protect and bless people with peace, health, and good harvests. “Chicken tu tu” is the first ritual to worship the gods at the beginning of each new year. This is a ritual to stretch the rope to block the road, ban strangers from entering, and prevent bad ghosts from harming the villagers. It is usually held on the first Tiger Day of January. ceremony of worshiping the water god: making offerings to the sacred water source "Lù kù su" so that the water source never stops flowing. In the afternoon, right after the water god worshiping ceremony, the Ha Nhi people will perform the "Ga ma gio" ceremony, one of the big and important rituals for them. In March every year, Ha Nhi people make offerings to the forest god "Mu thu gio," praying for good crops, cattle development, and descendants in the crowded village. Festival to pray for the season "Dry and old": One of the biggest and most special ceremonies of the year of the Ha Nhi people is to pray to the gods to protect the crops and to grant favorable rain and wind for the trees to grow and the season to grow. bumper crop.&nbsp; In addition, every year, Ha Nhi people also worship the god Tho Ty and the tree, which protect the peaceful lives of the people.<br>&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-14 01:01:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553866713</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553867926</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://docs.google.com/document/d/1M6H8j-91qCPXzPUwX_0EobnTwG_eSHwPGXOK3v46BLo/edit?usp=sharing" />
         <pubDate>2023-04-14 01:03:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553867926</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553868739</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Dân tộc Chu Ru - VN</strong></div><div>1. Dân số: 23 242 người (2019)</div><div>2. Địa bàn cư trú: Chủ yếu ở Lâm Đồng, Ninh Thuận</div><div>3. Ngôn ngữ: Đa số tiếng Chu Ru - một ngôn ngữ thuộc chi Malay-Polynesia trong ngữ hệ Nam Đảo. do cư trú lân cận với người Cơ Ho, nên một bộ phận dân tộc Chu Ru cũng nói tiếng Cơ Ho, thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer.</div><div>4. Nét đặc sắc về văn hoá:<br>4.1 Chuyện cưới hỏi: vẫn giữ theo chế độ mẫu hệ<br>4.2 Phong tục tập quán:&nbsp;<br>- Sinh sống theo làng và người đứng dầu do dân trong làng lựa chọn<br>- Đồng bào dân tộc Chu-ru thường sống thành một đại gia đình lớn, gồm 3-4 thế hệ<br>4.2 Truyền thống: làm nông nghiệp - lúa là lương thực chủ yếu<br>4.3 Trang phục:&nbsp;<br>- Đàn ông và phụ nữ đều sử dụng khăn đội đầu<br>- Đàn ông Chu-ru thường mặc trang phục truyền thống có nền trắng, tấm choàng buộc chéo từ nách bên này sang nách bên kia, quần dài, tấm khăn quấn trên đầu cũng màu trắng -&gt; Mặc dịp lễ hội + đám cưới + đám tang. Ngày thường ăn mặc đơn giản: quần trắng + áo trắng<br>- Phụ nữ Chu-ru thường mặc áo sơ mi khoác bên ngoài một tấm choàng, Tấm choàng màu trắng được mặc trong các dịp lễ còn tấm choàng màu đen sử dụng hàng ngày. Váy thường có màu xanh đen.<br><br>4.4 Văn nghệ: Người Chu-ru có vốn ca dao, tục ngữ, truyện cổ, trường ca rất phong phú và họ cũng lưu giữ được nhiều loại nhạc cụ đặc sắc như trống, kèn đồng la, r’tông, tenia…</div><div><br><br></div><div><strong>Chu Ru ethnic group - VN</strong></div><div>1/ Population: 23 242 people (2019)</div><div>2/ Place of residence: Mainly in Lam Dong, Ninh Thuan</div><div>3/ Most of Chu Ru - a language belonging to the Malay-Polynesian genus in the Austronesian language family. Due to living in the vicinity of the Co Ho people, a part of the Chu Ru ethnic group also speaks the Co Ho language, which belongs to the Mon-Khmer language group.</div><div>4/ Cultural features:</div><div>4.1 Wedding story: still follow the matriarchy</div><div>4.2 Custom:</div><div>&nbsp;- Live in the village and the leader is chosen by the villagers</div><div>&nbsp;- Chu-ru ethnic people often live in a large family, consisting of 3-4 generations</div><div>4.2 Tradition: farming - rice is the staple food</div><div>4.3 Clothes:</div><div>&nbsp;- Men and women both wear headscarves</div><div>&nbsp;Chu-ru men often wear traditional clothes with a white background, a scarf tied from one armpit to the other, long pants, and a white scarf on the head -&gt; Worn for festivals, weddings and funerals. Normal day simple dress: white pants, white shirt</div><div>&nbsp;- Chu-ru women usually wear a shirt over a cape, the white robe is worn on holidays and the black cape is used daily. Dresses are usually dark blue.</div><div>4.4 Arts: The Chu-ru have a rich capital of folk songs, proverbs, old stories, and epics and they also preserve many unique musical instruments such as drums, brass, r'ton, tenia...</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1863048717/15949991fb2e895c22790080db8e26c0/64597CCA_3746_4D3B_AE22_DA0C9B15F80B.jpg" />
         <pubDate>2023-04-14 01:03:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2553868739</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2554338019</link>
         <description><![CDATA[<div>Dân&nbsp;tộc Mạ - Thục Quyên</div>]]></description>
         <enclosure url="https://docs.google.com/document/d/1m_HQoALz5OAkdH1r5nFrNGsaaOMKKCf78JRkFlT40rk/edit#" />
         <pubDate>2023-04-14 09:07:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2554338019</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân Tộc Sán Dìu</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2560818623</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://docs.google.com/document/d/1vfH9ZBMF2dhlDdcHvzEqxvUfof7fTXCjwhMfLHqN5cc/edit" />
         <pubDate>2023-04-19 23:56:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2560818623</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2562532038</link>
         <description><![CDATA[<div><a href="https://docs.google.com/document/d/14QylBIQJq58D-l02UxIAJV20GTl1fFflCJosdnNtGR4/edit">https://docs.google.com/document/d/14QylBIQJq58D-l02UxIAJV20GTl1fFflCJosdnNtGR4/edit</a></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-21 00:30:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2562532038</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2562533842</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Phương Nhi- Dân tộc Khơ mú</strong></div><div><strong>I, Vietsub</strong></div><ol><li>Dân số: 90612 người</li></ol><div><br></div><ol><li>Địa bàn cư trú: Tại Việt Nam, họ sống tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung Bộ như Nghệ An, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Yên Bái, Thanh Hóa</li></ol><div><br></div><ol><li>Ngôn ngữ: Người Khơ Mú nói tiếng Khơ Mú, một ngôn ngữ trong ngữ tộc Môn-Khmer của ngữ hệ Nam Á</li></ol><div><br></div><ol><li>Nét đặc sắc về văn hoá:</li></ol><ul><li>Nhà ở: Nhà ở truyền thống của người Khơ Mú là kiểu nhà nửa sàn nửa đất và thường được làm ở trên đồi cao ven nương rẫy để tránh thú rừng</li><li>Trang phục: Người Khơ Mú không phát triển nghề dệt vải, nên thường mua quần áo, váy của người Thái để mặc. Sắc thái Khơ Mú thể hiện ở trang phục hầu như đã bị phai mờ tuy trang sức của phụ nữ còn có đôi điểm riêng biệt.</li><li>Lễ cúng ma nhà (Hroigang):&nbsp;</li><li>Trong các hội hè, các nghi lễ người hóa trang giống như hổ</li><li>Khi còn sống, người ta kiêng đắp chăn sặc sỡ như lông hổ, khi chết, người ta đắp cho chiếc chăn khác màu lông hổ và đặt chiếc chăn giống màu lông hổ bên cạnh người chết để hồn được siêu thoát và trở về với hổ, có nghĩa là về với tổ tiên</li><li>Với quan niệm hổ là tổ tiên của mình, người Khơ mú thuộc họ Rvai kiêng không động tay vào hổ, không săn bắt, giết, ăn thịt hổ.</li><li>Hôn nhân gia đình:&nbsp;</li><li>Ở gia đình người Khơ Mú, vợ chồng bình đẳng, chung thủy.</li><li>Người Khơ Mú có tục cưới rể một năm, sau đó mới đưa vợ về nhà mình</li><li>Tổ chức cộng đồng: Các họ của người Khơ Mú thường mang tên một loài thú, một loài chim hay một thứ cây nào đó.</li></ul><div><strong>II, Engsub</strong></div><ol><li>Population: 90612 people</li></ol><div><br></div><ol><li>&nbsp;Place of residence: In Vietnam, they live mainly in the northern and northern central provinces such as Nghe An, Son La, Lai Chau, Dien Bien, Yen Bai, and Thanh Hoa.</li></ol><div><br></div><ol><li>&nbsp;Language: The Khmu people speak the Khmu language, a language in the Mon-Khmer language family of the Austroasiatic language family.</li></ol><div><br></div><ol><li>&nbsp; Cultural features:</li></ol><ul><li>&nbsp; Housing: The traditional house of the Kho Mu is a half-yard half-land house &nbsp; and is usually built on high hills along the hillside to avoid wild animals.</li><li>&nbsp;Costumes: The Kho Mu people do not develop the profession of hugging cloth, so they often buy clothes and costumes of the Thai people to wear.&nbsp; The Kho Mu nuance shown in costumes has almost faded, although women's jewelry still has a few distinct points.</li><li>&nbsp;Hroigang (House Ghost Worshiping Ceremony):</li><li>During festivals, people dress up like tigers</li><li>&nbsp; While still alive, people abstain from covering the sun with blankets like tiger fur, when they die, people cover a blanket with a different color of tiger fur and place a blanket similar to tiger fur next to the dead person so that the soul can escape and return to the tiger.&nbsp; is about with the combs</li><li>&nbsp; With the concept that tigers are their ancestors, the Khmu people of the Rvai family abstain from touching tigers, hunting, killing or eating tiger meat.</li><li>&nbsp; Family rendezvous:</li><li>&nbsp; In the Kho Mu family, husband and wife are equal and faithful.</li><li>&nbsp;The Khmu people have the custom of marrying a son-in-law, then bringing his wife back to his house</li><li>Community organization: The families of the Kho Mu people often bear the name of a certain animal, bird or tree species.</li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-21 00:31:43 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2562533842</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc Mông(H’Mông)-Minh Châu</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2562539394</link>
         <description><![CDATA[<div>V<strong>ietnamese:</strong></div><ul><li>Dân số: 1 393 547 (người)</li><li>Địa bàn cư trú: tập trung ở miền núi vùng cao thuộc các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Cao Bằng, Nghệ An.</li><li>Ngôn ngữ: tiếng H’Mông</li><li>Nét đặc sắc về văn hoá:&nbsp; &nbsp;</li></ul><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;+) Phong tục tập quán: thờ cúng tổ tiên, thờ thần bảo hộ</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;+) Lễ hội:_Lễ hội Tầu sừ: tổ chức vào dịp Tết truyền thống của người Mông</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; _Lễ Nào xông: diễn ra vào ngày Thìn tháng Giêng hàng năm</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; _Lễ Tết rừng: tổ chức vào ngày 28 tháng Giêng hàng năm</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;+)Các loại hình văn hóa vật thể độc đáo như: ẩm thực; kiến trúc nhà ở; nghề truyền thống</div><div><strong>English:</strong></div><ul><li>Population: 1 393 547 (people)</li><li>Area of ​​residence: living in the highland areas of Ha Giang, Tuyen Quang, Lao Cai, Yen Bai, Lai Chau, Son La, Cao Bang, and Nghe An provinces.</li><li>Language: H'Mong language</li><li>Cultural features:</li></ul><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;+) Customs and habits: worshiping ancestors, worshiping guardian gods</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;+) Festivals: _ Tau Su Festival: held on the traditional Tet holiday of the Mong people</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;_Which festival takes place on the Dragon day of January every year</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;_ Forest Festival: held on January 28 every year</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;+) Unique types of material culture such as: cuisine; housing architecture; traditional job</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-21 00:36:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2562539394</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân Tộc Thổ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2562550572</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em>Dân tộc Thổ</em></strong></div><div><strong>1.Dân số:</strong></div><div>Người Thổ có khoảng 69.000 người, chủ yếu sinh sống tại miền tây tỉnh Nghệ An và tỉnh Thanh Hóa</div><div>Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, người Thổ ở Việt Nam có dân số 91.430 người</div><div><strong>2.Địa bàn cư trú:</strong></div><div>Dân tộc thổ có mặt tại 60 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Thổ cư trú tập trung tại tỉnh Nghệ An (59.579 người, chiếm 80,0% tổng số người Thổ tại Việt Nam), Thanh Hóa (9.652 người, chiếm 13,0% tổng số người Thổ tại Việt Nam), Lâm Đồng (966 người), Đồng Nai (657 người), Đắk Lắk (541 người), Bình Dương (510 người), Thành phố Hồ Chí Minh (362 người), Điện Biên (226 người), Đắk Nông (216 người), Hà Nội (211 người)</div><div><strong>3.Ngôn ngữ:</strong></div><div>Người Thổ nói tiếng Thổ, tiếng Cuối... ngôn ngữ thuộc Ngữ chi Việt</div><div><strong>4.Nét đặc sắc về văn hoá:&nbsp;</strong></div><ul><li>Người Thổ có tục "ngủ mái": nam nữ thanh niên được nằm tâm tình với nhau, nhất là vào dịp tết, lễ hội</li><li>Đám tang của người Thổ trước kia có nhiều nét độc đáo. Họ dùng quan tài độc mộc, khiêng người chết đi chôn thì để chân hướng về phía trước, còn mộ thường để chân hướng xuôi theo chiều nước chảy</li><li>Xưa kia người Thổ có nhiều ca dao, tục ngữ, câu đố, truyện cổ, các điệu ca hát của người lớn, những bài đồng dao của trẻ, đặc biệt là những điệu hát ru, v.v</li><li>vào dịp hội hè lễ tết thì người Thổ lại tập trung nhau lại các đôi trai gái lai cùng nhau uống rượu cần, cùng hát múa, tiếng cồng chiêng hoà chung với những câu hát đối tạo nên những âm thanh vang vọng trong đêm hội</li><li>Người Thổ quen sống trên nhà sàn</li><li>Đồ mặc có nơi giống như y phục của người Kinh nông thôn nửa thế kỷ về trước, có nơi phụ nữ dùng cả váy mua của người Thái&nbsp;</li><li>Ở vùng Thổ phổ biến tập quán phụ nữ đội khăn vuông trắng, còn khăn tang là khăn trắng dài&nbsp;</li></ul><div><strong><em>Turkish people:</em></strong></div><div><strong>1.Population </strong><br>&nbsp;The Tho people have about 69,000 people, mainly living in western Nghe An and Thanh Hoa provinces<br>&nbsp;According to the 2019 Population and Housing Census, the Tho people in Vietnam have a population of 91,430 people<br>&nbsp;<strong>2.Residence area</strong><br> Aboriginal people are present in 60 out of 63 provinces and cities.&nbsp; Tho people concentrated in Nghe An province (59,579 people, accounting for 80.0% of the total number of Tho people in Vietnam), Thanh Hoa (9,652 people, accounting for 13.0% of the total number of Tho people in Vietnam), Lam Dong&nbsp; (966 people), Dong Nai (657 people), Dak Lak (541 people), Binh Duong (510 people), Ho Chi Minh City (362 people), Dien Bien (226 people), Dak Nong (216 people),&nbsp; Hanoi (211 people)<br> <strong>3. Language </strong><br>&nbsp;Tho people speak Turkish, Cui... the language of Vietnamese language<br>&nbsp;<strong>4.Cultural feature </strong><br> •The Turks have the custom of "sleeping on the roof": young men and women can lie down with each other, especially on Tet and festivals.<br>• The funerals of the Turks in the past had many unique features.&nbsp; They use a single wooden coffin, carry the dead to bury, with their feet facing forward, while the grave often has their feet facing down in the direction of water flow.<br>• In the past, the Turks had many folk songs, proverbs, riddles, old stories, adult songs, children's rhymes, especially lullabies, etc.<br> •On the occasion of the festival, the Tho people gather together, the mixed-race couples drink can wine, sing and dance together, the sound of gongs mingles with the parallel songs to create echoes in the festival night.<br>• The Turks are used to living on stilts<br> •The clothes are worn in some places like those of the Kinh people in the countryside half a century ago, in some places, women even use skirts bought from Thai people.<br>• In the Turkish region, it is common for women to wear a white square scarf, and a mourning scarf is a long white scarf</div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2027852643/fc194b20f98f803f50069808e99a7174/78A7D543_340A_4B81_B42F_4E8CCCBF8D1F.jpeg" />
         <pubDate>2023-04-21 00:45:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2562550572</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2562550980</link>
         <description><![CDATA[<div>Hoàng Mạnh Hưng</div><div>Bản tiếng việt</div><div>Dân tộc Sán chay:</div><div>-Người Sán Chay có các tên gọi khác như: Hờn Bán, Chùng, Trại..., nhóm địa phương: Cao Lan và Sán Chỉ thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái</div><div>-Dân số: Theo số liệu điều tra dân tộc thiểu số 1/4/ 2019, tổng dân số người Sán Chay: 201.398 người; dân số nam: 102.750 người; dân số nữ: 98.648 người; quy mô hộ: 3.9 người/hộ; tỷ lệ dân số sống ở khu vực nông thôn: 94.7%.</div><div>-Địa bàn cư trú: Người Sán Chay cư trú rải rác, xen lẫn với các dân tộc ít người khác, tại một số địa phương thuộc các tỉnh nằm ở phần đông nam vùng Đông Bắc Việt Nam</div><div>-Ngôn ngữ: Người Sán Chay hình thành hainhóm địa phương gồm: Cao Lan và Sán Chỉ. Tiếng Cao Lan thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái (ngữ hệ Thái-Kađai) còn tiếng Sán Chỉ thuộc nhóm ngôn ngữ Hán (ngữ hệ Hán Tạng).</div><div>-Nét đặc sắc về văn hóa:</div><div>+Trang phục: Hiện nay trang phục của người Sán Chay thường giống Kinh hoặc Tày. Thường ngày phụ nữ Sán Chay dùng chiếc dây đeo bao dao thay cho thắt lưng. Trong những dịp lễ tết, hội hè, các cô gái thường thắt 2-3 chiếc thắt lưng bằng lụa hoặc bằng nhiễu, với những màu khác nhau.</div><div>+Dân tộc Sán Chay có nhiều truyện cổ, thơ ca, hò, vè, tục ngữ, ngạn ngữ. Đặc biệt sình ca là hình thức sinh hoạt văn nghệ phong phú hấp dẫn nhất của người Sán Chay. Các điệu múa Sán Chay có: múa trống, múa xúc tép, múa chim gâu, múa đâm cá, múa thắp đèn... Nhạc cụ cũng phong phú, gồm các loại thanh la, não bạt, trống, chuông, kèn...</div><div>+Vào ngày hội đình, hội xuân, tết nguyên đán... người Sán Chay vui chơi giải trí, có những trò diễn sôi nỗi như: đánh quay, "trồng cây chuối", "vặn rau cải", tung còn...Nhà cửa: Nói là nhà Cao Lan, nhưng đây chỉ là của một nhóm nhỏ ở Sơn Động,Bắc Giang Nhà của người Cao Lan ở các địa phương khác cũng như nhà của người Sán Chỉ có nhiều nét gần với nhà Tày - Nùng. Riêng nhóm Cao Lan ở Sơn động nhà cửa của họ có những nét rất độc đáo, chúng tôi không thấy giống bất kỳ nhà cửa của một dân tộc nào khác trong nước. Nhà sàn, vách che sát đất, xa trông tưởng là nhà đất.</div><div>&nbsp;</div><div>Bản tiếng anh:</div><div>- The San Chay people have different names such&nbsp;</div><div>as: Han Ban, Chung, Trai..., local groups: Cao Lan and San Chi belong to the Tay - Thai language group.</div><div>-Population:.According to the ethnic minority census data on 1/4/2019, the total population of the San Chay people: 201,398 people; male population: 102,750 people; female population: 98,648 people; household size: 3.9 people/household; percentage of population living in rural areas: 94.7%.</div><div>-Location: The San Chay people live scatteredly, mixed with other ethnic minorities, in some localities in the provinces located in the southeastern part of Northeast Vietnam.</div><div>Language: The San Chay are configured into two local groups including: Cao Lan and San Chi. Cao Lan belongs to the Tay-Thai language group (Thai-Kadai language family) and San Chi belongs to the Han language group (the Sino-Tibetan language family).</div><div>Cultural features:</div><div>&nbsp;+ Costume: Currently, the costumes of the San Chay people often resemble Kinh or Tay. Usually, San Chay women use a knife holster instead of a belt. During the holidays and festivals, the girls often wear 2-3 silk or silk belts, with different colors.</div><div>+ The San Chay people have many ancient stories, poems, chants, verses, proverbs and proverbs. Especially, singing is the most attractive form of cultural and artistic activities of the San Chay people. San Chay dances include: drum dance, shrimp shoveling dance, woof dance, fish stabbing dance, lamp-lighting dance... Instruments are also abundant, including drums, bells, trumpets..</div><div>+On the day of the family festival, the spring festival, the Lunar New Year... the San Chay people have fun and entertainment, there are exciting performances such as: spinning, "planting banana trees", "twisting vegetables", tossing... House: Said to be the Cao Lan family, but this is only a small group in Son Dong, Bac Giang. The house of the Cao Lan people in other localities as well as the house of the San Chi people has many similarities with the Tay - Nung houses. Particularly for the Cao Lan group in Son Dong, their houses have very unique features, which we do not see like any other ethnic group's houses in the country. House on stilts, walls close to the ground, from afar it looks like a house.</div><div>&nbsp;</div><div>&nbsp;</div><div>&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-21 00:45:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2562550980</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc Kháng</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2564860989</link>
         <description><![CDATA[<div>Dân số: 16.180 người (8170 nam, 8010 nữ).<br><br>Địa bàn: Chủ yếu sinh sống ở Sơn La, Lai Châu, Điện Biên.<br><br>Ngôn ngữ: - Ngôn ngữ Kháng được xếp vào nhóm Môn-Khơme, thuộc ngữ hệ Nam Á.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;- Dùng song ngữ Kháng-Thái. Dùng tiếng Kháng ở trong gia đình. Dùng tiếng Thái khi tiếp xúc với các dân tộc cận cư (Thái, HMông, Hơ-Mú) và trong các hoạt động văn hóa, lễ hội.<br><br>Phong tục tập quán:&nbsp;<br>- Thích ăn xôi, món chua cay.<br>- Trang phục gần như tương đồng với người Thái. Mọi người thường đội khăn lên đầu, con gái còn hay búi tóc.<br>- Nhà ỏ có 2 loại là nhà tạm và nhà kiên cố. Thường ở nhà sàn gồm nhà 1 mái và 2 mái.<br>- Quen sử dụng rượu trắng, rượu cần, thuốc lá và thuốc lào.<br><br>Đặc sắc văn hóa:&nbsp;<br>- Có tục chia đồ cho người chết.<br>- Cưới xin phải qua nhiều nghi thức và mất nhiều thời gian thực hiện.<br>- Ăn Tết Nguyên Đán, tết cơm mới và thực hiện các nghi lễ liên quan đến nông nghiệp nương rẫy.<br><br><br><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-23 22:58:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/ybdnf8kn5p3nskyq/wish/2564860989</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
