<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title>Bài làm tổ 1 : Thơ trung đại  by Thái Thái Trọng</title>
      <link>https://padlet.com/distinctsafetyelectronics/y9iun2t459lco84b</link>
      <description></description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2023-10-15 07:48:07 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2023-11-08 13:32:16 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url></url>
      </image>
      <item>
         <title>Đặc điểm chính</title>
         <author>thaitrongthaivtbl</author>
         <link>https://padlet.com/distinctsafetyelectronics/y9iun2t459lco84b/wish/2746561366</link>
         <description><![CDATA[<p>Thể thơ.: hình thức nghệ thuật dùng từ trong ngôn ngữ làm chất liệu và sự chọn lọc từ cũng như tổ hợp của chúng được sắp xếp dưới hình thức lôgíc nhất định tạo nên hình ảnh hay gợi cảm âm thanh có tính thẩm mỹ cho người đọc, người nghe.</p><p><br></p><p>    </p><p>Vần:Tạo nên sự kết nối, cộng hưởng âm thanh giữa các dòng thơ, đồng thời làm cho thơ dễ nhớ, dễ thuộc hơn. Cách gieo vần phụ thuộc vào yêu cầu và quy cách riêng của mỗi thể thơ. Nhưng nói chung, xét về vị trí xuất hiện, có vần chân (cước vận) là vần ở giữa các chữ ở cuối dòng thơ; vần lưng (yêu vận) là vần ở giữa chữ cuối của dòng trước với chữ gần cuối hay ở khoảng giữa của dòng thơ sau, hoặc giữa các chữ ngay trong 1 dòng thơ. Xét về thanh điệu, có vần thanh trắc (T) và vần thanh bằng (B)</p><p><br></p><p><br></p><p>Nhịp: là cách tổ chức sắp xếp sự vận động của lời thơ, thể hiện qua các chỗ dừng, chỗ nghỉ khi đọc bài thơ. Cách ngắt dòng, ngắt nhịp trong từng dòng thơ, câu thơ tạo nên hình thức của nhịp thơ. Nhịp thơ là nhân tố tạo nên bước đi của thơ với âm thanh nhanh, chậm, dài ngắn, nhặt, khoan,...</p><p>Trước hết, ngắt nhịp liên quan đến cách xuống dòng. Điều này phụ thuộc vào số lượng chữ của dòng thơ. Ví dụ: thơ lục bát luân phiên ngắt dòng 6/8, các thể thơ 4 chữ, 5 chữ,6 chữ, 7 chữ,..đều có nhịp ngắt dòng riêng. Với thơ tự do, cách ngắt nhịp theo dòng rất đa dạng, bởi số tiếng trong mỗi dòng thơ không bị ràng buộc chặt chẽ.</p><p>    Thứ đến, nhịp thơ còn toát ra từ cách ngắt nhịp trong từng dòng thơ, câu thơ. Vd: thơ 7 chữ thường ngắt nhịp 4/3; thơ 5 chữ thường ngắt nhịp 2/3; việc thay đổi cách ngắt nhịp quen thuộc trong dòng thơ thường là có dụng : cũng là câu thơ lục bát nhưng cách ngắt nhịp khác nhau tạo nên hiệu quả khác nhau.</p><p><br></p><p><br></p><p>Từ ngữ ,hình ảnh :trong thơ mang lại sức gợi cảm lớn, có khả năng chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa. Hình ảnh trong thơ có thể được miêu tả trực quan, các hình thức láy, điệp làm cho đường nét, màu sắc trở nên lung linh, sống động; hoặc có thể gợi tả gián tiếp bằng liên tưởng, tưởng tượng, các biện pháp tu từ như so sánh, ẩn dụ, nhân hoá, hoán dụ,...làm cho cái vô hình trở nên hữu hình, ấn tượng, cái vô tri, vô giác trở nên có hồn và giàu ý nghĩa. Hình ảnh trong thơ luôn chứa đựng tâm hồn của nhà thơ.</p><p><br></p><p><br></p><p>Biện pháp tu từ:là cách sử dụng ngôn ngữ theo một cách đặc biệt ở một đơn vị ngôn ngữ (về từ, câu hoặc cả đoạn văn bản) theo ngữ cảnh nhằm mục đích tăng tính gợi hình, gợi cảm diễn đạt. Qua đó tạo ấn tượng cho những người đọc hình dung rõ nét về hình ảnh, cảm nhận cảm xúc chân thực </p><p><br></p><p><br></p><p>Cảm hứng chủ đạo:Đó là sự thâm nhập say mê và ham thích một tư tưởng nào đó”. Trong các tác phẩm nghệ thuật, “cảm hứng biến sự nhận thức của trí tuệ về một tư tưởng nào đó trở thành lòng say mê với tư tưởng đó, một sự say mê mạnh mẽ, một khát vọng nồng nhiệt”. </p><p><br></p><p><br></p><p>Chủ thể trữ hình:Chủ thể trữ tình: là khái niệm chỉ người thể hiện thái độ, cảm xúc, tư tưởng của mình trong suốt văn bản thơ. Đọc thơ trữ tình, trước mắt ta không chỉ xuất hiện những cảnh thiên nhiên, cảnh sinh hoạt, những con người, sự kiện mà còn gợi lên hình tượng 1 ai đó đang ngắm nhìn, đang rung động, suy tưởng về chúng, về cuộc sống nói chung. Hình tượng ấy chính là chủ thể trữ tình trong thơ. Chủ thể trữ tình thường xuất hiện trực tiếp với các đại từ nhân xưng: "tôi", "ta", "chúng ta",.. hoặc nhập vai vào 1 nhân vật nào đó hoặc cũng có thể là chủ thể ẩn. Các hình thức xuất hiện nêu trên của chủ thể trữ tình cũng có thể thay đổi, xen kẽ trong bài thơ</p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-10-15 07:48:29 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/distinctsafetyelectronics/y9iun2t459lco84b/wish/2746561366</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tác giả tiêu biểu </title>
         <author>thaitrongthaivtbl</author>
         <link>https://padlet.com/distinctsafetyelectronics/y9iun2t459lco84b/wish/2746562308</link>
         <description><![CDATA[<p>&nbsp; Nguyễn Trãi</p><p>&nbsp; Hồ Xuân Hương&nbsp;</p><p>&nbsp; Nguyễn Du</p><p>     Huyện Thanh Quan</p><p>    ......</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-10-15 07:50:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/distinctsafetyelectronics/y9iun2t459lco84b/wish/2746562308</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Bánh trôi nước ( tác giả: Hồ Xuân Hương ) </title>
         <author>thaitrongthaivtbl</author>
         <link>https://padlet.com/distinctsafetyelectronics/y9iun2t459lco84b/wish/2746562666</link>
         <description><![CDATA[<p><br></p><p>Thể thơ :Thất ngôn tứ tuyệt&nbsp;</p><p>Vần :"on" : tròn , non , son</p><p>Nhịp : 2/2/3 dòng 1, dòng 2 .Nhịp: 3/4 dòng 3, dòng 4</p><p>Hình ảnh:những chiếc bánh trôi nước và hình ảnh số phận người phụ nữ qua chiếc bánh đó</p><p>Biện pháp tu từ :&nbsp; Ẩn dụ,Sử dụng thành ngữ&nbsp;,Điệp từ</p><p>Cảm hứng chủ đạo :&nbsp;</p><p>Nhìn về vẻ đẹp của người phụ nữ, Hồ Xuân Hương đã ca ngợi, khẳng định ở cả vẻ đẹp hình thức lẫn vẻ đẹp phẩm chất, tâm hồn, tạo cho độc giả có một cái nhìn về một vẻ đẹp hoàn mỹ của người phụ nữ Việt Nam. Đề cao vẻ đẹp của người phụ nữ với một thái độ khẳng định đầy tự tin chính là cốt lõi nhân văn, là bản lĩnh và cũng là phong cách thơ Hồ Chí Minh</p><p>Chủ thể trữ tình : Thân em ,ý chỉ người phụ nữ ở xã hội phong kiến , dù số phận có bấp bênh nhưng vẫn giữ được nét văn hoá dân tộc</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-10-15 07:51:04 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/distinctsafetyelectronics/y9iun2t459lco84b/wish/2746562666</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Qua Đèo Ngang ( tác giả Huyện Thanh Quan) </title>
         <author>thaitrongthaivtbl</author>
         <link>https://padlet.com/distinctsafetyelectronics/y9iun2t459lco84b/wish/2746563642</link>
         <description><![CDATA[<p><br></p><p><br></p><p>Thể thơ: Thất ngôn bát cú Đường luật.</p><p>Vần: bài thơ có 8 câu, mỗi câu có 7 chữ, gieo vần các chữ cuối ở các câu: 1, 2, 4, 6, 8&nbsp;( tà ,hoa,nhà,gia,ta)</p><p>Nhịp: 3-4 hoặc 4-3</p><p>Hình ảnh: Bức tranh thiên nhiên và tâm trạng con người hòa làm một.</p><p>Biện pháp tu từ: Ẩn dụ, điệp từ, đảo ngữ, từ láy, nhân hóa, phép đối.</p><p>Cảm hứng chủ đạo: Nỗi buồn da diết, nỗi nhớ nhà, nhớ quê và tả cảnh Đèo Ngang lúc xế tà và nói lên nỗi buồn cô đơn, nỗi nhớ nhà thương nước của một người con hiến mình cho tổ quốc. thương người con gái phương xa.&nbsp;</p><p>Chủ thể trữ tình: Là chính bản thân tác giả đang đứng trước cảnh Đèo Ngang với nỗi niềm của một người con xa quê mang trong mình xứ mệnh Tổ Quốc. ( chủ thể ẩn )</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-10-15 07:52:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/distinctsafetyelectronics/y9iun2t459lco84b/wish/2746563642</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Sông núi Nước Nam ( tác giả : Lý Thường Kiệt ) </title>
         <author>thaitrongthaivtbl</author>
         <link>https://padlet.com/distinctsafetyelectronics/y9iun2t459lco84b/wish/2746564222</link>
         <description><![CDATA[<p><br></p><p>Thể thơ:Thất ngôn tứ tuyệt đường luật ,viết bằng chữ hán,4 câu,mỗi câu 7 chữ</p><p>Vần:Câu 1,2,4 hoặc 2,4 gieo vần "ư" ở tiếng cuối (cư,thư,hư).</p><p>Nhịp:4/3</p><p>Từ ngữ: dõng dạc, giọng thơ mạnh mẽ, đanh thép, hùng hồn.</p><p>Hình ảnh: “Sông núi nước Nam” là những vật thuộc quyền sở hữu của người Nam, cũng là những hình ảnh biểu tượng không chỉ cho ranh giới, chủ quyền của người nam mà còn khẳng định một cách chắc chắn quyền sở hữu của “sông núi” ấy là của người Nam. </p><p>Biện pháp tu từ:câu hỏi tu từ,đảo ngữ( tiệt nhiên định phận ) ...</p><p>Cảm hứng chủ đạo: “Sông núi nước Nam” là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam mang đậm cảm hứng yêu nước. Cảm hứng yêu nước với những tuyên ngôn về độc lập chủ quyền với sức mạnh cổ vũ quân dân và cảnh tỉnh kẻ thù sau này còn được mở rộng, phát triển trong hai áng tuyên ngôn lớn của dân tộc đó là Bình ngô đại cáo và Tuyên ngôn độc lập.</p><p>Chủ thể trữ hình:chủ thể trữ tình thuộc chủ thể trực tiếp, Đó là nhân vật lịch sử đang đọc lên bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước Đại Việt khi xưa</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-10-15 07:54:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/distinctsafetyelectronics/y9iun2t459lco84b/wish/2746564222</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Bạn đến chơi nhà (tác giả : Nguyễn Khuyến ) </title>
         <author>thaitrongthaivtbl</author>
         <link>https://padlet.com/distinctsafetyelectronics/y9iun2t459lco84b/wish/2746564708</link>
         <description><![CDATA[<div><br>Thể thơ: thất ngôn bát cú đường luật<br>Vần: gieo vần "a" ở các chữ cuối của câu thơ 1 2 3 4 6 8 : nhà , xa, cá, gà,hoa, ta&nbsp;<br>Nhịp: 4-3<br>Hình ảnh: cảnh gặp lại người bạn đã lâu không gặp của Nguyễn Khuyến<br>Biện pháp tu từ: phép đối, liệt kê, nói quá<br>Cảm hứng chủ đạo: cảm hứng về tình bạn chân thành, sâu sắc<br>Chủ thể trữ tình: là tác giả Nguyễn Khuyến và người bạn thân thiết lâu ngày mới gặp<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-10-15 07:54:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/distinctsafetyelectronics/y9iun2t459lco84b/wish/2746564708</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nội dung </title>
         <author>thaitrongthaivtbl</author>
         <link>https://padlet.com/distinctsafetyelectronics/y9iun2t459lco84b/wish/2746624954</link>
         <description><![CDATA[<p>" <mark>Bánh trôi nước</mark> "</p><p><br></p><p> Vẻ đẹp ngoại hình, nhan sắc của người phụ nữ xưa qua hình ảnh bánh trôi nước dân dã mà giản dị.</p><p>  </p><p>      "Thân em vừa trắng lại vừa tròn"</p><p>Lời thơ mở đầu bằng cụm từ “thân em” rất quen thuộc, nghe sao mà dịu dàng khiêm tốn. (Các câu&nbsp;Ca Dao&nbsp;than thân cũng thường bắt đầu bằng cụm từ này). Qua ngòi bút điêu luyện của nữ sĩ, đó là lời giới thiệu, niềm tự hào của người phụ nữ xưa với vẻ đẹp hoàn mĩ.</p><p>Việc miêu tả chiếc bánh trôi nước làm bằng bột nếp trắng tinh, dáng bánh tròn xinh xắn, nhân làm bằng đường phên chính là để làm toát lên nhan sắc, phẩm hạnh của người phụ nữ.</p><p>Hai từ “trắng”, “tròn” nhấn mạnh vẻ đẹp toàn diện của họ từ ngoại hình đến tâm hồn.</p><p>       Số phận vất vả bấp bênh, bị phụ thuộc của người phụ nữ:</p><p><br></p><p>        "Bảy nổi ba chìm với nước non</p><p>         Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn"</p><p>Câu thơ mang yếu tố tả thực quá trình luộc bánh: khi bánh sống sẽ chìm, chín sẽ nổi lên mặt nước.</p><p>Bằng ngòi bút điêu luyện của mình, nữ sĩ đã mượn việc luộc bánh để diễn tả số phận long đong lận đận của người phụ nữ. Thành ngữ “ba chìm bảy nổi” được vận dụng sáng tạo thành “bảy nổi ba chìm” gợi cuộc sống bấp bênh chìm nổi, vất vả, không tự quyết định cho tương lai, cho số phận của người phụ nữ. Việc đảo thành ngữ lên đầu câu thơ khiến cho ý thơ càng thêm nhấn mạnh.</p><p>Phép tương phản qua hai từ “rắn”, “nát” không chỉ nói về việc bánh ngon hay dở phụ thuộc tay kẻ nặn mà còn gợi số phận phụ thuộc của người phụ nữ. Số phận họ hạnh phúc hay khổ đau đều tùy thuộc vào tay kẻ khác, họ bị tước đoạt quyền tự do, không có quyền tự quyết định cho tương lai, cho hạnh phúc của mình.</p><p>    Lời khẳng định tấm lòng thuỷ chung son sắt của người phụ nữ:</p><p>         "Mà em vẫn giữ tấm lòng son"</p><p>Câu thơ cuối đã khẳng định vẻ đẹp thuỷ chung của người phụ nữ với thái độ đầy tự tin, tự hào qua cách diễn đạt bằng cặp quan hệ từ đối lập: mặc dầu… mà. Có thể nói, dù hoàn cảnh, số phận người phụ nữ có long đong, lận đận, dù phải sống với thân phận phụ thuộc nhưng mẫu số chung vững bền ở họ là tấm lòng thuỷ chung sáng ngời.</p><p><br></p><p>   "<mark>Qua đèo ngang</mark>"</p><p><br></p><p>  Trong bức tranh thiên nhiên đó, con người xuất hiện mang vẻ nhỏ bé, chỉ là một chấm buồn lặng lẽ:</p><p>      “Lom khom dưới núi tiều vài chú</p><p>        Lác đác bên sông chợ mấy nhà”</p><p>Từ láy “lom khom” và “lác đác” kết hợp với nghệ thuật đảo ngữ nhấn mạnh vào sự nhỏ bé, thưa thớt của con người. Nhà thơ sử dụng bút pháp miêu tả tượng trưng và ước lệ của thi pháp cổ (ngư, tiều, canh, mục) kết hợp với cảm hứng đầy thi cảm và sáng tạo.</p><p><br></p><p>Bà Huyện Thanh Quan đã sử dụng biện pháp tu từ đảo ngữ kết hợp với đối ở hai câu luận:</p><p>    “Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc</p><p>     Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”</p><p>Hình ảnh “con quốc quốc” và “cái gia gia” không chỉ là hình ảnh thực về hai loại chim (chim đỗ quyên, chim đa đa). Tiếng kêu “quốc quốc”, “đa đa” nghe da diết đã còn bộc lộ nỗi lòng nhớ thương của mình với đất nước, quê hương.</p><p>   “Dừng chân đứng lại: trời, non, nước</p><p>    Một mảnh tình riêng ta với ta”</p><p>Ở hai câu kết, tác giả đã bộc lộ nỗi niềm cô đơn sâu sắc. Một mình nơi đèo Ngang rộng lớn, hoang vu trong buổi hoàng hôn, nữ sĩ thấy mình như sống trong tâm trạng lẻ bóng, cô đơn, giữa một khung cảnh thiên nhiên hoang vắng bao la của “trời, non, nước”. Cụm từ “ta với ta” là ba chữ đắt giá kết hợp với điệp ngữ láy âm, đặt trong mối tương phản với “trời, non, nước” đã cho thấy cái mênh mang bao la với sự lẻ loi, đơn côi và nhỏ bé của lòng người</p><p><br></p><p><br></p><p>  "<mark>Bạn đến chơi nhà</mark> "</p><p><br></p><p> "Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa."</p><p>Đầu tiên, Nguyễn Khuyến nói về hoàn cảnh khó khăn của hai vợ chồng. Các con không có nhà, chợ lại xa, biết đối xử với các bạn như thế nào? Câu thơ lúc này vẫn còn như một lời giải thích cho bạn rằng: chú đến đột ngột quá, đáng quý quá, muốn đãi món ngon mà tiếc là không được. Nói ra thì ai mà không bằng lòng. Nguyễn Khuyến nói tiếp:</p><p>    ''Ao sâu nước cả, khôn chài cá,</p><p>    Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà."</p><p>Nếu không có người đi chợ thì tiếp khách quý bằng cá ao, gà nhà. Không lạ, không sang, nhưng cũng rất đầy! Ừ nhưng mà… “trẻ thời đi vắng” ao sâu vườn rộng hai ông già làm gì được. Bây giờ người đọc bắt đầu nghi ngờ rằng lý do ban đầu mà nhà thơ đưa ra là để dựng lên một cái cớ chắc chắn cho những “lý giải” hóm hỉnh sau đó. Nếu vậy thì lão tài quá, đánh không lại được bạn thân chắc sẽ cười cho. Tuy nhiên, trò đùa vẫn chưa dừng lại:</p><p>        "Cải chửa ra cây, cà mới nụ,</p><p>         Bầu vừa rụng rốn, mướp đương                hoa."</p><p>Chà, thịt cá không được, chúng ta tiếp tục với cây cối từ vườn rau, cũng rất nên thơ! Nào bắp cải, cà tím, bí đao, bí đao, những thực phẩm này xào cũng ngon. Nhưng… nhưng “nhưng”, tất cả đều đang “ngấp nghé”, còn quá nhỏ để ăn. Tài dùng từ giúp Nguyễn Khuyến làm cho truyện cười trở nên táo bạo, uyển chuyển. Rau không ăn được nhưng ông dùng bốn hình ảnh, bốn cách nói khác nhau: cây cải đang chửa cây, quả cà mới nhú, quả bí vừa rụng rốn, quả mướp đang độ ra hoa. Đến đây không chỉ để cười, chắc nhà thơ - chắc - vì bạn Tam Nguyên - sẽ trầm trồ, gật gù thán phục trước những vần thơ hóm hỉnh như thế! Rồi bất ngờ anh nhận được:Đầu trò tiếp khách, trầu không có,</p><p> Không có đến miếng trầu đãi khách, thật khó tin. Nhưng nghĩ lại, ông đã nói ngay từ đầu: “Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa”, hết trầu cau thì sai người đi mua! Vậy là dùng miếng trầu còn thiếu để kết thúc chuỗi cười, tài thơ của ông đã làm cho chuỗi cười ấy thêm duyên dáng.</p><p>  Nhưng Nguyễn Khuyến không chỉ nói đùa, ẩn sau những cụm từ hóm hỉnh ấy là nói lên một triết lý sâu sắc về tình bạn.</p><p>     "Bác đến chơi đây, ta với ta!"</p><p>Có thể nói, với những lời lẽ hóm hỉnh trên, nhà thơ đã dần lột bỏ những nghi thức trang trọng của tình bạn, để rồi nổi lên là một tình bạn trong sáng, chân thành. Trong “tôi và ta”, cái “tôi” đầu tiên như một nhà thơ và một người bạn, một người theo chủ nghĩa cá nhân. Cái "ta" thứ hai giống như một tập thể. Tất cả tan thành một. </p><p><br></p><p>  "<mark>Sông núi nước Nam</mark>"</p><p><br></p><p>Lời khẳng định chủ quyền ,độc lập lãnh thổ,Lý Thường Kiệt đã khẳng định một cách chắc chắn, mạnh mẽ về vấn đề chủ quyền, ranh giới lãnh thổ của dân tộc Đại Việt. Đó là ranh giới đã được định sẵn, là nơi sinh sống của người dân Đại Việt từ ngàn đời nay. Lời khẳng định này không phải chỉ là lời khẳng định của tác giả, mà tác giả còn đưa ra những luận chứng sắc sảo, đó là bởi “thiên thư” (sách trời) quy định. Tức sự độc lập, chủ quyền về lãnh thổ ấy được trời đất quy định, chứng giám. Một sự thật hiển nhiên mà không một ai có thể chối cãi được:</p><p>     "Nam quốc sơn hà Nam đế cư</p><p>      Tiệt nhiên định phận tại thiên thư"</p><p>Theo tác giả, sông núi nước Nam, bất cứ sự vật nào trên đất Nam đều là những vật thuộc quyền sở hữu của người Nam. . Có thể thấy, đây là lần đầu tiên trong một tác phẩm thơ văn, vấn đề chủ quyền dân tộc được khẳng định. Và mặc dù là tác phẩm đầu tiên, lời thơ vẫn vang lên vô cùng mạnh mẽ, hào sảng. Dân tộc  Việt Nam không chỉ là dân tộc có chủ quyền, có lãnh thổ mà dân tộc ấy còn có người đứng đầu, người quản lí, làm chủ người dân của quốc gia ấy. Đó chính là “Nam đế”. Tác giả cũng mạnh mẽ khẳng định vị thế của người đứng đầu đất nước. Không phải là vương, là chư hầu nhỏ bé mà là “đế”, là vị vua ngang hàng với bất cứ vị vua nào. Chủ quyền ấy, lãnh thổ cương vực ấy không phải do người Nam tự quyết định lựa chọn cho mình, người dân nơi ấy chỉ sinh sống, làm ăn sinh hoạt từ rất lâu đời, do sự định phận của “sách trời”, đó là đấng cao quý vì vậy mọi sự quy định, chỉ dẫn của “trời” đều rất có giá trị, đều rất đáng trân trọng.</p><p>Phân tích bài thơ Nam quốc sơn hà</p><p>Nam quốc sơn hà được xem là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta</p><p>Hai từ “tiệt nhiên” (rành rành) là dùng để chỉ sự hiển hiện, tất yếu mà ai cũng có thể nhận biết và phân biệt được. “Tiệt nhiên định phận tại thiên thư” có nghĩa vùng lãnh thổ ấy, chủ quyền ấy của người Nam đã được sách trời ghi chép rõ ràng, dù có muốn cũng không thể chối cãi, phủ định.  Đó là sự thật mà không một kẻ nào, một thế lực nào có thể phủ định, bác bỏ được nó. Ngay từ những lời đầu tiên, bài thơ đã làm nổi bật sự hào hùng, mạnh mẽ và rất đỗi tự hào của tác giả về chủ quyền của dân tộc mình. </p><p>   Quyết tâm bảo vệ nền độc lập, chủ quyền của dân tộc</p><p> Lý Thường Kiệt đã lớn tiếng khẳng định, cũng là lời cảnh cáo đến kẻ thù. Chúng sẽ phải nhận những kết cục bi thảm nếu biết rõ nhưng vẫn cố tình thực hiện hành động xâm lăng lãnh thổ, gây ra những mất mát, đau thương cho nhân dân Đại Việt:</p><p>      “Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm</p><p>       Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”</p><p>Sự thật hiển nhiên rằng, “Nam quốc sơn hà” là do người Nam ở, người Nam làm chủ. Thế nhưng lũ giặc lại không hề màng đến sự quy định mang tính tất yếu ấy, chúng cố tình xâm phạm Đại Việt, cũng là xúc phạm đến sự tôn nghiêm của đạo lí, của luật trời: “Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm” hành động ngông cuồng, phi nghĩa. Hành động này của bọn chúng thật đáng bị phê phán, thậm chí đáng để trừng phạt bằng những hình thức thích đáng nhất. Và ở trong bài thơ này, tác giả Lý Thường Kiệt cũng đã đanh thép khẳng định cái kết cục đầy bi đát, ê chề cho lũ cướp nước, coi thường đạo lí: “Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”(Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời). Với tất cả sức mạnh cũng như lòng tự tôn, tính chính nghĩa của dân tộc Đại Việt thì lũ xâm lăng chỉ có một kết cục duy nhất, một kết quả không thể tránh khỏi. . </p><p> </p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-10-15 09:49:17 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/distinctsafetyelectronics/y9iun2t459lco84b/wish/2746624954</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nghệ thuật </title>
         <author>thaitrongthaivtbl</author>
         <link>https://padlet.com/distinctsafetyelectronics/y9iun2t459lco84b/wish/2762865193</link>
         <description><![CDATA[<p><strong><em><mark>"Bạn đến chơi nhà"</mark></em></strong></p><p><br></p><p>Bài thơ xây dựng tình huống không có gì để tiếp bạn vẫn làm nổi bật được tình bạn thắm thiết, sâu đậm</p><p>    Tình huống được tạo ra có tính bông đùa, có sẵn nhưng hóa ra lại không có gì, nhấn mạnh sự chân tình có thể bù đắp sự thiếu thốn vật chất.</p><p>Giọng thơ giản dị, hồn nhiên, đằng sau lời nói là đôi mắt sáng ngời và nụ cười ấm áp, chân thành của nhà thơ.Sự kết hợp nhẹ nhàng và tinh tế giữa ngôn ngữ đời thường và bác học .Tính độc đáo về mặt nghệ thuật của bài thơ chủ yếu nằm ở dạng thơ bảy chữ, tám âm tiết, loại bỏ những quy tắc nghiêm ngặt của thể thơ này và truyền tải cảm giác hài hước và quen thuộc. Khi viết về phong cảnh, tác giả lựa chọn những từ ngữ rất đơn giản và lối viết rất đơn giản. Những từ mang đậm hương vị vùng miền, chẳng hạn như ‘chửa’, ‘thời’, mang lại cảm giác thoải mái và thông tục. Hàng loạt hình ảnh được liệt kê như ‘vườn rộng rào thưa’, ‘ao sâu nước cá’… đều có tác dụng khắc họa sự thiếu thốn về vật chất, cũng như sự mở rộng tầm mắt của người đọc khung cảnh làng quê yên bình. Nơi đây yên tĩnh, thích hợp để trò chuyện, chơi cờ, thưởng trà và ngắm trăng. Bài thơ này giống như một cuộc trò chuyện trực tiếp thường ngày, khiến người đọc có cảm giác như là người bạn của Nguyễn khuyến, nghe người bạn cũ giảng mà vừa cười vừa thương, khơi dậy những suy nghĩ sâu sắc trong lòng người đọc. Một tình bạn sắc sảo và đẹp đẽ </p><p><br></p><p>   <mark>"</mark><strong><em><mark>Qua đèo ngang</mark></em></strong><mark>"</mark></p><p><mark> </mark></p><p>      Không chỉ thành công về mặt nội dung, bài thơ Qua đèo Ngang còn hấp dẫn người độc bởi những nét độc đáo, đặc sắc về nghệ thuật. Với việc sử dụng các từ láy, điệp từ, biện pháp nhân hoá, đảo ngữ, tả cảnh ngụ tình,...đã giúp tác phẩm giàu tính biểu cảm và đậm chất thơ.          </p><p>      Trước hết, bài thơ đã đạt đến sự chuẩn mực trong việc sử dụng thể thơ Đường luật. Với thể thơ thất ngôn bát cú, mặc dù đã được Việt hóa, song bài thơ không những tuân thủ một cách nghiêm ngặt mà còn đạt đến độ chuẩn mực của thể thơ này về niêm, luật, vần với ngôn ngữ trau chuốt, giàu giá trị.</p><p>      Thêm vào đó, thành công của bài thơ còn ở nghệ thuật tả cảnh ngụ tình.Thông qua cảnh sắc thiên nhiên Bà Huyện Thanh Quan đã gửi gắm vào đó những nỗi niềm cảm xúc, đó là nỗi nhớ nhà, tình yêu quê hương đất nước và sự đau xót, bất lực trước thời cuộc biến đổi.</p><p>   Bài thơ ,còn sử dụng nhiều từ ngữ, hình ảnh giàu giá trị thẫm mĩ góp phần không nhỏ vào thành công của bài thơ. Hai từ láy "lom khom", "lác đác" để diễn tả dáng hình của chú tiều và những ngôi nhà cùng nghệ thuật đảo ngữ, chúng được đặt lên ở đầu câu đã nhấn mạnh sự thưa thớt, ít ỏi. Thêm vào đó, việc sử dụng các từ ngữ "vài", "mấy" đã làm tăng thêm sự nhỏ bé của bóng hình con người và sự thưa thớt, hoang vắng của cảnh vật. Để rồi từ những hình ảnh và từ ngữ ấy, chủ đề của tác phẩm được nổi bật, tác giả đã gợi nên một bức tranh cảnh vật thưa thớt, hoang vắng dẫu đã có ánh lên sự sống của con người.</p><p>     Nghệ thuật chơi chữ tài năng ở câu 5 và câu 6,  tâm trạng của bà vào thời điểm bước tới đèo Ngang. Chữ quốc là nước là từ đồng âm với từ "cuốc" - chỉ một loài chim và "gia gia" là từ có âm gần giống với loài chim đa đa.  Âm thanh văng vẳng của hai loài chim ấy phải chăng cũng chính là nỗi lòng của bà ngay lúc này - nỗi "nhớ nước", "thương nhà". Đồng thời, nỗi lòng ấy càng được tỏ rõ và nhấn mạnh khi tác giả khéo léo sử dụng nghệ thuật đảo ngữ, đưa hai từ "nhớ nước", "thương nhà" lên đầu hai câu thơ. Qua đó, ta thấy được tài năng sử dụng từ ngữ điêu luyện và tài tình của nữ sĩ Bà Huyện Thanh Quan. </p><p>     </p><p><br></p><p>   <mark>"</mark><strong><em><mark>Bánh trôi nước "</mark></em></strong></p><p>      Bài thơ trở nên sâu sắc và thấm thía hơn nhờ thể hiện qua những biện pháp nghệ thuật đặc sắc như ẩn dụ, điệp từ và sự góp mặt của thành ngữ . Ngay từ tiêu đề của bài thơ tác giả đã miêu tả và giới thiệu nhân vật trữ tình bằng biện pháp nghệ thuật ẩn dụ thông qua chiếc bánh trôi nước .Số phận bi đát ,áp bức ...nhưng dù có bị ràng buộc bởi quan niệm khắt khe ,áp bức bất công thì họ vẫn giữ nét đẹp văn hoá của dân tộc.Đồng thời còn cho ta thấy cái nhìn tinh tế và sâu sắc của Hồ Xuân Hương.Nếu đã nhắc đến biện pháp ẩn dụ thì  không thể không nhắc đến biện pháp điệp từ , đây là biện pháp mà tác giả đã dùng để làm cho nội dung hay chủ để của bài thơ thêm thấm thía với độc giả. Hồ Xuân Hương đã dùng biện pháp này ở câu "Thân em vừa trắng lại vừa tròn" với điệp từ là "vừa" tác giả muốn nhấn mạnh vẻ đẹp và sự tài giỏi của người phụ nữ xưa . Cùng với sự kết hợp với các từ ngữ thân thuộc tác giả đã làm cho bài thơ thêm gần gũi và dễ tiếp nhận nội dung của bài thơ với người đọc.Một lần khẳng định cho ta sự tinh tế và tài giỏi của Hồ Xuân Hương.Phép tương phản qua hai từ “rắn”, “nát” không chỉ nói về việc bánh ngon hay dở phụ thuộc tay kẻ nặn mà còn gợi số phận phụ thuộc của người phụ nữ. Số phận họ hạnh phúc hay khổ đau đều tùy thuộc vào tay kẻ khác, họ bị tước đoạt quyền tự do, không có quyền tự quyết định cho tương lai, cho hạnh phúc của mình.</p><p>Sự đặc biệt của bài thơ là có sự xuất hiện của câu thành ngữ "Bảy nổi ba chìm" đã làm cho bài thơ thêm độc đáo thú vị. Câu thành ngữ này là để cho ta thấy số phân lênh đênh,bấp bênh của người phụ nữ phong kiến. Đồng thời còn cho ta thấy suy nghĩ về người phụ nữ xưa trong tác giả một cách chua xót và chạnh lòng </p><p>   </p><p><br></p><p>    <mark>"</mark><strong><em><mark>Sông núi nước Nam</mark></em></strong><mark> "</mark></p><p> Tác phẩm chỉ có hai mươi tám chữ nhưng lại ẩn chứa những tư tưởng và tình cảm lớn: khẳng định độc lập chủ quyền dân tộc và nêu lên quyết tâm chiến đấu bảo vệ nền độc lập đó. Ngôn từ cô đọng, giàu sức gợi cảm: nam đế cư, nghịch lỗ, như hà… Kết hợp hài hòa giữa biểu cảm và biểu ý: bài thơ thiên về nghị luận trình bày nhưng ẩn sâu bên trong là những tư tưởng, tình cảm, cảm xúc của tác giả. Giọng thơ trang trọng, hào hùng, đầy tự tin.Giọng thơ hùng hồn, đanh thép, sử dụng biện pháp tu từ đảo ngữ đảo ngữ </p><p>nhấn mạnh, khẳng định địa phận của nước Nam ta đã "rành rành" ghi ở "sách trời", không còn gì chối cãi. Từ đó thể hiện thái độ tự hào của tác giả</p><p>“Sông núi nước Nam” là những vật thuộc quyền sở hữu của người Nam, cũng là những hình ảnh biểu tượng không chỉ cho ranh giới, chủ quyền của người nam mà còn khẳng định một cách chắc chắn quyền sở hữu của “sông núi” ấy là của người Nam. Chúng ta cũng có thể thấy đây là lần đầu tiên trong một tác phẩm thơ văn mà vấn đề chủ quyền dân tộc được khẳng định mạnh mẽ, hào sảng đến như vậy. Không chỉ là dân tộc có chủ quyền, có lãnh thổ mà dân tộc ấy còn có người đứng đầu, người quản lí, làm chủ người dân của quốc gia ấy, đó chính là “vua Nam”. Chủ quyền ấy, lãnh thổ cương vực ấy không phải do người Nam tự quyết định lựa chọn cho mình, người dân nơi ấy chỉ sinh sống, làm ăn sinh hoạt từ rất lâu đời, do sự định phận của “sách trời”, đó là đấng cao quý vì vậy mọi sự quy định, chỉ dẫn của “trời” đều rất có giá trị, đều rất đáng trân trọng.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-10-25 13:07:27 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/distinctsafetyelectronics/y9iun2t459lco84b/wish/2762865193</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Chủ Đề</title>
         <author>thaitrongthaivtbl</author>
         <link>https://padlet.com/distinctsafetyelectronics/y9iun2t459lco84b/wish/2764759283</link>
         <description><![CDATA[<blockquote><p><mark>"</mark><strong><mark>Bánh trôi nước</mark></strong><mark> "</mark></p></blockquote><p>Tâm hồn lẫn ngoại hình người phụ nữ cao đẹp trong số phận người phụ nữ thời phong kiến .</p><p>          “Thân em vừa trắng lại vừa                   tròn”</p><p>Hai từ “trắng”, “tròn” nhấn mạnh vẻ đẹp toàn diện của họ từ ngoại hình đến tâm hồn.</p><p>           “Mà em vẫn giữ tấm lòng son”</p><p>Câu thơ cuối đã khẳng định vẻ đẹp thuỷ chung của người phụ nữ với thái độ đầy tự tin, tự hào qua cách diễn đạt bằng cặp quan hệ từ đối lập: mặc dầu… mà. Có thể nói, dù hoàn cảnh, số phận người phụ nữ có long đong, lận đận, dù phải sống với thân phận phụ thuộc nhưng mẫu số chung vững bền ở họ là tấm lòng thuỷ chung sáng ngời.</p><p>Một chủ đề rất đáng khai thác khi mà phẩm chất của người phụ nữ xưa được thể hiện chi tiết mặc dù qua 4 dòng thơ. Với tấm lòng trong trắng cùng với nét tả hoàn hảo, nhưng lại bị ghẻ lạnh đi bởi phong tục trọng nam khinh nữ. Với chủ đề đặc sắc đó trên nên có thể nói lên được phẩm chất quý giá của người phụ nữ thời phong kiến và sự tàn khốc từ phong tục sai lầm</p><p><br/></p><blockquote><p>   <mark>" </mark><strong><mark>Qua đèo ngang</mark></strong><mark>"</mark></p></blockquote><p>  Bài thơ bộc lộ tâm trạng, nỗi niềm của bà khi trên đường vào Huế để nhận chức. Qua đèo Ngang lấy cảm hứng chủ đạo là nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương da diết. Bài thơ cũng gửi gắm tấm lòng yêu nước sâu nặng của nhà thơ. Những tâm tư ấy đẹp biết bao qua lăng kính của tâm hồn người nữ sĩ một lòng một người yêu nước, thương dân.Sự cô đơn của nhà thơ: “một mảnh tình riêng” - tình cảm riêng tư của nhà thơ không có ai để chia sẻ, “ta với ta” - đều chỉ nhà thơ, lúc này bà chỉ có một mình đối diện với chính mình, cô đơn và lẻ loi</p><p>Câu thơ “Dừng chân đứng lại, trời, non, nước” khắc họa hình ảnh nhà thơ một mình đứng tại nơi Đèo Ngang, đưa mắt nhìn ra xa cũng chỉ thấy thiên nhiên rộng lớn phía trước</p><p>Qua đó bài thơ bộc lộ tâm trạng, nỗi niềm của bà khi trên đường vào Huế để nhận chức. Qua đèo Ngang lấy cảm hứng chủ đạo là nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương da diết. Bài thơ cũng gửi gắm tấm lòng yêu nước sâu nặng của nhà thơ. Những tâm tư ấy đẹp biết bao qua lăng kính của tâm hồn người nữ sĩ một lòng một người yêu nước, thương dân.</p><p>    </p><blockquote><p> </p></blockquote><p>Tình bạn bền lâu của tác giả ko bị phai mờ theo năm tháng mà còn bền chặt hơn đến lúc tuỏi già vẫn còn thăm mếm nhau tác giả đã miêu tả thể hiện tình cảm sâu xắc ấy trong bài thơ Nguyễn Khuyến bắt đầu khắc họa hoàn cảnh sống thiếu thốn của mình khi bạn đến thăm nhà. Hoàn cảnh thật éo le khi “trẻ thời đi vắng” có nghĩa là không có ai để sai đi mua đồ ăn tiếp đãi bạn ,nhà thơ còn liệt kê một số hiện tượng như ‘ao sâu nước cả’, ‘cải chửa ra cây.. Nguyễn Khuyến cũng bày tỏ quan điểm tương tự về mối quan hệ giữa vật chất và tình cảm:Nhưng Nguyễn Khuyến không chỉ nói đùa, ẩn sau những cụm từ hóm hỉnh ấy là nói lên một triết lý sâu sắc về tình bạn.  Bài thơ là một tiếng nói về tình bạn rất thú vị, thú vị ở ý nghĩa sâu xa, được thể hiện bằng nét tài hoa hiếm có, tạo nên một nụ cười chỉ Nguyễn Khuyến mới có, một nụ cười hóm hỉnh mà chỉ Nguyễn Khuyến rất sâu sắc. Bài thơ còn giúp chúng ta có thêm niềm tin và tình yêu đối với những tình bạn chân chính trong cuộc sống.Bài thơ này ca ngợi sự chân thành, niềm đam mê, sự giản dị và niềm vui giản dị của tác giả.</p><p>Đồng thời ca ngợi tình bạn không vụ lợi, tình bạn tri kỉ ‘ta với ta’. </p><p>  </p><blockquote><p> <mark>"</mark><strong><mark>Sông núi nước Nam"</mark></strong></p></blockquote><p>Lòng tự tôn dân tộc, tình yêu đất nước được thể hiện mạnh mẽ, đại diện cho truyền thống yêu nước ngàn đời của nhân dân ta,bài thơ Sông núi nước nam là  tiếng nói khẳng định độc lập, chủ quyền và ý chí quyết tâm bảo vệ chủ quyền đó trước mọi kẻ thù xâm lược.  Bài thơ cũng là lời nhắn nhủ thế hệ sau phải trân trọng, gìn giữ gấm vóc non sông, xứng đáng với những gì cha ông đã đánh đổi và bảo vệ tới cùng.Bài thơ được xem là “thơ thần” bởi lẽ nó không chỉ khẳng định được vấn đề về chủ quyền lãnh thổ, nền độc lập của nước ta, mà còn thể hiện được tính thần lực, lòng tự tôn dân tộc mạnh mẽ của vị chủ tướng tài ba Lý Thường Kiệt cũng như những người dân Việt Nam. Bài thơ cũng là lời tuyên bố, khẳng định đanh thép của tác giả đối với những kẻ có ý định xâm phạm vào lãnh thổ nước ta, xâm phạm vào lòng tự tôn của một dân tộc Việt Nam anh hùng. Lời khẳng định chủ quyền của đất nước. Lời khẳng định này không phải chỉ là lời khẳng định của tác giả, mà tác giả còn đưa ra những luận chứng sắc sảo, đó là bởi “thiên thư” (sách trời) quy định. Tức sự độc lập, chủ quyền về lãnh thổ ấy được trời đất quy định, chứng giám. Một sự thật hiển nhiên mà không một ai có thể chối cãi được:</p><p><br/></p><p>“Nam quốc sơn hà Nam đế cư</p><p><br/></p><p>Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”</p><p><br/></p><p>Dân tộc Việt Nam còn khẳng định một cách chắc chắn quyền sở hữu của “sơn hà” ấy là của người Việt Nam. Có thể thấy, đây là lần đầu tiên trong một tác phẩm thơ văn, vấn đề chủ quyền dân tộc được khẳng định.. . Tác giả cũng mạnh mẽ khẳng định vị thế của người đứng đầu đất nước. Không phải là vương, là chư hầu nhỏ bé mà là “đế”, là vị vua ngang hàng với bất cứ vị vua nào. Chủ quyền ấy, lãnh thổ cương vực ấy không phải do người Nam tự quyết định lựa chọn cho mình, người dân nơi ấy chỉ sinh sống, làm ăn sinh hoạt từ rất lâu đời, do sự định phận của “sách trời”, đó là đấng cao quý vì vậy mọi sự quy định, chỉ dẫn của “trời” đều rất có giá trị, đều rất đáng trân trọng.</p><p>Hai từ “tiệt nhiên” (rành rành) là dùng để chỉ sự hiển hiện, tất yếu mà ai cũng có thể nhận biết và phân biệt được. “Tiệt nhiên định phận tại thiên thư” có nghĩa vùng lãnh thổ ấy, chủ quyền ấy của người Nam đã được sách trời ghi chép rõ ràng, dù có muốn cũng không thể chối cãi, phủ định. </p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-10-26 14:03:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/distinctsafetyelectronics/y9iun2t459lco84b/wish/2764759283</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
