<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title>Assignment 2 MFM IBC09 K43 by NGUYEN KHANH VAN</title>
      <link>https://padlet.com/vannguyen86k42/xply2ns9hpod3fr2</link>
      <description>Nhom 9
Phạm Quang Hưng - 31161020597 - hungpham13.k42@st.ueh.edu.vn

Nguyễn Khánh Văn - 31161026635 - vannguyen86.k42@st.ueh.edu.vn</description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2020-04-11 06:55:24 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2023-02-18 18:48:26 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url>https://padlet.net/icons/png/1f60e.png</url>
      </image>
      <item>
         <title>Câu 1</title>
         <author>hungpham13k42</author>
         <link>https://padlet.com/vannguyen86k42/xply2ns9hpod3fr2/wish/502702878</link>
         <description><![CDATA[<div>1. Chế độ bản vị vàng, 1876 – 1913<br><br></div><div>- Từ trước dương lịch 300 năm, thời của các Pharaoh, vàng được xem là phương tiện thanh toán và cất trữ. Hy Lạp và đế chế Romam dùng tiền vàng cho đến thời kỳ khếch trương thương mại của thế kỷ 19.<br><br></div><div>- Mỹ tuyên bố 20.67 US$ cho 1 ounce1 vàng, và Anh Quốc định giá là 4.2474 Bảng cho 1 ounce vàng.<br><br></div><div>- Chế độ bản vị vàng hoạt động cho đến Chiến tranh Thế giới lần I nổ ra làm ngưng hoạt động thương mại giữa các quốc gia.<br><br></div><div>2. Giai đoạn Chiến tranh Thế giới, 1914 – 1944<br><br></div><div>- Suốt giai đoạn Chiến tranh Thế giới lần I và đầu những năm 1920, các đồng tiền giao dịch có tỷ giá giao dịch biến động khá lớn so với giá trị của vàng. Về mặt lý thuyết, việc cung và cầu tiền theo hoạt động xuất và nhập khẩu của một quốc gia sẽ tạo ra sự biến động tỷ giá theo một giá trị cân bằng.<br><br></div><div>- Mỹ đã điều chỉnh chế độ bản vị vàng năm 1934 khi US$ giảm giá trị từ 20.67 US$/ounce vàng thành 35 US$/ounce vàng do tác động của Chiên tranh Thế giới lần I.<br><br></div><div>- Trong giai đoạn hổn loạn này, nhiều đồng tiền mất khả năng chuyển đổi sang các đồng tiền khác. Chỉ có đồng US$ là một trong số ít các đồng tiền có khả năng chuyển đổi.<br><br></div><div>3. Định chế Bretton Woods và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) ra đời năm 1944<br><br></div><div>- Hiệp định Bretton Woods thiết lập hệ thống tiền tệ quốc tế dựa trên đồng Đô la Mỹ và thiết lập hai định chế mới là Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới.<br><br></div><div>- IMF chuyên hổ trợ các quốc gia thành viên trong cán cân thanh toán và vấn đề tỷ giá.<br><br></div><div>- Theo hiệp định Bretton Woods tất cả các quốc gia cố định giá trị đồng tiền theo vàng nhưng không đòi hỏi chuyển đổi đồng tiền quốc gia đó ra vàng, ngoại trừ đồng Đô la Mỹ được đổi tương ứng 35 US$ cho 1 ounce vàng.<br><br></div><div>- Nếu một đồng tiền quá yếu và khi mất giá quá 10% thì cần có sự can thiệp của IMF. Và chính sách này được gọi là bản vị trao đổi bằng vàng.<br><br></div><div>- Sau này IMF tạo ra tài sản dự trữ quốc tế là Quyền rút vốn đặc biệt, SDR, nhằm bổ sung vào quỹ dự trữ ngoại tệ hiện có. Nó được xem là đơn vị kế toán của IMF và các tổ chức khu vực và quốc tế khác, đồng thời là cơ sở để các nước neo tỷ giá đối với đồng tiền của họ.<br><br></div><div>- Ban đầu được cố định theo vàng, hiện nay, SDR là rỗ tiền tệ gồm 4 đồng tiền mạnh là US$, Euro, Yên Nhật và Bảng Anh.<br><br></div><div>- Vào ngày 10/1/2016 đồng Nhân dân tệ được kết nạp vào SDR. Đây sẽ là đồng tiền có sức ảnh hưởng lớn thứ 3 trong rổ, với quyền số là 10,92%, đứng sau đôla Mỹ (41,73%) và euro (30,93%). Tỷ lệ tương ứng với yen Nhật và bảng Anh là 8,33% và 8,09%. <br><br></div><div>4. Tỷ giá cố định giai đoạn 1945 – 1973<br><br></div><div>- Giai đoạn này, đồng Đô la Mỹ được xem là đồng tiền dự trữ chính tại ngân hàng trung ương của các quốc gia và là nhân tố chính để hệ thống tỷ giá hoạt động đúng giá trị.<br><br></div><div>- Chỉ riêng 7 tháng đầu năm 1971, nước Mỹ giảm ¼ lượng vàng dự trữ do đổi Đô la lấy vàng. Trước sức ép cạn kiệt dự trữ vàng, tổng thống Mỹ, Richard Nixon tuyên bố Ngân khố Mỹ chính thức không đổi Đô la Mỹ sang vàng từ 15/8/1971.<br><br></div><div>- Tỷ giá của các nước có đồng tiền mạnh cho phép thả nổi theo Đô la Mỹ và vì vậy dao động gián tiếp thông qua vàng. Đến ngày 12/1/1973, đồng Đô la Mỹ bị cú sốc lớn khi giảm giá hơn 10% và qui đổi đến 42.22 US$ cho 1 ounce vàng.<br><br></div><div>5. Giai đoạn thả nổi 1973 – 1997<br><br></div><div>- Kể từ tháng 3 năm 1973, tỷ giá biến động nhiều hơn và khó dự đoán so với giai đoạn tỷ giá cố định và tỷ giá cũng thay đổi thất thường so với giai đoạn 1957-1973.<br><br></div><div>- Cú sốc quan trọng nhất là việc ra đời đồng tiền chung Châu Âu giai đoạn 1992-1993, cuộc khủng hoảng tài chính của các thị trường mới nổi gồm Mexoco năm 1994 và Thái Lan năm 1997, Nga năm 1998 và Brazil năm 1999, việc phát hành đồng tiền Euro, cuộc khủng hoảng tiền tệ tại Asgentina và Venezuela năm 2002.<br><br></div><div>6. Kỷ nguyên của các nước mới nổi, từ 1997 đến nay<br><br></div><div>- Sau cuộc khủng hoảng năm 1997 tại Châu Á, được xem là giai đoạn phát triển cả bề rộng và chiều sâu của các đồng tiền và nền kinh tế mới nổi. Trong đó đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc trở thành đồng tiền chiếm vị trí quan trọng trong thanh toán quốc tế.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2020-04-11 07:07:15 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vannguyen86k42/xply2ns9hpod3fr2/wish/502702878</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Câu 2 </title>
         <author>hungpham13k42</author>
         <link>https://padlet.com/vannguyen86k42/xply2ns9hpod3fr2/wish/502703369</link>
         <description><![CDATA[<div>- SDR – Special Drawing Rights hay Quyền rút vốn đặc biệt là đơn vị tiền tệ qui ước của một số nước thành viên của Quỹ Tiền tệ Quốc tế. SDRs có mã tiền tệ ISO 4217 là XDR.<br><br></div><div>- Được tạo ra để đáp lại những lo ngại về những hạn chế của vàng và đô la như là phương tiện duy nhất để giải quyết các tài khoản quốc tế, SDRs tăng cường thanh khoản quốc tế bằng cách bổ sung các loại tiền dự trữ tiêu chuẩn.<br><br></div><div>• SDRs có thể được sử dụng trong quan hệ tín dụng giữa các nước thành viên IMF với quỹ này cũng như trong thanh toán cán cân thương mại giữa các quốc gia.<br><br></div><div>• Khi giải ngân, có thể quy đổi ra một loại tiền tệ mạnh nào đó như Đô la Mỹ, Euro, hoặc Yên Nhật,... tùy tình huống.<br><br>• SDRs cũng được sử dụng trong một số thỏa thuận, công ước quốc tế như Công ước Warsaw về trách nhiệm vật chất của các hãng hàng không đối với hành khách, hành lý, hàng hóa chuyên chở; sử dụng để tính toán cước bưu chính, viễn thông quốc tế theo thỏa thuận giữa các nước thành viên Liên minh Bưu chính Thế giới (Universal Postal Union), Liên minh Viễn thông Quốc tế (International Telecommunication Union).<br><br></div><div>- Tuy nhiên nó chỉ là đơn vị qui ước, chỉ được sử dụng để tính toán chứ không thực sự tồn tại trong lưu thông do vậy người ta không thể tiêu nó như các loại tiền tệ dùng trong lưu thông khác.<br><br><strong>- Đối với Việt Nam:</strong> SDR được coi là một thành phần dự trữ ngoại hối nhà nước của Việt Nam. Như vậy, về nguyên tắc, trong trường hợp Việt Nam có nhu cầu “<em>ngoại tệ tự do sử dụng</em>”, là các ngoại tệ có trong thành phần rổ tiền tệ SDR (đô la Mỹ, yên Nhật, bảng Anh, đồng EU và sắp tới đây có thêm đồng nhân dân tệ), Việt Nam có thể sử dụng SDR có trong dự trữ ngoại hối của mình để đổi lấy “<em>ngoại tệ tự do sử dụng</em>” đó từ các quốc gia thành viên. Trường hợp Việt Nam không tìm được quốc gia đối tác sẵn sàng đổi “<em>ngoại tệ tự do sử dụng</em>”, trên cơ sở các nhu cầu được quy định tại Điều khoản thỏa thuận của IMF, IMF sẽ chỉ định một quốc gia thành viên có trạng thái dự trữ ngoại hối đủ mạnh để thực hiện việc trao đổi với Việt Nam.<br><br></div><div>- Cơ chế của SDR:</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/522510442/e2771b9b9df378561469008e42e70b46/9781484330876_f0093_01.jpg" />
         <pubDate>2020-04-11 07:08:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vannguyen86k42/xply2ns9hpod3fr2/wish/502703369</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Câu 3</title>
         <author>vannguyen86k42</author>
         <link>https://padlet.com/vannguyen86k42/xply2ns9hpod3fr2/wish/502724149</link>
         <description><![CDATA[<div>Theo cách phân loại của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), kể từ ngày 31/07/2006, chế độ tỷ giá của các quốc gia được phân thành bảy loại cụ thể trải dài từ cố định đến trôi nổi độc lập:<br><br></div><div>- Hệ thống tiền tệ không có đồng tiền pháp định riêng <em>(Exchange arrangement with no separate legal tender)</em>;<br><br></div><div>- Hội đồng tiền tệ <em>(Currency board arrangements)</em>;<br><br></div><div>- Chế độ tỷ giá cố định truyền thống <em>(Other conventional fixed peg arrangements)</em>;<br><br></div><div>- Chế độ tỷ giá neo với biên độ hẹp <em>(Pegged exchange rates within horizontal bands)</em>;<br><br></div><div>- Chế độ tỷ giá neo với biên độ điều chỉnh <em>(Crawling pegs)</em>;<br><br></div><div>- Chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý <em>(Managed floating with no predetermined path for the exchange rate)</em>;<br><br></div><div>- Chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn <em>(Indendently floating)</em>;<br><br></div><div> <br><br></div><div>*Điểm mạnh của chế độ tỷ giá cố định: <br><br></div><div>- Sự chắc chắn - với tỷ giá hối đoái cố định, các công ty sẽ luôn biết tỷ giá hối đoái và điều này làm cho thương mại và đầu tư ít rủi ro hơn.<br><br></div><div>- Không có đầu cơ - với tỷ giá hối đoái cố định, sẽ không có đầu cơ nếu mọi người tin rằng tỷ giá sẽ được cố định mà không đánh giá lại hoặc mất giá.<br><br></div><div>- Hạn chế về chính sách của chính phủ - nếu tỷ giá hối đoái được cố định, thì chính phủ có thể không thể theo đuổi các chính sách kinh tế vĩ mô cực đoan hoặc vô trách nhiệm vì những điều này sẽ gây ra sự chạy đua về dự trữ ngoại hối và sẽ không bền vững trong trung hạn.<br><br></div><div> <br><br></div><div>*Điểm yếu của chế độ tỷ giá cố định: <br><br></div><div>- Nền kinh tế có thể không thể đáp ứng với các cú sốc - tỷ giá hối đoái cố định có nghĩa là có thể không có cơ chế nào để chính phủ phản ứng nhanh chóng đối với các cuộc khủng hoảng thanh toán.<br><br></div><div>- Các vấn đề với dự trữ - hệ thống tỷ giá hối đoái cố định đòi hỏi dự trữ ngoại hối lớn và kết quả là có thể có vấn đề thanh khoản quốc tế.<br><br></div><div>- Đầu cơ - nếu thị trường ngoại hối tin rằng có thể có sự đánh giá lại hoặc mất giá, thì có thể có một đợt đầu cơ. Chiến đấu với điều này có thể khiến chính phủ phải trả giá đáng kể về dự trữ ngoại hối của họ.<br><br></div><div>- Giảm phát - nếu các quốc gia có cán cân thanh toán thâm hụt làm giảm phát triển nền kinh tế của họ để cố gắng khắc phục thâm hụt, điều này sẽ làm giảm thặng dư của các quốc gia khác cũng như làm giảm phát triển nền kinh tế của chính họ để khôi phục thặng dư. Điều này có thể cung cấp cho hệ thống một xu hướng giảm phát.<br><br></div><div>- Xung đột chính sách - tỷ giá hối đoái cố định có thể không tương thích với các mục tiêu kinh tế khác cho tăng trưởng, lạm phát và thất nghiệp và điều này có thể gây ra xung đột chính sách. Điều này đặc biệt đúng nếu tỷ giá hối đoái được cố định ở mức quá cao hoặc quá thấp.<br><br></div><div> <br><br></div><div>*Điểm mạnh của chế độ tỷ giá trôi nổi: <br><br></div><div>- Bảo vệ khỏi các cú sốc bên ngoài - nếu tỷ giá hối đoái tự do thả nổi, thì nó có thể thay đổi để đáp ứng với các cú sốc bên ngoài như giá dầu tăng. <br><br></div><div>- Thiếu các ràng buộc chính sách - chính phủ có hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi để theo đuổi các chính sách mà họ cảm thấy phù hợp với nền kinh tế trong nước mà không lo chúng xung đột với chính sách đối ngoại của họ.<br><br></div><div>- Sửa chữa thâm hụt cán cân thanh toán - tỷ giá hối đoái thả nổi có thể mất giá để bù đắp cho thâm hụt cán cân thanh toán. Điều này sẽ giúp khôi phục khả năng cạnh tranh của xuất khẩu. <br><br></div><div> <br><br></div><div>*Điểm yếu của chế độ tỷ giá trôi nổi: <br><br></div><div>- Sự không ổn định - tỷ giá hối đoái thả nổi có thể dễ bị biến động lớn về giá trị và điều này có thể gây ra sự không chắc chắn cho các công ty. Đầu tư và thương mại có thể bị ảnh hưởng xấu.<br><br></div><div>- Không có ràng buộc đối với chính sách trong nước - chính phủ có thể tự do theo đuổi các chính sách nội địa không phù hợp (ví dụ: chính sách bành trướng quá mức) vì tỷ giá sẽ không đóng vai trò là một ràng buộc.<br><br></div><div>- Đầu cơ - sự tồn tại của đầu cơ có thể dẫn đến thay đổi tỷ giá hối đoái không liên quan đến mô hình thương mại cơ bản. Điều này cũng sẽ gây ra sự bất ổn và không chắc chắn cho các công ty và người tiêu dùng.<br><br></div><div> <br><br></div><div>Một trong những ví dụ điển hình về điểm mạnh của chính sách tỷ giá cố định là Trung Quốc:<br><br></div><div>Một nền tảng của chính sách kinh tế của Trung Quốc là quản lý tỷ giá nhân dân tệ để có lợi cho xuất khẩu của nó. Trung Quốc không có tỷ giá hối đoái thả nổi được xác định bởi thị trường, như trường hợp của hầu hết các nền kinh tế tiên tiến. Thay vào đó, nó chốt đồng tiền của mình, nhân dân tệ (hoặc đồng Nhân dân tệ), vào đồng đô la Mỹ.<br><br></div><div>Bằng cách giữ đồng nhân dân tệ ở mức thấp giả tạo, Trung Quốc làm cho hàng xuất khẩu của nó cạnh tranh hơn trên thị trường toàn cầu. Trung Quốc đạt được điều này bằng cách chốt đồng nhân dân tệ với đồng đô la Mỹ theo tỷ giá tham chiếu hàng ngày do Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC) quy định và cho phép đồng tiền dao động trong một biên độ cố định (đặt ở mức 1% vào tháng 1 năm 2014) ở hai bên tỷ lệ tham chiếu.<br><br></div><div> </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2020-04-11 08:00:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vannguyen86k42/xply2ns9hpod3fr2/wish/502724149</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Câu 4</title>
         <author>vannguyen86k42</author>
         <link>https://padlet.com/vannguyen86k42/xply2ns9hpod3fr2/wish/502726610</link>
         <description><![CDATA[<div> Trong đợt rà soát đánh giá năm 2015 (được kết luận vào tháng 11/2015), Hội đồng quản trị IMF đã tuyên bố, nhân dân tệ của Trung Quốc (NDT) đáp ứng được tiêu chuẩn có thể sử dụng tự do và được chính thức đưa vào giỏ tiền SDR từ ngày 1/10/2016. IMF khẳng định, đồng NDT đã đáp ứng tiêu chuẩn giao dịch tự do và cùng với đồng USD, Euro, Bảng Anh và Yên Nhật tham gia vào giỏ SDR kể từ ngày 1/10/2016 với tỷ trọng 10,92% trong giỏ tiền tệ. Quyết định này đánh dấu lần đầu tiên giỏ tiền tệ SDR có sự thay đổi kể từ năm 1999, khi đồng Euro ra đời thay thế cho đồng Mark của Đức và Franc của Pháp.<br>Quá trình đưa NDT thành đồng tiền dự trữ toàn cầu gắn với với Chiến lược quốc tế hóa đồng NDT. Nếu như chia Chiến lược quốc tế hóa đồng NDT thành 3 giai đoạn trong vòng 30 năm (1990-2020), thì việc đưa NDT trở thành đồng tiền dự trữ toàn cầu là giai đoạn cuối cùng của quá trình quốc tế hóa đồng NDT (2010-2020).</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2020-04-11 08:05:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vannguyen86k42/xply2ns9hpod3fr2/wish/502726610</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Câu 5</title>
         <author>vannguyen86k42</author>
         <link>https://padlet.com/vannguyen86k42/xply2ns9hpod3fr2/wish/502726642</link>
         <description><![CDATA[<div>Với việc Mỹ áp dụng chính sách thuế 25% đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, việc giảm tỷ giá hối đoái giữa đồng USD và RMB (e) là điều tất yếu để kích thích xuất khẩu từ phía Trung Quốc thông qua động thái tăng cung RMB (M). Thông qua biểu đồ bên dưới có thể thấy tác động này sẽ làm tăng đáng kể lãi suất của đồng RMB (r), điều này sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn còn đang trả lãi ngân hàng. Do đó, Chính phủ Trung Quốc đã có biện pháp đối phó bằng cách rót 74 tỉ USD vào hệ thống để hỗ trợ các doanh nghiệp này duy trì hoạt động.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/522510442/33444080353e6c83dbdef21e88fceb2d/thumbnail.png" />
         <pubDate>2020-04-11 08:05:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vannguyen86k42/xply2ns9hpod3fr2/wish/502726642</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
