<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title>BỨC TRANH NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM by huyenthy vu</title>
      <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11</link>
      <description>Đính kèm hình ảnh ấn tượng</description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2021-11-21 15:55:48 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2025-10-26 05:06:34 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url>https://cnttqn.com/attachments/tdq003-tranh-dong-que-viet-nam-jpg.14331.html</url>
      </image>
      <item>
         <title>33_Ngô Hiếu Thiên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905176160</link>
         <description><![CDATA[<div>Lúa là loài thực vật thuộc một nhóm các loài cỏ đã thuần dưỡng. Lúa sống một năm, có thể cao tới 1-1,8 m, đôi khi cao hơn, với các lá mỏng, hẹp khoảng (2-2,5 cm) và dài 50–100 cm. Rễ chùm, có thể dài tới 2–3 m/cây trong thời kỳ trổ bông. Tuỳ thời kì sinh trưởng, phát triển mà lá lúa có màu khác nhau. Khi lúa chín ngả sang màu vàng. Các hoa nhỏ, màu trắng sữa, tự thụ phấn mọc thành các cụm hoa phân nhánh cong hay rủ xuống, dài 35–50 cm. Hạt là loại quả thóc (hạt nhỏ, cứng của các loại cây ngũ cốc) dài 5–12 mm và dày 1–2 mm. Cây lúa non được gọi là mạ.<br>Nghề trồng lúa nước là một trong những nghề chính và lâu đời nhất của nông dân Cà Mau từ thời đi khẩn hoang mở đất. Thời ấy, hình ảnh ngưởi xưa đi khẩn hoang, mở đất được lưu giữ lại cho đến ngày hôm nay là một chiếc xuồng ba lá với cái nóp, giữa bốn bề là rừng cây rậm rạp. Đến đây, lưu dân chặt cây, đốn lá dừa nước làm chòi (nhà sàn). Họ không đi một mình mà rủ nhau đi theo dòng họ hoặc xóm giềng, có khi vài chục hộ. Họ khoét lõm rừng để trồng lúa, bắt cá,.......:D<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1462693887/cc26d789b30b2eff6a4c24f2e666256a/thuyet_minh_cay_lua_nuoc_678x381.jpg" />
         <pubDate>2021-11-22 03:21:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905176160</guid>
      </item>
      <item>
         <title>13 - Ngũ Kiệt Hùng</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905178732</link>
         <description><![CDATA[<div>I. Thông tin chung<br>- Lịch sử cà phê Việt Nam bắt đầu bởi người Pháp từ năm 1857, tính đến nay việc trồng cà phê đã cố thủ trong văn hóa Việt Nam hơn một thế kỷ.<br>- Hiện nay diện tích cà phê của cả nước đã lên tới nửa triệu hecta với sản lượng hàng năm lên hơn 25 triệu bao vào năm 2010 và duy trì liên tục đến nay. Việt Nam trở thành nước sản xuất lớn thứ hai trên thế giới.<br>- Hai loại cà phê chính (Robusta và Arabica). Robusta chiếm 92,9% tổng diện tích trồng cà phê (và chiếm 97% tổng sản lượng), Arabica chỉ chịu trách nhiệm cho một vài phần trăm còn lại.<br>- Các tỉnh trồng cà phê chính nằm ở Tây Nguyên, bao gồm Đăk Lăk (190.000 ha), Lâm Đồng (162.000 ha), Đăk Nông (135.000 ha), Gia Lai (82.000 ha) ) và Kon Tum (13.500 ha).<br><br>II. Phát triển<br>Từ đầu những năm 1990, khi cà phê được trồng rộng rãi ở các tỉnh Tây Nguyên, nhiều viện nghiên cứu cây giống nông nghiệp, đặc biệt là Viện Khoa học Nông lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI), đã nghiên cứu lai tạo nhiều giống Robusta khác nhau. Quá trình lai tạo chọn lọc đã cho ra hàng chục giống Robusta mới, khác nhau về sức tăng trưởng, khả năng thích ứng với đất và khí hậu, khả năng kháng sâu bệnh, với năng suất cao hơn (3,5 tấn mỗi ha trở lên). Các giống lai và giống chín muộn điển hình này đã được các nhà nghiên cứu Việt Nam đặt tên thế hệ từ TR4, TR5, TR6, TR7, TR8, TR9, TR11, TR12, TR13, TR14, TR15 và TRS1.<br><br>III. Phân bố<br>- Cà phê Việt Nam được trồng ở các vùng có độ cao từ 500 đến 1.200 mét so với mực nước biển.<br>- Robusta tiếp tục phát triển ở bốn tỉnh thuộc Tây Nguyên: Đăk Lăk, Lâm Đồng, Đăk Nông và Gia Lai với tổng diện tích 530.000 ha, còn lại là khoảng 70.000 ha ở các tỉnh khác.<br>- Cây Arabica đã được định hướng mở rộng ở Sơn La (Tây Bắc), Nghệ An, Quảng Trị (miền Trung), Lâm Đồng (Tây Nguyên) và một số khu vực khác tại miền trung.<br><br>IV. Thu hoạch<br>- Mùa cà phê bắt đầu vào tháng 10, đánh dấu sự kết thúc của mùa mưa và bắt đầu mùa khô ở miền Nam nước ta.<br>- Kỹ thuật chế biến phổ biến nhất tại nước ta vẫn là phương pháp phơi khô tự nhiên sau thu hoạch.<br><br>V. Hiện trạng<br>- Hiện Việt Nam là nhà sản xuất và xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới.&nbsp;<br>- Tuy nhiên, cà phê Việt Nam hiện đang phải đối mặt với không ích vấn đề trong đó những thách thức khách quan lẫn chủ quan:<br>+ Biến đổi khó hậu có thể khiến Việt Nam mất 50% diện tích sản xuất cà phê Robusta hiện tại vào năm 2050. (Theo Trung tâm Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế (CIAT)).<br>+ Gần 30% cây là từ 15 đến 20 tuổi và khoảng 20% trên 20 tuổi – không thể đảm bảo năng suất.<br>+ Đất bị ô nhiễm nghiêm trọng, dẫn đến nhiều bệnh và sâu bệnh, đặc biệt là nấm và tuyến trùng rễ.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1329785543/a79d687e4581bea5c980967d2d4d6f28/49303395491_a47bdebdd9_h.jpg" />
         <pubDate>2021-11-22 03:22:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905178732</guid>
      </item>
      <item>
         <title>08 Nguyễn Khương Duy 12A11</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905180833</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><br>Nông nghiệp</strong> là ngành kinh tế quan trọng của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam">Việt Nam</a>. Hiện nay, Việt Nam vẫn là một nước <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/N%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p">nông nghiệp</a>. Năm 2009, giá trị sản lượng của nông nghiệp đạt 71,473 nghìn tỷ đồng (giá so sánh với năm 1994), tăng 1,32% so với năm 2008 và chiếm 13,85% <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%95ng_s%E1%BA%A3n_ph%E1%BA%A9m_n%E1%BB%99i_%C4%91%E1%BB%8Ba">tổng sản phẩm trong nước</a>. Ngược lại vào năm 2020, giá trị sản lượng đạt khoảng 27 nghìn tỷ đồng. <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/N%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p_Vi%E1%BB%87t_Nam#cite_note-1"><sup>[1]</sup></a> <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/N%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p_Vi%E1%BB%87t_Nam#cite_note-2"><sup>[2]</sup></a> Tỷ trọng của nông nghiệp trong nền kinh tế bị sụt giảm trong những năm gần đây, trong khi các lĩnh vực kinh tế khác gia tăng. Đóng góp của nông nghiệp vào tạo việc làm còn lớn hơn cả đóng góp của ngành này vào GDP. Trong năm 2020, có khoảng 17.5 triệu lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, và thuỷ sản.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/N%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p_Vi%E1%BB%87t_Nam#cite_note-cp-3"><sup>[3]</sup></a> Sản lượng nông nghiệp xuất khẩu chiếm khoảng 30% trong năm 2005.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/N%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p_Vi%E1%BB%87t_Nam#cite_note-cp-3"><sup>[3]</sup></a> <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/N%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p_Vi%E1%BB%87t_Nam#cite_note-4"><sup>[4]</sup></a> Việc tự do hóa sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lúa <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/G%E1%BA%A1o">gạo</a>, đã giúp Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/N%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p_Vi%E1%BB%87t_Nam#cite_note-cp-3"><sup>[3]</sup></a> Những nông sản quan trọng khác là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A0_ph%C3%AA">cà phê</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/S%E1%BB%A3i_b%C3%B4ng">sợi bông</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BA%A1c">đậu phộng</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Cao_su">cao su</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C6%B0%E1%BB%9Dng">đường</a>, và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C3%A0">trà</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/N%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p_Vi%E1%BB%87t_Nam#cite_note-cp-3"><sup>[3]</sup></a> chủ yếu là xuất khẩu thô chưa qua sơ chế.<br><br></div><div><br>Năm 2018, diện tích đất nông nghiệp Việt Nam là 27.289.454 ha<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/N%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p_Vi%E1%BB%87t_Nam#cite_note-5"><sup>[5]</sup></a>, dân số Việt Nam là 95.540.395 người<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/N%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p_Vi%E1%BB%87t_Nam#cite_note-6"><sup>[6]</sup></a> đạt mức bình quân đất nông nghiệp là 0,2856 ha/người. Trong khi đó năng suất sử dụng đất tại Việt Nam chỉ khoảng 1.000 USD/ha/năm<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/N%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p_Vi%E1%BB%87t_Nam#cite_note-7"><sup>[7]</sup></a> tương đương với giá trị mà ngành nông nghiệp mang lại cho Việt Nam là 285 USD/người/năm. Nông nghiệp mang lại cho Việt Nam một mức thu nhập rất thấp (dưới mức nghèo khổ là 1,9 USD/ngày<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/N%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p_Vi%E1%BB%87t_Nam#cite_note-8"><sup>[8]</sup></a>) khiến nước này không thể trở thành nước phát triển nếu chỉ dựa vào nông nghiệp hoặc nông nghiệp vẫn là ngành chủ đạo trong nền kinh tế.<br>Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc rất lớn vào điều kiện khí hậu cho nên thách thức trực tiếp và lâu dài đến sản xuất nông nghiệp là tác động của biến đổi khí hậu - Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ biến đổi khí hậu. Nếu mực nước biển dâng cao thêm 1m mà Việt Nam không có biện pháp phòng ngừa hữu hiệu, thì khoảng 40% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long, 11% diện tích Đồng bằng sông Hồng và 3% diện tích của các tỉnh khác thuộc vùng ven biển sẽ bị ngập. Lũ lụt sẽ khiến gần 50% diện tích đất nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long bị ngập lụt không còn khả năng canh tác (Phạm Tất Thắng, 2017). Mặt khác, biến động thời tiết ngày càng cực đoan, bất thường, khó kiểm soát; các nhà khoa học cũng dự báo các tỉnh Tây Nguyên và miền Trung sẽ bị hạn nhiều hơn; số đợt không khí lạnh, rét đậm, rét hại sẽ xuất hiện nhiều hơn ở các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung Bộ, bão lũ sẽ gây ảnh hưởng ngày thêm nặng nề trên qui mô cả nước.</div><div>Nền nhiệt của Việt Nam đã tăng lên đáng kể; nguồn nước chịu ảnh hưởng do thay đổi lượng mưa; mực nước biển dâng dẫn đến thu hẹp diện tích sản xuất, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2016); xói lở và xâm nhập mặn diễn ra ngày càng phức tạp và có chiều hướng gia tăng (Nhóm Ngân hàng Thế giới, 2016). Những ảnh hưởng trên khiến cho việc phát triển nông nghiệp gặp bất lợi lớn, do đó cần có các chính sách phù hợp để thúc đẩy phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, thích ứng với biến đổi khí hậu.&nbsp;<br><br>Căng thẳng thương mại Mỹ - Trung từ năm 2018 và các biến động địa-chính trị khác, đã tạo ra áp lực đối với các tập đoàn đa quốc gia trong việc điều chỉnh chuỗi cung ứng. Đại dịch toàn cầu Covid-19 đã cho thấy những rủi ro của việc các nước phụ thuộc vào một nguồn cung, và các chuỗi cung ứng được tổ chức quá dàn trải, làm cho chuỗi cung ứng toàn cầu dễ bị đứt gãy, tổn thương.&nbsp;<br><br>Với các ngành kinh tế dựa vào tài nguyên như nông nghiệp thì ‘thượng nguồn’ của chuỗi cung ứng chính là các tài nguyên đầu vào như nước và đất đai. Biến đổi khí hậu đã tạo ra thách thức vô cùng to lớn đối với việc sử dụng tài nguyên nước và tài nguyên đất. Nhưng sự thiếu phối hợp, thiếu thiện chí giữa các quốc gia trong cùng một lưu vực cũng tạo ra những căng thẳng ngày càng tăng về tài nguyên nước. Đồng bằng sông Cửu Long là một ví dụ cho thấy tác hại nghiêm trọng của biến đổi khí hậu và các thách thức chính trị quốc tế đến an ninh chuỗi cung ứng trong ngành nông nghiệp.<br><br>Quá trình toàn cầu hóa, đa phương hóa mạnh mẽ cũng là một thách thức lớn (song cũng đồng thời là cơ hội, nếu biết cách biến ‘nguy’ thành ‘cơ’) khi gắn với chủ nghĩa bảo hộ, chủ nghĩa dân túy, với các hàng rào phi thuế quan, các biện pháp phòng vệ tinh vi, làm xu hướng tài chính quốc tế thay đổi kèm theo với các xung đột thương mại, bất ổn chính trị, cùng với dịch bệnh, khiến xu hướng thương mại nông sản quốc tế, tiêu chuẩn thị trường luôn thay đổi; đồng thời, các yêu cầu mới về môi trường và lao động luôn xuất hiện. Tất cả những điều đó tất yếu dẫn đến cạnh tranh thị trường ngày càng trở nên gay gắt hơn.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1245522761/dee9adf25e4c0e932119ea7d1d8b498c/image.png" />
         <pubDate>2021-11-22 03:24:22 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905180833</guid>
      </item>
      <item>
         <title>09-Bùi Thành Đạt-12A11</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905182540</link>
         <description><![CDATA[<div>1.Vú sữa Lò Rèn (Tiền Giang)<br>Tiền Giang là vùng đất trái ngọt cây lành, phù sa màu mỡ, phì nhiêu, thích hợp cho nhiều loại cây ăn quả trong đó có vú sữa.Hiếm có nơi nào trồng vú sữa cho năng suất, sản lượng cao và chất lượng trái tốt nổi tiếng như ở các xã nằm trong vùng chỉ dẫn địa lý của trái vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim (Tiền Giang). Vú sữa Lò Rèn cho trái tròn, vỏ mỏng, nhỏ hột, dày cùi, nước chín, quả phơn phớt màu hồng, phảng thơm, mát dịu, ngọt thanh. Vú sữa Lò Rèn đã trở thành “thương hiệu độc quyền” của tỉnh Tiền Giang nói riêng và vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung. Vú sữa Lò Rèn cho quả quanh năm, sau khi cây đạt từ 7 năm tuổi trở lên. Hàng năm, mùa vú sữa thường kéo dài từ tháng 9 năm trước đến tháng 4 âm lịch năm sau. Vào khoảng tháng 11 âm lịch, vú sữa mới bắt đầu chín đồng loạt.&nbsp;</div><div>2.Vải Thiều Lục Ngạn (Bắc Giang)<br>Vải thiều được trồng trên đất Lục Ngạn có màu đỏ tươi, nhiều cùi, hạt nhỏ, ngọt sắc hơn những vùng khác. Cây vải đã đem lại giá trị kinh tế rất cao, góp phần xây dựng quê hương giàu đẹp.<br><br></div><div>Những quả vải tươi ngon được khắp nơi trong và ngoài nước rất ưa chuộng. Không chỉ thế bà con nông dân còn chế biến vải sấy khô – giá trị rất cao. Vải sấy khô vừa để mọi người ưa thích vải thưởng thức quanh năm vừa làm vị thuốc rất tốt cho sức khỏe con ngườI. Vài năm gần đây các nhà kinh doanh còn dùng vải chế biến thành rất nhiều sản phẩm khác nữa như: Vải tươi đóng hộp, nước vải,…để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. &nbsp; Mùa vải chín là lúc mà hình ảnh Lục Ngạn đẹp nhất, đặc trưng nhất.<br>3.Xoài Cát Hòa Lộc (Tiền Giang)<br>Xoài cát Hòa Lộc là loại quả đặc sản nổi tiếng của vùng đồng bằng sông Cửu Long, xoài cát Hoà Lộc là một trong những loại quả được ưa chuộng bởi màu sắc hấp dẫn, mùi vị thơm ngon và có giá trị dinh dưỡng cao.<br>Giống xoài cát Hoà Lộc được trồng đầu tiên năm 1930, do được một người tá điền tên là Ấp Lời trồng đầu tiên tại xã Hòa Lộc, quận Giáo Đức, tỉnh Định Tường, nay là xã Hòa Hưng, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.<br>Xoài cát Hoà Lộc có dáng giống xoài cát Chu, quả thuôn dài, tròn mình, eo rốn quả rõ, đỉnh quả nhọn, bầu tròn gần cuống. Vỏ quả khi chín màu vàng tươi, vỏ mỏng, phủ lớp phấn trắng mịn, có đốm nhỏ, màu nâu đen, đốm dạng tròn; thịt quả màu vàng tươi, dày, độ chắc thịt cao, mịn, dẻo, ít xơ. Quả có vị rất ngọt.<br>Xoài cát Hòa Lộc khi chín có mùi thơm đậm đà và bay xa, đứng cách xa chừng vài mét cũng ngửi thấy mùi thơm. Khi ăn xoài cát Hòa Lộc, người ta cảm nhận như có những hạt đường cát ngọt ngào, thơm tho trong miệng. Thương hiệu xoài cát Hòa Lộc hiện nay không chỉ chiếm lĩnh thị trường trong nước mà còn đang vươn ra thế giới, xuất khẩu sang một số thị trường khó tính nhất.<br>4.Nhãn Lồng Hưng Yên (Hưng yên)<br>Nhãn lồng từ lâu đã được biết đến là một sản vật nổi tiếng của tỉnh Hưng Yên. Không những thế, nó đã trở thành một "thương hiệu" độc quyền mang nét đặc trưng, là hơi thở, là niềm tự hào của đất và người nơi đây.<br>Mùa tháng 7, tháng 8 đang là mùa nhãn chín rộ. Đến Hưng Yên vào mùa này, đi trên đường ai cũng có thể chạm tay vào những chùm nhãn bóng mịn, nặng trĩu. Hưng Yên như một vương quốc nhãn lồng với hàng ngàn cây trĩu quả. Những cây nhãn chín rộ nhuộm vàng một góc trời, dòng người tấp nập đổ về mua nhãn đông đúc, chật kín. Từng trái nhãn, vị nhãn đều đậm đà một hương vị khó quên, không thể trộn lẫn với bất cứ nơi đâu. Nhãn lồng Hưng Yên quả to tròn, vỏ có màu vàng nâu nhạt, cùi dày, ráo nước. Bóc một lớp vỏ mỏng láng, để lộ lớp cùi nhãn dày trắng ngà. Đưa vào miệng nếm thử có vị ngọt thơm, giòn dai. Bên trong là hạt nhỏ màu đen nháy. Mùi hương cũng rất đặc trưng, đó không phải là một mùi thơm nức mũi mà nhẹ nhàng, tinh khiết và dịu mát.<br>5.&nbsp; Cà phê Buôn Mê Thuột (Đắk Lắk)<br>Bất kỳ ai một khi đã một lần nhấp thử cà phê Buôn Ma Thuột thì sẽ chẳng thể nào quên được hương vị thơm ngon đậm nồng. Chính đất đỏ bazan, độ cao phù hợp, hoà điệu với nắng gió Tây Nguyên đã tạo ra sự đặc trưng riêng của cà phê Buôn Ma Thuột.<br>Đến với Buôn Mê là đến với những vườn cà phê xanh ngút ngàn, trải dài đến tận chân trời. Do đặc điểm khí hậu và thổ nhưỡng, cà phê trồng ở Buôn Mê Thuột được đánh giá là một trong những loại cà phê ngon nhất trên thế giới. Vào mùa thu hoạch những quả cà phê chín đỏ, nặng trĩu đầu cành. Còn gì thú vị hơn, trong cái se se lạnh của Tây Nguyên được thưởng thức hương vị của ly cà phê đậm đà.<br>6.Hồ Tiêu Phú Quốc (Kiên Giang)<br>Được mệnh danh là “Vương Quốc hồ tiêu”, hải đảo Phú Quốc được xem là vườn tiêu lớn nhất vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Hồ tiêu Phú Quốc được xem như là một đặc sản địa phương và là món quà rất độc đáo với du khách đến với Phú Quốc.<br>Hồ tiêu Phú Quốc nổi tiếng cay nồng, có vị thơm đậm hơn tiêu trồng ở xứ khác. Trên đường từ Dương Đông đến Gành Dầu nhìn hai bên đường bạn sẽ thấy những vườn tiêu mướt mắt. Khu vực trồng tiêu nhiều nhất là Khu Tượng, cách thị trấn Dương Đông khoảng 15km về phía Bắc.<br><strong>Ngành chăn nuôi ở Việt Nam</strong> là một bộ phận quan trọng cấu thành của <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/N%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p_Vi%E1%BB%87t_Nam">nông nghiệp Việt Nam</a> cũng như là một nhân tố quan trọng trong nền <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Kinh_t%E1%BA%BF_Vi%E1%BB%87t_Nam">kinh tế Việt Nam</a>, tình hình chăn nuôi ở Việt Nam phản ánh thực trạng <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Ch%C4%83n_nu%C3%B4i">chăn nuôi</a>, sử dụng, khai thác, chế biến và tiêu thụ các <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/S%E1%BA%A3n_ph%E1%BA%A9m_%C4%91%E1%BB%99ng_v%E1%BA%ADt">sản phẩm động vật</a> (<a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/S%C3%BAc_v%E1%BA%ADt">súc vật</a> nuôi) và tình hình <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%8B_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng">thị trường</a> liên quan tại <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam">Việt Nam</a>. Chăn nuôi Việt Nam có lịch sử từ lâu đời và đóng góp lớn vào <a href="https://vi.m.wikipedia.org/w/index.php?title=C%C6%A1_c%E1%BA%A5u_kinh_t%E1%BA%BF&amp;action=edit&amp;redlink=1">cơ cấu kinh tế</a>, <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/X%C3%B3a_%C4%91%C3%B3i_gi%E1%BA%A3m_ngh%C3%A8o">xóa đói giảm nghèo</a> cũng như đời sống từ bao năm qua. Hiện nay, theo xu thế của một nền <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Kinh_t%E1%BA%BF">kinh tế</a> đang chuyển đổi, chăn nuôi Việt Nam cũng có những bước đi mới và đạt được một số kết quả nhất định.<br>Chăn nuôi ở Việt Nam<br><br><br><br>Trong ngành chăn nuôi thì con giống, <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Dinh_d%C6%B0%E1%BB%A1ng">dinh dưỡng</a> và quản lý vấn đề vệ sinh chuồng trại là những yếu tố quan trọng nhất đối với người nuôi, những yếu tố này là cả một quá trình đầu tư, học tập, tích lũy <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Kinh_nghi%E1%BB%87m">kinh nghiệm</a> và đào tạo huấn luyện một cách thường xuyên nhưng ở chăn nuôi Việt Nam thì lại còn bất cập và nhiều khó khăn, nhất là công tác quản lý và công tác <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%8B_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng">thị trường</a>. Hạn chế của chăn nuôi Việt Nam vẫn là <a href="https://vi.m.wikipedia.org/w/index.php?title=Quy_m%C3%B4&amp;action=edit&amp;redlink=1">quy mô</a> nhỏ, <a href="https://vi.m.wikipedia.org/w/index.php?title=N%C4%83ng_su%E1%BA%A5t&amp;action=edit&amp;redlink=1">năng suất</a> thấp, lệ thuộc vào nguyên liệu, <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Con_gi%E1%BB%91ng">con giống</a>, <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/K%E1%BB%B9_thu%E1%BA%ADt">kỹ thuật</a> và thị trường của nước ngoài, sức cạnh tranh kém cũng như việc sử dụng chất <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Kh%C3%A1ng_sinh">kháng sinh</a>, chất cấm, <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BA%A5t_%C4%91%E1%BB%99c">chất độc</a> trong chăn nuôi và <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Ti%C3%AAu_d%C3%B9ng">tiêu dùng</a> còn rất cao.<br>Trong thời gian hiện nay có xuất hiện những thách thức và nguy cơ ngày càng rõ rệt đang đe dọa đến sự phát triển bền vững của ngành chăn nuôi Việt Nam, đặc biệt và nhất là trong tình hình <a href="https://vi.m.wikipedia.org/w/index.php?title=H%E1%BB%99i_nh%E1%BA%ADp&amp;action=edit&amp;redlink=1">hội nhập</a> và <a href="https://vi.m.wikipedia.org/w/index.php?title=C%E1%BA%A1nh_tranh_kinh_t%E1%BA%BF&amp;action=edit&amp;redlink=1">cạnh tranh kinh tế</a> càng gay gắt. Thậm chí còn có những quan ngại giấy lên về sự phá sản, xóa xổ của ngành chăn nuôi Việt Nam khi hội nhập quốc tế với những hiệp định thương mại quốc tế, chăn nuôi trong nước sẽ đứng trước nguy cơ xóa sổ vì không <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/C%E1%BA%A1nh_tranh">cạnh tranh</a> được với thịt nhập khẩu<a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Ch%C4%83n_nu%C3%B4i_%E1%BB%9F_Vi%E1%BB%87t_Nam#cite_note-autogenerated2-1"><sup>[1]</sup></a>. Có những quan điểm cho rằng ngành chăn nuôi của Việt Nam đang là <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%99ng_v%E1%BA%ADt_hi%E1%BA%BFn_t%E1%BA%BF">vật tế thần</a>, bị đem hy sinh để đánh đổi những lợi ích khác từ các <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Hi%E1%BB%87p_%C4%91%E1%BB%8Bnh_th%C6%B0%C6%A1ng_m%E1%BA%A1i">hiệp định thương mại</a>.<br><br>&nbsp;</div><div>&nbsp;&nbsp;</div><div>&nbsp;&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1344237234/b015bd617024b4a3fb75be2f72ef62c3/tinh_hinh_kinh_te_xa_hoi_thang_8_va_8_thang_dau_nam_2021.jpg" />
         <pubDate>2021-11-22 03:25:28 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905182540</guid>
      </item>
      <item>
         <title>02- Võ Ngọc Lan Anh- 12a11</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905183643</link>
         <description><![CDATA[<div>Khi nhắc đến cây nông nghiệp Việt Nam chắc chắn không thể nào thiếu được cây lúa nước, hơn nữa đây còn là lương thực chủ yếu của hơn nửa dân số thế giới nói chung và đất nước ta nói riêng.<br><br>- Đặc điểm:&nbsp;<br>+Lúa là cây có một lá mầm, rễ chùm.<br>+Lá bao quanh thân, có phiến dài và mỏng.<br><br></div><div>-Ở nước ta cây lúa được trồng trên khắp cả nước nhưng nhiều nhất là ở các vùng đồng bằng, đặc biệt là đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long.<br>- Có 2 vụ lúa: chiêm, mùa.<br>- Các công đoạn trồng lúa:</div><ul><li>Từ hạt thóc nảy mầm thành cây mạ.</li><li>Rồi nhổ cây mạ cấy xuống ruộng</li><li>Ruộng phải cày bừa, làm đất, bón phân.</li><li>Ruộng phải sâm sấp nước.</li><li>Khi lúa đẻ nhánh thành từng bụi phải làm có, bón phân, diệt sâu bọ.</li><li>Người nông dân cắt lúa về tuốt hạt, phơi khô, xay xát thành hạt gạo…</li></ul><div>- Các chủng loại:&nbsp;</div><ul><li>Lúa tại Việt Nam có hai loại chính: lúa nếp và lúa tẻ.</li><li>Lúa nếp: lúa có hạt thóc ngắn thuôn dài hơn lúa tẻ, thường dùng để nấu xôi, rượu, bánh chưng,…</li><li>Lúa tẻ: lúa có hạt thóc khá nhỏ, dùng làm lương thực chính trong các bữa ăn</li></ul><div>-Tình hình chung: Tỷ trọng của nông nghiệp trong nền kinh tế bị sụt giảm trong những năm gần đây, trong khi các lĩnh vực kinh tế khác gia tăng, nhưng nền nông nghiệp trồng lúa vẫn đóng vai trò chủ đạo, vô cùng quan trọng trong nông nghiệp.<br><br></div><div><br><br></div><div><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1383944039/759e91db049bccdbf2f89b248ca5a8b1/thuyet_minh_ve_cay_lua.jpg" />
         <pubDate>2021-11-22 03:26:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905183643</guid>
      </item>
      <item>
         <title>12_Nguyễn Ngọc Thanh Hiền_12a11</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905185686</link>
         <description><![CDATA[<div><mark>Cacao</mark>, theo truyền thống được phân loại thuộc họ <mark>Trôm</mark>. Còn theo phân loại của hệ thống APG II thì thuộc phân họ <mark>Byttnerioideae</mark> của họ Cẩm quỳ nghĩa rộng. Cacao có <mark>nguồn gốc hoang dại</mark> trong các khu rừng <mark>nhiệt đới</mark> <mark>Trung</mark> và <mark>Nam châu Mỹ.</mark><br>Là cây <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C6%B0%E1%BB%9Dng_xanh"><mark>thường xanh</mark></a> tầng trung, cao <mark>4–8 m </mark>(15–26 ft), ưa <mark>bóng rợp</mark>, có khả năng chịu bóng tốt nên thường <mark>được trồng xen dưới tán cây</mark> khác như trong các vườn dừa, cao su, vườn rừng... có sẵn để tăng hiệu quả sử dụng đất.<br>Cacao cho hạt làm nguyên liệu sử dụng trong ngành <mark>công nghiệp thực phẩm</mark>, có thể kể đến một số sản phẩm có giá trị kinh tế cao như <mark>sô cô la, bột cacao, bơ cacao</mark>..<br>Ca cao là loại cây <mark>công nghiệp lâu năm</mark> còn chiếm diện tích khá <mark>khiêm tốn</mark> nếu so với các loại cây công nghiệp lâu năm quen thuộc như: Cà phê, cao su. Tuy nhiên nước ta lại là nước có <mark>nhiều cơ hội thuận lợi </mark>để <mark>phát triển</mark> loại cây công nghiệp này. Tính đến nay, <mark>diện tích trồng</mark> cây cacao ở nước ta hơn <mark>13.000 ha</mark> tập trung chủ yếu ở 2 tỉnh: <mark>Đắk Lắk và Đắk Nông. </mark>Tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A3_G%E1%BA%A1o">Chợ Gạo</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/G%C3%B2_C%C3%B4ng_T%C3%A2y">Gò Công Tây</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A2u_Th%C3%A0nh">Châu Thành</a> hiện có hơn <mark>100 ha </mark>trồng cacao lấy hạt.<mark><br></mark><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1465818795/2a568127f785e11edc7734ceb956c2bd/tac_dung_cua_hat_ca_cao_hinh_anh_va_cach_dung_hat_ca_cao_chua_benh.jpg" />
         <pubDate>2021-11-22 03:27:31 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905185686</guid>
      </item>
      <item>
         <title>05-Lý Vĩ Cường</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905186355</link>
         <description><![CDATA[<div><br>Dưa hấu rất đa dạng về hình dạng và màu sắc, có màu xanh nhạt và có những đường kẻ từ trên xuống dưới.<br><br>Hình dạng được xem xét với mặt phẳng cắt ngang từ cuống trái đến đuôi trái dưa. Có các dạng chính sau: dạng thuôn dài, dạng trái oval, dạng trái tròn.<br>Hạt dưa cũng rất đa dạng về kích cỡ<br>Dưa hấu được trồng ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới<br><br>Dưa hấu được chia làm hai giống: dưa hấu ngọt và dưa hấu đắng<br>Loại dưa đắng Nam Phi đầu tiên được thu thập bởi Thunberg đã được nhập khẩu vào các vùng bán hoang mạc ở một số lục địa, và được chỉ định là "cây gây hại" ở các vùng của Tây Úc nơi chúng được gọi là dưa lợn.<br><br>Hạt dưa hấu có công dụng làm mát phổi, tan đờm, nhuận tràng, và có lợi cho hệ tiêu hóa. Rễ và lá cây dưa hấu có thể sử dụng để chữa bệnh tiêu chảy. Dưa hấu cũng có nhiều công dụng với sức khỏe: hạ huyết áp, phòng ngừa ung thư và tim mạch, hen suyễn,..<br><br>Dưa hấu đen hay dưa hấu Densuke là giống dưa hấu xuất xứ từ Nhật Bản, chỉ được trồng trên đảo Hokkaido. Đặc điểm dưa có hình tròn, cân nặng trung bình: 5–7 kg. Màu vỏ: màu đen, không có sọc hoặc đốm; ruột đỏ đậm và có vị ngọt sắc đặc trưng khi so sánh với những loại dưa và trái cây khác. Hàng năm chỉ sản xuất được khoảng 9.000 quả nên giá trên thị trường rất đắt, giá trung bình ở Nhật Bản khoảng 20.000 yên đến 30.000 yên (từ 188 đến 283 USD). Trong cuộc bán đấu giá tại thị trấn Toma, một quả đã được bán với giá 300.000 yên (3.170 USD). Vào tháng 6 năm 2008, một trong những quả dưa đầu tiên được bán đã có giá hơn 650.000 yên (6.125 USD, ~ 3.100 bảng Anh) tại một hội chợ.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1329785963/0a67eb77c178e57bb70006beacef9566/t_i_xu_ng.jpg" />
         <pubDate>2021-11-22 03:27:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905186355</guid>
      </item>
      <item>
         <title>25-Trần Thu Minh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905186536</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;- Trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, cây chè đang được coi là cây trồng thế mạnh của một số huyện như: Ba Bể, Chợ Đồn và Chợ Mới. Hiện nay, toàn tỉnh có 2.047 ha, trong đó, 1.882 ha đã cho thu hoạch; diện tích đã được chứng nhận VietGAP là 20 ha, chứng nhận hữu cơ là 20 ha, diện tích được chứng nhận vệ sinh ATTP là 42 ha. Các sản phẩm chè của tỉnh chủ yếu được chế biến thông qua các hợp tác xã.<br>- Chè ở Bắc Kạn với 2 giống cây khác nhau được trồng là chè trung du và chè shan tuyết:<br>+ Chè trung du được trồng rải rác nhiều xã thuộc các huyện Chợ Mới, Ba Bể, Chợ Đồn. Giống chè trung du gồm các giống chè lá nhỏ và một số ít trồng các giống mới như LDP1, LDP2.<br>+ Chè shan tuyết được trồng tập trung chủ yếu ở xã Bằng Phúc (huyện Chợ Đồn) và một phần ở xã Yên Cư (huyện Chợ Mới), những nơi có độ cao sấp xỉ 1.000m so với mực nước biển. Giống chè shan tuyết được trồng áp dụng theo các chương trình trồng rừng phòng hộ nên mật độ cây không đảm bảo, năng suất thấp.<br>-&nbsp;Cả 2 loại chè hình thức sản xuất phân tán, nhỏ lẻ, thủ công, dựa vào kinh nghiệm là chính, nên chưa thành vùng sản xuất hàng hóa lớn. Để thương mại hóa sản phẩm và phát huy giá trị cây chè, tỉnh Bắc Kạn tiếp tục thực hiện các chính sách ưu đãi hỗ trợ phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả hoạt động của các nhóm hộ, tổ hợp tác, hợp tác xã; nghiên cứu xây dựng các xưởng chế biến, các khu chế biến tập trung; gắn sản xuất với tiêu thụ. Đồng thời định hướng phát triển bền vững theo hướng nông nghiệp sạch, an toàn thực phẩm, VietGAP, tăng cường quảng bá, nâng cao giá trị thương hiệu cho sản phẩm chè Bắc Kạn.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1466394863/8b09ebf47f550c51bb0d1da071c09b8a/B506635A_60CF_4EA8_A3BD_EFB82FB1FCEF.jpeg" />
         <pubDate>2021-11-22 03:28:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905186536</guid>
      </item>
      <item>
         <title>21 - Đặng Ngọc Trúc Lam</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905187253</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1466410621/4bbec276c9a2311154162a2c8b369be9/53D923A1_0EFA_475D_8F35_1563A2F7721D.png" />
         <pubDate>2021-11-22 03:28:28 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905187253</guid>
      </item>
      <item>
         <title>16-Nguyên Khang</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905187292</link>
         <description><![CDATA[<div>Cây công nghiệp: cây Mía<br>Mía là loại cây <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nhi%E1%BB%87t_%C4%91%E1%BB%9Bi">nhiệt đới</a> nên đòi hỏi điều kiện độ ẩm rất cao. Nhiệt độ bình quân thích hợp cho sự sinh trưởng của cây mía là 15-26⁰C.<br>Trên cây mía, thông thường phần ngọn sẽ nhạt hơn phần gốc (trong chiết nước mía). Đó là đặc điểm chung của thực vật: chất dinh dưỡng (ở đây là hàm lượng đường) được tập trung nhiều ở phần gốc (vừa để nuôi dưỡng cây vừa để dự trữ). Đồng thời, do sự bốc hơi nước của lá mía, nên phần ngọn cây lúc nào cũng phải được cung cấp nước đầy đủ để cung cấp cho lá, gây ra hàm lượng nước trong tỉ lệ đường/nước phần ngọn sẽ nhiều hơn phần gốc, làm cho ngọn cây mía nhạt hơn.<br>&nbsp; Có khoảng 200 quốc gia và lãnh thổ trồng mía đường, sản xuất khoảng 1.324,6 triệu <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%A5n">tấn</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Brasil">Brasil</a> đứng đầu bảng, sản xuất nhiều mía đường nhất thế giới; thứ nhì là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%E1%BA%A4n_%C4%90%E1%BB%99">Ấn Độ</a> <br>Ở Việt Nam <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Mi%E1%BB%81n_Trung_Vi%E1%BB%87t_Nam">miền Trung</a> là vùng đất truyền thống trồng mía. Việc canh tác mía lấy ngọn mía cắm xuống đất để mọc thành cây mía. Năm sau thì có thể chặt thân mía thu hoạch, gọi là <em>mía tơ</em> năm đầu tiên. Gốc để nguyên, chỉ xới đất thêm và bón cho mọc lại. Mía thu hoạch năm thứ nhì gọi là <em>mía gốc</em>. Đến năm thứ ba thì phải chặt cả gốc, trồng lại từ đầu vì năng suất kém dần.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/M%C3%ADa#cite_note-7"><sup>[7]</sup></a><sup><br></sup>Có thể dùng nước mía để chữa bệnh viêm dạ dày mãn tính theo công thức sau: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/N%C6%B0%E1%BB%9Bc_m%C3%ADa">Nước mía</a> - rượu nho mỗi thứ một ly rồi trộn vào nhau, uống mỗi ngày 2 lần (sáng, tối) (bài thuốc dân gian). Ngoài ra, với một số bệnh khác có thể chữa bằng mía</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1466395372/f28a15eece1aea5f22fe035b8ebd9fa9/download.jpg" />
         <pubDate>2021-11-22 03:28:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905187292</guid>
      </item>
      <item>
         <title>38-Nguyễn Trung Tuấn-12A11</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905187693</link>
         <description><![CDATA[<div>- Dừa là một loại cây lớn, thân đơn trục có thể cao tới 30m. Với các lá đơn xẻ thùy lông chim 1 lần, cuống và gân chính dài khoảng gần 4-6m.<br><br>- Dừa ở nước ta tập trung chủ yếu ở Đồng bằng sông Cửu Long với 82,6% diện tích, và vùng Duyên hải Nam Trung bộ là 12,8%. Hiện có khoảng 150.000 ha đất được dùng để trồng dừa, chủ yếu là ở Bến Tre, Trà Vinh, Kiên Giang, Cà Mau…. Nông dân tại Bến Tre có xu hướng trồng xen (48% hộ), nông dân tại Trà Vinh có xu hướng nuôi xen (50 - 60%). Do đó, sản lượng dừa hàng năm ở nước ta đạt trên 1 tỷ trái.<br><br>- Dừa ở Việt Nam ta có thành tựu là một trong những nước xuất khẩu cơm dừa nạo sấy và chỉ xơ dừa chủ yếu trên thế giới. Đến nay cây dừa đã mang lại hiệu quả kinh tế cao cho cộng đồng, cả trong các lĩnh vực trồng, chế biến và xuất khẩu sản phẩm dừa, tạo công ăn việc làm, thu về nhiều ngoại tệ trong xuất khẩu cho đất nước, tạo được thương hiệu dừa Việt Nam trên thị trường quốc tế.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1316673128/11dfc974bf512e6f2e9b780022fbbe2c/i9s5_8a_w550.jpg" />
         <pubDate>2021-11-22 03:28:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905187693</guid>
      </item>
      <item>
         <title>40 - Lư Lệ Vân - 12A11</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905188574</link>
         <description><![CDATA[<pre><strong>TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI Ở VIỆT NAM</strong></pre><div><strong>Tính từ năm 2020, tình hình chăn nuôi ở Việt Nam gặp nhiều khó khăn do tác động dịch tả lợn châu Phi; dịch Covid-19 trên thế giới diễn biến phức tạp gây ảnh hưởng đến sản xuất. Trước những khó khăn đó, ngành chăn nuôi đã có nhiều giải pháp ứng phó kịp thời, hiệu quả nên kết quả sản xuất đạt khá, chăn nuôi gia cầm phát triển tốt; đàn lợn đang dần khôi phục.<br></strong>Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, chăn nuôi trâu, bò hiện nay nhìn chung ổn định. <br>&nbsp; + Đàn trâu cả nước tiếp tục xu hướng giảm do hiệu quả kinh tế không cao. <br>&nbsp; + Đàn bò phát triển khá do được hỗ trợ vốn, kỹ thuật chăn nuôi và có thị trường tiêu thụ tốt, người chăn nuôi có lãi.<br><strong>=&gt;</strong>&nbsp; Ước tính trong tháng 9, tổng số trâu của cả nước giảm 2,2% so với cùng thời điểm năm 2019; tổng số bò tăng 2,5%.</div><div>&nbsp;</div><div>Ước tính 9 tháng, sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng đạt 69 nghìn tấn, tăng 1,8% so với cùng kỳ năm 2019 (quý III đạt 20 nghìn tấn, tăng 3,5%); sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng đạt 272,6 nghìn tấn, tăng 5,7% (quý III đạt 85,1 nghìn tấn, tăng 9,6%); sản lượng sữa bò tươi đạt 799,2 nghìn tấn, tăng 9,9% (quý III đạt 277,1 nghìn tấn, tăng 13,6%).</div><div>&nbsp;</div><div>Dịch tả lợn châu Phi cơ bản được kiểm soát, đàn lợn đang dần khôi phục nhưng việc tái đàn vẫn còn chậm, giá lợn giống liên tục ở mức cao kể từ đầu năm (khoảng 2,5-3,0 triệu đồng/con) nên việc tái đàn chủ yếu tập trung ở các cơ sở chăn nuôi lớn. Ước tính tổng số lợn của cả nước năm 2020 tăng khoảng 3,6% so với cùng thời điểm năm 2019; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng 9 tháng ước tính đạt 2.483,1 nghìn tấn, giảm 3,2% so với cùng kỳ năm 2019 (quý III đạt 846,2 nghìn tấn, tăng 9,7%).</div><div>&nbsp;</div><div><mark>Tổng đàn và sản lượng gia cầm tiếp tục tăng do khu vực hộ mở rộng quy mô chăn nuôi và khu vực doanh nghiệp phát triển tốt.</mark> Tuy nhiên, người chăn nuôi cần theo dõi sát diễn biến thị trường, các cơ quan chức năng cung cấp thông tin kịp thời, kiểm soát tình hình chăn nuôi tại địa phương, không nên tăng đàn ồ ạt dẫn tới tình trạng dư thừa nguồn cung, giá bán giảm sâu gây thua lỗ.</div><div>&nbsp;</div><div>Ước tính tổng số gia cầm của cả nước năm 2020 tăng 5,7% so với cùng thời điểm năm 2019; sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng 9 tháng ước tính đạt 1.056,7 nghìn tấn, tăng 11,4% so với cùng kỳ năm 2019 (quý III đạt 348,6 nghìn tấn, tăng 7,7%); sản lượng trứng gia cầm 9 tháng ước tính đạt 10,7 tỷ quả, tăng 10,8% (quý III đạt 3,5 tỷ quả, tăng 9,6%).</div><div>&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1341938081/9f6f98d47c0745f428e279dbb882aa87/nhachannuoi_vn_tinh_hinh_chan_nuoi.jpg" />
         <pubDate>2021-11-22 03:29:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905188574</guid>
      </item>
      <item>
         <title>10-Vương Gia Hào</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905189165</link>
         <description><![CDATA[<div><br><strong>Thanh long</strong> một loài cây được trồng chủ yếu để lấy quả và cũng là tên của một vài chi của họ <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8D_X%C6%B0%C6%A1ng_r%E1%BB%93ng">xương rồng</a>. <br>Loại ruột trắng vỏ hồng hay đỏ được trồng rộng rãi ở các tỉnh như <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/B%C3%ACnh_Thu%E1%BA%ADn">Bình Thuận</a>, <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Long_An">Long An</a>, <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Ti%E1%BB%81n_Giang">Tiền Giang</a> v.v. Loại ruột đỏ vỏ đỏ được nghiên cứu và lai tạo bởi Viện Cây Ăn Quả Miền Nam SOFRI (ấp Đông, xã Long Định,huyện Châu Thành,tỉnh Tiền Giang) hiện nay đã được trồng rộng rãi và phổ biến khắp các tỉnh tập trung ở <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/B%C3%ACnh_Thu%E1%BA%ADn">Bình Thuận</a>, <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Ti%E1%BB%81n_Giang">Tiền Giang</a>, <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Long_An">Long An</a>, <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A3ng_Ng%C3%A3i">Quảng Ngãi</a>,... Bên cạnh đó hiện nay giống thanh long ruột tím hồng cũng được nghiên cứu và lai tạo bởi Viện Cây Ăn Quả Miền Nam cũng đã được đưa vào trồng đại trà.<br>Thanh long là mặt hàng trái cây xuất khẩu chủ lực và thường nằm trong nhóm "sản phẩm xuất khẩu tỷ đô" của Việt Nam trong những năm qua. Trái thanh long hiện đang gặp khó trong tiêu thụ khi dịch Covid-19 bùng phát lần thứ tư, cùng với đó là áp lực cạnh tranh gia tăng khi nhiều nước đẩy mạnh phát triển sản phẩm này. Bộ Công Thương và các địa phương đang nỗ lực kết nối, khơi thông thị trường cho quả thanh long.<br>Thị trường xuất khẩu chính của thanh long Việt Nam là Trung Quốc (chiếm hơn 80%), Thái Lan, Indonesia. Bên cạnh đó, thanh long Việt Nam cũng đã được xuất khẩu sang nhiều nước khác như: Ấn Độ, Australia, Nhật Bản, Liên minh châu Âu và Chile. Thời gian qua, thanh long Việt Nam chiếm thị phần xuất khẩu đáng kể ở các thị trường như: Châu Á, châu Âu và Mỹ. Tuy nhiên, những năm gần đây, thanh long Việt Nam đang chịu sự cạnh tranh ngày càng tăng lên với một số nguồn cung khác từ Thái Lan, Malaysia... Cùng với đó, trong bối cảnh hiện nay, một số tỉnh trồng thanh long ở khu vực Nam Trung Bộ và Nam Bộ đang chịu tác động tiêu cực bởi dịch Covid-19 khiến hoạt động sản xuất, thu hoạch, tiêu thụ gặp khó. Thị trường xuất khẩu chủ lực thanh long là Trung Quốc nhưng phía nước bạn đang siết chặt kiểm dịch đối với nhiều mặt hàng, trong đó có thanh long và đóng biên tại một vài cửa khẩu trong thời gian nhất định. Mặt khác, các hoạt động logistics có chi phí tăng cao đột biến cũng chồng chất thêm những bất cập cho quả thanh long xuất khẩu.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1451136182/befabb21562204a0cff7ec470f35a9f7/unnamed.jpg" />
         <pubDate>2021-11-22 03:29:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905189165</guid>
      </item>
      <item>
         <title>32-Lâm Gia Thái</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905190463</link>
         <description><![CDATA[<div>Lúa là loài thực vật thuộc một nhóm các loài <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8D_H%C3%B2a_th%E1%BA%A3o">cỏ</a> đã thuần dưỡng. Lúa sống một năm, có thể cao tới 1-1,8 m, đôi khi cao hơn, với các lá mỏng, hẹp khoảng (2-2,5 cm) và dài 50–100 cm. Rễ chùm, có thể dài tới 2–3 m/cây trong thời kỳ trổ bông. Tuỳ thời kì sinh trưởng, phát triển mà lá lúa có màu khác nhau. Khi lúa chín ngả sang màu vàng. Các hoa nhỏ, màu trắng sữa, tự thụ phấn mọc thành các cụm hoa phân nhánh cong hay rủ xuống, dài 35–50 cm. Hạt là loại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A3_th%C3%B3c">quả thóc</a> (hạt nhỏ, cứng của các loại cây ngũ cốc) dài 5–12 mm và dày 1–2 mm. Cây lúa non được gọi là mạ.<br><br>Tình hình phát triển lúa nước: Diện tích lúa giảm nhẹ: giảm 459 ha do chuyển đổi mục đích sử dụng sang trồng cây khác, xây dựng khu đô thị, khu công nghiệp.... Năng suất lúa cao và tăng khá nhanh: tăng 7,5 tạ/ha (hoặc số lần). Do áp dụng KHKT, thâm canh, sử dụng giống mới, chăm sóc tốt.... Sản lượng lúa tăng liên tục: tăng 3412 nghìn tấn (hoặc số lần). Do năng suất tăng nhanh. Mặc dù dân số nước ta tăng nhanh, nhưng do sản lượng lúa tăng nhanh hơn tốc độ tăng dân số nên bình quân lúa theo đầu người vẫn tăng: tăng 3 kg/người.<br><br>Nơi trồng: Lúa được trồng khắp nơi trên cả nước nhưng không đều. Những vùng có diện tích trồng lúa so với diện tích trồng cây lương thực cao nhất (trên 90%): đồng bằng sông Cửu Long, một số tỉnh ở đồng bằng sông Hồng (Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Hà Nam, Nam Định). Những vùng có diện tích trồng lúa so với diện tích trồng cây lương thực thấp nhất (dưới 60%): Trung du và miền núi Bắc Bộ, Tây Nguyên. Các tỉnh trọng điểm lúa (có diện tích và sản lượng lúa lớn) phần lớn tập trung ở đồng bằng sông Cửu Long như Kiên Giang, An Giang, Long An, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Tiền Giang.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1451168680/703d640d08b12ad6e3d726a9a98aa698/1920px_Mature_Rice__India__by_Augustus_Binu.jpg" />
         <pubDate>2021-11-22 03:30:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905190463</guid>
      </item>
      <item>
         <title>41- An Lê Yến Vy-12A11</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905190631</link>
         <description><![CDATA[<div>Sản phẩm nông nghiệp mình muốn giới thiệu đến cô và các bạn là một loại cây công nghiệp ở khu vực Đông Nam Bộ: <strong>Cao su<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; </strong><strong><mark>Giới thiệu chung:</mark></strong><strong><br>- </strong>Nó có tầm quan trọng kinh tế lớn là do chất lỏng chiết ra tựa như nhựa cây của nó (gọi là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/M%E1%BB%A7">mủ</a>) có thể được thu thập lại như là nguồn chủ lực trong sản xuất <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Cao_su_t%E1%BB%B1_nhi%C3%AAn">cao su tự nhiên</a>.<br><br>- Cây cao su có thể cao tới trên 30m. Nhựa mủ màu trắng hay vàng có trong các mạch nhựa mủ ở vỏ cây, chủ yếu là bên ngoài <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Libe">libe</a>. Các mạch này tạo thành xoắn ốc theo thân cây theo hướng tay phải, tạo thành một <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/G%C3%B3c">góc</a> khoảng 30 độ với mặt phẳng.<br><br></div><div><strong><mark>Quá trình thu hoạch cao su:</mark></strong><br>- Khi cây đạt độ tuổi 5-6 năm thì người ta bắt đầu thu hoạch nhựa mủ, các bước thực hiện:<br>&nbsp; &nbsp; + các vết rạch vuông góc với mạch nhựa mủ, với độ sâu vừa phải sao cho có thể làm nhựa mủ chảy ra mà không gây tổn hại cho sự phát triển của cây, <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;+ nhựa mủ được thu thập trong các thùng nhỏ. <br>=&gt; Quá trình này gọi là <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=C%E1%BA%A1o_m%E1%BB%A7_cao_su&amp;action=edit&amp;redlink=1">cạo mủ cao su</a>. Sản lượng mủ cao su phụ thuộc vào giống, địa điểm trồng, bên cạnh đó là chế độ cạo. Chu kỳ khai thác của cây cao su thường từ 20 đến 25 năm.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong><mark>Lịch sử về cây cao su:</mark></strong><br>&nbsp; - Cây cao su ban đầu chỉ mọc tại khu vực <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/R%E1%BB%ABng_m%C6%B0a_Amazon">rừng mưa Amazon</a>. Cách đây gần 10 thế kỷ, thổ dân Mainas sống ở đây đã biết lấy nhựa của cây này dùng để tẩm vào quần áo chống ẩm ướt, và tạo ra những quả bóng vui chơi trong dịp hội hè.<br>&nbsp; &nbsp;- Do nhu cầu tăng lên và sự phát minh ra công nghệ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C6%B0u_h%C3%B3a">lưu hóa</a> năm 1839 đã dẫn tới sự bùng nổ trong khu vực này, làm giàu cho các thành phố <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Manaus">Manaus</a> (bang <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Amazonas">Amazonas</a>) và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Bel%C3%A9m">Belém</a> (bang <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Par%C3%A1">Pará</a>), thuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Brasil">Brasil</a>.<br>&nbsp; &nbsp; - Cố gắng thử nghiệm đầu tiên trong việc trồng cây cao su ra ngoài phạm vi Brasil diễn ra vào năm 1873. Sau một vài nỗ lực, 12 hạt giống đã nảy mầm tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C6%B0%E1%BB%9Dn_th%E1%BB%B1c_v%E1%BA%ADt_ho%C3%A0ng_gia_Kew">Vườn thực vật hoàng gia Kew</a>. Những cây con này đã được gửi tới <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%E1%BA%A4n_%C4%90%E1%BB%99">Ấn Độ</a> để gieo trồng, nhưng chúng đã bị chết. Cố gắng thứ hai sau đó đã được thực hiện, khoảng 70.000 hạt giống đã được gửi tới Kew năm 1875. Khoảng 4% hạt giống đã nảy mầm, và vào năm 1876 khoảng 2.000 cây giống đã được gửi trong các <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Th%C3%B9ng_Ward&amp;action=edit&amp;redlink=1">thùng Ward</a> tới <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Sri_Lanka">Ceylon</a>, và 22 đã được gửi tới các vườn thực vật tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Singapore">Singapore</a>. Sau khi đã thiết lập sự có mặt ở ngoài nơi bản địa của nó, cây cao su đã được nhân giống rộng khắp tại các thuộc địa của Anh. Các cây cao su đã có mặt tại các vườn thực vật ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Bogor">Buitenzorg</a>, Malaysia năm 1883<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Cao_su_(c%C3%A2y)#cite_note-winchester-1"><sup>[1]</sup></a>. Vào năm 1898, một đồn điền trồng cao su đã được thành lập tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Malaysia_b%C3%A1n_%C4%91%E1%BA%A3o">Malaya</a>, và ngày nay phần lớn các khu vực trồng cao su nằm tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_Nam_%C3%81">Đông Nam Á</a> và một số tại khu vực <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A2u_Phi">châu Phi</a> nhiệt đới<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;<strong><mark>Một số đặc tính:</mark></strong><br>&nbsp; &nbsp;- Cây cao su thường được thu hoạch 9 tháng, 3 tháng còn lại không được thu hoạch vì đây là thời gian cây thay lá. <mark>Thời gian thay lá đặc biệt quan trọng với cây cao su, khai thác vào thời điểm này có ảnh hưởng rất lớn đến sinh lý cây cao su. </mark>Thường chu kỳ cạo bắt đầu vào tháng 3 và kết thúc vào tháng 1 năm sau.</div><div>&nbsp; &nbsp;- Thông thường cây cao su có chiều cao khoảng 20 mét, rễ cọc ăn rất sâu để giữ vững thân cây, hấp thu chất bổ dưỡng và chống lại sự khô hạn. Cây có vỏ nhẵn màu nâu nhạt. Lá thuộc dạng lá kép, mỗi năm rụng lá một lần. Hoa thuộc loại <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Hoa_%C4%91%C6%A1n&amp;action=edit&amp;redlink=1">hoa đơn</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Hoa_%C4%91%E1%BB%B1c&amp;action=edit&amp;redlink=1">hoa đực</a> bao quanh hoa cái nhưng thường thụ phấn chéo, vì hoa đực chín sớm hơn hoa cái. Quả cao su là quả nang có 3 mảnh vỏ ghép thành 3 buồng, mỗi nang một hạt hình bầu dục hay <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A3_c%E1%BA%A7u">hình cầu</a>, đường kính 02 cm, có hàm lượng dầu đáng kể được dùng trong kỹ nghệ pha sơn.<br>&nbsp; &nbsp;- Cây phát triển tốt ở vùng <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Nhi%E1%BB%87t_%C4%91%E1%BB%9Bi_%E1%BA%A9m&amp;action=edit&amp;redlink=1">nhiệt đới ẩm</a>, có nhiệt độ trung bình từ 22 °C đến 30 °C (tốt nhất ở 26 °C đến 28 °C), cần mưa nhiều (tốt nhất là 2.000mm) nhưng không chịu được sự úng nước và gió. Cây cao su có thể chịu được nắng hạn khoảng 4 đến 5 tháng, tuy nhiên năng suất mủ sẽ giảm.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<strong><mark>Cây cao su được phân bố chủ yếu ở vùng Đông Nam Bộ: </mark></strong>vì nơi đây có đủ các điều kiện tự nhiene thuậ lợi về thổ những, đất dai, khí hậu và các yếu tố khác.<br>&nbsp; &nbsp; <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;<strong><mark>Việc xuất khẩu cây cao su ở nước ta:</mark></strong><br>- Cây cao su được người Pháp đưa vào Việt Nam lần đầu tiên tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%A3o_C%E1%BA%A7m_Vi%C3%AAn_S%C3%A0i_G%C3%B2n">vườn thực vật Sài Gòn</a> năm 1878 nhưng không sống.<br>- Đến năm 1892, 2000 hạt cao su từ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Indonesia">Indonesia</a> được nhập vào <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam">Việt Nam</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Cao_su_(c%C3%A2y)#cite_note-2"><sup>[2]</sup></a> Trong 1600 cây sống, 1000 cây được giao cho trạm thực vật Ong Yệm (Bến Cát, Bình Dương), 200 cây giao cho bác sĩ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Alexandre_Yersin">Yersin</a> trồng thử ở Suối Dầu (cách <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nha_Trang">Nha Trang</a> 20 km).<br>- Năm 1897 đã đánh dầu sự hiện diện của cây <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Cao_su">cao su</a> ở Việt Nam. Công ty cao su đầu tiên được thành lập là Suzannah (Dầu Giây, Long Khánh, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%93ng_Nai">Đồng Nai</a>) năm 1907. Tiếp sau, hàng loạt đồn điền và công ty cao su ra đời, chủ yếu là của người Pháp và tập trung ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_Nam_B%E1%BB%99_(Vi%E1%BB%87t_Nam)">Đông Nam Bộ</a>: SIPH, SPTR, CEXO, Michelin... Một số đồn điền cao su tư nhân Việt Nam cũng được thành lập.<br>- Đến năm 1920, miền Đông Nam Bộ có khoảng 7.000 <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hecta">ha</a> và sản lượng 3.000 tấn.<br>Cây cao su được trồng thử ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2y_Nguy%C3%AAn">Tây Nguyên</a> năm 1923 và phát triển mạnh trong giai đoạn 1960 – 1962, trên những vùng đất cao 400 – 600 m, sau đó ngưng vì <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_Vi%E1%BB%87t_Nam">chiến tranh</a>.<br>- Trong thời kỳ trước 1975, để có nguồn nguyên liệu cho nền công nghiệp <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Mi%E1%BB%81n_B%E1%BA%AFc&amp;action=edit&amp;redlink=1">miền Bắc</a>, cây cao su đã được trồng vượt trên vĩ tuyến 170 Bắc (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A3ng_Tr%E1%BB%8B">Quảng Trị</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A3ng_B%C3%ACnh">Quảng Bình</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ngh%E1%BB%87_An">Nghệ An</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Thanh_H%C3%B3a">Thanh Hóa</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%BA_Th%E1%BB%8D">Phú Thọ</a>). Trong những năm 1958 – 1963 bằng nguồn giống từ Trung Quốc, diện tích đã lên đến khoảng 6.000 ha. Hiện nay, cây cao su đã được trồng tại khu vực miền núi phía Bắc và Lai Châu được xem là thủ phủ của cây cao su ở khu vực này.<br>- Đến 1976, Việt Nam còn khoảng 76.000 ha, tập trung ở Đông Nam Bộ khoảng 69.500 ha, Tây Nguyên khoảng 3.482 ha, các tỉnh duyên hải miền Trung và khu 4 cũ khoảng 3.636 ha.<br>- Sau 1975, cây cao su được tiếp tục phát triển chủ yếu ở Đông Nam Bộ. Từ 1977, Tây Nguyên bắt đầu lại chương trình trồng mới cao su, thoạt tiên do các nông trường quân đội, sau 1985 đo các nông trường quốc doanh, từ 1992 đến nay tư nhân đã tham gia trồng cao su. Ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Mi%E1%BB%81n_Trung">miền Trung</a> sau 1984, cây cao su được phát triển ở Quảng trị, Quảng Bình trong các công ty quốc doanh.<br>- Đến năm 1999, diện tích cao su cả nước đạt 394.900 ha, cao su tiểu điền chiếm khoảng 27,2%. Năm 2004, diện tích cao su cả nước là 454.000 ha, trong đó cao su tiểu điền chiếm 37%. Năm 2005, diện tích cao su cả nước là 464.875 ha.<br>- Năm 2007 diện tích Cao Su ở Đông Nam Bộ (339.000 ha), <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2y_Nguy%C3%AAn">Tây Nguyên</a> (113.000 ha), Trung tâm phía Bắc (41.500 ha) và Duyên Hải miền Trung (6.500 ha).<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Cao_su_(c%C3%A2y)#cite_note-3"><sup>[3]</sup></a> Tháng 05 năm 2010 có một số bệnh lạ khiến người dân khốn khổ, bệnh bắt đầu có biểu hiện như, nhẹ thì vàng lá. Nặng hơn một chút thì rụng lá rồi chết mà cách đặc trị thì chưa thực sự hiệu quả.<br>- Theo số liệu của Hiệp hội Cao su Việt Nam, đến cuối năm 2012, tổng diện tích cây cao su tại Việt Nam đã đạt 910.500 ha với sản lượng ước đạt 863.600 tấn, giữ vị trí thứ năm về sản lượng cao su thiên nhiên, sau Thái Lan, Indonesia, Malaysia và Ấn Độ.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1329785627/540e8765a22e08674529f64b1414057c/Mo_thay_cay_cao_su_Ke_hoach_se_thanh_cong_0_1427133908.jpg" />
         <pubDate>2021-11-22 03:30:33 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905190631</guid>
      </item>
      <item>
         <title>37 - Mai Trương Bảo Trân</title>
         <author>baotran20022004</author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905190720</link>
         <description><![CDATA[<div><br>Đậu tương là cây công nghiệp ngắn ngày, là cây trồng truyền thống ở nước ta. Hạt ®ậu tương có giá trị dinh dưỡng và có giá trị kinh tế cao, là nguồn thực phẩm cho con người và làm thức ăn cho gia súc.</div><div><br>Ngoài ra, cây đậu tương cũn đóng vai trò quan trọng trong hệ thống luân canh cải tạo đất, nhờ các vi khuẩn nốt sần cố định đạm làm tăng độ phì cho đất.</div><div><br>Với khả năng thích ứng rộng và nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, hiện nay trên thế giới có khoảng 80 nước đang sản xuất và phát triển cây đậu tương, trong đó các nước có diện tích và sản lượng đậu tương lớn là Mỹ, Brazin, Achentina, Trung Quốc... Ở Việt Nam, cây đậu tương đã có từ lâu và được gieo trồng ở nhiều vùng trong cả nước. Tuy nhiên, do nhu cầu sử dụng ngày càng cao, nhiều năm qua nước ta đã phải nhập khẩu đậu tương với số lượng lớn, năm sau cao hơn năm trước. Theo Cục chăn nuôi: năm 2006, chỉ riêng ngành chăn nuôi đã phải nhập 1,5 triệu tấn khô dầu đậu tương (tương đương 2,0 triệu tấn đậu tương hạt) để chế biến làm thức ăn chăn nuôi, ngoài ra còn chưa kể các nguồn nhập khác.<br><br>Thời gian qua, đã có nhiều TBKT mới về giống và biện pháp kỹ thuật đưa ra áp dụng cho sản xuất: Các giống đậu tương mới đã được chọn tạo theo hướng ngắn ngày, năng suất cao, khả năng thích ứng rộng.... Đã xác định được nhóm giống chịu lạnh (cho vụ xuân và vụ đông), nhóm giống chịu nóng (cho vụ hè và hè thu) và nhóm giống có thể gieo trồng được cả 3 vụ/năm...; Về các biện pháp kỹ thuật: đã xác định được quy trình sản xuất đậu tương cho từng vùng sinh thái khác nhau mang tính đột phá cho việc mở rộng diện tích đậu tương:</div><div><br>- Quy trình sản xuất đậu tương đông trên nền đất ướt bằng biện pháp kỹ thuật làm đất tối thiểu và không làm đất ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ.</div><div><br>- Quy trình kỹ thuật gieo đậu tương đông (gieo gốc rạ, gieo vãi, gieo bằng máy...) nhằm đảm bảo kịp thời vụ, mở rộng diện tích đưa lại hiệu quả kinh tế cao cho cây đậu tương vụ đông.</div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1438925126/fbbf20160c0bbdb882872e0d4ccaa2c4/unnamed.jpg" />
         <pubDate>2021-11-22 03:30:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905190720</guid>
      </item>
      <item>
         <title>29-Trần Phạm Mai Phương</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905191537</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Tiêu là loại cây công nghiệp phổ biến và quan trọng ở Việt Nam.</strong><br><strong><mark>1.Thông tin chung :</mark></strong><br>Hồ tiêu còn gọi là tiêu ăn, cổ nguyệt, hắc cổ nguyệt, bạch cổ nguyệt<br>Hồ tiêu là một loại dây leo, thân dài, nhẵn không mang lông, bám vào các cây khác bằng rễ. Thân mọc cuốn, mang lá mọc cách. Lá như lá trầu không, nhưng dài và thuôn hơn. Có hai loại nhánh: một loại nhánh mang quả, và một loại nhánh dinh dưỡng, cả hai loại nhánh đều xuất phát từ kẽ lá. Đối chiếu với lá là một cụm hoa hình đuôi sóc. Khi chín, rụng cả chùm. Quả hình cầu nhỏ, chừng 20-30 quả trên một chùm, lúc đầu màu xanh lục, sau có màu vàng, khi chín có màu đỏ. Từ quả này có thể thu hoạch được <strong>hồ tiêu trắng</strong>, <strong>hồ tiêu đỏ</strong>, <strong>hồ tiêu xanh</strong> và <strong>hồ tiêu đen.</strong> Đốt cây rất giòn, khi vận chuyển nếu không cận thận thì cây có thể chết. Quả có nhiều <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BA%A1t">hạt</a>. Hạt tiêu là tên gọi chung cho các sản phẩm từ quả hồ tiêu và được chia ra nhiều loại thông qua màu sắc, thời gian thu hoạch...<br><strong><mark>2. Hiện trạng phát triển, Phân bố</mark></strong><br>Hồ tiêu là cây trồng chủ lực của nước ta, hiện nay tổng diện tích trồng hồ tiêu cả nước khoảng hơn 130 nghìnha, tập trung chủ yếu ở vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên với diện tích chiếm trên 95% diện tích trồng hồ tiêu của nước; còn lại trồng rải rác ở các tỉnh Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung. Hồ tiêu là cây trồng mang lại giá trị kinh tế, là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu chính của nước ta, phát triển đúng hướng, bền vững cây hồ tiêu có ý nghĩa kinh tế lớn, góp phần vào tăng trưởng kinh tế đất nước nói chung, kinh tế của vùng, địa phương nói riêng cũng như đóng góp vào công cuộc xoá đói giảm nghèo, cải thiện đời sống cho bà con nông dân.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1334739166/afdc4536136772ea8756d14fabf9fd89/photo1616254674997_1616254675178633930055.png" />
         <pubDate>2021-11-22 03:31:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905191537</guid>
      </item>
      <item>
         <title>22 - Thái Tùng Lâm - 12A11</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905191764</link>
         <description><![CDATA[<div>I. Giới thiệu:<br>-Lúa mì là cây lương thực, thuộc một nhóm các loài <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8D_H%C3%B2a_th%E1%BA%A3o">cỏ</a> đã thuần dưỡng từ khu vực <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Levant">Levant</a> và được gieo trồng rộng khắp thế giới. Về tổng thể, lúa mì là thực phẩm quan trọng cho loài người, sản lượng của nó chỉ đứng sau <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BA%AFp">bắp</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%BAa">lúa gạo</a> trong số các loài cây <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%B1c_ph%E1%BA%A9m">lương thực</a>.<br>-Việt Nam trồng được lúa mì nhưng rất ít, phần lớn lúa mì trên thị trường là từ nhập khẩu vì số lượng ngày càng tăng. Khoảng 75% lúa mì nhập khẩu được xay làm bột mì để chế biến các loại thực phẩm quen thuộc như: mì ăn liền, bột các loại, bánh mì, bánh ngọt,… để phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Ngoài ra, lúa mì còn được dùng làm thức ăn chăn nuôi để thay thế bắp, khoai mì. Vì vậy, nếu đứt nguồn cung lúa mì sẽ ảnh hưởng lớn đến sản xuất, kinh doanh của nhiều ngành.<br>II. Tình hình phát triển:<br>-Lúa mì được trồng với diện tích hơn 216.000.000 <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hecta">hécta</a> , lớn hơn bất kỳ loại cây trồng nào khác. Thương mại lúa mì trên thế giới lớn hơn tất cả các loại cây trồng khác gộp lại. Cùng với gạo, lúa mì là thực phẩm thiết yếu được ưa thích nhất trên thế giới. Nó là một thành phần trong chế độ ăn uống chính do sự thích nghi nông học của lúa mì có thể phát triển từ các vùng gần Bắc cực đến xích đạo, từ các đồng bằng ven biển đến độ cao khoảng 4.000 m (13.000 ft) trên mực nước biển.<br>-Top 10 các quốc gia đứng đầu về sản xuất lúa mì trên thế giới :<br>1.Trung Quốc:<em> Tổng sản lượng: 125,6 triệu tấn/năm.<br>2.Ấn độ:</em><strong>&nbsp;</strong>Tổng sản lượng: 94,3 triệu tấn/năm.<br>3.Mỹ<strong>&nbsp;:</strong>Tổng sản lượng: 61,6 triệu tấn/năm.<br>4.Pháp:<strong>&nbsp;</strong>Tổng sản lượng: 40 triệu tấn/năm.</div><div>5.Nga:<strong>&nbsp;</strong>Tổng sản lượng: 37,8 triệu tấn/năm.</div><div>6.Australia: Tổng sản lượng: 30 triệu tấn/năm.</div><div>7. Canada: Tổng sản lượng: 27,1 triệu tấn/năm.</div><div>8. Pakistan:<strong> </strong>Tổng sản lượng: 23,6 triệu tấn/năm.</div><div>9. Đức : Tổng sản lượng: 22,5 triệu tấn/năm.</div><div>10. Thổ Nhĩ Kỳ<strong> :</strong>Tổng sản lương: 20,3 triệu tấn/năm.</div><div><br><br></div><div><br><br></div><div><br><br></div><div><br><br></div><div><br><br></div><div><br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1316751245/c3998a62a55a844a266a57f2ad82ba4e/_asadsa.jpg" />
         <pubDate>2021-11-22 03:31:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905191764</guid>
      </item>
      <item>
         <title>24-Hà Michelle-12A11</title>
         <author>hamichelle2004</author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905192286</link>
         <description><![CDATA[<div><mark>Cà phê</mark> là một trong những loại cây<strong> công nghiệp lâu năm</strong> được trồng rộng rãi nhất ở nước ta.<br>- Hiện tại ở Việt Nam có 2 loại cây giống cà phê chính là cây Cà phê chè (Arabica) ,Cà phê Vối (Robusta) và một phần nhỏ là Cà phê Mít (Liberia ).<br>- Thường được trồng ở các vùng đất: <strong>Badan Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và ở một số nơi tại Bắc Trung Bộ.</strong><br>- Diện tích trồng: <strong>653 nghìn ha<br></strong>- Sản lượng:2019 – 2020, sản lượng cà phê Việt Nam đạt <strong>1,8 triệu tấn<br>- </strong>Nguồn gốc cây cà phê: Cây cà phê đến Việt Nam<strong> </strong>theo dấu chân của những người Pháp vào <strong>giữa thế kỷ 19.<br>- </strong>Khi nói các vùng trồng cà phê ở Việt Nam thì không thể không kể đến Tây Nguyên. Những địa danh của Tây Nguyên như: Đắk Mil (Đắk Nông), Đắk Hà (Kon Tum), Chư Sê (Gia Lai) … và đặc biệt là Buôn Ma Thuột – Đắk Lắk được coi là “vựa” cà phê Robusta xuất khẩu đứng đầu thế giới.<br>- Nguyên nhân cà phê được trồng nhiều ở vùng Tây Nguyên:&nbsp;<br>+ Có đất Badan màu mỡ<br>+ Khí hậu có một mùa mưa, một mùa khô thuận lợi gieo trồng, thu hoạch, chế biến và bảo quản.</div><div>- Việt Nam hiện là nước xuất khẩu cà phê nhiều thứ 2 thế giới sau Brazil (riêng cà phê Robusta, Việt Nam là nước xuất khẩu lớn nhất thế giới với tổng sản lượng xuất khẩu hàng năm đạt khoảng 11,6 -11,8 triệu tấn, kim ngạch khoảng 2,6 - 2,8 tỷ USD). Cà phê là loại nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Hằng năm, cà phê chiếm trên 10% kim ngạch XK cả nước.<br>- Cà phê Việt Nam đã có mặt hơn <strong>80 quốc gia</strong> và vùng lãnh thổ trên thế giới, tập trung chủ yếu ở những thị trường lớn như: Đức, Mỹ, Tây Ban Nha, Italy, Bỉ, Anh và các thị trường mới nổi như Trung Quốc, Nga, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Philippines, Thailand…<br>- Với điều kiện <strong>khí hậu nhiệt đới gió mùa</strong> cùng địa hình nhiều <strong>đồi núi cao</strong>, Việt Nam thích hợp với sự phát triển của cây cà phê. Vì thế mà cà phê được phân bố ở khá nhiều vùng miền khác nhau.<br>- Tuy nhiên, với nguy cơ diện tích cà phê thoái hóa, già cỗi, kém chất lượng và tình hình dịch bệnh, cây cà phê gần đây đã bị giảm sản lượng đáng kể.<br><br><br></div><div><br><br><br></div><div><br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1362261994/1d9be41a4022b793548b20eee942fb57/image.png" />
         <pubDate>2021-11-22 03:31:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905192286</guid>
      </item>
      <item>
         <title>04-Phan Bửu Bình-12A11 </title>
         <author>phanbuubinh</author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905192785</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;- <strong>Phân bố:</strong> Cây cà phê là cây công nghiệp được trồng nhiều nhất ở vùng Tây Nguyên, nhất là ở tỉnh Đắk Lắk do nơi đây có nhiều điều kiện thích hợp như đất có thành phần cơ giới trung bình đến hơi nặng, có sườn đồi, triền núi thích hợp độ dốc không quá lớn.<br> - <strong>Đặc điểm: </strong>Cây cà phê có đặc điểm gồm cành thon dài, lá cuống ngắn, xanh đậm, hình oval. Mặt trên lá có màu xanh thẫm, mặt dưới xanh nhạt hơn. Chiều dài của lá khoảng 8-15 cm, rộng 4–6 cm. Rễ cây cà phê là loại rễ cọc, cắm sâu vào lòng đất từ 1 đến 2,5 m với rất nhiều rễ phụ tỏa ra xung quanh làm nhiệm vụ hút chất dinh dưỡng nuôi cây. <br>-<strong>Tình hình phát triển:</strong> Từ một nước sản xuất cà phê nhỏ, nay Việt Nam đã vươn lên vị trí thứ 2 trên thế giới chỉ sau Braxin. Cả năm 2020, Việt Nam xuất khẩu 1,56 triệu tấn cà phê trị giá 2,74 tỷ USD, giảm 5,61% về lượng và 4,22% về giá trị so với năm 2019. Năm 2020, Việt Nam cũng đã tăng cường sản xuất và xuất khẩu cà phê chế biến (gồm: rang xay và hòa tan) với tỷ lệ chiếm khoảng 12% gồm cả tiêu thụ nội địa và xuất khẩu. <br>-<strong>Phân loại: </strong>Hiện nay gần 90% diện tích cà phê ở Việt Nam được trồng cà phê vối, 10% cà phê chè, khoảng 1% còn lại được trồng cà phê mít.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1390969062/d5e1cdd7d265dd639d278281d8c4c261/Untitled_1_1200x676_4.jpg" />
         <pubDate>2021-11-22 03:31:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905192785</guid>
      </item>
      <item>
         <title>39 - Văn Mỹ Kim Tuyền</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905193206</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>LÚA NƯỚC:</strong><br>- <strong><mark>NGUỒN GỐC:</mark></strong><br>Từ lâu cây lúa có nguồn gốc từ việc những hạt lúa dạt theo từ những dòng nước trôi dạt trên sông tất vào những khu đất phù sa bên ven sông. Những cây lúa dại này mọc lên khỏe mạnh cho ra nhiều hạt, người xưa tuốt về giã dập vỏ để ra hạt trắng và nấu lên ăn thấy chắc bụng và khỏe người. Nhờ vậy cây lúa được nhân rộng ra trồng khắp đồng bằng, lương rẫy.</div><div>&nbsp;- <strong><mark>Các loại cây lúa việt nam:</mark></strong><br>hạt lúa nếp cái hoa vàng, nếp Lương, nếp cẩm, lúa nếp mộc tuyền lai giữa 2 loại lúa là lúa nếp và lúa nếp tẻ, lúa nếp Điện Biên, lúa tẻ, giống X, Si, những loại Q, T10, Khang dân…<br>- <strong><mark>Vai trò:</mark></strong> <br>&nbsp; &nbsp;+&nbsp; Cây lúa không chỉ mang lại sự no đủ mà còn trở thành một nét đẹp trong đời sống văn hoá tinh thần của người Việt. Hạt lúa và người nông dân cần cù, mộc mạc là hình ảnh không thể thiếu trong bức tranh của làng quê Việt Nam bây giờ và mãi mãi sau này.<br>&nbsp; &nbsp;+ Cây lúa Việt Nam không chỉ giữ vai trò to lớn trong đời sống kinh tế, xã hội mà còn có giá trị lịch sử, bởi lịch sử phát triển của cây lúa gắn liền với lịch sử phát triển của cả dân tộc Việt Nam, in dấu ấn trong từng thời kỳ thăng trầm của đất nước.<br>- <strong><mark>Tình hình sản xuất cây lúa Việt Nam trong thế kỷ 21 (2001- đến nay)</mark></strong></div><div>&nbsp; &nbsp;+ Trong thời kỳ này sản xuất cây lúa được tập trung vào chiều sâu. Diện tích đất trồng lúa đã đạt ngưỡng giới hạn và có xu thế giảm do quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa. Sản lượng lúa tăng nhanh chủ yếu dựa vào thâm canh tăng năng suất là chính.&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp;+ Nhờ đẩy mạnh phát triển nền nông nghiệp nước nhà mà giờ đây Việt Nam là nước đứng thứ 2 trên thế giới về trồng lúa và xuất khẩu gạo.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1434861643/041177ec181a98b4d475f16cda9e0859/unnamed.jpg" />
         <pubDate>2021-11-22 03:32:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905193206</guid>
      </item>
      <item>
         <title>23 - Phan Gia Mẫn</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905193697</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>NGÀNH CHĂN NUÔI</strong></div><div><mark>Tình hình phát triển</mark></div><ul><li>Chăn nuôi chiếm tỉ trọng ngày càng lớn trong nông nghiệp.</li><li>Chăn nuôi theo hình thức công nghiệp đang được mở rộng ở nhiều địa phương</li></ul><div><mark>Nơi phân bố chủ yếu</mark></div><ul><li>Trâu phân bố ở Trung du miền núi Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ vì trâu chịu rét giỏi, thích hợp với điều kiện chăn thả trong rừng, người dân có kinh nghiệm chăm sóc</li><li>Bò phân bố ở Duyên hải Nam Trung Bộ vì nền nhiệt độ cao, có nhiều đồi núi và đồng cỏ rộng</li><li>Lợn phân bố chủ yếu ở hai đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long vì thức ăn dồi dào từ lúa và hoa màu, đông dân nên thị trường tiêu thụ rộng lớn.</li><li>Gia cầm phân bố ở các đồng bằng vì nhiều thức ăn, diện tích mặt nước rộng....</li></ul><div><mark>Hiện trạng ngày nay<br></mark><em>Về chăn nuôi trâu bò</em></div><ul><li>Đàn trâu cả nước tiếp tục xu hướng giảm do hiệu quả kinh tế không cao, diện tích chăn thả bị thu hẹp.&nbsp;</li><li>Đàn bò phát triển khá do có thị trường tiêu thụ tốt, giá bán thịt bò hơi ở mức khá</li><li>Ước tính đến tháng 2/2021, ước tính tổng số bò cả nước tăng 2,2% so với cùng thời điểm năm trước; tổng số trâu giảm 2,7%.</li></ul><div><em>Về chăn nuôi gia cầm</em></div><ul><li>Đối với chăn nuôi gia cầm, thời gian gần đây đàn gia cầm cả nước phát triển tốt, mặc dù, dịch cúm gia cầm vẫn xảy ra rải rác tại một số địa phương nhưng đều được kiểm soát, không lây lan trên diện rộng.</li><li>Ước tính đến tháng 2/2021, tổng số gia cầm tăng 6,5% so với cùng thời điểm năm 2020</li></ul><div><em>Về chăn nuôi lợn</em></div><ul><li>Về chăn nuôi lợn: Trong năm 2019 do chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch tả lợn châu Phi</li><li>Đến năm 2020, dịch tả lợn châu Phi đã được kiểm soát khá tốt, tổng số lợn bị tiêu hủy trong năm chỉ bằng 1,5% so với năm 2019.</li><li>Ước tính tháng 2/2021, tổng số lợn tăng 15,5% so với cùng thời điểm năm 2020.</li></ul>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1329786329/849466ca89b1923ceff6ab72e295ef30/DB4057F2_F04F_4EAE_B5A6_0A34460D73ED.jpeg" />
         <pubDate>2021-11-22 03:32:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905193697</guid>
      </item>
      <item>
         <title>42-Như Ý</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905193946</link>
         <description><![CDATA[<div>I. Thông tin <br>-Lúa là một trong năm loại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A2y_l%C6%B0%C6%A1ng_th%E1%BB%B1c">cây lương thực</a> chính của thế giới<br>-Lúa là loài thực vật thuộc một nhóm các loài <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8D_H%C3%B2a_th%E1%BA%A3o">cỏ</a> đã thuần dưỡng.<br>-Lúa là cây có một lá mầm, rễ chùm.<br>-Lá bao quanh thân, có phiến dài và mỏng.<br>-Ở nước ta cây lúa được trồng trên khắp cả nước nhưng nhiều nhất là ở các vùng đồng bằng, đặc biệt là đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long.<br>II. Phát triển<br>-Tỷ trọng của nông nghiệp trong nền kinh tế bị sụt giảm trong những năm gần đây, trong khi các lĩnh vực kinh tế khác gia tăng, nhưng nền nông nghiệp trồng lúa vẫn đóng vai trò chủ đạo, vô cùng quan trọng trong nông nghiệp.<br>-Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, mặc dù trong điều kiện thời tiết hạn hán, nắng nóng kéo dài và xâm nhập mặn nhưng sản xuất lúa năm 2020 vẫn được mùa, năng suất lúa của cả 3 vụ: Đông xuân, lúa mùa và thu đông năm 2020 ước tính đều tăng so với năm 2019. Trong đó, vụ đông xuân năm nay là một vụ lúa thắng lợi với năng suất đạt 66,4 tạ/ha, tăng 0,9 tạ/ha so với vụ đông xuân năm 2019.<br>III. Phân bố<br>-Các vùng trồng lúa của nước ta phân bố chủ yếu ở các đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng duyên hải miền Trung. Ngoài ra, còn có ở các cánh đồng thuộc Trung du và miền núi Bắc Bộ, Tây Nguyên.<br>- Các vùng này có nhiều điều kiện thuận lợi là: đồng bằng phù sa màu mỡ, cơ sở vật chất kĩ thuật trong nông nghiệp tốt, nhất là về thuỷ lợi, đông dân cư,...</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-22 03:32:27 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905193946</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lê Anh Kiệt - 18</title>
         <author>korange9904</author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905194701</link>
         <description><![CDATA[<div>Sầu riêng dược trồng nhiều ở vùng Tây Nguyên và Nam Bộ tuy nhiên hiện nay do tình hình dịch bệnh mà loại nông sản này đang dần&nbsp; giảm lượng tiêu thụ<br><strong><em>Hiện nay, người dân trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên đang bước vào vụ thu hoạch </em></strong><a href="https://laodong.vn/kinh-te/sau-rieng-dang-la-vua-cua-cac-loai-cay-trong-o-tay-nguyen-930192.ldo"><strong><em>sầu riêng</em></strong></a><strong><em>. Tuy nhiên, do tình hình dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp nên giá sầu riêng đã giảm mạnh, việc vận chuyển tiêu thụ cũng gặp rất nhiều khó khăn, người nông dân đang ngồi “trên lửa”. - theo bao laodong.vn<br></em></strong>Tìm hiểu thực tế cho thấy, nhiều người nông dân đang chạy đôn chạy đáo đi bán sầu riêng. Bởi trái sầu riêng chẳng khác gì “bom nổ chậm” nếu không bán được sẽ nhanh chóng bị hư hỏng, thiệt hại khi đó còn sẽ rất nặng nề. Thế nhưng, về mặt tiêu thụ, vận chuyển đang gặp nhiều khó khăn<br><br><br><strong><em><br></em></strong><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/554163354/7a4a6ee2c5b282f8b67231b2902214ce/BD2E8601_9594_466F_BB71_6BB7F38D6CF5.jpeg" />
         <pubDate>2021-11-22 03:32:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905194701</guid>
      </item>
      <item>
         <title>31-Lữ Như Quỳnh-12A11</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905195116</link>
         <description><![CDATA[<div>_ Ngành chăn nuôi bò sữa của nước ta phát triển rất nhanh trong những năm qua. Nhiều doanh nghiệp đầu tư chăn nuôi bò sữa với số lượng rất lớn, như: TH Milk hiện có 63.000 con bò, Vinamilk (bao gồm cả cơ sở Mộc Châu) có 60.000 con, Nutifood có 7.000 con, Cô gái Hà Lan có 35.000 con.<br>_ Sản lượng sữa bò tươi liên tục tăng nhanh: năm 2018 đạt 936 nghìn tấn; năm 2019 đạt 962,12 nghìn tấn; năm 2020 đạt 1.049 nghìn tấn (tăng 6,4% so với năm 2019).<br>_ Đến thời điểm này ở nước ta, nơi có đàn bò sữa lớn nhất vẫn là khu vực Đông Nam Bộ chiếm 32,07%, khu vực Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung chiếm 26,23%; Đồng bằng sông Hồng là 11,50%; Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 11,38%; trung du và miền núi phía Bắc chiếm 9,36%; thấp nhất là Tây Nguyên chiếm 9,47% đàn bò cả nước.&nbsp;<br>_ Quy mô chăn nuôi bò sữa nông hộ hiện dao động từ 7-10 con/hộ, xu hướng chăn nuôi bò sữa với quy mô trên 15-20 con/hộ đang tăng dần.<br>_ Nhiều doanh nghiệp lớn như: Vinamilk, TH milk, Công ty cổ phần giống bò sữa Mộc Châu đã tiên phong để đầu tư công nghệ cao, công nghệ tiên tiến, hiện đại, tiếp thu nhanh các tiến bộ kỹ thuật của thế giới cả giống và công nghệ trong chăn nuôi bò sữa (nhập khẩu những giống bò sữa cao sản nhất thế giới, áp dụng công nghệ hiện đại để quản lý và sản xuất sữa).<br>_ Năng suất sữa trung bình của đàn bò vắt sữa trong cả nước năm 2020 đạt trên 5.100 kg/con/năm. Cụ thể như: năng suất sữa bình quân tại Công ty Vinamilk được báo cáo đạt 26,1 kg/con/ngày (tương ứng khoảng 7.960 kg/chu kỳ tiết sữa), tại TH milk công bố đạt năng suất sữa bình quân 28,35 kg/con/ngày (tương ứng 8.647 kg/chu kỳ tiết sữa.<br>_ Năm 2020, kim ngạch xuất khẩu sữa của Việt Nam đạt 302,7 triệu USD, tăng 10,5% so với năm 2019.<br>_ Bên cạnh những thuận lợi, ngành chăn nuôi bò sữa còn gặp phải nhiều khó khăn và thách thức là đòi hỏi kỹ thuật, đầu tư cao, chất lượng sữa.<br>_ Đã có hàng loạt chính sách nhằm thúc đẩy chăn nuôi bò sữa như:&nbsp;<br>+ Về chính sách đất đai, sẽ cho phép chuyển đổi một phần diện tích trồng trọt kém hiệu quả, dành quỹ đất để phát triển chăn nuôi bò sữa, thâm canh trồng cỏ.<br>+ Về tín dụng, Nhà nước có chính sách hỗ trợ lãi suất để các ngân hàng thương mại tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân vay vốn để đầu tư con giống, trang trại, đổi mới công nghệ phát triển chăn nuôi bò sữa.<br><br></div><div><br><br></div><div><br><br></div><div><br><br></div><div><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1451542483/f8c1ea9895be6303e1a9a3830cf4c1ba/E17A6FCB_7A50_4A35_964C_9216DBE73597.jpeg" />
         <pubDate>2021-11-22 03:33:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905195116</guid>
      </item>
      <item>
         <title>01-Thiên An</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905195266</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><mark>Thông tin về cây cao su</mark></strong></div><ul><li>Nguồn gốc cây cao su từ Amazon – Nam Mỹ được các nước đế quốc du nhập trồng tại các thuộc địa xưa trong đó có Việt Nam.</li><li>Sản phẩm chính từ cây cao su là <strong>mủ cao su</strong> được dùng để sản xuất <strong>cao su thiên nhiên</strong>. Ngoài ra còn <strong>gỗ cao su</strong> một sản phẩm hiện đang có giá trị cao trong ngành nội thất.</li><li>Hiện nay vùng trồng và sản xuất cao su thiên nhiên chủ yếu ở Đông Nam Á trong đó Thái Lan hiện là nước sản xuất cao su thiên nhiên lớn nhất thế giới.</li><li>Ở Việt Nam cây cao su được trồng từ năm 1892 tại Ong Yệm (nay là <strong>Viện Nghiên Cứu Cao Su Việt Nam</strong> – Bàu Bàng – Bình Dương).</li><li><strong>Đông Nam bộ</strong> là vùng truyền thống trồng cao su ở Việt Nam, có diện tích và sản lượng lớn nhất.</li><li>Cây cao su còn xuất hiện rộng khắp ở Tây Nguyên, Nam Trung bộ, Bắc Trung bộ và miền núi Phía Bắc.</li></ul><div><br><strong><mark>Đặc điểm sinh thái của cây cao su</mark></strong></div><ul><li>Nhiệt độ thích hợp nhất cho cây cao su là 25 – 30oC.</li><li>Cây cao su ưa đất hơi chua với pH đất khoảng 4,5 – 5,6 và không chịu ngập.</li><li>Cây cao su ưa lặng gió. Nếu có gió mạnh sẽ làm cho lượng bốc hơi của lá, trong mủ tăng lên, cành thân giòn dễ gãy, sản lượng mủ thấp. Tốc độ gió ảnh hưởng rõ đến đời sống cây cao su: Nếu tốc độ gió 1m/gy không ảnh hưởng lớn lắm, nhưng từ 2-3 m/gy đã gây nhiều khó khăn trở ngại cho cây cao su, nếu trên 3 m/gy thì cây phát triển không bình thường.</li><li>Đông Nam bộ có những đặc điểm từ vị trí, khí hậu điều kiện giống với xuất xứ của cây cao su. Đây là câu trả lời cho câu hỏi vì sao cây cao su được trồng nhiều ở Đông Nam bộ.</li></ul><div><strong><br></strong><strong><mark>Canh tác cây cao su</mark></strong></div><ul><li>Trong tự nhiên cao su mọc hoang dại như cây rừng. Tuy nhiên, trong sản xuất cây cao su thường được trồng thành các lô vuông 25ha với mật độ phổ biến 6m x 3m (hàng cách hàng 6m, cây cách cây 3m).</li><li>Cây cao su có thời gian kiến thiết cơ bản trước khi khác thác từ 6-7 năm tuỳ điều kiện khí hậu và giống trồng.</li><li>Bước vào tuổi khai thác, những cây đạt chu vi thân từ 50cm trở lên được khai thác mủ cao su bằng cách cạo cắt vào vỏ cây.</li><li>Sau thời gian khai thác mủ cao su, vườn cây cao su bước qua giai đoạn khai thác gỗ, cưa thanh lý, tái canh lại diện tích, trồng mới vụ tiếp theo.</li></ul><div><strong><br></strong><strong><mark>Sản phẩm từ cây cao su</mark></strong></div><ul><li><blockquote><strong>Mủ cao su: </strong>Đây được xem là sản phẩm chính từ cây cao su, là nguồn cao su thiên nhiên chính trên thế giới. Hiện nay, mủ <a href="https://giongcaosu.com/cao-su/cao-su-thien-nhien.html"><strong>cao su thiên nhiên</strong></a> được sản xuất và ứng dụng vào rất nhiều ngành nghề đặc biệt là ngành công nghiệp ô tô trên thế giới.</blockquote></li><li><blockquote><strong>Gỗ cao su: </strong>Gỗ cao su đang là mặt hàng có giá trị cao trong ngành nội thất, giá trị ngày càng tăng do các biện pháp cấm rừng, kỹ thuật sơ chế biến ngày càng hiện đại.</blockquote></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1446346245/b67ae7e568b724a485a4504dcd5667a0/cay_cao_su_800x549.png" />
         <pubDate>2021-11-22 03:33:22 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905195266</guid>
      </item>
      <item>
         <title>35- Dương Ngọc Thanh Trang</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905195567</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Một số loại cây công nghiệp lâu năm </strong><br><mark>• Cà phê</mark><br>- Tây Nguyên là vùng trồng cà phê lớn nhất nước (chiếm hơn 89% diện tích và hơn 90% sản lượng cà phê của cả nước, Đăk Lăk là tĩnh có diện tích, sản lượng cà phê lớn nhất của vùng và của cả nước).<br>- Cà phê còn được trồng ở Đông Nam Bộ, Bắc Trung Bộ, Trung du và miền núi Bắc Bộ&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <br>- Cà phê Việt Nam đã xuất khẩu sang 70 quốc gia và vùng lãnh thổ. Các nước nhập khẩu nhiều cà phê của nước ta là Nhật Bản, Cộng hòa liên bang Đức, Liên bang Nga... Sản lượng cà phê xuất khẩu các năm gần đây khỏang 1 triệu tấn/năm (thứ 2 thế giới, sau Braxin).<br><mark>• Chè</mark><br>- Trung du và miền núi Bắc Bộ là vùng sản xuất chè lớn nhất nước (chiếm hơn 65% diện tích và hơn 62% sản lượng chè của cả nước), nổi tiếng với chè tuyết Suối Giàng (Yên Bái), chè Tân Cương (Thái Nguyên) chè Mộc Châu (Sơn La). <br>- Tây Nguyên là vùng sản xuất chè lớn thứ hai, nổi tiếng với chè Blao (Lâm Đồng). Chè còn được trồng ở Bắc Trung Bộ (phía tây Nghệ An, Thanh Hóa)<br>- Sản lượng chè (khô) xuất khẩu các năm gần đây đạt trên 100 nghìn tấn (năm 2007: 115 nghìn tấn) Các thị trường nhập khẩu chè chủ yếu là EU, Tây Á, Nhật Bản, Hàn Quốc…<br><mark>• Cao su</mark><br>- Cây cao su là CCN lâu năm, phải trồng và chăm sóc khoảng từ 6 đến 7 năm mới bắt đầu khai thác mủ. Thời gian khai thác kéo dài 30 năm- 35 năm. Trong những năm qua đã hình thành 2 vùng sản xuất cao su tập trung là Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và đang mở rộng ra các tỉnh khác vùng Bắc Trung Bộ và miền núi phía Bắc...&nbsp;<br>- Cao su có tán che phủ lớn, đạt yêu cầu phủ xanh diện tích đất trống, đồi núi trọc, thu hút nhiều lao động.<br>- Cao su tiểu điền là một trong những mô hình nông, lâm kết hợp phát triển bền vững, gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, an ninh quốc phòng và góp phần cải thiện một bước đời sống của hàng chục vạn gia đình nghèo, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, miền núi phía Bắc.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-22 03:33:33 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905195567</guid>
      </item>
      <item>
         <title>03-Huỳnh Nguyễn Như Băng-12A11</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905196013</link>
         <description><![CDATA[<div>NGÀNH CÔNG NGHIỆP LÚA NƯỚC TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG&nbsp;<br>- Sự phát triển &nbsp;<br>+ Từ năm 1980-2002: diện tích trồng lúa, năng suất trồng lúa cả năm, sản lượng lúa cả năm, sản lượng lúa bình quân đầu người đều . Năm 2020 theo thống kê của Hiệp Hội Lương Thực Việt Nam nước ta xuất khẩu được 6.52 triệu tấn giảm 2% so với năm trước qua ảnh hưởng của&nbsp; dịch tuy nhiên vẫn giữ được vị trí xuất khẩu gạo thứ 2 so với thị trường quốc tế. Riêng đồng bằng sông Cửu Long trở thành vựa lúa lớn nhất cả nước với diện tích gieo trồng chiếm 52% cả nước&nbsp;<br>+ Có nhiều giống lúa gạo mới có nhập khẩu từ nước ngoài và lai tạo giống tốt, giúp phát triển thêm nhiều vụ trồng tăng thêm năng suất&nbsp;<br>+ Diện tích gieo trồng đạt 534.4 nghìn ha, bằng 98.8%<br>+ Năng suất đạt 2.65 triệu tấn&nbsp;<br>- Phân bố: Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, An Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng </div>]]></description>
         <enclosure url="https://baiviet.com/wp-content/uploads/2018/09/thuyet-minh-ve-cay-lua-viet-nam.jpg" />
         <pubDate>2021-11-22 03:33:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905196013</guid>
      </item>
      <item>
         <title>34 - Nguyễn Thu Thủy</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905196131</link>
         <description><![CDATA[<div>CÀ PHÊ<br>Cà phê là một cây nhiệt đới, sống ở môi trường ẩm ướt với lượng mưa bình quân là 1500 mm trên năm và khoảng nhiệt độ từ 19 đến 25°C. Hầu hết các đồn điền cà phê công nghiệp là ở gần đường xích đạo và ở độ cao 300 đến 2000 mét so với mực nước biển.<br><br></div><div>Cây cà phê bắt nguồn từ châu Phi. Có ba loài cà phê, và mỗi loài có rất nhiều biến thể. Các biến thể của cà phê là kết quả của đột biến tự nhiên và cả của công nghệ sinh học.<br><br></div><div>Ba loài cà phê là Coffea Arabica – cà phê chè, Coffea Robusta – cà phê vối, and Coffea Liberica. Chỉ có cà phê Arabica và Robusta là có giá trị kinh tế. Ba phần tư lượng cà phê của thế giới là Arabica.<br><br></div><ul><li>Năm 2018, diện tính cà phê của cả nước rất lớn khoảng 720.000 ha. Trong đó, cà Robusta khoảng 670ha (chiếm 93% diện tích), đạt khoảng 1,71 triệu tấn (khoảng hơn 96% sản lượng). Cà Arabica, diện tích là 50.000 ha (chỉ gần 7%), sản lượng gần 67.000 tấn (chỉ gần 4%). (số liệu cao hơn số liệu của chính thống khoảng 70.000 ha).</li><li>Cà phê Arabica được trồng chủ yếu ở Lâm Đồng và Sơn La. Do vậy, đây cũng là nơi tập trung các nhà máy sản xuất chế biến theo phương pháp ướt. Các công ty như Hồ Phượng, ACom, Olam ở Lâm Đồng; hay, công ty Cát Quế, Minh Tiến, Phúc Sinh ở Sơn La.</li><li>Năng suất cà phê Việt Nam thường cao nhất trên thế giới, trung bình 2.6 tấn/ha nhân đối với Robusta và 1.4 tấn nhân đối với Arabica. Cà phê Robusta có năng suất cao nhất ở tỉnh Kotum, sau đó đến Gia Lai, Lâm Đồng, Đak Nông và Đaklak. Năng suất cà phê ở tỉnh Đak Lak không cao lắm, có thể vì diện tích lớn đã già cỗi, hoặc trồng xen các cây như bơ, sầu riêng, tiêu.</li><li>Điều đó, cũng đồng nghĩa với việc phát triển bền vững ở Đak Lak tốt hơn ở các tỉnh còn lại. Đak Lak luôn luôn có những mô hình trồng và canh tác bền vững cà phê đi tiên phong. Vì vậy, tình hình kinh tế người dân đồng đều và ổn định xã hội hơn các tỉnh khác.</li></ul>]]></description>
         <enclosure url="https://canhdien.com/wp-content/uploads/cay-ca-phe.jpg" />
         <pubDate>2021-11-22 03:33:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905196131</guid>
      </item>
      <item>
         <title>17-Dương Tấn Khanh</title>
         <author>milotic2505</author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905196778</link>
         <description><![CDATA[<div>Nông sản: Mía<br>&nbsp;<strong>Mía</strong> là tên gọi chung của một số loài trong chi Mía (Saccharum), bên cạnh các loài lau, lách. Chúng là các loại cỏ sống lâu năm, thuộc tông Andropogoneae của họ Hòa thảo (Poaceae), bản địa khu vực nhiệt đới và ôn đới ấm của Cựu thế giới. Chúng có thân to mập, chia đốt, chứa nhiều đường, cao từ 2-6 m. Tất cả các dạng mía đường được trồng ngày nay đều là các dạng lai ghép nội chi phức tạp. Chúng được trồng để thu hoạch nhằm sản xuất đường.<br>&nbsp;<br>Một số loài mía được liệt kê dưới đây:</div><ul><li>Saccharum barberi: Mía</li><li>Saccharum bengalense: Mía Bengal</li><li>Saccharum edule : Mía</li><li>Saccharum officinarum: Mía (loài này có được trồng tại Việt Nam)</li><li>Saccharum sinense: Mía lau</li></ul><div>&nbsp;<br>Trong mấy năm qua, tuy việc trồng mía cung cấp cho các nhà máy đường gặp rất nhiều khó khăn, nhưng diện tích mía đã phát triển khá nhanh. Những vùng trồng mía rộng lớn xung quanh các nhà máy đường đã được hình thành. Sản lượng mía cung cấp cho các nhà máy hàng năm đều tăng, kỹ thuật trồng trọt có tiến bộ. Có một số nơi đã áp dụng kinh nghiệm thâm canh đưa năng suất mía lên khá cao: 60T đến 70tấn/ha, cá biệt có nơi đạt 90T đến 100 tấn/ha.<br><br>Tại Ấn Độ, các bang Uttar Pradesh (38,57 %), Maharashtra (17,76 %) và Karnataka (12,20 %) là các nơi sản xuất nhiều mía đường nhất của nước này<sup>[10]</sup>. Tại Hoa Kỳ, mía đường được trồng ở quy mô thương mại tại Florida, Hawaii, Louisiana, Texas và Puerto Rico<br><br>Chất lượng của hom giống trồng giữ vai trò quyết định đối với kết quả ban đầu và là tiền đề cho các quá trình sinh trưởng và phát triển về sau của ruộng mía sản xuất. Chất lượng hom giống tốt, mầm sẽ mọc tốt, tập trung, hàng mía đủ cây không bị mất quãng tạo thuận lợi cho mía đẻ nhánh nhanh, gọn, đồng đều, đảm bảo mật độ cây cần thiết cho năng suất cao của ruộng mía.<br><br>Công dụng của mía:</div><ol><li>Chữa vàng da. ...</li><li>Chữa lành các ổ nhiễm trùng. ...</li><li>Tốt cho người bệnh sỏi thận. ...</li><li>Tốt cho bệnh nhân tiểu đường. ...</li><li>Giàu chất dinh dưỡng. ...</li><li>Chữa các bệnh cúm và cảm lạnh. ...</li><li>Ngăn ngừa ung thư ...</li><li>Giữ ẩm cơ thể</li></ol><div><br><br></div><div><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Puerto_Rico"><br></a><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1390963879/ab8168134297b293c785c5ee59379c57/image.png" />
         <pubDate>2021-11-22 03:34:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905196778</guid>
      </item>
      <item>
         <title>28 - Tiền Hào Phong</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905197961</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><mark>Đôi nét về hồ tiêu</mark></strong><br>Hồ tiêu được thu hoạch mỗi năm một lần. Muốn có hồ tiêu đen, người ta hái quả vào lúc xuất hiện một số quả đỏ hay vàng trên chùm, nghĩa là lúc quả còn xanh; những quả còn non quá chưa có sọ rất giòn, khi phơi dễ vỡ vụn, các quả khác khi phơi vỏ quả sẽ săn lại, ngả màu đen. Muốn có hồ tiêu trắng (hay hồ tiêu sọ), người ta hái quả lúc chúng đã thật chín, sau đó bỏ vỏ. Loại này có màu trắng ngà hay xám, ít nhăn nheo và ít thơm hơn (vì lớp vỏ chứa tinh dầu đã mất) nhưng cay hơn (vì quả đã chín).<br><br>Bên cạnh hai sản phẩm nói trên, tuy hiếm hơn, còn có hồ tiêu đỏ, là loại hồ tiêu chín cây hoặc được thu hái khi rất già, ủ chín sau đó được chế biến theo cách thức đặc biệt để giữ màu đỏ của vỏ. Hồ tiêu đỏ có màu đỏ thẫm hơi ngả đen, được sản xuất tại Ấn Độ và tại huyện Chư Sê và Bà Rịa – Vũng Tàu Việt Nam. Giá trị xuất khẩu của tiêu đỏ sau khi chế biến cao hơn gấp 3 đến 4 lần so với hạt tiêu đen.<br><br><strong><mark>Thành phần hoá học của hồ tiêu</mark></strong><br>Hồ tiêu cũng rất giàu vitamin C, thậm chí còn nhiều hơn cả cà chua. Một nửa cốc hồ tiêu xanh, vàng hay đỏ sẽ cung cấp tới hơn 230% nhu cầu calci 1 ngày/1 người.<br><br>Trong tiêu có 1,2-2% tinh dầu, 5-9% piperin và 2,2-6% chanvixin. Piperin và chanvixin là hai loại ankaloit có vị cay hắc làm cho tiêu có vị cay. Trong tiêu còn có 8% chất béo, 36% tinh bột và 4% tro.<br><br><strong><mark>Hồ tiêu Việt Nam dẫn đầu thế giới về sản lượng</mark></strong><br>Theo báo Nhân Dân: "Trong số các loại gia vị của Việt Nam thì hồ tiêu đã rất nổi tiếng trên thị trường thế giới và chiếm tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu cao. Việt Nam hiện vươn lên là nước sản xuất hồ tiêu lớn nhất thế giới với 40% sản lượng, xuất khẩu sang 110 quốc gia. Năm 2020, mặc dù dịch Covid-19 ảnh hưởng lớn đến hoạt động xuất khẩu nhưng xuất khẩu hồ tiêu vẫn ổn định, sản lượng đạt 285.000 tấn, giá tăng dần".</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1390964192/86e2c23c4f75fa67d155e090d67cf255/image_2021_11_22_103407.png" />
         <pubDate>2021-11-22 03:35:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905197961</guid>
      </item>
      <item>
         <title>07 - Tuấn Dũng</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905198623</link>
         <description><![CDATA[<div><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>Sầu riêng</strong><br>Quả sầu riêng được nhiều người ở Đông Nam Á xem như là "vua của các loại trái cây". Nó có đặc điểm là kích thước lớn, mùi mạnh, và nhiều gai nhọn bao quanh vỏ. Quả có thể đạt 30 xentimét (12 in) chiều dài và 15 xentimét (6 in) đường kính, thường nặng một đến ba kilogram (2 đến 7 lb). Tùy thuộc vào từng loài mà quả có hình dáng từ thuôn đến tròn, màu vỏ từ xanh lục đến nâu, màu thịt quả từ vàng nhạt đến đỏ.<br><br></div><div>Thịt quả có thể ăn được, và tỏa ra một mùi đặc trưng, nặng và nồng, ngay cả khi vỏ quả còn nguyên. Một số người thấy sầu riêng có một mùi thơm ngọt ngào dễ chịu, nhưng một số khác lại không chịu nổi và khó chịu với cái mùi này. Mùi hương của sầu riêng tạo nên những phản ứng từ mê mẫn cho đến kinh tởm mãnh liệt, và được mô tả như mùi hành tây thối, nhựa thông hoặc nước cống. Do mùi của sầu riêng ám rất lâu cho nên nó bị cấm mang vào một số khách sạn và phương tiện giao thông công cộng ở Đông Nam Á.<br><br>Hiện nay tại Việt Nam có rất nhiều nơi trồng sầu riêng năng suất cao như Tiền Giang, Bến Tre, Đắk Lắk, Khánh Hoà, Đồng Nai. Ngoài các tỉnh miền Tây thì vùng cao nguyên Đắk Lắk, Lâm Đồng, hay Cẩm Mỹ, Long Khánh cũng nổi tiếng là nơi trồng sầu riêng sản lượng lớn cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu.&nbsp;<br><br></div><div>Những tín đồ sầu riêng, ít nhất một lần trong đời nghe đến những cái tên nổi tiếng như sầu riêng Chuồng Bò, sầu riêng Cái Mơn, sầu riêng Long Khánh, và đặc biệt không thể nào thiếu Sầu riêng Ri6 – Giống sầu riêng đặc sản nổi tiếng nhất ĐBSCL đầu những năm 1990.<br><br>Hiện nay, sầu riêng đang bước vào vụ thu hoạch. Do ảnh hưởng bởi dịch COVD-19, giá sầu riêng giảm đi khá nhiều so với mọi năm. Thế nhưng, so với các cây công nghiệp khác như mắc ca, cà phê , ca cao, hồ tiêu... thì cây sầu riêng đang mang lại hiệu quả cao nhất cho người nông dân.<br><br></div><div>Anh Trương Đình Nhật, thôn Nam Phú, xã Nam Đà (Krông Nô), có 180 cây sầu riêng, trong đó có 20 cây đã cho thu hoạch, chủ yếu sầu riêng Ri6, Dona. Năm nay, thời tiết thuận lợi, nên chất lượng và sản lượng sầu riêng của gia đình anh cao hơn mọi năm.<br><br></div><div>Với 20 cây sầu riêng đang cho thu hoạch, năm nay anh thu khoảng hơn 5 tấn quả, trung bình mỗi cây đạt 2,5 tạ quả. Tuần trước, anh vừa bán sầu riêng cho thương lái thu được 150 triệu đồng. Trừ chi phí, anh lời khoảng 130 triệu đồng.<br><br>“Sầu riêng” đã là một loài cây không thể thiếu trong đặc sản nông sản Việt Nam và vẫn luôn là một loài cây khiến bạn không thể nào quên vì mùi vị lẫn hình dáng của nó.&nbsp;<br>&nbsp;<br><br><br></div><div><br></div><div><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1466395694/79b7854657c3e92675ecae19c2543d63/E8DE1F63_D474_4D2F_B524_FE5F0DEEF452.jpeg" />
         <pubDate>2021-11-22 03:35:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905198623</guid>
      </item>
      <item>
         <title>11 - Phan Hồ Ngọc Hân</title>
         <author>phanhongochan180304</author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905199332</link>
         <description><![CDATA[<div>Nhấn vào hình để xem thêm thông tin</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1390964934/18c8233b57f59902f5d4820d1c116425/t_m_hi_u_v_.pdf" />
         <pubDate>2021-11-22 03:36:04 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905199332</guid>
      </item>
      <item>
         <title>27-Châu Vinh Phong-12A11</title>
         <author>chauvinhphong1404</author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905201202</link>
         <description><![CDATA[<div>- <strong>Cà phê</strong> là một loại nông sản khá phổ biến ở Việt Nam được ưa chuộng và xuất khẩu với số lượng lớn ở nước ta đem lại lợi nhuận khá cao. Những vùng xuất khẩu cà phê lớn nhất nước ta lần lược là Đắk Nông, Kon Tum, Gia Lai. <br><br><strong>Công dụng</strong> :</div><ul><li><strong>Cà phê có tác dụng giảm cân. ...</strong></li><li><strong>Uống cà phê có tác dụng giúp tăng năng lượng. ...</strong></li><li><strong>3. Cafe có công dụng tăng cường khả năng vận động. ...</strong></li><li><strong>Cà phê chứa nhiều dưỡng chất tốt cho cơ thể ...</strong></li><li><strong>Giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường Type II. ...</strong></li><li><strong>Cà phê có tác dụng hạn chế bệnh Alzheimer.</strong></li></ul><div><br>- Nghành cà phê đang phát triển liên tục trong những năm gần đây khiến sản lượng cà phê đạt mức tối đa, diện tích đất ở các vùng núi, sơn nguyên như Tây Nguyên đều trồng cà phê chè là chủ yếu. Các loại cafe phổ biến hiện nay là <strong>cà phê Arabica, cà phê culi, cà phê mít, cà phê Moka ,</strong>...<br>Tỉ trọng cà phê từ những năm <strong>1990</strong> tăng rất thấp diện tích trồng cà phê cũng chỉ có <strong>5900ha</strong> nhưng đến nay đã phát triển vượt bật đến <strong>600000ha</strong> lớn nhất là <strong>Dăk Lăk</strong> với <strong>190000ha</strong> cà phê. Nói chung nghành cà phê đã thu về cho nước ta <strong>1-1,2 tỷ USD/năm </strong>và <strong>chiếm 10%</strong>&nbsp; kim ngạch cả nước. - Hỗ trợ phát triển đất nước tạo cho nhiều người dân Việt Nam. Sản lượng cà phê hằng năm vẫn <strong>tăng 2%</strong> và gần đây đã giảm mạnh nhưng đây là ngành công nghiệp đầy hứa hẹn có thể đưa nước ta vươn lên vị trị thế giới.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1329787174/7e5c6acffa93a5c5ee471672f755fb23/images.png" />
         <pubDate>2021-11-22 03:37:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905201202</guid>
      </item>
      <item>
         <title>26-Nguyên Bảo Nhi</title>
         <author>nguyenbaonhi04052004</author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905202215</link>
         <description><![CDATA[<div>Cây công nghiệp: cây Mía<br>Mía là loại cây nhiệt đới nên đòi hỏi điều kiện độ ẩm rất cao. Nhiệt độ bình quân thích hợp cho sự sinh trưởng của cây mía là 15-26⁰C.<br>Trên cây mía, thông thường phần ngọn sẽ nhạt hơn phần gốc (trong chiết nước mía). Đó là đặc điểm chung của thực vật: chất dinh dưỡng (ở đây là hàm lượng đường) được tập trung nhiều ở phần gốc (vừa để nuôi dưỡng cây vừa để dự trữ). Đồng thời, do sự bốc hơi nước của lá mía, nên phần ngọn cây lúc nào cũng phải được cung cấp nước đầy đủ để cung cấp cho lá, gây ra hàm lượng nước trong tỉ lệ đường/nước phần ngọn sẽ nhiều hơn phần gốc, làm cho ngọn cây mía nhạt hơn.<br>&nbsp; Có khoảng 200 quốc gia và lãnh thổ trồng mía đường, sản xuất khoảng 1.324,6 triệu tấn, Brasil đứng đầu bảng, sản xuất nhiều mía đường nhất thế giới; thứ nhì là Ấn Độ&nbsp;<br>Ở Việt Nam miền Trung là vùng đất truyền thống trồng mía. Việc canh tác mía lấy ngọn mía cắm xuống đất để mọc thành cây mía. Năm sau thì có thể chặt thân mía thu hoạch, gọi là mía tơ năm đầu tiên. Gốc để nguyên, chỉ xới đất thêm và bón cho mọc lại. Mía thu hoạch năm thứ nhì gọi là mía gốc. Đến năm thứ ba thì phải chặt cả gốc, trồng lại từ đầu vì năng suất kém dần.[7]<br>Có thể dùng nước mía để chữa bệnh viêm dạ dày mãn tính theo công thức sau: Nước mía - rượu nho mỗi thứ một ly rồi trộn vào nhau, uống mỗi ngày 2 lần (sáng, tối) (bài thuốc dân gian). Ngoài ra, với một số bệnh khác có thể chữa bằng mía<br><br>Năng suất mía bình quân vụ 2019-2020 đạt 61,5 tấn/ha, giảm 1,9% so với vụ 2018-2019 (62,7 tấn/ha), dẫn tới sản lượng mía vụ 2019-2020 chỉ đạt 11.235.984 tấn, giảm 20% so với vụ 2018-2019 (14.042.789 tấn</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-22 03:37:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905202215</guid>
      </item>
      <item>
         <title>19 - Nguyễn Hoàng Thiên Kim </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905203036</link>
         <description><![CDATA[<div>XOÀI CÁT HÒA LỘC ( Tiền Giang )&nbsp;<br>• Là một trong những đặc sản nổi tiếng của vùng đồng bằng sông Cửu Long.<br>Đặc điểm:<br>- Hình dạng bên ngoài: Quả có dạng thuôn dài, bầu tròn phần gần cuống, đỉnh trái nhọn và yết hầu trái rất rõ, vỏ rất mỏng, vỏ có lớp phấn trắng phủ bên ngoài, khi chín vỏ có màu vàng tươi.<br>- Thịt quả: Độ chắc thịt cao, mịn, dẻo, ít xơ.<br>- Hương vị: Có vị rất ngọt, mùi thơm dịu đặc trưng.<br>- Trọng lượng trung bình: 450 - 600g/quả.<br>- Mùa vụ:<br>&nbsp; + Mùa thuận: Từ tháng 3 đến tháng 5 dương lịch.<br>&nbsp; + Mùa nghịch: Từ tháng 10 đến tháng 12 dương lịch.<br><br>Diện tích và vùng trồng:<br>- Nguồn gốc của xoài cát Hòa Lộc được trồng tại xã Hòa Lộc, quận Giáo Đức, tỉnh Định Tường nay là ấp Hòa, xã Hòa Hưng, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, nên được mang tên là xoài cát Hòa Lộc.<br>- Tiền Giang hiện nay có diện tích trồng xoài cát Hòa Lộc trên 1.579 ha, tập trung chủ yếu tại khu vực ven sông Tiền thuộc huyện Cái Bè và Nam Cai Lậy, sản lượng hàng năm ước tính 35.926 tấn, năng suất 23 tấn/ha. Huyện Cái Bè đang là nơi tập trung xoài nhiều nhất tỉnh Tiền Giang với diện tích 3.622 ha, chiếm đến 52% tổng diện tích trồng xoài trong tỉnh.<br>- Vùng trồng xoài cát Hòa Lộc tập trung tại 13 xã: Hòa Hưng, An Hữu, An Thái Trung, Tân Hưng, Tân Thanh, Mỹ Lương, An Thái Đông, Mỹ Đức Tây,....&nbsp;<br><br>Tình hình:<br>- Xoài cát Hòa Lộc đang trở thành một trong những cây trồng hiệu quả kinh tế cao nhất tại địa phương. Do đó, xoài cát Hòa Lộc là một trong 7 chủng loại trái cây chủ lực có lợi thế cạnh tranh của tỉnh đi các thị trường trong nước và thế giới.<br>- Hiện nay, xoài cát Hòa Lộc đã được cấp Giấy chứng nhận sản xuất an toàn theo tiêu chuẩn GlobalGAP và được xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Canada, New Zealand, Nga,...</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1464130534/e90f8289061a822281b64474d6125fb4/inbound179779979.jpg" />
         <pubDate>2021-11-22 03:38:32 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905203036</guid>
      </item>
      <item>
         <title>15 Đồng Lê Hoàn Khang </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905203340</link>
         <description><![CDATA[<div>Thái Nguyên là một nơi được thiên nhiên ưu tiên về khí hậu và đất đai diện tích đất nông nghiệp toàn tỉnh chiếm 23% diện tích tự nhiên,chè là cây&nbsp; chủ yếu . Các vùng chè lớn ở nước ta vùng chè trung du bắc bộ, vùng chè tây nguyên vùng tây bắc. còn là một cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao,Sản lượng chè (khô) xuất khẩu các năm gần đây đạt trên 100 nghìn tấn (năm 2007: 115 nghìn tấn) Các thị trường nhập khẩu chè chủ yếu là EU, Tây Á, Nhật Bản, Hàn Quốc…<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-22 03:38:43 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905203340</guid>
      </item>
      <item>
         <title>36-Lê Nguyễn Ngọc Trân</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905203346</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1370584569/0dafb718e1e2c208c5c769178c7e6aac/GEOGRAPHY.pdf" />
         <pubDate>2021-11-22 03:38:43 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905203346</guid>
      </item>
      <item>
         <title>30 - Nguyễn Minh Quân</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905205370</link>
         <description><![CDATA[<div>Cacao, theo truyền thống được phân loại thuộc họ Trôm. Còn theo phân loại của hệ thống APG II thì thuộc phân họ Byttnerioideae của họ Cẩm quỳ nghĩa rộng. Cacao có nguồn gốc hoang dại trong các khu rừng nhiệt đới Trung và Nam châu Mỹ.<br>Hiện nay ở nước ta có ba vùng trồng ca cao chính, là đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên và vùng Đông Nam Bộ. Trong đó, ca cao chủ yếu được trồng xen (với dừa, điều, cây ăn trái…) chứ không chuyên canh như ở các nước xuất khẩu lớn (Côte d'Ivoire, Ghana, Indonesia). Ở đồng bằng sông Cửu Long, ca cao chủ yếu trồng ở Tiền Giang, Bến Tre, Hậu Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, Sóc Trăng. Vùng Tây Nguyên ca cao được trồng tại các tỉnh Đắc Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng. Còn ở vùng Đông Nam Bộ, ca cao được trồng tập trung ở Bình Phước, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu. Là một nước mới phát triển trong ngành công nghiệp ca cao toàn cầu, Việt Nam cho sản lượng rất khiêm tốn về hạt ca cao hàng năm, khoảng 5.500 tấn, trong khi sản lượng của thế giới là khoảng 4,8 triệu tấn (Cục Trồng trọt, 2019). Tuy nhiên, trên thương trường quốc tế, hạt ca cao từ Việt Nam đã được công nhận là có chất lượng lên men tốt nhờ sự quan tâm sớm đến kế hoạch và phát triển từ các khu vực công, tư nhân cũng như do điều kiện khí hậu đặc trưng của nước ta. Có thể thấy, giá ca cao trong nước rất nhạy so với sự biến động của thế giới. Điều này sẽ làm cho người nông dân lo sợ trong những thời điểm giá giảm mạnh, vì họ bị hạn chế trong việc tiếp cận thông tin và thiếu hiểu biết về thị trường. Để khắc phục điều này, nên có một mức giá ổn định, phù hợp hơn trong nước so với mặt bằng giá chung của quốc tế, để người dân yên tâm hơn trong sản xuất. Hiện nay, hạt ca cao Việt Nam được chế biến thông qua hình thức sau: sơ chế lên men hạt và chế biến sản phẩm ca cao bán thành phẩm và thành phẩm. Việt Nam hiện đứng thứ 23 trong danh sách những nước có sản phẩm ca cao đạt hương vị tốt, trở thành quốc gia châu Á thứ hai đạt danh hiệu này sau Indonesia, nhưng lại có đến 40% sản lượng ca cao được công nhận trong khi Indonesia chỉ có tỷ lệ 1% (Sonia Gregor, 2017). Nhu cầu của ca cao thế giới ngày càng tăng, nên đầu ra cho hạt ca cao Việt Nam là rất thuận lợi. Năng suất ca cao từng bước được nâng cao, phần lớn hạt ca cao của nông dân được các công ty, doanh nghiệp thu mua lên men tập trung nên chất lượng hạt ngày càng đồng đều, cải thiện hơn trường hợp để người dân tự lên men tại vườn. Chế biến ca cao trong nước đang được nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước quan tâm, đầu tư, sản xuất tạo ra các sản phẩm ca cao tiêu thụ trong nước và bước đầu khẳng định trên thị trường quốc tế. Giống mới, tiến bộ kỹ thuật được cập nhật, cơ bản xác định được cơ cấu giống cho ba vùng sản xuất chính. Một số tổ chức, doanh nghiệp trong nước và quốc tế đang xây dựng vùng sản xuất ca cao tập trung, quy mô sản xuất lớn hằng năm trên các tỉnh Đắk Lắk, Đồng Nai. <br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1356327393/cc68c46021d313e86cbdf60d88900d27/t_i_xu_ng.jpg" />
         <pubDate>2021-11-22 03:40:04 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905205370</guid>
      </item>
      <item>
         <title>14 - Trần Gia Huy - 12A11</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905206744</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em><mark>Cá tra</mark></em></strong><br><br><strong>Từ 1995-2020</strong>: Sản lượng nuôi trồng thủy sản của Việt Nam tăng gấp 11 lần, tăng trưởng TB hàng năm&nbsp; 10% từ 415 nghìn tấn lên gần 4,6 triệu tấn. Nuôi trồng thủy sản phục vụ cho xuất khẩu tập trung chủ yếu ở ĐBSCL (chiếm&nbsp; 95% tổng sản lượng cá tra).<br><br><mark>Sản lượng</mark> nuôi 4,56 triệu tấn. Trong đó, cá tra 1.560.000 tấn.<br><mark>Riêng khu vực ĐBSCL </mark>có khoảng <strong>120</strong> cơ sở sản xuất giống cá tra bố mẹ, gần <strong>4.000 ha </strong>ương dưỡng cá tra giống; sản xuất được khoảng 2 tỷ cá tra giống.<br><mark>Từ 1995 – 2020</mark>: Sản lượng khai thác thủy sản của Việt Nam tăng gấp hơn 4 lần, tăng trường trung bình năm 6% từ 929 nghìn tấn lên 3,85 triệu tấn.<br><mark>Năm 2020</mark>: Toàn quốc có <strong>94.572</strong> tàu cá. Trong đó: 45.950 tàu cá dài 6-12m, 18.425 tàu dài 12-15m, 27.575 tàu dài 15-24m, 2.662 dài &gt;24m). Cả nước có 4.227 tổ đội hoạt động với 29.588 tàu cá, 179.601 lao động trên biển.<br><mark>Tính đến hết tháng 9/2021</mark>, tổng giá trị XK cá tra Việt Nam đạt 1,07 tỷ USD, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm ngoái. Tình hình dịch bệnh Covid-19 ở ĐBSCL trong những tháng qua diễn biến rất phức tạp, ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoạt động nuôi trồng, sản xuất và XK của các DN chế biến cá tra tại khu vực này. Do đó, tháng 9/2021, giá trị XK cá tra sang hầu hết các thị trường lớn đều giảm đồng loạt so với cùng kỳ năm ngoái.</div><div><strong>Tính đến nửa đầu tháng 10/2021, </strong>tổng giá trị XK cá tra sang thị trường Brazil tăng gấp hơn 1,5 lần so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 47,44 triệu USD. Năm nay, xuất khẩu cá tra sang thị trường Mỹ Latinh khá tốt, trong đó nổi bật nhất là Mexico và Brazil.<br>Việt Nam XK thủy sản sang hơn <strong>160 thị trường</strong> trên thế giới. Trong đó top 10 thị trường gồm: Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, ASEAN, Australia, Anh, Canada, Nga, chiếm khoảng 92-93% tổng XK thủy sản của Việt Nam.<br><br></div><div>Trong top 6 thị trường lớn (Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc và ASEAN), trong những năm gần đây, XK sang EU chững lại, sang ASEAN, Hàn Quốc ổn định, trong khi XK sang Trung Quốc tăng trưởng mạnh nhất, XK sang Mỹ và Nhật Bản cũng duy trì tăng trưởng khả quan.<br><br></div><div><br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1329785894/4fb35e634771793857ab2931b9808059/ca_tra_1.jpg" />
         <pubDate>2021-11-22 03:41:04 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905206744</guid>
      </item>
      <item>
         <title>20-Thư Kỳ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905209904</link>
         <description><![CDATA[<div>I. Thông tin chung:<br><strong>- Lịch sử:</strong><br>Là loại cây đầu tiên chỉ được trồng ở vùng nhiệt đới ẩm Châu Phi. Cà phê là sản phẩm thương mại đứng thư 2 thế giới chỉ sau dầu mỏ. Cà phê xuất hiện cách đây 500 năm, nhưng đến thế kỉ XVII mới được đưa vào châu Âu và sau đó trở thành nhu cầu phổ biến của khu vực này. <br><br>- Cà phê là một cây nhiệt đới, sống ở môi trường ẩm ướt với lượng mưa bình quân là 1500 mm trên năm và khoảng nhiệt độ từ 19 đến 25°C. Hầu hết các đồn điền cà phê công nghiệp là ở gần đường xích đạo và ở độ cao 300 đến 2000 mét so với mực nước biển.<br><br>- Ba loài cà phê là Coffea Arabica – cà phê chè, Coffea Robusta – cà phê vối, and Coffea Liberica. Chỉ có cà phê Arabica và Robusta là có giá trị kinh tế. Ba phần tư lượng cà phê của thế giới là Arabica.<br><br><strong><mark>- Tình hình phát triển: </mark></strong><br>&nbsp; &nbsp; + Được phổ biến rộng rãi nhất với hơn 501 tỉ cốc cà phê được tiêu thụ một năm.</div><div>&nbsp; &nbsp; + Theo định hướng của Bộ NN-PTNT, cà phê là cây trồng chủ lực, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp và kim ngạch xuất khẩu; góp phần ổn định đời sống cho người nông dân sản xuất cà phê. Năm 2016, diện tích cà phê cả nước đạt trên 643.000 ha, năng suất khoảng 24 tạ/ha, thuộc mức cao của thế giới. Riêng tại Tây Nguyên, diện tích trồng cà phê đạt cao với khoảng 540.000 ha, vượt rất xa so với quy hoạch đến năm 2020 là 447.000 ha. Cũng trong năm 2016, Việt Nam đã xuất khẩu gần 1,8 triệu tấn cà phê nhân với kim ngạch trên 3,36 tỷ USD (đứng thứ hai trên thế giới, chỉ sau Brazil).</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1372596516/61b17b3034ba89ee7ae49d431001c513/ABF06A0A_9C74_4A86_B5C7_471B9CBDCEC8.jpeg" />
         <pubDate>2021-11-22 03:43:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A11/wish/1905209904</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
