<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title>HỌC VỚI BẢO VÀ MINH by Nguyễn Thanh Hà</title>
      <link>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek</link>
      <description></description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2022-09-17 07:11:13 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2023-06-14 14:28:31 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url></url>
      </image>
      <item>
         <title></title>
         <author>lithant</author>
         <link>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2582192337</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>* Câu giới thiệu chủ đề.<br></strong><br></div><div><strong>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; * Giải thích:</strong> Câu nói có ý nghĩa là: Khi ta không dám sống đúng là mình (suy nghĩ, cảm xúc…) giữa mọi người nghĩa là ta đã không thừa nhận sự tồn tại của bản thân mình.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>* Bàn luận:<br></strong><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - <strong><em>Tại sao lại nói như vậy?<br></em></strong><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; + Mỗi con người là một cá thể riêng biệt, dù ta có liên quan đến những người xung quanh nhưng không ai giống ai. Ai cũng có những màu sắc riêng, suy nghĩ, cảm xúc, tiếng nói riêng của mình.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; + Cuộc đời mỗi con người là do chính họ quyết định, thể hiện bản thân chính là khẳng định sự có mặt của chúng ta giữa cuộc đời.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; + Nếu chúng ta không dám bộc lộ cái riêng của mình vì e ngại đám đông chẳng khác nào ta đã đánh mất mình mà sống theo đám đông vậy.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong><em>- Dẫn chứng:<br></em></strong><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong><em>- Phê phán </em></strong>những người hùa theo đám đông thiếu suy nghĩ, hội chứng bầy đàn, sống nhợt nhạt, không có ý chí, không có tiếng nói.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Tuy nhiên, thể hiện mình không có nghĩa là ngông cuồng, bất chấp đạo lý và chuẩn mực đạo đức, pháp luật của xã hội.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>* Bài học: </strong>Cần sống là chính mình để tạo nên sự khác biệt nhưng cũng phải biết hài hòa giữa cái rieeng với mọi người.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-05-08 14:46:15 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2582192337</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đề 16</title>
         <author>lithant</author>
         <link>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2607914367</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>ĐỀ 16:</strong></div><div><strong>Phần I. Đọc hiểu (3,0 điểm)</strong></div><div><strong>Đọc văn bản</strong>:&nbsp;<br><br></div><div><em>Ở quanh con, </em><strong><em>người tử tế </em></strong><em>vẫn nhiều</em></div><div><em>Vẫn còn có </em><strong><em>bao điều tốt đẹp</em></strong></div><div><em>Xa danh lợi hãy chịu nhiều </em><strong><em>thua thiệt</em></strong></div><div><em>Hãy vì người, nếu mong họ </em><strong><em>vì con</em></strong><em>.</em></div><div><strong><em>Rách cho thơm</em></strong><em>, dẫu đói thì phải sạch</em></div><div><strong><em>Tình thương yêu</em></strong><em> không mua được bằng tiền</em></div><div><em>Cần gỗ tốt, </em><strong><em>nước sơn</em></strong><em> còn phải tốt</em></div><div><em>Oán bên lòng, </em><strong><em>ơn</em></strong><em> khắc dạ đừng quên.</em></div><div><em>&nbsp;</em></div><div><em>Nếu vấp ngã, con</em><strong><em> tự mình</em></strong><em> đứng dậy</em></div><div><em>Muốn </em><strong><em>tập bơi</em></strong><em>, cứ nhảy xuống giữa dòng</em></div><div><em>Thà mất cả, cố giữ gìn</em><strong><em> danh dự</em></strong></div><div><em>Sống thẳng mình, </em><strong><em>mặc kệ thế gian cong</em></strong><em><br></em><br></div><div>&nbsp;(<strong>Nói với con,Nguyễn Huy Hoàng ,</strong>Nguồn http://baophunuthudo.vn/article)</div><div><strong>Thực hiện các yêu cầu sau</strong>:</div><div><strong>Câu 1. </strong>Xác định thể thơ, phong cách ngôn ngữ của văn bản?</div><div>………………………………………………………………………………………………</div><div><strong>Câu 2. </strong>Chỉ ra những câu tục ngữ dân gian mà tác giả sử dụng trong đoạn thơ thứ hai? Việc vận dụng tục ngữ dân gian đó có tác dụng gì?&nbsp;</div><div>………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………</div><div><strong>Câu 3.</strong> Anh,chị hiểu nội dung các dòng thơ sau như thế nào?</div><div><em>Ở quanh con, người tử tế vẫn nhiều = </em><strong><em>tình yêu thương, chân thành, trung thực, nhiều chuyện, hại người, dối trá</em></strong></div><div><em>Vẫn còn có bao điều tốt đẹp - </em><strong><em>tử tế, yêu thương, nhân đạo, trách nhiệm</em></strong></div><div><em>Xa danh lợi hãy chịu nhiều thua thiệt - </em><strong><em>vật chất, quyền lực, tình cảm, nhường nhịn, đấu tố&nbsp;</em></strong></div><div><em>Hãy vì người, nếu mong họ vì con. </em><strong><em>tôn trọng, tin tưởng, tử tế, - cũng cái mình muốn&nbsp;<br>+ giải thích từ, cụm từ<br>+ Rút cách hiểu</em></strong></div><div><em>………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………</em></div><div><strong>Câu 4.</strong> Những lời tâm sự “nói với con”của nhà thơ được thể hiện trong đoạn trích gợi cho anh/chị suy nghĩ gì?</div><div>………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………</div><div><strong>Phần II. Làm v</strong>ă<strong>n (7,0 </strong>đ<strong>i</strong>ể<strong>m)</strong></div><div><strong><em>Câu 1. (2,0 điểm)</em></strong></div><div>Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/ chị hãy viết một đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của việc “Sống thẳng mình” của con người trong cuộc sống hôm nay.</div><div>………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………</div><div><strong>Câu 2. (5,0 điểm</strong><strong><em>)<br>Luận điểm: Anh dũng - Cố nén vết thương, mặt méo bệch...&nbsp;<br>=&gt; Người lái đò Sông Đà giữa dòng sông trở nên nhỏ bé, và sự hung bạo lúc nào cũng đồi nợ xuýt khiến bất kì ai di chuyển cũng trở nên kiêng nể, sợ hãi = thì ông - người lái đò luống tuổi ẩy vẫn mạnh mẽ, dũng cảm đương đầu. Và đâu chỉ chống trả trong thế yếu nhược mà rất kiên cường, khoảnh khắc ông "cố nén vết thương" dù "mặt méo bệch" đi cho ta thấy khả năng chịu đưng, và dường như quen dần những cái rát bỏng của sức nước bắn tung tóe bên mình, đau rát da thịt...<br>LDD2: Tài hoa<br>LDD3: Nghệ sĩ</em></strong></div><div>…<strong> </strong><strong><em>Sóng thác đã đánh đến miếng đòn hiểm độc nhất, cả cái luồng nước vô sở bất chí ấy bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò […]. Mặt sông trong tích tắc lòa sáng lên như một cửa bể đom đóm rừng ùa xuống mà châm lửa vào đầu sóng. Nhưng ông đò vẫn cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, mặt méo bệch đi như cái luồng sóng đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm. Tăng thêm mãi lên tiếng hỗn chiến của nước của đá thác. Nhưng trên cái thuyền sáu bơi chèo, vẫn nghe rõ tiếng chỉ huy ngắn gọn tỉnh táo của người cầm lái. Vậy là phá xong cái trùng vi thạch trận vòng thứ nhất. </em></strong><em>Không một phút nghỉ tay nghỉ mắt, phải phá luôn vòng vây thứ hai và đổi luôn chiến thuật. Ông lái đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá. Ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này. Vòng đầu vừa rồi, nó mở ra năm cửa trận, có bốn cửa tử một cửa sinh, cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn sông. Vòng thứ hai này tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào, và cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn. Cưỡi lên thác sông Đà, phải cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ. Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá. Nắm chặt lấy được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy cái luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chéo về phía cửa đá ấy. Bốn năm bọn thủy quân cửa ải nước bên bờ trái liền xô ra định níu thuyền lôi vào tập đoàn cửa tử. Ông đò vẫn nhớ mặt bọn này, đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến. Những luồng tử đã bỏ hết lại sau thuyền. Chỉ còn vẳng reo tiếng hò của sóng thác luồng sinh. Chúng vẫn không ngớt khiêu khích, mặc dầu cái thằng đá tướng đứng chiến ở cửa vào đã tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng thua cái thuyền đã đánh trúng vào cửa sinh nó trấn lấy. Còn một trùng vây thứ ba nữa. Ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả. Cái luồng sống ở chặng ba này lại ở ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác. Cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó. Thuyền vút qua cổng đá cánh mở cánh khép. Vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được lượn được. Thế là hết thác…. &nbsp;</em></div><div>(Trích <strong><em>Người lái đò sông Đà </em></strong><em>- </em>Nguyễn Tuân,<em> Ngữ văn 12</em>, tập một)</div><div>&nbsp;Anh/chị hãy phân tích<strong> hình tượng nhân vật ông lái đò</strong> trong đoạn trích trên. Từ đó, nhận xét cái nhìn mang <strong>tính phát hiện về con người</strong> của nhà văn Nguyễn Tuân.</div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-05-29 13:48:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2607914367</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2610490952</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2049464939/7ec4570afbd3dbfa9224b7af7890c784/image.jpg" />
         <pubDate>2023-05-31 12:36:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2610490952</guid>
      </item>
      <item>
         <title>NLXH</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2610493328</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Trong cuộc sống hiện đại, thái độ "sống thẳng mình" chính là một trong những thái độ sống đáng quý và tốt đẹp mà mỗi người đều cần có. </strong><em>Việc sống thẳng mình là có thái độ sống cương trực, sống đấu tranh vì những điều đúng đắn, sống hết mình vì những lí tưởng sống tốt đẹp của cuộc đời mình. </em>Thái độ sống ngay thẳng, cương trực được biểu hiện bằng việc ta dám đấu tranh vì lẽ phải, vì những điều đúng đắn trước cuộc sống. <strong>Trước tiên, ta không những không sợ hãi trước những điều không đúng mà còn có lòng dũng cảm tố giác, phê phán và lên án những hành động chưa thực sự đúng đắn trong cuộc sống. Trong đời sống đó có thể là những tệ nạn xã hội ở địa phương, trong cơ quan chỗ làm&nbsp; hay ở trường lớp.</strong><strong><em> </em></strong><em>Thêm vào đó, người có lối sống ngay thẳng, cương trực, thẳng thắn sẽ không bao giờ chịu thua. trước những mặt xấu của đời sống, người ngay thẳng có thể  dũng cảm đấu tranh cho những giá trị tốt đẹp thực sự của xã hội, của tập thể và của chính mình.</em> <strong>Chẳng những thế, người có lối sống ngay thẳng cương trực còn dám đối mặt với cả những điều chưa tốt thực sự của mình. Họ hiểu rằng kẻ thù lớn nhất của họ đó chính là bản thân mình. Họ dám đấu tranh để đẩy lùi những điều xấu xa ra khỏi cuộc sống, đạt được cuộc sống an yên và hoàn thiện bản thân hơn mỗi ngày. Những người có lối sống thẳng mình chắc chắn sẽ luôn đạt được những điều bình an, hạnh phúc và tốt đẹp trong cuộc sống vì họ dám đấu tranh cho những lẽ phải và lí tưởng sống của chính cuộc đời mình. (Thiếu dẫn chứng, phê phán)</strong>Tóm lại, mỗi người đều luôn cần có thái độ sống thẳng mình để có thể hoàn thiện bản thân và góp ích cho xã hội, đời sống chung.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-05-31 12:38:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2610493328</guid>
      </item>
      <item>
         <title>NLVH</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2612916885</link>
         <description><![CDATA[<div>Bài tùy bút Người lái đò sông Đà nằm trong tập tùy bút Sông Đà của Nguyễn Tuân. Bài tùy bút chủ yếu tập trung miêu tả con sông Đà và người lái đò. Bằng ngòi bút khéo léo của mình, Nguyễn Tuân đã cho người đọc cảm nhận được hình tượng người lái đò sông Đà hiện lên như một nghời nghệ sĩ tài ba khéo léo vượt qua những thạch trận nhung hiểm mà con sông Đà đã&nbsp; bày binh bố trận, từ đó ta thấy được cái nhìn mang tính phát hiện về con người của Nguyễn Tuân. Tiêu biểu nhất qua đoạn trích: "<strong>Thiếu đoạn trích - thiếu yêu cầu của đề: "sóng thác đã đánh...hết thác"&nbsp;</strong></div><div>Bài kí được ra đời khi miền Bắc bước vào giai đoạn xây dựng đất nước sau chiến tranh, là kết quả của quá trình đi thực tế lên vùng núi Tây Bắc của Nguyễn Tuân để kiếm thứ "vàng mười"-chất vàng trong lao động đời sống hằng ngày. Qua đó càng nhấn mạnh thêm khi nói tác giả là một người suốt đời đi tìm cái đẹp, dù ở khía cạnh thẩm mỹ ở sự vật hay khía cạnh tài năng nơi con người, Nguyễn Tuân đều muốn khai thác triệt để. Đoạn trích trên mô tả lại cuộc thủy chiến giữa sông Đà nơi thượng nguồn và ông lái đò-người đã có nhiều lần chở đò ngang đây.</div><div>Chở đò là một nghệ thuật cao cường đòi hỏi sự thông minh, khôn khéo và trí dũng, tài ba. Ở đây, ông đò hiện lên dưới ngòi bút Nguyễn Tuân là một nghệ sĩ trong nghệ thuật leo ghềnh, vượt thác, với “tay lái ra hoa”. Để làm nổi bật tài nghệ ấy ở ông đò, Nguyễn Tuân đã sáng tạo ra một cuộc vượt thác: Ông đò là người cầm lái chỉ huy sáu bơi chèo để chiến thắng được thác nước và đá ngầm mà sông Đà bày thạch trận trên sông như một trận đò bát quái văng ra hết lớp này đến lớp khác. Ông đò đã bình tĩnh, thông minh, khôn khéo, cái bản lĩnh của một viên chiến tướng bởi chỉ cần một phút mất bình tĩnh, lóa mắt, lỡ tay là phải trả giá bằng sinh mạng của cả nhà đò. Tài nghệ của ông được bộc lộ trong cuộc vượt thác phá ba trùng vi thạch trận mà với vốn hiểu biết phong phú, vốn từ ngữ chính xác, sắc sảo về quân sự và võ thuật. Nguyễn Tuân đã thể hiện một cuộc quyết đấu thật sinh động.</div><div><strong>Ở vi thạch trận thứ nhất, sông Đà mở ra cửa trận, có bốn cửa tử và một cửa sinh. Thậm chí nó còn nham hiểm, thủ đoạn “đánh đến miếng đòn độc hiểm nhất hòng tiêu diệt đối phương ngay tại trận”. Nhưng ông đò cố nén vết thương, mặt “méo bệch đi”. Chỉ cần một từ ghép “méo bệch” mà Nguyễn Tuân đã thể hiện được hai tâm trạng của ông đò. Đó là nỗi đau đớn ghê gớm làm biến dạng khuôn mặt người méo xệch và sóng nước đang tung thẳng vào người làm nhợt nhạt cả sắc mặt người khiến khuôn mặt trắng bệch ra. Dẫu như thế, ông đò vẫn tỉnh táo chỉ huy “sáu bơi chèo” để phá tan cái trùng vi thạch trận thứ nhất. Chỉ vài lát cắt của nghệ sĩ ngôn từ Nguyễn Tuân, nhân vật người lái đò hiện lên rõ nét tính cách anh dũng, kiên cường với chính trận địa mà sông Đà bày ra như thế. Bao nhiêu lần trong cuộc sống của mỗi người chúng ta có thể "mặt trắng bệch" đi vì sợ hãi, vì đau đớn... nhưng rõ ràng sợ hãi vì điều gì, đau đớn với việc nào mới khiến giá trị của chúng ta được đánh giá cao nhất. Với người lái đò, khoảnh khắc chịu trận dòng sông, để từ đó cho ta cảm nhận rõ nét hơn về nét đẹp bình dị của những con người lao động. Vạn vật đều khó khăn, thiên nhiên đều khắc nghiệt, nhưng con người thì luôn biết làm thế nào để vượt qua những khó khăn và khắc nghiệt này, đó thực sự là chất vàng mười đúng như nhà văn tìm kiếm.&nbsp;</strong></div><div>Ở trùng vi thạch trận thứ hai, sông Đà với bản chất ngoan cố và xảo quyệt đã đổi luôn chiến thuật. Nó “tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào và cửa sinh bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn... Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá”. Cái “hồng hộc” của kẻ say máu đang quyết đấu một phen nhưng nó lại gặp phải một đối thủ không vừa. Ông đò với bản lĩnh của con người không chịu khuất phục, của một vị tướng quyết đấu đến cùng đã “cưỡi lên thác sông Đà. nắm chặt lấy được cái bờm sóng. đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến”. Trước sự chiến đấu dũng mãnh, phi thường của ông đò thì “cái thằng đá tướng đứng chiến ở cửa vào đã tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng”. Hình tượng tảng đá lớn, rêu phủ xanh dưới ngòi bút Nguyễn Tuân lại trở thành một sinh thể có hồn với vẻ mặt xanh lì - mặt cắt không còn hạt máu - với nỗi sợ hãi khủng khiếp vì không ngờ gặp phải đối thủ đáng gờm như thế. Và trùng vi thạch trận thứ hai đã được ông đò phá xong.</div><div>Ở trùng vi thạch trận thứ ba, hình ảnh của một con thú giãy chết lại được thể hiện khi con sông Đà: bên phải, bên trái đều là luồng chết còn luồng sống lại ở ngay chính giữa để quyết tiêu diệt đối phương. Thác nước ầm ầm, hơi nước mù mịt nhưng ông đò vẫn nhận ra được chiến thuật của sông Đà, ông đổi ngay cách đánh, cứ phóng thuyền “vút, vút.” như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước. thế là hết thác.</div><div>Không biết đến bao giờ tôi mới thôi ngạc nhiên và thích thú trước hình ảnh không hiểu làm sao mà Nguyễn Tuân có thể nghĩ ra về sự “tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng” của thằng đá tướng khi bị cái thuyền đánh trúng cửa sinh, đè sấn lên, chặt đôi sóng ra để mở đường tiến qua ải nước. Nhưng để lại dấu ấn rõ nét hơn cả trong tôi lại là những câu văn về dòng sông khi vừa hết thác: “vặn mình vào một cái bến cát có hang lạnh. Sóng thác xèo xèo tan trong trí nhớ”. Nhà văn đã mượn cho kí ức con người vẻ đẹp thênh thang của bờ cát bên sông. Và những người lái thuyền trong đêm ấy đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam và chỉ toàn bàn tán về cá anh vũ, cá dầm xanh. Nhà văn làm cho ta thấy họ còn lớn hơn bậc nữa vì họ hồn nhiên quên đi cái lớn của mình. Hay nói đúng hơn họ không hề cho là lớn lao, cái mà chúng ta thấy rõ ràng rằng vĩ đại.<br>Qua cuộc thủy chiến dữ dội, căng thẳng trên, ta thấy cách nhìn nhân vật ông đò, nhà văn bày tỏ tình cảm yêu mến, trân trọng, tự hào về con người lao động Việt Nam. Nếu trước đây, ông thường khắc họa người anh hùng trong chiến đấu, người nghệ sĩ trong nghệ thuật và thuộc về quá khứ “vang bóng một thời”thì đến tác phẩm này, ông tìm thấy anh hùng và nghệ sĩ ngay trong con người lao động thường ngày, trong công việc bình thường và trong nghề nghiệp cũng bình thường. Nguyễn Tuân còn khẳng định với chúng ta rằng chủ nghĩa anh hùng cách mạng đâu phải chỉ dành riêng cho cuộc chiến đấu chống ngoại xâm mà còn thể hiện sâu sắc trong việc xây dựng đất nước và chinh phục thiên nhiên.<br><br></div><div>Người lái đò của Nguyễn Tuân không có phép màu để so sánh với sức lực của Thủy Tinh nhưng ông “đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá”. Và cái kinh nghiệm đò giang sông nước, lên thác xuống ghềnh đã khiến ông đò dù trong tay chỉ có cây chèo vẫn có thể phá thành, vượt ải như một chiến trường bách thắng trong sự nghiệp đấu tranh chống lại thiên nhiên khắc nghiệt.</div><div>Một cảm hứng hào hùng đã khiến ngòi bút của Nguyễn Tuân miêu tả cuộc vượt thác sông Đà vẫn diễn ra thường nhật thành một trận đánh biến ảo, hấp dẫn, một khúc hát ca ngợi chiến công của một bậc anh hùng, có quá lớn, có đáng ngạc nhiên chăng, nhất là ở một nhà văn vốn có tiếng là kêu bạc? Là một nhà văn vốn cầu kì, tỉ mỉ, tường tận trong quan sát và miêu tả sự vật hiện tượng, con người vậy mà ở đây Nguyễn Tuân chẳng có một dòng nào nói về tên tuổi, gia cảnh của ông đò. Thủ pháp vô danh hóa đã giúp nhà văn khẳng định: ở một đất nước lắm sông nhiều suối, lắm thác nhiều ghềnh thì những người lái đò tài hoa, nghệ sĩ như ông đò trên sông Đà là phổ biến. Ông ca ngợi lao động, ca ngợi c người theo cách riêng của mình làm cho hai tiếng “Con Người” vang lên kiêu hãnh biết bao!</div><div>Với “Người lái đò sông Đà”, Nguyễn Tuân không chỉ thể hiện tài hoa ở thể loại tùy bút mà còn thể hiện nét mới trong phong cách nghệ thuật của ông: nhân vật tài hoa, nghệ sĩ không phải là những con người hiếm hoi, cô độc, lạc lõng giữa cuộc đời mà đó chính là nhân vật vô danh. Chủ nghĩa anh hùng cách mạng không chỉ có ở nơi chiến trường mà có ở ngay trong những người dân bình thường hằng ngày phải vật lộn với thiên nhiên hung dữ để mưu sinh. Chính họ đã viết nên thiên anh hùng ca của cuộc sống.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-06-02 12:32:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2612916885</guid>
      </item>
      <item>
         <title>NLVH</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2612917647</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Mở bài:</strong> Tố Hữu là một trong những lá cờ đầu của nền thơ ca cách mạng Việt Nam. Các chặng đường thơ của ông luôn gắn bó và phản ánh chân thật những chặng đường cách mạng , những chặng đường vận động trong quan điểm tư tưởng và bản lĩnh nghệ thuật của chính nhà thơ. Việt Bắc được đánh giá là tác phẩm tiêu biểu cho văn học thời kì kháng chiến chống Pháp.<br><br></div><div><strong>Thân bài:<br></strong><br></div><div>+ HCST:<br>Chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi. Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết. Tháng 10/1954, trung ương Đảng, chính phủ và Hồ Chủ tịch từ giã Việt Bắc về lại Thủ đô Hà Nội. Một trang lịch sử mới của dân tộc đã mở ra. Tố Hữu là một trong số những cán bộ kháng chiến từng sống gắn bó nhiều năm với Việt Bắc, nay từ biệt chiến khu để về xuôi. Sự kiện lịch sử đó đã mang lại cho Tố Hữu cảm xúc để viết nên bài thơ Việt Bắc. Đoạn thơ trong đề bài thuộc phần lời thơ của người cán bộ cách mạng về xuôi trả lời người Việt Bắc. Toàn bộ đoạn thơ thể hiện tình cảm thương nhớ của người cán bộ cách mạng đối với cảnh vật, con người, kỷ niệm ở Việt Bắc trong những năm kháng chiến vừa qua.<br><br></div><div>+ Phân tích:<br>Từ xưng hô “mình, ta” : thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa người cán bộ cách mạng và Việt Bắc. Ta đi ta nhớ, mình đây ta đó : kết cấu đối xứng thể hiện giọng thơ rắn rỏi, nói lên tình cảm gắn bó tha thiết, nhớ thương của người cán bộ đối với Việt Bắc. Đắng cay, ngọt bùi : từ ngữ tương phản nói lên kỷ niệm phong phú, sâu sắc của cán bộ trong những tháng ngày gian khổ nơi Việt Bắc và với người dân Việt Bắc. “Chia, sẻ, đắp cùng” là những động từ bộc lộ tình cảm đồng cam cộng khổ của Việt Bắc và cách mạng.<br><br></div><div>- 2 câu tiếp : Trong nỗi nhớ của người cán bộ, hình ảnh người dân Việt Bắc hiện lên chân thật và đầy xúc động với hình ảnh “người mẹ nắng cháy lưng, địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô”. Đó là người lao động nghèo khổ, neo đơn nhưng dạt dào ân tình với cách mạng, không ngại vất vả, cực khổ lao động góp phần tạo nên lương thực cho cách mạng nuôi quân. Hình ảnh thơ giàu sức gợi, phản ánh tình cảm sắc son của đồng bào dân tộc đối với cách mạng. Nắng cháy lưng : hình ảnh hiện thực có sức gợi thời tiết khắc nghiệt, qua đó nói lên sự vất vả, gian khổ. “Địu con lên rẫy” là lời thơ giản dị, cũng là hình ảnh hiện thực, gợi lên hoàn cảnh neo đơn của người mẹ dân tộc. Từ đó tình cảm sắc son cao đẹp của người dân tộc đối với cách mạng càng hiện lên rõ nét.<br><br></div><div>- 4 câu tiếp theo : Con người và cảnh vật gắn bó với nhau. Nhớ về con người Việt Bắc, người cán bộ cách mạng lại nhớ trở lại những kỷ niệm gắn bó ở Việt Bắc. Đó là kỷ niệm với những lớp học bình dân học vụ (lớp học i tờ), những đêm liên hoan văn nghệ giữa núi rừng, những ngày tháng công tác ở cơ quan, gian nan nhưng lạc quan, đầy ắp yêu thương với tiếng hát , tiếng ca vang dội cả núi rừng. Đồng khuya đuốc sáng : lời thơ gợi lên hình ảnh những đêm liên hoan văn nghệ, vui vẻ tưng bừng nơi rừng núi. “Ca vang núi đèo” là lời thơ mang tính chất ẩn dụ, phản ánh tinh thần lạc quan, tình cảm đoàn kết gắn bó giữa cách mạng và người dân Việt Bắc.<br><br></div><div>- 2 câu cuối : cảnh vật Việt Bắc với nét gợi cảm trong buổi chiều và đêm tối, hiện lên sống động, tha thiết trong nỗi nhớ của người cán bộ về xuôi. Từ nghi vấn “sao” kết hợp với “nhớ” làm cho giọng thơ trở nên tha thiết, phù hợp với tâm trạng của người cán bộ cách mạng về xuôi. “Rừng chiều, suối xa” là hình ảnh thơ gợi lên khung cảnh trữ tình, gợi cảm của núi rừng Việt Bắc. Cảnh vật được mô tả với chi tiết về âm thanh (tiếng mỏ, chày đêm nện cối) thể hiện khung cảnh đặc trưng của núi rừng. Am thanh vang vọng gợi tới những ký ức xa xôi nhưng tha thiết và đầy ám ảnh trong tâm tư của những kẻ chia li.</div><div><strong>Nhận xét:<br></strong><br></div><div><strong>Nội dung:</strong><em>&nbsp;</em></div><div>- Nỗi nhớ của người Cách mạng với đồng bào, với thiên nhiên Việt Bắc được so sánh với nỗi nhớ người yêu: cồn cào, da diết, nồng nàn…</div><div>- Nhớ thiên nhiên thanh bình, yên ả, đơn sơ mà thơ mộng.</div><div>- Nhớ cuộc sống của đồng bào và chiến sĩ đầy khó khăn gian khổ nhưng nghĩa tình sâu nặng: hình ảnh ẩn dụ chuyển đổi cảm giác (đắng, cay, ngọt, bùi), cụm động từ (chia củ sắn lùi, sẻ nửa, đắp cùng) diễn tả cảm xúc nhớ thương của người ra đi đối với người ở lại.<br><br></div><div><strong>Nghệ thuật</strong></div><div>- Thể thơ: lục bát truyền thống với cách gieo vần đặc trưng đã làm cho đoạn thơ mang âm điệu ngọt ngào, êm ái..</div><div>- Biện pháp tu từ: Điệp từ “nhớ” cùng lối so sánh đặc biệt đã bộc lộ một cảm xúc thương nhớ dạt dào. Việc liệt kê một loạt những hình ảnh cùng địa danh của Việt Bắc đã khắc họa thật sâu nỗi niềm thương nhớ của một người chiến sĩ - thi sĩ đối với quê hương thứ hai của mình…</div><div>- Hình ảnh, ngôn ngữ: giản dị tự nhiên, gần gũi…<br><br></div><div><strong>Kết bài</strong>: Đoạn thơ trên chính là bản tình ca về lòng chung thủy sắt son, là tiếng lòng của nhà thơ, hay cũng chính là của những người Việt Nam trong kháng chiến. Tố Hữu đã thể hiện thành công tình cảm của người cán bộ dành cho thiên nhiên, nhân dân Việt Bắc không chỉ là tình cảm công dân xã hội mà còn là sự sâu nặng như tình yêu lứa đôi.<br><br></div><div>&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-06-02 12:33:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2612917647</guid>
      </item>
      <item>
         <title>CÔNG THỨC DÀN Ý NGHỊ LUẬN VĂN HỌC</title>
         <author>lithant</author>
         <link>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2612940788</link>
         <description><![CDATA[<div><br></div><div><br></div><div><strong>A/ MỞ BÀI</strong></div><div><strong>1/ Ai?:..........................................................................................................................................&nbsp;<br>(sự tương đồng - chủ đề - tác giả -...)</strong></div><div><strong>2/ Gì? :..........................................................................................................................................</strong></div><div><strong>3/ Nào? :..........................................................................................................................................</strong></div><div><strong>B/ THÂN BÀI</strong></div><div><strong>1/Khái quát – lí giải:&nbsp;</strong></div><div><strong>	a/ Cách:.................................................................................................................................... (Phong cách nhà văn)</strong></div><div><strong>	b/ Cảnh:.................................................................................................................................... (Hoàn cảnh sáng tác - )</strong></div><div><strong>	c/ Mạch:.................................................................................................................................... (Mạch cảm xúc - ca ngợi vẻ đẹp)</strong></div><div><strong>2/ Phân tích:</strong></div><div><strong>	a/ Câu có chứa luận điểm 1 = đặc điểm / nội dung&nbsp;</strong></div><div><strong>		- Giới:.................................................................................................................................... (Bla...bla...)</strong></div><div><strong>		-&nbsp; Trích:.................................................................................................................................... "mặt trắng bệch"</strong></div><div><strong>		-&nbsp; Phân:&nbsp;</strong></div><div><strong>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; =&gt; cứ thế đến hết</strong></div><div><strong>		- Tổng hợp</strong></div><div><strong>b/ Câu có chứa luận điểm 2 = đặc điểm / nội dung&nbsp;</strong></div><div><strong>		- Giới:....................................................................................................................................</strong></div><div><strong>		-&nbsp; Trích:....................................................................................................................................</strong></div><div><strong>		-&nbsp; Phân:&nbsp;</strong></div><div><strong>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; =&gt; cứ thế đến hết</strong></div><div><strong>		- Tổng hợp<br>Vế 2: câu hỏi đuôi</strong></div><div><strong>3/ Đánh giá:</strong></div><div><strong>	a/ Bài: ............................................................................................................................... (Nội dung + nghệ thuật)</strong></div><div><strong>	b/ Giai: ............................................................................................................................... (Ý nghĩa gì trong giai đoạn sáng tác)</strong></div><div><strong>	c/ Độc: ................................................................................................................................ (Độc đáo)</strong></div><div><br></div><div><strong>C/ KẾT BÀI</strong></div><div><strong>1/ Giá: .......................................................................................................................................... (Đánh giá)</strong></div><div><strong>2/ Đề: .......................................................................................................................................... (Đề tài - Chủ đề)</strong></div><div><strong>3/ Cảm: .......................................................................................................................................... (Cảm xúc)</strong></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-06-02 13:02:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2612940788</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đề 8</title>
         <author>lithant</author>
         <link>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2614766044</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Đề 8:</strong></div><div><strong>Phần I: Đọc – hiểu</strong></div><div><strong>Đọc văn bản sau:</strong></div><div><br></div><div><em>“Đêm đọc sách soi mình vào câu chữ</em></div><div><em>Học hỏi thêm được rất nhiều điều</em></div><div><em>Hiểu đa dạng nhiều chiều thế sự</em></div><div><em>Học uyên thâm của tri thức loài người</em></div><div><br></div><div><em>Đêm đọc sách gặp lại thầy lại bạn</em></div><div><em>Hiểu rõ ra mình dốt nát vô cùng</em></div><div><em>Còn ngu muội u mê chưa sáng</em></div><div><em>Biết cố lên hướng thượng đến muôn trùng.</em></div><div><br></div><div><em>Đêm đọc sách biết mình còn sống</em></div><div><em>Dầu già đi từng sát na buồn</em></div><div><em>Từng trang sách là khổ công lao động</em></div><div><em>Của bao người, của tác giả, của ngàn phương.</em></div><div><br></div><div><em>Đêm đọc sách tâm vô cùng hạnh phúc</em></div><div><em>Đắm mình trong thế giới của ngôn từ</em></div><div><em>Học lắng nghe học những điều nhẫn nhục</em></div><div><em>Biết yêu thương thông cảm hốt nhiên cười.</em></div><div><br></div><div><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; (Đêm đọc sách, </em>Trần Minh Hiền, thơ tình, NXB Văn học, 2002<em>)</em></div><div><strong>Thực hiện các yêu cầu sau:</strong></div><div><strong>Câu 1.</strong> Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản.</div><div>……………………………………………………………………………………………..</div><div><strong>Câu 2</strong>. Xác định thể thơ của văn bản ……………………………………………………</div><div><strong>Câu 3.</strong> Theo tác giả, việc đọc sách đã đem lại cho bản thân những hiệu quả gì?</div><div>………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………</div><div><strong>Câu 4.</strong> Anh/chị hiểu như thế nào về những dòng thơ sau:&nbsp;</div><div><em>“Từng trang sách là khổ công lao động</em></div><div><em>Của bao người, của tác giả, của ngàn phương”</em></div><div><em>…………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………</em></div><div><strong>Câu 5</strong>. Xác định và phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ được sử dụng trong văn bản.</div><div>……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………</div><div><strong>Câu 6.</strong> Bài học ý nghĩa nhất anh/chị rút ra sau khi đọc văn bản là gì?</div><div>……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………</div><div><strong>II. LÀM VĂN (7,0 điểm)</strong></div><div><strong>Câu 1</strong>: (2.0đ) Từ văn bản đọc-hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu suy nghĩ của bản thân về <em>ý nghĩa của việc đọc sách mỗi ngày</em>.</div><div>……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………</div><div><strong>Câu 2:</strong> <strong>(5đ) Làm văn</strong></div><div><em>Trong anh và em hôm nay<br>&nbsp;Đều có một phần Đất Nước<br>&nbsp;Khi hai đứa cầm tay<br>&nbsp;Đất Nước trong chúng mình hài hòa nồng thắm<br>&nbsp;Khi chúng ta cầm tay mọi người<br>&nbsp;Đất nước vẹn tròn, to lớn<br>&nbsp;Mai này con ta lớn lên<br>&nbsp;Con sẽ mang đất nước đi xa<br>&nbsp;Đến những tháng ngày mơ mộng</em></div><div><em>&nbsp;Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình<br>&nbsp;Phải biết gắn bó san sẻ<br>&nbsp;Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở<br>&nbsp;Làm nên Đất Nước muôn đời.</em></div><div><em>( </em>Trích<em> Đất Nước, </em>Nguyễn Khoa Điềm<em>)</em></div><div><strong>Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ trên. Từ đó, nhận xét mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng trong quan niệm về đất nước của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm.</strong></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-06-05 12:45:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2614766044</guid>
      </item>
      <item>
         <title>NLVH ĐN</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2614803399</link>
         <description><![CDATA[<div>a) Mở bài<br>Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ nhà thơ trẻ trưởng thành trong khói lửa của cuộc kháng chiến chống. Mỹ cứu nước. Thơ Nguyễn Khoa Điềm giàu chất suy tư và dồn nén xúc cảm, mang màu sắc chính luận, thể hiện tâm tư của người trí thức về đất nước, con người Việt Nam. Nguyễn Khoa Điềm rất thành công với những sáng tác thơ về đề tài đất nước, tiêu biểu là trường ca “Mặt đường khát vọng”, trong đó có đoạn trích Đất Nước. Mười ba câu thơ của đoạn thơ: <strong>(Luận đề)</strong><br>“Trong anh và em hôm nay<br>…</div><div>Làm nên Đất nước muôn đời”.<br><br></div><div>b) Thân bài<br>Nhà thơ nói về ý thức trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với Đất Nước qua những hình tượng cụ thể, sinh động, gợi cảm sôi nổi và thiết tha. Trường ca “Mặt đường khát vọng” gồm chín chương. “Đất nước” là phần đầu chương V bản trường ca này. Đoạn trích là những suy nghĩ của tác giả về đất nước được nhìn trên nhiều góc độ với tư tưởng chủ đạo là “Đất Nước của Nhân Dân”. Đoạn trích có hai phần. Đoạn thơ trên nằm trong phần đầu đoạn trích “Đất Nước”.</div><div>Phân tích:<br>- Hai câu thơ đầu : tác giả khẳng định ( trích thơ): đất nước hóa thân và kết tinh trong cuộc sống của mỗi người.<br>- Bốn câu thơ tiếp , tiếp tục nói về mối quan hệ gắn bó sâu sắc của mỗi người với đất nước ( trích thơ)&nbsp; Bốn câu thơ liên kết theo mối quan hệ nhân – quả . Đặt vào hoàn cảnh lịch sử năm 1971 tác phẩm ra đời để giải thích.<br>- Khẳng định: có tinh thần đoàn kết, dân tộc sẽ có một đất nước thống nhất, vẹn toàn.<br>-Ba câu thơ tiếp: diễn tả về tương lai của đất nước. ( trích thơ):<br>- Cách nói ẩn dụ: “mai này” khi đất nước không còn giặc ngoại xâm, không còn chiến tranh, thế hệ sau sẽ “gánh vác phần người đi trước để lại”.<br>- Nhà thơ đã gợi ra trách nhiệm của thế hệ hôm nay: phải thức tỉnh, phải đoàn kết để đánh đuổi quân xâm lược. Đồng thời, tác giả đặt niềm tin vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, đặt niềm tin vào thế hệ sau.<br>-Bốn câu thơ cuối : nhà thơ muốn nhắn gửi với mọi người phải biết cống hiến cho Đất nước, tận tụy hết mình để khiển Tổ quốc ngày càng phát triển hơn, tạo âm vang mãi sau này.<br>- Giọng thơ trở nên ngọt ngào, say đắm.<br>- Nhắn nhủ mình, nhưng cũng là nhắn nhủ với mọi người ( nhất là thế hệ trẻ) về trách nhiệm thiêng liêng của mình với đất nước.<br>Tổng kết:</div><div>- Nội dung: Đoạn thơ nói riêng, đoạn trích nói chung đã góp phần vào đề tài Đất Nước trong thơ ca Việt Nam thời kháng chiến một tứ thơ rất đẹp, thấm đẫm dư ba. Thể hiện niềm tin vào tương lai Đất Nước. Đoạn thơ cũng thể hiện tầm cao nhận thức của thế hệ trẻ nguyễn Khoa Điềm về đất nước, nhân dân về sứ mệnh của thế hệ mình.<br>-Nghệ thuật: Đoạn thơ mang tính chính luận, chất trữ tình, hàm ẩn tính công dân trong thời đại mới. Giọng thơ tâm tình ngọt ngào, tứ thơ dạt dào, giàu cảm xúc, sáng tạo về ngôn từ hình ảnh thể hiện một hồn thơ giàu chất suy tư… Những câu thơ theo lối suy tưởng, mệnh lệnh thức nhưng không rơi vào hô khẩu hiệu, khô khan trái lại thấm đẫm cảm xúc ( em ơi em…), cảm giác, hình ảnh sinh động( vẹn tròn to lớn, hài hòa nồng thắm…)<br>- Sức sống, sức lan tỏa tư tưởng, cảm xúc của đoạn thơ, bài thơ. Khẳng định truyền thống yêu nước, tư tưởng đất nước của nhân dân thời đại chống Mỹ cứu nước vẫn được tiếp nối phát huy trong thời đại mới.<br>- Những nhận thức về đất nước, về sứ mệnh với Đất nước của tuổi trẻ ngày nay.<br>- Những biểu hiện đa dạng, phong phú của lòng yêu nước của tuổi trẻ thời đại ngày nay (lí giải những điểm còn hạn chế)<br><br></div><div>c) Kết bài:&nbsp;</div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-06-05 13:21:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2614803399</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phân tích 2 câu thơ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2614843788</link>
         <description><![CDATA[<div>"Trong anh và em hôm nay<br>Đều có một phần Đất Nước"<br>Thao tác lập luận: phân tích, bình luận, so sánh, chứng minh, giải thích...<br><br>Qua hai câu thơ <strong>ngắn gọn nhưng xúc tích</strong> trên, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã nhắn gửi đến mỗi chúng ta một thông điệp đơn giản nhưng đầy ý nghĩa:&nbsp; Đất Nước không ở đâu xa lạ, không tồn tại khách thể mà kết tinh, hóa thân trong cuộc sống của mỗi con người. Với <strong>cách xưng hô tâm tình "anh-em",</strong> ý của tác giả còn có thể hiểu rằng trong mỗi chúng ta đều có một phần những di sản văn hóa, những phong tục tập quán hay những mốc son lịch sử chảy trong máu, mỗi người đều mang một phần đất nước bao la rộng lớn, bao la. <strong>(Cảm xúc = liên hệ, so sánh, đánh giá, cảm nhận - 1 văn bản, hình ảnh khác). Khen phong cách tác giả, thông điệp...</strong></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-06-05 13:59:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2614843788</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đề 11</title>
         <author>lithant</author>
         <link>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2614876805</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Đề 11:</strong></div><div><strong>Phần I: Đọc – hiểu</strong></div><div><strong>Đọc đoạn trích sau:&nbsp;</strong></div><div><em>“Nền tảng của sự thành công nằm ở tính kỷ luật tự giác và được thể hiện thông qua&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; sự tự chủ. Tự chủ là lòng can đảm được sử dụng đúng lúc, là khả năng tự chế ngự và kiểm soát tất cả các trạng thái cảm xúc của bản thân. Nếu ví con người như một chiếc thuyền thì tính tự chủ chính là bánh lái, giữ cho thuyền đi đúng hướng, vượt qua những sóng gió của cuộc đời. Người hạnh phúc nhất chính là người có thể làm chủ được bản thân.</em></div><div><em>Điềm tĩnh là một trong những biểu hiện của sự tự chủ. Người giữ được điềm tĩnh luôn ẩn chứa trong mình nguồn sức mạnh to lớn. Điềm tĩnh giúp con người giữ được sự sáng suốt trong khi những người khác không còn kiên nhẫn. Khi bị ai đó đổ lỗi, khi mọi lời chỉ trích đều dồn về bạn, khi bạn liên tục vấp ngã hay khi bị bạn bè quay lưng…ấy là những lúc bạn cần đến tính tự chủ và sự điềm tĩnh. Biết chế ngự bản thân và giữ được sự điềm tĩnh, bạn sẽ có được bình yên cũng như sẵn sàng đấu tranh cho những mục tiêu cao cả của đời mình. Hãy cố gắng giữ được vẻ bình tĩnh và cái tâm bình thản, sáng suốt trong mọi tình huống, bạn nhé!”.</em></div><div>(Trích <em>“</em><strong><em>Không gì là không có thể” </em></strong><em>- </em>George Matthew Adams, Thu Hằng dịch)</div><div><strong>Thực hiện các yêu cầu sau:</strong></div><div><strong>Câu 1: </strong>Xác định nội dung chính của đoạn trích trên.</div><div>………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………</div><div><strong>Câu 2: </strong>Theo anh/ chị, tại sao tác giả khẳng định:<em>“Người hạnh phúc nhất chính là người có thể làm chủ được bản thân.”</em></div><div><em>…………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………</em></div><div><strong>Câu 3: </strong>Theo tác giả, những lúc nào bạn cần đến tính tự chủ và sự điềm tĩnh?</div><div>………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………</div><div><strong>Câu 4: </strong>Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong câu: <em>“Nếu ví con người như một chiếc thuyền thì tính tự chủ chính là bánh lái, giữ cho thuyền đi đúng hướng,&nbsp; &nbsp; &nbsp; vượt qua những sóng gió của cuộc đời.”</em></div><div><em>……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………</em></div><div><strong>PHẦN II. LÀM VĂN (7.0đ)&nbsp;</strong></div><div><strong>Câu 1 (2đ)</strong>. Anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về <em>ý nghĩa của&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; sự tự chủ </em>trong cuộc sống con người.</div><div>………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………</div><div>…………………………………………………………………………………………………</div><div><strong>Câu 2 (5.0đ).&nbsp;<br></strong><br></div><div><em>Dữ dội và dịu êm</em></div><div><em>Ồn ào và lặng lẽ</em></div><div><em>Sông không hiểu nổi mình</em></div><div><em>Sóng tìm ra tận bể</em></div><div><br></div><div><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; Ôi con sóng ngày xưa</em></div><div><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Và ngày sau vẫn thế</em></div><div><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Nỗi khát vọng tình yêu</em></div><div><em>&nbsp; &nbsp; Bồi hồi trong ngực trẻ</em></div><div>…</div><div><em>Cuộc đời tuy dài thế</em></div><div><em>Năm tháng vẫn đi qua</em></div><div><em>Như biển kia dẫu rộng</em></div><div><em>Mây vẫn bay về xa.</em></div><div><br></div><div><em>Làm sao được tan ra</em></div><div><em>Thành trăm con sóng nhỏ</em></div><div><em>Giữa biển lớn tình yêu</em></div><div><em>Để ngàn năm còn vỗ<br></em><br></div><div><em>(Trích Sóng – Xuân Quỳnh, Ngữ Văn 12, tập 1, NXB Giáo dục, tr.156)</em></div><div>Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp tình yêu trong các khổ thơ trên. Từ đó, rút ra nhận xét về sự vận động của hình tượng sóng và em.</div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-06-05 14:30:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2614876805</guid>
      </item>
      <item>
         <title>SÓNG</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2617122446</link>
         <description><![CDATA[<div>Xuân Quỳnh là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ thời kì chống Mĩ. Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên tươi tắn, vừa chân thành, đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng hạnh phúc bình dị đời thường. Sóng là bài thơ đặc sắc viết về tình yêu rất tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh được tác giả sáng tác năm 1967 trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền. Qua bốn khổ thơ sau đây, ta thấy được vẻ đẹp của tình yêu qua hình ảnh những con sóng, và từ đó thấy được sự vận động của hình tượng sóng và em.&nbsp;<br>I. Thân bài</div><div>1. Bản chất, quy luật của “sóng” và “em”</div><div>- Khổ 1:</div><div>+ Sử dụng nghệ thuật tương phản: dữ dội - dịu êm, ồn ào - lặng lẽ, từ đó khái quát trạng thái đối lập của sóng, gợi liên tưởng đến tâm lí của người phụ nữ khi yêu (khi mãnh liệt khi lại dịu dàng).</div><div>+ Nghệ thuật nhân hóa: “sông không hiểu” được bản tính của sóng, nên “sóng ” muốn tìm đến không gian rộng lớn, hành trình của sóng là hành trình khám phá chính bản thân mình, khát khao vươn tới giá trị tuyệt đích trong tình yêu của người phụ nữ.</div><div>- Khổ 2:</div><div>+ “Ôi con sóng... và ngày sau vẫn thế”: dù trong quá khứ hay hiện tại sóng luôn dạt dào, sôi nổi, luôn khát vọng. Đó cũng là khát vọng và bản tính của người phụ nữ muôn đời.</div><div>+ “Nỗi khát vọng tình yêu... ngực trẻ”: liên hệ tình yêu của tuổi trẻ với con sóng của đại dương, khát vọng tình yêu là khát vọng đặc trưng muôn đời của tuổi trẻ.</div><div>+ “Cuộc đời tuy dài thế / Năm tháng vẫn đi qua”: cảm giác cô đơn nhỏ bé trước cuộc đời, nỗi lo âu về sự hữu hạn của tình yêu trước thời gian vô tận.</div><div>+ “Như biển kia... bay về xa”: cảm giác bất an trước cái dễ đổi thay của lòng người giữa “muôn vời cách trở”. Nhưng đây còn là vượt lên sự lo âu phấp phỏng đặt niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của tình yêu như mây có thể vượt qua biển rộng.<br>+ “Làm sao” gọi sự băn khoăn, khắc khoải, ước ao được hóa thành “trăm con sóng nhỏ” để muôn đời vỗ mãi vào bờ.</div><div>+ Đó là khát khao của người phụ nữ được sống trong “biển lớn tình yêu” bằng tình yêu và cùng tình yêu, khát khao hòa nhập tình yêu riêng tư trong tình yêu chung rộng lớn.<br>III.Tổng quát<br>Có thể nói, với thể thơ năm chữ, âm điệu vừa sâu lắng vừa dạt dào, nghệ thuật nhân hóa, ẩn dụ, đoạn thơ đã cho người đọc thấy được một tâm hồn yêu chân thành, chân thực, mãnh liệt, rất nữ tính những cũng đầy chủ động – đây là điểm mới mẻ, hiện đại và táo bạo trong thơ Xuân Quỳnh.</div><div>IV:Sự vận động của hình tượng sóng và em:<br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-06-07 13:14:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2617122446</guid>
      </item>
      <item>
         <title>NLVH Sóng</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2617138058</link>
         <description><![CDATA[<div>I. Mở bài<br>Xuân Quỳnh là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ thời kì chống Mĩ cứu nước, là thi sĩ của tình thương, lòng trắc ẩn và hồn thơ nữ tính.<strong> Trong sự nghiệp của tác giả nổi bật nhất là tác phẩm Sóng là bài thơ viết về tình yêu tiêu biểu cho hồn thơ giàu chất nữ tính của Xuân Quỳnh.</strong><br>Thiếu <strong>luận đề</strong> + <strong>trích thơ</strong><br>II. Thân bài<br>Bài thơ được in trong tập “Hoa dọc chiến hào”, viết khi bà đứng trước biển Diêm Điền. Lúc này Xuân Quỳnh đang ở độ tuổi 25, vừa trải qua những đổ vỡ trong tình yêu. Người phụ nữ ở độ tuổi này có suy nghĩ rất chín về tình yêu; mặt khác cũng thấy được ý thức của cái “tôi” bên cạnh cái ta chung. Tác giả cũng không đặt tình yêu trong quan hệ cảm tính một chiều mà thể hiện khát vọng tình yêu như một nhu cầu tự nhận thức, khám phá.<br><br><em>~ Mở đầu bài thơ là trạng thái tâm lý đặc biệt của một tâm hồn khao khát yêu đương đang tìm đến một tình yêu rộng lớn hơn.<br>- Sử dụng nghệ thuật tương phản: dữ dội – dịu êm, ồn ào – lặng lẽ, từ đó khái quát trạng thái đối lập của sóng, gợi liên tưởng đến tâm lí của người phụ nữ khi yêu (khi mãnh liệt khi lại dịu dàng).<br>- Nghệ thuật nhân hóa: “sông không hiểu” được bản tính của sóng, nên “sóng ” muốn tìm đến không gian rộng lớn, hành trình của sóng là hành trình khám phá chính bản thân mình, khát khao vươn tới giá trị tuyệt đích trong tình yêu của người phụ nữ. “Ôi con sóng... và ngày sau vẫn thế”: dù trong quá khứ hay hiện tại sóng luôn dạt dào, sôi nổi, luôn khát vọng. Đó cũng là khát vọng và bản tính của người phụ nữ muôn đời.<br>- “Nỗi khát vọng tình yêu... ngực trẻ”: liên hệ tình yêu của tuổi trẻ với con sóng của đại dương, khát vọng tình yêu là khát vọng đặc trưng muôn đời của tuổi trẻ. “Cuộc đời tuy dài thế/Năm tháng vẫn đi qua”: cảm giác cô đơn nhỏ bé trước cuộc đời, nỗi lo âu về sự hữu hạn của tình yêu trước thời gian vô tận. “Như biển kia... bay về xa” : cảm giác bất an trước cái dễ đổi thay của lòng người giữa “muôn vời cách trở”. Nhưng đây còn là vượt lên sự lo âu phấp phỏng đặt niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của tình yêu như mây có thể vượt qua biển rộng. “Làm sao” gọi sự băn khoăn, khắc khoải, ước ao được hóa thành “trăm con sóng nhỏ” để muôn đời vỗ mãi vào bờ. Đó là khát khao của người phụ nữ được sống trong “biển lớn tình yêu” bằng tình yêu và cùng tình yêu, khát khao hòa nhập tình yêu riêng tư trong tình yêu chung rộng lớn.<br>- Nhận xét: Bài thơ là sự cảm nhận về tình yêu từ hình tượng sóng với tất cả những sắc thái, cung bậc (nỗi nhớ, sự thủy chung, trắc trở) và cả khát vọng vĩnh cửu hóa tình yêu của một tâm hồn phụ nữ luôn chân thành, khát khao hạnh phúc.<br>- Nghệ thuật<br>+ Thể thơ ngũ ngôn liền mạch<br>+ Xây dựng thành công hình tượng “sóng”<br>+ Biện pháp nhân hóa, ẩn dụ, đối lập - tương phản,...<br>+ Ngôn từ, hình ảnh trong sáng bình dị<br>+ Cách ngắt nhịp linh hoạt, phóng khoáng<br>+ Cách gieo vần, phối âm độc đáo, giàu sức liên tưởng<br>+ Giọng thơ phong phú, vừa thiết tha, đằm thắm, vừa mãnh liệt sôi nổi, vừa hồn nhiên, nữ tính</em><br><br>III. Kết bài<br>Qua hình tượng sóng diễn tả tình yêu thiết tha, nồng nàn của người phụ nữ, Xuân Quỳnh đã thể hiện quan niệm tình yêu mới mẻ, hiện đại: sự chủ động của người phụ nữ trong tình yêu nhưng vẫn giữ được nét truyền thống. Sóng là một bài thơ tình yêu rất tiêu biểu cho tư tưởng và phong cách thơ Xuân Quỳnh ở giai đoạn đầu. Một bài thơ vừa xinh xắn, duyên dáng, vừa mãnh liệt, sôi nổi, vừa hồn nhiên, trong sáng, vừa ý nhị sâu xa. Sau này khi đã nếm trải nhiều cay đắng trong tình yêu, giọng thơ Xuân Quỳnh không còn phơi phới bốc men say nữa, nhưng cái khát vọng tình yêu vẫn tồn tại mãi mãi trong trái tim tràn ngập yêu thương của nhà thơ.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-06-07 13:29:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2617138058</guid>
      </item>
      <item>
         <title>ĐỌC HIỂU+NLXH</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2617215358</link>
         <description><![CDATA[<div>Câu 1) Đoạn trích trên muốn nói đến sự quan trọng của một trong những biểu hiện của sự tự chủ-điềm tĩnh, từ đó cho ta thấy đó chính là nền tảng của sự thành công.<br>Câu 2) Theo em, tác giả khẳng định:"Người hạnh phúc nhất chính là người có thể làm chủ được bản thân." là bởi vì khi chúng ta có thể kiểm soát hành vi, thái độ của mình thì ta sẽ có thể thay đổi cách chúng ta nhìn cuộc sống, tiếp cận sự vật sự việc ở những khía cạnh khác nhau, và từ đó cảm thấy sự hạnh phúc trong tâm chính mình.<br>Câu 3) Theo tác giả, những lúc bạn cần đến tính tự chủ và sự điềm tĩnh là:"Khi bị ai đó đổ lỗi, khi mọi lời chỉ trích đều dồn về bạn, khi bạn liên tục vấp ngã hay khi bị bạn bè quay lưng..."<br>Câu 4) Biện pháp tu từ trong câu:"..." là phép so sánh, so sánh con người như mốt chiếc thuyền, tính tự chủ là bánh lái. Tác dụng: tăng tính gợi hình, gợi cảm, nhấn mạnh ý của tác giả về tầm quan trọng của tính tự chủ đối với con người trước những thử thách của cuộc sống:<br><br>NLXH:<br>         Dưới những thử thách, những biến đổi xảy ra liên tục trong cuộc sống hằng ngày, điều thiết thực với mỗi chúng ta là làm sao để giữ được cái đầu lạnh, có được sự tự chủ trong hành vi cũng như nhận thức để đương đầu với những điều ấy. Vì thế nên sự tự chủ có ý nghĩa rất quan trọng trong cuộc sống con người. Sự tự chủ nói một cách dễ hiểu là khả năng mỗi chúng ta tự làm chủ những hành động, suy nghĩ của bản thân trong những tình huống cần thiết để tránh làm rối vấn đề và đưa ra được giải pháp, góc nhìn, hướng tiếp cận tốt nhất tới sự việc cần giải quyết. Có được sự tự chủ không chỉ giúp chúng ta kiểm soát được sự bồng bột hay những ý nghĩ chưa được kĩ lưỡng mà nó còn giúp ta ngẫm lại vấn đề, đưa ra hướng giải quyết tốt nhất. Tiếp đó, nếu anh có được sự tự chủ trong cuộc sống thì những người xung quanh anh sẽ nhìn nhận anh khác đi, họ sẽ xem anh là một người biết suy nghĩ chín chắn, có những hướng tiếp cận phù hợp. Mở rộng ra hơn, nếu một xã hội, một đất nước có nhiều người hướng đến sự tự chủ thì chẳng phải đất nước, xã hội đó sẽ càng phát triển, càng thịnh vượng hơn sao ? Giả dụ như một số trường đại học đã tách ra để có thể tự chủ tài chính, từ đó dễ dàng hơn trong việc quản lí học phí, nâng cao cơ sở vật chất và cải thiện đời sống sinh viên. Có thể thấy, sự tự chủ có ý nghĩa quan trọng hơn là ở phạm vi cá nhân, nó có sự ảnh hướng đến chúng ta trong mọi lĩnh vực xã hội. Ấy thế mà trong cuộc sống hiện nay, một bộ phận giới trẻ thường rất ỷ lại, từ ỷ lại vào điều kiện tài chính gia đình hay ỷ lại vào điều kiện gia đình mà nhếch nhác không chịu năng nổ kiếm việc làm hay cơ hội học tập cho chính mình. Là học sinh, tôi nhận thức được tầm quan trọng cũng như ý nghĩa của sự tự chủ với cuộc sống mỗi người nên sẽ không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao tính độc lập, sự tự chủ bản thân để cải thiện tương lai.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-06-07 14:40:59 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2617215358</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Sóng, 4 câu thơ đầu</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2619312136</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em>Tình yêu - một đề tài từng làm rung động trái tim biết bao người và ngân lên thành lời thơ nhân loại, mỗi một nhà thơ tìm đến một cách thể hiện khác nhau. Và trong đó, nổi bật nhất là Xuân Quỳnh. Bà là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ thời kì chống Mĩ cứu nước, là thi sĩ của tình thương, lòng trắc ẩn và hồn thơ nữ tính. Trong tiếng thơ của Xuân Quỳnh luôn thổn thức nỗi lòng yêu thương trân thành, mãnh liệt nhưng chứa chan âu lo, dự cảm chẳng lành. </em></strong>Trong sự nghiệp của tác giả nổi bật nhất là tác phẩm Sóng và khi đến với Sóng, hồn thơ ấy lại được thể hiện đậm nét hơn qua bốn câu thơ đầu:<br><br>“Dữ dội và dịu êm<br>Ồn ào và lặng lẽ<br>Sông không hiểu nổi mình<br>Sóng tìm ra tận bể”<br><br>Qua đó chứa chan khát vọng tha thiết, nhiệt thành và cả những chông chênh của người phụ nữ trong tình yêu.<br>Sóng được sáng tác năm 1967 trong chuyến đi công tác vùng biển Diêm Điền. Tác phẩm được in trong tập Hoa dọc chiến hào. Trước khi Sóng ra đời, Xuân Quỳnh đã từng nếm trải những đổ vỡ trong tình yêu. Đây là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ và phong cách thơ Xuân Quỳnh. Khi đến với 4 câu thơ khởi đầu bài thơ, ta có thể thấy được những cung bậc cảm xúc của người phụ nữ đang yêu và thể hiện một quan niệm mới về tình yêu - yêu là nhận thức, là vươn tới sự cao rộng lớn lao:<br><br>“Dữ dội và dịu êm<br>Ồn ào và lặng lẽ”<br><br>Hai câu thơ đầu với nghệ thuật đối: “dữ dội” với “dịu êm”, “ồn ào” với “lặng lẽ” đã tạo nên vẻ đẹp của những con sóng biển ngàn đời đối cực. Những lúc biển động, bão tố phong ba thì biển dữ dội, ồn ào, còn những giây phút sóng gió đi qua thì biển lại hiền hòa trở về dịu êm, lặng lẽ. Đó là tính cách đa dạng của sóng và cũng là những sắc điệu tâm hồn muôn màu, muôn vẻ của người phụ nữ khi yêu. Xuân Quỳnh đã mượn nhịp sóng để thể hiện nhịp lòng của chính mình trong một tâm trạng bùng cháy ngọn lửa mãnh liệt của tình yêu. Tình yêu của người con gái có bao giờ yên định bởi có lúc họ yêu rất dữ dội, yêu mãnh liệt, hết mình với những nhớ nhung, đôi khi thậm chí ghen tuông, giận hờn vô cớ, nhưng cũng có lúc người con gái thu mình trở về với nét nữ tính, đáng yêu, họ lặng lẽ, dịu êm chiêm nghiệm. Không chỉ dừng ở đó, tác giả còn tiếp tục với những hình ảnh trong hai câu thơ kế tiếp:<br><br>“Sông không hiểu nổi mình<br>Sóng tìm ra tận bể.”<br><br>Ba hình ảnh “sông”, “sóng”, ”bể” như là những chi tiết bổ sung cho nhau: “sông” và “bể” làm nên “sóng”. Sóng chỉ thực sự có đời sống riêng khi ra khơi mênh mông, rộng lớn vì mạch sóng mạnh mẽ như bứt phá không gian chật hẹp để khát khao một không gian lớn lao. Hành trình tìm ra tận bể chứa sức sống tiềm tàng, bền bỉ để vươn tới giá trị&nbsp; của chính mình. Sóng không cam chịu một cuộc sống chật hẹp, tù túng, nên nó làm một cuộc hành trình ra biển khơi bao la để thảo sức vẩy vùng. Tình yêu của Xuân Quỳnh cũng vậy, vươn lên trên tất cả mọi sự nhỏ hẹp tầm thường để được sống với tình yêu cao cả rộng lớn, bao dung và từ đó, cho thấy một quan điểm tình yêu tiến bộ và mạnh mẽ của người phụ nữ hiện đại.<br><br>Qua đoạn trích trên, ta có thể thấy Xuân Quỳnh đã vận dụng thành công thủ pháp nghệ thuật nhân hóa, ẩn dụ, so sánh, đối lập kết hợp với thể thơ ngũ ngôn giàu nhịp điệu. Tất cả đã tạo nên một vẻ đẹp mang đậm phong cách và cá tính của tác giả thông qua những trắc trở, suy tư và khát vọng trong tình yêu.<br><br>Đoạn thơ mở đầu cho thấy một hình tượng người phụ nữ hiện đại với sóng. Sóng mang ý nghĩ biểu trưng cho những trạng thái cảm xúc của người phụ nữ đang yêu. Các câu thơ mặc dù ngắn về số lượng từ nhưng lại có sức cô đọng và giàu giá trị gợi hình gợi tả và đồng thời đã khắc họa thành công tâm trạng của người phụ nữ đang đắm chìm trong một tình yêu đằm thắm, tha thiết cùng khát vọng về sự thủy chung.&nbsp;<br><br>Sóng là một bài thơ có cấu tứ đơn giản, câu từ mộc mạc nhưng đã bộc lộ được hết những tâm trạng của con người khi yêu, đặc biệt ấy là tâm trạng của người phụ nữ. Cho chúng ta thấy những quan điểm rất tiến bộ của Xuân Quỳnh trong tình yêu, khuyến khích người phụ nữ làm chủ cuộc đời mình, tự tin tìm kiếm hạnh phúc. Đồng thời cũng luôn tôn trọng và giữ gìn những phẩm chất truyền thống tốt đẹp, ấy là tấm lòng thủy chung, son sắt, sự dịu dàng, thấu hiểu trong tình yêu lứa đôi muôn đời.<br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-06-09 12:44:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2619312136</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tây Tiến, khổ 1</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2619329637</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em>Dẫn đoạn - luận điểm: Qua khổ đầu tiên ta thấy dc nỗi nhớ + thiên nhiên miền Tây. </em></strong><br>1. Chiến tranh luôn là đề tài màu mỡ để mỗi khi nhà thơ cất lời, nhà văn chia sẻ đều khiến người đọc được soi mình trở lại một thời kì vàng son, trở lại với những mốc son lịch sử vĩ đại vệ quốc. Nơi đó in hằn dấu chân của người lính, có những nỗi nhớ miên viễn với bao kỉ niệm, có cả một khung trời đầy sắc mà mỗi góc hình đều mang dấu ấn bi tráng anh hùng. Quang Dũng đã lựa chọn như thế để mở đầu cho bài thơ: <br>"..."<br>2. "Hôm qua còn theo anh đi ra đường quốc lộ<br>Hôm nay đã chặt cành đắp cho người dưới mộ"<br>Những câu thơ quặng thắt lòng khi ghi lại kỉ niệm thương đau khi người lính phải chứng kiến đồng đội mình ngã xuống. Chiến tranh đâu chỉ có màu vàng son rực rỡ, mà nó còn cả màu vàng thẫm gợi nhớ những năm tháng không thể nào quên. Vì thế, bằng ngòi bút của người lính mang trong mình tính cách của các chàng thanh niên học sinh, họ tinh nghịch, cảm xúc nên mỗi bước hành quân đều trở thành kỉ ức sống động. Họ lưu giữ bằng nhiều cách, và Quang Dũng chọn vần thơ để lắng lại:<br>"..."<br><strong><em>Quang Dũng là nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Các tác phẩm của ông luôn thu hút đọc giả với phong cách thơ hồn nhiên, tinh tế hào hoa, phóng khoáng và lãng mạn. Tác phẩm “Tây Tiến” tiêu biểu cho phong cách ấy của ông. Bài thơ khắc họa một cách sinh động hình tượng người lính Tây Tiến vừa hào hùng vừa hào hoa.</em></strong> Trong đó, Quang Dũng đã làm nổi bật bức tranh hành quân và một khúc tráng ca bất tử về một thời Tây Tiến qua khổ đầu tiên:</div><div>“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!</div><div>Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi</div><div>Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi</div><div>Mường Lát hoa về trong đêm hơi”</div><div>&nbsp;Được viết vào năm 1948 khi ở Phù Lưu Chanh ( Hà Tây), 8 câu thơ đầu của bài Tây Tiến ghi ấn mãi trong lòng người đọc bởi đã tái hiện lại con đường hành quân giữa núi rừng Tây Bắc hiểm trở, khắc nghiệt, hùng vĩ và thơ mộng. Bên cạnh đó, bài thơ chính là tiêu biểu cho một phong cách sáng tác rất riêng của Quang Dũng.&nbsp; &nbsp; &nbsp;<br>&nbsp;Trong lúc tháng năm đang cuồn cuộn chảy trôi, tất cả hối hả về phía trước, thì nỗi nhớ của Quang Dũng lại ùa về và tua chậm như một cuốn phim ngày cũ. Khi cảm xúc trào dâng thì những câu thơ xuất hiện:</div><div>“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi</div><div>Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Mở đầu đoạn thơ là nỗi nhớ thiết tha về “sông Mã”, về “Tây Tiến”. Nỗi nhớ ấy phải khắc khoải lắm thì tác giả đã sử dụng phép điệp từ " nhớ". " Cách hiệp vần "ơi" trong “Tây Tiến ơi”, “nhớ chơi vơi”, “trong đêm hơi” làm cho hai câu thơ đầu như ngân vang, phù hợp với biên độ của cảm xúc. Chỉ vỏn vẹn trong một câu thơ, Quang Dũng đã khiến độc giả cảm nhận rõ nét nỗi nhớ da diết về vùng rừng núi Tây Bắc.<br>&nbsp; &nbsp;Hai câu thơ đầu bài thơ “Tây Tiến” là khúc dạo đầu của nỗi nhớ thương, là hồi chuông đánh thức những hoài niệm, vọng vang trong trái tim nhà thơ Quang Dũng. Để rồi độc giả được một phen tắm mình trong nỗi nhớ đằm sâu, bồng bềnh như sương khói, vương vấn, lan tỏa đến tâm can.<br>&nbsp;Một vùng trời nơi núi rừng miền Tây và chặng đường hành quân gian nan vất vả được phục dựng bằng nỗi nhớ của cựu chiến binh Tây Tiến. Và dường như nhà thơ đã truyền sức sống cho miền đất ấy, để rồi người đọc như bước cùng chiến sĩ năm xưa, qua bao dặm đường thăm thẳm và heo hút, dữ dội và hoang sơ. Hai câu thơ tiếp gợi lại hình ảnh đoàn quân hành quân trong đêm:&nbsp;</div><div>“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi</div><div>Mường Lát hoa về trong đêm hơi”</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Hai câu thơ vừa tả thực, vừa sử dụng bút pháp lãng mạn.&nbsp; Những từ chỉ địa danh Sài Khao, Mường Lát gợi ra địa bàn rộng lớn, đầy lạ lẫm đối với người lính Tây Tiến. Sương mù vùng cao dày đặc như trùm lấp bước chân, xoá mờ đi bóng dáng binh đoàn. Và những người lính vốn đang mỏi mệt, rệu rã vì chặng đường dài gian khổ. Quang Dũng đã nhìn thấy và miêu tả một mảng hiện thực khuất lấp trong thơ ca kháng chiến. Những người lính ấy, dù mệt mỏi mà tâm hồn vẫn trẻ trung, hào hoa, lạc quan, yêu đời. Hình ảnh "hoa về trong đêm hơi" là hình ảnh đẹp giàu sức gợi. Đó có thể là những ánh đuốc sáng lung linh của đoàn quân đang tiến về bản làng, cũng có thể là hình ảnh đoàn quân từ rừng đi ra, trên tay vẫn cầm theo những đóa hoa rừng ngát hương. Hay cũng có thể là hình ảnh ẩn dụ về đoàn quân Tây Tiến như những bông hoa rừng. Đoàn quân ấy hành quân trong một " đêm hơi" đầy huyền ảo, mơ hồ, bảng lảng khói sương chốn rừng suối. Hai câu thơ in đậm dấu ấn tài hoa, lãng mạn của Quang Dũng.</div><div>&nbsp; &nbsp; Với cảm hứng lãng mạn tài hoa, Quang Dũng đã khắc họa thành công bức tranh thiên nhiên núi rừng Tây Bắc. Cảm ơn nhà thơ đã để lại cho kho tàng văn học Việt Nam một tác phẩm hay và ý nghĩa. Khói lửa chiến tranh đã qua đi, lịch sử dân tộc cũng đã bước sang trang mới thế nhưng đoàn quân Tây Tiến vẫn còn đó, sống mãi trong trang thơ Quang Dũng.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-06-09 13:07:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2619329637</guid>
      </item>
      <item>
         <title>ĐỀ PHÂN TÍCH MẪU </title>
         <author>lithant</author>
         <link>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2619349611</link>
         <description><![CDATA[<div><em>Đêm đọc sách gặp lại thầy lại bạn</em></div><div><em>Hiểu rõ ra mình dốt nát vô cùng</em></div><div><em>Còn ngu muội u mê chưa sáng</em></div><div><em>Biết cố lên hướng thượng đến muôn trùng.</em></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-06-09 13:34:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2619349611</guid>
      </item>
      <item>
         <title>ĐỀ PHÂN TÍCH MẪU</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2619396988</link>
         <description><![CDATA[<div><br>Như Lenin từng nói:"Học, học nữa, học mãi" hay như ngạn ngữ dân gian có câu "Đi một ngày đàng học một sàng khôn", thì việc học có thể được hấp thụ qua bất kì hình thức nào, cho dù là qua một việc đơn giản đó là đọc sách vào buổi đêm.<br>-trích thơ-<br>Chỉ qua một việc đơn giản là đọc sách thôi mà tác giả đã gặp lại "thầy" và "bạn", thoạt lướt qua ta cứ tưởng đây là thầy cô và bạn bè trên giảng đường, nhưng không, thầy và bạn ở đây là những bài học, những kinh nghiệm được truyền tải lại qua câu chữ, chúng được ví như là một người thầy, một người bạn của tác giả. Với việc sử dụng phép ẩn dụ một cách tài tình như vậy, ta có thể thấy thái độ của tác giả qua con chữ, qua một quyển sách là sự trân trọng cũng như coi nó như người hướng dẫn cho mình.<br>Và nhờ có việc đọc sách như vậy thì chủ thể mới nhận ra sự thiếu xót của mình, sự thiếu hiểu biết "dốt nát vô cùng". Đúng là chỉ có qua sách vở ta mới biết được mình thiếu xót những gì, cần bổ sung những gì. Và chỉ qua sự đọc mà ta rõ được những "ngu muội u mê còn chưa sáng" để cải thiện bản thân, trở thành phiên bản tốt hơn của mình. Và chỉ sau khi ta đọc được những bài học, những kinh nghiệm và thấu được cái sự thiếu hiểu biết của mình thì ta mới biết đặt mục tiêu hướng về phía trước, hướng về đích đến cao hơn để nâng tầm hiểu biết, để mở rộng vốn tri thức của mình.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-06-09 14:36:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2619396988</guid>
      </item>
      <item>
         <title>ĐỀ LÝ LUẬN </title>
         <author>lithant</author>
         <link>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2621092969</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>I. ĐỌC HIỂU </strong><strong><em>(3,0 điểm)</em></strong></div><div>Đọc đoạn trích dưới đây và thực hiện các yêu cầu:</div><div><em>Những dấu chân lùi lại phía sau&nbsp;<br>&nbsp;Dấu chân in trên đời chúng tôi những tháng năm trẻ nhất&nbsp;<br>&nbsp;Mười tám hai mươi sắc như cỏ&nbsp;<br>&nbsp;Dày như cỏ&nbsp;<br>&nbsp;Yếu mềm và mãnh liệt như cỏ&nbsp;<br>&nbsp;Cơn gió lạ một chiều không rõ rệt&nbsp;<br>&nbsp;Hoa chuẩn bị âm thầm trong đất&nbsp;<br>&nbsp;Nơi đó nhất định mùa xuân sẽ bùng lên&nbsp;<br>&nbsp;Hơn một điều bất chợt&nbsp;<br>&nbsp;Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình&nbsp;<br>&nbsp;(Những tuổi hai mươi làm sao không tiếc)&nbsp;<br>&nbsp;Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc?</em></div><div>(Trích: Trường ca <strong><em>Những người đi tới biển</em></strong> – Thanh Thảo)</div><div><strong>Câu 1.</strong> Tuổi trẻ Việt Nam trong những năm tháng kháng chiến chống Mĩ được tác giả miêu tả qua những từ ngữ, hình ảnh nào? <em>(0,5 điểm)</em></div><div><strong>Câu 2.</strong> Nêu tác dụng của biện pháp so sánh được sử dụng trong các câu thơ “<em>Mười tám hai mươi sắc như cỏ/Dày như cỏ/Yếu mềm và mãnh liệt như cỏ”. (0,75 điểm)<br></em><strong>Câu 3.</strong> Anh/chị hiểu như thế nào về nội dung câu thơ: “<em>Hoa chuẩn bị âm thầm trong đất/Nơi đó nhất định mùa xuân sẽ bùng lên”?</em> <em>(0,75 điểm)</em></div><div><strong>Câu 4.</strong> Điều anh/chị tâm đắc nhất trong đoạn trích trên là gì? <em>(1,0 điểm)</em></div><div><strong>II. LÀM VĂN </strong><strong><em>(7,0 điểm)</em></strong></div><div><strong>Câu 1. </strong><em>(2,0 điểm)</em><br>&nbsp; &nbsp; Hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về câu thơ được nêu trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu:&nbsp;</div><div>“<em>Những tuổi hai mươi làm sao không tiếc&nbsp;<br> Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc?”&nbsp;</em></div><div><strong>Câu 2. </strong><em>(5,0 điểm)</em><strong>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;</strong><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<em>Tuỳ bút Sông Đà là thành quả nghệ thuật đẹp đẽ mà Nguyễn Tuân đã thu hoạch được trong chuyến đi gian khổ và hào hứng tới miền Tây Bắc rộng lớn, xa xôi của Tổ quốc, nơi ông đã khám phá ra chất vàng của thiên nhiên cùng “thứ vàng mười đã qua thử lửa” ở tâm hồn của những người lao động.<br></em><br></div><div>Anh (chị) hãy làm rõ “<em>thứ vàng mười đã qua thử lửa</em>” ở nhân vật người lái đò trong tuỳ bút “<em>Người lái đò sông Đà</em>” của Nguyễn Tuân.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-06-12 12:27:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2621092969</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đọc Hiểu</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2621111295</link>
         <description><![CDATA[<div>Câu 1: Tuổi trẻ Việt Nam trong những năm tháng kháng chiến chống Mĩ được tác giả miêu tả qua những từ ngữ, hình ảnh:</div><div>- Những tháng năm trẻ nhất</div><div>- Sắc như cỏ</div><div>- Dày như cỏ</div><div>- Yếu mềm và mãnh liệt như cỏ</div><div>- Cơn gió lạ</div><div>- Không tiếc đời mình<br><br></div><div>Câu 2: Tác dụng của biện pháp so sánh được sử dụng trong các câu thơ: Muốn nói tới tinh thần, ý chí của người trẻ mang trong mình, tuy mềm nhưng vững mạnh, dày vì sự đoàn kết của những thanh niên trẻ. Họ có thể tiếc tuổi xuân nhưng họ không ích kỉ mà cống hiến nó vì dân tộc, vì nhân dân, vì ước mơ cao cả gìn giữ non sông.<br><br></div><div>Câu 3: Nội dung câu thơ muốn nói đến việc người trẻ là hoa sẽ không ngừng rèn luyện mình. Họ đã chuẩn bị sẵn thứ vũ khí sắc bén nhất là niềm tin, là ý chí nghị lực kiên cường trong mình một cách âm thầm chờ đợi. Và từ đó họ sẽ làm nên mùa xuân tươi đẹp cho dân tộc từ tuổi trẻ của mình.&nbsp;<br><br></div><div>Câu 4: Điều ý nghĩa nhất đối với em đó là thông điệp về sự cống hiến, cho đi. Chỉ khi biết hi sinh, biết mở rộng trái tim yêu thương của mình và cống hiến cho đất nước, cho xã hội thì cuộc đời mới tươi đẹp và ý nghĩa, không tiếc nuối.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-06-12 12:48:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2621111295</guid>
      </item>
      <item>
         <title>ĐỀ LÝ LUẬN VĂN HỌC</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2621116074</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp;Trong bối cảnh xã hội đầy biến động hiện nay, việc sẵn sàng trong công tác bảo vệ Tổ quốc đang được đặt lên hàng đầu, ấy thế mà nhiều bạn trẻ vì tương lai sự nghiệp của mình mà khước từ nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc thiêng liêng, cao cả đó. Họ không nhận ra rằng nếu đất nước có mệnh hệ gì thì lúc đó chả còn gì quan trọng cả. Bởi thế nên trong trường ca Những người đi tới biển của nhà thơ Thanh Thảo có câu:<br>"Những tuổi hai mươi làm sao không tiếc<br>Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc ?"<br>Trường ca được viết trong thời kì kháng chiến chống Mỹ, tức là gần nửa thế kỉ trước, khi nhân dân cả hai miền vừa phải xây dựng đất nước, vừa phải "đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào", và những thế hệ tiên phong lăn xả bảo vệ Tổ quốc lại là những lớp sinh viên rất trẻ, rất nhiều hoài bão. Họ đã sẵn sàng gác lại sự nghiệp học hành để ra mặt trận, "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh". Qua đó ta có thể thấy được tinh thần yêu nước mãnh liệt-thứ đã chảy trong dòng máu người Việt từ thuở khai thiên lập địa, những ý chí bất khuất, kiên cường ngày ấy vẫn còn lưu lại sử sách sau này để các thế hệ đi sau như em noi gương và tiếp bước. Ôi tuổi hai mươi, thanh xuân một đời người quá đẹp, bỏ đi thì tiếc nuối là lẽ thường tình, nếu mà ai cũng tiếc thanh xuân tươi đẹp ấy mà không nghĩ rộng hơn, nghĩ cho quê cha đất mẹ, nghĩ cho đồng bào thì lúc đó còn gì một đất nước để họ nuôi dưỡng cái thanh xuân đâu. Chỉ qua hai câu thơ đó , nhà thơ Thanh Thảo đã đặt ra câu hỏi cho không chỉ thế hệ trẻ của thời đó, mà đặt ra câu hỏi cho thế hệ trẻ bây giờ, và kể cả mai sau về trách nhiệm, về nghĩa vụ thiêng liêng và cao cả của lớp trẻ với Tổ quốc.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-06-12 12:54:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2621116074</guid>
      </item>
      <item>
         <title>NLXH</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2621151052</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;Trong bối cảnh xã hội đầy biến động hiện nay, việc sẵn sàng trong công tác bảo vệ Tổ quốc đang được đặt lên hàng đầu, ấy thế mà nhiều bạn trẻ vì tương lai sự nghiệp của mình mà khước từ nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc thiêng liêng, cao cả đó. Họ không nhận ra rằng nếu đất nước có mệnh hệ gì thì lúc đó chả còn gì quan trọng cả. Bởi thế nên trong trường ca Những người đi tới biển của nhà thơ Thanh Thảo có câu:<br>"Những tuổi hai mươi làm sao không tiếc<br>&nbsp;Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc ?"<br>Với hai câu thơ ngắn gọn trên, nhà thơ đã đặt ra câu hỏi về trách nhiệm và nghĩa vụ của giới trẻ trong công cuộc bảo bảo vệ vùng đất quê hương. Bởi lẽ đất nước là nơi chôn nhau cắt rốn của toàn bộ công dân một nước, thế nên việc phải đứng lên bảo vệ nó là điều không phải bàn cãi. Khi chúng ta nhận thức được trách nhiệm bản thân trong việc bảo đảm an ninh của đát nước, những việc chúng ta làm đều hướng tới một mục tiêu là bảo vệ quê hương và đám bảo sự phát triển của dải đất hình chữ S này. Nếu tất cả mọi người, bất kể độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp,...đều có ý thức về tầm quan trọng của bản thân đối với đất nước thì sớm thôi quốc gia sẽ phát triển thịnh vượng hơn, bởi nó đang được bảo vệ và thúc đẩy bởi những người yêu nước. Như thế hệ cha ông ta thời kháng chiến chống Mỹ, cụ thể là sinh viên đại học Bách Khoa năm xưa đã sẵn sàng "xếp bút nghiên lên đường chiến đấu", họ gác lại sự nghiệp học hành, gác lại tương lai, "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh". Và chính nhờ tinh thần yêu nước ấy mà nhân dân ta đã làm rung động địa cầu với những chiến thắng lẫy lừng chống lại các thể loại quân xâm lược. Điều đó đặt ra câu hỏi cho một bộ phận giới trẻ thờ ơ với trách nhiệm đó, liệu dấn thân cho tiền tài danh vọng mà bỏ đi sứ mệnh với Tổ quốc có đáng hay không khi chính Tổ quốc là nơi nuôi dưỡng, là nơi cho họ được phát triển. Ôi tuổi hai mươi, thanh xuân một đời người quá đẹp, bỏ đi thì tiếc nuối là lẽ thường tình, nếu mà ai cũng tiếc thanh xuân tươi đẹp ấy mà không nghĩ rộng hơn, nghĩ cho quê cha đất mẹ, nghĩ cho đồng bào thì lúc đó còn gì một đất nước để họ nuôi dưỡng cái thanh xuân đâu. Chỉ qua hai câu thơ đó , nhà thơ Thanh Thảo đã đặt ra câu hỏi cho không chỉ thế hệ trẻ của thời đó, mà đặt ra câu hỏi cho thế hệ trẻ bây giờ, và kể cả mai sau về trách nhiệm, về nghĩa vụ thiêng liêng và cao cả của lớp trẻ với Tổ quốc.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-06-12 13:30:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2621151052</guid>
      </item>
      <item>
         <title>NLVH</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2621218879</link>
         <description><![CDATA[<div><em>Bài tùy bút Người lái đò sông Đà nằm trong tập tùy bút Sông Đà của Nguyễn Tuân. Bài tùy bút chủ yếu tập trung miêu tả con sông Đà và người lái đò. Bằng ngòi bút khéo léo của mình, Nguyễn Tuân đã cho người đọc cảm nhận được hình tượng người lái đò sông Đà hiện lên như một người nghệ sĩ tài ba khéo léo vượt qua những thạch trận nhung hiểm mà con sông Đà đã bày binh bố trận. Qua đó ta thấy rõ "chất vàng mười đã qua thử lửa" ở tâm hồn người lao động qua ngòi bút Nguyễn Tuân.</em></div><div><strong><em>Bài kí được ra đời khi miền Bắc bước vào giai đoạn xây dựng đất nước sau chiến tranh, là kết quả của quá trình đi thực tế lên vùng núi Tây Bắc năm 1958 của Nguyễn Tuân để kiếm thứ "vàng mười"-chất vàng trong lao động đời sống hằng ngày. Qua đó càng nhấn mạnh thêm khi nói tác giả là một người suốt đời đi tìm cái đẹp, dù ở khía cạnh thẩm mỹ ở sự vật hay khía cạnh tài năng nơi con người, Nguyễn Tuân đều muốn khai thác triệt để. Để có thể nhìn rõ hơn về đề tài này, Nguyễn Tuân đã thành công miêu tả hình tượng ông đò tài hoa, dũng trí khi đối đầu với Đà giang.</em></strong></div><div>Chở đò là một nghệ thuật cao cường đòi hỏi sự thông minh, khôn khéo và trí dũng, tài ba. Ông lái đò là người dân vùng núi Tây Bắc, nay ngoài 60 tuổi và đã theo nghề chở đò này vài chục năm, lèo lái biết bao lần đò qua cái hung bạo, dữ tợn của sông Đà nơi thượng nguồn.<br><strong>&nbsp;Ở đây, ông đò hiện lên dưới ngòi bút Nguyễn Tuân là một nghệ sĩ</strong> trong nghệ thuật leo ghềnh, vượt thác, với “tay lái ra hoa”. Để làm nổi bật tài nghệ ấy ở ông đò, Nguyễn Tuân đã sáng tạo ra một cuộc vượt thác: Ông đò là người cầm lái chỉ huy sáu bơi chèo để chiến thắng được thác nước và đá ngầm mà sông Đà bày thạch trận trên sông như một trận đò bát quái văng ra hết lớp này đến lớp khác. Ông đò đã bình tĩnh, thông minh, khôn khéo, cái bản lĩnh của một viên chiến tướng bởi chỉ cần một phút mất bình tĩnh, lóa mắt, lỡ tay là phải trả giá bằng sinh mạng của cả nhà đò. Tài nghệ của ông được bộc lộ trong cuộc vượt thác phá ba trùng vi thạch trận mà với vốn hiểu biết phong phú, vốn từ ngữ chính xác, sắc sảo về quân sự và võ thuật. <strong>Nguyễn Tuân đã thể hiện một cuộc quyết đấu thật sinh động.</strong></div><div>Ở trùng vi thạch trận thứ hai, sông Đà với bản chất ngoan cố và xảo quyệt đã đổi luôn chiến thuật. Nó “tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào và cửa sinh bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn... Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá”. Cái “hồng hộc” của kẻ say máu đang quyết đấu một phen nhưng nó lại gặp phải một đối thủ không vừa. Ông đò với bản lĩnh của con người không chịu khuất phục, của một vị tướng quyết đấu đến cùng đã “cưỡi lên thác sông Đà. nắm chặt lấy được cái bờm sóng. đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến”. Trước sự chiến đấu dũng mãnh, phi thường của ông đò thì “cái thằng đá tướng đứng chiến ở cửa vào đã tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng”. Hình tượng tảng đá lớn, rêu phủ xanh dưới ngòi bút Nguyễn Tuân lại trở thành một sinh thể có hồn với vẻ mặt xanh lì - mặt cắt không còn hạt máu - với nỗi sợ hãi khủng khiếp vì không ngờ gặp phải đối thủ đáng gờm như thế. <strong>Và trùng vi thạch trận thứ hai đã được ông đò phá xong.</strong></div><div>Ở trùng vi thạch trận thứ ba, hình ảnh của một con thú giãy chết lại được thể hiện khi con sông Đà: bên phải, bên trái đều là luồng chết còn luồng sống lại ở ngay chính giữa để quyết tiêu diệt đối phương. Thác nước ầm ầm, hơi nước mù mịt nhưng ông đò vẫn nhận ra được chiến thuật của sông Đà, ông đổi ngay cách đánh, cứ phóng thuyền “vút, vút.” như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước. thế là hết thác.</div><div>Không biết đến bao giờ tôi mới thôi ngạc nhiên và thích thú trước hình ảnh không hiểu làm sao mà Nguyễn Tuân có thể nghĩ ra về sự “tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng” của thằng đá tướng khi bị cái thuyền đánh trúng cửa sinh, đè sấn lên, chặt đôi sóng ra để mở đường tiến qua ải nước. Nhưng để lại dấu ấn rõ nét hơn cả trong tôi lại là những câu văn về dòng sông khi vừa hết thác: “vặn mình vào một cái bến cát có hang lạnh. Sóng thác xèo xèo tan trong trí nhớ”. Nhà văn đã mượn cho kí ức con người vẻ đẹp thênh thang của bờ cát bên sông. Và những người lái thuyền trong đêm ấy đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam và chỉ toàn bàn tán về cá anh vũ, cá dầm xanh. <strong>Nhà văn làm cho ta thấy họ còn lớn hơn bậc nữa vì họ hồn nhiên quên đi cái lớn của mình. Hay nói đúng hơn họ không hề cho là lớn lao, cái mà chúng ta thấy rõ ràng rằng vĩ đại.</strong><br><em>Qua cuộc thủy chiến dữ dội, căng thẳng trên, ta thấy cách nhìn nhân vật ông đò, nhà văn bày tỏ tình cảm yêu mến, trân trọng, tự hào về con người lao động Việt Nam. Nếu trước đây, ông thường khắc họa người anh hùng trong chiến đấu, người nghệ sĩ trong nghệ thuật và thuộc về quá khứ “vang bóng một thời”thì đến tác phẩm này, ông tìm thấy anh hùng và nghệ sĩ ngay trong con người lao động thường ngày, trong công việc bình thường và trong nghề nghiệp cũng bình thường. Nguyễn Tuân còn khẳng định với chúng ta rằng chủ nghĩa anh hùng cách mạng đâu phải chỉ dành riêng cho cuộc chiến đấu chống ngoại xâm mà còn thể hiện sâu sắc trong việc xây dựng đất nước và chinh phục thiên nhiên. Mà điều đó càng chứng tỏ được sự thành công trong chuyến đi tìm "chất vàng mười đã qua thử lửa" ở tâm hồn người lao động mà ông đò là người đại diện.</em><br><strong>Hình tượng người lái đò cũng phản ánh quan niệm độc đáo của Nguyễn Tuân về con người. Quan niệm độc đáo của Nguyễn Tuân về con người được thể hiện qua hình tượng người lái đò là ông không chỉ quan tâm đến cái đẹp ở quá khứ hay ở thiên nhiên, mà còn quan tâm đến cái đẹp ở con người trong cuộc sống hiện tại. Ông không chỉ ca ngợi những anh hùng lịch sử hay những nghệ sĩ danh tiếng, mà còn ca ngợi những anh hùng bình dị hay những nghệ sĩ của cuộc sống. Ông không chỉ tôn vinh những giá trị truyền thống hay những phong tục tao nhã, mà còn tôn vinh những giá trị hiện đại hay những phong tục gần gũi. Ông không chỉ nhìn con người ở phương diện thẩm mĩ hay nghệ thuật, mà còn nhìn con người ở phương diện lịch sử hay xã hội.</strong><br><em>Như vậy, tùy bút NLDSD là thành quả đẹp đẽ từ chuyến đi thực tế của ông, nó cho ta thấy sự tài hoa, uyên bác và vô cùng độc đáo trong phong cách sáng tác của ông. Từ đó ta càng thấy rõ cái chất vàng mười mà Nguyễn Tuân đã cất công đi tìm được miêu tả rõ nét qua hình tượng ông lái đò.</em></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-06-12 14:42:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2621218879</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>lithant</author>
         <link>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2623440783</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;| * <strong>Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm:</strong> -&nbsp; Nguyễn Tuân là một trong những nhà văn tài hoa, uyên bác bậc nhất của văn học Việt Nam hiện đại. Ông có phong cách nghệ thuật rất độc đáo. Nguyễn Tuân có sở trường về thể loại tùy bút. - Tùy bút <em>“Người lái đò sông Đà”</em> là một trong những tác phẩm đặc sắc kết tinh được phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân, được in trong tập “<em>Sông Đà</em>” (1960). Tác phẩm này là kết quả của một cuộc hành trình lớn mà Nguyễn Tuân tìm đến Tây Bắc để tìm kiếm “<em>thứ vàng mười của thiên nhiên và thứ vàng mười của con người lao động đã qua thử lửa</em>”. Ở tùy bút này, ngoài hình tượng dòng sông Đà, hình tượng ông lái đò cũng là một hình tượng đặc sắc mang dấu ấn phong cách Nguyễn Tuân. |&nbsp; <br> | <strong>* Nêu nội dung ý kiến</strong> - “<em>Thứ vàng mười đã qua thử lửa</em>” – từ dùng của Nguyễn Tuân – để chỉ vẻ đẹp tâm hồn của những con người lao động và chiến đấu trên vùng sông núi hùng vĩ và thơ mộng. - Ý kiến khẳng định thành công của Nguyễn Tuân trong việc khám phá và xây dựng vẻ đẹp hình tượng ông lái đò trong cuộc sống lao động bình dị.&nbsp; | <br> | <strong>* Phân tích hình tượng nhân vật:</strong> - Những nét khái quát: (không tên, tuổi, quê quán)&nbsp; -&gt;&nbsp; Ông lái đò được xây như một đại diện, một biểu tượng của nhân dân. Đó là một người lao động rất đỗi bình thường hoạt động trong một môi trường lao động khắc nghiệt, dữ dội. - “thứ vàng 10 đã qua thử lửa” của hình tượng: Lưu ý: học sinh có thể triển khai theo nhiều cách khác nhau: có thể kết hợp phân tích các vẻ đẹp của hình tượng, có thể kết hợp phân tích nội dung và nghệ thuật. Song cần đảm bảo những ý sau:<br> + Sự từng trải (ông làm nghề đò đã mười năm liền, trên sông Đà, ông xuôi, ông ngược hơn một trăm lần rồi, chính tay ông giữ lái độ sáu chục lần…) <br>+ Mưu trí và dũng cảm để vượt qua những thử thách khắc nghiệt trong cuộc sống lao động hàng ngày (phân tích cuộc chiến của ông lái đò với sông Đà qua 3 trùng vi thạch trận) <br>+ Nghệ sĩ tài hoa:&nbsp; Nhà văn trân trọng gọi là <em>tay lái ra hoa</em> (sự điêu luyện trong nghề khi lái đò vượt qua 3 thạch trận); trí nhớ siêu phàm, nắm chắc các quy luật tất yếu của sông Đà và vì làm chủ được nó nên có tự do; phong thái nghệ sĩ sau cuộc chiến đấu với sông Đà). <br>- Nhận xét chung: Ông lái đò mang những phẩm chất cao đẹp của người lao động thời hiện đại mới: giản dị mà không kém phần hùng tráng, khỏe khoắn, cũng đầy mưu trí. Đó là những con người tự do, làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc đời. - Đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Tuân: đặt nhân vật vào tình huống đầy cam go, thử thách để nhân vật bộc lộ tình cách phẩm chất; phối hợp những thủ pháp tiêu biểu của các nghành nghệ thuật khác để miêu tả và kể chuyện, ngôn ngữ miêu tả tài hoa… | <br> | <br> | <strong>* Bình luận:</strong> - Đánh giá mức độ hợp lí của ý kiến, có thể theo hướng: ý kiến xác đáng vì đã chỉ ra được nét đặc sắc và đóng góp của Nguyễn Tuân trong việc xây dựng hình tượng con người tiêu biểu cho cuộc sống lao động mới. - Từ đó thấy được sự thay đổi trong tư tưởng nghệ thuật của Nguyễn Tuân khi ông hướng ngòi bút khai thác vẻ đẹp con người trong cuộc sống hiện tại chứ không phải của thời quá khứ (như giai đoạn sáng tác trước Cách mạng tháng 8.1945) - Khái niệm tài hoa, nghệ sĩ trong sáng tác của Nguyễn Tuân có nghĩa rộng, không cứ là những người làm thơ, viết văn mà cả những người làm nghề chẳng mấy liên quan tới nghệ thuật cũng được coi là nghệ sĩ, nếu việc làm của họ đạt đến trình độ tinh vi và siêu phàm. | &nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-06-14 13:15:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2623440783</guid>
      </item>
      <item>
         <title>ĐỀ LÝ LUẬN 2</title>
         <author>lithant</author>
         <link>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2623450515</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Câu 2 (5,0 điểm)</strong></div><div>Về hình tượng sông Hương trong bút kí <strong><em>Ai đã đặt tên cho dòng sông?</em></strong> của Hoàng Phủ Ngọc Tường, có ý kiến cho rằng:<em> Sông Hương mang vẻ đẹp đầy nữ tính và rất mực đa tình.</em> Bằng hiểu biết về tác phẩm, anh (chị) hãy làm sáng tỏ nhận xét trên.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-06-14 13:24:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2623450515</guid>
      </item>
      <item>
         <title>ĐỀ LÝ LUẬN 2</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2623509377</link>
         <description><![CDATA[<div>Hoàng Phủ Ngọc Tường là gương mặt tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại, cũng là một trí thức giàu lòng yêu nước. Ông có phong cách độc đáo và đặc biệt sở trường về thể bút kí, tuỳ bút. Nét đặc sắc trong sáng tác của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn chất trí tuệ và chất trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học, văn hóa, lịch sử, địa lí… Ai đã đặt tên cho dòng sông? là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách bút kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Đến với tác phẩm người đọc sẽ gặp ở đó dòng sông Hương với vẻ đẹp đầy nữ tính và rất mực đa tình, được thể hiện dưới ngòi bút say đắm, tài hoa của nhà văn.<br>Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trí thức yêu nước, đã từng gắn bó đời mình với cuộc kháng chiến chống Mỹ gian khổ, anh hùng của dân tộc. Để rồi, sau năm 1975, khi đất nước thống nhất, ông đã chắp bút viết tập kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”. Trong tác phẩm, nhà văn gắn bó lòng yêu nước, tinh thần dân tộc với tình yêu sâu sắc dành cho thiên nhiên đất nước và với truyền thống văn hoá lịch sử lâu đời của dân tộc mà ông đã bỏ công say mê tìm tòi, tích luỹ cả một đời người. Tất cả những phẩm chất ấy đã được thể hiện rất rõ qua việc ông tái hiện lại vẻ đẹp của dòng sông Hương như một nhân vật trữ tình, với những nét tính cách phức tạp, biến đổi một cách kì diệu trong không gian thời gian. Tất cả được phô diễn qua những lời văn giàu chất trí tuệ, kết hợp giữa tự sự và trữ tình tài hoa, mê đắm.</div><div>Khi là một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại với bản lĩnh gan dạ, tâm hồn tự do và trong sáng. Khi là người mẹ phù sa của một vùng văn hoá xứ sở với một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ. Khi là một người con gái đẹp ngủ mơ màng. Khi là người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya. Khi được ví như là Kiều, rất Kiều. Khi là người con gái Huế với sắc màu áo cưới vẫn mặc sau tiết sương giáng. Dù ở bất kỳ trạng thái tồn tại nào, sông Hương trong cảm nhận của Hoàng Phủ Ngọc Tường vẫn đầy nữ tính, xinh đẹp, hiền hòa, dịu dàng, kín đáo nhưng không kém phần mãnh liệt…<br>Cuộc hành trình của sông Hương là cuộc hành trình tìm kiếm người tình mong đợi. Trong cuộc hành trình ấy, sông Hương có lúc trầm mặc, có lúc dịu dàng, cũng có lúc mãnh liệt mạnh mẽ… Song nó chỉ thực vui tươi khi đến ngoại ô thành phố, chỉ yên tâm khi nhìn thấy chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời. Gặp được thành phố, người tình mong đợi, con sông trở nên duyên dáng ý nhị uốn một cánh cung rất nhẹ sang cồn Hến, cái đường cong ấy như một tiếng vâng không nói ra của tình yêu. Sông Hương qua Huế bỗng ngập ngừng như muốn đi, muốn ở, như những vấn vương của một nỗi lòng.<br>Với một trình độ văn hoá uyên bác, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã so sánh vẻ đẹp của sông Hương với nhiều dòng sông nổi tiếng thế giới như sông Xen của Pari, sông Đa-nuýp của Bu-đa-pét, sông Nê-va của Nga,… Từ đó mà ông đã tôn vinh vẻ đẹp độc đáo của dòng sông Hương vào buổi đêm về, “vẫn lập lòe trong đêm sương, những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mô tê xưa cũ mà không một thành phố hiện đại nào còn nhìn thấy được”. Nhà văn quý điệu chảy lững lờ của sông Hương qua thành Huế.</div><div>Bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông ? đã gợi ra vẻ đẹp của Huế, của tâm hốn người Huế qua sự quan sát sắc sảo của Hoàng Phủ Ngọc Tường về dòng sông Hương mang vẻ đẹp đày nữ tính và rất mực da tình. Ông xứng đáng là một thi sĩ của thiên nhiên, một cuốn từ điển sống về Huế, một cây bút giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Bài kí góp phần bồi dưỡng tình yêu, niềm tự hào đối với dòng sông và cũng là với quê hương đất nước.<br><br></div><div><br><br></div><div><br></div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-06-14 14:27:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lithant/vlzljd8sf9jhwhek/wish/2623509377</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
