<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title>Bản đồ Lịch Sử thế giới by </title>
      <link>https://padlet.com/longdeptrai2072007/uyz98qmdj6d6c8v3</link>
      <description>Bấm vô các địa đểm để xem Lịch Sử</description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2021-10-22 06:52:31 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2021-10-29 07:26:26 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url></url>
      </image>
      <item>
         <title>Việt Nam</title>
         <author>longdeptrai2072007</author>
         <link>https://padlet.com/longdeptrai2072007/uyz98qmdj6d6c8v3/wish/1853349159</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><br><br>Hồ Chí Minh</strong> (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%AF_Nho">chữ Nho</a>: 胡志明; 19 tháng 5 năm 1890 – 2 tháng 9 năm 1969), tên khai sinh là <strong>Nguyễn Sinh Cung</strong> (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%AF_Nho">chữ Nho</a>: 阮生恭), là một <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_c%C3%A1ch_m%E1%BA%A1ng">nhà cách mạng</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%ADnh_kh%C3%A1ch">chính khách</a> người <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam">Việt Nam</a>. Ông là người sáng lập ra <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A3ng_C%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n_Vi%E1%BB%87t_Nam">Đảng Cộng sản Việt Nam</a>, từng là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_t%E1%BB%8Bch_n%C6%B0%E1%BB%9Bc_Vi%E1%BB%87t_Nam_D%C3%A2n_ch%E1%BB%A7_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a">Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà</a> từ 1945 -1969, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%A7_t%C6%B0%E1%BB%9Bng_Vi%E1%BB%87t_Nam">Thủ tướng</a> <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam_D%C3%A2n_ch%E1%BB%A7_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a">Việt Nam Dân chủ Cộng hòa</a> trong những năm 1945–1955, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%95ng_B%C3%AD_th%C6%B0_Ban_Ch%E1%BA%A5p_h%C3%A0nh_Trung_%C6%B0%C6%A1ng_%C4%90%E1%BA%A3ng_C%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n_Vi%E1%BB%87t_Nam">Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam</a> từ 1956 - 1960, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%95ng_B%C3%AD_th%C6%B0_Ban_Ch%E1%BA%A5p_h%C3%A0nh_Trung_%C6%B0%C6%A1ng_%C4%90%E1%BA%A3ng_C%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n_Vi%E1%BB%87t_Nam">Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam</a> từ năm 1951 đến khi qua đời. Ở Việt Nam, ông thường được gọi là <strong>Bác Hồ</strong>.<br><br></div><div><br>Trong quãng thời gian sinh sống và hoạt động trước khi lên nắm quyền, Hồ Chí Minh đã đi qua nhiều quốc gia và châu lục, ông được cho là đã sử dụng 50<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-FOOTNOTEDuiker2000582-2"><sup>[2]</sup></a> đến 200 bí danh khác nhau.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-3"><sup>[3]</sup></a> Về mặt <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C3%9D_th%E1%BB%A9c_h%E1%BB%87">tư tưởng chính trị</a>, Hồ Chí Minh là một người theo <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_Marx_%E2%80%93_Lenin">chủ nghĩa Marx – Lenin</a>. Ông là lãnh đạo <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Phong_tr%C3%A0o_gi%E1%BA%A3i_ph%C3%B3ng_d%C3%A2n_t%E1%BB%99c">phong trào độc lập</a> <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Minh">Việt Minh</a>, tiến hành <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A1ch_m%E1%BA%A1ng_Th%C3%A1ng_T%C3%A1m">Cách mạng Tháng Tám</a> năm 1945 và thành lập nước <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam_D%C3%A2n_ch%E1%BB%A7_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a">Việt Nam Dân chủ Cộng hòa</a> sau cuộc tổng tuyển cử năm 1946. Sau <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%ADn_%C4%90i%E1%BB%87n_Bi%C3%AAn_Ph%E1%BB%A7">chiến thắng Điện Biên Phủ</a> năm 1954, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_%C4%90%C3%B4ng_D%C6%B0%C6%A1ng">chiến tranh Đông Dương</a> chấm dứt. Trong giai đoạn diễn ra <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_Vi%E1%BB%87t_Nam">chiến tranh Việt Nam</a>, Hồ Chí Minh là nhân vật chủ chốt trong hàng ngũ lãnh đạo của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam_D%C3%A2n_ch%E1%BB%A7_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a">Việt Nam Dân chủ Cộng hòa</a> ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Mi%E1%BB%81n_B%E1%BA%AFc_Vi%E1%BB%87t_Nam">miền Bắc Việt Nam</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/M%E1%BA%B7t_tr%E1%BA%ADn_D%C3%A2n_t%E1%BB%99c_Gi%E1%BA%A3i_ph%C3%B3ng_mi%E1%BB%81n_Nam_Vi%E1%BB%87t_Nam">Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam</a>. Năm 1975, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam_D%C3%A2n_ch%E1%BB%A7_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a">Việt Nam Dân chủ Cộng hòa</a> chiến thắng, hai miền Việt Nam được <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C3%A0y_Th%E1%BB%91ng_nh%E1%BA%A5t">thống nhất</a>, dẫn đến sự ra đời của nhà nước <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam">Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam</a> vào năm 1976. Thành phố Sài Gòn được đổi tên thành <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh">Thành phố Hồ Chí Minh</a> để tôn vinh ông cũng như sự kiện này. Hồ Chí Minh rời khỏi chính trường vào năm 1965 vì lý do sức khỏe rồi qua đời vào năm 1969.<br><br></div><div><br>Ngoài hoạt động chính trị, Hồ Chí Minh cũng là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_v%C4%83n">nhà văn</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_th%C6%A1">nhà thơ</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_b%C3%A1o">nhà báo</a> với nhiều tác phẩm viết bằng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ti%E1%BA%BFng_Vi%E1%BB%87t">tiếng Việt</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ti%E1%BA%BFng_Trung_Qu%E1%BB%91c">tiếng Hán</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ti%E1%BA%BFng_Ph%C3%A1p">tiếng Pháp</a>.<br><br>Cuộc đời và sự nghiệp<br><br></div><div><strong><br>Xuất thân và quê quán</strong></div><div>Bài chi tiết: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Gia_%C4%91%C3%ACnh_H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh">Gia đình Hồ Chí Minh</a></div><div><br>Theo <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Gia_ph%E1%BA%A3">gia phả</a> của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n">dòng họ Nguyễn</a> ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Khu_di_t%C3%ADch_l%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Kim_Li%C3%AAn">làng Sen</a>, xã <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kim_Li%C3%AAn,_Nam_%C4%90%C3%A0n">Kim Liên</a>, huyện <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_%C4%90%C3%A0n">Nam Đàn</a>, tỉnh <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ngh%E1%BB%87_An">Nghệ An</a>:<br><br></div><div><em>"Hoàng sơ tổ khảo là Thái bảo Nguyễn Bá Phụ, tổ đời thứ 2 là Nguyễn Bá Bạc, tổ đời thứ 3 là Nguyễn Bá Ban, tổ đời thứ 4 là Nguyễn Văn Dân,... tổ đời thứ 5, Nguyễn Sinh Vật là Giám sinh đời Lê Thánh Đức (tức </em><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_Th%E1%BA%A7n_T%C3%B4ng"><em>Lê Thần Tông</em></a><em>) năm thứ 3..., tổ đời thứ 6 là Nguyễn Sinh Tài đỗ Hiếu sinh khi 17 tuổi, năm 34 tuổi đỗ Tam trường khoa thi Hội..., tổ đời thứ 10 là Nguyễn Sinh Nhậm".</em><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-4"><sup>[4]</sup></a> Cả bốn đời đầu tiên của dòng họ đều chưa lấy đệm là "Sinh" và không rõ năm sinh, năm mất.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-5"><sup>[5]<br></sup></a><br></div><div><br>Theo nhiều tài liệu chính thống cũng như tiểu sử tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam">Việt Nam</a>, tên lúc nhỏ của Hồ Chí Minh là <strong>Nguyễn Sinh Cung</strong><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-6"><sup>[6]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-7"><sup>[7]</sup></a> (giọng địa phương phát âm là <em>Côông)</em>. Tuy nhiên, một số tài liệu ghi nhận tên lúc nhỏ của ông là <strong>Nguyễn Sinh Côn</strong>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-HL1-8"><sup>[8]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-HL2-9"><sup>[9]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-BBC2005-10"><sup>[10]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-BTHCM-11"><sup>[11]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-12"><sup>[12]</sup></a> Điều này cũng được chính ông xác nhận bằng chính bút tích của mình trong một bài viết năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1954">1954</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-:1-13"><sup>[13]</sup></a> Quê nội ông là làng Kim Liên (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%AAn_N%C3%B4m">tên Nôm</a> là làng Sen). Nguyễn Sinh Cung được sinh ra ở quê ngoại là làng Hoàng Trù (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%AAn_N%C3%B4m">tên Nôm</a> là làng Chùa (Hoàng Trù), nằm cách làng Sen khoảng 2 km) và sống ở đây cho đến năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1895">1895</a>. Hai làng này vốn cùng nằm trong xã Chung Cự, thuộc tổng Lâm Thịnh, huyện <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_%C4%90%C3%A0n">Nam Đàn</a>. Quê nội của ông, làng Kim Liên<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-14"><sup>[14]</sup></a> là một làng quê nghèo khó. Phần lớn dân chúng không có ruộng, phải làm thuê cấy rẽ, mặc quần ít, đóng khố nhiều, bởi thế nên làng này còn có tên là làng Đai Khố.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-FOOTNOTEB%C3%A1c_H%E1%BB%93_-_h%E1%BB%93i_k%C3%BD200410-15"><sup>[15]</sup></a> Vào đời ông, phần lớn dòng họ của ông đều cơ hàn, kiếm sống bằng nghề làm thuê, và cũng có người tham gia các hoạt động chống Pháp.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-16"><sup>[16]<br></sup></a><br></div><div><br>Cha của Nguyễn Sinh Cung là một <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Nho">nhà Nho</a> tên là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Sinh_S%E1%BA%AFc">Nguyễn Sinh Sắc</a> (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1862">1862</a>–<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1929">1929</a>), từng đỗ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%B3_b%E1%BA%A3ng">Phó bảng</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-17"><sup>[17]</sup></a> Mẹ ông là bà <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0ng_Th%E1%BB%8B_Loan">Hoàng Thị Loan</a> (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1868">1868</a>–<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1901">1901</a>). Nguyễn Sinh Cung có một người chị là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BA%A1ch_Li%C3%AAn_n%E1%BB%AF_s%C4%A9">Nguyễn Thị Thanh</a> (sinh năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1884">1884</a>), một người anh là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Sinh_Khi%C3%AAm">Nguyễn Sinh Khiêm</a> (sinh năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1888">1888</a>, tự Tất Đạt, còn gọi là Cả Khiêm) và một người em trai mất sớm là Nguyễn Sinh Nhuận (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1900">1900</a>–<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1901">1901</a>, tên khi mới lọt lòng là Xin).<br><br></div><div><strong><br>Tuổi trẻ</strong></div><div><br>Năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1895">1895</a>, Nguyễn Sinh Cung cùng cha mẹ và anh trai vào <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hu%E1%BA%BF">Huế</a> lần đầu tiên. Sau khi mẹ mất, (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1901">1901</a>), ông về <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ngh%E1%BB%87_An">Nghệ An</a> ở với bà ngoại một thời gian ngắn. Không lâu sau thì cha ông đỗ Phó bảng, ông liền theo cha về quê nội. Tại quê nội, cha ông đã làm "lễ vào làng" cho hai người con trai với tên mới là "Tất Đạt" cho Nguyết Sinh Khiêm và "Tất Thành" cho Nguyễn Sinh Cung;<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-:1-13"><sup>[13]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-18"><sup>[18]</sup></a> từ đây ông bắt đầu dùng tên <strong><em>Nguyễn Tất Thành</em></strong>. Tất Thành theo học <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BB%AD_nh%C3%A2n_(h%E1%BB%8Dc_v%E1%BB%8B)">cử nhân</a> <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ho%C3%A0ng_Ph%E1%BA%A1m_Qu%E1%BB%B3nh&amp;action=edit&amp;redlink=1">Hoàng Phạm Quỳnh</a> và một số ông giáo khác.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-19"><sup>[19]<br></sup></a><br></div><div><br>Năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1906">1906</a>, Nguyễn Sinh Cung theo cha vào <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hu%E1%BA%BF">Huế</a> lần thứ hai và học ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_ti%E1%BB%83u_h%E1%BB%8Dc_Ph%C3%A1p-Vi%E1%BB%87t_%C4%90%C3%B4ng_Ba">Trường Tiểu học Pháp-Việt Đông Ba</a>. Tại đây, ông trải qua các niên khóa <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1906">1906</a>-<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1907">1907</a> lớp nhì và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1907">1907</a>-<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1908">1908</a> lớp nhất. Trong kỳ thi <em>primaire</em> (tương đương tốt nghiệp tiểu học) năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1908">1908</a> – ông là một trong 10 học trò giỏi nhất của trường Pháp – Việt Đông Ba được thi vượt cấp vào hệ Thành chung trường Quốc Học.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-20"><sup>[20]<br></sup></a><br></div><div><br>Theo nghiên cứu của học giả William J. Duiker, vào tháng 9 năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1907">1907</a>, Nguyễn Sinh Cung vào học lớp trung học đệ nhị niên tại trường <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Trung_h%E1%BB%8Dc_ph%E1%BB%95_th%C3%B4ng_chuy%C3%AAn_Qu%E1%BB%91c_H%E1%BB%8Dc">Quốc học Huế</a>, nhưng bị đuổi học vào cuối tháng 5 năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1908">1908</a> vì tham gia <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Phong_tr%C3%A0o_ch%E1%BB%91ng_s%C6%B0u_thu%E1%BA%BF_Trung_K%E1%BB%B3_1908">phong trào chống thuế ở Trung Kỳ</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-FOOTNOTEDuiker200037-21"><sup>[21]</sup></a> Cha ông bị triều đình khiển trách vì "hành vi của hai con trai". Hai anh em <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Sinh_Khi%C3%AAm">Tất Đạt</a> và Tất Thành bị giám sát chặt chẽ. Ông quyết định vào miền Nam để tránh sự kiểm soát của triều đình.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-22"><sup>[22]</sup></a> Tuy nhiên, theo tài liệu hiện lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Hải ngoại (<em>Centre des archives d'Outre-mer</em> hay <em>CAOM</em>) ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%A1p">Pháp</a>, Nguyễn Sinh Cung được nhận vào Quốc học Huế vào ngày <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/7_th%C3%A1ng_8">7 tháng 8</a> năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1908">1908</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-HL1-8"><sup>[8]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-BTHCM-11"><sup>[11]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-autogenerated2-23"><sup>[23]</sup></a> Theo nhà nghiên cứu lịch sử Vũ Ngự Chiêu thì như vậy "không có việc Nguyễn Sinh Cung bị trục xuất khỏi trường Quốc học vì tham gia vào cuộc biểu tình chống sưu thuế ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hu%E1%BA%BF">Huế</a> — cuộc biểu tình chống sưu dịch xảy ra ngày 9 tới 12 tháng 4 năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1908">1908</a>; tức gần 4 tháng trước ngày trò Cung được nhận vào <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Trung_h%E1%BB%8Dc_ph%E1%BB%95_th%C3%B4ng_chuy%C3%AAn_Qu%E1%BB%91c_H%E1%BB%8Dc">trường Quốc học</a>".<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-HL1-8"><sup>[8]<br></sup></a><br></div><div><br>Đầu năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1910">1910</a>, Nguyễn Tất Thành đến <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Phan_Thi%E1%BA%BFt">Phan Thiết</a>. Ông dạy thể dục và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%AF_Qu%E1%BB%91c_ng%E1%BB%AF">chữ Quốc ngữ</a> cho học sinh lớp ba và tư tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_D%E1%BB%A5c_Thanh">trường Dục Thanh</a> của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_ty_Li%C3%AAn_Th%C3%A0nh">Hội Liên Thành</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-24"><sup>[note 1]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-25"><sup>[24]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-26"><sup>[25]<br></sup></a><br></div><div><br>Trong thời gian này, Nguyễn Tất Thành thường gặp gỡ một số nhà nho yêu nước đương thời, tham gia công tác bí mật, nhận công việc liên lạc và có chí đuổi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%B1c_d%C3%A2n_Ph%C3%A1p">thực dân Pháp</a>, giải phóng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%93ng_b%C3%A0o">đồng bào</a>. Ông tuy khâm phục <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0ng_Hoa_Th%C3%A1m">Đề Thám</a> (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0ng_Hoa_Th%C3%A1m">Hoàng Hoa Thám</a>), <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Phan_Ch%C3%A2u_Trinh">Phan Châu Trinh</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Phan_B%E1%BB%99i_Ch%C3%A2u">Phan Bội Châu</a> nhưng không hoàn toàn tán thành cách làm của một người nào cả. Theo quan điểm của ông, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Phan_Ch%C3%A2u_Trinh">Phan Châu Trinh</a> chỉ yêu cầu <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Ph%C3%A1p">người Pháp</a> thực hiện cải cách, điều đó chẳng khác nào "xin giặc rủ lòng thương", còn <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Phan_B%E1%BB%99i_Ch%C3%A2u">Phan Bội Châu</a> thì hy vọng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n">Đế quốc Nhật Bản</a> giúp đỡ để chống <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%A1p">Pháp</a>, điều đó nguy hiểm chẳng khác nào "đuổi hổ cửa trước, rước báo cửa sau". Nguyễn Tất Thành thấy rõ là cần quyết định con đường đi của riêng mình.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-trandantien-27"><sup>[26]<br></sup></a><br></div><div><br>Khoảng trước tháng 2 năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1911">1911</a>, ông nghỉ dạy và vào <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh">Sài Gòn</a> cũng với sự giúp đỡ của Hội Liên Thành. Tại đây, Nguyễn Tất Thành theo học <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Cao_%C4%91%E1%BA%B3ng_K%E1%BB%B9_thu%E1%BA%ADt_Cao_Th%E1%BA%AFng">trường Bá Nghệ</a> là trường đào tạo công nhân hàng hải và công nhân chuyên nghiệp cho xưởng Ba Son (bây giờ là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Cao_%C4%91%E1%BA%B3ng_K%E1%BB%B9_thu%E1%BA%ADt_Cao_Th%E1%BA%AFng">trường Cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng</a>), vừa đi bán báo ở khu vực thương cảng để kiếm sống và đồng thời tìm hiểu đời sống công nhân.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-28"><sup>[27]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-29"><sup>[28]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-30"><sup>[29]</sup></a> Ở đây, ông học được 3 tháng. Sau đó ông quyết định sẽ tìm một công việc trên một con tàu viễn dương để được ra nước ngoài học hỏi tinh hoa của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%BF_gi%E1%BB%9Bi_ph%C6%B0%C6%A1ng_T%C3%A2y">phương Tây</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-FOOTNOTENhi%E1%BB%81u_t%C3%A1c_gi%E1%BA%A31995477-31"><sup>[30]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-32"><sup>[31]<br></sup></a><br></div><div><strong>“</strong> | Sài Gòn mới mở một trường dạy nghề ba năm chuyên đào tạo công nhân hàng hải và công nhân cơ khí cho xưởng Ba Son. Trường chật hẹp, trên đầu các thợ học việc chằng chịt những dây cua-roa. Anh Nguyễn Tất Thành xin vào học ở trường này. Anh muốn trở thành một công nhân đứng máy. Người thanh niên ấy mang đến Sài Gòn bầu nhiệt huyết và cái mới trong cách nghĩ và cách sống… Tiếng gọi của lý tưởng không cho anh Thành học hết ba năm ở trường dạy nghề. Mới học ba tháng, anh mới học 3 tháng, ....<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-33"><sup>[32]</sup></a> | <strong>”“</strong> | Nhưng sang Pháp đâu phải chuyện cứ muốn là được. Trước tiên phải vào Sài Gòn đã. Anh vào Sài Gòn, xin vào Trường Bá Nghệ cũng gọi là Trường Máy ở giữa chợ Mới và chợ Cũ, gần chùa Chà. Trường này đào tạo nhân viên hàng hải và công nhân chuyên nghiệp cho xưởng Ba Son. Học ở đây vừa khỏi bị nghi ngờ, vừa có cơm ăn, lại vừa biết ít nhiều về máy móc… Lệ thường là phải học ba năm mới thành nghề. Nhưng Anh Thành không định học cho đến lúc thành nghề. Chừng ba tháng sau, tìm được một chân phụ bếp trên chiếc tàu đô đốc Latouche Tréville của hãng Vận tải hợp nhất; thế là anh lẳng lặng ra đi.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-34"><sup>[33]</sup></a> | <strong>”</strong></div><div><strong><br>Hoạt động ở nước ngoài</strong></div><div>Bài chi tiết: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%E1%BA%A1t_%C4%91%E1%BB%99ng_c%E1%BB%A7a_H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh_trong_giai_%C4%91o%E1%BA%A1n_1911-1941">Hoạt động của Hồ Chí Minh trong giai đoạn 1911-1941</a><br><strong><br>Thời kỳ 1911-1919<br></strong>Ngày <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/5_th%C3%A1ng_6">5 tháng 6</a> năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1911">1911</a>, từ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BA%BFn_Nh%C3%A0_R%E1%BB%93ng">Bến Nhà Rồng</a>, Nguyễn Tất Thành lấy tên <strong>Văn Ba</strong> lên đường sang <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%A1p">Pháp</a> với nghề phụ bếp trên chiếc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Amiral_Latouche-Tr%C3%A9ville">tàu buôn <em>Đô đốc Latouche-Tréville</em></a>, với mong muốn học hỏi những tinh hoa và tiến bộ từ các nước <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%BF_gi%E1%BB%9Bi_ph%C6%B0%C6%A1ng_T%C3%A2y">phương Tây</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-35"><sup>[34]</sup></a> Ngày <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/6_th%C3%A1ng_7">6 tháng 7</a> năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1911">1911</a>, sau hơn 1 tháng đi biển, tàu cập cảng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Marseille">Marseille</a>, Pháp. Tại Marseilles, ông đã viết thư đến Tổng thống <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%A1p">Pháp</a>, xin được nhập học vào Trường Thuộc địa (<em>École Coloniale</em>), trường chuyên đào tạo các nhân viên hành chánh cho chính quyền thực dân, với hy vọng <em>"giúp ích cho Pháp"</em>. Thư yêu cầu của ông bị từ chối và được chuyển đến <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%C3%A2m_s%E1%BB%A9_Trung_K%E1%BB%B3">Khâm sứ Trung Kỳ</a> ở Huế.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-FOOTNOTEQuinn-Judge200224-36"><sup>[35]</sup></a> Ở Pháp một thời gian, sau đó Nguyễn Tất Thành qua <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hoa_K%E1%BB%B3">Hoa Kỳ</a>. Sau khi ở Hoa Kỳ một năm (cuối <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1912">1912</a>-cuối <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1913">1913</a>), ông đến nước <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Anh">Anh</a> làm nghề cào tuyết, đốt lò rồi phụ bếp cho khách sạn, học <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ti%E1%BA%BFng_Anh">tiếng Anh</a>, và ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Lu%C3%A2n_%C4%90%C3%B4n">Luân Đôn</a> cho đến cuối năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1916">1916</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-FOOTNOTEQuinn-Judge2012386-389-37"><sup>[36]</sup></a> Một số tài liệu trong kho lưu trữ của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%A1p">Pháp</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nga">Nga</a> cho biết trong thời gian sống tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hoa_K%E1%BB%B3">Hoa Kỳ</a>, Nguyễn Tất Thành đã đến nghe <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Marcus_Garvey">Marcus Garvey</a> diễn thuyết ở khu <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Harlem">Harlem</a> và tham khảo ý kiến của ​​các nhà hoạt động vì nền độc lập của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BB%81u_Ti%C3%AAn">Triều Tiên</a>. Cuối năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1917">1917</a>, ông trở lại nước <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%A1p">Pháp</a>, sống và hoạt động ở đây cho đến năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1923">1923</a>.<br><strong><br>Thời kỳ ở Pháp<br></strong><br>Tháng 2 năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1919">1919</a>, Nguyễn Tất Thành gia nhập <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A3ng_X%C3%A3_h%E1%BB%99i_(Ph%C3%A1p)">Đảng Xã hội Pháp</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-40"><sup>[39]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-41"><sup>[40]</sup></a> Ngày <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/18_th%C3%A1ng_6">18 tháng 6</a> năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1919">1919</a>, thay mặt <em>Hội những người </em><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/An_Nam"><em>An Nam</em></a><em> yêu nước</em>, Nguyễn Tất Thành đã mang tới <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%B2a_%C6%B0%E1%BB%9Bc_Versailles">Hội nghị Hòa bình Versailles</a> bản <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Y%C3%AAu_s%C3%A1ch_c%E1%BB%A7a_nh%C3%A2n_d%C3%A2n_An_Nam">Yêu sách của nhân dân An Nam</a> gồm 8 điểm để kêu gọi lãnh đạo các nước <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%E1%BB%91i_%C4%90%E1%BB%93ng_Minh_th%E1%BB%9Di_Chi%E1%BA%BFn_tranh_th%E1%BA%BF_gi%E1%BB%9Bi_th%E1%BB%A9_hai">Đồng Minh</a> áp dụng các lý tưởng của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Woodrow_Wilson">Tổng thống Mỹ Wilson</a> cho các lãnh thổ thuộc địa của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%A1p">Pháp</a> ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_Nam_%C3%81">Đông Nam Á</a>, trao tận tay <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%95ng_th%E1%BB%91ng_Ph%C3%A1p">Tổng thống Pháp</a> và các đoàn đại biểu đến dự hội nghị.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-42"><sup>[41]</sup></a> Bản yêu sách không yêu cầu độc lập cho <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam">Việt Nam</a>, nhưng bao gồm quyền tự do và bình đẳng.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-:0-43"><sup>[42]</sup></a> Bản yêu sách này do một nhóm các nhà ái quốc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam">Việt Nam</a> sống ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%A1p">Pháp</a>, trong đó có <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Phan_Ch%C3%A2u_Trinh">Phan Châu Trinh</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Phan_V%C4%83n_Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng">Phan Văn Trường</a> và Nguyễn Tất Thành, cùng viết, và được ký tên chung là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_%C3%81i_Qu%E1%BB%91c_(b%C3%BAt_hi%E1%BB%87u)">Nguyễn Ái Quốc</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-44"><sup>[43]</sup></a> Từ đây, Nguyễn Tất Thành công khai gọi tên mình là <strong>Nguyễn Ái Quốc</strong><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-45"><sup>[44]</sup></a> và sử dụng tên này trong suốt 30 năm sau đó.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-46"><sup>[45]<br></sup></a><br></div><div><br>Tuy nhiên, Hội nghị Versailles đã không đếm xỉa gì đến việc giải quyết quyền lợi cho người dân các nước thuộc địa. Các nước thắng trận (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Anh">Anh</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%A1p">Pháp</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/M%E1%BB%B9">Mỹ</a>) chỉ lo phân chia thuộc địa và các món lợi kinh tế giành được từ các nước bại trận. Trong khi đó, tại nước <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nga">Nga</a> Xô viết sau <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A1ch_m%E1%BA%A1ng_Th%C3%A1ng_M%C6%B0%E1%BB%9Di">Cách mạng Tháng Mười</a> năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1917">1917</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vladimir_Ilyich_Lenin">Lenin</a> đã ban hành sắc lệnh quy định về sự bình đẳng giữa các dân tộc, trao trả độc lập cho các thuộc địa của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_Nga">Đế quốc Nga</a> cũ. Điều này đã đẩy niềm tin của Nguyễn Tất Thành sang <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_c%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n">chủ nghĩa cộng sản</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-:0-43"><sup>[42]<br></sup></a><br></div><div><br>Năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1920">1920</a>, Nguyễn Ái Quốc đọc <em>Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa</em> của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vladimir_Ilyich_Lenin">Lenin</a>, từ đó ông hoàn toàn tin tưởng vào <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_c%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n">chủ nghĩa cộng sản</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-47"><sup>[46]</sup></a> Ông tham dự Đại hội lần thứ 18 của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A3ng_X%C3%A3_h%E1%BB%99i_(Ph%C3%A1p)">Đảng Xã hội Pháp</a> tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tours">Tours</a> (từ 25 đến <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/30_th%C3%A1ng_12">30 tháng 12</a> năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1920">1920</a>) với tư cách là đại biểu <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_D%C6%B0%C6%A1ng">Đông Dương</a> của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A3ng_X%C3%A3_h%E1%BB%99i_(Ph%C3%A1p)">Đảng Xã hội Pháp</a>, ông trở thành một trong những sáng lập viên của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A3ng_C%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n_Ph%C3%A1p">Đảng Cộng sản Pháp</a> và tách khỏi đảng Xã hội.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-48"><sup>[47]</sup></a> Ông nói với các đại biểu của Đảng Xã hội Pháp: <em>"Tôi không hiểu bất cứ điều gì về chiến lược, thủ thuật hành động và tất cả những từ ngữ đao to búa lớn mà các ông dùng, nhưng tôi hiểu một điều rất đơn giản: </em><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%87_Tam_Qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF"><em>Quốc tế thứ 3</em></a><em> quan tâm rất nhiều tới vấn đề thuộc địa. Các đại biểu của Quốc tế thứ 3 hứa sẽ giúp các dân tộc thuộc địa đang bị áp bức giành lại tự do và độc lập. Các thành viên của </em><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%87_Nh%E1%BB%8B_Qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF"><em>Quốc tế thứ 2</em></a><em> không nói một từ về số phận của các vùng thuộc địa".</em><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-:0-43"><sup>[42]<br></sup></a><br></div><div><br>Năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1921">1921</a>, ông cùng một số nhà yêu nước của các thuộc địa <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%A1p">Pháp</a> lập ra <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=H%E1%BB%99i_Li%C3%AAn_hi%E1%BB%87p_Thu%E1%BB%99c_%C4%91%E1%BB%8Ba&amp;action=edit&amp;redlink=1">Hội Liên hiệp Thuộc địa</a> (<em>Union intercoloniale – Association des indigènes de toutes les colonies</em>) nhằm tập hợp các dân tộc bị áp bức đứng lên chống <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_%C4%91%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c">chủ nghĩa đế quốc</a>. Năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1922">1922</a>, Nguyễn Ái Quốc cùng một số nhà cách mạng thuộc địa lập ra báo <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_c%C3%B9ng_kh%E1%BB%95"><em>Le Paria</em></a> (Người cùng khổ), làm chủ nhiệm kiêm chủ bút, nhằm tố cáo chính sách đàn áp, bóc lột của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_%C4%91%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c">chủ nghĩa đế quốc</a> nói chung và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%B1c_d%C3%A2n_Ph%C3%A1p">thực dân Pháp</a> nói riêng. Tác phẩm "<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BA%A3n_%C3%A1n_ch%E1%BA%BF_%C4%91%E1%BB%99_th%E1%BB%B1c_d%C3%A2n_Ph%C3%A1p">Bản án chế độ thực dân Pháp</a>" bằng tiếng Pháp (<em>Procès de la colonisation française</em>) do ông viết được xuất bản năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1925">1925</a>, đã tố cáo chính sách thực dân tàn bạo của Pháp và đề cập đến phong trào đấu tranh của các dân tộc thuộc địa.<br><br></div><div><strong><br>Thời kỳ ở Liên Xô lần thứ nhất<br></strong><br>Nguyễn Ái Quốc đến <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Li%C3%AAn_X%C3%B4">Liên Xô</a> lần đầu tiên vào năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1922">1922</a> tham gia Đại hội lần thứ tư của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%87_Tam_Qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF">Quốc tế Cộng sản</a>, ở đó ông gặp Lenin và trở thành thành viên của Ban <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_Nam_%C3%81">Đông Nam Á</a> của Quốc tế Cộng sản.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-:0-43"><sup>[42]<br></sup></a><br></div><div><br>Tháng 6 năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1923">1923</a>, ông đến <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Moskva">Moskva</a> học tập tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Lao_%C4%91%E1%BB%99ng_C%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n_Ph%C6%B0%C6%A1ng_%C4%90%C3%B4ng">trường Đại học Lao động Cộng sản Phương Đông</a>, được đào tạo chính quy về <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_Marx">Chủ nghĩa Marx</a>, tuyên truyền và khởi nghĩa vũ trang.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-:0-43"><sup>[42]</sup></a> Tại đây Nguyễn Ái Quốc đã dự Hội nghị lần thứ nhất Quốc tế Nông dân (họp từ ngày <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/12_th%C3%A1ng_10">12</a> đến ngày <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/15_th%C3%A1ng_10">15 tháng 10</a> năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1923">1923</a>), ông được bầu vào Ban Chấp hành và Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân. Tại Đại hội lần thứ 5 <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%87_Tam_Qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF">Đệ Tam Quốc tế</a> (họp từ ngày <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/17_th%C3%A1ng_6">17 tháng 6</a> đến ngày <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/8_th%C3%A1ng_7">8 tháng 7</a> năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1924">1924</a>), ông được cử làm Ủy viên Ban Phương Đông, phụ trách Cục Phương Nam.<br><br></div><div><br>Năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1924">1924</a>, tại thành phố <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Moskva">Moskva</a>, Nguyễn Ái Quốc viết và nộp cho tổ chức <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%87_Tam_Qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF">Đệ Tam Quốc tế</a> một bản Báo cáo về tình hình Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ. Nhận thấy phong trào <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A5u_tranh_giai_c%E1%BA%A5p">đấu tranh giai cấp</a> tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam">Việt Nam</a> có sự khác biệt với phong trào <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A5u_tranh_giai_c%E1%BA%A5p">đấu tranh giai cấp</a> bên <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%BF_gi%E1%BB%9Bi_ph%C6%B0%C6%A1ng_T%C3%A2y">Tây phương</a> đương thời, ông có nhận xét về các tầng lớp địa chủ, tăng lữ,... của Việt Nam như sau:<br><strong>“</strong> | <em>Những địa chủ ở đây chỉ là những tên lùn tịt bên cạnh những người trùng tên với họ ở </em><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A2u_%C3%82u"><em>châu Âu</em></a><em> và </em><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A2u_M%E1%BB%B9"><em>châu Mỹ</em></a><em> (…). Không có vốn liếng gì lớn…, đời sống của địa chủ cũng chẳng có gì là xa hoa", "</em><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/An_Nam"><em>An Nam</em></a><em> chưa bao giờ có tăng lữ…"</em> | <strong>”</strong><br>— Nguyễn Ái Quốc<br><br>Ông cũng cho rằng:<br><br></div><div><strong>“</strong> | <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_d%C3%A2n_t%E1%BB%99c"><em>Chủ nghĩa dân tộc</em></a><em> là động lực lớn của đất nước. Chính nó đã gây nên cuộc nổi dậy chống thuế năm </em><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1908"><em>1908</em></a><em>, nó dạy cho những người </em><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Cu_li"><em>cu li</em></a><em> biết phản đối, nó làm cho những người "nhà quê" phản đối ngầm trước thuế tạp dịch và thuế muối. Cũng chủ nghĩa dân tộc đã luôn luôn thúc đẩy các nhà buôn </em><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/An_Nam"><em>An Nam</em></a><em> cạnh tranh với </em><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Ph%C3%A1p"><em>người Pháp</em></a><em> và </em><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Trung_Qu%E1%BB%91c"><em>người Trung Quốc</em></a><em>; nó đã thúc giục thanh niên bãi khóa, làm cho những nhà cách mạng trốn sang </em><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n"><em>Nhật Bản</em></a><em> và làm vua </em><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Duy_T%C3%A2n"><em>Duy Tân</em></a><em> mưu tính khởi nghĩa năm </em><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1917"><em>1917</em></a><em><br></em><br>Tư tưởng này của ông không có gì mâu thuẫn với <em>Luận cương về các vấn đề dân tộc thuộc địa</em> của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Lenin">Lenin</a>, khi phát động <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_d%C3%A2n_t%E1%BB%99c">chủ nghĩa dân tộc</a> là sách lược để đi đến <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_c%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n">chủ nghĩa cộng sản</a> (đại đồng). Tuy nhiên, một số người trong <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%87_Tam_Qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF">Quốc tế Cộng sản</a> không quan tâm tới quan điểm này của Nguyễn Ái Quốc, họ cho rằng đường lối của ông trái nghị quyết của Quốc tế cộng sản khi đó.<br><br></div><div><strong><br>Thời kỳ ở Trung Quốc (1924–1927)</strong></div><div><br>Sau khi học tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Li%C3%AAn_X%C3%B4">Liên Xô</a>, cuối năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1924">1924</a>, Nguyễn Ái Quốc rời <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Li%C3%AAn_X%C3%B4">Liên Xô</a> tới <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A3ng_Ch%C3%A2u_(th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91)">Quảng Châu</a> theo phái đoàn cố vấn của chính phủ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Li%C3%AAn_X%C3%B4">Liên Xô</a> do <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Mikhail_Markovich_Borodin">Mikhail Markovich Borodin</a> làm trưởng đoàn đến giúp chính phủ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_Hoa_D%C3%A2n_Qu%E1%BB%91c_(1912-1949)">Trung Hoa Dân quốc</a> của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C6%B0%E1%BB%9Fng_Gi%E1%BB%9Bi_Th%E1%BA%A1ch">Tưởng Giới Thạch</a>, làm phiên dịch lấy tên là <strong>Lý Thụy</strong>.<br><br></div><div><br>Trong thời gian ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_Qu%E1%BB%91c">Trung Quốc</a>, ông có nhiệm vụ tuyên truyền phổ biến tư tưởng cách mạng ra vùng Đông Phương. Theo đó, năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1925">1925</a>, ông tập hợp Việt kiều và thành lập tổ chức <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%99i_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%C3%A1ch_m%E1%BA%A1ng_Thanh_ni%C3%AAn">Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội</a> ở Quảng Châu (Trung Quốc) để truyền bá <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_Marx-Lenin">chủ nghĩa Marx-Lenin</a> (thường được phiên âm là <em>Mác–Lê-nin</em>) vào <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam">Việt Nam</a>. Cuốn <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C6%B0%E1%BB%9Dng_k%C3%A1ch_m%E1%BB%87nh"><em>Đường Kách mệnh</em></a>, mà ông là tác giả, tập hợp các bài giảng tại các lớp huấn luyện chính trị của Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, được xuất bản năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1927">1927</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-FOOTNOTEGabriel200330-31-50"><sup>[49]<br></sup></a><br></div><div><br>Cùng năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1925">1925</a>, Nguyễn Ái Quốc tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông, do <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Li%C3%AAu_Tr%E1%BB%8Dng_Kh%E1%BA%A3i&amp;action=edit&amp;redlink=1">Liêu Trọng Khải</a>, một cộng sự thân tín của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%B4n_D%E1%BA%ADt_Ti%C3%AAn">Tôn Dật Tiên</a>, làm Hội trưởng và ông làm Bí thư. Tổ chức này sau đó trở thành Đảng Cộng sản Nam Hải (the South Seas Communist party),<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-nytimes.com-51"><sup>[50]</sup></a> tiền thân của một loạt các tổ chức cộng sản sau này, bao gồm có cả <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A3ng_C%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n_Vi%E1%BB%87t_Nam">Đảng Cộng sản Đông Dương</a>. Trong thời kỳ này, Nguyễn Ái Quốc cũng gửi một loạt <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Vi%E1%BB%87t">người Việt</a> đi học trường quân sự của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C6%B0%E1%BB%9Fng_Gi%E1%BB%9Bi_Th%E1%BA%A1ch">Tưởng Giới Thạch</a> tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A3ng_Ch%C3%A2u">Quảng Châu</a>, đồng thời tiến hành một khóa đào tạo về khởi nghĩa vũ trang. Do <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C6%B0%E1%BB%9Fng_Gi%E1%BB%9Bi_Th%E1%BA%A1ch">Tưởng Giới Thạch</a> khủng bố các nhà cách mạng cộng sản <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_Qu%E1%BB%91c">Trung Quốc</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam">Việt Nam</a>, ông rời <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A3ng_Ch%C3%A2u">Quảng Châu</a> đi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93ng_K%C3%B4ng">Hồng Kông</a>, rồi thoát sang <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Li%C3%AAn_X%C3%B4">Liên Xô</a> theo đường <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Sa_m%E1%BA%A1c_Gobi">sa mạc Gobi</a>. Tháng 11 năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1927">1927</a>, ông được cử đi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%A1p">Pháp</a>, rồi từ đó đi dự cuộc họp Đại Hội đồng của Liên đoàn Chống đế quốc từ ngày 9 đến ngày <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/12_th%C3%A1ng_12">12 tháng 12</a> năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1927">1927</a> tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Bruxelles">Brussel</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BB%89">Bỉ</a>.<br><br></div><div><strong><br>Thời kỳ ở Thái Lan (1928–1929)<br></strong><br>Mùa thu <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1928">1928</a>, Nguyễn Ái Quốc từ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A2u_%C3%82u">châu Âu</a> đến <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Xi%C3%AAm">Xiêm La</a> (Thái Lan), cải trang là một nhà sư đầu trọc, với bí danh <strong>Thầu Chín</strong> để tuyên truyền và huấn luyện cho Việt kiều tại Xiêm, đồng thời xuất bản báo gửi về nước. Cuối năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1929">1929</a>, ông rời khỏi Vương quốc Xiêm La và sang <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_Qu%E1%BB%91c">Trung Quốc</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-52"><sup>[51]<br></sup></a><br></div><div><strong><br>Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam</strong></div><div><br>Ngày <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/3_th%C3%A1ng_2">3 tháng 2</a> năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1930">1930</a>, tại Cửu Long (九龍, <em>Kowloon</em>) thuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93ng_K%C3%B4ng">Hồng Kông</a>, theo chỉ thị của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%87_Tam_Qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF">Quốc tế Cộng sản</a>, nhằm giải quyết những mâu thuẫn hiện có giữa những người cộng sản <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_D%C6%B0%C6%A1ng">Đông Dương</a>, ông đã thống nhất ba tổ chức cộng sản tại Đông Dương thành <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A3ng_C%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n_Vi%E1%BB%87t_Nam">Đảng Cộng sản Việt Nam</a> (sau đổi tên là "Đảng Cộng sản Đông Dương", rồi "Đảng Lao động Việt Nam" và nay là "Đảng Cộng sản Việt Nam"). Cũng vào năm này, khởi nghĩa <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/X%C3%B4_Vi%E1%BA%BFt_Ngh%E1%BB%87_T%C4%A9nh">Xô viết Nghệ Tĩnh</a> do Đảng Cộng sản chỉ đạo nổ ra nhưng thất bại. <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A3ng_C%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n_Vi%E1%BB%87t_Nam">Đảng Cộng sản Đông Dương</a> bị cấm hoạt động, đồng thời Nguyễn Ái Quốc bị xử <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%AD_h%C3%ACnh">tử hình</a> vắng mặt.<br><br></div><div><br>Tháng 3 năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1930">1930</a>, Nguyễn Ái Quốc trở lại Xiêm trong một thời gian ngắn, rồi ông quay lại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_Qu%E1%BB%91c">Trung Quốc</a>.<br><br></div><div><strong><br>Những năm 1931–1933</strong></div><div>Bài chi tiết: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%E1%BB%A5_%C3%A1n_T%E1%BB%91ng_V%C4%83n_S%C6%A1">Vụ án Tống Văn Sơ</a></div><div><br>Năm 1931, dưới tên giả là <strong>Tống Văn Sơ</strong> (<em>Sung Man Cho</em>), Nguyễn Ái Quốc bị nhà cầm quyền <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93ng_K%C3%B4ng">Hồng Kông</a> bắt giam với ý định trao cho chính quyền Pháp ở Đông Dương. Tờ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%27Humanit%C3%A9"><em>L'Humanité</em></a> (Nhân đạo) số ra ngày 9 tháng 8 năm 1932 đưa tin Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Lao_ph%E1%BB%95i">lao phổi</a> trong trạm xá nhà tù tại Hồng Kông, đồng thời tố cáo đây là âm mưu của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%B1c_d%C3%A2n_Ph%C3%A1p">thực dân Pháp</a> cấu kết với Anh nhằm ám sát người lãnh đạo <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A3ng_C%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n_Vi%E1%BB%87t_Nam">Đảng Cộng sản Đông Dương</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-huma32-53"><sup>[52]</sup></a> Sau đó, nhờ sự biện hộ và giúp đỡ tận tình của luật sư <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Francis_Henry_Loseby&amp;action=edit&amp;redlink=1">Francis Henry Loseby</a>, Tống Văn Sơ được thả ngày 28 tháng 12 năm 1932. Ông đi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C6%B0%E1%BB%A3ng_H%E1%BA%A3i">Thượng Hải</a> rồi bí mật quay trở lại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Li%C3%AAn_X%C3%B4">Liên Xô</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-Duncanson_1974_100-54"><sup>[53]<br></sup></a><br></div><div><strong><br>Thời kỳ ở Liên Xô lần thứ hai</strong></div><div><br>Nguyễn Ái Quốc đến <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Moskva">Moskva</a> vào mùa xuân năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1934">1934</a>. Với bí danh <strong>Lin</strong>, Nguyễn Ái Quốc học ở <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF_Lenin&amp;action=edit&amp;redlink=1">Trường Quốc tế Lenin</a> (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1934">1934</a>–<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1935">1935</a>). Sau đó dưới tên <em>Linov</em>, ông dự Đại hội lần thứ 7 <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%87_Tam_Qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF">Đệ Tam Quốc tế</a> (từ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/25_th%C3%A1ng_7">25 tháng 7</a> đến <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/20_th%C3%A1ng_8">20 tháng 8</a> năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1935">1935</a>) với vai trò quan sát viên của Ban Thư ký Dalburo.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-55"><sup>[54]</sup></a> Trong thời gian này, Nguyễn Ái Quốc bị Ban Lãnh đạo Hải ngoại của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A3ng_C%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n_Vi%E1%BB%87t_Nam">Đảng Cộng sản Đông Dương</a> viết thư gửi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%87_Tam_Qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF">Quốc tế Cộng sản</a> kết tội phải chịu trách nhiệm chính về việc hơn 100 đảng viên của <em>Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên</em> bị bắt, do việc ông biết <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%A2m_%C4%90%E1%BB%A9c_Th%E1%BB%A5">Lâm Đức Thụ</a> trước đây là kẻ phản bội mà vẫn tiếp tục sử dụng.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-56"><sup>[55]</sup></a> Ông bị buộc phải ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Li%C3%AAn_X%C3%B4">Liên Xô</a> cho đến năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1938">1938</a>, bị giam lỏng vì nghi ngờ lý do ông được nhà cầm quyền <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93ng_K%C3%B4ng">Hồng Kông</a> trả tự do.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-57"><sup>[56]</sup></a> <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%87_Tam_Qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF">Quốc tế Cộng sản</a> thành lập Ban Thẩm tra vì nghi ngờ sự trung thành chính trị của Nguyễn Ái Quốc nhưng không tìm ra chứng cứ cho thấy điều này, nên hồ sơ vụ việc đã được Ban Thẩm tra quyết định hủy bỏ.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-58"><sup>[57]</sup></a> Sau đó, ông tham gia lớp nghiên cứu sinh Viện Nghiên cứu các Vấn đề Dân tộc và Thuộc địa của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%87_Tam_Qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF">Quốc tế Cộng sản</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-59"><sup>[58]<br></sup></a><br></div><div><br>Trong những năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1931">1931</a>–<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1935">1935</a>, Nguyễn Ái Quốc bị <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_Ph%C3%BA">Trần Phú</a> và sau đó là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_Huy_T%E1%BA%ADp">Hà Huy Tập</a> phê phán về đường lối cải lương "liên minh với tư sản và địa chủ vừa và nhỏ", không đúng đường lối <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A5u_tranh_giai_c%E1%BA%A5p">đấu tranh giai cấp</a> của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%87_Tam_Qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF">Đệ Tam Quốc tế</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-60"><sup>[59]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-61"><sup>[60]</sup></a> Trong một bức thư gửi cho tổ chức <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%87_Tam_Qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF">Đệ Tam Quốc tế</a> vào tháng 3 năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1935">1935</a> với nội dung kể về phong trào cách mạng tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_D%C6%B0%C6%A1ng">Đông Dương</a>, Nguyễn Ái Quốc đã bị phê phán nặng nề. Bức thư này có ghi nhận về <em>"tàn dư của tư tưởng dân tộc cách mạng pha trộn với chủ nghĩa cải lương, </em><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_duy_t%C3%A2m"><em>chủ nghĩa duy tâm</em></a><em> của đảng của các đồng chí </em>Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên<em> và của đồng chí Nguyễn Ái Quốc"</em>. Trong thư này cũng có đoạn: <em>"Những tàn dư ấy rất mạnh và tạo thành một chướng ngại nghiêm trọng cho sự phát triển </em><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_c%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n"><em>chủ nghĩa cộng sản</em></a><em>. Cuộc tranh đấu không nhân nhượng chống những học thuyết cơ hội này của đồng chí Nguyễn Ái Quốc và của Đảng Thanh niên là rất cần thiết (…). Chúng tôi đề nghị đồng chí Lin viết một cuốn sách để tự phê bình những khuyết điểm đã qua"</em>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-mqt-49"><sup>[48]<br></sup></a><br></div><div><br>Sở dĩ có việc phê phán này là do bất đồng giữa Nguyễn Ái Quốc và một số đồng chí của ông về các lực lượng tham gia, cần tranh thủ trong hoạt động cách mạng, dẫn đến suy nghĩ cho rằng Nguyễn Ái Quốc ưu tiên giải phóng dân tộc hơn là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A5u_tranh_giai_c%E1%BA%A5p">đấu tranh giai cấp</a>. Vào thời điểm đó, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%87_Tam_Qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF">Quốc tế Cộng sản</a> dưới sự lãnh đạo của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Iosif_Vissarionovich_Stalin">Stalin</a>, đặt đấu tranh giải phóng dân tộc đi cùng với <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A5u_tranh_giai_c%E1%BA%A5p">đấu tranh giai cấp</a>.<br><br></div><div><br>Trong giai đoạn này, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_Ph%C3%BA">Trần Phú</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_H%E1%BB%93ng_Phong">Lê Hồng Phong</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_Huy_T%E1%BA%ADp">Hà Huy Tập</a> lần lượt làm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%95ng_B%C3%AD_th%C6%B0_Ban_Ch%E1%BA%A5p_h%C3%A0nh_Trung_%C6%B0%C6%A1ng_%C4%90%E1%BA%A3ng_C%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n_Vi%E1%BB%87t_Nam">Tổng Bí thư</a> <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A3ng_C%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n_Vi%E1%BB%87t_Nam">Đảng Cộng sản Đông Dương</a> còn Hồ Chí Minh chỉ đảm nhiệm công tác liên lạc giữa <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%87_Tam_Qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF">Quốc tế Cộng sản</a> và các đảng cộng sản tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_Nam_%C3%81">Đông Nam Á</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-62"><sup>[61]<br></sup></a><br></div><div><strong><br>Trở lại Trung Quốc (năm 1938 đến đầu năm 1941)</strong></div><div><br>Năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1938">1938</a>, ông trở lại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_Qu%E1%BB%91c">Trung Quốc</a>. Trong vai Thiếu tá <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%C3%A2n_Gi%E1%BA%A3i_ph%C3%B3ng_Nh%C3%A2n_d%C3%A2n_Trung_Qu%E1%BB%91c">Bát lộ quân</a> tên là <strong>Hồ Quang</strong>, Nguyễn Ái Quốc đến công tác tại văn phòng Bát lộ quân <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%BF_L%C3%A2m,_Qu%E1%BA%A3ng_T%C3%A2y">Quế Lâm</a>, sau đó đi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%C3%BD_D%C6%B0%C6%A1ng_(th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91)">Quý Dương</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4n_Minh">Côn Minh</a> rồi đến <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Di%C3%AAn_An">Diên An</a>, căn cứ đầu não của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A3ng_C%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n_Trung_Qu%E1%BB%91c">Đảng Cộng sản Trung Quốc</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%C3%A2n_Gi%E1%BA%A3i_ph%C3%B3ng_Nh%C3%A2n_d%C3%A2n_Trung_Qu%E1%BB%91c">Hồng quân Trung Quốc</a> mùa đông <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1938">1938</a> đến đầu năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1939">1939</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-63"><sup>[62]<br></sup></a><br></div><div><strong><br>Trở về Việt Nam</strong></div><div><br>Đầu tháng 1 năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1941">1941</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0ng_V%C4%83n_Th%E1%BB%A5">Hoàng Văn Thụ</a>, Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng từ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam">Việt Nam</a> sang <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C4%A9nh_T%C3%A2y">Tĩnh Tây</a> (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A3ng_T%C3%A2y">Quảng Tây</a>, Trung Quốc) gặp Nguyễn Ái Quốc để báo cáo kết quả xây dựng và củng cố An toàn khu <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Cao_B%E1%BA%B1ng">Cao Bằng</a>. Hoàng Văn Thụ đề nghị ông về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam">Việt Nam</a> qua lối Cao Bằng. Nguyễn Ái Quốc cũng nhận định <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Cao_B%E1%BA%B1ng">Cao Bằng</a> sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng, và ông quyết định trở về nước sau 30 năm ở nước ngoài.<br><br></div><div><br>Ông trở về <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam">Việt Nam</a> vào ngày <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/28_th%C3%A1ng_1">28 tháng 1</a> năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1941">1941</a>,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-64"><sup>[63]</sup></a> với hành lý là một chiếc vali nhỏ đan bằng mây tre để đựng quần áo và một chiếc máy chữ xách tay. Nhà thơ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%91_H%E1%BB%AFu">Tố Hữu</a> đã viết về sự kiện này qua bốn câu thơ:<br><br></div><div><em>"Bác đã về đây, Tổ quốc ơi!<br></em><br></div><div><em>Nhớ thương hòn đất ấm hơi Người.<br></em><br></div><div><em>Ba mươi năm ấy, chân không nghỉ,<br></em><br></div><div><em>Mà đến bây giờ mới tới nơi"</em>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-qdnd-65"><sup>[64]<br></sup></a><br></div><div><br>Sau khi hỏi thăm dân địa phương, ngày <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/8_th%C3%A1ng_2">8 tháng 2</a> năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1941">1941</a>, Nguyễn Ái Quốc tới ở tại hang Cốc Bó, bản <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hang_P%C3%A1c_B%C3%B3">Pác Bó</a>, tỉnh <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Cao_B%E1%BA%B1ng">Cao Bằng</a> với bí danh <strong>Già Thu</strong>. Dòng suối lớn chảy qua đây được ông gọi là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Su%E1%BB%91i_L%C3%AA_Nin">suối Lê-nin</a>, ngọn núi đá cao được gọi là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Karl_Marx">núi Các-Mác</a>. Ông đã làm một bài thơ (nay đã được tạc vào vách núi) thể hiện chí hướng:<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-66"><sup>[65]<br></sup></a><br></div><div><em>Non xa xa nước xa xa,<br></em><br></div><div><em>Nào phải thênh thang mới gọi là.<br></em><br></div><div><em>Đây suối Lê-nin, kia núi Mác,<br></em><br></div><div><em>Hai tay gây dựng một sơn hà</em>.<br><br></div><div><br>Tại đây, Nguyễn Ái Quốc mở các lớp huấn luyện cán bộ,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-67"><sup>[66]</sup></a> cho in báo, tham gia các hoạt động thường ngày... Tài liệu huấn luyện và tuyên truyền chủ yếu là sách do ông dịch và viết về nhiều chủ đề. Tại cuối một cuốn sách như vậy ông ghi <em>"Việt Nam độc lập năm 1945"</em>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-68"><sup>[67]</sup></a> Ông cho lập nhiều hội đoàn nhân dân như Hội Phụ nữ Cứu quốc, Hội Phụ lão Cứu quốc, Hội Nông dân Cứu quốc...<br><br></div><div><br>Từ ngày 10 đến ngày <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/19_th%C3%A1ng_5">19 tháng 5</a> năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1941">1941</a>, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị lần thứ 8 (mở rộng) của Trung ương Đảng họp tại Pác Bó, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Cao_B%E1%BA%B1ng">Cao Bằng</a>. Một trong những kết quả của hội nghị này là nghị quyết về việc thành lập <em>Việt Nam Độc lập Đồng minh</em> (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Minh">Việt Minh</a>).<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-69"><sup>[68]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh#cite_note-70"><sup>[69]<br></sup></a><br></div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-29 06:55:33 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/longdeptrai2072007/uyz98qmdj6d6c8v3/wish/1853349159</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hoa Kỳ</title>
         <author>longdeptrai2072007</author>
         <link>https://padlet.com/longdeptrai2072007/uyz98qmdj6d6c8v3/wish/1853356401</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><br>Lịch sử </strong><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hoa_K%E1%BB%B3"><strong>Hoa Kỳ</strong></a>, như được giảng dạy tại các <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_h%E1%BB%8Dc">trường học</a> và các đại học Mỹ, thông thường được bắt đầu với chuyến đi thám hiểm đến <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A2u_M%E1%BB%B9">châu Mỹ</a> của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Cristoforo_Colombo">Cristoforo Colombo</a> năm 1492 hoặc thời tiền sử của người bản địa Mỹ. Tuy nhiên trong những thập niên gần đây, thời kỳ tiền sử của người bản địa Mỹ ngày càng trở nên phổ biến hơn khi được lấy làm mốc khởi đầu cho lịch sử của Hoa Kỳ.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Hoa_K%E1%BB%B3#cite_note-1"><sup>[1]<br></sup></a><br></div><div><br>Người bản địa sống tại nơi mà ngày nay là Hoa Kỳ trước khi những người <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%B1c_d%C3%A2n_ch%C3%A2u_%C3%82u_t%E1%BA%A1i_ch%C3%A2u_M%E1%BB%B9">thực dân châu Âu</a> bắt đầu đi đến, phần lớn là từ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Anh_Qu%E1%BB%91c">Anh Quốc</a>, sau năm 1600. Vào thập niên 1770, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/13_thu%E1%BB%99c_%C4%91%E1%BB%8Ba">Mười ba thuộc địa Anh</a> có đến 2 triệu rưỡi người sinh sống. Các thuộc địa này thịnh vượng và phát triển nhanh chóng, phát triển các hệ thống pháp lý và chính trị tự chủ của chính mình. <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BB%91c_h%E1%BB%99i_Anh">Nghị viện Anh Quốc</a> áp đặt quyền lực của mình đối với các thuộc địa này bằng cách đặt ra các thứ thuế mới mà người Mỹ cho rằng là vi hiến bởi vì họ không có đại diện của mình trong nghị viện. Các cuộc xung đột ngày càng nhiều đã biến thành cuộc chiến tranh toàn lực, bắt đầu vào tháng 4 năm 1775. Ngày <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/4_th%C3%A1ng_7">4 tháng 7</a> năm 1776, các thuộc địa <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tuy%C3%AAn_ng%C3%B4n_%C4%90%E1%BB%99c_l%E1%BA%ADp_Hoa_K%E1%BB%B3">tuyên bố độc lập</a> khỏi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C6%B0%C6%A1ng_qu%E1%BB%91c_Anh_(1707-1801)">Vương quốc Anh</a> bằng một văn kiện do <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Thomas_Jefferson">Thomas Jefferson</a> viết ra và trở thành Hợp chúng quốc Hoa Kỳ.<br><br></div><div><br>Lực lượng yêu nước nhận được sự ủng hộ về tài chính và quân sự trên mức độ lớn từ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%A1p">Pháp</a> và dưới sự lãnh đạo quân sự của Tướng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/George_Washington">George Washington</a>, đã giành được chiến thắng trong cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_C%C3%A1ch_m%E1%BA%A1ng_M%E1%BB%B9">chiến tranh cách mạng</a> và hòa bình đạt được vào năm 1783. Trong và sau chiến tranh, 13 tiểu quốc thống nhất thành một chính phủ liên bang yếu thông qua bản <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A1c_%C4%91i%E1%BB%81u_kho%E1%BA%A3n_H%E1%BB%A3p_bang">hiến pháp hợp bang</a>. Khi bản hiến pháp hợp bang này chứng tỏ không phù hợp, một bản <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hi%E1%BA%BFn_ph%C3%A1p_Hoa_K%E1%BB%B3">hiến pháp mới</a> được thông qua vào năm 1789. Bản hiến pháp này vẫn là cơ sở của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%ADnh_ph%E1%BB%A7_Li%C3%AAn_bang_Hoa_K%E1%BB%B3">Chính phủ Liên bang Hoa Kỳ</a>, và sau đó còn có thêm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1o_lu%E1%BA%ADt_nh%C3%A2n_quy%E1%BB%81n_Hoa_K%E1%BB%B3">đạo luật nhân quyền</a>. Một chính phủ quốc gia mạnh được thành lập với Washington là tổng thống đầu tiên và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Alexander_Hamilton">Alexander Hamilton</a> là cố vấn trưởng tài chính. Trong thời kỳ hệ thống đảng phái lần thứ nhất, hai đảng chính trị quốc gia hình thành để ủng hộ hay chống đối các chính sách của Hamilton. Khi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Thomas_Jefferson">Thomas Jefferson</a> trở thành Tổng thống, ông mua <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%A3nh_th%E1%BB%95_Louisiana">Lãnh thổ Louisiana</a> từ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%A1p">Pháp</a>, gia tăng diện tích của Hoa Kỳ lên gấp đôi. Một cuộc chiến tranh lần thứ hai cũng là lần cuối cùng với Anh Quốc xảy ra <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_Hoa_K%E1%BB%B3_-_Anh_Qu%E1%BB%91c_(1812)">vào năm 1812</a>. Kết quả chủ yếu của cuộc chiến tranh này là sự chấm dứt ủng hộ của châu Âu dành cho các cuộc tiến công của người bản địa Mỹ (người da đỏ) nhằm chống những người định cư ở miền Tây nước Mỹ.<br><br></div><div><br>Dưới sự bảo trợ của phong trào <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=D%C3%A2n_ch%E1%BB%A7_Jefferson&amp;action=edit&amp;redlink=1">Dân chủ Jefferson</a>, và <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=D%C3%A2n_ch%E1%BB%A7_Jackson&amp;action=edit&amp;redlink=1">Dân chủ Jackson</a>, nước Mỹ mở rộng đến <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C3%B9ng_%C4%91%E1%BA%A5t_mua_Louisiana">vùng đất mua Louisiana</a> và thẳng đường đến <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/California">California</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/X%E1%BB%A9_Oregon">xứ Oregon</a>, tìm kiếm đất rẻ cho các nông gia <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Yeoman&amp;action=edit&amp;redlink=1">Yeoman</a> và chủ nô - những người cổ vũ cho nền dân chủ và mở rộng lãnh thổ bằng giá bạo lực và khinh miệt nền văn hóa châu Âu. Sự mở rộng lãnh thổ dưới chiêu bài <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%E1%BA%ADn_m%E1%BB%87nh_hi%E1%BB%83n_nhi%C3%AAn">vận mệnh hiển nhiên</a> là một sự bác bỏ lời khuyên của đảng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A3ng_Whig_(Hoa_K%E1%BB%B3)">Whig</a> muốn thúc đẩy chiều sâu và hiện đại hóa nền kinh tế - xã hội hơn là việc chỉ mở rộng lãnh thổ địa lý. Chủ nghĩa nô lệ bị bãi bỏ tại tất cả các tiểu bang miền Bắc (phía bắc <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90%C6%B0%E1%BB%9Dng_Mason-Dixon&amp;action=edit&amp;redlink=1">đường Mason-Dixon</a> phân chia <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Pennsylvania">Pennsylvania</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Maryland">Maryland</a>) vào năm 1804, nhưng lại phát triển mạnh tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_Hoa_K%E1%BB%B3">các tiểu bang miền Nam</a> vì nhu cầu lớn về bông vải tại châu Âu.<br><br></div><div><br>Sau năm 1820, một loạt các thoả hiệp đã giúp xóa bỏ đối đầu giữa miền bắc và miền nam về vấn đề chủ nghĩa nô lệ. Vào giữa thập niên 1850, lực lượng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A3ng_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a_(Hoa_K%E1%BB%B3)">Cộng hòa mới thành lập</a> nắm kiểm soát nền chính trị miền Bắc và hứa ngăn chăn sự mở rộng của chủ nghĩa nô lệ với ám chỉ rằng chủ nghĩa nô lệ sẽ dần dần bị loại bỏ. Cuộc bầu cử tổng thống năm 1860 với kết quả chiến thắng của đảng viên Đảng Cộng hòa <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Abraham_Lincoln">Abraham Lincoln</a> đã châm ngòi cho cuộc ly khai của 11 tiểu bang theo chủ nghĩa nô lệ để lập ra <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Li%C3%AAn_minh_mi%E1%BB%81n_Nam_Hoa_K%E1%BB%B3">Liên minh miền Nam Hoa Kỳ</a> năm 1861. <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/N%E1%BB%99i_chi%E1%BA%BFn_Hoa_K%E1%BB%B3">Nội chiến Hoa Kỳ</a> (1861–1865) là hạch tâm của lịch sử Mỹ. Sau bốn năm chiến tranh đẫm máu, phe miền Bắc dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Lincoln và Tướng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ulysses_S._Grant">Ulysses S. Grant</a> đánh bại phe miền Nam với sự chỉ huy của Tướng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Robert_E._Lee">Robert E. Lee</a>. Liên bang được bảo tồn và chủ nghĩa nô lệ bị bãi bỏ, và miền nam bị suy kiệt. Trong <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Th%E1%BB%9Di_%C4%91%E1%BA%A1i_t%C3%A1i_thi%E1%BA%BFt_Hoa_K%E1%BB%B3&amp;action=edit&amp;redlink=1">thời đại tái thiết</a> (1863–1877), Hoa Kỳ chấm dứt chủ nghĩa nô lệ và nới rộng quyền đầu phiếu và pháp lý cho những người "tự do" (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_M%E1%BB%B9_g%E1%BB%91c_ch%C3%A2u_Phi">người Mỹ gốc châu Phi</a> trước đó từng là nô lệ). Chính phủ quốc gia ngày càng vững chắc hơn, và nhờ vào <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tu_ch%C3%ADnh_%C3%A1n_hi%E1%BA%BFn_ph%C3%A1p_%C4%91i%E1%BB%81u_14&amp;action=edit&amp;redlink=1">Tu chính án hiến pháp điều 14</a>, giờ đây đã có nhiệm vụ rõ ràng là bảo vệ quyền của mỗi cá nhân. Thời đại tái thiết chấm dứt vào năm 1877 và từ thập niên 1890 đến thập niên 1960, hệ thống <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Lu%E1%BA%ADt_Jim_Crow">Jim Crow</a> (tách ly chủng tộc) kìm hãm người da đen luôn ở vị trí thấp kém về kinh tế, xã hội và chính trị. Toàn miền nam vẫn bần cùng cho đến nửa sau của thế kỷ 20, trong khi đó miền Bắc và miền Tây phát triển nhanh chóng và thịnh vượng.<br><br></div><div><br>Hoa Kỳ trở thành cường quốc công nghiệp hàng đầu thế giới ngay ngưỡng cửa của thế kỷ 20 vì sự bùng nổ của giới doanh nghiệp tư nhân tại miền Bắc và làn sóng di dân mới đến của hàng triệu công nhân và nông dân từ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A2u_%C3%82u">châu Âu</a>. Hệ thống đường sắt quốc gia được hoàn thành. Các nhà máy và các hoạt động khai thác quặng mỏ trên quy mô rộng đã công nghiệp hóa miền <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_B%E1%BA%AFc_Hoa_K%E1%BB%B3">đông bắc</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_T%C3%A2y_Hoa_K%E1%BB%B3">trung-tây</a>. Sư bất mãn của giới trung lưu đối với các vấn đề như tham những, sự kém hiệu quả và nền chính trị truyền thống đã kích thích thành một phong trào cấp tiến từ thập niên 1890 đến thập niên 1920. Phong trào này gây áp lực đòi cải cách, cho phép phụ nữ đầu phiếu và <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=C%E1%BA%A5m_r%C6%B0%E1%BB%A3u_t%E1%BA%A1i_Hoa_K%E1%BB%B3&amp;action=edit&amp;redlink=1">cấm rượu cồn</a> (về sau việc cấm rượu cồn bị bãi bỏ vào năm 1933). Hoa Kỳ ban đầu trung lập trong <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_th%E1%BA%BF_gi%E1%BB%9Bi_th%E1%BB%A9_nh%E1%BA%A5t">Chiến tranh thế giới thứ nhất</a>, song tuyên chiến với <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_%C4%90%E1%BB%A9c">Đức</a> năm 1917, và tài trợ cho đồng minh chiến thắng vào năm sau đó. Sau một thập niên thịnh vương trong thập niên 1920, sự kiện thị trường chứng khoán Wall Street sụp đổ năm 1929 đánh dấu sự khởi đầu của một cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_kh%E1%BB%A7ng_ho%E1%BA%A3ng">Đại khủng hoảng</a> trên toàn thế giới kéo dài cả thập niên. Đảng viên <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A3ng_D%C3%A2n_ch%E1%BB%A7_Hoa_K%E1%BB%B3">Dân chủ</a> <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Franklin_D._Roosevelt">Franklin D. Roosevelt</a> trở thành thống thống và thực hiện các chương trình cứu tế, tái thiết, cải cách (gọi chung là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/New_Deal">New Deal</a>), định hình nên chủ nghĩa tự do Mỹ hiện đại. Sau khi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n">Nhật Bản</a> <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%ADn_Tr%C3%A2n_Ch%C3%A2u_C%E1%BA%A3ng">tấn công vào Trân Châu Cảng</a> ngày 7 tháng 12 năm 1941, Hoa Kỳ nhập cuộc vào <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_th%E1%BA%BF_gi%E1%BB%9Bi_th%E1%BB%A9_hai">Chiến tranh thế giới thứ hai</a> bên cạnh <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%E1%BB%91i_%C4%90%E1%BB%93ng_Minh_th%E1%BB%9Di_Chi%E1%BA%BFn_tranh_th%E1%BA%BF_gi%E1%BB%9Bi_th%E1%BB%A9_hai">phe Đồng Minh</a> và giúp đánh bại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%A9c_Qu%E1%BB%91c_x%C3%A3">Đức Quốc xã</a> tại châu Âu và Đế quốc Nhật Bản tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%85n_%C4%90%C3%B4ng">Viễn Đông</a>.<br><br></div><div><br>Hoa Kỳ và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Li%C3%AAn_X%C3%B4">Liên Xô</a> nổi lên thành hai siêu cường đối nghịch nhau sau Chiến tranh thế giới thứ hai và khởi động một cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_L%E1%BA%A1nh">Chiến tranh Lạnh</a>, đối đầu nhau gián tiếp trong cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BA%A1y_%C4%91ua_v%C5%A9_trang">chạy đua vũ trang</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BA%A1y_%C4%91ua_v%C3%A0o_kh%C3%B4ng_gian">chạy đua vào không gian</a>. Chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ trong thời Chiến tranh Lạnh được xây dựng quanh việc bao vây <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_c%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n">chủ nghĩa cộng sản</a>, và nước Mỹ tham dự vào các cuộc chiến tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_Tri%E1%BB%81u_Ti%C3%AAn">Triều Tiên</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_Vi%E1%BB%87t_Nam">Việt Nam</a> để đạt được mục đích này. Chủ nghĩa tự do đạt được vô số chiến thắng trong những năm tháng của chương trình New Deal và sau đó vào giữa thập niên 1960, đặc biệt là sự thành công của phong trào dân quyền, nhưng chủ nghĩa bảo thủ quay ngược được thế cục vào thập niên 1980 dưới thời Tổng thống <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ronald_Reagan">Ronald Reagan</a>. Chiến tranh Lạnh kết thúc khi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Li%C3%AAn_X%C3%B4_tan_r%C3%A3">Liên Xô tan rã</a> vào năm 1991, Hoa Kỳ là siêu cường duy nhất còn lại. Khi thế kỷ 21 bắt đầu, xung đột quốc tế có tâm điểm quanh <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_%C4%90%C3%B4ng">Trung Đông</a> và lên đỉnh điểm theo sau <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/S%E1%BB%B1_ki%E1%BB%87n_11_th%C3%A1ng_9">các vụ tấn công ngày 11 tháng 9 năm 2001</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_ch%E1%BB%91ng_kh%E1%BB%A7ng_b%E1%BB%91">Chiến tranh chống khủng bố</a> được tuyên bố sau đó. Hoa Kỳ trải qua thời kỳ suy thoái kinh tế tệ hại nhất kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai vào cuối thập niên 2000 mà theo sau là thời kỳ phát triển kinh tế chậm hơn mức bình thường trong suốt thập niên 2010.<br><br>Thời tiền-Columbo[<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Hoa_K%E1%BB%B3&amp;veaction=edit&amp;section=2">sửa</a> | <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Hoa_K%E1%BB%B3&amp;action=edit&amp;section=2">sửa mã nguồn</a>]<br><br></div><div><br>Người ta không biết đích xác rằng bằng cách nào hay khi nào người bản địa Mỹ đầu tiên đến định cư tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A2u_M%E1%BB%B9">châu Mỹ</a> và tại lãnh thổ ngày nay là Hoa Kỳ. Giả thiết phổ biến hơn hết cho rằng người bản địa di cư từ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%A5c_%C4%91%E1%BB%8Ba_%C3%81-%C3%82u">lục địa Á-Âu</a> bằng cách đi qua <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Beringia">Beringia</a>, một cầu lục địa khi đó nối liền vùng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Siberi">Siberi</a> đến khu vực ngày nay là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Alaska">Alaska</a>, và rồi sau đó phân tán về phía nam ra khắp châu Mỹ. Cuộc di cư này có thể đã bắt đầu khoảng 30 ngàn năm về trước<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Hoa_K%E1%BB%B3#cite_note-2"><sup>[2]</sup></a> và tiếp tục cho đến 10 ngàn năm trước đây khi cầu lục địa ở dưới mực nước biển do kết thúc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_k%E1%BB%B3_b%C4%83ng_h%C3%A0_cu%E1%BB%91i_c%C3%B9ng">thời kỳ băng hà cuối cùng</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Hoa_K%E1%BB%B3#cite_note-3"><sup>[3]</sup></a> Những cư dân đầu tiên này, được gọi là người "Paleoamericans", chẳng bao lâu sau đó đa dạng hóa thành hàng trăm dân tộc và bộ lạc có nền văn hóa riêng biệt.<br><br></div><div><br>Thời kỳ tiền-Columbo là sự tổng hợp lại tất cả các tiểu thời kỳ trong lịch sử và tiền sử của cả châu Mỹ trước khi có sự ảnh hưởng quan trọng của người châu Âu tác động vào lục địa châu Mỹ, trải dài từ lúc có người định cư ban đầu trong cuối <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_%C4%91%E1%BA%A1i_%C4%91%E1%BB%93_%C4%91%C3%A1">thời đại đồ đá</a> đến khi người châu Âu thuộc địa hóa châu Mỹ trong <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_k%E1%BB%B3_c%E1%BA%ADn_%C4%91%E1%BA%A1i">thời kỳ cận đại</a>. Mặc dù thời kỳ này được ám chỉ đến thời đại trước khi có các cuộc thám hiểm châu Mỹ của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Cristoforo_Colombo">Cristoforo Colombo</a> từ năm 1492 đến 1504 nhưng trên thực tế thuật từ này thường bao gồm lịch sử của các nền văn hóa bản địa châu Mỹ cho đến khi họ bị chinh phục hay bị ảnh hưởng đáng kể bởi người châu Âu, thậm chí ngay cả khi điều này xảy ra hàng thập niên hay thậm chí hàng thế kỷ sau chuyến đổ bộ đầu tiên của Colombo.<br><br>Thời kỳ thuộc địa<br>Sau một thời kỳ thám hiểm được các quốc gia lớn ở châu Âu bảo trợ, các khu định cư đầu tiên của người châu Âu được thiết lập vào năm 1607.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Hoa_K%E1%BB%B3#cite_note-4"><sup>[4]</sup></a> Người châu Âu mang theo ngựa, bò và heo đến châu Mỹ, đổi lại, họ mang trở về châu Âu gồm có bắp, gà tây, khoai tây, đậu và bí. Môi trường bệnh tật gây tử vong đối với nhiều nhà thám hiểm và những người định cư đầu tiên bị tiếp xúc trực tiếp với các căn bệnh mới. Ảnh hưởng của căn bệnh mới thậm chí tồi tệ hơn đối với người bản địa châu Mỹ, đặc biệt là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BB%87nh_%C4%91%E1%BA%ADu_m%C3%B9a">bệnh đậu mùa</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BB%87nh_s%E1%BB%9Fi">bệnh sởi</a>. Họ chết nhiều vô số kể, thường thường trước khi khu định cư quy mô lớn của người châu Âu hình thành.<br><strong><br>Thuộc địa hóa của người Tây Ban Nha, Hà Lan, và Pháp</strong>[<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Hoa_K%E1%BB%B3&amp;veaction=edit&amp;section=4">sửa</a> | <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Hoa_K%E1%BB%B3&amp;action=edit&amp;section=4">sửa mã nguồn</a>]</div><div><br>Các nhà thám hiểm Tây Ban Nha là những người châu Âu đầu tiên có mặt tại lãnh thổ nay thuộc Hoa Kỳ, đó là chuyến thám hiểm thứ hai của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Cristoforo_Colombo">Cristoforo Colombo</a>. Chuyến đi này đến được <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Puerto_Rico">Puerto Rico</a> ngày <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/19_th%C3%A1ng_11">19 tháng 11</a> năm 1493; chuyến khác đến được Florida năm 1513.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Hoa_K%E1%BB%B3#cite_note-7"><sup>[7]</sup></a> Không lâu sau đó, các chuyến thám hiểm của Tây Ban Nha đã đến được <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/D%C3%A3y_n%C3%BAi_Appalachia">dãy núi Appalachia</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%B4ng_Mississippi">sông Mississippi</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Grand_Canyon">Grand Canyon</a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Hoa_K%E1%BB%B3#cite_note-8"><sup>[8]</sup></a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_B%C3%ACnh_nguy%C3%AAn_B%E1%BA%AFc_M%E1%BB%B9">Đại Bình nguyên Bắc Mỹ</a>. Năm 1540, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hernando_de_Soto">Hernando de Soto</a> thực hiện một cuộc thám hiểm trên quy mô lớn ở vùng đông nam. Cũng trong năm 1540, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Francisco_V%C3%A1zquez_de_Coronado&amp;action=edit&amp;redlink=1">Francisco Vázquez de Coronado</a> thám hiểm từ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Arizona">Arizona</a> đến miền trung <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kansas">Kansas</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Hoa_K%E1%BB%B3#cite_note-9"><sup>[9]</sup></a> Người Tây Ban Nha đưa một số người định cư đến, lập ra khu định cư thường trực đầu tiên của người châu Âu tại lục địa Hoa Kỳ ở khu vực ngày nay là <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=St._Augustine,_Florida&amp;action=edit&amp;redlink=1">St. Augustine, Florida</a> năm 1565, nhưng khu định cư này hấp dẫn ít người định cư thường trực. Các khu định cư Tây Ban Nha phát triển và trở thành các thành phố quan trọng trong đó có <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Santa_Fe,_New_Mexico">Santa Fe</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Albuquerque,_New_Mexico">Albuquerque</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/San_Antonio">San Antonio</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tucson,_Arizona">Tucson</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/San_Diego">San Diego</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Los_Angeles">Los Angeles</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Santa_Barbara,_California">Santa Barbara</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/San_Francisco">San Francisco</a>.<br><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2n_H%C3%A0_Lan"><br>Tân Hà Lan</a> là thuộc địa Hà Lan vào thế kỷ 17 có trung tâm nằm trên khu vực ngày nay là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_New_York">Thành phố New York</a> và thung lũng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%B4ng_Hudson">sông Hudson</a> nơi họ mua bán da thú với người bản địa Mỹ ở phía bắc và làm nơi phòng vệ chống sự xâm lấn của người nói <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ti%E1%BA%BFng_Anh">tiếng Anh</a> từ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2n_Anh">Tân Anh</a>. Người Hà Lan theo phái <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%A7n_h%E1%BB%8Dc_Calvin">thần học Calvin</a>, họ hình thành nên Giáo hội Cải cách tại châu Mỹ nhưng họ cũng hòa đồng với các nền văn hóa và tôn giáo khác. Thuộc địa này bị người Anh chiếm vào năm 1664. Nó để lại một di sản trường tồn đối với đời sống chính trị và văn hóa Mỹ trong đó gồm có một tư tưởng thế tục phóng khoáng và chủ nghĩa thực dụng vụ lợi tại thành phố, một chủ nghĩa truyền thống nông thôn tại vùng miền quê mà đặc trưng là truyện ngắn có tựa đề <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Rip_Van_Winkle">Rip Van Winkle</a> và các chính trị gia như <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Martin_Van_Buren">Martin Van Buren</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Theodore_Roosevelt">Theodore Roosevelt</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Franklin_D._Roosevelt">Franklin D. Roosevelt</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Eleanor_Roosevelt">Eleanor Roosevelt</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Hoa_K%E1%BB%B3#cite_note-11"><sup>[11]<br></sup></a><br></div><div><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2n_Ph%C3%A1p"><br>Tân Pháp</a> là vùng bị Pháp thuộc địa hóa từ năm 1534 đến năm 1763. Có ít người định cư thường trực bên ngoài <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%C3%A9bec">Québec</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Acadia">Acadia</a> nhưng <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Li%C3%AAn_minh_Wabanaki&amp;action=edit&amp;redlink=1">Liên minh Wabanaki</a> trở thành đồng minh quân sự của Tân Pháp trong suốt bốn cuộc chiến tranh với các thuộc địa của Anh liên kết với <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Li%C3%AAn_minh_Iroquois">Liên minh Iroquois</a>. Trong suốt cuộc chiến tranh với người Pháp và người bản địa, Tân Anh thành công chống lại Acadia. Người Anh tống khứ người Acadia (gốc Pháp) ra khỏi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Acadia">Acadia</a> (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nova_Scotia">Nova Scotia</a>) và thay thế bằng những người định cư từ Tân Anh.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Hoa_K%E1%BB%B3#cite_note-12"><sup>[12]</sup></a> Dần dần, một số người Acadia tái định cư tại vùng Louisiana nơi họ phát triển nên một nền văn hóa <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Cajun&amp;action=edit&amp;redlink=1">Cajun</a> nông thôn dặc trưng vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Họ trở thành công dân Mỹ vào năm 1803 khi Hoa Kỳ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C3%B9ng_%C4%91%E1%BA%A5t_mua_Louisiana">mua Louisiana từ Pháp</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Hoa_K%E1%BB%B3#cite_note-13"><sup>[13]</sup></a> Các ngôi làng Pháp khác dọc theo <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%B4ng_Mississippi">sông Mississippi</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%B4ng_Illinois">sông Illinois</a> biến mất khi người Mỹ bắt đầu đến sau năm 1770.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Hoa_K%E1%BB%B3#cite_note-14"><sup>[14]<br></sup></a><br></div><div><strong><br>Thuộc địa hóa của người Anh<br></strong><br>Dải đất nằm dọc theo bờ biển phía đông được định cư chủ yếu bởi những người thực dân Anh vào thế kỷ 17 cùng với con số nhỏ hơn nhiều là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_H%C3%A0_Lan">người Hà Lan</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Th%E1%BB%A5y_%C4%90i%E1%BB%83n">người Thụy Điển</a>. Nước Mỹ thời thuộc địa mang đặc điểm là thiếu hụt lao động trầm trọng mà phải dựa vào những hình thức lao động không tự nguyện như nô lệ và lao công khế ước, và cũng đặc trưng với chính sách thờ ơ tử tế của người Anh, cho phép phát triển một tinh thần Mỹ khác biệt với tinh thần của mẫu quốc tại châu Âu.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Hoa_K%E1%BB%B3#cite_note-history_of_colonial-16"><sup>[16]</sup></a> Trên phân nửa tổng số người di dân châu Âu đến nước Mỹ thời thuộc địa là những lao công khế ước.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Hoa_K%E1%BB%B3#cite_note-17"><sup>[17]<br></sup></a><br></div><div><br>Thuộc địa thành công đầu tiên của người Anh được thiết lập vào năm 1607 trên <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%B4ng_James_(Virginia)">sông James</a> tại <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Jamestown,_Virginia&amp;action=edit&amp;redlink=1">Jamestown</a> là nơi bắt đầu biên cương Mỹ. Nó suy giảm dần trong nhiều thập niên cho đến khi một làn sóng người định cư mới đến vào cuối thế kỷ 17 và lập nên một nền nông nghiệp thương mại dựa vào <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A2y_thu%E1%BB%91c_l%C3%A1">cây thuốc lá</a>. Giữa cuối thập niên 1610 và cách mạng Mỹ, người Anh đã đưa đến các thuộc địa Mỹ khoảng 50 ngàn tù nhân.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Hoa_K%E1%BB%B3#cite_note-18"><sup>[18]</sup></a> Một trường hợp xung đột tệ hại là vụ nổi loạn <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Powhatan&amp;action=edit&amp;redlink=1">Powhatan</a> năm 1622 tại Virginia trong đó người bản địa Mỹ giết chết hàng trăm người định cư Anh. Cuộc xung đột lớn nhất giữa người bản địa Mỹ và người định cư Anh trong thế kỷ 17 là <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Chi%E1%BA%BFn_tranh_c%E1%BB%A7a_Vua_Philip&amp;action=edit&amp;redlink=1">Chiến tranh của Vua Philip</a> tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2n_Anh">Tân Anh</a>,.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Hoa_K%E1%BB%B3#cite_note-19"><sup>[19]</sup></a> <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Chi%E1%BA%BFn_tranh_Yamasee&amp;action=edit&amp;redlink=1">Chiến tranh Yamasee</a> tại Nam Carolina thì đẫm máu.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Hoa_K%E1%BB%B3#cite_note-20"><sup><br></sup></a><br>Người <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Thanh_gi%C3%A1o">Thanh giáo</a> là những người định cư chủ yếu vào thời kỳ ban đầu của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2n_Anh">Tân Anh</a>, họ lập ra <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Thu%E1%BB%99c_%C4%91%E1%BB%8Ba_V%E1%BB%8Bnh_Massachusetts&amp;action=edit&amp;redlink=1">Thuộc địa Vịnh Massachusetts</a> năm 1630 mặc dù có khu định cư nhỏ trước đó vào năm 1620 của một nhóm người tương tự, nhóm Pilgrim, ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Thu%E1%BB%99c_%C4%91%E1%BB%8Ba_Plymouth">Thuộc địa Plymouth</a>. Các thuộc địa nằm giữa gồm các tiểu bang ngày nay là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/New_York">New York</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/New_Jersey">New Jersey</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Pennsylvania">Pennsylvania</a>, và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Delaware">Delaware</a> có nét đặc trưng là mức độ đa dạng lớn về tôn giáo. Khu định cư đầu tiên người Anh tìm cách thiết lập ở phía nam Virginia là <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=T%E1%BB%89nh_Carolina&amp;action=edit&amp;redlink=1">tỉnh Carolina</a> với <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Thu%E1%BB%99c_%C4%91%E1%BB%8Ba_Georgia&amp;action=edit&amp;redlink=1">Thuộc địa Georgia</a> - là thuộc địa cuối cùng trong số <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/13_thu%E1%BB%99c_%C4%91%E1%BB%8Ba">13 thuộc địa</a>, được thành lập trong năm 1733.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Hoa_K%E1%BB%B3#cite_note-21"><sup>[21]<br></sup></a><br></div><div><br>Các thuộc địa có nét đặc trưng là đa dạng tôn giáo với nhiều người thuộc phái giáo đoàn (<em>Congregationalists</em>) tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2n_Anh">Tân Anh</a>, người Đức và người Hà Lan theo phái <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%A7n_h%E1%BB%8Dc_Calvin">thần học cải cách</a> tại các thuộc địa nằm giữa, người <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_gi%C3%A1o">công giáo</a> tại Maryland, và người thuộc Ireland gốc Scotland theo phái <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Gi%C3%A1o_h%E1%BB%99i_Tr%C6%B0%E1%BB%9Fng_l%E1%BA%A3o&amp;action=edit&amp;redlink=1">Giáo hội Trưởng lảo</a> tại vùng biên cương. Nhiều quan chức hoàng gia và giới thương buôn theo <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Anh_gi%C3%A1o">Anh giáo</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Hoa_K%E1%BB%B3#cite_note-22"><sup>[22]<br></sup></a><br></div><div><br>Niềm tin tôn giáo phát triển lớn mạnh sau cuộc Đại thức tỉnh lần thứ nhất (<em>First Great Awakening</em>), đây là phong trào khôi phục niềm tin tôn giáo vào thập niên 1740 do các nhà thuyết pháp như Jonathan Edwards khởi xướng. Bị ảnh hưởng bởi phong trào Đại thức tỉnh, người theo phái Phúc Âm (Evangelical) Mỹ đã thêm một điểm nhấn mới về sự dạt dào linh thiêng của Chúa Thánh Thần và những sự chuyển đổi mà khắc ghi bên trong các tín đồ mới một tình yêu mãnh liệt đối với Thiên Chúa. Người theo phái phục hưng lồng ghép các dấu ấn đó và chuyển tiếp giáo phái Phúc Âm mới được thành lập, tạo nền tảng cho cuộc đại thức tỉnh lần thứ hai khởi sự vào cuối thập niên 1790.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Hoa_K%E1%BB%B3#cite_note-23"><sup>[23]<br></sup></a><br></div><div><br>Mỗi trong số 13 thuộc địa Mỹ có một cơ cấu chính quyền hơi khác biệt. Thông thường một thuộc địa do một thống đốc cai trị, đó là người được <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Lu%C3%A2n_%C4%90%C3%B4n">Luân Đôn</a> bổ nhiệm, có trách nhiệm quản lý ngành hành pháp và dựa vào một nghị viện do địa phương bầu lên để biểu quyết về thuế và làm luật. Vào thế kỷ 18, các thuộc địa Mỹ phát triển rất nhanh chóng vì đất đai và thực phẩm phong phú, và tỉ lệ tử thấp. Các thuộc địa giàu có hơn phần lớn các khu vực tại Anh Quốc. Điều này hấp dẫn dòng người di dân đều đặn, đặc biệt là giới thiếu niên đến Mỹ với địa vị lao công khế ước. Các đồn điền thuốc lá và lúa nhập cảng các nô lệ da đen từ các thuộc địa Anh ở vùng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2y_%E1%BA%A4n">Tây Ấn</a>. Đến khoảng thập niên 1770, họ chiếm một phần năm dân số Mỹ. Câu hỏi về sự độc lập khỏi Anh chưa nảy sinh chừng nào mà các thuộc địa vẫn còn cần đến quân đội Anh để chống lại cường quốc Pháp và Tây Ban Nha. Những mối đe dọa này biến mất vào năm 1765. <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Lu%C3%A2n_%C4%90%C3%B4n">Luân Đôn</a> xem sự tồn tại của các thuộc địa Mỹ chỉ vì lợi ích của mẫu quốc, đây là một chính sách được biết đến với tên gọi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_tr%E1%BB%8Dng_th%C6%B0%C6%A1ng">Chủ nghĩa trọng thương</a>.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-29 07:00:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/longdeptrai2072007/uyz98qmdj6d6c8v3/wish/1853356401</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trung Quốc</title>
         <author>longdeptrai2072007</author>
         <link>https://padlet.com/longdeptrai2072007/uyz98qmdj6d6c8v3/wish/1853360099</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><br>Lịch sử Trung Quốc</strong> đề cập đến <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_Hoa">Trung Hoa</a>, 1 trong 4 nền văn minh cổ nhất thế giới, bắt nguồn từ lưu vực phì nhiêu của hai con sông: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0ng_H%C3%A0">Hoàng Hà</a> (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%ACnh_nguy%C3%AAn_Hoa_B%E1%BA%AFc">bình nguyên Hoa Bắc</a>) và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Giang">Trường Giang</a> (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%93ng_b%E1%BA%B1ng_Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Giang">đồng bằng Trường Giang</a>) trong <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_%C4%91%E1%BA%A1i_%C4%91%E1%BB%93_%C4%91%C3%A1_m%E1%BB%9Bi">Thời đại đồ đá mới</a>, nhưng cái nôi của nền văn minh dân tộc của quốc gia <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_Hoa">Trung Hoa</a> đầu tiên được cho là tại trung và hạ lưu của sông Hoàng Hà trước tiên (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%93ng_b%E1%BA%B1ng_Hoa_B%E1%BA%AFc">Đồng bằng Hoa Bắc</a>) mà dần mở rộng và phát triển và duy trì như ngày nay. Với hàng ngàn năm lịch sử tồn tại và phát triển, đây là một trong những nền văn minh lâu đời, vĩ đại nhất thế giới.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Trung_Qu%E1%BB%91c#cite_note-1"><sup>[1]<br></sup></a><br></div><div><br>Người tiền sử đã bắt đầu cư trú tại Trung Quốc từ ít nhất là gần 1 triệu năm trước, với một số ước tính cho rằng mốc này có thể lên tới 2,24 triệu năm trước.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Trung_Qu%E1%BB%91c#cite_note-2"><sup>[2]</sup></a>. Các nền văn minh <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/N%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p">nông nghiệp</a> đầu tiên bắt đầu xuất hiện ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_Qu%E1%BB%91c">Trung Quốc</a> từ khoảng 10.000 - 13.000 năm trước, đến khoảng hơn 5.000 năm trước thì các nền văn minh nông nghiệp này phát triển hoàn thiện, đã bắt đầu xuất hiện <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%93_%C4%91%E1%BB%93ng">đồ đồng</a> và các cơ cấu Nhà nước đầu tiên như quý tộc, đô thị với các cung điện, công trình tôn giáo... <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/D%C3%A2n_t%E1%BB%99c_Trung_Hoa">Dân tộc Trung Hoa</a> hình thành từ vùng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_Nguy%C3%AAn">Trung Nguyên</a> của lưu vực sông Hoàng Hà ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%93ng_b%E1%BA%B1ng_Hoa_B%E1%BA%AFc">Đồng bằng Hoa Bắc</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_H%E1%BB%93ng_S%C6%A1n">Văn hóa Hồng Sơn</a> góp phần định hình văn minh cùng đất nước Trung Hoa.<br><br></div><div><br>Trải qua hơn 5.000 năm, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_Trung_Qu%E1%BB%91c">văn minh Trung Hoa</a> đã phát triển trở thành một trong số nền văn minh rực rỡ nhất thế giới trong <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_c%E1%BB%95_%C4%91%E1%BA%A1i">thời cổ đại</a> và trung cổ, đặc trưng bởi hệ thống <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BA%BFt_h%E1%BB%8Dc">triết học</a> thâm sâu (trong đó có <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nho_gi%C3%A1o">Nho giáo</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1o_gi%C3%A1o">Đạo giáo</a> và thuyết <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C3%82m_d%C6%B0%C6%A1ng">Âm dương</a> <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C5%A9_h%C3%A0nh">ngũ hành</a>), các thành tựu <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Khoa_h%E1%BB%8Dc_k%E1%BB%B9_thu%E1%BA%ADt">khoa học kỹ thuật</a> (phát minh ra <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%E1%BA%A5y">giấy</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/La_b%C3%A0n">la bàn</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Thu%E1%BB%91c_s%C3%BAng">thuốc súng</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%8Ba_ch%E1%BA%A5n_k%E1%BA%BF">địa chấn kế</a>, kỹ thuật in ấn...), hoạt động giao thương xuyên châu Á (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Con_%C4%91%C6%B0%E1%BB%9Dng_t%C6%A1_l%E1%BB%A5a">Con đường tơ lụa</a>) và những đô thị có quy mô dân số và trình độ kiến trúc hàng đầu thế giới vào thời trung cổ. Trung Quốc là 1 trong 4 nền văn minh cổ đại lớn của thế giới (cùng với <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ai_C%E1%BA%ADp_c%E1%BB%95_%C4%91%E1%BA%A1i">Ai Cập cổ đại</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_minh_L%C6%B0%E1%BB%A1ng_H%C3%A0">văn minh Lưỡng Hà</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_minh_l%C6%B0u_v%E1%BB%B1c_s%C3%B4ng_%E1%BA%A4n">văn minh lưu vực sông Ấn</a>), và là nền văn minh duy nhất trong số đó vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Trung_Qu%E1%BB%91c#cite_note-china.org.cn-3"><sup>[3][3]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Trung_Qu%E1%BB%91c#cite_note-4"><sup>[4]</sup></a>. Bề dày lịch sử và văn hoá do các thế hệ nối nhau giữ gìn suốt 5.000 năm là điều mà không nước nào khác có được và là niềm tự hào lớn nhất của quốc gia này.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Trung_Qu%E1%BB%91c#cite_note-5"><sup>[5]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Trung_Qu%E1%BB%91c#cite_note-6"><sup>[6]<br></sup></a><br></div><div><br>Các di tích cung điện của Trung Quốc có niên đại sớm nhất là từ đời <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Th%C6%B0%C6%A1ng">nhà Thương</a> (khoảng 1.600-1.046 TCN), mặc dù một vài bộ sách sử như <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/S%E1%BB%AD_k%C3%BD_T%C6%B0_M%C3%A3_Thi%C3%AAn"><em>Sử ký</em></a> (khoảng 100 TCN) và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C3%BAc_th%C6%B0_k%E1%BB%89_ni%C3%AAn"><em>Trúc thư kỷ niên</em></a> khẳng định rằng triều đại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_H%E1%BA%A1">nhà Hạ</a> (khoảng 2.070 - 1.600 TCN) đã tồn tại trước nhà Thương.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Trung_Qu%E1%BB%91c#cite_note-state1-7"><sup>[7]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Trung_Qu%E1%BB%91c#cite_note-The_Ancient_Dynasties-8"><sup>[8]</sup></a> Một số phong tục văn hóa, văn học, chính trị và cả triết học được phát triển cực kỳ mạnh trong suốt thời kỳ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Chu">nhà Chu</a>.<br><br></div><div><br>Năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/221_TCN">221 TCN</a>, được coi là năm Trung Quốc bắt đầu trở thành một đế chế lớn mạnh, với 1 vị Hoàng đế-<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%A7n_Th%E1%BB%A7y_Ho%C3%A0ng">Tần Thủy Hoàng</a> cai trị, đánh dấu <strong>sự khởi đầu của đế quốc Trung Hoa</strong>. Vào thời kỳ này, Tần Thủy Hoàng cho xây dựng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%E1%BA%A1n_L%C3%BD_Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Th%C3%A0nh">Vạn lý trường thành</a> để bảo vệ đất nước khỏi các tộc người phương Bắc. Ông cho thống nhất chữ viết, các đơn vị đo lường và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ti%E1%BB%81n_t%E1%BB%87">tiền tệ</a>. Trong hơn 2000 năm phong kiến sau đó, có hai nền đế chế trên toàn Trung Quốc phụ thuộc vào các tộc người dân tộc thiểu số (không phải người Hán) là người <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/M%C3%B4ng_C%E1%BB%95">Mông Cổ</a> (Nay đã thành lập quốc gia độc lập và dân chủ riêng) lập nên <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Nguy%C3%AAn">nhà Nguyên</a> và người <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/M%C3%A3n_Ch%C3%A2u">Mãn Châu</a> (nay thuộc Trung Quốc) lập nên <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Thanh">nhà Thanh</a>. Năm 1911, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A1ch_m%E1%BA%A1ng_T%C3%A2n_H%E1%BB%A3i">Cách mạng Tân Hợi</a> nổ ra lật đổ nhà Thanh, triều đại phong kiến cuối cùng và mở ra giai đoạn lịch sử hiện đại ở Trung Quốc.<br><br></div><div><br>Hiện nay <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_Hoa">Trung Hoa</a> vẫn chưa hoàn toàn thống nhất lãnh thổ vì đang xảy ra chia cắt giữa 2 chính phủ giống như 2 quốc gia riêng: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a_Nh%C3%A2n_d%C3%A2n_Trung_Hoa">Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa</a> tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_Qu%E1%BB%91c_%C4%91%E1%BA%A1i_l%E1%BB%A5c">Trung Quốc đại lục</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_Hoa_D%C3%A2n_Qu%E1%BB%91c">Trung Hoa Dân Quốc</a> tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A3o_%C4%90%C3%A0i_Loan">đảo Đài Loan</a>. Sự chia cắt này xảy ra từ năm 1949 và hiện nay 2 bên vẫn ở trong tình trạng thù địch.<br><br>Thời đồ đá[<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Trung_Qu%E1%BB%91c&amp;veaction=edit&amp;section=1">sửa</a> | <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Trung_Qu%E1%BB%91c&amp;action=edit&amp;section=1">sửa mã nguồn</a>]<br><br></div><div><br>Có lẽ hơn một triệu năm trước, người <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_%C4%91%E1%BB%A9ng_th%E1%BA%B3ng"><em>Homo erectus</em></a> đã cư ngụ ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_Qu%E1%BB%91c">Trung Quốc</a>. Những cuộc khai quật tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%C3%AAn_M%C6%B0u">Nguyên Mưu</a> và sau đó tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Lam_%C4%90i%E1%BB%81n,_T%C3%A2y_An">Lam Điền</a> đã hé lộ những dấu tích cư trú đầu tiên. Có lẽ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/M%E1%BA%ABu_v%E1%BA%ADt">mẫu vật</a> nổi tiếng nhất của <em>Homo erectus</em> được tìm thấy tại Trung Quốc là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_v%C6%B0%E1%BB%A3n_B%E1%BA%AFc_Kinh">người vượn Bắc Kinh</a> (北京人) được phát hiện năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1923">1923</a>. <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Lo%C3%A0i_ng%C6%B0%E1%BB%9Di"><em>Homo sapiens</em></a> hay <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_hi%E1%BB%87n_%C4%91%E1%BA%A1i&amp;action=edit&amp;redlink=1">người hiện đại</a> có thể đã tới Trung Quốc từ khoảng 65.000 trước từ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A2u_Phi">Châu Phi</a>.<br><br></div><div><br>Trong thời gian từ năm 1927 đến năm 1937, tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chu_Kh%E1%BA%A9u_%C4%90i%E1%BA%BFm">Chu Khẩu Điếm</a> phía tây nam <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BA%AFc_Kinh">Bắc Kinh</a>, các <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_kh%E1%BA%A3o_c%E1%BB%95">nhà khảo cổ</a> Trung Quốc đã phát hiện được di tích người vượn Trung Quốc, còn gọi là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_v%C6%B0%E1%BB%A3n_B%E1%BA%AFc_Kinh">người vượn Bắc Kinh</a>, với hài cốt đã hóa thạch và các di tích văn hóa còn tồn tại. Người vượn Trung Quốc là giống người nguyên thủy Trung Quốc sinh sống hàng 50 đến 60 vạn năm trước đây. Họ có thể chế tạo và sử dụng đồ đá đơn giản như <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/R%C3%ACu">rìu</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%BAa">búa</a>, cũng biết dùng đồ xương của người xưa. Những nơi có người vượn Bắc Kinh sinh sống đã phát hiện được nhiều xương hóa thạch cùng các dụng cụ bằng đá, các nồi chảo đã có lửa đốt đun, chứng minh họ đã biết dùng lửa. Trong 2 năm 1922 và 1923 đã phát hiện được người <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=H%C3%A0_S%C3%A1o&amp;action=edit&amp;redlink=1">Hà Sáo</a> (河套) ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/N%E1%BB%99i_M%C3%B4ng">Nội Mông</a>, giống người này gần <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_hi%E1%BB%87n_%C4%91%E1%BA%A1i&amp;action=edit&amp;redlink=1">người hiện đại</a> hơn, cách đây khoảng 20 vạn năm. Trong 2 năm 1933 và 1934 đã phát hiện được <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_S%C6%A1n_%C4%90%E1%BB%89nh_%C4%90%E1%BB%99ng&amp;action=edit&amp;redlink=1">người Sơn Đỉnh Động</a> (山顶洞人) ở Chu Khẩu Điếm. Giống người này đã dùng nhiều đồ đạc chế tạo bằng xương, đồ đá ít. <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/X%C3%A3_h%E1%BB%99i_nguy%C3%AAn_th%E1%BB%A7y">Xã hội nguyên thủy</a> thành lập các công xã không có bóc lột, không có <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Giai_c%E1%BA%A5p">giai cấp</a>, cuộc sống lạc hậu, mông muội.<br><br></div><div><br>Bằng chứng sớm nhất về việc trồng cấy <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/K%C3%AA">kê</a> tại Trung Quốc được <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=X%C3%A1c_%C4%91%E1%BB%8Bnh_ni%C3%AAn_%C4%91%E1%BA%A1i_b%E1%BA%B1ng_cacbon_ph%C3%B3ng_x%E1%BA%A1&amp;action=edit&amp;redlink=1">xác định niên đại bằng cacbon phóng xạ</a> vào khoảng năm 6000 TCN, và có liên quan tới <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_B%C3%B9i_L%C3%BD_C%C6%B0%C6%A1ng">Văn hóa Bùi Lý Cương</a> (裴李崗文化) ở huyện <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2n_Tr%E1%BB%8Bnh,_Tr%E1%BB%8Bnh_Ch%C3%A2u">Tân Trịnh</a>, tỉnh <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_Nam_(Trung_Qu%E1%BB%91c)">Hà Nam</a>. Cùng với <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/N%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p">nông nghiệp</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=D%C3%A2n_c%C6%B0&amp;action=edit&amp;redlink=1">dân cư</a> ngày càng đông đúc, tăng khả năng tích trữ và tái phân phối <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%B1c_ph%E1%BA%A9m">lương thực</a> và đủ cung cấp cho những người <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Th%E1%BB%A3_th%E1%BB%A7_c%C3%B4ng&amp;action=edit&amp;redlink=1">thợ thủ công</a> cũng như <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Quan_l%E1%BA%A1i">quan lại</a>. Cuối <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_%C4%91%E1%BA%A1i_%C4%91%E1%BB%93_%C4%91%C3%A1">thời kỳ đồ đá mới</a>, vùng châu thổ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0ng_H%C3%A0">Hoàng Hà</a> bắt đầu trở thành một <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Trung_t%C3%A2m_v%C4%83n_h%C3%B3a&amp;action=edit&amp;redlink=1">trung tâm văn hóa</a>, nơi những <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%A0ng_x%C3%A3">làng xã</a> đầu tiên được thành lập; những <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Di_ch%E1%BB%89_kh%E1%BA%A3o_c%E1%BB%95_%E1%BB%9F_Trung_Qu%E1%BB%91c&amp;action=edit&amp;redlink=1">di tích khảo cổ</a> đáng chú ý nhất của chúng được tìm thấy tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Di_ch%E1%BB%89_B%C3%A1n_Pha">di chỉ Bán Pha</a> (半坡遗址), <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2y_An">Tây An</a>.<br><br>Những nền văn minh đầu tiên<br><br>Những mảnh đồ gốm có niên đại sớm nhất trên thế giới đã được tìm thấy tại Di chỉ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ti%C3%AAn_Nh%C3%A2n_%C4%90%E1%BB%99ng">Tiên Nhân Động</a>, cho thấy người Trung Quốc đã biết làm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%93_g%E1%BB%91m">đồ gốm</a> từ ít nhất là khoảng 20.000 đến 19.000 năm trước, vào cuối <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_k%E1%BB%B3_b%C4%83ng_h%C3%A0_cu%E1%BB%91i_c%C3%B9ng">Thời kỳ băng hà cuối cùng</a>, chúng được dùng để đựng thực phẩm và nấu ăn<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Trung_Qu%E1%BB%91c#cite_note-9"><sup>[9]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Trung_Qu%E1%BB%91c#cite_note-Xianrendong-10"><sup>[10]</sup></a> Các phát hiện tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Di_ch%E1%BB%89_Nam_Trang_%C4%90%E1%BA%A7u">Di chỉ Nam Trang Đầu</a> cho thấy người Trung Quốc đã biết thuần hóa <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%B3">chó</a> từ khoảng 12.000 năm trước.<br><br></div><div><br>Các nghiên cứu gần đây đã xác định quê hương của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_minh_l%C3%BAa_n%C6%B0%E1%BB%9Bc">văn minh lúa nước</a> là vùng đồng bằng sông <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/D%C6%B0%C6%A1ng_T%E1%BB%AD">Dương Tử</a> (Trung Quốc), nơi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%BAa_n%C6%B0%E1%BB%9Bc">lúa nước</a> được thuần hóa lần đầu tiên trên thế giới<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Trung_Qu%E1%BB%91c#cite_note-Normile-11"><sup>[11]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Trung_Qu%E1%BB%91c#cite_note-Vaughanetal2008-12"><sup>[12]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Trung_Qu%E1%BB%91c#cite_note-harris-13"><sup>[13]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Trung_Qu%E1%BB%91c#cite_note-Zhang2012-14"><sup>[14]</sup></a> Nghiên cứu di truyền vào năm 2011 cho thấy rằng tất cả các dạng lúa nước châu Á, gồm cả indica (lúa Ấn Độ) và japonica (lúa Nhật Bản), đều phát sinh từ một sự kiện thuần hóa duy nhất đã xảy ra cách đây khoảng 13.500 đến 8.200 năm ở miền Nam Trung Quốc, từ giống lúa hoang <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Oryza_rufipogon">Oryza rufipogon</a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Trung_Qu%E1%BB%91c#cite_note-pnas1-15"><sup>[15]</sup></a>. Vết tích bữa cơm tiền sử nấu với gạo từ lúa mọc hoang xưa nhất thế giới, 13.000 năm trước, được một nhóm khảo cổ Mỹ-Trung Hoa tìm thấy trong hang Diaotonghuan phía nam sông <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Giang">Dương Tử</a> (bắc tỉnh <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Giang_T%C3%A2y">Giang Tây</a>).<br><br></div><div><br>Bằng chứng sớm nhất về việc trồng cấy <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/K%C3%AA">kê</a> tại Trung Quốc được <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=X%C3%A1c_%C4%91%E1%BB%8Bnh_ni%C3%AAn_%C4%91%E1%BA%A1i_b%E1%BA%B1ng_cacbon_ph%C3%B3ng_x%E1%BA%A1&amp;action=edit&amp;redlink=1">xác định niên đại bằng cacbon phóng xạ</a> vào khoảng năm 6000 TCN, và có liên quan tới <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_B%C3%B9i_L%C3%BD_C%C6%B0%C6%A1ng">Văn hóa Bùi Lý Cương</a> (裴李崗文化) ở huyện <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2n_Tr%E1%BB%8Bnh,_Tr%E1%BB%8Bnh_Ch%C3%A2u">Tân Trịnh</a>, tỉnh <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_Nam_(Trung_Qu%E1%BB%91c)">Hà Nam</a>. Cùng với <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/N%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p">nông nghiệp</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=D%C3%A2n_c%C6%B0&amp;action=edit&amp;redlink=1">dân cư</a> ngày càng đông đúc, tăng khả năng tích trữ và tái phân phối <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%B1c_ph%E1%BA%A9m">lương thực</a> và đủ cung cấp cho những người <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Th%E1%BB%A3_th%E1%BB%A7_c%C3%B4ng&amp;action=edit&amp;redlink=1">thợ thủ công</a> cũng như <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Quan_l%E1%BA%A1i">quan lại</a>. Cuối <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_%C4%91%E1%BA%A1i_%C4%91%E1%BB%93_%C4%91%C3%A1">thời kỳ đồ đá mới</a>, vùng châu thổ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0ng_H%C3%A0">Hoàng Hà</a> bắt đầu trở thành một <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Trung_t%C3%A2m_v%C4%83n_h%C3%B3a&amp;action=edit&amp;redlink=1">trung tâm văn hóa</a>, nơi những <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%A0ng_x%C3%A3">làng xã</a> đầu tiên được thành lập; những <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Di_ch%E1%BB%89_kh%E1%BA%A3o_c%E1%BB%95_%E1%BB%9F_Trung_Qu%E1%BB%91c&amp;action=edit&amp;redlink=1">di tích khảo cổ</a> đáng chú ý nhất của chúng được tìm thấy tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Di_ch%E1%BB%89_B%C3%A1n_Pha">di chỉ Bán Pha</a> (半坡遗址), <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2y_An">Tây An</a>.<br><br></div><div><br>Tình trạng lụt lội của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0ng_H%C3%A0">Hoàng Hà</a> tồi tệ hơn rất nhiều so với khu vực dọc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Giang">Trường Giang</a> về hướng nam. Dọc theo Trường Giang, qua lòng chảo <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_B%E1%BA%AFc">Hồ Bắc</a> và ở đồng bằng ven biển về hướng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%E1%BB%8Bnh_H%C3%A0ng_Ch%C3%A2u">vịnh Hàng Châu</a>, việc trồng trọt cũng đã phát triển, nhưng người dân sống gần Hoàng Hà phải chống chịu với thiên nhiên khắc nghiệt hơn để chế ngự lũ lụt và tưới tắm mùa màng, và có lẽ điều này đã kích thích một nỗ lực tổ chức tốt hơn. Ở bất kỳ mức độ nào, đồng bằng phía bắc Trung Quốc đã trở thành vùng phát triển nền văn minh sớm nhất với số dân cư tập trung đông đảo nhất.<br><br></div><div><br>Vào khoảng năm 5.000 TCN, các cộng đồng nông nghiệp đã trải dài khắp trên đa phần lãnh thổ phía đông Trung Quốc hiện nay, và đã có những làng nông nghiệp từ đồng bằng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%E1%BB%8B_H%C3%A0">sông Vị</a> chạy về phía đông, song song với sông <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0ng_H%C3%A0">Hoàng Hà</a>, bắt nguồn từ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/D%C3%A3y_n%C3%BAi_C%C3%B4n_L%C3%B4n">dãy núi Côn Lôn</a> chảy về hướng vùng hoàng thổ nơi có cánh rừng trụi lá ở đồng bằng phía bắc Trung Quốc. Ở đó con người có rừng và có nước để trồng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/K%C3%AA">kê</a>, họ săn <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8D_H%C6%B0%C6%A1u_nai">hươu</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nai">nai</a> và các loài thú khác, câu cá làm thức ăn. Họ thuần hóa chó, lợn và gà. Họ đào đất để xây những ngôi nhà một phòng, với mái bằng đất sét hay rạ, nhiều ngôi nhà ngầm như vậy tạo thành một làng. Họ đã có guồng quay tơ và biết đan cũng như dệt sợi. Họ cũng biết chế tạo đồ gốm có trang trí. Một số học giả còn khẳng định rằng một hình thức chữ viết nguyên thủy đã xuất hiện ở Trung Quốc ngay từ năm 3.000 TCN.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Trung_Qu%E1%BB%91c#cite_note-16"><sup>[16]<br></sup></a><br></div><div><br>Trên cơ sở văn minh nông nghiệp, các nền văn hóa dần phát sinh ở các địa phương khác nhau dọc theo 2 dòng sông lớn là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0ng_H%C3%A0">Hoàng Hà</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Giang">Trường Giang</a>, các nền văn hóa này có ảnh hưởng qua lại hoặc tiếp nối nhau:<br><br></div><ul><li>Lưu vực sông Hoàng Hà: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_T%E1%BB%AB_S%C6%A1n">Văn hóa Từ Sơn</a> (~8.000 - 5.500 TCN), <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_B%C3%B9i_L%C3%BD_C%C6%B0%C6%A1ng">Văn hóa Bùi Lý Cương</a> (~7.000 - 5.000 TCN), <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_L%C3%A3o_Quan_%C4%90%C3%A0i">Văn hóa Lão Quan Đài</a> (~5.800 - 5.000 TCN), <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_H%E1%BA%ADu_L%C3%BD">Văn hóa Hậu Lý</a> (~6.500 - 5.500 TCN), <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_H%C6%B0ng_Long_Oa">Văn hóa Hưng Long Oa</a> (6.200-5.400 TCN), <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_Tri%E1%BB%87u_B%E1%BA%A3o_C%C3%A2u">Văn hóa Triệu Bảo Câu</a> (~5.400 - 4.500 TCN), <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_B%E1%BA%AFc_T%C3%A2n">Văn hóa Bắc Tân</a> (~5.300 - 4.100 TCN), <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_Ng%C6%B0%E1%BB%A1ng_Thi%E1%BB%81u">Văn hóa Ngưỡng Thiều</a> (~5.000 - 3.000 TCN), <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_H%E1%BB%93ng_S%C6%A1n">Văn hóa Hồng Sơn</a> (~4.700 - 2.900 TCN), <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_%C4%90%E1%BA%A1i_V%E1%BA%A5n_Kh%E1%BA%A9u">Văn hóa Đại Vấn Khẩu</a> (~4.100 - 2.600 TCN), <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_M%C3%A3_Gia_Di%C3%AAu">Văn hóa Mã Gia Diêu</a> (~3.300 - 2.100 TCN), <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_Long_S%C6%A1n">Văn hóa Long Sơn</a> (~2.600 - 2.000 TCN), <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_Nh%E1%BB%8B_L%C3%BD_%C4%90%E1%BA%A7u">Văn hóa Nhị Lý Đầu</a> (~2.000 - 1.600 TCN).</li><li>Lưu vực sông Trường Giang: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_B%C3%A0nh_%C4%90%E1%BA%A7u_S%C6%A1n">Văn hóa Bành Đầu Sơn</a> (7.500 - 6.100 TCN), <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_H%C3%A0_M%E1%BB%97_%C4%90%E1%BB%99">Văn hóa Hà Mỗ Độ</a> (~5.000 - 4.500 TCN), <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_M%C3%A3_Gia_Banh">Văn hóa Mã Gia Banh</a> (~5.000 - 3.000 TCN), <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_%C4%90%E1%BA%A1i_Kh%C3%AA">Văn hóa Đại Khê</a> (~4.500 - 3.000 TCN), <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_L%C6%B0%C6%A1ng_Ch%E1%BB%AD">Văn hóa Lương Chử</a> (~3.400 - 2.250 TCN), <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_Khu%E1%BA%A5t_Gia_L%C4%A9nh">Văn hóa Khuất Gia Lĩnh</a> (~3.000 - 2.600 TCN), <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_Th%E1%BA%A1ch_Gia_H%C3%A0">Văn hóa Thạch Gia Hà</a> (2.500-2.000 TCN), <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_B%E1%BA%A3o_%C4%90%C3%B4n">Văn hóa Bảo Đôn</a> (~2.500 - 1.750 TCN).</li></ul><div><br>Ở những nơi con người sản xuất ra được nhiều lương thực hơn nhu cầu của họ, các chiến binh đã được thúc đẩy để không chỉ đi cướp đoạt mà còn để chinh phục. Và các vị vua chinh phục đã bắt đầu nổi lên ở đồng bằng phía bắc Trung Quốc cũng như tình trạng ở phía tây <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A2u_%C3%81">châu Á</a>.<br><br></div><div><br>Giai đoạn đầu, lịch sử Trung Quốc chưa được ghi chép chính xác mà chỉ được chuyển tải cho đời sau bằng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Truy%E1%BB%81n_thuy%E1%BA%BFt">truyền thuyết</a>. Theo truyền thuyết, các vua đầu tiên của Trung Quốc là ở thời kỳ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tam_Ho%C3%A0ng_Ng%C5%A9_%C4%90%E1%BA%BF">Tam Hoàng Ngũ Đế</a>, cách đây khoảng 5.000 - 4.200 năm. Theo các nhà nghiên cứu, các truyền thuyết này phản ánh thời kỳ <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=C%C3%B4ng_x%C3%A3_nguy%C3%AAn_thu%E1%BB%B7&amp;action=edit&amp;redlink=1">công xã nguyên thuỷ</a> đang sắp tan rã, liên minh các bộ lạc đang dần trở thành triều đình nắm quyền lực cai trị dân chúng. Vào khoảng 3.000 TCN, xã hội nguyên thuỷ ở Trung Quốc bước vào giai đoạn tan rã hoàn toàn, xã hội chiếm hữu nô lệ với các giai cấp, triều đại bắt đầu hình thành.<br><br></div><div><br>Trong dự án <em>"Nghiên cứu tổng hợp về nguồn gốc và sự phát triển trong thời kỳ đầu của nền văn minh Trung Hoa"</em> (dự án khảo cổ khổng lồ cấp quốc gia, huy động gần 70 cơ quan nghiên cứu, đại học và cơ quan khảo cổ địa phương của Trung Quốc, triển khai từ năm 2001), các nhà khảo cổ đã điều tra và khai quật quy mô lớn ở 4 di chỉ mang tính đô thị có lịch sử 3.500 - 5.500 năm gồm: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_L%C6%B0%C6%A1ng_Ch%E1%BB%AD">Di chỉ Lương Chử</a> ở Dư Hàng - Chiết Giang, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_Long_S%C6%A1n">Di chỉ Đào Tự</a> ở Tương Phần - Sơn Tây, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_Long_S%C6%A1n">Di chỉ Thạch Mão</a> ở Thần Mộc - Thiểm Tây, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_Nh%E1%BB%8B_L%C3%BD_%C4%90%E1%BA%A7u">Di chỉ Nhị Lý Đầu</a> ở Yển Sư - Hà Nam, cũng như hơn chục thôn làng trên toàn quốc. Dự án đã phát hiện các chứng cứ cụ thể về nền văn minh Trung Hoa có lịch sử 5.000 năm, bao gồm phát hiện di tích hệ thống <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%ADp_n%C6%B0%E1%BB%9Bc">đập nước</a> cổ nhất thế giới (niên đại 5.100 năm), kiến trúc cung đình cổ nhất Trung Quốc ở hạ du sông Trường Giang (niên đại 5.000 năm), phát hiện chữ viết xuất hiện sớm nhất Trung Quốc, những đồ dùng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_M%C3%A3_Gia_Di%C3%AAu">làm bằng đồng đỏ sớm nhất Trung Quốc</a> (niên đại 4.900 năm), đài quan sát thiên văn sớm nhất thế giới (niên đại 4.100 năm) ở khu vực trung du sông Hoàng Hà. Dự án chứng thực đặc trưng tổng thể của nền văn minh Trung Hoa là <em>"đa nguyên, nhất thể, thu gom tất cả trong giao lưu, tương tác lâu dài, cuối cùng hội nhập, ngưng tụ hình thành cốt lõi văn minh với </em><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_Nh%E1%BB%8B_L%C3%BD_%C4%90%E1%BA%A7u"><em>Văn hóa Nhị Lý Đầu</em></a><em> là đại diện, mở ra </em><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tam_%C4%90%E1%BA%A1i_(l%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Trung_Qu%E1%BB%91c)"><em>văn minh ba triều đại Hạ, Thương và Chu</em></a><em>"<br></em><br></div><div><br>Trên thế giới, ra đời cùng thời với <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_minh_Trung_Hoa">văn minh Trung Hoa</a> còn có 3 nền văn minh khác là văn minh <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ai_C%E1%BA%ADp_c%E1%BB%95_%C4%91%E1%BA%A1i">Ai Cập cổ đại</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_minh_L%C6%B0%E1%BB%A1ng_H%C3%A0">văn minh Lưỡng Hà</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_minh_l%C6%B0u_v%E1%BB%B1c_s%C3%B4ng_%E1%BA%A4n">Văn minh lưu vực sông Ấn</a>. Tuy nhiên, cả ba nền văn minh đó đều đã bị diệt vong; các phong tục, tôn giáo và chữ viết cũng theo đó mà thất truyền từ lâu (Văn minh lưu vực sông Ấn sụp đổ vào khoảng năm 1.800 TCN, văn minh Ai Cập và Lưỡng Hà bị diệt vong vào khoảng thế kỷ 1 TCN). Chỉ có văn minh Trung Hoa là vẫn tồn tại, phát triển và được kế tục cho tới ngày nay. Sau này, nhiều học giả phương Tây thời cận đại khi tìm hiểu về văn minh Trung Hoa đã phải kinh ngạc về sự tồn tại lâu dài của nó. <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Voltaire">Voltaire</a> cho rằng: <em>"Chúng ta nhận thấy rằng quốc gia ấy tồn tại một cách rực rỡ từ trên 4.000 năm rồi mà luật pháp, phong tục, ngôn ngữ, cách ăn mặc vẫn không thay đổi bao nhiêu..."</em> Học giả Keyserling thì kết luận: <em>"Chính ở Trung Hoa thời thượng cổ người ta đã tạo ra được những mẫu mực nhân loại thông thường hoàn bị nhất… Trung Quốc đã tạo dựng được một nền văn hóa cao nhất từ trước đến nay."</em><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Trung_Qu%E1%BB%91c#cite_note-17"><sup>[17]</sup></a> Khởi điểm văn hóa là nền <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_H%E1%BB%93ng_S%C6%A1n">Văn hóa Hồng Sơn</a> ở phương Bắc đã manh nha cho cả Trung Hoa và Triều Tiên phát triển...<br><br>Vương quốc<br><strong><br>Nhà Hạ<br></strong><br>Xã hội có <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Giai_c%E1%BA%A5p">giai cấp</a> đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc bắt đầu ở đồng bằng phía bắc Trung Quốc đã được miêu tả là thuộc về <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_H%E1%BA%A1">nhà Hạ</a> – giai đoạn cai trị của họ được tin rằng đã bắt đầu khoảng năm 2.200 TCN.<br><br></div><div><br>Theo <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Truy%E1%BB%81n_thuy%E1%BA%BFt">truyền thuyết</a>, trong thời gian <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BA%A1_V%C5%A9">Hạ Vũ</a> trị vì, Vũ đã phát minh ra lối tát nước vào ruộng, lại bắt sống được một số người dân tộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Man">Man</a> về làm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/N%C3%B4_l%E1%BB%87">nô lệ</a>. Vũ bắt đầu xây dựng thành quách để giữ gìn của riêng và người trong dòng họ. Của cải của Vũ, để lại cho con là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BA%A1_Kh%E1%BA%A3i">Hạ Khải</a> thừa hưởng. Khải lên ngôi, tình thế chưa ổn định, phải lấy đất An Ấp (thuộc tỉnh <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/S%C6%A1n_T%C3%A2y_(Trung_Qu%E1%BB%91c)">Sơn Tây</a> ngày nay) để đóng đô. Những con cháu sau này nối ngôi Khải đều nhiều lần đánh phá lẫn nhau, luôn gây ra các cuộc chiến tranh chinh phạt nhỏ. Kinh tế xã hội lúc bấy giờ đã phát triển khá tiến bộ. Phương pháp làm lịch cũng bắt đầu xuất hiện. Từ khi lên ngôi, Khải cho đặt tên triều đại là Hạ. Theo <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Truy%E1%BB%81n_thuy%E1%BA%BFt">truyền thuyết</a>, đời Hạ đã có chín cái vạc đồng do Khải cho đúc. Như vậy, có thể thời kỳ này đã có đồng và nghề đúc đồng.<br><br></div><div><br>Những ghi chép của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C6%B0_M%C3%A3_Thi%C3%AAn">Tư Mã Thiên</a> về thời gian thành lập <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_H%E1%BA%A1">Nhà Hạ</a> là từ khoảng 4.000 năm trước, nhưng điều này không thể được chứng thực. Một số <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%E1%BA%A3o_c%E1%BB%95_h%E1%BB%8Dc">nhà khảo cổ học</a> cho rằng nhà Hạ có liên quan tới di vật khai quật được tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_Nh%E1%BB%8B_L%C3%BD_%C4%90%E1%BA%A7u">Nhị Lý Đầu</a> (二里头) ở trung tâm tỉnh <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_Nam_(Trung_Qu%E1%BB%91c)">Hà Nam</a>, một bức tượng đồng niên đại từ khoảng năm <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=2000_TCN&amp;action=edit&amp;redlink=1">2000 TCN</a>. Những dấu hiệu sớm của thời kỳ này được tìm thấy trên các bình gốm và mai rùa trông tương tự như những đường nét đầu tiên của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%AF_H%C3%A1n">chữ Trung Quốc</a> hiện đại, nhưng nhiều học giả vẫn không chấp nhận ý kiến này. Bằng chứng về sự tồn tại của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_H%E1%BA%A1">Nhà Hạ</a> vẫn cần phải được hỗ trợ thêm nữa qua các cuộc khảo cổ. Vì không có những văn bản ghi chép rõ ràng như các văn bản trên các loại xương hay mai rùa dùng để bói của nhà Thương hay những ghi chép trên vại đồng của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Chu">nhà Chu</a> nên thời đại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_H%E1%BA%A1">nhà Hạ</a> vẫn còn chưa được biết đến kỹ lưỡng.<br><br></div><div><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_H%E1%BA%A1"><br>Nhà Hạ</a> truyền được 17 đời <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vua">vua</a>, từ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BA%A1_V%C5%A9">Hạ Vũ</a> đến <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BA%A1_Ki%E1%BB%87t">Hạ Kiệt</a> được hơn 400 năm thì diệt về tay Thành Thang <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Th%C6%B0%C6%A1ng">nhà Thương</a>.&nbsp;<br><strong><br>Nhà Thương<br></strong><br>ừ thời <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Th%C6%B0%C6%A1ng">Nhà Thương</a> có lẽ ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%BF_k%E1%BB%B7_13_TCN">thế kỷ 13 TCN</a>, người Trung Quốc đã có những đoạn văn khắc dùng để bói toán trên xương thú hoặc mai rùa—được gọi là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%C3%A1p_c%E1%BB%91t_v%C4%83n"><em>giáp cốt văn</em></a> (甲骨文). Nhờ có giáp cốt văn mà ngày nay các nhà khảo cổ có thể kiểm chứng được các sự kiện chính trị, tôn giáo diễn ra vào thời nhà Thương.<br><br></div><div><br>Những hiện vật khảo cổ cho thấy bằng chứng về sự tồn tại của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Th%C6%B0%C6%A1ng">nhà Thương</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1600_TCN">1600 TCN</a>–<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1046_TCN">1046 TCN</a> và nhà Thương được chia làm hai khuynh hướng. Khuynh hướng thứ nhất, từ đầu thời nhà Thương (1600–<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=1300_TCN&amp;action=edit&amp;redlink=1">1300 TCN</a>) với các bằng chứng tại <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Nh%E1%BB%8B_L%C3%BD_C%C6%B0%C6%A1ng&amp;action=edit&amp;redlink=1">Nhị Lý Cương</a> (二里崗), <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BB%8Bnh_Ch%C3%A2u">Trịnh Châu</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C6%B0%C6%A1ng_Th%C3%A0nh">Thương Thành</a>. Khuynh hướng thứ hai từ cuối thời nhà Thương hay giai đoạn Ân (殷), gồm rất nhiều văn bản giáp cốt. <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/An_D%C6%B0%C6%A1ng_(%C4%91%E1%BB%8Ba_c%E1%BA%A5p_th%E1%BB%8B)">An Dương</a>.<br><br></div><div><br>Các nhà sử học Trung Quốc sống ở cuối những giai đoạn này đã làm quen với khái niệm về những triều đại nối tiếp nhau, nhưng tình hình thực tế chính trị ở giai đoạn đầu trong lịch sử Trung Quốc thì phức tạp và rắc rối hơn nhiều. Vì thế, như một số nhà sử học Trung Quốc đề xuất, nhà Hạ và nhà Thương có lẽ chỉ các thực thể tồn tại đồng thời, giống như nhà Chu ở giai đoạn sớm (triều đại kế tiếp nhà Thương), đã được chứng minh là đã cùng tồn tại đồng thời với nhà Thương. <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Trung_Qu%E1%BB%91c#cite_note-19"><sup>[19]<br></sup></a><br></div><div><br>Thời nhà Thương, đồ đồng đã được dùng phổ biến, đạt trình độ chế tác cao. Nhà Thương thường phái quân đội đi chiến đấu chống lại những bộ tộc lân cận. Những lăng mộ vua nhà Thương được khai quật cho thấy họ có những đội quân từ 3.000 đến 5.000 binh lính. Trong cuộc chiến chống <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kh%C6%B0%C6%A1ng_Ph%C6%B0%C6%A1ng&amp;action=edit&amp;redlink=1">Khương Phương</a>, vua <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C5%A9_%C4%90inh">Vũ Đinh</a> (cai trị vào khoảng 1.200 TCN) đã huy động 13.000 quân, vào thời bấy giờ thì đó là một đội quân đại quy mô. Các đồ vật chôn theo nhà vua được tìm thấy là các đồ trang sức cá nhân, những chiếc giáo mũi đồng và những phần còn lại của những chiếc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Cung_(v%C5%A9_kh%C3%AD)">cung</a> và mũi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%AAn_(v%C5%A9_kh%C3%AD)">tên</a>. <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%E1%BB%B1a">Ngựa</a> và xe ngựa để chở lính ra trận cũng được <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%B4n_c%E1%BA%A5t">chôn</a> cùng với vua. Và khi vị vua chết, người đánh xe, chó, người hầu và những nhóm mười người cũng bị <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%B4n_c%E1%BA%A5t">tuẫn táng</a> cùng với vua.<br><br></div><div><br>Nhà Thương truyền được 30 đời vua, kéo dài khoảng 600 năm thì bị diệt về tay <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chu_V%C5%A9_V%C6%B0%C6%A1ng">Chu Vũ Vương</a> của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Chu">nhà Chu</a>.<br><strong><br>Nhà Chu<br></strong><br>Tới cuối thế kỷ thứ 12 trước Công nguyên, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Chu">nhà Chu</a> bắt đầu nổi lên ở châu thổ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0ng_H%C3%A0">Hoàng Hà</a>, tiêu diệt nhà Thương. Có lẽ ban đầu nhà Chu đã bắt đầu thời kỳ cai trị của mình theo một hệ thống nửa phong kiến. Vị vua nhà Chu là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chu_V%C5%A9_v%C6%B0%C6%A1ng">Vũ Vương</a>, với sự hỗ trợ của người em là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chu_C%C3%B4ng_%C4%90%C3%A1n">Chu Công</a> trong vai trò nhiếp chính đã đánh bại nhà Thương tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%ADn_M%E1%BB%A5c_D%C3%A3">trận Mục Dã</a>. Lúc ấy vị vua nhà Chu đã viện dẫn khái niệm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Thi%C3%AAn_m%E1%BB%87nh">Thiên mệnh</a> để hợp pháp hóa vai trò cai trị của mình, một khái niệm về sau này sẽ có ảnh hưởng trên mọi triều đại kế tiếp.<br><br></div><div><br>Ban đầu nhà Chu đóng đô ở vùng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2y_An">Tây An</a> ngày nay, gần sông Hoàng Hà, nhưng họ đã thực hiện nhiều cuộc chinh phục mở rộng vào châu thổ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Giang">sông Dương Tử</a>. Đây là lần đầu tiên trong số nhiều lần di dân từ phía bắc xuống phía nam trong lịch sử Trung Quốc.<br><br></div><div><br>Nhà Chu đã hoàn thiện các nền tảng chính của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_Trung_Qu%E1%BB%91c">Văn hóa Trung Quốc</a> thông qua các chính sách Tỉnh Điền Chế, Tông pháp chế, Quốc dã chế và Lễ nhạc. Để tăng tính chính đáng của quyền lực triều đình, nhà Chu lập ra một hệ thống quan niệm mới gọi là "<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Thi%C3%AAn_m%E1%BB%87nh">Thiên mệnh</a>", còn nhà vua chính là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Thi%C3%AAn_t%E1%BB%AD">Thiên tử</a>, đây là quan niệm sẽ được duy trì suốt 3.000 năm phong kiến Trung Hoa. Việc sử dụng đồ sắt cũng đã xuất hiện ở Trung Quốc vào đầu nhà Chu. Nhà Chu có 37 vua kéo dài khoảng 800 năm, là triều đại tồn tại lâu dài nhất trong lịch sử Trung Quốc.<br><strong><br>Thời Xuân Thu<br></strong><br>Từ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%BF_k%E1%BB%B7_8_TCN">thế kỷ 8 TCN</a>, trước sức ép của các bộ tộc phía tây thường xuyên tấn công và cướp bóc, nhà Chu đã bỏ kinh đô phía tây để chuyển sang phía đông ở châu thổ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0ng_H%C3%A0">Hoàng Hà</a>. Nhà Chu đã nhờ cậy các vương hầu của mình bảo vệ trước sự tấn công của các bộ lạc, nhân cơ hội nhà Chu suy yếu các vương hầu đã lần lượt tiêu diệt các đối thủ nhỏ hơn. Cuối cùng, còn lại vài chục nước, trong đó các <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C6%B0_h%E1%BA%A7u_nh%C3%A0_Chu">chư hầu</a> mạnh nhất lần lượt nổi lên tranh ngôi bá chủ Trung Quốc là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%81_(n%C6%B0%E1%BB%9Bc)">Tề</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%A5n_(n%C6%B0%E1%BB%9Bc)">Tấn</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/S%E1%BB%9F_(n%C6%B0%E1%BB%9Bc)">Sở</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%A7n_(n%C6%B0%E1%BB%9Bc)">Tần</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%91ng_(n%C6%B0%E1%BB%9Bc)">Tống</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C3%B4_(n%C6%B0%E1%BB%9Bc)">Ngô</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_(n%C6%B0%E1%BB%9Bc)">Việt</a>. Trên danh nghĩa <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Chu">nhà Chu</a> nắm thiên mệnh, nhưng thực sự quyền lực nằm trong tay các chư hầu. <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Trung_Qu%E1%BB%91c#cite_note-vietnamese.cri.cn-20"><sup>[20]<br></sup></a><br></div><div><br>Nhà tư tưởng, nhà giáo dục đầu tiên và quan trọng nhất trong lịch sử Trung Quốc – <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%E1%BB%95ng_T%E1%BB%AD">Khổng Tử</a>, cũng sinh ra trong thời đại này. Khổng Tử là người đầu tiên mở trường tư thục để dạy trẻ em và thanh niên bất kỳ thuộc giai cấp nào, nhằm đào tạo ra những thanh niên ưu tú thông hiểu <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a">văn hóa</a> - <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1o_%C4%91%E1%BB%A9c">đạo đức</a> để trợ giúp nhân dân và triều đình. Nhờ có Khổng Tử mở đường, chế độ quý tộc huyết thống dần chuyển qua quý tộc trí thức, sớm hơn 2.000 năm trước phương Tây, khiến các học giả phương Tây rất ngạc nhiên và thán phục, khen <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_Trung_Qu%E1%BB%91c">văn minh Trung Hoa</a> là vô cùng độc sáng. Ngoài ra còn có <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%A3o_T%E1%BB%AD">Lão Tử</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Trang_T%E1%BB%AD">Trang Tử</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Li%E1%BB%87t_T%E1%BB%AD">Liệt Tử</a> là tiểu biểu của Đạo Giáo; <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Phi">Hàn Phi</a> là tiêu biểu của Pháp Gia; <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/M%E1%BA%B7c_T%E1%BB%AD">Mặc Tử</a> là tiêu biểu của Mặc Gia. Họ là những người đề ra các trường phái tư tưởng ảnh hưởng sâu sắc tới văn hóa Trung Quốc sau này.<br><strong><br>Thời Chiến quốc<br></strong>Thời đại này xảy ra vì sự cân bằng mong manh giữa các nước chư hầu biến thành hỗn loạn trong một thế kỷ và vì một phần ở sự kết thúc thời đại cai trị của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Chu">nhà Chu</a>. Các liên minh dễ thay đổi và thường bị tan rã khi các nước lớn bắt đầu xâm chiếm và sáp nhập các nước nhỏ hơn. Bắt đầu từ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%BF_k%E1%BB%B7_4_TCN">thế kỷ 4 TCN</a>, chỉ tám hay chín nước lớn còn sót lại. Dân số Trung Quốc đã tăng mạnh ở giai đoạn Xuân Thu; công cụ bằng sắt và ảnh hưởng của nó đến nông nghiệp đã làm tăng mạnh dân số (vào thế kỷ thứ 4 TCN, Trung Quốc là vùng đông dân nhất thế giới, không có thời điểm nào trong lịch sử mà điều này không chính xác). Chiến tranh đã trở thành một công việc lớn trong thời đại Xuân Thu, quân đội nhỏ và dưới sự chỉ đạo của tầng lớp quý tộc không còn nữa. Chúng đã thành những đội quân to lớn và gồm những người <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%C3%ADnh_chuy%C3%AAn_nghi%E1%BB%87p&amp;action=edit&amp;redlink=1">lính chuyên nghiệp</a>. Một triều đình gồm tầng lớp chuyên nghiệp ngày càng phát triển, một tầng lớp quý tộc tự gọi mình bằng cái tên "quân tử" hay "những người bên trên". Cuối cùng, kẻ thống nhất Trung Quốc là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_T%E1%BA%A7n">nhà Tần</a>, một dân tộc ở miền tây bắc Trung Quốc ngày nay.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-29 07:03:22 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/longdeptrai2072007/uyz98qmdj6d6c8v3/wish/1853360099</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Canada</title>
         <author>longdeptrai2072007</author>
         <link>https://padlet.com/longdeptrai2072007/uyz98qmdj6d6c8v3/wish/1853362725</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><br>Lịch sử </strong><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Canada"><strong>Canada</strong></a> bắt đầu khi người Da đỏ cổ đại đến vào hàng nghìn năm trước. Các nhóm dân nguyên trú sinh sống tại Canada trong hàng thiên niên kỷ, với những mạng lưới mậu dịch, tín ngưỡng tinh thần, và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%A2n_t%E1%BA%A7ng_x%C3%A3_h%E1%BB%99i">phân tầng xã hội</a> riêng biệt. Một số nền văn minh trong số đó tàn phai từ lâu trước khi có những người châu Âu đầu tiên đến và chúng được phát hiện thông qua nghiên cứu khảo cổ học. Nhiều hiệp ước và điều luật được chế định giữa người định cư châu Âu và dân cư nguyên trú.<br><br></div><div><br>Bắt đầu từ cuối thế kỷ 15, những đoàn thám hiểm của người Pháp và người Anh thám hiểm, rồi sau đó là định cư, dọc theo duyên hải Đại Tây Dương. Sau <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_B%E1%BA%A3y_n%C4%83m">Chiến tranh Bảy năm</a>, Pháp nhượng toàn bộ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2n_Ph%C3%A1p">thuộc địa</a> của họ tại Bắc Mỹ cho Anh Quốc vào năm 1763. Đến năm 1867, ba thuộc địa của Anh Quốc tại Bắc Mỹ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Li%C3%AAn_bang_h%C3%B3a_Canada">liên hiệp</a>, hình thành Quốc gia tự trị Canada gồm bốn tỉnh. Tiếp theo, Canada có những biến thiên về lãnh thổ và tăng quyền tự trị từ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_Anh">Đế quốc Anh</a>, chính thức hóa bằng Pháp lệnh Westminster năm 1931. Đạo luật Canada năm 1982 cắt đứt những tàn dư của sự phụ thuộc tư pháp vào <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BB%91c_h%E1%BB%99i_Anh">nghị viện Anh Quốc</a>.<br><br></div><div><br>Mặc dù <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ch%C3%ADnh_ph%E1%BB%A7_ch%E1%BB%8Bu_tr%C3%A1ch_nhi%E1%BB%87m&amp;action=edit&amp;redlink=1">chính phủ chịu trách nhiệm</a> đã tồn tại ở Canada từ năm 1848, Anh vẫn tiếp tục thiết lập các chính sách đối ngoại và quốc phòng của mình cho đến khi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_th%E1%BA%BF_gi%E1%BB%9Bi_th%E1%BB%A9_nh%E1%BA%A5t">Chiến tranh thế giới thứ nhất</a> kết thúc. Việc thông qua <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Quy_ch%E1%BA%BF_Westminster_1931">Quy chế Westminster</a> vào năm 1931 công nhận rằng Canada đã trở thành đồng bình đẳng với Vương quốc Anh. Sau khi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hi%E1%BA%BFn_ph%C3%A1p_Canada">Hiến pháp</a> là <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Y%C3%AAu_n%C6%B0%E1%BB%9Bc&amp;action=edit&amp;redlink=1">yêu nước</a> vào năm 1982 <em>, </em>dấu vết cuối cùng của sự phụ thuộc pháp lý vào quốc hội Anh đã bị xóa bỏ. Canada hiện bao gồm <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=C%C3%A1c_t%E1%BB%89nh_v%C3%A0_v%C3%B9ng_l%C3%A3nh_th%E1%BB%95_c%E1%BB%A7a_Canada&amp;action=edit&amp;redlink=1">mười tỉnh và ba vùng lãnh thổ</a> và là một <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%87_th%E1%BB%91ng_ngh%E1%BB%8B_vi%E1%BB%87n">dân chủ nghị viện</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BA%BF_%C4%91%E1%BB%99_qu%C3%A2n_ch%E1%BB%A7_l%E1%BA%ADp_hi%E1%BA%BFn">chế độ quân chủ lập hiến</a> với <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Elizabeth_II">Queen Elizabeth II</a> với tư cách là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%C3%AAn_th%E1%BB%A7_qu%E1%BB%91c_gia">nguyên thủ quốc gia</a> của nó.<br><br></div><div><br>Qua nhiều thế kỷ, các yếu tố của phong tục dân cư nguyên trú, người Pháp, người Anh, và người nhập cư gần đây kết hợp thành văn hóa Canada. Văn hóa Canada cũng chịu ảnh hưởng mạnh của láng giềng là Hoa Kỳ. Canada hiện gồm có <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%89nh_v%C3%A0_l%C3%A3nh_th%E1%BB%95_c%E1%BB%A7a_Canada">mười tỉnh và ba lãnh thổ</a> và sở hữu một chế độ dân chủ nghị viện và một chế độ quân chủ lập hiến với nguyên thủ quốc gia là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Elizabeth_II">Elizabeth II</a>.<br><br>Thời kỳ tiền thuộc địa<br><strong><br>Dân cư nguyên trú<br></strong><br>Theo bằng chứng khảo cổ học và di truyền học, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BA%AFc_M%E1%BB%B9">Bắc</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_M%E1%BB%B9">Nam Mỹ</a> là những lục địa cuối cùng trên thế giới có con người cư trú.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-Ph.D.2011-1"><sup>[1]</sup></a> Trong thời kỳ Đóng băng Wisconsin, 50.000 – 17.000 năm trước, mực nước biển xuống thấp tạo điều kiện cho loài người di chuyển qua cầu lục địa Bering (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Beringia">Beringia</a>) vốn liên kết <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Siberi">Siberi</a> đến tây bắc của Bắc Mỹ (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Alaska">Alaska</a>).<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-Goebel-2"><sup>[2]</sup></a> Đương thời, vỉa băng Laurentide bao phủ hầu hết Canada và chặn họ lại, khiến họ bị hạn chế trong Alaska hàng nghìn năm.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-Wynn2007-3"><sup>[3]<br></sup></a><br></div><div><br>Khoảng 16.000 năm trước, các sông băng bắt đầu tan, tạo điều kiện cho loài người chuyển từ Alaska về phía nam và đông vào Canada.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-Pritzker-4"><sup>[4]</sup></a> Niên đại và lộ tuyến chính xác của việc di dân tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A2u_M%E1%BB%B9">châu Mỹ</a> vẫn là chủ đề tranh luận.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-Madsen2004-5"><sup>[5]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-6"><sup>[6]<br></sup></a><br></div><div><br>Khí hậu Bắc Mỹ trở nên ổn định vào khoảng năm 8000 TCN, điều kiện khí hậu tương tự như mô hình hiện nay; song các vỉa băng đang rút đi vẫn bao phủ nhiều vùng đất rộng, tạo nên các hồ nước băng tan.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-icaage-7"><sup>[7]</sup></a> Hầu hết các nhóm dân cư trong thời kỳ cổ đại vẫn là những người săn bắn hái lượm có tính lưu động ở mức cao.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-Fiedel-8"><sup>[8]</sup></a> Tuy nhiên, có những nhóm riêng lẻ bắt đầu tập trung vào tài nguyên sẵn có cho họ tại địa phương; do đó theo thời gian, có một mô hình tổng quát hóa khu vực ngày càng tăng.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-Fiedel-8"><sup>[8]<br></sup></a><br></div><div><br>Thời kỳ văn hóa Woodland có niên đại từ khoảng 2000 TCN đến 1000 CN, bao phủ Ontario, Quebec, và các khu vực Hàng hải.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-Eras-9"><sup>[9]</sup></a> Việc sử dụng đồ gốm giúp phân biệt văn hóa Woodland với những dân cư thời cổ đại trước đó. Nhân dân sống gần <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%B4ng_St._Lawrence">sông St. Lawrence</a> tại Ontario sản xuất đồ gốm có niên đại cổ nhất từng phát hiện được tại Canada.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-prepre-10"><sup>[10]</sup></a> Truyền thống Hopewell là một nền văn hóa dân nguyên trú hưng thịnh dọc theo các sông tại Bắc Mỹ từ 300 TCN đến 500 CN. Khi quy mô ở mức lớn nhất, hệ thống trao đổi Hopewell liên kết các văn hóa và xã hội của những dân tộc sinh sống bên phần bờ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ontario">hồ Ontario</a> thuộc Canada.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-Lockard2010-11"><sup>[11]<br></sup></a><br></div><div><br>Các khu vực đất rừng miền đông của Canada là nơi cư trú của các dân tộc Algonquin và Iroquois. Ngôn ngữ Algonquin được cho là bắt nguồn từ cao nguyên miền tây của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Idaho">Idaho</a> hoặc các bình nguyên của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Montana">Montana</a> và chuyển dịch về phía đông,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-FrancisFrancis2009-12"><sup>[12]</sup></a> cuối cùng mở rộng từ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%E1%BB%8Bnh_Hudson">vịnh Hudson</a> đến <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nova_Scotia">Nova Scotia</a> ngày nay ở phía đông và xa về phía nam đến khu vực Tidewater của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Virginia">Virginia</a>.<br><br>Những dân tộc nói ngôn ngữ Đông Algonquin gồm có Mi'kmaq và Abenaki tại khu vực Hàng hải và người Beothuk có lẽ đã tuyệt chủng tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Newfoundland_v%C3%A0_Labrador">Newfoundland</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-Marshall1996-14"><sup>[14]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-15"><sup>[15]</sup></a> Người Ojibwa và các dân tộc nói tiếng Anishinaabe thuộc nhóm Trung Algonquin ghi nhớ một truyền thuyết truyền khẩu là họ chuyển từ biển đến vùng đất của họ nằm quanh phía tây và trung Ngũ Đại Hồ, có vẻ là từ duyên hải phía đông.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-JOHANSENPRITZKER2007-16"><sup>[16]<br></sup></a><br></div><div><br>Liên minh <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Iroquois">Iroquois</a> (Haudenosaunee) được tập trung từ muộn nhất là 1000 CN tại miền bắc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ti%E1%BB%83u_bang_New_York">New York</a>, song tầm ảnh hưởng của họ khuếch trương đến khu vực nay là miền nam Ontario và khu vực Montréal.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-17"><sup>[17]</sup></a> Tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_B%C3%ACnh_nguy%C3%AAn_B%E1%BA%AFc_M%E1%BB%B9">Đại Bình nguyên</a>, người <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Cree&amp;action=edit&amp;redlink=1">Cree</a> dựa vào các bầy lớn <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%B2_r%E1%BB%ABng_bizon">bò rừng bizon</a> để đáp ứng nhu cầu về thực phẩm và nhiều nhu cầu khác.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-Rees2004-18"><sup>[18]</sup></a> Phía tây bắc là nơi cư trú của những người nói các ngôn ngữ thuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%E1%BB%AF_h%E1%BB%87_Na-Dene">ngữ hệ Na-Dene</a>, bao gồm những người nói tiếng Athapaskan và Tlingit. Ngữ hệ Na-Dene được cho là có liên kết với <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%E1%BB%AF_h%E1%BB%87_Yenisei">ngữ hệ Yenisei</a> tại Siberi.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-BENGTSON-19"><sup>[19]</sup></a> Người <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Dene&amp;action=edit&amp;redlink=1">Dene</a> ở miền tây khu vực Bắc Cực có thể đại diện cho một làn sóng riêng biệt của người nhập cư từ châu Á đến Bắc Mỹ.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-BENGTSON-19"><sup>[19]<br></sup></a><br></div><div><br>Vùng Nội địa của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/British_Columbia">British Columbia</a> là nơi sinh sống của những dân tộc nói ngôn ngữ thuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ng%E1%BB%AF_h%E1%BB%87_Salish&amp;action=edit&amp;redlink=1">ngữ hệ Salish</a> như Shuswap, Okanagan và nhóm Nam Athabaskan, chủ yếu là Dakelh và Tsilhqot'in.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-Archives-20"><sup>[20]</sup></a> Các vịnh nhỏ và thung lũng của Duyên hải British Columbia là nơi cư trú của một lượng dân số lớn và đặc biệt, như Haida, Kwakwaka'wakw, và Nuu-chah-nulth, sinh kế của họ dựa vào nguồn cá hồi và tôm sò phong phú trong khu vực.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-Archives-20"><sup>[20]</sup></a> Những dân tộc này phát triển những nền văn hóa phức tạp dựa trên <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Thuja_plicata">tuyết tùng đỏ miền Tây</a>, với nhà gỗ, xuồng đánh cá voi và xuồng chiến đấu, các biểu tượng <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Potlatch&amp;action=edit&amp;redlink=1">potlatch</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BB%99t_v%E1%BA%ADt_t%E1%BB%95">cột vật tổ</a> được chạm khắc tỉ mỉ.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-Archives-20"><sup>[20]<br></sup></a><br></div><div><br>Tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A7n_%C4%91%E1%BA%A3o_B%E1%BA%AFc_C%E1%BB%B1c_thu%E1%BB%99c_Canada">quần đảo khu vực Bắc Cực</a>, từng có những người Eskimo cổ đại được gọi là Dorset, văn hóa của họ truy nguyên từ khoảng năm 500 TCN, và đến khoảng năm 1500 thì họ bị tổ tiên của người <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Inuit">Inuit</a> hiện nay thay thế.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-WurmM%C3%BChlh%C3%A4usler1996-21"><sup>[21]</sup></a> Sự chuyển tiếp này được chứng minh thông qua những hồ sơ khảo cổ học và thần thoại Inuit kể về việc trục xuất <em>Tuniit</em> hoặc 'các dân cư đầu tiên'.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-Whitty2010-22"><sup>[22]<br></sup></a><br></div><div><strong><br>Tiếp xúc với người châu Âu<br></strong>Có những báo cáo về việc tiếp xúc giữa các dân tộc Trước tiên, người Inuit và những người đến từ các lục địa khác từ trước chuyến thám hiểm năm 1492 của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Cristoforo_Colombo">Cristoforo Colombo</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_%C4%91%E1%BA%A1i_kh%C3%A1m_ph%C3%A1">thời đại khám phá</a>. Chuyến thám hiểm Canada sớm nhất được ghi chép là trong những saga Iceland, thuật chi tiết về nỗ lực của người Norse nhằm thuộc địa hóa châu Mỹ.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-CordellLightfoot2008-23"><sup>[23]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-Vikings:_The_North_Atlantic_Saga-24"><sup>[24]</sup></a> Theo những Saga, người châu Âu đầu tiên trông thấy Canada là <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Bjarni_Herj%C3%B3lfsson&amp;action=edit&amp;redlink=1">Bjarni Herjólfsson</a>, ông bị gió thổi lệch khỏi hành trình từ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Iceland">Iceland</a> đến <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Greenland">Greenland</a> vào mùa hè năm 985 hoặc 986 CN.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-Reeves2009-25"><sup>[25]</sup></a> Khoảng năm 1001, các Saga đề cập đến cuộc đổ bộ của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Leif_Ericson">Leif Ericson</a> lên ba địa điểm ở phía tây,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-MagnussonPalsson1965-26"><sup>[26]</sup></a> hai địa điểm đầu là Helluland (có thể là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A3o_Baffin">đảo Baffin</a>) và Markland (có thể là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Labrador">Labrador</a>).<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-Vikings:_The_North_Atlantic_Saga-24"><sup>[24]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-27"><sup>[27]</sup></a> Leif Ericson đổ bộ lần thứ ba lên một địa điểm mà ông gọi là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vinland">Vinland</a> (có thể là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Newfoundland">Newfoundland</a>).<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-JOHANSENPRITZKER2007as-28"><sup>[28]</sup></a> Người Norse cố gắng thuộc địa hóa vùng đất mới; song khí hậu địa phơng và sự quấy nhiễu của dân cư bản địa khiến họ phải rời đi.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-Reeves2009-25"><sup>[25]</sup></a> Chứng cứ khảo cổ học về một khu định cư tồn tại ngắn của người Norse được phát hiện tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%27Anse_aux_Meadows">L'Anse aux Meadows</a>, Newfoundland.<br>Dựa trên <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hi%E1%BB%87p_%C6%B0%E1%BB%9Bc_Tordesillas">Hiệp ước Tordesillas</a>, Quân chủ Bồ Đào Nha tuyên bố có quyền lãnh thổ tại khu vực mà <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Giovanni_Caboto">Giovanni Caboto</a> đi đến vào năm 1497 và 1498.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-31"><sup>[31]</sup></a> Nhằm mục đích này, vào năm 1499 và 1500, thủy thủ người Bồ Đào Nha tên là <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Jo%C3%A3o_Fernandes_Lavrador&amp;action=edit&amp;redlink=1">João Fernandes Lavrador</a> đi đến khu duyên hải Bắc Đại Tây Dương, dẫn đến sự xuất hiện của "Labrador" trên những bản đổ địa hình trong giai đoạn này.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-Diffie1977-32"><sup>[32]</sup></a> Sau đó, vào năm 1501 và 1502, anh em nhà Corte-Real thám hiểm Newfoundland (Terra Nova) và Labrador, tuyên bố những vùng đất này là bộ phận của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_B%E1%BB%93_%C4%90%C3%A0o_Nha">Đế quốc Bồ Đào Nha</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-Diffie1977-32"><sup>[32]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-RorabaughCritchlow2004-33"><sup>[33]</sup></a> Năm 1506, Quốc vương <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Manuel_I_c%E1%BB%A7a_B%E1%BB%93_%C4%90%C3%A0o_Nha">Manuel I của Bồ Đào Nha</a> áp thuế đối với hoạt động đánh bắt cá tuyết tại vùng biển Newfoundland.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-Sauer1975-34"><sup>[34]</sup></a> <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Jo%C3%A3o_%C3%81lvares_Fagundes&amp;action=edit&amp;redlink=1">João Álvares Fagundes</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=P%C3%AAro_de_Barcelos&amp;action=edit&amp;redlink=1">Pêro de Barcelos</a> thiết lập các tiền đồn ngư nghiệp tại Newfoundland và Nova Scotia vào khoảng năm 1521; tuy nhiên, sau đó chúng bị bỏ hoang do những nhà thực dân Bồ Đào Nha tập trung những nỗ lực của họ tại Nam Mỹ.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-35"><sup>[35]</sup></a> Quy mô và tính chất về hoạt động của người Bồ Đào Nha tại Canada đại lục trong thế kỷ 16 vẫn chưa rõ ràng và gây tranh luận.<br>Tân Pháp và thuộc địa hóa 1534–1763<br><br>Năm 1524, Quốc vương <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Fran%C3%A7ois_I_c%E1%BB%A7a_Ph%C3%A1p">François I của Pháp</a> bảo trợ cho <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Giovanni_da_Verrazzano&amp;action=edit&amp;redlink=1">Giovanni da Verrazzano</a> tiến hành chuyến đi theo đường biển đến khu vực giữa <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Florida">Florida</a> và Newfoundland với hy vọng phát hiện một tuyến đường đến <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A1i_B%C3%ACnh_D%C6%B0%C6%A1ng">Thái Bình Dương</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-Litalien2004-39"><sup>[39]</sup></a> Năm 1534, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Jacques_Cartier">Jacques Cartier</a> cho đóng một cây Thánh giá tại <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=B%C3%A1n_%C4%91%E1%BA%A3o_Gasp%C3%A9&amp;action=edit&amp;redlink=1">bán đảo Gaspé</a> và tuyên bố chủ quyền với vùng đất nhân danh François I.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-Loren2008-40"><sup>[40]</sup></a> Các nỗ lực thuộc địa hóa ban đầu của Cartier tại Charlesbourg-Royal vào năm 1541, của Marquis de La Roche-Mesgouez tại <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90%E1%BA%A3o_Sable&amp;action=edit&amp;redlink=1">đảo Sable</a> vào năm 1598, và của <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Fran%C3%A7ois_Grav%C3%A9_Du_Pont&amp;action=edit&amp;redlink=1">François Gravé Du Pont</a> tại <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tadoussac&amp;action=edit&amp;redlink=1">Tadoussac</a> vào năm 1600 có kết quả thất bại.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-Riendeau2007poi-41"><sup>[41]</sup></a> Bất chấp những thất bại ban đầu này, các đội tàu đánh cá của Pháp bắt đầu đi đến vùng duyên hải Đại Tây Dương và vào trong <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%B4ng_Saint_Lawrence">sông Saint-Laurent</a>, giao dịch và thiết lập liên minh với các dân tộc Trước tiên.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-PickettPickett2011-42"><sup>[42]<br></sup></a><br></div><div><br>Năm 1604, độc quyền mậu dịch da lông thú tại Bắc Mỹ được trao cho Pierre Dugua Sieur de Monts.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-Vaugeois-43"><sup>[43]</sup></a> Pierre Dugua dẫn đầu đoàn thám hiểm thuộc địa hóa đầu tiên của ông đến một hòn đảo nằm gần cửa sông St. Croix. Trong số những phó thủ của ông ta có một nhà địa lý học tên là <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Samuel_de_Champlain&amp;action=edit&amp;redlink=1">Samuel de Champlain</a>, người này lập tức tiến hành một cuộc thám hiểm lớn tại vùng bờ biển Đông Bắc Hoa Kỳ ngày nay.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-Vaugeois-43"><sup>[43]</sup></a> Đến mùa xuân năm 1605, dưới quyền Samuel de Champlain, khu định cư St. Croix mới được chuyển đến Port Royal (Annapolis Royal, Nova Scotia ngày nay).<br><br>Năm 1608, Samuel de Champlain thành lập khu định cư là tiền thân của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_Qu%C3%A9bec">thành phố Québec</a> ngày nay, trở thành khu định cư vĩnh cửu đầu tiên và là thủ đô của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2n_Ph%C3%A1p">Tân Pháp</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-Kornwolf2002q-45"><sup>[45]</sup></a> Ông nắm giữ quyền quản lý cá nhân đối với thành phố cùng các sự vụ tại đây, và cử các đoàn thám hiểm đi thăm dò vùng nội địa.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-ConradFinkel2005-46"><sup>[46]</sup></a> Samuel de Champlain tự thân thám hiểm <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=H%E1%BB%93_Champlain&amp;action=edit&amp;redlink=1">hồ Champlain</a> vào năm 1609. Năm 1615, ông đi bằng xuồng ngược dòng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%B4ng_Ottawa">sông Ottawa</a> rồi qua <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=H%E1%BB%93_Nipissing&amp;action=edit&amp;redlink=1">hồ Nipissing</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=V%E1%BB%8Bnh_Georgian&amp;action=edit&amp;redlink=1">vịnh Georgian</a> đến trung tâm lãnh thổ của người Huron gần <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=H%E1%BB%93_Simcoe&amp;action=edit&amp;redlink=1">hồ Simcoe</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-R2002-47"><sup>[47]</sup></a> Trong những hành trình này, Samuel de Champlain viện trợ người Wendat (Huron) trong những trận chiến của họ với Liên minh Iroquois.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-Hodge2003-48"><sup>[48]</sup></a> Kết quả là Iroquois trở thành địch thủ của Pháp và hai bên tham gia vào nhiều xung đột cho kết khi ký kết Đại hòa ước Montréal vào năm 1701.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-Havard2001v-49"><sup>[49]<br></sup></a><br></div><div><br>Năm 1583, người Anh dưới quyền <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Humphrey_Gilbert&amp;action=edit&amp;redlink=1">Humphrey Gilbert</a> tuyên bố chủ quyền đối với <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/St._John%27s,_Newfoundland_v%C3%A0_Labrador">St. John's, Newfoundland</a> theo đặc quyền vương thất của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Elizabeth_I_c%E1%BB%A7a_Anh">Nữ vương Elizabeth I</a>, đây là thuộc địa đầu tiên của Anh tại Bắc Mỹ.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-DCgil-50"><sup>[50]</sup></a> Trong thời gian trị vì của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/James_I_c%E1%BB%A7a_Anh">Quốc vương James VI và I</a>, người Anh thiết lập thêm các thuộc địa tại Cupids và Ferryland, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Newfoundland_(%C4%91%E1%BA%A3o)">Newfoundland</a>, không lâu sau khi người Anh thiết lập khu định cư vĩnh cửu thành công đầu tiên tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Virginia">Virginia</a> ở phía nam.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-hornsby-51"><sup>[51]</sup></a> Ngày 29 tháng 9 năm 1621, Quốc vương James VI và I cấp một đặc quyền về việc thành lập một thuộc địa Scotland tại Tân Thế giới cho William Alexander.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-Michael-52"><sup>[52]</sup></a> Năm 1622, những người định cư đầu tiên rời Scotland. Ban đầu, họ thất bại và phải đến năm 1629 vào cuối Chiến tranh Anh-Pháp thì các khu định cư Nova Scotia vĩnh cửu mới trở nên vững chắc.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-Michael-52"><sup>[52]</sup></a> Tuy nhiên, theo Hiệp định Suza nhằm kết thúc chiến tranh được ký kết vào năm 1631, Nova Scotia được trả lại cho Pháp.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-53"><sup>[53]</sup></a> Sau khi ký kết Hiệp định Saint-Germain-en-Laye vào năm 1632, người Pháp khôi phục hoàn toàn quyền lực tại Tân Pháp.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Canada#cite_note-Kingsford1888-54"><sup>[54]</sup></a> Điều này dẫn đến việc có những người Pháp nhập cư mới và thành lập khu định cư vĩnh cửu thứ nhì tại Tân Pháp là <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Trois-Rivi%C3%A8res&amp;action=edit&amp;redlink=1">Trois-Rivières</a> vào năm 1634.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-29 07:05:29 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/longdeptrai2072007/uyz98qmdj6d6c8v3/wish/1853362725</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhật Bản</title>
         <author>longdeptrai2072007</author>
         <link>https://padlet.com/longdeptrai2072007/uyz98qmdj6d6c8v3/wish/1853369548</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><br>Lịch sử Nhật Bản</strong> bao gồm lịch sử của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%8Ba_l%C3%BD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n">quần đảo Nhật Bản</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Nh%E1%BA%ADt">cư dân Nhật</a>, trải dài lịch sử từ thời kỳ cổ đại tới hiện đại của quốc gia <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n">Nhật Bản</a>. Các nghiên cứu <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%E1%BA%A3o_c%E1%BB%95_h%E1%BB%8Dc">khảo cổ học</a> cho thấy trên các hòn đảo mà nay là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n">Nhật Bản</a> đã có người sinh sống ngay từ cuối <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_%C4%91%E1%BA%A1i_%C4%91%E1%BB%93_%C4%91%C3%A1_c%C5%A9">thời kỳ đồ đá cũ</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-autogenerated6-1"><sup>[1]</sup></a> Ngay sau <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_k%E1%BB%B3_b%C4%83ng_h%C3%A0">thời kỳ băng hà</a> cuối cùng, khoảng 12.000 năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_Nguy%C3%AAn">TCN</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%87_sinh_th%C3%A1i">hệ sinh thái</a> phong phú trên <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A7n_%C4%91%E1%BA%A3o_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n">quần đảo Nhật Bản</a> đã giúp đẩy nhanh <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ti%E1%BA%BFn_h%C3%B3a">sự phát triển loài người</a>, sản sinh ra nền văn hóa <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A5t_nung">đất nung</a> nổi tiếng của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_k%E1%BB%B3_J%C5%8Dmon">thời kỳ Jomon</a>. Lịch sử Nhật Bản với nhiều thời kỳ cô lập thay thế nhau bị gián đoạn bởi các ảnh hưởng cấp tiến, thường là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A1ch_m%E1%BA%A1ng">cách mạng</a> từ thế giới bên ngoài. Các tài liệu đầu tiên viết về <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n">Nhật Bản</a> qua các đoạn ghi chép ngắn trong <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%E1%BB%8B_th%E1%BA%ADp_t%E1%BB%A9_s%E1%BB%AD"><em>Nhị thập tứ sử</em></a> của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Trung_Qu%E1%BB%91c">người Trung Quốc</a>. Các ảnh hưởng tôn giáo và tín ngưỡng chính được du nhập từ Trung Quốc.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-2"><sup>[2]<br></sup></a><br></div><div><br>Thủ đô đầu tiên được thành lập tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nara">Nara</a> năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/710">710</a>, và nó đã trở thành một trung tâm của nghệ thuật <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BA%ADt_gi%C3%A1o">Phật giáo</a>, tôn giáo và văn hóa. Hoàng tộc vào thời gian này nổi lên vào khoảng năm 700, nhưng đến năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1868">1868</a> (vẫn có vài ngoại lệ), tuy có uy tín cao nhưng nắm trong tay rất ít quyền lực. Vào năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1550">1550</a>, Nhật Bản được chia thành vài trăm đơn vị kiểm soát tại địa phương, hoặc các khu vực thuộc quyền kiểm soát "<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Daimy%C5%8D">Đại Danh</a>" (lãnh chúa), với lực lượng của riêng mình là các chiến binh <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Samurai">samurai</a>. <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tokugawa_Ieyasu">Tokugawa Ieyasu</a> (Đức Xuyên Gia Khang) lên nắm quyền năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1600">1600</a>, và phong đất cho những người ủng hộ mình, thành lập "<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/M%E1%BA%A1c_ph%E1%BB%A7">Mạc phủ</a>" ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Edo">Edo</a> (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C5%8Dky%C5%8D">Tōkyō</a> ngày nay). "<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_k%E1%BB%B3_Edo">Thời kỳ Tokugawa</a>" đánh dấu một thời kỳ thịnh vượng và hòa bình, nhưng Nhật Bản cố ý chấm dứt các hoạt động <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kit%C3%B4_gi%C3%A1o">Kitô giáo</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Sakoku">cắt đứt</a> gần như tất cả các tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Trong những năm 1860, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_k%E1%BB%B3_Minh_Tr%E1%BB%8B">thời kỳ Minh Trị</a> bắt đầu bằng việc quân đội hoàng gia của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Thi%C3%AAn_ho%C3%A0ng_Minh_Tr%E1%BB%8B">Thiên hoàng Minh Trị</a> đánh bại quân đội Mạc phủ Tokugawa trong <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_Boshin">chiến tranh Mậu Thìn</a>. Nhà lãnh đạo mới kết thúc chế độ phong kiến và chuyển đổi một hòn đảo cô lập—một quốc gia kém phát triển—nhanh chóng trở thành một cường quốc thế giới theo nhìn nhận của người phương Tây. Nền dân chủ là một vấn đề, bởi vì lực lượng quân đội tinh nhuệ của Nhật Bản đã được bán độc lập và thắng thế hơn, hoặc thường xuyên sát hại dân thường trong những năm 1920 và 1930. Quân đội Nhật Bản bắt đầu tiến đánh vào Trung Quốc vào năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1931">1931</a> nhưng đã bị đánh bại trong cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_Th%C3%A1i_B%C3%ACnh_D%C6%B0%C6%A1ng">Chiến tranh Thái Bình Dương</a> bởi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hoa_K%E1%BB%B3">Hoa Kỳ</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C6%B0%C6%A1ng_qu%E1%BB%91c_Li%C3%AAn_hi%E1%BB%87p_Anh_v%C3%A0_B%E1%BA%AFc_Ireland">Anh Quốc</a>.<br><strong><br>hời đồ đá cũ</strong>[<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n&amp;veaction=edit&amp;section=2">sửa</a> | <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n&amp;action=edit&amp;section=2">sửa mã nguồn</a>]</div><div>Bài chi tiết: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_k%E1%BB%B3_%C4%91%E1%BB%93_%C4%91%C3%A1_c%C5%A9_%E1%BB%9F_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n">Thời kỳ đồ đá cũ ở Nhật Bản</a></div><div><br>Đây là thời kỳ khoảng 100.000 <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-3"><sup>[3]</sup></a> đến 30.000 năm TCN, khi những công cụ bằng đá sớm nhất được tìm thấy, khoảng 14.000 năm TCN,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-4"><sup>[4]</sup></a> vào cuối <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_k%E1%BB%B3_b%C4%83ng_h%C3%A0">thời kỳ băng hà</a>, tương ứng với sự mở đầu của thời kỳ đồ đá giữa <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_k%E1%BB%B3_J%C5%8Dmon">Jōmon</a>. Thời gian 35.000 năm TCN được phần lớn mọi người chấp nhận: mọi niên đại của sự hiện diện con người trên đảo quốc này trước 30.000-35.000 năm TCN đều vẫn còn bàn cãi, với các đồ tạo tác ủng hộ cho sự hiện diện con người trước năm 35.000 TCN về mặt khảo cổ học vẫn còn bị nghi ngờ về tính xác thực.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-keally-5"><sup>[5]</sup></a> Từ khoảng 15.000 năm đến 5.000 năm trước Công nguyên, ở Nhật Bản đã có những <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BB%99_t%E1%BB%99c">bộ tộc</a> <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_nguy%C3%AAn_th%E1%BB%A7y&amp;action=edit&amp;redlink=1">người nguyên thủy</a> sống <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Du_m%E1%BB%A5c">du mục</a>, săn bắt và hái lượm.<br><br>Thời kỳ đồ đá Nhật Bản cũng có sự độc đáo là sự xuất hiện của các đá móng và công cụ được mài nhẵn sớm nhất trên thế giới, niên đại khoảng 30.000 năm TCN, một công nghệ đặc trưng gắn với sự mở đầu của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_%C4%91%E1%BA%A1i_%C4%91%E1%BB%93_%C4%91%C3%A1_m%E1%BB%9Bi">thời kỳ đồ đá mới</a>, khoảng 10.000 năm TCN, tại phần còn lại của thế giới. Không rõ tại sao những công cụ như thế này lại được làm ra sớm đến thế ở Nhật Bản, mặc dù thời kỳ này gắn với sự ấm lên toàn cầu (cách ngày nay khoảng 30.000-20.000 năm), và các hòn đảo có lẽ đã hưởng lợi từ nó. Vì sự độc đáo này, thời kỳ đồ đá cũ Nhật Bản không hoàn toàn phù hợp với định nghĩa theo truyền thống về thời kỳ đồ đá cũ dựa trên công nghệ chế tác đá (công cụ đá mài). Các công cụ thời kỳ đồ đá cũ Nhật Bản do đó thể hiện những đặc điểm tiêu biểu của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_k%E1%BB%B3_%C4%91%E1%BB%93_%C4%91%C3%A1_gi%E1%BB%AFa">thời kỳ đồ đá giữa</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_%C4%91%E1%BA%A1i_%C4%91%E1%BB%93_%C4%91%C3%A1_m%E1%BB%9Bi">thời kỳ đồ đá mới</a> từ những năm 30.000 TCN.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-6"><sup>[6]<br></sup></a><br></div><div><br>Dân cư thời kỳ đồ đá cũ ở Nhật Bản, cũng như dân cư thời kỳ Jōmon sau này, có liên quan đến các nhóm người châu Á cổ sinh sống trên những phần rộng lớn của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A2u_%C3%81">châu Á</a> sau sự gia tăng dân số cấu thành bộ phần người ngày nay là người <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_Qu%E1%BB%91c">Trung Quốc</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BB%81u_Ti%C3%AAn">Triều Tiên</a>, và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n">Nhật Bản</a>. Các đặc điểm tiêu biểu của xương có rất nhiều điểm tương đồng giữa những nhóm người bản địa trên lục địa châu Á. Cấu trúc răng thuộc về nhóm <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Sundadont&amp;action=edit&amp;redlink=1">Sundadont</a> (răng Sunda), chủ yếu phân bố trong dân cư cổ ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_Nam_%C3%81">Đông Nam Á</a> (nơi dân cư hiện nay thuộc về nhóm <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Sinodont&amp;action=edit&amp;redlink=1">Sinodont</a> (răng Trung Quốc)). Đặc điểm hộp sọ có xu hướng khỏe hơn, với đôi mắt sâu.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-7"><sup>[7]<br></sup></a><br></div><div><br>Dân cư bản địa <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Ainu">người Ainu</a>, ngày nay phần lớn hạn chế trên hòn đảo phía Bắc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hokkaid%C5%8D">Hokkaidō</a>, có lẽ là hậu duệ của dân cư thời đồ đá cũ, và thể hiện các đặc điểm trong quá khứ được chỉ rõ là của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_ch%E1%BB%A7ng_%C3%82u">đại chủng Âu</a>, nhưng ngày nay có khuynh hướng nói chung coi họ là một phần của nhóm người sơ kỳ đồ đá cũ. Phân tích gen dân cư ngày nay không hoàn toàn rõ ràng và có xu hướng thể hiện sự pha trộn gen giữa dân cư tối cổ Nhật Bản với những người mới đến (Cavalli-Sforza). Ước tính rằng 10 đến 20% gen chủ yếu của người Nhật hiện nay nhận được từ người bản địa cổ đại thời kỳ đồ đá cũ-Jōmon, với phần còn lại đến từ những người nhập cư từ lục địa, đặc biệt là trong <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_k%E1%BB%B3_Yayoi">thời kỳ Yayoi</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-8"><sup>[8]<br></sup></a><br>Cổ đại[<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n&amp;veaction=edit&amp;section=3">sửa</a> | <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n&amp;action=edit&amp;section=3">sửa mã nguồn</a>]<br><br></div><div><strong><br>Thời kỳ Jōmon</strong>[<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n&amp;veaction=edit&amp;section=4">sửa</a> | <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n&amp;action=edit&amp;section=4">sửa mã nguồn</a>]</div><div>Bài chi tiết: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_k%E1%BB%B3_J%C5%8Dmon">Thời kỳ Jōmon</a></div><div><br>Thời kỳ Jōmon (縄文時代: Thằng Văn thời đại) đặt theo tên hiện vật khảo cổ là thứ đồ gốm có trang trí hình xoắn thừng (<em>thằng văn</em> 縄文). Vào khoảng thời gian cách đây hơn 10.000 năm lãnh thổ Nhật Bản và đất liền nối nhau ở phía nam qua <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c">Hàn Quốc</a> và phía bắc qua <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hokkaid%C5%8D">Hokkaidō</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Sakhalin">Sakhalin</a>, tạo thành một biển nội địa ở giữa.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-CS202-9"><sup>[9]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-10"><sup>[10]</sup></a> Những khu định cư ổn định xuất hiện vào khoảng năm 10.000 TCN tương ứng với nền văn hóa <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_k%E1%BB%B3_%C4%91%E1%BB%93_%C4%91%C3%A1_gi%E1%BB%AFa">đồ đá giữa</a> hoặc, theo một số tranh cãi, văn hóa <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_%C4%91%E1%BA%A1i_%C4%91%E1%BB%93_%C4%91%C3%A1_m%E1%BB%9Bi">đồ đá mới</a>, nhưng mang những đặc điểm của cả hai nền văn hóa đó. Những tổ tiên xa của tộc người <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ainu&amp;action=edit&amp;redlink=1">Ainu</a> của Nhật Bản hiện đại, những thành viên đa dạng của nền văn hóa Jōmon (10.000 – 300 TCN) để lại những di chỉ khảo cổ rõ ràng nhất. Nền văn hóa này cùng thời với các nền văn minh <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C6%B0%E1%BB%A1ng_H%C3%A0">Lưỡng Hà</a>, văn minh <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%B4ng_Nin">sông Nil</a>, và văn minh thung lũng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Indus">Indus</a>. Trong thời gian này, không có dấu hiệu rõ ràng của việc trồng trọt, mãi cho đến giữa <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Thi%C3%AAn_ni%C3%AAn_k%E1%BB%B7_1_TCN">thiên niên kỷ 1 TCN</a> như <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/K%C3%AA">kê</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ki%E1%BB%81u_m%E1%BA%A1ch">kiều mạch</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=C%C3%A2y_gai_d%E1%BA%A7u&amp;action=edit&amp;redlink=1">cây gai dầu</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-CS202-9"><sup>[9]<br></sup></a><br></div><div><br>Người Nhật chuyển sang trồng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%BAa">lúa</a> và hình thành việc định cư. Người Nhật bắt đầu biết làm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/G%E1%BB%91m">đồ gốm</a> có trang trí hình xoắn thừng bằng cách ràng những dây buộc xung quanh trước khi nung gốm. Vào cuối thời kỳ này đã manh nha những nhu cầu đầu tiên trong việc thống nhất đất nước.<br><br></div><div><br>Nhiều di tích khai quật được trong giai đoạn này cho thấy thời kỳ đầu và trung kỳ Jōmon đã diễn ra một sự bùng nổ về dân số. Hai thời kỳ này tương ứng với thời tiền sử <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Holocene_Climatic_Optimum&amp;action=edit&amp;redlink=1">Holocene Climatic Optimum</a> (từ <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=4000&amp;action=edit&amp;redlink=1">4000</a> đến <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=2000_TCN&amp;action=edit&amp;redlink=1">2000 TCN</a>) khi nhiệt độ cao hơn bây giờ vài độ C và mực nước biển cao hơn từ 2 đến 3 mét. Những di chỉ đồ gốm mang tính nghệ thuật cao, như các bình gốm nung lửa có trang trí, được tìm thấy trong gian đoạn này.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-11"><sup>[11]</sup></a> Sau năm <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=1500_TCN&amp;action=edit&amp;redlink=1">1500 TCN</a>, thời tiết trở nên lạnh hơn và dân số có lẽ đã giảm xuống nhanh chóng bởi lẽ người ta tìm thấy ít di chỉ khảo cổ tương ứng với giai đoạn 1500 năm TCN hơn nhiều so với trước đó.<br><br></div><div><br>Vào cuối thời Jōmon, theo nghiên cứu khảo cổ học, một thay đổi quan trọng đã diễn ra. Các hình thức nông nghiệp sơ khai đã phát triển thành việc canh tác trên các ruộng lúa và xuất hiện sự kiểm soát của chính quyền. Rất nhiều nhân tố <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n">văn hóa Nhật Bản</a> có thể khởi nguồn từ thời kỳ này và phản ánh lại những cuộc di cư từ phía nam lục địa châu Á và phía nam Thái Bình Dương.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-12"><sup>[12]</sup></a> Trong những nhân tố này có các truyền thuyết về <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%A7n_%C4%91%E1%BA%A1o">Thần đạo</a>, các tục lệ hôn nhân, các phong cách kiến trúc và những phát triển về kỹ thuật như đồ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/S%C6%A1n_m%C3%A0i">sơn mài</a>, những cây cung được kéo mỏng, kỹ thuật chế tác đồ kim loại và đồ thủy tinh.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-13"><sup>[13]<br></sup></a><br></div><div><strong><br>Thời kỳ Yayoi</strong>[<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n&amp;veaction=edit&amp;section=5">sửa</a> | <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n&amp;action=edit&amp;section=5">sửa mã nguồn</a>]</div><div>Bài chi tiết: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_k%E1%BB%B3_Yayoi">Thời kỳ Yayoi</a></div><div><br>Yayoi (弥生時代: Di Sinh thời đại) được coi là thời kỳ mà <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/X%C3%A3_h%E1%BB%99i_n%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p">xã hội nông nghiệp</a> thể hiện đầy đủ những đặc điểm trọn vẹn của nó lần đầu tiên ở quần đảo <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n">Nhật Bản</a>. <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%BAa">Lúa</a> được trồng ở những vùng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A7m_l%E1%BA%A7y">đầm lầy</a> <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A5t">đất</a> <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%B9_sa">phù sa</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/K%C3%AA">kê</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_m%E1%BA%A1ch">lúa mạch</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%BAa_m%C3%AC">lúa mì</a> được trồng ở những vùng đất cao hơn. Nông cụ, vũ khí bằng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%93ng">đồng</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Thi%E1%BA%BFc">thiếc</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/S%E1%BA%AFt">sắt</a> đã được mang tới từ <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%A5c_%C4%91%E1%BB%8Ba_ch%C3%A2u_%C3%81&amp;action=edit&amp;redlink=1">lục địa châu Á</a> và được sử dụng phổ biến.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-14"><sup>[14]<br></sup></a><br></div><div><br>Những người Yayoi đầu tiên có thể đã xuất hiện ở miền bắc Kyūshū và sau đó chuyển lên hòn đảo lớn nhất Nhật Bản Honshū, nơi họ nhanh chóng thay thế người <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_k%E1%BB%B3_J%C5%8Dmon">thời kỳ Jōmon</a> bản địa. Mặc dù kỹ thuật chế tác đồ gốm của người Yayoi tiến bộ hơn so với người Jōmon (đồ gốm được sản xuất trên một chiếc bàn xoay), đồ gốm của người Yayoi lại được trang trí đơn giản hơn. Người Yayoi cũng chế tác ra những chiếc chuông dùng cho nghi lễ, gương và vũ khí bằng đồng. Vào <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%BF_k%E1%BB%B7_I">thế kỷ I</a>, họ bắt đầu sử dụng các công cụ nông nghiệp và vũ khí bằng sắt.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-15"><sup>[15]<br></sup></a><br></div><div><br>Khi dân số người Yayoi tăng lên, xã hội của họ trở nên phức tạp hơn. Họ dệt len, sống định cư trong những ngôi làng làm nông nghiệp, xây dựng các kiến trúc bằng đá và gỗ, bắt đầu xuất hiện những người giàu có sở hữu nhiều đất và tích trưc được nhiều lương thực dẫn đến việc phân chia ra các đẳng cấp xã hội khác nhau. Sự phát triển này có thể bắt nguồn từ nền văn hóa làm thủy lợi và trồng lúa nước ở lưu vực sông <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Giang">Dương Tử</a> miền nam <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_Qu%E1%BB%91c">Trung Quốc</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-16"><sup>[16]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-autogenerated5-17"><sup>[17]</sup></a> Cho đến gần đây, người ta vẫn tin rằng cây lúa đã được đưa vào Nhật Bản qua đường <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BB%81u_Ti%C3%AAn">Triều Tiên</a>, nhưng những phân tích <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/DNA">DNA</a> gần đây đã phủ nhận điều đó. <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_l%C3%BAa_n%C6%B0%E1%BB%9Bc">Văn hóa lúa nước</a> dẫn đến việc phát triển của một xã hội nông nghiệp định cư tại Nhật Bản. Tuy nhiên, không giống như ở Triều Tiên và Trung Quốc, những thay đổi vế chính trị và xã hội ở quy mô địa phương tại Nhật Bản quan trọng hơn các hoạt động của chính quyền trung ương trong một xã hội phân chia đẳng cấp.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-Yayoikeally-18"><sup>[18]<br></sup></a><br></div><div><br>Thời kỳ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%E1%BA%A3o_c%E1%BB%95_h%E1%BB%8Dc">khảo cổ học</a> tiếp theo trong lịch sử Nhật Bản được gọi là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_k%E1%BB%B3_Kofun">thời kỳ Cổ Phần</a>, cũng là thời kỳ mở đầu giai đoạn <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Yamato">Yamato</a>. Xã hội Yayoi dần phát triển thành một xã hội với sự thống trị của tầng lớp quý tộc quân đội và những lãnh địa được tổ chức theo mô hình gia tộc, đặc điểm nổi bật của thời Kofun sau đó. Sự thay đổi này rất có thể bắt nguồn từ cuộc di dân từ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A1n_%C4%91%E1%BA%A3o_Tri%E1%BB%81u_Ti%C3%AAn">bán đảo Triều Tiên</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-Bitoantiguo-19"><sup>[19]<br></sup></a><br></div><ul><li><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%ADp_tin:Toro3.jpg"><br></a><strong><br>Thời kỳ Kofun</strong>[<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n&amp;veaction=edit&amp;section=6">sửa</a> | <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n&amp;action=edit&amp;section=6">sửa mã nguồn</a>]<br>Bài chi tiết: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_k%E1%BB%B3_Kofun">Thời kỳ Kofun</a><br><br>Thời kỳ Kofun (古墳時代 | Cổ Phần thời đại) kéo dài từ khoảng năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/250">250</a> đến năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/538">538</a>. Từ kofun trong <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ti%E1%BA%BFng_Nh%E1%BA%ADt">tiếng Nhật</a> nghĩa là mộ cổ. Nó được dùng để đặt tên cho một thời kỳ vì sự xuất hiện hàng loạt của các mộ cổ có hình dạng và kiến trúc đặc biệt trong thời kỳ này. Thời kỳ Kofun nối tiếp <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_k%E1%BB%B3_Yayoi">thời kỳ Yayoi</a>. Thời kỳ Kofun và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_k%E1%BB%B3_Asuka">thời kỳ Asuka</a> sau đó thường được gộp chung lại thành <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_k%E1%BB%B3_Yamato">thời kỳ Yamato</a>.<br><br><br>Gò mộ (<em>Kofun</em> tiếng Nhật nghĩa là "gò mộ cổ") bắt đầu xuất hiện nhiều trong thời này. Vương quốc Đại Hòa (Yamato) (thời đầu người Nhật dùng chữ Hán 倭 (Nụy, đọc âm Nhật là Wa/Oa) do <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Hoa">người Trung Quốc</a> đặt cho để ghi tên gọi Đại Hòa, về sau dùng hai chữ Hán 大和 (Đại Hòa)) thiết lập sự thống trị trên quá nửa phía tây quần đảo Nhật Bản, kể cả phía nam của bán đảo <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BB%81u_Ti%C3%AAn">Triều Tiên</a>. Sau này, việc kiểm soát phía nam Triều Tiên bị suy yếu, và sự tranh ngôi trong gia đình <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Thi%C3%AAn_ho%C3%A0ng">Thiên hoàng</a> đã đe dọa quyền lực của Đại Hòa. <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BA%ADt_gi%C3%A1o">Đạo Phật</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nho_gi%C3%A1o">đạo Khổng</a> bắt đầu được du nhập.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-20"><sup>[20]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-21"><sup>[21]</sup></a> Thời kỳ Kofun được phân biệt với thời kỳ Asuka bởi những khác biệt về văn hóa. Thời kỳ Kofun điển hình bởi một nền văn hóa tôn thờ vật tổ trước khi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BA%ADt_gi%C3%A1o">đạo Phật</a> xuất hiện ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n">Nhật Bản</a>. Về mặt chính trị, sự ra đời của triều đình <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Yamato">Yamato</a> và sự mở rộng của nó sang các vùng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kyushu">Kyushu</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kant%C5%8D">Kantō</a> là những nhân tố chính tiêu biểu cho thời kỳ này. Thời kỳ Kofun cũng là thời kỳ có sử thành văn đầu tiên ở Nhật Bản. Tuy nhiên, biên niên sử của thời kỳ này còn rất sơ sài và không có trật tự đòi hỏi sự nghiên cứu sâu sắc hơn cũng như sự hỗ trợ lớn hơn từ phía <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%E1%BA%A3o_c%E1%BB%95_h%E1%BB%8Dc">khảo cổ học</a>.<br><br><br>Các tài liệu khảo cổ học và những sử sách của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_Qu%E1%BB%91c">Trung Quốc</a> cổ cho thấy các bộ lạc và thủ lĩnh bộ lạc, rất nhiều ở Nhật Bản trong thời gian này, vẫn chưa được thống nhất lại thành các nhà nước cho tới tận năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/300">300</a>, khi những lăng mộ lớn bắt đầu xuất hiện trong khi vẫn chưa có liên hệ nào giữa miền tây Nhật Bản với Trung Quốc. "Thế kỷ huyền bí" đó còn được mô tả như một giai đoạn mà các cuộc chiến tranh tương tàn giữa các thủ lĩnh bộ lạc diễn ra để giành quyền kiểm soát Kyūshū và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A3o_Honshu">Honshū</a>.<br><br><br>Thời kỳ Kofun kết thúc mở ra <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_k%E1%BB%B3_Asuka">thời kỳ Asuka</a> vào khoảng giữa <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%BF_k%E1%BB%B7_VI">thế kỷ VI</a> với sự xuất hiện của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BA%ADt_gi%C3%A1o">đạo Phật</a>. Tôn giáo này chính thức xuất hiện ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n">Nhật Bản</a> vào năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/538">538</a> và đó cũng là năm được lấy làm mốc cho khởi đầu của thời kỳ Asuka. Ngoài ra, sau khi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_Qu%E1%BB%91c">Trung Quốc</a> được <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_T%C3%B9y">nhà Tùy</a> thống nhất sau đó, cũng trong thế kỷ VI, Nhật Bản bắt đầu chịu ảnh hưởng sâu sắc của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_Trung_Qu%E1%BB%91c">văn hóa Trung Quốc</a> và bước vào một thời kỳ văn hóa mới.<br><br><br>Trung cổ[<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n&amp;veaction=edit&amp;section=7">sửa</a> | <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n&amp;action=edit&amp;section=7">sửa mã nguồn</a>]<br><br><strong><br>Thời kỳ Asuka</strong>[<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n&amp;veaction=edit&amp;section=8">sửa</a> | <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n&amp;action=edit&amp;section=8">sửa mã nguồn</a>]<br>Bài chi tiết: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_k%E1%BB%B3_Asuka">Thời kỳ Asuka</a><br><br>Thời kỳ Asuka (飛鳥時代 | Phi Điểu thời đại) kéo dài từ năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/538">538</a> đến năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/710">710</a>, mặc dù giai đoạn khởi đầu của thời kỳ này có thể trùng với giai đoạn cuối của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_k%E1%BB%B3_Kofun">thời kỳ Kofun</a>. Thời kỳ Asuka được đặt theo tên vùng <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Asuka&amp;action=edit&amp;redlink=1">Asuka</a>, cách thành phố <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nara">Nara</a> hiện giờ khoảng 25 km về phía nam. Quốc gia <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Yamato">Yamato</a>, ra đời trong thời kỳ Kofun, phát triển rất nhanh trong thời kỳ Asuka. Nhiều cung điện hoàng gia được xây dựng trong vùng ở thời kỳ này. Thời kỳ Asuka được biết đến với những thay đổi quan trọng về nghệ thuật, xã hội và chính trị. Những thay đổi này có nguồn gốc vào cuối thời Kofun, nhưng chịu nhiều ảnh hưởng của sự xuất hiện của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BA%ADt_gi%C3%A1o">đạo Phật</a> ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n">Nhật Bản</a>. <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BA%ADt_gi%C3%A1o">Phật giáo</a> xuất hiện đánh dấu một thay đổi lớn trong xã hội Nhật Bản. Thời kỳ Asuka còn được phân biệt với các thời kỳ khác bởi sự thay đổi tên của quốc gia từ <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Oa_qu%E1%BB%91c&amp;action=edit&amp;redlink=1">Oa quốc</a> (Yamato) (倭) thành <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n">Nhật Bản</a> (日本).<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-autogenerated5-17"><sup>[17]<br></sup></a><br><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A1nh_%C4%90%E1%BB%A9c_Th%C3%A1i_t%E1%BB%AD"><br>Thánh Đức Thái tử</a> (聖徳太子) phục hồi quyền lực của vương quốc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_k%E1%BB%B3_Yamato">Đại Hòa</a>. Các cố gắng đầu tiên để tạo nên <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hi%E1%BA%BFn_ph%C3%A1p">hiến pháp</a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-HOJ-22"><sup>[22]</sup></a> và một hệ thống giai cấp chính thức. Thánh Đức Thái Tử quảng bá cho đạo Phật.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-autogenerated1-23"><sup>[23]</sup></a> Một số <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%B9a">chùa</a> Phật giáo được xây dựng như <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Shitenno-ji&amp;action=edit&amp;redlink=1">Shitenno-ji</a> (四天王寺, Tứ Thiên Vương tự), <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C5%8Dry%C5%AB-ji">Horyu-ji</a> (法隆寺, Pháp Long tự). Gia đình <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Gia_t%E1%BB%99c_Soga">Soga</a> (曽我, Tằng Ngã) trở nên quyền lực, tuy nhiên sau này đã bị Fujiwara-no-Kamatari (藤原鎌足, Đằng Nguyên Liêm Túc) dưới quyền hoàng tử Naka-no-Oe (中大兄皇子, Trung Đại Huynh Hoàng Tử) lật đổ. Những cuộc vận động tranh giành quyền lực trong triều đình đã dẫn đến một cuộc lật đổ sự kiểm soát của dòng họ Soga vào năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/645">645</a>. Cuộc lật đổ do Hoàng tử <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Naka_no_Oe&amp;action=edit&amp;redlink=1">Naka no Oe</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Nakatomi_no_Kamatari&amp;action=edit&amp;redlink=1">Nakatomi no Kamatari</a> cầm đầu giành lại quyền kiểm soát triều chính từ tay gia đình Soga và mở đầu cho cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BA%A3i_c%C3%A1ch_Taika">cải cách Taika</a> (Taika no Kaishin), chấm dứt sự cai trị của người Nhật Bản ở Triều Tiên. Tinh thần của cải cách Taika được thể hiện trong bộ luật gọi là Luật lệnh (律令, Ritsuryo) dưới thời <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Thi%C3%AAn_ho%C3%A0ng_Tenmu">Thiên hoàng Thiên Vũ</a> (天武, Temmu), sau này được cải tiến dưới thời <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Thi%C3%AAn_ho%C3%A0ng_Monmu">Thiên hoàng Văn Vũ</a> (文武, Mommu), cháu nội của ông.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-24"><sup>[24]<br></sup></a><br><br>Dựa trên những thay đổi về mặt nghệ thuật, thời kỳ này có thể được chia thành hai giai đoạn: giai đoạn Asuka (cho tới <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BA%A3i_c%C3%A1ch_Taika">cải cách Taika</a>), khi những nhân tố Phật giáo đầu tiên xuất hiện với ảnh hưởng từ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BA%AFc_Ng%E1%BB%A5y">Bắc Ngụy</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A1ch_T%E1%BA%BF">Bách Tế</a>, và giai đoạn Hakuho (từ sau cải cách Taika) khi những ảnh hưởng của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_T%C3%B9y">nhà Tùy</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_%C4%90%C6%B0%E1%BB%9Dng">nhà Đường</a> bắt đầu xuất hiện.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-25"><sup>[25]<br></sup></a><br><strong><br>Thời kỳ Nara</strong>[<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n&amp;veaction=edit&amp;section=9">sửa</a> | <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n&amp;action=edit&amp;section=9">sửa mã nguồn</a>]<br>Bài chi tiết: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_k%E1%BB%B3_Nara">Thời kỳ Nara</a><br><br>Thời kỳ Nara (奈良時代 | Nại Lương thời đại) kéo dài từ năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/710">710</a> đến năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/794">794</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-26"><sup>[26]</sup></a> <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Thi%C3%AAn_ho%C3%A0ng_Gemmei">Thiên hoàng Gemmei</a> (元明天皇 <em>Gemmei </em><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Thi%C3%AAn_ho%C3%A0ng"><em>Tennō</em></a>, <em>Nguyên Minh Thiên Hoàng</em>) đặt kinh đô tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Heij%C5%8D-ky%C5%8D">Heijō-kyō</a> (平城京, <em>Bình Thành Kinh</em> ngày nay là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nara_(th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91)">Nara</a>). Ngoại trừ 5 năm (740-745) kinh đô phải dời đi nơi khác, đó là kinh đô của Nhật Bản cho đến khi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Thi%C3%AAn_ho%C3%A0ng_Kanmu">Thiên hoàng Kanmu</a> (桓武天皇 <em>Kammu Tennō</em>, <em>Hoàn Vũ Thiên Hoàng</em>) đặt kinh đô tại Nagaoka-kyō (長岡京, <em>Trường Cương Kinh</em>) vào năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/784">784</a> trước khi di chuyển đến Heian-kyō (平安京, <em>Bình An Kinh</em>), hoặc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ky%C5%8Dto">Kyōto</a> (京都, <em>Kinh Đô</em>), một thập niên sau vào năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/794">794</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-George_Sansom_p._99-27"><sup>[27]</sup></a> Kinh đô Nara được xây dựng theo mô hình của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_An">Trường An</a> (長安, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2y_An">Tây An</a> ngày nay, 西安), là kinh đô của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_%C4%90%C6%B0%E1%BB%9Dng">nhà Đường</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_Qu%E1%BB%91c">Trung Quốc</a>. Trong những lãnh vực khác, tầng lớp thượng lưu Nhật Bản đã lấy người Trung Quốc làm kiểu mẫu, kể cả du nhập chữ viết của Trung Quốc (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n">Nhật Bản</a>: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kanji"><em>kanji</em></a>, 漢字, <em>Hán tự</em>) và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BA%ADt_gi%C3%A1o">Phật giáo</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-28"><sup>[28]<br></sup></a><br><br>Thiên hoàng có uy quyền lớn. Văn hoá thời <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_%C4%90%C6%B0%E1%BB%9Dng">nhà Đường</a> của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%AAn_g%E1%BB%8Di_Trung_Qu%E1%BB%91c">Trung Quốc</a> được du nhập ồ ạt trở thành động lực phát triển mạnh mẽ của văn hóa bản địa. Dựa vào những cố gắng của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Thi%C3%AAn_ho%C3%A0ng">Triều đình</a>, những tác phẩm đầu tiên của lịch sử văn hóa Nhật Bản thời kỳ Nara đã được ghi chép lại. Các tác phẩm như <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BB%95_s%E1%BB%B1_k%C3%BD"><em>Cổ sự ký</em></a> (古事記) và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nihon_Shoki"><em>Nihon shoki</em></a> (日本書紀, Nhật Bản thư kỉ) mang tính chất chính trị nguyên thủy đã được lưu lại và do đó quyền tối cao của các Hoàng đế <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n">Nhật Bản</a> đã được xác định và thiết lập. Nhờ vào sự truyền bá chữ viết, các bài <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Th%C6%A1_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n&amp;action=edit&amp;redlink=1">thơ Nhật Bản</a> được bắt đầu sáng tác, như là bài <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Waka"><em>waka</em></a> (和歌, <em>Hòa ca</em>).<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-s83-29"><sup>[29]</sup></a> Theo thời gian, các bộ sưu tập thơ cá nhân được xuất bản. Bộ sưu tập thơ lớn nhất của Nhật Bản là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%E1%BA%A1n_di%E1%BB%87p_t%E1%BA%ADp"><em>Vạn diệp tập</em></a> (万葉集) vào khoảng sau năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/759">759</a>. Chữ viết Trung Quốc được dùng để diễn đạt âm thanh của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ti%E1%BA%BFng_Nh%E1%BA%ADt">tiếng Nhật</a> (được gọi là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Man%27y%C5%8Dgana"><em>man'yōgana</em></a> (万葉仮名, <em>Vạn Diệp Giả Danh</em>) cho đến khi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kana"><em>kana</em></a> được phát minh.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-30"><sup>[30]<br></sup></a><br><br>Một phát triển văn hóa quan trọng khác trong thời đại này là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BA%ADt_gi%C3%A1o">Phật giáo</a> đã được chính thức hóa.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-s83-29"><sup>[29]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-31"><sup>[31]</sup></a> Vào <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%BF_k%E1%BB%B7_VI">thế kỷ thứ VI</a>, Phật giáo đã được nước <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A1ch_T%E1%BA%BF">Bách Tế</a> đưa vào Nhật Bản nhưng sự tiếp thu bị pha trộn cho đến khi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Thi%C3%AAn_ho%C3%A0ng_Sh%C5%8Dmu">Thiên hoàng Thành Võ</a> (聖武天皇 <em>Shōmu Tennō</em>) ở thời kỳ Nara thành tâm đón nhận. Hoàng đế Shōmu và thân tộc Fujiwara của ông là các Phật tử nhiệt thành đã tích cực truyền bá Phật giáo, biến Phật giáo thành "người bảo vệ đất nước" và là một phương cách làm cho thể chế Nhật Bản thêm vững mạnh.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-32"><sup>[32]<br></sup></a><br><strong><br>Thời kỳ Heian<br></strong>Thời kỳ Heian (平安時代 | Bình An thời đại) kéo dài từ năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/794">794</a> đến năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1192">1192</a>. Kinh đô được dời tới <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Heian_ky%C5%8D&amp;action=edit&amp;redlink=1">Heian kyō</a> (平安京, <em>Bình An kinh</em> <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ky%C5%8Dto_(th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91)">thành phố Kyōto</a> ngày nay). Đây được coi là một dấu son trong <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n">văn hóa Nhật Bản</a>, được các thế hệ sau ghi nhớ ngưỡng mộ. Thời kỳ Heian cũng đánh dấu sự thăng hoa của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Samurai">tầng lớp samurai</a>, tầng lớp sau cùng sẽ chiếm đoạt quyền lực và bắt đầu thời kì phong kiến ở Nhật Bản. Về cơ bản, quyền lực tối cao do Nhật hoàng nắm giữ. Nhưng trong thực tế, dòng họ quý tộc <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Fujiwara&amp;action=edit&amp;redlink=1">Fujiwara</a> đã thâu tóm quyền lực. Tuy nhiên, để bảo vệ quyền lợi tại các tỉnh lị, nhà Fujiwara và các dòng họ quý tộc khác phải có vệ sĩ, cảnh vệ và các binh sĩ. Tầng lớp võ sĩ đã học hỏi được rất nhiều điều trong suốt thời kỳ Heian. Đầu năm 939, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Taira_no_Masakado&amp;action=edit&amp;redlink=1">Taira no Masakado</a> đe dọa quyền lực của chính quyền trung ương bằng việc dẫn đầu cuộc nổi loạn ở tỉnh Hitachi ở phía Bắc. Gần như trong cùng thời điểm, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Fujiwara_no_Sumitomo&amp;action=edit&amp;redlink=1">Fujiwara no Sumitomo</a> nổi loạn ở phía Tây. Phần lớn sức mạnh của chính quyền nằm trong quân đội riêng của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Sh%C5%8Dgun">tướng quân</a>.<br>Sự lấn tới của tầng lớp võ sĩ vào ảnh hưởng của hoàng gia là hậu quả của cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=N%E1%BB%95i_lo%E1%BA%A1n_H%C5%8Dgen&amp;action=edit&amp;redlink=1">nổi loạn Hōgen</a>. Cùng thời gian này, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Taira_no_Kiyomori">Taira no Kiyomori</a> học theo âm mưu của Fujiwara bằng việc đưa con ông lên giữ ngôi trị vì Nhật Bản bằng chức nhiếp chính. Gia tộc này (gia tộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Gia_t%E1%BB%99c_Taira">Taira</a>) vẫn tại vị cho đến sau cuộc chiến đánh dấu sự mở đầu của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/M%E1%BA%A1c_ph%E1%BB%A7">Mạc phủ</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_Genpei">Chiến tranh Genpei</a>. <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_k%E1%BB%B3_Kamakura">Thời kỳ Kamakura</a> bắt đầu năm từ năm 1185 khi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Minamoto_no_Yoritomo">Minamoto no Yoritomo</a> giành được quyền lực từ hoàng đế và thiết lập <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/M%E1%BA%A1c_ph%E1%BB%A7"><em>Mạc phủ</em></a>, tức <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/M%E1%BA%A1c_ph%E1%BB%A7_Kamakura">Mạc phủ Kamakura</a>, tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kamakura">Kamakura</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-transformation363-33"><sup>[33]<br></sup></a><br><br>Các giáo phái Phật giáo mới đã Nhật Bản hóa được thành lập (là Tendai (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Thi%C3%AAn_Thai_t%C3%B4ng">Thiên thai tông</a>) và Shingon (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A2n_Ng%C3%B4n_T%C3%B4ng">Chân ngôn tông</a>) - chủ yếu hội nhập những yếu tố tiến bộ). Hệ thống các điều luật <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ritsuryo&amp;action=edit&amp;redlink=1">Ritsuryo</a> được sửa đổi. Các thể tài thơ văn theo kiểu Trung Hoa rất hưng thịnh ở triều đình<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-autogenerated1-23"><sup>[23]</sup></a> và chủ yếu của các cây bút nam. Dòng họ <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Fujiwara&amp;action=edit&amp;redlink=1">Fujiwara</a> nắm quyền hành đằng sau ngai vàng.<br><br><br>Từ cuối <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%BF_k%E1%BB%B7_IX">thế kỷ IX</a> đến cuối <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%BF_k%E1%BB%B7_XI">thế kỷ XI</a>, việc cai quản chính quyền bằng quan nhiếp chính trở thành luật lệ. Triều đình mất thực quyền kiểm soát đất nước, chỉ còn nắm vai trò đại diện. Phúc lợi công cộng bị coi nhẹ. Người đứng đầu các tỉnh trở nên tham nhũng và lười nhác. Chủ nhân của các khu trang ấp (<em>shoen</em>) thành lập các nhóm võ sĩ để tự vệ, tạo ra sự mở đầu của hệ thống <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Samurai">samurai</a> (võ sĩ, cận vệ có vũ trang). Thơ ca Nhật Bản phát triển rực rỡ, đặc biệt là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Waka">waka</a> (thể thơ 31 âm tiết). <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kokinshu&amp;action=edit&amp;redlink=1">Cổ kim tập</a> và các tuyển tập waka khác được biên soạn. Những tác phẩm khác gồm có tiểu thuyết đầu tiên của thế giới, cuốn <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Truy%E1%BB%87n_k%E1%BB%83_Genji">Truyện kể Genji</a> do <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Murasaki_Shikibu">Murasaki Shikibu</a> chấp bút,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-34"><sup>[34]</sup></a> <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%B9y_b%C3%BAt">tùy bút</a> <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Makura-no-Soshi&amp;action=edit&amp;redlink=1">Sách gối đầu</a> của <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Sei_Shonagon&amp;action=edit&amp;redlink=1">Sei Shonagon</a>, cuốn <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ise_Monogatari&amp;action=edit&amp;redlink=1">Truyện kể Ise</a>, và <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tosa_Nikki&amp;action=edit&amp;redlink=1">Nhật ký Tosa</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-35"><sup>[35]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-36"><sup>[36]<br></sup></a><br><br>Cuối thế kỷ XI đến 1192 bắt đầu một thế kỷ các Thiên hoàng rời xa thế tục, đi tu nhưng vẫn gián tiếp cai quản công việc triều chính. Triều đình dần biến thành một quốc gia không có thực quyền, quan liêu xa rời thực tế, không chăm lo đến các phúc lợi công cộng mà chỉ bận tâm tới việc xây dựng chùa chiền và truyền bá tư tưởng Phật giáo. Tầng lớp quý tộc trong triều đình suy đồi và vô dụng. Giáo phái Phật giáo <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Jodo&amp;action=edit&amp;redlink=1">Jodo</a> (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%8Bnh_%C4%91%E1%BB%99_t%C3%B4ng">Tịnh độ tông</a>) phát triển. Quyền lực của các phe cánh địa phương với nền tảng là hệ thống samurai tăng lên. Dẫn đầu trong số họ là các gia đình Minamoto (Genji) và Taira (Heike hoặc Heishi). Các chùa chiền cũng duy trì lực lượng tự vệ. Những cuộc tranh giành quyền lực trong Hoàng gia và các yếu tố khác cuối cùng đã đem lại uy thế cho gia đình Taira, nhưng sau một phần tư thế kỷ nắm quyền, rốt cuộc nhà Taira lại bị nhà Minamoto đánh bại.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-37"><sup>[37]<br></sup></a><br><strong><br>Chế độ nhiếp chính Fujiwara</strong>[<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n&amp;veaction=edit&amp;section=11">sửa</a> | <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n&amp;action=edit&amp;section=11">sửa mã nguồn</a>]<br><br>Khi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Thi%C3%AAn_ho%C3%A0ng_Kanmu">Thiên hoàng Kanmu</a> dời kinh đô tới <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Heian-ky%C5%8D">Heian-kyō</a> (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ky%C5%8Dto">Kyōto</a>), trung tâm của hoàng gia trong hơn 1000 năm sau đó. Kammu không chỉ muốn tăng cường quyền lực hoàng đế mà còn củng cố vị thế địa chính trị của bộ máy cai trị. Kyōto có một con sông dẫn ra biển và có thể đến được bằng đường bộ qua các tỉnh phía Đông. Thời Heian giai đoạn đầu (784-967) là sự tiếp tục văn hóa thời kì Nara, thủ đô Heian (Kyōto) được thiết kế theo kiểu kinh đô <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_An">Trường An</a> của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_%C4%90%C6%B0%E1%BB%9Dng">nhà Đường</a>. Nara cũng như vậy nhưng ở quy mô lớn hơn. Bất chấp sự suy thoái của các <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BA%A3i_c%C3%A1ch_Taika">cải cách Taika</a>-<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=C%E1%BA%A3i_c%C3%A1ch_Taih%C5%8D&amp;action=edit&amp;redlink=1">Taihō</a>, chính quyền hoàng gia vẫn rất mạnh vào giai đoạn đầu thời kì Heian. Sự thật là, việc Nhật Hoàng Kanmu tránh xa các cải cách mạnh mẽ đã làm giảm cường độ các cuộc đấu tranh chính trị và ông đã được thừa nhận là một trong những hoàng đế mạnh mẽ nhất của Nhật Bản.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-transformation351-38"><sup>[38]<br></sup></a><br><br>Dù đã bỏ chế độ nghĩa vụ quân sự năm 792, Kammu vẫn tiến hành những cuộc tấn công quân sự lớn nhằm thu phục người Emishi, những người được cho là con cháu của người <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_k%E1%BB%B3_J%C5%8Dmon">thời kỳ Jōmon</a> đã di cư, sống ở Bắc và Đông Nhật Bản. Sau khi thu được một số lãnh thổ năm 794, năm 797 Kanmu bổ nhiệm một tướng lĩnh mới với tên hiệu <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Sh%C5%8Dgun">Chinh di đại tướng quân</a>. Năm 801, vị tướng này đánh bại người Emishi và mở rộng lãnh địa hoàng gia tới cuối phía Đông của đảo <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A3o_Honshu">Honshū</a>. Quyền lực hoàng đế với các tỉnh ở thời điểm mong manh nhất. Tuy nhiên, trong thế kỷ IX và X, phần lớn quyền lực rơi vào tay các gia tộc lớn, họ không coi trọng các vùng đất có phong cách Trung Hoa và hệ thống thuế của chính quyền tại Kyōto. Sự ổn định đến với thời kì Heian, dù sự kế vị được đảm bảo cho gia đình hoàng đế theo phương thức truyền ngôi, quyền lực lại lần nữa tập trung vào tay của dòng họ quý tộc như <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Nh%C3%A0_Fujiwara&amp;action=edit&amp;redlink=1">nhà Fujiwara</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-autogenerated3-39"><sup>[39]<br></sup></a><br><br>Sau cái chết của Kammu năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/806">806</a> và sự tranh giành quyền kế vị của hai con trai ông, hai cơ quan mới được thành lập để điều chỉnh lại hệ thống hành chính Taika-Taihō. Thông qua Ngự tiền viện, Hoàng đế có thể soạn thảo các chiếu chỉ trực tiếp và chắc chắn hơn trước kia. Ban Cảnh binh thủ thay thế các đơn vị cấm vệ mang nặng tính nghi lễ. Trong khi hai cơ quan này củng cố quyền lực của Thiên hoàng, chúng và các cấu trúc kiểu Trung Hoa khác nhạt dần khi đất nước phát triển hơn. Ảnh hưởng Trung Hoa thực sự chấm dứt với đoàn sứ bộ của Hoàng gia đến <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_%C4%90%C6%B0%E1%BB%9Dng">nhà Đường</a> năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/838">838</a>. Nhà Đường là một đất nước đang suy vong, và Phật giáo Trung Quốc đang bị khủng bố quyết liệt, làm xói mòn sự kính trọng của người Nhật với các thể chế Trung Quốc. Nhật Bản bắt đầu thay đổi theo chiều hướng hướng nội hơn.<br><br>Giống như <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Gia_t%E1%BB%99c_Soga">gia tộc Soga</a> nắm quyền kiểm soát ngai vàng trong <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%BF_k%E1%BB%B7_VI">thế kỷ VI</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Gia_t%E1%BB%99c_Fujiwara">gia tộc Fujiwara</a> đã thông hôn với Hoàng gia trong thế kỷ IX, và một trong những thành viên của họ trở thành người đứng đầu Ngự tiền phòng của Hoàng đế. Một người nhà Fujiwara khác trở thành Nhiếp chính quan, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Sessh%C5%8D_v%C3%A0_Kampaku">Sessho</a> cho cháu trai mình, khi đó là một ấu chúa, và một người nữa được phong chức <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Sessh%C5%8D_v%C3%A0_Kampaku">Kanpaku</a>. Cho đến cuối <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%BF_k%E1%BB%B7_IX">thế kỷ IX</a>, vài Thiên Hoàng cố gắng, nhưng thất bại để kìm hãm nhà Fujiwara. Tuy vậy, có một lần dưới triều <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Thi%C3%AAn_ho%C3%A0ng_Daigo">Thiên hoàng Daigo</a> (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/897">897</a>-<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/930">930</a>), chế độ nhiếp chính Fujiwara bị gián đoạn vì Nhật hoàng trực tiếp trị vì.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-40"><sup>[40]<br></sup></a><br><br>Tuy nhiên, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Gia_%C4%91%C3%ACnh_Fujiwara&amp;action=edit&amp;redlink=1">gia đình Fujiwara</a> không hề bị suy yếu dưới triều Daigo mà thực tế họ còn mạnh hơn. Tập quyền ở Nhật Bản tiếp tục bị xói mòn, và nhà Fujiwara, cùng với vài gia đình lớn và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%95_ch%E1%BB%A9c_t%C3%B4n_gi%C3%A1o">tổ chức tôn giáo</a>, có thêm nhiều <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Sh%C5%8Den"><em>shōen</em></a> (trang ấp) và vô cùng giàu có vào đầu <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%BF_k%E1%BB%B7_X">thế kỷ X</a>. Vào đầu thời Heian, các <em>shōen</em> đã có được địa vị pháp lý, và các tổ chức tôn giáo lớn giữ lấy cái danh vĩnh cửu, từ chối nộp thuế, và miễn nhiễm trước việc kiểm soát của chính quyền với các <em>shōen</em> mà họ nắm giữ.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-sh%C5%8Den-41"><sup>[41]</sup></a> Những người canh tác trên đất thấy việc đổi tên gọi thành <em>shōen</em> rất có lợi cho phần chia sau vụ mùa. Nhân dân và đất đai ngày càng vuột khỏi tầm kiểm soát của thuế khóa và triều đình, thực tế đã trở lại tình trạng trước Cải cách Taika.<br><br><br>Trong vòng một thập kỷ sau cái chết của Daigo, gia đình Fujiwara nắm quyền kiểm soát toàn diện triều đình. Năm 1000, dưới thời <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Thi%C3%AAn_ho%C3%A0ng_Ichij%C5%8D">Thiên hoàng Ichijō</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Fujiwara_no_Michinaga">Fujiwara no Michinaga</a> đã có thể phế lập Thiên Hoàng theo ý muốn. Rất ít quyền lực thuộc về chế độ hành chính truyền thống, và việc triều chính nằm cả trong tay gia đình Fujiwara. Nhà Fujiwara được nhà sử học George B. Sansom gọi là "độc tài cha truyền con nối."<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-sh%C5%8Den-41"><sup>[41]<br></sup></a><br><br>Bất chấp việc chiếm đoạt vương quyền, nhà Fujiwara vẫn tạo ra một thời kỳ nở hoa của nghệ thuật và mỹ học giữa triều đình và tầng lớp quý tộc. Những vần thơ duyên dáng cùng văn học tiếng bản ngữ rất được ưa chuộng. Văn tự tiếng Nhật đã từ lâu dựa vào <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kanji">kanji</a>, nay nó được bổ sung thêm bằng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kana">kana</a>, hai cách phát âm chữ viết Nhật Bản: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Katakana">katakana</a>, một hệ thống dựa vào trí nhớ sử dụng chữ tượng hình Trung Hoa; và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hiragana">hiragana</a>, bảng ký hiệu âm tiết bằng chữ thảo với một phương pháp viết riêng biệt đặc sắc Nhật Bản. Hiragana cho người viết cảm xúc với những từ phát âm, và với nó, lại càng quảng bá cho sự nổi tiếng của văn học tiếng Nhật, đa phần các tác phẩm được những người phụ nữ trong triều viết ra, họ đều không biết tiếng Trung Quốc như đàn ông. Ba phụ nữ cuối <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%BF_k%E1%BB%B7_X">thế kỷ X</a>, đầu <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%BF_k%E1%BB%B7_XI">thế kỷ XI</a> đã giới thiệu cái nhìn về cuộc sống và sự lãng mạn ở triều đình Heian trong "<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tinh_Linh_Nh%E1%BA%ADt_k%C3%BD&amp;action=edit&amp;redlink=1">Tinh Linh Nhật ký</a>" (<a href="https://ja.wikipedia.org/wiki/%E8%9C%BB%E8%9B%89%E6%97%A5%E8%A8%98">蜻蛉日記</a> <em>Kagero nikki</em>) do "mẹ của <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Fujiwara_Michitsuna&amp;action=edit&amp;redlink=1">Fujiwara Michitsuna</a>" viết, "Sách gối đầu" của Sei Shonagon và "Truyện kể Genji" của Murasaki Shikibu. Nghệ thuật bản xứ cũng nở hoa dưới triều đại Fujiwara sau hàng thế kỷ noi theo hình mẫu Trung Hoa. Những bức vẽ phong cách Nhật Bản sặc sỡ <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Yamato-e&amp;action=edit&amp;redlink=1">yamato-e</a> về đời sống triều đình và những câu chuyện về đền thờ và nơi linh thiêng trở thành thông dụng vào giữa và cuối thời Heian, trở thành khuôn mẫu cho nghệ thuật Nhật Bản ngày nay.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-42"><sup>[42]<br></sup></a><br><br>Khi văn hóa phát triển rực rỡ, sự phân quyền cũng ngày càng trầm trọng.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-43"><sup>[43]</sup></a> Trong khi thời kỳ đầu tiên của phát triển <em>shōen</em> vào đầu thời kỳ Heian đã chứng kiến việc khai hoang nhiều đất đai mới và việc phong đất cho các nhà quý tộc và các thể chế tôn giáo, thời kỳ thứ hai chứng kiến gia sản các "gia tộc triều đình" phình lên.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-sh%C5%8Den-41"><sup>[41]</sup></a> (Thực tế, hệ thống gia tộc cũ vẫn gần như còn nguyên vẹn ở trong triều đình tập quyền cũ). Các thể chế mới nay cần đối diện với sự thay đổi về xã hội, kinh tế, và chính trị. <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Lu%E1%BA%ADt_Taih%C5%8D&amp;action=edit&amp;redlink=1">Luật Taihō</a> mất hiệu lực, các thể chế của nó bị gạt khỏi chức năng nghi lễ. Hệ thống hành chính gia đình nay trở thành thể chế chung. Khi gia đình quyền lực nhất Nhật Bản, nhà Fujiwara thống trị Nhật Bản và quyết định mọi việc triều chính, ví dụ như việc thừa kế ngai vàng. Việc gia đình và triều chính hoàn toàn bị trộn lẫn, một hình mẫu được bắt chước bởi các gia đình khác, các tu viện, và thậm chí cả Hoàng gia. Việc quản lý đất đai trở thành công việc chính yếu của các gia đình quý tộc, không nhiều sự quản lý trực tiếp từ Hoàng gia hay chính phủ trung ương vì quyền lực của họ đã suy giảm và sự đoàn kết lớn trong gia đình và việc thiếu ý thức thống nhất quốc gia của người Nhật.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-44"><sup>[44]<br></sup></a><br><strong><br>Chiến tranh Genpei<br></strong><br>Chiến tranh Genpei (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kanji">kanji</a>: 源平合戦, romaji: <em>Genpei kassen, Nguyên Bình hợp chiến</em>) (1180-1185) là cuộc chiến giữa hai gia tộc Taira và Minamoto vào cuối thời kỳ Heian của Nhật Bản. Chiến tranh kết thúc với sự thất bại của gia tộc Taira và sự thành lập của mạc phủ Kamakura bởi Minamoto Yoritomo vào năm 1192. Cái tên Genpei xuất phát từ sự kết hợp cách đọc trong kanji từ kanji 'Minamoto' (源, Nguyên) và 'Taira' (平, Bình). Trận chiến này còn được gọi là Loạn Jishō-Juei (治承寿永の乱, Jishō-Juei no ran).<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-Gaskin-45"><sup>[45]<br></sup></a><br><br>Các hành động của Taira no Kiyomori làm sâu sắc thêm sự hận thù của nhà Minamoto với gia tộc Taira, một lời hiệu triệu được <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Minamoto_no_Yorimasa&amp;action=edit&amp;redlink=1">Minamoto no Yorimasa</a> và Hoàng tử Mochihito gửi đi. Không biết ai đứng đằng sau sự tập hợp này, Kiyomori ra lệnh bắt giữ Mochihito, người đang trú ẩn tại đền <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Mii-dera&amp;action=edit&amp;redlink=1">Mii-dera</a>. Các nhà sư Mii-dera không thể đảm bảo cho ông sự bảo vệ cần thiết, vì vậy ông bị buộc phải bỏ đi. Sau đó ông bị quân đội Taira đuổi đến <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/By%C5%8Dd%C5%8D-in">Byōdō-in</a>, ngoại ô Kyōto. Chiến tranh bắt đầu sau đó, với một cuộc chạm trán kịch tính ở trên và xung quanh <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%ADn_Uji_(1180)">cây cầu bắc qua sông Uji</a>. Trận chiến kết thúc với lễ nghi tự sát của Yorimasa trong Byōdō-in và Mochihito bị bắt và xử tử ít lâu sau đó.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-46"><sup>[46]<br></sup></a><br><br>Đây là thời điểm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Minamoto_no_Yoritomo">Minamoto no Yoritomo</a> nắm quyền lãnh đạo gia tộc Minamoto và bắt đầu đi khắp thôn quê tập hợp đồng minh. Khởi hành từ <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=T%E1%BB%89nh_Izu&amp;action=edit&amp;redlink=1">tỉnh Izu</a>, hướng đến đèo <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Hakone&amp;action=edit&amp;redlink=1">Hakone</a>, ông bị nhà Taira đánh bại trong <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%ADn_Ishibashiyama">Trận Ishibashiyama</a>. Tuy vậy, ông cũng đến được <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=T%E1%BB%89nh_Kai&amp;action=edit&amp;redlink=1">tỉnh Kai</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=T%E1%BB%89nh_Kozuke&amp;action=edit&amp;redlink=1">tỉnh Kozuke</a>, nơi <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Gia_t%E1%BB%99c_Takeda&amp;action=edit&amp;redlink=1">gia tộc Takeda</a> và các gia đình bạn hữu khác giúp đẩy lui quân Taira. Trong khi đó, Taira no Kiyomori, báo thù các nhà sư ở Mii-dera và những người khác, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Cu%E1%BB%99c_v%C3%A2y_h%C3%A3m_Nara">bao vây Nara</a>, đốt phá phần lớn thành phố. Giao tranh tiếp diễn năm sau đó, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Minamoto_no_Yukiie&amp;action=edit&amp;redlink=1">Minamoto no Yukiie</a> đánh lén vào quân đội của <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Taira_no_Tomomori&amp;action=edit&amp;redlink=1">Taira no Tomomori</a> trong <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%ADn_Sunomatagawa">Trận Sunomatagawa</a> nhưng không thành công. Ông bị họ đuổi cho đến <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%ADn_Yahagigawa">Yahahigawa</a>, phá hủy cây cầu qua sông để làm chậm bước tiến của quân nhà Taira. Ông bị đánh bại và phải rút lui một lần nữa, nhưng Taira no Tomomori bị ốm và hoãn lại việc truy kích Yukiie.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-47"><sup>[47]<br></sup></a><br><br>Khi quân đội Minamoto thống nhất rời Kyōto, nhà Taira bắt đầu củng cố các vị trí của mình tại nhiều nơi trong và xung quanh biển nội Seto, vốn là đất tổ tiên của họ. Họ nhận được thư của Thiên hoàng rằng nếu họ đầu hàng trước ngày mồng 7 tháng 2, nhà Minamoto sẽ bị thuyết phục đồng ý đình chiến. Đò là một trò hề, vì cả nhà Minamoto lẫn Thiên hoàng đều không đợi đến ngày thứ 8 mới tấn công. Tuy nhiên, chiến thuật này cho Thiên hoàng một cơ hội để lấy lại các thần khí và làm sao lãng sự lãnh đạo của nhà Taira.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-Turnbull-48"><sup>[48]<br></sup></a><br><br>Quân đội Minamoto, dẫn đầu bởi Yoshitsune và Noriyori, thực hiện cuộc tấn công lớn đầu tiện tại Ichi-no-Tani, một trong những thành chính của nhà Taira tại đảo Honshū. Thành bị bao vây, và quân Taira rút lui đến Shikoku.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-Turnbull-48"><sup>[48]</sup></a> Tuy nhiên, nhà Minamoto không chuẩn bị tấn công Shikoku; 6 tháng đình chiến sau đó rồi nhà Minamoto mới tiến tiếp. Mặc dù trên đường rút chạy, nhà Taira có lợi thế riêng ở quê hương, và giỏi thủy chiến hơn đối thủ của mình nhiều. Gần một năm sau trận Ichi-no-Tani, thành chính của nhà Taira tại Yashima mới bị tấn công. Thấy lửa hiệu từ trên đảo Shikoku, nhà tarai hy vọng một cuộc tấn công trên bộ và lên thuyền của mình. Tuy vậy, đây là đòn nghi binh của nhà Minamoto, họ vẫn chờ với thủy quân của mình. Thành Yashima thất thủ, cùng với cung điện hoàng gia tạm thời được nhà Taira xây dựng, tuy vậy, nhiều người đã chạy thoát cùng với thần khí và Thiên hoàng Antoku.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-49"><sup>[49]<br></sup></a><br><br>Chiến tranh Genpei kết thúc một tháng sau đó, sau trận Dan-no-ura, mổ trong những trận đánh nổi tiếng và quan trọng nhất trong lịch sử Nhật Bản. Nhà Minamoto chạm trán hạm đội nhà Taira tại en Shimonoseki, một khoảng nước nhỏ phân cách giữa đảo Honshū và đảo Kyūshū. Sau hàng loạt cung tên, sáp chiến bắt đầu. Thủy triều đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của trận đánh, ban đầu mang lợi thế cho nhà Taira, những thủy thủ kinh nghiệm và tài giỏi hơn, và sau đó là cho nhà Minamoto. Lợi thế của nhà Minamoto được nâng cao nhiều nhờ sự phản bội của Taguchi Shigeyoshi, một tướng quân của nhà Taira nói ra vị trí của Thiên hoàng Antoku và thần khí. Nhà Minamoto chuyển sự chú ý của mình đến con thuyền của Thiên hoàng, và trận đánh nhanh chóng chuyển hướng có lợi cho họ.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-50"><sup>[50]<br></sup></a><br><br>Quy tắc hải chiến thời đó quy định không bắn vào người lái thuyền, chỉ bắn chết võ sỹ samurai, tức là thành viên chiến đấu. Sở dĩ như vậy, vì người lái thuyền đều là dân chài, không phải quân lính, nếu bắn chết họ thì sau này họ sẽ không lái thuyền cho quân đội nữa, thủy quân cũng không hình thành nổi. Tuy vậy, Yoshitsune vốn là người miền Ðông, không nghĩ xa tới tương lai thủy quân, nên đã phá lệ cũ, nhằm bắn người lái thuyền trước nhất. Người lái thuyền không mặc giáp trụ, nên bị trúng tên thì bị thương nặng không lái thuyền được nữa. Vì vậy, họ sợ bỏ chạy hết, khiến đoàn thuyền của Taira không xoay xở được. Các tướng Taira đã thốt lên "Yoshitsune là đồ hèn!" mà chết đi. Nhiều samurai của nhà Taira, cùng với Thiên hoàng Antoku và bà nội ông Taira no Tokiko, góa phục của Taira no Kiyomori, trẫm mình xuống làn sóng nước thay vì sống để thấy sự thất bại cuối cùng của gia tộc mình về tay nhà Minamoto.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-51"><sup>[51]<br></sup></a><br><br>Taira no Kiyomori chết bệnh vào mùa xuân năm 1181, và cùng lúc đó, Nhật Bản bắt đầu phải hứng chịu một nạn đói kéo dài cho đến năm sau. Nhà Taira chuyển hướng tấn công sang <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Minamoto_no_Yoshinaka">Minamoto no Yoshinaka</a>, anh em họ của Yoritomo, người khởi quân từ phía Bắc nhưng không thành công. Gần 2 năm, hai bên ngừng chiến, chỉ tiếp tục vào mùa xuân năm 1183.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-52"><sup>[52]<br></sup></a><br><br>Nhà Taira bị tiêu diệt, và chiến thắng của nhà Minamoto theo sau đó bằng việc thành lập Mạc phủ Kamakura. Mặc dù Minamoto no Yoritomo không phải là người đầu tiên giữ tước vị Shōgun, ông là người đầu tiên giữ vị trí này với vai trò ở tầm quốc gia. Sự kết thúc của chiến tranh Genpei và mở đầu Mạc phủ Kamakura đánh dấu sự nổi lên của quyền lực quân sự (samurai) và sự suy sụp của quyền lực Thiên hoàng, người bị buộc phải chủ tọa mà không có quyền lực chính trị hay quân sự, cho đến thời Minh Trị Duy Tân 650 năm sau đó. Thêm vào đó, trận chiến này và kết quả của nó khiến cho 2 màu đỏ và trắng, màu của gia tộc Taira và Minamoto, một cách tương đối, trở thành màu quốc gia của Nhật Bản. Ngày nay, hai màu này có thể thấy trên quốc kỳ Nhật, và trên cờ, bảng trong sumo và các hoạt động truyền thống khác.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-Gaskin-45"><sup>[45]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-53"><sup>[53]<br></sup></a><br><br>Thời phong kiến (1185–1868)<br><strong><br>Thời kỳ Kamakura<br></strong><br>Thời kỳ Kamakura (鎌倉時代 | Liêm Thương thời đại) kéo dài từ năm 1185 đến năm 1333, đánh dấu sự chuyển dịch sang nền kinh tế dựa trên đất đai và sự tập trung kỹ thuật quân sự hiện đại vào tay tầng lớp võ sĩ. Các lãnh chúa yêu cầu sự phục vụ trung thành của các chư hầu, đổi lại họ được ban thưởng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A1i_%E1%BA%A5p">thái ấp</a>. Chủ thái ấp áp dụng các luật lệ quân sự địa phương.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-54"><sup>[54]<br></sup></a><br><br>Minamoto-no-Yoritomo được bổ nhiệm làm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Sh%C5%8Dgun">Chinh di Đại tướng quân</a> (<em>Seiji-Taishogun</em>). <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/M%E1%BA%A1c_ph%E1%BB%A7">Mạc phủ</a> ở <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_Kamakura&amp;action=edit&amp;redlink=1">Kamakura</a> được thiết lập. Phát triển nông nghiệp nhờ sử dụng súc vật kéo. Thu hoạch vụ mùa nửa năm một lần. Bổ nhiệm chức vụ "thủ hộ" (<em>shugo</em>) và "địa đầu" (<em>jito</em>). Giáo phái Phật giáo Jodo phát triển. Giáo phái <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Thi%E1%BB%81n_t%C3%B4ng">Thiền tông</a> du nhập từ Trung Quốc. Sau cái chết của Yoritomo, gia đình Hōjō trở thành các quan nhiếp chính trong chế độ Mạc phủ. Dòng dõi Minamoto chẳng bao lâu kết thúc, nhưng gia đình Hōjō vẫn tiếp tục làm các quan nhiếp chính, kiểm soát cả các <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Thi%C3%AAn_ho%C3%A0ng">Thiên hoàng</a> lẫn các Chinh di Đại tướng quân.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-s421-55"><sup>[55]</sup></a> Giáo phái Phật giáo <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nichiren">Nichiren</a> (hoặc Hokke) phát triển. <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Heike_Monogatari&amp;action=edit&amp;redlink=1">Truyện kể Heike</a> với âm hưởng về lẽ sinh tử vô thường của cuộc đời được viết. Các võ sĩ Samurai ngày càng trở nên có nhiều quyền lực ở các vùng trang ấp. Vào giai đoạn cuối của thời kỳ này, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Thi%C3%AAn_ho%C3%A0ng_Go-Daigo">Thiên hoàng Hậu Đề Hồ</a> nhanh chóng khôi phục lại luật lệ Hoàng gia nhưng thất bại trong việc đạt được quyền kiểm soát thích đáng và bị lật đổ bởi người trước đó đã từng giúp ông là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ashikaga_Takauji">Ashikaga Takauji</a> - người đã đưa <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Thi%C3%AAn_ho%C3%A0ng_Quang_Minh&amp;action=edit&amp;redlink=1">Thiên hoàng Quang Minh</a> lên ngôi, thay thế Thiên hoàng Hậu Đề Hồ. Thiên hoàng Hậu Đề Hồ bỏ trốn và lập ra một triều đình ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Yoshino">Yoshino</a> kình địch với triều đình Quang Minh ở kinh đô Kyōto. Hai triều đình, Bắc và Nam, sau đó tiếp tục tồn tại trong 57 năm.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-s421-55"><sup>[55]<br></sup></a><br><br>Năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1272">1272</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1281">1281</a>, quân <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/M%C3%B4ng_C%E1%BB%95">Mông Cổ</a> hai lần tấn công Nhật Bản. Yêu cầu thống nhất lòng dân để bảo vệ lãnh thổ trở nên cấp thiết. Lần thứ nhất, với sự dũng cảm của tầng lớp võ sĩ, sự vững chãi của các thành trì duyên hải và sự giúp đỡ của thời tiết, quân Mông Cổ đổ bộ lên bờ đều bị đánh bại. Lần thứ hai, khi các thành trì đã có thể bị chọc thủng, hạm đội hùng mạnh của quân Mông Cổ trên biển lại bị trận bão cực lớn đánh chìm, kết thúc mộng chinh đông của hoàng đế Nguyên Mông. Người Nhật sau tôn kính gọi trận bão này bằng một cái tên sẽ khắc ghi mãi mãi vào lịch sử là <em>Thần Phong</em> (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%A7n_phong">kamikaze</a>).<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-56"><sup>[56]<br></sup></a><br><strong><br>Tân chính Kemmu</strong>[<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n&amp;veaction=edit&amp;section=15">sửa</a> | <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n&amp;action=edit&amp;section=15">sửa mã nguồn</a>]<br>Bài chi tiết: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2n_ch%C3%ADnh_Kemmu">Tân chính Kemmu</a><br><br>Cho đến đầu thế kỷ XIV, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/M%E1%BA%A1c_ph%E1%BB%A7_Kamakura">Mạc phủ Kamakura</a> của gia tộc Hōjō đang ở trong tình thế lộn xộn-những nỗ lực để chống lại những cuộc xâm lược của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_M%C3%B4ng_C%E1%BB%95">Đế quốc Mông Cổ</a> trong các năm 1274 và 1281 rất tốn kém, và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Sh%C5%8Dgun">Tướng quân</a> không thể ban thưởng cho người đứng đầu các tỉnh đã tập hợp lại dưới trướng ông.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-57"><sup>[57]<br></sup></a><br><br>Năm 1318 Thiên hoàng Hậu Đề Hồ thuộc chi thứ của Hoàng gia lên ngôi, nhưng miễn cưỡng phải thoái vị dưới sức ép của chi trưởng vì quyết tâm lật đổ Mạc phủ. Quyền thế của Ashikaga Shogunate đã hoàn thành đến mức Ashikaga Yotshimitsu đã có thể ra luật Nhật Bản mà không cần tham chiếu tới hoàng đế.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-58"><sup>[58]</sup></a> Ông bị lưu đày năm 1331, và những người ủng hộ ông như các võ sỹ tại các tỉnh như <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kusunoki_Masahige&amp;action=edit&amp;redlink=1">Kusunoki Masahige</a> tiếp tục đấu tranh, năm 1333, Mạc phủ bị tiêu diệt khi Ashikaga Takauji quay lưng lại với họ.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-autogenerated35-59"><sup>[59]</sup></a> Hậu Đề Hồ trở về <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%A7_%C4%91%C3%B4">kinh đô</a> <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ky%C5%8Dto_(th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91)">Kyōto</a> thuyết phục rằng những ngày của Shōgun cùng những kẻ tiếm quyền khác đã qua và Thiên hoàng có thể lại thống trị không chỉ trên danh nghĩa mà cả thực quyền một lần nữa.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-sansom22-60"><sup>[60]<br></sup></a><br><br>Tuy vậy, triều <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Thi%C3%AAn_ho%C3%A0ng_Go-Daigo">Go-daigo</a> không hề có kinh nghiệm quản lý lẫn quyền lực tại các tỉnh để giải quyết thực tế của một xã hội do các võ sĩ làm chủ. Thiên hoàng Hậu Đề Hồ từ chối bổ nhiệm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ashikaga_Takauji">Ashikaga Takauji</a> làm Tướng quân (<em>Chinh di Đại tướng quân</em>) kể cả khi ông trực tiếp yêu cầu năm 1335, và khi ông giao tranh với <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ashikaga_Takauji">Ashikaga Takauji</a> năm 1336, kết quả không còn nghi ngờ gì nữa.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-61"><sup>[61]</sup></a> Ông chạy về phương Nam, từ Kyōto đến Yoshino, trong khi Takauji thiết lập một Mạc phủ mới tại kinh đô Kyōto, gọi là Mạc phủ Muromachi, đánh bại những người trung thành còn lại trong trận đánh gần Kobe, và đưa một Thiên hoàng bù nhìn lên ngôi.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-62"><sup>[62]</sup></a> Điều này mở đầu cho sự phân ly của hai nhánh thù địch trong Hoàng gia kéo dài cho đến năm 1392. Gia tộc Ashikaga của Takauji nắm ngôi Tướng quân trong suốt <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_k%E1%BB%B3_Muromachi">thời Muromachi</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-63"><sup>[63]<br></sup></a><br><strong><br>Thời kỳ Muromachi</strong>[<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n&amp;veaction=edit&amp;section=16">sửa</a> | <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n&amp;action=edit&amp;section=16">sửa mã nguồn</a>]<br>Bài chi tiết: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_k%E1%BB%B3_Muromachi">Thời kỳ Muromachi</a><br><br>Thời kỳ nhà Ashikaga thống trị (1336–1573) được gọi là Muromachi từ tên một quận của Kyōto nơi họ đặt tổng hành dinh của mình sau khi Shōgun thứ 3 <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ashikaga_Yoshimitsu">Ashikaga Yoshimitsu</a> (足利 義満) xây dựng dinh thự của mình ở đó năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1378">1378</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-Japanese_About_Muromachi_Culture-64"><sup>[64]</sup></a> Cái để phân biệt giữa hai hình thức <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/M%E1%BA%A1c_ph%E1%BB%A7"><em>Mạc phủ</em></a> (幕府) Ashikaga và Kamakura là, trong khi Kamakura tồn tại trong thế cân bằng với triều đình Kyōto, Ashikaga tước đoạt mọi quyền lực còn lại của triều đình. Tuy vậy, Mạc phủ Ashikaga không mạnh như Kamakura vì đã và đang lo ngại lớn vì cuộc nội chiến. Cho đến thời Ashikaga Yoshimitsu (Shōgun thứ 3, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1368">1368</a>–<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1394">94</a>, và Chưởng ấn quan, 1394–<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1408">1408</a>), họ vẫn không có vẻ gì là đã nổi lên thực sự.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-65"><sup>[65]<br></sup></a><br><br>Dù thành công trong nỗ lực chống quân Nguyên Mông giai đoạn trước, nhưng cuộc chiến với đối phương không cân sức đến từ lục địa đã đẩy đất nước tới những khó khăn và phân rã sau này, khi phải giải quyết những vấn đề của giai đoạn hậu chiến.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-66"><sup>[66]</sup></a> Lòng dân ly tán, triều đình phân liệt. Bắc triều do Ashikaga Takauji thành lập ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ky%C5%8Dto">Kyōto</a>. Nam triều do Thiên hoàng Hậu Đề Hồ cai trị đầu tiên ở Yoshino (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nara">Nara</a>). Giữa hai triều đình liên tục nổ ra những cuộc chiến nhằm duy trì và củng cố quyền lực.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-67"><sup>[67]</sup></a> Yoshimitsu cho phép các đốc quân, có quyền lực bị giới hạn dưới thời Kamakura, trở thành người chủ mạnh hơn trong vùng, sau này gọi là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Daimy%C5%8D"><em>daimyō</em></a> (大名, "đại danh"). Trong thời điểm dó, sự cân bằng của quyền lực tiến triển giữa Shōgun và các daimyō; ba gia đình daimyō nổi bật nhất thay nhau làm "phó" cho Tướng quân tại Kyōto.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-68"><sup>[68]</sup></a> Yoshimitsu cuối cùng thành công trong việc thống nhất Bắc Triều và Nam Triều năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1392">1392</a>, nhưng, bất chấp lời hứa cân bằng lớn hơn giữa hai chi của Hoàng tộc, Bắc triều vẫn kiểm soát ngôi báu thời gian sau. Dòng họ của các Tướng quân yếu dần sau Yoshimitsu và ngày càng mất quyền lực về tay các daimyō và những người có quyền lực ở địa phương. Quyết định của Shōgun về việc kế vị ngôi vua trở nên vô nghĩa, và các daimyō đứng đằng sau ứng cử viên của mình. Thời đó, gia đình Ashikaga có vấn đề kế vị của riêng mình, cuối cùng dẫn đến cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_%C5%8Cnin">loạn Ōnin</a> (応仁の乱 <em>Ōnin no Ran, Ưng Nhân loạn</em>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1467">1467</a>–<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1477">1477</a>), tàn phá Kyōto và thực sự đã chấm dứt quyền lực quốc gia của Mạc phủ. Lỗ hổng quyền lực tạo ra một thế kỷ hỗn loạn sau đó.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n#cite_note-69"><sup>[69]<br></sup></a><br><br>Cho đến cuối thời Muromachi, người châu Âu đầu tiên đã xuất hiện. Người <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BB%93_%C4%90%C3%A0o_Nha">Bồ Đào Nha</a> đổ bộ lên phía Nam đảo <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kyushu">Kyūshū</a> (九州, "Cửu Châu") năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1543">1543</a> và trong vòng hai năm tiến hành các chuyến cập cảng đều đặn, bắt đầu thời kỳ kéo dài gần một thế kỷ, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/M%E1%BA%ADu_d%E1%BB%8Bch_Nanban">thời kỳ mậu dịch Nanban</a> (南蛮貿易時代). <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_T%C3%A2y_Ban_Nha">Người Tây Ban Nha</a> đến năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1587">1587</a>, tiếp đó là người <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_Lan">Hà Lan</a> năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1609">1609</a>. Người Nhật bắt đầu cố nghiên cứu kỹ lưỡng các công dân phương Tây, và các cơ hội mới được mạng lại cho nền kinh tế, cùng với sự thách thức chính trị nghiêm trọng. Hỏa khí, vải, đồ thủy tinh, đồng hồ, thuốc là, và các phát minh của phương Tây khác được đổi lấy vàng và bạc Nhật Bản. Rất nhiều tiền được tích lũy qua thương mại, và các daimyō nhỏ hơn, đặc biệt là ở Kyūshū, gia tăng mạnh mẽ quyền lực của mình. Chiến tranh giữa các tỉnh trở nên khốc liệt hơn sau sự du nhập của hỏa khí, ví dụ như súng hỏa mai và đại bác, và việc sử dụng nhiều bộ binh hơn.<br><br></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-29 07:09:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/longdeptrai2072007/uyz98qmdj6d6c8v3/wish/1853369548</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Liên bang Nga</title>
         <author>longdeptrai2072007</author>
         <link>https://padlet.com/longdeptrai2072007/uyz98qmdj6d6c8v3/wish/1853373957</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><br>Lịch sử </strong><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nga"><strong>Nga</strong></a> bắt đầu với lịch sử <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_Slav">Đông Slav</a>. Nhà nước Đông Slav đầu tiên, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/N%C6%B0%E1%BB%9Bc_Nga_Kiev">nước Nga Kiev</a>, đã chấp nhận <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kit%C3%B4_gi%C3%A1o">Ki-tô giáo</a> từ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_%C4%90%C3%B4ng_La_M%C3%A3">Đế quốc Đông La Mã</a> năm 988,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-1"><sup>[1]</sup></a> khởi đầu sự tổng hòa các nền văn hoá Đông La Mã và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Slav">Slav</a> lập ra văn hoá Nga trong một nghìn năm tiếp theo.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Curtis-2"><sup>[2]</sup></a> Nước Nga Kiev nhanh chóng tan rã không còn là một Nhà nước nữa, cuối cùng chịu đầu hàng quân xâm lược <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_M%C3%B4ng_C%E1%BB%95">Mông Cổ</a> trong những năm 1230. Trong thời gian này, một số lãnh đạo địa phương, đặc biệt là xứ Novgorod và xứ Pskov, đã chiến đấu để thừa kế di sản văn hoá và chính trị của nước Nga Kiev.<br><br></div><div><br>Sau thế kỷ 13, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Moskva">Moskva</a> dần trở thành trung tâm văn hoá. Tới thế kỷ 18, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_c%C3%B4ng_qu%E1%BB%91c_Moskva">Đại công quốc Moskva</a> đã trở thành <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_Nga">Đế quốc Nga</a> rộng lớn, trải dài từ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ba_Lan">Ba Lan</a> về phía đông tới <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A1i_B%C3%ACnh_D%C6%B0%C6%A1ng">Thái Bình Dương</a>. Sự mở rộng về phía tây càng khiến nước Nga nhận thức được sự khác biệt của họ với đa phần còn lại của châu Âu và phá vỡ sự cô lập từng xảy ra ở những giai đoạn đầu mở rộng. Thời này có Nga hoàng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Pyotr_I_c%E1%BB%A7a_Nga">Pyotr Đại Đế</a> xóa bỏ một nước Nga lạc hậu, nửa Á Đông, tiến hành sự nghiệp lớn lao đổi mới đất nước.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-3"><sup>[3]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-4"><sup>[4]</sup></a> Các vị Nữ hoàng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Anna_c%E1%BB%A7a_Nga">Anna</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Elizaveta_c%E1%BB%A7a_Nga">Elizaveta Petrovna</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ekaterina_II_c%E1%BB%A7a_Nga">Ekaterina II</a> đều lên ngôi với những cuộc đảo chính do Ngự Lâm quân hỗ trợ.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-5"><sup>[5]</sup></a> Với chính sách bành trướng, phát triển thực lực của đất nước, triều đình <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Sa_ho%C3%A0ng">Nga hoàng</a> đã phá bỏ mối đe dọa từng có từ Vương quốc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%A5y_%C4%90i%E1%BB%83n">Thụy Điển</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_Ottoman">Đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-MClark212-6"><sup>[6]</sup></a> Các triều đại nối tiếp nhau trong thế kỷ 19 đã đối phó với những áp lực đó bằng sự kết hợp giữa các cuộc cải cách miễn cưỡng và trấn áp. Chế độ <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=N%C3%B4ng_n%C3%B4_Nga&amp;action=edit&amp;redlink=1">nông nô Nga</a> đã bị <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=C%E1%BA%A3i_c%C3%A1ch_gi%E1%BA%A3i_ph%C3%B3ng_n%C4%83m_1861_t%E1%BA%A1i_Nga&amp;action=edit&amp;redlink=1">bãi bỏ năm 1861</a>, nhưng sự huỷ bỏ này thực sự chỉ gây thêm phiền toái cho người <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/N%C3%B4ng_d%C3%A2n">nông dân</a> và càng khiến áp lực cách mạng tăng cao. Trong khoảng thời gian từ khi chế độ nông nô bị huỷ bỏ tới khi bắt đầu <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_th%E1%BA%BF_gi%E1%BB%9Bi_th%E1%BB%A9_nh%E1%BA%A5t">Chiến tranh thế giới lần thứ nhất</a> năm 1914, các cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BA%A3i_c%C3%A1ch_Stolypin">cải cách Stolypin</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Hi%E1%BA%BFn_ph%C3%A1p_Nga_n%C4%83m_1906&amp;action=edit&amp;redlink=1">hiến pháp 1906</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90uma_Qu%E1%BB%91c_gia">Duma quốc gia</a> đã mang lại những thay đổi đáng kể cho nền kinh tế và chính trị Nga,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-7"><sup>[7]</sup></a> nhưng các hoàng đế Nga vẫn không muốn rời bỏ quyền lực <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Chuy%C3%AAn_quy%E1%BB%81n&amp;action=edit&amp;redlink=1">tuyệt đối</a>, hay chia sẻ quyền lực.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-8"><sup>[8]<br></sup></a><br></div><div><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A1ch_m%E1%BA%A1ng_Nga_(1917)"><br>Cách mạng Nga</a> năm 1917 được khởi phát từ một sự tổng hợp các yếu tố tan rã kinh tế, tình trạng kiệt quệ do chiến tranh, và sự bất bình với hệ thống chính phủ chuyên quyền, và lần đầu tiên một liên minh giữa những người tự do và xã hội chủ nghĩa ôn hoà lên nắm quyền lực, nhưng các chính sách sai lầm của họ đã khiến những người <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A3ng_C%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n_Li%C3%AAn_X%C3%B4">Cộng sản</a> <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Bolshevik">Bolshevik</a> chiếm quyền lực vào ngày 25 tháng 10 (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_Julius">lịch Julius</a>, tức ngày 7 tháng 11 theo <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_Gregory">lịch Gregory</a>). Từ năm 1922 tới năm 1991, lịch sử Nga chủ yếu là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Li%C3%AAn_bang_X%C3%B4_vi%E1%BA%BFt">Lịch sử Liên Xô</a>, một nhà nước hoàn toàn dựa trên ý thức hệ gồm Đế quốc Nga và các quốc gia chư hầu trước <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%B2a_%C6%B0%E1%BB%9Bc_Brest-Litovsk">Hòa ước Brest-Litovsk</a>. Tuy nhiên, việc tiếp cận cách thức xây dựng chủ nghĩa xã hội khác nhau trong từng thời điểm trong lịch sử Liên Xô, từ nền kinh tế pha trộn và xã hội và văn hoá đa dạng hồi thập niên 1920 tới nền kinh tế chỉ huy và trấn áp thời <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Iosif_Vissarionovich_Stalin">Stalin</a> tới "thời kỳ trì trệ" thập niên 1980. Từ những năm đầu tiên, chính phủ Liên Xô đã dựa trên nền tảng độc đảng của những người Cộng sản, như những người Bolshevik tự gọi mình, từ tháng 3 năm 1918.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Curtis3-9"><sup>[9]</sup></a> Tuy nhiên, tới cuối thập niên 1980, khi sự yếu kém của các cơ cấu kinh tế và chính trị đã trở nên gay gắt, các lãnh đạo cộng sản đã tiến hành các cải cách lớn, dẫn tới sự sụp đổ của Liên bang Xô viết.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Filzer-10"><sup>[10]<br></sup></a><br></div><div><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_n%C6%B0%E1%BB%9Bc_Nga_th%E1%BB%9Di_h%E1%BA%ADu_X%C3%B4_vi%E1%BA%BFt&amp;action=edit&amp;redlink=1"><br>Lịch sử Liên bang Nga</a> khá ngắn, chỉ bắt đầu từ sự sụp đổ của Liên Xô năm 1991. Từ khi giành lại độc lập, nước Nga đã được công nhận là nhà nước thừa kế chính thức của Liên Xô trên bình diện quốc tế.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-11"><sup>[11]</sup></a> Tuy nhiên, nước Nga đã mất vị trí <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Si%C3%AAu_c%C6%B0%E1%BB%9Dng">siêu cường</a> của mình và đang phải đối mặt với những thách thức trong các nỗ lực thiết lập một hệ thống kinh tế và chính trị hậu Xô viết. Loại bỏ nền <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kinh_t%E1%BA%BF_k%E1%BA%BF_ho%E1%BA%A1ch">kinh tế kế hoạch tập trung</a> và quyền sở hữu nhà nước thời kỳ Xô viết, nước Nga đang nỗ lực xây dựng một nền kinh tế mang các yếu tố của thị trường <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_t%C6%B0_b%E1%BA%A3n">tư bản</a>, với những hậu quả nhiều khi khá nặng nề. Thậm chí ngày nay nước Nga vẫn mang nhiều nét đặc trưng văn hoá và xã hội thời kỳ Sa Hoàng và Liên Xô.<br><br>Buổi đầu lịch sử<br><strong><br>Cư dân thời Tiền Slav<br></strong><br>Thời tiền sử, các vùng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%A3o_nguy%C3%AAn_%C3%81-%C3%82u">thảo nguyên</a> rộng lớn phía nam nước Nga là nơi sinh sống của các <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BB%99_l%E1%BA%A1c">bộ lạc</a> <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ch%C4%83n_nu%C3%B4i_gia_s%C3%BAc_du_c%C6%B0&amp;action=edit&amp;redlink=1">chăn nuôi gia súc du cư</a> không thống nhất. Thời xa xưa, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Th%E1%BA%A3o_nguy%C3%AAn_H%E1%BA%AFc_H%E1%BA%A3i&amp;action=edit&amp;redlink=1">thảo nguyên Hắc Hải</a> được gọi là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Scythia">Scythia</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Belinskij-12"><sup>[12]</sup></a> Những di sản của các nền văn minh thảo nguyên đã mất từ xưa đó đã được khám phá trong thế kỷ 20 tại các địa điểm như <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=G%C3%B2_m%E1%BB%99_Ipatovo&amp;action=edit&amp;redlink=1">Ipatovo</a>,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Belinskij-12"><sup>[12]</sup></a> <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Sintashta&amp;action=edit&amp;redlink=1">Sintashta</a>,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-13"><sup>[13]</sup></a> <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Arkaim">Arkaim</a>,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-14"><sup>[14]</sup></a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Pazyryk&amp;action=edit&amp;redlink=1">Pazyryk</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-15"><sup>[15]</sup></a> Nửa sau thế kỷ 8 trước Công Nguyên, các nhà buôn Hy Lạp đã mang nền <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=V%C4%83n_minh_c%E1%BB%95_%C4%91i%E1%BB%83n&amp;action=edit&amp;redlink=1">văn minh cổ điển</a> tới các địa điểm buôn bán tại <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tanais&amp;action=edit&amp;redlink=1">Tanais</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Phanagoria&amp;action=edit&amp;redlink=1">Phanagoria</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-16"><sup>[16]</sup></a> Từ thế kỷ thứ 3 tới thế kỷ thứ 6 Sau công nguyên, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C6%B0%C6%A1ng_qu%E1%BB%91c_Bosporos">Vương quốc Bosporus</a>, một chính thể Hy Lạp kế tục các thuộc địa Hy Lạp,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-17"><sup>[17]</sup></a> đã bị đè bẹp bởi các làn sóng xâm chiếm liên tục của người du mục,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-18"><sup>[18]</sup></a> dẫn đầu là các bộ lạc hiếu chiến thường di chuyển vào <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A2u_%C3%82u">châu Âu</a>, như <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Hung">người Hung</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Avar_%C3%81-%C3%82u&amp;action=edit&amp;redlink=1">người Avar Thổ Nhĩ Kỳ</a>. Một bộ tộc gốc Turk, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Khazar">người Khazar</a>, cai trị các vùng thảo nguyên hạ châu thổ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%B4ng_Volga">Volga</a> giữa <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Bi%E1%BB%83n_Caspi">Caspi</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Bi%E1%BB%83n_%C4%90en">biển Đen</a> trong suốt thế kỷ 8.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Christian1-19"><sup>[19]</sup></a> Nổi tiếng về pháp luật, sức chịu đựng và tính hoà đồng,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-20"><sup>[20]</sup></a> người Khazar là con đường thương mại chính giữa Baltic và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Abbas">nhà Abbas</a> tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Bagdad">Bagdad</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-21"><sup>[21]</sup></a> Họ là những đồng minh quan trọng của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_%C4%90%C3%B4ng_La_M%C3%A3">Đế quốc Đông La Mã</a>,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-22"><sup>[22]</sup></a> và đã tiến hành hàng loạt các cuộc chiến tranh thắng lợi chống lại các vị <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Khalip">khalip</a> <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%E1%BA%A2_R%E1%BA%ADp">Ả Rập</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Christian-23"><sup>[23]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Frank1-24"><sup>[24]</sup></a> Ở thế kỷ 8, người Khazar theo <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Do_Th%C3%A1i_gi%C3%A1o">Do Thái giáo</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Frank-25"><sup>[25]<br></sup></a><br></div><div><strong><br>Thời kỳ đầu Đông Slav</strong>[<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga&amp;veaction=edit&amp;section=3">sửa</a> | <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga&amp;action=edit&amp;section=3">sửa mã nguồn</a>]</div><div>Bài chi tiết: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_%C4%90%C3%B4ng_Slav">Người Đông Slav</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kh%E1%BA%A3_h%C3%A3n_qu%E1%BB%91c_Rus&amp;action=edit&amp;redlink=1">Khả hãn quốc Rus</a></div><div><br>Tổ tiên của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Nga">người Nga</a> là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Slav">các bộ lạc Slav</a>, có nguồn gốc được một số nhà sử học cho là tại các vùng rừng <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90%E1%BA%A7m_l%E1%BA%A7y_Pripyat&amp;action=edit&amp;redlink=1">đầm lầy Pripyat</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-26"><sup>[26]</sup></a> <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_%C4%90%C3%B4ng_Slav">Người Đông Slav sơ kỳ</a> dần chiếm vùng Tây Nga theo hai hướng: một từ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kiev">Kiev</a> hướng về <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Suzdal">Suzdal</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Murom">Murom</a> ngày nay và hướng khác từ <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Polotsk&amp;action=edit&amp;redlink=1">Polotsk</a> tới <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Veliky_Novgorod">Novgorod</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Rostov">Rostov</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Christian2-27"><sup>[27]</sup></a> Từ thế kỷ 7 về sau, người Đông Slav tiếp tục chiếm số đông dân cư tại Tây Nga<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Christian2-27"><sup>[27]</sup></a> và chậm rãi nhưng hoà bình đồng hoá các bộ tộc gốc <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ph%E1%BA%A7n_Lan-Yugra&amp;action=edit&amp;redlink=1">Phần Lan-Yugra</a> bản xứ, như người <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Merya&amp;action=edit&amp;redlink=1">Merya</a>,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-28"><sup>[28]</sup></a> <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Muroma&amp;action=edit&amp;redlink=1">Muroma</a>,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-29"><sup>[29]</sup></a> và người <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Meshchyora&amp;action=edit&amp;redlink=1">Meshchyora</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Mongait-30"><sup>[30]<br></sup></a><br></div><div><strong><br>Nước Nga Kiev<br></strong><br>Người Bắc Âu cổ vùng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Scandinavia">Scandinavia</a>, được gọi là "<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Viking">Viking</a>" ở Tây Âu và người "<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Varyag&amp;action=edit&amp;redlink=1">Varyag</a>"<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-31"><sup>[31]</sup></a> ở phía đông, kết hợp làm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C6%B0%E1%BB%9Bp_bi%E1%BB%83n">cướp biển</a> và buôn bán trong các chuyến đi của họ tới hầu hết miền Bắc Âu. Giữa thế kỷ 9, họ bắt đầu đi dọc các đường biển từ phía đông <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Bi%E1%BB%83n_Baltic">Baltic</a> tới <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Bi%E1%BB%83n_%C4%90en">biển Đen</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Bi%E1%BB%83n_Caspi">biển Caspi</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-32"><sup>[32]</sup></a> Theo <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Bi%C3%AAn_ni%C3%AAn_s%E1%BB%AD_Nga&amp;action=edit&amp;redlink=1">biên niên sử đầu tiên của nước Nga</a>, một người Varyag tên là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Rurik">Rurik</a> đã được bầu làm nhà cầm quyền (<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ch%E1%BA%BF_%C4%91%E1%BB%99_qu%C3%A2n_ch%E1%BB%A7_%C4%90%E1%BB%A9c&amp;action=edit&amp;redlink=1"><em>konung</em></a> hay <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_t%C6%B0%E1%BB%9Bc"><em>knyaz</em></a>) xứ Novgorod vào khoảng năm 860, trước khi những người kế tục ông đi về phía nam và mở rộng lãnh thổ tới xứ Kiev,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-33"><sup>[33]</sup></a> nơi trước đó thuộc người Khazar.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-34"><sup>[34]<br></sup></a><br></div><div><br>Vì thế, nhà nước Đông Slav đầu tiên, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/N%C6%B0%E1%BB%9Bc_Nga_Kiev">nước Nga Kiev</a>, xuất hiện vào khoảng thế kỷ 9 dọc theo châu thổ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%B4ng_Dnepr">sông Dnepr</a>. Một nhóm phối hợp các công quốc với lợi ích chung trong việc duy trì thương mại dọc các đường sông, nước Nga Kiev kiểm soát <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Con_%C4%91%C6%B0%E1%BB%9Dng_th%C6%B0%C6%A1ng_m%E1%BA%A1i_t%E1%BB%AB_ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Varyag_t%E1%BB%9Bi_Hy_L%E1%BA%A1p&amp;action=edit&amp;redlink=1">con đường buôn bán lông thú, sáp và nô lệ</a> giữa Scandinavia và Đế quốc Đông La Mã dọc theo <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%B4ng_Volkhov">sông Volkhov</a> và sông Dnepr.<br><br></div><div><br>Tên gọi "Russia" (Nga), cùng với tên <em>Ruotsi</em> trong <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ti%E1%BA%BFng_Ph%E1%BA%A7n_Lan">tiếng Phần Lan</a> và <em>Rootsi</em> trong <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ti%E1%BA%BFng_Estonia">tiếng Estonia</a>, được một số học giả cho là có liên quan tới <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Roslagen&amp;action=edit&amp;redlink=1">Roslagen</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-35"><sup>[35]</sup></a> <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=T%E1%BB%AB_nguy%C3%AAn_c%E1%BB%A7a_Rus_v%C3%A0_c%C3%A1c_bi%E1%BA%BFn_th%E1%BB%83&amp;action=edit&amp;redlink=1">Từ nguyên của <em>Rus</em>&nbsp;và các biến thể của nó</a> đang bị tranh cãi, và các học giả khác cho rằng nó có liên quan với các <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=G%E1%BB%91c_t%E1%BB%AB&amp;action=edit&amp;redlink=1">gốc từ</a> Slav hay <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=H%E1%BB%87_ng%C3%B4n_ng%E1%BB%AF_Iran&amp;action=edit&amp;redlink=1">Iran</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-36"><sup>[36]<br></sup></a><br></div><div><br>Tới cuối thế kỷ 10, cộng đồng thiểu số <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ng%C3%B4n_ng%E1%BB%AF_B%E1%BA%AFc_%C3%82u_c%E1%BB%95&amp;action=edit&amp;redlink=1">Bắc Âu cổ</a> đã pha trộn với dân cư Slav,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-37"><sup>[37]</sup></a> và họ cũng hấp thu những ảnh hưởng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kit%C3%B4_gi%C3%A1o">Ki-tô giáo</a> <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Hy_L%E1%BA%A1p_th%E1%BB%9Di_%C4%90%C3%B4ng_La_M%C3%A3&amp;action=edit&amp;redlink=1">Hy Lạp</a> trong quá trình thực hiện các <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Chi%E1%BA%BFn_tranh_Rus%E2%80%93%C4%90%C3%B4ng_La_M%C3%A3&amp;action=edit&amp;redlink=1">chiến dịch</a> cướp bóc <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tsargrad&amp;action=edit&amp;redlink=1">Tsargrad</a>, hay <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Constantinopolis">Constantinopolis</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-38"><sup>[38]</sup></a> Một chiến dịch đó đã khiến vị thủ lĩnh <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90%E1%BB%99i_th%C3%A2n_binh&amp;action=edit&amp;redlink=1">đội thân binh</a> Slav lỗi lạc là <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Svyatoslav_I&amp;action=edit&amp;redlink=1">Svyatoslav I</a>, nổi tiếng vì đã tiêu diệt nhà nước của người Khazar trên sông Volga, phải mất mạng.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-39"><sup>[39]</sup></a> Ở thời điểm đó, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_%C4%90%C3%B4ng_La_M%C3%A3">đế quốc Đông La Mã</a> (Byzantium) đang trải qua một thời kỳ phục hồi quân sự và văn hóa mạnh mẽ; dù có suy tàn sau này, văn hóa của nó tiếp tục gây ảnh hưởng tới tiến trình hình thành và phát triển của Nga trong nhiều thế kỷ.<br><br></div><div><br>Nước Nga Kiev đóng vai trò quan trọng trong việc đưa một biến thể Slav của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%ADnh_Th%E1%BB%91ng_gi%C3%A1o_%C4%90%C3%B4ng_ph%C6%B0%C6%A1ng">Chính Thống giáo Đông phương</a> vào nước Nga, làm sâu sắc hơn sự tổng hợp các nền văn hóa Đông La Mã và Slav thiết lập ra nền văn hóa Nga trong một nghìn năm sau. Vùng này đã chấp nhận <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kit%C3%B4_gi%C3%A1o">Ki-tô giáo</a> năm 988 sau hành động <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=R%E1%BB%ADa_t%E1%BB%99i_%E1%BB%9F_n%C6%B0%E1%BB%9Bc_Nga_Kiev&amp;action=edit&amp;redlink=1">rửa tội</a> chung cho người dân Kiev của <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Vladimir_I_c%E1%BB%A7a_Kiev&amp;action=edit&amp;redlink=1">công tước Vladimir I</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-40"><sup>[40]</sup></a> Vài năm sau, bộ luật đầu tiên, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Russkaya_Pravda&amp;action=edit&amp;redlink=1">Russkaya Pravda</a>, được đưa ra.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Smith-41"><sup>[41]</sup></a> Từ ban đầu các công tước Kiev đã mô phỏng các mô hình Đông La Mã và giữ Giáo hội phụ thuộc vào họ, thậm chí cả về nguồn thu nhập,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-42"><sup>[42]</sup></a> vì thế Giáo hội Nga và nhà nước luôn liên kết chặt chẽ với nhau.<br><br></div><div><br>Tới thế kỷ 11, đặc biệt trong thời cai trị của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Yaroslav_Th%C3%B4ng_th%C3%A1i">Yaroslav Thông thái</a>, Rus Kiev đã có được một nền kinh tế phát triển và những thành tựu kiến trúc, văn học vượt trội những thành tựu từng có ở vùng phía tây lục địa.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-43"><sup>[43]</sup></a> So với các ngôn ngữ châu Âu Ki-tô, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ti%E1%BA%BFng_Nga">tiếng Nga</a> ít bị ảnh hưởng từ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ti%E1%BA%BFng_Hy_L%E1%BA%A1p">tiếng Hy Lạp</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Latinh">tiếng La tinh</a> thời kỳ đầu Ki-tô giáo.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Curtis-2"><sup>[2]</sup></a> Điều này bởi <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ng%C3%B4n_ng%E1%BB%AF_Gi%C3%A1o_h%E1%BB%99i_Slav&amp;action=edit&amp;redlink=1">ngôn ngữ Giáo hội Slav</a> được sử dụng trực tiếp trong <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Nghi_th%E1%BB%A9c_t%E1%BA%BF_l%E1%BB%85&amp;action=edit&amp;redlink=1">nghi thức tế lễ</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-44"><sup>[44]<br></sup></a><br></div><div><br>Một bộ tộc Turk du mục, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Kipchak&amp;action=edit&amp;redlink=1">người Kipchak</a> (cũng được gọi là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Cuman">người Cuman</a>), đã thay thế <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Pecheneg&amp;action=edit&amp;redlink=1">người Pecheneg</a> trước đó trở thành lực lượng thống trị tại các vùng thảo nguyên phương nam giáp với Rus hồi cuối thế kỷ 11 và lập ra một nhà nước du mục tại các thảo nguyên dọc biển Đen (Desht-e-Kipchak). Đẩy lùi các cuộc tấn công liên tục của họ, đặc biệt vào Kiev, vốn chỉ ở khoảng cách một ngày đường với thảo nguyên, là một gánh nặng lớn cho các vùng phương nam của Rus. Các cuộc tấn công của người du mục đã khiến một làn sóng lớn người Slav tràn vào trong các vùng rừng rậm phía bắc, đặc biệt là vùng được gọi là <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Zalesye&amp;action=edit&amp;redlink=1">Zalesye</a> để trốn tránh.<br><br></div><div><br>Nước Nga Kiev cuối cùng tan rã không còn là một Nhà nước vì cuộc tranh giành nội bộ giữa các thành viên của gia đình công tước nối nhau cai trị nó. Quyền thống trị của xứ Kiev chấm dứt, nhường lại cho <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Vladimir-Suzdal&amp;action=edit&amp;redlink=1">Vladimir-Suzdal</a> ở phía đông bắc, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a_Novgorod">Novgorod</a> ở phía bắc, và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Halych-Volhynia">Halych-Volhynia</a> ở phía tây nam. Cuộc chinh phục của quân <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/M%C3%B4ng_C%E1%BB%95">Mông Cổ</a> (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kim_Tr%C6%B0%E1%BB%9Bng_h%C3%A3n_qu%E1%BB%91c">Kim Trướng hãn quốc</a> ở thế kỷ 13 là cú đánh quyết định. Xứ Kiev bị phá huỷ.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Hamm-45"><sup>[45]</sup></a> Halych-Volhynia cuối cùng bị sáp nhập vào <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C6%B0%C6%A1ng_qu%E1%BB%91c_Ba_Lan_v%C3%A0_%C4%90%E1%BA%A1i_C%C3%B4ng_qu%E1%BB%91c_Litva">Vương quốc Ba Lan và Đại Công quốc Litva</a>, trong khi vùng Vladimir-Suzdal do Mông Cổ cai quản và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a_Novgorod">Cộng hòa Novgorod</a> độc lập, hai vùng ngoại biên Kiev, sẽ thành lập nên cơ sở cho quốc gia Nga hiện đại.<br><br></div><div><br>Chư hầu của Mông Cổ[<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga&amp;veaction=edit&amp;section=5">sửa</a> | <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga&amp;action=edit&amp;section=5">sửa mã nguồn</a>]<br><br></div><div><strong><br>Cuộc chinh phạt của quân Mông Cổ<br></strong><br>Là một phần của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/M%C3%B4ng_C%E1%BB%95_x%C3%A2m_l%C6%B0%E1%BB%A3c_Ch%C3%A2u_%C3%82u">Mông Cổ xâm lược Châu Âu</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%BF_ch%E1%BA%BF_M%C3%B4ng_C%E1%BB%95">Đế chế Mông Cổ</a> đã xâm chiếm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Rus_Kiev">Rus Kiev</a> vào thế kỷ XIII, phá hủy nhiều thành phố, bao gồm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ryazan">Ryazan</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kolomna">Kolomna</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Moskva">Moskva</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_qu%E1%BB%91c_Vladimir-Suzdal">Vladimir</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kiev">Kiev</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-46"><sup>[46]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-EB1911-47"><sup>[47]<br></sup></a><br></div><div><br>Chiến dịch được báo trước bởi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%ADn_s%C3%B4ng_Kalka">trận sông Kalka</a> vào tháng 5 năm 1223, dẫn tới chiến thắng của Mông Cổ đối với một số lực lượng của quốc gia của Rus'. Mông Cổ sau đó rút lui. Cuộc xâm lược toàn diện vào Rus do <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Batu_Khan">Batu Khan</a> tiến hành từ năm 1237 đến năm 1240. Cuộc chinh phục vào châu Âu đã chấm dứt bởi quá trình tìm vị thủ lĩnh mới kế nhiệm chức vị khả hãn Mông Cổ sau cái chết của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C3%96gedei_Khan">Ögedei Khan</a>. Tất cả các nhà lãnh đạo của Rus đều bị buộc phải tuân thủ chế độ Mông Cổ và trở thành một phần của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A3n_qu%E1%BB%91c_Kim_Tr%C6%B0%E1%BB%9Bng">Hãn quốc Kim Trướng</a>, một số trong đó kéo dài đến năm 1480.<br><br></div><div><br>Cuộc chinh phạt của quân Mông Cổ càng làm sự tan rã của Rus tăng nhanh. Năm 1223, các công tước ly khai phía Nam phải đối mặt với cuộc xâm lược của quân Mông Cổ tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%ADn_s%C3%B4ng_Kalka">sông Kalka</a> và bị đánh tan.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-48"><sup>[48]</sup></a> Trong các năm 1237 - 1238, quân xâm lược còn đốt cháy thành phố <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vladimir">Vladimir</a> (4 tháng 2 năm 1238)<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-49"><sup>[49]</sup></a> và các thành phố lớn khác phía đông bắc Nga, đánh tan tác quân Nga tại <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tr%E1%BA%ADn_s%C3%B4ng_Sit&amp;action=edit&amp;redlink=1">sông Sit</a>,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-50"><sup>[50]</sup></a> và sau đó đi về hướng tây tới <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ba_Lan">Ba Lan</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hungary">Hungary</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-51"><sup>[51]</sup></a> Tới khi ấy họ đã chinh phục hầu hết các thành phố Nga.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-52"><sup>[52]</sup></a> Chỉ có Cộng hoà Novgorod không bị chiếm đóng và tiếp tục phát triển trong quỹ đạo của <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Li%C3%AAn_hi%E1%BB%87p_Hansa&amp;action=edit&amp;redlink=1">Liên hiệp Hansa</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-53"><sup>[53]<br></sup></a><br></div><div><br>Ảnh hưởng từ cuộc chinh phạt của Mông Cổ trên lãnh thổ nước Nga Kiev không đều. Nền văn hóa thành phố phát triển đã hầu như bị phá huỷ. Khi các trung tâm cổ hơn như Kiev và Vladimir không thể hồi phục sau sự tàn phá của cuộc tấn công đầu tiên,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Hamm-45"><sup>[45]</sup></a> các thành phố mới như <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Moskva">Moskva</a>,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Curtis21-54"><sup>[54]</sup></a> <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tver">Tver</a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Curtis2-55"><sup>[55]</sup></a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nizhny_Novgorod">Nizhny Novgorod</a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-56"><sup>[56]</sup></a> bắt đầu đua tranh quyền lãnh đạo bên trong nước Nga dưới sự chiếm đóng của quân xâm lược Mông Cổ. Dù liên quân các xứ Nga đã đánh tan tác quân <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kim_Tr%C6%B0%E1%BB%9Bng_h%C3%A3n_qu%E1%BB%91c">Kim Trướng hãn quốc</a> tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%ADn_Kulikovo">Kulikovo</a> năm 1380,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Kulikovo-57"><sup>[57]</sup></a> sự thống trị của người <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/M%C3%B4ng_C%E1%BB%95">Mông Cổ</a> trên các lãnh thổ Nga, cùng với các yêu cầu cống vật từ các công tước Nga tiếp tục kéo dài tới tận năm 1480.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Curtis2-55"><sup>[55]<br></sup></a><br></div><div><strong><br>Quan hệ Nga-Tatar<br></strong><br>Sau sự sụp đổ của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Khazar">Khazar</a> trong thế kỷ 10, trung Volga bị thống trị bởi quốc gia thương mại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Volga_Bulgaria">Volga Bulgaria</a>, di sản cuối cùng của <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90%E1%BA%A1i_Bulgaria&amp;action=edit&amp;redlink=1">Đại Bulgaria</a> nằm ở <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Phanagoria&amp;action=edit&amp;redlink=1">Phanagoria</a>. Ở thế kỷ 10 người Turk ở Volga Bulgaria chuyển theo <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93i_gi%C3%A1o">Hồi giáo</a>. Sau <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=M%C3%B4ng_C%E1%BB%95_x%C3%A2m_l%C6%B0%E1%BB%A3c_Volga_Bulgaria&amp;action=edit&amp;redlink=1">những cuộc xâm lược của Mông Cổ</a> trong thập niên 1230, Volga Bulgaria bị <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kim_Tr%C6%B0%E1%BB%9Bng_h%C3%A3n_qu%E1%BB%91c">Kim Trướng hãn quốc</a> sáp nhập và cư dân ở đây phát triển thành <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Chuvash">người Chuvash</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Tatar">Tatar Kazan</a> hiện đại.<br><br></div><div><br>Người Mông Cổ giữ Nga và Volga Bulgaria trong sự thống trị từ kinh đô phía tây của họ tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Sarai_(th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91)">Sarai</a>,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-history_world-58"><sup>[58]</sup></a> một trong những thành phố lớn nhất thời Trung Cổ. Các công quốc phía nam và phía đông nước Nga phải cống nộp cho người Mông Cổ thời Kim Trướng hãn quốc, thường được gọi là người <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Tatar">Tatar</a>;<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-history_world-58"><sup>[58]</sup></a> nhưng đổi lại họ được cho phép hành động như các vị phó của các hãn. Nói chung, các công tước có được quyền tự do cai quản khá lớn theo ý mình,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-history_world-58"><sup>[58]</sup></a> <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%ADnh_Th%E1%BB%91ng_gi%C3%A1o_Nga">Giáo hội Chính Thống giáo Nga</a> thậm chí còn có một giai đoạn hồi phục thời <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90%E1%BA%A1i_gi%C3%A1o_ch%E1%BB%A7_Alekxy&amp;action=edit&amp;redlink=1">đại giáo chủ Alekxy</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Sergii_Radonezhsky&amp;action=edit&amp;redlink=1">Sergii Radonezhsky</a>.<br><br></div><div><br>Đối với Giáo hội Chính Thống giáo Nga và hầu hết các công tước, những kẻ <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Th%E1%BA%ADp_t%E1%BB%B1_chinh_ph%C3%ADa_B%E1%BA%AFc&amp;action=edit&amp;redlink=1">Thập Tự Chinh cuồng tín ở phía Bắc</a> dường như là một mối đe dọa lớn hơn cho nước Nga chứ không phải quân Mông Cổ. Ở giữa thế kỷ 13, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Aleksandr_Yaroslavich_Nevsky">Aleksandr Yaroslavich Nevsky</a>, được bầu làm Công tước xứ Novgorod, trở thành một vị anh hùng của nhân dân Nga sau những thắng lợi lớn trước các <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hi%E1%BB%87p_s%C4%A9_Teuton">Hiệp sĩ Teuton</a> và quân xâm lược <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%A5y_%C4%90i%E1%BB%83n">Thụy Điển</a>.<br><br></div><div><br>Người Mông Cổ để lại ảnh hưởng tới người Nga trong các lĩnh vực như chiến thuật quân sự và vận tải. Dưới ách đô hộ của quân Mông Cổ, nước Nga cũng phát triển mạng lưới thư tín, hệ thống thuế, điều tra dân số, và tổ chức quân đội của mình. Những ảnh hưởng từ phương đông tiếp tục còn lại tới tận thế kỷ 17, khi nước Nga thực hiện nỗ lực thật sự đầu tiên nhằm Tây phương hóa đất nước.<br><br></div><div><br>Đại công quốc Moskva[<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga&amp;veaction=edit&amp;section=8">sửa</a> | <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga&amp;action=edit&amp;section=8">sửa mã nguồn</a>]<br><br></div><div>Bài chi tiết: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_c%C3%B4ng_qu%E1%BB%91c_Moskva">Đại công quốc Moskva</a></div><div><strong><br>Sự nổi lên của Moskva<br></strong><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Daniil_Aleksandrovich"><br>Daniil Aleksandrovich</a>, con trai út của Aleksandr Yaroslavich Nevsky, lập ra công quốc Moskva (được <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C6%B0%C6%A1ng_T%C3%A2y">phương Tây</a> biết đến như là Muscovy),<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Curtis2-55"><sup>[55]</sup></a> cuối cùng đã đánh đuổi người Tatar ra khỏi Nga. Nằm ở vị trí tốt trong hệ thống sông trung tâm Nga và được bảo vệ bởi các khu rừng và đầm lầy bao quanh, Moskva ban đầu là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C6%B0_h%E1%BA%A7u">chư hầu</a> của Vladimir, nhưng nhanh chóng sáp nhập cả công quốc mẹ. Yếu tố chính trong uy thế của Moskva là sự hợp tác của các vị công tước cai trị nó với các lãnh chúa Mông Cổ, những người ban phong cho họ tước vị Đại công tước của Moskva và biến họ trở thành các thuộc hạ để thu các cống phẩm cho người Tatar từ các công quốc Nga. Thanh thế của công quốc này được gia tăng thêm khi nó trở thành trung tâm của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%ADnh_Th%E1%BB%91ng_gi%C3%A1o_Nga">Giáo hội Chính Thống giáo Nga</a>. Người đứng đầu giáo hội, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90%E1%BA%A1i_gi%C3%A1o_ch%E1%BB%A7&amp;action=edit&amp;redlink=1">đại giáo chủ</a>, chạy từ Kiev tới <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Vladimir-Suzdal&amp;action=edit&amp;redlink=1">Vladimir</a> năm 1299 và vài năm sau đã thiết lập các trụ sở chính vĩnh cửu của Giáo hội tại Moskva dưới tước hiệu nguyên thủy đại giáo chủ Kiev.<br><br></div><div><br>Vào khoảng giữa thế kỷ 14, quyền lực của quân Mông Cổ bắt đầu suy giảm và các Đại công tước cảm thấy có thể công khai vùng lên phá tan xiềng xích của quân Mông Cổ. Vào năm 1380, tại <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kulikovo&amp;action=edit&amp;redlink=1">Kulikovo</a> trên <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%B4ng_%C4%90%C3%B4ng">sông Đông</a>, quân xâm lược Mông Cổ đã bị đánh tan tác,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Kulikovo-57"><sup>[57]</sup></a> và mặc dù chiến thắng nhọc nhằn này không chấm dứt được ách thống trị của người Tatar đối với Nga, nhưng nó đã đem lại danh tiếng lớn cho Đại công tước <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Dmitry_Ivanovich_Donskoy">Dmitry Ivanovich Donskoy</a>. Vai trò thủ lĩnh của Moskva tại Nga bấy giờ đã được thiết lập vững chắc và vào giữa thế kỷ 14 lãnh thổ của nó đã được mở rộng ra nhiều thông qua mua bán, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh">chiến tranh</a> và hôn nhân.<br><strong><br>Ivan III Vĩ đại<br></strong><br>Trong thế kỷ 15, các đại công tước Moskva tiến hành tập hợp các vùng đất Nga để tăng dân cư và tài sản dưới sự cai trị của họ. Người thi hành thành công nhất chính sách này là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ivan_III_c%E1%BB%A7a_Nga">Ivan III</a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Curtis2-55"><sup>[55]</sup></a>, người đặt nền móng cho nhà nước dân tộc Nga. Ivan cạnh tranh cùng kẻ thù hùng mạnh ở phía tây bắc là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_C%C3%B4ng_qu%E1%BB%91c_Litva">Đại công quốc Litva</a> để giành quyền kiểm soát một số <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=C%C3%B4ng_qu%E1%BB%91c_Th%C6%B0%E1%BB%A3ng_Oka&amp;action=edit&amp;redlink=1">công quốc Thượng Oka</a> bán độc lập ở vùng thượng nguồn <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%B4ng_Dnepr">sông Dnepr</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%B4ng_Oka">sông Oka</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-59"><sup>[59]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-EB_IvanIII-60"><sup>[60]</sup></a> Thông qua li khai của một số công tước, các cuộc giao tranh biên giới và cuộc chiến tranh kéo dài với Cộng hòa Novgorod, Ivan III đã có thể sáp nhập cả Novgorod lẫn Tver.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-61"><sup>[61]</sup></a> Kết quả là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_c%C3%B4ng_qu%E1%BB%91c_Moskva">Đại công quốc Moskva</a> đã tăng ba về diện tích dưới thời của ông.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Curtis2-55"><sup>[55]</sup></a> Trong cuộc giao tranh của ông với công quốc Pskov, một giáo sĩ tên là <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Filofei&amp;action=edit&amp;redlink=1">Filofei</a> (Philotheus của Pskov) đã viết một bức thư gửi tới Ivan III, với lời tiên tri rằng công quốc này sẽ trở thành <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90%E1%BB%87_Tam_La_M%C3%A3&amp;action=edit&amp;redlink=1">Đệ Tam La Mã</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-EB3R-62"><sup>[62]</sup></a> Không những thế, vào năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1453">1453</a>, Sultan Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Mehmed_II">Mehmed II</a> xua quân đánh thành Constantinopolis, phá được thành <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=S%E1%BB%B1_s%E1%BB%A5p_%C4%91%E1%BB%95_c%E1%BB%A7a_Constantinopolis&amp;action=edit&amp;redlink=1">Đệ Nhị La Mã này</a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-63"><sup>[63]</sup></a>. Việc vị Hoàng đế Ki-tô giáo Chính Thống Hy Lạp cuối cùng hy sinh trong trận đánh này đã góp phần vào ý tưởng mới về Moskva như là "Tân La Mã" và là nơi của Ki-tô giáo chính thống.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Curtis2-55"><sup>[55]<br></sup></a><br></div><div><br>Trong những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 15, quyền lực được <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Edigu&amp;action=edit&amp;redlink=1">Edigu</a>, một tư tế có nguồn gốc ở <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Vytautas&amp;action=edit&amp;redlink=1">Vytautas</a> tại Litva trong <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tr%E1%BA%ADn_chi%E1%BA%BFn_s%C3%B4ng_Vorskla&amp;action=edit&amp;redlink=1">Trận chiến sông Vorskla</a> thao túng và thành lập <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=H%C3%A3n_qu%E1%BB%91c_Nogai&amp;action=edit&amp;redlink=1">hãn quốc Nogai</a> làm khu vực của riêng mình. Trong thập niên 1440, hãn quốc một lần nữa bị chia rẽ bởi nội chiến. Lần này, nó tan rã thành hai <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A3n_qu%E1%BB%91c">hãn quốc</a>: <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=H%C3%A3n_qu%E1%BB%91c_Qasim&amp;action=edit&amp;redlink=1">hãn quốc Qasim</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A3n_qu%E1%BB%91c_Kazan">hãn quốc Kazan</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=H%C3%A3n_qu%E1%BB%91c_Astrakhan&amp;action=edit&amp;redlink=1">hãn quốc Astrakhan</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=H%C3%A3n_qu%E1%BB%91c_Kazakh&amp;action=edit&amp;redlink=1">hãn quốc Kazakh</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=H%C3%A3n_qu%E1%BB%91c_Uzbek&amp;action=edit&amp;redlink=1">hãn quốc Uzbek</a>, và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A3n_qu%E1%BB%91c_Krym">hãn quốc Krym</a> tất cả đều ly khai khỏi tàn tích cuối cùng của Kim Trướng hãn quốc - <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=H%C3%A3n_qu%E1%BB%91c_Sarai&amp;action=edit&amp;redlink=1">Đại hãn quốc</a>.<br><br>Đương thời với <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tri%E1%BB%81u_%C4%91%E1%BA%A1i_Tudor&amp;action=edit&amp;redlink=1">nhà Tudor</a> và các "tân vương" khác tại Tây Âu, Ivan tuyên bố chủ quyền tuyệt đối của ông đối với mọi công tước và quý tộc Nga. Từ chối cống nộp tiếp cho người Tatar, Ivan đã khởi đầu một loạt các vụ tấn công mở đường cho sự thất bại hoàn toàn của Kim Trướng hãn quốc đang suy yếu, khi đó đã phân chia ra thành vài <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kh%E1%BA%A3_h%C3%A3n_qu%E1%BB%91c&amp;action=edit&amp;redlink=1">Khả hãn quốc</a> và hãn quốc nhỏ. Ivan và những người kế vị ông theo đuổi việc bảo vệ biên giới phía nam của lãnh thổ của mình chống lại các cuộc tấn công của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A3n_qu%E1%BB%91c_Krym">người Tatar Krym</a> và các hãn quốc khác.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-64"><sup>[64]</sup></a> Để đạt được mục đích này, họ đã tài trợ cho việc xây dựng <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tuy%E1%BA%BFn_ch%C6%B0%E1%BB%9Bng_ng%E1%BA%A1i_l%E1%BB%9Bn&amp;action=edit&amp;redlink=1">Tuyến chướng ngại lớn</a> và ban phong các thái ấp cho các quý tộc, những người có nghĩa vụ phục vụ trong quân đội. Hệ thống thái ấp tạo ra cơ sở cho kị binh đang nổi lên.<br><br></div><div><br>Mùa hè năm 1470 (những nguồn khác đưa ra con số 1469), <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=H%C3%A3n_Ahmed&amp;action=edit&amp;redlink=1">hãn Ahmed</a> tổ chức một cuộc tấn công vào <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_qu%E1%BB%91c_Moldavia">Moldavia</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=V%C6%B0%C6%A1ng_qu%E1%BB%91c_Ba_Lan_(1385%E2%80%931569)&amp;action=edit&amp;redlink=1">Vương quốc Ba Lan</a>, và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Litva">Litva</a>. Tới ngày 20 tháng 8, các lực lượng Moldavia dưới sự chỉ huy của <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Stephen_V%C4%A9_%C4%91%E1%BA%A1i&amp;action=edit&amp;redlink=1">Stephen Vĩ đại</a> đánh bại quân Tatar trong <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tr%E1%BA%ADn_Lipnic&amp;action=edit&amp;redlink=1">Trận Lipnic</a>. Vương quốc Ba Lan và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_C%C3%B4ng_qu%E1%BB%91c_Litva">Đại công quốc Litva</a> (sở hữu hầu hết <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ukraina">Ukraina</a> ở thời điểm đó) bị số quân còn lại của hãn quốc tấn công năm 1487-1491. Họ đi tới tận <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Lublin">Lublin</a> ở trung tâm Ba Lan trước khi bị đánh bại một trận quyết định tại Zaslavl.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-65"><sup>[65]<br></sup></a><br></div><div><br>Không một hãn quốc mới nào mạnh hơn <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_c%C3%B4ng_qu%E1%BB%91c_Moskva">đại công quốc Moskva</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Cu%E1%BB%99c_kh%C3%A1ng_c%E1%BB%B1_tr%C3%AAn_s%C3%B4ng_Ugra&amp;action=edit&amp;redlink=1">cuối cùng đã thoát khỏi sự kiểm soát của người Tatar</a> năm 1480. Mỗi hãn quốc cuối cùng đều bị nó sáp nhập, bắt đầu với Kazan và Astrakhan hồi thập niên 1550. Tới cuối thế kỷ hãn quốc Siberi đã là một phần của Nga. <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Sibirsky_(h%E1%BB%8D)&amp;action=edit&amp;redlink=1">Các hậu duệ của các hãn cầm quyền</a> đều phục vụ Nga.<br><br></div><div><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A3n_qu%E1%BB%91c_Krym"><br>Hãn quốc Krym</a> trở thành một nhà nước chư hầu của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_Ottoman">Đế quốc Ottoman</a> năm 1475 và khuất phục những gì còn lại của <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90%E1%BA%A1i_h%C3%A3n_qu%E1%BB%91c&amp;action=edit&amp;redlink=1">Đại hãn quốc</a> năm 1502. Người <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tatar_Krym&amp;action=edit&amp;redlink=1">Tatar Krym</a> tiến hành cướp phá tại miền nam nước Nga, Ukraina và thậm chí cả Ba Lan trong thế kỷ 16 và đầu thế kỷ 17, nhưng họ không thể đánh bại Nga hay chiếm Moskva. Dưới sự bảo hộ của Ottoman, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A3n_qu%E1%BB%91c_Krym">hãn quốc Krym</a> tiếp tục sự tồn tại bấp bênh tới khi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ekaterina_II_c%E1%BB%A7a_Nga">Ekaterina Đại đế</a> sáp nhập nó vào ngày <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/8_th%C3%A1ng_4">8 tháng 4</a> năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1783">1783</a>. Nó là <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Nh%C3%A0_n%C6%B0%E1%BB%9Bc_k%E1%BA%BF_t%E1%BB%A5c&amp;action=edit&amp;redlink=1">nhà nước kế tục</a> tồn tại lâu nhất của Kim Trướng hãn quốc.<br><br></div><div><br>Theo cách này, sự thống nhất nội bộ kèm theo sự mở rộng ra ngoài của nhà nước. Vào thế kỷ 16, những người cai trị Moskva coi toàn bộ lãnh thổ Nga là tài sản tập thể của họ. Một loạt các công quốc bán độc lập vẫn còn tuyên bố chủ quyền đối với một số vùng lãnh thổ cụ thể,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-EB_IvanIII-60"><sup>[60]</sup></a> nhưng Ivan III đã buộc các công tước này phải biết tới đại công tước của Moskva và những hậu duệ của ông như là những vị vua không còn gì nghi vấn với sự kiểm soát đối với quân đội, luật pháp và các chính sách ngoại giao. Dần dần, các vị vua Nga nổi lên như là những người cai trị đầy quyền thế và chuyên quyền, tức các <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Sa_ho%C3%A0ng">Sa hoàng</a> (tsar). Vị vua Nga đầu tiên chính thức đăng quang với tước hiệu "Sa hoàng" là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ivan_IV_c%E1%BB%A7a_Nga">Ivan IV</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Curtis2-55"><sup>[55]<br></sup></a><br></div><div><br>Nước Nga Sa hoàng<br><strong><br>Ivan IV Bạo chúa</strong>[<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga&amp;veaction=edit&amp;section=12">sửa</a> | <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga&amp;action=edit&amp;section=12">sửa mã nguồn</a>]</div><div><br>Sự phát triển quyền lực tuyệt đối của Sa hoàng lên tới đỉnh điểm trong thời kỳ cầm quyền (1547–1584) của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ivan_IV_c%E1%BB%A7a_Nga">Ivan IV</a> ("Ivan Bạo chúa"). Ông tăng cường vị trí quyền lực của mình tới một mức độ chưa từng có trước đó, bằng cách thẳng tay sắp xếp giới quý tộc theo ý thích, trục xuất hay hành quyết nhiều người chỉ vì những tội lỗi nhỏ nhất.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Curtis2-55"><sup>[55]</sup></a> Tuy nhiên, Ivan thường được coi là một nhà lãnh đạo có tầm nhìn, người đã cải cách nước Nga khi đưa ra một bộ luật mới (<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Sudebnik_n%C4%83m_1550&amp;action=edit&amp;redlink=1">Sudebnik năm 1550</a>),<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-66"><sup>[66]</sup></a> thiết lập cơ quan đại diện chính quyền <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Phong_ki%E1%BA%BFn">phong kiến</a> đầu tiên của Nga (<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=H%E1%BB%99i_ngh%E1%BB%8B_h%E1%BB%99i_%C4%91%E1%BB%93ng_t%E1%BB%B1_qu%E1%BA%A3n_%C4%91%E1%BB%8Ba_ph%C6%B0%C6%A1ng&amp;action=edit&amp;redlink=1">Hội nghị hội đồng tự quản địa phương</a>), cắt giảm ảnh hưởng của giới tăng lữ,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-67"><sup>[67]</sup></a> và lập ra cơ quan tự quản cấp vùng tại các khu vực nông thôn,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-68"><sup>[68]<br></sup></a><br></div><div><br>Mặc dù cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_Livonia">chiến tranh Livonia</a> kéo dài của ông nhằm giành quyền kiểm soát bờ biển Baltic và quyền tiếp cận con đường thương mại trên biển là một sai lầm tốn kém,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-69"><sup>[69]</sup></a> Ivan đã sáp nhập được các hãn quốc như <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A3n_qu%E1%BB%91c_Kazan">Kazan</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=H%C3%A3n_qu%E1%BB%91c_Astrakhan&amp;action=edit&amp;redlink=1">Astrakhan</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=H%C3%A3n_qu%E1%BB%91c_Siberi&amp;action=edit&amp;redlink=1">Siberi</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-JMartin-70"><sup>[70]</sup></a> Những cuộc chinh phục này càng khiến làn sóng di cư của người du mục hiếu chiến từ châu Á vào châu Âu qua Volga và Ural thêm phức tạp.<br><br></div><div><br>Thông qua những cuộc chinh phục đó, nước Nga có thêm được một số lượng đáng kể người Tatar Hồi giáo và trở thành một quốc gia <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90a_ch%E1%BB%A7ng_t%E1%BB%99c&amp;action=edit&amp;redlink=1">đa chủng tộc</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90a_t%C3%B4n_gi%C3%A1o&amp;action=edit&amp;redlink=1">đa tôn giáo</a>. Cũng trong khoảng giai đoạn này, gia đình thương gia <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Stroganov&amp;action=edit&amp;redlink=1">Stroganov</a> đã thành lập một địa vị vững chắc tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/D%C3%A3y_n%C3%BAi_Ural">Ural</a> và tuyển mộ nhiều người <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Cossack">Cossack</a> Nga tới thực dân hoá Siberi.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-71"><sup>[71]<br></sup></a><br></div><div><br>Cuối thời kỳ cai trị của mình, Ivan đã chia đất nước làm hai. Ở vùng được gọi là <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Oprichnina&amp;action=edit&amp;redlink=1"><em>oprichnina</em></a>, những người theo Ivan tiến hành một loạt các cuộc thanh trừng đẫm máu nhắm vào giới quý tộc phong kiến (mà ông nghi ngờ có âm mưu bội phản sau sự phản bội của hoàng thân Kurbsky), đỉnh điểm là vụ <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Th%E1%BA%A3m_s%C3%A1t_Novgorod&amp;action=edit&amp;redlink=1">Thảm sát Novgorod</a> (1570). Việc này cộng với những tổn thất quân sự, bệnh dịch, mất mùa đã làm suy yếu nước Nga tới mức người <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tatar_Krym&amp;action=edit&amp;redlink=1">Tatar Krym</a> có thể vào cướp bóc các vùng trung tâm Nga và <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Chi%E1%BA%BFn_tranh_Nga%E2%80%93Krym_(1571)&amp;action=edit&amp;redlink=1">đốt cháy kinh đô Moskva (1571)</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-72"><sup>[72]</sup></a> Năm 1572, Ivan từ bỏ <em>oprichnina</em>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-73"><sup>[73]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-74"><sup>[74]<br></sup></a><br></div><div><br>Cuối triều đại Ivan IV, quân Ba Lan-Litva và quân Thuỵ Điển đã tiến hành can thiệp thành công vào Nga, tàn phá miền bắc và các vùng tây bắc nước này.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-75"><sup>[75]<br></sup></a><br></div><div><strong><br>Thời kỳ loạn lạc<br></strong><br>Cái chết không người nối dõi của con trai Ivan Bạo chúa là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Fyodor_I_c%E1%BB%A7a_Nga">Fyodor I</a> kéo theo một giai đoạn nội chiến và can thiệp nước ngoài được gọi là "<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Th%E1%BB%9Di_k%E1%BB%B3_lo%E1%BA%A1n_l%E1%BA%A1c&amp;action=edit&amp;redlink=1">Thời kỳ loạn lạc</a>" (1606–13)<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Curtis2-55"><sup>[55]</sup></a>. Các mùa đông lạnh giá (1601-1603) làm mùa màng thất bát<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-77"><sup>[77]</sup></a> dẫn tới <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=N%E1%BA%A1n_%C4%91%C3%B3i_Nga_1601-1603&amp;action=edit&amp;redlink=1">nạn đói Nga 1601-1603</a> và làm gia tăng sự vô tổ chức trong xã hội. Thời kỳ cầm quyền của <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Boris_Fyodorovich_Godunov&amp;action=edit&amp;redlink=1">Boris Godunov</a> chấm dứt trong tình trạng hỗn loạn, nội chiến cộng với sự xâm phạm từ nước ngoài, sự tàn phá nhiều thành phố và sự suy giảm dân số trong các khu vực nông thôn. Đất nước chao đảo vì sự hỗn loạn bên trong và nhiều cuộc can thiệp bên ngoài của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C6%B0%C6%A1ng_qu%E1%BB%91c_Ba_Lan_v%C3%A0_%C4%90%E1%BA%A1i_C%C3%B4ng_qu%E1%BB%91c_Litva">Vương quốc Ba Lan và Đại Công quốc Litva</a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-78"><sup>[78]</sup></a>. Quân xâm lược tiến vào tới Moskva và đưa, ban đầu là kẻ mạo danh <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Dmitriy_I_gi%E1%BA%A3&amp;action=edit&amp;redlink=1">Dmitriy I giả</a> và sau đó là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/W%C5%82adys%C5%82aw_IV_Vasa">Władysław IV Vasa</a> - một Hoàng thân Ba Lan lên ngôi báu của nước Nga. Nhân dân Moskva phải nổi dậy đấu tranh, nhưng họ bị dập tắt một cách dã man và thành phố bị đốt cháy<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Vern-79"><sup>[79]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-80"><sup>[80]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-81"><sup>[81]</sup></a>.<br><br></div><div><br>Cuộc khủng hoảng đã tạo nên tinh thần yêu nước chống lại quân <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/X%C3%A2m_l%C6%B0%E1%BB%A3c">xâm lược</a> của toàn dân Moskva và vào mùa thu năm 1612, dưới sự chỉ huy của thương gia <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kuzma_Minich_Minin&amp;action=edit&amp;redlink=1">Kuzma M. Minin</a> và Công tước <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Dmitry_Mikhaylovich_Pozharsky&amp;action=edit&amp;redlink=1">Dmitry M. Pozharsky</a>, quân đội tình nguyện đã đẩy lui ngoại bang ra khỏi kinh thành<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Dunning-82"><sup>[82]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-ToT-83"><sup>[83]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-84"><sup>[84]</sup></a>.<br><br></div><div><br>Vị thế quốc gia Nga đã sống sót qua "Thời kỳ loạn lạc" và sự cai trị yếu kém hoặc thối nát của các Sa hoàng nhờ sức mạnh của các quan lại trung tâm của chính quyền. Các chức năng của chính quyền vẫn hoạt động, dù dưới bất kỳ vị vua nào hay các phe phái nào kiểm soát ngôi báu<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Curtis2-55"><sup>[55]</sup></a>. Tuy nhiên, "<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Th%E1%BB%9Di_k%E1%BB%B3_lo%E1%BA%A1n_l%E1%BA%A1c&amp;action=edit&amp;redlink=1">Thời kỳ loạn lạc</a>" do sự khủng hoảng triều đại gây ra đã khiến nước Nga mất nhiều lãnh thổ vào tay <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C6%B0%C6%A1ng_qu%E1%BB%91c_Ba_Lan_v%C3%A0_%C4%90%E1%BA%A1i_C%C3%B4ng_qu%E1%BB%91c_Litva">Vương quốc Ba Lan và Đại Công quốc Litva</a> trong cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Chi%E1%BA%BFn_tranh_Nga-Ba_Lan_(1605-1618)&amp;action=edit&amp;redlink=1">chiến tranh Nga-Ba Lan</a>. Không những thế, vua Thụy Điển là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Gustav_II_Adolf">Gustav II Adolf</a> đã lợi dụng "Thời kỳ loạn lạc" mà phát binh chinh phạt nước Nga và giành chiến thắng lừng lẫy trong cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Chi%E1%BA%BFn_tranh_Ingria&amp;action=edit&amp;redlink=1">chiến tranh Ingria</a>:<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-davidstud-85"><sup>[85]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-86"><sup>[86]<br></sup></a><br></div><div><strong>“</strong> | <em>Từ nay về sau, nước Nga chẳng bao giờ còn dám vượt qua khuôn phép nữa!</em> | <strong>”</strong><br>— Gustav II Adolf<br><strong><br>Dòng họ Romanov lên ngôi<br></strong><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A1ng_hai"><br>Tháng 2</a> năm 1613, khi sự hỗn loạn đã chấm dứt và người Ba Lan đã bị đẩy lui khỏi Moskva, một <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Zemsky_Sobor">đại hội đồng</a>, gồm các đại diện từ năm mươi thành phố và thậm chí cả một số nông dân đã bầu <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Mikhail_I_Fyodorovich_Romanov&amp;action=edit&amp;redlink=1">Mikhail Romanov</a>, con trai của <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90%E1%BA%A1i_gi%C3%A1o_ch%E1%BB%A7_Filaret&amp;action=edit&amp;redlink=1">đại giáo chủ Filaret</a>, lên ngôi báu. <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Romanov">Nhà Romanov</a> cai trị nước Nga tới tận năm 1917.<br><br></div><div><br>Nhiệm vụ trước mắt của triều đại mới là tái lập hoà bình. May cho Moskva, những kẻ thù chính của họ là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C6%B0%C6%A1ng_qu%E1%BB%91c_Ba_Lan_v%C3%A0_%C4%90%E1%BA%A1i_C%C3%B4ng_qu%E1%BB%91c_Litva">Vương quốc Ba Lan và Đại Công quốc Litva</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%A5y_%C4%90i%E1%BB%83n">Thuỵ Điển</a> đang lao vào những cuộc xung đột với nhau, đưa lại cho nước Nga cơ hội tái lập hoà bình với vua Thuỵ Điển năm 1617 và ký một hiệp ước hoà bình với Vương quốc Ba Lan và Đại Công quốc Litva vào năm 1619. Theo <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Hi%E1%BB%87p_%C4%91%E1%BB%8Bnh_Stolbova&amp;action=edit&amp;redlink=1">Hiệp định Stolbova</a>, Sa hoàng Mikhail I nhường cho vua Gustav II Adolf hai vùng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Carelia">Carelia</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ingria">Ingria</a>. Từ đó, nước Nga mất lối ra biển Baltic.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-davidstud-85"><sup>[85]</sup></a> Việc thu hồi những lãnh thổ đã mất bắt đầu từ giữa thế kỷ 17 khi cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=N%E1%BB%95i_d%E1%BA%ADy_Chmielnicki&amp;action=edit&amp;redlink=1">nổi dậy Chmielnicki</a> tại Ukraina chống lại quyền cai trị Ba Lan đưa tới <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Hi%E1%BB%87p_%C6%B0%E1%BB%9Bc_Pereyaslav&amp;action=edit&amp;redlink=1">Hiệp ước Pereyaslav</a> được ký kết giữa Nga và người <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Cossack_Ukraina&amp;action=edit&amp;redlink=1">Cossack Ukraina</a>.<br><br>Theo hiệp ước, Nga đảm bảo quyền bảo hộ cho <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Hetmantschina_Cossack&amp;action=edit&amp;redlink=1">nhà nước Cossack</a> ở <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ukraina_t%E1%BA%A3_ng%E1%BA%A1n&amp;action=edit&amp;redlink=1">Ukraina tả ngạn</a>, trước kia thuộc quyền kiểm soát của Ba Lan. Việc này đã gây ra một cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Chi%E1%BA%BFn_tranh_Nga-Ba_Lan_(1654-1667)&amp;action=edit&amp;redlink=1">Chiến tranh Nga-Ba Lan</a> kéo dài dẫn tới <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Hi%E1%BB%87p_%C6%B0%E1%BB%9Bc_Andrusovo&amp;action=edit&amp;redlink=1">Hiệp ước Andrusovo</a> (1667) theo đó Ba Lan chấp nhận mất Ukraina tả ngạn, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kiev">Kiev</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Smolensk">Smolensk</a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Curtis2-55"><sup>[55]</sup></a>.<br><br></div><div><br>Thay vì tiếp tục đối mặt với nguy cơ mất tài sản trong các cuộc nội chiến, các đại quý tộc hay <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Boyar"><em>boyar</em></a> đã liên kết với những vị Sa hoàng đầu tiên của nhà Romanov, cho phép họ hoàn tất việc thiết lập chính quyền quan lại trung ương. Như vậy, nhà nước yêu cầu sự hợp tác của cả giới quý tộc cũ và mới, chủ yếu trong quân đội. Đổi lại các Sa hoàng cho phép giới quý tộc hoàn tất quá trình nông nô hoá giới nông dân.<br><br>rong thế kỷ trước đó, nhà nước đã dần tước đoạt các quyền di chuyển theo các chúa đất khác nhau của nông dân. Khi nhà nước đã hoàn toàn thừa nhận <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ch%E1%BA%BF_%C4%91%E1%BB%99_n%C3%B4ng_n%C3%B4_Nga&amp;action=edit&amp;redlink=1">chế độ nông nô</a>, các nông dân bỏ trốn trở thành những kẻ bị quốc gia truy nã, và quyền của các chúa đất với các nông dân "gắn liền" với đất đai của họ đã hầu như hoàn tất. Cùng nhau, nhà nước và giới quý tộc đặt ra các gánh nặng thuế khoá lên người nông dân, vào giữa thế kỷ 17 đã tăng gấp 100 lần so với thế kỷ trước đó. Ngoài ra, các thương nhân, thợ thủ công thành thị trung lưu, cũng phải chịu các khoản thuế, và giống như nông nô, họ cũng bị cấm chuyển chỗ ở. Tất cả thành phần xã hội đều phải thực hiện nghĩa vụ quân sự và phải chịu các khoản thuế đặc biệt<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-87"><sup>[87]</sup></a>.<br><br></div><div><br>Dưới những hoàn cảnh như vậy, sự xuất hiện của những nông dân bất tuân pháp luật là không thể tránh khỏi; thậm chí các công dân Moskva cũng đã nổi dậy chống lại triều đình Romanov trong <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Cu%E1%BB%99c_n%E1%BB%95i_lo%E1%BA%A1n_Mu%E1%BB%91i&amp;action=edit&amp;redlink=1">cuộc nổi loạn Muối</a> (1648)<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Kotilaine1-88"><sup>[88]</sup></a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Cu%E1%BB%99c_n%E1%BB%95i_lo%E1%BA%A1n_%C4%90%E1%BB%93ng&amp;action=edit&amp;redlink=1">cuộc nổi loạn Đồng</a> (1662)<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Kotilaine-89"><sup>[89]</sup></a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Cu%E1%BB%99c_n%E1%BB%95i_d%E1%BA%ADy_Moskva_1682&amp;action=edit&amp;redlink=1">cuộc nổi dậy Moskva</a> (1682)<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-90"><sup>[90]</sup></a> vượt xa cuộc nổi dậy nông dân lớn nhất thế kỷ 17 ở châu Âu nổ ra năm 1667. Khi những người định cư tự do ở phía nam nước Nga, người <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Cossack">Cossack</a>, nổi dậy chống lại sự tập quyền trung ương ngày càng tăng của nhà nước, các nông nô bỏ trốn khỏi các lãnh chúa và gia nhập những người nổi dậy. Thủ lĩnh người Cossack là <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Stenka_Timofeyevich_Razin&amp;action=edit&amp;redlink=1">Stenka Timofeyevich Razin</a> dẫn những người theo mình ngược sông Volga, xúi giục các cuộc nổi dậy nông dân và thay thế các chính quyền địa phương bằng bộ máy Cossack<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Curtis2-55"><sup>[55]</sup></a>. Cuối cùng quân đội Sa hoàng đã tiêu diệt các lực lượng của ông năm 1670; một năm sau Stenka bị bắt và bị chém đầu. Tuy thế, chưa tới nửa thế kỷ sau, tình trạng căng thẳng do những cuộc viễn chinh quân sự mang lại đã tạo ra một <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=N%E1%BB%95i_d%E1%BA%ADy_Bulavin&amp;action=edit&amp;redlink=1">nổi loạn tại Astrakhan</a>, cuối cùng cũng bị dập tắt.<br><br></div><div><br>Đế quốc Nga[<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga&amp;veaction=edit&amp;section=15">sửa</a> | <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga&amp;action=edit&amp;section=15">sửa mã nguồn</a>]<br><br></div><div>Bài chi tiết: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_Nga">Đế quốc Nga</a></div><div><strong><br>Pyotr Đại đế<br></strong><br>Sa hoàng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Pyotr_I_c%E1%BB%A7a_Nga">Pyotr I Đại đế</a> (1672–1725), đã đưa chế độ quân chủ chuyên quyền vào nước Nga và đóng vai trò chủ chốt trong việc đưa đất nước mình vào hệ thống quốc gia châu Âu. Ông ngưỡng mộ vị Tuyển hầu tước vĩ đại của xứ Phổ - <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Brandenburg">Brandenburg</a> là <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Friedrich_Wilhelm_I_x%E1%BB%A9_Brandenburg&amp;action=edit&amp;redlink=1">Friedrich Wilhelm I</a> và cũng học hỏi những <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%95i_m%E1%BB%9Bi">cải cách</a> của ông này.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Clark674-91"><sup>[91]</sup></a> Từ sự khởi đầu bé nhỏ hồi thế kỷ 14 chỉ với Công quốc Moskva, nước Nga đã trở thành quốc gia lớn nhất thế giới ở thời Pyotr. Lớn gấp ba lần lục địa châu Âu, nước Nga trải dài trên <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%A5c_%C4%91%E1%BB%8Ba_%C3%81-%C3%82u">đại lục Á-Âu</a> từ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Bi%E1%BB%83n_Baltic">biển Baltic</a> tới Thái Bình Dương. Đa phần lãnh thổ được mở rộng trong thế kỷ 17, lên tới đỉnh điểm khi những người Nga đầu tiên tới định cư ở Thái Bình Dương giữa thế kỷ 17, việc tái chinh phục Kiev và sự hoà bình hoá các bộ tộc Siberi. Tuy nhiên, vùng đất rộng lớn này chỉ có dân số 14 triệu người. Các cánh đồng lúa mì kém xa so với nông nghiệp ở phương Tây (điều này có thể một phần vì điều kiện khí hậu khắc nghiệt, đặc biệt là những mùa đông dài và thời gian trồng cấy ngắn<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Milov-92"><sup>[92]</sup></a> khiến hầu hết dân cư phải làm nông nghiệp. Chỉ một phần nhỏ dân cư sống ở các thị trấn. Nước Nga vẫn bị cô lập với con đường thương mại trên biển; thương mại và giao thông, sản xuất nội địa phụ thuộc vào các thay đổi theo mùa<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Milov-92"><sup>[92]</sup></a>.<br><br></div><div><br>Các nỗ lực quân sự đầu tiên của Nga hoàng Pyotr là chiến đấu chống lại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_Ottoman">người Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman</a>, chiếm được thị trấn <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Azov">Azov</a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-93"><sup>[93]</sup></a>. Sau đó ông quay sự chú ý sang phía bắc. Pyotr vẫn thiếu một cảng biển vững chắc ở phía bắc, ngoại trừ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Arkhangelsk">Arkhangelsk</a> trên <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Bi%E1%BB%83n_Tr%E1%BA%AFng">biển Trắng</a>, nơi các cảng bị đóng băng chín tháng mỗi năm. Lối vào biển Baltic bị <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%A5y_%C4%90i%E1%BB%83n">Thụy Điển</a> phong toả, lãnh thổ nước này bao bọc nó từ cả ba phía. Các tham vọng của Pyotr về một "cánh cửa ra biển" đã khiến ông lập một liên minh bí mật năm 1699 với <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C6%B0%C6%A1ng_qu%E1%BB%91c_Ba_Lan_v%C3%A0_%C4%90%E1%BA%A1i_C%C3%B4ng_qu%E1%BB%91c_Litva">Vương quốc Ba Lan và Đại Công quốc Litva</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90an_M%E1%BA%A1ch">Đan Mạch</a> chống Thụy Điển dẫn tới cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_chi%E1%BA%BFn_B%E1%BA%AFc_%C3%82u">Đại chiến Bắc Âu</a>. Sau khi ông đại bại trước quân Thụy Điển trong <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%ADn_Narva">trận Narva</a> vào <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A1ng_m%C6%B0%E1%BB%9Di_m%E1%BB%99t">tháng 11</a> năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1700">1700</a>, vào năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1708">1708</a> vua Thụy Điển là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Karl_XII_c%E1%BB%A7a_Th%E1%BB%A5y_%C4%90i%E1%BB%83n">Karl XII</a> tiến hành chinh phạt nước Nga. Quân đội Nga đã đánh tan quân Thụy Điển trong <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tr%E1%BA%ADn_Lesnaya&amp;action=edit&amp;redlink=1">trận Lesnaya</a> vào năm đó; năm sau, Quân đội Nga lại tạo một bước ngoặt khi giành chiến thắng lừng lẫy trước quân Thụy Điển trong <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%ADn_Poltava">trận Poltava</a> (1709).<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-94"><sup>[94]<br></sup></a><br></div><div><br>Nhưng vào <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A1ng_m%C6%B0%E1%BB%9Di_hai">tháng 12</a> năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1710">1710</a>, ông lại lâm chiến với Đế quốc Ottoman: quân Ottoman đông đảo hơn đã đại phá liên quân Nga - <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_qu%E1%BB%91c_Moldavia">Moldavia</a> trong <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tr%E1%BA%ADn_chi%E1%BA%BFn_s%C3%B4ng_Pruth&amp;action=edit&amp;redlink=1">trận chiến sông Pruth</a>, và hậu quả của thất bại này là nước Nga mất thị trấn Azov. Mặt khác, Quân đội Nga vẫn liên tục đánh bại quân Thụy Điển trên chiến trường phương Bắc: Hải quân Thụy Điển mất uy thế trên vùng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Bi%E1%BB%83n_Baltic">biển Baltic</a>, và vua Karl XII chết vào năm 1718, rồi đến năm 1721, cuộc chiến tranh tàn khốc mới kết thúc khi nước Thụy Điển kiệt quệ chịu thua và tìm kiếm hoà bình với Nga Sa hoàng.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-95"><sup>[95]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-96"><sup>[96]</sup></a> Pyotr đòi hỏi bốn tỉnh nằm ở phía nam và phía đông <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%E1%BB%8Bnh_Ph%E1%BA%A7n_Lan">vịnh Phần Lan</a>, và nhờ thế có được đường ra biển. Tại đó, vào năm 1703, ông lập ra thành phố sẽ thành kinh đô mới của nước Nga, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Sankt-Peterburg">Sankt Peterburg</a>, như một "cánh cửa vào châu Âu" để thay thế kinh thành Moskva - từng là trung tâm văn hoá Nga từ lâu. Trong khi Nga hoàng Pyotr Đại Đế đưa đất nước lên thành cường quốc thì nước Ba Lan láng giềng lại suy yếu.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-97"><sup>[97]</sup></a> Sự can thiệp của Nga vào Vương quốc Ba Lan và Đại Công quốc Litva, cùng với <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ngh%E1%BB%8B_vi%E1%BB%87n_c%C3%A2m_l%E1%BA%B7ng&amp;action=edit&amp;redlink=1">Nghị viện câm lặng</a>, đánh dấu sự khởi đầu 200 năm đô hộ vùng này của Đế quốc Nga. Trong lễ mừng công thắng lợi của các cuộc chinh phục, Pyotr lấy danh hiệu "Hoàng đế và Sa hoàng", và nước Nga Sa hoàng chính thức trở thành <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_Nga">Đế quốc Nga</a> năm 1721.<br><br></div><div><br>Nga hoàng Pyotr I tái tổ chức chính quyền của mình theo các mô hình phương Tây, biến nước Nga trở thành một nhà nước <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ch%C3%ADnh_tr%E1%BB%8B_chuy%C3%AAn_ch%E1%BA%BF&amp;action=edit&amp;redlink=1">chuyên chế</a>. Ông thay thế <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90uma_Qu%E1%BB%91c_gia">Duma</a> <em>boyar</em> (cộng đồng quý tộc) cũ bằng một nghị viện chín thành viên, đưa vào hoạt động một hội đồng nhà nước tối cao. Vùng nông thôn được chia thành các tỉnh và huyện mới. Pyotr nói với nghị viện rằng nhiệm vụ của họ là thu thuế. Đổi lại nguồn thu thuế đã tăng lên gấp ba trong thời gian cai trị của ông. Như một phần cuộc cải cách chính quyền, Giáo hội Chính Thống giáo được sáp nhập một phần vào cơ cấu hành chính quốc gia, để trở thành một công cụ của nhà nước. Pyotr bãi bỏ <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ch%E1%BA%BF_%C4%91%E1%BB%99_gi%C3%A1o_tr%C6%B0%E1%BB%9Fng&amp;action=edit&amp;redlink=1">chế độ giáo trưởng</a> và thay thế nó bằng một thể chế tập thể, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=H%E1%BB%99i_%C4%91%E1%BB%93ng_t%C3%B4n_gi%C3%A1o_th%E1%BA%A7n_th%C3%A1nh&amp;action=edit&amp;redlink=1">hội đồng tôn giáo thần thánh</a>, được lãnh đạo bởi một quan chức do chính quyền bổ nhiệm. Trong lúc ấy, tất cả dấu vết của một chính quyền tự quản địa phương đều bị xoá bỏ, và Pyotr vẫn tiếp tục và tăng cường các yêu cầu của những người tiền nhiệm về sự phục vụ nhà nước đối với mọi quý tộc.<br><br></div><div><br>Pyotr Đại đế qua đời năm 1725, để lại một triều đại kiệt lực và chưa có người thừa kế. Thời kỳ cầm quyền của ông đã làm dấy lên những câu hỏi về tình trạng lạc hậu của nước Nga, quan hệ của nước này với phương Tây, sự cần thiết phải tiến hành cải cách và các vấn đề nền tảng khác đã gây ra nhiều khó khăn với các hoàng đế sau này. Tuy thế, ông là vị Hoàng đế đã đặt ra những nền móng của một nhà nước hiện đại tại Nga. Sau này, cố lãnh tụ Liên Xô I. V. Stalin đã xem ông là một vị anh hùng.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Clark674-91"><sup>[91]<br></sup></a><br></div><div><strong><br>Cai trị Đế quốc (1725–1825)</strong>[<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga&amp;veaction=edit&amp;section=17">sửa</a> | <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga&amp;action=edit&amp;section=17">sửa mã nguồn</a>]</div><div>Xem thêm: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_Ph%C3%A1p-Nga_(1812)">Chiến tranh Pháp-Nga (1812)</a></div><div><br>Sau Nga hoàng Pyotr Đại Đế là những triều đại chẳng mấy nổi bật của Nữ hoàng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Yekaterina_I">Ekaterina I</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Pyotr_II_c%E1%BB%A7a_Nga">Pyotr II</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-98"><sup>[98]</sup></a> Sau họ, Nữ hoàng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Anna_c%E1%BB%A7a_Nga">Anna</a> trị vì từ năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1730">1730</a> cho đến năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1740">1740</a>, khi đó nước Nga tham chiến trong cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Chi%E1%BA%BFn_tranh_K%E1%BA%BF_v%E1%BB%8B_Ba_Lan&amp;action=edit&amp;redlink=1">Chiến tranh Kế vị Ba Lan</a> (1733) và gặt hái thắng lợi.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-ReferenceA-99"><sup>[99]</sup></a> Từ năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1736">1736</a> cho đến năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1739">1739</a>, Quân đội Nga họp binh với quân Áo, lâm chiến với Đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman dưới thời Sultan <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Mahmud_I">Mahmud I</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-100"><sup>[100]</sup></a> Vào năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1736">1736</a>, quân Nga chiếm được pháo đài Azov.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-ReferenceB-101"><sup>[101]</sup></a> Nhưng quân Thổ Nhĩ Kỳ giành nhiều chiến thắng trước liên quân Nga - Áo vào năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1737">1737</a>. Quân Áo, do sợ Quân đội Nga hoàng sẽ gây phương hại cho họ qua việc gặt hái nhiều thắng lợi, đã ký kết <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=H%C3%B2a_%C6%B0%E1%BB%9Bc_Beograd&amp;action=edit&amp;redlink=1">Hòa ước Beograd</a> vào năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1739">1739</a>, nhượng lại tất cả những vùng đất mà họ từng chiếm từ tay quân Thổ Nhĩ Kỳ. Cùng năm đó, Đế quốc Ottoman cũng giữ lấy được pháo đài Azov, người Nga phải rút mọi chiến thuyền và tàu buôn ra khỏi Biển Đen, đồng thời phải rút quân khỏi xứ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Rom%C3%A2neasc%C4%83">Wallachia</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-102"><sup>[102]</sup></a> Trong giai đoạn <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1725">1725</a> - <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1741">1741</a>, nền quân sự nước Nga chứng kiến một vị Nguyên soái tài năng là <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Burkhard_Christoph_von_M%C3%BCnnich&amp;action=edit&amp;redlink=1">Burkhard Christoph von Münnich</a>, ông đã lập nên nhiều chiến công.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-103"><sup>[103]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-104"><sup>[104]</sup></a> Sau khi Nữ hoàng Anna qua đời vào năm 1740, một người họ hàng của bà là ấu chúa <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ivan_VI_c%E1%BB%A7a_Nga">Ivan VI</a> lên nối ngôi. Nhưng Công chúa <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Elizaveta_c%E1%BB%A7a_Nga">Elizaveta Petrovna</a> - con gái của Nga hoàng Pyotr Đại Đế - soán ngôi, lên làm Nữ hoàng.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-ReferenceA-99"><sup>[99]</sup></a> Vào năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1743">1743</a>, Quân đội Nga đánh tan tác quân Thụy Điển.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-105"><sup>[105]<br></sup></a><br></div><div><strong>“</strong> | <em>Tôi lạy ngài, ngài hãy nói cho tôi nghe tại sao ngài lại nảy ra ý định viết về những con chó sói và gấu vùng </em><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Xibia"><em>Xibia</em></a><em> đó?... Tôi khó có thể chịu nổi cái tư tưởng là bọn chúng cùng chung sống trên một bán cầu với tôi và ngài</em>. | <strong>”</strong><br>— Thư vua Friedrich II Đại Đế gửi đại văn hào <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Voltaire">Voltaire</a>, khi ông nghĩ đến việc viết tiểu sử của Pyotr Đại Đế. Cho thấy sự kinh sợ người Nga của nhà vua.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-106"><sup>[106]</sup></a></div><div><br>Từ năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1740">1740</a> cho đến năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1786">1786</a>, có <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vua">vua</a> <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Friedrich_II_c%E1%BB%A7a_Ph%E1%BB%95">Friedrich II Đại Đế</a> (tức <em>Friedrich Độc Đáo</em>) dấy lên, xây dựng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C6%B0%C6%A1ng_qu%E1%BB%91c_Ph%E1%BB%95">Vương quốc Phổ</a> cường thịnh. Ông là một vị vua lớn của <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=V%C6%B0%C6%A1ng_tri%E1%BB%81u_Hohenzollern&amp;action=edit&amp;redlink=1">Vương triều Hohenzollern</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-107"><sup>[107]</sup></a> Một loạt chiến thắng oanh liệt của quân Phổ trong hai cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_Silesia">chiến tranh Silesia</a> đã gây cho Triều đình Nga hoang mang lo sợ.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-108"><sup>[108]</sup></a> Nữ hoàng Elizaveta Petrovna đã tham chiến trong liên quân Áo - Pháp chống Phổ trong cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_B%E1%BA%A3y_n%C4%83m">Chiến tranh Bảy năm</a> vào năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1756">1756</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-109"><sup>[109]</sup></a> Không những thế, quân Thụy Điển cũng tham gia liên quân chống Phổ.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-110"><sup>[110]</sup></a> Quân Nga chiếm được vùng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_Ph%E1%BB%95">Đông Phổ</a> vào năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1758">1758</a>,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-ReferenceC-111"><sup>[111]</sup></a> và nếu liên quân chống Phổ thắng lợi thì cả Vương quốc Phổ sẽ bị tiêu diệt.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-ReferenceC-111"><sup>[111]</sup></a> Trong trận đánh ác liệt tại Kunersdorf (1759), nhà vua nước Phổ suýt bị quân Cossack Nga bắt sống, nhưng được quân sĩ Phổ cứu vãn.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-112"><sup>[112]</sup></a> Để bảo vệ đất nước, toàn quân và dân Phổ đã đấu tranh quyết liệt và gặt hái chiến thắng dưới sự thống lĩnh xuất sắc của vua Friedrich II Đại Đế,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-113"><sup>[113]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Clark240-114"><sup>[114]</sup></a> trong khi đó Nữ hoàng Elizaveta Petrovna lại lâm trọng bệnh, và sẽ chết lúc nào không hay. Quả nhiên, vào năm 1762, bà mất, Đại Công tước Pyotr lên nối ngôi, tức Nga hoàng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Pyotr_III_c%E1%BB%A7a_Nga">Pyotr III</a>. Do rất ngưỡng mộ vua Friedrich II Đại Đế nên ông quyết định rút khỏi liên quân Pháp - Áo - Thụy Điển, mà thiết lập liên minh Nga - Phổ.<br><br>Nguyên soái <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Zakhar_Grigoryevich_Chernyshov&amp;action=edit&amp;redlink=1">Zakhar Grigoryevich Chernyshov</a> kéo quân đến đón chào vua Friedrich II Đại Đế và trao tặng ông Huy chương Thánh Anđrê.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-115"><sup>[115]</sup></a> Nga hoàng Pyotr III sống không được lâu: Nhận thấy ông không có khả năng, vợ ông là Ekaterina - nguyên là một Công nương người Đức - đã ưng thuận cho ám sát ông. Tin tức thông báo rằng ông bị chết vì "<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ch%E1%BB%A9ng_ng%E1%BA%ADp_m%C3%A1u&amp;action=edit&amp;redlink=1">chứng ngập máu</a>", và vào năm 1762 bà lên ngôi Nữ hoàng đế, tức <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ekaterina_II_c%E1%BB%A7a_Nga">Ekaterina II của Nga</a>. Bà xé bỏ liên quân Nga - Phổ, thậm chí còn chuẩn bị tái chiến với nước Phổ, nhưng rồi bà lại đổi ý tôn trọng nền hòa bình với nước Phổ.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-116"><sup>[116]</sup></a> Sau đó, liên quân chống Phổ lần lượt tan rã.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-117"><sup>[117]</sup></a> Tuy những ý đồ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/X%C3%A2m_l%C6%B0%E1%BB%A3c">xâm lược</a> nước Phổ của Nữ hoàng Elizaveta Petrovna thất bại hoàn toàn, tuy nhiên nước Nga đã có được danh tiếng lớn trong cuộc Chiến tranh Bảy năm.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Calrk211-118"><sup>[118]</sup></a> Cũng giống như Nga hoàng Pyotr Đại Đế, Nữ hoàng Ekaterina cũng được gọi là "Ekaterina Đại Đế", cũng khỏe mạnh khác thường, vô cùng năng nổ và còn quyết đoán nữa.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Darvies649-119"><sup>[119]</sup></a> Bà đã góp phần vào sự hồi sinh của giới quý tộc Nga đã bắt đầu sau khi vua Pyotr Đại đế qua đời. Chế độ phục vụ nhà nước bắt buộc bị huỷ bỏ, và Ekaterina còn tạo điều kiện thuận lợi nữa cho giới quý tộc bằng cách chuyển hầu hết các chức năng chính quyền tại các tỉnh cho họ.<br><br></div><div><br>Ekaterina Đại đế đã mở rộng quyền kiểm soát chính trị của nước Nga đối với Vương quốc Ba Lan và Đại Công quốc Litva thông qua nhiều hành động, bao gồm cả việc ủng hộ <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Li%C3%AAn_minh_Targowica&amp;action=edit&amp;redlink=1">Liên minh Targowica</a>, dù cái giá của các cuộc vận động của bà, phía trên hệ thống trấn áp xã hội đòi hỏi các nông nô phải dành toàn bộ cuộc đời làm việc trên các mảnh đất của lãnh chúa, gây ra một cuộc nổi dậy nông dân lớn năm 1773, sau khi Ekaterina hợp pháp hoá việc bán nông nô tách biệt khỏi ruộng đất. Với lời kêu gọi mạnh mẽ <em>"Treo cổ tất cả các lãnh chúa!"</em>, một thủ lĩnh người Cossack là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Yemyelyan_Ivanovich_Pugachyov">Yemyelyan Ivanovich Pugachyov</a> đã tuyên bố ông trả thù cho Nga hoàng Pyotr III, đồng thời các thủ lĩnh tiêu biểu của quân nổi dậy đặt tên họ theo những viên quan lớn trong Triều đình Nga. Đây là một thách thức lớn đối với Nữ hoàng Ekaterina II,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-120"><sup>[120]</sup></a> quân nổi dậy đe doạ chiếm Moskva trước khi cuộc khởi nghĩa của họ bị dập tắt dữ dội. Ekaterina II bắt được Pugachev và treo cổ ông trên <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A3ng_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BB%8F">Quảng trường Đỏ</a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-121"><sup>[121]</sup></a>, nhưng bóng ma cánh mạng vẫn tiếp tục theo đuổi bà và những vị vua nối nghiệp.<br><br></div><div><br>Đến cả vua Friedrich II Đại Đế cũng lo sợ trước sự phát triển hùng mạnh của nước Nga, sau những trận đánh ác liệt tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%ADn_Zorndorf">Zorndorf</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%ADn_Kunersdorf">Kunersdorf</a> trong cuộc Chiến tranh Bảy năm vừa qua. Với chính sách tài tình của Triều đình Phổ, ông đã đẩy lui được mối đe dọa từ nước Nga hùng mạnh.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Clark215-122"><sup>[122]</sup></a> Vào năm 1769, ông nói với em trai của mình là <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ho%C3%A0ng_t%E1%BB%AD_Heinrich_c%E1%BB%A7a_Ph%E1%BB%95_(1726%E2%80%931802)&amp;action=edit&amp;redlink=1">Hoàng tử Heinrich</a> rằng Đế quốc của Nữ hoàng Ekaterina II của Nga là một <em>"Đế quốc khủng khiếp, sẽ làm cho cả châu Âu phải run sợ"</em>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-MClark212-6"><sup>[6]</sup></a> Thật vậy, từ năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1768">1768</a>, Nữ hoàng Ekaterina II đã thành công trong việc phát động một cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_Nga-Th%E1%BB%95_Nh%C4%A9_K%E1%BB%B3_(1768%E2%80%931774)">chiến chống</a> lại đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman đang suy tàn<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-123"><sup>[123]</sup></a> và mở rộng lãnh thổ phía nam nước Nga tới biển Đen. Thời này nước Nga có Nguyên soái <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Pyotr_Aleksandrovich_Rumyantsev">Pyotr Aleksandrovich Rumyantsev</a> lập nhiều chiến công hiển hách, gây ấn tượng không nhỏ đến Tây Âu.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-124"><sup>[124]</sup></a> Cũng như vua Friedrich II Đại Đế nước Phổ, ông rất được lòng toàn quân.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-125"><sup>[125]</sup></a> Vào năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1774">1774</a>, sau một loạt chiến bại thảm hại của quân Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman, nước Nga ký kết Hiệp ước Hòa bình với Thổ Nhĩ Kỳ: theo đó, Nga hoàng có quyền xây nên và bảo hộ Nhà thờ Chính Thống giáo ngay tại kinh đô Constantinopolis của Đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman. Không những thế, Hãn quốc Krym độc lập không còn là một chư hầu của Đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ nữa, nhưng Sultan Thổ trở thành vị Khalip của các tín đồ Hồi giáo xứ Krym. Nhưng vào năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1780">1780</a>, Nữ hoàng còn nghĩ đến việc "giải phóng" thành Constantinopolis và biến nó thành một kinh đô mới của bà.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-126"><sup>[126]<br></sup></a><br></div><div><br>Trong cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Chi%E1%BA%BFn_tranh_Nga-Th%E1%BB%95_Nh%C4%A9_K%E1%BB%B3_(1787%E2%80%931792)&amp;action=edit&amp;redlink=1">chiến tranh</a> giữa Sultan Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman và Nữ hoàng Ekaterina II Đại Đế từ năm 1787 cho đến năm 1792, quân Thổ Nhĩ Kỳ lại bại trận, và xứ Krym chính thức rơi vào tay Đế quốc Nga.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-ReferenceB-101"><sup>[101]</sup></a> Dù vậy, đây cũng là một cuộc chiến tranh đắt đỏ.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-ReferenceD-127"><sup>[127]</sup></a> Vào năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1764">1764</a>, nước Nga thiết lập liên minh với nước Phổ của vua Friedrich II Đại Đế.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Clark215-122"><sup>[122]</sup></a> Sau đó, bà cùng với các vua chúa Phổ và Áo<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-128"><sup>[128]</sup></a> sáp nhập các lãnh thổ của Vương quốc Ba Lan và Đại Công quốc Litva: tại nơi đây, sau một thế kỷ chịu xiềng xích nô dịch của Nga hoàng, dân cư phi Công giáo La Mã chủ yếu là Chính Thống giáo đã chiếm ưu thế<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-129"><sup>[129]</sup></a>) trong thời gian <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%A2n_chia_Ba_Lan">Phân chia Ba Lan</a>, đẩy biên giới của Nga về phía tây tới Trung Âu. Với <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Cu%E1%BB%99c_chia_c%E1%BA%AFt_Ba_Lan_l%E1%BA%A7n_th%E1%BB%A9_nh%E1%BA%A5t">cuộc chia cắt Ba Lan lần thứ nhất</a> vào năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1772">1772</a>, Nữ hoàng Ekaterina II đã biến nước Nga thành một trong những cường quốc của châu Âu.<br><br>Liên minh Nga - Phổ cũng tan rã vào năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1781">1781</a>, nhưng Triều đình vua Friedrich II Đại Đế vẫn giữ được uy thế của đất nước trên chính trường nhờ có một lực lượng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%C3%A2n_%C4%91%E1%BB%99i_Ph%E1%BB%95">Quân đội Phổ</a> tinh nhuệ<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Clark215-122"><sup>[122]</sup></a>. Sau khi ông qua đời vào năm 1786, Nữ hoàng Ekaterina II tiếp tục tiến hành phân chinh Ba Lan thêm hai lần nữa với cháu của ông là vua <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Friedrich_Wilhelm_II_c%E1%BB%A7a_Ph%E1%BB%95">Friedrich Wilhelm II</a> vào các năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1793">1793</a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-ReferenceD-127"><sup>[127]</sup></a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1795">1795</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-130"><sup>[130]</sup></a> Vào năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1799">1799</a>, trước sự trỗi dậy của Pháp, Nga hoàng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Pavel_I_c%E1%BB%A7a_Nga">Pavel I</a> triệu vị <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%C3%AAn_so%C3%A1i">Nguyên soái</a> xuất sắc là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Aleksandr_Vasilyevich_Suvorov">Aleksandr Vasilyevich Suvorov</a> họp binh với nước Áo đánh đuổi quân Pháp tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C3%9D">Ý</a>. Ông quyết định phaỉ giải phong Ý khỏi tay bọn địch, và thoạt đầu ông quét sạch quân Pháp ra khỏi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Milano">Milan</a>. Tiếp theo đó, quân địch cũng sạch bóng tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Torino">Torino</a> trước sức tấn công của Suvorov và ba quân. Khi địch toan cô lập quân Áo tại <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=S%C3%B4ng_Trebbia&amp;action=edit&amp;redlink=1">sông Trebbia</a>, Suvorov kéo đại binh đến đó diệt sạch quân Pháp. Nhưng tiếc thay, tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%A5y_S%C4%A9">Thụy Sĩ</a> liên quân Nga - Áo bị quân Pháp đánh bại, do đó Suvorov phải kéo đại binh tinh nhuệ đến đó để tiêu diệt bọn địch. Quân Pháp ráo riết vây hãm, Suvorov chặn đứng được bước tiến của địch và an toàn rút quân trở về.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-131"><sup>[131]</sup></a> Công cuộc mở mang nước Nga được vua <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Aleksandr_I_c%E1%BB%A7a_Nga">Aleksandr I</a> tiếp tục với việc tranh giành <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BA%A7n_Lan">Phần Lan</a> từ vương quốc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%A5y_%C4%90i%E1%BB%83n">Thụy Điển</a> đang suy yếu năm 1809 và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Bessarabia">Bessarabia</a> từ đế quốc Ottoman năm 1812. Sau một cuộc tranh cãi với Hoàng đế Aleksandr I, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Napol%C3%A9on_Bonaparte">Napoléon</a> đã mắc một sai lầm nghiêm trọng khi ông tuyên chiến với Nga và tiến hành <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_Ph%C3%A1p-Nga_(1812)">cuộc xâm lược Nga</a> năm 1812. Chiến dịch này là một thảm hoạ. Không thể đánh bại các đội quân thường trực của Nga, Napoléon tìm cách buộc hoàng đế Nga đầu hàng bằng cách chiếm Moskva ngay trước mùa đông. Mục đích này không đạt được. Không được chuẩn bị cho cuộc chiến trong giá lạnh mùa đông Nga, hàng nghìn quân Pháp bị các chiến binh du kích Nga phục kích và tiêu diệt. Khi các lực lượng của Napoléon rút lui, quân Nga truy đổi họ tới Trung và Tây Âu và tới các cổng thành <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Paris">Paris</a>. Trong khi năm xưa Nga hoàng <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Aleksei_I_c%E1%BB%A7a_Nga&amp;action=edit&amp;redlink=1">Aleksei I</a> (m. năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1676">1676</a>) rất ít được biết đến tại cung đình <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Versailles">Versailles</a> của vua <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Louis_XIV_c%E1%BB%A7a_Ph%C3%A1p">Louis XIV</a>, thì nay Nga hoàng Aleksandr I đã chiến thắng tiến vào kinh thành Paris.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Darvies649-119"><sup>[119]<br></sup></a><br></div><div><br>Sau khi Nga và các đồng minh đánh bại Napoléon, Aleksandr bắt đầu được biết đến như là 'người cứu vãn châu Âu', và ông là chủ tọa trong việc vẽ lại bản đồ châu Âu tại <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=H%E1%BB%99i_ngh%E1%BB%8B_Vi%C3%AAn&amp;action=edit&amp;redlink=1">Hội nghị Viên</a> (1815), trong đó biến Aleksandr thành vua của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C6%B0%C6%A1ng_qu%E1%BB%91c_L%E1%BA%ADp_hi%E1%BA%BFn_Ba_Lan">Vương quốc Lập hiến Ba Lan</a>. Dù Đế quốc Nga sẽ đóng một vai trò chính trị hàng đầu trong thế kỷ tiếp sau và trở thành một "tên sem đầm của châu Âu" bất khả chiến bại<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Darvies649-119"><sup>[119]</sup></a>, nhờ thắng lợi trước quân Pháp của Napoléon, nó vẫn duy trì chế độ nông nô và không để kinh tế phát triển ở bất kỳ mức độ nào. Khi tốc độ tăng trưởng kinh tế ở Tây Âu gia tăng trong cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A1ch_m%E1%BA%A1ng_c%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p">Cách mạng Công nghiệp</a>, thương mại trên biển và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_th%E1%BB%B1c_d%C3%A2n">việc khai thác các thuộc địa</a> đã bắt đầu ở nửa sau thế kỷ 18, nước Nga bắt đầu tụt lùi xa phía sau, tạo ra các vấn đề mới cho đế chế với tư cách một cường quốc.<br><br></div><div><strong><br>Đế quốc Nga sau cuộc Nổi dậy tháng Chạp (1825–1917)</strong>[<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga&amp;veaction=edit&amp;section=18">sửa</a> | <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga&amp;action=edit&amp;section=18">sửa mã nguồn</a>]</div><div><strong><br>Nikolai I và cuộc Nổi dậy tháng Chạp<br></strong><br>Sức mạnh cường quốc của Nga sút giảm vì tính kém hiệu quả của chính quyền, sự cô lập của dân cư, và sự tụt hậu kinh tế<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-132"><sup>[132]</sup></a>. Sau khi đánh bại quân Napoléon, vua Aleksandr I muốn thảo luận các cuộc cải cách hiến pháp, và dù một ít biện pháp đã được đưa ra, không có thay đổi thật sự nào diễn ra<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-133"><sup>[133]</sup></a>.<br><br></div><div><br>Em trai của Hoàng đế Aleksandr I là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nikolai_I_c%E1%BB%A7a_Nga">Nikolai I</a> (1825–1855) lên nối ngôi anh và ngay từ buổi đầu cầm quyền đã phải đương đầu với một cuộc nổi dậy. Nguyên nhân của cuộc nổi loạn này bắt nguồn từ các cuộc chiến tranh Napoléon, khi một số sĩ quan có học thức của Nga đến châu Âu trong các chiến dịch quân sự, nơi họ học được chủ nghĩa tự do Tây Âu và muốn có sự thay đổi với chế độ chuyên chế Nga. Kết quả là cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=N%E1%BB%95i_d%E1%BA%ADy_th%C3%A1ng_Ch%E1%BA%A1p&amp;action=edit&amp;redlink=1">Nổi dậy tháng Chạp</a> (tháng 12 năm 1825), một nhóm nhỏ quý tộc và sĩ quan quân đội theo đường lối tự do muốn đưa em Nikolai I lên làm một vị hoàng đế lập hiến. Nhưng cuộc nổi dậy đã bị dập tắt dễ dàng, khiến Nikolai I quay lưng lại với chương trình Tây phương hóa đã khởi đầu từ thời vua Pyotr Đại đế và đề cao châm ngôn "<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Chuy%C3%AAn_ch%E1%BA%BF,_Ch%C3%ADnh_Th%E1%BB%91ng_gi%C3%A1o,_v%C3%A0_Qu%E1%BB%91c_gia&amp;action=edit&amp;redlink=1">Chuyên chế, Chính Thống giáo, và Quốc gia</a>."<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-134"><sup>[134]<br></sup></a><br></div><div><br>Những thập kỷ đầu thế kỷ 19, nước Nga mở rộng tới <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_Kavkaz">Nam Kavkaz</a> và các cao nguyên <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=B%E1%BA%AFc_Kavkaz&amp;action=edit&amp;redlink=1">Bắc Kavkaz</a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-135"><sup>[135]</sup></a>. Vào năm 1831, vua Nikolai I dẹp tan cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kh%E1%BB%9Fi_ngh%C4%A9a_th%C3%A1ng_M%C6%B0%E1%BB%9Di_M%E1%BB%99t&amp;action=edit&amp;redlink=1">một cuộc khởi nghĩa lớn</a> tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C6%B0%C6%A1ng_qu%E1%BB%91c_L%E1%BA%ADp_hi%E1%BA%BFn_Ba_Lan">Vương quốc Lập hiến Ba Lan</a>; tiếp sau đó, là một cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%E1%BB%9Fi_ngh%C4%A9a_Th%C3%A1ng_Gi%C3%AAng">khởi nghĩa lớn khác của người Ba Lan và người Litva</a> vào năm 1863, bị vua Aleksandr II tiến hành đàn áp<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-136"><sup>[136]</sup></a>.<br><br></div><div><strong><br>Sự phân chia ý thức hệ và phản ứng<br></strong><br>Trong hoàn cảnh này <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Mikhail_Aleksandrovich_Bakunin&amp;action=edit&amp;redlink=1">Mikhail Aleksandrovich Bakunin</a> xuất hiện như người cha của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_v%C3%B4_ch%C3%ADnh_ph%E1%BB%A7">chủ nghĩa vô chính phủ</a>. Ông đã rời Nga năm 1842 tới Tây Âu, nơi ông hoạt động tích cực trong phong trào xã hội. Sau khi tham gia vào cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kh%E1%BB%9Fi_ngh%C4%A9a_th%C3%A1ng_N%C4%83m_t%E1%BA%A1i_Dresden&amp;action=edit&amp;redlink=1">Khởi nghĩa tháng Năm tại Dresden</a> năm 1849, ông bị bỏ tù và bị đưa tới Siberi, nhưng cuối cùng ông đã trốn thoát và quay trở lại châu Âu. Tại đây ông đã hợp tác cùng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Karl_Marx">Karl Marx</a>, dù có những sự khác biệt lớn trong ý thức hệ và chiến thuật. Các học thuyết xã hội khác cũng được những người Nga cấp tiến đưa ra như <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Aleksandr_Ivanovich_Herzen&amp;action=edit&amp;redlink=1">Aleksandr Ivanovich Herzen</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Pyotr_Alekxeyevich_Kropotkin&amp;action=edit&amp;redlink=1">Pyotr Alekxeyevich Kropotkin</a>.<br><br></div><div><br>Vấn đề phương hướng của nước Nga đã dấy lên thậm chí từ chương trình Tây phương hóa của Pyotr Đại đế. Một số người muốn học tập châu Âu trong khi số khác bác bỏ và kêu gọi một sự quay trở lại với các truyền thống quá khứ. Ý tưởng sau này được những người <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Th%C3%A2n_Slav&amp;action=edit&amp;redlink=1">thân Slav</a> ủng hộ. Những người thân Slav phản đối chủ nghĩa quan liêu, ủng hộ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_t%E1%BA%ADp_th%E1%BB%83">chủ nghĩa tập thể</a> của <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Mir_(x%C3%A3_h%E1%BB%99i)&amp;action=edit&amp;redlink=1"><em>mir</em></a>, hay <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Obshchina&amp;action=edit&amp;redlink=1">cộng đồng làng</a> của Nga thời <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_C%E1%BB%95">Trung cổ</a>, chứ không phải <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_c%C3%A1_nh%C3%A2n">chủ nghĩa cá nhân</a> của phương Tây.<br><br></div><div><strong><br>Aleksandr II và sự xoá bỏ chế độ nông nô</strong>[<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga&amp;veaction=edit&amp;section=21">sửa</a> | <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga&amp;action=edit&amp;section=21">sửa mã nguồn</a>]</div><div><br>Hoàng đế Nikolai I qua đời khi triết lý của ông vẫn còn đang bị tranh cãi. Một năm trước đó, nước Nga đã tham gia vào cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_Krym">Chiến tranh Krym</a>, một cuộc xung đột chủ yếu diễn ra trên <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Krym">bán đảo Krym</a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-137"><sup>[137]</sup></a>. Từ khi đóng một vai trò chính khi đánh bại Napoléon, nước Nga đã được coi là một cường quốc quân sự không thể bị đánh bại, nhưng, khi phải đối đầu với một liên minh các cường quốc châu Âu, những tổn thất họ phải chịu trên đất liền và trên biển đã cho thấy sự tàn tạ và yếu kém của triều đình Nikolai I.<br><br></div><div><br>Khi hoàng đế <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Aleksandr_II_c%E1%BB%A7a_Nga">Aleksandr II</a> lên ngôi năm 1855, ước muốn cải cách đã lan rộng. Một phong trào nhân đạo đang phát triển, ở những năm sau này đã liên kết với phong trào <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_b%C3%A3i_n%C3%B4">bãi nô</a> ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hoa_K%E1%BB%B3">Hoa Kỳ</a> trước cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/N%E1%BB%99i_chi%E1%BA%BFn_Hoa_K%E1%BB%B3">nội chiến nước này</a>, tấn công chế độ nông nô. Năm 1859, có 23 triệu <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/N%C3%B4ng_n%C3%B4">nông nô</a> (tổng dân số Nga khi đó là 67,1 triệu người)<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-138"><sup>[138]</sup></a>, sống trong những điều kiện thường là tồi tệ hơn so với các nông dân <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2y_%C3%82u">Tây Âu</a> tại các <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ch%E1%BA%BF_%C4%91%E1%BB%99_th%C3%A1i_%E1%BA%A5p&amp;action=edit&amp;redlink=1">thái ấp</a> thế kỷ 16. Aleksandr II đã chủ động tiến hành giải phóng <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=N%C3%B4ng_n%C3%B4_Nga&amp;action=edit&amp;redlink=1">nông nô</a> từ những nguyên nhân trên chứ không ngồi đợi nó sẽ bị xóa bỏ thông qua con đường cách mạng.<br><br></div><div><br>Cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=C%E1%BA%A3i_c%C3%A1ch_Gi%E1%BA%A3i_ph%C3%B3ng_n%C4%83m_1861_t%E1%BA%A1i_Nga&amp;action=edit&amp;redlink=1">giải phóng nông nô</a> năm 1861 là sự kiện quan trọng duy nhất trong lịch sử Nga thế kỷ 19. Đó là sự khởi đầu của sự độc quyền quý tộc với đất đai. Cuộc giải phóng đã đưa các lao động tự do tới các thành phố, nền công nghiệp được thúc đẩy, và giới trung lưu bắt đầu tăng về số lượng cũng như tầm ảnh hưởng; tuy nhiên, thay vì được nhận đất đai như một món quà, các nông dân tự do lại phải trả một khoản thuế đặc biệt, được gọi là khoản chuộc, số tiền họ phải trả cho chính quyền trong cả đời, số tiền này sau đó lại được trả cho các lãnh chúa tương đương với giá trị vùng đất họ đã mất. Trong nhiều trường hợp các nông dân phải nhận các vùng đất cằn cỗi nhất. Tất cả đất đai được trao lại cho nông dân thuộc sở hữu tập thể của các <em>mir</em>, cộng đồng làng, cộng đồng này phân chia đất cho các nông dân và quản lý nhiều khu đất cho thuê. Mặc dù chế độ nông nô đã bị xóa bỏ, nhưng sự thực nó được hoàn thành không với mục đích chính là vì nông dân, những căng thẳng cách mạng không giảm bớt, dù vua Aleksandr II đã thực sự lưu tâm.<br><br></div><div><br>Cuối thập niên 1870 Nga và Thổ Nhĩ Kỳ một lần nữa đụng độ với nhau tại Balkan. <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_Nga-Th%E1%BB%95_Nh%C4%A9_K%E1%BB%B3_(1877%E2%80%931878)">Chiến tranh Nga-Thổ</a> là cuộc chiến của nhân dân Nga, những người ủng hộ sự độc lập cho các đồng minh Slav Chính Thống giáo Đông phương: người Serbia và người Bulgaria. Tuy nhiên, cuộc chiến làm gia tăng căng thẳng với đế quốc Áo-Hung, liên minh cũng có tham vọng ở vùng này<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-139"><sup>[139]</sup></a>. Trong giai đoạn này Đế quốc Nga đã mở rộng tới <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_%C3%81">Trung Á</a>, khu vực giàu khoáng sản, chinh phục các <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A3n_qu%E1%BB%91c">hãn quốc</a> <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kokand&amp;action=edit&amp;redlink=1">Kokand</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Bokhara&amp;action=edit&amp;redlink=1">Bokhara</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Khiva">Khiva</a>. cũng như <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Bi%E1%BB%83n_Caspi">Vùng liên Caspi</a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-140"><sup>[140]</sup></a>.<br><br></div><div><strong><br>Chủ nghĩa vô chính phủ</strong>[<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga&amp;veaction=edit&amp;section=22">sửa</a> | <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga&amp;action=edit&amp;section=22">sửa mã nguồn</a>]</div><div><br>Trong thập niên 1860 một phong trào được gọi là <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Phong_tr%C3%A0o_v%C3%B4_ch%C3%ADnh_ph%E1%BB%A7&amp;action=edit&amp;redlink=1">chủ nghĩa Nihil</a> đã phát triển ở Nga. Nó là thuật ngữ lần đầu được <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ivan_Sergeyevich_Turgenev">Ivan Sergeyevich Turgenev</a> đưa ra năm 1862 trong tiểu thuyết <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Cha_v%C3%A0_con"><em>Cha và con</em></a> của ông, những người vô chính phủ ủng hộ việc thủ tiêu các định chế và pháp luật của loài người, dựa trên ý tưởng rằng các định chế và pháp luật đó là giả tạo và sai lạc. Cốt lõi của nó, chủ nghĩa vô chính phủ Nga dựa trên niềm tin cho rằng thế giới thiếu ý nghĩa, sự thực khách quan, hay giá trị có thể lĩnh hội được. Trong một số thời điểm nhiều người Nga theo chủ nghĩa tự do đã bất bình bởi cái họ coi là những cuộc tranh cãi vô bổ của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%E1%BB%9Bi_tr%C3%AD_th%E1%BB%A9c">giới trí thức</a>. Những người vô chính phủ nghi ngờ tất cả các giá trị cũ và làm rung chuyển định chế Nga.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-141"><sup>[141]</sup></a>. Họ chuyển từ triết lý thuần túy sang trở thành một lực lượng chính trị chính sau khi tham gia vào quá trình cải cách. Con đường của họ càng trở nên dễ dàng hơn với các hoạt động của nhóm Cách mạng tháng Chạp, nổi dậy năm 1825, và sự khó khăn về tài chính, chính trị do cuộc Chiến tranh Krym, khiến nhiều người Nga mất lòng tin vào các định chế chính trị.<br><br></div><div><br>Những người vô chính phủ tìm cách tác động vào nông dân. Chiến dịch của họ, tập trung vào người dân thay vì giới quý tộc hay chúa đất, được gọi là phong trào "<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=D%C3%A2n_%C3%BD&amp;action=edit&amp;redlink=1">Dân ý</a>" (<em>Narodnik</em>). Nó dựa trên niềm tin rằng người dân thường (được gọi trong tiếng Nga là narod) có ý chí và khả năng lãnh đạo quốc gia một cách hòa bình<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-CurtisT1-142"><sup>[142]</sup></a>. Trong khi phong trào "Dân ý" đang phát triển, triều đình nhanh chóng tìm cách tiêu diệt nó. Đương đầu với sự trấn áp của triều đình, nhóm cấp tiến của những người "Dân ý" ủng hộ và tiến hành <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_kh%E1%BB%A7ng_b%E1%BB%91">khủng bố</a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-CurtisT-143"><sup>[143]</sup></a>. Người nọ tiếp người kia, các quan đại thần bị bắn hay bị đặt bom giết chết, bản thân nhà vua cũng từng bị mưu sát vài lần.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-thisday-144"><sup>[144]</sup></a> Điều này thể hiện sự phát triển của <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_v%C3%B4_ch%C3%ADnh_ph%E1%BB%A7_Nga&amp;action=edit&amp;redlink=1">chủ nghĩa vô chính phủ Nga</a> như một lực lượng cách mạng hùng mạnh. Cuối cùng, sau nhiều nỗ lực, hoàng đế Aleksandr II bị những người vô chính phủ ám sát bằng bom vào ngày <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/13_th%C3%A1ng_3">13 tháng 3</a> năm 1881, trên đường phố Sankt-Peterburg. Trớ trêu thay, trong ngay hôm ấy, ông đã phê duyệt một bản Tuyên cáo—còn gọi là Hiến pháp Loris-Melikov—theo đó thành lập hai ủy ban lập pháp, gồm những đại biểu được gián tiếp bầu chọn.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-thisday-144"><sup>[144]<br></sup></a><br></div><div><strong><br>Sự chuyên quyền và bảo thủ dưới triều Aleksandr III</strong>[<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga&amp;veaction=edit&amp;section=23">sửa</a> | <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga&amp;action=edit&amp;section=23">sửa mã nguồn</a>]</div><div><br>Khác với vua cha, tân hoàng đế <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Aleksandr_III_c%E1%BB%A7a_Nga">Aleksandr III</a> (1881–1894) trong suốt thời gian cầm quyền của mình đã khôi phục lại châm ngôn "<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ch%C3%ADnh_Th%E1%BB%91ng_gi%C3%A1o,_Chuy%C3%AAn_ch%E1%BA%BF,_v%C3%A0_D%C3%A2n_t%E1%BB%99c&amp;action=edit&amp;redlink=1">Chính Thống giáo, Chuyên chế, và Dân tộc</a>"<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-145"><sup>[145]</sup></a>. Là một người thân Slav rõ rệt, Aleksandr III tin rằng Nga có thể thoát khỏi hỗn loạn chỉ bằng cách cắt bỏ mọi ảnh hưởng mang tính phá hoại của Tây Âu. Trong thời gian cầm quyền của ông nước Nga đã ký <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Li%C3%AAn_minh_Ph%C3%A1p-Nga">liên minh với Cộng hoà Pháp</a> để kiềm chế <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_%C4%90%E1%BB%A9c">đế chế Đức</a> đang trỗi dậy, hoàn thành cuộc chinh phục <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_%C3%81">Trung Á</a>, và yêu cầu những nhượng bộ quan trọng về lãnh thổ và thương mại từ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_Qu%E1%BB%91c">Trung Quốc</a>.<br>Cố vấn quan trọng nhất của hoàng đế Nga là <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Konstantin_Petrovich_Pobedonostsev&amp;action=edit&amp;redlink=1">Konstantin Petrovich Pobedonostsev</a>, thầy dạy của Aleksandr III và con trai ông là Nikolai, và là người đại diện của Hội đồng tôn giáo thần thánh từ năm 1880 tới năm 1895. Ông dạy các học trò hoàng gia của mình sự e ngại tự do ngôn luận và báo chí và ghét bỏ dân chủ, hiến pháp cũng như hệ thống nghị viện<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-146"><sup>[146]</sup></a>. Dưới tay Pobedonostsev, các cuộc cách mạng bị tiêu diệt<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-147"><sup>[147]</sup></a> và một chính sách <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Nga_h%C3%B3a&amp;action=edit&amp;redlink=1">Nga hóa</a> được tiến hành trên khắp đế quốc<br><strong><br>Nikolai II và một phong trào cách mạng mới<br></strong>Con trai của vua Aleksandr III là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nikolai_II_c%E1%BB%A7a_Nga">Nikolai II</a> (1868–1918) lên nối ngôi năm 1894. Ông la vị Sa hoàng cuối cùng trong lịch sử nước Nga.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-149"><sup>[149]</sup></a> Cuộc cách mạng Công nghiệp, bắt đầu gây ảnh hưởng lớn tới nước Nga, tuy nhiên nó cũng tạo ra các lực lượng cuối cùng sẽ lật đổ Hoàng đế. Về mặt chính trị, các lực lượng đối lập đó được tổ chức thành ba đảng cạnh tranh lẫn nhau: Các nhóm tự do gồm các nhà tư bản công nghiệp và quý tộc, những người tin vào sự cải cách xã hội một cách hoà bình và một chế độ quân chủ lập hiến, đã thành lập <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90%E1%BA%A3ng_D%C3%A2n_ch%E1%BB%A7_Hi%E1%BA%BFn_ph%C3%A1p&amp;action=edit&amp;redlink=1">Đảng Dân chủ Hiến pháp</a> hay <em>Kadets</em> năm 1905<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-150"><sup>[150]</sup></a>. Những người theo phong trào "Dân ý" thành lập <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90%E1%BA%A3ng_X%C3%A3_h%E1%BB%99i_C%C3%A1ch_m%E1%BA%A1ng_Nga&amp;action=edit&amp;redlink=1">Đảng Xã hội Cách mạng Nga</a> hay <em>Esers</em> năm 1901, ủng hộ việc phân chia đất đai cho nông dân<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-151"><sup>[151]</sup></a>. Một nhóm thứ ba và có tính chất cấp tiến hơn lập ra <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A3ng_Lao_%C4%91%E1%BB%99ng_D%C3%A2n_ch%E1%BB%A7_X%C3%A3_h%E1%BB%99i_Nga">Đảng Lao động Dân chủ Xã hội Nga</a> hay <em>RDSLP</em> năm 1898; đảng này là thành phần chủ yếu của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_Marx">Chủ nghĩa Mác</a> tại Nga.<br>Năm 1903 RDSLP phân chia thành hai phái: những người <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Bolshevik">Bolshevik</a> cấp tiến, do Lenin lãnh đạo, và phái ôn hoà hơn <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Menshevik">Menshevik</a>, do một người bạn trước đây của Lenin là Yuli Martov (Yuli Osipovich Zederbaum) lãnh đạo<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-152"><sup>[152]</sup></a>. Những người Menshevik tin rằng chủ nghĩa xã hội Nga sẽ dần phát triển một cách hoà bình và rằng chế độ Sa hoàng sẽ được kế tục bởi một nền cộng hoà dân chủ. Những người Bolshevik, dưới sự lãnh đạo của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vladimir_Ilyich_Lenin">Vladimir Ilyich Lenin</a>, ủng hộ việc thành lập một nhóm nhỏ các nhà cách mạng chuyên nghiệp, tuân thủ triệt để kỷ luật đảng, để trở thành đội tiên phong của giai cấp vô sản nhằm chiếm chính quyền bằng vũ lực.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-153"><sup>[153]<br></sup></a><br></div><div>Xem thêm: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BA%A3i_chi%E1%BA%BFn_%C4%90%E1%BB%91i_M%C3%A3">Hải chiến Đối Mã</a></div><div><br>Trong cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_Nga-Nh%E1%BA%ADt">Chiến tranh Nga-Nhật</a> (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1904">1904</a> - <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1905">1905</a>), quân <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n">Nhật</a> đánh tan tác Quân đội Nga hoàng trên cả bộ lẫn thủy. Chiến thắng của quân Nhật trong cuộc chiến tranh này gây tiếng vang lớn, và trở thành một trong những thảm họa lớn mà châu Âu từng gặp phải.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-154"><sup>[154]</sup></a> Khả năng tác chiến tồi tệ của Quân đội Nga hoàng trong cuộc Chiến tranh Nga-Nhật là một cú đấm quyết định với quốc gia Nga và gia tăng tiềm năng cho sự náo loạn<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-CurtisAut1-155"><sup>[155]</sup></a> Tháng 1 năm 1905, một vụ việc được gọi là "<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ch%E1%BB%A7_nh%E1%BA%ADt_%C4%91%E1%BA%ABm_m%C3%A1u_(1905)&amp;action=edit&amp;redlink=1">Chủ nhật đẫm máu</a>" xảy ra khi <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Cha_Gapon&amp;action=edit&amp;redlink=1">Cha Gapon</a> dẫn đầu một đám đông người tới <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Cung_%C4%91i%E1%BB%87n_M%C3%B9a_%C4%91%C3%B4ng">Cung điện Mùa Đông</a> tại kinh thành <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Sankt-Peterburg">Sankt Peterburg</a> để đệ trình một yêu sách tới hoàng đế. Khi đám người tới cung điện, lính Cossack nổ súng vào họ, giết hại hàng trăm người<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-CurtisAut-156"><sup>[156]</sup></a>. Dân chúng Nga xúc động mạnh trước cuộc thảm sát tới mức thực hiện tổng đình công. Sự kiện này đánh dấu sự khởi đầu của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A1ch_m%E1%BA%A1ng_Nga_(1905)">Cách mạng Nga 1905</a>. Các <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/X%C3%B4_vi%E1%BA%BFt">Xô viết</a> xuất hiện ở hầu hết các thành phố.<br><br></div><div><br>Tháng 10 năm 1905, Nikolai chần chừ trong việc đưa ra <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=B%E1%BA%A3n_tuy%C3%AAn_ng%C3%B4n_Th%C3%A1ng_M%C6%B0%E1%BB%9Di&amp;action=edit&amp;redlink=1">Bản tuyên ngôn Tháng Mười</a> nổi tiếng, dẫn tới sự thành lập ngay lập tức một Duma quốc gia (lập pháp)<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-CurtisAut-156"><sup>[156]</sup></a>. Quyền bỏ phiếu được mở rộng<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-duma-157"><sup>[157]</sup></a>, và không điều luật nào có hiệu lực khi chưa có sự phê chuẩn của Duma<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-duma-157"><sup>[157]</sup></a>. Các nhóm ôn hoà tỏ ra hài lòng<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-CurtisAut-156"><sup>[156]</sup></a>; nhưng những người theo chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa xã hội cho rằng chúng còn chưa đủ và muốn có những cải cách lớn hơn nữa<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-duma-157"><sup>[157]</sup></a>. Tới cuối năm 1905, Nga hoàng giải tán Duma<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-duma-157"><sup>[157]</sup></a>.<br><br></div><div><strong><br>Cách mạng Nga</strong>[<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga&amp;veaction=edit&amp;section=25">sửa</a> | <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga&amp;action=edit&amp;section=25">sửa mã nguồn</a>]</div><div>Bài chi tiết: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A1ch_m%E1%BA%A1ng_Nga_1917">Cách mạng Nga 1917</a></div><div><br>Bị ràng buộc bởi hiệp ước, hoàng đế Nikolai II và thần dân của mình bước vào <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_th%E1%BA%BF_gi%E1%BB%9Bi_th%E1%BB%A9_nh%E1%BA%A5t">Chiến tranh thế giới thứ nhất</a> để bảo vệ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Serbia">Serbia</a>. Khi những sự việc thù địch bắt đầu diễn ra tháng 8 năm 1914, nước Nga chống lại cả <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%A9c">Đức</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_%C3%81o-Hung">đế quốc Áo-Hung</a> để hỗ trợ đồng minh Pháp<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-158"><sup>[158]</sup></a>.<br><br></div><div><br>Sau này, các thất bại quân sự và sự kém hiệu quả của cơ chế quan liêu nhanh chóng biến nhiều thành phần dân chúng quay sang chống lại chính phủ<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-CurtisAut-156"><sup>[156]</sup></a>. Việc hạm đội Đức kiểm soát biển Baltic và các lực lượng hỗn hợp Đức-Ottoman kiểm soát biển Đen khiến Nga không thể nhập khẩu các nguồn nguyên liệu và xuất khẩu hàng hóa<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-CurtisAut-156"><sup>[156]</sup></a>.<br><br></div><div><br>Tới giữa năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1915">1915</a> hậu quả của cuộc chiến tranh đã làm nản lòng dân chúng. Lương thực và nhiên liệu thiếu hụt, thương vong tiếp tục tăng cao, và lạm phát nhảy vọt<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-economy-159"><sup>[159]</sup></a>. Những cuộc đình công liên tục diễn ra trong giới thợ thuyền xí nghiệp được trả lương thấp và nông dân, những người mong muốn cải cách ruộng đất<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-economy-159"><sup>[159]</sup></a>. Trong lúc ấy, sự mất lòng tin vào chế độ càng trở nên sâu sắc bởi các báo cáo rằng một người bán-học thức thần bí, cha bề trên <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Grigori_Yefimovich_Rasputin">Grigori Efimovich Rasputin</a>, có ảnh hưởng chính trị lớn bên trong triều đình. Vụ ám sát ông vào cuối năm 1916 đã làm chấm dứt vụ việc nhưng không vãn hồi được hình ảnh của chế độ chuyên chế<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-CurtisAut-156"><sup>[156]</sup></a>.<br><br></div><div><br>Ngày <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/3_th%C3%A1ng_3">3 tháng 3</a> năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1917">1917</a>, một cuộc đình công diễn ra trong một nhà máy tại kinh đô <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Sankt-Peterburg">Petrograd</a> (trước kia là Sankt Peterburg). Vào ngày <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/23_th%C3%A1ng_2">23 tháng 2</a> (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/8_th%C3%A1ng_3">8 tháng 3</a> theo lịch Gregory) năm 1917, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C3%A0y_Qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF_Ph%E1%BB%A5_n%E1%BB%AF">Ngày Quốc tế Phụ nữ</a>, hàng nghìn thợ dệt nữ ở Petrograd tuần hành bên ngoài nhà máy phản đối sự thiếu hụt lương thực và kêu gọi những người thợ khác cùng gia nhập. Trong nhiều ngày, gần như toàn bộ công nhân ở thành phố đều nghỉ việc. Khi hoàng đế ra lệnh cho Duma giải tán, ra lệnh cho công nhân đình công trở lại làm việc, và ra lệnh cho quân đội bắn vào người biểu tình trên phố, các mệnh lệnh của ông đã dẫn tới cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A1ch_m%E1%BA%A1ng_Th%C3%A1ng_Hai">Cách mạng Tháng Hai</a>. Ngày <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/2_th%C3%A1ng_3">2 tháng 3</a> (15 tháng 3), Nikolai II thoái vị. Để lấp khoảng trống quyền lực, Duma tuyên bố thành lập một <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%ADnh_ph%E1%BB%A7_L%C3%A2m_th%E1%BB%9Di_Nga">Chính phủ Lâm thời</a>, do <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Georgy_Evgenyevich_Lvov&amp;action=edit&amp;redlink=1">công tước Lvov</a> lãnh đạo<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-HistoryC-160"><sup>[160]</sup></a>. Trong lúc ấy, những người theo chủ nghĩa xã hội tại Petrograd đã tổ chức bầu cử trong công nhân và binh sĩ để lập ra một Xô viết (hội đồng) của các đại biểu công nhân và binh sĩ, như một tổ chức quyền lực nhân dân có thể gây áp lực lên Chính phủ Lâm thời của giai cấp tư sản<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-HistoryC-160"><sup>[160]</sup></a>.<br><br></div><div><br>Tháng 7, sau một loạt vụ khủng hoảng khiến Chính phủ Lâm thời mất uy tín với nhân dân, lãnh đạo chính phủ từ chức và được kế tục bởi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Aleksandr_Fyodorovich_Kerenskii">Aleksandr Kerensky</a>, người có tư tưởng cấp tiến hơn người tiền nhiệm. Khi chính phủ của Kerensky còn chưa đạt tiến bộ gì, Xô viết do những người theo chủ nghĩa xã hội lãnh đạo tại Petrograd đã gia nhập cùng các Xô viết được thành lập nên trên khắp đất nước để tạo ra một phong trào quốc gia.<br><br></div><div><br>V. I. Lenin từ nơi bị trục xuất, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%A5y_S%C4%A9">Thụy Sĩ</a>, quay trở về nước Nga. Có người cho rằng sự nghiệp cách mạng của ông đã nhận được sự giúp đỡ về tài chính từ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_%C4%90%E1%BB%A9c">đế chế Đức</a>. Họ cho rằng Lenin đã nhận được tiền bạc từ tay một nhà tư sản Đức tên là Parvus. Tuy nhiên, nghiên cứu của nhà sử học nổi tiếng người Nga Vladlen Loginov không có những tình tiết này, ông từng nói "Cách mạng cần được thực hiện bằng những bàn tay trong sạch".<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-161"><sup>[161]</sup></a> Các Xô viết nắm quyền kiểm soát chính phủ tháng 11 năm 1917, và lật đổ Kerensky cùng Chính phủ Lâm thời lâm thời của ông, trong những sự kiện sẽ được gọi là cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A1ch_m%E1%BA%A1ng_Th%C3%A1ng_M%C6%B0%E1%BB%9Di">Cách mạng Tháng Mười</a>.<br><br></div><div><br>Khi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BB%91c_h%E1%BB%99i_L%E1%BA%ADp_hi%E1%BA%BFn_Nga">Quốc hội Lập hiến Nga</a>, được bầu tháng 12 năm 1917 và nhóm họp tháng 1 năm 1918, nhưng ngay sau đó bị những người Bolshevik giải tán<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-162"><sup>[162]</sup></a>. Phe Bolshevik triệu tập <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%99i_X%C3%B4_vi%E1%BA%BFt_to%C3%A0n_Nga">Đại hội Xô viết toàn Nga</a> để thay thế Quốc hội Lập hiến Nga trong đó người Bolshevik chiếm ưu thế. Khi phe đối lập đã bị loại trừ, Lenin đã có thể rút chế độ của mình khỏi Chiến tranh thế giới thứ nhất theo <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hi%E1%BB%87p_%C6%B0%E1%BB%9Bc_Brest-Litovsk">Hiệp ước Brest-Litovsk</a> (1918) ký kết với Đức, theo đó Nga mất các lãnh thổ Phần Lan, Estonia, Litva, Ba Lan, các phần lãnh thổ của Latvia và Belarus (đường Riga-Dvinsk-Druia-Drisvyaty-Mikhalishki-Dzevalishki-Dokudova-sông Neman-sông Yelvyanka-Pruzhany-Vidoml), và các lãnh thổ đã chiếm được từ Đế quốc Ottoman trong Chiến tranh thế giới thứ nhất<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-163"><sup>[163]</sup></a>. Ngày 13 tháng 11 năm 1918, chính phủ Xô viết xé bỏ Hiệp ước Brest<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-164"><sup>[164]</sup></a>.<br><br></div><div><strong><br>Nội chiến Nga</strong>[<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga&amp;veaction=edit&amp;section=26">sửa</a> | <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga&amp;action=edit&amp;section=26">sửa mã nguồn</a>]</div><div>Bài chi tiết: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/N%E1%BB%99i_chi%E1%BA%BFn_Nga">Nội chiến Nga</a></div><div><br>Phe Bolshevik nắm được quyền lực nhưng còn chưa vững chắc và một cuộc tranh giành kéo dài nổ ra giữa chế độ mới và các đối thủ, gồm cả phe Cách mạng Xã hội chủ nghĩa. "Bạch vệ" cánh hữu và một số lượng lớn nông dân. Cùng thời điểm ấy <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90%E1%BB%93ng_minh_can_thi%E1%BB%87p_v%C3%A0o_Nga&amp;action=edit&amp;redlink=1">Các cường quốc đồng minh gửi nhiều đội quân viễn chinh</a> tới hỗ trợ các lực lượng chống cộng trong một nỗ lực buộc nước Nga phải tái tham gia cuộc chiến tranh thế giới. Những người Bolshevik đã chiến đấu chống lại các lực lượng đó và chống lại các phong trào độc lập quốc gia cũ của Đế quốc Nga. Tới năm 1921, họ đã đánh bại các kẻ thù bên trong và đưa hầu hết các quốc gia mới độc lập vào vòng kiểm soát, ngoại trừ Phần Lan, các quốc gia vùng Baltic, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=C%E1%BB%99ng_ho%C3%A0_D%C3%A2n_ch%E1%BB%A7_Moldavia&amp;action=edit&amp;redlink=1">Cộng hoà Dân chủ Moldavia</a> (đã gia nhập <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Rom%C3%A2nia">România</a>) và Ba Lan (là nước tham gia <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_Nga-Ba_Lan_(1919-1921)">Chiến tranh Ba Lan-Xô viết</a> với họ)<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-165"><sup>[165]</sup></a>. Phần Lan cũng sáp nhập <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=V%C3%B9ng_Pechenga&amp;action=edit&amp;redlink=1">vùng Pechenga</a> của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A1n_%C4%91%E1%BA%A3o_Kola">bán đảo Kola</a> Nga, Romania sáp nhập <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=B%E1%BA%AFc_Bukovina&amp;action=edit&amp;redlink=1">Bắc Bukovina</a>; nước Nga Xô viết và các nước cộng hoà Xô viết đồng minh trả một số phần lãnh thổ cho Estonia (<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Pechory&amp;action=edit&amp;redlink=1">Pechory</a> và hữu ngạn Narva), Latvia (<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Pytalovo&amp;action=edit&amp;redlink=1">Pytalovo</a>) và Thổ Nhĩ Kỳ (<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kars,_Th%E1%BB%95_Nh%C4%A9_K%E1%BB%B3&amp;action=edit&amp;redlink=1">Kars</a>). Ba Lan sáp nhập lãnh thổ tranh chấp <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=T%C3%A2y_Belarus&amp;action=edit&amp;redlink=1">Tây Belarus</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2y_Ukraina">Tây Ukraina</a>, những vùng cũ của Đế quốc Nga (ngoại trừ <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Galicia_(Trung_%C3%82u)&amp;action=edit&amp;redlink=1">Galicia</a>) phía đông <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90%C6%B0%E1%BB%9Dng_Curzon&amp;action=edit&amp;redlink=1">Đường Curzon</a>.<br><br>Liên bang Xô viết<br><strong><br>Sự thành lập Liên bang Xô viết</strong>[<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga&amp;veaction=edit&amp;section=28">sửa</a> | <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga&amp;action=edit&amp;section=28">sửa mã nguồn</a>]</div><div><br>Lịch sử Nga trong giai đoạn từ 1922 tới 1991 chủ yếu là lịch sử <em>Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết</em>, gọi tắt là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Li%C3%AAn_X%C3%B4"><em>Liên bang Xô viết</em></a>. Liên bang dựa trên ý thức hệ này, được các lãnh đạo Đảng Cộng sản Nga thành lập tháng 12 năm 1922<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-166"><sup>[166]</sup></a>, chủ yếu gồm các nước giáp với Nga trước <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hi%E1%BB%87p_%C6%B0%E1%BB%9Bc_Brest-Litovsk">Hiệp ước Brest-Litovsk</a>. Ở thời gian đó, quốc gia mới này gồm bốn nước cộng hoà có chủ quyền: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a_X%C3%A3_h%E1%BB%99i_ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_X%C3%B4_vi%E1%BA%BFt_Li%C3%AAn_bang_Nga">Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Nga</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a_X%C3%A3_h%E1%BB%99i_ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_X%C3%B4_vi%E1%BA%BFt_Ukraina">Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Ukraina</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=C%E1%BB%99ng_ho%C3%A0_X%C3%A3_h%E1%BB%99i_ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_Belarus&amp;action=edit&amp;redlink=1">Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Belarus</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a_X%C3%A3_h%E1%BB%99i_ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_X%C3%B4_vi%E1%BA%BFt_Li%C3%AAn_bang_Ngo%E1%BA%A1i_Kavkaz">Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Ngoại Kavkaz</a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-167"><sup>[167]<br></sup></a><br></div><div><br>Hiến pháp, được thông qua năm 1924, tạo lập một hệ thống chính phủ liên bang dựa trên một sự kế tục các Xô viết được thành lập tại các làng, các nhà máy, các thành phố tại các vùng lớn. Kim tự tháp các Xô viết này ở mỗi nước cộng hòa có chủ quyền này lên tới đỉnh tại Hội đồng các Xô viết toàn Liên bang. Nhưng tuy vẻ ngoài rằng Hội đồng có quyền tối cao, cơ cấu này thực tế bị Đảng Cộng sản chi phối, và Đảng Cộng sản lại bị kiểm soát bởi <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=B%E1%BB%99_ch%C3%ADnh_tr%E1%BB%8B_Trung_%C6%B0%C6%A1ng_%C4%90%E1%BA%A3ng_C%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n_Li%C3%AAn_X%C3%B4&amp;action=edit&amp;redlink=1">Bộ chính trị</a> từ Moskva, thủ đô Liên bang Xô viết, giống như dưới chế độ các Sa hoàng trước thời Pyotr Đại đế.<br><br></div><div><strong><br>Cộng sản thời chiến và Chính sách Kinh tế Mới</strong>[<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga&amp;veaction=edit&amp;section=29">sửa</a> | <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga&amp;action=edit&amp;section=29">sửa mã nguồn</a>]</div><div><br>Giai đoạn từ khi củng cố Cách mạng Bolshevik năm 1917 tới năm 1921 được gọi là giai đoạn <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n_th%E1%BB%9Di_chi%E1%BA%BFn">cộng sản thời chiến</a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Richman-168"><sup>[168]</sup></a>. Ruộng đất, toàn bộ ngành công nghiệp và doanh nghiệp nhỏ đều bị <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Qu%E1%BB%91c_h%E1%BB%AFu_ho%C3%A1&amp;action=edit&amp;redlink=1">quốc hữu hoá</a> và nền kinh tế tiền tệ bị hạn chế. Sự đối lập mạnh nhanh chóng phát triển<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Richman-168"><sup>[168]</sup></a>. Nông dân muốn được trả bằng tiền mặt cho các sản phẩm của mình và bực tức vì phải nộp thặng dư mùa màng cho chính phủ như một phần chính sách nội chiến. Đối đầu với sự phản đối của nông dân, Lenin bắt đầu chiến lược rút lui khỏi cộng sản thời chiến được gọi là <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ch%C3%ADnh_s%C3%A1ch_Kinh_t%E1%BA%BF_M%E1%BB%9Bi&amp;action=edit&amp;redlink=1">Chính sách Kinh tế Mới</a> (NEP)<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Richman-168"><sup>[168]</sup></a>. Nông dân được miễn thuế bán buôn và được phép bán lương thực thặng dư ra thị trường tự do. Thương mại phát triển khi bán lẻ tư nhân được hoạt động. Nhà nước tiếp tục nắm ngân hàng, vận tải, công nghiệp nặng và các ngành công cộng.<br><br></div><div><br>Dù phái đối lập cánh tả bên trong những người Cộng sản chỉ trích những nông dân giàu có hay <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kulak">kulak</a> hưởng lợi từ Chính sách Kinh tế Mới, chương trình này đã chứng tỏ hiệu quả lớn và nền kinh tế đã được phục hồi<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Richman-168"><sup>[168]</sup></a>. Sau này Chính sách Kinh tế Mới ngày càng bị chỉ trích từ bên trong đảng sau khi lãnh tụ Lenin qua đời đầu năm 1924<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Richman-168"><sup>[168]</sup></a>.<br><br></div><div><strong><br>Những thay đổi trong xã hội Nga</strong>[<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga&amp;veaction=edit&amp;section=30">sửa</a> | <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga&amp;action=edit&amp;section=30">sửa mã nguồn</a>]</div><div><br>Trong khi nền kinh tế đang chuyển đổi, đời sống xã hội của nhân dân đã trải qua những thay đổi lớn. <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ly_h%C3%B4n">Ly hôn</a> không cần trải qua thủ tục toà án<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-pushkareva-169"><sup>[169]</sup></a> và phụ nữ hoàn toàn tự do quyết định việc sinh con, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/N%E1%BA%A1o_ph%C3%A1_thai">phá thai</a> được hợp pháp hoá ngay từ năm 1920<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-170"><sup>[170]</sup></a>. Như một hiệu ứng phụ, sự giải phóng phụ nữ làm tăng thị trường lao động. Các cô gái được khuyến khích học hành và làm việc trong nhà máy cũng như văn phòng. Các cơ sở giữ trẻ công được lập ra để chăm sóc trẻ em và các nỗ lực đã được tiến hành nằm chuyển trung tâm cuộc sống xã hội của người dân từ trong nhà tới các nhóm giáo dục và giải trí, câu lạc bộ Xô viết.<br><br></div><div><br>Chế độ mới loại bỏ chính sách <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%A2n_bi%E1%BB%87t_%C4%91%E1%BB%91i_x%E1%BB%AD">phân biệt đối xử</a> chống các cộng đồng <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Thi%E1%BB%83u_s%E1%BB%91&amp;action=edit&amp;redlink=1">thiểu số</a> thời Sa hoàng. Một đặc điểm khác của chế độ là sự mở rộng các dịch vụ y tế. Các chiến dịch được tiến hành chống <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/S%E1%BB%91t_ph%C3%A1t_ban">sốt phát ban</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BB%87nh_t%E1%BA%A3">dịch tả</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/S%E1%BB%91t_r%C3%A9t">sốt rét</a>; số lượng bác sĩ tăng lên nhanh chóng khi các cơ sở đào tạo được lập ra; và tỷ lệ <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=T%E1%BB%AD_vong_tr%E1%BA%BB_em&amp;action=edit&amp;redlink=1">tử vong trẻ em</a> giảm nhanh trong khi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tu%E1%BB%95i_th%E1%BB%8D">tuổi thọ</a> tăng nhanh<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-171"><sup>[171]</sup></a>.<br><br></div><div><br>Chính phủ cũng khuyến khích <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_v%C3%B4_th%E1%BA%A7n">chủ nghĩa vô thần</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_duy_v%E1%BA%ADt">chủ nghĩa duy vật</a>, là các cơ sở của học thuyết Mác. Chính phủ tước bỏ quyền lực của Giáo hội Chính Thống giáo Nga. Nhiều lãnh đạo tôn giáo bị trục xuất tới các trại tập trung<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Pospielovsky-172"><sup>[172]</sup></a>. Các thành viên của đảng bị cấm tham gia các hoạt động tôn giáo và hệ thống giáo dục được tách biệt khỏi Giáo hội<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Pospielovsky-172"><sup>[172]</sup></a>. Việc giảng dạy tôn giáo bị cấm ngoại trừ trong gia đình và giáo dục vô thần được tăng cường trong các trường học.<br><br></div><div><strong><br>Công nghiệp hoá và Tập thể hoá</strong>[<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga&amp;veaction=edit&amp;section=31">sửa</a> | <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga&amp;action=edit&amp;section=31">sửa mã nguồn</a>]</div><div>Xem thêm thông tin: <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=T%E1%BA%ADp_th%E1%BB%83_ho%C3%A1_t%E1%BA%A1i_Li%C3%AAn_X%C3%B4&amp;action=edit&amp;redlink=1">Tập thể hoá tại Liên Xô</a></div><div><br>Những năm từ 1929 tới 1939 là một thập kỷ đầy náo động trong lịch sử Nga - một giai đoạn công nghiệp hoá trên diện rộng và các cuộc đấu tranh nội bộ khi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Iosif_Vissarionovich_Stalin">Iosif Vissarionovich Stalin</a> thiết lập quyền cai trị gần như tuyệt đối với xã hội Nga. Sau khi Lenin qua đời, Stalin chiến đấu giành quyền kiểm soát Liên bang Xô viết với các phe phái đối thủ bên trong Bộ chính trị, đặc biệt là phe của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Lev_Davidovich_Trotsky">Leon Davidovich Trotsky</a>. Tới năm 1928, khi những người theo <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_Trotsky">chủ nghĩa Trotsky</a> hoặc đã bị lưu đày hoặc đã mất quyền lực, Stalin đã sẵn sàng đưa ra một chương trình cực đoan đưa quá trình công nghiệp hoá vào thực hiện<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Deutscher-173"><sup>[173]</sup></a>.<br><br></div><div><br>Năm 1928 Stalin đề xuất <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=K%E1%BA%BF_ho%E1%BA%A1ch_n%C4%83m_n%C4%83m_l%E1%BA%A7n_th%E1%BB%A9_nh%E1%BA%A5t&amp;action=edit&amp;redlink=1">Kế hoạch năm năm lần thứ nhất</a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Richman-168"><sup>[168]</sup></a>. Bãi bỏ NEP, đây là kế hoạch đầu tiên trong những kế hoạch có mục tiêu thâu tóm các nguồn tài nguyên tư bản thông qua việc xây dựng nền công nghiệp nặng, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=T%E1%BA%ADp_th%E1%BB%83_ho%C3%A1_t%E1%BA%A1i_Li%C3%AAn_bang_X%C3%B4_vi%E1%BA%BFt&amp;action=edit&amp;redlink=1">tập thể hoá nông nghiệp</a>, và hạn chế chế tạo <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=H%C3%A0ng_ti%C3%AAu_d%C3%B9ng_t%E1%BA%A1i_Li%C3%AAn_bang_X%C3%B4_vi%E1%BA%BFt&amp;action=edit&amp;redlink=1">hàng tiêu dùng</a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Richman-168"><sup>[168]</sup></a>. Lần đầu tiên trong lịch sử một chính phủ kiểm soát toàn bộ hoạt động kinh tế.<br><br></div><div><br>Như một phần của kế hoạch, chính phủ nắm quyền kiểm soát nông nghiệp thông qua các nông trang nhà nước và tập thể (các <em>kolkhoz</em>)<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-conquest-coll-174"><sup>[174]</sup></a>. Theo một nghị định tháng 2 năm 1930, khoảng một triệu nông dân cá thể (<em>kulak</em>) bị buộc rời bỏ ruộng đất. Nhiều nông dân phản đối mãnh liệt sự tổ chức này của nhà nước, thường giết bỏ toàn bộ gia súc khi phải đối mặt với nguy cơ mất đất đai. Một số khi họ nổi loạn, và rất nhiều nông dân bị chính quyền coi là "kulak" bị hành quyết<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-175"><sup>[175]</sup></a>. Thời tiết xấu cộng thêm sự kém hiệu quả của các nông trang tập thể được lập ra vội vã và sự sung công sản phẩm nông nghiệp hàng loạt đã dẫn tới một nạn đói nghiêm trọng<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-conquest-coll-174"><sup>[174]</sup></a>, nhiều triệu nông dân <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=N%E1%BA%A1n_%C4%91%C3%B3i_X%C3%B4_vi%E1%BA%BFt_1932-1934&amp;action=edit&amp;redlink=1">chết đói</a>, chủ yếu tại Ukraina và nhiều vùng tây nam nước Nga<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-conquest-coll-174"><sup>[174]</sup></a>. Các điều kiện khó khăn ở vùng nông thôn đã khiến hàng triệu nông dân tuyệt vọng kéo vào các thành phố đang phát triển nhanh chóng, cung cấp nhân lực cho công cuộc công nghiệp hoá và làm tăng nhanh số dân thành thị Nga chỉ trong vài năm.<br><br></div><div><br>Trừ nông nghiệp, các kế hoạch khác đều đạt những thành công lớn. Nước Nga, ở nhiều khía cạnh là nước nghèo nhất châu Âu thời Cách mạng Bolshevik, khi ấy đã được công nghiệp hoá ở mức độ chưa từng có, lấp đầy khoảng cách với công nghiệp Đức trong thế kỷ 19 và Nhật Bản đầu thế kỷ 20.<br><br></div><div><br>Trong khi các Kế hoạch năm năm được đưa ra, Stalin tiếp tục củng cố quyền lực cá nhân của mình. <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=B%E1%BB%99_d%C3%A2n_u%E1%BB%B7_n%E1%BB%99i_v%E1%BB%A5&amp;action=edit&amp;redlink=1">Bộ dân uỷ nội vụ</a> (NKVD) khiến hàng chục ngàn công dân Xô viết phải đối mặt với nguy cơ bị bắt giữ, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Di_chuy%E1%BB%83n_d%C3%A2n_c%C6%B0_t%E1%BA%A1i_Li%C3%AAn_bang_X%C3%B4_vi%E1%BA%BFt&amp;action=edit&amp;redlink=1">trục xuất</a>, hay hành quyết. Trong số sáu thành viên cũ của Bộ chính trị năm 1920 sau Lenin, tất cả đều bị Stalin thanh trừng. Những người Bolshevik cũ từng là các đồng chí trung thành của Lenin, các sĩ quan cao cấp trong Hồng quân và lãnh đạo các ngành công nghiệp đều bị xử lý trong cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_thanh_tr%E1%BB%ABng">Đại thanh trừng</a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-conquest-terror-176"><sup>[176]</sup></a>. Các cuộc thanh trừng tại các nước cộng hoà Xô viết cũng giúp tập trung hoá quyền lực tại Liên Xô.<br><br></div><div><br>Các cuộc trấn áp của lãnh tụ Stalin dẫn tới sự thành lập một hệ thống <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90%E1%BB%8Bnh_c%C6%B0_b%E1%BA%AFt_bu%E1%BB%99c_t%E1%BA%A1i_Li%C3%AAn_bang_X%C3%B4_vi%E1%BA%BFt&amp;action=edit&amp;redlink=1">trục xuất</a> nội địa to lớn, ở những tầm vóc lớn hơn nhiều so với các hệ thống từng được các Sa hoàng lập ra<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-177"><sup>[177]</sup></a>. Các hình phạt hà khắc được đưa ra và nhiều công dân bị hành quyết vì các tội phá hoại và gián điệp tưởng tượng. Nhân công từ những người bị kết án tại các <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A1i_lao_%C4%91%E1%BB%99ng">trại lao động</a> của hệ thống <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A1i_c%E1%BA%A3i_t%E1%BA%A1o_lao_%C4%91%E1%BB%99ng_c%E1%BB%A7a_Li%C3%AAn_X%C3%B4">Gulag</a> trở thành một thành phần quan trọng của cuộc công nghiệp hoá, đặc biệt tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Xibia">Siberi</a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-forcedlabor-178"><sup>[178]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-ivanova-179"><sup>[179]</sup></a>. Ước tính 18 triệu người đã phải trải qua hệ thống Gulag, và có lẽ khoảng 15 triệu người nữa từng phải trải qua một trong các hình thức lao động cưỡng bức<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-180"><sup>[180]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-applebaum-181"><sup>[181]</sup></a>.<br><br></div><div><strong><br>Liên bang Xô viết trên bình diện quốc tế</strong>[<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga&amp;veaction=edit&amp;section=32">sửa</a> | <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga&amp;action=edit&amp;section=32">sửa mã nguồn</a>]</div><div><br>Liên bang Xô viết coi sự thăng tiến lên nắm quyền năm 1933 của chính phủ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_ch%E1%BB%91ng_c%E1%BB%99ng">chống cộng</a> cuồng nhiệt do <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Adolf_Hitler">Hitler</a> lãnh đạo tại nước <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%A9c_Qu%E1%BB%91c_x%C3%A3">Đức</a> là lời cảnh báo nghiêm trọng, đặc biệt bởi Hitler tuyên bố <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Drang_nach_Osten&amp;action=edit&amp;redlink=1">Drang nach Osten</a> là một trong những mục tiêu chính trong chiến lược <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Lebensraum">Lebensraum</a> của Đức Quốc xã<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Lebensraum-182"><sup>[182]</sup></a>. Liên bang Xô viết đã ủng hộ những người Cộng hòa ở Tây Ban Nha đang chiến đấu chống lại quân đội phát xít Đức và Italia trong cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/N%E1%BB%99i_chi%E1%BA%BFn_T%C3%A2y_Ban_Nha">Nội chiến Tây Ban Nha</a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-183"><sup>[183]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-184"><sup>[184]</sup></a>. Trong các năm 1938 - 1939, ngay trước Chiến tranh thế giới thứ hai, Liên bang Xô viết đã giành thắng lợi trước <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n">quân phiệt Nhật</a> trong <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_bi%C3%AAn_gi%E1%BB%9Bi_X%C3%B4-Nh%E1%BA%ADt">Các cuộc chiến tranh Biên giới Xô-Nhật</a> ở vùng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%85n_%C4%90%C3%B4ng_Nga">Viễn Đông Nga</a>, dẫn tới <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Hi%E1%BB%87p_%C6%B0%E1%BB%9Bc_Trung_l%E1%BA%ADp_X%C3%B4-Nh%E1%BA%ADt&amp;action=edit&amp;redlink=1">Hiệp ước Trung lập Xô-Nhật</a> và hoà bình ở biên giới hai nước kéo dài tới tận tháng 8 năm 1945<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-185"><sup>[185]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-186"><sup>[186]</sup></a>.<br><br></div><div><br>Vào năm 1938, phát xít Đức <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Anschluss">sáp nhập Áo</a> và cùng với các cường quốc châu Âu khác, ký <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tho%E1%BA%A3_thu%E1%BA%ADn_Munich&amp;action=edit&amp;redlink=1">Thoả thuận Munich</a> theo đó Đức, Hungary và Ba Lan phân chia lãnh thổ Séc với nhau. Đức dự định tiến tiếp về phía đông vì sự thiếu kiên quyết của các cường quốc phương Tây trong việc ngăn cản họ đã trở nên rõ ràng. Dù Liên Xô mạnh mẽ phản đối thoả thuận Munich và nhiều lần tái khẳng định sự sẵn sàng hỗ trợ quân sự theo cam kết trước đó với Tiệp Khắc, việc <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ph%C6%B0%C6%A1ng_T%C3%A2y_ph%E1%BA%A3n_b%E1%BB%99i&amp;action=edit&amp;redlink=1">phương Tây phản bội</a> Tiệp Khắc càng khiến Liên Xô thêm lo ngại về một cuộc tấn công sắp tới của Đức, khiến nước này phải nhanh chóng hiện đại hóa công nghiệp quốc phòng và tiến hành các hoạt động ngoại giao của riêng mình. Năm 1939 Liên Xô ký <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hi%E1%BB%87p_%C6%B0%E1%BB%9Bc_X%C3%B4-%C4%90%E1%BB%A9c">hiệp ước không xâm phạm lẫn nhau với phát xít Đức</a> chia các vùng ảnh hưởng giữa hai nước tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_%C3%82u">Đông Âu</a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-187"><sup>[187]</sup></a>. Sau thoả thuận này, Liên Xô bình thường hoá <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Quan_h%E1%BB%87_X%C3%B4-%C4%90%E1%BB%A9c_tr%C6%B0%E1%BB%9Bc_n%C4%83m_1941&amp;action=edit&amp;redlink=1">quan hệ với phát xít Đức</a> và nối lại thương mại giữa hai nước<br><strong><br>Chiến tranh thế giới thứ hai<br></strong><br>Ngày <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/17_th%C3%A1ng_9">17 tháng 9</a> năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1939">1939</a>, mười bảy ngày sau khi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_th%E1%BA%BF_gi%E1%BB%9Bi_th%E1%BB%A9_hai">Chiến tranh thế giới thứ hai</a> bùng nổ và nước Đức chiến thắng tiến sâu vào lãnh thổ Ba Lan, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93ng_Qu%C3%A2n">Hồng quân</a> <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Li%C3%AAn_X%C3%B4_x%C3%A2m_chi%E1%BA%BFm_Ba_Lan">chiếm đóng các vùng phía đông Ba Lan</a> bắt đầu bảo hộ người Ukraina và người Belarus như mục tiêu hàng đầu của chiến dịch và đưa ra khẩu hiệu "chiếm để tồn tại" như lời biện minh cho hành động của mình<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-190"><sup>[190]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-191"><sup>[191]</sup></a>. Nhờ vậy, các biên giới phía tây các nước cộng hoà Xô viết Belarus và Ukraina được dời về phía tây và biên giới phía tây mới của Liên Xô được vẽ gần với <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90%C6%B0%E1%BB%9Dng_Curzon&amp;action=edit&amp;redlink=1">đường Curzon</a> cũ. Trong lúc đó các cuộc đàm phán với <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BA%A7n_Lan">Phần Lan</a> về việc trao đổi đất do Liên Xô đề xuất sẽ khiến biên giới Liên xô-Phần Lan rời xa thêm khỏi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Sankt-Peterburg">Leningrad</a> đổ vỡ; và vào tháng 12 năm 1939 Liên bang Xô viết bắt đầu chiến dịch tấn công Phần Lan, được gọi là cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_Li%C3%AAn_X%C3%B4-Ph%E1%BA%A7n_Lan">Chiến tranh mùa Đông</a> (1939–40). Cuộc chiến khiến <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93ng_Qu%C3%A2n">Hồng quân</a> thiệt hại nặng nề nhưng cũng buộc Phần Lan phải ký <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Hi%E1%BB%87p_%C6%B0%E1%BB%9Bc_Ho%C3%A0_b%C3%ACnh_Moskva&amp;action=edit&amp;redlink=1">Hiệp ước Hoà bình Moskva</a> và nhường <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Eo_Karelia&amp;action=edit&amp;redlink=1">eo Karelia</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ladoga_Karelia&amp;action=edit&amp;redlink=1">Ladoga Karelia</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-192"><sup>[192]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-193"><sup>[193]</sup></a>. Mùa hè năm 1940 Liên Xô đưa ra một <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=T%E1%BB%91i_h%E1%BA%ADu_th%C6%B0_X%C3%B4_vi%E1%BA%BFt_th%C3%A1ng_6_n%C4%83m_1940&amp;action=edit&amp;redlink=1">tối hậu thư tới Romania</a> buộc nước này phải nhường các lãnh thổ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Bessarabia">Bessarabia</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=B%E1%BA%AFc_Bukovina&amp;action=edit&amp;redlink=1">Bắc Bukovina</a>. Cùng lúc đó, Liên Xô cũng chiếm ba <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFm_%C4%91%C3%B3ng_c%C3%A1c_n%C6%B0%E1%BB%9Bc_Baltic">nước Baltic độc lập cũ</a> (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Estonia">Estonia</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Latvia">Latvia</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Litva">Litva</a>)<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-194"><sup>[194]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-195"><sup>[195]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-196"><sup>[196]<br></sup></a><br></div><div><br>Hoà bình với Đức không dễ dàng, bởi cả hai bên đều đang chuẩn bị cho cuộc xung đột quân sự<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Isaev10-197"><sup>[197]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-198"><sup>[198]</sup></a> và nhanh chóng chấm dứt khi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Phe_Tr%E1%BB%A5c">các lực lượng phe Trục</a> do phát xít Đức dẫn đầu <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_d%E1%BB%8Bch_Barbarossa">tràn qua biên giới Liên Xô</a> ngày <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/22_th%C3%A1ng_6">22 tháng 6</a> năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1941">1941</a>. Đó là ngày cuộc "Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại" của nhân dân Liên Xô bùng nổ, nhưng rồi Hồng quân Liên Xô thảm bại trong chiến dịch Barbarossa.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-199"><sup>[199]</sup></a> Tới mùa thu <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Wehrmacht">quân đội Đức</a> đã <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%ADn_Kiev_(1941)">chiếm Ukraina</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Bao_v%C3%A2y_Leningrad&amp;action=edit&amp;redlink=1">bao vây Leningrad</a>, và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%ADn_Moskva_(1941)">đe doạ chiếm thủ đô Moskva</a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-200"><sup>[200]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-201"><sup>[201]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-202"><sup>[202]</sup></a>. Dù sự thực rằng trong tháng 12 năm 1941 Hồng quân <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%ADn_Moskva_(1941)">đã đẩy lùi phát xít Đức khỏi thủ đô Moskva</a> trong một cuộc phản công thắng lợi, quân Đức vẫn giữ được thế chủ động chiến lược một năm nữa và duy trì được thế tấn công sâu ở hướng đông nam, tiến tới <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%B4ng_Volga">sông Volga</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kavkaz">Kavkaz</a>. Tuy nhiên, hai thất bại lớn của quân Đức tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%ADn_Stalingrad">Stalingrad</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%ADn_V%C3%B2ng_cung_Kursk">Kursk</a> mang tính quyết định và đảo ngược tiến trình của toàn bộ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_th%E1%BA%BF_gi%E1%BB%9Bi_th%E1%BB%A9_hai">chiến tranh thế giới</a> bởi phát xít Đức không bao giờ giành lại được sức mạnh để duy trì các chiến dịch tấn công và Liên bang Xô viết tái chiếm quyền chủ động chiến lược trong phần còn lại của cuộc chiến.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-203"><sup>[203]</sup></a>. Tới cuối năm 1943, Hồng quân đã đột phá qua vòng vây của phát xít Đức tại Leningrad và <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tr%E1%BA%ADn_Dnepr&amp;action=edit&amp;redlink=1">giải phóng hầu hết Ukraina</a>, đa phần miền tây nước Nga và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_d%E1%BB%8Bch_Smolensk_(1943)">tiến vào Belarus</a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-204"><sup>[204]</sup></a>. Tới cuối năm 1944, mặt trận đã di chuyển vượt các biên giới năm 1939 của Liên Xô vào Đông Âu. Hồng quân Liên Xô tiến vào miền đông nước Đức, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_d%E1%BB%8Bch_Berlin_(1945)">đánh thủ đô Berlin</a> từ ngày <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/16_th%C3%A1ng_4">16 tháng 4</a> và chiếm được thành này vào ngày <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/2_th%C3%A1ng_5">2 tháng 5</a> năm 1945.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-205"><sup>[205]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-CDuffy307-206"><sup>[206]</sup></a> Trùm phát xít Adolf Hitler tự tử vào ngày <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/30_th%C3%A1ng_4">30 tháng 4</a> năm 1945.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-CDuffy307-206"><sup>[206]</sup></a> Cuộc chiến với phát xít Đức vì thế đã chấm dứt với thắng lợi thuộc về Liên Xô.<br><br></div><div><br>Như thoả thuận tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%99i_ngh%E1%BB%8B_Yalta">Hội nghị Yalta</a>, ba tháng sau <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ng%C3%A0y_chi%E1%BA%BFn_th%E1%BA%AFng_(%C4%90%C3%B4ng_%C3%82u)&amp;action=edit&amp;redlink=1">Ngày chiến thắng tại châu Âu</a> Liên bang Xô viết tung ra cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_d%E1%BB%8Bch_M%C3%A3n_Ch%C3%A2u_(1945)">tấn công vào Mãn Châu</a>, đánh tan tác <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%C3%A2n_%C4%91%E1%BB%99i_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n">quân phiệt</a> trong trận đánh tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/M%C3%A3n_Ch%C3%A2u">Mãn Châu</a> - đây là trận chiến cuối cùng của Hồng quân Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-207"><sup>[207]</sup></a>.<br><br></div><div><br>Dù Liên bang Xô viết giành thắng lợi trong <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_th%E1%BA%BF_gi%E1%BB%9Bi_th%E1%BB%A9_hai">Chiến tranh thế giới thứ hai</a>, cuộc chiến đã khiến khoảng 26–27 triệu người Xô viết thiệt mạng (các ước tính khác nhau)<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-208"><sup>[208]</sup></a> và đã tàn phá nền kinh tế nước này. Khoảng 1.710 thị trấn và 70 nghìn khu nhà cửa bị phá huỷ<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-209"><sup>[209]</sup></a>. Các vùng đất bị chiếm đóng bị quân đội Đức tàn phá và bắt người dân làm <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Lao_%C4%91%E1%BB%99ng_n%C3%B4_l%E1%BB%87&amp;action=edit&amp;redlink=1">lao động nô lệ</a> tại Đức<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-210"><sup>[210]</sup></a>. 13 triệu công dân Liên bang Xô viết trở thành nạn nhân của chính sách trấn áp của người Đức và đồng minh của nước này tại các vùng đất chiếm đóng, bị thiệt mạng trong các cuộc thảm sát hàng loạt, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/N%E1%BA%A1n_%C4%91%C3%B3i">nạn đói</a>, thiếu thốn thuốc men và lao động cưỡng bức<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-211"><sup>[211]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-212"><sup>[212]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-213"><sup>[213]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-gumer.info-214"><sup>[214]</sup></a>. Chính sách <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Holocaust">diệt chủng chống người Do Thái</a> trong chương trình <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Einsatzgruppen"><em>Einsatzgruppen</em></a> của Đức khiến hầu như toàn bộ người Do Thái trên toàn vùng lãnh thổ bị Đức và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Phe_Tr%E1%BB%A5c">đồng minh của họ</a> tạm chiếm biến mất<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-215"><sup>[215]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-216"><sup>[216]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-217"><sup>[217]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-218"><sup>[218]</sup></a>. Trong khi bị chiếm đóng, thành phố <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Sankt-Peterburg">Leningrad</a> của Nga, nay là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Sankt-Peterburg">Sankt Peterburg</a> đã mất khoảng một phần tư dân số<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-gumer.info-214"><sup>[214]</sup></a>. Nước cộng hoà Xô viết Belarus mất từ một phần tư tới một phần ba dân số. 3,6 triệu <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%B9_binh">tù binh chiến tranh</a> Xô viết (trong số 5,5 triệu) chết tại các trại tập trung Đức<br><strong><br>Chiến tranh Lạnh</strong>[<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga&amp;veaction=edit&amp;section=34">sửa</a> | <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga&amp;action=edit&amp;section=34">sửa mã nguồn</a>]</div><div>Bài chi tiết: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_L%E1%BA%A1nh">Chiến tranh Lạnh</a></div><div><br>Sự hợp tác giữa các cường quốc Đồng Minh thắng trận dường như sẽ là một cơ sở cho sự tái thiết và an ninh thời hậu chiến. Tuy nhiên, sự xung đột quyền lợi giữa Liên Xô và Hoa Kỳ, được gọi là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_L%E1%BA%A1nh">Chiến tranh Lạnh</a>, đã nổi lên thống trị thị trường quốc tế thời hậu chiến.<br><br>Cuộc Chiến tranh Lạnh xuất hiện như sự xung đột giữa Stalin và tổng thống Hoa Kỳ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Harry_S._Truman">Harry Truman</a> về tương lai Đông Âu trong <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%99i_ngh%E1%BB%8B_Potsdam">Hội nghị Potsdam</a> mùa hè năm 1945<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-222"><sup>[222]</sup></a>. Nước Nga đã phải chịu ba cuộc chiến tranh tàn phá từ phía Tây trong vòng 150 năm trước đó với các cuộc Chiến tranh Napoléon, Chiến tranh thế giới thứ nhất, và Chiến tranh thế giới thứ hai, và mục tiêu của Stalin là thiết lập một vùng đệm giữa Đức và Liên Xô<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-Gaddis-223"><sup>[223]</sup></a>. Với Đông Âu nằm dưới sự chiếm đóng của Hồng quân, Stalin cũng cố gắng lợi dụng thời gian để bí mật phát triển <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ch%C6%B0%C6%A1ng_tr%C3%ACnh_bom_nguy%C3%AAn_t%E1%BB%AD_Li%C3%AAn_X%C3%B4&amp;action=edit&amp;redlink=1">dự án bom nguyên tử</a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-224"><sup>[224]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-225"><sup>[225]</sup></a>.<br><br></div><div><br>Tháng 4 năm 1949 Hoa Kỳ thành lập <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/NATO">Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương</a> (NATO), một hiệp ước phòng thủ chung trong đó hầu hết quốc gia phương Tây cam kết coi một cuộc tấn công quân sự chống lại một nước thành viên như một cuộc tấn công vào toàn bộ khối. Liên Xô cũng thành lập một tổ chức đối đầu phía Đông của NATO năm 1955, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%E1%BB%91i_Warszawa">Khối hiệp ước Warszawa</a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-226"><sup>[226]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-227"><sup>[227]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-228"><sup>[228]</sup></a>. Sự phân chia châu Âu thành phương Tây và khối Xô viết sau này đã phát triển lên bình diện quốc tế, đặc biệt sau năm 1949, khi thế độc quyền hạt nhân của Hoa Kỳ chấm dứt với việc Liên xô thử nghiệm <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Joe-1&amp;action=edit&amp;redlink=1">bom hạt nhân</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A3ng_C%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n_Trung_Qu%E1%BB%91c">phe cộng sản</a> giành chính quyền tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a_Nh%C3%A2n_d%C3%A2n_Trung_Hoa">Trung Quốc</a>.<br><br></div><div><br>Các mục tiêu trước mắt của chính sách đối ngoại Liên Xô là duy trì và thúc đẩy an ninh quốc gia và duy trì sự ổn định ở Đông Âu. Liên Xô duy trì sự quản lý của mình với Khối hiệp ước Warszawa qua việc dập tắt <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/S%E1%BB%B1_ki%E1%BB%87n_n%C4%83m_1956_%E1%BB%9F_Hungary">cuộc nổi dậy</a> tại Hungary năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1956">1956</a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-229"><sup>[229]</sup></a>, trấn áp phong trào <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/M%C3%B9a_xu%C3%A2n_Praha">Mùa xuân Praha</a> tại Tiệp Khắc năm 1968, và ủng hộ việc dập tắt phong trào <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_%C4%91o%C3%A0n_%C4%90o%C3%A0n_k%E1%BA%BFt">Công đoàn Đoàn kết</a> ở Ba Lan đầu thập niên 1980. Liên bang Xô viết đối đầu Hoa Kỳ trong một số cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Xung_%C4%91%E1%BB%99t_u%E1%BB%B7_nhi%E1%BB%87m&amp;action=edit&amp;redlink=1">xung đột uỷ nhiệm</a> trên khắp thế giới, gồm cả <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_Tri%E1%BB%81u_Ti%C3%AAn">Chiến tranh Triều Tiên</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_Vi%E1%BB%87t_Nam">Chiến tranh Việt Nam</a>.<br><br></div><div><br>Khi Liên Xô tiếp tục duy trì sự kiểm soát chặt chẽ với toàn bộ vùng ảnh hưởng của mình tại Đông Âu, cuộc Chiến tranh Lạnh đã dẫn tới <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=B%E1%BB%9Bt_c%C4%83ng_th%E1%BA%B3ng&amp;action=edit&amp;redlink=1"><em>Bớt căng thẳng</em></a> (Détente) và một hình mẫu quan hệ quốc tế phức tạp trong thập niên 1970 trong đó thế giới không còn được phân chia thành hai khối đối lập rõ rệt. Các nước phi cường quốc có nhiều cơ hội hơn để đòi độc lập, và hai siêu cường một phần cũng có thể giữ gìn quyền lợi chung qua việc tìm cách hạn chế và ngăn ngừa phát triển các loại vũ khí hạt nhân với các hiệp ước như <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=SALT_I&amp;action=edit&amp;redlink=1">SALT I</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=SALT_II&amp;action=edit&amp;redlink=1">SALT II</a>, và <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Hi%E1%BB%87p_%C6%B0%E1%BB%9Bc_ch%E1%BB%91ng_T%C3%AAn_l%E1%BB%ADa_%C4%90%E1%BA%A1n_%C4%91%E1%BA%A1o&amp;action=edit&amp;redlink=1">Hiệp ước chống Tên lửa Đạn đạo</a>.<br><br></div><div><br>Quan hệ Xô-Mỹ đã xấu đi sau khi cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_Afghanistan_(1978%E2%80%931992)">chiến tranh Afghanistan</a> kéo dài 9 năm diễn ra năm 1979 và khi <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=B%E1%BA%A7u_c%E1%BB%AD_T%E1%BB%95ng_th%E1%BB%91ng_M%E1%BB%B9,_1980&amp;action=edit&amp;redlink=1">Ronald Reagan</a>, một nhân vật chống cộng cuồng nhiệt, lên làm Tổng thống Hoa Kỳ năm 1980 nhưng đã có cải thiện khi khối Xô viết bắt đầu tan rã hồi cuối thập niên 1980. Với sự sụp đổ của Liên bang Xô viết năm 1991, Nga đánh mất vị thế <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Si%C3%AAu_c%C6%B0%E1%BB%9Dng">siêu cường</a> nước này từng có được sau Chiến tranh thế giới thứ hai.<br><br></div><div><strong><br>Những năm thời Khrushchev và Brezhnev</strong>[<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga&amp;veaction=edit&amp;section=35">sửa</a> | <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga&amp;action=edit&amp;section=35">sửa mã nguồn</a>]</div><div>Bài chi tiết: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Li%C3%AAn_bang_X%C3%B4_vi%E1%BA%BFt_(1953-1985)">Lịch sử Liên bang Xô viết (1953-1985)</a></div><div><br>Trong cuộc tranh giành quyền lực xuất hiện sau khi Stalin qua đời năm 1953, những đồng minh thân cận nhất của ông đã bị gạt bỏ. <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nikita_Sergeyevich_Khrushchyov">Nikita Sergeyevich Khrushchev</a> củng cố vị trí của mình trong bài phát biểu trường <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%99i_%C4%90%E1%BA%A3ng_C%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n_Li%C3%AAn_x%C3%B4_l%E1%BA%A7n_th%E1%BB%A9_20&amp;action=edit&amp;redlink=1">Đại hội lần thứ 20 Đảng Cộng sản</a> năm 1956, liệt kê những sai lầm của nhà lãnh đạo Stalin<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-CNN_Khrushchev-230"><sup>[230]</sup></a>.<br><br></div><div><br>Năm 1964, Khrushchev bị Uỷ ban Trung ương Đảng <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=K%E1%BA%BFt_t%E1%BB%99i&amp;action=edit&amp;redlink=1">kết tội</a> với nhiều tội lỗi gồm cả việc khiến Liên Xô thất bại như cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%E1%BB%A7ng_ho%E1%BA%A3ng_t%C3%AAn_l%E1%BB%ADa_Cuba">Khủng hoảng Tên lửa Cuba</a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-CNN_Khrushchev-230"><sup>[230]</sup></a>. Sau một giai đoạn lãnh đạo tập thể ngắn, một quan chức kì cựu, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Leonid_Ilyich_Brezhnev">Leonid Ilyich Brezhnev</a>, lên thay Khrushchev<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-231"><sup>[231]</sup></a>. Brezhnev tiếp tục chính sách <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_c%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n#Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_Stalin">đề cao công nghiệp nặng</a> của Stalin<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-History_Guide_Brezhnev-232"><sup>[232]</sup></a> và cũng tìm cách giảm căng thẳng trong quan hệ với <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hoa_K%E1%BB%B3">Hoa Kỳ</a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-History_Guide_Brezhnev-232"><sup>[232]</sup></a>. Từ thập niên 1960 Liên bang Xô viết trở thành nhà sản xuất và xuất khẩu quan trọng về <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/D%E1%BA%A7u_m%E1%BB%8F">dầu mỏ</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%C3%AD_thi%C3%AAn_nhi%C3%AAn">khí tự nhiên</a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-233"><sup>[233]</sup></a>.<br><br></div><div><br>Những năm dưới thời Khruschev và Brezhnev là giai đoạn khoa học và công nghiệp Liên Xô đạt tới đỉnh cao. <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_m%C3%A1y_%C4%91i%E1%BB%87n_nguy%C3%AAn_t%E1%BB%AD">Nhà máy điện hạt nhân</a> đầu tiên của thế giới được xây dựng năm 1954 tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_m%C3%A1y_%C4%91i%E1%BB%87n_h%E1%BA%A1t_nh%C3%A2n_Obninsk">Obninsk</a>. <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tuy%E1%BA%BFn_%C4%91%C6%B0%E1%BB%9Dng_s%E1%BA%AFt_Baikal_Amur&amp;action=edit&amp;redlink=1">Tuyến đường sắt Baikal Amur</a> được xây dựng.<br><br></div><div><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C6%B0%C6%A1ng_tr%C3%ACnh_v%C5%A9_tr%E1%BB%A5_Li%C3%AAn_X%C3%B4"><br>Chương trình vũ trụ Liên Xô</a>, do <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Sergey_Pavlovich_Korolev&amp;action=edit&amp;redlink=1">Sergey Pavlovich Korolev</a> thiết lập, đặc biệt thành công. Ngày <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/4_th%C3%A1ng_10">4 tháng 10</a> năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1957">1957</a> Liên bang Xô viết phóng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%E1%BB%87_tinh_v%C5%A9_tr%E1%BB%A5">vệ tinh vũ trụ</a> <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Sputnik">Sputnik</a> đầu tiên<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-NASA_Sputnik-234"><sup>[234]</sup></a>. Ngày <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/12_th%C3%A1ng_4">12 tháng 4</a> năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1961">1961</a> <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Yuri_Alekseievich_Gagarin">Yuri Alekseyevich Gagarin</a> trở thành người đầu tiên đi vào vũ trụ trên con tàu vũ trụ Liên Xô <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vostok_1">Vostok 1</a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-235"><sup>[235]</sup></a>. Các thành tựu khác của chương trình vũ trụ Nga gồm: bức ảnh đầu tiên chụp <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ph%C3%ADa_b%E1%BB%81_m%E1%BA%B7t_kh%C3%B4ng_nh%C3%ACn_th%E1%BA%A5y_c%E1%BB%A7a_M%E1%BA%B7t_Tr%C4%83ng&amp;action=edit&amp;redlink=1">phía bề mặt không nhìn thấy của Mặt Trăng</a>; thám hiểm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Sao_Kim">Sao Kim</a>; <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90i_ra_ngo%C3%A0i_kho%E1%BA%A3ng_kh%C3%B4ng_v%C5%A9_tr%E1%BB%A5&amp;action=edit&amp;redlink=1">đi ra ngoài khoảng không vũ trụ</a> lần đầu tiên với <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Aleksey_Arkhipovich_Leonov">Aleksey Arkhipovich Leonov</a>; người phụ nữ đầu tiên bay vào vũ trụ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Valentina_Vladimirovna_Tereshkova">Valentina Vladimirovna Tereshkova</a>. Gần đây hơn, Liên Xô đã chế tạo trạm vũ trụ đầu tiên của thế giới, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Salyut">Salyut</a> tới năm 1986 đã được thay thế bởi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A1m_v%C5%A9_tr%E1%BB%A5_H%C3%B2a_B%C3%ACnh">Mir</a>, trạm vụ trụ có người ở liên tục và dài hạn đầu tiên, hoạt động từ năm 1986 tới năm 2001.<br><br></div><div><strong><br>Liên bang Xô viết tan rã</strong>[<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga&amp;veaction=edit&amp;section=36">sửa</a> | <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga&amp;action=edit&amp;section=36">sửa mã nguồn</a>]</div><div><br>Hai sự phát triển đặc trưng trong thập kỷ tiếp theo: sự sụp đổ ngày càng rõ ràng của kinh tế và cơ cấu chính trị Liên Xô, và những nỗ lực cải cách chắp vá để đảo ngược quá trình này. Sau thời gian cầm quyền ngắn ngủi của cựu Giám đốc KGB <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Yuri_Vladimirovich_Andropov">Yuri Vladimirovich Andropov</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Konstantin_Ustinovich_Chernenko">Konstantin Ustinovich Chernenko</a>, những nhân vật chuyển tiếp với tư tưởng thân Brezhnev, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Mikhail_Sergeyevich_Gorbachyov">Mikhail Sergeyevich Gorbachev</a> thông báo chương trình <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Perestroika">cải tổ</a> trong một nỗ lực hiện đại hoá chủ nghĩa cộng sản Xô viết. Tuy nhiên, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Perestroika">những cải cách xã hội của Gorbachev</a> đã dẫn tới những <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=H%E1%BA%ADu_qu%E1%BA%A3_kh%C3%B4ng_l%C6%B0%E1%BB%9Dng_tr%C6%B0%E1%BB%9Bc&amp;action=edit&amp;redlink=1">hậu quả không lường trước</a>. Vì chính sách <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Glasnost"><em>glasnost</em></a> của ông ủng hộ mở rộng quyền tiếp cận thông tin của công chúng sau nhiều thập kỷ kiểm soát của chính quyền, các vấn đề xã hội đã được quan tâm đông đảo, làm tổn hại tới quyền lực của đảng Cộng sản. Trong <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Nh%E1%BB%AFng_cu%E1%BB%99c_c%C3%A1ch_m%E1%BA%A1ng_n%C4%83m_1989&amp;action=edit&amp;redlink=1">những cuộc cách mạng năm 1989</a> Liên bang Xô viết đã mất các nước vệ tinh của mình tại Đông Âu. <em>Glasnost</em> cho phép các nhóm sắc tộc và những người theo chủ nghĩa dân tộc có cơ hội trỗi dậy<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-236"><sup>[236]</sup></a>. Nhiều nước cộng hoà có chủ quyền, đặc biệt là <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=C%C3%A1c_n%C6%B0%E1%BB%9Bc_c%E1%BB%99ng_ho%C3%A0_v%C3%B9ng_Baltic&amp;action=edit&amp;redlink=1">các nước cộng hoà vùng Baltic</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a_X%C3%A3_h%E1%BB%99i_ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_X%C3%B4_vi%E1%BA%BFt_Gruzia">Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Gruzia</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a_X%C3%A3_h%E1%BB%99i_ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_X%C3%B4_vi%E1%BA%BFt_Moldavia">Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Moldavia</a>, tìm cách có được quyền tự trị lớn hơn, điều Moskva không mong muốn. Những nỗ lực cải cách kinh tế của Gorbachev vẫn chưa đầy đủ, và chính phủ Xô viết vẫn duy trì kiểm soát với các thành phần cơ bản của nền kinh tế cộng sản. Gặp bất lợi từ việc giá dầu mỏ và khí gas giảm cùng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_Afghanistan_(1978%E2%80%931992)">cuộc chiến tại Afghanistan</a>, nền công nghiệp đã lạc hậu, tình trạng tham nhũng tràn lan, nền <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kinh_t%E1%BA%BF_k%E1%BA%BF_ho%E1%BA%A1ch">kinh tế kế hoạch</a> Xô viết đã cho thấy sự kém hiệu quả, và tới năm 1990 chính phủ Xô viết đã mất quyền kiểm soát với các điều kiện kinh tế. Vì việc <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ki%E1%BB%83m_so%C3%A1t_gi%C3%A1&amp;action=edit&amp;redlink=1">kiểm soát giá</a>, đã xảy ra tình trạng khan hiếm hàng hoá, lên tới đỉnh điểm vào cuối năm 1991, khi mọi người phải xếp hàng dài và phải may mắn mới mua được các đồ dùng thiết yếu. Sự kiểm soát với các nước cộng hoà cũng giảm bớt, và các nước này bắt đầu củng cố chủ quyền trước Moskva.<br><br></div><div><br>Căng thẳng giữa Liên bang Xô viết và các cơ quan chính quyền Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Liên bang Nga đã trở thành cuộc chiến tranh giành quyền lực cá nhân giữa Gorbachev và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Boris_Nikolayevich_Yeltsin">Boris Nikolayevich Yeltsin</a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-237"><sup>[237]</sup></a>. Bị Gorbachev loại khỏi cơ cấu chính trị Liên xô năm 1987, Yeltsin, một quan chức cao cấp kiểu cũ của đảng không có hậu thuẫn hay các mối quan hệ mạnh, cần tìm kiếm một cơ sở khác để đối đầu với Gorbachev. Khi vận may đảo chiều bất ngờ, ông thắng cử trở thành chủ tịch của Xô viết Tối cao mới của Cộng hoà Liên bang Nga tháng 5 năm 1990<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-238"><sup>[238]</sup></a>. Trong cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=B%E1%BA%A7u_c%E1%BB%AD_T%E1%BB%95ng_th%E1%BB%91ng_Nga,_1991&amp;action=edit&amp;redlink=1">bầu cử Tổng thống Nga lần đầu tiên</a> năm 1991 Yeltsin trở thành tổng thống Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Liên bang Nga.<br><br></div><div><br>Cuối cùng Gorbachev <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Hi%E1%BB%87p_%C6%B0%E1%BB%9Bc_Li%C3%AAn_minh_M%E1%BB%9Bi&amp;action=edit&amp;redlink=1">tìm cách tái cơ cấu</a> Liên bang Xô viết trở thành một nhà nước ít tập trung hơn. Tuy nhiên, ngày <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/19_th%C3%A1ng_8">19 tháng 8</a> năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1991">1991</a>, một <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Cu%E1%BB%99c_%C4%91%E1%BA%A3o_ch%C3%ADnh_X%C3%B4_vi%E1%BA%BFt_n%C4%83m_1991">cuộc đảo chính chống Gorbachev</a>, do các quan chức cao cấp Xô viết tiến hành diễn ra. Cuộc đảo chính thất bại sau ba ngày vì sự phản đối rộng rãi của dân chúng, nhưng sự tan rã của Liên bang Xô viết đã trở nên rõ ràng. Chính phủ Nga chiếm hầu hết định chế chính phủ Liên bang Xô viết trên lãnh thổ của mình. Vì vị thế thống trị của người Nga trong Liên bang Xô viết, ít người nghĩ tới bất kỳ sự khác biệt nào giữa Nga và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Li%C3%AAn_X%C3%B4">Liên bang Xô viết</a> trước cuối thập niên 1980. Tại Liên bang Xô viết, chỉ Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Liên bang Nga là không có các cơ sở nhà nước thậm chí là nhỏ nhất mà các nước cộng hoà khác sở hữu, như chi nhánh đảng, các hội đồng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_%C4%91o%C3%A0n">công đoàn</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Vi%E1%BB%87n_h%C3%A0n_l%C3%A2m_khoa_h%E1%BB%8Dc&amp;action=edit&amp;redlink=1">Viện hàn lâm khoa học</a>, và các thứ tương tự<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-239"><sup>[239]</sup></a>. <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A3ng_C%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n_Li%C3%AAn_X%C3%B4">Đảng Cộng sản Liên Xô</a> bị cấm tại Nga trong giai đoạn 1991-1992, và dù không có một <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Thanh_T%E1%BA%A9y">lễ rửa tội</a> nào diễn ra, nhiều thành viên của nó đã trở thành các quan chức hàng đầu của Nga. Tuy nhiên, bởi chính phủ Xô viết vẫn phải đối các cải cách thị trường, tình thế kinh tế tiếp tục suy sụp. Tới tháng 12 năm 1991, sự thiếu hụt khiến tình trạng phân phối thực phẩm theo <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tem_phi%E1%BA%BFu">tem phiếu</a> xuất hiện tại Moskva và Sankt Peterburg lần đầu tiên kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Nga nhận viện trợ lương thực nhân đạo từ nước ngoài. Sau <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Hi%E1%BB%87p_%C6%B0%E1%BB%9Bc_Belavezha&amp;action=edit&amp;redlink=1">Hiệp ước Belavezha</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%99i_%C4%90%E1%BA%A1i_bi%E1%BB%83u_C%E1%BB%99ng_ho%C3%A0_X%C3%A3_h%E1%BB%99i_ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_Li%C3%AAn_bang_Nga&amp;action=edit&amp;redlink=1">Đại hội Đại biểu Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Liên bang Nga</a> đã rút nước Nga khỏi Liên bang Xô viết ngày 12 tháng 12. Liên bang Xô viết chính thức chấm dứt ngày <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/25_th%C3%A1ng_12">25 tháng 12</a> năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1991">1991</a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-BBC_Timeline-240"><sup>[240]</sup></a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nga">Liên bang Nga</a> (trước kia là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a_X%C3%A3_h%E1%BB%99i_ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_X%C3%B4_vi%E1%BA%BFt_Li%C3%AAn_bang_Nga">Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Nga</a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-241"><sup>[241]</sup></a>) giành chủ quyền ngày <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/26_th%C3%A1ng_12">26 tháng 12</a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-BBC_Timeline-240"><sup>[240]</sup></a>. Chính phủ Nga bãi bỏ kiểm soát giá cả tháng 1 năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1992">1992</a>. Giá cả tăng mạnh, nhưng tình trạng khan hiếm chấm dứt.<br><br></div><div><br>Liên bang Nga[<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga&amp;veaction=edit&amp;section=37">sửa</a> | <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga&amp;action=edit&amp;section=37">sửa mã nguồn</a>]<br><br></div><div>Bài chi tiết: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga_h%E1%BA%ADu_X%C3%B4_vi%E1%BA%BFt">Lịch sử Nga hậu Xô viết</a></div><div><br>Dù Yeltsin lên nắm quyền lực với một làn sóng lạc quan, ông không bao giờ còn được dân chúng ủng hộ nhiều như cũ sau khi thực hiện <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Li%E1%BB%87u_ph%C3%A1p_s%E1%BB%91c_(kinh_t%E1%BA%BF)&amp;action=edit&amp;redlink=1">liệu pháp sốc</a> của <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Egor_Timurovich_Gaidar&amp;action=edit&amp;redlink=1">Egor Gaidar</a> chấm dứt việc kiểm soát giá, cắt giảm mạnh chi tiêu chính phủ, và mở cửa với thương mại nước ngoài đầu năm 1992 (<em>xem</em> <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kinh_t%E1%BA%BF_Nga#C%C3%A1i_c%C3%A1ch_kinh_t%E1%BA%BF_trong_th%E1%BA%ADp_ni%C3%AAn_1990">Cải cách kinh tế Nga trong thập niên 1990</a>). Những cuộc cải cách nhanh chóng làm sụt giảm tiêu chuẩn sống của hầu hết dân cư. Trong thập niên 1990 nước Nga đã trải qua một giai đoạn giảm sút kinh tế tới mức, ở một số mặt, còn nghiêm trọng hơn những gì Hoa Kỳ và Đức đã phải trải qua sáu thập kỷ trước trong cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_kh%E1%BB%A7ng_ho%E1%BA%A3ng">Đại Khủng hoảng</a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-242"><sup>[242]</sup></a>. Siêu lạm phát đã tác động tới đồng rúp, vì sự <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90%E1%BB%8Bnh_gi%C3%A1_ti%E1%BB%81n_t%E1%BB%87_qu%C3%A1_cao&amp;action=edit&amp;redlink=1">định giá tiền tệ quá cao</a> từ thời nền kinh tế tập trung.<br><br></div><div><br>Tuy nhiên, sự xuất hiện hàng loạt của các đảng nhỏ và sự ác cảm của họ với các liên minh khiến cơ cấu lập pháp hỗn loạn. Năm 1993, sự rạn nứt giữa Yeltsin và giới lãnh đạo nghị viện dẫn tới cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%E1%BB%A7ng_ho%E1%BA%A3ng_Hi%E1%BA%BFn_ph%C3%A1p_Nga_1993">khủng hoảng hiến pháp tháng 9-10 năm 1993</a>. Cuộc khủng hoảng lên tới đỉnh điểm ngày <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/3_th%C3%A1ng_10">3 tháng 10</a>, khi Yeltsin lựa chọn một giải pháp cực đoan để giải quyết cuộc tranh cãi với nghị viện: ông gọi xe tăng tới bắn vào <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Tr%E1%BA%AFng_(Moskva)">Nhà Trắng</a>, tiêu diệt đối thủ. Khi Yeltsin đang thực hiện hành động vi hiến để giải tán nghị viện, nước Nga ở gần một cuộc xung đột dân sự nghiêm trọng. Khi ấy Yeltsin hoàn toàn tự do trong việc áp đặt <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hi%E1%BA%BFn_ph%C3%A1p_Li%C3%AAn_bang_Nga">hiến pháp hiện tại của Nga</a> với quyền lực tổng thống mạnh mẽ, được phê chuẩn theo cuộc trưng cầu dân ý tháng 12 năm 1993. Sự liên kết của Liên bang Nga cũng bị đe doạ khi nước cộng hoà <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chechnya">Chechnya</a> tìm cách ly khai, dẫn tới <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_Chechnya">hai cuộc xung đột đẫm máu</a>.<br><br></div><div><br>Những cải cách kinh tế cũng đã củng cố một chính thể đầu sỏ bán tội phạm với gốc rễ trong hệ thống Xô viết cũ. Được các chính phủ phương Tây ủng hộ, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C3%A2n_h%C3%A0ng_Th%E1%BA%BF_gi%E1%BB%9Bi">Ngân hàng Thế giới</a>, và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BB%B9_Ti%E1%BB%81n_t%E1%BB%87_Qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF">Quỹ tiền tệ quốc tế</a>, nước Nga bước vào cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=T%C6%B0_nh%C3%A2n_ho%C3%A1&amp;action=edit&amp;redlink=1">tư nhân hoá</a> lớn nhất và nhanh nhất từng có trên thế giới để cải cách hoàn toàn nền kinh tế <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Qu%E1%BB%91c_h%E1%BB%AFu_ho%C3%A1&amp;action=edit&amp;redlink=1">quốc hữu hoá</a> Xô viết cũ. Tới giữa thập kỷ các ngành công nghiệp bán lẻ, thương mại, dịch vụ và công nghiệp nhỏ đều ở trong tay tư nhân. Đa số các doanh nghiệp lớn đều bị các giám đốc cũ mua lại, tạo ra tầng lớp nhà giàu mới (<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90%E1%BA%A7u_s%E1%BB%8F_Nga&amp;action=edit&amp;redlink=1">các tài phiệt Nga</a>) cùng với <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Mafia_Nga&amp;action=edit&amp;redlink=1">mafia</a> hay các nhà đầu tư phương Tây<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-243"><sup>[243]</sup></a>.<br><br></div><div><br>Tới giữa thập niên 1990, nước Nga đã có một chế độ chính trị bầu cử đa đảng<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-244"><sup>[244]</sup></a>. Nhưng rất khó để thành lập một chính phủ đại diện bởi hai vấn đề cơ cấu—sự đấu tranh giữa tổng thống và nghị viện và hệ thống đảng phái vô chính phủ.<br><br>Trong khi ấy, chính quyền trung ương mất quyền kiểm soát với các địa phương, quan liêu, và các định chế kinh tế; nguồn thu thuế cạn kiệt. Vẫn ở tình trạng sút kém sâu hồi giữa thập niên 1990, nền kinh tế Nga còn bị tác động thêm nữa bởi cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kh%E1%BB%A7ng_ho%E1%BA%A3ng_t%C3%A0i_ch%C3%ADnh_Nga_n%C4%83m_1998&amp;action=edit&amp;redlink=1">khủng hoảng tài chính năm 1998</a>. Sau cuộc khủng hoảng này, Yeltsin đã ở cuối sự nghiệp chính trị. Chỉ vài giờ trước giao thừa năm 2000, Yeltsin đã đưa ra một tuyên bố từ chức đầy bất ngờ, giao lại chính phủ cho vị Thủ tướng còn ít được biết tới <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vladimir_Vladimirovich_Putin">Vladimir Vladimirovich Putin</a>, cựu sĩ quan KGB và lãnh đạo cơ quan kế tục của nó là <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=FSB_(Nga)&amp;action=edit&amp;redlink=1">FSB</a> thời hậu Xô viết<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-245"><sup>[245]</sup></a>. Năm 2000, vị tổng thống tạm quyền mới đã đánh bại các đối thủ trong cuộc bầu cử tổng thống ngày <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/26_th%C3%A1ng_3">26 tháng 3</a>,và giành một chiến thắng long trời lở đất khác 4 năm sau đó<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-BBC_Putin_Elections-246"><sup>[246]</sup></a>. Các nhà quan sát nước ngoài đã cảnh báo về các động thái cuối năm 2004 nhằm siết chặt sự quản lý của tổng thống với nghị viện, đời sống dân sự, và các quan chức địa phương<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-BBC_Putin_Elections2-247"><sup>[247]</sup></a>. Năm 2008 <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Dmitry_Anatolyevich_Medvedev">Dmitry Anatolyevich Medvedev</a>, cựu chủ tịch <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Gazprom">Gazprom</a> và là giám đốc văn phòng tổng thống của Putin, được bầu làm tổng thống mới của nước Nga.<br><br></div><div><br>Tuy nhiên, sự đảo ngược về một nền kinh tế chỉ huy xã hội chủ nghĩa dường như không thể diễn ra, cộng với sự trợ giúp mạnh của phương Tây. Nước Nga kết thúc năm 2006 với năm thứ 8 tăng trưởng liên tiếp, với mức tăng trung bình 6,7% hàng năm từ cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kh%E1%BB%A7ng_ho%E1%BA%A3ng_t%C3%A0i_ch%C3%ADnh_Nga_n%C4%83m_1998&amp;action=edit&amp;redlink=1">khủng hoảng tài chính năm 1998</a>. Dù chiến lược giá dầu ở mức cao và một đồng rúp khá thấp là nguyên nhân của sự tăng trưởng này, từ năm 2003 nhu cầu tiêu thụ và, gần đây hơn, đầu tư đã đóng một vai trò quan trọng hơn<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Nga#cite_note-cia-248"><sup>[248]</sup></a>. Nước Nga vượt khá xa các nước giàu tài nguyên khác về sự phát triển kinh tế, với nền giáo dục, khoa học và công nghiệp có truyền thống lâu dài<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-29 07:13:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/longdeptrai2072007/uyz98qmdj6d6c8v3/wish/1853373957</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Châu Phi</title>
         <author>longdeptrai2072007</author>
         <link>https://padlet.com/longdeptrai2072007/uyz98qmdj6d6c8v3/wish/1853387096</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><br>Lịch sử Châu Phi</strong> bắt đầu với sự <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ngu%E1%BB%93n_g%E1%BB%91c_ch%C3%A2u_Phi_g%E1%BA%A7n_%C4%91%C3%A2y_c%E1%BB%A7a_ng%C6%B0%E1%BB%9Di_hi%E1%BB%87n_%C4%91%E1%BA%A1i">xuất hiện</a> của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8D_Ng%C6%B0%E1%BB%9Di">vượn nhân hình</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_c%E1%BB%95_x%C6%B0a">người cổ xưa</a> và cách đây ít nhất 200.000 năm trước <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Homo_sapiens">con người hiện đại về mặt giải phẫu</a> (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Homo_sapiens"><em>Homo sapiens</em></a>) ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_Phi">Đông Phi</a>, và tiếp tục không ngừng cho đến hiện tại như một sự chắp vá của các <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BB%91c_gia_d%C3%A2n_t%E1%BB%99c">quốc gia</a> phát triển chính trị và đa dạng. Lịch sử được ghi nhận sớm nhất phát sinh ở Vương quốc Kush và ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ai_C%E1%BA%ADp_c%E1%BB%95_%C4%91%E1%BA%A1i">Ai Cập cổ đại</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Sahel">Sahel</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Maghreb">Maghreb</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/S%E1%BB%ABng_ch%C3%A2u_Phi">Sừng châu Phi</a>.<br><br></div><div><br>Sau khi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hoang_m%E1%BA%A1c_h%C3%B3a">sa mạc hóa sa mạc</a> <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Sa_m%E1%BA%A1c_Sahara">Sahara</a>, lịch sử Bắc Phi đã song hành cùng với <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_%C4%90%C3%B4ng">Trung Đông</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_%C3%82u">Nam Âu</a> trong khi sự bành trướng của vùng Baltu quét từ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Cameroon">Cameroon</a> (Trung Phi) ngày nay qua phần lớn lục địa cận Sahara trong các đợt sóng từ năm 1000 TCN đến năm 0, tạo ra một điểm chung về ngôn ngữ trên hầu hết lục địa miền trung và miền nam.<br><br></div><div><br>Trong thời <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_C%E1%BB%95">trung cổ</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93i_gi%C3%A1o">Hồi giáo</a> lan rộng từ phía tây đến Ả Rập đến Ai Cập, vượt qua Maghreb và Sahel. Một số quốc gia và xã hội tiền thực dân đáng chú ý ở Châu Phi bao gồm <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_Ajuran&amp;action=edit&amp;redlink=1">Đế quốc Ajuran</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/D%CA%BFmt">D'mt</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=V%C6%B0%C6%A1ng_qu%E1%BB%91c_Adal&amp;action=edit&amp;redlink=1">Vương quốc Adal</a>, Alodia, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=V%C6%B0%C6%A1ng_qu%E1%BB%91c_Warsangali&amp;action=edit&amp;redlink=1">Vương quốc Warsangali</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=V%C6%B0%C6%A1ng_qu%E1%BB%91c_Nri&amp;action=edit&amp;redlink=1">Vương quốc Nri</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=V%C4%83n_h%C3%B3a_Nok&amp;action=edit&amp;redlink=1">Văn hóa Nok</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_Mali">Đế quốc Mali</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_Songhai">Đế quốc Songhai</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C6%B0%C6%A1ng_qu%E1%BB%91c_Benin">Đế quốc Benin</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_Oyo&amp;action=edit&amp;redlink=1">Đế quốc Oyo</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_Ashanti">Đế quốc Ashanti</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_Ghana">Đế quốc Ghana</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=V%C6%B0%C6%A1ng_qu%E1%BB%91c_Mossi&amp;action=edit&amp;redlink=1">Vương quốc Mossi</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_Mutapa&amp;action=edit&amp;redlink=1">Đế quốc Mutapa</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=V%C6%B0%C6%A1ng_qu%E1%BB%91c_Mapungubwe&amp;action=edit&amp;redlink=1">Vương quốc Mapungubwe</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=V%C6%B0%C6%A1ng_qu%E1%BB%91c_Sine&amp;action=edit&amp;redlink=1">Vương quốc Sine</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=V%C6%B0%C6%A1ng_qu%E1%BB%91c_Sennar&amp;action=edit&amp;redlink=1">Vương quốc Sennar</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=V%C6%B0%C6%A1ng_qu%E1%BB%91c_Saloum&amp;action=edit&amp;redlink=1">Vương quốc Saloum</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=V%C6%B0%C6%A1ng_qu%E1%BB%91c_Baol&amp;action=edit&amp;redlink=1">Vương quốc Baol</a>, Vương quốc <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Cayor&amp;action=edit&amp;redlink=1">Cayor</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=V%C6%B0%C6%A1ng_qu%E1%BB%91c_Zimbabwe&amp;action=edit&amp;redlink=1">Vương quốc Zimbabwe</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C6%B0%C6%A1ng_qu%E1%BB%91c_Kongo">Vương quốc Kongo</a>, Vương quốc <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kaabu&amp;action=edit&amp;redlink=1">Kaabu</a>, Vương quốc <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ile_Ife&amp;action=edit&amp;redlink=1">Ile Ife</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Carthage_C%E1%BB%95_%C4%91%E1%BA%A1i&amp;action=edit&amp;redlink=1">Carthage Cổ đại</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Numidia">Numidia</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Mauretania&amp;action=edit&amp;redlink=1">Mauretania</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C6%B0%C6%A1ng_qu%E1%BB%91c_Aksum">Đế chế Aksumite</a>. Vào thời kỳ đỉnh cao, trước thời kỳ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_th%E1%BB%B1c_d%C3%A2n">chủ nghĩa thực dân</a> châu Âu, người ta ước tính rằng châu Phi có tới 10.000 quốc gia và các nhóm tự trị khác nhau với các ngôn ngữ và phong tục riêng biệt.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Ch%C3%A2u_Phi#cite_note-http://newswatch.nationalgeographic.com/2013/10/31/getting-to-know-africa-50-facts/-1"><sup>[1]<br></sup></a><br></div><div><br>Từ giữa thế kỷ thứ 7, việc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Bu%C3%B4n_b%C3%A1n_n%C3%B4_l%E1%BB%87_%E1%BA%A2_R%E1%BA%ADp">buôn bán nô lệ Ả Rập</a> đã chứng kiến người Ả Rập Hồi giáo nô lệ hóa người châu Phi. Sau một hiệp định đình chiến giữa <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Rashidun">Rashidun Caliphate</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=V%C6%B0%C6%A1ng_qu%E1%BB%91c_Makuria&amp;action=edit&amp;redlink=1">Vương quốc Makuria</a> sau <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tr%E1%BA%ADn_Dongola_l%E1%BA%A7n_th%E1%BB%A9_hai&amp;action=edit&amp;redlink=1">Trận Dongola lần thứ hai</a> vào năm 652, nô lệ đã được vận chuyển, cùng với người châu Á và châu Âu, qua <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Bi%E1%BB%83n_%C4%90%E1%BB%8F">Biển Đỏ</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%E1%BA%A4n_%C4%90%E1%BB%99_D%C6%B0%C6%A1ng">Ấn Độ Dương</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Sa_m%E1%BA%A1c_Sahara">sa mạc Sahara</a>.<br><br></div><div><br>Từ cuối thế kỷ 15, người châu Âu bắt đầu tham gia buôn bán nô lệ. Người ta có thể nói người Bồ Đào Nha dẫn đầu trong quan hệ đối tác với những người châu Âu khác. Điều đó bao gồm việc buôn bán hình <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tam_gi%C3%A1c">tam giác</a>, với người Bồ Đào Nha ban đầu có được nô lệ thông qua buôn bán và sau đó bằng vũ lực như một phần của việc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Bu%C3%B4n_b%C3%A1n_n%C3%B4_l%E1%BB%87_%C4%90%E1%BA%A1i_T%C3%A2y_D%C6%B0%C6%A1ng">buôn bán nô lệ Đại Tây Dương</a>. Họ vận chuyển nô lệ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2y_Phi">Tây</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_Phi">Trung</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_Phi_(khu_v%E1%BB%B1c)">Nam</a> Phi ra nước ngoài.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Ch%C3%A2u_Phi#cite_note-2"><sup>[2]</sup></a> Sau đó, thực dân châu Âu ở châu Phi đã phát triển nhanh chóng từ khoảng 10% (1870) đến hơn 90% (1914) trong <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tranh_gi%C3%A0nh_ch%C3%A2u_Phi">Cuộc tranh giành châu Phi</a> (1881-1914). Tuy nhiên, sau những cuộc đấu tranh giành độc lập ở nhiều nơi trên lục địa, cũng như một châu Âu suy yếu sau <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_th%E1%BA%BF_gi%E1%BB%9Bi_th%E1%BB%A9_hai">Chiến tranh thế giới thứ hai</a> (1939–1945), <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Phi_th%E1%BB%B1c_d%C3%A2n_h%C3%B3a">việc phi thực dân hóa</a> đã diễn ra trên khắp châu Phi, đỉnh điểm là vào năm 1960, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=N%C4%83m_c%E1%BB%A7a_ch%C3%A2u_Phi&amp;action=edit&amp;redlink=1">năm của châu Phi</a>.<br><br></div><div><br>Các ngành như việc ghi lại <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_truy%E1%BB%81n_mi%E1%BB%87ng&amp;action=edit&amp;redlink=1">lịch sử truyền miệng</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C3%B4n_ng%E1%BB%AF_h%E1%BB%8Dc_l%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD">ngôn ngữ học lịch sử</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kh%E1%BA%A3o_c%E1%BB%95_h%E1%BB%8Dc_ch%C3%A2u_Phi&amp;action=edit&amp;redlink=1">khảo cổ học</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Di_truy%E1%BB%81n_h%E1%BB%8Dc">di truyền học</a> là rất quan trọng trong việc tái khám phá các nền văn minh vĩ đại của châu Phi thời cổ đại.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-29 07:19:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/longdeptrai2072007/uyz98qmdj6d6c8v3/wish/1853387096</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hàn Quốc</title>
         <author>longdeptrai2072007</author>
         <link>https://padlet.com/longdeptrai2072007/uyz98qmdj6d6c8v3/wish/1853395199</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><br>Hàn Quốc</strong> (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ti%E1%BA%BFng_Tri%E1%BB%81u_Ti%C3%AAn"><strong>tiếng Triều Tiên</strong></a>: 한국/ 韓國/ <em>Hanguk</em>), tên gọi chính thức là <strong>Đại Hàn Dân Quốc</strong> (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ti%E1%BA%BFng_Tri%E1%BB%81u_Ti%C3%AAn"><strong>tiếng Triều Tiên</strong></a>: 대한민국/ 大韓民國/ <em>Daehan Minguk</em>); là quốc gia cộng hòa lập hiến có chủ quyền thuộc khu vực Đông Á, nằm trên nửa phía Nam của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A1n_%C4%91%E1%BA%A3o_Tri%E1%BB%81u_Ti%C3%AAn">bán đảo Triều Tiên</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-16"><sup>[15]</sup></a> Biên giới trên bộ cũng như trên biển ở phía Bắc giáp với <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a_D%C3%A2n_ch%E1%BB%A7_Nh%C3%A2n_d%C3%A2n_Tri%E1%BB%81u_Ti%C3%AAn">Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên</a> thông qua <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Khu_phi_qu%C3%A2n_s%E1%BB%B1">Khu vực phi quân sự</a> <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Khu_phi_qu%C3%A2n_s%E1%BB%B1_Tri%E1%BB%81u_Ti%C3%AAn">Liên Triều</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C3%B9ng_%C4%91%E1%BA%B7c_quy%E1%BB%81n_kinh_t%E1%BA%BF_c%E1%BB%A7a_B%E1%BA%AFc_Tri%E1%BB%81u_Ti%C3%AAn">vùng biển Bắc Triều Tiên</a> qua <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C6%B0%E1%BB%9Dng_gi%E1%BB%9Bi_h%E1%BA%A1n_ph%C3%ADa_B%E1%BA%AFc">Đường giới hạn phía Bắc</a>, phía Đông tiếp giáp <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Bi%E1%BB%83n_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n">biển Nhật Bản</a>, phía Nam giáp với <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kyushu">đảo Kyushu</a> (Nhật Bản) thông qua <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Eo_bi%E1%BB%83n_Tri%E1%BB%81u_Ti%C3%AAn">eo biển Triều Tiên</a> và phía Tây là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0ng_H%E1%BA%A3i">biển Hoàng Hải</a>.<br><br></div><div><br>Hàn Quốc có khí hậu ôn đới, địa hình chủ yếu là đồi núi, lãnh thổ trải rộng 100.363 km², quy mô dân số ước tính vào khoảng hơn 51 triệu người<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-17"><sup>[16]</sup></a>, với 99% cư dân là người Triều Tiên<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-:34-18"><sup>[17]</sup></a> Hàn Quốc được coi là một <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BB%91c_gia_d%C3%A2n_t%E1%BB%99c">quốc gia dân tộc</a>.<br><br></div><div><br>Sau khi thành lập, Hàn Quốc trải qua chiến tranh Triều Tiên, trong các thập niên từ 1960 đến đầu thế kỷ 21, với sự kiện <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/K%E1%BB%B3_t%C3%ADch_s%C3%B4ng_H%C3%A1n">Kỳ tích sông Hán</a>, kinh tế Hàn Quốc đã được khôi phục, phát triển vượt bậc và trở thành một nền kinh tế lớn. Năm 1996, Hàn Quốc chính thức bước vào hàng ngũ các <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/N%C6%B0%E1%BB%9Bc_c%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p">quốc gia công nghiệp phát triển</a> khi gia nhập <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%95_ch%E1%BB%A9c_H%E1%BB%A3p_t%C3%A1c_v%C3%A0_Ph%C3%A1t_tri%E1%BB%83n_Kinh_t%E1%BA%BF">OECD</a> đồng thời giữ vững tư cách đó cho đến nay.<br><br></div><div><br>Hàn Quốc là quốc gia tiến hành <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/K%E1%BB%B3_t%C3%ADch_kinh_t%E1%BA%BF">công nghiệp hóa thứ hai trong lịch sử châu Á</a> sau Nhật Bản<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-19"><sup>[18]</sup></a>, là 1 trong 4 <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BB%91n_con_h%E1%BB%95_ch%C3%A2u_%C3%81">con Rồng kinh tế châu Á</a> cùng với <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%A0i_Loan">Đài Loan</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93ng_K%C3%B4ng">Hồng Kông</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Singapore">Singapore</a>, thành viên của hầu hết các tổ chức toàn cầu lớn trong đó nổi bật như: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Li%C3%AAn_H%E1%BB%A3p_Qu%E1%BB%91c">Liên Hợp Quốc</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/G20_(nh%C3%B3m_c%C3%A1c_n%E1%BB%81n_kinh_t%E1%BA%BF_l%E1%BB%9Bn)">G-20</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A2u_l%E1%BA%A1c_b%E1%BB%99_Paris">Câu lạc bộ Paris</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C6%A1_quan_N%C4%83ng_l%C6%B0%E1%BB%A3ng_Nguy%C3%AAn_t%E1%BB%AD_Qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF">IAEA</a>, OECD, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%95_ch%E1%BB%A9c_Th%C6%B0%C6%A1ng_m%E1%BA%A1i_Th%E1%BA%BF_gi%E1%BB%9Bi">WTO</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Di%E1%BB%85n_%C4%91%C3%A0n_H%E1%BB%A3p_t%C3%A1c_Kinh_t%E1%BA%BF_ch%C3%A2u_%C3%81_-_Th%C3%A1i_B%C3%ACnh_D%C6%B0%C6%A1ng">APEC</a>,... Có <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%89_s%E1%BB%91_ph%C3%A1t_tri%E1%BB%83n_con_ng%C6%B0%E1%BB%9Di">chỉ số phát triển con người</a> (HDI) rất cao<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-:27-20"><sup>[19]</sup></a> - xếp thứ 4 châu Á, hạng 23 thế giới<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-21"><sup>[20]</sup></a>, giữ hạng 9 toàn cầu về tuổi thọ trung bình của người dân<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-:28-22"><sup>[21]</sup></a>, có quy mô nền kinh tế (GDP danh nghĩa) lớn thứ 10 trên thế giới<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-:1-23"><sup>[22]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-:14-24"><sup>[23]</sup></a>, hạng 4 châu Á (2020)<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-25"><sup>[24]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-26"><sup>[25]</sup></a>, xếp hạng 10 thế giới về tổng giá trị thương hiệu quốc gia (2021)<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-:30-27"><sup>[26]</sup></a>, có <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%89_s%E1%BB%91_d%C3%A2n_ch%E1%BB%A7">chỉ số dân chủ</a> cao nhất châu Á<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-:38-28"><sup>[27]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-:39-29"><sup>[28]</sup></a>, có tốc độ đường truyền kết nối <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Internet">Internet</a> thuộc nhóm nhanh nhất thế giới<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-:48-30"><sup>[29]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-:49-31"><sup>[30]</sup></a>. Mặc dù đã ký <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hi%E1%BB%87p_%C6%B0%E1%BB%9Bc_kh%C3%B4ng_ph%E1%BB%95_bi%E1%BA%BFn_v%C5%A9_kh%C3%AD_h%E1%BA%A1t_nh%C3%A2n">Hiệp ước không phổ biến</a> các loại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C5%A9_kh%C3%AD_h%E1%BB%A7y_di%E1%BB%87t_h%C3%A0ng_lo%E1%BA%A1t">vũ khí hủy diệt hàng loạt</a>, quốc gia này vẫn duy trì một <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BB%91c_qu%C3%A2n_%C4%90%E1%BA%A1i_H%C3%A0n_D%C3%A2n_Qu%E1%BB%91c">lực lượng quân đội</a> hiện đại - đứng hạng 8 thế giới về <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C3%A2n_s%C3%A1ch_qu%E1%BB%91c_ph%C3%B2ng_c%C3%A1c_n%C6%B0%E1%BB%9Bc">ngân sách quốc phòng</a> (2021)<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-:33-32"><sup>[31]</sup></a>. Hộ chiếu Hàn Quốc nằm trong nhóm quyền lực nhất thế giới cùng Nhật Bản và Singapore<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-:18-33"><sup>[32]</sup></a>, hiện đang giữ hạng 2 (2021)<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-34"><sup>[33]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-35"><sup>[34]</sup></a>, thậm chí còn có những thời điểm vươn lên để đứng số 1 toàn cầu<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-:19-36"><sup>[35]</sup></a>, đứng thứ 2 châu Á (sau Nhật Bản), hạng 17 thế giới về chỉ số tiến bộ xã hội<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-:22-37"><sup>[36]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-:23-38"><sup>[37]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-:24-39"><sup>[38]</sup></a>, được công nhận là một <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C6%B0%E1%BB%9Dng_qu%E1%BB%91c_v%C3%B9ng">cường quốc khu vực</a> tại Đông Á<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-:13-40"><sup>[39]</sup></a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_c%C6%B0%E1%BB%9Dng_qu%E1%BB%91c">cường quốc bậc trung</a> trên thế giới<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-41"><sup>[40]</sup></a> cũng như là một trong những <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%E1%BB%91i_%C4%90%E1%BB%93ng_minh_kh%C3%B4ng_thu%E1%BB%99c_NATO">đồng minh không thuộc khối NATO</a> quan trọng hàng đầu của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hoa_K%E1%BB%B3">Hoa Kỳ</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-:20-42"><sup>[41]<br></sup></a><br></div><div><br>Trong những năm gần đây, Hàn Quốc đã phát triển và truyền bá mạnh mẽ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c">văn hóa Hàn Quốc</a> ra phạm vi toàn cầu<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-43"><sup>[42]</sup></a> - đặc biệt là ở châu Á<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-44"><sup>[43]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-:45-45"><sup>[44]</sup></a>, hay còn được biết đến với tên gọi '<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%A0n_s%C3%B3ng_H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c">Làn sóng Hàn Quốc</a>'.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-:45-45"><sup>[44]<br></sup></a><br></div><div><br>Mặc dù là một quốc gia phát triển, tuy nhiên hiện nay; Hàn Quốc cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn như <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%C3%A0_h%C3%B3a_d%C3%A2n_s%E1%BB%91">tình trạng lão hóa dân số</a> do tỷ lệ sinh và kết hôn giảm mạnh<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-46"><sup>[45]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-47"><sup>[46]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-48"><sup>[47]</sup></a>, các <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%8Bnh_ki%E1%BA%BFn">định kiến xã hội</a> vẫn tồn tại<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-49"><sup>[48]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-50"><sup>[49]</sup></a>, thất nghiệp<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-:11-51"><sup>[50]</sup></a>, áp lực cuộc sống cao cùng nạn tự sát<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-52"><sup>[51]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-53"><sup>[52]</sup></a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BA%A5t_b%C3%ACnh_%C4%91%E1%BA%B3ng_x%C3%A3_h%E1%BB%99i">bất bình đẳng xã hội</a> và khoảng cách của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BA%A5t_b%C3%ACnh_%C4%91%E1%BA%B3ng_kinh_t%E1%BA%BF">sự phân hóa giàu nghèo</a> đang ngày một gia tăng.<br><strong><br>Trên toàn cầu</strong></div><div><br>Hai tên gọi "Đại Hàn" (Daehan) và "Triều Tiên" (Joseon) tuy khác nhau trong tiếng Việt do phiên âm theo Hán tự, nhưng khi sử dụng quốc tế hoặc dịch sang các ngôn ngữ phương Tây thì đều được dịch giống nhau ví dụ; trong tiếng Anh: "Đại Hàn" hay "Triều Tiên" đều dịch thành "Korea", tiếng Pháp dịch là "Corée", tiếng Nga dịch là "Корея" (chuyển tự Latinh: Koreya), tiếng Tây Ban Nha dịch là "Corea",... Cách dùng này bắt nguồn từ quốc hiệu Cao Ly của nhà nước từng tồn tại trên bán đảo từ năm 918 đến năm 1392. Trong thời kỳ này, tên gọi "Cao Ly - Korea" đã thông qua những thương nhân người Ả-Rập mà lan rộng, truyền bá đến các quốc gia châu Âu.<br><br></div><div><br>Từ năm 1392, bán đảo nằm dưới sự cai trị của nhà Triều Tiên (Joseon). Kể từ đó, cái tên "Triều Tiên" được dùng làm quốc hiệu để chỉ chung cho toàn bộ dân tộc sinh sống trên bán đảo. Trong giai đoạn 1897-1910, sau khi ký kết các hiệp ước bất bình đẳng rồi cuối cùng sáp nhập với Đế quốc Nhật Bản, toàn bộ bán đảo chuyển sang dùng danh xưng "Đế quốc Đại Hàn". Sau khi hai miền đất nước bị chia cắt vào năm 1945, vùng lãnh thổ phía Bắc chọn quốc hiệu cũ - gọi chính thể của mình là "Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên", vùng lãnh thổ phía Nam chọn quốc hiệu "Đại Hàn Dân Quốc", kế thừa từ quốc hiệu "Đế quốc Đại Hàn" - "Đại Hàn Đế Quốc" (Daehan Jegug/대한제국/大韓帝國). Trong đó, chữ "Dân Quốc" (Hán tự: 民國) trong "Đại Hàn Dân Quốc" (大韓民國) được lấy theo quốc hiệu của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_Hoa_D%C3%A2n_Qu%E1%BB%91c_(1912%E2%80%931949)">Trung Hoa Dân Quốc</a>, khi dịch sang các ngôn ngữ phương Tây thì cũng được dịch tương đương như "Cộng hoà Quốc" (共和國, nước Cộng hoà). Trong tiếng Anh, "Dân Quốc" và "Cộng hoà Quốc" đều được dịch là "Republic", tiếng Pháp dịch là "République", tiếng Tây Ban Nha là "República" còn tiếng Nga là "Республика" (chuyển tự Latinh: Respublika).<br><br></div><div><br>Phía Hàn Quốc luôn yêu cầu các đơn vị truyền thông nước ngoài và các cơ quan quốc tế khi ám chỉ tới "Hàn Quốc" thì không được dùng "South Korea" mà phải sử dụng quốc hiệu "Republic of Korea" hoặc "Korea Republic", nếu gọi ngắn thì chỉ dùng "Korea". Tuy nhiên, "South Korea" lại khá phổ biến trong tiếng Anh thường nhật vì được sử dụng để phân biệt với "North Korea" - Bắc Triều Tiên.<br><br></div><div><strong><br>Tại Việt Nam</strong></div><div><br>Trong quá khứ, Hàn Quốc thường hay còn được gọi bằng các tên gọi khác như <strong>Đại Hàn</strong>, <strong>Nam Hàn</strong> (cách gọi tắt từ phía chính quốc khi đó và Trung Hoa Dân Quốc), <strong>Nam Triều Tiên</strong> (cách gọi của phía Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên) hoặc <strong>Cộng hòa Triều Tiên</strong> (cách gọi của phía Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trước năm 1992). Cụ thể, trong thời kỳ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chia_c%E1%BA%AFt_Vi%E1%BB%87t_Nam">chia cắt Việt Nam</a> (1954-1976), báo chí và truyền thông của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a">Việt Nam Cộng hòa</a> (trước đó là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BB%91c_gia_Vi%E1%BB%87t_Nam">Quốc gia Việt Nam</a>) thường chính thức gọi chính thể này là "Đại Hàn" hoặc "Nam Hàn". <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/S%E1%BB%B1_ki%E1%BB%87n_30_th%C3%A1ng_4_n%C4%83m_1975">Sau năm 1975</a>, những tên gọi cũ trên thì dần được chuyển dịch qua các ngôn ngữ phương Tây rồi tiếp tục dịch sang tiếng Việt mà trở thành "Cộng hoà Triều Tiên" (Republic of Korea) hoặc "Nam Triều Tiên" (South Korea) giống như cách gọi của Bắc Triều Tiên (North Korea).<br><br></div><div><br>Ngày 23 tháng 3 năm 1994, bằng công hàm số KEV-398 gửi Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đại sứ quán nước này đã đề nghị phía Việt Nam gọi chính thể của mình là "Đại Hàn Dân Quốc", gọi tắt là "Hàn Quốc" (từ "Hàn" ở đây không phải là "Lạnh" mà đó là ký âm tự của từ "Han" trong tiếng Hàn Quốc, có nghĩa là "Lớn"), không sử dụng các tên gọi cũ như "Cộng hoà Triều Tiên" hoặc "Nam Triều Tiên" nữa, vì "Triều Tiên" gợi nhắc đến danh xưng của miền Bắc (Bắc Triều Tiên). Đáp lại, Bộ Ngoại giao Việt Nam sau đó đã ra công văn số 733/ĐBA-NG ngày 21 tháng 4 năm 1994 gửi tất cả các cơ quan bộ, ngành, tổng cục, các cơ quan thông tin, truyền thông, tuyên truyền và ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương của Việt Nam yêu cầu <em>"Từ nay gọi chính thể Nam Triều Tiên là "Đại Hàn Dân Quốc", gọi tắt là "Hàn Quốc", không dùng các tên gọi cũ như Cộng hoà Triều Tiên, Nam Triều Tiên hay Nam Hàn nữa"</em>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-55"><sup>[54]</sup></a> Danh xưng <em>Nam Triều Tiên</em> hiện nay chỉ còn được truyền thông của phía Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên sử dụng do nước này không công nhận tuyên bố chủ quyền của Hàn Quốc.<br><br></div><div><br>Trong đời sống thường nhật, tên gọi Hàn Quốc trong <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C3%B4n_ng%E1%BB%AF_n%C3%B3i">khẩu ngữ</a> của người Việt - đặc biệt là thế hệ trẻ - thường được gọi tắt là <strong>Hàn</strong>, tương tự như cách gọi <strong>Trung</strong> (Trung Quốc), <strong>Nhật</strong> (Nhật Bản), <strong>Sing</strong> (Singapore), <strong>Đài</strong> (Đài Loan) hay <strong>Thái</strong> (Thái Lan),...<br><br></div><div><br>Lịch sử<br><br></div><div>Bài chi tiết: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c">Lịch sử Hàn Quốc</a></div><div>Xem thêm: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_B%E1%BA%AFc_Tri%E1%BB%81u_Ti%C3%AAn">Lịch sử Bắc Triều Tiên</a></div><div><br>Chi tiết phần lịch sử Hàn Quốc trước năm 1945 được trình bày trong bài <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Tri%E1%BB%81u_Ti%C3%AAn">Lịch sử Triều Tiên</a>.<br><br></div><div><strong><br>Thời kỳ cổ đại</strong></div><div><br>Những nghiên cứu, bằng chứng khoa học và chứng cứ khai quật khảo cổ học cho thấy rằng bán đảo Triều Tiên đã có xuất hiện con người sinh sống sớm nhất ngay từ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_%C4%91%E1%BA%A1i_%C4%91%E1%BB%93_%C4%91%C3%A1_c%C5%A9">thời đại đồ đá cũ</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-56"><sup>[55]</sup></a> Lịch sử Triều Tiên cổ đại bắt đầu kể từ khi nhà nước <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BB%95_Tri%E1%BB%81u_Ti%C3%AAn">Cổ Triều Tiên</a> được thành lập vào năm 2333 TCN bởi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%A0n_Qu%C3%A2n">Đàn Quân</a>. Thời kỳ quân chủ của quốc gia này có nhiều điểm tương đồng với lịch sử Trung Quốc và Việt Nam - khi mà quyền cai trị thuộc về các triều đại phong kiến chuyên chế kế tập, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BA%ADt_gi%C3%A1o_Trung_Qu%E1%BB%91c">Phật giáo Trung Hoa</a> cùng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1o_gi%C3%A1o">Đạo giáo</a> của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%A3o_T%E1%BB%AD">Lão Tử</a> có sức ảnh hưởng lớn và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nho_gi%C3%A1o">Nho giáo</a> của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%E1%BB%95ng_T%E1%BB%AD">Khổng Tử</a> được lấy làm nền tảng tư tưởng gốc rễ cho toàn xã hội. Trong thời đại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tam_Qu%E1%BB%91c_(Tri%E1%BB%81u_Ti%C3%AAn)">Tam Quốc</a>, dưới triều đại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A3ng_Khai_Th%E1%BB%95_Th%C3%A1i_V%C6%B0%C6%A1ng">Quảng Khai Thổ Thái Vương</a> của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Cao_C%C3%A2u_Ly">Cao Câu Ly</a>, lãnh thổ Triều Tiên được mở rộng sau một loạt các chiến dịch quân sự nhằm chinh phục các tiểu quốc của ông thành công, hình thành nên một trong những Đế quốc rộng lớn nhất Đông Bắc Á đương thời<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-57"><sup>[56]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-58"><sup>[57]</sup></a>. Sau Tam Quốc và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BA%ADu_Tam_Qu%E1%BB%91c">hậu Tam Quốc</a>, bán đảo Triều Tiên tiếp tục trải qua các triều đại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Cao_Ly">Cao Ly</a>, giai đoạn <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Cao_Ly_thu%E1%BB%99c_M%C3%B4ng_C%E1%BB%95">Cao Ly thuộc Mông Cổ</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Tri%E1%BB%81u_Ti%C3%AAn">nhà Triều Tiên</a> với vị thế là một đất nước độc lập cho đến cuối thời kỳ của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_%C4%90%E1%BA%A1i_H%C3%A0n">Đế quốc Đại Hàn</a>.<br><strong><br>Thời kỳ cận đại</strong></div><div><br>Bước sang thời kỳ cận đại, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0ng_gia_Tri%E1%BB%81u_Ti%C3%AAn">Hoàng tộc Triều Tiên</a> dưới quyền chi phối và lãnh đạo chuyên chính của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C6%B0ng_Tuy%C3%AAn_%C4%90%E1%BA%A1i_Vi%E1%BB%87n_Qu%C3%A2n">Hưng Tuyên Đại Viện Quân</a> rồi tiếp theo đó là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0ng_h%E1%BA%ADu_Minh_Th%C3%A0nh">Hoàng hậu Minh Thành</a> đã thực thi chính sách "Bế quan tỏa cảng", tự cô lập đất nước với thế giới bên ngoài cũng như thẳng tay đàn áp <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kit%C3%B4_gi%C3%A1o">Thiên Chúa giáo</a> trước các cường quốc châu Âu. Trong khi đó, quốc gia láng giềng Nhật Bản, sau thất bại của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/M%E1%BA%A1c_ph%E1%BB%A7_Tokugawa">Mạc Phủ Tokugawa</a> trong <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_Boshin">chiến tranh Mậu Thìn</a> dẫn đến sự kết thúc của chế độ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Sh%C5%8Dgun">Shōgun</a>, thành công của công cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Minh_Tr%E1%BB%8B_Duy_t%C3%A2n">Minh Trị Duy tân</a>, chấm dứt chủ nghĩa <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Sakoku">Tỏa Quốc</a> và chiến thắng trong các cuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_Nh%E1%BA%ADt%E2%80%93Thanh">chiến tranh Thanh–Nhật</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_Nga%E2%80%93Nh%E1%BA%ADt">chiến tranh Nga–Nhật</a> cùng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_th%E1%BA%BF_gi%E1%BB%9Bi_th%E1%BB%A9_nh%E1%BA%A5t">chiến tranh thế giới thứ nhất</a> - đã trở thành một thế lực mới, dần thay thế phương Bắc, mở rộng sức mạnh và tầm ảnh hưởng của mình lên bán đảo Triều Tiên, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BA%A3i_qu%C3%A2n_%C4%90%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n">Hải quân Nhật Bản</a> sử dụng "Ngoại giao pháo hạm" - mở đầu bằng sự kiện chiến hạm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Uny%C5%8D_(t%C3%A0u_s%C3%A2n_bay_Nh%E1%BA%ADt)">Unyō</a> tấn công đảo Ganghwa, gây áp lực buộc nhà Triều Tiên phải mở cửa các hải cảng để cho thương nhân Nhật tự do ra vào buôn bán, đồng thời nhanh tay nắm quyền chủ động nhằm sớm kiểm soát vùng lãnh thổ này trước các Đế quốc phương Tây - khởi đầu bằng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90i%E1%BB%81u_%C6%B0%E1%BB%9Bc_Nh%E1%BA%ADt%E2%80%93Tri%E1%BB%81u_1876">Điều ước bất bình đẳng Nhật–Triều</a> (1876). Cuối cùng, toàn bộ bán đảo bị Đế quốc Nhật Bản sử dụng vũ lực để sáp nhập ngay sau khi xảy ra sự kiện Thống sứ Nhật Bản tại Triều Tiên - <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/It%C5%8D_Hirobumi">Itō Hirobumi</a> bị nhà cách mạng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/An_Jung-geun">An Jung-geun</a> ám sát tại nhà ga <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A1p_Nh%C4%A9_T%C3%A2n">Cáp Nhĩ Tân</a> (26/10/1909)<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-59"><sup>[58]</sup></a>. Nhật Bản buộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Thanh">nhà Thanh</a> (Trung Quốc) phải từ bỏ hoàn toàn quyền lực chi phối cùng sự ảnh hưởng lâu đời, sâu rộng nối tiếp nhau của Đại Thanh nói riêng cũng như các triều đại phong kiến Trung Hoa nói chung lên đất nước cùng Hoàng tộc Triều Tiên trong suốt chiều dài lịch sử. Người Nhật ép vua <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_H%C3%A0n_Thu%E1%BA%A7n_T%C3%B4ng">Thuần Tông</a> ký kết <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hi%E1%BB%87p_%C6%B0%E1%BB%9Bc_Nh%E1%BA%ADt%E2%80%93Tri%E1%BB%81u,_1910">Nhật-Triều Tịnh Hợp điều ước</a> (Điều ước Sáp nhập hay "Hiệp ước quốc sỉ" - theo cách gọi của người Triều Tiên), trực tiếp kiểm soát bán đảo trong vòng 35 năm từ 1910-1945, giai đoạn này được gọi là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BB%81u_Ti%C3%AAn_thu%E1%BB%99c_Nh%E1%BA%ADt">Triều Tiên thuộc Nhật</a>.<br><strong><br>Thời kỳ hiện đại</strong></div><div><strong><br>Thành lập Dân Quốc<br></strong><br>Thời kỳ Đế quốc Nhật Bản chiếm đóng bán đảo Triều Tiên từ năm 1910 đến 1945 chấm dứt sau khi Đế quốc này bại trận trong <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_Th%C3%A1i_B%C3%ACnh_D%C6%B0%C6%A1ng">chiến tranh Thái Bình Dương</a> vào giai đoạn cuối của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_th%E1%BA%BF_gi%E1%BB%9Bi_th%E1%BB%A9_hai">chiến tranh thế giới thứ hai</a> và đầu hàng, bán đảo được <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%E1%BB%91i_%C4%90%E1%BB%93ng_Minh_th%E1%BB%9Di_Chi%E1%BA%BFn_tranh_th%E1%BA%BF_gi%E1%BB%9Bi_th%E1%BB%A9_hai">quân đội Đồng Minh</a> giải phóng và theo thoả thuận của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%99i_ngh%E1%BB%8B_Yalta">Hội nghị Yalta</a>, Triều Tiên bị chia cắt thành 2 vùng tập kết quân sự bởi Liên Xô cùng Hoa Kỳ, Liên bang Xô viết chiếm đóng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%E1%BB%A6y_tr%E1%BB%8B_d%C3%A2n_s%E1%BB%B1_Li%C3%AAn_X%C3%B4">miền Bắc</a> cho đến <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%A9_tuy%E1%BA%BFn_38_B%E1%BA%AFc">vĩ tuyến 38</a> trong khi Hoa Kỳ chiếm đóng từ vĩ tuyến 38 về phía Nam, hai siêu cường sau đó đã không thể đạt được đồng thuận về việc áp dụng Đồng uỷ trị ở Triều Tiên.<br><br></div><div><br>Tháng 11 năm 1947, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_H%E1%BB%99i_%C4%91%E1%BB%93ng_Li%C3%AAn_H%E1%BB%A3p_Qu%E1%BB%91c">Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc</a> đề ra một giải pháp nhằm tiến hành tổng tuyển cử tại Triều Tiên dưới sự hỗ trợ của Ủy ban Liên Hợp Quốc. Tuy nhiên, các chính phủ lâm thời tại 2 miền đã khước từ việc này, Liên Hợp Quốc sau đó tiếp tục đưa ra một giải pháp khác kêu gọi bầu cử ngay tại địa phương nhưng những hoạt động bầu cử độc lập đầu tiên đã được tiến hành riêng rẽ bắt đầu từ ngày 10 tháng 5 năm 1948 tại các tỉnh phía nam vĩ tuyến 38, điều này dẫn tới việc thành lập Nhà nước Đại Hàn Dân Quốc do <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%BD_Th%E1%BB%ABa_V%C3%A3n">Lý Thừa Vãn</a> đứng đầu, ngay sau đó, đáp lại, miền Bắc cũng tiến hành tổ chức bầu cử, chính phủ và nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên ra đời; do <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kim_Nh%E1%BA%ADt_Th%C3%A0nh">Kim Nhật Thành</a> lãnh đạo, mỗi bên đều tuyên bố mình là chính phủ hợp pháp duy nhất của toàn bộ bán đảo. Trong khi Bắc Triều Tiên chịu sự ảnh hưởng của ý thức hệ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_c%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n">cộng sản chủ nghĩa</a> và được sự hậu thuẫn từ phía Liên Xô, Trung Quốc và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%87_th%E1%BB%91ng_x%C3%A3_h%E1%BB%99i_ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a">Khối các quốc gia xã hội chủ nghĩa</a> thì ngược lại, Nam Triều Tiên lại chịu ảnh hưởng ý thức hệ và được sự hậu thuẫn của Hoa Kỳ, điều này khiến cho những mâu thuẫn chính trị - xã hội giữa hai miền vốn đã trong tình trạng căng thẳng, nay càng trở nên nghiêm trọng và gay gắt. Các mâu thuẫn và xung đột sau đó dẫn đến kết cục là Chiến tranh Triều Tiên khi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%C3%A2n_%C4%91%E1%BB%99i_Nh%C3%A2n_d%C3%A2n_Tri%E1%BB%81u_Ti%C3%AAn">Quân đội Nhân dân Triều Tiên</a> vượt vĩ tuyến 38, cáo buộc quân đội miền Nam vượt qua trước và tổng tấn công, Hoa Kỳ cùng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BB%99_T%C6%B0_l%E1%BB%87nh_Li%C3%AAn_H%E1%BB%A3p_Qu%E1%BB%91c">Liên Hợp Quốc</a> hậu thuẫn Đại Hàn Dân Quốc còn đứng đằng sau Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên là Liên Xô, Trung Quốc và Khối Xã hội chủ nghĩa. Cuộc chiến kéo dài tới ngày 27 tháng 7 năm 1953 và chỉ tạm dừng khi Lực lượng Liên Hợp Quốc, Quân đội Nhân dân Triều Tiên cùng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%AD_nguy%E1%BB%87n_qu%C3%A2n_Nh%C3%A2n_d%C3%A2n">Chí nguyện quân Trung Quốc</a> ký kết Thoả thuận đình chiến tại làng đình chiến <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A0n_M%C3%B4n_%C4%90i%E1%BA%BFm">Bàn Môn Điếm</a> thuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Khu_phi_qu%C3%A2n_s%E1%BB%B1_Tri%E1%BB%81u_Ti%C3%AAn">Khu phi quân sự Triều Tiên</a>, vĩ tuyến 38 chia cắt bán đảo Triều Tiên vĩnh viễn từ đó đến nay. Chiến tranh Triều Tiên khiến cho hơn 3 triệu người thiệt mạng và hàng chục triệu người khác bị ảnh hưởng, rất nhiều người dân, binh lính, quân nhân bị thương tật, một số khác thì bị mất nhà cửa hoặc chia lìa vĩnh viễn những người thân trong gia đình, cuộc chiến này còn tiêu tốn của các bên số tiền lên tới hơn 30 tỷ đô la Mỹ vào thời điểm những năm 1950-53, tương đương với khoảng 325 tỷ theo thời giá ước đoán hiện nay.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-60"><sup>[59]<br></sup></a><br></div><div><br>Sau chiến tranh, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên tiếp tục theo đuổi sự nghiệp thống nhất đất nước trên cơ sở lập luận <em>"một Triều Tiên"</em>, không công nhận chính phủ Hàn Quốc và chọn con đường thống nhất đất nước bằng <em>"Cách mạng Xã hội chủ nghĩa"</em>. Ngược lại, phía Hàn Quốc cũng coi chính phủ của mình là chính thể có chủ quyền hợp pháp duy nhất trên toàn bộ bán đảo Triều Tiên và không công nhận chính phủ Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên. Những quan điểm cứng nhắc, không nhân nhượng lẫn nhau khiến cho quá trình hòa giải giữa hai bên không thể thực hiện được cho đến tận thập niên 1960. Đầu thập niên 1970, quan hệ hai miền dần được cải thiện. Hai bên chính thức công nhận chính phủ của nhau. Năm 1991, hai nhà nước được mời gia nhập Liên Hợp Quốc cùng một lúc. Hàn Quốc là quốc gia đầu tư kinh tế và hoạt động chủ yếu, tích cực nhất trong chiến dịch viện trợ lương thực giúp Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên vượt qua <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/N%E1%BA%A1n_%C4%91%C3%B3i_B%E1%BA%AFc_Tri%E1%BB%81u_Ti%C3%AAn">nạn đói thập niên 1990</a> thông qua <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C6%B0%C6%A1ng_tr%C3%ACnh_L%C6%B0%C6%A1ng_th%E1%BB%B1c_Th%E1%BA%BF_gi%E1%BB%9Bi">Chương trình Lương thực Thế giới</a> của Liên Hợp Quốc.<br><br></div><div><br>Một số hình ảnh về chiến tranh Triều Tiên:<br><strong><br>Thời kỳ độc tài quân sự<br></strong><br>Quá trình dân chủ hoá của Hàn Quốc được thấm đẫm bởi máu, xung đột và bạo lực. Lý Thừa Vãn sau khi lên nắm quyền lực đã cho thực thi một chính sách cai trị độc tài, đàn áp quyết liệt, thẳng tay đối với những người <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%ADnh_tr%E1%BB%8B_c%C3%A1nh_t%E1%BA%A3">cánh tả</a>, thậm chí còn sát hại không ít nhân vật, chính khách bất đồng chính kiến. Đồng thời, bộ máy quản lý đất nước do ông xây dựng cũng bị nạn tham nhũng đục khoét, tàn phá nặng nề, kinh tế đất nước trì trệ, phát triển chậm chạp. Chính vì thế nên sang đến năm 1960, Lý Thừa Vãn phải đối mặt với làn sóng bất bình cực lớn của người dân. Cuối cùng, ông phải rời bỏ nhiệm sở, lên máy bay chạy sang bang Honolulu (Hoa Kỳ) và sống tị nạn tại đây cho tới cuối đời. Hiện nay, dư luận và giới chuyên gia ở Hàn Quốc vẫn đánh giá về Lý Thừa Vãn rất tiêu cực.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-:17-61"><sup>[60]<br></sup></a><br></div><div><br>Chính phủ dân sự ngắn ngủi kế nhiệm của Tổng thống <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chang_Myon">Chang Myon</a> bị lật đổ sau <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A3o_ch%C3%ADnh_16_th%C3%A1ng_5">cuộc đảo chính của tướng Park Chung-hee vào ngày 16 tháng 5 năm 1961</a>. Năm 1963, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Park_Chung-hee">Park Chung-hee</a> kiểm soát chính phủ và chính thức lên nắm quyền tổng thống. Sau đó, ông ta trở thành nhà độc tài thứ 2 của Hàn Quốc.<br><br></div><div><br>Thông qua hoạt động của Hiệp hội kêu gọi tái thiết quốc gia, Park Chung-hee đã giải tán Quốc hội cùng các đảng phái chính trị đối lập đang hoạt động, đồng thời thẳng tay đàn áp các phong trào chống đối. Park Chung-hee ban hành loạt sắc lệnh cấm công nhân tổ chức mít tinh, biểu tình, diễu hành. Ông còn cài cắm lực lượng mật thám, nhân viên thân tín của chính phủ vào bên trong nội bộ các tổ chức công đoàn công nhân để giám sát và rồi dần dần kìm hãm phong trào đấu tranh của họ. Bên cạnh đó, về chính sách đối ngoại, quân đội Hàn Quốc được Park Chung Hee sử dụng như một "đạo quân lê dương" - đánh thuê cho Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam và cũng là lực lượng chính tiến hành các vụ đàn áp, bắt bớ, thủ tiêu, do thám trong nước theo mệnh lệnh của Park.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-:17-61"><sup>[60]<br></sup></a><br></div><div><br>Trong suốt thập niên 1960, chính phủ của Park Chung-hee có xu hướng đàn áp thô bạo ngày càng gia tăng. Năm 1971, Park Chung-hee đã ban bố tình trạng khẩn cấp quốc gia <em>"dựa trên thực tế nguy hiểm của tình hình quốc tế"</em>. Tới tháng 10 năm 1972, ông lại khởi xướng một cuộc đảo chính để tự giải thể quốc hội và đình chỉ hiến pháp, dọn đường để bản thân lên nắm quyền lực thông qua bản Hiến pháp Duy Tân vào tháng 11 và sau đó là một cuộc trưng cầu dân ý bị đánh giá, chỉ trích là gian lận nặng nề, theo đó, hiến pháp mới chính thức chấm dứt bầu cử dân chủ trực tiếp và suy tôn Park Chung-hee làm <em>Tổng thống trọn đời</em>. Park bị chỉ trích là một nhà độc tài quân sự tàn nhẫn, thế nhưng đổi lại, nền kinh tế Hàn Quốc đã được cải thiện rất đáng kể dưới nhiệm kỳ của Park. Chính phủ của ông đã phát triển một hệ thống đường cao tốc trên toàn quốc, hệ thống tàu điện ngầm Seoul và đặt nền tảng to lớn, vững chắc cho sự chuyển biến thần kỳ, mạnh mẽ của đất nước Hàn Quốc trong những thập niên sau đó.<br><br></div><div><br>Ngày 16 tháng 10 năm 1979, tại trường Đại học Busan, một nhóm sinh viên đã xuống đường kêu gọi chấm dứt chế độ độc tài. Làn sóng biểu tình nhanh chóng lan rộng, buổi tối hôm đó đã có tới hơn 50.000 người tụ tập ở phía trước của hội trường thành phố Pusan. Trong hai ngày tiếp theo, một số văn phòng công cộng đã bị tấn công và khoảng 400 người biểu tình đã bị bắt giữ. Vào ngày 18 tháng 10, chính phủ Park Chung Hee tuyên bố thiết quân luật tại Pusan. Thế nhưng các cuộc biểu tình đã lan tới thành phố Masan, đặc biệt là ở Trường Đại học Tổng hợp Kyungnam. Bạo lực leo thang với các cuộc tấn công vào các đồn cảnh sát và trụ sở các cơ quan của đảng cầm quyền trong thành phố. Khủng hoảng xã hội đã khiến nội bộ lực lượng cầm quyền bị rạn nứt. Ngày 26 tháng 10 năm 1979, Park Chung-hee <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%E1%BB%A5_%C3%A1m_s%C3%A1t_Park_Chung_Hee">bị bắn chết</a> bởi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kim_Jae-gyu">Kim Jae-gyu</a>, đương kim Giám đốc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C6%A1_quan_T%C3%ACnh_b%C3%A1o_Trung_%C6%B0%C6%A1ng_H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c">Cơ quan Tình báo Trung ương Hàn Quốc</a> (NIS) và nhóm của mình. Ngay sau đó, Kim Jae-gyu cùng đồng phạm bị tử hình bằng hình thức treo cổ, nhưng cho đến tận ngày nay, một Uỷ ban đặc biệt của chính phủ vẫn đang phải phải tiếp tục thảo luận về việc có nên coi Kim Jae-gyu là người góp công cho quá trình dân chủ hoá của Hàn Quốc hay không.<br><br></div><div><br>Thời đại Park Chung-hee kết thúc trong bạo lực và bất ổn xã hội. Một chính phủ tạm thời được thành lập, đất nước bị đặt trong tình trạng thiết quân luật. Bản thân Park Chung-hee chết do bị ám sát bởi một quan chức thân tín phản bội. Sự nghiệp chính trị của ông cũng bị hoen ố vì độc tài và ngày nay, nhiều người Hàn Quốc căm ghét Park Chung Hee dù ông có công rất lớn trong việc xây dựng và tái thiết lại đất nước. Khi Roh Moo-hyun lên làm Tổng thống vào năm 2003, chính phủ vẫn phải tiếp tục ban hành các đạo luật mới và thành lập các uỷ ban điều tra về tình trạng bạo lực dưới thời Park Chung-hee. Tuy vậy, trong một cuộc khảo sát của Viện nghiên cứu và phân tích thông tin Gallup vào năm 2015 tại Hàn Quốc, Park Chung-hee đã được bình chọn là <em>Tổng thống vĩ đại nhất trong lịch sử nước này</em> (với tỷ lệ bình chọn là 44%).<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-62"><sup>[61]<br></sup></a><br>Năm 1980, tướng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Jeon_Du-hwan">Chun Doo-hwan</a> được một hội đồng quân sự bầu lên làm tổng thống. Ngày 18 tháng 5 năm 1980, tại thành phố Gwangju - thủ phủ của tỉnh Jeolla Nam khi đó - đã xảy ra <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Phong_tr%C3%A0o_d%C3%A2n_ch%E1%BB%A7_Gwangju">Phong trào dân chủ Gwangju</a> - khi người dân địa phương tổ chức đánh cướp kho vũ khí của các trạm cảnh sát để chống lại cảnh sát chính phủ của Chun Doo-hwan sau khi lực lượng này đàn áp tàn bạo một cuộc biểu tình ôn hòa đòi cải cách nền dân chủ cũng như đòi quyền tự do bầu cử của sinh viên địa phương.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-63"><sup>[62]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-64"><sup>[63]</sup></a> Quân đội Hàn Quốc với cả vũ khí sát thương hạng nặng như vòi rồng, xe tăng, xe bọc thép,... đã được điều động đến. 4 giờ sáng ngày 27 tháng 5 năm 1980, quân đội từ 5 hướng tiến vào trung tâm thành phố và đánh bại hoàn toàn lực lượng dân quân chỉ trong vòng 90 phút. Trong sự kiện này, quân đội Hàn Quốc được cho là đã nổ súng bắn chết khoảng 1.000 tới 2.000 thường dân.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-65"><sup>[64]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-66"><sup>[65]<br></sup></a><br></div><div><br>Sau khi đàn áp hoàn toàn cuộc nổi dậy của người dân trong cuộc Thảm sát Gwangju, Chun Doo-hwan trở thành nhà độc tài thứ 3 trong lịch sử chính trị Hàn Quốc. Cũng giống như người tiền nhiệm Park Chung-hee, Chun bắt đầu tiến hành kiểm soát đất nước một cách chặt chẽ hơn, ông ta loại bỏ hoàn toàn các chính trị gia đối lập khỏi chính trường và tiến hành thanh lọc xã hội theo quy mô lớn. Đồng thời, chính phủ Chun Doo-hwan thiết lập một cơ sở đào tạo quân sự đặc biệt mang tên gọi <em>"Trại giáo dục Samcheong"</em>, để tiến hành chương trình <em>"giáo dục thanh lọc"</em>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-:47-67"><sup>[66]</sup></a> Khoảng hơn 40 nghìn người bị bắt đưa đến các cơ sở của trại Samcheong. Số liệu thống kê về sau cho thấy có 54 người đã bị giết trong quá trình giam giữ và 397 người khác chết sau đó.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-:47-67"><sup>[66]</sup></a> Vào năm 1986, Chun Doo-hwan tiếp tục ra lệnh bắt giữ và tra tấn nhiều nhà hoạt động có tư tưởng trái với khuynh hướng của giới cầm quyền, đồng thời nghiêm cấm triệt để các tổ chức công đoàn hoạt động, rất nhiều tổ chức chính trị theo đuổi dân chủ tự do bị đàn áp khốc liệt như Liên minh Dân chủ Thống nhất hay Phong trào Nhân dân.<br><br></div><div><br>Vào tháng 1 năm 1987, một vụ tra tấn dã man của đã dẫn tới cái chết của <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Pak_Yong-chol&amp;action=edit&amp;redlink=1">Park Jong-cheol</a>, sinh viên trường Đại học Quốc gia Seoul. Đầu năm 1987, người dân Hàn Quốc lại bắt đầu nổi dậy sau cái chết của sinh viên họ Park. Họ tổ chức hàng loạt các cuộc bạo động lớn để phản đối chính sách bắt bớ, thủ tiêu, tra tấn tàn bạo của chế độ Chun Doo-hwan và đồng thời tiếp tục yêu cầu tiến hành sửa đổi Hiến pháp. Đây cũng chính là sự khởi đầu cho <em>"Cuộc Nổi dậy Dân chủ Tháng Sáu"</em> - hơn 1,4 triệu người đã tham gia cuộc <em>"Tuần hành Hòa bình Vĩ đại của Nhân dân"</em> được tổ chức tại 34 thành phố và 4 tỉnh, họ hô to khẩu hiệu <em>"Bãi bỏ hiến pháp xấu xa"</em> và <em>"Xóa bỏ chế độ độc tài"</em>. Dưới áp lực ấy, chính quyền Chun Doo-hwan đã buộc phải sửa đổi Hiến pháp, ban hành bản Hiến pháp mới vào ngày 29 tháng 10 năm 1987. Mặc cho các tội ác của mình, Chun Doo-hwan vẫn nắm giữ vị trí cao nhất trong bộ máy quyền lực ở Hàn Quốc cho tới năm 1988 và mãi đến tận năm 1996 mới bị chính phủ kết tội tham nhũng, hối lộ, ra lệnh thảm sát dân thường và bị kết án tử hình nhưng sau đó được giảm xuống còn chung thân và cuối cùng, ông ta nhanh chóng được Tổng thống Kim Young-sam ân xá vào ngày 22 tháng 12 năm 1997.<br><br></div><div><strong><br>Chính phủ dân sự<br></strong><br>Các cuộc nổi dậy trong thập niên 1980 đã để lại dấu ấn to lớn cho sự ra đời của chính phủ dân sự vào năm 1992 với đường lối cầm quyền cùng chính sách đối ngoại mềm mỏng hơn rất nhiều. Trước đó, vào năm 1987, Hiến pháp Hàn Quốc đã được sửa đổi, theo đó, người dân lại được quyền trực tiếp bầu ra Tổng thống. Sự kiện này đánh dấu quá trình chuyển đổi sang nền dân chủ của quốc gia này. Thủ đô Seoul được chọn làm nơi tổ chức <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%BF_v%E1%BA%ADn_h%E1%BB%99i_M%C3%B9a_h%C3%A8_1988">Thế vận hội Olympic năm 1988</a>, một kỳ Thế vận hội vô cùng thành công và đã thúc đẩy đáng kể vị thế quốc tế của Hàn Quốc.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-68"><sup>[67]</sup></a> Hàn Quốc chính thức được mời trở thành thành viên của Liên Hợp Quốc vào năm 1991.<br><br></div><div><br>Tuy đạt được nhiều tiến bộ trong quá trình dân chủ hóa, chính trường Hàn Quốc vẫn chưa bao giờ hết khốc liệt hay có dấu hiệu 'hạ nhiệt', các đời tổng thống tiếp theo là tướng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/No_Tae-u">Roh Tae-woo</a> (1987) <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kim_Young-sam">Kim Young-sam</a> (1992) và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kim_Dae-jung">Kim Dae-jung</a> (1998) đều để lại nhiều dấu ấn với cả tích cực lẫn tiêu cực. Trong đó, vị tổng thống thứ sáu - Roh Tae-woo bị kết án tù vì các tội danh liên quan đến hối lộ, tham nhũng. Tuy vậy, sang đến năm 2000, Tổng thống Kim Dae-jung gây tiếng vang lớn khi được trao giải <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%E1%BA%A3i_Nobel_H%C3%B2a_b%C3%ACnh">Nobel Hoà Bình</a> vì những nỗ lực của ông trong việc bình thường hoá quan hệ với CHDCND Triều Tiên<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-69"><sup>[68]</sup></a>. Vào tháng 6 năm 2000, một hội nghị thượng đỉnh Liên Triều đã diễn ra tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%ACnh_Nh%C6%B0%E1%BB%A1ng">Bình Nhưỡng</a>, thủ đô của CHDCND Triều Tiên, hội nghị là thành quả tích cực sau nhiều năm Hàn Quốc thực thi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%ADnh_s%C3%A1ch_%C3%81nh_D%C6%B0%C6%A1ng">Chính sách Ánh dương</a> với CHDCND Triều Tiên do tổng thống Kim Dae-jung đề xướng. Cuối năm đó, ông Kim đã được nhận giải thưởng Nobel Hòa bình do <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87n_H%C3%A0n_l%C3%A2m_Khoa_h%E1%BB%8Dc_Ho%C3%A0ng_gia_Th%E1%BB%A5y_%C4%90i%E1%BB%83n">Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển</a> trao tặng, giải thưởng nhằm vinh danh cho những nỗ lực to lớn, thiết thực của ông vì nền hòa bình lâu dài trên bán đảo Triều Tiên. Năm 2003, học trò của ông, Roh Moo-hyun kế nhiệm. Thế nhưng sau đó, đến lượt Roh Moo-hyun cũng phải đối mặt với lời buộc tội tham nhũng, ông Roh tự sát vào ngày 23 tháng 5 năm 2009 bằng cách nhảy xuống từ một mỏm núi trong khi các cuộc điều tra vẫn đang tiếp diễn, do vậy, nhiều người nghi ngờ vụ tự sát của ông là do sức ép từ các thế lực khác.<br><br></div><div><br>Sau đó là ông <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Lee_Myung-bak">Lee Myung-bak</a> làm tổng thống trong giai đoạn 2008-2013. Năm 2018, ông Lee bị bắt giam do bị tòa án cáo buộc ít nhất 12 tội danh, trong đó có việc nhận hối lộ 11 tỷ Won (tương đương 10,2 triệu USD) của Cơ quan Tình báo Quốc gia (NIS) và các doanh nghiệp khác. Bên cạnh đó, còn là những cáo buộc về tội danh trốn thuế và chiếm đoạt 35 tỷ Won từ một công ty mà ông Lee bí mật sở hữu. Vào tháng 3 năm 2019, ông Lee được cho phép tại ngoại vì những lo ngại liên quan đến vấn đề sức khỏe, tuy nhiên, vào ngày 19 tháng 2 năm 2020, tòa án quận trung tâm Seoul đã chính thức ra bản án tuyên phạt ông Lee Myung-bak 17 năm tù giam cùng phạt tiền tổng cộng 13 tỷ Won (tương đương khoảng 11 triệu USD).<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-70"><sup>[69]<br></sup></a><br></div><div><br>Tiếp đến là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Park_Geun-hye">Park Geun-hye</a> (con gái của cố Tổng thống - nhà độc tài Park Chung-hee), bà là nữ Tổng thống đầu tiên trong lịch sử Hàn Quốc hiện đại và đồng thời cũng là vị nữ tổng thống dân cử đầu tiên tại châu Á. Tuy nhiên, tới đầu năm 2017, đến lượt Park Geun-hye cũng bị Quốc hội nước này <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%E1%BB%A5_lu%E1%BA%ADn_t%E1%BB%99i_Park_Geun-hye">phế truất và bắt giam</a> với các cáo buộc tiết lộ bí mật quốc gia, nhận hối lộ, để người không có bất kỳ chức vụ, thẩm quyền gì là bà <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Choi_Soon-sil">Choi Soon-sil</a> (bạn thân) can thiệp bất hợp pháp vào các tài liệu mật cũng như công việc nội bộ của chính phủ, lạm quyền và tham nhũng.<br><br></div><div><br>Như vậy, tính cho đến năm 2018, trong số 11 đời Tổng thống Hàn Quốc (không tính các quyền Tổng thống chỉ tạm thời đảm nhiệm chức vụ trong mấy tháng do khủng hoảng chính trị), đã có 1 người bị ám sát, 1 người tự sát do bị điều tra, 1 người bị đảo chính và phải chạy ra nước ngoài tị nạn, 4 người khác bị bắt giam do các tội danh liên quan đến tham nhũng, nhận hối lộ.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-71"><sup>[70]</sup></a> Những vụ bê bối liên quan đến giới chính trị gia hay lãnh đạo các doanh nghiệp kinh tế lớn luôn là một vấn nạn gây ám ảnh, nhức nhối tại quốc gia này<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-72"><sup>[71]</sup></a> bên cạnh sự gia tăng của các loại tội phạm tình dục.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-73"><sup>[72]<br></sup></a><br></div><div><br>Tái thống nhất với CHDCND Triều Tiên là một chủ đề chính trị đang được bàn luận sôi nổi, rộng rãi ở Hàn Quốc hiện nay, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một hiệp định hoà bình nào được ký kết. <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=National_Security_Act_(South_Korea)&amp;action=edit&amp;redlink=1">Luật an ninh quốc gia Hàn Quốc</a> hiện vẫn không cho phép người dân được tiếp nhận bất cứ thông tin nào từ phía Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, những ai tỏ thái độ ủng hộ hoặc có các hành động diễn thuyết, tuyên truyền, phát biểu ca ngợi Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên sẽ bị trục xuất khỏi nước này nếu là người nước ngoài<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-motthegioi.vn-74"><sup>[73]</sup></a> hoặc kết án 7 năm tù giam nếu là công dân Hàn Quốc, tự ý tổ chức các chuyến đi du lịch, đến thăm Bắc Triều Tiên mà không có sự cho phép của chính phủ có thể bị phạt tối đa lên tới 10 năm tù giam<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-:37-75"><sup>[74]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-nytimes.com-76"><sup>[75]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-theguardian.com-77"><sup>[76]</sup></a>. Tổng thống Roh Moo-hyun đã từng nghĩ tới việc dỡ bỏ luật này, nhưng hiện tại điều đó vẫn chưa được thực thi. Tổng thống đương nhiệm Moon Jae-in cũng hy vọng hai miền sẽ tái thống nhất trong hòa bình - sớm nhất là vào năm 2045.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-78"><sup>[77]<br></sup></a><br></div><div><strong><br>Khôi phục và phát triển kinh tế</strong></div><div>Bài chi tiết: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/K%E1%BB%B3_t%C3%ADch_s%C3%B4ng_H%C3%A1n">Kỳ tích sông Hán</a></div><div><strong><br>Chính sách độc tài khắc khổ<br></strong><br>Sau chiến tranh Triều Tiên, vào giai đoạn lịch sử trước khi tướng Park Chung-hee lên nắm quyền vào năm 1961, kinh tế Hàn Quốc khá nghèo nàn với thu nhập bình quân đầu người ít hơn 100 USD mỗi năm. Hàn Quốc thời điểm đó là một quốc gia thuộc vào "<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A1c_n%C6%B0%E1%BB%9Bc_k%C3%A9m_ph%C3%A1t_tri%E1%BB%83n_nh%E1%BA%A5t">Thế giới thứ 4</a>" được xếp hạng là 'một trong những nước nghèo nhất trên thế giới'. Ở giai đoạn này, kinh tế Hàn Quốc cơ bản phụ thuộc vào viện trợ nước ngoài, chủ yếu là từ Mỹ. Khi đó, viện trợ của chính phủ Mỹ chiếm tới gần 80% tổng ngân sách của chính phủ và chiếm một tỷ lệ rất lớn trong tổng sản phẩm quốc gia (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%95ng_s%E1%BA%A3n_l%C6%B0%E1%BB%A3ng_qu%E1%BB%91c_gia">GNP</a>) của Hàn Quốc. Mặc dù cho một số khu vực của đất nước đã trải qua quá trình công nghiệp hóa từ thời kỳ chiếm đóng của Nhật Bản, nhưng phần lớn chủ yếu tập trung tại miền Bắc và nhìn chung, vào đầu thập niên 60, Hàn Quốc vẫn là một nước thuần nông nghiệp lạc hậu, kém phát triển hơn về mọi mặt so với nền kinh tế của CHDCND Triều Tiên - vốn không những rất giàu có về tài nguyên thiên nhiên<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-79"><sup>[78]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-80"><sup>[79]</sup></a> mà còn được Trung Quốc, Liên Xô cùng khối các quốc gia xã hội chủ nghĩa viện trợ, giúp đỡ.<br><br></div><div><br>Để xóa bỏ đói nghèo và tái tạo động lực phát triển kinh tế, Park Chung-hee đã thành lập <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%99i_%C4%91%E1%BB%93ng_T%E1%BB%91i_cao_T%C3%A1i_thi%E1%BA%BFt_Qu%E1%BB%91c_gia">Hội đồng Tối cao phụ trách Tái thiết Quốc gia</a>, mang "kỷ luật quân đội" và chính sách cải cách kinh tế - xã hội kiểu "độc tài" - áp dụng trên toàn quốc. Một trong những mục tiêu, tham vọng chính của tướng Park là chấm dứt tình trạng lạc hậu, nghèo đói ở Hàn Quốc và biến đất nước này từ một nền kinh tế thuộc 'Thế giới thứ tư' trở thành một cường quốc kinh tế hàng đầu của thế giới, ông phát biểu cũng như đặt câu hỏi với các tướng lĩnh cấp dưới; rằng:<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-81"><sup>[80]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-82"><sup>[81]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-83"><sup>[82]<br></sup></a><br></div><div><strong>“</strong> | <em>Chúng ta có nghĩa vụ, trách nhiệm là phải chấm dứt sự nghèo đói và lạc hậu ở Hàn Quốc, để cho các thế hệ sau không còn phải sống như những gì chúng ta đang trải qua, làm thế nào để một đất nước nghèo như Hàn Quốc, vốn có cùng hoàn cảnh lịch sử nhưng lại không được chuẩn bị đầy đủ cho kỷ nguyên sắp tới, có thể giàu mạnh được như Tây Đức bây giờ?</em> | <strong>”</strong></div><div><br>Ngay sau khi thực hiện thành công cuộc đảo chính để lên nắm chính quyền vào tháng 7 năm 1961, tướng Park Chung-hee tuyên bố rằng ông sẽ tiến hành "dọn rác" để làm sạch, thanh lọc xã hội.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-84"><sup>[83]</sup></a> Ông trực tiếp chỉ đạo các lực lượng cảnh sát, quân đội thực hiện hàng ngàn vụ đàn áp, bắt bớ và tiếp tục tái khẳng định quyết tâm của mình khi diễn thuyết trước hơn 20.000 sinh viên của Đại học Seoul bằng loạt câu nói nổi tiếng:<br><br></div><div><strong>“</strong> | <em>Toàn dân Hàn Quốc sẽ phải thắt lưng buộc bụng trong vòng ít nhất là 5 năm tới đây, phải cắn răng mà làm việc nếu muốn được sống còn. Phải biết cách làm như thế nào để trong vòng 10 năm tới, chúng ta tạo ra được một nền kinh tế đứng hàng đầu ở khu vực Đông Á và 20 năm sau đó, chúng ta trở thành cường quốc kinh tế trên thế giới. Chúng ta sẽ khiến cho thế giới phải ngưỡng mộ, phải nể phục, tôn trọng chúng ta,... Hôm nay, có thể vẫn còn có một số đồng bào bất đồng ý kiến với tôi, nhưng xin những đồng bào đó hãy hiểu cho rằng, tổ quốc của chúng ta quan trọng hơn quyền lợi cá nhân. Tôi không hề muốn mị dân, tôi sẽ cương quyết ban hành một chính sách khắc khổ. Tôi sẽ đem bắn bất cứ kẻ nào ăn cắp của công, dù chỉ một đồng. Tôi sẵn lòng chết cho lý tưởng mà mình đã đề ra.</em> | <strong>”</strong></div><div><br>Một trong những việc đầu tiên ông làm là đem tử hình 24 quan chức và doanh nhân vì tội tham nhũng. Toàn xã hội "thắt lưng buộc bụng", trong các công ty, mọi người đều phải làm việc hết sức mình, ai làm không chăm sẽ bị phê bình, mắng nhiếc trước mặt mọi người, thậm chí, trong văn hóa, nội quy của các trường học công ty, doanh nghiệp Hàn Quốc thời bấy giờ có quy định <em>"nếu như học sinh, nhân viên mắc lỗi, làm sai hoặc lười biếng thì giáo viên, cấp trên của họ có quyền tát bạt tai để làm gương mà người đó không được phép tỏ thái độ hay phản đối"</em>. Một số ngành do quân đội trực tiếp xây dựng và quản lý, khi người lính làm việc không chăm, cấp trên có quyền trừng phạt bằng đòn roi. Những du học sinh trước khi ra nước ngoài học tập phải cam kết không ở lại nước ngoài mà phải về nước phục vụ dù muốn hay không, những ai đã học xong mà không quay về nước thì gia đình họ sẽ phải chịu những hình phạt nặng nề.<br><br>Park chuyển chiến lược của nền kinh tế đất nước từ công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu sang công nghiệp hóa định hướng xuất khẩu. Park thành lập một Ủy ban Kế hoạch Kinh tế (EPB) để điều hành nền kinh tế đất nước. Lấy những "Kế hoạch kinh tế 5 năm" - vốn đã từng rất thành công của Liên Xô trước đây - làm kiểu mẫu, Park đã đề ra "Kế hoạch 5 năm" lần đầu tiên vào năm 1962, nhiệm vụ chủ chốt của kế hoạch này là tập trung phát triển các ngành công nghiệp nhẹ nhằm mục đích xuất khẩu. Ông tuyên bố thành phố Ulsan sẽ là một <em>"khu vực phát triển công nghiệp đặc biệt"</em> của đất nước. Ngay sau đó, Hyundai - một trong những tài phiệt lớn đầu tiên của Hàn Quốc đã nhanh chân tận dụng vị thế đặc biệt của Ulsan để biến thành phố này thành nơi đặt các nhà máy chính của mình.<br><br></div><div><br>Hầu hết các nhà sử học đều coi 'Kế hoạch 5 năm đầu tiên' là điểm cất cánh của nền kinh tế Hàn Quốc. Từ năm 1962 đến năm 1966, tốc độ tăng trưởng của kinh tế Hàn Quốc đạt tới 7,6%. Sản lượng xuất khẩu tăng trên 30% mỗi năm, sản lượng sản xuất tăng trên 15% mỗi năm. Vì các chính sách phát triển kinh tế của Park được thúc đẩy bởi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_d%C3%A2n_t%E1%BB%99c">chủ nghĩa dân tộc</a> và mong muốn giành quyền tự chủ cho đất nước của mình, do đó Park chủ trương tự lực, không để cho nền kinh tế của Hàn Quốc bị phụ thuộc và chi phối bởi nước ngoài. Do đó, ban đầu ông đã ra sức hạn chế đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào Hàn Quốc. Tuy nhiên, theo lời khuyên của các chuyên gia kinh tế, ông bắt đầu dần dần nới lỏng những hạn chế này, tuy nhiên, các công ty nước ngoài khi đó muốn đầu tư vào thị trường Hàn Quốc thì phải tiến hành chuyển giao công nghệ ở một mức độ nhất định cho các doanh nghiệp nước này. Năm 1966, 'Đạo luật kích thích vốn đầu tư nước ngoài' được chính phủ Park thông qua đã cung cấp những ưu đãi về thuế cho các nhà đầu tư nước ngoài và hợp lý hóa quy trình đầu tư vào Hàn Quốc. Kế hoạch năm năm lần thứ hai (1967-1971) tiếp tục nhấn mạnh hơn vào việc thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, khuyến khích chuyển giao công nghệ và cải thiện cơ sở hạ tầng trong nước.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-85"><sup>[84]<br></sup></a><br></div><div><br>Vào năm 1972, Park tuyên bố thiết quân luật và ban hành một hiến pháp mới mang lại cho ông ta quyền lực tuyệt đối tới mức gần như trở thành một nhà độc tài. Sử dụng quyền lực của mình, Park đã chuyển hướng nền kinh tế của đất nước sang tập trung vào phát triển các ngành công nghiệp nặng và hóa chất. Từ năm 1973, nền kinh tế Hàn Quốc đặt trọng tâm chủ yếu vào 6 ngành: thép, hóa chất, luyện kim, chế tạo máy, đóng tàu và điện tử. Giai đoạn phát triển công nghiệp này tập trung tại các thành phố nhỏ nằm ở phía đông nam của đất nước.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-86"><sup>[85]<br></sup></a><br></div><div><br>Kế hoạch phát triển kinh tế của Park Chung-hee là dựa vào xuất khẩu nhờ giá thành thấp. Chi phí sản xuất được cố tình hạ thấp đến mức tối thiểu bằng cách toàn dân phải cam chịu gian khổ, tiêu dùng hết sức tiết kiệm. Để người lao động có thể sống với mức lương rất thấp, chính quyền đã áp dụng biện pháp bảo hộ, giữ giá những sản phẩm nông nghiệp luôn ở mức rất thấp. Cuối thập niên 70, các tập đoàn công nghiệp của Hàn Quốc đã sản xuất được máy thu hình màu, nhưng chỉ để xuất khẩu, trong nước chỉ dùng TV trắng đen. Các sản phẩm xa xỉ như mỹ phẩm, xe hơi cao cấp, quần áo thời trang,... đều bị hạn chế nhập khẩu ở mức tối đa để nguồn vốn quý giá không bị chảy ra nước ngoài.<br><br></div><div><br>Quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng của Hàn Quốc cũng phải trả giá bằng sự hy sinh rất lớn của tầng lớp lao động. Quyền của người lao động bị hạn chế tối đa vì từ năm 1962, chính sách toàn quốc thắt lưng buộc bụng được áp dụng triệt để, không có ngoại lệ, từ Tổng thống, quan chức đến dân chúng. Người dân, người lao động Hàn Quốc thời kỳ đó phải làm việc cật lực, nặng nhọc và triền miên, nhưng sống rất kham khổ. Hàng tuần mỗi người dân đều phải nhịn ăn một bữa, không hút thuốc lá ngoại nhập, không uống cà phê, không mặc quần áo thời trang đắt tiền. Thời gian lao động kéo dài đến 12-14 tiếng mỗi ngày. Điều kiện lao động kém, tiền lương rất thấp. Những phản kháng tự phát của công nhân, nông dân hoặc của dân nghèo thành thị đòi hỏi cải thiện điều kiện sống đều bị chính quyền Park Chung Hee thẳng tay đàn áp không thương tiếc. Michael Schuman, một nhà báo nổi tiếng chuyên về lĩnh vực kinh tế học của thời báo <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Time_(t%E1%BA%A1p_ch%C3%AD)">Time</a> (Mỹ) nhận định:<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-87"><sup>[86]<br></sup></a><br></div><div><strong>“</strong> | <em>Chế độ Park Chung-hee đã thực hiện quyền kiểm soát nhà nước đối với nền kinh tế một cách tàn bạo vượt xa cả con quỷ Sahashi.</em> | <strong>”</strong></div><div><strong><br>Tham chiến tại Việt Nam</strong></div><div>Bài chi tiết: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c_trong_chi%E1%BA%BFn_tranh_Vi%E1%BB%87t_Nam">Hàn Quốc trong chiến tranh Việt Nam</a></div><div>Xem thêm: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_Vi%E1%BB%87t_Nam">Chiến tranh Việt Nam</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%C3%A2n_l%E1%BB%B1c_Th%E1%BA%BF_gi%E1%BB%9Bi_T%E1%BB%B1_do_(chi%E1%BA%BFn_tranh_Vi%E1%BB%87t_Nam)">Quân lực Thế giới Tự do (chiến tranh Việt Nam)</a>, và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%99i_%C3%A1c_c%E1%BB%A7a_Qu%C3%A2n_%C4%91%E1%BB%99i_Hoa_K%E1%BB%B3_v%C3%A0_%C4%91%E1%BB%93ng_minh_trong_chi%E1%BA%BFn_tranh_Vi%E1%BB%87t_Nam">Tội ác của Quân đội Hoa Kỳ và đồng minh trong chiến tranh Việt Nam</a><br>Mặt khác, theo yêu cầu hỗ trợ của Hoa Kỳ và từ chính phủ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_V%C4%83n_Thi%E1%BB%87u">Nguyễn Văn Thiệu</a>, Tổng thống Park Chung-hee đã cử hơn 320.000 quân nhân sang tham chiến cùng với quân đội Mỹ, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%C3%A2n_l%E1%BB%B1c_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a">Việt Nam Cộng hòa</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_ch%E1%BB%91ng_c%E1%BB%99ng">Khối đồng minh chống cộng</a> (Úc, New Zealand, Thái Lan, Philippines,...) trong <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_Vi%E1%BB%87t_Nam">chiến tranh Việt Nam</a> - vừa để nhằm mục đích "nâng cao vị thế quốc gia", hỗ trợ đồng minh Hoa Kỳ trong việc hoàn thành kế hoạch tham vọng chống lại sự lan rộng đang cực kỳ mạnh mẽ của chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn cầu theo <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Thuy%E1%BA%BFt_domino">Học thuyết Domino</a> cũng như để đổi lấy những khoản viện trợ từ phía chính phủ nước này. Đây là lực lượng quân sự nước ngoài có quy mô lớn thứ 2 trong cuộc chiến chỉ sau Hoa Kỳ<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-88"><sup>[87]</sup></a>, số lượng binh sĩ Hàn Quốc tham chiến đạt mức cao nhất trong năm 1968 với khoảng trên 50.000 người<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-Tucker1-89"><sup>[88]</sup></a>. Ước tính sau 9 năm chiến đấu ở miền Nam Việt Nam (1964–1973): có khoảng từ 4.407<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-donga-90"><sup>[89]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-Tucker-91"><sup>[90]</sup></a> - 5.099 lính tử trận, 10.962 người khác bị thương và 4 mất tích trong suốt cuộc chiến.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-cumings-92"><sup>[91]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-donga-90"><sup>[89]</sup></a> Đội quân này gây ra một danh sách dài những tội ác chiến tranh, những vụ đàn áp, thảm sát thường dân Việt Nam, xóa sổ nhiều làng mạc bị nghi ngờ là du kích, hỗ trợ cho <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/M%E1%BA%B7t_tr%E1%BA%ADn_D%C3%A2n_t%E1%BB%99c_Gi%E1%BA%A3i_ph%C3%B3ng_mi%E1%BB%81n_Nam_Vi%E1%BB%87t_Nam">Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam</a> khi tham chiến đồng thời bỏ lại nơi đây hàng ngàn <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Lai_%C4%90%E1%BA%A1i_H%C3%A0n">đứa con lai</a> khi rời đi. Sau này, phía Hàn Quốc thống kê được rằng quân đội của họ đã làm tổng cộng khoảng 41.000 người Việt Nam bị coi là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_C%E1%BB%99ng">Việt Cộng</a> thiệt mạng.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-donga-90"><sup>[89]<br></sup></a><br></div><div><br>Đổi lại, chính phủ Hoa Kỳ tài trợ mọi khoản chiến phí và trả tiền lương cho binh lính Hàn Quốc. Tổng cộng Mỹ đã viện trợ hoặc cho Hàn Quốc vay ưu đãi khoảng 10 tỷ USD (tương đương khoảng 70 tỷ USD theo thời giá năm 2017) từ năm 1946 tới năm 1978. Trong đó nhiều nhất là giai đoạn 1965-1972: chỉ riêng trong 7 năm này, Hàn Quốc nhận được 5 tỷ USD viện trợ của Mỹ (tương đương 35 tỷ USD theo thời giá 2017) - nhiều gấp 3 lần mức viện trợ nhận được trong giai đoạn trước. Trong 2 năm đầu (1965-1966), thu nhập từ việc đánh thuê cho Mỹ chiếm 40% thu nhập ngoại hối của Hàn Quốc. Một số học giả tính toán rằng số tiền có được từ cuộc chiến Việt Nam chiếm từ 7-8% GDP của Hàn Quốc trong những năm 1966-1969.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-93"><sup>[92]</sup></a> Số tiền được chính phủ Mỹ chuyển thẳng cho chính phủ Hàn Quốc dưới hình thức "bán công khai" như trợ cấp phát triển quốc phòng, hợp đồng dân sự, chuyển giao công nghệ và ưu đãi thị trường bởi các đời Tổng thống <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Lyndon_B._Johnson">Johnson</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Richard_Nixon">Nixon</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-94"><sup>[93]<br></sup></a><br></div><div><br>Theo chân quân đội Hàn Quốc sang Việt Nam, các công ty công nghiệp lớn của nước này thời ấy; như Hyundai, đã tranh thủ tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu khi tham gia vào công việc hoàn thành các dự án xây dựng, vận tải, hậu cần và hệ thống giao thông lớn cho quân đội Hoa Kỳ tại miền Nam Việt Nam, điều mà họ đã áp dụng về sau này để giành được những hợp đồng béo bở ở Trung Đông cùng nhiều nơi khác trên khắp thế giới.<br><br></div><div><br>Nhờ viện trợ và tiền lương của Mỹ trả cho binh lính Hàn Quốc tham chiến ở Việt Nam, kinh tế Hàn Quốc phát triển nhanh chóng. Chỉ trong vòng 10 năm từ 1964 tới 1974, GNP bình quân của Hàn Quốc đã tăng hơn 5 lần (từ 103 USD lên 541 USD). Rất nhiều 'máu' đã đổ khi lính Hàn Quốc tham chiến ở Việt Nam và nhiều ý kiến cho rằng những tổn thất sinh mạng đó đã góp phần không nhỏ cho sự phát triển kinh tế của Hàn Quốc sau này.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-donga-90"><sup>[89]</sup></a> Trong bài phát biểu nhân "Ngày tưởng niệm" (6/6/2017), Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in đã tái khẳng định rằng:<br><strong><br>Hỗ trợ từ Nhật Bản và Hoa Kỳ</strong></div><div><br>Nhật Bản và Hoa Kỳ cũng đóng một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế thần kỳ của Hàn Quốc. Tổng thống Park Chung-hee đã quyết định bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Nhật Bản vào năm 1965 - một động thái gặp phải sự phản đối gay gắt của nhiều người Hàn Quốc (vì Nhật Bản từng xâm lược và đô hộ Hàn Quốc trong thời kỳ 1895-1945). Lao động giá rẻ ở trong nước kết hợp với vốn và công nghệ của Nhật Bản đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình công nghiệp hóa của Hàn Quốc. Sau khi bình thường hóa quan hệ ngoại giao, Nhật Bản đã trở thành nhà đầu tư nước ngoài lớn thứ hai ở Hàn Quốc chỉ đứng sau Hoa Kỳ. Trong vòng mười năm sau đó, thương mại giữa hai nước đã mở rộng hơn 10 lần, từ năm 1962 đến 1979, 60% công nghệ từ nước ngoài của Hàn Quốc là do Nhật Bản cung cấp.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-96"><sup>[95]<br></sup></a><br></div><div><br>Thị trường Hoa Kỳ cùng với các khoản đầu tư và chuyển giao công nghệ của Nhật Bản đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự chuyển biến thần kỳ của nền kinh tế Hàn Quốc. Kinh tế Nhật Bản cũng là một mô hình rất tốt để Hàn Quốc noi theo trong công cuộc định hình, phát triển nền kinh tế quốc gia. Trong thời kỳ thuộc địa và kể cả sau khi giành được độc lập, người Hàn Quốc đã học hỏi được rất nhiều điều từ người Nhật về những gì mà một quốc gia không thuộc phương Tây có thể làm để công nghiệp hóa và hiện đại hóa thành công. Một nhà kinh tế học người Hàn Quốc đã mô tả chính sách của cộng đồng doanh nghiệp nước này vào thời kỳ đó là: <em>"Làm hệt như những gì người Nhật đã từng làm, nhưng cố gắng tìm cách làm sao để đạt được điều đó một cách nhanh hơn, hiệu quả và ít tốn kém hơn"</em>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-97"><sup>[96]<br></sup></a><br></div><div><strong><br>Cải cách văn hóa - xã hội</strong></div><div>Xem thêm: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Phong_tr%C3%A0o_N%C3%B4ng_th%C3%B4n_M%E1%BB%9Bi_(H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c)">Phong trào Nông thôn Mới (Hàn Quốc)</a></div><div><br>Park Chung-hee cho rằng, Hàn Quốc trước tiên cần phải phát triển kinh tế vững mạnh rồi sau đó mới có thể có được dân chủ:<br><br></div><div><strong>“</strong> | <em>Người dân các nước châu Á sợ hãi cái đói hơn là sợ độc tài. Các dân tộc châu Á muốn có bình đẳng kinh tế trước rồi sau đó mới có thể nghĩ đến chuyện xây dựng một cơ chế chính trị công bằng hơn… Và, viên ngọc mang tên dân chủ chắc chắn sẽ chẳng bao giờ có thể trở nên rực rỡ, nó là vô nghĩa đối với những người đang đói khát và tuyệt vọng.</em> | <strong>”</strong></div><div><br>Bằng lý lẽ này, Park Chung-hee sử dụng hệ thống cảnh sát mật để theo dõi và dẹp tan mọi hành vi chống lại ông. Tất cả mọi cá nhân có phát ngôn hoặc hành động chống lại chính phủ, mọi cuộc biểu tình đòi tăng lương đều bị đáp lại bằng sự trừng phạt, bắt bớ, trấn áp thẳng tay. Park Chung-hee sử dụng luật an ninh chống cộng để bỏ tù và tra tấn bất cứ ai bất đồng chính kiến. Các cuộc biểu tình, hệ thống báo chí và phát ngôn nói chung đều bị kiểm duyệt hà khắc. Các sĩ quan cảnh sát mang thước và chặn thanh niên trên phố để đo tóc và váy của họ. Chính quyền sẽ can thiệp rất thô bạo nếu thanh niên để tóc dài, phụ nữ mặc váy ngắn. Gián điệp, chỉ điểm có mặt khắp mọi nơi, giám sát đến cả trường học. Những người bất đồng chính kiến khó thoát khỏi bị bắt và kết cục là cuộc sống mòn mỏi ở trong tù. Ở Hàn Quốc thời điểm này, nếu một người bị quy là người cộng sản, người đó sẽ mất hết mọi quyền tồn tại trong xã hội. Quy kết và phê phán nhằm vào một chính sách nào đó của chính phủ, chính khách đối lập là mang tư tưởng "Cộng sản chủ nghĩa" là phương cách được chính quyền Park ưa thích và tận dụng rất hiệu quả. Khi một nhà hoạt động xã hội bị bắt, người đó sẽ bị tra tấn dã man để phải thú nhận mình là người cộng sản<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-98"><sup>[97]</sup></a>. Cho đến nay, không một chính trị gia Hàn Quốc nào có thể tạo được một sự uy quyền bao trùm tuyệt đối lên đất nước cũng như khiến cả một thế hệ người dân Hàn Quốc sợ hãi như Park Chung-hee.<br><br></div><div><br>Chế độ độc tài quân sự của Park Chung-hee mang tính chất chuyên chế độc đoán, phản dân chủ mạnh mẽ, nhưng cũng không thể phủ nhận những mặt tích cực của chế độ chính trị này đối với việc định hướng diện mạo nền kinh tế và xã hội Hàn Quốc ngày nay. Bên cạnh các biện pháp chính trị, Park Chung-hee sử dụng các yếu tố văn hóa Nho giáo để thúc đẩy phát triển đất nước. Vào đầu những năm 1970, Park Chung-hee dự định dẹp bỏ tất cả những gì gọi là truyền thống để nhanh chóng đạt được hiện đại hóa. Phong trào xây dựng nông thôn mới (Saemaul Undong) đã đập phá nhiều di sản văn hóa, những truyền thống đều bị coi là "cổ hủ", "lạc hậu" và "lỗi thời", cần phải gạt bỏ nhanh chóng để tiến lên hiện đại hóa:<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-99"><sup>[98]<br></sup></a><br></div><div><strong>“</strong> | <em>Người dân Hàn Quốc mắc kẹt với lối sống truyền thống của họ mà không hề hay biết bất kỳ điều gì đang xảy ra bên ngoài đất nước. Chúng tôi giống như những con ếch ngồi trong đáy giếng.</em> | <strong>”</strong></div><div><br>Nhưng về tư tưởng, Park Chung-hee nhận thấy rằng ông không thể đưa ra một học thuyết chính trị mới nào đủ hoàn thiện để có thể thay thế được vị trí của Nho giáo mà nhận ra rằng, không thể không sử dụng, duy trì những yếu tố tích cực của tôn giáo này, trong đó, Trung (trung thành) và Hiếu (hiếu thảo) là hai giá trị quan xuyên suốt nhiều thế kỷ ở Hàn Quốc. Trong thời gian sau đó, xã hội Hàn Quốc đã xảy ra nhiều cuộc tranh luận nóng bỏng giữa các học giả về tính hữu dụng của những yếu tố tích cực trong Nho giáo truyền thống. Cuối cùng, kết quả là Park Chung-hee đã đi đến quyết định: <em>"Giá trị quan của Nho giáo về 'Trung' và 'Hiếu' là nền tảng của xã hội"</em> - những chính sách giáo dục đề cao đạo Khổng được ông ra chỉ thị tiếp tục dạy trong nhà trường và truyền bá sâu rộng trong đời sống nhân dân.<br><br>Sự tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn này đã cải thiện đáng kể mức sống cho người dân Hàn Quốc. Cuối năm 1965, khoảng 58,7% lực lượng lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, nhưng tỷ lệ này đã giảm xuống còn 50,4% vào năm 1970 và 38,4% vào năm 1978. Công nghiệp hóa dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng dân số đô thị của Hàn Quốc, tăng từ 28,3% tổng số năm 1960 lên 54,9% vào năm 1979. Năm 1960, khoảng một phần ba trẻ em từ 12 đến 14 tuổi theo học tại các trường trung học; tỷ lệ đó tăng lên 53,3% vào năm 1970 và 74,0% vào năm 1975. Năm 1960, chỉ có khoảng 19,9% dân số từ 15 đến 17 tuổi đi học; tỷ lệ đó tăng lên 29,3% vào năm 1970 và 40,5% vào năm 1975<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-102"><sup>[101]</sup></a>. Năm 1970, quá trình xây dựng tuyến đường cao tốc Gyeongbu đã được hoàn thành, liên kết Seoul với khu vực phía đông nam của quốc gia và các thành phố cảng lớn như Incheon và Busan<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-103"><sup>[102]</sup></a>. Vào năm 1969, cả nước chỉ có 200.000 máy truyền hình, đến năm 1979 đã có sáu triệu máy truyền hình<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-auto6-104"><sup>[103]</sup></a>. Nếu như vào năm 1969, chỉ có 6% hộ gia đình ở Hàn Quốc sở hữu một chiếc TV, thì đến năm 1979, đã có 4/5 hộ gia đình Hàn Quốc sở hữu TV.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-auto6-104"><sup>[103]<br></sup></a><br></div><div><br>Nhờ những biện pháp cứng rắn về chính trị, khắc khổ về kinh tế cũng như sử dụng yếu tố văn hóa, từ thập niên 1960, kinh tế Hàn Quốc phát triển với tốc độ rất nhanh.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-105"><sup>[104]</sup></a> Tuy nhiên, vào ngày 26 tháng 10 năm 1979, tổng thống Park Chung-hee bất ngờ bị ám sát, sự tăng trưởng thịnh vượng đều đặn của đất nước cũng đột ngột dừng lại, kéo theo đó là một thời kỳ hỗn loạn liên tiếp về chính trị, cộng với sự tăng vọt của giá dầu mỏ trong năm 1979, một vụ mùa thu hoạch lúa gạo thất bát và tỷ lệ lạm phát đáng báo động, lên tới 44%, khiến cho nền kinh tế Hàn Quốc phải chịu mức suy thoái lên tới 6% trong năm 1980. Nhưng sau đó, nền kinh tế đã nhanh chóng phục hồi và quay trở lại quỹ đạo tăng trưởng. Thập niên 1980 tiếp tục chứng kiến tốc độ tăng trưởng GDP cao, đạt đỉnh điểm vào những năm 1986-1988 ở mức 12% mỗi năm, khiến cho kinh tế Hàn Quốc trở thành nền kinh tế đạt mức tăng trưởng cao nhất thế giới tại thời điểm đó<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-:35-106"><sup>[105]</sup></a>, Hàn Quốc khi đó được xếp vào một trong những <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/N%C6%B0%E1%BB%9Bc_c%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p_m%E1%BB%9Bi"><em>nước công nghiệp hóa mới</em></a> của thế giới. Những năm kế tiếp, tốc độ tăng trưởng tuy chậm lại, nhưng nền kinh tế Hàn Quốc tiếp tục tăng trưởng nhanh cho đến năm 1996 với tốc độ tăng trưởng trung bình là hơn 10% mỗi năm<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-:35-106"><sup>[105]</sup></a>. Năm 2004, GDP của Hàn Quốc là 680 tỷ USD, vươn lên đứng thứ 12 trên thế giới. Ngày nay, quốc gia này không chỉ tiếp tục phát triển kinh tế mà còn xây dựng thành công một hệ thống chính trị dân chủ tự do hoàn chỉnh với việc người dân được tiếp cận ở mức độ cao các quyền tự do đầy đủ như tự do kinh tế, tự do dân sự, tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do tôn giáo,...<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-:38-28"><sup>[27]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-:39-29"><sup>[28]</sup></a> các đối tượng đặc biệt như người cao tuổi và trẻ em được hưởng quyền chăm sóc sức khỏe, giáo dục công miễn phí và chú trọng phát triển nhân văn<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-107"><sup>[106]</sup></a> - trở thành hình mẫu chính trị dân chủ cho các quốc gia châu Á khác, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á, học tập, áp dụng theo<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-108"><sup>[107]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-109"><sup>[108]</sup></a>. Giai thoại về sự cải cách, bùng nổ và thành công trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của Hàn Quốc được gọi là <em>Kỳ tích trên dòng sông Hán</em> (한강의 기적).<br><br></div><div><strong><br>Sự hình thành Chaebol</strong></div><div>Bài chi tiết: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chaebol">Chaebol</a><br><br>Trong bối cảnh chính trị như vậy, nền kinh tế Hàn Quốc cũng phát triển theo mô hình "Độc tài". Các Chaebol - tức Tài phiệt, là thuật ngữ dùng để chỉ các đại tập đoàn gia đình lớn. Thông thường, tài phiệt là các tập đoàn đa quốc gia với thành viên bao gồm rất nhiều các doanh nghiệp quốc tế nhưng đều nằm dưới sự điều khiển của một ông chủ duy nhất nắm quyền điều hành trên tất cả các cơ sở này.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-mw-110"><sup>[109]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-Jung_2004_299%E2%80%93303-111"><sup>[110]</sup></a> Hiện nay, ở Hàn Quốc có đến hàng chục nhóm tài phiệt như vậy, hầu hết nằm dưới sự điều khiển tuyệt đối của một vài gia tộc. Đến năm 2008, khoảng 80% GDP của Hàn Quốc có nguồn gốc từ các tài phiệt, chỉ riêng Samsung đã chiếm tới 1/5 giá trị xuất khẩu của nước này. Các lãnh đạo tài phiệt đóng một vai trò quan trọng trong việc chi phối nền chính trị Hàn Quốc. Ví dụ, vào năm 1988, chủ tịch của tập đoàn Hyundai khi ấy là ông Jeong Mong-jun đã trúng cử vào Quốc hội Hàn Quốc, một số lãnh đạo tài phiệt khác cũng trúng cử đại biểu quốc hội thông qua <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_di%E1%BB%87n_t%E1%BB%B7_l%E1%BB%87">cơ chế đại biểu tỷ lệ</a>.<br><br></div><div><br>Các tài phiệt chỉ nắm giữ một phần nhỏ cổ phần nhưng lại có rất nhiều quyền lực và có khả năng kiểm soát tất cả các công ty con. Ví dụ: Samsung chỉ sở hữu 0,5% tài sản của các hãng thuộc quyền, nhưng thực tế thì một tổ chức mẹ có quyền chi phối mọi mặt tất cả các công ty con này. Điều này cho thấy mức độ tuân thủ pháp luật ở các tài phiệt Hàn Quốc là rất thấp.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-Jung_2004_299%E2%80%93303-111"><sup>[110]</sup></a> Các tài phiệt duy trì quyền lực của mình thông qua việc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A1n_ch%C3%A9o">sở hữu chéo</a> (<em>cross-holding</em>).<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-112"><sup>[111]</sup></a> Các tài phiệt <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C5%A9ng_%C4%91o%E1%BA%A1n_th%E1%BB%8B_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng">lũng đoạn</a> nền kinh tế Hàn Quốc, trở nên quá lớn để có thể bị khống chế hay sụp đổ (<em>too big to fall</em>), một số công ty như Hyundai, SK thậm chí còn có dính líu đến những vụ bê bối liên quan tới các tổng thống Kim Dae-jung và Roh Moo-hyun.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-113"><sup>[112]<br></sup></a><br></div><div><br>Từ 1998 đến 2007, Hàn Quốc đã có những tiến bộ trong tiến trình dân chủ hoá, song đôi khi vẫn trượt theo hướng độc tài. Đã có rất nhiều tổ chức phi chính phủ giả hiệu hoạt động theo mệnh lệnh của chính quyền, nhiều nhóm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%ADnh_tr%E1%BB%8B_c%C3%A1nh_h%E1%BB%AFu">cánh hữu</a>, nhiều tổ chức hiện <em>"vẫn tìm cách bảo vệ những quyền ưu tiên mà họ có được từ thời của chế độ độc tài"</em>. Ở Hàn Quốc, quá trình dân chủ hoá diễn ra trong bối cảnh của tăng trưởng kinh tế nhưng không phải là sự phát triển kinh tế trực tiếp thúc đẩy dân chủ hoá. Các phương thức phát triển kinh tế trở nên phản nhân văn và mang nặng tính bóc lột. Người Hàn Quốc hiện nay phải gánh chịu rất nhiều áp lực trong cuộc sống, nhất là về sự thành công, công việc và học tập.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-114"><sup>[113]<br></sup></a><br></div><div><br>Địa lý<br><br></div><div>Bài chi tiết: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%8Ba_l%C3%BD_H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c">Địa lý Hàn Quốc</a></div><div><strong><br>Khái quát<br></strong><br>Về vị trí địa lý, lãnh thổ Hàn Quốc được sắp xếp thành 17 đơn vị hành chính, bao gồm cả thực thể địa lý tranh chấp như nhóm đảo Liancourt (Dokdo) (với Nhật Bản và Bắc Triều Tiên) và các bãi đá ngầm Socotra, Gageo (với Trung Quốc) mà nước này tuyên bố chủ quyền và hiện đang duy trì quyền tài phán cùng sự kiểm soát trên thực tế.<br><br></div><div><br>Vì Hàn Quốc nằm ở phần phía nam của Bán đảo Triều Tiên, thuộc khu vực Đông Á, vậy nên quốc gia này cũng được coi là 1 bán đảo. Nước này có đường biên giới trên bộ duy nhất với CHDCND Triều Tiên, nằm ở phía bắc với đường biên giới dài 238 km dọc theo Khu phi quân sự Triều Tiên. Hàn Quốc chủ yếu được bao bọc bởi biển, với 8.460 km đường bờ biển trải dài cả ba mặt tây, nam và đông. Phía tây là Hoàng Hải, phía nam là biển Hoa Đông, và phía đông là đảo Ulleungdo và đảo Liancourt trên biển Nhật Bản (biển này còn được gọi là 'biển Đông' theo cách gọi của người Hàn Quốc). Lãnh thổ Hàn Quốc trải dài từ vĩ độ 33° đến 38° Bắc và kinh độ từ 124° đến 130° Đông. Tổng diện tích tính riêng phần đất liền (chưa tính các hòn đảo) của Hàn Quốc là khoảng 100.032 km² (38.623 sq mi)<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-SKorSize-115"><sup>[114]</sup></a>. Địa hình phân hoá thành hai vùng rõ rệt: vùng rừng núi chiếm khoảng 70% diện tích nằm ở phía đông còn lại là vùng đồng bằng duyên hải ở phía tây và nam. Bãi bồi ven biển Saemangeum là bãi nổi ven biển lớn thứ hai trên thế giới và bức tường chắn sóng biển bao quanh Saemangeum là bờ đê nhân tạo dài nhất thế giới.<br><br>Không giống như Nhật Bản hay các tỉnh phía bắc Trung Quốc, địa chất của bán đảo Triều Tiên tương đối ổn định. Không có núi lửa hoạt động (ngoại trừ núi Bạch Đầu ở biên giới giữa Bắc Triều Tiên và Trung Quốc, hoạt động gần đây nhất vào năm 1903) và cũng không có các trận động đất mạnh.<br><br></div><div><br>Hàn Quốc ít các vùng đồng bằng rộng, các vùng đất thấp là sản phẩm của hoạt động xói mòn núi. Khoảng 30% lãnh thổ Hàn Quốc là các vùng đất thấp, phần còn lại bao gồm vùng cao và những ngọn núi. Phần lớn các vùng đất thấp nằm dọc theo bờ biển, đặc biệt là bờ biển phía tây và dọc theo những con sông lớn. Đồng bằng quan trọng nhất là đồng bằng sông Hán bao quanh Seoul cho tới ven biển phía tây nam của thành phố Pyeongtaek cùng lưu vực các sông Geum, Nakdong, Yeongsan và Honam ở phía tây nam. Một dải đồng bằng hẹp ven biển chạy dọc theo bờ biển phía đông đất nước.<br><br></div><div><br>Khoảng 3.000 hòn đảo; chủ yếu là nhỏ và không có người ở; nằm ngoài bờ biển phía tây và phía nam của Hàn Quốc. Jeju nằm cách bờ biển phía nam Hàn Quốc khoảng 100 km, đây là hòn đảo lớn nhất cả nước với diện tích 1.845 km². Jeju cũng là nơi có ngọn núi cao nhất Hàn Quốc là Hallasan - một ngọn núi lửa đã ngưng hoạt động, cao 1.950 mét so với mực nước biển. Các hòn đảo lớn khác ở phía đông của Hàn Quốc bao gồm Ulleungdo, Dokdo trong khi Marado và Socotra những hòn đảo cực nam.<br><br></div><div><br>Thành phố lớn nhất của Hàn Quốc là Seoul, có dân số chính thức khoảng trên 10 triệu người và nằm ở phía tây bắc, những thành phố lớn khác là Incheon ở phía tây Seoul, Daejeon ở miền trung, Gwangju ở phía tây nam, Daegu và Busan ở phía đông nam.<br><br></div><div><br>Hàn Quốc có 20 công viên quốc gia cùng những địa điểm thiên nhiên nổi tiếng như Cánh đồng trà Boseong, Công viên sinh thái vịnh Suncheon hay Công viên Quốc gia núi Jirisan.<br><br></div><div><strong><br>Khí hậu<br></strong><br>Hàn Quốc có sự xen kẽ giữa <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%C3%AD_h%E1%BA%ADu_l%E1%BB%A5c_%C4%91%E1%BB%8Ba">khí hậu lục địa ẩm ướt</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C3%94n_%C4%91%E1%BB%9Bi">ôn đới</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%C3%AD_h%E1%BA%ADu_c%E1%BA%ADn_nhi%E1%BB%87t_%C4%91%E1%BB%9Bi_%E1%BA%A9m">khí hậu cận nhiệt đới ẩm</a>, chịu ảnh hưởng của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%C3%B3_m%C3%B9a_%C4%90%C3%B4ng_%C3%81">gió mùa Đông Á</a>, có bốn mùa rõ rệt: xuân, hạ, thu và đông. Mùa xuân thường kéo dài từ cuối tháng 3 đến đầu tháng 5, mùa hè từ giữa tháng 5 đến đầu tháng 9, mùa thu từ giữa tháng 9 đến đầu tháng 11 và mùa đông từ giữa tháng 11 đến giữa tháng 3. Mùa đông có thể rất lạnh với nhiệt độ thường xuyên dưới 0 °C và tối thiểu xuống dưới −20 °C (−4 °F) ở những vùng nội địa của đất nước do gió mùa mang không khí lạnh từ Siberia thổi tới. Ở Seoul, nhiệt độ trung bình tháng 1 là −7 đến 1 °C (19 đến 34 °F) và phạm vi nhiệt độ trung bình tháng 8 là 22 đến 30 °C (72 đến 86 °F). Nhiệt độ mùa đông cao hơn dọc theo bờ biển phía nam và thấp hơn đáng kể ở các vùng núi. Mùa hè có thể nóng và ẩm khá khó chịu, với nhiệt độ vượt quá 30 °C (86 °F) ở hầu hết các vùng của đất nước. Vào mùa hè năm 2018, Hàn Quốc đã trải qua đợt nắng nóng kỷ lục khiến ít nhất 42 người thiệt mạng, khi ấy nhiệt độ tại Seoul có thể lên tới 39,6 °C, nóng nhất trong vòng 111 năm qua.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-117"><sup>[116]<br></sup></a><br></div><div><br>Do ở phía nam và bị biển bao bọc chung quanh, đảo Jeju có thời tiết ấm hơn và dễ chịu hơn so với các vùng khác của Hàn Quốc. Nhiệt độ trung bình trên đảo vào khoảng từ 2,5 °C (36,5 °F) trong tháng Giêng đến 25 °C (77 °F) trong tháng Bảy.<br><br></div><div><br>Những cơn mưa nặng hạt tập trung vào một quãng thời gian ngắn ngủi trong mùa hè. Mùa mưa ở Hàn Quốc được gọi là <em>Jangma</em> (장마), bắt đầu từ cuối tháng 6 đến cuối tháng 7. Lượng mưa trung bình hàng năm thay đổi từ 1.370 mm (54 in) ở Seoul đến 1.470 mm (58 in) ở Busan. Hiếm khi nào mưa ít hơn 750 milimét (29,5 in)in) trong năm, phần lớn các năm đều có lượng mưa trên 1.000 milimét (39,4 in) in). Thế nên, đất nước này có đủ mưa để duy trì sản xuất nông nghiệp của mình.<br><br></div><div><br>Hàn Quốc ít bị bão hơn so với Nhật Bản, Đài Loan, bờ biển phía đông của Trung Quốc, Philippines. Có khoảng từ 1-3 cơn bão mỗi năm. Bão thường đổ bộ vào Hàn Quốc vào cuối mùa hè, đặc biệt là trong tháng Tám, và mang lại những cơn mưa xối xả. Lũ lụt thỉnh thoảng gây ra thiệt hại đáng kể, như làm sạt lở đất do địa hình chủ yếu là đồi núi của đất nước.<br><br></div><div><strong><br>Môi trường<br></strong><br>Trong 20 năm đầu giai đoạn tăng trưởng kinh tế thần kỳ của Hàn Quốc, nước này có rất ít nỗ lực để bảo vệ môi trường. Công nghiệp hóa và phát triển đô thị không được kiểm soát đã dẫn đến nạn phá rừng và phá hủy các vùng đất ngập nước đang diễn ra như Songdo Tidal Flat. Tuy nhiên, gần đây đã có những nỗ lực để khắc phục những vấn đề này, bao gồm cả một dự án năng lượng xanh năm năm do chính phủ điều hành trị giá 84 tỷ USD nhằm mục đích thúc đẩy hiệu quả năng lượng và công nghệ xanh.<br><br></div><div><br>Chiến lược kinh tế dựa trên nền tảng xanh là sự đại tu toàn diện nền kinh tế của Hàn Quốc, tốn gần hai phần trăm GDP quốc gia. Sáng kiến ​​phủ xanh bao gồm những nỗ lực như xây dựng mạng lưới xe đạp trên toàn quốc, tăng cường sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời và năng lượng gió, giảm các phương tiện phụ thuộc vào dầu, hỗ trợ thời gian tiết kiệm ánh sáng ban ngày và sử dụng rộng rãi các công nghệ thân thiện với môi trường như đèn LED trong điện tử và chiếu sáng. Hàn Quốc là nước có kết nối mạng dày đặc nhất thế giới và đang có kế hoạch xây dựng một hệ thống mạng tiếp theo trên toàn quốc, sẽ nhanh hơn 10 lần so với hiện tại, nhằm giảm mức độ sử dụng năng lượng.<br><br></div><div><br>Chương trình tiêu chuẩn danh mục tái tạo với các chứng chỉ năng lượng tái tạo có từ năm 2012 đến 2022. Các hệ thống hạn ngạch ủng hộ các máy phát lớn, tích hợp theo chiều dọc và các tiện ích điện đa quốc gia, nếu chỉ vì các chứng chỉ thường được quy định theo đơn vị một Megawatt/giờ. Chúng cũng khó thiết kế và thực hiện hơn so với biểu giá Feed-in. Khoảng 350 đơn vị nhiệt điện kết hợp vi mô dân cư đã được lắp đặt vào năm 2012.<br><br></div><div><br>Nước máy của Seoul gần đây đã trở nên an toàn để uống, các quan chức thành phố gắn nhãn hiệu "Arisu" để thuyết phục công chúng. Những nỗ lực cũng đã được thực hiện với các dự án trồng rừng. Một dự án trị giá hàng tỷ đô la khác là sự phục hồi suối Cheonggyecheon, một con suối chảy qua trung tâm thành phố Seoul mà trước đó đã bị lấp lại khi xây đường cao tốc. Một thách thức lớn nữa là chất lượng không khí, với mưa axit, oxit lưu huỳnh và bão bụi vàng từ Trung Quốc thổi qua hàng năm là những vấn đề đặc biệt. Người ta thừa nhận rằng tình trạng này xày ra một phần là do ảnh hưởng từ các khu vực Nội Mông và Hoa Bắc của Trung Quốc lân cận - những nơi đang bị ô nhiễm không khí trầm trọng.<br><br></div><div><br>Hàn Quốc là thành viên của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%87_th%E1%BB%91ng_Hi%E1%BB%87p_%C6%B0%E1%BB%9Bc_ch%C3%A2u_Nam_C%E1%BB%B1c">Hệ thống Hiệp ước châu Nam Cực</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_%C6%B0%E1%BB%9Bc_v%E1%BB%81_%C4%90a_d%E1%BA%A1ng_sinh_h%E1%BB%8Dc">Công ước về Đa dạng sinh học</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ngh%E1%BB%8B_%C4%91%E1%BB%8Bnh_th%C6%B0_Ky%C5%8Dto">Nghị định thư Kyoto</a> (hình thành Nhóm toàn vẹn môi trường (EIG), liên quan đến <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_%C6%B0%E1%BB%9Bc_khung_Li%C3%AAn_H%E1%BB%A3p_Qu%E1%BB%91c_v%E1%BB%81_Bi%E1%BA%BFn_%C4%91%E1%BB%95i_Kh%C3%AD_h%E1%BA%ADu">UNFCCC</a>, với Mexico và Thụy Sĩ), <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/CITES">CITES</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_%C6%B0%E1%BB%9Bc_Li%C3%AAn_H%E1%BB%A3p_Qu%E1%BB%91c_v%E1%BB%81_Lu%E1%BA%ADt_bi%E1%BB%83n">UNCLOS</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hi%E1%BB%87p_%C6%B0%E1%BB%9Bc_C%E1%BA%A5m_th%E1%BB%AD_H%E1%BA%A1t_nh%C3%A2n_To%C3%A0n_di%E1%BB%87n">Hiệp ước Cấm thử Hạt nhân Toàn diện</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ngh%E1%BB%8B_%C4%91%E1%BB%8Bnh_th%C6%B0_Montr%C3%A9al">Nghị định thư Montreal</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_%C6%B0%E1%BB%9Bc_Ramsar">Công ước Ramsar</a>.<br><br></div><div><br>Hành chính<br><br></div><div>Bài chi tiết: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%A2n_c%E1%BA%A5p_h%C3%A0nh_ch%C3%ADnh_H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c">Phân cấp hành chính Hàn Quốc</a></div><div><br>Lãnh thổ Hàn Quốc bao gồm 1 thủ đô (đặc biệt thị), 8 tỉnh (đạo), 6 thành phố trực thuộc trung ương (quảng vực thị), 1 tỉnh tự trị (đặc biệt tự trị đạo) và 1 thành phố tự trị (đặc biệt tự trị thị). Thủ đô của Hàn Quốc - <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Seoul">Seoul</a> - là thành phố lớn nhất cũng như một <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_to%C3%A0n_c%E1%BA%A7u">thành phố toàn cầu</a> quan trọng. Ngoài ra, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C3%B9ng_th%E1%BB%A7_%C4%91%C3%B4_Seoul">vùng thủ đô Seoul</a> - trung tâm đô thị lớn thứ 5 trên thế giới - cũng là một trong những <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_%C4%91%C3%B4_th%E1%BB%8B">đại đô thị</a> có quy mô kinh tế lớn nhất hiện nay với hạng 5 châu Á, 17 thế giới về GDP (2020).<br><br>Chính trị<br><br>Thể chế chính trị của Hàn Quốc là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/D%C3%A2n_ch%E1%BB%A7_%C4%91%E1%BA%A1i_ngh%E1%BB%8B">dân chủ đại nghị</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/D%C3%A2n_ch%E1%BB%A7_tr%E1%BB%B1c_ti%E1%BA%BFp">dân chủ trực tiếp</a> với Quốc hội là cơ quan lập pháp cao nhất, chính phủ quốc gia hoạt động, vận hành theo hệ thống Tổng thống chế toàn phần, trong đó, Tổng thống là nhà lãnh đạo đất nước, người đứng đầu chính phủ kiêm Tổng tư lệnh của các Lực lượng Vũ trang.<br><br></div><div><br>Cấu trúc của chính phủ Hàn Quốc được xác định bởi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hi%E1%BA%BFn_ph%C3%A1p_H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c">Hiến pháp Hàn Quốc</a>. Giống như nhiều quốc gia dân chủ khác, Hàn Quốc có một chính phủ được chia thành ba nhánh tách biệt: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0nh_ph%C3%A1p">hành pháp</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C6%B0_ph%C3%A1p">tư pháp</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BA%ADp_ph%C3%A1p">lập pháp</a>. Các cơ quan hành pháp và lập pháp hoạt động chủ yếu ở cấp quốc gia, mặc dù các bộ khác nhau trong ngành hành pháp cũng thực hiện các chức năng địa phương. Chính quyền địa phương là bán tự trị, và có các cơ quan hành pháp và lập pháp của riêng họ. Ngành tư pháp hoạt động ở cả cấp quốc gia và địa phương. Hàn Quốc là một nền <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/D%C3%A2n_ch%E1%BB%A7_t%E1%BB%B1_do">dân chủ lập hiến</a>.<br><br></div><div><br>Hiến pháp Hàn Quốc đã được chú trọng sửa đổi nhiều lần kể từ khi ban hành lần đầu tiên vào năm 1948 sau khi độc lập. Tuy nhiên, văn bản này vẫn giữ được nhiều đặc điểm rộng rãi và ngoại trừ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%87_Nh%E1%BB%8B_%C4%90%E1%BA%A1i_H%C3%A0n_D%C3%A2n_Qu%E1%BB%91c">Đệ Nhị Đại Hàn Dân Quốc</a> tồn tại trong thời gian ngắn, Hàn Quốc luôn có một hệ thống tổng thống với một uỷ ban điều hành độc lập. Theo hiến pháp hiện hành, nhà nước đôi khi được gọi là Đệ Lục Đại Hàn Dân Quốc. Cuộc bầu cử trực tiếp lần đầu tiên được tổ chức vào năm 1948.<br><br></div><div><br>Mặc dù Hàn Quốc đã trải qua một loạt các chế độ độc tài quân sự từ những năm 1960 cho đến những năm 1980, nhưng quốc gia này đã chuyển mình, phát triển thành một nền dân chủ tự do thành công. Ngày nay, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/The_World_Factbook">The World Factbook</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Economist_Intelligence_Unit">Cơ quan Tình báo Kinh tế</a> đã công nhận và mô tả nền dân chủ của Hàn Quốc là một nền dân chủ hiện đại, hoàn chỉnh với đầy đủ chức năng<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-:41-122"><sup>[121]</sup></a>. Hàn Quốc được xếp hạng 39 trên thế giới về <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%89_s%E1%BB%91_nh%E1%BA%ADn_th%E1%BB%A9c_tham_nh%C5%A9ng">chỉ số nhận thức tham nhũng</a> với số điểm 59 trên 100.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-:41-122"><sup>[121]<br></sup></a><br></div><div><br>Theo Điều luật 70 của Hiến pháp, người đứng đầu chính phủ Đại Hàn Dân Quốc là Tổng thống do mỗi công dân mang quốc tịch Hàn Quốc từ đủ 18 tuổi trở lên trực tiếp bỏ phiếu bầu ra, thời hạn nhiệm kỳ kéo dài trong 5 năm và không được phép tái ứng cử. Tổng thống là đại diện cao nhất của quốc gia và có toàn quyền chỉ huy quân đội (tương đương với chức vụ: Tổng Tư lệnh). Ngoài ra, Tổng lý Quốc vụ - tức chức vụ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%A7_t%C6%B0%E1%BB%9Bng_H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c">Thủ tướng</a> cũng do Tổng thống chỉ định nhưng Tổng thống mới thực sự là người lãnh đạo Chính phủ. Chính phủ có tối thiểu 15 và tối đa là 30 thành viên. Thành viên chính phủ do Thủ tướng chỉ định. Chức vụ Thủ tướng cũng như Bộ trưởng phải được sự thông qua của Quốc hội.<br><br></div><div><br>Nơi ở và làm việc chính thức của các đời Tổng thống Hàn Quốc hiện nay là một cung điện cổ được xây dựng từ thời kỳ của nhà Triều Tiên, được gọi với danh xưng là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Xanh">Nhà Xanh</a>.<br><br></div><div><br>Quốc hội Hàn Quốc chỉ có một viện, đại biểu Quốc hội được bầu mỗi bốn năm một lần. Quốc hội có tất cả 299 đại biểu và tổng cộng 300 ghế.<br><br></div><div><br>Cơ quan quan trọng thứ ba trong hệ thống chính trị của Hàn Quốc là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%B2a_%C3%A1n_T%E1%BB%91i_cao_H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c">Toà án Tối cao</a>. Cơ quan này theo dõi hoạt động của chính phủ và ra các phán quyết cuối cùng. Toà án gồm có chín thẩm phán tối cao. Tổng thống trực tiếp chỉ định ba người trong số này, ba người được quốc hội bầu ra, tuy nhiên vẫn phải được sự chấp thuận của Tổng thống. Chánh án toà án tối cao là người chỉ định ba thẩm phán còn lại.<br><br></div><div><br>Quân sự<br><br></div><div>Bài chi tiết: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BB%91c_qu%C3%A2n_%C4%90%E1%BA%A1i_H%C3%A0n_D%C3%A2n_Qu%E1%BB%91c">Quốc quân Đại Hàn Dân Quốc</a></div><div>Xem thêm: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ngh%C4%A9a_v%E1%BB%A5_qu%C3%A2n_s%E1%BB%B1_t%E1%BA%A1i_H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c">Nghĩa vụ quân sự tại Hàn Quốc</a></div><div><br>Lực lượng vũ trang chính quy của Hàn Quốc là một trong những lực lượng quân sự mạnh trên thế giới<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-123"><sup>[122]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-124"><sup>[123]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-125"><sup>[124]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-:32-126"><sup>[125]</sup></a>, xếp thứ 8 toàn cầu về tổng mức chi tiêu ngân sách cho quốc phòng theo dữ liệu phân tích, tính toán của trang web Global Firepower trong năm 2021<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-:33-32"><sup>[31]</sup></a>, quân đội nước này không phát triển hay sở hữu vũ khí hạt nhân do đã ký kết Hiệp ước không phổ biến. Nếu tính đến cả những lực lượng gián tiếp phục vụ cho quân đội, tổng số quân của Hàn Quốc năm 2019 là 6.708.000 (≈600.000 phục vụ trực tiếp và hơn 3.100.000 dự bị).<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-South_Korea-127"><sup>[126]<br></sup></a><br></div><div><br>Năm 2019, chi tiêu quốc phòng của Hàn Quốc đạt mức xấp xỉ 44 tỷ USD, chiếm 2,7% trong tổng GDP - xếp hạng 5 châu Á và đồng thời đứng thứ 10 trên thế giới<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-:25-128"><sup>[127]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-:26-129"><sup>[128]</sup></a>, sang tới năm 2021, con số này đã tăng thêm 2 bậc với 48 tỷ đô la Mỹ - tuy vẫn giữ hạng 5 châu Á nhưng đã vươn lên hạng 8 toàn cầu.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-:33-32"><sup>[31]<br></sup></a><br></div><div><br>Cơ cấu tổ chức của quân đội Hàn Quốc hiện nay bao gồm có 4 quân chủng chính; đó là: Lục quân (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%A5c_qu%C3%A2n_%C4%90%E1%BA%A1i_H%C3%A0n_D%C3%A2n_Qu%E1%BB%91c">ROKA</a>), Hải quân (<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=H%E1%BA%A3i_qu%C3%A2n_%C4%90%E1%BA%A1i_H%C3%A0n_D%C3%A2n_Qu%E1%BB%91c&amp;action=edit&amp;redlink=1">ROKN</a>), Không quân (<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kh%C3%B4ng_qu%C3%A2n_%C4%90%E1%BA%A1i_H%C3%A0n_D%C3%A2n_Qu%E1%BB%91c&amp;action=edit&amp;redlink=1">ROKAF</a>) và Thủy quân lục chiến (<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Th%E1%BB%A7y_qu%C3%A2n_l%E1%BB%A5c_chi%E1%BA%BFn_%C4%90%E1%BA%A1i_H%C3%A0n_D%C3%A2n_Qu%E1%BB%91c&amp;action=edit&amp;redlink=1">ROKMC</a>), ngoài ra còn có các Lực lượng Triển khai Chiến tranh Đặc biệt (<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%E1%BB%AF_%C4%91o%C3%A0n_%C4%91%E1%BA%B7c_nhi%E1%BB%87m_%C4%90%E1%BA%A1i_H%C3%A0n_D%C3%A2n_Qu%E1%BB%91c&amp;action=edit&amp;redlink=1">SFBRK</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90%E1%BB%99i_t%C3%A1c_chi%E1%BA%BFn_%C4%91%E1%BA%B7c_bi%E1%BB%87t_c%E1%BB%A7a_H%E1%BA%A3i_qu%C3%A2n_H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c&amp;action=edit&amp;redlink=1">RKNSWF</a>) trực thuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=B%E1%BB%99_t%C6%B0_l%E1%BB%87nh_t%C3%A1c_chi%E1%BA%BFn_%C4%91%E1%BA%B7c_bi%E1%BB%87t_c%E1%BB%A7a_qu%C3%A2n_%C4%91%E1%BB%99i_H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c&amp;action=edit&amp;redlink=1">Bộ Tư lệnh Chiến tranh Đặc biệt</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tu%E1%BA%A7n_duy%C3%AAn_H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c">Lực lượng Bảo vệ bờ biển</a> cùng với một số lượng rất lớn quân nhân dự bị.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-130"><sup>[129]</sup></a> Theo hiến pháp, toàn bộ công dân mang quốc tịch Hàn Quốc là nam giới từ 18 đến 35 tuổi đều phải có ít nhất một lần thực hiện <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ngh%C4%A9a_v%E1%BB%A5_qu%C3%A2n_s%E1%BB%B1_t%E1%BA%A1i_H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c">nghĩa vụ quân sự</a> bắt buộc, bất kể người đó là ai, xuất thân từ đâu, có địa vị xã hội, tầm ảnh hưởng hoặc học vấn ra sao hay đang làm công việc gì, thường là trong vòng 21 tháng đối với lục quân và thủy quân lục chiến, 23 tháng đối với hải quân và 24 tháng đối với không quân. Năm 2010, đã có nhiều ý kiến kêu gọi chính phủ Hàn Quốc nên rút ngắn thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự hoặc chuyển sang chế độ nghĩa vụ quân sự tự nguyện nhưng cho đến nay vẫn chưa có thay đổi gì.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-131"><sup>[130]<br></sup></a><br></div><div><br>Theo Hiệp định Phòng thủ chung Hàn-Mỹ được ký kết vào năm 1953, quân đội Hoa Kỳ duy trì sự hiện diện, đặt căn cứ quân sự trên khắp Hàn Quốc, đưa toàn bộ lãnh thổ nước này vào "Ô bảo hộ Hạt Nhân" cùng với <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/NATO">NATO</a>, phần lớn châu Âu, Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ và Úc, hỗ trợ đào tạo nhân lực, đảm bảo an ninh quốc phòng cho đồng minh Hàn Quốc, trong trường hợp có xảy ra xung đột quân sự với bên ngoài, quân đội Hàn Quốc không được tự đưa ra quyết định tác chiến độc lập mà họ phải nằm dưới sự chỉ huy của một <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_t%C6%B0%E1%BB%9Bng">Tướng bốn sao</a> do <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BA%A7u_N%C4%83m_G%C3%B3c">Lầu Năm Góc</a> trực tiếp chỉ định<sup>[</sup><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Wikipedia:Ch%C3%BA_th%C3%ADch_ngu%E1%BB%93n_g%E1%BB%91c"><em><sup>cần dẫn nguồn</sup></em></a><sup>]</sup>, đồng thời, các đơn vị vũ trang trực thuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BA%A3i_qu%C3%A2n_Hoa_K%E1%BB%B3">Hải quân Hoa Kỳ</a> đóng gần lãnh thổ Hàn Quốc như <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BA%A1m_%C4%91%E1%BB%99i_7_Hoa_K%E1%BB%B3">Hạm đội 7</a> cũng sẵn sàng tham chiến cùng lực lượng mặt đất nếu như nước này bị xâm lược hay tấn công phủ đầu. Trong cuộc khảo sát năm 2014, một bộ phận người dân Hàn Quốc tin rằng quân đội của họ sẽ khó có thể trụ vững trước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên nếu không dựa vào sự hỗ trợ của đồng minh - quân đội Mỹ<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-132"><sup>[131]</sup></a>, còn phía Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên thì luôn tuyên truyền, gọi quân đội Hàn Quốc là "quân đội tay sai" của "ngoại quốc" để ngăn cản "sự nghiệp cách mạng thống nhất đất nước" của "dân tộc Triều Tiên".<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-133"><sup>[132]</sup></a> Trong một cuộc khảo sát vào năm 2019, có đến 74% người Hàn Quốc tham gia khảo sát ủng hộ việc lính Mỹ tiếp tục đóng quân lâu dài ở Hàn Quốc và gần chín phần mười (87%) cho rằng sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ góp phần quan trọng giúp đảm bảo an ninh quốc gia của Hàn Quốc trước mối đe dọa tên lửa và hạt nhân của Bắc Triều Tiên.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-134"><sup>[133]<br></sup></a><br></div><div><br>Căng thẳng chưa được giải quyết với Bắc Triều Tiên đã khiến chính phủ Hàn Quốc phân bổ khoảng 2,6% GDP và 15% tổng chi tiêu của chính phủ cho quân đội - tương đương với tỷ lệ GDP được tính toán là 14,967%, trong khi vẫn duy trì nghĩa vụ quân sự bắt buộc cho nam giới. Do đó, Hàn Quốc có số lượng binh sĩ hoạt động thường trực lớn thứ 7 trên thế giới (khoảng ≈600.000 binh sĩ vào năm 2018), số lượng binh sĩ dự bị cao nhất thế giới (≈3.100.000 binh sĩ trong năm 2018) và ngân sách quốc phòng lớn thứ 10 trên thế giới. Tính đến năm 2019, Hàn Quốc có ngân sách quốc phòng đạt xấp xỉ 44 tỷ USD.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-:25-128"><sup>[127]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-:26-129"><sup>[128]<br></sup></a><br></div><div><br>1.800 nam giới Hàn Quốc được chọn mỗi năm để phục vụ 21 tháng trong Chương trình KATUSA nhằm tăng cường sức mạnh hơn nữa cho Lực lượng Liên quân Hoa Kỳ-Hàn Quốc (USFK). Năm 2010, Hàn Quốc đã chi ra 1,68 nghìn tỷ Won trong thỏa thuận chia sẻ chi phí với Mỹ để hỗ trợ ngân sách cho lực lượng Mỹ đang đóng quân ở Hàn Quốc, trong tổng chi ngân sách là gần 30 nghìn tỷ Won dành cho các lực lượng quân đội của chính họ.<br><br></div><div><br>Quân đội Hàn Quốc ước tính hiện có khoảng 2.500 xe tăng đang hoạt động<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-135"><sup>[134]</sup></a>, bao gồm cả những mẫu được thiết kế, lắp ráp và sản xuất nội địa như <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/K1_88">K1 88</a> và đặc biệt là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/K2_B%C3%A1o_%C4%90en">K2 Báo Đen</a> - một trong những mẫu xe tăng hiện đại cũng như có giá thành đắt đỏ bậc nhất trên thế giới hiện nay, chỉ xếp sau <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/AMX-56_Leclerc">AMX-56 Leclerc</a> của quân đội Pháp<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-136"><sup>[135]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-137"><sup>[136]</sup></a>, tạo thành 'xương sống' cho lực lượng tăng thiết giáp và bộ binh cơ giới kết hợp cùng một kho vũ khí lớn bao gồm nhiều hệ thống pháo các loại với khoảng 1.700 <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%A1o_t%E1%BB%B1_h%C3%A0nh">pháo tự hành</a> <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=K55&amp;action=edit&amp;redlink=1">K55</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=K9_Thunder&amp;action=edit&amp;redlink=1">K9 Thunder</a>, thiết giáp "lưỡng cư" <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=K21&amp;action=edit&amp;redlink=1">K21</a> đặc biệt có khả năng tiêu diệt trực thăng<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-138"><sup>[137]</sup></a>, 680 máy bay trực thăng các loại cùng nhiều <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C6%B0%C6%A1ng_ti%E1%BB%87n_bay_kh%C3%B4ng_ng%C6%B0%E1%BB%9Di_l%C3%A1i">UAV</a> thế hệ mới.<br><br></div><div><br>Hải quân Hàn Quốc được phân tích, ước đoán và đánh giá là lực lượng hải quân lớn thứ 8 trên thế giới<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-139"><sup>[138]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-140"><sup>[139]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-141"><sup>[140]</sup></a>. Trong những năm gần đây, lực lượng này đã thực hiện nhiều cuộc chuyển đổi lớn để trở thành lực lượng hải quân có thể duy trì khả năng tác chiến tốt ở những vùng biển sâu thông qua việc thành lập các Hạm đội di động chiến lược, bao gồm nhóm chiến hạm chiến đấu trực thuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A0u_khu_tr%E1%BB%A5c">tàu khu trục</a> <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Chungmugong_Yi_Sun-sin-class_destroyer&amp;action=edit&amp;redlink=1">lớp Chungmugong Yi Sun-sin</a>, tàu tấn công đổ bộ các lớp <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=ROKS_Dokdo&amp;action=edit&amp;redlink=1">Dokdo</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=ROKS_Soyang_(AOE-51)&amp;action=edit&amp;redlink=1">Soyang</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Solgae-class_LCAC&amp;action=edit&amp;redlink=1">Solgae</a>, tàu tấn công <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90%E1%BB%99ng_c%C6%A1_%C4%91%E1%BA%A9y_kh%C3%B4ng_ph%E1%BB%A5_thu%E1%BB%99c_v%C3%A0o_kh%C3%B4ng_kh%C3%AD&amp;action=edit&amp;redlink=1">lớp AIP</a> và đặc biệt là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A0u_ng%E1%BA%A7m">tàu ngầm</a> diesel-điện các lớp <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Dosan_Ahn_Changho-class_submarine&amp;action=edit&amp;redlink=1">Dosan Ahn Chang-ho</a> (có khả năng mang theo và phóng tên lửa đạn đạo (SLBM) - đưa Hàn Quốc trở thành nước đầu tiên không sở hữu vũ khí hạt nhân làm được điều này<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-142"><sup>[141]</sup></a>), Sohn Won-yil (<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Type_214_submarine&amp;action=edit&amp;redlink=1">Type 214</a>) và <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Jang_Bogo-class_submarine&amp;action=edit&amp;redlink=1">Jang Bogo</a> (<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Type_209_submarine&amp;action=edit&amp;redlink=1">Type 209</a>) cùng tàu khu trục <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Sejong_the_Great-class_destroyer&amp;action=edit&amp;redlink=1">lớp King Sejong the Great Destroyer</a> - được trang bị hệ thống tên lửa phòng thủ hạm đội <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%87_th%E1%BB%91ng_Chi%E1%BA%BFn_%C4%91%E1%BA%A5u_Aegis">Aegis</a> thế hệ mới nhất cho phép theo dõi, truy đuổi, đánh chặn, tiêu diệt đồng thời nhiều <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%AAn_l%E1%BB%ADa_h%C3%A0nh_tr%C3%ACnh">tên lửa hành trình</a> hoặc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%AAn_l%E1%BB%ADa_%C4%91%E1%BA%A1n_%C4%91%E1%BA%A1o">tên lửa đạn đạo</a> của đối phương, tạo thành "Chiếc ô phòng thủ tên lửa trên biển" của Hải quân Hàn Quốc - chống lại mối đe dọa tên lửa đến từ phía Bắc Triều Tiên.<br><br></div><div><br>Không quân Hàn Quốc hiện đang vận hành 1.649 máy bay các loại, biến lực lượng này trở thành lực lượng không quân lớn thứ 5 trên thế giới<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-143"><sup>[142]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-144"><sup>[143]</sup></a>, bao gồm một số loại máy bay chiến đấu tiên tiến như <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/McDonnell_Douglas_F-15E_Strike_Eagle">F-15K</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/F-16_Fighting_Falcon">KF-16C/D</a> (đã được nâng cấp, sửa đổi nhiều) và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/KAI_T-50_Golden_Eagle">KAI T-50 Golden Eagle</a> nội địa, được hỗ trợ bởi các đội máy bay chiến đấu cũ được bảo trì tốt như <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/McDonnell_Douglas_F-4_Phantom_II">F-4E</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Northrop_F-5">KF-5E/F</a> - vẫn phục vụ hiệu quả cho không quân bên cạnh các máy bay hiện đại hơn như <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Lockheed_Martin_F-35_Lightning_II">F-35</a>. Trong nỗ lực để đạt được sức mạnh không chỉ về số lượng mà cả tính hiện đại, việc đưa 4 vận tải cơ <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Boeing_737_AEW%26C&amp;action=edit&amp;redlink=1">Boeing 737 AEW&amp;C</a> vào hoạt động thu thập thông tin và phân tích tình báo tập trung trên chiến trường hiện đại sẽ tăng cường khả năng của máy bay chiến đấu cùng các máy bay hỗ trợ khác để thực hiện nhiệm vụ của họ với độ chính xác cao nhất.<br><br></div><div><br>Vào tháng 5 năm 2011, công ty Hàng không Vũ trụ Samsung, nhà sản xuất thiết bị hàng không vũ trụ, máy bay chiến đấu cùng động cơ máy bay lớn nhất của nước này, đã ký một hợp đồng trị giá 400 triệu đô la để bán 16 máy bay huấn luyện T-50 Golden Eagle cho quân đội Indonesia, biến Hàn Quốc trở thành quốc gia đầu tiên ở châu Á xuất khẩu <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/M%C3%A1y_bay_ph%E1%BA%A3n_l%E1%BB%B1c">máy bay phản lực</a> <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/M%C3%A1y_bay_si%C3%AAu_thanh">siêu âm</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-145"><sup>[144]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-146"><sup>[145]<br></sup></a><br></div><div><br>Tháng 12 năm 2019, Hàn Quốc tiếp nhận máy bay không người lái <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Northrop_Grumman_RQ-4_Global_Hawk">Northrop Grumman RQ-4 Global Hawk</a> trị giá 123 triệu USD của Mỹ, trở thành nước châu Á đầu tiên sở hữu loại UAV này.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-147"><sup>[146]<br></sup></a><br></div><div><br>Tháng 7 năm 2020, vệ tinh liên lạc quân sự đầu tiên của Hàn Quốc đã được phóng thành công vào không gian, qua đó chính thức đưa nước này trở thành quốc gia thứ 10 trong danh sách số ít các nước trên thế giới hiện nay đang sở hữu vệ tinh liên lạc dành riêng cho các mục đích quân sự hoạt động trong vũ trụ.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-148"><sup>[147]</sup></a> Quân đội Hàn Quốc cũng đang chú trọng vào phát triển và hoàn thiện các loại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Robot_qu%C3%A2n_s%E1%BB%B1">Robot quân sự</a> với công nghệ tự động hóa cùng quá trình điều khiển có sự hỗ trợ của lực lượng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A1c_chi%E1%BA%BFn_%C4%91i%E1%BB%87n_t%E1%BB%AD">tác chiến điện tử</a> nhằm chiến đấu, tiêu diệt mục tiêu hoàn toàn bằng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C3%AD_tu%E1%BB%87_nh%C3%A2n_t%E1%BA%A1o">trí tuệ nhân tạo</a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-149"><sup>[148]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-150"><sup>[149]</sup></a>, ví dụ như pháo binh Robot I-UGV - một sản phẩm hợp tác với tập đoàn vũ khí Hanwha Defense - có thể nghe tiếng súng địch để khóa mục tiêu.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-151"><sup>[150]<br></sup></a><br></div><div><br>Tháng 4 năm 2021, tập đoàn Công nghiệp Hàng không Hàn Quốc (KAI) giới thiệu nguyên mẫu đầu tiên trong dự án mang tên gọi "<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/KAI_KF-X">KAI KF-X</a>" - chương trình phát triển <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/M%C3%A1y_bay_ti%C3%AAm_k%C3%ADch">máy bay tiêm kích</a> chiến đấu thế hệ mới trị giá 8 tỷ USD, hợp tác cùng với chính phủ và quân đội Indonesia, đây là chương trình phát triển tiêm kích lớn và đắt đỏ nhất trong lịch sử nước này, đặt tham vọng xuất khẩu, cạnh tranh trên thị trường vũ khí với chiến đấu cơ tàng hình F-35 do Mỹ sản xuất.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-152"><sup>[151]<br></sup></a><br></div><div><br>Trong khoảng thời gian gần đây, Hàn Quốc cũng thường gửi quân đội ra nước ngoài để hỗ trợ cho các lực lượng Mỹ. Quân đội Hàn Quốc đã tham gia vào hầu hết các cuộc xung đột lớn mà quân đội Hoa Kỳ khởi xướng trong vòng hơn 73 năm qua kể từ khi thành lập. Trong quá khứ, Hàn Quốc đã điều động hơn 320.000 binh sĩ tham gia chiến đấu bên cạnh các lực lượng của Mỹ, Úc, Philippines, New Zealand, Thái Lan, Vương quốc Lào, Vương quốc Campuchia (tiền thân của nhà nước Cộng hòa Khmer sau này) và Việt Nam Cộng hòa trong Chiến tranh Việt Nam với số lượng tối đa lên tới khoảng 50.000 quân mỗi năm. Năm 2004, Hàn Quốc đã gửi 3.300 binh sĩ của <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Zaytun_Division&amp;action=edit&amp;redlink=1">Sư đoàn Zaytun</a> tới miền bắc Iraq, trở thành quốc gia có đóng góp lớn thứ ba trong lực lượng liên minh này chỉ sau Mỹ và Anh. Nước này tuyên bố ủng hộ, tham chiến và hỗ trợ đối với tất cả các chiến dịch can thiệp quân sự của Mỹ cùng NATO vào <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_Iraq">Iraq</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/N%E1%BB%99i_chi%E1%BA%BFn_Libya_(2011)">Libya</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/N%E1%BB%99i_chi%E1%BA%BFn_Syria">Syria</a>. Bắt đầu từ năm 2001 đến nay, Hàn Quốc đã triển khai 24.000 binh sĩ tới khu vực Trung Đông - Vùng Vịnh để hỗ trợ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_ch%E1%BB%91ng_kh%E1%BB%A7ng_b%E1%BB%91">cuộc chiến chống khủng bố</a> của các lực lượng quốc tế dẫn đầu bởi Mỹ. Hơn 1.800 binh sĩ khác cũng được triển khai tới Trung Đông kể từ năm 2007 để củng cố cho <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/G%C3%ACn_gi%E1%BB%AF_h%C3%B2a_b%C3%ACnh_Li%C3%AAn_H%E1%BB%A3p_Qu%E1%BB%91c">Lực lượng gìn giữ Hòa bình của Liên Hợp Quốc</a> nhằm chống lại các âm mưu tấn công khủng bố tại Liban.<br><br></div><div><br>Một số sản phẩm vũ khí - khí tài chế tạo nội địa, hợp tác sản xuất và nhập khẩu nổi tiếng của quân đội cũng như nền công nghiệp quốc phòng Hàn Quốc:<br><br>Ngoại giao<br><br></div><div>Bài chi tiết: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Quan_h%E1%BB%87_ngo%E1%BA%A1i_giao_c%E1%BB%A7a_H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c">Quan hệ ngoại giao của Hàn Quốc</a></div><div><strong><br>Khái quát<br></strong><br>Hiện nay, Hàn Quốc đang duy trì mối quan hệ ngoại giao hữu nghị với 191 quốc gia trên toàn cầu<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-153"><sup>[152]</sup></a>. Bản thân quốc gia này cũng là nước thành viên của hầu hết các tổ chức quốc tế lớn, trong số đó nổi bật như: Liên Hợp Quốc, WTO, OECD, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) cùng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%B3m_Ng%C3%A2n_h%C3%A0ng_Th%E1%BA%BF_gi%E1%BB%9Bi">Nhóm Ngân hàng Thế giới</a> (WBG), <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%95_ch%E1%BB%A9c_Y_t%E1%BA%BF_Th%E1%BA%BF_gi%E1%BB%9Bi">Tổ chức Y tế Thế giới</a> (WHO), khối APEC, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%95_ch%E1%BB%A9c_L%C6%B0%C6%A1ng_th%E1%BB%B1c_v%C3%A0_N%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p_Li%C3%AAn_H%E1%BB%A3p_Qu%E1%BB%91c">FAO</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%95_ch%E1%BB%A9c_Ph%C3%A1t_tri%E1%BB%83n_C%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p_Li%C3%AAn_H%E1%BB%A3p_Qu%E1%BB%91c">UNIDO</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C6%A1_quan_N%C4%83ng_l%C6%B0%E1%BB%A3ng_Nguy%C3%AAn_t%E1%BB%AD_Qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF">IAEA</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Li%C3%AAn_minh_Vi%E1%BB%85n_th%C3%B4ng_Qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF">ITU</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%E1%BB%A6y_h%E1%BB%99i_Kinh_t%E1%BA%BF_X%C3%A3_h%E1%BB%99i_ch%C3%A2u_%C3%81_Th%C3%A1i_B%C3%ACnh_D%C6%B0%C6%A1ng_Li%C3%AAn_H%E1%BB%A3p_Qu%E1%BB%91c">UNESCAP</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%95_ch%E1%BB%A9c_H%C3%A0ng_kh%C3%B4ng_D%C3%A2n_d%E1%BB%A5ng_Qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF">ICAO</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C6%A1_quan_N%C4%83ng_l%C6%B0%E1%BB%A3ng_Qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF">IEA</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Interpol">Interpol</a> (ông <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kim_Jong-yang">Kim Jong-yang</a> - sĩ quan cảnh sát người Hàn Quốc - hiện giữ vai trò Chủ tịch), <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A2u_l%E1%BA%A1c_b%E1%BB%99_Paris">Câu lạc bộ Paris</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=MIKTA_(Quan_h%E1%BB%87_%C4%91%E1%BB%91i_t%C3%A1c)&amp;action=edit&amp;redlink=1">Liên minh MIKTA</a>, Ủy ban Đặc biệt phụ trách Hỗ trợ Phát triển và Hợp tác Kinh tế trực thuộc OECD (DAC) và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/G20_(nh%C3%B3m_c%C3%A1c_n%E1%BB%81n_kinh_t%E1%BA%BF_l%E1%BB%9Bn)">Nhóm các nền kinh tế lớn G-20</a>,... Quốc gia này cũng đồng thời là thành viên tham gia sáng lập của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Di%E1%BB%85n_%C4%91%C3%A0n_H%E1%BB%A3p_t%C3%A1c_Kinh_t%E1%BA%BF_ch%C3%A2u_%C3%81_-_Th%C3%A1i_B%C3%ACnh_D%C6%B0%C6%A1ng">Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương</a> (APEC), <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%99i_ngh%E1%BB%8B_c%E1%BA%A5p_cao_%C4%90%C3%B4ng_%C3%81">Hội nghị cấp cao Đông Á</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BB%99ng_%C4%91%E1%BB%93ng_%C4%90%C3%B4ng_%C3%81">Cộng đồng Đông Á</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C3%A2n_h%C3%A0ng_Ph%C3%A1t_tri%E1%BB%83n_ch%C3%A2u_%C3%81">Ngân hàng Phát triển châu Á</a> (ADB),... Và là một đồng minh không thuộc khối NATO quan trọng hàng đầu của Hoa Kỳ.<br><br></div><div><br><strong><br>CHDCND Triều Tiên</strong></div><div>Bài chi tiết: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Quan_h%E1%BB%87_B%E1%BA%AFc_Tri%E1%BB%81u_Ti%C3%AAn_%E2%80%93_H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c">Quan hệ Bắc Triều Tiên – Hàn Quốc</a></div><div>Xem thêm: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Xung_%C4%91%E1%BB%99t_li%C3%AAn_Tri%E1%BB%81u">Xung đột liên Triều</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Xung_%C4%91%E1%BB%99t_Tri%E1%BB%81u_Ti%C3%AAn_h%E1%BA%ADu_1953">Xung đột Triều Tiên hậu 1953</a><br>Trong những năm gần đây, tình hình chính trị - quân sự trên bán đảo Triều Tiên luôn được đặt trong <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_xung_%C4%91%E1%BB%99t_bi%C3%AAn_gi%E1%BB%9Bi_gi%E1%BB%AFa_Tri%E1%BB%81u_Ti%C3%AAn_v%C3%A0_H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c">trạng thái căng thẳng cao độ</a>, triển vọng hòa bình, ổn định và phi hạt nhân hóa bị đánh giá ở mức độ thấp do xung đột chính trị liên Triều cùng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a_D%C3%A2n_ch%E1%BB%A7_Nh%C3%A2n_d%C3%A2n_Tri%E1%BB%81u_Ti%C3%AAn_v%C3%A0_v%C5%A9_kh%C3%AD_h%E1%BB%A7y_di%E1%BB%87t_h%C3%A0ng_lo%E1%BA%A1t">Chương trình vũ khí hạt nhân của Bắc Triều Tiên</a>. Tuy vậy, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%91ng_nh%E1%BA%A5t_Tri%E1%BB%81u_Ti%C3%AAn">tái thống nhất với CHDCND Triều Tiên</a> lại đang là một chủ đề chính trị đang được bàn luận rất sôi nổi ở Hàn Quốc hiện nay, thậm chí, người ta còn đã đề cập đến khả năng áp dụng thể chế chính trị <em>"</em><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/M%E1%BB%99t_qu%E1%BB%91c_gia,_hai_ch%E1%BA%BF_%C4%91%E1%BB%99"><em>một quốc gia, hai chế độ</em></a><em>"</em> để tái thống nhất bán đảo, chính quyền Hàn Quốc cũng đang có kế hoạch tham vọng lớn tiến đến tới công cuộc tái thống nhất hòa bình với Bắc Triều Tiên trong năm 2045<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-154"><sup>[153]</sup></a>, thế nhưng, hiện tại vẫn chưa có bất kỳ hiệp định hoà bình chính thức nào được ký kết, khiến cho đề xuất trên hay các ý kiến khác mới chỉ dừng lại ở mức ý tưởng. Luật an ninh quốc gia Hàn Quốc hiện nay vẫn không cho phép người dân tiếp nhận bất cứ thông tin nào từ phía Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, những ai bày tỏ thái độ ủng hộ, có các hành động tuyên truyền hoặc phát biểu, diễn thuyết ca ngợi Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên sẽ bị trục xuất khỏi nước này nếu là người nước ngoài<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-motthegioi.vn-74"><sup>[73]</sup></a> hoặc kết án 7 năm tù giam nếu là công dân Hàn Quốc, nếu tự ý tổ chức các chuyến đi du lịch, đến thăm Bắc Triều Tiên mà không được sự cho phép của chính phủ thậm chí hình phạt còn nặng nề hơn - với bản án hình sự có thể lên tới mức 10 năm tù giam<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-:37-75"><sup>[74]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-nytimes.com-76"><sup>[75]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-theguardian.com-77"><sup>[76]</sup></a>. Tổng thống Roh Moo-hyun đã từng nghĩ tới việc giảm hoặc dỡ bỏ một số điều luật của luật này, nhưng hiện tại ý tưởng đó vẫn chưa được thực thi.<br><br></div><div><br>Tháng 6 năm 2000, hai chính phủ đã chính thức gặp gỡ với nhau. Với tư cách là một phần của "Chính sách Ánh Dương" của tổng thống Kim Dae-jung, một hội nghị thượng đỉnh Liên Triều đã diễn ra tại Bình Nhưỡng, thủ đô của Bắc Triều Tiên. Cuộc gặp gỡ này được xem như là sự thắng lợi của chính sách ánh dương trong việc bình thường hoá quan hệ giữa hai miền Triều Tiên. Cuối năm đó, tổng thống Kim đã nhận được giải Nobel Hòa bình "cho những nỗ lực của ông vì nền dân chủ và nhân quyền ở Hàn Quốc và ở Đông Á nói chung, và vì hòa bình và hòa giải với Bắc Triều Tiên nói riêng". Tuy nhiên, do sự bất bình trong dân chúng đối với các cách tiếp cận không có kết quả với Triều Tiên dưới các chính quyền trước đó và, trong bối cảnh các vụ khiêu khích của Bắc Triều Tiên liên tiếp diễn ra, một chính phủ bảo thủ đã được bầu vào năm 2007 do Lee Myung-bak, cựu thị trưởng Seoul làm tổng thống.<br><br></div><div><br>Cả Hàn Quốc và CHDCND Triều Tiên đều tuyên bố chủ quyền của mình đối với toàn bộ bán đảo và các hòn đảo xa bờ, cả hai cũng đồng thời coi chính quyền của họ là chính quyền hợp pháp duy nhất trên bán đảo Triều Tiên. Những nỗ lực hòa giải giữa hai miền vẫn tiếp tục tiếp diễn kể từ khi chiến tranh Triều Tiên kết thúc. Tuy nhiên tiến trình hòa giải này hứa hẹn vẫn sẽ còn phức tạp sau các vụ thử tên lửa đạn đạo của CHDCND Triều Tiên thời gian gần đây, khiến cho mối quan hệ giữa hai miền trở nên căng thẳng. Năm 2017, tân Tổng thống Moon Jae-in lên nắm quyền, hứa hẹn sẽ đem lại những thay đổi lớn nhằm cải thiện mối quan hệ giữa hai nhà nước. Trong một cuộc khảo sát vào năm 2014, số người Hàn Quốc được hỏi có cái nhìn tích cực về CHDCND Triều Tiên chỉ chiếm 3%, tuy nhiên, theo một cuộc khảo sát khác vào năm 2017 của chính phủ, có tới 56% người Hàn Quốc ủng hộ việc tái thống nhất với miền Bắc.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-155"><sup>[154]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-156"><sup>[155]<br></sup></a><br></div><div><br>Trong năm 2018, Hàn Quốc và CHDCND Triều Tiên đã tổ chức 3 <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%99i_ngh%E1%BB%8B_th%C6%B0%E1%BB%A3ng_%C4%91%E1%BB%89nh_Li%C3%AAn_Tri%E1%BB%81u">hội nghị thượng đỉnh liên Triều</a> lần lượt vào các <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%99i_ngh%E1%BB%8B_th%C6%B0%E1%BB%A3ng_%C4%91%E1%BB%89nh_Li%C3%AAn_Tri%E1%BB%81u_th%C3%A1ng_4_n%C4%83m_2018">tháng 4</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%99i_ngh%E1%BB%8B_th%C6%B0%E1%BB%A3ng_%C4%91%E1%BB%89nh_Li%C3%AAn_Tri%E1%BB%81u_th%C3%A1ng_5_n%C4%83m_2018">tháng 5</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%99i_ngh%E1%BB%8B_th%C6%B0%E1%BB%A3ng_%C4%91%E1%BB%89nh_Li%C3%AAn_Tri%E1%BB%81u_th%C3%A1ng_9_n%C4%83m_2018">9</a>. Đặc biệt, vào ngày 27 tháng 4, cả 2 miền dù vẫn chưa ký hiệp định hòa bình nhưng đã ra bản Tuyên bố Bàn Môn Điếm, qua đó chấm dứt nội chiến, kết thúc trạng thái xung đột cùng thái độ thù địch để tiến tới kỷ nguyên hòa bình lâu dài, thịnh vượng và tái thống nhất. Hàn Quốc là quốc gia viện trợ nhân đạo nhiều nhất cho Bắc Triều Tiên trong năm 2019.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-157"><sup>[156]<br></sup></a><strong><br>Nhật Bản</strong></div><div>Bài chi tiết: <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Quan_h%E1%BB%87_H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c_%E2%80%93_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n&amp;action=edit&amp;redlink=1">Quan hệ Hàn Quốc – Nhật Bản</a></div><div>Xem thêm: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tranh_c%C3%A3i_Nh%E1%BA%ADt-H%C3%A0n">Tranh cãi Nhật-Hàn</a><br>Mặc dù là hai quốc gia láng giềng và đều là đồng minh quan trọng của Hoa Kỳ ở khu vực Đông Bắc Á, người dân Hàn Quốc (đặc biệt là các thế hệ trung niên và cao tuổi) đa phần đều có cái nhìn tiêu cực đối với Nhật Bản, nguyên nhân chủ yếu do nước này phải chịu sự cai trị của Nhật Bản trong vòng 35 năm (1910-1945) kể từ khi Nhật chiếm bán đảo Triều Tiên vào năm 1910. Dù Nhật Bản đã trao trả độc lập cho toàn bộ bán đảo Triều Tiên vào năm 1945 nhưng phải chờ đến tận năm 1965 thì hai quốc gia mới chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Nhật Bản hiện đang là đối tác thương mại lớn thứ hai của Hàn Quốc.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-158"><sup>[157]<br></sup></a><br></div><div><br>Trong giai đoạn bán đảo Triều Tiên bị Đế quốc Nhật Bản xâm lược và đô hộ (1910-1945), hàng trăm nghìn người Triều Tiên đã cộng tác với phát xít Nhật để đàn áp những đồng bào đấu tranh đòi độc lập. Ngày nay, sử sách Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc gọi những người Triều Tiên cộng tác với quân Nhật là <em>"Ngụy quân"</em>. Tại Hàn Quốc thì luật pháp có hẳn 1 quy định về đối tượng này, Trung tâm Sự thật và Công lý Lịch sử (CHTJ) đã lập ra cả 1 danh sách 4.389 người từng cộng tác với Nhật để xét lý lịch với con cháu của họ, đến năm 2019, Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in nói rằng: <em>"xóa sạch những dấu tích của việc cộng tác với Nhật Bản là điều nên được thực hiện từ lâu"</em>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-159"><sup>[158]<br></sup></a><br></div><div><br>Hàn Quốc và Nhật Bản đã từng đồng tổ chức World Cup 2002. Tuy nhiên, quan hệ của Hàn Quốc và Nhật Bản sau đó trở nên căng thẳng vì những <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tranh_ch%E1%BA%A5p_%C4%91%E1%BA%A3o_Liancourt">tuyên bố chủ quyền mâu thuẫn đối với đảo Liancourt</a> - nhóm đảo mà Hàn Quốc đã kiểm soát từ tháng 7 năm 1954. Cả Nhật Bản và Hàn Quốc đều coi hòn đảo này là một phần lãnh thổ không thể tách rời của họ<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-160"><sup>[159]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-161"><sup>[160]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_Qu%E1%BB%91c#cite_note-162"><sup>[161]</sup></a>, dẫn đến những tranh cãi gay gắt và hiện nay vẫn chưa tìm được biện pháp giải quyết.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-29 07:24:40 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/longdeptrai2072007/uyz98qmdj6d6c8v3/wish/1853395199</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
