<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title>NÔNG NGHIỆP NƯỚC TÔI by huyenthy vu</title>
      <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4</link>
      <description>Đính kèm 1 hình ấn tượng</description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2021-11-21 14:43:34 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2026-02-21 07:52:33 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url>https://baothuathienhue.vn/image/fckeditor/upload/2019/20191122/images/o-nhiem.jpg</url>
      </image>
      <item>
         <title>33-TRẦN KIM THOA</title>
         <author>kimthoam0312</author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905004642</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1366221976/2ffdfc289be4a9a64e7b5fae545f49cd/C_Y_L_A.docx" />
         <pubDate>2021-11-22 01:27:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905004642</guid>
      </item>
      <item>
         <title>38-Trần Nguyễn Mai Thy</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905006685</link>
         <description><![CDATA[<div>Lần đầu tiên cà phê được đưa vào Việt Nam vào năm <strong>1875,</strong> giống Arabica được người <strong>Pháp </strong>mang từ đảo Bourton sang trồng ở phía Bắc sau đó lan ra các tỉnh miền Trung như Quảng Trị, Bố Trạch, … Sau thu hoạch chế biến dưới thương hiệu “Arabica du Tonkin”, cà phê được nhập khẩu về Pháp. Sau khi chiếm nước ta thực dân Pháp thành lập các đồn điền cà phê như Chinê, Xuân Mai, Sơn Tây chúng canh tác theo phương thức du canh du cư nên năng suất thấp giảm từ 400 – 500 kg/ha những năm đầu xuống còn 100 – 150 kg/ha khi càng về sau. Để cải thiện tình hình, Pháp du nhập vào nước ta hai giống mới là cà phê vối (C. robusta) và cà phê mít ( C. mitcharichia) vào năm 1908 để thay thế, các đồn điền mới lại mọc lên ở phía Bắc như ở Hà Tĩnh (1910), Yên Mỹ (1911, Thanh Hoá), Nghĩa Đàn (1915, Nghệ An). Thời điểm lớn nhất (1946 – 1966) đạt 13.000 ha. Năm 1925, lần đầu tiên được trồng ở Tây Nguyên, sau giải phóng diện tích cà phê cả nước khoảng 20.000 ha, nhờ sự hỗ trợ vốn từ quốc tế, cây cà phê dần được chú trọng, đến năm 1980 diện tích đạt 23.000 ha, xuất khẩu trên 6000 tấn. Bản kế hoạch ban đầu được xây dựng năm 1980 đặt mục tiêu cho ngành cà phê Việt Nam có khoảng 180 nghìn ha với sản lượng 200 nghìn tấn. Sau đó, bản kế hoạch này đã nhiều lần sửa đổi. Các con số cao nhất dừng lại ở mức 350 nghìn ha với sản lượng 450 nghìn tấn (VICOFA, 2002).</div><div>Trận sương muối năm 1994 ở Brasil đã phá huỷ phần lớn diện tích cà phê ở nước này, cộng hưởng đợt hạn hán kéo dài năm 1997 đã làm nguồn cung trên toàn thế giới sụp giảm mạnh, giá tăng đột biến đã khích lệ mở rộng diện tích cà phê ở Việt Nam, đầu tư kỹ thuật canh tác thâm canh, chuyên canh, … nhờ đó diện tích và sản lượng tăng nhanh, trung bình 23,9%/năm, đưa tổng diện tích cây cà phê năm 2000 lên đến 516,7 nghìn ha, chiếm 4,14% tổng diện tích cây trồng của Việt Nam, đứng thứ ba chỉ sau hai loại cây lương thực chủ lực là lúa (chiếm 61,4%) và ngô (chiếm 5,7%). Trong thập kỷ 90 thế kỷ XX, sản lượng tăng lên trên 20%/năm (và các năm 1994, 1995, 1996 sản lượng tăng thậm chí còn cao hơn với tỷ lệ lần lượt là 48,5%, 45,8% và 33%). Năm 2000, Việt Nam có khoảng 520 nghìn ha cà phê, tổng sản lượng đạt 800 nghìn tấn. Nếu so với năm 1980, diện tích cà phê của Việt Nam năm 2000 đã tăng gấp 23 lần và sản lượng tăng gấp 83 lần. Mức sản lượng và diện tích vượt xa mọi kế hoạch trước đó và suy đoán của các chuyên gia trong nước và quốc tế.<br><br></div><div>Cho đến nay sản lượng cà phê cả nước chiếm 8% sản lượng nông nghiệp, chiếm 25% giá trị xuất khẩu và là nước xuất khẩu cà phê Robusta lớn nhất thế giới với hai tỉnh có diện tích canh tác lớn nhất là ĐăkLăc và Gia Lai, mang lại việc làm ổn định, thu nhập cao cho hàng triệu người. Góp phần ổn định kinh tế xã hội ở những vùng xa xôi hẻo lánh, dân tộc ít người,…<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1419142533/f9942c8dddd98dc5120580af67821b10/OIP.jpg" />
         <pubDate>2021-11-22 01:29:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905006685</guid>
      </item>
      <item>
         <title>20 - Huỳnh Như Bảo Ngọc</title>
         <author>huynhnhubaongoc6434</author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905010123</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Lá chè<br></strong><br></div><div>Việt Nam được biết đến là nơi có nhiều vùng trồng chè, cung cấp nguyên liệu làm trà có chất lương cao, hương vị thơm ngon đầy ấn tượng. Sự phân bổ theo địa hình, môi trường, khí hậu và thổ nhưỡng là những yếu tố quyết định. Đặc trưng của vùng sẽ tạo nên dự vị khác biệt trong mỗi lá trà.</div><div><br></div><div><strong>Đặc trưng sinh trưởng của cây chè<br></strong><br></div><div>Cây chè là loại cây có khả năng thích nghi và phát triển cao, sinh trưởng tốt trong nhiều điều kiện môi trường khác nhau. Đặc biệt là trong điều kiện khí hậu cận nhiệt đới như ở Việt Nam, có nhiệt độ giao động từ 23 – 40°C. Đặc trưng khí hậu này mang đến lượng mưa lớn, độ ẩm cao giúp cây chè phát triển và cho sản lượng cao hơn các vùng có khí hậu khô nóng. Theo nhiều nghiên cứu, nhiệt độ quang hợp lý tưởng nhất cho cây chè là từ 16°C – 28°C. Sự biến động của nhiệt không quá nhiều, lượng mưa lớn thúc đẩy sự phát triển và ảnh hưởng đến các hàm lượng dưỡng chất của lá trà. Hiện tại, chè được trồng và phát triển ở hơn 40 quốc gia trên thế giới, ước tính sản lượng hằng năm có thể đạt từ 4 – 6 triệu tấn. Các nước có sản lượng lớn, cùng chất lượng được thế giới công nhận hiện nay bao gồm: Trung Quốc, Ấn Độ, Sri Lanka, Việt Nam, Thổ Nhĩ Kỳ và Indonesia, Nhật Bản. Mỗi quốc gia sẽ có những đặc trưng riêng về hương vị, chất lượng tùy thuộc vào phương pháp chế biến, quy trình chăm sóc. Trong đó, Việt Nam nổi tiếng với những loại trà được trồng, chăm sóc, thu hoạch theo phương pháp cổ truyền, mang lại hương vị nhẹ nhàng, thanh khiết được nhiều người yêu thích.</div><div>Vùng trồng chè nổi tiếng ở Việt Nam</div><div>Tại Việt Nam, trà được bắt nguồn từ những địa phương phía Bắc giáp với Trung Quốc. Tuy nhiên, nhờ vào việc phát triển có quy hoạch, hiện nay đã có hơn một nửa số tỉnh trên cả nước trồng và khai thác. Các vùng như Tây Bắc và Đông Bắc của Việt Nam là nơi tập trung trồng nhiều nhất, ngoài ra khu vực Tây Nguyên và Lâm Đồng cũng nổi tiếng với các loại trà ngon. Bên cạnh những địa phương được quy hoạch phát triển thành vùng nguyên liệu, thì cũng có những nơi mà cây chè được người dân trồng hoang vẫn rất nổi tiếng nhờ vào hương vị trà độc đáo tại các tỉnh như: Điện Biên, Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái và Hà Giang.</div><div><br></div><div><strong>“Đệ nhất danh trà” Thái Nguyên<br></strong><br></div><div>Có tổng diện tích trồng và khai thác khoảng 20.000 ha, Thái Nguyên là nơi cung cấp nguồn trà lớn nhất của Việt Nam, từ sản lượng cho đến chất lượng. Ở đây, cây chè được trồng, chăm sóc theo phương thức cổ truyền, cùng với quy trình thu hoạch và chế biến theo cách thức truyền thống đảm bảo giữ được mùi vị, màu sắc đặc trưng của từng lá tà. Trà xanh truyền thống Thái Nguyên nổi tiếng có hương vị thơm, vị đầu lưỡi đắng, hậu vị ngọt, mà sắc đẹp được nhiều người yêu thích.</div><div><br></div><div><strong>Vùng trồng chè ở Mộc Châu – Sơn La<br></strong><br></div><div>Là một tỉnh thuộc khu vực Tây Bắc, Việt Nam. Mộc Châu có đặc trưng khí hậu và thời tiết mát mẻ, nguồn đất đai thổ nhưỡng màu mỡ phù hợp với giống chè truyền thống, cũng như những loại được nhập từ Nhật Bản. Nhờ vào điều kiện môi trường như vậy, Mộc Châu – Sơn La nổi tiếng với những loại trà ngon, cũng như là nơi cung cấp nguyên liệu để sản xuất các loại Matcha chất lượng cao.</div><div><strong>Khu vực trồng chè ở Suối Giàng – Yên Bái<br></strong><br></div><div>Có độ cao hơn 1.400m, khí hậu đặc trưng ôn hòa, mát mẻ. Tại vùng Suối Giàng – Yên Bái nổi tiếng với loại trà được thu hái từ những cây chè cổ thụ tự nhiên lâu đời. Nổi tiếng với thương hiệu chè Shan Tuyết với đặc trưng lá trà phủ lông trắng, là loại trà được ưa chuộng trên thế giới. Những cây chè ở đây đều có độ tuổi trên 100 năm, đặc biệt có những cây có tuổi thọ lên đến 300 năm. Chính điều này đã mang lại sự nổi tiếng về chất lượng, cũng như đặc trưng riêng của trà Shan Tuyết mà chỉ nơi này mới có. Khu vực trồng chè ở Tuyên Quang Với diện tích trồng và khai thác hiện có vào khoảng 8.000 ha được quy hoạch tập trung ở các vùng như Sơn Dương, Yên Sơn, Hàm Yên. Tuyên Quang cũng được biết đến là vùng nguyên liệu nổi tiếng với những loại trà ngon của Việt Nam. Trong đó bao gồm những loại trà nổi tiếng như:</div><ul><li>Trà Shan Tuyết.</li><li>Trà Ô Long.</li><li>Trà Bát Tiên.</li></ul><div><br></div><div><strong>Vùng phát triển tại Bảo Lộc – Lâm Đông<br></strong><br></div><div>Nổi tiếng là vùng đất có thổ nhưỡng tốt, địa hình bình sơn nguyên, cùng thung lũng đất bazan thích hợp trồng chè. Bảo Lộc – Lâm đồng là nơi có khí hậu lý tưởng để trồng và cung cấp nguồn nguyên liệu trà lớn cho cả nước hiện nay. Nhiệt độ đặc trưng ở Lâm Đồng ôn hòa, quanh năm mát dịu và nhiều ngày có sương mù, cường độ mưa lớn. Những trang trại trồng chè nổi tiếng như Tâm Châu, Phương Nam là nơi nổi tiếng với các loại trà xanh, trà Ô Long, trà Atiso và Trà Hoa Lài.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1329799560/56f5d33b0522b72a6fc507dab9af59c2/image.jpeg" />
         <pubDate>2021-11-22 01:31:31 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905010123</guid>
      </item>
      <item>
         <title>06-Le Quang Cuong</title>
         <author>555quangcuong</author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905010192</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Lúa</strong> là một trong năm loại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A2y_l%C6%B0%C6%A1ng_th%E1%BB%B1c">cây lương thực</a> chính của thế giới.<br>Lúa là loài thực vật thuộc một nhóm các loài <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8D_H%C3%B2a_th%E1%BA%A3o">cỏ</a> đã thuần dưỡng. Lúa sống một năm, có thể cao tới 1-1,8 m, đôi khi cao hơn, với các lá mỏng, hẹp khoảng (2-2,5 cm) và dài 50–100 cm. Rễ chùm, có thể dài tới 2–3 m/cây trong thời kỳ trổ bông. Tuỳ thời kì sinh trưởng, phát triển mà lá lúa có màu khác nhau. Khi lúa chín ngả sang màu vàng. Các hoa nhỏ, màu trắng sữa, tự thụ phấn mọc thành các cụm hoa phân nhánh cong hay rủ xuống, dài 35–50 cm. Hạt là loại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A3_th%C3%B3c">quả thóc</a> (hạt nhỏ, cứng của các loại cây ngũ cốc) dài 5–12 mm và dày 1–2 mm. Cây lúa non được gọi là <strong>mạ</strong>.<br>Sản lượng lúa <a href="http://nongnghiep.vn/nam-bo-tag72407/">Nam Bộ</a> cả năm nay ước đạt 25,867 triệu tấn, tăng 134 ngàn tấn so với năm 2019. Đó là thông tin từ Cục Trồng trọt.<br><br></div><div>Điều đáng chú ý là sản lượng lúa ở Nam Bộ vẫn tăng trong bối cảnh diện tích gieo trồng giảm khá nhiều. Cụ thể, tổng diện tích gieo trồng lúa trên toàn vùng trong năm nay là 4,305 triệu ha, giảm tới hơn 31,5 ngàn ha so với năm ngoái.<br><br></div><div>Diện tích gieo trồng lúa giảm chủ yếu do ảnh hưởng khô hạn, xâm nhập mặn nên nhiều diện tích lúa được chuyển đổi sang trồng cây hằng năm, cây ăn quả và nuôi trồng thủy sản có nhu cầu nước tưới ít hơn và hiệu quả kinh tế chuyển đổi cao hơn so với trồng lúa.<br><br></div><div>Diện tích giảm, nhưng năng suất lúa bình quân cả năm lại tăng 0,75 tạ/ha, đưa năng suất lúa bình quân đạt 6,009 tấn/ha/vụ.<br><br></div><div>9 tháng đầu năm nay, xuất khẩu gạo ước đạt 5,012 triệu tấn, trị giá 2,46 tỷ USD, giảm 0,96% về lượng nhưng tăng tới 11,41% về kim ngạch so với cùng kỳ 2019.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1328045150/c4355069791ada9daa25def2fb67ada1/thuyet_minh_ve_cay_lua_viet_nam_lop_9_2.jpg" />
         <pubDate>2021-11-22 01:31:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905010192</guid>
      </item>
      <item>
         <title>08-Lê Nguyễn Anh Duy</title>
         <author>duyle656543</author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905010604</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1383075169/f5786764854a3f038501bbc597ad7d27/H__TI_U.docx" />
         <pubDate>2021-11-22 01:31:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905010604</guid>
      </item>
      <item>
         <title>17-Nguyễn Thị Kim Ngân</title>
         <author>kimngaan0405</author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905010829</link>
         <description><![CDATA[<div><br>-Cây lúa nước có nguồn gốc từ<strong> </strong>cây lúa hoang dại được con người thuần hóa. Khoảng hơn 10.000 năm trước, người Việt cổ đã biết thuần hóa cây lúa hoang dại thành cây trồng cung cấp lương thực, phục vụ đời sống.<br>-Lúa nước là<strong> </strong>một trong năm loại cây lương thực chính của thế giới. Lúa nước là một trong năm loại cây lương thực chính của thế giới, chúng có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới khu vực đông nam châu Á và châu Phi.<br>- Tình hình sản xuất lúa :</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Diện tích gieo trồng nhiều biến động</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Năng suất và sản lượng lúa tăng mạnh</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Bình quân lương thực đầu người cao, xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Tập trung lớn nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng</div><div>- Năng suất lúa tăng mạnh do áp dụng rộng rãi các biện pháp thâm canh nông nghiệp, sử dụng đại trà các giống mới.<br>-Tính chung 6 tháng đầu năm 2020, sản lượng lúa cả nước đạt<strong> </strong>20,2 triệu tấn. Qua đó, đáp ứng nhu cầu lương thực trong nước và một phần xuất khẩu (giá trị xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2020 đạt bình quân 487 USD/tấn, tăng 27,1% so với cùng kỳ năm 2019).</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1377984019/4985db71305540e6ece2a98d9c5c99b5/image.png" />
         <pubDate>2021-11-22 01:31:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905010829</guid>
      </item>
      <item>
         <title>03-Trần Ngọc Hà Anh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905012236</link>
         <description><![CDATA[<div>Cây cà phê đã xuất hiện ở Việt Nam từ thế kỷ thứ 19. Qua thời gian dài sinh tồn và phát triển mạnh mẽ, giờ đây cây cà phê đã mang lại những giá trị xuất khẩu to lớn cho người dân Việt Nam. Được biết Việt Nam đang nằm trong top những nước xuất khẩu cà phê đứng đầu thế giới. Như vậy ắt hẳn cây cà phê phải được trồng rất nhiều ở Việt Nam.&nbsp;<br>Hiện tại ở Việt Nam có 2 loại cây giống cà phê chính là cây Cà phê chè (Arabica) ,Cà phê Vối (Robusta) và một phần nhỏ là Cà phê Mít (Liberia ). Trong đó diện tích cây cà phê Robusta chiếm đến 90%, Arabica chiếm 10%, tỷ lệ cà phê Liberia là rất ít.<br>Riêng cà phê Arabica có 2 loại giống chính là Moka và Catimor. Hiện tại tỉnh trồng Arabica chủ yếu là tỉnh Lâm Đồng do thổ nhưỡng phù hợp cho cây phát triển hơn các vùng khác. Trong đó giống Catimor là chiếm đa số hơn 90%, giống Moka hiện tại là rất ít khoảng 10%. Khí hậu và độ cao thích hợp cho loại cây này là nhiệt độ từ 16-25°C và độ cao từ 1,000-1500m.<br>Sự phân bố khu vực trồng cà phê phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, gió, địa hình và đất đai. Cây cà phê thích hợp sống ở những vùng đất đồi núi cao (cao hơn mực nước biển khoảng 600 mét trở lên). Việt Nam lại là đất nước có địa hình rất phức tạp. Vì vậy cây cà phê phân bố không đồng đều trên dải đất hình chữ S của chúng ta. Nó được trồng tập trung ở những vùng có nhiều đồi núi cao.<br>Ở Việt Nam bạn sẽ rất khó tìm thấy cây cà phê ở khu vực ven biển hay duyên hải Nam Trung Bộ. Cây cà phê rất kén môi trường sống, đặc biệt là điều kiện về gió. Những khu vực có gió khô, gió nóng sẽ không thể trồng cà phê. Chúng ta biết rằng vùng ven biển thì gió rất mạnh, không thích hợp với cây cà phê.<br>Bên cạnh đó, các khu vực như đồng bằng sông Hồng hay miền Tây Nam Bộ cũng rất ít khi xuất hiện cây cà phê. Bởi những khu vực này chủ yếu là đất phù sa.<br>Nói đến “đại bản doanh” của cây cà phê thì đầu tiên chúng ta phải kể đến đó là Tây Nguyên. Tây Nguyên là vùng đất nổi tiếng về cà phê với các địa danh như Đắk Lắk, Lâm Đồng. Trong đó vựa cà phê Buôn Ma Thuột ở Đắk Lắk là một trong những vựa cà phê lớn nhất thế giới.<br><br>Tây Nguyên được trời ban cho đất đỏ bazan trù phú. Nói đến đất bazan ai cũng biết rằng đó là loại đất tốt, rất tơi xốp, có khả năng giữ nước tốt, và đặc biệt loại đất này rất dễ hấp thu dinh dưỡng. Mặt khác Tây Nguyên lại là khu vực đồi núi cao (500-600 mét so với mực nước biển). Nơi đây có mưa nhiều, khí hậu mát mẻ quanh năm, rất thích hợp với điều kiện sống của cây cà phê, đặc biệt là cà phê Robusta.<br>Bạn có biết “thủ phủ cà phê” ở đâu không? Đó chính là Buôn Ma Thuột. Buôn Ma Thuột là một trong những vùng đất đầu tiên được người Pháp chọn để trồng và nhân giống cây cà phê. Trước khi lựa chọn Buôn Ma Thuột, người Pháp đã khảo sát rất kỹ vùng đất này, và thấy rằng đây là “thiên đường” để trồng cà phê. Từ thổ nhưỡng cho tới khí hậu, tầng phù sa cổ, và đặc biệt là địa hình đồi núi cao,…đều rất thích hợp với cây cà phê. Họ đã chọn Buôn Ma Thuột làm trung tâm và thực hiện chuyên canh giống cà phê Robusta trong bán kính 10km quanh Buôn Ma Thuột. Từ đó xây dựng nên những địa danh nổi tiếng về cà phê như Ea Kao, Cư Ebut, Tân Lập,…<br>Bên cạnh những điều kiện về khí hậu, địa hình,…thì Buôn Ma Thuột còn là địa danh có tầm quan trọng trong an ninh quốc phòng, vì thế rất được nhà nước quan tâm, tạo điều kiện để phát triển. Hiện nay sản lượng cà phê của Buôn Ma Thuột đang đứng đầu cả nước.<br><br>Ngoài Buôn Ma Thuột ở Đăk Lăk thì Cầu Đất, Núi Min, Trạm Hành ở Lâm Đồng cũng là những địa danh nổi tiếng về cà phê. Với độ cao trên 1500 mét so với mực nước biển, cùng nhiều điều kiện thuận lợi khác về khí hậu, những địa danh này trở thành nơi lý tưởng để trồng giống cà phê Arabica. Đặc biệt chất lượng hạt cà phê ở đây rất tốt, có thể nói ngon thuộc hạng nhất nhì thế giới.<br><br>Một khu vực khác cũng nổi tiếng không kém về cà phê. Đó là Khe Sanh thuộc tỉnh Quảng Trị. Mặc dù chất lượng cà phê ở đây không cao nhưng cũng góp phần làm phong phú cho cà phê nước nhà.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1466282802/d360addede275ff55ad8de584e75f7f8/1CCD09C9_2A76_4AAC_B9BF_E3A8AEFDBEAD.jpeg" />
         <pubDate>2021-11-22 01:32:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905012236</guid>
      </item>
      <item>
         <title>41-Phan Nguyễn Ngọc Trâm</title>
         <author>ngoctramphan16082004</author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905012318</link>
         <description><![CDATA[<div><br>Cà phê&nbsp;<br>Khái niệm: Cây cà phê là một loại thực vật thuộc họ thiến thảo (Rubiaceae), họ thiên thảo gồm nhiều loại thực vật khác nhau, một số loại có chưa chất caffein, một số khác thì không chứa caffein. Cây thuộc họ thiên thảo đa phần là cây thân gỗ, và một số cây trồng khác xa so với cây cà phê như: cây cầu đằng, cây canh gin na….<br>Nơi trồng chủ yếu: Nói đến “đại bản doanh” của cây cà phê thì đầu tiên chúng ta phải kể đến đó là Tây Nguyên. Tây Nguyên là vùng đất nổi tiếng về cà phê với các địa danh như Đắk Lắk, Lâm Đồng. Trong đó vựa cà phê Buôn Ma Thuột ở Đắk Lắk là một trong những vựa cà phê lớn nhất thế giới.<br>Điều kiện đất đai của nước ta có thế mạnh trong việc trồng cây cà phê : Đất badan rất thích hợp với cây cà phê dược phân bố rộng rãi khắp lãnh thổ Việt Nam<br>Cà phê được đánh giá là một trong những loại cây trồng chủ đạo của nền nông nghiệp Việt Nam, đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội. Cây cà phê đầu tiên được đưa vào Việt Nam vào khoảng những năm 70 của thế kỷ 19, mãi đến đầu thế kỷ 20 mới được phát triển trồng ở một số đồn điền của người Pháp. Năm 1930, ở Việt Nam mới chỉ có 5.900ha (Phan Quốc Sũng, 2000). Nhưng chỉ trong vòng 15-20 năm qua, ngành cà phê nước ta đã có những bước phát triển nhanh vượt bậc cả về diện tích, năng suất và sản lượng.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1382819825/117598b9260241d09a1d3791103d50cc/image.png" />
         <pubDate>2021-11-22 01:32:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905012318</guid>
      </item>
      <item>
         <title>35-HỒNG NHƯ THỤY</title>
         <author>hongnhuthuy2004</author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905012434</link>
         <description><![CDATA[<div>Chè (hay là trà) là loài cây mà lá và chồi được sử dụng để sản xuất trà. Cây chè tại Việt Nam diện tích lớn nhất ở hai tỉnh Phú Thọ và Quảng Nam thuộc vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ. Tính đến năm 1960, Việt Nam xuất cảng 2.000 tấn chè mỗi năm. Đến năm 2007 thì sản lượng chè của Việt Nam đã vượt một triệu tấn, canh tác trên 125.000 hecta.Vào đầu năm 2016, thị trường lớn nhất mua chè Việt Nam là Pakistan chiếm khoảng 1/3 thị phần. Việt Nam cũng là nước xuất cảng chè đứng thứ năm trên thế giới. Tuy nhiên giá bán thấp hơn so với các nước khác vì phẩm chất kém, chỉ đạt 60-70% giá thị trường quốc tế.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1383217675/1a70c99253c3a79be2a709c80c494272/c_y_ch_.png" />
         <pubDate>2021-11-22 01:32:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905012434</guid>
      </item>
      <item>
         <title>24-Nguyễn Ngô Thành Phước</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905012555</link>
         <description><![CDATA[<div>Lúa vẫn là nông sản quan trọng nhất.<br><br>Trong giai đoạn 1990-2015, diện tích đất trồng trọt tăng bình quân 2%/năm, đến cuối năm 2015 đạt gần 15 triệu hecta. Ở cùng thời kỳ này, đất trồng lúa tăng chậm hơn, bình quân 1%/năm thay đổi rất ít kể từ sau năm 2000.<br><br>Theo thống kê gần nhất diện tích đất trồng lúa hiện nay ở mức 7,8 triệu hecta, chiếm 52,5% tổng diện tích đất trồng trọt và năng suất đã được cải thiện rất nhiều so với 20 năm trước đây. Cần phải nhấn mạnh rằng, để đạt được mục tiêu an ninh lương thực và xoá đói giảm nghèo, cây lúa đã nhận được sự ưu ái của Chính phủ khi đất nông nghiệp đồng bằng có chất lượng tốt nhất kèm theo hệ thống tưới tiêu đặc thù luôn được dành để canh tác lúa.<br><br>Trong nhiều năm liền, đa phần các nỗ lực mở rộng diện tích tưới tiêu, nghiên cứu và khuyến nông của Chính phủ đều tập trung vào việc tăng sản lượng lúa địa phương và quốc gia.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1366289203/296aef1ea2bd7cdc16e64b8584603cae/F90FC153_4B3A_4B05_9998_BD4B9CB95202.jpeg" />
         <pubDate>2021-11-22 01:33:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905012555</guid>
      </item>
      <item>
         <title>05-Huỳnh Quang Chiến</title>
         <author>huynhquangchien04</author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905012702</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>THÔNG TIN CHÈ VIỆT NAM</strong><br>-Diện tích:tính đến năm 2020, nước ta có 34 tỉnh, thành phố trồng chè với tổng diện tích 123 nghìn ha.<br> -Năng suất:bình quân đạt gần 95 tạ/ha. -Sản lượng :đạt 1,02 triệu tấn chè búp tươi.&nbsp;<br> -Phân bố:&nbsp;<br> +chủ yếu ở khu vực Trung du và miền núi phía Bắc (khoảng 70%).<br> +Vùng Tây Nguyên (khoảng 19%).<br> +Vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung ( 7,0% ).<br> +Khu vực đồng bằng Bắc bộ (4,0%)<br> -Ngoài ra Việt Nam hiện đứng thứ 5 trên thế giới về xuất khẩu chè, đứng thứ 7 về sản xuất chè toàn cầu.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1382549497/f0cd89aa4d3a13d4e99c5e1c9fbfe6bb/t_i_xu_ng.jpeg" />
         <pubDate>2021-11-22 01:33:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905012702</guid>
      </item>
      <item>
         <title>34 - Lê Tiến Thuận - 12A4</title>
         <author>letienthuan0606</author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905012746</link>
         <description><![CDATA[<div>- <strong>Vải thiều</strong> là loại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C3%A1i_c%C3%A2y">trái cây</a> phổ biến ở một số quốc gia <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nhi%E1%BB%87t_%C4%91%E1%BB%9Bi">nhiệt đới</a>, trong đó có <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam">Việt Nam</a>. Hiện nay vùng trồng loại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%E1%BA%A3i_(c%C3%A2y)">vải</a> nổi tiếng nằm ở huyện <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Thanh_H%C3%A0">Thanh Hà</a>, tỉnh <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BA%A3i_D%C6%B0%C6%A1ng">Hải Dương</a> và huyện <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%A5c_Ng%E1%BA%A1n">Lục Ngạn</a>, tỉnh <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BA%AFc_Giang">Bắc Giang</a>.<br>- Vào những năm cuối thế kỷ 19 hoặc đầu thế kỷ 20, cụ Hoàng Văn Cơm (sinh năm 1848 quê Thanh Sơn, Thanh Hà, Hải Dương) từng làm phu khuân vác ở cảng Hải Phòng. Thấy mấy ông lái buôn người Trung Quốc quê ở Thiều Châu ăn quả vải rồi vứt hạt đi, cụ Thành đã nhặt được 6 hạt, đem về quê ương giống và mọc được 3 cây. Khi dọn cỏ, cụ bà sơ ý làm chết mất 2 cây rưỡi. Đó chính là cây vải thiều đầu tiên ở nước ta. Rồi từ đó, chiết cành ra để trồng thêm, số cây vải và số vườn vải càng ngày càng tăng thêm. Con cháu và họ hàng nhớ ơn cụ Thành nên đã xây dựng miếu thờ cụ bên cạnh cây vải tổ. Vì có nguồn gốc như thế nên nó có tên là <strong>vải thiều</strong>, nhưng chưa hẳn là nòi vải ở Thiều Châu.<br>- Nhận dạng chung về vải thiều Thanh Hà: là giống có kích thước quả bé nhất trong tất cả các giống vải hiện nay, dạng quả hơi tròn. Chiều cao quả 3,3 – 3,4 cm, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BB%81u_r%E1%BB%99ng">chiều rộng</a> quả 3,4 – 3,5 cm, tỷ lệ cao quả/ rộng quả 0,94 – 0,98. Quả nhỏ, vỏ sần, chín màu đỏ, hạt rất nhỏ màu đen tuyền hoặc không hạt, cùi trắng dày ăn rất ngọt, hương vị thơm đặc biệt. Quả nặng 18 - 20g, tỷ lệ cùi 72 - 80% thịt hơi nhão, khi bóc vỏ dễ vỡ nước, mùi thơm. Hạt vải thiều gần như bị triệt tiêu, xun lại chứ không thành hạt như vải bình thường. Vải cho vào miệng sẽ cho cảm giác như tự tan ra, không cảm thấy vị se, vị chua, chát, cứ ngọt dần, ngọt dần...<br>- Vải thiều Thanh Hà hột nhỏ, màu nâu đen, cây vải tuổi càng cao thì hạt càng nhỏ, có nhiều trái gần như không có hạt và lớp cùi dày, trắng đục, ngọt lịm, đầy nước. Giữa cùi và hạt vải thiều không có lớp màng mỏng nâu nâu chan chát như vải trồng ở các nơi khác. Vải Thanh Hà chất lượng ngon, nên giá bán cao hơn các loại vải khác. Từ 10 tuổi trở lên, cây vải ra hoa đều và năng suất ổn định hơn. Trồng trên đất đồi vùng Trung du, nếu chăm bón tốt, nhất là bón thêm lân và phân hữu cơ, có thể cho năng suất cao. Vải ra hoa vào tháng 3 <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/D%C6%B0%C6%A1ng_l%E1%BB%8Bch">dương lịch</a> và chín vào tháng 6. Khoảng thời gian thu hoạch vải thiều thường ngắn, khoảng 2 tuần. Vì vậy nên với sản lượng lớn, người ta thường chế biến bằng cách sấy khô, sản phẩm sau đó gọi là vải khô.<br>_ Về sản xuất, tiêu thụ và xuât khẩu</div><div>- Tổng <strong>diện tích vải</strong> thiều toàn tỉnh là 28.126 ha<br>- Sản lượng ước đạt 164.700 tấn (tăng so với <strong>năm</strong> 2019 khoảng 10.000 tấn)<br>- Tổng sản lượng tiêu thụ nội địa đạt khoảng 86.500 tấn<br>- Tổng sản lượng xuất khẩu ước đạt 78.200 tấn, được xuất khẩu nhiều nhất qua các nước như Trung Quốc, một số nước EU, Mỹ, Nhật Bản,...<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1329785929/2f52da5751db2a336e9c23db7c58fdf3/download__2_.jfif" />
         <pubDate>2021-11-22 01:33:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905012746</guid>
      </item>
      <item>
         <title>02-Hoàng Lan Anh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905013273</link>
         <description><![CDATA[<div>Vải thiều Lục Ngạn<br>- Được xuất khẩu sang Trung Quốc,Mỹ,Nhật Bản,Hàn Quốc,Anh,Pháp,Úc<br>- giá các loại quả chín sớm 30.000-50.000 vnđ<br>- giá hiện tại 60.000-70.000 vnđ<br>- Tổng diện tích vải thiều toàn tỉnh là 28.126 ha, sản lượng ước đạt 164.700 tấn ( năm 2020 )<br>-Thị trường nội địa: Tổng sản lượng tiêu thụ nội địa đạt khoảng 86.500 tấn, chiếm khoảng 52,5% tổng sản lượng tiêu thụ ( năm 2020)<br>-Tổng sản lượng xuất khẩu ước đạt 78.200 tấn, chiếm khoảng 47,5% tổng sản lượng tiêu thụ (giảm 1,7% so với năm 2019)<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1463270013/0f011433889a565dbe2be306e65dc52b/image.jpeg" />
         <pubDate>2021-11-22 01:33:31 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905013273</guid>
      </item>
      <item>
         <title>15-Nguyễn Tuấn Kiệt</title>
         <author>nguyenkiet0401</author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905013664</link>
         <description><![CDATA[<div>- Tổng diện tích: 600.000ha ( chủ yếu ở Tây Nguyên )<br>&nbsp;Vùng trồng cà phê nhiều nhất Đăk Lăk: 190.000 ha.<br>- Cà phê Việt Nam được trồng ở các vùng có độ cao từ 500 đến 1.200 mét so với mực nước biển, do đó hương vị cà phê có chất vị ngọt ngào.<br>- Mùa cà phê bắt đầu vào tháng 10, đánh dấu sự kết thúc của mùa mưa và bắt đầu mùa khô ở miền Nam nước ta. <br>- Kỹ thuật chế biến phổ biến nhất tại nước ta vẫn là phương pháp <a href="https://primecoffea.com/che-bien-kho-la-gi-phuong-phap-che-bien-ca-phe-kho.html">phơi khô tự nhiên</a> sau thu hoạch.<br>- Trong nhiều thập kỷ qua, sản xuất cà phê Việt Nam đã phát triển như một ngành công nghiệp định hướng xuất khẩu. Với vị thế là nhà sản xuất và xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới.<br>&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="https://www.google.com/imgres?imgurl=https%3A%2F%2Fmedia.thuonghieucongluan.vn%2Fuploads%2F2020%2F09%2F26%2Fca-phe-1601078726.jpg&amp;imgrefurl=https%3A%2F%2Fthuonghieucongluan.com.vn%2Fgia-ca-phe-hom-nay-26-9-gia-ca-phe-tay-nguyen-tang-them-100-200-dong-kg-a114624.html&amp;tbnid=Zt2iwPVS9S3FYM&amp;vet=12ahUKEwjdpvG26ar0AhUi3mEKHdOhARUQMygEegUIARCyAQ..i&amp;docid=fS8GKWBoDc8XoM&amp;w=640&amp;h=427&amp;q=c%C3%A0%20ph%C3%AA%20t%C3%A2y%20nguy%C3%AAn&amp;ved=2ahUKEwjdpvG26ar0AhUi3mEKHdOhARUQMygEegUIARCyAQ" />
         <pubDate>2021-11-22 01:33:48 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905013664</guid>
      </item>
      <item>
         <title>40-Nguyễn Lê Ngọc Trâm</title>
         <author>tramjk1910</author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905013902</link>
         <description><![CDATA[<div>Quả sầu riêng được nhiều người ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_Nam_%C3%81">Đông Nam Á</a> xem như là "vua của các loại trái cây". Nó có đặc điểm là kích thước lớn, mùi mạnh, và nhiều gai nhọn bao quanh vỏ. Có thể sầu riêng chính là một trong những nông sản hàng đầu và mang lại lợi ích rất lớn cho nước ta: Sầu riêng Ri6. Quả có thể đạt 30 xentimét (12 in) <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BB%81u_d%C3%A0i">chiều dài</a> và 15 xentimét (6 in) đường kính, thường nặng một đến ba kilogram (2 đến 7 lb). Tùy thuộc vào từng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Lo%C3%A0i_(sinh_h%E1%BB%8Dc)">loài</a> mà quả có hình dáng từ thuôn đến tròn, màu vỏ từ xanh lục đến nâu, màu thịt quả từ vàng nhạt đến đỏ.<br>Thịt quả có thể ăn được, và tỏa ra một mùi đặc trưng, nặng và nồng, ngay cả khi vỏ quả còn nguyên. Một số người thấy sầu riêng có một mùi thơm ngọt ngào dễ chịu, nhưng một số khác lại không chịu nổi và khó chịu với cái mùi này. Mùi hương của sầu riêng tạo nên những phản ứng từ mê mẫn cho đến kinh tởm mãnh liệt, và được mô tả như mùi hành tây thối, nhựa thông hoặc nước cống. Do mùi của sầu riêng ám rất lâu cho nên nó bị cấm mang vào một số khách sạn và phương tiện giao thông công cộng ở Đông Nam Á.<br>Ở Việt Nam, Sầu riêng được trồng có diện tích khoảng 30000 ha (năm 2018) tập trung chủ yếu ở các tỉnh <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2y_Ninh">Tây Ninh</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%ACnh_D%C6%B0%C6%A1ng">Bình Dương</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ti%E1%BB%81n_Giang">Tiền Giang</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%AFk_L%E1%BA%AFk">Đắk Lắk</a> với hai giống sầu riêng chính được trồng nhiều đó là <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=S%E1%BA%A7u_ri%C3%AAng_Ri_6&amp;action=edit&amp;redlink=1">sầu riêng Ri 6</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=S%E1%BA%A7u_ri%C3%AAng_Monthong_Th%C3%A1i_Lan&amp;action=edit&amp;redlink=1">sầu riêng Monthong Thái Lan</a>. Vì lý do cây sầu riêng là một cây ăn quả nhiệt đới nên cây sầu riêng không thể chịu đựng được cái lạnh của mùa đông nên cây sầu riêng chỉ trồng được ở các tỉnh thành phía nam của Việt Nam, cây sầu riêng được trồng ở giới hạn cuối cùng là ở các tỉnh <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%ABa_Thi%C3%AAn_Hu%E1%BA%BF">Thừa Thiên Huế</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A3ng_Tr%E1%BB%8B">Quảng Trị</a>.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1382570931/6ad5c0322edafbb36d746e407a881f1a/sau_rieng.jpg" />
         <pubDate>2021-11-22 01:33:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905013902</guid>
      </item>
      <item>
         <title>32 - Thái Mỹ Thi</title>
         <author>mythi27081</author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905014257</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>CÂY CAO SU&nbsp;<br>-&nbsp;</strong>là một loài cây thân gỗ thuộc về <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8D_%C4%90%E1%BA%A1i_k%C3%ADch">họ Đại kích</a> (<em>Euphorbiaceae</em>) và là thành viên có tầm quan trọng kinh tế lớn nhất trong chi <em>Hevea</em>. Nó có tầm quan trọng kinh tế lớn là do chất lỏng chiết ra tựa như nhựa cây của nó (gọi là <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/M%E1%BB%A7">mủ</a>) có thể được thu thập lại như là nguồn chủ lực trong sản xuất <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Cao_su_t%E1%BB%B1_nhi%C3%AAn">cao su tự nhiên</a><br>-Cây cao su có thể cao tới trên 30m. Nhựa mủ màu trắng hay vàng có trong các mạch nhựa mủ ở vỏ cây, chủ yếu là bên ngoài.<br>-Các mạch này tạo thành xoắn ốc theo thân cây theo hướng tay phải, tạo thành một <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/G%C3%B3c">góc</a> khoảng 30 độ với mặt phẳng.<br>- Khi cây đạt độ tuổi 5-6 năm thì người ta bắt đầu thu hoạch nhựa mủ: các vết rạch vuông góc với mạch nhựa mủ, với độ sâu vừa phải sao cho có thể làm nhựa mủ chảy ra mà không gây tổn hại cho sự phát triển của cây, và nhựa mủ được thu thập trong các thùng nhỏ. Quá trình này gọi là <a href="https://vi.m.wikipedia.org/w/index.php?title=C%E1%BA%A1o_m%E1%BB%A7_cao_su&amp;action=edit&amp;redlink=1">cạo mủ cao su</a>.&nbsp;<br>-Chu kỳ khai thác của cây cao su thường từ 20 đến 25 năm.<br><strong><em><br>Lịch sử</em></strong><br> -Cây cao su ban đầu chỉ mọc tại khu vực <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/R%E1%BB%ABng_m%C6%B0a_Amazon">rừng mưa Amazon</a>. Cách đây gần 10 thế kỷ, thổ dân Mainas sống ở đây đã biết lấy nhựa của cây này dùng để tẩm vào quần áo chống ẩm ướt, và tạo ra những quả bóng vui chơi trong dịp hội hè. Họ gọi chất nhựa này là <strong>Caouchouk</strong>, theo Thổ ngữ <a href="https://vi.m.wikipedia.org/w/index.php?title=Mainas&amp;action=edit&amp;redlink=1">Mainas</a> nghĩa là "<strong>Nước mắt của cây</strong>"<br>- Sau thực dân Pháp xâm lượt nước ta, cây cao su mới xuất hiện tại Việt Nam.<br><strong><em><br>Ứng dụng<br>-</em></strong>Nhựa mủ cây cao su dùng để sản xuất lốp xe, găng tay y tế, bao cao su và các sản phẩm cao su khác.<br>-Gỗ từ cây cao su, gọi là gỗ cao su, được sử dụng trong sản xuất đồ gỗkho gỗ cao su nguyên gỗ còn cung cấp các sản phẩm về phôi gỗ, ván ghép, vụn gỗ cao su tẩm sấy.<br><br><strong><em>Đặt tính&nbsp;</em></strong><br>Cây cao su thường được thu hoạch 9 tháng, 3 tháng còn lại không được thu hoạch vì đây là thời gian cây thay lá.&nbsp;<br>-Thời gian thay lá đặc biệt quan trọng với cây cao su, khai thác vào thời điểm này có ảnh hưởng rất lớn đến sinh lý cây cao su.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1383206687/4eea80deb5c63fd339ec0166b13b2f86/Screenshot_20211122_083304_Chrome.jpg" />
         <pubDate>2021-11-22 01:34:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905014257</guid>
      </item>
      <item>
         <title>36-Minh Thư</title>
         <author>minhthuw0404</author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905015244</link>
         <description><![CDATA[<div><br><strong>Vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim</strong> . Do địa điểm trồng đầu tiên là một lò rèn chuyên sản xuất nông cụ và người đầu tiên là một thợ rèn nên người dân Vĩnh Kim, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang muốn ghi nhớ công ơn của ông thợ rèn đã nhân giống vú sữa trồng khắp vùng đất này, đặt tên là vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim. là thương phẩm trái cây đặc sản của tỉnh Tiền Giang, đã được cấp bảo hộ chỉ dẫn địa lý, là một trong hai chỉ dẫn địa lý của tỉnh, cùng với xoài cát Hòa Lộc.Khác với các loại vú sữa khác, vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim có đặc điểm trái to tròn, màu xanh ngà, vỏ mỏng cơm dầy, vị ngọt lịm, dòng nhựa trắng đục như sữa, ít mủ được đánh giá ngon nhất là quả từ vùng đất Vĩnh Kim, huyện Châu Thành.Từ đầu những năm 2000, việc trồng gia tăng từ chủ trương của chính phủ, nhằm phát triển kinh tế đất nước, vú sữa Lò Rèn được đánh giá là có giá trị kinh tế cao.Cục Sở hữu trí tuệ đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý cho vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim vào năm 2008, và trong thời kỳ đỉnh cao chỉ riêng Tiền Giang đã có hơn 3.000 ha vú sữa, khoảng 1/3 vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim với sản lượng hơn 60.000 tấn trái mỗi năm, nhưng chỉ mười năm sau thì vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim có nguy cơ bị xóa sổ khi diện tích canh tác ngày càng sụt giảm. Vườn thường trồng với mật độ 12-17 cây/1000 m<sup>2</sup>, khoảng cách không dưới 7 - 8 m. Do tán cây vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim khi trưởng thành rất to nên việc trồng thường là líp đơn, tức một hàng đất trồng chỉ có duy nhất một hàng cây. Nhưng vẫn có thể trồng thêm 1 hàng cây ở giữa, và khi cây vú sữa còn nhỏ có thể tận dụng trồng xen ở 2 hàng 2 bên líp. Kích thước líp cây trồng là từ 6 - 7 m, trong đó kích thước của mương dẫn nước rộng 1,5 m.<a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/V%C3%BA_s%E1%BB%AFa_L%C3%B2_R%C3%A8n_V%C4%A9nh_Kim#cite_note-C%C3%B4ng_%C4%91o%E1%BA%A1n_ch%E1%BB%8Dn_gi%E1%BB%91ng_v%C3%A0_tr%E1%BB%93ng_v%C3%BA_s%E1%BB%AFa-23"><sup><br></sup></a>Về thổ nhưỡng thì vú sữa Lò Rèn không kén đất, vùng Vĩnh Kim nằm trong khí hậu nhiệt đới gió mùa và chế độ thủy văn dồi dào nước của hệ thống sông rạch chằng chịt của vùng đông bằng sông Cửu Long. Đất đai thường xuyên được Phù Sa bồi đắp, mực nước chân triều bình quân hằng ngày trong tháng 10 là tháng thường có mực nước cao nhất trong năm cũng thấp hơn -50 cm nên tiêu tự chảy quanh năm. Chất lượng nước hoàn toàn nước ngọt qua các tháng trong năm đảm bảo để tưới tiêu (độ pH= 7-9).<a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/V%C3%BA_s%E1%BB%AFa_L%C3%B2_R%C3%A8n_V%C4%A9nh_Kim#cite_note-24"><sup><br></sup></a>Thời điểm trái vú sữa sinh trưởng tích lũy đường, axit, vitamin C và dịch quả là từ tháng 6 đến tháng 11.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1382551824/f0a8604b73301a7f8d92efe5f9b2be7f/206E2E93_2EFD_449E_8011_A446D253D3E7.jpeg" />
         <pubDate>2021-11-22 01:34:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905015244</guid>
      </item>
      <item>
         <title>27-Diệp Trạch Quang</title>
         <author>dieptrachquang26</author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905015539</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>CÂY MÍA</strong><br>-Mía là tên gọi chung của một số loài trong loại <mark>Saccharum</mark>, bên cạnh các loài lau, lách khác. Chúng vốn là các <mark>loài cỏ</mark>, có <mark>thân cao</mark> từ 2-6 m, chia làm <mark>nhiều đốt,</mark> bên trong có chứa đường.<br><strong>Giá trị dinh dưỡng trong nước mía<br>-</strong>Mía chứa nhiều calci, crôm, coban, đồng, manhê, mangan, phốt pho, kali, kẽm... Vitamin của mía cũng <mark>đa dạng</mark> như vitamin A, C, B1, B2, B3, B5 và B6 cùng các dưỡng chất tự nhiên như chlorophyll,<mark> chất kháng oxy hóa, protein, chất xơ bão hòa </mark>và những hợp chất khác tốt cho <mark>sức khỏe.</mark><br><strong>Giá trị kinh tế của cây mía<br>-</strong>Mía là nguồn <mark>nguyên liệu liệu chính</mark> của ngành công nghiệp <mark>chế biến đường</mark>. Đường mía hiện <mark>chiếm trên 60% tổng sản lượng đường thô</mark> của toàn thế giới. <br>-Mía là cây <mark>công nghiệp </mark>cung cấp nguồn nguyên liệu chính để sản xuất đường – <mark>nhu yếu phẩm cần thiết </mark>cho đời sống hàng ngày<br>-Diện tích trồng mía của nước ta hằng năm được duy trì trên<mark> 270.000 ha</mark>, sản lượng đường trung bình đạt <mark>1,3 – 1,5 </mark>triệu tấn/ năm.<strong><br> Tỉnh nào trồng nhiều mía nhất nước<br>-T</strong>ỉnh chiếm vị trí trồng <mark>nhiều mía</mark> với diện tích lớn nhất nước ta đó chính là <mark>Thanh Hóa</mark>. Thanh Hóa có <mark>3 nhà máy đường</mark>, tổng công suất hơn <mark>16.000 tấn mía/ngày</mark> và vùng nguyên liệu theo quy hoạch cũ rộng gần 40 nghìn ha, giảm dần xuống <mark>30 nghìn ha </mark>vào năm 2010. Vào năm <mark>2010-2011</mark> tổng diện tích mía nguyên liệu toàn tỉnh chỉ đạt 26 nghìn ha, <mark>giảm 1.130</mark>. Năng suất mía bình quân ước đạt <mark>49,5 tấn/ha, giảm 1 tấn/ha,</mark> nên sản lượng đạt khoảng <mark>1,3 triệu tấn, </mark>giảm<mark> 22.729</mark> tấn so với niên vụ trước.<strong><br></strong><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1329785783/c1719aa0760d1431fef78899e744f33d/20210317_080726_411417_dinh_duong_cua_mia__max_1800x1800.jpg" />
         <pubDate>2021-11-22 01:35:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905015539</guid>
      </item>
      <item>
         <title>10 - ĐỖ THUẬN HÒA</title>
         <author>dthgaming2004</author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905015972</link>
         <description><![CDATA[<div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Là một trong những đóng góp quan trọng nhất cho doanh thu của ngành nông nghiệp Việt Nam nói riêng và cho toàn bộ GDP quốc gia nói chung. Ngành công nghiệp cà phê đã tạo ra hơn nửa triệu việc làm trực tiếp và gián tiếp, đồng thời là sinh kế chính của hàng ngàn hộ gia đình trong các khu vực sản xuất nông nghiệp. Giá trị xuất khẩu cà phê thường chiếm khoảng 15% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản và tỷ trọng cà phê luôn vượt trên 10% GDP nông nghiệp trong những năm gần đây.</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Cà phê được trồng với số lượng rất lớn ở các vùng Tây Nguyên như: Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk…&nbsp;</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Thị trường:</div><div>o &nbsp; Trong nước tăng mạnh</div><div>o &nbsp; Quốc tế:&nbsp;</div><div>§&nbsp; giảm như: Đức, Mỹ, Tây Ban Nha, Nga, Bỉ, Thái Lan.</div><div>§&nbsp; tăng, như: Italy, Nhật Bản, Algeria, Philippines.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1329792614/c6909e3425927668fdd4ca6ed6a17412/ca_phe_son_la_toa_ngat_huong_thom_o_thi_truong_chau_au_1012_20201118_24_110625.jpeg" />
         <pubDate>2021-11-22 01:35:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905015972</guid>
      </item>
      <item>
         <title>18-TRẦN KIM NGÂN-12A4</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905016036</link>
         <description><![CDATA[<div>Dân tộc ta từ xa xưa đã quần tụ ở vùng đất cổ thuộc đồng bằng sông Hồng và gắn bó với nghề trồng lúa nước. Trải qua nhiều thời kì phát triển, nghề trồng lúa nước không chỉ làm ra nguồn lương thực nuôi sống con người mà còn tạo ra không gian văn hóa, bề dày lịch sử mang bản sắc riêng của dân tộc.<br>&nbsp;Lúa là một trong năm loại cây lương thực chính của thế giới, thuộc nhóm cỏ đã thuần dưỡng. Lúa sống 1 năm, có thể cao tới 1-1,8m đôi khi cao hơn, với lá mỏng hẹp. Rễ chùm có thể dày tới 2-3m. Tùy thời kì sinh trưởng mà lúa có các màu sắc khác nhau. Người Việt tận dụng ưu thế điều kiện tự nhiên của 1 xứ nóng ẩm, mưa nhiều, nhiều ao hồ để trồng lúa sinh sống. Nghề trồng lúa đã trở thành một ngành nghề quen thuộc của dân tộc ta. Ngành xuất khẩu lúa gạo cũng đang vươn lên trên đường quốc tế.<br>&nbsp;Trong thời kì hội nhập kinh tế thế giới, cây lúa, hạt gạo Việt Nam không chỉ là nguồn lương thực nuôi sống con người mà đó còn là nền văn minh lúa nước sông Hồng tiếp tục tỏa sáng và là nền tảng xây dựng nền văn hóa mang đậm bản sắc Việt Nam.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1466271786/b0c69b763d1540315496045488dc4a7e/download__1_.jfif" />
         <pubDate>2021-11-22 01:35:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905016036</guid>
      </item>
      <item>
         <title>16-Lê Hoàng nam</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905016600</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1419139885/986f0b36acf60ad25e3ba8931ba6dab7/Y_u_t___nh_h__ng___n_n_n_c_ng_nghi_p_n__c_ta.docx" />
         <pubDate>2021-11-22 01:35:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905016600</guid>
      </item>
      <item>
         <title>04-Trần Ngọc Minh Châu</title>
         <author>chautran725</author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905018302</link>
         <description><![CDATA[<div><br>Cây cao su được người Pháp đưa vào Việt Nam lần đầu tiên tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%A3o_C%E1%BA%A7m_Vi%C3%AAn_S%C3%A0i_G%C3%B2n">vườn thực vật Sài Gòn</a> năm 1878 nhưng không sống.<br><br></div><div><br>Đến năm 1892, 2000 hạt cao su từ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Indonesia">Indonesia</a> được nhập vào <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam">Việt Nam</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Cao_su_(c%C3%A2y)#cite_note-2"><sup>[2]</sup></a> Trong 1600 cây sống, 1000 cây được giao cho trạm thực vật Ong Yệm (Bến Cát, Bình Dương), 200 cây giao cho bác sĩ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Alexandre_Yersin">Yersin</a> trồng thử ở Suối Dầu (cách <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nha_Trang">Nha Trang</a> 20 km).<br><br></div><div><br>Năm 1897 đã đánh dầu sự hiện diện của cây <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Cao_su">cao su</a> ở Việt Nam. Công ty cao su đầu tiên được thành lập là Suzannah (Dầu Giây, Long Khánh, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%93ng_Nai">Đồng Nai</a>) năm 1907. Tiếp sau, hàng loạt đồn điền và công ty cao su ra đời, chủ yếu là của người Pháp và tập trung ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_Nam_B%E1%BB%99_(Vi%E1%BB%87t_Nam)">Đông Nam Bộ</a>: SIPH, SPTR, CEXO, Michelin... Một số đồn điền cao su tư nhân Việt Nam cũng được thành lập.<br><br></div><div><br>Đến năm 1920, miền Đông Nam Bộ có khoảng 7.000 <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hecta">ha</a> và sản lượng 3.000 tấn.<br><br></div><div><br>Cây cao su được trồng thử ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2y_Nguy%C3%AAn">Tây Nguyên</a> năm 1923 và phát triển mạnh trong giai đoạn 1960 – 1962, trên những vùng đất cao 400 – 600 m, sau đó ngưng vì <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_Vi%E1%BB%87t_Nam">chiến tranh</a>.<br><br></div><div><br>Trong thời kỳ trước 1975, để có nguồn nguyên liệu cho nền công nghiệp <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Mi%E1%BB%81n_B%E1%BA%AFc&amp;action=edit&amp;redlink=1">miền Bắc</a>, cây cao su đã được trồng vượt trên vĩ tuyến 170 Bắc (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A3ng_Tr%E1%BB%8B">Quảng Trị</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A3ng_B%C3%ACnh">Quảng Bình</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ngh%E1%BB%87_An">Nghệ An</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Thanh_H%C3%B3a">Thanh Hóa</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%BA_Th%E1%BB%8D">Phú Thọ</a>). Trong những năm 1958 – 1963 bằng nguồn giống từ Trung Quốc, diện tích đã lên đến khoảng 6.000 ha. Hiện nay, cây cao su đã được trồng tại khu vực miền núi phía Bắc và Lai Châu được xem là thủ phủ của cây cao su ở khu vực này.<br><br></div><div><br>Đến 1976, Việt Nam còn khoảng 76.000 ha, tập trung ở Đông Nam Bộ khoảng 69.500 ha, Tây Nguyên khoảng 3.482 ha, các tỉnh duyên hải miền Trung và khu 4 cũ khoảng 3.636 ha.<br><br></div><div><br>Sau 1975, cây cao su được tiếp tục phát triển chủ yếu ở Đông Nam Bộ. Từ 1977, Tây Nguyên bắt đầu lại chương trình trồng mới cao su, thoạt tiên do các nông trường quân đội, sau 1985 đo các nông trường quốc doanh, từ 1992 đến nay tư nhân đã tham gia trồng cao su. Ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Mi%E1%BB%81n_Trung">miền Trung</a> sau 1984, cây cao su được phát triển ở Quảng trị, Quảng Bình trong các công ty quốc doanh.<br><br></div><div><br>Đến năm 1999, diện tích cao su cả nước đạt 394.900 ha, cao su tiểu điền chiếm khoảng 27,2%. Năm 2004, diện tích cao su cả nước là 454.000 ha, trong đó cao su tiểu điền chiếm 37%. Năm 2005, diện tích cao su cả nước là 464.875 ha.<br><br></div><div><br>Năm 2007 diện tích Cao Su ở Đông Nam Bộ (339.000 ha), <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2y_Nguy%C3%AAn">Tây Nguyên</a> (113.000 ha), Trung tâm phía Bắc (41.500 ha) và Duyên Hải miền Trung (6.500 ha).<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Cao_su_(c%C3%A2y)#cite_note-3"><sup>[3]</sup></a> Tháng 05 năm 2010 có một số bệnh lạ khiến người dân khốn khổ, bệnh bắt đầu có biểu hiện như, nhẹ thì vàng lá. Nặng hơn một chút thì rụng lá rồi chết mà cách đặc trị thì chưa thực sự hiệu quả.<br><br></div><div><br>Theo số liệu của Hiệp hội Cao su Việt Nam, đến cuối năm 2012, tổng diện tích cây cao su tại Việt Nam đã đạt 910.500 ha với sản lượng ước đạt 863.600 tấn, giữ vị trí thứ năm về sản lượng cao su thiên nhiên, sau Thái Lan, Indonesia, Malaysia và Ấn Độ.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="http://vnhoinhap.com/wp-content/uploads/2019/09/cay-cao-su.jpg" />
         <pubDate>2021-11-22 01:36:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905018302</guid>
      </item>
      <item>
         <title>29-Thúy Quỳnh</title>
         <author>pthuyquynh886</author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905019134</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em>CÂY CAO SU </em></strong><strong><br>Cao su</strong> là một loại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BA%A5t_d%E1%BA%BBo">nhựa</a> có tính <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90%C3%A0n_h%E1%BB%93i&amp;action=edit&amp;redlink=1">đàn hồi</a>, được làm bằng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/M%E1%BB%A7">mủ</a> lấy từ một vài loại cây gốc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A2u_M%E1%BB%B9">Châu Mỹ</a> hoặc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A2u_Phi">Châu Phi</a>.<br>Năm 1876 <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Henry_Wickham&amp;action=edit&amp;redlink=1">Henry Wickham</a> người Anh chọn lựa khoảng 70.000 hột cao su từ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Brasil">Brasil</a> đem nhập lậu vào nước Anh. Từ số hạt giống này, chỉ trồng được 2600 cây song cũng đủ để trồng cây cao su ở các thuộc địa của Anh quốc về sau.<br>Cao su<strong>&nbsp;</strong>là một loại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%E1%BA%ADt_li%E1%BB%87u">vật liệu</a> <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Polyme">polyme</a> vừa có <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90%E1%BB%99_b%E1%BB%81n_c%C6%A1_h%E1%BB%8Dc&amp;action=edit&amp;redlink=1">độ bền cơ học</a> cao và khả năng <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Bi%E1%BA%BFn_d%E1%BA%A1ng_%C4%91%C3%A0n_h%E1%BB%93i&amp;action=edit&amp;redlink=1">biến dạng đàn hồi</a> lớn. Cao su có thể là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Cao_su_t%E1%BB%B1_nhi%C3%AAn">cao su tự nhiên</a> (sản xuất từ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/M%E1%BB%A7_cao_su">mủ</a> <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Cao_su_(c%C3%A2y)">cây cao su</a>) hoặc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Cao_su_t%E1%BB%95ng_h%E1%BB%A3p">cao su tổng hợp</a>. Cao su ít bị biến đổi khi gặp nóng hoặc lạnh, cách nhiệt, cách điện, không tan trong nước nhưng tan trong một số dung môi hữu cơ khác. Cao su có thể dùng để làm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A1nh_xe">lốp xe</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%B3ng">bóng</a>,... <br>Việt Nam là nước đứng thứ năm về sản lượng cao su thiên nhiên và thứ tư về xuất khẩu cao su thiên nhiên, sau Thái Lan, Indonesia, Malaysia.<br>Năm 2012, diện tích cây cao su của Việt Nam có khả năng đạt 850.000 ha, chiếm khoảng 7% tổng diện tích cao su thế giới, xuất khẩu dự kiến đạt xấp xỉ 1 triệu tấn và trở thành nước thứ tư thế giới về xuất khẩu cao su thiên nhiên.<br>Theo quy hoạch phát triển ngành cao su của chính phủ, dự kiến đến năm 2015 tầm nhìn đến năm 2020, Việt Nam sẽ duy trì ổn định 800.000 ha và 1,2 triệu tấn cao su thiên nhiên hàng năm. Trong đó sẽ dành 30% cho ngành công nghiệp chế biến trong nước và 70% còn lại dành cho xuất khẩu.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Cao_su#cite_note-2"><sup>[2]<br></sup></a>Ngành xuất khẩu cao su Việt Nam đang hướng đến các thị trường quốc tế, hiện nay ngoài việc truyền thông cho lĩnh vực <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Xu%E1%BA%A5t_kh%E1%BA%A9u">xuất khẩu</a> cao su được phòng thương mại công nghiệp Việt Nam VCCI xúc tiến tại các quốc gia trên thế giới như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1382669924/6da238c4803ea6e7c4c48da7af00b4cf/1612_thu_hoach_mu_cao_su.jpg" />
         <pubDate>2021-11-22 01:37:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905019134</guid>
      </item>
      <item>
         <title>01-Dương Nguyễn Minh An</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905020517</link>
         <description><![CDATA[<h1>Các vùng trồng cà phê ở Việt Nam</h1><div>Việt Nam được biết đến là một trong những đất nước nổi tiếng về cà phê. Tuy nhiên, không phải vùng đất nào tại Việt Nam cũng phù hợp để trồng cà phê. Vậy bài viết này, One Coffee sẽ gửi đến bạn thông tin về các vùng trồng cà phê ở Việt Nam. Cùng tìm hiểu nhé.<br><br></div><div><br>Vùng trồng cà phê Tây Bắc<br><br></div><div>Tây Bắc là một trong 3 vùng nổi tiếng ở Việt Nam về cà phê, đặc biệt là cà phê Arabica, hay còn được gọi là cà phê chè.<br><br></div><div><br></div><div>Tây Bắc đặc biết đến là vùng có địa hình chia cắt phức tạp, gồm một số núi trung bình và núi cao bao quanh với các bồn địa lớn, nhỏ, trong đó có những cao nguyên như cao nguyên Sơn La, cao nguyên Mộc Châu…<br>&nbsp;Đặc điểm của các vùng đất ở đây không có độ cao lý tưởng, chỉ vào khoảng 400 – 500m nhưng vẫn có thể trồng cà phê Arabica, sản phẩm cũng cho chất lượng khá vì nó có điều kiện khí hậu đặc trưng của vị trí gần vĩ tuyến Bắc.<br>&nbsp;Nhiều nghiên cứu của Hiệp hội Cà phê Ca cao Việt Nam đã khẳng định: Bên cạnh diện tích cà phê chè đang phát triển rất tốt ở khu vực nông trường Mường Ảng thuộc tỉnh Điện Biên thì còn có nhiều diện tích có thể trồng cà phê chè, đưa diện tích cà phê chè ở vùng Tây Bắc lớn hơn nữa.<br><br></div><div><br>Vùng trồng cà phê Tây Nguyên<br><br></div><div>Khi nói các vùng trồng cà phê ở Việt Nam thì không thể không kể đến Tây Nguyên. Những địa danh của Tây Nguyên như: Đắk Mil (Đắk Nông), Đắk Hà (Kon Tum), Chư Sê (Gia Lai) … và đặc biệt là Buôn Ma Thuột – Đắk Lắk được coi là “vựa” cà phê Robusta xuất khẩu đứng đầu thế giới.<br>&nbsp;Các đặc điểm thổ nhưỡng tại đây được coi là rất lý tưởng để canh tác cà phê như: đất đỏ bazan, ở độ cao khoảng 500m – 600m so với mặt biển cùng khí hậu mát mẻ mưa nhiều. Đây cũng chính là một trong những lý do khiến cà phê Robusta của Tây Nguyên là sản phẩm “trứ danh”.<br><br></div><div><br></div><div>Cà phê Tây Nguyên thường mang những đặc trưng như: có hàm lượng caffeine mạnh, vị đậm, và ít chua, đôi khi còn là vị ngậy của bơ, dầu hoặc vị của caramen, cũng có khi là vị của nắng, gió cao nguyên….<br>&nbsp;Ngoài cà phê Robusta, Tây Nguyên cũng cho ra sản lượng cà phê Arabica bình ổn hàng năm với hương thơm quyến rũ khá đặc biệt. Tại một số vùng, nơi có độ cao trên 1.500m, với nhiều vùng đồi dốc thoải cùng khí hậu mát mẻ với nền đất đỏ bazan nên rất lý tưởng cho giống Arabica phát triển và sản sinh. Đặc biệt nguồn cà phê Arabica tại đây còn được đánh giá là có chất lượng được đánh giá ngon nhất nhì thế giới.<br><br></div><div><br>Vùng trồng cà phê Trung Bộ<br><br></div><div>Khu vực Trung bộ nước ta cũng có những vùng đất độ cao tuy không cao không phải là lý tưởng cho giống cây cà phê Arabica. Tuy nhiên với điều kiện địa lý và khí hậu tại Khe Sanh (Quảng Trị), Phủ Quỳ (Nghệ An) lại phù hợp để trồng giống Catimor là loài được lai giữa chủng Catimor (Arabica) với Hybrid de Timor(lai giữa Arabica và Robusta ). Khi được trồng tại đây, cà phê tuy không có vị ngọt đậm như Bourbon nhưng Catimor lại có hương thơm sâu lắng và vị chát, mặn.<br><br></div><div><br></div><div>Nhìn chung cà phê Khe Sanh hiện nay vẫn được coi là giữ vị thế tiên phong trong vùng cà phê chè miền trung<br>&nbsp;Ngoài ra, tại Phủ Quỳ cà phê Arabica cũng được trồng và đặc biệt sinh trưởng và phát triển tốt ở nơi đây khi địa hình có độ cao từ 50-80ma (so với độ cao phù hợp khuyến khích là từ 1000-1600 m), thời tiết gió Lào khắc nghiệt. Bởi đây là vùng đất đỏ bazan núi lửa được đánh giá là loại đất tốt để cà phê sinh trưởng. Tuy nhiên, hiện nay diện tích cà phê tại đây đã giảm sút và cho năng suất giảm.<br><br></div><div>&nbsp;</div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1466273584/58f6d0f0dba60f0774f86061b2e5a5c5/hinh_banner_trang_chu.png" />
         <pubDate>2021-11-22 01:38:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905020517</guid>
      </item>
      <item>
         <title>25-Nguyễn Hoài Phương</title>
         <author>hoaiphuongnguyen142</author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905020550</link>
         <description><![CDATA[<div>Coffee trees arrived in Vietnam following in the footsteps of the French in the mid-19th century through French missionaries. First planted in Henan province, Dad Trach, Quang Tri province. The first tea coffee plants (arabica) were planted here. The name coffee is derived from the French word "Café". In 1994, although the government continued to recommend maintaining the coffee area of the water of 500,000 hectares, due to the price competitiveness of coffee trees compared to other crops. But the area of coffee cultivation continues to be expanded in the main areas such as Dak Lak, Lam Dong, and Dak Nong because of the soil conditions that are considered one of the most suitable land for coffee trees. According to statistics (2017) Vietnam ranked 2nd in terms of coffee production worldwide (total coffee export volume is 1.181811 tons / year), after Brazil (2,859,502 tons / year), and ranked 3rd is Columbia (892,871 tons / year). <br><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1199510073/090b4f8b103c48f35fdb6ba1d195bf8c/download.jfif" />
         <pubDate>2021-11-22 01:38:32 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905020550</guid>
      </item>
      <item>
         <title>42-Lê Huỳnh Thanh Trúc</title>
         <author>lehuynhthanhtruc25</author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905021128</link>
         <description><![CDATA[<div>Dừa - ĐB sông Cửu Long<br>Diện tích cây dừa của Việt Nam đứng thứ 7 trong 93 nước trồng dừa trên thế giới.&nbsp;<br>Cả nước có 175000 ha dừa. ĐBSCL chiếm gần 80% diện tích dừa cả nước. Ở tỉnh Bến Tre hiện có 72000 ha dừa, chiếm 42% diện tích dừa cả nước. Giáp ranh với xứ dừa Bến Tre là tỉnh&nbsp; Trà Vinh với 20000 ha dừa,...<br>Có nhiều giá trị để sản xuất như :nước dừa, kẹo dừa, mứt dừa, kem dừa, lamd các vật gia dụng trong gia đình như gáo dừa, niêu dừa<br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1329298027/abf96e45eacc5dcd24e25ca2733c27c9/received_438539477681448.webp" />
         <pubDate>2021-11-22 01:38:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905021128</guid>
      </item>
      <item>
         <title>30-Tống San San</title>
         <author>sansantong139</author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905022851</link>
         <description><![CDATA[<div>Lúa đối với Việt Nam là nguồn lương thực tất yếu không thể thiếu và lúa cũng là một trong năm loại cây lương thực chính của thế giới. Lúa được trồng khắp nơi trên cả nước nhưng không đồng đều. Những vùng có diện tích trồng lúa lớn là đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng, Trung du và miền núi Bắc Bộ, Tây Nguyên. Những trọng điểm lúa phần lớn tập trung ở đồng bằng sông Cửu Long như Kiên Giang, An Giang, Long An, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Tiền Giang. Năng suất lúa năm 2020 đạt 58,7 tạ/ha. Sản lượng lúa tăng bình quân 0,5 triệu tấn/năm. Năm 2020 lượng gạo xuất khẩu đạt 6,25 triệu tấn, giá bình quân 499,3 nghìn USD/tấn, giá trị xuất khẩu gạo đạt 3,12 tỷ USD tăng 2,52 triệu tấn về lượng và 2,8 tỷ USD về giá trị so với năm 2001.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1382815311/2593d6b19dc317482e7e0989bfeb8151/1.jpg" />
         <pubDate>2021-11-22 01:40:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905022851</guid>
      </item>
      <item>
         <title>14-Phạm Anh Khôi</title>
         <author>khoi30102004</author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905022925</link>
         <description><![CDATA[<div>*<strong>Cà phê Robusta<br>-Cà phê Robusta là gì?<br>&nbsp; </strong>Robusta có tên khoa học là Coffea Robusta, hay Coffea Canephora. Người Việt đặt cho nó một cái tên thân thuộc là cà phê Vối. Đây là một loại cafe có nguồn gốc từ Cộng hoà Congo. Ban đầu đây chỉ là một loại cây dại phía Tây và Trung Phi, sau đó mới được trồng rộng rãi ở các nước châu Phi như Liberia, Tanzania hay Angola.<br>&nbsp; Ở Việt Nam, cà phê Vối được người Pháp mang vào để trồng từ năm 1875. Ban đầu diện tích chủ yếu là ở các tỉnh phía Bắc như Hà Tĩnh, Thanh Hóa hay Nghệ An. Tuy nhiên sau này do điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng nên Robusta được chuyển vào các tỉnh Tây Nguyên như Gia Lai, Đăk Lăk hay Lâm Đồng.<br>-<strong>Đặc điểm sinh học:<br>&nbsp; </strong>Cà phê Rubusta có thân khá lớn, có thể cao đến 10 mét, cành có nhiều nhánh và tán lá rộng. Giống cà phê này rất ưa sống ở những vùng có độ cao dưới 1000 mét và phổ biến ở 850 – 900 mét. Nhiệt độ thích hợp vào khoảng 24 – 29<sup>o</sup>C. Cà phê Robusta sinh trưởng tốt nhất trong vùng có mưa nhiều và nhiều ánh nắng mặt trời.<br>&nbsp; Hạt cà phê Robusta có hình tròn, đường kính từ 10 – 13 mm.&nbsp; Vị cà phê Robusta có phần đậm hơn Arabica do hàm lượng cafein từ 2 – 4%. Một số người rất ưa thích loại cà phê nguyên chất này bởi vị đậm đà, có mùi thơm đặc trưng.<br>-<strong>Hương vị cà phê Robusta nguyên chất:<br></strong>So với Arabica hương vị của cà phê Robusta nguyên chất được người thưởng thức đánh giá kém hơn. Chất vị nhìn chung đậm, chát và đắng hơn nhiều so với Arabica. Thêm vào đó Robusta thường được chế biến khô dẫn đến hương vị càng chát đắng hơn, có mùi từ ngũ cốc đến gỗ, đất.<br><br></div><div>Tuy nhiên bù lại thiệt thòi về chất vị, cà phê Robusta có hàm lượng Caffein trung bình cao gấp đôi so với Arabica (2% -2.5% so với 1.1% -1.5%). Vì vậy sự kết hợp cà phê Arabica cùng Robusta cho tổng hòa chất lượng tương đối cao hơn cà phê Arabica. Chính vì điều này các loại cà phê Ý (Espresso) luôn có 10 -15% cà phê Robusta để tăng cường hương vị và tạo lớp Crema hấp dẫn hơn.<br><br></div><div>Cà phê Robusra nguyên chất chứa nhiều hàm lượng Chlorogenic Acid (CGA). Tuy được gọi là Acid nhưng Chlorogenic Acid không đặc trưng bởi “vị chua” mà là “vị đắng”. Trong quá trình rang, CGA sẽ phân hủy để tạo thành <em>axit caffeic</em> và <em>axit quinic</em>. Cùng với caffeine – những chất này gây nên vị đắng thường thấy ở Robusta. Đó là lý do vì sao chúng ta nói Robusta có gấp đôi lượng axit – nhưng thực sự nó không hề chua, mà đắng hơn Arabica.<br>-<strong>Vùng trồng cafe Robusta ở Việt Nam<br></strong>Các vùng trồng cà phê Robusta ở Việt Nam hiện nay rất đa dạng. Thế nhưng, khi nhắc tới các vùng trồng cà phê nổi tiếng nhất không thể không thể đến Buôn Ma Thuột, Đăk Lăk. Với đặc trưng thổ nhưỡng, khí hậu và độ cao rất phù hợp để trồng giống cà phê này. Vùng đất này làm vùng chuyên canh cây cà phê với các huyện Ea ao, Etam, Tân lợi, Cư Mgar, Krong Ana…. Nơi đây nổi bật với vùng đất đỏ bazan với độ cao 500-600m so với mực nước biển. Khí hậu lại mát mẻ, mưa nhiều. Mang đến điều kiện thuận lợi nhất.<br>Không chỉ riêng các vùng đất này, mà có những nơi như Lâm Đồng, Gia Lai, Sơn La… cũng là những vùng đất mang đến hương vị cà phê nguyên chất ngon. Tuy nhiên, do sự khác biệt về thổ nhưỡng mà hương vị Robusta mang lại có sự khác biệt so với các vùng khác. Người sành cà phê có thể dễ dàng cảm nhận được sự khác biệt ấn tượng mà loại cà phê này mang lại.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-22 01:40:15 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905022925</guid>
      </item>
      <item>
         <title>23-Trần Minh Phúc-12A4-Chăn nuôi gia cầm ở Việt Nam</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905024257</link>
         <description><![CDATA[<div>( Thông tin tính đến hết 2019 ) Gia cầm được chăn nuôi chủ yếu ở vùng ĐB sông Hồng (49,19%/ tổng số trang trại chăn nuôi), ĐB Đông Nam Bộ (18,21%), ĐB Sông Cửu Long (11,55%), các vùng còn lại chiếm xấp xỉ 20% tổng số trang trại chăn nuôi<br><br>( Sản lượng tính đến nửa năm 2020 ) Thịt hơi của gia cầm đạt trên 1,3 triệu tấn, trứng gà đạt 13,28 tỷ quả. Đến 6 tháng 2020, lượng gia cầm trên cả nước đạt khoảng 510 triệu con. Trong đó,gà chiếm 410 triệu con, thủy cầm chiếm 110 triệu con.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1466272309/f76eabea81f1d82b947c5d7fa6e8972b/Remini20211122082423415.jpg" />
         <pubDate>2021-11-22 01:41:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905024257</guid>
      </item>
      <item>
         <title>07 - Dư Tiếu Dung</title>
         <author>dungdu264</author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905024650</link>
         <description><![CDATA[<div>9 giống bò được nuôi ở VN:&nbsp;</div><ul><li><strong>Bò</strong> Red Sindhi (<strong>bò</strong> Sind)</li><li><strong>Bò</strong> Sahiwal.</li><li><strong>Bò</strong> Brahman.</li><li><strong>Bò</strong> Droughtmaster.</li><li><strong>Bò</strong> vàng <strong>Việt Nam</strong>.</li><li><strong>Bò</strong> lai Sind.</li><li><strong>Giống bò</strong> sữa Holstein Friesian (HF)</li><li><strong>Giống bò</strong> sữa Jersey thuần chủng.</li></ul><div><br>Trong ngành chăn nuôi bò được chia ra làm hai nhánh nhỏ là chăn nuôi bò sữa và bò thịt. Nuôi bò thịt thì đã có từ xa xưa, nhưng bò sữa thì chỉ mới mấy mươi năm gần đây.<br><br></div><div>Theo thống kê năm 2017, trên cả nước đang nuôi trên 5,6 triệu con bò, cung ứng một lượng thịt và sữa lớn hàng năm cho nhu cầu tiêu dùng trong nước. Riêng về thực trạng ngành chăn nuôi bò sữa, tổng cộng đang chăn thả khoảng trên 300 nghìn con và cung cấp gần 900.000 tấn sữa tươi, đáp ứng khoảng 40 – 50% nhu cầu về sữa<br><br></div><div>Tuy chúng ta vẫn phải nhập khẩu sữa và thịt bò từ nước ngoài, nhưng song song với đó, ngành chăn nuôi bò trong nước cũng đang được đầu tư phát triển mạnh trong những năm qua.<br>Chúng ta có rất nhiều các điều kiện thuận lợi cho việc nuôi bò như nhu cầu tiêu thụ thịt và sữa bò trong nước tăng cao, nguồn lao động rẻ và dồi dào, nguồn thức ăn phong phú, các chính sách khuyến khích chăn nuôi của nhà nước được triển khai ở nhiều nơi… Tuy nhiên, ngành chăn nuôi bò ở Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức tồn tại.<br><br></div><div>Các giống bò, kể cả chuyên cho sữa hay cho thịt, thì Việt Nam ta vẫn chưa có. Giống đang được nuôi hiện nay chủ yếu là lai giữa giống của địa phương và các giống cho sữa, thịt khác.<br><br></div><div>Nên dù khả năng chống chịu bệnh có cao thì hiệu quả, năng suất vẫn tương đối thấp. Khí hậu nóng ấm của nước ta còn là điều kiện thuận lợi cho nhiều loại vi khuẩn, virus gây bệnh phát triển, rất khó để phòng bệnh triệt để cho bò.<br><br></div><div>Các kinh nghiệm trong ngành chăn nuôi bò thịt, bò sữa thì chưa có nhiều, đặc biệt là về khẩu phần ăn cho bò. Vì vậy bò sữa có năng suất, sản lượng cao nhưng có tuổi thọ thấp, bò thịt thì nhiều mỡ, chất lượng thịt không cao, không ngon.<br><br></div><div>Việc chăn nuôi cũng chủ yếu là theo quy mô nhỏ lẻ, chưa có đồng bộ. Sự liên kết giữa các cơ sở thu mua, chế biến, chăn nuôi còn chưa chặt chẽ, hợp lý, dẫn đến nhiều trường hợp bà con bị ép giá, thua lỗ.<br><br></div><div>Áp dụng các thiết bị khoa học kỹ thuật tiên tiến cũng còn lẻ tẻ, hạn chế. Nếu không khắc phục, ngành chăn nuôi bò ở nước ta sẽ khó phát triển hơn được.<br><br></div><div><strong>Chăn nuôi bò sữa phát triển mạnh</strong> gần các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1354909070/052030cf4a51679a83590bd9d6c073bc/bo_.jpeg" />
         <pubDate>2021-11-22 01:41:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905024650</guid>
      </item>
      <item>
         <title>39-LÂM MÃN TINH</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905024891</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Việt nam</strong> là quốc gia xuất khẩu <strong>cà phê</strong> lớn thứ hai trên thế giới và là nước đứng đầu về xuất khẩu <strong>cà phê</strong> Robusta.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Bốn tỉnh <strong>trồng</strong> nhiều <strong>cà phê</strong> Robusta nhất gồm có Đăklăk, Lâm đồng, Gia lai và Đăk nông với <strong>diện tích</strong> khoảng 90% tổng <strong>diện tích cà phê</strong> cả nước - hiện tại khoảng 550,000ha.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<strong>Cà phê</strong> là một ngành hàng quan trọng, chiếm 3% GDP của <strong>Việt Nam</strong>, kim ngạch xuất khẩu nhiều năm nay đều đạt trên 3 tỷ USD. Trong những năm qua, dù kinh tế thế giới có nhiều thời điểm gặp khó khăn dẫn đến sức mua sụt giảm, nhưng nước ta vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cà phê ở mức đáng khích lệ - đạt 8,2%/năm với kim ngạch bình quân 3,13 tỷ USD/năm giai đoạn 2011-2018, chiếm 15% tổng xuất khẩu nông sản của cả nước.                       Hai loại cà phê chính (<a href="https://primecoffea.com/su-khac-biet-giua-ca-phe-arabica-va-robusta-primecoffee.html">Robusta và Arabica</a>) đều được đưa vào sản xuất, Trong khi Robusta chiếm 92,9% tổng diện tích trồng cà phê (và chiếm 97% tổng sản lượng), thì các giống Arabica chỉ chịu trách nhiệm cho một vài phần trăm còn lại. Tổng diện tích bao phủ bởi canh tác cà phê ước tính khoảng 600.000ha, với các tỉnh trồng cà phê chính nằm ở Tây Nguyên, bao gồm Đăk Lăk (190.000 ha), Lâm Đồng (162.000 ha), Đăk Nông (135.000 ha), Gia Lai (82.000 ha) ) và Kon Tum (13.500 ha).</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1452084885/5b3510d56929ad31998ec0e6902f8854/image.png" />
         <pubDate>2021-11-22 01:41:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905024891</guid>
      </item>
      <item>
         <title>44-Phạm Phương Vy</title>
         <author>phamphuongvy21</author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905025145</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><br>Chè</strong> (hay <strong>trà</strong>, tên khoa học: <strong><em>Camellia sinensis</em></strong>) là loài cây mà lá và chồi được sử dụng để sản xuất <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C3%A0">trà</a> (đừng nhầm với <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi_Tr%C3%A0">cây hoa trà</a>). Tên gọi <em>sinensis</em> có nghĩa là "<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_Qu%E1%BB%91c">Trung Quốc</a>" trong <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Latinh">tiếng Latinh</a>. Các danh pháp khoa học cũ còn có <strong><em>Thea bohea</em></strong> và <strong><em>Thea viridis</em></strong>.<br><br></div><div><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C3%A0_xanh"><br>Trà xanh</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C3%A0_%C3%B4_long">trà ô long</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C3%A0_%C4%91en">trà đen</a> tất cả đều được chế biến từ loài này, nhưng ở các mức độ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Oxy_h%C3%B3a">oxy hóa</a> khác nhau.<br><br></div><div><br><br></div><div><em>Camellia sinensis</em></div><div><em><br>Camellia sinensis</em> xuất xứ từ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_%C3%81">Đông Á</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_%C3%81">Nam Á</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_Nam_%C3%81">Đông Nam Á</a>, nhưng ngày nay nó được trồng phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới, trong các khu vực <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nhi%E1%BB%87t_%C4%91%E1%BB%9Bi">nhiệt đới</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BA%ADn_nhi%E1%BB%87t_%C4%91%E1%BB%9Bi">cận nhiệt đới</a>. Nó là loại cây xanh lưu niên mọc thành bụi hoặc các cây nhỏ, thông thường được xén tỉa để thấp hơn 2 <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/M%C3%A9t">mét</a> (6 <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ft_(%C4%91%E1%BB%8Bnh_h%C6%B0%E1%BB%9Bng)">ft</a>) khi được trồng để lấy <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%A1">lá</a>. Nó có <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/R%E1%BB%85_c%C3%A1i">rễ cái</a> dài. Hoa chè màu trắng ánh vàng, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C6%B0%E1%BB%9Dng_k%C3%ADnh">đường kính</a> từ 2,5–4 <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Xentim%C3%A9t">cm</a>, với 7 - 8 cánh hoa. Hạt của nó có thể ép để lấy dầu.<br>Hạt của <em>Camellia sinensis</em> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Camellia_oleifera"><em>Camellia oleifera</em></a> được ép lấy tinh dầu trà, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Gia_v%E1%BB%8B">gia vị</a> ngọt và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/D%E1%BA%A7u_%C4%83n">dầu ăn</a> không được trộn lẫn với tinh dầu trà. Tinh dầu thường được sử dụng làm thuốc và mỹ phẩm, có khởi nguồn từ lá của nhiều thực vật khác.<br><br></div><div><br>Lá của chè dài từ 4–15 cm và rộng khoảng 2–5 cm. Lá tươi chứa khoảng 4% <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Caffein">caffein</a>. Lá non có sắc xanh lục nhạt được thu hoạch để sản xuất trà. Ở thời đoạn đó, mặt dưới lá có lông tơ ngắn màu trắng. Lá già thì chuyển sang màu lục sẫm. Tùy lứa tuổi mà lá chè có thể dùng làm thành phẩm chè khác nhau vì thành phần <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%B3a_h%E1%BB%8Dc">hóa học</a> trong lá khác nhau. Thông thường, chỉ có lá chồi và 2 đến 3 lá mới mọc gần thời gian đó được thu hoạch để chế biến. Việc thu hoạch thủ công bằng tay diễn ra đều đặn mỗi 1 đến 2 tuần.<br><br></div><div><br>Trồng trọt và phân bố<br><br></div><div><br>Chè thường được trồng ở vùng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nhi%E1%BB%87t_%C4%91%E1%BB%9Bi">nhiệt đới</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BA%ADn_nhi%E1%BB%87t_%C4%91%E1%BB%9Bi">cận nhiệt đới</a>, nơi có lượng mưa tối thiểu là 127 cm. (50 inches) mỗi năm. Khí hậu ẩm ướt và nhiều nắng ấm là hai yếu tố chính. Ngoài khu vực lý tưởng kể trên, cây chè có thể sống suốt từ đường <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/X%C3%ADch_%C4%91%E1%BA%A1o">xích đạo</a> lên đến miền nam nước Anh như <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Cornwall">Cornwall</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A8_(th%E1%BB%B1c_v%E1%BA%ADt)#cite_note-1"><sup>[1]</sup></a> Chè ngon thường mọc ở cao độ trên 1.500 mét (4.900 feet) để cây chè phát triển chậm, tích tụ nhiều hương vị đậm đà.<br><br></div><div><strong><br>Việt Nam</strong></div><div>Những cây chè Shan tuyết cổ thụ</div><div>Một đồi chè ở Phú Thọ</div><div><br>Cây chè tại Việt Nam đến giữa <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%BF_k%E1%BB%B7_XX">thế kỷ XX</a> được trồng khắp miền quê ngoài <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Mi%E1%BB%81n_B%E1%BA%AFc_(Vi%E1%BB%87t_Nam)">Bắc</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Mi%E1%BB%81n_Trung_(Vi%E1%BB%87t_Nam)">Trung</a> (phương ngữ tại đây thường gọi là chè), diện tích lớn nhất ở hai tỉnh <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%BA_Th%E1%BB%8D">Phú Thọ</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A3ng_Nam">Quảng Nam</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A8_(th%E1%BB%B1c_v%E1%BA%ADt)#cite_note-2"><sup>[2]</sup></a> Loại này thân mọc cao, lá lớn và dày, có thể hái về vò nát để nấu uống tươi gọi là <strong>chè xanh</strong>. Loại thứ hai là chè <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%93n_%C4%91i%E1%BB%81n">đồn điền</a> du nhập từ phương Tây, cây thấp, lá nhỏ, thường phải ủ rồi mới nấu nước. Hạng nhất là <strong>chè búp</strong> (hoặc <strong>chè nõn tôm</strong>), có khi gọi văn vẻ là "chè bạch mao" hay "chè bạch tuyết" nếu búp có lông tơ trắng ở đầu ngọn. Hạng nhì là hai lá chè kế (còn có thể phân chia "một tôm một lá" tức lấy búp và một lá kế, và "một tôm hai lá" tức lấy búp và hai lá tiếp theo). Lá thứ tư, thứ năm là chè hạng ba. Những lá dưới nữa thì dùng làm <strong>chè mạn</strong>, rẻ hơn cả.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A8_(th%E1%BB%B1c_v%E1%BA%ADt)#cite_note-ReferenceA-3"><sup>[3]<br></sup></a><br></div><div><br>Đồn điền cây chè thì mãi đến năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1924">1924</a> <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%A1p_thu%E1%BB%99c">thời Pháp thuộc</a> mới bắt đầu hoạt động ở vùng Cao nguyên <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_K%E1%BB%B3">Trung Kỳ</a> gồm các tỉnh <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kon_Tum">Kontum</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Pleiku">Pleiku</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%AFk_L%E1%BA%AFk">Darlac</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%93ng_Nai_Th%C6%B0%E1%BB%A3ng">Đồng Nai Thượng</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A8_(th%E1%BB%B1c_v%E1%BA%ADt)#cite_note-A-4"><sup>[4]</sup></a> Sang thập niên 1930, chè được đem trồng một cách quy mô trên cao nguyên vùng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BA%A3o_L%E1%BB%99c">B'lao</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Di_Linh">Djiring</a> và vùng này sau chiếm địa vị là vựa chè.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A8_(th%E1%BB%B1c_v%E1%BA%ADt)#cite_note-Ngh%E1%BB%81_L%C3%A0m_Tr%C3%A0_%C6%A0_Blao-5"><sup>[5]<br></sup></a><br></div><div><br>Tính đến năm 1960, Việt Nam <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Xu%E1%BA%A5t_kh%E1%BA%A9u">xuất cảng</a> 2.000 tấn chè mỗi năm.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A8_(th%E1%BB%B1c_v%E1%BA%ADt)#cite_note-ReferenceA-3"><sup>[3]</sup></a> Đến năm 2007 thì sản lượng chè của Việt Nam đã vượt một triệu tấn, canh tác trên 125.000 <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hecta">hecta</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A8_(th%E1%BB%B1c_v%E1%BA%ADt)#cite_note-Ngh%E1%BB%81_L%C3%A0m_Tr%C3%A0_%C6%A0_Blao-5"><sup>[5]<br></sup></a><br></div><div><br>Vào đầu năm 2016, thị trường lớn nhất mua chè Việt Nam là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Pakistan">Pakistan</a> chiếm khoảng 1/3 thị phần. Việt Nam cũng là nước xuất cảng chè đứng thứ năm trên thế giới. Tuy nhiên giá bán thấp hơn so với các nước khác vì phẩm chất kém, chỉ đạt 60-70% giá thị trường quốc tế.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A8_(th%E1%BB%B1c_v%E1%BA%ADt)#cite_note-6"><sup>[6]<br></sup></a><br></div><div><strong><br>Ấn Độ</strong></div><div><br>Phần lớn chè được sản xuất tại Ấn Độ gọi là chè <em>Assam</em> (đôi khi nó được gọi là <em>C. sinensis assamica</em> hay <em>C. assamica</em>). Đây là loại cây nhỏ (thân đơn), lá to bản. Trong <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Thi%C3%AAn_nhi%C3%AAn">thiên nhiên</a>, chè Assam có thể mọc cao đến 6 - 20 mét (20–65 ft); nhưng khi canh tác thì cây được xén kỹ chỉ còn cao nhỉnh hơn thắt lưng người. Ở những vùng đất trũng, cây chè cần độ ẩm cao (mưa nhiều) nhưng đất trồng phải ráo nước, không được úng. Những cây chè thuần hóa không chịu được <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nhi%E1%BB%87t_%C4%91%E1%BB%99">nhiệt độ</a> quá cao.<br><br></div><div><br>Cây chè Assam được phát hiện năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1823">1823</a> (mặc dù đã được người dân địa phương sử dụng làm đồ uống từ lâu). Chè Assam sau đó được dùng là một trong hai giống chè gốc. Tất cả các cây <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tr%C3%A0_Assam&amp;action=edit&amp;redlink=1">chè Assam</a> và phần lớn <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tr%C3%A0_Ceylon&amp;action=edit&amp;redlink=1">chè Ceylon</a> (Tích Lan, nay là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Sri_Lanka">Sri Lanka</a>) có nguồn gốc từ giống cây này. Chè Assam có hương vị <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%E1%BB%8Dt">ngọt</a> khi pha nước uống, không giống như vị các loại chè Trung Hoa.<br><br></div><div><strong><br>Campuchia</strong></div><div><br>Chè Campuchia đôi khi được gọi là <em>C. sinensis parvifolia</em>. Lá chè này về kích thước trung bình, giữa lá chè Assam và lá chè Trung Quốc; nó là một loại cây nhỏ, dạng bụi. Đôi khi người ta coi biến thể này là sản phẩm lai ghép của chè Assam và Trung Quốc.<br><br></div><div><strong><br>Trung Quốc</strong></div><div><br>Chè Trung Quốc (đôi khi gọi là <em>C. sinensis sinensis</em>) là loài cây lá nhỏ, nhiều thân mọc thành bụi rậm cao tới 3 mét. Đây là loại chè đầu tiên được ghi nhận với lịch sử trong văn tịch hơn 3000 năm, chè này được dùng sản xuất nhiều loại chè nổi tiếng.<br><br></div><div><br>Sâu bệnh<br><br></div><div><br>Lá chè là thức ăn của nhiều loài <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%99ng_v%E1%BA%ADt_%C4%83n_c%E1%BB%8F">động vật ăn cỏ</a>, như các loài <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%A2u_b%C6%B0%E1%BB%9Bm">sâu bướm</a> thuộc họ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Peribatodes_rhomboidaria">Peribatodes rhomboidaria</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Geometridae">Geometridae</a>.<br><br></div><div><br>Hiệu quả sức khỏe<br><br></div><div><br>Lá chè được dùng trong <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_y">Đông y</a> để trị <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hen_ph%E1%BA%BF_qu%E1%BA%A3n">hen phế quản</a> (như một loại thuốc trị <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hen_suy%E1%BB%85n">hen suyễn</a>), <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nhi%E1%BB%87t_mi%E1%BB%87ng">nhiệt miệng</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90au_th%E1%BA%AFt_ng%E1%BB%B1c">đau thắt ngực</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BB%87nh_tim_m%E1%BA%A1ch_v%C3%A0nh">bệnh tim mạch vành</a> và bệnh mạch máu ngoài.<br><br></div><div><br>Ngày nay, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C3%A0_xanh">trà xanh</a> phổ biến khắp nơi, là thức uống rất có lợi cho sức khỏe, góp phần ngừa <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ung_th%C6%B0">ung thư</a>, giảm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Cholesterol">cholesterol</a>, diệt khuẩn và giảm cân.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A8_(th%E1%BB%B1c_v%E1%BA%ADt)#cite_note-7"><sup>[7]</sup></a> Trà chứa lượng lớn <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Catechins&amp;action=edit&amp;redlink=1">catechins</a>, một <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BA%A5t_ch%E1%BB%91ng_oxy_h%C3%B3a">chất chống oxy hóa</a>. Trong các hoạt tính, (-)-catechin từ <em>C. sinensis</em> làm kích thích <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=PPARgamma&amp;action=edit&amp;redlink=1">PPARgamma</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Th%E1%BB%A5_quan_h%E1%BA%A1t_nh%C3%A2n&amp;action=edit&amp;redlink=1">thụ quan hạt nhân</a>, là mục tiêu dược lý hiện hành cho điều trị <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%A1i_th%C3%A1o_%C4%91%C6%B0%E1%BB%9Dng_lo%E1%BA%A1i_2">đái tháo đường loại 2</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A8_(th%E1%BB%B1c_v%E1%BA%ADt)#cite_note-8"><sup>[8]<br></sup></a><br></div><div><br>Tuy nhiên, ngày nay trà cũng có tác dụng xấu đến sức khỏe, như chứa <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Caffein">caffein</a> vượt mức cho phép, nhiều loại trà còn chứa <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Flo">flo</a> v</div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1382621470/625dc15488edb4587a0b567723c61b4b/image.png" />
         <pubDate>2021-11-22 01:41:47 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905025145</guid>
      </item>
      <item>
         <title>12 - HUỲNH HƯƠNG</title>
         <author>huynhhuong2004vn</author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905026212</link>
         <description><![CDATA[<div>CÀ PHÊ&nbsp;<br>-&nbsp; Cà phê là một trong những cây công nghiệp lâu năm ở nước ta được trồng chủ yêu trên dất badan ở Tây Nguyên, ngoài ra còn trồng được ở Đông Nam Bộ và rải rác ở Bắc Trung Bộ.<br>- Cây cà phê đầu tiên được người Pháp mang đến Việt Nam vào năm 1857, từ các đồn điền nhất nhì Đông Dương này, cây cà phê đã có những trở mình mạnh mẽ, thoát khỏi các định chế bao cấp, trở thành một trong những cây trồng có giá trị xuất khẩu cao nhất (sau lúa gạo), và đưa nước ta lên vị trí thứ 2 của bản đồ thế giới.&nbsp;<br>- Sản xuất: niên vụ 2019 - 2020, sản lượng cà phê nước ta đạt 1,8 triệu tấn, giảm 5% so với niên vụ trước. &nbsp;<br>Tiêu thụ:&nbsp; xuất khẩu cà phê ước tính đạt 85 nghìn tấn với giá trị 170 triệu USD, con số này đã đưa sản lượng xuất khẩu cà phê cả năm 2020 đạt 1,51 triệu tấn với giá trị 2,66 tỷ USD, giảm 8,8% về lượng và 7,2% về giá trị so với năm 2019.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1329783898/60667360340b78a497756c8791035998/t_i_xu_ng.jfif" />
         <pubDate>2021-11-22 01:42:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905026212</guid>
      </item>
      <item>
         <title>09 - Lư Gia Hân </title>
         <author>lgihan1202</author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905026420</link>
         <description><![CDATA[<div>-&nbsp; Cây cao su là một loại cây thuộc dòng cây công nghiệp nước ta.</div><div>- Cây cao su thường được thu hoạch trong chin tháng, ba tháng còn lại để cây thay lá.</div><div>- Cây phát triển tốt ở vùng nhiệt đới ẩm, ở những nơi có nhiệt độ trung bình dao động từ 22-30<sup>o</sup>C, cần mưa nhiều tuy nhiên lại không chịu được sự úng nước.</div><div>- <strong>Hiện nay, diện tích cây cao su trong nước đạt gần 1 triệu ha, với gần 70% trong đó là diện tích đang chp thu mủ với sản lượn 1.1 triệu tấn/năm</strong></div><div>- <strong>Việt Nam đang đứng thư năm trên toàn thế giới về diện tích cao su ( khoảng 5.6% diện tích toàn cầu) nhưng xếp thứ ba ( khoảng 7.7% tổng lượng cao su trên thế giới).</strong></div><div>- <strong>Cây cao su chủ yếu được trồng ở vùng Đông Nam Bộ do đủ điều kiện sinh thái về diện tích đất trồng lớn và khí hậu nóng ẩm quanh năm, đặc biệt được gieo trồng nhiều ở các tỉnh như Bình Phước, Bình Dươnh, Tây Ninh,…<br>- </strong>Xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2021 có tốc độ tăng trưởng vượt trội so với ít nhất 5 năm gần đây. Cụ thể, trong Bản tin T07-2021 của Vietdata cho thấy sản lượng xuất khẩu 6T-2021 đạt 714 nghìn tấn tăng 48%; giá trị đạt 1,20 tỷ USD tăng 88% so với cùng kỳ năm 2020.<br>- Nhập khẩu cao su 6T-2021 của Việt Nam cũng có mức tăng trưởng nổi bật, tổng sản lượng nhập khẩu đạt 873 nghìn tấn tăng 133%, giá trị nhập khẩu đạt 1.28 tỷ USD tăng 142% so với năm 2020</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1327816450/e34a1d9679d93ba8e72759bdb53d44eb/c_y_cao_su.jpg" />
         <pubDate>2021-11-22 01:42:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905026420</guid>
      </item>
      <item>
         <title>26-TỐ PHƯƠNG</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905031967</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><br>Bông vải</strong> (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_ph%C3%A1p_hai_ph%E1%BA%A7n">danh pháp hai phần</a>: <strong><em>Gossypium herbaceum</em></strong>) là một loại cây thuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8D_C%E1%BA%A9m_qu%E1%BB%B3">họ Cẩm quỳ</a> (<em>Malvaceae</em>). Cây cao cỡ 1 m, hoa vàng có 3 lá hoa, sợi dính vào hạt. Vỏ rễ dùng để cho có kinh nguyệt, có thể làm trụy thai, hạt có tính làm sinh sữa.<br><br>Là loại cây lấy sợi quan trọng nhất ở các nước nhiệt đới. Sợi bông là nguyên liệu chủ yếu trong công nghiệp dệt. Xơ bông rất được ưa chuộng trong công nghiệp may mặc vì có những đặc tính tốt như cách nhiệt, mềm mại, co giãn, thoáng khí... Mặc dù trong những năm gần đây sợi bông bị sợi nhân tạo cạnh tranh kịch liệt, nhưng do những tính chất ưu việt của nó, sợi bông vẫn có một vị trí riêng biệt và không thể thay thế được.<br><br>Tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam">Việt Nam</a>, nghề trồng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%B4ng">bông</a> đã xuất hiện trên 2.000 năm. Từ thời kỳ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%A1p_thu%E1%BB%99c">Pháp thuộc</a>, Việt Nam đã sản xuất đủ để may mặc trong nước, đầu thế kỷ 20 đã xuất khẩu bông sang <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n">Nhật</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93ng_K%C3%B4ng">Hồng Kông</a>. Trong thời kỳ khôi phục kinh tế sau hoà bình, diện tích bông đã tăng gấp 3 lần so với năm 1939 (6.500 ha) là năm sản xuất ổn định trong thời kỳ Pháp thuộc. Sau khi thống nhất đất nước, Việt Nam đã có nhiều cố gắng phát triển nghề trồng bông để đáp ứng nhu cầu sợi bông nhưng diện tích và năng suất vẫn còn thấp, sản lượng chỉ mới đáp ứng 1/10 yêu cầu của công nghiệp dệt. Hiện nay, hàng năm Việt Nam còn phải nhập từ 60.000 đến 65.000 tấn bông xơ.<br>Xơ bông có nhiều màu nhưng phổ biến nhất là màu trắng.<br><br>ĐIỀU KIỆN KHÍ HẬU&nbsp;<br>Vùng Đông Nam bộ có khí hậu gió mùa cận xích đạo với nhiệt độ trung bình ngày cao đều quanh năm, lượng mưa khá lớn, phân bố đều theo mùa, ít gió bão và không có mùa đông lạnh. Nhiệt độ trong năm tương đối ổn định, ít thay đổi, từ 25 - 27°c. Chênh lệch nhiệt độ giữa tháng<br><br></div><div>nóng nhất và tháng lạnh nhất không quá 4°c. Ảm độ không khí tương đối cao. Các tháng trong mùa mưa (từ tháng 5 I tháng 10) đều có ẩm độ trên 85%.<br><br></div><div>Thời tiết trong năm được chia làm 2 mùa rõ rệt:<br><br></div><div>- Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 và kéo dài đến hết tháng 4 năm sau.<br><br></div><div>- Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 11.</div><div>ổng lượng mưa trong năm đạt trên 2000 mm và phân bố chủ yếu vào các tháng mùa mưa. Số liệu theo dõi của Trạm khí tượng Hưng Lộc thì số ngày mưa trung bình của các tháng trong mùa mưa đạt trên dưới 20 ngày.<br><br></div><div>Thời tiết khí hậu ở đây nói chung ổn định, có lợi cho cây trồng nông nghiệp nói chung và cây bông nói riêng, đảm bảo cho cây trồng không bị hạn trong suốt thời kỳ sinh trưởng. Điều kiện khí hậu này rất thuận lợi cho việc đưa cơ cấu cây bông trồng trong vụ hai nhờ nước trời song cần lưu I ẩm độ cao trong mùa mưa dễ làm phát sinh bệnh hại. Khi bông chín nở quả vào mùa khô, lượng mưa ít, ẩm độ thấp, nhiệt độ cũng giảm mát mẻ hơn.<br><br></div><div>Theo thống kê, trong khoảng 5 năm trở lại đây, diện tích trồng bông tại Việt Nam đã giảm nghiêm trọng. Ở thời điểm năm 2001-2002, diện tích trồng bông trên cả nước trên 32.600 ha. Nhưng đến niên vụ 2008-2009, chỉ còn dưới 3.000 ha. Sản lượng bông vải trong nước chỉ đáp ứng được khoảng 2% nhu cầu bông xơ cho ngành sợi. Ngành dệt sợi của Việt Nam xem như mất trắng nguồn cung nguyên liệu từ trong nước và phải nhập khẩu gần 100% bông xơ từ nước ngoài.<br><br></div><div>Nguyên nhân chính khiến diện tích bông vải giảm mạnh là do năng suất quá thấp (chỉ chừng 21 tạ/ha) và giá thu mua không cao (9.000 đồng/kg), khiến nông dân không “mặn mà” với cây bông vải bằng một số loại cây công nghiệp ngắn ngày khác.<br><br></div><div>Các chuyên gia nông nghiệp ở Đắk Lắk cho rằng: Ngành bông muốn thoát được "cơn bĩ cực", phải giải quyết được vấn đề mấu chốt là năng suất. Do cây bông tại Việt Nam chủ yếu được trồng ở những vùng đất tận dụng nguồn nước mưa nên năng suất thấp. Theo kỹ thuật trồng trên vùng đất có nước tưới và chăm sóc tốt, sản lượng bông hạt sẽ đạt khoảng 3-4 tấn/ha. Thế nhưng, dù không bị ảnh hưởng thiên tai, hạn hán mà nâng suất trung bình tại Việt Nam chỉ đạt 1-1,2 tấn bông hạt/ha. Với sản lượng này, khi chế biến ra chỉ được khoảng 400kg bông xơ/ha.&nbsp;<br><br></div><div>Song song với đó là việc nghiên cứu, lai tạo, chọn lọc giống, xây dựng được một quy trình sản xuất tiên tiến, khoa học, để từ đó đưa năng suất bông lên bằng với năng suất của thế giới, từng bước tăng lợi nhuận cho người trồng bông để người nông dân thêm "mặn mà" với nghề này thay vì vẫn thường lựa chọn trồng loại cây khác như hiện nay.<br><br></div><div>Vậy lời giải nào cho bài toán mục tiêu đến năm 2015, diện tích cây bông vải đạt 30.000 ha và còn tiếp tục tăng lên hơn 2,5 lần (76.000 ha) vào năm 2020 theo Chương trình phát triển cây bông vải Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt?...<br><br></div><div><strong>Khôi phục diện tích trồng bông, trọng tâm ở vùng Tây Nguyên<br></strong><br></div><div>Có thể xem đây chính là "đáp án" cho bài toán thực tế hiện nay để phát triển cây bông vải Việt Nam - lời giải nằm trong chính những giải pháp, định hướng thực hiện Chương trình phát triển cây bông Việt Nam.<br><br></div><div>Theo số liệu của Tập đoàn Dệt may Việt Nam, diện tích quy hoạch sản xuất bông đến 2020 trên toàn quốc là 76.000 ha. Trong đó, các tỉnh Tây Nguyên khoảng 32.000 ha, Nam Trung Bộ 27.000 ha, Trung Bô 12.000 ha và miền Bắc trên 2.000 ha.Về quy hoạch phát triển trang trại: tỉnh Bình Thuận sẽ đầu tư 10 trang trại với diện tích 1.300 ha; Ninh Thuận với 5 trang trại, diện tích 2.800 ha; Đăk Lắk 10 trang trại, diện tích trên 4.500 ha; Gia Lai 12 trang trại, diện tích 3.450 ha; Đắk Nông 7 trang trại, diện tích 2.400 ha;...Ngoài các chính sách tăng diện tích và trang trại trồng bông, các chính sách đầu tư về công trình thủy lợi trọng điểm cũng được đẩy mạnh như: Dự án tưới Phan Rí – Phan Thiết, khởi công 2009...Cụ thể, để tăng năng suất cây bông đạt mục tiêu nêu trên, Chương trình phát triển cây bông vải chỉ rõ định hướng phát triển cây bông vụ mưa nhờ nước trời. Theo đó, sẽ khôi phục diện tích sản xuất bông vụ mưa tại các vùng trồng bông truyền thống có điều kiện đất đai, khí hậu thích hợp tại các tỉnh Tây Nguyên (Đắk Lắk, Đắc Nông, Gia Lai), các tỉnh miền Đông và Duyên hải Nam Trung Bộ (Ninh Thuận, Bình Thuận, Bình Phước, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu), các tỉnh vùng núi phía Bắc (Điện Biên, Sơn La, Thanh Hóa, Bắc Giang) trong đó trọng tâm là các tỉnh Tây Nguyên.</div><div>Đồng thời, sẽ phát triển cây bông vụ khô có tưới theo hướng mở rộng diện tích vùng chuyên canh cây bông vải có tưới vụ Đông Xuân; đầu tư thâm canh diện tích hiện có, mở rộng diện tích theo quy hoạch ở những nơi có điều kiện trên cơ sở sử dụng giống mới, áp dụng công nghệ canh tác tiên tiến và nâng cao năng suất, hiệu quả kinh tế cây bông.<br><br></div><div><strong>Hình thành Quỹ bình ổn giá thu mua bông<br></strong><br></div><div>Mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế sẽ được phát huy cùng sự hỗ trợ của Nhà nước cho đầu tư phát triển cây bông vải, gắn kết lợi ích giữa gia công chế biến, tiêu thụ với lợi ích của người trồng bông. Đồng thời, Nhà nước đầu tư cho công tác nghiên cứu, khoa học và chuyển giao công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất bông.<br><br></div><div>Chương trình khuyến khích các doanh nghiệp chế biến bông xơ hỗ trợ người trồng bông đầu tư cơ giới hóa các khâu từ làm đất đến thu hoạch, bảo quản, xơ chế, hệ thống tưới tiết kiệm để tăng năng suất lao động nhằm tạo bước đột phá trong phát triển cây bông vải Việt Nam.<br><br></div><div>Đặc biệt, Quỹ bình ổn giá thu mua bông hạt trong nước sẽ được thành lập để ổn định giá mua bông hạt, đảm bảo lợi ích cho người trồng bông và ổn định phát triển ngành bông Việt Nam. Nguồn hình thành Quỹ được trích 2% giá thành sản xuất bông trong nước của các đơn vị tổ chức sản xuất bông, khi giá thành sản xuất bông trong nước thấp hơn giá bông nhập khẩu và các đơn vị này sản xuất kinh doanh có lãi.<br><br></div><div>Các đơn vị tổ chức sản xuất bông được vay từ Quỹ bình ổn giá với mức lãi suất phù hợp để mua bông hạt sản xuất trong nước cho người trồng bông phù hợp với mặt bằng giá từng thời vụ.<br><br></div><div>Được biết, để ngành Bông phát triển thay thế nguyên liệu nhập khẩu, các Cty Bông thuộc Cty CP Bông Việt Nam đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ cho người trồng bông như: hỗ trợ 100% giống bông, đầu tư chất điều hòa sinh trưởng, thuốc bảo vệ thực vật và phân bón bình quân 3 triệu đồng/ha,…sản phẩm được Cty bao tiêu toàn bộ với giá thấp nhất là 9.000 đồng/kg và sẽ điều chỉnh theo thời giá. Với chiến lược này ngành bông bước đầu đã có tín hiệu vui khi diện tích trồng niên vụ 2008 – 2009 đã tăng trở lại.Hiện nay, Chính phủ đã giao cho Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) làm đầu mối hồi phục phát triển cây bông, đi cùng với đó là các dự án phát triển thủy lợi phục vụ nước tưới ở vùng trọng điểm trồng bông.Ông Nguyễn Hữu Bình, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty CP Bông Việt Nam cho biết, hiện đã có 8 dự án phát triển cây bông của VinatexMart, Viện Nghiên cứu bông Nha Hố, Công ty CP Bông Tây Nguyên… được đầu tư quy mô, trồng theo mô hình trang trại, nông trường ở các tỉnh Tây Nguyên, duyên hải miền Trung trên diện tích 22.000 ha. Diện tích mỗi trang trại từ 1.000 ha đến 4.500 ha, tập trung ở các tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận, Giai Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông.Cũng để chuẩn bị trồng trên diện rộng, hiện các đơn vị đã tiến hành trồng thử nghiệm trồng bông trên diện tích nhỏ, ở 2 trung tâm giống tại Phan Rang (Ninh Thuận). Hiện nay, việc đầu tư sản xuất cây bông vải chủ yếu đầu tư, liên kết sản xuất trong nông dân. Theo kế hoạch của Công ty CP Bông Việt Nam, việc hồi phục phát triển cây bông mới bắt đầu, hiện tại chỉ dừng lại ở việc duy trì sản xuất và chuẩn bị cho việc mở rộng diện tích sau này. Giống cây trồng vẫn sử dụng nguồn giống có sẵn trong nước.&nbsp;</div><div><br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1466306490/2b19953e66ee456be5c34b3f7827c229/cay_bong.jpg" />
         <pubDate>2021-11-22 01:46:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905031967</guid>
      </item>
      <item>
         <title>13-LÝ PHẠM THỌ KHANG</title>
         <author>lykhang767</author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905035452</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><br>Gạo</strong> là một sản phẩm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%B1c_ph%E1%BA%A9m">lương thực</a> thu từ cây <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%BAa">lúa</a>. Hạt gạo thường có màu trắng, nâu hoặc đỏ thẫm, chứa nhiều dinh dưỡng. Hạt gạo chính là nhân của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%B3c">thóc</a> sau khi xay để tách bỏ <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=V%E1%BB%8F_tr%E1%BA%A5u&amp;action=edit&amp;redlink=1">vỏ trấu</a>. Hạt gạo sau khi xay được gọi là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/G%E1%BA%A1o_l%E1%BB%A9t">gạo lứt</a>, gạo lức hay gạo lật, nếu tiếp tục xát để tách cám thì gọi là gạo xát hay <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/G%E1%BA%A1o_tr%E1%BA%AFng">gạo trắng</a>, nếu xát rối để giữ phần lớn lượng cám bổ dưỡng thì gọi là gạo xát rối hoặc gạo nguyên cám. Gạo là lương thực phổ biển của gần một nửa dân số thế giới.<br><br></div><div><br>Gạo có thể nấu thành <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C6%A1m">cơm</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A1o">cháo</a> nhờ cách luộc trong nước hay bằng hơi nước. <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/G%E1%BA%A1o_%C4%91%E1%BB%93">Gạo đồ</a> là loại gạo thu được từ thóc được ngâm nước nóng hoặc sấy trong hơi nước rồi phơi khô sau đó mới được gia công chế biến qua các công đoạn chế biến khác như xay, xát, đánh bóng. Những mảnh vụn của gạo bị vỡ trên đồng lúa, khi phơi khô, khi vận chuyển hoặc khi xay sàng gạo được gọi là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/G%E1%BA%A1o_t%E1%BA%A5m">gạo tấm</a>. Gạo cũng có thể rang cho vàng rồi giã mịn thành <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%ADnh_g%E1%BA%A1o">thính gạo</a>, một loại gia vị. Loại bột được làm từ gạo bằng phương pháp ngâm và nghiền, gọi là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BB%99t_g%E1%BA%A1o">bột gạo</a>, là thành phần chính của nhiều loại bánh phổ thông và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%BAn">bún</a> tại châu Á.<br><br></div><div><br>Từ gạo có thể chế biến thành rất nhiều loại thực phẩm khác nhau như bánh cốm, bánh nếp, bánh tẻ, bánh chưng, xôi, mỳ, bún, phở hay rượu.<br><br></div><div><br>Gạo là lương thực chính trong ẩm thực châu Á, khác với lương thực chính trong ẩm thực châu Âu, Mỹ là lúa mỳ, bột mỳ<br><br>Có khá nhiều tranh cãi về nguồn gốc thuần hóa gạo. Các bằng chứng về di truyền được công bố trong <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Proceedings_of_the_National_Academy_of_Sciences_of_the_United_States_of_America"><em>Proceedings of the National Academy of Sciences of the United States of America</em></a> (PNAS) cho thấy rằng tất cả các dạng gạo châu Á, gồm cả <em>indica</em> và <em>japonica</em>, bắt nguồn từ một loài thuần hóa đã bắt đầu cách nay 8.200–13.500 năm ở Trung Quốc từ loài lúa gạo hoang <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Oryza_rufipogon"><em>Oryza rufipogon</em></a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/G%E1%BA%A1o#cite_note-pnas1-1"><sup>[1]</sup></a> Một nghiên cứu công bố năm 2012 trong tạp chí <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nature"><em>Nature</em></a>, đưa ra một bản đồ biến đổi gen lúa gạo, đã chỉ ra rằng việc thuần hóa cây lúa đã diễn ra ở thung lũng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A2u_Giang_(s%C3%B4ng_Trung_Qu%E1%BB%91c)">Châu Giang</a> của Trung Quốc dựa trên bằng chứng gen. Từ Đông Á, lúa được phát tán về phía nam và Đông Nam Á.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/G%E1%BA%A1o#cite_note-nature1-2"><sup>[2]</sup></a> Trước nghiên cứu này, quan điểm được chấp nhận rộng rãi dựa trên các bằng chứng khảo cổ học thì cho rằng lúa được thuần hóa đầu tiên ở thung lũng sông Dương Tử ở Trung Quốc.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/G%E1%BA%A1o#cite_note-3"><sup>[3]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/G%E1%BA%A1o#cite_note-harris-4"><sup>[4]<br></sup></a><br></div><div><br>Các nghiên cứu về hình thái của gạo từ di chỉ khảo cổ thể hiện rõ ràng sự chuyển tiếp từ việc thu nhặt lúa hoang đến việc trồng lúa gạo thuần hóa. Một số lượng lớn phytolith lúa gạo hoang ở Diaotonghuan có tuổi từ 12.000–11.000 <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/BC">BC</a> chỉ ra rằng việc thu lượm lúa hoang là một phần trong khẩu phần ăn của dân địa phương. Những thay đổi về hình thái của Diaotonghuan phytoliths có tuổi từ 10.000–8.000 BC cho thấy lúa gạo đã được thuần hóa từ lúc này.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/G%E1%BA%A1o#cite_note-5"><sup>[5]</sup></a> Không lâu sau đó, hai loại lúa chính là <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Indica_rice&amp;action=edit&amp;redlink=1">indica</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Japonica_rice&amp;action=edit&amp;redlink=1">japonica</a> được trồng ở miền trung Trung Quốc.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/G%E1%BA%A1o#cite_note-harris-4"><sup>[4]</sup></a> Vào cuối thiên niên kỷ 3 TCN, có sự mở rộng nhanh chóng trong việc trồng trọt lúa gạo trên đất liền của Đông nam Á và về phía tây đến Ấn Độ và Nepal.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/G%E1%BA%A1o#cite_note-harris-4"><sup>[4]<br></sup></a>Gạo là sản phẩm từ cây lúa và nằm trong một quá trình sản xuất <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/N%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p">nông nghiệp</a>, thường bao gồm những khâu chính sau: làm đất, chọn thóc giống, gieo hạt, ươm mạ, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=C%E1%BA%A5y&amp;action=edit&amp;redlink=1">cấy</a>, chăm bón (bón phân, đổ nước), gặt và xay xát.<br><br>Việt Nam có hai vùng trồng lúa chính là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%93ng_b%E1%BA%B1ng_s%C3%B4ng_H%E1%BB%93ng">đồng bằng sông Hồng</a> ở phía Bắc và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%93ng_b%E1%BA%B1ng_s%C3%B4ng_C%E1%BB%ADu_Long">đồng bằng sông Cửu Long</a> ở miền Nam. Vào thời điểm năm 1922 <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_Ph%C3%A1p_thu%E1%BB%99c">thời Pháp thuộc</a> toàn cõi Việt Nam tức cả ba kỳ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, diện tích canh tác là 4.640.000 hecta lúa với sản lượng 7.200.000 tấn thóc.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/G%E1%BA%A1o#cite_note-6"><sup>[6]</sup></a> Năng suất ở mỗi miền khác nhau. Tính đến thập niên 1930 một hecta ở Bắc Kỳ thu hoạch được 1.470 kg thóc; Trung Kỳ đạt 1.370 kg/ha; và Nam Kỳ là 1.340 kg/ha.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/G%E1%BA%A1o#cite_note-7"><sup>[7]</sup></a> Tuy nhiên vì diện tích trồng trọt ở Nam Kỳ rộng lớn hơn nên miền Nam đã là vựa thóc, cung cấp phần thặng dư lớn nhất của cả sáu xứ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Li%C3%AAn_bang_%C4%90%C3%B4ng_D%C6%B0%C6%A1ng">Liên bang Đông Dương</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/G%E1%BA%A1o#cite_note-8"><sup>[8]<br></sup></a><br></div><div><br>Sang thế kỷ 21 hàng năm sản lượng của cả nước đạt 33-34 triệu tấn thóc, trong đó chỉ sử dụng khoảng 8 triệu tấn (tương đương 4 triệu tấn gạo sau khi xay xát) cho xuất khẩu, còn lại là tiêu thụ trong nước và bổ sung dự trữ quốc gia.<br><br></div><div><br>Ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Mi%E1%BB%81n_B%E1%BA%AFc_Vi%E1%BB%87t_Nam">miền Bắc Việt Nam</a> một năm có hai vụ lúa chính: vụ chiêm và vụ mùa.<br><br></div><div><br>Ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Mi%E1%BB%81n_Nam_Vi%E1%BB%87t_Nam">miền Nam Việt Nam</a>, nông dân trồng ba vụ một năm: vụ đông xuân (có sản lượng cao nhất và thóc cũng đạt chất lượng tốt nhất cho xuất khẩu), vụ hè thu và vụ ba. Do lũ hàng năm ở đồng bằng sông Cửu Long trong những năm gần đây ảnh hưởng đến sản xuất, một phần nữa người dân có thể kiếm lời ổn định hơn từ việc nuôi thủy sản (tôm) hay trồng cây ăn quả, chính quyền đã khuyến cáo nông dân giảm và chuyển đổi một phần đất trồng lúa vụ ba.<br><br></div><div><br>Và được <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BB%99_N%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p_v%C3%A0_Ph%C3%A1t_tri%E1%BB%83n_N%C3%B4ng_th%C3%B4n_(Vi%E1%BB%87t_Nam)">Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn</a> là bộ chủ quản, quản lý việc sản xuất lúa gạo của Việt Nam.<br><br></div><div><br>Hiện nay,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam">Việt Nam</a> là nơi có gạo ngon nhất thế giới, được <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Li%C3%AAn_minh_ch%C3%A2u_%C3%82u">Liên minh châu Âu</a> và các quốc gia khác trên thế giới công nhận như gạo ST25<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/G%E1%BA%A1o#cite_note-9"><sup>[9]</sup></a> của Việt Nam.<br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1383777361/b8bf9e5b1da5ee93e645d49e45707bfc/thumbgao_1200x676.jpg" />
         <pubDate>2021-11-22 01:48:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905035452</guid>
      </item>
      <item>
         <title>28 - NGUYỄN LÊ MINH QUÂN  Cây khoai tây</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905046855</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Tên gọi<br></strong><br></div><ul><li>Danh pháp hai phần: Solanum tuberosum</li><li>Thuộc họ Cà: (Solanaceae)</li></ul><div>Khoai tây là một trong những loại cây trồng đem lại hiệu quả kinh tế cao bởi thời gian sinh trưởng ngắn (80-100 ngày), dễ trồng, cho năng suất cao (có thể tới 5-20 tấn củ/ha) và chứa hàm lượng dinh dưỡng cao. Ở nước ta, khoai tây chủ yếu được trồng ở các tỉnh miền Bắc, vùng Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên. Trong đó, vùng có điều kiện thuận lợi và cũng là vùng sản xuất khoai tây chủ yếu là vùng Đồng bằng và Trung du Bắc bộ.</div><div>&nbsp;</div><div><br></div><div><em>Củ khoai tây</em></div><div><strong><br>Đặc điểm của cây khoai tây<br></strong><br></div><ul><li>Chiều cao phát triển tối đa cho cây khoai tây là 60cm. Sau khi ra hoa cây khoai tây sẽ chết.</li><li>Hoa khoai tây có màu trắng, hồng đỏ, xanh hoặc màu tím, nhụy hoa màu vàng.</li><li>Khoai tây được thụ phấn chủ yếu bởi côn trùng, ong vò vẽ mang phấn hoa từ cây này đến cây khác. Sau khi khoai tây ra hoa, một số giống cho ra quả màu xanh lá cây giống màu xanh trái cây cà chua anh đào, có thể chứa 300 hạt.</li></ul><div><strong><br>Các giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây khoai tây<br></strong><br></div><div><strong>Thời kỳ ngủ nghỉ<br></strong><br></div><ul><li>Thời kỳ ngủ nghỉ của khoai tây nghĩa là khoai tây mới thu hoạch và không có khả năng mọc mầm</li><li>Các yếu tố tác động đến thời kỳ ngủ nghỉ của cây khoai tây phụ thuộc vào giống, sự chà sát cơ giới và cả hóa chất nữa</li><li>Sau khi được phá ngủ củ khoai tây mới có khả năng mọc mầm</li></ul><div><br></div><div><em>Cây khoai tây<br></em><br></div><div><strong><br>Thời kỳ mọc mầm<br></strong><br></div><ul><li>Thời kỳ mọc mầm là giai đoạn phát triển đầu tiên&nbsp;</li><li>Ở các mắt củ khoai tây mọc các mầm nhỏ và các mầm này sẽ phát triển thành cây con</li><li>Các yếu tố dưới đây quyết định đến tốc độ mọc mầm của cây khoai tây:<ul><li>Củ giống: chọn củ không bị xây xát, thối hỏng mọc mầm nhanh, mầm khỏe</li><li>Nhiệt độ: 22-30<sup>o</sup>C, nếu nhiệt độ thấp hơn sẽ khiến cây khó mọc mầm</li><li>Độ ẩm đất: khoảng 80-85%, nếu đất quá khô cũng sẽ khiến cây chậm mọc mầm, nếu đất quá ẩm sẽ làm cho củ bị thối</li></ul></li><li>Củ đúng tuổi sẽ mọc mầm nhanh hơn so với củ non</li><li>Nếu trong điều kiện nhiệt độ ấm áp sẽ kích thích củ mọc mầm rất nhanh</li><li>Trong một mắt củ, mầm ở giữa sẽ mọc mầm trước</li><li>Các mầm ở phần đỉnh củ mọc nhanh và khoẻ hơn mầm ở phần gốc củ</li><li>Trên một củ, các mầm mọc trước thường phát triển nhanh hơn và ức chế các mầm ở gốc. Khi mầm này bị gãy các mầm khác sẽ có cơ hội phát triển.</li></ul><div><br></div><div><em>Thời kỳ ra hoa của cây khoai tây<br></em><br></div><div><strong><br>Thời kỳ hình thành tia củ<br></strong><br></div><ul><li>Sau khi mọc được khoảng 15-20 ngày cây khoai tây sẽ hình thành tia củ rất sớm</li><li>Tùy thuộc vào giống, chế độ chăm sóc cũng như thời vụ giống mà thời kỳ phát triển tia củ có thể ngắn hoặc dài, thường kéo dài khoảng 30-45 ngày</li><li>Nhiệt độ thích hợp: 17-20<sup>o</sup>C</li><li>Độ ẩm thích hợp: 70-80%</li><li>Đất phải tơi xốp, thoáng, sạch sẽ</li></ul><div><strong><br>Thời kỳ thân củ phát triển<br></strong><br></div><ul><li>Đây là giai đoạn các chất dinh dưỡng được vận chuyển hết đến củ giúp củ lớn nhanh và làm cho củ phình to</li><li>Thời kỳ này kéo dài khoảng 25-30 ngày tùy thuộc vào giống</li><li>Củ phát triển rất nhanh nếu nhiệt độ ngày và đêm chênh lệch cao.</li><li>Nhiệt độ thấp, ánh sáng ngày ngắn, đất đủ ẩm và được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng sẽ giúp củ phát triển rất nhanh</li><li>Các yếu tố quyết định đến năng suất cây khoai tây: thời vụ trồng thích hợp, cách chăm sóc như tưới nước, bón phân</li></ul><div><br></div><div><strong><br>Các bệnh thường gặp trên cây khoai tây<br></strong><br></div><ul><li>Bệnh mốc sương</li><li>Bệnh xoăn lá</li><li>Bệnh héo xanh và héo vàng</li></ul><div><strong><br>Các loại sau bệnh hại trên cây khoai tây<br></strong><br></div><ul><li>Sâu xám</li><li>Sâu đục thân</li><li>Thối thân, thối&nbsp; ướt củ</li><li>Sâu vẽ bùa</li><li>Rầy phấn trắng, bọ phấn</li><li>Rầy xanh</li><li>Sùng trắng</li><li>Rệp đào, rày mềm</li><li>Rệp sáp</li></ul><div><strong><br>Kỹ thuật trồng cây khoai tây đạt năng suất cao<br></strong><br></div><div><strong>Chọn mầm khoai tây<br></strong><br></div><ul><li>Chọn củ khoai tây già có nhiều mầm dài từ 2-3cm</li><li>Có thể trồng khoai tây bằng nguyên cả củ hoặc trồng bằng miếng bổ đế tiết kiệm củ giống</li><li>Cắt củ khoai tây theo chiều dọc củ thành 2 miếng, mỗi miếng bổ phải có ít nhất từ 1-2 mầm trở lên</li><li>Bà con nên chấm mặt cắt miếng khoai tây vào xi măng khô để củ giống không bị thối</li><li>Bảo quản mầm khoai tây 2 ngày sau đó mới đem trồng</li><li>Bảo quản mầm khoai tây nơi có ánh sáng, thoáng mát, khô ráo trong nhiệt độ 18-20<sup>o</sup>C trước khi đem trồng</li><li>Không nên cho mầm khoai tây vào bao hoặc túi ẩm</li></ul><div><br></div><div><strong><br>Trồng khoai tây<br></strong><br></div><ul><li>Không nên làm luống thấp, luống cao từ 30-40cm và rộng từ 1-1,2m</li><li>Bà con nên rạch hàng theo chiều dọc luống, sau đó bón lót phân chuồng, lân và đạm xuống đáy rồi lấp một lớp đất mỏng lên trên</li><li>Nên tưới nước nếu đất quá khô sẽ giúp cây mọc mầm nhanh</li><li>Vùi sâu mầm khoai tây vào đất từ 10 - 15cm, đặt mầm khoai tây theo khoảng cách mỗi mầm cách nhau 20 - 25cm, chú ý đặt mầm nằm ngang sau đó lấp một lớp đất dày 5cm phủ lên. Rải một lớp rơm rạ lên để giữ độ ẩm.</li></ul><div><strong><br>Chăm sóc khoai tây<br></strong><br></div><ul><li>Sau khi trồng khoảng 10-15 ngày nên tưới nước để giữ ẩm cho đất và giúp cây mọc mầm đều</li><li>Sau khoảng 20-25 ngày bà con cần bón phân hữu cơ xung quanh các gốc khoai tây có tác dụng kích thích ra nhiều củ hơn</li><li>Sau 40-50 ngày: bà con nên bón thúc phân chuồng hoai mục, lân, ure và kali. Cách khoảng 15 ngày lại bón lần 2 và lần 3</li><li>Bà con cần vun đất cao vào gốc cây, và cũng không nên cuốc xới nhiều sẽ làm ảnh hưởng đến sự hình thành củ.</li><li>Nên tưới nhiều nước khi cây bị héo lá và thân, và 2 tuần sau thì cắt toàn bộ dây khoai và không tưới nước nữa. Bà cọn đợi khoảng 10-15 ngày sau rồi thu hoạch củ khoai tây.</li><li><br></li></ul><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1395763171/26646109cec5d77ec373f3a02185fa34/cay_khoai_tay.jpg" />
         <pubDate>2021-11-22 01:55:43 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905046855</guid>
      </item>
      <item>
         <title>37 - LÊ NGỌC THANH THƯ</title>
         <author>thanhthu1040</author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905049409</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1329786566/3c91216604b6d50322456efb35261289/c__ph_.docx" />
         <pubDate>2021-11-22 01:57:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905049409</guid>
      </item>
      <item>
         <title>21- HOÀNG TRẦN MINH NhẬT</title>
         <author>hoangtranminhnhat1512</author>
         <link>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905068961</link>
         <description><![CDATA[<div><a href="https://drive.google.com/file/d/1zCufefHd7R6l8KVfJ0etEDwdxgcUCcY0/view?usp=drivesdk">https://drive.google.com/file/d/1zCufefHd7R6l8KVfJ0etEDwdxgcUCcY0/view?usp=drivesdk</a></div>]]></description>
         <enclosure url="https://drive.google.com/file/d/1zCufefHd7R6l8KVfJ0etEDwdxgcUCcY0/view?usp=drivesdk" />
         <pubDate>2021-11-22 02:10:33 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/vuhuyenthy198/TKN_NNVN_A4/wish/1905068961</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
