<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title>4A1.Cuộc thi tìm hiểu về Hà Nội by </title>
      <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl</link>
      <description></description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2022-09-27 03:29:28 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2023-03-16 15:18:16 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url>https://padlet.net/icons/png/1f468-1f4bb.png</url>
      </image>
      <item>
         <title>Mẫu: Đỗ Hoàng Yến Nhi </title>
         <author>edisonkhoi4</author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2314802542</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Sự tích thành Cổ Loa</strong><br>Cổ Loa là kinh đô của nước Âu Lạc dưới thời trị vì của An Dương Vương và nước Đại Việt dưới thời trị vì của Ngô Quyền. Các nhà khảo cổ học đã nhận định đây là ” tòa thành cổ nhất, có quy mô lớn nhất và cũng là nơi có cấu trú độc đáo nhất lịch sử xây dựng thành lũy của người Việt Cổ “.<br>Thành Cổ Loa gắn liền với sự tích ” Chiếc Nỏ Thần “, khi vua An Dương Vương định đô xây thành ( thế kỷ III TCN ). Qua hình ảnh chiếc nỏ thần Kim Quy 1 phát bắn có thể hạ cả trăm quân địch đã ca ngơi ý chí quật cường và sức mạnh của nước Âu Lạc ta ngày ấy.<br>Sau chiến công vĩ đại đánh thắng 50 vạn quân xâm lược nhà Tần, Thục Dương Vương quyết định xây thành Cổ Loạ</div><div>Tục truyền rằng Thục An Dương Vương xây thành nhiều lần nhưng đều đổ. Sau nhờ có thần Kim Quy hiện lên, bò quanh nhiều vòng dưới chân thành, Thục An Dương Vương bèn cho xây theo dấu chân rùa vàng. Từ đó, thành xây không đổ nữạ Sự thực về truyền thuyết đó ra sao chúng ta vẫn không biết.</div><div>Thời đó, tổ tiên chưa có gạch nung, vì vậy thành Cổ Loa được xây bằng đất ở chính địa phương. Thành có 9 vòng. Chu vi vòng ngoài 8 km, vòng giữa 6.5 km, vòng trong 1.6 km. Diện tích thành trung tâm lên tới 2 km vuông. Thành được xây theo phương pháp đào đất đến đâu, khoét hào đến đó, thành đắp đến đâu, lũy xây đến đó. Mặt ngoài lũy, dốc thẳng đứng, mặt trong xoải để đánh vào thì khó, trong đánh ra thì dễ. Lũy cao trung bình từ 4-5m, có chỗ 8-12m. Chân lũy rộng 20-30m, mặt lũy rộng 6-12m. Khối lượng đất đào đắp ước tính tới 2.2 triệu mét khốị Xem vậy công trình Cổ Loa thật đồ sộ, trong khi khu vực Cổ Loa được coi là một nền đất yếụ Chính vì vậy, việc xây dựng thành Cổ Loa cực kỳ khó khăn. Thành bị đổ nhiều lần. Nhưng điều đáng tự hào là cuối cùng thành đã đứng vững. Thục An Dương Vương đã biết dựa vào những kinh nghiệm thực tế để gia cố nền móng khắc phục khó khăn. Vết chân rùa thần chính là bí mật đã được tổ tiên khám phá. Ngày nay, khi xẻ dọc thành để nghiên cứu, các nhà khảo cổ học thấy rõ chân thành được chẹn một lớp đá tảng. Hòn nhỏ có đường kính 15cm, hòn lớn 60cm. Cần bao nhiêu đá để mà xây thành một công trình như vậy thật là không đếm nổị</div><div>Thành Cổ Loa không chỉ là một công trình to lớn và lâu đời nhất của dân tộc mà còn là công trình để bảo vệ sự an nguy của quân sự Xung quanh Cổ Loa, một mạng lưới thủy văn dầy đặc, tạo thành một vùng khép kín, thuận lợi cho việc xây dựng một căn cứ thủy binh hùng ma.nh. Thửơ ấy, sông Thiếp-Ngũ Huyền Khê-Hoàng Giang thông với sông Cầu ở Thổ Hà, Quả Cảm (Hà Bắc) thông với sông Hồng ở Vĩnh Thanh (Ddông Anh). BởI vậy, ngay sau khi xây thành, Thục An Dương Vương đã chiêu tập những thợ mộc giỏi, sử dụng gỗ ở địa phương đóng thuyền chiến. Với thuật đi sông vượt bể là sở trường của người Lạc Việt, chẳng bao lâu, các đầm phá quanh thành Cổ Loa biến thành thủy quân cảng. Rồi dân được điều tới khai phá vừng rừng đa (Gia Lâm), rừng mơ (Mai Lâm), rừng dâu da (Du Lâm), thành ruô.ng. Những hiệp thợ chuyên rèn vũ khí xuất hiện. Một bên là côn, kiếm, dáo, mác đủ loại, bàn tay sáng tạo của cha ông đã chế tạo nỏ liên châu, mỗi phát bắn ra hàng chục mũi tên. Cũng tại Cổ Loa, kỹ thuật đúc đồng cổ đã được vua Thục khuyến khích. Hàng chục ngàn mũi tên đồng, những mũi tên lợi hại, có độ chính xác cao, kỹ thuật tinh vi, dùng cho nỏ liên châu đã được bàn tay thợ tài ba sản xuất.</div><div>Với vị trí thuận lợi đó, với cái sắp xếp thành có 9 lớp xoáy trôn ốc, 18 ụ gò cao nhô hẳn ra chân lũy để có thể từ cao bắn xuống, và vũ khí nỏ thần và những mũi tên đồng lợi hại, sức mạnh quân sự tổng hợp của Cổ Loa thời đó thật đáng sợ</div><div>Thành Cổ Loa là sự đúc kết tuyệt vời về trí tuệ của cha ông, là công trình sáng tạo vĩ đại của dân Việt.<br>https://hoc24.vn/cau-hoi/giup-mik-tom-tat-cau-chuyen-an-duong-vuong-xay-thanh-co-loa-mn-nhe.93893089944</div>]]></description>
         <enclosure url="https://hoc24.vn/cau-hoi/giup-mik-tom-tat-cau-chuyen-an-duong-vuong-xay-thanh-co-loa-mn-nhe.93893089944" />
         <pubDate>2022-09-27 03:36:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2314802542</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hướng dẫn thực hiện </title>
         <author>edisonkhoi4</author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2314844649</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1325836028/e2934858b5e14d3151b845eb1b422435/image.png" />
         <pubDate>2022-09-27 04:20:17 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2314844649</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Sự tích Hồ Gươm</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2315613689</link>
         <description><![CDATA[<div>Vào thời giặc Minh <sup>[1]</sup> xâm lược nước ta, đi đến đâu chúng cũng tàn sát người dân vô tội, cướp bóc của cải của nhân dân. Cuộc sống của người dân vô cùng cực khổ, và lầm than. Thấy cuộc sống của trăm dân như vậy một số người có lòng yêu nước đã tụ họp lại với nhau cùng bàn bạc làm một cuộc khởi nghĩa để chống lại sự tàn ác và bạo ngược của quân giặc. Trong đó có nghĩa quân ở vùng Lam Sơn.<br><br></div><div>Tuy nhiên, nghĩa quân cũng chỉ toàn là những người nông dân áo vải, binh khí thì thô sơ mà chưa thu hút được nhiều người nên chưa có đủ sức mạnh để chiến đấu chống lại quân giặc. Rất nhiều lần nghĩa quân đã đứng lên khởi nghĩa nhưng lần nào cũng bị binh tướng nhà Minh đánh cho bại trận. Đức Long Quân <sup>[2]</sup> nhìn thấy tấm lòng chiến đấu quả cảm và tinh thần yêu nước của nghĩa quân, liền quyết định cho nghĩa quân mượn thanh gươm thần để tăng thêm sức mạnh và sĩ khí chiến đấu cho họ.<br><br></div><div>Hồi ấy ở Thanh Hóa, có một người đi đánh cá dưới sông, khi kéo lên thấy lưới rất nặng. Anh ta nghĩ thầm trong bụng: “Phen này chắc là được nhiều cá lắm đây!“. Tuy nhiên khi lưới được kéo lên thì không có một con cá nào mà chỉ là một lưỡi gươm cũ. Anh ta liền vứt lưỡi gươm trở lại sông, lần thứ hai chàng kéo lưới, lưỡi gươm ấy lại vướng vào. Lần này anh quăng lưỡi gươm đi xa hơn nữa.<br><br></div><div>Đến lần thứ ba kéo lưới vẫn là lưỡi gươm đó mắc vào. Thấy lạ, anh liền cầm lưỡi gươm cũ lên và mang về để trong góc nhà. Người đó tên là Lê Thận – một nông dân quê ở Thanh Hóa, có lòng yêu nước nồng nàn, từ lâu đã có ý muốn gia nhập cùng nghĩa quân Lam Sơn <sup>[3]</sup>.<br><br></div><div>Lực lượng của nghĩa quân Lam Sơn lúc bấy giờ đã ngày càng đông, muốn chiêu binh thêm những người tài giỏi và có lòng yêu nước tham gia. Lê Thận có sức khỏe cùng với lòng yêu nước mong đánh đuổi giặc ngoại xâm từ lâu nên đã gia nhập nghĩa quân. Anh tham gia những trận chiến quan trọng và góp nhiều công sức trong các trận thắng lớn, được Lê Lợi vô cùng tin tưởng.<br><br></div><div>Một lần Lê Lợi đưa quân qua vùng Thanh Hóa đã vào nhà Lê Thận để nghỉ ngơi. Vừa vào tới nhà, Lê Lợi và các tướng lĩnh thấy lưỡi gươm cũ vứt ở xó nhà của Lê Thận phát ra ánh hào quang sáng chói. Mọi người tiến lại cầm lên xem thì thấy trên lưỡi gươm có khắc hai chữ “thuận thiên” <sup>[4]</sup>. Tất cả vô cùng ngạc nhiên nhưng cũng không nghĩ đó là báu vật, chỉ cho đó là lưỡi gươm bình thường mà thôi.<br><br></div><div><br><em>Truyện sự tích Hồ Gươm<br></em><br></div><div>Thời gian sau, nghĩa quân tổ chức rất nhiều trận đánh trả quân Minh. Trong một đánh không may nghĩa quân bại trận, Lê Lợi bị quân giặc đuổi theo vào trong rừng sâu. Khi đang chạy trốn, ông nhìn thấy có một vật sáng chói trên cành cây. Lấy làm tò mò, Lê Lợi liền trèo lên cành cây thì thấy một cái chuôi gươm nạm ngọc <sup>[5]</sup> sáng lấp lánh. Lại nhớ tới hôm ở nhà Lê Thận có lưỡi gươm phát sáng Lê Lợi liền cầm chuôi gươm về.<br><br></div><div>Vài hôm sau, gặp Lê Thận, Lê Lợi kể lại chuyện nhặt được chuôi gươm phát sáng và bảo Lê Thận cho mượn lưỡi gươm cũ. Không ngờ sau khi cho lưỡi gươm vào trong chuôi gươm thì lại vừa in như một cặp, lưỡi gươm trở lên sáng chói và sắc nhọn vô cùng.<br><br></div><div>Lê Thận và mọi người ở đó đều quỳ rạp dưới chân Lê Lợi mà rằng: “Có lẽ đây là gươm báu trời ban, giúp nghĩa quân đánh giặc xâm lược. Nay xin chủ tướng cầm gươm báu để lãnh đạo nghĩa quân đánh đuổi giặc Minh ra khỏi bờ cõi nước ta, để cho muôn dân được hưởng cuộc sống yên bình”.<br><br></div><div>Lê Lợi nhận thanh gươm từ tay Lê Thận, hứa sẽ dốc hết lòng lãnh đạo nghĩa quân thuận theo ý trời.<br><br></div><div>Kể từ đó, nghĩa quân đánh đâu thắng đó, trăm trận trăm thắng. Dần dần lực lượng quân Minh bị suy yếu, nghĩa quân không còn phải trốn ở trong rừng nữa, mà chuyển sang đối đầu trực diện. Kho lương thực cũng ngày càng đầy đủ do chiếm được của quân giặc càng giúp cho quân lính cóthêm khí thế chiến đấu hơn trước.<br><br></div><div>Chẳng bao lâu sau, dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi và nhờ gươm thần mà nghĩa quân đã đánh bại quân Minh. Giặc sợ hãi bỏ tháo chạy về phương Bắc <sup>[6]</sup>, muôn dân lại được thái bình.<br><br></div><div>Sau khi đánh đuổi hết giặc Minh, Lê Lợi lên ngôi vua để trị vì và thống nhất đất nước.<br><br></div><div>Một năm sau, khi nhà vua cùng các bề tôi thân tín ngồi thuyền đi dạo trên hồ Tả Vọng trước kinh thành. Đức Long Quân sai rùa vàng lên để lấy lại thanh gươm thần.<br><br></div><div>Khi thuyền ra tới giữa hồ thì bất ngờ từ dưới làn nước trong xanh, có một con rùa vàng ngoi đầu lên, cất tiếng:<br><br></div><div>– Thưa nhà vua, lúc trước Đức Long Quân có cho nhà vua mượn thanh gươm thần để đánh giặc. Nay nghiệp lớn đã hoàn thành, xin nhà vua hãy trả lại gươm thần!<br><br></div><div>Lê Lợi nghe xong, liền cởi thanh gươm bên mình ra, cầm hai tay và dâng lên trước mặt rùa vàng. Thanh gươm bất ngờ bay khỏi tay nhà vua sang miệng rùa vàng. Rùa vàng ngậm lấy gươm, lặn xuống hồ biến mất.<br><br></div><div>Từ đó, hồ Tả Vọng được đặt tên là <a href="https://thegioicotich.vn/su-tich-ho-guom/">Hồ Gươm</a> hay hồ Hoàn Kiếm.<br>thegioicotich.vn</div><div><br></div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-09-27 13:49:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2315613689</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Sự tích chùa một cột</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2315631862</link>
         <description><![CDATA[<div>Ngày xưa, vào đời Lý, vua Lý Thái Tôn là một tín đồ nhiệt thành của đạo Phật, theo phái Vô Ngôn Thông.<br>Thuở bấy giờ, đạo Phật đang độ bành trướng, riêng triều đại này nhà vua truyền xây 95 ngôi chùa mới, trùng tu lại tất cả những tượng Phật và trong các dịp lễ lớn này đều ban tha thuế cho toàn dân.<br>Năm 1049, một hôm vua Thái Tôn nằm mộng thấy Phật Bà Quan Âm hiện ra, đưa nhà vua đến một tòa sen rạng ngời ánh sáng. Sau khi tỉnh dậy, Vua thuật lại câu chuyện chiêm bao cho quần thần hay. Thiền tăng Thuyền Lã, vị sư đã hướng dẫn nhà sư trên đường đạo hạnh, bàn cùng nhà vua nên dựng một ngôi chùa để nhớ ơn đức Quan Âm.<br><br></div><div><br></div><div>Chùa Diên Hựu được dựng lên theo hình hoa sen, ở trên một cái cột lớn độc nhất giữa một cái ao trồng toàn sen gần kinh đô. Ngôi chùa kiến trúc đặc biệt theo nghệ thuật Đại la đời nhà Lý, tục gọi là chùa Một Cột. Ngày nay vẫn còn ở đất cố đô Thăng Long, ghi lại cuộc gặp gỡ kỳ ảo giữa ông vua mộ đạo với Phật Bà Á Đông.<br>Khảo dị:<br>Chùa một cột ở phía tây Thủ đô, thuộc thôn Ngọc Thanh, khu Ngoc Hà. Nơi đó nguyên có một cái hồ hình vuông, giữa hồ có một cột đá, cao chừng hai trượng, chu vi chín thước, đầu trụ đặt một tòa chùa ngói đỏ, hình như một đóa hoa sen dưới nước mọc lên, người ta gọi là chùa Nhất Trụ hay là chùa Một Cột. Chùa xây từ năm 1049, tức là năm đầu niên hiệu Sùng Hưng Đại Bảo vua Thái Tôn nhà Lý.<br>Tục truyền khi ấy vua Thái Tôn tuổi đã cao mà chưa có con trai, thường đến cầu tự ở các chùa. Một đêm nằm chiêm bao thấy đức Phật Quan Âm hiện trên đài hoa sen trong một cái hồ vuông ở phía tây thành, tay bế một đứa con trai đưa cho nhà vua.<br>Sau đó nhà vua quả sinh được con trai. Nhà vua liền sai lập chùa Một Cột để thờ Phật Quan Âm. Khi chùa làm xong, nhà vua triệu tập hàng ngàn Tăng Ni đứng chầu chung quanh, tụng kinh suốt bảy ngày đêm, và lập thêm một ngôi chùa lớn ở ngay bên cạnh để thờ chư Phật, gọi là chùa Diên Hựu.<br><br></div><div><br>Năm 1105, vua Nhân Tôn nhà Lý cho sửa lại chùa, dựng lên một cây tháp bằng đá trắng gọi là tháp Bạch Tuynh, cao 13 trượng ở trước chùa Diên Hựu. Từ tháp Bạch Tuynh vào chùa Một Cột, đi bằng một hành lang cầu vồng. Mỗi tháng hai ngày rằm, mùng một, nhà vua cùng các hậu phi,cung tần và cận thần tới chùa lễ Phật. Đặc biệt là hằng năm cứ đến ngày tám tháng tư là ngày Phật Đản, nhà vua lại ngự ra chùa trước một đêm, giữ mình chay tịnh, ngày hôm sau làm lễ tắm Phật. Rất đông Tăng Ni và nhân dân các nơi tới dự, làm nên ngày hội lớn hàng năm ở thủ đô. Ngày ấy, trước chùa lại có một lễ lớn gọi là Lễ Phóng sinh. Lễ tắm Phật xong rồi, nhà vua đứng lên đài cao, tay cầm một con chim thả cho bay đi, rồi các tăng Ni và các nam nữ thiện tín, đua nhau mỗi người thả một con, bóng bay rợp trời.<br>Năm 1922, trường Viễn Đông Bác Cổ có sửa chữa lại, giữ theo đúng như quy chế cũ.<br>Đêm ngày 11 thánh 9 năm 1954, tay sai của thực dân Pháp, trước khi phải giao trả thủ đô cho Chính phủ và nhân dân ta, đã cố ý đặt mìn để phá hoại chùa Một Cột. Ngày sau khi tiếp quản thủ đô, chính phủ ta đã cho chiếu theo đồ dạng cũ, sửa chữa lại ngay; tháng 4 năm 1955, chùa Một Cột lại được hoàn nguyên như cũ.<br>Từ đầu 1958, cây bồ đề của đất Phật Ấn Độ kính tặng Hồ Chủ tịch nhân dịp Người đi thăm Ấn Độ, được đem trồng trong chùa.<br>Nói đến chùa Một Cột này, có một việc cần phải nói rõ là : chúng ta đọc sử về đời Lý-Trần, vẫn thấy nói đến “ An Nam tứ khí” nghĩa là bốn thứ kiến trúc lớn ở nước Nam[2], mà quả chuông ở trước Chùa Một Cột là một.<br>Theo sử cũ chép : Cũng về đời vua Nhân Tôn nhà Lý, vào năm Long Phù thứ tám (1108), nhà vua cho xuất kho một vạn hai ngàn cân đồng để đúc một quả chuông lớn gọi là Giác Thế Chung ( quả chuông thức tỉnh người đời) để treo ở chùa Diên Hựu, định mỗi khi đánh một tiếng chuông, tiếng sẽ vang đi mấy dặm. Xây một tòa phương đình toàn bằng đá xanh, cao 8 trượng, trên nóc đình bắc những đóng sắt to để treo chuông. Xây đình và đúc chuông, hơn một năm mới xong, hàng ngày các nơi phải thay nhau đưa dân phu đến phục dịch. Thân hình quả chuông không biết to lớn thế nào, chỉ biết khi đúc xong không thể nào treo chuông lên được, đành cứ phải để chuông đứng sát mặt đất, nên đánh chuông không kêu. Rồi bao nhiều lần dồn ép hàng ngàn người xúm vào ra sức vần xoay, kết cục chỉ vật ngã được quả chuông lăn kềnh trên mặt ruộng. Lúc đầu người ta còn làm mái che chuông, lâu ngày chẳng ai đoái hoài, mặc cho chuông nằm phơi mưa gió. Nơi chuông nằm lại vốn là một ruộng nước, lòng chuông trở thành cái tổ êm ấm cho từng đàn rùa chui ra chui vào. Vì vậy chuông lại được mang cái tên là chuông ruộng rùa.<br>Chuông bị dải dầu như thế đến hơn ba trăm năm. Năm 1427, bọn phong kiến nhà Minh sang xâm chiếm nước ta đã hai mươi năm, bị quân dân ta do Bình Định Vương lãnh đạo kháng chiến anh dũng, phải rút về cố thủ ở thành Đông Quan ( tức Hà Nội), rồi bị quân ta vây hãm hơn hai tháng, lương thực bị thiếu thốn, khí giới đạn dược cũng hao mòn, chúng phải vơ vét hết các đồ đồng ở dân gian, rồi đến cả phần thân trên bằng đồng của tháp Báo Thiên và quả chuông ruộng rùa này để đúc sung đạn, nhưng kết cục chúng cũng phải đầu hàng quân ta, cuốn giác về nước.<br>Về sự tích chùa Một Cột này lại có một truyền thuyết nói rằng: Bà Linh Nhân Thái hậu, vợ vua Thái Tôn nhà Lý, không sinh đẻ, tính lại cả ghen, bà sai Thái giám bắt giam 72 cung nữ có nhan sắc, thường được chầu hầu nhà vua, giam vào phòng tối ở cung Thượng Dương; tới khi vua Thái Tôn mất, bà lại bắt 72 người ấy phải chịu chôn sống để chết theo vua.Sau bà hối hận, dựng 72 ngôi chùa để siêu độ các oan hồn. Chùa Một Cột này là một trong 72 ngôi chùa ấy.<br>truyencotich.vn<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-09-27 13:57:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2315631862</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Truyền thuyết về hồ gươm</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2315660422</link>
         <description><![CDATA[<div><a href="https://thegioicotich.vn/su-tich-ho-guom/#main">Skip to content</a></div><div><a href="https://thegioicotich.vn/truyen-truyen-thuyet/"><strong>TRUYỆN TRUYỀN THUYẾT<br></strong></a><br></div><h1>Sự tích hồ Gươm [Truyện truyền thuyết Việt Nam]</h1><div><br></div><div><strong>Truyện Sự tích Hồ Gươm<br></strong><br></div><div><a href="https://thegioicotich.vn/su-tich-ho-guom/"><strong><em><br>Sự tích Hồ Gươm</em></strong></a><em> là truyện truyền thuyết ca ngợi chiến thắng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và giải thích nguồn gốc tên gọi của Hồ Gươm ngày nay.<br></em><br></div><div>Vào thời giặc Minh <sup>[1]</sup> xâm lược nước ta, đi đến đâu chúng cũng tàn sát người dân vô tội, cướp bóc của cải của nhân dân. Cuộc sống của người dân vô cùng cực khổ, và lầm than. Thấy cuộc sống của trăm dân như vậy một số người có lòng yêu nước đã tụ họp lại với nhau cùng bàn bạc làm một cuộc khởi nghĩa để chống lại sự tàn ác và bạo ngược của quân giặc. Trong đó có nghĩa quân ở vùng Lam Sơn.<br><br></div><div>Tuy nhiên, nghĩa quân cũng chỉ toàn là những người nông dân áo vải, binh khí thì thô sơ mà chưa thu hút được nhiều người nên chưa có đủ sức mạnh để chiến đấu chống lại quân giặc. Rất nhiều lần nghĩa quân đã đứng lên khởi nghĩa nhưng lần nào cũng bị binh tướng nhà Minh đánh cho bại trận. Đức Long Quân <sup>[2]</sup> nhìn thấy tấm lòng chiến đấu quả cảm và tinh thần yêu nước của nghĩa quân, liền quyết định cho nghĩa quân mượn thanh gươm thần để tăng thêm sức mạnh và sĩ khí chiến đấu cho họ.<br><br></div><div>Hồi ấy ở Thanh Hóa, có một người đi đánh cá dưới sông, khi kéo lên thấy lưới rất nặng. Anh ta nghĩ thầm trong bụng: “Phen này chắc là được nhiều cá lắm đây!“. Tuy nhiên khi lưới được kéo lên thì không có một con cá nào mà chỉ là một lưỡi gươm cũ. Anh ta liền vứt lưỡi gươm trở lại sông, lần thứ hai chàng kéo lưới, lưỡi gươm ấy lại vướng vào. Lần này anh quăng lưỡi gươm đi xa hơn nữa.<br><br></div><div>Đến lần thứ ba kéo lưới vẫn là lưỡi gươm đó mắc vào. Thấy lạ, anh liền cầm lưỡi gươm cũ lên và mang về để trong góc nhà. Người đó tên là Lê Thận – một nông dân quê ở Thanh Hóa, có lòng yêu nước nồng nàn, từ lâu đã có ý muốn gia nhập cùng nghĩa quân Lam Sơn <sup>[3]</sup>.<br><br></div><div>Lực lượng của nghĩa quân Lam Sơn lúc bấy giờ đã ngày càng đông, muốn chiêu binh thêm những người tài giỏi và có lòng yêu nước tham gia. Lê Thận có sức khỏe cùng với lòng yêu nước mong đánh đuổi giặc ngoại xâm từ lâu nên đã gia nhập nghĩa quân. Anh tham gia những trận chiến quan trọng và góp nhiều công sức trong các trận thắng lớn, được Lê Lợi vô cùng tin tưởng.<br><br></div><div>Một lần Lê Lợi đưa quân qua vùng Thanh Hóa đã vào nhà Lê Thận để nghỉ ngơi. Vừa vào tới nhà, Lê Lợi và các tướng lĩnh thấy lưỡi gươm cũ vứt ở xó nhà của Lê Thận phát ra ánh hào quang sáng chói. Mọi người tiến lại cầm lên xem thì thấy trên lưỡi gươm có khắc hai chữ “thuận thiên” <sup>[4]</sup>. Tất cả vô cùng ngạc nhiên nhưng cũng không nghĩ đó là báu vật, chỉ cho đó là lưỡi gươm bình thường mà thôi.<br><br></div><div><br><em>Truyện sự tích Hồ Gươm<br></em><br></div><div>Thời gian sau, nghĩa quân tổ chức rất nhiều trận đánh trả quân Minh. Trong một đánh không may nghĩa quân bại trận, Lê Lợi bị quân giặc đuổi theo vào trong rừng sâu. Khi đang chạy trốn, ông nhìn thấy có một vật sáng chói trên cành cây. Lấy làm tò mò, Lê Lợi liền trèo lên cành cây thì thấy một cái chuôi gươm nạm ngọc <sup>[5]</sup> sáng lấp lánh. Lại nhớ tới hôm ở nhà Lê Thận có lưỡi gươm phát sáng Lê Lợi liền cầm chuôi gươm về.<br><br></div><div>Vài hôm sau, gặp Lê Thận, Lê Lợi kể lại chuyện nhặt được chuôi gươm phát sáng và bảo Lê Thận cho mượn lưỡi gươm cũ. Không ngờ sau khi cho lưỡi gươm vào trong chuôi gươm thì lại vừa in như một cặp, lưỡi gươm trở lên sáng chói và sắc nhọn vô cùng.<br><br></div><div>Lê Thận và mọi người ở đó đều quỳ rạp dưới chân Lê Lợi mà rằng: “Có lẽ đây là gươm báu trời ban, giúp nghĩa quân đánh giặc xâm lược. Nay xin chủ tướng cầm gươm báu để lãnh đạo nghĩa quân đánh đuổi giặc Minh ra khỏi bờ cõi nước ta, để cho muôn dân được hưởng cuộc sống yên bình”.<br><br></div><div>Lê Lợi nhận thanh gươm từ tay Lê Thận, hứa sẽ dốc hết lòng lãnh đạo nghĩa quân thuận theo ý trời.<br><br></div><div>Kể từ đó, nghĩa quân đánh đâu thắng đó, trăm trận trăm thắng. Dần dần lực lượng quân Minh bị suy yếu, nghĩa quân không còn phải trốn ở trong rừng nữa, mà chuyển sang đối đầu trực diện. Kho lương thực cũng ngày càng đầy đủ do chiếm được của quân giặc càng giúp cho quân lính cóthêm khí thế chiến đấu hơn trước.<br><br></div><div>Chẳng bao lâu sau, dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi và nhờ gươm thần mà nghĩa quân đã đánh bại quân Minh. Giặc sợ hãi bỏ tháo chạy về phương Bắc <sup>[6]</sup>, muôn dân lại được thái bình.<br><br></div><div>Sau khi đánh đuổi hết giặc Minh, Lê Lợi lên ngôi vua để trị vì và thống nhất đất nước.<br><br></div><div>Một năm sau, khi nhà vua cùng các bề tôi thân tín ngồi thuyền đi dạo trên hồ Tả Vọng trước kinh thành. Đức Long Quân sai rùa vàng lên để lấy lại thanh gươm thần.<br><br></div><div>Khi thuyền ra tới giữa hồ thì bất ngờ từ dưới làn nước trong xanh, có một con rùa vàng ngoi đầu lên, cất tiếng:<br><br></div><div>– Thưa nhà vua, lúc trước Đức Long Quân có cho nhà vua mượn thanh gươm thần để đánh giặc. Nay nghiệp lớn đã hoàn thành, xin nhà vua hãy trả lại gươm thần!<br><br></div><div>Lê Lợi nghe xong, liền cởi thanh gươm bên mình ra, cầm hai tay và dâng lên trước mặt rùa vàng. Thanh gươm bất ngờ bay khỏi tay nhà vua sang miệng rùa vàng. Rùa vàng ngậm lấy gươm, lặn xuống hồ biến mất.<br><br></div><div>Từ đó, hồ Tả Vọng được đặt tên là <a href="https://thegioicotich.vn/su-tich-ho-guom/">Hồ Gươm</a> hay hồ Hoàn Kiếm <sup>[7]</sup>.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-09-27 14:11:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2315660422</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Sự tích hồ hoàn kiếm</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2315678329</link>
         <description><![CDATA[<div><br></div><div>Vào thời giặc Minh đặt ách đô hộ ở nước Nam, chúng coi dân ta như cỏ rác, làm nhiều điều bạo ngược, thiên hạ căm giận chúng đến xương tủy. Bấy giờ ở vùng Lam Sơn, nghĩa quân nổi dậy chống lại chúng, nhưng trong buổi đầu thế lực còn non yếu nên nhiều lần nghĩa quân bị thua. Thấy vậy, đức Long Quân quyết định cho nghĩa quân mượn thanh gươm thần để họ giết giặc.<br><br></div><div>Hồi ấy, ở Thanh Hóa có một người làm nghề đánh cá tên là Lê Thận. Một đêm nọ, Thận thả lưới ở một bến vắng như thường lệ. Khi kéo lưới lên, chàng thấy nằng nặng, trong bụng mừng thầm, chắc là có cá to. Nhưng khi thò tay vào bắt cá, Thận chỉ thấy có một thanh sắt; chàng vứt luôn xuống nước, rồi lại thả lưới ở một chỗ khác.<br><br></div><div>Lần thứ hai cất lưới lên cũng thấy nặng tay; Thận không ngờ thanh sắt vừa rồi lại chui vào lưới mình. Chàng lại nhặt lên và ném xuống sông. Lần thứ ba, lại vẫn thanh sắt ấy mắc vào lưới. Lấy làm quái lạ, Thận đưa lại mồi lửa nhìn xem. Bỗng chàng reo lên:<br><br></div><div>– Ha ha! Một lưỡi gươm!<br><br></div><div>Về sau Thận gia nhập đoàn quân khởi nghĩa Lam Sơn. Chàng hăng hái gan dạ không nề nguy hiểm. Một hôm chủ tướng Lê Lợi cùng mấy người tùy tòng đến nhà Thận. Trong túp lều tối om, thanh sắt hôm đó tự nhiên sáng rực lên ở xó nhà. Lấy làm lạ, Lê Lợi cầm lấy xem và thấy có hai chữ “Thuận Thiên” khắc sâu vào lưỡi gươm. Song tất cả mọi người vẫn không biết đó là báu vật.<br><br></div><div>Một hôm, bị giặc đuổi, Lê Lợi và các tướng chạy tháo thân mỗi người một ngả. Lúc đi qua một khu rừng, Lê Lợi bỗng thấy một ánh sáng lạ trên ngọn cây đa. Ông trèo lên mới biết đó là một cái chuôi gươm nạm ngọc. Nhớ đến lưỡi gươm ở nhà Lê Thận, Lê Lợi rút lấy chuôi giắt vào lưng.<br><br></div><div>Ba ngày sau, Lê Lợi gặp lại tất cả các bạn trong đó có Lê Thận. Lê Lợi mới đem chuyện bắt được chuôi gươm kể lại cho mọi người nghe. Khi đem tra gươm vào chuôi thì vừa như in.<br><br></div><div>Lê Thận nâng gươm lên ngang đầu nói với Lê Lợi:<br><br></div><div>– Ðây là Trời có ý phó thác cho minh công làm việc lớn. Chúng tôi nguyện đem xương thịt của mình theo minh công, cùng với thanh gươm thần này để báo đền Tổ quốc!<br><br></div><div>Từ đó nhuệ khí của nghĩa quân ngày một tăng tiến. Trong tay Lê Lợi, thanh gươm thần tung hoành khắp các trận địa, làm cho quân Minh bạt vía. Uy thanh của nghĩa quân vang khắp nơi. Họ không phải trốn tránh như trước mà xông xáo đi tìm giặc. Họ không phải ăn uống khổ cực như trước nữa, đã có những kho lương của giặc mới cướp được tiếp tế cho họ. Gươm thần đã mở đường cho họ đánh tràn ra mãi, cho đến lúc không còn bóng một tên giặc trên đất nước.<br><br></div><div>Một năm sau khi đuổi giặc Minh, một hôm Lê Lợi – bấy giờ đã làm vua – cưỡi thuyền rồng dạo quanh hồ Tả Vọng trước kinh thành. Nhân dịp đó, Long Quân sai rùa vàng lên đòi lại thanh gươm thần. Khi chiếc thuyền rồng tiến ra giữa hồ, tự nhiên có một con rùa lớn nhô đầu và mai lên khỏi mặt nước. Theo lệnh vua, thuyền đi chậm lại. Ðứng ở mạn thuyền, vua thấy lưỡi gươm thần đeo bên người tự nhiên động đậy. Con rùa vàng không sợ người, nhô đầu lên cao nữa và tiến về phía thuyền vua. Nó đứng nổi trên mặt nước và nói: “Xin bệ hạ hoàn gươm lại cho Long Quân!”.<br><br></div><div>Vua rút gươm quẳng về phía rùa vàng. Nhanh như cắt, rùa há miệng đớp lấy thanh gươm và lặn xuống nước. Gươm và rùa đã chìm đáy nước, người ta vẫn còn thấy vật gì sáng le lói dưới mặt hồ xanh.<br><br></div><div>Từ đó hồ Tả Vọng bắt đầu mang tên là hồ Gươm hay hồ Hoàn Kiếm.<br><a href="https://truyencotich.vn/truyen-co-tich/co-tich-viet-nam/su-tich-ho-hoan-kiem.html">https://truyencotich.vn/truyen-co-tich/co-tich-viet-nam/su-tich-ho-hoan-kiem.html</a></div>]]></description>
         <enclosure url="https://truyencotich.vn/truyen-co-tich/co-tich-viet-nam/su-tich-ho-hoan-kiem.html" />
         <pubDate>2022-09-27 14:19:31 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2315678329</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Sự tích Hồ Gươm</title>
         <author>MinarainbowUwU</author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2315695606</link>
         <description><![CDATA[<div>Vào thời giặc Minh <sup>[1]</sup> xâm lược nước ta, đi đến đâu chúng cũng tàn sát người dân vô tội, cướp bóc của cải của nhân dân. Cuộc sống của người dân vô cùng cực khổ, và lầm than. Thấy cuộc sống của trăm dân như vậy một số người có lòng yêu nước đã tụ họp lại với nhau cùng bàn bạc làm một cuộc khởi nghĩa để chống lại sự tàn ác và bạo ngược của quân giặc. Trong đó có nghĩa quân ở vùng Lam Sơn.</div><div>Tuy nhiên, nghĩa quân cũng chỉ toàn là những người nông dân áo vải, binh khí thì thô sơ mà chưa thu hút được nhiều người nên chưa có đủ sức mạnh để chiến đấu chống lại quân giặc. Rất nhiều lần nghĩa quân đã đứng lên khởi nghĩa nhưng lần nào cũng bị binh tướng nhà Minh đánh cho bại trận. Đức Long Quân <sup>[2]</sup> nhìn thấy tấm lòng chiến đấu quả cảm và tinh thần yêu nước của nghĩa quân, liền quyết định cho nghĩa quân mượn thanh gươm thần để tăng thêm sức mạnh và sĩ khí chiến đấu cho họ.</div><div>Hồi ấy ở Thanh Hóa, có một người đi đánh cá dưới sông, khi kéo lên thấy lưới rất nặng. Anh ta nghĩ thầm trong bụng: “Phen này chắc là được nhiều cá lắm đây!“. Tuy nhiên khi lưới được kéo lên thì không có một con cá nào mà chỉ là một lưỡi gươm cũ. Anh ta liền vứt lưỡi gươm trở lại sông, lần thứ hai chàng kéo lưới, lưỡi gươm ấy lại vướng vào. Lần này anh quăng lưỡi gươm đi xa hơn nữa.</div><div>Đến lần thứ ba kéo lưới vẫn là lưỡi gươm đó mắc vào. Thấy lạ, anh liền cầm lưỡi gươm cũ lên và mang về để trong góc nhà. Người đó tên là Lê Thận – một nông dân quê ở Thanh Hóa, có lòng yêu nước nồng nàn, từ lâu đã có ý muốn gia nhập cùng nghĩa quân Lam Sơn <sup>[3]</sup>.</div><div>Lực lượng của nghĩa quân Lam Sơn lúc bấy giờ đã ngày càng đông, muốn chiêu binh thêm những người tài giỏi và có lòng yêu nước tham gia. Lê Thận có sức khỏe cùng với lòng yêu nước mong đánh đuổi giặc ngoại xâm từ lâu nên đã gia nhập nghĩa quân. Anh tham gia những trận chiến quan trọng và góp nhiều công sức trong các trận thắng lớn, được Lê Lợi vô cùng tin tưởng.</div><div>Một lần Lê Lợi đưa quân qua vùng Thanh Hóa đã vào nhà Lê Thận để nghỉ ngơi. Vừa vào tới nhà, Lê Lợi và các tướng lĩnh thấy lưỡi gươm cũ vứt ở xó nhà của Lê Thận phát ra ánh hào quang sáng chói. Mọi người tiến lại cầm lên xem thì thấy trên lưỡi gươm có khắc hai chữ “thuận thiên” <sup>[4]</sup>. Tất cả vô cùng ngạc nhiên nhưng cũng không nghĩ đó là báu vật, chỉ cho đó là lưỡi gươm bình thường mà thôi.Thời gian sau, nghĩa quân tổ chức rất nhiều trận đánh trả quân Minh. Trong một đánh không may nghĩa quân bại trận, Lê Lợi bị quân giặc đuổi theo vào trong rừng sâu. Khi đang chạy trốn, ông nhìn thấy có một vật sáng chói trên cành cây. Lấy làm tò mò, Lê Lợi liền trèo lên cành cây thì thấy một cái chuôi gươm nạm ngọc <sup>[5]</sup> sáng lấp lánh. Lại nhớ tới hôm ở nhà Lê Thận có lưỡi gươm phát sáng Lê Lợi liền cầm chuôi gươm về.</div><div>Vài hôm sau, gặp Lê Thận, Lê Lợi kể lại chuyện nhặt được chuôi gươm phát sáng và bảo Lê Thận cho mượn lưỡi gươm cũ. Không ngờ sau khi cho lưỡi gươm vào trong chuôi gươm thì lại vừa in như một cặp, lưỡi gươm trở lên sáng chói và sắc nhọn vô cùng.</div><div>Lê Thận và mọi người ở đó đều quỳ rạp dưới chân Lê Lợi mà rằng: “Có lẽ đây là gươm báu trời ban, giúp nghĩa quân đánh giặc xâm lược. Nay xin chủ tướng cầm gươm báu để lãnh đạo nghĩa quân đánh đuổi giặc Minh ra khỏi bờ cõi nước ta, để cho muôn dân được hưởng cuộc sống yên bình”.</div><div>Lê Lợi nhận thanh gươm từ tay Lê Thận, hứa sẽ dốc hết lòng lãnh đạo nghĩa quân thuận theo ý trời.</div><div>Kể từ đó, nghĩa quân đánh đâu thắng đó, trăm trận trăm thắng. Dần dần lực lượng quân Minh bị suy yếu, nghĩa quân không còn phải trốn ở trong rừng nữa, mà chuyển sang đối đầu trực diện. Kho lương thực cũng ngày càng đầy đủ do chiếm được của quân giặc càng giúp cho quân lính cóthêm khí thế chiến đấu hơn trước.</div><div>Chẳng bao lâu sau, dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi và nhờ gươm thần mà nghĩa quân đã đánh bại quân Minh. Giặc sợ hãi bỏ tháo chạy về phương Bắc <sup>[6]</sup>, muôn dân lại được thái bình.</div><div>Sau khi đánh đuổi hết giặc Minh, Lê Lợi lên ngôi vua để trị vì và thống nhất đất nước.</div><div>Một năm sau, khi nhà vua cùng các bề tôi thân tín ngồi thuyền đi dạo trên hồ Tả Vọng trước kinh thành. Đức Long Quân sai rùa vàng lên để lấy lại thanh gươm thần.</div><div>Khi thuyền ra tới giữa hồ thì bất ngờ từ dưới làn nước trong xanh, có một con rùa vàng ngoi đầu lên, cất tiếng:</div><div>– Thưa nhà vua, lúc trước Đức Long Quân có cho nhà vua mượn thanh gươm thần để đánh giặc. Nay nghiệp lớn đã hoàn thành, xin nhà vua hãy trả lại gươm thần!</div><div>Lê Lợi nghe xong, liền cởi thanh gươm bên mình ra, cầm hai tay và dâng lên trước mặt rùa vàng. Thanh gươm bất ngờ bay khỏi tay nhà vua sang miệng rùa vàng. Rùa vàng ngậm lấy gươm, lặn xuống hồ biến mất.</div><div>Từ đó, hồ Tả Vọng được đặt tên là <a href="https://thegioicotich.vn/su-tich-ho-guom/">Hồ Gươm</a> hay hồ Hoàn Kiếm <sup>[7]</sup>.<br>Nguồn: Internet&nbsp;</div><div>Link: <a href="https://thegioicotich.vn/su-tich-ho-guom/">https://thegioicotich.vn/su-tich-ho-guom/</a><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1344982593/ad0ae011dbc119292a6db196d014d07b/33951F7C_936F_465F_88F7_C96FCEC3A536.png" />
         <pubDate>2022-09-27 14:27:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2315695606</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Sự Tích Thăng Long (Hà Nội Ngày Nay)</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2315704858</link>
         <description><![CDATA[<div>Trước hết, Thăng Long là tên gọi gắn liền với truyền thuyết về việc dời đô của vua Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) năm 1010. Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Mùa thu, tháng 7, vua dời kinh đô từ thành Hoa Lư sang kinh đô lớn là Đại La của Kinh phủ. Thuyền tạm đỗ ở dưới thành, có rồng vàng hiện ra ở bến ngự, vì thế đổi gọi là thành Thăng Long. Đổi chân Cổ Pháp làm phủ Thiên Đức, thành Hoa Lư làm phủ Trường Yên, sông Bắc Giang làm sông Thiên Đức. Xuống chiếu phát tiền kho hai vạn quan thuê thợ làm chùa ở phủ Thiên Đức 8 sở, đều dựng bia ghi công”.</div><div><br><br><em>Tượng đài Lý Thái Tổ - vị vua khai sáng triều Lý với quyết định lịch sử dời kinh đô từ Hoa Lư về Đại La với tên gọi mới: Kinh đô Thăng Long. Ảnh: VĨNH THĂNG</em></div><div>Có thể thấy, Thăng Long có nghĩa “rồng bay lên” là một cái tên đẹp, hàm chứa đầy niềm tin tưởng và lòng tự hào về vùng đất vua chọn để đóng đô. Sách Tổng tập nghìn năm văn hiến Thăng Long cũng luận giải và khẳng định: “Tên gọi Thăng Long chứa đựng một ý nghĩa lớn. Trước hết, tên gọi rồng bay (Thăng Long) gợi tả được khí thế mạnh mẽ vươn lên của kinh thành. Nhưng tên gọi rồng bay còn thể hiện một khát vọng hòa bình, đời sống hạnh phúc, tự do của dân tộc Việt Nam thời bấy giờ… Hơn thế nữa, biểu tượng rồng bay còn chứa đựng ý niệm thiêng liêng trở về cội nguồn Rồng-Tiên và mơ ước về nguồn nước, mưa thuận gió hòa của cư dân văn minh nông nghiệp trồng lúa nước” (tập 1, tr.1222).</div><div>Rất lưu ý, Thăng Long ngoài nghĩa “rồng bay lên” như giải thích ở trên, trong lịch sử tên gọi đó còn được đổi sang một nghĩa khác, đó là “thịnh vượng lên”. Sách Lịch sử Thủ đô Hà Nội cho biết: “Năm 1802, Gia Long (Nguyễn Ánh) quyết định đóng đô tại nơi cũ là Phú Xuân (tức Huế), không ra Thăng Long, cử Nguyễn Văn Thành làm Tổng trấn miền Bắc và đổi kinh thành Thăng Long làm trấn thành miền Bắc. Kinh thành đã chuyển làm trấn thành thì tên Thăng Long cũng cần phải đổi. Nhưng vì tên Thăng Long đã có từ lâu đời, quen dùng trong nhân dân toàn quốc nên Gia Long thấy không tiện bỏ đi ngay mà vẫn giữ tên Thăng Long, nhưng đổi chữ “long” là rồng thành chữ “long” là thịnh vượng, lấy cớ rằng rồng là tượng trưng cho nhà vua, nay vua không ở đây thì không được dùng chữ “long” là “rồng” (tr.81).</div><div>Còn tên gọi Hà Nội thì sao? Theo cách hiểu khá phổ biến thì Hà Nội nghĩa là “thành phố bên trong sông”. Tên gọi này được chính thức định danh từ năm 1831, thời vua Minh Mạng. Năm đó, Minh Mạng cải tổ lại bộ máy hành chính, bỏ các trấn, chia cả nước làm 29 tỉnh, trong đó có tỉnh Hà Nội gồm kinh thành Thăng Long cũ và huyện Từ Liêm, phủ Ứng Hòa, phủ Lý Nhân và phủ Thường Tín, lấy khu vực kinh thành xưa kia làm tỉnh lỵ và lấy thành mới xây làm tỉnh thành của Hà Nội. Trấn thành Thăng Long bị hạ xuống làm tỉnh thành Hà Nội và cái tên Hà Nội cũng bắt đầu từ đó.</div><div>Năm 1835, Minh Mạng ra lệnh hạ thấp thành Hà Nội vì nó quá cao so với hoàng thành ở Huế. Do đó, tường thành bị xén bớt 1 thước 8 tấc (0,72m), nghĩa là chỉ còn cao hơn 3m. Năm 1848, Tự Đức cho phá dỡ những cung điện còn lại trong thành Hà Nội, những đồ chạm trổ mỹ thuật bằng gỗ, bằng đá để đưa vào Huế.</div><ul><li>Sau cuộc Tổng khởi nghĩa giành độc lập tháng 8-1945, bộ mặt và vị thế của Hà Nội đã thay đổi. Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Hà Nội được chọn là Thủ đô của nước Việt Nam mới.&nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp;</li></ul><div><a href="https://sknc.qdnd.vn/ho-so-tu-lieu/xuat-xu-cua-ten-goi-thang-long-va-ha-noi-501635">https://sknc.qdnd.vn/ho-so-tu-lieu/xuat-xu-cua-ten-goi-thang-long-va-ha-noi-501635</a><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://sknc.qdnd.vn/ho-so-tu-lieu/xuat-xu-cua-ten-goi-thang-long-va-ha-noi-501635" />
         <pubDate>2022-09-27 14:31:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2315704858</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hà ân người thăng long</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2315709576</link>
         <description><![CDATA[<div>Người Thăng Long tái hiện không khí náo nức sôi động của buổi Hội thề, không khí căng thẳng trang nghiêm của hội nghị Bình Than và trang trọng, hừng hực ý chí chiến đấu của hội nghị Diên Hồng, bên cạnh đó là vẻ đẹp lạ lẫm của lễ cướp dâu, đêm tiệc Mo nang hân hoan phóng túng...</div><div>&nbsp;</div><div>Sau Người Thăng Long, nhà văn Hà Ân định viết tập tiếp theo với nhân vật chính là Trần Quốc Tảng, một ông hoàng trẻ văn võ song toàn. Ông bị mê hoặc bởi con người triết gia, ngạo đời của Trần Quốc Tảng và với những lời ca hào sảng hết mực:&nbsp;</div><div>&nbsp;</div><div><em>Trời đất xa trông chừ sao ta thấy mênh mông</em></div><div><em>Ngoài vòng cương tỏa chừ ta chống gậy chơi rong</em></div><div>(Phóng cuồng ca)</div><div>&nbsp;</div><div>Tiểu thuyết này đáng lẽ ra mắt độc giả vào năm 1986. Nhưng rồi xảy ra một sự kiện. Tác phẩm Phóng cuồng ca được công bố lại, không phải do Trần Quốc Tảng viết, nhà văn Hà Ân đã thất vọng và đốt đi hàng trăm trang bản thảo. Tưởng rằng tác phẩm không thể hoàn thành. Nhưng rồi ông bắt “gặp” Đỗ Vĩ, cũng là một người con của đất Thăng Long, một tình báo tài giỏi của nhà Trần, một điệp viên gần như duy nhất được ghi trong chính sử, một nghệ sĩ đàn ngọt, thơ hay, bút vẽ thần tình, đường kiếm siêu việt... Đỗ Vĩ đã thâm nhập vào lòng địch, gửi về cho Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn những tin tức vô cùng quan trọng. Cái chết bi tráng của ông đã góp phần đem lại khúc ca khải hoàn trong cuộc chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai.&nbsp;</div><div>&nbsp;</div><div>Và thế là tiểu thuyết Khúc khải hoàn dang dở ra đời, sau hai mươi năm thai nghén, viết, đốt rồi viết lại. Tác phẩm là một bản hùng ca mãi mãi âm vang trang sử hào hùng và ghi dấu bóng hình người tình báo chiến lược tài ba Đỗ Vĩ cùng những tướng sĩ kiêu hùng, những người con ưu tú của dân tộc.</div><div>&nbsp;</div><div>Bộ đôi tiểu thuyết Người Thăng Long và Khúc khải hoàn dang dở xứng đáng là những tiểu thuyết lịch sử hay nhất về những người con của đất Thăng Long - Hà Nội.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-09-27 14:33:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2315709576</guid>
      </item>
      <item>
         <title>sự tích hồ gươm</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2315721836</link>
         <description><![CDATA[<div>Vào thời giặc Minh <sup>[1]</sup> xâm lược nước ta, đi đến đâu chúng cũng tàn sát người dân vô tội, cướp bóc của cải của nhân dân. Cuộc sống của người dân vô cùng cực khổ, và lầm than. Thấy cuộc sống của trăm dân như vậy một số người có lòng yêu nước đã tụ họp lại với nhau cùng bàn bạc làm một cuộc khởi nghĩa để chống lại sự tàn ác và bạo ngược của quân giặc. Trong đó có nghĩa quân ở vùng Lam Sơn.<br><br></div><div>Tuy nhiên, nghĩa quân cũng chỉ toàn là những người nông dân áo vải, binh khí thì thô sơ mà chưa thu hút được nhiều người nên chưa có đủ sức mạnh để chiến đấu chống lại quân giặc. Rất nhiều lần nghĩa quân đã đứng lên khởi nghĩa nhưng lần nào cũng bị binh tướng nhà Minh đánh cho bại trận. Đức Long Quân <sup>[2]</sup> nhìn thấy tấm lòng chiến đấu quả cảm và tinh thần yêu nước của nghĩa quân, liền quyết định cho nghĩa quân mượn thanh gươm thần để tăng thêm sức mạnh và sĩ khí chiến đấu cho họ.<br><br></div><div>Hồi ấy ở Thanh Hóa, có một người đi đánh cá dưới sông, khi kéo lên thấy lưới rất nặng. Anh ta nghĩ thầm trong bụng: “Phen này chắc là được nhiều cá lắm đây!“. Tuy nhiên khi lưới được kéo lên thì không có một con cá nào mà chỉ là một lưỡi gươm cũ. Anh ta liền vứt lưỡi gươm trở lại sông, lần thứ hai chàng kéo lưới, lưỡi gươm ấy lại vướng vào. Lần này anh quăng lưỡi gươm đi xa hơn nữa.<br><br></div><div>Đến lần thứ ba kéo lưới vẫn là lưỡi gươm đó mắc vào. Thấy lạ, anh liền cầm lưỡi gươm cũ lên và mang về để trong góc nhà. Người đó tên là Lê Thận – một nông dân quê ở Thanh Hóa, có lòng yêu nước nồng nàn, từ lâu đã có ý muốn gia nhập cùng nghĩa quân Lam Sơn <sup>[3]</sup>.<br><br></div><div>Lực lượng của nghĩa quân Lam Sơn lúc bấy giờ đã ngày càng đông, muốn chiêu binh thêm những người tài giỏi và có lòng yêu nước tham gia. Lê Thận có sức khỏe cùng với lòng yêu nước mong đánh đuổi giặc ngoại xâm từ lâu nên đã gia nhập nghĩa quân. Anh tham gia những trận chiến quan trọng và góp nhiều công sức trong các trận thắng lớn, được Lê Lợi vô cùng tin tưởng.<br><br></div><div>Một lần Lê Lợi đưa quân qua vùng Thanh Hóa đã vào nhà Lê Thận để nghỉ ngơi. Vừa vào tới nhà, Lê Lợi và các tướng lĩnh thấy lưỡi gươm cũ vứt ở xó nhà của Lê Thận phát ra ánh hào quang sáng chói. Mọi người tiến lại cầm lên xem thì thấy trên lưỡi gươm có khắc hai chữ “thuận thiên” <sup>[4]</sup>. Tất cả vô cùng ngạc nhiên nhưng cũng không nghĩ đó là báu vật, chỉ cho đó là lưỡi gươm bình thường mà thôi.<br><br><a href="https://thegioicotich.vn/su-tich-ho-guom/">https://thegioicotich.vn/su-tich-ho-guom/</a><br><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-09-27 14:39:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2315721836</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Sự tích Hồ Gươm</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2315767533</link>
         <description><![CDATA[<div><a href="https://truyencotich.net/nghe-ke-chuyen-co-tich/audio-su-tich-ho-guom-mp3.html">Audio - Sự tích Hồ Gươm - Nghe kể chuyện cổ tích Việt Nam mp3 online (truyencotich.net)</a><br><br>Câu chuyện kể về Đức Long Quân đã giúp vua Lê Lợi&nbsp; đánh giặc bằng cách cho mượn gươm thần. Sau khi chiến thắng, nhà vua đi thuyền trên hồ Tả Vọng, rùa vàng nổi lên nói : "Bệ hạ trả gươm cho Long Quân".<br>Vua đã trả lại cho rùa vàng. Từ đó hồ Tả Vọng có tên là Hồ Hoàn Kiếm hoặc Hồ Gươm.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://cdn0.fahasa.com/media/catalog/product/cache/1/image/9df78eab33525d08d6e5fb8d27136e95/c/o/co_tich_viet_nam___su_tich_ho_guom_tai_ban_4_2018_09_17_11_40_11.JPG" />
         <pubDate>2022-09-27 15:02:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2315767533</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Sự tích Hồ Gươm</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2317281470</link>
         <description><![CDATA[<div>Vào thời giặc Minh <sup>[1]</sup> xâm lược nước ta, đi đến đâu chúng cũng tàn sát người dân vô tội, cướp bóc của cải của nhân dân. Cuộc sống của người dân vô cùng cực khổ, và lầm than. Thấy cuộc sống của trăm dân như vậy một số người có lòng yêu nước đã tụ họp lại với nhau cùng bàn bạc làm một cuộc khởi nghĩa để chống lại sự tàn ác và bạo ngược của quân giặc. Trong đó có nghĩa quân ở vùng Lam Sơn.<br><br></div><div>Tuy nhiên, nghĩa quân cũng chỉ toàn là những người nông dân áo vải, binh khí thì thô sơ mà chưa thu hút được nhiều người nên chưa có đủ sức mạnh để chiến đấu chống lại quân giặc. Rất nhiều lần nghĩa quân đã đứng lên khởi nghĩa nhưng lần nào cũng bị binh tướng nhà Minh đánh cho bại trận. Đức Long Quân <sup>[2]</sup> nhìn thấy tấm lòng chiến đấu quả cảm và tinh thần yêu nước của nghĩa quân, liền quyết định cho nghĩa quân mượn thanh gươm thần để tăng thêm sức mạnh và sĩ khí chiến đấu cho họ.<br><br></div><div>Hồi ấy ở Thanh Hóa, có một người đi đánh cá dưới sông, khi kéo lên thấy lưới rất nặng. Anh ta nghĩ thầm trong bụng: “Phen này chắc là được nhiều cá lắm đây!“. Tuy nhiên khi lưới được kéo lên thì không có một con cá nào mà chỉ là một lưỡi gươm cũ. Anh ta liền vứt lưỡi gươm trở lại sông, lần thứ hai chàng kéo lưới, lưỡi gươm ấy lại vướng vào. Lần này anh quăng lưỡi gươm đi xa hơn nữa.<br><br></div><div>Đến lần thứ ba kéo lưới vẫn là lưỡi gươm đó mắc vào. Thấy lạ, anh liền cầm lưỡi gươm cũ lên và mang về để trong góc nhà. Người đó tên là Lê Thận – một nông dân quê ở Thanh Hóa, có lòng yêu nước nồng nàn, từ lâu đã có ý muốn gia nhập cùng nghĩa quân Lam Sơn <sup>[3]</sup>.<br><br></div><div>Lực lượng của nghĩa quân Lam Sơn lúc bấy giờ đã ngày càng đông, muốn chiêu binh thêm những người tài giỏi và có lòng yêu nước tham gia. Lê Thận có sức khỏe cùng với lòng yêu nước mong đánh đuổi giặc ngoại xâm từ lâu nên đã gia nhập nghĩa quân. Anh tham gia những trận chiến quan trọng và góp nhiều công sức trong các trận thắng lớn, được Lê Lợi vô cùng tin tưởng.<br><br></div><div>Một lần Lê Lợi đưa quân qua vùng Thanh Hóa đã vào nhà Lê Thận để nghỉ ngơi. Vừa vào tới nhà, Lê Lợi và các tướng lĩnh thấy lưỡi gươm cũ vứt ở xó nhà của Lê Thận phát ra ánh hào quang sáng chói. Mọi người tiến lại cầm lên xem thì thấy trên lưỡi gươm có khắc hai chữ “thuận thiên” <sup>[4]</sup>. Tất cả vô cùng ngạc nhiên nhưng cũng không nghĩ đó là báu vật, chỉ cho đó là lưỡi gươm bình thường mà thôi.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://khovanhay.com/wp-content/uploads/2019/08/phan-tich-su-tich-ho-guom.jpg" />
         <pubDate>2022-09-28 11:16:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2317281470</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Sự tích chùa một cột</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2317290370</link>
         <description><![CDATA[<div>Ngày xưa, vào đời Lý, vua Lý Thái Tôn là một tín đồ nhiệt thành của đạo Phật, theo phái Vô Ngôn Thông.<br>Thuở bấy giờ, đạo Phật đang độ bành trướng, riêng triều đại này nhà vua truyền xây 95 ngôi chùa mới, trùng tu lại tất cả những tượng Phật và trong các dịp lễ lớn này đều ban tha thuế cho toàn dân.<br>Năm 1049, một hôm vua Thái Tôn nằm mộng thấy Phật Bà Quan Âm hiện ra, đưa nhà vua đến một tòa sen rạng ngời ánh sáng. Sau khi tỉnh dậy, Vua thuật lại câu chuyện chiêm bao cho quần thần hay. Thiền tăng Thuyền Lã, vị sư đã hướng dẫn nhà sư trên đường đạo hạnh, bàn cùng nhà vua nên dựng một ngôi chùa để nhớ ơn đức Quan Âm.Chùa Diên Hựu được dựng lên theo hình hoa sen, ở trên một cái cột lớn độc nhất giữa một cái ao trồng toàn sen gần kinh đô. Ngôi chùa kiến trúc đặc biệt theo nghệ thuật Đại la đời nhà Lý, tục gọi là chùa Một Cột. Ngày nay vẫn còn ở đất cố đô Thăng Long, ghi lại cuộc gặp gỡ kỳ ảo giữa ông vua mộ đạo với Phật Bà Á Đông.<br>Khảo dị:<br>Chùa một cột ở phía tây Thủ đô, thuộc thôn Ngọc Thanh, khu Ngoc Hà. Nơi đó nguyên có một cái hồ hình vuông, giữa hồ có một cột đá, cao chừng hai trượng, chu vi chín thước, đầu trụ đặt một tòa chùa ngói đỏ, hình như một đóa hoa sen dưới nước mọc lên, người ta gọi là chùa Nhất Trụ hay là chùa Một Cột. Chùa xây từ năm 1049, tức là năm đầu niên hiệu Sùng Hưng Đại Bảo vua Thái Tôn nhà Lý.<br>Tục truyền khi ấy vua Thái Tôn tuổi đã cao mà chưa có con trai, thường đến cầu tự ở các chùa. Một đêm nằm chiêm bao thấy đức Phật Quan Âm hiện trên đài hoa sen trong một cái hồ vuông ở phía tây thành, tay bế một đứa con trai đưa cho nhà vua.<br>Sau đó nhà vua quả sinh được con trai. Nhà vua liền sai lập chùa Một Cột để thờ Phật Quan Âm. Khi chùa làm xong, nhà vua triệu tập hàng ngàn Tăng Ni đứng chầu chung quanh, tụng kinh suốt bảy ngày đêm, và lập thêm một ngôi chùa lớn ở ngay bên cạnh để thờ chư Phật, gọi là chùa Diên Hựu.Chùa Diên Hựu được dựng lên theo hình hoa sen, ở trên một cái cột lớn độc nhất giữa một cái ao trồng toàn sen gần kinh đô. Ngôi chùa kiến trúc đặc biệt theo nghệ thuật Đại la đời nhà Lý, tục gọi là chùa Một Cột. Ngày nay vẫn còn ở đất cố đô Thăng Long, ghi lại cuộc gặp gỡ kỳ ảo giữa ông vua mộ đạo với Phật Bà Á Đông.<br>Khảo dị:<br>Chùa một cột ở phía tây Thủ đô, thuộc thôn Ngọc Thanh, khu Ngoc Hà. Nơi đó nguyên có một cái hồ hình vuông, giữa hồ có một cột đá, cao chừng hai trượng, chu vi chín thước, đầu trụ đặt một tòa chùa ngói đỏ, hình như một đóa hoa sen dưới nước mọc lên, người ta gọi là chùa Nhất Trụ hay là chùa Một Cột. Chùa xây từ năm 1049, tức là năm đầu niên hiệu Sùng Hưng Đại Bảo vua Thái Tôn nhà Lý.<br>Tục truyền khi ấy vua Thái Tôn tuổi đã cao mà chưa có con trai, thường đến cầu tự ở các chùa. Một đêm nằm chiêm bao thấy đức Phật Quan Âm hiện trên đài hoa sen trong một cái hồ vuông ở phía tây thành, tay bế một đứa con trai đưa cho nhà vua.<br>Sau đó nhà vua quả sinh được con trai. Nhà vua liền sai lập chùa Một Cột để thờ Phật Quan Âm. Khi chùa làm xong, nhà vua triệu tập hàng ngàn Tăng Ni đứng chầu chung quanh, tụng kinh suốt bảy ngày đêm, và lập thêm một ngôi chùa lớn ở ngay bên cạnh để thờ chư Phật, gọi là chùa Diên Hựu.Chùa Diên Hựu được dựng lên theo hình hoa sen, ở trên một cái cột lớn độc nhất giữa một cái ao trồng toàn sen gần kinh đô. Ngôi chùa kiến trúc đặc biệt theo nghệ thuật Đại la đời nhà Lý, tục gọi là chùa Một Cột. Ngày nay vẫn còn ở đất cố đô Thăng Long, ghi lại cuộc gặp gỡ kỳ ảo giữa ông vua mộ đạo với Phật Bà Á Đông.<br>Khảo dị:<br>Chùa một cột ở phía tây Thủ đô, thuộc thôn Ngọc Thanh, khu Ngoc Hà. Nơi đó nguyên có một cái hồ hình vuông, giữa hồ có một cột đá, cao chừng hai trượng, chu vi chín thước, đầu trụ đặt một tòa chùa ngói đỏ, hình như một đóa hoa sen dưới nước mọc lên, người ta gọi là chùa Nhất Trụ hay là chùa Một Cột. Chùa xây từ năm 1049, tức là năm đầu niên hiệu Sùng Hưng Đại Bảo vua Thái Tôn nhà Lý.<br>Tục truyền khi ấy vua Thái Tôn tuổi đã cao mà chưa có con trai, thường đến cầu tự ở các chùa. Một đêm nằm chiêm bao thấy đức Phật Quan Âm hiện trên đài hoa sen trong một cái hồ vuông ở phía tây thành, tay bế một đứa con trai đưa cho nhà vua.<br>Sau đó nhà vua quả sinh được con trai. Nhà vua liền sai lập chùa Một Cột để thờ Phật Quan Âm. Khi chùa làm xong, nhà vua triệu tập hàng ngàn Tăng Ni đứng chầu chung quanh, tụng kinh suốt bảy ngày đêm, và lập thêm một ngôi chùa lớn ở ngay bên cạnh để thờ chư Phật, gọi là chùa Diên Hựu.Năm 1105, vua Nhân Tôn nhà Lý cho sửa lại chùa, dựng lên một cây tháp bằng đá trắng gọi là tháp Bạch Tuynh, cao 13 trượng ở trước chùa Diên Hựu. Từ tháp Bạch Tuynh vào chùa Một Cột, đi bằng một hành lang cầu vồng. Mỗi tháng hai ngày rằm, mùng một, nhà vua cùng các hậu phi,cung tần và cận thần tới chùa lễ Phật. Đặc biệt là hằng năm cứ đến ngày tám tháng tư là ngày Phật Đản, nhà vua lại ngự ra chùa trước một đêm, giữ mình chay tịnh, ngày hôm sau làm lễ tắm Phật. Rất đông Tăng Ni và nhân dân các nơi tới dự, làm nên ngày hội lớn hàng năm ở thủ đô. Ngày ấy, trước chùa lại có một lễ lớn gọi là Lễ Phóng sinh. Lễ tắm Phật xong rồi, nhà vua đứng lên đài cao, tay cầm một con chim thả cho bay đi, rồi các tăng Ni và các nam nữ thiện tín, đua nhau mỗi người thả một con, bóng bay rợp trời.<br>Năm 1922, trường Viễn Đông Bác Cổ có sửa chữa lại, giữ theo đúng như quy chế cũ.<br>Đêm ngày 11 thánh 9 năm 1954, tay sai của thực dân Pháp, trước khi phải giao trả thủ đô cho Chính phủ và nhân dân ta, đã cố ý đặt mìn để phá hoại chùa Một Cột. Ngày sau khi tiếp quản thủ đô, chính phủ ta đã cho chiếu theo đồ dạng cũ, sửa chữa lại ngay; tháng 4 năm 1955, chùa Một Cột lại được hoàn nguyên như cũ.<br>Từ đầu 1958, cây bồ đề của đất Phật Ấn Độ kính tặng Hồ Chủ tịch nhân dịp Người đi thăm Ấn Độ, được đem trồng trong chùa.<br>Nói đến chùa Một Cột này, có một việc cần phải nói rõ là : chúng ta đọc sử về đời Lý-Trần, vẫn thấy nói đến “ An Nam tứ khí” nghĩa là bốn thứ kiến trúc lớn ở nước Nam[2], mà quả chuông ở trước Chùa Một Cột là một.<br>Theo sử cũ chép : Cũng về đời vua Nhân Tôn nhà Lý, vào năm Long Phù thứ tám (1108), nhà vua cho xuất kho một vạn hai ngàn cân đồng để đúc một quả chuông lớn gọi là Giác Thế Chung ( quả chuông thức tỉnh người đời) để treo ở chùa Diên Hựu, định mỗi khi đánh một tiếng chuông, tiếng sẽ vang đi mấy dặm. Xây một tòa phương đình toàn bằng đá xanh, cao 8 trượng, trên nóc đình bắc những đóng sắt to để treo chuông. Xây đình và đúc chuông, hơn một năm mới xong, hàng ngày các nơi phải thay nhau đưa dân phu đến phục dịch. Thân hình quả chuông không biết to lớn thế nào, chỉ biết khi đúc xong không thể nào treo chuông lên được, đành cứ phải để chuông đứng sát mặt đất, nên đánh chuông không kêu. Rồi bao nhiều lần dồn ép hàng ngàn người xúm vào ra sức vần xoay, kết cục chỉ vật ngã được quả chuông lăn kềnh trên mặt ruộng. Lúc đầu người ta còn làm mái che chuông, lâu ngày chẳng ai đoái hoài, mặc cho chuông nằm phơi mưa gió. Nơi chuông nằm lại vốn là một ruộng nước, lòng chuông trở thành cái tổ êm ấm cho từng đàn rùa chui ra chui vào. Vì vậy chuông lại được mang cái tên là chuông ruộng rùa.<br>Chuông bị dải dầu như thế đến hơn ba trăm năm. Năm 1427, bọn phong kiến nhà Minh sang xâm chiếm nước ta đã hai mươi năm, bị quân dân ta do Bình Định Vương lãnh đạo kháng chiến anh dũng, phải rút về cố thủ ở thành Đông Quan ( tức Hà Nội), rồi bị quân ta vây hãm hơn hai tháng, lương thực bị thiếu thốn, khí giới đạn dược cũng hao mòn, chúng phải vơ vét hết các đồ đồng ở dân gian, rồi đến cả phần thân trên bằng đồng của tháp Báo Thiên và quả chuông ruộng rùa này để đúc sung đạn, nhưng kết cục chúng cũng phải đầu hàng quân ta, cuốn giác về nước.<br>Về sự tích chùa Một Cột này lại có một truyền thuyết nói rằng: Bà Linh Nhân Thái hậu, vợ vua Thái Tôn nhà Lý, không sinh đẻ, tính lại cả ghen, bà sai Thái giám bắt giam 72 cung nữ có nhan sắc, thường được chầu hầu nhà vua, giam vào phòng tối ở cung Thượng Dương; tới khi vua Thái Tôn mất, bà lại bắt 72 người ấy phải chịu chôn sống để chết theo vua.Sau bà hối hận, dựng 72 ngôi chùa để siêu độ các oan hồn. Chùa Một Cột này là một trong 72 ngôi chùa ấy.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://dulichkhampha24.com/wp-content/uploads/2020/01/chua-mot-cot-ha-noi-9-676x420.jpg" />
         <pubDate>2022-09-28 11:24:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2317290370</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hà Nội-12 ngày đêm</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2317416142</link>
         <description><![CDATA[<div>“Hà Nội 12 ngày đêm khát vọng và vinh quang” là một chương trình công phu được thực hiện nhân dịp kỷ niệm 40 sự kiện Điện Biên Phủ trên không. Chương trình thực sự đã để lại ấn tượng xúc động khó quên với tất cả khán giả bởi những hình ảnh, những ký ức, những câu chuyện về những con người đã sống, chiến đấu và hi sinh trong 12 ngày đêm ác liệt ấy với sự chân thực đến tận cùng.</div><div><br>Ảnh: VTV</div><div><br>Chương trình được chia thành 3 chương với mạch truyện rõ ràng. Chương 1 nói về những bí mật chưa bao giờ được tiết lộ về chiến lược quân sự của quân đội nhân dân Việt Nam đặc biệt là lực lượng phòng không – không quên trong 12 ngày đêm lịch sử. Chương 2 nói về cuộc chiến trên bầu trời. Chương 3 là những câu chuyện cảm động về Việt Nam – nơi thức tỉnh lương tri, kể về phong trào phản chiến của bạn bè quốc tế ủng hộ Hà Nội, ủng hộ Việt Nam, trong đó có cả người dân của đất nước bên kia chiến tuyến. <br><br>Chương trình mở đầu bằng những hình ảnh về Phố Khâm Thiên, Bệnh viện Bạch Mai đổ nát, tan hoang sau những đợt ném bom rải thảm của máy bay Mỹ vào những ngày cuối năm 1972, trên nền bản nhạc giao hưởng “Hồi ức chiến tranh” của nhạc sĩ Phú Quang và những hồi ức đau thương của các nhân chứng lịch sử.<br><br>Sau 40 năm, những hình ảnh Thủ đô Hà Nội bị tàn phá, những gia đình tan nát vì bom đạn, những ký ức về những ngày tháng anh hùng, những chiến công anh dũng… của quân và dân Hà Nội một lần nữa được đánh thức, được sống dậy thật cảm động. Và cũng sau 40 năm, nhiều bí mật của lịch sử bây giờ mới được tiết lộ. <br><br>Đến với chương trình, Phó giáo sư, tiến sĩ, Anh hùng lực lượng vũ trang, Trung tướng Phan Thu, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đã giải đáp câu hỏi lớn: Làm sao Việt Nam có thể bắn hạ được B52 - thứ vũ khí được người Mỹ coi là “bất khả chiến bại”.<br><br>Vị trung tướng khẳng định, B52 không phải là một con ngáo ộp bởi gây nhiễu rada là một thủ đoạn hàng đầu của B52 để phá lưới phòng thủ của đối phương. Vì vậy, muốn đánh B52 thì phải phá được bộ nhiễu của nó. <br><br>Từ năm 1966, ông cùng đồng đội thuộc Tiểu đoàn trinh sát nhiễu đã có mặt tại Quảng Bình để nghiên cứu về cách đánh máy bay B52 và thấy rằng, B52 có những điểm yếu có thể tận dụng để đánh, tiêu diệt.<br><br>Sau những mày mò, một phương pháp đánh B52 rất khoa học, sáng tạo đã được xây dựng: phương pháp đánh 3 điểm. Với cách đánh này, chúng ta đã khai thác được tối đa các điểm yếu của B52 khi loại máy bay này thọc sâu vào vùng đất Thủ đô Hà Nội. <br><br>Điều đáng ngạc nhiên hơn cả là chính ông Thu đã đề xuất sử dụng một loại rada thuộc hàng “sắp được đưa vào bảo tàng” để phát hiện máy bay B52. Bởi chính loại rada này có tần số làm việc ứng với dải sóng mà ở đó B52 không gây nhiễu được. Kết quả cho thấy, loại rada này bắt sóng rất tốt, chỉ dẫn rất tốt cho tên lửa bắn rơi B52. Có mặt trong đoàn làm việc vào hỏi cung các phi công Mỹ bị giam tại Nhà tù Hỏa Lò, ông Thu đã từng hỏi một sĩ quan điện tử B52 của Mỹ xem liệu phía Mỹ có thu được tín hiệu của rada dải sóng này không thì được trả lời là có nhưng họ đã không quan tâm vì đó là rada của pháo tầm thấp, không thể gây nguy hiểm cho B52. <br><br>Một bí mật lịch sử khác cũng tiếp tục được bật mí đó là: Làm thế nào Việt Nam lại có thể có thông tin chính xác, kịp thời về các chiến dịch ném bom của Mỹ để chủ động và sẵn sàng ứng phó? <br><br>Câu hỏi này được Đại tá Trần Văn Tụng, Trung đoàn trinh sát kỹ thuật, Tổng cục 2 Bộ Quốc phòng giải đáp. Vào những năm 60, tại một căn nhà ở Xuân Đỉnh, Hà Nội, Trung đoàn trinh sát kỹ thuật, Cục 2 (cục tình báo) của Bộ Quốc phòng đã ra đời.<br><br>Là 1 trong 10 sinh viên của trường ngoại giao được tuyển vào Cục 2, ông Tụng cùng các đồng đội được giao nhiệm vụ nắm thông tin về không quân Mỹ. Lúc đó, Trung Quốc đã cung cấp cho Việt nam thông tin về việc không quân Mỹ sẽ đánh leo thang ra miền Bắc, nhưng chúng ta chưa biết cách làm thế nào để có tin cụ thể hơn. Sau những mày mò, phán đoán từ các thông tin trinh sát có được, trung đoàn của ông dần dần đã hình thành được nhiều bộ giải mã tin, từ đó dự đoán chính xác thời gian, địa điểm, số lượng máy bay Mỹ sẽ tham chiến, giúp phục vụ đắc lực cho quân đội ta trong việc đương đầu với cả hai cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của quân đội Mỹ.<br><br>Đặc biệt, vào những ngày cuối tháng 12/1972, Trung đoàn trinh sát của ông cũng đã phán đoán chính xác việc Mỹ sắp tổ chức đánh lớn, báo cáo cấp trên và sau đó, trong 3 ngày liên tục, Hà Nội cùng các tỉnh lân cận đã sơ tán hàng chục vạn dân tới nơi an toàn.<br><br>Câu chuyện về cuộc chiến trên bầu trời Hà Nội được mở đầu bằng những dòng nhật ký đầy xúc động của Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Trung tướng Nguyễn Đức Soát. Những dòng viết của ông cho thấy, lực lượng không quân của Việt Nam đã đối đầu với máy bay Mỹ từ rất sớm, từ khi chúng ta còn chưa biết đến trận Điện Biên Phủ trên không. Để chuẩn bị cho chiến dịch 12 ngày đêm, lực lượng phòng không không quân Việt Nam đã rất cẩn trọng. Trong 12 ngày đêm ấy, lực lượng phi công của ta tham gia đánh máy bay Mỹ chỉ có khoảng 14-15 đồng chí, nhưng số lượng máy bay ta bắn rơi thì thật đáng tự hào, riêng B52 đã là hơn 30 chiếc. <br>&nbsp;</div><div><br>Phi công Hoàng Tam Hùng đã bắn rơi 2 máy bay Mỹ trong trận "Điện Biên Phủ trên không" trước khi hy sinh</div><div><br>Tuy nhiên, vượt lên trên những dòng ký ức hào hùng về những chiến thắng, những cuộc giao tranh ác liệt để bảo vệ bầu trời tổ quốc, điều đọng lại sâu lắng trong tâm trí người xem là những tình cảm ấm áp, thân thương của những người đồng chí, đồng đội. Người xem bắt gặp trong nhật ký của ông những câu chuyện rất xúc động, những dòng chia sẻ thật thân thương về những người đồng chí, những người bạn cùng sát cánh bên nhau, trong đó có câu chuyện về hai người phi công trẻ: Vũ Xuân Thiều và Hoàng Tam Hùng đã bắn rơi máy bay Mỹ và đã anh dũng hi sinh trong ngày 28/12/1972.&nbsp;<br><br>Là một đồng đội của ông Soát, Anh hùng lực lượng vũ trang, Trung tướng Phạm Tuân cũng đến với chương trình và chia sẻ về tâm trạng, cảm xúc của các phi công Việt nam khi bay trên bầu trời Hà Nội. Những ngày tháng 12 năm ấy, khi chiến đấu trên bầu trời Thủ đô, ông Tuân cũng có chút lăn tăn, lo lắng, bởi rất có thể những viên đạn lạc của dân quân trúng máy bay mình, rồi tầm trung, tầm cao đều có tên lửa của ta bay ngang, bay dọc… Nhưng những lo lắng ấy được khỏa lấp bằng sự yên tâm, vì ông biết ông đang bay trên bầu trời của Việt Nam, của quê hương và những làn đạn kia là những làn đạn hiệp đồng, giúp các ông tìm đánh B52. Đây chính là sức mạnh tổng hợp khiến dân quân Việt Nam chưa lần nào bắn nhầm máy bay của ta.&nbsp;<br><br>Chia sẻ của Trung tướng Phạm Tuân đã giúp trả lời cho một băn khoăn của một phi công Mỹ tên Brian gửi đến chương trình. Trái ngược với xúc cảm của ông Phạm Tuân, khi bay sang đất nước đối phương, bay vào mục tiêu dưới làn đạn rực lửa, ông Brian đã không hề có chút yên tâm. Ông đã hoảng sợ, căng thằng khi nhận nhiệm vụ và ông đã khóc sau khi quay về căn cứ ở Guam. Giờ đây, nếu có điều ước, ông Brian mong rằng, ông đã không thực hiện nhiệm vụ vào những ngày cuối tháng 12 cách đây đúng 40 năm.&nbsp;<br><br>Sau những chia sẻ từ những người trong cuộc, người xem được gặp gỡ với các nhân vật thú vị khác: đó là ông Tom Hyden, một nhà phản chiến Việt Nam đến từ Mỹ và bà Tôn Nữ Thị Ninh, từng tham gia phong trào phản chiến ở châu Âu những năm 60-70 khi còn là một sinh viên trí thức Việt kiều.<br><br>Bà Ninh cho biết, những năm đó, tại Pháp, phong trào giải phóng dân tộc đang lên rất cao và các sinh viên Việt Nam thời đó đã rất tích cực xuống đường biểu tình chống chiến tranh. Chính tinh thần yêu nước đã thúc giục bà Ninh từ Pháp trở về để tham gia vào phong trào cách mạng của dân tộc.<br><br>Còn ông Tom tâm sự, khi xem hình ảnh một nhà sư Việt Nam tự thiêu để phản chiến, ông đã bị sốc và đã tổ chức nhiều chương trình, hoạt động phản chiến ngay tại Mỹ. Những người phản chiến như ông đã từng bị quy tội là thân cộng, bị tẩy não.Nhưng khi Mỹ tiếp tục leo thang cuộc chiến ở Việt Nam, phong trào chống chiến tranh Việt Nam tại Mỹ đã lên rất cao và năm 1964, ông đã đặt chân tới Việt Nam và hiểu rằng, cần phải phá bỏ sự phong tỏa thông tin đại chúng của chính phủ Mỹ để người dân Mỹ có được những thông tin chân thực nhất. Sau đó, ông đã nhiều lần sang Việt Nam.&nbsp;<br><br>Thời điểm Mỹ ném bom B52 ở Hà Nội, một thời điểm được chính quyền Mỹ lựa chọn khôn ngoan vì vào dịp Noel, Quốc hội Mỹ và những người biểu tình đều nghỉ, vẫn có một số người Mỹ đã đứng giữa bom đạn ở Hà Nội để viết về những trận ném bom này, gióng lên những tiếng nói lương tri với người dân Mỹ, giúp nhiều người Mỹ thức tỉnh.&nbsp;<br><br>Câu chuyện của những người lính như ông Soát, ông Tuân, ông Thu, ông Tụng… hay của những người từng tham gia phản chiến như ông Tom, bà Ninh… đã giúp vẽ nên một bức chân dung thật đầy đủ về Hà Nội 12 ngày đêm những năm 1972 đầy khát vọng và vinh quang. Xen lẫn giữa những bài hát, điệu múa, câu chuyện chân thực của những con người của lịch sử ấy đã thể hiện, chất chứa được mọi cung bậc tình cảm và niềm tự hào tột cùng về những tháng ngày không thể nào quên của quân dân Hà Nội, của đất nước Việt Nam.</div><div><a href="http://www.hanoimoi.com.vn/ban-in/Chinh-tri/570929/ha-noi-12-ngay-dem-khat-vong-va-vinh-quang#">Vân An</a><br>Nguồn: http://www.hanoimoi.com.vn/ban-in/Chinh-tri/570929/ha-noi-12-ngay-dem-khat-vong-va-vinh-quang</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-09-28 12:46:47 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2317416142</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Truyền thuyết về Hồ Tây</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2317431860</link>
         <description><![CDATA[<div>Vẻ đẹp của Hồ Tây là góc lãng mạn nhất trong bức tranh Hà Nội, nơi gặp gỡ, ghi dấu kỷ niệm của biết bao người Hà Nội, nơi níu chân du khách mỗi lần đếm thăm thủ đô. Câu chuyện về lịch sử hình thành Hồ Tây đã được nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến – báo Hà Nội Mới dành thời gian nghiên cứu khá kỹ lưỡng. Anh cũng từng tâm sự với chúng tôi, Hồ Tây như một cô gái đẹp bí ẩn mà anh đang chỉ ngắm nhìn và trải nghiệm từ xa.<br>Nguồn:https://vovgiaothong.vn/truyen-thuyet-ve-ho-tay-d25539.html</div><div>Nhắc đến Hồ Tây, chúng ta đều rất quen thuộc với những làng hoa, làng nghề, với nhiều đình, đền chùa cổ kính linh thiêng. Những năm gần đây, nhà nhà đua nhau mở nhà hàng, khách sạn, nhiều dần rồi thành từng khu ẩm thực, khu nghỉ dưỡng với phong cảnh trữ tình cho những người muốn "đổi gió" sau những giờ làm việc mệt mỏi. Nhưng khi được hỏi về lịch sử của nơi này thì không nhiều người biết đến cũng như không còn lại nhiều chứng nhân lịch sử. Có lẽ bởi thế, hành trình của BXDV quanh Hồ Tây sẽ là những câu chuyện mang nhiều huyền tích, nhiều hồi ức, ký ức và cảm xúc. Sau đây chúng ta sẽ cùng lật giở những trang lược sử đầu tiên về Hồ tây để có được cái nhìn tổng quan nhất cho hành trình khám phá Hồ Tây qua lời kể của nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến, báo Hà Nội Mới:<br><br></div><div><br></div><div>Hà Nội đông đúc, ngột ngạt và tắc đường, chúng ta dường như đã quá quen thuộc với những không gian chật hẹp của thành phố này, nhưng thực sự, khi đến với Hồ Tây, ta như được lạc vào một thế giới khác. Một đôi vợ chồng người Tp.HCM có dịp ra Hà Nội công tác ít ngày đã lựa chọn Hồ Tây là điểm dừng chân khám phá và đã chia sẻ những cảm nhận được rõ nét nhất về sự khác biệt này:<br><br></div><div><br></div><div><em># Mình thấy cảnh quan ở đây và khí hậu ở đây rất là thích. Cái lạnh se se cộng với cả những cái nét cổ của Hà Nội làm cho mình rất là cảm xúc. Người Hà Nội rất là mến khách, thân thiện. Riêng Hồ Tây nó làm nên một nét cảnh quan rất đặc sắc giữa phong cách những ngôi nhà hiện đại kết hợp với những cái nhà mang tính chất là cổ điển. Hà Nội gốc xưa cộng với những nét của chùa rồi là hồ nước nó tọa nên một bức tranh thiên nhiên khiến tôi cảm thấy rất thích thú.<br></em><br></div><div><em># Mình thấy rất là tuyệt vời khi mà ra tới Hồ Tây.Vì cảnh quan, không khí và con người thân thiện và nhất là chung quanh hồ tây mình thấy nó cũng sạch sẽ và đẹp nhưng mà giá mà cái nhà Thủy Tạ gì đó mà dẹp đi luôn để lại một cái hồ trọn vẹn thì nó còn đẹp hơn. Sài Gòn đặc biệt không có những cảnh quan đẹp như Hà Nội. Hà Nội rất là đẹp, nếu Hà Nội vẫn giữ được những cảnh quan như thế này nó sẽ thu hút khách rất là nhiều.<br></em><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://vovgiaothong.vn/truyen-thuyet-ve-ho-tay-d25539.html" />
         <pubDate>2022-09-28 12:55:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2317431860</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Sự tích Hồ Hoàn Kiếm</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2317573068</link>
         <description><![CDATA[<div>Vào thời giặc Minh đặt ách đô hộ ở nước Nam, chúng coi dân ta như cỏ rác, làm nhiều điều bạo ngược, thiên hạ căm giận chúng đến xương tủy. Bấy giờ ở vùng Lam Sơn, nghĩa quân nổi dậy chống lại chúng, nhưng trong buổi đầu thế lực còn non yếu nên nhiều lần nghĩa quân bị thua. Thấy vậy, đức Long Quân quyết định cho nghĩa quân mượn thanh gươm thần để họ giết giặc.<br><br></div><div>Hồi ấy, ở Thanh Hóa có một người làm nghề đánh cá tên là Lê Thận. Một đêm nọ, Thận thả lưới ở một bến vắng như thường lệ. Khi kéo lưới lên, chàng thấy nằng nặng, trong bụng mừng thầm, chắc là có cá to. Nhưng khi thò tay vào bắt cá, Thận chỉ thấy có một thanh sắt; chàng vứt luôn xuống nước, rồi lại thả lưới ở một chỗ khác.<br><br></div><div>Lần thứ hai cất lưới lên cũng thấy nặng tay; Thận không ngờ thanh sắt vừa rồi lại chui vào lưới mình. Chàng lại nhặt lên và ném xuống sông. Lần thứ ba, lại vẫn thanh sắt ấy mắc vào lưới. Lấy làm quái lạ, Thận đưa lại mồi lửa nhìn xem. Bỗng chàng reo lên:<br><br></div><div>– Ha ha! Một lưỡi gươm!<br><br></div><div>Về sau Thận gia nhập đoàn quân khởi nghĩa Lam Sơn. Chàng hăng hái gan dạ không nề nguy hiểm. Một hôm chủ tướng Lê Lợi cùng mấy người tùy tòng đến nhà Thận. Trong túp lều tối om, thanh sắt hôm đó tự nhiên sáng rực lên ở xó nhà. Lấy làm lạ, Lê Lợi cầm lấy xem và thấy có hai chữ “Thuận Thiên” khắc sâu vào lưỡi gươm. Song tất cả mọi người vẫn không biết đó là báu vật.<br><br></div><div>Một hôm, bị giặc đuổi, Lê Lợi và các tướng chạy tháo thân mỗi người một ngả. Lúc đi qua một khu rừng, Lê Lợi bỗng thấy một ánh sáng lạ trên ngọn cây đa. Ông trèo lên mới biết đó là một cái chuôi gươm nạm ngọc. Nhớ đến lưỡi gươm ở nhà Lê Thận, Lê Lợi rút lấy chuôi giắt vào lưng.<br><br></div><div>Ba ngày sau, Lê Lợi gặp lại tất cả các bạn trong đó có Lê Thận. Lê Lợi mới đem chuyện bắt được chuôi gươm kể lại cho mọi người nghe. Khi đem tra gươm vào chuôi thì vừa như in.<br><br></div><div>Lê Thận nâng gươm lên ngang đầu nói với Lê Lợi:<br><br></div><div>– Ðây là Trời có ý phó thác cho minh công làm việc lớn. Chúng tôi nguyện đem xương thịt của mình theo minh công, cùng với thanh gươm thần này để báo đền Tổ quốc!<br><br></div><div>Từ đó nhuệ khí của nghĩa quân ngày một tăng tiến. Trong tay Lê Lợi, thanh gươm thần tung hoành khắp các trận địa, làm cho quân Minh bạt vía. Uy thanh của nghĩa quân vang khắp nơi. Họ không phải trốn tránh như trước mà xông xáo đi tìm giặc. Họ không phải ăn uống khổ cực như trước nữa, đã có những kho lương của giặc mới cướp được tiếp tế cho họ. Gươm thần đã mở đường cho họ đánh tràn ra mãi, cho đến lúc không còn bóng một tên giặc trên đất nước.<br><br></div><div>Một năm sau khi đuổi giặc Minh, một hôm Lê Lợi – bấy giờ đã làm vua – cưỡi thuyền rồng dạo quanh hồ Tả Vọng trước kinh thành. Nhân dịp đó, Long Quân sai rùa vàng lên đòi lại thanh gươm thần. Khi chiếc thuyền rồng tiến ra giữa hồ, tự nhiên có một con rùa lớn nhô đầu và mai lên khỏi mặt nước. Theo lệnh vua, thuyền đi chậm lại. Ðứng ở mạn thuyền, vua thấy lưỡi gươm thần đeo bên người tự nhiên động đậy. Con rùa vàng không sợ người, nhô đầu lên cao nữa và tiến về phía thuyền vua. Nó đứng nổi trên mặt nước và nói: “Xin bệ hạ hoàn gươm lại cho Long Quân!”.<br><br></div><div>Vua rút gươm quẳng về phía rùa vàng. Nhanh như cắt, rùa há miệng đớp lấy thanh gươm và lặn xuống nước. Gươm và rùa đã chìm đáy nước, người ta vẫn còn thấy vật gì sáng le lói dưới mặt hồ xanh.<br><br></div><div>Từ đó hồ Tả Vọng bắt đầu mang tên là hồ Gươm hay hồ Hoàn Kiếm.<br><br>https://truyencotich.vn/truyen-co-tich/co-tich-viet-nam/su-tich-ho-hoan-kiem.html</div>]]></description>
         <enclosure url="https://truyencotich.vn/truyen-co-tich/co-tich-viet-nam/su-tich-ho-hoan-kiem.html" />
         <pubDate>2022-09-28 14:07:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2317573068</guid>
      </item>
      <item>
         <title>hoàng thành thăng long</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2317604549</link>
         <description><![CDATA[<div>Năm 1009, Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế, lập nên vương triều Lý. Năm 1010, Lý Thái Tổ rời đô từ Hoa Lư về thành Đại La, đổi tên kinh đô mới là Thăng Long và xây dựng nơi đây thành một trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa lớn nhất của đất nước. Trải qua các triều đại Lý, Trần, Lê Sơ, Mạc và Lê Trung Hưng, thành Thăng Long luôn giữ vị trí “Quốc đô”, là nơi ở và làm việc của Vua và Hoàng tộc. Khu vực này cũng còn là nơi cử hành các nghi lễ quan trọng của đất nước. Sau khi nhà Nguyễn định đô ở Huế (1802), vai trò kinh đô của Thăng Long mới bị giải thể… Từ sau năm 1954, khu vực thành Thăng Long trở thành trụ sở làm việc của Bộ Quốc phòng. Chính tại khu vực này, nhiều quyết định quan trọng của Đảng và Nhà nước đã được ra đời, góp phần tạo ra những thắng lợi lớn trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước.</div><div>Trải qua thời gian và những biến cố của lịch sử, thành Thăng Long đã có nhiều thay đổi, biến dạng…, nhưng đến nay vẫn còn lưu giữ được một số di tích lịch sử và khảo cổ học, tiêu biểu như:</div><div><em>Kỳ đài (Cột cờ Hà Nội)</em>: xây dựng vào năm 1812, dưới thời vua Gia Long, cao 33,4m, gồm ba tầng: đế, thân cột và vọng canh...</div><div><em>Đoan môn:</em> là cửa thành phía Nam, xây theo kiểu vòm cuốn. Đoan môn được bố cục theo chiều ngang, gồm cửa chính giữa dành riêng cho vua, hai bên có 4 cửa nhỏ hơn, dành cho các quan và hoàng tộc...</div><div><em>Điện Kính thiên:</em> nằm ở vị trí trung tâm của hoàng thành (thời Lê Sơ), được xây dựng năm 1428, ngay trên nền cũ của điện Càn Nguyên thời Lý (sau đổi tên là điện Thiên An). Năm 1886, điện này đã bị thực dân Pháp phá để xây dựng Sở Chỉ huy Pháo binh quân đội Pháp. Hiện nay, chỉ còn lại dấu tích của nền móng của điện Kính thiên. Đặc biệt, khu vực này còn lưu giữ được hai bậc thềm rồng bằng đá, có niên đại thế kỷ XV.</div><div><em>Hậu lâu (Lầu Công chúa):</em> xây dựng năm 1821, được sử dụng làm nơi nghỉ ngơi của các cung nữ trong đoàn hộ tống các Vua nhà Nguyễn khi xa giá ra Bắc. Cuối thế kỷ XIX, Hậu lâu bị hư hỏng nặng, thực dân Pháp đã cho cải tạo, xây dựng lại như hiện nay.</div><div><em>Chính Bắc môn (Cửa Bắc): </em>là cổng thành phía Bắc, được xây dựng năm 1805, gồm hai tầng, tám mái, với đầu đao cong, theo kiểu truyền thống.</div><div><em>Tường bao và 8 cổng hành cung thời Nguyễn: </em>năm 1805, nhà Nguyễn đã cho xây dựng tường bao từ cửa Đoan môn quanh nội điện, làm hành cung để vua làm việc và nghỉ ngơi mỗi khi Bắc tuần.<strong> </strong>Hiện nay, trong khu thành cổ còn 8 cổng thành cùng với hệ thống tường bao xung quanh hành cung bằng gạch vồ.</div><div><em>Di tích nhà và hầm D67: </em>được xây dựng vào năm 1967, trong khu A. Đây là nơi Bộ Chính trị, Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh đã đưa ra nhiều quyết định mang tính lịch sử, đánh dấu những mốc son của cách mạng Việt Nam: Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, chiến dịch năm 1972, Cuộc tổng tiến công năm 1975 và đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh…</div><div><em>Những công trình kiến trúc Pháp: </em>được xây dựng từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX theo kiểu Vauban, bao gồm tòa nhà Sở Chỉ huy Pháo binh Quân đội Pháp; một tòa nhà 2 tầng, xây dựng năm 1897, nay dùng làm trụ sở của Cục Tác chiến; hai tòa nhà một tầng, xây dựng năm 1897. Phía Đông của tòa nhà Cục Tác chiến có một nhà khách, xây dựng năm 1930.</div><div><em>Cây xanh trong khu di tích: </em>được trồng<strong> </strong>với mật độ dày, đa dạng về chủng loại, đã góp phần tạo ra môi trường trong lành và cảnh quan hài hòa cho khu di tích.</div><div><em>Di tích khảo cổ tại 18 Hoàng Diệu: </em>nằm cách nền điện Kính Thiên khoảng 100m về phía Tây, có diện tích 4,530ha, bắt đầu khai quật từ tháng 12 năm 2002, được phân định làm 4 khu (A, B, C, D). Khi tiến hành khai quật tại đây, các nhà khảo cổ học đã phát hiện dấu tích nền móng của các công trình kiến trúc cổ thuộc Hoàng thành Thăng Long cùng nhiều hiện vật có giá trị, như vật liệu trang trí kiến trúc bằng đất nung, cột gỗ, đồ gốm sứ của các triều đại phong kiến Việt Nam và nhiều đồ dùng, vật dụng của nước ngoài, như các loại đồ sứ của Tây Á, Trung Quốc, Nhật Bản…</div><div>Thành cổ Thăng Long - Hà Nội là di tích lịch sử và khảo cổ tiêu biểu, là bằng chứng vật chất phản ánh trình độ kỹ thuật cao, chứa đựng các giá trị về lịch sử, kiến trúc và nghệ thuật. Đồng thời, phản ánh sự giao thoa văn hóa với các nước trong khu vực và trên thế giới trong một quá trình lịch sử lâu dài, thể hiện qua rất nhiều hiện vật lịch sử, công trình kiến trúc, cảnh quan đô thị mang bề dày hàng ngàn năm lịch sử.&nbsp;</div><div>Với những giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học đặc biệt của di tích, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định xếp hạng Di tích lịch sử và khảo cổ Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội là di tích quốc gia đặc biệt (Quyết định số 1272/QĐ-TTg, ngày 12/08/2009).</div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-09-28 14:21:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2317604549</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Sự tích chùa Một Cột</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2319082409</link>
         <description><![CDATA[<div>Ngày xưa, vào đời Lý, vua Lý Thái Tôn là một tín đồ nhiệt thành của đạo Phật, theo phái Vô Ngôn Thông.<br>Thuở bấy giờ, đạo Phật đang độ bành trướng, riêng triều đại này nhà vua truyền xây 95 ngôi chùa mới, trùng tu lại tất cả những tượng Phật và trong các dịp lễ lớn này đều ban tha thuế cho toàn dân.<br>Năm 1049, một hôm vua Thái Tôn nằm mộng thấy Phật Bà Quan Âm hiện ra, đưa nhà vua đến một tòa sen rạng ngời ánh sáng. Sau khi tỉnh dậy, Vua thuật lại câu chuyện chiêm bao cho quần thần hay. Thiền tăng Thuyền Lã, vị sư đã hướng dẫn nhà sư trên đường đạo hạnh, bàn cùng nhà vua nên dựng một ngôi chùa để nhớ ơn đức Quan Âm. Chùa Diên Hựu được dựng lên theo hình hoa sen, ở trên một cái cột lớn độc nhất giữa một cái ao trồng toàn sen gần kinh đô. Ngôi chùa kiến trúc đặc biệt theo nghệ thuật Đại la đời nhà Lý, tục gọi là chùa Một Cột. Ngày nay vẫn còn ở đất cố đô Thăng Long, ghi lại cuộc gặp gỡ kỳ ảo giữa ông vua mộ đạo với Phật Bà Á Đông.<br>Khảo dị:<br>Chùa một cột ở phía tây Thủ đô, thuộc thôn Ngọc Thanh, khu Ngoc Hà. Nơi đó nguyên có một cái hồ hình vuông, giữa hồ có một cột đá, cao chừng hai trượng, chu vi chín thước, đầu trụ đặt một tòa chùa ngói đỏ, hình như một đóa hoa sen dưới nước mọc lên, người ta gọi là chùa Nhất Trụ hay là chùa Một Cột. Chùa xây từ năm 1049, tức là năm đầu niên hiệu Sùng Hưng Đại Bảo vua Thái Tôn nhà Lý.<br>Tục truyền khi ấy vua Thái Tôn tuổi đã cao mà chưa có con trai, thường đến cầu tự ở các chùa. Một đêm nằm chiêm bao thấy đức Phật Quan Âm hiện trên đài hoa sen trong một cái hồ vuông ở phía tây thành, tay bế một đứa con trai đưa cho nhà vua.<br>Sau đó nhà vua quả sinh được con trai. Nhà vua liền sai lập chùa Một Cột để thờ Phật Quan Âm. Khi chùa làm xong, nhà vua triệu tập hàng ngàn Tăng Ni đứng chầu chung quanh, tụng kinh suốt bảy ngày đêm, và lập thêm một ngôi chùa lớn ở ngay bên cạnh để thờ chư Phật, gọi là chùa Diên Hựu. Năm 1105, vua Nhân Tôn nhà Lý cho sửa lại chùa, dựng lên một cây tháp bằng đá trắng gọi là tháp Bạch Tuynh, cao 13 trượng ở trước chùa Diên Hựu. Từ tháp Bạch Tuynh vào chùa Một Cột, đi bằng một hành lang cầu vồng. Mỗi tháng hai ngày rằm, mùng một, nhà vua cùng các hậu phi,cung tần và cận thần tới chùa lễ Phật. Đặc biệt là hằng năm cứ đến ngày tám tháng tư là ngày Phật Đản, nhà vua lại ngự ra chùa trước một đêm, giữ mình chay tịnh, ngày hôm sau làm lễ tắm Phật. Rất đông Tăng Ni và nhân dân các nơi tới dự, làm nên ngày hội lớn hàng năm ở thủ đô. Ngày ấy, trước chùa lại có một lễ lớn gọi là Lễ Phóng sinh. Lễ tắm Phật xong rồi, nhà vua đứng lên đài cao, tay cầm một con chim thả cho bay đi, rồi các tăng Ni và các nam nữ thiện tín, đua nhau mỗi người thả một con, bóng bay rợp trời.<br>Năm 1922, trường Viễn Đông Bác Cổ có sửa chữa lại, giữ theo đúng như quy chế cũ.<br>Đêm ngày 11 thánh 9 năm 1954, tay sai của thực dân Pháp, trước khi phải giao trả thủ đô cho Chính phủ và nhân dân ta, đã cố ý đặt mìn để phá hoại chùa Một Cột. Ngày sau khi tiếp quản thủ đô, chính phủ ta đã cho chiếu theo đồ dạng cũ, sửa chữa lại ngay; tháng 4 năm 1955, chùa Một Cột lại được hoàn nguyên như cũ.<br>Từ đầu 1958, cây bồ đề của đất Phật Ấn Độ kính tặng Hồ Chủ tịch nhân dịp Người đi thăm Ấn Độ, được đem trồng trong chùa.<br>Nói đến chùa Một Cột này, có một việc cần phải nói rõ là : chúng ta đọc sử về đời Lý-Trần, vẫn thấy nói đến “ An Nam tứ khí” nghĩa là bốn thứ kiến trúc lớn ở nước Nam[2], mà quả chuông ở trước Chùa Một Cột là một.<br>Theo sử cũ chép : Cũng về đời vua Nhân Tôn nhà Lý, vào năm Long Phù thứ tám (1108), nhà vua cho xuất kho một vạn hai ngàn cân đồng để đúc một quả chuông lớn gọi là Giác Thế Chung ( quả chuông thức tỉnh người đời) để treo ở chùa Diên Hựu, định mỗi khi đánh một tiếng chuông, tiếng sẽ vang đi mấy dặm. Xây một tòa phương đình toàn bằng đá xanh, cao 8 trượng, trên nóc đình bắc những đóng sắt to để treo chuông. Xây đình và đúc chuông, hơn một năm mới xong, hàng ngày các nơi phải thay nhau đưa dân phu đến phục dịch. Thân hình quả chuông không biết to lớn thế nào, chỉ biết khi đúc xong không thể nào treo chuông lên được, đành cứ phải để chuông đứng sát mặt đất, nên đánh chuông không kêu. Rồi bao nhiều lần dồn ép hàng ngàn người xúm vào ra sức vần xoay, kết cục chỉ vật ngã được quả chuông lăn kềnh trên mặt ruộng. Lúc đầu người ta còn làm mái che chuông, lâu ngày chẳng ai đoái hoài, mặc cho chuông nằm phơi mưa gió. Nơi chuông nằm lại vốn là một ruộng nước, lòng chuông trở thành cái tổ êm ấm cho từng đàn rùa chui ra chui vào. Vì vậy chuông lại được mang cái tên là chuông ruộng rùa.<br>Chuông bị dải dầu như thế đến hơn ba trăm năm. Năm 1427, bọn phong kiến nhà Minh sang xâm chiếm nước ta đã hai mươi năm, bị quân dân ta do Bình Định Vương lãnh đạo kháng chiến anh dũng, phải rút về cố thủ ở thành Đông Quan ( tức Hà Nội), rồi bị quân ta vây hãm hơn hai tháng, lương thực bị thiếu thốn, khí giới đạn dược cũng hao mòn, chúng phải vơ vét hết các đồ đồng ở dân gian, rồi đến cả phần thân trên bằng đồng của tháp Báo Thiên và quả chuông ruộng rùa này để đúc sung đạn, nhưng kết cục chúng cũng phải đầu hàng quân ta, cuốn giác về nước.<br>Về sự tích chùa Một Cột này lại có một truyền thuyết nói rằng: Bà Linh Nhân Thái hậu, vợ vua Thái Tôn nhà Lý, không sinh đẻ, tính lại cả ghen, bà sai Thái giám bắt giam 72 cung nữ có nhan sắc, thường được chầu hầu nhà vua, giam vào phòng tối ở cung Thượng Dương; tới khi vua Thái Tôn mất, bà lại bắt 72 người ấy phải chịu chôn sống để chết theo vua.Sau bà hối hận, dựng 72 ngôi chùa để siêu độ các oan hồn. Chùa Một Cột này là một trong 72 ngôi chùa ấy.<br><br>https://truyencotich.vn/truyen-co-tich/co-tich-viet-nam/su-tich-chua-mot-cot.html</div>]]></description>
         <enclosure url="https://truyencotich.vn/truyen-co-tich/co-tich-viet-nam/su-tich-chua-mot-cot.html" />
         <pubDate>2022-09-29 09:45:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2319082409</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Sự tích hồ Hoàn Kiếm</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2319094765</link>
         <description><![CDATA[<div>Vào thời giặc Minh <sup>[1]</sup> xâm lược nước ta, đi đến đâu chúng cũng tàn sát người dân vô tội, cướp bóc của cải của nhân dân. Cuộc sống của người dân vô cùng cực khổ, và lầm than. Thấy cuộc sống của trăm dân như vậy một số người có lòng yêu nước đã tụ họp lại với nhau cùng bàn bạc làm một cuộc khởi nghĩa để chống lại sự tàn ác và bạo ngược của quân giặc. Trong đó có nghĩa quân ở vùng Lam Sơn.<br><br></div><div>Tuy nhiên, nghĩa quân cũng chỉ toàn là những người nông dân áo vải, binh khí thì thô sơ mà chưa thu hút được nhiều người nên chưa có đủ sức mạnh để chiến đấu chống lại quân giặc. Rất nhiều lần nghĩa quân đã đứng lên khởi nghĩa nhưng lần nào cũng bị binh tướng nhà Minh đánh cho bại trận. Đức Long Quân <sup>[2]</sup> nhìn thấy tấm lòng chiến đấu quả cảm và tinh thần yêu nước của nghĩa quân, liền quyết định cho nghĩa quân mượn thanh gươm thần để tăng thêm sức mạnh và sĩ khí chiến đấu cho họ.<br><br></div><div>Hồi ấy ở Thanh Hóa, có một người đi đánh cá dưới sông, khi kéo lên thấy lưới rất nặng. Anh ta nghĩ thầm trong bụng: “Phen này chắc là được nhiều cá lắm đây!“. Tuy nhiên khi lưới được kéo lên thì không có một con cá nào mà chỉ là một lưỡi gươm cũ. Anh ta liền vứt lưỡi gươm trở lại sông, lần thứ hai chàng kéo lưới, lưỡi gươm ấy lại vướng vào. Lần này anh quăng lưỡi gươm đi xa hơn nữa.<br><br></div><div>Đến lần thứ ba kéo lưới vẫn là lưỡi gươm đó mắc vào. Thấy lạ, anh liền cầm lưỡi gươm cũ lên và mang về để trong góc nhà. Người đó tên là Lê Thận – một nông dân quê ở Thanh Hóa, có lòng yêu nước nồng nàn, từ lâu đã có ý muốn gia nhập cùng nghĩa quân Lam Sơn <sup>[3]</sup>.<br><br></div><div>Lực lượng của nghĩa quân Lam Sơn lúc bấy giờ đã ngày càng đông, muốn chiêu binh thêm những người tài giỏi và có lòng yêu nước tham gia. Lê Thận có sức khỏe cùng với lòng yêu nước mong đánh đuổi giặc ngoại xâm từ lâu nên đã gia nhập nghĩa quân. Anh tham gia những trận chiến quan trọng và góp nhiều công sức trong các trận thắng lớn, được Lê Lợi vô cùng tin tưởng.<br><br></div><div>Một lần Lê Lợi đưa quân qua vùng Thanh Hóa đã vào nhà Lê Thận để nghỉ ngơi. Vừa vào tới nhà, Lê Lợi và các tướng lĩnh thấy lưỡi gươm cũ vứt ở xó nhà của Lê Thận phát ra ánh hào quang sáng chói. Mọi người tiến lại cầm lên xem thì thấy trên lưỡi gươm có khắc hai chữ “thuận thiên” <sup>[4]</sup>. Tất cả vô cùng ngạc nhiên nhưng cũng không nghĩ đó là báu vật, chỉ cho đó là lưỡi gươm bình thường mà thôi.</div><div>Thời gian sau, nghĩa quân tổ chức rất nhiều trận đánh trả quân Minh. Trong một đánh không may nghĩa quân bại trận, Lê Lợi bị quân giặc đuổi theo vào trong rừng sâu. Khi đang chạy trốn, ông nhìn thấy có một vật sáng chói trên cành cây. Lấy làm tò mò, Lê Lợi liền trèo lên cành cây thì thấy một cái chuôi gươm nạm ngọc <sup>[5]</sup> sáng lấp lánh. Lại nhớ tới hôm ở nhà Lê Thận có lưỡi gươm phát sáng Lê Lợi liền cầm chuôi gươm về.<br><br></div><div>Vài hôm sau, gặp Lê Thận, Lê Lợi kể lại chuyện nhặt được chuôi gươm phát sáng và bảo Lê Thận cho mượn lưỡi gươm cũ. Không ngờ sau khi cho lưỡi gươm vào trong chuôi gươm thì lại vừa in như một cặp, lưỡi gươm trở lên sáng chói và sắc nhọn vô cùng.<br><br></div><div>Lê Thận và mọi người ở đó đều quỳ rạp dưới chân Lê Lợi mà rằng: “Có lẽ đây là gươm báu trời ban, giúp nghĩa quân đánh giặc xâm lược. Nay xin chủ tướng cầm gươm báu để lãnh đạo nghĩa quân đánh đuổi giặc Minh ra khỏi bờ cõi nước ta, để cho muôn dân được hưởng cuộc sống yên bình”.<br><br></div><div>Lê Lợi nhận thanh gươm từ tay Lê Thận, hứa sẽ dốc hết lòng lãnh đạo nghĩa quân thuận theo ý trời.<br><br></div><div>Kể từ đó, nghĩa quân đánh đâu thắng đó, trăm trận trăm thắng. Dần dần lực lượng quân Minh bị suy yếu, nghĩa quân không còn phải trốn ở trong rừng nữa, mà chuyển sang đối đầu trực diện. Kho lương thực cũng ngày càng đầy đủ do chiếm được của quân giặc càng giúp cho quân lính cóthêm khí thế chiến đấu hơn trước.<br><br></div><div>Chẳng bao lâu sau, dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi và nhờ gươm thần mà nghĩa quân đã đánh bại quân Minh. Giặc sợ hãi bỏ tháo chạy về phương Bắc <sup>[6]</sup>, muôn dân lại được thái bình.<br><br></div><div>Sau khi đánh đuổi hết giặc Minh, Lê Lợi lên ngôi vua để trị vì và thống nhất đất nước.<br><br></div><div>Một năm sau, khi nhà vua cùng các bề tôi thân tín ngồi thuyền đi dạo trên hồ Tả Vọng trước kinh thành. Đức Long Quân sai rùa vàng lên để lấy lại thanh gươm thần.<br><br></div><div>Khi thuyền ra tới giữa hồ thì bất ngờ từ dưới làn nước trong xanh, có một con rùa vàng ngoi đầu lên, cất tiếng:<br><br></div><div>– Thưa nhà vua, lúc trước Đức Long Quân có cho nhà vua mượn thanh gươm thần để đánh giặc. Nay nghiệp lớn đã hoàn thành, xin nhà vua hãy trả lại gươm thần!<br><br></div><div>Lê Lợi nghe xong, liền cởi thanh gươm bên mình ra, cầm hai tay và dâng lên trước mặt rùa vàng. Thanh gươm bất ngờ bay khỏi tay nhà vua sang miệng rùa vàng. Rùa vàng ngậm lấy gươm, lặn xuống hồ biến mất.<br><br></div><div>Từ đó, hồ Tả Vọng được đặt tên là <a href="https://thegioicotich.vn/su-tich-ho-guom/">Hồ Gươm</a> hay hồ Hoàn Kiếm <sup>[7]</sup>.<br><br></div><div><strong><em>Câu chuyện Sự tích Hồ Gươm</em></strong><br><em>– Thế giới cổ tích –<br></em><br></div><div>https://thegioicotich.vn › su-tich-ho-...</div><div>Sự tích hồ Gươm [Truyện truyền thuyết Việt Nam] - TheGioiCoTich.Vn</div><div><br></div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1397792803/ad1fd5d3b722813f4b8d54efef771312/image.png" />
         <pubDate>2022-09-29 09:55:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2319094765</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Giới thiệu về Văn Miêu Quốc Tử Giám</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2319112211</link>
         <description><![CDATA[<div>https://vi.m.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_Mi%E1%BA%BFu_%E2%80%93_Qu%E1%BB%91c_T%E1%BB%AD_Gi%C3%A1m&nbsp; &nbsp;<br><br><br><br><br><strong><br>Văn Miếu – Quốc Tử Giám</strong> là quần thể di tích đa dạng và phong phú hàng đầu của thành phố <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_N%E1%BB%99i">Hà Nội</a>, nằm ở phía Đông <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Kinh_th%C3%A0nh_Th%C4%83ng_Long">kinh thành Thăng Long</a>. Quần thể kiến trúc Văn Miếu – Quốc Tử Giám bao gồm: hồ Văn, khu Văn Miếu – Quốc Tử Giám và vườn Giám, mà kiến trúc chủ thể là <em>Văn Miếu</em> (chữ Hán: 文廟) - nơi thờ Khổng Tử, và <em>Quốc Tử Giám</em> (chữ Hán: 國子監) - trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Khu Văn Miếu – Quốc Tử Giám có tường gạch vồ bao quanh, phía trong chia thành 5 lớp không gian với các kiến trúc khác nhau. Mỗi lớp không gian đó được giới hạn bởi các tường gạch có 3 cửa để thông với nhau (gồm cửa chính giữa và hai cửa phụ hai bên). Từ ngoài vào trong có các cổng lần lượt là: cổng Văn Miếu, Đại Trung, Khuê Văn Các, Đại Thành và cổng Thái Học.<a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_Mi%E1%BA%BFu_%E2%80%93_Qu%E1%BB%91c_T%E1%BB%AD_Gi%C3%A1m#cite_note-bienphong.com.vn-1"><sup>[1]</sup></a> Với hơn 700 năm hoạt động đã đào tạo hàng nghìn nhân tài cho đất nước. Ngày nay, Văn Miếu-Quốc Tử Giám là nơi tham quan của du khách trong và ngoài nước đồng thời cũng là nơi khen tặng cho học sinh xuất sắc và còn là nơi tổ chức hội thơ hàng năm vào ngày rằm tháng giêng. Đặc biệt, đây còn là nơi các sĩ tử ngày nay đến "cầu may" trước mỗi kỳ thi quan trọng.<br><br></div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-09-29 10:11:08 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2319112211</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lịch sử Văn Miếu - Quốc Tử Giám </title>
         <author>MinarainbowUwU</author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2319216852</link>
         <description><![CDATA[<div>Văn Miếu&nbsp; được xây dựng từ năm 1070 đời Lý Thánh Tông.</div><div>&nbsp;Năm 1076, Lý Nhân Tông cho lập trường Quốc Tử Giám ở bên cạnh Văn Miếu có thể coi đây là trường đại học đầu tiên ở Việt Nam. Ban đầu, trường chỉ dành riêng cho con vua và con các bậc đại quyền quý nên gọi tên là Quốc Tử, người học đầu tiên là hoàng tử Lý Càn Đức. Năm 1156, Lý Anh Tông cho sửa lại Văn Miếu và chỉ thờ Khổng Tử</div><div>Đời Trần Minh Tông, Chu Văn An được cử làm quan Quốc Tử giám Tư nghiệp và thầy dạy trực tiếp của các hoàng tử. Năm 1370 ông mất, được vua Trần Nghệ Tông cho thờ ở Văn Miếu bên cạnh Khổng Tử .Năm Nguyên Phong thứ 3 1253, vua&nbsp; Trần Thái Tông đổi Quốc Tử Giám thành Quốc Học viện cho mở rộng và thu nhận cả con cái các nhà thường dân có sức học xuất sắc.&nbsp;</div><div>Sang thời Hậu Lê, Nho giáo rất thịnh hành. Vào năm 1484, Lê Thánh Tông cho dựng bia của những người thi đỗ tiễn sĩ từ khoa thi 1442 trở đi. Mỗi khoa, một tấm bia đặt trên lưng rùa.</div><div>Cuối triều Lê, thời Cảnh Hưng, bia vẫn được khắc đều đặn. Dù không còn giữ được đủ bia, nhà công trình điêu khắc giá trị và tư liệu lịch sử quý báu.</div><div>Năm 1762, Lê Hiến Tông cho sửa lại là <strong>Quốc Tử Giám</strong> - cơ sở đào tạo và giáo dục cao cấp của triều đình.<br>Đời nhà Nguyễn, Quốc Tử giám lập tại Huế. Năm 1802, vua Gia Long ấn định đây là Văn Miếu - Hà Nội. Tổng trấn Bắc thành Nguyễn Văn Thành cho xây thêm Khuê Văn Các bên cạnh giếng vuông. Như vậy vào đầu thời Nguyễn, Văn miếu Thăng Long đã một lần được sửa sang chỉ còn là Văn Miếu của trấn Bắc Thành, sau đổi thành Văn Miếu Hà Nội. Còn Quốc Tử Giám thì đổi thành học đường của phủ Hoài Đức và sau đó tại khu vực này xây đền Khải thánh để thờ cha mẹ Khổng Tử.</div><div>Đầu năm 1947, thực dân Pháp nã đạn đại bác làm đổ sập căn nhà, chỉ còn cái nền với hai cột đá và 4 nghiên đá. Ngày nay toàn bộ khu Thái Học được xây dựng với diện tích 1530m² trên tổng diện tích 6150m² gồm các công trình kiến trúc chính là Tiền đường, Hậu đường, Tả vu, Hữu vu, nhà chuông, nhà trống được mô phỏng theo kiến trúc truyền thống trên nền đất xưa của Quốc Tử Giám.<br>Nguồn: Internet&nbsp;</div><div>Link:<a href="https://sites.google.com/site/vanmieuquoctugiam1/home/1-lich-su">https://sites.google.com/site/vanmieuquoctugiam1/home/1-lich-su</a></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1344982593/9cdb09cf14f16363345f2a05f4a0c22c/AF3F360E_E33B_42B6_9B3E_5ADB08001E1B.jpg" />
         <pubDate>2022-09-29 11:40:04 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2319216852</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lịch sử phố cổ </title>
         <author>MinarainbowUwU</author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2319277379</link>
         <description><![CDATA[<div>Khu phố cổ đã được hình thành từ thời Lý – Trần, nằm ở phía đông của hoàng thành Thăng Long ra đến sát sông Hồng. Bên ngoài khu vực là vòng thành Đại La có trổ các cửa ô. Thời này, dân cư từ các làng quanh đồng bằng Bắc Bộ tụ tập về đây sinh sống, tạo thành khu phố đông đúc nhất kinh thành.<br><br></div><div>Đặc trưng nổi bật của phố cổ Hà Nội là các phố nghề tập trung theo từng khu vực. Những thuyền buôn có thể vào giữa phố để buôn bán trao đổi, khiến các phố nghề càng phát triển. Và chính sản phẩm được buôn bán trở thành tên phố, với chữ “hàng” phía trước, nghĩa là chuyên bán buôn mặt hàng đó.<br><br></div><div>Đến đời Lê, đã có một số Hoa kiều buôn bán ở đây, hình thành thêm các phố người hoa. Thời bấy giờ, giữa khu phố cổ Hà Nội có một số đầm hồ, lớn nhất là hồ Thái Cực. Đến cuối thế kỷ 19 thì các đầm hồ đó bị lấp, nhưng vẫn còn để lại dấu tích qua các địa danh: Hà Khẩu, Giang Khẩu, Cầu Gỗ, Cầu Đông.</div><div>Thời Pháp thuộc, khu phố cổ được mở rộng, người Ấn, người Pháp cũng đến đây buôn bán, hình thành nên sự đa dạng văn hóa và sắc tộc. Hai chợ nhỏ lúc bấy giờ cũng được giải tỏa để lập chợ Đồng Xuân, và đường ray xe điện Bờ hồ – Thụy Khuê thời đó cũng chạy xuyên qua đây…<br>Trải qua nhiều biến cố thăm trầm lịch sử, phố cổ Hà Nội xưa và nay vẫn là khu buôn bán nhộn nhịp nhất của Hà Nội. Cuộc sống ở phố cổ cũng có nhiều thay đổi, song vẫn giữ được cốt cách của những tiểu thương. Ngày nay, các tuyến phố đi bộ cũng được mở tại đây.<br><br></div><div>Hiện nay, có một số phố nghề ở khu phố cổ vẫn còn giữ được sản phẩm truyền thống như phố Hàng Mã, Hàng Tre, Hàng Thiếc… Và một số phố tuy không giữ nghề, nhưng cũng tập trung chuyên bán một loại hàng hóa như phố Hàng Quạt bán đồ thờ, Hàng Buồm bán bánh kẹo, phố Mã Mây chuyên dịch vụ du lịch…<br>Nguồn:Internet&nbsp;<br>Link:<a href="http://onthi.net.vn/tim-hieu-lich-su-pho-co-ha-noi-net-dac-trung-cua-pho-co-ha-noi/">http://onthi.net.vn/tim-hieu-lich-su-pho-co-ha-noi-net-dac-trung-cua-pho-co-ha-noi/</a></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1344982593/38b75f74455bde479d0329e532a847f7/DA40EB78_F682_4C29_934F_D8A064643E9F.png" />
         <pubDate>2022-09-29 12:25:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2319277379</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hai Bà Trưng </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2319315392</link>
         <description><![CDATA[<div>Đất Mê Linh là đất bản bộ của các vua Hùng, kéo dài trên hai bờ sông Hồng từ phía trên của đỉnh tam giác châu Việt Trì (Phú Thọ) cho đến gần Hà Nội và trải rộng từ vùng núi Ba Vì (Hà Tây) sang vùng núi Tam Đảo (Vĩnh Phúc), tương đương với phần lớn các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hà Tây hiện nay.<br><br></div><div>Sách Đại việt sử ký toàn thư chép: Trưng Trắc “nguyên là họ Lạc, con gái của Lạc tướng huyện Chu Diên (vùng lưu vực sông Đáy và mở sang cả sông Hồng bao gồm khu vực Hà tây, Hà Nội, Hà Nam hiện nay).<br><br></div><div>Hai Bà Trưng, Trưng Trắc và Trưng Nhị, hai chị em sinh đôi là con gái Lạc tướng Mê Linh, đất bản bộ cũ của vua Hùng. Chồng Bà Trưng Trắc là Thi Sách, con trai lạc tướng Chu Diên. Lãnh thổ Mê Linh và Chu Diên liền cõi, hai gia đình lạc tướng là thông gia, khiến thanh thế của họ càng thêm mạnh, uy danh càng thêm lớn.<br><br></div><div>Những năm đầu công nguyên, <a href="http://truyencotich.vn/">Cổ Loa</a> với vị thế là một kinh đô cổ của đất nước đã sớm trở thành một trung tâm của các cuộc nổi dậy, đấu tranh giành độc lập của nhân dân, trong đố tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng.<br><br></div><div>Chính sách cai trị hà khắc, tàn bạo của nhà Đông Hán càng thôi thúc vợ chồng Trưng Trắc -Thi Sách hiệp mưu tính kế nổi dậy chống nhà Hán. Theo truyền thuyết và sử cũ, Thái Thú Tô Định đã giết chết Thi Sách trước khi cuộc khởi nghĩa nổ ra. Hành vi bạo ngược của Tô Định càng làm cho Bà Trưng Trắc cùng em gái là Trưng Nhị thêm quyết tâm tiến hành cuộc khởi nghĩa đánh đổ chính quyền đô hộ, rửa nợ nước, trả thù nhà, dựng lại cơ nghiệp xưa cho các Vua Hùng<br><br></div><div>Cửa sông Hát (Hát Môn, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây) là nơi khởi phát công cuộc tụ nghĩa và khởi nghĩa. Thời điểm nổ ra cuộc khởi nghĩa là niên hiệu Kiến Vũ thứ 16 tức năm 40 SCN.<br><br></div><div>Khởi nghĩa Hai Bà Trưng lập tức được sự hưởng ứng của các lạc tướng và nhân dân quận Giao Chỉ rồi toàn miền Nam Việt và Âu Lạc cũ. Xuất phát từ Hát Môn, Hai Bà đánh phá đô uý trị của giặc ở Hạ Lôi (Mê Linh) sau đó kéo quân từ Mê Linh xuống Tây Vu đánh chiếm Cổ Loa, từ Cổ Loa, quân của Hai Bà vượt sông Hoàng, sông Đuống đánh chiếm Luy Lâu (nay ở Lũng Khê, Thuận Thành, Bắc Ninh) là châu trị và quận trị của bọn đô hộ nhà Hán<br><br></div><div>Hoảng sợ trước khí thế ngút trời của nhân dân <a href="http://truyencotich.vn/">Âu Lạc</a>, bọn địch không dám chống cự bỏ chạy tháo thân về nước. Thái thú Tô Định cũng lẻn trốn về nước. Chỉ trong vòng hai tháng, nghĩa quân Hai Bà Trưng giải phóng toàn bộ đất nước (65 quận, huyện, thành), giành chủ quyền về tay dân tộc.<br><br></div><div>Mùa hè năm Canh tý (40) Bà Trưng Trắc được tướng sĩ tôn lên làm vua, hiệu là Trưng Nữ Vương, đóng đô ở quê nhà là lỵ sở huyện Mê Linh cũ. Bà Trưng Nhị được phong là Bình khôi Công chúa. Các tướng sĩ khác đều được phong thưởng chức tước, tiền bạc, ruộng đất. Dân cả nước được xá thuế hai năm liền.<br><br></div><div>Mùa hè năm 42 (niên hiệu Kiến Vũ thứ 17), nhà Đông Hán phong Mã Viện làm phục Ba tướng quân, thống lĩnh quân sĩ sang đánh nước ta. Mùa hè năm 43 (niên hiệu Kiến Vũ thứ 18), quân Mã Viện tiến qua Long Biên, Tây Vu đến Lãng Bạc ở phía đông Cổ Loa. Hai Bà Trưng đã tiến quân từ Mê Linh qua Cổ Loa xuống Lãng Bạc đánh quân xâm ược. Mã Viện là viên tướng có dày dặn kinh nghiệm trận mạc, có số quân đông, thiện chiến, có các lực lượng thủy bộ phối hợp, lại rất thành thạo lối đánh tập trung theo kiểu trận địa chiến. Nhưng vì tương quan lực lượng quá chênh lệch và sau một thời gian hồi sức trở lại, Mã Viện đã dần dần giành thế chủ động. Trong khi đó Hai Bà Trưng lực lượng vừa tập hợp, còn quá non trẻ và chưa có nhiều kinh nghiệm chiến đấu, không có khả năng cầm cự lâu dài với quân xâm lược Đông Hán ở Lãng Bạc. Quân của Trưng Vương càng ngày càng bộc lộ rõ thế yếu, bị thiệt hại nặng. Có đến hàng nghìn người bị bắt và hy sinh trêm chiến lũy. Nếu cứ tiếp tục duy trì lực lượng ở Lãng Bạc thì quân đội Trưng Vương sẽ không thể giữ nổi căn cứ này và có thể sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn.<br><br></div><div>Thấy không thể kéo dài thời gian cầm cự với Mã Viện được nữa. Trưng Trắc quyết định rút quân khỏi Lãng Bạc, lui về giữ thành Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội). Thành Cổ Loa kiên cố, thủy bộ liên hoàn đã được Trưng Vương sử dụng, khai thác tất cả lợi thế của nó để hy vọng chặn đứng và tiêu diệt đoàn quân xâm lược đã giành được thế chủ động và đang ào ạt tiến về hướng kinh thành Mê Ling. Lúc này chiến trường trải rộng khắp vùng Từ Sơn, Tiên Du, Đông Anh và nhất là khu vực xung quanh Cổ Loa. Nhiều tướng lĩnh của Trưng Vương đã chiến đấu và hy sinh trong những ngày tháng này như Đồng Bảng ở Gia Lộc (Đại Hùng, Đông Anh) Thủy Hải, Đăng Giang ở Đại Vĩ (Hà Vĩ, Liên Hà, Đông Anh)…<br><br></div><div>Tòa thành Cổ Loa kiên cố cũng không giúp T<a href="http://truyencotich.vn/">rưng Trắc</a> bảo toàn được lực lượng trước sức tấn công ào ạt của Mã Viện, bà phải đem quân về kinh thành Mê Linh ở Hạ Lôi (Mê Linh, Vĩnh Phúc). Nhưng quân Đông Hán rất mạnh, nên Hai Bà Trưng phải lui quân về giữ các thành ở Hạ Lôi, Cự Triền. Mã Viện đem quân thuỷ, bộ đuổi theo. Cuộc cầm cự diễn ra ác liệt cuối cùng Hai Bà bị thương nặng và gieo mình xuống dòng sông Hát tự trẫm chứ không chịu sa vào tay giặc. Các tướng của Hai Bà phần nhiều bị thương phải chạy về bản doanh của mình, có người đã hy sinh.<br><br></div><div>Cuộc khởi nghĩa bị thất bại. Sau ba năm, đất nước và nhân dân ta lại bị phong kiến phương Bắc đô hộ. Nhưng khởi nghĩa Hai Bà Trưng mở đầu cho truyền thống đấu tranh chống các thế lực phương Bắc đô hộ nước ta. Là tấm gương để các bậc anh hùng hào kiệt dân tộc kế tiếp nhau đứng lên đánh đuổi ngoại xâm giành độc lập chủ quyền dân tộc.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-09-29 12:48:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2319315392</guid>
      </item>
      <item>
         <title>giới thiệu về quốc tử giám</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2319378188</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;văn Miếu được xây dựng từ năm (1070) tức năm Thần Vũ thứ hai đời Lý Thánh Tông (Đại Việt sử ký toàn thư. Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tập 1, tr.234) chép: “Mùa thu tháng 8, làm Văn Miếu, đắp tượng, Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối, vẽ tượng Thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế. Hoàng thái tử đến đấy học.” . Như vậy Văn miếu ngoài chức năng thờ các bậc Tiên thánh, Tiên sư của đạo Nho, còn mang chức năng của một trường học Hoàng gia mà học trò đầu tiên là Thái tử Lý Càn Đức, con trai vua Lý Thánh Tông với Nguyên phi Ỷ Lan, lúc đó mới 5 tuổi, đến năm 1072 lên ngôi trở thành vua Lý Nhân Tông.</div><div><br>Năm 1076, Lý Nhân Tông cho lập trường Quốc Tử Giám ở bên cạnh Văn Miếu có thể coi đây là trường đại học đầu tiên ở Việt Nam. Ban đầu, trường chỉ dành riêng cho con vua và con các bậc đại quyền quý (nên gọi tên là Quốc Tử). (Việt sử thông giám cương mục. Nxb. Văn sử địa. 1957) chép: “Bính Thìn, năm Anh Vũ Chiêu Thắng thứ 1 tháng 4… lập nhà Quốc Tử Giám; tuyển trong các văn thần lấy những người có văn học, bổ vào đó”. Năm 1156, Lý Anh Tông cho sửa lại Văn Miếu và chỉ thờ Khổng Tử.</div><div><br>Năm Nguyên Phong thứ 3 1253, vua Trần Thái Tông đổi Quốc Tử Giám thành Quốc Học Viện cho mở rộng và thu nhận cả con cái các nhà thường dân có sức học xuất sắc. Chức năng trường Quốc học ngày càng nổi bật hơn chức năng của một nơi tế lễ “Quý Sửu năm thứ ba(1253)… Tháng 6 lập Quốc Học Viện tô tượng Khổng Tử, Chu công và Á Thánh, vẽ tượng 72 người hiền để thờ… Tháng 9 xuống chiếu cho các nho sĩ trong nước đến Quốc học viện giảng học tứ thư, lục kinh” (ĐVSKTT). Lấy Phạm Ứng Thần giữ chức Thượng thư kiêm chức Đề điệu Quốc Tử viện để trông nom công việc học tập tại Quốc Tử Giám.</div><div><br>Đời Trần Minh Tông, Chu Văn An được cử làm quan Quốc Tử giám Tư nghiệp (hiệu trưởng) và thầy dạy trực tiếp của các hoàng tử. Năm 1370 ông mất, được vua Trần Nghệ Tông cho thờ ở Văn Miếu bên cạnh Khổng Tử.</div><div><br>Sang thời Hậu Lê, Nho giáo rất thịnh hành. Vào năm 1484, Lê Thánh Tông cho dựng bia của những người thi đỗ tiến sĩ từ khoa thi 1442 trở đi (chủ trương đã đề ra năm 1442 nhưng chưa thực hiện được). Mỗi khoa, một tấm bia đặt trên lưng rùa. Tới năm đó, nhà Lê đã tổ chức được 12 khoa thi cao cấp, Lê Thánh Tông (1460 – 1497) đã tổ chức đều đặn cứ ba năm một lần, đúng 12 khoa thi.</div><div><br>Không phải khoa thi nào tiến hành xong đều được khắc bia ngay, không phải bia đã dựng thì vĩnh tồn, không hư hỏng, không mất mát. Từng thời có những đợt dựng, dựng lại lớn, như năm 1653 (Thịnh Đức năm thứ nhất, năm 1717 (Vĩnh Thịnh năm thứ 13).</div><div><br>Cuối triều Lê, thời Cảnh Hưng, bia vẫn được khắc đều đặn. Dù không còn giữ được đủ bia, nhà công trình điêu khắc giá trị và tư liệu lịch sử quý báu.</div><div><br>Năm 1762, Lê Hiển Tông cho sửa lại là <strong>Quốc Tử Giám</strong>– cơ sở đào tạo và giáo dục cao cấp của triều đình.</div><div><br>Đời nhà Nguyễn, Quốc Tử giám lập tại Huế. Năm 1802, vua Gia Long ấn định đây là Văn Miếu – Hà Nội. Tổng trấn Bắc thành Nguyễn Văn Thành cho xây thêm Khuê Văn Các bên cạnh giếng vuông. Như vậy vào đầu thời Nguyễn, Văn miếu Thăng Long đã một lần được sửa sang chỉ còn là Văn Miếu của trấn Bắc Thành, sau đổi thành Văn Miếu Hà Nội. Còn Quốc Tử Giám thì đổi thành học đường của phủ Hoài Đức và sau đó tại khu vực này xây đền Khải thánh để thờ cha mẹ Khổng Tử.</div><div><br>Đầu năm 1947, thực dân Pháp nã đạn đại bác làm đổ sập căn nhà, chỉ còn cái nền với hai cột đá và 4 nghiên đá. Ngày nay toàn bộ khu Thái Học được xây dựng với diện tích 1530m2 trên tổng diện tích 6150m2 gồm các công trình kiến trúc chính là Tiền đường, Hậu đường, Tả vu, Hữu vu, nhà chuông, nhà trống được mô phỏng theo kiến trúc truyền thống trên nền đất xưa của Quốc Tử Giám.</div><div><br>Kiến trúc</div><ul><li><strong>Văn Miếu-Quốc Tử Giám</strong> nằm ở phía Nam thành Thăng Long, xưa thuộc thôn Minh Giám, tổng Hữu Nghiêm, huyện Thọ Xương; thời Pháp thuộc làng Thịnh Hào, tổng Yên Hạ, huyện Hoàng Long, tỉnh Hà Đông. Nay thuộc thành phố Hà Nội. Bốn mặt đều là phố, cổng chính là phố Quốc Tử Giám (phía Nam), phía Bắc là phố Nguyễn Thái Học, phía Tây là phố Tôn Đức Thắng, phía Đông là phố Văn Miếu. Quần thể kiến trúc này nằm trên diện tích 54331m2 bao gồm: hồ Văn, khu Văn Miếu – Quốc Tử Giám và vườn Giám mà kiến trúc chủ thể là Văn Miếu nơi thờ Khổng Tử và Quốc Tử Giám, trường học cao cấp đầu tiên của Việt Nam.</li><li>Nhà Thái học sinh đời Lý – Trần quy mô thế nào, hiện chưa khảo được, vì các tư liệu lịch sử không thấy ghi lại. Thời thuộc Minh, nhiều di tích lịch sử văn hoá bị đốt hoặc đưa về Yên Kinh, (Bắc Kinh), nhưng Văn Miếu vẫn được người Minh tôn trọng. Năm Giáp Ngọ (1414) Hoàng Phúc xin với vua nhà Minh cho lập Văn Miếu ở các châu, huyện trong cả nước.</li><li>Năm Quý Mão niên hiệu Hồng Đức thứ 14 (1483) Lê Thánh Tông, đã thực hiện một đợt đại trùng tu, được ghi lại trong <em>Đại Việt sử ký toàn thư</em> như sau: <em>Tháng Giêng, mùa xuân sửa nhà Thái học…Đằng trước nhà Thái học dựng Văn Miếu. Khu vũ của Văn Miếu có điện Đại Thành để thờ Tiên Thánh, Đông vũ và Tây vũ chia ra thờ các Tiên hiền, Tiên nho; điện Canh Phục để làm nơi túc yết, Một kho để chứa đồ tế khí và một phòng để làm nhà bếp; đằng sau nhà Thái học, dựng cửa Thái học, nhà Minh luân. Giảng đường phía đông và giảng đường phía tây thì để làm chỗ giảng dạy các học sinh. Lại đặt thêm kho Bí thư để chứa ván gỗ khắc thành sách; bên đông bên tây nhà Thái học làm nhà cho học sinh trong ba xá, mỗi bên ba dãy, mỗi dãy 25 gian để làm chỗ nghỉ ngơi của học sinh</em></li><li>Sách <em>Đại Việt sử ký toàn thư</em> cho biết vào tháng 11 niên hiệu Hồng Thuận năm thứ 3 (1511) vua Lê Tương Dực: <em>Sai Nguyễn Văn Lang sửa lại điện Sùng Nho ở Quốc Tử Giám và 2 giải vũ, 6 nhà Minh Luân, phòng bếp, phòng kho, cùng làm mới 2 nhà bia bên đông bên tây, mỗi gian tả hữu đều để 1 tấm bia</em></li><li>Văn Miếu – Quốc Tử Giám nhà Lê đã được Lê Quý Đôn miêu tả trong <em>Kiến văn tiểu lục</em> (sách viết năm 1777) thì: <em>Văn Miếu; Cửa Đại Thành Nhà 3 gian 2 chái, lợp bằng ngói đồng (ngói ống), Đông Vũ và Tây Vũ 2 dãy đều 7 gian, đằng sau cửa nhỏ 1 gian, điện canh phục 1 gian 2 chái, nhà bếp 2 gian, kho tế khí 3 gian 2 chái, cửa Thái học 3 gian, có tường ngang lợp bằng ngói đồng (ngói ống), nhà bia phía đông và tây đều 12 gian, kho để ván khắc sách 4 gian, ngoại nghi môn 1 gian, xung quanh đắp tường, cửa hành mã ngoài tường ngang 3 gian, nhà Minh Luân 3 gian 2 chái, Cửa nhỏ bên tả và bên hữu đều 1 gian, có tường ngang. nhà giảng dạy ở phía đông và phía tây 2 dãy, mỗi dãy đều 14 gian. Phòng học của học sinh tam xá ở phía đông và phía tây đều ba dãy, mỗi dãy 25 gian, mỗi gian 2 người</em>.</li></ul><div><br>Toàn bộ kiến trúc Văn Miếu hiện nay đều là kiến trúc thời đầu nhà Nguyễn. Khuôn viên được bao bọc bởi bốn bức tường xây bằng gạch vồ (đây là sản phẩm của nhà Hậu Lê)</div><ul><li>Hiện nay quần thể kiến trúc Văn Miếu – Quốc Tử Giám được chia làm ba khu vực chính: 1 là <em>Văn hồ</em>, 2 <em>vườn Giám</em> và 3 là khu nội tự <em>Văn Miếu – Quốc Tử Giám</em> đây là khu chủ thể, bố cục đăng đối từng khu, từng lớp theo trục Bắc Nam, mô phỏng tổng thể quy hoạch khu Văn Miếu thờ Khổng Tử ở quê hương ông tại Khúc Phụ, Sơn Đông, Trung Quốc. Tuy nhiên, quy mô ở đây đơn giản hơn, kiến trúc đơn giản hơn và theo phương thức truyền thống nghệ thuật dân tộc Việt Nam (từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19).</li></ul><div><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp;<a href="https://vietwiki.vn/v%C4%83n-mi%E1%BA%BFu-qu%E1%BB%91c-t%E1%BB%AD-gi%C3%A1m/">https://vietwiki.vn/v%C4%83n-mi%E1%BA%BFu-qu%E1%BB%91c-t%E1%BB%AD-gi%C3%A1m/</a></div><div><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="https://vietwiki.vn/v%C4%83n-mi%E1%BA%BFu-qu%E1%BB%91c-t%E1%BB%AD-gi%C3%A1m/" />
         <pubDate>2022-09-29 13:23:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2319378188</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Sự tích Chùa Một Cột</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2319404624</link>
         <description><![CDATA[<div><br>Sự tích chùa Một Cột</div><div>Ngày xưa vào đời Lý vua Lý Thái Tôn là một tín đồ nhiệt thành của đạo Phật theo phái Vô Ngôn Thông. Thuở bấy giờ đạo Phật đang độ phát triển riêng triều đại này nhà vua truyền xây 95 ngôi chùa mới trùng tu lại tất cả những tượng Phật và trong các dịp lễ lớn này đều ban tha thuế cho toàn dân.<br><br></div><div>Năm 1049; một hôm vua Thái Tôn nằm mộng thấy Phật Bà Quan Âm hiện ra đưa nhà vua đến một tòa sen rạng ngời ánh sáng. Sau khi tỉnh dậy Vua thuật lại câu chuyện chiêm bao cho quần thần hay. Thiền tăng Thuyền Lã vị sư đã hướng dẫn nhà sư trên đường đạo hạnh bàn cùng nhà vua nên dựng một ngôi chùa để nhớ ơn đức Quan Âm.<br><br></div><div>Hàng tháng cứ đến ngày Rằm; mồng Một là nhà vua đến đặt lễ cầu phúc. Có thể nói từ hình ảnh ảo diệu trong giấc mộng vua Lý Thái Tông đã biến nó thành hình ảnh hiện hữu trong đời sống văn hóa tâm linh dân tộc.<br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-09-29 13:36:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2319404624</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Văn Miếu Quốc Tử Giám</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2319410839</link>
         <description><![CDATA[<div><br>Văn Miếu&nbsp; được xây dựng từ năm 1070 đời Lý Thánh Tông.<br><br></div><div><br>&nbsp;Năm 1076, Lý Nhân Tông cho lập trường Quốc Tử Giám ở bên cạnh Văn Miếu có thể coi đây là trường đại học đầu tiên ở Việt Nam. Ban đầu, trường chỉ dành riêng cho con vua và con các bậc đại quyền quý nên gọi tên là Quốc Tử, người học đầu tiên là hoàng tử Lý Càn Đức. Năm 1156, Lý Anh Tông cho sửa lại Văn Miếu và chỉ thờ Khổng Tử<br><br></div><div><br>Đời Trần Minh Tông, Chu Văn An được cử làm quan Quốc Tử giám Tư nghiệp và thầy dạy trực tiếp của các hoàng tử. Năm 1370 ông mất, được vua Trần Nghệ Tông cho thờ ở Văn Miếu bên cạnh Khổng Tử .Năm Nguyên Phong thứ 3 1253, vua&nbsp; Trần Thái Tông đổi Quốc Tử Giám thành Quốc Học viện cho mở rộng và thu nhận cả con cái các nhà thường dân có sức học xuất sắc.&nbsp;<br><br></div><div><br>Sang thời Hậu Lê, Nho giáo rất thịnh hành. Vào năm 1484, Lê Thánh Tông cho dựng bia của những người thi đỗ tiễn sĩ từ khoa thi 1442 trở đi. Mỗi khoa, một tấm bia đặt trên lưng rùa.<br><br></div><div><br></div><div><br>Cuối triều Lê, thời Cảnh Hưng, bia vẫn được khắc đều đặn. Dù không còn giữ được đủ bia, nhà công trình điêu khắc giá trị và tư liệu lịch sử quý báu.<br><br></div><div><br>Năm 1762, Lê Hiến Tông cho sửa lại là <strong>Quốc Tử Giám</strong> - cơ sở đào tạo và giáo dục cao cấp của triều đình.<br><br>Đời nhà Nguyễn, Quốc Tử giám lập tại Huế. Năm 1802, vua Gia Long ấn định đây là Văn Miếu - Hà Nội. Tổng trấn Bắc thành Nguyễn Văn Thành cho xây thêm Khuê Văn Các bên cạnh giếng vuông. Như vậy vào đầu thời Nguyễn, Văn miếu Thăng Long đã một lần được sửa sang chỉ còn là Văn Miếu của trấn Bắc Thành, sau đổi thành Văn Miếu Hà Nội. Còn Quốc Tử Giám thì đổi thành học đường của phủ Hoài Đức và sau đó tại khu vực này xây đền Khải thánh để thờ cha mẹ Khổng Tử.<br><br></div><div><br>Đầu năm 1947, thực dân Pháp nã đạn đại bác làm đổ sập căn nhà, chỉ còn cái nền với hai cột đá và 4 nghiên đá. Ngày nay toàn bộ khu Thái Học được xây dựng với diện tích 1530m² trên tổng diện tích 6150m² gồm các công trình kiến trúc chính là Tiền đường, Hậu đường, Tả vu, Hữu vu, nhà chuông, nhà trống được mô phỏng theo kiến trúc truyền thống trên nền đất xưa của Quốc Tử Giám.<br><br>https://sites.google.com/site/vanmieuquoctugiam1/home/1-lich-su</div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://sites.google.com/site/vanmieuquoctugiam1/home/1-lich-su" />
         <pubDate>2022-09-29 13:39:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2319410839</guid>
      </item>
      <item>
         <title>DÂN GIAN HÀ NỘI</title>
         <author>ed0119310052</author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2319411003</link>
         <description><![CDATA[<div>Những bài học đạo đức đề cao nhân nghĩa, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của con người hay sự tố cáo, phê phán cái ác, cái xấu trong xã hội, lý giải về sự hình thành, phát triển của một địa danh, một vùng đất là nội dung chủ yếu được thể hiện trong hầu hết các câu chuyện dân gian và những truyện cổ tích được lưu truyền từ ngàn đời nay và ở Kinh đô cũng thế. Và xin mượn những lời thơ của nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ để bắt đầu cho những suy nghĩ của tôi về truyện cổ tích Thăng Long - Hà Nội, một bộ phận gắn bó khăng khít, mật thiết, một đơn vị cấu thành tổng thể truyện dân gian Việt Nam:<br><br></div><div>&nbsp;</div><div><em>Tôi yêu chuyện cổ nước tôi<br>Vừa nhân hậu lại tuyệt vời sâu xa<br>Thương người rồi mới thương ta<br>Yêu nhau dù mấy cách xa cũng tìm</em></div><div>&nbsp;</div><div>Là đầu não kinh tế, là trung tâm kinh tế, chính trị, đồng thời cũng là trung tâm giao thương kinh tế và giao lưu văn hóa của cả nước, nên ngoài nguồn truyện dân gian sở tại, bản địa, Hà Nội còn có một nguồn truyện dân gian do giao lưu, hội nhập từ tứ xứ. Bởi vậy, phần truyện cổ tích trong <em>Truyện kể dân gian Hà Nội</em> được chia làm hai mảng: Truyện cổ tích cổ truyền, được lưu truyền từ lâu trong dân gian qua nhiều thế hệ, mang tính phổ biến toàn dân như <em>Cây tre trăm mắt, Truyện dưa hấu, Sự tích trầu cau, Đồng tiên Vạn Lịch…</em> ; và truyện cổ tích được ghi trong các tác phẩm Hán - Nôm từ thời Lý - Trần đến đầu thời Nguyễn, là các truyện cổ tích do các nhà văn ghi chép, chỉnh lý và cố định hóa bằng ngôn ngữ viết. Đây là hệ cổ tích riêng của Hà Nội, phản ánh nhân vật và sự việc diễn ra trên đất Thăng Long - Hà Nội.</div><div><br><br></div><div>Dù là truyện được lưu truyền hay truyện có gốc tích ở Hà Nội, những truyện cổ tích đều hướng đến những triết lý nhân sinh sâu sắc, những bài học sống giản dị mà có sức sống lâu bền.</div><div><br><br></div><div>Khi đọc các truyện như <em>Ai mua hành tôi, Cây tre trăm mắt, Sự tích con dã tràng,… </em>chúng ta đều có thái độ bênh vực những con người tốt bụng theo một lẽ tự nhiên, một điều bình thường của quy luật cảm xúc là anh nông dân (<em>Ai mua hành tôi</em>), thằng ở (<em>Cây tre trăm mắt</em>), Dã Tràng (<em>Sự tích con dã tràng</em>) và căm ghét, lên án những nhân vật xấu, độc ác là đám vua quan tàn nhẫn, tên địa chủ tham lam và mụ vợ Dã Tràng bội nghĩa. Như vậy, truyện cổ tích chính là môi trường đắc địa để những bài học luân lý, đạo đức đến với mọi người một cách tự nhiên mà sâu sắc.&nbsp;</div><div>Cuốn <em>"Truyện kể dân gian Hà Nội"</em><br><br></div><div>Một trong những triết lý, vấn đề đạo đức thường được đề cập trong truyện cổ tích là “ở hiền gặp lành”. Qua sự đổi đời, sự biến đổi trong cuộc đời các nhân vật, tác giả dân gian đề cao và ca ngợi những người hiền lành, sự thương yêu đùm bọc giữa con người với con người <em>(Ai mua hành tôi, Đồng tiền Vạn Lịch, Hai anh em nhà trạng</em>). Chính vì thế mà những vấn đề đạo đức, triết lý sống mà truyện cổ tích phản ánh luôn luôn gần gũi, sâu sắc, dễ đi vào tâm hồn con người. Nó dạy cho con người biết sống có đạo lý, chan hoà và giàu tình yêu thương, bao dung đùm bọc đúng như lời khẳng định của nhà nghiên cứu văn học dân gian Nga A.M. Nôvicôva: “Truyện cổ tích dạy con người sống, gây tinh thần lạc quan, khẳng định niềm tin vào sự tất thắng của điều thiện và lẽ công bằng. Đằng sau tấm màn kỳ ảo của cốt truyện và trí tưởng tượng cổ tích, có dấu ấn một mối quan hệ có thực của con người. Những tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa và sự nhiệt tình tràn trề sức sống đã tạo ra cho truyện cổ tích sức thuyết phục gây xúc động mạnh mẽ đối với thính giả”.</div><div><br><br></div><div>Trong phần cổ tích về Hà Nội, đặc điểm nổi bật chính là sự cắt nghĩa về việc ra đời, xuất hiện của những địa danh (<em>Sự tích núi Ghẹ và núi Đùng</em>), những sự kiện (việc lũ lụt vào tháng sau, tháng bảy ở ven sông Đà qua truyện <em>Bà Tăng Má và đàn con rắn</em>), đặc điểm về địa chất, thủy văn (<em>Sự tích hạt cơm rơi, Giếng con lợn, Sự tích gò Con cá</em>) của một vùng đất hay nguồn gốc ra đời của một loại cỏ cây(<em>Sự tích cỏ ấu ba gai</em>), một thắng cảnh của Thủ đô (<em>Một số thắng cảnh của Hà Nội trước đây, Tám cảnh hồ Tây</em>)… Bên cạnh đó, người đọc cũng qua cổ tích để lý giải những đúc kết của cha ông về đặc điểm một vùng đất như vì sao lại coi Mỗ, La, Canh, Cót là tứ danh hương (<em>Vùng Mọc, Hương Canh,…</em>), hay vì sao ca dao có câu<em> Bơi Đăm, rước Giá, hội Thầy/Vui thì vui vậy chẳng tầy Giã La (Sự tích lễ hội Giã La)</em>. Đằng sau những lý giải vừa giản đơn vừa sâu sắc ấy bao giờ ta cũng thấy cái nhìn nhân văn, lòng yêu mến, tự hào của người Kinh kỳ dành cho mảnh đất quê hương của mình, mảnh đất văn hiến với những địa danh, danh nhân đầy tự hào trải qua quá trình gây dựng, phát triển từ bao đời.</div><div><br><br></div><div>Đáng chú ý trong mảng cổ tích “bản thổ” Hà Nội chính là nhóm truyện về đề tài tình yêu đôi lứa. Hầu hết những câu chuyện là tiếng nói mạnh mẽ, dũng cảm của những đôi trai gái đấu tranh cho tự do yêu đương (<em>Đền Bích Câu, Câu chuyện tình ở Thanh Trì</em>). Người đọc thấy ở đó giá trị nhân bản sâu sắc bởi tất cả đều xuất phát từ tình yêu, lòng trân trọng con người.</div><div>Truyện cổ tích Thăng Long - Hà Nội vừa mang nét phổ quát vừa có những yếu tố đặc thù so với truyện cổ dân gian nói chung. Nó vừa là những triết lý nhân sinh đầy nhân ái, vừa nêu bật những giá trị văn hóa, lịch sử của con người và mảnh đất nghìn năm văn vật, dẫn dắt người đọc đến với Thăng Long - Hà Nội bằng những sự tích, sự kiện giúp chúng ta thêm hiểu, thêm yêu mảnh đất và con người nơi đây. Đó cũng là cái gốc lâu bền để những truyện cổ tích trong <em>Truyện kể dân gian Hà Nội</em> sống với Thủ đô hôm nay và cả mai sau.</div><div><br></div><div>&nbsp;</div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-09-29 13:39:20 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2319411003</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vua Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư về Đại La và đổi tên thành Thăng Long</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2319469850</link>
         <description><![CDATA[<div>Cách nay hơn một thiên niên kỷ, vua Lý Công Uẩn quyết định dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La. Tuy nhiên, với hệ thống giao thông và phương tiện còn thô sơ thời đó, việc di dời cả một kinh đô chắc chắn là chuyện không đơn giản.</div><div>Vậy, cuộc dời đô của vua Lý Công Uẩn từ Hoa Lư về thành Đại La được thực hiện như thế nào? Phương tiên di chuyển bằng gì và lộ trình của cuộc dời đô này ra sao?</div><div>Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép<em>: “Mùa thu tháng bảy năm Canh Tuất (1010), vua dời đô từ thành Hoa Lư sang thành Đại La, thuyền tạm đỗ dưới thành, có rồng vàng hiện ra trên thuyền ngự, do đó đổi gọi là thành Thăng Long”.</em></div><div>Từ dữ kiện lịch sử này, có thể thấy, vua Lý Công Uẩn cùng bá quan văn võ di chuyển bằng thuyền theo thủy lộ và đi vào cuối mùa hè.</div><div>Chọn lộ trình thời điểm như vậy hẳn là vua Lý đã lợi dụng mùa nước lên để không lo bị mắc cạn, cũng như lợi dụng mùa gió nồm để buồm được no gió, đỡ nhiều công chèo chống.</div><div>Tận dụng hệ thống sông hồ dày đặc, vua Lý Công Uẩn lựa chọn và phát huy lợi thế tối ưu của thủy bộ vào thời kỳ đó. Tuy nhiên, một câu hỏi được đặt ra là thuyền ngự đi theo những tuyến sông nào?<br>Qua các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, nhiều giả thuyết được đưa ra. Các lộ trình sau đây được nhiều người đề cập:</div><div>Lộ trình thứ nhất: Đoàn thuyền của vua xuất phát từ Hoa Lư, xuôi sông Sào Khê ra sông Hoàng Long, tiếp tục xuôi sông Hoàng Long ra ngã ba Gián Khẩu, ngược sông Đáy, vòng vèo qua núi đá Hà Tây cũ đến Hát Môn, ra sông Cái xuôi về Thăng Long. Lộ trình này dài khoảng 220 km.</div><div>Với lộ trình này, các nhà nghiên cứu thấy hoàn toàn thuận lợi nhưng không khả thi vì quãng đường quá dài.</div><div>Lộ trình thứ hai: Thuyền ngược sông Đáy đến Phủ Lý, rẽ vào ngã ba sông Châu Giang – sông Nhuệ, ngược sông Nhuệ đến Chèm, ra sông Cái xuôi về Thăng Long. Lộ trình này dài khoảng 130 km, cũng hoàn toàn thuận lợi, nhưng khi gặp sông Tô Lịch chắc không đi tiếp được đến Chèm.</div><div>Lộ trình thứ ba: Ngược sông Đáy đến Phủ Lý, rẽ vào sông Châu Giang, ra sông Cái, ngược sông Cái về Thăng Long. Lộ trình này dài khoảng 170 km. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng vua Lý dời đô đi bằng đường này.</div><div>Theo cách lý giải của những người nghiên cứu sâu về vận tải thủy, trong vận tải sông, hai yếu tố cần phải nghiên cứu đầy đủ. Đó là tuyến luồng và thủy văn.</div><div>Những người đồng thuận với lộ trình thứ ba mới xem xét đến yếu tố luồng lạch, mà chưa xét đến yếu tố thủy văn. Theo quy luật của thời tiết, đầu mùa thu, tháng 7 âm lịch, Bắc Bộ vẫn trong mùa mưa bão.</div><div>Theo thống kê của ngành quản lý đường sông, trong những năm chưa có đập Hòa Bình, vận tốc nước trung bình mùa lũ của sông Hồng ở hạ lưu Hà Nội khoảng 2,0-2,5 m/s.</div><div>Với vận tốc nước như vậy, có những năm, một số điểm ở hạ lưu Hà Nội, đoàn tàu sông có công suất 150-180 mã lực không ngược được lên thượng lưu; khi đó ngành vận tải sông phải lập các trạm hỗ trợ sức kéo – đẩy.</div><div>Với dòng nước như vậy, vào thời điểm dời đô năm 1010, đoàn thuyền của vua quan nhà Lý dùng sức người để chèo, kéo và kể cả kết hợp với buồm thì cũng khó mà vượt được đoạn sông Cái dài khoảng 100 km để về Thăng Long.</div><div>Lộ trình thứ tư: Lộ trình này đi theo lộ trình thứ 2, nghĩa là đến Phủ Lý thì rẽ vào ngã ba sông Châu Giang – sông Nhuệ, nhưng từ sông Nhuệ không đến Chèm ra sông Cái xuôi về Thăng Long như lộ trình thứ 2. Đến Thanh Trì, thuyền rẽ vào sông Tô Lịch để về Thăng Long. Lộ trình này dài khoảng 120 km.</div><div>Tuy nhiên, một số người cho rằng lộ trình này không khả thi vì sông Nhuệ và Tô Lịch hẹp và cạn thì làm sao đi được? Sẽ là sai lầm nếu lấy hiện trạng hôm nay để áp đặt cho thực tế năm 1010.</div><div>Đồng bằng sông Hồng 1.000 năm về trước dân cư còn thưa thớt, sông còn hoang dã. Sông Nhuệ, Tô Lịch không hẹp và cạn như bây giờ. Điều này đã được minh chứng qua thơ ca nói về giao thông vận tải trên sông Tô Lịch thời đó:</div><div><em>Sông Tô nước chảy trong ngần</em></div><div><em>Con thuyền buồm trắng chạy gần chạy xa</em></div><div><em>Thon thon hai mũi chèo hoa</em></div><div><em>Lướt đi lướt lại như là bướm gieo.</em></div><div>Những câu ca trên phần nào minh chứng cho sự phát triển của hệ thống giao thông đường thủy vào thời điểm bấy giờ và lộ trình này là khả thi nhất để vua Lý Công Uẩn đi thuyền dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long.</div><div>Bởi, xem xét nhiều yếu tố về tuyến luồng thì tuyến này ngắn, luồng sâu, rộng. Theo yếu tố thủy văn, tuyến này nước không chảy xiết, khi vào sông Tô Lịch nếu gặp hiện tượng nghịch thủy sẽ rất thuận lợi cho đoàn thuyền cập bến Đại La.</div><div>Bốn lộ trình được đưa ra ở đây cùng những phân tích, phần nào góp thêm cho sự tìm hiểu về lộ trình dời đô của vua Lý Công Uẩn thời xưa cũng như nhìn thấy được sự phát triển của giao thông đường thủy ở vào thời bấy giờ.<br><a href="https://nguvan.vn/lo-trinh-vua-ly-cong-uan-doi-do-tu-hoa-lu-ve-thanh-dai-la.html">Lộ trình vua Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La - Nguvan.vn</a></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1405696790/a710bd77e8afb1a35166797541da494e/72319060_2432162433500377_8155838751289901056_o_1.jpg" />
         <pubDate>2022-09-29 14:08:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2319469850</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Truyền thuyết trâu vàng Hồ Tây</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2319490835</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>1. Đi sứ sang phương Bắc quyên đồng<br></strong><br></div><div>Vào đời nhà Lý có một người gọi là Khổng Lồ. Nhìn thấy thân thể ông, các tay lực sĩ trong triều ngoài quận đều khiếp sợ, mặc dầu ông chưa từng đọ sức với ai. Từ trẻ Khổng Lồ đã đi tu, ông thường đi chu du thiên hạ. Vật tùy thân của ông có một cây gậy sắt nặng không thể tưởng tượng được. Lại có một cái đãy rất màu nhiệm. Đãy trông không khác gì những đãy thường nhưng có thể bỏ lọt vào đấy bao nhiêu đồ vật to lớn, cồng kềnh. Dù chất chứa thế nào đãy cũng không đầy và không to thêm.<br><br></div><div>Buổi ấy, nhà vua cần rất nhiều đồng để đúc các khí vật thờ phật, nhưng ngặt vì ở đất Việt không có đồng đen. Nghe tiếng Khổng Lồ, nhà vua cho triệu đến kinh nhờ sư đi sang Trung Quốc quyên giáo. Khổng Lồ nhận lời và xách đãy đi về phương Bắc.<br><br></div><div>Sau bao nhiêu ngày trèo non lội suối, Khổng Lồ đã đến kinh đô Trung Quốc. Thấy một nhà sư to lớn đi vào yết kiến, vua Trung Quốc lấy làm lạ hỏi:<br><br></div><div>– Hoà thượng từ phương nào lại và đến đây làm gì?<br><br></div><div>Ông đáp:<br><br></div><div>– Chúng tôi đến cầu bệ hạ một ít đồng đen để mở rộng Phật pháp trong nước Đại Việt.<br><br></div><div>Vua ngỡ là còn nhiều người theo ông nữa, bèn hỏi:<br><br></div><div>– Quý quốc cần dùng bao nhiêu đồng? Hoà thượng đem sang cả thảy bao nhiêu đồ đệ?<br><br></div><div>Khổng Lồ giơ đãy lên và tâu:<br><br></div><div>– Kẻ hạ thần chỉ sang có một mình và chỉ xin một đãy này là đủ.<br><br></div><div>Thấy cái đãy bé tý, vua Trung Quốc mỉm cười:<br><br></div><div>– Hoà thượng có lấy cả trăm đãy, trẫm cũng vui lòng huống gì là một đãy.<br><br></div><div>Đoạn vua sai nội thị mang lệnh chỉ cho quan giữ kho, mở kho đồng đen cho Khổng Lồ muốn lấy bao nhiêu thì lấy.<br><br></div><div>Trước khi vào kho phải đi qua một cái sân rộng. Ở đó có một cái nền gạch, trên nền dựng tượng một con trâu bằng vàng to như một cái nhà, sáng choé cả một vùng trời đất. Quan giữ kho chỉ vào trâu rồi hỏi đùa Khổng Lồ:<br><br></div><div>– Hoà thượng có cần dùng cả con trâu này không?<br><br></div><div>– Không, tôi chỉ cần một ít đồng đen mà thôi.<br><br></div><div>Rồi đó Khổng Lồ trút tất cả đồng đen lọt thỏm vào trong đãy của mình mà đãy vẫn còn vơi. Đoạn Khổng Lồ mắc đãy vào một đầu gậy quảy về nước.<br><br></div><div><strong>2. Hành trình về nước và Khổng Lồ đúc chuông đồng<br></strong><br></div><div>Quan giữ kho thấy hết nhẵn cả đồng, vội vã đem sự tình trình báo cho vua mình biết. Vua Trung Quốc không ngờ có sự phi thường như thế, lấy làm hối và tiếc bèn sai 500 quân sĩ đuổi theo Khổng Lồ. Lúc ấy mặc dầu gánh nặng đè lên vai, nhưng sư cũng đã đi được ba trăm dặm đường. Vừa đến một khúc sông rộng, ông bỗng nghe có tiếng reo dậy trời ở sau lưng. Ông ngoảnh cổ lại thấy bụi bốc mịt mù, đoán biết là vua Trung Quốc đã cho quân đuổi theo. Ông lật đật thả chiếc nón tu lờ xuống nước, đặt đãy lên, rồi vừa bơi vừa đẩy qua sông. Bọn quân sĩ vừa đến bờ thì Khổng Lồ đã ra đến giữa sông rộng. Bọn chúng đánh lừa nói rằng:<br><br></div><div>– Hoà thượng hãy chờ một tí, hoàng đế cho chúng tôi khiêng giúp đồng và hộ tống ngài về.<br><br></div><div>Nhưng Khổng Lồ nói với lên:<br><br></div><div>– Bần tăng gửi lời về cám ơn&nbsp; lòng tốt của hoàng đế. Còn như cái đãy này để mặc bần tăng mang lấy, đâu dám làm phiền đến thiên sứ.<br><br></div><div>Bọn lính biết là không thể đuổi nổi bèn quay trở lại.<br><br></div><div>Sau đó Khổng Lồ đi cứ theo dọc bờ biển, đi bộ lần về phương Nam. Đến một cửa sông, ông gặp một chiếc tàu lớn sắp sửa kéo buồm sang nước Việt. Khổng Lồ đặt đãy ở bến, đến gặp người chủ tàu xin cho đi nhờ. Chủ tàu thấy một mình hoà tượng với một chiếc đãy, ước lượng không nặng thêm cho tàu bao nhiêu nên vui lòng cho ông đi.<br><br></div><div>Nhưng khi một thuỷ thủ xuống bến xách đãy hộ cho nhà sư lên tàu thì anh ta cảm thấy chưa có vật nào nặng đến như thế. Người thứ hai xuống giúp cũng chịu. Người thứ ba, người thứ tư cho đến khi tất cả mọi thuỷ thủ trên tàu cùng hè nhau khiêng, ai nấy đều phải lắc đầu vì chiếc đãy vẫn không hề nhúc nhích. Bấy giờ Khổng Lồ ở trên tàu xuống, cười và bảo:<br><br></div><div>– Để bần tăng tự mang lên cho, không phiền đến các người!<br><br></div><div>Nói rồi một tay xách đãy, một tay cầm nón và gậy bước lên tàu trước con mắt kinh ngạc của mọi người.<br><br></div><div>Thấy tàu quá nặng, nước mấp mé then, mọi người ngần ngại không dám nhổ neo. Khổng Lồ bảo họ:<br><br></div><div>– Các người chớ ngại, ta quyết không để cho tàu chìm đâu.<br><br></div><div>Thuận buồm xuôi gió, tàu rẽ nước đi băng băng. Được mấy ngày bỗng xảy ra một trận phong ba dữ dội. Một con ngô công mình dài trăm trượng, miệng há đỏ như lửa đang vẫy vùng giữa sóng gió chồm đến toan nuốt cả tàu. Mọi người ngồi trên chiếc tàu chòng chành, vô cùng kinh sợ. Khổng Lồ nói to:<br><br></div><div>– Các người cứ ngồi yên mặc ta diệt trừ con quái vật!<br><br></div><div>Nói đoạn sẵn có quả bí lớn, ông cầm lấy đứng ở miệng mũi tàu ném vào miệng ngô công. Ngô công vừa đớp lấy thì ông đã nhảy xuống nước cầm gậy đánh vào mình nó. Ngô công chạy không kịp bị gãy xương, đứt làm ba đoạn và hiện thành ba hòn đảo nổi lên giữa biển. Ngay sau đó, sóng gió yên lặng, tàu lại đi một mạch về tới đất Việt.<br><br></div><div>Về tới kinh đô, Khổng Lồ vào chầu vua và kể lại mọi việc. Vua sai sư đem đồng ra đúc thành bốn thứ bảo khí thờ Phật để cho mọi người ngưỡng mộ và truyền lại ngàn đời sau. Khổng Lồ bèn cho gọi bao nhiêu thợ đúc tài giỏi trong nước đến, rồi mở đãy lấy đồng ra chia làm bốn phần. Đầu tiên ông cho đúc một cái tháp cao 9 tầng gọi là tháp Báo Thiên. Tháp đúc xong hiện ra giữa kinh thành vòi vọi đứng đâu cũng thấy. Khổng Lồ lại đúc một tượng phật cao vừa 6 trượng, một cái đỉnh to vừa bằng mười người ôm. Rồi còn bao nhiêu đồng,&nbsp; Khổng Lồ cho đúc một quả “hồng chung” – chuông đúc xong lớn không thể tưởng tượng được, đến nỗi khi đánh lên hồi đầu tiên, tiếng ngân vang cùng khắp bốn cõi, vang sang đến tận bên Trung Quốc.<br><br></div><div><strong>3. Sự tích trâu vàng Hồ Tây<br></strong><br></div><div>Lại nói <a href="https://thegioicotich.vn/su-tich-trau-vang-ho-tay/">chuyện con trâu vàng</a>&nbsp; nằm trước kho đồng của vua Trung Quốc khi nghe tiếng chuông, tự nhiên như được thức tỉnh dậy. Vì đồng đen là mẹ của vàng cho nên do tiếng ngân, nó biết là mẹ của nó đã ở nước Việt. Nó bèn đứng dậy vươn người rồi ba chân bốn cẳng chạy một mạch sang Nam, không một sức nào có thể cản nổi. Cuối cùng nó tìm đến quả chuông do Khổng Lồ mới đúc, hôn hít hồi lâu rồi nằm xuống bên cạnh.<br><br></div><div>Thấy việc không ngờ lại xảy ra như thế, Khổng Lồ tự nghĩ nếu để chuông lại thì mỗi lần đánh chuông, vàng trong bốn biển sẽ qui tụ cả lại vào trong nước mình. Như thế sẽ rất nguy hiểm vì gây hiềm khích với tất cả mọi nước. Ông bèn tâu vua xin đem quả chuông ném cho mất tích để tránh một cuộc binh đao tai hại có thể xảy tới. Nhận thấy lời tấu có lí, vua cũng bằng lòng. Ngày ném, Khổng Lồ đứng trên núi xách quả chuông vứt xuống hồ Tây. Chuông bị tung lên không bay ra giữa hồ, vang lên một hồi rất dữ dội. Con trâu vàng nghe tiếng, vội theo mẹ nó nhảy ngay xuống hồ.<br><br></div><div>Từ đó về sau thỉnh thoảng những lúc thanh vắng, người ta vẫn thấy quai chuông nổi lên mặt nước. Còn con trâu vàng đôi lúc lên bờ hồ đi dạo, hễ thoạt thấy bóng người là lặn xuống ngay. Cũng vì câu chuyện trên mà hồ Tây còn có tên là vực Kim Ngưu (Trâu vàng). Riêng Khổng Lồ về sau được thợ đồng thờ làm thần nghề đúc đồng.<br><a href="https://thegioicotich.vn/su-tich-trau-vang-ho-tay/">https://thegioicotich.vn/su-tich-trau-vang-ho-tay/</a></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://c1.staticflickr.com/7/6087/6066024400_6bb1e2aba1_b.jpg" />
         <pubDate>2022-09-29 14:19:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2319490835</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Chùa Trấn Quốc</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2319575015</link>
         <description><![CDATA[<div>chùa được xây dựng từ thời Lý Nam Đế (năm 541-547) tại thôn Yên Hoa, gần bờ sông Hồng với tên gọi “Khai Quốc” (nghĩa là mở nước). Dưới triều vua Lý Nhân Tông, Thái hậu Ỷ Lan đã nhiều lần đến chùa cùng các vị cao tăng đàm đạo. Đến đời vua Lê Thái Tông (năm 1434-1442), nhà vua đổi tên chùa là chùa An Quốc. Hàng năm, nước sông Hồng lên to xói mòn làm lở bãi sông. Cho nên, năm 1615 đời vua Lê Kính Tông, dân làng Yên Phụ dời chùa vào gò đất Kim Ngưu (Cá vàng), nơi vào đời Lý và đời Trần, nhiều cung điện đã được xây dựng tại đây như cung Thúy Hoa, điện Hàm Nguyên phục vụ cho việc nghỉ ngơi, thư giãn của nhà vua. Khoảng thế&nbsp; kỷ thứ XVII, chúa Trịnh cho đắp đê Cố Ngự (sau gọi chệch ra thành Cổ Ngư, nay là đường Thanh Niên) nên mới có đường nối đê với đảo Cá vàng. Chùa có lối kiến trúc khác với nhiều chùa: phía trước là đại bái rồi đến hậu cung, sau cùng mới là gác chuông.<br><br></div><div>Đến đời vua Lê Hy Tông niên hiệu Chính Hòa (1681-1705), chùa được đổi tên là Trấn Quốc. Bức hoành phi đề chữ “Trấn Quốc Tự” treo tại gian đại bái hiện nay được làm từ thời đó. Năm 1821, Vua Minh Mạng đến thăm chùa, ban 20 lạng bạc để tu sửa. Năm 1842, Vua Thiệu Trị đến thăm chùa, ban 1 đồng tiền vàng lớn và 200 quan tiền, cho đổi tên chùa là Trấn Bắc. Nhưng tên chùa Trấn Quốc có từ đời vua Lê Hy Tông đã được người dân quen gọi đến tận ngày nay.<br><br></div><div>Trong các năm 1624, 1628 và 1639, chùa tiếp tục được trùng tu và mở rộng. Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính đã soạn bài văn bia dựng ở chùa vào năm 1639 về công việc tôn tạo này. Đầu đời Nguyễn, chùa lại được trùng tu, đúc chuông, đắp tượng. Trong một chuyến vi hành đất Thăng Long vào năm 1821, vua Minh Mạng đến viếng chùa và ban 20 lạng bạc để tu sửa. Đến năm 1842, vua Thiệu Trị đến thăm chùa, ban 1 đồng tiền vàng lớn, 200 quan tiền và cho đổi tên thành chùa Trấn Bắc. Nhưng tên chùa Trấn Quốc có từ đời Vua Lê Hy Tông đã được nhân dân quen gọi cho đến ngày nay.<br><br></div><div>Là một trong những ngôi chùa cổ nhất Việt Nam và là ngôi chùa cổ nhất của Thăng Long Hà Nội với hơn 1500 năm tuổi. Chùa Trấn Quốc nổi tiếng không chỉ bởi vẻ đẹp cổ kính mà còn bởi không gian thoáng mát tươi xanh đã tạo nên một tổng thể kiến trúc, lịch sử văn hóa và thiên nhiên hoàn hảo.<br><br></div><div>Nằm trên một hòn đảo phía Đông của Hồ Tây, chùa Trần Quốc luôn được xem như một trong những danh thắng bậc nhất ở kinh thành Thăng Long, nay thuộc quận Ba Đình (Hà Nội). Nổi tiếng linh thiêng lại là danh thắng bậc nhất, nên từ xưa chùa Trấn Quốc thường được các vua chúa ngự giá đến vãng cảnh và cúng lễ vào những ngày rằm, lễ Tết. Trải qua rất nhiều đợt trùng tu, diện mạo của chùa có nhiều thay đổi. Song quy mô và kiến trúc còn giữ được đến nay là kết quả của đợt trùng tu năm 1815 với một diện tích khá rộng khoảng hơn 3.000m2, gồm một vườn tháp phía mặt tiền, nhà tổ, nhà khách, hai dãy hành lang tả hữu và thượng điện.<br><br></div><div>Ngôi chùa cổ kính này hiện còn lưu giữ khá nhiều hiện vật có giá trị như bộ tượng thờ ở thượng điện. Đây là những pho tượng được tạo tác tỉ mỉ, trau chuốt và mang nét đẹp đặc trưng riêng. Đáng nói nhất là pho tượng Thích Ca nhập Niết bàn được đánh giá là bức tượng Niết bàn đẹp ở Việt Nam. Chùa cũng có nhiều bia, cổ nhất là tấm bia dựng năm 1639 do trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính soạn, nội dung ghi lại lịch sử đại tu chùa vào chính năm này. Trong khuôn viên của chùa có cây bồ đề gần 60 năm tuổi do Tổng thống Ấn Độ tặng năm 1959 nhân chuyến thăm chính thức của Tổng thống tại Việt Nam.<br><br></div><div>Đánh giá cao những giá trị lịch sử, tôn giáo cũng như cảnh quan của ngôi chùa, trước kia, Viện Viễn Đông Bác Cổ đã từng xếp chùa Trấn Quốc là công trình lịch sử thứ 10 trong Toàn xứ Đông Dương. Tháng 4 năm 1962, chùa Trấn Quốc được Nhà nước xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Cuối năm 2003, chùa Trần Quốc có thêm một công trình ý nghĩa đó là bảo tháp lục độ đài sen. Bảo tháp được đặt trong khuôn viên của chùa gần cây bồ đề với ý nghĩa: Hoa sen tượng trưng cho Phật, như tính sinh ở dưới bùn mà không bị ô uế, còn bồ đề là tri giác, là trí tuệ vô thượng. Từ ngày ngôi bảo tháp được khánh thành, chùa Trấn Quốc đã đẹp lại càng trở nên ý nghĩa hơn.<br>https://truyencotich.vn/truyen-dan-gian/su-tich-chua-tran-quoc.html</div>]]></description>
         <enclosure url="https://halotravel.vn/wp-content/uploads/2020/12/dw_places-chua-tran-quoc-ha-noi-1024x767.jpg" />
         <pubDate>2022-09-29 15:03:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2319575015</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Cầu Long Biên - Chứng tích lịch sử</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2319588210</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;Khởi công xây dựng năm 1898, hoàn thành năm 1902, cầu Long Biên, cây cầu thép bắc qua sông Hồng dài gần 2km do nhà thầu Daydé &amp; Pillé thi công. Đây là cây cầu lớn nhất Đông Dương lúc đó và là một chứng tích lịch sử đối với người dân Việt Nam về một thời kì thuộc địa kéo dài gần một thế kỉ. Những tài liệu về bản vẽ thiết kế, thi công và trùng tu, tu bổ của cây cầu tới nay vẫn còn nguyên vẹn. Đây là những tư liệu nối tri thức lịch sử giữa quá khứ và hiện tại của công trình kiến trúc nổi tiếng này.</div><div><br></div><div>Nghe nội dung chi tiết tại đây:<br><br></div><div><br></div><div><br>Hàng ngày có rất nhiều người đi lại trên cây cầu Long Biên. Và cũng có rất nhiều người tự hỏi, cây cầu này ra đời như thế nào. Trên thân cầu cách vài nhịp lại có dòng chữ Daydé &amp; Pillé. Năm 1898, Toàn quyền Đông Dương nhận định “Đây là cây cầu mà hệ thống kim loại được sử dụng mang nét độc đáo và mới cần phải tính đến việc xây dựng nó ở Hà Nội”&nbsp; và chọn Công ty Daydé &amp; Pillé làm nhà thầu chính thức với số tiền cho phép chi là 5.900.000 Franc (Phờ-răng). Trên thực tế, tổng số tiền chi phí cho công trình này là 6.200.000 Franc, chi phí đội lên không đáng kể, rất khiêm tốn đối với một công trình đồ sộ lớn nhất Đông Dương này. Ông Lê Huy Tuấn, Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, cho biết: Đây là công trình quan trọng. Toàn quyền Đông Dương quan tâm tới việc khai thác thuộc địa, cơ sở hạ tầng đương nhiên ông quan tâm đến việc lưu thông hàng hóa từ trung tâm đồng bằng Bắc Bộ tới Hải Phòng và từ Hải Phòng vào Hà Nội. Tại thời điểm đó chưa có cây cầu nào mà toàn phải vận chuyển bằng đò ngang. Quá trình xây ban đầu thiết kế cho đường sắt nhưng đã tính đến việc phát triển đường bộ. Có 6 công ty tham gia đấu thầu xây dựng cầu Long Biên nhưng công ty Daydé &amp; Pillé thiết kế cây cầu và trúng thầu thi công.&nbsp;</div><div><br><br>4 năm sau ngày khởi công, chuyến tầu đầu tiên khởi hành từ ga Hà Nội đưa vua Thành Thái và Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer tới đầu cầu để làm lễ khánh thành, trước sự chứng kiến của hàng nghìn người dân Hà Nội. Tại buổi lễ này, cây cầu lớn nhất Đông Dương đã được mang tên người đã khai sinh ra nó, Toàn quyền Paul Doumer. Toàn quyền Đông Dương cũng chính thức cho phép tuyến đường sắt từ Hà Nội đi biên giới Việt-Trung, đoạn Hà Nội-Gia Lâm được đưa vào khai thác. Cũng từ ngày này, bến phà đường sông của Hà Nội đã bị xoá bỏ, nhu cầu đi lại, thông thương của người dân Bắc Kỳ đã không còn gặp khó khăn khi phải vượt qua sông Hồng trong mùa mưa lũ nữa. Cây cầu thép Paul Doumer đã giúp cho kế hoạch khai thác thuộc địa của người Pháp trở nên thuận lợi và cũng giúp giao thông nối giữa Hà Nội và các tỉnh phía Bắc thuận tiện hơn. Đến tháng 7 năm 1945, bác sĩ Trần Văn Lai - Đốc lý Hà Nội lúc đó đã đổi tên thành cầu Long Biên và tên gọi đó còn giữ đến ngày nay. Ông Vũ Văn Thìn, một người dân Hà Nội có nhiều kỷ niệm gắn bó với cây cầu Long Biên, cho biết: <em>Vào thời kỳ chiến tranh trên tháp cầu có một ụ pháo để bắn máy bay địch. Năm 1971, nước to tràn qua cầu Long Biên. Cây cầu này rất đẹp và thơ mộng. Với tôi, cầu Long Biên là cây cầu đẹp nhất, thơ mộng nhất, kiến trúc cũng rất đẹp. Nó có hình tượng của một con rồng, nếu được sửa chữa thì cầu Long Biên gần như có một không hai không những ở Đông Dương mà cả trong khu vực.</em><br><br></div><div><br></div><div><br></div><div><br></div><div><br></div><div>Với sự phát triển công nghệ và tăng dân số, sau 20 năm sử dụng, Công ty Daydé&amp;Pillé lại được mời xây dựng thêm 2 làn đường dọc theo hai bên cầu. Mỗi làn đường có chiều rộng 2m, vỉa hè dành cho người đi bộ là 1m. Sau đợt mở rộng cầu, năm 1924 Toàn quyền Đông Dương quy định việc lưu thông trên cầu khoa học và cụ thể như: người đi bộ chỉ được đi trên vỉa hè theo chiều ngược lại với chiều của xe cộ. Tốc độ giới hạn cho phép xe khi qua cầu là 15km/giờ; cấm đốt rác và đốt lửa trên cầu; mỗi súc vật thồ hay kéo có người điều khiển đi cùng có thể qua cầu tất cả các giờ, còn nếu đi bầy đàn chỉ được qua cầu từ nửa đêm đến gần sáng...<br><br><br></div><div>Tuần báo Eveil Economique số 387 vào thời gian đó có đưa tin về việc đề xuất cần xây dựng thêm cây cầu thứ 2, tương tự như cầu Long Biên cho Hà Nội bên hữu ngạn sông Hồng. Tuy nhiên người Pháp đã không thực hiện được bởi công cuộc khai thác thuộc địa của họ ở miền Bắc kết thúc vào năm 1954 và nhiều lý do kinh tế khác. Dẫu sao, những đề xuất này là một ý tưởng tốt cho các nhà hoạch định kiến trúc Hà Nội sau này. Ông Tuấn cho biết: <em>Cây cầu này rõ ràng Pháp vào xây để khai thác thuộc địa nhưng về mặt tích cực là mở rộng giao thông cho người Việt và cho đến nay mình vẫn phải giữ. Qua các quá trình, đây là công trình trọng điểm, giúp cho lưu thông hàng hóa tốt. Là mặt được của công trình giao thông. Sau này nó là công trình lịch sử, tồn tại lâu như thế, rõ ràng nó mang cả ý nghĩa văn hóa. Nó còn là chứng tích thực dân Pháp, năm 1955, thực dân Pháp rút quân về nước, phải đi tàu ra Hải Phòng thì cũng đi qua cầu Long Biên, là nhân chứng lịch sử của các thời kỳ.<br></em><br></div><div><em><br></em><br></div><div>Đến nay, Hà Nội có thêm nhiều cây cầu hiện đại, rộng rãi hơn như cầu: Chương Dương, Thăng Long, Thanh Trì, Vĩnh Tuy, Nhật Tân. Cầu Long Biên tồn tại qua 2 thế kỉ nay trở nên già nua nhưng vẫn như một người Việt Nam cần cù, cần mẫn hàng ngày kết nối các phương tiện tàu hỏa, xe máy, xe đạp, xe thô sơ lưu thông từ bờ này sang bờ bên kia sông Hồng. Ngày nay, người Việt nói đến Long Biên là nhắc tới một cây cầu kết nối giữa lịch sử và hiện tại, một giá trị tinh thần không thể thiếu trong tâm trí người Hà Nội<br>https://vovworld.vn/vi-VN/ha-noi-ngan-nam/cau-long-bien-qua-tu-lieu-cu-cua-phap-de-lai-263950.vov#:~:text=Pillé%20thi%20công.-,(VOV5)%20-%20Khởi%20công%20xây%20dựng%20năm%201898%2C%20hoàn,dài%20gần%20một%20thế%20kỉ.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://vovworld.vn/vi-VN/ha-noi-ngan-nam/cau-long-bien-qua-tu-lieu-cu-cua-phap-de-lai-263950.vov#:~:text=Pillé%20thi%20công.-,(VOV5)%20-%20Khởi%20công%20xây%20dựng%20năm%201898%2C%20hoàn,dài%20gần%20một%20thế%20kỉ." />
         <pubDate>2022-09-29 15:10:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2319588210</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Cột Cờ Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2321015531</link>
         <description><![CDATA[<div>Bên cạnh những danh lam, thắng cảnh, các di tích văn hóa, lịch sử của <a href="https://www.klook.com/vi/city/34-hanoi-things-to-do/?from_campaign=vn_cot-co-ha-noi_ao_vi-vn&amp;from_medium=content&amp;from_source=blog">Hà Nội</a> thì Cột cờ Hà Nội vẫn được coi là một trong những biểu tượng kiên cố, nổi bật nhất thủ đô.&nbsp;</div><div>Cột cờ Hà Nội, hay còn gọi là Kỳ Đài, nằm trong số ít hiếm hoi những công trình trong quần thể Hoàng thành Thăng Long còn nguyên vẹn, trường tồn với thời gian, mang dáng vẻ uy nghiêm và lắng đọng. Không những thế, công trình đặc biệt này còn là nơi chứng kiến những thăng trầm lịch sử của mảnh đất <a href="https://www.klook.com/vi/blog/thu-do-ha-noi/">Hà Nội</a>, mang ý nghĩa thiêng liêng khi lá cờ đỏ sao vàng đầu tiên được treo lên tại đây.</div><div>Với kiến trúc độc đáo, cổ kính với quốc kỳ tung bay trên bầu trời suốt 77 năm qua, cột cờ Hà Nội trở thành điểm đến không thể bỏ qua của trong hành trình khám phá vùng đất nghìn năm văn hiến.Cột cờ Hà Nội được xây dựng trên phần đất của Hoàng thành Thăng Long, cũng là điểm dừng chân đầu tiên khi tham quan cụm di tích Hoàng thành. Từ đây, theo đường “ngư đạo” qua Đoan Môn rồi tới điểm quan trọng nhất của Hoàng thành là Điện Kính Thiên.</div><div>Ngày nay, Cột Cờ Hà Nội nằm trong khuôn viên Bảo tàng Lịch sử quân đội Việt Nam, trên con đường Điện Biên Phủ, đối diện với Vườn hoa Lenin.Cột Cờ Hà Nội có địa chỉ tại 28A Điện Biên Phủ, phường Điện Bàn, quận Ba Đình, thành phố Hà NộiCột cờ Hà Nội nằm ở khu vực trung tâm thủ đô, cách Hồ Hoàn Kiếm chưa đầy 1km, nên giao thông vô cùng thuận lợi. Bạn có thể di chuyển bằng các phương tiện cá nhân, công cộng, hoặc tản bộ kết hợp ngắm phố phường.</div><div><br></div><div>https://www.klook.com/vi/blog/cot-co-ha-noi/</div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://www.klook.com/vi/blog/cot-co-ha-noi/" />
         <pubDate>2022-09-30 13:03:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2321015531</guid>
      </item>
      <item>
         <title>NHÀ THỜ LỚN</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2321027425</link>
         <description><![CDATA[<div>Năm 1882, quân Pháp chiếm thành Hà Nội lần thứ hai. Tới năm 1883, theo yêu cầu của thống sứ Bắc Kỳ Raoul Bonnal, kinh lược Bắc Kỳ là tổng đốc Nguyễn Hữu Độ đã giao khu chùa cũ này cho giám mục Puginier để kiến tạo công trình Nhà thờ chính toà Hà Nội.<br><br></div><div>Công trình Nhà thờ mới trên nền chùa cũ được Giáo hội Công giáo cho xây dựng bằng gạch thay thế cho kiến trúc cũ bằng gỗ, trong khoảng từ năm 1884-1886, trong bối cảnh Hà Nội chuyển hình thái sang đô thị mới kiểu Phương Tây. Nguồn vốn xây dựng nhà thờ được huy động từ 2 đợt mở xổ số và các nguồn vận động khác. Công trình được khánh thành vào dịp Giáng sinh năm 1887. Thời gian mới hoàn thành, nơi đây còn hoang vắng. Phải tới năm 1890, phố Nhà Thờ mới được xây dựng từ nhà thờ hướng thẳng ra Hồ Gươm, và Nhà thờ mới có vị trí đắc địa và quan trọng trong không gian đô thị.<br><br></div><div>Nguyên thuỷ, nhà thờ có tên là “Nhà thờ chính toà Thánh Giuse” (thánh Giuse là cha nuôi của chúa Giêsu). Hiện nay công trình có địa chỉ tại số 40 phố Nhà Chung, Hà Nội, nằm liền kề với toà Tổng giám mục Hà Nội và nhiều cơ sở Công giáo <br><br>https://www.tapchikientruc.com.vn/chuyen-muc/nha-tho-lon-ha-noi.html<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://www.tapchikientruc.com.vn/chuyen-muc/nha-tho-lon-ha-noi.html" />
         <pubDate>2022-09-30 13:12:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2321027425</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Văn miếu Quốc Tử Giám</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2321748764</link>
         <description><![CDATA[<div>Văn Miếu – Quốc Tử Giám là quần thể di tích đa dạng và phong phú hàng đầu của thành phố Hà Nội, nằm ở phía Đông kinh thành Thăng Long. Quần thể kiến trúc Văn Miếu – Quốc Tử Giám bao gồm: hồ Văn, khu Văn Miếu – Quốc Tử Giám và vườn Giám, mà kiến trúc chủ thể là Văn Miếu nơi thờ Khổng Tử, và Quốc Tử Giám trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Khu Văn Miếu – Quốc Tử Giám có tường gạch vồ bao quanh, phía trong chia thành 5 lớp không gian với các kiến trúc khác nhau. Mỗi lớp không gian đó được giới hạn bởi các tường gạch có 3 cửa để thông với nhau (gồm cửa chính giữa và hai cửa phụ hai bên). Từ ngoài vào trong có các cổng lần lượt là: cổng Văn Miếu, Đại Trung, Khuê Văn Các, Đại Thành và cổng Thái Học.[1] Với hơn 700 năm hoạt động đã đào tạo hàng nghìn nhân tài cho đất nước. Ngày nay, Văn Miếu-Quốc Tử Giám là nơi tham quan của du khách trong và ngoài nước đồng thời cũng là nơi khen tặng cho học sinh xuất sắc và còn là nơi tổ chức hội thơ hàng năm vào ngày rằm tháng giêng. Đặc biệt, đây còn là nơi các sĩ tử ngày nay đến "cầu may" trước mỗi kỳ thi quan trọng.<br>                                                Theo internet</div>]]></description>
         <enclosure url="https://cdn.justfly.vn/1200x630/media/31/25/3cb5-7e06-47df-9d0a-b657cfa34114.jpg" />
         <pubDate>2022-10-01 02:28:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2321748764</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lịch sử cột cờ Hà Nội </title>
         <author>MinarainbowUwU</author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2321810287</link>
         <description><![CDATA[<div>Di tích cột cờ Hà Nội (còn gọi là Kỳ đài) nằm trong khuôn viên Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam trên đường Điện Biên Phủ, Quận Ba Đình, Hà Nội. Cột cờ được xây dựng dưới thời vua Gia Long triều Nguyễn, trên phần đất phía nam của Hoàng thành Thăng Long. Sách<em> Đại Nam nhất thống chí</em> chép rằng: "Từ đời Lê về trước, kinh đô đều đặt ở đây, lại có tên là Thành Phụng Thiên ở trong thành Đại La. Thành lâu năm sụp đổ, đến đời Tây Sơn theo nền cũ đắp thành quanh từ cửa Đông Hoa đến cửa Đại Hưng. Bản triều đầu đời Gia Long lấy làm sở lỵ Bắc thành. Năm thứ 3, triều thần bàn rằng thể chế Tây Sơn không hợp quy củ, tâu xin sửa đổi. Năm thứ 4 sai quan đốc sức việc đắp thành và xây dựng kỳ đài". Kỳ đài thành Hà Nội được xây dựng vào năm thứ tư của triều Gia Long, tức là vào năm 1805 và hoàn thành vào năm 1812. Đây là một trong số ít công trình hiếm hoi của Hà Nội, thoát khỏi sự phá hủy do chính quyền đô hộ Pháp tiến hành trong ba năm 1894-1897.<br><br><br>Cột cờ Hà Nội cao hơn 33m, gồm ba tầng: đế, thân cột và vọng canh. Ở phần chân đế, mỗi cấp là một hình tứ diện vuông, thu nhỏ và cao dần từ dưới lên trên. Tại cấp thứ 3 có bố trí 4 cửa theo các hướng Đông - Tây - Nam - Bắc, trên mỗi cửa có biển đề tên: cửa đông là Nghinh Húc (đón sáng ban mai); cửa Tây là Hồi Quang (nhìn về hoàng hôn); cửa Nam là Hướng Ninh (trông theo ánh mặt trời), riêng cửa Bắc không thấy đề tên. Phần thân cột cờ là hình trụ tám cạnh, thu nhỏ dần từ dưới lên trên. Trong thân cột có 54 bậc thang xoáy chôn ốc lên đến tận đỉnh. Toàn thân cột cờ được soi sáng và thông hơi bằng 39 cửa nhỏ hình hoa thị và sáu cửa hình dẻ quạt. Đỉnh cột cờ (vọng canh) có cấu trúc như một gác lầu hình bát giác với 8 cửa sổ, mỗi cửa rộng 1m, trên có mái che. Dưới triều nhà Nguyễn, trong các dịp lễ Tết, cờ vàng của triều đình thường được treo trên đỉnh cột. Cột cờ còn là nơi vua quan xem duyệt quân ngũ, đấu võ. Đây cũng là vọng gác cho khu vực thành Thăng Long. Công trình này chỉ cách cửa thành phía nam - Đoan Môn khoảng 300m, cách điện Kính Thiên 500m và cách cửa Bắc chừng gần 1.000m. Từ trên đỉnh của kỳ đài có thể quan sát cả vùng rộng lớn trong và ngoài khu hoàng thành.</div><div><br>Với âm mưu chiếm đóng thành Hà Nội, năm 1873 và 1882 Pháp đã cho quân tấn công vào đây. Một trong những địa điểm bị pháo kích nhiều là kỳ đài Hà Nội. Theo tài liệu của Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam, trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, cột cờ Hà Nội được sử dụng như một pháo đài kiên cố, nơi phát hỏa pháo chiến đấu. Tại đây diễn ra trận quyết tử bảo vệ thành của tổng đốc Hà Nội Hoàng Diệu và đại thần Nguyễn Tri Phương. Sau khi chiếm được Thủ đô, từ năm 1894 đến năm 1897, thực dân Pháp đã lợi dụng chiều cao của cột cờ làm đài quan sát, đặt trạm thông tin liên lạc giữa ban chỉ huy với các đơn vị xung quanh bằng cờ và đèn tín hiệu.(trích)<br>Nguồn: Internet&nbsp;</div><div>Link: <a href="https://thoidai.com.vn/cot-co-ha-noi-duoc-xay-dung-thoi-vua-nao-78048.html">https://thoidai.com.vn/cot-co-ha-noi-duoc-xay-dung-thoi-vua-nao-78048.html</a><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1344982593/6e371ea6dfbeba70a3bcb025d7dc0273/A8D74315_5CBA_4CB7_826D_9B99902C44D9.png" />
         <pubDate>2022-10-01 05:41:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2321810287</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lộ trình vua Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La</title>
         <author>MinarainbowUwU</author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2321867765</link>
         <description><![CDATA[<div>Cách nay hơn một thiên niên kỷ, vua Lý Công Uẩn quyết định dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La. Tuy nhiên, với hệ thống giao thông và phương tiện còn thô sơ thời đó, việc di dời cả một kinh đô chắc chắn là chuyện không đơn giản.&nbsp;<br><br></div><div>Vậy, cuộc dời đô của vua Lý Công Uẩn từ Hoa Lư về thành Đại La được thực hiện như thế nào? Phương tiên di chuyển bằng gì và lộ trình của cuộc dời đô này ra sao?<br><br></div><div>Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép<em>: “Mùa thu tháng bảy năm Canh Tuất (1010), vua dời đô từ thành Hoa Lư sang thành Đại La, thuyền tạm đỗ dưới thành, có rồng vàng hiện ra trên thuyền ngự, do đó đổi gọi là thành Thăng Long”.&nbsp;<br></em><br></div><div>Từ dữ kiện lịch sử này, có thể thấy, vua Lý Công Uẩn cùng bá quan văn võ di chuyển bằng thuyền theo thủy lộ và đi vào cuối mùa hè.&nbsp;<br><br></div><div>Chọn lộ trình thời điểm như vậy hẳn là vua Lý đã lợi dụng mùa nước lên để không lo bị mắc cạn, cũng như lợi dụng mùa gió nồm để buồm được no gió, đỡ nhiều công chèo chống.<br><br></div><div>Tận dụng hệ thống sông hồ dày đặc, vua Lý Công Uẩn lựa chọn và phát huy lợi thế tối ưu của thủy bộ vào thời kỳ đó. Tuy nhiên, một câu hỏi được đặt ra là thuyền ngự đi theo những tuyến sông nào?&nbsp;<br><br>Qua các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, nhiều giả thuyết được đưa ra. Các lộ trình sau đây được nhiều người đề cập:<br><br></div><div>Lộ trình thứ nhất: Đoàn thuyền của vua xuất phát từ Hoa Lư, xuôi sông Sào Khê ra sông Hoàng Long, tiếp tục xuôi sông Hoàng Long ra ngã ba Gián Khẩu, ngược sông Đáy, vòng vèo qua núi đá Hà Tây cũ đến Hát Môn, ra sông Cái xuôi về Thăng Long. Lộ trình này dài khoảng 220 km.<br><br></div><div>Với lộ trình này, các nhà nghiên cứu thấy hoàn toàn thuận lợi nhưng không khả thi vì quãng đường quá dài.<br><br></div><div>Lộ trình thứ hai: Thuyền ngược sông Đáy đến Phủ Lý, rẽ vào ngã ba sông Châu Giang – sông Nhuệ, ngược sông Nhuệ đến Chèm, ra sông Cái xuôi về Thăng Long. Lộ trình này dài khoảng 130 km, cũng hoàn toàn thuận lợi, nhưng khi gặp sông Tô Lịch chắc không đi tiếp được đến Chèm.<br><br></div><div>Lộ trình thứ ba: Ngược sông Đáy đến Phủ Lý, rẽ vào sông Châu Giang, ra sông Cái, ngược sông Cái về Thăng Long. Lộ trình này dài khoảng 170 km. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng vua Lý dời đô đi bằng đường này.<br><br></div><div>Theo cách lý giải của những người nghiên cứu sâu về vận tải thủy, trong vận tải sông, hai yếu tố cần phải nghiên cứu đầy đủ. Đó là tuyến luồng và thủy văn.&nbsp;<br><br></div><div>Những người đồng thuận với lộ trình thứ ba mới xem xét đến yếu tố luồng lạch, mà chưa xét đến yếu tố thủy văn. Theo quy luật của thời tiết, đầu mùa thu, tháng 7 âm lịch, Bắc Bộ vẫn trong mùa mưa bão.&nbsp;<br><br></div><div>Theo thống kê của ngành quản lý đường sông, trong những năm chưa có đập Hòa Bình, vận tốc nước trung bình mùa lũ của sông Hồng ở hạ lưu Hà Nội khoảng 2,0-2,5 m/s.&nbsp;<br><br></div><div>Với vận tốc nước như vậy, có những năm, một số điểm ở hạ lưu Hà Nội, đoàn tàu sông có công suất 150-180 mã lực không ngược được lên thượng lưu; khi đó ngành vận tải sông phải lập các trạm hỗ trợ sức kéo – đẩy.&nbsp;<br><br></div><div>Với dòng nước như vậy, vào thời điểm dời đô năm 1010, đoàn thuyền của vua quan nhà Lý dùng sức người để chèo, kéo và kể cả kết hợp với buồm thì cũng khó mà vượt được đoạn sông Cái dài khoảng 100 km để về Thăng Long.<br><br></div><div>Lộ trình thứ tư: Lộ trình này đi theo lộ trình thứ 2, nghĩa là đến Phủ Lý thì rẽ vào ngã ba sông Châu Giang – sông Nhuệ, nhưng từ sông Nhuệ không đến Chèm ra sông Cái xuôi về Thăng Long như lộ trình thứ 2. Đến Thanh Trì, thuyền rẽ vào sông Tô Lịch để về Thăng Long. Lộ trình này dài khoảng 120 km.&nbsp;<br><br></div><div>Tuy nhiên, một số người cho rằng lộ trình này không khả thi vì sông Nhuệ và Tô Lịch hẹp và cạn thì làm sao đi được? Sẽ là sai lầm nếu lấy hiện trạng hôm nay để áp đặt cho thực tế năm 1010.&nbsp;<br><br></div><div>Đồng bằng sông Hồng 1.000 năm về trước dân cư còn thưa thớt, sông còn hoang dã. Sông Nhuệ, Tô Lịch không hẹp và cạn như bây giờ. Điều này đã được minh chứng qua thơ ca nói về giao thông vận tải trên sông Tô Lịch thời đó:<br><br></div><div><em>Sông Tô nước chảy trong ngần<br></em><br></div><div><em>Con thuyền buồm trắng chạy gần chạy xa<br></em><br></div><div><em>Thon thon hai mũi chèo hoa<br></em><br></div><div><em>Lướt đi lướt lại như là bướm gieo.<br></em><br></div><div>Những câu ca trên phần nào minh chứng cho sự phát triển của hệ thống giao thông đường thủy vào thời điểm bấy giờ và lộ trình này là khả thi nhất để vua Lý Công Uẩn đi thuyền dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long.&nbsp;<br><br></div><div>Bởi, xem xét nhiều yếu tố về tuyến luồng thì tuyến này ngắn, luồng sâu, rộng. Theo yếu tố thủy văn, tuyến này nước không chảy xiết, khi vào sông Tô Lịch nếu gặp hiện tượng nghịch thủy sẽ rất thuận lợi cho đoàn thuyền cập bến Đại La.<br><br></div><div>Bốn lộ trình được đưa ra ở đây cùng những phân tích, phần nào góp thêm cho sự tìm hiểu về lộ trình dời đô của vua Lý Công Uẩn thời xưa cũng như nhìn thấy được sự phát triển của giao thông đường thủy ở vào thời bấy giờ.<em><br>Nguồn:Internet&nbsp;<br>Link:</em><a href="https://zingnews.vn/lo-trinh-vua-ly-cong-uan-doi-do-tu-hoa-lu-ve-thanh-dai-la-post1114971.html">https://zingnews.vn/lo-trinh-vua-ly-cong-uan-doi-do-tu-hoa-lu-ve-thanh-dai-la-post1114971.html</a></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1344982593/e8ec0fbfe266a8e9ac0e5f957c714fda/1A62A35D_F9BB_40BE_8F48_16EDFB4BF298.jpg" />
         <pubDate>2022-10-01 08:35:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2321867765</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tháp bút-đài nghiêng </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2322405767</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><br></strong><br></div><div>Đúng như cái tên, Tháp Bút có hình dạng như một chiếc bút dựng đứng lên trời, Nguyễn Văn Siêu đã cho xây dựng tháp với ý tưởng là công trình tượng trưng cho nền “văn vật” của Việt Nam. Tháp gồm 5 tầng, ở phần thân tháp ở vị trí 3 tầng giữa có 3 chữ “Tả Thanh Thiên”, nghĩa là “Viết lên trời xanh” thể hiện được cái chí lớn của bậc sĩ phu thời bấy giờ.</div><div><br></div><div>Đã có bút thì phải có nghiên mực, Đài Nghiên được đặt ở đầu cầu Thê Húc. Nghiên được làm bằng đá xanh, có hình dáng như một nửa quả đào cắt ngang theo chiều dọc, được khoét lõm, Ba chân kê nghiên là 3 con cóc (thiềm thừ), trên thân nghiên có khắc một bài Minh của Nguyễn Văn Siêu gồm 64 chữ Hán thuộc thể thơ Cổ Phong.<br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://halohanoi.vn/wp-content/uploads/2021/01/thap-but-dai-nghien-ho-Guom-1-768x513.jpg" />
         <pubDate>2022-10-02 05:21:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2322405767</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Truyền thuyết Mị Châu Trọng Thuỷ </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327273071</link>
         <description><![CDATA[<div>Sau khi An Dương Vương xây xong thành Cổ Loa thì được thần Kim Quy cho một cái móng để làm nỏ thần. Lúc bấy giờ Triệu Đà làm chúa đất Nam Hải, mấy lần đem quân sang cướp đất Âu Lạc, nhưng vì An Dương Vương có nỏ thần nên đành rút quân về chờ thời cơ thích hợp. Triệu Đà nhân cơ hội đưa con trai mình là Trọng Thủy sang cầu thân với Mị Châu - con gái An Dương Vương. Một thời gian qua đi, khi đã có được lòng tin yêu của vợ, Trọng Thủy dò hỏi chuyện về chiếc nỏ thần. Biết được bí mật, mượn cớ về thăm cha, Trọng Thủy đánh cắp nỏ thần đem về đưa cho Triệu Đà. Có nỏ thần trong tay, Triệu Đà tiến đánh Âu Lạc một lần nữa. An Dương Vương thấy giặc đến chân thành nhưng vẫn chủ quan vì nghĩ rằng đã có nỏ thần. Nỏ thần không phát huy tác dụng, thua trận, An Dương Vương cưỡi ngựa đem theo Mị Châu đi về phía biển. Nhưng đi đến đâu thì thấy quân giặc theo đến đấy. Thần Kim Quy hiện lên nói rằng kẻ thù ở ngay bên cạnh. An Dương Vương bèn rút kiếm ra chém chết Mị Châu rồi nhảy xuống biển tự vẫn. Trọng Thủy nghe tin vì quá hối hận mà nhảy xuống giếng tự vẫn. Ngày nay, giếng ấy được gọi là giếng Trọng Thủy. Tục truyền lại Mị Châu khi chết, máu chảy xuống biển, trai ăn được mới có ngọc châu. Đem ngọc về rửa nước giếng thì thấy sáng lạ lùng.<br><a href="https://vndoc.com/tom-tat-truyen-an-duong-vuong-va-mi-chau-trong-thuy-155472?mode=amp">https://vndoc.com/tom-tat-truyen-an-duong-vuong-va-mi-chau-trong-thuy-155472?mode=amp</a></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-10-05 09:34:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327273071</guid>
      </item>
      <item>
         <title>hai bà Trưng</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327483545</link>
         <description><![CDATA[<div>Đất Mê Linh là đất bản bộ của các vua Hùng, kéo dài trên hai bờ sông Hồng từ phía trên của đỉnh tam giác châu Việt Trì (Phú Thọ) cho đến gần Hà Nội và trải rộng từ vùng núi Ba Vì (Hà Tây) sang vùng núi Tam Đảo (Vĩnh Phúc), tương đương với phần lớn các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hà Tây hiện nay.<br><br></div><div>Sách Đại việt sử ký toàn thư chép: Trưng Trắc “nguyên là họ Lạc, con gái của Lạc tướng huyện Chu Diên (vùng lưu vực sông Đáy và mở sang cả sông Hồng bao gồm khu vực Hà tây, Hà Nội, Hà Nam hiện nay).<br><br></div><div>Hai Bà Trưng, Trưng Trắc và Trưng Nhị, hai chị em sinh đôi là con gái Lạc tướng Mê Linh, đất bản bộ cũ của vua Hùng. Chồng Bà Trưng Trắc là Thi Sách, con trai lạc tướng Chu Diên. Lãnh thổ Mê Linh và Chu Diên liền cõi, hai gia đình lạc tướng là thông gia, khiến thanh thế của họ càng thêm mạnh, uy danh càng thêm lớn.<br><br></div><div>Những năm đầu công nguyên, <a href="http://truyencotich.vn/">Cổ Loa</a> với vị thế là một kinh đô cổ của đất nước đã sớm trở thành một trung tâm của các cuộc nổi dậy, đấu tranh giành độc lập của nhân dân, trong đố tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng.<br><br></div><div>Chính sách cai trị hà khắc, tàn bạo của nhà Đông Hán càng thôi thúc vợ chồng Trưng Trắc -Thi Sách hiệp mưu tính kế nổi dậy chống nhà Hán. Theo truyền thuyết và sử cũ, Thái Thú Tô Định đã giết chết Thi Sách trước khi cuộc khởi nghĩa nổ ra. Hành vi bạo ngược của Tô Định càng làm cho Bà Trưng Trắc cùng em gái là Trưng Nhị thêm quyết tâm tiến hành cuộc khởi nghĩa đánh đổ chính quyền đô hộ, rửa nợ nước, trả thù nhà, dựng lại cơ nghiệp xưa cho các Vua Hùng<br><br></div><div>Cửa sông Hát (Hát Môn, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây) là nơi khởi phát công cuộc tụ nghĩa và khởi nghĩa. Thời điểm nổ ra cuộc khởi nghĩa là niên hiệu Kiến Vũ thứ 16 tức năm 40 SCN.<br><br></div><div>Khởi nghĩa Hai Bà Trưng lập tức được sự hưởng ứng của các lạc tướng và nhân dân quận Giao Chỉ rồi toàn miền Nam Việt và Âu Lạc cũ. Xuất phát từ Hát Môn, Hai Bà đánh phá đô uý trị của giặc ở Hạ Lôi (Mê Linh) sau đó kéo quân từ Mê Linh xuống Tây Vu đánh chiếm Cổ Loa, từ Cổ Loa, quân của Hai Bà vượt sông Hoàng, sông Đuống đánh chiếm Luy Lâu (nay ở Lũng Khê, Thuận Thành, Bắc Ninh) là châu trị và quận trị của bọn đô hộ nhà Hán<br><br></div><div>Hoảng sợ trước khí thế ngút trời của nhân dân <a href="http://truyencotich.vn/">Âu Lạc</a>, bọn địch không dám chống cự bỏ chạy tháo thân về nước. Thái thú Tô Định cũng lẻn trốn về nước. Chỉ trong vòng hai tháng, nghĩa quân Hai Bà Trưng giải phóng toàn bộ đất nước (65 quận, huyện, thành), giành chủ quyền về tay dân tộc.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://cdn.doctailieu.com/images/2019/03/15/doan-van-ke-ve-hai-ba-trung-lop-3.jpg" />
         <pubDate>2022-10-05 12:29:43 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327483545</guid>
      </item>
      <item>
         <title>văn  miếu quốc tử giám</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327492663</link>
         <description><![CDATA[<div><br>Văn Miếu được xây dựng từ năm (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1070">1070</a>) tức năm Thần Vũ thứ hai đời <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%BD_Th%C3%A1nh_T%C3%B4ng">Lý Thánh Tông</a> (Đại Việt sử ký toàn thư. Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tập 1, tr.234) chép: "Mùa thu tháng 8, làm Văn Miếu, đắp tượng, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%E1%BB%95ng_T%E1%BB%AD">Khổng Tử</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chu_C%C3%B4ng">Chu Công</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%A9_ph%E1%BB%91i">Tứ phối</a>, vẽ tượng <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Th%E1%BA%A5t_th%E1%BA%ADp_nh%E1%BB%8B_hi%E1%BB%81n&amp;action=edit&amp;redlink=1">Thất thập nhị hiền</a>, bốn mùa cúng tế. Hoàng thái tử đến đấy học." <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_Mi%E1%BA%BFu_%E2%80%93_Qu%E1%BB%91c_T%E1%BB%AD_Gi%C3%A1m#cite_note-2"><sup>[2]</sup></a>. Như vậy Văn miếu ngoài chức năng thờ các bậc Tiên thánh, Tiên sư của đạo Nho, còn mang chức năng của một trường học Hoàng gia mà học trò đầu tiên là Thái tử <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%BD_C%C3%A0n_%C4%90%E1%BB%A9c">Lý Càn Đức</a>, con trai vua <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%BD_Th%C3%A1nh_T%C3%B4ng">Lý Thánh Tông</a> với <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%C3%AAn_phi_%E1%BB%B6_Lan">Nguyên phi Ỷ Lan</a>, lúc đó mới 5 tuổi, đến năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1072">1072</a> lên ngôi trở thành vua <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%BD_Nh%C3%A2n_T%C3%B4ng">Lý Nhân Tông</a>.<br><br></div><div><br>Năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1076">1076</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%BD_Nh%C3%A2n_T%C3%B4ng">Lý Nhân Tông</a> cho lập trường Quốc Tử Giám ở bên cạnh Văn Miếu, có thể coi đây là trường <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc">đại học</a> đầu tiên ở Việt Nam. Ban đầu, trường chỉ dành riêng cho con vua và con các bậc đại quyền quý (nên gọi tên là Quốc Tử). (Việt sử thông giám cương mục. Nxb. Văn sử địa. 1957) chép: "Bính Thìn, năm Anh Vũ Chiêu Thắng thứ 1 tháng 4... lập nhà Quốc Tử Giám; tuyển trong các văn thần lấy những người có văn học, bổ vào đó". Năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1156">1156</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%BD_Anh_T%C3%B4ng">Lý Anh Tông</a> cho sửa lại Văn Miếu và chỉ thờ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%E1%BB%95ng_T%E1%BB%AD">Khổng Tử</a>.<br><br></div><div><br>Năm Nguyên Phong thứ 3 <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1253">1253</a>, vua <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_Th%C3%A1i_T%C3%B4ng">Trần Thái Tông</a> đổi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BB%91c_T%E1%BB%AD_Gi%C3%A1m">Quốc Tử Giám</a> thành <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Qu%E1%BB%91c_H%E1%BB%8Dc_Vi%E1%BB%87n&amp;action=edit&amp;redlink=1">Quốc Học Viện</a> cho mở rộng và thu nhận cả con cái các nhà thường dân có sức học xuất sắc. Chức năng trường Quốc học ngày càng nổi bật hơn chức năng của một nơi tế lễ "Quý Sửu năm thứ ba(1253)... Tháng 6 lập Quốc Học Viện tô tượng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%E1%BB%95ng_T%E1%BB%AD">Khổng Tử</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chu_c%C3%B4ng">Chu công</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C3%81_Th%C3%A1nh">Á Thánh</a>, vẽ tượng 72 người hiền để thờ... Tháng 9 xuống chiếu cho các nho sĩ trong nước đến Quốc học viện giảng học <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%A9_th%C6%B0">tứ thư</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%A5c_kinh">lục kinh</a>" (ĐVSKTT). Lấy <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ph%E1%BA%A1m_%E1%BB%A8ng_Th%E1%BA%A7n&amp;action=edit&amp;redlink=1">Phạm Ứng Thần</a> giữ chức Thượng thư kiêm chức Đề điệu Quốc Tử viện để trông nom công việc học tập tại Quốc Tử Giám.<br><br></div><div><br>Đời <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_Minh_T%C3%B4ng">Trần Minh Tông</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chu_V%C4%83n_An">Chu Văn An</a> được cử làm quan Quốc Tử giám Tư nghiệp (hiệu trưởng) và thầy dạy trực tiếp của các hoàng tử. Năm 1370 ông mất, được vua <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_Ngh%E1%BB%87_T%C3%B4ng">Trần Nghệ Tông</a> cho thờ ở Văn Miếu bên cạnh <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%E1%BB%95ng_T%E1%BB%AD">Khổng Tử</a>.<br><br></div><div><br>Sang thời <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BA%ADu_L%C3%AA">Hậu Lê</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nho_gi%C3%A1o">Nho giáo</a> rất thịnh hành. Vào năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1484">1484</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_Th%C3%A1nh_T%C3%B4ng">Lê Thánh Tông</a> cho dựng bia của những người thi đỗ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ti%E1%BA%BFn_s%C4%A9">tiến sĩ</a> từ khoa thi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1442">1442</a> trở đi (chủ trương đã đề ra năm 1442 nhưng chưa thực hiện được). Mỗi khoa, một tấm bia đặt trên lưng rùa. Tới năm đó, nhà Lê đã tổ chức được 12 khoa thi cao cấp, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_Th%C3%A1nh_T%C3%B4ng">Lê Thánh Tông</a> (1460 - 1497) đã tổ chức đều đặn cứ ba năm một lần, đúng 12 khoa thi.<br><br></div><div><br>Không phải khoa thi nào tiến hành xong đều được khắc bia ngay, không phải bia đã dựng thì vĩnh tồn, không hư hỏng, không mất mát. Từng thời có những đợt dựng, dựng lại lớn, như năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1653">1653</a> (Thịnh Đức năm thứ nhất), năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1717">1717</a> (Vĩnh Thịnh năm thứ 13).<br><br></div><div><br>Cuối triều Lê, thời Cảnh Hưng, bia vẫn được khắc đều đặn. Dù không còn giữ được đủ bia, nhà công trình điêu khắc giá trị và tư liệu lịch sử quý báu.<br><br></div><div><br>Năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1762">1762</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_Hi%E1%BB%83n_T%C3%B4ng">Lê Hiển Tông</a> cho sửa lại là <strong>Quốc Tử Giám</strong> - cơ sở đào tạo và giáo dục cao cấp của triều đình. Vào thời Cảnh Hưng, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C5%A9_Mi%C3%AAn">Vũ Miên</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Nghi%E1%BB%85m">Nguyễn Nghiễm</a>, Nguyễn Lệ cho đúc Bích Ung đại chuông.<br><br></div><div><br>Đời <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Nguy%E1%BB%85n">nhà Nguyễn</a>, Quốc Tử giám lập tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hu%E1%BA%BF">Huế</a>. Năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1802">1802</a>, vua <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Gia_Long">Gia Long</a> ấn định đây là Văn Miếu - Hà Nội. Tổng trấn Bắc thành <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_V%C4%83n_Th%C3%A0nh">Nguyễn Văn Thành</a> cho xây thêm Khuê Văn Các bên cạnh giếng vuông. Như vậy vào đầu thời Nguyễn, Văn miếu Thăng Long đã một lần được sửa sang chỉ còn là Văn Miếu của trấn Bắc Thành, sau đổi thành Văn Miếu Hà Nội. Còn Quốc Tử Giám thì đổi thành học đường của phủ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0i_%C4%90%E1%BB%A9c">Hoài Đức</a> và sau đó tại khu vực này xây đền Khải thánh để thờ cha mẹ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%E1%BB%95ng_T%E1%BB%AD">Khổng Tử</a>.<br><br></div><div><br>Đầu năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1947">1947</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%B1c_d%C3%A2n_Ph%C3%A1p">thực dân Pháp</a> nã đạn đại bác làm đổ sập căn nhà, chỉ còn cái nền với hai cột <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%A1">đá</a> và 4 nghiên đá. Ngày nay toàn bộ khu Thái Học được xây dựng với diện tích 1530m2 trên tổng diện tích 6150m2 gồm các công trình kiến trúc chính là Tiền đường, Hậu đường, Tả vu, Hữu vu, nhà chuông, nhà trống được mô phỏng theo kiến trúc truyền thống trên nền đất xưa của Quốc Tử Giám.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://media.laodong.vn/storage/newsportal/2017/12/28/583720/Van-Mieu-2.jpg?w=888&amp;h=592&amp;crop=auto&amp;scale=both" />
         <pubDate>2022-10-05 12:35:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327492663</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hồ Tây</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327499151</link>
         <description><![CDATA[<div><br>Sách <em>Tây Hồ chí</em> ghi rằng, Hồ Tây có từ thời <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%B9ng_V%C6%B0%C6%A1ng">Hùng Vương</a>, bấy giờ nơi đây là một bến nằm giáp sông Hồng thuộc động Lâm Ấp, nên được gọi là bến <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%A2m_%E1%BA%A4p">Lâm Ấp</a> thuộc thôn Long Đỗ. Ở vào thời <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hai_B%C3%A0_Tr%C6%B0ng">Hai Bà Trưng</a> bến này ăn thông với sông Hồng, bao bọc quanh hồ là rừng cây gồm nhiều loại thực vật chính như tre ngà, bàng, lim, lau sậy, gỗ tầm... Cùng một số loài thú quý hiếm sinh tồn.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_T%C3%A2y#cite_note-hanoimoi.com.vn-3"><sup>[3]</sup></a> Ngoài ra, xung quanh bờ hồ còn có sự xuất hiện của các hang động vừa và nhỏ, bờ phía Tây có Già La Động (nay là Quán La thuộc phường Xuân La), bờ phía Đông có Nha Lâm Động (nay là phố Yên Ninh, Hòe Nhai), bờ phía Nam có Bình Sa Động (thời Lý đổi là Giáp Cơ Xá nay thuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0n_Ki%E1%BA%BFm">quận Hoàn Kiếm</a>). Cư dân sinh sống ở đây rất thưa thớt, họ sống chủ yếu bằng nghề săn bắt thú rừng, tôm, cua, cá và trồng tỉa cây cối.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_T%C3%A2y#cite_note-4"><sup>[4]<br></sup></a><br></div><div><br>Về địa lý, Hồ Tây là hồ ngoại sinh, có dạng lòng chảo, ngành địa chất lịch sử đã chứng minh được Hồ Tây là một phần của Sông Hồng.<br><br></div><div><br>Sách <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_Vi%E1%BB%87t_s%E1%BB%AD_k%C3%BD_to%C3%A0n_th%C6%B0">Đại Việt sử ký toàn thư</a> chép, năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1044">1044</a>, tháng 9 <em>Vua sai đặt cũi lớn ở Dâm Đàm (Hồ Tây) lấy con voi nhà của Chiêm Thành làm mồi nhử voi rừng vào trong ấy, vua thân đến bắt</em>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_T%C3%A2y#cite_note-hanoimoi.com.vn-3"><sup>[3]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_T%C3%A2y#cite_note-5"><sup>[5]<br></sup></a><br></div><div><br>Hồ Tây từ lâu lắm đã là thắng cảnh. Thời Lý - Trần, các vua chúa lập quanh hồ nhiều cung điện làm nơi nghỉ mát, giải trí như cung Thúy Hoa và Từ Hoa thời Lý nay là khu vực điện Hàm Nguyên thời Trần nay là khu <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%B9a_Tr%E1%BA%A5n_Qu%E1%BB%91c">chùa Trấn Quốc</a>. Tương truyền, chùa Kim Liên được dựng trên nền cung điện của Công chúa Từ Hoa là con Vua <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%BD_Th%E1%BA%A7n_T%C3%B4ng">Lý Thần Tông</a>. Để phát triển cơ sở tầm tang, công chúa Từ Hoa đã mang các cung nữ ra khu vực Hồ Tây khai hoang, lập ấp và dựng nghề trồng dâu nuôi tằm dệt lụa cho họ. Trại Nghi Tàm là một điền trang lớn quán xuyến việc này.<br><br></div><div><br>Hồ Tây vẫn được khai phá, cải tạo vào thời <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Tr%E1%BA%A7n">nhà Trần</a>. Công chúa Túc Trinh con Vua <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_Th%C3%A1nh_T%C3%B4ng">Trần Thánh Tông</a> (1258-1278) đã rời cung điện ra vùng Bắc Kinh thành Thăng Long rồi bỏ tiền phát chẩn, cấp giống vốn cho dân nghèo làm ăn sinh sống. '<em>Lúc đầu chỉ chiêu mộ được 10 nhân khẩu, thấy mảnh vườn bên sông vừa đẹp lại vừa tiện đi lại nên lập ấp nhỏ ở xứ Vườn, sau dân lập thành làng đặt tên là Cổ Nhuế viên</em>.<br><br></div><div><br>Trong chuyến Bắc tuần đến thăm hồ Tây, vua Thiệu Trị nhận xét: “Người đời vẫn nói: Thăng Long nhiều cảnh đẹp mà Tây Hồ là nhất, tới nay xem ra chỉ là một làn đầm ao sánh với Tây Hồ [Trung Quốc] mà thôi." <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_T%C3%A2y#cite_note-6"><sup>[6]<br></sup></a><br></div><div><br>Chiêu nghi Vũ Thị Ngọc Xuyến (Vương phi của Chúa <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BB%8Bnh_T%E1%BA%A1c">Trịnh Tạc</a>) ở Thế kỷ XVII đã có công giúp dân khai khẩn ruộng hoang trông khu vực làng Xã Minh Cảo - Xuân Đỉnh (nay thuộc Quận Tây Hồ). Trước đây, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%A2m_c%E1%BA%A7m">sâm cầm</a> hồ Tây được xem là đặc sản tiến vua, nhưng có giai thoại kể là nhờ công <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A0_Huy%E1%BB%87n_Thanh_Quan">bà Huyện Thanh Quan</a> thảo đơn giúp dân thưa việc xách nhiễu của quan trên và vua <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%B1_%C4%90%E1%BB%A9c">Tự Đức</a> xét đơn đã tha lệnh cống cho vùng.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_T%C3%A2y#cite_note-7"><sup>[7]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_T%C3%A2y#cite_note-8"><sup>[8]</sup></a> Nhưng cùng với thời gian, Hồ Tây hẹp lại, dơ hơn và ít rong rêu, và vì sự săn bắn bừa bãi, từ khoảng năm 1994, chim sâm cầm đã không trở về Hồ Tây.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_T%C3%A2y#cite_note-9"><sup>[9]<br></sup></a><br></div><div><br>Hồ Trúc Bạch cũng chính là một phần của Hồ Tây, từ thế kỉ XVII khi dân hai làng Yên Hoa (nay là Yên Phụ) và Yên Quang (nay là phố Quán Thánh) đắp con đê ngăn góc đông nam Hồ Tây để nuôi bắt cá. Từ khi thành một hồ biệt lập, hồ đã đi vào thư tịch cổ. Sách "Tây Hồ chí" cho biết nguyên ở phía nam hồ có làng Trúc Yên, có nghề làm mành, do đó nhà nào cũng trồng trúc, trúc mọc như rừng. Đường Thanh Niên có từ năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1957">1957</a> - <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1958">1958</a>, trước gọi là đường Cổ Ngư, hình thành từ một con đê hẹp được đắp ngăn một góc Hồ Tây. Theo ý kiến của Chủ tịch <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh">Hồ Chí Minh</a>, sau khi đường được thanh niên học sinh Hà Nội lao động trong những ngày thứ bảy cộng sản mở rộng như ngày nay.<br><br></div><div><br>Ven hồ Trúc Bạch có nhiều di tích lịch sử và công trình kiến trúc đặc sắc như <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%81n_Qu%C3%A1n_Th%C3%A1nh">đền Quán Thánh</a> ở ngay góc tây nam hồ. Phía đông có <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%B9a_Ch%C3%A2u_Long">chùa Châu Long</a>, tương truyền xây từ thời Trần, là nơi tu hành của công chúa con vua <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_Nh%C3%A2n_T%C3%B4ng">Trần Nhân Tông</a>. Có <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90%E1%BB%81n_An_Tr%C3%AC&amp;action=edit&amp;redlink=1">đền An Trì</a>, nơi thờ Uy Đô, một anh hùng chống quân Nguyên.<br><br></div><div><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%B9a_S%C3%A3i">Chùa Sãi</a> (<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=T%C4%A9nh_L%C3%A2u_T%E1%BB%B1&amp;action=edit&amp;redlink=1">Tĩnh Lâu Tự</a>) ven hồ Tây</div><div><br>Sách "Tây Hồ chí" cho biết thời chúa <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BB%8Bnh_Giang">Trịnh Giang</a> xây ở đây một cung điện gọi là Viện Trúc Lâm. Về sau, viện trở thành nơi giam cầm những cung nữ có lỗi, phải dệt lụa để mưu sinh. Lụa đẹp, bóng bẩy, nổi tiếng khắp kinh thành, gọi là lụa làng Trúc. Phía bắc hồ Trúc Bạch có một gò đất nhỏ, trên gò có đền thờ Cẩu Nhi gắn với chuyện Lý Công Uẩn dời đô.<br><br></div><div><br>Từ chốn rừng rậm, đầm lầy hoang hóa, qua công lao khai khẩn xây dựng của bao thế hệ, trong đó có sự đóng góp rất lớn của một số vương phi các triều đại, Hồ Tây đã trở thành một thắng cảnh văn hóa - du lịch nổi tiếng của Kinh đô Thăng Long - Hà Nội. Nếu Hồ Tây được ví như nhụy hoa thì Thập tam trại (13 làng trại) là những cánh hoa đẹp tỏa hương sắc thơm lành.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_T%C3%A2y#cite_note-hanoimoi.com.vn-3"><sup>[3]<br></sup></a><br></div><div><br>Tên gọi[<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=H%E1%BB%93_T%C3%A2y&amp;veaction=edit&amp;section=2">sửa</a> | <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=H%E1%BB%93_T%C3%A2y&amp;action=edit&amp;section=2">sửa mã nguồn</a>]<br><br></div><div><br>Phụ thuộc vào ý nghĩa văn hóa từng thời đại, cũng như ý chí chủ quan của con người, trải qua các thời kỳ lịch sử, Hồ Tây có những tên gọi khác nhau, mỗi tên gọi ấy đều gắn với từng <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=S%E1%BB%B1_t%C3%ADch&amp;action=edit&amp;redlink=1">sự tích</a>, từng câu chuyện dân gian.<br><br></div><div><strong><br>Đầm Xác Cáo</strong> có lẽ là tên gọi xưa nhất của hồ Tây, gắn với sự tích con <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_ly_tinh">hồ ly tinh</a> chín đuôi. Lịch sử ra đời của hồ Tây được nhắc đến lần đầu tiên trong <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C4%A9nh_Nam_ch%C3%ADch_qu%C3%A1i">Lĩnh Nam chích quái</a> do <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C5%A9_Qu%E1%BB%B3nh">Vũ Quỳnh</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ki%E1%BB%81u_Ph%C3%BA">Kiều Phú</a> soạn vào khoảng năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1492">1492</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_T%C3%A2y#cite_note-10"><sup>[10]</sup></a> Ở đây, tác giả đã kể về lai lịch hồ Tây trong truyện Hồ tinh. Theo đó ở phía tây thành Long Biên có hòn núi đá nhỏ, có con Hồ Tinh (yêu quái cáo, con quái sau Ngư Tinh, trước Mộc Tinh) chín đuôi sống hơn ngàn năm, có thể biến hóa vạn trạng, khi thành người khi thành quỷ ở khắp dân gian. Long Quân bèn ra lệnh cho sáu đạo quân của thủy phủ dâng nước lên công phá bắt cáo mà nuốt ăn. Nơi này trở thành một cái vũng sâu. Hồ Tây chính là hang con cáo chín đuôi phá hoại dân lành, bị Long Quân dâng nước lên công phá. Do đó, hồ có tên là đầm Xác Cáo.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_T%C3%A2y#cite_note-11"><sup>[11]</sup></a> Để giữ kỷ niệm xưa, người ta đã đặt tên cho cánh đồng ở phía Tây đầm là Hồ Đỗng (hang cáo) và thôn xóm cạnh cánh đồng đó là Làng Cáo (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Xu%C3%A2n_T%E1%BA%A3o">Xuân Tảo</a>), làng Hồ Thôn (nay là Hồ Khẩu) "Hồ" là "con cáo" đồng âm với "hồ" (hồ nước), hòa quyện với nhau trong những địa danh Hồ Khẩu, Cáo Đỉnh... Đối với dân thường, ý nghĩa huyền thoại và đời sống hiận thực thật khó lòng tách bạch. Ngày nay con đường bao quanh phía Tây Hồ Tây mang tên <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BA%A1c_Long_Qu%C3%A2n">Lạc Long Quân</a>, còn đường bao quanh phía Đông chạy dọc đê sông Hồng từ Nghi Tàm đến Nhật Tân là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C3%82u_C%C6%A1">Âu Cơ</a> thể hiện lòng cảm ơn đối với ân đức của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BA%A1c_Long_Qu%C3%A2n">nhà vua</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_T%C3%A2y#cite_note-12"><sup>[12]<br></sup></a><br></div><div><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Huy_L%C6%B0%E1%BB%A3ng"><br>Nguyễn Huy Lượng</a> trong <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%A5ng_T%C3%A2y_H%E1%BB%93_ph%C3%BA">Tụng Tây Hồ phú</a> có câu:<br><br></div><div><em>Trước bạch hồ nào ở đó làm hang,<br></em><br></div><div><em>Long vương hổ nên vùng đại trạch<br></em><br></div><div><br>là để nói về sự tích này.<br><br></div><div><br>Ở một số tài liệu khác lại ghi chép rằng, người trừ con cáo chín đuôi ở Tây Hồ khi ấy là Huyền Thiên Chấn Vũ, vị thánh sau này được thờ tại đến Quán Thánh, ngay gần hồ Tây.<br><br></div><div><strong><br>Hồ Kim Ngưu</strong> dựa theo truyền thuyết hồ Trâu Vàng. Truyện kể về một người khổng lồ hết sức to lớn, sức khỏe phi thường, muôn người không địch nổi, ông xuất gia làm thiền sư, đó chính là thiền sư <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Minh_Kh%C3%B4ng">Minh Không</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_T%C3%A2y#cite_note-13"><sup>[13]</sup></a> Thiền sư Minh Không sang Tàu chữa bệnh cho con vua Tống. Khi công việc hoàn thành, vua muốn trả ơn. Nhà sư chỉ xin một ít đồng đen cho vào tay nải. Vua Tàu đồng ý cho thiền sư tự ý vào kho lấy đồng. Thiền sư đã lấy tất cả đồng đen trong kho bỏ vào tay nải và thả nón tu lờ làm thuyền, bơi về nước Nam. Về đến Thăng Long, ông dùng số đồng đó đúc thành bốn thứ bảo khí nhà Phật: Tượng Phật cao 6 trượng, chóp đỉnh tháp Báo Thiên chín tầng, đỉnh đồng có đường kính 10 sải tay và một quả chuông đồng cực lớn. Chuông đúc xong, đức vua sai ông đánh một hồi chuông dài để báo hiệu cho dân chúng biết tin vui nước nhà đang thái bình thịnh trị! Tiếng chuông ngân đến tận kinh đô bên Tàu. Nghe tiếng chuông con trâu bằng vàng to lớn nằm trước kho đồng bên Tàu tự dưng bừng tỉnh "Đồng đen là mẹ của vàng" ngỡ là tiếng mẹ gọi nó liền vươn mình phóng thẳng xuống phương Nam tìm đến quả chuông khổng lồ, quần mãi xung quanh. Trâu vàng quần quanh mãi mà vẫn không thấy, khiến cho cả một vùng đất lớn quanh quả chuông sụt xuống thành một vùng hố sâu. Quả chuông sau một hồi cũng đổ sụp xuống hố sâu. Trâu vàng cũng theo đó nhảy xuống và nằm bên cạnh, chẳng bao lâu sau vùng đất bị trâu vàng dẫm sụt, nước tràn đầy trải rộng thành một hồ nước mênh mông. Từ đó, quả chuông cứ nằm mãi dưới lòng hồ không ai vớt lên nổi và trâu vàng vẫn cứ nằm mãi bên cạnh quả chuông dưới đáy nước sâu mà không quay về phương Bắc nữa. Do vậy người ta bèn đặt tên cho hồ là hồ Kim Ngưu.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_T%C3%A2y#cite_note-14"><sup>[14]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_T%C3%A2y#cite_note-15"><sup>[15]</sup></a> Thiền sư <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%BD_Qu%E1%BB%91c_S%C6%B0">Minh Không</a> về sau được thợ đúc đồng vùng Ngũ Xá (nay ở Đông Nam hồ Trúc Bạch) thờ làm tổ sư nghề đúc đồng. <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90%C3%ACnh_Ng%C5%A9_X%C3%A1&amp;action=edit&amp;redlink=1">Đình Ngũ Xá</a> thờ tổ sư <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%BD_Qu%E1%BB%91c_S%C6%B0">Minh Không</a> hiện nằm trên phố Nguyễn Khắc Hiếu, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ch%C3%B9a_Ng%C5%A9_X%C3%A1&amp;action=edit&amp;redlink=1">chùa Ngũ Xá</a> nằm trên phố Ngũ Xá đều thuộc phường Trúc Bạch. Trong đình có tượng tổ sư bằng gỗ cao 1m70, trong chùa có pho tượng đồng A Di Đà cao 3m95, chu vi 11m60, nặng 10 tấn. Đây là pho tượng đồng lớn nhất Việt Nam hiện nay.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_T%C3%A2y#cite_note-16"><sup>[16]<br></sup></a><br></div><div><br>Trong dân gian còn truyền tụng câu:<br><br></div><div><em>Trâu vàng ẩn mãi giữa hồ,<br></em><br></div><div><em>Nước dù cạn vẫn mịt mù tăm hơi<br></em><br></div><div><strong><br>Lãng Bạc</strong>, theo "Tây Hồ chí", thì sau khi dập tắt cuộc khởi nghĩa bi hùng của Hai Bà Trưng, Tướng quân <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/M%C3%A3_Vi%E1%BB%87n">Mã Viện</a> - tướng thứ ba của nhà Hán - đã gọi hồ Tây là Lãng Bạc với ý nghĩa hồ đầy sóng vỗ. Một viên tướng là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%ACnh_L%E1%BA%A1c">Bình Lạc</a> hầu <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0n_V%C5%A9">Hàn Vũ</a> đã chết ở đây. Tên gọi này thể hiện ý nghĩa rõ nhất vào những ngày giông bão, mặt hồ rộng, sóng nước nổi lên ầm ầm, tạo ra một cảnh hồ hùng tráng và nên thơ.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_T%C3%A2y#cite_note-17"><sup>[17]<br></sup></a><br></div><div><strong><br>Dâm Đàm</strong>, tên gọi này cũng không biết chính xác được gọi trong thời gian nào, nhưng theo <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_Qu%E1%BB%91c_V%C6%B0%E1%BB%A3ng_(s%E1%BB%AD_gia)">Trần Quốc Vượng</a> thì Dâm Đàm có tên thật từ thời Lý-Trần với huyền tích <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%BD_Nh%C3%A2n_T%C3%B4ng">Lý Nhân Tông</a> ngồi thuyền Mục Thận xem đánh cá, gặp sương mù, có thuyền tới gần, trên có hổ, Mục Thận quăng lưới bắt hổ, hóa ra đó là Thái sư <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_V%C4%83n_Th%E1%BB%8Bnh">Lê Văn Thịnh</a>, và ông cho rằng Dâm Đàm nghĩa là hồ mù sương.<br><br></div><div><br>Theo sách <em>Hồn sử Việt</em> thì khi vua <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%BD_Th%C3%A1i_T%E1%BB%95">Lý Thái Tổ</a> dời đô từ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hoa_L%C6%B0">Hoa Lư</a> về <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C4%83ng_Long">Thăng Long</a>, hồ Kim Ngưu trở thành một địa điểm du ngoại được nhà vua và các quan ưa thích, nhiều lần trong các buổi du ngoại, nhà vua gặp sương mù bao phủ, cảnh tượng hồ trở nêm huyền ảo mộng mơ, vì vậy hồ đã được đổi tên là Dâm Đàm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_T%C3%A2y#cite_note-18"><sup>[18]</sup></a>.<br><br></div><div><strong><br>Tây Hồ</strong>, năm 1573 tránh tên húy của Vua <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_Th%E1%BA%BF_T%C3%B4ng">Lê Thế Tông</a> là Duy Đàm, người ta đổi là Tây Hồ. Cái tên Tây Hồ có từ đó, ngoài lý do trên, có lẽ việc đặt tên này nhằm sánh với phương Bắc, vì ở Trung Quốc cũng có Tây Hồ nổi tiếng ở Hàng Châu. Việc đặt tên các địa danh, sông hồ của Việt Nam theo Trung Quốc là điều thường gặp.<br><br></div><div><strong><br>Đoài Hồ</strong>, do <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BB%8Bnh_T%E1%BA%A1c">Trịnh Tạc</a> (1657-1682) được phong tước Tây Vương, nên các địa danh nào có chữ Tây đều bị ông ra lệnh đổi thành Đoài (quẻ Đoài thuộc phương Tây - ý nghĩa như nhau, âm và chữ khác nhau) như Sơn Tây gọi thành Xứ Đoài, bởi vậy nên Tây Hồ được gọi là Đoài Hồ,. Nhưng cái tên Đoài Hồ không được dùng lâu, sau đó còn đổi thành Diêm Hồ, Liêm Đàm. Nhưng người ta vẫn quen gọi là Hồ Tây hơn.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_T%C3%A2y#cite_note-hanoimoi.com.vn-3"><sup>[<br></sup></a><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://hanoilocaltravel.com/wp-content/uploads/2020/06/quan-tay-ho.jpg" />
         <pubDate>2022-10-05 12:40:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327499151</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Mị CHÂU - TRỌNG THUỶ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327526424</link>
         <description><![CDATA[<div>Trọng Thủy yêu quý vợ, nhưng không quên lời cha dặn dò. Một hôm, nhân ngồi nói chuyện, Trọng Thủy xin Mị Châu đưa cho xem chiếc nỏ thần. Mị Châu vô tình, lấy cho chồng xem. Chàng lừa dịp trộm móng rùa, làm lẫy giả thay vào.Thế rồi, Trọng Thủy xin phép về nước thăm cha. Lúc chia tay, chàng than thở cùng Mị Châu: “Vạn nhất, chiến tranh xảy ra, ta sẽ làm thế nào tìm nàng?”. Mị Châu nghẹn ngào trả lời:<br><br></div><div>– Một ngày kia loạn ly, nếu thiếp phải rời xa Loa Thành này, thì thiếp sẽ mang theo cái nêm lông ngỗng ngày trước chàng tặng. Chạy về đâu, thiếp sẽ rút lông rắc suốt dọc đường, chàng có thể theo dấu vết tìm thiếp.<br><br></div><div>Trọng Thủy về nước, dâng móng rùa cho cha. Triệu Đà tức thì cất quân đánh An Dương Vương.<br><br></div><div>Nghe tin, An Dương Vương vẫn ung dung ngồi đánh cờ không chút lo âu, yên trí có nỏ thần.<br><br></div><div>Nhưng lúc giặc kéo đến đông nghịt, đưa nỏ thần ra bắn, thì không có màu nhiệm như trước nữa.<br><br></div><div>An Dương Vương chỉ kịp nhảy lên ngựa cùng người con gái yêu, bỏ thành chạy về phương Nam.<br><br></div><div>Vào thành, Trọng Thủy không thấy Mị Châu đâu, nhớ lời dặn ngày trước, cứ theo vết lông ngỗng, đuổi theo tìm người yêu. Còn An Dương Vương thì cứ quất ngựa chạy băng ngàn, nhưng lúc nào nghe tiếng giặc đuổi theo sát gót, Mị Châu ôm chặt lấy cha, nước mắt đầm đìa, thấy mình yếu đuối trược một sự nguy khốn không làm sao tránh khỏi.<br><br></div><div>An Dương Dương chạy đến núi Mộ Dạ (huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An) gần bờ biển, nghẽn đường, thì tuyệt vọng gọi thần Kim Quy lên cứu.<br><br></div><div>Thần Kim Quy bỗng hiện lên mặt nước, bảo:<br><br></div><div>– Giặc ngồi sau lưng nhà vua đấy, chạy thoát sao được!An Dương Vương ngoảnh lại. Trong chốc lát, vua hiểu hết cơ sự, rút gươm chém đứa con gái phản bội, rồi nhảy xuống biển, tự tận.<br><br></div><div>Trọng Thủy đến nơi, thấy thi hài Mị Châu, ôm chầm lấy, khóc than thảm thiết, rồi đưa về an táng ở Loa Thành. Nỗi nhớ thương không hề nguôi. Cuối cùng chàng nhảy xuống giếng sâu, nơi người yêu thường lấy nước tắm.<br><br></div><div>Vì tình thực mà phải thác oan, máu của Mị Châu chảy hòa cùng nước biển. Loài trai nuốt lấy, sinh ra một thứ ngọc. Ấy là ngọc trai. Những loại ngọc này đem rửa ở nước giếng Loa Thành, nơi Trọng Thủy trẫm mình thì sáng thêm.<br><br></div><div>Ở Diễn Châu (Nghệ An) có đền thờ An Dương Vương, thường gọi là đền Công. Và Cổ Loa tức Loa Thành ở Đông Anh (Hà Nội) nay là một di tích lịch sử còn được bảo vệ. Trong đền có thờ một hòn đá lớn, phẳng lì, rất đẹp.<br><br></div><div>Cái giếng người ta nói là chỗ Trọng Thủy trầm mình nay vẫn còn, làm chứng cho một tranh tình sử bi đát xảy ra mấy nghìn năm trước.<br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://i.ytimg.com/vi/43hIXiAoX-U/hqdefault.jpg" />
         <pubDate>2022-10-05 12:56:07 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327526424</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Quốc Toản </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327553238</link>
         <description><![CDATA[<div>Bóp nát quả cam 🍊<br><strong>Bóp nát quả cam</strong></div><div>&nbsp; &nbsp;1. Giặc Nguyên cho sứ thần sang giả vờ mượn đường để xâm chiếm nước ta. Thấy sứ giặc ngang ngược đủ điều, Trần Quốc Toản vô cùng căm giận.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp;2. Sáng nay, biết Vua họp bàn việc nước ở dưới thuyền rồng, Quốc Toản quyết đợi gặp Vua để nói hai tiếng "xin đánh". Đợi từ sáng đến trưa, vẫn không gặp được, cậu bèn liều chết xô mấy người lính gác ngã chúi, xăm xăm xuống bến. Quân lính ập đến vây kín. Quốc Toản mặt đỏ bừng bừng, tuốt gươm, quát lớn:<br><br></div><div>- Ta xuống xin bệ kiến Vua, không kẻ nào được giữ ta lại.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp;3. Vừa lúc ấy, cuộc họp dưới thuyền rồng tạm nghỉ, Vua cùng các vương hầu ra ngoài mui thuyền.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp;Quốc Toản bèn chạy đến, quỳ xuống tâu:<br><br></div><div>- Cho giặc mượn đường là mất nước. Xin Bệ hạ cho đánh!<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp;Nói xong, cậu tự đặt thanh gươm lên gáy, xin chịu tội.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp;Vua truyền cho Quốc Toản đứng dậy, ôn tồn bảo:<br><br></div><div>- Quốc Toản làm trái phép nước, lẽ ra phải trị tội. Nhưng xét thấy em còn trẻ mà đã biết lo việc nước, ta có lời khen.&nbsp;<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp;Nói rồi, Vua ban cho Quốc Toản một quả cam.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp;4. Quốc Toản tạ ơn Vua, chân bước lên bờ mà lòng ấm ức: "Vua ban cho cam quý nhưng xem ta như trẻ con, vẫn không cho dự bàn việc nước". Nghĩ đến quân giặc đang lăm le đè đầu cưỡi cổ dân mình, cậu nghiến răng, hai bàn tay bóp chặt.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp;Thấy Quốc Toản trở ra, mọi người ùa tới. Cậu xòe bàn tay phải cho họ xem cam quý Vua ban. Nhưng quả cam đã nát từ bao giờ.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-10-05 13:12:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327553238</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Truyền thuyết về Thăng Long Tứ Trấn </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327555298</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Thăng Long tứ trấn</strong> là tên gọi để chỉ bốn ngôi chùa nằm ở bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc có nhiệm vụ trấn giữa bốn phương của Thăng Long trước kia, và bốn ngôi chùa này được coi là linh khí của Thăng Long xưa và của <a href="https://dulichkhatvongviet.com/du-lich-vong-quanh-ha-noi-city-1-ngay-gia-re/"><strong>Hà Nội</strong></a>ngày nay, đó là: Đền Bạch Mã trấn ở phía Đông; Đền Voi Phục trấn ở phía Tây; Đền Kim Liên trấn ở phía Nam và Đền Quán Thánh trấn ở phía Bắc. Mỗi ngôi đền thờ một vị thần mang ý nghĩa và có nguồn gốc khác nhau.<br><strong>Đền Bạch Mã trấn phía Đông: </strong>hiện nay nằm ở số nhà 76 phố Hàng Buồm, thuộc quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Ngôi đền thờ thần Long Đỗ hay còn gọi là Bạch Mã, đây là vị thần bảo hộ kinh thành Thăng Long. Dân chúng Thăng Long xưa rất tôn sùng ngài, bởi ngài là vị thần rất thiêng. Truyền thuyết xưa có kể lại rằng: Khi Lý Công Uẩn rời đô từ Thanh Hóa ra định đô tại Thăng Long đã cho xây thành, nhưng thành cứ xây là bị sụt lở. Thấy vậy nhà Vua bèn tới đây làm lễ và thật lạ, vào buổi sáng chợt thấy có một con ngựa trắng từ trong đền đi ra, chạy vòng quanh khu vực đang xây thành, đánh dấu, chạy đến đâu để dấu chân đánh dấu mốc thành rồi trở lại Đền và vụt biến mất. Vua ra lệnh cho thuộc hạ cứ theo vết chân ngựa mà xây thành, xây nên khong bị lở nữa. Sau khi thành xây xong, Vua Lý chiếu cho chúng dân kinh thành phong thần Bạch Mã làm thành Hoàng bảo vệ cho Thăng Long. Từ đó, hình ảnh Ngựa trắng là một biểu tượng thiêng liêng của Đền.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://dulichkhatvongviet.com/truyen-thuyet-ve-thang-long-tu-tran/" />
         <pubDate>2022-10-05 13:13:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327555298</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Bà Triệu</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327558743</link>
         <description><![CDATA[<div>Khi nói đến gương anh hùng liệt nữ, đến truyền thống đấu tranh xâm lược của ngoại bang, người Việt Nam qua nhiều thời đại thường không quên nhắc đến cái tên Bà Triệu bên cạnh các gương liệt nữ khác như Hai Bà Trưng…<br><br></div><div>Triệu thị Trinh sinh ngày 2 tháng 10 nǎm 226 (Bính Ngọ) tại huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hoá trong một gia đình hào trưởng. Triệu thị Trinh là một phụ nữ có tướng mạo kỳ là, người cao lớn vú dài nǎm thước. Bà là người tính tình vui vẻ, khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, trí lực hơn người. Truyền thuyết kể rằng, có lần xuất hiện một coi voi trắng một ngà phá phách ruộng nương, làng xóm, lầm chết người. Triệu Thị Trinh dũng cảm cầm búa nhảy lên đầu giáng xuống huyệt làm con voi lạ gục đầu xin qui thuận.<br><br></div><div>Khi nhà Ngô xâm lược đất nước gây nên cảnh đau thương cho dân chúng, khoảng 19 tuổi Triệu thị Trinh bỏ nhà vào núi xây dựng cǎn cứ, chiêu mộ nghĩa quân đánh giặc. Khi anh trai nhắn về nhà chồng, bà đã trả lời tỏ rõ khí phách của mình mà đến nay không mấy người Việt Nam là không biết: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá Kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ tôi không chịu khom lưng là tì thiếp người ta”. Truyền thuyết kể rằng, nǎm 248 khi Triệu Thị Trinh khởi nghĩa trời đã sai đá núi loan tin tập hợp binh sĩ trong vùng. Đêm khuya từ lòng núi đá phát ra rằng: “Có Bà nữ tướng. Vâng lệnh trời ra. Trị voi một ngà. Dựng cờ mở nước. Lệnh truyền sau trước. Theo gót Bà Vương”. Theo đó dân chúng trong vùng hưởng ứng nhiệt liệt, có người mang theo cả bộ giáp vàng, khǎn vàng…. dâng cho bà. Anh trai bà là Triệu Quốc Đạt được tôn làm Chủ tướng. Bà Triệu là Nhuỵ Kiều tướng quân (Vị tướng yêu kiều như nhuỵ hoa). Khi ra trận Bà mặc áo giáp vàng, chít khǎn vàng, đi guốc ngà, cưỡi voi một ngà. Quân Bà đi đến đâu dân chúng hưởng ứng, quân thù khiếp sợ. Phụ nữ quanh vùng thúc giục chồng con ra quân theo Bà Vương đánh giặc. Cho đến nay nhân dân vùng Thanh Hoá và lân cận còn nhiều câu ca, lời ru con nói về sự kiện này.<br><br></div><div>Sau hàng chục trận giao tranh với giặc, trận thứ 39 anh trai bà là Triệu Quốc Đạt tử trận, Bà Triệu lên làm chủ tướng và lập nên một cõi giang sơn riêng vùng Bồ Điền khiến quân giặc khó lòng đánh chiếm. Biết bà có tính yêu sự sạch sẽ, ghét tính dơ bẩn, quân giặc bố trí một trận đánh từ tướng đến quân đều loã thể. Bà không chịu được chiến thuật đê hèn đó phải lui voi giao cho quân sĩ chiến đấu rồi rút về núi Tùng. Bà quì xuống vái trời đất: “Sinh vi tướng, tử vi thần” (Sống làm tướng, chết làm thần) rồi rút gươm tự vẫn. Sau khi bà mất dân vùng Bồ Điền, Phú Điền vẫn nghe trên không trung tiếng cồng thúc quân, voi gầm, ngựa hí. Bà còn phù hộ cho nhiều thủ lĩnh sa này đánh tan quân xâm lược đất nước. Có người sau này lên làm ngôi vua, như Lý Bô, đã xây đền, lǎng mộ để ghi nhớ công ơn của Bà.<br><br></div><div>Đến nay chuyện Bà Triệu từ thế kỷ thứ II vẫn còn hằn đậm trong tâm thức mỗi người Việt Nam với lòng ngưỡng mộ và tự hào. Lǎng và đền thờ Bà vẫn còn mãi với thời gian tại huyện&nbsp; Hậu Lộc tỉnh Thanh Hoá là di tích lịch sử quan trọng của quốc gia là bằng chứng về niềm tự hào một người phụ nữ liệt oanh của Dân tộc Việt Nam.<br><br></div><div><strong><em><br></em></strong><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-10-05 13:15:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327558743</guid>
      </item>
      <item>
         <title>(Tiến Minh-4A1) Ẩm thực Hà Nội - Phở</title>
         <author>ed0119310009</author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327582975</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;Phở là một món ăn truyền thống của Việt Nam, cũng có thể xem là một trong những món ăn đặc trưng nhất cho ẩm thực Việt Nam. Thành phần chính của phở là bánh phở và nước dùng cùng với thịt bò hoặc gà cắt lát mỏng. Ngoài ra còn kèm theo các gia vị như: tương, tiêu, chanh, nước mắm, ớt,… Những gia vị này được thêm vào tùy theo khẩu vị của từng người dùng.&nbsp; Phở thông thường dùng làm món ăn điểm tâm, hoặc ăn tối. Phở thường là phở bò, nhưng cũng có phở gà.</div><div>Nước dùng nói chung được làm bằng việc hầm xương bò, thịt dùng cho món phở là thịt bò hoặc gà và gia vị bao gồm quế, hồi, gừng, thảo quả, đinh hương, hạt mùi,… “Bánh phở”, theo truyền thống, được làm từ bột gạo, tráng thành tấm mỏng rồi cắt thành sợi. Phở luôn phải ăn nóng mới ngon, tuy nhiên, để có được những bát phở ngon còn tùy thuộc vào kinh nghiệm và bí quyết truyền thống của nghề nấu phở.Hà Nội chính là không gian văn hóa của món ăn Việt hiện đã được biết đến trên toàn cầu: Phở! phở có thể xuất hiện ở nhiều nơi trên thế giới. Nhưng, nơi mà thực khách có thể thưởng thức hương vị phở một cách tinh tế nhất, chỉ có thể là Hà Nội…</div><div>Không ai biết chắc chắn phở Hà Nội xuất hiện từ khi nào. Chỉ biết rằng, những bậc cao niên nhất của Hà Nội, từ khi lớn lên đều đã biết đến món ẩm thực này trong đời sống và cả trong văn thơ. Và, cũng có lẽ, chưa từng có thứ đồ ăn nào được các văn nhân dành nhiều sự ưu ái đến thế trong các tác phẩm của mình. Đơn giản, bởi Phở không chỉ là món ăn tuyệt ngon với đầy đủ dinh dưỡng mà còn chứa đựng trong đó cả sự tinh tế trong văn hóa ẩm thực của người Hà Nội.</div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1609853128/a6ad6556d7892253f4d983dd44fb7cb2/cach_nau_nuoc_pho_ngon_hap_dan.jpg" />
         <pubDate>2022-10-05 13:30:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327582975</guid>
      </item>
      <item>
         <title>(Tiến Minh-4A1) ẩm thực HN:bánh rán lúc lắc</title>
         <author>ed0119310009</author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327596365</link>
         <description><![CDATA[<div>Ngày bé, mỗi lần đi chợ cùng bà, tôi lại được thưởng thức món bánh rán lúc lắc. Nếu ai chưa từng thưởng thức thì chỉ nghe đến cái tên bánh thôi đã thấy lạ, bởi khi cầm bánh lên người ăn cảm nhận được phần nhân bánh lăn bên trong vỏ bánh.</div><div>Những hôm trời se lạnh, được ngồi cạnh bếp than hồng vừa rán bánh vừa nhâm nhi chiếc bánh tròn nhỏ xinh, giòn tan và ngọt bùi trong miệng thì thú vị không gì bằng.</div><div>Bánh rán lúc lắc được làm từ các nguyên liệu là những sản vật từ đồng quê của Việt Nam như: bột nếp, đậu xanh, đường và vừng trắng. Vỏ bánh làm bằng bột nếp, còn nhân bánh làm bằng đậu xanh.</div><div>Đỗ xanh ngâm kỹ, đãi sạch vỏ, đem đồ chín và nghiền nhuyễn, xong trộn đều với đường, sau đó nặn thành từng viên tròn nhỏ. Khi bọc nhân vào trong vỏ bánh, phải lưu ý nặn bánh cho đều tay để bánh tròn đều, không bị méo. Tiếp đến, bánh được đem đi tẩm vừng trắng rồi xếp ra khay chuẩn bị rán.</div><div>Chảo đặt lên bếp, cho dầu vào đun sôi già rồi thả bánh vào rán. Mỗi lần rán khoảng 10 đến 15 chiếc nên ngồi đợi bánh chín cũng là một thú vui. Bí quyết để bánh được tròn và nhân không bị dính vào vỏ đó là người rán phải đảo bánh cho đều tay. Bánh được rán cho đến khi có màu vàng ruộm.</div><div>Bánh rán đạt tiêu chuẩn có màu vàng, phồng và không bị xẹp khi để nguội. Khi bẻ bánh ra, vỏ bánh mỏng dính, nhân tròn, không dính vào vỏ bánh. Vì thế, khi cầm chiếc bánh lắc nhẹ, ta thấy cái nhân bánh lăn lục cục ở bên trong rất lạ.</div><div>Bánh ăn giòn tan, hòa với vị ngọt thanh của đường, béo của nhân đậu xanh và thơm bùi của vừng.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1609853128/c25cd1dba1af922da452cbedd8447652/ch__m_c.jpg" />
         <pubDate>2022-10-05 13:37:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327596365</guid>
      </item>
      <item>
         <title>(Tiến Minh-4A1)ẩm thực HN :Cốm làng vòng</title>
         <author>ed0119310009</author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327621635</link>
         <description><![CDATA[<div>Mùi thơm của lúa non trong cốm làm say đắm người con đất Việt. Mỗi vùng miền cốm lại mang hương vị đặc trưng nhưng cốm làng Vòng là đặc biệt nhất với hương vị không thể lẫn vào đâu được và đã trở thành đặc sản của người Hà thành.</div><div>Cốm được làm từ nếp cái hoa vàng, loại nếp hạt tròn căng, bóng và rất mẩy. Một năm, có hai vụ nhưng ngon nhất là từ tháng 7 đến tháng 10 – tức là khi tiết trời vào thu ấy. Cách thức làm cốm, có lẽ ở vùng quê nào cũng biết. Nhưng để có hạt cốm dẻo, và thơm ngon thì riêng làng Vòng lại là đặc thù.&nbsp; Phường Dịch Vọng, Cầu Giấy bây giờ vốn là làng Vòng xưa kia với các thửa ruộng chạy dài theo từng dải đất. Người ta cấy lúa nếp, đợi đến khi lúa khum ngọn, còn ngậm hơi sữa là gặt về để làm cốm. Lúa để làm cốm thì không được vò hay đập mà phải tuốt.&nbsp; Sau đó cho vào nồi rang. Cốm rang xong phải mang giã ngay, không được để nguội. Trong quá trình giã không được mạnh tay quá cốm sẽ nát. Khi giã phải luôn tay đảo cốm từ trên xuống, dưới lên cho đều. Đựng cốm vào trong thúng con đã rải sẵn những lá sen để mang đi bán ở các phố.&nbsp; Buổi sáng sớm, bà cụ già bưng cái thúng con đựng cốm bên sườn, trên đậy lá sen thong thả đi bộ giữa các phố. Đỗ lại, mua một ít. Bà cụ bán cốm không cần cân, mà lót tay vào cái lá sen đã được phơi héo rồi bốc một nắm trong thúng và lộn ngược lại. Thế là đã có cốm trong lá sen mà lại không dính vào tay. Nhanh nhẹn, bà cụ rút sợi rơm nếp xanh buộc lại, rồi đưa cho khách. Cốm là một thứ quà ngon, nhưng không phải là món ăn cho no, nên không ai mua nhiều. Chỉ một gói nho nhỏ, ngồi nhâm nhi thưởng thức bên chén trà xanh, hàn huyên cùng bạn bè, hay ngắm phố phường thì có lẽ không còn gì thú vị bằng.</div><div>Nhưng cốm phải ăn với chuối tiêu hoặc quả hồng chín đỏ là ngon nhất.</div><div>Cốm còn được dùng để làm chè cốm, xôi cốm, hay bánh cốm trong lễ ăn hỏi.</div><div>Hà Nội bước vào thời kỳ đổi mới, nghề làm cốm ở làng Vòng đã mai một nhiều. Nhưng trong tâm trí người thủ đô, cốm Vòng vẫn tồn tại như dấu ấn của người Tràng An một thủa.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1609853128/12a61ff8592a09a82a56afc160a6f72f/ch__m_c.jpg" />
         <pubDate>2022-10-05 13:49:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327621635</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Sự tích thành Cổ Loa</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327621891</link>
         <description><![CDATA[<div>Nhắc đến Cổ Loa, người ta nghĩ ngay đến truyền thuyết về An Dương Vương được thần Kim Quy bày cho cách xây thành, về chiếc lẫy nỏ thần làm từ móng chân rùa thần và mối tình bi thương Mỵ Châu - Trọng Thủy. Đằng sau những câu chuyện thiên về tâm linh ấy, thế hệ con cháu còn khám phá được những giá trị khảo cổ to lớn của Cổ Loa.<br><br></div><div><br>Đền thờ An Dương Vương</div><div>Khu di tích Cổ Loa cách trung - tâm Hà Nội 17km thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội, có diện tích bảo tồn gần 500ha được coi là địa chỉ văn hóa đặc biệt của thủ đô và cả nước. Cổ Loa có hàng loạt di chỉ khảo cổ học đã được phát hiện, phản ánh quá trình phát triển liên tục của dân tộc ta từ sơ khai qua các thời kỳ đồ đồng, đồ đá và đồ sắt mà đỉnh cao là văn hóa Đông Sơn, vẫn được coi là nền văn minh sông Hồng thời kỳ tiền sử của dân tộc Việt Nam.<br><br></div><div>Cổ Loa từng là kinh đô của nhà nước Âu Lạc thời kỳ An Dương Vương (thế kỷ III TCN) và của nước Đại Việt thời Ngô Quyền (thế kỷ X) mà thành Cổ Loa là một di tích minh chứng còn lại cho đến ngày nay. Thành Cổ Loa được các nhà khảo cổ học đánh giá là "tòa thành cổ nhất, quy mô lớn vào bậc nhất, cấu trúc cũng thuộc loại độc đáo nhất trong lịch sử xây dựng thành lũy của người Việt cổ".<br><br></div><div>Sở dĩ thành được gọi là Cổ Loa là do kiến trúc xây của thành. Theo tương truyền thành gồm chín vòng xoáy trôn ốc, nhưng căn cứ trên dấu tích hiện còn, các nhà khoa học nhận thấy thành có ba vòng, trong đó vòng thành nội rất có thể được làm về sau, dưới thời Ngô Quyền. Chu vi ngoài 8km, vòng giữa 6,5km, vòng trong 1,6km, diện tích trung tâm lên tới 2km². Thành được xây theo phương pháp đào đất đến đâu khoét hào đến đó, thành đắp đến đâu lũy xây đến đó.<br><br></div><div>Đến khu di tích Loa Thành, du khách cảm nhận được cảnh quan thiên nhiên khoáng đạt của làng quê Việt với hào nước, sông ngòi, gò đống. Khu vực thành nội có nhiều di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật như khu đền Thượng thờ An Dương Vương, đình Ngự Triều, am thờ Mỵ Châu và chùa Bảo Sơn.<br><br></div><div>Đền thờ An Dương Vương còn gọi là đền Thượng đứng trên một quả đồi xưa có cung thất của vua. Ngay trước đền thờ là một hồ hình bán nguyệt, giữa có giếng Ngọc. Truyền thuyết cho rằng đó chính là cái giếng mà Trọng Thủy đã tự tử. Nước này khi đem rửa ngọc trai (vốn được gọi là nước mắt của Mỵ Châu) thì ngọc trai sáng đẹp lạ thường. Màu nước trong giếng Ngọc quan sát từ xa thấy hơi đỏ ngầu, nổi bật giữa màu nước hồ trong xanh và cây cối mát mẻ.<br><br></div><div>Quanh hồ có rất nhiều ghế đá ngồi nghỉ chân dưới các tán cây lớn để tận hưởng không gian mát mẻ trong lành. Ngay cửa đền&nbsp; có một cặp rồng đá uốn khúc sinh động với nghệ thuật điêu khắc thời Lê. Bên trong cảnh vật im ắng, cây cối vườn phía sau xanh tốt. Nhà bia nhỏ với vòm mái cong cong, ẩn dưới những&nbsp; tán đa. Ở đây có ba bia đá cổ khắc năm 1606. Đền thờ An Dương Vương gồm nhiều cửa, đi vào khu vực chính là điện thờ vua, nằm phía trong hai bên là thờ hoàng hậu và thờ Mẫu.<br><br></div><div>Đình Ngự Triều được xây dựng trên nền điện thiết triều cũ, năm 1907 thời Nguyễn. Dáng vóc vững chãi, bề thế, mái đao vút cong. Tại đây trưng bày nhiều di tích khảo cổ có giá trị quan trọng.<br><br></div><div>Đến Cổ Loa có một nơi mà du khách không thể bỏ qua đó là am thờ Mỵ Châu. Đó chỉ là một am nhỏ nằm khiêm tốn dưới gốc đa với&nbsp; vẻ u tịch như muốn gợi về câu chuyện tình ngang trái cách đây hàng ngàn năm. Căn phòng trong cùng có tượng công chúa Mỵ Châu.<br><br></div><div>Đây là một hòn đá tự nhiên có hình dáng người cụt đầu cũng áo gấm khăn hoa mà linh hồn oan khuất, gợi lên trong lòng những thương cảm. Truyền thuyết kể rằng sau khi Mỵ Châu hóa thành hòn đá to trôi dạt về bãi Đường Cấm, ở phía đông thành Cổ Loa, dân trong thành đem võng ra cáng về đến gốc đa thì đứt võng, hòn đá rơi xuống, bèn lập am thờ ngay tại chỗ. Ngay trước cửa am gắn một bia đá nhỏ khắc mấy câu thơ:<br><br></div><div><em>Đường ốc quanh quanh tới Cổ thànhCây đa thiên cổ dáng còn thanhHồng hồng mũ ngọc. Người đâu vắngLạnh lạnh gươm thần. Đá vẫn xanhKẻ Việt người Tần khôn vẹn nghĩaKhối tình chữ hiếu khó toàn danhÔi! Hồn ngọc tĩnh giờ lai lángLàm khách đang yêu bước chẳng đành.<br></em><br></div><div>Chúng tôi đã có may mắn được trực tiếp chiêm ngưỡng và chạm vào hòn đá Mỵ Châu với hi vọng sẽ mang lại sức khỏe niềm vui và may mắn. Khi chạm tay vào nền đá lóng lánh và hơi lạnh, người ta không khỏi chạnh lòng thương nàng Mỵ Châu cả tin.<br><br></div><div>Có lẽ, cả khu di tích Cổ Loa nói chung và am Mỵ Châu nói riêng không chỉ nổi tiếng bởi kiến trúc cổ, những hiện vật khảo cổ có giá trị mà còn bởi mối tình bi thương nổi tiếng Mỵ Châu - Trọng Thủy. Phải chăng vẻ huyền bí của Loa thành được tăng thêm một phần bởi những truyền thuyết nửa hư nửa thực ấy. Từ am Mỵ Châu đi sâu vào phía trong còn có chùa Bảo Sơn với nhiều tượng Phật hết sức sinh động với các tư thế, vẻ mặt khác nhau.<br><br></div><div>Loa thành là di sản văn hóa, là bằng chứng về sự sáng tạo và trình độ của người Việt lúc bấy giờ. Đối với người dân nơi đây, ngày nay Cổ Loa vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần và sinh hoạt văn hóa. Hằng năm, vào ngày 6 tháng giêng âm lịch, cư dân Cổ Loa tổ chức một lễ trang trọng để tưởng nhớ đến những người xưa đã có công xây thành, và nhất là để ghi ơn An Dương Vương.&nbsp; &nbsp;<br><br>https://tuoitre.vn/co-loa---thanh-co-va-truyen-thuyet-341414.htm#:~:text=Truy%E1%BB%81n%20thuy%E1%BA%BFt%20k%E1%BB%83%20r%E1%BA%B1ng%20sau,am%20th%E1%BB%9D%20ngay%20t%E1%BA%A1i%20ch%E1%BB%97.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://tuoitre.vn/co-loa---thanh-co-va-truyen-thuyet-341414.htm#:~:text=Truy%E1%BB%81n%20thuy%E1%BA%BFt%20k%E1%BB%83%20r%E1%BA%B1ng%20sau,am%20th%E1%BB%9D%20ngay%20t%E1%BA%A1i%20ch%E1%BB%97." />
         <pubDate>2022-10-05 13:49:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327621891</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hai bà trưng</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327626485</link>
         <description><![CDATA[<div><br>Cuộc nổi dậy của Trưng Trắc, theo Hán thư cùng Việt sử ghi lại, chỉ gói gọn trong lý do vì Thái thú khi ấy là <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/T%C3%B4_%C4%90%E1%BB%8Bnh">Tô Định</a> dùng biện pháp khắc chế, nên Trưng Trắc cùng phẫn mà nổi dậy. Hán thư không đưa ra lý do <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Thi_S%C3%A1ch">Thi Sách</a> bị giết, trong khi Việt sử thì chỉ có <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_Vi%E1%BB%87t_s%E1%BB%AD_k%C3%BD_to%C3%A0n_th%C6%B0"><em>Đại Việt sử ký toàn thư</em></a> ghi lý do này, <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_Vi%E1%BB%87t_s%E1%BB%AD_l%C6%B0%E1%BB%A3c"><em>Đại Việt sử lược</em></a> trước đó thì không.<br><br></div><div><br>Theo một số học giả như <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%A0o_Duy_Anh">Đào Duy Anh</a>, <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_Qu%E1%BB%91c_V%C6%B0%E1%BB%A3ng_(s%E1%BB%AD_gia)">Trần Quốc Vượng</a>..., do chính sách đồng hóa gắt gao và bóc lột hà khắc của <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_H%C3%A1n">nhà Đông Hán</a> đối với người Việt tại Giao Chỉ đương thời,<a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Hai_B%C3%A0_Tr%C6%B0ng#cite_note-14"><sup>[14]</sup></a><a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Hai_B%C3%A0_Tr%C6%B0ng#cite_note-15"><sup>[15]</sup></a> các Lạc tướng <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Vi%E1%BB%87t">người Việt</a> liên kết với nhau để chống lại nhà Hán. Trưng Trắc kết hôn với con trai Lạc tướng ở Chu Diên là Thi Sách, hai nhà cùng có chí hướng chống Hán. Khoảng năm 39-40, nhằm trấn áp người Việt chống lại, Thái thú Tô Định giết <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Thi_S%C3%A1ch">Thi Sách</a>.<br><br></div><div><a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0ng_Tr%E1%BA%AFc"><br>Trưng Trắc</a> và các Lạc tướng càng căm thù, cùng <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0ng_Nh%E1%BB%8B">Trưng Nhị</a> mang quân bản bộ về giữ Hát Giang nay là xã <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/H%C3%A1t_M%C3%B4n">Hát Môn</a>, huyện <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%BAc_Th%E1%BB%8D">Phúc Thọ</a>, Hà Nội.<a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Hai_B%C3%A0_Tr%C6%B0ng#cite_note-16"><sup>[16]</sup></a>Sau một thời gian chuẩn bị, tháng 2 năm 40, Trưng Trắc cùng Trưng Nhị chính thức phát động khởi nghĩa chống lại nhà Đông Hán. Cuộc khởi nghĩa được sự hưởng ứng của nhiều đội quân và nhân dân các nơi thuộc <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/%C3%82u_L%E1%BA%A1c">Âu Lạc</a> và <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Nam_Vi%E1%BB%87t">Nam Việt</a>cũ.<a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Hai_B%C3%A0_Tr%C6%B0ng#cite_note-17"><sup>[17]</sup></a><a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Hai_B%C3%A0_Tr%C6%B0ng#cite_note-18"><sup>[18]</sup></a> Quân Hai Bà đánh hãm trị sở <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Luy_L%C3%A2u">Luy Lâu</a>. Tô Định phải chạy về Nam Hải (<a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Trung_Qu%E1%BB%91c">Trung Quốc</a>).<br><br></div><div><br>Các quận <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Nam_H%E1%BA%A3i_(qu%E1%BA%ADn)">Nam Hải</a>, <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/C%E1%BB%ADu_Ch%C3%A2n">Cửu Chân</a>, <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Nh%E1%BA%ADt_Nam">Nhật Nam</a>, <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%A3p_Ph%E1%BB%91">Hợp Phố</a> đều hưởng ứng. Hai Bà lấy được 65 thành ở <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/L%C4%A9nh_Nam">Lĩnh Nam</a>. Trưng Trắc tự lập làm vua, xưng là <strong>Trưng Nữ Vương</strong>, hay còn gọi là <strong>Trưng Vương</strong>.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://cdn.doctailieu.com/images/2019/03/15/doan-van-ke-ve-hai-ba-trung-lop-3.jpg" />
         <pubDate>2022-10-05 13:52:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327626485</guid>
      </item>
      <item>
         <title>(Tiến Minh) ẩm thực HN:Bánh tôm Hồ Tây</title>
         <author>ed0119310009</author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327635343</link>
         <description><![CDATA[<div>Hồ Tây rộng trên Năm trăm “ha”, cùng với hồ Trúc Bạch là một trong những cảnh đẹp từ nghìn xưa. Ở giữa hai con hồ, nổi lên một con đường kỳ diệu, nguyên xưa là con đê để giữ nước nên gọi là đường Cố Ngự, lâu ngày đọc chệch đi là đường Cổ Ngư, đã đi vào nhiều áng thơ ca. Những năm sáu mươi, được mở rộng thêm do sứclao động của thanh niên Hà Nội, nó được đổi tên thành Đường Thanh Niên. Đây là con đường đặc biệt của Hà Nội, rất hấp dẫn không chỉ riêng với người Hà Nội mà còn là niềm say mê của nhiều khách du lịch. Nó như một nét thơ, một bức tranh, một con đường trong thần thoại ngay giữa lòng thành phố.</div><div>Trên con đường này có một món quà nổi tiếng từ nhiều thập kỷ nay: Bánh tôm Hồ Tây. Tôm tươi, to ngọt đánh từ Hồ Tây lên, đặt lên những miếng bánh gồm bột mì rán giòn, nhất là những lát khoai lang thái con chì nhỏ, cháy cạnh, thơm nức mùi khoai chín. Bánh được ăn nóng cùng với nước chấm pha theo công thức đặc biệt, dưa góp là đu đủ xanh, và các loại rau thơm, rau sống. Ăn bánh tôm là ăn cay chua mặn ngọt, ăn sự thơm tho, tươi mát trong một không gian đầy thơ mộng của thiên nhiên, xây xanh gió mát, khí trời…</div><div>Bánh tôm thực sự nổi tiếng từ khoảng 1954. Trước đó, trên đường Cổ Ngư có những ki ốt bán giải khát, nước dừa tươi, chanh quả, bán thêm món bánh tôm là món ăn cho vui, ăn mà chơi cho những người đi chơi, nhàn tản. Bánh tôm Hồ Tây được ăn trong không khí mát rượi của gió hồ Trúc Bạch nổi tiếng lên những chiều hè, hay về phía Hồ Tây mà phía trước mặt là chùa Trấn Quốc thanh u, một ngôi chùa nổi tiếng từ thời các vua chúa xưa kia, nhất là thời Lê Trịnh. Xa hơn một chút là ngôi đền Cẩu Nhi nhỏ bé, có từ thời nhà Lý, đã ngót nghìn năm – tiếc là mới bị phá bỏ một cách vô ý thức, thiếu văn hoá của một số người coi kinh doanh trọng hơn văn hoá lịch sử. Sau này món bánh tôm được ưa chuộng, nhiều quán phát triển. Một căn nhà đồ sộ được dựng lên ngay chỗ con đường mở rộng. Cũng đẹp, nhưng tiếc là tường xi măng, cửa kính làm che mất tầm mắt của người du ngoạn, nên có phần nào nó không phù hợp với khung cảnh xung quanh. Nó cứng đơ, làm mất đi một phần vẻ đẹp của con đường thơ, đường tranh.</div><div>Hồ Tây có nhiều sản vật quí. Chim sâm cầm, cá chép vàng, ốc bươu, tôm càng. Tôm ấy là một nguyên liệu chính để làm bánh tôm, vì vậy mà có món bánh tôm Hồ Tây, vừa là tôm của Hồ Tây, vừa là món ăn được ăn ngay bên bờ Hồ Tây. Nó đã thành kỷ niệm của nhiều thế hệ, nhiều người đi xa Hà Nội, xa đất nước. Ngày nay đường Thanh Niên còn có rặng cây ngọc lan, hoa tím được trông cùng với hàng xoan tây cổ thụ, nên nhiều mùa đều có hoa đẹp.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1609853128/e1179fae5691ce128e458de9bc70ed2f/banh_tom_ho_tay_ha_noi_mytour_1.jpg" />
         <pubDate>2022-10-05 13:56:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327635343</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Sự tích hoa sữa</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327635365</link>
         <description><![CDATA[<div>Ở một ngôi làng nọ có người con gái yêu thầm chàng trai hàng xóm bên cạnh. Cô yêu anh nhưng không dám thổ lộ mà chỉ tâm tình với cái cây trước cửa nhà – loài cây không bao giờ ra hoa.<br><br></div><div>Nhưng rồi một ngày gió lạnh, cô bỗng nhận được tin rằng người mình yêu thầm đã đính hôn với một người con gái khác. Đau đớn và buồn tủi cho tình đơn phương của mình, cô gái đã lìa bỏ trần thế. Linh hồn cô nương náu ở trong thân cây trước nhà.<br><br></div><div>Vậy là từ đó cứ mỗi độ thu về là loài cây này lại nở rộ hoa thành từng chùm bông trắng tinh khiết. Những bông hoa tinh khôi với mùi hương hấp dẫn này chính là những tâm tình mà cô gái kia muốn gửi tới người yêu của mình. Loài cây này chính là cây hoa sữa mà ngày nay chúng ta thường gọi. Hương thơm man mác của hoa sữa gợi nhắc về chuyện tình yêu thầm kín dang dở, vừa buồn thương lại vừa đẹp.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-10-05 13:56:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327635365</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hồ tây</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327637502</link>
         <description><![CDATA[<div>Hồ Tây mới đầu chỉ là tên chung chỉ hồ ở phía tây bắc kinh thành. Gọi mãi trở thành tên riêng là Hồ Tây. Trong dân gian, Hồ Tây còn được gọi là hồ Trâu Vàng và còn có tên khác là Dâm Đàm (đầm mù sương). Theo tài liệu nghiên cứu của ông Bùi Văn Nguyên trong “Cảnh trí Hồ Tây” xuất bản năm 1978″ thì tên Dâm Đàm còn được sử dụng đến năm 1573 (đời nhà Trần, nhà Lý). Khi vua Lê Thế Tông lên ngôi, người ta mới tránh gọi hồ là Dâm Đàm, vì tên húy của vua là Duy Đàm, thay vào đó là Hồ Tây.<br><br></div><div>Sách “Tây Hồ chí” còn ghi, Hồ Tây có từ thời vua Hùng. Lúc ấy, nơi đây là một bến ở cạnh sông Hồng, thuộc động Lâm Ấp, nên gọi là bến Lâm Ấp của thôn Long Đỗ. Mãi tới thời Hai Bà Trưng, bến này thông với sông Hồng. Chung quanh bến Lâm Ấp là một rừng lim rậm rạp có nhiều hang động. Người già ở địa phương còn cho biết, khi đánh cá, thỉnh thoảng họ vớt được những khúc gỗ lim ở dạng trầm tích. Về địa lý, Hồ Tây là hồ ngoại sinh, có dạng lòng chảo. Hồ tạo thành chủ yếu là do tác dụng xâm thực của sông Hồng. Nhưng trong dân gian có nhiều truyền thuyết về sự hình thành Hồ Tây.<br><br></div><div>Truyền thuyết Hồ Trâu Vàng kể lại rằng, đời nhà Lý, ở nước ta có Nguyễn Minh Không sang Trung Quốc chữa bệnh cho con vua Tống. Khi hoàng tử khỏi bệnh, vua Tống trả ơn bằng cách cho phép Minh Không vào kho báu lựa đồ theo ý thích và muốn lấy bao nhiêu cũng được Minh Không hóa phép chỉ lấy đồng đen (vì đồng đen được coi là “mẹ” của vàng) và thu hết cho vào một bao mang về dâng vua Lý. Vua sai đem chỗ đồng đen ấy đúc thành cái chuông. Chuông đúc xong mang ra đánh thử. Tiếng chuông vang xa ngàn trùng đến tận Trung Quốc. Nghe tiếng chuông ngân, trâu vàng ở bên ấy lồng lên chạy về nơi phát ra tiếng chuông. Đến khu rừng phía bắc Thành Thăng Long thì tiếng chuông im bặt. Trâu vàng mất hướng đi, lồng lên đi tìm và giẫm nát cả một khu rừng, còn đất thì lún xuống thành hồ. Những nơi trâu đi thành sông mà ngày nay còn lại di tích, đó là sông Kim Ngưu. Nhà vua đã sai ném cả chuông lẫn trâu vàng xuống hồ để trâu khỏi lồng lên. Và hồ ấy chính là Hồ Tây ngày nay. Truyền thuyết còn kể, nếu ai sinh đủ 10 người con trai thì có thể đến hồ gọi trâu vàng về. Một lần có người đến gọi được trâu vàng lên khỏi mặt nước, dắt trâu vào bờ. Bỗng nhiên, thừng bị đứt, trâu vàng chui ngay vào hang ở gần đó. Nơi đó nhân dân lập đền thờ gọi là đền Kim Ngưu trên đường vào phủ Tây Hồ hiện nay. Về sau mới biết, người gọi trâu chỉ có 9 con trai ruột và 1 con trai nuôi.<br><br></div><div>Một truyền thuyết khác kể rằng. Xưa kia ở núi đá Tản Viên, có hang mà con cáo (hồ tinh) chín đuôi hay lên quậy phá làm hại nhân dân. Thấy vậy Thượng Đế sai Long Vương dâng nước phá hang của cáo. Cáo chín đuôi bỏ chạy. Quân thủy của Long Vương đuổi theo bắt cáo. Nơi cáo bị giết thịt trở thành cái đầm sâu gọi là Đầm Xác Cáo mà ngày nay gọi là Hồ Tây. Ở vùng Xuân Đỉnh đến nay vẫn còn có làng Cáo. Có lẽ địa danh này có liên quan đến truyền thuyết về Đầm Xác Cáo. Dân gian còn kể: Ngày xưa Trấn Vũ là một người có tài và có công trừ yêu, dẹp giặc nhiều lần, nhưng không chịu làm quan. Ông chỉ muốn đi tu cho đủ chín kiếp mười đời để thành Phật. Lý do tu đủ 10 đời cũng được nhân dân tương truyền lại. Qua rất nhiều thử thách, đã có lần ông bị Phật Bà phạt vì không dám đỡ đẻ cho một phụ nữ gặp trên đường. Ông bị Phật Bà cho rằng bản lĩnh tu hành chưa cao, tránh khó khăn và bắt Trấn Vũ tu thêm một kiếp nữa. Ông đã có ý chán nản, nhưng thực tế cuộc sống, những người ông gặp đã củng cố lòng kiên nhẫn của ông. Ông tiếp tục tu hành để trở thành người có đạo đức cao siêu, vừa có phép thuật siêu cao (mà sau này ông là một trong bốn vị thần của Hà Thành).<br><br></div><div>Ngày ấy, ở phương bắc có bà Hoàng bị hủi không ai chữa nổi. Nhà vua cho người cầu thầy thuốc giỏi về chữa trị. Trấn Vũ được mời chữa trị và chữa khỏi. Khi vua ban thưởng, ông không nhận gì chỉ xin đồng đen. Vì có phép thuật, nên nhà vua mất rất nhiều đồng đen vào cái túi nhỏ của Trấn Vũ. Vua ra lệnh không ai được chở giùm, mặc kệ Trấn Vũ. Ông đã dùng mũ làm thuyền để chở đồng đen về nước đúc chuông. Câu chuyện tiếp theo giống như truyền thuyết Hồ Trâu Vàng kể ở trên.<br><br></div><div>Con cáo yêu tinh chín đuôi vẫn thỉnh thoảng hiện về hại dân, nên mọi người cầu thánh Trấn Vũ trừ yêu. Thánh sai làm một cái thuyền và một bộ dây thật bền. Thánh tự buộc mình vào đầu dây, lặn xuống hồ. Yêu tinh nuốt thánh vào bụng, thánh giật dây cho dân làng kéo lên và dùng dao nhọn mổ bụng yêu tinh để thánh ra. Mọi việc xong xuôi, có một lần vào buổi tối, trên đường về nhà, thánh gặp một người con gái xin vào trú mưa. Đến đêm cô gái bị đau bụng nguy kịch, thánh xoay xở hết cách. Cuối cùng thánh nhớ câu truyền: “Đau bụng lấy bụng mà chườm; Nhược bằng không khỏi, hoắc hương với gừng”… Phật Bà hiện lên cho rằng thánh còn trần tục. Bị oan ức, thánh tự mổ bụng lấy ruột gan vứt khắp mọi nơi. Mãi về sau, thánh mới được Phật Bà xét lại cho tu thành quả. Ruột của ông vứt xuống hồ thành Bạch Xà (nay thuộc địa bàn Quảng Bá); bao tử của thánh thành Kim Quy (nay thuộc địa bàn thôn Tây Hồ). Hai con vật này lại trở thành yêu tinh giết hại dân làng, xương chất thành đống (chính là nơi trường Chu Văn An hiện nay). Trời lại sai thánh trừ yêu. Kim Quy thánh giẫm dưới chân, còn Bạch Xà thánh quấn vào bên kia. Từ đó dân sống ven Hồ Tây mới yên ổn làm ăn.<br><br></div><div>Hồ Tây và hồ Trúc Bạch xưa kia chỉ là một. Vì Hồ Tây lớn quá, nhân dân ba làng Trúc Yên, Yên Phụ, Yên Quang mới đắp con đê chắn ngang để giữ phần cá về phía mình. Con đê đó nay trở thành đường Thanh Niên.<br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-10-05 13:57:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327637502</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Truyền thuyết về Mị Châu Trọng Thủy </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327670004</link>
         <description><![CDATA[<div>Sau khi An Dương Vương xây xong thành Cổ Loa thì được thần Kim Quy cho một cái móng để làm nỏ thần. Lúc bấy giờ Triệu Đà làm chúa đất Nam Hải, mấy lần đem quân sang cướp đất Âu Lạc, nhưng vì An Dương Vương có nỏ thần nên đành rút quân về chờ thời cơ thích hợp. Triệu Đà nhân cơ hội đưa con trai mình là Trọng Thủy sang cầu thân với Mị Châu - con gái An Dương Vương. Một thời gian qua đi, khi đã có được lòng tin yêu của vợ, Trọng Thủy dò hỏi chuyện về chiếc nỏ thần. Biết được bí mật, mượn cớ về thăm cha, Trọng Thủy đánh cắp nỏ thần đem về đưa cho Triệu Đà. Có nỏ thần trong tay, Triệu Đà tiến đánh Âu Lạc một lần nữa. An Dương Vương thấy giặc đến chân thành nhưng vẫn chủ quan vì nghĩ rằng đã có nỏ thần. Nỏ thần không phát huy tác dụng, thua trận, An Dương Vương cưỡi ngựa đem theo Mị Châu đi về phía biển. Nhưng đi đến đâu thì thấy quân giặc theo đến đấy. Thần Kim Quy hiện lên nói rằng kẻ thù ở ngay bên cạnh. An Dương Vương bèn rút kiếm ra chém chết Mị Châu rồi nhảy xuống biển tự vẫn. Trọng Thủy nghe tin vì quá hối hận mà nhảy xuống giếng tự vẫn. Ngày nay, giếng ấy được gọi là giếng Trọng Thủy. Tục truyền lại Mị Châu khi chết, máu chảy xuống biển, trai ăn được mới có ngọc châu. Đem ngọc về rửa nước giếng thì thấy sáng lạ lùng.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-10-05 14:12:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327670004</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Văn Miếu Quốc Tử Giám </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327677083</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Văn Miếu – Quốc Tử Giám</strong> là quần thể di tích đa dạng và phong phú hàng đầu của thành phố <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_N%E1%BB%99i">Hà Nội</a>, nằm ở phía Đông <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Kinh_th%C3%A0nh_Th%C4%83ng_Long">kinh thành Thăng Long</a>. Quần thể kiến trúc Văn Miếu – Quốc Tử Giám bao gồm: hồ Văn, khu Văn Miếu – Quốc Tử Giám và vườn Giám, mà kiến trúc chủ thể là <em>Văn Miếu</em>(chữ Hán: 文廟) - nơi thờ Khổng Tử, và <em>Quốc Tử Giám</em> (chữ Hán: 國子監) - trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Khu Văn Miếu – Quốc Tử Giám có tường gạch vồ bao quanh, phía trong chia thành 5 lớp không gian với các kiến trúc khác nhau. Mỗi lớp không gian đó được giới hạn bởi các tường gạch có 3 cửa để thông với nhau (gồm cửa chính giữa và hai cửa phụ hai bên). Từ ngoài vào trong có các cổng lần lượt là: cổng Văn Miếu, Đại Trung, Khuê Văn Các, Đại Thành và cổng Thái Học.<a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_Mi%E1%BA%BFu_%E2%80%93_Qu%E1%BB%91c_T%E1%BB%AD_Gi%C3%A1m#cite_note-bienphong.com.vn-1"><sup>[1]</sup></a> Với hơn 700 năm hoạt động đã đào tạo hàng nghìn nhân tài cho đất nước. Ngày nay, Văn Miếu-Quốc Tử Giám là nơi tham quan của du khách trong và ngoài nước đồng thời cũng là nơi khen tặng cho học sinh xuất sắc và còn là nơi tổ chức hội thơ hàng năm vào ngày rằm tháng giêng. Đặc biệt, đây còn là nơi các sĩ tử ngày nay đến "cầu may" trước mỗi kỳ thi quan trọng.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-10-05 14:16:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327677083</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Sự tích chùa Trấn Quốc</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327682858</link>
         <description><![CDATA[<h1><br></h1><div>Tương truyền, chùa được xây dựng từ thời Lý Nam Đế (năm 541-547) tại thôn Yên Hoa, gần bờ sông Hồng với tên gọi “Khai Quốc” (nghĩa là mở nước). Dưới triều vua Lý Nhân Tông, Thái hậu Ỷ Lan đã nhiều lần đến chùa cùng các vị cao tăng đàm đạo. Đến đời vua Lê Thái Tông (năm 1434-1442), nhà vua đổi tên chùa là chùa An Quốc. Hàng năm, nước sông Hồng lên to xói mòn làm lở bãi sông. Cho nên, năm 1615 đời vua Lê Kính Tông, dân làng Yên Phụ dời chùa vào gò đất Kim Ngưu (Cá vàng), nơi vào đời Lý và đời Trần, nhiều cung điện đã được xây dựng tại đây như cung Thúy Hoa, điện Hàm Nguyên phục vụ cho việc nghỉ ngơi, thư giãn của nhà vua. Khoảng thế&nbsp; kỷ thứ XVII, chúa Trịnh cho đắp đê Cố Ngự (sau gọi chệch ra thành Cổ Ngư, nay là đường Thanh Niên) nên mới có đường nối đê với đảo Cá vàng. Chùa có lối kiến trúc khác với nhiều chùa: phía trước là đại bái rồi đến hậu cung, sau cùng mới là gác chuông.<br><br></div><div>Đến đời vua Lê Hy Tông niên hiệu Chính Hòa (1681-1705), chùa được đổi tên là Trấn Quốc. Bức hoành phi đề chữ “Trấn Quốc Tự” treo tại gian đại bái hiện nay được làm từ thời đó. Năm 1821, Vua Minh Mạng đến thăm chùa, ban 20 lạng bạc để tu sửa. Năm 1842, Vua Thiệu Trị đến thăm chùa, ban 1 đồng tiền vàng lớn và 200 quan tiền, cho đổi tên chùa là Trấn Bắc. Nhưng tên chùa Trấn Quốc có từ đời vua Lê Hy Tông đã được người dân quen gọi đến tận ngày nay.<br><br></div><div>Trong các năm 1624, 1628 và 1639, chùa tiếp tục được trùng tu và mở rộng. Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính đã soạn bài văn bia dựng ở chùa vào năm 1639 về công việc tôn tạo này. Đầu đời Nguyễn, chùa lại được trùng tu, đúc chuông, đắp tượng. Trong một chuyến vi hành đất Thăng Long vào năm 1821, vua Minh Mạng đến viếng chùa và ban 20 lạng bạc để tu sửa. Đến năm 1842, vua Thiệu Trị đến thăm chùa, ban 1 đồng tiền vàng lớn, 200 quan tiền và cho đổi tên thành chùa Trấn Bắc. Nhưng tên chùa Trấn Quốc có từ đời Vua Lê Hy Tông đã được nhân dân quen gọi cho đến ngày nay.<br><br></div><div>Là một trong những ngôi chùa cổ nhất Việt Nam và là ngôi chùa cổ nhất của Thăng Long Hà Nội với hơn 1500 năm tuổi. Chùa Trấn Quốc nổi tiếng không chỉ bởi vẻ đẹp cổ kính mà còn bởi không gian thoáng mát tươi xanh đã tạo nên một tổng thể kiến trúc, lịch sử văn hóa và thiên nhiên hoàn hảo.<br><br></div><div>Nằm trên một hòn đảo phía Đông của Hồ Tây, chùa Trần Quốc luôn được xem như một trong những danh thắng bậc nhất ở kinh thành Thăng Long, nay thuộc quận Ba Đình (Hà Nội). Nổi tiếng linh thiêng lại là danh thắng bậc nhất, nên từ xưa chùa Trấn Quốc thường được các vua chúa ngự giá đến vãng cảnh và cúng lễ vào những ngày rằm, lễ Tết. Trải qua rất nhiều đợt trùng tu, diện mạo của chùa có nhiều thay đổi. Song quy mô và kiến trúc còn giữ được đến nay là kết quả của đợt trùng tu năm 1815 với một diện tích khá rộng khoảng hơn 3.000m2, gồm một vườn tháp phía mặt tiền, nhà tổ, nhà khách, hai dãy hành lang tả hữu và thượng điện.<br><br></div><div>Ngôi chùa cổ kính này hiện còn lưu giữ khá nhiều hiện vật có giá trị như bộ tượng thờ ở thượng điện. Đây là những pho tượng được tạo tác tỉ mỉ, trau chuốt và mang nét đẹp đặc trưng riêng. Đáng nói nhất là pho tượng Thích Ca nhập Niết bàn được đánh giá là bức tượng Niết bàn đẹp ở Việt Nam. Chùa cũng có nhiều bia, cổ nhất là tấm bia dựng năm 1639 do trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính soạn, nội dung ghi lại lịch sử đại tu chùa vào chính năm này. Trong khuôn viên của chùa có cây bồ đề gần 60 năm tuổi do Tổng thống Ấn Độ tặng năm 1959 nhân chuyến thăm chính thức của Tổng thống tại Việt Nam.<br><br></div><div>Đánh giá cao những giá trị lịch sử, tôn giáo cũng như cảnh quan của ngôi chùa, trước kia, Viện Viễn Đông Bác Cổ đã từng xếp chùa Trấn Quốc là công trình lịch sử thứ 10 trong Toàn xứ Đông Dương. Tháng 4 năm 1962, chùa Trấn Quốc được Nhà nước xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Cuối năm 2003, chùa Trần Quốc có thêm một công trình ý nghĩa đó là bảo tháp lục độ đài sen. Bảo tháp được đặt trong khuôn viên của chùa gần cây bồ đề với ý nghĩa: Hoa sen tượng trưng cho Phật, như tính sinh ở dưới bùn mà không bị ô uế, còn bồ đề là tri giác, là trí tuệ vô thượng. Từ ngày ngôi bảo tháp được khánh thành, chùa Trấn Quốc đã đẹp lại càng trở nên ý nghĩa hơn.<br><br></div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://lh4.googleusercontent.com/proxy/P6yotEojt-o_NzqVwikEg-SrvfE6uhe2d9FncqXz6slGmSrdt3VzWH7yzUpBEVGrrftdZR_iVXMaRuPfLx0odzJDVwpQXZGaRQxkGtGYqKbtJtCBLTIpnhqC8wFqEEWv74UVsq4QWQDhvNS8iK8=s0-d" />
         <pubDate>2022-10-05 14:20:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327682858</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhà hát lớn Hà Nội có từ khi nào?</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327701746</link>
         <description><![CDATA[<div>Các bạn có biết Nhà hát lớn Hà Nội có từ khi nào không?<br>&nbsp;<br>Ngay từ khi đặt chân đến Hà Nội vào năm 1883, chính quyền Pháp tại Việt Nam đã có ý định xây dựng một khu trung tâm văn hóa – nghệ thuật để phục vụ cho nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của họ.&nbsp;<br>&nbsp;Nhà hát lớn Hà Nội được khởi công xây dựng vào năm 1901, và sau 10 năm mới hoàn thành.&nbsp;<br><br>&nbsp;Tuyệt tác nghệ thuật được họa theo mô hình nhà hát Opéra Garnier nguy nga ở Paris. Vì thế, Nhà hát lớn Hà Nội mang đậm dấu ấn kiến trúc châu Âu cổ điển, hoàn hảo đến từng chi tiết, đem lại không gian nghệ thuật hàn lâm và sang trọng bậc nhất Đông Dương.<br><br>Ngay khi Nhà hát lớn hoàn thiện, người Pháp đã tổ chức các chương trình biểu diễn nghệ thuật nhạc kịch, kịch câm, hòa nhạc giao hưởng, múa ballet... với mục đích thưởng thức cũng như đưa văn hóa Pháp vào Việt Nam.</div><div>Sau năm 1945, Nhà hát lớn Hà Nội trở thành địa điểm hội họp của Chính phủ, Quốc hội, những cuộc duyệt binh của Quân đội, nhiều đoàn kịch nói của Việt Nam đã có thể thuê nhà hát để biểu diễn. Cùng với sự hình thành tầng lớp thị dân Hà thành và trí thức mới, Nhà hát lớn Hà Nội trở thành nơi sinh hoạt nghệ thuật sôi nổi của giới nghệ sĩ Việt Nam lúc bấy giờ.<br><br>Sau khi người Pháp rút khỏi Hà Nội, Chính phủ Việt Nam vẫn tiếp tục bảo tồn và phát triển Nhà hát lớn theo đúng chức năng ban đầu của nó. Đến cuối thế kỷ 20, sau hơn 80 năm tồn tại, Nhà hát lớn Hà Nội rơi vào tình trạng xuống cấp trầm trọng, nên Chính phủ Việt Nam đã quyết định cho trùng tu công trình. Dự án bắt đầu từ năm 1995 và đến năm 1997 thì hoàn thành, dưới sự giám sát của kiến trúc sư người Pháp gốc Việt Hồ Thiệu Trị. Đây cũng là lần trùng tu Nhà hát đầu tiên và duy nhất đến giờ.<br><br></div><div>Ngày nay, Nhà hát Lớn Hà Nội là một trong những nhà hát có quy mô lớn nhất Việt Nam, cùng nhiều chương trình biểu diễn nghệ thuật hàn lâm, và cũng là địa điểm thu hút du khách khi đặt chân đến Hà Nội.<br>https://www.klook.com/vi/blog/nha-hat-lon-ha-noi/#n5153cac7</div>]]></description>
         <enclosure url="https://www.klook.com/vi/blog/nha-hat-lon-ha-noi/#n5153cac7" />
         <pubDate>2022-10-05 14:30:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327701746</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhà thờ lớn</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327723155</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Nhà thờ lớn Hà Nội</strong> được cho là được xây dựng trên khuôn viên của chùa Báo Thiên gần Hồ Hoàn Kiếm. Chùa Báo Thiên là ngôi chùa lớn nhất, linh thiêng nhất, là trung tâm của Phật giáo trong lịch sử Việt Nam thời Lý – Trần.<br><br></div><div>Để xây dựng nhà thờ, người Pháp đã phá bỏ ngôi chùa Báo Thiên cổ kính đã sừng sững hơn 800 năm. Sự tương phản giữa hai tòa nhà tôn giáo rất ấn tượng. Thánh giá, tháp và gian giữa theo phong cách tân Gothic của Nhà thờ St. Joseph mang đậm nét châu Âu. Dài 64,5 mét và với tháp chuông cao tới 31,5 mét, đó là một cấu trúc hùng vĩ.</div><div><br>Vào thời Lê – Nguyễn, mặc dù Phật giáo không phổ biến như các triều đại trước nhưng đây vẫn là nơi diễn ra các nghi lễ Phật giáo cầu mong cho đất nước thái bình thịnh trị. Cho đến cuối thời Nguyễn, một số phần của chùa đã bị phá hủy để làm chợ và sau khi thực dân Pháp đến Hà Nội, họ đã phá bỏ hoàn toàn chùa để xây dựng nhà thờ.<br><br>Đầu tiên, Nhà thờ lớn được xây dựng tạm thời bằng gỗ. Việc xây dựng Nhà thờ St Joseph diễn ra từ năm 1884 đến năm 1887, và trong thời gian này nó được xây bằng gạch và trát bằng bê tông. Nhà thờ được cho là trông giống như một mô phỏng nhỏ của Nhà thờ Đức Bà Paris với nhiều đặc điểm tiêu biểu của kiến ​​trúc Gothic Revival.<br><br><strong>Nhà thờ lớn Hà Nội</strong> là công trình kiến ​​trúc tiêu biểu của kiến ​​trúc Gothic ở Việt Nam, từ giữa thế kỷ XVIII trở nên rất phổ biến ở châu Âu. Nhà thờ được thiết kế với những ô cửa kính cao nhiều màu sắc và những mái vòm cao, xung quanh là những bức tranh về chúa Jesus.<br><br>Bên trong nhà thờ lớn, các cửa sổ kính màu nguyên bản và các bức tranh tường tôn giáo duy trì phong cách truyền thống của Châu Âu cho nhà thờ. Ngoài ra còn có các đồ trang trí truyền thống của Việt Nam trang trí trên lối đi, tường và bàn thờ.</div><div>Bên trong nhà thờ lớn, một bức tượng đất nung của Thánh Joseph cao 2 mét được đặt ở chính giữa. Bên dưới là những dãy ghế dài bằng gỗ nâu xếp thẳng hàng đến tận cửa dành cho những người theo đạo Công giáo trong các buổi lễ.<br>https://reviewvilla.vn/nha-tho-lon-ha-noi/</div>]]></description>
         <enclosure url="https://reviewvilla.vn/nha-tho-lon-ha-noi/" />
         <pubDate>2022-10-05 14:41:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327723155</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trải lòng về Hà NộiTrong cuốn sách, các tác giả đều trải lòng mình với mảnh đất này. Đó là những câu chuyện đa dạng, hấp dẫn, đi dọc theo dòng thời gian. Có khi là chuyện về đội bóng đá đầu tiên của Hà thành, tiếng rao đêm với những thức quà vặt tuổi thơ khiến đứa trẻ nào lòng cũng đầy háo hức. Cũng có khi là tuổi thơ nghịch ngợm “nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò”, rồi đến giai đoạn trưởng thành lại vấn vương hương hoa sữa bên hồ.Ký ức về thủ đô còn được gợi nhắc qua gánh hàng rong với những cô, bà bán hàng mặc áo tứ thân, đeo khăn mỏ quạ. Chỉ thế thôi cũng góp phần làm nên bức tranh sinh hoạt xưa đầy sống động. Nỗi nhớ ấy có khi rất thực, lúc lại mơ hồ nhưng đầy thao thức, dù đó là người Việt trong nước hay xa xứ.Lời giới thiệu sách viết: “Người đọc có thể hiểu Hà Nội qua những biến thiên thời cuộc chỉ từ một tà áo dài đầy nữ tính của người phụ nữ Hà thành xưa và nay. Hiểu Hà Nội từ phong tục, tập quán đám cưới của người Hà Nội thời bao cấp khó khăn. Hay từ câu chuyện ở những khu nhà tập thể xây theo kiểu lắp ghép”.35 bài viết thuộc thể loại tản văn đi sâu khai thác những góc nhìn khác nhau về mảnh đất nghìn năm văn hiến. Có thể kể đến như: Một kiểu hàng rong (Nguyễn Lệ Chân), Áo dài và người Hà Nội (Phạm Kim Dung), Thấy mùa tan chảy trên từng ngón tay (Hà Thanh Vân), “Mía nướng” - Quà vặt nơi thị thành (Phạm Hồng Thế), Bức phù điêu mẹ đọc con nghe (Trần Hậu Yên Thế) hay Phố Hàng Ngang ngày ấy (Mai Thế Trạch)...Đúng như tiêu đề sách, Chuyện người Hà Nội xoay quanh chủ đề con người đầy bản lĩnh, khí phách nhưng cũng rất đỗi giản dị và đời sống sinh hoạt, văn hóa của thủ đô giữa những dâu bể thăng trầm.</title>
         <author>ed0119310052</author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327781403</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-10-05 15:14:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2327781403</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2328371626</link>
         <description><![CDATA[<div><br><br>Khi nghe hai tiếng “Hà Nội” như có gì đó chạm vào tim tôi, khiến nó thổn thức và rung động lạ thường. Không phải người Hà Nội theo cái cách là người được sinh ra, lớn lên tại đây, nhưng không biết từ bao giờ tôi đã nghĩ Hà Nội chính là quê hương thứ hai của mình, bởi đó là nơi tôi được học những chữ tiếng Việt đầu tiên, nơi tôi đang sinh sống và làm việc. Hà Nội cất giữ cho riêng tôi những kỷ niệm của thanh xuân và trưởng thành. 9 năm không phải là quãng thời gian dài nhưng đủ để đánh dấu những cột mốc cho một đời người, và đó chính là quãng thời gian tôi được sống cùng Hà Nội.<br><br></div><div><br>Nhớ lần đầu tiên khi đặt chân đến Hà Nội, ấn tượng của tôi về Thủ đô ngàn năm văn hiến là thành phố được phủ màu xanh tươi của cây cối với rất nhiều hồ nước tràn đầy sức sống, hơn nữa là một thành phố vô cùng yên bình, cho đến bây giờ cảm nhận đó vẫn in đậm trong tiềm thức của tôi...<br><br></div><div><br>Tôi thường thích lái xe máy lượn lờ phố xá và cũng chính nhờ thế tôi có thể thuộc hết đường phố Hà Nội. Năm thứ tư đại học, khi được học về lịch sử Việt Nam, tôi rất bất ngờ khi biết tên những con phố ấy chính là tên những anh hùng dân tộc như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Võ Thị Sáu, Quang Trung...<br><br></div><div><br>Tôi rất ấn tượng về văn hóa chợ cóc ở Hà Nội. Ngoài việc thực phẩm ở chợ vừa rẻ vừa tươi, tôi còn có thể giao lưu với những người bán hàng, có lẽ do tôi nói được tiếng Việt nên mỗi lần mặc cả thường được mua hàng với giá ưu ái.<br><br></div><div><br>Khi còn là sinh viên năm cuối, tôi đã đi dạy tiếng Anh. Trong lúc chờ lên lớp tôi thường ngồi quán trà đá vỉa hè. Quả thực nói chuyện với những người bán hàng nước rất thú vị. Môn học tiếng Việt tôi thích nhất đó là thành ngữ, tục ngữ, nhưng để hiểu ý nghĩa sâu xa của từng câu, tôi phải tiếp xúc nhiều với người dân bản xứ, nhất là những người lớn tuổi...<br><br></div><div><br>Quê hương tôi không có hồ nước nên khi đến Hà Nội - một thành phố có rất nhiều hồ, tôi bị choáng ngợp và yêu ngay từ lần gặp đầu tiên. Tôi yêu hồ Hoàn Kiếm mang tính biểu tượng là trung tâm Thủ đô, nơi có truyền thuyết lịch sử gắn với hình ảnh tháp Rùa. Tôi yêu hồ Tây, điểm đến lãng mạn, lộng gió với cảnh hoàng hôn khiến người nhìn phải thổn thức thốt lên rằng: “Ôi! Tuyệt đẹp làm sao!”. Tôi thường cùng bè bạn ngồi bên con đường ven hồ Tây để chuyện trò, ngắm cảnh, cảm giác thật gần gũi với thiên nhiên. Đôi khi tôi lại thích ngồi một mình ở góc hồ, bên trái dừa tươi và ngắm nhìn toàn cảnh, cảm nhận cuộc sống xung quanh, với tôi điều đó cũng thú vị vô cùng!<br><br></div><div><br>Có những lúc muốn trốn khỏi khói bụi ồn ào, tôi xuống chân cầu Long Biên, ngồi bên bờ sông Hồng, ngắm nhìn ánh đèn của những tòa nhà cao tầng bên kia sông, nhìn dòng xe đi lại, ngắm đoàn tàu chạy vút qua cây cầu trăm tuổi, rồi nhìn dòng nước cuộn trôi, nghe tiếng sóng vỗ dào dạt. Quả thật Hà Nội như hiểu tôi muốn gì và đã dành tặng riêng tôi một không gian riêng tư, tuyệt vời đến thế!<br><br></div><div><br>Tôi cũng giống như nhiều người khác, đều lặng đi khi Hà Nội vào thu. Mùa thu Hà Nội đặc biệt lạ thường, không giống bất cứ nơi nào trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Tiết trời thu tuyệt đẹp, dễ chịu, thanh mát khiến lòng người cũng nhẹ nhàng, tươi vui. Hương hoa sữa nồng nàn trong gió như khơi gợi hoài niệm từ quá khứ. Càng gắn bó lâu với Hà Nội, tôi càng thấy yêu mùa thu thật nhiều, càng cảm nhận rõ nét sự độc đáo của mùa thu Hà Nội. Trong không khí mùa thu mà dạo bước trên con phố Phan Đình Phùng thì quả thực là một cảm giác hoàn hảo, khó diễn tả bằng lời...<br><br></div><div><br></div><div><br>Là người yêu hoa, tôi thường mua hoa về cắm trong nhà hằng tuần. Điểm thú vị ở Hà Nội là mỗi mùa lại có một loài hoa đặc trưng, điều này được thể hiện rõ trong lời bài hát <em>Hà Nội - 12 mùa hoa</em> của nhạc sĩ Giáng Son.<br><br></div><div><em><br>“Chẳng thơm cũng thể hoa nhài/ Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”</em> là câu thơ nói về sự thanh lịch của người Hà thành. Tôi có thể cảm nhận điều đó rõ nhất trong giọng nói. 9 năm sinh sống tại Thủ đô và được trải nghiệm rất nhiều nơi ở Việt Nam, tôi có thể phân biệt được giọng nói vùng miền, địa phương và giọng người Hà Nội gốc. Âm điệu nhẹ nhàng, dịu dàng, êm ái, “tròn vành rõ chữ” là những gì tôi có thể cảm nhận được sự khác biệt giữa người Hà Nội gốc và người địa phương khác.<br><br></div><div><br>Về ẩm thực, quả thật với trường hợp của tôi thì khó có thể thưởng thức được hết đặc sản tiêu biểu của Hà Nội. Tôn giáo của tôi không cho phép ăn thịt lợn, mà người Việt Nam nói chung thường chế biến nhiều món ăn từ thịt lợn. Tôi biết nem rán là món ăn truyền thống của Hà Nội, được rất nhiều người Việt Nam cũng như bạn bè quốc tế ưa chuộng, nhưng vì có thịt lợn nên tôi không thể ăn. “Cái khó ló cái khôn”, tôi đã nghĩ cách tự chế biến ở nhà, thay thế thịt lợn bằng thịt bò và khi thưởng thức, tôi cảm nhận được vị thơm ngon, đậm đà của nem rán Hà Nội. Tôi cũng thường ghé Bát Đàn ăn bún riêu cua, đến Phùng Hưng ăn phở bò, rồi ăn phở gà trộn phố Hàng Hòm, nộm bò khô ở phố Hồ Hoàn Kiếm hay tụ tập bạn bè đến Thi Sách để quây quần bên nồi lẩu bò nhúng dấm.<br><br></div><div><br>Một đặc sản khác gắn liền với đời sống của người Hà Nội mà tôi rất ấn tượng, đó chính là cốm - một món quà của lúa non. Cốm có cái vị rất đồng điệu với một món ăn ở quê hương tôi, khác một điều là cốm được làm từ lúa (nước) non, còn món ăn ở quê tôi được làm từ lúa mì non, nhưng đều có cái vị thơm thơm, ngọt béo. Quả thật, Hà Nội có bao nhiêu đặc sản như níu giữ vị giác con người, khiến thực khách không thể nào quên.<br><br></div><div><br>Sau khi tốt nghiệp Khoa Việt Nam học, Trường Đại học Hà Nội vào tháng 6-2016, tôi trở về Palestine để làm việc. 9 tháng ở quê nhà, tâm hồn tôi như chia làm hai nửa, một nửa ở Palestine và một nửa ở Hà Nội. Sau 9 tháng nhớ Hà Nội da diết, tôi biết rằng tình yêu tôi dành cho Hà Nội lớn đến nhường nào. Do vậy, tôi đã quyết định quay lại Hà Nội và sẽ gắn bó với Hà Nội lâu hơn nữa. Đến thời điểm hiện tại, tôi có thể khẳng định rằng: Hà Nội chính là quê hương thứ hai của mình!<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-10-05 22:58:07 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2328371626</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hà Nội trong tôi </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2328372389</link>
         <description><![CDATA[<div><br><br>Khi nghe hai tiếng “Hà Nội” như có gì đó chạm vào tim tôi, khiến nó thổn thức và rung động lạ thường. Không phải người Hà Nội theo cái cách là người được sinh ra, lớn lên tại đây, nhưng không biết từ bao giờ tôi đã nghĩ Hà Nội chính là quê hương thứ hai của mình, bởi đó là nơi tôi được học những chữ tiếng Việt đầu tiên, nơi tôi đang sinh sống và làm việc. Hà Nội cất giữ cho riêng tôi những kỷ niệm của thanh xuân và trưởng thành. 9 năm không phải là quãng thời gian dài nhưng đủ để đánh dấu những cột mốc cho một đời người, và đó chính là quãng thời gian tôi được sống cùng Hà Nội.<br><br></div><div><br>Nhớ lần đầu tiên khi đặt chân đến Hà Nội, ấn tượng của tôi về Thủ đô ngàn năm văn hiến là thành phố được phủ màu xanh tươi của cây cối với rất nhiều hồ nước tràn đầy sức sống, hơn nữa là một thành phố vô cùng yên bình, cho đến bây giờ cảm nhận đó vẫn in đậm trong tiềm thức của tôi...<br><br></div><div><br>Tôi thường thích lái xe máy lượn lờ phố xá và cũng chính nhờ thế tôi có thể thuộc hết đường phố Hà Nội. Năm thứ tư đại học, khi được học về lịch sử Việt Nam, tôi rất bất ngờ khi biết tên những con phố ấy chính là tên những anh hùng dân tộc như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Võ Thị Sáu, Quang Trung...<br><br></div><div><br>Tôi rất ấn tượng về văn hóa chợ cóc ở Hà Nội. Ngoài việc thực phẩm ở chợ vừa rẻ vừa tươi, tôi còn có thể giao lưu với những người bán hàng, có lẽ do tôi nói được tiếng Việt nên mỗi lần mặc cả thường được mua hàng với giá ưu ái.<br><br></div><div><br>Khi còn là sinh viên năm cuối, tôi đã đi dạy tiếng Anh. Trong lúc chờ lên lớp tôi thường ngồi quán trà đá vỉa hè. Quả thực nói chuyện với những người bán hàng nước rất thú vị. Môn học tiếng Việt tôi thích nhất đó là thành ngữ, tục ngữ, nhưng để hiểu ý nghĩa sâu xa của từng câu, tôi phải tiếp xúc nhiều với người dân bản xứ, nhất là những người lớn tuổi...<br><br></div><div><br>Quê hương tôi không có hồ nước nên khi đến Hà Nội - một thành phố có rất nhiều hồ, tôi bị choáng ngợp và yêu ngay từ lần gặp đầu tiên. Tôi yêu hồ Hoàn Kiếm mang tính biểu tượng là trung tâm Thủ đô, nơi có truyền thuyết lịch sử gắn với hình ảnh tháp Rùa. Tôi yêu hồ Tây, điểm đến lãng mạn, lộng gió với cảnh hoàng hôn khiến người nhìn phải thổn thức thốt lên rằng: “Ôi! Tuyệt đẹp làm sao!”. Tôi thường cùng bè bạn ngồi bên con đường ven hồ Tây để chuyện trò, ngắm cảnh, cảm giác thật gần gũi với thiên nhiên. Đôi khi tôi lại thích ngồi một mình ở góc hồ, bên trái dừa tươi và ngắm nhìn toàn cảnh, cảm nhận cuộc sống xung quanh, với tôi điều đó cũng thú vị vô cùng!<br><br></div><div><br>Có những lúc muốn trốn khỏi khói bụi ồn ào, tôi xuống chân cầu Long Biên, ngồi bên bờ sông Hồng, ngắm nhìn ánh đèn của những tòa nhà cao tầng bên kia sông, nhìn dòng xe đi lại, ngắm đoàn tàu chạy vút qua cây cầu trăm tuổi, rồi nhìn dòng nước cuộn trôi, nghe tiếng sóng vỗ dào dạt. Quả thật Hà Nội như hiểu tôi muốn gì và đã dành tặng riêng tôi một không gian riêng tư, tuyệt vời đến thế!<br><br></div><div><br>Tôi cũng giống như nhiều người khác, đều lặng đi khi Hà Nội vào thu. Mùa thu Hà Nội đặc biệt lạ thường, không giống bất cứ nơi nào trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Tiết trời thu tuyệt đẹp, dễ chịu, thanh mát khiến lòng người cũng nhẹ nhàng, tươi vui. Hương hoa sữa nồng nàn trong gió như khơi gợi hoài niệm từ quá khứ. Càng gắn bó lâu với Hà Nội, tôi càng thấy yêu mùa thu thật nhiều, càng cảm nhận rõ nét sự độc đáo của mùa thu Hà Nội. Trong không khí mùa thu mà dạo bước trên con phố Phan Đình Phùng thì quả thực là một cảm giác hoàn hảo, khó diễn tả bằng lời...<br><br></div><div><br></div><div><br>Là người yêu hoa, tôi thường mua hoa về cắm trong nhà hằng tuần. Điểm thú vị ở Hà Nội là mỗi mùa lại có một loài hoa đặc trưng, điều này được thể hiện rõ trong lời bài hát <em>Hà Nội - 12 mùa hoa</em> của nhạc sĩ Giáng Son.<br><br></div><div><em><br>“Chẳng thơm cũng thể hoa nhài/ Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”</em> là câu thơ nói về sự thanh lịch của người Hà thành. Tôi có thể cảm nhận điều đó rõ nhất trong giọng nói. 9 năm sinh sống tại Thủ đô và được trải nghiệm rất nhiều nơi ở Việt Nam, tôi có thể phân biệt được giọng nói vùng miền, địa phương và giọng người Hà Nội gốc. Âm điệu nhẹ nhàng, dịu dàng, êm ái, “tròn vành rõ chữ” là những gì tôi có thể cảm nhận được sự khác biệt giữa người Hà Nội gốc và người địa phương khác.<br><br></div><div><br>Về ẩm thực, quả thật với trường hợp của tôi thì khó có thể thưởng thức được hết đặc sản tiêu biểu của Hà Nội. Tôn giáo của tôi không cho phép ăn thịt lợn, mà người Việt Nam nói chung thường chế biến nhiều món ăn từ thịt lợn. Tôi biết nem rán là món ăn truyền thống của Hà Nội, được rất nhiều người Việt Nam cũng như bạn bè quốc tế ưa chuộng, nhưng vì có thịt lợn nên tôi không thể ăn. “Cái khó ló cái khôn”, tôi đã nghĩ cách tự chế biến ở nhà, thay thế thịt lợn bằng thịt bò và khi thưởng thức, tôi cảm nhận được vị thơm ngon, đậm đà của nem rán Hà Nội. Tôi cũng thường ghé Bát Đàn ăn bún riêu cua, đến Phùng Hưng ăn phở bò, rồi ăn phở gà trộn phố Hàng Hòm, nộm bò khô ở phố Hồ Hoàn Kiếm hay tụ tập bạn bè đến Thi Sách để quây quần bên nồi lẩu bò nhúng dấm.<br><br></div><div><br>Một đặc sản khác gắn liền với đời sống của người Hà Nội mà tôi rất ấn tượng, đó chính là cốm - một món quà của lúa non. Cốm có cái vị rất đồng điệu với một món ăn ở quê hương tôi, khác một điều là cốm được làm từ lúa (nước) non, còn món ăn ở quê tôi được làm từ lúa mì non, nhưng đều có cái vị thơm thơm, ngọt béo. Quả thật, Hà Nội có bao nhiêu đặc sản như níu giữ vị giác con người, khiến thực khách không thể nào quên.<br><br></div><div><br>Sau khi tốt nghiệp Khoa Việt Nam học, Trường Đại học Hà Nội vào tháng 6-2016, tôi trở về Palestine để làm việc. 9 tháng ở quê nhà, tâm hồn tôi như chia làm hai nửa, một nửa ở Palestine và một nửa ở Hà Nội. Sau 9 tháng nhớ Hà Nội da diết, tôi biết rằng tình yêu tôi dành cho Hà Nội lớn đến nhường nào. Do vậy, tôi đã quyết định quay lại Hà Nội và sẽ gắn bó với Hà Nội lâu hơn nữa. Đến thời điểm hiện tại, tôi có thể khẳng định rằng: Hà Nội chính là quê hương thứ hai của mình!<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-10-05 22:59:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2328372389</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2329288535</link>
         <description><![CDATA[<h1>Di tích lịch sử và khảo cổ Khu Trung tâm Hoàng Thành Thăng Long - Hà Nội</h1><div><strong>Di tích lịch sử và khảo cổ Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội nằm trên địa bàn phường Điện Biên và Quán Thánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, với diện tích quy hoạch bảo tồn vùng lõi là 18,395ha (bao gồm Khu di tích thành cổ Hà Nội và Khu di tích khảo cổ học 18 Hoàng Diệu) và diện tích vùng đệm là 108ha.</strong></div><div><br></div><div>Năm 1009, Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế, lập nên vương triều Lý. Năm 1010, Lý Thái Tổ rời đô từ Hoa Lư về thành Đại La, đổi tên kinh đô mới là Thăng Long và xây dựng nơi đây thành một trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa lớn nhất của đất nước. Trải qua các triều đại Lý, Trần, Lê Sơ, Mạc và Lê Trung Hưng, thành Thăng Long luôn giữ vị trí “Quốc đô”, là nơi ở và làm việc của Vua và Hoàng tộc. Khu vực này cũng còn là nơi cử hành các nghi lễ quan trọng của đất nước. Sau khi nhà Nguyễn định đô ở Huế (1802), vai trò kinh đô của Thăng Long mới bị giải thể… Từ sau năm 1954, khu vực thành Thăng Long trở thành trụ sở làm việc của Bộ Quốc phòng. Chính tại khu vực này, nhiều quyết định quan trọng của Đảng và Nhà nước đã được ra đời, góp phần tạo ra những thắng lợi lớn trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước.</div><div>Trải qua thời gian và những biến cố của lịch sử, thành Thăng Long đã có nhiều thay đổi, biến dạng…, nhưng đến nay vẫn còn lưu giữ được một số di tích lịch sử và khảo cổ học, tiêu biểu như:</div><div><em>Kỳ đài (Cột cờ Hà Nội)</em>: xây dựng vào năm 1812, dưới thời vua Gia Long, cao 33,4m, gồm ba tầng: đế, thân cột và vọng canh...</div><div><em>Đoan môn:</em> là cửa thành phía Nam, xây theo kiểu vòm cuốn. Đoan môn được bố cục theo chiều ngang, gồm cửa chính giữa dành riêng cho vua, hai bên có 4 cửa nhỏ hơn, dành cho các quan và hoàng tộc...</div><div><em>Điện Kính thiên:</em> nằm ở vị trí trung tâm của hoàng thành (thời Lê Sơ), được xây dựng năm 1428, ngay trên nền cũ của điện Càn Nguyên thời Lý (sau đổi tên là điện Thiên An). Năm 1886, điện này đã bị thực dân Pháp phá để xây dựng Sở Chỉ huy Pháo binh quân đội Pháp. Hiện nay, chỉ còn lại dấu tích của nền móng của điện Kính thiên. Đặc biệt, khu vực này còn lưu giữ được hai bậc thềm rồng bằng đá, có niên đại thế kỷ XV.</div><div><em>Hậu lâu (Lầu Công chúa):</em> xây dựng năm 1821, được sử dụng làm nơi nghỉ ngơi của các cung nữ trong đoàn hộ tống các Vua nhà Nguyễn khi xa giá ra Bắc. Cuối thế kỷ XIX, Hậu lâu bị hư hỏng nặng, thực dân Pháp đã cho cải tạo, xây dựng lại như hiện nay.</div><div><em>Chính Bắc môn (Cửa Bắc): </em>là cổng thành phía Bắc, được xây dựng năm 1805, gồm hai tầng, tám mái, với đầu đao cong, theo kiểu truyền thống.</div><div><em>Tường bao và 8 cổng hành cung thời Nguyễn: </em>năm 1805, nhà Nguyễn đã cho xây dựng tường bao từ cửa Đoan môn quanh nội điện, làm hành cung để vua làm việc và nghỉ ngơi mỗi khi Bắc tuần.<strong> </strong>Hiện nay, trong khu thành cổ còn 8 cổng thành cùng với hệ thống tường bao xung quanh hành cung bằng gạch vồ.</div><div><em>Di tích nhà và hầm D67: </em>được xây dựng vào năm 1967, trong khu A. Đây là nơi Bộ Chính trị, Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh đã đưa ra nhiều quyết định mang tính lịch sử, đánh dấu những mốc son của cách mạng Việt Nam: Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, chiến dịch năm 1972, Cuộc tổng tiến công năm 1975 và đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh…</div><div><em>Những công trình kiến trúc Pháp: </em>được xây dựng từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX theo kiểu Vauban, bao gồm tòa nhà Sở Chỉ huy Pháo binh Quân đội Pháp; một tòa nhà 2 tầng, xây dựng năm 1897, nay dùng làm trụ sở của Cục Tác chiến; hai tòa nhà một tầng, xây dựng năm 1897. Phía Đông của tòa nhà Cục Tác chiến có một nhà khách, xây dựng năm 1930.</div><div><em>Cây xanh trong khu di tích: </em>được trồng<strong> </strong>với mật độ dày, đa dạng về chủng loại, đã góp phần tạo ra môi trường trong lành và cảnh quan hài hòa cho khu di tích.</div><div><em>Di tích khảo cổ tại 18 Hoàng Diệu: </em>nằm cách nền điện Kính Thiên khoảng 100m về phía Tây, có diện tích 4,530ha, bắt đầu khai quật từ tháng 12 năm 2002, được phân định làm 4 khu (A, B, C, D). Khi tiến hành khai quật tại đây, các nhà khảo cổ học đã phát hiện dấu tích nền móng của các công trình kiến trúc cổ thuộc Hoàng thành Thăng Long cùng nhiều hiện vật có giá trị, như vật liệu trang trí kiến trúc bằng đất nung, cột gỗ, đồ gốm sứ của các triều đại phong kiến Việt Nam và nhiều đồ dùng, vật dụng của nước ngoài, như các loại đồ sứ của Tây Á, Trung Quốc, Nhật Bản…</div><div>Thành cổ Thăng Long - Hà Nội là di tích lịch sử và khảo cổ tiêu biểu, là bằng chứng vật chất phản ánh trình độ kỹ thuật cao, chứa đựng các giá trị về lịch sử, kiến trúc và nghệ thuật. Đồng thời, phản ánh sự giao thoa văn hóa với các nước trong khu vực và trên thế giới trong một quá trình lịch sử lâu dài, thể hiện qua rất nhiều hiện vật lịch sử, công trình kiến trúc, cảnh quan đô thị mang bề dày hàng ngàn năm lịch sử.&nbsp;</div><div>Với những giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học đặc biệt của di tích, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định xếp hạng Di tích lịch sử và khảo cổ Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội là di tích quốc gia đặc biệt (Quyết định số 1272/QĐ-TTg, ngày 12/08/2009).</div><div><br><br></div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1837616284/110e1dc86ab84dff23996148950db83d/0441B75A_501B_4CB5_BA48_FB2287BCFAF9.jpeg" />
         <pubDate>2022-10-06 12:41:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2329288535</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hoàng Thành Thăng Long</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2329378503</link>
         <description><![CDATA[<div>Nằm trên địa bàn của phường Điện Biên và phường Quán Thánh, <a href="https://halotravel.vn/hoang-thanh-thang-long/"><strong>Hoàng thành Thăng Long</strong></a> là một di tích lịch sử ở Hà Nội nổi tiếng. Đây là một công trình kiến trúc đồ sộ được xây dựng qua nhiều triều đại khác nhau, bắt đầu từ thời kỳ Đinh – Tiền Lê và trở thành di tích quan trọng bậc nhất trong hệ thống các di tích ở Việt Nam.<br><br></div><div>Qua quá trình khai quật và nghiên cứu, người ta phát hiện ra rằng, hoàng thành Thăng Long đã tồn tại được 13 thế kỷ xuyên suốt các triều đại Lý, Trần Lê, Mạc, Nguyễn.<br><br></div><div>Đến nơi này, bạn sẽ được chiêm ngưỡng những di tích được lưu lại bên trong hoàng thành Thăng Long như khu khảo cổ 18 Hoàng Diệu, Đoan Môn, cột cờ Hà Nội, điện Kính Thiên, nhà D76, Bắc Môn, Hậu Lân, tường thành và 8 cổng hành cung dưới thời Nguyễn. Vào năm 2010, Hoàng Thành Thăng Long được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới.<br><br></div><div>Nơi đây, ghi lại dấu ấn của nhiều triều đại trong lịch sử, là một trong những địa điểm tham quan, checkin mà bạn không thể bỏ qua khi đến với thủ đô Hà Nội.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-10-06 13:32:48 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2329378503</guid>
      </item>
      <item>
         <title>chùa Một Cột</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2329380311</link>
         <description><![CDATA[<div>Tọa lạc tại phố Chùa Một Cột, Đội Cấn, quận Ba Đình, Hà Nội, <a href="https://halotravel.vn/chua-mot-cot/"><strong>chùa Một Cột</strong></a> từ lâu đã trở thành biểu tượng của văn hóa Việt Nam. Ngôi chùa này được xây dựng dựa trên “giấc mộng Quan Âm” của vua Lý Thái Tổ. Chùa Một Cột là quần thể kiến trúc bao gồm ngôi chùa và tòa đài giữa hồ. Ngoài cái tên “Chùa Một Cột”, ngôi chùa còn được biết đến bởi những cái tên khác như Liên Hoa Đài, Diên Hựu Tự hay chùa Mật.<br><br></div><div>Không chỉ là một điểm đến tâm linh, chùa Một Cột là biểu tượng văn hóa ngàn năm của Hà Nội. Năm 2012, di tích lịch sử ở Hà Nội này đã vinh dự được Tổ chức Kỷ lục châu Á xác lập kỷ lục “Ngôi chùa có kiến trúc độc đáo nhất châu Á”.<br><br></div><div>Đến với chùa Một Cột linh thiêng, bạn không chỉ được sở thị một tác phẩm kiến trúc điêu luyện từ thời phong kiến. Mà còn có thể thắp nhang, cầu nguyện sức khỏe, bình an, may mắn cho bản thân và gia đình.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-10-06 13:33:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2329380311</guid>
      </item>
      <item>
         <title>văn miếu-Quốc Tử Giám</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2329384113</link>
         <description><![CDATA[<div>là trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Là nơi diễn ra những cuộc thi cử để tuyển chọn người tài giúp vua lo việc nước. Đến nơi đây, bạn sẽ được chiêm ngưỡng những tấm bia gắn trên mai rùa khắc tên những tiến sĩ tài giỏi trong thời kỳ phong kiến. Bạn sẽ được chiêm ngưỡng kiến trúc đậm chất cổ kính của những ngôi miếu nơi này.<br><br></div><div>Hằng năm, vào những mùa thi cử, các sĩ tử từ khắp nơi đổ về di tích lịch sử ở Hà Nội này để sờ đầu rùa, thắp hương và cầu cho đường học hành hanh thông, thi cử đỗ đạt. Đặc biệt, vào Rằm Nguyên Tiêu, tại Văn Miếu thường diễn ra ngày hội Thơ Việt Nam vô cùng trang trọng trong không khí sắc xuân tràn đầy.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-10-06 13:35:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2329384113</guid>
      </item>
      <item>
         <title>chùa Trấn Quốc</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2329388872</link>
         <description><![CDATA[<div>là ngôi chùa cổ nhất ở Hà Nội với 1.500 năm tuổi. Ngôi chùa này được đánh giá là một trong những ngôi chùa đẹp nhất trên thế giới.<br><br></div><div>Đến tham quan chùa Trấn Quốc, bạn sẽ không khỏi choáng ngợp bởi lối kiến trúc đỉnh cao của ngôi chùa. Kết cấu và nội thất của chùa Trấn Quốc có sự sắp xếp theo trình tự và những nguyên tắc khắt khe của Phật giáo. Gồm nhiều lớp nhà với ba ngôi chính là Tiền đường, nhà thiêu hương và thượng điện.<br><br></div><div>Lịch sử của chùa Trấn Quốc gắn liền với nền Phật giáo Thăng Long, Hà Nội. Chùa Trấn Quốc là quần thể những tháp cổ. Nổi bật hơn hẳn là toà Bảo Tháp lục độ đài sen được xây dựng năm 1998. Bảo tháp lớn gồm 11 tầng, cao 15m. Mỗi tầng có 6 ô cửa hình vòm, trong mỗi ô đặt một pho tương Phật A Di Đà bằng đá quý. Đỉnh tháp có đài sen 9 tầng cũng bằng đá quý, được gọi là Cửu phẩm liên hoa. Đối diện với bảo tháp là cây bồ đề do Tổng thống Ấn Độ tặng khi ông đến thăm Hà Nội năm 1959.<br><br></div><div>Chùa Trấn Quốc chính là một di tích lịch sử ở Hà Nội có kiến trúc cực đẹp. Là điểm tham quan, ngắm cảnh và checkin tuyệt vời bởi background chùa chiền cổ kính.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/e/e5/Ch%C3%B9a_Tr%E1%BA%A5n_Qu%E1%BB%91c%2C_H%C3%A0_N%E1%BB%99i.jpg" />
         <pubDate>2022-10-06 13:38:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2329388872</guid>
      </item>
      <item>
         <title>hồ Gươm</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2329393392</link>
         <description><![CDATA[<div>được coi là trái tim của Hà Nội. Bởi hồ nằm ở trung tâm thủ đô, được bao quanh bởi 3 con phố là Hàng Khay, Lê Thái Tổ và Đinh Tiên Hoàng. Hồ Hoàn Kiếm trước đây có tên gọi là hồ Lục Thủy hay hồ Thủy Quân. Bởi đây từng là nơi vua dùng để huấn luyện thủy binh chiến đấu. Tuy nhiên, đến thế kỷ XV, hồ đã được đổi tên thành Hồ Gươm, vì gắn liền với sự tích vua Lê Lợi trả gươm báu cho Rùa vàng.<br><br></div><div>Đây chính là nơi để mọi người thư giãn, đi dạo, hóng mát và là nơi sinh hoạt văn hóa của người dân. Ngày nay, hồ Hoàn Kiếm là một địa điểm vui chơi “cực hot” của giới trẻ bởi gắn liền với Phố đi bộ, nơi diễn ra những hoạt động vui chơi tập thể. Đi dạo trên quanh hồ Gươm, mua một que kem Tạ Thủy 10k và ngồi “chill” cùng bè bạn trên những chiếc ghế gần bờ hồ thì còn gì tuyệt hơn.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://chupanhvn.s3.ap-southeast-1.amazonaws.com/wp-content/uploads/2016/08/24070234/ho-guom5.jpg" />
         <pubDate>2022-10-06 13:40:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2329393392</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thành Cổ Loa</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2329396797</link>
         <description><![CDATA[<div>Gọi là Loa Thành vì thành Cổ Loa được xây dựng theo kiểu vòng ốc. Tương truyền có 9 vòng xoáy trôn ốc. Tuy nhiên, hiện tại, chỉ còn lại 3 vòng. Thành Ngoại có chu vi 15km, thành Nội có chu vi 1600m. <a href="https://halotravel.vn/di-tich-thanh-co-loa/"><strong>Thành Cổ Loa</strong></a> là quần thể của nhiều công trình kiến trúc độc đáo như Giếng Ngọc, tượng Cao Lỗ hay am Mị Châu,…<br><br></div><div>Lễ hội Cổ Loa thường diễn ra vào ngày 6 tháng Giêng hằng năm, vì vậy, đây chính là thời điểm đông đảo du khách đến đây để tham gia lễ hội. Lễ hội kéo dài cho tới khi diễn ra lễ tạ Trời Đất vào ngày 16 tháng Giêng thì kết thúc.<br><br></div><div>Truyền thuyết về thành Cổ Loa gắn với những nhân vật huyền thoại như thần Kim Quy với chiếc nỏ thần, vua An Dương Vương cùng Mỵ Châu, Trọng Thủy,…Tất cả trở thành một phần không thể thiếu tron đời sống văn hóa của dân tộc Việt. Thành Cổ Loa tồn tại hằng ngàn năm tuổi, là thước đo lịch sử, phản ánh quá trình phát triển của Việt Nam qua các thời kỳ, triều đại khác nhau. Đến với nơi này, bạn sẽ như được lạc vào cõi sử thiêng, như được sống lại với lịch sử hào hùng và thêm yêu quê hương đất nước.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://halotravel.vn/wp-content/uploads/2020/11/thanh-co-loa.jpg" />
         <pubDate>2022-10-06 13:42:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2329396797</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Mỵ Châu Trọng Thủy</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2329404334</link>
         <description><![CDATA[<div>Sau khi An Dương Vương xây thành Cổ Loa, thần Kim Quy cho An Dương Vương một cái móng của mình để làm lẫy nỏ mà giữ thành. Theo lời thần dặn, nỏ có được cái lẫy làm bằng móng chân thần sẽ là chiếc nỏ bắn trăm phát trúng cả trăm, và chỉ một phát có thể giết hàng ngàn quân địch. An Dương Vương chọn trong đám gia thần được một người làm nỏ rất khéo tên là Cao Lỗ và giao cho Lỗ làm chiếc nỏ thần. Lỗ gắng sức trong nhiều ngày mới xong. Chiếc nỏ rất lớn và rất cứng, khác hẳn với những nỏ thường, phải tay lực sĩ mới giương nổi. An Dương Vương quý chiếc nỏ thần vô cùng, lúc nào cũng treo gần chỗ nằm.<br><br></div><div>Lúc bấy giờ Triệu Đà làm chúa đất Nam Hải, mấy lần đem quân sang cướp đất Âu Lạc, nhưng vì An Dương Vương có nỏ thần, quân Nam Hải bị giết hại rất nhiều nên Đà đành cố thủ đợi chờ thời cơ. Triệu Đà thấy dùng binh không lợi, bèn xin giảng hòa với An Dương Vương, sai con trai là Trọng Thuỷ sang cầu thân, nhưng chủ ý là tìm cách phá chiếc nỏ thần.<br>Trong những ngày đi lại để giả kết tình hoà hiếu, Trọng Thuỷ được gặp Mỵ Châu, con gái yêu của An Dương Vương, một thiếu nữ mày ngài, mắt phượng, nhan sắc tuyệt trần. Trọng Thuỷ đem lòng yêu dấu Mỵ Châu, Mỵ Châu dần dần cũng xiêu lòng. Hai người trở nên thân thiết, không còn chỗ nào trong Loa thành mà Mỵ Châu không dẫn người yêu đến xem. An Dương Vương không nghi kỵ gì cả. Thấy đôi trẻ thương yêu nhau, vua liền gả Mỵ Châu cho Trọng Thuỷ.<br><br></div><div>Một đêm trăng sao vằng vặc, Mỵ Châu cùng Trọng Thuỷ ngồi trên phiến đá trắng giữa vườn, cùng nhau nhìn dãy tường thành cao nhất. Trong câu chuyện tỷ tê, Trọng Thuỷ hỏi vợ rằng: Nàng ơi, bên Âu Lạc có bí quyết gì mà không ai đánh được? Mỵ Châu đáp: Có bí quyết gì đâu chàng, Âu Lạc đã có thành cao, hào sâu, lại có nỏ thần bắn một phát chết hàng nghìn quân địch, như thế còn có kẻ nào đánh nổi được? Trọng Thuỷ làm bộ ngạc nhiên, vờ như mới nghe nói đến nỏ thần lần đầu. Chàng ngỏ ý muốn xem chiếc nỏ. Mỵ Châu không ngần ngại, chạy ngay vào chỗ nằm của cha, lấy nỏ thần đem ra cho chồng xem. Nàng lại chỉ cho chàng biết cái lẫy vốn là chiếc móng chân thần Kim Quy và giảng cho Trọng Thuỷ cách bắn. Trọng Thuỷ chăm chú nghe, chăm chú nhìn cái lẫy, nhìn khuôn khổ cái nỏ hồi lâu, rồi đưa cho vợ cất đi.<br>Hôm sau, Trọng Thủy xin phép An Dương Vương về thăm cha. Hắn thuật lại cho Triệu Đà biết về chiếc nỏ thần. Đà sai một gia nhân chuyên làm nỏ, chế một chiếc lẫy nỏ giống hệt của An Dương Vương. Lẫy giả làm xong, Trọng Thuỷ giấu vào trong áo, lại trở sang Âu Lạc.<br>An Dương Vương vốn chiều con gái, thấy con mỗi khi gặp chồng thì vui vẻ sung sướng, liền sai gia nhân bày tiệc rượu để ba cha con cùng vui. Trọng Thuỷ uống cầm chừng, còn An Dương Vương và Mỵ Châu say tuý luý. Thừa lúc bố vợ say, Trọng Thuỷ lẻn ngay vào phòng tháo lấy cái lẫy bằng móng chân thần Kim Quy và thay cái lẫy giả bằng móng rùa thường vào.<br><br></div><div>Hôm sau, thấy chồng có vẻ bồn chồn, hết đứng lại ngồi không yên, Mỵ Châu hỏi chồng rằng: Chàng như có gì lo lắng phải không? Trọng Thuỷ đáp: Ta sắp phải đi, Phụ vương dặn phải về ngay để còn lên miền Bắc, miền Bắc xa lắm nàng ạ. Mỵ Châu buồn rầu lặng thinh, Trọng Thuỷ nói tiếp: Bây giờ đôi ta sắp phải xa nhau, không biết đến bao giờ gặp lại! Nếu chẳng may xảy ra binh đao, tôi biết đâu mà tìm? Mỵ Châu nói: Thiếp có cái áo lông ngỗng, hễ thiếp chạy về hướng nào thì thiếp sẽ rắc lông ngỗng dọc đường, chàng cứ chạy theo dấu lông ngỗng mà tìm. Nói xong Mỵ Châu nức nở khóc.<br><br></div><div>Về đất Nam Hải, Trọng Thuỷ đưa cái móng rùa vàng cho cha, Triệu Đà mừng rỡ vô cùng, reo lên rằng: “Phen này đất Âu Lạc sẽ về tay ta”. Chỉ ít ngày sau, Triệu Đà đã ra lệnh cất quân sang đánh Âu Lạc.<br>Nghe tin báo, An Dương Vương cậy có nỏ thần, không phòng bị gì cả. Đến khi quân giặc đã đến sát chân thành, An Dương Vương sai đem nỏ thần ra bắn thì không thấy linh nghiệm nữa. Quân Triệu Đà phá cửa thành, ùa vào. An Dương Vương vội lên ngựa, đèo Mỵ Châu sau lưng, phi ngựa thoát ra cửa sau. Ngồi sau lưng cha, Mỵ Châu bứt lông ngỗng ở áo rắc khắp dọc đường.<br>Đường núi gập ghềnh hiểm trở, ngựa chạy luôn mấy ngày đêm đến Dạ Sơn gần bờ biển. Hai cha con định xuống ngựa ngồi nghỉ thì quân giặc đã gần đến. Thấy đường núi quanh co dốc ngược, bóng chiều đã xuống, không còn lối nào chạy, An Dương Vương liền hướng ra biến, khấn thần Kim Quy phù hộ cho mình. Vua vừa khấn xong thì một cơn gió lốc cát bụi bốc lên mù mịt, làm rung chuyển cả núi rừng. Thần Kim Quy xuất hiện, bảo An Dương Vương rằng “giặc ở sau lưng nhà vua đấy”. An Dương Vương tỉnh ngộ, liền rút gươm chém Mỵ Châu, rồi nhảy xuống biểu tự vẫn.<br><br></div><div>Quân của Triệu Đà kéo vào chiếm đóng Loa thành, còn Trọng Thuỷ một mình một ngựa theo dấu lông ngỗng đi tìm Mỵ Châu. Đến gần bờ biển, thấy xác vợ nằm trên đám cỏ, tuy chết mà nhan sắc không mờ phai. Trọng Thuỷ khóc oà lên, thu nhặt thi hài đem về chôn trong thành, rồi đâm đầu xuống giếng trong thành mà xưa kia Mỵ Châu thường tắm.<br>Ngày nay, ở làng cổ Loa, trước đền thờ An Dương Vương, còn cái giếng gọi là giếng Trọng Thuỷ. Tục truyền khi Mỵ Châu đã bị cha giết chết rồi, máu nàng chảy xuống biển, trai ăn được nên mới có ngọc châu. Lấy được ngọc trai ấy đem về rửa bằng nước giếng trong thành Cổ Loa thì ngọc trong sáng vô cùng.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="http://dcvonline.net/wp-content/uploads/2016/04/my_chau_trong_thuy_1.jpg" />
         <pubDate>2022-10-06 13:46:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2329404334</guid>
      </item>
      <item>
         <title>sự tích Hồ Gươm</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2329405482</link>
         <description><![CDATA[<div>Vào thời giặc Minh [1] xâm lược nước ta, đi đến đâu chúng cũng tàn sát người dân vô tội, cướp bóc của cải của nhân dân. Cuộc sống của người dân vô cùng cực khổ, và lầm than. Thấy cuộc sống của trăm dân như vậy một số người có lòng yêu nước đã tụ họp lại với nhau cùng bàn bạc làm một cuộc khởi nghĩa để chống lại sự tàn ác và bạo ngược của quân giặc. Trong đó có nghĩa quân ở vùng Lam Sơn Tuy nhiên, nghĩa quân cũng chỉ toàn là những người nông dân áo vải, binh khí thì thô sơ mà chưa thu hút được nhiều người nên chưa có đủ sức mạnh để chiến đấu chống lại quân giặc. Rất nhiều lần nghĩa quân đã đứng lên khởi nghĩa nhưng lần nào cũng bị binh tướng nhà Minh đánh cho bại trận. Đức Long Quân <sup>[2]</sup> nhìn thấy tấm lòng chiến đấu quả cảm và tinh thần yêu nước của nghĩa quân, liền quyết định cho nghĩa quân mượn thanh gươm thần để tăng thêm sức mạnh và sĩ khí chiến đấu cho họ.Hồi ấy ở Thanh Hóa, có một người đi đánh cá dưới sông, khi kéo lên thấy lưới rất nặng. Anh ta nghĩ thầm trong bụng: “Phen này chắc là được nhiều cá lắm đây!“. Tuy nhiên khi lưới được kéo lên thì không có một con cá nào mà chỉ là một lưỡi gươm cũ. Anh ta liền vứt lưỡi gươm trở lại sông, lần thứ hai chàng kéo lưới, lưỡi gươm ấy lại vướng vào. Lần này anh quăng lưỡi gươm đi xa hơn nữa.<br><br></div><div>Đến lần thứ ba kéo lưới vẫn là lưỡi gươm đó mắc vào. Thấy lạ, anh liền cầm lưỡi gươm cũ lên và mang về để trong góc nhà. Người đó tên là Lê Thận – một nông dân quê ở Thanh Hóa, có lòng yêu nước nồng nàn, từ lâu đã có ý muốn gia nhập cùng nghĩa quân Lam Sơn <sup>[3]</sup>.<br><br></div><div>Lực lượng của nghĩa quân Lam Sơn lúc bấy giờ đã ngày càng đông, muốn chiêu binh thêm những người tài giỏi và có lòng yêu nước tham gia. Lê Thận có sức khỏe cùng với lòng yêu nước mong đánh đuổi giặc ngoại xâm từ lâu nên đã gia nhập nghĩa quân. Anh tham gia những trận chiến quan trọng và góp nhiều công sức trong các trận thắng lớn, được Lê Lợi vô cùng tin tưởng.<br>Một lần Lê Lợi đưa quân qua vùng Thanh Hóa đã vào nhà Lê Thận để nghỉ ngơi. Vừa vào tới nhà, Lê Lợi và các tướng lĩnh thấy lưỡi gươm cũ vứt ở xó nhà của Lê Thận phát ra ánh hào quang sáng chói. Mọi người tiến lại cầm lên xem thì thấy trên lưỡi gươm có khắc hai chữ “thuận thiên” <sup>[4]</sup>. Tất cả vô cùng ngạc nhiên nhưng cũng không nghĩ đó là báu vật, chỉ cho đó là lưỡi gươm bình thường mà thôi.https://thegioicotich.vn/su-tich-ho-guom/</div>]]></description>
         <enclosure url="https://thegioicotich.vn/su-tich-ho-guom/" />
         <pubDate>2022-10-06 13:47:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2329405482</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hai Bà Trưng</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2329407707</link>
         <description><![CDATA[<div>Đất Mê Linh là đất bản bộ của các vua Hùng, kéo dài trên hai bờ sông Hồng từ phía trên của đỉnh tam giác châu Việt Trì (Phú Thọ) cho đến gần Hà Nội và trải rộng từ vùng núi Ba Vì (Hà Tây) sang vùng núi Tam Đảo (Vĩnh Phúc), tương đương với phần lớn các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hà Tây hiện nay.<br><br></div><div>Sách Đại việt sử ký toàn thư chép: Trưng Trắc “nguyên là họ Lạc, con gái của Lạc tướng huyện Chu Diên (vùng lưu vực sông Đáy và mở sang cả sông Hồng bao gồm khu vực Hà tây, Hà Nội, Hà Nam hiện nay).<br><br></div><div>Hai Bà Trưng, Trưng Trắc và Trưng Nhị, hai chị em sinh đôi là con gái Lạc tướng Mê Linh, đất bản bộ cũ của vua Hùng. Chồng Bà Trưng Trắc là Thi Sách, con trai lạc tướng Chu Diên. Lãnh thổ Mê Linh và Chu Diên liền cõi, hai gia đình lạc tướng là thông gia, khiến thanh thế của họ càng thêm mạnh, uy danh càng thêm lớn.<br><br></div><div>Những năm đầu công nguyên, <a href="http://truyencotich.vn/">Cổ Loa</a> với vị thế là một kinh đô cổ của đất nước đã sớm trở thành một trung tâm của các cuộc nổi dậy, đấu tranh giành độc lập của nhân dân, trong đố tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng.<br><br></div><div>Chính sách cai trị hà khắc, tàn bạo của nhà Đông Hán càng thôi thúc vợ chồng Trưng Trắc -Thi Sách hiệp mưu tính kế nổi dậy chống nhà Hán. Theo truyền thuyết và sử cũ, Thái Thú Tô Định đã giết chết Thi Sách trước khi cuộc khởi nghĩa nổ ra. Hành vi bạo ngược của Tô Định càng làm cho Bà Trưng Trắc cùng em gái là Trưng Nhị thêm quyết tâm tiến hành cuộc khởi nghĩa đánh đổ chính quyền đô hộ, rửa nợ nước, trả thù nhà, dựng lại cơ nghiệp xưa cho các Vua Hùng<br><br></div><div>Cửa sông Hát (Hát Môn, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây) là nơi khởi phát công cuộc tụ nghĩa và khởi nghĩa. Thời điểm nổ ra cuộc khởi nghĩa là niên hiệu Kiến Vũ thứ 16 tức năm 40 SCN.<br><br></div><div>Khởi nghĩa Hai Bà Trưng lập tức được sự hưởng ứng của các lạc tướng và nhân dân quận Giao Chỉ rồi toàn miền Nam Việt và Âu Lạc cũ. Xuất phát từ Hát Môn, Hai Bà đánh phá đô uý trị của giặc ở Hạ Lôi (Mê Linh) sau đó kéo quân từ Mê Linh xuống Tây Vu đánh chiếm Cổ Loa, từ Cổ Loa, quân của Hai Bà vượt sông Hoàng, sông Đuống đánh chiếm Luy Lâu (nay ở Lũng Khê, Thuận Thành, Bắc Ninh) là châu trị và quận trị của bọn đô hộ nhà Hán<br><br></div><div>Hoảng sợ trước khí thế ngút trời của nhân dân <a href="http://truyencotich.vn/">Âu Lạc</a>, bọn địch không dám chống cự bỏ chạy tháo thân về nước. Thái thú Tô Định cũng lẻn trốn về nước. Chỉ trong vòng hai tháng, nghĩa quân Hai Bà Trưng giải phóng toàn bộ đất nước (65 quận, huyện, thành), giành chủ quyền về tay dân tộc.<br><br></div><div>Mùa hè năm Canh tý (40) Bà Trưng Trắc được tướng sĩ tôn lên làm vua, hiệu là Trưng Nữ Vương, đóng đô ở quê nhà là lỵ sở huyện Mê Linh cũ. Bà Trưng Nhị được phong là Bình khôi Công chúa. Các tướng sĩ khác đều được phong thưởng chức tước, tiền bạc, ruộng đất. Dân cả nước được xá thuế hai năm liền.<br><br></div><div>Mùa hè năm 42 (niên hiệu Kiến Vũ thứ 17), nhà Đông Hán phong Mã Viện làm phục Ba tướng quân, thống lĩnh quân sĩ sang đánh nước ta. Mùa hè năm 43 (niên hiệu Kiến Vũ thứ 18), quân Mã Viện tiến qua Long Biên, Tây Vu đến Lãng Bạc ở phía đông Cổ Loa. Hai Bà Trưng đã tiến quân từ Mê Linh qua Cổ Loa xuống Lãng Bạc đánh quân xâm ược. Mã Viện là viên tướng có dày dặn kinh nghiệm trận mạc, có số quân đông, thiện chiến, có các lực lượng thủy bộ phối hợp, lại rất thành thạo lối đánh tập trung theo kiểu trận địa chiến. Nhưng vì tương quan lực lượng quá chênh lệch và sau một thời gian hồi sức trở lại, Mã Viện đã dần dần giành thế chủ động. Trong khi đó Hai Bà Trưng lực lượng vừa tập hợp, còn quá non trẻ và chưa có nhiều kinh nghiệm chiến đấu, không có khả năng cầm cự lâu dài với quân xâm lược Đông Hán ở Lãng Bạc. Quân của Trưng Vương càng ngày càng bộc lộ rõ thế yếu, bị thiệt hại nặng. Có đến hàng nghìn người bị bắt và hy sinh trêm chiến lũy. Nếu cứ tiếp tục duy trì lực lượng ở Lãng Bạc thì quân đội Trưng Vương sẽ không thể giữ nổi căn cứ này và có thể sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn.<br><br></div><div>Thấy không thể kéo dài thời gian cầm cự với Mã Viện được nữa. Trưng Trắc quyết định rút quân khỏi Lãng Bạc, lui về giữ thành Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội). Thành Cổ Loa kiên cố, thủy bộ liên hoàn đã được Trưng Vương sử dụng, khai thác tất cả lợi thế của nó để hy vọng chặn đứng và tiêu diệt đoàn quân xâm lược đã giành được thế chủ động và đang ào ạt tiến về hướng kinh thành Mê Ling. Lúc này chiến trường trải rộng khắp vùng Từ Sơn, Tiên Du, Đông Anh và nhất là khu vực xung quanh Cổ Loa. Nhiều tướng lĩnh của Trưng Vương đã chiến đấu và hy sinh trong những ngày tháng này như Đồng Bảng ở Gia Lộc (Đại Hùng, Đông Anh) Thủy Hải, Đăng Giang ở Đại Vĩ (Hà Vĩ, Liên Hà, Đông Anh)…<br><br></div><div>Tòa thành Cổ Loa kiên cố cũng không giúp T<a href="http://truyencotich.vn/">rưng Trắc</a> bảo toàn được lực lượng trước sức tấn công ào ạt của Mã Viện, bà phải đem quân về kinh thành Mê Linh ở Hạ Lôi (Mê Linh, Vĩnh Phúc). Nhưng quân Đông Hán rất mạnh, nên Hai Bà Trưng phải lui quân về giữ các thành ở Hạ Lôi, Cự Triền. Mã Viện đem quân thuỷ, bộ đuổi theo. Cuộc cầm cự diễn ra ác liệt cuối cùng Hai Bà bị thương nặng và gieo mình xuống dòng sông Hát tự trẫm chứ không chịu sa vào tay giặc. Các tướng của Hai Bà phần nhiều bị thương phải chạy về bản doanh của mình, có người đã hy sinh.<br><br></div><div>Cuộc khởi nghĩa bị thất bại. Sau ba năm, đất nước và nhân dân ta lại bị phong kiến phương Bắc đô hộ. Nhưng khởi nghĩa Hai Bà Trưng mở đầu cho truyền thống đấu tranh chống các thế lực phương Bắc đô hộ nước ta. Là tấm gương để các bậc anh hùng hào kiệt dân tộc kế tiếp nhau đứng lên đánh đuổi ngoại xâm giành độc lập chủ quyền dân tộc.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://cdn.doctailieu.com/images/2019/03/15/doan-van-ke-ve-hai-ba-trung-lop-3.jpg" />
         <pubDate>2022-10-06 13:48:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2329407707</guid>
      </item>
      <item>
         <title>sự tích chùa Mội Cột</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2329410993</link>
         <description><![CDATA[<div>Ngày xưa, vào đời Lý, vua Lý Thái Tôn là một tín đồ nhiệt thành của đạo Phật, theo phái Vô Ngôn Thông.<br>Thuở bấy giờ, đạo Phật đang độ bành trướng, riêng triều đại này nhà vua truyền xây 95 ngôi chùa mới, trùng tu lại tất cả những tượng Phật và trong các dịp lễ lớn này đều ban tha thuế cho toàn dân.<br>Năm 1049, một hôm vua Thái Tôn nằm mộng thấy Phật Bà Quan Âm hiện ra, đưa nhà vua đến một tòa sen rạng ngời ánh sáng. Sau khi tỉnh dậy, Vua thuật lại câu chuyện chiêm bao cho quần thần hay. Thiền tăng Thuyền Lã, vị sư đã hướng dẫn nhà sư trên đường đạo hạnh, bàn cùng nhà vua nên dựng một ngôi chùa để nhớ ơn đức Quan Âm.<br><br></div><div><br></div><div>Chùa Diên Hựu được dựng lên theo hình hoa sen, ở trên một cái cột lớn độc nhất giữa một cái ao trồng toàn sen gần kinh đô. Ngôi chùa kiến trúc đặc biệt theo nghệ thuật Đại la đời nhà Lý, tục gọi là chùa Một Cột. Ngày nay vẫn còn ở đất cố đô Thăng Long, ghi lại cuộc gặp gỡ kỳ ảo giữa ông vua mộ đạo với Phật Bà Á Đông.<br>Khảo dị:<br>Chùa một cột ở phía tây Thủ đô, thuộc thôn Ngọc Thanh, khu Ngoc Hà. Nơi đó nguyên có một cái hồ hình vuông, giữa hồ có một cột đá, cao chừng hai trượng, chu vi chín thước, đầu trụ đặt một tòa chùa ngói đỏ, hình như một đóa hoa sen dưới nước mọc lên, người ta gọi là chùa Nhất Trụ hay là chùa Một Cột. Chùa xây từ năm 1049, tức là năm đầu niên hiệu Sùng Hưng Đại Bảo vua Thái Tôn nhà Lý.<br>Tục truyền khi ấy vua Thái Tôn tuổi đã cao mà chưa có con trai, thường đến cầu tự ở các chùa. Một đêm nằm chiêm bao thấy đức Phật Quan Âm hiện trên đài hoa sen trong một cái hồ vuông ở phía tây thành, tay bế một đứa con trai đưa cho nhà vua.<br>Sau đó nhà vua quả sinh được con trai. Nhà vua liền sai lập chùa Một Cột để thờ Phật Quan Âm. Khi chùa làm xong, nhà vua triệu tập hàng ngàn Tăng Ni đứng chầu chung quanh, tụng kinh suốt bảy ngày đêm, và lập thêm một ngôi chùa lớn ở ngay bên cạnh để thờ chư Phật, gọi là chùa Diên Hựu.<br><br></div><div><br>Năm 1105, vua Nhân Tôn nhà Lý cho sửa lại chùa, dựng lên một cây tháp bằng đá trắng gọi là tháp Bạch Tuynh, cao 13 trượng ở trước chùa Diên Hựu. Từ tháp Bạch Tuynh vào chùa Một Cột, đi bằng một hành lang cầu vồng. Mỗi tháng hai ngày rằm, mùng một, nhà vua cùng các hậu phi,cung tần và cận thần tới chùa lễ Phật. Đặc biệt là hằng năm cứ đến ngày tám tháng tư là ngày Phật Đản, nhà vua lại ngự ra chùa trước một đêm, giữ mình chay tịnh, ngày hôm sau làm lễ tắm Phật. Rất đông Tăng Ni và nhân dân các nơi tới dự, làm nên ngày hội lớn hàng năm ở thủ đô. Ngày ấy, trước chùa lại có một lễ lớn gọi là Lễ Phóng sinh. Lễ tắm Phật xong rồi, nhà vua đứng lên đài cao, tay cầm một con chim thả cho bay đi, rồi các tăng Ni và các nam nữ thiện tín, đua nhau mỗi người thả một con, bóng bay rợp trời.<br>Năm 1922, trường Viễn Đông Bác Cổ có sửa chữa lại, giữ theo đúng như quy chế cũ.<br>Đêm ngày 11 thánh 9 năm 1954, tay sai của thực dân Pháp, trước khi phải giao trả thủ đô cho Chính phủ và nhân dân ta, đã cố ý đặt mìn để phá hoại chùa Một Cột. Ngày sau khi tiếp quản thủ đô, chính phủ ta đã cho chiếu theo đồ dạng cũ, sửa chữa lại ngay; tháng 4 năm 1955, chùa Một Cột lại được hoàn nguyên như cũ.<br>Từ đầu 1958, cây bồ đề của đất Phật Ấn Độ kính tặng Hồ Chủ tịch nhân dịp Người đi thăm Ấn Độ, được đem trồng trong chùa.<br>Nói đến chùa Một Cột này, có một việc cần phải nói rõ là : chúng ta đọc sử về đời Lý-Trần, vẫn thấy nói đến “ An Nam tứ khí” nghĩa là bốn thứ kiến trúc lớn ở nước Nam[2], mà quả chuông ở trước Chùa Một Cột là một.<br>Theo sử cũ chép : Cũng về đời vua Nhân Tôn nhà Lý, vào năm Long Phù thứ tám (1108), nhà vua cho xuất kho một vạn hai ngàn cân đồng để đúc một quả chuông lớn gọi là Giác Thế Chung ( quả chuông thức tỉnh người đời) để treo ở chùa Diên Hựu, định mỗi khi đánh một tiếng chuông, tiếng sẽ vang đi mấy dặm. Xây một tòa phương đình toàn bằng đá xanh, cao 8 trượng, trên nóc đình bắc những đóng sắt to để treo chuông. Xây đình và đúc chuông, hơn một năm mới xong, hàng ngày các nơi phải thay nhau đưa dân phu đến phục dịch. Thân hình quả chuông không biết to lớn thế nào, chỉ biết khi đúc xong không thể nào treo chuông lên được, đành cứ phải để chuông đứng sát mặt đất, nên đánh chuông không kêu. Rồi bao nhiều lần dồn ép hàng ngàn người xúm vào ra sức vần xoay, kết cục chỉ vật ngã được quả chuông lăn kềnh trên mặt ruộng. Lúc đầu người ta còn làm mái che chuông, lâu ngày chẳng ai đoái hoài, mặc cho chuông nằm phơi mưa gió. Nơi chuông nằm lại vốn là một ruộng nước, lòng chuông trở thành cái tổ êm ấm cho từng đàn rùa chui ra chui vào. Vì vậy chuông lại được mang cái tên là chuông ruộng rùa.<br>Chuông bị dải dầu như thế đến hơn ba trăm năm. Năm 1427, bọn phong kiến nhà Minh sang xâm chiếm nước ta đã hai mươi năm, bị quân dân ta do Bình Định Vương lãnh đạo kháng chiến anh dũng, phải rút về cố thủ ở thành Đông Quan ( tức Hà Nội), rồi bị quân ta vây hãm hơn hai tháng, lương thực bị thiếu thốn, khí giới đạn dược cũng hao mòn, chúng phải vơ vét hết các đồ đồng ở dân gian, rồi đến cả phần thân trên bằng đồng của tháp Báo Thiên và quả chuông ruộng rùa này để đúc sung đạn, nhưng kết cục chúng cũng phải đầu hàng quân ta, cuốn giác về nước.<br>Về sự tích chùa Một Cột này lại có một truyền thuyết nói rằng: Bà Linh Nhân Thái hậu, vợ vua Thái Tôn nhà Lý, không sinh đẻ, tính lại cả ghen, bà sai Thái giám bắt giam 72 cung nữ có nhan sắc, thường được chầu hầu nhà vua, giam vào phòng tối ở cung Thượng Dương; tới khi vua Thái Tôn mất, bà lại bắt 72 người ấy phải chịu chôn sống để chết theo vua.Sau bà hối hận, dựng 72 ngôi chùa để siêu độ các oan hồn. Chùa Một Cột này là một trong 72 ngôi chùa ấy.<br>https://truyencotich.vn/truyen-co-tich/co-tich-viet-nam/su-tich-chua-mot-cot.html</div>]]></description>
         <enclosure url="https://truyencotich.vn/truyen-co-tich/co-tich-viet-nam/su-tich-chua-mot-cot.html" />
         <pubDate>2022-10-06 13:49:33 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2329410993</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhà Hát Lớn</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2329412182</link>
         <description><![CDATA[<div><br>Nhà hát lớn ở Hà Nội là 1 trong những công trình kiến trúc lớn do chính quyền thực dân Pháp xây dựng lên trong những năm đầu của thế kỷ XX. Nhà hát được khởi công xây dựng từ những năm 1901 và được hoàn thành vào năm 1911.<br><br></div><div><br>Tác giả của đồ án thiết kế công trình này là do 2 kiến trúc sư Harlay và Broyer. Và để hoàn thành lên công trình kiến trúc đồ sộ này thì bản thiết kế nhà hát đã phải sửa đổi khá nhiều với những góp ý chân thành của kiến trúc sư.<br><br></div><div><br>Công trình nhà hát lớn Hà Nội được khởi công vào ngày 07/06/1901 dưới sự giám sát kỹ thuật của thanh tra đô thị – KTS. Harlay – một trong hai tác giả thiết kế chính của công trình. Người phụ trách <a href="https://gotrangtri.vn/goc-rieng/nhat-ky-thi-cong-noi-that/">thi công</a> thiết kế là hai ông Travary và Savelon.<br><br></div><div><strong><em>1.2. Vị trí<br></em></strong><br></div><div><br>Nhà hát lớn Hà Nội có tọa lạc nằm trên quảng trường Cách mạng tháng Tám, và tầm view nhìn thẳng ra con phố Tràng Tiền. Vị trí xưa nay vẫn là một trong những khu vực rất sầm uất và bậc nhất của thành phố Hà Nội.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://phanmemquanly.hanoitourist.online/web/image/161548" />
         <pubDate>2022-10-06 13:50:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2329412182</guid>
      </item>
      <item>
         <title>cột cờ Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2329424570</link>
         <description><![CDATA[<div>Cột cờ Hà Nội được xây dựng vào năm 1812 dưới thời vua Gia Long triều Nguyễn và nằm tọa lạc trên phần đất phía nam của Hoàng Thành Thăng Long.<br><br></div><div>Cột cờ Hà Nội có 3 tầng đế và một thân cột. Đây là một trong số ít những công trình kiến trúc thuộc khu vực thành Hà Nội may mắn thoát khỏi sự phá hủy của chính quyền Pháp từ năm 1894 – 1897.<br><br></div><div>Ngày 10/10/1954, lần đầu tiên, lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên đỉnh Cột cờ Hà Nội. Cột cờ Hà Nội, nơi chứng kiến biết bao thăng trầm của đất nước, là kỳ đài sừng sững, hiên ngang và chính là biểu tượng vinh quang và niềm tự hào của dân tộc Việt Nam tự do, độc lập.<br><br></div><div>Với kiến trúc đậm màu cổ kính và gắn liền với những dấu tích lịch sử bi tráng và hào hùng, cột cờ Hà Nội khiến mỗi người khi đến đây đều không khỏi bồi hồi, xao xuyến. Đứng từ trên đỉnh cột cờ nhìn xuống, bạn được chiêm ngưỡng toàn bộ khu bảo tàng quân sự Việt Nam cùng công viên Lê-nin tuyệt đẹp.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://sohanews.sohacdn.com/thumb_w/660/2018/2/13/photo1518501493347-1518501493347422943307.jpg" />
         <pubDate>2022-10-06 13:56:29 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2329424570</guid>
      </item>
      <item>
         <title>sự tích nhà hát lớn Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2329432105</link>
         <description><![CDATA[<div>Ngay từ khi đặt chân đến Hà Nội vào năm 1883, chính quyền Pháp tại Việt Nam đã có ý định xây dựng một khu trung tâm văn hóa – nghệ thuật để phục vụ cho nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của họ.&nbsp;</div><div>Nhà hát lớn Hà Nội được khởi công xây dựng vào năm 1901, và sau 10 năm mới hoàn thành. Tuyệt tác nghệ thuật được thiết kế bởi hai kiến trúc sư Broyer và Harley, về sau có thêm sự cộng tác của kiến trúc sư François Lagisquet, họa theo mô hình nhà hát Opéra Garnier nguy nga ở Paris. Vì thế, Nhà hát lớn Hà Nội mang đậm dấu ấn kiến trúc châu Âu cổ điển, hoàn hảo đến từng chi tiết, đem lại không gian nghệ thuật hàn lâm và sang trọng bậc nhất Đông Dương.&nbsp;</div><div>Ngay khi Nhà hát lớn hoàn thiện, người Pháp đã tổ chức các chương trình biểu diễn nghệ thuật nhạc kịch, kịch câm, hòa nhạc giao hưởng, múa ballet... với mục đích thưởng thức cũng như đưa văn hóa Pháp vào Việt Nam.</div><div>Sau năm 1945, Nhà hát lớn Hà Nội trở thành địa điểm hội họp của Chính phủ, Quốc hội, những cuộc duyệt binh của Quân đội, nhiều đoàn kịch nói của Việt Nam đã có thể thuê nhà hát để biểu diễn. Cùng với sự hình thành tầng lớp thị dân Hà thành và trí thức mới, Nhà hát lớn Hà Nội trở thành nơi sinh hoạt nghệ thuật sôi nổi của giới nghệ sĩ Việt Nam lúc bấy giờ.</div><div><br></div><div>Nguồn ảnh: vnexpress</div><div>Sau khi người Pháp rút khỏi Hà Nội, Chính phủ Việt Nam vẫn tiếp tục bảo tồn và phát triển Nhà hát lớn theo đúng chức năng ban đầu của nó. Đến cuối thế kỷ 20, sau hơn 80 năm tồn tại, Nhà hát lớn Hà Nội rơi vào tình trạng xuống cấp trầm trọng, nên Chính phủ Việt Nam đã quyết định cho trùng tu công trình. Dự án bắt đầu từ năm 1995 và đến năm 1997 thì hoàn thành, dưới sự giám sát của kiến trúc sư người Pháp gốc Việt Hồ Thiệu Trị. Đây cũng là lần trùng tu Nhà hát đầu tiên và duy nhất đến giờ.</div><div>Ngày nay, Nhà hát Lớn Hà Nội là một trong những nhà hát có quy mô lớn nhất Việt Nam, cùng nhiều chương trình biểu diễn nghệ thuật hàn lâm, và cũng là địa điểm thu hút du khách khi đặt chân đến Hà Nội.</div><div><strong><br>Kiến Trúc Nhà Hát Lớn Hà Nội</strong></div><div><br></div><div>Nguồn ảnh: hanoioperahouse&nbsp;</div><div>Nhà hát Lớn Hà Nội nằm trên Quảng trường Cách Mạng Tháng Tám, nhìn ra phố Tràng Tiền – khu vực sầm uất bậc nhất thủ đô, với diện tích xây dựng khoảng 2.600m2. Đặc biệt, bên phải nhà hát là khách sạn Hilton Hanoi Opera, cũng là một công trình của Pháp. Những đường nét cổ điển của khách sạn đã giúp làm cho toàn bộ không gian của quảng trường thêm sang trọng, bề thế, và làm tôn lên vẻ đẹp của Nhà hát lớn.</div><div>Nhà hát lớn Hà Nội được phỏng theo mẫu của Nhà hát Opéra Garnier ở Paris, nhưng tầm vóc nhỏ hơn. Các vật liệu sử dụng trong công trình cũng được thay đổi để phù hợp với điều kiện khí hậu ở Việt Nam. Từ cách tổ chức mặt bằng, đến cách bài trí, thiết kế của Nhà hát lớn Hà Nội đều tương đồng với các nhà hát ở châu Âu đầu thế kỷ 20.</div><div>Nhà hát lớn là sự kết hợp tinh tế, hài hòa giữa các kiểu kiến trúc châu Âu lúc bây giờ, và được chia thành ba khu vực rõ rệt: sảnh chính, phòng gương, và khán phòng.</div><div><br></div><div>Nguồn ảnh: hanoioperahouse&nbsp;</div><div>Sảnh chính là nơi đón khách, với phần cầu thang chữ T dẫn lên tầng hai. Phần nền ở khu vực này được lát bằng đá vân thạch, kết hợp họa tiết cổ điển cực kỳ sang trọng.</div><div><br></div><div>Nguồn ảnh: hanoioperahouse&nbsp;</div><div>Khu vực tầng hai chính là phòng gương, nơi diễn ra các nghi lễ quan trọng, các sự kiện của Chính phủ hay những buổi đón tiếp các nhân vật cấp cao. Điểm chú ý là sàn phòng gương được phục chế theo kỹ thuật lát gạch Mosaic với phần đá nhập từ Ý. Xen giữa các khung cửa trong phòng là những tấm gương lớn, cùng dàn đèn pha lê tuyệt đẹp được treo khắp phòng.</div><div><br></div><div>Nguồn ảnh: hanoioperahouse&nbsp;</div><div>Không gian trên cùng, cũng là nơi được quan tâm nhiều nhất, đó là khán phòng của nhà hát. Căn phòng được thiết kế cầu kỳ, tinh xảo với thức cột Corinth nâng đỡ toàn bộ mái vòm bích họa đầy màu sắc, xen kẽ những họa tiết đắp nổi, cùng một khối đèn chùm pha lê dát vàng nguy nga ở giữa. Khán phòng có sức chứa 870 chỗ, với ba tầng ghế được bọc nhung đỏ lộng lẫy theo phong cách cổ điển Pháp ở thế kỷ 19. Khán phòng Nhà hát lớn Hà Nội là sự tổng hòa về âm thanh, ánh sáng, và màu sắc, đem lại một không gian thưởng thức nghệ thuật hoàn hảo đến từng chi tiết.</div><div>Phía sau sân khấu là phòng trang điểm, phòng phục trang, phòng tập, cùng dãy phòng dành cho Ban quản lý Nhà hát, và thư viện.</div><div><strong><br>Về Quảng Trường Nhà Hát Lớn Hà Nội</strong></div><div><br></div><div>Nguồn ảnh: dantri</div><div>Các quảng trường ở Hà Nội được hình thành trong giai đoạn cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Trong đó, nổi bật nhất là Quảng trường Nhà hát lớn Hà Nội, gắn liền với công trình Nhà hát lớn kề bên. Sau năm 1994, quảng trường này còn được gọi là Quảng trường Cách Mạng Tháng Tám, hay Quảng trường 19/8 để đánh dấu sự kiện lịch sử đã xảy ra tại đây vào năm 1945.</div><div>Quảng trường Nhà hát lớn Hà Nội là một quần thể mang hình thái nút không gian thành phố. Xung quanh quảng trường có những công trình kiến trúc nổi tiếng như: Nhà hát Lớn Hà Nội, Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Khách sạn Hilton Hanoi Opera.</div><div>Buổi tối, khi Nhà hát lớn Hà Nội được thắp đèn lung linh, khu vực Quảng trường càng thêm sáng sủa, trở thành nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng thân quen của người dân thủ đô.</div><div><strong><br>Các Khách Sạn Gần Nhà Hát Lớn Hà Nội</strong></div><div><br></div><div>Nguồn ảnh: dantri</div><div>Xung quanh khu vực Nhà hát lớn Hà Nội có rất nhiều địa điểm lưu trú cho bạn lựa chọn từ bình dân đến cao cấp. Nếu yêu thích khu vực phố Tràng Tiền, hoặc Hồ Hoàn Kiếm, bạn có thể tham khảo một số khách sạn sau đây.https://www.klook.com/vi/blog/nha-hat-lon-ha-noi/#n5153cac7</div>]]></description>
         <enclosure url="https://www.klook.com/vi/blog/nha-hat-lon-ha-noi/#n5153cac7" />
         <pubDate>2022-10-06 14:00:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2329432105</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hà Nội 12 ngày đêm</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2329432327</link>
         <description><![CDATA[<div>Chiến tranh phá hoại miền Bắc bước sang giai đoạn quyết liệt. Trước khi xảy ra sự kiện B52 Mỹ ném bom miền Bắc khoảng một tuần, các khu dân cư ở Hà nội được lệnh phải khẩn cấp đi sơ tán. Khu phố nơi gia đình tôi ở trong ngõ chợ Khâm Thiên cũng được thông báo phải đi. Những ngày này, không khí trong khu phố và từng gia đình khẩn trương, hối hả, lo lắng. Trước đó ít hôm, ban bảo vệ khu vực, tổ dân phố đến từng nhà kê khai những người buộc phải đi sơ tán, nhắc nhở chằng buộc cửa nhà đề phòng trộm cắp. Chỉ những người đi làm cơ quan và những người thuộc lực lượng tự vệ được ở lại, còn tất cả phải đi sơ tán. Nhà tôi có ba mẹ đang đi làm, còn 3 anh em tôi và bà ngoại thuộc diện phải đi càng sớm càng tốt. Ngày 16/12 năm đó, chúng tôi lại đi vào Chương Mỹ, Hà Tây (cũ), nơi từng sơ tán trước đây. Hành lý mang theo chỉ vài bộ quần áo, gạo, bột mì và một ít thực phẩm mới mua từ tiêu chuẩn tem phiếu. Năm đó tôi 17 tuổi, đang học lớp 10 (miền Bắc hệ 10 năm) được ba mẹ giao cho chăm sóc các em.<br><br></div><div>Tuy ở nơi sơ tán nhưng ngày nào chúng tôi cũng phải xuống hầm, đêm lót rơm và chiếu ngủ ở dưới đó. Dù cách Hà Nội 16 cây số nhưng cả ngày lẫn đêm vẫn nghe tiếng gầm rú của máy bay, tiếng bom nổ, đạn bắn ở Hà nội và các vùng lân cận. Đêm 26/12 có lẽ là đêm ác liệt nhất khi mà bầu trời không một phút yên bình với đủ mọi âm thanh của bom đạn. Mới 5 giờ sáng, đã nghe đài phát thanh thông báo: B52 rải thảm bom xuống phố Khâm Thiên. Tôi không tin ở tai mình cho đến khi bản tin được nhắc lại. Chỉ kịp gọi bà và 2 em để nói vài câu rồi lấy xe đạp phóng ngay về Hà Nội vì ở đó ba mẹ tôi đang ở lại.<br><br></div><div>Về đến đầu đường Khâm Thiên, khung cảnh đổ nát suốt cả dọc phố. Biết không thể đi được, tôi phải vòng lên đê La Thành, rồi theo các ngõ tắt thường hay đi để về nhà. Mặc dù rất thông thuộc từng con ngõ, nhưng hố bom đã xóa đi tất cả khiến tôi không nhận ra đường đi dù rất quen thuộc. Nhiều chỗ vừa đạp vừa vác xe băng qua những đống nhà đổ nát. Đến đâu cũng nghe tiếng gào khóc, tiếng kêu thất thanh của ai đó tìm thấy được xác người thân. Đến ngõ Thổ Quan, bên cạnh hố bom còn bốc hơi nóng có bốn năm người đang cố moi đống gạch đổ để cứu một phụ nữ và em bé.<br><br></div><div>Về đến đầu ngõ nhà, gặp bác Siêu ở khu tập thể. Bác nói bình thản: Bố mẹ cháu đi làm rồi! Lúc đó tôi mới thở phào. Dựa xe vào góc sân, tôi chạy ra hướng đầu chợ nhưng dân phòng ngăn lại vì xe ủi đang đẩy đống gạch cao của nhà 2 tầng bị sập để cứu người. Vòng qua các hố bom, thấy từng nhóm người đang hối hả đào bới, hy vọng tìm được người còn sống dưới đống đổ nát. Những ngõ nhỏ quen thuộc mà tôi và các bạn trong khu tập thể hay đi cắt rau nuôi thỏ không còn nhận ra được nữa. Thay vào là những hố bom nối tiếp nhau khoét sâu từng con ngõ, từng khu nhà.<br><br></div><div>Quay lại về nhà, chạy lên cầu thang tôi được bác hàng xóm đưa chìa khóa mở cửa, khung cảnh trong phòng nhà tôi cũng ngổn ngang không kém. Ngói trên mái nhà rơi vung vãi, khay chén bát cũng đổ nghiêng không còn cái nào nguyên vẹn. Tiếc nhất là cái phích nước Rạng Đông vỏ bằng mây mẹ tôi mới mua theo tiêu chuẩn, chưa kịp mang đi cũng bị vỡ vụn. Trong nhà vật dụng đổ nát, bụi bám đầy nhà và phảng phất mùi khét của cháy, của thuốc bom. Qua cửa sổ, nhìn từ tầng 2 mới thấy cảnh đổ nát của trận bom. Không còn gì nguyên vẹn trong những hố bom. Hỏi chuyện bác hàng xóm, bác chưa hết bàng hoàng kể lại rằng, bác ở nơi sơ tán về từ chiều để lấy thêm đồ vì nghe tin Mỹ ngừng ném bom dịp Noel. Khoảng 10 giờ đêm nghe báo động, mọi người chạy xuống hầm, một lúc sau thì nghe ầm ầm như sét đánh, ngồi trong hầm mà cảm giác đu đưa như đánh võng…<br><br></div><div>&nbsp;Sau này đọc báo, nghe đài mới biết, đêm Khâm Thiên năm đó có 278 người chết, 290 người bị thương, có hầm bị trúng bom 41 người trú trong đó không còn ai sống sót. Số nhà 47, 49, 51 phố Khâm Thiên bị san phẳng sau đó được xây dựng Đài tưởng niệm in đậm dòng chữ: Khâm Thiên khắc sâu căm thù giặc Mỹ.<br><br></div><div>Sau này chúng tôi vào Huế sinh sống, cuốn theo cuộc sống nên ký ức ngày nào có chút phôi phai. Lần này về thăm chốn xưa lại gợi lên trong tôi hình ảnh kinh hoàng mấy chục năm về trước. Khâm Thiên còn đó, dấu tích tang thương, đổ nát năm nào được thay vào đó là phố phường nhộn nhịp, nhà cửa to hơn, đẹp hơn. Chỉ có Đài tưởng niệm có vẻ như nhỏ lại so với những khối nhà cao tầng mọc lên. Nhưng dù gì chăng nữa trong tôi cũng không thể xóa đi được hình ảnh Khâm Thiên 44 năm về trước.<br><br></div><div>Ghi vài dòng để nhớ lại và để tưởng nhớ những người đã khuất trong 12 ngày đêm năm đó. Nhớ về một thời đạn bom để yêu quý từng phút giây được sống trong hòa bình của đất nước.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://photo-cms-tpo.zadn.vn/Uploaded/2021/itmtu/2019_12_16/01d48bf1a6b14fef16a0_tdor.jpg" />
         <pubDate>2022-10-06 14:00:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2329432327</guid>
      </item>
      <item>
         <title>(Tiến Minh)ẩm thục Hà Nội:CHẢ RƯƠI</title>
         <author>ed0119310009</author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2329522208</link>
         <description><![CDATA[<div>Thu sang là lúc Hà Nội đẹp nhất, sắc vàng của cây cơm nguội trong tiết trời se lạnh khiến người ta bỗng chợt nhớ đây là thời điểm duy nhất trong năm có rươi. Chả rươi hay rươi đúc trứng từ lâu đã được coi là một đặc sản của thu Hà Nội khiến cho lòng ai dù có đi xa tới đâu cũng khó quên</div><div>Là người con của đất Hà thành, tuổi thơ của tôi gắn liền với chả cá Lã Vọng, phở bò Bát Đàn, kem Tràng Tiền và đặc biệt nhất là món chả rươi. Nếu những món đặc sản khác có thể ăn được quanh năm thì chả rươi lại là một món rất đặc biệt, chỉ có vào một thời gian rất ngắn của mùa thu. Rươi sống ở vùng nước lợ thường chỉ có vào những ngày Hà Nội chuyển mùa với cái thời tiết ẩm ương lúc nắng lúc mưa đặc trưng của tháng 9, đây là khoảng thời gian thích hợp nhất để rươi chui khỏi bùn và bắt đầu mùa sinh sản. Vì rươi là món ăn rất hiếm nên giá cả cũng không hề rẻ, với những đứa trẻ như tôi thì trong tiết trời vào thu, được mẹ làm cho món chả rươi quả là “cực phẩm”.&nbsp; Năm nào cũng vậy, cứ vào khoảng cuối tháng 9 tôi lại cùng mẹ đi lên chợ Hàng Bè, một trong những nơi bán rươi nhiều nhất tại Hà Nội có loại thực phẩm độc đáo này. Bây giờ rươi ngày càng hiếm, có khi cả mùa chỉ bán có vài hôm nên phải ra chợ thật sớm mới mua được mớ rươi về là chả. Nếu trót để lỡ dịp, nhiều gia đình đành phải lên mua chả rươi làm sẵn trên phố hàng Lược, tuy nhiên, độ tươi, ngon và chất lượng thì không thể bằng nhà làm.&nbsp; Rươi nhỏ hơn con giun đất một chút, có màu hồng lại pha xanh đỏ, nhơm nhớp, trên người đầy bùn đất, nhưng theo mẹ tôi nói thì chọn rươi phải chọn những con có màu xanh nhạt, đó mới là rươi tươi, những con có màu đỏ hoặc nâu thì là rươi ươn, ăn sẽ mất vị. Rươi nhỏ hơn con giun đất một chút, có màu hồng lại pha xanh đỏ, nhơm nhớp, trên người đầy bùn đất, nhưng theo mẹ tôi nói thì chọn rươi phải chọn những con có màu xanh nhạt, đó mới là rươi tươi, những con có màu đỏ hoặc nâu thì là rươi ươn, ăn sẽ mất vị.&nbsp; Rươi nhỏ hơn con giun đất một chút, có màu hồng lại pha xanh đỏ, nhơm nhớp, trên người đầy bùn đất, nhưng theo mẹ tôi nói thì chọn rươi phải chọn những con có màu xanh nhạt, đó mới là rươi tươi, những con có màu đỏ hoặc nâu thì là rươi ươn, ăn sẽ mất vị. Nhìn cô bán hàng múc từng rổ rươi tươi rói cho vào túi, mang theo về nhà mà tôi thấy lòng vừa sợ vừa háo hức được chiêm ngưỡng cách bà và mẹ sơ chế loài sinh vật nhỏ này.&nbsp; Nói đến rươi là người ta nghĩ ngay đến món chả rươi nổi tiếng. Chả rươi có vị ngậy ngậy, ngọt béo từ thịt rươi, thơm nồng của trứng gà, cay cay thanh thanh của vỏ quýt, tất cả các hương vị hòa quyện lại với nhau tạo ra một món ăn mà chỉ cần nếm thử một lần sẽ nhớ mãi không quên.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1609853128/bce0267a96495a5aa7a0e1158787ff94/ch__m_c.jpg" />
         <pubDate>2022-10-06 14:47:20 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2329522208</guid>
      </item>
      <item>
         <title>(Tiến Minh)ẩm thực Hà Nội:Bún chả</title>
         <author>ed0119310009</author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2329540267</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;Việt Nam ta không thiếu những món ăn ngon. Ta có hằng hà sa số những món ngon mà độc đáo, từ bộ sưu tập những món bún, phở, bánh canh có thể so sánh ngang tầm với văn hoá pasta của Ý, những cái tên đình đám trong ẩm thực đường phố, cho đến những món ăn trong mâm cơm mẹ nấu hằng ngày, tất cả đều mang một hương vị đặc trưng Việt Nam, không lẫn vào đâu được.&nbsp; Nếu nhìn qua, bún chả không phải là một món ăn đặc biệt. Đi dọc đất nước, ta sẽ không khó để bắt gặp những món ăn có kết cấu tương tự như bún chả Hà Nội. Vì xét ra, nguyên liệu chính của bún chả đều là những thứ bán ở chợ mỗi ngày. Không cần cả tủ gia vị gia truyền như bún bò hay phở, cũng chẳng cần phải chờ mùa như rươi như ốc, cũng không phải chuẩn bị đủ thứ cầu kì như bún thang, bún mắm… bún chả của Hà Nội xét về phương diện nào đó thì giản dị đến dễ thương. Ta chỉ cần có bún, có thịt ba chỉ, thêm vài món có sẵn trong nhà là hành khô, tỏi, ớt, chịu khó đi mua thêm đu đủ, cà rốt và bó rau sống là xong rồi. Nguyên liệu đã dễ tìm, cách làm bún chả cũng không phải thuộc loại quá phức tạp.Cũng chỉ cần ướp thịt rồi đem nướng trên than, rau củ thì xắt ra và ngâm cho giòn, sau đó xếp tất cả mọi thứ với nhau là món bún chả về căn bản đã xong rồi.</div><div>Nhìn tổng quan thì bún chả có vẻ như không có gì đặc biệt, thế nhưng tại sao ăn xong bữa bún chả Hà Nội ta lại thèm thế? Và lạ thay rằng, chỉ ở đất Hà Thành, nơi mà người ta kỹ lưỡng về mùi vị đến từng cái gắp đũa, bún chả mới thực sự là tinh hoa.Ai mà kỹ tính thì còn phải bọc thêm một lớp lá lốt bên ngoài chả rồi mới đem nướng, để miếng chả không bị sạm và dậy mùi hơn nữa.</div><div>Đối với chả miếng, người ta phải chọn thịt ba chỉ đủ mỡ đủ nạc, đem ướp qua đêm rồi mới nướng. Và chính sự hài hoà trong cách gia giảm gia vị của người Hà Nội đã khiến cho miếng chả có mùi vị không thể lẫn vào đâu được.</div><div>&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1609853128/be0ab23405c3047d061e2f4619fb90de/banh_tom_ho_tay_ha_noi_mytour_1.jpg" />
         <pubDate>2022-10-06 14:56:20 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2329540267</guid>
      </item>
      <item>
         <title>làm bài đi kim ngân ơi</title>
         <author>ed0119310009</author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2329541569</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-10-06 14:57:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2329541569</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Khu phố cổ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2329550879</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Khu phố cổ là nơi hội tụ của 36 phố phường buôn bán sầm uất có bề dày gần một ngàn năm lịch sử. Mỗi tên phố thường mang đặc trưng của một ngành nghề thủ công truyền thống như: Hàng Bông, Hàng Gai, Lò Rèn, Hàng Đường,...</strong></div><div>Với diện tích khoảng 100 ha, nằm ở phía Đông Kinh thành Thăng Long xưa, Khu phố cổ có lối kiến trúc khá độc đáo. Các ngôi nhà mái ngói nhỏ bé, thường có sân chung, lô nhô nối tiếp nhau từ dãy phố này đến dãy phố khác. Đến đây, du khách sẽ bị hấp dẫn bởi những giá trị văn hóa phi vật thể sống động với những di tích như: chùa cổ, đình làng, đền, miếu, quán... và cả những nhà thờ tộc với các lễ hội phong phú diễn ra thường niên trên các phố phường của Khu phố cổ Hà Nội.<br><br></div><div>Qua tư liệu cũ để lại, khu vực sầm uất đông vui nhất của Hà Nội xưa là huyện Thọ Xương (tức quận Hoàn Kiếm và Hai Bà Trưng hiện nay) mà người ta quen gọi là Khu phố cổ. Nơi đây là cửa hàng cửa hiệu buôn bán hay sản xuất hàng thủ công chen vai sát vách nhau tạo thành những dãy phố, mỗi phố bán một mặt hàng hay hành một nghề riêng biệt và người ta lấy luôn tên sản phẩm để đặt tên cho phố.<br><br></div><div>Các phố được ngăn với nhau bởi những chiếc cổng lớn xây như bức tường mà bề rộng chiếm cả mặt đường. Trong mỗi phố là những dãy nhà san sát làm theo kiểu chồng diêm mà nay ta còn thấy ở các phố Hàng Buồm, Hàng Bạc, Hàng Ngang, Hàng Đào... Nó vừa là nhà ở lại vừa là cửa hiệu.<br><br>http://thegioidisan.vn/vi/pho-co-ha-noi.html</div>]]></description>
         <enclosure url="http://thegioidisan.vn/vi/pho-co-ha-noi.html" />
         <pubDate>2022-10-06 15:02:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2329550879</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Cầu Long Biên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2329553980</link>
         <description><![CDATA[<h1>Cầu Long Biên - “chứng nhân” lịch sử</h1><div>10/10/2019 16:09 |&nbsp; 0</div><div><strong><br>(HNMCT) - 4h chiều ngày 9-10-1954, những tên lính Pháp cuối cùng đã rút khỏi Hà Nội qua cầu Long Biên xuống vùng đệm Hải Phòng. Sáng ngày 10-10-1954, bên phải cầu, bộ đội ta hồ hởi trở về tiếp quản Thủ đô. Cái ngày cây cầu trở thành "chứng nhân" lịch sử cho sự kiện Thủ đô được giải phóng ấy, thấm thoắt đã tròn 65 năm...<br></strong><br></div><div><strong><br>Công trình của người thợ Việt<br></strong><br></div><div><br>Để thực hiện chính sách khai thác thuộc địa tại Việt Nam, năm 1897, Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer đã quyết định xây một cây cầu bắc qua sông Hồng, đó chính là cầu Long Biên. Khi công bố kế hoạch xây cầu, ngay cả những quan chức thân cận với Paul Doumer cũng nghi ngờ nhiều hơn ủng hộ. Nhưng Paul Doumer vẫn quyết định cho xây cầu và đặt thời gian hoàn thành là 5 năm. Trong 6 công ty tham gia thầu, chỉ có Daydé et Pillé trúng thầu vì đưa ra thiết kế kiểu dầm chìa đỡ hai bên và giá thành rẻ hơn 3.000 france. Theo thiết kế, cầu Long Biên có 19 nhịp gồm 2 nhịp tiếp giáp hai bờ dài 78,7m, 9 nhịp dài 75m xen kẽ với 8 nhịp dài 106,2m, đặt trên 20 trụ. Chiều dài cây cầu cộng thêm phần dẫn tổng cộng là 2.500m. Chính tay Paul Doumer đã gắn tấm biển khắc ngày khởi công 12-9-1898 lên đầu cầu.&nbsp;<br><br>Ban đầu, nhà thầu chủ yếu thuê thợ Trung Quốc vì cho rằng người Trung Quốc to khỏe, lại từng tham gia các công trình lớn. Nhưng sau một thời gian, hơn 40 đốc công, kỹ sư nhận thấy thợ Việt Nam rất khéo tay. Trong bài Cây cầu Long Biên, Paul Boudet (Giám đốc Sở Lưu trữ và Thư viện Đông Dương năm 1917) đã viết: “Chính nhân công bản xứ đã lắp ghép các thanh sắt, điều khiển những máy móc mạnh mẽ để cẩu trục các cây sắt lớn và lắp đặt những đinh tán. Lúc đầu thợ tán đinh phần lớn là thợ Trung Quốc vì họ khỏe hơn người An Nam nhưng dần sau đó, thợ An Nam đã gạt bỏ họ. Người An Nam dù sức có yếu hơn nhưng họ năng động và khéo léo...”.<br><br></div><div><br>Dù áp dụng công nghệ tiên tiến nhất thời kỳ đó nhưng cầu Long Biên vẫn gặp phải những khó khăn khi thi công các mố trụ. 20 trụ cầu sâu hơn 30m so với mặt nước vào mùa cạn là thách thức rất lớn. Để công nhân có thể làm việc trong điều kiện áp suất cao và thiếu ô xy dưới đáy hố móng, các kỹ sư đã chọn thợ người Việt vì khả năng chịu đựng dẻo dai. Sau khi đưa công nhân xuống hố trụ, họ cho thắp đèn điện công suất lớn rồi bịt kín miệng và bơm không khí xuống. Tuy vậy, công nhân xây móng chỉ có thể làm việc tối đa 4 giờ là phải đưa lên bờ và đổi kíp khác. Lúc cao điểm, công trường có tới 3.000 thợ người Việt.&nbsp;<br><br></div><div><br>Không chỉ nhân công người Việt, cầu Long Biên sử dụng tới 75% vật liệu trong nước, gồm 30.000m3 đá, hàng vạn mét khối gỗ lim lát mặt hai bên cánh gà lấy từ Thanh Hóa, hàng vạn tấn vôi chuyển từ Huế ra và hàng triệu tấn xi măng Hải Phòng. Khởi công ngày 12-9-1898 nhưng đến ngày 3-2-1902, nghĩa là chỉ hơn 3 năm, cầu đã hợp long. Lúc 8h30 ngày 28-2-1902, lễ khánh thành cầu được tổ chức. Vào thời điểm đó, Long Biên là cây cầu dài thứ hai thế giới, sau cầu Brooklyn ở Mỹ. Chính quyền thực dân đã lấy tên Toàn quyền Paul Doumer đặt cho cây cầu, nhưng dân chúng vẫn quen gọi là cầu Sông Cái. Cái tên Long Biên là do Thị trưởng Trần Văn Lai đặt năm 1945 với ý nghĩa cầu nằm trên đất thành Long Biên xưa.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<br>Khi cầu Long Biên hoàn thành, đường sắt trên cầu cũng xong để chuẩn bị khớp nối với tuyến đường sắt Hà Nội - Phủ Lạng Thương. Cũng năm 1902, tuyến đường sắt Hà Nội - Hải Phòng dài 100km bắt đầu được xây dựng để phục vụ cho việc chuyên chở hàng hóa từ cảng về Hà Nội. Trong 10 năm đầu chỉ có người đi bộ, xe tay, ô tô con mới được qua cầu, còn xe tải từ Hà Nội đi các tỉnh phía Đông và phía Bắc hoặc ngược lại phải đi phà Cầu Đất. Để ô tô tải qua lại được, năm 1922, chính quyền cho mở rộng hai bên cánh gà, mỗi bên rộng 3,2m và 40cm dành cho người đi bộ. Lan can bằng sắt và gang do thợ sắt phố Lò Rèn thực hiện. Việc thi công hoàn thành vào năm 1924. Để giảm tải cho ga Hàng Cỏ, chính quyền cho xây thêm ga bên nội thành, đặt tên là ga Đầu Cầu (sau đổi thành ga Long Biên). Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954), do thiết bị, hàng hóa quân sự của quân đội Pháp vận chuyển bằng ô tô từ Hải Phòng về Hà Nội với khối lượng quá lớn khiến cầu có nguy cơ không cân nên người ta đã thay đổi chiều đi - về hai bên. Vì thế mới có chiều đi từ Hà Nội ở bên tay trái và chiều về Long Biên ở bên tay phải như ngày nay.<br><br></div><div><strong><br>“Chứng nhân” lịch sử<br></strong><br></div><div><br>Cầu Long Biên là “chứng nhân” quan trọng bởi gắn bó với những thăng trầm lịch sử và nhiều sự kiện đáng nhớ của Hà Nội. Đặc biệt là hình ảnh những tên lính viễn chinh Pháp cuối cùng rút khỏi Hà Nội qua cầu Long Biên và bộ đội ta tiến vào tiếp quản Thủ đô theo Hiệp định Genève. Chế độ cai trị của thực dân Pháp tại Việt Nam chính thức được đặt dấu chấm hết vào ngày 10-10-1954.<br><br></div><div><br>Trong chiến tranh chống Mỹ, cầu Long Biên là cây cầu duy nhất chuyên chở hàng hóa bằng đường bộ, đường sắt từ cảng Hải Phòng và biên giới phía Bắc về Hà Nội rồi tỏa đi các nẻo đường chi viện cho chiến trường miền Nam, vì thế cây cầu trở thành trọng điểm đánh phá của không quân Mỹ. Từ 1965 - 1972, máy bay Mỹ đã 14 lần ném bom và bắn rốc két phá hủy cầu. Thiệt hại lớn nhất là trận bom ngày 10-9-1972 làm gãy gục 3 nhịp, hư hại 4 trụ và hỏng 1.500m cầu. Ngay sau khi Mỹ buộc phải ngừng ném bom Hà Nội, ngày 30-12-1972, công nhân đường sắt đã bắt tay vào sửa chữa, đến ngày 11-2-1973 đã thông đường sắt và đường ô tô.<br><br></div><div><br>Cầu Chương Dương và cầu Thăng Long cùng được hoàn thành năm 1985 đã giảm tải đáng kể cho cầu Long Biên. Trải qua hơn một thế kỷ, đến nay cầu Long Biên hằng ngày vẫn phục vụ nhu cầu đi lại của người dân Hà Nội. Cây cầu trở nên thân thuộc với những người sinh sống, làm việc ở Thủ đô và vùng ngoại thành. Nhiều năm trở lại đây, cầu Long Biên và bãi giữa sông Hồng đã trở thành điểm du lịch yêu thích của du khách trong và ngoài nước. Hằng ngày, mỗi buổi sáng sớm và chiều tà, từng đoàn khách với đủ quốc tịch lại háo hức đi dạo trên lối đi dành cho người đi bộ, thích thú ngắm nhìn dòng xe đạp, xe máy chạy chầm chậm hay ghi lại những hình ảnh thơ mộng trên cầu.<br><br></div><div><br>Hà Nội dự kiến sẽ xây dựng cầu Tứ Liên và cầu Trần Hưng Đạo bắc qua sông Hồng. Khi hai cây cầu này hoàn thành, cầu Long Biên - biểu tượng kiên cường, hiên ngang của Hà Nội trong suốt những năm tháng kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ sẽ “thảnh thơi” hơn. Khi đó, cây cầu hơn 100 tuổi này không chỉ tiếp tục là một địa điểm du lịch hấp dẫn mà còn có thể là nơi tổ chức nhiều hoạt động văn hóa hấp dẫn của Thủ đô.<br><br>https://nhipsonghanoi.hanoimoi.com.vn/tin-tuc/Xua-va-nay/821345/cau-long-bien---chung-nhan-lich-su</div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://nhipsonghanoi.hanoimoi.com.vn/tin-tuc/Xua-va-nay/821345/cau-long-bien---chung-nhan-lich-su" />
         <pubDate>2022-10-06 15:03:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2329553980</guid>
      </item>
      <item>
         <title>(Tiến Minh)ẩm thực HÀ NỘI:NEM PHÙNG</title>
         <author>ed0119310009</author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2329555743</link>
         <description><![CDATA[<div>Kẻ Phùng xưa – thị trấn Phùng hiện nay thuộc huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội từ lâu đã là địa danh nổi tiếng với rất nhiều món ăn dân dã, nhưng được biết đến nhiều hơn cả vẫn là món nem Phùng&nbsp; với câu ca dao thân thuộc: “Nem Phùng ăn với lá sung. Để người tứ xứ nhớ nhung nem Phùng”.</div><div>Với cách chế biến tỉ mỉ, được kết hợp bởi những nguyên liệu mộc mạc, giản dị của làng quê Việt Nam, nem Phùng đã thực sự trở thành đặc sản ẩm thực độc đáo của vùng đất ven đô Thăng Long-Hà Nội.</div><div>Đến gia đình ông bà Bùi Ngọc Thái, Nguyễn Thị Cam nổi tiếng bởi 4 đời liên tục gắn bó với nghề làm nem để được chứng kiến cách chế biến một chiếc nem Phùng cầu kỳ và tỉ mỉ đến thế nào. Thịt lợn mang về được người làm nem Phùng hấp cách thủy, rồi vớt ra lọc lấy lớp bì riêng, thịt nạc riêng, mỡ riêng. Bì lợn được thái chỉ nhỏ, lăn tăn như sợi miến nhưng cũng đòi hỏi bàn tay cầm dao thái phải đưa thật đều, thật thuần thục.&nbsp; Thịt lợn sau khi thái con chì sẽ được trộn đều với bì thái chỉ, thính gạo rang vàng thơm rồi chia thành từng gói có lá sung, lá ổi, đem gói lại vuông vắn như chiếc bánh chưng xinh bằng lá chuối, buộc lạt hồng điều, nom rất đẹp mắt.&nbsp; Kế thừa bí quyết làm nem Phùng từ bố chồng là cụ trùm Học nổi tiếng cả thị trấn với nghề làm nem từ những năm 30 – 40 của thế kỷ trước. Bà bảo, gạo nếp cái hoa vàng, gạo tẻ được pha trộn theo tỉ lệ 7 phần gạo tẻ, 3 phần gạo nếp phải được rang thật đều tay, đều lửa, củi than phải là củi gỗ mới cháy đều và đượm. Khi rang phải khuấy đều, nhanh, có vậy thính mới khô và có màu nâu sáng hấp dẫn. Gạo rang xong được đem vào cối xay nghiền cho mịn tơi, thơm lừng là đạt yêu cầu cho một mẻ thính.</div><div>Theo chị NguyễnThị Thúy Hồng, cán bộ Ủy ban Nhân dân thị trấn Phùng, hiện nay, hầu như gia đình nào ở Phùng cũng biết làm nem để dùng trong gia đình, chiêu đãi bạn bè, người thân trong những dịp liên hoan, lễ, Tết. Còn chuyên nghề làm nem với số lượng lớn thì có khoảng gần chục hộ.</div><div>Mỗi ngày, mỗi hộ bán hàng chục kg nem Phùng cho khách mang đi làm quà khắp mọi miền đất nước và đem ra cả nước ngoài với giá trung bình 40.000 đồng/kg.</div><div>Nói về đặc sản nem Phùng, ông Trần Minh Nhương, Hội viên Hội Văn nghệ dân gian thành phố Hà Nội, nguyên Trưởng phòng Văn hóa huyện Đan Phượng cho rằng: “Thật khó có đặc sản ẩm thực nào lại có sức hấp dẫn, pha trộn hài hòa nhiều hương vị và màu sắc như nem Phùng“.</div><div>Bởi lẽ, mỗi chiếc nem thường được gói bằng lá chuối tươi xanh mướt, bên trong là một ít lá sung, lá ổi màu xanh đậm, một chút sợi bì lợn màu trắng đục, thịt nạc mầu nâu nhạt, thính gạo rang vàng thơm. Khi thưởng thức, thực khách tự tay mở chiếc nem ra sẽ thấy như một bông hoa vừa được hé nở mà lá sung, lá ổi là cánh hoa, thính, bì, thịt lợn là nhụy, trông thật tuyệt vời.   :)</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1609853128/2dc640f2067be05d028feff5610daa3e/images.jpg" />
         <pubDate>2022-10-06 15:04:29 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2329555743</guid>
      </item>
      <item>
         <title>(Tiến Minh)ẩm thực Hà Nội:Hồng xiêm Xuân Đỉnh</title>
         <author>ed0119310009</author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2333649089</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;Hồng xiêm Xuân Đỉnh có mùi thơm và vị ngọt mát không nơi nào có thể bì được. Bên cạnh cam Canh, bưởi Diễn… hồng xiêm Xuân Đỉnh cũng là niềm tự hào, là món quà quý biếu người thân của người Hà Nội. ường như người Việt thích lấy tên địa danh để chỉ các đặc sản, bởi thế mà đã có các cái tên như: mận Bắc Hà, xoài Mộc Châu, bưởi Đoan Hùng… Cũng như thế, loại hồng xiêm ngon ngọt mang tên vùng đất Xuân Đỉnh. Những gia đình gốc Hà Nội ở vùng này đều có đất rất rộng cùng với một khu vườn lớn chỉ trồng toàn hồng xiêm.Hồng chín cây thơm ngon và có vị ngọt rất thanh mát. Từng quả hồng xiêm hình thon thon, chín cây mà vẫn chắc nịch chứ không mềm, nát như hồng xiêm ở các vùng khác. Hồng Xuân Đỉnh có hình giống quả trám, vỏ màu vàng đất. Vỏ hồng xiêm mỏng lắm, mỏng đến nỗi chỉ cần người gọt không khéo léo thì sẽ bỏ đi rất lãng phí. Tuy lớp vỏ mỏng nhưng lại bao bọc bên trong những thớ hồng xiêm căng mọng, mịn màng khi ăn không gây cho người ta cảm giác rát lưỡi hay cảm giác lạo xạo như ăn các loại hồng xiêm khác.Hồng ở các vùng miền khác quả to hơn, tròn trịa và có vị hắc, khi ăn lại có cảm giác như có lẫn những hạt cát nhỏ li ti trên lưỡi.Hồng xiêm Xuân Đỉnh có hương thơm và vị ngọt rất đặc biệt. Hồng được trồng trên đất Xuân Đỉnh khi bổ ra có mùi thơm dịu, những miếng hồng xiêm khi cắt màu mật ong óng ả.</div><div>Tuy ngọt dịu nhưng dư vị đọng lại trong lòng người thưởng thức rất khó phai. Những người khách đến với nơi này khi về đều lựa chọn hồng Xuân Đỉnh về làm quà cho người thân và những người Hà Nội khi đi xa chẳng thể nào quên. Những người nơi khác đến không biết thì phải nắn đi nắn lại mà vẫn không chắc hồng đã chín chưa, những người Xuân Đỉnh thì chỉ cần nhìn vỏ là đã biết được hồng đang còn xanh hay đã chín.<br>&nbsp;Hồng xiêm là loại quả chín rất nhanh, nhất là trong những ngày nắng, vì vậy khi mùa quả chín, cả một chợ bạt ngạt hồng xiêm.</div><div>Hiện nay, do cuộc sống thay đổi, nhiều gia đình đã bán đất, xây nhà nên phá bỏ vườn vì thế mà diện tích trồng hồng xiêm bị thu hẹp lại. Tuy nhiên, vẫn không có hồng nơi nào sánh được với vị ngọt ngon đặc trưng của hồng Xuân Đỉnh.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1609853128/039653c228cb18b42893ff55373a24dd/images.jpg" />
         <pubDate>2022-10-10 14:14:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2333649089</guid>
      </item>
      <item>
         <title>(Tiến MINH)ẩm thực Hà Nội:CHẢ NHÁI</title>
         <author>ed0119310009</author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2333674186</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;Chả nhái trong gia đình có thể chế biến bất cứ lúc nào nhưng nếu để bán hàng, bán quán thì từ tờ mờ sáng, các công đoạn sơ chế đã được tiến hành. Theo lời một gia đình chuyên làm chả nhái có tiếng ở làng Khương Thượng, Hà Nội thì chả nhái muốn ngon cũng cần có công thức gia truyền. Sau khi nhái được lột da, lọc lấy thịt sẽ không được rửa lại, không để dính nước mà đem giã ngay, nhuyễn mịn như giò. Chả nhái là món ăn dân dã đã có mặt từ xa xưa trên mảnh đất Tràng An. Ở nhiều vùng miền nông thôn phía Bắc khác cũng có chả nhái, nhưng phương cách làm chả của người Hà Nội là tinh tế, đặc biệt hơn cả.</div><div>Chả nhái là cách chế biến nhái công phu bậc nhất, cũng thơm ngon bậc nhất trong các món từ nhái. Nhái không hiếm, bắt không khó nhưng đòi hỏi thời gian ngặt nghèo. Người soi nhái, bắt nhái thường làm việc vào đêm, cặm cụi như vạc ăn đêm. Nghề soi nhái vất vả bởi người soi phải lặn lội đồng sâu, thức trắng đêm, bất kể thời tiết gió mưa mới được đôi ba cân nhái mang về làm chả.Thịt nhái sau khi giã nhuyễn được viên lại thành từng viên chả tròn trịa, rán trong mỡ lợn để đảm bảo vị ngon truyền thống. Miếng chả được chiên ngập trong mỡ sôi già, chờ tới khi từng miếng chín tới phồng to, vàng ươm là đạt yêu cầu, hương chả thơm lựng chỉ ngửi thôi đã thấy xao xuyến.</div><div>Chả nhái ăn với lá chanh, chấm nước chấm chua ngọt hòa hợp vô cùng. Vị ngọt của thịt nhái, thơm lừng của lá chanh, tê tê của ớt, thanh mát vị rau thơm trong nước chấm, ngon không mấy thứ sánh kịp.</div><div>Chả nhái dễ dàng chinh phục đủ mọi đối tượng thực khách, từ những người sành ăn khó tính tới trẻ nhỏ kén ăn, bởi miếng chả chắc ngọt, lại tinh tế và đậm đà. Khách ghé nhà chơi, bên chén rượu thân tình có đĩa chả nhái đưa đẩy vừa thơm thảo ngọt bùi, vừa nồng hậu mến khách.</div><div>Xưa đất rộng người thưa, con nhái nơi ruộng đồng thân thiết với nét thanh tao của ẩm thực Hà Nội. Ngày nay, dẫu nguồn nguyên liệu đã bị hạn chế đi nhiều, nhưng chả nhái vẫn được nhiều gia đình Tràng An gìn giữ công thức, bảo tồn hương vị truyền đời mai sau.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1609853128/aeeec3d964538c8ea20286fb7d7774b6/images.jpg" />
         <pubDate>2022-10-10 14:29:31 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2333674186</guid>
      </item>
      <item>
         <title>(Tiến Minh)ẩm thực Hà Nội:Bánh cốm hàng Than.</title>
         <author>ed0119310009</author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2333686078</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;Từ lâu, bánh cốm Hàng Than đã trở thành một đặc sản nổi tiếng của Hà Nội, không thể thiếu trong các dịp cưới hỏi, giỗ chạp và là món quà được ưa chuộng của du khách thập phương.&nbsp; Nghề bánh cốm làm quanh năm nhưng bận rộn nhất vào mùa cưới. Bắt đầu từ tháng 8 âm lịch, các cửa hàng phải hoạt động hết công suất mới đủ phục vụ.&nbsp; Theo quan niệm của gia đình, việc giữ chữ tín và tinh khiết cho những chiếc bánh cũng là giữ tinh khiết cho ngày lễ hội, ngày cưới của các cặp vợ chồng. Chính vì những suy nghĩ như vậy, cửa hàng bánh cốm Nguyên Ninh không bao giờ chạy theo lợi nhuận mà mà quên vấn đề chất lượng, ngay cả đối với khách hàng, cửa hàng cũng không bán lấy được mà khuyên những người đi chặng đường xa, dài ngày không nên mua bánh dễ bị hỏng.&nbsp; Uy tín bánh cốm Nguyên Ninh đã được khẳng định qua 6 đời làm bánh cốm. Cửa hàng số 11 Hàng Than không lúc nào vắng khách. Gian hàng không phô trương, người bán hàng chỉ cần nhanh tay xếp bánh đưa cho khách bởi trên quầy có sẵn bảng giá và cả thông báo: “Đề nghị quý khách không đổi hoặc trả lại hàng. Xin cảm ơn!”.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1609853128/46e661d197005e75b0d472dbd5c46c8a/D1236F7D_F0B3_40E6_A9E7_6C9A4D12FCFF.jpeg" />
         <pubDate>2022-10-10 14:37:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2333686078</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Chùa Một Cột</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2335398026</link>
         <description><![CDATA[<div>Ngày xưa, vào đời Lý, vua Lý Thái Tôn là một tín đồ nhiệt thành của đạo Phật, theo phái Vô Ngôn Thông.<br>Thuở bấy giờ, đạo Phật đang độ bành trướng, riêng triều đại này nhà vua truyền xây 95 ngôi chùa mới, trùng tu lại tất cả những tượng Phật và trong các dịp lễ lớn này đều ban tha thuế cho toàn dân.<br>Năm 1049, một hôm vua Thái Tôn nằm mộng thấy Phật Bà Quan Âm hiện ra, đưa nhà vua đến một tòa sen rạng ngời ánh sáng. Sau khi tỉnh dậy, Vua thuật lại câu chuyện chiêm bao cho quần thần hay. Thiền tăng Thuyền Lã, vị sư đã hướng dẫn nhà sư trên đường đạo hạnh, bàn cùng nhà vua nên dựng một ngôi chùa để nhớ ơn đức Quan Âm.Chùa Diên Hựu được dựng lên theo hình hoa sen, ở trên một cái cột lớn độc nhất giữa một cái ao trồng toàn sen gần kinh đô. Ngôi chùa kiến trúc đặc biệt theo nghệ thuật Đại la đời nhà Lý, tục gọi là chùa Một Cột. Ngày nay vẫn còn ở đất cố đô Thăng Long, ghi lại cuộc gặp gỡ kỳ ảo giữa ông vua mộ đạo với Phật Bà Á Đông.<br>Khảo dị:<br>Chùa một cột ở phía tây Thủ đô, thuộc thôn Ngọc Thanh, khu Ngoc Hà. Nơi đó nguyên có một cái hồ hình vuông, giữa hồ có một cột đá, cao chừng hai trượng, chu vi chín thước, đầu trụ đặt một tòa chùa ngói đỏ, hình như một đóa hoa sen dưới nước mọc lên, người ta gọi là chùa Nhất Trụ hay là chùa Một Cột. Chùa xây từ năm 1049, tức là năm đầu niên hiệu Sùng Hưng Đại Bảo vua Thái Tôn nhà Lý.<br>Tục truyền khi ấy vua Thái Tôn tuổi đã cao mà chưa có con trai, thường đến cầu tự ở các chùa. Một đêm nằm chiêm bao thấy đức Phật Quan Âm hiện trên đài hoa sen trong một cái hồ vuông ở phía tây thành, tay bế một đứa con trai đưa cho nhà vua.<br>Sau đó nhà vua quả sinh được con trai. Nhà vua liền sai lập chùa Một Cột để thờ Phật Quan Âm. Khi chùa làm xong, nhà vua triệu tập hàng ngàn Tăng Ni đứng chầu chung quanh, tụng kinh suốt bảy ngày đêm, và lập thêm một ngôi chùa lớn ở ngay bên cạnh để thờ chư Phật, gọi là chùa Diên Hựu.Năm 1105, vua Nhân Tôn nhà Lý cho sửa lại chùa, dựng lên một cây tháp bằng đá trắng gọi là tháp Bạch Tuynh, cao 13 trượng ở trước chùa Diên Hựu. Từ tháp Bạch Tuynh vào chùa Một Cột, đi bằng một hành lang cầu vồng. Mỗi tháng hai ngày rằm, mùng một, nhà vua cùng các hậu phi,cung tần và cận thần tới chùa lễ Phật. Đặc biệt là hằng năm cứ đến ngày tám tháng tư là ngày Phật Đản, nhà vua lại ngự ra chùa trước một đêm, giữ mình chay tịnh, ngày hôm sau làm lễ tắm Phật. Rất đông Tăng Ni và nhân dân các nơi tới dự, làm nên ngày hội lớn hàng năm ở thủ đô. Ngày ấy, trước chùa lại có một lễ lớn gọi là Lễ Phóng sinh. Lễ tắm Phật xong rồi, nhà vua đứng lên đài cao, tay cầm một con chim thả cho bay đi, rồi các tăng Ni và các nam nữ thiện tín, đua nhau mỗi người thả một con, bóng bay rợp trời.<br>Năm 1922, trường Viễn Đông Bác Cổ có sửa chữa lại, giữ theo đúng như quy chế cũ.<br>Đêm ngày 11 thánh 9 năm 1954, tay sai của thực dân Pháp, trước khi phải giao trả thủ đô cho Chính phủ và nhân dân ta, đã cố ý đặt mìn để phá hoại chùa Một Cột. Ngày sau khi tiếp quản thủ đô, chính phủ ta đã cho chiếu theo đồ dạng cũ, sửa chữa lại ngay; tháng 4 năm 1955, chùa Một Cột lại được hoàn nguyên như cũ.<br>Từ đầu 1958, cây bồ đề của đất Phật Ấn Độ kính tặng Hồ Chủ tịch nhân dịp Người đi thăm Ấn Độ, được đem trồng trong chùa.<br>Nói đến chùa Một Cột này, có một việc cần phải nói rõ là : chúng ta đọc sử về đời Lý-Trần, vẫn thấy nói đến “ An Nam tứ khí” nghĩa là bốn thứ kiến trúc lớn ở nước Nam[2], mà quả chuông ở trước Chùa Một Cột là một.<br>Theo sử cũ chép : Cũng về đời vua Nhân Tôn nhà Lý, vào năm Long Phù thứ tám (1108), nhà vua cho xuất kho một vạn hai ngàn cân đồng để đúc một quả chuông lớn gọi là Giác Thế Chung ( quả chuông thức tỉnh người đời) để treo ở chùa Diên Hựu, định mỗi khi đánh một tiếng chuông, tiếng sẽ vang đi mấy dặm. Xây một tòa phương đình toàn bằng đá xanh, cao 8 trượng, trên nóc đình bắc những đóng sắt to để treo chuông. Xây đình và đúc chuông, hơn một năm mới xong, hàng ngày các nơi phải thay nhau đưa dân phu đến phục dịch. Thân hình quả chuông không biết to lớn thế nào, chỉ biết khi đúc xong không thể nào treo chuông lên được, đành cứ phải để chuông đứng sát mặt đất, nên đánh chuông không kêu. Rồi bao nhiều lần dồn ép hàng ngàn người xúm vào ra sức vần xoay, kết cục chỉ vật ngã được quả chuông lăn kềnh trên mặt ruộng. Lúc đầu người ta còn làm mái che chuông, lâu ngày chẳng ai đoái hoài, mặc cho chuông nằm phơi mưa gió. Nơi chuông nằm lại vốn là một ruộng nước, lòng chuông trở thành cái tổ êm ấm cho từng đàn rùa chui ra chui vào. Vì vậy chuông lại được mang cái tên là chuông ruộng rùa.<br>Chuông bị dải dầu như thế đến hơn ba trăm năm. Năm 1427, bọn phong kiến nhà Minh sang xâm chiếm nước ta đã hai mươi năm, bị quân dân ta do Bình Định Vương lãnh đạo kháng chiến anh dũng, phải rút về cố thủ ở thành Đông Quan ( tức Hà Nội), rồi bị quân ta vây hãm hơn hai tháng, lương thực bị thiếu thốn, khí giới đạn dược cũng hao mòn, chúng phải vơ vét hết các đồ đồng ở dân gian, rồi đến cả phần thân trên bằng đồng của tháp Báo Thiên và quả chuông ruộng rùa này để đúc sung đạn, nhưng kết cục chúng cũng phải đầu hàng quân ta, cuốn giác về nước.<br>Về sự tích chùa Một Cột này lại có một truyền thuyết nói rằng: Bà Linh Nhân Thái hậu, vợ vua Thái Tôn nhà Lý, không sinh đẻ, tính lại cả ghen, bà sai Thái giám bắt giam 72 cung nữ có nhan sắc, thường được chầu hầu nhà vua, giam vào phòng tối ở cung Thượng Dương; tới khi vua Thái Tôn mất, bà lại bắt 72 người ấy phải chịu chôn sống để chết theo vua.Sau bà hối hận, dựng 72 ngôi chùa để siêu độ các oan hồn. Chùa Một Cột này là một trong 72 ngôi chùa ấy.<a href="https://truyencotich.vn/truyen-co-tich/co-tich-viet-nam/su-tich-chua-mot-cot.html">https://truyencotich.vn/truyen-co-tich/co-tich-viet-nam/su-tich-chua-mot-cot.html</a></div>]]></description>
         <enclosure url="https://truyencotich.vn/truyen-co-tich/co-tich-viet-nam/su-tich-chua-mot-cot.html" />
         <pubDate>2022-10-11 14:27:59 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2335398026</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lăng bác</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2335410470</link>
         <description><![CDATA[<div>Sau khi Bác Hồ muôn vàn kính yêu của dân tộc ta qua đời, thực hiện nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, ngày 29 tháng 11 năm 1969 Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết, trong đó có đoạn: “Với tấm lòng kính yêu vô hạn và đời đời nhớ ơn Hồ Chủ tịch, chúng ta phải thực hiện đến mức tốt nhất nhiệm vụ giữ gìn thi hài Hồ Chủ tịch và xây dựng Lăng của Người…”.<br><br></div><div>Ngày 18/6/1973 tại buổi lễ long trọng tháo gỡ lễ đài cũ để xây dựng Lăng Bác, thay mặt Đảng, Nhà nước, Chủ tịch Quốc hội Trường Chinh đã phát biểu:<br><br></div><div>&nbsp;“Công lao của Hồ Chủ tịch đối với dân tộc ta, Tổ quốc ta như trời như biển.Hồ Chủ tịch là nhà Mácxit Lêninit vĩ đại, là lãnh tụ vô cùng kính yêu của giai cấp công nhân và nhân dân ta, của toàn thể dân tộc Việt Nam, đồng thời là chiến sỹ lỗi lạc của phòng trào cộng sản và công nhân quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc.<br><br></div><div>Cuộc đời của Hồ Chủ tịch là một tấm gương mãi mãi sáng ngời ý chí cách mạng kiên cường, tinh thần độc lập tự chủ, lòng yêu nhân dân tha thiết, đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, tác phong gần gũi quần chúng, khiêm tốn và giản dị.<br><br></div><div>Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đời đời nhớ ơn Hồ Chủ tịch, ra sức học tập tư tưởng, đạo đức và tác phong của Người.Kiên quyết thực hiện Di chúc thiêng liêng của Người và tiếp tục sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Người.<br><br></div><div>Trung ương Đảng, Quốc hội và Chính phủ quyết định giữ gìn lâu dài thi hài Hồ Chủ tịch và xây dựng Lăng Bác tại Quảng trường Ba Đình lịch sử để mọi người có thể đến viếng và chiêm ngưỡng …”.<br><br></div><div>“Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ mãi mãi là một công trình kiến trúc có ý nghĩa chính trị và tư tưởng to lớn, thể hiện tình cảm sâu sắc của nhân dân cả nước đối với Bác Hồ kính yêu. Đây là nơi nhân dân Việt nam, từ thế hệ này đến thế hệ khác sẽ đến chiêm ngưỡng để tỏ lòng biết ơn Hồ Chủ tịch. Công trình này sẽ góp phần xứng đáng ghi lại công lao và sự nghiệp của Bác Hồ sẽ góp phần xứng đáng động viên, nhắc nhở mọi người dân Việt Nam tăng cường đoàn kết, ra sức phấn đấu làm tròn nhiệm vụ cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới. Công trình này sẽ là niềm tự hào và vinh dự của dân tộc Việt Nam ngày nay và muôn đời về sau”.<br><br></div><div>Vì vậy, xây dựng Lăng Bác là nhiệm vụ vô cùng trọng đại trước quá khứ, hiện tại và tương lai.<br><br></div><div>Làm sao để Công trình Lăng Bác xứng đáng với thời đại.Thời đại rực rỡ, huy hoàng nhất trong lịch sử vinh quang của dân tộc ta xứng đáng với Bác Hồ, người anh hùng dân tộc vĩ đại nhất và cũng là người giản dị nhất, trong sáng nhất và thật là gần gũi. Đồng thời cũng làm sao cho Lăng Bác thể hiện được tấm lòng kính yêu vô bờ bến và đời đời nhớ ơn của nhân dân ta đối với Bác.<em>Tổ Thiết kế Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (Viện Thiết kế Dân dụng) do KTS Nguyễn Ngọc Chân (Viện trưởng) chủ trì.<br></em><br></div><div>Trong Nghị quyết ngày 29/11/1969, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã nêu ra những yêu cầu cơ bản đối với công tác thiết kế và xây dựng Lăng Bác. Những yêu cầu này là phương châm chỉ đạo xuyên suốt trong quá trình thiết kế xây dựng Lăng Bác, Quảng trường Ba Đình và các Công trình về Bác sau này (Bảo tàng Hồ Chí Minh...)<br><br></div><div>Các yêu cầu là:<br><br></div><div>- “Bảo đảm giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh nguyên vẹn và lâu dài, chống được các biến động có hại của khí hậu, thời tiết, có kế hoạch giữ gìn an toàn phòng chiến tranh, phòng địch phá hoại.<br><br></div><div>- Thể hiện được tính hiện đại mà vẫn giữ được màu sắc dân tộc, trang nghiêm nhưng giản dị.<br><br></div><div>- Bảo đảm được sự thuận tiện cho nhân dân, cán bộ và khách nước ngoài đến viếng đông và liên tục; bảo đảm sự kiên cố, bền vững của công trình;<br><br></div><div>- Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ở khu Ba Đình lịch sử và sớm xây dựng xong Lăng để đồng bào ta có thể viếng và chiêm ngưỡng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong năm 1971…”<br><br></div><div>Nhưng do phải chuẩn bị kỹ về các mặt, hơn nữa năm 1972 đế quốc Mỹ lại mở lại cuộc chiến tranh phá hoại ra miền Bắc dùng máy bay B52 đánh vào Hà Nội, Hải Phòng một cách ác liệt, nên Bộ Chính trị đồng ý tạm dừng xây dựng Lăng.<br><br></div><div>*&nbsp; &nbsp; &nbsp;*<br><br></div><div>*<br><br></div><div>Sau khi Bác Hồ qua đời, Trung ương Đảng và Chính Phủ ta đã đề nghị Trung ương Đảng và Chính phủ Liên Xô giúp đỡ giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và thiết kế, cung cấp vật tư, thiết bị, cử chuyên gia sang xây dựng Lăng. Và ngày 22/7/1970, đồng chí L.Bơ-rê-giơ-nép, Tổng Bí thứ BCH Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô đã gửi thư cho đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất BCH Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khẳng định sự giúp đỡ của Liên Xô đối với Việt Nam trong việc xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.<br><br></div><div>Ngày 19/1/1970, BCH Trung ương Đảng và Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã phê duyệt nhiệm vụ thiết kế Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký (tại Quyết định số 16/CP ngày 19/1/1970).<br><br></div><div>Tháng 1/1970, Đoàn đại biểu của Ủy ban Liên lạc kinh tế với nước ngoài thuộc Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô sang nước ta chuẩn bị Hiệp định giữa hai chính phủ và nhận bản nhiệm vụ thiết kế Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.<br><br></div><div>Lăng Bác có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về chính trị, khoa học kỹ thuật và nghệ thuật kiến trúc. Thiết kế phải thể hiện được 4 phương châm mà Bộ Chính trị đã xác định là: hiện đại, dân tộc, trang nghiêm, giản dị.<br><br></div><div>Bộ Kiến trúc (nay là Bộ Xây dựng) cùng với Đoàn Kiến trúc sư Việt Nam tổ chức nhóm thiết kế phác thảo Lăng Bác trên cơ sở nhiệm vụ thiết kế đã được phê duyệt. Trong thời gian ngắn nhưng đã có 77 phương án của các cá nhân và tập thể. Trong số này chọn 5 phương án có thể hiện mô hình để báo cáo Bộ Chính trị, sau đó đã chọn 1 phương án để làm việc với Bạn.<br><br></div><div>Tháng 3 năm 1970, Việt Nam đã cử các kiến trúc sư sang Mátxcơva để cùng với Bạn tham gia thiết kế. Trong thời gian ở Liên Xô, các kiến trúc sư Liên Xô và Việt Nam đã thống nhất được 4 phương án mang về Việt Nam để trình duyệt.<br><br></div><div>Tháng 5 năm 1970, Bạn đã làm xong thiết kế sơ bộ và gửi sang Hà Nội để phê duyệt. Thiết kế sơ bộ này có rất nhiều điểm chưa đạt yêu cầu. Vì vậy Bộ Chính trị giao cho Bộ Kiến trúc, Đoàn Kiến trúc sư Việt Nam, Hội Văn học Nghệ thuật và các ngành làm công tác thiết kế, phát động cuộc thi thiết kế Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm tập hợp được nhiều tinh hoa và trí tuệ của các Kiến Trúc sư, kỹ sư, các văn nghệ sĩ, các nhà lão thành cách mạng và các tầng lớp nhân dân trong nước và ở nước ngoài.<br><br></div><div>Trong thời gian ngắn nhưng đã có hơn 200 phương án tham gia, trong đó có cả phương án của Việt kiều ở Pháp gửi về. Ban Tổ chức đã chọn ra 24 phương án có nhiều ưu điểm nhất để trưng bày lấy ý kiến của nhân dân. Cuộc triển lãm đã được tổ chức từ tháng 9 đến tháng 11 năm 1970 tại 5 địa điểm: Hà Nội, Hải Phòng, Nghệ An, Thái Nguyên, Sơn La. Đã có 745.487 lượt người đến xem và có trên 34 nghìn ý kiến tham gia. Cuộc triển lãm đã thành công tốt đẹp, tập hợp được trí tuệ của các tầng lớp nhân dân ở trong nước và kiểu bào ở nước ngoài.<br><br></div><div>Sau cuộc triển lãm, phía Việt Nam đã chọn lọc và hoàn chỉnh 1 phương án để làm việc với Bạn. Ta và Bạn đã thống nhất được phương án thiết kế sơ bộ để báo cáo lên hai Chính phủ.<br><br></div><div>Ngày 9 tháng 2 năm 1971, Hiệp định giữa hai Chính phủ về việc Liên Xô giúp Việt Nam thiết kế và xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được chính thức ký kết.<br><br></div><div>Cuối tháng 2 năm 1971, Bạn đưa thiết kế sơ bộ sang Việt Nam. Lần này phương án đã được bổ sung hoàn chỉnh theo ý kiến của phía Việt Nam, nên đã được Bộ Chính trị đồng ý và Chính phủ đã phê duyệt tại Quyết định 44 - CP ngày 4 tháng 3 năm 1971.<br><br></div><div>Từ ngày 3 đến ngày 31 tháng 12 năm 1971 tại Hà Nội, Việt Nam và Liên Xô đã trao đổi bản thiết kế kỹ thuật Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hai bên nhận thấy thiết kế kỹ thuật đã phù hợp với nhiệm vụ thiết kế sơ bộ nhưng cần bổ sung và sửa đổi một số điểm cụ thể mà hai bên thấy chưa hợp lý. Được sự đồng ý của Bộ Chính trị, ngày 31 tháng 12 năm 1971, Chính phủ đã ra Quyết định 241 - CP phê duyệt thiết kế kỹ thuật.<br><br></div><div>Như vậy thiết kế sơ bộ dự định 6 tháng đã kéo dài hơn 1 năm, thiết kế kỹ thuật kéo dài 9 tháng.<br><br></div><div>Ngày 13/9/1971, Việt Nam và Liên Xô chính thức ký bản đặt hàng và chấp thuận số <a>84/75808</a> cho Công trình Lăng. Cũng từ đó công trường xây dựng Lăng Bác còn mang tên Công trường 75808.Sau khi thiết kế kỹ thuật đã được phê duyệt, Bạn khẩn trương thiết kế thi công. Để sát hơn với điều kiện Việt Nam, ta đã cử 7 kiến trúc sư, kỹ sư thuộc các ngành xây dựng, điện, nước, thông hơi cùng Bạn tham gia thiết kế. Bạn cũng đề nghị Đoàn Việt Nam đảm nhận công tác thiết kế kết cấu, trang trí ở những vị trí quan trọng như: Sảnh chính, phòng thi hài, cửa gỗ và các cấu kiện bằng đồng.<br><br></div><div>Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh do Viện nghiên cứu thiết kế Cục Tổ chức xây dựng Mátxcơva chủ trì cùng với các viện và các viện thiết kế chuyên ngành khác. Chủ trì thiết kế là kiến trúc sư Garon Ixacovich, người đã được nhận giải thưởng Lênin về thiết kế công trình lưu niệm ở thành phố Ulianopxco quê hương Lê nin. Kiến trúc sư Garon Ixacovich cùng với 2 chuyên gia khác là Đê bốp - Viện sỹ, Giám đốc Viện Khoa học giữ gìn thi hài Lê nin người có công lớn giúp ta giữ gìn thi hài Bác và Tổng Công trình sư Metvedep, Tổng Công trình sư xây dựng Lăng Bác. Sau khi xây dựng xong Công trình Lăng đã được Nhà nước ta tuyên dương Anh hùng lao động.<br><br></div><div>Kiến trúc sư Garon còn chủ trì thiết kế Bảo tàng Hồ Chí Minh, Cung Văn hóa lao động hữu nghị Việt Xô và tượng đài Lê nin ở Hà Nội.<br><br></div><div>Theo dự kiến giữa ta và Bạn thì giai đoạn lập bản vẽ thi công và thiết kế tổ chức thi công dự định kéo dài 12 tháng và định khởi công xây dựng Lăng vào mùa khô năm 1972÷1973. Nhưng tháng 4 năm 1972 đế quốc Mỹ lại ném bom miền Bắc nên Chính phủ hoãn xây dựng Lăng.<br><br></div><div>Đầu năm 1973, Hiệp định Pari được ký kết, miền Bắc bước vào thời kỳ phục hồi và phát triển kinh tế, Chính phủ ta quyết định khẩn trương chuẩn bị mọi mặt để khởi công xây dựng Lăng vào mùa khô 1973-1974. Từ tháng 4 năm 1972 Bạn ngừng việc thiết kế Lăng Bác để thực hiện các kế hoạch khác. Vì vậy tháng 6 năm 1973 hai Chính phủ mới ký Nghị định thư về việc Liên Xô tiếp tục thiết kế và giúp đỡ xây dựng Lăng. Ta yêu cầu Bạn cố gắng giúp đỡ để Công trình Lăng hoàn thành và đưa vào sử dụng vào dịp kỷ niệm 30 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945÷1975).<br><br></div><div>Bạn thiết kế khẩn trương, nhưng vẫn không kịp tiến độ thi công, mãi đến tháng 8 năm 1974, sau 1 năm khởi công ta mới nhận được các bản vẽ thi công cuối cùng.<br><br></div><div>Nhìn chung đồ án thiết kế đã thực hiện đúng nhiệm vụ thiết kế, có chất lượng cao. Các tác giả thiết kế chính đều là những chuyên gia giỏi, có kinh nghiệm. Với tinh thần quốc tế vô sản trong sáng và với tình cảm và lòng kính yêu vô hạn đối với Bác Hồ, nên các cơ quan thiết kế và các tác giả đã làm hết sức mình để cho Lăng Bác thật sự là công trình kiến trúc vĩ đại, có độ bền vững cao, trang trí hài hòa và có các hệ thống thiết bị hiện đại, có cơ số dự phòng cao.<br><br></div><div>Tuy nhiên vì Bạn ở xứ lạnh nên chưa am hiểu hết khí hậu nhiệt đới nóng ẩm của ta nên một số mặt kỹ thuật xử lý chưa thích hợp. Bạn chưa hiểu sâu tập quán của Nhân dân ta và các chuyên gia của Việt Nam cũng mới tham gia thiết kế công trình đặc biệt này nên thiếu kinh nghiệm. Vì vậy có một số giải pháp kỹ thuật chưa hợp lý nên trong quá trình sử dụng phải bổ sung hoàn thiện.<br><br></div><div><br><br></div><div><br><br></div><div><br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-10-11 14:34:07 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2335410470</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Chùa một cột</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2335421116</link>
         <description><![CDATA[<div>xưa nay được biết đến là một vùng đất có bề dày văn hóa lịch sử hàng nghìn năm, không chỉ có danh lam thắng cảnh, mà còn có rất nhiều đền, chùa – đặc trưng cho một nền văn hóa tâm linh bao đời tiếp nối. Trong đó, ngôi chùa nổi tiếng linh thiêng và lâu đời nhất Thăng Long – Hà Nội đó là Chùa Trấn Quốc, một điểm dừng chân có giá trị về tâm linh, lịch sử, lẫn kiến trúc, đã tồn tại gần 1.500 năm.</div><div>Hiện nay, Chùa Trấn Quốc không chỉ là nơi dâng lễ, cầu an của các Phật tử mà còn là chốn vãn cảnh lý tưởng cho du khách. Vì thế, sẽ là một thiếu sót không nhỏ nếu đi <a href="https://www.klook.com/vi/city/34-hanoi-things-to-do/?from_campaign=vn_chua-tran-quoc_ao_vi-vn&amp;from_medium=content&amp;from_source=blog">du lịch Hà Nội</a> mà không ghé qua Chùa Trấn Quốc đó.Chùa Trấn Quốc là một ngôi chùa cổ kính, vẹn nguyên dáng hình như thuở tạo dựng ban đầu cách đây 1.500 năm. Ngôi chùa này nguyên là Chùa Khai Quốc, từng là trung tâm hành hương Phật giáo của cả kinh thành Thăng Long vào thời Lý, Trần.&nbsp;</div><div>Ngày nay, Chùa Trấn Quốc nổi tiếng với kiến trúc vô cùng đặc sắc, tựa như một đài sen đang nở rộ, sang trọng mà cổ kính giữa hồ nước mênh mang, tĩnh lặng, tạo cảm giác thư giãn, an yên tuyệt đối cho người hành hương.</div><div>Với những giá trị về lịch sử và kiến trúc, cửa Phật Chùa Trấn Quốc thu hút rất nhiều Phật tử và khách tham quan du lịch trong ngoài Việt Nam. Công trình đặc sắc này được tạo nên từ bàn tay tài nghệ của cha ông đất Việt, càng làm cho con cháu tự hào hơn khi liên tục được vinh danh trên các tạp chí và các trang mạng điện tử uy tín trên thế giới:</div><div>Năm 2016, báo Daily Mail bình chọn Chùa Trấn Quốc là một trong số 16 ngôi chùa đẹp nhất thế giới.</div><div>Năm 2017, trang web Wanderlust xếp Chùa Trấn Quốc vào vị trí thứ ba trong số 10 ngôi chùa đẹp vì hài hòa với môi trường xung quanh.</div><div>Năm 2019, Chùa Trấn Quốc một lần nữa có mặt trong danh sách những ngôi chùa Phật giáo có kiến trúc đẹp nhất thế giới và nên đến tham quan, theo bình chọn của tạp chí National Geographic.<a href="https://www.klook.com/vi/blog/chua-tran-quoc/">https://www.klook.com/vi/blog/chua-tran-quoc/</a></div>]]></description>
         <enclosure url="https://www.klook.com/vi/blog/chua-tran-quoc/" />
         <pubDate>2022-10-11 14:39:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/edisonkhoi4/r0ayocvz08nxakjl/wish/2335421116</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
