<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title> Dự Án “ Hồ Sơ Tác Giả “ by Thu Hương Ngô</title>
      <link>https://padlet.com/ngothuhuong10507/qazq3659ydo1jvln</link>
      <description></description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2024-03-26 03:25:35 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2024-03-26 03:34:15 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url></url>
      </image>
      <item>
         <title>Tác phẩm “ Ngậm ngùi” – Nguyễn Công Hưng</title>
         <author>nphdug</author>
         <link>https://padlet.com/ngothuhuong10507/qazq3659ydo1jvln/wish/2933404492</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>1.1 Mở bài:</strong></p><p>- Như chúng ta đều biết, phong trào thơ mới thời tiền chiến xuất hiện từ năm 1932, tính đến nay vừa tròn 90 năm. Đó là một trong những phong trào thơ rầm rộ nhất, có nhiều nhà thơ lớn và nhiều tác phẩm thơ xuất sắc đi cùng năm tháng. Câu chuyện này rất dài dòng và đây đó đã được nói đến khá nhiều, trong phạm vi bài báo nhỏ này, để làm một công việc kỷ niệm thơ mới, tôi xin được dẫn ra một trong những bài thơ rất hay của nhà thơ Huy Cận, một trong những nhà thơ tiêu biểu của nền thơ mới với lời bình thưa thoáng của tôi để thay cho một bài tiểu luận có thể phải rất dài dòng.</p><p><strong>1.2 Thân bài:</strong></p><p>&nbsp;- Thể loại: Thơ lục bát</p><p>&nbsp;- Đề tài: Tựa đề của bài thơ là “Ngậm ngùi” nên khi vào bài tác giả vẽ nên cảnh buồn của chiều vắng, nắng cũng “chia nửa bãi” như biết chia sẻ sự buồn bã của lòng người anh trai khi ra thăm mộ em gái.</p><p>&nbsp;- Cấu tứ: Cấu tứ của bài thơ là một sự kết hợp giữa câu thơ ngắn và câu thơ dài, tạo nên một sự đối lập và cân đối. Tác giả sử dụng câu thơ ngắn để tạo nhịp điệu nhanh chóng và nhẹ nhàng, mạng lại sự nhịp nhàng và mềm mại cho bài thơ. Trong khi đó, câu thơ dài được sử dụng các cặp từ hoặc cụm từ có âm tiết tương tự để tạo ra một hiệu ứng âm thanh đặc biệt. Sự lặp lại này không chỉ tạo ra một sự đa dạng và phong phú, làm cho bài thơ trở nên hấp dẫn và độc đáo. Ngoài ra, cấu tứ của bài thơ còn được xây dựng theo một sự lặp lại và song song. Tác giả sử dụng các cặp từ hoặc cụm từ có âm tiết tương tự để tạo ra một hiệu ứng âm thanh đặc biệt. Sự lặp lại này không chỉ tạo ra một sự nhấn mạnh và nhịp nhàng, mà còn tạo nên một sự liên kết và sự thống nhất trong bài thơ.</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>Đồng thời, cấu tư này cũng giúp tạo ra một hiệu ứng hài hòa và êm dịu, làm cho bài thơ trở nên dễ đọc và dễ tiếp thu. Từ cấu tứ đặc biệt này, bài thơ “ Ngậm ngùi” của Huy Cận mang đến cho người đọc một trải nghiệm tưởng tượng và cảm xúc độc đáo. Cấu trúc đa dạng và sáng tạo tạo nên một sự khác biệt và sức hút đặc biệt cho bài thơ. Bài thơ này là một ví dụ điển hình về cách sử dụng cấu tứ để tạo ra một tác phẩm văn chương độc đáo và đáng để khám phá.</p><p>- Bài thơ là tiếng nói của Huy Cận, ông sáng tác bài thơ với nỗi buồn đau thương tiếc khi về lại quê thăm mộ em gái út của mình ( chủ thể trữ tình ở đây là tác giả)</p><p>- Ở đây chủ thể trữ tình đã bộc lộ cảm xúc đau buồn khi đi học xa về thăm gia đình giờ đây lại nghe&nbsp; tin cô em gái út ( đối tượng trữ tình) mới 10 tuổi đã bị đậu mùa rồi qua đời và bài thơ cũng được ông viết sau khi thăm mộ của em gái nhỏ bạc mệnh.</p><p>- Bố cục:</p><p>+ Đoạn 1: Từ đầu đến “anh hầu quạt đây”: Cảnh một buổi chiều buồn</p><p>+Đoạn 2: Tiếp theo đến “thùy dương mấy bờ”: Lời ru của chàng trai</p><p>+Đoạn 3: Phần còn lại: Sự tiếc thương của chàng trai dành cho cô gái</p><p>- Nội dung</p><p>+ Hầu như ai cũng nghĩ “ Ngậm ngùi” được thi sĩ Huy Cận viết về mối tình yêu thương đôi lứa thông thường. Nhưng thật ra đây là bài thơ được Huy Cận viết về mối tình mối tình yêu đương đôi lứa thông thường. Nhưng thật ra đây là bài thơ được Huy Cận sáng tác với nỗi buồn đau, thương tiếc khi về lại quê thăm mộ em gái út của mình.</p><p>+ Bài thơ “Ngậm ngùi” của Huy Cận cũng được xây dựng với những hình ảnh tươi sáng và sống động, tạo nên một không gian tưởng tượng đẹp mắt và thú vị. Tác giả sử dụng hình ảnh về biển, cát, nắng, gió để miêu tả cảnh vật và tình cảm trong bài thơ. Biển được miêu tả như một bức tự nhiên hoàn hảo, với những con sóng trắng xóa và những hàng cây dừa xanh mướt. Hình ảnh này tạo ra một cảm giác mát mẻ, tự do và thư thái, như một cuộc trốn tránh khỏi cuộc sống đầy áp lực. Sóng biển được miêu tả như những điệu</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>nhảy nhót, nhịp điệu vui tươi và sức sống mãnh liệt. Nắng và gió mang đến cho ngược đọc một cảm giác ấm áp và thoải mái, như một cái ôm êm ái từ thiên nhiên. Hình ảnh trong bài thơ không chỉ mang tính chất mô tả mà còn chứa đựng những ý nghĩa sâu sắc. Biển, sóng và cát có thể hiểu là biểu tượng cho sự tự do tinh thần. Từng hình ảnh này kết hợp lại tạo nên một không gian tưởng tượng tươi sáng và tràn đầy cảm xúc. Hình ảnh trong bài thơ “ Ngậm ngùi” không chỉ đẹp mắt mà còn mang đến cho người đọc một trạng thái và cảm xúc. Từ những hình ảnh này, người đọc có thể cảm nhận được sự bình yên, sự tự do và sự hài lòng. Hình ảnh quan trọng trong bài thơ là một yếu tố quan trọng giúp tạo nên sức hút và ý nghĩa của tác phẩm.</p><p>+ Lời thơ nhẹ nhàng, êm ái như không có chuyện gì nhưng ẩn chứa một niềm đau thầm kín. Thực và mơ, tỉnh và mộng cứ đan cài hòa làm người đọc thêm bối rối. Có lẽ chính nhà thơ cũng không biết được đó là thực hay mơ nữa. Lớp lớp ngôn từ cứ thế mà xô đẩy tới, trào trào trong cơn mộng mị đến câu cuối cùng thực sự rơi vào thinh không. Cuối cùng là giọt nước mắt.</p><p>Thơ ông như nụ mùa xuân, như trái màu hè, gói gắm lại, nhưng đầy căng nhựa thơm và mật ngọt . Ông không làm mê ta bằng màu sắc và âm điệu; ông có một sức quyến rũ lạ lùng hơn, khó hiểu hơn: là mùi thơm. Thơ ông phô bày một cái gì đó thầm kín, rạo rực, thơ ông không phải là rượi đã rót vào chén, thơ ông là men đương lên; thơ ông không phải hoa sẵn trên cành, thơ ông là dòng nhựa đương chuyển.</p><p>+ Bài thơ đã dùng giọng điệu lời ru êm đềm để tỏ nỗi buồn thương, nhớ tiếc cho cả một kiếp người. Câu thơ lục bát truyền thống ở đây điêu luyện, uyển chuyển, tinh tế và đầy nhạc tính. Thuật dùng chữ của tác giả cũng thật tuyệt vời trong cách trau chuốt những từ ngữ thuần Việt đi cùng từ Hán Việt, trong cách cấu âm, phối thanh để tạo từ ngữ mới có tính âm điệu cao, mang màu sắc quý phái cao sang, giàu tính biểu cảm.</p><p>+ Các biện pháp tu từ thậm xưng, nhân hóa, hình tượng hóa... dùng đắc địa đã làm cho cảnh và tình như cùng hòa điệu trong nỗi “ sầu ngẩn ngơ”....</p><p>+ Trong Lửa Thiêng, Huy Cận luôn tìm tứ thơ và đặt làm cảm hứng vào mối tương quan</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>giữa cái hữu hạn cả cuộc đời với cái vô cùng vô tận, cái mênh mông của không gian và thời gian.</p><p>+ Và “Ngậm Ngùi” luôn gợi cho ta thấm thía về nỗi buồn man mác, mông lung trầm tích trong cõi lòng người</p><p>+ “Ngậm ngùi” luôn được đưa vào các tuyển tập thơ, nhất là thơ tình. Từ 1961, Phạm Duy, một nhạc sĩ trứ danh thời tiền chiến, ở miền Nam, đã phổ nhạc Ngậm Ngùi thành bài hát nổi tiếng. Nhạc phẩm là một bài tình ca buồn, được bà con Việt kiều rất thích, càng chứng tỏ giá trị nhân văn của tác phẩm.</p><p><strong>1.3 Kết bài</strong></p><p><strong>- </strong>Tóm lại, hình ảnh trong bài thơ “ Ngậm Ngùi” của Huy Cận là một yếu tố quan trọng tạo nên sự đẹp mắt và sức hút của tác phẩm. Tác giả sử dụng những hình ảnh tươi sáng và sống động để miêu tả cảnh vật và tình cảm, mang đến cho người đọc một trải nghiệm tưởng tượng và cảm xúc đặc biệt.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-03-26 03:30:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngothuhuong10507/qazq3659ydo1jvln/wish/2933404492</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tác phẩm “ Tràng Giang” – Nguyễn Tuyết Mai</title>
         <author>nphdug</author>
         <link>https://padlet.com/ngothuhuong10507/qazq3659ydo1jvln/wish/2933405669</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>2.1.Mở bài:</strong></p><p>- Đến với phong trào Thơ Mới, ta được hòa mình trong vườn thơ đầy hương sắc tuyệt diệu của các thi nhân. Ta không khỏi rạo rực, hứng khởi trước những vần thơ táo bạo, tràn đầy năng lượng mê hoặc của Xuân Diệu, không khỏi buồn man mác trước hồn thơ sáng trong của Thế Lữ, thổn thức trước hình ảnh thơ đầy kì dị của Chế Lan Viên, hay say sưa trước hồn thơ quê bình dị mà thân thương của Nguyễn Bính. Và đặc biệt, đến với thơ Huy Cận, ta bắt gặp nét buồn riêng biệt, độc đáo đó là một nỗi sầu rợn ngợp, u hoài, trước vũ trụ mênh mang, dường như chân trời của những nỗi buồn của nhà thơ cứ thế dài vô tận. Bài thơ “Tràng giang” là tác phẩm tiêu biểu cho nét phong cách đó của Huy Cận.</p><p>- Bài thơ được in trong tập thơ Lửa thiêng viết vào năm 1940, tác phẩm bộc lộ tâm trạng</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>u buồn của con người trước cảnh vật rộng lớn bao la, khắc hoạ sự cô đơn buồn thương đến tuyệt đối.</p><p><strong>2.2. Thân bài :</strong></p><p>- Đề tài: Cảm hứng chủ đạo trong bài thơ chính là một cái tôi cô đơn, lạc lõng và đầy nỗi ưu phiền. Bài thơ chứa đựng được bao tâm sự, nỗi niềm thầm kín của Huy Cận về cuộc đời thế sự</p><p>- Thể loại: thể thơ 7 bảy chữ</p><p>- Nội dung chính: Bài thơ bộc lộ nỗi sầu của một cái tôi cô đơn trước thiên nhiên rộng lớn, trong đó thấm đượm tình người, tình đời, lòng yêu nước thầm kín mà thiết tha.</p><p>- Chủ thể trữ tình: Tác giả( cái tôi trữ tình )</p><p>+ Cái tôi mang đầy nỗi cô đơn lạc lõng , đó là tâm hồn của một con người nhỏ bé, 1 thanh niên trẻ tuổi đa sầu</p><p>- Đối tượng trữ tình : Thiên nhiên , con người</p><p>- Cấu tứ : Tràng giang được cấu tứ trên nền cảm hứng không gian sóng đôi: Có dòng “tràng giang” thuộc về thiên nhiên trong tư cách một không gian hữu hình và dòng “tràng giang” tâm hồn như một không gian vô hình trong tâm tưởng. Đây vốn là cấu tứ quen thuộc của Đường thi.</p><p>- Yếu tố nghệ thuật: Hình ảnh thơ giàu sức gợi, mang đậm phong vị Đường thi, với những hình ảnh cổ điển tiêu biểu</p><p>- Nghệ thuật tả cảnh, đảo ngữ, phủ định lặp lại, lấy động tả tĩnh, tả cảnh ngụ tình…</p><p>+ Tiếp cận “tràng giang” trong tư cách dòng sông thiên nhiên có thể thấy một điều đặc biệt: khổ thơ nào cũng có thông điệp về nước. Thông điệp trực tiếp là các từ : “nước”, “con nước”, “dòng”... Thông điệp gián tiếp là các từ: “sóng gợi’ “cồn nhỏ”, “bèo dạt”, “bờ xanh” “bãi vàng”...</p><p>+ Tiếp cận Tràng giang với tư cách dòng sông cảm xúc trong tâm hồn lại phát hiện thêm</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>một điều thú vị nữa: Cảnh nào cũng gợi buồn. Sóng buồn vô hạn (buồn điệp điệp); gió đầy tử khí: “đìu hiu”; bến sông cô đơn vắng vẻ: “bến cô liêu”; nước với nỗi buồn trải khắp không gian: “sầu trăm ngả”.</p><p>-&nbsp; Bố cục:</p><p>+ Phần 1: Khổ thơ đầu: Miêu tả bao quát khung cảnh thiên nhiên trên sông.</p><p>+ Phần 2: Khổ thơ thứ 2 và thứ 3: Miêu tả chi tiết khung cảnh thiên nhiên trên sông, bộc lộ tâm trạng của nhà thơ.</p><p>+ Phần 3: Khổ thơ cuối: Khung cảnh trên sông lúc chiều tà, nỗi nhớ quê hương của nhà thơ.</p><p><strong>2.1. Phân tích đánh giá bài thơ:</strong></p><p>- Nội dung khái quát : : Bài thơ “Tràng Giang” đã vẽ trước mắt ta những một bức tranh hùng vĩ, với cách nhìn độc đáo vừa gần vừa xa, vừa cao vừa sâu, nhưng bao trùm không gian ấy là một nỗi buồn. Đó không chỉ là nỗi buồn cô đơn lẻ loi của chính tác giả mà còn là nỗi buồn của một thế hệ khi phải sống trong cảnh nước mất nhà ta. Bức tranh mà Huy Cận tạo nên với những hình ảnh gần gũi như sông nước bến thuyền vừa mang một vẻ đẹp vừa cổ kính vừa hiện đại. Điều đó đã tô đậm thêm sự độc đáo trong thơ của Huy Cận.</p><p>- "Tràng Giang" có nhiều đặc sắc về nghệ thuật:</p><p>- Thể thơ thất ngôn: Thể thơ này mang tính trang nghiêm, cổ kính, với cách ngắt nhịp quen thuộc tạo nên sự hài hòa.Sử dụng thủ pháp tương phản: Thủ pháp này được sử dụng triệt để trong bài thơ, tạo nên sự tương phản giữa hữu hạn/vô hạn, nhỏ bé/lớn lao, không/có.Kết hợp giữa cổ điển và hiện đại: Bài thơ vừa có ý vị cổ điển vừa có sắc màu hiện đại. Âm điệu trầm lắng và hình ảnh có tính chất ước lệ thường gặp trong thơ cổ (tràng giang, sông dài trời rộng, bến cô liêu, mây cao, núi bạc, cánh chim nhỏ, bóng chiều sa, khói hoàng hôn,…) đã tạo nên không khí cổ điển cho bài thơ. Tuy nhiên, cái nhìn và cảm xúc của con người hiện đại đã làm cho tứ thơ có sắc thái mới lạ.Sử dụng hình ảnh thiên nhiên: Hình ảnh thiên nhiên thơ mộng, mang đậm nét cổ điển, được sử dụng như một phương tiện để diễn đạt cảm xúc và tâm tư của tác giả</p><p><strong>2.2. Đánh giá khái quát nội dung nghệ thuật:</strong></p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>- Về nội dung: Bài thơ “Tràng Giang” bộc lộ nỗi buồn của một “cái tôi” cô đơn trước vũ trụ rộng lớn, nỗi sầu nhân thế, niềm khao khát hòa nhập với cuộc đời và tình cảm tha thiết đối với quê hương, đất nước mà thầm kín. Cảm hứng chủ đạo trong bài thơ chính là một cái tôi cô đơn, lạc lõng và đầy nỗi ưu phiền.</p><p>- Về nghệ thuật: Bài thơ “Tràng Giang” gợi hình ảnh một con sông dài, rộng lớn. Tác giả đã sử dụng từ Hán Việt để gợi không khí cổ kính trang nghiêm. Hình ảnh thiên nhiên thơ mộng, mang đậm nét cổ điển4. Bài thơ đã bộc lộ nỗi sầu của một “cái tôi” cô đơn trước thiên nhiên rộng lớn, trong đó thấm đượm tình người, tình đời và lòng yêu nước thầm kín mà thiết tha</p><p><strong>3. Kết bài:</strong></p><p>- Có hai thứ ấn tượng còn đọng lại sau khi đọc xong bài thơ là không gian vô cùng, vô tận của ngoại cảnh và nỗi buồn, nỗi cô đơn không giới hạn của lòng người. Cả hai như cùng kích ứng để càng rộng, càng lớn thì càng buồn, càng cô đơn khiến bài thơ như chất chứa, tích tụ nỗi sầu của cả ngàn năm lại vậy. Nhưng vượt lên trên hết, bút pháp đặc trưng và nhuần nhuyễn giữa chất cổ điển và hiện đại đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên thật đẹp dẫu có buồn. Song người đọc vẫn nhìn thấy một tình yêu quê hương đất nước thầm kín hiện lên trong Tràng giang. Tác phẩm là sự kết hợp hài hòa giữa cổ điển và hiện đại, đã vẽ nên bức tranh thiên nhiên mênh mông và quạnh hiu, hoang vắng. Qua đó còn cho ta thấy một cái tôi bơ vơ lạc lõng, một nỗi buồn vô tận giữa đất trời. Nhưng đồng thời bài thơ cùng thể hiện lòng yêu nước kín đáo mà vô cùng sâu lắng.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-03-26 03:31:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngothuhuong10507/qazq3659ydo1jvln/wish/2933405669</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tác phẩm “Thu” – Bùi Quang Minh</title>
         <author>nphdug</author>
         <link>https://padlet.com/ngothuhuong10507/qazq3659ydo1jvln/wish/2933406158</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>3.1 Mở bài</strong></p><p>- Huy Cận là nhà thơ lớn, một đại biểu xuất sắc của phong trào Thơ Mới, ông có rất nhiều tác phẩm hay có thể nhắc đến là “ Đoàn thuyền đánh cá”, “Tràng Giang”, “Ngậm Ngùi”,... Và không thể không kể đến là tác phẩm bài thơ “Thu” của ông.</p><p><strong>3.2 Thân bài</strong></p><p>- Chủ đề: Mùa thu của thiên nhiên đất nước, mùa thi trong thi ca</p><p>- Thể loại: Thể thơ 5 chữ</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>- Bố cục: 3 phần</p><p>+ Phần 1: Cảm nhận về thiên nhiên lúc giao mùa, tín hiệu báo thu về</p><p>+ Phần 2: Quang cảnh trời đất lúc vào thu</p><p>+ Phần 3: Những suy ngẫm về cuộc đơi lúc chớm thu</p><p>- Nội dung chính của tác phẩm: Bài thơ nói lên sự thay đổi của cảnh vật khi mùa thu đến, cũng là những chiêm nghiệm sâu sắc của thi sĩ về cuộc đời và con người</p><p>- Đánh giá chủ đề:</p><p>+ Mùa thu còn là mùa chủa những ca từ, tiếng hát cất kên từ trái tim người nghệ sĩ khiến người nghe hoang hoải đến kì lạ</p><p>+ Mùa thu đến qua cảm nhận tinh tế của thi sĩ: “đến từ hôm qua”, “đem theo cành hoa gãy” và đem theo làn sương se lạnh của thời tiết mùa thu.</p><p>+ Mùa thu tới những cơn gió lành lạnh của mùa thu hoang hoải thổi khiến con người ta gần nhau hơn, dễ cảm nhau hơn và quyến luyến nhau hơn</p><p>+ Mùa thu trong tâm hồn thi sĩ cứ nhẹ nhàng, đượm buồn mà là lạ: là cô gái đi “ qua vườn hoa nhỏ” cùng những “bông hoa tạ màu nhớ nhung”</p><p>- Phân tích</p><p>+ 4 câu thơ đầu: Thu trong cảm nhận của nhà thơ vừa mới về hôm qua, nhưng thu lại về “ với một cành hoa gãy”. Bởi đặc trưng khi mùa thu tới là khí hậu hanh khô, se lạnh với những làn gió mới. Thu đến làm một nhành hoa gẫy như thể hiện sự có mặt của mình một cách mạnh mẽ. Trong không gian thu, cái gì cũng đẹp, không những thế mà còn đẹp đến lung linh huyền ảo. Mùa thu bắt đầu từ khi chiếc lá bàng đang xanh rì giật mình uốn cong chuyển vàng rồi sang sắc đỏ, khi những hạt sương đã treo nặng đầu tre mang theo hơi gió lành lạnh “tràn theo gió đẩy” . Gió đến còn mang theo những cơn lạnh đầu mùa, mang theo sắc thu không trộn lẫn vào bất cứ thứ gì, một sắc thu đẹp theo cách riêng của nó. Câu thơ của Huy Cận như đưa độc giả vào những suy tư về mùa thu của đất trời, thu giống&nbsp; như một thứ quà quý mà thiên nhiên đã ban tặng cho chúng ta. Mùa thu – mùa mà người ta dễ dàng tìm thấy những khung cảnh bình yên, ngọt ngào ngay giữa phố phường nào nhiệt.</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>+ 4 câu thơ giữa: Có lẽ trong bốn mùa thì mùa thu là mùa gần với tâm hồn người nghệ sĩ hơn cả, nó là nhân tố tác động mạnh tới xúc cảm thẩm mỹ của người nghệ sĩ. Tôi nhớ mùa thu hoang hoải thổi khiến con người ta gần nhau hơn, dễ cảm nhau hơn và cũng quyến luyến nhau hơn...Mùa thu là mủa của “màu cúc mới”, ấy là biểu tưởng của mùa thu, nó gắn liền với câu chuyện “Vì sao hoa cúc có nhiều cánh” Thu mới tới hôm qua mà đã “đến vườn bên”, dường như không có gì có thể ngăn cản nhịp bước mùa thu. Và thu cứ chợt đến như thế, thu lang thang trên phố phường. Thu cứ rảo bước quanh những con phố tấp nập rồi lại vi vu về miền quê yên bình.</p><p>+ 4 câu thơ cuối: Mùa thu trong tâm hồn thi sĩ cứ nhẹ nhàng, đượm buồn mà lạ. “Cô gái” mà nhà thơ nhắc đến liệu có phải là nói đến cô gái thu? Cô cứ thế chậm bước những bước thật nhịp nhàng, bước qua “vườn hoa nhỏ” để “ Hoa tạ màu nhớ nhung”. Hơn nữa, Thu cũng là mùa khiến tình yêu mong manh hơn, bởi tức cảnh thì sinh tình, người buồn cảnh có vui đâu bảo giờ nên thơ thu thường mang một nỗi buồn mênh mang.</p><p>&nbsp;</p><p>+ Nghệ thuật: Bằng ngôn ngữ nhẹ nhàng mà sâu lắng đã góp phần làm cho đoạn văn tuy ngắn nhưng thành công vang dội. Nhân hoá(sương gieo đầu trẻ)giúp bài thơ trở nên sinh động giàu hình ảnh,nhấn mạnh khẳng định đặc điểm của hạt sương khi tiết trời vào thu. Nhân hoá(Gió đẩy)giúp bài thơ trở nên sinh động giàu tính gợi hình,nhấn mạnh khẳng định đặc điểm của làn gió thu</p><p>+ Cấu tứ: Từ cảm nhận về thiên nhiên lúc giao ,tác giả bộc lộ cảm xúc trước quang cảnh đất trời vào thu và cuối cùng là những suy tư về cuộc đời của tác giả khi thu về .</p><p><strong>3.3 Kết bài</strong></p><p>- Như vậy, bài thơ Thu của Huy Cận đã để lại cho em bao suy nghĩ về một mùa đặc biệt này của năm. Đọc những vần thơ ông tôi càng thấm thia tại sao Hoài Thanh lại đánh giá Huy Cận với vần thơ ảo não. Thu đã mang đến điều gì đó nhẹ nhàng và suy tư nhưng lại qua lăng kính của Huy Cận, mùa thu lại càng não nề hơn bao giờ hết. Bằng ngôn ngữ nhẹ nhàng mà sâu lắng đã góp phần làm cho đoạn văn tuy ngắn nhưng thành công vang dội, giúp Huy Cận đứng vững trên nền văn học Việt Nam như tượng đài bất hủ.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-03-26 03:32:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngothuhuong10507/qazq3659ydo1jvln/wish/2933406158</guid>
      </item>
      <item>
         <title>4. Tác phẩm “ Buồn đêm mưa” – Lê Anh Tuấn</title>
         <author>nphdug</author>
         <link>https://padlet.com/ngothuhuong10507/qazq3659ydo1jvln/wish/2933406654</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>4.1 Mở bài</strong></p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>- Huy Cận là nhà thơ nổi tiếng trong phong trào Thơ mới (1930 – 1945) với những tác phẩm có sự kết hợp giữa yếu tố hiện đại và cổ điển. Phong cách sáng tác của ông có sự khác biệt lớn gắn liền với hai thời điểm: Trước cách mạng tháng Tám và sau cách mạng tháng Tám. Huy Cận là một nhà thơ mang trong mình nỗi u sầu vạn kỉ, ông thể hiện tình yêu quê hương sâu đậm thông qua các tác phẩm thơ của mình: Lửa thiêng, Kinh cầu tự, Vũ trụ ca,.. Một trong số đó bài “ Buồn đêm mưa” thuộc tập “ Lửa thiêng” nói về nỗi buồn da diết nhưng vô cớ của tác giả.</p><p><strong>4.2 Thân bài</strong></p><p>- Đề tài: Bài thơ thể hiện nỗi nhớ mình mang và da diết của tác giả khi nghe tiếng mưa rơi vào đêm khuya.</p><p>- Thể loại: Lục bát</p><p>- Nội dung chính của bài thơ: Bài thơ được phản ánh về nỗi buồn, quê hương, kiếp người, đất nước trong bối cảnh khó khăn. “Buồn đêm mưa” xác định nỗi sầu Huy Cận. Đó là nỗi buồn vô cớ, xuyên suốt không gian và thời gian như một độ ẩm có sức thẩm thấu ngấm ngầm, theo nước mưa thấm vào lòng người.</p><p>- Cấu tứ: Tuân theo thể thất ngôn tứ tuyệt vô cùng cổ điển</p><p>- Nội dung khái quát: Buồn đêm mưa xác định nỗi sầu Huy Cận. Đó là nỗi buồn vô cớ, xuyên suốt không gian, như một độ ẩm có sức thẩm thấu ngấm ngầm, theo nước mưa thấm vào lòng người. Những yếu tố âm nhạc và thi ca ở đât kết hợp toàn bích như một bản nhạc phổ thơ, như bài thơ phổ nhạc.</p><p>- Nghệ thuật:</p><p>+ Sử sụng những chất liệu, thi liệu gần gũi với đời sống</p><p>+ Bút pháp chấm phá, lấy cảnh để nói tâm trạng được sử dụng linh hoạt</p><p>+ Tiếp thu và làm mới thơ cổ điển</p><p>- Tác dụng:</p><p>+ Nỗi buồn, nỗi cô đơn của tác giả khi đứng trước quê hương nhưng quê hương đã không còn</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>+ Mong muốn tìm kiếm hơi ấm của con người nhưng cái nhận lại chỉ là thất vọng và nỗi cô đơn</p><p>+ Bộc lộ kín đáo lòng yêu nước sâu đậm</p><p>- Về nghệ thuật: Bài thơ sử dụng chất liệu thì liệu gần gũi với đời sống bút pháp. Phá lệ cảnh để nói tâm trạng sự dựng linh đã khiến cho bài văn trở nên vô cùng hay và sinh động.</p><p>- Về mặt nội dung: Bài thơ đã cho ta thấy nỗi buồn cô đơn của tác giả đứng cạnh quê hương đã không còn tìm hơi ấm của những cái cũ nhưng chỉ nhận lại sự vô vọng đến cô đơn.</p><p>- Nhiều bài “ Buồn đêm mưa” của Huy Cận nói về nỗi cô đơn da diết của tác giả trong đêm mưa thì bài “ Mưa” của Xuân Quỳnh lại nói về tình cảm yêu đương gắn kết chung thủy sắc son không thể nào phai nhòa.</p><p>- Qua tác phẩm cho ta thấy hình tượng mưa, những không gian, thời gian mưa, dù luôn được đặt trục ngôn ngữ để cảm nhận, nhưng ngôn ngữ cũng đã có ý nghĩa riêng. Valery đã từng nói: Thơ là sự phân vân kéo dài giữa âm thanh và ý nghĩa. Những từ láy mà Huy Cận sử dụng cũng như có sự phân vân kéo dài giữa âm thanh và ý nghĩa. Những từ láy mà Huy Cận sử dụng cũng như có sự phân vân kéo dài giữa điệu hồn tác giả và điệu mưa rơi buồn đêm mưa, có lẽ và có thể đã diễn đạt đến mức độ khá cao về nghệ thuật sử dụng ngôn từ của nhà thơ. Những nặng nặng, buồn buồn gợi trong ta những cảm nhận, suy tư đang trĩu nặng nhà thơ. Những từ láy đứng giữa câu như đẩy tâm tư nhà thơ đến biên độ xa hơn, sâu hơn. Người đọc cũng cảm nhận được những rời rạc, lẻ loi trong lòng tác giả. Phụ âm “r” đừng liền kề nhau như làm tăng hơn sự rung đọng của chữ nghía, tảo lan đến người đọc bảo cảm xúc sâu xa. Những vu vơ, nững hững hờ không chỉ gợi cảm giác mà còn đặc tả được những sắc thái tâm hồn thi sĩ. Đưa một lượng từ láy khá lớn như vậy vào thơ, Huy Cận hẳn như muốn bày tỏ lòng mình sâu sắc và tha thiết nhất. Mưa xuân trên biển không phải là không có từ láy nhưng mật độ không dày đặc như “Buồn đêm mưa”. Mượn ngoại cảnh để diễn tả tâm hồn khác với tự bộc lộ tâm trạng phải chăng là ở chỗ đó ? Điểm nhìn của chủ thể trữ tình khác nhau nên hai bài thơ có nhiều nét khác biệt.</p><p><strong>4.3: Kết bài.</strong></p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-03-26 03:32:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngothuhuong10507/qazq3659ydo1jvln/wish/2933406654</guid>
      </item>
      <item>
         <title> Tác phẩm “ Cửa sông” – Cảnh Thị Phương Linh</title>
         <author>nphdug</author>
         <link>https://padlet.com/ngothuhuong10507/qazq3659ydo1jvln/wish/2933408299</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>5.1 Mở bài:</strong></p><p>- Huy Cận là một trong những nhà văn tiêu biểu của phong trào Thơ mới trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, với những tác phẩm nổi tiếng như Lửa Thiêng, Vũ trụ ca,... Sau cách mạng, ông nhanh chóng hòa nhập vào cuộc công cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc ta. Hoà bình lặp lại, Huy Cận với từng trang thơ ấm áp với cuộc sống tươi đẹp hơn. Bài thơ “Cửa sông” của nhà thơ Huy Cận đã giúp cảm nhận được cuộc sống sinh hoạt và vẻ đẹp giản dị của những người dân làng chài.</p><p>- Yếu tố nổi bật sẽ phân tích: cuộc sống sinh hoạt và giản dị của người dân làng chài</p><p><strong>5.2 Thân bài:</strong></p><p>- Đề tài: Hình ảnh người dân lao động</p><p>- Thể loại: Thơ</p><p>- Nội dung chính:</p><p>+ Bài thơ là tiếng lòng của tác giả, tác phẩm của ông luôn là sự tương tác với hiện thực</p><p>cuộc sống và thời đại, từ đó tạo nên những bức tranh thơ ca sống động và chân thật.</p><p>+ Tác giả bộc lộ cảm xúc trước những con người lao động giản dị chất phác ở làng chài</p><p>- Cấu tứ: Từ hình ảnh về cuộc sống sinh hoạt của người dân làng chài , tác giả đã bộc lộ cảm xúc trước những con người lao động giản dị chất phác ở nơi đây.</p><p>- Bố cục: 2 phần</p><p>+ Phần 1 (9 câu đầu ): Quang cảnh cuộc sống của người dân làng chài</p><p>+Phần 2 ( còn lại): Hình ảnh bình dị của những người dân lao động ở làng chài</p><p>* Phân tích triển khai cấu tứ:</p><p>- Đoạn 1:Quang cảnh sống của người dân làng chài</p><p>+Nghệ thuật: So sánh (mặt trời với trái chín cây): Giúp cho bài thơ trở nên sinh động giàu hình ảnh, nhấn mạnh sự rực rỡ của mặt trời giống như một trái đã chín cây màu sắc sáng chói.</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>+Nghệ thuật: So sánh ( cánh buồm với cánh dơi): Giúp cho bài thơ trở nên sinh động giàu hình ảnh, nhấn mạnh khẳng định vẻ đẹp của cánh buồm</p><p>+Nghệ thuật: Điệp cấu trúc ( nửa cảng, nửa làng, nửa cồn, nửa biển): Giúp cho bài thơ trở nên sinh động, có hồn, nhấn mạnh khẳng định không gian rộng lớn bao la của làng chài</p><p>- Đoạn 2: Hình ảnh giản dị của người dân lao động nơi làng chài</p><p>+Nghệ thuật: Nói quá ( nhẹ cài hoàng hôn): Giúp cho bài thơ trở nên sinh động, nhấn mạnh khẳng định tầm vóc to lớn của người dân làng chài.</p><p>* Khái quát nội dung và nghệ thuật:</p><p>- Nội dung: Bài thơ đã khắc họa nhiều hình ảnh đẹp tráng lệ, thể hiện sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người lao động, bộc lộ niềm vui, niềm tự hào của nhà thơ trước đất nước vào cuộc sống</p><p>- Nghệ thuật: Bài thơ có nhiều sáng tạo trong việc xây dựng hình ảnh bằng liên tưởng, tưởng tượng phong phú độc đáo, có âm hưởng khỏe khoắn, hào hùng, lạc quan kèm nhiều biện pháp tu từ đa dạng như so sánh, nói quá.</p><p>* So sánh:</p><p>- Tác phẩm cùng đề tài: Tiềng hát con tàu – Chế Lan Viên</p><p>- Giống nhau: Đều nói đến những người dân lao động thời kì đổi mới</p><p>- Khác nhau:</p><p>+ Tiếng hát con tàu: nhiều hình ảnh, giàu sức gợi hình</p><p>+ Cửa sông: Khắc họa con người ở tầm vóc to lớn</p><p>=&gt; Tác phẩm trên miêu tả rất riêng vẻ đẹp của người dân làng chài, họ giản dị chất phác, ngày đêm lao động hăng say vì ngày mai tươi sán</p><p><strong>5.3: Kết bài</strong></p><p>- Qua phân tích trên, với thể thơ lục bát, các biện pháo tu từ đa dạng, hình ảnh giàu sức gợi hình, tác phẩm “Cửa sông” của nhà thơ Huy Cận đã chi ta thấy quang cảnh sống của người dân làng chài và vẻ đẹp giản dị cùng tầm vóc to lớn của họ.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-03-26 03:34:15 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngothuhuong10507/qazq3659ydo1jvln/wish/2933408299</guid>
      </item>
      <item>
         <title> Tác phẩm “ Đoàn thuyền đánh cá” – Nguyễn Phương Dung</title>
         <author>nphdug</author>
         <link>https://padlet.com/ngothuhuong10507/qazq3659ydo1jvln/wish/2933408978</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>6.1: Mở bài</strong></p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; “ Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; ...Nỗi nhớ thương không biết đã tan chưa?</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Hay lòng chàng vẫn tủi nắng, sầu mưa</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Cùng đát nước và nặng buồn sông núi?”</p><p>Huy Cận là nhà thơ đã tạo dấu ấn cho riêng mình trên dòng sông thi ca dân tộc. Thơ Huy Cận trước Cách mạng có giọng buồn ảo não, vì cậy ông thường tìm đến thiên nhiên để “vui chung vũ trụ nguôi sầu trần&nbsp; gian”. Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, dường như đã đem tới muột luồng gió mới cho Huy Cận. Những trang văn ông viết được tươi tắn những hơi thở mới, những khát vọng mới, sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên để tạo nên vẻ đẹp văn chương thời kì cả đất nước đi lên Chủ nghĩa xã hội. Một trong những minh chứng tiêu biểu đó chính là thi phẩm “ Đoàn thuyền đánh cá” được viết vào năm 1958 đã thể hiện rõ nét niềm vui hứng khởi của con người lao động mới trong những giây phút chinh phục biển cả, chinh phục thiên nhiên đất trời.</p><p><strong>6.2 Thân bài</strong></p><p>* Đề tài: Bài thơ là khúc tráng ca ca ngợi con người lao động với tinh thần làm chủ và niềm vui, niềm tin trước cuộc sống mới trong những năm đầu xây dựng.</p><p>* Thể loại: Thơ 7 chữ</p><p>* Chủ thể trữ tình: Cái tôi trữ tình của tác giả</p><p>* Đối tượng trữ tình: Hình ảnh những con người lao động nơi biển cả</p><p>* Cấu tứ: Bài thơ được viết theo mạch thời gian từ lúc hoàng hôn buông xuống đoàn thuyền bắt đầu ra khơi đến lúc bình minh rạng ngời đoàn thuyền bội thu quay về.</p><p>* Bố cục:</p><p>+Phần 1: Hai khổ đầu: Cảnh đoàn thuyền đnahs cá ra khơi lúc hoàng hôn buông xuống</p><p>+Phần 2: Bốn khổ tiếp: Cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển trong một đêm trăng đẹp</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>+Phần 3: Khổ cuối: Cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về khi bình minh rạng ngời trên biển</p><p><strong>&nbsp;</strong>&nbsp;<strong>Phân tích đánh giá:</strong></p><p>* Phần 1: Hai khổ đầu</p><p>- Nội dung khái quát: Mở đầu bài là cảnh hoàng hôn trên biển vừa diễm lệ, huy hoàng vừa hùng vĩ và căng tràn sức sống. Đó cũng chính là cảnh đoàn thuyền bắt đầu một chuyến ra khơi hứa hẹn biết bao thành quả. Và diễn tả tinh thần phấn khởi, hăng say và khí thế ra khơi của ngư dân vùng biển.</p><p>- Nghệ thuật:</p><p>+ So sánh: mặt trời – hòn lửa; vũ trụ- ngôi nhà lớn; then cài- gợn sóng: Phác họa ra trước mắt người đọc bức tranh thiên nhiên của biển vào đêm lúc đoàn thuyền bắt đầu ra khơi.</p><p>+ Các âm “cửa” , “lửa”, rồi lại sập: Cảnh hoàng hôn diễn ra trên biển thật nhanh, đầy sự dứt khoát và đột ngột, bất ngờ.</p><p>+ Từ “lại”: Cho thấy đây không phải công việc bất chợt mà nó được lặp đi lặp lại, có tình thường nhật.</p><p>=&gt; Tóm lại, cảnh biển được phác họa ra sao mà hoành tráng đến thế, rạo rực khúc ca mặt trời đến thế, trông như một bức tranh lung linh đầy ấn tượng</p><p>+ Hình ảnh “ cá bạc”, “cá thu”: Là những sự hiện thân sáng rõ nhất của biển cả, của đại dương mênh mông.</p><p>+ So sánh “ cá thu – đoàn thoi”: Cho thấy tài nguyên vô cùng phong phú, giàu có ở vùng biển Quảng Ninh.</p><p>+ Câu “ Đến dệt lưới ta đoàn cá ơi”: Câu hát thể hiện tinh thần lạc quan, yêu đời của người dân trên biển</p><p>=&gt; Dù vất vả, khó khăn nhưng không có gì khiến họ đầu hàng được</p><p>* Phần 2: 4 khổ tiếp theo</p><p>- Nội dung khái quát: Cho thấy một đêm làm việc hăng say trên biển, tâm thế làm chủ thiên nhiên của con người và thành quả xứng đáng cho một đêm chăm chỉ của những</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>người ngư dân.</p><p>- Nghệ thuật:</p><p>+ Hình ảnh “ lái gió – buồm trăng”: Hình ảnh lái gió, chở trăng có lẽ không thể tìm được ở đâu một hình ảnh thơ độc đáo đến như vậy.</p><p>+ So sánh “ biển – lòng mẹ”: Biển được so sánh với “ lòng mẹ”, mà lòng mẹ thì bao la, rộng lớn biết bao, biển đem cho ta thức cá tươi ngon, là thành quả cũng như nguồn sốn của người ngư dân. Không những thế mẹ thiên nhiên còn nuôi dưỡng ta từ thế hệ này qua thế hệ khác.</p><p>+ Từ “ xoăn tay”, “ vảy cá lóe sáng”, “nắng hồng”: Có thể nói tác giả đã không bỏ sót bất kf một hành động nào của người ngư dân.</p><p>=&gt; Những hành động rất đỗi quen thuộc hằng ngày của họ cũng có thể trở thành một hình ảnh thơ đầy tính nghệ thuật dưới con mắt của nhà thơ Huy Cận</p><p>*Phần 3: Khổ cuối</p><p>- Nội dung khái quát: Cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về được miêu tả thật đẹp ở khổ thơ cuối:</p><p>- Nghệ thuật:</p><p>+ Câu hát đã được nhắc lại đến lần thứ 3: Nó trở thành một điệp khúc, nó được cất lên mỗi khi đoàn thuyền đánh cá đang muốn truyền tải một thứ gì đó. Ở khổ cuối có lẽ nhà thơ muốn truyền tải đến người đọc một tinh thần lạc quen, yêu đời, tự tin chạy đùa cùng với thiên nhiên của người ngư dân.</p><p>+ Hai câu thơ cuối – Hình ảnh đẹp nhất trong bài:</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; “ Mặt trời đội biển nhô màu mới</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi”</p><p>+ Nhân hóa “ mặt trời – đội biển”: Mở ra một ngày mới trần đầy sôi động, đầy sức sống.</p><p>+ Hình ảnh “ mắt cá huy hoàng”: cho thấy sự tươi ngon, mặn mà của hải sản – cái mà mẹ thiên nhiên trao tặng cho chúng ta</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>=&gt; Có thể nói toàn bộ bài thơ là một bức tranh lao động đầy nhiệt huyết, tươi vui của người ngư dân vùng biển Quảng Ninh. Bức tranh ấy mở ra trước mắt người đọc một cuộc sống mới của đất nước khi bắt đầu xây dựng lại nền kinh tế sản xuất</p><p>&nbsp;<strong>Khái quát nội dung, nghệ thuật:</strong></p><p>- Giá trị nội dung:</p><p>+ Đoàn thuyền đánh cá đã tái hiện thành công vẻ đẹp trù phú của biển cả quê hương và cuộc sống lao động đầy hăng say của nhân dân trong thời kì mới.</p><p>+ Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá còn là khúng tráng ca ca ngợi cuộc sống lao động tập thể của người dân chài trong công cuộc xây dựng và tái thiết đất nước, đồng thời bộc lộ niềm vui, niềm tự hào của nhà thơ trước đất nước giàu đẹp.</p><p>- Giá trị nghệ thuật:</p><p>+ Xây dựng hình ảnh thơ bằng liên tưởng</p><p>+ Trí tưởng tượng phong phú</p><p>+ Âm hưởng thơ khỏe khoắn hào hùng và sáng tạo</p><p><strong>6.3 Kết bài</strong></p><p>- Bài thơ đoàn thuyền đánh cá của nhà thơ Huy Cận đã cho thấy một cảm hứng lãng mạn, một bức tranh thiên nhiên tràn đầy sức sống , mang âm hưởng hào hùng. Không chỉ vậy, nó còn làm hiện lên hình ảnh đẹp đẽ của người dân lao động và sự giàu có, phong phú của biển cả dành cho con người. Qua bài thơ, ta hiểu thêm về hồn thơ Huy Cận và tấm lòng của ông đối với quê hương, đất nước.</p><p>&nbsp;</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-03-26 03:34:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngothuhuong10507/qazq3659ydo1jvln/wish/2933408978</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
