<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title>LSTLH PHÂN TÂM by </title>
      <link>https://padlet.com/adlocked0/mibaiu0y1r7924fd</link>
      <description>Được tạo bằng một vầng hào quang bí ẩn</description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2021-06-09 23:30:23 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2025-11-20 18:37:57 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url>https://padlet.net/icons/png/1f914.png</url>
      </image>
      <item>
         <title>GIỚI THIỆU</title>
         <author>adlocked0</author>
         <link>https://padlet.com/adlocked0/mibaiu0y1r7924fd/wish/1597054459</link>
         <description><![CDATA[<ul><li>Đầu thế kỷ 20, ở Hoa Kỳ thịnh hành thuyết hành vi thì ở Châu Âu, TLH đi theo một hướng khác, tập trung vào tâm bệnh học và điều trị thay vì nghiên cứu những quá trình tâm trí và hành vi</li><li>Freud là người có tầm ảnh hưởng vô cùng lớn, có thể được xem là cha đẻ của Phân tâm học</li><li>&nbsp;Được bắt đầu từ những ứng dụng về thôi miên trong điều trị các chứng bệnh tâm thần.</li></ul><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1233950177/62613cc7e82c722f942e017ad4db9d3d/ujonuk92za0xhfnpy63e.jpg" />
         <pubDate>2021-06-09 23:31:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/adlocked0/mibaiu0y1r7924fd/wish/1597054459</guid>
      </item>
      <item>
         <title>SIGMUND FREUD (1856-1939)</title>
         <author>adlocked0</author>
         <link>https://padlet.com/adlocked0/mibaiu0y1r7924fd/wish/1597055053</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>1.</strong> <strong>Tiểu sử:</strong>&nbsp;</div><div><strong>&nbsp; &nbsp; &nbsp;- Sigmund Freud</strong> (tên đầy đủ là <strong>Sigmund Schlomo Freud</strong>; <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/6_th%C3%A1ng_5">6 tháng 5</a> năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1856">1856</a> – <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/23_th%C3%A1ng_9">23 tháng 9</a> năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1939">1939</a>) nguyên là một bác sĩ về thần kinh và là nhà tâm lý học người <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Do_Th%C3%A1i">Do Thái</a>. Ông là người đặt nền móng và phát triển học thuyết phân tâm học. Ông là một nhà tư tưởng có ảnh hưởng lớn trong <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%BF_k%E1%BB%B7_XX">thế kỷ XX</a>.&nbsp; &nbsp; &nbsp; <br><strong>2.</strong> <strong>Liên tưởng tự do</strong>:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; - Theo Freud, khắc phục sự kháng cự và suy xét bằng lý trí về tổn thương ban đầu là các mục tiêu của tâm lý trị liệu.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;- Liên tưởng tự do chỉ cho thấy những mảnh vụn của tầng vô thức, và từ đó nhà phân tâm phải xác định ra cấu trúc và bản chất tinh thần vô thức của một người.<br><strong>3.Nguyên tắc của Phân tâm học.</strong></div><div>Năm 1895, Breuer và Freud đã đưa ra một số nguyên tắc của phân tâm học trong “Nghiên cứu về bệnh hysteria”</div><div>• Bệnh hysteria là do một kinh nghiệm gây tổn thương đã không được phép bộc lộ ra nên nó đã bộc lộ bằng các triệu chứng cơ thể.</div><div>• Các triệu chứng có thể được coi là những biểu tượng về những tổn thương mà bệnh nhân không còn ý thức được nữa do nó đã bị đè nén trong vô thức bởi vì suy nghĩ có ý thức về nó sẽ tạo ra lo âu</div><div>• Sự kháng cự là dấu hiệu cho thấy nhà điều trị đang đi đúng đường.</div><div>• Sự đè nén thường là do xung đột, là khuynh hướng vừa muốn tiếp cận vừa muốn xa tránh một điều gì bị coi là sai trái.</div><div>• Các kinh nghiệm bị ức chế hay các xung đột không biến mất mà tiếp tục tác động mạnh trên nhân cách của một người.</div><div>• Cách duy nhất để xử lý sự đè nén là làm cho nó nổi lên ý thức và từ đó xử lý nó bằng lý trí.</div><div>• Cách hiệu quả nhất để làm cho điều bị đè nén nổi lên ý thức là nhờ liên tưởng tự do.</div><div>• Bằng cách phân tích kỹ lưỡng nội dung của các liên tưởng tự do, các điệu bộ cử chỉ và sự chuyển di đối tượng, nhà phân tâm học có thể xác định được bản chất của kinh nghiệm bị đè nén và giúp bệnh nhân ý thức về nó và xử lý nó.<br><strong>4. Phân tích các giấc mơ:</strong> trở thành một cách thứ hai để chạm vào vô thức. Mọi giấc mơ đều là một sự diễn tả bằng biểu tượng một ước muốn mà người mơ không thể diễn tả hay thỏa mãn trực tiếp mà không cảm thấy có sự lo âu.</div><div><strong>Mặc cảm Oedipus – Electra: </strong>Freud tự phân tâm mình và khám phá được mặc cảm Oedipus.&nbsp; Ông phân tích một trong các giấc mơ lặp đi lặp lại nhiều lần về mẹ của ông, bắt đầu từ khi ông còn thơ ấu. Tiếp tục liên tưởng tự do thêm nữa, ông thấy rằng giấc mơ cũng có bản chất tính dục. Ông gọi sự thù nghịch này đối với cha ông và sự thèm muốn mẹ ông là mặc cảm Oedipus. Theo Freud, các ý tưởng bị ức chế không biến mất; chúng tiếp tục biểu hiện trong các giấc mơ, các triệu chứng hay các hành vi bất thường.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;- Freud nghĩ rằng sự xung đột Oedipus là mặc cảm phổ quát đối với các con trai và dấu vết của mặc cảm này trong tuổi trưởng thành giải thích được nhiều hành vi bình thường và bất bình thường.<br><strong>5. Cấu trúc tâm trí: It – Ego – SuperEgo<br>6. Các giai đoạn của tâm lý tính dục: Miệng – Hậu môn – Cơ quan sinh dục – Tiềm tàng – Tính dục.<br></strong>- Tập trung vào bộ phận sinh dục: 12-18 tuổi - Quan tâm tới người khác phái&nbsp;</div><div>- Tĩnh lặng: 6-12 tuổi – Học các kỹ năng ở trường</div><div>- Cơ quan sinh dục: 3-6 tuổi – Đồng hóa với cha mẹ cùng phái&nbsp;</div><div>- Hậu môn: 2-3 tuổi – Tập đi vệ sinh</div><div>- Môi miệng: 0-1 tuổi – Cho ăn và cai sữa</div><div><strong><br>7. Đánh giá học thuyết của Freud</strong></div><div>• Học thuyết của Freud đã phải đón nhận những phê bình gay gắt về rất nhiều phương diện:</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; • (1) học thuyết của Freud đi ngược lại niềm tin về con người thánh thiện,</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; • (2) học thuyết của Freud không khoa học,</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; • (3) các nhà phân tâm học chỉ đi vào việc hậu đoán chứ không phải tiên đoán.</div><div>• Freud đã có các đóng góp thực sự phi thường cho tâm lý học: mở ra một lĩnh vực mới là tâm lý trị liệu, tạo ra sự quan tâm tới vô thức, sự ảnh hưởng của trải nghiệm ấu thơ đến nhân cách.</div><div>• Học thuyết của Freud đã có ảnh hưởng rất lớn trong nhiều lĩnh vực khác ngoài TLH</div><div><strong><br><br><br></strong><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1234242689/23228b85e587b85936fe39d37289c827/hghghg.jpg" />
         <pubDate>2021-06-09 23:32:07 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/adlocked0/mibaiu0y1r7924fd/wish/1597055053</guid>
      </item>
      <item>
         <title>CARL JUNG (1875-1961)</title>
         <author>adlocked0</author>
         <link>https://padlet.com/adlocked0/mibaiu0y1r7924fd/wish/1597060071</link>
         <description><![CDATA[<div><br>Tiểu sử.<br><br></div><div>-Sinh 26/07/0875 trong một gia đình có học vấn. Cha là mục sư (Johann Paul Jung), mẹ là con gái nhà thần học (Emilie Preiswerk Jung). Lúc 3 tuổi, Jung thường mơ lặp đi lặp lại 1 giấc mơ, đây được xem như là tiền đề cho các học thuyết sau này của ông. </div><div>- Jung từng học tại Đại học Basel, chuyên ngành tâm thần học. 1900 Jung làm việc tại bệnh viện tâm thành Zurich và gặp Eugen Bleuer. Ông là bác sĩ tâm thần học người Thụy Sĩ và muốn theo đuổi những nhiều siêu nhiên huyền bí như giấc mơ,...</div><div>-Thành lập nên trường phái Tâm lý học phân tích</div><div><br>Vô thức cá nhân,vô thức tập thể và các nguyên mẫu.<br><br></div><div>-3 thành tố làm nên tâm hồn con người: bản ngã, vô thức cá nhân và vô thức tập thể. Bản ngã đại diện cho ý thức. Vô thức cá nhân chứa đựng những ký ức, bao gồm cả những hồi ức bị đè nén và Jung cũng tin rằng vô thức cá nhân gần bề mặt hơn nhiều so với Freud đề xuất. Vô thức tập thể là một cấu phần độc đáo mà theo Jung, cấu phần linh hồn này đóng vai trò như một dạng kế thừa tâm lý từ tổ tiên xa xưa,được chia sẻ với các thành viên khác của loài người.Jung (1947) tin rằng các biểu tượng từ các nền văn hóa khác nhau thường rất giống nhau bởi vì chúng xuất hiện từ các nguyên mẫu được chia sẻ bởi cả loài người vốn là một phần của vô thức chung của chúng ta.</div><div>&nbsp;-Ông tin rằng tâm trí con người chứa đựng những khía cạnh nền móng mang tính vô thức và thuần sinh học từ tổ tiên chúng ta. Jung (1947) gọi những ký ức và hình ảnh của tổ tiên là nguyên mẫu.</div><div>Có 4 nguyên mẫu cơ bản:</div><div>*Nguyên mẫu mặt nạ (The persona) là cách ta thể hiện bản thân ra với thế giới,che đi tất cả những thôi thúc, ham muốn và cảm xúc nguyên thủy nhất vốn không được xã hội chấp nhận. Nguyên mẫu mặt nạ cho phép con người ta thích ứng với thế giới xung quanh hoặc đánh mất bản chất của chính ta.</div><div>*Bóng Tối (The shadow) là một nguyên mẫu bao gồm cả bản năng sống và bản năng tình dục,được sinh ra từ nỗ lực thích ứng với những quy chuẩn văn hóa và mong đợi xã hội. Nguyên mẫu này thường được mô tả là mặt tối của tâm hồn. Jung cho rằng Bóng Tối có thể xuất hiện trong những giấc giơ hay mộng tưởng và có thể tồn tại dưới nhiều hình hài.&nbsp;</div><div>*Tính nữ (The anima) là hình ảnh nữ tính trong một linh hồn đàn ông, và tính nam (The animus) là mình ảnh nam tính trong tâm hồn phụ nữ. Tính nữ/Tính nam đại diện cho “bản ngã thực sự” chứ không phải hình ảnh ta thể hiện ra với người khác và đóng vai trò như một nguồn giao tiếp cơ bản với vô thức tập thể. Những hình ảnh mang tính nguyên mẫu này dựa trên cả những cái người ta tìm thấy được ở vô thức tập thể và vô thức cá nhân.&nbsp;</div><div>*Đại ngã (The self) đại diện cho sự thống nhất về một thể của tâm hồn. Jung cho rằng tính cách có 2 trung tâm khác nhau. Bản Ngã là trung tâm của ý thức, nhưng Đại Ngã mới chính là trung tâm của tính cách</div><div><br><em><br>Các phê bình và cống hiến.<br></em><br></div><div>Phân chia nhân cách thành 8 kiểu (2 thái độ, 4 chức năng), là cơ sở cho các bài test tính cách sau này<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1233950177/6594d2c6f6563536e538ed2266cf3b1c/carl_jung.jpg" />
         <pubDate>2021-06-09 23:36:15 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/adlocked0/mibaiu0y1r7924fd/wish/1597060071</guid>
      </item>
      <item>
         <title>ALFRED ADLER (1870-1937)</title>
         <author>adlocked0</author>
         <link>https://padlet.com/adlocked0/mibaiu0y1r7924fd/wish/1597062575</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em>I) Tiểu sử:<br>&nbsp;<br></em></strong>- Sinh: ngoại ô TP Vienna, Áo.<br>&nbsp;- Tuổi thơ khốn khổ: Ốm yếu =&gt; Luôn tự cho mình là người vừa lùn tịt vừa xấu xí.<br>&nbsp;=&gt; Mang trong mình lòng ganh tị với các anh trai.<br>- 2 sự chết chóc:<br>&nbsp; &nbsp;+ 4 tuổi: chứng kiến em trai vừa chào đời không lâu ra đi ngay cạnh giường.<br>&nbsp; &nbsp; + 5 tuổi: suýt chết vì bệnh viêm phổi.<br>- 1895 tốt nghiệp ngành y khoa<br>&nbsp; -&gt; Bác sĩ nhãn khoa<br>&nbsp; -&gt; Bác sĩ đa khoa<br>&nbsp; -&gt; Bác sĩ tâm thần.<br>- Bác sĩ tâm thần nổi tiếng thế giới.<br>- 1897, lập gia đình và có 4 người con với 2 người nối nghiệp cha trở thành bác sĩ tâm thần.<br>&nbsp;- 1907, sau khi viết bài bênh vực lý thuyết về phân tâm học của Freud, ông được mời đến Hội Phân Tâm Học Vienna và vào năm 1910 trở thành làm chủ tịch của hội .<br>&nbsp;- Các khác biệt trong học thuyết giữa ông và Freud ngày càng lớn<br>&nbsp; &nbsp;-&gt; 1911, từ chức Chủ tịch.<br>&nbsp; &nbsp;-&gt; Sau 9 năm gắn bó với Freud, mối quan hệ rạn vỡ, không bao giờ gặp lại nhau.&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp;=&gt; Thành lập trường phái riêng: Tâm lý học cá nhân.<br>&nbsp; &nbsp;-&gt; Bị Freud tố cáo làm biến chất của Phân tâm học: "Tôi đã biến một người lùn tịt thành kẻ khổng lồ".<br>- 1914 - 1918, chiến tranh thế giới thứ I, đóng vai trò là thầy thuốc trong quân đội Áo.<br>&nbsp; -&gt; Khoảng thời gian này khiến ông thay đổi và cho rằng hứng thú xã hội và lòng nhân ái là nền tảng cho động lực phát triển của con người.<br><br></div><div><br>&nbsp;<strong><em>II) Sự bù trừ<br></em></strong><br>&nbsp;- 1907, quan niệm người ta đặc biệt nhạy cảm với các bệnh ở cơ quan “yếu kém” trên thân thể (mắt, xương, tim,... .)<br>&nbsp; -&gt; Môi trường tạo nhiều stress, các bộ phận yếu kém này ngày càng bị đè nặng và trở nên yếu kém hơn vì vậy chức năng thông thường sẽ bị kiềm chế lại và có thể dẫn tới phức cảm tự ti.<br>&nbsp; =&gt; Sự bù trừ là cách để con người điều chỉnh lại phần yếu kém. (Bằng cách phát triển các phần khác)&nbsp;<br>&nbsp;- Cần lưu ý khi xảy ra bù trừ thông thường con người sẽ có lại chức năng “bình thường”, nhưng khi bù trừ quá mức cũng có khả năng biến yếu kém trở nên “mạnh mẽ” và tạo ra phức cảm tự tôn.<br>&nbsp;- 1910 là năm Adler chính thức bước vào TLH khi nhận ra bù trừ và bù trừ quá mức còn có thể nhắm tới các khiếm khuyết về tâm lý và cả thể lý.<br>&nbsp;- Theo Adler, con người bắt đầu bước vào đời bằng sự lệ thuộc nên hiển nhiên sẽ luôn mang trong mình cảm quan yếu kém.<br>&nbsp;-&gt; Thúc đẩy tìm kiếm quyền lực: Chúng ta cố gắng đạt tới sự hoàn thiện hay sự trỗi vượt để khắc phục các mặc cảm của sự yếu kém.<br><br></div><div><strong><em>&nbsp;<br></em></strong><br></div><div><strong><em>III) Mặc cảm tự ti<br>&nbsp;<br></em></strong>- Cảm nhận chủ quan quyết định ý thức về sự yếu kém của mỗi cá nhân.<br>&nbsp;- Trẻ so sánh bản thân với các trẻ khác và sự đòi hỏi của xã hội.<br>&nbsp;- Cảm giác yếu kém có thể tránh được trong môi trường lành mạnh và tình yêu thương.<br>&nbsp;- Cảm giác yếu kém là động lực để phát triển nhưng cũng có thể làm suy yếu thay vì kích thích.<br>&nbsp; -&gt; Vì quá bức xúc bởi cảm giác không làm được gì hoặc làm được rất ít <br>&nbsp; &nbsp;=&gt; Sinh ra mặc cảm tự ti.<br>&nbsp;- Khi nhận thấy bản thân có bộ phận yếu kém trong cơ thể, mặc cảm tự ti được sinh ra và tùy vào phản ứng sẽ gây dựng nên hai loại người:<br>&nbsp; &nbsp;+ Phản ứng lành mạnh: Bù trừ bằng cách vươn lên, vượt qua giới hạn của bản thân <br>&nbsp; &nbsp; -&gt; Kích thích <br>&nbsp; &nbsp;+ Phản ứng không lành mạnh: Dùng sự yếu kém như cái cớ để từ chối các nhiệm vụ trong cuộc sống. Phản ứng này sẽ gây mặc cảm tự ti nghiêm trọng hơn và thậm chí dẫn đến sự rối loạn phát triển.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;-&gt; Suy yếu.<br>&nbsp;<br><br><strong>Ngoài ra, ông còn có đóng góp các lý thuyết về lối sống, ngã sáng tạo, thứ tự sinh, quan tâm xã hội, đề cao nam giới,...</strong><br>&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1233950177/3e20d497e4919aa250b8a06bf3ecd78a/2011winter_biography_alfred_adler_to_heal_and_to_educate.jpg" />
         <pubDate>2021-06-09 23:38:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/adlocked0/mibaiu0y1r7924fd/wish/1597062575</guid>
      </item>
      <item>
         <title>ERIK ERIKSON (1902-1994)</title>
         <author>adlocked0</author>
         <link>https://padlet.com/adlocked0/mibaiu0y1r7924fd/wish/1597063594</link>
         <description><![CDATA[<div>I. Tiểu sử.&nbsp;<br>- Erikson là một nhà phân tâm học người Mỹ gốc Đức. Ông được công nhận vì những đóng góp của ông cho tâm lý học phát triển và đặc biệt là xây dưng lý thuyết về phát triển tâm lý học xã hội với 8 giai đoạn tương ứng.<br>- Erikson không lớn lên với cha ruột, ông không biết cha ruột là ai vì cha mẹ ông ly thân trước khi ông sinh ra. Sau khi học xong trung học, ông quyết định trở thành một nghệ sĩ.<br>- Ông từng chu du ở Ý như một nghệ sĩ lang thang.<br>- Ông nổi tiếng nhất vì đặt ra cụm từ khủng hoảng bản sắc (identity crisis)<br>- Khi Erikson hai mươi lăm tuổi, ông được mời đến Vienna để dạy nghệ thuật tại Trường Burlingham-Rosenfeld dành cho những đứa trẻ đang trải qua phương pháp trị liệu phân tâm học bởi con gái của Sigmund Freud - Anna Freud. Anna nhận thấy sự nhạy cảm của Erikson đối với trẻ em ở trường và khuyến khích anh theo học phân tâm học tại Viện Phân tâm học Vienna.<br>- Ông đã trải qua khóa đào tạo phân tích với Anna Freud. Đồng thời, ông nghiên cứu phương pháp giáo dục Montessori, tập trung vào các giai đoạn phát triển và tình dục của trẻ em.&nbsp;</div><div>- Mặc dù thiếu bằng cử nhân, Erikson từng là giáo sư tại các tổ chức nổi tiếng, bao gồm Harvard, Đại học California, Berkeley và Yale. Một cuộc khảo sát về Tâm lý học Tổng quát (Review of General Psychology), xuất bản năm 2002, đã xếp Erikson là nhà tâm lý học được trích dẫn nhiều thứ 12 trong thế kỷ 20.<br>- Ông đã mở phòng khám phân tâm cho trẻ em tại San Francisco.</div><div><br>II. Thuyết phát triển tâm lý xã hội.<br><br>-&nbsp; Erik Erikson có ảnh hưởng vì đã đề xuất lý thuyết tâm lý xã hội về sự phát triển, lý thuyết này cho thấy rằng nhân cách của một cá nhân phát triển trong suốt cuộc đời dựa trên một loạt các mối quan hệ xã hội — một sự khác biệt với quan điểm thiên về sinh học của Freud. Trong lý thuyết tâm lý xã hội của mình, Erikson nhấn mạnh các mối quan hệ xã hội quan trọng ở mỗi giai đoạn phát triển nhân cách, trái ngược với sự nhấn mạnh của Freud về tình dục. Erikson xác định tám giai đoạn, mỗi giai đoạn đại diện cho một xung đột hoặc nhiệm vụ phát triển. Sự phát triển của một nhân cách lành mạnh và một ý thức năng lực phụ thuộc vào việc hoàn thành xuất sắc mỗi nhiệm vụ.</div><div><br></div><div>- 1950, xuất bản sách "Tuổi thơ và xã hội" ( Childhood and Society) trong đó có chương "8 độ tuổi của con người". Học thuyết được phát triển từ "5 giai đoạn phát triền tâm lý" của S. Freud.<br>- Có 8 giai đoạn: <br>Trong mỗi giai đoạn, Erikson tin rằng con người trải qua một mâu thuẫn, và mâu thuẫn này đóng vai trò là cột mốc chuyển đổi trong sự phát triển. Theo quan điểm của Erikson, những mâu thuẫn này tập trung vào, hoặc là hình thành hoặc không thể hình thành một phẩm chất tâm lý. Trong những khoảng thời gian này, khả năng phát triển thành công của cá nhân đó rất cao và khả năng thất bại cũng là rất lớn.<br>- Nếu con người ta xử lý thành công mâu thuẫn thành công, họ sẽ bước vào giai đoạn mới với các sức mạnh tâm lý hữu ích giúp họ thành công cả cuộc đời. Nếu họ thất bại trong việc xử lý hiệu quả những xung đột này, họ không thể hình thành những kỹ năng thiết yếu cần có để hiểu rõ chính mình.<br><br>1. <strong>Giai đoạn 1 – Tin tưởng và Hoài nghi <br>- </strong>Giai đoạn đầu tiên trong học thuyết phát triển tâm lý xã hội của Erikson xuất hiện trong khoảng từ khi mới sinh ra đến một tuổi và là giai đoạn nền tảng nhất trong cuộc đời.<br>-&nbsp; Trong giai đoạn phát triển này, đứa trẻ sẽ cực kỳ phụ thuộc vào người chăm sóc trong tất cả mọi phương diện mà nó cần để sinh tồn, bao gồm thức ăn, tình yêu thương, hơi ấm, sự an toàn và chăm sóc nuôi dưỡng. Tất cả mọi thứ. Nếu không được chăm sóc và yêu thương đầy đủ, đứa trẻ sẽ cảm thấy rằng mình không thể tin tưởng hoặc lệ thuộc vào người lớn nào trong đời mình.<br>- Đương nhiên, không có đứa trẻ nào lớn lên mà cảm nhận được 100% tin tưởng hay 100% nghi ngờ. Erikson tin rằng phát triển thành công là phải giữ ở một mức cân bằng giữa hai thái cực này.<br><br>2. <strong>Giai đoạn 2 – Tự chủ, Tủi hổ và Nghi ngờ <br>- </strong>Giai đoạn hai trong thuyết phát triển tâm lý xã hội của Erikson diễn ra trong suốt đầu thời thơ ấu và tập trung váo quá trình trẻ hình thành một cảm quan lớn hơn về năng lực kiểm soát cá nhân.<br>- Vào thời điểm này, trẻ mới bắt đầu có được một chút cái gọi là độc lập tự chủ. Trẻ bắt đầu tự mình thực hiện những hành động cơ bản và đưa ra những quyết định đơn giản về cái chúng lựa chọn. Việc cho phép trẻ đưa ra lựa chọn và có được quyền kiểm soát sẽ tạo điều kiện cho người chăm sóc giúp trẻ hình thành cảm nhận về sự tự chủ.<br>- Trẻ nào hoàn thành giai đoạn này thành công sẽ cảm thấy an tâm và tự tin, trong khi những trẻ không hoàn thành tốt sẽ cảm thấy thiếu hụt và tự nghi hoặc bản thân mình.<br>3. <strong>Giai đoạn 3 – Chủ động và Cảm giác tội lỗi </strong>&nbsp;<strong><br>- </strong>Giai đoạn 3 của quá trình phát triển tâm lý xã hội diễn ra trước tuổi đến trường.<br>- Tại giai đoạn này, trẻ bắt đầu khẳng định sức mạnh và sự kiểm soát thế giới qua hoạt động đóng kịch và các hoạt động tương tác xã hội khác.<br>- Trẻ nào thành công trong giai đoạn này sẽ cảm thấy mình có khả năng và có thể lãnh đạo người khác. Trẻ nào không có được những kỹ năng này sẽ cảm thấy tội lỗi, nghi ngờ bản thân và thiếu sự chủ động.<br><br>4. <strong>Giai đoạn 4 – Siêng năng và Tự ti.&nbsp; <br>- </strong>Giai đoạn phát triển tâm lý xã hội thứ tư diễn ra trong những năm tháng đi học đầu đời, độ tuổi tử 5 đến 11.<br>- Nhờ tương tác xã hội, trẻ bắt đầu cảm thấy tự hào về những thành tích và năng lực của bản thân. Trẻ nào nhận được sự động viên và khen ngợi từ cha mẹ và thầy cô sẽ bắt đầu cảm nhận về năng lực và niềm tin vào các kỹ năng của mình. Trẻ nào không nhận được sự khích lệ từ cha mẹ, thầy cô hoặc bạn bè sẽ nghi ngờ về năng lực đạt được thành công của mình.<br><br>5. <strong>Giai đoạn 5 – </strong>&nbsp;<strong>Định hình cái tôi và Bối rối về vai trò.<br>- </strong>Giai đoạn thứ năm trong quá trình phát triển tâm lý xã hội diễn ra trong những năm tháng tuổi teen đầy xáo trộn. Giai đoạn này đóng một vai trò thiết yếu trong sự phát triển cảm nhận về định hình (bản dạng) cái tôi, bản dạng này sẽ tiếp tục ảnh hưởng lên hành vi và sự phát triển của toàn bộ cuộc sống sau này.<br>- Trong suốt tuổi vị thành niên, trẻ khám phá sự tự lập và hình thành cảm nhận về bản thân. Những người nhận được sự khích lệ và củng cố phù hợp sẽ vượt qua giai đoạn này với sự cảm nhận mạnh mẽ về bản thân, cảm giác tự lập và chủ động kiểm soát. Những người vẫn còn không chắc chắn về những niềm tin và ham muốn của mình sẽ cảm thấy bất an và bối rối về bản thân cũng như tương lai.<br><br>6. <strong>Giai đoạn 6 – Gắn bó và Cô lập.<br>- </strong>Giai đoạn này trải dài trong thời kỳ đầu giai đoạn trưởng thành khi con người ta khám phá những mối quan hệ cá nhân.<br>- Erikson tin rằng việc chúng ta hình thành những mối quan hệ gần gũi, gắn kết với người khác là một điều tối quan trọng. Những người hoàn thành bước này tốt sẽ hình thành được những mối quan hệ bền lâu và đảm bảo.<br><br>7. <strong>Giai đoạn 7 – Kiến tạo giá trị và Đình trệ. <br>- </strong>Trong suốt những năm tháng trưởng thành, chúng ta tiếp tục vun đắp cuộc sống, tập trung vào sự nghiệp và gia đình.<br>- Người thành công trong giai đoạn này sẽ cảm thấy mình đang chủ động đóng góp cho thế giới qua các hoạt động ở nhà và ở cộng đồng. Những người không thể đạt được kỹ năng này sẽ cảm thấy mình không có ích và không gắn kết với thế giới.<br>- Chăm sóc là phẩm chất đạt được khi vượt qua giai đoạn này thành công. Tự hào về những thành tích của bản thân, nhìn con cái trưởng thành mỗi ngày và hình thành một cảm nhận về sự thống nhất với bạn đời là những thành tích quan trọng đạt được trong giai đoạn này.<br><br>8. <strong>Giai đoạn 8 – Trọn vẹn và Thất vọng.<br>- </strong>Giai đoạn phát triển tâm lý xã hội cuối cùng xuất hiện trong suốt những năm về già và tập trung vào những hồi tưởng về cuộc đời.<br>- Tại thời điểm này, con người ta sẽ nhìn về lại những sự kiện trong cuộc sống và xác định xem mình có hạnh phúc với cuộc sống mình đã sống hay hối hận về những điều họ làm hoặc đã không làm.<br>- Những người không thành công ở giai đoạn này sẽ cảm thấy cuộc sống của họ bị lãng phí và sẽ trải qua vô cùng nhiều nỗi ân hận. Họ sẽ cảm thấy cay đắng và thấy vọng.<br>- Người nào cảm thấy tự hào về những thành tích mình đạt được sẽ cảm thấy được sự trọn vẹn thống nhất. Thành công hoàn thành giai đoạn này nghĩa là hồi tưởng lại nhưng không có nhiều điều hối hận và nhìn chung là hài lòng về những gì đã qua.&nbsp;<br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1234245689/42f069f6eda4942ab3afdc8e69608770/96e23f7377a7d4d81a99767202becf31.jpg" />
         <pubDate>2021-06-09 23:38:48 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/adlocked0/mibaiu0y1r7924fd/wish/1597063594</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
