<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title>TRANG SỬ AN GIANG ( LÊ QUỐC KHANH - NGUYỄN QUYỀN KHANH ) by LÊ QUỐC KHANH</title>
      <link>https://padlet.com/lequockhanh2004thcsph/trangsuangiang</link>
      <description>lê quốc khanh</description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2018-12-12 05:59:25 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2026-01-06 11:00:17 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url>https://padlet-assets.s3.amazonaws.com/icons/Watchclock.png</url>
      </image>
      <item>
         <title>quá trình thành lập tỉnh An GIANG thời nhà NGUYỄN (1802 - 1884 )</title>
         <author>lequockhanh2004thcsph</author>
         <link>https://padlet.com/lequockhanh2004thcsph/trangsuangiang/wish/313715712</link>
         <description><![CDATA[<div><br></div><div><strong><br>An Giang</strong> là tỉnh có dân số đông nhất ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long (còn gọi là vùng Tây Nam Bộ), đồng thời cũng là tỉnh có dân số đứng hạng thứ 6 Việt Nam. Một phần diện tích của tỉnh An Giang nằm trong vùng tứ giác Long Xuyên.<br><br></div><div><br>An Giang là một trong sáu tỉnh đầu tiên ở Nam Kỳ (Nam Kỳ lục tỉnh) vào thời nhà Nguyễn độc lập, thành lập năm 1832 dưới triều vua Minh Mạng. Tỉnh An Giang bị giải thể dưới thời Pháp thuộc và sau đó lại được chính quyền Việt Nam Cộng hòa tái lập, tồn tại từ cuối năm 1956 cho đến ngày nay.<br><br></div><div><br>Tháng 7 năm 2013, An Giang là tỉnh đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long có 2 thành phố trực thuộc tỉnh là Long Xuyên và Châu Đốc. Tháng tư năm 2015, An Giang là tỉnh đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long có 2 Đô thị loại II: thành phố Long Xuyên nằm bên bờ sông Hậu, có truyền thống văn hóa đặc trưng của một thành phố miền Tây với chợ nổi trên sông và nhiều di tích thắng cảnh khác và Châu Đốc là thành phố biên giới, cũng nằm bên bờ sông Hậu, nổi tiếng với cụm di tích và thắng cảnh ở núi Sam. Hiện nay, tỉnh lỵ tỉnh An Giang được đặt tại Long Xuyên.<br><br></div><div><br></div><div><br>An Giang có diện tích 3.536,7 km² bằng 1,03% diện tích cả nước và đứng thứ 4 so với 12 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, phía đông giáp tỉnh Đồng Tháp, phía bắc và tây bắc giáp hai tỉnh Kandal và Takéo của Campuchia với đường biên giới dài gần 104 km, phía tây nam giáp tỉnh Kiên Giang, phía nam giáp thành phố Cần Thơ<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/An_Giang#cite_note-gttangiang-2"><sup>[2]</sup></a>.<br><br></div><div><strong><em>VỊ TRÍ ĐỊA LÝ</em></strong><br>Điểm cực Bắc trên vĩ độ 10057' (xã Khánh An, huyện An Phú), cực Nam trên vĩ độ 10012' (xã Thoại Giang, huyện Thoại Sơn), cực Tây trên kinh độ 1040 46' (xã Vĩnh Gia, huyện Tri Tôn), cực Đông trên kinh độ 105035' (xã Bình Phước Xuân, huyện Chợ Mới). Chiều dài nhất theo hướng Bắc Nam là 86 km và Đông Tây là 87,2 km<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/An_Giang#cite_note-gttangiang-2"><sup><br></sup></a><strong>Khí hậu</strong></div><div><br>Với vị trí đó An Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong năm có 2 mùa rõ rệt gồm mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 27 độ C, lượng mưa trung bình năm khoảng 1.130 mm. Độ ẩm trung bình 75 – 80%, khí hậu cơ bản thuận lợi cho phát triển nông nghiệp.<br><br></div><div><strong><br></strong><br></div><div><br>Là tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long, có hệ thống giao thông thủy, bộ rất thuận tiện. Giao thông chính của tỉnh là một phần của mạng lưới giao thông liên vùng quan trọng của quốc gia và quốc tế, có cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên, Vĩnh Xương – Tân Châu và Long Bình – An Phú. Đó là lợi thế cho quá trình mở cửa, phát triển và hội nhập kinh tế An Giang với các tỉnh trong khu vực, ngoài nước, nhất là khu vực Đông Nam Á.<br><br></div><div><br>An Giang có nguồn nước mặt và nước ngầm rất dồi dào. Sông Tiền và sông Hậu chảy song song từ Tây Bắc xuống Đông Nam trong địa phận của tỉnh dài gần 100 km, lưu lượng trung bình năm 13.800 m3 /s. Bên cạnh đó có 280 tuyến sông, rạch và kênh lớn, nhỏ, mật độ 0,72 km/km². Chế độ thủy văn của tỉnh phụ thuộc chặt chẽ vào chế độ nước của sông Mê Kông, hàng năm có gần 70% diện tích tự nhiên bị ngập lũ, thời gian ngập lũ từ 3 – 4 tháng, vừa đem lại lợi ích to lớn – đưa lượng phù sa, vệ sinh đồng ruộng... nhưng cũng đã gây ra những tác hại nghiêm trọng. Trong 30 năm qua đã có đến 5 lần ngập cao làm thiệt hại tính mạng, mùa màng, cơ sở hạ tầng, nhà ở của cư dân... làm cho suất đầu tư của tỉnh thường ở mức cao nhưng hiệu quả mang lại bị hạn chế.<br><br></div><div><br>Về đất đai và thổ nhưỡng, An Giang có 6 nhóm chính, trong đó chủ yếu là nhóm đất phù sa 151.600 ha chiếm 44,5% diện tích đất tự nhiên; nhóm đất phù sa có phèn 93.800 ha chiếm 27,5%; nhóm đất phát triển tại chỗ và đất phù sa cổ 24.700 ha chiếm 7,3%; còn lại là đất phèn và<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/An_Giang#cite_note-:1-3"><sup>[</sup></a>các nhóm khác.</div><div><br>An Giang có 37 loại đất khác nhau, hình thành 6 nhóm đất chính, trong đó chủ yếu là nhóm đất phù sa trên 151.600 ha, chiếm 44,5%. phần lớn đất đai điều màu mỡ vì 72% diện tích là đất phù sa hoặc có phù sa, địa hình bằng phẳng, thích nghi đối với nhiều loại cây trồng.<br><br></div><div><br>Trên địa bàn toàn tỉnh có trên 583 ha rừng tự nhiên thuộc loại rừng ẩm nhiệt đới, đa số là cây lá rộng, với 154 loài cây quý hiếm thuộc 54 họ, ngoài ra còn có 3.800 ha rừng tràm. Sau một thời gian diện tích rừng bị thu hẹp, những năm gần đây tỉnh đã chú ý nhiều tới việc gây lại vốn rừng. Động vật rừng An Giang cũng khá phong phú và có nhiều loại quý hiếm. Rừng tập trung chủ yếu ở vùng Bảy núi tạo nên nhiều phong cảnh đẹp cùng với những di tích văn hóa – lịch sử, góp phần phát triển kinh tế địa phương tương đối đa dạng.<br><br></div><div><br>Nguồn lợi thủy sản trên hai con sông Tiền sông Hậu không nhỏ, và cùng với hệ thống kênh, rạch, ao, hồ đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nghề nuôi cá bè, ao hầm, tôm trên chân ruộng mà từ lâu nó đã trở thành nghề truyền thống của nhân dân địa phương – đây cũng là thế mạnh đặc trưng ở An Giang.<br><br></div><div><br>Ngoài ra, An Giang còn có tài nguyên khoáng sản khá phong phú, với trữ lượng khá đá granít trên 7 tỷ m3, đá cát kết 400 triệu m3, cao lanh 2,5 triệu tấn, than bùn 16,4 triệu tấn, vỏ sò 30 – 40 triệu m3, và còn có các loại puzolan, fenspat, bentonite, cát sỏi,…<br><br></div><div><br>Với những thế mạnh về đất đai và khí hậu An Giang được xem là tỉnh có tiềm năng du lịch. Du lịch của tỉnh tập trung vào các lĩnh vực văn hoá, du lịch sinh thái, du lịch vui chơi giải trí và du lịch nghỉ dưỡng. Tài nguyên khoáng sản cũng là lợi thế của tỉnh An Giang so với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long khác, nguồn đá, cát, đất sét là nguyên liệu quý của ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, đáp ứng nhu cầu rất lớn của vùng đồng bằng sông Cửu Long về vật liệu xây dựng</div><div><br></div><div>Làng người Chăm ở các huyện An Phú, Châu Phú, Châu Thành và thị xã Tân Châu (An Giang)</div><div><br>Tính đến năm 2016, dân số toàn tỉnh là 2.159.900 người<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/An_Giang#cite_note-:1-3"><sup>[</sup></a>, mật độ dân số 611 người/km².Đây là tỉnh có dân số đông nhất khu vực đồng bằng sông Cửu Long. 30.7% dân số sống ở đô thị và 69.3%<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/An_Giang#cite_note-:1-3"><sup>[</sup></a><sup> </sup>dân số sống ở nông thôn.<br><br></div><div><br>Toàn tỉnh có 24.011 hộ dân tộc thiểu số, với 114.632 người, chiếm 5,17% tổng dân số toàn tỉnh.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/An_Giang#cite_note-AG-4"><sup><br></sup></a><br></div><div><br>Dân tộc Khmer có 18.512 hộ, 86.592 người, chiếm tỷ lệ 75,54% so tổng số người dân tộc thiểu số và chiếm 3,9% so tổng dân số toàn tỉnh; trong đó có 16.838 hộ với dân số khoảng 80.000 người (chiếm gần 92% tổng số dân tộc Khmer toàn tỉnh) sống tập trung ở 2 huyện miền núi: Tri Tôn và Tịnh Biên, số còn lại sống rải rác ở các huyện: Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn. Hầu hết đồng bào dân tộc Khmer theo Phật giáo Nam tông, có mối quan hệ rộng rãi với đồng bào dân tộc Khmer các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và người Khmer ở Campuchia. Nguồn thu nhập chủ yếu của đồng bào Khmer từ trồng trọt, chăn nuôi gia súc và làm thuê mướn theo thời vụ.<br><br></div><div><br>Dân tộc Chăm có 2.660 hộ, 13.722 người, chiếm tỷ lệ gần 12% so tổng số người dân tộc thiểu số và chiếm 0,62% so tổng dân số toàn tỉnh, sống tập trung khá đông ở huyện An Phú và thị xã Tân Châu, số còn lại sống rải rác ở các huyện: Châu Phú và Châu Thành<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/An_Giang#cite_note-6"><sup>[6]</sup></a>. Hầu hết đồng bào Chăm theo đạo Hồi, có mối quan hệ với tín đồ Hồi giáo các nước Ả Rập, Malaysia, Indonesia, Campuchia. Nguồn thu nhập chính bằng nghề chài lưới, buôn bán nhỏ và dệt thủ công truyền thống.<br><br></div><div><br>Dân tộc Hoa có 2.839 hộ, 14.318 người, chiếm tỷ lệ 12,50% so tổng số người dân tộc thiểu số và chiếm 0,65% tổng dân số toàn tỉnh. Đại bộ phận sống ở thành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ, có mối quan hệ chặt chẽ với người Hoa trong vùng và nhiều nước trên thế giới. Đồng bào người Hoa phần lớn theo Phật giáo Đại thừa, đạo Khổng và tín ngưỡng dân gian. Một bộ phận lớn kinh doanh thương mại, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, có cuộc sống ổn định, thu nhập khá hơn so với các dân tộc khác.<br><br></div><div><br>Về tôn giáo, An Giang là nơi xuất phát của một số tôn giáo nội sinh như Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa]], Phật giáo Hòa Hảo... An Giang hiện có 9 tôn giáo được Nhà nước công nhận, gồm: Phật giáo Việt Nam, Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài, Công giáo, Tin Lành, Tịnh Độ Cư sĩ, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Hồi giáo, Bửu Sơn Kỳ Hương, với gần 1,8 triệu tín đồ (chiếm 78% dân số toàn tỉnh), 487 cơ sở thờ tự hợp pháp, 602 chức sắc và trên 3.400 chức việc.</div><div><br><strong><em>Lịch sử hình thành</em></strong></div><div><br>Vùng đất An Giang được người Khmer gọi là <strong>Moăt Chruk</strong> (មាត់ជ្រូក), nghĩa là xứ Miệng Heo. Nghĩa xứ Miệng Heo nghe có vẻ tối nghĩa, có thể suy đoán thêm các nghĩa khác như: xứ Tiếng Heo (xứ có nhiều heo rừng kêu la), xứ Bờ Heo (xứ có nhiều đường đất do heo rừng ủi thành). Sau người Việt đọc trại địa danh này thành Chu Đốc, nhưng do kị húy nên đọc thành Châu Đốc. Thời Nguyễn, địa danh này được phiên âm là Mật Luật (hoặc Ngọc Luật), dùng để chỉ khu vực xung quanh Châu Đốc.<br><br></div><div><strong><br>Tỉnh An Giang thời phong kiến</strong></div><div>An Giang thời nhà Nguyễn độc lập</div><div>Phủ Tuy Biên (Tĩnh Biên) thời nhà Nguyễn vào năm 1861</div><div>An Giang trong bản đồ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_K%E1%BB%B3_L%E1%BB%A5c_t%E1%BB%89nh">Nam Kỳ </a></div><div><br></div><div><br>Theo Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán nhà Nguyễn thì, đất An Giang (Khmer: ខេត្តមាត់ជ្រូក xưa là đất Tầm Phong Long nước Chân Lạp (vùng đất nằm giữa sông Tiền và sông Hậu). Đến năm 1757 (Đinh Sửu), quốc vương Chân Lạp là Nặc Tôn (Outey II) dâng đất này cho chúa Nguyễn. Từ thời thuộc Chân Lạp cho đến tận đầu nhà Nguyễn, đất An Giang còn hoang hóa, rất ít dân cư. Những năm đầu thời vua Gia Long, nhà Nguyễn mới tổ chức mộ dân đến khai hoang định cư, và cho thuộc vào thuộc trấn Vĩnh Thanh (1 trong 5 trấn của thành Gia Định). Năm Minh Mạng thứ 13 (1832), Minh Mạng chia trấn Vĩnh Thanh thành hai tỉnh An Giang và Vĩnh Long. Tỉnh An Giang (chữ Hán: <em>安江</em>), đồng thời chia thành 2 phủ (với 4 huyện): phủ Tuy Biên (gồm 2 huyện: Tây Xuyên, Phong Phú), phủ Tân Thành (gồm 2 huyện: Đông Xuyên và Vĩnh An). Cùng lúc, đặt ra chức An-Hà tổng đốc thống lĩnh cả hai tỉnh An Giang và Hà Tiên, lỵ sở đặt tại tỉnh thành Châu Đốc của tỉnh An Giang. Địa bàn tỉnh An Giang thời bấy giờ tương ứng với An Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng và một phần tỉnh Đồng Tháp ngày nay.<br><br></div><div><br>Tháng 4 âm năm 1824, Nặc Ông Chân (Ang Chan II), hiến tặng nhà Nguyễn thông qua Nguyễn Văn Thoại (để trả ơn ông Thoại), 3 vùng Chân Sum (còn gọi là Chân Thành hay Chân Chiêm, nằm giữa Giang Thành và Châu Đốc), Mật Luật (Ngọc Luật, cũng nằm giữa Giang Thành và Châu Đốc), Lợi Kha Bát (Prey Kabbas), Takeo). Nhà Nguyễn chỉ lấy 2 đất Chân Sum và Mật Luật (Mật Luật sau thành đất huyện Tây Xuyên). Chân Sum sau được phân vào hai huyện Hà Âm và Hà Dương từng thuộc phủ Tĩnh Biên tỉnh Hà Tiên, trước khi chia về cho tỉnh An Giang.<br><br></div><div><br>Năm 1833, tỉnh An Giang bị quân Lê Văn Khôi nổi dậy chiếm đóng, nhà Nguyễn phải điều binh đánh dẹp, cuối cùng Án sát An Giang là Bùi Văn Lý lấy lại được tỉnh thành (Châu Đốc) từ tay quân của Khôi. Năm 1833-1834, quân nước Xiêm La, theo cầu viện của Lê Văn Khôi, tiến vào An Giang theo đường sông Cửu Long đánh nhà Nguyễn, bị quân nhà Nguyễn do Trương Minh Giảng, Nguyễn Xuân đánh bại trên sông Vàm Nao.<br><br></div><div><br>Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), nhà Nguyễn lấy thêm đất Ba Thắc (Bassac, thuộc Cao Miên) sáp nhập vào An Giang và lập thành phủ Ba Xuyên. Đất Ba Thắc cũ chia thành 2 huyện Phong Nhiêu và Phong Thịnh. Đồng thời nhập thêm huyện Vĩnh Định của tỉnh Vĩnh Long vào phủ Ba Xuyên, khiến phủ Ba Xuyên có 3 huyện: Phong Nhiêu, Phong Thịnh và Vĩnh Định.<br><br>Năm 1868, thực dân Pháp chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ là An Giang, Vĩnh Long và Hà Tiên. Lúc này, thực dân Pháp dần xóa bỏ tên gọi tỉnh An Giang cùng hệ thống hành chính phủ huyện cũ thời nhà Nguyễn ở khu vực này, đồng thời cũng đặt ra các hạt Thanh tra. Theo đó, tỉnh An Giang bị đổi tên thành tỉnh Châu Đốc, do lấy theo tên gọi nơi đặt lỵ sở của tỉnh là thành Châu Đốc. Tỉnh Châu Đốc khi đó gồm các hạt Thanh tra, vốn lấy tên gọi theo địa điểm nơi đặt lỵ sở như: hạt Châu Đốc (phủ Tuy Biên cũ), hạt Sa Đéc (phủ Tân Thành cũ) và hạt Ba Xuyên (phủ Ba Xuyên cũ):<br><br></div><div><br>-Hạt Châu Đốc (phủ Tuy Biên cũ), đặt lỵ sở tại Châu Đốc, gồm 2 huyện: Đông Xuyên và Hà Dương<br><br></div><div><br>-Hạt Sa Đéc (phủ Tân Thành cũ), đặt lỵ sở tại Sa Đéc, gồm 3 huyện: An Xuyên, Vĩnh An và Phong Phú<br><br></div><div><br>-Hạt Ba Xuyên (phủ Ba Xuyên cũ), đặt lỵ sở tại Sóc Trăng, gồm 3 huyện: Vĩnh Định, Phong Nhiêu và Phong Thạnh<br><br></div><div><br>Sau này, hạt Thanh tra Ba Xuyên cũng được đổi tên thành hạt Thanh tra Sóc Trăng. Về sau, hạt Thanh tra Châu Đốc cũng tách ra để thành lập thêm hạt Thanh tra Long Xuyên; hạt Thanh tra Sa Đéc tách ra hợp với một phần đất thuộc tỉnh Vĩnh Long trước đây để thành lập hạt Thanh tra Trà Ôn. Một năm sau, Tòa Bố chính từ Trà Ôn lại dời về Cái Răng.<br><br></div><div><br>Ngày 5 tháng 6 năm 1871, hạt Thanh tra Long Xuyên và hạt Thanh tra Châu Đốc nhận thêm phần đất đai thuộc địa bàn tổng Phong Thạnh vốn thuộc huyện Kiến Phong, tỉnh Định Tường vào thời nhà Nguyễn độc lập như sau:<br><br></div><div><br>-Hạt Châu Đốc: lấy phần đất 3 làng An Bình, An Long và Tân Thạnh thuộc tổng Phong Thạnh, huyện Kiến Phong. Phần đất này nằm ở phía tây bắc Đồng Tháp Mười, sau gọi là tổng An Phước thuộc hạt Châu Đốc.<br><br></div><div><br>-Hạt Long Xuyên: lấy địa phận các làng Tân Phú, Tân Thạnh của tổng Phong Thạnh, huyện Kiến Phong để lập tổng mới gọi là tổng Phong Thạnh Thượng thuộc hạt Long Xuyên.<br><br></div><div><br>Theo Nghị định ngày 5 tháng 1 năm 1876, thực dân Pháp bỏ hẳn hệ thống Nam Kỳ lục tỉnh thời nhà Nguyễn, đồng thời các hạt Thanh tra được thay bằng hạt tham biện <em>(arrondissement)</em>, các thôn đổi thành làng. Vùng đất Nam Kỳ lúc này bị chia thành 4 khu vực hành chính <em>(circonscription)</em> do thực dân Pháp đặt ra, trong đó có khu vực Bassac (Hậu Giang) cai quản các hạt tham biện: Châu Đốc, Hà Tiên, Long Xuyên, Rạch Giá, Trà Ôn và Sóc Trăng. Tuy nhiên, hạt tham biện Sa Đéc lại thuộc về khu vực Vĩnh Long. Ngày 23 tháng 2 năm 1876, Thống đốc Nam Kỳ ra Nghị định mới lấy huyện Phong Phú và một phần huyện An Xuyên và Tân Thành để lập hạt Cần Thơ với thủ phủ là Cần Thơ. Hạt Cần Thơ thuộc khu vực Bassac (Hậu Giang).<br><br></div><div><br>Năm 1882, thiết lập hạt tham biện Bạc Liêu trên cơ sở tách 3 tổng Quảng Long, Quảng Xuyên và Long Hưng của hạt tham biện Rạch Giá hợp với 2 tổng Thạnh Hòa và Thạnh Hưng tách từ hạt tham biện Sóc Trăng chuyển sang. Lỵ sở Bạc Liêu thuộc địa bàn tổng Thạnh Hòa vốn trước đó thuộc hạt tham biện Sóc Trăng. Như vậy địa bàn tỉnh An Giang cũ gồm các hạt tham biện Sa Đéc, Châu Đốc, Long Xuyên, Cần Thơ, Sóc Trăng và Bạc Liêu nằm trong 2 khu vực Vĩnh Long và Bassac (Hậu Giang).<br><br></div><div><br>Ngày 12 tháng 8 năm 1888, hạt tham biện Rạch Giá bị giải thể, nhập vào hạt tham biện Long Xuyên. Ngày 27 tháng 12 năm 1892, thực dân Pháp lại tái lập hạt tham biện Rạch Giá. Năm 1888, Hà Tiên cho thuộc về hạt tham biện Châu Đốc, đến cuối năm 1892 lại phục hồi hạt tham biện Hà Tiên.<br><br></div><div><br>Theo Nghị định của Toàn quyền Đông Dương vào ngày 20 tháng 12 năm 1899 thì kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1900, đổi tất cả các hạt ở Nam Kỳ thành tỉnh. Địa bàn tỉnh An Giang cũ chia ra thành 6 tỉnh giống như thời kỳ trước đây: Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc, Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng và Bạc Liêu. Tình hình đó kéo dài cho đến năm 1956.<br><br></div><div><br>Vào thời Pháp thuộc, vùng đất tỉnh An Giang ngày nay (thuộc Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam) là phần đất thuộc Châu Đốc và Long Xuyên. Phần đất của hai tỉnh này khi đó còn bao gồm cả một phần đất thuộc về tỉnh Đồng Tháp ngày nay.<br><br></div><div><strong><br>Tỉnh Châu Đốc</strong></div><div><br>Năm 1903, tỉnh Châu Đốc ban đầu có 3 quận: Tân Châu, Tri Tôn và Tịnh Biên. Năm 1917, Châu Đốc thành lập thêm quận Châu Thành, đến năm 1919 thì đổi tên là quận Châu Phú. Tuy nhiên năm 1939 lại đổi về tên quận Châu Thành như cũ. Ngày 19 tháng 12 năm 1929, thực dân Pháp lập thêm quận Hồng Ngự thuộc do tách ra từ quận Tân Châu cùng tỉnh.<br><br></div><div><br>Tỉnh lỵ Châu Đốc đặt tại làng Châu Phú thuộc tổng Châu Phú, quận Châu Thành. Từ ngày 9 tháng 2 năm 1913 đến ngày 9 tháng 2 năm 1924, tỉnh Hà Tiên bị giải thể, trở thành một quận thuộc tỉnh Châu Đốc. Sau đó, lại tách ra trở thành tỉnh Hà Tiên độc lập như trước.<br><br></div><div><strong><br>Tỉnh Long Xuyên</strong></div><div><br>Năm 1917, thực dân Pháp cho thành lập ở tỉnh Long Xuyên 3 quận trực thuộc: Châu Thành, Chợ Mới và Thốt Nốt. Năm 1953, tỉnh Long Xuyên thành lập thêm hai quận mới là Núi Sập và Lấp Vò. Quận Thoại Sơn được thành lập do tách tổng Định Phú ra khỏi quận Châu Thành; quận Lấp Vò được thành lập do tách tổng An Phú ra khỏi quận Thốt Nốt cùng tỉnh.<br><br></div><div><br>Tỉnh lỵ Long Xuyên thuộc khu vực hai làng Bình Đức và Mỹ Phước cùng thuộc tổng Định Phước, quận Châu Thành. Dựa theo các Sắc lệnh ngày 31 tháng 1 năm 1935 và 16 tháng 12 năm 1938, thị xã Long Xuyên trực thuộc tỉnh Long Xuyên được thành lập bao gồm phần đất nội ô tỉnh lỵ trước đó. Ngày 29 tháng 12 năm 1952, chính quyền Quốc gia Việt Nam thân Pháp quyết định công nhận đô thị tỉnh lỵ Long Xuyên trở thành thị xã hỗn hợp <em>(commune mixte)</em> trực thuộc tỉnh Long Xuyên.<br><br></div><div><strong><br>Giai đoạn 1945-1954</strong></div><div><br>Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, tỉnh Châu Đốc và tỉnh Long Xuyên nằm trong danh sách 21 tỉnh ở Nam Bộ. Lúc này, Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ chủ trương bỏ cấp tổng, bỏ đơn vị làng, thống nhất gọi là xã, đồng thời bỏ danh xưng quận, gọi thay thế bằng huyện. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đến năm 1956 cũng thống nhất dùng danh xưng là xã, tuy nhiên vẫn gọi là quận cho đến năm 1975.<br><br></div><div><br>Ngày 19 tháng 5 năm 1947, Chính phủ lâm thời Cộng hòa Nam Kỳ tự trị thân Pháp quyết định tách đất quận Thốt Nốt để lập thêm quận Lấp Vò ban đầu cùng thuộc tỉnh Long Xuyên; quận lỵ đặt tại Lấp Vò (thuộc làng Bình Đông). Ngày 14 tháng 5 năm 1949, chính quyền Việt Minh lại quyết định tách quận Lấp Vò ra khỏi tỉnh Long Xuyên để nhập vào tỉnh Sa Đéc.<br><br></div><div><br>Ngày 12 tháng 9 năm 1947, theo chỉ thị số 50/CT của Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ (chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), lúc bấy giờ có sự thay đổi sắp xếp hành chính của tỉnh Châu Đốc và Long Xuyên, thành lập các tỉnh mới có tên là Long Châu Tiền và Long Châu Hậu như sau:<br><br></div><div><br>-Tỉnh Long Châu Tiền nằm ở phía bờ trái (tả ngạn) sông Hậu, hai bên sông Tiền, thuộc khu 8 và có 5 huyện: Tân Châu, Hồng Ngự, Chợ Mới, Châu Phú B và Lấp Vò. Ngày 14 tháng 5 năm 1949, huyện Lấp Vò được trả về tỉnh Sa Đéc. Cũng trong năm đó, huyện Tân Châu của tỉnh Long Châu Tiền chia thành 2 huyện mới là Phú Châu và Tân Châu.<br><br></div><div><br>-Tỉnh Long Châu Hậu nằm ở phía bờ phải (hữu ngạn) sông Hậu và có 6 huyện: Tịnh Biên, Tri Tôn, Thốt Nốt, Thoại Sơn, Châu Phú A và Châu Thành (bao gồm 2 tỉnh lỵ Long Xuyên và Châu Đốc). Năm 1949, chính quyền Cách mạng giao huyện Thốt Nốt về cho tỉnh Cần Thơ, đến năm 1954 lại trả huyện Thốt Nốt về cho tỉnh Long Xuyên quản lý trở lại như trước.<br><br></div><div><br>Tháng 10 năm 1950 tỉnh Long Châu Hậu hợp nhất với Hà Tiên thành tỉnh Long Châu Hà, gồm 8 huyện: Tịnh Biên, Tri Tôn, Châu Phú A, Châu Thành, Thoại Sơn, Thốt Nốt, Giang Châu (hợp nhất hai huyện Giang Thành và Châu Thành của tỉnh Hà Tiên cũ), Phú Quốc. Tháng 7 năm 1951, hợp nhất 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên thành huyện Tịnh Biên; hợp nhất 2 huyện Châu Thành và Thoại Sơn thành huyện Châu Thành.<br><br></div><div><br>Tháng 6 năm 1951, tỉnh Long Châu Tiền hợp nhất với tỉnh Sa Đéc thành tỉnh Long Châu Sa, gồm 7 huyện: Châu Thành của tỉnh Sa Đéc cũ), Lai Vung, Cao Lãnh, Tân Hồng, Tân Châu, Phú Châu, Chợ Mới. Trong đó, hai huyện Tân Hồng và Tân Châu vốn là hai huyện Hồng Ngự và Tân Châu của tỉnh Long Châu Tiền trước đó. Tháng 7 năm 1951, nhập huyện Lấp Vò vào tỉnh Long Châu Sa.<br><br></div><div><br>Tuy nhiên, tên các tỉnh Long Châu Tiền, Long Châu Hậu, Long Châu Sa và Long Châu Hà không được chính quyền Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại và chính quyền Việt Nam Cộng hòa công nhận.<br><br></div><div><br>Năm 1953, chính quyền Quốc gia Việt Nam thân Pháp lại quyết định thành lập thêm tại Long Xuyên một quận mới là quận Núi Sập, với quận lỵ đặt tại Núi Sập (thuộc làng Thoại Giang) do tách tổng Định Phú ra khỏi quận Châu Thành cùng tỉnh.<br><br></div><div><br>Năm 1954, chính quyền Việt Minh giải thể các tỉnh Long Châu Sa và Long Châu Hà, đồng thời khôi phục lại các tỉnh Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc và Hà Tiên như cũ.<br><br></div><div><strong><br>Tỉnh An Giang giai đoạn 1956-1964<br><br>Việt Nam Cộng hòa</strong></div><div><br>Ban đầu, chính quyền Quốc gia Việt Nam và sau đó là Việt Nam Cộng hòa vẫn duy trì tên gọi Long Xuyên và Châu Đốc như thời Pháp thuộc.<br><br></div><div><br>Năm 1955, tỉnh Châu Đốc có 5 quận gồm: Châu Thành, Tân Châu, Tri Tôn, Tịnh Biên, Hồng Ngự trong đó tất cả 70 xã. Tỉnh Long Xuyên có 4 quận gồm: Châu Thành, Chợ Mới, Núi Sập, Thốt Nốt với tổng cộng 47 xã.<br><br></div><div><br>Sau năm 1956, các làng gọi là xã. Ngày 17 tháng 2 năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng hòa tách quận Hồng Ngự (có cả cù lao Tây) ra khỏi tỉnh Châu Đốc và tổng Phong Thạnh Thượng ra khỏi quận Chợ Mới, tỉnh Long Xuyên để cùng nhập vào tỉnh Phong Thạnh mới thành lập (sau đó lại đổi tên thành tỉnh Kiến Phong, ngày nay là tỉnh Đồng Tháp).<br><br></div><div><br>Ngày 22 tháng 10 năm 1956, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm ký Sắc lệnh 143/VN để " thay đổi địa giới và tên Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn cùng các tỉnh và tỉnh lỵ tại Việt Nam". Địa giới và địa danh các tỉnh ở miền Nam thay đổi nhiều, một số tỉnh mới được thành lập. Theo Sắc lệnh này, địa phận Việt Nam Cộng hòa gồm Đô thành Sài Gòn và 22 tỉnh. Lúc này tỉnh Châu Đốc và tỉnh Long Xuyên được sáp nhập để thành lập tỉnh mới có tên là tỉnh An Giang. Tỉnh lỵ tỉnh An Giang đặt tại Long Xuyên và vẫn giữ nguyên tên là "Long Xuyên", về mặt hành chánh thuộc địa bàn xã Phước Đức, quận Châu Thành. Ngày 14 tháng 1 năm 1959, xã Phước Đức bị giải thể, sáp nhập vào địa bàn hai xã Mỹ Phước và Bình Đức cùng thuộc quận Châu Thành.<br><br></div><div><br>Lúc này ở vùng đất cả hai tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc trước đó đều có quận Châu Thành cả. Tuy nhiên, do tỉnh lỵ tỉnh An Giang có tên là "Long Xuyên" và được đặt ở quận Châu Thành thuộc, cho nên quận Châu tỉnh Châu Đốc cũ được đổi tên là quận Châu Phú như ở giai đoạn 1919-1939.<br><br></div><div><br>Ngày 24 tháng 4 năm 1957, chính quyền Việt Nam Cộng hòa ấn định các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh. Tỉnh An Giang lúc này gồm 8 quận là Châu Thành, Châu Phú, Chợ Mới, Tân Châu, Thốt Nốt, Tịnh Biên, Tri Tôn, Núi Sập. Tỉnh lỵ đặt tại Long Xuyên.<br><br></div><div><br>Ngày 06 tháng 08 năm 1957, tách 13 xã phía Bắc của quận Châu Phú để thành lập quận mới thuộc tỉnh An Giang có tên là quận An Phú. Ngày 31 tháng 5 năm 1961, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đổi tên quận Núi Sập thành quận Huệ Đức.<br><br></div><ul><li>Quận An Phú: có duy nhất 1 tổng là An Phú (gồm 9 xã) và 4 xã của tổng Châu Phú; quận lỵ: xã Phước Hưng</li><li>Quận Châu Phú: có 2 tổng là Châu Phú (gồm 5 xã) và An Lương (gồm 9 xã); quận lỵ: xã Châu Phú</li><li>Quận Châu Thành: có 2 tổng là Định Phước (gồm 5 xã) và Định Thành (gồm 7 xã); quận lỵ: xã Phước Đức.</li><li>Quận Chợ Mới: có 2 tổng là Định Hòa (gồm 7 xã) và An Bình (gồm 5 xã); quận lỵ: xã Long Điền</li><li>Quận Tân Châu: có 2 tổng là An Thành (gồm 5 xã) và An Lạc (gồm 3 xã); quận lỵ: xã Long Phú</li><li>Quận Thốt Nốt: có duy nhất 1 tổng là Định Mỹ (gồm 9 xã); quận lỵ: xã Thạnh Hòa Trung Nhứt</li><li>Quận Tịnh Biên: có 2 tổng là Quy Đức (gồm 5 xã) và Thành Tín (gồm 3 xã); quận lỵ: xã An Phú</li><li>Quận Tri Tôn: có 3 tổng là Thành Lễ (gồm 5 xã), Thành Ngãi (gồm 3 xã), Thành Ý (gồm 7 xã); quận lỵ: xã Tri Tôn</li><li>Quận Huệ Đức: có duy nhất 1 tổng là Định Phú (gồm 6 xã); quận lỵ: xã Vọng Thê</li></ul><div><strong><br>Chính quyền Cách mạng</strong>[</div><div><br>Năm 1957, chính quyền Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cùng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng giải thể và sáp nhập hai tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc với nhau để thành lập một tỉnh mới, vẫn lấy tên là tỉnh An Giang như phía chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã thực hiện vào năm 1956.<br><br></div><div><br>Tỉnh An Giang khi đó gồm 9 huyện: Chợ Mới, Thốt Nốt, Núi Sập, Châu Thành, Châu Phú, An Phú, Tân Châu, Tịnh Biên, Tri Tôn và 2 thị xã: Long Xuyên, Châu Đốc. Chính quyền Cách mạng cũng trả huyện Hồng Ngự về tỉnh Kiến Phong và huyện Lấp Vò về tỉnh Sa Đéc. Năm 1963, lại giao huyện Thốt Nốt về cho tỉnh Cần Thơ quản lý.<br><br></div><div><strong><br>Tỉnh An Giang và tỉnh Châu Đốc giai đoạn 1964-1975</strong></div><div><strong><br>Việt Nam Cộng hòa</strong></div><div><strong>Dân số tỉnh An Giang 1967</strong><br>Quận/Dân số<br>Châu Thành | 165.298<br>Chợ Mới | 157.359<br>Huệ Đức | 29.986<br>Thốt Nốt | 125.637<br><strong>Tổng số</strong> | 478.280</div><div><br>Ngày 8 tháng 09 năm 1964, Thủ tướng chính quyền mới của Việt Nam Cộng hòa ký Sắc lệnh 246/NV, quy định kể từ ngày 1 tháng 10 năm 1964 tái lập tỉnh Châu Đốc trên cơ sở tách đất từ tỉnh An Giang. Phần đất còn lại tương ứng tỉnh Long Xuyên trước năm 1956, tuy nhiên chính quyền Việt Nam Cộng hòa vẫn giữ tên tỉnh An Giang cho vùng đất này đến năm 1975.<br><br></div><div><br>Tỉnh Châu Đốc khi đó gồm 5 quận: Châu Phú, Tân Châu, Tri Tôn, Tịnh Biên, An Phú. Tỉnh lỵ tỉnh Châu Đốc khi đó lại có tên là "Châu Phú", do nằm trong khu vực xã Châu Phú, quận Châu Phú.<br><strong><br>Chính quyền Cách mạng</strong></div><div><br>Trong giai đoạn 1964-1971, địa bàn tỉnh Châu Đốc của chính quyền Việt Nam Cộng hòa vẫn do tỉnh An Giang của chính quyền Cách mạng quản lý. Năm 1965, chính quyền Cách mạng giao huyện Hà Tiên và huyện Phú Quốc (cùng thuộc tỉnh Rạch Giá) cho tỉnh An Giang quản lý. Đến năm 1967 lại trả hai huyện Hà Tiên và Phú Quốc về cho tỉnh Rạch Giá như trước. Tháng 12 năm 1965, huyện Chợ Mới cũng được giao về cho tỉnh Kiến Phong quản lý. Đến tháng 5 năm 1974, chính quyền Cách mạng đặt huyện Chợ Mới thuộc tỉnh Sa Đéc.<br><br></div><div><br>Năm 1971, Trung ương Cục miền Nam quyết định thành lập tỉnh Châu Hà, tách ra từ tỉnh An Giang và tỉnh Rạch Giá, trên phần đất tỉnh Châu Đốc]] và tỉnh Hà Tiên]] trước năm 1956. Lúc này tỉnh Châu Hà còn có thêm các huyện Châu Thành A, Hà Tiên và Phú Quốc vốn cùng thuộc tỉnh Rạch Giá trước đó. Tỉnh Châu Hà gồm các huyện: Huệ Đức, Tịnh Biên, Tri Tôn, Châu Thành A, Hà Tiên và Phú Quốc.<br><br></div><div><br>Tháng 5 năm 1974, chính quyền Cách mạng lại quyết định giải thể các tỉnh An Giang, Châu Hà và Kiến Phong để tái lập các tỉnh Long Châu Hà, Long Châu Tiền và Sa Đéc:<br><br></div><ul><li>Tỉnh Long Châu Tiền gồm thị xã Tân Châu và 5 huyện: An Phú, Phú Tân A, Phú Tân B, Hồng Ngự, Tam Nông (nay là các huyện Tam Nông, Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp).</li><li>Tỉnh Long Châu Hà mới gồm thị xã Long Xuyên, thị xã Châu Đốc và 8 huyện: Châu Thành X, Châu Phú, Tri Tôn, Tịnh Biên, Huệ Đức, Châu Thành A, Hà Tiên, Phú Quốc.</li><li>Tỉnh Sa Đéc gồm thị xã Sa Đéc, thị xã Cao Lãnh và 6 huyện: Châu Thành, Lấp Vò, Lai Vung, Cao Lãnh, Mỹ An, Chợ Mới.</li></ul><div><br>Tuy nhiên, tên các tỉnh Châu Hà, Long Châu Hà và Long Châu Tiền cũng không được chính quyền Việt Nam Cộng hòa công nhận, mà thay vào đó vẫn sử dụng tên gọi tỉnh Châu Đốc và tỉnh An Giang cho đến năm 1975.<br><br></div><div><br>Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, chính quyền quân quản Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban đầu vẫn duy trì các tỉnh Long Châu Hà và Long Châu Tiền như trước đó. Lúc này, chính quyền Cách mạng cũng bỏ danh xưng "quận" có từ thời Pháp thuộc và lấy danh xưng "huyện" (quận và phường dành cho các đơn vị hành chánh tương đương khi đã đô thị hóa).<br><br></div><div><br>Ngày 20 tháng 9 năm 1975, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 245-NQ/TW về việc bỏ khu, hợp tỉnh trong toàn quốc "nhằm xây dựng các tỉnh thành những đơn vị kinh tế, kế hoạch và đơn vị hành chính có khả năng giải quyết đến mức cao nhất những yêu cầu về đẩy mạnh sản xuất, tổ chức đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân, về củng cố quốc phòng, bảo vệ trị an, và có khả năng đóng góp tốt nhất vào sự nghiệp chung của cả nước". Theo Nghị quyết này, địa bàn các tỉnh Long Châu Hà và Long Châu Tiền cũ sẽ được chia ra vào sáp nhập vào các tỉnh mới, tên gọi tỉnh mới cùng với nơi đặt tỉnh lỵ sẽ do địa phương đề nghị lên. Cụ thể như sau:<br><br></div><ul><li>Tỉnh Rạch Giá (ngoại trừ 2 huyện Vĩnh Thuận và An Biên) cùng với toàn bộ diện tích tỉnh Long Châu Hà và huyện Thốt Nốt của tỉnh Cần Thơ sẽ hợp nhất lại thành một tỉnh.</li><li>Các tỉnh Long Châu Tiền, Sa Đéc và Kiến Tường sẽ hợp nhất lại thành một tỉnh.</li></ul><div><br>Nhưng đến ngày 20 tháng 12 năm 1975, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam lại ra Nghị quyết số 19/NQ điều chỉnh lại việc hợp nhất tỉnh ở miền Nam Việt Nam cho sát với tình hình thực tế, theo đó thành lập tỉnh An Giang trên cơ sở hợp nhất tỉnh An Giang và tỉnh Châu Đốc thời Việt Nam Cộng hòa, trừ huyện Thốt Nốt giao cho tỉnh Hậu Giang quản lý.<br><br></div><div><strong><br>Tỉnh An Giang từ năm 1976 đến nay</strong></div><div>Tỉnh An Giang trong bản đồ địa hình Việt Nam Cộng hòa</div><div><br>Tháng 2 năm 1976, tỉnh An Giang chính thức được tái lập trở lại, ban đầu có 8 huyện: Châu Phú, Châu Thành, Chợ Mới, Huệ Đức, Phú Châu, Phú Tân, Tịnh Biên, Tri Tôn cùng với hai thị xã: Long Xuyên, Châu Đốc. Tỉnh lỵ đặt tại thị xã Long Xuyên.<br><br></div><div><br>Ngày 11 tháng 3 năm 1977, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị quyết số <strong>56-CP</strong><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/An_Giang#cite_note-22"><sup>]</sup></a><sup> </sup>về việc hợp nhất một số huyện thuộc tỉnh An Giang như sau:<br><br></div><ul><li>Hợp nhất huyện Huệ Đức và Châu Thành thành một huyện lấy tên là huyện Châu Thành.</li><li>Hợp nhất huyện Tri Tôn và Tịnh Biên thành một huyện lấy tên là huyện Bảy Núi.</li></ul><div><br>Ngày 23 tháng 8 năm 1979, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị quyết số <strong>300-CP</strong> về việc phân vạch địa giới một số huyện và thị xã thuộc tỉnh An Giang như sau:<br><br></div><ul><li>Chia huyện Bảy Núi thành hai huyện lấy tên là huyện Tri Tôn và huyện Tịnh Biên,</li><li>Chia huyện Châu Thành thành hai huyện lấy tên là huyện Châu Thành và huyện Thoại Sơn.</li></ul><div><br>Ngày 13 tháng 11 năm 1991, huyện Phú Châu được chia thành hai huyện là huyện Tân Châu và huyện An Phú.<br><br></div><div><br>Ngày 12 tháng 11 năm 1994, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số <strong>669/TTg</strong> về việc xác định ranh giới giữa hai tỉnh An Giang và Kiên Giang. Năm 1996, hoàn tất việc xác định ranh giới giữa tỉnh An Giang và các tỉnh lân cận.<br><br></div><div><br>Ngày 1 tháng 3 năm 1999, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số <strong>09/1999/NĐ-CP </strong>về việc thành lập thành phố Long Xuyên thuộc tỉnh An Giang trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của thị xã Long Xuyên trước đó.<br><br></div><div><br>Ngày 14 tháng 04 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số <strong>474/QĐ-TT</strong> về việc công nhận thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang là đô thị loại II trực thuộc tỉnh An Giang.<br><br></div><div><br>Ngày 24 tháng 8 năm 2009, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị quyết số <strong>40/NQ-CP</strong><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/An_Giang#cite_note-27"><sup>[27]</sup></a> về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã thuộc huyện Tân Châu, huyện An Phú, huyện Phú Tân, thành lập thị xã Tân Châu, thành lập các phường thuộc thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.<br><br></div><div><br>Ngày 19 tháng 7 năm 2013, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị quyết số <strong>86/NQ-CP</strong> về việc thành lập thành phố Châu Đốc thuộc tỉnh An Giang trên cơ sở toàn bộ 10.529,05 ha diện tích tự nhiên, 157.298 nhân khẩu và 7 đơn vị hành chính cấp xã của thị xã Châu Đốc trước đó.<br><br></div><div><br>Ngày 15 tháng 4 năm 2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số <strong>449/NQ-TT</strong> về việc công nhận thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang là đô thị loại II trực thuộc tỉnh An Giang.<br><br></div><div><br>Tỉnh An Giang có 11 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm thành phố Long Xuyên, thành phố Châu Đốc, thị xã Tân Châu và các huyện: An Phú, Châu Phú, Châu Thành, Chợ Mới, Phú Tân, Thoại Sơn, Tịnh Biên, Tri Tôn.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="http://nhacqm.webmienphi.in/files/assets/ban_do_ag.png" />
         <pubDate>2018-12-12 06:04:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lequockhanh2004thcsph/trangsuangiang/wish/313715712</guid>
      </item>
      <item>
         <title>XÃ PHÚ HỘI </title>
         <author>lequockhanh2004thcsph</author>
         <link>https://padlet.com/lequockhanh2004thcsph/trangsuangiang/wish/313717599</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Phú Hội</strong><br><strong>Tọa độ</strong>: <a href="https://tools.wmflabs.org/geohack/geohack.php?language=vi&amp;pagename=Ph%C3%BA_H%E1%BB%99i,_An_Ph%C3%BA&amp;params=10_50_26_N_105_3_22_E_region:VN_type:adm3rd">10°50′26″B 105°3′22″Đ</a> <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%87_t%E1%BB%8Da_%C4%91%E1%BB%99_%C4%91%E1%BB%8Ba_l%C3%BD">Tọa độ</a>: <a href="https://tools.wmflabs.org/geohack/geohack.php?language=vi&amp;pagename=Ph%C3%BA_H%E1%BB%99i,_An_Ph%C3%BA&amp;params=10_50_26_N_105_3_22_E_region:VN_type:adm3rd">10°50′26″B 105°3′22″Đ</a><br>Diện tích | 23,96 km²<br>Dân số (1999) |  <br> Tổng cộng | 12472 người<br> Mật độ | 521 người/km²<br>] Vị trí Phú Hội trên bản đồ Việt Nam<br><br>Quốc gia |  <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam">Việt Nam</a><br>Tỉnh | <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/An_Giang">An Giang</a><br>Huyện | <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/An_Ph%C3%BA">An Phú</a><br>Mã hành chính | 30355</div><div><strong><br>Phú Hội</strong> là một <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/X%C3%A3_(Vi%E1%BB%87t_Nam)">xã</a> thuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Huy%E1%BB%87n_(Vi%E1%BB%87t_Nam)">huyện</a> <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/An_Ph%C3%BA">An Phú</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%89nh_(Vi%E1%BB%87t_Nam)">tỉnh</a> <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/An_Giang">An Giang</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam">Việt Nam</a>.<br><br></div><div><br>Xã Phú Hội có diện tích 23,96 km², dân số năm 1999 là 12472 người, mật độ dân số đạt 521 người/km².<br><br></div><div>Đồng lúa Phú Hội.</div><div>Bản đồ huyện An Phú tỉnh An Giang.</div><div><br>Xã Phú hội gồm có 5 ấp là: Phú Nhơn, Phú Thuận, Phú Nghĩa, Phú Mỹ, Phú Trung.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/339776023/0c0d7e6dd68f8af5a4107a52d5cf0238/UaGOk6A.jpg" />
         <pubDate>2018-12-12 06:19:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lequockhanh2004thcsph/trangsuangiang/wish/313717599</guid>
      </item>
      <item>
         <title>CỘT DÂY THÉP </title>
         <author>lequockhanh2004thcsph</author>
         <link>https://padlet.com/lequockhanh2004thcsph/trangsuangiang/wish/313718330</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em><br>Di tích Cột Dây Thép được làm từ bốn trụ cột bằng thép gắn kết tạo thành hình tháp, chóp vuông, có chiều cao 30m với bốn chân trụ siêng theo bốn hướng. Mỗi chân trụ các nhau khỏang một mét rưỡi. Các chân trụ đều làm bằng những thanh thép có hình chữ L nối kết không đều nhau để tạo thêm sức tải lực cho tòan khối Cột Dây Thép. Ngày xưa nó là một trong những công trình bề thế của Thực dân Pháp, và nó đã được những người Cộng sản chọn làm nơi treo lá cờ Đảng đầu tiên tại An Giang. <br></em></strong><br></div><div><br>Hai cột dây thép này đứng đối xứng nhau qua con sông Tiền. Nhiều sợi dây thép to được giăng từ cột bên này qua cột bên kia sông để tạo thành một mạng lưới dây thép vượt sông Tiền. Và đấy chính là mạng lưới thông tin được chính quyền Thực dân lúc ấy dùng để thông tin liên lạc từ các xã bên này sông qua bên kia sông và ngược lại... Chính từ mạng lưới dây thép đó mới có tên gọi cho hai cột này là cột dây thép.<br>Cuối tháng 3/1930, các đồng chí Lê Văn Sô, Lưu Kim Phong được Đặc uỷ Đảng Cộng sản Việt Nam hồi ấy cử về Long Xuyên phối hợp với đồng chí Nguyễn Văn Cưng tiến hành tuyển chọn những người tích cực trong Việt Nam Thanh Niên Cách mạng Đồng chí Hội kết nạp vào Đảng. Ban Chấp hành Lâm thời tỉnh cũng được thành lập và tích cực tiến hành xây dựng các chi bộ Đảng. Tỉnh chọn Chợ Mới làm điểm phát triển tổ chức, vì nơi đây có phong trào cách mạng mạnh, có cơ sở Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng Chí hội rộng, là nơi tập trung đông đảo nông dân, thợ thủ công, trí thức sớm có tinh thần chống Pháp và tay sai. Sau quá trình tìm hiểu, tuyển chọn và bồi dưỡng, tháng 4/1930, Đặc uỷ Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành thành lập một Chi bộ Đảng xã Long Điền, Chợ Mới gồm 3 đồng chí Lưu Kim Phong, Bùi Trung Phẩm và Đoàn Thanh Thuỷ. Đây là Chi bộ Đảng cộng sản đầu tiên của huyện Chợ Mới, đồng thời cũng là Chi bộ Đảng cộng sản Việt Nam đầu tiên của tỉnh Long Xuyên hồi ấy (tức An Giang ngày nay).<br><br>Để chào mừng sự kiện lịch sử đó, lá cờ Đảng đầu tiên tại An Giang đã được treo trên đỉnh Cột Dây Thép. Tiếp theo đó, một lá cờ thứ hai lớn hơn cũng được đưa lên và theo dây thép đưa ra treo ở vị trí giữa sông. Tất cả những công việc này do ông Lê Văn Đỏ, một quần chúng giác ngộ cách mạng tại địa phương trực tiếp thực hiện cùng với sự hỗ trợ gián tiếp của những quần chúng khác. Cờ đỏ búa liềm phất phới tung bay khiến kẻ thù lo sợ, còn nhân dân thì phấn khởi bàn tán xôn xao. Sau đó, cờ Đảng được tiếp tục treo ở nhiều nơi trong huyện Chợ Mới.<br>Cột Dây Thép phản ánh giá trị rất cao về lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân huyện Chợ Mới nói riêng và tỉnh An Giang nói chung trong những ngày đầu thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam, là một dấu ấn trong lòng mọi người dân An Giang khi tìm hiểu về lịch sử tỉnh nhà. Nơi đây chính là điểm treo lá cờ Đảng lần đầu tiên của phong trào cách mạng tỉnh An Giang và cũng là địa điểm tập hợp quần chúng đấu tranh của Chi bộ Đảng Cộng Sản Việt Nam huyện Chợ Mới năm 1930. <br><br>Chi bộ Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời ở Chợ Mới đã đáp ứng được nguyện vọng của quần chúng, mở ra cho những người cách mạng và quần chúng yêu nước ở địa phương con đường giải phóng dân tộc đúng đắn, có ý nghĩa quyết định đối với quá trình phát triển của phong trào cách mạng ở Chợ Mới.<br>Cột Dây Thép vào thời kì ấy còn là nơi tập trung của đông đảo quần chúng nhân dân biểu tình, đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ. Những cuộc tuần hành biểu tình đã tạo nên cuộc đấu tranh rộng lớn ở Chợ Mới, đã có ảnh hưởng sâu rộng nhất là đối với nông dân ở miền Tây Nam bộ. Và cũng từ đó Cột Dây Thép đã trở thành địa danh lịch sử cách mạng, tiêu biểu cho phong trào đấu tranh cách mạng từ những ngày đầu thành lập Đảng, cũng như các cuộc đấu tranh sau này.</div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/339776023/259eed55aac8cad35c0faa5125c4739a/anh01.jpg" />
         <pubDate>2018-12-12 06:26:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lequockhanh2004thcsph/trangsuangiang/wish/313718330</guid>
      </item>
      <item>
         <title>CHÙA AN HÒA TỰ</title>
         <author>lequockhanh2004thcsph</author>
         <link>https://padlet.com/lequockhanh2004thcsph/trangsuangiang/wish/313719318</link>
         <description><![CDATA[<div><strong> 1. Vị Trí Địa Lý <br></strong><br></div><div>An Hòa Tự chùa chánh, mang di tích lịch sử của đạo Phật Giáo Hòa Hảo, tọa lạc tại làng (xã) Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc. (Nay là thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang), mà tín đồ trong đạo thường gọi là Chùa Thầy.</div><div>Chùa được xây dựng trong một khuôn viên rộng 16.000 m2, cặp tỉnh lộ 954, cách bến phà Thuận Giang khoảng 800m. Kiến trúc theo lối chân phương truyền thống, 4 nóc mái; Chánh điện chính giữa cao, phần trước, sau thấp nhỏ hình chữ cơn, hậu tự một nóc hai mái xuôi nối liền chánh điện, cột gỗ, nền gạch, tường vôi, mái ngói, chiếm diện tích khoảng 300 m2, uy nghiêm hướng cửa về phía Nam.</div><div>Hằng năm những ngày sóc vọng, rằm nguơn, ngày đại lễ 18/5 âl - Đức Huỳnh Giáo Chủ khai sáng Đạo Phật Giáo Hòa Hỏa và 25/11 âl - Đản sinh Đức Huỳnh Giáo Chủ, hàng triệu lượt người từ các nơi về đây dâng hương, chiêm bái vị hoạt Phật lâm phàm, và tỏ lòng kính ngưỡng chùa Thầy, coi đây là trái tim của Đạo.</div><div><strong><br> 2. Quá Trình Hình Thành <br></strong><br></div><div> Theo lời kể lại của các kỳ lão trong làng, chùa khởi thủy có ông Phạm Miên, sinh năm Đinh Sửu (1817) từ Cao Bằng miền Bắc vào Nam, định cư thôn Mỹ Lương, phủ Tuy Biên huyện Đông Xuyên, tỉnh An Giang. Năm Canh Tuất (1850) Ông vẹt lau, rẽ sậy dựng nơi đây một thảo am cột tre lợp tranh, với mục đích là vừa tu hành, vừa trị bịnh cho bá tánh. Ông có tạo một số vật dụng, phù phép để trị bịnh. Những bịnh tà, bịnh điên, bịnh nan y ông đều chữa khỏi nên dân chúng rất kính phục. Tháng mười năm Canh Tý (1900) Ông mất, thọ 84 tuổi.</div><div>Sau khi ông Miên mất, thảo am bỏ trống, năm Tân Sửu (1901) ông Thủ tọa Thình từ Mặc Cần Dưng đến ở. Thời gian ở đây ông Thình cất sửa am lại bằng cột gỗ, lợp lá rộng rãi hơn và thỉnh Phật bằng giấy về thờ, tạo chuông mõ để Ông tụng niệm, từ ấy dân làng gọi là chùa.</div><div>Tháng 8 năm Đinh Mão (1927) ông Thình mất, ông Yết Ma Thường (Lê Minh Thường) ở Mặc Cần Dưng lên thay thế. Đến năm Ất Hợi (1935), trải qua phong sương tuế nguyệt chùa hư dột, cây gỗ hư mục, ông Thường không có khả năng cất lại, nên Ông yêu cầu Hương chức trong làng đứng ra xây dựng và giao cho làng làm chủ.</div><div><strong><br> 3. Xây Dựng Phát Triển<br></strong><br></div><div> Khoảng cuối năm 1935, Hương chức hội tề đứng ra kêu gọi sự đóng góp của dân chúng, xây dựng ngôi chùa bằng cột gỗ căm xe, tường vôi, nền gạch, lợp ngói rộng rãi khang trang và hoàn thành trong năm Bính Tý (1936). Làng cử ông Dương Lai Bửu (Hương Chủ Bó) đến Châu Lăng, Châu Đốc rước thợ mã Ba về đắp tượng Phật bằng xi măng thay cho hình Phật bằng giấy để thờ phượng và tạo thêm chuông, trống với những vật dụng cần thiết trong chùa. Vị trí chùa bấy giờ thuộc địa phận xã Hòa Hảo, tổng An Lạc, tỉnh Châu Đốc, nên hương chức hội tề làng lấy tên tổng An Lạc và xã Hòa Hảo ghép lại đặt tên Chùa An Hòa, viết theo hán tự là “An Hòa Tự”.</div><div>Tương truyền Chùa trước kia xây cửa về hướng Đông, sông Vàm Nao. Năm 1936 xây dựng lại trở cửa ra mặt lộ về hướng Nam. Khi dựng bốn đại trụ gỗ căm xe lên trước, tuy có giàn trò chắc chắn nhưng đêm ấy có một trận giông mưa lớn làm bốn đại trụ đổ ngã. Các kỳ lão trong làng lo sợ nên ý kiến cùng hương chức lập bàn cầu Trời Phật, xin keo được tốt, mới dựng lại. Từ đó, chùa xây cửa về hướng Nam như ngày nay.</div><div>Chùa đang xây dựng thì ông Yết Ma Thường bệnh nặng rồi mất. Trong năm ấy, ngôi chùa hoàn thành nhưng không có người trông coi hương khói. Làng cho mời thầy cúng Kiểng (thầy nhưn bông) ở Tịnh Biên (Châu Đốc) về trụ trì. Thầy cúng Kiểng ở đây chuyên đi làm đám, tạo xá hạt, xá mã, làm trai đàn, tụng kinh mướn.</div><div>Năm Kỷ Mão (1939), Đức Huỳnh Giáo Chủ ra đời mở Đạo, lấy vô vi chân truyền của Phật Tổ làm nồng cốt, Ngài bài trừ dị đoan mê tín, xá phướn lầu kho, đốt giấy tiền vàng bạc, nên thầy cúng Kiểng tỏ ý không ưa thích Đức Thầy. Một hôm Đức Thầy đến chùa, lúc ông Kiểng đang làm xá mã, xá hạt do ông Võ Quang Lệ người trong làng đặt đàn cầu siêu cho thân phụ ông. Nhân dịp này, để thử xem oai linh của Đức Thầy ra sao mà nhiều người tin theo đến thế, ông Kiểng lấy quyển kinh Phổ Môn để dưới manh chiếu xếp lại, đặt trên chiếc ghế trường kỷ đối diện, rồi mời Đức Thầy ngồi, nhưng Ngài không ngồi, chỉ đứng nói chuyện. Đức Thầy nhìn ông Võ Quang Lệ, ứng khẩu một bài tứ tuyệt:</div><div><em>Cho hay đạo cả thiệt vì tiền,</em></div><div><em>Đạo cả không tiền đạo ngửa nghiêng.</em></div><div><em>Có bạc sợ chi miền địa ngục,</em></div><div><em>Không tiền khó đến cảnh Tây Thiên.</em></div><div>Bài thơ của Đức Thầy làm ông Kiểng nóng mặt, còn ông Lệ như vừa tỉnh cơn say...</div><div>Từ khi Đức Thầy ra đời giáo Đạo, bá tánh thập phương tấp nập đến Tổ Đình (tư gia của Đức Ông) xin thọ giáo quy y và nhờ Ngài độ bịnh ngày càng đông. Lúc này An Hòa Tự vắng tanh, gần như không người tới lui cúng lễ.</div><div>Các vị hương chức trong làng thuật lại: Đầu năm Canh Thìn (1940) làng có ý định hiến chùa cho Đức Thầy, nhưng lúc ấy nhà cầm quyền Pháp nghi ngờ Đức Thầy qui tụ quần chúng để chống họ, (ngày 12-4-Canh Thìn chánh quyền Pháp dời Đức Thầy từ Hòa Hảo đi Châu Đốc, rồi Sa Đéc, Cần Thơ, Sài Gòn, Nhơn Nghĩa, sau cùng lưu cư Ngài tại Bạc Liêu năm Nhâm Ngũ (1942). Trong thời gian này Ngài không được về quê thăm viếng Đức Ông, Đức Bà và gặp lại tín đồ). Mãi đến tháng 2 năm Ất Dậu (1945) sau khi Nhựt đảo chánh Pháp, người Pháp mất chủ quyền, Đức Thầy mới trở về Hòa Hảo, trong dịp này làng quyết định hiến chùa, và Đức Thầy đã nhận.</div><div>Trong thời gian đi khuyến nông, một lần nữa Đức Thầy về Tổ Đình thăm Đức Ông và Đức Bà, ngày 29 tháng 5 Ất Dậu (1945), Ngài thỉnh lư hương (lư hương bằng sành sứ, đặt trên hương án trong lễ cáo Hoàng Thiên ngày Đức Thầy khai Đạo) từ Tổ Đình xuống an vị nơi chánh điện An Hòa Tự. Hôm ấy khoảng 9 giờ sáng, Đức Thầy bưng lư hương, cùng đi bộ theo sau là các cụ khăn đóng áo dài chỉnh tề, trong đó có ông Nguyễn Duy Hinh (Xã Hinh), ông Nguyễn Chi Diệp (Quản Diệp) và một số tín đồ theo hầu chừng vài chục người. Đến nơi Đức Thầy đi thẳng vào chùa, chính tay Ngài an vị lư hương và làm lễ nơi bàn Phật Tổ. Ngài nguyện: “<em>Tôi sẽ đi xa vắng mặt một thời gian, gởi lại đây những người tâm đạo!”</em> – (Lời nguyện của Đức Thầy, lúc sau này hai ông Nguyễn Chi Diệp và ông Nguyễn Duy Hinh thường nhắc lại).</div><div>An vị lư hương và làm lễ xong, Đức Thầy vào hậu tự ngồi trên ghế trường kỷ, kêu những người trong chùa và những người có mặt đến, Thầy dạy: “<em>Phải cử người quản tự để lo việc trong chùa.</em> Và Ngài nói với thầy cúng Kiểng, <em>khuyên ông thôi đừng đi làm đám, tụng kinh mướn nữa, ở chùa lo tu. Những ngày lễ tết, rằm nguơn, nếu trong chùa cần món gì hay cần tiền thì ghi lời kêu gọi lên bảng đen, khi tín chúng giúp vừa đủ thì bôi bảng. Còn ngày thường thì không nhận của ai hết”.</em> Rồi Ngài kêu bà tư Nguyễn Thị Liên (người ở chùa tu từ lúc còn trẻ) căn dặn “<em>Cô Tư, cô ở đây lo tu, gìn giữ trông nom chùa dùm tôi”.</em> Sau đó, khi về Tổ Đình, Đức Thầy bảo ông Hai Báu (lúc này ông Phan Văn Báu quê ở xã Phú An đang ở Tổ Đình lo việc đốt hương, tiếp khách) xuống chùa tiếp với ông Mười Nhạt (Trần Văn Nhạt ở xã Hòa Hảo) lo phần nhang đèn, bông hoa trong chùa gọi là “Hương đăng”, còn ông Mười Nhạt ở bên ngoài làm “Tri khách” lo việc thù tiếp khách thập phương; lo trồng cây kiểng quanh chùa và coi một số đất ruộng của chùa. (*)</div><div>Theo lời dặn của Đức Thầy, sau đó Đức Ông có tổ chức người quản tự, sắp đặt cho những người ở chùa trồng rau quả chung quanh chùa để tự độ, còn số đất ruộng của chùa giao cho bà con đồng đạo làm, rồi giúp lúa cho chùa đặng chi dụng.</div><div>Thầy Kiểng ở đây một thời gian, có lẽ không thích ứng với quy định mới tại An Hòa Tự, vì không còn môi trường để hành nghề thầy đám, nên thầy Kiểng tự chở đồ đạc hành nghề, bỏ chùa ra đi.</div><div>(*) Đất ruộng của chùa: <em>Theo lời các kỳ lão ở chùa thuật lại: Trước kia chùa có 3 sở ruộng: tại ấp Trung 3 một sở (khoảng 5 mẫu) ấp Thượng 1, một sở và ấp Mỹ Hóa, một sở (không nhớ rõ số mẫu), nhưng nay chùa không còn sở ruộng nào.</em></div><div><strong><br> 4. Tu Bổ Sửa Sang <br></strong><br></div><div> Năm Đinh Hợi (1947) Đức Thầy xa vắng, toàn thể tín đồ vẫn gọi là Chùa Thầy (vì Thầy an vị lư hương tại chánh điện) và coi đây là ngôi chùa căn gốc của đạo Phật Giáo Hòa Hảo. Thường xuyên lui tới cúng bái càng ngày càng đông, nhất là những ngày vía, lễ. Mặc dù chùa được xây dựng khang trang hơn xưa nhiều, nhưng cũng không đáp ứng hết nhu cầu của bá tánh thập phương mỗi khi đến chùa cúng lễ, cũng như nơi ăn chốn ở chưa được tiện nghi. Và, vì phải trải qua nhiều năm mưa nắng làm hư hại nhiều nơi trong chùa, lại thêm chung quanh cây cối sầm uất, đất đai trước sau chùa hầm hố loang lổ nên cần phải tu bổ, sửa sang.</div><div>Giữa năm Nhâm Thìn (1952), Đức Ông Huỳnh Công Bộ (thân sinh Đức Giáo Chủ) đứng ra lo việc trùng tu. Trước khi bắt tay vào việc, Đức Ông cho dựng một tấm bảng thông báo đến toàn thể đồng đạo, kêu gọi đóng góp công quả trong việc trùng tu chùa. Chủ trương của Đức Ông được sự đồng tình của tất cả thân hào, nhân sĩ và đồng đạo khắp nơi hưởng ứng, vui mừng lũ lượt kéo nhau kẻ công, người của đến chùa làm công quả.</div><div>Đặc biệt có, ông Đỗ Văn Trực (thầy Nhì Trực), thầy thuốc bắc ở Long Xuyên (An Giang), đến gỡ bảng xin nhận cúng hiến tất cả chi phí, tiền bạc cho việc xây dựng.</div><div>Đức Ông đặc trách các vị sau đây giúp trông coi việc quản lý xây dựng:</div><div>- Ông Hương Sư Vàng, chức vụ Thủ quỹ, cũng là người đi mua vật tư và thực phẩm.</div><div>- Ông Lương Thanh Liêm, chức vụ thư ký.</div><div>- Cùng nhiều đồng đạo phụ trách các việc khác.</div><ul><li><strong>CÁC HẠNG MỤC CÔNG TRÌNH</strong></li></ul><div>- <strong><em>Chánh điện</em></strong></div><div>Tiền đình trước kia chỉ có hai cửa hai bên, chính giữa chắn bít, bên trong có tượng Hộ Pháp đối diện ngôi Tam Bảo. Đức Ông cho mở cửa giữa rộng hơn hai cửa hai bên, dời tượng Hộ Pháp ra sát hàng rào trước sân chùa, xây ngôi thờ nhỏ có mái che hướng vào trong. Bên trong chánh điện các ngôi thờ vẫn giữ y, chỉ thêm vào mỗi ngôi thờ một tấm trần dà, tiêu biểu cho tinh thần vô thượng của Nhà Phật.</div><div>- <strong><em>Hậu Tổ</em></strong></div><div>Trước bằng cây gỗ, tre lá nay được đổi lại kiên cố bằng xi măng, sắt, mái lợp tole (đến năm 1965 lớp mái ngói). Sau khi trùng tu, các ngôi thờ vẫn giữ y vị trí cũ. Đặc biệt, Đức Ông cho viết bốn chữ “Bửu Sơn Kỳ Hương” màu đỏ bằng chữ Hán trong tấm hoành phi nền vàng, tôn trí phía trên trước ngôi thờ của Đức Phật Thầy. Đối diện là một tấm hoành phi nhỏ hơn, với bốn chữ Hán “Sơn Trung Ánh Chiếu” cũng chữ đỏ nền vàng.</div><div>- <strong><em>Đông lang – Tây lang</em></strong></div><div>Đông lang và Tây lang trước kia xây cất vừa, gọn, không tôn nền. Lần trùng tu này, Đức Ông cho phá dỡ xây dựng lại bằng cột gỗ căm xe, tường vôi, nền gạch, lợp ngói; bề mặt rộng rãi hơn và được trang trí một số bàn, ghế, tủ, vật dụng cần thiết để dùng và tiếp khách.</div><div>Đến khi Đức Ông, Đức bà qui tiên, tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo vì nhớ công ơn cùng bởi lòng tôn kính song thân của Đức Giáo Chủ nên lập bàn thờ nơi Tây lang để thờ Đức Ông và Đức Bà như hiện nay.</div><div>- <strong><em>Nhà khói và cảnh trí xung quanh</em></strong></div><div>Trước khi trùng tu thì nhà khói bằng cây gỗ, mái lợp lá nối liền hậu tự. Đức Ông cho dời ra phía sau cất bằng cây săng, mái lợp tole, rộng rãi thoáng mát hơn, nhằm phục vụ cho những ngày lễ, tết, rằm ngươn; nhứt là đại lễ 18/5, để đồng đạo về đây có nơi ăn, chốn nghỉ.</div><div>Đức Ông cho khai thông con kinh cặp lộ trước chùa; đào ao lớn sau chùa, đúc bồn dự trữ nước sinh hoạt; xây dựng hàng rào và đúc cổng kiên cố để bảo quản. Về phía Đông, cách khoảng 50m có miếu Hội Đồng Thần bằng cây gỗ lợp ngói, Đức Ông cũng cho xây lại nền gạch, tường vôi. Còn cho trang trí, sơn sửa những nơi hư hoại và làm mới đẹp, sạch sẽ bên trong, bên ngoài nội tự.</div><div>Cùng ích lợi trong việc đào ao (rộng khoảng 1.000 mét vuông) chứa nước tiêu dùng, Đức Ông cho lấy đất này san lắp những nơi hầm hố loang lổ, sau đó được trồng sen và nuôi dưỡng một số linh qui.</div><div>Việc trùng tu An Hòa Tự kết quả mỹ mãn như ý muốn. Đức Ông còn tổ chức Ban Quản Tự để lo bảo quản chùa, và có đưa ra điều lệ cho Ban Quản Tự làm việc.</div><div>Năm Nhâm Tý (1972), lại tu bổ mở rộng hậu đường, nhà trú; láng xi măng mặt sân rộng ở ba phía do thủ bổn Hồ Nam Kinh và kiểm soát Trần Phú Nhẹ, thay mặt Ban Quản Tự, đốc công thực hiện.</div><div><br> <strong>5. Hình Ảnh, Cảnh Trí Bên Ngoài</strong> <br><br></div><div> An Hòa Tự hướng cửa về phía Nam, cách tỉnh lộ 954 khoảng 16m. Trước chùa có hàng rào xi măng cốt sắt, nối liền Đông môn, Tây môn và hai cổng phụ để xe ra vào.</div><div>An Hòa Tự nhìn từ bên đông lang</div><div>1- <em>Đông môn:</em> Phía trên cửa một tấm bảng có 3 chữ lớn “An Hòa Tự”, dưới có 2 chữ Đông môn; hai bên hai câu liễn bằng chữ Hán:</div><div><em>Thành tính chân như tầm diệu quả,</em></div><div><em>Nhập môn thiện niệm diệt mê tân.</em></div><div>2- <em>Tây môn:</em> Phía trên cổng một tấm bảng chữ lớn “An Hòa tự” phía dưới hai chữ Tây môn và hai bên hai câu liễn chữ Hán:</div><div><em>Phật Giáo từ bi hành chánh đạo,</em></div><div><em>Pháp môn nguyện lực thoát mê đồ.</em></div><div><br></div><div>Khoảng giữa Đông Môn – Tây Môn phía trong rào có tháp nhỏ bát giác thờ tượng Hộ Pháp.  </div><div><br></div><div><br></div><div>Cặp rào bên trong trước Đông lang, cách Đông môn 12m một nhà đúc nhỏ hình chữ nhật vừa đủ để trân tàng chiếc xe hơi (hiệu RENAULT) Đức Thầy đã dùng đi Thuyết Pháp Khuyến nông năm Ất Dậu (1945). </div><div>Nhà trân tàng xe của Đức Thầy nay đã được dùng làm phòng quản lý, bảo vệ.</div><div>Cuối cùng, bên trong góc rào phía đông là miếu thờ Hội Đồng. Chính giữa miếu là bàn thờ “Hội Đồng” viết bằng chữ hán. Hai bên 2 câu liễn: </div><div> <em>Vạn cổ đào huê chiêu thánh nữ,</em></div><div><em>Thiên thu xuân sắc hội thần tiên.</em></div><div>Hai bên thờ Tả Ban-Hữu ban.</div><div>Miếu Hội Đồng</div><div>Trước năm 1975, phía trước và sau chùa có nhiều cổ thụ, bồ đề, sao, sộp, cây trôm, cây đa rậm mát, vì thổi cát tôn nền, nên một số cây sao bị chết. Bây giờ chỉ còn vài cây tùng, cau kiểng và một số kiểng hoa mới tạo với một ít cây sao, cây sộp còn sót lại.</div><div>Trước đây, vào những ngày rằm và ba mươi những người đi chùa lễ Phật đều có chứng kiến: một đàn qui được người đồng đạo thả nuôi khoảng trên 10 con lớn nhỏ, mỗi con nặng từ 2 đến 5 kg hoặc hơn, từ ao sen sau chùa lần lượt bò vào chánh điện, hết giờ lễ bái, cả đàn kéo nhau trở về ao. Chính vì chuyện lạ thế gian hiếm có, nên người ta gọi đó là “linh qui” hay “thần qui”. Hiện nay hồ sen đã san lấp mặt bằng vì nhu cầu xây dựng.</div><div><br> <strong>6. Cách Bài Trí Thờ Phượng Trong Chùa</strong> <br><br></div><div>Ngôi An Hòa Tự được kiến trúc theo lối chân phương truyền thống, kết cấu xen lẫn bê tông cốt sắt và danh mộc, đa phần là gỗ thao lao, tường vôi, nền gạch bông, lợp ngói. Chánh điện có 3 nóc mái, giữa cao, phần trước và sau thấp nhỏ hình chữ... sơn. Hậu tự một nóc hai mái xuôi nối liền chánh điện. Từ ngoài nhìn vào bên trên nóc cổ lầu có đúc bốn chữ PGHH (Phật Giáo Hòa Hảo) thấp hơn một bậc dưới mái cổ lầu viết 3 chữ “An Hòa tự” bằng chữ Hán, bên trên nóc tiếp phía trước đúc thêm 3 chữ quốc ngữ An Hòa Tự. Mặt tiền chùa gồm 3 cửa, cửa chánh chính giữa, cửa phụ 2 bên. Hành lang, ngoài hai cửa ra vào bên hông có nhiều cửa mát thông thoáng.</div><div><br></div><div>Bên trong chùa có cả thảy 10 ngôi thờ:</div><div><strong>Chánh điện:</strong> Ngoài cửa vào bên phải có giá chuông (Đại Hồng Chung) và 1 trống nhỏ. Bên trái có cổ trống với 9 hình rồng đứng chưng bày trên bàn, tượng trưng cho Cửu Long Giang.</div><ul><li><strong><em>Ngôi thờ số 1:</em></strong> Tam đẳng cấp:</li></ul><div><br></div><div> </div><div>- Thượng đẳng: Chính giữa tượng Phật A Di Đà. Bên trái tượng Quan Thế Âm, bên phải tượng Đại Thế Chí.</div><div>- Trung đẳng: Chính giữa tượng Thích Ca Phật Tổ, bên trái Ma Ha Ca Diếp, bên phải A Nan Tôn Giả.</div><div>- Hạ Đẳng: Chính giữa Ngọc Hoàng Thượng Đế, bên phải Nam Tào, Bên trái Bắc Đầu.</div><div>Hai bên cùng đẳng cấp, hai đại trụ nơi chánh điện tôn trí hai chơn dung Đức Huỳnh Giáo Chủ (bán thân, ảnh bên tả chụp lúc Ngài còn để tóc chấm vai, mặc áo tràng dà; ảnh bên hữu, chụp lúc Ngài đã hớt tóc, mặc quốc phục).</div><div>Phía sau các tượng Phật một tấm Trần Dà rộng lớn, phía trên ba chữ Hán “Phật Di Đà” màu dà tiêu biểu cho tinh thần vô thượng của Nhà Phật và sự hòa hợp các màu sắc không phân biệt chủng tộc và cá nhân (theo nghi thức của PGHH).</div><ul><li><strong><em>Ngôi thờ số 2:</em></strong> Tượng Phật Di Lặc, bên sau cũng trần dà phía trên 2 chữ “Di Lặc” bằng chữ Hán.</li></ul><div>Ngôi thờ số 2: Tượng Di Lặc</div><ul><li> <strong><em>Ngôi thờ số 3:</em></strong> Tượng Đạt Ma Tổ Sư, phía sau là trần dà, bên trên 4 chữ “Đạt Ma Tổ Sư” bằng chữ Hán. </li></ul><div>Ngôi thờ số 3: Tượng Đạt Ma Tổ Sư</div><ul><li><strong><em>Ngôi thờ số 4:</em></strong> Tượng Quan Âm Nam Hải, phía sau là trần dà, bên trên 4 chữ “Quan Âm Nam Hải” bằng chữ Hán. </li></ul><div>Ngôi thờ số 4: Tượng Quan Âm Nam Hải</div><div><strong>Hậu Tổ: </strong>Chính giữa hậu tổ phía trước ngôi bàn thờ Đức Phật Thầy Tây An có một trường kỷ, bốn ghế dựa đặt 2 bên, trên tôn trí toàn thân chơn dung Đức Huỳnh Giáo Chủ hướng về Chánh điện. Trước chơn dung Đức Huỳnh Giáo Chủ có chưng bông hoa, nước lã; phía trước ghế ghi một tấm bảng nhỏ “Miễn lạy”.</div><div><br></div><div>Chơn dung Đức Huỳnh Giáo Chủ (cũ)</div><ul><li> <strong><em>Ngôi thờ số 5:</em></strong> Chính giữa một bức Trần Dà lớn, bên trên một tấm hoành phi 4 chữ “Bửu Sơn Kỳ Hương” bằng chữ Hán. Phía trước bức Trần Dà có bài vị chạm gỗ thờ Đức Phật Thầy Tây An, linh vị chạm khắc bằng chữ Hán: </li></ul><div> - <em>Tây An tổ tam thập bát thế thượng pháp hạ tạng húy Minh Huyên Đoàn giác linh.</em></div><div>- <em>Sinh ư Đinh Mão niên thập ngoạt thập ngũ nhật tí thời.</em></div><div>- <em>Diệt quả Bính Thìn biên bát ngoạt thập nhị nhật ngọ thời.</em></div><div>Ngôi thờ số 5: “Bửu Sơn Kỷ Hương”</div><div>Hai bên tường phía trước dưới tấm hoành phi “Bửu Sơn Kỳ Hương” tôn trí hai chơn dung “bán thân” của Đức Huỳnh Giáo Chủ.</div><div>Trên cao phía trước một tấm hoành phi đối diện 4 chữ “Sơn Trung Ánh Chiếu”. Và hai câu liễn hai bên:</div><div><em>Pháp lực hoành thâm phổ chiếu tích trinh tường du thế giới,</em></div><div><em>Từ tâm quảng đại diêu khai phu cát khánh ư nhân gian.</em></div><ul><li> <strong><em>Bàn số 6:</em></strong> Chánh bái: liễn thờ 2 chữ “Tịnh Huệ”, 2 câu liễn hai bên:  </li></ul><div><em>Quyên sinh vị quốc dương trung sĩ,</em></div><div><em>Hồn thác qui thiền đắc đạo nhân.</em></div><div> <strong>Phục thọ vị:</strong> <em>An Lương Tổng Hòa Hảo thôn sinh Đinh sửu niên bát thập tứ tuế. Cao Bằng quận tánh Phạm Húy Miên Chánh bái chủ tự chi linh. Tị trần canh tí niên thập ngoạt thập nhất nhật mạng chung.</em></div><div> <strong><em>Bàn số 7:</em></strong> Thờ Cửu Huyền Thất Tổ, bên trên liễn thờ có 2 chữ “Càn khôn”. 2 câu liễn hai bên: </div><div> <em>Thất Tổ chân thành tâm chánh trực,</em></div><div><em>Cửu Huyền trắc ẩn tánh từ lương.</em> </div><div>Hai câu trong tranh thờ Cửu Huyền Thất Tổ:</div><div><em>Thất Tổ tiêu diêu đặng Phật cảnh,</em></div><div><em>Cửu Huyền khoái lạc vãng Tây phương.</em></div><div>Bàn số 7: Thờ Cửu Huyền Thất Tổ</div><ul><li><strong><em>Bàn số 8:</em></strong> Bá tánh. 2 câu liễn hai bên:</li></ul><div><em>Đồng đạo không môn tầm giác lộ,</em></div><div><em>Qui tây lạc cảnh diệt mê tân.</em></div><div>Trong tranh thờ 2 câu:</div><div><em>Bá thế tông sương thiên thu mậu,</em></div><div><em>Tánh phổ đại hạ vạn đệ hương.</em></div><div>Bàn số 8: Bá tánh</div><div> <strong><em>Bàn số 9:</em></strong> Kế Nghiệp. 2 câu liễn hai bên:</div><div><em>Tắc nhĩ bất văn thinh sắc tục,</em></div><div><em>Trì tâm vô vọng vị hương trần.</em></div><div>Bàn số 9: Kế Nghiệp</div><div> <strong><em>Bàn số 10:</em></strong> Tượng Hộ Pháp, trước kia thờ phía trước chánh điện đối diện ngôi thờ số 1, đức Ông cho dời ra trước sân chùa. </div><div>Có nhiều khách tham quan, vãn cảnh thường nêu câu hỏi: Đức Huỳnh Giáo Chủ không chủ trương đúc Phật lớn, dựng chùa cao, tại sao Ngài vẫn giữ y cách bày trí hình tượng cũ?</div><div>Điều này, ta hãy nghe Đức Giáo Chủ giải thích trong quyển “<strong>Những điều sơ lược cần biết của kẻ tu hiền”</strong>: <em>“Từ trước đến nay, các chùa chiền đã tạo quá nhiều hình tượng. Đành rằng vì tôn kính đấng từ bi nên mới làm ra thờ phượng Ngài, nhưng cũng có kẻ lợi dụng để thủ lợi. Bây giờ chúng ta không nên tạo thêm nữa. Làm thế chúng ta không có ý hủy báng sự phượng thờ của các chùa chiền. Cách thờ phượng ấy tùy theo điều kiện các sư mà chúng ta cũng có thể sùng ngưỡng đặng... Còn người nào có cốt Phật trong nhà để vậy cũng đặng. Hình tượng bằng giấy không nên chừa lại và phải đốt đi”.</em></div><div>Tại sao chùa lại có chức Chánh Bái? Và hai câu liễn tôn vinh ở ngôi thờ số 6:</div><div>Quyên sinh vị quốc dương trung sĩ,</div><div>Hồn thác qui thiền đắc đạo nhân.</div><div>Cháu 4 đời của ông Miên cho biết: Theo lời Ông bà ngày xưa kể lại: Khi ở miền Bắc vào Nam, ông Miên đã đầu quân dưới triều vua thiệu Trị (1840 – 1847). Ông có thành tích dẹp giặc và sau khi giải ngũ, Ông làm Chánh Bái (đình thần Hòa Hảo). Đến năm 1850, Ông mới cất am tu, qua nhiều giai đoạn đã trở thành chùa. Người sau thờ phụng Ông trong chùa nhưng vẫn không quên công nghiệp trong quân ngũ và chức sắc ở đình của Ông.</div><div><strong><em>Viết theo chuyện kể của các Kỳ Lão trong làng, và tài liệu sưu tầm của ông Huỳnh Văn Bé.</em></strong></div><div><br> <strong>7. Phần Nghi Lễ</strong>  <br><br></div><div>Nói đến nghi lễ là nói đến cách thức áp dụng cho sự cúng bái, hành lễ ở nhà chùa theo qui tắc đã định. Lúc Đức Huỳnh Giáo Chủ nhận ngôi An Hòa tự (Chùa Thầy), Ngài có cử người trông coi và dặn lại Đức Ông (Thân sinh của Ngài) những điều quan trọng cần thiết. Từ đó chùa đã được Đức Ông tổ chức những người chịu trách nhiệm về nghi lễ và hướng dẫn thiện tín hành lễ theo nghi thức của Phật Giáo Hòa Hảo.</div><div><strong><em>Lễ bái thường hành</em></strong></div><div>Đức Huỳnh Giáo Chủ đã dạy:</div><div>“<em>Sớm chiều bình đẳng chớ lơi,</em></div><div><em>Thường hành như vậy nhớ lời đừng sai”.</em></div><div><em>“Sớm với chiều gắng chí nguyện cầu,</em></div><div><em>Thì sẽ được tòa chương dựa kế”.</em></div><div>Và:</div><div><em>“Sớm trưa bá tánh cần chuyên,</em></div><div><em>Nghe lời dạy bảo cảnh tiên dựa kề”.</em></div><div>Do vậy, nhà chùa qui định cúng bái theo “Khóa biểu hàng tháng”:</div><div>- Lau tượng Phật: Ngày 13 và ngày 28 hàng tháng</div><div>- Gióng chuông: Ngày mùng 8 – 14 – 15 – 23 – 29 – 30</div><div>- Công phu thường nhựt:</div><div>- Buổi sáng: 3 giờ 30 phút – Buổi trưa: 11 giờ - Buổi chiều: 16 giờ 30 phút.</div><ul><li>Sáng gióng chuông: Từ 4 giờ đến 5 giờ</li><li>Chiều gióng chuông từ 17 giờ đến 18 giờ.</li></ul><div>(Ngày thường 8 giờ tối đóng cửa chùa)</div><div>- <strong>Cúng Phật:</strong> Theo Đức Giáo chủ dạy “...<em>chỉ nên cúng nước lạnh, bông hoa và nhang thôi. Nước lạnh tiêu biểu cho sự trong sạch, bông hoa tiêu biểu cho sự tinh khiết, còn nhang dùng đặng bán mùi uế trược. Ngoài ra chẳng nên cúng một món gì khác cả. Bàn thờ ông bà cúng món chi cũng đặng”.</em></div><div>- <strong><em>Lễ Bái:</em></strong></div><div><strong>1- </strong>Dâng hương cầu nguyện trước ngôi Tam bảo-Chánh điện (<em>nguyện đọc bài qui y và Tây phương ngũ nguyện).</em></div><div><strong>2- </strong>Dâng hương cầu nguyện trước bàn thờ Cửu huyền: <em>(nguyện đọc bài cúi kính dâng hương)</em></div><div><strong>3- </strong>Dâng hương cầu nguyện nơi bàn Thông thiên thay vì bàn Hộ pháp trước sân chùa. <em>(nguyện đọc bài qui Y và Tây phương ngũ nguyện).</em></div><div>Mỗi ngôi thờ khi cầu nguyện xong lạy 4 lạy – Bàn thông thiên cầu nguyện bốn hướng, mỗi hướng lạy 4 lạy.</div><div><strong>4- </strong>Các ngôi thờ khác tự nguyện rồi lạy hoặc xá.</div><div>- <strong><em>Tịnh niệm:</em></strong></div><div>Khi cúng xong, ngồi bán dà thẳng lưng hướng về ngôi tam bảo niệm: Nam Mô A Di Đà Phật.</div><div>Hay niệm: <em>Nam</em> <em>Mô Tây Phương Cực lạc thế giới tam thập lục vạn ức, nhứt thập nhứt vạn, cửu thiên ngũ bá đồng danh đồng hiệu đại từ đại bi phổ độ chúng sanh A Di Đà Phật.</em></div><div><em>(Niệm Phật nhiều ít tùy theo sức mình, lúc cầu nguyện và niệm Phật chỉ niệm trong tâm).</em></div><div>Vì vậy, mỗi thời lễ bái dù ở chùa hay ở tại nhà, hành giả chỉ niệm thầm trong tâm chứ không mõ, chuông, âm thinh sắc tướng.</div><div><strong><em>Ngày vía, Lễ, Rằm Nguơn:</em></strong></div><div>Những ngày vía chư Phật, lễ Đạo, Rằm Ngươn, ngày 14 – 15 – 29 – 30 âl các ngôi thờ trong chùa đều trang hoàng nhang đèn, bông hoa tươm tất. Các vị có trách nhiệm quản tự thường trực tiếp khách, khai chuông, hầu hương cho thiện tín hành lễ. Những ngày này có ngâm đọc Sấm Giảng Thi Văn của Đức Thầy và thuyết giảng Giáo lý Phật Giáo Hòa Hảo, tại hội trường của chùa.</div><div><br> <strong>8. Tổ Chức Việc Bảo Quản Chùa</strong> <br><br></div><div> Từ ngày An Hòa Tự thành hình, từ năm 1936 cho đến năm 1945, công việc bảo quản và phụng tự khói hương do các viên chức hội tề làng Hòa Hảo tổ chức, sắp xếp nhân sự.</div><div>Từ ngày Đức Thầy nhận Chùa, Ngài cắt cử 03 người: Bà Nguyễn Thị Liên, ông Phan Văn Báu và ông Trần Văn Nhạt trông coi.</div><div>Sau đó, Đức Ông có tổ chức Ban Quản Tự và đặt ra những Điều Lệ Căn Bản, áp dụng cho các đồng đạo có trách nhiệm ở chùa (Xem phần Phụ Lục “Bản Điều Lệ Căn Bản” do Đức Ông qui định.</div><div>Đến năm 1974, ông Hồ Nam Kinh, Hội trưởng Ban Trị sự Thánh địa Hòa Hảo mở phiên họp cải tổ Ban Quản Tự và đưa ra bản Nội qui. (xem phụ lục “Nội qui Ban Quản Tự An Hòa Tự”).</div><div><br> <strong>9. Phụ Lục - Bản Điều Lệ Căn Bản (Của Đức Ông Qui Định)</strong> <br><br></div><div> 1- Người xuất gia phải thường trực tại chùa, khi đi đâu phải có lý do chính đáng.</div><div>2- Phải gìn giữ ngũ giới và Tám điều răn cấm của PGHH và luật lệ nhà chùa do Ban quản tự ấn định.</div><div><em>3- </em>Phân công trực nhật việc trong chùa hằng ngày và Rằm, Ba Mươi hoặc những ngày Lễ.</div><div><em>4- </em>Từ lời nói, ý nghĩ, việc làn phải biểu lộ hiền lương, trang nghiêm, thanh nhã; nam, nữ phải phân biệt.</div><div><em>5- </em>Đồng phục đồ bà ba hoặc áo vạt miễn. Khi công phu mặc áo tràng. Tuyệt đối không mặc thứ khác.</div><div><em>6- </em>Không được ngồi nói nhảm, cãi vã, đùa giỡn.</div><div><em>7- </em>Không được ra đường hoặc đi theo xóm không có lý do.</div><div><em>8- </em>Đi, đứng, nằm, ngồi phải chuyên tâm niệm Phật.</div><div><em>9- </em>Khi ngủ phải nằm nghiêng về tay mặt, niệm Phật.</div><div><em>10- </em>Cần phải siêng năng học hỏi đạo đức, học thuộc lòng quyển Khuyến Thiện và Những điều sơ lược cần biết của kẻ tu hiền. Xem Kinh đàm đạo.</div><div><em>11- </em>Không được bàn thiên cơ, thời cuộc.</div><div><em>12- </em>Không phạm mười điều ác. Khi biết mình phạm lỗi, cần phải phục thiện.</div><div>Phạm luật:</div><div>- Lần thứ nhất: Cảnh cáo</div><div>- Lần thứ nhì: Quỳ hương và sám hối</div><div>- Lần thứ ba: Trục xuất khỏi chùa</div><div>Tôn trọng tinh thần tự giác.</div><div> <strong>BẢN NỘI QUI BAN QUẢN TỰ (DO BAN TRỊ SỰ THÁNH ĐỊA BIỂU QUYẾT NĂM 1974)</strong> </div><div>Chiếu theo tinh thần phiên họp ngày 15-9 năm Giáp Dần (nhằm ngày 28-10-1974) tại An Hòa Tự, gồm có: Ban Trị Sự Thánh Địa, Ban Quản Tự nhằm thảo luận và biểu quyết bản nội qui để nhân viên có những yếu tố hoạt động trong phạm vi luật lệ của nhà chùa theo yêu cầu thiết thực từ hình thức lẫn tinh thần qua phần tham khảo ý kiến được hội trường tán thành và thiệt thi các nguyên tắc như sau:</div><ul><li><strong>Ban Quản Tự có nhiệm vụ:</strong></li></ul><div>a) Thường xuyên lo lắng trong chùa “An Hòa Tự” và tiếp với Ban Trị Sự Thánh Địa trong ngày đại lễ 18/5, ngày 25/2, ngày 25/11, với ngày Phật Đản và ngày 12/8 vía Đức Phật Thầy Tây An viên tịch.</div><div>b) Ban thường vụ chịu trách nhiệm thâu xuất và ký tên các văn kiện, điều khiển các công tác, triệu tập và chủ tọa các phiên nhóm họp phúc trình lên đại diện Tổ Đình PGHH, về việc thâu xuất và các công tác kết quả hàng tháng.</div><div>c) Quản lý các việc trong chùa và thâu xuất theo các dự án thường chi phải hội Ban Quản Tự để thảo luận lấy ý kiến chung cuối năm phải kết toán ngân khoản.</div><ul><li><strong>Tinh thần trách nhiệm vác Nhân viên phụ trách:</strong></li></ul><div>1- Cố vấn: Góp ý kiến giải quyết thắc mắc, biểu quyết các vấn đề liên hệ.</div><div>2- Thủ Bổn: Có quyền sở hữu lãnh đạo hướng dẫn toàn ban và chịu trách nhiệm trước các hình thức sinh hoạt.</div><div>3- Phó Thủ Bổn: Phụ tá cho chánh thủ bổn hoặc thay thế cho ông chánh khi vắng mặt.</div><div>4- Kiểm soát: Quan sát tìm hiểu về các việc trong chùa và sự điều hành của ban, xem xét tập chi thu trình sự kết quả các việc cho toàn ban được biết...</div><div>5- Dự khuyết: Thay thế nhân viên khi vắng mặt bình thường tham dự ý kiến trong các vấn đề phát triển và hội họp.</div><div>6- Tri khách: Trong mấy ngày Đại Lễ, Rằm Nguơn, ngày vía lo tiếp khách ở Tây lang và ở hậu đường sắp xếp cho mấy em tiếp đãi cơm nước cho chu đáo.</div><div>7- Thông sự: Tiếp xúc chư thiện tín và đồng đạo bá tánh thập phương để trao đổi đạo đức.</div><div>8- Hương Đăng: Trách nhiệm trong chùa lo nhang đèn, bông hoa, nước cúng đầy đủ sự tinh khiết mỗi ngày, công phu 3 thời đúng theo thời dụng biểu và mấy ngày lễ hay Rằm Ngươn coi những chi khiếm khuyết cần cho Ban Quản Tự hay để mua sắm thêm.</div><div><em>9- </em>Thường trụ: Phần Đông Lang phải sắp xếp bên trong nhưng vật dụng và bên ngoài lo cơm nước có những chi thiếu đủ báo cáo cho Ban Quản Tự biết.</div><div> <strong>NHỮNG ĐIỀU CẦN THIẾT:</strong>  </div><div>a)- Nhiệm kỳ của BQT hai năm sẽ tổ chức lại khi bầu cử, cựu nhân viên có quyền tái cử.</div><div>b)- Điều kiện mỗi tháng ngày Rằm, ba mươi (30) nhân viên BQT cần có mặt để trao đổi giáo lý, riêng về Rằm tháng Giêng, tháng 7, tháng 10, những ngày Đại lễ phải có sự hiện diện đầy đủ, để phân công thường trực, cũng như các phiên họp nếu vắng mặt cần cho biết lý do trước.</div><div>c)- Muốn chỉnh trang hay tu bổ việc chi trong chùa phải nhóm họp đầy đủ trong ban để thảo luận dự án, khi đồng ý cần đệ trình lên Đại Diện Tổ Đình được sự chấp thuận mới thi hành.</div><div>d)- Giản dị hóa công việc, Ban thường vụ gồm có Thủ Bổn, Kiểm Soát, Thư Ký thay mặt cho toàn ban xử lý thường vụ.</div><div>đ)- Tất cả nhân viên trong BQT tình nguyện hy sinh không lãnh trỡ cấp đồng thời chịu trách nhiệm với Đại Diện Tổ Đình, vào ngày lệ mùng 8, 14, 15, 23, 29, 30 phải có mặt.</div><div>e)- Kỷ luật những nhân viên nào vi phạm nội qui hay có những hành động sơ xuất làm tổn thương đến uy tín chung của BQT, lần thứ nhứt phê bình, lần thứ hai cảnh cáo và đến ngôi Tam Bảo Sám Hối, lần thứ ba trục xuất ra khỏi BQT và đệ trình lên Đại Diện Tổ Đình khi chấp thuận.</div><div>i)- Quí vị nam, nữ tu sĩ trong chùa những giờ rỗi rảnh cần xem Kinh Giảng học Giáo lý PGHH và trao đổi ý kiến đạo đức và giữ điều lệ kỷ luật theo nội qui này, nếu vi phạm cũng thi hành như nhân viên BQT vậy.</div><div>g)- Nhân Viên BQT cần thuộc ít nhiều Giáo lý của Đức Thầy và Tám điều răn cấm, để cố gắng giữ gìn giới luật và trau dồi tác phong đạo đức để làm gương.</div><div>h)- Ban Trị Sự Thánh Địa Hòa Hảo có phận sự quan tâm lo lắng ở chùa An Hòa Tự và ủng hộ vật chất lẫn tinh thần về đối ngoại nếu có, Ban Trị Sự Thánh Địa phải đảm trách cho BQT.</div><div>Tất cả những điều khoản trên đây do Đại hội tham khảo ý kiến và biểu quyết đương nhiên có giá trị tuyệt đối của tinh thần tự giác. Chính đó là những yếu tố duy nhứt đối với nhân viên áp dụng hiệu năng trên các phương diện thừa hành phận sự hầu biểu lộ thiện chí thiêng liêng cao cả.</div><div>Bản nội qui này có thỉnh ý Tổ Đình Đại Diện PGHH được chấp thuận xem như huấn từ gồm có mục phân nhiệm 10 chức vụ và 12 điều sẽ được kết hợp tế nhị vào ngày 15 tháng 9 năm Giáp Dần và in thành tập. Nội qui cấp cho nhân viên BQT để hiểu biết và thi hành.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/339776023/93c7b6812ebd2068bfb0fdb2ecdc509e/31_big.jpg" />
         <pubDate>2018-12-12 06:35:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lequockhanh2004thcsph/trangsuangiang/wish/313719318</guid>
      </item>
      <item>
         <title>NÚI SAM</title>
         <author>lequockhanh2004thcsph</author>
         <link>https://padlet.com/lequockhanh2004thcsph/trangsuangiang/wish/313719736</link>
         <description><![CDATA[<div><br></div><div><strong>Núi Sam</strong> có tên khác <strong>Vĩnh Tế Sơn</strong> hay <strong>Ngọc Lãnh Sơn</strong> cao 284 m có chu vi 5.200m<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/N%C3%BAi_Sam#cite_note-1"><sup>[1]</sup></a>, trước thuộc xã <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%A9nh_T%E1%BA%BF_(x%C3%A3)">Vĩnh Tế</a>, nay thuộc phường <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/N%C3%BAi_Sam_(ph%C6%B0%E1%BB%9Dng)">Núi Sam</a>, thành phố <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A2u_%C4%90%E1%BB%91c_(th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91)">Châu Đốc</a>, tỉnh <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/An_Giang">An Giang</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam">Việt Nam</a>.<br><br>Tên gọi, vị trí<br><br></div><div><strong><br>Vĩnh Tế Sơn</strong>: Vua <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Minh_M%E1%BA%A1ng">Minh Mạng</a> cho đặt tên núi Sam là <em>Vĩnh Tế Sơn</em>, để ghi công của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tho%E1%BA%A1i_Ng%E1%BB%8Dc_H%E1%BA%A7u">Thoại Ngọc Hầu</a> đã hoàn thành việc đào <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/K%C3%AAnh_V%C4%A9nh_T%E1%BA%BF">kênh Vĩnh Tế</a> (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1819">1819</a>–<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1824">1824</a>).<br><br></div><div><strong><br>Ngọc Lãnh Sơn</strong>: Ngọc nghĩa là con sam, sơn nghĩa là núi. Giả thuyết cho rằng gọi là núi Sam vì hình thù của núi giống như con sam, mà đầu quay về hướng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%8Bnh_Bi%C3%AAn">Tịnh Biên</a>. Cũng có tài liệu khác cho rằng thuở xa xưa, khi quanh núi Sam hãy còn là biển cả, các loài sam biển tập trung sống ở nơi đây.<br><br></div><div><strong><br>Vị trí núi</strong>: Phía Tây Bắc có tuyến <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/K%C3%AAnh_V%C4%A9nh_T%E1%BA%BF">kênh Vĩnh Tế</a> chạy dọc biên giới <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Campuchia">Campuchia</a> và Xã Vĩnh Tế. Phía Tây Nam giáp xã Vĩnh Châu. Phía Đông Bắc và Đông Nam giáp phường Châu Phú A, Châu Phú B của thành phố <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A2u_%C4%90%E1%BB%91c_(th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91)">Châu Đốc</a>.<br><br></div><div><br><strong>Thắng cảnh, di tích</strong><br><br></div><div><br>Trước đây, núi Sam có nhiều cây phượng vĩ và huỳnh mai mọc từ các hốc núi. Vào mùa trổ bông, cảnh núi toàn một màu đỏ thắm rất tươi đẹp và rực rỡ.<br><br></div><div><br>Trên đỉnh, còn dấu tích một bệ đá, nơi tượng Bà Chúa Xứ Núi Sam ngự, trước khi được đem về <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Mi%E1%BA%BFu_B%C3%A0_Ch%C3%BAa_X%E1%BB%A9_N%C3%BAi_Sam">miếu</a>. Bệ đá có chiều ngang 1,60 <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/M">m</a>; dài 0,3 m, chính giữa có lỗ vuông cạnh 0,34 m, loại trầm tích thạch màu xanh đen, hạt nhuyễn. Gần tháp cao của Pháo Đài, cũng là nơi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%C6%A1ng_Gia_M%C3%B4">Trương Gia Mô</a> (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1866">1866</a>-<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1929">1929</a>), một nho sĩ của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Phong_tr%C3%A0o_Duy_T%C3%A2n">phong trào Duy Tân</a>, đã gieo mình xuống vực sâu, tự kết liễu một cuộc đời bế tắc vào một đêm cuối năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1929">1929</a>.<br><br></div><div><br>Trên và quanh núi Sam có rất nhiều chùa miếu, trong đó nổi tiếng nhất là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Mi%E1%BA%BFu_B%C3%A0_Ch%C3%BAa_X%E1%BB%A9_N%C3%BAi_Sam">Miếu Bà chúa Xứ</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%B9a_T%C3%A2y_An">Chùa Tây An</a>, lăng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tho%E1%BA%A1i_Ng%E1%BB%8Dc_H%E1%BA%A7u">Thoại Ngọc Hầu</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%B9a_Ph%C6%B0%E1%BB%9Bc_%C4%90i%E1%BB%81n">Chùa Phước Điền</a> (còn gọi Chùa Hang) là những hạng mục trong Khu di tích lịch sử - Văn hoá núi Sam đã được <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BB%99_V%C4%83n_h%C3%B3a,_Th%E1%BB%83_thao_v%C3%A0_Du_l%E1%BB%8Bch_(Vi%E1%BB%87t_Nam)">Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam</a> công nhận là <em>di tích cấp Quốc gia.<br></em><br></div><div><br>Lợi ích khác<br><br></div><div><br>Đá ở núi Sam chủ yếu là đá hoa cương, nên từ năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1890">1890</a>, người <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%A1p">Pháp</a> đã cho khai thác để làm đường. Sau năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1975">1975</a>, để bảo vệ môi trường và cảnh quan du lịch, chính quyền tỉnh đã cấm việc khai thác đá.<br><br></div><div><br>Núi Sam là một điểm cao chiến lược. Ở đỉnh có thể quan sát, kiểm soát cả một vùng biên giới rộng lớn từ thành phố Châu Đốc đến tận tuyến <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%8Bnh_Bi%C3%AAn">Tịnh Biên</a>, từ cánh đồng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BA%A3y_N%C3%BAi">Bảy Núi</a> qua huyện <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A2u_Ph%C3%BA">Châu Phú</a>. Do vậy, trước <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1975">1975</a>, trên đỉnh núi có một đồn lính, tên gọi là Pháo đài. Sau này, người ta đã cho xây dựng ở gần đó, một trạm tiếp sóng các đài thuộc <em>Đài truyền hình Việt Nam</em>.<br><br></div><div><br>Ngoài ra, bên chân núi còn có tuyến quốc lộ 91 chạy qua dài 8 <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kil%C3%B4m%C3%A9t">km</a>, thuận lợi cho việc giao thông và phát triển kinh tế vùng.<br><br></div><div><br>Thông tin liên quan<br><br></div><div>Tấm bia bên phải ảnh có thể là bia Vĩnh Tế Sơn, nhưng vì chữ khắc đã không còn đọc được, nên không thể quả quyết.</div><div><strong><br>Giới thiệu bia Vĩnh Tế Sơn</strong></div><div><strong><br>Bia Vĩnh Tế Sơn</strong> là một trong ba <em>di tích lịch sử</em><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/N%C3%BAi_Sam#cite_note-2"><sup>]</sup></a>, loại bia ký nổi tiếng ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam">Việt Nam</a> dưới chế độ phong kiến còn lưu lại đến ngày nay.<br><br></div><div><br>Bia Vĩnh Tế Sơn được tạc bằng đá, cao ngang đầu người, khắc 730 <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%AF_H%C3%A1n">chữ Hán</a>, do Thoại Ngọc Hầu cho soạn, được dựng vào <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A1ng_ch%C3%ADn">tháng 9</a>năm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Minh_M%E1%BA%A1ng">Minh Mạng</a> thứ 9 (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1828">1828</a>), tức sau khi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/K%C3%AAnh_V%C4%A9nh_T%E1%BA%BF">kênh Vĩnh Tế</a> đã đào được 4 năm.<br><br></div><div><br>Trước đây vì đứng trơ trọi giữa trời lâu năm, bia bị ngã đổ và bị lấy đi nơi khác. Có lẽ vì sợ hư hại thêm và thất lạc lần nữa, nên hiện nay bia Vĩnh Tế Sơn (?) bị gắn chặt vào bức tường dày của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C4%83ng_Tho%E1%BA%A1i_Ng%E1%BB%8Dc_H%E1%BA%A7u">Sơn Lăng</a>. Khác với bia Thoại sơn còn khá tốt, tấm bia này vì thời gian, vì mưa nắng nên đã bị rạn nứt và chữ khắc đã không còn đọc được. Toàn văn bia ký giờ đây có được là nhờ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_H%E1%BB%AFu_Th%C6%B0%E1%BB%9Dng">Trần Hữu Thường</a> (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1844">1844</a>-<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1921">1921</a>), đỗ tú tài thời <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%B1_%C4%90%E1%BB%A9c">Tự Đức</a>, biên chép và dịch lại.<br><br></div><div><br>Ngoài ra, tra trong sách <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_Nam_nh%E1%BA%A5t_th%E1%BB%91ng_ch%C3%AD"><em>Đại Nam nhất thống chí</em></a>, phần "An Giang tỉnh", mục "Sơn xuyên", thì thấy có câu:...<em>"nhà vua sắc cho quan hữu tư địa phương dựng bia (Vĩnh Tế Hà) ở bờ sông".</em> Nhưng đến nay vẫn chưa tìm được .<br><br></div><div><br>Ngày làm lễ dựng hai tấm bia trên rất có thể cùng ngày với việc cải táng tập thể các binh, dân đã tử nạn trong việc đào kênh, và cũng là ngày Thoại Ngọc Hầu đã đứng ra chủ tế lễ cúng trọng thể, tuyên đọc một bài văn tế có tên: "Thừa đế lịnh, tế cô hồn Vĩnh Tế tân kinh", còn được gọi là "Tế nghĩa trủng văn" cho những vong hồn này .<br><br></div><div><strong><br>Trích văn bia</strong></div><div><em>Địa giới Châu Đốc xưa kia là khu vực của Phiên man (</em><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Campuchia"><em>Cao Miên</em></a><em>). Nhờ triều đình khai thác cõi Nam, mới cho đất ấy nhập vào bản đồ. Nghiêm đặt đồn doanh để khống chế nước phiên. Phía sau đồn có núi, mà lời tục thường quen gọi núi Sam.<br></em><br></div><div><em>Nơi đây chầm ao, rừng rú mênh mông rậm rạp, cũng là chỗ Thổ dân, Khách trú, người Lào nương ngụ. Tuy có cảnh đẹp chuyện hay, nhưng cũng vẫn là một nơi rừng sâu, đá loạn, nổng gò mà thôi…<br></em><br></div><div><em>Từ ngày dẹp cỏ gai trở đi, rành rành chân núi trắng phau, trọi trọi ngọn tre xanh ngắt, cảnh núi trở nên tươi đẹp, sừng sững vọt lên. Ngắm dòng nước biếc bên bờ cao, ruộng vườn vây quanh chân núi, hơi lam tuôn cuốn lẫn khói nấu cơm, chùa chiền trên chót hương tỏa mây lồng, thật không kém gì phong cảnh trung châu vậy.<br></em><br></div><div><em>Năm trước đây, thần (Thoại Ngọc Hầu) phụng mạng xem sóc việc đào </em><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/K%C3%AAnh_Tho%E1%BA%A1i_H%C3%A0"><em>kênh Đông Xuyên</em></a><em>, vua đã lấy danh tước thần nêu lên bên bờ kênh núi Sập mà đặt tên núi Thoại (tức </em><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tho%E1%BA%A1i_S%C6%A1n,_An_Giang"><em>Thoại Sơn</em></a><em>). Đến nay, hoàng ân lại xét đến lòng thần, cho là biết tề gia hợp hòa khí, lại hạ cố đến vợ thần là Châu Thị Tế là Vĩnh Tế Sơn rằng có đức dày trong đường lễ giáo, bên trong biết giúp đỡ chồng, một lòng trung thành bền chặt, có chút công lao, nên xuống lệnh ban cho tên núi Sam là Vĩnh Tế Sơn...<br></em><br></div><div><em>Đến nay, ánh sáng sớm sương tan, bóng chiều tà ráng rọi, cây rậm rạp khoe xanh, cỏ là đà phô thắm. Bụi sạch trên đường, lên cao ngắm nghía, dòng sông trải lụa, khách đi qua buông chèo nhàn ngoạn, tay trỏ non xanh cùng nói với nhau: Đây là núi Vĩnh Tế, do vua ban tên đó!…</em><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/N%C3%BAi_Sam#cite_note-5"><sup>[5]<br></sup></a><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2018-12-12 06:40:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lequockhanh2004thcsph/trangsuangiang/wish/313719736</guid>
      </item>
      <item>
         <title>ĐÌNH THẦN CHÂU PHÚ</title>
         <author>lequockhanh2004thcsph</author>
         <link>https://padlet.com/lequockhanh2004thcsph/trangsuangiang/wish/313720268</link>
         <description><![CDATA[<div>Đình Châu Phú tọa lạc ngay góc đường Nguyễn Văn Thoại và Trần Hưng Đạo, bên bờ sông Châu Đốc (phường Châu Phú, thị xã Châu Đốc, An Giang). Ban đầu, đây là một ngôi đền có tên chữ là Trung Nghĩa Từ, hay là Lễ Công Từ đường (gọi tắt là đền Lễ Công), dân chúng địa phương thì gọi là đền Ông, là nơi thờ Nguyễn Hữu Cảnh (1650-1700), do Nguyễn Văn Thoại đứng ra xây dựng vào năm 1822, khi ông đến làm Án thủ Châu Đốc kiêm Quản vụ trấn Hà Tiên.<br><br>Ban đầu ngôi đền tọa lạc trong một khuôn viên rộng, thoáng mát, nhiều bóng cây cổ thụ, hướng ra dòng sông Hậu. Đến năm 1926, nhà cầm quyền Pháp ở tỉnh Châu Đốc quyết định xây dựng bệnh viện (Bệnh viện đa khoa Châu Đốc ngày nay) trên mảnh đất của đền. Bà Huỳnh Thị Phú và hương chủ Lan đứng ra vận động dân chúng góp tiền của để chuyển đình đến đầu chợ Châu Đốc xây cất kiên cố, kiến trúc đẹp, đồ sộ như hiện nay. Trong thời Pháp thuộc, như nhiều đền thờ khác, Lễ Công từ đường cũng bị đồng hóa, trở thành đình thờ thần hoàng làng, với tên gọi đình Châu Phú.<br><br></div><div><br>Cổng tam quan đình Châu Phú đẹp cổ kính, với dòng chữ số 1926, bên dưới là bốn chữ quốc ngữ màu vàng trên nền đỏ: Đình thần Châu Phú, bên dưới nữa là 3 chữ Hán. Cổng có hai liễn đối, chữ Hán, màu đen trên nền đỏ. Trên cổng có cặp lưỡng long tranh châu. Sân đình có cây dương cổ thụ, cao lớn, phủ bóng mát.<br><br></div><div><br>Đình được xây cất đồ sộ với chiều ngang 16 mét, dài 48 mét, kiểu chữ “Tam”. Nóc có lầu; mái tam cấp, lợp ngói đại tiểu màu đỏ, trên nóc chạm khắc nhiều tượng đẹp, khỏe, như: Bát tiên, lưỡng long tranh châu, lưỡng long chầu nguyệt, cá hóa rồng, chim, công, phụng, sư tử… Nền lót gạch bông, tường gạch hồ vôi ô dước, cột gỗ căm xe và cà chắt. Nội thất đình có bốn hàng cột, mỗi hàng mười cây cột to bằng căm xe, cà chắt. Tất cả kèo, cột đều có hoành phi, liễn đối, có đến 29 hoành phi và 22 liễn đối chạm trổ khéo léo, tô s<br>ác liễn đối đều là lời ca ngợi công đức Nguyễn Hữu Cảnh, như “Khai thác quân thần, công tại biên thùy, danh tại sử; Trung thần chánh khí, sanh vi chân tướng, tử vi thần”. Tạm dịch: “Đấng quân thần mở mang bờ cõi, công ở biên thùy, danh ở sử; Người chính khí trung thành, sống làm tướng, thác làm thần”… Có nhiều dù lọng, chấn đỏ thêu rồng phụng sặc sỡ, đính kim tuyến lấp lánh, tôn thêm vẻ tôn nghiêm và nét đẹp cổ truyền. Đình còn có bia ký cùng hàng trăm hiện vật quý khác như lư hương, khánh thờ, kiệu, đồ lễ bộ, trống, đàn... Bàn thờ giữa đình thờ bài vị trên cao nhất cùng tượng Lễ Thành hầu Thượng đẳng thần Nguyễn Hữu Cảnh và hai vị quan văn võ hầu.<br><br></div><div><br>Nguyễn Hữu Cảnh còn có tên Nguyễn Hữu Kỉnh, sinh năm 1650 tại Huế, con thứ ba của Chiêu Vũ hầu Nguyễn Hữu Dật – một dòng họ làm quan từ nhiều đời – tiên tổ là Ức Trai Nguyễn Trãi. Từ nhỏ ông được rèn luyện văn võ, theo cha trấn đóng tại Quảng Bình và lập nhiều công lớn, giữ chức Chưởng cơ. Ông lâm bệnh mất ngày mồng 5 tháng 5 năm Canh Thìn (1700) tại cồn Cây Sao (Cù lao Ông Chưởng, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang ngày nay). Có tài liệu nói ông mất ngày mùng 9 tháng 5 tại Rạch Gầm (Mỹ Tho, Tiền Giang).<br><br></div><div><br>Sau khi ông mất được nhiều sắc phong của triều đình Gia Long (năm 1810), Minh Mạng (năm 1833), Tự Đức (năm 1852) với các danh vị Đô Thống chế dinh thần cơ, Thượng đẳng thần, Khai quốc công thần, Lễ thành hầu… Ông là người có công lớn trong việc khai hoang lập ấp, trị an ở vùng đồng bằng nên nơi đây có rất nhiều đền thờ ông. Đình Châu Phú là đền thờ chính. Ngày nay, có nhiều tên đường, tên trường, tên sông, rạch, cù lao mang tên ông.<br><br>Phía dưới bài vị thờ Nguyễn Hữu Cảnh là bài vị ông Thoại Ngọc Hầu. Thoại Ngọc Hầu tên thật là Nguyễn Văn Thoại, tức Thụy (1761-1829), người huyện Điện Phước, Quảng Nam. Khi được điều vào Nam, năm 1815, Nguyễn Văn Thoại chủ trương xây đồn Châu Đốc. Năm 1817, ông giữ chức Trấn thủ Vĩnh Thanh (gồm An Giang và Vĩnh Long). Trong giai đoạn nầy ông thực hiện nhiều công trình lớn ở An Giang mang tầm cỡ quốc gia, như: đào kinh Thoại Hà (1818), kinh Vĩnh Tế (1819-1824), đắp lộ từ Châu Đốc đến núi Sam, làm lộ từ Châu Đốc đến Lò Gò… di dân lập ấp hai bên bờ kinh Vĩnh Tế… Kế bên bài vị Nguyễn Văn Thoại là bài vị ông Vệ Thủy Đỗ Đăng Tàu và Lê Văn Sanh. Hai bên thờ tả hữu ban, tiền hiền, hậu hiền tiền bổn hội, hậu bổn hội, thiện nam tín nữ…<br><br></div><div><br>Đình Châu Phú thể hiện những tinh hoa, những kiến trúc tiêu biểu vừa mang đậm dấu ấn nghệ thuật thời Nguyễn, vừa mang phong cách truyền thống của đình làng Nam bộ nên đã được Bộ Văn hóa ra quyết định công nhận Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia vào năm 1988. Hàng năm, đình tổ chức lễ kỳ yên vào ngày 10 và 11 tháng 5 âm lịch (lễ giỗ Nguyễn Hữu Cảnh), và tổ chức lễ giỗ ông Thoại Ngọc hầu vào ngày mùng Sáu tháng Sáu âm lịch. Lễ nào cũng thu hút đông đảo nhân dân đến cúng bái.<br><br></div><div><strong><br></strong><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/339776023/c425d70585b6080d65af391d7581b48a/t_i_xu_ng__4_.jpg" />
         <pubDate>2018-12-12 06:44:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lequockhanh2004thcsph/trangsuangiang/wish/313720268</guid>
      </item>
      <item>
         <title>THÁNH THẤT CAO ĐÀI BÌNH KHÁNH TP.LONG XUYÊN</title>
         <author>lequockhanh2004thcsph</author>
         <link>https://padlet.com/lequockhanh2004thcsph/trangsuangiang/wish/313720970</link>
         <description><![CDATA[<div>Họ Đạo xã Bình Khánh được thành lập năm Đinh Hợi – 1947, đồng đạo tiến hành cất Thánh Thất tạm bằng mái lá vách ván để có nơi kính ngưỡng theo tôn giáo mình. Do Thánh Thất cất cặp bờ sông, bị sạt lở, nên vào năm Nhâm Dần 1962 Thánh Thất được di dời về vị trí hôm nay, xây dựng lại bằng vật liệu tạm. Đến năm 1990 do nhu cầu chỉnh trang mở rộng lộ giới đường Rừng Sát, một lần nữa Thánh Thất phải di dời, tạo dựng lại bằng vật liệu bán kiên cố cho đúng theo mốc lộ giới của Nhà Nước địa phương qui định.<br><br></div><div>Sau hơn 20 năm thờ tự, ngôi Thánh Thất đã xuống cấp, mặt khác không đúng theo mẫu của Hội Thánh qui định nên BCQ Họ Đạo lập thủ tục xin phép xây dựng lại ngôi Thánh Thất theo mẫu của Hội Thánh. Được sự quan tâm của lãnh đạo các cấp, UBND Tp Hồ Chí Minh thống nhất, Sở Xây dựng cấp Giấy phép xây dựng số 211/GPXD ngày 13-12-2011, Ban Tôn Giáo Dân Tộc Thành phố chấp thuận cho phép BCQ Họ đạo tổ chức lễ đặt viên gạch đầu tiên khởi công xây dựng vào ngày 26-04 Nhâm Thìn (Dl. 16-5-2012), lễ An vị Thánh Tượng Thiên Nhãn, được tổ chức vào ngày 19-4 Giáp Ngọ (Dl.17-5-2014).<br>lễ Khánh Thành ngày 12-9 Ất Mùi (24-10-2015).<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/339776023/ee54a01821fcc696be1a409bf90284a6/tt_binh_khanh_httn_tphcm2.jpg" />
         <pubDate>2018-12-12 06:49:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lequockhanh2004thcsph/trangsuangiang/wish/313720970</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
