<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title>Lịch sử Việt Nam by 𝐈𝐜𝐞 𝐁𝐥𝐮𝐞</title>
      <link>https://padlet.com/nguyenamphong2017/m5ddh9s0uy1qkmss</link>
      <description>Khám phá lịch sử của ông cha ta</description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2022-01-29 14:18:56 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2023-05-19 15:22:19 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url>https://padlet.net/icons/png/1f1fb-1f1f3.png</url>
      </image>
      <item>
         <title>Trưng Trắc và Trưng Nhị </title>
         <author>nguyenamphong2017</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenamphong2017/m5ddh9s0uy1qkmss/wish/2019200390</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>&nbsp;</strong>Hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị là tấm gương điển hình nhất về hình mẫu của người phụ nữ Việt Nam anh hùng. Ngay từ thuở đầu của lịch sử, Hai Bà Trưng đã vượt qua mọi định kiến hà khắc về phụ nữ của lễ giáo phong kiến để đứng lên cầm vũ khí, kéo quân ra trận, đánh đuổi quân xâm lược, giành lại độc lập. Ngay sau khi phất cờ khởi nghĩa, Hai Bà đánh vào Luy Lâu, khiến viên Thái thú Tô Định phải "cắt tóc, cạo râu, vứt bỏ ấn tín, trà trộn vào đám loạn quân tháo chạy về nước".&nbsp; Đúng như lời tuyên thệ của Hai Bà trước khi khởi nghĩa: <em>Một xin rửa sạch nước thù / Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng</em>.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://znews-photo.zadn.vn/w660/Uploaded/mdf_nsozxd/2019_03_06/1.jpg" />
         <pubDate>2022-01-29 14:42:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenamphong2017/m5ddh9s0uy1qkmss/wish/2019200390</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lê Chân</title>
         <author>nguyenamphong2017</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenamphong2017/m5ddh9s0uy1qkmss/wish/2019207131</link>
         <description><![CDATA[<div>Nữ tướng sinh ra ở làng An Biên, huyện Đông Triều, xứ Đông (nay thuộc xã Thủy An, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh). Bị viên thái thú Tô Định hung ác hãm hại bố mẹ, nợ nước, thù nhà, bà chiêu mộ quân sĩ, ngày đêm luyện tập, chờ cơ hội báo thù. Biết tin Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa, bà hết lòng đi theo. Kháng chiến thắng lợi, Lê Chân được giao trọng trách Chưởng quản binh quyền nội bộ, đóng đại bản doanh ở Giao Chỉ và trấn thủ miền Đông Bắc. Năm 41, nhà Hán sai Mã Viện làm Phục Ba tướng quân, chỉ huy đại binh đánh nước ta. “Lê Chân cùng Hai Bà Trưng và nhiều nữ tướng khác đã tham gia những trận đánh ác liệt ở vùng hồ Lãng Bạc (Bắc Ninh) ngày nay. Trận đánh phá vây ở Cẩm Khê, Hai Bà Trưng và nữ tướng Lê Chân đã hy sinh. Không chỉ có công đánh giặc cứu nước, bà còn có công chiêu mộ dân phu, khai khẩn đất hoang, lập vùng đất thuộc TP Hải Phòng ngày nay.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://photo-cms-baophapluat.zadn.vn/w800/Uploaded/2022/athlrainaghat/2014_09_03/lechan6-593x482_FNYB.jpg" />
         <pubDate>2022-01-29 14:51:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenamphong2017/m5ddh9s0uy1qkmss/wish/2019207131</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Chiên</title>
         <author>nguyenamphong2017</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenamphong2017/m5ddh9s0uy1qkmss/wish/2019216356</link>
         <description><![CDATA[<div>Nữ trung đội trưởng du kích Nguyễn Thị Chiên là một cố nông, 22 tuổi, vào đội du kích từ 1946.<br><br></div><div>Vùng chị Chiên thường bị giặc càn quét. Cơ sở tan rã. Nhân dân hoang mang. Chị cứ bám sát lấy dân, lập lại cơ sở chính quyền và đoàn thể, tổ chức một trung đội nữ du kích chống càn quét, bảo vệ làng.<br><br></div><div>Bị bắt, bị tra tấn suốt 3 tháng, bị đưa ra bắn doạ 3 lần, chị vẫn bình tĩnh, không khai nửa lời. Vừa thoát được về, tuy mình đầy vết thương, chân đau không đi được, chị cũng hoạt động lại ngay. Trong đợt thi đua từ 19-5 đến 19-12-1951, chị đã thắng 10 trận, tự tay tước được 15 súng và bắt sống 20 tên giặc (1 tên quan hai Pháp). Trong các trận, chị không hề bỏ sót một người thương binh nào. Trong vụ thuế nông nghiệp, chị đã thức 30 đêm liền, tuyên truyền giải thích từng nhà, từng người. Nhiều người lạc hậu, thấy chị thành khẩn, đều cảm động và trở nên hǎng hái. Khi bắt được tên đồn trưởng (nó đã giết người anh của chị), chị giải thích chính sách khoan hồng của Chính phủ, rồi thả nó. Vì vậy, nó đã gọi nhiều nguỵ binh khác ra hàng.<br><br></div><div>Chị Chiên, vì yêu nước, cǎm giặc, trung thành với đoàn thể, kiên quyết bám sát dân, luôn luôn thương yêu đồng đội, nắm vững và ra sức thi hành chính sách nên đã lập được công to, rất xứng đáng là Anh hùng Quân đội.<br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="http://phunutinh.thaibinh.gov.vn/CuteUpload/TinTuc/Anh/1250.jpg" />
         <pubDate>2022-01-29 15:02:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenamphong2017/m5ddh9s0uy1qkmss/wish/2019216356</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Võ Thị Sáu</title>
         <author>nguyenamphong2017</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenamphong2017/m5ddh9s0uy1qkmss/wish/2019226373</link>
         <description><![CDATA[<div>Chị Võ Thị Sáu, sinh năm 1933 trong một gia đình nghèo ở Đất Đỏ, cha làm nghề đánh xe ngựa, mẹ bán bì bún tại chợ Đất Đỏ; đầu năm 1946, thực dân Pháp trở lại chiếm các địa bàn tại Bà Rịa lần thứ hai, trong đó có Đất Đỏ. Chi Sáu lúc ấy cũng vừa tròn 11 tuổi, với bản chất thật thà, hiền lành và chất phát, yêu quê hương, đất nước, nên nhìn thấy những cảnh giết người, cướp của tàn bạo của bọn lính Pháp, trong lòng chị đã hình thành một ý chí căm thù mãnh liệt, sâu sắc bọn thực dân xâm lược.<br><br></div><div>Trước sự đau thương và mất mát của quê hương, đã thúc đẩy các tầng lớp nhân dân trong huyện tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp, trong đó có chị Võ Thị Sáu; cuộc đời chị Sáu gắn bó cách mạng kể từ đó. Năm 1947, lúc 14 tuổi Sáu vừa làm nhiệm vụ mua hàng, vừa làm nhiệm vụ giao liên để nắm tình hình địch và làm mật hộ viên công an xung phong Đất Đỏ. Tuy còn nhỏ tuổi nhưng chị rất mưu trí, lanh lẹ và chị luôn hoàn thành nhiệm vụ được phân công.<br><br></div><div>Năm 1949, chị đã trở thành người đội viên công an xung phong Đất Đỏ. Chị đã dũng cảm, sáng tạo và luôn hoàn thành nhiệm vụ người chiến sĩ công an xung phong, tham gia nhiều trận chiến đấu để bảo vệ quê hương, trong đó nổi bật nhất là trận đánh diệt tên cai tổng nổi tiếng ác ôn ở Đất Đỏ vào năm 1949 và dùng lựu đạn phá cuộc mít tinh tuyên truyền do Pháp thực hiện tại huyện. Vì vậy, bọn thực dân Pháp vô cùng lo sợ và căm tức đối với hoạt động của đội công an xung phong mà tiên phong là chị Võ Thị Sáu, nên từ đó, bọn chúng ra sức truy lùng ráo riết.<br><br></div><div>Vào tháng 12/1949, trong một chuyến công tác tại Đất Đỏ, chị Sáu đã sa vào tay giặc, hơn một tháng bị giam giữ tại nhà tù Đất Đỏ và khám đường Bà Rịa, địch dùng nhiều thủ đoạn tra tấn dã man nhưng chúng vẫn không lấy được một lời khai nào của chị, sau đó bọn chúng đưa chị về giam giữ ở khám Chí Hòa. Mặc dù bị địch giam giữ nhưng chị Sáu vẫn tiếp tục làm liên lạc cho các đồng chí trong khám và cùng các chị, em trong tù đấu tranh buộc địch phải cải thiện cuộc sống trong nhà tù. Trước tinh thần đấu tranh quyết liệt và không nao núng của chị Sáu cùng những đồng chí trong tù, dù không đủ bằng chứng, nhưng thực dân Pháp cùng bọn tay sai vẫn kết án tử hình và đày chị ra Côn Đảo.<br><br></div><div>Là người chiến sĩ kiên cường, dũng cảm, trung thành, chị Võ Thị Sáu vinh dự được Đảng ủy nhà tù Côn Đảo kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam và công nhận là đảng viên chính thức.<br><br></div><div>Chị Võ Thị Sáu hy sinh vào sáng ngày 23/01/1952. Khi giặc Pháp đưa chị ra xử bắn, với nét mặt ung dung, bước đi vững chắc, ngẩng cao đầu, cất lên bài hát Quốc tế ca, với tinh thần lạc quan cách mạng, chị đã thể hiện tinh thần bất khuất của người chiến sĩ cộng sản.<br><br></div><div>Chị Võ Thị Sáu hy sinh đã để lại sự thương tiếc vô hạn đối với đồng chí, đồng đội và đồng bào; đồng thời sự hy sinh của chị là lời tố cáo đanh thép đối với sự dã man và âm mưu hèn hạ của chế độ thực dân Pháp lúc bấy giờ.<br><br></div><div>Chị Võ Thị Sáu là người tử tù đầu tiên ở Côn Đảo cũng là người nữ tù nhỏ tuổi nhất, chị đã được Nhà nước truy tặng danh hiệu AHLL vũ trang nhân dân vào ngày 02/08/1993. Đó là tấm gương sáng của chị để lại cho chúng ta noi theo, chúng ta nguyện hết lòng ra sức phấn đấu rèn luyện về thể chất, nâng cao trình độ về mọi mặt để cống hiến cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ quê hương Đất Đỏ nói riêng và cả nước nói chung, đưa đất nước ta ngày càng phát triển phồn vinh, văn minh và giàu đẹp./.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="http://www.nongnghiephaingoai.com/wp-content/uploads/2019/08/VoThiSau-220x300.jpg" />
         <pubDate>2022-01-29 15:16:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenamphong2017/m5ddh9s0uy1qkmss/wish/2019226373</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Bà chúa thơ Nôm</title>
         <author>nguyenamphong2017</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenamphong2017/m5ddh9s0uy1qkmss/wish/2095441694</link>
         <description><![CDATA[<div>Với nhiều tác phẩm thơ Nôm, thi sĩ Hồ Xuân Hương đã được bình chọn là Bà Chúa Thơ Nôm trong nền văn học Việt Nam. Thế giới nội tâm trong thơ nữ sĩ khởi nguồn từ thân phận người phụ nữ: những nỗi buồn đơn côi và tấn bi kịch, những khát khao không được thoả nguyện, những cảnh ngộ trớ trêu, thậm chí đắng cay chua chát. Hồ Xuân Hương là một nhà thơ đầy cá tính, khẳng định mạnh mẽ cái “tôi”, đồng thời dám bộc lộc cảnh ngộ riêng và thái độ ứng xử của chính bản thân mình. Thơ Hồ Xuân Hương là một tiếng sấm giữa bầu trời chế độ phong kiến đang thời kì mục ruỗng, là tiếng nói bệnh vực mọi tầng lấp phụ nữ cùng khổ. Chính vì lẽ đó, Hồ Xuân Hương được mệnh danh là Nữ Chúa Thơ Nôm Việt Nam cùng với bao kì tích, huyền thoại.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://www.google.com/url?sa=i&amp;url=https%3A%2F%2Fvnexpress.net%2Fai-duoc-menh-danh-la-ba-chua-tho-nom-3706938.html&amp;psig=AOvVaw3J0CGIAmnSXdh2uW7oBgD3&amp;ust=1647417258356000&amp;source=images&amp;cd=vfe&amp;ved=0CAsQjRxqFwoTCPCFmNbRx_YCFQAAAAAdAAAAABAI" />
         <pubDate>2022-03-15 07:54:48 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenamphong2017/m5ddh9s0uy1qkmss/wish/2095441694</guid>
      </item>
      <item>
         <title> Hùng Vương (Vua Hùng) </title>
         <author>nguyenamphong2017</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenamphong2017/m5ddh9s0uy1qkmss/wish/2102795154</link>
         <description><![CDATA[<div><a href="https://hosodanhnhan.com/tag/vua-hung"><strong>Hùng Vương </strong>(vua Hùng)</a> là vị vua của nhà nước Văn Lang của người Lạc Việt. <strong>Hùng Vương </strong>là con trai của Lạc Long Quân, lên ngôi vào năm 2879 trước công nguyên đặc quốc hiệu Văn Lang, chia nước làm 15 bộ là quốc tổ của Việt Nam. Dân ta có câu:&nbsp;</div><div><br></div><ul><li><em>Dù ai đi ngược về xuôi</em></li><li><em>Nhớ ngày giỗ tổ mồng 10 tháng 3</em></li><li><em>Khắp miền truyền mãi câu ca</em></li><li><em>Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm</em></li></ul><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://img.ntdvn.com/2020/11/ntdvn_thong-binh-mac-canh-huong-mot-trong-nhung-truong-hop-nam-tien-thanh-cong-nhat-trong-lich-su-dat-viet-4.jpg" />
         <pubDate>2022-03-19 07:09:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenamphong2017/m5ddh9s0uy1qkmss/wish/2102795154</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Chi tiết 18 đời Hùng Vương (Vua Hùng)</title>
         <author>nguyenamphong2017</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenamphong2017/m5ddh9s0uy1qkmss/wish/2102933391</link>
         <description><![CDATA[<div><br></div><div><strong>Vua Hùng có thật 18 vị hay là...<br></strong><br></div><div><strong><br></strong><br></div><div><em>Đền thờ vua Hùng tại Suối Tiên- Ảnh tư liệu<br></em><br></div><div>Năm 2007, Quốc hội chọn ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch hằng năm làm ngày Quốc giỗ nhằm ghi nhớ công ơn các vị vua Hùng.<br><br></div><div>Trong "Hỏi gì đáp nấy" (tập 19, NXB Trẻ, 2010, trang 41) Giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Lân Dũng viết: "Thật ra thì 18 đời Vua chỉ là con số biểu trưng, có nghĩa là nhiều đời Vua, truyền nối lâu dài. Không ai biết được <a href="https://plo.vn/tags/MTggdnVhIEjDuW5n/18-vua-hung.html">18 Vua Hùng</a> có tên là gì đâu, đừng cất công tìm vô ích".<br><br></div><div><br></div><div>Nhưng trong "Thế thứ các triều vua Việt Nam"(Nhà xuất bản Giáo dục, 2008, trang 14-15), nhà sử học Nguyễn Khắc Thuần viết đích danh 18 vị vua Hùng:<br><br></div><ol><li>Kinh Dương Vương(涇陽王): 2879 - 2794 TCN (số năm trị vì là ước đoán). Huý là Lộc Tục (祿續).</li><li>Hùng Hiền vương(雄賢王), còn được gọi là Lạc Long Quân (駱龍君 hoặc 雒龍君 hoặc 貉龍君): 2793 - 2525 TCN. Huý là Sùng Lãm (崇纜).</li><li>Hùng Lân vương (雄麟王): 2524 - 2253 TCN</li><li>Hùng Việp vương (雄曄王): 2252 - 1913 TCN</li><li>Hùng Hi vương (雄犧王): 1912 - 1713 TCN (phần bên trái chữ "hi" 犧 là bộ "ngưu" 牛)</li><li>Hùng Huy vương (雄暉王): 1712 - 1632 TCN</li><li>Hùng Chiêu vương (雄昭王): 1631 - 1432 TCN</li><li>Hùng Vĩ vương (雄暐王): 1431 - 1332 TCN</li><li>Hùng Định vương (雄定王): 1331 - 1252 TCN</li><li>Hùng Hi vương (雄曦王): 1251 - 1162 TCN (phần bên trái chữ "hi" 犧 là bộ "nhật" 日)</li><li>Hùng Trinh vương (雄楨王): 1161 - 1055 TCN</li><li>Hùng Vũ vương (雄武王): 1054 - 969 TCN</li><li>Hùng Việt vương (雄越王): 968 - 854 TCN</li><li>Hùng Anh vương (雄英王): 853 - 755 TCN</li><li>Hùng Triêu vương (雄朝王): 754 - 661 TCN</li><li>Hùng Tạo vương (雄造王): 660 - 569 TCN</li><li>Hùng Nghị vương (雄毅王): 568 - 409 TCN</li><li>Hùng Duệ vương (雄睿王): 408 - 258 TCN</li></ol><div><strong>18 vị vua Hùng tuổi thọ bao nhiêu?<br></strong><br></div><div>Theo<em>Đại Việt Sử ký Toàn thư</em>, tính từ thời Kinh Dương Vương (2879 TCN) cho đến hết thời Hùng Vương (năm 258 TCN) kéo dài 2.622 năm.Nhà nước <a href="https://plo.vn/tags/IFbEg24gTGFuZw==/van-lang.html">Văn Lang</a> tồn tại đến năm 258 TCN thì bị Thục Phán (tức An Dương Vương) thôn tính.<br><br></div><div><br></div><div><em>Bàn thờ chính tại Đền Thượng tại Khu di tích đền Hùng (thôn Cổ Tích, xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ) - Ảnh tư liệu<br><br></em><br></div><div>18 đời vua Hùng nối nhau trị vì trong 2.622 năm. Con số này cũng có nhiều giả thuyết.<br><br></div><div>Cũng trong <em>Đại Việt sử lược</em> là tác phẩm đầu tiên đề cập tới và dường như dữ kiện đó được nhiều tác phẩm sử học, khảo cứu sau này ghi chép theo, thậm chí các tác phẩm ở dạng diễn ca cũng viết:<br><br><em>Xưng Hùng Vương, cha truyền con nối,<br>Mười tám đời một mối xa thư,<br>Cành vàng lá ngọc sởn sơ,<br>Nước xưng một hiệu, năm dư hai nghìn.<br></em>(Thiên Nam minh giá)<br><br></div><div><br></div><div><br></div><div><br></div><div><br><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1326611050/c7b88de21d80816b7ec73c5dd7e06208/ten_cac_vi_vua_hung_4.jpg" />
         <pubDate>2022-03-19 12:08:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenamphong2017/m5ddh9s0uy1qkmss/wish/2102933391</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lý Nam Đế (Lý Bí)</title>
         <author>nguyenamphong2017</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenamphong2017/m5ddh9s0uy1qkmss/wish/2102937320</link>
         <description><![CDATA[<div><br>&nbsp;<strong>Lý Nam Đế</strong> (503 – 548) là một vị vua Việt Nam, người đã sáng lập ra nhà Tiền Lý và khai sinh nhà nước Vạn Xuân. Ông tên thật là <strong>Lý Bí</strong>, còn gọi là <strong>Lý Bôn</strong>, người làng Thái Bình, phủ Long Hưng, Việt Nam (khoảng Thạch Thất và thành phố Sơn Tây, Hà Nội)[1].</div><div><br></div><div><br>Lý Nam Đế có tài văn võ. Ông đã lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa, đánh đuổi được quân đô hộ, rồi xưng là <strong>Nam Đế</strong>(vua nước Nam), đặt tên nước là Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên (chưa rõ ở đâu, có lẽ gần thành phố Bắc Ninh ngày nay).<br><br></div><div><strong><br>Nguồn gốc<br></strong><br></div><div><br>Nhiều sách sử cho biết tổ tiên của Lý Nam Đế là người Trung Quốc, vào cuối thời Tây Hán thì tránh sang ở Việt Nam (lúc đó đang là thuộc địa của Trung Quốc) để trốn nạn binh đạo. Qua 7 đời, đến đời Lý Bí thì dòng họ Lý đã ở Việt Nam được hơn 5 thể kỷ. Chính sử Trung Quốc đều coi Lý Bí là "Giao Châu thổ nhân".<br><br></div><div><br>Theo sách <em>Văn minh Đại Việt</em> của Nguyễn Duy Hinh căn cứ các thần phả thì Lý Bí không phải là thế hệ thứ 7 mà là thế hệ thứ 11 của họ Lý từ khi sang Việt Nam. Khoảng cách 11 thế hệ trong 5 thế kỷ hợp lý hơn là 7 thế hệ trong 5 thế kỷ. Theo đó, đời thứ 7 là Lý Hàm lấy bà Ma thị là người Việt, sinh ra Lý Thanh. Lý Thanh phục vụ dưới quyền thứ sử Giao châu là Đàn Hòa Chi nhà Lưu Tống thời Nam Bắc Triều (Trung Quốc). Lý Thanh sinh ra Lý Hoa, Lý Hoa sinh ra Lý Cạnh. Lý Cạnh sinh ra Lý Thiên Bảo và Lý Bí.<br><br></div><div><br>Tuy nhiên, nguồn tài liệu khác lại ghi cha Lý Bí là Lý Toản, trưởng bộ lạc, mẹ là Lê Thị Oánh người Ái Châu (Thanh Hoá).<br><br></div><div><strong><br>Tuổi trẻ<br></strong><br></div><div><br>Lý Bí sinh ngày 12 tháng 9 năm Quý Mùi (17-10-503). Từ nhỏ, Lý Bí đã tỏ ra là một cậu bé thông minh, sớm hiểu biết. Khi Lý Bí 5 tuổi thì cha mất; 7 tuổi thì mẹ qua đời. Ông đến ở với chú ruột. Một hôm, có một vị Pháp tổ thiền sư đi ngang qua, trông thấy Lý Bí khôi ngô, tuấn tú liền xin Lý Bí đem về chùa nuôi dạy. Sau hơn 10 năm rèn sách chuyên cần, lại được vị thiền sư gia công chỉ bảo nên Lý Bí trở thành người học rộng, hiểu sâu, ít người sánh kịp. Nhờ có tài văn võ kiêm toàn, Lý Bí được tôn lên làm thủ lĩnh địa phương.<br><br></div><div><br>Lý Bí đã từng ra làm quan cho nhà Lương, nhưng do bất bình với các quan lại đô hộ tàn ác, nên ông bỏ quan, về quê, chiêu binh mãi mã chống lại chính quyền đô hộ. Tù trưởng ở Chu Diên (Hải Dương) là Triệu Túc cùng con là Triệu Quang Phục phục tài đức của ông nên đã đem quân nhập với đạo quân của ông.<br><br></div><div><br>Năm 541, thứ sử Giao Châu Tiêu Tư hà khắc tàn bạo nên mất lòng người. Lúc ấy lại có giặc Lâm Ấp quấy phá ở phía Nam. Nhân dân Giao Châu rất khổ cực. Lý Nam Đế làm quan cho chính quyền đô hộ nhưng không hài lòng, nên bỏ về quê, chiêu mộ nghĩa quân. Tinh Thiều, một người giỏi từ chương, từng đến kinh đô nhà Lương xin được chọn làm quan, nhưng chỉ cho chức "gác cổng thành", nên bỏ về Giao Châu theo Lý Nam Đế. Lúc bấy giờ ông làm chức giám quân ở châu Cửu Đức (huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh ngày nay), liên kết với hào kiệt mấy châu, đều hưởng ứng. Triệu Túc, tù trưởng ở Chu Diên (có lẽ là Phả Lại, tỉnh Hải Dương ngày nay), phục tài đức của Lý Nam Đế, nên đã dẫn quân theo. Quân của Lý Nam Đế đánh Tiêu Tư thua chạy về Quảng Châu và chiếm lấy Long Biên. Tháng 12 năm 542, vua Lương sai Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng sang đàn áp. Thứ sử Quảng Châu là Hoán (theo Trần thư là Tiêu Ánh) không cho, Tiêu Tư cũng thúc giục. Tử Hùng đi đến Hợp Phố, 10 phần chết đến 6-7 phần, quân tan rã. Năm 543, tháng 4, vua Lâm Ấp xâm chiếm quận Nhật Nam, Lý Nam Đế sai Phạm Tu đánh tan địch ở Cửu Đức. Năm 544, tháng giêng, ông tự xưng là Nam Việt Đế, lên ngôi, đặt niên hiệu là Thiên Đức (đức trời), lập trăm quan, đặt tên nước là Vạn Xuân thể hiện mong muốn rằng xã tắc truyền đến muôn đời. Đóng đô ở Ô Diên (nay là xã Hạ Mỗ, Đan Phượng, Hà Nội). Dựng điện Vạn Thọ làm nơi triều hội. Thành lập triều đình với hai ban văn, võ. Lấy Triệu Túc làm thái phó, Tinh Thiều đứng đầu ban văn, Phạm Tu đứng đầu ban võ.<br><br></div><div><strong><br>Chạy về động Khuất Lạo<br></strong><br></div><div><br>Năm 545, tháng 6, nhà Lương cho Dương Thiêu (Thiệu hay Phiêu) làm thứ sử Giao Châu, Trần Bá Tiên làm tư mã, đem quân xâm lấn, lại sai thứ sử Định Châu là Tiêu Bột hội với bọn Thiêu ở Giang Tây (theo Trần thư và Thông giám là Tây Giang, thuộc Quế Lâm). Trần Bá Tiên đem quân đi trước. Khi quân của Bá Tiên đến Giao Châu, Lý Nam Đế đem 3 vạn quân ra chống cự, bị thua ở Chu Diên, lại thua ở cửa sông Tô Lịch, tướng Tinh Thiều tử trận. Ông chạy về thành Gia Ninh (xã Gia Ninh, huyện Vĩnh Lạc tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay). Quân Lương đuổi theo vây đánh.<br><br></div><div><br>Tháng giêng năm 546, Trần Bá Tiên đánh lấy được thành Gia Ninh, tướng Phạm Tu tử trận. Lý Nam Đế chạy vào đất người Lạo ở Tân Xương. Quân Lương đóng ở cửa sông Gia Ninh. Tháng 8, ông đem 2 vạn quân từ trong đất Lạo ra đóng ở hồ Điển Triệt (xã Tứ Yên, huyện Lập Thạch, tỉnh Phú Thọ), đóng nhiều thuyền đậu chật cả mặt hồ. Quân Lương sợ, cứ đóng lại ở cửa hồ không dám tiến vào. Đêm hôm ấy nước sông lên mạnh, dâng cao 7 thước, tràn đổ vào hồ. Bá Tiên đem quân theo dòng nước tiến trước vào. Quân Vạn Xuân không phòng bị, vì thế tan vỡ, phải lui giữ ở trong động Khuất Lạo, ông ủy cho con thái phó Triệu Túc là tả tướng là Triệu Quang Phục giữ việc nước, điều quân đi đánh Bá Tiên.<br><br></div><div><br>Năm 548, ngày 20 (ngày Tân Hợi) tháng 3 (tức ngày 13-4 dương lịch), Lý Nam Đế ở động Khuất Lạo lâu ngày bị nhiễm lam chướng, ốm qua đời. Ông ở ngôi được 5 năm (544-548), thọ 46 tuổi.<br><br></div><div><br>Theo sách <em>"Việt Nam văn minh sử"</em> của Lê Văn Siêu dẫn một số nguồn tài liệu cổ, Lý Nam Đế ở lâu ngày trong động, vì nhiễm lam chướng nên bị mù hai mắt. Vì vậy đời sau đến ngày giỗ thường phải xướng tên các đồ lễ để vua nghe thấy. Lại cũng theo tài liệu này, có thuyết cho rằng không phải Lý Nam Đế ốm chết mà vua bị người Lạo làm phản giết hại. Tướng Lý Phục Man cũng mất theo vua vì nạn này.<br><br></div><div><br>Ngày nay ở trung tâm Hà Nội có phố mang tên Lý Nam Đế.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1326611050/24b1081e62d59b01cd285e3ea82aab8b/Danh_sach_14_vi_anh_hung_dan_toc_tieu_bieu_nhat_trong_lich_su_Viet_Nam_3.jpg" />
         <pubDate>2022-03-19 12:16:40 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenamphong2017/m5ddh9s0uy1qkmss/wish/2102937320</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hồ Chí Minh </title>
         <author>nguyenamphong2017</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenamphong2017/m5ddh9s0uy1qkmss/wish/2190689656</link>
         <description><![CDATA[<div>Chủ tịch Hồ Chí Minh (tên lúc nhỏ là Nguyễn Sinh Cung, tên khi đi học là Nguyễn Tất Thành, trong nhiều năm hoạt động cách mạng trước đây lấy tên là Nguyễn Ái Quốc), sinh ngày 19-5-1890 ở làng Kim Liên, xã Nam Liên (nay là xã Kim Liên), huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An và mất ngày 2-9-1969 tại Hà Nội.<br>Người sinh ra trong một gia đình: Bố là một nhà nho yêu nước, nguồn gốc nông dân; mẹ là nông dân; chị và anh đều tham gia chống Pháp và bị tù đày.<br><br></div><div>Ngày 3-6-1911(*), Người ra nước ngoài, làm nhiều nghề, tham gia cuộc vận động cách mạng của nhân dân nhiều nước, đồng thời không ngừng đấu tranh cho độc lập, tự do của dân tộc mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại và tìm thấy ở chủ nghĩa Mác-Lênin con đường giải phóng của giai cấp công nhân và nhân dân các nước thuộc địa. Năm 1920, Người tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp tại Đại hội Tua. Năm 1921, người tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa Pháp; xuất bản tờ báo Người cùng khổ ở Pháp (1922). Năm 1923, Người được bầu vào Ban Chấp hành Quốc tế Nông dân. Năm 1924, Người tham dự Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản và được chỉ định là Uỷ viên thường trực Bộ Phương Đông, trực tiếp phụ trách Cục Phương Nam. Năm 1925, Người tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức châu á, Xuất bản hai cuốn sách nổi tiếng: Bản án chế độ thực dân Pháp (1925) và Đường cách mệnh (1927).<br><br></div><div>Năm 1925, Người thành lập Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí Hội ở Quảng Châu (Trung Quốc) và tổ chức "Cộng sản đoàn" làm nòng cốt cho Hội đó, đào tạo cán bộ Cộng sản để lãnh đạo Hội và truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam.<br><br></div><div>Ngày 3-2-1930, Người chủ tọa Hội nghị thành lập Đảng họp tại Cửu Long (gần Hương Cảng). Hội nghị đã thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ Đảng do chính Người soạn thảo. Người ra lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (sau đổi là Đảng Cộng sản Đông Dương, rồi Đảng Lao động Việt Nam và nay là Đảng Cộng sản Việt Nam ).<br><br></div><div>Từ năm 1930 đến 1940, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục hoạt động cho sự nghiệp giải phóng của dân tộc Việt Nam của các dân tộc bị áp bức khác trong những điều kiện vô cùng gian khổ và khó khăn.<br><br></div><div>Năm 1941, Người về nước, triệu tập Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, quyết định đường lối cứu nước, thành lập Việt Nam độc lập đồng minh Hội (Việt Minh), tổ chức lực lượng vũ trang giải phóng, chính sách căn cứ địa, lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa từng phần và chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.<br><br></div><div>Sau Cách mạng Tháng Tám (1945) thắng lợi, ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; tổ chức Tổng tuyển cử tự do trong cả nước, bầu Quốc hội và thông qua Hiến pháp dân chủ đầu tiên của Việt Nam. Quốc hội khóa I đã bầu Người làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1946).<br><br></div><div>Cùng với Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo toàn Đảng, toàn quân, toàn dân Việt Nam phá tan âm mưu của đế quốc, giữ vững và củng cố chính quyền cách mạng.<br><br></div><div>Ngày 19-12-1946, người kêu gọi cả nước kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc, bảo vệ và phát triển những thành quả của Cách mạng Tháng Tám.<br><br></div><div>Tại Đại hội lần thứ II của Đảng (1951), Người được bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược đã giành được thắng lợi to lớn, kết thúc bằng chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ (1954).<br><br></div><div>Sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng (1955) Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đồng thời đấu tranh giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.<br><br></div><div>Đại hội lần thứ III của Đảng (1960) đã nhất trí bầu lại Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Quốc hội khóa II, khóa III đã bầu Người làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.<br><br></div><div>Cùng với Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân Việt Nam chống chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ; lãnh đạo sự nghiệp cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.<br><br></div><div>Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, đề ra đường lối đúng đắn đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Người sáng lập ra Đảng Mácxít-Lêninnít ở Việt Nam, sáng lập ra Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, sáng lập ra các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam và sáng lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, góp phần tăng cường đoàn kết quốc tế. Người là tấm gương sáng của tinh thần tập thể, ý thức tổ chức và đạo đức cách mạng.<br><br></div><div>Chủ tịch Hồ Chí Minh là người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và của cả dân tộc Việt Nam, một chiến sĩ xuất sắc, một nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc.<br><br></div><div>&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://www.hochiminh.vn/Uploads/2020/10/6/29/ch%E1%BB%A7-t%E1%BB%8Bch-hcm.jpg" />
         <pubDate>2022-05-19 04:57:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenamphong2017/m5ddh9s0uy1qkmss/wish/2190689656</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lê Thái Tổ</title>
         <author>nguyenamphong2017</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenamphong2017/m5ddh9s0uy1qkmss/wish/2193661375</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><br>Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn từ mở đầu tới kết thúc thắng lợi (tháng 12-1427), qua các giai đoạn phát triển và chiến lược, chiến thuật của nó đã chứng minh Lê Lợi là người có tầm vóc của một thiên tài, một nhân cách vĩ đại, chỉ thấy ở những lãnh tụ mở đường, khai sáng.<br></strong><br></div><div>Nếu Ngô Quyền với chiến thắng trên sông Bạch Đằng năm 938 đã chấm dứt thời kỳ 1.000 năm mất nước, mở đầu thời kỳ độc lập mới của dân tộc thì Lê Lợi với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng, kết thúc 20 năm thống trị của giặc Minh, khôi phục nền độc lập lâu dài cho Tổ quốc, bắt đầu một kỷ nguyên xây dựng mới...<br><br></div><div><br></div><div>Lê Lợi sinh ngày 10-9-1385 (6-8 năm Ất Sửu) tại Lam Sơn (Kẻ Cham), nay thuộc huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa, trong một gia đình "đời đời làm quân trưởng một phương". Ông là con út của Lê Khoáng và Trịnh Thị Ngọc Hương (anh lớn của ông tên Học, anh thứ là Trư). Ông nối nghiệp cha làm chúa trại Lam Sơn. Khi quân Minh chiếm đất nước, ông nuôi chí lớn đánh đuổi xâm lăng. Quân nhà Minh nghe tiếng ông, dụ cho làm quan, ông không chịu khuất. Ông nói: "Làm trai nên giúp nạn lớn, lập công to, để tiếng thơm muôn đời, chớ sao lại chịu bo bo làm đầy tớ người?". Năm Lê Lợi 21 tuổi cũng là năm nhà Minh đem 80 vạn quân sang xâm lược nước Việt. Cuộc kháng chiến chống Minh của vương triều Hồ thất bại, nước Đại Việt rơi vào ách thống trị tàn bạo của giặc Minh. Trước cảnh đất nước bị kẻ thù giày xéo, tàn phá, Lê Lợi đã nung nấu một quyết tâm đánh đuổi chúng ra khỏi bờ cõi.<br><br></div><div>Đầu năm 1416, tại núi rừng Lam Sơn trên đất Thanh Hóa, Lê Lợi cùng với 18 người bạn thân thiết, đồng tâm cứu nước đã làm lễ thề đánh giặc giữ yên quê hương. Đó là hội Thề Lũng Nhai đã đi vào sử sách.<br><br></div><div>Tin Lê Lợi dựng cờ nghĩa, chiêu mộ hiền tài bay xa, thu hút các anh hùng hào kiệt từ bốn phương kéo về. Đất Lam Sơn trở thành nơi tụ nghĩa. ở đó có đủ các tầng lớp xã hội và thành phần dân tộc khác nhau, với những đại biểu ưu tú như: Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Chích, Nguyễn Xí, Lê Lai, Cầm Quý, Xa Khả Tham... Sau một thời gian chuẩn bị chín muồi, đầu năm 1418, Lê Lợi xưng là Bình Định Vương, truyền hịch đi khắp nơi, kêu gọi nhân dân đứng lên đánh giặc cứu nước. Lê Lợi là linh hồn, là lãnh tụ tối cao của cuộc khởi nghĩa ấy.<br><br></div><div>Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn từ mở đầu tới kết thúc thắng lợi (tháng 12-1427), qua các giai đoạn phát triển và chiến lược, chiến thuật của nó đã chứng minh Lê Lợi là người có tầm vóc của một thiên tài, một nhân cách vĩ đại, chỉ thấy ở những lãnh tụ mở đường, khai sáng. Nếu Ngô Quyền với chiến thắng trên sông Bạch Đằng năm 938 đã chấm dứt thời kỳ 1.000 năm mất nước, mở đầu thời kỳ độc lập mới của dân tộc thì Lê Lợi với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng, kết thúc 20 năm thống trị của giặc Minh, khôi phục nền độc lập lâu dài cho Tổ quốc, bắt đầu một kỷ nguyên xây dựng mới. Không có Lê Lợi, không có phong trào khởi nghĩa Lam Sơn. Nhưng Lê Lợi không chỉ là người nhen nhóm, tạo lập ra tổ chức khởi nghĩa Lam Sơn mà ông còn là nhà chỉ đạo chiến lược kiệt xuất. Một nét đặc sắc, mới mẻ trong đường lối chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Minh mà Lê Lợi thực hiện là dựa vào nhân dân để tiến hành chiến tranh giải phóng dân tộc. Nhìn vào lực lượng nghĩa binh và bộ chỉ huy, tướng lĩnh của cuộc khởi nghĩa, có thể thấy rõ tính chất nhân dân rộng rãi của nó, một đặc điểm nổi bật không có ở các cuộc khởi nghĩa khác chống Minh trước đó. Dựa vào sức mạnh của nhân dân, đoàn kết, tập hợp mọi lực lượng xã hội trong một tổ chức chiến đấu, rồi từ cuộc khởi nghĩa ở một địa phương, lấy núi rừng làm căn cứ địa, phát triển sâu rộng thành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc trên quy mô toàn quốc. Đây là một cống hiến sáng tạo to lớn về đường lối chiến tranh của Lê Lợi và bộ tham mưu của ông, để lại một kinh nghiệm lịch sử quý giá.<br><br></div><div>Vừa là nhà tổ chức và chỉ đạo chiến lược về chính trị, quân sự, vừa là vị tướng cầm quân mưu trí, quả quyết, Lê Lợi đã vận dụng lối đánh "vây thành diệt viện" theo lý thuyết quân sự ông nghiền ngẫm: Đánh thành là hạ sách. Ta đánh thành kiên cố hàng năm, hàng tháng không lấy được, quân ta sức mỏi, khí nhụt, nếu viện binh giặc lại đến thì ta đằng trước, đằng sau đều bị giặc đánh, đó là đường nguy. Chi bằng nuôi sức khỏe, chứa khí hăng để đợi quân cứu viện tới. Khi viện binh bị phá thì thành tất phải hàng". Chiến thuật "Vây thành diệt viện" của Lê Lợi kết hợp với chủ trương "mưu phạt nhị tâm công", uy hiếp, phân hóa, chiêu dụ địch của Nguyễn Trãi tạo nên một phương thức độc đáo trong nghệ thuật quân sự Việt Nam.<br><br></div><div>Cuộc vây hãm Vương Thông ở Đông Quan và tiêu diệt viện binh giặc tại Chi Lăng, Xương Giang cuối năm 1427 là kết quả thắng lợi của tư tưởng quân sự của Lê Lợi - Nguyễn Trãi. Sau khi đuổi hết giặc Minh về nước, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế năm 1428, sáng lập ra vương triều Lê. Lê Lợi làm vua được 5 năm thì mất (1433), an táng tại Vĩnh Lăng, Lam Sơn, miếu hiệu là Thái Tổ.<br><br></div><div>Trong sự nghiệp xây dựng đất nước buổi đầu của vương triều Lê, Lê Lợi đã có những cố gắng không nhỏ về nội trị, ngoại giao, nhằm phục hồi, củng cố, phát triển đất nước trên mọi mặt, như tổ chức lại bộ máy chính quyền từ trung ương xuống địa phương; ban hành một số chính sách kèm theo những biện pháp có hiệu quả để khôi phục sản xuất nông nghiệp, ổn định đời sống xã hội. Lê Lợi cũng chú ý tới việc phát triển văn hóa, giáo dục, đào tạo nhân tài. Năm 1428, lên ngôi vua, năm sau (niên hiệu Thuận Thiên thứ 2, 1429), Lê Lợi đã cho mở khoa thi Minh Kinh. Năm 1431, thi khoa Hoành từ. Năm 1433, Lê Lợi đích thân ra thi văn sách. Đấy là chưa kể năm 1426 trong khi đang vây đánh Đông Quan, Lê Lợi đã mở một khoa thi đặc cách lấy đỗ 32 người, trong đó có Đào Công Soạn, một nhà ngoại giao xuất sắc thời Lê Lợi. Nhưng, nhiệm vụ chính trị lớn nhất phải quan tâm giải quyết hàng đầu sau khi đất nước được giải phóng là việc tăng cường củng cố, giữ vững nền độc lập, thống nhất của Tổ quốc. Về phương diện này, Lê Lợi đã làm được hai việc có ý nghĩa lịch sử. Thứ nhất, ông đã thành công trong cuộc đấu tranh ngoại giao, thiết lập quan hệ bình thường giữa triều Lê và triều Minh. Thứ hai, Lê Lợi đã kiên quyết đập tan những âm mưu và hành động bạo loạn muốn cát cứ của một số ngụy quân trước, điển hình là vụ Đèo Cát Hãn ở Mường Lễ, Lai Châu. Trong bài thơ làm khắc vào vách đá núi Pú Huổi Chò (bên sông Đà, thuộc Lai Châu) năm 1431 khi đánh Đèo Cát Hãn, Lê Lợi đã nói rõ ý chí bảo vệ sự thống nhất giang sơn:<br><br></div><div><em>Đất hiểm trở từ nay không còn,<br></em><br></div><div><em>Núi sông đã vào chung một bản đồ.<br></em><br></div><div><em>Đề thơ khắc vào núi đá<br></em><br></div><div><em>Trấn giữ miền Tây của nước Việt ta.<br></em><br></div><div>Sau bài thơ trên, Lê Lợi còn viết bài thơ thứ hai khắc vào vách núi Hào Tráng bên Chợ Bờ, Hòa Bình.<br><br></div><div>Lê Lợi trong 5 năm làm vua, có những công lao to lớn. Đại Việt sử ký toàn thư viết: "Vua hăng hái dấy nghĩa binh đánh dẹp giặc Minh, 20 năm mà thiên hạ đại định. Đến khi lên ngôi, định luật lệ, chế lễ nhạc, mở khoa thi, đặt cấm vệ, lập quan chức, lập phủ huyện, thu góp sách vở, mở trường học, có thể gọi là có mưu lớn, sáng nghiệp. "<br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="http://www.thoi-nay.com/tai_lieu_bien_khao/leloi.jpg" />
         <pubDate>2022-05-21 02:45:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenamphong2017/m5ddh9s0uy1qkmss/wish/2193661375</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lê Thánh Tông</title>
         <author>nguyenamphong2017</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenamphong2017/m5ddh9s0uy1qkmss/wish/2597736722</link>
         <description><![CDATA[<div>Dưới triều Hậu Lê (1427 - 1527), có một vị vua mà tên tuổi và sự nghiệp vẻ vang của ông đã gắn liền với giai đoạn cường thịnh của nước Đại Việt - Ngài chính là vua Lê Thánh Tông (1442 – 1497). Sử sách giai đoạn này có ghi chép: “Ngủ đêm, mọi nhà không phải đóng cửa, hầu như không có trộm cắp”, dân gian cũng có câu rằng: “Đời vua Thái Tổ, Thánh Tông/ Thóc lúa đầy đồng, trâu chẳng buồn ăn”.</div><div><br>Ông là bậc vĩ nhân của đất nước; là vị vua anh minh, văn võ tài lược, nhà cách tân vĩ đại, là đại diện của sự ấm no và an lành, của thái bình và thịnh trị; “Vua tự trời cao siêu, anh minh quyết đoán, có hùng tài đại lược, võ giỏi, mà thánh học rất chăm, tay không lúc nào rời quyển sách. Các sách kinh sử, các sách lịch toán, các việc thánh thần cái gì cũng tinh thông...” (Đại Việt Sử ký toàn thư, NXB Hồng Đức, 2020, Quyển XIII, Kỷ nhà Lê, tr.924). Ông cũng chính là người đã khai sáng danh xưng Quảng Nam (1471 – 2021).<br><br><em>&nbsp;</em><br>Lê Thánh Tông tên là Lê Tư Thành, là cháu của vua Lê Thái Tổ, và là con thứ tư của vua Lê Thái Tông, thân mẫu là Quang Thục thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao.<br>Chuyện xưa kể rằng, lúc Thái hậu còn làm Tiệp dư (hàng đầu của 6 bậc nữ quan, dưới Tam Phi, Cửu Tần), đi cầu tự, chiêm bao thấy trời cho tiên đồng, rồi có thai. Khi sắp ở cữ, vì mệt mỏi thiếp đi, mơ thấy được đến chỗ Thượng đế, Thượng đế sai một tiên đồng xuống làm con Thái hậu, tiên đồng dùng dằng chưa chịu đi, Thượng đế giận, lấy cái hốt ngọc đánh vào trán làm chảy máu, ở trán hình như có vết như thấy khi chiêm bao, mãi đến khi chết vết ấy vẫn còn. Bà tỉnh dậy thì sinh hoàng tử Tư Thành đúng vào ngày 20 tháng 7 năm Nhâm Tuất (1442), tại chùa Huy Văn (nay là ngõ Văn Hương, phố Tôn Đức Thắng, Hà Nội).<br><br>Thuở nhỏ, Tư Thành sống bên ngoài cung. Đến 4 tuổi mới được đưa vào cung cùng học với các thân vương. Theo các nhà viết sử, vua sinh ra có thần sắc khác thường, vẻ người tuấn tú, nhân hậu, rạng rỡ, nghiêm trang, thực là bậc thông minh xứng đáng làm vua, bậc trí dũng đủ để giữ nước. Ông không chỉ học hành sáng dạ, mà còn rất chịu khó, sớm tối không rời việc đọc sách.<br>Lúc bấy giờ, quan ở Kinh diên là Trần Phong, một trong những thân vương dạy Tư Thành muốn thử tài ông, đưa đề bài vịnh con cóc. Trong vài giây ngắn ngủi, ông liền ứng đáp: <em>“Bác mẹ sinh ra vốn áo sồi/ Chốn nghiêm thăm thẳm một mình ngồi/ Chép miệng dăm ba con kiến gió/ Nghiến răng chuyển động bốn phương trời...”. </em>Vị thân vương quá tâm phục, bèn quỳ xuống tâu: Bẩm điện hạ, với khẩu khí này, điện hạ đúng là chân mệnh đế vương!<br><br>Ngày 3 tháng 10 âm lịch năm 1459, niên hiệu Diên Ninh thứ 6, Lạng Sơn vương Lê Nghi Dân đang đêm thì bắc thang lên tường thành, rồi chia làm ba đường lẻn vào cung cấm làm binh biến. Vua Lê Nhân Tông và Hoàng thái hậu Nguyễn Thị Anh bị giết, Lê Nghi Dân lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu là Thiên Hưng. Nghi Dân phong Bình Nguyên vương Tư Thành làm Gia vương, và sai dựng phủ Gia Hưng bên trái nội cung để Tư Thành ở.<br><br>Lê Nghi Dân lên ngôi, tin dùng các nịnh thần, sát hại bề tôi cũ và thay đổi pháp chế nên không được lòng dân và các đại thần, văn võ. Mãi gần tám tháng sau, vào ngày mồng 6 tháng 6 năm Canh Thìn (1460) nhân buổi thiết triều, các đại thần Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Lê Lăng, Lê Niệm... phối hợp với các tướng lĩnh nhất loạt đóng cửa cung vây bắt Nghi Dân và đồng bọn. Loạn Nghi Dân đến đó là dứt.<br>Binh biến thành công, nhóm đại thần bàn với nhau rằng:<em> “Ngôi trời là khó khăn, của báu rất quan trọng, nếu không phải là người đức lớn không thể đương nổi. Nay Gia Vương tư trời thông tuệ, tài lược trầm hùng, hơn cả mọi người, các vương không ai bằng, lòng người đều thuận thuộc, đủ biết ý trời đã giúp”</em>. Ngay ngày hôm ấy, đem kiệu đến đón vua ở Gia vương để về lên ngôi. Năm đó Lê Tư Thành mới 18 tuổi.<br><br>Thừa kế ngai vàng lúc vương quốc đang lâm vào tình thế ngàn cân treo sợi tóc, vậy mà 38 năm trị quốc, thù trong, giặc ngoài được dẹp yên; nhà vua từng bước đưa triều Lê sơ phát triển tới đỉnh cao về nhiều mặt; tiến hành nhiều cải cách về chính trị, quân sự, kinh tế, giáo dục, văn hóa; bảo vệ biên cương, mở mang bờ cõi. Ông là chủ soái Hội Tao đàn; là người chỉ đạo các Sử thần làm bộ Đại Việt Sử ký và ban hành Luật Hồng Đức - một di sản văn hóa pháp lý đặc sắc của Việt Nam.<br><br>Trong những thành tựu nói trên phải kể đến thành tựu về chiêu hiền đãi sĩ, trọng dụng hiền tài để trị nước, an dân.<br>Dưới triều Vua Lê Thánh Tông việc tuyển chọn người có đức, có tài được xem là điều hệ trọng nhất trong mọi điều hệ trọng với nhiều hình thức tiến bộ, tổ chức rất nghiêm ngặt.<br>Nhà vua đã áp dụng hàng loạt các biện pháp cơ bản, mang tính hệ thống như khuyến khích việc học; tổ chức thi tuyển để lựa chọn người tài; đặt lệ bảo cử để không bỏ sót nhân tài; đặt lệ tập ấm để khuyến khích con cháu công thần lập thân; thực hiện chế độ tản quan để tỏ lòng tri ân với những người có công; đặt lệ khảo thi để khuyến khích nhân tài phấn đấu vươn lên; đặt lệ khảo khóa để đánh giá, phát huy thực tài của quan lại (Lê Đức Tiết: Bộ luật Hồng Đức, Di sản văn hóa pháp lý đặc sắc của Việt Nam, NXB Tư pháp, 2010, tr.143-144).<br>Học giả Trần Trọng Kim đã từng đánh giá: <em>“Thánh Tông là một ông vua thông minh, thờ mẹ rất có hiếu, ở với bề tôi đãi lấy lòng thành. Ngài trị vì được 38 năm, sửa sang được nhiều việc chính trị, mở mang sự học hành, chỉnh đốn các việc vũ bị... mở thêm bờ cõi, khiến cho nước Nam bấy giờ được văn minh thêm ra và lại lừng lẫy một phương, kể từ xưa đến nay chưa bao giờ cường thịnh như vậy”.</em><br>Đã hơn năm thế kỷ trôi qua, nhưng những bài học của Lê Thánh Tông để lại cho đất nước, cho dân tộc vẫn còn nguyên giá trị. "<em>Lê Thánh Tông không chỉ là một ông vua đầy tài năng và nhiệt huyết với tất cả các thành tựu nổi bật dưới thời trị vì của ông mà ông còn là một cái tên không thể mờ trong lịch sử và nền văn hoá nước nhà" </em>(Quỳnh Cư và Đỗ Đức Hùng: Các triều đại Việt Nam, NXB Thanh niên, tr.68). Với trí tuệ, tài năng kiệt xuất của mình, ông xứng đáng được xưng tụng là một vị minh quân, “nhân vật ngoại hạng”, “Vua Thánh” của nước Đại Việt.<br><br><br><br>Dưới thời vua Lê Thánh Tông, việc mở trường dạy học cho con em trong cả nước được khuyến khích, ông là vị vua đầu tiên trong lịch sử ban “Chiếu khuyến học”, được đời sau ghi lại trong Giai văn tập ký[1] với nhan đề là “Thánh Tông Thuần Hoàng đế khuyến học văn”.<br><br>Ông chủ trương, mọi người dân, những ai muốn trở thành người có ích cho đất nước đều có quyền đi học. Không phân biệt trường tư [2], trường công do nhà nước mở. Tại kinh đô, nhà vua cho mở hai trường đại học là Văn Miếu Quốc Tử Giám [3] là nơi đào tạo các nhân tài về ngạch văn giai. Cùng với&nbsp; đó là Điện Giảng Võ là nơi đào tạo các võ quan, tướng lĩnh cho quân đội.<br>Nhà vua còn ra lệnh khắc in các bộ sách giáo khoa gồm: Tứ thư, Ngũ kinh, Ngọc đường văn phạm, Văn hiến thông khảo, Văn tuyển, Cương mục để các học quan lấy đó làm tài liệu giảng dạy, tổ chức thi cử để chọn nhân tài. Bản thân vua Lê Thánh Tông thực sự là một tấm gương sáng về lòng ham học cho muôn dân.<br>Khi ở ngôi vua, Lê Thánh Tông rất hay cải trang, mặc quần áo thường dân, vi hành khắp chốn để tìm hiểu cuộc sống của dân chúng và thị sát về đạo đức, năng lực của quan lại dưới quyền. Chuyện kể rằng, một lần, nhà vua vi hành đến văn miếu, lúc này trời cũng đã khuya, ông vẫn thấy một giám sinh trạc 50 tuổi đang chăm chú ngồi đọc sách và thỉnh thoảng húp một ngụm cháo loãng. Nhà vua đến gần hỏi: <em>"Người húp cháo gì mà ngon thế?”. “Thưa bác, con húp cháo hoa, nhà con hết muối rồi”,</em> người này đáp. Nhà vua rất cảm động ra về. Sáng hôm sau, có người đem gói quà đến biếu giám sinh. Khi mở ra, giám sinh vô cùng bất ngờ bởi món quà là một lọ muối vua ban cùng bên trong có một nén bạc. Từ đó, câu chuyện nhà vua thương người nghèo ham học lan truyền khắp nước.<br>Theo Lê Thái Dũng trong tập sách Hoàng đế Lê Thánh Tông - câu chuyện và giai thoại, NXB Hồng Đức, 2021: Trong chính sách khuyến học, về cơ bản Lê Thánh Tông có kế thừa kinh nghiệm của các triều đại trước. Bên cạnh đó, vua còn đặt ra nhiều nghi thức khác nhau, nhưng tất cả không ngoài mục đích khuyến học, trong đó tập trung tôn vinh người đỗ đạt, khiến cho người học lấy đó làm vinh dự, làm mục tiêu để phấn đấu nỗ lực, noi theo...<br><br>Nhắc đến minh quân Lê Thánh Tông, không thể không nhắc đến những nghi thức khuyến học như Lệ treo bảng mực nhạt: coi như đã thi đỗ, nhưng chưa chính thức vì còn phải vào thi Đình để vua xét định thứ bậc danh hiệu, vì vậy bảng báo tên đỗ Tứ trường dùng mực nhạt để ghi tên, một bước chuẩn bị để khi treo bảng chính thức đề bằng chữ màu vàng. Lệ xướng danh; Lệ đại thần chúc mừng tân khoa; Lệ rước và treo bảng vàng; Lệ ban áo mão, cân đai, phẩm phục; Lệ đãi yến tiệc ở vườn Quỳnh Lâm; Lệ tân khoa nghe hát; Lệ ban cành hoa bạc; Lệ ban thưởng vật phẩm, tiền bạc. Lệ rước tân khoa đi chơi phố phường; Lệ phong tước trật; Lệ làm nhà cho tân khoa ở; Lệ vinh quy bái tổ; Lệ ghi tên người đỗ vào sách và dựng bia tiến sĩ để giáo dục cho muôn dân ham học để thành tài. Riêng việc dựng bia tiến sĩ ở Văn miếu Quốc Tử Giám, ông cho rằng <em>“để cho kẻ sĩ chiêm ngưỡng, hâm mộ phấn chấn, rèn luyện danh tiết, hăng hái tiến lên...”.</em><br><br>Người xưa có câu: <em>“Khuyến học thì đại thịnh”</em>, <em>“Dựng nước lấy việc học làm đầu. Muốn thịnh trị lấy nhân tài làm gốc”</em>; Lê Thánh Tông đã làm được, làm rất tốt điều đó và với chính ông cũng đã có lần tự bạch: <em>“Lòng vì thiên hạ lo âu/ Thay việc trời dám trễ đâu/ Trống rời canh còn đọc sách/ Chiêng xế bóng chửa thôi chầu...”.</em><br><br><br>Cha truyền con nối là quan điểm thông lệ của ý thức hệ phong kiến để duy trì quyền lực; việc <em>“Con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa vẫn quét lá đa” </em>như là luật trời đã định. Những người tài sống ẩn cư nơi thâm sơn cùng cốc, những người dân thân phận nghèo khó dù có tài giỏi đến đâu cũng khó lòng chen chân vào chốn quan trường. Thế nhưng, với Lê Thánh Tông đã có cái nhìn khác, cách làm khác <br>Cái nhìn khác, cách làm khác của vua Lê Thánh Tông thể hiện ở quyết tâm loại bỏ tình trạng quan lại dốt nát mà hay kèn cựa, cậy công, cậy thế, tham lam ra khỏi bộ máy. Đây là công việc cực kỳ khó khăn, không thể hi vọng xoay chuyển trong ngày một, ngày hai. Theo đó, ông kiên định nguyên tắc: tất cả những ai muốn bước chân vào hoạn lộ, dù là con cháu của quan đại thần, dù là người thừa hành ở cấp thấp nhất đều phải là người đã trúng tuyển ở các kỳ thi. Đồng thời ông cũng cũng quy định rất rõ, mọi người trong nước, không kể nguồn gốc xuất thân, đều được phép dự thi [5]. Đại Việt Sử ký toàn thư, Bản kỷ thực lục, Quyển XII ghi rõ: <em>“Mùa hạ, tháng 4, Quang Thuận năm thứ 3 (1462) ra lệnh chỉ cho các thí sinh trong nước, không cứ là dân hay lính, hạn tới thượng tuần năm nay đến nhà giám hay đạo sở tại, khai tên và căn cước đợi thi Hương. Ai đỗ thì gởi danh sách lên Lễ nghi viện để đến trung tuần tháng Giêng năm sau thi Hội. Cho quan sở tại và xã trưởng xã mình làm giấy bảo đảm rằng người ấy thực là có đức hạnh thì mới được vào danh sách dự thi. Kẻ nào bất hiếu, bất mục, bất nghĩa, loạn luân, điêu toa... thì dẫu học giỏi, văn thơ hay cũng không cho vào thi...”</em>. Điều này, chứng tỏ ngay từ đầu, vua Lê Thánh Tông đã kiểm soát chặt chẽ đầu vào của đội ngũ quan lại, ngăn không cho những kẻ kém phẩm chất, đạo đức đặt chân vào bộ máy trị vị của đất nước.<br>Theo tư liệu từ Bảo tàng Lịch sử quốc gia, việc tổ chức thi cử là độc quyền thuộc triều đình quản lý do Bộ Lễ đảm nhiệm. Những nội dung và quy định cụ thể mỗi kỳ thi do Bộ Lễ đề xuất và vua là người quyết định cuối cùng. Thể lệ này đến đời vua Lê Thánh Tông đã rất hoàn chỉnh; được tổ chức theo trình tự từ thấp lên cao và lần lượt qua các kỳ thi: thi Hương được tổ chức tại các phủ, huyện, châu. Thi Hội được tiến hành tại các Thừa tuyên (tỉnh) và thi Đình là kỳ thi tuyển cấp quốc gia diễn ra ở kinh đô [6]. Các kỳ thi này cũng là sự kiểm tra đánh giá tài năng thật sự của mỗi Nho sĩ để được tuyển dụng bổ nhiệm các chức quan trong triều. Đáng quan tâm là trước khi dự thi chính thức, các thí sinh đều phải trải qua hai môn khảo thí là thi toán và thi chính tả. Thí sinh nào giải được các bài toán của đề thi và viết chính tả không lỗi mới được vào dự thi [7].<br>Các nội dung thi Hương, thi Hội, thi Đình đều có 4 môn thi gồm: (1) 5 bài thi kinh nghĩa để khảo sát nhận thức kim, cổ, đông, tây qua đó đánh giá, nhận xét về nhân tình, thế thái của thí sinh; (2) Về pháp luật, thi viết các chiếu, chỉ, mệnh lệnh của vua; các chế, cảo ngày nay gọi là văn bản pháp quy; các biểu, sớ mà ngày nay gọi là báo cáo, tường trình lên quan trên hoặc nhà vua; (3) Thi làm thơ Đường luật; (4) Thi viết văn sách, tức là luận văn để khảo sát trí thức và mưu hoạch ứng phó với thời cuộc.<br>Trong đó, người thi đỗ môn thứ nhất mới được thi tiếp môn thứ hai, đỗ môn thứ hai mới được dự thi môn thứ ba và đỗ môn thứ ba mới được dự thi môn thứ tư. Người đỗ thi Hương mới được dự thi Hội. Đỗ thi Hội mới được về kinh dự thi Đình. Cùng với đó, vua lê Thánh Tông ban hành quy định thể lệ và kỷ luật thi cử rất cụ thể để nghiêm trị những kẻ gian dối trong thi cử.<br><br>Trong 38 năm trị vì, vua Lê Thánh Tông đã tổ chức 12 khoa thi (đại khoa), đào tạo cho đất nước 501 vị tiến sĩ. Số người đỗ đại khoa (tiến sĩ, trạng nguyên) bằng một nửa số khoa bảng cao trong 397 năm thời Lý - Trần - Hồ cộng lại. Trong số 82 bia đá các khoa thi Tiến sĩ thời Lê - Mạc (1442 - 1779) tại Văn miếu Quốc Tử Giám Hà Nội, có 13 bia khắc các khoa tiến sĩ thời Lê sơ thì trong đó có 7 tấm bia đầu tiên do vua Lê Thánh Tông cho dựng vào năm 1484 để tôn vinh bậc đại hiền tài Nho học (7 tấm bia này đề danh tiến sĩ khoa thi các năm 1442, 1448, 1463, 1466, 1475, 1478 và 1481).<br>Đây quả là một cống hiến vượt bậc của vua Lê Thánh Tông đối với đất nước. Đặc biệt, bài văn khắc trên bia đá của khoa thi đầu tiên năm 1442 được trích, dịch và thường xuyên lưu truyền cho đến ngày nay là “Hiền tài là nguyên khí quốc gia". Đúng như Phan Huy Chú đã nhận định trong sách Lịch triều Hiến chương loại chí: <em>“Khoa cử các đời thịnh nhất là đời Hồng Đức. Cách lấy đỗ rộng rãi, cách chọn người công bằng, đời sau không thể theo kịp”.</em><br><br>Cùng với việc thi tuyển, để không bỏ sót những người có tài, có đức ra gánh vác việc nước, vua Lê Thánh Tông đặt ra lệ bảo cử. Đây là hình thức chọn những quan lại có quá trình công tác tốt, có tài năng và có kinh nghiệm thực tiễn quan trường, mà bổ vào những chức vụ quan trọng ở các cơ quan Trung ương và địa phương đang khiếm khuyết. Với lệ này, người đứng ra bảo cử phải lấy tước vị, phẩm hàm của mình để bảo đảm với nhà vua rằng người được bảo cử là xứng tài, xứng đức với chức vụ giao cho họ.<br><em>“Những người làm nhiệm vụ cử người mà không cử được người giỏi thì bị biếm (giáng chức) hoặc phạt theo luật nặng nhẹ; nếu vì tình riêng hoặc lấy tiền thì xử tội nặng thêm hai bậc”</em> (Điều 174, Bộ luật Hồng Đức); vì vậy, nhà sử học Phan Huy Chú có nhận xét rằng: “<em>Lệ bảo cử bắt đầu ở đời Hồng Đức. Bấy giờ việc ấy làm thận trọng, mà trừng phạt lại nghiêm, cho nên không ai dám bảo cử thiên tư, các chức đều xứng đáng, rốt cùng thu được hiệu quả là chọn được người.” </em>[8].<br><br>Dưới thời trị vì, vua Lê Thánh Tông còn đặt lệ tập ấm để khuyến khích con cháu công thần lập thân. Nhà vua, luôn tạo những điều kiện thuận lợi cho những người trong hoàng tộc và con cháu các quan đại thần, những người có công với triều đại được học tập, nâng cao tri thức, tu dưỡng đạo đức, phẩm hạnh thành những người có thực tài đảm đương việc nước. Đồng thời, quan điểm của vua Lê Thánh Tông cũng rất rõ ràng, minh bạch và kiên quyết không để cho các đối tượng mượn thần, cậy thế của ông cha làm thang, bậc bước vào hoạn lộ. Nhất thiết họ phải thi đỗ trong các kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình, phải hội đủ các tiêu chí của một quan chức mới được bổ làm quan.<br>Đáng chú ý, để khuyến khích nhân tài phấn đấu vươn lên, vua Lê Thánh Tông đặt ra lệ khảo thi; lệ này như là một ngày hội nô nức đua tài, đua sức của các quan lại thời bấy giờ. Cứ ba năm một lần, các quan văn, quan võ đương chức từ trong kinh đến ngoài đạo đều phải qua khảo thi. Không một quan chức nào được miễn trừ hoặc lẩn tránh. Khi khảo thi, các quan văn phải giải kinh nghĩa, làm thơ, phú, viết luận văn trả lời các đề thi về đạo trị đời, trị nước... của vua nêu ra. Các quan võ thì thi bắn cung, ném hỏa tiễn, đấu khiên, đua ngựa, đấu vật, đua thuyền, dàn quân, dàn trận. Người nào thi đỗ qua khảo thi thì được thưởng áo, tiền, được thăng chức, tước. Nếu không đỗ thì bị giáng cấp hoặc bãi chức [9]. Vì vậy, tất cả các quan chức đều có ý thức không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ, khả năng của mình trong công việc được giao.<br>Song song với lệ khảo thi, nhà vua còn ban hành lệ khảo khóa để đánh giá đúng và phát huy thực tài của quan lại. Theo Đại Việt Sử ký toàn thư, vào tháng 11 năm 1471, Hồng Đức năm thứ hai, vua Lê Thánh Tông đã ra chỉ dụ: <em>“Phép khảo khóa cốt để phân biệt người hay, kẻ dở, nâng cao hiệu quả trị nước. Đời Đường, Ngu, ba năm một kỳ, xét công để thăng, giáng. Nhà Thanh, Chu, ba năm một lần, xét việc để định thưởng, phạt. Nay nha môn trong, ngoài các ngươi, người nào nhậm chức đã đủ ba năm, phải báo ngay lên quan trên không được để chậm. Nếu quá một trăm ngày mà không kê danh sách gửi đi thì tính số người chậm, mỗi người chậm thì phạt một quan tiền, kẻ nào theo tình riêng mà dung túng đều phải trị tội cả”.</em><br>Khảo khóa, chính là công tác “đánh giá, nhận xét cán bộ” tương tự như cách chúng ta đang làm hiện nay. Khảo khóa là cơ sở để xem xét trong trăm quan ai là người mẫn cán, thanh liêm, làm được nhiều việc ích nước, lợi dân, ai là lời nói mà không đi đôi với việc làm, làm thì láo mà báo cáo thì hay. Việc khảo khóa được tiến hành qua lệ sơ khảo và thông khảo. Lệ sơ khảo cứ ba năm tổ chức một lần, sáu năm thì tái khảo và chín năm thì thông khảo. Sau mỗi kỳ sơ khảo, nếu ai được nhận xét là xứng chức thì tiếp tục được giữ chức; quan, lại nào bị coi là không xứng chức thì lập tức bị bãi chức hoặc giáng chức. Kế đến, là lệ tái khảo và thông khảo. Tức là, quan, lại nào đã qua ba lần sơ khảo, đến năm thứ 12 thì được thông khảo rồi trình lên cấp có thẩm quyền để xem xét việc thăng, giáng. Nếu thời điểm này, quan, lại nào được nhận xét là xứng đáng thì được phong chức, phong hàm thực thụ.<br>Cách làm này của vua Lê Thánh Tông đã tạo ra những ngọn gió mát lành thổi vào tâm óc của trăm quan dưới quyền và cũng là minh chứng rất rõ về việc coi trọng thực tài, xây dựng một bộ máy trị vì năng động, có hiệu lực, hiệu quả. Những người nói nhiều mà làm được ít, nói hay mà không làm được thì bị thải&nbsp; loại ra khỏi hàng ngũ quan chức. Ông cho rằng, quan lại kém đức, vô tài là mầm mống dẫn đến họa loạn, là nguyên nhân của những bất ổn trong xã hội; do đó ông chủ trương ràng buộc quan lại bằng những chế độ, những điều luật quy định trách nhiệm của trăm quan rất rõ ràng và có tính thực thi cao; thiết lập hệ thống các cơ quan thực thi cơ chế, chế độ giám sát, kiểm tra nhạy bén, rộng khắp, thường xuyên đối với mọi quan lại; đồng thời khen thưởng kịp thời, hậu hĩnh những quan lại mẫn cán, có tài; xử phạt nghiêm các quan lại kém đức, kém tài.<br>Chiếu chỉ năm 1463, vua Lê Thánh Tông đã viết: <em>“Ta lưu tâm việc trị nước, dốc ý việc cầu tài, thường nghĩ những người tài làm được việc còn bị khuất ở hàng dưới, chìm lấp ở thôn quê, nên tìm hỏi người giỏi, mơ tưởng không quên”</em>.<br>Sử cũ cũng chép, điều tâm niệm của Vua Lê Thánh Tông luôn mong muốn những bề tôi của mình là bậc hiền tài. Vua từng ra dụ hộ Thượng thư Bộ Nguyễn Cư Đạo (vốn là bạn của vua từ khi còn thơ ấu) rằng: <em>"Ta lúc còn ít tuổi làm bạn với ngươi, khi lên làm vua, ngươi làm quan Kinh diên. Nói về thần hạ thì ngươi đối với ta là bạn tri kỷ, là bạn học thức; nói về vua tôi thì ngươi với ta là duyên cá nước, là hội gió mây. Ngươi nên hết lòng hiệp sức, gắng sức báo đền ơn nước, chí công vô tư, ngăn lấp hối lộ. Được như thế, thì ta được tiếng là vua biết người, ngươi được tiếng là tôi hết trung, vinh hiển cha mẹ, vẻ vang danh tiếng, rạng rỡ trong sử sách, nghĩ lại chẳng khoái lắm sao? Nếu không được như thế, thì ta là vua không biết người, mà ngươi là tôi để làm vì. Trong hai điều ấy, ngươi chọn đằng nào thì chọn" </em>[10].<br>Theo Lê Đức Tiết ghi trong công trình nghiên cứu về Bộ luật Hồng Đức Di sản văn hóa pháp lý đặc sắc của Việt Nam, Nxb. Tư pháp, 2010, tr.25, có đoạn: <em>“</em>Cho đến tận những ngày đầu tháng Chạp năm 1496 – năm cuối đời, trước khi bước vào cõi vĩnh hằng, vua Lê Thánh Tông còn ra sắc chỉ:<em> Các trưởng quan nha môn của nội quan giáp phủ... phải hiệp đồng lựa chọn các tướng hiệu dưới quyền mình, người nào có công lao đánh dẹp, trung tín đáng dùng, hoặc am hiểu thao lược, tinh thông võ nghệ cùng là người có tài năng trí tuệ, liêm khiết, giỏi giang, siêng năng, minh mẫn mới cho tại chức. Nếu kẻ nào hèn kém, không có công lao gì, cùng những kẻ bợ đỡ được dung thân, cầu mong vô liêm sĩ thì truất bỏ...”</em><br><br>Nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Khả Phiêu đã ghi trong lời giới thiệu tập sách Minh quân Lê Thánh Tông và triều thần: <em>“Lê Thánh Tông là vị vua đã xây dựng đất nước cường thịnh, từ cách tân, canh tân đất nước, tôn trọng hiền tài, xây dựng văn bia tại Văn Miếu Quốc Tử giám, cho mở 12 khoa thi, xây dựng và mở rộng Kinh thành Thăng Long, là nhà văn hóa lớn, văn võ song toàn đã lập chiến công hiển hách trong công cuộc Nam chinh mở cõi nước Đại Việt rộng lớn”.</em><br>Công đức của minh quân Lê Thánh Tông thật đáng khâm phục! Thật đáng để suy ngẫm!<br>Mỗi chúng ta cùng ngẫm về chuyện xưa để nghĩ, để hướng tới chuyện hôm nay và tương lai bằng một khát vọng phát triển quê hương, đất nước phồn vinh, hạnh phúc; <em>tạo thành nguồn năng lượng nội sinh to lớn, sống động và sức mạnh vô song. Đó chính là động lực trung tâm của một quốc gia – dân tộc trên con đường đi tới tương lai </em>[11].<br><br>Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng ghi rõ: <em>“Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước. Có cơ chế lựa chọn, đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài, khuyến khích bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung” </em>[12]. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ XXII, cũng đã nhấn mạnh: <em>“Kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện các quy định, quy trình về công tác cán bộ... Khuyến khích cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân </em>[13].<br>Muốn thực hiện khát vọng đó, suy cho cùng phải tiếp tục có cơ chế, chính sách thật khả thi để trọng dụng hiền tài; phải coi hiền tài thực sự là “rường cột”, thực sự <em>“là nguyên khí của quốc gia”.</em> Phải làm thường xuyên, liên tục như <em>“người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu; phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta” </em>như lời chỉ dạy của Bác Hồ kính yêu. Phải có một đội ngũ công bộc đủ mạnh, chuyên nghiệp, <em>“vừa hồng, vừa chuyên”; “việc gì có lợi cho dân thì phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh”.</em></div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://cdn.noron.vn/2021/06/28/60042224014923316-1624850121.jpg" />
         <pubDate>2023-05-19 15:20:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenamphong2017/m5ddh9s0uy1qkmss/wish/2597736722</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
