<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title>Tự nhiên và xã hội - Bài 53: Chim by Minh Huệ Nguyễn</title>
      <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4</link>
      <description>Em hãy sưu tầm thông tin về một số loài chim mà em biết</description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2022-03-21 02:25:55 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2026-03-05 01:43:37 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url>https://padlet.net/icons/png/1f99a.png</url>
      </image>
      <item>
         <title>Theo Đông y, thịt chim bói cá có tính bình, vị mặn, không độc, có các công dụng rất tốt trong việc điều trị các chứng hen suyễn, giải độc và giúp hỗ trợ điều trị giảm các triệu chứng từ căn bệnh trĩ gây ra một cách hiệu quả.8 thg 3, 2017</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2104387761</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1635860096/eeb81a625db714479a97cdc4920df4e6/Alcedo_azurea___Julatten.jpg" />
         <pubDate>2022-03-21 02:41:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2104387761</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Thanh Tâm Nhi</title>
         <author>Imsomeonelse</author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2104388907</link>
         <description><![CDATA[<div>Đại bàng là một loài chim săn mồi cỡ lớn thuộc bộ Ưng, họ Accipitridae. Chúng sinh sống trên mọi nơi có núi cao và rừng nguyên sinh còn chưa bị con người chặt phá như bờ biển Úc, Indonesia, Phi châu... nhưng chủ yếu là Lục địa Á-Âu với khoảng 60 loài, còn lại 11 loài khác tìm thấy tại các lục địa còn lại bao gồm 2 loài ở Lục địa Bắc Mỹ,[1] 9 loài ở Trung và Nam Mỹ và 3 loài ở Úc.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1328116053/2a6af7e3442aa9029bb1f419d8fb0285/OIP__1_.jpg" />
         <pubDate>2022-03-21 02:42:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2104388907</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2104391580</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1635857818/fa62642cd630c4b4f859945d8a8ccd4c/Screenshot_20220321_094149.png" />
         <pubDate>2022-03-21 02:44:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2104391580</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tường Hân (chim khướu)</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2104392387</link>
         <description><![CDATA[<div>Họ <strong>Khướu</strong> (danh pháp khoa học: Timaliidae) là một họ lớn của phần lớn các loài <strong>chim</strong> dạng sẻ ở Cựu thế giới. Chúng đa dạng <strong>về</strong> kích thước và màu sắc, nhưng có đặc trưng chung là bộ lông mềm và xốp như bông. Đây là các loài <strong>chim</strong> của khu vực nhiệt đới, với sự đa dạng lớn nhất ở Đông Nam Á.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1557359426/44be387468d266f3ee29a3916d0b8bef/t_i_xu_ng.jpg" />
         <pubDate>2022-03-21 02:44:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2104392387</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2104392661</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://caresspet.com/tim-hieu-thong-tin-ve-cac-loai-vet-o-viet-nam/" />
         <pubDate>2022-03-21 02:44:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2104392661</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Theo Đông y, thịt chim sẻ có vị ngọt, tính ấm; vào thận. Có tác dụng tráng dương ích tinh ôn kiện cân cốt, sáp niệu, chỉ khái suyễn. Dùng thích hợp cho người suy nhược dương hư, di tinh di niệu, tiểu tiện tần xác, huyết trắng đái hạ, đau lưng mỏi gối, đau đầu hoa mắt chóng mặt (huyễn vựng), hen suyễn.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2104393785</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1635860096/25b3b9eee5e4b140b4783d7be7fab3be/bai_thuoc_tu_chim_se_chua_nam_gioi_liet_duong_it_tinh.jpg" />
         <pubDate>2022-03-21 02:45:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2104393785</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Theo Đông y, rễ mỏ quạ có vị đắng tê, tính hơi mát; vào kinh phế; tác dụng khứ phong, hoạt huyết phá ứ, làm mát phổi, giãn gân; chữa ho, ứ tích lâu năm, bế kinh, đòn đánh bị thương, phong thấp. Lá mỏ quạ chữa vết</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2104396237</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1635860096/7fd6a47a3c13897a4a5e881c6e95a468/interesnie_fakti_o_voronah_opisanie_harakteristiki_i_foto_7.jpg" />
         <pubDate>2022-03-21 02:47:33 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2104396237</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2104398603</link>
         <description><![CDATA[<div>Là loài chim bí hiểm, kẻ săn mồi “khét tiếng”, nhưng thực chất, cú mèo rất có ích cho nhà nông đấy các bé ạ. Chúng ta cùng tìm hiểu nhé! Cú mèo là loài chim ăn đêm với khả năng bay lượn nhẹ nhàng. Chính khuôn mặt lạ lùng cùng tập tính sống bí ẩn, cú mèo thường đại diện cho bóng tối và sự ma quái</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1635860096/c4c475952832d4e1aa0a0b36907359e2/Tropical_screech_owl__Megascops_choliba_luctisomus_.jpg" />
         <pubDate>2022-03-21 02:49:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2104398603</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Như bạn có thể tưởng tượng, làm việc với rất nhiều mô hình không chỉ đòi hỏi nghệ thuật mà còn cả kỹ năng tổ chức. Flach dành khá nhiều thời gian cho các buổi chụp ảnh của mình. “Nó thực sự phụ thuộc vào loại dự án tôi đang làm,” anh nói với Bored Panda.&quot;Khi tôi thực hiện các dự án cá nhân của riêng mình, tôi thường đi theo một khái niệm hoặc một ý tưởng. Và con vật đó chính là đại diện cho điều đó&quot;, nhiếp ảnh gia cho biết. &quot;Sau đó, câu hỏi tiếp theo là, làm cách nào để tiếp cận những con vật đó? Vâng, tất nhiên, tôi phải tính toán từng trường hợp cụ thể. Ví dụ, nếu tôi muốn tiếp cận một Saiga có nguy cơ tuyệt chủng chỉ có thể tìm thấy ở một số Công viên quốc gia gần Biển Caspi ở Nga, tất nhiên, tôi phải nhờ người bạn của tôi ở Moscow tổ chức một cái gì đó với vườn quốc gia để xin phép và xin thị thực&quot;.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2104401433</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1635857265/af29be901cb182a2ba18975382ff44ca/CC691E9F_0E9D_442F_A5B3_DBAA79AC6090.jpeg" />
         <pubDate>2022-03-21 02:51:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2104401433</guid>
      </item>
      <item>
         <title> Sự hữu ích và thân thiện! (Sưu tầm _ Điền Quang_3K)</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2104438847</link>
         <description><![CDATA[<div><br>Vào một buổi sáng chủ nhật đẹp trời, em nằm dài trên giường khi không phải vội vã chuẩn bị đồ đạc để tới lớp như những buổi sáng khác, phóng tầm mắt ra xa khỏi khung cửa sổ, đập vào mắt em lúc này là hình ảnh chú chim sâu, chẳng biết chim có ngủ không mà lại dậy sớm thế, rồi vô hình chung em bị chính chú chim nhỏ bé cuốn vào lúc nào không hay.<br>Em vẫn nằm đó, vẫn đưa đôi mắt dõi theo chú chim, chim sâu chẳng có gì xa lạ đối với em nhưng khi để ý kĩ chú chim mới thật đẹp làm sao, đôi mắt nhỏ xíu nhưng đen lánh, thân hình bé nhỏ nhưng không kém phần mập mạp được khoác lên mình bộ cánh màu xanh óng mượt ẩn hiện sau những chiếc lá, đôi chân nhỏ xíu màu vàng nhanh thoăn thoắt chuyền từ cành này qua cành khác một cách dễ dàng, chiếc mỏ nhỏ xíu xinh xinh, lâu lâu lại tỉa tót lại bộ lông như muốn khoe mình trước nắng. Chú chim nhỏ bé là vậy nhưng mang trong mình đầy trọng trách, tiếng kêu ríu rít nghe thật thư giãn vào mỗi trưa hè, thân hình nhỏ bé cùng với sự nhanh nhẹn của mình, chú mang trong mình công việc bắt sâu bảo vệ cây cối, bảo vệ mùa màng, một công việc âm thầm và lặng lẽ, bản năng sinh tồn như đã được nuôi dưỡng từ khi sinh ra và nay trở thành có ích vô cùng. Vẫn dõi theo chú chim, thì ra sự chăm chỉ đó là để bắt từng con sâu nhỏ bé cho những đứa con háu đói ở trong tổ, chỉ chờ mẹ về là há mồm ra chờ mớm. Ngẩn ngơ một lúc vẻ đẹp đó như cuốn em vào thế giới cổ tích, nhiều khi chỉ muốn bắt một chú chim về nuôi nhưng nghĩ lại đó chỉ là sự giam cầm đối với chúng chứ không phải là yêu thương.<br>Chú chim nhỏ bé nhưng lại vô cùng có ích, chú chim như đã làm em thức tỉnh hơn về trách nhiệm đối với bản thân, là tấm gương sáng để em sửa đổi tính lười biếng của mình, chăm chỉ trong học tập và gánh vác những công việc vừa sức trong gia đình.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1534252545/bbb49073b5cfd14e13272b2c8ae0879c/image8_1632994814_35_width650height460.jpg" />
         <pubDate>2022-03-21 03:17:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2104438847</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2104449697</link>
         <description><![CDATA[<div>Thịt chim bồ câu giúp bồi bổ cơ thể, tăng tốc phục hồi chức năng và chữa lành vết thương của người bệnh sau khi ốm dậy. Thịt chim bồ câu có tác dụng giúp bổ não, tăng cường trí nhớ cũng như khả năng tư duy. Thịt chim bồ câu giúp dưỡng nhan cùng với việc tăng cường sinh lực cơ thể</div>]]></description>
         <enclosure url="https://3.bp.blogspot.com/-th52RnSq_Us/V8rDSAMkZtI/AAAAAAAAAWA/8jtoMR-jcAkVhQdgjMtj4oz0Tnr7wCoJgCLcB/s1600/chim-bo-cau%2B1.jpg" />
         <pubDate>2022-03-21 03:25:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2104449697</guid>
      </item>
      <item>
         <title> Bảo Trang 3k ( Chim bồ câu )</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2104452102</link>
         <description><![CDATA[<div>Chim Bồ Câu câu là loài chim của hòa bình. Chim Bồ Câu có thân hình thoi, cổ dài khá đặc biệt. Do vậy mà đầu của nó có thể xoay nhiều vô cùng linh hoạt. Hơn nữa chim Bồ Câu không có răng mà chỉ có sừng bao bọc quanh hàm cùng với mỏ cứng sắc chim Bồ Câu có bộ lông không hề độc nhất và phổ biến hơn cả màu như đen, trắng, nâu và xanh nhạt.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1635857875/4bc5c395c6d12bb2d4f121ad699026a4/hinh_anh_chim_bo_cau_20.jpg" />
         <pubDate>2022-03-21 03:27:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2104452102</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đối với tôi, đây là Salvador Dali của thế giới loài chim. Khi nói đến độ dài của bộ ria mép của nhạn Inca Peru, càng dài thì càng khỏe mạnh. Bộ ria mép dài hơn cho thấy hệ thống miễn dịch mạnh hơn và do đó, một đề xuất hấp dẫn hơn để tán tỉnh.Các buổi chụp ảnh của Tim rất đa dạng. &quot;Tôi nghĩ một điều với tư cách là một nhiếp ảnh gia là mặc dù bạn có thể có các cách tiếp cận để giải quyết vấn đề nhất định, nhưng khi nói đến động vật, mỗi loài có thể có những tình huống khác nhau, cho dù đó là lặn với cá mập đầu búa hay theo dõi gấu ở Bắc Cực, hoặc chim cánh cụt như tôi đã làm ở Nam Cực vào Giáng sinh năm ngoái. Điều đó hơi khác so với các mô hình của tôi trong studio&quot;.Phần lớn các loài động vật mà Flach chụp được là chưa qua đào tạo, bao gồm cả các loài chim. &quot;Với một cuốn sách về chim, tôi có thể có hơn 100 con chim, và vâng, những con vẹt cho các buổi biểu diễn, tất nhiên, chúng được huấn luyện khá kỹ lưỡng nhưng đối với phần lớn các loài động vật của tôi, tôi ở đó, đúng nghĩa là ngồi đằng sau một nơi ẩn náu với ống kính 800 mm, chờ đợi thứ gì đó quay về hướng của tôi&quot;.4. Gouldian Finch</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2104457519</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1635857265/9916bc2e61a72b525edc3a77d6ecb693/87A73D8D_E71A_447C_AC5D_32640E5318E1.jpeg" />
         <pubDate>2022-03-21 03:31:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2104457519</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tường Hân (Chim cắt)</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2104464335</link>
         <description><![CDATA[<div><br>Các loài cắt là chim săn mồi cỡ từ nhỏ tới trung bình, từ nhỏ như <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BA%AFt_nh%E1%BB%8F_%C4%91%C3%B9i_%C4%91en">cắt nhỏ đùi đen</a> (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Microhierax_fringillarius"><em>Microhierax fringillarius</em></a>), chỉ cân nặng cỡ 35 g (1,2 oz), tới nhỡ như <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BA%AFt_k%C3%AAn_k%C3%AAn">cắt kên kên</a> (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Falco_rusticolus"><em>Falco rusticolus</em></a>), có thể cân nặng tới 1,735 kg (61,2 oz). Chúng có mỏ hình móc cong rất khỏe, móng vuốt cong sắc nhọn và thị lực tuyệt hảo. Bộ lông nói chung bao gồm các màu nâu, trắng, nâu hạt dẻ, đen và xám, thường với vạch phân chia các kiểu màu. Có ít khác biệt về bộ lông giữ chim trống và chim mái, mặc dù một vài loài có mức độ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/D%E1%BB%8B_h%C3%ACnh_gi%E1%BB%9Bi_t%C3%ADnh">dị hình giới tính</a> nhất định ở độ đậm nhạt của màu bộ lông.<br><br></div><div><br>Chúng khác với các loài chim săn mồi khác (trước đây xếp trong bộ Falconiformes) ở chỗ chúng giết con mồi bằng mỏ chứ không phải bằng móng vuốt ở chân. Chúng có "răng" ở một bên mỏ phục vụ cho mục đích này.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1557359426/4e69e9969ec6d9ef26f8a6e7d049a790/image2.jpg" />
         <pubDate>2022-03-21 03:37:20 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2104464335</guid>
      </item>
      <item>
         <title>quyên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2104464436</link>
         <description><![CDATA[<div>chim cánh cụt là một loài chim sống ở bắc cực và chúng có một bộ lông rầy nên chúng có thể chịu được cái lạnh của bắc cực .Những chú chim cánh cụt rất thích ăn cá </div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1574161795/961dbf359eabf7d814342e8e5602e05b/image.png" />
         <pubDate>2022-03-21 03:37:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2104464436</guid>
      </item>
      <item>
         <title>nhung</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2104621067</link>
         <description><![CDATA[<div>chim cáng cụt là một loài sinh sống ở bắc cực.Chúng có một bộ lông rầy nên chúng có thể chịu được cái rét của bắc cực .đăc biết&nbsp;chúng rất thích ăn cá và hay đi theo đàn .</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1574161795/86cb8ff3a5aefd287255f1cd753f1767/image.png" />
         <pubDate>2022-03-21 05:45:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2104621067</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Đặng Anh Quý - Chim họa mi</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2104824848</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;<strong>Chim họa mi</strong> là một trong những giống <strong>chim</strong> cảnh được chọn nuôi nhiều nhất, xuất hiện phổ biến trong hầu hết các gia đình chơi <strong>chim</strong>. <strong>Chim họa mi</strong> hót hay lại đá giỏi, nhưng rất nhát người, nhất là <strong>chim họa mi</strong> bởi mới bắt từ rừng <strong>về</strong>, vì vậy, người nuôi thường mất khoảng 2 – 3 năm mới có thể thuần hóa được 1 con <strong>chim</strong></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1636189092/75854f541b90a26d5d08a430c96cacd0/t_i_xu_ng__1_.jpg" />
         <pubDate>2022-03-21 08:24:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2104824848</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Chim thiên nga - mô tả và sự thật thú vị. Thiên nga. Mô tả về loài và sự thật thú vịTừ xa xưa, con người đã ngưỡng mộ vẻ đẹp lạ thường và sự hùng vĩ của thiên nga. Không phải ngẫu nhiên mà những sinh vật duyên dáng đã trở thành anh hùng của nhiều câu chuyện cổ tích, thần thoại và truyền thuyết. Thiên nhiên đã ban tặng cho thiên nga không chỉ vẻ đẹp lộng lẫy bên ngoài, mà còn với những đặc điểm đáng kinh ngạc về hành vi và lối sống. Hãy cùng xem lại những điều thú vị nhất và sự thật đáng kinh ngạc về những con chim tuyệt vời này.Kích cỡThiên nga là loài chim nước lớn nhất ở châu Âu. Tùy thuộc vào loài mà chiều dài cơ thể của con trưởng thành đạt đến 120-180 cm, và trọng lượng có thể đạt tới lên đến 15 kg... Sải cánh của những con chim này khoảng 2-2,4 mét. Trong trường hợp nguy hiểm, một con thiên nga với cú đập cánh mạnh có thể gây tổn hại đáng kể cho kẻ thù: làm gãy xương và thậm chí giết chết một kẻ săn mồi cỡ trung bình.Cổ dàiTrong số họ nhà vịt, thiên nga là loài sở hữu chiếc cổ dài nhất. Đồng thời, thiên nga đen được coi là người giữ kỷ lục trong số họ hàng, vùng cổ gồm 23 đốt sống và dài bằng một nửa chiều dài cơ thể của cá thể. Kích thước cổ ấn tượng như vậy giúp loài chim này có thể kiếm thức ăn ở độ sâu của các hồ chứa.Tầm nhìn tốtThiên nga có thị lực tuyệt vời giúp chúng tìm kiếm thức ăn và tránh kẻ thù, kể cả dưới nước.PlumageThiên nga vô địch về số lượng lông tơ phủ trên cơ thể. Tổng cộng họ có 25 nghìn chiếc lông vũ riêng lẻ tạo thành một bộ lông dày đặc, sang trọng. Trong quá trình thay lông, chim bị rụng nhiều lông ở đó, thậm chí có lúc không bay được.Swan down có khả năng cách nhiệt tuyệt vời, cho phép những con chim chịu lạnh tốt. Nhưng tài sản này đã trở thành lý do cho sự tiêu diệt hàng loạt của họ trong thời trung cổ.Các nhà côn trùng học đã phát hiện ra rằng màu sắc của bộ lông của thiên nga phần lớn phụ thuộc vào môi trường sống của chúng. Thường trong ấm điều kiện khí hậu màu sắc của các loài chim sẫm hơn ở các loài lạnh. Do đó, lý tưởng nhất là các cá thể da trắng có thể được tìm thấy ở các khu vực phía bắc.Ở đầu đuôi, thiên nga có một tuyến đặc biệt tiết ra chất béo để bôi trơn lông. Nhờ vậy mà chim có thể bơi trong nước rất lâu mà không bị ướt.Độ cao và tốc độ bayDo bộ lông dày và ấm áp, thiên nga có thể bay ở độ cao kỷ lục đối với các loài chim. Quay trở lại những năm 60 của thế kỷ XX, các phi công đã ghi lại chuyến bay của một số cá nhân ở độ cao vượt quá 8200 mét.Cơ bắp tuyệt vời cho phép những con chim tuyệt vời vượt qua các chuyến bay hàng nghìn km hoặc hơn. Thiên nga bay, tạo thành hình nêm, được đứng đầu bởi cá thể mạnh nhất. Các dòng khí động học được tạo ra bởi người đứng đầu trong bầy cho phép các thành viên khác tiêu hao ít năng lượng hơn. Trong trường hợp này, những con thiên nga có thể đạt tốc độ lên tới 80 km / h.Trọng lượng cơ thể lớn khiến chim không thể cất cánh dễ dàng, vì vậy chúng phải vỗ cánh và chạm chân trong thời gian dài để có thể bay đến độ cao mong muốn. Vì lý do tương tự, thiên nga chỉ ngồi trên mặt nước, vụng về phanh chân trên bề mặt của nó.Lòng trung thành của thiên ngaNhững con thiên nga, sau khi tìm thấy bạn đời của mình, trở nên rất gắn bó với nhau. Các loài chim có thể nhận ra nhau bằng hình dáng bên ngoài và sẽ không bao giờ nhầm lẫn bạn tình với các cá thể khác. Hơn nữa, tất cả những &quot;khó khăn&quot; cuộc sống gia đình thiên nga được chia đôi: cùng nhau kiếm thức ăn, bay, ấp và nuôi gà con, chăm sóc lẫn nhau.Những con chim chăm chỉ cái chết của bạn tình. Không phải tất cả các cá thể sau khi chết ở hiệp hai đều có thể tạo ra một cặp mới. Thông thường, những con thiên nga cô đơn rời bỏ bầy mãi mãi và sống hết thời gian của chúng trong nỗi thống khổ và đau khổ khủng khiếp. Có những trường hợp những con chim chung tình, mất bạn tình, tự sát, ngã ngửa từ độ cao lớn.Khả năng chung thủy với bạn tình của thiên nga trong suốt cuộc đời được mọi người ngưỡng mộ. Không phải ngẫu nhiên mà những chú chim này lại trở thành biểu tượng của tình cảm chân thật và chân thật, trong sáng và tình yêu lẫn nhau... Nhiều bài thơ và bài hát cảm động đã được viết về lòng chung thủy của thiên nga.Thiên nga đoàn kếtThiên nga không chỉ quan tâm đến bạn tình của mình mà còn quan tâm đến những người thân khác. Trong trường hợp một trong các thành viên trong đàn bị ốm, những con chim thậm chí có thể hoãn chuyến bay cho đến khi cá thể đó bình phục.Cặp đôi đồng giớiTrong khi nghiên cứu thiên nga đen, những người theo dõi chim đã chứng kiến ​​một hiện tượng bất thường. Những con đực của những con chim này có khả năng hình thành các tổ hợp đồng giới. Trong trường hợp này, những con chim sử dụng con cái để đẻ trứng. Sau đó, những con thiên nga đen đực đuổi nó ra ngoài và ấp và tự nuôi con của chúng.Con đẻCon cái đẻ, như một quy luật, 4 đến 8 quả trứng, ủ trong 35 ngày. Gà con được sinh ra có lông tơ và, bất kể loài nào, đều có màu xám, chỉ thay đổi vào năm thứ ba của cuộc đời chim. Chỉ vài ngày sau khi sinh, những con thiên nga có thể tự bơi cùng bố mẹ.Thiên nga có &quot;gia đình&quot; rất thân thiện và mạnh mẽ. Sau khi gà con lớn lên, chúng có thể sống với bố mẹ trong một thời gian rất dài.Mê tín và điềm báoTừ xa xưa, thiên nga đã là đối tượng quan sát của con người. Điều này giải thích sự xuất hiện của nhiều dấu hiệu và sự mê tín liên quan đến những loài chim tuyệt vời.Gặp được thiên nga trắng đã được coi là may mắn. Để nhìn thấy một đàn thiên nga trắng trên bầu trời - để hoàn thành mong muốn ấp ủ... Một con thiên nga trắng nổi trên biển dấu hiệu tốt cho các thủy thủ, một dấu hiệu của thời tiết tuyệt vời.Ngược lại, cuộc gặp gỡ với một con thiên nga đen, theo các dấu hiệu, không phải là một điềm lành. Ở Anh, loài chim này được coi là biểu tượng của sự xui xẻo và bất hạnh. Gặp thiên nga đen trong ngày cưới hứa hẹn cuộc sống góa bụa sớm hoặc một cuộc hôn nhân không hạnh phúc. Đó là lý do tại sao ngày xưa những con chim không may bị giết khiến dân số của chúng bị giảm sút thê thảm.Nhưng việc giết hại thiên nga trắng, theo tín ngưỡng, đã đe dọa kẻ thủ ác với những vấn đề nghiêm trọng về sức khỏe, khó khăn trong cuộc sống, thất bại trong mọi vấn đề.Bằng tập tính của những con chim này, người ta cũng dự đoán được thời tiết. Ví dụ, người ta tin rằng nếu một con thiên nga bắt đầu đập đầu vào lưng vào ban ngày, thì thời tiết xấu sẽ đến. Chim xây tổ trên độ cao - dự báo sẽ có mưa lớn.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2104955863</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1574249044/35838dd7f4842da941b888795b8d46b3/sw22.webp" />
         <pubDate>2022-03-21 09:55:33 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2104955863</guid>
      </item>
      <item>
         <title>thái anh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2105021232</link>
         <description><![CDATA[<div>Nếu ai đã từng sử dụng <a href="http://nghenuoiyen.com/product-category/yen-sao-nguyen-chat/">yến sào</a> như là một loại thức ăn bổ dưỡng cho sức khỏe thì chắc hẳn sẽ không thể thắc mắc và muốn tìm hiểu về Chim Yến – loài chim độc đáo mang lại sản vật từ thiên nhiên cho con người là tổ yến.<br><br></div><div><br><em>Tìm hiểu về loài chim yến&nbsp;</em></div><div><br></div><div><a href="http://nghenuoiyen.com/">Chim Yến</a> là một loại chim thuộc Họ Yến hay họ Vũ yến (danh pháp khoa học: Apodidae), chim có bề ngoài rất giống với các loài nhạn (họ Hirundinidae) nhưng thực ra chúng không có quan hệ họ hàng gần với những loài chim dạng sẻ này. Các loài yến tạo thành một phần của bộ Yến (Apodiformes), cùng với các họ như họ Chim ruồi và họ Yến mào. Các loài yến mào có quan hệ họ hàng gần với các loài yến thật sự này nhưng tạo thành một họ tách biệt có tên khoa học là Hemiprocnidae.<br><br></div><div>Sự tương tự giữa yến và nhạn là do tiến hóa hội tụ, phản ánh kiểu sinh sống tương tự dựa trên việc bắt các côn trùng làm thức ăn trong khi đang bay.<br><br></div><div>Tên gọi khoa học của họ này có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ đại απους, apous, nghĩa là “không có chân”, do yến có các chân rất ngắn và không bao giờ đậu trên mặt đất mà chỉ bám vào các bề mặt thẳng đứng. Truyền thống mô tả yến không có chân còn tiếp tục tới tận thời kỳ Trung cổ, như được thấy ở dạng martlet (chim trên huy hiệu ở Tây Âu thời Trung cổ).<br><br></div><div>Yến là những loài chim ở trên không nhiều nhất và một số, như yến thông thường, thậm chí ngủ và giao phối khi bay. Các loài lớn, như yến đuôi nhọn họng trắng (Hirundapus caudacutus), là một trong những loài bay nhanh nhất trong giới động vật. Một nhóm, yến hang (tông Collocalini) đã phát triển một dạng định vị bằng tiếng vang để dò tìm đường bay trong các hệ thống hang động tối tăm nơi chúng đậu để ngủ. Một loài, Aerodramus papuensis gần đây được phát hiện là có sử dụng kiểu định vị này vào thời gian ban đêm ở bên ngoài hang nơi nó đậu ngủ. Các loài yến phân bố rộng khắp thế giới trong khu vực nhiệt đới và ôn đới, nhưng giống như các loài nhạn, các loài yến vùng ôn đới là những loài chim di trú và mùa đông chúng bay về vùng nhiệt đới.<br><br></div><div>Nhiều loài yến có hình dáng đặc trưng, với đuôi ngắn và chẻ, các cánh dài cụp về phía sau, trông tương tự như trăng lưỡi liềm hay boomerang. Kiểu bay của một số loài được đặc trưng bằng hành động “vụt” đặc biệt rất khác với kiểu bay ở nhạn. Kích thước các loài yến dao động từ nhỏ như ở yến lùn (Collocalia troglodytes), chỉ cân nặng 5,4 g và dài 9 cm (3,7 inch) tới yến đuôi nhọn tía (Hirundapus celebensis), cân nặng 184 g (6,5 oz) và dài 25 cm (10 inch).<br>Tổ của nhiều loài được kết dính trên các bề mặt dốc đứng bằng nước bọt, và các loài chi Aerodramus chỉ sử dụng nước bọt để làm tổ, và đây là cơ sở của món yến sào.<br><br></div><div><strong>Hệ thống và sự tiến hóa của loài Yến<br></strong><br></div><div>Các loài yến và yến mào (yến cây) đã từ lâu được coi là các họ hàng của chim ruồi, một điều chỉnh được củng cố thêm bởi sự phát hiện ra các hóa thạch của họ Jungornithidae, dường như là các họ hàng của chim ruồi có hình dáng tương tự như yến, và của các dạng chim ruồi nguyên thủy, chẳng hạn như chi Eurotrochilus. Các phân loại truyền thống đặt chim ruồi (họ Trochilidae) trong cùng bộ với yến; nhưng phân loại Sibley-Ahlquist đặt chúng trong bộ mới có danh pháp là Trochiliformes, và bộ này cùng với nhóm gồm yến và yến mào tạo thành một siêu bộ.<br><br></div><div>Phân loại yến nói chung là phức tạp, với ranh giới giữa các chi và loài còn nhiều tranh cãi, đặc biệt là ở tông Collocalini. Phân tích hành vi và kiểu cách phát âm thanh bị thất bại do tiến hóa song song, trong khi các phân tích về các đặc điểm hình thái và các chuỗi ADN khác nhau đã sinh ra các kết quả lập lờ và phần nào đó là mâu thuẫn.<br><br></div><div>Bộ Apodiformes đã đa dạng hóa trong thế Eocen và vào cuối thế này thì các họ hiện nay còn sinh tồn đã xuất hiện; các chi hóa thạch được biết đến trong khắp vùng ôn đới châu Âu, giữa Đan Mạch và Pháp ngày nay, chẳng hạn như chi Scaniacypselus (Tiền – Trung Eocen) nguyên thủy và chi Procypseloides (Hậu Eocen/Tiền Oligocen – Tiền Miocen) hiện đại hơn. Chi tiền sử đôi khi được gán vào nhóm yến, Primapus (Tiền Eocen ở Anh), có thể là tổ tiên xa hơn của yến.<br><br></div><div><strong>Chim yến ở nước ta<br></strong><br></div><div>Nước ta có tới mười loài chim yến, thuộc họ yến (Apodidae), nhưng loài thông dụng nhất được lấy tổ làm thực phẩm Yến sào, đó là Yến lông xám (collocalia francica germani Oustalet), còn gọi là Yến hàng. Loài yến này có mặt ở nhiều vùng dọc theo bờ biển nước ta từ vịnh Hạ Long trải dài đến Quảng Bình, Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Quy Nhơn, Thuận Hải, Vũng Tàu – Côn Đảo, Kiên Giang…, nghĩa là dọc theo bờ biển cứ ở đâu có đảo và hang đá là có yến làm tổ sinh sống. Tuy nhiên có vùng biển Khánh Hòa là thích hợp nhất với chim yến loại này nên&nbsp; trên 60% chim Yến tập trung ở đây, hàng năm sản lượng Yến sào thu được với lượng cao nhất là 2542kg một năm.<br><br></div><div>Còn nhiều loại yến khác như Yến núi có đuôi rộng, thường thấy ở vùng Lào Cai, Lai Châu. Loại yến đuôi cứng xuất hiện ở vùng Nam Trung Bộ, Nam Bộ. Yến đuôi cứng lớn ở Nam Bộ thường làm tổ trong các hốc cây lớn rỗng trong rừng sâu. Loại Yến hông trắng (Cuki) thấy ở bờ biển vịnh Hạ Long, đảo Cát Bà, Phan Rang và ven bờ biển Nam Bộ, đảo Côn Lôn. Loại này thường làm tổ trong các hang núi cao, đôi khi gặp hàng đàn bay xuống cả vùng đồng bằng, ngay Hà Nội cũng có. Còn loại Yến cằm trắng thấy tại Lai Châu, Bắc Kạn, Ninh Thuận và Nam Bộ. Loại Yến cọ thì thấy khá phổ biến ở hầu hết tại các vùng núi và Trung du, chúng thường làm tổ trên các tàu lá cọ, lá cau. Giống Yến mào thấy ở Ninh Thuận, Biên Hòa, Thủ Dầu Một và Tây Nguyên.<br><br></div><div><strong>Về loại Yến hàng<br></strong><br></div><div>Với mười loại yến trên, duy nhất có loại Yến hàng (Yến lông xám) là được dùng tổ làm thực phẩm với tên gọiYến sào, quý, hiếm và rất giàu dược tính và dinh dưỡng, nên còn dùng làm thuốc trị bệnh. Trong Đông y cho rằng Yến sào là loại bình bổ, tác dụng bổ hư rất tốt, bổ âm nhuận phế, bổ khí ích tỳ…, là loại phù hợp để sử dụng cho những người hư hao, gầy còm, ho lâu không có đờm, ho khạc ra máu, nhiều mồ hôi, người bị lao phổi.<br><br></div><div>Yến hàng có trọng lượng từ 10,5 – 15g. Mỗi tổ thường nặng 5,5g. Là nước dãi dạng keo và các chất như tảo biển… được chim tiết ra tạo thành tổ yến có hình li rượu. Loại tổ to màu trắng được gọi là “Bạch yến” hoặc “Đầu thủy yến”, loại tổ yến làm lần thứ 2 tương đối nhỏ thường có dính một ít lông tơ, màu khá tối gọi là “Mao yến”, tổ yến làm lần thứ 3 thường thấy có vết máu gọi là “Huyết yến”.<br><br></div><div>Chúng chỉ đậu nơi làm tổ, không đậu chỗ khác hoặc chạy nhảy trên đất. Chúng vừa bay vừa bắt mồi là những côn trùng còn sống và không ăn những côn trùng đã chết hoặc bò trên cây, mặt đất. Chúng cũng không bao giờ uống nước sông, suối…, mà chỉ uống hơi sương sáng sớm và chiều tối, nên không chịu ảnh hưởng của môi trường ô nhiễm.<br><br></div><div>Hàng ngày ngay từ khi tờ mờ sáng, chim rời hang&nbsp; bay vào đồng ruộng hay rừng cây để bắt mồi. Chiều tà lại bay về tổ của mình; có hang tuy rất tối, hẹp nhưng chim vẫn tìm đúng tổ, không nhầm lẫn hay tranh giành tổ của nhau. Nơi làm tổ và sinh sống vô cùng sạch sẽ và không bao giờ thải phân lên tổ của mình. Nhờ vậy loài chim này hiếm thấy bị dịch bệnh.<br><br></div><div>Hàng năm chim yến làm tổ từ tháng 12 đến tháng 6 dương lịch. Cuối tháng 3 đầu tháng 4 đẻ trứng. Trứng ấp từ 24 – 27 ngày thì nở. Chim bố mẹ đều cùng làm tổ, ấp trứng, nuôi con. Sau 42 – 45 ngày con trưởng thành, rời tổ theo bố mẹ kiếm ăn. Đến tuổi, chim con làm tổ đẻ trứng. Khi các con bay đi, chim bố mẹ gia cố lại tổ và đẻ lứa khác. Đặc biệt chim con bay đi, nhưng chúng vẫn bay về làm tổ xung quanh nơi tổ cũ của chim bố mẹ. Nhờ vậy chim Yến hàng bổ sung đàn rất nhanh và có tính quần đàn rất cao.<br><br></div><div>Ở Đông Nam Á, chim yến sống ở hải đảo, trong đó có Indonesia, Philippin, Malaysia, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam. Tại nước ta chim yến có ở cù lao Chàm, Hội An (Quảng Nam), Hòn Yến (Khánh Hòa), Bình Định, Côn Đảo…<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://v1.padlet.pics/1/image.webp?t=c_limit%2Cdpr_2%2Ch_269%2Cw_358&amp;url=https%3A%2F%2Fpadlet-artifacts.storage.googleapis.com%2Ff30c535ec4c49756532dd4e63bdfd26a07ae05a8%2Fe969a2805b09c73c1c8c36fb28221ca7-h-8c526049818147e78c05310f42ea038e.webp" />
         <pubDate>2022-03-21 10:42:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2105021232</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Anh Minh - Chim ruồi</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2105138618</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;<strong><br>Họ Chim ruồi</strong> (<strong>Trochilidae</strong>), còn được gọi là <strong>họ Chim ong</strong> là một họ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chim">chim</a> mà các loài có kích thước nhỏ nhất trong tất cả các loài chim, khi bay và giữ nguyên một vị trí, cánh chim vỗ hơn 100 lần/giây tạo ra tiếng vo ve như ruồi nên mới có tên là <strong>chim ruồi</strong>. Vì giống chim này hay hút mật hoa nên danh xưng <strong>chim ong</strong> cũng hợp với tập tính của loài chim này.<br><br></div><div><br>Chim ruồi thường có màu lông rất sặc sỡ. Chim ruồi ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Colombia">Colombia</a> có vệt lông màu xanh <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%E1%BB%8Dc_b%C3%ADch">ngọc bích</a> óng ánh và dải lông <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Xanh_l%C6%A1">màu xanh lơ</a> sáng rực ở phía trên cổ họng, chòm lông màu trắng muốt ở dưới chân. Họ này có khoảng 360 loài, chia thành 112 chi, thường có kích thước khá nhỏ, trong đó có <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Mellisuga_helenae">chim ruồi ong</a> là loài chim nhỏ nhất thế giới, kích thước chỉ xấp xỉ một con <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ong_ngh%E1%BB%87">ong nghệ</a> (5 cm), và cân nặng ít hơn 2 g.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1574312794/59f7ef3a81c25e786aca146d0861152e/image.png" />
         <pubDate>2022-03-21 12:02:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2105138618</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Phúc Khôi - 3K</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2105325240</link>
         <description><![CDATA[<div>Chim bói cá là những con chim nhỏ màu xanh và màu cam sáng không thể nhầm lẫn, chúng thường hoạt động ở các vùng nước di chuyển chậm hoặc nước tĩnh. Chúng bay nhanh, thấp trên mặt nước và săn cá ven sông, thỉnh thoảng bay lơ lửng trên mặt nước. Chúng dễ bị tổn thương bởi mùa đông và do suy thoái môi trường sống bởi ô nhiễm.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1636607564/dae52264746d89fb780332c34840c1e8/88B396C5_C673_4DA3_BB34_D4CA8FC6E2E7.jpeg" />
         <pubDate>2022-03-21 13:36:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2105325240</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hà Linh ( chim sẻ )</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2105394219</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Chim sẻ</strong> chủ yếu ăn sâu bướm và một số loài côn trùng nhỏ, tuy nhiên chúng cũng ăn các loại hạt, quả mọng và trái cây. <strong>Chim sẻ</strong> có thể bay rất nhanh để chạy trốn khỏi kẻ săn mồi. Kẻ thù chính của <strong>chim sẻ</strong> là chó, mèo, cáo và rắn. Nó thường xây tổ dưới mái nhà, gầm cầu hoặc hốc cây</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1636662341/4ec2e4a92ebc54bcefa3ece81a60836c/z3278912679873_5e37d241c0a627b8811d31fb360faae6.jpg" />
         <pubDate>2022-03-21 14:04:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2105394219</guid>
      </item>
      <item>
         <title>GIA KHIÊM-3k</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2105409548</link>
         <description><![CDATA[<div>Một loài chim nhỏ phân bố nhiều ở khu vực Đông Nam Á. Chúng được phân loại dựa trên màu sắc của lông. Hiện nay có 2 loại chim khuyên đó là khuyên xanh và khuyên vàng.<br>Chim Khuyên có nguồn gốc từ thời Hy Lạp cổ đại. Sở dĩ mọi người gọi là chim khuyên bởi vì xung quanh mắt chúng có vành đai.<br>Chim khuyên sống ở nhiều môi trường khác nhau và chúng rất mạnh dạn. Vì vậy chúng ta có thể thấy chúng sinh sống và kiếm ăn nhiều ở môi trường xung quanh con người.<br>Chim khuyên ăn gì – thức ăn của những con chim khuyên khá đa dạng. Chúng có thể ăn rau, những loại hạt nhỏ, sâu bọ, hút mật,……Thậm chí người ta còn xem chúng như một loài chim rất có ích cho nhà nông vì chúng ăn sâu bọ trên hoa màu, giúp cho hoa màu ít bị làm hại.<br>Chim vành khuyên thích sống ở môi trường sống ồn ào nhộn nhịp. Nơi có nhiều cây cao vì vậy chúng ta có thể bắt gặp chúng ở rất nhiều nơi. Nhiều nhất là khu vực Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và cả Trung Bộ.<br>Nếu so sánh kích thước với nhiều loài chim khác thì loài vành khuyên được xem là loài chim có kích thước nhỏ bé, thon gọn và rất nhanh nhẹn.<br>Giọng hót của vành khuyên không lanh lảnh như họa mi mà rất nhẹ nhàng và dễ nghe. Thậm chí chúng còn có khả năng bắt chước giọng hót của một số loài chim khác. Đây cũng chính là lý do mà nhiều người chơi chim cảnh rất thích loài chim này.<br>Có một điểm rất đặc biệt mà có thể rất ít người biết đó là chúng còn rất thích hút mật của loài hoa trạng nguyên. Vì vậy nếu như ở nơi nào có nhiều hoa trạng nguyên thì mọi người sẽ thấy ở đó sẽ tập trung rất nhiều chim vành khuyên.<br>Nếu như một số loài chim thích cuộc sống đơn độc thì vành khuyên lại sống thành bầy đàn, thậm chí có những đàn có số lượng rất đông. Vì vậy mà sẽ không hiếm khi chúng ta bắt gặp một đàn vành khuyên cùng nhau bay vút lên trời sau khi chúng kiếm ăn.<br>Tuy nhiên khi đến giai đoạn sinh sản, chúng sẽ tách đàn và tìm kiếm bạn tình để giao phối và sinh sản.<br>Vào mùa sinh sản tầm tháng 3-7 hàng năm. Cũng giống như nhiều loài chim khác, chim trống sẽ dùng tiếng hót của mình để thu hút bạn tình.<br>Sau khi đã thu hút được bạn tình chim vành khuyên sẽ bắt đầu giao phối và cùng nhau làm tổ. Chúng thường làm tổ trên những cây cao và có nhiều tán lá để bảo vệ chim non.<br>Vào mỗi mùa sinh sản chim thường đẻ 2-3 trứng và trứng có màu xanh lam nhạt. Vành khuyên trống được xem là một ông bố có trách nhiệm vì chúng thường xuyên giúp chim cái ấp trứng và chăm sóc chim con.<br>Chim con khi mới nở sẽ được bố mẹ chăm sóc cho đến khi chúng đủ lông, đủ cánh và hoàn thiện kỹ năng bay sẽ tách khỏi bố mẹ để tự lập.<br>Chúng ta vừa tìm hiểu về chim vành khuyên với những đặc tính cũng như đặc điểm rất thú vị. Hy vọng bài viết này sẽ mang đến những thông tin cần thiết cho những ai đang cần tìm hiểu về chúng để dễ dàng hơn trong việc thuần hóa cũng như nuôi dưỡng hơn.<br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1635872269/08ec7cbd084c720ef010083213983768/chim_vanh_khuyen.jpg" />
         <pubDate>2022-03-21 14:11:28 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2105409548</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Khánh Linh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2105418388</link>
         <description><![CDATA[<div>Giữa biển xanh và bên kia là núi rừng đại ngàn, chú chim đại bàng kiêu hãnh bay liệng tạo nên cảnh tượng hùng vĩ của thiên nhiên. Có lẽ trong số các loài chim đại bàng là loài có uy quyền nhất. Nó toát lên ngay từ khuôn mặt đầy vẻ “hung dữ”. Toàn bộ cái đầu được phủ một lớp lông trắng, cái mỏ to quằm lại với đôi mắt sáng quắc, tinh nhanh. Thân hình không quá lớn nhưng rất khoẻ, nhanh nhẹn. Nó hệt như vệ sĩ khoác tấm áo choàng đen bí hiểm. Đôi cánh dang rộng như cánh của con diều. Hai cái chân với những ngón có móng vuốt dài và thật sắc, nhìn rất đáng sợ.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1636635776/85c25ed6db47dd3dd2c56064518cd99f/tap_lam_van_lop_2_ta_chim_dai_bang_1.jpg" />
         <pubDate>2022-03-21 14:15:17 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2105418388</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Phúc Khôi</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2105423042</link>
         <description><![CDATA[<div>Có một chủng vân tay được gọi là Đại bàng, bởi lẽ những người có chủng vân tay này có đủ mọi tố chất của một Đại bàng chính hiệu. Hãy cùng xem thử Nguyên tắc sống nào áp dụng cho những Đại bàng này.</div><div>Đại Bàng gây ấn tượng không phải bởi ánh mắt, đôi cánh rộng mạnh mẽ hay sự tự do tự tại của chúng mà bởi sự thông minh, sẵn sàng đối đầu với thử thách.</div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1636607564/9ef32c4910ff3bbbc1c4f70f170ba80a/86E068B0_887E_425E_8475_91021A64308E.jpeg" />
         <pubDate>2022-03-21 14:17:20 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2105423042</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hoàng Ngân - 3k</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2105457143</link>
         <description><![CDATA[<div>Chim Công là loài chim đẹp nhất mà em từng biết. Chúng khoác lên mình chiếc lông màu xanh lục rất đẹp. Trên đầu chúng có một chiếc mào nhỏ giống như một chiếc vương miện. Khi xoè đuôi ra, đuôi của chúng như một chiếc quạt khổng lồ. Công được mệnh danh là “Hoa hậu của các loài chim”.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1636701652/f6dcc5ddcd19f9cba302da1d1636f8d5/Chim_C_ng.jpg" />
         <pubDate>2022-03-21 14:31:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2105457143</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Phúc Khôi</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2105471187</link>
         <description><![CDATA[<div>Một chú vẹt Nam Mỹ có chiều dài từ 84cm đến 89cm và trọng lượng từ 900g đến 1490g. Với trọng lượng và kích thước này thì chúng là một trong loài vẹt có kích thước lớn nhất.&nbsp; Loài vẹt này được yêu thích bởi sở hữu vẻ ngoài lộng lẫy và rất bắt mắt như sau:<br>Phần đầu có màu đỏ tươi, mắt và má chỉ có da trần và một chút&nbsp; lông bên màu đỏ; Cổ cũng là màu đỏ tươi; Phần giáp cổ màu đỏ vàng; Mỏ có phần dưới màu đen và phần trên màu ngà; Lông cánh giữa phía trên có màu vàng trộn với màu xanh lá cây; Lông vũ chính phía ngoài cùng mang màu xanh; Phía bên trong gần đuôi có lông màu xanh; Mống mắt màu vàng; Chân móng vuốt màu đen.<br>Loài vẹt này được nuôi phổ biến ở miền Nam, còn tại miền Bắc hiện khá hiếm và có rất ít các cơ sở nhập về bán chúng. Để có thể được những chú vẹt Nam Mỹ thuần chủng, thì các đại gia đã không tiếc thời gian, công sức và tiền của để tìm kiếm, thậm chí phải ra tận nước ngoài để tìm mua về làm vật nuôi cưng trong nhà.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1636607564/a50954c02e3869eda32ac144c9014dcd/8FB34A52_240D_4DF2_9E0B_3469E6ED358F.jpeg" />
         <pubDate>2022-03-21 14:37:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2105471187</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Ngân Giang</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2105483289</link>
         <description><![CDATA[<div><a href="https://traichomeo.com/vet-nam-my/"><strong>Vẹt Nam Mỹ</strong></a> là một trong những loài chim thông minh nhất thế giới. Vẹt Nam Mỹ không chỉ rất giỏi trong việc bắt chước tiếng người mà còn có tiếng hót líu lo, vui tai. Vẻ ngoài sặc sỡ của loài chim này cũng là điểm thu hút khiến mọi người yêu thích và ưa chuộng chúng<br>Tại Việt Nam, nuôi vẹt Nam Mỹ được xem như là thú chơi của nhà giàu bởi giá loài chim này vô cùng đắt đỏ. Tuy nhiên, những niềm vui tinh thần mà vẹt Nam Mỹ mang đến thật sự vô cùng thú vị với người chăm sóc. Hãy cùng <a href="https://traichomeo.com/"><strong>Trai chó mèo</strong></a> tìm hiểu về loài vẹt nam mỹ này nhé!<br>Vẹt Nam Mỹ hay còn có tên gọi khác là vẹt Macaw (Scarlet Macaw) là lớp chim thuộc bộ Psittaciformes. Loài chim xinh đẹp này được tìm thấy ban đầu ở Nam Mỹ, Trung Mỹ, Mexico. Môi trường sống ban đầu của vẹt Nam Mỹ chủ yếu ở những khu rừng rậm nhiệt đới hay trên các thảo nguyên. Đây là loài chim ưa sống theo đàn để cùng nhau kiếm ăn, sinh sản và duy trì nòi giống.<br><br>Vẹt Nam Mỹ là loài chim có vẻ ngoài bắt mắt, xinh đẹp với bộ lông rực rỡ sắc màu. Tuỳ thuộc vào giống loài và khu vực sinh sống mà đặc điểm hình dáng, màu sắc của vẹt Nam Mỹ là khác nhau<br><br>Vẹt Nam Mỹ được xem là một trong những loài vẹt có kích thước lớn nhất trong họ nhà vẹt. Trung bình, một con vẹt Nam Mỹ trưởng thành có chiều dài khoảng từ 80cm đến 100cm với cân nặng khoảng từ 900gr đến 1700gr. Loài chim này nổi bật với bộ lông rực rỡ nhiều màu sắc. Lớp lông vũ sát phần da mềm mượt và ấm còn lớp lông ở cánh và đuôi thì cứng, dày và khá dài.<br><br></div><div><br></div><div>Vẹt Nam Mỹ có phần đầu tròn, khá lớn cùng chiếc mỏ rất to và cứng giúp được cấu tạo từ lớp sừng chắc chắn. Mỏ gồm hai phần: phần mỏ trên dài, quặp sâu vào trong; phần mỏ dưới nhỏ, ép chặt phần trên. Ngay trên phần mỏ là chiếc mào êm mềm với những lớp lông mượt mà, xù nhẹ<br><br></div><div><br>Vẹt Nam Mỹ được xem là một trong những loài vẹt có kích thước lớn nhất trong họ nhà vẹt. Trung bình, một con vẹt Nam Mỹ trưởng thành có chiều dài khoảng từ 80cm đến 100cm với cân nặng khoảng từ 900gr đến 1700gr. Loài chim này nổi bật với bộ lông rực rỡ nhiều màu sắc. Lớp lông vũ sát phần da mềm mượt và ấm còn lớp lông ở cánh và đuôi thì cứng, dày và khá dài<br><br>Vẹt Nam Mỹ được xem là một trong những loài vẹt có kích thước lớn nhất trong họ nhà vẹt. Trung bình, một con vẹt Nam Mỹ trưởng thành có chiều dài khoảng từ 80cm đến 100cm với cân nặng khoảng từ 900gr đến 1700gr. Loài chim này nổi bật với bộ lông rực rỡ nhiều màu sắc. Lớp lông vũ sát phần da mềm mượt và ấm còn lớp lông ở cánh và đuôi thì cứng, dày và khá dài.<br><br></div><div><br></div><div>Vẹt Nam Mỹ có phần đầu tròn, khá lớn cùng chiếc mỏ rất to và cứng giúp được cấu tạo từ lớp sừng chắc chắn. Mỏ gồm hai phần: phần mỏ trên dài, quặp sâu vào trong; phần mỏ dưới nhỏ, ép chặt phần trên. Ngay trên phần mỏ là chiếc mào êm mềm với những lớp lông mượt mà, xù nhẹ<br>Thức ăn của vẹt Nam Mỹ khá đa dạng, chúng có thể ăn bất kỳ loại thực phẩm nào. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng không cho chim ăn sôcôla, bơ, thực phẩm chứa caffeine, nhiều muối, đường…<br>Vẹt Nam Mỹ được xem là một trong những loài vẹt có kích thước lớn nhất trong họ nhà vẹt. Trung bình, một con vẹt Nam Mỹ trưởng thành có chiều dài khoảng từ 80cm đến 100cm với cân nặng khoảng từ 900gr đến 1700gr. Loài chim này nổi bật với bộ lông rực rỡ nhiều màu sắc. Lớp lông vũ sát phần da mềm mượt và ấm còn lớp lông ở cánh và đuôi thì cứng, dày và khá dài.<br><br></div><div><br></div><div>Vẹt Nam Mỹ có phần đầu tròn, khá lớn cùng chiếc mỏ rất to và cứng giúp được cấu tạo từ lớp sừng chắc chắn. Mỏ gồm hai phần: phần mỏ trên dài, quặp sâu vào trong; phần mỏ dưới nhỏ, ép chặt phần trên. Ngay trên phần mỏ là chiếc mào êm mềm với những lớp lông mượt mà, xù nhẹ.&nbsp;<br><br></div><div><br><br><strong><em>Vẹt Nam Mỹ có đầu nhỏ với mỏ lớn</em></strong></div><div>Cặp mắt của vẹt Nam Mỹ to tròn. Tuỳ vào từng loài mà màu mắt của vẹt có thể là màu đen hoặc màu đỏ. Phần cổ của vẹt Nam Mỹ to và hơi ngắn tạo nên nét đáng yêu của loài chim này. Phần ngực chim nở ra, lưng hơi cong phối hợp cùng phần bụng rộng<br>em rất thích con vẹt Nam Mỹ nhà em,em cũng muốn mua thêm 19 con vẹt nữa</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1636645258/0a974197fceceb0786e633fa4e36587f/vet_nam_my.jpg" />
         <pubDate>2022-03-21 14:42:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2105483289</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Duy Khang - Top 25 loài chim quý hiếm nhất</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2106523081</link>
         <description><![CDATA[<div>Đối với tôi, đây là Salvador Dali của thế giới loài chim. Khi nói đến độ dài của bộ ria mép của nhạn Inca Peru, càng dài thì càng khỏe mạnh. Bộ ria mép dài hơn cho thấy hệ thống miễn dịch mạnh hơn và do đó, một đề xuất hấp dẫn hơn để tán tỉnh.<br><br></div><div>Các buổi chụp ảnh của Tim rất đa dạng. "Tôi nghĩ một điều với tư cách là một nhiếp ảnh gia là mặc dù bạn có thể có các cách tiếp cận để giải quyết vấn đề nhất định, nhưng khi nói đến động vật, mỗi loài có thể có những tình huống khác nhau, cho dù đó là lặn với cá mập đầu búa hay theo dõi gấu ở Bắc Cực, hoặc chim cánh cụt như tôi đã làm ở Nam Cực vào Giáng sinh năm ngoái. Điều đó hơi khác so với các mô hình của tôi trong studio".<br><br></div><div>Phần lớn các loài động vật mà Flach chụp được là chưa qua đào tạo, bao gồm cả các loài chim. "Với một cuốn sách về chim, tôi có thể có hơn 100 con chim, và vâng, những con vẹt cho các buổi biểu diễn, tất nhiên, chúng được huấn luyện khá kỹ lưỡng nhưng đối với phần lớn các loài động vật của tôi, tôi ở đó, đúng nghĩa là ngồi đằng sau một nơi ẩn náu với ống kính 800 mm, chờ đợi thứ gì đó quay về hướng của tôi".<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1635857265/7bb2b398ef7b25e55e1378585a0eba22/AFB8C980_2719_427C_81E4_FB0FA308E6E2.jpeg" />
         <pubDate>2022-03-22 02:06:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2106523081</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Thanh Tâm Nhi</title>
         <author>Imsomeonelse</author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2106540887</link>
         <description><![CDATA[<div>Chào mào là một loài chim thuộc bộ Sẻ phân bố ở châu Á. Nó là một thành viên của họ Chào mào. Nó là một loài động vật ăn quả thường trú được tìm thấy chủ yếu ở châu Á nhiệt đới. Nó đã được đưa bởi con người vào nhiều khu vực nhiệt đới trên thế giới, nơi các quần thể đã tự hình thành. Nó ăn trái cây và côn trùng nhỏ.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1328116053/82866806eac81cfc67cb1f8db37b3472/t_i_xu_ng.jpg" />
         <pubDate>2022-03-22 02:17:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2106540887</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Minh tuệ chim cánh cục</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2106854426</link>
         <description><![CDATA[<div><br></div><div><strong><br>Chim cánh cụt</strong> hay còn gọi là <strong>chim cụt cánh</strong> (bộ <strong>Sphenisciformes</strong>, họ <strong>Spheniscidae</strong> - lấy theo chi <em>Spheniscus</em> nghĩa là <em>hình nêm</em>) là một nhóm <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Chim_n%C6%B0%E1%BB%9Bc">chim nước</a> <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Chim_kh%C3%B4ng_bay">không bay được</a>. Chúng hầu như chỉ sống ở <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Nam_B%C3%A1n_c%E1%BA%A7u">Nam bán cầu</a>, với duy nhất một loài, <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Chim_c%C3%A1nh_c%E1%BB%A5t_Gal%C3%A1pagos">chim cánh cụt Galápagos</a>, được tìm thấy ở phía bắc đường xích đạo. Vốn rất thích nghi cho cuộc sống trong <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/N%C6%B0%E1%BB%9Bc">nước</a>, chim cánh cụt có bộ lông tương phản nhau gồm các mảng sáng và tối và chân chèo để bơi lội. Hầu hết chim cánh cụt ăn <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/B%E1%BB%99_H%C3%ACnh_t%C3%B4m">nhuyễn thể</a>, <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/C%C3%A1">cá</a>, <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/B%E1%BB%99_M%E1%BB%B1c_%E1%BB%91ng">mực</a> và các dạng sinh vật biển khác mà chúng bắt được khi bơi dưới nước. Chúng dành khoảng một nửa cuộc đời trên cạn và nửa còn lại ở biển.</div><div><br>Mặc dù hầu hết tất cả các loài chim cánh cụt đều có nguồn gốc từ Nam bán cầu, chúng không chỉ được tìm thấy ở những vùng khí hậu lạnh, chẳng hạn như Nam Cực. Trên thực tế, chỉ có một số loài chim cánh cụt sống ở xa về phía nam. Một số loài được tìm thấy ở vùng <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/%C3%94n_%C4%91%E1%BB%9Bi">ôn</a> đới, nhưng một loài, <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Chim_c%C3%A1nh_c%E1%BB%A5t_Gal%C3%A1pagos">chim cánh cụt Galápagos</a>, sống gần đường xích đạo.<br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1574060341/be2a8acbe94bb7b8002be378839161a9/mo_thay_chim_canh_cut.jpeg" />
         <pubDate>2022-03-22 06:13:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2106854426</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vũ Minh Phúc </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2107182717</link>
         <description><![CDATA[<div><br><strong>Đại bàng</strong> là một loài <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chim">chim</a> săn mồi cỡ lớn thuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BB%99_%C6%AFng">bộ Ưng</a>, họ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Accipitridae">Accipitridae</a>. Chúng sinh sống trên mọi nơi có núi cao và rừng nguyên sinh còn chưa bị con người chặt phá như bờ biển <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C3%9Ac">Úc</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Indonesia">Indonesia</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Phi_ch%C3%A2u">Phi châu</a>... nhưng chủ yếu là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%A5c_%C4%91%E1%BB%8Ba_%C3%81-%C3%82u">Lục địa Á-Âu</a> với khoảng 60 loài, còn lại 11 loài khác tìm thấy tại các lục địa còn lại bao gồm 2 loài ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BA%AFc_M%E1%BB%B9">Lục địa Bắc Mỹ</a>,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_b%C3%A0ng#cite_note-1"><sup>[1]</sup></a> 9 loài ở Trung và Nam Mỹ và 3 loài ở Úc.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1635857357/8b9791e12ea836b3c0962203b440cf65/Haliaeetus_leucocephalus_tree_USFWS_____i_b_ng___Wikipedia_ti_ng_Vi_t.html" />
         <pubDate>2022-03-22 10:13:40 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2107182717</guid>
      </item>
      <item>
         <title>02. Hoàng Quỳnh Anh</title>
         <author>physicalchemistrylaboratory</author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2107186947</link>
         <description><![CDATA[<div>Để nhận biết các loài đại bàng người ta thường dựa trên kích thước, màu lông của chúng. Trong tất cả các loài đại bàng thì loài lớn nhất có cơ thể dài hơn 1m và cân nặng khoảng 7kg còn loài bé nhất có kích thước 0,4m, nặng 0,5kg.<br>Để phân biệt chim trống và chim mái giữa các loài, bạn có thể dựa vào kích thước của chúng. Vì thông thường chim mái có kích thước lớn hơn so với chim trống.<br>Là loài chim lớn nên kích thước cánh của chúng khá lớn. Loài lớn nhất có kích thước cánh lên đến 2m. Nhờ vậy mà chúng có tốc độ sà cũng như bay rất nhanh để tóm gọn những con mồi của nó.<br>Một đặc điểm nữa của đại bàng mà chúng ta không thể bỏ qua đó chính là bộ móng sắc nhọn giúp chúng có thể tha mồi một cách dễ dàng. Thậm chí là cả những con mồi lớn. Cái mỏ của đại bàng cũng là một vũ khí đáng gờm mà nó sử dụng để săn mồi.<br>Chúng được biết đến không chỉ là loài chim săn mồi khét tiếng mà còn là một loài chim rất dũng mãnh. Cụ thể như việc chúng rất thích đối đầu với những cơn bão. Vì đây chính là cơ hội giúp chúng được bay vút lên trời cao trong khi những loài chim khác lại nhanh chóng tìm nơi tránh bão an toàn.<br>Ngoài những đặc điểm nổi bật trên thì đại bàng còn được biết đến là loài chim có tuổi thọ cao nhất lên đến 70 năm. Tuy nhiên để có thể đạt đến cột mốc này chúng phải trải qua một quá trình đầy đau đớn mà chỉ những con đại bàng bản lĩnh nhất mới có thể vượt qua.<br>Sau khi bước qua tuổi 40, cơ thể của chúng sẽ có nhiều biến đổi. Chúng chỉ có 2 sự lựa chọn là nằm im chờ chết hoặc trải qua quá trình lột xác như đập gãy mỏ, bẻ gãy móng và nhổ sạch lông để những bộ phận đó được tái tạo lại.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://info-imgs.vgcloud.vn/2020/05/25/10/dai-bang-chet-tham-vi-loai-chim-nho-be-bat-ngo-2.jpg" />
         <pubDate>2022-03-22 10:16:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2107186947</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Thanh Tâm Nhi</title>
         <author>Imsomeonelse</author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2107188865</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><br>Chích chòe</strong> là tên gọi chung để chỉ một số loài <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chim">chim</a> kích thước trung bình, ăn sâu bọ (một số loài còn ăn cả các loại quả mọng và các loại quả khác) trong các chi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Copsychus"><em>Copsychus</em></a> <em>sensu lato</em> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Enicurus"><em>Enicurus</em></a>. Trước đây chúng được phân loại trong <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8D_Ho%C3%A9t">họ Hoét</a> (Turdidae), nhưng hiện nay thông thường hay được coi là một phần của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8D_%C4%90%E1%BB%9Bp_ru%E1%BB%93i">họ Đớp ruồi</a> (Muscicapidae).</div><div>Các loài chim này sinh sống trong các cánh rừng và vườn ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A2u_Phi">châu Phi</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A2u_%C3%81">châu Á</a>.<br><br></div><div><br><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1328116053/135779063339ac25b762c035dc63d9e2/R.jpg" />
         <pubDate>2022-03-22 10:18:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2107188865</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Bảo Khánh - 3K - SẾU ĐẦU ĐỎ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2107193135</link>
         <description><![CDATA[<div>SẾU ĐẦU ĐỎ<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; Sếu đầu đỏ hay còn gọi là sếu cổ trụi, là một phân loài của loài sếu Sarus. Đây là phân loài chim quý hiếm tại miền nam Việt Nam, nằm trong Sách đỏ Việt Nam và Sách đỏ IUCN thế giới.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Trong các loài chim bay, thì sếu đầu đỏ là loài chim bay cao nhất. Chúng có chế độ ăn tạp, có thể ăn các thức ăn thô thường gặp tại đầm lầy và các vùng nước nông như rễ, củ cây, côn trùng, động vật giáp xác và một số loài thú có vú nhỏ. Sếu đầu đỏ phương Đông trưởng thành cao khoảng 150–180 cm; sải cánh từ 220–250 cm và có trọng lượng trung bình 8–10 kg, là loài lớn nhất trong họ sếu.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Tại Việt Nam, những năm gần đây, Sếu đầu đỏ đã trở lại vùng Đồng Tháp Mười rộng lớn do sinh cảnh đất ngập nước nơi đây đã được phục hồi gần với điều kiện tự nhiên trước đây, giúp cho các bãi thức ăn của chúng phát triển trở lại. Hàng năm, có khoảng gần 20 cá thể xuất hiện tại khu vực này.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1635857122/b4c3e001616d34cd7de7f835b8df7cc7/H_NH__NH_S_U___U___.docx" />
         <pubDate>2022-03-22 10:21:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2107193135</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Quang Hào(chim đại bàng)</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2107194242</link>
         <description><![CDATA[<div>Phân loại và thức ăn của đại bàng.<br><br></div><div>Là loài chim săn mồi có kích thước lớn nhất trong tất cả các loài chim thuộc bộ Ưng và họ Accipitridae.<br>Hiện nay đại bàng có tới 71 loài phân bổ chủ yếu ở lục địa Á Âu và một số loài được tìm thấy ở lục địa Bắc Mỹ, Trung và Nam Mỹ.<br>Trong phân họ thì đại bàng được chia làm 22 chi. Trong đó chi Spizaetus, chi Aquila, chi Haliaeetus, chi Circaetus, chi Spilornis là những chi có nhiều loài đại bàng nhất.<br>Thức ăn của chúng là những loài động vật có kích thước nhỏ như rắn, khỉ, thỏ, cá, nai,……<br><br></div><div>Một số đặc điểm<br><br></div><div>Để nhận biết các loài đại bàng người ta thường dựa trên kích thước, màu lông của chúng. Trong tất cả các loài đại bàng thì loài lớn nhất có cơ thể dài hơn 1m và cân nặng khoảng 7kg còn loài bé nhất có kích thước 0,4m, nặng 0,5kg.<br>Để phân biệt chim trống và chim mái giữa các loài, bạn có thể dựa vào kích thước của chúng. Vì thông thường chim mái có kích thước lớn hơn so với chim trống.<br>Là loài chim lớn nên kích thước cánh của chúng khá lớn. Loài lớn nhất có kích thước cánh lên đến 2m. Nhờ vậy mà chúng có tốc độ sà cũng như bay rất nhanh để tóm gọn những con mồi của nó.<br>Một đặc điểm nữa của đại bàng mà chúng ta không thể bỏ qua đó chính là bộ móng sắc nhọn giúp chúng có thể tha mồi một cách dễ dàng. Thậm chí là cả những con mồi lớn. Cái mỏ của đại bàng cũng là một vũ khí đáng gờm mà nó sử dụng để săn mồi.<br>Chúng được biết đến không chỉ là loài chim săn mồi khét tiếng mà còn là một loài chim rất dũng mãnh. Cụ thể như việc chúng rất thích đối đầu với những cơn bão. Vì đây chính là cơ hội giúp chúng được bay vút lên trời cao trong khi những loài chim khác lại nhanh chóng tìm nơi tránh bão an toàn.<br>Ngoài những đặc điểm nổi bật trên thì đại bàng còn được biết đến là loài chim có tuổi thọ cao nhất lên đến 70 năm. Tuy nhiên để có thể đạt đến cột mốc này chúng phải trải qua một quá trình đầy đau đớn mà chỉ những con đại bàng bản lĩnh nhất mới có thể vượt qua.<br>Sau khi bước qua tuổi 40, cơ thể của chúng sẽ có nhiều biến đổi. Chúng chỉ có 2 sự lựa chọn là nằm im chờ chết hoặc trải qua quá trình lột xác như đập gãy mỏ, bẻ gãy móng và nhổ sạch lông để những bộ phận đó được tái tạo lại.<br><br></div><div>Đặc tính sinh sản<br><br></div><div>Đến mùa sinh sản chúng thường đến những nơi có nhiều cây cao hoặc những ngọn núi cao để tránh các loài thú hoang khác. Tổ của nó rất lớn vì vậy chúng thường tha cả cành cây để giúp cho cái tổ được vững chắc hơn.<br>Vào mỗi lần sinh sản thì đại bàng mái chỉ đẻ 2 trứng. Do đặc thù chim bố và mẹ chỉ có thể nuôi được 1 con vì vậy mà chim non sẽ phải chiến đấu với nhau để quyết định ai là sẽ người đi cùng với chim bố và mẹ.<br>Chúng ta vừa tìm hiểu về chim đại bàng – loài chim săn mồi không chỉ mạnh mẽ mà còn rất thông minh. Chúng sẵn sàng đối đầu với những thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên. Nếu như bạn đang tìm kiếm thông tin về loài vật này thì chắc hẳn bài viết này sẽ rất hữu ích cho bạn đấy.<br><br></div><div>Trả lời&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1510148902/6aee51db5c748df397c3451d1cc68f10/Chim_dai_bang.jpg" />
         <pubDate>2022-03-22 10:22:04 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2107194242</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tường Hân (Đại bàng)</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2107207022</link>
         <description><![CDATA[<div>Phân loại và thức ăn của đại bàng.<br><br></div><div>Là loài chim săn mồi có kích thước lớn nhất trong tất cả các loài chim thuộc bộ Ưng và họ Accipitridae.<br><br></div><div>Hiện nay đại bàng có tới 71 loài phân bổ chủ yếu ở lục địa Á Âu và một số loài được tìm thấy ở lục địa Bắc Mỹ, Trung và Nam Mỹ.<br><br></div><div>Trong phân họ thì đại bàng được chia làm 22 chi. Trong đó chi Spizaetus, chi Aquila, chi Haliaeetus, chi Circaetus, chi Spilornis là những chi có nhiều loài đại bàng nhất.<br><br></div><div>Thức ăn của chúng là những loài động vật có kích thước nhỏ như rắn, khỉ, thỏ, cá, nai,……<br><br></div><div>Một số đặc điểm<br><br></div><div>Để nhận biết các loài đại bàng người ta thường dựa trên kích thước, màu lông của chúng. Trong tất cả các loài đại bàng thì loài lớn nhất có cơ thể dài hơn 1m và cân nặng khoảng 7kg còn loài bé nhất có kích thước 0,4m, nặng 0,5kg.<br><br></div><div>Để phân biệt chim trống và chim mái giữa các loài, bạn có thể dựa vào kích thước của chúng. Vì thông thường chim mái có kích thước lớn hơn so với chim trống.<br><br></div><div>Là loài chim lớn nên kích thước cánh của chúng khá lớn. Loài lớn nhất có kích thước cánh lên đến 2m. Nhờ vậy mà chúng có tốc độ sà cũng như bay rất nhanh để tóm gọn những con mồi của nó.<br><br></div><div>Một đặc điểm nữa của đại bàng mà chúng ta không thể bỏ qua đó chính là bộ móng sắc nhọn giúp chúng có thể tha mồi một cách dễ dàng. Thậm chí là cả những con mồi lớn. Cái mỏ của đại bàng cũng là một vũ khí đáng gờm mà nó sử dụng để săn mồi.<br><br></div><div>Chúng được biết đến không chỉ là loài chim săn mồi khét tiếng mà còn là một loài chim rất dũng mãnh. Cụ thể như việc chúng rất thích đối đầu với những cơn bão. Vì đây chính là cơ hội giúp chúng được bay vút lên trời cao trong khi những loài chim khác lại nhanh chóng tìm nơi tránh bão an toàn.<br><br></div><div>Ngoài những đặc điểm nổi bật trên thì đại bàng còn được biết đến là loài chim có tuổi thọ cao nhất lên đến 70 năm. Tuy nhiên để có thể đạt đến cột mốc này chúng phải trải qua một quá trình đầy đau đớn mà chỉ những con đại bàng bản lĩnh nhất mới có thể vượt qua.<br><br></div><div>Sau khi bước qua tuổi 40, cơ thể của chúng sẽ có nhiều biến đổi. Chúng chỉ có 2 sự lựa chọn là nằm im chờ chết hoặc trải qua quá trình lột xác như đập gãy mỏ, bẻ gãy móng và nhổ sạch lông để những bộ phận đó được tái tạo lại.<br><br></div><div>Đặc tính sinh sản<br><br></div><div>Đến mùa sinh sản chúng thường đến những nơi có nhiều cây cao hoặc những ngọn núi cao để tránh các loài thú hoang khác. Tổ của nó rất lớn vì vậy chúng thường tha cả cành cây để giúp cho cái tổ được vững chắc hơn.<br><br></div><div>Vào mỗi lần sinh sản thì đại bàng mái chỉ đẻ 2 trứng. Do đặc thù chim bố và mẹ chỉ có thể nuôi được 1 con vì vậy mà chim non sẽ phải chiến đấu với nhau để quyết định ai là sẽ người đi cùng với chim bố và mẹ.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1557359426/3b2d6d9767d837d59853b42b41596c07/Qu_t_cho_b__ng_.jpg" />
         <pubDate>2022-03-22 10:31:07 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2107207022</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hoàng bảo anh -25 loài chim hiếm </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2107219790</link>
         <description><![CDATA[<div>Đối với tôi, loài chim sẻ Gouldian từ Úc là một trong những loài có màu sắc sặc sỡ nhất trong số các loài chim sẻ. Tôi thật may mắn khi có một người mẫu vào ngày cho phép tôi đến gần, đôi khi quá gần. Tất nhiên, trong studio, quá trình này hoàn toàn khác. Nhiếp ảnh gia có một chuồng chim đặc biệt khiến con vật không thể nhìn thấy anh ta. Thậm chí còn có một bàn xoay. "Thông thường, những con chim vui vẻ đậu trên đó và nó bay lượn theo vòng tròn, vì vậy tôi có thể có được góc chính xác mà tôi muốn. Cơ hội mà tôi có thể kiểm soát và mức độ kiểm soát có thể khác nhau rất nhiều".</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1638000455/33cd4a9c42ed35e06fc20a9beb83123b/F0978846_5163_4B81_900F_A7D39364BCD2.jpeg" />
         <pubDate>2022-03-22 10:41:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2107219790</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn hà anh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2107222931</link>
         <description><![CDATA[<div>Nguyễn hà anh<br>Tìm hiểu về con chim sẻ<br>1. Nơi sống: xuất hiện khắp mọi nơi trên thế giới, từ trong rừng đến cả thành thị và nông thôn, nhất là ở những vùng quê vào mùa lúa chín.<br>2. Tập tính: Chim sẻ chủ yếu ăn sâu bướm và một số loài côn trùng nhỏ, tuy nhiên chúng cũng ăn các loại hạt, quả mọng và trái cây. Chim sẻ xây tổ dưới mái nhà, gầm cầu hay trong hốc cây, thậm chí trên các dây điện treo lơ lửng trên không. Lúc này, chim sẻ đực sẽ chịu trách nhiệm xây tổ, đồng thời nỗ lực quyến rũ những con cái. Chim sẻ cái nào đồng ý giao phối với chim sẻ đực sẽ cùng nhau xây tổ chung.<br>3. Sinh sản: Chim sẻ sinh sản vào dịp xuân hè, khi nắng ấm và đúng mùa côn trùng nở rộ. Chim sẻ mái đẻ từ 3-5 trứng mỗi lứa; trứng sẽ được ấp trong vòng từ 12-15 ngày. Cả chim bố và chim mẹ cùng nhau chăm sóc trứng và chim con. Chúng đi tìm thức ăn (sâu) và trực tiếp mớm cho sẻ con ăn. Chim sẻ con sau khi được 15 ngày sinh sẽ có thể rời tổ bay lượn bình thường.<br>4. Vai trò: bắt các loại sâu bọ có hại, làm thức ăn, thú nuôi,..</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1458420961/0abab22073a18260e759cf87f5119ed1/13AA0B29_D2C0_43EE_A49D_941B0B8E58ED.jpeg" />
         <pubDate>2022-03-22 10:43:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2107222931</guid>
      </item>
      <item>
         <title>14. Lê Minh Hoàng - Chim Sâu</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2107237618</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>&nbsp; &nbsp; &nbsp;</strong></div><div><strong>Chim sâu hay chim sâu xanh, chim chích bông là loài chim thuộc bộ Sẻ, xuất hiện nhiều vào mùa lúa chín, có ích cho nông nghiệp vì thức ăn chính của chúng là sâu.</strong></div><div><strong><em>Đặc điểm của chim sâu:</em></strong></div><div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Chim sâu có cơ thể mập mạp, cổ, đuôi và chân ngắn</div><div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Đôi mắt tròn xoe, có hồn và có chiều sâu; mỏ ngắn, cong và dày; lưỡi dài, hình ống</div><div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Bộ lông dài, dày, bóng mượt và không xoắn vào nhau, xỉn màu, thường có màu xanh lá đặc trưng; tuy nhiên, một vài chim sâu trống có bộ lông màu đỏ tươi hoặc đen bóng</div><div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Chim sâu có hệ tiêu hóa đặc biệt, được tiến hóa giúp chim có thể thích nghi với việc tiêu hóa có hiệu quả các loại quả mọng</div><div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Chim sâu rất nhanh nhẹn, chúng di chuyển rất nhanh và linh hoạt khi chuyền từ cành cây này sang cành cây khác.</div><div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Chim sâu hót hay, giọng thanh, cao vút, chúng có thể hót liên tục không ngừng nghỉ, thậm chí có thể hót khi đang chuyền cành.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1638002481/51ad258a92c3d0fe633e51b8374a4cbb/chim_sau.jpg" />
         <pubDate>2022-03-22 10:54:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2107237618</guid>
      </item>
      <item>
         <title>NGUYỄN ANH MINH-CHIM CÁNH CỤT</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2107292251</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><br>Chim cánh cụt</strong> hay còn gọi là <strong>chim cụt cánh</strong> (bộ <strong>Sphenisciformes</strong>, họ <strong>Spheniscidae</strong> - lấy theo chi <em>Spheniscus</em> nghĩa là <em>hình nêm</em>) là một nhóm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chim_n%C6%B0%E1%BB%9Bc">chim nước</a> <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chim_kh%C3%B4ng_bay">không bay được</a>. Chúng hầu như chỉ sống ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_B%C3%A1n_c%E1%BA%A7u">Nam bán cầu</a>, với duy nhất một loài, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chim_c%C3%A1nh_c%E1%BB%A5t_Gal%C3%A1pagos">chim cánh cụt Galápagos</a>, được tìm thấy ở phía bắc đường xích đạo. Vốn rất thích nghi cho cuộc sống trong <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/N%C6%B0%E1%BB%9Bc">nước</a>, chim cánh cụt có bộ lông tương phản nhau gồm các mảng sáng và tối và chân chèo để bơi lội. Hầu hết chim cánh cụt ăn <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BB%99_H%C3%ACnh_t%C3%B4m">nhuyễn thể</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A1">cá</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BB%99_M%E1%BB%B1c_%E1%BB%91ng">mực</a> và các dạng sinh vật biển khác mà chúng bắt được khi bơi dưới nước. Chúng dành khoảng một nửa cuộc đời trên cạn và nửa còn lại ở biển.<br><br></div><div><br>Mặc dù hầu hết tất cả các loài chim cánh cụt đều có nguồn gốc từ Nam bán cầu, chúng không chỉ được tìm thấy ở những vùng khí hậu lạnh, chẳng hạn như Nam Cực. Trên thực tế, chỉ có một số loài chim cánh cụt sống ở xa về phía nam. Một số loài được tìm thấy ở vùng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C3%94n_%C4%91%E1%BB%9Bi">ôn</a> đới, nhưng một loài, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chim_c%C3%A1nh_c%E1%BB%A5t_Gal%C3%A1pagos">chim cánh cụt Galápagos</a>, sống gần đường xích đạo.<br><br></div><div><br>Loài chim cánh cụt sống lớn nhất là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A1nh_c%E1%BB%A5t_ho%C3%A0ng_%C4%91%E1%BA%BF">chim cánh cụt hoàng đế</a> ( <em>Aptenodytes forsteri</em> ):<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chim_c%C3%A1nh_c%E1%BB%A5t#cite_note-1"><sup>[1]</sup></a> trung bình, con trưởng thành khoảng 1,1 m (3 ft 7 in) cao và nặng 35 kg (77 lb) . Loài chim cánh cụt nhỏ nhất là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Eudyptula_minor">chim cánh cụt xanh nhỏ</a> ( <em>Eudyptula nhỏ</em> ), còn được gọi là chim cánh cụt cổ tích, đứng khoảng 33 cm (13 in) cao và nặng 1 kg (2,2 lb) .<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Chim_c%C3%A1nh_c%E1%BB%A5t#cite_note-pengsent-2"><sup>[2]</sup></a> Trong số các loài chim cánh cụt còn tồn tại, những con chim cánh cụt lớn hơn sống ở những vùng lạnh hơn, trong khi những con chim cánh cụt nhỏ hơn thường được tìm thấy ở các vùng khí hậu ôn đới hoặc thậm chí nhiệt đới. Một số loài từ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_ti%E1%BB%81n_s%E1%BB%AD">thời tiền sử</a> đạt được kích thước khổng lồ, trở nên cao hoặc nặng bằng người trưởng thành. Chúng không bị giới hạn ở các vùng Nam Cực; ngược lại, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=C%E1%BA%ADn_c%E1%BB%B1c&amp;action=edit&amp;redlink=1">các</a> khu vực <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=C%E1%BA%ADn_Nam_C%E1%BB%B1c&amp;action=edit&amp;redlink=1">cận Nam Cực</a> chứa đựng sự đa dạng cao, và ít nhất một con chim cánh cụt khổng lồ đã xuất hiện trong khu vực khoảng 2.000 km về phía nam của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/X%C3%ADch_%C4%91%E1%BA%A1o">xích đạo</a> 35 <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Myr">mya</a>, trong một vùng khí hậu chắc chắn là ấm hơn ngày nay.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1574312794/06b5dd7514b2a073b7bf27bedc1d109d/image.png" />
         <pubDate>2022-03-22 11:32:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2107292251</guid>
      </item>
      <item>
         <title> NGUYỄN ANH MINH-CHIM GÕ KIẾN</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2107300838</link>
         <description><![CDATA[ặc điểm chung
Chim gõ kiến ​​có mỏ mạnh mà chúng dùng để khoan và gõ vào cây, và chiếc lưỡi dài dính để lấy thức ăn (côn trùng và ấu trùng).[2] Khi tán tỉnh bạn tình, chim gõ kiến thực hiện nhiều hơn 12.000 cú gõ một ngàу. Chim gõ kiến sử dụng những cú gõ thẳng như tên vào ngɑy thân cây góp phần làm giảm lực phản hồi, tránh gâу chấn động lên đầu. Chim gõ kiến có thể gõ vào bề mặt cứng đến 20 lần một giâу với lực gấp 1.200 lần trọng lực mà không chịu bất kì chấn động nào, não bộ và võng mạc không bị thương. Một phần nghìn giây trước khi thực hiện cú gõ, những khối cơ dàу đặc trong cổ chim co lại, trong khi mí mắt thì nhắm chặt làm cho một ρhần lực được giải tỏa xuống cơ ở cổ góρ phần bảo vệ hộp sọ khỏi những cú gõ mạnh mẽ.

Hộp sọ của chim gõ kiến tích tụ rất nhiều khoáng chất khiến chúng rất rắn chắc. Hình ảnh quét não cho thấy chim gõ kiến có rất ít chất lỏng bao quanh não. Điều này giúp hạn chế biên độ dao động của não. Lưỡi của chim gõ kiến nằm giữa hai mắt và quấn ra tận phía sau hộp sọ, có cấu trúc hỗn hợp của vật liệu cứng và dẻo cho phép nó hấp thụ rất nhiều tác động và rung chấn trong mỗi cú mổ của gõ kiến.[3] Kết hợp, kiểu cấu tạo giải phẫu này giúp mỏ hấp thụ sức căng cơ học.[4] Những chiếc lưỡi dài dính của chúng, có lông cứng, giúp những con chim này tóm và lấy côn trùng từ sâu trong lỗ trên cây. Người ta đã ghi nhận rằng lưỡi của chúng được sử dụng để đâm vào sâu bọ, nhưng các nghiên cứu chi tiết hơn được công bố vào năm 2004 đã chỉ ra rằng thay vào đó, lưỡi quấn quanh con mồi trước khi được kéo ra.[5]


Sơ đồ cho thấy xương móng của Dendrocopos major
Trái với quan niệm phổ biến cho rằng chim gõ kiến gõ vào thân cây chỉ để xua đuổi con mồi chui ra hoặc phá vỡ tổ con mồi trong vỏ cây, chim gõ kiến gõ mỏ vào thân gỗ là để giao tiếp, tiếng động cộng hưởng từ thân gỗ là một hình thức giúp chúng đánh dấu lãnh thổ hoặc thu hút bạn tình. Cả chim gõ kiến mái và trống đều gõ mỏ để gửi tín hiệu đến cho đối tác tiềm năng của mình. Trong một số trường hợp, chim gõ kiến chọn một thân cây rỗng và mổ mạnh vào đó để xua đuổi kẻ thù, một kẻ săn mồi tiềm năng đang đe dọa chúng. Hoặc chim gõ kiến cũng có thể đục lỗ trên thân cây để làm tổ.]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1574312794/bd391fe466963bd2c0fde7a70e34c08b/image.png" />
         <pubDate>2022-03-22 11:38:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2107300838</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lê Hoàng Lâm - Cuộc sống bí mật của chim cánh cụt</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2107377988</link>
         <description><![CDATA[<div>Bấy lâu nay các nhà khoa học vẫn tự hỏi loài chim không có lông vũ này làm gì suốt nhiều tháng liền trên biển khi chúng chuẩn bị cho thời kỳ sinh sản.</div><div>Một nhóm nghiên cứu từ Trung tâm Quốc gia nghiên cứu khoa học (CNSR) đã gắn các thiết bị theo dõi vào chân một chục chim cánh cụt macaroni trống và mái (tên khoa học là Eudyptes chrysolophus) vào lúc mùa đông bắt đầu tại quần đảo Kerguelen ở Ấn Độ Dương.</div><div>Những chú chim bơi ra biển vài ngày sau đó trong mùa kiếm ăn thường niên và những thiết bị theo dõi ghi nhận vị trí, tần suất ánh sáng và nhiệt độ nước ở bất cứ nơi nào chúng đến. Mùa xuân năm sau, khoảng sáu tháng sau đó, chim quay lại Kerguelen bắt đầu mùa sinh sản. Các nhà khoa học thu lại các thiết bị và lấy mẫu máu để biết chim đã ăn gì trong nửa năm qua.</div><div>Các nhà khoa học xác định sau khi rời Kerguelen, chim đã bơi nhanh về phía đông, xuống vùng nam Ấn Độ Dương, tản ra trên diện rộng, dành 80% thời gian ở một khu vực địa lý kéo dài từ 47-49 vĩ độ nam. Phần thời gian còn lại chúng bơi xa hơn về phía nam, gần tới Nam cực, nhưng không tiến gần mỏm băng. Chúng đã bơi một khoảng đường xa đến ngạc nhiên, trung bình 10.430km trong sáu tháng trên biển. Chú chim phiêu lưu nhất bơi cách Kerguelen tới 2.400km. Trong những tuần lễ cuối cùng của mùa di cư, chúng bơi về nhà như trong một cuộc đua, hoàn tất quãng đường 1.743km chỉ trong một tháng.</div><div>Thử nghiệm máu cho thấy thực phẩm chính của chim cánh cụt khi sống trên biển là loài giáp xác chứ không phải các loài nhuyễn thể ở vùng cực như suy đoán từ trước đến giờ. Nghiên cứu này quan trọng do xác định được vùng kiếm ăn chính của loài chim này, qua đó giúp các nỗ&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1636218601/b041808f29c184c4b7e4a90de55a0260/Cu_c_s_ng_b__m_t_c_a_chim_c_nh_c_t.docx" />
         <pubDate>2022-03-22 12:23:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2107377988</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Trung Dũng - Chim Bồ Câu</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2107429641</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1635857164/5b291e77fbad9454246da4fdde05f207/F6181134_5A98_4C45_9185_73345BED0283.png" />
         <pubDate>2022-03-22 12:51:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2107429641</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vũ Đức Huy</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2107448961</link>
         <description><![CDATA[<div>Chào mào là loài chim thuộc bộ sẻ. Chúng có nguồn gốc từ các vùng nhiệt đới ở khắp châu Á, thức ăn của chúng chủ yếu là côn trùng và hoa quả chín.<br>&nbsp;Chim chào mào có kích thước nhỏ. Khi trưởng thành loài chim này có chiều dài toàn thân từ 17 đến 23 cm, nặng khoảng 60 – 80 gram. Chim chào mào phần tai màu đỏ, hai má trắng, có mào luôn dựng đứng, phần đầu nhỏ màu đen, có bộ lông mềm. Thân hình dài, phần lưng thẳng, cổ ngắn. Cánh của chim chào mào khá dài, sải cánh rộng, khi đậu thường khép sát thân và đuôi cánh hơi bắt chéo vào nhau.&nbsp;<br>Chúng thường sống ở những nơi có nhiều cây cối và di chuyển từng đàn để kiếm ăn. Tuổi thọ của chim chào mào từ 10 đến 11 năm hoặc có thể cao hơn nếu trong môi trường thuận lợi.&nbsp;<br>Ở Việt Nam, mùa sinh sản của chim chào mào từ tháng 8 đến tháng 4 năm sau. Chào mào là một trong những loài chim yêu thích được nuôi làm chim cảnh, chúng hót rất hay, ngoại hình đẹp và khá dễ nuôi.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1638116279/b45b3bc60514b7936990d8e073127f75/z3281404176127_211e1769d459c4f2f1e181ccd8f1c787.jpg" />
         <pubDate>2022-03-22 13:01:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2107448961</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Bảo Nam - Chim Sẻ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2107494753</link>
         <description><![CDATA[<div>Chim sẻ là loài chim rất hòa đồng, chúng xuất hiện ở khắp mọi nơi trên thế giới từ nông thôn đến thành thị, đây là loài chim sống hoang dã có số lượng nhiều nhất trên thế giới.</div><div><strong><br>Đặc điểm của chim sẻ</strong></div><div><br></div><div><em>Đặc điểm của chim sẻ</em></div><div><strong><br>1. Đặc điểm ngoại hình</strong></div><div>Chim sẻ là loài chim có thân hình mập mạp, dáng vóc lùn, với bộ lông màu nâu, đen, trắng và có đôi cánh tròn. Đầu chim chòn, đuôi ngón và sở hữu chiếc mỏ hình nón cứng cáp.</div><div>Chim sẻ đực và chim sẻ cái được phân biệt qua màu lông. Đa phần những cón chim đực có phần lông ở lưng màu đỏ, yếm màu đen, trong khi chim sẻ cái lại có phần lông màu nâu với những sọc vằn. Kích thước con cái nhỏ hơn con trống.</div><div><br></div><div>Trung bình một chú chim trưởng thành chỉ nặng khoảng 24 - 40 gram, nhiều trường hợp nặng đến 50 gram.</div><div><strong><br>2. Đặc điểm tính cách</strong></div><div>Chim sẻ là loài chim có khả năng bay rất nhanh để chạy trốn khỏi kẻ thù như chó, mèo, cáo, rắn. Đây là loài chim được xếp vào nhóm không chung thủy. Chim sẻ có tập tính sống theo bầy đàn và chúng rất nhanh nhẹn với tiếng kêu gọi từ đồng loại.</div><div><strong><br>3. Đặc điểm sinh sản</strong></div><div>Mùa sinh sản của chim sẻ diễn ra vào mùa xuân hè khi nắng ấm, đúng vào mùa côn trùng nở rộ. Những con chim sẻ mái đẻ từ 3 - 5 trứng mỗi lứa, trứng lúc này sẽ được ấp trong vòng từ 12 - 15 ngày.</div><div>Trong khoảng thời gian này, cả chim bố và chim mẹ sẽ cùng nhau chăm sóc trứng và chim non. Chúng sẽ đi tìm thức ăn và trực tiếp mớm cho sẻ con ăn. Sau 15 ngày sinh, chim sẻ non đã có thể rời tổ bay lượn bình thường.</div><div><br></div><div>🦅🦅🦅 <a href="https://gaocung.com/tin-tuc/chao-mao-an-gi-sung-nhat.html"><strong>Chim chào mào ăn gì sung nhất</strong></a>? Cách nuôi chào mào căng lửa</div><div><strong><br>Chim sẻ thường sống ở đâu?</strong></div><div><br></div><div><em>Chim sẻ thường sống ở đâu?</em></div><div>Chim sẻ là loài chim phổ biến xuất hiện ở các miền quê cho đến các thành phố lớn tại Việt Nam cũng như trên toàn thế giới. Giống chim này phân bổ chủ yếu ở Châu Âu, Địa Trung hải và hầu hết ở các quốc gia thuộc khu vực châu Á.</div><div>Chúng thường xây tổ dưới mái nhà, gầm cầu hoặc gốc cây. Lúc này, chim đực sẽ chịu trách nhiệm xây tổ và quyến rũ con cái. Chim cái sẽ giúp chim đực cùng xây tổ nếu con cái đồng ý tới việc giao phối với con đực.</div><div><br></div><div>🐤🐤🐤 <a href="https://gaocung.com/tin-tuc/chim-cu-gay-an-gi.html"><strong>Chim cu gáy ăn gì</strong></a>? Thức ăn cho chim cu gáy sinh sản, sắp nổi</div><div><strong><br>Chim sẻ kiếm ăn vào ban ngày hay ban đêm?</strong></div><div>Chim sẻ thuộc bộ sẻ lên là loài kiếm ăn vào ban ngày.</div><div><strong><br>Cách nuôi chim sẻ non cho đến trưởng thành</strong></div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1638218403/fc409a3599cd2e6b0597ab68435e2f6b/FA7CE836_351A_42F1_B1A6_110FA7587356.jpeg" />
         <pubDate>2022-03-22 13:21:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2107494753</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Bảo Long - Chim Vành Khuyên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2107505068</link>
         <description><![CDATA[<div><br>Nguồn gốc, lịch sử chim Vành Khuyên<br>Chim Vành Khuyên là loài chim tự nhiên thuộc bộ Sẻ, có nguồn gốc từ các nước nhiệt đới như Việt Nam, Úc, phía nam châu Á.<br><br>nguồn gốc lịch sử&nbsp; đặc điểm ngoại hình cách phân biệt trống mái giá bán chim vành khuyên ăn gì a2<br>Chim Vành Khuyên có khuyên tròn trắng đặc trưng ở mắt<br>Đặc điểm ngoại hình của chim Vành Khuyên<br>Chim Vành Khuyên là loài chim nhỏ nhắn, mỏ vàng. Xung quanh mắt có vòng bao màu trắng đặc biệt nên rất dễ nhận ra. Đầu và cánh chim có màu xanh khá đặc trưng.<br><br>Tiếng hót của chim Vành Khuyên<br>Chim Vành Khuyên có giọng hót cao, thánh thót và trong. Chúng cũng sở hữu khả năng lạ là có thể bắt chiếc tiếng hót của một số loài chim khác như chim Chích Chòe<br><br>nguồn gốc lịch sử&nbsp; đặc điểm ngoại hình cách phân biệt trống mái giá bán chim vành khuyên ăn gì c3<br>Với người mới chơi chim, phân biệt Vành Khuyên qua màu lông là dễ nhất<br>Cách phân biệt chim Vành Khuyên trống mái<br>Chim Vành Khuyên trống: lông ở lưng chim có màu xanh tươi, đầu lông chim có ánh vàng, chim Vành Khuyên mái thì màu xanh không tươi mà tối hơn. Lông đuôi và lông cổ chim trống có màu vàng tươi, còn chim mái thì có màu vàng nhạt hơn.<br><br>Sinh sản của chim Vành Khuyên<br>Mùa giao phối của chim Vành Khuyên khoảng từ tháng 3 đến tháng 7 hàng năm.<br><br>Mỗi mùa sinh sản, chim Vành Khuyên có thể đẻ từ 2-4 trứng. Trứng chim Vành Khuyên có màu xanh lam hơi nhạt, không có đốm trên vỏ trứng. Thời gian ấp trứng khoảng 13-14 ngày thì trứng nở.<br><br>nguồn gốc lịch sử&nbsp; đặc điểm ngoại hình cách phân biệt trống mái giá bán chim vành khuyên ăn gì d4<br>Vành Khuyên nuôi bằng cám và bổ sung hoa quả<br>Chim Vành Khuyên ăn gì?<br>Bạn cho chim Vành Khuyên ăn cám là chủ yếu nhưng vẫn cần phải bổ sung các loại hoa quả, trái cây cho chim để chim có đủ chất.<br><br>Thức ăn chính<br>Chim Vành Khuyên ăn cám trứng đậu xanh là chính.&nbsp; Đây là loại cám nuôi thông thường với giá thành rẻ, sử dụng rất tốt để nuôi chim mộc. Chim ăn cám trứng đậu xanh giúp màu lông đẹp, chim khỏe mạnh, tránh các bệnh như ỉa chảy, cúm.<br><br>Một loại cám được sử dụng khác giúp cho chim căng là cám líu giúp chim líu khỏe hơn và có thể líu để đạt được độ căng đỉnh điểm.<br><br>Thức ăn bổ sung<br>Bổ sung cho chim trái cây trong khẩu phần ăn để có thêm các chất dinh dưỡng. Chim Vành Khuyên thích ăn các loại trái cây, hoa quả như chuối tây, dưa leo, cà rốt, cà chua, cam.<br><br>nguồn gốc lịch sử&nbsp; đặc điểm ngoại hình cách phân biệt trống mái giá bán chim vành khuyên ăn gì e5<br>Giá bán Vành Khuyên không đắt</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1638218403/546697662f6ed5069a9fc6f4425b1da8/C13FAC8A_BC09_4A51_AF2E_541D22E2CB38.jpeg" />
         <pubDate>2022-03-22 13:26:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2107505068</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vũ Hùng Tường3K</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2107582599</link>
         <description><![CDATA[<h1>Những điều thú vị về đại bàng</h1><div><br></div><div>Đại bộ phần các phân loài của đại bàng là loài ăn thịt, nhưng đại bàng cá vulturine, một loài chim lớn săn mồi bản địa của tiểu vùng Sahara thuộc châu Phi lại chủ yếu ăn hoa quả của cây cọ dầu. Những con đại bàng lớn nhất thế giới (như đại bàng Harpy và đại bàng Philippine), có sải cánh dài hơn 2,50m.</div><div>Chúng được biết là có khả năng giết và mang theo mồi lớn như hươu, nai, dê, và khỉ. Trong hầu hết các loài chim đại bàng săn mồi, con cái thường lớn hơn và mạnh mẽ hơn so với con đực. Một số loài đại bàng, chẳng hạn như dại bàng Martial có khả năng bay trong nhiều giờ mà không cần đập cánh. Chúng sử dụng cột không khí nóng để làm điều đó.</div><div><br></div><div>Những con đại bàng nở trước thường có xu hướng giết chết anh em của mình khi chúng mới nở. Sự canh tranh sinh tồn từ trong trứng nước này không được chim bố và chim mẹ ngăn chặn, ngay cả khi nhìn thấy. Mắt đại bàng có một triệu tế bào nhạy sáng trên mỗi mm vuông võng mạc, nhiều hơn năm lần so với con người.</div><div>Trong khi con người chỉ nhìn thấy ba màu cơ bản, đại bàng nhìn thấy năm. Chính vì thế đại bàng sở hữu thị lực cực kỳ sắc nét, cho phép chúng phát hiện con mồi đã ngụy trang từ một khoảng cách rất xa. Màn săn giết nặng nề nhất của đại bàng là chiến công săn một con hươu Duiker 37kg, một con mồi có trọng lượng gấp 8 lần trọng lượng cơ thể của đại bàng Martial hay còn gọi là đại bàng võ sĩ.</div><div><br></div><div>Chiếc tổ lớn nhất do các loài động vật tự xây thuộc về tổ của loài đại bàng. Đã từng có một chiếc tổ đại bàng nặng 1 tấn, dài 4m, sâu 2m được phát hiện. Đại bàng là một loài chim rất thông minh, biết dùng trí tuệ để giảm bớt khó nhọc khi săn giết con mồi. Ví dụ như ở Hy Lạp, đại bàng săn rùa, chúng cắp con rùa lên cao và thả xuống nền đá, nhằm làm vỡ mai rùa, từ đó có thể thoải mái chén thịt con mồi một cách dễ dàng.</div><div>Đại bàng hói thực sự không hói. Cái tên đại bàng hói thực chất là để chỉ phần lông trắng mọc từ đầu đến cổ của loài chim này. Đại bàng có thể ngủ mà vẫn rất uy nghi, nó không cần vào trong tổ mới có thể chợp mắt. Chỉ cần đậu trên một nhánh cây, khởi động cơ chế tự động bám của móng vuốt, đại bàng có thể ngủ mà không sợ rơi tự do.</div><div><br></div><div>Để bảo vệ lãnh thổ và thu hút bạn tình, đại bàng hói thực hiện những màn nhào lộn trên không ngoạn mục bất chấp những vũ điệu bạo lực này có ảnh hưởng chẳng khác nào một trận không chiến, có thể làm bị thương tới bản thân, tệ nhất là dẫn đến tử vong. Chim đại bàng có đến 7.000 chiếc lông và những chiếc lông này chiếm khoảng 5% khối lượng cơ thể của chúng.</div><div>So với kích thước cơ thể, đôi cánh đại bàng thực sự ẩn chứa nhiều quyền lực và sức mạnh hơn so với đôi cánh của các loại máy bay. Hầu hết các loài chim săn mồi có thói quen liếc nhìn qua vai của chúng khi có những loài động vật ăn thịt khác ở phía sau. Tuy nhiên, là chúa tể bầu trời cao cao tại thượng, đại bàng không làm chuyện đó, nó có đủ tự tin rằng không có gì dám tấn công mình.</div><div><strong>Nguồn: kienthuc.net.vn</strong></div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1326784546/b1e116792aab8b07633a70ff1d0b7d8a/download.jpg" />
         <pubDate>2022-03-22 13:58:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2107582599</guid>
      </item>
      <item>
         <title>KHỔNG QUỲNH MAI- CHIM CÔNG (Khổng Tước)</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2107604881</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp;<strong>Chim Công</strong> hay còn gọi là cuông, nộc dung, hay <strong>Khổng Tước</strong> (Pavo muticus) - loài chim thuộc họ Trĩ, được tìm thấy trong các khu rừng nhiệt đới ở Đông Nam Á, đặc biệt là Ấn Độ. <strong>Chim Công</strong> <strong>là loài chim được xếp vào hàng đẹp nhất thế giới.&nbsp;</strong></div><div>&nbsp; &nbsp;Đây là loài chim sở hữu bộ lông sặc sỡ, óng ánh và đuôi rất dài, mỗi khi xòe giống chiếc quạt tuyệt đẹp. <strong>Toàn bộ lông đuôi của chim Khổng tước trống có thể lên đến 200 chiếc</strong> và phần cuối của mỗi chiếc lông được kết thúc bằng chấm bi màu nâu xanh, vàng...</div><div>&nbsp; &nbsp;Bên cạnh đó, <strong>Khổng Tước</strong> còn là loài mang ý nghĩa và biểu tượng vô cùng cao quý. <strong>Chim Công</strong> là một loài chim với nhiều ý nghĩa trong nền văn hóa Á Đông, là biểu tượng cho vẻ đẹp quyền quý và sang trọng. Do vậy, chúng được nuôi làm cảnh trong các gia tộc giàu có ở Trung Quốc hay Ấn Độ.<br>&nbsp; &nbsp; Trong Phật giáo loài chim này luôn được gắn liền với Khổng Tước Minh Quân Bồ Tát. Do vậy mà sự hiện thân của loài chim này cũng tượng trưng cho ngài mang đến sự bình an, may mắn, cát tường cho nhân gian. Ấn Độ là một nước đa dạng về các nền văn hóa thì loài <strong>Chim Công</strong> được đại diện cho vẻ đẹp tuyệt mĩ, sự may mắn, giàu sang và phú quý của nữ thần Lakshmi. Từ những ý nghĩa tốt đẹp ấy, ngày nay nhiều người thích thú lựa chon đôi <strong>Chim Công</strong> (chim công luôn được làm thành một đôi, con trống, con mái) để đặt trong nhà tạo phong thủy may mắn, tài lộc và cuộc sống hôn nhân vợ chồng viên mãn.</div><div>&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1635857302/0f387113ee43dde14a80466cb20a8eb1/chim_cong_khong_tuoc_114103__1_.jpg" />
         <pubDate>2022-03-22 14:08:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2107604881</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Bảo Khánh - Vẹt đêm Newzelan</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2107629158</link>
         <description><![CDATA[<div>Vẹt đêm New Zealand<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; Vẹt đêm New Zealand hay gọi là vẹt kakapo, vẹt cú, là một loài chim trong họ Strigopidae. Nó là một loài vẹt không bay được đặc hữu New Zealand.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Loài này hiện nay cực kì quý hiếm và nguy cấp, tính đến tháng 2 năm 2012, loài chim này chỉ còn 126 cá thể được biết đến. Trước hết, do chúng chỉ sống trong rừng già New Zealand, thứ hai, do chúng chẳng còn được bao nhiêu (có thể nói, số lượng cá thể của loài kakapo hiện đếm được trên đầu ngón tay) nên loài này rất ít được biết đến.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; Hiện nay, hai đảo lớn Fiordland, Resolution và Secretary, là chủ đề của các hoạt động phục hồi sinh thái quy mô lớn để chuẩn bị tự duy trì hệ sinh thái với môi trường sống thích hợp cho các con Kakapo.<br><br></div><div>&nbsp;<br><br></div><div>&nbsp;<br> </div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1635857122/6876b3b6bbfd8882e897110942742050/H_NH__NH_V_T___M_NEW_ZEALAND_L_N.docx" />
         <pubDate>2022-03-22 14:18:08 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2107629158</guid>
      </item>
      <item>
         <title>KHỔNG QUỲNH MAI- CHIM HỒNG HẠC</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2107724879</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>I. ĐÔI NÉT VỀ CHIM HỒNG HẠC<br>&nbsp; &nbsp;</strong>Loài chim này thuộc họ Phoenicopteridae còn có tên tiếng anh là<strong> Flamingos.</strong> Đây là một loài chim lội nước. Khi đã trưởng thành chim cao từ 1,2m - 1,5m. Dù vậy chúng có khối lượng chỉ từ 1,8kg - 3,6kg. Sải cánh của chim dao động từ 95cm đến 150cm. Điều này phần nào lý giải ý nghĩa câu nói “mình hạc xương mai”. Sau đây là một số thông tin khác về loài chim này, các bạn đừng bỏ lỡ nhé.<br><br><strong>1. Các loài chim hồng hạc<br></strong>Chim có tuổi thọ khá dài và có bộ lông màu hồng nổi bật. <br>Theo hệ thống thông tin phân loại tổng hợp (ITIS) <strong>chim có 6 loài</strong>. Gồm: <strong>chim hồng hạc lớn; nhỏ ; Chile; Andean; James; Mỹ</strong>.<br><br><strong>2. Nơi sống của loài chim này<br></strong>Do thuộc loài chim nước nên <strong>chúng thường sống xung quanh các đầm, hồ, vùng đầm lầy và tụ tập theo đàn</strong>. Chim thường không di cư nếu không gặp sự thay đổi về khí hậu hay mực nước trong khu vực sinh sản.&nbsp;<br>-Chim thuộc loài Mỹ thường sống ở Tây Ấn, Bắc Nam Mỹ hoặc dọc theo quần đảo Galapagos.&nbsp;<br>-Chim thuộc loài Chile, James, Andean thì sống ở Nam Mỹ.&nbsp;<br>-Loài lớn và nhỏ thì sống ở Châu Phi.<br><br></div><div><strong>3. Thức ăn của loài chim<br>Chim ăn côn trùng nhỏ, ấu trùng, tảo đỏ, tảo xanh, cá nhỏ, động vật giáp xác và động vật thân mềm</strong><em>.</em> Do ăn được cả động vật và thực vật nên chim được xem là loài ăn tạp. Do ăn tảo đã được nạp beta carotene vì vậy chúng có màu hồng. Đó là một hóa chất hữu cơ chứa sắc tố màu đỏ cam.<br>Mức độ sắc tố hữu cơ trong thức ăn của chúng khác nhau ở những khu vực khác nhau. Đó là lý do vì sao chim thuộc loài Mỹ có màu đỏ tươi hoặc cam. Trong khi những con chim ở miền trung Kenya lại có màu hồng nhạt. Để tìm kiếm thức ăn, chim sẽ khuấy động đáy hồ bằng chân. Sau đó, thả mỏ xuống bùn và nước để tìm đồ ăn.<br><br></div><div><strong>4. Thói quen của chim hồng hạc<br></strong>Đàn chim sẽ làm việc cùng nhau để cùng bảo vệ nhau khỏi những tên săn mồi và cùng chăm sóc đàn con. Người ta cho rằng loài chim này là cặp “một vợ một chồng”. Sau khi giao phối, chúng sẽ ở lại với người bạn đời đó. Đa số các nhóm chim sẽ giao phối cùng lúc để các chim con được nở ra cùng thời điểm. Các cặp chim cùng làm tổ trên đống bùn, các con cái sẽ đẻ trứng cùng một lúc.<br><strong>Trứng</strong> của chim lớn hơn một chút so với trứng gà, dài từ 78 đế 90mm và từ 115 đến 140 gram. Từ 27 đến 31 ngày trứng sẽ nở, chim con mới nở chỉ nặng từ 73 đến 90 gram.<br><strong>Hồng hạc</strong> là một trong số những loài chim có sự xinh đẹp xuất sắc!<br><br></div><div><strong>&nbsp;II. SỰ THẬT THÚ VỊ VỀ CHIM HỒNG HẠC<br></strong>Theo các bằng chứng hóa thạch chỉ ra rằng nhóm chim này đã tiến hóa từ rất lâu đời. Chúng tồn tại khoảng 30 triệu năm về trước. Lông cánh bên dưới của chim màu đen, khi chim bay thì chúng ta mới nhìn thấy được. <strong>Chúng rất thích đứng bằng một chân</strong> và cũng có nhiều thắc mắc về vấn đề này. Có nhiều giả thuyết cho rằng việc giữ một chân nhầm giúp chúng giữ nhiệt cơ thể. Người ta tin rằng hồng hạc là loài chim nhiệt đới. Tuy vậy, chúng vẫn có thể phát triển trong môi trường lạnh khi tiếp cận được thức ăn và nguồn nước.<br><strong>Chim ăn ngược</strong> vì chúng có cấu tạo của mỏ rất kỳ lạ. Loài chim này khá điệu đà, chúng dành 15-30% thời gian mỗi ngày để làm sạch lông. <strong>Các con chim đực cũng có sữa, được gọi là “sữa diều”.</strong> Tuổi thọ của chúng trung bình từ 20-30 tuổi. Kỷ lục của một con chim già nhất được ghi nhận là 70 tuổi. Chim chỉ đẻ một trứng trong một lần sinh sản và đôi khi chúng còn ăn cắp tổ lẫn nhau. <strong>Loài chim này có thể phát hiện mưa cách chúng 500km</strong>. Cảm giác về thời tiết của chúng đến nay vẫn còn là điểm bí ẩn.<br><br><strong>Thế giới thì bao la và có rất nhiều điều thú vị. Khi chúng ta tìm tòi hay nghiền ngẫm vấn đề gì đó, dù là nhỏ nhoi cũng sẽ có những phát hiện mới mẻ. Hy vọng qua bài viết trên, chúng ta có thêm những kiến thức mới mẻ về loài chim hồng hạc. Và hãy cùng nhau khám phá thêm nhiều kiến thức mới lạ về thế giới rộng lớn này nhé!<br></strong><br></div><div>&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1635857302/08f0f9f7137c87e2eca6c7b224fbcecd/chim_hong_hac_dung_mai_khong_moi_chan_EEOA.jpg" />
         <pubDate>2022-03-22 14:57:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2107724879</guid>
      </item>
      <item>
         <title>KHỔNG QUỲNH MAI- VẸT ÚC LORY RAINBOW</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2107891049</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Vẹt Lory hay còn được gọi là Lory Rainbow</strong><br> -Tên tiếng anh: Rainbow Lorikeets<br> Đây là loài vẹt có nguồn gốc từ các vùng biển Bắc Queensland đến phía Nam của nước Úc. Loài vẹt này được phát hiện và tìm thấy ở phía Tây Australia, Tasmania, New Zealand và Hong Kong.<br>&nbsp; &nbsp;<strong>Môi trường sống của Lory thường ở trong các khu rừng nhiệt đới lớn, bụi rậm hay rừng cây lớn gần biển. </strong><br>&nbsp; &nbsp;Điểm đặc biệt của loài chim này là cách chúng đi tìm thức ăn, <strong>chúng có thể bay tới gần 40 dặm trong một ngày để tìm nguồn thức ăn</strong>. Mỗi lần đi kiếm thức ăn, chúng sẽ tập hợp theo bầy đàn từ 20 – 30 con trở lên<br><br></div><div><strong>Đặc điểm ngoại hình của vẹt Lory<br>&nbsp; &nbsp; </strong>Vốn là loài vẹt hoang dã và sở hữu cho mình một thân hình thon gọn với bản chất ngọt ngào, rực rỡ.<br>&nbsp; &nbsp; Một chú vẹt Lory Rainbow có chiều dài cơ thể từ 20 – 40cm, trọng lượng khi mới sinh ra sẽ khoảng 54 – 85gr.<br><br>&nbsp; <strong>Những con vẹt Lory Rainbow chắc chắn có màu sắc với đúng tên gọi của nó vẹt Lory cầu vồng – một chú vẹt hội tụ đủ 7 màu sắc trên cùng một bộ lông, một điểm đặc biệt và duy nhất của loài Lory này.</strong><br>&nbsp; &nbsp; Phần mặt và bụng của chúng có màu xanh đậm cùng với đó là màu xanh lá cây ở phần cánh, lưng và điểm một chút ở phần đầu.<br>&nbsp; &nbsp; Phần cổ là có màu vàng ở giữa 2 màu xanh đậm và xanh lá cây.<br>&nbsp; &nbsp; Chúng có bộ ngực màu đỏ tươi xen kẽ là màu xanh lục và màu đen.<br>&nbsp; &nbsp; Phần trên của đuôi giống với màu ở phần cánh, mặt dưới là màu vàng kết hợp với xanh lá cây. Chúng có một màu da xám đen ở dưới bàn chân.<br>&nbsp; &nbsp; Với thân hình sặc sỡ như thế thì một chiếc mỏ lớn màu đỏ tươi sẽ tiếp thêm sự cuốn hút của mình.<br><br></div><div><strong>Tính cách vẹt Lory Rainbow<br>&nbsp; &nbsp; Được đánh giá là</strong> <strong>loài chim ngọt ngào, thân thiện và trìu mến</strong> và được biết đến với những trò hề vô cùng hài hước và thú vị của loài vẹt này. Nhìn chung thì đây là loài vẹt mang đến niềm vui, thân thiện, hòa đồng và dễ dàng làm quen, tương tác với những người chủ nuôi chúng.<br>&nbsp; &nbsp; Loài này là một loại chim thông minh, lém lỉnh. Điểm nhấn trong tính cách của vẹt Lory Rainbow này đó là việc tiếp thu các thủ thuật, các tip đơn giản trong cuộc sống hằng ngày và các hành vi khác rất nhanh.<br>&nbsp; &nbsp;Một mẹo đơn giản mà bạn có thể thử tính cách của vẹt đó là tự tay cho chúng ăn trong quá trình huấn luyện chúng, loài này được mô tả là không nhút nhát và sẽ báo cho bạn biết khi nó cần được chú ý đến. Bạn hãy thử đi, nó sẽ quen với sự tiếp xúc của bạn nhanh hơn bất kì loài vẹt nào khác và cách tiếp thu kiến thức ở mức tuyệt vời.<br><br></div><div><strong>Tập tính sinh sản của vẹt Lory Rainbow<br>&nbsp; &nbsp;Mùa sinh sản</strong> thích hợp nhất của vẹt Lory Rainbow <strong>là vào mùa xuân</strong>. Trong điều kiện nuôi nhốt ở hộ gia đình, chim có thể bắt cặp với những con vẹt khác, tuy nhiên không phải con vẹt nào cũng kiếm được người bạn đời vì chúng là loài thích sống độc lập, tự do và bạn đời phải phù hợp với sở thích riêng, nên kể cả trong chuồng có cả vẹt đực lẫn vẹt cái sống cùng nhau trong 1 thời gian dài, chúng cũng không sinh sản. Đấy không phải vấn đề gì quá nghiêm trọng liên quan đến sức khỏe hay giống loài, mà đơn giản là chúng không ưng ý nên không chịu sinh sản. Do vậy mà việc nuôi nhốt trong các hộ gia đình mà vẹt sinh sản được, nó đã là điều khó khăn rồi và hiếm các hộ gia đình làm được điều đó.<br>&nbsp; &nbsp; Loại vẹt này đẻ khá ít trứng chỉ 2 – 4 quá trứng/ mùa sinh sản. Thời gian ấp trứng trong 30 ngày, sau 3 tháng thì vẹt sẽ bắt đầu hình thành dần bộ lông của mình. Tròn 1 tuổi, bộ lông sẽ hoàn thiện đáng kể và chỉ khi được 3 tuổi, lúc này mọi thứ đã đầy đủ, việc nhận dạng vẹt đực vẹt cái cũng sẽ dễ hơn và lúc này chúng đã rời xa bố mẹ để sống một cuộc sống tự lập.<br>&nbsp; &nbsp; Khi vào mùa sinh sản, vẹt đực và vẹt cái sẽ cùng nhau kiếm lá cây, rơm, cành cây đan lại để làm tổ. Tổ sẽ được dựng trên những thân cây lớn, những hốc cây hoặc những nơi trên cao có bề mặt phẳng để đựng trứng. Hằng ngày, bố vẹt sẽ đi kiếm nguồn thức ăn cho mẹ vẹt để vẹt cái có sữa cho con.<br><br></div><div><strong>Vẹt Lory Rainbow</strong> <strong>là loài vẹt được xếp vào nhóm những loài có cách trò chuyện mưu trí, xuất sắc</strong>. <br>&nbsp; &nbsp;<strong>Chúng hoàn toàn có thể nói được nhiều từ, câu đơn câu ghép và cụm từ với vốn từ vựng lên đến hơn 200 từ. </strong><br>&nbsp; &nbsp; Mỗi giống vẹt lại có một giọng khác nhau, với vẹt Lory thì giọng hơi the thé.<br>&nbsp; &nbsp;<strong>Chúng luôn muốn được sự âu yếm, quan tâm, chú ý</strong>, <strong>tương tác</strong> và khả năng bắt bước của loài vẹt này cũng kinh ngạc đó nha. Những tiếng còi xe, còi báo động hay tiếng hát của ai đó, sau quãng thời gian nghe hiểu, chúng sẽ bắt chước lại y chang giống đến 90%. <br><strong>Vẹt Lory Rainbow rất thú vị phải không nào!<br></strong><br></div><div>&nbsp;<br><br></div><div><br></div><div>&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1635857302/80fa39a2fb5591f0b600c15b109b0d02/v_t_Lorikeet.jpg" />
         <pubDate>2022-03-22 16:08:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2107891049</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thanh Lam - Chim Gõ Kiến</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2108060358</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>chim gõ kiến</strong> Chúng là loài chim có đặc điểm là leo cây và mổ vỏ cây. Những loài chim này tạo nên họ Picidae (bộ Piciforme) với khoảng 218 loài được mô tả. Họ chim này có tính chất quốc tế và phân bố ở tất cả các vùng khí hậu, ngoại trừ vùng cực, Úc và Madagascar.<br><br></div><div>Các thành viên của nó cũng nhận được các tên khác như thợ mộc, điện tín viên, chim gõ kiến, trong số những người khác, ám chỉ thói quen chặt cây để tìm côn trùng.<br>Chim gõ kiến ​​là một họ chim có hệ sinh thái tương đối đồng nhất. Chúng đóng một vai trò quan trọng trong hệ sinh thái rừng với tư cách là người kiểm soát côn trùng gây hại và đóng góp vào sức khỏe của cây.</div><div>Chiến lược kiếm ăn và khả năng khai thác côn trùng từ thân cây đáng ngạc nhiên của chúng đã cho phép chúng chiếm nhiều môi trường sống khác nhau. Ngoài ra, chúng có thể duy trì mức độ giao cảm cao do sự phân bố của các nguồn lực.</div><div>Chim gõ kiến ​​đã mắc phải những thay đổi về hình thái tạo nên những đặc điểm được chia sẻ bởi tất cả các thành viên trong gia đình (synapomorphies).<br>Trong số những đặc điểm này là chiếc lưỡi dài đặc biệt được bao phủ bởi gai có thể kéo dài ra khỏi miệng và một bộ máy hyoid dài. Chúng cũng có tuyến giáp dưới lưỡi kéo dài, hộp sọ dày, trực tràng cứng và tuyến mũi đi vào quỹ đạo yếu.</div><div><strong><br>Đặc điểm ngoại hình chim Gõ Kiến<br></strong><br></div><ul><li>Chim gõ kiến có tên khoa học là Picidae. Chúng còn được người chơi chim cảnh gọi bằng một cái tên thân thiện là chim đầu rìu mỏ dài. Vì đây là loài chim có bộ phận mỏ rất dài, mảnh và cong dần xuống, lưỡi của chúng ngắn.</li><li>Một con chim gõ kiến có thể gõ liên tục vào thân cây 100 lần/phút. Với vận tốc lên đến 24 km/h. Tương tự như con người chạy thật nhanh rồi đâm sầm vào gốc cây. Tuy nhiên, loài chim gõ kiến lại hoàn toàn không bị thương tích gì nhờ có cơ cổ mạnh mẽ. Cột sống linh hoạt, và một lớp bao bọc xung quanh bảo vệ hộp sọ.</li><li>Mũi chim gõ kiến có những lớp lông cứng và lông mềm. Giúp bảo vệ mũi khỏi bị tổn thương bởi gỗ vụn và mùn cưa khi đục thân cây. Mắt của chúng cũng có một lớp lông đặc biệt với vai trò bảo vệ hết sức hiệu quả.</li><li>Không giống với các loài chim gõ khác thường đục thân cây để bắt côn trùng. Loài chim gõ kiến bắt ruồi ở Mỹ thường săn những côn trùng bay trên không. Như ruồi hay đậu trên thân cây.</li><li><strong><br>Đặc điểm giới tính chim Gõ Kiến<br></strong><br><ul><li>Khi trưởng thành, cả chim trống lẫn chim mái khá giống nhau về kích thước, màu sắc của bộ lông. Từ trán đến gáy có mào long khá dài có thể dựng đứng lên hay xẹp xuống tùy ý thích. Mào long hung có màu hơi thẫm, mỗi long đều có phần mút đen.</li><li>Lưng trên vai mép cánh và long bao cánh thì có màu nâu nhạt, hơi phớt nhung. Dưới phần dưới lưng có một dảy đen chạy dài và có xen kẽ dải trắng hơi nhung.</li><li>Cánh có dạng tròn và có 10 lông cánh sơ cấp. Lông cánh sơ cấp đen với một dải trắng ở gần mút. Lông cánh thứ cấp đen có tới 4 dải trắng. Lông cánh tam cấp đen thì có dải trắng và dải hung xếp nghiêng.&nbsp;</li><li>Cằm và họng ngực hung nhạt hơi nâu. Bụng sau và sườn trắng có vạch đen rộng ở phiến long ngoài. Mắt nâu hay nâu đỏ, mỏ đen, gốc mỏ xám hồng, chân xám.</li></ul></li><li><strong><br>Tập tính sinh sản của Gõ Kiến<br></strong><br><ul><li>Mùa sinh sản và làm tổ từ tháng 2 đến tháng 5. Chim mái đẻ trứng nhỏ, mầu xám giữa các hốc cây ấm áp. Xung quanh cuộn rơm rạ, lá cây và hoa cỏ để làm cho tổ lúc nào cũng thơm ngây ngất.</li><li>Cả chim bố và chim mẹ đều chăm sóc con rất chu đáo. Chốc lại tìm về tổ để kiểm tra các con, nếu không thấy con chúng đâu. Chúng sẽ cất tiếng gọi một cách thảm thiết. Chim con cũng quấn quýt chim mẹ nhiều năm. Tạo điều kiện cho cả đàn được chăm sóc lẫn nhau.</li></ul></li><li><strong><br>Nơi sống<br></strong><br><ul><li>Họ Gõ kiến là một trong số 8 họ chim thuộc bộ Gõ kiến. Chúng có mặt ở hầu khắp thế giới, ngoại trừ Australia, New Zealand, Madagascar. Và rất hiếm ở các vùng cực. Hầu hết chim gõ kiến sống trong rừng hoặc các khu vực nhiều cây cối. Riêng một số loài sống trên các triền đồi nhiều đá hoặc trên sa mạc.</li><li>Sống giữa sa mạc nóng bỏng nên gõ kiến Gila dùng xương rồng Saguaro để xây tổ. Ngoài côn trùng, chúng còn ăn cả quả của loài xương rồng này. Và giúp chúng dọn dẹp những phần thân cây bị hư hại.</li><li>Bàn chân của chim gõ kiến được cấu trúc theo kiểu zygodactyl (ngón kiểu chân trèo). Với hai ngón chân hướng về phía trước và hai ngón hướng về phía sau. Giúp chúng có thể bám chắc vào thân cây và không bị rơi xuống, ngay cả trong khi ngủ.</li></ul></li><li><strong><br>Tập tính sống của Gõ Kiến<br></strong><br><ul><li>Chim có tập tính sống thành đôi hay tạo thành bầy đàn nhỏ có thành viên khoảng từ 5-7 con. Chúng thường dùng mỏ gõ vào các thân cây để làm tổ.</li><li>Chim gõ kiến có khả năng phục hồi thể chất và leo cây rất tốt. Đặc biệt, để thích nghi với cuộc sống trên thân cây. Đuôi của chim gõ kiến có gai nhọn có thể cắm chắc vào vỏ cây. Đóng vai trò như cái chân thứ ba, hoặc chân đế. Để giữ cho chim đậu dọc theo thân cây.</li><li>Gõ kiến hạt sồi là loài có tính cộng đồng rất cao. Chúng xây hàng trăm cái tổ trong thân cây sồi trong lãnh thổ của mình. Giấu hạt sồi ở những hang nhỏ trong rừng. Cùng nhau bảo vệ thức ăn, và trở về cùng một cái tổ vào mỗi mùa sinh sản.</li><li>Nếu các loài gõ kiến khác dùng mỏ gõ vào thân cây để tìm côn trùng làm thức ăn thì gõ kiến đất đào đất tìm kiếm làm thức ăn chính. Ngoài ra, chúng còn ăn cả mối và các loài côn trùng khác. Đến mùa sinh sản, cả con đực và con cái cùng dùng mỏ đào tổ và đẻ trứng trong đó.</li><li>Sphyrapicus là loài chim gõ kiến có mối liên hệ rất thân thiết với chim ruồi. Trong khi Sphyrapicus khoan lỗ vào thân cây để tìm côn trùng cho mình. Và nhựa cây cho chim ruồi thì chim ruồi đảm nhiệm nhiệm vụ xua đuổi các loài lớn hơn. Bảo vệ thức ăn cho cả hai.</li></ul></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1635870497/b93d3a473a5d2432cc845dafd1052c80/Chim_g__ki_n.jpg" />
         <pubDate>2022-03-22 17:31:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2108060358</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2108710837</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://toplist.vn/top-list/loai-chim-dep-nhat-the-gioi-1618.htm" />
         <pubDate>2022-03-23 01:39:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2108710837</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2108711885</link>
         <description><![CDATA[<div>Chim Thiên đường là loài chim thuộc họ Paradisaeidae, sống ở một số khu vực thuộc Australasia, bao gồm miền Đông Indonesia và Việt Nam. Các thành viên của họ Thiên đường được biết đến nhiều nhất có lẽ là từ những bộ lông sặc sỡ, đẹp của các con trống thuộc phần lớn các loài, được chúng sử dụng để hấp dẫn con mái (con mái có bộ lông bình thường) bằng những điệu nhảy và xòe cánh, múa đuôi. Con trống có đuôi dài và đẹp. Một số còn có chỏm lông trên đầu hay lông cánh dài sặc sỡ. Các loài chim thiên đường là một trong những loại chim biết hót cổ xưa nhất. Thuộc họ Paradisaeidae, chim thiên đường Wilson (Cicinnurus respublica) sống trên các đảo Waigeo và Batanta ở ngoài khơi West Papua, Indonesia. Loài chim này có hình dáng không thể nhầm lẫn với bộ lông bắt mắt màu đỏ thắm, vàng, xanh lá cây và xanh nước biển. Đặc biệt, chỏm đầu màu xanh ngọc của chim thiên đường Wilson không có lông mà là một nếp da trần. Cùng với hai chiếc lông đuôi dài uốn cong, nó đóng vai trò quan trọng trong việc giúp con trống hấp dẫn bạn tình.<br><br></div><div>Giống như nhiều loài chim thiên đường khác, chỉ con trống mới sở hữu dáng vẻ rực rỡ. Những con mái có bộ lông màu nâu sáng với chỏm đầu xanh thẫm. Để thu hút sự chú ý của con mái, con trống dọn sạch những chiếc lá hoặc rác vụn để tạo ra một vũ đài trên nền rừng. Giữa mặt đất phẳng, nó sẽ trình diễn bằng cách chuyền từ cành này sang cành khác, uốn cơ thể theo nhiều tư thế, xòe bộ lông óng ánh nhiều màu và hót vang. Không chỉ lắc đầu, rướn cổ, dựng ngược đuôi, đôi khi con trống còn há to miệng trước mặt con mái để thuyết phục bạn tình. Bên cạnh đó, để “ghi điểm” trong mắt con cái, con trống sẽ dọn sạch những chiếc lá hoặc rác vụn để tạo ra một vũ đài trên nền rừng. Khi đó, nó sẽ trình diễn bằng cách chuyền từ cành này sang cành khác, uốn cơ thể theo nhiều tư thế, xòe bộ lông rực rỡ của mình và hót vang.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="http://tob10.net/bai-viet/20200627/top-20-loai-chim-dep-nhat-the-gioi-166.jpg" />
         <pubDate>2022-03-23 01:39:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2108711885</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Chim sẻ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2108712250</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1635857875/a0ab61ede8fc31840eaaa27f4145ece2/t_i_xu_ng__5_.jpg" />
         <pubDate>2022-03-23 01:40:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2108712250</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2108713413</link>
         <description><![CDATA[<div>Chim Thiên đường là loài chim thuộc họ Paradisaeidae, sống ở một số khu vực thuộc Australasia, bao gồm miền Đông Indonesia và Việt Nam. Các thành viên của họ Thiên đường được biết đến nhiều nhất có lẽ là từ những bộ lông sặc sỡ, đẹp của các con trống thuộc phần lớn các loài, được chúng sử dụng để hấp dẫn con mái (con mái có bộ lông bình thường) bằng những điệu nhảy và xòe cánh, múa đuôi. Con trống có đuôi dài và đẹp. Một số còn có chỏm lông trên đầu hay lông cánh dài sặc sỡ. Các loài chim thiên đường là một trong những loại chim biết hót cổ xưa nhất. Thuộc họ Paradisaeidae, chim thiên đường Wilson (Cicinnurus respublica) sống trên các đảo Waigeo và Batanta ở ngoài khơi West Papua, Indonesia. Loài chim này có hình dáng không thể nhầm lẫn với bộ lông bắt mắt màu đỏ thắm, vàng, xanh lá cây và xanh nước biển. Đặc biệt, chỏm đầu màu xanh ngọc của chim thiên đường Wilson không có lông mà là một nếp da trần. Cùng với hai chiếc lông đuôi dài uốn cong, nó đóng vai trò quan trọng trong việc giúp con trống hấp dẫn bạn tình.<br><br></div><div>Giống như nhiều loài chim thiên đường khác, chỉ con trống mới sở hữu dáng vẻ rực rỡ. Những con mái có bộ lông màu nâu sáng với chỏm đầu xanh thẫm. Để thu hút sự chú ý của con mái, con trống dọn sạch những chiếc lá hoặc rác vụn để tạo ra một vũ đài trên nền rừng. Giữa mặt đất phẳng, nó sẽ trình diễn bằng cách chuyền từ cành này sang cành khác, uốn cơ thể theo nhiều tư thế, xòe bộ lông óng ánh nhiều màu và hót vang. Không chỉ lắc đầu, rướn cổ, dựng ngược đuôi, đôi khi con trống còn há to miệng trước mặt con mái để thuyết phục bạn tình. Bên cạnh đó, để “ghi điểm” trong mắt con cái, con trống sẽ dọn sạch những chiếc lá hoặc rác vụn để tạo ra một vũ đài trên nền rừng. Khi đó, nó sẽ trình diễn bằng cách chuyền từ cành này sang cành khác, uốn cơ thể theo nhiều tư thế, xòe bộ lông rực rỡ của mình và hót vang.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://anhchien.vn/loai-chim/imager_12646.jpg" />
         <pubDate>2022-03-23 01:40:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2108713413</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2108714200</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://toplist.vn/images/800px/chim-quy-hiem-nhat-the-gioi-33593.jpg" />
         <pubDate>2022-03-23 01:41:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2108714200</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2108716582</link>
         <description><![CDATA[<div>RẮn Thiên đường là loài chim thuộc họ Paradisaeidae, sống ở một số khu vực thuộc Australasia, bao gồm miền Đông Indonesia và Việt Nam. Các thành viên của họ Thiên đường được biết đến nhiều nhất có lẽ là từ những bộ lông sặc sỡ, đẹp của các con trống thuộc phần lớn các loài, được chúng sử dụng để hấp dẫn con mái (con mái có bộ lông bình thường) bằng những điệu nhảy và xòe cánh, múa đuôi. Con trống có đuôi dài và đẹp. Một số còn có chỏm lông trên đầu hay lông cánh dài sặc sỡ. Các loài chim thiên đường là một trong những loại chim biết hót cổ xưa nhất. Thuộc họ Paradisaeidae, chim thiên đường Wilson (Cicinnurus respublica) sống trên các đảo Waigeo và Batanta ở ngoài khơi West Papua, Indonesia. Loài chim này có hình dáng không thể nhầm lẫn với bộ lông bắt mắt màu đỏ thắm, vàng, xanh lá cây và xanh nước biển. Đặc biệt, chỏm đầu màu xanh ngọc của chim thiên đường Wilson không có lông mà là một nếp da trần. Cùng với hai chiếc lông đuôi dài uốn cong, nó đóng vai trò quan trọng trong việc giúp con trống hấp dẫn bạn tình.<br><br></div><div>Giống như nhiều loài chim thiên đường khác, chỉ con trống mới sở hữu dáng vẻ rực rỡ. Những con mái có bộ lông màu nâu sáng với chỏm đầu xanh thẫm. Để thu hút sự chú ý của con mái, con trống dọn sạch những chiếc lá hoặc rác vụn để tạo ra một vũ đài trên nền rừng. Giữa mặt đất phẳng, nó sẽ trình diễn bằng cách chuyền từ cành này sang cành khác, uốn cơ thể theo nhiều tư thế, xòe bộ lông óng ánh nhiều màu và hót vang. Không chỉ lắc đầu, rướn cổ, dựng ngược đuôi, đôi khi con trống còn há to miệng trước mặt con mái để thuyết phục bạn tình. Bên cạnh đó, để “ghi điểm” trong mắt con cái, con trống sẽ dọn sạch những chiếc lá hoặc rác vụn để tạo ra một vũ đài trên nền rừng. Khi đó, nó sẽ trình diễn bằng cách chuyền từ cành này sang cành khác, uốn cơ thể theo nhiều tư thế, xòe bộ lông rực rỡ của mình và hót vang.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="http://media.tinmoi.vn/2014/07/30/ho-mang-chua-6.jpg" />
         <pubDate>2022-03-23 01:42:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2108716582</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2108719140</link>
         <description><![CDATA[<div>Chim Thiên đường là loài chim thuộc họ Paradisaeidae, sống ở một số khu vực thuộc Australasia, bao gồm miền Đông Indonesia và Việt Nam. Các thành viên của họ Thiên đường được biết đến nhiều nhất có lẽ là từ những bộ lông sặc sỡ, đẹp của các con trống thuộc phần lớn các loài, được chúng sử dụng để hấp dẫn con mái (con mái có bộ lông bình thường) bằng những điệu nhảy và xòe cánh, múa đuôi. Con trống có đuôi dài và đẹp. Một số còn có chỏm lông trên đầu hay lông cánh dài sặc sỡ. Các loài chim thiên đường là một trong những loại chim biết hót cổ xưa nhất. Thuộc họ Paradisaeidae, chim thiên đường Wilson (Cicinnurus respublica) sống trên các đảo Waigeo và Batanta ở ngoài khơi West Papua, Indonesia. Loài chim này có hình dáng không thể nhầm lẫn với bộ lông bắt mắt màu đỏ thắm, vàng, xanh lá cây và xanh nước biển. Đặc biệt, chỏm đầu màu xanh ngọc của chim thiên đường Wilson không có lông mà là một nếp da trần. Cùng với hai chiếc lông đuôi dài uốn cong, nó đóng vai trò quan trọng trong việc giúp con trống hấp dẫn bạn tình.<br><br></div><div>Giống như nhiều loài chim thiên đường khác, chỉ con trống mới sở hữu dáng vẻ rực rỡ. Những con mái có bộ lông màu nâu sáng với chỏm đầu xanh thẫm. Để thu hút sự chú ý của con mái, con trống dọn sạch những chiếc lá hoặc rác vụn để tạo ra một vũ đài trên nền rừng. Giữa mặt đất phẳng, nó sẽ trình diễn bằng cách chuyền từ cành này sang cành khác, uốn cơ thể theo nhiều tư thế, xòe bộ lông óng ánh nhiều màu và hót vang. Không chỉ lắc đầu, rướn cổ, dựng ngược đuôi, đôi khi con trống còn há to miệng trước mặt con mái để thuyết phục bạn tình. Bên cạnh đó, để “ghi điểm” trong mắt con cái, con trống sẽ dọn sạch những chiếc lá hoặc rác vụn để tạo ra một vũ đài trên nền rừng. Khi đó, nó sẽ trình diễn bằng cách chuyền từ cành này sang cành khác, uốn cơ thể theo nhiều tư thế, xòe bộ lông rực rỡ của mình và hót vang.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://thuthuatnhanh.com/wp-content/uploads/2020/09/hinh-anh-chim-cong-bay.jpg" />
         <pubDate>2022-03-23 01:44:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2108719140</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2108725023</link>
         <description><![CDATA[<div>blà một trong số những loài động vật được tạo hóa ưu đãi với đôi cánh và một số loài có thể bay lượn trên bầu trời. Trong thế giới tự nhiên, có rất nhiều loài động vật tìm cách ngụy trang hoặc hòa lẫn vào môi trường xung quanh để tránh kẻ thù. Nhưng loài chim thì khác, chúng lại muốn trở nên thật nổi bật và tự hào khoe khoang vẻ đẹp lộng lẫy của mình với các “đồng loại”. Hơn nữa, những cá thể chim này còn có tập tính khá thú vị và có phần kỳ quặc, đặc biệt là vào mùa giao phối. Cùng chiêm ngưỡng vẻ đẹp của những loại chim dưới đây và những đặc tính hài hước của chúng nhé.<br><br></div><div><strong><br>1. Chim Thiên đường<br></strong><br></div><div>Chim Thiên đường là loài chim thuộc họ Paradisaeidae, sống ở một số khu vực thuộc Australasia, bao gồm miền Đông Indonesia và Việt Nam. Các thành viên của họ Thiên đường được biết đến nhiều nhất có lẽ là từ những bộ lông sặc sỡ, đẹp của các con trống thuộc phần lớn các loài, được chúng sử dụng để hấp dẫn con mái (con mái có bộ lông bình thường) bằng những điệu nhảy và xòe cánh, múa đuôi. Con trống có đuôi dài và đẹp. Một số còn có chỏm lông trên đầu hay lông cánh dài sặc sỡ. Các loài chim thiên đường là một trong những loại chim biết hót cổ xưa nhất. Thuộc họ Paradisaeidae, chim thiên đường Wilson (Cicinnurus respublica) sống trên các đảo Waigeo và Batanta ở ngoài khơi West Papua, Indonesia. Loài chim này có hình dáng không thể nhầm lẫn với bộ lông bắt mắt màu đỏ thắm, vàng, xanh lá cây và xanh nước biển. Đặc biệt, chỏm đầu màu xanh ngọc của chim thiên đường Wilson không có lông mà là một nếp da trần. Cùng với hai chiếc lông đuôi dài uốn cong, nó đóng vai trò quan trọng trong việc giúp con trống hấp dẫn bạn tình.<br><br></div><div>Giống như nhiều loài chim thiên đường khác, chỉ con trống mới sở hữu dáng vẻ rực rỡ. Những con mái có bộ lông màu nâu sáng với chỏm đầu xanh thẫm. Để thu hút sự chú ý của con mái, con trống dọn sạch những chiếc lá hoặc rác vụn để tạo ra một vũ đài trên nền rừng. Giữa mặt đất phẳng, nó sẽ trình diễn bằng cách chuyền từ cành này sang cành khác, uốn cơ thể theo nhiều tư thế, xòe bộ lông óng ánh nhiều màu và hót vang. Không chỉ lắc đầu, rướn cổ, dựng ngược đuôi, đôi khi con trống còn há to miệng trước mặt con mái để thuyết phục bạn tình. Bên cạnh đó, để “ghi điểm” trong mắt con cái, con trống sẽ dọn sạch những chiếc lá hoặc rác vụn để tạo ra một vũ đài trên nền rừng. Khi đó, nó sẽ trình diễn bằng cách chuyền từ cành này sang cành khác, uốn cơ thể theo nhiều tư thế, xòe bộ lông rực rỡ của mình và hót vang.<br><br></div><div><em><br>Chim Thiên đường</em><br><br></div><div><em><br>Chim Thiên đường<br></em><br></div><div><strong><br>2. Chim công – Khổng tước<br></strong><br></div><div>Chim công hay còn gọi là cuông, nộc dung, hay khổng tước (Pavo muticus) – loài chim thuộc họ Trĩ, được tìm thấy trong các khu rừng nhiệt đới ở Đông Nam Á, đặc biệt là Ấn Độ Chim công là loài chim được xếp vào hàng đẹp nhất thế giới. Đây là loài chim sở hữu bộ lông sắc sỡ, óng ánh và đuôi rất dài, mỗi khi xòe giống chiếc quạt tuyệt đẹp. Toàn bộ lông đuôi của chim khổng tước trống có thể lên đến 200 chiếc và phần cuối của mỗi chiếc lông được kết thúc bằng chấm bi màu nâu xanh, vàng…Bên cạnh đó, Khổng tước còn là loài mang ý nghĩa và biểu tượng vô cùng cao quý. Chim Công là một loài chim với nhiều ý nghĩa trong nền văn hóa Á Đông, là biểu tượng cho vẻ đẹp quyền quý và sang trọng. Do vậy mà chúng được nuôi làm cảnh trong các gia tộc giàu có ở Trung Quốc hay Ấn Độ.<br><br></div><div>Trong Phật giáo loài chim này luôn được gắn liền với Khổng Tước Minh Quân Bồ Tát. Do vậy mà sự hiện thân của loài chim này cũng tượng trưng cho ngài mang đến sự bình an, may mắn, cát tường cho nhân gian. Ấn Độ là một nước đa dạng về các nền văn hóa thì loài chim Công được đại diện cho vẻ đẹp tuyệt mĩ, sự may mắn, giàu sang và phú quý của nữ thần Lakshmi. Từ những ý nghĩa tốt đẹp ấy, ngày nay nhiều người thích thú lựa chon đôi chim công (chim công luôn được làm thành một đôi, con trống, con mái) để đặt trong nhà tạo phong thủy may mắn, tài lộc và cuộc sống hôn nhân vợ chồng viên mãn.<br><br></div><div><em><br>Chim công – Khổng tước<br></em><br></div><div><strong><br>3. Hồng hạc – Phoenicopteridae<br></strong><br></div><div>Hồng hạc là tên chỉ các loài chim lội nước thuộc họ Phoenicopteridae, bộ Phoenicopteriformes. Chúng sống ở cả Tây bán cầu và Đông bán cầu, nhưng sống ở Tây bán cầu nhiều hơn. Hồng hạc là loài chim cao nhất thế giới, nổi bật với bộ lông hồng kỳ lạ và vô cùng cao quý. Đặc biệt, hồng hạc là loài chim chỉ đứng bằng một chân, một điều vô cùng kỳ lạ. Chim hồng hạc là loài chim lớn có thể nhận dạng với cái cổ dài, chân dính và lông màu hồng hoặc đỏ. Màu hồng và màu đỏ của lông chim hồng hạc đến từ việc ăn các sắc tố có trong tảo và động vật không xương sống. Chim hồng hạc là loài chim nước, vì vậy chúng sống trong và xung quanh đầm hoặc hồ. Vì vậy cơ thể của chim có khả năng bị nhiễm mặn hoặc kiềm. Chim hồng hạc thường không di cư, nhưng những thay đổi về khí hậu hoặc mực nước trong khu vực sinh sản của chúng sẽ khiến chúng phải di dời.<br><br></div><div>Mức độ caroten (sắc tố hữu cơ) trong thức ăn của chúng khác nhau ở các khu vực khác nhau trên thế giới, đó là lý do tại sao chim hồng hạc Mỹ thường có màu đỏ tươi và màu cam, trong khi những con hồng hạc nhỏ của hồ Nakuru bị hạn hán ở miền trung Kenya có màu hồng nhạt hơn. Nếu một con hồng hạc ngừng ăn thức ăn có chứa carotenoids, lông mới của nó sẽ bắt đầu mọc với màu nhạt hơn nhiều, và lông đỏ của nó cuối cùng sẽ rụng đi. Lông lột xác mất màu hồng nhạt. Những gì một con hồng hạc ăn phụ thuộc vào loại mỏ mà nó có. Để ăn, chim hồng hạc sẽ khuấy động đáy hồ bằng chân và thả mỏ của chúng xuống bùn và nước để tìm thức ăn.<br><br></div><div><em><br>Hồng hạc – Phoenicopteridae<br></em><br></div><div><strong><br>4. Trĩ vàng – Chrysolophus pictus<br></strong><br></div><div>Trĩ vàng là loài chim có nguồn gốc từ châu Á, mà chủ yếu miền Tây Trung Hoa. Tuy nhiên, Trĩ vàng cũng xuất hiện ở một số nơi ở Châu Âu như Anh, Pháp… Ở Việt Nam, Trĩ vàng được nuôi làm cảnh với cái tên “chim trĩ Nhật Bản”. Chim trĩ vàng có tên khoa học là Chrysolophus pictus. Trĩ vàng là một trong những loài có bộ lông rực rỡ nhất trong họ nhà chim với “mái tóc” màu vàng rực rỡ, kết hợp với màu đỏ tươi và xanh lá cây đặc trưng. Đặc biệt, những con chim trống sở hữu chiếc đuôi dài 90-105cm vô cùng ấn tượng, chiếm khoảng 2/3 chiều dài cơ thể. Chim trĩ vàng ít khi bay và thường dành phần lớn thời gian ở trên mặt đất để tìm kiếm thức ăn như hoa quả, hạt giống và côn trùng. Trĩ vàng tượng trưng cho sự may mắn và thịnh vượng. Chim trống trưởng thành có chiều dài cơ thể khoảng từ 90 đến 105cm, riêng cái đuôi đã chiếm hết 2/3 chiều dài tổng thể và trọng lượng khoảng 900g, sải cánh khoảng 70cm.<br><br></div><div>Đây là loài chim không thể nhầm lẫn với bất kỳ loài nào khác vì bộ lông hết sức đặc biệt. Nó có một chùm lông mào màu vàng trên đỉnh đầu và phía trên lưng sau, phía dưới cổ và bụng là một màu đỏ tươi rực rỡ. Bắt đầu từ phía sau tai kéo dài xuống cổ có hình một cái quạt với các vệt màu cam và đen xen kẽ nhau, chưa hết phần lưng trên còn có một màu xanh đậm kèm theo các vệt đen xen kẽ. Đôi mắt có màu vàng sáng, chân và mỏ đều có màu vàng đục. Nó có một cái đuôi khá dài và to màu nâu xám kèm theo những chấm bi màu đen. Những màu ở đuôi này cũng được xuất hiện ở phần lông cánh. Chim mái ít màu hơn và cũng không đẹp như chim trống, với một bộ lông màu nâu nhạt, rất giống những con gà lôi. Chim mái tối màu và cơ thể mảnh mai hơn chim trống. Môi trường sống chủ yếu ngoài tự nhiên là các khu rừng rậm thường sẽ có các cây lá kim và các thân gỗ, phía dưới là những thảm thực vật dày đặc, đây được cho là môi trường yêu thích để Trĩ vàng có thể ẩn náu và không dễ dàng bị phát hiện bởi bộ lông nhiều màu sắc.<br><br></div><div><em><br>Trĩ vàng – Chrysolophus pictus<br></em><br></div><div><strong><br>5. Vẹt Macaw – The Lear’s Macaw<br></strong><br></div><div>Vẹt Macaw hay còn gọi là Vẹt đuôi dài có đuôi dài, từ nhỏ đến lớn, thường sặc sỡ màu sắc được phân bố chủ yếu ở Châu Mỹ. Những con vẹt này sở hữu bộ lông xanh vô cùng đẹp và lấp lánh. Vẹt Macaw là loài chim rất chung thủy. Vẹt Macaw (phát âm tiếng Việt như là Vẹt Mắc-ca) hay còn gọi là Vẹt đuôi dài là tập hợp đa dạng các loài vẹt có đuôi dài, từ nhỏ đến lớn, thường sặc sỡ màu sắc và thuộc về phân họ Vẹt Tân thế giới Arinae phân bố phần lớn ở Nam Mỹ. Nhiều loài trong số chúng được ưa chuộng để nuôi làm chim cảnh. Những con vẹt Macaw nguồn gốc ở Mexico, Trung Mỹ, Nam Mỹ, và trước đây là vùng biển Caribbe. Phần lớn các loài có liên quan đến môi trường rừng rậm, đặc biệt là rừng nhiệt đới, nhưng những loài khác thích môi trường sống như rừng hoặc thảo nguyên.<br><br></div><div>Những loài chim này thường to lớn, tối màu (thường là màu đen), đôi khi có các bản vá trên khuôn mặt nhỏ trong một số loài. Những con vẹt lớn nhất có chiều dài và sải cánh rộng là vẹt Macaw Xanh. Các con vẹt nặng nhất là vẹt Buffon, mặc dù thực tế các con vẹt nặng nhất là con vẹt Kakapo thì lại không thuộc nhóm vẹt này. Thành viên nhỏ nhất trong họ này là vẹt Macaw đỏ, là loài vẹt không lớn hơn một số loài parakeet của chi Aratinga. Vẹt đuôi dài, giống như vẹt khác, chim tu-căng (toucans) và chim gõ kiến, có các ngón chân của nó đầu tiên và thứ tư chỉ về phía sau. Đa số các loài vẹt đuôi dài đang nguy cấp trong tự nhiên. Sáu loài đã tuyệt chủng, và loài Spix Macaw hiện nay được coi là đã tuyệt chủng trong tự nhiên. Các con vẹt Macaw lục lam cũng có thể đã tuyệt chủng, chỉ với hai cá thể đáng tin cậy của nhìn thấy trong thế kỷ 20. Những vấn đề lớn nhất đe dọa vẹt là tốc độ nhanh chóng của nạn phá rừng và đánh bẫy trái phép.<br><br></div><div><em><br>Vẹt Macaw – The Lear’s Macaw<br></em><br></div><div><strong><br>6. Tucan mỏ lục (Ramphastos sulfuratus)<br></strong><br></div><div>Tu-căng Tucan có tên khoa học là (Ramphastos sulfuratus), là một loài chim đầy màu sắc và cũng là loài chim quốc gia ở Belize. Ngoài ra chúng còn được tìm thấy từ miền Nam Mexico đến Venezuela và Colombia. Đây là một con chim cỡ lớn có chiều dài cơ thể khoảng từ 42 – 55cm, riêng cái mỏ dài và lớn trông có vẻ gồ ghề đầy màu sắc của nó đã chiếm gần bằng 1/3 chiều dài cơ thể, và cái mỏ thường đạt đến chiều dài khoảng từ 12-15cm, trên thực tế cái mỏ được tạo thành như là một khối xương xốp, bên trong rỗng và bên ngoài được che phủ bởi lớp keratin, đây là một loại protein rất nhẹ và cứng. còn cân nặng cơ thể loài chim tucan này là từ 380-500g. Bộ lông của tucan chủ yếu là màu đen, dưới cổ thường có màu vàng hoặc trắng, cộng thêm màu đỏ ở phần dưới ngực và một phần đầu của cái đuôi, chân có màu xanh. Chúng sinh sống rải rác ở những tán cây của khu rừng nhiệt đới, chúng có thể sinh sống ở nơi có độ cao.<br><br></div><div>Trong rừng chim tucan ít khi sinh sống một mình, chúng bay theo từng đàn nhỏ khoảng từ 6 đến 12 cá thể thông qua các khu rừng nhiệt đới và vùng đất thấp. Chuyến bay của chúng khá chậm chạp và có khoảng cách bay thường là ngắn. Khi chúng ở trên các cành cây, chúng di chuyển bằng cách nhảy từ cành này sang cành khác. Chúng sống chung với nhau theo nhóm và thường chia sẻ nơi sinh sống từ các lỗ hẹp trên cây, hiếm khi nhìn thấy chúng một mình. Các con chim trong một gia đình thường đấu với nhau bằng mỏ, và còn ném trái cây vào miệng của nhau giống như chúng đang chơi bóng vậy. Đôi khi chúng trở nên hung dữ với một số loài chim nhỏ khác. Loài chim Tucan có chế độ ăn uống khá đa dạng, hầu hết các loại trái cây dường như chiếm phần lớn khẩu phần ăn của chúng, ngoài ra chúng còn ăn cả côn trùng, các trứng chim nhỏ và thằn lằn. Khi ăn trái cây nó thường dùng mỏ để phân tích xem trái cây đó có ăn được không trước khi di chuyển loại quả đó vào miệng và nuốt trọn.<br><br></div><div><em><br>Tucan mỏ lục (Ramphastos sulfuratus)<br></em><br></div><div><strong><br>7. Uyên ương – Aix sponsa<br></strong><br></div><div>Uyên ương là một loài chim di trú, nằm giữa hai nhóm vịt khoang và vịt mò. Được đặt tên là Uyên ương vì loài chim này luôn luôn có đôi, có cặp. Chim trống có bộ lông sặc sỡ hơn chim cái, với bộ lông nhiều màu, có các vệt màu hài hòa và đẹp mắt. Con trống (còn gọi là uyên) có bộ lông sặc sỡ khó nhầm lẫn. Nó có mỏ đỏ, vệt lông hình lưỡi liềm lớn màu trắng phía trên mắt và mặt đỏ cùng “ria”. Ngực màu tía với hai sọc trắng theo chiều dọc, hai hông hung hung đỏ, với hai cụm lông giống như hai lá buồm màu da cam ở lưng. Con mái (còn gọi là ương) trông tương tự như con mái của vịt Carolina, với vành khuyên màu trắng quanh mắt và sọc chạy ngược về phía sau từ mắt, nhưng nhạt dần, nó có sọc nhỏ màu trắng bên hông và đầu mỏ nhạt màu.<br><br></div><div>Loài này đã từng phổ biến ở miền đông châu Á, nhưng sự xuất khẩu ở quy mô lớn và sự phá hủy môi trường sinh sống miền rừng của nó đã làm suy giảm quần thể uyên ương tại miền đông Nga và tại Trung Quốc xuống dưới 1.000 đôi, mặc dù tại Nhật Bản có thể còn khoảng 5.000 đôi. Trong tự nhiên, uyên ương sinh sản trong các khu vực nhiều cây cối gần các ao, hồ nước nông, đầm lầy. Chúng làm tổ thành các hốc trên cây, gần với mặt nước. Con trống không chăm lo gì đến việc ấp và bảo vệ trứng, nó để mặc cho con mái tự làm lấy việc này. Tuy nhiên, trái với các loài vịt khác, uyên ương trống không bỏ rơi gia đình, nó chỉ tạm thời rời bỏ con mái trong thời gian ấp trứng và sẽ quay trở lại khi trứng đã nở. Ngay sau khi uyên ương con nở ra, mẹ chúng bay xuống đất và kêu để giục các con rời tổ. Sau đó các uyên ương con sẽ theo mẹ đến một vùng nước gần đó, nơi chúng sẽ thường xuyên gặp mặt cha mình – lúc này uyên ương cha đã quay trở về và bảo vệ con cái cùng mẹ chúng. Uyên ương kiếm ăn bằng cách bơi lội hay đi lại trên mặt đất. Chúng chủ yếu ăn các loại rau cỏ và hạt, đặc biệt là quả sồi. Chúng đi kiếm ăn lúc chạng vạng hay rạng đông, còn ban ngày thì đậu trên cây hay ở dưới mặt đất để nghỉ ngơi.<br><br></div><div><em><br>Uyên ương – Aix sponsa<br></em><br></div><div><strong><br>8. Chào mào đỏ phương Bắc – The Northern Cardinal<br></strong><br></div><div>Chào mào là loài chim đặc biệt đúng như tên gọi của nó, việc sở hữu bộ lông đỏ rực với cái mào cao và đỏ như bộ lông của nó. Chào mào đỏ phương Bắc phân bố chủ yếu ở vùng cực Bắc của Trái Đất, bên cạnh bộ lông rực rỡ giữa màu trắng của tuyết, chào mào còn có giọng hót vô cùng ngưỡng mộ. Chào mào đỏ phương bắc có bộ lông màu đỏ đặc trưng ở con đực và màu nâu nhạt ở con cái nhưng con chim do tổ chức Inland Bird Banding Association (IBBA) chụp hình vào năm 2014 có màu sắc khác nhau ở mỗi bên cơ thể. Theo IBBA, đây là kết quả của hiện tượng cá thể lưỡng tính (bilateral gynandromorphism). Con chim trải qua hiện tượng này có cả buồng trứng và tinh hoàn.<br><br></div><div>IBBA cho biết con chim quay trở lại Texas vào mỗi mùa đông. Sau khi IBBA chia sẻ ảnh chụp con chim trên Facebook vào cuối tháng 11, màu lông độc đáo của nó thu hút hơn 58.000 lượt chia sẻ và 6.800 bình luận. Dù hiếm gặp, hiện tượng cá thể lưỡng tính xảy ra ở cả côn trùng, với tỷ lệ 1/10.000 con bướm. Hiện tượng này được phát hiện lần đầu tiên vào thế kỷ 18 qua cá thể tôm hùm hai màu. Sau đó, các nhà khoa học đã đưa thêm thêm cua, ong, rắn, và vài loài chim vào danh sách. Chào mào đỏ phương bắc phân bố rộng rãi từ miền nam Canada tới Mexico. Loài chim biết hót này có chiều dài cơ thể 21 cm. Chúng chủ yếu ăn hạt, côn trùng và trái cây. Chim trống có tính chiếm hữu lãnh thổ. Chào mào đỏ phương bắc thường đẻ 3 – 4 quả trứng mỗi lứa.<br><br></div><div><em><br>Chào mào đỏ phương Bắc – The Northern Cardinal<br></em><br></div><div><strong><br>9. Bói cá<br></strong><br></div><div>Bói cá là một nhóm các loài chim có kích thước nhỏ và màu sắc rực rỡ thuộc Bộ Sả. Chúng phân bố rộng khắp các lục địa trên thế giới với hơn 90 loại, và hầu hết các loài được tìm thấy ngoài châu Mỹ. Trong số các loài chim, có lẽ bói cá là loài có hình dáng khá kỳ lạ bởi chiếc mỏ dài và chiếc đuôi ngắn, nhưng bù lại bói cá lại có khả năng săn mồi siêu hạng nhờ tốc độ phi rất nhanh và đôi mắt vô cùng tinh. Tuy nhiên, bói cá được khoác trên mình bộ lông vô cùng sặc sỡ và đẹp mắt. Trong khi chim bói cá thường được tìm thấy ở các khu vực có sông và hồ, hơn một nửa các loài trên thế giới được tìm thấy ở suối trong rừng. Chúng cũng chiếm một loạt các môi trường sống khác. Chim bói cá lưng đỏ của Úc sống trong những sa mạc khô cằn nhất, tuy nhiên bói cá không xuất hiện ở những sa mạc khô cằn khác như Sahara. Các loài khác sống cao trên núi, hoặc trong rừng mở và một số loài sống trên đảo san hô nhiệt đới. Nhiều loài đã thích nghi với môi trường sống bị biến đổi của con người, đặc biệt là những loài thích nghi với rừng và có thể được tìm thấy ở các khu vực trồng trọt và nông nghiệp, cũng như các công viên và vườn trong thị trấn và thành phố.<br><br></div><div>Là một trong những nhóm chim cổ chiếm lĩnh hầu hết các vùng đất trên thế giới, chim bói cá ở Việt Nam có rất nhiều loài với màu lông biếc rực rỡ. Có khoảng 90 loài chim bói cá trên toàn thế giới. Việt Nam phát hiện 12 loài. Trong đó có loài chim bí ẩn “Bồng chanh rừng Alcedo hercules” trên hình vẽ nằm trong Sách đỏ. Chúng sống ở Lai Châu, Lào Cai, Hà Tĩnh, Gia Lai. Phần trên cơ thể chim trưởng thành có nâu đen nhạt (mút lông xanh nhạt), giữa lưng và lông xanh da trời óng ánh. Hai bên cổ có vệt trắng. Má và tai đen nhạt có vệt xanh. Sả mỏ rộng Halcyon capensis chụp tại khu vực quần đảo Bà Lụa, Kiên Giang, loài này rất hiếm gặp. Chúng sống định cư ở rừng dọc theo bờ sông, suối và ở độ cao 1.200 m. Ngoài ra chúng còn ở khu vực đồng bằng, gần ao hồ, cửa sông ven biển và rừng ngập nước.<br><br></div><div><em><br>Bói cá<br></em><br></div><div><strong><br>10. Sẻ đất màu – Passerina ciris<br></strong><br></div><div>Sẻ đất màu là một loại chim nhỏ thuộc họ hồng tước. Sẻ đất màu được biết đến với thân hình nhỏ bé, nhưng được khoác bộ “áo” toàn các màu tươi sáng và là một trong những kiệt tác của tự nhiên. Không phải ngẫu nhiên, Sẻ đất màu được coi là loài chim đẹp nhất Bắc Mỹ. Tuy nhiên, với nạn săn bắn động vật bừa bãi và trái phép, Sẻ đất đang có nguy cơ tuyệt chủng. Loài chim này sinh sống ở Nam Phi. Là một loài chim sẻ có kích cỡ trung bình thân dài 14-16 cm, chúng có bộ lông nổi bật, bao gồm cả sọc đầu nhợt ở cả chim trống và chim mái. Màu bộ lông chủ yếu là màu xám, nâu và màu hạt dẻ, và chim trống có một số dấu đậm màu đen và trắng trên đầu và cổ. Loài này sinh sống ở vùng thảo nguyên bán khô cằn, khu vực canh tác, và các thị thị, và kéo dài từ bờ biển trung bộ Angola đến phía Đông Nam Phi và Swaziland. Ba phân loài được phân biệt ở các phần khác nhau trong phạm vi của loài.<br><br></div><div>Loài chim sẻ này chủ yếu ăn hạt, và cũng ăn phần mềm của cây cối và côn trùng. Chúng thường sinh sản trong nhóm, và khi vào mùa sinh sản chúng tập trung thành các đàn du mục lớn để di chuyển tìm kiếm thực phẩm. Chúng xây tổ trong một cây, một bụi cây, một khoang rỗng, hoặc tổ không được sử dụng của loài khác. Một tổ hình bát điển hình có từ ba hoặc bốn quả trứng, và cả chim bố và chim mẹ đều tham gia vào việc xây tổ và nuôi chim con. Loài chim này là loài phổ biến trong hầu hết phạm vi phân bố và cùng tồn tại thành công trong môi trường sống đô thị với hai loài họ hàng của chúng, Passer diffusus và sẻ nhà, loài chim được du nhập. Dân số của loài chim sẻ này không được ghi nhận giảm đáng kể và không bị đe dọa nghiêm trọng bởi hoạt động của con người.<br><br></div><div><em><br>Sẻ đất màu – Passerina ciris<br></em><br></div><div><a href="https://top10dieuhay.com/"><strong>Chim là loài duy nhất có lông vũ, và tuyệt đại đa số loài lông vũ đều biết bay. Đó là đặc điểm để phân biệt chim với các loài khác.Trên đây là 10 loài chim đẹp nhất thế giới. Những loài chim này có bộ cánh sặc sỡ nhất, tô điểm cho vẻ đẹp của thiên nhiên. Hi vọng bài viết sẽ đem lại thông tin bổ ích cho các bạn.<br></strong></a><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://baoquocte.vn/stores/news_dataimages/huynguyen/032022/18/15/cong-nghe-bao-ton-loai-ca-lon-nhat-the-gioi.jpg?rt=20220318150337" />
         <pubDate>2022-03-23 01:47:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2108725023</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2108731348</link>
         <description><![CDATA[<div>Cá nhà táng đất</div>]]></description>
         <enclosure url="https://www.tindachieu.com/news/wp-content/uploads/2013/02/canhata.jpg" />
         <pubDate>2022-03-23 01:51:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2108731348</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2108758937</link>
         <description><![CDATA[<div><br></div><div>Chim là một trong số những loài động vật được tạo hóa ưu đãi với đôi cánh và một số loài có thể bay lượn trên bầu trời. Trong thế giới tự nhiên, có rất nhiều loài động vật tìm cách ngụy trang hoặc hòa lẫn vào môi trường xung quanh để tránh kẻ thù. Nhưng loài chim thì khác, chúng lại muốn trở nên thật nổi bật và tự hào khoe khoang vẻ đẹp lộng lẫy của mình với các “đồng loại”. Hơn nữa, những cá thể chim này còn có tập tính khá thú vị và có phần kỳ quặc, đặc biệt là vào mùa giao phối. Cùng chiêm ngưỡng vẻ đẹp của những loại chim dưới đây và những đặc tính hài hước của chúng nhé.<br><br></div><div><strong><br>1. Chim Thiên đường<br></strong><br></div><div>Chim Thiên đường là loài chim thuộc họ Paradisaeidae, sống ở một số khu vực thuộc Australasia, bao gồm miền Đông Indonesia và Việt Nam. Các thành viên của họ Thiên đường được biết đến nhiều nhất có lẽ là từ những bộ lông sặc sỡ, đẹp của các con trống thuộc phần lớn các loài, được chúng sử dụng để hấp dẫn con mái (con mái có bộ lông bình thường) bằng những điệu nhảy và xòe cánh, múa đuôi. Con trống có đuôi dài và đẹp. Một số còn có chỏm lông trên đầu hay lông cánh dài sặc sỡ. Các loài chim thiên đường là một trong những loại chim biết hót cổ xưa nhất. Thuộc họ Paradisaeidae, chim thiên đường Wilson (Cicinnurus respublica) sống trên các đảo Waigeo và Batanta ở ngoài khơi West Papua, Indonesia. Loài chim này có hình dáng không thể nhầm lẫn với bộ lông bắt mắt màu đỏ thắm, vàng, xanh lá cây và xanh nước biển. Đặc biệt, chỏm đầu màu xanh ngọc của chim thiên đường Wilson không có lông mà là một nếp da trần. Cùng với hai chiếc lông đuôi dài uốn cong, nó đóng vai trò quan trọng trong việc giúp con trống hấp dẫn bạn tình.<br><br></div><div>Giống như nhiều loài chim thiên đường khác, chỉ con trống mới sở hữu dáng vẻ rực rỡ. Những con mái có bộ lông màu nâu sáng với chỏm đầu xanh thẫm. Để thu hút sự chú ý của con mái, con trống dọn sạch những chiếc lá hoặc rác vụn để tạo ra một vũ đài trên nền rừng. Giữa mặt đất phẳng, nó sẽ trình diễn bằng cách chuyền từ cành này sang cành khác, uốn cơ thể theo nhiều tư thế, xòe bộ lông óng ánh nhiều màu và hót vang. Không chỉ lắc đầu, rướn cổ, dựng ngược đuôi, đôi khi con trống còn há to miệng trước mặt con mái để thuyết phục bạn tình. Bên cạnh đó, để “ghi điểm” trong mắt con cái, con trống sẽ dọn sạch những chiếc lá hoặc rác vụn để tạo ra một vũ đài trên nền rừng. Khi đó, nó sẽ trình diễn bằng cách chuyền từ cành này sang cành khác, uốn cơ thể theo nhiều tư thế, xòe bộ lông rực rỡ của mình và hót vang.<br><br></div><div><em><br>Chim Thiên đường</em><br><br></div><div><em><br>Chim Thiên đường<br></em><br></div><div><strong><br>2. Chim công – Khổng tước<br></strong><br></div><div>Chim công hay còn gọi là cuông, nộc dung, hay khổng tước (Pavo muticus) – loài chim thuộc họ Trĩ, được tìm thấy trong các khu rừng nhiệt đới ở Đông Nam Á, đặc biệt là Ấn Độ Chim công là loài chim được xếp vào hàng đẹp nhất thế giới. Đây là loài chim sở hữu bộ lông sắc sỡ, óng ánh và đuôi rất dài, mỗi khi xòe giống chiếc quạt tuyệt đẹp. Toàn bộ lông đuôi của chim khổng tước trống có thể lên đến 200 chiếc và phần cuối của mỗi chiếc lông được kết thúc bằng chấm bi màu nâu xanh, vàng…Bên cạnh đó, Khổng tước còn là loài mang ý nghĩa và biểu tượng vô cùng cao quý. Chim Công là một loài chim với nhiều ý nghĩa trong nền văn hóa Á Đông, là biểu tượng cho vẻ đẹp quyền quý và sang trọng. Do vậy mà chúng được nuôi làm cảnh trong các gia tộc giàu có ở Trung Quốc hay Ấn Độ.<br><br></div><div>Trong Phật giáo loài chim này luôn được gắn liền với Khổng Tước Minh Quân Bồ Tát. Do vậy mà sự hiện thân của loài chim này cũng tượng trưng cho ngài mang đến sự bình an, may mắn, cát tường cho nhân gian. Ấn Độ là một nước đa dạng về các nền văn hóa thì loài chim Công được đại diện cho vẻ đẹp tuyệt mĩ, sự may mắn, giàu sang và phú quý của nữ thần Lakshmi. Từ những ý nghĩa tốt đẹp ấy, ngày nay nhiều người thích thú lựa chon đôi chim công (chim công luôn được làm thành một đôi, con trống, con mái) để đặt trong nhà tạo phong thủy may mắn, tài lộc và cuộc sống hôn nhân vợ chồng viên mãn.<br><br></div><div><em><br>Chim công – Khổng tước<br></em><br></div><div><strong><br>3. Hồng hạc – Phoenicopteridae<br></strong><br></div><div>Hồng hạc là tên chỉ các loài chim lội nước thuộc họ Phoenicopteridae, bộ Phoenicopteriformes. Chúng sống ở cả Tây bán cầu và Đông bán cầu, nhưng sống ở Tây bán cầu nhiều hơn. Hồng hạc là loài chim cao nhất thế giới, nổi bật với bộ lông hồng kỳ lạ và vô cùng cao quý. Đặc biệt, hồng hạc là loài chim chỉ đứng bằng một chân, một điều vô cùng kỳ lạ. Chim hồng hạc là loài chim lớn có thể nhận dạng với cái cổ dài, chân dính và lông màu hồng hoặc đỏ. Màu hồng và màu đỏ của lông chim hồng hạc đến từ việc ăn các sắc tố có trong tảo và động vật không xương sống. Chim hồng hạc là loài chim nước, vì vậy chúng sống trong và xung quanh đầm hoặc hồ. Vì vậy cơ thể của chim có khả năng bị nhiễm mặn hoặc kiềm. Chim hồng hạc thường không di cư, nhưng những thay đổi về khí hậu hoặc mực nước trong khu vực sinh sản của chúng sẽ khiến chúng phải di dời.<br><br></div><div>Mức độ caroten (sắc tố hữu cơ) trong thức ăn của chúng khác nhau ở các khu vực khác nhau trên thế giới, đó là lý do tại sao chim hồng hạc Mỹ thường có màu đỏ tươi và màu cam, trong khi những con hồng hạc nhỏ của hồ Nakuru bị hạn hán ở miền trung Kenya có màu hồng nhạt hơn. Nếu một con hồng hạc ngừng ăn thức ăn có chứa carotenoids, lông mới của nó sẽ bắt đầu mọc với màu nhạt hơn nhiều, và lông đỏ của nó cuối cùng sẽ rụng đi. Lông lột xác mất màu hồng nhạt. Những gì một con hồng hạc ăn phụ thuộc vào loại mỏ mà nó có. Để ăn, chim hồng hạc sẽ khuấy động đáy hồ bằng chân và thả mỏ của chúng xuống bùn và nước để tìm thức ăn.<br><br></div><div><em><br>Hồng hạc – Phoenicopteridae<br></em><br></div><div><strong><br>4. Trĩ vàng – Chrysolophus pictus<br></strong><br></div><div>Trĩ vàng là loài chim có nguồn gốc từ châu Á, mà chủ yếu miền Tây Trung Hoa. Tuy nhiên, Trĩ vàng cũng xuất hiện ở một số nơi ở Châu Âu như Anh, Pháp… Ở Việt Nam, Trĩ vàng được nuôi làm cảnh với cái tên “chim trĩ Nhật Bản”. Chim trĩ vàng có tên khoa học là Chrysolophus pictus. Trĩ vàng là một trong những loài có bộ lông rực rỡ nhất trong họ nhà chim với “mái tóc” màu vàng rực rỡ, kết hợp với màu đỏ tươi và xanh lá cây đặc trưng. Đặc biệt, những con chim trống sở hữu chiếc đuôi dài 90-105cm vô cùng ấn tượng, chiếm khoảng 2/3 chiều dài cơ thể. Chim trĩ vàng ít khi bay và thường dành phần lớn thời gian ở trên mặt đất để tìm kiếm thức ăn như hoa quả, hạt giống và côn trùng. Trĩ vàng tượng trưng cho sự may mắn và thịnh vượng. Chim trống trưởng thành có chiều dài cơ thể khoảng từ 90 đến 105cm, riêng cái đuôi đã chiếm hết 2/3 chiều dài tổng thể và trọng lượng khoảng 900g, sải cánh khoảng 70cm.<br><br></div><div>Đây là loài chim không thể nhầm lẫn với bất kỳ loài nào khác vì bộ lông hết sức đặc biệt. Nó có một chùm lông mào màu vàng trên đỉnh đầu và phía trên lưng sau, phía dưới cổ và bụng là một màu đỏ tươi rực rỡ. Bắt đầu từ phía sau tai kéo dài xuống cổ có hình một cái quạt với các vệt màu cam và đen xen kẽ nhau, chưa hết phần lưng trên còn có một màu xanh đậm kèm theo các vệt đen xen kẽ. Đôi mắt có màu vàng sáng, chân và mỏ đều có màu vàng đục. Nó có một cái đuôi khá dài và to màu nâu xám kèm theo những chấm bi màu đen. Những màu ở đuôi này cũng được xuất hiện ở phần lông cánh. Chim mái ít màu hơn và cũng không đẹp như chim trống, với một bộ lông màu nâu nhạt, rất giống những con gà lôi. Chim mái tối màu và cơ thể mảnh mai hơn chim trống. Môi trường sống chủ yếu ngoài tự nhiên là các khu rừng rậm thường sẽ có các cây lá kim và các thân gỗ, phía dưới là những thảm thực vật dày đặc, đây được cho là môi trường yêu thích để Trĩ vàng có thể ẩn náu và không dễ dàng bị phát hiện bởi bộ lông nhiều màu sắc.<br><br></div><div><em><br>Trĩ vàng – Chrysolophus pictus<br></em><br></div><div><strong><br>5. Vẹt Macaw – The Lear’s Macaw<br></strong><br></div><div>Vẹt Macaw hay còn gọi là Vẹt đuôi dài có đuôi dài, từ nhỏ đến lớn, thường sặc sỡ màu sắc được phân bố chủ yếu ở Châu Mỹ. Những con vẹt này sở hữu bộ lông xanh vô cùng đẹp và lấp lánh. Vẹt Macaw là loài chim rất chung thủy. Vẹt Macaw (phát âm tiếng Việt như là Vẹt Mắc-ca) hay còn gọi là Vẹt đuôi dài là tập hợp đa dạng các loài vẹt có đuôi dài, từ nhỏ đến lớn, thường sặc sỡ màu sắc và thuộc về phân họ Vẹt Tân thế giới Arinae phân bố phần lớn ở Nam Mỹ. Nhiều loài trong số chúng được ưa chuộng để nuôi làm chim cảnh. Những con vẹt Macaw nguồn gốc ở Mexico, Trung Mỹ, Nam Mỹ, và trước đây là vùng biển Caribbe. Phần lớn các loài có liên quan đến môi trường rừng rậm, đặc biệt là rừng nhiệt đới, nhưng những loài khác thích môi trường sống như rừng hoặc thảo nguyên.<br><br></div><div>Những loài chim này thường to lớn, tối màu (thường là màu đen), đôi khi có các bản vá trên khuôn mặt nhỏ trong một số loài. Những con vẹt lớn nhất có chiều dài và sải cánh rộng là vẹt Macaw Xanh. Các con vẹt nặng nhất là vẹt Buffon, mặc dù thực tế các con vẹt nặng nhất là con vẹt Kakapo thì lại không thuộc nhóm vẹt này. Thành viên nhỏ nhất trong họ này là vẹt Macaw đỏ, là loài vẹt không lớn hơn một số loài parakeet của chi Aratinga. Vẹt đuôi dài, giống như vẹt khác, chim tu-căng (toucans) và chim gõ kiến, có các ngón chân của nó đầu tiên và thứ tư chỉ về phía sau. Đa số các loài vẹt đuôi dài đang nguy cấp trong tự nhiên. Sáu loài đã tuyệt chủng, và loài Spix Macaw hiện nay được coi là đã tuyệt chủng trong tự nhiên. Các con vẹt Macaw lục lam cũng có thể đã tuyệt chủng, chỉ với hai cá thể đáng tin cậy của nhìn thấy trong thế kỷ 20. Những vấn đề lớn nhất đe dọa vẹt là tốc độ nhanh chóng của nạn phá rừng và đánh bẫy trái phép.<br><br></div><div><em><br>Vẹt Macaw – The Lear’s Macaw<br></em><br></div><div><strong><br>6. Tucan mỏ lục (Ramphastos sulfuratus)<br></strong><br></div><div>Tu-căng Tucan có tên khoa học là (Ramphastos sulfuratus), là một loài chim đầy màu sắc và cũng là loài chim quốc gia ở Belize. Ngoài ra chúng còn được tìm thấy từ miền Nam Mexico đến Venezuela và Colombia. Đây là một con chim cỡ lớn có chiều dài cơ thể khoảng từ 42 – 55cm, riêng cái mỏ dài và lớn trông có vẻ gồ ghề đầy màu sắc của nó đã chiếm gần bằng 1/3 chiều dài cơ thể, và cái mỏ thường đạt đến chiều dài khoảng từ 12-15cm, trên thực tế cái mỏ được tạo thành như là một khối xương xốp, bên trong rỗng và bên ngoài được che phủ bởi lớp keratin, đây là một loại protein rất nhẹ và cứng. còn cân nặng cơ thể loài chim tucan này là từ 380-500g. Bộ lông của tucan chủ yếu là màu đen, dưới cổ thường có màu vàng hoặc trắng, cộng thêm màu đỏ ở phần dưới ngực và một phần đầu của cái đuôi, chân có màu xanh. Chúng sinh sống rải rác ở những tán cây của khu rừng nhiệt đới, chúng có thể sinh sống ở nơi có độ cao.<br><br></div><div>Trong rừng chim tucan ít khi sinh sống một mình, chúng bay theo từng đàn nhỏ khoảng từ 6 đến 12 cá thể thông qua các khu rừng nhiệt đới và vùng đất thấp. Chuyến bay của chúng khá chậm chạp và có khoảng cách bay thường là ngắn. Khi chúng ở trên các cành cây, chúng di chuyển bằng cách nhảy từ cành này sang cành khác. Chúng sống chung với nhau theo nhóm và thường chia sẻ nơi sinh sống từ các lỗ hẹp trên cây, hiếm khi nhìn thấy chúng một mình. Các con chim trong một gia đình thường đấu với nhau bằng mỏ, và còn ném trái cây vào miệng của nhau giống như chúng đang chơi bóng vậy. Đôi khi chúng trở nên hung dữ với một số loài chim nhỏ khác. Loài chim Tucan có chế độ ăn uống khá đa dạng, hầu hết các loại trái cây dường như chiếm phần lớn khẩu phần ăn của chúng, ngoài ra chúng còn ăn cả côn trùng, các trứng chim nhỏ và thằn lằn. Khi ăn trái cây nó thường dùng mỏ để phân tích xem trái cây đó có ăn được không trước khi di chuyển loại quả đó vào miệng và nuốt trọn.<br><br></div><div><em><br>Tucan mỏ lục (Ramphastos sulfuratus)<br></em><br></div><div><strong><br>7. Uyên ương – Aix sponsa<br></strong><br></div><div>Uyên ương là một loài chim di trú, nằm giữa hai nhóm vịt khoang và vịt mò. Được đặt tên là Uyên ương vì loài chim này luôn luôn có đôi, có cặp. Chim trống có bộ lông sặc sỡ hơn chim cái, với bộ lông nhiều màu, có các vệt màu hài hòa và đẹp mắt. Con trống (còn gọi là uyên) có bộ lông sặc sỡ khó nhầm lẫn. Nó có mỏ đỏ, vệt lông hình lưỡi liềm lớn màu trắng phía trên mắt và mặt đỏ cùng “ria”. Ngực màu tía với hai sọc trắng theo chiều dọc, hai hông hung hung đỏ, với hai cụm lông giống như hai lá buồm màu da cam ở lưng. Con mái (còn gọi là ương) trông tương tự như con mái của vịt Carolina, với vành khuyên màu trắng quanh mắt và sọc chạy ngược về phía sau từ mắt, nhưng nhạt dần, nó có sọc nhỏ màu trắng bên hông và đầu mỏ nhạt màu.<br><br></div><div>Loài này đã từng phổ biến ở miền đông châu Á, nhưng sự xuất khẩu ở quy mô lớn và sự phá hủy môi trường sinh sống miền rừng của nó đã làm suy giảm quần thể uyên ương tại miền đông Nga và tại Trung Quốc xuống dưới 1.000 đôi, mặc dù tại Nhật Bản có thể còn khoảng 5.000 đôi. Trong tự nhiên, uyên ương sinh sản trong các khu vực nhiều cây cối gần các ao, hồ nước nông, đầm lầy. Chúng làm tổ thành các hốc trên cây, gần với mặt nước. Con trống không chăm lo gì đến việc ấp và bảo vệ trứng, nó để mặc cho con mái tự làm lấy việc này. Tuy nhiên, trái với các loài vịt khác, uyên ương trống không bỏ rơi gia đình, nó chỉ tạm thời rời bỏ con mái trong thời gian ấp trứng và sẽ quay trở lại khi trứng đã nở. Ngay sau khi uyên ương con nở ra, mẹ chúng bay xuống đất và kêu để giục các con rời tổ. Sau đó các uyên ương con sẽ theo mẹ đến một vùng nước gần đó, nơi chúng sẽ thường xuyên gặp mặt cha mình – lúc này uyên ương cha đã quay trở về và bảo vệ con cái cùng mẹ chúng. Uyên ương kiếm ăn bằng cách bơi lội hay đi lại trên mặt đất. Chúng chủ yếu ăn các loại rau cỏ và hạt, đặc biệt là quả sồi. Chúng đi kiếm ăn lúc chạng vạng hay rạng đông, còn ban ngày thì đậu trên cây hay ở dưới mặt đất để nghỉ ngơi.<br><br></div><div><em><br>Uyên ương – Aix sponsa<br></em><br></div><div><strong><br>8. Chào mào đỏ phương Bắc – The Northern Cardinal<br></strong><br></div><div>Chào mào là loài chim đặc biệt đúng như tên gọi của nó, việc sở hữu bộ lông đỏ rực với cái mào cao và đỏ như bộ lông của nó. Chào mào đỏ phương Bắc phân bố chủ yếu ở vùng cực Bắc của Trái Đất, bên cạnh bộ lông rực rỡ giữa màu trắng của tuyết, chào mào còn có giọng hót vô cùng ngưỡng mộ. Chào mào đỏ phương bắc có bộ lông màu đỏ đặc trưng ở con đực và màu nâu nhạt ở con cái nhưng con chim do tổ chức Inland Bird Banding Association (IBBA) chụp hình vào năm 2014 có màu sắc khác nhau ở mỗi bên cơ thể. Theo IBBA, đây là kết quả của hiện tượng cá thể lưỡng tính (bilateral gynandromorphism). Con chim trải qua hiện tượng này có cả buồng trứng và tinh hoàn.<br><br></div><div>IBBA cho biết con chim quay trở lại Texas vào mỗi mùa đông. Sau khi IBBA chia sẻ ảnh chụp con chim trên Facebook vào cuối tháng 11, màu lông độc đáo của nó thu hút hơn 58.000 lượt chia sẻ và 6.800 bình luận. Dù hiếm gặp, hiện tượng cá thể lưỡng tính xảy ra ở cả côn trùng, với tỷ lệ 1/10.000 con bướm. Hiện tượng này được phát hiện lần đầu tiên vào thế kỷ 18 qua cá thể tôm hùm hai màu. Sau đó, các nhà khoa học đã đưa thêm thêm cua, ong, rắn, và vài loài chim vào danh sách. Chào mào đỏ phương bắc phân bố rộng rãi từ miền nam Canada tới Mexico. Loài chim biết hót này có chiều dài cơ thể 21 cm. Chúng chủ yếu ăn hạt, côn trùng và trái cây. Chim trống có tính chiếm hữu lãnh thổ. Chào mào đỏ phương bắc thường đẻ 3 – 4 quả trứng mỗi lứa.<br><br></div><div><em><br>Chào mào đỏ phương Bắc – The Northern Cardinal<br></em><br></div><div><strong><br>9. Bói cá<br></strong><br></div><div>Bói cá là một nhóm các loài chim có kích thước nhỏ và màu sắc rực rỡ thuộc Bộ Sả. Chúng phân bố rộng khắp các lục địa trên thế giới với hơn 90 loại, và hầu hết các loài được tìm thấy ngoài châu Mỹ. Trong số các loài chim, có lẽ bói cá là loài có hình dáng khá kỳ lạ bởi chiếc mỏ dài và chiếc đuôi ngắn, nhưng bù lại bói cá lại có khả năng săn mồi siêu hạng nhờ tốc độ phi rất nhanh và đôi mắt vô cùng tinh. Tuy nhiên, bói cá được khoác trên mình bộ lông vô cùng sặc sỡ và đẹp mắt. Trong khi chim bói cá thường được tìm thấy ở các khu vực có sông và hồ, hơn một nửa các loài trên thế giới được tìm thấy ở suối trong rừng. Chúng cũng chiếm một loạt các môi trường sống khác. Chim bói cá lưng đỏ của Úc sống trong những sa mạc khô cằn nhất, tuy nhiên bói cá không xuất hiện ở những sa mạc khô cằn khác như Sahara. Các loài khác sống cao trên núi, hoặc trong rừng mở và một số loài sống trên đảo san hô nhiệt đới. Nhiều loài đã thích nghi với môi trường sống bị biến đổi của con người, đặc biệt là những loài thích nghi với rừng và có thể được tìm thấy ở các khu vực trồng trọt và nông nghiệp, cũng như các công viên và vườn trong thị trấn và thành phố.<br><br></div><div>Là một trong những nhóm chim cổ chiếm lĩnh hầu hết các vùng đất trên thế giới, chim bói cá ở Việt Nam có rất nhiều loài với màu lông biếc rực rỡ. Có khoảng 90 loài chim bói cá trên toàn thế giới. Việt Nam phát hiện 12 loài. Trong đó có loài chim bí ẩn “Bồng chanh rừng Alcedo hercules” trên hình vẽ nằm trong Sách đỏ. Chúng sống ở Lai Châu, Lào Cai, Hà Tĩnh, Gia Lai. Phần trên cơ thể chim trưởng thành có nâu đen nhạt (mút lông xanh nhạt), giữa lưng và lông xanh da trời óng ánh. Hai bên cổ có vệt trắng. Má và tai đen nhạt có vệt xanh. Sả mỏ rộng Halcyon capensis chụp tại khu vực quần đảo Bà Lụa, Kiên Giang, loài này rất hiếm gặp. Chúng sống định cư ở rừng dọc theo bờ sông, suối và ở độ cao 1.200 m. Ngoài ra chúng còn ở khu vực đồng bằng, gần ao hồ, cửa sông ven biển và rừng ngập nước.<br><br></div><div><em><br>Bói cá<br></em><br></div><div><strong><br>10. Sẻ đất màu – Passerina ciris<br></strong><br></div><div>Sẻ đất màu là một loại chim nhỏ thuộc họ hồng tước. Sẻ đất màu được biết đến với thân hình nhỏ bé, nhưng được khoác bộ “áo” toàn các màu tươi sáng và là một trong những kiệt tác của tự nhiên. Không phải ngẫu nhiên, Sẻ đất màu được coi là loài chim đẹp nhất Bắc Mỹ. Tuy nhiên, với nạn săn bắn động vật bừa bãi và trái phép, Sẻ đất đang có nguy cơ tuyệt chủng. Loài chim này sinh sống ở Nam Phi. Là một loài chim sẻ có kích cỡ trung bình thân dài 14-16 cm, chúng có bộ lông nổi bật, bao gồm cả sọc đầu nhợt ở cả chim trống và chim mái. Màu bộ lông chủ yếu là màu xám, nâu và màu hạt dẻ, và chim trống có một số dấu đậm màu đen và trắng trên đầu và cổ. Loài này sinh sống ở vùng thảo nguyên bán khô cằn, khu vực canh tác, và các thị thị, và kéo dài từ bờ biển trung bộ Angola đến phía Đông Nam Phi và Swaziland. Ba phân loài được phân biệt ở các phần khác nhau trong phạm vi của loài.<br><br></div><div>Loài chim sẻ này chủ yếu ăn hạt, và cũng ăn phần mềm của cây cối và côn trùng. Chúng thường sinh sản trong nhóm, và khi vào mùa sinh sản chúng tập trung thành các đàn du mục lớn để di chuyển tìm kiếm thực phẩm. Chúng xây tổ trong một cây, một bụi cây, một khoang rỗng, hoặc tổ không được sử dụng của loài khác. Một tổ hình bát điển hình có từ ba hoặc bốn quả trứng, và cả chim bố và chim mẹ đều tham gia vào việc xây tổ và nuôi chim con. Loài chim này là loài phổ biến trong hầu hết phạm vi phân bố và cùng tồn tại thành công trong môi trường sống đô thị với hai loài họ hàng của chúng, Passer diffusus và sẻ nhà, loài chim được du nhập. Dân số của loài chim sẻ này không được ghi nhận giảm đáng kể và không bị đe dọa nghiêm trọng bởi hoạt động của con người.<br><br></div><div><em><br>Sẻ đất màu – Passerina ciris<br></em><br></div><div><a href="https://top10dieuhay.com/"><strong>Chim là loài duy nhất có lông vũ, và tuyệt đại đa số loài lông vũ đều biết bay. Đó là đặc điểm để phân biệt chim với các loài khác.Trên đây là 10 loài chim đẹp nhất thế giới. Những loài chim này có bộ cánh sặc sỡ nhất, tô điểm cho vẻ đẹp của thiên nhiên. Hi vọng bài viết sẽ đem lại thông tin bổ ích cho các bạn.<br></strong></a><br></div><div>Chim là một trong số những loài động vật được tạo hóa ưu đãi với đôi cánh và một số loài có thể bay lượn trên bầu trời. Trong thế giới tự nhiên, có rất nhiều loài động vật tìm cách ngụy trang hoặc hòa lẫn vào môi trường xung quanh để tránh kẻ thù. Nhưng loài chim thì khác, chúng lại muốn trở nên thật nổi bật và tự hào khoe khoang vẻ đẹp lộng lẫy của mình với các “đồng loại”. Hơn nữa, những cá thể chim này còn có tập tính khá thú vị và có phần kỳ quặc, đặc biệt là vào mùa giao phối. Cùng chiêm ngưỡng vẻ đẹp của những loại chim dưới đây và những đặc tính hài hước của chúng nhé.<br><br></div><div><strong><br>1. Chim Thiên đường<br></strong><br></div><div>Chim Thiên đường là loài chim thuộc họ Paradisaeidae, sống ở một số khu vực thuộc Australasia, bao gồm miền Đông Indonesia và Việt Nam. Các thành viên của họ Thiên đường được biết đến nhiều nhất có lẽ là từ những bộ lông sặc sỡ, đẹp của các con trống thuộc phần lớn các loài, được chúng sử dụng để hấp dẫn con mái (con mái có bộ lông bình thường) bằng những điệu nhảy và xòe cánh, múa đuôi. Con trống có đuôi dài và đẹp. Một số còn có chỏm lông trên đầu hay lông cánh dài sặc sỡ. Các loài chim thiên đường là một trong những loại chim biết hót cổ xưa nhất. Thuộc họ Paradisaeidae, chim thiên đường Wilson (Cicinnurus respublica) sống trên các đảo Waigeo và Batanta ở ngoài khơi West Papua, Indonesia. Loài chim này có hình dáng không thể nhầm lẫn với bộ lông bắt mắt màu đỏ thắm, vàng, xanh lá cây và xanh nước biển. Đặc biệt, chỏm đầu màu xanh ngọc của chim thiên đường Wilson không có lông mà là một nếp da trần. Cùng với hai chiếc lông đuôi dài uốn cong, nó đóng vai trò quan trọng trong việc giúp con trống hấp dẫn bạn tình.<br><br></div><div>Giống như nhiều loài chim thiên đường khác, chỉ con trống mới sở hữu dáng vẻ rực rỡ. Những con mái có bộ lông màu nâu sáng với chỏm đầu xanh thẫm. Để thu hút sự chú ý của con mái, con trống dọn sạch những chiếc lá hoặc rác vụn để tạo ra một vũ đài trên nền rừng. Giữa mặt đất phẳng, nó sẽ trình diễn bằng cách chuyền từ cành này sang cành khác, uốn cơ thể theo nhiều tư thế, xòe bộ lông óng ánh nhiều màu và hót vang. Không chỉ lắc đầu, rướn cổ, dựng ngược đuôi, đôi khi con trống còn há to miệng trước mặt con mái để thuyết phục bạn tình. Bên cạnh đó, để “ghi điểm” trong mắt con cái, con trống sẽ dọn sạch những chiếc lá hoặc rác vụn để tạo ra một vũ đài trên nền rừng. Khi đó, nó sẽ trình diễn bằng cách chuyền từ cành này sang cành khác, uốn cơ thể theo nhiều tư thế, xòe bộ lông rực rỡ của mình và hót vang.<br><br></div><div><em><br>Chim Thiên đường</em><br><br></div><div><em><br>Chim Thiên đường<br></em><br></div><div><strong><br>2. Chim công – Khổng tước<br></strong><br></div><div>Chim công hay còn gọi là cuông, nộc dung, hay khổng tước (Pavo muticus) – loài chim thuộc họ Trĩ, được tìm thấy trong các khu rừng nhiệt đới ở Đông Nam Á, đặc biệt là Ấn Độ Chim công là loài chim được xếp vào hàng đẹp nhất thế giới. Đây là loài chim sở hữu bộ lông sắc sỡ, óng ánh và đuôi rất dài, mỗi khi xòe giống chiếc quạt tuyệt đẹp. Toàn bộ lông đuôi của chim khổng tước trống có thể lên đến 200 chiếc và phần cuối của mỗi chiếc lông được kết thúc bằng chấm bi màu nâu xanh, vàng…Bên cạnh đó, Khổng tước còn là loài mang ý nghĩa và biểu tượng vô cùng cao quý. Chim Công là một loài chim với nhiều ý nghĩa trong nền văn hóa Á Đông, là biểu tượng cho vẻ đẹp quyền quý và sang trọng. Do vậy mà chúng được nuôi làm cảnh trong các gia tộc giàu có ở Trung Quốc hay Ấn Độ.<br><br></div><div>Trong Phật giáo loài chim này luôn được gắn liền với Khổng Tước Minh Quân Bồ Tát. Do vậy mà sự hiện thân của loài chim này cũng tượng trưng cho ngài mang đến sự bình an, may mắn, cát tường cho nhân gian. Ấn Độ là một nước đa dạng về các nền văn hóa thì loài chim Công được đại diện cho vẻ đẹp tuyệt mĩ, sự may mắn, giàu sang và phú quý của nữ thần Lakshmi. Từ những ý nghĩa tốt đẹp ấy, ngày nay nhiều người thích thú lựa chon đôi chim công (chim công luôn được làm thành một đôi, con trống, con mái) để đặt trong nhà tạo phong thủy may mắn, tài lộc và cuộc sống hôn nhân vợ chồng viên mãn.<br><br></div><div><em><br>Chim công – Khổng tước<br></em><br></div><div><strong><br>3. Hồng hạc – Phoenicopteridae<br></strong><br></div><div>Hồng hạc là tên chỉ các loài chim lội nước thuộc họ Phoenicopteridae, bộ Phoenicopteriformes. Chúng sống ở cả Tây bán cầu và Đông bán cầu, nhưng sống ở Tây bán cầu nhiều hơn. Hồng hạc là loài chim cao nhất thế giới, nổi bật với bộ lông hồng kỳ lạ và vô cùng cao quý. Đặc biệt, hồng hạc là loài chim chỉ đứng bằng một chân, một điều vô cùng kỳ lạ. Chim hồng hạc là loài chim lớn có thể nhận dạng với cái cổ dài, chân dính và lông màu hồng hoặc đỏ. Màu hồng và màu đỏ của lông chim hồng hạc đến từ việc ăn các sắc tố có trong tảo và động vật không xương sống. Chim hồng hạc là loài chim nước, vì vậy chúng sống trong và xung quanh đầm hoặc hồ. Vì vậy cơ thể của chim có khả năng bị nhiễm mặn hoặc kiềm. Chim hồng hạc thường không di cư, nhưng những thay đổi về khí hậu hoặc mực nước trong khu vực sinh sản của chúng sẽ khiến chúng phải di dời.<br><br></div><div>Mức độ caroten (sắc tố hữu cơ) trong thức ăn của chúng khác nhau ở các khu vực khác nhau trên thế giới, đó là lý do tại sao chim hồng hạc Mỹ thường có màu đỏ tươi và màu cam, trong khi những con hồng hạc nhỏ của hồ Nakuru bị hạn hán ở miền trung Kenya có màu hồng nhạt hơn. Nếu một con hồng hạc ngừng ăn thức ăn có chứa carotenoids, lông mới của nó sẽ bắt đầu mọc với màu nhạt hơn nhiều, và lông đỏ của nó cuối cùng sẽ rụng đi. Lông lột xác mất màu hồng nhạt. Những gì một con hồng hạc ăn phụ thuộc vào loại mỏ mà nó có. Để ăn, chim hồng hạc sẽ khuấy động đáy hồ bằng chân và thả mỏ của chúng xuống bùn và nước để tìm thức ăn.<br><br></div><div><em><br>Hồng hạc – Phoenicopteridae<br></em><br></div><div><strong><br>4. Trĩ vàng – Chrysolophus pictus<br></strong><br></div><div>Trĩ vàng là loài chim có nguồn gốc từ châu Á, mà chủ yếu miền Tây Trung Hoa. Tuy nhiên, Trĩ vàng cũng xuất hiện ở một số nơi ở Châu Âu như Anh, Pháp… Ở Việt Nam, Trĩ vàng được nuôi làm cảnh với cái tên “chim trĩ Nhật Bản”. Chim trĩ vàng có tên khoa học là Chrysolophus pictus. Trĩ vàng là một trong những loài có bộ lông rực rỡ nhất trong họ nhà chim với “mái tóc” màu vàng rực rỡ, kết hợp với màu đỏ tươi và xanh lá cây đặc trưng. Đặc biệt, những con chim trống sở hữu chiếc đuôi dài 90-105cm vô cùng ấn tượng, chiếm khoảng 2/3 chiều dài cơ thể. Chim trĩ vàng ít khi bay và thường dành phần lớn thời gian ở trên mặt đất để tìm kiếm thức ăn như hoa quả, hạt giống và côn trùng. Trĩ vàng tượng trưng cho sự may mắn và thịnh vượng. Chim trống trưởng thành có chiều dài cơ thể khoảng từ 90 đến 105cm, riêng cái đuôi đã chiếm hết 2/3 chiều dài tổng thể và trọng lượng khoảng 900g, sải cánh khoảng 70cm.<br><br></div><div>Đây là loài chim không thể nhầm lẫn với bất kỳ loài nào khác vì bộ lông hết sức đặc biệt. Nó có một chùm lông mào màu vàng trên đỉnh đầu và phía trên lưng sau, phía dưới cổ và bụng là một màu đỏ tươi rực rỡ. Bắt đầu từ phía sau tai kéo dài xuống cổ có hình một cái quạt với các vệt màu cam và đen xen kẽ nhau, chưa hết phần lưng trên còn có một màu xanh đậm kèm theo các vệt đen xen kẽ. Đôi mắt có màu vàng sáng, chân và mỏ đều có màu vàng đục. Nó có một cái đuôi khá dài và to màu nâu xám kèm theo những chấm bi màu đen. Những màu ở đuôi này cũng được xuất hiện ở phần lông cánh. Chim mái ít màu hơn và cũng không đẹp như chim trống, với một bộ lông màu nâu nhạt, rất giống những con gà lôi. Chim mái tối màu và cơ thể mảnh mai hơn chim trống. Môi trường sống chủ yếu ngoài tự nhiên là các khu rừng rậm thường sẽ có các cây lá kim và các thân gỗ, phía dưới là những thảm thực vật dày đặc, đây được cho là môi trường yêu thích để Trĩ vàng có thể ẩn náu và không dễ dàng bị phát hiện bởi bộ lông nhiều màu sắc.<br><br></div><div><em><br>Trĩ vàng – Chrysolophus pictus<br></em><br></div><div><strong><br>5. Vẹt Macaw – The Lear’s Macaw<br></strong><br></div><div>Vẹt Macaw hay còn gọi là Vẹt đuôi dài có đuôi dài, từ nhỏ đến lớn, thường sặc sỡ màu sắc được phân bố chủ yếu ở Châu Mỹ. Những con vẹt này sở hữu bộ lông xanh vô cùng đẹp và lấp lánh. Vẹt Macaw là loài chim rất chung thủy. Vẹt Macaw (phát âm tiếng Việt như là Vẹt Mắc-ca) hay còn gọi là Vẹt đuôi dài là tập hợp đa dạng các loài vẹt có đuôi dài, từ nhỏ đến lớn, thường sặc sỡ màu sắc và thuộc về phân họ Vẹt Tân thế giới Arinae phân bố phần lớn ở Nam Mỹ. Nhiều loài trong số chúng được ưa chuộng để nuôi làm chim cảnh. Những con vẹt Macaw nguồn gốc ở Mexico, Trung Mỹ, Nam Mỹ, và trước đây là vùng biển Caribbe. Phần lớn các loài có liên quan đến môi trường rừng rậm, đặc biệt là rừng nhiệt đới, nhưng những loài khác thích môi trường sống như rừng hoặc thảo nguyên.<br><br></div><div>Những loài chim này thường to lớn, tối màu (thường là màu đen), đôi khi có các bản vá trên khuôn mặt nhỏ trong một số loài. Những con vẹt lớn nhất có chiều dài và sải cánh rộng là vẹt Macaw Xanh. Các con vẹt nặng nhất là vẹt Buffon, mặc dù thực tế các con vẹt nặng nhất là con vẹt Kakapo thì lại không thuộc nhóm vẹt này. Thành viên nhỏ nhất trong họ này là vẹt Macaw đỏ, là loài vẹt không lớn hơn một số loài parakeet của chi Aratinga. Vẹt đuôi dài, giống như vẹt khác, chim tu-căng (toucans) và chim gõ kiến, có các ngón chân của nó đầu tiên và thứ tư chỉ về phía sau. Đa số các loài vẹt đuôi dài đang nguy cấp trong tự nhiên. Sáu loài đã tuyệt chủng, và loài Spix Macaw hiện nay được coi là đã tuyệt chủng trong tự nhiên. Các con vẹt Macaw lục lam cũng có thể đã tuyệt chủng, chỉ với hai cá thể đáng tin cậy của nhìn thấy trong thế kỷ 20. Những vấn đề lớn nhất đe dọa vẹt là tốc độ nhanh chóng của nạn phá rừng và đánh bẫy trái phép.<br><br></div><div><em><br>Vẹt Macaw – The Lear’s Macaw<br></em><br></div><div><strong><br>6. Tucan mỏ lục (Ramphastos sulfuratus)<br></strong><br></div><div>Tu-căng Tucan có tên khoa học là (Ramphastos sulfuratus), là một loài chim đầy màu sắc và cũng là loài chim quốc gia ở Belize. Ngoài ra chúng còn được tìm thấy từ miền Nam Mexico đến Venezuela và Colombia. Đây là một con chim cỡ lớn có chiều dài cơ thể khoảng từ 42 – 55cm, riêng cái mỏ dài và lớn trông có vẻ gồ ghề đầy màu sắc của nó đã chiếm gần bằng 1/3 chiều dài cơ thể, và cái mỏ thường đạt đến chiều dài khoảng từ 12-15cm, trên thực tế cái mỏ được tạo thành như là một khối xương xốp, bên trong rỗng và bên ngoài được che phủ bởi lớp keratin, đây là một loại protein rất nhẹ và cứng. còn cân nặng cơ thể loài chim tucan này là từ 380-500g. Bộ lông của tucan chủ yếu là màu đen, dưới cổ thường có màu vàng hoặc trắng, cộng thêm màu đỏ ở phần dưới ngực và một phần đầu của cái đuôi, chân có màu xanh. Chúng sinh sống rải rác ở những tán cây của khu rừng nhiệt đới, chúng có thể sinh sống ở nơi có độ cao.<br><br></div><div>Trong rừng chim tucan ít khi sinh sống một mình, chúng bay theo từng đàn nhỏ khoảng từ 6 đến 12 cá thể thông qua các khu rừng nhiệt đới và vùng đất thấp. Chuyến bay của chúng khá chậm chạp và có khoảng cách bay thường là ngắn. Khi chúng ở trên các cành cây, chúng di chuyển bằng cách nhảy từ cành này sang cành khác. Chúng sống chung với nhau theo nhóm và thường chia sẻ nơi sinh sống từ các lỗ hẹp trên cây, hiếm khi nhìn thấy chúng một mình. Các con chim trong một gia đình thường đấu với nhau bằng mỏ, và còn ném trái cây vào miệng của nhau giống như chúng đang chơi bóng vậy. Đôi khi chúng trở nên hung dữ với một số loài chim nhỏ khác. Loài chim Tucan có chế độ ăn uống khá đa dạng, hầu hết các loại trái cây dường như chiếm phần lớn khẩu phần ăn của chúng, ngoài ra chúng còn ăn cả côn trùng, các trứng chim nhỏ và thằn lằn. Khi ăn trái cây nó thường dùng mỏ để phân tích xem trái cây đó có ăn được không trước khi di chuyển loại quả đó vào miệng và nuốt trọn.<br><br></div><div><em><br>Tucan mỏ lục (Ramphastos sulfuratus)<br></em><br></div><div><strong><br>7. Uyên ương – Aix sponsa<br></strong><br></div><div>Uyên ương là một loài chim di trú, nằm giữa hai nhóm vịt khoang và vịt mò. Được đặt tên là Uyên ương vì loài chim này luôn luôn có đôi, có cặp. Chim trống có bộ lông sặc sỡ hơn chim cái, với bộ lông nhiều màu, có các vệt màu hài hòa và đẹp mắt. Con trống (còn gọi là uyên) có bộ lông sặc sỡ khó nhầm lẫn. Nó có mỏ đỏ, vệt lông hình lưỡi liềm lớn màu trắng phía trên mắt và mặt đỏ cùng “ria”. Ngực màu tía với hai sọc trắng theo chiều dọc, hai hông hung hung đỏ, với hai cụm lông giống như hai lá buồm màu da cam ở lưng. Con mái (còn gọi là ương) trông tương tự như con mái của vịt Carolina, với vành khuyên màu trắng quanh mắt và sọc chạy ngược về phía sau từ mắt, nhưng nhạt dần, nó có sọc nhỏ màu trắng bên hông và đầu mỏ nhạt màu.<br><br></div><div>Loài này đã từng phổ biến ở miền đông châu Á, nhưng sự xuất khẩu ở quy mô lớn và sự phá hủy môi trường sinh sống miền rừng của nó đã làm suy giảm quần thể uyên ương tại miền đông Nga và tại Trung Quốc xuống dưới 1.000 đôi, mặc dù tại Nhật Bản có thể còn khoảng 5.000 đôi. Trong tự nhiên, uyên ương sinh sản trong các khu vực nhiều cây cối gần các ao, hồ nước nông, đầm lầy. Chúng làm tổ thành các hốc trên cây, gần với mặt nước. Con trống không chăm lo gì đến việc ấp và bảo vệ trứng, nó để mặc cho con mái tự làm lấy việc này. Tuy nhiên, trái với các loài vịt khác, uyên ương trống không bỏ rơi gia đình, nó chỉ tạm thời rời bỏ con mái trong thời gian ấp trứng và sẽ quay trở lại khi trứng đã nở. Ngay sau khi uyên ương con nở ra, mẹ chúng bay xuống đất và kêu để giục các con rời tổ. Sau đó các uyên ương con sẽ theo mẹ đến một vùng nước gần đó, nơi chúng sẽ thường xuyên gặp mặt cha mình – lúc này uyên ương cha đã quay trở về và bảo vệ con cái cùng mẹ chúng. Uyên ương kiếm ăn bằng cách bơi lội hay đi lại trên mặt đất. Chúng chủ yếu ăn các loại rau cỏ và hạt, đặc biệt là quả sồi. Chúng đi kiếm ăn lúc chạng vạng hay rạng đông, còn ban ngày thì đậu trên cây hay ở dưới mặt đất để nghỉ ngơi.<br><br></div><div><em><br>Uyên ương – Aix sponsa<br></em><br></div><div><strong><br>8. Chào mào đỏ phương Bắc – The Northern Cardinal<br></strong><br></div><div>Chào mào là loài chim đặc biệt đúng như tên gọi của nó, việc sở hữu bộ lông đỏ rực với cái mào cao và đỏ như bộ lông của nó. Chào mào đỏ phương Bắc phân bố chủ yếu ở vùng cực Bắc của Trái Đất, bên cạnh bộ lông rực rỡ giữa màu trắng của tuyết, chào mào còn có giọng hót vô cùng ngưỡng mộ. Chào mào đỏ phương bắc có bộ lông màu đỏ đặc trưng ở con đực và màu nâu nhạt ở con cái nhưng con chim do tổ chức Inland Bird Banding Association (IBBA) chụp hình vào năm 2014 có màu sắc khác nhau ở mỗi bên cơ thể. Theo IBBA, đây là kết quả của hiện tượng cá thể lưỡng tính (bilateral gynandromorphism). Con chim trải qua hiện tượng này có cả buồng trứng và tinh hoàn.<br><br></div><div>IBBA cho biết con chim quay trở lại Texas vào mỗi mùa đông. Sau khi IBBA chia sẻ ảnh chụp con chim trên Facebook vào cuối tháng 11, màu lông độc đáo của nó thu hút hơn 58.000 lượt chia sẻ và 6.800 bình luận. Dù hiếm gặp, hiện tượng cá thể lưỡng tính xảy ra ở cả côn trùng, với tỷ lệ 1/10.000 con bướm. Hiện tượng này được phát hiện lần đầu tiên vào thế kỷ 18 qua cá thể tôm hùm hai màu. Sau đó, các nhà khoa học đã đưa thêm thêm cua, ong, rắn, và vài loài chim vào danh sách. Chào mào đỏ phương bắc phân bố rộng rãi từ miền nam Canada tới Mexico. Loài chim biết hót này có chiều dài cơ thể 21 cm. Chúng chủ yếu ăn hạt, côn trùng và trái cây. Chim trống có tính chiếm hữu lãnh thổ. Chào mào đỏ phương bắc thường đẻ 3 – 4 quả trứng mỗi lứa.<br><br></div><div><em><br>Chào mào đỏ phương Bắc – The Northern Cardinal<br></em><br></div><div><strong><br>9. Bói cá<br></strong><br></div><div>Bói cá là một nhóm các loài chim có kích thước nhỏ và màu sắc rực rỡ thuộc Bộ Sả. Chúng phân bố rộng khắp các lục địa trên thế giới với hơn 90 loại, và hầu hết các loài được tìm thấy ngoài châu Mỹ. Trong số các loài chim, có lẽ bói cá là loài có hình dáng khá kỳ lạ bởi chiếc mỏ dài và chiếc đuôi ngắn, nhưng bù lại bói cá lại có khả năng săn mồi siêu hạng nhờ tốc độ phi rất nhanh và đôi mắt vô cùng tinh. Tuy nhiên, bói cá được khoác trên mình bộ lông vô cùng sặc sỡ và đẹp mắt. Trong khi chim bói cá thường được tìm thấy ở các khu vực có sông và hồ, hơn một nửa các loài trên thế giới được tìm thấy ở suối trong rừng. Chúng cũng chiếm một loạt các môi trường sống khác. Chim bói cá lưng đỏ của Úc sống trong những sa mạc khô cằn nhất, tuy nhiên bói cá không xuất hiện ở những sa mạc khô cằn khác như Sahara. Các loài khác sống cao trên núi, hoặc trong rừng mở và một số loài sống trên đảo san hô nhiệt đới. Nhiều loài đã thích nghi với môi trường sống bị biến đổi của con người, đặc biệt là những loài thích nghi với rừng và có thể được tìm thấy ở các khu vực trồng trọt và nông nghiệp, cũng như các công viên và vườn trong thị trấn và thành phố.<br><br></div><div>Là một trong những nhóm chim cổ chiếm lĩnh hầu hết các vùng đất trên thế giới, chim bói cá ở Việt Nam có rất nhiều loài với màu lông biếc rực rỡ. Có khoảng 90 loài chim bói cá trên toàn thế giới. Việt Nam phát hiện 12 loài. Trong đó có loài chim bí ẩn “Bồng chanh rừng Alcedo hercules” trên hình vẽ nằm trong Sách đỏ. Chúng sống ở Lai Châu, Lào Cai, Hà Tĩnh, Gia Lai. Phần trên cơ thể chim trưởng thành có nâu đen nhạt (mút lông xanh nhạt), giữa lưng và lông xanh da trời óng ánh. Hai bên cổ có vệt trắng. Má và tai đen nhạt có vệt xanh. Sả mỏ rộng Halcyon capensis chụp tại khu vực quần đảo Bà Lụa, Kiên Giang, loài này rất hiếm gặp. Chúng sống định cư ở rừng dọc theo bờ sông, suối và ở độ cao 1.200 m. Ngoài ra chúng còn ở khu vực đồng bằng, gần ao hồ, cửa sông ven biển và rừng ngập nước.<br><br></div><div><em><br>Bói cá<br></em><br></div><div><strong><br>10. Sẻ đất màu – Passerina ciris<br></strong><br></div><div>Sẻ đất màu là một loại chim nhỏ thuộc họ hồng tước. Sẻ đất màu được biết đến với thân hình nhỏ bé, nhưng được khoác bộ “áo” toàn các màu tươi sáng và là một trong những kiệt tác của tự nhiên. Không phải ngẫu nhiên, Sẻ đất màu được coi là loài chim đẹp nhất Bắc Mỹ. Tuy nhiên, với nạn săn bắn động vật bừa bãi và trái phép, Sẻ đất đang có nguy cơ tuyệt chủng. Loài chim này sinh sống ở Nam Phi. Là một loài chim sẻ có kích cỡ trung bình thân dài 14-16 cm, chúng có bộ lông nổi bật, bao gồm cả sọc đầu nhợt ở cả chim trống và chim mái. Màu bộ lông chủ yếu là màu xám, nâu và màu hạt dẻ, và chim trống có một số dấu đậm màu đen và trắng trên đầu và cổ. Loài này sinh sống ở vùng thảo nguyên bán khô cằn, khu vực canh tác, và các thị thị, và kéo dài từ bờ biển trung bộ Angola đến phía Đông Nam Phi và Swaziland. Ba phân loài được phân biệt ở các phần khác nhau trong phạm vi của loài.<br><br></div><div>Loài chim sẻ này chủ yếu ăn hạt, và cũng ăn phần mềm của cây cối và côn trùng. Chúng thường sinh sản trong nhóm, và khi vào mùa sinh sản chúng tập trung thành các đàn du mục lớn để di chuyển tìm kiếm thực phẩm. Chúng xây tổ trong một cây, một bụi cây, một khoang rỗng, hoặc tổ không được sử dụng của loài khác. Một tổ hình bát điển hình có từ ba hoặc bốn quả trứng, và cả chim bố và chim mẹ đều tham gia vào việc xây tổ và nuôi chim con. Loài chim này là loài phổ biến trong hầu hết phạm vi phân bố và cùng tồn tại thành công trong môi trường sống đô thị với hai loài họ hàng của chúng, Passer diffusus và sẻ nhà, loài chim được du nhập. Dân số của loài chim sẻ này không được ghi nhận giảm đáng kể và không bị đe dọa nghiêm trọng bởi hoạt động của con người.<br><br></div><div><em><br>Sẻ đất màu – Passerina ciris<br></em><br></div><div><a href="https://top10dieuhay.com/"><strong>Chim là loài duy nhất có lông vũ, và tuyệt đại đa số loài lông vũ đều biết bay. Đó là đặc điểm để phân biệt chim với các loài khác.Trên đây là 10 loài chim đẹp nhất thế giới. Những loài chim này có bộ cánh sặc sỡ nhất, tô điểm cho vẻ đẹp của thiên nhiên. Hi vọng bài viết sẽ đem lại thông tin bổ ích cho các bạn.<br></strong></a><br></div><div>Chim là một trong số những loài động vật được tạo hóa ưu đãi với đôi cánh và một số loài có thể bay lượn trên bầu trời. Trong thế giới tự nhiên, có rất nhiều loài động vật tìm cách ngụy trang hoặc hòa lẫn vào môi trường xung quanh để tránh kẻ thù. Nhưng loài chim thì khác, chúng lại muốn trở nên thật nổi bật và tự hào khoe khoang vẻ đẹp lộng lẫy của mình với các “đồng loại”. Hơn nữa, những cá thể chim này còn có tập tính khá thú vị và có phần kỳ quặc, đặc biệt là vào mùa giao phối. Cùng chiêm ngưỡng vẻ đẹp của những loại chim dưới đây và những đặc tính hài hước của chúng nhé.<br><br></div><div><strong><br>1. Chim Thiên đường<br></strong><br></div><div>Chim Thiên đường là loài chim thuộc họ Paradisaeidae, sống ở một số khu vực thuộc Australasia, bao gồm miền Đông Indonesia và Việt Nam. Các thành viên của họ Thiên đường được biết đến nhiều nhất có lẽ là từ những bộ lông sặc sỡ, đẹp của các con trống thuộc phần lớn các loài, được chúng sử dụng để hấp dẫn con mái (con mái có bộ lông bình thường) bằng những điệu nhảy và xòe cánh, múa đuôi. Con trống có đuôi dài và đẹp. Một số còn có chỏm lông trên đầu hay lông cánh dài sặc sỡ. Các loài chim thiên đường là một trong những loại chim biết hót cổ xưa nhất. Thuộc họ Paradisaeidae, chim thiên đường Wilson (Cicinnurus respublica) sống trên các đảo Waigeo và Batanta ở ngoài khơi West Papua, Indonesia. Loài chim này có hình dáng không thể nhầm lẫn với bộ lông bắt mắt màu đỏ thắm, vàng, xanh lá cây và xanh nước biển. Đặc biệt, chỏm đầu màu xanh ngọc của chim thiên đường Wilson không có lông mà là một nếp da trần. Cùng với hai chiếc lông đuôi dài uốn cong, nó đóng vai trò quan trọng trong việc giúp con trống hấp dẫn bạn tình.<br><br></div><div>Giống như nhiều loài chim thiên đường khác, chỉ con trống mới sở hữu dáng vẻ rực rỡ. Những con mái có bộ lông màu nâu sáng với chỏm đầu xanh thẫm. Để thu hút sự chú ý của con mái, con trống dọn sạch những chiếc lá hoặc rác vụn để tạo ra một vũ đài trên nền rừng. Giữa mặt đất phẳng, nó sẽ trình diễn bằng cách chuyền từ cành này sang cành khác, uốn cơ thể theo nhiều tư thế, xòe bộ lông óng ánh nhiều màu và hót vang. Không chỉ lắc đầu, rướn cổ, dựng ngược đuôi, đôi khi con trống còn há to miệng trước mặt con mái để thuyết phục bạn tình. Bên cạnh đó, để “ghi điểm” trong mắt con cái, con trống sẽ dọn sạch những chiếc lá hoặc rác vụn để tạo ra một vũ đài trên nền rừng. Khi đó, nó sẽ trình diễn bằng cách chuyền từ cành này sang cành khác, uốn cơ thể theo nhiều tư thế, xòe bộ lông rực rỡ của mình và hót vang.<br><br></div><div><em><br>Chim Thiên đường</em><br><br></div><div><em><br>Chim Thiên đường<br></em><br></div><div><strong><br>2. Chim công – Khổng tước<br></strong><br></div><div>Chim công hay còn gọi là cuông, nộc dung, hay khổng tước (Pavo muticus) – loài chim thuộc họ Trĩ, được tìm thấy trong các khu rừng nhiệt đới ở Đông Nam Á, đặc biệt là Ấn Độ Chim công là loài chim được xếp vào hàng đẹp nhất thế giới. Đây là loài chim sở hữu bộ lông sắc sỡ, óng ánh và đuôi rất dài, mỗi khi xòe giống chiếc quạt tuyệt đẹp. Toàn bộ lông đuôi của chim khổng tước trống có thể lên đến 200 chiếc và phần cuối của mỗi chiếc lông được kết thúc bằng chấm bi màu nâu xanh, vàng…Bên cạnh đó, Khổng tước còn là loài mang ý nghĩa và biểu tượng vô cùng cao quý. Chim Công là một loài chim với nhiều ý nghĩa trong nền văn hóa Á Đông, là biểu tượng cho vẻ đẹp quyền quý và sang trọng. Do vậy mà chúng được nuôi làm cảnh trong các gia tộc giàu có ở Trung Quốc hay Ấn Độ.<br><br></div><div>Trong Phật giáo loài chim này luôn được gắn liền với Khổng Tước Minh Quân Bồ Tát. Do vậy mà sự hiện thân của loài chim này cũng tượng trưng cho ngài mang đến sự bình an, may mắn, cát tường cho nhân gian. Ấn Độ là một nước đa dạng về các nền văn hóa thì loài chim Công được đại diện cho vẻ đẹp tuyệt mĩ, sự may mắn, giàu sang và phú quý của nữ thần Lakshmi. Từ những ý nghĩa tốt đẹp ấy, ngày nay nhiều người thích thú lựa chon đôi chim công (chim công luôn được làm thành một đôi, con trống, con mái) để đặt trong nhà tạo phong thủy may mắn, tài lộc và cuộc sống hôn nhân vợ chồng viên mãn.<br><br></div><div><em><br>Chim công – Khổng tước<br></em><br></div><div><strong><br>3. Hồng hạc – Phoenicopteridae<br></strong><br></div><div>Hồng hạc là tên chỉ các loài chim lội nước thuộc họ Phoenicopteridae, bộ Phoenicopteriformes. Chúng sống ở cả Tây bán cầu và Đông bán cầu, nhưng sống ở Tây bán cầu nhiều hơn. Hồng hạc là loài chim cao nhất thế giới, nổi bật với bộ lông hồng kỳ lạ và vô cùng cao quý. Đặc biệt, hồng hạc là loài chim chỉ đứng bằng một chân, một điều vô cùng kỳ lạ. Chim hồng hạc là loài chim lớn có thể nhận dạng với cái cổ dài, chân dính và lông màu hồng hoặc đỏ. Màu hồng và màu đỏ của lông chim hồng hạc đến từ việc ăn các sắc tố có trong tảo và động vật không xương sống. Chim hồng hạc là loài chim nước, vì vậy chúng sống trong và xung quanh đầm hoặc hồ. Vì vậy cơ thể của chim có khả năng bị nhiễm mặn hoặc kiềm. Chim hồng hạc thường không di cư, nhưng những thay đổi về khí hậu hoặc mực nước trong khu vực sinh sản của chúng sẽ khiến chúng phải di dời.<br><br></div><div>Mức độ caroten (sắc tố hữu cơ) trong thức ăn của chúng khác nhau ở các khu vực khác nhau trên thế giới, đó là lý do tại sao chim hồng hạc Mỹ thường có màu đỏ tươi và màu cam, trong khi những con hồng hạc nhỏ của hồ Nakuru bị hạn hán ở miền trung Kenya có màu hồng nhạt hơn. Nếu một con hồng hạc ngừng ăn thức ăn có chứa carotenoids, lông mới của nó sẽ bắt đầu mọc với màu nhạt hơn nhiều, và lông đỏ của nó cuối cùng sẽ rụng đi. Lông lột xác mất màu hồng nhạt. Những gì một con hồng hạc ăn phụ thuộc vào loại mỏ mà nó có. Để ăn, chim hồng hạc sẽ khuấy động đáy hồ bằng chân và thả mỏ của chúng xuống bùn và nước để tìm thức ăn.<br><br></div><div><em><br>Hồng hạc – Phoenicopteridae<br></em><br></div><div><strong><br>4. Trĩ vàng – Chrysolophus pictus<br></strong><br></div><div>Trĩ vàng là loài chim có nguồn gốc từ châu Á, mà chủ yếu miền Tây Trung Hoa. Tuy nhiên, Trĩ vàng cũng xuất hiện ở một số nơi ở Châu Âu như Anh, Pháp… Ở Việt Nam, Trĩ vàng được nuôi làm cảnh với cái tên “chim trĩ Nhật Bản”. Chim trĩ vàng có tên khoa học là Chrysolophus pictus. Trĩ vàng là một trong những loài có bộ lông rực rỡ nhất trong họ nhà chim với “mái tóc” màu vàng rực rỡ, kết hợp với màu đỏ tươi và xanh lá cây đặc trưng. Đặc biệt, những con chim trống sở hữu chiếc đuôi dài 90-105cm vô cùng ấn tượng, chiếm khoảng 2/3 chiều dài cơ thể. Chim trĩ vàng ít khi bay và thường dành phần lớn thời gian ở trên mặt đất để tìm kiếm thức ăn như hoa quả, hạt giống và côn trùng. Trĩ vàng tượng trưng cho sự may mắn và thịnh vượng. Chim trống trưởng thành có chiều dài cơ thể khoảng từ 90 đến 105cm, riêng cái đuôi đã chiếm hết 2/3 chiều dài tổng thể và trọng lượng khoảng 900g, sải cánh khoảng 70cm.<br><br></div><div>Đây là loài chim không thể nhầm lẫn với bất kỳ loài nào khác vì bộ lông hết sức đặc biệt. Nó có một chùm lông mào màu vàng trên đỉnh đầu và phía trên lưng sau, phía dưới cổ và bụng là một màu đỏ tươi rực rỡ. Bắt đầu từ phía sau tai kéo dài xuống cổ có hình một cái quạt với các vệt màu cam và đen xen kẽ nhau, chưa hết phần lưng trên còn có một màu xanh đậm kèm theo các vệt đen xen kẽ. Đôi mắt có màu vàng sáng, chân và mỏ đều có màu vàng đục. Nó có một cái đuôi khá dài và to màu nâu xám kèm theo những chấm bi màu đen. Những màu ở đuôi này cũng được xuất hiện ở phần lông cánh. Chim mái ít màu hơn và cũng không đẹp như chim trống, với một bộ lông màu nâu nhạt, rất giống những con gà lôi. Chim mái tối màu và cơ thể mảnh mai hơn chim trống. Môi trường sống chủ yếu ngoài tự nhiên là các khu rừng rậm thường sẽ có các cây lá kim và các thân gỗ, phía dưới là những thảm thực vật dày đặc, đây được cho là môi trường yêu thích để Trĩ vàng có thể ẩn náu và không dễ dàng bị phát hiện bởi bộ lông nhiều màu sắc.<br><br></div><div><em><br>Trĩ vàng – Chrysolophus pictus<br></em><br></div><div><strong><br>5. Vẹt Macaw – The Lear’s Macaw<br></strong><br></div><div>Vẹt Macaw hay còn gọi là Vẹt đuôi dài có đuôi dài, từ nhỏ đến lớn, thường sặc sỡ màu sắc được phân bố chủ yếu ở Châu Mỹ. Những con vẹt này sở hữu bộ lông xanh vô cùng đẹp và lấp lánh. Vẹt Macaw là loài chim rất chung thủy. Vẹt Macaw (phát âm tiếng Việt như là Vẹt Mắc-ca) hay còn gọi là Vẹt đuôi dài là tập hợp đa dạng các loài vẹt có đuôi dài, từ nhỏ đến lớn, thường sặc sỡ màu sắc và thuộc về phân họ Vẹt Tân thế giới Arinae phân bố phần lớn ở Nam Mỹ. Nhiều loài trong số chúng được ưa chuộng để nuôi làm chim cảnh. Những con vẹt Macaw nguồn gốc ở Mexico, Trung Mỹ, Nam Mỹ, và trước đây là vùng biển Caribbe. Phần lớn các loài có liên quan đến môi trường rừng rậm, đặc biệt là rừng nhiệt đới, nhưng những loài khác thích môi trường sống như rừng hoặc thảo nguyên.<br><br></div><div>Những loài chim này thường to lớn, tối màu (thường là màu đen), đôi khi có các bản vá trên khuôn mặt nhỏ trong một số loài. Những con vẹt lớn nhất có chiều dài và sải cánh rộng là vẹt Macaw Xanh. Các con vẹt nặng nhất là vẹt Buffon, mặc dù thực tế các con vẹt nặng nhất là con vẹt Kakapo thì lại không thuộc nhóm vẹt này. Thành viên nhỏ nhất trong họ này là vẹt Macaw đỏ, là loài vẹt không lớn hơn một số loài parakeet của chi Aratinga. Vẹt đuôi dài, giống như vẹt khác, chim tu-căng (toucans) và chim gõ kiến, có các ngón chân của nó đầu tiên và thứ tư chỉ về phía sau. Đa số các loài vẹt đuôi dài đang nguy cấp trong tự nhiên. Sáu loài đã tuyệt chủng, và loài Spix Macaw hiện nay được coi là đã tuyệt chủng trong tự nhiên. Các con vẹt Macaw lục lam cũng có thể đã tuyệt chủng, chỉ với hai cá thể đáng tin cậy của nhìn thấy trong thế kỷ 20. Những vấn đề lớn nhất đe dọa vẹt là tốc độ nhanh chóng của nạn phá rừng và đánh bẫy trái phép.<br><br></div><div><em><br>Vẹt Macaw – The Lear’s Macaw<br></em><br></div><div><strong><br>6. Tucan mỏ lục (Ramphastos sulfuratus)<br></strong><br></div><div>Tu-căng Tucan có tên khoa học là (Ramphastos sulfuratus), là một loài chim đầy màu sắc và cũng là loài chim quốc gia ở Belize. Ngoài ra chúng còn được tìm thấy từ miền Nam Mexico đến Venezuela và Colombia. Đây là một con chim cỡ lớn có chiều dài cơ thể khoảng từ 42 – 55cm, riêng cái mỏ dài và lớn trông có vẻ gồ ghề đầy màu sắc của nó đã chiếm gần bằng 1/3 chiều dài cơ thể, và cái mỏ thường đạt đến chiều dài khoảng từ 12-15cm, trên thực tế cái mỏ được tạo thành như là một khối xương xốp, bên trong rỗng và bên ngoài được che phủ bởi lớp keratin, đây là một loại protein rất nhẹ và cứng. còn cân nặng cơ thể loài chim tucan này là từ 380-500g. Bộ lông của tucan chủ yếu là màu đen, dưới cổ thường có màu vàng hoặc trắng, cộng thêm màu đỏ ở phần dưới ngực và một phần đầu của cái đuôi, chân có màu xanh. Chúng sinh sống rải rác ở những tán cây của khu rừng nhiệt đới, chúng có thể sinh sống ở nơi có độ cao.<br><br></div><div>Trong rừng chim tucan ít khi sinh sống một mình, chúng bay theo từng đàn nhỏ khoảng từ 6 đến 12 cá thể thông qua các khu rừng nhiệt đới và vùng đất thấp. Chuyến bay của chúng khá chậm chạp và có khoảng cách bay thường là ngắn. Khi chúng ở trên các cành cây, chúng di chuyển bằng cách nhảy từ cành này sang cành khác. Chúng sống chung với nhau theo nhóm và thường chia sẻ nơi sinh sống từ các lỗ hẹp trên cây, hiếm khi nhìn thấy chúng một mình. Các con chim trong một gia đình thường đấu với nhau bằng mỏ, và còn ném trái cây vào miệng của nhau giống như chúng đang chơi bóng vậy. Đôi khi chúng trở nên hung dữ với một số loài chim nhỏ khác. Loài chim Tucan có chế độ ăn uống khá đa dạng, hầu hết các loại trái cây dường như chiếm phần lớn khẩu phần ăn của chúng, ngoài ra chúng còn ăn cả côn trùng, các trứng chim nhỏ và thằn lằn. Khi ăn trái cây nó thường dùng mỏ để phân tích xem trái cây đó có ăn được không trước khi di chuyển loại quả đó vào miệng và nuốt trọn.<br><br></div><div><em><br>Tucan mỏ lục (Ramphastos sulfuratus)<br></em><br></div><div><strong><br>7. Uyên ương – Aix sponsa<br></strong><br></div><div>Uyên ương là một loài chim di trú, nằm giữa hai nhóm vịt khoang và vịt mò. Được đặt tên là Uyên ương vì loài chim này luôn luôn có đôi, có cặp. Chim trống có bộ lông sặc sỡ hơn chim cái, với bộ lông nhiều màu, có các vệt màu hài hòa và đẹp mắt. Con trống (còn gọi là uyên) có bộ lông sặc sỡ khó nhầm lẫn. Nó có mỏ đỏ, vệt lông hình lưỡi liềm lớn màu trắng phía trên mắt và mặt đỏ cùng “ria”. Ngực màu tía với hai sọc trắng theo chiều dọc, hai hông hung hung đỏ, với hai cụm lông giống như hai lá buồm màu da cam ở lưng. Con mái (còn gọi là ương) trông tương tự như con mái của vịt Carolina, với vành khuyên màu trắng quanh mắt và sọc chạy ngược về phía sau từ mắt, nhưng nhạt dần, nó có sọc nhỏ màu trắng bên hông và đầu mỏ nhạt màu.<br><br></div><div>Loài này đã từng phổ biến ở miền đông châu Á, nhưng sự xuất khẩu ở quy mô lớn và sự phá hủy môi trường sinh sống miền rừng của nó đã làm suy giảm quần thể uyên ương tại miền đông Nga và tại Trung Quốc xuống dưới 1.000 đôi, mặc dù tại Nhật Bản có thể còn khoảng 5.000 đôi. Trong tự nhiên, uyên ương sinh sản trong các khu vực nhiều cây cối gần các ao, hồ nước nông, đầm lầy. Chúng làm tổ thành các hốc trên cây, gần với mặt nước. Con trống không chăm lo gì đến việc ấp và bảo vệ trứng, nó để mặc cho con mái tự làm lấy việc này. Tuy nhiên, trái với các loài vịt khác, uyên ương trống không bỏ rơi gia đình, nó chỉ tạm thời rời bỏ con mái trong thời gian ấp trứng và sẽ quay trở lại khi trứng đã nở. Ngay sau khi uyên ương con nở ra, mẹ chúng bay xuống đất và kêu để giục các con rời tổ. Sau đó các uyên ương con sẽ theo mẹ đến một vùng nước gần đó, nơi chúng sẽ thường xuyên gặp mặt cha mình – lúc này uyên ương cha đã quay trở về và bảo vệ con cái cùng mẹ chúng. Uyên ương kiếm ăn bằng cách bơi lội hay đi lại trên mặt đất. Chúng chủ yếu ăn các loại rau cỏ và hạt, đặc biệt là quả sồi. Chúng đi kiếm ăn lúc chạng vạng hay rạng đông, còn ban ngày thì đậu trên cây hay ở dưới mặt đất để nghỉ ngơi.<br><br></div><div><em><br>Uyên ương – Aix sponsa<br></em><br></div><div><strong><br>8. Chào mào đỏ phương Bắc – The Northern Cardinal<br></strong><br></div><div>Chào mào là loài chim đặc biệt đúng như tên gọi của nó, việc sở hữu bộ lông đỏ rực với cái mào cao và đỏ như bộ lông của nó. Chào mào đỏ phương Bắc phân bố chủ yếu ở vùng cực Bắc của Trái Đất, bên cạnh bộ lông rực rỡ giữa màu trắng của tuyết, chào mào còn có giọng hót vô cùng ngưỡng mộ. Chào mào đỏ phương bắc có bộ lông màu đỏ đặc trưng ở con đực và màu nâu nhạt ở con cái nhưng con chim do tổ chức Inland Bird Banding Association (IBBA) chụp hình vào năm 2014 có màu sắc khác nhau ở mỗi bên cơ thể. Theo IBBA, đây là kết quả của hiện tượng cá thể lưỡng tính (bilateral gynandromorphism). Con chim trải qua hiện tượng này có cả buồng trứng và tinh hoàn.<br><br></div><div>IBBA cho biết con chim quay trở lại Texas vào mỗi mùa đông. Sau khi IBBA chia sẻ ảnh chụp con chim trên Facebook vào cuối tháng 11, màu lông độc đáo của nó thu hút hơn 58.000 lượt chia sẻ và 6.800 bình luận. Dù hiếm gặp, hiện tượng cá thể lưỡng tính xảy ra ở cả côn trùng, với tỷ lệ 1/10.000 con bướm. Hiện tượng này được phát hiện lần đầu tiên vào thế kỷ 18 qua cá thể tôm hùm hai màu. Sau đó, các nhà khoa học đã đưa thêm thêm cua, ong, rắn, và vài loài chim vào danh sách. Chào mào đỏ phương bắc phân bố rộng rãi từ miền nam Canada tới Mexico. Loài chim biết hót này có chiều dài cơ thể 21 cm. Chúng chủ yếu ăn hạt, côn trùng và trái cây. Chim trống có tính chiếm hữu lãnh thổ. Chào mào đỏ phương bắc thường đẻ 3 – 4 quả trứng mỗi lứa.<br><br></div><div><em><br>Chào mào đỏ phương Bắc – The Northern Cardinal<br></em><br></div><div><strong><br>9. Bói cá<br></strong><br></div><div>Bói cá là một nhóm các loài chim có kích thước nhỏ và màu sắc rực rỡ thuộc Bộ Sả. Chúng phân bố rộng khắp các lục địa trên thế giới với hơn 90 loại, và hầu hết các loài được tìm thấy ngoài châu Mỹ. Trong số các loài chim, có lẽ bói cá là loài có hình dáng khá kỳ lạ bởi chiếc mỏ dài và chiếc đuôi ngắn, nhưng bù lại bói cá lại có khả năng săn mồi siêu hạng nhờ tốc độ phi rất nhanh và đôi mắt vô cùng tinh. Tuy nhiên, bói cá được khoác trên mình bộ lông vô cùng sặc sỡ và đẹp mắt. Trong khi chim bói cá thường được tìm thấy ở các khu vực có sông và hồ, hơn một nửa các loài trên thế giới được tìm thấy ở suối trong rừng. Chúng cũng chiếm một loạt các môi trường sống khác. Chim bói cá lưng đỏ của Úc sống trong những sa mạc khô cằn nhất, tuy nhiên bói cá không xuất hiện ở những sa mạc khô cằn khác như Sahara. Các loài khác sống cao trên núi, hoặc trong rừng mở và một số loài sống trên đảo san hô nhiệt đới. Nhiều loài đã thích nghi với môi trường sống bị biến đổi của con người, đặc biệt là những loài thích nghi với rừng và có thể được tìm thấy ở các khu vực trồng trọt và nông nghiệp, cũng như các công viên và vườn trong thị trấn và thành phố.<br><br></div><div>Là một trong những nhóm chim cổ chiếm lĩnh hầu hết các vùng đất trên thế giới, chim bói cá ở Việt Nam có rất nhiều loài với màu lông biếc rực rỡ. Có khoảng 90 loài chim bói cá trên toàn thế giới. Việt Nam phát hiện 12 loài. Trong đó có loài chim bí ẩn “Bồng chanh rừng Alcedo hercules” trên hình vẽ nằm trong Sách đỏ. Chúng sống ở Lai Châu, Lào Cai, Hà Tĩnh, Gia Lai. Phần trên cơ thể chim trưởng thành có nâu đen nhạt (mút lông xanh nhạt), giữa lưng và lông xanh da trời óng ánh. Hai bên cổ có vệt trắng. Má và tai đen nhạt có vệt xanh. Sả mỏ rộng Halcyon capensis chụp tại khu vực quần đảo Bà Lụa, Kiên Giang, loài này rất hiếm gặp. Chúng sống định cư ở rừng dọc theo bờ sông, suối và ở độ cao 1.200 m. Ngoài ra chúng còn ở khu vực đồng bằng, gần ao hồ, cửa sông ven biển và rừng ngập nước.<br><br></div><div><em><br>Bói cá<br></em><br></div><div><strong><br>10. Sẻ đất màu – Passerina ciris<br></strong><br></div><div>Sẻ đất màu là một loại chim nhỏ thuộc họ hồng tước. Sẻ đất màu được biết đến với thân hình nhỏ bé, nhưng được khoác bộ “áo” toàn các màu tươi sáng và là một trong những kiệt tác của tự nhiên. Không phải ngẫu nhiên, Sẻ đất màu được coi là loài chim đẹp nhất Bắc Mỹ. Tuy nhiên, với nạn săn bắn động vật bừa bãi và trái phép, Sẻ đất đang có nguy cơ tuyệt chủng. Loài chim này sinh sống ở Nam Phi. Là một loài chim sẻ có kích cỡ trung bình thân dài 14-16 cm, chúng có bộ lông nổi bật, bao gồm cả sọc đầu nhợt ở cả chim trống và chim mái. Màu bộ lông chủ yếu là màu xám, nâu và màu hạt dẻ, và chim trống có một số dấu đậm màu đen và trắng trên đầu và cổ. Loài này sinh sống ở vùng thảo nguyên bán khô cằn, khu vực canh tác, và các thị thị, và kéo dài từ bờ biển trung bộ Angola đến phía Đông Nam Phi và Swaziland. Ba phân loài được phân biệt ở các phần khác nhau trong phạm vi của loài.<br><br></div><div>Loài chim sẻ này chủ yếu ăn hạt, và cũng ăn phần mềm của cây cối và côn trùng. Chúng thường sinh sản trong nhóm, và khi vào mùa sinh sản chúng tập trung thành các đàn du mục lớn để di chuyển tìm kiếm thực phẩm. Chúng xây tổ trong một cây, một bụi cây, một khoang rỗng, hoặc tổ không được sử dụng của loài khác. Một tổ hình bát điển hình có từ ba hoặc bốn quả trứng, và cả chim bố và chim mẹ đều tham gia vào việc xây tổ và nuôi chim con. Loài chim này là loài phổ biến trong hầu hết phạm vi phân bố và cùng tồn tại thành công trong môi trường sống đô thị với hai loài họ hàng của chúng, Passer diffusus và sẻ nhà, loài chim được du nhập. Dân số của loài chim sẻ này không được ghi nhận giảm đáng kể và không bị đe dọa nghiêm trọng bởi hoạt động của con người.<br><br></div><div><em><br>Sẻ đất màu – Passerina ciris<br></em><br></div><div><a href="https://top10dieuhay.com/"><strong>Chim là loài duy nhất có lông vũ, và tuyệt đại đa số loài lông vũ đều biết bay. Đó là đặc điểm để phân biệt chim với các loài khác.Trên đây là 10 loài chim đẹpjjdjjjdnnhất thế giới. Những loài chim này có bộ cánh sặc sỡ nhất, tộic điểm cho vẻ đẹp của thiên nhiên. Hi vọng bài viết sẽ đem lại thông tin bổ ích cho các bạn.<br></strong></a><br></div><div>Chim là một trong số những loài động vật được tạo hóa ưu đãi với đôi cánh và một số loài có thể bay lượn trên bầu trời. Trong thế giới tự nhiên, có rất nhiều loài động vật tìm cách ngụy trang hoặc hòa lẫn vào môi trường xung quanh để tránh kẻ thù. Nhưng loài chim thì khác, chúng lại muốn trở nên thật nổi bật và tự hào khoe khoang vẻ đẹp lộng lẫy của mình với các “đồng loại”. Hơn nữa, những cá thể chim này còn có tập tính khá thú vị và có phần kỳ quặc, đặc biệt là vào mùa giao phối. Cùng chiêm ngưỡng vẻ đẹp của những loại chim dưới đây và những đặc tính hài hước của chúng nhé.<br><br></div><div><strong><br>1. Chim Thiên đường<br></strong><br></div><div>Chim Thiên đường là loài chim thuộc họ Paradisaeidae, sống ở một số khu vực thuộc Australasia, bao gồm miền Đông Indonesia và Việt Nam. Các thành viên của họ Thiên đường được biết đến nhiều nhất có lẽ là từ những bộ lông sặc sỡ, đẹp của các con trống thuộc phần lớn các loài, được chúng sử dụng để hấp dẫn con mái (con mái có bộ lông bình thường) bằng những điệu nhảy và xòe cánh, múa đuôi. Con trống có đuôi dài và đẹp. Một số còn có chỏm lông trên đầu hay lông cánh dài sặc sỡ. Các loài chim thiên đường là một trong những loại chim biết hót cổ xưa nhất. Thuộc họ Paradisaeidae, chim thiên đường Wilson (Cicinnurus respublica) sống trên các đảo Waigeo và Batanta ở ngoài khơi West Papua, Indonesia. Loài chim này có hình dáng không thể nhầm lẫn với bộ lông bắt mắt màu đỏ thắm, vàng, xanh lá cây và xanh nước biển. Đặc biệt, chỏm đầu màu xanh ngọc của chim thiên đường Wilson không có lông mà là một nếp da trần. Cùng với hai chiếc lông đuôi dài uốn cong, nó đóng vai trò quan trọng trong việc giúp con trống hấp dẫn bạn tình.<br><br></div><div>Giống như nhiều loài chim thiên đường khác, chỉ con trống mới sở hữu dáng vẻ rực rỡ. Những con mái có bộ lông màu nâu sáng với chỏm đầu xanh thẫm. Để thu hút sự chú ý của con mái, con trống dọn sạch những chiếc lá hoặc rác vụn để tạo ra một vũ đài trên nền rừng. Giữa mặt đất phẳng, nó sẽ trình diễn bằng cách chuyền từ cành này sang cành khác, uốn cơ thể theo nhiều tư thế, xòe bộ lông óng ánh nhiều màu và hót vang. Không chỉ lắc đầu, rướn cổ, dựng ngược đuôi, đôi khi con trống còn há to miệng trước mặt con mái để thuyết phục bạn tình. Bên cạnh đó, để “ghi điểm” trong mắt con cái, con trống sẽ dọn sạch những chiếc lá hoặc rác vụn để tạo ra một vũ đài trên nền rừng. Khi đó, nó sẽ trình diễn bằng cách chuyền từ cành này sang cành khác, uốn cơ thể theo nhiều tư thế, xòe bộ lông rực rỡ của mình và hót vang.<br><br></div><div><em><br>Chim Thiên đường</em><br><br></div><div><em><br>Chim Thiên đường<br></em><br></div><div><strong><br>2. Chim công – Khổng tước<br></strong><br></div><div>Chim công hay còn gọi là cuông, nộc dung, hay khổng tước (Pavo muticus) – loài chim thuộc họ Trĩ, được tìm thấy trong các khu rừng nhiệt đới ở Đông Nam Á, đặc biệt là Ấn Độ Chim công là loài chim được xếp vào hàng đẹp nhất thế giới. Đây là loài chim sở hữu bộ lông sắc sỡ, óng ánh và đuôi rất dài, mỗi khi xòe giống chiếc quạt tuyệt đẹp. Toàn bộ lông đuôi của chim khổng tước trống có thể lên đến 200 chiếc và phần cuối của mỗi chiếc lông được kết thúc bằng chấm bi màu nâu xanh, vàng…Bên cạnh đó, Khổng tước còn là loài mang ý nghĩa và biểu tượng vô cùng cao quý. Chim Công là một loài chim với nhiều ý nghĩa trong nền văn hóa Á Đông, là biểu tượng cho vẻ đẹp quyền quý và sang trọng. Do vậy mà chúng được nuôi làm cảnh trong các gia tộc giàu có ở Trung Quốc hay Ấn Độ.<br><br></div><div>Trong Phật giáo loài chim này luôn được gắn liền với Khổng Tước Minh Quân Bồ Tát. Do vậy mà sự hiện thân của loài chim này cũng tượng trưng cho ngài mang đến sự bình an, may mắn, cát tường cho nhân gian. Ấn Độ là một nước đa dạng về các nền văn hóa thì loài chim Công được đại diện cho vẻ đẹp tuyệt mĩ, sự may mắn, giàu sang và phú quý của nữ thần Lakshmi. Từ những ý nghĩa tốt đẹp ấy, ngày nay nhiều người thích thú lựa chon đôi chim công (chim công luôn được làm thành một đôi, con trống, con mái) để đặt trong nhà tạo phong thủy may mắn, tài lộc và cuộc sống hôn nhân vợ chồng viên mãn.<br><br></div><div><em><br>Chim công – Khổng tước<br></em><br></div><div><strong><br>3. Hồng hạc – Phoenicopteridae<br></strong><br></div><div>Hồng hạc là tên chỉ các loài chim lội nước thuộc họ Phoenicopteridae, bộ Phoenicopteriformes. Chúng sống ở cả Tây bán cầu và Đông bán cầu, nhưng sống ở Tây bán cầu nhiều hơn. Hồng hạc là loài chim cao nhất thế giới, nổi bật với bộ lông hồng kỳ lạ và vô cùng cao quý. Đặc biệt, hồng hạc là loài chim chỉ đứng bằng một chân, một điều vô cùng kỳ lạ. Chim hồng hạc là loài chim lớn có thể nhận dạng với cái cổ dài, chân dính và lông màu hồng hoặc đỏ. Màu hồng và màu đỏ của lông chim hồng hạc đến từ việc ăn các sắc tố có trong tảo và động vật không xương sống. Chim hồng hạc là loài chim nước, vì vậy chúng sống trong và xung quanh đầm hoặc hồ. Vì vậy cơ thể của chim có khả năng bị nhiễm mặn hoặc kiềm. Chim hồng hạc thường không di cư, nhưng những thay đổi về khí hậu hoặc mực nước trong khu vực sinh sản của chúng sẽ khiến chúng phải di dời.<br><br></div><div>Mức độ caroten (sắc tố hữu cơ) trong thức ăn của chúng khác nhau ở các khu vực khác nhau trên thế giới, đó là lý do tại sao chim hồng hạc Mỹ thường có màu đỏ tươi và màu cam, trong khi những con hồng hạc nhỏ của hồ Nakuru bị hạn hán ở miền trung Kenya có màu hồng nhạt hơn. Nếu một con hồng hạc ngừng ăn thức ăn có chứa carotenoids, lông mới của nó sẽ bắt đầu mọc với màu nhạt hơn nhiều, và lông đỏ của nó cuối cùng sẽ rụng đi. Lông lột xác mất màu hồng nhạt. Những gì một con hồng hạc ăn phụ thuộc vào loại mỏ mà nó có. Để ăn, chim hồng hạc sẽ khuấy động đáy hồ bằng chân và thả mỏ của chúng xuống bùn và nước để tìm thức ăn.<br><br></div><div><em><br>Hồng hạc – Phoenicopteridae<br></em><br></div><div><strong><br>4. Trĩ vàng – Chrysolophus pictus<br></strong><br></div><div>Trĩ vàng là loài chim có nguồn gốc từ châu Á, mà chủ yếu miền Tây Trung Hoa. Tuy nhiên, Trĩ vàng cũng xuất hiện ở một số nơi ở Châu Âu như Anh, Pháp… Ở Việt Nam, Trĩ vàng được nuôi làm cảnh với cái tên “chim trĩ Nhật Bản”. Chim trĩ vàng có tên khoa học là Chrysolophus pictus. Trĩ vàng là một trong những loài có bộ lông rực rỡ nhất trong họ nhà chim với “mái tóc” màu vàng rực rỡ, kết hợp với màu đỏ tươi và xanh lá cây đặc trưng. Đặc biệt, những con chim trống sở hữu chiếc đuôi dài 90-105cm vô cùng ấn tượng, chiếm khoảng 2/3 chiều dài cơ thể. Chim trĩ vàng ít khi bay và thường dành phần lớn thời gian ở trên mặt đất để tìm kiếm thức ăn như hoa quả, hạt giống và côn trùng. Trĩ vàng tượng trưng cho sự may mắn và thịnh vượng. Chim trống trưởng thành có chiều dài cơ thể khoảng từ 90 đến 105cm, riêng cái đuôi đã chiếm hết 2/3 chiều dài tổng thể và trọng lượng khoảng 900g, sải cánh khoảng 70cm.<br><br></div><div>Đây là loài chim không thể nhầm lẫn với bất kỳ loài nào khác vì bộ lông hết sức đặc biệt. Nó có một chùm lông mào màu vàng trên đỉnh đầu và phía trên lưng sau, phía dưới cổ và bụng là một màu đỏ tươi rực rỡ. Bắt đầu từ phía sau tai kéo dài xuống cổ có hình một cái quạt với các vệt màu cam và đen xen kẽ nhau, chưa hết phần lưng trên còn có một màu xanh đậm kèm theo các vệt đen xen kẽ. Đôi mắt có màu vàng sáng, chân và mỏ đều có màu vàng đục. Nó có một cái đuôi khá dài và to màu nâu xám kèm theo những chấm bi màu đen. Những màu ở đuôi này cũng được xuất hiện ở phần lông cánh. Chim mái ít màu hơn và cũng không đẹp như chim trống, với một bộ lông màu nâu nhạt, rất giống những con gà lôi. Chim mái tối màu và cơ thể mảnh mai hơn chim trống. Môi trường sống chủ yếu ngoài tự nhiên là các khu rừng rậm thường sẽ có các cây lá kim và các thân gỗ, phía dưới là những thảm thực vật dày đặc, đây được cho là môi trường yêu thích để Trĩ vàng có thể ẩn náu và không dễ dàng bị phát hiện bởi bộ lông nhiều màu sắc.<br><br></div><div><em><br>Trĩ vàng – Chrysolophus pictus<br></em><br></div><div><strong><br>5. Vẹt Macaw – The Lear’s Macaw<br></strong><br></div><div>Vẹt Macaw hay còn gọi là Vẹt đuôi dài có đuôi dài, từ nhỏ đến lớn, thường sặc sỡ màu sắc được phân bố chủ yếu ở Châu Mỹ. Những con vẹt này sở hữu bộ lông xanh vô cùng đẹp và lấp lánh. Vẹt Macaw là loài chim rất chung thủy. Vẹt Macaw (phát âm tiếng Việt như là Vẹt Mắc-ca) hay còn gọi là Vẹt đuôi dài là tập hợp đa dạng các loài vẹt có đuôi dài, từ nhỏ đến lớn, thường sặc sỡ màu sắc và thuộc về phân họ Vẹt Tân thế giới Arinae phân bố phần lớn ở Nam Mỹ. Nhiều loài trong số chúng được ưa chuộng để nuôi làm chim cảnh. Những con vẹt Macaw nguồn gốc ở Mexico, Trung Mỹ, Nam Mỹ, và trước đây là vùng biển Caribbe. Phần lớn các loài có liên quan đến môi trường rừng rậm, đặc biệt là rừng nhiệt đới, nhưng những loài khác thích môi trường sống như rừng hoặc thảo nguyên.<br><br></div><div>Những loài chim này thường to lớn, tối màu (thường là màu đen), đôi khi có các bản vá trên khuôn mặt nhỏ trong một số loài. Những con vẹt lớn nhất có chiều dài và sải cánh rộng là vẹt Macaw Xanh. Các con vẹt nặng nhất là vẹt Buffon, mặc dù thực tế các con vẹt nặng nhất là con vẹt Kakapo thì lại không thuộc nhóm vẹt này. Thành viên nhỏ nhất trong họ này là vẹt Macaw đỏ, là loài vẹt không lớn hơn một số loài parakeet của chi Aratinga. Vẹt đuôi dài, giống như vẹt khác, chim tu-căng (toucans) và chim gõ kiến, có các ngón chân của nó đầu tiên và thứ tư chỉ về phía sau. Đa số các loài vẹt đuôi dài đang nguy cấp trong tự nhiên. Sáu loài đã tuyệt chủng, và loài Spix Macaw hiện nay được coi là đã tuyệt chủng trong tự nhiên. Các con vẹt Macaw lục lam cũng có thể đã tuyệt chủng, chỉ với hai cá thể đáng tin cậy của nhìn thấy trong thế kỷ 20. Những vấn đề lớn nhất đe dọa vẹt là tốc độ nhanh chóng của nạn phá rừng và đánh bẫy trái phép.<br><br></div><div><em><br>Vẹt Macaw – The Lear’s Macaw<br></em><br></div><div><strong><br>6. Tucan mỏ lục (Ramphastos sulfuratus)<br></strong><br></div><div>Tu-căng Tucan có tên khoa học là (Ramphastos sulfuratus), là một loài chim đầy màu sắc và cũng là loài chim quốc gia ở Belize. Ngoài ra chúng còn được tìm thấy từ miền Nam Mexico đến Venezuela và Colombia. Đây là một con chim cỡ lớn có chiều dài cơ thể khoảng từ 42 – 55cm, riêng cái mỏ dài và lớn trông có vẻ gồ ghề đầy màu sắc của nó đã chiếm gần bằng 1/3 chiều dài cơ thể, và cái mỏ thường đạt đến chiều dài khoảng từ 12-15cm, trên thực tế cái mỏ được tạo thành như là một khối xương xốp, bên trong rỗng và bên ngoài được che phủ bởi lớp keratin, đây là một loại protein rất nhẹ và cứng. còn cân nặng cơ thể loài chim tucan này là từ 380-500g. Bộ lông của tucan chủ yếu là màu đen, dưới cổ thường có màu vàng hoặc trắng, cộng thêm màu đỏ ở phần dưới ngực và một phần đầu của cái đuôi, chân có màu xanh. Chúng sinh sống rải rác ở những tán cây của khu rừng nhiệt đới, chúng có thể sinh sống ở nơi có độ cao.<br><br></div><div>Trong rừng chim tucan ít khi sinh sống một mình, chúng bay theo từng đàn nhỏ khoảng từ 6 đến 12 cá thể thông qua các khu rừng nhiệt đới và vùng đất thấp. Chuyến bay của chúng khá chậm chạp và có khoảng cách bay thường là ngắn. Khi chúng ở trên các cành cây, chúng di chuyển bằng cách nhảy từ cành này sang cành khác. Chúng sống chung với nhau theo nhóm và thường chia sẻ nơi sinh sống từ các lỗ hẹp trên cây, hiếm khi nhìn thấy chúng một mình. Các con chim trong một gia đình thường đấu với nhau bằng mỏ, và còn ném trái cây vào miệng của nhau giống như chúng đang chơi bóng vậy. Đôi khi chúng trở nên hung dữ với một số loài chim nhỏ khác. Loài chim Tucan có chế độ ăn uống khá đa dạng, hầu hết các loại trái cây dường như chiếm phần lớn khẩu phần ăn của chúng, ngoài ra chúng còn ăn cả côn trùng, các trứng chim nhỏ và thằn lằn. Khi ăn trái cây nó thường dùng mỏ để phân tích xem trái cây đó có ăn được không trước khi di chuyển loại quả đó vào miệng và nuốt trọn.<br><br></div><div><em><br>Tucan mỏ lục (Ramphastos sulfuratus)<br></em><br></div><div><strong><br>7. Uyên ương – Aix sponsa<br></strong><br></div><div>Uyên ương là một loài chim di trú, nằm giữa hai nhóm vịt khoang và vịt mò. Được đặt tên là Uyên ương vì loài chim này luôn luôn có đôi, có cặp. Chim trống có bộ lông sặc sỡ hơn chim cái, với bộ lông nhiều màu, có các vệt màu hài hòa và đẹp mắt. Con trống (còn gọi là uyên) có bộ lông sặc sỡ khó nhầm lẫn. Nó có mỏ đỏ, vệt lông hình lưỡi liềm lớn màu trắng phía trên mắt và mặt đỏ cùng “ria”. Ngực màu tía với hai sọc trắng theo chiều dọc, hai hông hung hung đỏ, với hai cụm lông giống như hai lá buồm màu da cam ở lưng. Con mái (còn gọi là ương) trông tương tự như con mái của vịt Carolina, với vành khuyên màu trắng quanh mắt và sọc chạy ngược về phía sau từ mắt, nhưng nhạt dần, nó có sọc nhỏ màu trắng bên hông và đầu mỏ nhạt màu.<br><br></div><div>Loài này đã từng phổ biến ở miền đông châu Á, nhưng sự xuất khẩu ở quy mô lớn và sự phá hủy môi trường sinh sống miền rừng của nó đã làm suy giảm quần thể uyên ương tại miền đông Nga và tại Trung Quốc xuống dưới 1.000 đôi, mặc dù tại Nhật Bản có thể còn khoảng 5.000 đôi. Trong tự nhiên, uyên ương sinh sản trong các khu vực nhiều cây cối gần các ao, hồ nước nông, đầm lầy. Chúng làm tổ thành các hốc trên cây, gần với mặt nước. Con trống không chăm lo gì đến việc ấp và bảo vệ trứng, nó để mặc cho con mái tự làm lấy việc này. Tuy nhiên, trái với các loài vịt khác, uyên ương trống không bỏ rơi gia đình, nó chỉ tạm thời rời bỏ con mái trong thời gian ấp trứng và sẽ quay trở lại khi trứng đã nở. Ngay sau khi uyên ương con nở ra, mẹ chúng bay xuống đất và kêu để giục các con rời tổ. Sau đó các uyên ương con sẽ theo mẹ đến một vùng nước gần đó, nơi chúng sẽ thường xuyên gặp mặt cha mình – lúc này uyên ương cha đã quay trở về và bảo vệ con cái cùng mẹ chúng. Uyên ương kiếm ăn bằng cách bơi lội hay đi lại trên mặt đất. Chúng chủ yếu ăn các loại rau cỏ và hạt, đặc biệt là quả sồi. Chúng đi kiếm ăn lúc chạng vạng hay rạng đông, còn ban ngày thì đậu trên cây hay ở dưới mặt đất để nghỉ ngơi.<br><br></div><div><em><br>Uyên ương – Aix sponsa<br></em><br></div><div><strong><br>8. Chào mào đỏ phương Bắc – The Northern Cardinal<br></strong><br></div><div>Chào mào là loài chim đặc biệt đúng như tên gọi của nó, việc sở hữu bộ lông đỏ rực với cái mào cao và đỏ như bộ lông của nó. Chào mào đỏ phương Bắc phân bố chủ yếu ở vùng cực Bắc của Trái Đất, bên cạnh bộ lông rực rỡ giữa màu trắng của tuyết, chào mào còn có giọng hót vô cùng ngưỡng mộ. Chào mào đỏ phương bắc có bộ lông màu đỏ đặc trưng ở con đực và màu nâu nhạt ở con cái nhưng con chim do tổ chức Inland Bird Banding Association (IBBA) chụp hình vào năm 2014 có màu sắc khác nhau ở mỗi bên cơ thể. Theo IBBA, đây là kết quả của hiện tượng cá thể lưỡng tính (bilateral gynandromorphism). Con chim trải qua hiện tượng này có cả buồng trứng và tinh hoàn.<br><br></div><div>IBBA cho biết con chim quay trở lại Texas vào mỗi mùa đông. Sau khi IBBA chia sẻ ảnh chụp con chim trên Facebook vào cuối tháng 11, màu lông độc đáo của nó thu hút hơn 58.000 lượt chia sẻ và 6.800 bình luận. Dù hiếm gặp, hiện tượng cá thể lưỡng tính xảy ra ở cả côn trùng, với tỷ lệ 1/10.000 con bướm. Hiện tượng này được phát hiện lần đầu tiên vào thế kỷ 18 qua cá thể tôm hùm hai màu. Sau đó, các nhà khoa học đã đưa thêm thêm cua, ong, rắn, và vài loài chim vào danh sách. Chào mào đỏ phương bắc phân bố rộng rãi từ miền nam Canada tới Mexico. Loài chim biết hót này có chiều dài cơ thể 21 cm. Chúng chủ yếu ăn hạt, côn trùng và trái cây. Chim trống có tính chiếm hữu lãnh thổ. Chào mào đỏ phương bắc thường đẻ 3 – 4 quả trứng mỗi lứa.<br><br></div><div><em><br>Chào mào đỏ phương Bắc – The Northern Cardinal<br></em><br></div><div><strong><br>9. Bói cá<br></strong><br></div><div>Bói cá là một nhóm các loài chim có kích thước nhỏ và màu sắc rực rỡ thuộc Bộ Sả. Chúng phân bố rộng khắp các lục địa trên thế giới với hơn 90 loại, và hầu hết các loài được tìm thấy ngoài châu Mỹ. Trong số các loài chim, có lẽ bói cá là loài có hình dáng khá kỳ lạ bởi chiếc mỏ dài và chiếc đuôi ngắn, nhưng bù lại bói cá lại có khả năng săn mồi siêu hạng nhờ tốc độ phi rất nhanh và đôi mắt vô cùng tinh. Tuy nhiên, bói cá được khoác trên mình bộ lông vô cùng sặc sỡ và đẹp mắt. Trong khi chim bói cá thường được tìm thấy ở các khu vực có sông và hồ, hơn một nửa các loài trên thế giới được tìm thấy ở suối trong rừng. Chúng cũng chiếm một loạt các môi trường sống khác. Chim bói cá lưng đỏ của Úc sống trong những sa mạc khô cằn nhất, tuy nhiên bói cá không xuất hiện ở những sa mạc khô cằn khác như Sahara. Các loài khác sống cao trên núi, hoặc trong rừng mở và một số loài sống trên đảo san hô nhiệt đới. Nhiều loài đã thích nghi với môi trường sống bị biến đổi của con người, đặc biệt là những loài thích nghi với rừng và có thể được tìm thấy ở các khu vực trồng trọt và nông nghiệp, cũng như các công viên và vườn trong thị trấn và thành phố.<br><br></div><div>Là một trong những nhóm chim cổ chiếm lĩnh hầu hết các vùng đất trên thế giới, chim bói cá ở Việt Nam có rất nhiều loài với màu lông biếc rực rỡ. Có khoảng 90 loài chim bói cá trên toàn thế giới. Việt Nam phát hiện 12 loài. Trong đó có loài chim bí ẩn “Bồng chanh rừng Alcedo hercules” trên hình vẽ nằm trong Sách đỏ. Chúng sống ở Lai Châu, Lào Cai, Hà Tĩnh, Gia Lai. Phần trên cơ thể chim trưởng thành có nâu đen nhạt (mút lông xanh nhạt), giữa lưng và lông xanh da trời óng ánh. Hai bên cổ có vệt trắng. Má và tai đen nhạt có vệt xanh. Sả mỏ rộng Halcyon capensis chụp tại khu vực quần đảo Bà Lụa, Kiên Giang, loài này rất hiếm gặp. Chúng sống định cư ở rừng dọc theo bờ sông, suối và ở độ cao 1.200 m. Ngoài ra chúng còn ở khu vực đồng bằng, gần ao hồ, cửa sông ven biển và rừng ngập nước.<br><br></div><div><em><br>Bói cá<br></em><br></div><div><strong><br>10. Sẻ đất màu – Passerina ciris<br></strong><br></div><div>Sẻ đất màu là một loại chim nhỏ thuộc họ hồng tước. Sẻ đất màu được biết đến với thân hình nhỏ bé, nhưng được khoác bộ “áo” toàn các màu tươi sáng và là một trong những kiệt tác của tự nhiên. Không phải ngẫu nhiên, Sẻ đất màu được coi là loài chim đẹp nhất Bắc Mỹ. Tuy nhiên, với nạn săn bắn động vật bừa bãi và trái phép, Sẻ đất đang có nguy cơ tuyệt chủng. Loài chim này sinh sống ở Nam Phi. Là một loài chim sẻ có kích cỡ trung bình thân dài 14-16 cm, chúng có bộ lông nổi bật, bao gồm cả sọc đầu nhợt ở cả chim trống và chim mái. Màu bộ lông chủ yếu là màu xám, nâu và màu hạt dẻ, và chim trống có một số dấu đậm màu đen và trắng trên đầu và cổ. Loài này sinh sống ở vùng thảo nguyên bán khô cằn, khu vực canh tác, và các thị thị, và kéo dài từ bờ biển trung bộ Angola đến phía Đông Nam Phi và Swaziland. Ba phân loài được phân biệt ở các phần khác nhau trong phạm vi của loài.<br><br></div><div>Loài chim sẻ này chủ yếu ăn hạt, và cũng ăn phần mềm của cây cối và côn trùng. Chúng thường sinh sản trong nhóm, và khi vào mùa sinh sản chúng tập trung thành các đàn du mục lớn để di chuyển tìm kiếm thực phẩm. Chúng xây tổ trong một cây, một bụi cây, một khoang rỗng, hoặc tổ không được sử dụng của loài khác. Một tổ hình bát điển hình có từ ba hoặc bốn quả trứng, và cả chim bố và chim mẹ đều tham gia vào việc xây tổ và nuôi chim con. Loài chim này là loài phổ biến trong hầu hết phạm vi phân bố và cùng tồn tại thành công trong môi trường sống đô thị với hai loài họ hàng của chúng, Passer diffusus và sẻ nhà, loài chim được du nhập. Dân số của loài chim sẻ này không được ghi nhận giảm đáng kể và không bị đe dọa nghiêm trọng bởi hoạt động của con người.<br><br></div><div><em><br>Sẻ đất màu – Passerina ciris<br></em><br></div><div><a href="https://top10dieuhay.com/"><strong>Chim là loài duy nhất có lông vũ, và tuyệt đại đa số loài lông vũ đều biết bay. Đó là đặc điểm để phân biệt chim với các loài khác.Trên đây là 10 loài chim đẹp nhất thế giới. Những loài chim này có bộ cánh sặc sỡ nhất, tô điểm cho vẻ đẹp của thiên nhiên. Hi vọng bài viết sẽ đem lại thông tin bổ ích cho các bạn.<br></strong></a><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://kenhsongao.com/uploads/2021/06/chim-quy-hiem-nhat-the-gioi-33586.jpg" />
         <pubDate>2022-03-23 02:09:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2108758937</guid>
      </item>
      <item>
         <title>02. Hoàng Quỳnh Anh</title>
         <author>physicalchemistrylaboratory</author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2108760742</link>
         <description><![CDATA[<div>hối lượng thay đổi tùy loài, có thể lên đến vài chục kilôgam. Chúng thường sống thành bầy, đông tới hàng nghìn con. Chim này còn có tên gọi khác là penguin (Anh), le pingouin (Pháp), Pinguine (Đức), Xí nga (Trung Quốc). Số lượng loài hiện tồn tại vẫn là một chủ đề gây tranh cãi.<br><br></div><div>Chim cánh cụt thích nghi tốt với cuộc sống dưới nước. Các cánh của chúng đã tiến hóa thành các chân chèo và không có tác dụng để bay trong không gian. Tuy nhiên, trong nước thì chim cánh cụt lại nhanh nhẹn một cách đáng ngạc nhiên. Chim cánh cụt có thể bơi lặn trong nước với vận tốc từ 6 tới 12 km/h, mặc dù có một số báo cáo cho rằng tốc độ có thể lên tới 27 km/h (điều này có thể xảy ra khi chúng bị giật mình hay bị tấn công).<br><br></div><div>Các loài chim cánh cụt nhỏ không lặn sâu và chỉ săn tìm mồi gần mặt nước và chỉ lặn khoảng 1-2 phút. Các loài chim cánh cụt lớn có thể lặn sâu khi cần thiết. Chim cánh cụt có thính giác tốt. Các mắt của chúng đã thích nghi với việc quan sát dưới nước và là phương tiện chủ yếu của chúng để định vị con mồi và lẩn tránh kẻ thù. Ngược lại, ở trên cạn thì chúng là cận thị.<br><br></div><div>Chim cánh cụt không có cơ quan sinh dục ngoài. Kết quả là chỉ có thử nghiệm nhiễm sắc thể mới xác định được giới tính của chúng. Một số loài chim cánh cụt có thể giao phối cả đời, trong khi các loài khác chỉ giao phối một mùa. Nói chung, chúng tạo ra một bầy con nhỏ và cả chim bố lẫn chim mẹ cùng chăm sóc con non.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://daohieu.com/wp-content/uploads/2020/05/chim-canh-cut-lan-cung-nhau-834x1024.jpg" />
         <pubDate>2022-03-23 02:10:47 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2108760742</guid>
      </item>
      <item>
         <title>(Cao Viết Quân) chim bồ câu</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2108771198</link>
         <description><![CDATA[<div><br>Thân nhiệt chim bồ câu ổn định trong điều kiện nhiệt độ môi trường thay đổi; chim bồ câu là động vật hằng nhiệt.<br><br></div><div><br>Thân chim hình thoi làm giảm sức cản không khí khi bay. Da khô phủ lông vũ. Lông vũ bao phủ toàn thân là lông ống, có phiến lông rộng tạo thành cánh, đuôi chim (vai trò bánh lái). Lông vũ mọc áp sát vào thân là lông tơ. Lông tơ chỉ có chùm sợi lông mảnh tạo thành lớp xốp giữ nhiệt và làm thân chim nhẹ.<br><br></div><ul><li>Cánh chim khi xòe ra tạo thành một diện tích rộng quạt gió, khi cụp lại thì gọn áp vào thân.</li><li>Chi sau có bàn chân dài ba ngón trước, một ngón sau, đều có vuốt, giúp chim bám chặt vào cành cây khi chim đậu hoặc duỗi thẳng, xòe rộng ngón khi chim hạ cánh.</li><li>Mỏ sừng bao bọc hàm không có răng, làm đầu chim nhẹ. Cổ dài, đầu chim linh hoạt, phát huy được tác dụng của giác quan (mắt, tai), thuận lợi khi bắt mồi, rỉa lông. Tuyến phao câu tiết chất nhờn khi chim rỉa lông làm lông mịn, không thấm nước.</li></ul><div><strong><br>Di chuyển</strong>[<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=H%E1%BB%8D_B%E1%BB%93_c%C3%A2u&amp;veaction=edit&amp;section=2">sửa</a> | <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=H%E1%BB%8D_B%E1%BB%93_c%C3%A2u&amp;action=edit&amp;section=2">sửa mã nguồn</a>]</div><ul><li>Chim bồ câu cũng như nhiều loài chim khác chỉ có kiểu bay vỗ cánh như chim sẻ, chim ri, chim khuyên, gà...</li></ul><div><br>a) Khi chim cất cánh chân chim khuỵu xuống, cánh chim dang rộng đưa lên cao, tiếp theo cánh chim đập mạnh xuống, cổ chim vươn ra, chân chim duỗi thẳng đập mạnh vào giá thể làm chim bật cao lên.<br><br></div><div><br>b) Khi chim hạ cánh, cánh chim dang rộng để cản không khí, chân chim duỗi thẳng chuẩn bị cho sự hạ cánh được dễ dàng.<br><br></div><div><strong><br>Các tư thế bay vỗ cánh của chim bồ câu</strong></div><ul><li>Khi chim bay thân nằm xiên, đuôi xòe ngang, cổ vươn thẳng về phía trước, chân duỗi thẳng áp sát vào thân, cánh mở rộng đập liên tục từ trên xuống dưới, từ trước về sau. Sau đó chim nâng cánh bằng cách gập cánh lại, rồi nâng lên làm giảm sức cản của không khí. Khi chim đập cánh, phía ngoài cánh hạ thấp hơn phía trong thì cánh không những được không khí nâng lên mà chim còn được đẩy về phía trước.</li></ul>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1639095472/234e1386ac2a9c9bebfb959fd1e4233f/1.png" />
         <pubDate>2022-03-23 02:17:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2108771198</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2108774430</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://thewillnigeria.com/news/wp-content/uploads/2020/05/Cristiano-Ronaldo.jpg" />
         <pubDate>2022-03-23 02:19:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2108774430</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2109237612</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://static.independent.co.uk/s3fs-public/thumbnails/image/2017/06/23/12/ronaldo.jpg?width=1200&amp;auto=webp&amp;quality=75" />
         <pubDate>2022-03-23 08:21:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2109237612</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2109238678</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://i.ytimg.com/vi/zZixJwKPMVE/maxresdefault.jpg" />
         <pubDate>2022-03-23 08:22:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2109238678</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2111733419</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://wallpapercave.com/wp/wp4646291.jpg" />
         <pubDate>2022-03-24 12:24:17 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2111733419</guid>
      </item>
      <item>
         <title>( Bùi Trần Quỳnh Chi) chim cúc cu</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2114959132</link>
         <description><![CDATA[<div>Chim cút vị ngọt tính bình, có tác dụng bổ ngũ tạng, lợi cửu khiếu, ích trung khí, mạnh gân cốt. Dùng cho các đối tượng suy nhược thần kinh và thể lực, trẻ em suy dinh dưỡng, người già lú lẫn, phụ nữ có thai và cho con bú, người mới ốm dậy cần lấy lại sức, người lao động vất vả chân tay và trí óc.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1643656148/7c19c423c7295606ff662a0f8d388f5d/chim_cu_gay_compressed.jpg" />
         <pubDate>2022-03-26 16:38:43 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2114959132</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Bùi trần Quỳnh Chi chim thiên Nga</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2114962325</link>
         <description><![CDATA[<div>Thiên nga thường được mọi người coi như biểu tượng của sự đẹp đẽ và sang trọng. Thiên nga còn là biểu tượng của tình yêu vì loài chim này thường sống thành từng đôi và hiếm khi tách rời.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1643656148/54bf9c8c9a37cca319c850d5dadf6a03/vi_sao_phai_nu_yeu_thich_day_chuyen_thien_nga_den_vay12.jpg" />
         <pubDate>2022-03-26 16:43:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhhuedva/m4quxyfdzvp6fb4/wish/2114962325</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
