<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title>Assignment 2 – Team N5 by </title>
      <link>https://padlet.com/minhlu16_k43/m3z48o622r7e</link>
      <description>Được tạo ra rất ngầu</description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2020-02-29 05:47:41 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2023-09-09 02:05:44 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url></url>
      </image>
      <item>
         <title>Câu 1</title>
         <author>minhlu16_k43</author>
         <link>https://padlet.com/minhlu16_k43/m3z48o622r7e/wish/502730510</link>
         <description><![CDATA[<div>Có 5 giai đoạn của lịch sử hệ thống tiền tệ quốc tế. <br> <strong>1. Chế độ song bản vị (Trước năm 1870).<br></strong>    - Chế độ song bản vị hay còn gọi là chế độ lưỡng kim bản vị là chế độ tiền tệ trong đó cả bạc lẫn vàng đều được sử dụng làm tiền tệ lưu hành song song nhau, và cả hai đều có giá trị thanh toán theo một tương quan do Nhà nước ấn định<em>. (Ở US - 1 gram bạc = 15 gram vàng, ở Pháp - 1 gram bạc = 15,5 gram vàng).</em><br>    - Vàng, bạc được ưa chuộng vì đặc tính sự khan hiếm, tính bền, có thể chuyên chở, dễ phân chia, đồng chất và chất lượng được duy trì lâu bền.<br>    - Năm 1840 - 1860: Sự ra đời của tiền đúc "Thiếu giá".<br>    - Quy luật T.Gresham (Anh): <em>"Trong một quốc gia khi nào hai thứ tiền tệ cùng được luật pháp công nhận theo một giá đổi chính thức, đồng tiền xấu sẽ dần dần đuổi đồng tiền tốt ra khỏi lưu thông".</em><br><strong><em>Ưu điểm:</em></strong> thúc đẩy thương mại quốc tế diễn ra nhanh chóng, có nhiều tiến bộ hơn so với thời kỳ nền kinh tế đổi chác hiện vật.<br><strong><em>Nhược điểm: </em></strong>Nhà nước khó kiểm soát số lượng vàng, bạc, hai thước đo giá trị, hai hệ thống giá cả gây trở ngại trong việc tính toán và lưu thông hàng hóa.<br> -<strong><em> Sự sụp đỗ</em></strong> của chế độ song bản vị vài cuối những năm 1860 do bạc bị mất giá trị do bị khai thác và sử dụng quá nhiều dẫn đến nhiều quốc gia không dùng bạc làm đồng tiền quốc gia nữa.<strong><em><br></em></strong><strong>2. Chế độ bản vị vàng (1870 - 1914).<br></strong>    - Chế độ bản vị vàng là một hệ thống tiền tệ trong đó tiền của một quốc gia có giá trị được liên kết trực tiếp với vàng. Trong chế độ bản vị vàng, các quốc gia đã đồng ý chuyển đổi tiền giấy thành một lượng vàng cố định. Một quốc gia sử dụng bản vị vàng đặt giá cố định cho vàng và mua bán vàng ở mức giá đó. Mức giá cố định đó được sử dụng để xác định giá trị của tiền tệ. <br>    - Đặc trưng và nguyên tắc cơ bản của chế độ bản vị vàng<br>     * Quốc gia ấn định cố định giá trị đồng tiền của mình với vàng.<br>     * Tự do đúc tiền vàng đủ giá.<br>     *  Tự do đổi tiền phù hiệu lấy tiền vàng đủ giá.<br>     *  Tự do xuất nhập khẩu vàng. <br>     *  Dự trữ vàng với quy mô đủ lớn là yêu cầu để bảo đảm sức mua đồng tiền.<br><strong><em>Ưu điểm:</em></strong> Các quốc gia ấn định cố định giá trị đồng tiền của mình với vàng, không hạn chế việc mua và bán vàng tại mức giá đã qui định. Xuất nhập khẩu vàng giữa các quốc gia được tự do hoạt động.Tiền do ngân hàng trung ương phát hành được bảo đảm 100% bằng vàng.<br><strong><em>Nhược điểm: </em></strong>Nền kinh tế thường xuyên trải qua bất ổn.Những phát hiện mới về các mỏ vàng có thể xuất hiện bất ngờ, làm tăng cung ứng tiền và lạm phát đột biến.Những quốc gia khan hiếm vàng bị hạn chế cung ứng vàng, kìm hãm phát triển kinh tế.Quốc gia thâm hụt cán cân kinh tế phải trải qua thời kì đình đốn, quốc gia có thặng dư cán cân kinh tế phải trải qua thời kì lạm phát.<br>    - Chế độ bản vị vàng sụp đỗ hoàn toàn nằm <strong>1987<br>3. Hệ thống tiền tệ trong hai cuộc chiến tranh thế giới (1914 - 1944) </strong></div><div>   - Các nước bắt buộc sử dụng cơ chế thả nổi. Do tham gia chiến tranh chậm nhất nên Mỹ là nước có lạm phát thấp hơn các nước châu Âu, làm tắng sức mạnh cạnh tranh thương mại.  Sau chiến tranh các nước châu Âu lại tiếp tục thả nổi khiến đồng tiền bị phá giá đáng kể so với Đô La,<br>   - Một số nước quay về với chế độ bản vị vàng: <br>     * 1919: Mỹ quay trở về với chế độ bản vị vàng<br>     * 1922: Một số nước như Anh, Pháp, Nhật,... đồng ý chương trình kêu gọi quay về với chế độ bản vị vàng<br>     * 1925: Anh đã ấn định bản vị vàng ở mức giống như trước khi chiến tranh xảy ra <br>     * 1929: Cuộc Đại suy thoái kinh tế đã làm sụp đỗ hệ thống ngân hàng thế giới làm tan biến lòng tin và khả năng các quốc gia tiếp tục duy trì quy đổi đồng tiền ra vàng.<br>     * 21/09/1931: buộc Anh và các nước khác từ bỏ chế độ tỷ giá cố định và việc chuyển đổi đồng tiền nước mình sang vàng.<br>     * 1933: Mỹ nối bước Anh.<br><strong>4. Hệ thống Bretton Woods (1944 – 1971) <br></strong>   - Sau thế chiến thứ 2, vào năm 1944 một hội nghị quốc tế họp tại<strong> </strong>Bretton Woods gồm 44 quốc gia đã đưa ra một loạt các biện pháp liên quan đến lĩnh vực tài chính, tiền tệ. Các nước đã thống nhất thành lập ra một hệ thống tài chính gọi là Bretton Woods -- gồm <strong>Quỹ tiền tệ quốc tế  (IMF)</strong>,<strong> ngân hàng thế giới (WB)</strong> và <strong>chế độ tỷ giá đối đoái cố định được xây dựng quanh đồng USD và vàng.<br></strong>   - Thực chất Bretton Woods là thỏa thuận hướng về việc giữ giá đồng tiền các nước theo giá vàng và chống lạm phát giá cả.<br>   - Theo hệ thống này, mỗi quốc gia xây dựng chính sách ngang giá tương ứng với đồng Đô la Mỹ và một giá vàng, tính bằng đô la không biến đổi là 35 USD/ounce.  <br><strong><em>Sự sụp đỗ </em></strong>của hệ thống Bretton Woods do<br>   - Từ Mỹ; <br>      * Nằm ở vấn đề thanh toán: với mức giá 35$/ounce thì tổng tài sản nợ của chính phủ Mỹ vượt tổng tài sản có bằng vàng. Chính phủ Mỹ bộc lộ mất khả năng thanh toán, các ngân hàng TW nước ngoài sẽ chuyển đổi USD dự trữ vàng, do lượng vàng không đủ nên Mỹ từ chối việc chuyển đổi USD ra vàng, chấm dứt duy trì tỷ giá cố định với USD.<br>       * Thiếu cơ chế điều chỉnh: Tỷ lệ lạm phát sau nhiều năm tuy tăng cao nhưng chính phủ Mỹ không thể điều chỉnh giá USD với vàng, <br>  - Từ các nước đối tác chủ yếu: <br>       * Đối với các nước có BOP thâm hụt: việc phá giá đồng tiền của mình thường được xem là yếu kém của chính phủ và cả một quốc gia.<br>       * Đối với các nước thặng dư BOP: việc nâng giá đồng tiền cũng gây khó khăn và miễn cưỡng, vì các nước này lo nêu nâng giá đồng bản tệ sẽ làm tăng trưởng xuất khẩu chậm lại, thất nghiệp gia tăng và hậu quả do lạm phảt<br><strong>5.  Hệ thống tiền tệ quốc tế hậu Bretton Woods.<br>  * Sự ra đời của quyền rút vốn đặt biệt (SDR)<br>  * Sự ra đời của Liên minh châu Âu (EU) và hệ thống tiền tệ châu Âu (EMS)<br>     </strong>- Các hình thức liên kết kinh tế: Khu vực mậu dịch tự do; Liên minh thuế quan; Thị trường chung; Liên minh kinh tế; Liên minh tiền tệ. <br>     - Quá trình hình thành liên minh kinh tế và tiền tệ châu Âu. <br>       * Năm 1957: Được thành lập dựa trên hiệp ước Roma gồm 6 thành viên: Bỉ, Đức, Hà Lan, Luxembourg, Pháp, Ý tới năm 2019 đã lên 27 nước.<br>       * Năm 1979 Hệ thống tiền tệ Châu Âu được hình thành.<br>       * Năm 1991 Liên minh tiền tệ Châu Âu bắt đầu đi vào hoạt động, đồng EURO ra đời và tồn tại song song với các đồng tiền quốc gia thông qua tỷ giá chuyển đổi được công bố dưới dạng tiền ghi sổ. <br>       * 1/1/1999:  Liên minh kinh tế và tiền tệ châu Âu chính thức ra đời <br><strong><em>Lợi ích: </em></strong>Kích thích phát triển thương mại trong nội bộ EU.Các yếu tố sản xuất được phân bổ hiệu quả hơn trong EU.Tiết kiệm dự trữ ngoại hối và lợi ích từ phát hành tiền.Tăng cường thanh khoản cho thị trường tài chính. <br><strong><em>Chi phí: </em></strong>Mất quyền tự chủ trong hoạch định chính sách tiền tệ.Mất quyền tự chủ trong chính sách kinh tế vĩ mô.Bất bình đẳng khu vực.Chi phí thời kỳ quá độ. <br>  *<strong> Hệ thống tiền tệ quốc tế ngày nay</strong> <br>      - Hệ thống tiền tệ quốc tế được đặc trưng bởi sự hợp tác đa phương của các nước dựa trên chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết, xu thế toàn hội nhập và cầu hóa của các nước.  <br>      - Hoạt động của các định chế tài chính quốc tế được tăng cường và mở rộng trên nhiều lĩnh vực: đời sống kinh tế – xã hội của các nước. <br>      - Sự phát triển và ổn định của hệ thống tiền tệ châu Âu mở ra khả năng hợp tác tiền tệ trong các khu vực và trên thế giới: Đông Nam Á và Châu Á. </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2020-04-11 08:14:08 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhlu16_k43/m3z48o622r7e/wish/502730510</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Câu 2</title>
         <author>minhlu16_k43</author>
         <link>https://padlet.com/minhlu16_k43/m3z48o622r7e/wish/502730560</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Quyền rút vốn đặc biệt (Special Drawing Rights) (SDR)</strong> là một dạng tiền dự trữ quốc tế do Quĩ Tiền tệ Quốc tế (IMF) tạo ra vào năm 1969, có vai trò bổ sung cho dự trữ tiền có của các quốc gia thành viên. SDR giải quyết những hạn chế của vàng và đôla Mỹ, là phương tiện duy nhất để thanh toán các tài khoản quốc tế, SDR tăng cường thanh khoản quốc tế bằng cách bổ sung thêm đồng tiền dự trữ tiêu chuẩn.<br>Mục đích của SDR <br>SDR là bộ phận chính của dự trữ quốc tế, còn vàng và các tiền tệ dự trữ chỉ là phần bổ sung nhỏ cho dự trữ quốc tế. Để tham gia vào hệ thống này, một quốc gia bắt buộc phải có dự trữ chính thức.<br>Dự trữ chính thức bao gồm vàng và ngoại tệ được chấp nhận phổ thông trong giao dịch quốc tế của ngân hàng trung ương hoặc chính phủ có thể được dùng để mua lại nội tệ nhằm duy trì tỉ giá ổn định.<br>Nguồn cung quốc tế của đồng đôla Mỹ và vàng - hai tài sản dự trữ chính không đủ để hỗ trợ tăng trưởng trong thương mại toàn cầu và các giao dịch tài chính liên quan đang diễn ra vào thời điểm đó. <br>=&gt; Thúc đẩy các quốc gia thành viên tạo ra một tài sản dự trữ quốc tế theo hướng dẫn của IMF.<br>Bên cạnh vai trò là một tài sản dự trữ phụ trợ, SDR là <em>đơn vị kế toán</em> của IMF. Giá trị của SDR được tính từ một rổ các loại tiền tệ chính: đồng yên Nhật(8.33%), đôla Mỹ(41.73%), Nhân dân tệ(10,92%), Bảng Anh ( 8,09%) và đồng euro(30,93%).<br><br><strong>Sử dụng SDR để thanh toán</strong><br>Các thành viên nắm giữ SDR có thể sử dụng chúng để đổi lấy các loại tiền được sử dụng phổ biến bằng cách tự nguyện trao đổi với nhau qua nghiệp vụ swap, hoặc dưới sự chỉ đạo của IMF yêu cầu các quốc gia có nền kinh tế mạn hoặc dự trữ ngoại tệ lớn hơn phải mua SDR từ các quốc gia thành viên gặp khó khăn.<br>Các quốc gia thành viên IMF có thể vay SDR từ dự trữ của IMF với lãi suất ưu đãi, chủ yếu với mục đích điều chỉnh, tạo ra vị thế có lợi cho cán cân thanh toán của họ.<br><br><strong>Mua và bán SDR</strong><br>Các thành viên IMF có thể dùng SDR để mua đồng tiền của các thành viên khác với tỷ giá hiện hành được điều chỉnh mỗi ngày được tính toán dựa vào tỷ giá thị trường và tỷ trọng các đồng tiền trong rổ SDR. Vào ngày 11 tháng 4 năm 2020, giá trị của SDR là 1 SDR = 1.367290 USD. <br><br><strong>Lãi suất của SDR<br></strong>SDR là một công cụ có lãi. Các thành viên nhận lãi suất SDR theo tỷ lệ nắm giữ và thanh toán tiền lãi SDR tính trên phần phân bổ SDR của mình. Các thành viên giảm phần phân bổ ban đầu của mình để mua đồng tiền nước khác phải trả lãi SDR, và các thành viên có đồng tiền được mua sẽ nhận tiền lãi trên phần SDR tăng thêm. Lãi suất SDR được tính dựa trên bình quân gia quyền của lãi suất cho vay ngắn hạn điển hình của các quốc gia có đồng tiền trong rổ tiền tệ SDR và được điều chỉnh hàng tuần. Vào ngày 11 tháng 4 năm 2020, lãi suất SDR là 0.05%. Tiền lãi được trả theo quý.</div><div><br><strong>Phân bổ SDR </strong></div><ul><li>Theo các điều khoản thỏa thuận, IMF có thể phân bổ SDR tới các quốc gia thành viên theo tỷ lệ hạn ngạch thương mại của họ trong IMF. Sự phân bổ như vậy cung cấp cho mỗi thành viên một tài sản dự trữ quốc tế vô điều kiện, không tốn chi phí. Cơ chế SDR là tự chủ về tài chính và các khoản thu thuế phân bổ sau đó được sử dụng để trả lãi cho việc nắm giữ SDR.</li><li>Các quyết định phân bổ chung được thực hiện trong giai đoạn kế tiếp đến 5 năm. Sự phân bổ đầu tiên với là 0.3 tỉ SDR vào năm 1970-72; lần thứ hai là 12.1 tỷ SDR năm 1979-81; lần thứ ba là 161.2 tỷ SDR vào 2009.</li><li>Việc sửa đổi lần thứ có hiệu lực vào ngày 10/08/2009, đưa ra một sự phân bổ cụ thể của 21.5 tỷ SDR. Mục đích của sự phân bổ lần thứ tư là cho phép các thành viên IMF tham gia vào hệ thống SDR dựa trên cơ sở công bằng.</li><li>Năm 2009, tổng số phân bổ SDR tích lũy tăng lên đến 204.1 tỷ SDR.</li></ul><div><br><strong>Thông tin liên quan đến SDR Việt Nam</strong></div><ul><li>Hiện tại 1 SDR = 32039.99 VND</li><li>SDR được coi là một thành phần dự trữ ngoại hối nhà nước của Việt Nam. Như vậy, về nguyên tắc, trong trường hợp Việt Nam có nhu cầu “ngoại tệ tự do sử dụng”, là các ngoại tệ có trong thành phần rổ tiền tệ SDR, Việt Nam có thể sử dụng SDR có trong dự trữ ngoại hối của mình để đổi lấy “ngoại tệ tự do sử dụng” đó từ các quốc gia thành viên. Trường hợp Việt Nam không tìm được quốc gia đối tác sẵn sàng đổi “ngoại tệ tự do sử dụng”, trên cơ sở các nhu cầu được quy định tại Điều khoản thỏa thuận của IMF, IMF sẽ chỉ định một quốc gia thành viên có trạng thái dự trữ ngoại hối đủ mạnh để thực hiện việc trao đổi với Việt Nam.</li><li>Tăng vốn cổ phần đặc biệt năm 2008: vốn cổ phần của Việt Nam tại IMF đã tăng thêm 131,6 triệu SDR từ 329,1 triệu SDR lên 460,7 triệu SDR. Việc góp vốn của Việt Nam đã hoàn tất và chính thức có hiệu lực kể từ ngày 27/4/2011.</li><li>Tháng 10/2016 tỷ trọng nợ nước ngoài bằng SDR khoảng 20-22%</li><li>Hiện nay cổ phần của Việt Nam tại IMF bằng 460,7 triệu SDR, chiếm 0,193% tổng khối lượng cổ phần và có tỷ lệ phiếu bầu là 0,212% tổng số quyền bỏ phiếu. Việt Nam thuộc nhóm Đông Nam Á với 13 nước thành viên.</li><li>Về tăng vốn cổ phần, trong đợt rà soát vốn cổ phần tổng thể lần 14 của IMF, vốn cổ phần của Việt Nam tại IMF sẽ tiếp tục tăng từ 0,4607 tỷ SDR lên 1,1531 tỷ SDR (tăng thêm 692,4 triệu SDR). Trong đợt tăng vốn lần này, số cổ phần của Việt Nam tăng khoảng 150% so với mức tăng chung 100%, do ngoài mức tăng 100% cổ phần như các nước khác, tỷ lệ cổ phần của Việt Nam cũng được tăng từ 0,193% lên 0,242%. Điều này phản ánh thành tựu kinh tế và vị thế tiếng nói ngày càng tăng của Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế</li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2020-04-11 08:14:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhlu16_k43/m3z48o622r7e/wish/502730560</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Câu 3</title>
         <author>minhlu16_k43</author>
         <link>https://padlet.com/minhlu16_k43/m3z48o622r7e/wish/502730621</link>
         <description><![CDATA[<div>Đến nay, thế giới đang có các loại chính sách tỷ giá cơ bản:<br>- Tỷ giá cố định<br>- Neo tỷ giá<br>- Tỷ giá thả nổi hoàn toàn<br>- Tỷ giá thả nổi có quản lí<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2020-04-11 08:14:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhlu16_k43/m3z48o622r7e/wish/502730621</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Câu 4</title>
         <author>minhlu16_k43</author>
         <link>https://padlet.com/minhlu16_k43/m3z48o622r7e/wish/502730685</link>
         <description><![CDATA[<div>Đồng RMB của Trung Quốc trở thành đồng tiền dự trữ quốc tế chính thức từ <strong>1/10/2016.<br></strong><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2020-04-11 08:14:32 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhlu16_k43/m3z48o622r7e/wish/502730685</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Câu 5</title>
         <author>minhlu16_k43</author>
         <link>https://padlet.com/minhlu16_k43/m3z48o622r7e/wish/502730720</link>
         <description><![CDATA[<div> Để giảm thiểu sự tổn thất do Mỹ đánh thuế lên hàng hóa của Trung Quốc, Trung Quốc đã bơm tiền vào hệ thống bằng cách cắt giảm dự trữ bắt buộc đối với một số ngân hàng, mở vòi tín dụng và để cho dòng tiền tuôn chảy vào thị trường. Từ đó dẫn dến nguồn cung nội tệ sẽ tăng lên như ở hình vẽ ( từ <strong>M đến M1</strong> )<br><br></div><div>Để đưa dòng tiền này vào thị trường một cách tốt nhất, Trung Quốc đã tăng cường việc cho các doanh nghiệp nhỏ thiếu vốn vay tiền bằng cách giảm lãi suất vay vốn. Theo như Vietnambiz, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBOC) ngày 24/6 thông báo sẽ cắt giảm 50 điểm cơ bản (tương đương 0,5%) lượng tiền mặt được coi là tỷ lệ dự trữ bắt buộc (RRR) của một số ngân hàng nhằm kích thích nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp nhỏ, đồng thời cũng để thúc đẩy hoạt động tài chính cho các công ty nhỏ đang gặp khó khăn. Lãi suất giảm nên trên đồ thị điểm <strong>r0 sẽ chạy về r1<br></strong><br></div><div>Khi lãi suất giảm trong nước giảm về r1, nhiều người dân sẽ chuyển hướng đầu tư dòng tiền ra nước ngoài. Khi vốn trong nước đổ ra nước ngoài quá nhiều làm mất cân bằng cung cầu, đồng thời chính phủ Trung Quốc cũng phá giá đồng tiền của mình dẫn đến đồng nhân dân tệ bị giảm giá mạnh. Theo như bài báo, đồng nhân dân tệ đã giảm giá tới 6,8% so với đồng USD và điều đó đã khiến cho tỉ giá hối đoái của Trung Quốc tăng lên từ <strong>e0 đến e1</strong>. Việc phá giá đồng tiền của Trung Quốc nhằm mục đích khiến hàng trong nước rẻ hơn, kích thích xuất khẩu. Đồng Nhân dân tệ yếu đi đã giúp Trung Quốc đối phó với các biện pháp áp thuế nhập khẩu mới của Mỹ, giúp hàng của Trung Quốc rẻ hơn và có thể bù đắp được những thiệt hại từ thuế nhập khẩu.   <br><br></div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/467355195/7942fb80d50a6d18fae909e277f2cf25/1_.png" />
         <pubDate>2020-04-11 08:14:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhlu16_k43/m3z48o622r7e/wish/502730720</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tỷ giá cố định</title>
         <author>minhlu16_k43</author>
         <link>https://padlet.com/minhlu16_k43/m3z48o622r7e/wish/502748571</link>
         <description><![CDATA[<div>+ Thuận lợi:<br>- Giữ ổn định tỷ giá, khống chế lạm phát<br>- Độ tin cậy cao, rủi ro thấp<br>- Tạo môi trường kinh tế nhất quán<br>- Tính an toàn cao<br>- Tăng khả năng lưu chuyển vốn, hàng hoá, lao động<br>+ Bất lợi:<br>- Mất tính chủ động của chính sách tiền tệ<br>- Dễ dàng bị tác động bởi tình hình kinh tế của các quốc gia khác<br>- Dễ rơi vào tình trạng "nhập khẩu lạm phát" không mong muốn</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2020-04-11 08:50:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhlu16_k43/m3z48o622r7e/wish/502748571</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Neo tỷ giá</title>
         <author>minhlu16_k43</author>
         <link>https://padlet.com/minhlu16_k43/m3z48o622r7e/wish/502749926</link>
         <description><![CDATA[<div>+ Thuận lợi:<br>- Dễ dàng theo dõi biến động tỷ giá<br>- Có thể duy trì lãi suất thấp và giảm lạm phát<br>+ Bất lợi:<br>- Cần nhiều dự trữ quốc tế<br>- Dễ bị tấn công tiền tệ hoặc lây nhiễm khủng hoảng tài chính</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2020-04-11 08:53:17 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhlu16_k43/m3z48o622r7e/wish/502749926</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tỷ giá thả nổi hoàn toàn</title>
         <author>minhlu16_k43</author>
         <link>https://padlet.com/minhlu16_k43/m3z48o622r7e/wish/502754035</link>
         <description><![CDATA[<div>+ Thuận lợi:<br>- Giá cả diễn biến theo tín hiệu thị trường giúp người đầu tư thay đổi nguồn lực từ nơi có hiệu quả thấp về nơi có hiệu quả cao.<br>- Làm cán cân thanh toán cân bằng:  nếu cán cân vãng lai thâm hụt làm nội tệ giảm giá. Tỷ giá thả nổi sẽ giúp thúc đẩy xuất khẩu cao hơn nhập khẩu làm cho cán cân thanh toán trở nên cân bằng.<br>- Quốc gia sẽ được bảo vệ tốt hơn trước các tình trạng lạm phát, thất nghiệp của quốc gia khác.<br>+ Bất lợi:<br>- Tỷ giá biến động không ngừng khó khăn cho việc hoạch định chính sách kinh tế và các khoản đầu tư.<br>- Tỷ giá bị ảnh hưởng bởi dự báo trong tương lai, nếu nhà nước dự báo không sát sẽ làm ảnh hưởng đến chính sách kinh tế vĩ mô.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2020-04-11 09:00:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhlu16_k43/m3z48o622r7e/wish/502754035</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tỷ giá thả nổi có quản lí</title>
         <author>minhlu16_k43</author>
         <link>https://padlet.com/minhlu16_k43/m3z48o622r7e/wish/502754071</link>
         <description><![CDATA[<div>+ Thuận lợi:<br>- Giúp cho nền kinh tế quốc gia hòa nhập với sự vận động chung của nền kinh tế thế giới.<br>- Là điều kiện giúp tiền tệ cạnh tranh bình đẳng.</div><div>- Kiểm soát và điều chỉnh lỗi sau của thị trường khi cần thiết.</div><div>+ Bất lợi:<br>- Chính phủ chỉ can thiệp sửa lỗi sai thị trường nếu can thiệp tuỳ tiện rất khó để hội nhập với quốc gia khác.</div><div>- Tỷ giá biến động cao ảnh hưởng đến quá trình đầu tư nước ngoài.</div><div>- Mức biến động tỷ giá khó xác định trước trong chế độ tỷ giá này có thể gây ra những quy định vĩ mô sai lầm ảnh hưởng đến mức tăng trưởng kinh tế.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2020-04-11 09:01:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhlu16_k43/m3z48o622r7e/wish/502754071</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Bổ sung thêm thông tin để khẳng định về điều này:</title>
         <author>hanhdang86_k431</author>
         <link>https://padlet.com/minhlu16_k43/m3z48o622r7e/wish/502758918</link>
         <description><![CDATA[<ul><li>Trong cuộc họp báo để thông báo quyết định của mình, Tổng giám đốc IMF Christine Lagarde nói: “Quyết định đưa Nhân dân tệ vào SDR là sự công nhận cho việc Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra nhiều chính sách đổi mới thành công, và Nhân dân tệ đã hội tụ đủ các điều kiện để đại diện cho kinh tế toàn cầu”.</li><li> 2016, trong một phát biểu của bà Christine Lagarde đã công bố: Đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc sẽ chính thức cùng đồng USD, đồng Euro, đồng Yên Nhật, bảng Anh góp mặt trong giỏ Quyền rút vốn đặc biệt từ ngày 1 tháng 10 năm 2016.</li><li>Thông tin được đăng tải trên IMF NEWS và nhiều mặt báo, tạp chí lớn.</li><li>Quá trình trở thành đồng tiền dự trữ quốc tế của đồng RMB:</li></ul><div><strong>1/1994</strong> Trung Quốc thống nhất tỉ giá chính thức và tỉ giá thị trường ở 8,70 NDT/USD dù là trong cơ chế thả nổi tỉ giá.<br><strong>6/1995</strong> Với biện pháp neo tỷ giá RMB hiệu quả, tỷ giá RMB/USD duy trì ở khoảng 8,30 RMB trong suốt 10 năm<br><strong>21/7/2005</strong> Trung Quốc chấm dứt neo tỷ giá RMB đối với USD và cho biết sẽ để nội tệ biến động so với một rổ tiền tệ. Ngay lập tức, RMB tăng 2,1% lên 8,11 RMB/USD<br><strong>8/2010</strong> Trung Quốc công bố chương trình thử nghiệm, cho phép các tổ chức tài chính nước ngoài đầu tư vào RMB trên thị trường trái phiếu liên ngân hàng. Chương trình bắt đầu triển khai với các ngân hàng trung ương nước ngoài, ngân hàng thanh toán- bù trừ xuyên biên giới ở Hong Kong, Macau và các tổ chức tín dụng liên quan đến thanh toán thương mại.<br><strong>12/2011</strong> Trung Quốc chạy chương trình thử nghiệm, cho phép một quỹ quản lý tài sản và công ty chứng khoán nước ngoài đổ tiền vào RMB trên thị trường đại lục.<br><strong>14/4/2012</strong> Trung Quốc nới biên độ giao dịch của RMB từ 0,5% lên 1%<br><strong>12/7/2013</strong> Trung Quốc nâng hạn ngạch của chương trình QFII lên 150 tỷ USD từ 80 tỷ USD và mở rộng quy mô chương trình cho một số thành phố, như Singapore và London.<br><strong>3/2014</strong> Trung Quốc nới biên độ giao dịch của RMB từ 1% lên 2%<br><strong>6/2014</strong> Trung Quốc cho phép giao dịch trực tiếp giữa RMB và bảng Anh.<br><strong>9/2014</strong> Trung Quốc cho phép giao dịch trực tiếp giữa RMB và Euro trên thị trường ngoại hối liên ngân hàng của nước này.</div><div><strong>11/2014</strong> Trung Quốc thành lập sàn giao dịch chứng khoán liên kết giữa Hong Kong và Thượng Hải với tổng giá trị giao dịch xuyên biên giới là 3,5 tỷ USD/ngày. Hong Kong cũng gỡ bỏ quy định hạn chế hoán đổi RMB của người dân<br><strong>9/2015</strong> Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc tuyên bố sẽ cho phép các ngân hàng trung ương và quỹ quản lý tài sản công của nước ngoài tham gia vào thị trường tiền tệ đại lục.<br><strong>10/2015</strong> Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc phát hành trái phiếu kì hạn 1 năm ở London.<br><strong>30/11/2015</strong> Hội đồng quản trị IMF tuyên bố, RMB đáp ứng được tiêu chuẩn có thể tự do sử dụng và sẽ được liệt vào rổ SDR vào ngày 1/10/2016.</div><div><strong>11/12/2015</strong> Trung Quốc thành lập chỉ số theo dõi tỷ giá hối đoái giữa RMB với nội tệ của 13 quốc gia vốn là các đối tác thương mại của nước này.</div><div><strong>5/2016</strong> Trung Quốc bán trái phiếu chính phủ ở London và đây cũng là lần đầu tiên nước này phát hành trái phiếu chính phủ ở nước ngoài, không tính Hong Kong.</div><div><strong>1/10/2016</strong> RMB chính thức tham gia vào giỏ tiền SDR với thị phần 10,92%- thấp hơn nhiều so với USD (41,73%) và Euro (30,93%) nhưng cao hơn Yên Nhật (8,33%), Bảng Anh (8,09%).</div><div><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2020-04-11 09:10:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhlu16_k43/m3z48o622r7e/wish/502758918</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
