<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title>DANH NHÂN LỊCH SỬ TIÊU BIỂU CỦAĐẤT QUẢNG by Huyền Trang Nguyễn</title>
      <link>https://padlet.com/nguyenthihuyentrangdn2014/looj0hljc69uojen</link>
      <description>Xây dựng tư liệu về Danh nhân Đất Quảng</description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2025-02-12 04:46:56 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2026-02-27 17:46:07 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url>https://padlet.net/icons/png/1f4ac.png</url>
      </image>
      <item>
         <title></title>
         <author>nguyenthihuyentrangdn2014</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthihuyentrangdn2014/looj0hljc69uojen/wish/3325241357</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Võ Chí Công (1912 – 2011)</strong>Võ Chí Công tên thật là Võ Toàn, quê xã Tam Xuân, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc phường Tam Kỳ, TP Đà Nẵng). Những năm 1930 – 1934, Võ Chí Công sớm giác ngộ và tham gia hoạt động cách mạng. Năm 1935, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương; năm 1936, làm Bí thư Chi bộ Đảng; năm 1939, Bí thư Huyện uỷ; năm 1940, Bí thư lâm thời Ban Chấp hành Tỉnh Đảng bộ Quảng Nam.Trên cương vị Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Võ Chí Công đã tập hợp ý kiến rộng rãi của nhân dân, kiên định với nguyên tắc về dân chủ, pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Hiến pháp sửa đổi năm 1992, Hiến pháp của thời kì đổi mới được thông qua, có đóng góp rất quan trọng của Võ Chí Công. Võ Chí Công được đặt tên đường ở quận Cẩm Lệ và quận Ngũ Hành Sơn theo Nghị quyết số 42-2013/ NQ-HĐND ngày 11 – 7 – 2013 của Hội đồng Nhân dân thành phố Đà Nẵng. Trên địa bàn phường Ngũ Hành Sơn có Trường Trung học phổ thông Võ Chí Công.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/2337419752/733b1d51d2e9471f1aa297465feab9c4/1.jpg" />
         <pubDate>2025-02-12 04:49:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthihuyentrangdn2014/looj0hljc69uojen/wish/3325241357</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>nguyenthihuyentrangdn2014</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthihuyentrangdn2014/looj0hljc69uojen/wish/3325241506</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Huỳnh Thúc Kháng (1876 – 1947)</strong></p><p>Huỳnh Thúc Kháng tên thật là Huỳnh Sanh, tự Giới Sanh, hiệu Mính Viên, bút danh Sử Bình Tử, Xà Túc Tử, Ngu Sơn, Chuông Mai, Hải Âu, Thôn dân Tha Sơn Thạch. Quê ông ở làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang thượng, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, (nay thuộc xã Thạnh Bình, TP Đà Nẵng). Ông sinh ra trong gia đình nông dân nghèo. Năm 1904, Huỳnh Thúc Kháng đỗ tiến sĩ nhưng không ra làm quan. Huỳnh Thúc Kháng cùng với Phan Châu Trinh và Trần Quý Cáp tạo thành bộ ba duy tân, tích cực cổ động cho Phong trào Duy tân ở Trung Kỳ đầu thế kỉ XX. Năm 1908, nhân phong trào kháng thuế của nhân dân Trung Kỳ diễn ra quyết liệt, thực dân Pháp bắt Huỳnh Thúc Kháng và kết án tù chung thân, đày ra Côn Đảo. Đến năm 1921, ông được trả tự do.Huỳnh Thúc Kháng qua đời do tuổi già sức yếu khi đang trên đường đi công tác tại Quảng Ngãi. Huỳnh Thúc Kháng đã để lại nhiều tác phẩm giá trị như <em>Thi tù tùng thoại, Thi văn với thời đại, Phan Tây Hồ lịch sử, Trung Kỳ cự sưu kí </em>và nhiều tập thơ chữ Hán, chữ Nôm, chính luận, tạp văn,… trên báo Tiếng Dân. Từ năm 1958 đến nay, Huỳnh Thúc Kháng được đặt tên đường ở quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Trên địa bàn phường Hoà Khê, quận Thanh Khê có Trường Trung học cơ sở Huỳnh Thúc Kháng.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/2337419752/196ccb70d4dc3e809ba0fa10ee829388/Hu_nh_Th_c_Kh_ng.jpg" />
         <pubDate>2025-02-12 04:49:43 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthihuyentrangdn2014/looj0hljc69uojen/wish/3325241506</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>nguyenthihuyentrangdn2014</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthihuyentrangdn2014/looj0hljc69uojen/wish/3325241799</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Phan Châu Trinh (1872 – 1926)</strong></p><p>Phan Châu Trinh tự Hy Mã, hiệu Tây Hồ, quê làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam(nay thuộc xã Tây Hồ, TP Đà Nẵng). Năm 1900, Phan Châu Trinh đỗ cử nhân; năm 1901, đỗ phó bảng, được bổ làm Thừa biện Bộ Lễ. Chịu ảnh hưởng của tư tưởng cách mạng dân chủ tư sản, Phan Châu Trinh từ bỏ quan trường, liên lạc với Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, đề xướng Phong trào Duy tân, lập trường dạy học theo lối mới, lập các hội công, nông, thương, vận động cải cách trang phục và lối sống,…Trong cuộc đời và sự nghiệp của mình, Phan Châu Trinh đã viết nhiều tác phẩm quan trọng: <em>Thư gửi chính quyền Đông Dương, Tỉnh quốc hồn ca 1, Tỉnh quốc hồn ca 2, Thư gửi Hội Nhân quyền, Giai nhân kỳ ngộ, Tây Hồ thi tập, Thất điều trần, Quản trị và dân trị</em>,... Phan Châu Trinh là người khởi xướng và luôn đề cao tư tưởng “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” và tư tưởng “Chi bằng học”. Đây được xem là kim chỉ nam trong toàn bộ hoạt động Duy tân của cuộc đời ông. Đến nay, tư tưởng này vẫn còn nguyên giá trị và tính thời sự. Từ sau năm 1956 đến nay, Phan Châu Trinh được đặt tên đường ở quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Trên địa bàn phường Hải Châu có Trường Trung học phổ thông Phan Châu Trinh</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/2337419752/04da01bf5fd618a441f28f4441b4a5cd/Phan_Ch_u_Trinh.jpg" />
         <pubDate>2025-02-12 04:50:07 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthihuyentrangdn2014/looj0hljc69uojen/wish/3325241799</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>nguyenthihuyentrangdn2014</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthihuyentrangdn2014/looj0hljc69uojen/wish/3325241905</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>1. Hoàng Diệu (1828 – 1882)</strong></p><p>Hoàng Diệu tự là Quang Viễn, hiệu Tĩnh Trai, quê làng Xuân Đài, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc xã Gò Nổi, TP Đà Nẵng). Ông vốn tên là Hoàng Kim Tích, sau đổi là Hoàng Diệu. Xuất thân trong một gia đình truyền thống Nho học, ông nổi tiếng về văn tài. Năm 1853, Hoàng Diệu đỗ phó bảng, bổ làm Hàn lâm kiểm thảo đi nhậm chức ở các huyện Bồng Sơn, Tuy Viễn, Tĩnh Gia, sau chuyển đi Tri phủ Lạng Giang, Đa Phúc(2). Hoàng Diệu làm việc tạo được tiếng vang tốt nên được bổ làm Án sát Nam Định rồi thăng lên Bố chính Bắc Ninh.Từ sau năm 1954, Hoàng Diệu được đặt tên đường ở quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng; đến năm 1994, đoạn đường Hoàng Diệu nối dài được đặt tiếp tên Hoàng Diệu theo Nghị quyết ngày 10 – 7 – 1999 của Hội đồng Nhân dân thành phố Đà Nẵng. Trên địa bàn phường Tam Thuận, quận Thanh Khê (nay là phường Xuân Hà) có Trường Trung học cơ sở Hoàng Diệu.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/2337419752/164aa386417504d47b77f1185d9416b1/Ho_ng_Di_u.jpg" />
         <pubDate>2025-02-12 04:50:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthihuyentrangdn2014/looj0hljc69uojen/wish/3325241905</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
