<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title>Địa lí - Bài 9: Các dân tộc, sự phân bố dân cư by Nguyễn Thúy Hoa</title>
      <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq</link>
      <description>Con hãy sưu tầm, chia sẻ các thông tin, hình ảnh, tư liệu, clip về các dân tộc mà con biết nhé!</description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2022-11-28 09:50:30 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2026-02-14 02:43:01 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url>https://padlet.net/icons/png/1f1fb-1f1f3.png</url>
      </image>
      <item>
         <title>Dân tộc Cống . Với dân số hơn 2700 , dân tộc Cống cư trú chủ yếu ở Điện Biên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400055071</link>
         <description><![CDATA[<div>-Đặc điểm kinh tế: người Cống sống chủ yếu bằng nghề làm nương rẫy,cảnh tác theo lối phát rừng ,đốt,chọc lỗ trả hạt giống.&nbsp;<br>- Tổ chức cộng đồng: Mỗi họ của người Cống có một trưởng họ , có chứng một kiêng cữ, có chung quy định về chỗ đặt bàn thơ tổ tiên và cách cúng bái<br>-Nền văn hoá :Nền văn nghệ dân gian Cống khá phong phú .Với các làn điệu dân ca sâu láng người ta hát vào dịp lễ hội vui chung</div>]]></description>
         <enclosure url="https://farm8.staticflickr.com/7144/13573978164_09475cfd7f.jpg" />
         <pubDate>2022-11-28 11:39:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400055071</guid>
      </item>
      <item>
         <title>   Người Mảng (tên gọi khác: Mảng Ư, Xá lá vàng) là một dân tộc thiểu số cư trú ở bắc Việt Nam và nam Trung Quốc (tỉnh Vân Nam). Tại Việt Nam họ là một dân tộc trong số 54 dân tộc tại Việt Nam. Tiếng Mảng thuộc nhánh Bắc Môn-Khmer của ngữ tộc Môn-Khmer trong ngữ hệ Nam Á.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400083937</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Người viết<br>                        Thiên Thủy </div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1344973099/06f693477965787ee3fffafe54bec306/IMG_UPLOAD_20221128_190613.jpg" />
         <pubDate>2022-11-28 12:07:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400083937</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc Giẻ Triêng </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400084634</link>
         <description><![CDATA[<div>Dân tộc Giẻ Triêng có dân số là 63.322 (theo Điều tra dân số năm 2019).Họ cư trú chủ yếu ở tỉnh Kon Tum,Quảng Nam. Hiện nay, người Giẻ Triêng ở Kon Tum làm nhà sàn ngắn và vài hộ gia đình cùng chung sống với nhau.Những nhà này cũng có những đặc trưng đáng quan tâm : nhà sàn mái hình mai rùa,hai đầu đốc được trang trí bằng hai sừng trâu.Họ làm rẫy là chính.Công cụ chủ yếu gồm rìu và dao quắm để phát,gậy đẽo nhọn đầu hoặc có mũi sắt để chọc lỗ khi gieo trỉa.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Nguyễn Thị Ngân Khánh 5A3<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://farm8.staticflickr.com/7394/13849730794_724d310e4c.jpg" />
         <pubDate>2022-11-28 12:08:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400084634</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400092234</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Người Êđê</strong> (tiếng Êđê: <strong>Anak RaĐê</strong> hay được dùng phổ biến theo cộng đồng là <strong>Anak Đê</strong> hay <strong>Đê-Ga</strong>) là một <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/D%C3%A2n_t%E1%BB%99c">dân tộc</a> có vùng cư trú truyền thống là <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Mi%E1%BB%81n_trung_Vi%E1%BB%87t_Nam">miền trung Việt Nam</a> và đông bắc Campuchia. Tại Việt Nam người Ê Đê được công nhận trong số 54 <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/C%C3%A1c_d%C3%A2n_t%E1%BB%99c_Vi%E1%BB%87t_Nam">dân tộc tại Việt Nam</a>.<a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_%C3%8A%C4%91%C3%AA#cite_note-ttcp-dtocvn-3"><sup>[3]</sup></a><a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_%C3%8A%C4%91%C3%AA#cite_note-dted-cttcp-4"><sup>[4]</sup></a> Theo trang <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Joshua_Project">Joshua Project</a> tổng dân số người Ê Đê năm 2019 là 402 ngàn người, cư trú chủ yếu tại Việt Nam và <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Campuchia">Campuchia</a>.<a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_%C3%8A%C4%91%C3%AA#cite_note-joshuaprj-Ede-2"><sup>[2]</sup></a> Người Ê Đê nói <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Ti%E1%BA%BFng_%C3%8A_%C4%90%C3%AA"><em>tiếng Ê Đê</em></a>, một ngôn ngữ thuộc phân nhóm ngôn ngữ <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Ch%C4%83m">Chăm</a> thuộc <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Ng%E1%BB%AF_chi_Malay-Polynesia">ngữ chi Malay-Polynesia</a> của <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Ng%E1%BB%AF_h%E1%BB%87_Nam_%C4%90%E1%BA%A3o">ngữ hệ Nam Đảo</a>. Người Ê Đê thuộc nhóm chủng tộc <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Austronesia"><em>Austronesia</em></a>.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Học sinh<br>                   Vũ Gia Khang</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-11-28 12:15:20 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400092234</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Con tên là Nguyễn Xuân Phương sau đây con xin trình bày bài của con : người La Hủ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400101568</link>
         <description><![CDATA[<div>Người La Hủ hiện chỉ có vỏn vẹn khoảng hơn 6.000 người, chủ yếu sống ở 4 xã Pa Vệ Sủ, Pa Ủ, Ka Lăng, Thu Lũm, <strong>khu vực biên giới thuộc huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu</strong>.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1435529082/a77cba5bca7db86f15920d5f12537f1e/IMG_20221128_190931.jpg" />
         <pubDate>2022-11-28 12:23:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400101568</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc Cơ Tu</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400104042</link>
         <description><![CDATA[<div>Người Cơ Tu( có tên gọi khác là&nbsp;<strong>Kha tu, Ka tu, K' tu) T</strong>ại Việt Nam, theo điều tra dân số 1999 thì dân tộc này có dân số 50.458 người, <strong>cư trú chủ yếu trên dãy núi Trường Sơn, tại các huyện Đông Giang, Tây Giang, huyện Nam Giang (Quảng Nam), A Lưới, Phú Lộc (Thừa Thiên-Huế)</strong>. N<strong>am giới người Cơ Tu thường mặc áo chui đầu, cổ xẻ</strong>. Đây là loại áo cộc tay, thân áo có đường trang trí sọc đỏ chạy dọc. Đằng sau áo được thêu trang trí mô típ hoa cách điệu. Áo váy cho phụ nữ người Cơ Tu trang trí theo nguyên tắc bố cục dải băng theo chiều ngang. Họ có những <strong>lễ tục liên quan đến tô tem.</strong> <strong>Ngoài ra, người Cơ tu còn có các lễ tục thờ thần bản mệnh, ma thuật chữa bệnh, ma thuật làm hại, lễ hội.</strong> <strong>Lễ đâm trâu có nguồn gốc từ tục hiến sinh cầu mùa xa xưa</strong>. Lễ này có thể được tổ chức trong phạm vi gia đình, dòng họ và cả cộng đồng.<br> Hà Minh Khang</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1497918546/195b5cd143d21c5aeceee0927061f2d2/y_phuc_bang_vo_cay_cua_nguoi_co_tu_2_1.jpg" />
         <pubDate>2022-11-28 12:26:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400104042</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Giới thiệu về dân tộc Thổ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400110493</link>
         <description><![CDATA[<div>Người Thổ cư tập trung ở <strong>các huyện miền Tây tỉnh Nghệ An</strong>. Họ sống thành những làng bản đông đúc, chủ yếu theo lối mật tập. Nhà ở truyền thống là loại nhà sàn được che xung quanh bằng liếp nứa hoặc gỗ. Nhưng ở một số vùng, nhà lại được làm theo kiểu cột ngoãm.<br>Học sinh<br>Vũ Gia Khang</div>]]></description>
         <enclosure url="https://cdnimg.vietnamplus.vn/t870/uploaded/ngtnnn/2021_03_01/ttxvn_0103thocam1.jpg" />
         <pubDate>2022-11-28 12:31:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400110493</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc Chơ Ro</title>
         <author>ngocanh1307104</author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400110864</link>
         <description><![CDATA[<div>- Địa bàn sinh sống:Châu Ro là một trong những dân tộc ít người<br>. Ngoài địa bàn cư trú chủ yếu ở Đồng Nai, người Châu Ro còn có ở Bình Phước, Bà Rịa Vũng Tàu, Bình Thuận với số dân ít hơn và phân bố rải rác ở các vùng rừng, vùng cao.<br>-Dân tộc Chơ ro có khoảng 27.000 người, cư trú chủ yếu ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Người Chơ ro còn có tên gọi khác là Đơ-ro, Châu ro. <br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1313481576/9e3b718e20334057d1e16714ca106192/image.png" />
         <pubDate>2022-11-28 12:32:15 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400110864</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc Chứt</title>
         <author>hp136522</author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400124367</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Tên tự gọi:</strong> Chứt.<br><br></div><div><strong>Tên gọi khác</strong>: Rục, Arem, Sách.<br><br></div><div><strong>Nhóm địa phương:</strong> Mày, Rục, Sách, Arem, Mã Liềng.<br><br></div><div><strong>Dân số:</strong> 7.513 người (Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số <a>01/4/ 2019</a>).<br><br></div><div><strong>Ngôn ngữ:</strong> Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường (ngữ hệ Nam Á).&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp;<br><br></div><div><strong>Lịch sử:</strong> Quê hương xưa của người Chứt thuộc địa bàn cư trú của người Việt ở hai huyện Bố Trạch và Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Vì nạn giặc giã, thuế khoá nặng nề nên họ phải chạy lên nương náu ở vùng núi, một số dần dần chuyển sâu vào vùng phía tây thuộc hai huyện Minh Hoá và Bố Trạch tỉnh Quảng Bình. Theo gia phả của một số dòng họ người Việt trong vùng thì các nhóm Rục, Sách cư trú tại vùng núi này ít nhất đã được trên 500 năm nay.<br><br></div><div><strong>Hoạt động sản xuất:</strong> Người Chứt sống bằng nông nghiệp nương rẫy du canh và săn bắn hái lượm. Trừ nhóm Sách sống bằng nông nghiệp còn các nhóm khác hái lượm và săn bắn chiếm vị trí quan trọng, thậm chí là nguồn sống chính trong những năm mất mùa. Các giống cây trồng chính là ngô, sắn, đỗ, lúa.<br><br></div><div>Công cụ sản xuất gồm: rìu, rựa, gậy chọc lỗ, nơi làm ruộng có thêm cày, bừa. Từ khi định cư, người Chứt đã nuôi trâu, bò phục vụ cày bừa, làm sức kéo. Ðan lát chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng trong gia đình. Ðôi nơi họ biết thêm nghề rèn dao, rìu.<br><br>                                        Phương Hà - 5a3</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-11-28 12:43:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400124367</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc Thái</title>
         <author>minhkhangha2508</author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400126375</link>
         <description><![CDATA[<div>Dân tộc Thái hiện nay có hơn 1 triệu người. Dân tộc Thái sinh sống tập trung tại <strong>các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Nghệ An</strong>. Các tên gọi khác của dân tộc Thái là:&nbsp;<strong>Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.Phụ nữ Thái Trắng thường mặc áo cánh ngắn mầu sáng, cổ áo hình chữ V váy mầu đen không trang trí hoa văn</strong>. Phụ nữ Thái Đen trang phục thường nhật mặc áo khóm (xửa cóm) mầu tối cổ tròn, chui đầu, cài cúc phía vai ; khác với áo phụ nữ Thái Trắng cài cúc bạc tạo hình. Người Thái có những lễ hội như:&nbsp;<strong>Lễ hội</strong> Cầu mùa, &nbsp;<strong>Lễ hội</strong> Cầu mưa,&nbsp;<strong>Lễ hội</strong> Gội đầu, L<strong>ễ hội</strong> Hạn Khuống,&nbsp;<strong>Lễ hội</strong> hoa ban,&nbsp;<strong>Lễ hội</strong> Kin Pang Then,&nbsp;<strong>Lễ hội</strong> xang khan,<strong>Lễ hội</strong> xên bản, xên mường.<br>       Hà Minh Khang</div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1900402623/7d05b745e26ff643fe02e202711b001c/images.jpg" />
         <pubDate>2022-11-28 12:44:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400126375</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc Cơ tu </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400140686</link>
         <description><![CDATA[<div>Dân tộc Cơ tu có dân số là 103.000 người, sống ở miền Trung. Ngủ duông là một trong số những ít nhất phong tục mà người Cơ tu vẫn còn gìn giữ được đén ngày nay. Họ thuộc số dân cư trú lâu đời ở vùng Trường Sơn-Tây Nguyên.Trong năm dân tộc người Cơ tu có lễ hội lớn như là lễ hội được mùa, lễ hội mừng lúa mới, lễ đâm trâu,lễ mừng nhà Gươl .<br>Đàm Hồng Phúc 5A3</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1900403737/6e7e22888575c721b29657c974ebbe44/4_hoa_van_co_tu_19_18_58_127.jpg" />
         <pubDate>2022-11-28 12:55:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400140686</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Người SI LA hiện có 709 người sống chủ yếu ở tỉnh Lai Châu ( 530, 75%) thuộc miền Bắc Việt Nam. Người SI LE  còn gọi cái tên khác là (Khà Pé, Cú Dé Xử)Đa số những người này sống tại hai bản Sẹo Hay , Sì Thâu Chải thuộc huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Ngoài ra , có khoảng 1.800 người SI LA sống tại Lào . Người SI LA , là một ngôn ngữ của thuộc ngữ tộc Tạng- Miến trong ngữ hệ Hán - Tạng. Người SI LA sống bằng nghề trồng lúa . Người SI LA hát giao duyên giữa nam nữ thanh niên, hát sử ca</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400143239</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://photo-cms-vovworld.zadn.vn/w730/uploaded/vovworld/thpsplu/2019_07_16/si9-1_wywn.jpg" />
         <pubDate>2022-11-28 12:57:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400143239</guid>
      </item>
      <item>
         <title>24 . Nguyễn Hoàng My</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400162427</link>
         <description><![CDATA[<div>(1) <strong><em>Dân tộc H'Mông: Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số năm 2019 dân số ở đó là 1.393.547 người. Hiện nay, người H'mông ở Việt Nam cư trú chủ yếu trên vùng núi cao của các tỉnh phía Bắc (Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Lào Cai, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Yên Bái, Tuyên Quang), một số tỉnh miền Trung (Thanh Hoá, Nghệ An...) và Tây Nguyên (Đắk Lắk, Đắk Nông…).&nbsp; Trang phục cổ truyền của người phụ nữ H’mông gồm: váy, áo xẻ ngực, yếm lưng, có tấm vải che phía trước và vuông vải nhỏ che lưng phía sau, thắt lưng, khăn quấn đầu, chân vấn xà cạp. Váy hình nón cụt, xếp nhiều nếp xoè rộng.&nbsp; Hôn nhân gia đình của người H’mông theo tập quán tự do kén chọn bạn đời.Việc lựa chọn bạn đời được biểu hiện ở tục “cướp vợ” trước đây. Người thanh niên cùng bạn bè "cướp" người con gái mình yêu về ở nhà mình vài hôm rồi thông báo cho gia đình nhà gái biết. Vợ chồng người H’mông rất ít bỏ nhau, họ sống với nhau hòa thuận, cùng làm ăn, cùng lên nương, xuống chợ...&nbsp;</em></strong></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1491185340/3fb862f1ee672104ca05bcbe280f70f6/Trang_ph_E1_BB_A5c_truy_E1_BB_81n_th_E1_BB_91ng_c_E1_BB_A7a_d_C3_A2n_t_E1_BB_99c_h_E2_80_99mong.jpg" />
         <pubDate>2022-11-28 13:11:47 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400162427</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc Lự</title>
         <author>hoangcuchnvn2009</author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400164892</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Theo Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam do Tổng cục Thống kê ban hành năm 1979 thì dân tộc Lự ở Việt Nam còn có tên gọi là: Lừ, Nhuồn (Duồn), Phù Lừ, thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (Tày, Thái, Nùng, Sán Chay, Giáy, Lào, Bố Y và Lự). Lừ hoặc Thay Lừ là tên tự gọi của đồng bào, chủ yếu cư trú tại tỉnh Lai Châu.</strong>Theo nhiều nguồn sử liệu còn lưu lại đến ngày nay, cũng như những câu truyện kể còn lưu truyền trong dân gian, người Lự có vốn có nguồn gốc ở Xíp Xoong Păn Na (Vân Nam, Trung Quốc), di cư vào Việt Nam vào khoảng thế kỷ XII sau công nguyên. Họ là một trong những cư dân có mặt sớm nhất tại vùng thung lũng Mường Thanh (tỉnh Điện Biên ngày nay). Trong quá trình đấu tranh sinh tồn và phát triển, họ đã để lại nhiều dấu ấn, chứng tích như thành Tam Vạn (Xam Mứn), ruộng Nà Lự…ở vùng này. Khoảng đầu thế kỷ XIII, thủ lĩnh Lạng Chượng đem quân từ Mường Lò tiến vào chiếm Mường Thanh, người Lự bị đẩy vào thế phụ thuộc và tiếp tục thiên di về phía nam, xuyên sang nước bạn Lào.Theo một số tài liệu ghi chép được của người Lự thì họ đến Phong Thổ và Sìn Hồ thuộc tỉnh Lai Châu tương đối muộn, cách ngày nay chỉ 6 - 7 đời (thế kỷ XVIII), sinh sống tập trung tại hai bản Pặu và Phiêng Chá. Dân tộc Lự có tiếng nói riêng tạo nên bản sắc văn hóa đặc trưng. Trong giao tiếp giữa các thành viên họ vẫn sử dụng ngôn ngữ truyền thống, ngoài ra còn sử dụng tiếng phổ thông (tiếng Việt) để giao tiếp với các cộng đồng khác. Bên cạnh đó, họ còn học và sử dụng một số tiếng của người Thái, Lào, Mông.Trước kia, người Lự có chữ viết cổ nhưng hiện nay hầu như không có người biết chữ nên không thể trao truyền, gìn giữ chữ viết truyền thống cho các thế hệ sau.Hiện nay, dân tộc Lự ở Lai Châu có 1.378 hộ, 6.733 người, chiếm 1,49% dân số toàn tỉnh Lai Châu, phân bố tập trung ở 2 huyện đó là huyện Tam Đường và huyện Sìn Hồ, xen kẽ với người Thái, người Khơ Mú ở huyện Than Uyên. Trong đó, tập trung đông ở huyện Sìn Hồ với 764 hộ, 3.768 nhân khẩu; ở Tam Đường có 614 hộ với 2.965 nhân khẩu. Tại Tam Đường, người Lự tập trung chủ yếu ở xã Bản Hon, các giá trị văn hóa truyền thống người Lự nơi đây vẫn còn lưu giữ được những nét nguyên bản.<br><br></div><div>Trần Anh Thơ 5a3<br><br></div><div><br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1453875392/5b06c4073f6c7762859fcb84c2946168/FB_IMG_1605514539915.jpg" />
         <pubDate>2022-11-28 13:13:31 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400164892</guid>
      </item>
      <item>
         <title>24 . Nguyễn Hoàng My</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400164917</link>
         <description><![CDATA[<div>(2) <strong><em>Dân tộc Xtiêng: Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số năm 2019 dân số ở đó là 10.752 người. Người Xtiêng phân bố tập trung tại tỉnh Bình Phước, một số ở Tây Ninh và Ðồng Nai. Thông thường, đàn ông đóng khố, ở trần; đàn bà mặc áo, quấn váy. Họ ưa đeo nhiều trang sức, thường dùng các loại vòng kim loại và chuỗi cườm, thậm chí một cánh tay đeo tới trên 20 chiếc vòng nhôm nay bạc, có cả loại vòng ống quấn từ sợi dây đồng dài ôm quanh ống chân, ống tay. Loại hoa tai lớn bằng ngà voi được ưa chuộng. Nay nam giới mặc như người Việt, nữ hay dùng áo cánh, sơ mi, ở vùng gần người Khơ Me cũng thường gặp phụ nữ Xtiêng quấn váy Khơ Me. Mỗi cặp&nbsp; vợ chồng người Xtiêng và con cái là một "bếp" (nak). Nhiều bếp hợp thành một nhà (yau). Mỗi làng xưa gồm một vài nhà, càng về sau số nhà càng tăng do việc tách hộ ở riêng. Mỗi người không chỉ thuộc về một "bếp", một nhà, một làng, mà còn là thành viên của một dòng họ nhất định và nằm trong các mối quan hệ họ hàng nhất định và nằm trong các mối quan hệ họ hàng khác nữa. Về tổ chức xã hội truyền thống, làng là đơn vị bao trùm và nổi bật: trong tự bảo quản ở thì ông "già làng" và các bô lão có uy tín cao khác đóng vai trò quan trọng đặc biệt. Xưa kia, ngoài một số ít người giàu có và đa số thuộc lớp nghèo, xã hội Xtiêng đã có những "nô lệ gia đình" do phải ở đợ, hoặc bị mua về...</em></strong></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1491185340/0b8b2d386469fa33bbb8914d52e6c8a4/tet_com_moi_3_16_35_07_169.jpg" />
         <pubDate>2022-11-28 13:13:32 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400164917</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc Lào</title>
         <author>minhquanduong1309</author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400178412</link>
         <description><![CDATA[<div>Dân tộc Lào còn có tên khác là Lào Bốc và Lào Nọi. Là 1trong những dân tộc thiểu số ở nước Việt Nam ta. Người Lào tại Việt Nam cư trú tập trung tại các huyện Điện Biên, Phong Thổ (tỉnh Điện Biên), huyện Sốp Cộp (tỉnh Sơn La), Than Uyên (tỉnh Lào Cai). Năm 1999 họ có dân số 11.611 người [2].<br><br>Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Lào ở Việt Nam có dân số 14.928 người, cư trú tại 42 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Lào cư trú tập trung tại các tỉnh: Lai Châu (5.760 người, chiếm 38,6% tổng số người Lào tại Việt Nam), Điện Biên (4.564 người, chiếm 30,6% tổng số người Lào tại Việt Nam), Sơn La (3.380 người, chiếm 22,6% tổng số người Lào tại Việt Nam), Hà Tĩnh (433 người), Đắk Lắk (275 người)<br>Trong xã hội người Lào, những ông Mo Lăm là lớp người giỏi chữ và biết nhiều truyện cổ, dân ca. Họ ghi chép lại truyện cổ và các điệu dân ca quen thuộc. Trong vốn văn nghệ dân gian Lào có cả ảnh hưởng văn nghệ dân gian Thái. Người Lào múa Lăm vông... trong các dịp liên hoan, lễ hội...<br>Phong cách trang phục gần giống người Thái, ít cá tính tộc người (là tộc người thiểu số ở Việt Nam, nhưng lại là đa số ở bên Lào) không tiêu biểu cho một phong cách về trang phục. Hoặc có những bộ trang phục mang phong cách khác lạ.<br>Trang phục nam<br>Đàn ông Lào thường xăm hình chữ "vạn" vào cổ tay và thường xăm hình con vật vào đùi.<br><br>Trang phục nữ<br>Phụ nữ Lào nổi tiếng là những người dệt vải khéo tay. Họ mặc váy đen quấn cao đến ngực, gấu váy thêu nhiều hoa văn sặc sỡ. Kiểu áo cánh ngắn bó thân với hàng khuy bạc phổ biến ở vùng Sông Mã. Ở vùng Điện Biên áo giống với áo cùng loại của người Khơ Mú láng giềng. Cô gái Lào chưa chồng thường búi tóc lệch về bên trái. Phụ nữ Lào dùng khăn phả biêng/phaa biang (. Khi không đội khăn, phụ nữ Lào thích cài nhiều trâm bạc và búi tóc. Phụ nữ đeo nhiều vòng ở cổ tay, xăm hình một loại cây rau ở mu bàn tay.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1310303052/54f5aad8fe64ac2e3acf9ef660b68a47/IMG_20221128_200908.jpg" />
         <pubDate>2022-11-28 13:20:47 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400178412</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Ng. TUẤN MINH KHANG 5a3:Người dao </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400182159</link>
         <description><![CDATA[<div>Dân tộc Dao có số dân là 891.151 người (năm 2019) đứng thứ 9 trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam. Người Dao cư trú chủ yếu ở các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc. Với những nét riêng về phong tục, tập quán, ngôn ngữ, người Dao được chia thành nhiều nhóm (ngành) khác nhau như: Dao Đỏ, Dao Quần Chẹt, Dao Lô Gang, Dao Tiền, Dao Quần trắng, Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn…<br>Dân tộc Dao có số dân là 891.151 người (năm 2019) đứng thứ 9 trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam. Người Dao cư trú chủ yếu ở các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc. Với những nét riêng về phong tục, tập quán, ngôn ngữ, người Dao được chia thành nhiều nhóm (ngành) khác nhau như: Dao Đỏ, Dao Quần Chẹt, Dao Lô Gang, Dao Tiền, Dao Quần trắng, Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn…<br><br>Ngày Tết truyền thống của người Dao Lô Gang ở Mẫu Sơn (Lạng Sơn).<br>Mặc dù chịu tác động rất lớn của quá trình giao thoa văn hóa nhưng&nbsp;người Dao&nbsp;vẫn giữ được bản sắc văn hóa riêng, độc đáo của dân tộc mình, từ quan hệ thứ bậc trong anh em, họ hàng đến các phong tục, tập quán, tín ngưỡng văn hóa, ngôn ngữ, chữ viết...<br><br><br>Trang phục của người Dao Đỏ (Hoàng Su Phì, Hà Giang)<br>Trang phục&nbsp;của phụ nữ Dao chính là những tác phẩm nghệ thuật rực rỡ, tinh tế, chuyển tải quan niệm về vũ trụ, về nhân sinh của cộng đồng thông qua các hoa văn, họa tiết thêu, in trên đó. Mỗi nhóm (ngành) Dao đều có trang phục riêng, được thêu dệt rất cầu kỳ. Những người mẹ, người bà dân tộc Dao thường dạy cho con gái mình biết thêu thùa từ bé. Những thiếu nữ Dao phải tự mình làm ra bộ trang phục đẹp nhất để mặc trong ngày cưới, mùa lễ hội.<br><br>Trang phục là một yếu tố quan trọng để làm nên bản sắc văn hóa độc đáo của người Dao.&nbsp;<br><br><br>Chị em phụ nữ Dao Đỏ xã Bản Khoang, huyện Sa Pa (Lào Cai) chia sẻ về may trang phục truyền thống.<br><br>Trang phục của phụ nữ Dao Lô Gang (Lạng Sơn)<br><br>Người Dao Lô Gang xã Ái Quốc, huyện Lộc Bình (Lạng Sơn) hướng dẫn nghề thêu truyền thống cho thế hệ trẻ.<br><br>Trang phục của người Dao Thanh Phán (huyện Bình Liêu, Quảng Ninh)</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1332441380/9dbd76f64ed14164c9469f86956fc46c/z3918020984637_016d047f2ec3aa20ef2e636519674632__1_.jpg" />
         <pubDate>2022-11-28 13:23:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400182159</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc Hà Nhì (hay còn gọi là: Ha Ni, U Ní, Xá U Ní). Với dân số khoảng 17.500 (theo số liệu điều tra dân số năm 1999), dân tộc Hà Nhì cư trú chủ yếu ở các tỉnh Lai Châu, Lào Cai, Điện Biên.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400193048</link>
         <description><![CDATA[<div>- Đặc điểm kinh tế: Người Hà Nhì sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa, có nơi làm ruộng, có nơi làm nương rẫy. Hà Nhì là một trong những dân tộc có truyền thống khai khẩn ruộng bậc thang và đào mương, đắp đập lấy nước, dùng trâu bò cày kéo và làm vườn cạnh nhà...<br>&nbsp; &nbsp; Chăn nuôi là một nghề rất phát triển. Đan lát, dệt vải cũng rất phổ biến. Phần đông người Hà Nhì tự túc được mặc vải.<br>&nbsp; &nbsp; Nhìn chung người Hà Nhì ở Việt Nam mặc dù ở miền núi hẻo lánh nhưng trình độ phát triển về nhận thức, học vấn hơn hẳn các dân tộc khác.<br>- Tổ chức cộng đồng: Người Hà Nhì hiện nay đã định cư, mỗi bản có khi đông tới 60 hộ. Người Hà Nhì có nhiều họ, mỗi họ gồm nhiều chi. Dịp tết hàng năm có tục cả dòng họ tụ tập lại nghe người già kể tộc phả của mình, có dòng họ nhớ đượng về xưa tới 40 đời. Tên của người Hà Nhì thường đặt theo tập tục là lấy tên người cha, hoặc tên con vật ứng với ngày sinh của người ấy làm tên đệm.<br>- Văn hóa: Người Hà Nhì có nhiều lễ hội trong năm. Ngoài lễ chính là Tết Nguyên đán và Tết thiếu nhi thì còn có lễ Khu Già Già (tháng 6), lễ Ga Tho Tho (tháng 11). Ngoài ra có thêm một số lễ cúng nhỏ như: ăn lúa mới (tháng 8), ăn nếp mới (tháng 9)...<br><br>&nbsp; Người Hà Nhì có nhiều truyện cổ, có cả truyện thơ dài. Nam nữ thanh niên có điệu múa riêng, đều theo nhịp tấu, nhạc cụ gõ. Trai gái Hà Nhì tỏ tình thường dùng các loại khèn lá, đàn môi, sáo dọc. Các thiếu nữ thích thổi am-ba, mét-du, tuy-húy (huýt sáo) hay nát-xi vào ban đêm. Con trai gảy đàn La Khư. Ngày lễ hội còn có trống, thanh la, chập cheng góp vui. Người Hà Nhì có nhiều loại bài hát: các bà mẹ hát ru, thanh niên nam nữ hát đối... Có hát đám cưới, hát đám ma, hát mừng nhà mới, hát tiếp khách quý, hát trong ngày tết... Bài hát đám cưới của người Hà Nhì ở Mường Tè, Lai Châu, Việt Nam dài tới 400 câu.<br>Chu Diệu Linh - 5A3<br><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1900425653/57472ea93c6d9da077d7bfdb369a5ffc/Ethnic_Hani_Headgear_China.jpg" />
         <pubDate>2022-11-28 13:30:28 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400193048</guid>
      </item>
      <item>
         <title>dân tộc mường</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400196851</link>
         <description><![CDATA[<div><em>Tên gọi khác: Người Mường còn có tên gọi Mol, Mual, Moi</em><strong><em>.</em></strong></div><div><strong>* Dân số:</strong> Dân tộc mường có trên 914.600 người.</div><div><strong>* Cư trú:</strong> Đồng bào Mường sống định canh định cư miền núi, nơi có nhiều đất sản xuất, gần đường giao thông, thuận tiện cho việc làm ăn.<br>Người Mường làm ruộng từ lâu đời. Lúa nước là cây lương thực chủ yếu. Trước đây, đồng bào trồng lúa nếp nhiều hơn lúa tẻ và gạo nếp là lương thực ăn hàng ngày. Nguồn kinh tế phụ đáng kể của gia đình người Mường là khai thác lâm thổ sản như nấm hương, mộc nhĩ, sa nhân, cánh kiến, quế, mật ong, gỗ, tre, nứa, mây, song... Nghề thủ công tiêu biểu của người Mường là dệt vải, đan lát, ươm tơ. Nhiều phụ nữ Mường dệt thủ công với kỹ nghệ khá tinh xảo.</div><div>&nbsp;Trang phục của nam giới Mường là bộ quần áo cánh màu chàm. Phụ nữ đội khăn màu trắng hình chữ nhật, mặc yếm và áo cánh ngắn thân có xẻ ngực (có nơi xẻ vai), ít cài cúc. Váy của phụ nữ Mường khá dài, mặc cao đến nách. Những chiếc cạp váy được dệt bằng tơ nhuộm màu, tạo những hoa văn hình học và những hình con rồng, phượng, hươu, chim... tuyệt đẹp. Xưa kia, hình thái tổ chức xã hội đặc thù của người Mường là chế độ lang đạo, các dòng họ lang đạo (Đinh, Quách, Bạch, Hà) chia nhau cai quản các vùng. Đứng đầu mỗi mường có các lang cun, dưới lang cun có các lang xóm hoặc đạo xóm, cai quản một xóm.</div><div>&nbsp;&nbsp;Nguyễn Khánh Thy </div><div>&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="https://baogialai.com.vn/dataimages/201807/original/images2671713_nm.gif" />
         <pubDate>2022-11-28 13:32:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400196851</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Con Quang Khải - Lớp 5a3</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400206708</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1900467663/468867a0f6b9b22bcd4e547a3f72f8b5/D_n_t_c_C__Lao__T___i.docx" />
         <pubDate>2022-11-28 13:38:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400206708</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lê Hiếu Ngọc 5A3</title>
         <author>tuan1123456789</author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400214004</link>
         <description><![CDATA[<div>Các thông tin về dân tộc Kháng:</div><div>Người Kháng còn có tên gọi khác là : Xá Khao, Xá Xúa, Xá Đón, Xá Dâng,…</div><div>Người Kháng nói tiếng Kháng, là ngôn ngữ thuộc ngữ tộc Môn-Khmer. Tuy nhiên vị trí của nó trong nhánh Môn-Khmer chưa được xác định rõ ràng. Tiếng Kháng được cho là thuộc ngữ chi Khơ Mú hoặc ngữ chi Palaung.</div><div>Tại Việt Nam, người Kháng&nbsp; cư trú tại Sơn La, Lai Châu. Người Kháng ở Vệt Nam có tổng số dân theo điều tra năm 2009 là 13.840 người, cư trú tại 25 trên tổng số 63 tỉnh thành. Người Kháng cư trú tập trung tại các tỉnh: Sơn La ( 8.582 người, chiếm 62,0% tổng số người Kháng tại Việt Nam ) , Điện Biên ( 4.220 người, chiếm 30,5% tổng số người Kháng tại Việt Nam ) , Lai Châu ( 960 người ).</div><div>Tại Lào, các dân tộc này được gọi bằng các tên gọi như: Phong-Kaniang, Pong 3, Khaniang, Kenieng, Lao Phong,…với dân số khoảng 1.000 người.&nbsp;</div><div>Về kinh tế thì người Kháng làm rẫy theo lối "chọc lỗ tra hạt", trồng nhiều lúa nếp làm lương thực chính, nay nhiều nơi chuyển sang cày bừa đất, gieo hạt, có ruộng bậc thang nhưng không nhiều. Họ trăn nuôi gà, lợn, trâu là phổ biến. Đồ đan : Ghế, rổ, rá, nia, hòm, gùi,…và thuyền độc mộc kiểu đuôi én được người Thái ưa dùng. Người Kháng thường dùng loại gùi một quai, đeo qua trán. Họ trồng bông rồi đem bông đổi lấy vải và đồ mặc của người Thái.&nbsp;</div><div>Theo phong tục Kháng, người chết được chôn cất chu đáo, trên mộ có nhà mồ, có các đồ vật dành cho người chết : hòm đựng quần áo, giỏ cơm, ống hút rượu, bát, đũa,…phía đầu mộ chôn một cột cao đến 4-5 mét, trên đỉnh có con chim gỗ và treo chiếc áo của vợ hay chồng người chết.</div><div>Người Kháng ở nhà sàn. Nhà thường có 3 gian 2 chái, mái kiểu mu rùa và hai cửa ra vào ở hai đầu nhà, 2 cửa sổ ở hai vách bên.&nbsp;</div><div>Cá tính tộc người mờ nhạt giống phong cách trang phục Thái đen. Phụ nữ nhuộm răng đen, ăn trầu.</div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1310369945/85f4c0db6786099c506a073e5bb5e549/1F7F689A_CBBC_415B_8E74_27AA1C236516.jpg" />
         <pubDate>2022-11-28 13:43:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400214004</guid>
      </item>
      <item>
         <title>dân tộc rơ măm</title>
         <author>ngocanh1307104</author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400216307</link>
         <description><![CDATA[<div>-<strong>Rơ Măm là một trong số những dân tộc thiểu số còn rất ít người sinh sống tập trung tại làng Le, xã Mô Rai, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum</strong> <strong>Ở Kon Tum, người Rơ-măm có khoảng gần 500 người,</strong></div><div><strong>-Tính đến ngày 01/4/2019, dân tộc Rơ Măm có 685 người, sinh sống trong 186 hộ gia đình (chiếm khoảng 13,11% tổng dân số của xã Mô Rai), trong đó: nữ có 329 người (chiếm 48,03%), nam có 356 người.<br>-</strong></div>]]></description>
         <enclosure url="https://farm4.staticflickr.com/3682/13550789664_926dfab63d.jpg" />
         <pubDate>2022-11-28 13:44:22 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400216307</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc Xinh Mun (hay còn gọi là: người Puộc, người Pụa). Với dân số khoảng 18.018 (theo điều tra dân số năm 1999). Người Xinh Mun cư trú chủ yếu ở vùng biên giới Việt - Lào và ven sông Mã thuộc hai tỉnh Sơn La và Lai Châu của Việt Nam và tỉnh Xiêng Khoảng cùng Huaphan của Lào.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400224533</link>
         <description><![CDATA[<div>- Đặc điểm kinh tế: Người Xinh Mun sống chủ yếu bằng nghề làm nương rẫy, trồng lúa nếp và ngô là chính. Có loại nương chọc lỗ tra hạt giống, có nương dùng cuốc và có nương dùng cày để canh tác. Một số nơi có ruộng nước. Trước kia người Xinh Mun nuôi trâu, dê, lợn... thả rông, nay nhiều bản đã làm chuồng xa nhà cho súc vật. Hái lượm và săn bắn góp phần quan trọng cho đời sống của họ. Nghề đan lát khá phát triển, đồ đan đẹp và bền, họ thường đổi đồ đan cho người Thái, người Lào để lấy một phần đồ mặc và đồ sắt. Người Xinh Mun có tập quán ăn trầu, nhuộm răng đen, uống rượu cần, thích gia vị cay.<br>- Tổ chức cộng đồng: Trước kia người Xinh Mun sống du canh, du cư, nay họ đã sống ổn định và lập những làng đông đúc. Người Xinh Mun đa số mang họ Lò, họ Vi. Mỗi họ đều có kiêng cữ riêng. Các con theo họ cha. Trong nhà, khi người cha chết, thì con trai cả giữ vai trò quan trọng.<br>- Hôn nhân gia đình: Trong hôn nhân, nhà trai phải đưa tiền cho nhà gái. Sau lễ dạm, lễ hỏi mới đến lễ đi rể, thường sau vài ba năm lúc cô dâu chú rể đã có vài ba con, nhà trai mới tổ chức đón dâu về. Kể từ lễ đi ở rể, đôi vợ chồng phải đổi tên riêng của mình, lấy chung một tên khác do cậu, bố mẹ vợ hay thầy cúng đặt cho. Phụ nữ Xinh Mun thường đẻ tại nhà. Khi con gần đầy tháng, cha mẹ nhờ thầy cúng đặt tên.<br>- Nhà cửa: Người Xinh Mun ở nhà sàn, mái hình mai rùa, có hai thang lên xuống ở hai đầu hồi.<br>Chu Diệu Linh - 5A3</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1900425653/28d1c88788a62c86d68a03782d2e07c8/13551706303_a1175183df.jpg" />
         <pubDate>2022-11-28 13:48:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400224533</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc Ơ Đu (Tày Hạt ) </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400236210</link>
         <description><![CDATA[<div>Dân tộc Ơ Đu hay còn có tên gọi khác là Tày Hạt . Dân số là:428 người. Xưa kia người Ơ Đu cư trú suốt một vùng dọc theo hai con sông Nặm Mộ và Năm Nơn. Do nhiều biến cố trong lịch sử liên tiếp sảy ra ở vùng này buộc họ phải dời đi nơi khác hay sống hòa lẫn với các dân cư mới đến .hiện người Ơ Đu ở 2 bản đông nhất&nbsp; xốp bột và kim hòa ,xã Kim đa huyện tương dương ,Nghệ An .ở lào họ họp với nhóm tày phọong cư trú ở tỉnh Sầm Sơn . Thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Kh ơ Me ( ngữ hệ Nám ). Nay chỉ còn tiếng mẹ đẻ. Người Ơ Đu thường ăn một bữa phụ ( sáng), 2 bữa chính ( trưa và tối ) . Hiện nay ,nam và nữ đều ăn mặc theo kiêu người Thái , Việt trong vùng . Những bộ trang phục cổ truyền còn rất ít&nbsp; .&nbsp;<br>Đào Duy Long</div>]]></description>
         <enclosure url="https://1.bp.blogspot.com/-FzRJOMbkIrI/V5S38Lbg47I/AAAAAAAAGj4/_99X-pYtoAwYvQCxJmJvZW79pUF0oUdzgCLcB/s640/vanhoaODu%2B001.jpg" />
         <pubDate>2022-11-28 13:55:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400236210</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400237396</link>
         <description><![CDATA[<div>https://mientaycogi.com/wp-content/uploads/2019/10/gi%E1%BB%9Bi-thi%E1%BB%87u-d%C3%A2n-t%E1%BB%99c-m%E1</div>]]></description>
         <enclosure url="https://mientaycogi.com/wp-content/uploads/2019/10/gi%E1%BB%9Bi-thi%E1%BB%87u-d%C3%A2n-t%E1%BB%99c-m%E1%BA%A1-1280x720.jpg" />
         <pubDate>2022-11-28 13:56:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400237396</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc Brâu</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400242217</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Người Brâu </strong>(còn gọi là <strong>người Brạo</strong>) là một dân tộc ít người sinh sống chủ yếu tại Campuchia, Lào và một ít tại Việt Nam khoảng 4-5 đời nay.Tại Việt Nam, người Brâu được công nhận là một trong 54 dân tộc Việt Nam. Theo điều tra dân số năm 1999 thì người Brâu cùng với người Ơ Đu là một trong những dân tộc người ít dân nhất hiện nay ở Việt Nam, chỉ với 313 người, còn theo ước tính năm 2006 thì có 84 hộ với dân số 322 người sống tập trung ở làng Đăk Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum, thuộc Tây Nguyên.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Học sinh<br>                        Lê Thị Hải Anh</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1900469052/0d890817e90a0551a3996acd24d0ef32/27B4A256_E8ED_4F91_BE32_6C295778DBA6.jpeg" />
         <pubDate>2022-11-28 13:59:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400242217</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400256615</link>
         <description><![CDATA[<div>Dân số của người Gia Rai là 513.930 năm 2019, 411.275 người năm 2009, và 317.557 người năm 1999. Người Gia Rai sinh sống và cư trú chủ yếu tập trung ở tỉnh <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Gia_Lai">Gia Lai</a> (90%), một bộ phận ở tỉnh <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kon_Tum">Kon Tum</a> (5%) và phía bắc tỉnh <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90ak_Lak">Đăk Lăk</a> (4%). Khoảng vài ngàn người Jrai sinh sống tại khu vực <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ratanakiri_(t%E1%BB%89nh)">Ratanakiri</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Campuchia">Campuchia</a> nhưng chưa có số liệu chính thức từ <a href="http://www.nis.gov.kh/">Viện thống kê quốc gia Campuchia</a>.Người Gia Rai còn có các tên gọi khác là người Jơrai (hay Ană Pô Grei, Anak Drai), có các nhóm phương ngữ Jrai Chor, Jrai Mơthur, Jrai Hơdrung (Hơbâo), Jrai Tơbuan, Jrai Arap.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Đặng Nam Khánh<br>                           5A3</div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1505814508/a6cf2cd64fe0f4bd6f0593f58a29451e/t_i_xu_ng__1_.jpg" />
         <pubDate>2022-11-28 14:07:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400256615</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc Chăm</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400256630</link>
         <description><![CDATA[<div>Tên gọi khác của dân tộc Chăm là : Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời,...<br>Dân tộc Chăm có dân số là 178.948<br>Dân tộc Chăm phân bố ở miền Trung Nam Bộ ở các tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận<br>Dân tộc chăm họ thường ăn cơm với cá thịt vầ rau củ<br>Thức uống yêu thích của họ là riệu và riệu gạo<br>Ngô Dương Hoàng Đức 5A3<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1426751290/20b06d1c6bc3cdb2aaca420fd4c09119/ng__i_ch_m.jpg" />
         <pubDate>2022-11-28 14:07:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400256630</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc Chu Ru</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400257862</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Tên gọi khác</strong>: Chơ Ru, Kru, Thượng.<br><strong>Dân số:</strong> 23.242 người (Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số 01/4/2019).<br><strong>Ngôn ngữ: </strong>Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynêxia, (ngữ hệ Nam Ðảo), gần với tiếng Chăm. Có một bộ phận người Chu Ru sống gần với người Cơ Ho nên nói tiếng Cơ Ho (thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me).<br><strong>Địa bàn sinh sống</strong>:Người Chu Ru cư trú tập trung tại các tỉnh: <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%A2m_%C4%90%E1%BB%93ng">Lâm Đồng</a> (18.631 người, chiếm 96,5% tổng số người Chu Ru tại Việt Nam), <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ninh_Thu%E1%BA%ADn">Ninh Thuận</a> (521 người), <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh">Thành phố Hồ Chí Minh</a> (58 người)<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Chu_Ru#cite_note-TK-4"><sup>[4]</sup></a><br>Nguyễn Thu Giang 5a3</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1900507768/acafc8fb133a06c888d91cd31012938b/dan_toc.jpg" />
         <pubDate>2022-11-28 14:08:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400257862</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc Sán Chay</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400268033</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Tên tự gọi:</strong> Sán Chay</div><div><strong>Tên gọi khác:</strong> Hờn Bán, Chùng, Trại...<br><strong>Dân số:</strong> 201.398 người (Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số 01/4/ 2019).<br><strong>Địa bàn sinh sống</strong>: Người Sán Chay gồm hai nhóm Cao Lan và Sán Chỉ chủ yếu tập trung ở ba huyện Sơn Dương, Yên Sơn, Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang, huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên, huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang và rải rác các tỉnh đông bắc Bắc Bộ khác như <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Y%C3%AAn_B%C3%A1i">Yên Bái</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A3ng_Ninh">Quảng Ninh</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Cao_B%E1%BA%B1ng">Cao Bằng</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BA%A1ng_S%C6%A1n">Lạng Sơn</a>. Hiện tại có một nhóm người vào <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2y_Nguy%C3%AAn">Tây Nguyên</a> lập nghiệp được tổ chức thành các làng.<br><strong>Nguyễn Thu Giang 5a3</strong></div><div><br></div><div><br><br></div><div><br><br></div><div><br><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1900507768/1ce8d34fc939a38ac1746834166642c0/dan_toc_1.jpg" />
         <pubDate>2022-11-28 14:13:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400268033</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400280446</link>
         <description><![CDATA[<div>Tên : Mạ.<br>Tên gọi khác : Châu Mạ ; Mạ Xốp ; Mạ Tô; Mạ Krung; Mạ Ngắn .<br>Dân số :50</div>]]></description>
         <enclosure url="https://mientaycogi.com/dan-toc-ma-298/" />
         <pubDate>2022-11-28 14:20:28 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400280446</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc Pu Péo</title>
         <author>peterbui82</author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400281676</link>
         <description><![CDATA[<div>Người Pu Péo sống ở tỉnh Hà Giang và cư trú ở&nbsp; Người Pu Péo chủ yếu cư trú tại xã Phố Là (huyện Đồng Văn); Sủng Tráng và Phú Lũng (huyện Yên Minh) và một số ít sống ở xã Yên Cường(huyện Bắc Mê) ,theo số liệu thống kê năm 2005 thì dân số tộc người Pu Péo ở Hà Giang có khoảng 602 người. Tính đến 31/12/2007 có khoảng 663 người và vẫn còn lưa lại những truyền thống là dệt, đồ mộc, mây tre đan,...người Pu Péo không sống thành làng bản riêng, họ cư trú xen kẽ và quan hệ gẫn gũi với các tộc người khác,&nbsp; chỉ có từ 5-7 hộ, điều này thấy rõ tính cô kết làng bản không cao.&nbsp;                            Học sinh: Bùi Minh Châu Lớp: 5A3</div>]]></description>
         <enclosure url="https://hagiang.gov.vn/esinfo/pages/economicsnews.aspx?ItemID=254#:~:text=Ng%C6%B0%E1%BB%9Di%20Pu%20P%C3%A9o%20ch%E1%BB%A7%20y%E1%BA%BFu,C%C6%B0%E1%BB%9Dng%20(huy%E1%BB%87n%20B%E1%BA%AFc%20M%C3%AA)." />
         <pubDate>2022-11-28 14:21:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400281676</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400283923</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1342384689/6912499e571427a87e184cd9f1626467/B_i_l_m_b_o_an.doc" />
         <pubDate>2022-11-28 14:22:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400283923</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc Phù Lá</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400288235</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Người Phù Lá </strong>(còn có tên gọi khác là <strong>Xá Phó, Bồ Khô Pạ, Mú Dí Pạ, Phổ, Va Xơ Lao, Pu Dang.</strong>Tại Việt Nam người Phù Lá là một dân tộc được công nhận trong số 54 dân tộc tại Việt Nam,theo tổng điều tra dân số ở và nhà ở năm 2009, người Phù Lá ở Việt Nam có dân số 10.944 người, có mặt tại 23 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Phù Lá cư trú tập trung tại các tỉnh: <strong>Lào Cai</strong> (8.926 người, chiếm 81,6% tổng số người Phù Lá tại Việt Nam), <strong>Yên Bái</strong> (942 người) tại xã Châu Quế, huyện Văn Yên, <strong>Hà Giang</strong> (785 người),<strong>Điện Biên</strong>(206 người), <strong>Hà Nội</strong> (28 người).Ngoài ra còn có nhóm Phù Lá Hán (Phu Kha, Phù Lá Trắng) ở Mường Khương và Bắc Hà di cư muộn vào Việt Nam.Có khoảng 4.200 người Phù Lá sống tại Trung Quốc, nhưng tại đây họ được phân loại như là thành viên của nhóm sắc tộc Di (Yi).<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Học sinh<br>                          Lê Thị Hải Anh</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1900469052/9fa0ac7bc125b9b0d075a68d09d85cee/71CA2375_169A_4D87_8734_78BBC793A5C3.jpeg" />
         <pubDate>2022-11-28 14:24:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400288235</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc Ra Glai</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400290354</link>
         <description><![CDATA[<div>Dân tộc Ra Glai gồm 122.245<br>Ngôn ngữ người Ra Glai thường dùng là Malyaoo-Polyrexia<br>Họ phân bố dân cư ở miền Trung Nam bộ ở các tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận<br>Họ thích ăn canh nấu thịt,cá với rau.&nbsp;<br>Bữa sáng và chiều của họ là bưax chính. Đồ uống yêu thích của hạo là nước lã đựng trong vỏ bầu không và riệu cần<br>Ngô Dương Hoàng Đức 5A3</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1426751290/2b99b4079f3ef38a7e0a3c9f8e65f805/ra_glai.jpg" />
         <pubDate>2022-11-28 14:25:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400290354</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400301359</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1342384689/13988137acc188f3c2bbb3e0497a96ef/Ng__i_P__Th_n___B_o_An.docx" />
         <pubDate>2022-11-28 14:31:20 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400301359</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc Gia Rai</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400301874</link>
         <description><![CDATA[<div>Dân số người Gia Rai là 513.930 năm 2019, 411.275 người năm 2009, và 317.557 người năm 1999.Người Gia Rai sinh sống và cư trú chủ yếu tập trung ở tỉnh <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Gia_Lai">Gia Lai</a> (90%), một bộ phận ở tỉnh <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kon_Tum">Kon Tum</a> (5%) và phía bắc tỉnh <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90ak_Lak">Đăk Lăk</a> (4%). Khoảng vài ngàn người Jrai sinh sống tại khu vực <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ratanakiri_(t%E1%BB%89nh)">Ratanakiri</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Campuchia">Campuchia</a> nhưng chưa có số liệu chính thức từ <a href="http://www.nis.gov.kh/">Viện thống kê quốc gia Campuchia</a>. Người Jrai còn có các tên gọi khác là người Jơrai (hay Ană Pô Grei, Anak Drai), có các nhóm phương ngữ Jrai Chor, Jrai Mơthur, Jrai Hơdrung (Hơbâo), Jrai Tơbuan, Jrai Arap.&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Đặng Nam Khánh 5A3<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1505814508/18c974b2e8a946730a43f8a0d5fc8efd/t_i_xu_ng__1_.jpg" />
         <pubDate>2022-11-28 14:31:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400301874</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Bá Thủy 5A3</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400321062</link>
         <description><![CDATA[<div>-Tên gọi : Mạ&nbsp;<br>-Tên gọi khác : Châu Mạ , Mạ Xốp , Mạ Tô, Mạ Krung,Mạ Ngắn .<br>-Dân số : 50.322 (Tổng điều tra dân số 2019)<br>-Sinh sống ở tỉnh Lâm Đồng , Thái Nguyên.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://i.pinimg.com/originals/ba/54/6b/ba546b459a61cf9d53422fc7998f2ef2.jpg" />
         <pubDate>2022-11-28 14:41:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400321062</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Giới thiệu về người Nùng </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400328751</link>
         <description><![CDATA[<div>Người Nùng sống tập trung ở các tỉnh đông bắc Bắc Bộ như Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Tuyên Quang v.v (chiếm tới 84%). Hiện tại, một lượng lớn đã di cư vào các tỉnh Tây Nguyên (11 %), chủ yếu tại Đắk Lắk. Quá trình di cư này bắt đầu vào năm 1954, khi Việt Minh kiểm soát miền bắc Việt Nam.<br>Người Nùng, là một trong số 54 nhóm sắc tộc được chính phủ Việt Nam chính thức phân loại. Người Nùng nói tiếng Nùng, là ngôn ngữ thuộc ngữ chi Tai của ngữ hệ Tai-Kadai. Người Nùng có văn hóa, ngôn ngữ giống với dân tộc Tày và với một số nhánh người Tráng tại Trung Quốc.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1900325872/3a010b9afe7f23b6055319fd9543a3ec/Screenshot_20221128_214504_Google.jpg" />
         <pubDate>2022-11-28 14:45:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400328751</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc Bru- Vân Kiều</title>
         <author>peterbui82</author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400330686</link>
         <description><![CDATA[<div>Người Bru Vân Kiều còn được gọi là&nbsp;<strong>người Bru</strong>, <strong>người Vân Kiều</strong>, <strong>người Ma Coong</strong>, <strong>người Trì</strong> hay <strong>người Khùa </strong>sống ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên nhưng ở nước Lào, Việt Nam và Thái Lan. Họ là dân tộc thiểu số và mang họ Hồ nhằm ghi công chủ tịch Hồ Chí Minh,số dân tổng cộng tại Việt Nam năm 2019 là 94.598 người , năm 2009 là 74.506 người .Người Ma Coong hay Măng Coong gồm 600 người sinh sống tại xã Thượng Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng BìnhThượng ,người Khùa gồm 1000 người sinh sống ở các xã Dân Hóa và Trọng Hóa, huyện Minh Hóa. Họ sống xen kẽ với cộng đồng người Sách-Mày và Người Trì có khoảng 300 người, địa bàn cư trú ở các bản Cờ Đỏ, Nồng Mới, Troi của xã Thượng Trạch, huyện Bố Trạch. Một số đi theo hướng đông tụ cư tại vùng miền núi phía tây Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế của Việt Nam.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://baodantoc.vn/dan-toc-bru-van-kieu-1656582688926.htm" />
         <pubDate>2022-11-28 14:46:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400330686</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc khơ mú</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400374210</link>
         <description><![CDATA[<div>Dân số và địa bàn cư trú[<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Kh%C6%A1_M%C3%BA&amp;veaction=edit&amp;section=1">sửa</a> | <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Kh%C6%A1_M%C3%BA&amp;action=edit&amp;section=1">sửa mã nguồn</a>]</div><div><br>Người Khơ Mú là những cư dân bản thổ ở miền bắc Lào. Hiện tại có khoảng 479.249-540.000 người Khơ Mú khắp thế giới, với dân số khoảng 389.694 người (năm 1985) tại Lào,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Kh%C6%A1_M%C3%BA#cite_note-Khmu-4"><sup>[4]</sup></a> 72.929 người (năm 2009) tại Việt Nam,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Kh%C6%A1_M%C3%BA#cite_note-Khmu-4"><sup>[4]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Kh%C6%A1_M%C3%BA#cite_note-DTDS2009-5"><sup>[5]</sup></a> 31.403 (năm 2000) tại Thái Lan,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Kh%C6%A1_M%C3%BA#cite_note-Khmu-4"><sup>[4]</sup></a>1.600 người (năm 1990) tại Trung Quốc,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Kh%C6%A1_M%C3%BA#cite_note-Khmu-4"><sup>[4]</sup></a> không rõ số liệu tại Myanmar và cỡ 8.000 tại Hoa Kỳ<br>Đinh đức nhật -5a3<br><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1900604975/282dc87cd2f5b21a598d0186888ef94c/5546D8B5_D1FC_4713_A2F4_F79DCD12E140.jpeg" />
         <pubDate>2022-11-28 15:10:43 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400374210</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc Hoa </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400420813</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Dân tộc Hoa<br>&nbsp;Có tên gọi khác là Hán&nbsp;<br>Đồng bào sinh sống ở nhiều nơi từ Bắc đến Nam.Dân tộc Hoa có hơn 900 nghìn người.Tiếng nói của người Hoa thuộc nhóm chữ Hán.Người Hoa thường cư trú tập chung thành làng xóm hoặc đường phố.Tạo thành khu vực đông đúc và gắn bó với nhau.Người . Trong đó các gia đình cùng dòng họ thường ở phổ biến là: Nhà 3 gian 2 chái, nhà chữ 'môm', nhà chữ ' khẩu ', thường được lợp ngói mang hoặc lá, phên, tường trình hoặc xây bằng đá, gạch mộc…Trong các ăn mặc, đàn ông dùng quần áo như đàn ông Nùng. Giáy, Mông, Dao….. Đàn bà mặc quần, áo 5 thân cài cúc vải ở bên nách phải, dài trùm mông, áo cộc tay cũng 5 thân. Các thầy cúng có y phục riềng khi làm lễ. Nón, mũ, ô là các đồ đội trên đầu thông dụng của người Hoa.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<br><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Dân tộc Xơ - Đăng<br><strong>Tên tự gọi</strong>: Xơ Teng (Hđang, Xđang, Xđeng), Tơ Ðrá (Xđrá, Hđrá), Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng (Xlang), Tà Trĩ (Tà Trê), Châu.<br><strong>Tên gọi khác</strong>:<strong> </strong>Hđang, Kmrâng, Con lan, Brila.<br><strong>Nhóm địa phương</strong>: Xơ Teng, Tơ Ðrá, Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng, Tà Trĩ, Châu.<br><strong>Dân số</strong>: 212.277 người (Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số 01/4/2019).<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>&nbsp;</strong>Tiếng Xơ Ðăng thuộc ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), gần với tiếng Hrê, Ba Na, Gié Triêng. Giữa các nhóm có một số từ vựng khác nhau. Chữ viết dùng hệ chữ cái La-tinh, mới hình thành cách đây mấy chục năm.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>&nbsp;</strong>Người Xơ Ðăng thuộc số cư dân sinh tụ lâu đời ở Trường Sơn - Tây Nguyên và vùng lân cận thuộc miền núi của Quảng Nam, Quảng Ngãi<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;<strong>&nbsp;</strong>Một bộ phận trồng lúa nước, điển hình là nhóm Mnâm làm ruộng theo lối sơ khai: làm đất bằng cách lùa đàn trâu dẫm quần và dùng cuốc đẽo từ gỗ (nay đã có cuốc lưỡi sắt)... Còn lại, kinh tế rẫy đóng vai trò chủ đạo, với công cụ và cách thức canh tác tương tự như những tộc người khác trong khu vực. Chặt cây bằng rìu và dao quắm hay xà gạc, đốt bằng lửa; chọc lỗ để tra hạt giống thì dùng gậy đẽo nhọn hay gậy có lưỡi sắt; làm cỏ bằng loại cuốc con có cán lấy từ chạc cây và cái nạo có lưỡi bẻ cong về một bên; thu hoạch thì dùng tay tuốt lúa. Ngoài lúa, người Xơ Ðăng còn trồng kê, ngô, sắn, bầu, bí, thuốc lá, dưa, dứa, chuối, mía... Vùng người Ca Dong có trồng quế. Vật nuôi truyền thống là trâu, dê, lợn, chó, gà. Việc hái lượm, săn bắn, kiếm cá có ý nghĩa kinh tế không nhỏ. Nghề dệt vải có ở nhiều vùng. Nghề rèn phát triển ở nhóm Tơ Ðrá, họ biết chế sắt từ quặng để rèn. Một số nơi người Xơ Ðăng đã biết đãi vàng sa khoáng. Ðan lát phát triển, cung cấp nhiều vật dụng. Họ ưa thích trao đổi vật trực tiếp, nay đã dùng tiền.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp;Người Xơ Ðăng ăn cơm tẻ, cơm nếp với muối ớt và các thức kiếm được từ rừng; khi cúng bái mới có thịt gia súc, gia cầm. Phổ biến là món canh nấu rau hoặc măng lẫn thịt hay cá, ốc và các món nướng. Họ uống nước lã (nay nhiều người đã đun chín), rượu cần. Ðặc biệt rượu được chế từ loại kê chân vịt ngon hơn rượu làm từ gạo, sắn.<br><br></div><div>Một số nơi người Xơ Ðăng có tập quán ăn trầu cau. Nam nữ đều hút thuốc lá; có nơi, đồng bào đưa thuốc lá nghiền thành bột vào miệng thay vì hút trong tẩu.<br><br><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Học sinh&nbsp;<br>                                 Lê Nhật Minh</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1900603361/f73b31d69eef450220b9a0b8be3e26f7/013.jpg" />
         <pubDate>2022-11-28 15:36:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400420813</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Giới thiệu dân tộc Hrê</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400421203</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; - Người Hrê còn có tiếng gọi khác là : Chăm rê, Chom, Krẹ, Mọi lũy ... Tiếng nói của người Hrê thuộc ngôn ngữ Môn - Khmer (ngữ hệ Nam Á), gần gũi với tiếng nói người Xơ-đãng và Ba na. Người Hrê có khoảng 149.460 người, cư trú chủ yếu ở khu vực Nam Trung bộ và Tây Nguyên thuộc một số tỉnh : Bình Định,Quảng Ngãi, Đăk Lắc, Kon Tum. Đồng bào Hrê sống định canh thành từng làng (Phây). Làng truyền thống của đồng bào Hrê thường có tên gọi địa danh theo đồi núi, sông suối tự nhiên nơi cư trú. Làng thường được dựng ở những nơi có nguồn nước sinh hoạt và gắn liền với vùng canh tác. Mỗi làng có khoảng 40-50 nóc nhà. Trong làng người Hrê, ''già làng'' là người người uy tín cao và đóng vai trò quan trọng. Trước đây, người Hrê nhất loại đặt họ Đinh, gần đây một số nơi lấy họ Nguyễn,họ Hà và họ Phạm. người Hrê ở tỉnh Quảng Ngãi lấy họ Phạm là họ của mình để tỏ lòng tôn kính đối với cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng quê ở tỉnh Quảng Ngãi.<br>&nbsp;- Người Hrê chủ yếu sống bằng nghề làm lúa nước và rẫy với kỹ thuật canh tác lúa nước như vùng đồng bằng. Người Hrê chăn nuôi heo, gia súc, gia cầm...chỉ nhằm phục vụ các nghi lễ cúng bái.Các nghề thủ công như: nghề rèn,nghề đan lát, nghề dệt, nhất là dệt thổ cẩm khá phát triển,<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Ngô Thị Thúy Ngân</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1624682519/1407f0f170cc903de4a7d917ab752833/13538842573_3d5792e79c.jpg" />
         <pubDate>2022-11-28 15:36:28 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400421203</guid>
      </item>
      <item>
         <title>TÌM HIỂU VỀ DÂN TỘC KHMER</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400426969</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em>Dân tộc Khmer là một trong 54 dân tộc ở VN và được đánh giá là dân tộc sở hữu nhiều nét đặc trưng riêng biệt và độc đáo.</em></strong><br>&nbsp; &nbsp;<strong><em>Dân số</em></strong></div><div><strong><em>Dân tộc Khmer ở Việt Nam có khoảng 1,3 triệu người, sống tập trung ở tại các tỉnh miền Tây Nam Bộ như Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang, An Giang, Bạc Liêu, Cần Thơ, Vĩnh Long và phân bố rải rác ở một vài nơi khác. </em></strong><br>&nbsp; <strong><em>Ngôn ngữ và chữ viết</em></strong></div><div><strong><em>Người Khmer có ngôn ngữ và chữ viết riêng. Tiếng nói của dân tộc Khmer thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me. Họ có kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười. Tuy nhiên, trong đồng bào dân tộc Khmer, hiện có nhiều người chỉ nghe được tiếng nói mà không đọc được chữ viết của dân tộc mình. Trước tình hình này, Đảng, Nhà nước đã có nhiều chính sách nhằm bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa, ngôn ngữ chữ viết của người Khmer. Hiện tại chữ Khmer được đưa vào dạy ở các trường phổ thông, nơi có đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống. Từ đó, số người biết đọc, viết tiếng dân tộc tăng lên đáng kể.</em></strong><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;<strong><em>Trang phục&nbsp;</em></strong></div><div><strong><em>Trang phục truyền thống của người dân Khmer mang những đặc trưng riêng về tạo hình và mặt thẩm mỹ. Nam nữ đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm, người có tuổi mặc quần áo bà ba màu đen còn nam giới khá giả sẽ mặc bộ bà ba màu trắng, khăn rằn quấn trên đầu hoặc vắt qua vai. Trong&nbsp;</em></strong></div><div><strong><em>đám cưới, trang phục của chú rể là áo xà rông có màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái&nbsp; quàng chiếc khăn dài trắng. Cô dâu sẽ mặc váy màu tím hoặc màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống<br>Ẩm thực</em></strong></div><div><strong><em>Từ lâu ẩm thực đã được xem là một yếu tố quan trọng góp phần tạo nên sự phong phú trong bản sắc văn hóa Khmer.<br>&nbsp; Trong cuộc sống sinh hoạt thường ngày, thức ăn chính của người Khmer thường là cơm tẻ hoặc&nbsp;</em></strong></div><div><strong><em>là cơm nếp. Mắm là loại thức ăn được ưa chuộng và gia vị được sử dụng nhiều là vị chua từ quả me và vị cay từ hạt tiêu, tỏi, sả, ớt, cà ri.&nbsp; </em></strong><br><strong><em>Đặc trưng thú vị của ẩm thực Khmer là đậm vị chua, cay, mặn và mang đậm đà hương vị sông nước. Món ăn đặc trưng của người Khmer là bún nước lèo đậm đà hương vị mắm ăn kèm với các loại rau và gia vị đặc trưng của dân tộc Khmer&nbsp;<br>Văn hóa</em></strong></div><div><strong><em>Đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào Khmer rất phong phú. Tuy sống cùng trên một địa bàn với dân tộc Kinh từ lâu nhưng hình thái cư trú của người Khmer vẫn giữ được đặc điểm riêng: ở nhà sàn và cư trú theo cộng đồng người với tên gọi là “phum” và “sóc”.&nbsp;<br>Trong hôn nhân thường do cha mẹ sắp đặt, có sự thỏa thuận của con cái và cưới xin sẽ trải qua 3 bước là làm mối, dạm hỏi, lễ cưới được tổ chức ở bên nhà gái.<br>Trong các lễ tang sẽ có tục hỏa thiêu, sau khi thiêu tro được giữ trong tháp “Pì chét đẩy” xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.&nbsp;<br>Trong hệ thống lễ hội của đồng bào Khmer có nhiều lễ hội đặc sắc, tiêu biểu là Tết đón năm mới và Lễ cúng trăng. Trong những dịp này, bà con thăm hỏi, chúc lẫn nhau, tổ chức nhiều hoạt động văn nghệ, thể thao.&nbsp;<br>Họ có nền âm nhạc sân khấu truyền thống Dù kê, một sự kết hợp có nguồn gốc từ cả Ấn Độ lẫn Đông Nam Á. Dù kê là sự kết hợp các loại hình nghệ thuật, như: ca, múa, âm nhạc, vũ thuật, phục trang, hóa trang, hội họa và ẩm thực. Nghệ thuật sân khấu Dù kê vừa phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí, vừa giúp người xem cảm nhận được điều hay lẽ phải, nhận thức được thiện - ác, chính - tà, định hướng cho con người. Với những giá trị đặc biệt đó, sân khấu Dù kê đã được đưa</em></strong></div><div><strong><em>vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, loại hình Nghệ thuật trình diễn dân gian</em></strong><br><strong><em>Người Khmer Nam Bộ hầu hết đều theo tín ngưỡng Phật giáo, hệ phái Nam Tông. Di sản đặc sắcnhất của văn hoá Khmer cũng chính là nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp: chùa có mái cao thẳng đứng, hoa văn họa tiết sơn vàng, hệ thống tượng Phật, thần Kabil Maha Prum, nữ thần đất, hung thần Reahu, tiên nữ, vũ nữ Apsara, người chim, vua khỉ Hanuaman... Chùa là nơi thực hiện nghi lễ của Phật giáo, dạy chữ Khmer, lễ hội, truyền bá kinh nghiệm sản xuất; là nơi gìn giữ, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa độc đáo của dân tộc&nbsp;<br>Giáo dục</em></strong></div><div><strong><em>Trẻ em dân tộc Khmer cũng được dạy chữ và dạy về đạo đức, về cách ứng xử, chào hỏi ông bà, cha mẹ, thầy cô, cụ già theo phong tục dân tộc. Đồng thời cũng cung cấp kiến thức cơ bản nhất cho các em về văn hóa, nghệ thuật như các điệu múa, hát dân gian, trang phục… để các em hiểu và biết gìn giữ văn hóa của mình.&nbsp;<br>Hiện nay, trong dòng chảy hội nhập, những di sản văn hóa của đồng bào Khmer ngày càng có sự giao thoa, những yếu tố văn hóa ngoại lai đang xâm nhập, tác động rất lớn đến nền văn hóa cổ truyền. Tuy nhiên, cũng có điểm tích cực khi các thể loại múa, hát vẫn đang được các bạn trẻ tiếp thu, làm mới để đến gần hơn với mọi người, góp phần tạo nên sự phong phú và đa dạng của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hoá của dân tộc Khme<br><br>Học sinh : Đàm Lê Phương Nguyên ; lớp 5A3 </em></strong></div><div><br></div><div><strong><em><br></em></strong><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://sites.google.com/site/nhom3dh14gtdantockhmer/_/rsrc/1476788341988/home/gioi-thieu-ve-dan-toc-khmer/201201193903_5660034112_c25dbfddee.jpg" />
         <pubDate>2022-11-28 15:39:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400426969</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Người Giáy</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400442863</link>
         <description><![CDATA[<div>Dân tộc Giáy hay còn được gọi theo nhiều tên khác là&nbsp;<strong>Nhắng, Dẳng, Pâu Thìn, Pu Nà, Cùi Chu, Xạ</strong>&nbsp; &nbsp;<br>-gười Giáy cư trú ở các huyện Bát Xát, Bảo Thắng, Mường Khương (Lào Cai), Yên Minh, Ðồng Văn (Hà Giang), Phong Thổ, Mường Tè (Lai Châu). Nhà sàn là nhà ở truyền thống. Hiện nay, kiểu nhà sàn vẫn phổ biến trong bộ phận người Giáy ở Hà Giang, còn bộ phận ở Lao Cai và Lai Châu ở nhà đất nhưng phía trước nhà vẫn là sàn phơi. Nhà thường có 3 gian, bàn thờ đặt ở gian giữa. <br>-<strong>Dân số</strong>: 67.858 người (Theo số liệu Điều tra )<br>-Ngôn ngữ của tiếng Giáy thuộc ngữ hệ Thái - Ka Đại&nbsp;<br>-&nbsp; Người Giáy từ Trung quốc di cư sang Việt Nam cách đây khoảng 200 năm.&nbsp;<br>-Người Giáy có nhiều kinh nghiệm canh tác lúa nước trên những triền ruộng bậc thang. Bên cạnh đó họ còn làm thêm nương rẫy trồng ngô, lúa, các loại cây có củ và rau xanh. Chăn nuôi theo lối thả rông. Có một số nghề thủ công nhưng chưa phát triển.&nbsp;<br>-Trang phục truyền thống của người Giáy : họ mặc quần màu chàm đen có dải vải đỏ đắp trên phần cạp, áo cánh 5 thân xẻ tà, dài quá mông, cài khuy bên nách phải, hò áo và cổ tay áo viền những dải vải khác màu. Tóc vấn quanh đầu với những sợi chỉ hồng thả theo đuôi tóc. Vai khoác túi thêu chỉ màu với hoa văn là những đường gấp khúc. Nam giới mặc quần lá toạ, áo cánh xẻ tà, mở khuy ngực.&nbsp;<br>-<strong>Quan hệ xã hội</strong>: Trước Cách mạng tháng Tám, xã hội người Giáy có sự phân hoá giai cấp rõ rệt. Tầng lớp trên là những chức dịch trong bộ máy chính quyền ở xã, thôn bản, nhiều người được hưởng ruộng công do dân cày cấy, có rừng thảo quả do dân trồng, có lính phục dịch, có người lo việc tang, việc cưới, đôi khi có cả đội xoè. Nông dân, ngoài đóng thuế còn phải làm lao dịch và cống nạp cho các chức dịch.&nbsp;<br>-<strong>Phương tiện vận chuyển</strong>: Họ gánh bằng dậu, dùng ngựa thồ, trâu kéo.&nbsp;<br>-<strong>Lễ tết</strong>: Người Giáy ăn Tết như các dân tộc ở vùng Ðông Bắc: Tết Nguyên đán, Thanh minh, Ðoan ngọ....&nbsp;<br>- Người Giáy chưa có văn tự, chỉ có một số rất ít người biết chữ Hán.&nbsp;<br>-<strong>Văn nghệ</strong>: trong kho tàng văn nghệ của người Giáy có truyện cổ, thơ ca, tục ngữ, đồng dao, phong dao... Ở người Giáy có ba kiểu hát mà họ gọi là "vươn" hay "phướn" hát bên mâm rượu, hát đêm và hát tiễn dặn...&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1900629186/31a5b8f6ac0906b60d4c231bf9c9a847/image.png" />
         <pubDate>2022-11-28 15:48:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400442863</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>hoathuygvt</author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400512657</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1900248789/fb2543e0bd006a5e366986533c2ab9a1/8666987736491660458.mp4" />
         <pubDate>2022-11-28 16:26:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400512657</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>hoathuygvt</author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400515803</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1900248789/297b7d213ee7552d88224fe0407de035/Tuan9_Diali.mp4" />
         <pubDate>2022-11-28 16:28:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400515803</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc Kinh </title>
         <author>hoathuygvt</author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400521992</link>
         <description><![CDATA[<div>Người Kinh hay còn gọi là người Việt, chiếm khoảng 86,2% dân số Việt Nam, đông nhất nước ta, sống trên khắp toàn nước Việt Nam và đông nhất vẫn là các vùng đồng bằng, ven biển. Ngôn ngữ chính là Tiếng Việt, trang phục truyền thống là áo dài.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1900248789/f02558096b53c011e9f7512658546acf/hoa_khoi_nam_em6.jpeg" />
         <pubDate>2022-11-28 16:32:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400521992</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc Tày </title>
         <author>hoathuygvt</author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400530311</link>
         <description><![CDATA[<div>- Dân số: Khoảng 1.845.492 người ( Theo số liệu Điều tra dân tộc thiểu số 01/4/2019 ).<br>- Nơi cư trú: Tập trung cư trú tại các tỉnh: Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1900248789/c74379479bd9eed1fd250d0050255ce8/nguoivietdulichviet_dantinh_hatthen_VQGBaBe.jpeg" />
         <pubDate>2022-11-28 16:36:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400530311</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc Dao </title>
         <author>hoathuygvt</author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400535089</link>
         <description><![CDATA[<div>-Dân số: Khoảng 751.067 người ( Theo số liệu Điều tra dân tộc thiểu số 01/4/2019 ).</div><div>-Nơi cư trú: Chủ yếu sống ở biên giới Việt – Trung, Việt – Lào và một số tỉnh trung du ven biển Bắc Bộ Việt Nam. ( ụ thể các tỉnh: Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Quảng Ninh, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lai Châu, Hòa Bình,...</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1900248789/b8b6ed8c7f396d52db0e77694a85f684/img_20210225112110_611.jpeg" />
         <pubDate>2022-11-28 16:39:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400535089</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc Khơ Mú </title>
         <author>hoathuygvt</author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400539737</link>
         <description><![CDATA[<div>- Dân số: Khoảng 90.612 người ( Theo số liệu Điều tra dân tộc thiểu số 01/4/2019 ).</div><div>- Nơi cư trú: Sống tập trung ở các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung Bộ như Nghệ An, Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái,...</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1900248789/5f7553b40d84d6abb21a96c4187e75fa/6___1_.jpeg" />
         <pubDate>2022-11-28 16:42:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400539737</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc Ê-đê </title>
         <author>hoathuygvt</author>
         <link>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400552954</link>
         <description><![CDATA[<div>Người Ê-đê chiếm 17% dân số tại tỉnh Đăk Lăk, Tây Nguyên. Dân số: 398.671 người ( Theo số liệu Điều tra dân tộc thiểu số 01/4/2019 ).</div><div>Một số điểm nổi bật là nhà sàn của dân tộc có hình con thuyền dài. Bên trong nhà có trần gỗ hình vòm giống hệt mui thuyền. Y phục cổ truyền của người Ê-đê là màu đen, có điểm những hoa văn sặc sỡ.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1900248789/fd9e2c8414d0696363bc798ad856a108/nguoi_e_de_tay_nguyen.jpeg" />
         <pubDate>2022-11-28 16:50:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoathuygvt/kcfvm8hita56wbbq/wish/2400552954</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
