<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title>Bookmarks by Trang Nguyễn Thị Thu</title>
      <link>https://padlet.com/ntttrang1/Bookmarks</link>
      <description>Made with ♥</description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2021-03-03 02:19:54 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2024-06-21 14:16:06 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url></url>
      </image>
      <item>
         <title>BÀI KIỂM TRA SỐ 2</title>
         <author>ntttrang1</author>
         <link>https://padlet.com/ntttrang1/Bookmarks/wish/3034492117</link>
         <description><![CDATA[<p>Anh chị hãy nêu ngắn gọn những bất cập của quy định về hợp đồng mẫu và điều kiện chung trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật hiện hành của Việt Nam.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-06-21 10:47:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ntttrang1/Bookmarks/wish/3034492117</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Quốc Huy</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ntttrang1/Bookmarks/wish/3034556992</link>
         <description><![CDATA[<p>Những bất cập của quy định về hợp đồng mẫu và điều kiện chung trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật hiện hành của Việt Nam:</p><p>Thứ nhất, quy định về chủ thể giao kết hợp đồng theo mẫu tại Khoản 2 Điều 3 và Khoản 5 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 bỏ sót một số chủ thể thường xuyên cung cấp hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của xã hội, sử dụng hợp đồng theo mẫu như các pháp nhân phi thương mại (các đơn vị sự nghiệp công lập, các doanh nghiệp xã hội…).</p><p>Thứ hai, định nghĩa về danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu còn nhiều bất cập và còn chồng chéo trong nhiều quy định của Trung ương (Luật Giá năm 2012, Quyết định số 25/2019/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Công văn số 2601/VPCP-KGVX ngày 03/4/2020 của Văn phòng Chính phủ,...)</p><p>Thứ ba, quy định về hình thức của hợp đồng theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, Bộ luật Dân sự năm 2015 và Nghị định số 99/2011/NĐ-CP của Chính phủ chưa có sự thống nhất chung (Theo quy định của Bộ Luật Dân sự 2015 thì hợp đồng theo mẫu có thể được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể; nhưng Nghị định số 99/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định bắt buộc hợp đồng theo mẫu phải được lập thành văn bản).</p><p>Thứ tư, khoản 3 Điều 405 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định chung về ba loại điều khoản không được sử dụng trong hợp đồng theo mẫu và các điều khoản không có hiệu lực được cụ thể hóa tại khoản 1 Điều 16 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010. Nhưng quy định tại khoản 3 Điều 405 Bộ luật Dân sự năm 2015 vẫn còn nhiều điểm chưa phù hợp với thực tiễn. Đối với điều khoản miễn trừ, không phải điều khoản miễn trừ nào cũng là những điều khoản gây bất lợi cho khách hàng, người tiêu dùng mà cần đánh giá tính hợp lý, công bằng của điều khoản trong những trường hợp cụ thể.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-06-21 12:38:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ntttrang1/Bookmarks/wish/3034556992</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Như Thảo</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ntttrang1/Bookmarks/wish/3034557220</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Những bất cập trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật hiện hành Việt Nam</strong></p><p><strong><em>1) Hợp  đồng mẫu </em></strong></p><ul><li><p>Tính đến hiện nay, danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký HĐTM được điều chỉnh đồng thời trong 05 quyết định của Thủ tướng Chính phủ là Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg, Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg, Quyết định số 38/2018/QĐ-TTg, Quyết định số 25/2019/QĐ-TTg và Quyết định số 07/2024/QĐ-TTg. Do nằm rải rác, tản mạn trong nhiều quyết định của Thủ tướng Chính phủ nên danh mục các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký HĐTM khó được nhận diện một cách đầy đủ, chính xác. Điều này ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận của người tiêu dùng - những người vốn dĩ đã là bên yếu thế khi giao kết HĐTM.</p></li></ul><p>Vấn đề có tính pháp lý đặt ra là tại sao cơ quan nhà nước có thẩm quyền không hợp nhất các văn bản quy phạm pháp luật này để có một danh mục các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký HĐTM thống nhất, rõ ràng, dễ tiếp cận</p><ul><li><p>Hiện nay danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký HĐTM với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng do Thủ tướng Chính phủ quy định. Tuy nhiên, bất cập đến từ tiêu chí “thiết yếu” để xác định đối tượng thuộc danh mục cần đăng ký.</p></li><li><p>Các điều khoản mẫu tạo ra sự bất lợi cho bên được đề nghị giao kết hợp đồng, từ đó, tạo ra sự bất lợi ở đây có thể hiểu là các điều khoản này đã làm tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ, giới hạn các quyền lợi chính đáng vốn thuộc về bản chất của hợp đồng đó mà nhẽ ra bên được đề nghị không phải thực hiện các trách nhiệm hoặc phải được huởng những lợi ích nhất định. Do đó, khoản 3 Điều 405 BLDS năm 2015 quy định: <em>“Trường hợp HĐTM có điều khoản miễn trách nhiệm của bên đưa ra HĐTM, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”</em>.</p></li></ul><p><br/></p><p><strong><em>2) Điều kiện chung</em></strong></p><ul><li><p>Một số quy định không còn phù hợp với thực tiễn về các nội dung liên quan đến phạm vi điều chỉnh, đối tượng, giao dịch giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh và người tiêu dùng; các quy định liên quan đến hợp đồng giao kết với người tiêu dùng, hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung quy định chưa thực sự chặt chẽ; một số quy định còn thiếu tính linh hoạt, không cho phép tính toán đến hoàn cảnh, lĩnh vực kinh doanh đặc thù của từng loại thị trường...</p></li><li><p>Thêm một bất cập nữa là pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quy định: Hội Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có quyền khởi kiện vụ án bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng vì lợi ích công cộng, nhưng lại phải chịu chi phí phát sinh trong quá trình khởi kiện. Đây cũng là nguyên nhân làm hạn chế kết quả hoạt động bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng ở địa phương.</p><p><br/></p></li></ul><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-06-21 12:38:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ntttrang1/Bookmarks/wish/3034557220</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Anh Kiệt</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ntttrang1/Bookmarks/wish/3034557245</link>
         <description><![CDATA[<ul><li><p>Thiếu minh bạch: Nhiều hợp đồng mẫu và điều kiện chung không rõ ràng, dễ gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng.  Thông tin về chính sách bảo hành và các điều khoản ràng buộc để bảo vệ người tiêu dùng mà có thể làm bất lợi về thu hồi sản phẩm hay bồi thường hoặc hoàn trả tiền cho người tiêu dùng sẽ không được minh bạch trong hợp đồng. Gần như người tiêu dùng sẽ không biết được quyền lợi của mình được bảo vệ trong Luật bảo vệ người tiêu dùng cho đến khi phát sinh tranh chấp.</p></li><li><p>Thiếu kiểm soát: Cơ quan chức năng chưa kiểm soát chặt chẽ việc áp dụng hợp đồng mẫu, dẫn đến việc nhà cung cấp lợi dụng để đưa ra các điều khoản bất lợi. Quy định tại Điều 25 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 thì có thể thấy được càng ràng buộc chi tiết thì các phạm vi phát sinh ngoài luật càng nhiều và dẫn tới không thể chỉ rõ được hết các phạm vi thực hiện đối với bên yếu thế là người tiêu dùng.</p></li><li><p>Khó khăn trong thực thi: Quy trình giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và nhà cung cấp còn phức tạp và tốn kém thời gian. Khi phát sinh tranh chấp thì cần chứng minh từ bên yếu thế là người tiêu dùng thì hợp đồng mẫu ràng buộc khá nhiều điều khoản mà ở đó người tiêu dùng không thể hoặc có thể đọc được nhưng chưa thể hiểu được liền và một cách chính xác nhất về các nội dung này. Dẫn tới khi áp dụng Bộ luật dân sự 2015, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 thì gần như rất khó khăn cho người tiêu dùng trong khâu chứng minh thiệt hại. Lẽ ra những thiệt hại này phải mặc nhiên hiểu rằng đây là thiệt hại của người tiêu dùng chứ không cần phải chứng minh chi tiết về các phần khác đối với sản phẩm mà người tiêu dùng bị xâm phạm về quyền lợi.</p></li><li><p>Chưa đầy đủ: Một số quy định chưa bao quát hết các tình huống thực tế, làm cho việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng chưa được toàn diện. vidu: Điều Khoản 2 Điều 23 Luật bảo vệ người tiêu dùng 2010: Ngôn ngữ nước ngoài và khác tiếng việt. Nếu các bên khi tham gia hợp đồng với nhau theo ngôn ngữ khác tiếng việt dẫn tới người tiêu dùng có thể chưa hiểu hết được ý nghĩ của các ràng buộc về mặt "giải nghĩa " cụm từ dẫn tới thiệt hại cho người tiêu dùng.</p></li><li><p>Thiếu cơ chế xử phạt: Hình thức xử phạt đối với nhà cung cấp vi phạm quy định về hợp đồng mẫu chưa đủ mạnh để răn đe. Vidu thời hạn hợp đồng đôi khi do hợp đồng quá dài mà người tiêu dùng không được hưởng lợi từ chính thoả thuận hợp đồng mẫu đó (hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng ngân hàng sử dụng thẻ tín dụng) dẫn tới ảnh hưởng trực tiếp đối với người tiêu dùng. Các quy định xử phạt chưa áp dụng triệt để về các thoả thuận gây bất lợi cho người tiêu dùng. Do Bộ luật dân sự 2015 vẫn quy định về chứng minh thiệt hại cụ thể sẽ dẫn tới việc người tiêu dùng khó có thể chứng minh được mức độ thiệt hại khi xảy ra. Bên cạnh đó việc đưa ra các mức phạt không theo tỷ lệ bắt buộc đối với Doanh nghiệp hoặc bên nhà cung cấp dẫn tới mức xử phạt trong sai phạm về thoả thuận chưa cao so với lợi nhuận mà Doanh nghiệp, nhà cung cấp đạt được lợi nhuận . Như vậy cần mặc định rằng các sai phạm phát sinh trong tranh chấp người tiêu dùng về sản phẩm dịch vụ mà bên cung ứng có lỗi thì cần áp dụng các biện pháp phạt tăng cường như tăng thu thuế, phạt mức bồi thường thiệt hại hoặc buộc phải công bố thông tin không tốt lên sản phẩm dịch vụ chính họ cung cấp để cảnh báo người tiêu dùng.</p></li></ul><p>Những bất cập này cần được khắc phục để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng một cách hiệu quả hơn.</p><p><br/></p><p><br/></p><p><br/></p><p><br/></p><p><br/></p><p><br/></p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-06-21 12:38:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ntttrang1/Bookmarks/wish/3034557245</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Thị Thanh Tịnh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ntttrang1/Bookmarks/wish/3034557417</link>
         <description><![CDATA[<p>Mâu thuẫn trong việc nhận diện hợp đồng theo mẫu, các điều khoản mẫu tạo ra sự bất lợi cho bên được đề nghị giao kết hợp đồng, tạo ra sự bất lợi ở đây có thể hiểu là các điều khoản này đã làm tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ, giới hạn các quyền lợi chính đáng vốn thuộc về bản chất của hợp đồng đó mà lẽ ra bên được đề nghị không phải thực hiện các trách nhiệm hoặc phải được huởng những lợi ích nhất định. </p><p>Không thể đảm bảo tránh được các rủi ro hoàn toàn, một số hợp đồng mẫu không phù hợp với mọi loại hợp đồng ảnh hưởng quyền lợi cũng như rủi ro cho các bên.</p><p>Bất cập trong quy định công khai, đăng ký hợp đồng theo mẫ hiện nay chưa có hướng dẫn cụ thể về nội dung cần công khai và những hình thức công khai nào là đúng quy định pháp luật. Đăng ký hợp đồng theo mẫu với cơ quan nhà nước có thẩm quyền là một trong những cách công khai hiệu quả nhất và có căn cứ pháp lý rõ ràng. Tuy nhiên, các cách thức này đều phát sinh rủi ro vì bên đưa ra hợp đồng trực tiếp quản lý nên vẫn có cơ hội để chỉnh sửa, thay đổi hợp đồng. Mặt khác, dù hợp đồng đã được công khai nhưng không có cơ chế bảo đảm các bên không thể thay đổi nội dung của hợp đồng. Nếu các bên vẫn có thể sửa đổi hợp đồng thì một trong những đặc tính cơ bản của hợp đồng theo mẫu không được bảo đảm.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-06-21 12:39:17 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ntttrang1/Bookmarks/wish/3034557417</guid>
      </item>
      <item>
         <title>NGUYỄN HOÀNG NHẬT THẢO</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ntttrang1/Bookmarks/wish/3034558979</link>
         <description><![CDATA[<p>Các quy định hiện hành vẫn còn một số điểm bất cập khiến cho hoạt động giao kết hợp đồng theo mẫu trong thực tiễn gặp nhiều khó khăn, cụ thể là:</p><p><br/></p><p>Một là, quy định về chủ thể giao kết hợp đồng theo mẫu. Khoản 5 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 quy định hai bên chủ thể giao kết hợp đồng theo mẫu là tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng. Khoản 2 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 đã bỏ sót một số chủ thể thường xuyên cung cấp hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của xã hội, sử dụng hợp đồng theo mẫu như các pháp nhân phi thương mại (các đơn vị sự nghiệp công lập, các doanh nghiệp xã hội…). Đối với bên còn lại, trên thực tế vẫn có trường hợp hợp đồng theo mẫu được áp dụng giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ với chủ thể không phải là người tiêu dùng như hợp đồng nhượng quyền thương mại thì cả bên nhượng quyền và bên nhận quyền đều là thương nhân; hợp đồng đại lý thương mại thì các chủ thể cũng đều là thương nhân. Do đó, bên được đề nghị giao kết hợp đồng theo mẫu phần lớn là người tiêu dùng nhưng cũng có thể là thương nhân, dù không nhiều.</p><p><br/></p><p>Hai là, quy định về thực hiện hợp đồng theo mẫu. Khoản 1 Điều 17 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 quy định: “Khi giao kết hợp đồng theo mẫu, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ phải dành thời gian hợp lý để người tiêu dùng nghiên cứu hợp đồng”. Việc nghiên cứu hợp đồng là một hoạt động trong giai đoạn giao kết thay vì giai đoạn thực hiện như quy định trên. Hành vi nghiên cứu hợp đồng của khách hàng, người tiêu dùng được thực hiện trước khi hợp đồng được giao kết nhằm mục đích xem xét kỹ lưỡng để quyết định chấp nhận hay từ chối đề nghị giao kết. Do đó, quy định này có sự nhầm lẫn về mặt giai đoạn của quá trình giao kết hợp đồng.</p><p><br/></p><p>Ba là, danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu. Đối chiếu giữa Danh mục dịch vụ, hàng hóa thiết yếu của Luật Giá năm 2012 và Danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu có thể thấy chỉ có hai loại hàng hóa, dịch vụ phải đăng ký hợp đồng theo mẫu được quy định là thiết yếu tại Luật Giá là cung cấp điện sinh hoạt và cung cấp nước sinh hoạt. Từ đây có thể thấy danh mục các loại hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu không tuân theo một tiêu chí, thước đo cụ thể nào, vẫn còn thiếu nhiều lĩnh vực thật sự thiết yếu, quan trọng cho đời sống trong khi nhiều hàng hóa, dịch vụ khác được quy định trong danh sách dường như không thật sự thiết yếu mà chỉ nhằm mục đích phục vụ, nâng cao đời sống cho người dân.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-06-21 12:42:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ntttrang1/Bookmarks/wish/3034558979</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Duy Tuấn</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ntttrang1/Bookmarks/wish/3034562271</link>
         <description><![CDATA[<p>Đặc trưng của hợp đồng mẫu không có sự đàm phán riêng về nội dung hợp đồng, không có sự trao đổi về vai trò của các bên như trong việc giao kết hợp đồng thông thường. Bên đề nghị sẽ luôn giành quyền chủ động còn bên được đề nghị chỉ có lựa chọn là chấp nhận giao kết hợp đồng hoặc từ chối giao kết hợp đồng.</p><p>Các điều kiện chung cũng tạo ra sự bất lợi cho bên được đề nghị giao kết hợp đồng, dẫn đến sự bất lợi, làm tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ, giới hạn các quyền lợi chính đáng vốn thuộc về bản chất của hợp đồng đó.</p><p>Dễ hiểu hơn, việc dùng các hợp đồng mẫu dẫn đến việc bộ phận pháp chế của một bên dễ dàng thêm thắt câu chữ để đặt bẫy điều khoản, đưa các điều khoản bất lợi cho bên còn lại.</p><p>Từ các hợp đồng mẫu được kí kết, khi phát sinh tranh chấp thì bên bất lợi mới vỡ lẽ thì đã quá muộn.</p><p>Kiến nghị:</p><p>Các cơ quan lập pháp cần ghi nhận thêm các điều khoản miễn trừ phân chia rõ ràng nghĩa vụ, rủi ro mà các bên phải gánh chịu, bảo đảm sự công bằng giữa các bên trong hợp đồng thì sẽ không bị vô hiệu. Đồng thời cần xem xét tính hợp lý của việc ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự về các điều khoản không được sử dụng trong hợp đồng theo mẫu. Bên cạnh đó, pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng cần ghi nhận điều khoản điều chỉnh giá ở một mức độ phù hợp, người tiêu dùng có thể chấp nhận và tiếp tục thực hiện hợp đồng được thì vẫn nên được công nhận.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-06-21 12:48:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ntttrang1/Bookmarks/wish/3034562271</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Thị Minh Thảo</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ntttrang1/Bookmarks/wish/3034568423</link>
         <description><![CDATA[<p>- Theo quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015, giao kết hợp đồng là do sự thỏa thuận về ý chí của các bên, trong đó cần đảm bảo các nguyên tắc của hợp đồng. Ví dụ như nguyên tắc tự do ý chí trong hợp đồng, nguyên tắc thiện chí – trung thực, …</p><p>- Việc xây dựng những quy định về hợp đồng mẫu và điều kiện giao dịch chung trong quá trình giao kết hợp đồng đã phần nào làm hạn chế đi quyền lợi và sự tự do ý chí của các bên.</p><p>- Việc bên giao kết hợp đồng xây dựng hợp đồng mẫu và điều kiện giao dịch chung có thể sẽ cung cấp thông tin có giới hạn và sử dụng nhiều ngôn ngữ chuyên ngành theo hướng có lợi nhất cho phía họ sẽ dẫn đến việc thiếu minh bạch thông tin. Và lúc này người tiêu dùng hiển nhiên sẽ không hiểu được hết tất cả mọi thông tin trong quá trình giao kết nếu có vấn đề xảy ra.</p><p>- Ngôn ngữ trong hợp đồng mẫu nói chung và ý chí chủ quan của một bên (bên cung cấp dịch vụ) thể hiện qua ngôn ngữ nhằm đạt được mục đích và tối đa hóa quyền lợi và nghĩa vụ của mình cũng là một sự ảnh hưởng đến các hợp đồng&nbsp; mẫu và điều kiện giao dịch chung đối với một bên yếu thế hơn là người tiêu dùng.</p><p>- Việc quy định mơ hồ và lấp lửng về một số nội dung của hợp đồng mẫu cũng là một sự bất cập, vì đôi lúc, đến lúc có sự việc và người tiêu dùng đọc kỹ lại các điều khoản của hợp đồng đôi khi là không thể nào nhận lại được quyền lợi như họ đã suy nghĩ và được giải thích ban đầu trong quá trình ký kết hợp đồng.</p><p>- Thiếu sự quan tâm của pháp luật trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng khi có những tranh chấp, hay là sự lúng túng trong quá trình bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng khi họ không có kiến thức pháp luật đầy đủ và không mạnh dạn đưa ra yêu cầu đến nhà cung cấp hay cơ quan trọng tài, cơ quan tài phán khi đã giao kết những hợp đồng mẫu.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-06-21 13:00:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ntttrang1/Bookmarks/wish/3034568423</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Ngọc trọng</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ntttrang1/Bookmarks/wish/3034569997</link>
         <description><![CDATA[<p>CÂU HỎI:</p><p>Những bất cấp của quy định về hợp đồng mẫu và điều kiện chung trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật hiện hành của Việt Nam.</p><p>TRẢ LỜI:</p><p>Những bất cập của hợp đồng mẫu:</p><p><em>Thứ nhất là, </em>bất cập về khái niệm HĐTM. Hiện nay khái niệm HĐTM không được quy định trong một văn bản quy phạm pháp luật thống nhất mà được điều chỉnh bởi hai văn bản khác nhau, đó là BLDS và Luật BVQLNTD.</p><p>Xét về mức độ tương thích của hai khái niệm đưa ra bởi hai văn bản này thì có thể dễ dàng nhận ra rằng quy định của mỗi văn bản dường như đi theo hướng “mạnh ai nấy làm” chứ không có sự thống nhất. Luật BVQLNTD năm 2010 và cả Luật BVQLNTD năm 2023 hoàn toàn không đưa ra được bất kỳ một đặc điểm nào của HĐTM mà chỉ nêu ra việc đây là hợp đồng được giao kết giữa hai chủ thể là nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng. Tuy nhiên, phải hiểu rằng không phải hợp đồng nào giữa hai chủ thể này cũng được coi là HĐTM nếu không thỏa mãn các điều kiện đặc thù riêng biệt của loại hợp đồng này. Do vậy, việc quy định vô cùng sơ sài như Luật BVQLNTD năm 2010 và Luật BVQLNTD năm 2023 là khó chấp nhận và còn khiến cho các quy định bị chồng chéo, gây khó hiểu khi nhiều người tưởng rằng HĐTM chỉ áp dụng giữa hai loại chủ thể này. Trong khi đó, khái niệm HĐTM theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam cũng tương tự như quan điểm nghiên cứu của các học giả đều xuất phát từ góc nhìn của hoạt động giao kết hợp đồng. Tuy nhiên, cũng chính vì lý do này mà khái niệm được đưa ra dễ khiến chúng ta nhầm lẫn với khái niệm về việc chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tại Điều 393 BLDS năm 2015: <em>“Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị”.</em> Quy định tại Điều 393 BLDS năm 2015 nói về giao kết hợp đồng thông thường, tức là vẫn luôn đầy đủ 2 giai đoạn hình thành một hợp đồng, đó là: (<em>i).</em> Một bên đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng và (<em>ii).</em> Bên kia chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng thông qua việc chấp nhận toàn bộ nội dung được đề nghị (nếu chưa chấp nhận toàn bộ mà có đàm phán, trao đổi, sửa đổi, bổ sung về nội dung thì sẽ được xem là quay lại giai đoạn <em>i.</em> và vai trò của hai bên sẽ liên tục được hoán đổi cho nhau trong quá trình này). Trong khi đó, đặc trưng của HĐTM không có sự đàm phán về nội dung hợp đồng, không có sự trao đổi về vai trò của các bên như trong việc giao kết hợp đồng thông thường mà bên đề nghị sẽ luôn luôn và chỉ là một bên duy nhất mà thôi. Bên được đề nghị sẽ chỉ có lựa chọn là chấp nhận giao kết hợp đồng hoặc từ chối giao kết hợp đồng. Như vậy, khái niệm đưa ra bởi Điều 405 nêu trên chưa làm rõ được các nội dung quan trọng của HĐTM. Tóm lại, cả hai quy định về khái niệm HĐTM đang tồn tại trong văn bản chung là BLDS năm 2015 và văn bản chuyên ngành là Luật BVQLNTD năm 2010 và Luật BVQLNTD năm 2023 đều cho thấy những hạn chế, thiếu sót lớn, không thể hiện được sự khác biệt về mặt bản chất của HĐTM so với những loại hợp đồng khác.</p><p><em>Thứ hai là,</em> danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký HĐTM với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được quy định rải rác, tản mạn, dẫn đến khó khăn trong việc tìm hiểu, nghiên cứu và kiểm soát.</p><p>Theo Luật BVQLNTD năm 2010 và cả Luật BVQLNTD năm 2023, thẩm quyền quy định về danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký HĐTM với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thuộc về Thủ tướng Chính phủ. Trên cơ sở đó, ngày 13/1/2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg quy định danh mục 09 hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký HĐTM là: <em>“1. Cung cấp điện sinh hoạt; 2. Cung cấp nước sạch sinh hoạt; 3. Truyền hình trả tiền; 4. Thuê bao điện thoại cố định; 5. Thuê bao di động trả sau; 6. Kết nối Internet; 7. Vận chuyển hành khách đường hàng không; 8. Vận chuyển hành khách đường sắt; 9. Mua bán căn hộ chung cư, các dịch vụ sinh hoạt do đơn vị quản lý khu chung cư cung cấp”.</em></p><p>&nbsp;Sau đó, ngày 20/8/2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg. Theo Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg, dịch vụ <em>“Cung cấp nước sạch sinh hoạt”</em> được sửa thành <em>“Cung cấp nước sinh hoạt”</em>; dịch vụ <em>“Thuê bao điện thoại cố định”</em> được sửa thành <em>“Dịch vụ điện thoại cố định mặt đất”</em>; dịch vụ <em>“Kết nối internet”</em> được sửa thành <em>“Dịch vụ truy nhập internet”</em>. Bên cạnh đó, Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg sửa đổi dịch vụ <em>“Thuê bao di động trả sau”</em> thành <em>“Dịch vụ thông tin di động mặt đất (hình thức thanh toán: trả sau)”</em>, đồng thời bổ sung thêm <em>“Dịch vụ thông tin di động mặt đất (hình thức thanh </em><a rel="noopener noreferrer nofollow" class="google-anno" href="https://tapchicongthuong.vn/#"><em>&nbsp;toán</em></a><em>: trả trước)”.</em> Ngoài ta, Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg bổ sung thêm 02 loại hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký HĐTM hoàn toàn mới là <em>“Phát hành thẻ ghi nợ nội địa, mở và sử dụng dịch vụ tài khoản thanh toán (áp dụng cho khách hàng cá nhân), vay vốn cá nhân (nhằm mục đích tiêu dùng)”</em> và <em>“Bảo hiểm nhân thọ”</em>. Như vậy, tính đến thời điểm Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg (được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg) có hiệu lực pháp luật thì có 11 loại hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký HĐTM.</p><p>Sau đó, ngày 5/9/2018, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 38/2018/QĐ-TTg loại bỏ <em>“Phát hành thẻ ghi nợ nội địa, mở và sử dụng dịch vụ tài khoản thanh toán (áp dụng cho khách hàng cá nhân), vay vốn cá nhân (nhằm mục đích tiêu dùng)”</em> ra khỏi danh mục các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký HĐTM. Đến ngày 13/8/2019, Thủ tướng Chính phủ lại ban hành Quyết định số 25/2019/QĐ-TTg và không tiếp tục quy định <em>“Bảo hiểm nhân thọ” </em>nằm trong danh mục các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký HĐTM.</p><p>Tính đến hiện nay, danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký HĐTM được điều chỉnh đồng thời trong 04 quyết định của Thủ tướng Chính phủ là Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg, Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg, Quyết định số 38/2018/QĐ-TTg và Quyết định số 25/2019/QĐ-TTg. Do nằm rải rác, tản mạn trong nhiều quyết định của Thủ tướng Chính phủ nên danh mục các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký HĐTM khó được nhận diện một cách đầy đủ, chính xác. Điều này ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận của người tiêu dùng - những người vốn dĩ đã là bên yếu thế khi giao kết HĐTM. Vấn đề có tính pháp lý đặt ra là tại sao cơ quan nhà nước có thẩm quyền không hợp nhất các văn bản quy phạm pháp luật này để có một danh mục các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký HĐTM thống nhất, rõ ràng, dễ tiếp cận. Hiện nay, Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật năm 2012 quy định cụ thể về thẩm quyền và thời hạn hợp nhất văn bản của Thủ tướng Chính phủ. Việc chậm trễ hợp nhất các quyết định quy phạm của Thủ tướng Chính phủ về danh mục các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký HĐTM cho dù được giải thích như thế nào thì vẫn là chưa tuân thủ đúng theo yêu cầu của Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật năm 2012.</p><p>Ngoài ra<em>,</em> hiện nay danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký HĐTM với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng do Thủ tướng Chính phủ quy định. Tuy nhiên, bất cập đến từ tiêu chí “thiết yếu” để xác định đối tượng thuộc danh mục cần đăng ký.</p><p><em>Ba là,</em> các điều khoản mẫu tạo ra sự bất lợi cho bên được đề nghị giao kết hợp đồng, từ đó, tạo ra sự bất lợi ở đây có thể hiểu là các điều khoản này đã làm tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ, giới hạn các quyền lợi chính đáng vốn thuộc về bản chất của hợp đồng đó mà nhẽ ra bên được đề nghị không phải thực hiện các trách nhiệm hoặc phải được huởng những lợi ích nhất định. Do đó, khoản 3 Điều 405 BLDS năm 2015 quy định: <em>“Trường hợp HĐTM có điều khoản miễn trách nhiệm của bên đưa ra HĐTM, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”</em>.</p><p>Về nguyên tắc, các điều khoản mẫu tạo ra sự mất cân bằng nghiêm trọng về quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng của các bên. Để đánh giá thế nào là mất cân bằng nghiêm trọng về quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng, chúng ta cần có cái nhìn tổng thể, cân đo đong đếm trong phạm vi toàn bộ hợp đồng chứ không chỉ nhìn vào riêng phạm vi của điều khoản đó. Do vậy, không thể đơn thuần cho rằng điều khoản loại trừ trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng là điều khoản bất công bằng chỉ vì nó miễn trách nhiệm cho bên này. Bên cạnh đó, còn phải xem xét đến bản chất nội dung của hợp đồng, tổng thể tất cả các quyền và nghĩa vụ khác của cả hai bên trong hợp đồng cũng như hoàn cảnh các điều khoản này được xây dựng thì mới có thể đánh giá chính xác liệu điều khoản đó có tạo ra sự mất cân bằng nghiêm trọng hay không. Ngoài ra, khi đề cập đến nội dung của điều khoản theo mẫu, cũng cần tính đến trường hợp một hợp đồng vừa tồn tại các điều khoản theo mẫu, vừa có sự xuất hiện của điều khoản do các bên thỏa thuận và các điều khoản này có thể mâu thuẫn về nội dung với nhau.Trong trường hợp đó, cần ưu tiên các điều khoản do các bên thỏa thuận với nhau, vì đây là ý chí chung đã được các bên thể hiện để xây dựng nên nội dung đó, trong khi điều khoản theo mẫu về bản chất vẫn chỉ được xây dựng bởi một bên.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-06-21 13:03:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ntttrang1/Bookmarks/wish/3034569997</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lê thị hồng hoa</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ntttrang1/Bookmarks/wish/3034572577</link>
         <description><![CDATA[<p>Một số bất cập trong quy định của pháp luật:</p><ul><li><p>Thứ nhất,&nbsp;mâu thuẫn trong việc nhận diện hợp đồng theo mẫu&nbsp;:</p></li></ul><p><br/></p><p>Điều 405 Bộ luật Dân sự năm 2015 ghi nhận hợp đồng theo mẫu là “hợp đồng gồm những điều khoản do một bên đưa ra theo mẫu để bên kia trả lời trong một thời gian hợp lý; nếu bên được đề nghị trả lời chấp nhận thì coi như chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng theo mẫu mà bên đề nghị đã đưa ra”. Bên cạnh đó, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 lại tiếp cận hợp đồng theo mẫu là “hợp đồng do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ soạn thảo để giao dịch với người tiêu dùng” (khoản 5 Điều 3). Cách tiếp cận của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 là chưa phù hợp, bởi vì, không phải bất cứ hợp đồng nào do người cung cấp hàng hóa, dịch vụ soạn thảo đều là hợp đồng theo mẫu. Trường hợp tổ chức, cá nhân kinh doanh soạn thảo trước hợp đồng nhưng khách hàng vẫn có quyền đàm phán, sửa đổi nội dung thì hợp đồng này là hợp đồng soạn sẵn, không phải là hợp đồng theo mẫu.</p><p><br/></p><p>Định nghĩa hợp đồng theo mẫu khác nhau tại các văn bản pháp luật dẫn đến hệ quả là các chủ thể khó tiếp cận và có cách nhận diện hợp đồng theo mẫu không thống nhất. Đặc biệt, định nghĩa hợp đồng theo mẫu tại Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 sẽ không giới hạn được phạm vi các hợp đồng được coi là hợp đồng theo mẫu, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của các bên. Việc vi phạm các quy định về soạn thảo, thực hiện hợp đồng theo mẫu có thể dẫn đến những hậu quả pháp lý bất lợi như hợp đồng bị hủy bỏ, không đăng ký hợp đồng theo mẫu có thể bị xử phạt vi phạm hành chính...</p><ul><li><p>Thứ hai,&nbsp;bất cập trong quy định công khai, đăng ký hợp đồng theo mẫu&nbsp;</p></li></ul><p><br/></p><p>Hiện nay, quy định về công khai hợp đồng theo mẫu còn mơ hồ, thiếu cụ thể. Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định hợp đồng theo mẫu phải được công khai để bên được đề nghị biết hoặc phải biết về những nội dung của hợp đồng[6]. Quy định bắt buộc công khai hợp đồng theo mẫu là cần thiết để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, tuy nhiên, chưa có hướng dẫn cụ thể về nội dung cần công khai và những hình thức công khai nào là đúng quy định pháp luật. Đăng ký hợp đồng theo mẫu với cơ quan nhà nước có thẩm quyền là một trong những cách công khai hiệu quả nhất và có căn cứ pháp lý rõ ràng. Hiện nay, pháp luật quy định tổ chức kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trước khi áp dụng hợp đồng.</p><p><br/></p><p>Theo Điều 9 Nghị định số 99/2011/NĐ-CP ngày 29/10/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng,&nbsp;Bộ Công Thương chịu trách nhiệm tiếp nhận đăng ký hợp đồng theo mẫu trong trường hợp hợp đồng theo mẫu&nbsp;áp dụng trên phạm vi cả nước hoặc áp dụng trên phạm vi từ hai tỉnh trở lên,&nbsp;Sở Công Thương chịu trách nhiệm tiếp nhận đăng ký hợp đồng theo mẫu trong trường hợp hợp đồng theo mẫu áp dụng trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Sau khi hoàn thành thủ tục đăng ký, hợp đồng theo mẫu được công bố công khai và lưu trữ trên trang thông tin điện tử của cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận đăng ký. Theo cách quy định trên thì hàng hóa, dịch vụ không thuộc danh mục thiết yếu phải công khai nhưng không cần đăng ký với cơ quan nhà nước thì cần có hình thức công khai như thế nào?</p><p> có một số hình thức tự công khai như: Đăng trên website của doanh nghiệp, đặt bản hợp đồng mẫu công khai tại trụ sở doanh nghiệp, công khai qua một bên thứ ba… Tuy nhiên, các cách thức này đều phát sinh rủi ro vì bên đưa ra hợp đồng trực tiếp quản lý nên vẫn có cơ hội để chỉnh sửa, thay đổi hợp đồng. Mặt khác, dù hợp đồng đã được công khai nhưng không có cơ chế bảo đảm các bên không thể thay đổi nội dung của hợp đồng. Nếu các bên vẫn có thể sửa đổi hợp đồng thì một trong những đặc tính cơ bản của hợp đồng theo mẫu không được bảo đảm.&nbsp;</p><ul><li><p><strong><em>Thứ ba,</em></strong><em>&nbsp;danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu còn chưa hợp lý</em></p></li></ul><p>Hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu thì bắt buộc phải đăng ký hợp đồng theo mẫu. Theo Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg ngày 13/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung (Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg), Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg ngày 20/8/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg (Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg), Quyết định số 38/2018/QĐ-TTg ngày 05/9/2018 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg (Quyết định số 38/2018/QĐ-TTg) và Quyết định số 25/2019/QĐ-TTg ngày 13/8/2019 sửa đổi Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg (Quyết định số 25/2019/QĐ-TTg), có 09 loại hàng hóa và dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu. Cụ thể đó là: Cung cấp điện sinh hoạt; cung cấp nước sinh hoạt; truyền hình trả tiền; dịch vụ điện thoại cố định mặt đất; dịch vụ thông tin di động mặt đất (hình thức thanh toán trả sau); dịch vụ truy nhập internet; vận chuyển hành khách đường hàng không; vận chuyển hành khách đường sắt; mua bán căn hộ chung cư, các dịch vụ sinh hoạt do đơn vị quản lý khu chung cư cung cấp. Hai dịch vụ là phát hành thẻ ghi nợ nội địa, mở và sử dụng dịch vụ tài khoản thanh toán (áp dụng cho khách hàng cá nhân), vay vốn cá nhân (nhằm mục đích tiêu dùng) và bảo hiểm nhân thọ được thêm vào danh mục theo Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg nhưng sau đó lần lượt Quyết định số 38/2018/QĐ-TTg và Quyết định số 25/2019/QĐ-TTg bãi bỏ cho thấy việc đánh giá hàng hoá, danh mục cần thêm vào danh mục chưa có tính dự báo.&nbsp;</p><p>Quy định danh mục như trên còn có một số hạn chế như sau:&nbsp;</p><p>(i) Không phải hàng hóa, dịch vụ nào trong Danh mục trên cũng là thiết yếu. Luật Giá năm 2012 quy định, hàng hóa và dịch vụ thiết yếu là những hàng hóa, dịch vụ không thể thiếu cho sản xuất, đời sống, quốc phòng, an ninh, gồm: Nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, dịch vụ chính phục vụ sản xuất, lưu thông; sản phẩm đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người và quốc phòng, an ninh. Nếu đối chiếu với Danh mục hàng hóa và dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu ở trên thì có thể thấy có những nhu cầu thực sự thiết yếu với con người như sử dụng điện, nước; nhu cầu đi lại. Bên cạnh đó, những hàng hóa, dịch vụ như internet, dịch vụ di động, mua chung cư, vay vốn, mua bảo hiểm nhân thọ là những nhu cầu không thể thiếu mà chỉ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống con người. &nbsp;</p><ul><li><p><strong><em>Thứ tư,</em></strong><em>&nbsp;giải thích hợp đồng theo mẫu</em></p></li></ul><p>Khoản 2 Điều 405 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó. Điều 15 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 cũng ghi nhận trường hợp có cách hiểu khác nhau về nội dung của hợp đồng thì giải thích theo hướng có lợi cho người tiêu dùng. Quy định trên là cần thiết, bởi lẽ bên tạo ra hợp đồng theo mẫu thường tìm cách lược bỏ những điều khoản có lợi cho bên kia và thay vào đó là những điều khoản có lợi cho mình hoặc những điều khoản “lập lờ” nhằm trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý làm người tiêu dùng hiểu sai nội dung hợp đồng. Mặt khác, bên được đề nghị giao kết hợp đồng không có quyền đàm phán sửa đổi nội dung hợp đồng nên cũng ít nghiên cứu sâu, nhiều người không đọc nội dung hợp đồng vẫn ký kết. Các quy định trên đều hướng tới bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, đưa phần bất lợi về bên đưa ra hợp đồng khi giải thích hợp đồng để buộc họ phải xây dựng hợp đồng theo mẫu theo hướng rõ ràng, cụ thể, dễ hiểu.&nbsp;</p><ul><li><p><strong><em>Thứ năm,</em></strong><em>&nbsp;điều khoản vô hiệu trong hợp đồng theo mẫu&nbsp;</em></p></li></ul><p>Theo quy định tại khoản 3 Điều 405 thì: “Trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Đây cũng là một quy định nhằm bảo vệ quyền lợi cho bên được đề nghị giao kết hợp đồng, người tiêu dùng. Tuy nhiên, quy định này tồn tại hai bấp cập cụ thể sau:&nbsp;</p><p>- Không xét đến mức độ, phạm vi, giới hạn của các điều khoản miễn trách nhiệm, tăng trách nhiệm mà quy định bất cứ điều khoản nào có nội dung như vậy đều bị vô hiệu. Thực tế, trong nhiều trường hợp việc miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng và hạn chế quyền của bên giao kết là hoàn toàn chính đáng và hợp lý, ví dụ như điều khoản miễn trách nhiệm của bên cung cấp dịch vụ trong trường hợp khách quan như gặp sự cố về thiên tai, dịch bệnh… Vì vậy, việc phủ nhận tuyệt đối quyền đưa ra các điều khoản miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên chấp nhận hợp đồng là chưa phù hợp.&nbsp;</p><p>- Bất cập thứ hai của quy định này là thêm “trừ trường hợp có thỏa thuận khác” ở phía cuối. Hợp đồng theo mẫu là hợp đồng được soạn sẵn, bên được đề nghị giao kết hợp đồng chỉ có thể thể hiện ý chí của mình trong việc có giao kết hay không giao kết mà không được sửa đổi nội dung, thêm các ý kiến khác. Thực tế, các bên cũng không xác lập phụ lục hợp đồng hay các văn bản khác với nội dung như: “Bên mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ đồng ý với những điều khoản bất lợi về miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của mình”. Vì vậy, các bên không thể đưa ra thỏa thuận khác và cũng không có cơ sở để xác định các bên có thỏa thuận. Do đó, quy định về thỏa thuận khác trong trường hợp này là không cần thiết và không có tính khả thi.&nbsp;</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-06-21 13:07:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ntttrang1/Bookmarks/wish/3034572577</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lý Văn Minh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ntttrang1/Bookmarks/wish/3034574548</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2523343195/086f6e1d4cbd8c2238d1a0a7bbee6901/H_p___ng_theo_m_u_l__m_t_trong_nh_ng_lo_i_h_p___ng_ph__bi_n.docx" />
         <pubDate>2024-06-21 13:10:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ntttrang1/Bookmarks/wish/3034574548</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Hoài Nam</title>
         <author>namnh323mel</author>
         <link>https://padlet.com/ntttrang1/Bookmarks/wish/3034575853</link>
         <description><![CDATA[<p>Các bất cập của quy định về hợp đồng mẫu và điều kiện chung trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay bao gồm:</p><p><strong>Sự thiếu minh bạch và sự khả thi:</strong> Các hợp đồng mẫu và điều kiện chung thường không rõ ràng, khó hiểu đối với người tiêu dùng, dẫn đến sự bất bình đẳng trong quyền lợi hợp pháp.</p><p><strong>Sự thiếu công bằng trong điều kiện hợp đồng:</strong> Một số điều kiện chung có thể bảo vệ quyền lợi của người bán hơn là người tiêu dùng, ví dụ như các quy định về giải quyết tranh chấp hay mức độ trách nhiệm pháp lý.</p><p><strong>Sự phạt tiền không cân bằng:</strong> Việc áp dụng các khoản phạt tiền cho việc vi phạm hợp đồng có thể không phản ánh được mức độ thiệt hại thực sự mà người tiêu dùng phải chịu.</p><p><strong>Thiếu sự kiểm soát và giám sát:</strong> Việc thực thi và tuân thủ quy định về hợp đồng mẫu và điều kiện chung không được kiểm soát chặt chẽ, dẫn đến việc một số doanh nghiệp có thể lạm dụng để hưởng lợi.</p><p><strong>Thiếu khả năng thay đổi và thương lượng:</strong> Người tiêu dùng thường không có khả năng thương lượng hay thay đổi các điều khoản trong hợp đồng mẫu, do đó không thể điều chỉnh để phù hợp với nhu cầu cụ thể của họ.</p><p>Khoản 1 Điều 17 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 quy định:</p><p><strong>Yêu cầu cơ bản về hợp đồng:</strong> Điều này khẳng định rằng các hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ phải được lập thành văn bản và phải đảm bảo các nội dung quy định của pháp luật.</p><p><strong>Điều kiện sử dụng hợp đồng mẫu:</strong> Quy định rằng hợp đồng mẫu phải được sử dụng theo hình thức mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.</p><p><strong>Sự phê chuẩn của cơ quan nhà nước:</strong> Điều này nêu rõ rằng hợp đồng mẫu phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê chuẩn và công bố theo quy định của pháp luật.</p><p><strong>Bảo đảm quyền lợi của người tiêu dùng:</strong> Mục tiêu của khoản này là đảm bảo các điều khoản trong hợp đồng mẫu phải công bằng, minh bạch, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng.</p><p>Quy định về chủ thể giao kết hợp đồng theo mẫu. Khoản 5 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 quy định hai bên chủ thể giao kết hợp đồng theo mẫu là tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dung</p><p>Bỏ sót một số chủ thể thường xuyên cung cấp hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của xã hội, sử dụng hợp đồng theo mẫu như các pháp nhân phi thương mại (các đơn vị sự nghiệp công lập, các doanh nghiệp xã hội…). Đối với bên còn lại, trên thực tế vẫn có trường hợp hợp đồng theo mẫu được áp dụng giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ với chủ thể không phải là người tiêu dùng như hợp đồng nhượng quyền thương mại thì cả bên nhượng quyền và bên nhận quyền đều là thương nhân; hợp đồng đại lý thương mại thì các chủ thể cũng đều là thương nhân. Do đó, bên được đề nghị giao kết hợp đồng theo mẫu phần lớn là người tiêu dùng nhưng cũng có thể là thương nhân, dù không nhiều.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-06-21 13:12:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ntttrang1/Bookmarks/wish/3034575853</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ntttrang1/Bookmarks/wish/3034576251</link>
         <description><![CDATA[<p><br/></p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2523343958/8186946646e7156caf0dc6e87ab71838/B_t_c_p_h_p_quy___nh___ng_theo_m_u_v___i_u_ki_n_chung.docx" />
         <pubDate>2024-06-21 13:12:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ntttrang1/Bookmarks/wish/3034576251</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dương Hùng Biện</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ntttrang1/Bookmarks/wish/3034576465</link>
         <description><![CDATA[<p>Những bất cập của quy định về hợp đồng mẫu và điều kiện chung trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật hiện hành của Việt Nam:  </p><p><strong>Sự thiếu rõ ràng và minh bạch</strong>: Quy định về hợp đồng mẫu thường quá chung chung và thiếu chi tiết, không đảm bảo tính minh bạch và dễ hiểu cho người tiêu dùng.</p><p><strong>Sự không cân bằng quyền lợi</strong>: Các điều kiện chung thường được doanh nghiệp đặt ra có thể bất công và không cân bằng, ưu tiên lợi ích của doanh nghiệp hơn là lợi ích của người tiêu dùng.</p><p><strong>Khả năng thực thi hạn chế</strong>: Người tiêu dùng thường không có đủ khả năng pháp lý và tài chính để kiểm tra và bảo vệ quyền lợi của mình trong khi ký kết các hợp đồng có điều kiện chung phức tạp.</p><p><strong>Thiếu sự bảo vệ chặt chẽ</strong>: Pháp luật hiện hành chưa đủ mạnh mẽ để ngăn chặn các hành vi lạm dụng từ phía doanh nghiệp, ví dụ như việc dùng các điều kiện chung không hợp lý để xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng.</p><p><strong>Sự khó khăn trong giải quyết tranh chấp</strong>: Quy định hiện tại chưa tạo ra các cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả và công bằng giữa người tiêu dùng và doanh nghiệp, làm giảm khả năng bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.</p><p>Điển hình trong lĩnh vực xây dựng thì Rủi ro trong xây dựng thì hợp đồng vẫn là một văn bản pháp luật không được quan tâm thoả đáng gây cho thiệt thòi của nhà thầu xây dựng. Tiếp đến mâu thuẫn giữa các Luật là vấn đề lớn, chúng tôi đã nhiều lần có ý kiến, hiện mỗi một Luật quy định một khác, ví dụ như hợp đồng xây dựng hiện nay có 4 Luật quy định đó là: Dân sự, Đấu Thầu, Xây dựng, Luật Thương mại, song mỗi một luật lại quy định khác nhau, điều nay gây khó khăn cho điều hành của cá nhà thầu”.</p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-06-21 13:13:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ntttrang1/Bookmarks/wish/3034576465</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đào Quang Minh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ntttrang1/Bookmarks/wish/3034578700</link>
         <description><![CDATA[<ul><li><p><em>&nbsp;</em>Mâu thuẫn trong việc nhận diện hợp đồng theo mẫu giữa Điều 405 BLDS2015 và khoản 5 Điều 3 Luật BVQLNTD 2010: không phải bất cứ hợp đồng nào do người cung cấp hàng hóa, dịch vụ soạn thảo đều là hợp đồng theo mẫu. Trường hợp tổ chức, cá nhân kinh doanh soạn thảo trước hợp đồng nhưng khách hàng vẫn có quyền đàm phán, sửa đổi nội dung thì hợp đồng này là hợp đồng soạn sẵn, không phải là hợp đồng theo mẫu.Định nghĩa hợp đồng theo mẫu khác nhau tại các văn bản pháp luật dẫn đến hệ quả là các chủ thể khó tiếp cận và có cách nhận diện hợp đồng theo mẫu không thống nhất</p></li><li><p>Bất cập trong quy định công khai, đăng ký hợp đồng theo mẫu: Hiện nay, quy định về công khai hợp đồng theo mẫu còn mơ hồ, thiếu cụ thể. Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định hợp đồng theo mẫu phải được công khai để bên được đề nghị biết hoặc phải biết về những nội dung của hợp đồng. Quy định bắt buộc công khai hợp đồng theo mẫu là cần thiết để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, tuy nhiên, chưa có hướng dẫn cụ thể về nội dung cần công khai và những hình thức công khai nào là đúng quy định pháp luật.</p></li><li><p>Danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu còn chưa hợp lý: Không phải hàng hóa, dịch vụ nào trong Danh mục trên cũng là thiết yếu. Nếu đối chiếu với Danh mục hàng hóa và dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu thì có thể thấy có những nhu cầu thực sự thiết yếu với con người như sử dụng điện, nước; nhu cầu đi lại. Bên cạnh đó, những hàng hóa, dịch vụ như internet, dịch vụ di động, mua chung cư, vay vốn, mua bảo hiểm nhân thọ là những nhu cầu không thể thiếu mà chỉ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống con người. Trong lĩnh vực vận tải hành khách, Việt Nam có dịch vụ vận tải bằng đường bộ, đường biển, đường sắt và đường hàng không. Trong đó, nhu cầu đi lại bằng đường bộ là lớn hơn so với đường hàng không. Vậy chỉ quy định vận chuyển hành khách bằng đường hàng không thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu là chưa phù hợp.</p></li><li><p>Giải thích hợp đồng theo mẫu: Khoản 2 Điều 405 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó. Điều 15 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 cũng ghi nhận trường hợp có cách hiểu khác nhau về nội dung của hợp đồng thì giải thích theo hướng có lợi cho người tiêu dùng. Các quy định trên đều hướng tới bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, đưa phần bất lợi về bên đưa ra hợp đồng khi giải thích hợp đồng để buộc họ phải xây dựng hợp đồng theo mẫu theo hướng rõ ràng, cụ thể, dễ hiểu.&nbsp;</p></li><li><p>Điều khoản vô hiệu trong hợp đồng theo mẫu: Theo quy định tại khoản 3 Điều 405 thì: “Trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Quy định này tồn tại hai bất cập cụ thể sau:&nbsp;</p><ul><li><p>Không xét đến mức độ, phạm vi, giới hạn của các điều khoản miễn trách nhiệm, tăng trách nhiệm mà quy định bất cứ điều khoản nào có nội dung như vậy đều bị vô hiệu. Việc phủ nhận tuyệt đối quyền đưa ra các điều khoản miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên chấp nhận hợp đồng là chưa phù hợp.&nbsp;</p></li><li><p>Bất cập thứ hai của quy định này là thêm “trừ trường hợp có thỏa thuận khác” ở phía cuối. Hợp đồng theo mẫu là hợp đồng được soạn sẵn, bên được đề nghị giao kết hợp đồng chỉ có thể thể hiện ý chí của mình trong việc có giao kết hay không giao kết mà không được sửa đổi nội dung, thêm các ý kiến khác. Các bên không thể đưa ra thỏa thuận khác và cũng không có cơ sở để xác định các bên có thỏa thuận. Quy định về thỏa thuận khác là không cần thiết và không có tính khả thi.&nbsp;</p></li></ul></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-06-21 13:16:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ntttrang1/Bookmarks/wish/3034578700</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Bùi Đức Xuân</title>
         <author>namnh323mel</author>
         <link>https://padlet.com/ntttrang1/Bookmarks/wish/3034583993</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Trả lời: (Học viên Bùi Đức Xuân)</strong></p><p>Hiện nay pháp luật Việt Nam có hai định nghĩa về hợp đồng theo mẫu được nêu ra ở hai văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Theo khoản 1 Điều 405 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015, hợp đồng theo mẫu là “hợp đồng gồm những điều khoản do một bên đưa ra theo mẫu để bên kia trả lời trong một thời gian hợp lý; nếu bên được đề nghị trả lời chấp nhận thì coi như chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng theo mẫu mà bên đề nghị đã đưa ra”. Khái niệm này đã nêu ra những đặc trưng cơ bản của loại hợp đồng này. Ngoài ra, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 đã nêu định nghĩa khác về hợp đồng theo mẫu tại khoản 5 Điều 3 “Hợp đồng theo mẫu là hợp đồng do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ soạn thảo để giao&nbsp;dịch với người tiêu dùng”. Quy định tại Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 không đưa ra những đặc điểm của loại hợp đồng này mà chỉ nêu ra việc đây là hợp đồng giao kết giữa hai chủ thể: tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng. Quy định như thế có thể dẫn đến cách hiểu rằng một hợp đồng chỉ được coi là hợp đồng theo mẫu khi nó được giao kết giữa hai loại chủ thể này. Trên thực tế, hợp đồng theo mẫu còn có thể được ký kết theo hình thức B2B - giữa các doanh nghiệp với nhau; trong đó các doanh nghiệp này có vai trò là trung gian như đại lý, nhượng quyền thương mại… Mặt khác, hợp đồng giao kết giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng còn phải thỏa mãn các điều kiện đặc thù riêng biệt nữa thì mới có thể được xem là hợp đồng theo mẫu.</p><p>Căn cứ theo quy định tại Điều 406 BLDS 2015, có thể khái quát điều kiện giao dịch chung trong giao kết hợp đồng mang một số đặc điểm sau:</p><p><strong><em>- Thứ nhất,</em></strong>&nbsp;điều kiện chung trong giao kết hợp đồng là ý chí đơn phương của bên đề nghị giao kết hợp đồng trong hợp đồng được thiết lập từ trước đặt ra cho bên được đề nghị giao kết hợp đồng.&nbsp;</p><p><strong><em>- Thứ hai,</em></strong>&nbsp;ý chí đơn phương trên được thể hiện thành các quy tắc hay điều kiện được ghi nhận trong hợp đồng; nó mang tính ổn định, lâu dài. Ngoài ra, các điều kiện giao dịch này phải được được công khai để bên xác lập giao dịch biết hoặc phải biết về điều kiện đó.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-06-21 13:25:22 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ntttrang1/Bookmarks/wish/3034583993</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hồ Vĩnh Anh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ntttrang1/Bookmarks/wish/3034584757</link>
         <description><![CDATA[<p>Bất cập của quy định về hợp đồng mẫu và điều kiện chung trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật hiện hành của Việt nam:</p><p>*Đối với hợp đồng mẫu:</p><ul><li><p><em>Thứ nhất là, </em>bất cập về khái niệm HĐTM. Hiện nay. khái niệm HĐTM không được quy định trong một văn bản quy phạm pháp luật thống nhất mà được điều chỉnh bởi hai văn bản khác nhau, đó là BLDS và Luật BVQLNTD.</p></li><li><p><em>Thứ hai là,</em> danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký HĐTM với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được quy định rải rác, tản mạn, dẫn đến khó khăn trong việc tìm hiểu, nghiên cứu và kiểm soát. Điều này ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận của người tiêu dùng - những người vốn dĩ đã là bên yếu thế khi giao kết HĐTM. hiện nay danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký HĐTM với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng do Thủ tướng Chính phủ quy định. Tuy nhiên, bất cập đến từ tiêu chí “thiết yếu” để xác định đối tượng thuộc danh mục cần đăng ký.</p></li><li><p><em>Ba là,</em> các điều khoản mẫu tạo ra sự bất lợi cho bên được đề nghị giao kết hợp đồng, từ đó, tạo ra sự bất lợi ở đây có thể hiểu là các điều khoản này đã làm tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ, giới hạn các quyền lợi chính đáng vốn thuộc về bản chất của hợp đồng đó mà nhẽ ra bên được đề nghị không phải thực hiện các trách nhiệm hoặc phải được huởng những lợi ích nhất định.</p><p>*Đối với điều kiện giao dịch chung:</p><ul><li><p><em>Thứ nhất, điều kiện giao dịch chung có những quy định nhằm hạn chế</em>, loại bỏ quyền của người tiêu dùng. Dựa trên cơ sở tự do thỏa thuận tự do giao kết của Bộ luật dân sự mà trong nhiều hợp đồng theo mẫu, quy tắc bán hàng thương nhân quy định. </p></li></ul></li><li><p><em>Thứ hai, trong nhiều trường hợp</em> người tiêu dùng không thể nào hiểu được những từ ngữ quy định trong hợp đồng đó và do vậy đành phó mặc và “nhắm mắt kí”. Các thuật ngữ chuyên môn nhiều khi rất khó để diễn tả một cách thông dụng để ai cũng hiểu được nhưng cũng không ít trường hợp thương nhân cố tình đưa ra những thuật ngữ nhằm “che mắt” người tiêu dùng. Rõ ràng người tiêu dùng cần hết sức cẩn thận khi giao kết những hợp đồng như vậy.</p></li><li><p><em>Thứ ba, thương nhân cố tình cản trở việc tiếp cận điều kiện giao dịch chung</em> bằng việc đưa ra các điều kiện này dưới những phương thức không thuận tiện cho người tiêu dùng. Nhiều người phàn nàn khi họ phải kí kết các hợp đồng theo mẫu mà trong đó cỡ chữ cũng như cách trình bày rất khó đọc, đặc biệt đối với người cao tuổi, người thị lực kém. Các hợp đồng loại này thường là rất dài có khi lên cả chục trang và vì vậy trong nhiều trường hợp không thể đọc hết được vì là hợp đồng cần kí ngay. Trong trường hợp này, người tiêu dùng có nguy cơ chịu rủi ro rất lớn nếu có tranh chấp phát sinh.</p></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-06-21 13:26:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ntttrang1/Bookmarks/wish/3034584757</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lê Thị Diễm Mơ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ntttrang1/Bookmarks/wish/3034585657</link>
         <description><![CDATA[<p>Hợp đồng theo mẫu tiềm ẩn nhiều rủi ro gây bất lợi cho các chủ thể giao kết hợp đồng. Các điều khoản trong hợp đồng theo mẫu thường nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích cho bên đưa ra đề nghị giao kết, thậm chí trong một số trường hợp thì điều khoản ấy còn gây bất lợi cho khách hàng hoặc người tiêu dùng. Khách hàng hoặc người tiêu dùng thường hiếm khi đọc hết các điều khoản hợp đồng; dù có đọc hết nhưng đối với một số quy định mang tính chuyên ngành thì bản thân họ cũng không thể hiểu và nhận thức được sự thiếu công bằng tồn tại trong những điều khoản. Do đó, việc bảo đảm quyền lợi cho bên yếu thế hơn trong hoạt động giao kết hợp đồng theo mẫu là một nhiệm vụ quan trọng mà các cơ quan lập pháp cần quan tâm và chú trọng.</p><p>Một số bất cập trong quy định của pháp luật hiện hành:</p><p>-&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Luật BVQLNTD năm 2010 quy định hai khái niệm Hợp đồng theo mẫu và Điều kiện giao dịch chung gây chồng chéo với Bộ luật dân sự 2015.</p><p>-&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Luật BVQLNTD năm 2010 chỉ quy định khá chung về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng, quy định này không xác định có áp dụng đối với trường hợp của Điều kiện giao dịch chung hay không, điều này dẫn đến tạo ra lỗ hổng pháp lý.&nbsp;</p><p>-&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Liên quan đến hình thức, ngôn ngữ giao kết hợp đồng, Luật BVNTD năm 2010 chỉ quy định khá chung chung không xác định rõ phạm vi áp dụng.</p><p>-&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Điều khoản không được phép quy định trong hợp đồng giao kết với người tiêu dùng, HĐ theo mẫu, ĐK giao dịch chung còn hạn chế, chưa đảm bảo tính thống nhất với BLDS năm 2015.</p><p>-&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Về hiệu lực của HĐ theo mẫu, Điều kiện giao dịch chung - khoản 6 Điều 12 Luật BVQLNTD năm 2010 chỉ quy định “thông báo chính xác, đầy đủ cho Nười tiêu dùng về HĐTM, ĐKGDC trước khi giao dịch”, quy định này không nêu rõ nếu không thông báo thì hậu quả sẽ như thế nào? Mặt khác, thông báo “cho NTD” là thông báo chung cho NTD nói chung hay cho NTD cụ thể đối với từng giao dịch cụ thể thì Luật BVQLNTD năm 2010 chưa nêu rõ.</p><p>- Danh mục các loại hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu không tuân theo một tiêu chí, thước đo cụ thể nào, vẫn còn thiếu nhiều lĩnh vực thật sự thiết yếu, quan trọng cho đời sống trong khi nhiều hàng hóa, dịch vụ khác được quy định trong danh sách dường như không thật sự thiết yếu mà chỉ nhằm mục đích phục vụ, nâng cao đời sống cho người dân.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-06-21 13:28:20 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ntttrang1/Bookmarks/wish/3034585657</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phan Đức Phương</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ntttrang1/Bookmarks/wish/3034586897</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>1. Bất cập trong quy định pháp luật về hợp đồng theo mẫu:</strong></p><p><em>Thứ nhất là,&nbsp;</em>có nhiều văn bản pháp luật<em> </em>về danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nên NTD rất khó khăn trong việc tìm hiểu, tra cứu.</p><p>Đến thời điểm hiện tại, danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký HĐTM được quy định tại 04 quyết định của Thủ tướng Chính phủ (Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg, Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg, Quyết định số 38/2018/QĐ-TTg và Quyết định số 25/2019/QĐ-TTg).</p><p><em>Hai là,</em>&nbsp;các điều khoản mẫu tạo ra sự bất lợi cho bên được đề nghị giao kết hợp đồng (tức là các điều khoản này đã làm tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ, giới hạn các quyền lợi chính đáng vốn thuộc về bản chất của hợp đồng đó mà lẽ ra bên được đề nghị không phải thực hiện các trách nhiệm hoặc phải được huởng những lợi ích nhất định).</p><p>2. <strong>Bất cập về điều kiện chung trong việc bảo vệ quyền lợi NTD:</strong></p><p>Điều kiện giao dịch chung được hiểu là&nbsp;những quy định, quy tắc bán hàng, cung ứng dịch vụ do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ công bố và áp dụng đối với người tiêu dùng.</p><p>Do đây là điều kiện do người cung cấp hàng hóa, dịch vụ… đưa ra nên họ luôn có xu hướng đưa ra những điều khoản có lợi nhất đối với họ và đương nhiên phần bất lợi thuộc về phía NTD. Vì vậy, rất hay xảy ra tranh chấp giữa người cung cấp hàng hóa, dịch vụ… với NTD. Theo nguyên tắc, người yêu cầu bảo vệ quyền lợi bị xâm phạm thì phải nghĩa vụ chứng minh, tuy nhiên, thực tế trong nhiều trường hợp thì NTD rất khó chứng minh lỗi của hàng hóa, địch vụ, (điển hình như Giảng viên nêu: Trường hợp sử dụng thuốc nhưng vẫn mang thai).</p><p>Mặc dù, theo quy định thì NTD luôn được coi là thế yếu trong hợp đồng mẫu phải được bảo vệ. Tuy nhiên, không phải NTD nào cũng hiểu điều đó để tự bảo vệ mình; hơn nữa, vì nhiều lý do, như thiệt hại không lớn, ngại khiếu kiện… nên NTD bỏ qua thiệt hại của mình.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-06-21 13:30:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ntttrang1/Bookmarks/wish/3034586897</guid>
      </item>
      <item>
         <title>VÕ TIẾN LỘC- BÀI KT2</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ntttrang1/Bookmarks/wish/3034618456</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Rủi ro với người tiêu dùng khi sử dụng hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung</strong></p><p>Do người tiêu dùng không được trực tiếp tham gia đàm phán, thỏa thuận các điều khoản trong các hợp đồng theo mẫu cũng như phải chấp nhận điều kiện giao dịch khác một cách bị động nên trong nhiều trường hợp người tiêu dùng gặp nhiều rủi ro. Thực tiễn cho thấy khi tổ chức, cá nhân kinh doanh sử dụng điều kiện giao dịch chung, người tiêu dùng có thể bị xâm phạm thông tin qua các hình thức sau:</p><p><em>Thứ nhất, điều kiện giao dịch chung có những quy định nhằm hạn chế</em>, loại bỏ quyền của người tiêu dùng. Dựa trên cơ sở tự do thỏa thuận tự do giao kết của Pháp luật dân sự mà trong nhiều hợp đồng theo mẫu, quy tắc bán hàng thương nhân quy địn: “người tiêu dùng không được khiếu nại sau khi đã mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ” hay “hàng hóa đã mang ra khỏi cửa hàng thì không được trả lại với bất cứ lí do gì”,… Trong trường hợp người tiêu dùng đăng kí vào các bản hợp đồng hay chấp nhận các điều kiện bán hàng như vậy thì các quy định đó đương nhiên có hiệu lực trên thực tế. Tuy nhiên, rõ ràng đây là điều khoản hết sức bất lợi cho người tiêu dùng trong khi các quy định của pháp luật, họ hoàn toàn có quyền được khiếu nại, đổi hàng hóa có khuyết tật…</p><p><em>Thứ hai, trong nhiều trường hợp, khi đã đọc các hợp đồng như hợp đồng </em><a rel="noopener noreferrer nofollow" class="google-anno" href="https://luatminhkhue.vn/hop-dong-theo-mau-dieu-kien-giao-dich-chung-rui-ro-va-trach-nhiem-cua-cac-to-chuc-ca-nhan-doi-voi-nguoi-tieu-dung.aspx#"><em>&nbsp;bảo hiểm</em></a>, hợp đồng tín dụng, hợp đồng xây dựng, hợp đồng mua bán căn hộ … người tiêu dùng không thể nào hiểu được những từ ngữ quy định trong hợp đồng đó và do vậy đành phó mặc và “nhắm mắt kí”. Tất nhiên, các thuật ngữ chuyên môn nhiều khi rất khó để diễn tả một cách thông dụng để ai cũng hiểu được nhưng cũng không ít trường hợp thương nhân cố tình đưa ra những thuật ngữ nhằm “che mắt” người tiêu dùng. Rõ ràng người tiêu dùng cần hết sức cẩn thận khi giao kết những hợp đồng như vậy.</p><p><em>Thứ ba, thương nhân cố tình cản trở việc tiếp cận điều kiện giao dịch chung</em> bằng việc đưa ra các điều kiện này dưới những phương thức không thuận tiện cho người tiêu dùng. Nhiều người phàn nàn khi họ phải kí kết các hợp đồng theo mẫu mà trong đó cỡ chữ cũng như cách trình bày rất khó đọc, đặc biệt đối với người cao tuổi, người thị lực kém. Các hợp đồng loại này thường là rất dài có khi lên cả chục trang và vì vậy trong nhiều trường hợp không thể đọc hết được vì là hợp đồng cần kí ngay. Trong trường hợp này, người tiêu dùng có nguy cơ chịu rủi ro rất lớn nếu có tranh chấp phát sinh</p><p><strong>Bất cập trong quy định pháp luật về hợp đồng theo mẫu</strong></p><p><em>Thứ nhất là, </em>bất cập về khái niệm HĐTM. Hiện nay. khái niệm HĐTM không được quy định trong một văn bản quy phạm pháp luật thống nhất mà được điều chỉnh bởi hai văn bản khác nhau, đó là BLDS và Luật BVQLNTD.</p><p>Xét về mức độ tương thích của hai khái niệm đưa ra bởi hai văn bản này thì có thể dễ dàng nhận ra rằng quy định của mỗi văn bản dường như đi theo hướng “mạnh ai nấy làm” chứ không có sự thống nhất. Luật BVQLNTD năm 2010 và cả Luật BVQLNTD năm 2023 hoàn toàn không đưa ra được bất kỳ một đặc điểm nào của HĐTM mà chỉ nêu ra việc đây là hợp đồng được giao kết giữa hai chủ thể là nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng. Tuy nhiên, phải hiểu rằng không phải hợp đồng nào giữa hai chủ thể này cũng được coi là HĐTM nếu không thỏa mãn các điều kiện đặc thù riêng biệt của loại hợp đồng này. Do vậy, việc quy định vô cùng sơ sài như Luật BVQLNTD năm 2010 và Luật BVQLNTD năm 2023 là khó chấp nhận và còn khiến cho các quy định bị chồng chéo, gây khó hiểu khi nhiều người tưởng rằng HĐTM chỉ áp dụng giữa hai loại chủ thể này. Trong khi đó, khái niệm HĐTM theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam cũng tương tự như quan điểm nghiên cứu của các học giả đều xuất phát từ góc nhìn của hoạt động giao kết hợp đồng. Tuy nhiên, cũng chính vì lý do này mà khái niệm được đưa ra dễ khiến chúng ta nhầm lẫn với khái niệm về việc chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tại Điều 393 BLDS năm 2015: <em>“Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị”.</em> Quy định tại Điều 393 BLDS năm 2015 nói về giao kết hợp đồng thông thường, tức là vẫn luôn đầy đủ 2 giai đoạn hình thành một hợp đồng, đó là: (<em>i).</em> Một bên đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng và (<em>ii).</em> Bên kia chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng thông qua việc chấp nhận toàn bộ nội dung được đề nghị (nếu chưa chấp nhận toàn bộ mà có đàm phán, trao đổi, sửa đổi, bổ sung về nội dung thì sẽ được xem là quay lại giai đoạn <em>i.</em> và vai trò của hai bên sẽ liên tục được hoán đổi cho nhau trong quá trình này). Trong khi đó, đặc trưng của HĐTM không có sự đàm phán về nội dung hợp đồng, không có sự trao đổi về vai trò của các bên như trong việc giao kết hợp đồng thông thường mà bên đề nghị sẽ luôn luôn và chỉ là một bên duy nhất mà thôi. Bên được đề nghị sẽ chỉ có lựa chọn là chấp nhận giao kết hợp đồng hoặc từ chối giao kết hợp đồng. Như vậy, khái niệm đưa ra bởi Điều 405 nêu trên chưa làm rõ được các nội dung quan trọng của HĐTM. Tóm lại, cả hai quy định về khái niệm HĐTM đang tồn tại trong văn bản chung là BLDS năm 2015 và văn bản chuyên ngành là Luật BVQLNTD năm 2010 và Luật BVQLNTD năm 2023 đều cho thấy những hạn chế, thiếu sót lớn, không thể hiện được sự khác biệt về mặt bản chất của HĐTM so với những loại hợp đồng khác.</p><p><em>Thứ hai là,</em> danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký HĐTM với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được quy định rải rác, tản mạn, dẫn đến khó khăn trong việc tìm hiểu, nghiên cứu và kiểm soát.</p><p>Theo Luật BVQLNTD năm 2010 và cả Luật BVQLNTD năm 2023, thẩm quyền quy định về danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký HĐTM với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thuộc về Thủ tướng Chính phủ. Trên cơ sở đó, ngày 13/1/2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg quy định danh mục 09 hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký HĐTM là: <em>“1. Cung cấp điện sinh hoạt; 2. Cung cấp nước sạch sinh hoạt; 3. Truyền hình trả tiền; 4. Thuê bao điện thoại cố định; 5. Thuê bao di động trả sau; 6. Kết nối Internet; 7. Vận chuyển hành khách đường hàng không; 8. Vận chuyển hành khách đường sắt; 9. Mua bán căn hộ chung cư, các dịch vụ sinh hoạt do đơn vị quản lý khu chung cư cung cấp”.</em></p><p>&nbsp;Sau đó, ngày 20/8/2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg. Theo Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg, dịch vụ <em>“Cung cấp nước sạch sinh hoạt”</em> được sửa thành <em>“Cung cấp nước sinh hoạt”</em>; dịch vụ <em>“Thuê bao điện thoại cố định”</em> được sửa thành <em>“Dịch vụ điện thoại cố định mặt đất”</em>; dịch vụ <em>“Kết nối internet”</em> được sửa thành <em>“Dịch vụ truy nhập internet”</em>. Bên cạnh đó, Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg sửa đổi dịch vụ <em>“Thuê bao di động trả sau”</em> thành <em>“Dịch vụ thông tin di động mặt đất (hình thức thanh toán: trả sau)”</em>, đồng thời bổ sung thêm <em>“Dịch vụ thông tin di động mặt đất (hình thức thanh toán: trả trước)”.</em> Ngoài ra, Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg bổ sung thêm 02 loại hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký HĐTM hoàn toàn mới là <em>“Phát hành thẻ ghi nợ nội địa, mở và sử dụng dịch vụ tài khoản thanh toán (áp dụng cho khách hàng cá nhân), vay vốn cá nhân (nhằm mục đích tiêu dùng)”</em> và <em>“Bảo hiểm nhân thọ”</em>. Như vậy, tính đến thời điểm Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg (được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg) có hiệu lực pháp luật thì có 11 loại hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký HĐTM.</p><p>Sau đó, ngày 5/9/2018, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 38/2018/QĐ-TTg loại bỏ <em>“Phát hành thẻ ghi nợ nội địa, mở và sử dụng dịch vụ tài khoản thanh toán (áp dụng cho khách hàng cá nhân), vay vốn cá nhân (nhằm mục đích tiêu dùng)”</em> ra khỏi danh mục các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký HĐTM. Đến ngày 13/8/2019, Thủ tướng Chính phủ lại ban hành Quyết định số 25/2019/QĐ-TTg và không tiếp tục quy định <em>“Bảo hiểm nhân thọ” </em>nằm trong danh mục các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký HĐTM.</p><p>Tính đến hiện nay, danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký HĐTM được điều chỉnh đồng thời trong 04 quyết định của Thủ tướng Chính phủ là Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg, Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg, Quyết định số 38/2018/QĐ-TTg và Quyết định số 25/2019/QĐ-TTg. Do nằm rải rác, tản mạn trong nhiều quyết định của Thủ tướng Chính phủ nên danh mục các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký HĐTM khó được nhận diện một cách đầy đủ, chính xác. Điều này ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận của người tiêu dùng - những người vốn dĩ đã là bên yếu thế khi giao kết HĐTM. Vấn đề có tính pháp lý đặt ra là tại sao cơ quan nhà nước có thẩm quyền không hợp nhất các văn bản quy phạm pháp luật này để có một danh mục các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký HĐTM thống nhất, rõ ràng, dễ tiếp cận. Hiện nay, Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật năm 2012 quy định cụ thể về thẩm quyền và thời hạn hợp nhất văn bản của Thủ tướng Chính phủ. Việc chậm trễ hợp nhất các quyết định quy phạm của Thủ tướng Chính phủ về danh mục các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký HĐTM cho dù được giải thích như thế nào thì vẫn là chưa tuân thủ đúng theo yêu cầu của Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật năm 2012.</p><p>Ngoài ra<em>,</em> hiện nay danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký HĐTM với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng do Thủ tướng Chính phủ quy định. Tuy nhiên, bất cập đến từ tiêu chí “thiết yếu” để xác định đối tượng thuộc danh mục cần đăng ký.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-06-21 14:16:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ntttrang1/Bookmarks/wish/3034618456</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
