<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title>BÀI BÁO CÁO NHÓM 1 _07CHQLMT1 by Bảo Hân</title>
      <link>https://padlet.com/Noel2712/j1kte7b5bhss5xuu</link>
      <description></description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2024-11-05 11:26:46 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2025-01-10 02:42:32 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url></url>
      </image>
      <item>
         <title>II.Nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước và tụt mức nước ngầm</title>
         <author>lienanh08041998</author>
         <link>https://padlet.com/Noel2712/j1kte7b5bhss5xuu/wish/3202472549</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2811850515/f55e46e074b891e014fa3344eb6eea91/z6002660331167_4aa0d8218ea51f241df701df05f27d41.jpg" />
         <pubDate>2024-11-05 12:52:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/Noel2712/j1kte7b5bhss5xuu/wish/3202472549</guid>
      </item>
      <item>
         <title>I. Thực trạng tài nguyên nước ở Thành phố Hồ Chí Minh </title>
         <author>Noel2712</author>
         <link>https://padlet.com/Noel2712/j1kte7b5bhss5xuu/wish/3202528898</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/565250240/2793e9c4f8a94258246f81ba295f29dc/6002933567509.mp4" />
         <pubDate>2024-11-05 13:28:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/Noel2712/j1kte7b5bhss5xuu/wish/3202528898</guid>
      </item>
      <item>
         <title>2.1. Ảnh hưởng do hoạt động của con người</title>
         <author>lienanh08041998</author>
         <link>https://padlet.com/Noel2712/j1kte7b5bhss5xuu/wish/3202529644</link>
         <description><![CDATA[<ul><li><p>Các dòng nước mặt (sông, kênh, rạch,….) đặc biệt là ở là ở vùng đô thị đều bị ô nhiễm trầm trọng bởi rác thải, nước thải sinh hoạt từ các khu dân cư vào kênh rạch chưa qua xử lý. Tình trạng lấn chiếm lòng, bờ sông kênh rạch để sinh sống, xả râc và nước thải trực tiếp trên bề mặt gây ô nhiễm nước mặt, cản trở lưu thông của dòng chảy, tắc nghẽn cống rảnh tạo nước tù. Môi trường yếm khí gia tăng phân huỷ các hợp chất hữu cơ, không những gây mùi hôi thối, ô nhiễm nguồn nước và môi trường mà còn gây khó khăn trong việc lấy nguồn nước mặt để xử lý thành nguồn nước sạch cấp cho nhu cầu xã hội.</p></li><li><p>Nhu cầu nước sử dụng cho ăn uống, sinh hoạt và các hoạt động khác của con người gia tăng, dẫn đến tình trạng khai thác nước dưới đất tràn lan gây ra cạn kiệt nguồn nước và ảnh hưởng đến môi trường như sụp lún, nhiễm mặn….</p></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2811850515/a1bd9d90a317483e8caa6b33e5886309/z6002728415466_f9f1a90b941fd4ec0d3c615910233119.jpg" />
         <pubDate>2024-11-05 13:28:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/Noel2712/j1kte7b5bhss5xuu/wish/3202529644</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>lienanh08041998</author>
         <link>https://padlet.com/Noel2712/j1kte7b5bhss5xuu/wish/3202531261</link>
         <description><![CDATA[<p>Nhiều giếng khoan thì công không đúng kỹ thuật ( Kết cấu giếng không tốt, giếng gần khu vực nhà vệ sinh, hệ thống xử lý nước thải…) giếng khoan hư không được trám lấp là nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước.</p><p>Giữa nước mặt và nước ngọt có một ranh giới, khi hoạt động khai thác nước dứoi đất quá mức đường ranh giới này sẽ tiến dần đến công trình khai thác, mực nước mặn xâm nhập dần, đẩy lùi mực nước ngọt vào sâu và làm nhiễm mặn các công trình khai thác trong khu vực. Mặt khác do nước biển tràn vào hoặc do con ngừoi dẫn nước biển vào sâu trong ruộng để làm muối, dẫn đến xâm nhập mặn vào tầng chứa nước</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2811850515/246cd28523ef477d8d0e1108715f2c90/6002933571954.mp4" />
         <pubDate>2024-11-05 13:29:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/Noel2712/j1kte7b5bhss5xuu/wish/3202531261</guid>
      </item>
      <item>
         <title>2.2. Ảnh hưởng do việc phát triển nông nghiệp</title>
         <author>lienanh08041998</author>
         <link>https://padlet.com/Noel2712/j1kte7b5bhss5xuu/wish/3202542679</link>
         <description><![CDATA[<p>Việc chăn nuôi gia súc gia cầm ở hộ gia đình còn chưa có ý thức tiết kiệm nguồn nước trong việc vệ sinh, vệ sinh chuồng trại, chưa có hệ thống xử lý chất thải nước thải, phân lớn cho vào ao hồ, bể tự hoại để thẩm vào đất dễ gây ô nhiệm môi trường đặt biệt là nguồn nước ngầm.</p><p>Việc nuôi các bè cá, bè tôm trực tiếp trên các dòng nước mặt sông rạch đã làm ô nhiễm nguồn nước do một số nguyên nhân: thức ăn của cá dư thừa, sự khuấy động nguồn nước, sự cản trở lưu thông dòng nước mặt.</p><p>- Nhiều giếng khoan ngoại ruộng vườn để tưới tiêu không đảm bảo kỹ thuật gây nhiễm bẫn, nhiễm các hóa chất và thuốc trừ sâu</p><p>Với tình trạng sử dụng bừa bãi, tùy tiện các loại hóa chất trong phân bón, các các loại loạ thuốc kích hoạt phát triên cây... Nhiều hệ thống kênh mương tưới tiêu nội đồng đã bị ô nhiễm nguồn nước và phát tán rộng.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2811850515/21780d445f2d059627346dbef42baa84/z6002982812453_745466b6e729aaca11fa56915429f461.jpg" />
         <pubDate>2024-11-05 13:36:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/Noel2712/j1kte7b5bhss5xuu/wish/3202542679</guid>
      </item>
      <item>
         <title>2.3. Ảnh hưởng do việc phát triển công nghiệp và dịch vụ</title>
         <author>lienanh08041998</author>
         <link>https://padlet.com/Noel2712/j1kte7b5bhss5xuu/wish/3202559031</link>
         <description><![CDATA[<p>Việc gia tăng nhiều nhà máy, xí nghiệp từ quy mô nhỏ hộ gia đình đến quy mô lớn dẫn đến nhu câu vệ nguồn nước tăng, không những nước phục vụ cho sản xuất mà còn phục vụ sinh hoạt cho một số lượng lớn công nhân từ nhiều vùng khác nhau tập trung về. Đặc biệt ở các khu vực chưa có hệ thống cấp nước, mật độ khai thác nước dưới đất sẽ gia tăng nhanh, từ đó dẫn đến tình trạng cạn kiệt nguồn nước và sụp lún đất.</p><p>- Các chất thải công nghiệp như khói, bụi... tạo nên mưa axit không những làm thay đổi chất lượng nước ngọt, mà còn ảnh hưởng xâu đên đất và môi trường sinh thái.</p><p>- Việc xả nước thải sản xuất từ các nhà máy, khu chế xuất khu công nghiệp chưa được xử lý vào sông rạch, ao hồ gây ô nhiễm nước mặt, nước dưới đất. Thậm chí có nơi còn cho nước thải chảy trần trên mặt đất để tự thẩm xuống đất hoặc đào các hồ dưới đất đê xả nước thải làm ảnh hưởng nghiêm trọng đên các tâng nước dưới đất.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2811850515/5d7ecf3c8d96814a62336bb5cf0574bc/z6003003528868_d2f8cd744548c6a0a144e89149aa0dd8.jpg" />
         <pubDate>2024-11-05 13:45:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/Noel2712/j1kte7b5bhss5xuu/wish/3202559031</guid>
      </item>
      <item>
         <title>2.4. Ảnh hưởng do một số nguyên nhân khác</title>
         <author>lienanh08041998</author>
         <link>https://padlet.com/Noel2712/j1kte7b5bhss5xuu/wish/3202559128</link>
         <description><![CDATA[<p>- Hệ thống kênh rạch không được nạo vét dẫn đến tích tụ một khối lượng lớn các vật chất hữu cơ từ nước thải, rác thải gây bồi lắng và ảnh hưởng đến việc tiêu thoát của dòng nước.</p><p>- Các bãi chôn rác không đạt yêu cầu kỹ thuật. nước rỉ ra từ rác thẩm vào mạch nước ngầm hoặc cho chảy tràn trên mặt đất vào kênh rạch</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-05 13:45:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/Noel2712/j1kte7b5bhss5xuu/wish/3202559128</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>Noel2712</author>
         <link>https://padlet.com/Noel2712/j1kte7b5bhss5xuu/wish/3284716049</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/565250240/d51d62788bd8e904a08ff585a3998125/6205232315097.mp4" />
         <pubDate>2025-01-09 03:24:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/Noel2712/j1kte7b5bhss5xuu/wish/3284716049</guid>
      </item>
      <item>
         <title>III. Hậu quả được nhìn nhận theo khía canh kinh tế</title>
         <author>Noel2712</author>
         <link>https://padlet.com/Noel2712/j1kte7b5bhss5xuu/wish/3284753263</link>
         <description><![CDATA[<p>     Nhân ngày Nước Thế giới (22/3), Cục Quản lý tài nguyên nước cho biết, tại Việt Nam 80% bệnh tật là do nguồn nước bị ô nhiễm gây ra, chủ yếu ở các địa phương nghèo. Trong vòng 4 năm gần đây, đã có khoảng 6 triệu ca thuộc 6 loại bệnh liên quan đến nước. Riêng chi phí trực tiếp cho việc khám chữa bệnh tả, thương hàn, lỵ và sốt rét lên tới khoảng 400 tỷ đồng.</p><p>     Ở TP. Hồ Chí Minh, các khu vực Bình Hưng Hòa, Quận Bình Tân được xem như là một làng ung thư. Quận Bình Tân là một trong những quận vùng ven của khu vực TP.HCM mà tỉ lệ người dân dùng nước sạch thấp, riêng khu vực này chịu sự ô nhiễm cũng vì đây là nơi an táng của hơn 1.700 ngôi mộ. Nguồn nước còn là nguyên nhân dẫn đến những bệnh về đường ruột. Theo bản đồ dịch tể học, năm 2009 TP.HCM có 6.740 ca mắc các bệnh đường ruột, xuất hiện ở 24 quận huyện, trong đó quận 6,8 là những quận có số ca mắc cao nhất, đặc biệt là tiêu chảy. Nguồn nước bị ô nhiễm đã phần nào gây tổn hại về mặt vật chất và tinh thần cho người dân sinh sống tại TP. HCM.</p><p>       Ô nhiễm nguồn nước không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân mà còn tác động đến một khía cạnh khác trong cuộc sống. Theo thống kê của Tổng công ty cấp nước Sài Gòn SAWACO, hiện nay chỉ có khoảng 36.51% hộ dân nội thành được dùng nước sạch. Từ thực trạng không có nước sạch để dùng,một số hộ dân đã kinh doanh nước sạch và nước giếng với giá cao. Dù tiết kiệm nhưng trung bình mỗi tháng một gia đình tại huyện Nhà Bè phải tốn 800.000 đồng tiền nước vào mùa mưa và 1,2 triệu đồng/ tháng vào mùa khô. Khi giá nước tăng, chi phí cho tiền nước của người dân đã tăng lên khoảng 1,2 - 1,5 triệu đồng/ tháng. Với mức giá nước người dân phải trả ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống kinh tế của người dân.</p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/565250240/9e121d69fa9203e0564fd747e79dbc0d/screenshot_1736395738.png" />
         <pubDate>2025-01-09 04:07:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/Noel2712/j1kte7b5bhss5xuu/wish/3284753263</guid>
      </item>
      <item>
         <title>IV. Đề xuất giải pháp quản lý tổng hợp tài nguyên nước</title>
         <author>Noel2712</author>
         <link>https://padlet.com/Noel2712/j1kte7b5bhss5xuu/wish/3284757931</link>
         <description><![CDATA[<p><strong><em>4.1. Hậu quả của việc ô nhiễm nguồn nước ở Tp. Hồ Chí Minh</em></strong></p><p><strong><em>4.1.1. Hết tầng nước an toàn</em></strong></p><p>Vào năm 1998, biến dạng mặt đất bắt đầu lan rộng ở hàng loạt quận huyện trên địa bàn thành phố, với giá trị ghi nhận cao nhất là 155mm từ năm 1998. Từ năm 2002 - 2010, không phát triển thêm vùng lún mới, nhưng giá trị lún tăng nhanh tại các vùng có sự hạ thấp mức nước ngâm, với giá trị cao nhất là 309mm.</p><p><br></p><p>"Hố tử thần" xuất hiện trên địa bàn TP do một phần khai thác nước ngầm</p><p>Theo báo cáo dự án quan trắc biến dạng mặt đất khu vực TP.HCM của sở Tài nguyên và môi trường, diễn tiến lún mặt đất diễn ra tập trung tại các khu công nghiệp như: Tân Bình, Tân Tạo, Vĩnh Lộc. Kết quả quan trắc cho thấy: 79/116 9/116 tuyển ngập triều trên thành phố bị ảnh hưởng bởi lún mặt đất</p><p>Một trong các nguyên nhân khiến bề mặt của mặt đất thành phố bị biến dạng là tình trạng khai thác nước ngầm vô tội vạ hiện nay. Theo báo cáo, do khai thác nước một cách tập trung với lưu lượng lớn ở phần phía tây nam thành phố, hiện chúng ta đã khai thác hết trữ lượng khai thác an toàn và đã bắt đầu khai thác vào trữ lượng tĩnh. Đồng thời, việc khai thác nước ngâm hiện nay còn đã làm cho mực nước tầng 3, 4 có xu hướng giảm so với cân bằng nước.</p><p><strong><em>4.2. Nguy cơ mắc các bệnh do ô nhiễm nguồn nước.</em></strong></p><p>Trung tâm Y tế dự phòng TP.HCM khi lấy mẫu nước giếng ở 107 hộ dân tại 6 quận, huyện ngoại thành (TP.HCM) xét nghiệm, phát hiện có đến 52% mẫu bị nhiễm vi sinh với nồng độ rất cao. Đặc biệt, mẫu nước bị nhiễm vi sinh ở 2 huyện Bình Chánh và Nhà Bè lên đến 95%. Bà Hoàng Thị Ngọc Ngân, trưởng Khoa Sức khỏe cộng đồng, Trung tâm Y tê Dự phòng Dự phòng TP cho biệt theo tiêu chuẩn, nước uống không được nhiễm vi sinh nhưng qua kiểm tra, đã phát hiện có mẫu nước giếng vì sinh lên đến 3.700 con/100 mml. Với mức ô nhiễm như trên, nêu người dân uống nước trực tiếp không đun sôi thì sẽ rất dễ bị bệnh về đường ruột.</p><p>Nước sinh hoạt tại nhiều quận, huyện TP.HCM vừa được xác định nhiễm vi sinh vật ở mức độ nặng. Cơ quan nông nghiệp và y tế TP.HCM cho biết: Kiểm tra 107 mẫu nước tại 107 gia đình thuộc các quận, huyện: 9, Nhà Bè, Bình Chánh, Hóc Môn, Củ Chi, Thủ Đức, cơ quan chức năng xác định chất lượng nước tại các khu vực như xã Phong Phú (Bình Chánh); Hiệp Phước, Lọng Thới, Phước Kiểng (Nhà Bè) đều bị nhiễm vi sinh (E.coli, Coliform, Coliform faecal) với nông độ rất cao (từ 2.100-28.000 MPN 100 ml), trong khi theo quy định của Bộ Y tế thì các thành phần vì sinh nói trên không được phép tồn tại trong nước sinh hoạt.</p><p><strong>4.3 Một số giải pháp phát triển và sử dụng hợp lý nguồn Tài nguyên nước ở TP. HCM</strong></p><p><strong><em>4.3.1 Hạn chế và giảm thiểu suy thoái Tài nguyên nước do biến đổi khí hậu TP. HCM</em></strong></p><p>Mực nước biển dâng thêm và lượng mưa gia tăng do BĐKH trong những năm gần đây làm cho tình trạng ngập lụt tại TPHCM ngày càng nặng. TPHCM ít chịu ảnh hưởng của bão, tuy nhiên những năm gần đây, bão và áp thấp nhiệt đới đã di chuyển ngày càng sâu hơn về các tỉnh phía Nam. Bão có cường độ mạnh, siêu bão trong những năm gần đây xuất hiện nhiều hơn. Bên cạnh bão, dông lốc xoáy xảy ra tại TPHCM chủ yếu vào mùa mưa, gây thiệt hại về người và tài sản.&nbsp;</p><p>Cải thiện, nâng cấp và mở rộng các hệ thống thoát lũ, tiêu úng.</p><p>- Nâng cấp các hệ thống cũ. </p><p>- Qui hoạch xây dựng bổ sung hệ thống mới, độc lập với tưới, cấp nước. </p><p>- Thực hiện nghiêm chỉnh các Luật Tài nguyên nước, Bảo vệ môi trường, Đê Điều…bảo đảm thoát lũ, bảo vệ bờ sông, chỉnh trị lòng sông, cửa sông thông thoát lũ… </p><p>- Nâng cấp đê biển, đê cửa sông.</p><p>- Củng cố bồi trúc đê sông đảm bảo an toàn đê với mực nước thiết kế đã qui định. - Khai thác hợp lý đất đai chưa sử dụng. </p><p>- Thực hiện cơ chế sản xuất sạch.</p><p><strong><em>4.3.2 Hạn chế và giảm thiểu suy thoái Tài nguyên nước do phát triển, sử dụng Tài nguyên nước không hợp lý</em></strong></p><p>a) Giảm nhu cầu nước</p><p>- Tưới tiết kiệm nước.</p><p>- Giảm tổn thất nước:</p><p>+ Cứng hoá kênh mương</p><p>+ Nâng cấp công trình đầu mối</p><p>+ Nâng cao hiệu quả quản lý</p><p>+ Quản lý theo nhu cầu dùng nước không phải quản lý theo khả năng công trình.</p><p>+ Tạo điều kiện thuận lợi cho sự tham gia quản lý của xã hội, công dân và cộng đồng.</p><p>+ Tăng cường năng lực quản lý.</p><p>- Chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi có nhu cầu sử dụng nước thấp.</p><p>- Phòng chống ô nhiễm nước.</p><p>b) Công nghiệp</p><p>- Nâng cao hiệu quả tái sử dụng nước.</p><p>- Xây dựng hệ thống xử lý nước thải.</p><p>- Phòng chông ô nhiễm nguồn nước.</p><p>c) Du lịch-Dịch vụ-Sinh hoạt</p><p>- Sử dụng nước tiết kiệm chống lãng phí.</p><p>- Giảm nhu cầu nước một cách hợp lý, cải tiến thiết bị sử dụng nước.</p><p>- Phòng chống ô nhiễm nguồn nước.</p><p>d) Khai thác sử dụng nguồn nước đi đôi với bảo vệ nguồn nước, bảo đảm duy trì dòng chảy môi trường cho con sông khoẻ mạnh bảo vệ và phát triển hệ sinh thái thuỷ sinh. Pháp lý hoá nội dung đảm bảo dòng chảy môi trường trong qui hoạch, thiết kế vận hành các hồ chứa nước thuỷ lợi, thuỷ điện và đập dâng. Có kế hoạch biện pháp bổ cập nước ngầm những vùng khai thác quá mức, phòng chống hoang mạc hoá.</p><p>Quản lý tổng hợp Tài nguyên nước. Tổ chức Lưu vực sông có cơ chế quản lý thích hợp, hiệu quả.</p><p>e) Bảo vệ môi trường nước, phòng chống và giảm thiểu ô nhiễm nước, thực hiện đúng các Luật và các văn bản dưới Luật có liên quan:</p><p>- Hiểu và thực hiện đầy đủ Luật Bảo vệ môi trường, Luật Tài nguyên nước, Luật Đê Điều, Chiến lược quốc gia về Tài nguyên nước đến năm 2020 và các Nghị định, Qui định của Chính phủ có liên quan.</p><p>- Thực hiện người gây ô nhiễm phải trả phí.</p><p>- Tạo điều kiện thuận lợi cho xã hội cộng đồng tham gia quản lý và bảo vệ môi trường nước.</p><p>- Cải tạo, cải thiện khôi phục có kiểm soát các dòng sông bị ô nhiễm, bị tù như sông Đáy, sông Nhuệ, sông Cầu, sông Sài Gòn và các sông, kênh nội đô.</p><p><strong>4.4. Hạn chế và giảm thiểu suy thoái tài nguyên nước do quản lý, tổ chức và luật pháp.</strong></p><p>a) Nhà nước sớm ban hành đầy đủ đồng bộ những văn bản dưới Luật hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường và các Luật có liên quan đến tài nguyên nước.</p><p>b) Nhà nước sớm tập trung thống nhất cơ quan quản lý Tài nguyên nước thông suốt từ Trung ương đến địa phương và sớm thành lập các Tổ chức quản lý lưu vực sông thích hợp với nhiệm vụ chức năng rõ ràng, hoạt động có hiệu quả thực sự do “người trong lưu vực sông” tự quản lý có sự hỗ trợ của Trung ương.</p><p>c) Nhà nước nên có cơ chế, chính sách để người dân, các tổ chức cộng động tham gia thực sự bảo vệ tài nguyên nước, bảo vệ môi trường nước, tạo điều kiện cho người dân tham gia ngay từ khi lập qui hoạch xây dựng đến khai thác sử dụng và bảo vệ.</p><p>d) Nhà nước sớm ban hành văn bản qui định từng bước đảm bảo đủ dòng chảy môi trường cho các con sông để con sông thực sự được sống, khoẻ và lành mạnh làm cơ sở cho phát triển bền vững tài nguyên nước.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/565250240/ea71818025665031c0db136c57e42941/image.webp" />
         <pubDate>2025-01-09 04:14:07 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/Noel2712/j1kte7b5bhss5xuu/wish/3284757931</guid>
      </item>
      <item>
         <title>CHỦ ĐỀ: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC</title>
         <author>Noel2712</author>
         <link>https://padlet.com/Noel2712/j1kte7b5bhss5xuu/wish/3284764849</link>
         <description><![CDATA[<p>NHÓM 1_07CH_QLMT1</p><p>GVGD: PGS.TS Nguyễn Thị Vân Hà</p><p>Thành viên:</p><ul><li><p>Hoàng Thị Liên Anh</p></li><li><p>Lê Nguyên Bảo Hân</p></li><li><p>Lê Thị Thanh Quyên</p></li><li><p>Nguyễn Ngọc Thảo Nguyên</p></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/565250240/1f5bf7752e762a72a377663d24dace89/6211225324499.mp4" />
         <pubDate>2025-01-09 04:22:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/Noel2712/j1kte7b5bhss5xuu/wish/3284764849</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>nguyenngocthaonguyen11a6</author>
         <link>https://padlet.com/Noel2712/j1kte7b5bhss5xuu/wish/3284958266</link>
         <description><![CDATA[<p>1. Vài nét tài nguyên nước ở Tp. Hồ Chí Minh</p><p>a. Nước mặt:</p><p>Thành phố Hồ Chí Minh có mạng lưới sông ngòi kênh rạch rất đa dạng với tổng diện tích mặt nước 35.500ha…Sông Đồng Nai bắt giữ nguồn từ cao nguyên Lâm Viên, hợp lưu bởi nhiều sông khác, có lưu vực lớn, khoảng 45.000km2. Với lưu lượng bình quân 20-500m3/s, hằng năm cung cấp 15 tỷ m3 nước, sông Đồng Nai trở thành nguồn nước ngọt chính của thành phố. Sông Sài Gòn bắt nguồn từ vùng Hớn Quản, chảy qua Thủ Dầu Một đến Thành phố Hồ Chí Minh, với chiều dài 200km và chảy dọc trên địa phận thành phố dài 80km. Sông Sài Gòn có lưu lượng trung bình vào khoảng 54m3/s, bề rộng tại thành phố khoảng 225m đến 370m, độ sâu tới 20m. Nhờ hệ thống kênh Rạch Chiếc, hai con sông Đồng Nai và Sài Gòn nối thông ở phần nội thành mở rộng. Một con sông nữa của Thành phố Hồ Chí Minh là sông Nhà Bè, hình thành ở nơi hợp lưu hai sông Đồng Nai và Sài Gòn. Ngoài các con sông chính, Thành phố Hồ Chí Minh còn có một hệ thống kênh rạch chằng chịt: Láng The, Bàu Nông, rạch Tra, Bến Cát, An Hạ, Tham Lương, Cầu Bông, Nhiêu Lộc – Thị Nghè, Bến Nghé, Lò Gốm, Kênh Tẻ, Tàu Hũ, Kênh Đôi,…dài khoảng 7.880km.</p><p><br></p><p>b. Nước dưới mặt đất:</p><p>Đặc thù trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, trữ lượng tiềm năng nước dưới đất tại các tầng chứa nước là: 2.501.059m3/ngày. Phân bổ như sau:</p><p>Trữ lượng nước dưới đất trong các tầng chứa nước</p><p>(đơn vị tính: 1000m3/ngày)</p><p>Nhờ trầm tích Pletistocen, khu vực phía Bắc Thành phố Hồ Chí Minh có được lượng nước ngầm khá phong phú. Nhưng về phía Nam, trên trầm tích Holocen, nước ngầm thường bị nhiễm phèn, nhiễm mặn. Khu vực nội thành cũ có lượng nước ngầm đáng kể, tuy chất lượng ka.hông thực sự tốt, vẫn được khai thác chủ yếu ở ba tầng: 0-20m, 60-90m và 170-200m ( tầng trầm tchs Miocen). Tại Thành phố Thủ Đức, các huyện Hóc Môn và Củ Chi, chất lượng nước tốt, trữ lượng dồi dào, thường được khai thác ở tầng 60-90m, trở thành nguồn nước bổ sung quan trọng.</p><p>2. Thực trạng tài nguyên nước ở Tp. Hồ Chí Minh</p><p>a. Chất lượng môi trường nước dưới đất.</p><p>- Tại thành phố Hồ Chí Minh, nguồn nước dưới đất chủ yếu bị ô nhiễm nitơ(NH3, NO3), kim loại nặng ( Ni, As), độc chất (Phenol) và nhiễm mặn (CL-).</p><p>- Nhiễm mặn: do khai thác nhiều nên mực nước hạ thấp gây hiện tượng xâm mặn tầng chứa nước, một số khu vực gần biển mặn ở Bình Chánh, Bình Tân có hàm lượng Cl- tăng hàng năm. Thao bà Hồ Thị Khánh, Trưởng ban Kiểm nghiệm nhà máy nước Thủ Đức, nếu như vài năm trước đây, độ mặn chỉ vào khoản 20 – 25mg/l thì trong những ngày Tết Tân Mão vừa qua đã vọt lên tới 150mg/l. So với tiêu chuẩn của Việt Nam, độ mặn tối đa chỉ được khoảng 250mg/l, thì con số này chưa vuợt, song sự gia tăng này cần phải được lưu tâm”.</p><p>- Nhiễm bẩn (Nitơ): nhiễm bẩn hiện nay chỉ ở mức độ cục bộ, qua một số điểm giếng khảo sát, ô nhiễm chủ yếu ở khu vực sản xuất, dân cư, những nơi tập trung xã thải. nguyên nhân của các ô nhiễm này đều do nguồn tai chỗ. Qua kiểm cho thấy rất nhiều giếng khoan không đảm bảo vẹ sinh, xung quanh giếng ẩm, gần khu vực xã thải. Ngoài ra còn guyên nhân gây nhiễm bẩn là do kết cấu giếng không đảm bảo cách ly nước mặt, nguồn nhiễm bẩn từ nước mặt có thể thấm qua giếng xuống tầng chưa nước, đặc biệt là khi khai thác lớn, mực nước hạ thấp nhiều làm tăng khả năng tấp nước mặt xuống giếng.</p><p>- Nhiễm kim loại nặng (As và Ni): một số giếng ở Thủ Đức tại các khu vực gần khu công nghiệp có dấu hiệu nhiễm kim loại nặng chủ yếu là As và Ni. Cũng như nhiễm bần, ộ nhiễm kim loại nặng chỉ ở mức cục bộ, nguyên nhân là từ các nguồn nhiễm từ mặt đất. Riêng về As có khả năng là ô nhiêm tự nhiên như đã xày ra ở khu vực các tinh Đông băng Sông Cửu Long.</p><p>- Ô nhiễm độc chất (Phenol; cyanua): Trước đây tại khu vực Hóc Môn có một số giếng có phát hiện hàm lượng Phenol; tuy nhiên đến nay các giếng này dã không còn sử dụng, đã được lấp hủy.</p><p><br></p><p>Kết quả quan trắc khu vực Tp. Hồ Chí Minh quí I/2007 cho thấy chất lượngnước tầng Pliestocen còn khá tốt đạt tiêu chuẩn cho phép TCVN 5944 - 1995 ở một số quận nội thành TP. Hồ Chí Minh như Phú Nhuận, Bầu Cát, Phú Thọ và khu vực Tân Phú Trung (Củ Chi), Thới Tam thôn(Hóc Môn). Tuy nhiên, so với cùng thời điềm màu khô năm 2006, có sự gia tăng ô nhiễm hữu cơ (nông độ TOC tăng 2-4 lần) có dầu hiệu ô nhiễm vi sinh ở khu vực bãi rác trạm có nồng độ Nitrat giảm so với cùng kỳ năm 2006 là các tramk Đông Thạnh, Gò Vấp, Tân Tạo.</p><p>Tầng chứa nước Pliocen: các giêng quan trắc tân pliocen phân bô ở các trạm Tân Phú Trung, Thới Tam Thôn và Tân Tạo hầu hết bị ô nhiễm hữu cơ và có nồng độ Fe khá cao. Đặc biệt ở các trạm Tân Tạo có nồng độ Fe tổng đặc biệt cao và có dấu hiệu ô nhiễm vi sinh.</p><p>Nước ngầm ở Thành Phố Hồ Chí Minh đang bị sụt giảm nghiêm trọng .Trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện có trên 200.000 giếng khai thác nước ngầm, đa số khai thác tập trung ở tầng chứa nước Pleistocen và Pliocen. 56,61% tông lượng nước khai thác dùng cho mục đích sản xuất, còn lại dùng trong sinh hoạt. Các chuyên gia đến từ ĐH Bách Khoa TP.HCM nhận định, tình trạng khai thác sử dụng nước ngầm tại TP.HCM hiện nay đã vượt mức 600.000 m3/ngày, trong khi lượng nước bổ sung dưới 200.000 m3/ngày dẫn đến việc mực nước dưới đất của các tầng chứa nước ngày cà ng bị hạ thấp. Đặc biệt là tại khu vực thuộc quân đội nội thành và vùng ven, nơi có lưu lượng nước ngầm được khai thác rất lớn phục vụ ăn uống, sinh hoạt hằng ngày.</p><p>Mật độ giếng khoan tập trung quá dày ở nhiều khu vực nội và ngoại thành đã tạo thành các phễu nước dày đặc, khai thác nước quá mức, gây mất cân đối trong việc bồ sung trữ lượng nước ngầm, làm hạ thâp mực nước ngâm và nhât là gây ra tình trạng các tâng nước ngâm bị thâm và nhiêm bần, nhiễm mặn ngày càng nhanh hơn. Cụ thể như hàm lượng hợp chất ô nhiễm nitơ, clo, hữu cơ... đang tăng lên ở nhiêu khu vực ngoại thành, nhất là gân các bãi rác lớn của Thành phố như bãi rác Đông Thạnh.</p><p>Bên cạnh đó việc quản lý các đơn vị khoan giếng và các đối tượng khai thác của Thành phố chưa chặt chẽ nên việc khai thác nước ngâm đang diên ra tràn lan và khôi lượng nước ngâm bị khai thác quá lớn dân đên tình trạng mực nước ngâm của TP.HCM bị tụt xuống gần 1 mét môi năm, cụ thê như huyện Củ Chi ở khá xa các nhà máy khai thác nước ngâm lớn của Thành phô, nhưng mực nước ngâm cũng bị tụt xuông từ 0.4 đên 0,74 mét/năm.</p><p><br></p><p>b. Nước mặt</p><p>Nguồn nước ở TP. Hồ Chí Minh đang bị ô nhiễm nghiêm trọng bên cạnh đó là tình trạng ngập lụt trong trung tâm thành phố đang ở mức báo động cao, xáy ra cà trong mùa khô. Diện tích khu vực ngập lụt khoảng 140 km với 85% điểm ngập nước nằm ở khu vực trung tâm. Thiệt hại do ngập nước gây ra ước tính 8 tỷ đồng mỗi năm. Nguyên nhân là do hệ thống cống thoát nước được xây cách đây 50 năm đã xuống cấp. Ngoài ra, việc xậy dựng các khu công nghiệp và đô thị ở khu vực phía nam - khu vực thoát nước của thành phô này đã làm cho tình hình ngập càng nghiêm trọng hơn. Tại cụm công nghiệp Tham Lương, nguồn nước bị nhiễm bẩn bởi chất thải công nghiệp với tồng lượng nước thải ước tính 500.000 m/ngày</p><p><br></p><p>- Sông Sài Gòn - Đồng Nai</p><p>Kết quả phân tích chât lượng nước từ năm 2001 đến 9 tháng đầu năm 2009 cho thấy chất lượng nước tọa các trạm quan trắc trên Sông Sài Gòn bị ô nhiêm hữu cơ, đặc biệt là ô nhiêm dâu và vi sinh. Nồng độ oxy hòa tạn (DO) dao động từ 0,7 đến 2,7mg/l, không đạt tiêu chuẩn chất lượng nước mặt dùng làm nguồn cấp nước sinh hoạt (&lt;4 mg/l). Hàm lượng dầu dao động khoảng 0.03 mg/1, trong khi tiêu chuân quy định không cho phép có dầu trong nguồn cung cấp nước sinh hoạt. Ô nhiễm vi sinh ở mức cao vượt từ 3 đền 168 lần đầu tiêu chuân cho phép.</p><p>Tại các trạm thượng nguồn sông Sài Gòn và Đồng Nai (sọ với tiêu chuẩn TCVN 5942 – 1995 loại A, dùng đề cấp nước cho sinh hoạt), kết quả quan trắc nồng độ dầu và Cloriform trong 5 loại A, dùng đề cấp nước cho sinh hoạt), kết quả quan trắc nồng độ dầu và Cloriform trong 5 tháng đầu năm 2009 cao hơn tiêu chuẩn cho phép.</p><p>Trong đó nồng độ dầu đo được là 0,03 - 0,09mg/l (cạo hơn 3 lân so với cùng kỳ năm 2006) và hàm lượng Cloriform cao hơn tiêu chuẩn từ 1,5 – 74 lần ( không cao hơn so với cùng kỳ năm 2006).</p><p>Tại các trạm còn lại thuộc hệ thống sông Sài Gòn – Đồng Nai ( so với tiêu chuẩn TCVN 5942 – 1995 loại B, dùng cho các mục đích khác), kết quả quan trắc trong 5 tháng đầu năm 2009 đa số đều đạt tiêu chuân cho phép đổi với các chi tiêu DO và BOD5 và nông độ dâu. Tuy nhiên, hàm lượng Cloriform tại đa số các trạm đều vượt tiêu chuẩn cho phép (cao hơn 1,6 - 4,2 lần), ngọai trừ 4 trạm Tam Thôn Hiệp, Vàm Sát, Vàm Cô và Nhà Bè, so với cùng kỳ năm 2006, nồng độ dầu tăng cao 2-3 lần ở các trạm, tuy nhiên mức độ ô nhiễm hữu cơ (DO và BOD5) giảm so với cùng kỳ năm trước ( 1,2- 2 lần).</p><p><br></p><p>- Khu vực Nhà Bè - Cần Giờ (sau hợp lưu sông Sài Gòn và Đồng Nai)</p><p>Kết quả quan trắc từ năm 2001 đến 9 tháng đầu năm 2009 cho thấy chất lượng nước sông tại khu vực Nhà Bè - Cần Giờ không có dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ. Nông độ ôxy hòa tan dạo động từ 3,0 đến 4,1 mg/1, đạt tiêu chuần chất lượng nguồn nước loại B (2mg/l). Nhu cầu ôxy sinh hóa BOD5 dao động từ 1 đên 3mg/1 đạt tiêu chuân chất lượng nguồn nước loại B (&lt;25 mg/l). Mức độ ô nhiêm dâu có xu hướng giảm trong những năm gân đây. Ô nhiêm vi sinh vân ở mức cao và có sự gia tăng trong 9 tháng đầu năm.</p><p><br></p><p>Dưới đây là video điển hình ở khu vực Bình Tân</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-01-09 07:47:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/Noel2712/j1kte7b5bhss5xuu/wish/3284958266</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
