<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title>NGHỊ LUẬN VỀ NHÂN VẬT NGÔ TỬ VĂN by Thanh Tran Hoai</title>
      <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1</link>
      <description>Được tạo với sự ngầu</description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2022-03-15 02:29:45 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2022-04-08 03:55:26 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url></url>
      </image>
      <item>
         <title>Tổ trưởng tổ 4 - Bùi Minh Thành đại diện tổ xin gửi bài ạ </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2095060149</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>**Hình tượng NV Ngô Tử Văn:</strong>hiện thân cho lòng dũng cảm, cương</div><div>trực, không khoan nhượng với gian tà.</div><div>- <strong>Lời giới thiệu đầu truyện</strong>: “vốn khẳng khái… là</div><div>một người cương trực”.</div><div><strong>- Hành động đốt đền</strong>:</div><div>􀀀 Nguyên nhân: bất bình trước việc ma quái ngụ ở đền</div><div>thổ công làm hại dân lành.</div><div>􀀀 Hành động: trước khi đốt đền: tắm gội sạch sẽ, khấn trời -&gt; tin vào việc mình làm, lấy lòng thành mong trời phù hộ; Sau khi đốt đền: “vung tay không cần gì cả” dù ai cũng “lắc đầu lè lưỡi”.<br>-<strong>Trước Bách hộ họ Thôi</strong>: điềm nhiên không hề run sợ khi bị đe dọa.</div><div>-<strong>Tại âm ti</strong>:</div><div>Trong không khí rùng rợn, mặc dù bị đe dọa, vu cáo, sỉ nhục; trước Diêm Vương đầy uy quyền: vẫn cứng cỏi đối chất, đấu tranh giành công lí khiến Bách hộ họ Thôi run sợ, lập lờ nhận tội.</div><div>- Khi được tiến cử làm phán sự: xem thường cái chết, bình thản đón nhận Ngô Tử Văn là đại diện cho chính nghĩa, cho</div><div>kẻ sĩ nước Việt:</div><div>- Giải trừ được tai họa, mang lại an lành cho</div><div>dân.</div><div>- Diệt trừ tận gốc thế lực xâm lược tàn ác, làm sáng tỏ nỗi oan và phục hồi danh dự cho Thổ thần nước Việt.</div><div>- Được tiến cử làm phán sự đền Tản Viên, có nhiệm vụ giữ gìn công lí<br>-Ca ngợi con người khẳng khái, cương trực dám đấu tranh với cái xấu, cái ác, bảo vệ dân lành.</div><div>-Thể hiện quan niệm và ước mơ của người bình dân: chính nghĩa thắng gian tà. Đồng thời qua đó giáo dục con người phải sống đúng đắn, hợp lẽ phải.</div><div>-Thể hiện tinh thần dân tộc mạnh mẽ khi đối tượng đả kích là tên tướng giặc bại trận.</div><div>-Các thế lực thần linh ma quỉ phần nào phản ánh hiện thực xã hội phong kiến với các bè phái hãm hại dân lành.<br><strong>** NGHỆ THUẬT</strong></div><div>-Nhiều yếu tố hoang đường, kì ảo làm truyện thêm sinh động, hấp dẫn.</div><div>-Bên cạnh đó, những yếu tố thực làm tăng</div><div>tính chân thực và ý nghĩa xã hội của truyện.</div><div>-Cốt truyện giàu kịch tính, kể và tả sinh</div><div>động, tình tiết lôi cuốn.</div><div>-Tính cách nhân vật được khắc họa qua hành động<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-03-15 02:53:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2095060149</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tổ 3-Nguyễn Sơn Bách đại diện gửi bài ạ</title>
         <author>tueminhhua</author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2095071253</link>
         <description><![CDATA[<div>. Dàn ý cảm nhận về nhân vật Ngô Tử Văn trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên<br>1. Mở bài<br>- Nguyễn Dữ là người đã đưa khái niệm "truyền kỳ" tiến bước vào nền văn học Việt Nam. Tác phẩm nổi tiếng nhất và cũng là duy nhất của ông là Truyền kỳ mạn lục, gồm 20 truyện khác nhau.<br>- Một trong những truyện được biết đến nhiều nhất là Chuyện chức phán sự đền Tản Viên lấy nhân vật Ngô Tử Văn làm trung tâm.<br><br><br><br>2. Thân bài<br>* Ngô Tử Văn qua lời người dẫn chuyện và nhận xét của những người đương thời<br>- Là người nóng nảy, nhưng tính tình khảng khái, nên được nhiều người yêu quý kính trọng dành khen hai từ "cương trực", danh tiếng tốt.<br>* Ngô Tử Văn xuất hiện trực tiếp qua các sự kiện:<br>- Đốt ngôi đền bị tên tướng giặc họ Thôi chiếm giữ:<br>+ Thể hiện lòng can đảm, tinh thần chính nghĩa, không phải là hành động bộc phát, nông nổi.<br>- Lúc gặp tên tướng giặc trong mộng:<br>+ Bình tĩnh, điềm nhiên, coi thường sự dọa dẫm của hắn.<br>- Lúc gặp và nói chuyện với Thổ Thần:<br>+ Bình tĩnh, thể hiện sự thông minh, nhanh trí khi hỏi thăm về tên tướng giặc, để chuẩn bị ứng phó.<br>- Lúc ở điện Diêm Vương:<br>+ Gặp cảnh kinh hãi cũng bình tĩnh mà kêu to để hòng kinh oan.<br>+ Không hề e sợ lời dọa dẫm kết tội của Diêm Vương, sẵn sàng đối chất với tên tướng giặc họ Thôi cho ra nhẽ.<br>* Chiến thắng của Ngô Tử Văn:<br>+ Niềm tin vào công lý, chính nghĩa của nhân dân ta, cũng như của tác giả Nguyễn Dữ, với quan niệm cái thiện luôn luôn chiến thắng cái gian tà ác độc.<br><br>3. Kết bài<br>- Nhân vật Ngô Tử Văn là một nhân vật tiêu biểu của trường phái hướng thiện., luôn lấy công bằng, lẽ phải làm nguyên lý sống.<br>- Thể hiện lòng yêu cái thiện, mong ước về một cuộc sống công bằng, hạnh phúc của nhân dân ta từ xa xưa cho tới tận ngày nay.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-03-15 03:00:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2095071253</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tổ 1</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2095078446</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Mở bài:</strong></div><div>Giới thiệu tác giả, tác phẩm.</div><div>Khái quát về vẻ đẹp của tác phẩm, khái quát về nhân vật Ngô Tử Văn.</div><div>-&gt; Xuyên suốt tác phẩm “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” là nhiều sắc thái của các nhân vật, qua đó biểu lộ rõ vẻ đẹp nơi tâm hồn của họ. Nổi bật nhất chính là vẻ đẹp trong sự khẳng khái, cương trực và dũng cảm của chàng trai Ngô Tử Văn.</div><div><br></div><div><strong>Thân bài:</strong></div><ol><li>Khái quát tác phẩm</li><li><strong>Luận điểm 1: </strong>Lai lịch của Ngô Tử Văn qua nhận xét của người đời</li></ol><ul><li>Tên Soạn, người ở Yên Dũng, Lạng Giang</li><li>Tính tình nóng nảy, cương trực, “thấy sự gian tà không chịu được”</li></ul><div>-&gt; Tinh thần vì chính nghĩa được bộ lộ rõ, qua đó cho thấy đây là một nhân vật sẵn sàng đấu tranh chống lại những sự bất công.</div><ol><li><strong>Luận điểm 2: </strong>Phân tích hành động đốt đền</li></ol><ul><li>Nguyên nhân: Từ mong muốn ra tay diệt những phiền toái của hồn ma tên Bách Hộ họ Thôi thay cho nhân dân.</li><li>Hành động:&nbsp;</li><li>Trước khi đốt đền: Tắm gội sạch, khấn trời -&gt; Nghiêm túc, kính trọng thần linh.</li><li>Trong khi đốt đền: Châm lửa đốt đền, mặc cho mọi người lè lưỡi, lắc đầu -&gt; cương quyết, không sợ hãi</li><li>Sau khi đốt đền: Lảo đảo, nổi cơn sốt rét. Tên tướng giặc tới giả làm cư sĩ để đe dọa vẫn không lay được ý chí của Ngô Tử Văn. Mặt khác, Thổ Công thật đến và ủng hộ chàng. -&gt; Được sự ủng hộ của chính nghĩa, khinh thường sự đe dọa, hống hách của tương địch</li><li>Phân tích thái độ của Tử Văn với tên tướng địch và với Thổ Công:<br>- Với tên tướng địch: không lung lay, mặc kệ, ngồi ngất ngưởng tự nhiên dẫu tên tướng giặc có mắng chửi, đe dọa</li></ul><div>- Với Thổ Công: cẩn thận hỏi kỹ lại chuyện để chuẩn bị cho cuộc chiến tại Minh Ti</div><ol><li><strong>Luận điểm 3: </strong>Sự khẳng khái và cương trực trong cuộc chiến tại Minh Ti</li></ol><ul><li>Ngô Tử Văn bị bắt xuống âm phủ, nơi có quang cảnh rùng rợn. Sử dụng nhiều yếu tố tưởng tượng kì ảo để thêm sự ma mị cho chốn âm phủ.</li><li>Cuộc xét xử:</li><li>Những lời cáo trạng vu oan của tên tướng giặc hòng qua mặt Diêm Vương</li><li>Diêm Vương bị qua mặt, quát nạt, giận dữ với Ngô Tử Văn</li><li>Thái độ bình tĩnh của Ngô Tử Văn khi tâu chuyện cho Diêm Vương. Thái độ cứng cỏi, sẵn sàng đấu tranh. Xin đem tư giấy đến đền Tản Viên để chứng thực</li><li>Diêm Vương sinh nghi, tên tướng địch bắt đầu run sợ, tìm cách chạy tội. Sau đó sự việc được chứng thực, tên tướng địch bị trừng phạt, Ngô Tử Văn được tiến cử làm phán sự ở đền Tản Viên.</li><li>Chiến thắng của Ngô Tử Văn là chiến thắng của chính nghĩa, cho thấy sự dũng cảm, cương trực và bản lĩnh của một kẻ sĩ trước những thế lực lớn hơn. Ngô Tử Văn không nhún nhường, quyết tâm đến cùng bảo vệ lẽ phải.</li></ul><ol><li><strong>Luận điểm 4: </strong>Sự trao thưởng xứng đáng cho người anh hùng</li></ol><ul><li>Cuối cùng chiến thắng thuộc về Ngô Tử Văn với sự dũng cảm đấu tranh bảo vệ chính nghĩa.</li><li>Ý nghĩa của chiến thắng: mang lại sự an bình cho nhân dân, diệt trừ được tên tướng giặc và trao trả danh dự cho Thổ Công, khẳng định niềm tin chính nghĩa luôn luôn thắng được gian tà.</li></ul><ol><li>Đặc sắc nghệ thuật:<br>	-&nbsp; Cốt truyện hấp dẫn, xây dựng được hình tượng nhân vật qua những hành động, lời nói cụ thể.</li></ol><ul><li>Nghệ thuật được sử dụng phong phú kèm với các yếu tố tưởng tượng kì ảo cho thấy sự khéo léo của tác giả.</li></ul><div><strong>Kết bài</strong></div><ul><li>Khái quát lại người nhân vật Ngô Tử Văn</li><li>Cảm nhận</li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-03-15 03:05:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2095078446</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tổ 2</title>
         <author>trinhthaiduonglhp</author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2095089547</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>I. Mở bài <br></strong>- Giới thiệu tác giả: Nguyễn Dữ (sống ở TK XVI, là thời kì chính trị bất ổn chính trị, nhà nước phong kiến đứng trước nguy cơ sụp đổ)<br>- Tác phẩm: Truyền kì mạn lục. Tiêu biểu trong số 20 truyện chính là "Chuyện chức phán sự đền Tản Viên" với hình tượng nhân vật Ngô Tử Văn chính trực, khảng khái đã để lại nhiều ấn tượng cho người đọc.<br><strong>II. Thân bài</strong><br>- Giói thiệu sơ lược về thể loại truyền kì<br><strong>Luận điểm 1</strong>: Ngô Tử Văn qua lời kể của dân làng (lúc ở trần thế):<br>+ Khảng khái, nóng nảy, thấy sự tà gian thì không thể chịu được<br>+ Hành động "châm lửa đốt đền" khi thấy hồn ma Bách hộ họ Thôi tác quái.<br>-&gt; Hành động dũng cảm có chủ đích, chính trực vì mọi người.<br>Sau khi đốt đền:</div><ul><li>Tử Văn thấy khó chịu, đầu lảo đảo, bụng run run rồi nổi lên một cơn sốt rét</li><li>Có người cao lớn, khôi ngô đội mũ trụ đến đòi làm trả lại đền</li><li>Có ông già áo vải, mũ đen, phong độ nhàn nhã đến tỏ lời mừng và kể rõ đầu đuôi sự việc.</li></ul><div>-&gt; Thổ công bày tỏ ý muốn giúp đỡ và ủng hộ hành động của Tử Văn.</div><div>=&gt; Ngô Tử Văn là một kẻ sĩ đầy bản lĩnh, không khiếp sợ trước gian tà.<br><strong>Luận điểm 2</strong>: Ngô Tử Văn và cuộc chiến dưới Minh Ti:<br>Ngô Tử Văn bị bắt giải xuống âm phủ:</div><div>+ Quang cảnh : không khí rùng rợn</div><div>+ Sử dụng nhiều hình ảnh mang tính chất kì ảo, hoang đường -&gt; nhấn mạnh hơn quang cảnh đáng sợ nơi cõi âm</div><div>– Cuộc xét xử Ngô Tử Văn dưới âm phủ:</div><div>-&nbsp; Những lời vu cáo xảo quyệt của hồn ma tên tướng giặc.</div><div>+ Thái độ quát nạt, giận dữ của Diêm Vương</div><div>+ Ngô Tử Văn: Tỏ thái độ cứng cỏi trước Diêm Vương đầy uy quyền, đấu tranh vạch mặt tên tướng giặc gian tà.</div><div>-&gt; Tử Văn phải đương đầu với những thế lực mạnh, áp đảo.</div><div>+ Hồn ma tên tướng giặc: Tranh cãi với Tử Văn, sau lại lo sợ, đạo đức giả: xin giảm án cho Tử Văn.</div><div>+ Ngô Tử Văn: Bình tĩnh, khảng khái không chịu nhún nhường, xin đem tư giấy đến đền Tản Viên chứng thực.</div><div>+ Diêm Vương: Nghi ngờ, cho người đến đền Tản Viên chứng thực -&gt; Tử Văn được xử thắng kiện và được tiến cử làm chân phán sự ở đền thánh Tản Viên.</div><div>-&gt; Cái thiện, cái chính nghĩa đã thắng cái gian tà, cái ác.</div><div>=&gt; Tử Văn là con người cứng cỏi, không chùn bước trước những thế lực xấu xa, quyết tâm đến cùng để bảo vệ lẽ phải.<br><br></div><div><strong>* Luận điểm 3</strong>: Chiến thắng của Ngô Tử Văn.</div><div>– Bằng chính nghĩa và sự dũng cảm, cương trực đấu tranh cho chính nghĩa, cuối cùng Ngô Tử Văn đã chiến thắng.</div><div>– Ý nghĩa:</div><div>+ Giải trừ được tai họa, đem lại an lành cho dân.</div><div>+ Diệt trừ tận gốc thế lực xâm lược tàn ác, làm sáng tỏ nỗi oan khuất và phục hồi danh dự cho Thổ thần nước Việt.</div><div>+ Niềm tin vào công lí cái thiện chiến thắng cái ác, chính nghĩa thắng gian tà.<br>Nghệ thuật xây dựng nhân vật: sử dụng kết hợp yếu tố kì ảo và thực tế để tăng tính đặc sắc của truyện</div><div><strong>III. Kết bài</strong></div><div>– Cảm nhận của em về nhân vật Ngô Tử Văn.<br>- Nhận xét chung về tác phẩm</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-03-15 03:13:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2095089547</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tổ 2 - 10CA2</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2106453255</link>
         <description><![CDATA[<ul><li><strong>Dàn ý phân tích 8 câu cuối </strong></li></ul><div>‘<em>Lòng gửi gió đông có tiện?</em></div><div>—&gt; Câu hỏi tu từ:&nbsp;</div><div>—&gt; Hình ảnh tượng trưng ước lệ: gió đông - gió mùa xuân, báo tin vui, mang lại phước lành, sự sun họp, đoàn tụ</div><div>“<em>Nghìn vàng xin gửi đến non Yên</em>”</div><ul><li>"Nghìn vàng" là lòng thương nhớ da diết, quý trọng</li><li>Không gian: "Non Yên" chỉ 1 không gian mênh mông, ko giới hạn&nbsp;</li></ul><div>-&gt; Nỗi nhớ vô tận, không nguôi, là tình yêu thương của người vợ nơi quê nhà</div><div><br></div><div><strong>—&gt; Tiểu kết: Những hình ảnh ước lệ như ‘gió đông’, ‘non Yên’ gợi ra không gian rộng lớn vô tận, cũng nói lên khoảng cách xa xôi giữa chinh phu và chinh phụ và vừa biểu đạt được tấm lòng chân thành, nỗi nhớ nhung vô hạn của người vợ nơi quê nhà.</strong></div><div>Non Yên dù chẳng tới miền,</div><div>Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.</div><div>-&gt; Từ láy “thăm thẳm”: Gợi độ dài của thời gian, độ rộng của không gian, độ sâu của nỗi nhớ.</div><div>“Gió Đông, non Yên”: Hình ảnh ước lệ gợi hình ảnh người vợ phải mượn ngọn gió Đông mới có thể truyền tải được nỗi nhớ chồng.</div><div>Biện pháp so sánh “Đường lên bằng trời”: Xa vời dường như không có điểm cuối</div><div>→ Nhấn mạnh sự xa cách trùng khơi của người chinh phụ, thể hiện tình yêu và nỗi nhớ da diết của người chinh phụ.</div><div><br><br></div><div>Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu</div><div>Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.</div><div><br><br><br><br></div><div>Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,</div><div>Dây uyên kinh đứt phím loạn ngại chùng.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-03-22 01:23:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2106453255</guid>
      </item>
      <item>
         <title>10CA2 - TỔ 4 - Phân tích 8 câu cuối trong bài tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2106458392</link>
         <description><![CDATA[<div>Khái quát đoạn trích:</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Hoàn cảnh sáng tác: Đầu đời vua Lê Hiển Tông có nhiều cuộc khởi nghĩa - đàn áp giữa nông dân với quân triều đình, nổ ra quanh kinh thành Thăng Long. Đặng Trần Côn đứng trước thời thế, thấu hiểu nỗi khổ người chinh phụ đã viết nên bài thơ.</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; Ý nghĩa nội dung: Đoạn trích viết về tình cảnh cô đơn, tâm trạng buồn khổ của người chinh phụ trong lúc chồng đi lính, thời gian dài vẫn bặt vô âm tín, khát khao được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi một lần nữa.</div><div><strong>Luận điểm 1:</strong> Ước muốn của người chinh phụ qua thiên nhiên: (2 câu đầu)</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; Gió đông: những cơn gió của mùa xuân, ấm áp và tràn trề sức sống, điềm báo tin vui, đại diện sự sum họp, đoàn viên.</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; Non Yên: tên thường gọi núi Yên Nhiên, ở biên ải phương bắc xa xôi - nơi người chồng đang chinh chiến.</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; “Nghìn vàng”: Hình ảnh ẩn dụ cho tấm lòng son sắt của người chinh phụ&nbsp;</div><div>-&gt; Ước muốn của người chinh phụ gửi gắm tất cả nỗi lòng vào ngọn gió xuân để có thể đến được nơi chiến trường xa xôi để người chồng thấu hiểu và trở về cùng nàng.</div><div>=&gt; Không gian vô tận, mênh mông, không giới hạn, ngăn cách hai vợ chồng. Cùng với câu hỏi tu từ qua chữ “tiện”, nỗi nhớ càng trở nên không nguôi, không tính đếm được của người chinh phụ.</div><div><strong>Luận điểm 2:</strong> Nỗi nhớ của người chinh phụ qua không gian (4 câu giữa)</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; “Non yên - non yên, trời - trời”: thủ pháp điệp liên hoàn nhấn mạnh khoảng cách xa xôi trùng điệp, trắc trở vô vàn cũng như tình yêu cũng người chinh phụ lúc bấy giờ không gì có thể khỏa lấp nỗi nhớ ấy.</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; “thăm thẳm, đau đáu” : từ láy tả cung bậc của nỗi nhớ, vừa là nỗi nhớ sâu, dai dẳng, triền miên, vừa là nỗi nhớ gắn với nỗi đau, nỗi sầu. -&gt; Nỗi nhớ được cụ thể hóa bằng không gian cho thấy nỗi nhớ khắc khoải dằng dặc.</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; “Đường lên bằng trời”: Xa xôi, cách trở không nào đến được&nbsp;</div><div>=&gt; Nhấn mạnh sự xa cách của đôi vợ chồng, thể hiện tình yêu và nỗi nhớ khắc khoải của người chinh phụ. Sắc thái nỗi nhớ càng về sau càng tăng dần, dồn nén trở thành nỗi đau xót xa.</div><div><strong>Luận điểm 3:</strong> Mối quan hệ giữa ngoại cảnh và tâm cảnh (2 câu cuối)</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; “Cảnh buồn”, “người thiết tha lòng”: Cảnh và người đều mang trong mình ở nỗi buồn và niềm đau</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Cảnh vốn là vật vô tri, không biết buồn đau chính tâm trạng của con người đã nhuốm sầu cảnh vật.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; + “Cành cây sương đượm”: Nhuộm một màu buốt giá, lạnh lẽo</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; + “Tiếng trùng mưa phun”: Hoang vắng, tĩnh lặng nghe được cả tiếng côn trùng kêu rả rích.</div><div>=&gt; Tâm trạng cô đơn, thổn thức, nỗi nhớ thương, khát khao được giãi bày, chia sẻ nhưng vô vọng, người chinh phụ đã hướng nỗi buồn ra ngoài cảnh vật khiến nó cũng trở nên não nề.</div><div>Sơ kết nghệ thuật:</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Sử dụng các biện pháp tu từ ẩn dụ, điệp liên hoàn, từ láy</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Thủ pháp tả cảnh ngụ tình</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Nghệ thuật miêu tả nội tâm tinh tế</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Hình ảnh ước lệ, tượng trưng</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Giọng thơ da diết, buồn thương<br>Kết bài:<br>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Khái quát nội dung, nghệ thuật 8 câu thơ cuối: như một lá thư viết đầy những lời gửi gắm nỗi niềm thương nhớ khôn nguôi đến người chồng nơi biên ải xa xôi.<br><br>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Mở rộng: Liên hệ với số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến có chồng đi lính.</div><div><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-03-22 01:27:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2106458392</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tổ 2 - 10CA2</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2106463000</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>* Phân tích 8 câu thơ cuối</strong></div><div><strong>Luận điểm 1: Ước muốn của người chinh phụ</strong></div><div>- Hình ảnh thiên nhiên:<br><br></div><ul><li>Gió đông: gió mùa xuân mang theo hơi ấm và sự sống, gió báo tin vui, thể hiện sự sum họp, đoàn viên.</li><li>Non Yên: Điển tích chỉ núi Yên Nhiên, nơi biên ải phương bắc xa xôi - nơi người chồng đang chinh chiến.</li><li>“Nghìn vàng”: Hình ảnh ẩn dụ cho tấm lòng của người chinh phụ (buồn tủi, cô đơn, lo lắng, trống vắng, hi vọng rồi lại thất vọng)</li></ul><div>-&gt; Ước muốn của người chinh phụ gửi gắm niềm hi vọng, thương nhớ vào ngọn gió xuân mang đến nơi chiến trường xa xôi để người chinh phu thấu hiểu và trở về cùng nàng.</div><div>=&gt; Không gian vô tận, mênh mông, không giới hạn, không chỉ là không gian vô tận ngăn cách hai vợ chồng, mà còn là nỗi nhớ không nguôi, không tính đếm được của người chinh phụ, là tình yêu thương của người vợ nơi quê nhà.</div><div><strong>Luận điểm 2: Nỗi nhớ của người chinh phụ</strong></div><div>- Không gian:<br><br></div><ul><li>“Non yên - non yên, trời - trời” -&gt; thủ pháp điệp liên hoàn nhấn mạnh khoảng cách xa xôi, trắc trở không gì có thể khỏa lấp nỗi nhớ vời vợi, đau đáu trong lòng người chinh phụ.</li><li>“thăm thẳm, đau đáu” : từ láy cực tả cung bậc của nỗi nhớ, thăm thẳm là nỗi nhớ sâu, dai dẳng, triền miên, đáu đáu là nỗi nhớ gắn với nỗi đau, nỗi sầu. -&gt; Nỗi nhớ triền miên trong thời gian vô tận được cụ thể hóa bằng không gian xa vời, khắc họa nỗi nhớ khắc khoải dằng dặc.</li><li>“Đường lên bằng trời”: Xa vời dường như không có điểm cuối</li></ul><div>=&gt; Nhấn mạnh sự xa cách trùng khơi của người chinh phụ, thể hiện tình yêu và nỗi nhớ da diết của người chinh phụ. Sắc thái nỗi nhớ mỗi lúc một tăng tiến, dồn nén trở thành nỗi đau xót xa.</div><div><strong>Luận điểm 3: Mối quan hệ giữa ngoại cảnh và tâm cảnh</strong></div><div>- “Cảnh buồn”, “người thiết tha lòng”: Cảnh và người đều gặp nhau ở nỗi buồn và niềm đau</div><div>- Cảnh vốn là vật vô tri nhưng tâm trạng của con người đã nhuốm sầu cảnh vật.<br><br></div><ul><li>“Cành cây sương đượm”: Gợi sự buốt giá, lạnh lẽo</li><li>“Tiếng trùng mưa phun”: Sự ảo não, hoang vắng, nghe được cả tiếng côn trùng kêu rả rích.</li></ul><div>=&gt; Tâm trạng cô đơn, thổn thức, nỗi nhớ thương, khát khao được đồng cảm nhưng vô vọng, người chinh phụ đã hướng nỗi buồn ra ngoài cảnh vật khiến nó cũng trở nên não nề.</div><div><strong>* Đặc sắc nghệ thuật:<br></strong><br></div><ul><li>Sử dụng các biện pháp tu từ ẩn dụ, điệp liên hoàn, từ láy</li><li>Thủ pháp tả cảnh ngụ tình</li><li>Nghệ thuật miêu tả nội tâm tinh tế</li><li>Hình ảnh ước lệ</li><li>Giọng điệu da diết, buồn thương</li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-03-22 01:29:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2106463000</guid>
      </item>
      <item>
         <title>TỔ 1 - 10CA2</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2106472605</link>
         <description><![CDATA[<div><em>Lòng này gửi gió đông có tiện?</em></div><div><em>Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.</em></div><div><em>Non Yên dù chẳng tới miền,</em></div><div><em>Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời.</em></div><div><em>Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,</em></div><div><em>Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.</em></div><div><em>Cảnh buồn người thiết tha lòng,</em></div><div><em>Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.</em></div><div><br></div><ul><li>“Gió Đông, non Yên”: Hình ảnh ước lệ gợi hình ảnh người vợ phải mượn ngọn gió Đông mới có thể truyền tải được lòng thương nhớ chồng, trân trọng quý như “nghìn vàng”.</li><li>“Đường lên bằng trời”: Xa vời dường như không có điểm cuối</li></ul><div>→ Nhấn mạnh sự xa cách trùng khơi của người chinh phụ, thể hiện tình yêu và nỗi nhớ da diết của người chinh phụ.<br><br></div><ul><li>“thăm thẳm, đau đáu” : từ láy cực tả cung bậc của nỗi nhớ, thăm thẳm là nỗi nhớ sâu, dai dẳng, triền miên, đáu đáu là nỗi nhớ gắn với nỗi đau, nỗi sầu</li><li>“Cảnh buồn, thiết tha lòng”: Tả cảnh ngụ tình, cảnh buồn, lòng người đau xót, quặn thắt.</li><li>“Cành cây sương đượm”: Gợi sự buốt giá, lạnh lẽo</li><li>“Tiếng trùng mưa phun”: Sự ảo não, hoang vắng, nghe được cả tiếng côn trùng kêu rả rích.</li></ul><div>→ Tâm trạng cô đơn, thổn thức, nỗi nhớ thương, khát khao được đồng cảm nhưng vô vọng.</div><div><br><br></div><div>-<strong> Nghệ thuật.<br></strong><br></div><ul><li>Từ láy gợi hình gợi cảm: thăm thẳm, đau đáu, thiết tha</li><li>Hình ảnh ước lệ: gió đông, non Yên.</li><li>So sánh: “đường lên bằng trời”</li><li>Điệp từ: “nhớ”, “gửi”, “thăm thẳm”</li><li>Điệp ngữ bắc cầu: “non Yên –non Yên”, “bằng trời - trời thăm thẳm”.</li><li>Tả cảnh ngụ tình: “Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun”.</li></ul><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-03-22 01:35:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2106472605</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tổ 3 - 10CA2</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2106487773</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Nỗi nhớ thương người chinh phu ở phương xa của người chinh phụ: 8 câu cuối:</strong></div><div><em>“Lòng này gửi gió đông có tiện?</em></div><div><em>Nghìn vàng xin gửi đến non Yên</em></div><div><em>Non Yên dù chẳng tới miền,</em></div><div><em>Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.</em></div><div><em>Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,</em></div><div><em>Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.</em></div><div><em>Cảnh buồn người thiết tha lòng</em></div><div><em>Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phùn.”</em></div><div><br></div><div>-<strong> Câu hỏi tu từ:</strong> <strong>“Lòng này gửi gió đông có tiện ?”</strong></div><ul><li>Hình ảnh thiên nhiên: “gió đông”: Gió mùa xuân mang theo hơi ấm và sự sống, gió báo tin vui, thể hiện sự sum họp, đoàn viên.</li><li>Nàng tìm đến thiên nhiên, nhưng thiên nhiên lại cho thấy khoảng cách vời vợi giữa nàng và chồng. Non Yên – nơi chiến trận ngoài biên ải xa xôi, khoảng cách xa vời khôn thấu.&nbsp;</li><li>Sau những day dứt của một trạng thái bế tắc cao độ, người chinh phụ chợt nảy ra một ý nghĩ rất chân thành mà cũng rất nên thơ: nhờ ngọn gió xuân gửi hộ lòng mình tới người chồng ở nơi xa, đang từng ngày từng giờ tập trung chinh chiến ở sa trường. Nhưng chàng liệu có thể nhận được chăng?&nbsp;</li></ul><div>→ Đây chỉ là giải pháp tưởng tượng, không thể thực hiện.</div><div><br><strong>- Phép điệp, đối:</strong></div><div><em>Nghìn vàng xin gửi đến</em><strong><em> non Yên</em></strong></div><div><strong><em>Non Yên</em></strong><em> dù chẳng tới miền</em></div><ul><li>“Non yên - non yên, trời - trời”: phép điệp liên hoàn&nbsp;</li><li>Điệp từ: “nhớ”, “gửi”, “thăm thẳm”</li></ul><div>=&gt; Tác dụng : Nhấn mạnh khoảng cách xa xôi, trắc trở không gì có thể khỏa lấp, đồng thời cực tả nỗi nhớ vời vợi , đau đáu trong lòng người chinh phụ</div><div>→ Câu thơ ghi lại một cách tinh tế, cảm động sắc thái nỗi nhớ, nỗi nhớ mỗi lúc một tăng tiến, dồn nén trở thành nỗi đau xót xa.</div><div>→ Sự tinh tế, nhạy cảm, đồng điệu của tác giả.</div><div><br><strong>- Từ ngữ: từ láy, tính từ</strong></div><ul><li>Tác giả lựa chọn và dùng từ rất kĩ, rất đắt, đặc biệt là các tính từ là từ láy làm nổi bật tính chất của sự vật : eo óc, phất phơ, đằng đẵng, dằng dặc, mê mải, châu chan, thăm thẳm, đau đáu…</li><li>Thăm thẳm, đau đáu, thiết tha: Từ láy gợi hình gợi cảm cực tả cung bậc của nỗi nhớ, thăm thẳm là nỗi nhớ sâu, dai dẳng, triền miên, đáu đáu là nỗi nhớ gắn với nỗi đau, nỗi sầu.&nbsp;</li></ul><div><br><strong>- Ước lệ</strong></div><div>Hình ảnh ước lệ: gió đông, non Yên</div><ul><li>Gió đông: gió xuân tươi mát làm dịu đi cảnh vật và lòng người - người chinh phu vẫn xa xôi.&nbsp;</li><li>Non Yên: địa danh người chồng chinh chiến.</li></ul><div>=&gt; Gợi sự nhớ nhung da diết, bồi hồi, khôn nguôi, sự xa cách muôn trùng phương giữa người chinh phu và người chinh phụ. Nỗi nhớ ấy đã tràn ra cả không gian và thời gian rộng lớn.</div><div>--&gt; Bút pháp ước lệ tượng trưng được nâng tầm khi Đặng Trần Côn đã chắt lọc từ kho tàng văn thơ chữ Hán cổ ra những câu phù hợp nhất với ý tứ của mình và dụng công sắp xếp thành kết cấu hoàn chỉnh, như một sáng tạo mới mẻ.</div><div><br></div><div><strong>- Nhịp điệu, thể thơ song thất lục bát</strong>: sử dụng Ngâm khúc - thể loại thơ trữ tình trường thiên thuần túy của Việt Nam được, viết bằng thể thơ song thất lục bát, kết hợp với phương thức trữ tình dài hơi, sử dụng nhiều tiểu đối. Nhịp điệu nhẹ nhàng, ngắt nghỉ hợp lí, kết hợp cùng giọng thơ trầm buồn, khắc khoải, da diết, trầm lắng thể hiện được nhiều cung bậc cảm xúc nhớ nhung, sầu muộn, ai oán, xót thương của người chinh phụ<br><br><strong>-</strong> <strong>Hình ảnh không gian, hình ảnh cảnh vật<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; Không gian:</strong></div><ul><li>"Non yên – non yên, trời – trời" -&gt; thủ pháp điệp liên hoàn nhấn mạnh khoảng cách xa xôi, trắc trở không gì có thể khỏa lấp nỗi nhớ vời vợi, đau đáu trong lòng người chinh phụ.</li><li>"thăm thẳm, đau đáu" : từ láy cực tả cung bậc của nỗi nhớ, thăm thẳm là nỗi nhớ sâu, dai dẳng, triền miên, đáu đáu là nỗi nhớ gắn với nỗi đau, nỗi sầu. -&gt; Nỗi nhớ triền miên trong thời gian vô tận được cụ thể hóa bằng không gian xa vời, khắc họa nỗi nhớ khắc khoải dằng dặc.</li><li>"Đường lên bằng trời": Xa vời dường như không có điểm cuối</li></ul><div>=&gt; Nhấn mạnh sự xa cách trùng khơi của người chinh phụ, thể hiện tình yêu và nỗi nhớ da diết của người chinh phụ. Sắc thái nỗi nhớ mỗi lúc một tăng tiến, dồn nén trở thành nỗi đau<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>Hình ảnh thiên nhiên:</strong></div><ul><li>Gió đông: gió mùa xuân mang theo hơi ấm và sự sống, gió báo tin vui, thể hiện sự sum họp, đoàn viên.</li><li>Non Yên: Điển tích chỉ núi Yên Nhiên, nơi biên ải phương bắc xa xôi – nơi người chồng đang chinh chiến.</li><li>"Nghìn vàng": Hình ảnh ẩn dụ cho tấm lòng của người chinh phụ (buồn tủi, cô đơn, lo lắng, trống vắng, hi vọng rồi lại thất vọng)</li></ul><div>-&gt; Ước muốn của người chinh phụ gửi gắm niềm hi vọng, thương nhớ vào ngọn gió xuân mang đến nơi chiến trường xa xôi để người chinh phu thấu hiểu và trở về cùng nàng.</div><div>=&gt; Không gian vô tận, mênh mông, không giới hạn, không chỉ là không gian vô tận ngăn cách hai vợ chồng, mà còn là nỗi nhớ không nguôi, không tính đếm được của người chinh phụ, là tình yêu thương của người vợ nơi quê nhà.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>Mối quan hệ giữa ngoại cảnh và tâm cảnh</strong></div><div>- "Cảnh buồn", "người thiết tha lòng": Cảnh và người đều gặp nhau ở nỗi buồn và niềm đau</div><div>- Cảnh vốn là vật vô tri nhưng tâm trạng của con người đã nhuốm sầu cảnh vật.</div><ul><li>&nbsp; &nbsp; &nbsp;"Cành cây sương đượm": Gợi sự buốt giá, lạnh lẽo</li><li>&nbsp; &nbsp; &nbsp;"Tiếng trùng mưa phun": Sự ảo não, hoang vắng, nghe được cả tiếng côn trùng kêu rå rích.</li></ul><div>=&gt; Tâm trạng cô đơn, thổn thức, nỗi nhớ thương, khát khao được đồng cảm nhưng vô vọng, người chinh phụ đã hướng nỗi buồn ra ngoài cảnh vật khiến nó cũng trở nên não nề.<br><br></div><div><strong>Tiểu kết</strong></div><div>- Nội dung: Khắc họa nỗi buồn, nỗi đau, nỗi nhớ của người chinh phụ, ẩn sau đó là sự đồng cảm, trân trọng của tác giả đối với số phận và phẩm hạnh người phụ nữ</div><div>- Nghệ thuật:</div><div>Sử dụng các biện pháp tu từ ẩn dụ, điệp liên hoàn, từ láy</div><div>Thủ pháp tả cảnh ngụ tình</div><div>Giọng điệu da diết, buồn thương</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-03-22 01:45:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2106487773</guid>
      </item>
      <item>
         <title>đề 2021</title>
         <author>thanhtran6</author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2107260018</link>
         <description><![CDATA[<div><em>Bạn có xem quê hương mình khác với quê hương của người khác, hay mọi xứ sở đều thiêng liêng đối với bạn?</em></div><div><em>Thật ra, bạn vẫn luôn ở nhà mình ngay cả khi bạn đang đứng ở bất kỳ vị trí nào trên hành tinh này. Tất cả chúng ta vẫn đang cùng nhau chia sẻ mọi thứ trên trái đất, môi trường và cả bầu không khí chúng ta hít thở. Hãy chăm sóc và giữ gìn hành tinh này vì đó là mái nhà thân yêu của bạn, để cho các thế hệ mai sau – bất kể màu da, sắc tộc, tôn giáo, quốc tịch – có thể phát triển một cách trọn vẹn trong tương lai.</em></div><div><em>Hãy bắt đầu xây dựng mái nhà chung từ những điều gần gũi nhất, bằng những việc đơn giản nhất như không hút thuốc, trồng thêm cây xanh, không đối xử thô bạo với động vật… Một khi đã phá dỡ được hàng rào ngăn cách giữa con người với thiên nhiên, với vạn vật, chúng ta mới có thể thụ hưởng một cuộc sống bình yên.</em></div><div><em>Tôi tin rằng, đến một lúc nào đó, tất cả mọi người sống trên hành tinh này đều nhìn nhận nhau như những thành viên trong cùng một gia đình, và yêu thương nhau như chính bản thân. Có lẽ sẽ đến một ngày, chúng ta nhận ra rằng tất cả đều là anh em một nhà, và sẽ luôn được an toàn khi biết chấp nhận, nương tựa vào nhau.</em></div><div><em>Không phải ngẫu nhiên mà hai từ “loài” và “người” luôn song hành khắng khít để hình thành nên gia đình nhân loại. Vậy, chúng ta hãy sống cho đúng với danh xưng của mình. Tất cả chúng ta chỉ là một bản thể: nhân loại. Đã đến lúc thôi để ý đến những khác biệt bề ngoài, hãy nhận ra rằng tất cả chúng ta đều chung dòng máu đỏ.</em></div><div>(Trích <em>Món quà cuộc sống</em>, Dr. Bernie S. Siegel,&nbsp;<br> NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2020, tr. 26-27)</div><div><strong>Thực hiện các yêu cầu sau:</strong></div><div><strong>Câu 1.</strong> Theo đoạn trích, mục đích của việc <em>chăm sóc và giữ gìn hành tinh này</em> là gì?</div><div><strong>Câu 2.</strong> Chỉ ra <em>những điều gần gũi, những việc đơn giản</em> nên làm để <em>bắt đầu xây dựng mái nhà chung</em> được nêu trong đoạn trích.</div><div><strong>Câu 3.</strong> Anh/Chị hiểu như thế nào về nhận định <em>“Thật ra, bạn vẫn luôn ở nhà mình ngay cả khi bạn đang đứng ở bất kỳ vị trí nào trên hành tinh này”</em> trong đoạn trích?</div><div><strong>Câu 4.</strong> Anh/Chị có đồng tình với ý kiến trong đoạn trích <em>“Đã đến lúc thôi để ý đến những khác biệt bề ngoài, hãy nhận ra rằng tất cả chúng ta đều chung dòng máu đỏ”</em> không? Vì sao?<br><strong>II. LÀM VĂN (7,0 điểm)</strong></div><div><strong>Câu 1 </strong><strong><em>(2,0 điểm)</em></strong></div><div>Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về sự cần thiết của tinh thần hợp tác trong cuộc sống.<br><strong>ĐÁP ÁN</strong></div><div><strong>PHẦN I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)</strong></div><div><strong>Câu 1.(0,75)</strong></div><div>Mục đích của việc chăm sóc và giữ gìn hành tinh này: để cho các thể hệ mai sau – bất kể màu da, sắc tộc, tôn giáo, quốc tịch – có thể phát triển một cách trọn vẹn trong tương lai.</div><div>Câu 2. (0,75)</div><div><em>Những điều gần gũi, những việc đơn giản</em> nên làm để <em>bắt đầu xây dựng mái nhà chung: không hút thuốc, trồng thêm cây xanh, không đối xử thô bạo với động vật.</em></div><div><em>Câu 3. (1,0)&nbsp;</em></div><div>Hiểu về nhận định <em>“Thật ra, bạn vẫn luôn ở nhà mình ngay cả khi bạn đang đứng ở bất kỳ vị trí nào trên hành tinh này”:</em></div><div>- Hành tinh này là mái nhà chung của tất cả mọi người.</div><div>- Đứng ở bất kỳ đâu trên hành tinh cũng thấy thân thuộc như ở nhà mình.</div><div>Câu 4. (0,5)</div><div>- Bày tỏ quan điểm của bản thân: có thể đồng tình/không đồng tình/đồng tình một phần.</div><div>- Lí giải hợp lí, thuyết phục.</div><div><strong>PHẦN II. LÀM VĂN (7.0 điểm)</strong></div><div><strong>Câu 1. Viết đoạn văn về sự cần thiết của tinh thần hợp tác trong cuộc sống (2.0 điểm)</strong></div><div><em>a. Bảo đảm yêu cầu về hình thức đoạn văn (0.25 điểm)</em></div><div>Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành.</div><div><em>b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0.25 điểm)</em></div><div>Sự cần thiết của tinh thần hợp tác trong cuộc sống.</div><div><em>c. Triển khai vấn đề nghị luận (1.0 điểm)</em></div><div>Thí sinh có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng phải làm rõ sự cần thiết của tinh thần hợp tác trong cuộc sống.&nbsp;</div><div>Có thể theo hướng:</div><div>Tinh thần hợp tác cần thiết để cá nhân, tổ chức phát huy ưu thế, gia tăng sức mạnh; tăng cường đoàn kết, đạt được những mục tiêu chung; từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội.</div><div><em>d. Chính tả, ngữ pháp (0.25 điểm)</em></div><div>Bảo đảm chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.</div><div><em>e. Sáng tạo (0.25 điểm)&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;</em></div><div>Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-03-22 11:10:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2107260018</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Cao</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2107266345</link>
         <description><![CDATA[<div>Câu 1<br>Theo đoạn trích, mục đích của việc <em>chăm sóc và giữ gìn hành tinh này</em> là đó "<em>mái nhà thân yêu của bạn, để cho các thế hệ mai sau – bất kể màu da, sắc tộc, tôn giáo, quốc tịch – có thể phát triển một cách trọn vẹn trong tương lai."<br>Câu 2<br></em>&nbsp;<em>những điều gần gũi, những việc đơn giản</em> nên làm để <em>bắt đầu xây dựng mái nhà chung được nêu trong đoạn trích "như không hút thuốc, trồng thêm cây xanh, không đối xử thô bạo với động vật… "<br>Câu 3<br>Câu này có ý chỉ rằng: Mọi nơi trên Trái Đất này đều là nhà của chúng ta. Vì đây là nơi sinh sống của chúng ta và toàn thể loài người.&nbsp;<br>Câu 4<br>Có đồng tình, vì Trái Đất như một ngôi nhà lớn và tất cả mọi người như anh chị em với nhau, và vì mọi hành động của chúng ta đều để lại kết quả trong chính ngôi nhà của mình, là Trái Đất này, vì thế chúng ta phải đoàn kết và bỏ qua những khác biệt bề ngoài. Từ đó, cùng sống với nhau như một đại gia đình thật sự.</em></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-03-22 11:14:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2107266345</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Cường</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2107282338</link>
         <description><![CDATA[<div>câu 1:<br>theo đoạn trích, mục đích của việc chăm sóc và giữ gìn hành tinh vì đó là mái nhà thân yêu của bạn, để cho các thế hệ mai sau-bất kể màu da, sắc tộc, tôn giáo, quốc tịch-có thể phát triển một cách trọn vẹn trong tương lai.<br><br>câu 2:<br>những điều gần gũi, trong việc đơn giản nên làm để bắt đầu xây dựng mái nhà chung là: ko hút thuốc, trồng thêm cây xanh , không đối xử thô bạo với động vật..<br><br>câu 3:<br>câu nói "thật ra, bạn vẫn luôn...này" được tôi hiểu rằng là dù đứng ở bất kì vị trí nào trên hành tinh này thì ta đều chung một mái nhà, đều có trách nhiệm xây dựng và bảo vệ gìn giưx ngôi nhà ấy<br>câu 4:<br>tôi đồng ý, bởi vì chúng ta cho dù có khác biệt về màu da, dân tộc, quốc tịch hay tôn giáo thì chúng ta đều là người, đều sinh sông chung một ngôi nhà-Trái đất, do đó mỗi người đều xứng đáng có được quyền bình đẳng, tự do và có nghĩa vụ là gìn giữ, xây dựng hành tinh của mình</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-03-22 11:26:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2107282338</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hiếu</title>
         <author>hh1004200612</author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2107287963</link>
         <description><![CDATA[<div>Câu 1 <br>&nbsp;Mục đích của việc chăm sóc và giữ gìn hành tinh này là để cho các thế hệ mai sau-bất kể màu da , sắc tộc , tôn giáo , quốc tịch- có thể phát triển một cách trọn vẹn trong tương lai<br>Câu 2 <br>Những điều gần gũi , những việc đơn giản nên làm để bắt đầu xây dựng mái nhà chung được nêu trong đoạn trích là không hút thuốc , trồng thêm cây xanh , không đối xử thô bạo với động vật ....<br>Câu 3<br>&nbsp;Theo em , nhận định <em>“Thật ra, bạn vẫn luôn ở nhà mình ngay cả khi bạn đang đứng ở bất kỳ vị trí nào trên hành tinh này”</em>&nbsp; ý&nbsp; muốn truyền tải rằng nhân loại có một và chỉ một ngôi nhà chung chính là Trái Đất , nhắc nhở&nbsp; chúng ta phải có ý thức về việc bảo vệ , gìn giữ hành tinh ấy<br>Câu 4<br>Em hoàn toàn đồng tình với ý kiến&nbsp; <em>“Đã đến lúc thôi để ý đến những khác biệt bề ngoài, hãy nhận ra rằng tất cả chúng ta đều chung dòng máu đỏ” . Vì sự&nbsp; khác biệt về vẻ bề ngoài là một trong những nét đẹp độc đáo mà tạo hóa trao tặng nhân loại , đó không phải là cơ sở để&nbsp; con người&nbsp; có sự phân biệt đối xử với nhau , thậm chí là phán xét về chính&nbsp; những đồng loại&nbsp; mang sự khác biệt ấy . Chúng ta đều mang danh xưng là "con người" , đều mang dòng máu đỏ , thế nên hãy cùng mang trách nhiệm bảo vệ và giữ gìn Trái Đất hơn từng ngày , không phải những miệt thị , phân biệt lẫn nhau<br>Phần viết đoạn&nbsp;<br></em>Cuộc sống ngày nay của chúng ta rất khó đạt được những thành tựu lớn&nbsp; nếu chỉ đơn độc một mình mà mất đi sự hợp tác . Nhà vật lý&nbsp; Voltaire từng nói rằng : “Chúng ta ít khi nào tự hào khi chỉ có một mình.” càng cho ta nhận thức rõ ràng hơn về sự cần thiết của tinh thần hợp tác trong cuộc sống . Hợp tác&nbsp; là việc chúng ta cùng nhau trao đổi, tìm ra giải pháp, định hướng phù hợp cho tập thể và hướng đến những kết quả tốt nhất&nbsp; . Tinh thần hợp tác , đoàn kết đưa con người lại gần nhau , xóa bỏ những rào cản cá nhân , đưa ra tầm nhìn chung cho tập thể . Khi cùng nhau hợp tác , mỗi con người trong tập thể được phép bộc lộ những điểm mạnh cũng như khuyết điểm của mình và có thể được bù đắp bởi những thành viên khác . Trong tập thể , mỗi cá nhân sẽ cảm nhận được trách nhiệm của bản thân với tập thể và hoàn thiện nhiệm vụ trọn vẹn nhất . Tinh thần hợp tác ,&nbsp; đoàn kết còn giúp con người vương xa hơn khả năng vốn bị giới hạn khi chỉ một mình thực hiện ,&nbsp; đó là sức mạnh chỉ khi có sự chung sức , đồng lòng của các thành viên trong tập thể . Sự hợp tác chính là một nét đẹp của cuộc sống được thể hiện qua các thành tựu đầy to lớn , chắc hẳn nhiều người nhớ đến ngày 7/06/2010 – ngày cố giám đốc điều hành Apple , Steve Jobs giới thiệu đến thế giới chiếc Iphone 4 , chiếc điện thoại đánh dấu cho sự đi lên của hãng đồ dùng điện tử nổi tiếng . Đó là thành quả sau những nổ lực&nbsp; của cả một tập thể trong đó có Jobs&nbsp; cùng nhau đưa ra sự đột phá, đổi mới cho sản phẩm của Apple và là tiền đề cho vị trí đứng đầu trong ngành công nghiệp điện tử của họ ngày nay . Giá trị và sự cần thiết của tinh thần hợp tác sẽ không bao giờ thay đổi theo thời gian vì đó là mối dây kết nối con người lại với nhau và giúp tạo nên thật nhiều giá trị cho cuộc sống .<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-03-22 11:30:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2107287963</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tổ trưởng tổ 2 lớp 10 CTR-N:&gt;</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135647678</link>
         <description><![CDATA[<div>MB: Trong dòng chảy của văn học trung đại VN, những sáng tác của tác giả Đặng Trần Côn đã mang lại cho bạn đọc những câu truyện đậm chất tình yêu đôi lứa. Và trong số đó Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ trích Chinh phụ ngâm là 1 trong các tác phẩm kiệt xuất nhất của ông về thể loại này.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-08 02:15:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135647678</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vân Quỳnh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135652275</link>
         <description><![CDATA[<div>Nền văn học Việt Nam từ xa xưa cho đến nay có vô vàn những tác phẩm, những đề tài thú vị. Chúng luôn mang đến cho người đọc biết bao cảm xúc. Và đặc biệt, hình ảnh người phụ nữ xưa đã từ lâu trở thành một đề tài quen thuộc trong kho tàng văn học Việt Nam. Viết về đề tài này, bài thơ “Tình cảng lẻ loi của người chinh phụ” của Đặng Trần Côn là một trong những đại diện tiêu biểu, nêu lên vẻ đẹp tâm hồn, nỗi lòng của người phụ nữ:</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-08 02:19:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135652275</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vhan</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135655640</link>
         <description><![CDATA[<div>Hình ảnh người phụ nữ trong văn học trung đại luôn xuất hiện và gắn liền với hình tượng chịu nhiều bất công khổ đau. Đó là nàng Kiều với bi kịch tình duyên dang dở bởi sóng gió cuộc đời, là Hồ Xuân Hương gai góc nhưng không thể thoát khỏi bi kịch tình yêu không vẹn toàn bởi kiếp chồng chung. Cũng nói về bi kịch số phận người phụ nữ, Đặng Trần Côn lại hướng ngòi bút của mình về người chinh phụ với bi kịch tình duyên dang dở bởi loạn lạc chiến tranh. Những chiến trận không chỉ có máu và sự hy sinh của người đàn ông ra trẠn mà còn là niềm đau, nỗi nhớ khôn nguôi của những người mẹ, người vợ ở lại… Tình cảnh éo le ấy đã được khắc hoạ rõ nét trong tác phẩm Chinh phụ ngâm,&nbsp; đặc biệt trong đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-08 02:22:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135655640</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Uyển Dinh</title>
         <author>huynhuyendinh1206</author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135656891</link>
         <description><![CDATA[<div>Đặng Trần Côn là một tác giả văn học nổi tiếng sống vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII. Đây là một giai đoạn lịch sử đầy biến động nên của đất nước khi mà chiến tranh đã làm chia cắt bao gia đình. “Chinh phụ ngâm khúc” là một trong những kiệt tác của danh sĩ, nhà thơ Đặng Trần Côn.Tác phẩm được viết bằng chữ Hán, được mọi người biết đến qua bản tương truyền của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm.Qua đó phản ánh thái độ oán ghét chiến tranh phong kiến phi nghĩa, đặc biệt là đề cao quyền sống cùng khao khát tình yêu và hạnh phúc lứa đôi của con người.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-08 02:23:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135656891</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhật Kha</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135658283</link>
         <description><![CDATA[<div>Ra đời vào nửa đầu thế kỉ XVIII với nguyên tác bằng Hán văn của Đặng Trần Côn, Chinh Phụ Ngâm đã mau chóng đi vào lòng mọi tầng lớp quần chúng. Trải qua hơn hai thế kỉ rưỡi cho đến nay, Chinh Phụ Ngâm luôn giữ nguyên giá trị của một viên ngọc văn chương sáng ngời, một sản phẩm đáng tự hào của xứ sở vốn "nổi tiếng thi thư". Trong đó, đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ khắc hoạ rõ tâm trạng cô đơn của người vợ nhớ chồng ra trận và nghệ thuật miêu tả tâm trạng bậc thầy của hai tác giả Đặng - Đoàn, với nghệ thuật diễn Nôm đặc biệt xuất sắc của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-08 02:24:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135658283</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Ngọc Doanh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135662427</link>
         <description><![CDATA[<div>Trong&nbsp;xã hội phong kiến đầy những bất công, cuộc đời của người phụ nữ luôn gắn liền với những nỗi đau khổ và bất hạnh. Cho dù có phẩm chất cao quý hay tốt đẹp đến đâu thì cuộc đời, số phận của họ vẫn tràn đầy những bi kịch. Phải chăng bất cứ những cuộc chia li nào thì người ở lại luôn là người đau khổ nhất và đặc biệt nhất chính là do những kịch tấn chiến tranh phong kiến gây ra. Thông qua tác phẩm " tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ " tác giả Đặng Trần Côn đã cảm nhận được những nỗi đau khổ của người chinh phụ phải sống trong tình cảnh cô đơn và mong ngóng sự trở về của người chinh phu.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-08 02:27:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135662427</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thanh Nghi</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135664062</link>
         <description><![CDATA[<div>MB: Văn học thế kỉ XVIII là văn học của những tiếng nói cảm thương, cảm thông cho số phận bất hạnh của người phụ nữ. Và các tác phẩm văn học được ra đời trong dòng chảy lịch sử nhiều biến động. Ngoài kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du ta cũng không thể không nhắc đến tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn với bản dịch nôm của Đoàn Thị Điểm. Tác phẩm là tiếng lòng thiết tha, thổn thức của người phụ nữ cô đơn, lẻ bóng khi có chồng phải ra chiến trận. Tâm trạng của nhân vật được thể hiện rõ nhất qua đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-08 02:29:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135664062</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Kim Phụng </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135664143</link>
         <description><![CDATA[<div>MB : Từ thời xa xưa, vốn đã có nhiều chiến tranh xảy ra liên miên, triểu đình cất quân đi đánh giặc, nhiều trai tráng phải từ giã gia đình mà ra trận. Ở nhà chỉ còn lại người vợ, người mẹ với tình cảnh lẻ loi, đơn chiếc, Đặng Trần Côn như hiểu và cảm động trước nỗi buồn ấy nên đã viết ‘ Chinh phụ ngâm ‘. Chinh phụ ngâm nói về sự oán ghét chiến tranh phi nghĩa đặc biệt là nói sự khao khát hạnh phúc, tình cảm lứa đôi </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-08 02:29:04 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135664143</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Mộc Sâm </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135664339</link>
         <description><![CDATA[<div>Văn học như một thiên thần với sứ mệnh bảo vệ và chở che cho con người. Bài thơ&nbsp; "Tình cảm lẻ loi của người chinh phụ"&nbsp; của Đặng Trần Côn là tiếng lòng thiết tha thổn thức, sự ngóng trông của người chinh phụ khi có chồng phải đi chinh chiến nơi xa trận, tác phẩm không chỉ mang ý nghĩa lớn về giá trị văn chương, tác phẩm còn mang ý nghĩa nhân đạo lớn lao.<br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-08 02:29:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135664339</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thiên Kim</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135665242</link>
         <description><![CDATA[<div>MB: Người phụ nữ từ lâu đã đã trở thành một chủ đề lớn của nền văn học Việt.Qua những áng thơ, áng văn hình ảnh người phụ nữ hiện lên với những nỗi niềm, tình yêu sâu sắc vượt thời gian.Trong đó đặc biệt là tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn lấy bối cảnh những cuộc chiến tranh phi nghĩa diễn ra vào cuối thế kỉ XVIII. Bằng việc khắc họa hình ảnh nhớ thương, nỗi khổ đau của người chinh phụ khi chồng ra trận ở miền biên ải xa xôi, tác giả đã cất tiếng nói đồng cảm của mình với những người phụ nữ trong xã hội phong kiến.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-08 02:30:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135665242</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Ngô Trúc Nhã</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135665586</link>
         <description><![CDATA[<div>Ở thế kỉ XVIII chủ đề về những tiếng nói cảm thương, sự cảm thông cho số phận bất hạnh của người phụ nữ được nhiều tác giả thể hiện. Như kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du, ngoài ra còn tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn. Tác phẩm của tác giả Đặng Trần Côn đã cất lên tiếng lòng thiết tha, thổn thức của người phụ nữ khi có chồng phải ra chiến trận. Tâm trạng của nhân vật được thể hiện sâu sắc và rõ nhất qua đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-08 02:30:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135665586</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Huỳnh Dân Tịnh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135667550</link>
         <description><![CDATA[<div>Số phận nữ nhi thời phong kiến từ lâu đã trở thành đề tài cho những người cầm bút&nbsp; tạo nên những tác phẩm để đời, mang sứ mệnh nói lên nỗi niềm người phụ nữ đương thời. Điển hình là “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương và đặc biệt là “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” của tác giả Đặng Trần Côn-một tác phẩm ra đời vào nửa đầu thế kỷ 18, thể hiện rõ nét tâm trạng của người chinh phụ mong ngóng người thương ở nơi biên cảnh, đặc biệt qua đoạn trích:<br>“…….”</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-08 02:31:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135667550</guid>
      </item>
      <item>
         <title>THẦY THANH</title>
         <author>thanhtran6</author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135670729</link>
         <description><![CDATA[<div>MỞ BÀI: dẫn dắt =&gt; nêu vấn đề nghị luận: tâm trạng người chinh phụ =&gt; trích đoạn thơ: câu đầu... câu cuối. (5 - 7 - 10 dòng)<br>THÂN BÀI:<br>- Giới thiệu khái quát về tác giả, dịch giả, tác phẩm, đoạn trích.&nbsp;<br>-&nbsp; Cảm nhận tâm trạng người chinh phụ qua đoạn thơ: Từ việc phân tích từ ngữ, hình ảnh, bút pháp nghệ thuật,… chỉ ra được:</div><div>+ Nỗi cô đơn, lẻ loi trong cảnh vật và sự sống nhuốm vẻ tang thương, vô cảm, chập chờn bất định.</div><div>+ Nỗi sầu muộn trào dâng như biển lớn mênh mang trong thời gian chờ đợi đằng đẵng như cả năm trường.</div><div>+ Nỗi gắng gượng, chán chường, buông xuôi trong dự cảm về một hiện thực bất như ý.</div><div>+ Nỗi nhớ thương triền miên, day dứt, ngày một tăng tiến, rộng mở trong khoảng cách xa xăm mờ mịt, không gian ngày một vô tận vô cùng.&nbsp;<br>KẾT BÀI: khẳng định lại vấn đề nghị luận.<br>- Đánh giá, khái quát:<br><br></div><div>+ Nghệ thuật: bút pháp tả cảnh ngụ tình; miêu tả tinh tế nội tâm nhân vật; bút pháp ước lệ; ngôn từ chọn lọc trau chuốt; nhiều biện pháp tu từ đặc sắc (điệp từ, điệp ngữ liên hoàn, câu hỏi tu từ); thể thơ song thất lục bát với âm điệu oán trách, than vãn, sầu muộn;…<br><br></div><div>+ Nội dung: Tâm trạng của người chinh phụ đã thể hiện rất rõ sự ý thức cá nhân về quyền sống, quyền hưởng niềm vui, hạnh phúc lứa đôi; Đồng thời, đó còn là sự tố cáo hiện thực đã đẩy con người vào tình cảnh xa xót, bi kịch; Đoạn trích chính là tiếng nói nhân văn cao cả và nhân đạo cao đẹp mà tác giả, dịch giả gửi gắm trong tác phẩm.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-08 02:34:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135670729</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thầy Thanh</title>
         <author>thanhtran6</author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135692475</link>
         <description><![CDATA[<div>Cảm nhận tâm trạng người chinh phụ trong đoạn thơ sau:<br>8 câu đầu<br>Qua đó, nhận xét về tiếng nói nhân đạo trong đoạn trích.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-08 02:53:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135692475</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Huỳnh Quốc Huy</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135708756</link>
         <description><![CDATA[<div>Nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng gắn liền với cuộc sống. Khi cuộc sống xinh đẹp văn học rạng rỡ vui tươi, và khi cuộc sống ảm đạm văn học cũng mang nỗi bi sầu ấy.&nbsp;<em>Chinh phụ ngâm khúc&nbsp;</em>chính&nbsp;là tiếng lòng của những người phụ nữ vì chồng chinh chiến nơi xa trường mà phải cô đơn, trông ngóng tin chồng. Đó chính là tiếng nói nhân đạo của nhà thơ, được thốt lên qua một người chinh phụ lẻ loi.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-08 03:07:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135708756</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135710276</link>
         <description><![CDATA[<div>Văn học Việt Nam đã từng chứng kiến biết bao những cuộc chia li, tiễn biệt đầy lưu luyến. Và ở thế kỉ thứ XVIII, “Chinh phụ ngâm” một tác phẩm lấy từ đề tài chia li trong chiến tranh của Đặng Trần Côn đã cho chúng ta thấy được một cuộc tiễn biệt thấm đẫm tâm trạng và đằng sau đó là nỗi đau của người phụ nữ có chồng đi chinh chiến. Tám câu đầu trong đoạn&nbsp; trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” đã làm nổi bật lên nỗi lẻ loi cô đơn cùng những nhớ mong, và có cả những khao khát hạnh phúc của người chinh phụ. Qua đó, ta có cho mình những đánh giá khách quan về tiếng nói của nhân vật.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-08 03:08:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135710276</guid>
      </item>
      <item>
         <title>10CA2-09- Nguyễn Trang Ngọc Châu</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135714672</link>
         <description><![CDATA[<div>Mở bài:&nbsp;<br>“Chinh phụ ngâm” là một trong những đỉnh cao của văn học Việt Nam thế kỷ XVIII do Đặng Trần Côn sáng tác bằng chữ Hán, Đoàn Thị Điểm diễn Nôm. Dưới trí tuệ của Đoàn Thị Điểm - người “tài năng nương tử, xưa hiếm nay không, xuất khẩu thành chương, thông minh bẩm chất” mà tuyệt tác Hán ngôn “Chinh phụ ngâm khúc” một lần nữa thăng hoa. Vào nửa đầu thế kỷ XVIII, chế độ phong kiến lâm vào khủng hoảng trầm trọng, các tập đoàn phong kiến phân tranh quyền lực xâu xé lẫn nhau. Khắp nơi diễn ra giao tranh, khói lửa không ngừng khiến cho nhân dân lâm vào cảnh khốn cùng. Nông dân bất bình, nổi dậy khởi nghĩa khắp nơi. Cảm thương nỗi thống khổ của người dân, Đặng Trần Côn rơi lệ viết “Chinh phụ ngâm khúc”.  Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”, tiêu biểu là tám câu thơ đầu đã thể hiện rõ nỗi cô đơn và khát khao đồng cảm của người chinh phụ trong thời gian chồng đi đánh trận, không rõ ngày về, đồng thời bộc lộ giá trị nhân đạo của tác phẩm.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-08 03:12:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135714672</guid>
      </item>
      <item>
         <title>10CA2-12-Cao Phạm Minh Đăng</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135714676</link>
         <description><![CDATA[<div>Nhê-cơ-ra-xốp đã từng nói: "Trong tâm hồn con người đều có cái van mà chỉ có thơ ca mới mở được." Quả đúng như vậy ! Thơ ca từ lâu đã là chiếc đèn soi chiếu vào tâm trạng của mỗi con người, thấu hiểu và thông cảm với những nỗi lòng họ phải trải qua. Nếu như Nguyễn Du cho ta một cái nhìn sâu sắc về cuộc sống chênh vênh, sóng gió của người phụ nữ trong tập truyện Kiều; nếu như Nguyễn Đình Chiểu đã gửi gắm ước muốn của ông về một xã hội nơi con người sống tình nghĩa với nhau trong tập truyện "Lục Vân Tiên" thì khi đến với Đặng Trần Côn và bài thơ "Chinh phụ ngâm", ta lại không khỏi thương cảm cho nỗi nhớ da diết của những người phụ nữ có chồng chinh chiến nơi xa trường.Trên tất cả, 8 câu đầu của đoạn trích "Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ" đã thể hiện rõ điều đó.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-08 03:12:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135714676</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Hoàng Hải My </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135714697</link>
         <description><![CDATA[<div>Đặng Trần Côn là một tác giả tài ba, một danh sĩ hiếu học sống vào nửa đầu thế kỉ XVIII, tài nghệ văn chương của ông được nhiều người biết đến qua các tác phẩm nổi tiếng. Một trong số ấy chính là kiệt tác "Chinh phụ ngâm”. "Chinh phụ ngâm” thuộc thể loại ngâm khúc, có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc, nói lên sự oán ghét chiến tranh phi nghĩa. Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” trong tác phẩm đã thể hiện nỗi nhớ mong người chồng đi đánh trận không rõ ngày về, cùng với khát khao tình yêu, hạnh phúc lứa đôi của người chinh phụ. Đặc biệt là qua tám câu thơ đầu của đoạn trích, người đọc dễ dàng cảm nhận được tình cảnh trống vắng, cô đơn và tâm trạng buồn khổ của nhân vật trữ tình.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-08 03:12:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135714697</guid>
      </item>
      <item>
         <title>10CA2-37-Nguyễn Hồng Thy</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135715229</link>
         <description><![CDATA[<div><em>“Nhà văn là người thư ký trung thành của thời đại” (Ban Dắc). </em>Với tác phẩm Chinh phụ ngâm, tác giả Đặng Trần Côn đã phản ánh chân thật số phận của những người phụ nữ ở thế kỉ XVIII lúc bấy giờ. Đặc biệt, tâm trạng thổn thức của nhân vật khi có chồng phải ra chiến trận được thể hiện rõ nhất qua tám câu đầu của đoạn trích <em>Tình cảnh lẻ loi của người Chinh phụ.<br></em>Đặng Trần Côn là một trong những “ngòi bút” tiên phong hướng về thân phận đáng thương của con người trong xã hội phong kiến ở thế kỉ XVIII -&nbsp; một thời đại đầy biến loạn trong lịch sử trung đại Việt Nam. <em>Chinh phụ ngâm</em> là sáng tác nổi tiếng nhất được viết theo thể song thất lục bát. Tác phẩm đã gián tiếp tố cáo chiến tranh phong kiến phi nghĩa gây ra bao mất mát đồng thời cất lên tiếng nói về quyền sống, quyền hưởng hạnh phúc chính đáng của con người.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-08 03:12:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135715229</guid>
      </item>
      <item>
         <title>10CA2-32- Đỗ Mỹ Phương</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135715894</link>
         <description><![CDATA[<div>Nhà văn Tô Hoài từng nhận định: "Mỗi trang văn đều soi bóng thời đại mà nó ra đời”. Thời đại của Đặng Trần Côn đã chứng kiến biết bao nhiêu cuộc li biệt đẫm nước mắt và bi thương: con phải xa cha, chồng phải xa vợ. Dòng cảm xúc lưu luyến, nhớ nhung của thời đại đã thổi hồn vào vô số các tác phẩm văn học mà trong đó 'Chinh phụ ngâm' là một trong những tiếng nói đầu tiên. 8 câu đầu của tác phẩm làm nổi bật lời tâm sự của người vợ có chồng đi chinh chiến, đồng thời truyền tải giá teij nhân đạo sâu sắc</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-08 03:13:28 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135715894</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vân Khánh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135715924</link>
         <description><![CDATA[<div>Từ&nbsp;xưa đến nay, chủ đề người phụ nữ hẳn đã không còn là đề tài xa lạ trong kho tàng văn học Việt Nam ta. Đại thi hào Nguyễn Du có nàng Kiều nghiêng nước nghiêng thành, tài năng xuất chúng nhưng cuộc đời lại phải trải qua nhiều gian truân. Cùng với niềm thương cảm cho số phận người phụ nữ hiền lành nhưng phải chịu nhiều bất hạnh,  Đặng Trần Côn đã cho ra đời tác phẩm "Tình cảnh lẻ loi của người trinh phụ" khắc hoạ hình ảnh người trinh phụ lẻ loi, cô độc, nỗi nhớ thương người yêu da diết vì chiến tranh loạn lạc mà không được ở bên nhau. Tình cảm đó đã được ngòi bút Đặng Trần Côn thể hiện rõ nét nhất qua đoạn: "8 câu đầu"</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-08 03:13:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135715924</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hồng Châu</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135719107</link>
         <description><![CDATA[<div>Văn học thế kỉ 18 là văn học mang đậm giá trị nhân đạo- sự cảm thương dành cho số phận đau khổ của người phụ nữ xưa. Trải qua hơn hai thế kỉ, "Chinh phụ ngâm" của Đặng Trần Côn vẫn để lại trong lòng người đọc những thổn thức về tiếng lòng buồn tủi của người chinh phụ. Tám câu đầu trong đoạn trích "Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ" mang đến những cung bậc và sắc thái khác nhau của nỗi cô đơn triền miên, nỗi nhớ thương dai dẳng và khát khao được sống trọn vẹn trong tình yêu lứa đôi không xa rời.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-08 03:16:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135719107</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Minh Vũ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135719289</link>
         <description><![CDATA[<div>Văn học Việt Nam lúc bấy giờ là những tiếng nói đầy xót xa cho số phận bi thương của người phụ nữ trong xã hội xưa . Trong đó không thể không nhắc tới tác phẩm "Chinh phụ ngâm" của Đặng Trần Côn. Tác phẩm đã nói lên sự oán ghét chiến tranh phong kiến phi nghĩa, đồng thời thể hiện tâm trạng khao khát tình yêu, hạnh phúc lứa đôi. Và qua 8 câu đầu của đoạn trích "Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ", ta sẽ cảm nhận được tâm trạng của người chinh phụ cũng như là tiếng nói nhân đạo của đoạn trích.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-08 03:16:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135719289</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lê Nguyễn Minh Tân </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135723591</link>
         <description><![CDATA[<div>Tố&nbsp;Hữu đã từng viết:" Thơ chỉ bật ra trong tim khi cuộc sống đã thật tràn đầy". Quả thật, các tác phẩm văn học đều ít nhiều phản ánh cuộc sống và mang trong mình màu sắc hiện thực. Trong đó, tác phẩm nổi bật nhất trong văn học trung đại là "Chinh phụ ngâm" của Đặng Trần Côn. Tác phẩm thể hiện nỗi nhớ chồng của người chinh phụ, niềm khát khao hạnh phúc lứa đôi, một chủ đề mà ít được văn thơ thời kì trước chú ý. Tám câu đầu trong đoạn trích: " Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ" đã thể hiện nỗi nhớ chồng của người chinh phụ một cách sâu đậm.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-08 03:20:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135723591</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thư An</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135724159</link>
         <description><![CDATA[<div>Có thể nói, văn học thế kỉ XVIII là văn học của những tiếng nói cảm thương, cảm thông cho số phận bất hạnh của người phụ nữ. Và “Chinh phụ ngâm”, một tác phẩm đỉnh cao của thời kì ấy chính là một điển hình tiêu biểu. Qua ngòi bút đầy tài năng của mình, Đặng Trần Côn đã đem đến cho người đọc nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau khi đọc tác phẩm.Tác phẩm đã&nbsp;</div><div>khắc hoạ thật sâu sắc sự chia li trong chiến tranh và cuộc tiễn biệt thấm đẫm tâm trạng, đằng sau đó là tiếng lòng thiết tha, thổn thức của người phụ nữ khi có chồng phải ra chiến trận. Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” đã làm nổi bật lên nỗi lẻ loi cô đơn cùng những nhớ mong, và có cả những khao khát hạnh phúc của người chinh phụ, đặc biệt là ở tám câu đầu</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-08 03:21:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135724159</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Bảo Vy</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135724637</link>
         <description><![CDATA[<div>Xã hội phong kiến Việt Nam là thời kì đen tối, bất công, con người bị vùi dập, xô đẩy đến bước đường cùng, đặc biệt là người phụ nữ. Họ là những người có phẩm chất cao quý, đáng lẽ phải được hạnh phúc nhưng cuộc đời họ lại rất nhiều đau khổ và bất hạnh. Và số phận, nỗi đau khổ của người phụ nữ đã chạm đến trái tim thi nhân để những nhà thơ cất lên tiếng nói cảm thương cho số phận đau khổ của người phụ nữ. Một trong những tác phẩm tiêu biểu cho chủ đề này là “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn. Tác phẩm là tiếng lòng thiết tha, thổn thức của người phụ nữ cô đơn, lẻ bóng khi chồng phải ra chiến trận. Tâm trạng ấy của người chinh phụ được thể hiện sâu sắc nhất qua 8 câu thơ đầu của đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-08 03:21:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135724637</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thanh Huyền</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135724937</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;" Người lên ngựa, kẻ chia bào<br>&nbsp; &nbsp;Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san"<br>                                     (Nguyễn Du)<br>Văn học trung đại Việt Nam đã chứng kiến không biết là bao cuộc chia li đầy luyến thương, tiếc nuối. Để rồi, những lời thơ được cất lên như thể hiện tiếng lòng tha thiết của người ở lại." Chinh phụ ngâm khúc" của Đặng Trần Côn cũng là một tác phẩm như thế! Đặc biệt, qua 8 câu đầu trong đoạn trích "Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ", tác giả đã khắc họa rõ nét nỗi cô đơn, buồn tủi của người chinh phụ để từ đó cất lên tiếng nói nhân đạo, thương cảm cho người phụ nữ.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-08 03:22:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135724937</guid>
      </item>
      <item>
         <title>10CA2-05-Vũ Huỳnh Trâm Anh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135727221</link>
         <description><![CDATA[<div>MB:     Nhắc đến văn học trung đại Việt Nam, ta bắt gặp những tác phẩm kể về người phụ nữ trong xã hội phong kiến với những nỗi niềm khắc khoải. Nếu như “Truyện Kiều” của Nguyễn Du là khúc hát thương cho số cho phận éo le, bi đát của Thuý Kiều thì tác phẩm “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn lại là dòng tâm trạng cô đơn, buồn khổ với khát khao tình yêu và hạnh phúc cháy bổng. Qua 8 câu thơ đầu tiên của “Chinh phụ ngâm”, ta cảm nhận được sâu sắc nỗi nhớ nhung trong sự cô đơn, lẻ loi của người phụ nữ, và đó cũng là giá trị nhân đạo được tác giả gửi gắm trong đoạn trích.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-08 03:24:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135727221</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Bùi Tuấn Minh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135732925</link>
         <description><![CDATA[<div>Bêlinxki&nbsp;đã từng nói:" Thơ trước hết là cuộc đời sau đó mới là nghệ thuật". Câu nói này lại phản ánh đúng về văn học trung đại bấy giờ, nơi mà cuộc sống hòa quyện vào từng câu văn, câu thơ. Nổi bật lên là cảm nhận về sự mất mát, bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Trong đó có các tác phẩm tiêu biểu như Truyện Kiều của Nguyễn Du, " Chuyện người con gái Nam Xương" của Nguyễn Dữ nhưng nổi bật trên hết vẫn là" Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ"- Đặng Trần Côn. Qua tám câu thơ đầu của bài thơ đã cho ta một cái nhìn sâu sắc về nỗi cô đơn sầu muộn của người chinh phụ.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-08 03:29:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135732925</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Hoàng Yến Nhi </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135733959</link>
         <description><![CDATA[<div>Trong xã hội phong kiến thời xưa thì số phận của người phụ nữ luôn lênh đênh, dập dìu theo làn sóng số phận mãi vô định. Cũng chính vì thế nên đã có rất nhiều kiệt tác nghệ thuật như "Truyện Kiều" của Nguyễn Du, "Bánh trôi nước" của Hồ Xuân Hương,... ra đời vào cuối thế kỷ XVIII đã nói lên nỗi lòng của người phụ nữ thời xưa. Trong đó thì đoạn trích "Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ", tiêu biểu là 8 câu thơ đầu được viết nên dưới ngòi bút đầy tinh hoa của Đặng Trần Côn đã thể hiện rõ tình cảnh chia li cùng nỗi đau lẻ loi cô đơn của người chinh phụ khi có chồng đi chinh chiến nơi xa trường, nỗi lòng mang đầy thiết tha thổn thức, mong ngóng người chồng cùng khát khao hạnh phục lứa đôi để qua đó bộc lộ rõ giá trị nhân văn cũng như nhân đạo của tác phẩm&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-08 03:30:48 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135733959</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Mai Thanh Hà  - 14</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135734108</link>
         <description><![CDATA[<div>"Thân em vừa trắng lại vừa tròn<br>Bảy nổi ba chìm với nước non"<br>(Hồ Xuân Hương)<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Số phận người phụ nữ từ cổ chí kim đến nay vẫn luôn là đề tài khơi gợi nhiều cảm xúc, làm trỗi dậy tiếng lòng của nhiều bậc danh sĩ. Trong thi phẩm "Bánh trôi nước" của bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương, ta bắt gặp hình ảnh người phụ nữ được ví như bánh trôi nước - bảy nổi ba chìm, chỉ biết mặc cho dòng đời đưa đẩy. Còn đối với thi sĩ Đặng Trần Côn, trong áng thơ "Chinh phụ ngâm", cụ thể hơn là đoạn trích "Chinh phụ ngâm khúc",&nbsp; ông đã khéo léo khắc họa tâm trạng khao khát tình yêu, khao khát niềm hạnh phúc lứa đôi của người chinh phụ. Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ đã hiện lên một cách chân thật, sâu sắc, được thể hiện qua nhiều góc độ khác nhau của sự vật, sự việc. Áng thơ đã chạm đến tâm hồn người đọc thông qua sự thể hiện sâu sắc cảm hứng nhân đạo và nghệ thuật tả cảnh ngụ tình dưới ngòi bút tài ba của Đặng Trần Côn. Mỗi một câu thơ đều tràn ngập tâm trạng nhớ nhung sầu muộn của người chinh phụ, nhất là tám câu đầu đoạn trích "Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ":<br><br>"Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,<br>Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.<br>Ngoài rèm thước chẳng mách tin,<br>Trong rèm dường đã có đèn biết chăng ?<br>Đèn có biết dường bằng chẳng biết,<br>Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.<br>Buồn rầu nói chẳng nên lời,<br>Hoa đèn kia với bóng người khá thương."<br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-08 03:30:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135734108</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hải Ngọc-27</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135734787</link>
         <description><![CDATA[<div>MB:<br>Văn học Việt Nam đã từng chứng kiến biết bao những cuộc chia li, tiễn biệt đầy lưu luyến. Và ở thế kỉ thứ XVIII, “Chinh phụ ngâm” một tác phẩm lấy từ đề tài chia li trong chiến tranh của Đặng Trần Côn đã cho chúng ta thấy được một cuộc tiễn biệt thấm đẫm tâm trạng và đằng sau đó là nỗi đau của người phụ nữ có chồng đi chinh chiến. Tám câu đầu trong đoạn&nbsp; trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” đã làm nổi bật lên nỗi lẻ loi cô đơn cùng những nhớ mong, và có cả những khao khát hạnh phúc của người chinh phụ. Qua đó, ta có cho mình những đánh giá khách quan về tiếng nói của nhân vật.<br>TB:<br>Thời đại của Đặng Trần Côn là thời kì mà chiến tranh giữa các thế lực phong kiến diễn ra liên miên và phong trào nông dân khởi nghĩa nổ ra khắp nơi. Nhà nhà sống trong cảnh loạn lạc, khói lửa, đâu đâu cũng thấy cảnh lầm than, tang tóc. Bằng cảm hứng nhân đạo của mình, Đặng Trần Côn đã chiếu ngòi bút của mình xuống những nỗi đau của người phụ nữ trong chiến tranh để cất lên tiếng nói của con người thời đại, tiếng nói oán ghét chiến tranh phi nghĩa, tiếng nói đòi quyền sống, quyền hạnh phúc qua “Chinh phụ ngâm”. Xuyên suốt toàn bộ tác phẩm, qua nỗi niềm của người chinh phụ có chồng ra trận, tác giả đã đã để cho người đọc cảm nhận nỗi đau thương trong chiến tranh của cả hai phía người ra trận và người ở lại. Nếu ở nơi chiến địa, chinh phu đang từng ngày từng giờ đối mặt với cái chết thì chinh phụ nơi quê nhà cũng đang mòn mỏi chờ đợi trong vô vọng, và chìm đắm trong muộn phiền.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-08 03:31:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135734787</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nam Phương</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135737759</link>
         <description><![CDATA[<div>Người phụ nữ từ xưa tới nay lúc nào cũng là người chịu nhiều thiệt thòi nhất. Họ là nạn nhân của hiện thực xã hội tàn khốc, của những quan điểm, định kiến lỗi thời và cả những cuộc chiến tranh phi nghĩa. Hình ảnh người con gái trong “ Chinh phụ ngâm khúc” của Đặng Trần Côn đã phản ánh chân thực điều đó. Với chỉ vọn vẹn 8 câu thơ đầu trong đoạn trích “ Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”, tác giả đã khắc hoạ thật rõ nét nỗi cô đơn, buồn tủi của người chinh phụ để rồi từ đó cất lên tiếng nói nhân đạo, xót thương cho nàng.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-08 03:34:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135737759</guid>
      </item>
      <item>
         <title>10CA2-09- Nguyễn Trang Ngọc Châu</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135756513</link>
         <description><![CDATA[<div>Đặng Trần Côn sống vào đầu thế kỉ XVIII, là một danh sĩ, một nhà thơ tài ba của nền văn học cổ điển. “Chinh phụ ngâm khúc” chính là một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông được viết bằng chữ Hán, được mọi người biết đến rộng rãi qua bản dịch của nữ danh sĩ Đoàn Thị Điểm. Tác phẩm được ra đời vào đầu thời Lê Hiển Tông, lúc có nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra quanh kinh thành Thăng Long. Triều đình cất quân dẹp loạn, nhiều trai tráng phải từ giã người thân ra trận. Tác phẩm viết bằng chữ Hán giữa thời đại văn học chữ Nôm đang nở rộ cho nên nhiều người đã tìm cách dịch nó ra chữ Nôm. “Chinh phụ ngâm” có hình thức là một lời độc thoại nội tâm mà vai chính, cũng là vai duy nhất đứng ra độc thoại trong truyện là một người vợ có chồng tham gia cuộc chiến do triều đình phong kiến chủ xướng, kể về nỗi khổ, nỗi cô đơn buồn tủi phải xa chồng. Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” được đặt trong hoàn cảnh cuộc tiễn đưa lưu luyến kết thúc, người chinh phụ trở về khuê phòng và tưởng tượng ra cảnh sống của chồng nơi chiến địa. Những xúc cảm về một hình ảnh "lẫm liệt" của người chinh phu phút chia ly đã dần mờ nhòe, thay thế vào đó là nỗi lo sợ khủng khiếp về số phận của chồng giữa chiến trường khốc liệt, đầy oan hồn tử khí, và niềm đau khổ khôn nguôi về thân phận đơn chiếc của bản thân nàng. Từ đó thể hiện khát vọng hạnh phúc, mong ước lứa đôi gắn kết đồng thời ngầm lên án chiến tranh phi nghĩa đã đẩy biết bao cặp vợ chồng vào cảnh chia ly. Tám câu thơ giữa trong đoạn trích đã đặc tả nỗi cô đơn, buồn tủi của người chinh phụ.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-08 03:55:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/id7rrecb1li9yyx1/wish/2135756513</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
