<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title>[12/13] Chất liệu văn hoá dân gian trong bài&quot;ĐẤT NƯỚC&quot; by Triết Trần</title>
      <link>https://padlet.com/minhtrietahs/1213dn</link>
      <description>Tìm và lý giải những hình ảnh văn hoá dân gian trong đoạn trích &quot;Đất Nước&quot; (truyền thuyết, cổ tích, cao dao, phong tục...)</description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2021-11-12 00:37:06 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2022-10-19 16:56:14 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url>https://padlet.net/icons/png/1f33e.png</url>
      </image>
      <item>
         <title>Bảo Trân</title>
         <author>annaleeeee123</author>
         <link>https://padlet.com/minhtrietahs/1213dn/wish/2341124012</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; Đoạn 1:</div><ul><li>&nbsp;Hình ảnh "ngày xửa ngày xưa" là mô tuýp quen thuộc cho lối mở đầu câu chuyện cổ tích mà mẹ hoặc bà thường hay kể, gắn liền với tuổi thơ của mỗi con người Việt Nam.</li><li>&nbsp;"Miếng trầu" và "búi tóc của mẹ" thể hiện một tập tục lâu đời của người Việt đã trải qua nghìn năm đô hộ. Tập tục búi tóc vừa là hình ảnh duyên dáng, vẻ đẹp giản dị của người phụ nữ VN vừa là điểm nhấn cho truyền thống xa xưa của dân tộc ta không bao giờ bị ngoại lai. Là một minh chứng cho sức sống mãnh liệt và là cội nguồn dân tộc, nét đặc trưng của văn hoá Việt Nam. Miếng trầu nhỏ nhắn nhưng không thể thiếu trong các nghi lễ trang trọng: hỏi cưới, giỗ chạp. Miếng trầu là vật xã giao: “miếng trầu là đầu câu chuyện”; miếng trầu kết duyên tình nghĩa vợ chồng, anh em keo sơn gắn bó.</li><li>Cụm từ "gừng cay muối mặn" và "hạt gạo"&nbsp; phản ánh nét văn hoá ẩm thực Việt Nam qua quá trình lao động sáng tạo, cần cù của con người gắn với nền văn minh lúa nước. Sự đắng cay khổ cực của những người dân trong thời kỳ phong kiến cũng được thể hiện cùng với lối sống vợ chồng nghĩa tình thuỷ chung.&nbsp;</li><li>&nbsp;Hình ảnh " cây tre" quen thuộc với mỗi người con VN, Đất Nước cũng từng bước trưởng thành gắn với hình bóng cây tre. Không chỉ là vũ khí chiến đấu thời chiến tranh mà cây tre còn quen thuộc với mỗi ngôi nhà, ngôi làng, đầu đình VN, biểu hiện cho phẩm chất kiên cường bất khuất của dân tộc ta.</li></ul><div>Đoạn 2:<br>&nbsp;Các hình ảnh "chim-rồng" và "Lạc Long Quân - Âu Cơ" tác giả tập trung khai thác về cội người truyền thuyết tổ tiên trên phương diện văn hoá. Vừa chân thật vừa huyền thoại gợi về hồn thiêng sông núi thiên nhiên trang trọng mà còn là tình cảm cao quý đáng tự hào của con người VN.&nbsp;</div><div>Đoạn 4:&nbsp;</div><ul><li>"Núi Vọng Phu", "hòn Trống Mái", "Thánh Gióng" liên tưởng đến những câu chuyển cổ tích từ "Hòn Vọng Phu" với nàng Tô Thị ôm con chờ chồng, sự yêu nước của cậu bé Thánh Gióng hay hình ảnh cặp vợ chồng quấn quýt từ hòn Trống Mái. Đó còn chính là vẻ đẹp tâm hồn con người VN đặc biệt là người phụ nữ trong suốt thời kỳ kháng chiến, chính tình cảm thắm thiết ấy đã góp phần tạo nên cội nguồn cho thắng cảnh Đất Nước.&nbsp;</li><li>Một loạt tên các người dân "Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm", "núi Bút, non Nghiên" được nhắc đến nhằm ngợi ca, ghi công những người dân bình dị nhưng giàu lòng yêu nước đã có công dựng nước và giữ nước. Cùng với đó là truyền thống hiếu học, "tôn sư trọng đạo" và lời khẳng định "Đất Nước là của Nhân dân".&nbsp;</li></ul><div><br><br><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-10-15 03:31:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhtrietahs/1213dn/wish/2341124012</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thái Nguyên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhtrietahs/1213dn/wish/2341222199</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Đoạn 1:</strong><br> - "Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn":<br>Tập tục này không chỉ xuất hiện trong thành ngữ "Miếng trầu là đầu câu<br>chuyện" mà còn gợi ta nhớ đến câu chuyện "Trầu cau" cảm động làm<br>rưng rưng nước mắt biết bao thế hệ con người về nghĩa vợ cồng đậm đà thủy<br>chung, tình anh em keo sơn gắn bó. Chẳng biết tập tục ăn trầu có từ bao giờ, mà<br>ngày nay hình ảnh trầu, cau, vôi có mặt trong những tiệc cưới, tượng trưng cho<br>mối tình đằm thắm, trước sau như một không thay lòng đổi dạ.<br> - "Tóc mẹ thì bới sau đầu": Hình ảnh búi tóc của mẹ<br>là một minh chứng cho sự sống mãnh liệt và bản lĩnh kì diệu của dân ta. Dù trải<br>qua ngàn năm Bắc thuộc, người Trung Hoa phong kiến muốn đồng hóa dân ta, muốn<br>xóa sổ dân ta nhưng với ý thức độc lập, ta đã vươn vai hiên ngang đánh đuổi kẻ<br>thù. Búi tóc sau đầu của mẹ vẫn còn tồn tại cho đến hôm nay không những gợi lại<br>nguồn cội dân tộc, là một trong những nét đặc trưng của văn hóa Việt không bao<br>giờ bị ngoại lai mà còn tạo ra nét duyên dáng cho người phụ nữ Việt Nam.&nbsp;<br> - "Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh<br>giặc": Đất Nước chỉ thật sự trưởng thành khi người dân có ý thức tự lực cầm<br>vũ khí đấu tranh chống giặc. Hình ảnh người dân "trồng tre đánh giặc"<br>thể hiện rất rõ nhận thức đó. Cây tre rất quen thuộc với con người VIệt Nam. Mỗi<br>ngôi nhà ở VN không thể thiếu vắng bóng hình cây tre. Không những thế bờ tre<br>còn bao quanh mỗi ngôi nhà, lũy tre bao quanh khắp xóm. Vì vậy, cây tre trở<br>thành biểu tượng, phẩm chất của con người Việt Nam và là vũ khí để dân tộc ta<br>tiêu diệt kẻ thù. Nhớ năm xưa, sau khi roi sắt gãy, Thánh Gióng đã nhổ tre bên<br>đường để đánh đuổi bọn giặc Ân.<br><br></div><div>&nbsp;<br><br></div><div><strong>Đoạn 2:</strong><br> - “Con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”: Hình ảnh “con chim phượng hoàng” được xem là vua của các loài chim sải tung đôi cánh tự do bay về “hòn núi bạc”- hòn núi phủ đầy mây như được dát bạc, lấp lánh ánh sáng mặt trời.<br> - “Con cá ngư ông móng biển khơi”: Cá ngư ông còn gọi là cá voi- bạn của người đi biển. Theo tục truyền, mỗi khi dân vạn chài ra khơi gặp phong ba bão táp thì cá ngư ông kề lưng giúp học vào nơi an toàn. Chính vì vậy mà người dân lập đền thờ cá ngư ông để thể hiện niềm khao khát có một vị thần đem bình an, sóng yên biển lặng vừa nói lên tấm lòng “thụ ân bất vong” nghĩa là mang ơn ai sẽ không bao giờ quên của họ.<br> - “Đất là nơi Chim về/ Nước là nơi Rồng ở/ Lạc Long Quân và Âu Cơ/ Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng”: Hình ảnh đối lập “CHim về”, “Rồng ở” lấy ý từ truyền thuyết “Con rồng cháu tiên” nhằm khẳng định cội nguồn cao quý của dân tộc. Các danh từ riêng “Lạc Long Quân”, “Âu Cơ” cùng từ “đồng bào” và hình ảnh “trong bọc trứng” để nói 54 dân tộc VN đều là anh em 1 nhà, cùng 1 cha 1 mẹ sinh ra, qua đó ca ngợi truyền thống yêu thương, đoàn kết của toàn dân tộc.<br><br></div><div><strong>&nbsp;<br></strong><br></div><div><strong>Đoạn 4:</strong><br> - “Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu”: Cụm từ “Núi Vọng Phu” không chỉ gọi về hình ảnh ngọn núi đá ở Đồng Đăng, Lạng Sơn, trông giống người đàn bà ôm con chờ chồng mà còn gợi nhớ câu chuyện cổ tích “Hòn Vọng Phu” với nàng Tô Thị. Từ thực tế cuộc sống có rất nhiều “người vợ nhớ chồng” mỏi mòn trông ngóng chồng đi chinh chiến phương xa mà người xưa đã sáng tạo câu chuyện cổ tích “Hòn Vọng Phu” và đặt tên cho ngọn núi đã ở Lạng SƠn là núi “Vọng Phu” để tố cáo chiến tranh tàn phá hạnh phúc con người và qua đó ca ngợi tình cảm son sắt thủy chung của người phụ nữ.<br> - “CHín mươi chin con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương”: Cụm từ “đất Tổ Hùng Vương” không chỉ gợi nhớ về những truyền thuyết các vua Hùng để qua đó ngợi ca những thế hệ cha ông đã có công dựng nước và giữ nước mà cụm từ này còn làm ta nhớ tới vùng đất Tổ ở tỉnh Phú Thọ nơi thờ các vua Hùng. Đền thờ nhìn ra dãy núi Hy Cương – nơi có nhiều đồi núi đẹp trông giống hình những con voi quay quần thuần phục. Nếu không có những câu chuyện về vua Hùng dựng nước thì người dân sẽ không cảm nhận được sự linh thiêng và hung vĩ của cảnh quan núi đồi trùng điệp ở nơi này.<br> - “Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút, non Nghiên”: “Núi Bút” là ngọn núi trông giống cây bút- một dụng cụ của người đi học, “non Nghiên” là ngọn núi trông giống cái nghiên để mài mực của người học trò xưa. Hai ngọn núi đẹp này ở vùng Quảng Ngãi. Chính truyền thống hiếu học của những “người học trò nghèo” như Mạc Đĩnh Chi, Lương Thế Vinh… đã góp phần tạc vào hình sông thế núi của Đất Nước. Những con người nghèo vật chất nhưng giàu trí tuệ, tài năng và truyền thống “tôn sư trọng đạo” của dân tộc đã góp phần làm rạng rỡ nền văn hóa của dân tộc.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-10-15 08:55:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhtrietahs/1213dn/wish/2341222199</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Ngô Minh Tuấn</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhtrietahs/1213dn/wish/2341259469</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Đoạn 1:<br></strong>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Hình ảnh “ngày xưa ngày xưa” là một câu nói quen thuộc để mở đầu cho những câu chuyện cổ tích mà mẹ và bà hay kể cho ta nghe lúc còn nhỏ, những câu chuyện kì thú về tình thủy chung, chống giặc, tình yêu gia đình,...gắn liền trong ký ức của mỗi người chúng ta.</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Hình ảnh “Miếng trầu” là phong tục nhai trầu của người Việt Nam ta có từ rất lâu mà không biết khi nào thành một tập tục của nhân dân ta. Người ta hay nói miếng trầu là đầu câu chuyện.” Hình ảnh miếng trầu cũng xuất hiện nhiều trong các lễ cưới hỏi, mặc dù nhỏ bé nhưng một quả tầu tượng trưng cho tình yêu thủy chung giữa các cặp vợ chồng.</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;“Búi tóc của mẹ” tượng trưng cho sức sống mãnh liệt và cội nguồn của dân tộc ta, là nơi ta bắt đầu, là nơi dòng máu của người Việt Nam bắt đầu xuất hiện và chảy trong mỗi người chúng ta. Cũng là nét đặc trưng và phong cách của những người Việt Nam.</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Hình ảnh “cây tre” rất quen thuộc với mỗi con người Việt Nam chúng ta, hầu như mọi nhà của nhân dân Việt Nam không thể thiếu bóng dáng gầy gòm, cao ngời mà cứng cáp ấy: cán cuốc, tủ, giỏ,...Cây tre cũng dùng để làm vũ khí đi chống giặc. Hình ảnh cây tre cho ta thấy dù nhân dân ta nhỏ bé nhưng kiên cường, cứng cáp và bất khuất của nhân dân ta.<br><strong>Đoạn 2:<br></strong>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Hình ảnh con “chim”,”rồng”, “Lạc Long Quân”, “Âu Cơ” nói lên truyến thuyết văn hóa về sự ra đời của đất nước và dân tộc ta. Gợi ta nhớ tới sự linh thiêng, trang trọng và kì vĩ của sông núi, cũng là niềm tự hòa khi là “con rồng cháu tiên.” <br><strong>Đoạn 3:<br></strong>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;“Núi Vọng Phu” không chỉ làm ta liên tưởng đến ngọn núi ở Đồng Đăng, Lạng sơn trông giống như một người vợ đang bế con mong mỏi chờ chồng mà còn làm ta nhớ tới câu chuyện “hòn Vọng Phu” với nàng Tô Thị. Đây cũng là thực tế khi những người ra chiến khu bỏ lại vợ con không biết khi nào về. Nói lên vẻ đẹp và tình cảm trung thành của người phụ nữ Việt Nam.&nbsp;</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;“Hòn Trống Mái” cũng là một địa danh ở Sầm Sơn, Thanh Hóa là hai hòn đá chồng lên nhau, chính sự hiếu kỳ của người xưa mà họ đặt tên cho nó là “hòn Trống Mái” tượng trưng tình cảm thủy chung, không một thay lòng đổi dạ của các cặp đôi vợ chồng.</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Những cái tên như “Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm”, là những người đã khai mạc, bộ hổ, đào kênh,... để giúp ta có đất nước như bây giờ. Mục đích là để ca ngợi và ghi công với những người đã công dựng và giữ nước.</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;“Núi Bút, non Nghiêng” được nhắc đến đê ca ngợi tính hiếu học của người học trò nghèo về vật chất nhưng giàu về tài năng. Ông cha ta hay có “Tôn sư trọng đạo” để xâu dựng tính hiếu học của nhân dân ta.&nbsp; &nbsp; &nbsp;<br><br></div><div><strong><br></strong><br></div><div><strong><br></strong><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-10-15 10:36:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhtrietahs/1213dn/wish/2341259469</guid>
      </item>
      <item>
         <title>HÌNH ẢNH &quot;NGÀY XỬA NGÀY XƯA&quot;</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhtrietahs/1213dn/wish/2341679050</link>
         <description><![CDATA[<div>Mở đầu cho dòng suy tưởng, Nguyễn Khoa Điềm nhận thức về sự tồn tại lâu dài của đất nước trong suốt "thời gian đằng đẵng" bốn ngàn năm văn hiến. Thi nhân khẳng định:&nbsp;<br><br></div><div><strong><em>“Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi…<br></em></strong><br></div><div><strong><em>Đất nước có trong những cái "ngày xửa ngày xưa“... mẹ thường hay kể.”<br></em></strong><br></div><div>Truy tìm về cội nguồn Đất Nước, khó ai có thể xác định minh bạch cái ngày tháng khởi thuỷ của nó, cho dù là nhà khảo cổ hay sử gia, ta chỉ biết rằng Đất Nước, khi ta lớn lên, khi ta biết suy nghĩ nhận thức, thì đã có từ trước lâu. Âm hưởng của lời thơ lắng đọng như giọng kể chuyện tâm tình thủ thỉ giữa những kẻ thân thương, gợi ra ở người nghe dòng liên tưởng trôi về một thời quá khứ xa xăm, trong ấy trầm tích bao huyền sử tự hào về cuộc sống chiến đấu của cha ông. Nhà thơ đã sử dụng thi pháp tuyệt vời ở câu thơ bỏ ngỏ. Sau trạng ngữ chỉ thời gian <strong>"Ngày xửa ngày xưa"...</strong>, lời kể của mẹ được chuyển sang cho người đọc tự liên tưởng hình dung về bao hình tượng đẹp một thời làm xôn xao tuổi mộng vàng như Thánh Gióng, Trần Quốc Toản, Mai An Tiêm... Cả một nền văn hoá, văn học dân gian với bao thần thoại, truyền thuyết phong phú làm sao có thể gói trọn trong mấy vần thơ. Thi nhân như trao cho người đọc chiếc chìa khoá để tự mình lần về mảnh vườn cổ tích, để khám phá cái kho tàng văn hoá phong phú tổ tiên trao lại.<br><br>                                                              <strong>Gia An</strong></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1850738259/6372f0ea9cda39291f3a672f1d04a980/image.png" />
         <pubDate>2022-10-16 06:45:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhtrietahs/1213dn/wish/2341679050</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhân</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhtrietahs/1213dn/wish/2341703494</link>
         <description><![CDATA[<div>1. Chất liệu văn hoá dân gian trong đoạn trích Đất Nước gắn với ca dao, tục ngữ, ngạn ngữ của văn học dân gian<br><br>Chất liệu văn hóa, văn học dân gian được sử dụng một cách sáng tạo đã tạo nên một không gian nghệ thuật riêng cho đoạn trích, vừa bình dị, gần gũi, hiện thực, lại vừa giàu tưởng tượng, bay bổng. Hơn nữa, có thể nói chất liệu dân gian đã thấm sâu vào tư tưởng và cảm xúc của Nguyễn Khoa Điềm, tạo nên một đặc điểm trong tư duy nghệ thuật của ông trong đoạn thơ. Chỉ nói đến cách sử dụng ca dao, tục ngữ, ngạn ngữ, ta cũng thấy sự tinh tế của tác giả trong cách biểu đạt rất riêng, rất độc đáo.<br><br>Khi nhà thơ triết lý về cội nguồn sinh ra đất nước cũng là cội nguồn của mỗi gia đình nên Đất Nước không chỉ tạo bỡi những gì trừu tượng, xa xôi mà được hình thành, tạo bỡi từ tình nghĩa thuỷ chung của cha mẹ qua câu thơ :<br><br>Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn<br><br>Thì đây là ý thơ cho ta thấy tác giả gợi tả từ cái gốc của chất liệu dân gian, đó là từ trong câu ngạn ngữ dân gian “Gừng cay muối mặn”, chỉ những cay đắng gian nan đã gắn bó tình nghĩa vợ chồng. Và thói quen tâm lí, tình cảm này cũng làm cho ta gợi nhớ đến câu ca dao hết sức trìu mến:<br><br>Tay bưng chén muối đãi gừng<br>Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau<br><br>Và khi nói về tình yêu đôi lứa, câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm cũng hết sức mượt mà, đất nước gắn bó với con người trọn đời: từ thuở ấu thơ đến lúc thưởng thành và biết yêu thương, hẹn hò, nhớ nhung lại gắn với hình ảnh Đất Nước:<br><br>Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm<br>Khi xúc cảm nên dòng thơ này, nhà thơ như nhằm muốn tâm sự, trong tình yêu đôi lứa, trong nỗi nhớ nhung da diết của em đã hiện hữu tình Đất Nước. Và đó là nỗi nhớ không định hình được mà câu ca dao tình yêu quen thuộc cất lên rất gần gũi và hết đỗi đời thường:<br><br>Khăn thương nhớ ai<br>Khăn rơi xuống đất…<br><br>Và khi Nguyễn Khoa Điềm nhằm giải bày Đất Nước trải ra theo chiều dài, chiều rộng của không gian nhưng không gian ấy thật gần gũi, là nơi con chim bay về, nơi con cá móng nước:<br><br>Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”<br>Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”<br><br>Thì đó là một ý thơ có thể nhận thấy, nhà thơ lấy cảm hứng trọn vẹn từ câu hò Bình- Trị- Thiên quen thuộc, bỡi vì nhà thơ được sinh ra và trưởng thành trên vùng đất giàu giá trị văn hóa, thơ Nguyễn Khoa Điềm thấm đẫm hồn Huế, chính vì thấm nhuần nền văn hóa dân gian nơi chôn nhau cắt rốn nên khi khái quát về Đất Nước, Nguyễn Khoa Điềm cũng đã nghĩ ngay đến câu ca dao bình dân của quê hương, xứ sở mình:<br><br>Con chim phượng hoàng bay ngang hòn núi bạc<br>Con cá ngư ông móng nước ngoài khơi<br>Gặp nhau đây xin phân tỏ đôi lời<br><br>Kẻo mai kia con cá về sông vịnh, con chim nọ đổi dời về non xanh<br><br>Tự hào về một đất nước có bề dày lịch sử bốn nghìn năm, nên nhà thơ đã hướng về một yếu tố mang tính tâm linh nhưng hết sức truyền thống của người Việt. Bỡi chính nhân dân là những người đã làm nên cái hồn văn hoá và đạo lí truyền thống cao cả cho đất nước, nên nhà thơ tâm sự:<br><br>Hàng năm ăn đâu làm đâu<br>Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ<br><br>Trong mỗi chúng ta đều biết cội nguồn dân tộc, gốc gác tổ tiên luôn nhắc nhở mọi người Việt rằng: bái vọng tổ tiên, yêu quê cha đất tổ, chính là những yếu tố góp phần làm nên truyền thống yêu nước của người Việt Nam. Vì thế, bái vọng tổ tiên là điều không thể thiếu, thể hiện sự tôn trọng đầy thiêng liêng của người sống đối với người đã khuất. Đây cũng là ý thơ mà trong ca dao đã từng nhắc nhở:<br><br>Dù ai đi ngược về xuôi<br>Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba<br><br>Có thể nói trong kho tàng ca dao dân ca Việt Nam vô cùng phong phú và đa dạng màu sắc của dân tộc, và nhà thơ đã chọn lọc từ những câu ca dao tiêu biểu nhất để nói về các phương diện truyền thống khác nhau của nhân dân. Trong đó câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm đã nhằm diễn tả sự say đắm trong tình yêu nhân văn, nhân bản và cao đẹp nhất:<br><br>Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi<br><br>Là ý tứ từ câu ca dao đầy ngọt ngào, trìu mến, bình dị và hết sức thân quen, nó thường trực hằng ngày mà trong những đôi nam nữ, trai gái yêu nhau không khó để nhận ra:<br><br>Yêu em từ thuở trong nôi<br>Em nằm em khóc, anh ngồi anh ru<br><br>Có lúc câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm là nhằm nói đến sự quý trọng trong lối sống tình nghĩa, biết nâng niu, trân trọng những gì có được từ khó nhọc, gian nan:<br><br>Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội<br><br>Thì đâu đó phản phất trong ca dao cũng đã đúc kết và nhắc nhở mọi người rằng:<br><br>Cầm vàng mà lội qua sông<br>Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng<br><br>Ngoài ra, câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm cũng nói đến một phẩm chất nữa của nhân dân Việt Nam là bền bỉ kiên cường trong chiến đấu dựng và giữ nước, vì đất nước là của nhân dân, do nhân dân làm nên, nên đất nước mãi mãi trường tồn, bất diệt:<br><br>Biết trồng tre đợi ngày thành gậy<br>Đi trả thù mà không sợ dài lâu<br><br>Điều này cũng có nghĩa là trong ý thơ của Nguyễn Khoa Điềm, nhà thơ đã luyến láy, cảm hứng xuất phát từ cái gốc của câu ca dao đầy hùng hồn và đanh thép:<br><br>Thù này ắt hẳn còn lâu<br>Trồng tre nên gậy, gặp đâu đánh què<br><br>Có thể thấy ở tất cả những dòng thơ trên của Nguyễn Khoa Điềm, nhà thơ đã vận dụng và chuyển ý sáng tạo những câu ca dao, ngạn ngữ thành lời thơ đằm thắm, trữ tình, thiết tha của mình, không ngoài mục đích là ca ngợi nhân dân, ca ngợi bản sắc văn hoá của người Việt Nam.<br><br>2. Chất liệu văn hoá dân gian trong Đất Nước còn gắn với những thần thoại, truyền thuyết và truyện cổ tích…<br><br>Đặc sắc, độc đáo về nghệ thuật của đoạn trích Đất Nước là sự cảm nhận về đất nước trong một cái nhìn toàn vẹn, tổng hợp từ nhiều bình diện. Vừa theo mạch cảm xúc thơ, tác giả vừa huy động vào thơ cả một “kho tri thức” phong phú mang tính tổng thể các loại văn học dân gian, đã làm nền tảng vững chắc để làm nổi bật tư tưởng của đoạn trích. Trong lời mở đầu đoạn trích Đất Nước, Nguyễn Khoa Điềm có dòng thơ:<br><br>Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa” mẹ thường hay kể<br><br>Lời thơ “ngày xửa ngày xưa” là câu mở đầu thường thấy trong các truyện cổ dân gian, nó mang âm hưởng của những câu chuyện cổ tích, đưa ta về một thuở rất xa xưa.<br><br>Sự kì diệu của đất nước trong chống giặc ngoại xâm cũng được nhà thơ gợi lên từ tinh thần nhổ tre đánh giặc n thuở nào của Thánh Gióng mà truyền thuyết đã kể lại. Và những hình tượng quen thuộc trong thần thoại, truyền thuyết như “chim, rồng, Lạc Long Quân, u Cơ, bọc trăm trứng… ” cùng hội tụ trong trường liên tưởng của nhà thơ đã làm nổi bật ý thơ có tầm khái quát cao: dân tộc ta là “con rồng cháu tiên”, cùng được sinh ra từ bọc trăm trứng nở ra trăm con của cha là Lạc Long Quân và mẹ u Cơ. Vì vậy để gợi nhớ truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên, Nguyễn Khoa Điềm lại liên tưởng ngay rằng:<br><br>Đất là nơi Chim về<br>Nước là nơi Rồng ở<br>Lạc Long Quân và Âu Cơ<br>Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng<br><br>Nếu trong mỗi chúng ta, ai đó một khi chưa hiểu hết về đất nước với những khái niệm trừu tượng như lãnh thổ, chủ quyền, thì chúng ta sẽ cảm nhận được đất nước là một cái gì đó rất gần gũi, quen thuộc qua những câu chuyện thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích mẹ thường kể từ thuở còn nằm trong nôi.<br><br>3. Chất liệu văn hoá dân gian còn gắn với phong tục tập quán của người Việt Nam<br><br>Đất nước còn được hình thành từ những truyền thống cao đẹp như truyền thống yêu nước, anh hùng, lao động, văn hóa. Trước hết là truyền thống văn hóa với phong tục ngàn đời của cha ông ta đúc kết lại. Vì thế, khi Nguyễn Khoa Điềm tâm sự:<br><br>Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn<br><br>Đó là phong tục “miếng trầu là đầu câu chuyện” có từ thuở các vua Hùng dựng nước. Hay gợi nhớ câu chuyện “Trầu cau” đầy nghĩa tình vừa mang yếu tố truyền thuyết lại vừa đậm yếu tố đời thường cũng là gợi nhớ tục ăn trầu của người Việt.<br><br>Hay khi nhà thơ miêu tả cái dáng dấp thấp thoáng của người mẹ hiện lên trong vẻ đẹp đầy nữ tính của người phụ nữ Việt Nam, nhà thơ đã viết:<br><br>Tóc mẹ thì bới sau đầu<br><br>Tục búi tóc thành cuộn sau gáy của người dân Việt, đó là tập quán thể hiện quan niệm “cái răng cái tóc là góc con người” của người Việt cổ xưa mà đã một thời tô điểm vẻ đẹp bên ngoài của người phụ nữ Việt Nam.<br><br>Nhà thơ đã đưa đến cho người đọc quan niệm hình thành đất nước, đất nước chúng ta được hình thành từ trong cộng đồng của những người có chung kiểu ngôn ngữ nôm na dễ hiểu như thói quen đặt tên con bằng tên các đồ vật cho dễ nuôi của người dân lao động nước ta:<br><br>Cái kèo, cái cột thành tên<br><br>Với miếng trầu dung dị hiện lên trên cái miệng móm mém nhai trầu của bà, mái tóc bới hiền hòa của mẹ, cách gọi tên “cái kèo, cái cột” dân dã. Tất cả những điều tưởng chừng như bình thường ấy đã trở thành nếp sống, thành phẩm chất tốt đẹp, thành thuần phong mĩ tục đậm đà bản sắc mang tính văn hoá Việt Nam.<br><br>Có thể nói từ những hệ thống như trên, chúng ta thấy Nguyễn Khoa Điềm đã sử dụng chất liệu văn hoá, văn học dân gian một cách sáng tạo. Không trích dẫn nguyên văn câu ca dao, tục ngữ, dân ca, không kể dài dòng các truyền thuyết, truyện cổ tích, các phong tục tập quán, mà nhà thơ chỉ bắt lấy rất tinh tế cái hồn của chất liệu dân gian để gợi liên tưởng, gợi suy ngẫm cho người đọc. Cho nên khi tiếp xúc tạo cho người đọc cảm giác vừa quen vừa lạ. Cảm giác “quen” vì từ thuở ấu thơ mỗi người trong chúng ta, ai cũng đã sống trong không khí văn hoá dân gian, cho nên trong mỗi người Việt Nam hết sức nhạy cảm với ca dao dân ca, cổ tích, truyền thuyết hay các phong tục tập quán…Chỉ cần một lay động nhỏ, là tâm hồn người Việt Nam đã rung lên bao hồi ức. Còn cảm giác “lạ” là khi đọc những dòng thơ này là do từ những chất liệu văn hoá, văn học dân gian rất gần gũi ấy, nhà thơ đã thu nạp được nhiều ý tưởng rất thơ, rất êm dịu và cũng rất bất ngờ đem lại sức hấp dẫn cho đoạn thơ.<br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-10-16 08:07:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhtrietahs/1213dn/wish/2341703494</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Khánh An</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhtrietahs/1213dn/wish/2341726862</link>
         <description><![CDATA[<div><br>Đất nước với Nguyễn Khoa Điềm không chỉ gắn với những câu tục ngữ, ca dao, những câu chuyện cổ tích, truyền thuyết mà nó còn gắn với bề dày truyền thống văn hóa với những phong tục tập quán có từ ngàn đời xưa của cha ông ta:<br><br></div><div><br>"Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn".<br><br></div><div><br>Hình ảnh miếng trầu gợi liên tưởng tới sự tíchtrầu cau, đến phong tục ăn trầu của người Việt. Nét đẹp văn hóa ấy cho đến ngày nay vẫn được bảo tồn, lưu giữ. Bởi từ xưa đối với người Việt ta miếng trầu là đầu câu chuyện, miếng trầu nên dâu nhà người. Đất nước thật lớn lao kì vĩ lại được bắt đầu từ những điều nhỏ bé bình dị biết bao!<br><br></div><div><br>Không chỉ có tục lệ ăn trầu, mà tục bới tóc sau đầu cũng là một nét đẹp văn hóa được nhà thơ gợi nhắc qua câu thơ:<br><br></div><div><br>"Tóc mẹ thì bới sau đầu"<br><br></div><div><br>Câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm gợi ta nhớ đến lời ca dao:<br><br></div><div><br>"Tóc ngang lưng vừa chừng em bới<br><br></div><div><br>Để chi dài bối rối lòng anh."<br><br></div><div><br>Bới tóc sau đầu là là một thói quen đã trở thành tập tục từ ngàn đời xưa của dân ta. Hình ảnh người mẹ có bới tóc sau đầu gợi vẻ đẹp hồn hậu, giản dị, dịu dàng, nữ tính. Đây là nét đẹp văn hóa có sức sống lâu bền. Dù trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc nhưng nét đẹp ấy vẫn được giữ gìn.<br><br></div><div><br>Theo tiến trình phát triển của đất nước, dân tộc ta tiến lên nền văn minh lúa nước gắn với nền sản xuất nông nghiệp. Người Việt ta từ xưa đã biết xây dựng nhà cửa để che mưa, trú nắng:<br><br></div><div><br>"Cái kèo, cái cột thành tên".<br><br></div><div><br>Cái kèo, cái cột là những vật dụng quen thuộc khi dựng nhà của cha ông ta. Những vật dụng ấy đã được lấy để đặt tên cho con cái. Những cách đặt tên không cầu kì, hoa mĩ thể hiện được nếp sống hồn nhiên, giản dị của người xưa.<br><br></div><div><br>Hình ảnh miếng trầu giản dị hiện lên trên cái miệng móm mém nhai trầu của bà, mái tóc bới sau đầu của mẹ, cách gọi tên “cái kèo, cái cột” dân dã. Những điều tưởng chừng như bình thường ấy đã trở thành nếp sống, nét đẹp văn hóa, thuần phong mĩ tục đậm đà bản sắc Việt Nam.<br><br></div><div><br>Qua việc vận dụng đậm đặc, sáng tạo chất liệu văn hoá văn học dân gian, Nguyễn Khoa Điềm đã làm nổi bật trước mắt người đọc hình ảnh của một đất nước vừa thiêng liêng, vừa hiện hữu rõ ràng, vừa có chiều sâu văn hoá lịch sử, vừa bình dị thân quen với cuộc sống quanh ta. Chất dân gian thấm sâu vào tư duy nghệ thuật, tư tưởng cảm xúc của nhà thơ trong Đất Nước tạo nên một dấu ấn độc đáo khó phai trong lòng mỗi bạn đọc yêu văn!<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-10-16 09:04:33 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhtrietahs/1213dn/wish/2341726862</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Gia Bảo</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhtrietahs/1213dn/wish/2341727623</link>
         <description><![CDATA[<div><br></div><div><br>Theo tiến trình phát triển của đất nước, dân tộc ta tiến lên nền văn minh lúa nước gắn với nền sản xuất nông nghiệp. Người Việt ta từ xưa đã biết xây dựng nhà cửa để che mưa, trú nắng:<br><br></div><div><br>"Cái kèo, cái cột thành tên".<br><br></div><div><br>Cái kèo, cái cột là những vật dụng quen thuộc khi dựng nhà của cha ông ta. Những vật dụng ấy đã được lấy để đặt tên cho con cái. Những cách đặt tên không cầu kì, hoa mĩ thể hiện được nếp sống hồn nhiên, giản dị của người xưa.<br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-10-16 09:06:29 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhtrietahs/1213dn/wish/2341727623</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phương thùy </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhtrietahs/1213dn/wish/2341897897</link>
         <description><![CDATA[<div>Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn" lấy ý từ bài ca dao "Tay nâng chén muối đĩa gừng/ Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau" hay "Muối ba năm muối hãy còn mặn, gừng chín tháng gừng hãy còn cay/ Đôi ta tình nặng nghĩa dày/ Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa"<br><em>-</em> "Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng"<br>Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm" lấy ý từ bài ca dao "Khăn thương nhớ ai/ Khăn rơi xuống đất..."</div><div>+ Liệt kê hàng loạt những câu chuyện từ xa xưa trong truyền thuyết, cổ tích dân tộc để làm nổi bật&nbsp; vẻ đẹp trù phú của đất nước, những truyền thống quý báu của nhân dân ta đồng thời khẳng định vai trò to lớn của nhân dân trong việc "làm ra Đất Nước"<br>Ví dụ: Truyến thống đoàn kết, tinh thần cảnh giác cao độ trước kẻ thù "dân mình biết trồng tre mà đánh giặc", tinh thần uống nước nhớ nguồn "Hằng năm ăn đâu làm đâu/ Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ"<em>. </em>Hoặc tô đậm sự trù phú tươi đẹp của quê hương:<br>Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu<br>Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm"<br>- Chất liệu văn hóa, văn học dân gian được sử dụng đậm đặc đã tạo nên một không gian nghệ thuật riêng của đoạn trích, vừa bình dị, gần gũi, hiện thực, lại vừa giàu tưởng tượng, bay bổng, mơ mộng. Hơn nữa, có thể nói chất dân gian đã thấm sâu vào tư tưởng và cảm xúc của tác giả, tạo nên một đặc điểm trong tư duy nghệ thuật ở đoạn trích này.<br>- Bằng việc sử dụng đậm đặc chất liệu văn hóa dân gian, bên cạnh việc lí giải, định nghĩa Đất Nước ở nhiều bình diện [không gian, thời gian lịch sử, truyền thống văn hóa] nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm còn làm nổi bật một tư tưởng mới mẻ: "Đất Nước của nhân dân/ Đất Nước của ca dao thần thoại"<br><br></div><div><br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-10-16 14:28:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhtrietahs/1213dn/wish/2341897897</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tác giả đã đề cập đến một tập tục búi tóc sau đầu của người phụ nữ Việt Nam cho gọn gàng để tiện cho lao động sản xuất, lâu dần trở thành một nét đẹp thanh lịch dịu dàng của người phụ nữ. Hình ảnh búi tóc gọn gàng sau gáy mẹ những buổi bẻ bắp, làm nương, những ngày xay gạo nuôi quân, là hình tượng của người phụ nữ, là hậu phương vững chắc cho gia đình. Tiếng gọi: “Tóc mẹ thì bới sau đầu” vẫn là hình ảnh thân thương, quen thuộc, gần gũi trong đời sống, phong cách của người phụ nữ Việt Nam, người mẹ Việt Nam làm nên nét duyên dáng Việt Nam, nét đẹp văn hóa Việt nam. Nói đến “búi tóc” là nói về phong tục của người  Âu Lạc thuở xa xưa và cho đến hôm nay, hình ảnh ấy, búi tóc ấy vẫn ăn sâu vào tâm hồn và đời sống của người phụ nữ Việt Nam, người mẹ Việt Nam. Đó là vẻ đẹp giản dị của người phụ nữ Việt Nam. Không ai khác là những người mẹ với phong tục “búi tóc sau đầu” tóc cuộn thành búi sau gáy tạo cho người phụ nữ một vẻ đẹp nữ tính, thuần hậu rất riêng và lòng thủy chung của người vợ đã có chồng là nét đẹp truyền thống, đạo lí làm nên nét đẹp văn hóa cho Đất Nước.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhtrietahs/1213dn/wish/2342026642</link>
         <description><![CDATA[<div>Hiền Duy </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-10-16 17:35:32 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhtrietahs/1213dn/wish/2342026642</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tường Minh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhtrietahs/1213dn/wish/2342032559</link>
         <description><![CDATA[<div>Hình ảnh cây tre: Nguyễn Khoa Điềm khẳng định chân lí bằng một phép lí giải một cách cụ thể sinh động về sự khởi nguyên và phát triển của đất nước qua hình tượng cây tre.Với tiếng gọi: “Biết trồng tre mà đợi ngày thành chúng ta liên tưởng lời thơ của Nguyễn Khoa Điềm với thị ảnh: “Đất Nước lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”, quả thật, cây tre là hình ảnh quen thuộc, gần gũi trong cuộc sống của người dân quê Việt Nam. Nói về cây tre chúng ta lại nhớ đến lũy tre làng, bao bọc cả thôn xóm, ôm ấp một tình quê. Tre từng che mưa, chắn nắng trước sự khắc nghiệt của thiên nhiên, chống đỡ từ làn tên mũi đạn của quân. Nói đến tre là dụng cụ thô sơ gắn chặt vào đời sống của người dân quê Việt Nam từ cái rổ, cái rá, cái lờ bắt cá ... là dụng cụ thiết thực cho đời sống con người và nói đến cây tre qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Và nói đến cây tre, ngoài vẻ đẹp hữu hình, cây tre còn mang nét đẹp vô hình, đưa chúng ta liên tưởng về truyền thuyết Thánh Gióng từng nhổ tre bên đường đánh tan quân giặc, biểu tượng sức mạnh quật cường của một dân tộc không bao giờ khuất phục và bản lĩnh sống và chiến đấu cũa dân tộc.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-10-16 17:45:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhtrietahs/1213dn/wish/2342032559</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thế Danh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhtrietahs/1213dn/wish/2343144980</link>
         <description><![CDATA[<div>Đoạn trích "Đất Nước" đã sử dụng đậm đặc chất liệu văn học dân gian như các truyền thuyết xa xưa về Thánh Gióng, về Lạc Long Quân và Âu Cơ, đến truyện cổ tích như Trầu Cau, đặc biệt là nhiều câu ca dao được dùng và mang nhiều ý nghĩa sâu sắc:&nbsp;<br>Ở câu thơ<br>&nbsp;"Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặng" là lấy ý từ câu ca dao:<br>&nbsp;"Tay bưng chén muối đĩa gừng&nbsp;<br>Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau".<br>Hay<br>"Muối ba năm muối hãy còn mặn&nbsp;<br>Gừng chín tháng gừng vẫn còn cay<br>Đôi ta nghĩa nặng tình dày<br>Có xa nhau đi nữa thì ba vạn sáu ngàn ngày mới xa".<br><br>Ý thơ thứ hai&nbsp;<br>"Dạy anh biết yêu từ thuở trong nôi" xuất phát từ câu ca dao&nbsp;<br>"Yêu em từ thuở trong nôi<br>Em nằm em khóc, anh ngồi anh ru".<br><br>Ý thơ thứ ba<br>&nbsp;"Biết quý công cần vàng những ngày lặn lội" được tác giả lấy ý từ câu ca dao.<br><br>"Cầm vàng mà lội qua sông&nbsp;<br>Vàng rơi không tiếc tiếc công cầm vàng".<br><br>Chất liệu văn học dân gian đã được Nguyễn Khoa Điềm sử dụng vào đoạn thơ một cách linh hoạt. Không lặp lại không hoàn toàn những câu ca dao, nhà thơ chỉ dùng một phần hoặc lấy từ hình ảnh của những câu ca dao đó và để tạo nên câu thơ của riêng mình. Nhờ vào chất liệu của văn học dân gian mà ta cảm thấy đoạn thơ Đất Nước gần gũi, bình dị hơn bao giờ hết.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-10-17 12:56:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhtrietahs/1213dn/wish/2343144980</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đăng Khoa 12/13</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhtrietahs/1213dn/wish/2343315749</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;"&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; ...<br>  Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn<br>                                    ...<br> Tóc mẹ thì bới sau đầu ... " &nbsp;<br>- Hai hình ảnh “miếng trầu” bà ăn và “búi tóc” sau đầu của mẹ gợi ra nhiều ý nghĩa. Đó không chỉ là tập tục lâu đời ở người Việt khác xa với người Hán, mà còn gợi ra bao giá trị văn hoá đặc sắc của người Việt. Gắn với mái tóc người phụ nữ có bao nhiêu câu tục ngữ, ca dao: “Hàm răng mái tóc là góc con người”; “Tóc ngang lưng vừa chừng em búi/ Để chi dài bối rối dạ anh”… Hay tục ăn trầu gắn với miếng trầu đã kết tinh trong nó bao nhiêu giá trị sâu xa. Miếng trầu nhỏ nhắn nhưng không thể thiếu trong các nghi lễ trang trọng: hỏi cưới, giỗ chạp. Miếng trầu là vật xã giao: “miếng trầu là đầu câu chuyện”; miếng trầu kết duyên tình nghĩa vợ chồng, anh em: “miếng trầu đỏ thắm nặng sâu tình người”; miếng trầu còn là vật giao duyên tình chồng – vợ “Trầu này trầu tính trầu tình/ trầu loan trầu phụng, trầu mình lấy ta…” Chúng ta có cả một “văn hoá trầu”!&nbsp;</div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-10-17 14:19:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhtrietahs/1213dn/wish/2343315749</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hạnh nòoo</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhtrietahs/1213dn/wish/2343369153</link>
         <description><![CDATA[<div>- Khi nhà thơ triết lý về cội nguồn sinh ra đất nước cũng là cội nguồn của mỗi gia đình nên Đất Nước không chỉ tạo nên bởi những gì trừu tượng, xa xôi mà được hình thành từ tình nghĩa thuỷ chung của cha mẹ qua câu thơ<br><strong><em><br>Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn</em></strong><br><br>Thì đây là ý thơ cho ta thấy tác giả gợi tả từ cái gốc của chất liệu dân gian, đó là từ trong câu ngạn ngữ dân gian "Gừng cay muối mặn", chỉ những cay đắng gian nan đã gắn bó tình nghĩa vợ chồng. Và thói quen tâm lí, tình cảm này cũng làm cho ta gợi nhớ đến câu ca dao hết sức trìu mến:<br><br><strong><em>Tay bưng chén muỗi đãi gùng Gùng cay muối mặn xin đừng quên nhau</em></strong><br><br>- Và khi nói về tình yêu đôi lứa, câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm cũng hết sức mượt mà, Đất Nước gắn bỏ với con người trọn đời: từ thuở ấu thơ đến lúc thưởng thành và khi biết yêu thương, hẹn hò, nhớ nhưng lại gắn với hình ảnh Đất Nước<br><br><strong><em>&nbsp;Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm</em></strong><strong><br><br></strong>Khi xúc cảm nên dòng thơ này, nhà thơ như muốn tâm sự, trong tình yêu đôi lứa, trong nỗi nhớ nhung da diết của em đã hiện hữu tình Đất Nước. Và đó là nỗi nhớ không định hình được mà câu ca dao tình yêu quen thuộc cắt lên rất gần gũi và hết đỗi đời thường:<strong><br></strong><strong><em><br>Khăn thương nhớ ai Khăn rơi xuống đất...</em></strong><strong><br><br></strong>Khi xúc cảm nên dòng thơ này, nhà thơ như muốn tâm sự, trong tình yêu đôi lứa, trong nỗi nhớ nhung da diết của em đã hiện hữu tình Đất Nước. Và đó là nỗi nhớ không định hình được mà câu ca dao tình yêu quen thuộc cắt lên rất gần gũi và hết đỗi đời thường:<br><strong><br></strong><strong><em>Khăn thương nhớ ai Khăn rơi xuống đất...</em></strong><strong><br><br></strong>- Nguyễn Khoa Điềm cảm nhận Đất Nước trải ra theo chiều dài, chiều rộng của không gian nhưng không gian ấy thật gần gũi, là nơi con chim bay về, nơi con cá móng nước:<br><br>&nbsp;<strong><em>Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hơn núi bạc" Nước là nơi "con cả ngư<br>ông móng nước biển khơi" <br><br></em></strong><br><br><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-10-17 14:45:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhtrietahs/1213dn/wish/2343369153</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lê Trường Giang</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhtrietahs/1213dn/wish/2343409927</link>
         <description><![CDATA[<div>"Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc." Tác giả khẳng định đất nước chỉ thực sự trường thành khi dân ta có ý thức tự lực tự cường, cầm lấy vũ khí mà giết ngoại xâm. Cây tre là hình ảnh thể hiện điều đó. Bờ tre bao quanh ngoi nhà, lũy tre bao quanh xóm làng, những cái cán cuốc, rổ tre, tủ tre, ... Cây tre gắn liền với đời sống người dân và Đất nước, là vũ khí của Thánh Gióng để giết giặc, chứng nhân cho tinh thần bất khuất của nhân dân ta.<br><br>"Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng". Một nắng hai sương gợi cảnh người nông dân bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, con trâu đi trước cái cày theo sau để tạo ra hạt gạo vàng ươm. Các động từ và nhịp thơ 1-1-1-1 diễn tả từng công đoạn nhọc nhằn, từng giọt mồ hôi đổ xuống để làm ra hạt gạo nuôi dân, nuôi lính. Đây còn là lời nhắn nhủ của nhà thơ về đạo lí "uống nước nhớ nguồn", "ăn quả nhớ kẻ trồng cây."&nbsp;<br><br>"Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất nước những núi Vọng Phu". Núi Vọng Phu là ngọn núi trông giống người vợ ôm con chờ chồng. Có lẽ người vợ này đại diện cho tất cả những người phụ nữ xưa ngóng chờ tin chồng nơi chiến trận. Vì sự thật này mà người xưa đã đặt tên hòn núi Vọng Phu và kể lại câu chuyện cổ tích "Vọng Phu" với nàng Tô Thị tình nghĩa, với mong ước tố cáo, xóa bỏ chiến tranh phi nghĩa và tôn vinh những người phụ nữ thủy chung, đậm đà nghĩa tình. <br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-10-17 15:06:04 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhtrietahs/1213dn/wish/2343409927</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhtrietahs/1213dn/wish/2344147883</link>
         <description><![CDATA[<div>vũ cường<br><br>Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn<br>Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc<br><br>Bắt đầu với phong tục ăn trầu gợi về hình ảnh người bà thân thuộc, gợi câu chuyện về sự tích trầu cau, nhắn nhủ nghĩa tình anh em sâu đậm, tình cảm vợ chồng nhân nghĩa thủy chung. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm cảm nhận về hình ảnh Đất Nước không phải là những cái gì xa xôi, rộng lớn mà những hình ảnh rất quen thuộc, gần gũi trong cuộc sống con người, ăn sâu vào máu thịt của mỗi người, mỗi gia đình từ bao đời nay. Với tiếng gọi: “Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn”. Hình ảnh miếng trầu, một vật thể nhỏ bé, gần gũi trong cuộc sống của mỗi gia đình mà lời người xưa từng nói: “Miếng trầu là đầu câu chuyện”, ngoài việc giao tiếp từ miếng trầu, hình ảnh ấy tượng trưng cho cùng giỗ, lễ hội, hôn nhân là phong tục tập quán của nhân dân ta, làm nên nét đẹp văn hóa của dân tộc, tô đậm sự giàu đẹp cho Đất Nước. Hình ảnh “cây tre” còn gợi lên hình ảnh của con người Việt Nam, cần cù, siêng năng, chịu thương, chịu khó. “Lớn lên” nghĩa là nói quá trình trưởng thành của Đất Nước, nói lớn lên trong chiến tranh nghĩa là nói truyền thống chống giặc kiên cường, bền bỉ.&nbsp; Có thể thấy, từ bao đời nay, từ truyền thuyết dân gian đến tác phẩm thơ hiện đại, cây tre trở thành biểu tượng cho sức mạnh tinh thần quật cường đánh giặc cứu nước và giữ nước, biểu tượng phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-10-18 00:23:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhtrietahs/1213dn/wish/2344147883</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Truc Nguyen</title>
         <author>emawatar16012005</author>
         <link>https://padlet.com/minhtrietahs/1213dn/wish/2346116909</link>
         <description><![CDATA[<div>Chất liệu văn hóa dân gian trong đoạn thơ Đất Nước được sử dụng vừa quen thuộc vừa mới lạ.</div><div><br>Nhà thơ đã vận dụng thành công chất liệu văn hóa dân gian. Những chất liệu ấy vừa quen thuộc (gần gũi với cuộc sống của mỗi con người Việt Nam) vừa mới lạ (với những sáng tạo mới mẻ, hấp dẫn)</div><div><br></div><div>- Chất liệu dân gian được sử dụng rất đa dạng, phong phú, tất cả đều gần gũi, quen thuộc với mỗi con người Việt Nam&nbsp;</div><div><br></div><div>+ Có phong tục, lối sống, tập quán sinh hoạt, vật dụng quen thuộc (miếng trầu, tóc bới sau đầu, cái kèo, cái cột, hạt gạo xay, giã, giần, sàng, hòn than, con cúi,...).</div><div><br></div><div>+ Có ca dao, dân ca, tục ngữ, truyền thuyết, cổ tích.&nbsp; &nbsp;</div><div><br></div><div>- Cách vận dụng độc đáo, sáng tạo:&nbsp;</div><div><br></div><div>+ Vận dụng ca dao, tục ngữ nhưng dẫn dắt khéo léo, khi lấy nguyên vẹn toàn bài khi chỉ mượn ý mượn tứ để khẳng định, tôn vinh những nét đẹp trong sinh hoạt và tâm hồn con người Việt Nam. Đó là sự chăm chỉ chịu thương, chịu khó; là tấm lòng thủy chung son sắt trong tình yêu; là sự duyên dáng, ý nhị trong từng lời ăn tiếng nói...</div><div><br></div><div>Ví dụ:</div><div><br></div><div>- "Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn" lấy ý từ bài ca dao "Tay nâng chén muối đĩa gừng/ Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau" hay "Muối ba năm muối hãy còn mặn, gừng chín tháng gừng hãy còn cay/ Đôi ta tình nặng nghĩa dày/ Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa"</div><div><br></div><div>- "Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng"</div><div><br></div><div>- "Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm" lấy ý từ bài ca dao "Khăn thương nhớ ai/ Khăn rơi xuống đất..."</div><div><br></div><div>...</div><div><br></div><div>+ Liệt kê hàng loạt những câu chuyện từ xa xưa trong truyền thuyết, cổ tích dân tộc để làm nổi bật&nbsp; vẻ đẹp trù phú của đất nước, những truyền thống quý báu của nhân dân ta đồng thời khẳng định vai trò to lớn của nhân dân trong việc "làm ra Đất Nước"</div><div><br></div><div>Ví dụ: Truyến thống đoàn kết, tinh thần cảnh giác cao độ trước kẻ thù "dân mình biết trồng tre mà đánh giặc", tinh thần uống nước nhớ nguồn "Hằng năm ăn đâu làm đâu/ Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ". Hoặc tô đậm sự trù phú tươi đẹp của quê hương:</div><div><br></div><div>"Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu</div><div><br></div><div>...</div><div><br></div><div>Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm"</div><div><br></div><div>- Chất liệu văn hóa, văn học dân gian được sử dụng đậm đặc đã tạo nên một không gian nghệ thuật riêng của đoạn trích, vừa bình dị, gần gũi, hiện thực, lại vừa giàu tưởng tượng, bay bổng, mơ mộng. Hơn nữa, có thể nói chất dân gian đã thấm sâu vào tư tưởng và cảm xúc của tác giả, tạo nên một đặc điểm trong tư duy nghệ thuật ở đoạn trích này.</div><div><br></div><div>- Bằng việc sử dụng đậm đặc chất liệu văn hóa dân gian, bên cạnh việc lí giải, định nghĩa Đất Nước ở nhiều bình diện [không gian, thời gian lịch sử, truyền thống văn hóa] nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm còn làm nổi bật một tư tưởng mới mẻ: "Đất Nước của nhân dân/ Đất Nước của ca dao thần thoại"</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-10-19 01:09:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhtrietahs/1213dn/wish/2346116909</guid>
      </item>
      <item>
         <title>VỹNgọc</title>
         <author>levyngoc1803</author>
         <link>https://padlet.com/minhtrietahs/1213dn/wish/2347376375</link>
         <description><![CDATA[<div><br>- Nguyễn Khoa Điềm không dùng những hình ảnh kì vĩ, mĩ lệ, cũng không dùng cách nói trang trọng để giải thích về nguồn cội của đất nước, mà tác giả đã chọn một cách nói dung dị nhưng thấm thía.<br>"Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa” mẹ thường hay kể"<br><br>- Đất nước có từ “ngày xửa ngày xưa”, tức là đất nước đã có từ lâu lắm rồi. Từ trong những câu chuyện cổ tích, truyền thuyết mẹ thường hay kể cho ta bên cánh võng ầu ơ. Cụm từ “ngày xửa ngày xưa” cũng gợi ta liên tưởng đến những câu mở đầu thường thấy trong các câu truyện cổ dân gian mang âm hưởng của những câu chuyện cổ tích, đưa ta về một thuở rất xa xưa.<br><br>- Đất nước ta lớn lên cùng truyền thống đấu tranh giữ nước của dân tộc Câu thơ “Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc” gợi ta nghĩ đến truyền thuyết Thánh Gióng . Hình ảnh cậu bé vươn vai thành tráng sĩ nhổ tre đánh đuổi giặc Ân ra khỏi bờ cõi đã thể hiện tinh thần yêu nước kiên cường, bất khuất chống ngoại xâm để bảo vệ nền độc lập dân tộc hơn bốn ngàn năm lịch sử của cha ông ta.<br><br>- Đất nước còn là nơi phát sinh và phát triển của cộng đồng người Việt qua bao thế hệ. Từ thuở sơ khai, với truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên”, “Lạc Long Quân và u Cơ” đã “ Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng”:<br>"Đất là nơi Chim về<br>Nước là nơi Rồng ở<br>Lạc Long Quân và u Cơ<br>Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng".<br><br>- Nguyễn Khoa Điềm đã thật sáng tạo trong ý thơ. Chỉ bằng một vài hình ảnh đã gợi ra những truyền thuyết xa xưa về nguồn cội dân mình. Dân tộc ta là con rồng, cháu tiên cùng được sinh ra từ bọc trăm trứng nở ra trăm con của cha Lạc Long Quân và mẹ u Cơ.<br><br>- Đất nước trong cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm thật gần gũi, quen thuộc biết bao. Nhà thơ vận dụng rộng rãi nhiều chất liệu văn học dân gian từ các câu chuyện cổ tích, truyền thuyết của nhân dân ta để cảm nhận về đất nước. Cách nói này vừa đậm đà tính dân tộc, vừa giàu tính trí tuệ mới mẻ.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-10-19 16:29:43 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhtrietahs/1213dn/wish/2347376375</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
