<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title>Làm lại Nhóm 2 - BBđẳng giữa thành thị và nông thôn trong GD by Hiếu Sloger</title>
      <link>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p</link>
      <description>Được tạo ra bằng sự may mắn</description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2021-11-11 09:52:01 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2025-10-11 01:25:43 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url></url>
      </image>
      <item>
         <title>1) Các cấp có thẩm quyền cần tổ chức thực hiện hiệu quả chính sách xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống vật chất cho các thành viên trong xã hội. </title>
         <author>thuytrangg1610</author>
         <link>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1883788175</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-11 09:55:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1883788175</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Uyên</title>
         <author>letuuyen31</author>
         <link>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1883788382</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1450934697/7edce14deb4f0f6d33909a6946d095bf/kisspng_industrial_revolution_social_class_upper_class_upp_5b07c80616c6c9_9174707015272366140933.jpg" />
         <pubDate>2021-11-11 09:56:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1883788382</guid>
      </item>
      <item>
         <title>2) Các cấp có thẩm quyền cần tiếp tục đầu tư nguồn lực cho giáo dục nhằm nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục đối với người dân các vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa</title>
         <author>thuytrangg1610</author>
         <link>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1883788742</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-11 09:56:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1883788742</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>1953010008</author>
         <link>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1883788920</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;Bất bình đẳng về giáo dục giữa các vùng miền, giữa các dân tộc<br>Tìm hiểu sự bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục theo khu vực, tác giả Dương Chí Thiện đã mô tả những nét cơ bản về sự bất bình đẳng giữa nông thôn và thành thị ở Việt Nam hiện nay: khu vực đô thị có mức chi tiêu cho giáo dục cao hơn nhiều lần so với khu vực nông thôn và mức chi này càng ngày càng gia tăng theo các bậc học từ thấp đến cao ở cả hai khu vực. Tình trạng bất bình đẳng về giáo dục còn khá phổ biến về tỉ lệ biết đọc, biết viết và trình độ học vấn giữa các vùng miền, giữa các dân tộc thiểu số và dân tộc Kinh, giáo dục ở khu vực nông thôn còn tụt hậu so với khu vực thành thị [3</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-11 09:56:20 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1883788920</guid>
      </item>
      <item>
         <title>3) Cần thay đổi suy nghĩ, thái độ  cần đẩy mạnh tuyên truyền về tác dụng to lớn của việc giáo dục, đồng thời, vận động nhân dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số xóa bỏ những hủ tục lạc hậu. Ở nhiều cộng đồng, việc thất học bắt nguồn từ truyền thống lạc hậu: bất bình đẳng về giới (trọngnam, khinh nữ); cổ súy cho việc tảo hôn; quan niệm lệch lạc về tôn giáo. Đặc biệt, cần phải đẩy lùi tập quán tảo hôn trong cộng đồng dân tộc thiểu số. Việc những đứa trẻ thất học sớm, không được hưởng giáo dục, phải lấy chồng và sinh con sớm khi chưa đủ những kĩ năng, chưa độc lập về cuộc sống là nguyên nhân dẫn đến nghèo đói của bản thân chúng và cũng là nguyên nhân dẫn đến nghèo đói, thất học trong gia đình,bao gồm các thế hệ con cái sau này.</title>
         <author>thuytrangg1610</author>
         <link>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1883789354</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-11 09:56:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1883789354</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>1953010008</author>
         <link>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1883790008</link>
         <description><![CDATA[<div>Bất bình đẳng về giáo dục được xét theo hai góc độ. Thứ nhất, bất bình đẳng về giáo dục là sự phân phối (phân chia) những thành tựu giáo dục đạt được cho các thành viên một cách ngẫu nhiên trong xã hội, theo góc độ này, bất bình đẳng về giáo dục được so sánh tương tự như bất bình đẳng về thu nhập (hoặc chi tiêu). Thứ hai, bất bình đẳng về giáo dục là sự phân phối những thành tựu giáo dục đạt được cho các thành viên theo những cơ sở xã hội khác nhau, có nghĩa là những người có cơ sở xã hội khác nhau sẽ nhận được những mức độ giáo dục khác nhau. Ta có thể đo lường sự bất bình đẳng về giáo dục theo góc độ này thông qua chỉ số phân hóa (chỉ số chênh lệch) giữa các nhóm cơ sở khác nhau. Theo góc độ này, bất bình đẳng về giáo dục được gọi là bất bình đẳng về cơ hội giáo dục. Vì thế, cả hai góc độ này đều được gọi chung là bất bình đẳng giáo dục [</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-11 09:56:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1883790008</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>1953010032</author>
         <link>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1883790273</link>
         <description><![CDATA[<div>Tình trạng bất bình đẳng về giáo dục còn khá phổ biến về tỉ lệ biết đọc, biết viết và trình độ học vấn giữa các vùng miền, giữa các dân tộc thiểu số và dân tộc Kinh, giáo dục ở khu vực nông thôn còn tụt hậu so với khu vực thành thị</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-11 09:57:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1883790273</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>Halinhh_ng</author>
         <link>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1883790814</link>
         <description><![CDATA[<div>Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới (Đồ thị 7): ở Việt Nam đang có sự chênh lệch rõ nét giữa khu vực ĐT - NT về cơ sở vật chất, trang thiết bị trung bình của các trường học phổ thông. Trên tất cả 7 vùng của Việt Nam, khu vực đô thị bao giờ cũng có chỉ số trung bình về cơ sở vật chất, trang thiết bị giáo dục cao hơn so với khu vực nông thôn. Vùng có sự chênh lệch đô thị - nông thôn nhiều nhất là vùng Tây Nguyên (3,0 điểm) và vùng Tây Bắc (2,8 điểm). Đặc biệt là, vùng Đồng bằng sông Hồng có mức chênh lệch thấp nhất (1,1 điểm). Các vùng còn lại đều có mức chênh lệch từ 1,8-2,0 điểm. Điều đó chứng tỏ rằng, ở khu vực ĐT - NT đang tồn tại một khoảng cách chênh lệch khá nhiều về cơ sở vật chất, trang thiết bị giáo dục. Đó là một yếu tố không nhỏ dẫn đến sự bất bình đẳng về cung cấp các điều kiện và cơ hội cho người dân tiếp cận đến hệ thống giáo dục ở mỗi khu vực. Có nghĩa là, người dân ở nông thôn vẫn đang có nhiều bất lợi hơn (có ít điều kiện và cơ hội hơn) so với người dân ở đô thị trong việc tiếp cận các cơ sở giáo dục. Lý do cơ bản của tình trạng này, là ở chỗ trường họcởkhuvựcđôthịcốgắngthuhút được nhiều khoản đóng góp hơn, trong khi đó hầu hết các trường nông thôn, vùng sâu vùng xa gặp rất nhiều khó khăn trong việc huy động các khoản tiền bổ sung; trường thành phố có khả năng chi tiêu nhiều hơn trường ở nông thôn nghèo.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-11 09:57:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1883790814</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>1953010032</author>
         <link>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1883790856</link>
         <description><![CDATA[<div>Hiện tượng bất bình đẳng giới trong giáo dục còn tồn tạiởmộtsốnhómdâncư,vùngmiền,tỉlệtrẻemnữởcác vùng dân tộc thiểu số chưa bao giờ đi học cao hơn so với các vùng khác trong cả nước; tỉ lệ biết đọc, biết viết thấp nhất cả nước; tỉ lệ biết đọc, biết viết ở bậc tiểu học thấp hơn trẻ em trai tại tất cả các tỉnh trong cùng vùng; càng học cao trẻ em gái bỏ học càng nhiều hơn so với trẻ em trai.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-11 09:57:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1883790856</guid>
      </item>
      <item>
         <title>4) Cần nâng cao tính cần có những hoạt động cụ thể hướng tới đối tượng nam giới - bao gồm những người chồng, người cha, người anh trong gia đình cần được tuyên truyền để hiểu biết hậu quả của tảo hôn và những lợi ích lâu dài mà các cơ hội giáo dục có thể đem lại cho trẻ em cũng như gia đình, cộng đồng. Những người cha, người mẹ trong gia đình cần hiểu rằng việc cho con cái dừng học sớm sẽ có nguy cơ đẩy các em và gia đình họ vào nghèo khổ và thất học nên việc đầu tư cho giáo dục có tác dụng tích cực nhấtcho việc xóa đói giảm nghèo cho mỗi gia đình và tạo sự phát triển bền vững cho cộng đồng quốc gia.</title>
         <author>thuytrangg1610</author>
         <link>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1883791447</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-11 09:57:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1883791447</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>1953010032</author>
         <link>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1883791807</link>
         <description><![CDATA[<div>Nhiều nghiên cứu chỉ ra tỉ lệ thuận giữa thu nhập và cơ hội tiếp cận giáo dục. Nghiên cứu của Lê Ngọc Hùng (2016) đưa ra những minh chứng cụ thể: Bất bình đẳng về tỉ lệ đi học đúng tuổi đại học giữa nhóm 20% giàu nhất và nhóm 20% nghèo nhất lên tới 88 lần: tỉ lệ nhập học đúng tuổi của nhóm giàu là 26,3% so với tỉ lệ nhập học đúng tuổi của nhóm nghèo là 0,3%. Điều này có nghĩa là cứ 1 người xuất thân từ nhóm 20% nghèo nhất có cơ hội đến trường đại học thì có 87-88 người đến trường đại học xuất thân từ nhóm 20% giàu nhất [5].<br>So sánh với hai nghiên cứu khác của Mai Quỳnh Nam và Nguyễn Đình Tuấn [6], [7] ta thấy sự khác biệt về cơ hội tiếp cận giáo dục và y tế của nhóm người nghèo. Kết luận chung của các nghiên cứu này cho thấy, trình độ học vấn, sức khỏe và nghèo đói có mối quan hệ khá chặt chẽ với nhau. Kết quả nghiên cứu và đánh giá khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục của người nghèo ở các tỉnh miền núi phía Bắc, trong điều kiện xã hội hóa giáo dục ở Việt Nam của Trịnh Thị Anh Hoa [8] cho thấy, các tỉnh miền núi phía Bắc và đặc biệt ở các xã có điều kiện KT-XH chậm phát triển hiện đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc xã hội hóa giáo dục, do hạn chế cả về nguồn đầu tư và mức độ sẵn sàng đóng góp của người dân cho phát triển giáo dục.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-11 09:57:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1883791807</guid>
      </item>
      <item>
         <title>https://tailieuxanh.com/vn/tlID2009633_bat-binh-dang-giua-do-thi-va-nong-thon-trong-tiep-can-giao-duc-o-viet-nam.html</title>
         <author>thuytrangg1610</author>
         <link>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1883792129</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://tailieuxanh.com/vn/tlID2009633_bat-binh-dang-giua-do-thi-va-nong-thon-trong-tiep-can-giao-duc-o-viet-nam.html" />
         <pubDate>2021-11-11 09:58:07 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1883792129</guid>
      </item>
      <item>
         <title>http://tapchicongthuong.vn/bai-viet/bat-binh-dang-thu-nhap-o-viet-nam-hien-nay-thuc-trang-va-khuyen-nghi-73240.htm</title>
         <author>thuytrangg1610</author>
         <link>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1883792361</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="http://tapchicongthuong.vn/bai-viet/bat-binh-dang-thu-nhap-o-viet-nam-hien-nay-thuc-trang-va-khuyen-nghi-73240.htm" />
         <pubDate>2021-11-11 09:58:15 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1883792361</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>1953010032</author>
         <link>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1883793388</link>
         <description><![CDATA[<div>Kết quả nghiên cứu về bất bình đẳng giáo dục ở Việt Nam cho thấy có sự khác biệt lớn về cơ hội được tiếp cận giáo dục và hưởng phúc lợi từ những chính sách hỗ trợ giáo dục của chính phủ; về kết quả giáo dục giữa các vùng (đô thị và nông thôn); các miền (đồng bằng và miền núi; vùng sâu, vùng xa). Đồng thời, chỉ ra các bằng chứng về những khó khăn trong tiếp cận giáo dục xuất phát từ các nguyên nhân kinh tế, văn hóa, xã hội, địa lí, ngôn ngữ và các điều kiện từ trường học như cơ sở vật chất, vấn đề giảng dạy và tài liệu học tập. Mặc dù hiện nay, Chính phủ Việt Nam có nhiều chính sách miễn giảm học phí cho người nghèo, song, nhiều người nghèo vẫn còn gặp khó khăn khi tiếp cận với giáo dục. Thực tế cho thấy, sự bất bình đẳng về giáo dục còn thể hiện ở sự chênh lệch về số lượng và chất lượng (phương thức giáo dục cũ không khuyến khích được sự tương tác, đầu tư vào giáo án giảng dạy còn chưa đúng mức, cơ sở vật chất...) các loại trường học giữa các địa phương. Đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, khoảng cách từ nơi ở đến trường học còn xa, cơ sở vật chất và nguồn nhân lực giáo dục ở các trường học tại nơi này còn rất thiếu&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-11 09:58:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1883793388</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>Halinhh_ng</author>
         <link>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1883793450</link>
         <description><![CDATA[<div>Nâng cao trình độ học vấn, nhận thức và sự quan tâm về giáo dục của người dân ở nông thôn nhiều hơn so với đô thị, bằng các chương trình tuyên truyền, giáo dục, vận động người dân tham gia giáo dục.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-11 09:58:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1883793450</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>1953010032</author>
         <link>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1883793860</link>
         <description><![CDATA[<div>Nguyên nhân hạn chế cơ hội đến trường của các em còn bắt nguồn từ: vấn đề di cư, thành phần dân tộc, phong tục tập quán của mỗi dân tộc... Thực tế, tư tưởng trọng nam khinh nữ ở một số tộc người (người Chăm, người Dao..) hay cách phân công lao động theo giới, phong tục tảo hôn ở các dân tộc H,Mông, Dao, Ra Glai là nguyên nhân cản trở nhiều nhất đến việc tiếp cận giáo dục của trẻ em gái [4]. Tập quán kết hôn sớm và nhu cầu sinh con, làm mẹ ở người Cơ-tu đã ảnh hưởng đến khả năng theo học của học sinh nữ. Mặc dù trẻ em gái người Cơ-tu vẫn muốn được đi học, song vẫn muốn hoàn thành nhiệm vụ là một người phụ nữ của gia đình nên tập quán này dẫn đến sự báo động nghiêm trọng đối với chất lượng học tập và sức khỏe sinh sản của học sinh nữ cấp 3.<br>Ngoài ra, các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, trình độ, học vấn của bố mẹ, nhận thức chưa đầy đủ của các em về tác dụng tích cực của giáo dục cũng là yếu tố ảnh hưởng đến cơ hội tiếp cận giáo dục của trẻ em. Trình độ nhận thức của bố mẹ có “tỉ lệ thuận” với cơ hội tiếp cận giáo dục của con. Trình độ học vấn của bố mẹ càng cao, càng có nhận thức cao về tác dụng tích cực của giáo dục thì cơ hội đến trường của trẻ em càng lớn. Trong những gia đình mà bố mẹ có trình độ học vấn cao, họ càng đầu tư nhiều cho chi phí giáo dục của con cái hơn những gia đình mà bố mẹ có học vấn thấp&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-11 09:59:07 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1883793860</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Uyên</title>
         <author>letuuyen31</author>
         <link>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1883794657</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;Trên cơ sở các kết quả phân tích nêu trên, chúng tôi đề xuất 5 giải pháp chủ yếu để tiến tới giảm dần bất bình đẳng giữa ĐT - NT về điều kiện và cơ hội tiếp cận với giáo dục là: Thứ nhất, nâng cao, cải thiện mức sống và khả năng chi trả cho giáo dục của người dân cả nước, trong đó chú trọng nhiều hơn đến những người dân sống ở khu vực nông thôn, nhóm người nghèo, nhóm người yếu thế. Trong đó cần miễn hoặc giảm học phí và các đóng góp về giáo dục, đồng thời cho vay vốn để tham gia giáo dục (học sinh, sinh viên thuộc các hộ gia đình nghèo, gia đình thuộc diện chính sách xã hội và hộ gia đình cận nghèo...). Thứ hai, nâng cao trình độ học vấn, nhận thức và sự quan tâm về giáo dục của người dân ở nông thôn nhiều hơn so với đô thị, bằng các chương trình tuyên truyền, giáo dục, vận động người dân tham gia giáo dục. Thứ ba, đổi mới cơ chế phân bổ, quản lý nguồn tài chính dành cho giáo dục nhằm hướng đến giảm bất bình đẳng giữa khu vực ĐT - NT, giữa các bậc Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 3(76) - 2014 84 học. Tăng nguồn tài chính cho giáo dục từ ngân sách nhà nước hàng năm (khoảng trên 10% GDP hàng năm hoặc hơn nữa). Có cơ chế ưu đãi để thu hút sự tham gia đầu tư nhiều hơn của tư nhân vào lĩnh vực giáo dục ở nông thôn. Có cơ chế phân bổ nguồn tài chính cho giáo dục một cách hợp lý giữa đô thị - nông thôn và giữa đầu tư phát triển - chi thường xuyên. Thứ tư, có chiến lược đào tạo để đáp ứng đầy đủ số lượng và chất lượng giáo viên, đồng thời có chính sách đãi ngộ thỏa đáng để huy động, thu hút các giáo viên có trình độ cao về làm việc lâu dài, ổn định ở khu vực nông thôn. Kết hợp thi tuyển và cử tuyển; đa dạng hóa các hình thức đào tạo giáo viên phù hợp với khu vực nông thôn (chính qui, tại chức, từ xa, tập huấn...). Ưu đãi về lương, phụ cấp cho giáo viên. Tạo cơ hội thăng tiến về chuyên môn, vị thế xã hội (ưu tiên đi học, tập huấn, đề bạt cán bộ...); v.v.. Thứ năm, có kế hoạch phát triển và mở rộng các trường, lớp học một cách hợp lý giữa khu vực ĐT - NT, nhất là các trường, lớp học ở trình độ cao (THPT và ĐH/CĐ). Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư mở các trường, lớp học ở khu vực nông thôn; đa dạng hóa các loại hình trường, lớp phù hợp với khu vực nông thôn. Đầu tư hợp lý để tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học, có chất lượng phù hợp đối với các cấp học thuộc vùng nông thôn. Xóa các trường, các lớp học tranh/tre/nứa/lá ở khu vực nông thôn; Xây dựng thêm nhiều hơn các trường, lớp học và đầu tư đầy đủ trang thiết bị đạt tiêu chuẩn ở nông thôn.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-11 09:59:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1883794657</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>1953010032</author>
         <link>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1883795882</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;Một là các cấp có thẩm quyền cần tổ chức thực hiện hiệu quả chính sách xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống vật chất cho các thành viên trong xã hội.<br>Dựa trên sự phân tích của các nghiên cứu, tình trạng bất bình đẳng về giáo dục bắt nguồn từ đời sống vật chất của các gia đình. Nghèo đói là nguyên nhân của nạn thất học ở trẻ em, đặc biệt là ở các vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn. Việc xem xét các chính sách phát triển nhằm giảm thiểu những chênh lệch, bất bình đẳng giữa khu vực nông thôn và thành thị. Muốn phát triển giáo dục, cần ưu tiên phát triển KT-XH, đặc biệt với người dân sống ở vùng sâu, vùng xa. Chính phủ Việt Nam đã có nhiều chính sách và dành nhiều nguồn lực trong việc nỗ lực xóa đói giảm nghèo cho người dân vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế khó khăn như: Chương trình 135/1998/QĐ- TTg); Chương trình 134/2004/QĐ-TTg; Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP... Nhưng kết quả kiểm toán các chương trình trên cho thấy, nhiều nơi tỉ lệ hộ nghèo vẫn còn trên 50%, cá biệt có nơi 70% (báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, năm 2016); một số Bộ, ngành ban hành chưa kịp thời hoặc chưa đầy đủ các văn bản hướng dẫn thực hiện các chính sách, nhiều địa phương không có văn bản hướng dẫn thực hiện các chính sách Trung ương để các huyện nghèo tổ chức thực hiện [12]. Vì vậy, các cấp có thẩm quyền cần nghiên cứu ban hành đầy đủ, kịp thời, đồng bộ hệ thống chính sách, văn bản quy định; hướng dẫn thực hiện đối với từng dự án, chương trình hỗ trợ giảm nghèo theo lĩnh vực KT-XH, đặc điểm vùng miền; tập trung rà soát, xác định mục tiêu xóa đói giảm nghèo gắn với tiêu chí nông thôn mới; sắp xếp các mục tiêu, nhiệm vụ, thứ tự ưu tiên phù hợp với điều kiện phát triển KT-XH của địa phương và khả năng nguồn lực đầu tư để có cơ sở điều chỉnh, phê duyệt lại các đề án, kế hoạch nhiệm vụ của chương trình dự án giảm nghèo, tăng cường công tác tuyên truyền (thường xuyên, sâu rộng) về chính sách giảm nghèo bền vững của Đảng và Nhà nước. Đây được coi là một trong những giải pháp đảm bảo phát triển bền vững của mỗi quốc gia và là tiền đề, điều kiện thực hiện việc xóa bỏ bất bình đẳng về giáo dục cho người dân.<br>Hai là, các cấp có thẩm quyền cần tiếp tục đầu tư nguồn lực cho giáo dục nhằm nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục đối với người dân các vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa.<br>Mặc dù chính phủ đã có những chính sách đầu tư cho giáo dục nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế khó khăn thông qua những việc làm, những kế hoạch thiết thực như xây dựng thêm trường học, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực giáo dục, cung cấp tài liệu học tập; ưu đãi, trợ cấp, miễn giảm học phí đối với các đối tượng, các nhóm xã hội dễ tổn thương như: trẻ em khuyết tật, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa... nhưng, hệ thống an sinh xã hội ở nước ta hiện còn có nhiều bất cập: Mức độ bao phủ, mức trợ cấp còn thấp và chưa được điều chỉnh kịp thời, nhất là khi giá cả biến động; nỗ lực tạo việc làm và đảm bảo việc làm đầy đủ cho nhóm lao động đặc thù như thanh niên và lao động nông thôn, vùng sâu, vùng xa vẫn là thách thức lớn; diện bao phủ của nhiều chính sách an sinh xã hội còn chưa đủ lớn, một bộ phận người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số còn khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, trong đó có giáo dục.<br>Ba là, cần thay đổi suy nghĩ, thái độ của người dân bao gồm: cha mẹ, người lớn tuổi, người có uy tín trong cộng đồng về những hậu quả và rủi ro của việc thất học; cần đẩy mạnh tuyên truyền về tác dụng to lớn của việc giáo dục, đồng thời, vận động nhân dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số xóa bỏ những hủ tục lạc hậu. Ở nhiều cộng đồng, việc thất học bắt nguồn từ truyền thống lạc hậu: bất bình đẳng về giới (trọng nam, khinh nữ); cổ súy cho việc tảo hôn; quan niệm lệch lạc về tôn giáo. Đặc biệt, cần phải đẩy lùi tập quán tảo hôn trong cộng đồng dân tộc thiểu số. Việc những đứa trẻ thất học sớm, không được hưởng giáo dục, phải lấy chồng và sinh con sớm khi chưa đủ những kĩ năng, chưa độc lập về cuộc sống là nguyên nhân dẫn đến nghèo đói của bản thân chúng và cũng là nguyên nhân dẫn đến nghèo đói, thất học trong gia đình, bao gồm các thế hệ con cái sau này.<br>Bốn là, một mặt, cần nâng cao tính chủ thể cho phụ nữ và trẻ em để họ không phải là nạn nhân của bất bình đẳng giới trong giáo dục, mặt khác, cần có những hoạt động cụ thể hướng tới đối tượng nam giới - bao gồm những người chồng, người cha, người anh trong gia đình cần được tuyên truyền để hiểu biết hậu quả của tảo hôn và những lợi ích lâu dài mà các cơ hội giáo dục có thể đem lại cho trẻ em cũng như gia đình, cộng đồng. Những người cha, người mẹ trong gia đình cần hiểu rằng việc cho con cái dừng học sớm sẽ có nguy cơ đẩy các em và gia đình họ vào nghèo khổ và thất học nên việc đầu tư cho giáo dục có tác dụng tích cực nhất cho việc xóa đói giảm nghèo cho mỗi gia đình và tạo sự phát triển bền vững cho cộng đồng quốc gia.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-11 10:00:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1883795882</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>Halinhh_ng</author>
         <link>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1883796649</link>
         <description><![CDATA[<div>Đổi mới cơ chế phân bổ, quản lý nguồn tài chính dành cho giáo dục nhằm hướng đến giảm bất bình đẳng giữa khu vực ĐT - NT, giữa các bậc học. Tăng nguồn tài chính cho giáo dục từ ngân sách nhà nước hàng năm (khoảng trên 10% GDP hàng năm hoặc hơn nữa). Có cơ chế ưu đãi để thu hút sự tham gia đầu tư nhiều hơn của tư nhân vào lĩnh vực giáo dục ở nông thôn. Có cơ chế phân bổ nguồn tài chính cho giáo dục một cách hợp lý giữa đô thị - nông thôn và giữa đầu tư phát triển - chi thường xuyên.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-11 10:00:40 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1883796649</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>1953010008</author>
         <link>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1883796901</link>
         <description><![CDATA[<div><br>Một là, các cấp có thẩm quyền cần tổ chức thực hiện hiệu quả chính sách xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống vật chất cho các thành viên trong xã hội.<br>Dựa trên sự phân tích của các nghiên cứu, tình trạng bất bình đẳng về giáo dục bắt nguồn từ đời sống vật chất của các gia đình. Nghèo đói là nguyên nhân của nạn thất học ở trẻ em, đặc biệt là ở các vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn. Việc xem xét các chính sách phát triển nhằm giảm thiểu những chênh lệch, bất bình đẳng giữa khu vực nông thôn và thành thị. Muốn phát triển giáo dục, cần ưu tiên phát triển KT-XH, đặc biệt với người dân sống ở vùng sâu, vùng xa. Chính phủ Việt Nam đã có nhiều chính sách và dành nhiều nguồn lực trong việc nỗ lực xóa đói giảm nghèo cho người dân vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế khó khăn như: Chương trình 135/1998/QĐ- TTg); Chương trình 134/2004/QĐ-TTg; Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP... Nhưng kết quả kiểm toán các chương trình trên cho thấy, nhiều nơi tỉ lệ hộ nghèo vẫn còn trên 50%, cá biệt có nơi 70% (báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, năm 2016); một số Bộ, ngành ban hành chưa kịp thời hoặc chưa đầy đủ các văn bản hướng dẫn thực hiện các chính sách, nhiều địa phương không có văn bản hướng dẫn thực hiện các chính sách Trung ương để các huyện nghèo tổ chức thực hiện [12]. Vì vậy, các cấp có thẩm quyền cần nghiên cứu ban hành đầy đủ, kịp thời, đồng bộ hệ thống chính sách, văn bản quy định; hướng dẫn thực hiện đối với từng dự án, chương trình hỗ trợ giảm nghèo theo lĩnh vực KT-XH, đặc điểm vùng miền; tập trung rà soát, xác định mục tiêu xóa đói giảm nghèo gắn với tiêu chí nông thôn mới; sắp xếp các mục tiêu, nhiệm vụ, thứ tự ưu tiên phù hợp với điều kiện phát triển KT-XH của địa phương và khả năng nguồn lực đầu tư để có cơ sở điều chỉnh, phê duyệt lại các đề án, kế hoạch nhiệm vụ của chương trình dự án giảm nghèo, tăng cường công tác tuyên truyền (thường xuyên, sâu rộng) về chính sách giảm nghèo bền vững của Đảng và Nhà nước. Đây được coi trong những giải pháp đảm bảo phát triển bền vững của mỗi quốc gia và là tiền đề, điều kiện thực hiện việc xóa bỏ bất bình đẳng về giáo dục cho người dân.<br>Hai là, các cấp có thẩm quyền cần tiếp tục đầu tư nguồn lực cho giáo dục nhằm nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục đối với người dân các vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa.<br>Mặc dù chính phủ đã có những chính sách đầu tư cho giáo dục nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế khó khăn thông qua những việc làm, những kế hoạch thiết thực như xây dựng thêm trường học, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực giáo dục, cung cấp tài liệu học tập; ưu đãi, trợ cấp, miễn giảm học phí đối với các đối tượng, các nhóm xã hội dễ tổn thương như: trẻ em khuyết tật, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa... nhưng, hệ thống an sinh xã hội ở nước ta hiện còn có nhiều bất cập: Mức độ bao phủ, mức trợ cấp còn thấp và chưa được điều chỉnh kịp thời, nhất là khi giá cả biến động; nỗ lực tạo việc làm và đảm bảo việc làm đầy đủ cho nhóm lao động đặc thù như thanh niên và lao động nông thôn, vùng sâu, vùng xa vẫn là thách thức lớn; diện bao phủ của nhiều chính sách an sinh xã hội còn chưa đủ lớn, một bộ phận người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số còn khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, trong đó có giáo dục.<br>Ba là, cần thay đổi suy nghĩ, thái độ của người dân bao gồm: cha mẹ, người lớn tuổi, người có uy tín trong cộng đồng về những hậu quả và rủi ro của việc thất học; cần đẩy mạnh tuyên truyền về tác dụng to lớn của việc giáo dục, đồng thời, vận động nhân dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số xóa bỏ những hủ tục lạc hậu. Ở nhiều cộng đồng, việc thất học bắt nguồn từ truyền thống lạc hậu: bất bình đẳng về giới (trọng nam, khinh nữ); cổ súy cho việc tảo hôn; quan niệm lệch lạc về tôn giáo. Đặc biệt, cần phải đẩy lùi tập quán tảo hôn trong cộng đồng dân tộc thiểu số. Việc những đứa trẻ thất học sớm, không được hưởng giáo dục, phải lấy chồng và sinh con sớm khi chưa đủ những kĩ năng, chưa độc lập về cuộc sống là nguyên nhân dẫn đến nghèo đói của bản thân chúng và cũng là nguyên nhân dẫn đến nghèo đói, thất học trong gia đình, bao gồm các thế hệ con cái sau này.<br>Bốn là, một mặt, cần nâng cao tính chủ thể cho phụ nữ và trẻ em để họ không phải là nạn nhân của bất bình đẳng giới trong giáo dục, mặt khác, cần có những hoạt động cụ thể hướng tới đối tượng nam giới - bao gồm những người chồng, người cha, người anh trong gia đình cần được tuyên truyền để hiểu biết hậu quả của tảo hôn và những lợi ích lâu dài mà các cơ hội giáo dục có thể đem lại cho trẻ em cũng như gia đình, cộng đồng. Những người cha, người mẹ trong gia đình cần hiểu rằng việc cho con cái dừng học sớm sẽ có nguy cơ đẩy các em và gia đình họ vào nghèo khổ và thất học nên việc đầu tư cho giáo dục có tác dụng tích cực nhất cho việc xóa đói giảm nghèo cho mỗi gia đình và tạo sự phát triển bền vững cho cộng đồng quốc gia.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-11 10:00:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1883796901</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>1953010008</author>
         <link>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1883800242</link>
         <description><![CDATA[<div>. Mức sống và khả năng chi trả cho giáo dục Mức sống là một yếu tố kinh tế rất quan trọng ảnh hưởng đến giáo dục, bởi nó quy định khả năng chi trả cho người đi học để họ có được những điều kiện cần thiết tham gia học tập. Các chi phí liên quan đến giáo dục là tiền học phí, các khoản đóng góp cho nhà trường và lớp, mua sách vở và đồ dùng học tập, mua quần áo đồng phục học sinh, chi phí đi học thêm và các khoản khác liên thường, với mức sống (thu nhập bình quân đầu người) thấp hơn thì sẽ có nhiều hạn chế và khó khăn hơn trong việc tham gia học tập. Ở các bậc học càng cao thì chi phí cho giáo dục càng lớn, và những người có mức thu nhập thấp thì thường hoàn thành trình độ giáo dục thấp hơn ở những nhóm có mức thu nhập cao hơn. Vì vậy, các yếu tố thu nhập và chi tiêu cho giáo dục được phân tích như là những yếu tố quan trọng liên quan đến bất bình đẳng về điều kiện và cơ hội để người dân tiếp cận với giáo dục giữa khu vực ĐT - NT hiện nay.(*) Kết quả một cuộc khảo sát về mức sống dân cư Việt Nam (Đồ thị 1) cho thấy rằng, mức chi tiêu bình quân cho 1 người đi học&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-11 10:02:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1883800242</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>ngothanhtu10092001</author>
         <link>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1884279662</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;3.1 Về mặt chính sách Mặc dù đã có nhiều chính sách hỗ trợ cho người nghèo trong việc tiếp cận dịch vụ giáo dục nhưng tỉ lệ học sinh nghèo không đến trường và bỏ học còn cao. Vì vậy, ngân sách nhà nước tập trung hơn cho các bậc giáo dục vùng khó khăn và ưu tiên phân bổ kinh phí để xây dựng CSVC, đầu tư cho đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ giáo viên đồng thời tăng cường công tác quản lý, giám sát sử dụng kinh phí một cách có hiệu quả. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục trong nhân dân nhằm huy động nguồn nội lực và trí tuệ vào công tác giáo dục để đảm bảo chất lượng PCGD. Ngoài ra, cần có các chính sách hỗ trợ về tài chính cho hộ gia đình nghèo, giảm bớt các chi phí cho giáo dục đặc biệt ở các bậc học phổ cập để đảm bảo cơ hội tiếp cận giáo dục công bằng cho học sinh nghèo..&nbsp;<br>3.2. Giải pháp về phía cung cấp dịch vụ cơ sở Để đảm bảo việc cung cấp dịch vụ giáo dục, cần phát triển mạng lưới các trường lớp ở vùng khó khăn tạo điều kiện để củng cố và mở rộng xây dựng trường mầm non, trường tiểu học, trường THCS trên tất cả các xã phường, thị trấn, phát triển trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp, các trường dạy nghề, các trung tâm học tập cộng đồng ở các địa phương. Đa dạng hóa các loại hình trường, lớp và hình thức học tập, tạo điều kiện thu hút những học sinh nghèo đến trường. Tăng cường đầu tư phát triển giáo dục, đặc biệt đầu tư nâng cấp CSVC, trang thiết bị dạy học; tổ chức quản lý, sử dụng hợp lý, có hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho GD &amp; ĐT. 1 Bộ GD &amp; ĐT, Báo cáo tổng hợp đánh giá chương trình và SGK, năm 2008 Xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, chất lượng đồng bộ ở các môn học. Có kế hoạch và thực hiện bồi dưỡng thuờng xuyên về chuyên môn, phương pháp dạy học cho giáo viên. Tổ chức và thực hiện tốt công tác xã hội hóa giáo dục huy động các lực lượng xã hội tham gia vào việc đa dạng hóa các hình thức học tập (chữ và nghề) mở ra các loại hình trường lớp (phổ thông và nghề nghiệp), đa dạng hóa đối tượng tuyển sinh, các phương thức đào tạo chính quy, không chính quy tạo cơ hội học tập cho các học sinh và góp phần tạo ra một xã hội học tập trên phạm vi xã, huyện nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện<br>&nbsp;3.3. Giải pháp về phía người tiếp nhận dịch vụ giáo dục Để tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục có chất lượng cần tập trung vào học sinh. Cần trang bị cho các em kiến thức và công cụ nhằm giúp các em hiểu được các quyền của mình, đồng thời có thể trao đổi các nhu cầu, nguyện vọng của mình với giáo viên, các cấp quản lý và các nhà hoạch định chính sách một cách tích cực. Những học sinh thuộc các hộ gia đình nghèo thì trình độ học vấn của cha mẹ hạn chế nên không hiểu rõ được tầm quan trọng của giáo dục vì vậy cần việc nâng cao năng lực cho các hộ gia đình và học sinh nghèo thông qua việc tuyên truyền, tập huấn cho cha mẹ để họ có kiến thức về việc chăm sóc, nuôi dạy con cái, có khả năng giúp con em mình tiếp cận đầy đủ dịch vụ có chất lượng tốt.&nbsp;<br>4. Để đảm bảo cơ hội cho tất cả học sinh , đặc biệt học sinh nghèo tiếp cận dịch vụ giáo dục, Chính phủ cần có chính sách tài chính đặc biệt cho người nghèo như chính sách miễn học phí cho học sinh nghèo; cấp học bổng và học phẩm cho người học; hỗ trợ bữa trưa cho học sinh học cả ngày; đầu tư kinh phí xây dựng trường cơ sở vật chất cho các trường ở vùng khó khăn. Các tỉnh cần xây dựng quy hoạch phát triển giáo dục để có kế hoạch phát triển mạng lưới trường lớp, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục. Bảo đảm việc thực hiện chế độ, chính sách cho giáo viên và có những chính sách riêng để hỗ trợ cho đội ngũ giáo viên và hỗ trợ cho học sinh nghèo. Công tác kiểm tra, giám sát, kiểm định chất lượng giáo dục cần được chú trọng. Nhà nước cần tăng cường kiểm tra việc thực hiện các chính sách học phí để đảm bảo người nghèo có cơ hội được tiếp cận dịch vụ giáo dục có chất lượng.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-11 14:16:31 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1884279662</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>ngothanhtu10092001</author>
         <link>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1890422260</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;Mức sống và khả năng chi trả cho giáo dục Mức sống là một yếu tố kinh tế rất quan trọng ảnh hưởng đến giáo dục, bởi nó quy định khả năng chi trả cho người đi học để họ có được những điều kiện cần thiết tham gia học tập. Các chi phí liên quan đến giáo dục là tiền học phí, các khoản đóng góp cho nhà trường và lớp, mua sách vở và đồ dùng học tập, mua quần áo đồng phục học sinh, chi phí đi học thêm và các khoản khác liên quan...Thông thường, với mức sống (thu nhập bình quân đầu người) thấp hơn thì sẽ có nhiều hạn chế và khó khăn hơn trong việc tham gia học tập. Ở các bậc học càng cao thì chi phí cho giáo dục càng lớn, và những người có mức thu nhập thấp thì thường hoàn thành trình độ giáo dục thấp hơn ở những nhóm có mức thu nhập cao hơn. Vì vậy, các yếu tố thu nhập và chi tiêu cho giáo dục được phân tích như là những yếu tố quan trọng liên quan đến bất bình đẳng về điều kiện và cơ hội để người dân tiếp cận với giáo dục giữa khu vực ĐT - NT hiện nay.(*) Kết quả một cuộc khảo sát về mức sống dân cư Việt Nam (Đồ thị 1) cho thấy rằng, mức chi tiêu bình quân cho 1 người đi học trong 1 năm ở Việt Nam ngày càng tăng nhanh, tăng từ 627.000đ năm 2002 lên đến 3.028.000đ vào năm 2010. Kết quả cũng chỉ ra rằng, mức chi này ở khu vực đô thị thường cao hơn ở khu vực nông thôn gấp hơn 2 lần (năm 2010 ở khu vực đô thị là 5.253.000đ so với nông thôn là 2.064.000đ).&nbsp;<br>&nbsp;So sánh mức chi cho giáo dục bình quân 1 người đi học trong 1 năm theo 5 nhóm thu nhập (Đồ thị 2) chúng ta thấy rằng, ở các nhóm thu nhập thấp thì mức chi thường thấp hơn so với các nhóm thu nhập cao. Song mức chi tiêu cho giáo dục tăng khá nhanh theo thời gian. Cụ thể là năm 2010 mức chi của nhóm 1 là 1.078. 000đ/người/năm thì ở nhóm 5 là 6.832.000 đ/người/năm (cao gấp hơn 6 lần so với nhóm 1). Và mức chi chung của năm 2006 là 1.211.000đ/ người/năm thì mức chi này năm 2008 là 1.844.000đ/người/năm (tăng khoảng 1,5 lần so với năm 2006), và đến 2010 thì mức chi này tăng lên đến 3.028.000đ/ người/năm (tăng khoảng 2,5 lần so với năm 2006). Tương tự, với 5 nhóm chi tiêu thì vào năm 2010 mức chi của nhóm 1 là 937.000đ so với mức chi của nhóm 5 là 7.104.000đ. Như vậy, ở 5 nhóm thu nhập và 5 nhóm chi tiêu, kết quả đều cho thấy ở các nhóm càng cao thì mức chi cho giáo dục càng cao, và khoảng cách chênh lệch ở chỉ báo này ngày càng rộng hơn.&nbsp;<br>&nbsp;Trên chỉ báo chi tiêu bình quân cho 1 người đi học trong 12 tháng theo từng cấp học phổ thông so sánh giữa ĐT - NT (Đồ thị 3), kết quả cho thấy rằng, mức chi tiêu cho giáo dục ở các cấp học càng cao thì sẽ càng cao hơn và mức chi tiêu cho giáo dục cũng tăng khá nhanh theo thời gian ở từng cấp học. Cụ thể như, năm 2010, mức chi tiêu bình quân cho 1 người đi học trong 1 năm ở bậc tiểu học chỉ có 1.123 000 đ/người/năm, bậc trung học cơ sở (THCS) là 1.519.000đ/ người/năm, bậc trung học phổ thông (THPT) là 2.880.000đ/người/năm, bậc ĐH/CĐ lên tới 10.146.000 đ/người/năm. Mức chi tiêu vào ở cấp tiểu học là 314.000đ/người/năm (2004), tăng lên 1.123.000đ/người/năm (2010) - tức là tăng lên khoảng 2,6 lần. Nếu so sánh giữa ĐT - NT theo các chỉ báo này, kết quả cho thấy, mức chi giáo dục càng ngày càng gia tăng theo các bậc học từ thấp đến cao, song lại giảm dần về khoảng cách chênh lệch. Cụ thể, năm 2010, mức chi tiêu bình quân cho 1 người đi học trong 1 năm qua như sau: ở bậc tiểu học tại đô thị là 2.533.000đ/ người/năm, còn tại nông thôn chỉ có 636.000đ/ người/năm (chênh lệch khoảng gần 4 lần); ở bậc THPT tại đô thị là 4.838.000đ/ người/năm còn tại nông thôn chỉ có 2.011.000 đ/người/năm (chênh lệch khoảng 2,3 lần); ở bậc đại học/cao đẳng trở lên tại đô thị là 12.753.000đ/người/ năm còn tại nông thôn chỉ có 8.100.000đ/ người/năm (gấp khoảng 1,5 lần).&nbsp;<br>&nbsp;Người dân ở đô thị thường có khả năng chi trả cho giáo dục nhiều hơn người dân ở nông thôn; từ đó người dân ở đô thị có điều kiện tốt hơn và thuận lợi hơn về kinh tế (tài chính) để được tiếp cận với các dịch vụ giáo dục có chất Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 3(76) - 2014 76 lượng cao hơn so với người dân ở nông thôn. Kết quả một cuộc điều tra (của Viện Xã hội học, 2012) về tương quan giữa mức chi tiêu bình quân cho giáo dục trong 1 năm và trình độ học vấn ở đô thị và nông thôn đã góp phần làm rõ hơn nhận xét trên. Cụ thể là: ở mức chi tiêu bình quân đầu người cho giáo dục thấp (dưới 1.200.000đ/năm) thì khu vực nông thôn (11,9%) có tỷ lệ cao hơn khu vực đô thị (2,8%); đồng thời, ở mức chi tiêu lớn (6 triệu - 11,9 triệu đồng/năm và trên 12 triệu đồng/năm) thì khu vực đô thị (lần lượt là 28,8% và 44,6%) lại có tỷ lệ cao hơn khu vực nông thôn (19,9% và 20,6%). Về số tiền vay bình quân cho con cái đi học trong 12 tháng qua giữa ĐT - NT, khu vực nông thôn có số tiền vay cho con cái đi học cao hơn khu vực đô thị khoảng 4.500.000đ (nông thôn là 17.689.000đ, đô thị là 13.252.000đ). Và số lượng hộ gia đình phải đi vay tiền để cho con đi học ở nông thôn cao gần gấp 2 lần ở đô thị (60 hộ gia đình ở nông thôn so với 33 hộ gia đình ở đô thị). Đây cũng là một yếu tố gia tăng gánh nặng nợ nần ở các hộ gia đình có con đang đi học ở nông thôn cao hơn ở đô thị. 2. Sự quan tâm của gia đình, cộng đồng xã hội đến giáo dục Sự quan tâm đến việc học tập của các thành viên trong gia đình và cộng đồng là những yếu tố góp phần vào sự nghiệp nâng cao trình độ học vấn của người dân. Thông thường, nơi nào có sự quan tâm của gia đình và cộng đồng nhiều hơn cho giáo dục thì nơi đó có các phong trào và hoạt động hỗ trợ cho giáo dục phát triển hơn, trình độ học vấn của người dân cao hơn. Một số chỉ báo chủ yếu để phân tích và đánh giá sự quan tâm của gia đình và cộng đồng đối với giáo dục ở đây là chăm lo đến việc học tập (bao gồm cả học thêm, học ở nhà) của con cái trong gia đình, đưa đón con cái đến trường, học thêm của con cái, nguồn vay cho giáo dục từ các tổ chức xã hội, cộng đồng... Kết quả một cuộc điều tra (của Viện Xã hội học, 2012) (Bảng 1) cho thấy rằng: sự quan tâm của cha mẹ đối với con cái về việc học thêm là khá cao (hơn 70%), song tỷ lệ hộ gia đình cho con đi học thêm ở đô thị cao hơn ở nông thôn khoảng hơn 10%. Không có sự khác biệt nhiều giữa tỷ lệ cho con trai hay con gái đi học thêm ở mỗi khu vực. Có nhiều lý do cho con đi học thêm, nhưng phần lớn tập trung vào việc mong muốn con cái có thêm kiến thức, nâng cao chất lượng học tập. Một chỉ báo khác quan trọng hơn phản ánh sự quan tâm của cha mẹ đối với việc học tập của con cái, đó chính là chỉ báo về mức chi tiêu cho con đi học thêm ở khu vực ĐT - NT. Tính trung Bất bình đẳng giữa đô thị và nông thôn ... 77 bình mức chi tiêu cho con đi học thêm trong 12 tháng qua ở khu vực đô thị cao hơn 2 lần so với ở nông thôn (đô thị là 8.614.000đ/năm, trong khi ở nông thôn chỉ là 3.775.000đ/năm). Thậm chí, có một số không nhỏ hộ gia đình ở cả ĐT - NT đã phải đi vay để cho con cái được đi học.&nbsp;<br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-15 05:34:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1890422260</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>pororocanhcut</author>
         <link>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1912091354</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1450934366/f0c1643a10af4eaab8598bd5ebf267f0/839e343f6528808b8d23786bab6a4b15.jpg" />
         <pubDate>2021-11-25 07:49:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1912091354</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>pororocanhcut</author>
         <link>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1912091687</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1450934366/ff90204edba80992469b207364e1ac9c/41d7EdvXK3L.jpg" />
         <pubDate>2021-11-25 07:49:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1912091687</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>pororocanhcut</author>
         <link>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1912092338</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1450934366/1c2609084246fd93729177a31f55ca66/2e442bf7e3f02bd07110c908738b1985.jpg" />
         <pubDate>2021-11-25 07:49:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/pororocanhcut/fagq6u7yy3230m1p/wish/1912092338</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
