<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title>Lecture 2 by Lê Quang Hùng</title>
      <link>https://padlet.com/qhungqhh/evl19p51te7s0oqy</link>
      <description>Một số thành tựu, phát minh đột phá trong giai đoạn 1400-1700</description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2021-12-28 08:38:35 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2025-05-10 14:25:53 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url>https://padlet.net/icons/png/2699.png</url>
      </image>
      <item>
         <title>Nhà khoa học Otto von Guericke.</title>
         <author>hukuhuy</author>
         <link>https://padlet.com/qhungqhh/evl19p51te7s0oqy/wish/1966395017</link>
         <description><![CDATA[<div>Otto tên đầy đủ là Otto von Guericke (1602-1686) là một nhà khoa học, nhà phát minh và chính trị gia người Đức. Ông là người lính uyên bác, có thói quen lắng nghe những câu chuyện của Galileo, sở thích đọc sách, quan tâm đến khoa học<br>Vào năm 1654, ông nghe thấy một cái gì đó Torricelli, cũng nghe nói rằng nhiều người không tin rằng áp suất khí quyển, cũng nghe một vài người cười Torricelli, sau đó một cuộc tranh luận rất nóng cả hai bên, với nhau, ăn miếng trả miếng. Như vậy, mặc dù xa Glick Ý ở Đức, nhưng nó là chống lại sự bất công, sự phẫn nộ.<br>Torricelli&nbsp; vội vàng đứng ống thủy tinh và thủy ngân, ông lại làm thí nghiệm, kết luận rằng thí nghiệm này là chính xác.Sau đó một không khí đóng kín bơm thùng, thùng vào trong âm thanh của bầu khí quyển "áp lực" bị phá vỡ!Từ đó ông bắt đầu thí nghiệm về chân không.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1470861823/2bb23830d82a5d558a443103359fe64a/Otto_von_Guericke_TS.jpg" />
         <pubDate>2021-12-28 09:52:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/qhungqhh/evl19p51te7s0oqy/wish/1966395017</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Chứng minh sự tồn tại của chân không.</title>
         <author>hukuhuy</author>
         <link>https://padlet.com/qhungqhh/evl19p51te7s0oqy/wish/1966395040</link>
         <description><![CDATA[<div><br>Năm 1654, nhà khoa học Otto von Guericke đã thực hiện thí nghiệm Quả cầu Magdeburg nổi tiếng của mình ở Magdeburg. Quả cầu Magdeburg là thí nghiệm nổi tiếng nhất của Otto von Guericke với chân không để chứng mình sự tồn tại của áp suất không khí, rằng không khí có trọng lượng và ép một lực rất lớn trên tất cả mọi vật trên trái đất.<br><br>Guericke đặt hai bán cầu bằng đồng đã mài nhẵn có đường kính khoảng 42cm lại với nhau để chúng tạo thành một quả cầu hoàn chỉnh. Hai nửa bán cầu bị bịt kín bởi một dải da ngâm với sáp và nhựa thông. Không khí bên trong quả cầu bằng đồng sau đó được rút ra thông qua một van nhỏ bằng bơm không khí - một phát mình cực kỳ quan trọng của Guericke. Nguyên lý hoạt động của bơm không khí này rất đơn giản, khi piston được kéo lên, không khí chảy vào xi lanh còn khi ấn piston xuống không khí sẽ được đẩy ra bên ngoài. Sau khi không khí bên trong quả cầu đồng được hút hết ra, áp suất không khí tác động lên quả cầu từ bên ngoài lớn tới nỗi hai bán cầu đồng bị ép chặt lại với nhau đến mức 16 con ngựa cũng không thể tách chúng ra. Hai nửa quả cầu đồng chỉ có thể tách rời cho đến khi không khí xung quanh được đưa trở lại bên trong quả cầu thông qua van.<br><br>Tuy rằng hiện tượng quan sát được ở thí nghiệm quả cầu Magdeburg không phải là tính chất trực tiếp của chân không mà là do áp suất không khí xung quanh, nhưng có thể nói Guericke là người đặt nền tảng, là cha đẻ của chân không và phát minh bơm không khí của ông là tiền đề tiên quyết để tạo ra chân không. Nếu không có phát minh này, sự tồn tại và bản chất của chân không cũng như áp suất không khí có lẽ sẽ phải muộn hơn nữa mới được chú ý tới. Rất nhiều phát minh quan trọng sau này như bóng đèn dây tóc hoặc kính hiển vi điện tử đã áp dụng các tính chất của chân không.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1470861823/b091493084b126ae252676a6013f8466/ch_n_kh_ng.jpg" />
         <pubDate>2021-12-28 09:52:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/qhungqhh/evl19p51te7s0oqy/wish/1966395040</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lịch sử ra đời kính thiên văn</title>
         <author>106210237</author>
         <link>https://padlet.com/qhungqhh/evl19p51te7s0oqy/wish/1966521650</link>
         <description><![CDATA[<div>Kính thiên văn được sáng chế qua một sự kiện tình cờ may mắn đối với Hans Lippershey là một nhà chế tạo mắt kính sống tại Middleburg, Hà Lan. Vào năm 1608, con trai ông trong khi tinh nghịch các kính mắt của bố thì đã phát hiện và báo cho bố biết có thể nhìn thấy tháp chuông nhà thờ gần hơn, thậm chí cả mấy con chim nấp dưới gác chuông thông qua 2 kính mắt<br>Hans Lippershey đã nghiên cứu cẩn thận và phát hiện ra 2 kính mắt thích hợp đặt thẳng hàng nhau ở một khoảng cách nào đó, thật sự có tác dụng “kéo gần” lại những vật ở rất xa. Ông đã đưa ra nguyên lý phóng đại khi kết hợp các thấu kính và chế tạo ra ống kính nhìn xa, tiền thân của kính thiên văn quang học. Chiếc kính được gọi là “Chiếc ống ma thuật của Lippershey” đã nhanh chóng nổi tiếng khắp châu Âu.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1471940353/c65b3bfaef82342d1681b9bf5b7c9f91/112.png" />
         <pubDate>2021-12-28 12:47:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/qhungqhh/evl19p51te7s0oqy/wish/1966521650</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Kính thiên văn phản chiếu Newton</title>
         <author>106210237</author>
         <link>https://padlet.com/qhungqhh/evl19p51te7s0oqy/wish/1966531546</link>
         <description><![CDATA[<div>Năm 1668 ở một đất nước khác sau nhiều lần thử nghiệm Newton đã chế tạo thành công kính thiên văn phản xạ mở đầu cho lịch sử ra đời của kính thiên văn hiện đại ngày nay.<br>Nguyên tắc của loại kính dùng gương này được James Gregory gợi ý , nhưng Newton là người đầu tiên&nbsp; thực hành và xử dụng. Ông dùng&nbsp; một gương&nbsp; lồi để&nbsp; làm hội tụ tia sáng.&nbsp; Ông đã giải quyết được&nbsp; sự sai lệch màu sắc. Loại gương này hiện vẫn còn dùng vì&nbsp; mặc dù có&nbsp; nhiều kiểu thiết kế khác.<br>Nguyên tắc rất dễ: Ðầu tiên ánh sáng&nbsp; phản chiếu trở lên nhờ một tấm gương thứ nhất&nbsp; có dạng parabole, tiếp theo, ánh sáng đi lệch&nbsp; một phía nhờ phản chiếu qua một tấm gương&nbsp; phẳng nằm nghiêng một góc 45° . Cuối cùng ánh sáng&nbsp; qua những&nbsp; thấu kính để&nbsp; khuếch đại ảnh lên và đến&nbsp; thị kính. Kính thiên văn phản chiếu đầu tiên&nbsp; do Newton&nbsp; làm ra&nbsp; có&nbsp; miếng gương đường kính 2,5m , được trưng bày&nbsp; năm 1671&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1471940353/4448ebdd797f95baa7133feca64f9830/telescope_reflet_newton.gif" />
         <pubDate>2021-12-28 12:57:07 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/qhungqhh/evl19p51te7s0oqy/wish/1966531546</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyên lý hoạt động và ưu điểm, hạn chế của kính thiên văn khúc xạ</title>
         <author>106210237</author>
         <link>https://padlet.com/qhungqhh/evl19p51te7s0oqy/wish/1966537819</link>
         <description><![CDATA[<div>Nguyên lí hoạt động của kính thiên văn khúc xạ là thay đổi đường truyền của các bức xạ điện từ, thông qua hiện tượng khúc xạ, tạo ra ảnh rõ nét của vật thể ở xa.<br>Kính thiên văn khúc xạ có rất nhiều ưu điểm như:<br>-Có thể quan sát được những ánh sáng từ những ngôi sao khoảng cách rất xa Trái Đất<br>-Gọn nhẹ, dễ sử dụng, dễ mang theo khi đi dã ngoại<br>-Tiện lợi cho trẻ nhỏ, người mới chơi thiên văn<br>-Giá thành rẻ hơn so với kính phản xạ cùng thông số<br>Nhưng hạn chế của loại kính thiên văn này chính là sự tán sắc. Do thấu kính là thủy tinh hay có thể là vật liệu khác có chiết suất khác nhau và cho ra bước sóng điện từ khác nhau. Vì vậy khi ánh sang đi qua sẽ biến đổi có các viền màu xung quanh ảnh quan sát. Điều này gây ra sự khó khăn khi quan sát và hình ảnh quan sát được không được chân thực nhất.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1471940353/d75ab469a83f6fd5a4d45b45896dd336/3940f16de1e9865e1687d13312247802.jpg" />
         <pubDate>2021-12-28 13:02:08 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/qhungqhh/evl19p51te7s0oqy/wish/1966537819</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Leibniz Wheel</title>
         <author>qhungqhh</author>
         <link>https://padlet.com/qhungqhh/evl19p51te7s0oqy/wish/1966742263</link>
         <description><![CDATA[<div>Đây là một vật hình trụ với các răng xung quanh có độ dài tăng dần gắn với một bánh đếm được sử dụng trong các máy tính cơ học. Phát minh bởi Leibniz vào năm 1673 và được sử dụng trong suốt 3 thế kỉ cho đến khi máy tính điện tử ra đời.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/3/3e/Cylindre_de_Leibniz_anim%C3%A9.gif" />
         <pubDate>2021-12-28 15:55:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/qhungqhh/evl19p51te7s0oqy/wish/1966742263</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Stepped reckoner</title>
         <author>qhungqhh</author>
         <link>https://padlet.com/qhungqhh/evl19p51te7s0oqy/wish/1966746614</link>
         <description><![CDATA[<div>Máy tính Leibniz hay còn được biết đến trong tiếng Anh với cái tên Stepped Reckoner phát minh bởi nhà toán học người Đức Gottfried Wilhelm Leibniz vào năm 1672 và hoàn thành năm 1694. Máy tính này dựa trên cơ chế bánh răng mà Leibniz phát minh mà giờ được gọi là Leibniz wheel.</div><div>Mô tả qua, chiếc mày này dài khoảng 67 cm, làm bằng đồng và thép được đánh bóng đựng trong 1 hộp làm từ gỗ sồi. Máy có 2 bộ phận song song được gắn với nhau: bộ kết xuất&nbsp; được gắn phía sau có thể ghi được 16 chữ số thập phân, và một bộ phận ghi với 8 chữ số ở phía trước. Phần với 8 chữ số có thể điều chỉnh số để nhập vào toán hạng, một mặt quay số bên phải để ghi chữ số nhân và một tay quay phía trước để thực hiện tính toán. Kết quả sẽ xuất hiện 16 ô số phía sau. Phần ghi được gắn với thanh ngang và có thể chuyển động cùng với phần kết xuất và một tay quay ngoài cùng phía bên trái có tác dụng làm quay một chiếc bánh răng nghiêng làm thay đổi trật tự chữ số giữa 2 phần. Thêm vào đó là 1 công tắc để đưa giá trị về 0.<br><br></div><div>Chức năng của máy:</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp;Cộng, trừ một số có 8 chữ số cho một số có 16 chữ số.</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp;Nhân 2 số có 8 chữ số.</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp;Chia một số có 16 chữ số cho số có 8 chữ số.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/9/92/Leibnitzrechenmaschine.jpg/1280px-Leibnitzrechenmaschine.jpg" />
         <pubDate>2021-12-28 15:59:33 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/qhungqhh/evl19p51te7s0oqy/wish/1966746614</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lịch sử ra đời của động cơ hơi nước đầu tiên </title>
         <author>106210240</author>
         <link>https://padlet.com/qhungqhh/evl19p51te7s0oqy/wish/1966812659</link>
         <description><![CDATA[<div>Vào ngày mùng 2 tháng 7 năm 1698, Savery được cấp bằng sáng chế cho một động cơ hơi nước sơ khởi đầu tiên, " Một phát mình mới dung trong việc bơm nước và xay gỗ bằng việc sử dụng lực phát động&nbsp; của ngọn lửa, thứ sẽ rất hữu dụng trong việc thoát nước mỏ, cung cấp nước cho các thị trấn và các nhà máy nơi họ không có lợi về nước hay gió<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Thomas_Savery#cite_note-Rolt-2"><sup>[2]</sup></a>. Ông đã trình diễn nó trước hội đồng hoàng gia vào ngay 14 tháng 7 năm 1699. Tuy bằng sang chế không có hình minh họa hay thậm chí là mô tả bằng chữ, nhưng đến năm 1702 Savery đã mô tả cố máy trong cuốn sách "Người bạn của thợ mỏ" hay "&nbsp; An Engine to Raise Water by Fire"<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Thomas_Savery#cite_note-3"><sup>[3]</sup></a>, trong đó ông đã tuyên bố rằng nó có thể bơm nước ra khỏi mỏ.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1470399826/dee416c5d0f03dba3218072f3ffc755e/image.png" />
         <pubDate>2021-12-28 17:12:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/qhungqhh/evl19p51te7s0oqy/wish/1966812659</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyên lý hoạt động của động cơ </title>
         <author>106210240</author>
         <link>https://padlet.com/qhungqhh/evl19p51te7s0oqy/wish/1966814175</link>
         <description><![CDATA[<div>Động cơ của Savery không có pít- tông và không có bộ phận nào chuyển động ngoại trừ vòi. Thiết bị được vận hành bằng cách tang hơi nước trong lò hơi, hơi nước sau đó sẽ đi vào một một trong những bình đựng nước đang làm việc, cho phép nó đẩy nước lên cao. Khi hệ thống đủ nóng và đầy hơi nước, vòi giữa lò hơi và bình đựng nước sẽ đóng lại (nếu cần thì bên ngoài bình sẽ được làm mát). Điều này dẫn đến hơi nước bên trong bị ngưng tụ lại, tạo ra một phần chân không và áp suất khí quyển sẽ đẩy nước lên cao. Tại thời điểm này vòi bên dưới bình đựng nước đóng lại, vòi giữa nó và ông dẫn nước phía trên mở ra, và&nbsp; nhiều hơi nước được tiếp nhận thêm. Khi áp suất của hơi nước tăng lên, nó buộc nước từ bình đi theo ống dẫn lên tới đỉnh của mỏ.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1470399826/026ef359fddaadd5261cf6282f5d4c87/image.png" />
         <pubDate>2021-12-28 17:14:33 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/qhungqhh/evl19p51te7s0oqy/wish/1966814175</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Ưu, nhược của động cơ hơi nước </title>
         <author>106210240</author>
         <link>https://padlet.com/qhungqhh/evl19p51te7s0oqy/wish/1966814908</link>
         <description><![CDATA[<div>Tuy vậy, động cơ của Savery có 4 vấn đề nghiêm trọng. Đầu tiên, mỗi khi nước được đưa vào bình làm việc, phần lớn nhiệt bị lãng phí trong việc làm nóng nước đang được bơm. Thứ hai, ở giai đoan 2 yêu cầu áp suất hơi nước cao để đấy nước lên, khiến mối hàn hiếm khí chịu được và cần phải được sửa chữa, bảo dưỡng thường xuyên. Thứ ba, mặc dù động cơ sử dụng áp lực hơi nước để đẩy nước ra khỏi động cơ (với không có giới hạn lý thuyết về độ cao mà nước có thể được nâng lên bằng một động cơ duy nhất) từ thực tiễn về các điều kiện an toàn, để dọn sạch nước ở sâu dưới mỏ sẽ cần một chuỗi các động cơ áp suất vừa phải được đặt từ đáy&nbsp; mỏ lên tới bề mặt mỏ. Thứ tư, nước được đẩy lên động cơ chỉ bằng áp suất khí quyển (hoạt động bên cạnh khoảng không hơi nước ngưng tụ), do đó động cơ phải cao hơn mực nước khoảng 30 feet (9,1 m) - yêu cầu nó phải được cài đặt, vận hành và duy trì ở xa phía dưới các mỏ tối.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1470399826/88c27bb1fcdec65ea66e49a170243a5f/image.png" />
         <pubDate>2021-12-28 17:15:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/qhungqhh/evl19p51te7s0oqy/wish/1966814908</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
