<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title>VĂN HỌC VIỆT NAM 1930-1945 by Nguyễn Bách  Sa</title>
      <link>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i</link>
      <description>Chuyên đề bồi dưỡng HSG lớp 11</description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2021-10-26 14:16:17 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2023-02-02 13:17:27 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url>https://padlet.net/icons/png/1f49e.png</url>
      </image>
      <item>
         <title>Vấn đề 1: Một số điểm đặc sắc trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam.</title>
         <author>6200633928</author>
         <link>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1845187596</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;1.</strong> "<em>Hai đứa trẻ</em>" là truyện ngắn rất Thạch Lam. Chất liệu của nó vẫn là cuộc sống tù đọng, mòn mỏi nơi những phố huyện nghèo nàn xơ xác. Nhưng từ thứ chất liệu rất "văn xuôi" đó, nhà văn đã đưa lại cho chúng ta những trang viết hết sức thi vị, không có gì chung với sự thi vị hoá cuộc sống một cách tầm thường.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>2.</strong> Câu văn của Thạch Lam tả rất sát sự thật, sự việc. Nhưng điều đó không có nghĩa ở đây chỉ có sự khớp đúng đến nghẹt thở. "Tiếng trống thu không trên cái chòi của huyện nhỏ; từng tiếng một vang xa để gọi buổi chiều". Cái lõi ngữ pháp của câu chỉ được nhận ra ở vế sau, nhưng sự cảm nhận của người đọc đã thực sự được khởi hành từ trước cùng cụm danh từ được đảo lên trên. Trong câu này cái đáng chú ý còn có từ "gọi". Nó xác lập một tương quan mới (dù vô hình) giữa các sự vật mà từ báo hiệu chẳng hạn không nói lên được. Dĩ nhiên câu văn vừa nêu không chỉ Thạch Lam mới viết nổi. Nhưng điều quan trọng là nó xuất hiện có quy luật chứ không ngẫu nhiên, nhằm nhấn mạnh một điều gì khác hơn những sự kiện nổi trên bề mặt. Xin chú ý thêm hai câu văn khác đứng kề nhau: " Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào". Trong câu đầu dường như thừa một chữ "chiều", xét theo góc độ thông tin bình thường. Nhưng thực ra ở đây còn có thông tin về tâm trạng mà riêng hai chữ "chiều rồi" chưa truyền tải được (do thiếu vắng nhịp điệu). Mặt khác, nếu không có chữ chiều "thừa ra" ấy, sự buông lơi êm đềm của câu sau sẽ ít có hiệu quả. Tính chất thừa tiếp hô ứng của mạch văn cũng thiếu trọn vẹn. Rõ ràng độc giả đang bị dẫn dắt bởi văn chứ không phải cái gì khác.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>3.</strong> Suốt truyện ngắn, nhà văn nhiều lần nhấn mạnh sự "ngây thơ" của hai nhân vật chị em qua các nhận xét như: <em>"Liên không hiểu sao...", "Liên tưởng là...", "tâm hồn Liên... có những cảm giác mơ hồ không hiểu", "vũ trụ thăm thẳm bao la đối với tâm hồn hai đứa trẻ như đầy bí mật và xa lạ...","Liên thấy mình sống giữa bao nhiêu sự xa xôi không biết..."</em>. Rất có thể nhân vật của truyện "không biết", không hiểu thật, nhưng điều đáng nói là tác giả đã mượn chính tâm trạng nhân vật để ám thị người đọc.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>4.</strong> Truyện tuy rất ít hành động nhưng vẫn thấp thoáng những lời đối thoại. Chúng được phân bố rất đều trong tác phẩm và xuất hiện giữa những đoạn miêu tả cảnh vật - một khung cảnh lặng lẽ, êm đềm, có phần hiu hắt, buồn bã. Chính không khí ấy quy định sắc điệu của lời đối thoại, trong khi bản thân lời đối thoại cũng mang tính chất lơ lửng, không gây nên sự đột biến nào của mạch truyện. Những câu hỏi nêu ra có thể trả lời cũng được mà không cũng được. Nó không nhằm mục đích tìm biết mà chỉ chờ đợi một sự phụ hoạ, xác nhận điều người nói nghĩ và thậm chí cả sự hiện tồn mờ nhạt của họ nữa:<br><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Em thắp đèn lên chị Liên nhé ! Cái chõng này sắp gãy rồi chị nhỉ? Sao hôm nay chị dọn hàng muộn thế ? Còn cô chưa dọn hàng à? Có phải buổi trưa em bán cho bà Lực hai bánh xà phòng không ? A, cô bé làm gì thế ? Giờ muộn thế này mà họ chưa ra nhỉ ? Tàu hôm nay không đông, chị nhỉ ?<br></em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Khi muốn chứng minh luận điểm nói rằng cảnh đời được miêu tả trong truyện thật nghèo nàn buồn tẻ, ngoài việc viện đến các chi tiết như <em>đám trẻ con nhặt nhạnh những thứ rơi vãi trên nền chợ, chị Tý dọn hàng đến khuya mà không bán được bao nhiêu, hai chị em Liên xem phở bác Siêu như một thứ quà xa xỉ, một người mua hàng đến nửa bánh xà phòng cũng phải mua chịu</em>,... cũng cần chú ý hơn đến những mẫu đối thoại rời rạc đã nói ở trên. Dụng công của Thạch Lam cũng như hồn văn của truyện chính toát lên từ đấy. Nó đưa tới cho người đọc một ấn tuợng buồn nản, xót thương, thậm chí bực bội trước các câu hỏi tủn mủn, bâng quơ, không cần thiết phải trả lời và những lời đáp quá chừng nhạt nhẽo, phẳng lặng. Những ấn tưọng đó khó gây dựng hơn nhiều so với các nhận xét kết luận "đóng bao" sẵn thường thấy ở nhiều truyện thừa giọng giáo huấn mà thiếu tính nghệ thuật.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>5.</strong> Trong truyện cũng vài lần nổi lên tiếng reo chứa đựng niềm hân hoan mong đợi: <em>Kìa, hàng phở của bác Siêu đã đến kia rồi. Đèn ghi đã ra kia rồi. </em>Nhưng những tiếng reo đó đã nhanh chóng phô ra tính chất tội nghiệp của chúng, niềm vui mới nhóm lên đã bị triệt tiêu bởi lời kể nhẩn nha vô tình mà thật "ác nghiệt": "An và Liên ngửi thấy mùi phở thơm, nhưng ở cái huyện nhỏ này, quà bác Siêu bán là một thứ quà xa xỉ, nhiều tiền, hai chị em không bao giờ mua được " và "chuyến tàu hôm nay không đông như mọi khi, thưa vắng người và hình như kém sáng hơn". Đúng là mong đợi chỉ để mà mong đợi, reo lên chỉ để rồi buồn tiếc và thất vọng hơn. Cảm giác thất vọng của nhân vật chắc chắn là sâu sắc. Nhưng đâu chỉ nhân vật, độc giả cũng thất vọng không kém. Bị trói chặt bởi nhịp cầu lê thê của câu chuyện, họ đã chờ đợi bao nhiêu ở những tiếng reo kia. Thật ra, niềm thất vọng này chính là hiệu quả nghệ thuật của truyện. Sau sự hụt hẫng này, độc giả sẽ vỡ ra những ý nghĩa của đời sống mà truyện muốn hướng tới.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>6.</strong> Hình ảnh thiên nhiên trong truyện đã gây cho người đọc những ấn tượng sâu đậm. Với tư cách là chất liệu, vật liệu, một phần là của văn. Những bức tranh thiên nhiên nho nhỏ, êm ả đượm buồn được gài xen kẽ với những mẫu đối thoại rời rạc, không hoàn chỉnh. Chúng lấp đầy những khoảng trống của lời nói và cầm giữ nhịp điệu của thiên truyện. Nếu dồn hẳn những đoạn miêu tả thiên nhiên về một phía, và phía kia là hình ảnh sinh hoạt của con người, hẳn giọng điệu điều hoà của truyện sẽ biến mất và chủ đề của truyện sẽ khác đi. Thiên nhiên gần gũi, vỗ về, khơi gợi những cảm xúc dịu dàng và bâng khuâng, nó đánh lạc hướng tâm trạng buồn chán của nhân vật (và của độc giả) thông qua mùi âm ẩm của đất bụi, vẻ lung lay của bóng đèn, bóng người, ánh nhấp nháy của ngàn sao và đom đóm, tiếng động mơ hồ, khe khẽ của loạt hoa bàng rụng xuống vai,... Tuy nhiên, việc đánh lạc hướng kia chỉ diễn ra từng lúc một, và nhân vật của truyện lại trở về với thực tại túng thiếu, lam lũ, để tiếp đó rơi vào trạng thái chập chờn nửa mơ, nửa thức, khắc khoải chờ mong, hi vọng (dẫu chẳng biết hi vọng ở cái gì). Truyện sở dĩ không rơi vào nhàm tẻ dù đối tượng hàm chứa sự tẻ nhàm, chính một phần nhờ lối tả, kể xen kẽ, chắp nối đó.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-26 14:30:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1845187596</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vấn đề 2: Chất hiện thực và chất lãng mạn (chất thơ) trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam.</title>
         <author>6200633928</author>
         <link>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1845205275</link>
         <description><![CDATA[<div><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; “<em>Hai đứa trẻ</em>” vừa là bức tranh hiện thực phố huyện nghèo, vừa như một bài thơ trữ tình đặc sắc. Tác phẩm đã gieo vào lòng người đọc một nỗi buồn bâng khuâng day dứt về đời sống con người.<br><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; </em><strong>1. </strong>Bức tranh cảnh vật và con người được miêu tả trong một khoảng thời gian đặc trưng của sự xơ xác, tiêu điều, một khoảng không gian khép kín. Đó là lúc hoàng hôn hiu hắt buồn của một ngày tàn nơi miền quê, một đêm tối thăm thẳm trong phố huyện hẻo lánh, nghèo nàn với những con người sống lầm lũi đáng thương.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>2.</strong> Thời gian cứ chậm rãi đi từng bước phát triển của nội tâm. Mỗi thời điểm lại có một cái nhìn cảnh vật khác nhau nhưng đều có phần thi vị hoá nhờ những câu văn mượt mà, uyển chuyển. Ánh sáng hiếm hoi của thiên nhiên được nhà văn “chớp” nhanh trong cái nhìn lãng mạn. Vừa có vài hiện thực vừa có sự bay bổng của người bút phác lên và đằm lại trên trang văn. Nhưng tất cả vẫn là cái thường nhật diễn ra trong cảnh sống vốn quẩn quanh lầm lũi.Cuộc sống hiện thực trong văn Thạch Lam được “đo bằng” một đơn vị “lãng mạn” nhất định. Phố huyện nghèo là một không khí chan hoà thực sự, ấm áp tình người chứ không như xã hội trong các tác phẩm của Nam Cao.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>3.</strong> Chất lãng mạn còn được thể hiện qua những trang viết về chị em Liên. Truyện là thế giới nội tâm của một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, trong sáng và ngây thơ của hai đứa trẻ qua cảm nhận của chúng về thế giới xung quanh - một thế giới buồn, nghèo nàn. Trong hoàn cảnh ấy, những đứa trẻ cũng ước mơ, cũng hi vọng về một cái gì đó mới mẻ. Đợi tàu là một nhu cầu bức xúc để chốc lát thoát khỏi cuộc sống tù túng, tẻ nhạt hiện tại, những kí ức của tuổi thơ chợt loé sáng trong tiềm thức về “Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực, vui vẻ và huyên náo”.... Nhưng tàu đến rồi tàu lại đi. Con tàu lao về phía trước mở ra một chân trời tương lai mà con tàu của cuộc đời Liên không biết bao giờ mới đến được. <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Khi chiều buông, Liên thấy buồn man mác. Cảm giác buồn ấy gợi lên từ cảnh phố huyện xơ xác, từ tiếng trống thu không vang vọng từ nỗi niềm thương cảm những chú bé nhớn nhác giữa chợ. Bức tranh phố huyện nghèo hẻo lánh, ẩn khuất trong bóng tối hư vô của phố huyện.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Cuộc sống phố huyện đã ăn sâu trong tâm trí Liên. Từng cảnh đời, cảnh sống của mỗi người lần lượt đi qua tâm hồn tưởng như non nớt của Liên. Cuộc sống của từng người đã góp nên thành cuộc sống của cả một quần thể người dân quê nghèo khó. Từ những mảnh đời cũng giống như Liên cùng chung môi trường sống, ta thấy một điểm chung rất rõ, đó là sự quanh quẩn chật hẹp của môi trường xã hội. Ngày lại ngày vẫn chỉ là cái chợ tiêu điều, vài dãy hàng quán với những khoảnh đất trống và những “con người ấy” mà thôi.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Chất lãng mạn thể hiện ngay trong cảnh đợi tàu. Liên đợi tàu trong một nỗi niềm háo hức, mong mỏi. Cuộc sống tù túng&nbsp; không làm tâm hồn Liên chai sạn và chìm trong hư vô, im lặng. Thay vào đó một tâm hồn khát khao niềm vui của cuộc sống. Tuy cuộc sống buồn nhưng vẫn tạo được niềm vui để mình sống có ý nghĩa hơn trong cõi đời. Tâm hồn Liên là một bài thơ có cấu tứ khá hoàn chỉnh. Nhân vật Liên là mảng màu chủ đạo tạo nên chất hiện thực và chất lãng mạn trong thiên truyện.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>4.</strong>Truyện với một giọng điệu buồn lãng mạn như một áng thơ êm ả, dịu nhẹ. Thạch Lam cũng rất tinh tế khi lựa chọn những hình ảnh, câu văn dài, ngân nga, êm ái tạo nên chất thơ cho tác phẩm. <em>Hai đứa trẻ</em>, truyện không có chuyện là một áng văn mượt mà, êm ái như một bài thơ thanh bình về cảnh, dịu nhẹ về tình.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Thành công của Thạch Lam chính là sự kết hợp hài hoà giữa bút pháp lãng mạn với xu hướng hiện thực, nhân đạo. Tình người của nhà văn với nhân vật đã đưa ý nghĩa truyện lên một tầng cao mới. “Thơ là tấm lòng nhưng trước hết thơ phải là cuộc sống” (Hà Minh Đức). Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam cũng vậy.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-26 14:35:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1845205275</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vấn đề 3: “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam là một truyện ngắn trữ tình đượm buồn.Hãy phân tích khung cảnh phố huyện và tâm trạng của nhân vật Liên trong tác phẩm “Hai đứa trẻ” để làm sáng tỏ ý kiến trên.</title>
         <author>6200633928</author>
         <link>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1845210121</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;1.</strong> Đề bài yêu cầu phân tích truyện ngắn <em>Hai đứa trẻ</em> của <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/6969-tim-hieu-tac-pha-m-hai-dua-tre-thach-lam.html">Thạch Lam</a> (phân tích khung cảnh phố huyện và tâm trạng của nhân vật Liên)để chứng minh rằng truyện <em>Hai đứa trẻ</em> là một bài thơ trữ tình đầy xót thương.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Trước khi chứng minh tác phẩm, cần nói qua về khuynh hướng, cảm hứng và giọng điệu truyện ngắn <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/6969-tim-hieu-tac-pha-m-hai-dua-tre-thach-lam.html">Thạch Lam</a> làm tiền đề dọn đường cho việc phân tích truyện ngắn này.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Cần phân tích <em>Hai đứa trẻ</em> để làm nổi bật các ý sau đây:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Chất thơ của truyện (bài thơ trữ tình): những cảm xúc dịu nhẹ mà lắng sâu của <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/6969-tim-hieu-tac-pha-m-hai-dua-tre-thach-lam.html">Thạch Lam</a> trước cảnh đời, tình người lúc bấy giờ nó gợi nhiều suy nghĩ cho người đọc mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc (ở đây là những cảm xúc đối với người dân ở cái phố huyện nghèo nàn và tàn lụi - và đặc biệt đối với cuộc sống buồn chán và ước mơ của hai đứa trẻ).<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Nhưng đó lại là một bài thơ trữ tình đầy xót thương, có nghĩa là chất thơ ấy được bay lên từ một cuộc sống còn lầm than cơ cực của những kiếp người bé nhỏ vô danh trong xã hội cũ (họ sống lầm lũi, vật vờ như những cái bóng trong bóng tối dầy đặc bao phủ kín mít của phố huyện nghèo mà buồn chán).<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Cái chất thơ ấy còn được thể hiện ở nghệ thuật, ở giọng điệu văn <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/6969-tim-hieu-tac-pha-m-hai-dua-tre-thach-lam.html">Thạch Lam</a>.<br><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; </em><strong>2.</strong>Phân tích, chứng minh<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Nhận định chung: Giống như nhiều tác phẩm khác của Thạch Lam, Hai đứa trẻ là một truyện ngắn không có cốt truyện đặc biệt. Truyện chỉ xoay quanh một buổi tối chờ tàu của chị em Liên và cuộc sống của cư dân phố huyện nghèo. Cái hấp dẫn của thiên truyện nằm ở nghệ thuật của nhà văn: một truyện ngắn tựa như "một bài thơ trữ tình" và nằm ở tấm lòng của nhà văn với những kiếp người nhỏ bé, cơ cực với cảm xúc bao trùm là một tâm trạng "đượm buồn".<br><em>a. Bức tranh phố huyện<br></em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Bức tranh thiên nhiên: một bức tranh êm ả, yên bình về làng quê khi chiều buông xuống. Nhưng bức tranh ấy cũng gợi lên những sự tàn tạ, u buồn từ ánh sáng, đường nét, màu sắc và âm thanh của cảnh vật.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Cảnh chợ tàn: hình ảnh hiện thực về một làng quê nghèo được hiện lên sinh động qua phiên chợ tàn với những vỏ bưởi, vỏ thị, rác rưởi khắp nơi hòa cùng mùi nồng nực sau một ngày hè oi ả.&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Bức tranh đời sống con người: Những đứa trẻ xóm chợ nghèo, chị Tý, gia đình bác xẩm, cụ Thi, bác phở Siêu - những cư dân phố huyện- lần lượt hiện lên trước mắt Liên hình ảnh về một cuộc sống buồn tẻ, nhàm chán, nghèo khó, tăm tối, tù đọng.<br><em>b. Tâm trạng của Liên<br></em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Liên là một cô gái mới lớn có tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, giàu lòng nhân hậu. Nhất là cô bé có một quá khứ tươi đẹp được sống một cuộc sống sung túc ở thành phố. Bức tranh phố huyện được nhìn qua đôi mắt, tâm hồn Liên vừa thể hiện rõ cái nghèo nàn, tăm tối lại vừa xót thương.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Trước khung cảnh buổi chiều quê, cái khoảnh khắc của ngày tàn, Liên thấy lòng buồn man mác.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Cảnh chợ tàn với cái mùi nồng nực bốc lên không gợi lên sự khó chịu mà ngược lại, mang ấn tượng cho Liên về một mùi "quen thuộc lắm" "như là mùi riêng của đất". Đó là tình cảm gắn bó với quê hương.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Trước những cảnh đời nghèo khó, lam lũ ở phố huyện, Liên bày tỏ sự xót thương, thông cảm:<br>+ Thương lũ trẻ con nhà nghèo nơi xóm chợ đang phải tìm mót trong đống rác rưởi người ta để lại, thương đứa bé con nhà hát xẩm lê la trên đất, thương con chị Tí còn nhỏ mà phải theo mẹ vật lộn trong cuộc mưu sinh.<br>+ Cụ Thi "điên" khiến Liên sợ hãi song chị đã quen thuộc lắm nên khi nghe cụ cất giọng bất ngờ từ phía sau, Liên cũng không cần quay lại vội.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Càng sống trong cảnh đời tù đọng, tăm tối, Liên lại càng nhớ về quá khứ tươi đẹp với tuổi thơ được sống ở Hà Nội. Hà Nội với Liên chỉ là nhứng món quà lạ miệng và "một vùng sáng rực và lấp lánh". Cái quá khứ ấy thôi thúc Liên vượt thoát khỏi hiện tại ngột ngạt nơi phố huyện nghèo.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Tâm trạng chờ đón, mong mỏi đoàn tàu mỗi đêm chạy qua phố huyện thể hiện khao khát đổi đời, thay đổi cuộc sống thực tại và ước mơ về một tương lai tươi sáng hơn.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Nhưng niềm vui nhỏ bé ấy cũng nhanh chóng vụt qua, Liên cảm thấy buồn hơn khi trở về với hiện tại. Cô thấy mình như "sống giữa bao nhiêu sự xa xôi không biết, như chiếc đèn con của chị Tí chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ."<br><em>c. Đặc sắc nghệ thuật<br></em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Kiểu truyện không có cốt truyện độc đáo mà đi sâu vào những cảm xúc mơ hồ, tinh tế của thế giới nội tâm nhân vật.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật với những cảm xúc, cảm giác mơ hồ mong manh.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Nhà văn trực tiếp bộc lộ cảm xúc, niềm xót xa, thương cảm và sự nâng niu trân trọng những ước mơ bình dị và khao khát đổi thay của những kiếp người cơ cực, nhỏ bé trong phố huyện nghèo.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Thủ pháp đối lập giữa ánh sáng và bóng tối, thế giới ước mơ ngập tràn ánh sáng, âm thanh rộn rã với cuộc sống thực tại tăm tối, tĩnh lặng, và tù đọng ...<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Giọng điệu riêng với lối kể chuyện thủ thỉ, tâm tình thấm đượm chất thơ, nhất là những trang miêu tả thiên nhiên và tâm trạng con người.<br><em>3. Đánh giá&nbsp;<br></em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <em>Hai đứa trẻ</em> là tác phẩm thể hiện rõ phong cách nghệ thuật của Thạch Lam đồng thời vừa có giá trị hiện thực lại vừa thể hiện những tư tưởng nhân đạo mới mẻ và sâu sắc của nhà văn.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-26 14:36:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1845210121</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vấn đề 4: Nhân vật Liên trong tác phẩm “Hai đứa trẻ” của nhà văn Thạch Lam.</title>
         <author>6200633928</author>
         <link>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1845212423</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;1.</strong> Liên là cô bé có tuổi thơ chìm trong nỗi buồn của sự tàn tạ, héo úa của một cuộc sống đầy bóng tối, bế tắc không lối thoát.<br><strong>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 2.</strong> Liên là cô bé nhạy cảm, hay động lòng trắc ẩn trước những biến thiên của cuộc đời. Tâm trạng của Liên cũng diễn tiến theo thời gian: từ chiều hôm cho đến khi đoàn tàu ngang qua phố huyện. Truyện mở đầu truyện rất hồn hậu, rất thơ với âm thanh của tiếng trống thu không , với bức tranh quê bình dị, man mác hương đồng gió nội. Đó thời khắc mở ra thế giới tâm trạng của Liên, là lúc mà <em>“Trong đôi mắt Liên bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của chị. Liên không hiểu sao nhưng thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn”</em>. Và bóng tối đã trùm lên phố nhỏ, trùm lên đồng ruộng, trùm lên cả nỗi buồn của Liên đang thoi thóp thở.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>3.</strong> Trong bóng chiều nhá nhem, Liên nhìn về bãi chợ, động lòng thương những mảnh đời cơ cực,<em> những đứa trẻ con nhà nghèo đi lại lang thang trên mặt đất nhặt nhạnh những thanh nứa thanh tre hay những gì còn sót lại của mấy người bán hàng</em>. Liên thấy thương những đứa trẻ nghèo nhưng chính chị cũng không có tiền mà cho chúng nó. Nhân vật Thạch Lam thường ít nói nhưng suy tư nhiều và mang đến những vẻ đẹp của tình người đằng sau những nghĩ suy tha thiết về cuộc sống. <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>4.</strong> Trong cảm nhận của Liên, bóng tối thật ghê ghớm “<em>Tối hết cả con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại càng sẫm đen hơn nữa”</em>. Bóng tối là hiện thân của sự tù túng ngột ngạt, bế tắc không lối thoát. Trong bóng tối, những phận người với cuộc sống bấp bênh, trôi nổi và lụi tàn, le lói như ngọn đèn trước gió. Liên thương hết thảy những con người nơi phố huyện nhỏ bé này. Đó chính là chị Tý với cuộc đời cơ cực “mò cua bắt ốc”, là bác phở Siêu với ghánh phở xa xỉ, ế ẩm, là bác xẩm với manh chiếu rách tả tơi cùng chiếc thau trắng trống trơn chưa một niềm hi vọng, là bà cụ Thi điên đơn chiếc với tiếng cười chìm vào bóng tối, … Cuộc sống phố huyện đơn điệu, tẻ nhạt, đêm nào cũng như đêm nào, cứ lặp đi lặp lại.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>5.</strong> Vũ trụ là cơ hội cuối cùng để ru hai chị em vào những miền cổ tích, quên đi thực tại đắng cay. Cảnh hai chị em ngẩng mặt lên trời tìm những vì sao cho thấy tâm hồn hai đứa trẻ thật hồn nhiên, vô tư trong sáng và rất đỗi trẻ con. Nhưng buồn thay, bầu trời đầy sao trên kia cũng không thể nào cứu vớt được hai sinh linh bé nhỏ, tội nghiệp ấy. Bởi <em>“vũ trụ bao la và thăm thẳm như chứa đầy bí mật và xa lạ với hai đứa trẻ”.</em> Để rồi cuối cùng chúng quay về với thực tại tối tăm và chờ đợi một điều gì đó cho sự sống nghèo khổ hằng ngày.&nbsp; <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>6.</strong> Đêm nào cũng vậy, dù buồn ngủ ríu cả mắt nhưng hai chị em Liên vẫn cố thức để đợi chuyến tàu với một niềm háo hức rất trẻ con. Với Liên, chuyến tàu đêm là một thế giới khác đem ánh sáng của sự sang trọng, văn minh, thứ ánh sáng khác xa với những ánh sáng yếu ớt, nhỏ bé nơi phố huyện. Đoàn tàu chính là khát vọng muốn được đổi đời của người dân phố huyện. Họ gửi theo chuyến tàu cả tâm hồn của mình, họ muốn được đến với những chân trời mới, nơi đó có ánh sáng của văn minh của no đủ. Nơi đó sẽ không còn cảnh đói nghèo lam lũ, không có cảnh đơn điệu và buồn tẻ mà ăm ắp niềm vui.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>7.</strong> Trong đêm khuya đợi tàu, ngồi im lặng, đầu óc Liên yên tĩnh lạ thường. Yên lặng đến nỗi có thể nghe được <em>hoa bàng rụng xuống vai Liên từng đợt một, có những cảm giác mơ hồ không hiểu.</em> Có một cái gì đó như là nuối tiếc khi chuyến tàu đã “<em>đi vào đêm tối, để lại những đốm than đỏ bay tung trên đường sắt. Hai chị em còn nhìn theo cái chấm đỏ của chiếc đèn xanh trên toa sau cùng, xa xa mãi rồi khuất sau rặng tre</em>”. Sự nuối tiếc của họ dường như đã phơi bày tất cả một cuộc sống nghèo nàn, bế tắc. Đằng sau ánh sáng của đoàn tàu và tiếng động cơ gầm vang đó là một thế giới rất riêng tư. Đó chính là nỗi nhớ về Hà Nội nơi có ánh sáng của những ngọn đèn, nơi vui vẻ và huyên náo. Nơi đó là vùng sáng trong tâm tưởng và cũng là vầng sáng trong ký ức tuổi thơ của Liên.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-26 14:37:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1845212423</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vấn đề 5: Hai mảng màu sáng - tối trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam</title>
         <author>6200633928</author>
         <link>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1845263099</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 1. </strong>Giới thiệu “Hai đứa trẻ” tuy chưa phải là truyện ngắn hay nhất nhưng lại khá tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Thạch Lam: bình dị, nhẹ nhàng mà tinh tế, thâm thuý. Đó là chuyện của “Hai đứa trẻ” nhưng cũng là chuyện của cả một phố huyện nghèo với những con người bé nhỏ thưa thớt, tội nghiệp đang âm thầm đi vào đêm tối.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Nhưng những hình ảnh tầm thường ấy, qua tấm lòng nhân hậu, qua ngòi bút tinh tế, giàu chất thơ của Thạch Lam lại như có linh hồn, lung linh muôn màu sắc, có khả năng làm xao động đến chỗ thầm kín và nhạy cảm nhất của thế giới xúc cảm, có khả năng đánh thức và khơi gợi biết bao tình cảm xót thương, day dứt, dịu dàng, nhân ái.&nbsp;<br><strong>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 2. </strong>Hình ảnh bóng tối <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Hình ảnh đêm tối miêu tả đậm đặc, trở đi trở lại... như một ám ảnh không dứt trong truyện: tác phẩm mở đầu bằng những dấu hiệu của một “<em>ngày tàn” </em>và kết thúc bằng một “<em>đêm tịch mịch đầy bóng tối”, </em>ở trong đó, màu đen, bóng tối bao trùm và ngự trị tất cả (chứng minh) <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Mảnh đời của những con người sống trong tăm tối: xuất hiện thoáng qua gần như một cái bóng (chứng minh). Số phận họ hiện lên càng thêm bé nhỏ, tội nghiệp, ai cũng sống một cách âm thầm, nhẫn nhục, lam lũ. <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>3.</strong> Hình ảnh ánh sáng<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Ánh sáng thưa thớt, yếu ớt: khe sáng,chấm sáng, hột sáng, quầng sáng.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Niềm hi vọng mơ hồ về một cuộc sống tốt đẹp, đó là thế giới của ao ước, dù chỉ là một ao ước nhỏ nhoi, dù chỉ như là một ảo ảnh. <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Tấm lòng nhân hậu của Thạch Lam: Không thấm đượm một tấm lòng nhân ái sâu xa, không hiểu lòng con trẻ, không có một tâm hồn nhạy cảm giàu chất thơ thì không thể diễn tả tinh tế đến thế nỗi thèm khát ánh sáng của những con người sống trong bóng tối. Nhà văn đã phát hiện ra một đời sống đang vận động, có bề sâu, trong đó ánh sáng tồn tại bên cạnh bóng tối, cái đẹp đẽ nằm ngay trong cái bình thường, cái khao khát ước mơ trong cái nhẫn nhục cam chịu, cái xôn xao biến động trong cái bình lặng hàng ngày, cái tăm tối trước mắt và những kỉ niệm sáng tươi... <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Nhà văn đã sử dụng nghệ thuật tương phản một cách hầu như tự nhiên, không chút tô vẽ, cường điệu, và nhờ thế, bức tranh phố huyện trở nên phong phú, chân thật, gợi cảm. <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>4.</strong> <em>Hai đứa trẻ</em> không thuộc loại truyện hấp dẫn người đọc vì sự ly kỳ hay gay cấn của cốt truyện. Sức mạnh và sức sống của nó nằm trong vấn đề mà nó đặt ra và cả trong thái độ của nhà văn đối với cuộc sống: một thái độ ấp iu đầy lòng nhân ái.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-26 14:51:07 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1845263099</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vấn đề 1: Về nhan đề tác phẩm “Chữ người tử tù”</title>
         <author>6200633928</author>
         <link>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1845273950</link>
         <description><![CDATA[<div><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Truyện ngắn "Chữ người tử tù" của Nguyễn Tuân đăng lần đầu tiên trên tạp chí Tao Đàn số 29 năm 1939 với tên gọi "Giòng chữ cuối cùng". Tên gọi <em>Chữ người tử tù</em> xuất hiện lần đâu tiên năm 1940, do chính Nguyễn Tuân đặt.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Sự khác biệt giữa Giòng chữ cuối cùng với Chữ người tử tù không chỉ giản đơn về mặt câu chữ, mà chủ yếu ở cách thể hiện.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Nhan đề đầu tiên đậm tính báo chí và nghiêng về thông tin. Nhan đề thứ hai thiên về bộc lộ quan niệm. Nhan đề thứ nhất dồn trọng tâm vào “chữ”, “chữ” trở thành sự kiện; nhan đề thứ hai chú ý đến quan hệ giữa chữ và người, giữa chữ và cảnh. Đặt nhan đề thứ nhất, Nguyễn Tuân nhấn mạnh vào tính chất của sự kiện. Đặt nhan đề thứ hai, Nguyễn Tuân tô đậm yếu tố hoàn cảnh. Mỗi nhan đề có một vẻ đẹp riêng, xét trên phương diện nghĩa.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-26 14:54:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1845273950</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vấn đề 2: Phân tích truyện ngắn “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân</title>
         <author>6200633928</author>
         <link>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1845278311</link>
         <description><![CDATA[<div><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>1.</strong> “<em>Chữ người tử tù</em>” chưa đầy 2500 chữ nhưng hàm chứa một dung lượng lớn. Chỉ có ba nhân vật (quản ngục, viên thơ lại, Huấn Cao) và ba cảnh (tử tù Huấn Cao bị giải đến; sự biệt đãi của ngục quan đối với tử tù; cảnh Huấn Cao cho chữ trong nhà ngục). Cảnh nào cũng hội tụ cả ba nhân vật này.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>2.</strong> <em>Viên thơ lại</em> – kẻ giúp việc giấy tờ cho ngục quan.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Một con người sắc sảo và có tâm điền tốt. Mới đọc công văn và nghe ngục quan nói về Huấn Cao, y đã biểu lộ lòng khâm phục (<em>thế ra y văn võ đều có tài cả, chà chà!</em>) và bày tỏ lòng thương tiếc (<em>phải chém những người như vậy, tôi nghĩ mà thấy tiêng tiếc</em>).<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Sau nhiều lần thăm dò, thử thách, ngục quan đánh giá viên thơ lại: “<em>Có lẽ lão bát này cũng là một người khá đây. Có lẽ hắn cũng như mình, chọn nhầm nghề mất rồi. Một kẻ biết yêu mến khí phách, một kẻ biết tiếc, biết trọng người có tài, hẳn không phải là kẻ xấu hay là vô tình</em>”.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Y đã trở thành kẻ tâm phúc của ngục quan. Nhờ y mà ngục quan xin được chữ Huấn Cao, thực hiện được sở nguyện của mình.. Trong cảnh cho chữ, viên thơ lại run run bưng chậu mực. Đúng y là một người biết yêu mến khí phách, biết tiếc biết trọng người có tài. Nhân vật thơ lại chỉ là một nét vẽ phụ nhưng rất thần tình, góp phần làm rõ chủ đề.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>3.</strong> <em>Ngục quan<br></em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Chọn nhầm nghề. Giữa bọn người tàn nhẫn, lừa lọc thì ngục quan lại có “tính cách dịu dàng và lòng biết giá người, biết trọng người ngay” chẳng khác nào “một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bàn đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ”.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Trong lúc nhận tù, ngục quan có “lòng kiêng nể” Huấn Cao, lại “biệt nhỡn” với Huấn Cao và các đồng chí của ông.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Trong đề lao, ngục quan nhẹ nhàng và khiêm tốn bày tỏ “muốn châm chước ít nhiều” đối với ông Huấn. Bị Huấn Cao miệt thị nặng lời, gần như xua đuổi, nhưng ngục quan vẫn ôn tồn, nhã nhặn “xin lĩnh ý” rồi lui ra.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Ngục quan là một nhà nho “<em>biết đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền</em>” suốt đời chỉ ao ước một điều là có được chữ do<em> </em>Huấn Cao viết. Ngục quan đang sống trong bi kịch: y tâm phục Huấn Cao là một người chọc trời khuấy nước nhưng lại tự ti “<em>cái thứ mình chỉ là một kẻ tiểu lại giữ tù</em>”. Ông khổ tâm nhất là “có một ông Huấn Cao trong tay mình, không biết làm thế nào mà xin được chữ”. Là quản ngục nhưng lại không can đảm giáp mặt tử tù. Tử tù ung dung, trái lại, ngục quan lại lo “mai mốt đây, ông Huấn bị hành hình mà chưa xin được mấy chữ thì ân hận suốt đời”. Bi kịch ấy cho thấy tính cách quản ngục là một con người biết phục khí tiết, biết quý trọng người tài và rất yêu cái đẹp. Yêu chữ Huấn Cao, chứng tỏ ngục quan có một sở thích cao quý. Vì thế khi nghe viên thơ lại nói lên ước nguyện của ngục quan, Huấn Cao cảm động nói: “Ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài của các người. [...] có những sở thích cao quý như vậy. Thiếu chút nữa, ta phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”. Như vậy, trong vị thế xã hội, ngục quan và tử tù là đối địch, còn trên lĩnh vực nghệ thuật, họ là tri âm. Huấn Cao đã tri ngộ một kẻ biệt nhỡn liên tài là ngục quan.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Trong cảnh cho chữ có một hình ảnh kỳ diệu: “ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu rọi lên ba đầu người đang chăm chú trên một tấm lục bạch còn nguyên vẹn lần hồ”. Ánh sáng bó đuốc ấy chính là ánh sáng của thiên lương mà tử tù đang chiếu lên và lay tỉnh ngục quan. Lúc sở thích nghệ thuật đã mãn nguyện cũng là lúc ánh sáng thiên lương soi tỏ, chiếu rọi tâm hồn. Một cái vái lạy đầy nhân cách, hiếm có.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Có thể, sau khi Huấn Cao bị giải vào Kinh thụ hình thì cũng là lúc ngục quan trả áo mũ, “tìm về nhà quê mà ở” để giữ lấy thiên lương cho lành vững và thực hiện cái sở thích chơi chữ bấy nay? Nguyễn Tuân đã xây dựng ngục quan bằng nhiều nét vẽ có thần. Ngoại hình thì “đầu đã điểm hoa râm, râu đã ngả màu”. Một con người ưa sống bằng nội tâm; cái đêm hôm trước đón nhận tử tù, ông sống trong trạng thái thanh thản, gương mặt ông ta “là mặt nước ao xuân, bằng lặng, kín đáo và êm nhẹ”. Trong một xã hội phong kiến suy tàn, chốn quan trường đầy rẫy kẻ bất lương vô đạo, nhân vật ngục quan đúng là một con người vang bóng. Nhân vật này đã thể hiện sâu sắc chủ đề tác phẩm.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>4.</strong> <em>Huấn Cao</em> – nhân vật bi tráng, cao đẹp mang màu sắc lãng mạn.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;a. Được giới thiệu gián tiếp qua lời đồn như một con người không phải tầm thường: “<em>cái người mà vùng tỉnh ta vẫn khen…</em>”, “<em>nhiều người nhắc nhỏm đến cái danh đó luôn…</em>”, “<em>một tên tù có tiếng là…</em>”, và “<em>thầy có nghe người ta đồn…</em>”.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Ngục quan và viên thơ lại mới nghe mà đã tâm phục Huấn Cao, họ trầm trồ: “<em>Người đứng đầu…</em>”, “<em>tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp</em>”<em>,</em> “<em>văn võ đều có tài cả</em>”…<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Lấy xa để nói gần, lấy bóng làm lộ hình, sử dụng lối tả gián tiếp… đó là bút pháp Nguyễn Tuân vận dụng sáng tạo để giới thiệu nhân vật, tạo ra sự cuốn hút nghệ thuật kì diệu.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; b. Là một nhà nho, dám chọc trời khuấy nước. Chí lớn không thành mà vẫn hiên ngang. Chết chém cũng chẳng sợ. Một tinh thần gang thép “vô úy” bất khuất. Một cái “rỗ gông” trước của ngục. Một câu miệt thị ngục quan: “Ngươi hỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn có một điều: Là nhà ngươi đừng tới quấy rầy ta”. Không phải ai cũng có cái gan dám thách thức cường quyền bạo lực như thế.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; c. Coi khinh vàng ngọc. Không vì vàng ngọc, vì quyền uy mà “ép mình viết bao giờ”. Cả đời ông mới viết hai bộ tứ bình và một bức trung đường tặng ba người bạn thân. Không chỉ đẹp ở nét chữ, mà mỗi chữ, mỗi bức thư họa của Huấn Cao là một bức châm, thể hiện một lý tưởng tung hoành, một hoài bão, một đạo lý cao đẹp. Chữ của Huấn Cao cho thấy cái tài, cái tầm nhìn của kẻ sĩ chân chính mà ta ngưỡng mộ và kính phục.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; d. Với Huấn Cao thì thiên lương là ngọn lửa, là “ánh sáng đỏ rực” như ngọn đuốc kia. Nếu ngục quan tâm phục con người nghĩa khí, tài hoa thì Huấn Cao lại nể trọng con người biệt nhỡn liên tài. Suốt đời ông chỉ “cúi đầu vái lạy hoa mai” thế mà khi nghe viên thơ lại nói lên tâm sự của chủ mình muốn “xin chữ”, Huấn Cao đã ân hận nói: “Thiếu chút nữa ta phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”. Cảnh “cho chữ” được miêu tả bằng bút pháp lãng mạn gợi lên một không khí thiêng liêng bi tráng. Phóng giam ẩm ướt bẩn thỉu, hôi hám. Lửa đuốc sáng rực. Tấm lụa trắng. Chậu mực thơm lắm. Ba cái đầu cúi xuống tấm lụa trắng. Huấn Cao hiện ra với vẻ uy nghi, hào hùng. Cổ đeo gông, chân vướng xiềng, Huấn Cao vung bút viết. “Những nét chữ vuông vắn rõ ràng” hiện lên rực rỡ trên phiến lụa óng. Tư thế đĩnh đạc ung dung. Mai kia ông đã bước lên đoạn đầu đài, nhưng đêm nay ông vẫn ung dung. Một cử chỉ “đỡ viên quản ngục đứng thẳng người dậy”. Một lời khuyên: “Ta khuyên thầy quản nên thay chỗ ở đi… Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi”. Với Huấn Cao thì thiên lương là cái gốc của đạo lý, có giữ được thiên lương mới biết quý trọng tài năng và cái đẹp ở đời.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Ở con người Huấn Cao, từ cử chỉ, hành động đến ngôn ngữ, từ nét chữ đến phong thái, đều toát ra một vẻ đẹp vừa phi thường, vừa bình dị, vừa anh hùng, vừa nghệ sĩ, bên cạnh cái hùng có cái bi, tính vốn khoảnh mà lại trân trọng kẻ biệt nhỡn liên tài, coi thường vàng bạc quyền uy mà lại đề cao tình bằng hữu, đến chết vẫn nghĩa khí và giữ trọn thiên lương. Nguyễn Tuân đã dàn cảnh, tả người và kể chuyện, sử dụng những ẩn dụ so sánh, những tình tiết đan chéo, ràng buộc vào nhau, tạo nên một không gian nghệ thuật cổ kính, bi tráng nâng nhân vật Huấn Cao lên một tầm vóc lịch sử. Văn học lãng mạn thời tiền chiến chỉ có một Huấn Cao đẹp hào hùng như vậy.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>5.</strong> <em>Kết luận<br></em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Đọc “Chữ người tử tù” ta càng thấm thía điều mà Vũ Ngọc Phan đã nói: “… văn Nguyễn Tuân không phải thứ văn để người nông nổi thưởng thức”. Nghệ thuật kể chuyện, cấu trúc tình tiết, lời độc thoại và đối thoại, khắc họa tính cách nhân vật… hầu như không có một chi tiết nào thừa. Ba nhân vật cùng đồng thời xuất hiện. Cảnh cho chữ là cao trào, một cảnh tượng xưa nay chưa từng có. Tất cả đều hướng về cái tài, cái đẹp, cái thiên lương. Nguyễn Tuân đã sử dụng một loạt từ Hán Việt rất đắt (pháp trường, tử tù, tử hình, nhất sinh, bộ tứ bình, bức trung đường, lạc khoản, thiên hạ, thiên lương, lương thiện, v.v…) tạo nên màu sắc lịch sử, cổ kính và bi tráng. Đúng Nguyễn Tuân là bậc thầy về ngôn ngữ, rất lịch lãm uyên bác về lịch sử, về xã hội.<br>&nbsp;Hai câu văn: “Thiếu chút nữa ta phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”, và: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh” - đẹp như những bức châm trong các thư họa nghìn xưa lưu lại trong các viện bảo tàng mĩ thuật. Cũng là bài học làm người sáng giá!</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-26 14:55:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1845278311</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vấn đề 3: Về tình huống truyện trong tác phẩm “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân.</title>
         <author>6200633928</author>
         <link>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1845280680</link>
         <description><![CDATA[<div><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>1.</strong> Tìm hiểu về tình huống truyện trong tác phẩm tự sự, trong “Chữ người tử tù”</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Sự gặp gỡ giữa những tâm hồn yêu cái đẹp trong hoàn cảnh éo le, đầy kịch tính.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Quản ngục, thơ lại là người có quyền trong nhà tù – Huấn Cao, phạm nhân đều hướng về cái đẹp của nghệ thuật thư pháp</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>2.</strong> Khai thác tình huống truyện xoay quanh hai tuyến nhân vật:</div><div><em>- Huấn Cao:</em></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Tài viết chữ đẹp hấp dẫn quản ngục, ông xem việc có được chữ của ông Huấn là có báu vật trên đời</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Tâm: yêu nước, hiên ngang, bất khuất của người có tài, “biệt nhỡn liên tài” để tìm người giữ chữ cho đời (chọn dẫn chứng và phân tích để làm bật lên những ý trên)</div><div><em>- Quản ngục, thơ lại:&nbsp;</em></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Hai nhân vật này hợp lại để xin và giữ chữ bằng cái tâm hướng về cái đẹp</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Yêu cái đẹp đến độ dám chơi chữ với tử tù (chọn dẫn chứng và phân tích)</div><div><em>- Và kết thúc của tình huống truyện là “cảnh cho chữ lạ lùng chưa từng có”:</em></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Cho chữ ở nhà ngục tử tù bật lên sự tồn tại vĩnh hằng của thư pháp ngay chốn tử tù</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Sự thay bậc đổi ngôi: người tù thì đứng, dù cổ mang gông, chân vướng xiềng vẫn ung dung cho chữ, còn thơ lại, quản ngục run run, khúm núm.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Nhà tù tối tăm, hôi hám, dơ bẩn nhưng sáng rực với bó đuốc soi rọi trên ba cái đầu chụm vào nhau cùng hướng về tấm lụa bạch và mùi thơm của thoi mực.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Sức mạnh của thư pháp cảm hứng kẻ lầm đường lạc lối về với nẻo chính đường ngay (minh họa và phân tích)</div><div><em>- Cảm nhận chung:</em></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Nghệ thuật tạo tình huống truyện làm bật lên tư tưởng, nội dung của tác phẩm <em>Chữ người tử tù</em>i</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>3.</strong> Đánh giá tác giả, nghệ thuật tạo tình huống truyện của tác phẩm.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-26 14:55:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1845280680</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vấn đề 4: Phân tích vẻ đẹp của nhân vật Huấn Cao</title>
         <author>6200633928</author>
         <link>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1845284006</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 1.</strong> Nhà văn Nguyễn Tuân đã lấy nguyên mẫu hình tượng của Cao Bá Quát với văn chương “vô tiền Hán”, còn nhân cách thì “một đời chỉ cúi đầu trước hoa mai” làm nguồn cảm hứng sáng tạo nhân vật Huấn Cao. Họ Cao là một lãnh tụ nông dân chống triều Nguyễn năm 1854. Huấn Cao được lấy từ hình tượng này với tài năng, nhân cách sang ngời và rất đỗi tài hoa.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>2.</strong> Huấn Cao là một con người đại diện cho cái đẹp, từ cái tài viết chữ của một nho sĩ (1) đến cái cốt cách ngạo nghễ phi thường của một bậc trượng phu (2) đến tấm lòng trong sáng của một người biết quý trọng cái tài, cái đẹp (ngục quan).<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Huấn Cao với tư cách là người nho sĩ viết chữ đẹp thể hiện ở cái tài viết chữ.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Chữ viết không chỉ là kí hiệu ngôn ngữ mà còn thể hiện tính cách của con người. Chữ của Huấn Cao “vuông lắm” cho thấy ông có khí phách hiên ngang, tung hoành bốn bể. Cái tài viết chữ của ông được thể hiện qua đoạn đối thoại giữa viên quản ngục và thầy thơ lại. Chữ Huấn Cao đẹp và quý đến nỗi viên quản ngục ao ước suốt đời. Viên quản ngục đến “mất ăn mất ngủ”; không nề hà tính mạng của mình để có được chữ của Huấn Cao, “một báu vật trên đời”.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Chữ là vật báu trên đời thì chắc chắn là chủ nhân của nó phải là một người tài năng xuất chúng có một không hai, là kết tinh mọi tinh hoa, khí thiêng của trời đất hun đúc lại mà thành. Chữ của Huấn Cao đẹp đến như vậy thì nhân cách của Huấn Cao cũng chẳng kém gì. Ông là con người tài tâm vẹn toàn.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Huấn Cao trong cốt cách ngạo nghễ, phi thường của một bậc trượng phu.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Theo học đạo nho nhưng Huấn Cao không trung quân một cách mù quáng. Trái lại, ông chống lại triều đình để giờ đây khép vào tội “đại nghịch”, chịu án tử hình. Bởi vì Huấn Cao có tấm lòng nhân ái bao la: ông căm ghét bọn thống trị và thấu hiểu nỗi thống khổ của người dân nghèo khổ, lầm than, “thấp cổ bé họng”, bị áp bức bóc lột. <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Huấn Cao không lựa chọn con đường vinh hoa phú quý (phục tùng cho bọn phong kiến). Ông lựa chọn con đường khác: con đường đấu tranh vì nhân dân. Cuộc đấu tranh không thành công ông bị bọn chúng bắt. Giờ đây phải sống trong cảnh ngục tối chờ ngày xử chém. Trước khi bị bắt vào ngục, viên quản ngục đã nghe tiếng đồn Huấn Cao rất giỏi võ, ông có tài “bẻ khoá, vượt ngục” chứng tỏ Huấn Cao là một người văn võ toàn tài, quả là một con người hiếm có trên đời.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Trong những ngày chờ thi hành án, Huấn Cao vẫn giữ được khí phách hiên ngang, kiên cường. Tuy bị giam cầm về thể xác nhưng ông Huấn vẫn hoàn toàn tự do bằng hành động “<em>dỡ cái gông nặng tám tạ xuống nền đá tảng đánh thuỳnh một cái</em>” và “vô cảm” trước sự đe doạ của tên lính áp giải. Dưới mắt ông, bọn chúng chỉ là “một lũ tiểu nhân thị oai”. Cho nên, mặc dù chịu sự giam giữ của bọn chúng nhưng ông vẫn tỏ ra “khinh bạc”. Đứng đầu gông, ông vẫn mang hình dáng của một vị chủ soái, một vị lãnh đạo. Người anh hùng ấy dù cho thất thế nhưng vẫn giữ được thế lực, uy quyền của mình.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Ở trong tù, ông vẫn thản nhiên “ăn thịt, uống rượu như một việc vẫn làm trong hứng sinh bình”. Huấn Cao hoàn toàn tự do về tinh thần. Khi viên cai ngục hỏi Huấn Cao cần gì thì ông trả lời: “<em>Người hỏi ta muốn gì à? Ta chỉ muốn một điều là ngươi đừng bước chân vào đây nữa</em>”. Cách trả lời ngang tàn, ngạo mạn đầy trịch thượng như vậy là bởi vì Huấn Cao vốn hiên ngang, kiên cường; “đến cái chết chém cũng còn chẳng sợ...”. Ông không thèm đếm xỉa đến sự trả thù của kẻ đã bị mình xúc phạm. Huấn Cao rất có ý thức được vị trí của mình trong xã hội, ông biết đặt vị trí của mình lên trên những loại dơ bẩn “cặn bã” của xã hội.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - “Bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Nhân cách của Huấn Cao quả là trong sáng như pha lê, không hề có một chút trầy xước nào. Theo ông, chỉ có “thiên lương” mới là đáng quý.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Khi biết được nỗi lòng viên quản ngục, Huấn Cao không những vui vẻ nhận lời cho chữ mà còn thốt ra rằng: “Ta cảm tấm lòng biệt nhãn liên tài của các ngươi. Ta biết đâu một người như thầy quản đây mà lại có sở thích cao quý đến như vậy. Thiếu chút nữa, ta đã phụ một tấm lòng trong thiên hạ”.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Huấn Cao cho chữ là một việc rất hiếm bởi vì “tính ông vốn khoảnh”, không bao giờ cho chữ vì vàng bạc hay quyền thế. Hành động cho chữ viên quản ngục chứng tỏ Huấn Cao là một con người biết quý trọng người yêu cái tài, cái đẹp, biết nâng niu những kẻ tầm thường lên ngang tàng với mình.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Huấn Cao cho chữ với tư thế ung dung tự tại, dồn hết tinh hoa vào từng nét chữ. Đó là những nét chữ cuối cùng của con người tài hoa ấy. Những nét chữ chứa chan tấm lòng của Huấn Cao và thấm đẫm nước mắt thương cảm của người đọc. Con người tài hoa vô tội kia chỉ mới cho chữ ba lần trong đời đã vội vã ra đi, để lại biết bao tiếc nuối cho người đọc. Qua đó, tác giả Nguyễn Tuân cũng gián tiếp lên án xã hội đương thời đã vùi dập tài hoa của con người.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Và người tù kia bỗng trở nên có quyền uy trước những người đang chịu trách nhiệm giam giữ mình. Ông Huấn đã khuyên viên quản ngục như một người cha khuyên bảo con: “Tôi bảo thực thầy quản nên về quê ở đã rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây khó giữ được thiên lương cho lành lắm rồi cũng có ngày nhem nhuốc mất cái đời lương thiện”. Theo Huấn Cao, cái đẹp không thể nào ở chung với cái xấu được. Con người chỉ thưởng thức cái đẹp khi có bản chất trong sáng, nhân cách cao thượng mà thôi.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>3.</strong> Những nét chữ cuối cùng đã cho rồi, những lời nói cuối cùng đã nói rồi Huấn Cao , người anh hùng tài hoa kia dù đã ra đi mãi mãi nhưng để lại ấn tượng sâu sắc cho những ai đã thấy, đã nghe, đã từng được thưởng thức nét chữ của ông. Sống trên cõi đời này, Huấn Cao đã đứng lên đấu tranh vì lẽ phải; đã xoá tan bóng tối hắc ám của cuộc đời này. Chính vì vậy, hình tượng Huấn Cao đã trở nên bất tử. Huấn Cao sẽ không chết mà bước sang một cõi khác để xua tan bóng tối nơi đó, đem lại hạnh phúc cho mọi người ở mọi nơi.<br> Ở Huấn Cao ánh lên vẻ đẹp của cái “tài” và cái “tâm”. Trong cái “tài” có cái “tâm” và cái “tâm” ở đây chính là nhân cách cao thượng sáng ngời của một con người tài hoa. Cái đẹp luôn song song “tâm” và “tài” thì cái đẹp đó mới trở nên có ý nghĩa thực sự. Xây dựng hình tượng nhân vật Huấn Cao, nhà văn Nguyễn Tuân đã thành công trong việc xây dựng nên chân dung nghệ thuật điển hình lí tưởng trong văn học thẩm mĩ. Dù cho Huấn Cao đã đi đến cõi nào chăng nữa thì ông vẫn sẽ mãi trong lòng người đọc thế hệ hôm nay và mai sau.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-26 14:56:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1845284006</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vấn đề 5: Về cảnh cho chữ trong “Chữ người tử tù” – Nguyễn Tuân</title>
         <author>6200633928</author>
         <link>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1845286315</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 1.</strong> Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám là một nhà văn duy mĩ. Ông yêu đến say đắm cái đẹp, ngợi ca cái đẹp, tôn thờ cái đẹp. Theo ông mĩ là đỉnh cao của nhân cách con người. Ông săn lùng cái đẹp không tiếc công sức. Ông miêu tả cái đẹp bằng kho ngôn ngữ giàu có của riêng ông. Những nhân vật hiện lên trong tác phẩm của Nguyễn Tuân phải là hiện thân của cái đẹp. Đó là những con người tài hoa hoạt động trong những hoàn cảnh, môi trường đặc biệt, phi thường. Ông phát hiện, miêu tả cái đẹp bên ngoài và bên trong của nhân vật. Trong cái đẹp của ông bao gồm cái chân và thiện. Ông lại còn kết hợp Mĩ với Dũng. <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>2.</strong> Truyện ngắn “Chữ người tử tù” (1939) trong tập “Vang bóng một thời” là áng văn hay nhất, tiêu biểu nhất của Nguyễn Tuân. Giá trị tư tưởng và dụng công nghệ thuật của Nguyễn Tuân được thể hiện chủ yếu trong đoạn văn tả “một cảnh tượng xưa nay chưa từng có”, cảnh tượng một người tử tù cho chữ một viên cai ngục.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>3.</strong> Truyện có hai nhân vật chính, một là Huấn Cao có tài viết chữ đẹp, một nữa là viên quản ngục say mê chữ đẹp của ông Huấn, quyết tìm mọi cách để “xin chữ” treo trong nhà. Họ đã gặp nhau trong tình huống oái ăm là nhà ngục. Người có tài viết chữ đẹp lại là một tên “đại nghịch” cầm đầu khỏi nghĩa nông dân (triều đình gọi là nổi loạn, giặc) đang bị bắt giam chờ ngày thụ hình. Còn người mê chữ đẹp của ông Huấn Cao lại là một quản ngục đại diện cho cái trật tự xã hội ấy. Trên bình diện nghệ thuật họ là tri âm tri kỉ, trên bình diện xã hộ họ ở hai vị trí đối lập. Tình huống của truyện có tính kịch. Từ tình huống đầy kịch tính ấy, tính cách hai nhân vật được bộ lộ và tư tưởng chủ đề của truyện được thể hiện một cách sâu sắc.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>4.</strong> Vẻ đẹp rực rỡ của Huấn Cao hiện lên trong đêm viết chữ cho viên quản ngục. Chính trong tình tiết này, cái Mĩ và cái Dũng hòa hợp. Dưới ánh đuốc đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu, “một người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang dậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng trên mảnh ván. Người tù viết xong một chữ, viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ trên phiến lụa óng”. Hình ảnh người tử tù trở nên lồng lộng. Viên quản ngục và viên thư lại trở nên nhỏ bé, bị động, khúm núm trước người tử tù.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>5.</strong> Vì sao Nguyễn Tuân lại nói đây là một “cảnh tượng xưa nay chưa từng có”?<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Cảnh tượng này quả là lạ lùng, chưa từng có vì trò chơi chữ nghĩa thanh tao có phần đài các lại không diễn ra trong thư phòng, thư sảnh, mà lại diễn ra nơi ngục tối chật hẹp, bần thỉu, hôi hám.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Cảnh tượng lạ lùng chưa từng thấy là hình ảnh tên tử tù cho chữ thì nổi bật lên uy nghi lộng lẫy, còn viên quản ngục và thư lại, những kẻ đại diện cho xã hội đương thời thì lại khúm núm run rẩy.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Điều đó cho thấy rằng trong nhà tù tăm tối, hiện thân cho cái ác, cái tàn bạo đó, không phải cái ác, cái xấu đang thống trị mà chính cái Đẹp, cái Dũng, cái Thiện, cái cao cả đang làm chủ. Với cảnh cho chữ này, cái nhà ngục tăm tối đã đổ sụp, bởi vì không còn kẻ phạm tội tử tù, không có quản ngục và thư lại, chỉ có người nghệ sĩ tài hoa đang sáng tạo cái đẹp trước đôi mắt ngưỡng mộ sùng kính của những kẻ liên tài, tất cả đều thấm đẫm ánh sáng thuần khiết của cái đẹp, cái đẹp của thiên lương và khí phách. Cũng với cảnh này, người tử tù đang đi vào cõi bất tử. Sáng mai ông sẽ bị tử hình, nhưng những nét chữ vuông vắn, tươi đẹp hiện lên cái hoài bão tung hoành cả một đời của ông trên lụa bạch sẽ còn đó. Và nhất là lời khuyên của ông đối với tên quản ngục có thể coi là lời di huấn của ông về đạo lí làm người trong thời đại nhiễu nhương đó. Quan niệm của Nguyễn Tuân là cái Đẹp gắn liền với cái Thiện. Người say mê cái đẹp trước hết phải là người có thiên lương. Cái Đẹp của Nguyễn Tuân còn gắn với cái Dũng. Hiện thân của cái Đẹp là hình tượng Huấn Cao với khí phách lừng lẫy đã sáng rực cả trong đêm cho chữ trong nhà tù.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Bên cạnh hình tượng Huấn Cao lồng lộng, ta còn thấy một tấm lòng trong thiên hạ. Trong đêm cho chữ, hình ảnh viên quản ngục cũng cảm động. Đó là âm thanh trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ. Cái tư thế khúm núm, giọng nói nghẹn ngào, cái cúi đầu xin bái lĩnh và cử chỉ run run bưng chậu mực không phải là sự quỵ lụy hèn hạ mà là thái độ chân thành khiến ta có cảm tình với con người đáng thương này.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>6.</strong> Đoạn truyện ông Huấn Cao cho chữ là đoạn văn hay nhất trong truyện ngắn “Chữ người tử tù”. Bút pháp điêu luyện, sắc sảo khi dựng người, dựng cảnh, chi tiết nào cũng gợi cảm, gây ấn tượng. Ngôn ngữ Nguyễn Tuân biến hóa, sáng tạo, có hồn, có nhịp điệu dư ba. Một không khí cổ kính trang nghiêm đầy xúc động, có phần bi tráng toát lên trong đoạn văn.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; “Chữ người tử tù” không còn là “chữ” nữa, không chỉ là Mỹ mà thôi, mà “những nét chữ tươi tắn nó nói lên những hoài bão tung hoành của một đời người”. Đây là sự chiến thắng của ánh sáng đối với bóng tối. Đấy là sự chiến thắng của cái đẹp, cái cao thượng, đối với sự phàm tục nhơ bẩn, cũng là sự chiến thắng của tinh thần bất khuất trước thái độ cam chịu nô lệ. Sự hòa hợp giữa Mỹ và Dũng trong hình tượng Huấn Cao là đỉnh cao nhân cách theo lí tưởng thẩm mĩ của Nguyễn Tuân, theo triết lí “duy mĩ” của Nguyễn Tuân.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-26 14:57:33 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1845286315</guid>
      </item>
      <item>
         <title>ÁNH SÁNG VÀ BÓNG TỐITRONG HAI TRUYỆN NGẮN &quot;CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ&quot; CỦA NGUYỄN TUÂN VÀ &quot;HAI ĐỨA TRẺ&quot; CỦA THẠCH LAM</title>
         <author>6200633928</author>
         <link>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1845291701</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>1.</strong> <em>Dẫn nhập:</em></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Ánh sáng và bóng tối vốn là hai phương diện quan trọng của cuộc sống, luôn luôn tồn tại bên cạnh nhau, bổ sung cho nhau. Trong hội họa, ánh sáng và bóng tối là một thủ pháp cơ bản được dùng để khắc họa con người và sự vật trong cuộc sống. Trong văn chương, ánh sáng và bóng tối cũng được sử dụng như một thủ pháp nghệ thuật nhằm tạo tình huống truyện, chuyển tải nội dung tư tưởng, chủ đề của tác phẩm. Với <em>Chữ người tử tù</em> của <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/7181-tu-lieu-ve-tac-gia-nguyen-tuan.html">Nguyễn Tuân</a> và <em>Hai đứa trẻ</em> của <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/6969-tim-hieu-tac-pha-m-hai-dua-tre-thach-lam.html">Thạch Lam</a>, ánh sáng và bóng tối được sử dụng như một thủ pháp nghệ thuật nòng cốt "biểu hiện cách khai thác hình tượng đối với cuộc sống, như thủ pháp thuyết phục và thu hút độc giả" của tác giả. <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/7181-tu-lieu-ve-tac-gia-nguyen-tuan.html">Nguyễn Tuân</a> và <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/6969-tim-hieu-tac-pha-m-hai-dua-tre-thach-lam.html">Thạch Lam</a> tuy cùng thuộc dòng văn học lãng mạn nhưng mỗi người có một cách sử dụng các thủ pháp nghệ thuật hoàn toàn khác nhau, tạo nên những thế giới nghệ thuật riêng biệt và độc đáo, mang đậm phong cách cá nhân của tác giả.</div><div><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Miệt mài trong hành trình kiếm tìm cái đẹp, ngợi ca cái đẹp, <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/7181-tu-lieu-ve-tac-gia-nguyen-tuan.html">Nguyễn Tuân</a> và <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/6969-tim-hieu-tac-pha-m-hai-dua-tre-thach-lam.html">Thạch Lam</a>, trong <em>Chữ người tử tù</em> và <em>Hai đứa trẻ</em>, ánh sáng và bóng tối được sử dụng không chỉ như một nguyên tắc tạo tình huống truyện mà còn vươn đến ý nghĩa biểu tượng về cái đẹp trong cuộc đời.<br><br></div><div><strong>2.</strong> <em>Ánh sáng và bóng tối trong tác phẩm “Chữ người tử tù”</em></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <em>Chữ người tử tù</em> được viết từ cảm hứng về một thú chơi tao nhã của người xưa, trong một tình huống đặc biệt mà người viết chữ và người chơi chữ là người tử tù và người quản ngục. Hai nhân vật này xuất hiện như một kiểu song trùng của sự tồn tại không thể thiếu nhau giữa hai khách thể đối cực, như ánh sáng và bóng tối, thậm chí là đối thủ trong một hoàn cảnh đặc biệt. Song chính vì là đối cực như ánh sáng với bóng tối nên bản thân sự khác nhau này cũng đã hàm chứa một sự tương liên, bổ sung cho nhau, thậm chí chuyển hóa từ tối ra sáng như một quy luật tất yếu.&nbsp;</div><div><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Không gian nghệ thuật của <em>Chữ người tử tù</em> chủ yếu được xây dựng dựa trên không gian nhà tù - một "trại giam tối om", khung cảnh nền ấy ngập tràn bóng tối, "quạnh quẽ" và "tối mịt", tất cả đều nhuốm vẻ âm thầm, u ám. Mẩu đối thoại ngắn đầy e dè, gìn giữ, nghi ngại lẫn nhau giữa quản ngục và thầy thơ lại như khắc họa rõ hơn số phận những con người quanh năm trong bóng tối, tuy tự do về nhân thân nhưng lại bị cầm tù về nhân cách. Không gian nghệ thuật của tác phẩm được giới hạn ở một nhà tù nhỏ, một cõi nhân sinh mà bóng tối nhiều hơn ánh sáng, ánh sáng chỉ là một ngọn đèn leo lét lọt thỏm giữa bóng tối mịt mù và quạnh quẽ, chỉ là một vài vì tinh tú nhấp nháy xa xa, trong đó có một "ngôi sao chính vị muốn từ biệt vũ trụ". Chút ánh sáng ấy quá nhỏ nhoi so với toàn bộ màn đêm bao phủ nơi đây, nhưng giữa sự tương phản có vẻ không cân đối ấy, tác giả muốn gởi gắm niềm tin về thiên lương con người, dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào, dù le lói nhưng không bao giờ tắt, và nếu có cơ hội nó lại bùng lên mạnh mẽ như niềm tin của con người vào cái tốt cái đẹp, vào ánh sáng. Đó là nét đẹp, là chút ánh sáng còn sót lại trong tâm hồn ngục quan. Con người đang tồn tại ở một nơi mà những vẻ đẹp và những điều xấu xa luôn kế cận nhau, ánh sáng luôn có nguy cơ bị dập tắt bởi bóng tối.</div><div><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Trong thế giới tăm tối ấy, quản ngục như lạc lõng cô độc trong thế giới riêng của mình: một ngọn đèn leo lét, một bóng tối mịt mù quạnh quẽ, tiếng trống thu không, tiếng kiểng tiếng mõ thưa thớt, tiếng chó sủa vào những bóng ma mơ hồ huyền bí cứ ám mãi vào màn đêm hoang hút... Những sợi dây, những vòng dây trói vô hình cứ tròng lên, thít vào cuộc đời mòn rỉ của con người mà <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/7181-tu-lieu-ve-tac-gia-nguyen-tuan.html">Nguyễn Tuân</a> nói là "đang băn khoăn ngồi bóp thái dương", với một ngoại hình mòn mỏi, cô đơn "tóc hoa râm, râu đã ngả màu". Tuy vậy ẩn sâu bên trong con người này là một đời sống tâm hồn như <em>một thanh âm trong trẻo chen vào giữa bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn và xô bồ</em>. <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/7181-tu-lieu-ve-tac-gia-nguyen-tuan.html">Nguyễn Tuân</a> đã rất thành công khi tạo lập bối cảnh và không khí để xây dựng tình huống truyện. Nỗi băn khoăn dẫn đến quyết định biệt đãi Huấn Cao của quản ngục được đặt trong một không gian nền đầy bóng tối - nơi chỉ có vài đốm sáng nhấp nháy trên bầu trời, thậm chí có một ngôi sao chính vị sắp từ biệt vũ trụ, tất cả như chòng chành giữa hai thế đứng để rồi ánh sáng của thiên lương tuy nhỏ nhoi vẫn chiến thắng, dẫn đến một thái độ ứng xử đẹp.</div><div><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Cuộc gặp gỡ giữa hai con người tưởng như đối địch quyết liệt nhưng lại hòa hợp vô cùng ở kết thúc của truyện. Huấn Cao càng khí khái, cương trường, khinh thế ngạo vật bao nhiêu, quản ngục càng nhẫn nhịn, lễ phép, cam chịu bấy nhiêu. Tất cả chỉ vì sự tác động của cái đẹp, của ánh sáng tỏa ra từ một nhân cách, vì quý trọng một tài năng, xót xa một báu vật văn hóa sắp bị chôn vùi vĩnh viễn. Mạch ngợi ca tăng lên từ hai phía đối lập của hai thế đứng, hai tâm trạng, hai thái độ ứng xử, hai mặt của cuộc sống. Chính công việc, môi trường trại giam đã ràng buộc quản ngục vào một giới hạn nghiệt ngã, con người này hàng ngày là công cụ, là người máy, còn sâu trong cõi lòng kia chất chứa một nỗi cô đơn không kẻ tỏ bày, không người tri âm tri kỷ. Một con người mà mới thoạt trông bên ngoài tưởng như là một khối bóng tối khổng lồ nhưng rồi cái tài hoa của <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/7181-tu-lieu-ve-tac-gia-nguyen-tuan.html">Nguyễn Tuân</a> là đã biết chớp lấy cái khoảnh khắc thuận lợi nhất để chút ánh sáng le lói trong tâm hồn quản ngục có cơ hội bừng sáng lên. Không những thế tác giả còn dựng tình huống cho phút giây bừng sáng đó thành thiên thu vĩnh viễn ở đoạn kết - ở sự chiến thắng của ánh sáng với bóng tối, trong "cảnh cho chữ", “một cảnh tượng xưa nay chưa từng có".</div><div><em><br></em><strong>3.</strong><em> Ánh sáng và bóng tối trong tác phẩm “Hai đứa trẻ”</em></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <em>Hai đứa trẻ</em> của <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/6969-tim-hieu-tac-pha-m-hai-dua-tre-thach-lam.html">Thạch Lam</a> là một truyện ngắn "phi cốt truyện". Đó là điểm đặc biệt đồng thời cũng là một trong những nét làm nên phong cách riêng trong nghệ thuật viết truyện của <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/6969-tim-hieu-tac-pha-m-hai-dua-tre-thach-lam.html">Thạch Lam</a>.</div><div><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Ánh sáng và bóng tối trong <em>Hai đứa trẻ</em> được sử dụng như một thủ pháp chính trong nghệ thuật dựng truyện của <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/6969-tim-hieu-tac-pha-m-hai-dua-tre-thach-lam.html">Thạch Lam</a>. Sở dĩ nói như vậy bởi ánh sáng và bóng tối được tác giả sử dụng trong cách xây dựng bối cảnh tác phẩm, nhân vật lẫn trong các chi tiết nhỏ nhằm biểu đạt chủ đề của tác phẩm.</div><div><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Bối cảnh của <em>Hai đứa trẻ</em> là không gian phố huyện buồn tẻ - một không gian nghệ thuật đặc trưng xuất hỉện khá nhiều trong truyện ngắn của ông. Đó là một không gian đan xen giữa làng quê và thành thị. Thời gian là một buổi chiều “êm ả như ru” đang sắp nhường chỗ cho bóng đêm, "dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời"Khung cảnh phố huyện trong bóng tối gợi không khí buồn buồn, hiu hắt, chậm chậm, đơn điệu của cuộc sống nơi đây. Bóng tối ngập đầy trong đôi mắt của Liên. Số phận của lũ trẻ bới rác và những người lao động nghèo ở đây cũng nhạt nhòa trong bóng tối. Bối cảnh phố huyện và tâm trạng nhân vật được tác giả xây dựng vào những thời điểm khác nhau: lúc hoàng hôn, khi đêm về và lúc đêm đã khuya. Trong ánh sáng của ngọn đèn leo lét trên chõng hàng chị Tý, trên bếp lửa của bác Siêu và những hột sáng lọt qua phên nứa từ ngọn đèn của chị em Liên, con người hiện lên như những cái bóng vật vờ không số phận, không tính cách. Ngoài cuộc sống mò cua bắt ốc ban ngày ra, tối đến họ tập trung ở đây như để bắt đầu một cuộc sống thứ hai trong bóng tối, nhưng là để hướng đến ánh sáng. Tất cả cùng chờ đợi một điều gì đó mới mẻ, khác lạ so với cảnh đời buồn tẻ, quẩn quanh, tù hãm của cái "ao đời bằng phẳng" hàng ngày họ nếm trải.&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Hình tượng ánh sáng ở đây được xây dựng như một hình tượng nghệ thuật độc đáo, gây nhiều ám ảnh. Những hột sáng ít ỏi, nhỏ nhoi lọt thỏm giữa không gian phố huyện ngập tràn bóng tối tăng thêm độ mênh mông tối tăm, không khí buồn lặng của khung cảnh phố huyện vào đêm. Nỗi buồn chán của hai đứa trẻ và những người dân phố huyện nếu khi chớm đêm mới chỉ ở mức độ mơ hồ thì càng về khuya nó càng rõ nét. Bầu trời đầy sao và vũ trụ bao la như tương phản, đối lập gay gắt với cuộc sống tù đọng đơn điệu ở phố huyện, hé mở tâm hồn khao khát hạnh phúc của chị em Liên. Lúc này nỗi buồn không còn nhòa nhạt mơ hồ nữa mà đã sắc nét, rõ rệt hơn khi cô nhớ về Hà Nội, một thứ "siêu cảm giác" bởi cô đang hồi tưởng về quá khứ, cảm thấy bằng tâm hồn về một thời khác với thời hiện tại Liên đang sống - "một vùng sáng rực và lấp lánh".</div><div><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Ánh sáng từ đoàn tàu thì đã tới, nhưng ánh sáng thực sự, hạnh phúc thực sự của những con người nơi đây thì mãi vẫn tồn tại trong tâm tưởng mà không biết khi nào mới thành hiện thực. Hình tượng ánh sáng và bóng tối ở Hai đứa trẻ khi đặt vào diễn biến nội tâm tinh tế, phức tạp của Liên trong cảm nhận độ dày của bóng tối từ chiều đến đêm khuya mới thấy rõ giá trị của nó, thấy được độ "khát thèm được chiếu sáng và được đổi thay" của hai đứa trẻ và những người dân nơi đây. Giá trị nghệ thuật và giá trị tư tưởng của tác phẩm vì vậy được nâng lên một tầm khác hẳn khiến Hai đứa trẻ của <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/6969-tim-hieu-tac-pha-m-hai-dua-tre-thach-lam.html">Thạch Lam</a> trở thành một trong những truyện ngắn hay, đặc sắc của văn học Việt Nam.</div><div><br><strong>4.</strong> <em>So sánh:</em></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Nghệ thuật sử dụng ánh sáng và bóng tối như một thủ pháp trong <em>Chữ người tử tù</em> và <em>Hai đứa trẻ</em> vừa có điểm giống nhau lẫn khác nhau. Cả hai tác giả đều sử dụng ánh sáng và bóng tối như một nguyên tắc đối lập, một thủ pháp nghệ thuật trong xây dựng tình huống truyện. Nhưng với <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/7181-tu-lieu-ve-tac-gia-nguyen-tuan.html">Nguyễn Tuân</a> ánh sáng và bóng tối vừa đối lập, vừa bổ sung, nâng đỡ nhau, đồng thời có sự chuyển hóa từ bóng tối ra ánh sáng. Nhân vật viên quản ngục khi được Huấn Cao “khai tâm” đã nghẹn ngào “xin bái lĩnh”, là một minh chứng cho sự chuyển hóa này. Ánh sáng và bóng tối ở đây từ nghĩa thực đã chuyển thành nghĩa tượng trưng. Đều hướng tới mục đích ngợi ca cái đẹp, nhưng cái đẹp trong văn <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/7181-tu-lieu-ve-tac-gia-nguyen-tuan.html">Nguyễn Tuân</a> là cái đẹp thiêng liêng, sang trọng đã ổn định và có giá trị như một bảo vật văn hóa của dân tộc, như một kiểu chơi đẹp, thú uống trà, chơi chữ, một kiểu sống đẹp, một nhân cách đẹp... Chính vì vậy ánh sáng trong <em>Chữ người tử tù</em> là ánh sáng của chân lý, của cái đẹp trong tài hoa, nhân cách, nên tác phẩm cũng được kết thúc đẹp bằng sự chiến thắng của ánh sáng với bóng tối, của thiên lương con người với cái xấu cái ác. Bóng tối ở đây vừa là cuộc sống tù đọng, quẩn quanh mòn mỏi âm u - là nét giống với bóng tối trong <em>Hai đứa trẻ</em> - nhưng nó cũng vừa đại diện cho cái xấu cái ác trong cuộc sống cũng như trong bản chất con người, điểm khác với truyện ngắn <em>Hai đứa trẻ</em> của <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/6969-tim-hieu-tac-pha-m-hai-dua-tre-thach-lam.html">Thạch Lam</a>.&nbsp;</div><div><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Với <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/6969-tim-hieu-tac-pha-m-hai-dua-tre-thach-lam.html">Thạch Lam</a>, bóng tối vừa mang nghĩa biểu trưng cho cuộc sống tù đọng, quẩn quanh nơi phố huyện vừa được sử dụng như phông nền chính nhằm làm nổi bật ba loại ánh sáng:</div><div><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Ánh sáng nơi phố huyện - những quầng sáng giới hạn, nhỏ nhoi, leo lét, những hột sáng... tượng trưng cho số phận mòn mỏi của những con người nơi đây; ;</div><div><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Ánh sáng đô thị - vừa là quá khứ, vừa là tương lai, là miền mơ ước của hai đứa trẻ;</div><div><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Ánh sáng con tàu - ánh sáng thức tỉnh đời sống tỉnh lẻ, như một cầu nối từ hiện tại (ánh sáng phố huyện) về quá khứ (ánh sáng đô thị), rồi hướng tới tương lai (ánh sáng đô thị). Từ đây ánh sáng, bóng tối không còn mang nghĩa thực nữa mà mang nghĩa biểu tượng, biểu tượng của ước mơ, của khát khao hạnh phúc và những điều tốt đẹp trong cuộc sống.&nbsp;</div><div><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Còn với <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/7181-tu-lieu-ve-tac-gia-nguyen-tuan.html">Nguyễn Tuân</a>, cảm hứng thẩm mỹ của ông bắt nguồn từ cái đẹp lớn lao, cái cao cả, bi hùng hoặc mô tả những nhân cách lớn... nên thủ pháp nghệ thuật cũng xây dựng dựa trên sự đối lập gay gắt, ánh sámg và bóng tối cũng được sử dụng nhằm miêu tả những tương phản mạnh mẽ, những chuyển biến bất ngờ, đột ngột. Đó vừa là một thủ pháp trong xây dựng tình huống truyện, vừa là sự dẫn dắt đi đến kết thúc của sự chiến thắng giữa chân lý, cái đẹp với cái xấu, cái ác. <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/6969-tim-hieu-tac-pha-m-hai-dua-tre-thach-lam.html">Thạch Lam</a> do chỉ chú ý đến những cái bình thường, giản dị, nhỏ nhoi trong cuộc sống nên ánh sáng và bóng tối trong tác phẩm của ông không có sự chuyển biến dữ dội, bất ngờ.</div><div><br><strong>5.</strong> <em>Kết luận</em></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Chính từ tính quy phạm của ánh sáng và bóng tối trong hội họa, vào văn chương nó đã vừa kế tục vừa phá vỡ tạo ra hiệu quả thẩm mỹ mới, góp phần đắc lực cho xây dựng tình huống truyện, được sử dụng như một tình tiết nghệ thuật đặc sắc. So sánh hai tác phẩm để thấy sự giống nhau và khác nhau trong nghệ thuật sử dụng ánh sáng và bóng tối, lý giải nó từ quan niệm nghệ thuật, vốn văn hóa của tác giả để thấy tài năng của nhà văn và giá trị nghệ thuật to lớn của tác phẩm. Từ đó có thể khắc họa rõ hơn diện mạo của tác giả, tác phẩm, xác lập một cách thức tiếp cận văn bản không phải chỉ từ chính nó mà bằng liên văn bản. Điều này không nằm ngoài mục đích khám phá các vẻ đẹp tiềm ẩn của tác phẩm văn chương khiến nó luôn mới mẻ, lấp lánh nhiều giá trị.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-26 14:59:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1845291701</guid>
      </item>
      <item>
         <title>NGHỆ THUẬT TRONG VĂN CHƯƠNG THẠCH LAM</title>
         <author>6200633928</author>
         <link>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1845391419</link>
         <description><![CDATA[<div><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Mọi cái rồi sẽ trôi đi, riêng sự thật còn lại. "Qua bao biến thiên lịch sử, qua bao chính kiến nghệ thuật,... dọc con đường từ những năm 1945, văn chương và tư tưởng về văn chương của Thạch Lam vẫn là một trong những giá trị còn lại".<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Văn chương của Thạch Lam là những trang văn đẹp. Cho đến nay, nó càng lôi cuốn tâm hồn những con người đương đại, những con người đã trải qua hai cuộc chiến có máu và lửa thảm khốc. Thoát ra khỏi không gian và thời gian "<em>Vầng trăng và quầng lửa</em>", con người hôm nay tìm về Thạch Lam như nhu cầu tìm về một cõi hiền hoà, yên tĩnh, dịu dàng; về một cõi mình có thể lắng nghe mình, về thời gian của "<em>Gió đầu mùa</em>", không gian của "<em>Nắng trong vườn</em>", hương vị của "<em>Hà nội 36 phố phường</em>",...<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Văn chương của Thạch Lam là những trang hiện thực thoáng qua, những dấu ấn còn lại trong cảm nhận của ta sau một cơn gió nhẹ,... dấu ấn trong miên man. Đó là chủ nghĩa hiện thực không tả thực, một chủ nghĩa hiện thực mĩ thuật. Ở đây không có rùng rợn và bão tố, không có sần sùi, gồ ghề, kịch tính,... Tất cả chỉ là đẹp và tinh tế với những tác phẩm như "<em>Dưới bóng hoàng lan</em>”, “<em>Đứa con đầu lòng</em>",... đi nhẹ vào tâm thức ta.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Cũng có khi văn chương của Thạch Lam đưa mỗi chúng ta vào một tự vấn về nhân cách, nhân phẩm, lương tâm, danh dự,... nghĩa là những tự vấn ở vùng đạo lý, đạo đức tiên thiên mà những tác phẩm "<em>Sợi tóc</em>”, “<em>Đứa con trở về</em>”,... mang hình câu hỏi tra vấn nhẹ nhàng.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Từ thẩm mỹ cho đến tư tưởng, văn chương Thạch Lam xu hướng về cái đẹp của chất người, và chúng ta hiểu, vì sao Thạch Lam để lại nhiều giá trị hơn cả so với những giá trị khác trong Tự lực văn đoàn. Thạch Lam cảm hứng trên hằng số của tinh thần, cho nên văn chương của ông cũng trở thành một hằng số giá trị trong văn học Việt Nam.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Thời văn học Việt Nam những thập kỉ 30 – 40 của thế kỉ XX, các tư tưởng về nghệ thuật, dẫu đứng phía nào, ở nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh, ở chủ nghĩa hiện thực hay chủ nghĩa lãng mạn,... cũng đều ở trình độ giản đơn, nếu không nói là thô sơ. Các nhà tư tưởng nghệ thuật thuở ấy mang cấu trúc tư duy tam đoạn luận<a href="#_ftn1">[1]</a>. Chưa thấy có sự xác lập nhiều tiền đề trong mạch lý giải, biện luận. Do vậy, tính biện chứng bị vắng bóng. Họ chưa thấy được nghệ thuật và văn chương là những hoạt động nhiều chiều và có khi là chúng ngược nhau, đan dệt ngang dọc. Họ tuyệt đối hoá một tiền đề để đi tới một hợp đề duy nhất. Cho nên các cuộc tranh luận như là rơi vào tình trạng bất đồng ngôn ngữ, không có giao lưu, thắng bại.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Trong bối cảnh và tình cảnh tư tưởng ấy, Thạch Lam xuất hiện trong một tư tưởng về sứ mệnh của văn chương (nghệ thuật). Thạch Lam đang đặt văn chương đối diện với một sứ mệnh toàn vẹn. Trong lời tựa tập "Gió đầu mùa", ông viết: "Đối với tôi, văn chương không phải là một cách đem đến cho người đọc sự thoát ly hay sự quên; trái lại, văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới đầy giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn". So với thời đại của Thạch Lam, tư tưởng nghệ thuật này tỏ ra hiểu văn chương hơn cả.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Có thể tìm thấy trong những lời phát biểu ấy những nội dung như sau:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 1. Thạch Lam lắc đầu với loại văn chương đem đến cho người đọc thái độ thoát ly, quên lãng thực trạng cuộc sống.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Thạch Lam đang sống và làm việc với những người bạn chí thân mang tư tưởng sáng tác lãng mạn trong Tự lực văn đoàn, như Thế Lữ (<em>Tôi chỉ là người bộ hành phiêu lãng, Đường trần gian xuôi ngược thú vui chơi</em>), và Xuân Diệu (<em>Tôi là con chim, đến từ núi lạ, ngứa cổ hót chơi...</em>), thế mà ông vẫn cứ lắc đầu!<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Phải công bằng - một công bằng mang tính lịch sử, mà nói rằng, văn chương thời ấy có một loại (mà chúng ta hay mệnh danh là văn học lãng mạn), bên cạnh những tư tưởng nghệ thuật rất quý giá, vẫn đã rơi vào cái hạn chế mà Thạch Lam vừa đề cập tới (đem đến cho người đọc sự thoát ly, sự quên).<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Trong một cảm nhận thú vị và khâm phục Thơ mới, chính nhà phê bình Hoài Thanh đã viết trong Thi nhân Việt Nam: "Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử - Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận."<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Thoát ly và quên lãng, xét đến cùng, cũng là một thái độ phản kháng thực tại. Nhưng nó không nhập cuộc. Thạch Lam muốn có một cái thế nhập cuộc của văn chương.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 2. Văn chương với Thạch Lam phải là một thứ khí giới. Con người sinh ra văn chương, mong muốn nó trờ thành một công cụ chiến đấu cho hạnh phúc của con người. Đó là một sứ mệnh xét từ góc độ sinh thành chủng loại văn chương - nghệ thuật. Đó là quan điểm nghệ thuật vị nhân sinh. Nhưng khi văn chương phát triển thì cũng phải nhìn nó từ góc độ sinh thành cá thể. Từ góc độ này, có thể chấp nhận thái độ nghệ thuật vị nghệ thuật. Bình diện nhân sinh nằm nơi sâu của tiềm tàng, bình diện nghệ thuật sẽ bay lên như một cõi riêng từ cái nền tiềm tàng đó.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Muốn vị nhân sinh hay vị nghệ thuật thì nghệ thuật vẫn là tiếng nói của trái tim con người, vẫn là cuộc giao lưu giữa trái tim và những trái tim. Tự nó, văn chương đã mang cái véc-tơ hướng vào con người, vào cuộc đời.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Văn chương, với Thạch Lam, là một thứ khí giới. Nhưng nó không mang tính vật chất thô thiển, nó là thứ khí giới thanh cao. Nó đến với nơi thanh cao của tinh thần con người.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Tới đây, ta liên tưởng tới thơ Sóng Hồng:<br><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Dùng cán bút làm đòn xoay chế độ<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Mỗi vần thơ - bom đạn phá cường quyền.<br></em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 3. Sứ mệnh đầu tiên của văn chương, theo Thạch Lam, là tố cáo và thay đổi cái thế giới giả dối và tàn ác.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Văn chương có thể nào khác như thế được khi con người đang bị chìm trôi trong bao bi kịch bởi sự tàn ác và giả dối. Đưa sự mệnh tố cáo lên hàng đầu, Thạch Lam muốn văn chương phải mang được một chủ nghĩa nhân đạo hiện thực (truyện ngắn <em>Nhà mẹ Lê</em>).<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Nhưng khi ngôi nhà của cơ chế cũ đã nát vụn dưới búa tạ của văn chương phê phán, khi thói tàn bạo và giả dối đã bị phơi ra dưới ánh nắng mặt trời... thì văn chương cũng phải cảm nhận được một mạch sống đang chảy về đâu. Văn chương phải góp phần cho cuộc sống thay đổi. Sinh thành cá thể phải nằm trong sinh thành chủng loại của nó.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 4. Sứ mệnh đích thực của thứ khí giới thanh cao này là làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Văn chương tắm gội tâm hồn con người. Sống trong những điều kiện hiện thực, con người vướng nhiều bụi bặm. Bên những tinh chất, con người cũng mang những tạp chất. Con người dễ rơi vào tiền tài, danh vọng, rơi vào chốn phù du,... Văn chương có tác dụng "thanh lọc" tinh thần con người.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Lại nữa, tưởng tượng nếu không có văn chương - nghệ thuật thì tâm hồn con người sẽ nghèo đi biết bao nhiêu. Văn chương là một trường thể nghiệm những rung động thẩm mỹ mãnh liệt và sâu lắng. Nó đến với hồn ta. Nó nhân đôi mỗi trái tim chúng ta.<br><br></div><div><br>------------------------------------------<br><a href="#_ftnref1">[1]</a> Tam đoạn luận là tư duy được phát biểu bởi nhà triết học Hi Lạp Socrates, là đi từ đại tiền đề và tiểu tiền đề, tức là những điều đã biết rồi, đến điều chưa biết tức là kết luận hay đoán án. Ví dụ: Đại tiền đề: <em>Tất cả mọi người đều phải chết.</em> Tiểu tiền đề: <em>Socrates là người.</em> Kêt luận: <em>Cho nên Socrates cũng chết.</em></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-26 15:26:32 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1845391419</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vấn đề 1: Những điểm cần lưu ý khi đọc truyện ngắn “Chí Phèo” của nhà văn Nam Cao</title>
         <author>6200633928</author>
         <link>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847083860</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Nam Cao (1917 - 1951) là nhà văn hiện thực xuất sắc của văn học Việt Nam 1930-1945. Ông có tài kể chuyện với ngôn ngữ uyển chuyển, gần với lời ăn tiếng nói của quần chúng. Nam Cao giỏi phân tích tâm lý nhân vật, nhiều trang văn của ông thấm đượm ý vị triết lý trữ tình. Người trí thức và nông dân nghèo là những hình ảnh quen thuộc trong các tác phẩm của ông. Đề tài người nông dân nghèo và người trí thức tiểu tư sản được <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-12/12748-doi-mat-nam-cao.html">Nam Cao</a> viết rất hay và cảm động. <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; “Chí Phèo” là một trong những truyện ngắn hay nhất viết về đề tài nông dân trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Tác phẩm nói lên số phận bi thảm của người nông dân nghèo, lương thiện bị xã hội thực dân phong kiến xô đẩy vào con đường lưu manh, tội lỗi không có lối thoát.<br><strong>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 1.</strong> <em>Làng Vũ Đại</em> <em>- hình ảnh cái xã hội thực dân phong kiến thối nát và cái ác ngự trị.<br></em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Là nơi “quần ngư tranh thực” với các phe nghịch, đi lại với nhau để bóc lột con em, ngấm ngầm chia rẽ, nhè từng chỗ hở để mà trị nhau: Bá Kiến, Đội Tảo, Tư Đạm, Bát Tùng, … Đội Tảo ngang ngược, là cựu binh “cũng có thể đâm chém được, chưa bao giờ chịu hàng trước cuộc giao tranh”. Còn Bá Kiến vô cùng xảo quyệt, biết “mềm nắn rắn buông”, biết ngầm đẩy người ta xuống sông, nhưng rồi lại dắt nó lên để nó đền ơn! Hãy đập bàn, đập ghế đòi cho được 5 đồng nhưng rồi thì lại vứt trả lại năm hào “vì thương anh túng quá!”. Cụ biết thu dụng những thằng bạt mạng để cắm thuế, cắm ruộng, đốt nhà, đâm chém… gây ra bao cảnh đổ máu, làm tan nát bao cơ nghiệp dân lành.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Là nơi đầy rẫy bọn đầu bò đâm thuê chém mướn. Năm Thọ đi thì Binh chức lần về. Binh Chức chết thì lại nở ra một <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/7538-tim-hieu-truyen-chi-pheo.html">Chí Phèo</a> - cùng với Bá Kiến là 2 con quỷ dữ làng Vũ Đại. <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/7538-tim-hieu-truyen-chi-pheo.html">Chí Phèo</a> chết lại có một <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/7538-tim-hieu-truyen-chi-pheo.html">Chí Phèo</a> con nhất định sẽ ra đời!<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Một thị Nở “dòng giống của một nhà có mả hủi…”, một bà cô thị suốt đời cô đơn, một Tự Lãng làm nghề hoạn lợn kiêm thầy cúng, vợ chết, con gái chửa hoang bỏ nhà trốn đi… Bao nhiêu thảm kịch, bi kịch?<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-12/12748-doi-mat-nam-cao.html">Nam Cao</a> đã tố cáo cái hiện thực xấu xa, tàn ác của xã hội thực dân phong kiến. Những cảnh đời dữ dội, những con người đáng sợ, nguồn gốc của tội ác và đau thương đã và đang xô đẩy bao người lương thiện vào con đường đau khổ, tội lỗi.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>2.</strong> <em>Nhân vật Chí Phèo:<br></em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Là một người đau khổ từ khi còn nằm trong bụng mẹ., đẻ ra thì bị mẹ hắn vứt ra lò gạch cũ. Chí Phèo trở thanh một vật cho không, một món hàng từ tay người đàn bà goá mù qua tay ông phó cối. Bơ vơ, làm thuê, bị vợ ba Bá Kiến lợi dụng, bị bỏ tù oan uổng 7, 8 năm trời.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Chí Phèo không người thân thích, không một mái ấm nương thân. Một nông dân lương thiện bị nhà tù thực dân biến thành một tên đầu bò. Bá Kiến đã biến Chí thành kẻ đâm thuê chém mướn. Khi đã ngoài 40 tuổi, cái mặt <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/7538-tim-hieu-truyen-chi-pheo.html">Chí Phèo</a> như mặt một con vật lạ” vằn dọc vằn ngang biết bao nhiêu là sẹo! <em>Hắn ăn và ngủ trong lúc say, đập đầu, rạch mặt, chửi bới trong lúc say, để rồi say nữa, say vô tận</em>,… Hắn đã bị cướp mất cả hình người lẫn linh hồn. Hắn đã thành quỷ dữ.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - “Cuộc tình” của Chí với thị Nở, bát cháo hành và sự săn sóc của thị đã đánh thức bản tính người bị tước đoạt, bị che lấp hơn mười năm nay, làm cho Chí “thèm lương thiện”, “muốn làm hòa” với mọi người. Chí sống lại mơ ước bình dị thời trai trẻ. Hắn biết đón nghe mọi âm thanh đời thường. Hắn muốn cùng thị Nở làm thành một cặp xứng đôi. Bà cô thị Nở và thị đã chối từ quyền làm người của Chí, đẩy <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/7538-tim-hieu-truyen-chi-pheo.html">Chí Phèo</a> chìm vào đáy bi kịch, Chí càng uống càng tỉnh. Chỉ còn một con đường một cách đâm chết Bá Kiến và tự sát vì hắn <em>không thể là người lương thiện nữa</em>.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Sau tiếng kêu và những nhát dao của <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/7538-tim-hieu-truyen-chi-pheo.html">Chí Phèo</a>, cánh cửa trần gian đã đóng chặt, cửa địa ngục mở ra đón nhận hai con quỷ dữ làng Vũ Đại. Cái chết của <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/7538-tim-hieu-truyen-chi-pheo.html">Chí Phèo</a> là cái chết đáng thương!<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-12/12748-doi-mat-nam-cao.html">Nam Cao</a> miêu tả bi kịch cự tuyệt quyền làm người của <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/7538-tim-hieu-truyen-chi-pheo.html">Chí Phèo</a> hết sức tinh tế và sâu sắc như là một quá trình tự vận động của tính cách. Từ lương thiện bị biến thành lưu manh, từ kẻ đâm thuê chém mướn bỗng thèm lương thiện, bị cự tuyệt quyền làm người thì trả thù kẻ làm hại đời mình rồi tự sát. <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-12/12748-doi-mat-nam-cao.html">Nam Cao</a> vừa vạch trần cái xã hội thối nát, độc ác, ông như vừa cất tiếng kêu thương: Hãy chặn đứng tội ác! Hãy xoá bỏ cái xã hội thực dân phong kiến! Hãy cứu lấy dân nghèo lương thiện! Nhân vật <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/7538-tim-hieu-truyen-chi-pheo.html">Chí Phèo</a> là một nhân vật điển hình về người nông dân bị lưu manh hóa.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <em>3.</em> <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/7538-tim-hieu-truyen-chi-pheo.html"><em>Chí</em></a><em> Phèo</em> là một truyện ngắn độc đáo, thấm nhuần tinh thần nhân đạo sâu sắc. Khắc họa tính cách nhân vật, phân tích chiều sâu tâm lý và bi kịch nhân vật, cách kể chuyện hấp dẫn, lôi cuốn là những thành công đặc sắc của <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-12/12748-doi-mat-nam-cao.html">Nam Cao</a>.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-27 03:49:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847083860</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dẫn nhập</title>
         <author>6200633928</author>
         <link>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847084244</link>
         <description><![CDATA[<div><a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/17597-tu-lieu-ve-tac-gia-vu-trong-phung.html"><br>Vũ Trọng Phụng</a> (1912-1939) nhà cây bút có sở trường về phóng sự, được các báo chí thời bấy giờ gọi là “Ông vua phóng sự đất Bắc”. <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/17597-tu-lieu-ve-tac-gia-vu-trong-phung.html">Vũ Trọng Phụng</a> có tài châm biếm đả kích cái xã hội thực dân phong kiến tư sản hết sức bất công, tàn bạo, thối nát… Ông đã sáng tạo ra những nhân vật điển hình bất hủ như Xuân Tóc Đỏ để chế giễu cái xã hội mà ông gọi là “khốn nạn”, “chó đểu”.<br><br></div><div><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <em>Số đỏ </em>là tiểu thuyết trào phúng được viết theo cảm hứng hiện thực phê phán. Tác phẩm miêu tả sống động bao nhiêu cảnh đời và con người mang tính hài hước, giễu cợt.<br><br></div><div><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Chương XV của tác phẩm - với tiêu đề <em>Hạnh phúc của một tang gia</em> - miêu tả đám tang cụ Tổ, giống như một chuỗi cười dài, một cuộc đưa tiễn tập thể, cuộc hành trình tới mộ của cả xã hội, cái xã hội tư sản thành thị Âu hoá rởm, văn minh rởm hết sức lố lăng, đồi bại đang hiện diện ở Việt Nam những năm 1930 – 1945 của thế kỉ XX.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-27 03:50:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847084244</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vấn đề 1: Xuân Diệu – nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới</title>
         <author>6200633928</author>
         <link>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847092818</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Xuân Diệu nhà thơ của niềm khát khao giao cảm với đời". <em><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Xuân Diệu là một người của đời, một người ở giữa loài người. Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian [...]. Ông có "một tâm hồn đằm thắm và rất dễ cảm xúc"</em> (Thế Lữ). Xuân Diệu chính là người đã đem vào trong cảm xúc mùa xuân tất cả cái rạo rực đắm say của tình yêu. <em>Vội vàng</em> là lời tâm tình với mùa xuân của trái tim thơ căng nhựa sống.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <em>Vội vàng</em> là lời giục giã hãy sống mãnh liệt, sống hết mình, hãy quý trọng từng giây, từng phút của cuộc đời mình, nhất là những tháng năm của tuổi trẻ, của một hồn thơ yêu đời, ham sống đến cuồng nhiệt.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 1. Xuân Diệu vừa tiếp thu, học hỏi văn hóa phương Đông, tìm về vốn tri thức cổ, văn hóa truyền thống một cách tích cực, vừa hấp thụ ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, đặc biệt là Pháp và các nhà văn thuộc trường phái tượng trưng một cách có hệ thống. Vì thế có thể tìm thấy ở nhà thơ sự kết hợp hai yếu tố cổ điển và hiện đại, Đông và Tây trong tư tưởng và tình cảm thẩm mỹ. Trong đó yếu tố Tây học, hiện tại ảnh hưởng sâu đậm hơn.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 2. Xuân Diệu đã để lại cho đời một sự nghiệp văn học xuất sắc. Là một con người tài năng nhiều mặt, ở lĩnh vực: làm thơ, viết văn, nghiên cứu phê bình văn học, dịch thuật,... nhưng nói đến Xuân Diệu trước hết phải nói đến một nhà thơ, một cây đại thụ của thơ ca hiện đại Việt Nam. <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 3. Xuân Diệu là một con người có tinh thần lao động nghệ thuật đầy đam mê và bền bỉ. Học tập, rèn luyện và lao động sáng tạo vừa là một quyết tâm khắc khổ, vừa là một lẽ sống, một niềm say mê lớn của ông.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 4. Trước Cách mạng tháng Tám 1945, Xuân Diệu được xem là nhà thơ lãng mạn tiêu biểu của phong trào. Xuân Diệu đã đem đến Thơ mới nguồn cảm hứng mới lạ của một hồn thơ sôi nổi, thiết tha yêu đời, thể hiện niềm khát khao giao cảm tận độ với cuộc đời bằng một cái tôi cá thể ý thức thật rõ giá trị của bản thân trước thế giới. Đối với Xuân Diệu, làm thơ, văn không chỉ để khẳng định tài năng mà còn là một cách giao cảm với đời, khẳng định sự hiện hữu của mình trong cuộc đời.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Nhà thơ bộc lộ niềm khát khao giao cảm nồng cháy, cuồng say trước cuộc đời, bắt nguồn từ quan niệm sống tích cực của cái tôi cá nhân cá thể ý thức sự hiện hữu của bản thân trong cuộc đời và khát khao sống cháy sáng. Trong khi các nhà thơ mới khác đối lập cái tôi của mình với cuộc đời như tìm đến chốn bồng lai như Thế Lữ, chốn quê như Đoàn Văn Cừ thì Xuân Diệu hòa lẫn cái tôi của mình vào cuộc đời trần thế, yêu đời tận tưởng đắm say cuộc đời.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 5. Xuân Diệu là nhà thơ của mùa xuân, tình yêu và tuổi trẻ. Thơ Xuân Diệu luôn thể hiện lòng yêu đời, ham sống đến cuồng nhiệt, niềm khát khao chiếm lĩnh và hưởng thụ những giá trị tươi đẹp của cuộc sống. Cái tôi Xuân Diệu được giải phóng khỏi ước lệ phi ngã cổ điển, nhìn đời bằng cái nhìn xanh non, biếc trời, đầy trẻ trung. Một số nhà thơ như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương nói được tình yêu cả về tinh thần và thể xác nhưng chỉ đến Xuân Diệu, khát vọng về tình yêu mới được thể hiện thành thục và mãnh liệt nhất, đem đến đương thời những ý tưởng mới mẻ và táo bạo.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Trong thơ Xuân Diệu, cảm thức thời gian được bắt nguồn từ quan điểm nhân sinh mới mẻ. Xuân Diệu với tâm hồn nhạy bén ý thức được sự chảy trôi của thời gian một đi không trở lại nên luôn mang trong mình nỗi ám ảnh, lo sợ. Nhà thơ muốn chạy đua với thời gian để giành giật sự sống, tận hưởng từng phút giây của cuộc đời, thể hiện niềm ham sống lành mạnh.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Bên cạnh niềm yêu say cuộc đời, thơ Xuân Diệu cũng thể hiện nỗi buồn chán, hoài nghi, cô đơn. Do Xuân Diệu là một nhà thơ, một nghệ sĩ theo khuynh hướng lãng mạn, đòi hỏi cái hoàn mĩ, tự nuôi mình bằng những ảo mộng cuộc đời, luôn thèm muốn giao cảm vô biên tuyệt đỉnh với cuộc đời, nên khi gặp phải hoàn cảnh xã hội tầm thường giả dối, sống trong đất nước mất chủ quyền, bản thân là người dân mất nước, chịu vòng nô lệ khao khát dâng hiến nhưng gặp phải xã hội kim tiền, Xuân Diệu rơi vào chán nản, hoài nghi, cô đơn, "buồn tịch mịch ngay trong cả những điều ấm nóng tươi vui".<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám 1945 cũng thể hiện sự cách tân về nghệ thuật đầy mới mẻ và táo bạo Xuân Diệu đem đến nguồn thi tứ mới mẻ<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Thơ xưa khi viết về nỗi cô đơn thường tạo ra không gian trống trải, thiếu vắng con người, còn đối với Xuân Diệu, ngay cả khi con người và cảnh vật ở bên mình, nhà thơ vẫn cảm thấy cô đơn.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Tình yêu trong thơ Xuân Diệu không diễn tả bóng gió, ước lệ như thơ xưa mà hiện lên với ý nghĩa đầy đủ nhất, trọn vẹn nhất, là sự hòa hợp về linh hồn và thể xác.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Hình ảnh thơ mới mẻ, táo bạo, mang đậm cảm giác phồn thực.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Thơ Xuân Diệu với những hình ảnh đầy rẫy tính cảm giác, được cảm nhận bằng tất cả các giác quan: (<em>Con gió xinh thì thào trong lá biếc</em>), từ ngữ sử dụng mới lạ, táo bạo (<em>Hơn một loài hoa đã rụng cành</em>),...<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Câu thơ của Xuân Diệu có iọng điệu sôi nổi, cuồng nhiệt, đắm say, mang đậm yếu tố khẩu ngữ, có tính chất đối thoại, mang màu sắc luân lí:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<em>Yêu là chết ở trong lòng một ít<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu.</em>&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-27 03:54:43 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847092818</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vấn đề 1: Vẻ đẹp cổ điển và vẻ đẹp hiện đại của bài thơ &quot;Tràng giang&quot; (Huy Cận)</title>
         <author>6200633928</author>
         <link>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847093082</link>
         <description><![CDATA[<div><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Trước <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/hoi-dap-lich-su/19206-hoi-ve-cuoc-cach-mang-thang-tam.html">Cách mạng tháng Tám</a>, thơ <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/17572-tu-lieu-ve-nha-tho-huy-can.html">Huy Cận</a> mang nổi sầu về kiếp người và ca ngợi cảnh đẹp của <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/anh-dep/24508-anh-dep-thien-nhien.html">thiên nhiên</a>, tạo vật với các tác phẩm tiêu biểu như: "Lửa thiêng", "Vũ trụ ca", Kinh cầu tự". Vẻ đẹp <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/anh-dep/24508-anh-dep-thien-nhien.html">thiên nhiên</a> nỗi ưu sầu nhân thế, một nét thơ tiêu biểu của <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/17572-tu-lieu-ve-nha-tho-huy-can.html">Huy Cận</a>, được thể hiện khá rõ nét qua bài thơ "Tràng giang". Đây là một bài thơ hay, tiêu biểu và nổi tiếng nhất của <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/17572-tu-lieu-ve-nha-tho-huy-can.html">Huy Cận</a> trước <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/hoi-dap-lich-su/19206-hoi-ve-cuoc-cach-mang-thang-tam.html">Cách mạng tháng tám</a>. Bài thơ được trích từ tập "Lửa thiêng", được sáng tác khi <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/17572-tu-lieu-ve-nha-tho-huy-can.html">Huy Cận</a> đứng ở bờ Nam bến Chèm sông Hồng, nhìn cảnh mênh mông sóng nước, lòng vời vợi buồn, cám cảnh cho kiếp người nhỏ bé, nổi trôi giữa dòng đời vô định.<br><br></div><div><strong>I. Các phương diện thể hiện vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại của bài thơ<br></strong>1. Đề tài, cảm hứng: <em>Tràng giang</em> mang nỗi sầu từ vạn cổ của con người bé nhỏ, hữu hạn trước thời gian, không gian vô hạn, vô cùng; đồng thời thể hiện “nỗi buồn thế hệ” của một “cái tôi” thơ mới thời mất nước “chưa tìm thấy lối ra”.<br>2. Chất liệu thi ca:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - <em>Tràng giang</em> mang nhiều hình ảnh quen thuộc trong thơ cổ (tràng giang, bờ bãi đìu hiu, cánh chim trong bóng chiều…), nhiều hình ảnh, tứ thơ được gợi từ thơ cổ.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - <em>Tràng giang</em> cũng không thiếu những hình ảnh, âm thanh chân thực của đờ thường, không ước lệ (củi khô, tiếng vãn chợ chiều, bèo dạt…).<br>3. Thể loại và bút pháp:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - <em>Tràng giang</em> mang đậm phong vị cổ điển qua việc vận dụng nhuần nhuyễn thể thơ 7 chữ với cách ngắt nhịp, gieo vần, cấu trúc đăng đối; bút pháp tả cảnh ngụ tình, gợi hơn là tả …những từ Hán Việt cổ kính (tràng giang, cô liêu…).<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - <em>Tràng giang</em> hiện đại qua xu hướng giãi bày trực tiếp “cái tôi” trữ tình (buồn điệp điệp, sầu trăm ngả, không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà…), qua những từ ngữ sáng tạo mang dấu ấn xúc cảm cá nhân của tác giả (sâu chót vót, niềm thân mật, dợn…)<br>4. Kết luận<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - <em>Tràng giang</em> của <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/17572-tu-lieu-ve-nha-tho-huy-can.html">Huy Cận</a> không chỉ là một bức phong cảnh mà còn là “một bài thơ về tâm hồn”. Bài thơ thể hiện nỗi buồn cô đơn trước vũ trụ, trước cuộc đời.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Từ đề tài, cảm hứng, chất liệu đến giọng điệu, bút pháp, <em>Tràng giang</em> vừa mang phong vị thi ca cổ điển vừa mang chất hiện đại của Thơ mới.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại cũng là một nét đặc trưng của phong cách <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/17572-tu-lieu-ve-nha-tho-huy-can.html">Huy Cận</a>.<br><strong>II. Phân tích vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại trong bài thơ<br></strong>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 1. Ngay từ thi đề, nhà thơ đã khéo gợi lên vẻ đẹp cổ điển lại hiện đại cho bài thơ. "<a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/3272-tim-hieu-bai-trang-giang.html">Tràng giang</a>" là một cách nói chệch đầy sáng tạo của <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/17572-tu-lieu-ve-nha-tho-huy-can.html">Huy Cận</a>. Hai âm "ang" đi liền nhau đã gợi lên trong người đọc cảm giác về con sông, không chỉ dài vô cùng mà còn rộng mênh mông, bát ngát. Hai chữ "<a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/3272-tim-hieu-bai-trang-giang.html">tràng giang</a>" mang sắc thái cổ điển trang nhã, gợi liên tưởng về dòng Trường giang trong thơ Đường thi, một dòng sông của muôn thuở vĩnh hằng, dòng sông của tâm tưởng.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 2. Tứ thơ "<a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/3272-tim-hieu-bai-trang-giang.html">Tràng giang</a>" mang nét cổ điển như thơ xưa: Nhà thơ thường ẩn đằng sau cái mênh mông sóng nước, không như các nhà thơ mới thường thể hiện cái tôi của mình. Nhưng nếu các thi nhân xưa tìm đến <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/anh-dep/24508-anh-dep-thien-nhien.html">thiên nhiên</a> để mong hoà nhập, giao cảm, <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/17572-tu-lieu-ve-nha-tho-huy-can.html">Huy cận</a> lại tìm về <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/anh-dep/24508-anh-dep-thien-nhien.html">thiên nhiên</a> để thể hiện nổi ưu tư, buồn bã về kiếp người cô đơn, nhỏ bé trước vũ trụ bao la. Đó cũng là vẻ đẹp đầy sức quyến rũ của tác phẩm, ẩn chứa một tinh thần hiện đại.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 3. Câu đề từ giản dị, ngắn gọn với chỉ bảy chữ nhưng đã thâu tóm được cảm xúc chủ đạo của cả bài: "Bâng khuâng trời rộng nhớ sống dài". Trước cảnh "trời rộng", "sông dài" sao mà bát ngát, mênh mông của <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/anh-dep/24508-anh-dep-thien-nhien.html">thiên nhiên</a>, lòng con người dấy lên tình cảm "bâng khuâng" và nhớ. Từ láy "bâng khuâng" được sử dụng rất đắc địa, nó nói lên được tâm trạng của chủ thể trữ tình, buồn bã, u sầu, cô đơn, lạc lõng. Và con "sông dài", nghe miên man tít tắp ấy cứ vỗ sóng đều đặn khắp các khổ thơ, cứ cuộn sóng lên mãi trong lòng nhà thơ làm rung động trái tim người đọc.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 4. Vẻ đẹp cổ điển của bài thơ được thể hiện khá rõ ngay từ bốn câu đầu tiên này. Hai từ láy nguyên "điệp điệp", "song song" ở cuối hai câu thơ mang đậm sắc thái cổ kính của Đường thi. Và không chỉ mang nét đẹp ấy, nó còn đầy sức gợi hình, gợi liên tưởng về những con sóng cứ loang ra, lan xa, gối lên nhau, dòng nước thì cứ cuốn đi xa tận nơi nào, miên man miên man. Trên dòng sông gợi sóng "điệp điệp", nước "song song" ấy là một "con thuyền xuôi mái", lững lờ trôi đi. Trong cảnh có sự chuyển động là thế, nhưng sao chỉ thấy vẻ lặng tờ, mênh mông của <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/anh-dep/24508-anh-dep-thien-nhien.html">thiên nhiên</a>, một dòng "<a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/3272-tim-hieu-bai-trang-giang.html">tràng giang</a>" dài và rộng bao la, nỗi buồn của con người cũng đầy ăm ắp trong lòng.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Nét đẹp cổ điển "tả cảnh ngụ tình" thật khéo léo, tài hoa của tác giả, đã gợi mở về một nỗi buồn, u sầu như con sóng sẽ còn vỗ mãi ở các khổ thơ còn lại để người đọc có thể cảm thông, thấu hiểu về một nét tâm trạng thường gặp ở các nhà thơ mới. Nhưng bên cạnh đó ta cũng nhìn ra một vẻ đẹp hiện đại rất thi vị của khổ thơ. Đó là ở cách nói "Củi một cành khô" thật đặc biệt, không chỉ thâu tóm cảm xúc của toàn khổ, mà còn hé mở tâm trạng của nhân vật trữ tình, một nỗi niềm đơn côi, lạc lõng.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 5. Vẻ đẹp cổ điển của khổ thơ 2 hiện ra qua các thi liệu quen thuộc trong Đường thi như: sông, trời, nắng, cuộc sống con người thì buồn tẻ, chán chường với "vãn chợ chiều", mọi thứ đã tan rã, chia lìa. Hai từ láy "lơ thơ" và "đìu hiu" được sắp xếp trên một dòng thơ đã vẽ nên một quang cảnh vắng lặng. "Lơ thơ" gợi sự ít ỏi, bé nhỏ "đìu hiu" lại gợi sự quạnh quẽ. Giữa khung cảnh "cồn nhỏ", gió thì "đìu hiu" là nỗi niềm khao khát, mong mỏi của nhà thơ về âm thanh sự sống của con người. "Nắng xuống, trời lên" gợi sự chuyển động, mở rộng về không gian, và gợi cả sự chia lìa: bởi nắng và trời mà lại tách bạch khỏi nhau. "Sâu chót vót" là cảnh diễn đạt mới mẻ, đầy sáng tạo của <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/17572-tu-lieu-ve-nha-tho-huy-can.html">Huy Cận</a>, mang một nét đẹp hiện đại. Đôi mắt nhà thơ không chỉ dừng ở bên ngoài của trời, của nắng, mà như xuyên thấu và cả vũ trụ, cả không gian bao la, vô tận. Cõi <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/anh-dep/24508-anh-dep-thien-nhien.html">thiên nhiên</a> ấy quả là mênh mông với "sông dài, trời rộng", còn những gì thuộc về con người thì lại bé nhỏ, cô đơn.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 6. Hình ảnh cánh bèo trôi bồng bềnh trên sông là hình ảnh thường dùng trong thơ cổ điển, nó gợi lên một cái gì bấp bênh, nổi trôi của kiếp người vô định giữa dòng đời. Nhưng trong thơ <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/17572-tu-lieu-ve-nha-tho-huy-can.html">Huy Cận</a> không chỉ có một hay hai cánh bèo, mà là "hàng nối hàng". Bèo trôi hàng hàng càng khiến lòng người rợn ngộp trước <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/anh-dep/24508-anh-dep-thien-nhien.html">thiên nhiên</a>, để từ đó cõi lòng càng đau đớn, cô đơn. Bên cạnh đó là "bờ xanh tiếp bãi vàng" như mở ra một không gian bao la vô cùng, vô tận, <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/anh-dep/24508-anh-dep-thien-nhien.html">thiên nhiên</a> nối tiếp <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/anh-dep/24508-anh-dep-thien-nhien.html">thiên nhiên</a>, dường không có con người và sự sống của con người, không có sự giao hoà, nối kết.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 7. <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/17572-tu-lieu-ve-nha-tho-huy-can.html">Huy Cận</a> lại khéo vẽ nét đẹp cổ điển và hiện đại cho bầu trời trên cao. Bút pháp chấm phá với "mây cao đùn núi bạc" thành "lớp lớp" đã khiến người đọc tưởng tượng ra những núi mây trắng được ánh nắng chiếu vào như dát bạc. Hình ảnh mang nét đẹp cổ điển thật trữ tình và lại càng thi vị hơn khi nó được khơi nguồn cảm hứng từ một tứ thơ Đường cổ của Đỗ Phủ: <em>mặt đất mây đùn cửa ải xa. </em><a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/17572-tu-lieu-ve-nha-tho-huy-can.html">Huy Cận</a> đã vận dụng rất tài tình động từ "đùn", khiến mây như chuyển động, có nội lực từ bên trong, từng lớp từng lớp mây cứ đùn ra mãi. Đây cũng là một nét thơ đầy chất hiện đại, bởi nó đã vận dụng sáng tạo từ thơ cổ điển quen thuộc.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Và nét hiện đại càng bộc lộ rõ hơn qua dấu hai chấm thần tình trong câu thơ sau. Dấu hai chấm này gợi mối quan hệ giữa chim và bóng chiều: Chim nghiêng cánh nhỏ kéo bóng chiều, cùng sa xuống mặt <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/3272-tim-hieu-bai-trang-giang.html">tràng giang</a>, hay chính bóng chiều sa, đè nặng lên cánh chim nhỏ làm nghiêng lệch cả đi. Câu thơ tả không gian nhưng gợi được thời gian bởi nó sử dụng "cánh chim" và "bóng chiều", vốn là những hình tượng thẩm mỹ để tả hoàng hôn trong thơ ca cổ điển.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Nhưng giữa khung cảnh cổ điển đó, người đọc lại bắt gặp nét tâm trạng hiện đại: nỗi niềm đó là nỗi niềm nhớ quê hương khi đang đứng giữa quê hương, nhưng quê hương đã không còn. "Dợn dợn" là một từ láy nguyên sáng tạo của <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/17572-tu-lieu-ve-nha-tho-huy-can.html">Huy Cận</a>, chưa từng thấy trước đó. Từ láy này hô ứng cùng cụm từ "vời con nước" cho thấy một nổi niềm bâng khuâng, cô đơn của “lòng quê”. Bên cạnh tâm trạng hiện đại ấy là từ thơ cổ điển được gợi từ câu thơ của Thôi Hiệu.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 8. Cả bài thơ vừa mang nét đẹp cổ điển, vừa mang nét hiện đại. Vẻ đẹp cổ điển được thể hiện qua lối thơ bảy chữ mang đậm phong vị Đường thi, qua cách dùng từ láy nguyên, qua việc sử dụng các thi liệu cổ điển quen thuộc như: mây, sông, cánh chim... Và trên hết là cách vận dụng các tứ thơ cổ điển, gợi cho bài thơ không khí cổ kính, trầm mặc của thơ Đường.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Vẻ đẹp hiện đại lan toả qua các câu chữ sáng tạo, độc đáo của nhà thơ như "sâu chót vót", dấu hai chấm thần tình. Nhưng vẻ đẹp ấy đọng lại cuối cùng là tâm trạng nhớ quê hương ngay khi đứng giữa quê hương, nét tâm trạng hiện đại của các nhà tri thức muốn đóng góp sức mình cho đất nước mà đành bất lực, không làm gì được.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Bài thơ sẽ còn mãi đi vào lòng người với phong cách tiêu biểu rất "<a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/17572-tu-lieu-ve-nha-tho-huy-can.html">Huy Cận</a>", với vẻ đẹp cổ điển trang nhã sâu lắng và vẻ đẹp hiện đại mang nặng một tấm lòng yêu nước, yêu quê hương.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-27 03:54:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847093082</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vấn đề 2: Phân tích đoạn đầu bài thơ &quot;Vội vàng&quot; của nhà thơ Xuân Diệu.</title>
         <author>6200633928</author>
         <link>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847107835</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;&nbsp;</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Quan niệm mới mẻ của nhà thơ thể hiện ở hệ thống hình ảnh thơ mới lạ, nhiều sắc màu và tràn đầy cảm xúc. Bài thơ là tiếng ca thúc giục mọi người, nhất là những người trẻ tuổi hãy hết mình với cuộc đời, sống thật nhiều và thật có ý nghĩa.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; "Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình. Khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn, tha thiết" (Hoài Thanh). Xuân Diệu được coi là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới, thơ ông luôn thể hiện một cách chân thực, nồng nàn và hiện đại nhất những trạng thái cảm xúc của con người trước cuộc sống. <em>Vội vàng </em>là tiếng nói sôi nổi, hăm hở của một tâm hồn yêu đời, yêu cuộc sống đến cuồng nhiệt và là tuyên ngôn cho một quan niệm sống, triết lí sống được thể hiện bằng những hình tượng thơ thấm đẫm cảm xúc. Đây là bài thơ tiêu biểu cho sự bùng nổ mãnh liệt của cái Tôi thơ mới nói chung mà lại in dấu khá đậm hồn thơ <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/showthread.php?t=8049"><strong>Xuân Diệu</strong></a>, vừa rất tiêu biểu cho sự cách tân táo bạo, độc đáo của nghệ thuật thơ ông.</div><div><strong>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; </strong><a href="http://diendankienthuc.net/diendan/showthread.php?t=3263"><strong>Vội vàng</strong></a> thể hiện khả năng cảm nhận tinh tế vẻ đẹp cuộc sống, đồng thời thể hiện một quan niệm sống, một triết lí nhân sinh tích cực. Trong không gian văn hoá và điều kiện lịch sử xã hội Việt Nam những năm ba mươi của thế kỉ XX mà một người thanh niên đang ở tuổi đôi mươi có thể có những vần thơ rạo rực và triết lí sâu sắc như Vội vàng là một minh chứng thuyết phục cho tài năng được đánh giá là “một trong ba đỉnh cao của thơ mới”. Bài thơ đã mang đến cho bản nhạc đượm buồn và đậm chất đau thương, tuyệt vọng của thơ mới một khúc ca tràn đầy hi vọng.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Với giọng điệu thôi thúc, cảm xúc gọi nhau tuôn trào từ câu đầu đến câu cuối, <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/showthread.php?t=3263"><strong>Vội vàng</strong></a> lôi cuốn người đọc ngay từ những dòng đầu tiên. Bài thơ mở đầu rất đột ngột bằng một khát vọng lớn:</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Tôi muốn tắt nắng đi</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Cho màu đừng nhạt mất ;</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Tôi muốn buộc gió lại</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Cho hương đừng bay đi.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Khát vọng được nhấn mạnh bởi sự lặp lại cấu trúc “Tôi muốn...” trong một đoạn bốn câu thơ năm chữ. Nhịp thơ và cấu trúc ấy đã gợi vẻ cuống quýt, vội vàng. Nội dung của ý muốn ấy lại càng độc đáo, đó là “tắt nắng” và “buộc gió”. Đó là khát vọng níu giữ những vẻ đẹp của cuộc đời. “Màu” và “hương” là những tinh tuý của đất trời. Nhà thơ muốn níu giữ lại vẻ đẹp đó. Nhưng “tắt nắng”, “buộc gió” là điều không thể thực hiện. Ngay những dòng thơ đầu tiên đã phảng phất sự bất lực và nuối tiếc của nhân vật trữ tình. Và cũng ngay ở đây, cái Tôi cá nhân của thi sĩ đã xuất hiện với tư thế chủ động trước cuộc đời.&nbsp;</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Những câu thơ tiếp theo lí giải cụ thể nguyên nhân dẫn đến khát vọng có vẻ “ngông cuồng” ở những câu đầu. Bức tranh thiên nhiên tươi đẹp được miêu tả sinh động và đáng yêu :</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; Của ong bướm này đây tuần tháng mật,</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; Này đây hoa của đồng nội xanh rì,</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; Này đây lá của cành tơ phơ phất ;</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; Của yến anh này đây khúc tình si ;</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa ;</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; Tháng giêng ngon như một cặp môi gần ;</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Biện pháp điệp từ lại xuất hiện. <em>Này đây</em> có tính chất như một lời liệt kê, một sự xác nhận về sự hiện hữu của những sự vật được nói tới. Tất cả các sự vật ấy lại đều đang ở thì đẹp nhất, tươi non nhất: tuần tháng mật, đồng nội xanh rì, cành tơ, khúc tình si... Mùa xuân được hiện ra bằng vẻ đẹp của tháng giêng tràn trề sức sống xuân thì và tình tứ giao hoà quấn quýt. Ong bướm, hoa cỏ, chim muông, âm thanh và ánh sáng... hiện ra qua những hình ảnh nhân hoá đều tràn đầy hạnh phúc, tươi non mơn mởn, dạt dào sức sống trong một thế giới ngất ngây mộng ảo.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Trong con mắt xanh non háo hức của thi nhân, ngày tháng trở thành "tuần tháng mật", âm thanh của thiên nhiên trở thành những giai điệu vô cùng tình tứ. Ta đã từng nghe đến "khúc nhạc hường", "khúc nhạc thơm" và giờ đây là một "khúc tình si". Còn ánh bình minh lại hiện lên độc đáo qua hàng mi dài của người thiếu nữ chớp&nbsp; "ánh sáng chớp hàng mi". Nhịp thơ dồn dập, điệu thơ, ý thơ không-mắt làm duyên&nbsp; dứt đã diễn tả được sự vui mừng, niềm khao khát đến cuống quýt của nhân vật trữ tình trước vẻ hấp dẫn của thiên nhiên. Và bức tranh thiên nhiên muôn màu muôn vẻ hiện lên đẹp và tràn đầy sức sống. Xuân Diệu đã chọn từ ngữ, hình ảnh và cách diễn đạt giàu tính hình tượng, gợi cảm và rất hiện đại để bộc lộ những cảm nhận tinh tế của mình về cuộc sống. Cao trào của cảm xúc đã giúp nhà thơ sáng tạo nên một hình ảnh thật đắt về vẻ đẹp của thiên nhiên :</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; Tháng giêng ngon như một <em>cặp</em> môi gần</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Đây là một hình ảnh so sánh táo bạo và độc đáo, nó cũng thể hiện được quan điểm thẩm mĩ hiện đại của Xuân Diệu. Quan điểm này trái ngược với quan điểm của thơ ca truyền thống. Nhà thơ đã dùng vẻ đẹp của con người, thậm chí rất con người (cặp môi gần) để diễn tả vẻ đẹp của thiên nhiên. Nhà thơ đã cụ thể hoá cái khao khát của con người và vẻ đẹp của tự nhiên với từ ngon. Chữ ngon được dùng rất tài hoa. Nhà thơ cảm nhận cái đẹp của mùa xuân không phải bằng thị giác mà bằng cả vị giác, xúc giác, bằng cả tâm hồn luôn "thức nhọn giác quan" để sáng tạo nên một hình ảnh thơ khoẻ khoắn đầy sức sống không chỉ biểu thị niềm vui say ngất ngây trước thiên nhiên mà còn thể hiện một quan điểm mĩ học mới : Con người là thước đo thẩm mĩ của vũ trụ, vẻ đẹp con người trần thế là tác phẩm kì diệu của hoá công, thế giới này đẹp nhất, mê hồn nhất là vì có con người giữa tuổi trẻ, mùa xuân, tình yêu. Tháng giêng là mùa xuân, mùa của sự đâm chồi nảy lộc, của sự hồi sinh, và đây là thời gian vạn vật sinh sôi nảy nở. Cho nên với thi sĩ, xuân luôn là thời gian đẹp nhất trong năm. Và để thể hiện điều đó, <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/showthread.php?t=3263"><strong>Xuân Diệu</strong></a> đã chọn một hình ảnh so sánh thật đắt. Bức tranh thiên nhiên ấy đã đủ cho thấy nhà thơ yêu cuộc sống đến nhường nào ! Nhà thơ viết tiếp :</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa :</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Câu thơ đượm màu triết lí. Sau phút giây để cảm xúc thăng hoa cùng vẻ đẹp của đất trời, xúc cảm của nhân vật trữ tình tạm lắng xuống và chuyển sang chiều hướng suy tư. Nhà thơ đã hình ảnh hoá triết lí ấy : không thể để những điều tốt đẹp (xuân) qua đi rồi mới thấy nuối tiếc. Tâm trạng “nắng hạ mới hoài xuân” là tâm trạng rất phổ biến của con người. Bởi thông thường, trong cuộc sống, con người thường không coi trọng những gì mình đang có, chỉ khi nó đã qua đi mới thấy nó có ý nghĩa quan trọng và lại nuối tiếc. Vậy “xuân” không chỉ là hình ảnh khái quát cho những vẻ đẹp của thiên nhiên đã được nhà thơ nói đến ở đoạn thơ trên mà có ý nghĩa khái quát chỉ tất cả những gì mà tạo hoá ban tặng cho con người.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <em>Vội vàng</em> là một dòng cảm xúc chân thành thể hiện tình yêu cuộc sống tha thiết của nhà thơ. Giọng điệu, hình thức câu thơ thay đổi linh hoạt với một thế giới hình ảnh đa dạng và phong phú đã tạo nên sức hấp dẫn của thi phẩm. <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/showthread.php?t=3263"><strong>Xuân Diệu</strong></a> đã sáng tạo một hình thức độc đáo để thể hiện những triết lí nhân sinh và quan niệm sống tích cực và sâu sắc. Đặt bài thơ trong không khí của Thơ mới thì mới cảm nhận được tình yêu cuộc sống của nhà thơ mãnh liệt đến chừng nào.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Với bài thơ "Vội vàng", Xuân Diệu đã phả vào nền thi ca Việt Nam một trào lưu "Thơ mới". Mới lạ nhưng táo bạo, độc dáo ở giọng điệu và cách dùng từ, ngắt nhịp, nhất là cách cảm nhận cuọc sống bằng tất cả các giác quan, với một trái tim chan chứa tình yêu. "Vội vàng" đã thể hiện một cảm quan nghệ thuật rất đẹp, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Đó là lòng yêu con người, yêu cuộc đời. Đó là tình yêu cảnh vật, yêu mùa xuân và tuổi trẻ... Và là ham muốn mãnh liệt muốn nĩu giữ thời gian, muốn tận hưởng vị ngọt ngào của cảnh sắc đất trời "tươi non mơn mởn". Phải chăng trời đất sinh ra thi sĩ Xuân Diệu trên xứ sở hữu tình này, là để ca hát về tình yêu, để nhảy múa trong những điệu nhạc tình si?! Thơ Xuân Diệu - vội vã với nhịp đập của thời gian.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-27 04:03:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847107835</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vấn đề 3: Phân tích đoạn cuối bài thơ &quot;Vội vàng&quot; của nhà thơ Xuân Diệu</title>
         <author>6200633928</author>
         <link>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847111170</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em><br></em></strong>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;"<em>Ta muốn ôm.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Và non nước, và cây, và cỏ rạng,<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Cho chuếnh choáng mùi hương, cho đã đầy ánh sáng,<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Cho no nê thanh sắc của thời tươi;<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!</em>"<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Điệp ngữ “ta muốn” được lặp đi lặp lại với mật độ thật dày và cũng thật đích đáng. Nhất là mỗi lần điệp lại đi liền với một động thái yêu đương mỗi lúc một mạnh mẽ, mãnh liệt, nồng nàn: <em>ôm, riết, say, thâu, cắn</em>. Những chữ “và” trong câu thơ “Và non nước, và cây, và cỏ rạng” đối với thơ ca trung đại là câu thơ vụng. Vậy mà, đó lại là sáng tạo của nhà thơ hiện đại Xuân Diệu. Nó thể hiện đậm nét sắc thái riêng của cái tôi Xuân Diệu. Nghĩa là thể hiện một cách trực tiếp, tươi sống cái cảm xúc tham lam đang trào lên mãnh liệt trong lòng ngực yêu đời của thi sĩ !<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Hình thức trình bày đoạn thơ rất đặc biệt, thể hiện dụng ý nghệ thuật của tác giả. Ba chữ "Ta muốn ôm" được đặt ở giữa dòng thơ mô phỏng hình ảnh nhân vật trữ tình đang dang rộng vòng tay để ôm tất cả sự sống lúc xuân thì - sự sống giữa thời tươi vào lòng. Đó là chân dung của một cái tôi đầy tham lam, ham hố đang dứng giữa trần gian, cuộc đời, dòng đời để ôm cho hết, riết cho chặt, cho say, cho chếnh choáng, thâu cho đã đầy, cho no nê, cho tới tận cùng những hương sắc của đất trời giữa mùa xuân... Tất thảy đều vồ vập, khát khao đến cháy bỏng với các mong muốn được giao hoà, giao cảm mãnh liệt với vạn vật, với cuộc đời. Những câu thơ mạnh bạo, gấp gáp, giục giã như một dòng suối ào ạt tuôn chảy, tưởng chừng ngôn từ xô đẩy vào nhau, chen lấn nhau để cho kịp mạch cảm xúc đang bừng lên sôi nổi của nhà thơ.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Những tiếng “ta muốn” láy đi láy lại mãi như một điệp khúc bất tận để khẳng định niềm khao khát cháy bỏng muốn sống đến tận cùng cảm giác của Xuân Diệu. Một loạt điệp từ được sử dụng theo mức độ tăng dần của khao khát: muốn ôm - muốn riết - muốn say - muốn thâu - muốn cắn thể hiện tâm trạng si mê đến cuồng nhiệt. Trong một câu thơ mà có đến ba hư từ “và” chứng tỏ Xuân Diệu nồng nhiệt đến rối rít, cuống quýt, như muốn cùng lúc dang tay ôm hết cả vũ trụ, cả cuộc đời, mùa xuân vào lòng mình. Sống như thế với Xuân Diệu mới thực là sống, mới đi đến tạn cùng của niềm hạnh phúc được sống.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<em>Cho chuếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng, <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Cho no nê thanh sắc của thời tươi.</em><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Hạnh phúc của sự sống là mùi thơm, ánh sáng, thanh sắc. Tận hưởng cuộc đời chính là có dược cảm nhận về những điều ấy ở độ tràn trề nhất. Xuân Diệu muốn tận hưởng cuộc sống cho đến “no nê”, “chuếnh choáng”, “đã đầy”. Điệp từ, điệp ngữ được sử dụng bới tần số dày đặc trong cả đoạn thơ tiêu biểu cho nhịp điệu dồn dập, đầy bồng bột, đắm say. Chính những câu thơ đó lưu lại trong ta ấn tượng về một dòng sông cảm xúc cứ dâng trào, ào ạt từ câu mở đầu cho đến câu cuối cùng bài thơ. Chỉ riêng điệp ngữ ta muốn được điệp tới bốn lần, mỗi lần điệp đi điệp lại liền với một động từ diễn tả một trạng trái yêu thương mỗi lúc một nồng nàn, say đắm: ôm, riết, say, thâu. Đó chính là đỉnh điểm của cảm xúc bồng bột, sôi nổi và đắm say khiến nhà thơ phá tung những quan niệm của thi pháp trung đại để biểu lộ tâm hồn mình trong một cách nói tưởng như vô nghĩa mà hoá ra rất sáng tạo "Và non nước, và cây, và cỏ rạng." Một trạng thái tham lam, ham hố kô có điểm tận cùng trong tâm hồn nhà thơ. Tròn cảm nhận của thi nhân, cuộc đời trần thế như bày ra cả một bàn tiệc với tất cả hình ảnh của cuộc sống tươi non, đầy hương sắc. Nhà thơ diễn tả thiên nhiên bằng các mĩ từ, lại nhân hoá khiến nó hiện ra như con người có hình hài và mang dang dấp của tuổi xuân.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Câu cuối cùng kết thúc cả bài thơ:" Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi." Đây là lời gọi thiết tha với sự cuồng nhiệt cao độ của 1 trái tim khao khát tình yêu và cuộc sống. Trong hồn thơ Xuân Diệu, mùa xuân - tuổi xuân ngon lành và quyến rũ như một trái chín ửng hồng, như mời mọc. Trong câu thơ này, hình ảnh xuân hồng với từ "cắn" khiến câu thơ thật gợi cảm xen chút giật mình trước tứ thơ thật độc đáo, diễn tả niềm khao khát giao cảm mãnh liệt, sự ham hố cuồng nhiệt của Xuân Diệu mãi mãi là khát vọng, là ham muốn không có giới hạn. Ta thấy Xuân Diệu như một con ong hút nhuỵ đã no nê đang lảo đảo bay đi. Lại thấy thi sĩ như một tình lang trong một cuộc tình chếnh choáng men say.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Sống là hạnh phúc. Muốn đạt tới hạnh phúc, phải sống vội vàng. Thế là, Vội vàng chính là cách duy nhất để đến với hạnh phúc, là chính hạnh phúc và dường như cũng là cái giá trả cho hạnh phúc vậy ! Xuân Diệu quả đã mang trong mình nguồn sống trẻ. Xuân Diệu là thi sĩ của nguồn sống trẻ. Ta hiểu vì sao, khi Xuân Diệu xuất hiện, lập tức thi sĩ đã thuộc về tuổi trẻ !<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; "Vội vàng" đã thể hiện một cảm quan nghệ thuật rất đẹp, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Đó là lòng yêu con người, yêu cuộc đời. Đó là tình yêu cảnh vật, yêu mùa xuân và tuổi trẻ... Và là ham muốn mãnh liệt muốn nĩu giữ thời gian, muốn tận hưởng vị ngọt ngào của cảnh sắc đất trời "tươi non mơn mởn". Phải chăng trời đất sinh ra thi sĩ Xuân Diệu trên xứ sở hữu tình này, là để ca hát về tình yêu, để nhảy múa trong những điệu nhạc tình si?</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-27 04:05:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847111170</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vấn đề 4: Phong cách nghệ thuật của Xuân Diệu</title>
         <author>6200633928</author>
         <link>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847112413</link>
         <description><![CDATA[<div><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 1. Xuân Diệu là một nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và sống hết mình cho cuộc sống. Ông hăm hở, say mê sáng tạo với trách nhiệm của một công dân trước cuộc sống. Thơ ông bám lấy thực tại của cuộc sống, đưa sự vật, hiện tượng vào thơ, muốn mở rộng cánh cửa thơ cho cuộc sống tràn vào, do vậy trong thơ ông có sự bề bộn của những chi tiết hiện thực cuộc sống. Ông muốn thơ phải có sức chứa lớn và sức phản ảnh rộng lớn phong phú.&nbsp;</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 2. Xuân Diệu là nhà thơ giàu sức sáng tạo, luôn có ý thức tìm tòi, thể nghiệm trên nhiều phương diện (cách xây dựng hình tượng, nhịp điệu, ngôn ngữ … ). Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân tạo nên thơ hay và thơ trung bình ở mỗi tập thơ của ông.&nbsp;</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 3. Tâm hồn thơ Xuân Diệu luôn có sự tinh tế và nhạy cảm. Đó là yếu tố bền vững trong thơ Xuân Diệu trước và sau cách mạng. Nói cách khác, sức thanh xuân luôn tràn đầy trong tâm hồn thơ&nbsp; Xuân Diệu. Tươi trẻ, hăng say như cái thuở ban đầu yêu và đang yêu là nét nổi bật trong thơ Xuân Diệu. Sự nhạy cảm của tâm hồn đã tạo cho thơ ông thêm giàu hương vị của cuộc đời, tác động mãnh liệt đối với nhận thức của người đọc.&nbsp;</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;4. Thơ Xuân Diệu có khi còn nặng về kể, giải bày, ít ẩn ý, thiếu hàm súc, dễ dãi, dài dòng trong nhạc điệu, từ ngữ . Điều đó tạo nên sự hạn chế phần nào về sức truyền cảm và hấp dẫn của thơ ông đối với người đọc.&nbsp; &nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-27 04:06:08 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847112413</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vấn đề 2: Một số điểm nghệ thuật diễn tả cái tôi cô đơn trong bài thơ &quot;Tràng giang&quot; (Huy Cận)</title>
         <author>6200633928</author>
         <link>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847122170</link>
         <description><![CDATA[<div><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 1. Về câu thơ đề từ (<em>Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài</em>): Đề từ tuy nằm ngoài văn bản tác phẩm, nhưng lại tập trung thể hiện nội dung tư tưởng và ý đồ nghệ thuật của tác giả. Câu thơ đề từ của bài thơ này là một ví dụ tiêu biểu. Lời đề từ ngắn nhưng đã thể hiện được một phần quan trọng hồn cốt của tác phẩm, nói cụ thể hơn, đây chính là nỗi buồn (bâng khuâng là có những cảm xúc ngỡ ngàng, luyến tiếc, nhớ thương đan xen nhau) trước cảnh vũ trụ bao la, bát ngát (trời rộng, sông dài).<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 2. Về hình thức tổ chức câu thơ và việc sử dụng lời thơ trong các cặp câu :<br><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Con thuyền xuôi mái nước song song.<br></em>hay:<em><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Nắng xuống, trời lên, sâu chót vót,<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.<br></em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Cả hai cặp câu thơ trên, về hình thức tổ chức câu thơ cũng như sử dụng lời thơ, đều có sự vận dụng và phát huy một cách sáng tạo những yếu tố cổ điển Đường thi để thể hiện tâm tư của cái tôi thơ mới.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Cách tổ chức câu thơ ở dạng thức đối ngẫu, nhưng <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/17572-tu-lieu-ve-nha-tho-huy-can.html">Huy Cận</a> chỉ mượn nguyên tắc tương xứng của đối, chứ không đẩy lên thành đối chọi. Vì thế, câu thơ tạo ra vẻ cân xứng trang trọng, mở ra được các chiều kích vô biên của không gian, mà không gây cảm giác gò bó, nệ cổ. Nghĩa là, một nét thi pháp cổ điển Đường thi đã được cách tân để phù hợp với tâm lí hiện đại.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Cách sử dụng lời thơ theo cấu trúc thành ngữ bốn tiếng, cả về âm thanh, cả về ý nghĩa: sóng gợn tràng giang, con thuyền xuôi mái, nắng xuống trời lên, sông dài trời rộng... Có lối tạo từ theo phong cách cổ điển: bến cô liêu. Có lối "lạ hoá" ngôn từ : sâu chót vót. <em>Chót vót</em> vốn là một từ được dùng để diễn tả chiều cao, ở đây được dùng để biểu đạt chiều sâu. Trước <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/17572-tu-lieu-ve-nha-tho-huy-can.html">Huy Cận</a> chưa thấy dùng như thế. Tác giả không muốn dừng tầm nhìn ở vòm trời, đỉnh trời mà xuyên sâu vào đáy đáy vũ trụ. Cái tôi ấy càng thấy bơ vơ hơn trước cái vô biên đến rợn ngợp như thế. Vì vậy, chiều cao đã chuyển hoá thành chiều sâu một cách thật tự nhiên.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 3. Những hình ảnh "Củi một cành khô lạc mấy dòng" và "Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa" được dùng thật sáng tạo, vừa gợi hình vừa gợi cảm.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Trước hết, đó là những hình ảnh nghiêng về tả thực, tái hiện diện mạo chân thực của cảnh lúc hoàng hôn. Thủ pháp bao trùm đều là tương phản: hữu hạn – vô hạn, nhỏ nhoi – lớn lao, hữu hình – vô hình. Nhờ đó, người đọc hình dung được cảnh tượng một tạo vật thiên nhiên thật sinh động và sắc nét.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Cả hai hình ảnh nghệ thuật đều gợi ra thân phận bơ vơ, chìm nổi, vô định của những cá thể nhỏ nhoi giữa tạo vật thiên nhiên mênh mông hiu quạnh. Đối diện với những cá thể ấy, con người không khỏi chạnh lòng nghĩ đến thân phận mình. Nó cũng là một cá thể bơ vơ, trôi dạt trong cái vô cùng, vô tận của không gian, cái vô thủy vô chung của thời gian.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 4. Tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ là nỗi buồn non nước thể hiện lòng yêu quê hương đất nước thầm kín của một lớp thanh niên trong chế độ cũ. Cảm hứng xuyên suốt <em>Tràng giang </em>là nỗi buồn triền miên vô tận, là nỗi sầu nhân thế. Xuân Diệu khẳng định : "Tràng Giang là một bài thơ ca hát non sông đất nước ... dọn đường cho lòng yêu giang sơn Tổ quốc sau này".<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 5. <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/17572-tu-lieu-ve-nha-tho-huy-can.html">Huy Cận</a> cũng như phần đông các thi sĩ trong phong trào Thơ mới đều chịu ảnh hưởng khá rõ của thơ tượng trưng phương Tây thế kỉ XX. Tuy vậy, <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/17572-tu-lieu-ve-nha-tho-huy-can.html">Huy Cận</a> còn là người rất thích thơ Đường và trân trọng vốn thi ca dân tộc. Trong sáng tác của ông, người ta dễ dàng cảm nhận được dấu ấn Đường thi, cũng như thơ tượng trưng Pháp. Có điều đáng chú ý là chúng đã được Việt hoá một cách nhuần nhị.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-27 04:11:32 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847122170</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Ngâm thơ</title>
         <author>6200633928</author>
         <link>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847124561</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?v=jOsDaLxe1pA" />
         <pubDate>2021-10-27 04:12:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847124561</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vấn đề 1: Những điểm cần lưu ý khi cảm thụ và phân tíchbài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử</title>
         <author>6200633928</author>
         <link>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847128343</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;&nbsp;</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>1.</strong> Nhà thơ Chế Lan Viên nhận xét: Hàn Mặc Tử là ngôi sao chổi trên bầu trời thơ ca dân tộc. Trong “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh nhận định Hàn Mặc Tử là hiện tượng thơ ca kì lạ bậc nhất lúc bấy giờ. Trong phong trào thơ mới, Hàn Mặc Tử là nhà thơ hết sức đặc biệt. Đặc biệt về tài thơ trác tuyệt, đặc biệt về cuộc đời bất hạnh, ngắn ngủi, về cái chết trong đau đớn, và cả về những mối tình đơn phương trong vô vọng. Ông là nhà thơ có sức sáng tạo mạnh nhất, dồi dào nhất trong <em>Trường thơ loạn</em> (Bình Định, bên cạnh Yến Lan, Bích Khê, Chế Lan Viên) và trong phong trào thơ mới. Nhưng chính đó lại là một trong những nguồn cảm hứng để thi nhân viết nên những tác phẩm để đời. <em>Đây thôn Vĩ Dạ</em> là một trường hợp như thế.<br><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; </em><strong>2.</strong><em> Thơ Điên</em> của Hàn Mặc Tử có những đặc điểm nổi bật sau: Cảm xúc chủ đạo là đau thương; nhân vật trữ tình có sự phân thân, trở thành nhiều nhân vật khác nhau; nhiều hình ảnh thơ kinh dị: <em>máu</em> và <em>trăng</em>; mạch cảm xúc đứt, nối bất ngờ (dòng tâm tư); từ ngữ đặc tả.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>3.</strong> Về bài thơ <em>Đây thôn Vĩ Dạ<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; </em>- <em>Đây thôn Vĩ Dạ </em>(trích trong tập <em>Thơ Điên</em>) là một bài thơ trữ tình rất dịu dàng và duyên dáng của <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/dien-co-giai-thoai-van-hoc/10985-giai-thoai-ve-han-mac-tu.html">Hàn Mặc Tử</a>. Được sáng tác trong một hoàn cảnh đặc biệt, bài thơ mang vẻ đẹp huyền ảo và trong sáng. Thực và hư hoà quyện tạo nên vẻ riêng cho cảm xúc. Bài thơ thể hiện tình yêu tha thiết của tác giả đối với xứ Huế, nơi nhà thơ đã từng có nhiều kỉ niệm ngọt ngào, đồng thời thể hiện khát khao được sống, được yêu. Đây cũng là những cố gắng cuối cùng của thi sĩ để níu lại trong mình những giây phút ngọt ngào của cuộc sống trần thế.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Điểm tựa cấu trúc, mạch thống nhất của bài thơ:<br>+ Ở các khổ thơ là các câu hỏi tu từ bộc lộ sự vật vã đau đớn của một tâm hồn thơ tha thiết yêu cuộc sống mà sớm phải lìa xa cuộc đời. Mỗi câu là một nỗi hoài nghi, là một băn khoăn về tình đời, tình người.&nbsp;<br>+ Tứ thơ cơ bản là nỗi niềm lo âu cho hạnh phúc, trong khát vọng cái đẹp hoá giải trạng thái đau thương. Ba khổ thơ là ba vẻ đẹp của thôn Vĩ trong hoài niệm. Đằng sau đó là nỗi niềm nhà thơ vừa khát khao, vừa tiếc nuối đến xót xa, hẫng hụt. Càng thiết tha hướng tới cái đẹp của cuộc đời, nhà thơ càng không tránh khỏi cảm giác hoài nghi băn khoăn. Bài thơ có ý nghĩa nhân bản sâu sắc, vượt ra khỏi một địa danh cụ thể, một mối tình cụ thể.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-27 04:15:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847128343</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đây Thôn Vĩ Dạ - Ca khúc</title>
         <author>6200633928</author>
         <link>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847132277</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?v=JgFXYt2I26w" />
         <pubDate>2021-10-27 04:17:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847132277</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vấn đề 2: Phân tích khổ thơ 1 trong bài “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử </title>
         <author>6200633928</author>
         <link>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847135948</link>
         <description><![CDATA[<div><em>Sao anh không về chơi thôn Vĩ ?<br>Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên.<br>Vườn ai muốt quá xanh như ngọc,<br>Lá trúc che ngang mặt chữ điền.<br></em><strong><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 1.</strong> Cảnh và người thôn Vĩ trong hoài niệm và tưởng tượng của nhà thơ.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>a.</strong> Khổ 1 bắt đầu bằng một câu hỏi dựng tình thế thơ: <em>Sao anh không về chơi thôn Vĩ ?<br></em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Từ ngữ được sử dụng: <em>anh, không về, chơi.<br></em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <em>Anh</em>: thân mật, nhẹ nhàng, da diết. Có thể là lời của cô gái xưng hô với chàng trai (anh: ngôi thứ 2), cũng có thể là chính tác giả gọi mình (anh: ngôi thứ nhất). <em>Không về:</em> (chứ không phải là chưa về), khiến câu thơ nhẹ bẫng, xót xa. Nếu chưa về còn hứa hẹn lúc trở lại, còn không về có nghĩa là thôn Vĩ mãi mãi chỉ còn trong hoài niệm mà thôi. <em>Chơi:</em> Thân mật như người nhà, chỗ thân thiết (So sánh với từ thăm, khách sáo hơn).<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Giọng điệu: Lượng thanh bằng nhiều hơn khiến cho câu hỏi nhẹ và thấm thía. Lời thơ như thủ thỉ, nhẹ nhàng: <em>thôn Vĩ đẹp thế sao anh lại không về chơi </em>?<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Câu hỏi tương tự như lời mời của người thôn Vĩ vang lên trong tâm tưởng của nhà thơ. Cũng như lời trách móc nhẹ nhàng, sơ sơ nói theo kiểu "nghe dễ ghét". Trách móc mà ngụ ý mời mọc tiếc rẻ. Câu hỏi ấy cũng là lời độc thoại, niềm day dứt tiếc nuối khôn nguôi (liên hệ đến thời gian sáng tác bài thơ này, khi nhà thơ đang bị bệnh nặng ở nhà phong Quy Nhơn, không thể trở về thôn Vĩ được nữa). <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Dù hiểu đây là lời mời, lời trách móc nhẹ nhàng của cô gái (vang lên trong tâm tưởng nhà thơ) hay là chính lời của nhà thơ vang lên hỏi lòng mình thì cũng phải đi tới kết luận rằng: Câu hỏi ấy là nguyên cớ để nhà thơ đi về với thôn Vĩ trong hoài niệm, hồi tưởng. <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>b.</strong> Cảnh thôn Vĩ trong hoài niệm của nhà thơ: Cảnh bình minh trong trẻo, thanh khiết. <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Bức tranh thôn Vĩ trong sáng binh minh được vẽ qua vài nét bút gợi tả, qua cái nhìn trong hồi tưởng bằng những quan sát tinh tế. <br>+ Hình ảnh những hàng cau thẳng tắp vươn lên trong nắng mới, vượt lên trên những cây khác, không gian Huế là không gian nhà vườn. Cau là cây mọc cao nhất trong vườn cho nên nó cũng là cây bắt được ánh nắng đầu tiên, trong trẻo tinh khôi của một ngày mới. <br>+ Câu thơ <em>Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên</em> lặp lại 2 lần từ <em>nắng</em> gợi tả ánh nắng lan toả thật ấm áp.<br>+ Động từ <em>nhìn</em> được đặt ngay ở đầu câu thơ cho thấy ánh nắng chuyển động theo cái nhìn của con người. Bức tranh thiên nhiên thôn Vĩ như mở ra cao hơn, sáng hơn, thanh khiết hơn với cái nhìn đó. (Không gian như chuyển động: lung linh, thanh khiết). <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Câu thơ tiếp theo không tả mà nêu lên một ấn tượng, một cảm giác về cảnh thôn Vĩ đẹp thanh khiết và trong trẻo. Thể hiện qua các từ ngữ: <br>+ <em>Mướt</em>: Màu xanh mỡ màng, non tơ, như là loáng nước, mềm mại, đầy xuân sắc, phản ánh sức sống của vườn gợi lên một sức sống mới mẻ, hiện đại, tươi mát, tràn trề. <br>+ <em>Xanh như ngọc</em>: Là một cụm từ so sánh độc đáo gợi cảm giác về một sự trong trẻo, lấp lánh ánh sáng, và là một vẻ đẹp tuyệt đối "như ngọc". Cách so sánh đó cũng làm nổi bật lên vẻ quý phái, sang trọng của hoa lá trong vườn. Hình ảnh gợi cho người liên tưởng đến với câu thơ của Xuân Diệu:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<em>Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Thu đến nơi nơi động tiếng huyền.<br></em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;(<em>Đây mùa thu tới</em>)<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Cảnh đẹp tạo cho cảm giác hầu như là cây trong vườn đều bật sáng lên cả, xanh và trong suốt như ngọc. Đẹp bằng tươi, đẹp bằng trẻ mướt rượi. Có lẽ những giọt sương đêm vẫn còn đọng trên lá và khi ánh bình minh soi xuống đã tạo cho khu vườn vẻ đẹp lung linh huyền ảo. Cách so sánh thể hiện một nhãn lực phi thường và một trái tim đa cảm. Câu thơ cho thấy <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/dien-co-giai-thoai-van-hoc/10985-giai-thoai-ve-han-mac-tu.html">Hàn Mặc Tử</a> yêu Vĩ Dạ, yêu Huế biết bao nhiêu. Ai có thể tin rằng câu thơ đầy sức sống này lại là của một thi sĩ không còn cơ hội trở lại với đời thường.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Màu <em>xanh như ngọc</em> còn là màu của nỗi nhớ, qua năm tháng, thời gian, không bao giờ phai nhạt.<br>+ Từ <em>quá</em> biểu thị cảm xúc trầm trồ, ngạc nhiên. Cảm xúc kết tụ ở chữ <em>quá</em> này. <br>+ Hai chữ <em>vườn ai</em>, từ phiếm chỉ có tác dụng nhân rộng cái không gian của màu xanh ấy, hình như ở thôn Vĩ này, vườn nhà ai cũng xanh mướt, non tơ, mỡ màng trong cảm nhận của thi sĩ để phải bật lên một câu hỏi ngỡ ngàng, thích thú khiến câu thơ thoáng chút hư ảo, mơ hồ. <em>Ai</em> có thể là một từ chỉ định hoặc một từ phiếm định. <em>Vườn ai</em> không biết là vườn ai thật nhưng cũng có thể là vườn của cô gái, vườn của người thương. <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>c.</strong> Con người thôn Vĩ đẹp hài hoà với thiên nhiên, vườn tược:<br><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Lá trúc che ngang mặt chữ điền<br></em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Cụm từ <em>Mặt chữ điền</em> có nhiều cách hiểu khác nhau: Đó là khuôn mặt của cô gái thôn Vĩ - khuôn mặt của người ngay thẳng, phúc hậu theo quan niệm truyền thống. Đó là khuôn mặt của chàng trai thôn Vĩ. Đó là khuôn mặt của chính Hàn Mặc Tử, chủ thể trữ tình. Đó cũng có thể là khuôn cửa sổ hình vuông,... <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Câu thơ được viết theo hướng cách điệu hoá. Cách điệu từ đường nét "lá trúc che ngang" đến hình ảnh "mặt chữ điền". Dù hiểu theo cách nào thì hình ảnh ấy cũnh là hình ảnh của con người và cuộc sống làm cho cảnh vật hoa lá trong vườn cây càng thêm sức sinh động. Và đó cũng chỉ là hình ảnh tưởng tượng của nhà thơ gợi lên cái thần thái của thôn Vĩ: cảnh xinh xắn, người phúc hậu, nồng nhiệt, thiên nhiên và con người hài hoà trong vẻ đẹp kín đáo, dịu dàng. <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>2.</strong> Bốn câu thơ là một bức tranh phong cảnh Vĩ Dạ với vẻ đẹp vừa trần thế, vừa thánh thiện. Vẽ nên phong cảnh ấy, Hàn Mặc Tử đã góp vào thơ mới vẻ đẹp đậm đà tính dân tộc.&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Khổ thơ cho thấy tình cảm mến yêu cuộc sống, tình cảm yêu đời, tình cảm riêng gắn bó với mảnh đất, con người thân quen (gây ấn tượng về sự hiện diện của nhà thơ trong cách miêu tả làng quê bên sông Hương). Đó là sự cảm nhận và đón nhận cuộc đời với tất cả sự khát khao trân trọng.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-27 04:19:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847135948</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vấn đề 3: Phân tích khổ thơ 2 trong bài “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử </title>
         <author>6200633928</author>
         <link>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847139265</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 1.</strong> Qua việc tái hiện thôn Vĩ trong hoài niệm ánh lên vẻ đẹp tinh khôi đầy sức sống, Hàn Mặc Tử cho thấy mình yêu tha thiết cuộc đời. Nhưng bên cạnh tình yêu ấy vẫn man mác buồn, một nỗi buồn thầm kín.<br><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Gió theo lối gió mây đường mây,<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Có trở trăng về kịp tối nay ?<br></em><strong>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 2.</strong> Cảnh sông nước đêm trăng trong mộng ảo và ước mong khẩn thiết dâng lên hoá thành hoài vọng chới với nghẹn ngào.<br><strong>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; a.</strong> Khổ thơ thứ 2 bỗng nhiên có sự nhảy cóc, đứt đoạn. Đang từ cảnh bình minh thôn Vĩ, cảnh vườn tược, không hề báo trước, không hề chuẩn bị, bắn ngay sang cảnh sông Hương trong đêm trăng. Dòng tâm trạng cũng vậy, từ bồi hồi, vui, mong đợi, ao ước bỗng chuyển sang buồn thiu như dòng nước buồn thiu.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Đặc điểm thi pháp nổi bật trong thơ ca của Hàn Mặc Tử là lối chuyển tứ rất nhanh và xa, nhiều khi tạo ra những bất ngờ khó hiểu. Mối dây liên hệ không phải ở cảnh mà ở sự lô-gích trong tâm trạng nhà thơ. Đang từ những hoài niệm về thôn Vĩ, nhà thơ chợt nghĩ đến hố sâu ngăn cách giữa mình với cuộc đời. Hình ảnh nắng mới lên của cõi nhân gian mươn mướt sắc màu ấm áp sự sống vụt tắt và thay vào đó là hình ảnh của thế giới chia lìa đau thương:<br><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Gió theo lối gió mây đường mây,<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay.<br></em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Câu thơ diễn tả sự phi lí, nghịch lí: gió và mây vốn chung đường. Gió thổi về đâu thì mây trôi về đó. Dấu hiệu của sự chia lìa vượt ra ngoài quy luật thông thường: Thiên nhiên tan tác chia lìa. Mây và gió phá vỡ lô-gích thực tế tìm đến lô-gích của tình cảm: li tán, trống vắng. Cả một khoảng trống vắng vời vợi, phải chăng đó là khoảng trống vắng trong cõi tâm hồn thi nhân; khi đắm chìm trong hoài niệm thi sĩ đã chạm đến bờ của đau thương, chia lìa, xa cách. Tâm trạng ấy đã tràn ra thấm đẫm vạn vật khiến cho "<em>Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay</em>".<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Bút pháp thơ đã nghiêng về ảo hoá. Nếu chỉ là gió mây trong đời thực thì sao lại là "<em>gió theo lối gió mây đường mây</em>" (Gió và mây bao giờ cũng cùng hướng). Rõ ràng, gió mây đã được nội tâm hoá. Câu thơ đã rẽ mây đẩy gió về hai đầu xa cách tạo ra khoảng trống vắng không thể lấp đầy.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Cái ngược đời của mây gió gợi lên cái chia lìa của tình đời và kiếp người. Thiên nhiên được tâm trạng hoá: dòng nước, hoa bắp, dòng sông Hương thơ mộng lặng lờ trôi như chở một nỗi buồn chảy âm thầm, sâu thẳm.<br>+ Phép điệp từ <em>gió, mây</em> tạo ra những khoảng không gian đóng kín càng như rạch vào nỗi cô đơn thân phận, dự cảm về sự chia lìa xa cách khiến cho câu thơ buồn đến nao lòng. <br>+ Hai chữ "buồn thiu" như chở nặng cả nỗi niềm tái tê, da diết đến cả hoa bắp ven sông cũng xào xạc lay động (từ <em>buồn thiu</em> đứng ở giữa câu khiến nỗi buồn lan toả ra xung quanh, thấm thía và cảnh và lòng người). <br>+ Chữ <em>lay</em> rất hay, nó gợi chút gì đó xao động và cũng khiến lòng người thổn thức lay động.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>b.</strong> Thiên nhiên thơ mộng, chập chờn hư ảo.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Sau những phút đắm say trong hoài niệm, nhà thơ trở về thực tại của bi thương; không tìm thấy sự đồng điệu trong thế giới thanh sắc của cõi thực, thi sĩ tìm về sự đồng cảm của cõi mộng. Vạn vật như rũ bỏ đường nét phân trần, ranh giới thực và mộng bị xoá nhoà, cả vũ trụ phủ một màu trăng.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Hình ảnh thuyền trở trăng hiện lên mơ hồ và đầy mộng ảo.<br>+ Một mặt, hình ảnh thuyền trăng và sông trăng làm cho câu thơ vụt sáng lên. Với hình ảnh này, dòng sông hiện thực đã trở thành dòng sông mơ mộng, huyền ảo, đẹp lung linh, lãng mạn với khát khao hưởng thụ cho kịp thời hiện tại, cái bây giờ.<br>+ Mặt khác, có cái gì đó như mơ hồ, như cô đơn lạnh lẽo, như sự cách biệt giữa con người và cuộc đời. Cảm giác mộng ảo được gợi lên từ những hình ảnh sông trăng, thuyền trăng và từ hình ảnh thơ không xác định: Hai chữ <em>thuyền ai</em> mơ hồ như <em>vườn ai</em> ở khổ thơ đầu.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Nhưng mơ hồ nhất có lẽ vẫn là câu hỏi: "<em>Có trở trăng về kịp tối nay ?</em>". Câu hỏi khắc khoải một nỗi niềm gì đó xa vắng, trống trải, không chỉ là tình quê nữa mà là niềm khát khao hạnh phúc, khát khao tình đời, tình người. Con thuyền chở trăng hay chở những ước mơ hội ngộ giao duyên liệu có về kịp không ?<br>+ Chữ <em>kịp</em> cho thấy sự phấp phỏng, băn khoăn, lo lắng vội vàng như sợ lỡ một điều gì đó. Sông trăng, thuyền trăng huyền ảo càng thêm huyền ảo nhưng đó cũng chỉ là vẻ bề ngoài dễ thấy. Chữ <em>kịp </em>mới mang bi kịch tâm hồn của nhà thơ. Đó là sự mặc cảm thân phận trong hiện tại ngắn ngủi sống chạy đua với thời gian, từng ngày, từng khắc. Đó là cuộc chia li vĩnh viễn đang tới gần. Đó là niềm mong mỏi trong đau thương tuyệt vọng. <br>+ Hai chữ <em>tối nay </em>cho thấy thời gian đã gấp gáp lắm rồi. Trăng thực sự trở thành điểm tựa, là chỗ bấu víu cuối cùng của con người đang cô đơn chới với. Thi sĩ đã gửi gắm khát vọng vào con thuyền trăng: liệu thuyền có kịp chở trăng về để khoả lấp tấm lòng nhà thơ nơi bến đợi ?<br><strong>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 3.</strong> Trở về với thôn Vĩ Dạ trong ảo mộng, Hàn Mặc Tử đặt bút viết những câu thơ thấm đẫm cảm giác mong manh trong hạnh phúc chờ đợi, chứa đựng đầy tình cảm về sự mất mát lỡ làng. Ước mong về lại với cuộc đời, với tình người, với hạnh phúc đơn sơ mà một con người bình thường cần có dâng lên khẩn thiết, mãnh liệt rồi hoá thành hoài vọng chới với nghẹn ngào. Cà khổ thơ là thế giới mộng ảo của tâm trạng buồn đau nhưng không mất hết khát khao hi vọng.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-27 04:21:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847139265</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vấn đề 4: Phân tích khổ thơ 3 trong bài “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử </title>
         <author>6200633928</author>
         <link>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847144273</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <em>Mơ khách đường xa khách đường xa<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Áo em trắng quá nhìn không ra.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Ở đây sương khói mờ nhân ảnh<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Ai biết tình ai có đậm đà<br></em><br></div><div><strong>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 1.</strong> Không gian chìm trong mộng ảo, mơ tưởng, sương khói mông lung và niềm khát khao tình đời, tình người tha thiết, khôn nguôi.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<strong>a.</strong> Cảm xúc mong ngóng ló rạng, tác giả gửi vào hình bóng khách đường xa. Hướng lòng mình về người thiếu nữ xa xôi.&nbsp;<br><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Mơ khách đường xa khách đường xa<br></em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - <em>Khách đường xa</em>: không phải là một giai nhân trong tầm mắt mà là một giai nhân trong mộng ảo. Đó là "mơ" là những con người ở thế giới ngoài kia, thế giới mà nhà thơ vẫn tha thiết gắn bó, muốn khao khát hướng về. Sự lặp lại hai lần <em>khách đường xa</em> tạo nên một nhịp điệu gấp gáp, khẩn thiết hơn, khắc khoải hơn, đẩy xa thêm khoảng cách vốn đã xa vời vợi. Dễ nhận thấy chủ thể khao khát trong tiếng gọi cuống quýt "<em>khách đường xa</em>", nhưng khách thể là hình bóng giai nhân cứ xa dần xa dần, chập chờn,... chỉ còn lại huyền hồ một sắc áo: <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<em>Áo em trắng quá nhìn không ra.<br></em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Hình ảnh trắng gặp nhiều trong thơ:<br><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Áo trắng đơn sơ, mộng trắng trong,<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Hôm xưa em đến, mắt như lòng.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Nở bừng ánh sáng . Em đi đến,<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Gót ngọc dồn hương, bước tỏa hồng.<br></em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; (<em>Áo Trắng</em>, Huy Cận)<br><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Có phải em mang trên áo bay,<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Hai phần gió thổi, một phần mây.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Hay là em gói mây trong áo,<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Rồi thở cho làn áo trắng bay ?<br></em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; (<em>Tương tư</em>, Nguyên Sa)<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - <em>Áo em trắng quá nhìn không ra... </em>Câu thơ như lời thốt lên đầy ngưỡng vọng, áo em trắng quá là một sắc trắng được miêu tả ở mức độ tuyệt đối tột cùng, sắc trắng tinh khôi, trắng đến nghi ngờ, nhưng sao cứ vượt ngoài tầm tay, nhoà mờ trong tầm mắt: "nhìn không ra". Sắc áo trắng thiên thần không sao nắm bắt được. Tất cả nhoà đi trong hư ảo, trong khắc khoải khôn nguôi.&nbsp;<br><strong>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; b.</strong> Bài thơ kết lại bằng hai câu thơ đầy hoài nghi xa vắng:&nbsp;<br><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Ở đây sương khói mờ nhân ảnh<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Ai biết tình ai có đậm đà ?<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; </em>- Thiên nhiên không còn <em>hàng cau</em>, vườn<em> mướt quá</em>, đâu còn <em>xanh như ngọc</em>, cũng không còn thấy ánh sáng của trăng cho dù có ánh sáng đó, không gian vẫn cứ lành lạnh... Tất cả đều bị xoá nhoà hết, chỉ còn lại “ở đây” - thế giới của Hàn Mặc Tử - sương khói che khuất bóng người. Tất cả chìm trong sương khói mông lung, xa vời, nhạt nhoà, mờ ảo.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Đó là thế giới riêng của Hàn Mặc Tử. Nó trở thành cảnh trong cõi ảo của một tâm hồn khao khát hướng ra ngoài kia, hướng ra không gian của con người, của tình đời, tình người, để ngóng đợi hoài vọng, dần ý thức được mình chỉ là kẻ đứng ngoài lề. Giữa nhà thơ và nơi ấy là khoảng cách bao bọc bởi sương khói thời gian, không gian và sương khói của một mối tình vô vọng. <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Câu hỏi <em>Ai biết tình ai có đậm đà ?</em> chất chứa mối hoài nghi, băn khoăn. <em>Ai</em> là một đại từ phiếm chỉ. Một đại từ phiếm chỉ được sử dụng hai lần trong một câu thơ, gợi lên bao ý nghĩa:<br>+ <em>Ai </em>(anh) <em>biết tình ai</em> (em) <em>có đậm đà</em> ? - Anh làm sao biết tình cảm người xứ Huế phương xa có đậm đà hay không, hay cũng chỉ như làn sương khói mù mịt rồi tan đi ?<br>+ <em>Ai </em>(em) <em>biết tình ai</em> (anh) <em>có đậm đà</em> ? - Cô gái Huế thương yêu và thương nhớ ấy làm sao mà biết được tình cảm nhớ thương đậm đà của người ở đây.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Câu thơ thể hiện nỗi cô đơn, trống vắng, khắc khoải của một tâm hồn thiết tha yêu cuộc sống và con người trong hoàn cảnh đã nhuốm bi thương bất hạnh. Em thì xa xôi quá, còn anh thì đã biết mình mắc bệnh hiểm nghèo. Một bên là cuộc sống và tình yêu hé mở, một bên là nỗi cô đơn bệnh tật giày vò và cái chết đang đón đợi.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Câu thơ tha thiết một khát khao, một ước nguyện muốn có người hiểu được tâm sự của mình. Đồng thời thể hiện tâm trạng hoài nghi. Trong bài thơ có tới bốn lần tác giả sử dụng đại từ ai, và "anh" và "em" đã hoà nhập trong từ ai ấy, hoà nhập trong tâm tưởng của thi nhân. Câu thơ cuối cùng thoáng chút hoài nghi ấy xuất phát từ lòng khát khao sống, khát khao giao tiếp với cuộc đời, khát khao thuỷ chung. Vượt lên nỗi đau riêng, thơ <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/dien-co-giai-thoai-van-hoc/10985-giai-thoai-ve-han-mac-tu.html">Hàn Mặc Tử</a> nói lên tâm trạng chung của bao lứa đôi xa cách…<br><strong>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 2.</strong> Trở về thôn Vĩ bằng khát khao tình người, tình đời mãnh liệt nhưng mong ngóng vừa ló rạng hoá thành nỗi hoài nghi. Sắc thái chủ đạo ở khổ thơ thể hiện đa dạng nhưng thống nhất, khẳng định tấm lòng tha thiết yêu cuộc sống trong lúc hoàn cảnh đã nhuốm bi thương bất hạnh của Hàn Mặc Tử.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; "Thơ đi từ cái thực tới cái ảo ảnh, từ ảo ảnh đi tới cái huyền diệu, từ huyền diệu đi tới chiêm bao. Bao trùm cả bài thơ là thế giới mơ", đó là lời của <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/dien-co-giai-thoai-van-hoc/10985-giai-thoai-ve-han-mac-tu.html">Hàn Mặc Tử</a> bàn về thơ và có lẽ là nói về chính <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/23909-cam-nhan-bai-tho-day-thon-vi-da-cua-han-mac-tu.html"><em>Đây thôn Vĩ Dạ</em></a>.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-27 04:24:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847144273</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dẫn nhập</title>
         <author>6200633928</author>
         <link>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847147116</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-12/7360-nhat-ki-trong-tu.html"><em>Nhật kí trong tù</em></a> là tập thơ có giá trị văn học rất lớn của Hồ Chí Minh, được viết bằng chữ Hán nên có rất nhiều điểm gần với thơ Đường. Với những bài Đường luật xinh xắn về hình thức, nồng nàn về cảm xúc,... tác phẩm thể hiện tài năng, tấm lòng, tâm huyết và nhân cách Hồ Chí Minh với cả hai tư cách nghệ sĩ và chiến sĩ. <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Trong những ngày bị chính quyền <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/phuong-dong/1737-tai-ngoai-giao-cua-bac-ho-voi-tq-va-tuong-gioi-thach.html">Tưởng Giới Thạch</a> giam cầm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được mắt thấy tai nghe bao nhiêu điều ngang trái chốn nhà tù. Chế độ nhà tù thối nát, vô nhân đạo đã được tái hiện trong nhiều bài thơ của Bác. Trong đó, Lai Tân là một bài thơ tiêu biểu cho nghệ thuật châm biếm thâm thuý của Bác. Bài thơ <em>Chiều tối</em> đã thể hiện đầy đủ và khá điển hình đặc điểm cơ bản nhất của toàn bộ cuốn nhật kí bằng thơ của Hồ Chí Minh, đó là vẻ đẹp cổ điển về hình thức và hiện đại về cảm hứng, toát lên phong thái ung dung tự tại của một người cộng sản. Người đọc nhận ra thế giới tâm hồn người tù Hồ Chí Minh là tình yêu thiên nhiên cuộc sống tha thiết, là khao khát ý chí và bản lĩnh người cách mạng. Dù trong bất cứ điều kiện hoàn cảnh nào, Người cũng phát hiện được những vẻ đẹp giản dị mà đáng quý của cuộc sống.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-27 04:25:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847147116</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vấn đề 1: Phân tích bài thơ “Chiều tối” (Mộ) của Hồ Chí Minh</title>
         <author>6200633928</author>
         <link>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847150854</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 1. Hai câu thơ đầu:<br></strong><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ,&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Cô vân mạn mạn độ thiên không.<br></em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Mở đầu bài thơ, bằng vài nét chấm phá đơn sơ theo bút pháp cổ điển, Bác đã dựng lên một bức tiểu họa về thiên nhiên miền sơn cước khi chiều tối. Những hình ảnh ước lệ quen thuộc thường gặp trong thơ xưa được Hồ Chí Minh thổi vào hơi thở của tinh thần hiện đại.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Một cánh chim bay về tổ, về nơi núi rừng khi chiều buông xuống là hình ảnh ta thường bắt gặp trong thơ ca cổ điển phương Đông. Câu thơ của Người gợi liên tưởng tới hình ảnh cánh chim trong ca dao:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; “Chim bay về núi tối rồi”;<br>gợi nhớ tới cánh chim qua ánh mắt nàng Kiều trong thơ của đại thi hào Nguyễn Du: <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; “Chim hôm thoi thót về rừng”;<br>hay gợi nhớ tới cánh chim qua cái nhìn của người lữ thứ trong thơ Bà Huyện Thanh Quan: <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; “Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi”…<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Cánh chim mang nghĩa tượng trưng cho buổi chiều tà, vừa gợi không gian, vừa gợi thời gian. Nếu trong thơ xưa, hình ảnh cánh chim chỉ được quan sát từ trạng thái vận động bên ngoài (cánh chim bay) thì trong thơ Bác lại là sự cảm nhận trạng thái từ bên trong, một sự cảm nhận của con người hiện đại dựa trên ý thức sâu sắc của cái tôi cá nhân trước ngoại cảnh (cánh chim bay). Câu thơ cho ta thấy sự tương đồng, gần gũi, hòa hợp giữa tâm hồn nhà thơ với cảnh vật thiên nhiên. Nỗi lòng, tâm trạng người tù sau một ngày chuyển lao vất vả, nhọc nhằn, mệt mỏi được hiện lên qua hình ảnh cánh chim mỏi mệt. Nghệ thuật "tả cảnh ngụ tình" được sử dụng thành công khiến người đọc không chỉ cảm nhận được tiếng nói của tâm trạng con người.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Cùng với hình ảnh cánh chim là <em>chòm mây lẻ trôi</em>. Đây cũng là hình ảnh mang tính ước lệ tượng trưng. Chòm mây trong cái nhìn của người tù là chòm mây cô đơn. Người đọc không chỉ cảm nhận được sự nhọc nhằn, mệt mỏi của người tù mà còn thấy được cả nỗi cô đơn, buồn khổ của người tù trong cảnh ấy. Ở câu thơ thứ hai này, bản dịch đã dịch khá hay và uyển chuyển nhưng đã bỏ sót chữ “cô” nên đã làm mất đi vẻ đơn độc, sự cô đơn lẻ chiếc của cảnh vật cũng như nỗi cô đơn trong lòng người. Bản dịch cũng chưa thể hiện được hết ý nghĩa của hai chữ “mạn mạn” chỉ nhịp bay chầm chậm của những đám mây. Đó không chỉ là một “<em>chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không</em>” mà là một chòm mây cô đơn, lẻ loi, lững lờ trôi chầm chậm giữa bầu trời. Nếu như trong thơ xưa, áng mây trắng ngàn năm gợi sự vĩnh hằng, tầng mây lơ lửng gợi sự không vĩnh viễn thì trong thơ Bác nó mang bao nỗi khắc khoải mong chờ. Nó gợi cảm giác về cái cao rộng, trong trẻo, êm ả của chiều thu nơi núi rừng Quảng Tây.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Bức tranh thiên nhiên có vẻ hoang vắng, tĩnh lặng, thấm nỗi buồn cô đơn của con người. Hai câu thơ không có một từ nào trực tiếp miêu tả người tù và tâm trạng người tù nhưng qua đó vẫn ẩn chứa hình ảnh người tù trong sự mệt mỏi, nhọc nhằn, trong nỗi buồn và sự cô đơn. Tất cả cảnh vật thiên nhiên: cánh chim, chòm mây, bầu trời đều là những cảnh vật được cảm nhận từ trên cao, trong tư thế của không gian cao rộng, khoáng đạt. Người ta nhận ra tư thế người tù - một con người luôn ngẩng cao đầu với một ý chí, nghị lực mạnh mẽ, với một tâm hồn rộng mở đón nhận vạn vật vào trong lòng mình. Hai câu đầu diễn tả nỗi buồn, sự cô đơn của người tù nhưng không gợi cảm giác bi luỵ bế tắc mà vẫn hé mở bản lĩnh, ý chí, nghị lực phi thường, một phong thái ung dung và sự tự do hoàn toàn về tinh thần của người tù cách mạng. Trong hoàn cảnh gian lao, Người vẫn mở rộng hồn mình rung cảm với thiên nhiên tạo vật.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>2. Hai câu thơ cuối:<br></strong>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Nếu ở hai câu đầu, cảnh vật hiện ra với những nét chấm phá, mang tính chất ước lệ cổ điển thì đến hai câu cuối, bằng bút pháp tả thực, Bác đã dựng lên một bức tranh cuộc sống tươi vui, khỏe khoắn. Thời gian từ chiều muộn đã chuyển sang tối, cảm xúc con người không còn thoáng buồn nữa mà đã thấy vui:<br><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng.<br></em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Hình ảnh "cô em xóm núi" trở thành hình ảnh trung tâm của bức tranh. Hình ảnh con người xuất hiện trở thành tâm điểm của sự sống, làm ấm áp cả bức tranh <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/4240-buc-tranh-tho-chieu-toi.html">chiều tối</a> hoang vắng, lạnh lẽo, tạo nên sự vui tươi, khỏe khoắn. Trong thơ vịnh cảnh chiều hôm nổi tiếng thời xưa cũng thấp thoáng hình bóng con người:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<em>Lom khom dưới núi tiều vài chú<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Lác đác bên sông chợ mấy nhà</em>.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;(<em>Chiều hôm nhớ nhà</em>, Bà Huyện Thanh Quan)<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Nhưng ở đó có người mà thiếu vắng sự sống, hình ảnh con người chỉ tôn thêm cái hùng vĩ, hoang sơ của đất trời, thiên nhiên. Còn ở đây, trong bài thơ của Bác, hình ảnh cô gái xay ngô toát lên vẻ trẻ trung khỏe khoắn, sống động đem lại chút hơi ấm, hạnh phúc cho con người, xua đi cái không khí âm u lạnh lẽo của núi rừng heo hút. Vẻ đẹp của bức tranh <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/4240-buc-tranh-tho-chieu-toi.html">chiều tối</a> được toát lên từ chính vẻ đẹp hoạt động của con người, thể hiện sự khoẻ khoắn, niềm tin và khát vọng mạnh mẽ của con người. <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Câu thơ thứ ba của bản dịch thơ dịch thừa chữ <em>tối</em>. Bài thơ không có từ <em>tối</em> nhưng thời gian tối của bức tranh được gợi ra từ chính hình ảnh "lò than rực hồng". Có một sự đối lập tương phản giữa ánh sáng của lò than với bóng tối của xóm núi. Chỉ cần nhìn lò than đỏ, người ta cũng nhận ra bóng tối đã bao trùm vạn vật. Bút pháp "vẽ mây nảy trăng" được sử dụng thành công.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Bức tranh <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/4240-buc-tranh-tho-chieu-toi.html">chiều tối</a> đến đây không buồn bã, thê lương, ảm đạm mà tràn đầy sự sống ấm áp tươi sáng, từ nỗi buồn thương đến niềm tin vui thể hiện một hồn thơ luôn hướng về ánh sáng, sự sống và tương lai.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Tác giả sử dụng thành công cấu trúc điệp liên hoàn: <em>ma bao túc, bao túc ma</em>. Hoạt động xay ngô lặp đi lặp lại diễn tả vòng tuần hoàn của cối xay ngô. Ở đó người ta nhận ra nhịp điệu trôi chảy của thời gian nhưng điều kì diệu chính ở chỗ nhịp điệu của thời gian hoà cùng nhịp điệu trong cuộc sống lao động của con người. Câu thơ mang đậm sắc thái hiện đại. Nhịp thời gian trở thành nhịp của sự sống. Tứ thơ của Hồ Chí Minh có sự vận động mạnh mẽ, tự nhiên mà khoẻ khoắn.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Hình ảnh “lò than rực hồng” được đánh giá là “điểm ngời sáng trong thơ”. Bài thơ kết lại bằng chữ <em>hồng</em>. Với chữ <em>hồng</em>, Bác đã làm sáng rực lên toàn bộ bài thơ, xóa tan đi những mệt mỏi, uể oải, vội vã, nặng nề được diễn tả trong ba câu thơ đầu, đã làm sáng rực lên khuôn mặt của cô em sau khi xay xong ngô tối. Chữ <em>hồng</em> chính là nhãn tự của bài thơ, thu được cả linh hồn sức sống của toàn bài. Nó đem đến giữa màn đêm một màu đỏ rực và cái màu đỏ ấy đã nhuốm lên cả bóng đêm, cả thân hình của cô thôn nữ. Nó là màu đỏ trong tình cảm của Bác, là niềm tin, lạc quan yêu đời, là niềm cảm thông chia sẻ với những vất vả, niềm vui của người lao động dù Người đang phải sống trong cảnh tù đầy.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Hai câu thơ cuối cho ta thấy khuynh hướng vận động quen thuộc của hình tượng thơ trong thơ Bác: từ bóng tối ra ánh sáng, từ buồn tới vui ... đồng thời cho ta thấy sự cao đem trong tâm hồn của người.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Bài thơ mang tên <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/4240-buc-tranh-tho-chieu-toi.html"><em>Chiều tối</em></a> nhưng không kết thúc bằng bóng tối mà kết thúc bằng ánh sáng màu sắc rực rỡ.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Bài thơ <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/4240-buc-tranh-tho-chieu-toi.html"><em>Chiều tối</em></a> kết lại bằng niềm tin tưởng, bằng khát vọng dâng đầy của người cộng sản. Đặt trong thân phận tù ngục, người ta vẫn nhận ra hình ảnh một con người Hồ Chí Minh với tình yêu thiên nhiên rộng lớn, với một khao khát sự sống mạnh mẽ và một ý chí, nghị lực kiên cường, một niềm tin cháy bỏng.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-27 04:28:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847150854</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vấn đề 2: Vẻ đẹp người tù chiến sĩ Hồ Chí Minh qua bài thơ “Chiều tối”</title>
         <author>6200633928</author>
         <link>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847153160</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;&nbsp;</div><div><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; </em><strong><em>1.</em></strong><em> Giới thiệu tác giả, tác phẩm, luận đề<br></em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/tu-tuong-ho-chi-minh/11754-de-cuong-mon-tu-tuong-ho-chi-minh.html">Hồ Chí Minh</a> là nhà cách mạng, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, đồng thời cũng là nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc. Bên cạnh sự nghiệp cách mạng vĩ đại, Người cũng để lại một sự nghiệp văn học đa dạng, phong phú.<br><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; </em><a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-12/7360-nhat-ki-trong-tu.html"><em>Nhật ký trong tù</em></a> là tập thơ viết bằng chữ Hán của <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/tu-tuong-ho-chi-minh/11754-de-cuong-mon-tu-tuong-ho-chi-minh.html">Hồ Chí Minh</a> trong thời kỳ Người bị giam giữ ở nhà lao của bọn Tưởng Giới Thạch từ mùa thu 1942 đến mùa thu 1943. Tập thơ chẳng những cung cấp cho ta những hiểu biết về chế độ lao tù khắc nghiệt của chính quyền Tưởng Giới Thạch, mà quan trọng hơn còn giúp ta hiểu rõ vẻ đẹp tâm hồn của chính bản thân người đã sáng tạo ra nó, nhà cách mạng, nhà thơ Hồ Chí Minh. Có thể thấy rõ điều đó qua bài thơ <em>Chiều tối</em> (<em>Mộ</em>) – bài thơ số 31 trong tập thơ. Bài thơ Bác viết trong gông cùm xiềng xích, trên đường chuyển lao đầy cực nhọc, khổ ải.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong><em>2.</em></strong><em> Những biểu hiện cụ thể:<br></em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Là nhật ký, tác phẩm còn là tập thơ trữ tình nên thiên về việc bộc lộ thế giới bên trong, thế giới tâm hồn của người sáng tạo. Đó là lòng nhân ái bao la, là tình yêu cuộc sống sâu nặng, là tâm hồn của con người có sự tự do tinh thần tuyệt đối, là cốt cách vững vàng,...<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Lòng nhân ái bao la, tình yêu cuộc sống sâu nặng<br>+ Yêu thiên nhiên, tạo vật. Qua bài thơ, hình ảnh thiên nhiên luôn chiếm vị trí nổi bật. Bác nâng niu từng biểu hiện của sự sống: “cánh chim”, “đám mây”...<br>+ Quan tâm tới con người. Dù trong hoàn cảnh nào, Bác cũng không quên nghĩ tới con người. Hình ảnh thiếu nữ xay ngô tối với Bác là vẻ đẹp của cuộc sống bình dị. Ngọn lửa hồng reo vui trong bếp lửa gia đình, lòng Bác như cũng reo vui với nó (dẫn chứng). <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Một tâm hồn tự do, không tù ngục, xích xiềng nào giam giữ nổi (dẫn chứng).<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Một tâm hồn có tinh thần “thép” vượt qua những đọa đày về thể xác, mọi thử thách khốc liệt về tinh thần: Qua hình ảnh “quyện điểu” và “cô vân”, ta bắt gặp thoáng buồn, thoáng cô đơn rất người của Bác. Nhưng trước ngọn lửa hồng Bác quên đi việc mình chưa được dừng chân trên con đường đày ải mà để lòng mình reo vui cùng ngọn lửa, để hình ảnh tỏa ấm trên trang thơ, xua tan cái lạnh lẽo, cô đơn của lòng người và cảnh vật. Ngọn lửa hồng trở thành vẻ đẹp tinh thần của nhà cách mạng.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Một tâm hồn lạc quan, tin tưởng: Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh ngọn lửa hồng mang lại cảm giác phấn chấn, lạc quan. Lời thơ ám dụ vời vợi lòng tin. <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Một hồn thơ phong phú:<br>+ Thi hứng đã đến với Người trong những giờ phút nặng nề, cực nhọc nhất của cuộc đời, ngay cả trong lúc đối với người bình thường, cảm xúc thơ dễ bị triệt tiêu nhất hoặc không cất lên nổi.<br>+ Cốt cách thi nhân ở Bác thể hiện ở niềm rung động trước cái đẹp, dù trong cảnh huống nào. Niềm rung động ấy được thể hiện bằng những vần thơ vừa cổ kính, vừa hiện đại của một tâm hồn nghệ sĩ mang cốt cách phương Đông. Hồn thơ <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/tu-tuong-ho-chi-minh/11754-de-cuong-mon-tu-tuong-ho-chi-minh.html">Hồ Chí Minh</a> bắt rễ rất sâu vào truyền thống dân tộc, truyền thống phương Đông.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-27 04:29:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847153160</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phân tích bài thơ “Từ ấy” của Tố Hữu</title>
         <author>6200633928</author>
         <link>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847159924</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;&nbsp;</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-12/7124-tim-hieu-ve-tac-gia-huu.html">Tố Hữu</a> là <em>lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam</em>. Trong thơ <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-12/7124-tim-hieu-ve-tac-gia-huu.html">Tố Hữu</a>, cái tôi trữ tình, trẻ trung, sôi nổi và đầy nhiệt huyết gắn với cách mạng, mang lí tưởng cộng sản. Với tập thơ <em>Từ ấy</em>, <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-12/7124-tim-hieu-ve-tac-gia-huu.html">Tố Hữu</a> đã bắc chiếc cầu nối giữa hình thức thơ mới với thơ ca yêu nước và cách mạng. Giữa lúc các nhà thơ mới còn <em>băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời</em>, còn đắm mình trong nỗi buồn cô đơn tuyệt vọng, thì <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-12/7124-tim-hieu-ve-tac-gia-huu.html">Tố Hữu</a> đã tìm thấy con đường của lí tưởng – con đường cách mạng. Bài thơ <em>Từ ấy</em> thể hiện tâm trạng háo hức, tràn đầy niềm tin và hi vọng của người cộng sản trẻ tuổi khi bắt gặp lí tưởng ngời sáng tương lai. <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>1.</strong> Khổ thơ đầu diễn tả tâm trạng vui sướng của nhân vật trữ tình tác giả khi bắt gặp lí tưởng cộng sản:<br><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Mặt trời chân lí chói qua tim<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Hồn tôi là một vườn hoa lá<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Rất đậm hương và rộn tiếng chim…<br></em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - <em>Từ ấy</em> là từ khi được giác ngộ cách mạng, được dẫn dắt vào con đường đấu tranh giải phóng dân tộc; là lúc nhà thơ đã tìm ra con đường đi cho cuộc đời mình, đó là con đường chung của cả dân tộc.<br><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - </em>Để thể hiện niềm vui ấy, nhà thơ đã chọn dùng một loạt từ ngữ gợi hình và gợi cảm: <em>bừng</em> (nắng hạ), <em>chói </em>(qua tim), <em>rất đậm</em> (hương), <em>rộn</em> (tiếng chim). Đây đều là những từ ngữ có khả năng biểu hiện trạng thái mạnh của sự vật, sự việc. Nó vừa đột ngột, vừa mạnh mẽ, vừa sôi nổi và sâu sắc. Vì thế nó thể hiện được trạng thái cảm xúc hưng phấn của nhân vật trữ tình. Khổ thơ như tiếng reo vui đầy phấn chấn.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Ánh sáng của cách mạng chói sáng như “nắng hạ”, như “mặt trời” soi đường cho nhân vật trữ tình. Bắt gặp ánh sáng ấy, tâm hồn người thanh niên trẻ tuổi bừng dậy mạnh mẽ, nó được ví như một vườn cây đầy sức sống. Nhịp thơ dồn dập, câu thơ nối dòng đã thể hiện thành công tâm trạng vui mừng của nhân vật trữ tình. Đó là tâm trạng lạc quan tin tưởng vào con đường cách mạng của người thanh niên. Giọng điệu vui tươi, hào hứng thể hiện niềm hạnh phúc của người thanh niên đã tìm ra con đường đúng đắn của cuộc đời mình.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>2.</strong> Sau giây phút đầy hào hứng và vui mừng, tâm trạng nhân vật trữ tình tạm lắng xuống, suy tư hơn. Hai khổ thơ tiếp theo thể hiện nhận thức của nhân vật trữ tình về con đường cách mạng mình đã chọn. Đó là sự thức tỉnh về mối quan hệ tình cảm cách mạng, tình cảm dân tộc. Cùng thời với <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-12/7124-tim-hieu-ve-tac-gia-huu.html">Tố Hữu</a>, nhưng khi chưa đến được với cách mạng, nhà thơ Chế Lan Viên viết:<br><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Một vì sao trơ trọi cuối trời xa<br></em>Xuân Diệu thì cực đoan: <br>&nbsp;<em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Không có chi bè bạn nổi cùng ta&nbsp;<br></em>Còn Huy Cận thì cảm thấy bơ vơ, nhỏ nhoi trước cảnh “sông dài, trời rộng, bến cô liêu” với tâm trạng “lòng quê dợn dợn vời con nước”. Tiến bộ như người li khách ra đi vì chí nhớn nhưng vẫn đượm buồn và phảng phất nỗi lẻ loi đơn độc:<br>&nbsp; <em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Li khách ! Li khách con đường nhỏ<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Chí nhớn chưa về bàn tay không...<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; </em>&nbsp;(<em>Tống biệt hành, </em>Thâm Tâm)<em><br></em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Đó là tâm trạng của những thanh niên chưa tìm được vị trí của mình trong lòng dân tộc, chưa có tình cảm cách mạng. Còn nhân vật trữ tình trong <em>Từ ấy</em> thì đã ý thức rất rõ mối quan hệ tình cảm của mình với nhân dân. Khi được giác ngộ cách mạng, cái tôi Tố Hữu hoà trong cái ta dân tộc để tạo nên khối đại đoàn kết, và sức mạnh dân tộc. Đây là một nhận thức đúng đắn, thể hiện sự giác ngộ cách mạng sâu sắc của nhà thơ.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <em>Tôi buộc lòng tôi với mọi người<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Để tình trang trải với trăm nơi<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Để hồn tôi với bao hồn khổ<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời.<br></em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Nhà thơ đã lựa chọn những hình ảnh và từ ngữ có khả năng biểu hiện rõ mối quan hệ tình cảm cách mạng: <em>buộc, trang trải, gần gũi, khối đời</em>. Những từ ngữ ấy đã cụ thể hoá tình cảm cách mạng vốn là những khái niệm rất trừu tượng.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Động từ "buộc", "trang trải" thể hiện những hành động có tính tự nguyện. "Buộc" và "trang trải" là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau nhưng nó đều nằm trong nhận thức mới về lẽ sống của <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-12/7124-tim-hieu-ve-tac-gia-huu.html">Tố Hữu</a>. "Buộc" là đoàn kết gắn bó, tự nguyện gắn bó đời mình với nhân dân cần lao, với hết thảy nhân dân lao động Việt Nam.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - <em>Lòng tôi, tình </em>(tôi)<em>, hồn tôi</em> gắn liền <em>với mọi người, với trăm nơi, với bao hồn khổ</em>, sự gắn bó, đồng cảm sâu xa giữa cái tôi và cái ta, giữa tấm lòng nhà thơ với khối đời chung của nhân dân lao động:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - <em>Trang trải với trăm nơi</em> biểu hiện một tinh thần đoàn kết, tình cảm nồng thắm, chan hòa với nhân dân. Tình yêu người, yêu đời trong <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-12/7124-tim-hieu-ve-tac-gia-huu.html">Tố Hữu</a> đã nâng lên thành chủ nghĩa nhân đạo cộng sản. Nhà thơ mong ước xây dựng một khối đời vững chắc làm nên sức mạnh quần chúng cách mạng, từ đó thể hiện niềm hãnh diện khi được là một thành viên ruột thịt trong đại gia đình những người nghèo khổ bất hạnh.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - <em>Bao hồn khổ</em> chỉ tầng lớp đáng thương nhất trong xã hội đương thời. Từ <em>để</em> gợi lên ý thơ chủ động sự gắn kết lòng mình với mọi người hòa làm một, chứa đựng nỗi thương xót tột cùng và sự đồng cảm sâu sắc đối với "đại gia đình" đang trong cảnh lầm than.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - <em>Khối đời</em> là danh từ trừu tượng, thể hiện một khái niệm cuộc sống bao quát, gộp chung, không thể nhìn, cân đong đo đếm, nhưng lại gói ghém thành một sức mạnh phi thường, cụ thể hóa phi vật thể. Tác giả một lần nữa nhấn mạnh mối ân tình giữa tác giả với muôn dân, khẳng định cuộc sống bản thân nhà thơ không có sự riêng biệt, mà chỉ là một phần tử nhỏ chan hòa và giao cảm với những mảnh đời còn lại.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>3.</strong> Quan niệm về lí tưởng cộng sản của nhà thơ được thể hiện rõ hơn ở khổ thơ cuối:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <em>Tôi đã là con của vạn nhà,<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Là em của vạn kiếp phôi pha;<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Là anh của vạn đầu em nhỏ,<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Không áo cơm, cù bất cù bơ …<br>&nbsp; &nbsp; </em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Khổ thơ thể hiện sự chuyển biến trong tâm trạng nhà thơ: tấm lòng đồng cảm, xót thương đối với mọi người lao khổ. Qua đó còn thể hiện lòng căm giận của nhà thơ trước bao bất công ngang trái của cuộc đời cũ.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Các từ ngữ <em>là con, là em, là anh</em> thể hiện tình cảm đầm ấm, thân thiết, gắn bó và gần gũi của người thanh niên, tự nguyện gắn mình vào mối quan hệ máu thịt với những người cùng khổ, những người đã và đang chịu cảnh nô lệ lầm than. Nhân vật trữ tình đã ý thức rõ trách nhiệm của mình đối với dân tộc khi anh dấn thân vào con đường cách mạng. Làm người cách mạng thì bản thân mình không còn là của riêng mình nữa.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Các hình ảnh ẩn dụ <em>vạn nhà, vạn kiếp phôi pha, vạn đầu em nhỏ</em> chỉ đối tượng quần chúng lao khổ, những kiếp sống mòn mỏi đáng thương, những mái đầu trẻ thơ tội nghiệp không nơi nương tựa.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - <em>Cù bất cù bơ</em> là tính từ khá mới lạ thể hiện hoàn cảnh nay đây mai đó, bơ vơ không chỉ riêng tác giả, mà còn dựng lên được cuộc sống mỏng manh của hầu hết đồng bào đang trong đói khổ.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-12/7124-tim-hieu-ve-tac-gia-huu.html">Tố Hữu</a> đã thể hiện niềm hãnh diện khi được là một thành viên ruột thịt trong đại gia đình những người nghèo khổ bất hạnh, nguyện sẽ đứng vào hàng ngũ những người "than bụi, lầy bùn" là lực lượng tiếp nối của "vạn kiếp phôi pha", là lực lượng ngày mai lớn mạnh của "vạn đầu em nhỏ", để đấu tranh cho ngày mai tươi sáng. Điệp từ "là" được nhắc đi nhắc lại, nó vang lên một âm hưởng mạnh mẽ lắng đọng trong tâm hồn ta một niềm cảm phục, quý mến người trai trẻ yêu đời, yêu người này.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 4. Bài thơ <em>Từ ấy</em> là tâm niệm của một người thanh niên yêu nước, giác ngộ lý tưởng cách mạng. Nó thể hiện niềm vui sướng, say mê mãnh liệt, những nhận thức và tình cảm mới của <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-12/7124-tim-hieu-ve-tac-gia-huu.html">Tố Hữu</a> khi có ánh sáng lý tưởng cách mạng soi rọi. Sự vận động ấy của tâm trạng nhà thơ được thể hiện bằng những hình ảnh tươi sáng, rực rỡ; các biện pháp tu từ và ngôn ngữ giàu nhịp điệu.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <em>Từ ấy</em> là một bài thơ vừa có tính triết lý sâu sắc, vừa rất gần gũi, bình dị, thân thuộc. Sau mấy chục năm đọc lại, những vần thơ đó vẫn là một câu hỏi thấm thía mà những người cộng sản hôm nay không thể không suy ngẫm một cách nghiêm túc để tự mình tìm ra lời giải đáp thấu đáo. Giữa cái chung và cái riêng, giữa cộng đồng - tập thể và cá nhân, giữa vật chất tầm thường và tinh thần, tư tưởng của người cộng sản.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-27 04:33:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847159924</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Ngâm thơ: Từ ấy</title>
         <author>6200633928</author>
         <link>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847163882</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?v=KXmmsTRlFqA" />
         <pubDate>2021-10-27 04:36:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847163882</guid>
      </item>
      <item>
         <title>VHLM và VHHT 1930-1945</title>
         <author>6200633928</author>
         <link>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847168761</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1424741510/800aa979a785a7ab6495371eddc1ead1/Chuyen_de_VHLM_1930_1945.pdf" />
         <pubDate>2021-10-27 04:38:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847168761</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vấn đề 1: Những giá trị cơ bản của chương “Hạnh phúc một tang gia”</title>
         <author>6200633928</author>
         <link>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847203150</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 1. Giá trị châm biếm và đả kích cái xã hội thực dân phong kiến tư sản xấu xa, đồi bại và thối nát.<br>&nbsp; &nbsp;</em></strong>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<strong>&nbsp;- </strong><em>Trong gia đình</em>, ông chết, cha chết - một cái chết làm cho <em>nhiều người sung sướng lắm</em>.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Cụ cố Hồng “nhắm nghiền mắt lại mơ màng”… vì cụ chắc thiên hạ “ai cũng phải khen một cái đám ma như thế, một cái gậy như thế!”.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Ông Phán mọc sừng sung sướng vì ông ta không ngờ rằng “đôi sừng hươu vô hình trên đầu ông ta mà lại to đến thế” nên đã được cụ cố Hồng - bố vợ - hứa sẽ chia thêm cho con gái và con rể thêm vài nghìn đồng.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Ông Văn Minh hạnh phúc vì từ nay cái chúc thư chia gia tài “sẽ đi vào thời kỳ thực hành”.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Bà Văn Minh sung sướng vì cái mốt về những bộ đồ xô gai tân thời, cái mũ mấn trắng viền đen… sẽ đem đến cho những ai có tang “được hưởng chút hạnh phúc ở đời”.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Cậu tú Tân được dịp dùng đến mấy cái máy ảnh.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Ông Typn chờ mong các báo chí phê bình “những chế tạo của mình” trong cuộc cải cách y phục Âu hóa.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Tuyết thì diện bộ đồ <em>Ngây thơ</em> để cho thiên hạ biết rằng “mình chưa đánh mất cả chữ trinh”, v.v…<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <em>-</em> <em>&nbsp;Ở ngoài xã hội</em>:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Hai viên cảnh sát Min-đơ, Min-toa., giữa lúc không có ai đáng phạt mà phạt, đương <em>buồn như nhà buôn vỡ nợ</em> thì được có đám thuê nên “sung sướng cực điểm”.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Các quan khách đến đưa ma, bạn của Tuyết, Văn Minh, cô Hoàng Hôn, bà Phó Đoan, những giai thanh gái lịch được dịp “chim nhau, cười tình với nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau, ghen tuông nhau, hẹn hò nhau…”.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Bạn thân của cụ cố Hồng đến đưa đám ma với cái ngực “đầy những huy chương…”, với bộ râu “hoặc dài hoặc ngắn, hoặc đen, hoặc hung hung, hoặc lún phún hay rầm rậm, loăn quăn”… đến để khoe tài, khoe của,…<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Sư cụ Tăng Phú thì sung sướng vênh váo, ngồi trên một chiếc xe vì đã “đánh đổ được Hội Phật giáo.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Xuân tóc đỏ cố ý đến đưa đám chậm, bằng 2 vòng hoa đồ sộ, 6 chiếc xe có cắm lọng,… hắn đã làm cho Tuyết “liếc mắt đưa tình cho nó để tỏ ý cám ơn”, làm cho cụ bà sung sướng thốt lên: “Ông Đốc Xuân đã không giận mà lại giúp đáp phúng viếng đến thế, và đám ma như kể đã là danh giá nhất tất cả”. Và Xuân sao không sung sướng, khi ông Phán mọc sừng trả công 5 đồng gấp tư “dúi vào tay”…<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Đúng là “hạnh phúc của một tang gia”, mặc dù lúc hạ huyệt có cụ cố Hồng mếu, ông Phán mọc sừng khóc to “Hứt! Hứt! Hứt!”.<br><br><strong>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; </strong><strong><em>2.</em></strong><strong> </strong><strong><em>Nghệ thuật trào phúng trong “Hạnh phúc của một tang gia” (trích “Số đỏ” – Vũ Trọng Phụng)<br></em></strong><strong>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; </strong>a.<strong> </strong>Từ lâu nhiều người đã liệt “<em>Số đỏ” </em>của Vũ Trọng Phụng vào hàng những tác phẩm xuất sắc của thể loại tiểu thuyết trào phúng. “<em>Số đỏ” </em>như chính là hiện thân của nghệ thuật trào phúng trong văn xuôi Việt Nam. Với <em>“Số đỏ”, </em>người đọc được cười từ đầu đến cuối, cười một cách hả hê, thoải mái. Nhưng cũng với <em>Số đỏ </em>người đọc phải phẫn uất mà kêu lên: Trời, cái xã hội gì, cái lũ người gì mà giả dối, bịp bợm đến thế, bất nhân bạc ác đến thế.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; b. Khi phân tích cần chú ý mấy điểm:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Nghệ thuật phát hiện và khai thác mâu thuẫn trào phúng (chứng minh: nhan đề, tình huống). <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Xây dựng nhân vật đám đông đại diện toàn xã hội hiện lên như những diễn viên có hạng (bộ máy cảnh sát, nghĩa là đại diện của Nhà nước, các vị tai to mặt lớn, lớp “<em>tinh hoa</em>” của giới thượng lưu, sư cụ Tăng Phú - đại diện tôn giáo thâm nghiêm, giai thanh gái lịch.)<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Những nhận xét, giọng điệu, lời bình mỉa mai cay độc (chứng minh: “Cái chết kia đã làm cho nhiều người sung sướng lắm”, “<em>có thể làm cho người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng</em>”)<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Điệp khúc“<em>Đám cứ đi</em>…” - sự vô liêm sỉ ấy không hề khép lại, nó còn tiếp diễn.<br><strong>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; c. Phân tích cụ thể:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; </strong>Ý 1: Một đám ma được kể và tả như một đám rước xách với nhiều vai hề già có, trẻ có, đàn ông, đàn bà… của tầng lớp tư sản “Âu hóa” rởm. Tác giả biểu lộ sự khinh bỉ, châm biếm sâu cay.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Ý 2: Các thủ pháp nghệ thuật trào phúng vận dụng sắc sảo tài tình:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Phóng đại: cụ cố Hồng sung sướng quá vì chuyện bố chết mà hút liền một chặp 60 điếu thuốc phiện, gắt 1872 lần câu: “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!”.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Đặc tả những bộ râu của các ông bạn của cụ cố Hồng rất hài hước!<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Phục bút: Xuân đến đưa đám muộn, lúc đầu làm cho Tuyết đau khổ “có thể muốn tự tử được”, lúc hắn đến, Tuyết <em>liếc mắt đưa tình </em>cho hắn để tỏ ý cảm ơn. Và cụ bà thì thốt lên sung sướng “đám ma kể đã là danh giá nhất tất cả!”.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - &nbsp; Những vai hề: cậu tú Tân luộm thuộm trong chiếc áo thụng trắng bắt bẻ từng người “hoặc chống gậy, hoặc gục đầu, hoặc cong lưng…” để chụp ảnh. Ông Phán mọc sừng khóc to “Hứt! Hứt! Hứt!” nhưng lại bí mật giúi vào tay Xuân tờ giấy bạc 5 đồng gấp tư rất sòng phẳng trong việc mua bán “danh lợi”!<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;- Sử dụng tương phản làm nổi bật cái hài, cái rởm, cái đồi bại, thối nát vô luân hãnh diện. Ví dụ, sư cụ Tăng Phú, v.v…</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-27 04:58:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847203150</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vấn đề 2: Nhân vật Xuân tóc đỏ</title>
         <author>6200633928</author>
         <link>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847203543</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Mỗi dòng văn đều có cảm hứng riêng cho nó. Đối với văn học hiện thực, nhìn chung cảm hứng của nó là sự phủ nhận và phê phán thực tại xã hội thông qua những nhân vật điển hình và đặc sắc. Số đỏ của <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/17597-tu-lieu-ve-tac-gia-vu-trong-phung.html">Vũ Trọng Phụng</a> là tác phẩm tố cáo hiện thực xã hội độc đáo bằng tiếng cười ào ạt, bằng một hình tượng “kì dị” mà nổi bật và đại diện trong tác phẩm là nhân vật Xuân Tóc Đỏ.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Thông qua Xuân Tóc Đỏ, <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/17597-tu-lieu-ve-tac-gia-vu-trong-phung.html">Vũ Trọng Phụng</a> cho thấy cái xã hội lúc bấy giờ là “tấn kịch thực sự của con gnười giữa những sự giả dối buồn cười”. Đó là một tên cơ hội, tiến được trong xã hội nhờ trò “gian trá bịp bợm”.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>1.</strong> Xuân Tóc Đỏ thực chất chỉ là một đứa lưu manh, vô học với lí lịch tối đen như mực: lấy đầu hè, xó cửa làm nhà; lấy sấu các phố, cá hồ Hoàn Kiếm làm vui. Nó đã bán phá xa, bán nhật trình, bán cao đơn hoàn tán trên xe lửa, chạy rạp hát, ... Ánh nắng mặt trời làm cho tóc nó đỏ như tóc Tây. Cảnh ngộ đó tạo nên nó một đứa hoàn toàn vô giáo dục, nhưng tính nó quái lắm, thạo đời lắm.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>2.</strong> Cuộc sống đầu đường xó chợ, những bài học ở vỉa hè, tạo ra một thằng Xuân bụi đời, lưu manh, tinh quái. Xuân lang thang tự kiếm sống với nhiều nghề nghiệp “rẻ tiền” nên về lâu càng trở nên ranh mãnh hơn. Nhưng cũng nhờ vào những hoàn cảnh đặc biệt đó, Xuân đã nhập vào thế giới thương lưu, những kẻ giàu có, từ ông bà Văn Minh, bà phó Đoan, cô Tuyết... nói chung cái xã hội thương lưu đó là môi trường rất tốt để nuôi dưỡng những loại người như Xuân Tóc Đỏ. Con đường tiến lên của Xuân hoàn toàn là do những cơ may. Có những điều mà đến chính Xuân cũng không ngờ được. Do bản tính nhanh nhẹn, láu cá, hắn tạo được chỗ đứng trong gia đình ông bà Văn Minh. Để từ một anh nhặt banh ở sân quần, một gã thổi loa kèn quảng cáo thuốc lậu trở thành sinh viên trường thuốc, một quan đốc- tờ Xuân, một cây hi vọng của giới quân vợt Bắc Kì, một vĩ nhân cứu quốc, một bậc thượng lưu của xã hội,... Tất cả tuy có được nhà văn phóng đại, nhưng cái điều cốt yếu vãn là sự tố cáo chân thực hiện thực xã hội.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>3.</strong> Cuộc đời Xuân Tóc Đỏ hết gặp vận may này đến vận may khác. Sự “huyên thuyên” của hắn khi chữa bệnh cho cụ Tổ đã chinh phục được người nhà bệnh nhân. Hắn không biết làm thơ nhưng cũng được tôn là “Xuân Tóc Đỏ thi sĩ”. Xuân Tóc Đỏ “ưỡn ngực” nói to trước vợ chồng ông Phán và trước mặt cả nhà Văn Minh: “Thưa ngài, ngài là người chồng mọc sừng!”, hắn không bị xem thường mà còn được trọng vọng! Cái chết của cụ Tổ càng làm người ta nể phục hắn. Đám tang cụ cố trước đó không hề có mặt hắn, nhưng trên đường mai táng rộn rịp bỗng có sự xuất hiện lạ lùng của chiếc xe tang mà trên đó có Xuân và mấy vị sư chùa bà Đanh ngồi chễm chệ. Chính sự xuất hiện này đã làm cho đám tang ngày càng sang trọng, thượng lưu. Thân chủ của cụ Tổ càng thấy khâm phục Xuân bởi Xuân đã góp phần làm lừng danh “đám tang lớn nhất từ trước đến nay”. Nhưng đó là một sự thật mỉa mai, lố bịch, phũ phàng, tàn nhẫn: Bởi chính nó đã gây ra cái chết cho cụ Tổ. Tình cảm gì cái thằng Xuân, sự xuất hiện của nó một lần nữa tô đậm con người đểu cáng, vô lương tâm của Xuân, và của cả cái xã hội văn minh “chó đểu”. Đó là hiện thực, hiện thực toát lên bằng cái nhìn châm biếm và tiếng cười ồ ạt.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>4.</strong> Xuân Tóc đỏ thấy rõ vị trí của mình trong xã hội, hắn ngày càng nhận rõ muốn tạo được thanh thế và uy tín thì phải xem thường mọi người! Hắn càng làm bộ, giả dối bao nhiêu thì lại được kính trọng bấy nhiêu. Dù làm ra vẻ kiểu cách nhưng bản chất của nhân vật này vẫn là lố bịch, kệch cỡm. Thái độ của hắn mỗi lần được tiếp xúc với mọi người chỉ là sự đòi hỏi kiểu cách : “Rất hân hạnh”...và hết sức lố bịch khi hắn đứng trước quần chúng : “Hỡi quần chúng, mi không hiểu gì, mi oán ta. Ta vẫn yêu quý mi, mặc lòng mi chẳng rõ lòng ta. Thôi giản tán đi !”. Thực chất của Xuân Tóc Đỏ là như vậy.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>5.</strong> Tác giả xây dựng thành công nhân vật này bằng bút pháp châm biếm sâu sắc, bằng tiếng cười tung hô vào mặt xã hội “Âu hoá” kệch cỡm. Xuân Tóc Đỏ không chỉ là tính cách của một cá nhân mà là sự tổng hợp các loại người trong xã hội thối tha ấy.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Những kẻ luôn vỗ ngực tự coi mình là văn minh là những cải cách thực chất bọn họ là những bầy hề sống thượng lưu, thác loạn. Chỉ trong xã hội thực dân thì những kẻ như Xuân Tóc Đỏ mới có “vai trò quan trọng” đứng trên thiên hạ làm xã hội điên đảo, mục nát.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Xuân Tóc Đỏ là hình tượng độc đáo trong tiểu thuyết độc nhất vô nhị của văn học hiện thực 1930 – 1945. Thông qua những chuỗi cười mà <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-11/17597-tu-lieu-ve-tac-gia-vu-trong-phung.html">Vũ Trọng Phụng</a> lên án gay gắt cái xã hội đê tiện thời ông sống. Tiếng cười ấy đồng thời cũng là tiếng chửi thẳng vào bọn người học đòi làm quý tộc, làm tư sản nhưng ngu độn, chỉ biết sống vì đồng tiền mà quên đi nhân phẩm.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-27 04:58:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847203543</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Số đỏ (1990)</title>
         <author>6200633928</author>
         <link>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847203886</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?v=EvqmBaWAoVc" />
         <pubDate>2021-10-27 04:58:47 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847203886</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vấn đề 2: Đặc sắc nghệ thuật trong truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao</title>
         <author>6200633928</author>
         <link>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847207050</link>
         <description><![CDATA[<div><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 1. Nghệ thuật điển hình hoá nhân vật: thể hiện qua cách miêu tả, phân tích tâm lí nhân vật Chí Phèo và Bá Kiến.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Chí Phèo đại diện cho những người nông dân bị bần cùng hoá, bị đẩy vào con đường lưu manh hoá, tha hoá tới mức đánh mất cả nhân hình lẫn nhân tính. Tuy nhiên, Chí Phèo có những nét độc đáo, tiêu biểu và có thể nói là duy nhất trong nền văn học Việt Nam, điều đó được thể hiện trong nghệ thuật khắc họa khuôn mặt, việc làm, hành động đặc trưng của Chí.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Bá Kiến - một con cáo già “khôn róc đời”, “ném đá giấu tay”, “già đời trong nghề đục khoét”, biết thế nào là “mềm nắn rắn buông. Cách cai trị của Bá Kiến thật không giống ai, chỉ riêng y mới có. Chính Bá Kiến đã rút ra cái kết luận mà theo hắn rất chí lí “<em>ngấm ngầm đẩy người ta xuống sông, nhưng lại dắt nó lên để nó đền ơn</em>”, “<em>không có những thằng đầu bò thì lấy ai mà trị mấy thằng đầu bò</em>”. Là một người nham hiểm, nhẫn tâm, nhưng Bá Kiến lại hiện ra bề ngoài như một kẻ ôn hòa, xởi lởi, biết điều, khiến người đời phải nhìn bằng cặp mắt “kính cẩn”… Vì thế mà hắn đã lường gạt được bao nhiêu dân chất phác lương thiện. Bá Kiến hiện ra trong tác phẩm như một nhân vật điển hình, sống động và cá biệt, tiêu biểu cho một bộ phận của giai cấp thống trị, được miêu tả, khám phá dưới một ngòi bút bậc thầy. <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Nam Cao miêu tả nhân vật trong quá trình vận động và phát triển của tính cách, của sự phát triển về tâm lí, khiến nhân vật trở nên có sức sống, sinh động và do đó nhân vật trở thành điển hình của văn học.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 2. Nghệ thuật tổ chức tác phẩm:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Cốt truyện có tính kịch tính: Cốt truyện được dẫn dắt bằng các nút thắt kịch tính để dẫn tới một kết thúc hợp lí mà về hình thức tưởng chừng đó là một kết thúc ngẫu nhiên.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Cốt truyện được đặt trong khung thời gian hiện tại trong đó có sự đảo chiều, quay ngược thời gian kể:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Phần mở đầu và kết thúc thuộc thời gian hiện tại, tức là gắn với những gì đang diễn ra trước mắt người kể chuyện, tương ứng với những gì người kể chuyện quan sát được.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Phần giữa có sự đảo chiều thời gian, nhân vật người kể chuyện đi ngược về quá khứ để chỉ ra gốc gác của Chí Phèo rồi quay lại kể theo trình tự quá khứ - hiện tại để nối liền mạch kể. Sự thay đổi thời gian kể gắn liền với sự thay đổi điểm nhìn trần thuật, tạo nên tiếng nói đa âm trong câu chuyện, cụ thể là câu chuyện về cuộc đời Chí Phèo không chỉ được tái hiện đơn giản qua cách kể, lời kể của người kể chuyện mà còn qua điểm nhìn của chính Chí Phèo, Thị Nở, Bá Kiến, ... Các điểm nhìn này tạo sự đa dạng trong nghệ thuật trần thuật, tạo ra sự phối âm, hoà điệu trong tác phẩm.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 3. Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ kể chuyện:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Ngôn ngữ kể chuyện trong tác phẩm <em>Chí Phèo</em> rất đa dạng bao gồm ngôn ngữ kể và tả của nhân vật người kể chuyện, ngôn ngữ mang tính cá thể và được cá thể hoá của các nhân vật trong truyện, kết hợp đối thoại và độc thoại, lời kể gián tiếp và lời kể nửa trực tiếp.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Ngôn ngữ độc thoại nội tâm (như đoạn Chí Phèo tỉnh rượu ngồi ôn lại quá khứ, cảnh Bá Kiến ngồi đợi bà Ba)<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Kiểu đối thoại một chiều mà bên phát tín hiệu thì cứ phát, bên nhận tính hiệu thì không có phản ứng lại (như cảnh Chí Phèo - Thị Nở gặp nhau sau trận ốm).<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 4. Khi tạo ra các nhân vật, Nam Cao trung thành với nguyên tắc phản ánh hiện thực song nhà văn không phóng đại cực đoan phần bản năng, thú tính trong con người, không hạ thấp, không xóa bỏ nét đẹp mang tính người của các nhân vật, đây chính là nét đặc sắc trong nghệ thuật vị nhân sinh của Nam Cao.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-27 04:59:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847207050</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vấn đề 3: Giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao</title>
         <author>6200633928</author>
         <link>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847207342</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;1. Trong dòng văn học hiện thực phê phán 1930-1945, có lẽ <em>Chí Phèo</em> là tác phẩm thành công hơn cả trong việc đem lại cho người đọc những ấn tượng mạnh mẽ, không thể quên về bức tranh đen tối ngột ngạt, bế tắc của nông thôn Việt Nam trước <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoc-12/4360-dien-mao-van-hoc-viet-nam-tu-cach-mang-thang-8-1945-den-1975-a.html">Cách mạng tháng Tám</a>, đồng thời thức tỉnh cái phần lương tri tốt đẹp nhất của con người, khơi dậy lòng căm ghét cái xã hội vạn ác đã chà đạp lên nhân phẩm con người, thương xót, cảm thông với những thân phận cùng đinh bị giày vò, tha hóa trong chế độ cũ.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <em>Chí Phèo</em> của <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/tac-pha-m-van-hoc/8084-nam-cao-va-tieu-thuyet-song-mon.html">Nam Cao</a> là một tác phẩm nghệ thuật chân chính. Giá trị hiện thực đi liền với giá trị nhân đạo, thẩm thấu, thống nhất, không tách rời nhau.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 2. Căm ghét xã hội <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/lich-su-11/5487-bon-tinh-nam-ky-roi-vao-tay-giac-thuc-dan-phap-tiep-tuc-mo-rong-chiem-dong-ba-tinh.html">thực dân phong kiến </a>thối nát, phê phán mãnh liệt các thế lực thống trị xã hội, trên cơ sở cảm thông, yêu thương trân trọng con người, nhất là những con người bị vùi dập, chà đạp, đó là cảm hứng chung của các nhà văn hiện thực phê phán giai đoạn 1930-1945. Tuy nhiên, trong tác phẩm <em>Chí Phèo</em>, <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/tac-pha-m-van-hoc/8084-nam-cao-va-tieu-thuyet-song-mon.html">Nam Cao</a> đã khám phá hiện thực ấy bằng một cái nhìn riêng biệt. <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/tac-pha-m-van-hoc/8084-nam-cao-va-tieu-thuyet-song-mon.html">Nam Cao</a> không trực tiếp miêu tả quá trình bần cùng, đói cơm, rách áo dù đó cũng là một hiện thực phổ biến. Nhà văn trăn trở, suy ngẫm nhiều hơn đến một hiện thực con người: con người không được là chính mình, thậm chí, không còn được là con người mà trở thành một con “quỷ dữ”, bởi âm mưu thâm độc và sự chà đạp của một guồng máy thống trị tàn bạo. Với một cái nhìn sắc bén, đầy tính nhân văn, bằng khả năng phân tích lý giải hiện thực hết sức tinh tế, bằng vốn sống dồi dào và trái tim nhân ái, nhà văn đã xây dựng nên một tác phẩm với những giá trị hiện thực và nhân đạo đặc sắc không thể tìm thấy ở các nhà văn đương thời. <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 3. Mở đầu tác phẩm là cảnh Chí Phèo ngật ngưởng trên đường đi vừa chửi, từ trời đến người, tiếng chửi hằn học, cay độc và chua xót. Kết thúc là cảnh Chí Phèo giãy đành đạch giữa bao nhiêu là máu tươi. Bao trùm lên tất cả, tác phẩm ám ảnh ta một không khí ngột ngạt, bế tắc đến khủng khiếp, đầy những mâu thuẫn không thể dung hòa của một làng quê Việt Nam trước Cách mạng, với bao cảnh cướp bóc, dọa nạt, giết chóc, ăn vạ, gây gổ… trong đó Chí Phèo hiện lên như một biếm họa tiêu biểu.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Nhà văn miêu tả: “<em>Bây giờ thì hắn trở thành người không tuổi rồi. Ba mươi tám hay ba mươi chín? Bốn mươi hay là ngoài bốn mươi. Cái mặt hắn không trẻ cũng không già; nó không còn phải là mặt người: nó là mặt một con vật lạ, nhìn mặt những con vật có bao giờ biết tuổi?. Sau khi ở tù về, hắn đã trở thành một con quỉ dữ của làng Vũ Đại mà không tự biết. Cuộc đời hắn không có ngày tháng bởi những cơn say triền miên. Hắn ăn trong lúc say, thức dậy vẫn còn say, đập đầu rạch mặt, chửi bới, dọa nạt trong lúc say, uống rượu trong lúc say, để rồi say nữa, say vô tận. Chưa bao giờ hắn tỉnh và có lẽ chưa bao giờ hắn tỉnh để nhớ hắn có ở đời. Có lẽ hắn cũng biết rằng hắn là quỉ dữ của làng Vũ Đại để tác quái cho bao nhiêu dân làng. Hắn đâu biết hắn đã phá bao nhiêu cơ nghiệp, đập nát bao nhiêu cảnh yên vui, đập đổ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu nước mắt của bao nhiêu người lương thiện… Tất cả dân làng đều sợ hắn và tránh mặt hắn mỗi lần hắn qua…</em>”<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Đoạn văn chất chứa bao nhiêu nỗi thống khổ của một thân phận đã không còn được cuộc sống của một con người. Những năng lực vốn có của một con người - năng lực cảm xúc, nhận thức - hầu như bị phá hủy, chỉ còn lại năng lực đâm chém, phá phách. Chí Phèo bị phá hủy nhân tính lẫn nhân hình như thế bởi đâu? Nhà văn không tập trung miêu tả dông dài quá trình tha hóa ấy. Ông thiên về lí giải phân tích cái cội nguồn sâu xa dẫn đến kết cục bi thảm của nó, chỉ bằng một số phác thảo đơn sơ về Bá Kiến, về nhà tù, về bà cô Thị Nở, về dư luận xã hội nói chung… Trong hàng loạt mối liên kết ấy, người đọc dễ dàng nhận ra: sở dĩ Chí Phèo biến thành con quủ dữ là bởi vì ngay từ thuở lọt lòng đã thiếu hẳn tình ấp ủ yêu thương, và đặc biệt khi lớn lên, chỉ được đối xử bằng rẻ khinh, thô bạo và tàn nhẫn. Thủ phạm trực tiếp là Bá Kiến. Chính hắn đã lập mưu đẩy Chí Phèo vào chỗ tù tội oan uổng và sau đó sử dụng Chí Phèo như một tay sai đắc lực phục vụ cho lợi ích và mưu đồ đen tối của mình.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Không có Bá Kiến thì không có Chí Phèo, nhưng Chí Phèo không chỉ là sản phẩm của sự thống trị mà thậm chí là phương tiện tối ưu để thống trị. Chí Phèo trở thành tay chân đắc lực của Bá Kiến; thật sự biến thành công cụ, phương tiện thống trị cho kẻ thù của mình mà không tự biết. Cùng với bá Kiến là Lý Cường, là chánh Tổng, là đội Tảo… Chính bọn chúng đem lại không khí ngột ngạt khó thở cho nông thôn Việt Nam thành cái thế “Quần ngư tranh thực” (đàn cá tranh mồi). Đằng sau những Bá Kiến, Lý Cường, Chánh Tổng… là hệ thống nhà tù dã man, bẩn thỉu - cả một điều kiện môi trường bất hảo. Quá trình Chí Phèo ở tù không được miêu tả trực tiếp, chỉ biết rằng khi vào tù Chí Phèo là người hiền lành lương thiện. Ra khỏi tù, hắn trở về với cái vẻ hung đồ, cái thói du côn ương ngạnh.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>3.</strong> Bằng bút pháp độc đáo, tài hoa linh hoạt, giàu biến hóa, <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/tac-pha-m-van-hoc/8084-nam-cao-va-tieu-thuyet-song-mon.html">Nam Cao</a> đã dẫn dắt của câu chuyện với một cách thức bề ngoài tưởng chừng như khách quan, lạnh lùng và tàn nhẫn, nhưng chất chứa bên trong biết bao nỗi niềm quằn quại, đau đớn trước thân phận đau đớn của kiếp người. Lồng vào bức tranh hiện thực trên kia là thái độ yêu ghét, là cách phân tích và đánh giá những vấn đề về hiện thực mà nhà văn đặt ra.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Việc lựa chọn một nhân vật cùng đinh thống khổ nhất của xã hội làm đối tượng miêu tả và gởi gắm biết bao thông cảm, suy tư thương xót… tự nó đã mang nội dung nhân đạo. Nhưng <strong><em>giá trị nhân đạo của tác phẩm thể hiện tập trung nhất ở cách nhìn nhận của nhà văn đối với nhân vật bị tha hóa đến tận cùng</em></strong>. <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/tac-pha-m-van-hoc/8084-nam-cao-va-tieu-thuyet-song-mon.html">Nam Cao</a> vẫn phát hiện trong chiều sâu của nhân vật bản tính tốt đẹp vốn dĩ, chỉ cần chút tình thương chạm khẽ vào là có thể sống dậy mãnh liệt, tha thiết.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Sự xuất hiện của nhân vật thị Nở có một ý nghĩa thật đặc biệt, sâu sắc. Con người xấu đến “ma chê quỉ hờn” lại là nguồn ánh sáng duy nhất đã rọi vào chốn tối tăm của tâm hồn Chí Phèo thức tỉnh, gợi dậy bản tính người nơi Chí Phèo, thắp sáng một trái tim đã ngủ mê qua bao ngày tháng bị dập vùi, hất hủi. Sau cuộc gặp gỡ ngắn ngủi với Thị Nở, Chí Phèo giờ đây đã nhận ra nguồn ánh sáng và những thanh âm của đời thường. Từ một con quỉ dữ, nhờ Thị Nở, đúng hơn nhờ tình thương của Thị Nở, Chí thực sự được trở lại làm người, với tất cả những năng lực vốn có. Một chút tình thương, dù là tình thương của một con người dở hơi, bệnh hoạn, thô kệch, xấu xí,… cũng đủ để làm sống dậy cả một bản tính người nơi Chí Phèo. Thế mới biết sức cảm hóa của tình thương kỳ diệu biết nhường nào! <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Bằng chi tiết này, <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/tac-pha-m-van-hoc/8084-nam-cao-va-tieu-thuyet-song-mon.html">Nam Cao</a> đã soi vào tác phẩm một ánh sáng nhân đạo thật đẹp đẽ – nhà văn như muốn hòa vào nhân vật để cảm thông, chia sẻ những giây phút hạnh phúc thật hiếm hoi của Chí Phèo… <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Nhưng, bi kịch và đau đớn thay, rốt cuộc thì ngay Thị Nở cũng không thể gắn bó với Chí Phèo. Chút hạnh phúc nhỏ nhoi cuối cùng vẫn không đến được với Chí Phèo. Và thật là khắc nghiệt, khi bản tính người nơi Chí Phèo trỗi dậy, cũng là lúc Chí Phèo hiểu rằng mình không còn trở về với lương thiện được nữa. Xã hội đã cướp đi của Chí quyền làm người và vĩnh viễn không trả lại. Những vết dọc ngang trên mặt, kết quả của bao nhiêu cơn say, bao nhiêu lần đâm chém, rạch mặt ăn vạ… đã bẻ gãy chiếc cầu nối Chí với cuộc đời.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>4.</strong> “<em>Một khi người được nếm trải chút ít hương vị làm người thì cái xúc cảm người sẽ không thể mất… Đấy là mối bi thảm tột cùng mà cách giải quyết chỉ có thể là cái chết</em>” (Đỗ Kim Hồi). Cái chết bi thảm của Chí Phèo là lời kết tội đanh thép cái xã hội vô nhân đạo, là tiếng kêu cứu về quyền làm người, cũng là tiếng gọi thảm thiết cấp bách: Hãy cứu lấy con người! Hãy yêu thương con người! <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Đó là tư tưởng, tình cảm lớn mang giá trị nhân đạo và hiện thực sâu sắc mà người đọc rút ra được từ những trang sách giàu tính nghệ thuật của <a href="http://diendankienthuc.net/diendan/tac-pha-m-van-hoc/8084-nam-cao-va-tieu-thuyet-song-mon.html">Nam Cao</a>. Sự kết hợp giữa giá trị hiện thực sắc bén và giá trị nhân đạo cao cả đã làm cho tác phẩm Chí Phèo bất tử, mãi mãi có khả năng đánh thức trí tuệ và khơi dậy những tình cảm đẹp đẽ trong tâm hồn người đọc mọi thời đại.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-27 04:59:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847207342</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vấn đề 4: Tâm trạng Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở</title>
         <author>6200633928</author>
         <link>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847207699</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<strong>1.</strong> <em>Trước khi gặp Thị Nở</em>&nbsp;</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Chí Phèo gần như sống vô thức: Bây giờ thì hắn đã thành người không tuổi rồi. Ba mươi tám hay ba mươi chín? Bốn mươi hay ngoài bốn mươi? Cái măt hắn không trẻ cũng không già; nó không còn phải là mặt người: nó là mặt của mộtcon vật lạ, nhìn mặt những con vật có bao giời biết tuổi? Chí Phèo cũng không biết ngày hay đêm vì đối với hắn không còn ngày tháng nữa. Bởi vì từ đấy, hắn bao giờ cũng say. Những cơn say của hắn tràn cơn này sang cơn khác, thành một cơn dài, mênh mông, hắn ăn trong lúc say, thức dậy hãy còn say… Chưa bao giờ hắn tỉnh, và có lẽ hắn chưa bao giờ tỉnh táo, để nhớ có hắn ở đời.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Đối với đồng loại, Chí Phèo đã là một “con quỷ dữ”, tác quái cho bao nhiêu dân làng: Hắn biết đâu hắn đã phá bao nhiêu cơ nghiệp, đập nát bao nhiêu cảnh yên vui, đạp đổ bao nhiêu hạnh phúc, làm chay máu và nước mắt bao nhiêu người lương thiện. Vì thế, tất cả dân làng đều sợ hắn và tránh mặt hắn mỗi lần hắn qua.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>2.</strong> <em>Sau khi gặp Thị Nở:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Sự thức tỉnh:<br></em>+ Đầu tiên, Chí Phèo tỉnh rượu: kể từ lúc ra tù về, có lẽ đây là lần Chí tỉnh rượu. Chí Phèo tỉnh rượu với trạng thái khác hẳn: “Người thì bủn rủn, chân tay không buồn nhấc”, “Hắn sợ rượu như những người ốm sợ cơm”. Đó là điều rất lạ ở Chí.<br>+ Từ tỉnh rượu, Chí Phèo dần thức dậy ý thức vốn có ở một người bình thường. Lần đầu tiên, anh ta nghe tiếng ríu rít bên ngoài, tiếng cười nói của người đi chợ, tiếng gõ mái đuổi cá của anh thuyền chài. Tất cả những âm thanh ấy là những tiếng quen thuộc hôm nào chả có, nhưng hôm nay Chí Phèo mới nghe thấy, bởi xưa nay hắn chưa bao giờ hết say.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Cũng như những người say tỉnh dậy, Chí Phèo thấy miệng đắng, lòng mơ hồ buồn. Nhưng với anh, đây là cảm giác, cảm xúc vừa được đánh thức. Khi Chí Phèo nghe những âm thanh của cuộc sống và biết đuợc trời sớm hay muộn cũng chính là anh đã dần ý thức về cuộc sống. Rồi anh lại nhớ về quá khứ, rằng có một thời, đã ước mơ có một cuộc sống gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc mướn cày thuê. Vợ dệt vải. Bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm. Thông thường, người ta nhớ lại thời gian quã vãng để hiểu hiện tại. Chí cũng vậy: <em>Hắn thấy hắn già mà vẫn còn cô độc. Hắn đã tới cái dốc kia của đời</em>. Chí Phèo đã hình dung được tương lai đầy bất trắc: <em>chịu đựng biết bao là chất độc, đày đoạ cực nhọc</em>, mà chưa Chí bao giờ ốm. Chí Phèo hình như đã trông trước thấy tuổi già của hắn, đói rét và ốm đau, và cô độc… Chí sợ cô độc hơn sợ đói rét và ốm đau. Càng nghĩ, hắn càng muốn khóc.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Đến đây, không ai nghĩ Chí Phèo là con quỷ dữ của làng Vũ Đại nữa. Một người không những giàu xúc cảm mà còn ý thức có phần sâu sắc về cuộc đời, về bản thân hẳn phải là con người bình thường. Với Chí Phèo, anh đã trở lại hoàn toàn con đường tự ý thức.<br><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Khi được chăm sóc:&nbsp;<br></em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Những ngày Chí Phèo ốm, thị Nở trở thành người duy nhất chăm sóc. Nhà văn không kể lể nhiều về sự chăm sóc đó mà dừng lại miêu tả thật chi tiết bát cháo hành Thị Nở đã bón cho Chí.<br>+ Với Thị Nở, việc ấy xuất phát từ tình thương đối với một người đau ốm mà nằm chòng queo một mình, lòng yêu của một người làm ơn và có cả lòng yêu của người chịu ơn.<br>+ Còn Chí Phèo, đây là lần thứ nhất hắn được một người đàn bà cho. Xưa nay, nào hắn có thấy ai tự nhiên cho cái gì… “Đời hắn chưa bao giờ đuợc săn sóc bởi một bàn tay “đàn bà”. Còn lần này, bát cháo hành của thị Nở làm hắn suy nghĩ nhiều. Hắn có thể tìm bạn được… Như vậy, qua bát cháo hành, Chí Phèo cảm nhận được sự chăm sóc yêu thương của người khác dành cho mình và chính Chí cũng mong ước có niềm yêu thương ấy.<br>+ Từ cảm nhận về tình yêu của Thị Nở, cảm xúc, cảm giác càng được đánh thức sâu sắc hơn ở Chí Phèo: Hắn thấy mắt hình như ướt ướt, vừa vui vừa buồn. Không những thế, ở Chí còn giống một cái gì nữa như ăn năn, hối hận về tội ác của mình.<br>+ Điều bùng nổ trong tâm trạng của Chí Phèo sau khi gặp thị Nở là khát vọng lương thiện. Đấy cũng là đỉnh điểm của sự tỉnh thức của Chí Phèo: Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hoà với mọi nguời. Chí đã đem cái khát vọng ấy ta thăm dò đặng tìm sự chia sẻ ở thị Nở. Khi thị cười tin cẩn, Chí Phèo thấy tự nhiên nhẹ cả người và lòng thấy rất vui. Điều đó chứng tỏ anh ta đang tràn đầy hy vọng trở lại thế giới con người.<br><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Bị từ chối quyền làm người lương thiện:<br></em>+ Bà cô Thị Nở quyết liệt phản đối cháu gái lấy Chí Phèo vì Chí Phèo là đứ không cha, chỉ biết <em>rạch mặt ăn vạ</em>. Đau đớn cho Chí Phèo, khi anh ta hiền và muốn làm hoà với mọi người thì chính họ vẫn sợ và vẫn nghĩ Chí Phèo là con quỷ dữ. Sự phản đối của bà cô Thị Nở đồng nghĩa với việc con đường trở về với thế giới lương thiện của Chí Phèo đã đóng chặt. Chí thấy cần thiết phải trả thù: <em>Hắn phải đến nhà con đĩ Nở kia. Đến để đâm chết cả nhà nó</em>. Thế là Chí uống, song lần này càng uống lại càng tỉnh ra và đặc biệt hắn cứ thoang thoảng thấy hơi cháo hành. Như vậy, đây cũng là lần đầu tiên trong đời, Chí Phèo uống rượu mà người lại tỉnh, khác với những cơn say triền miên trước đó. Khi trong đầu anh cứ thoang thoảng mùi cháo hành chứng tỏ Chí không sao quên được những ngày ngắn ngủi từng được chăm sóc, vui sống. Bây giờ, tất cả những cái đó đã bị tước đoạt, vì thế Chí quyết phải đi trả thù, đi đòi lại lương thiện.<br>+ Khi nghe thị Nở kể chuyện, Chí nghĩ ngay đến việc giết bà cô của thị để trả thù. Nhưng sau khi uống rất nhiều rượu, với một con dao ở thắt lưng, miệng lảm nhảm: “Tao phải đâm chết nó!”, Chí Phèo cứ thẳng đường mà đi đế nhà Bá Kiến. Anh không hề quên đường, bởi bà cô Thị Nở không phải là người cướp đi những gì mà anh vốn có, càng không thể cho anh những gì đã mất. Đây có thể coi là giây phút tỉnh táo nhất khi Chí đi tù về.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Tỉnh táo xác định kẻ thù: <em>Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào để mất được những vết mảnh chai trên mặt này?<br></em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Tỉnh táo trong hành động tự sát vì không được sống lương thiện và không muốn trở lại kiếp sống thú vật như trước: <em>Tao không thể làm người lương thiện nữa. Biết không? Chỉ có một cách…biết không?... Chỉ có một cách là …cái này ! Biết không !...</em> Những câu nói đứt quãng vừa thể hiện quyết tâm trả thù, vừa bộc lộ niềm phẫn uất, nỗi bế tắc của Chí Phèo. Cái chết là cách chọn lựa duy nhất để Chí giải quyết bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người lương thiện. Vì thế, chết mà uất ức, vẫn còn muốn nói to với mọi người khát vọng của mình: <em>khi người ta đến thì hắn cũng đã giãy đành đạch ở giữa bao nhiêu là máu tươi. Mắt hắn trợn ngược, mồm hắn ngáp ngáp, muốn nói nhưng không ra tiếng. Ở cổ hắn, thỉnh thoảng máu vẫn còn ứ ra</em>.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>3.</strong> <em>Kết luận<br></em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Bi kịch của Chí Phèo là bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người. Miêu tả diễn biến và tâm trạng của Chí Phèo từ khi gặp Thị Nở cho đến khi kết thúc cuộc đời, Nam Cao đã thể hiện cái nhìn hiện thực sắc sảo và sự cảm thông sâu sắc với khát vọng lương thiện của con người trong xã hội cũ.&nbsp;</div><div><strong><br>&nbsp;<br></strong><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-27 04:59:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847207699</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vấn đề 5: Cách kết thúc truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao</title>
         <author>6200633928</author>
         <link>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847207896</link>
         <description><![CDATA[<div><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>1. </strong>Trong tác phẩm “Chí Phèo”, Nam Cao đã kết thúc như sau: <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; “<em>Và nhớ lại những lúc năn nằm với hắn, thị đã nhìn trộm bà cô, rồi nhìn nhanh xuống bụng: <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Nói dại, nếu mình chửa, giờ hắn chết rồi, thì làm ăn thế nào?<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng người qua lại…</em>”<br><strong>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 2.</strong> <em>Cách kết thúc này đã bộc lộ sự hạn chế của tác phẩm.<br></em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Do chưa nắm được chân lí cách mạng, chưa thấy được khả năng đổi mới của người lao động nghèo khổ và triển vọng của xã hội, nên các nhà văn hiện thực phê phán nói chung, Nam Cao nói riêng thường có cái nhìn bi quan về đời sống. Một chị Dậu đẹp người đẹp nết và tiềm tàng sức sống mãnh liệt mà kết thúc tác phẩm cũng phải “chạy ra ngoài trời, trời tối đen như mực, như cái tiền đồ của chị” (<em>Tắt đèn</em>, Ngô Tất Tố).&nbsp; Một anh Pha đã dám dùng đòn càn phang vào đầu Nghị Lại mà kết cục cũng phải rơi vào “Bước đường cùng” và tương lại là một cái nhà tù tăm tối - (<em>Bước đường cùng</em>, Nguyễn Công Hoan).<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Cách kết thúc vòng tròn khép kín của văn học hiện thực phê phán rõ ràng khác với cách kết thúc trong tác&nbsp; phẩm văn học cách mạng về sau này như “Vợ chồng A Phủ” (Tô Hoài),&nbsp; “Vợ nhặt” (Kim Lân). Các nhà văn cách mạng đã chỉ ra được con đường sống cho người nông dân và khẳng định một quy luật: khi rơi vào tình trạng cùng đường thì họ sẽ hướng tới cách mạng.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>3.</strong> Kết thúc tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao đầy ám ảnh không chỉ tạo nên một kiểu kết thúc khép kín, đầu cuối tương ứng mà còn để lại một nỗi day dứt và bi thương trong lòng độc giả.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - “Cái lò gạch cũ” đầu tác phẩm là nơi mở đầu một số phận, một kiếp người đau khổ đầy bi kịch thương tâm. Hình ảnh “cái lò gạch cũ” ở cuối tác phẩm không phải là một hình ảnh thực mà là một hình ảnh tưởng tượng nói lên rằng: Rất có thể từ cái lò gạch cũ ấy, thị Nở lại cho ra đời một Chí Phèo con ngỗ ngược hơn bố nó để nối nghiệp. Điều ấy chưa có gì đảm bảo, nhưng có điều chắc chắn rằng chừng nào còn tồn tại xã hội “người ăn thịt người”, thì chừng ấy còn tồn tại hiện tượng Chí Phèo”. Nghĩa là Chí Phèo chết, nhưng hiện tượng Chí Phèo<sup>(</sup><a href="#_ftn1"><sup>[1]</sup></a><sup>)</sup> chưa chấm dứt.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>4.</strong> Cách kết thúc truyện làm toát lên giá trị hiện thực sâu sắc của tác phẩm. Qua chi tiết này, Nam Cao lúc đó hình như cảm thấy số phận người nông dân cứ rơi vào một vòng luẩn quẩn không lối thoát.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <em>Kết luận:</em> Văn hào Ban-dắc từng nói: “Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn”. Chi tiết là lá, hình tượng là cành. Hiểu như vậy, chúng ta thấy chi tiết độc đáo và giàu ý nghĩa thẩm mĩ nói trên đã dệt nên màu sắc cho hình tượng Chí Phèo và góp phần làm nên sắc xanh ngời cho tác phẩm của Nam Cao mãi với thời gian.<br><br></div><div><br><br><sup>([1]) </sup>&nbsp;<em>Hiện tượng Chí Phèo là hiện tượng những người nông dân lao động lương thiện bị đẩy vào con đường tha hóa, lưu manh hóa và khi ý thức nhân phẩm trở về thì lại bị xã hội lạnh lùng cự tuyệt, phải tìm đến cái chết thảm thương.</em></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-27 04:59:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847207896</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vấn đề 6: Hình ảnh nước mắt của nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao </title>
         <author>6200633928</author>
         <link>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847208071</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;&nbsp;</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>1.</strong> Với Nam Cao, giọt nước mắt là hiện thân của tình người, những giọt tính người trong trẻo nhất. Nhà văn từng quan niệm: "nước mắt là miếng kính biến hình vũ trụ". Khi nhìn con người bằng đôi mắt yêu thương và khi con người còn biết yêu thương, thế giới sẽ tốt đẹp hơn rất nhiều.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>2.</strong> Phát hiện và miêu tả nước mắt trên gương mặt Chí Phèo là sự phát hiện và khẳng định bản chất người trong kẻ bị coi là quỷ dữ - nỗi kinh hoàng của cả làng Vũ Đại. Trong cuộc đời Chí, Nam Cao miêu tả nhiều cơn say, nhiều tiếng chửi nhưng hình ảnh nước mắt chỉ xuất hiện một lần. Để chuẩn bị cho hình ảnh này xuất hiện, nhà văn miêu tả rất chi tiết những đổi thay trong diễn biến tâm trạng nhân vật.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Sau cuộc gặp gỡ với thị Nở, những suy nghĩ, cảm giác của một con người bắt đầu trở lại trong Chí: anh thấy yêu cuộc sống, thấy sợ rượu, thấy nhớ quá khứ, mơ tưởng tương lai. "Hắn bâng khuâng như tỉnh dậy sau một cơn say rát dài".<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Tỉnh dậy, Chí Phèo cảm thấy mình già, cô độc và "buồn thay cho cuộc đời", hắn vẩn vơ suy nghĩ đến khóc đc mất.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Bát cháo hành của thị Nở chính là nhân tố làm xuất hiện nước mắt Chí Phèo. Nam Cao không khẳng định mà đoán định: "hắn thấy mắt hình như ươn ướt". Ngay sau cảm giác ấy là bước ngoặt về nhận thức và trong cuộc đời Chí Phèo: hắn suy nghĩ về con đường mình đã đi và con đường mình sẽ đi, hắn muốn quay về làm người lương thiện, hắn trở nên hiền lành "giống như bản tính của hắn ngày thường bị lấp đi".<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>3.</strong> Chi tiết nước mắt Chí Phèo giống như tấm bản lề khép mở hai tâm trạng, hai giai đoạn của cuộc đời nhân vật: nửa trước cuộc đời là u mê, nửa sau là sự thức tỉnh của nhân tính, quyết không chấp nhận sống lại cuộc đời một con quỷ dù cho có phải trả giá bằng cái chết. Chi tiết này mặc dù không được Nam Cao miêu tả cụ thể nhưng nó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tác phẩm.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Đưa đến người đọc hình ảnh một Chí Phèo không phải chỉ biết <em>rạch mặt ăn vạ</em> mà còn có lúc <em>mắt hình như ươn ướt</em>, Nam Cao muốn khẳng định ngay cả những con người tưởng chừng đã bị huỷ hoại đến tận cùng nhân hình, nhân tính vẫn tồn tại cảm xúc và khát vọng rất "người". Tình thương sẽ làm bản chất tốt đẹp ấy toả sáng. Hình ảnh nước mắt Chí Phèo là sự cộng hưởng của những trái tim yêu thương: trái tim đầy trắc ẩn của Nam Cao (phát hiện và khẳng định), trái tim tin yêu không toan tính của thị Nở (khơi dậy và thắp sáng), trái tim khao khát muốn làm hoà với mọi người của Chí Phèo.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-27 04:59:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847208071</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Làng Vũ Đại ngày ấy</title>
         <author>6200633928</author>
         <link>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847208498</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?v=2Y--PiAdEb8" />
         <pubDate>2021-10-27 05:00:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/6200633928/eepwtr78ke6rer6i/wish/1847208498</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
