<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title>Chân dung 89 nhà văn Việt Nam hiện đại by Quốc Trọng Biện</title>
      <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs</link>
      <description>Giới thiệu tổng quan về những nhà thơ Việt Nam hiện đại (từ năm 1945)</description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2025-09-21 08:09:01 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2026-03-26 16:00:17 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url></url>
      </image>
      <item>
         <title>Đôi nét về thơ 30 năm chiến tranh cách mạng (1945 - 1975)</title>
         <author>trongtruongthanhan</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595621007</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://daihoctantrao.edu.vn/khoa-hoc-cong-nghe/doi-net-ve-tho-30-nam-chien-tranh-cach-mang-1945-1975!-900.html" />
         <pubDate>2025-09-21 09:01:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595621007</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thơ Việt Nam 1945-1985</title>
         <author>trongtruongthanhan</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595625553</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://www.thivien.net/collections/Th%C6%A1-Vi%E1%BB%87t-Nam-1945-1985-1985/group-KaNYnp6h8Ls8wIrr_KmiIw" />
         <pubDate>2025-09-21 09:09:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595625553</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>trongtruongthanhan</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595627438</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://vanvn.vn/dien-mao-van-hoc-viet-nam-tu-1945-1975-nhin-tu-thi-phap-the-loai/" />
         <pubDate>2025-09-21 09:13:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595627438</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Chính hữu nhà thơ của người lính</title>
         <author>tranhuy87660</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595815476</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Tiểu sử</strong></p><p>Chính Hữu (1926 – 2007) tên thật là Trần Đình Đắc, quê ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.</p><p>Ông nguyên là Đại tá, Phó cục trưởng cục Tuyên huấn thuộc Tổng cục chính trị, Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Phó tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam.</p><p><br></p><p>Ông học tú tài ở Hà Nội trước cách mạng tháng Tám.</p><p>Năm 1946, ông gia nhập Trung đoàn Thủ Đô và hoạt động trong quân đội suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ.</p><p><strong>Sự nghiệp sáng tác                               </strong><a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://m.loigiaihay.com/soan-bai-dong-chi-sieu-ngan-a71233.html">&nbsp;Soạn bài Đồng chí siêu ngắn</a></p><p> Tập thơ&nbsp;<em>Đầu súng trăng treo</em>&nbsp;(1966) là tác phẩm chính của ông.</p><p>Thơ ông không nhiều nhưng lại có nhiều bài đặc sắc, cảm xúc dồn nén, ngôn ngữ và hình ảnh chọn lọc, hàm súc</p><p><strong>Phong cách sáng </strong></p><p>Phong cách sáng tác của Chính Hữu nổi bật với sự giản dị, mộc mạc trong ngôn ngữ, hình ảnh, nhưng lại giàu cảm xúc và sức gợi.&nbsp;Thơ ông có sự tinh lọc, cô đúc trong từng chi tiết, thể hiện cái nhìn sâu sắc về người lính và chiến tranh qua hai cuộc kháng chiến.&nbsp;</p><p> </p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/39fa00405bc61e1000edd050d3a39579/hay_gioi_thieu_ve_nha_tho_chinh_huu_va_bai_tho_dong_chi.jpg" />
         <pubDate>2025-09-21 13:56:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595815476</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>lthu19217</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595828089</link>
         <description><![CDATA[<p>Tố Hữu (1920 – 2002), tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, quê ở Thừa Thiên – Huế, là một trong những nhà thơ lớn của văn học Việt Nam hiện đại. Ông vừa là nhà thơ, vừa là nhà hoạt động cách mạng, gắn bó cả đời với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.</p><p><br></p><p>-Sự nghiệp sáng tác:</p><p>Tố Hữu đã sáng tác nhiều bài thơ cổ vũ tinh thần chiến sĩ và nhân dân trong hai cuộc kháng chiến. Ông được xem là "ngọn cờ chiến đấu của thơ ca cách mạng Việt Nam" và có công lớn trong việc xây dựng nền thơ ca cách mạng. </p><p><br></p><p>-Tác phẩm tiêu biểu:</p><p>Từ ấy (1937-1946), Việt Bắc (1946-1954) Các bài thơ khác như Lượm, Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, Từ Cu-ba, Gió lộng, Máu và hoa. </p><p><br></p><p>-Phong cách sáng tác:</p><p>Phong cách thơ Tố Hữu mang đậm tính trữ tình – chính trị, kết hợp hài hòa giữa cảm hứng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Ông có biệt tài đưa lý tưởng cách mạng, tinh thần thời đại vào thơ một cách tự nhiên, giàu cảm xúc, dễ nhớ, dễ thuộc, gần gũi như lời tâm tình. Qua thơ ông, hình tượng đất nước, nhân dân, người chiến sĩ cách mạng hiện lên vừa bi tráng, vừa chan chứa tình cảm.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/b5188cbfadb05060ad6344d67b00ecd4/images__5_.jpg" />
         <pubDate>2025-09-21 14:05:59 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595828089</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595831158</link>
         <description><![CDATA[<p>Huy Cận (1919 – 2005), tên thật là Cù Huy Cận, quê ở Hà Tĩnh, là một trong những nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại. Ông sớm nổi tiếng từ phong trào Thơ mới với tập thơ Lửa thiêng (1940), sau này còn giữ nhiều trọng trách trong bộ máy Nhà nước nhưng vẫn bền bỉ cống hiến cho thi ca.</p><p><br></p><p>Sự nghiệp sáng tác của Huy Cận có thể chia thành hai giai đoạn rõ rệt. Trước Cách mạng tháng Tám 1945, thơ ông mang đậm nỗi buồn vũ trụ, nỗi sầu nhân thế, thể hiện tâm trạng cô đơn của con người nhỏ bé trước vũ trụ bao la. Sau Cách mạng, giọng thơ Huy Cận thay đổi rõ rệt: trở nên tươi sáng, gắn bó với cuộc đời, với đất nước và con người lao động. Những tập thơ tiêu biểu có Lửa thiêng, Trời mỗi ngày lại sáng, Đất nở hoa, Bài thơ cuộc đời…</p><p><br></p><p>Phong cách nghệ thuật của Huy Cận giàu chất suy tưởng và cảm hứng vũ trụ. Ông thường viết những vần thơ chan chứa triết lý, mở ra không gian rộng lớn của trời, biển, sông, núi… nhưng đồng thời cũng gắn với tâm hồn con người Việt Nam. Nếu trước Cách mạng, thơ ông là nỗi buồn “sầu nhân thế”, thì sau Cách mạng lại là niềm vui chan hòa cùng đất nước.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/ef06a2625c26cb200c1a14d7eecaea0f/images__2_.jpg" />
         <pubDate>2025-09-21 14:09:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595831158</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nữ sĩ của tình yêu-Xuân Quỳnh</title>
         <author>trangmai120508</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595831569</link>
         <description><![CDATA[<p>Tên thật: Nguyễn Thị Xuân Quỳnh</p><p>	•	Sinh – mất: 6/10/1942 tại La Khê, Hà Đông (Hà Nội) – mất ngày 29/8/1988 trong một vụ tai nạn giao thông tại Hải Dương.</p><p>	•	Cuộc đời: Mồ côi mẹ từ nhỏ, cha công tác xa, Xuân Quỳnh sống cùng bà nội. Năm 1960, chị gia nhập Đoàn văn công nhân dân Trung ương, sau đó học Trường viết văn Nguyễn Du.</p><p>	•	Sự nghiệp: Là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trẻ thời chống Mỹ. Thơ Xuân Quỳnh giàu cảm xúc nữ tính, chân thành, gắn với tình yêu, hạnh phúc gia đình, khát vọng đời thường (nổi bật: <em>Sóng</em>, <em>Thuyền và biển</em>, <em>Thơ tình cuối mùa thu</em>…).</p><p>	•	Gia đình: Chồng là nhà viết kịch Lưu Quang Vũ, con trai là Lưu Quỳnh Thơ. Cả ba cùng qua đời trong vụ tai nạn năm 1988.</p><p><strong>	</strong>•	Vinh danh: Năm 2017, Xuân Quỳnh được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật</p><p><br/></p><p>Sự nghiệp: Xuân Quỳnh để lại nhiều tập thơ nổi tiếng như <em>Chồi biếc</em> (1963), <em>Hoa dọc chiến hào</em> (1968), <em>Lời ru trên mặt đất</em> (1978), <em>Tự hát</em> (1984)… với những thi phẩm đặc sắc: <em>Sóng</em>, <em>Thuyền và biển</em>, <em>Thơ tình cuối mùa thu</em>… Chị từng là diễn viên múa Đoàn văn công nhân dân Trung ương, sau đó chuyển sang sáng tác và nhanh chóng khẳng định vị trí trên văn đàn</p><p><br/></p><p>Phong cách sáng tác: Thơ Xuân Quỳnh giàu cảm xúc nữ tính, chân thành, dung dị mà sâu sắc, thường viết về tình yêu, hạnh phúc gia đình và những khát vọng đời thường. Giọng thơ tha thiết, khi hồn nhiên, trong trẻo, khi da diết, khắc khoải, để lại dấu ấn riêng trong nền thơ hiện đại Việt Nam</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/58d759bd2026b300611154aa869a5f21/Xuan_Quynh.jpg" />
         <pubDate>2025-09-21 14:10:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595831569</guid>
      </item>
      <item>
         <title>XUÂN DIỆU </title>
         <author>duyk8006</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595833986</link>
         <description><![CDATA[<p>• Tiểu sử</p><p>Xuân Diệu (1916 – 1985), tên khai sinh là Ngô Xuân Diệu, quê ở Hà Tĩnh, lớn lên tại Bình Định. Ông là một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới, đồng thời cũng là một cây bút xuất sắc trong nền văn học hiện đại Việt Nam. Với tài năng và sự cống hiến không ngừng, Xuân Diệu được mệnh danh là “ông hoàng thơ tình” của thi ca Việt Nam. Ông từng giữ nhiều trọng trách trong Hội Nhà văn Việt Nam và là đại biểu Quốc hội.</p><p><br/></p><p>• Sự nghiệp sáng tác văn học</p><p>Xuân Diệu bắt đầu sáng tác từ rất sớm, nổi bật từ phong trào Thơ mới những năm 1930 – 1945. Sau Cách mạng tháng Tám, ông tiếp tục sáng tác phục vụ kháng chiến và công cuộc xây dựng đất nước. Ngoài thơ, Xuân Diệu còn viết văn xuôi, phê bình văn học và dịch thuật, góp phần làm giàu thêm đời sống tinh thần của văn học Việt Nam hiện đại.</p><p><br/></p><p><strong>• Tác phẩm tiêu biểu</strong></p><p>Trước Cách mạng tháng Tám, Xuân Diệu nổi tiếng với tập <em>Thơ thơ</em> (1938) và <em>Gửi hương cho gió</em> (1945). Sau cách mạng, ông có nhiều tập thơ như <em>Ngọn quốc kỳ</em> (1945), <em>Mũi Cà Mau – Cầm tay</em> (1956), <em>Riêng chung</em> (1960), <em>Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ</em> (1968)… Ngoài ra, ông còn có nhiều tập phê bình nổi tiếng như <em>Các nhà thơ cổ điển Việt Nam</em>, <em>Công việc làm thơ</em>, cùng nhiều bản dịch văn học nước ngoài.</p><p><br/></p><p><strong>• Phong cách sáng tác</strong></p><p>Thơ Xuân Diệu giàu cảm xúc nồng nàn, luôn khao khát giao cảm với cuộc đời và tình yêu. Trước Cách mạng, thơ ông mang âm hưởng lãng mạn, tràn đầy tình yêu đôi lứa và khát vọng sống mãnh liệt. Sau Cách mạng, phong cách thơ của ông gắn bó với lý tưởng cách mạng, ca ngợi đất nước, nhân dân và cuộc sống mới. Thơ Xuân Diệu đặc biệt giàu nhạc điệu, hình ảnh tươi mới, thể hiện một tâm hồn yêu đời tha thiết và sáng tạo không ngừng.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/1b86519c26cd9029ec19453ce6370b14/Xuan_Dieu.jpg" />
         <pubDate>2025-09-21 14:12:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595833986</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Chế Lan Viên</title>
         <author>zxz9vjxbvx</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595836633</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>-Tiểu sử</strong></p><p>•Chế Lan Viên (1920 – 1989), tên khai sinh là Phan Ngọc Hoan, quê ở huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị. Ông lớn lên ở Bình Định và sớm bộc lộ năng khiếu văn chương, trở thành một trong những nhà thơ tiêu biểu của nền thơ ca Việt Nam hiện đại.</p><p><br></p><p><strong>-Sự nghiệp sáng tác văn học</strong></p><p>•Ngay từ năm 1937, khi mới 17 tuổi, Chế Lan Viên đã xuất bản tập thơ Điêu tàn và gây được tiếng vang lớn trong văn đàn. Sau Cách mạng tháng Tám, sự nghiệp sáng tác của ông gắn liền với cách mạng và dân tộc. Ngoài thơ, ông còn viết tiểu luận, phê bình, góp phần làm phong phú đời sống văn học.</p><p><br></p><p><strong>-Tác phẩm tiêu biểu</strong></p><p>•Những tập thơ nổi bật của Chế Lan Viên có thể kể đến như Điêu tàn (1937), Ánh sáng và phù sa (1960), Hoa ngày thường, chim báo bão (1967), Người đi tìm mặt (1971)… Ngoài ra, ông còn để lại nhiều tập tiểu luận và phê bình có giá trị.</p><p><br></p><p><strong>-Phong cách sáng tác</strong></p><p>•Thơ Chế Lan Viên đặc sắc ở chất trí tuệ và chiều sâu suy tưởng. Ông thường kết hợp cảm xúc với lý trí, đưa vào thơ những chiêm nghiệm mang tính triết lý, những phát hiện mới mẻ về con người và cuộc sống. Nếu Điêu tàn đậm màu sắc u uất, huyền bí thì sau Cách mạng, thơ ông lại bừng sáng niềm tin, khát vọng gắn bó với đất nước và nhân dân. Chính sự tìm tòi, đổi mới và sức suy tưởng mạnh mẽ đã tạo nên phong cách riêng không thể trộn lẫn của Chế Lan Viên.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/3f85813c2cb343bfa72bf2e1e03bdabf/che_lan_vien.png" />
         <pubDate>2025-09-21 14:15:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595836633</guid>
      </item>
      <item>
         <title>…</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595838697</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-09-21 14:17:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595838697</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595838765</link>
         <description><![CDATA[<p>Tiểu sử</p><p>– Lâm Thị Mỹ Dạ sinh ngày 18 tháng 9 năm 1949 tại huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình – mất ngày 6 tháng 7 năm 2023 tại Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.</p><p>– Học vấn: Học Trường viết văn Nguyễn Du (bà không học lên đại học vì vướng phải lý lịch cá nhân)</p><p>– Gia đình: cha của nhà thơ tên là Lâm Thanh, mẹ tên là Lý Thị Đấu, chồng bà là nhà văn nổi tiếng Hoàng Phủ Ngọc Tường, con gái đầu tên Dạ Thư, con gái thứ hai tên Hoàng Dạ Thi.</p><p><strong>Sự nghiệp</strong></p><p>– Nhà thơ làm việc tại Ty văn hóa Quảng Bình.</p><p>– Sau đó bà trở thành phóng viên, biên tập viên cho tạp chí Sông Hương (thuộc Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Thừa Thiên – Huế).</p><p>– Lâm Thị Mỹ Dạ là ủy viên Ban chấp hành Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên – Huế.</p><p>– Là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.</p><p>– Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa III.</p><p>– Ủy viên Hội đồng thơ, Hội Nhà văn Việt Nam khóa V.</p><p><strong>Tác phẩm</strong></p><p>– Trái tim sinh nở (thơ, 1974)</p><p>– Bài thơ không năm tháng (thơ, 1983)</p><p>– Danh ca của đất (truyện thiếu nhi, 1984)</p><p>– Nai con và dòng suối (truyện thiếu nhi, 1987)</p><p>– Phần thưởng muôn đời (truyện thiếu nhi, 1987)</p><p>– Hái tuổi em đầy tay (thơ, 1989)</p><p>– Nhạc sĩ Phượng Hoàng (truyện thiếu nhi, 1989)</p><p>– Mẹ và con (thơ, 1994)</p><p>– Đề tặng một giấc mơ (thơ, 1998)</p><p>– Cốm non (thơ, 2005)</p><p><br/></p><p><strong>Phong cách sáng tác</strong></p><p>Thơ của nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ có giọng điệu trong trẻo, hồn nhiên, nhân hậu và vui tươi, nhưng đôi khi, thơ của bà cũng mang đến sự nồng nàn, ý vị bằng cái vẻ rất nữ tính, bộc bạch niềm khát khao được vươn tới cái đẹp nhân ái, bao dung. Đồng thời bài thơ còn cất lên những tiếng nói đồng cảm đầy khẩn thiết trước số phận, tái hiện được chất thực của cuộc sống, ngôn ngữ giàu hình ảnh, sinh động được đúc kết từ những suy tư thầm kín, tâm hồn mong manh nhưng khắc khoải, ngông cuồng của người phụ nữ, nữ thi chắp bút viết từn nét trên trang thơ của mình.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-09-21 14:17:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595838765</guid>
      </item>
      <item>
         <title>..</title>
         <author>lenguyenkimngan20212022</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595839937</link>
         <description><![CDATA[<p>    Tiểu sử : Phạm Hổ (1926 – 2007), tên khai sinh là Phạm Văn Hổ, sinh ra tại An Nhơn, Bình Định. Ông là một trong những cây bút tiêu biểu của văn học thiếu nhi Việt Nam, từng là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1957 . </p><p>    Sự nghiệp sáng tác : Phạm Hổ dành phần lớn cuộc đời sáng tác thơ, truyện, đồng dao cho thiếu nhi với ngôn ngữ giản dị, giàu cảm xúc. Ông còn dịch nhiều tác phẩm thiếu nhi nước ngoài.Ông được trao Giải thưởng Nhà nước (2001) và truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh (2012).</p><p>    Tác phẩm tiêu biểu : Chú bê ngoan, Em yêu nhà em, Bác Hồ của em, …</p><p>    Phong cách sáng tác : Trong sáng, hồn nhiên, giàu hình ảnh, mang đậm chất dân gian và tính giáo dục, nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ.</p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/ab5b4e318c744a91909d25bee4e2b319/Pham_Ho.png" />
         <pubDate>2025-09-21 14:18:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595839937</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tên khai sinh: Hoàng Thị Ý Nhi</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595841018</link>
         <description><![CDATA[<p>• Sinh năm: 1944</p><p>• Quê quán: Thành phố Hà Nội, nhưng tuổi thơ và phần lớn cuộc đời bà gắn bó với Quảng Nam – Đà Nẵng.</p><ul><li><p>Tốt nghiệp Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQG Hà Nội).</p></li><li><p>Sau khi ra trường, bà làm việc tại Báo Văn nghệ Giải phóng miền Trung Trung Bộ, sau đó về Tạp chí Văn nghệ Quân đội và nhiều cơ quan báo chí – văn nghệ khác.</p></li><li><p>Bà từng là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam và Chủ tịch Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh.</p><ul><li><p>Ý Nhi bắt đầu viết từ cuối những năm 1960, nổi bật từ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.</p></li><li><p>Thơ của bà giàu chiêm nghiệm, nữ tính, tinh tế, hướng nhiều đến thế giới nội tâm của người phụ nữ trong chiến tranh và hậu chiến.</p></li></ul><p>Một số tập thơ tiêu biểu:</p><ul><li><p>Người đàn bà ngồi đan (1985)</p></li><li><p>Cây trong phố chờ trăng (1983)</p></li><li><p>Gương mặt (1991)</p></li><li><p>Ngày thường (1998)</p></li><li><p>Đêm – đối thoại (2000)</p></li></ul><p><strong>Phong cách thơ</strong></p><ul><li><p>Trữ tình, sâu lắng, đề cao đời sống tâm hồn và thân phận người phụ nữ.</p></li><li><p>Thơ bà giàu chất triết lý, suy tưởng, thường giản dị về ngôn từ nhưng gợi mở nhiều tầng ý nghĩa.</p></li></ul><p><strong>Giải thưởng</strong></p><ul><li><p>Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật (2001).</p></li><li><p>Giải thưởng Văn học Đông Nam Á (SEA Write Award) của Thái Lan (2007) – một trong những nhà thơ nữ Việt Nam hiếm hoi nhận giải này.</p></li><li><p>Nhiều giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam và các tổ chức văn nghệ trong nước.</p></li><li><p>Bà là một trong số ít nhà thơ Việt được vinh danh bằng Giải thưởng Văn học Đông Nam Á, khẳng định vị trí quốc tế của thơ Việt Nam.</p></li></ul><p><br/></p><p><br/></p></li></ul><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-09-21 14:19:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595841018</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595842178</link>
         <description><![CDATA[<p>Văn Cao sinh năm 1923 tại Hải Phòng và ra đi năm 1995 tại Hà Nội. Người nghệ sĩ đa tài mang trong mình một tấm lòng son sắc với đất mẹ. Tuy không có nhiều tác phẩm văn xuôi như các nhà văn khác nhưng ông đã để lại dấu ấn mạnh mẽ qua những bài thơ như Suối Mơ và các tác phẩm hội họa. Người thi sĩ có phong cách sáng tác thơ văn hiện đại, giàu tính biểu nghĩa, khơi gợi sự suy ngẫm, cách sử dụng ngôn ngữ tinh tế, lãng mạn. Phần nhạc điệu được thay thế cho âm vang trong thơ khiến cho tác phẩm của ông trở nên độc đáo.Phong cách thơ của ông có thể gọi là sự chuyển mình từ vẻ lãng mạn, tinh tế, đậm chất phương Đông sang chủ nghĩa hiện thực và cuối cùng là thơ tượng trưng, giàu tính biểu trưng và triết lý.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-09-21 14:21:07 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595842178</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>kimtuyen0101001</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595842746</link>
         <description><![CDATA[<p>Quang Dũng (1921–1988), tên thật Bùi Đình Diệm, quê Đan Phượng (Hà Nội), là nhà thơ – nhạc sĩ – họa sĩ tài hoa. Ông từng là đại đội trưởng trong đoàn quân Tây Tiến, sau chuyển sang hoạt động văn nghệ. Di sản của ông nổi bật nhất ở thơ, với tác phẩm để đời Tây Tiến, cùng nhiều bài giàu cảm xúc quê hương xứ Đoài (Mắt người Sơn Tây, Đôi bờ…)</p><p>Phong cách sáng tác: lãng mạn, hào hùng, tài hoa, kết hợp hiện thực và mộng mơ, đậm hồn quê xứ Đoài. Ông là một trong những gương mặt tiêu biểu của thơ ca kháng chiến Việt Nam.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/380e22c736306313ff2e105d33024d44/Quangdung1.jpg" />
         <pubDate>2025-09-21 14:21:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595842746</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>tieul376</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595843245</link>
         <description><![CDATA[<p>Phan Thị Thanh Nhàn, sinh năm 1943 tại Hà Nội, là một nhà thơ, nhà báo, và cây bút truyện ngắn nổi tiếng của Việt Nam. Bà tốt nghiệp Khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.</p><p><br/></p><p>Bà bắt đầu làm thơ từ rất sớm và nhanh chóng khẳng định tên tuổi của mình trong giới văn học. Các tác phẩm của bà, đặc biệt là thơ, thường đi sâu vào những cảm xúc tinh tế, nhẹ nhàng và vẻ đẹp giản dị của cuộc sống. Một số tác phẩm tiêu biểu của bà bao gồm:</p><p>• Hương thầm: Bài thơ tình nổi tiếng, được nhiều thế hệ yêu mến.</p><p>• Em bé: Thơ thiếu nhi.</p><p>• Trái tim: Tập thơ.</p><p>• Thơ tuyển: Tập thơ.</p><p>• Chớp sáng: Truyện ngắn.  </p><p><br/></p><p>Phong cách sáng tác của Phan Thị Thanh Nhàn được biết đến với sự đằm thắm, sâu lắng nhưng cũng rất trữ tình và lãng mạn.</p><p>Lời thơ giàu cảm xúc và hình ảnh</p><p>Thơ của bà thường sử dụng ngôn từ mộc mạc, gần gũi nhưng lại chứa đựng những hình ảnh giàu sức gợi, đánh thức cảm xúc nơi người đọc.</p><p><br/></p><p>Bà thường viết về những đề tài gần gũi như tình yêu đôi lứa, tình cảm gia đình, tình bạn và vẻ đẹp của thiên nhiên. Các tác phẩm của bà không chỉ chạm đến trái tim người đọc bằng sự chân thành, mà còn khắc họa những nét đẹp của văn hóa và con người Việt Nam.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/b10fb913c5e08bb21de4784ebafba3d2/images__1_.jpg" />
         <pubDate>2025-09-21 14:22:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595843245</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>camly6322</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595843841</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Tiểu sử</strong></p><p>&nbsp;Lưu Trọng Lư sinh ngày 19 tháng 6 năm 1911 – mất ngày 10 tháng 8 năm 1991, tại Hà Nội, thọ 80 tuổi.</p><p>– Quê quán: làng Cao Lao Hạ, xã Hạ Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.</p><p>– Lưu Trọng Lư sinh ra trong một gia đình nho giáo làm quan.</p><p>– Học vấn: ông học trường tỉnh, rồi học ở Quốc học Huế đến năm thứ 3 và Hà Nội</p><p>-<strong>Sự nghiệp sáng tác văn học</strong></p><p>– Lưu Trọng Lư bỏ học đi dạy tư, viết văn, viết báo để kiếm sống.</p><p>– Năm 1932: Là một trong những nhà thơ khởi xướng và tích cực cổ vũ cho phong trào Thơ mới.</p><p>– Năm 1933 – 1934: Lưu Trọng Lư chủ trương mở Ngân Sơn tùng thư tại Huế.</p><p>– Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông tham gia vào Văn hóa cứu quốc ở Huế. Trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp, Lưu Trọng Lư đã tích cực hoạt động tuyên truyền, văn nghệ ở Bình Trị Thiên và Liên khu IV.</p><p>– Sau năm 1954, công tác ở Bộ Văn hóa và giữ chức vụ Tổng Thư ký Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam.</p><p>– Năm 1957: Trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.</p><p>-<strong>Tác phẩm tiêu biểu</strong></p><p><strong>– Thơ:&nbsp;</strong></p><p>+ Tiếng thu (1939), 52 bài</p><p>+Tỏa sáng đôi bờ (1959)</p><p>+ Người con gái sông Gianh (1966)</p><p>+ Từ đất này (1971)</p><p>+ Chị em (1973)</p><p>+ Bâng khuâng (1988)</p><p>…</p><p><strong>– Sân khấu:&nbsp;</strong></p><p>+ Nữ diễn viên miền Nam (cải lương)</p><p>+ Cây thanh trà (cải lương)</p><p>+ Xuân Vỹ Dạ (kịch nói)</p><p>+ Anh Trỗi (kịch nói)</p><p>+ Hồng Gấm, tuổi hai mươi tới rồi (kịch thơ,1973)</p><p>…</p><p><strong>– Văn xuôi:&nbsp;</strong></p><p>+ Người sơn nhân (tập truyện ngắn, 1933)</p><p>+ Những nét đan thanh (truyện ngắn, 1934)</p><p>+ Huyền Không động (truyện ngắn, 1935)</p><p>+ Cô Nguyệt (truyện ngắn, 1937)</p><p>+ Con đười ươi (truyện ngắn, 1938)</p><p>….</p><p><strong>Giải thưởng, vinh danh</strong></p><p>&nbsp;Lưu Trọng Lư &nbsp;đã được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 2000</p><p>-<strong>Phong cách sáng tác</strong></p><p>Lưu Trọng Lư là cây bút tài hoa, muôn màu của nền văn học Việt Nam. Nhà thơ cất chứa một tâm hồn lãng mạn, trữ tình, trong giai đoạn cách mạng, bức tranh của người nghệ sĩ tái hiện khung cảnh hiện thực phản chiếu từ chiều sâu nội tâm con người. Ông biết cách nắm bắt, diễn tả những khung bậc cảm xúc thông qua giai điệu hình ảnh, trong thơ của ông thường xuất hiện hình bóng của người phụ nữ, người mẹ tần tảo, giản dị, hay cô phụ chịu sự cô độc, nhớ thương chờ đợi người chồng nơi xa xôi, cách trở. Xuất phát từ hiện thực đời sống, Lưu Trọng Lư cóp nhặt, sáng tạo nên chất liệu riêng của bản thân mình, từ âm điệu tinh tế, nhịp nhàng, dịu dàng, trầm bổng, hòa vào ngôn từ độc đáo, sinh động, phong phú. Không gian trong áng văn của nhà thơ đều là không gian nghệ thuật thân quen, dòng sông, vườn, con đường,… và hơn hết mọi bức tranh tràn đầy màu sắc ấy đều chịu sự tác động của tâm trạng người thi sĩ. Chính vì sở hữu một tâm hồn đa sầu da cảm, tình yêu đất nước, quê hương, con người đã trỗi dậy trong những vần thơ của người nghệ sĩ tài hoa,</p><p>&nbsp;</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/a26d3f70d81dd155b5af34b366a3826e/luu_trong_lu_1.jpg" />
         <pubDate>2025-09-21 14:23:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595843841</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>dbao9673</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595845727</link>
         <description><![CDATA[<p>•Tiểu sử:Hồ Chí Minh tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung, sinh ngày 19/5/1890 tại Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An. Ông là người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh đạo cuộc đấu tranh giành độc lập cho Việt Nam.</p><p>• Sự Nghiệp Sáng Tác: Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh tụ chính trị mà còn là nhà thơ, nhà văn với nhiều tác phẩm nổi tiếng.</p><p>- Ông viết nhiều thể loại: thơ, truyện, bút ký.</p><p>- Sử dụng nhiều bút danh: Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh.</p><p>• Tác Phẩm Tiêu Biểu:"Nhật ký trong tù" (Ngục trung nhật ký): Tập thơ viết trong thời gian bị giam giữ.</p><p>• "Đường cách mệnh": Tác phẩm về lý luận cách mạng.</p><p>• "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến": Lời hiệu triệu lịch sử.</p><p>•Phong Cách Sáng Tác : Hồ Chí Minh nổi bật với:</p><p>- Giản dị, sâu sắc: Ngôn ngữ giản dị mà thấm đẫm tư tưởng.</p><p>- Tinh thần yêu nước: Tác phẩm thể hiện khát vọng độc lập, tự do.</p><p>- Tính nhân văn: Quan tâm đến con người, dân tộc.</p><p>- Kết hợp cổ điển và hiện đại: Thơ ông có sự hòa quyện.</p><p><br></p><p>Hồ Chí Minh là biểu tượng của tinh thần yêu nước, cách mạng và để lại di sản văn hóa, thơ ca quý giá cho Việt Nam.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/3a58094f80c4b00aa3ab1ac7fce546bd/119322_chu_tich_ho_chi_minh_doc_tuyen_ngon_doc_lap_anh_t_l_05340013.jpg" />
         <pubDate>2025-09-21 14:24:48 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595845727</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Đăng Khoa (sinh năm 1958) là nhà thơ, nhà báo, nhà văn Việt Nam. Ông nổi tiếng từ nhỏ với tập thơ &quot;Góc sân và khoảng trời&quot;. Thơ ông giàu hình ảnh, ngôn ngữ giản dị, trong sáng, thấm đượm tình yêu quê hương, đất nước, con người. Dù ở tuổi trưởng thành, thơ ông vẫn giữ được sự tinh tế và giàu cảm xúc, tiếp tục khẳng định vị thế của một trong những nhà thơ được nhiều thế hệ yêu mến.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595846893</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-09-21 14:26:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595846893</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595847255</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Tiểu sử</strong></p><p>– Lâm Thị Mỹ Dạ sinh ngày 18 tháng 9 năm 1949 tại huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình – mất ngày 6 tháng 7 năm 2023 tại Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.</p><p>– Học vấn: Học Trường viết văn Nguyễn Du (bà không học lên đại học vì vướng phải lý lịch cá nhân)</p><p>– Gia đình: cha của nhà thơ tên là Lâm Thanh, mẹ tên là Lý Thị Đấu, chồng bà là nhà văn nổi tiếng Hoàng Phủ Ngọc Tường, con gái đầu tên Dạ Thư, con gái thứ hai tên Hoàng Dạ Thi.</p><p><strong>Sự nghiệp</strong></p><p>– Nhà thơ làm việc tại Ty văn hóa Quảng Bình.</p><p>– Sau đó bà trở thành phóng viên, biên tập viên cho tạp chí Sông Hương (thuộc Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Thừa Thiên – Huế).</p><p>– Lâm Thị Mỹ Dạ là ủy viên Ban chấp hành Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên – Huế.</p><p>– Là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.</p><p>– Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa III.</p><p>– Ủy viên Hội đồng thơ, Hội Nhà văn Việt Nam khóa V.</p><p><strong>Tác phẩm</strong></p><p>– Trái tim sinh nở (thơ, 1974)</p><p>– Bài thơ không năm tháng (thơ, 1983)</p><p>– Danh ca của đất (truyện thiếu nhi, 1984)</p><p>– Nai con và dòng suối (truyện thiếu nhi, 1987)</p><p>– Phần thưởng muôn đời (truyện thiếu nhi, 1987)</p><p>– Hái tuổi em đầy tay (thơ, 1989)</p><p>– Nhạc sĩ Phượng Hoàng (truyện thiếu nhi, 1989)</p><p>– Mẹ và con (thơ, 1994)</p><p>– Đề tặng một giấc mơ (thơ, 1998)</p><p>– Cốm non (thơ, 2005)</p><p><strong>Phong cách sáng tác</strong></p><p>Thơ của nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ có giọng điệu trong trẻo, hồn nhiên, nhân hậu và vui tươi, nhưng đôi khi, thơ của bà cũng mang đến sự nồng nàn, ý vị bằng cái vẻ rất nữ tính, bộc bạch niềm khát khao được vươn tới cái đẹp nhân ái, bao dung. Đồng thời bài thơ còn cất lên những tiếng nói đồng cảm đầy khẩn thiết trước số phận, tái hiện được chất thực của cuộc sống, ngôn ngữ giàu hình ảnh, sinh động được đúc kết từ những suy tư thầm kín, tâm hồn mong manh nhưng khắc khoải, ngông cuồng của người phụ nữ, nữ thi chắp bút viết từn nét trên trang thơ của mình.</p><p>– Tuyển tập thơ và truyện thiếu nhi (2006)</p><p>– Hồn đầy hoa cúc dại (thơ, 2007)</p><p>– Khoảng trời – hố bom (thơ, 1972)</p><p>– Chuyện cổ nước mình (thơ , 1979)</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-09-21 14:26:43 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595847255</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hơi ấm bếp lửa từ Bằng Việt</title>
         <author>nn1484455</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595847547</link>
         <description><![CDATA[<p>Tiểu sử và sự nghiệp sáng tác</p><p>Bằng Việt tên khai sinh là Nguyễn Việt Bằng, sinh năm 1941 tại Hà Nội. Ông thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, vừa là nhà thơ, vừa là một trí thức gắn bó với công tác văn hóa. Ngoài sáng tác, Bằng Việt từng đảm nhận nhiều vị trí quan trọng trong Hội Nhà văn Việt Nam và Hội đồng Nhân dân Hà Nội.</p><p>Tác phẩm tiêu biểu</p><p>	•	Tập thơ Hương cây – Bếp lửa (1968, in chung với Lưu Quang Vũ) đánh dấu tên tuổi, đặc biệt bài Bếp lửa trở thành tác phẩm quen thuộc trong chương trình phổ thông.</p><p>	•	Các tập thơ khác: Đất sau mưa (1977), Khoảng cách giữa lời (1984), Nghĩ tiếp về những bài ca (1991), Thơ trữ tình (1995), Thơ Bằng Việt (2001)…</p><p>Phong cách sáng tác</p><p>Thơ Bằng Việt giàu chất suy tư và cảm xúc đời thường. Ông thường viết về ký ức tuổi thơ, tình cảm gia đình, tình yêu quê hương đất nước với giọng điệu nhẹ nhàng, trong sáng. Hình ảnh thơ dung dị mà giàu sức gợi, thể hiện tâm hồn trí thức luôn tìm kiếm sự hài hòa giữa quá khứ và hiện tại, giữa riêng tư và cộng đồng.</p><p>Bằng Việt được đánh giá là một trong những gương mặt thơ tiêu biểu của thế hệ chống Mỹ, với giọng thơ nhân ái, trí tuệ, mang vẻ đẹp bền vững của tình người và niềm tin vào cuộc sống.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/9f71f68a6187ddc5126805343c8c96ad/PkB60XjX.jpg" />
         <pubDate>2025-09-21 14:27:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595847547</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>nguyentranthanhngan1910</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595847962</link>
         <description><![CDATA[<p>Lưu Quang Vũ (1948 – 1988), sinh tại Phú Thọ trong thời kỳ tản cư, quê gốc Quảng Nam – Đà Nẵng, là con trai của nhà viết kịch Lưu Quang Thuận và bà Vũ Thị Khánh. Ông sớm bộc lộ năng khiếu nghệ thuật, vừa làm thơ, viết kịch, vừa từng là họa sĩ minh họa báo chí. Năm 1968, tập thơ Hương cây – Bếp lửa (in chung với Bằng Việt) đã khẳng định tên tuổi Lưu Quang Vũ, sau đó ông để lại nhiều bài thơ tình say đắm như Anh có thể sống thiếu em, Thời gian trắng. Từ cuối thập niên 1970 đến những năm 1980, trong bối cảnh đất nước bước vào công cuộc đổi mới, ông tập trung sáng tác kịch, để lại hơn 50 vở, tiêu biểu là Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Tôi và chúng ta, Lời thề thứ 9…, phản ánh những vấn đề nóng bỏng của xã hội, khẳng định khát vọng dân chủ, công bằng và niềm tin vào cái thiện. Thơ ông giàu cảm xúc, kịch của ông giàu tính thời sự, có sức lay động mạnh mẽ đối với công chúng, khiến sân khấu kịch Việt Nam thập niên 1980 như được “hồi sinh”. Ngày 29/8/1988, trên đường đi công tác, Lưu Quang Vũ, vợ ông – nhà thơ Xuân Quỳnh – và con trai Lưu Quỳnh Thơ đã qua đời trong một vụ tai nạn giao thông thảm khốc, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho giới văn nghệ và công chúng. Với những đóng góp xuất sắc, năm 2000, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học – Nghệ thuật.</p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-09-21 14:27:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595847962</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>dothanhquyen13</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595849411</link>
         <description><![CDATA[<p>Tóm tắt về nhà thơ Thanh Hải</p><p>	•	Tiểu sử: Thanh Hải (1930 – 1980), tên thật Phạm Bá Ngoãn, quê Thừa Thiên – Huế. Ông tham gia cách mạng và hoạt động văn nghệ ở chiến khu Bình – Trị – Thiên, là gương mặt tiêu biểu của văn nghệ miền Nam trong kháng chiến.</p><p>	•	Sự nghiệp sáng tác: Bắt đầu làm thơ từ kháng chiến chống Pháp, nổi bật trong kháng chiến chống Mỹ. Ông góp phần đặt nền móng cho phong trào văn nghệ giải phóng miền Nam.</p><p>	•	Tác phẩm tiêu biểu:</p><p>	•	Những đồng chí trung kiên (1962)</p><p>	•	Huế mùa xuân (1970)</p><p>	•	Dấu võng Trường Sơn (1972)</p><p>	•	Khúc hát quê hương (1974)</p><p>	•	Mưa xuân đất này (1978)</p><p>	•	Một khúc ca (1981 – sau khi mất)</p><p>	•	Đặc biệt: “Mùa xuân nho nhỏ” (1980) – tác phẩm để đời.</p><p>	•	Phong cách sáng tác:</p><p>	•	Giản dị, mộc mạc, trong sáng, gần gũi với ca dao, dân ca.</p><p>	•	Trữ tình gắn với chính trị, chan chứa tình yêu quê hương, đất nước.</p><p>	•	Giàu âm hưởng dân ca xứ Huế, tha thiết, chân thành.</p><p>	•	Thể hiện khát vọng sống đẹp, được cống hiến cho Tổ quốc và nhân dân.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4413304063/77f1bc17a3abd6626fb547c9307c8b36/IMG_3521.jpeg" />
         <pubDate>2025-09-21 14:29:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595849411</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595856965</link>
         <description><![CDATA[<p>.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-09-21 14:37:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595856965</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Khoa Điềm tình yêu đất nước</title>
         <author>tranthimyduyen3934</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595861260</link>
         <description><![CDATA[<p>Tiểu sử: Ông (sinh năm 1943) là một nhà thơ và chính trị gia. Ông tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội, sau đó vào chiến trường miền Nam hoạt động và sáng tác. Ông từng là Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin.</p><p>​Tác phẩm tiêu biểu: Nổi bật nhất là trường ca "Mặt đường khát vọng" và đoạn trích nổi tiếng "Đất Nước". Ngoài ra còn có các tập thơ như "Đất ngoại ô" và "Ngôi nhà có ngọn lửa ấm".</p><p>​Phong cách sáng tác:</p><p>​Giàu chất suy tư và chính luận: Thơ ông không chỉ đơn thuần là cảm xúc mà còn chứa đựng những suy ngẫm sâu sắc về đất nước, nhân dân.</p><p>​Kết hợp hài hòa giữa hiện đại và truyền thống: Ông sử dụng các chất liệu văn hóa dân gian, lịch sử để làm nổi bật những tư tưởng mới mẻ của thời đại.</p><p>​Giọng điệu tâm tình, thủ thỉ: Ông viết về những vấn đề lớn bằng một giọng thơ nhỏ nhẹ, gần gũi, tạo cảm giác thân mật với người đọc.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/93bce3a11c9e322a9878f6f5eee3508a/images2307789_13A.jpg" />
         <pubDate>2025-09-21 14:42:04 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595861260</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>nganhue250308</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595862515</link>
         <description><![CDATA[<p><br/></p><p><br/></p><p>– Lâm Thị Mỹ Dạ sinh ngày 18 tháng 9 năm 1949 tại huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình – mất ngày 6 tháng 7 năm 2023 tại Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. </p><p> – Học vấn: Học Trường viết văn Nguyễn Du (bà không học lên đại học vì vướng phải lý lịch cá nhân)  </p><p>– Gia đình: cha của nhà thơ tên là Lâm Thanh, mẹ tên là Lý Thị Đấu, chồng bà là nhà văn nổi tiếng Hoàng Phủ Ngọc Tường, con gái đầu tên Dạ Thư, con gái thứ hai tên Hoàng Dạ Thi.</p><p> <strong>Sự nghiệp</strong> </p><p>– Nhà thơ làm việc tại Ty văn hóa Quảng Bình.  </p><p>– Sau đó bà trở thành phóng viên, biên tập viên cho tạp chí Sông Hương (thuộc Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Thừa Thiên – Huế). </p><p> – Lâm Thị Mỹ Dạ là ủy viên Ban chấp hành Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên – Huế.  – Là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. </p><p> – Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa III. </p><p> – Ủy viên Hội đồng thơ, Hội Nhà văn Việt Nam khóa V.  </p><p><strong>Tác phẩm</strong> </p><p>– Trái tim sinh nở (thơ, 1974) </p><p>– Bài thơ không năm tháng (thơ, 1983) </p><p> – Danh ca của đất (truyện thiếu nhi, 1984)  – Nai con và dòng suối (truyện thiếu nhi, 1987)  </p><p>– Phần thưởng muôn đời (truyện thiếu nhi, 1987) </p><p> – Hái tuổi em đầy tay (thơ, 1989) </p><p> – Nhạc sĩ Phượng Hoàng (truyện thiếu nhi, 1989) </p><p> – Mẹ và con (thơ, 1994)  – Đề tặng một giấc mơ (thơ, 1998) </p><p> – Cốm non (thơ, 2005)  </p><p>– Tuyển tập thơ và truyện thiếu nhi (2006)  – Hồn đầy hoa cúc dại (thơ, 2007)</p><p>  – Khoảng trời – hố bom (thơ, 1972) </p><p> – Chuyện cổ nước mình (thơ , 1979)</p><p> <strong>Phong cách sáng tác</strong> </p><p>Thơ của nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ có giọng điệu trong trẻo, hồn nhiên, nhân hậu và vui tươi, nhưng đôi khi, thơ của bà cũng mang đến sự nồng nàn, ý vị bằng cái vẻ rất nữ tính, bộc bạch niềm khát khao được vươn tới cái đẹp nhân ái, bao dung. Đồng thời bài thơ còn cất lên những tiếng nói đồng cảm đầy khẩn thiết trước số phận, tái hiện được chất thực của cuộc sống, ngôn ngữ giàu hình ảnh, sinh động được đúc kết từ những suy tư thầm kín, tâm hồn mong manh nhưng khắc khoải, ngông cuồng của người phụ nữ, nữ thi chắp bút viết từn nét trên trang thơ của mình.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/84a220d81c81557bc163c8d835f00363/7_34_.jpg" />
         <pubDate>2025-09-21 14:43:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595862515</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>nguyenkimngann2811</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595872305</link>
         <description><![CDATA[<p>Hoài Vũ, tên thật là <strong>Nguyễn Hữu Vũ</strong>, sinh năm <strong>1930</strong> tại tỉnh <strong>Quảng Ngãi</strong>, là một nhà thơ, nhà văn nổi tiếng trong nền văn học hiện đại Việt Nam. Ông bắt đầu hoạt động văn nghệ từ thời kháng chiến chống Pháp, gắn bó sâu sắc với vùng đất Nam Bộ và đã để lại nhiều dấu ấn trong thơ ca thời kỳ kháng chiến.</p><p>Sự nghiệp văn học của Hoài Vũ gắn liền với dòng văn học yêu nước, cách mạng. Ông là tác giả của nhiều bài thơ, truyện ngắn, bút ký phản ánh sinh động đời sống chiến đấu, lao động của nhân dân miền Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Tác phẩm của ông thường đậm chất trữ tình, giàu cảm xúc và thể hiện tinh thần lạc quan, yêu đời giữa hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt.</p><p><strong>Tác phẩm tiêu biểu</strong> </p><p>của Hoài Vũ phải kể đến bài thơ <strong>"Nhớ con sông quê hương"</strong>, một thi phẩm nổi bật viết trong thời kỳ kháng chiến, thể hiện tình yêu quê hương da diết qua hình tượng con sông gắn bó với tuổi thơ và ký ức. Bài thơ đã được nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu phổ nhạc thành ca khúc nổi tiếng, sống mãi trong lòng công chúng.</p><p><strong>Phong cách sáng tác</strong> </p><p>của Hoài Vũ giàu chất trữ tình, lãng mạn nhưng cũng rất gần gũi, bình dị. Thơ ông thường sử dụng hình ảnh thiên nhiên quen thuộc như dòng sông, cánh đồng, cơn mưa… để diễn tả những tình cảm sâu lắng, đặc biệt là tình yêu quê hương và lòng thủy chung với đất nước.</p><p>Hoài Vũ là một trong những nhà thơ tiêu biểu của văn học kháng chiến miền Nam, để lại nhiều dấu ấn sâu sắc trong lòng người đọc qua ngôn từ mộc mạc mà giàu cảm xúc.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/7081b3f831af3bc22f5bfb9719a12802/1433129430_vnla.jpg" />
         <pubDate>2025-09-21 14:53:31 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595872305</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>legialinh131</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595885642</link>
         <description><![CDATA[<p>Nguyễn Thị Hồng Ngát là nhà thơ, biên kịch, nhà quản lí điện ảnh, bà từng giữ chức vụ Giám đốc Hãng phim truyện Việt Nam và Phó Cục trưởng Cục Điện ảnh. Bà sinh ngày 30 tháng 10 năm 1950 tại Hưng yên, bà bắt đầu sự nghiệp từ năm 15 tuổi tại trường Sân khấu Điện ảnh, làm diễn viên , biên kịch hát chèo và du học, tốt nghiệp tại Liên Xô. Tác phẩm thơ tiêu biểu của bà là “Trái cam vàng”, “Nhớ và khát”, “Thơm hương mái tóc”,… Ngoài thơ , bà còn viết 4 tập văn xuôi và là tác giả của 9 kịch bản sân khấu và 10 kịch bản điện ảnh. Văn phong của nhà thơ Nguyễn Thị Hồng Ngát thường thể hiện sự lắng động trong tâm hồn, sự chiêm nghiệm về cuộc đời, thời gian và nỗi nhớ quê hương, gia đình, đặc biệt là người mẹ. Bà sử dụng ngôn ngữ giản dị , mộc mạc, không quá cầu kì hay sử dụng nhiều ẩn dụ phức tạp nhưng hồn thơ của bà lại miêu tả hết sức tinh tế và thiết tha và đằm thắm. </p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/e79dbfb473051ecdb18620788cfcd060/images.jpg" />
         <pubDate>2025-09-21 15:07:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595885642</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>ltrongtan739</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595894124</link>
         <description><![CDATA[<p>Phạm Tiến Duật (1941 - 2007) là nhà thơ Việt Nam, được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật vào năm 2012 và được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật vào năm 2001.Phạm Tiến Duật đóng góp chủ yếu là tác phẩm thơ, phần lớn thơ được sáng tác trong thời kì ông tham gia quân ngũ. Ông chủ yếu viết về hình ảnh thế hệ trẻ trong cuộc kháng chiến chống Mĩ qua các hình tượng người lính và cô thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn. Thơ của ông được các nhà văn khác đánh giá cao và có nét riêng như: giọng điệu sôi nổi, trẻ trung và có cái "tinh nghịch", ngang tàng rất lính nhưng cũng rất sâu sắc. Nhiều bài thơ của ông đã được phổ nhạc thành bài hát trong đó tiêu biểu nhất là Trường Sơn đông, Trường Sơn tây.Các bài thơ nổi tiếng của ông: Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây, Tiểu đội xe không kính, Nhớ, Vòng trắng, Gửi em cô gái thanh niên xung phong, Lửa đèn.</p><p><br/></p><p>Ông được ca tụng là "con chim lửa của Trường Sơn huyền thoại", "cây săng lẻ của rừng già", "nhà thơ lớn nhất thời chống Mĩ" và "ngọn lửa đèn" của một thế hệ nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ. Thơ ông thời chống Mĩ từng được đánh giá là "có sức mạnh của cả một sư đoàn".</p><p>Phạm Tiến Duật đã nhận được nhiều giải thưởng văn học: Giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1969 – 1970; Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2004 cho tập tiểu luận Vừa làm vừa nghĩ;[4] Giải thưởng văn học 2007 của Trung tâm Văn hoá Doanh nhân cho Tuyển tập Phạm Tiến Duật.[3]</p><p><br/></p><p>Năm 2001, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật với các tập thơ: Thơ một chặng đường, Ở hai đầu núi, Vầng trăng quầng lửa.</p><p><br/></p><p>Năm 2007, ông được Chủ tịch nước kí tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/3f819aefc69828e4b7d12d072fe71d10/Pham_Tien_Duat_chien_truong1.jpg" />
         <pubDate>2025-09-21 15:17:27 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595894124</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>trannguyen000014</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595910303</link>
         <description><![CDATA[<p>  Tế Hanh (1921-2009),&nbsp;tên khai sinh là Trần Tế Hanh, là nhà thơ nổi tiếng với tình yêu quê hương sâu sắc, đặc biệt là làng chài ven biển Quảng Ngãi.</p><p>  Sự nghiệp văn học của Tế Hanh bao gồm&nbsp;sáng tác thơ ca giàu chất liệu quê hương, tình yêu đất nước với phong cách dung dị, chân thực; hoạt động dịch thuật tài hoa và xuất sắc; cùng với vai trò quan trọng trong hoạt động lý luận phê bình văn học. Ông được vinh danh với Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996, ghi dấu ấn sâu sắc trong nền thơ Việt Nam hiện đại.</p><p>  Tác phẩm tiêu biểu của ông bao gồm các tập thơ như&nbsp;Hoa niên,&nbsp;Tiếng sóng,&nbsp;Hai nửa yêu thương&nbsp;và bài thơ&nbsp;Quê hương.&nbsp;</p><p>  Phong cách sáng tác của Tế Hanh là&nbsp;giọng thơ chân thực, dung dị, tự nhiên, với ngôn ngữ giản dị, giàu hình ảnh, và tha thiết.&nbsp;Thơ ông thể hiện lòng yêu quê hương, đất nước sâu sắc, nồng nàn, và luôn có sự rung động trước những vẻ đẹp bình dị, nhỏ bé của cuộc sống.&nbsp;</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4413289012/68779506b95e27dc5efa870dfc746555/image.jpg" />
         <pubDate>2025-09-21 15:33:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595910303</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>lengocziepppp03628</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595918306</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Nhà thơ Thanh Thảo, tên thật là Hồ Thành Công, sinh năm 1946 tại Quảng Ngãi. Ông là một trong những gương mặt tiêu biểu của nền thơ Việt Nam hiện đại, đặc biệt nổi bật sau năm 1975. Trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ, Thanh Thảo đã trực tiếp tham gia chiến đấu, vì vậy thơ của ông luôn gắn với hơi thở của thời đại và nỗi đau của dân tộc. Suốt sự nghiệp sáng tác, ông đã để lại nhiều tác phẩm giá trị như <em>Dấu chân qua trảng cỏ</em>, <em>Khối vuông Rubik</em>, <em>Trẻ con ở Sơn Mỹ</em> và đặc biệt là bài thơ <em>Đàn ghi ta của Lorca</em>, một thi phẩm tiêu biểu thường được trích giảng trong chương trình phổ thông.</strong></p><p><strong>Phong cách thơ Thanh Thảo độc đáo và mới mẻ, giàu chất triết luận, thể hiện những suy tư sâu xa về thân phận con người, về chiến tranh và hòa bình. Thơ ông kết hợp giữa cảm hứng sử thi với cảm hứng đời tư, vừa mạnh mẽ, dữ dội lại vừa giàu chất trữ tình, da diết. Ngôn ngữ thơ của ông giàu nhạc tính, nhiều hình tượng sáng tạo, thể hiện sự tìm tòi, đổi mới trong cách viết. Chính nhờ đó, Thanh Thảo đã góp phần quan trọng trong việc làm phong phú diện mạo thơ ca Việt Nam hiện đại và để lại dấu ấn riêng khó trộn lẫn.</strong></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/6b573256cd84bae1c093fddc7ec9345e/ththao.jpg" />
         <pubDate>2025-09-21 15:41:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595918306</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Giới thiệu nhà văn-liệt sĩ Dương Thị Xuân Quý</title>
         <author>tuongvy99117</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595918527</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Tiểu sử</strong></p><p><br></p><p>Dương Thị Xuân Quý (1941 – 1969) là một nhà văn nữ, liệt sĩ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2007.</p><p>Chị sinh ra trong một gia đình trí thức tại Hà Nội. Cha chị là ông Dương Tụ Quán, từng là nhà giáo, sau đó chuyển sang nghề báo và viết văn, là tác giả có uy tín trong giới trí thức đương thời. Môi trường gia đình ấy đã nuôi dưỡng trong Dương Thị Xuân Quý tình yêu văn chương, tinh thần dân tộc và khát vọng dấn thân từ rất sớm.</p><p><br></p><p>Sau khi tốt nghiệp trung học, chị làm phóng viên Báo Phụ nữ Việt Nam, tham gia tích cực vào hoạt động văn nghệ, đồng thời bắt đầu con đường sáng tác. Năm 1968, hưởng ứng phong trào thanh niên “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, chị tình nguyện vào chiến trường miền Nam để vừa chiến đấu, vừa sáng tác ngay tại tuyến lửa. Năm 1969, trong một chuyến công tác ở Quảng Nam, chị hy sinh khi mới 28 tuổi, để lại bao tiếc thương cho bạn bè và đồng nghiệp.</p><p><br></p><p><strong>Sự nghiệp sáng tác</strong></p><p><br></p><p>Liệt sĩ Dương Thị Xuân Quý để lại 14 bút ký, truyện ngắn viết ở miền Bắc, 2 truyện ngắn, 2 bút ký, 3 bài thơ viết từ khi vào chiến trường Khu 5, 1 tập Nhật ký chiến trường dày 127 trang. Các tác phẩm thường phản ánh hiện thực đời sống chiến đấu, những trải nghiệm trực tiếp trong hành trình công tác tại chiến trường, đồng thời bộc lộ sâu sắc tình cảm dành cho con người, đất nước. Dù số lượng tác phẩm không nhiều do chị hy sinh sớm, nhưng mỗi trang viết đều toát lên sự chân thành, mãnh liệt và gắn bó mật thiết với bối cảnh lịch sử. Đặc biệt, chị là một trong số ít những cây bút nữ thời kỳ đó có cái nhìn sắc sảo về vị trí, vai trò của người phụ nữ trong xã hội và trong kháng chiến.</p><p><br></p><p><strong>Một số tác phẩm tiêu biểu</strong></p><p><br></p><p>- "Chỗ đứng" (1968): Tập truyện ngắn đầu tay, xoay quanh vấn đề định kiến giới, khẳng định vị trí và bản lĩnh của người phụ nữ trong cuộc sống.</p><p><br></p><p>- "Bài thơ tặng con" ( 1968 ): Thể hiện nỗi nhớ thương và tình mẫu tử sâu nặng dành cho đứa con gái nhỏ, đồng thời thể hiện khát vọng về một ngày đất nước hòa bình, mẹ con đoàn tụ. </p><p><br></p><p>- "Gương mặt thách thức" (1969): Bút ký giàu tính thời sự, ghi lại hiện thực chiến đấu nơi chiến trường.</p><p><br></p><p>- "Hoa rừng" (1970, xuất bản sau khi chị hy sinh): Tập truyện ký khắc họa hình ảnh những người phụ nữ Việt Nam kiên cường, giàu đức hy sinh trong chiến tranh.</p><p><br></p><p><strong>Phong cách sáng tác</strong></p><p><br></p><p>- Chân thực, giàu trải nghiệm: Tác phẩm của Xuân Quý xuất phát từ những điều chị trực tiếp sống và chứng kiến, nên luôn đậm hơi thở chiến trường, cụ thể và sinh động.</p><p><br></p><p>- Đậm chất trữ tình, nữ tính: Ngòi bút dịu dàng, tinh tế, chan chứa tình cảm với quê hương, đồng đội và nhất là sự đồng cảm với thân phận người phụ nữ trong chiến tranh.</p><p><br></p><p>- Lãng mạn cách mạng: Trang viết của chị ánh lên niềm tin vào thắng lợi, khát vọng sống và cống hiến; hình tượng người phụ nữ hiện lên vừa kiên cường vừa giàu yêu thương.</p><p><br></p><p> -Kết hợp báo chí và văn học: Với vốn nghề phóng viên, chị ghi chép nhanh nhạy, chân thực; đồng thời vẫn giàu chất văn, giàu cảm xúc, tạo nên phong cách riêng.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/072babcda758ad531a499bead251afde/Ch_n_dung_D__ng_Th__Xu_n_Qu_.jpg" />
         <pubDate>2025-09-21 15:41:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3595918527</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3596355961</link>
         <description><![CDATA[<p>- Chính Hữu (1926 – 2007) tên thật là Trần Đình Đắc, quê ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.</p><p>- Ông nguyên là Đại tá, Phó cục trưởng cục Tuyên huấn thuộc Tổng cục chính trị, Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Phó tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam.</p><p>- Ông học tú tài ở Hà Nội trước cách mạng tháng Tám.</p><p>- Năm 1946, ông gia nhập Trung đoàn Thủ Đô và hoạt động trong quân đội suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ.</p><p>- Ông còn làm chính trị viên đại hội (chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954).</p><p>- Ông làm thơ từ năm 1947 và hầu như chỉ viết về người lính và chiến tranh.</p><p><strong> Sự nghiệp sáng tác</strong></p><p>- Tập thơ <em>Đầu súng trăng treo</em> (1966) là tác phẩm chính của ông.</p><p>- Thơ ông không nhiều nhưng lại có nhiều bài đặc sắc, cảm xúc dồn nén, ngôn ngữ và hình ảnh chọn lọc, hàm súc.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/1da4df204d1de796e9f75ad9a3852403/hay_gioi_thieu_ve_nha_tho_chinh_huu_va_bai_tho_dong_chi.jpg" />
         <pubDate>2025-09-22 00:53:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3596355961</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3597443440</link>
         <description><![CDATA[<p>Bế Kiến Quốc (1949–2002).Nam Định, quê quán tại Hà Nội.Là nhà thơ, nhà báo với tiểu sử gắn liền với Hà Nội, làm việc tại Ty Văn hóa Hà Tây, tuần báo Văn Nghệ và báo Người Hà Nội, là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Sự nghiệp của ông bao gồm các tập thơ như Những dòng sông (in chung), Dòng suối thần kỳ, và truyện thơ thiếu nhi như Chú ngựa mã sao. Ông được biết đến với phong cách thơ suy ngẫm, giàu ý tưởng, có xu hướng hướng về đời sống lớn lao, với ngôn ngữ được trau chuốt. </p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/b2d3ca91db254bd47d735423df4b8733/Nha_tho_Be_Kien_Quoc.png" />
         <pubDate>2025-09-22 12:01:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3597443440</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Anh Thơ, hương sa giữa làng Thơ mới</title>
         <author>trongtruongthanhan</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3597658356</link>
         <description><![CDATA[<p>      <strong>Tiểu sử</strong></p><p>      Nhà thơ Anh Thơ tên thật Vương Kiều Ân, còn có bút danh: Tuyết Anh, Hồng Minh. Bà sinh năm 1918, mất năm 2005, quê tỉnh Bắc Ninh. Giữa những nhà thơ danh giá của phong trào Thơ mới, Anh Thơ vẫn có tiếng thơ riêng. Bà đã được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 2007.</p><p>      <strong>Phong cách sáng tác</strong></p><p>      Xuất thân trong một gia đình công chức nhỏ, Anh Thơ sớm được tiếp nhận những nguồn ảnh hưởng văn học dân tộc truyền thống, yêu thơ và sáng tác thơ của ông ngoại, những chuyện cổ tích do bà nội kể, những vần thơ lục bát và khúc hát ru của bố mẹ. Anh Thơ sớm yêu thích văn học và sáng tác thơ ca. Suốt tuổi thơ bà gắn bó với ruộng đồng, quê hương. Từ đầu 1945 theo Việt minh, tham gia cách mạng, hoạt động trên địa bàn rộng (từ miền xuôi đến chiến khu Việt Bắc). Từng trải qua nhiều công việc: làm báo, công tác phụ nữ, cứu thương, bình dân học vụ, văn hóa thông tin, văn công, biên tập viên nhà xuất bản, tạp chí Tác phẩm mới, bà có điều kiện đi nhiều, hầu như khắp mọi vùng đất mới. Những điều kiện, hoàn cảnh sống và công tác ấy đã ảnh hưởng nhiều đến sáng tác văn học của Anh Thơ. <strong>Tình yêu thiên nhiên, quê hương đất nước đậm sâu tạo nên nét riêng của thơ Anh Thơ.</strong></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/6809f56a44e641b173e7336c65bfc7db/anh_tho_vanvn_1.jpg" />
         <pubDate>2025-09-22 13:56:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3597658356</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trang thơ Anh Thơ</title>
         <author>trongtruongthanhan</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3597660712</link>
         <description><![CDATA[<p>Mời các bạn ghé lại thăm tiếng thơ của Anh Thơ</p>]]></description>
         <enclosure url="https://thivien.net/Anh-Thơ/author-vycUl0rVqUxRMYNsL-X7LA" />
         <pubDate>2025-09-22 13:57:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3597660712</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Chiều xuân-bài thơ đi vào sách giáo khoa của Anh Thơ</title>
         <author>trongtruongthanhan</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3597676879</link>
         <description><![CDATA[<p>Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng,<br>Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi<br>Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng<br>Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời.<br><br>Ngoài đường đê cỏ non tràn biếc cỏ<br>Đàn sáo đen sà xuống mổ vu vơ;<br>Mấy cánh bướm rập rờn trôi trước gió,<br>Những trâu bò thong thả cúi ăn mưa.<br><br>Trong đồng lúa xanh rờn và ướt lặng,<br>Lũ cò con chốc chốc vụt bay ra,<br>Làm giật mình một cô nàng yếm thắm<br>Cúi cuốc cào cỏ ruộng sắp ra hoa.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/b5482983499bc1402e43aca2973d8f62/tac_gia_tac_pham_chieu_xuan_236321.png" />
         <pubDate>2025-09-22 14:05:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3597676879</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3617730184</link>
         <description><![CDATA[<p>      Tiểu sử : </p><p>  Tên khai sinh là Lê Minh khuê , sinh năm 1949 , quê ở Tĩnh Gia Thanh Hoá .Bà nhập ngũ năm 1965, là một nữ thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn trong kháng chiến chống Mỹ. Sau này, bà trở thành nhà văn chuyên nghiệp và là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ 1974.</p><p>     Sự nghiệp sáng tác : </p><p>        Bắt đầu sáng tác trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, lấy cảm hứng từ cuộc sống chiến đấu gian khổ nhưng anh dũng của tuổi trẻ Trường Sơn. </p><p>       Sau năm 1975, bà tiếp tục viết văn, mở rộng đề tài sang đời sống sau chiến tranh, thân phận con người trong xã hội đổi mới.             Ngoài sáng tác, bà còn làm biên tập viên, phóng viên và có nhiều đóng góp cho văn học nước nhà.</p><p>   Tác phẩm tiêu biểu : Những Ngôi Sao Xa Xôi</p><p>           Phong cách sáng tác : </p><p>     Giản dị, chân thực, giàu cảm xúc.  Khắc họa thành công tuổi trẻ trong chiến tranh, đặc biệt là hình tượng người nữ thanh niên xung phong anh dũng, hồn nhiên, đầy mơ mộng.     Ở giai đoạn sau, văn phong của bà thiên về chiêm nghiệm, sắc sảo, phản ánh những mặt trái, góc khuất của đời sống hiện đại, với cái nhìn nhân văn và sâu lắng.</p><p><br></p><p><br></p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/7232c5d9782840cb18225886a52e1962/images.jpg" />
         <pubDate>2025-10-04 11:00:33 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3617730184</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Minh Châu - Người mở đường tinh anh và tài năng </title>
         <author>lengocziepppp03628</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3617733254</link>
         <description><![CDATA[<p>Nguyễn Minh Châu (1930 – 1989) là một trong những cây bút tiêu biểu của nền văn học Việt Nam hiện đại. Ông sinh tại Quỳnh Lưu, Nghệ An, từng tham gia quân đội và hoạt động văn nghệ trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.</p><p>Trong sự nghiệp sáng tác, Nguyễn Minh Châu được đánh giá là “người mở đường tinh anh và tài năng” của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới. Ông để lại nhiều tác phẩm nổi bật, như: “Cửa sông” (1967), “Dấu chân người lính” (1972), “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành” (1983), “Bến quê” (1985), “Chiếc thuyền ngoài xa” (1987)…</p><p>Nguyễn Minh Châu là cây bút có sự đổi mới mạnh mẽ về tư tưởng và nghệ thuật:Trước 1975, tác phẩm của ông tập trung phản ánh cuộc chiến đấu của người lính, ngợi ca tinh thần cách mạng và lý tưởng anh hùng.Sau 1975, ông chuyển hướng khám phá đời sống đời thường, đào sâu số phận con người, nhất là những mảnh đời bình dị trong xã hội.Văn phong của Nguyễn Minh Châu giàu chất triết lí, nhân văn sâu sắc, thường đặt nhân vật vào những tình huống đặc biệt để bộc lộ bản chất và chiều sâu tâm hồn.</p><p>Nhờ những đóng góp to lớn, Nguyễn Minh Châu được xem là một trong những tác giả tiêu biểu, đặt nền móng cho sự chuyển mình của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/53672ea1ca563e348c19b0e0107d7d11/nguyen_minh_chau_vanvn2.jpg" />
         <pubDate>2025-10-04 11:05:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3617733254</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Chú bé Trần Đăng Khoa</title>
         <author>nguyenhnhao2208</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3617870051</link>
         <description><![CDATA[<p>Trần Đăng Khoa (sinh năm 1958) là nhà thơ, nhà báo, nhà văn Việt Nam. Ông nổi tiếng từ nhỏ với tập thơ "Góc sân và khoảng trời". Thơ ông giàu hình ảnh, ngôn ngữ giản dị, trong sáng, thấm đượm tình yêu quê hương, đất nước, con người. Dù ở tuổi trưởng thành, thơ ông vẫn giữ được sự tinh tế và giàu cảm xúc, tiếp tục khẳng định vị thế của một trong những nhà thơ được nhiều thế hệ yêu mến.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/edd069754e5e992a213e61710f10c30a/images__6_.jpg" />
         <pubDate>2025-10-04 14:00:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3617870051</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>legialinh131</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3618481816</link>
         <description><![CDATA[<p>Bảo Ninh là nhà văn Việt Nam chuyên về viết tiểu thuyết và truyện ngắn.Ông là cây bút chuyên khắc hoạ những điều khắc nghiệt và cay đắng của thời chiến tranh Việt Nam. Bảo Ninh sinh năm 1952, tên thật là Hoàng Ấu Phương,quê xã Bảo Ninh,tỉnh Quảng Bình.Ông từng trực tiếp tham gia chiến đấu trên chiến trường miền Nam trước năm 1975. Bên cạnh đó, ông còn tham gia chiến đấu tại mặt trận B3 Tây Nguyên, tại tiểu đoàn 5 , trung đoàn 24 , sư đoàn 10. Sau 1975 ông giải ngũ. </p><p><br/></p><p>Trong sự nghiệp văn học ,Bảo Ninh đã ra mắt công chúng truyện ngắn đầu tay là “Trại bảy chú lùn” in trên tạp chí Văn nghệ quân đội năm 1987. Ít lâu sau đó, cuốn tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” ra đời nhưng do thị hiếu của người đọc lúc bấy giờ nhà xuất bản đã đặt cho nó cái tên là “Thân phận tình yêu”. Sau hai tác phẩm đó , ông hầu như chỉ sáng tác truyện ngắn và còn viết một số bài báo Văn nghệ trẻ bàn về sự đổi mới của văn học.</p><p><br/></p><p>Phong cách sáng tác</p><p>Bảo Ninh là một nhà văn từng xông pha ra trận mạc nên ông rất am hiểu về chiến tranh, ông chuyên viết về đề tài chiến tranh và muốn “văn của mình phải mang vẻ đẹp quân đội”. Ông từng chia sẻ mình “biết nhiều câu chuyện đương thời ở Việt Nam, nhưng không viết” , nhà văn chỉ tập trung viết về quá khứ chiến trường. Ông luôn đề cao tính sáng tạo của nhà văn và quan niệm đã viết văn là phải có vốn văn hoá, hiểu biết sâu, phải có khả năng tìm tòi khám phá để nhận ra viên ngọc quý lấp lánh bên trong.</p><p><br/></p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4412608542/4c1cf6b532c6a67eb85dd99ebe68cb03/IMG_9775.jpg" />
         <pubDate>2025-10-05 10:02:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3618481816</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Châu</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3618504772</link>
         <description><![CDATA[<p>Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976 tại Đầm Dơi, Cà Mau.&nbsp; Là nữ nhà văn trẻ của Hội nhà văn Việt Nam. Có niềm đam mê viết lách, cô viết như một cách giải toả và trải nghiệm về những thứ gần gũi xung quanh cuộc sống của mình. Giọng văn đậm Nam bộ, là giọng nói thương mại sâu sắc về những cuộc đời éo le, những số phận chìm nổi. Cái chất miền quê sông nước thành các tác phẩm, lộc cái tình của làng, của đất, của những người chân chất hồn hậu nhưng ít gặp những bất hạnh.Tập truyện ngắn Cánh đồng bất tận của cô gây tiếng vang lớn, nhận được nhiều giải thưởng cũng như chuyển thể thành kịch, phim điện ảnh.</p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-10-05 10:46:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3618504772</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3618506596</link>
         <description><![CDATA[<p>Ly</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-10-05 10:49:31 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3618506596</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tô Hoài-nhà văn của mọi tầng lớp nhân dân</title>
         <author>trangmai120508</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3618507120</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>        Tên thật:</strong> Nguyễn Sen&nbsp;</p><ul><li><p><strong>Bút danh:</strong> Tô Hoài (lấy từ sông Tô Lịch và phủ Hoài Đức)&nbsp;</p></li><li><p><strong>Sinh:</strong> 27 tháng 9 năm 1920 tại làng Cát Động, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông cũ&nbsp;</p></li><li><p><strong>Mất:</strong> 06 tháng 7 năm 2014&nbsp;</p></li><li><p><strong>Giải thưởng:</strong> Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật năm 1996&nbsp;</p></li></ul><p><strong>PHONG CÁCH SÁNG TÁC </strong></p><p> Phong cách viết của Tô Hoài là một gương mặt đa dạng của cuộc sống và tâm hồn của một con người đầy biến đổi. Trước Cách mạng Tháng Tám, ông tập trung vào viết về cuộc sống của người nông dân nghèo khổ, tạo ra những tác phẩm đẫm độc đáo về những người sống dưới cơn đau khổ của nghèo đói và cảnh khốn cùng. Nhưng sau cách mạng, ông đã trải qua một sự thay đổi rõ rệt trong sáng tác của mình. Ông bắt đầu viết về nông thôn ở quê nhà, với một cái nhìn sâu sắc hơn và một hiểu biết rộng lớn hơn về cuộc sống và con người.</p><p>Tô Hoài không chỉ là một nhà văn đa tài mà còn là một người truyền cảm hứng, đưa ra những câu hỏi và suy tư sâu xa về cuộc sống và con người thông qua những tác phẩm đầy sức mạnh và ý nghĩa. Những câu chuyện "đời" của ông luôn làm cho người đọc nhớ về những khía cạnh thực sự của cuộc sống và giúp họ hiểu sâu hơn về những cảm xúc và trải nghiệm của con người trong xã hội.</p><p><a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://luatminhkhue.vn/net-dac-trung-trong-cac-sang-tac-cua-tac-gia-to-hoai.aspx">https://luatminhkhue.vn/net-dac-trung-trong-cac-sang-tac-cua-tac-gia-to-hoai.aspx </a></p><p><br/></p><p><strong>Các tác phẩm nổi tiếng trước Cách mạng tháng Tám:&nbsp;</strong></p><ul><li><p><strong>Dế Mèn phiêu lưu ký</strong></p><p>(1941): Tác phẩm viết về thế giới loài vật, mang đến bài học về lẽ sống và sự trưởng thành.</p></li><li><p><a rel="noopener noreferrer nofollow" class="DTlJ6d" href="https://www.google.com.vn/search?client=safari&amp;sca_esv=7c35263d5fad34ab&amp;hl=vi-vn&amp;sxsrf=AE3TifMZi-Bu_UwxaQDd_YFJcJyfIIq-lQ%3A1759673081984&amp;q=O+chu%E1%BB%99t&amp;sa=X&amp;ved=2ahUKEwi00OOHnY2QAxUvUGwGHSwKBEMQxccNegUI1AIQAQ&amp;mstk=AUtExfBJiOhYw7zMmrBgGd5shVlUza3-NvJfjIRoEgTNHLOk_5UCqw0Rq2DgLcZGHDTnAOirmw4pfLcAoZR3bayo4IPUiVbI6WY-617VkDgrDwUCUznrJ9OC_Ojv3_nsUzhvvsvz9lLhvCUL-hEwkUD9ko6INXzSWRhrLzAWrYLsf_d_-cLO_P-FxTlbH02YG4N23S7zOcbzQMKWMB5qYmy9YJKpJo9xm6UtRcdjs9qGqZzyz6zZl0LJ8nWZKhBVygEj5dEAujcZJiE0MBuDu2DXpR5LCLrQw49pknb4j-BpjztNmg&amp;csui=3"><strong>O chuột</strong></a></p><p>(1942) &amp; <a rel="noopener noreferrer nofollow" class="DTlJ6d" href="https://www.google.com.vn/search?client=safari&amp;sca_esv=7c35263d5fad34ab&amp;hl=vi-vn&amp;sxsrf=AE3TifMZi-Bu_UwxaQDd_YFJcJyfIIq-lQ%3A1759673081984&amp;q=Nh%C3%A0+ngh%C3%A8o&amp;sa=X&amp;ved=2ahUKEwi00OOHnY2QAxUvUGwGHSwKBEMQxccNegUI3wIQAQ&amp;mstk=AUtExfBJiOhYw7zMmrBgGd5shVlUza3-NvJfjIRoEgTNHLOk_5UCqw0Rq2DgLcZGHDTnAOirmw4pfLcAoZR3bayo4IPUiVbI6WY-617VkDgrDwUCUznrJ9OC_Ojv3_nsUzhvvsvz9lLhvCUL-hEwkUD9ko6INXzSWRhrLzAWrYLsf_d_-cLO_P-FxTlbH02YG4N23S7zOcbzQMKWMB5qYmy9YJKpJo9xm6UtRcdjs9qGqZzyz6zZl0LJ8nWZKhBVygEj5dEAujcZJiE0MBuDu2DXpR5LCLrQw49pknb4j-BpjztNmg&amp;csui=3">Nhà nghèo</a> (1944): Tập truyện ngắn và tiểu thuyết phản ánh cuộc sống nghèo khó, cơ cực ở vùng nông thôn.</p></li><li><p><a rel="noopener noreferrer nofollow" class="DTlJ6d" href="https://www.google.com.vn/search?client=safari&amp;sca_esv=7c35263d5fad34ab&amp;hl=vi-vn&amp;sxsrf=AE3TifMZi-Bu_UwxaQDd_YFJcJyfIIq-lQ%3A1759673081984&amp;q=Qu%C3%AA+ng%C6%B0%E1%BB%9Di&amp;sa=X&amp;ved=2ahUKEwi00OOHnY2QAxUvUGwGHSwKBEMQxccNegUI0gIQAQ&amp;mstk=AUtExfBJiOhYw7zMmrBgGd5shVlUza3-NvJfjIRoEgTNHLOk_5UCqw0Rq2DgLcZGHDTnAOirmw4pfLcAoZR3bayo4IPUiVbI6WY-617VkDgrDwUCUznrJ9OC_Ojv3_nsUzhvvsvz9lLhvCUL-hEwkUD9ko6INXzSWRhrLzAWrYLsf_d_-cLO_P-FxTlbH02YG4N23S7zOcbzQMKWMB5qYmy9YJKpJo9xm6UtRcdjs9qGqZzyz6zZl0LJ8nWZKhBVygEj5dEAujcZJiE0MBuDu2DXpR5LCLrQw49pknb4j-BpjztNmg&amp;csui=3"><strong>Quê người</strong></a></p><p>(1941) &amp; <a rel="noopener noreferrer nofollow" class="DTlJ6d" href="https://www.google.com.vn/search?client=safari&amp;sca_esv=7c35263d5fad34ab&amp;hl=vi-vn&amp;sxsrf=AE3TifMZi-Bu_UwxaQDd_YFJcJyfIIq-lQ%3A1759673081984&amp;q=C%E1%BB%8F+d%E1%BA%A1i&amp;sa=X&amp;ved=2ahUKEwi00OOHnY2QAxUvUGwGHSwKBEMQxccNegUI3AIQAQ&amp;mstk=AUtExfBJiOhYw7zMmrBgGd5shVlUza3-NvJfjIRoEgTNHLOk_5UCqw0Rq2DgLcZGHDTnAOirmw4pfLcAoZR3bayo4IPUiVbI6WY-617VkDgrDwUCUznrJ9OC_Ojv3_nsUzhvvsvz9lLhvCUL-hEwkUD9ko6INXzSWRhrLzAWrYLsf_d_-cLO_P-FxTlbH02YG4N23S7zOcbzQMKWMB5qYmy9YJKpJo9xm6UtRcdjs9qGqZzyz6zZl0LJ8nWZKhBVygEj5dEAujcZJiE0MBuDu2DXpR5LCLrQw49pknb4j-BpjztNmg&amp;csui=3">Cỏ dại</a> (1944): Phản ánh chân thực đời sống và cảnh vật nông thôn.</p></li></ul><p><strong>Các tác phẩm tiêu biểu sau Cách mạng tháng Tám:</strong></p><ul><li><p><a rel="noopener noreferrer nofollow" class="DTlJ6d" href="https://www.google.com.vn/search?client=safari&amp;sca_esv=7c35263d5fad34ab&amp;hl=vi-vn&amp;sxsrf=AE3TifMZi-Bu_UwxaQDd_YFJcJyfIIq-lQ%3A1759673081984&amp;q=N%C3%BAi+c%E1%BB%A9u+qu%E1%BB%91c&amp;sa=X&amp;ved=2ahUKEwi00OOHnY2QAxUvUGwGHSwKBEMQxccNegUI1gIQAQ&amp;mstk=AUtExfBJiOhYw7zMmrBgGd5shVlUza3-NvJfjIRoEgTNHLOk_5UCqw0Rq2DgLcZGHDTnAOirmw4pfLcAoZR3bayo4IPUiVbI6WY-617VkDgrDwUCUznrJ9OC_Ojv3_nsUzhvvsvz9lLhvCUL-hEwkUD9ko6INXzSWRhrLzAWrYLsf_d_-cLO_P-FxTlbH02YG4N23S7zOcbzQMKWMB5qYmy9YJKpJo9xm6UtRcdjs9qGqZzyz6zZl0LJ8nWZKhBVygEj5dEAujcZJiE0MBuDu2DXpR5LCLrQw49pknb4j-BpjztNmg&amp;csui=3"><strong>Núi cứu quốc</strong></a></p><p>(1948) &amp; <a rel="noopener noreferrer nofollow" class="DTlJ6d" href="https://www.google.com.vn/search?client=safari&amp;sca_esv=7c35263d5fad34ab&amp;hl=vi-vn&amp;sxsrf=AE3TifMZi-Bu_UwxaQDd_YFJcJyfIIq-lQ%3A1759673081984&amp;q=Truy%E1%BB%87n+T%C3%A2y+B%E1%BA%AFc&amp;sa=X&amp;ved=2ahUKEwi00OOHnY2QAxUvUGwGHSwKBEMQxccNegUI5gIQAQ&amp;mstk=AUtExfBJiOhYw7zMmrBgGd5shVlUza3-NvJfjIRoEgTNHLOk_5UCqw0Rq2DgLcZGHDTnAOirmw4pfLcAoZR3bayo4IPUiVbI6WY-617VkDgrDwUCUznrJ9OC_Ojv3_nsUzhvvsvz9lLhvCUL-hEwkUD9ko6INXzSWRhrLzAWrYLsf_d_-cLO_P-FxTlbH02YG4N23S7zOcbzQMKWMB5qYmy9YJKpJo9xm6UtRcdjs9qGqZzyz6zZl0LJ8nWZKhBVygEj5dEAujcZJiE0MBuDu2DXpR5LCLrQw49pknb4j-BpjztNmg&amp;csui=3">Truyện Tây Bắc</a> (1953): Tác phẩm phản ánh cuộc sống và cuộc đấu tranh của nhân dân các dân tộc miền núi.&nbsp;</p></li><li><p><a rel="noopener noreferrer nofollow" class="DTlJ6d" href="https://www.google.com.vn/search?client=safari&amp;sca_esv=7c35263d5fad34ab&amp;hl=vi-vn&amp;sxsrf=AE3TifMZi-Bu_UwxaQDd_YFJcJyfIIq-lQ%3A1759673081984&amp;q=V%E1%BB%A3+ch%E1%BB%93ng+A+Ph%E1%BB%A7&amp;sa=X&amp;ved=2ahUKEwi00OOHnY2QAxUvUGwGHSwKBEMQxccNegUI1wIQAQ&amp;mstk=AUtExfBJiOhYw7zMmrBgGd5shVlUza3-NvJfjIRoEgTNHLOk_5UCqw0Rq2DgLcZGHDTnAOirmw4pfLcAoZR3bayo4IPUiVbI6WY-617VkDgrDwUCUznrJ9OC_Ojv3_nsUzhvvsvz9lLhvCUL-hEwkUD9ko6INXzSWRhrLzAWrYLsf_d_-cLO_P-FxTlbH02YG4N23S7zOcbzQMKWMB5qYmy9YJKpJo9xm6UtRcdjs9qGqZzyz6zZl0LJ8nWZKhBVygEj5dEAujcZJiE0MBuDu2DXpR5LCLrQw49pknb4j-BpjztNmg&amp;csui=3"><strong>Vợ chồng A Phủ</strong></a></p><p>(1953): Một trong những tác phẩm viết về cuộc sống khổ cực của người dân miền núi dưới chế độ thực dân phong kiến.&nbsp;</p></li><li><p><a rel="noopener noreferrer nofollow" class="DTlJ6d" href="https://www.google.com.vn/search?client=safari&amp;sca_esv=7c35263d5fad34ab&amp;hl=vi-vn&amp;sxsrf=AE3TifMZi-Bu_UwxaQDd_YFJcJyfIIq-lQ%3A1759673081984&amp;q=Mi%E1%BB%81n+T%C3%A2y&amp;sa=X&amp;ved=2ahUKEwi00OOHnY2QAxUvUGwGHSwKBEMQxccNegUI0AIQAQ&amp;mstk=AUtExfBJiOhYw7zMmrBgGd5shVlUza3-NvJfjIRoEgTNHLOk_5UCqw0Rq2DgLcZGHDTnAOirmw4pfLcAoZR3bayo4IPUiVbI6WY-617VkDgrDwUCUznrJ9OC_Ojv3_nsUzhvvsvz9lLhvCUL-hEwkUD9ko6INXzSWRhrLzAWrYLsf_d_-cLO_P-FxTlbH02YG4N23S7zOcbzQMKWMB5qYmy9YJKpJo9xm6UtRcdjs9qGqZzyz6zZl0LJ8nWZKhBVygEj5dEAujcZJiE0MBuDu2DXpR5LCLrQw49pknb4j-BpjztNmg&amp;csui=3"><strong>Miền Tây</strong></a></p><p>(1967): Tác phẩm được trao giải thưởng Bông sen vàng, phản ánh cuộc sống của người dân miền Tây sau hòa bình.&nbsp;</p></li></ul><p><br/></p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4412739537/f63da45d63a984769735d7efc5aa4923/IMG_0002.jpeg" />
         <pubDate>2025-10-05 10:50:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3618507120</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tác giả Hồ Dzếnh </title>
         <author>dbao9673</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3618507830</link>
         <description><![CDATA[<p>•Tiểu sử:Hồ Dzếnh (tên thật Hà Triệu Anh, 1916–1991) là nhà thơ, nhà văn Việt Nam, sinh ra tại Thanh Hóa trong một gia đình có cha gốc Hoa. Ông hoạt động văn học từ năm 1931 ở Hà Nội, tham gia cách mạng năm 1945 và là hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam. Ông qua đời năm 1991 và được truy tặng Giải thưởng Nhà nước năm 2007. </p><p>•Sự nghiệp sáng tác văn học: Hồ Dzếnh là nhà thơ, nhà văn có sự nghiệp sáng tác phong phú với nhiều tác phẩm nổi tiếng như Dĩ vãng, Quê ngoại, Chân trời cũ. Ông được biết đến với khả năng giao thoa giữa thơ và truyện, mở rộng thể loại truyện ngắn trữ tình, và có những đóng góp cho văn học cách mạng Việt Nam, xứng đáng với Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật. </p><p>•Tác phẩm tiêu biểu: Tác phẩm tiêu biểu của nhà thơ, nhà văn Hồ Dzếnh bao gồm tập thơ Quê ngoại (1942) và tập truyện ngắn Chân trời cũ (1942). Ông còn được biết đến qua các sáng tác được phổ nhạc như bài thơ Chiều và bài Ngập ngừng. </p><p>•Phong cách sáng tác: Phong cách sáng tác của Hồ Dzếnh đặc trưng bởi sự nhẹ nhàng, trữ tình và phảng phất hương vị thơ cổ Trung Hoa, với những tự sự mộc mạc, dung dị và chân thật. Ông còn được biết đến với khả năng mở rộng thể loại truyện ngắn trữ tình bằng bút pháp nghệ thuật tinh tế, tạo nên sự giao thoa giữa thơ và truyện, cùng tính nhân văn sâu sắc và cảm xúc dạt dào trong các tác phẩm</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/4f127ebc4e59c0201f9e55d80766f40a/2_WCMZ.jpg" />
         <pubDate>2025-10-05 10:51:33 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3618507830</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hàn Mặc Tử</title>
         <author>nn1484455</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3618518337</link>
         <description><![CDATA[<p>•Tên thật: Nguyễn Trọng Trí (còn dùng các bút danh như Phong Trần, Lệ Thanh…), sinh ngày 22/9/1912 tại làng Lệ Mỹ, Đồng Hới, Quảng Bình. </p><p>•Ông lớn lên tại Quy Nhơn, trong gia đình theo đạo Công giáo.  </p><p>•Hàn Mặc Tử bắt đầu sáng tác từ khi còn trẻ (khoảng 16 tuổi).  </p><p>•Năm 1937–1938, ông mắc bệnh phong (cùi), sức khỏe suy giảm, nhưng vẫn sáng tác đến cuối đời.  </p><p>•Ông qua đời vào ngày 11/11/1940 tại trại phong Quy Hòa, Quy Nhơn, khi mới 28 tuổi.  </p><p>Tử:</p><p>   </p><p>  • Tác phẩm tiêu biểu</p><p>Một số tác phẩm nổi bật của Hàn Mặc Tử:</p><p>•Gái Quê (1936) — tập thơ duy nhất ông xuất bản lúc sinh thời.  </p><p>•Thơ Điên (các phần như Hương Thơm, Mật Đắng, Xuân Như Ý, Máu Cuồng &amp; Hồn Điên)  </p><p>•Các bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”, “Mộng Cầm”, “Bẽn lẽn”, “Ngủ với trăng”, “Thức khuya” …  </p><p>•Ngoài thơ, ông cũng có sáng tác kịch thơ (Duyên kỳ ngộ, Quần tiên hội...)</p><p><br></p><p> •  Phong cách sáng tác</p><p>Phong cách thơ Hàn Mặc Tử rất đặc sắc, kết hợp nhiều xu hướng và có dấu ấn cá nhân sâu đậm:</p><p>1.Pha trộn lãng mạn – tượng trưng – siêu thực</p><p>Ông không chỉ viết theo lối lãng mạn thuần túy, mà còn nhập yếu tố tượng trưng và siêu thực — tạo nên những hình ảnh đầy mơ ảo, huyễn ảo, bất chợt từ tâm thức.  </p><p>2.Khát vọng sống và yêu đẹp mãnh liệt</p><p>Dù bệnh tật, đau khổ, thơ ông vẫn luôn hướng về cái đẹp, thiên nhiên, tình yêu, sự sống — cái nhìn say mê nhưng cũng đầy xót xa.  </p><p>3.Ngôn từ đầy hình ảnh, giàu biểu cảm</p><p>Ông dùng từ gợi, nhiều liên tưởng, nhiều ẩn dụ, có lúc rất kín đáo, có lúc bùng nổ — tạo nên sức hấp dẫn trong việc đọc và cảm nhận.  </p><p>4.Thế giới nội tâm và cách vượt thoát đau khổ</p><p>Bệnh tật và cái chết gần như trở thành một phần của chủ đề thơ ông — không chỉ là nỗi đau thể xác, mà là cuộc đấu tranh tâm hồn, sự khát vọng vượt thoát, vươn lên khỏi giới hạn thân xác.  </p><p>5.Tính bi kịch và vẻ mộng mị</p><p>Có những bài thơ mang sắc thái bi kịch, hoang mang, cô đơn, đôi khi pha chút “điên loạn” trong cảm giác — nhưng vẫn giữ được vẻ mộng mị, lung linh như giấc mơ có thật.  </p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/45d45ace6ed679696d2d417fe1d5aaf4/Han_Mac_Tu_1934_vanvn.jpg" />
         <pubDate>2025-10-05 11:10:32 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3618518337</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>camly6322</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3618530977</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Tiểu Sử</strong></p><p>-Nam Cao (1915/1917 – 1951), tên thật là Trần Hữu Tri.Quê ông ở Lý Nhân, Hà Nam. Ông sinh ra trong một gia đình công giáo bậc trung.</p><p>- Thuở nhỏ ông học ở trường làng, sau đó được gửi xuống Nam Định học. Sau đó do thể chất yếu nên ông về nhà chữa bệnh rồi cưới vợ.</p><p>- Năm 18 tuổi ông vào Sài Gòn nhận làm thư kí cho một hiệu may.</p><p>- Khi trở ra Bắc ông dạy học tại Hà Nội.</p><p>- Năm 1943 ông gia nhập Hội Văn hóa cứu quốc.</p><p>- Năm 1945 ông tham gia cướp chính quyền ở Lý Nhân và được cử làm chủ tịch xã.</p><p>- Năm 1946 ông gia Hà Nội hoạt động Hội Văn hóa cứu quốc</p><p>- Năm 1948 ông gia nhập Đảng Cộng Sản Việt Nam.</p><p>- Năm 1950 ông làm việc cho Hội Văn nghệ Việt Nam, tại tạp chí văn nghệ.</p><p>Xem thêm tại.</p><p><strong>Sự nghiệp văn học</strong></p><p>*Quan điểm sáng tác</p><p>- Ông theo quan điểm “nghệ thuật vị nhân sinh” ": “Nghệ thuật không nên là ánh trăng lừa dối, không cần là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than”</p><p>- Ông quan niệm: Tác phẩm "phải chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi; ca tụng tình yêu, bác ái, công bằng”&nbsp;và "Văn chương không cần đến sự khéo tay, làm theo một cái khuôn mẫu. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo ra cái gì chưa có”.</p><p>*Tác phẩm chính</p><p>&nbsp;&nbsp; -Ông để lại khối lượng tác phẩm lớn với nhiều thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, truyện ký như các tác phẩm: “Sống mòn”, “Lão Hạc”, “Chí Phèo”, “ Giăng sáng”, “Lão Hạc”, “Chí Phèo”, “Đôi mắt”,</p><p>*Phong cách nghệ thuật</p><p>- Đề cao tư tưởng con người : Quan tâm tới đời sống tinh thần của con người, luôn hứng thú khám phá "con người trong con người".</p><p>- Đi sâu khám phá nội tâm nhân vật</p><p>- Thường viết về những cái nhỏ nhặt nhưng lại mang ý nghĩa triết lý sâu sắc</p><p>- Ông có phong cách triết lý trữ tình sắc lạnh.</p><p>* Vị trí và tầm ảnh hưởng</p><p>- Là nhà văn lớn, một cây bút xuất sắc của nền văn học hiện đại.</p><p>- Là nhà văn hiện thực nhân đạo xuất sắc của thế kỉ XX. Nam Cao đã đưa chủ nghĩa hiện thực lên một bước đột phá: chủ nghĩa hiện thực tâm lí.</p><p>- Ông nhận giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật năm 1996.</p><p><strong>&nbsp;</strong></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/3788e8ece84b0b119a1042f77f79d05f/namcao7021154pm_1.jpg" />
         <pubDate>2025-10-05 11:33:22 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3618530977</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>duyk8006</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3618604167</link>
         <description><![CDATA[<p>• Nguyễn Trọng Bính.&nbsp;Sinh ngày 13/2/1918 – 20/1/1966.&nbsp;Quê tại Làng Thiện Vịnh, xã Đồng Đội, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.&nbsp;Xuất thân từ Sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo, mồ côi cha mẹ sớm.&nbsp;là một nhà thơ lãng mạn nổi tiếng của <a rel="noopener noreferrer nofollow" class="GI370e" href="https://www.google.com/search?apps=yt&amp;bih=848&amp;biw=414&amp;channel=iss&amp;client=mobilesearchapp&amp;cs=1&amp;ctzn=Asia%2FHo_Chi_Minh&amp;gsawvi=1&amp;hl=vi&amp;ie=UTF-8&amp;ioshw=iPhone12%2C1&amp;ntyp=1&amp;oq=gi%E1%BB%9Bi+thi%E1%BB%87u+v%E1%BB%81+ti%E1%BB%83u+s%E1%BB%AD+%2C+s%E1%BB%B1+nghi%E1%BB%87p+s%C3%A1ng+t%C3%A1c+v%C4%83n+h%E1%BB%8Dc+%2C+t%C3%A1c+ph%E1%BA%A9m+ti%C3%AAu+bi%E1%BB%83u++%2C+phong+c%C3%A1ch+s%C3%A1ng+t%C3%A1c++Nguy%E1%BB%85n+B%C3%ADnh+&amp;pbx=1&amp;q=Vi%E1%BB%87t+Nam&amp;rlz=1MDAPLA_viVN1096VN1096&amp;source=ios.gsa.default&amp;v=388.0.811331708&amp;vpa=2&amp;vse=1&amp;mstk=AUtExfBQ14YGhI8GOFvEOfsILTBrORVmvTaeOEr0YcpVE-3vO2n-SfNfrRbOBSse0fQN2tZze0aQVSKVVKnGVoEYW5HW6xEj_ul0WPVQ3_njO9ZFCSTIOWg8HsXk-dDBW1TcSZKDi5wCs0bTwQk4pICIUKHKO-wwKNbd05VFhMQeGgEkVNnldH7RiDVAKbpcqjoij4DiVE5Os1wMIkfGCP2hu3Yw-Ho1I9FtatsERwJDSiaAZPwMa0DAAAXnSWV0lobKyWLlyiYoxQRq2fhMSuryaXkh&amp;csui=3&amp;ved=2ahUKEwjbv5S8ko2QAxW5klYBHcZYM0MQgK4QegQIARAC">Việt Nam ,</a> được mệnh danh là "nhà thơ của làng quê" nhờ dòng thơ đậm chất dân dã, mộc mạc. Tham gia phong trào Thơ mới, sau đó tham gia kháng chiến chống Pháp (1945-1954), rồi tập kết ra Bắc làm báo và công tác văn nghệ.&nbsp;</p><p><br/></p><p>• Sự nghiệp sáng tác ông sáng tác thơ từ nhỏ, được giải nhất thi hát trống quân năm 13 tuổi.</p><p>Bài thơ "Cô hái mơ" được đăng báo đầu tiên, và tập thơ <em>Tâm hồn tôi</em> (1937) giúp ông đoạt giải khuyến khích của nhóm Tự lực văn đoàn.&nbsp;Nổi tiếng Từ năm 1940, ông bắt đầu nổi tiếng với thơ tình và nhiều tác phẩm khác.&nbsp;Làm thơ, truyện thơ, chèo và có nhiều bài thơ được phổ nhạc như "Cô hái mơ", "Lỡ bước sang ngang", "Ghen", "Chân quê", "Nụ tầm xuân".&nbsp;Được truy tặng <a rel="noopener noreferrer nofollow" class="GI370e" href="https://www.google.com/search?apps=yt&amp;bih=848&amp;biw=414&amp;channel=iss&amp;client=mobilesearchapp&amp;cs=1&amp;ctzn=Asia%2FHo_Chi_Minh&amp;gsawvi=1&amp;hl=vi&amp;ie=UTF-8&amp;ioshw=iPhone12%2C1&amp;ntyp=1&amp;oq=gi%E1%BB%9Bi+thi%E1%BB%87u+v%E1%BB%81+ti%E1%BB%83u+s%E1%BB%AD+%2C+s%E1%BB%B1+nghi%E1%BB%87p+s%C3%A1ng+t%C3%A1c+v%C4%83n+h%E1%BB%8Dc+%2C+t%C3%A1c+ph%E1%BA%A9m+ti%C3%AAu+bi%E1%BB%83u++%2C+phong+c%C3%A1ch+s%C3%A1ng+t%C3%A1c++Nguy%E1%BB%85n+B%C3%ADnh+&amp;pbx=1&amp;q=Gi%E1%BA%A3i+th%C6%B0%E1%BB%9Fng+H%E1%BB%93+Ch%C3%AD+Minh+v%E1%BB%81+V%C4%83n+h%E1%BB%8Dc+Ngh%E1%BB%87+thu%E1%BA%ADt&amp;rlz=1MDAPLA_viVN1096VN1096&amp;source=ios.gsa.default&amp;v=388.0.811331708&amp;vpa=2&amp;vse=1&amp;mstk=AUtExfBQ14YGhI8GOFvEOfsILTBrORVmvTaeOEr0YcpVE-3vO2n-SfNfrRbOBSse0fQN2tZze0aQVSKVVKnGVoEYW5HW6xEj_ul0WPVQ3_njO9ZFCSTIOWg8HsXk-dDBW1TcSZKDi5wCs0bTwQk4pICIUKHKO-wwKNbd05VFhMQeGgEkVNnldH7RiDVAKbpcqjoij4DiVE5Os1wMIkfGCP2hu3Yw-Ho1I9FtatsERwJDSiaAZPwMa0DAAAXnSWV0lobKyWLlyiYoxQRq2fhMSuryaXkh&amp;csui=3&amp;ved=2ahUKEwjbv5S8ko2QAxW5klYBHcZYM0MQgK4QegQIBRAJ">Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật. </a></p><p><br/></p><ul><li><p>Tác phẩm tiêu biểu : Tập thơ:Tâm hồn tôi (1937), Lỡ bước sang ngang (1940), Mười hai bến nước (1942), Truyện thơ Cây đàn Tỳ bà(1944).&nbsp;</p></li><li><p>Bài thơ:"Cô hái mơ", "Chân quê", "Tương tư", "Viếng hồn trinh nữ", "Những bóng người trên sân ga", "Gửi người vợ miền Nam".&nbsp;</p></li></ul><p><br></p><ul><li><p>Phong cách sáng tác : Chủ đề Tình quê, tình yêu đôi lứa, nỗi nhớ và sự gắn bó sâu sắc với làng quê Việt Nam.&nbsp;Thể hiện nỗi day dứt trước sự mai một của các giá trị truyền thống, tích hợp và phát huy truyền thống dân gian trong thơ mới.&nbsp;Giọng điệu mang sắc thái dân dã, mộc mạc, hồn hậu, chan chứa tình cảm.&nbsp;Hồn thơ đậm chất quê, lời thơ dung dị, mộc mạc nhưng sâu sắc và thấm đượm tình quê. </p></li></ul><p><br></p><p><br>&nbsp;</p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4412760732/a6f5c94053a36621cc8685c74ef2e4d0/IMG_2580.jpg" />
         <pubDate>2025-10-05 13:27:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3618604167</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>nganhue250308</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3618613450</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Tiểu sử</strong></p><p>- Hữu Thỉnh (sinh năm 1942) tên thật là Nguyễn Hữu Thỉnh bút danh là Vũ Hữu.</p><p>- Quê quán: Quê ở Tam Dương - Vĩnh Phúc.</p><p>- Năm 1963 ông nhập ngũ rồi trở thành cán bộ tuyên huấn trong quân đội và bắt đầu sáng tác thơ.</p><p>- Ông tham gia ban chấp hành hội nhà văn Việt Nam các khóa III. IV, V.</p><p>- Năm 2000 ông là Tổng thư kí Hội nhà văn Việt Nam.</p><p>- Ông là nhà thơ trưởng thành vào thời kì hòa bình.</p><p><strong>2. Sự nghiệp văn học</strong></p><p><strong>a. Tác phẩm chính: </strong>“Thương lượng với thời gian”, “Sang thu”, “Âm vang chiến hào”…</p><p><strong>b. Phong cách nghệ thuật: </strong>Ông là người viết nhiều, viết hay về con người và cuộc sống ở nông thôn. Thơ ông giản dị nhưng vô cùng tinh tế và sâu sắc.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-10-05 13:37:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3618613450</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3618625517</link>
         <description><![CDATA[<p>của tôi</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-10-05 13:51:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3618625517</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đặng Thuỳ Trâm</title>
         <author>phivan2822008</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3618626507</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Tiểu sử</strong>: <strong><em>Bác sĩ Đặng Thùy Trâm</em></strong> (sinh tại Huế, lớn lên tại Hà Nội) là một trí thức trẻ xuất sắc, tốt nghiệp <strong>Đại học Y khoa Hà Nội</strong> loại ưu trong một gia đình giàu truyền thống (bố là bác sĩ ngoại khoa, mẹ là giảng viên Đại học Dược). Năm <strong>1966</strong>, chị từ chối cơ hội ở lại Hà Nội để <strong>xung phong vào chiến trường B</strong> vì lòng yêu nước và đi theo tiếng gọi của người yêu. Từ tháng 3 năm <strong>1967</strong>, chị phụ trách <strong>bệnh xá huyện Đức Phổ</strong> (Quảng Ngãi), nơi chị vừa điều trị cho thương bệnh binh, vừa ghi lại cuộc sống gian khổ và lý tưởng cách mạng trong nhật ký. Ngày <strong>22 tháng 6 năm 1970</strong>, chị <strong>hy sinh</strong> trong một trận phục kích của địch khi chưa đầy 28 tuổi. Di sản lớn nhất của chị là hai tập nhật ký được một cựu sĩ quan Mỹ lưu giữ suốt 35 năm và trả lại gia đình vào năm 2005. Cuốn <strong>"Nhật ký Đặng Thùy Trâm"</strong> sau đó đã trở thành một <strong>hiện tượng văn học</strong> toàn cầu, được ví như "Nhật ký Anne Frank của Việt Nam", truyền cảm hứng mạnh mẽ về lòng yêu nước và ý chí kiên cường.</p><p><br></p><p><strong>Phong các sáng tác:</strong>Phong cách sáng tác của Đặng Thùy Trâm thể hiện qua nhật ký chân thật, sâu sắc và các miêu tả lời văn đầy cảm xúc mang tính tự sự cao.Qua nhật ký, bà ghi lại những suy tư, trăn trở, niềm tin và nỗi buồn của một cô gái trẻ trên chiến trường ác liệt, thể hiện tâm hồn nhạy cảm và tinh thần dấn thân vào cuộc sống và chiến tranh.&nbsp;</p><p> </p><p><a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%B7ng_Th%C3%B9y_Tr%C3%A2m">https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Đặng_Thùy_Trâm ( tìm hiểu chi tiết dưới đây nhé)</a></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4412960944/b0c2b53f15528c435890359ccc06e3db/IMG_2383.jpg" />
         <pubDate>2025-10-05 13:53:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3618626507</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>nganhue250308</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3618661144</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>. Tiểu sử</strong></p><p>- Hữu Thỉnh (sinh năm 1942) tên thật là Nguyễn Hữu Thỉnh bút danh là Vũ Hữu.</p><p>- Quê quán: Quê ở Tam Dương - Vĩnh Phúc.</p><p>- Năm 1963 ông nhập ngũ rồi trở thành cán bộ tuyên huấn trong quân đội và bắt đầu sáng tác thơ.</p><p>- Ông tham gia ban chấp hành hội nhà văn Việt Nam các khóa III. IV, V.</p><p>- Năm 2000 ông là Tổng thư kí Hội nhà văn Việt Nam.</p><p>- Ông là nhà thơ trưởng thành vào thời kì hòa bình.</p><p><strong>2. Sự nghiệp văn học</strong></p><p><strong>a. Tác phẩm chính: </strong>“Thương lượng với thời gian”, “Sang thu”, “Âm vang chiến hào”…</p><p><strong>b. Phong cách nghệ thuật: </strong>Ông là người viết nhiều, viết hay về con người và cuộc sống ở nông thôn. Thơ ông giản dị nhưng vô cùng tinh tế và sâu sắc.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4413331077/989b4978735dde95f947f7f649fe4645/IMG_8405.webp" />
         <pubDate>2025-10-05 14:35:04 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3618661144</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>nganhue250308</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3618668283</link>
         <description><![CDATA[<p><a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://https//dilib.vn/am-vang-chien-hao-2055.html">https://https//dilib.vn/am-vang-chien-hao-2055.html</a></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4413331077/b1202063fbd4944ffe5f30bb06a50c79/IMG_8407.png" />
         <pubDate>2025-10-05 14:43:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3618668283</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>dothanhquyen13</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3618714501</link>
         <description><![CDATA[<p>   Viễn Phương tên thật là Phan Thanh viễn  (1928-2005) quê ở An Giang .                                                           <em> ông là nhà thơ trong thời kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ ở Nam Bộ , là một cây bút có mặt sớm ở lực lượng văn nghệ giải phóng ở miền Nam thời kì chống Mĩ cứu nước.                                                             </em> Các tác phẩm  tiêu biểu như : '' Viếng LĂng  Bác '' , '' Lòng Mẹ ''  ,  '' Anh Hùng Gạt Mìn ''  ,...                                          * phong cách thơ của ông : giàu cảm xúc nhưng không bi lụy , thơ ông nền nã , thì thầm , buâng khuân </p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4413304063/7f5097d7e88799d48d2490df002d03d5/IMG_3522.jpeg" />
         <pubDate>2025-10-05 15:39:04 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3618714501</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3619699204</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Lưu Quang Thuận</strong> (1919 – 1981) là một nhà thơ tiêu biểu của nền văn học Việt Nam hiện đại nửa đầu thế kỷ XX. Ông sinh tại Hà Nội, trong một gia đình trí thức, là cha của nhà viết kịch nổi tiếng <strong>Lưu Quang Vũ</strong> – người sau này cũng trở thành một hiện tượng của văn học nghệ thuật nước nhà.</p><p>Ngay từ khi còn trẻ, Lưu Quang Thuận đã bộc lộ năng khiếu thơ ca và sớm tham gia hoạt động văn nghệ trong phong trào yêu nước. Ông là một trong những nhà thơ trưởng thành từ giai đoạn tiền kháng chiến, gắn bó với dòng thơ lãng mạn và trữ tình yêu nước, đồng thời tiếp thu tinh thần cách mạng trong sáng tác.</p><p><strong>Sự nghiệp sáng tác</strong></p><p>Lưu Quang Thuận để lại dấu ấn trong lòng bạn đọc bằng những bài thơ nhẹ nhàng, sâu lắng, giàu chất suy tưởng và cảm xúc nhân văn. Ông không sáng tác nhiều, nhưng những tác phẩm của ông luôn được trau chuốt kỹ lưỡng về ngôn từ và hình ảnh. Thơ ông phản ánh tâm hồn nhạy cảm, luôn khắc khoải về thân phận con người, tình yêu, quê hương và khát vọng sống cao đẹp.</p><p>Một số <strong>tác phẩm tiêu biểu</strong> có thể kể đến:</p><ul><li><p><em>Người đi trong mưa</em></p></li><li><p><em>Mùa xuân nhớ Bác</em></p></li><li><p><em>Chiếc lá cuối cùng</em></p></li><li><p><em>Tháng ba về trong mưa bụi</em></p></li></ul><p><strong>Phong cách sáng tác</strong></p><p>Thơ Lưu Quang Thuận mang đậm dấu ấn <strong>trữ tình sâu sắc</strong>, với ngôn ngữ tinh tế, giàu chất nhạc và hình ảnh giàu biểu cảm. Ông thường viết về những chủ đề gần gũi như tình yêu đôi lứa, tình cảm gia đình, nỗi buồn nhân thế… nhưng luôn thấm đẫm tinh thần nhân văn và sự rung động chân thành.</p><p>Phong cách của ông chịu ảnh hưởng từ thơ lãng mạn 1930 – 1945, nhưng có sự giao thoa hài hòa với cảm hứng cách mạng và hiện thực đời sống. Chính điều đó đã tạo nên một giọng thơ riêng – nhẹ nhàng nhưng sâu lắng, giản dị mà đầy ám ảnh.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/a3f9c91f4f4bfbd90275eb63bf168ecc/tac_gia_tac_pham_8961.jpg" />
         <pubDate>2025-10-06 10:12:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3619699204</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3619702110</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Nguyễn Trọng Tạo</strong> (1947 – 2019) là một nhà thơ, nhạc sĩ, nhà báo nổi tiếng của nền văn học nghệ thuật Việt Nam đương đại. Ông sinh tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An – vùng đất giàu truyền thống văn hóa và cách mạng. Tốt nghiệp Trường Viết văn Nguyễn Du khóa đầu tiên, ông gắn bó với văn học và báo chí trong suốt sự nghiệp của mình.</p><p><strong>Sự nghiệp sáng tác</strong></p><p>Nguyễn Trọng Tạo bắt đầu làm thơ từ khá sớm và nhanh chóng tạo được dấu ấn riêng trong làng văn học. Ngoài thơ, ông còn viết nhạc, tiểu luận và hoạt động báo chí, từng là Trưởng ban biên tập tạp chí Thơ (thuộc Hội Nhà văn Việt Nam). Ông được biết đến như một nghệ sĩ tài hoa, có khả năng kết hợp linh hoạt giữa thơ ca và âm nhạc.</p><p>Một số <strong>tác phẩm thơ tiêu biểu</strong>:</p><ul><li><p><em>Đồng dao cho người lớn</em></p></li><li><p><em>Tình ca bên một vành nôi</em></p></li><li><p><em>Con đường của những vì sao</em></p></li><li><p><em>Biển mặn</em></p></li></ul><p>Ngoài thơ, ông còn nổi tiếng với nhiều ca khúc trữ tình như:</p><ul><li><p><em>Làng quan họ quê tôi</em></p></li><li><p><em>Khúc hát sông quê</em> (phổ thơ Lê Huy Mậu, do ông phổ nhạc)</p></li></ul><p><strong>Phong cách sáng tác</strong></p><p>Thơ Nguyễn Trọng Tạo mang phong cách <strong>phóng khoáng, giàu sáng tạo, sâu sắc và đôi khi đầy chất triết lý</strong>. Ông không ngần ngại đổi mới hình thức thơ, sử dụng cấu trúc hiện đại, giàu biểu tượng và ngôn ngữ gợi cảm. Thơ ông vừa giàu chất dân gian, vừa hiện đại; vừa sâu lắng, lại có khi hài hước, châm biếm sâu cay.</p><p>Nguyễn Trọng Tạo được đánh giá là <strong>một trong những nhà thơ có cá tính nghệ thuật mạnh mẽ</strong>, luôn đi tìm tiếng nói riêng trong thơ ca, vượt khỏi những khuôn mẫu truyền thống. Tập thơ <em>Đồng dao cho người lớn</em> là minh chứng rõ nét nhất cho phong cách độc đáo ấy – một tập thơ gây tiếng vang lớn bởi sự mới mẻ, giàu suy tưởng và cách nhìn cuộc sống đầy bản lĩnh.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/b1f8fa30d8ab4ac06b84997171b2ae2a/nguyen_trong_tao_nguyen_dinh_toan_CZXK.jpg" />
         <pubDate>2025-10-06 10:14:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3619702110</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>tranthimyduyen3934</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3619776651</link>
         <description><![CDATA[<p>Nguyễn Thi tên thật là Nguyễn Hoàng Ca, sinh ngày 15-5-1928 tại xã Quần Phương Thượng, Hải Hậu, Nam Ðịnh. Cha: hương sư Nguyễn Bội Quỳnh, sau bị thải hồi vì những hoạt động yêu nước và Cách mạng. Mẹ: bà Thành Thị Du (vợ hai). Khi cảnh gia đình sa sút, phải sống trong hoàn cảnh thật éo le, nơm nớp lo sợ những trận đòn ghen từ người vợ cả. Tuổi thơ cậu bé Nguyễn Hoàng Ca, từ đó, bắt đầu những ngày tháng bất hạnh; có lúc phải tự kiếm sống như một đứa trẻ lang thang.</p><p>Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Thi gắn liền với hình tượng người phụ nữ và con người miền Nam trong kháng chiến, với các tác phẩm nổi tiếng như "Người mẹ cầm súng," "Mẹ vắng nhà," và "Những đứa con trong gia đình". Ông viết đa dạng thể loại (thơ, truyện ngắn, bút ký, tiểu thuyết), thể hiện nghị lực phi thường và đóng góp to lớn cho văn học cách mạng Việt Nam. </p><p>Các tác phẩm nổi bật:</p><p>Tiểu thuyết: Người mẹ cầm súng (1965). </p><p>Truyện ngắn và tùy bút: Mẹ vắng nhà, Những đứa con trong gia đình, Dòng kinh quê hương, Chuyện xóm tôi. </p><p>Ký: Những sự tích đất thép, Năm tháng chưa xa. </p><p>Đặc điểm phong cách:</p><p>Ngôn từ giàu có và biến hóa: Ông sử dụng ngôn từ linh hoạt để dựng lên bức tranh sống động về con người và cuộc chiến. </p><p>Trữ tình, giàu cảm xúc: Các sáng tác của ông thể hiện sức mạnh tinh thần của con người Việt Nam trong chiến đấu. </p><p>Đặc điểm Nam Bộ: Tác phẩm của ông thể hiện đậm nét tính cách Nam Bộ, hồn nhiên, mạnh mẽ, theo tinh thần chất Uýt Tịch. </p><p>Sự nghiệp và cống hiến: </p><p>Nguyễn Thi là nhà văn - liệt sĩ, người đã dùng cả cây súng và cây bút để hoàn thành trách nhiệm của mình.</p><p>Ông đã làm thức dậy nguồn sức mạnh tinh thần của thế hệ và lưu lại cho hậu thế những bức tranh thấm đẫm tình người về nhân dân Việt Nam.</p><p>Tên tuổi ông xứng đáng đứng vào hàng ngũ những nhà văn tiêu biểu của nền văn học chống Mỹ.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/186ded1beac567b9ed0e27ab2c10914b/nguyen_thi_guong_mat_tieu_bieu_cua_doi_ngu_nha_van_cam_sung_17__4044.jpg" />
         <pubDate>2025-10-06 11:19:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3619776651</guid>
      </item>
      <item>
         <title>.</title>
         <author>nguyentranthanhngan1910</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3619779234</link>
         <description><![CDATA[<p>Nhà thơ Nguyễn Mỹ sinh ngày 21 tháng 2 năm 1935 tại thôn Trung Lương, xã An Nghiệp, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Năm 16 tuổi, ông gia nhập bộ đội, chiến đấu ở chiến trường Nam Trung Bộ. Sau năm 1954, ông tập kết ra Bắc, công tác trong Đoàn Văn công Tây Nguyên và học tại Trường Tuyên huấn Trung ương. Trong kháng chiến chống Mỹ, Nguyễn Mỹ vừa chiến đấu vừa sáng tác thơ, thể hiện tình yêu nước và khát vọng tự do. Thơ ông mang phong cách lãng mạn, chân thành và giàu cảm xúc, thường viết về tình yêu đôi lứa gắn liền với lý tưởng cách mạng, với hình ảnh giản dị nhưng giàu sức gợi. Bài thơ nổi tiếng nhất của ông là “Cuộc chia ly màu đỏ”, thể hiện sâu sắc vẻ đẹp của con người Việt Nam trong chiến tranh, vừa đau thương vừa kiên cường, lạc quan. Nguyễn Mỹ hy sinh năm 1967 tại Bình Trị Thiên, khi mới 32 tuổi. Dù cuộc đời ngắn ngủi, ông vẫn để lại dấu ấn sâu sắc trong nền thơ ca hiện đại, là tiếng nói trong trẻo của một thế hệ nhà thơ ra đi vì Tổ quốc.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4412950609/f47a63558917c14245278a012cabf8ac/Nha_tho_Nguyen_My_2.png" />
         <pubDate>2025-10-06 11:22:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3619779234</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>lengocziepppp03628</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3619787812</link>
         <description><![CDATA[<p>Tên thật:Nguyễn Đính, sinh năm 1941 tại thôn Vỹ Dạ, Huế.&nbsp;Gia đình:Mồ côi cha từ nhỏ, lớn lên trong hoàn cảnh khó khăn.&nbsp;Sự nghiệp:Ông từng tham gia phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên, lên chiến khu công tác ở Ban Tuyên huấn Thành ủy Huế (1965-1970) và sau đó ra miền Bắc an dưỡng. Sau năm 1975, ông trở về quê, làm công tác văn hóa ở Huế và nghỉ hưu năm 1984.&nbsp;Qua đời:Ông mất ngày 09 tháng 5 năm 2018 tại Huế.&nbsp;</p><p>Sáng tác văn học và phong cách. Tác phẩm tiêu biểu:"Bài thơ của một người yêu nước mình" (1967), "Người đàn ông 43 tuổi nói về mình" (1984), "Gọi tìm xác đồng đội" (2012).&nbsp;</p><p>Bút danh:Ông dùng bút danh Trần Vàng Sao, thể hiện ý chí kiên định và không bao giờ thay đổi tên mình dù có ai yêu cầu.&nbsp;</p><p>Ngoài làm thơ, nhà thơ Trần Vàng Sao còn là người mê vẽ tranh, với nét vẽ độc dị không ai so sánh được.&nbsp;</p><ul><li><p><a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://thanhnien.vn/nha-tho-viet-nam-hien-dai-tran-vang-sao-tho-va-ve-185230803205750026.htm">https://thanhnien.vn/nha-tho-viet-nam-hien-dai-tran-vang-sao-tho-va-ve-185230803205750026.htm</a></p></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="https://thanhnien.vn/nha-tho-viet-nam-hien-dai-tran-vang-sao-tho-va-ve-185230803205750026.htm" />
         <pubDate>2025-10-06 11:29:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3619787812</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>ltrongtan739</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3619803387</link>
         <description><![CDATA[<p>Anh Đức, tên thật là Bùi Đức Ái (1935 – 2014), là một nhà văn Việt Nam từng được trao giải thưởng Hồ Chí Minh do những đóng góp cho Văn học Việt Nam trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam.</p><p>Văn phong của Anh Đức được đánh giá là điềm đạm và thanh thoát. Từ những truyện ngắn đầu tay của ông, nhà văn Đoàn Giỏi từng dự đoán ông sẽ còn tiến xa trong văn nghiệp.</p><p>Với đề tài chính của các nhà văn thời bấy giờ: cuộc Chiến tranh Việt Nam, Anh Đức được đánh giá là không thi vị hóa cuộc chiến mà tìm ra nét đẹp của con người trong hoàn cảnh tàn bạo nhất của chiến tranh. Ông cũng ca ngợi tình người, sự anh dũng của lực lượng kháng chiến ở miền Nam Việt Nam.</p><p>Về truyện ngắn, ông được đánh giá là tuy không có những cốt truyện gay cấn, đặc sắc, nhưng cao tay trong cách dựng và sử dụng chữ, chi tiết đắt, tình huống hấp dẫn. Về bút ký, Anh Đức không bao giờ kể chuyện chay, những lời đại ngôn, mà bằng những chi tiết. Ngôn ngữ của ông được chọn lọc, khi sử dụng phương ngữ thường dùng những từ nêu bật nét đặc sắc của vùng đất. Trong Bức thư Cà Mau, những đoạn viết về cách đốt than, những chi tiết như người thợ đốt lò ngửi mùi xem than đã chín chưa hay vốc </p><p>bụng nước U Minh đỏ ngầu như rượu vang... đều được đánh giá rất cao.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/9881fce5213f787f1a8a92e32eca73ed/l_1388952077_anh_duc.jpg" />
         <pubDate>2025-10-06 11:41:08 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3619803387</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Tuân - &quot;Ông vua tùy bút&quot;</title>
         <author>tuongvy99117</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3619957313</link>
         <description><![CDATA[<p><br/></p><p><br/></p><p><strong>• Tiểu sử</strong></p><p><br/></p><p>Nguyễn Tuân (1910-1987) là một nhà văn lớn của văn học Việt Nam hiện đại, được xem là bậc thầy về thể loại tùy bút và ký, nổi tiếng về sự tài hoa, uyên bác và vốn ngôn ngữ giàu sức gợi. Ông sinh ra tại Hà Nội, trong một gia đình nhà nho khi Hán học đang tàn. Từng bị đuổi học và tù đày vì tham gia các hoạt động yêu nước, trước khi bắt đầu sự nghiệp văn chương. Sau Cách mạng tháng Tám, ông tích cực tham gia kháng chiến và giữ nhiều chức vụ quan trọng trong Hội Văn Nghệ Việt Nam.</p><p><br/></p><p><strong>• Sự nghiệp sáng tác</strong></p><p><br/></p><p>Nguyễn Tuân bắt đầu viết báo vào đầu những năm thập niên 1930. Sau khi ra tù năm 1935, ông bắt đầu viết văn nhưng nổi tiếng năm 1938 với những tác phẩm độc đáo.</p><p><br/></p><p>Tác phẩm trước Cách mạng tháng Tám chủ yếu xoay quanh ba đề tài là "chủ nghĩa xê dịch", vẻ đẹp "vang bóng một thời", và "đời sống truỵ lạc". Một số tác phẩm tiêu biểu như: Một chuyến đi (1938), Vang bóng một thời (1940), Thiếu quê hương (1940), Chiếc lư đồng mắt cua (1941),...</p><p><br/></p><p>Sau Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân hoà cái "tôi" cá nhân vào cái "ta" chung, hướng ngòi bút của mình phục vụ Tổ quốc, nhân dân với những tác phẩm tiểu biểu như: Tình chiến dịch (1950), Tùy bút kháng chiến (1955), Sông Đà (1960), Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi (1972),...</p><p><br/></p><p>Nguyễn Tuân còn có đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của ngôn ngữ văn học Việt Nam.</p><p><br/></p><p><strong>• Phong cách nghệ thuật</strong></p><p><br/></p><p>Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân được chia làm hai giai đoạn rõ rệt.</p><p><br/></p><p>Trước Cách mạng tháng Tám (1945), phong cách của ông thể hiện rõ chữ "ngông". Ngông dựa trên sự tài hoa, uyên bác và nhân cách hơn người, luôn tìm kiếm cái đẹp trong quá khứ và mọi sự vật đời thường. Ông chịu ảnh hưởng bởi "chủ nghĩa xê dịch", thích khám phá, trải nghiệm, đồng thời say mê thiên nhiên và con người phi thường. Nguyễn Tuân có lối viết tự do, phóng khoáng, giàu cảm xúc và sâu sắc về cái tôi cá nhân nên thể loại tùy bút trở thành sở trường của ông.</p><p><br/></p><p>Sau Cách mạng tháng Tám (1945), phong cách của Nguyễn Tuân có những thay đổi quan trọng theo hướng tích cực hơn. Vẫn tài hoa, nghệ sĩ nhưng gắn bó với nhân dân, đất nước, tìm thấy cái đẹp trong con người lao động. Giọng văn đôn hậu, tin yêu, chỉ khinh bạc với kẻ thù và những thói xấu trong xã hội.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4412711832/dc684563e3ebc7ee3b472e8763738f9f/1000008904.png" />
         <pubDate>2025-10-06 13:17:47 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3619957313</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>nguyenhnhao2208</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3620017600</link>
         <description><![CDATA[<p>Nhà thơ Hoàng Cầm (tên thật Bùi Tằng Việt, 1922–2010) là một tài năng lớn của thơ trữ tình hiện đại Việt Nam, nổi tiếng với những tác phẩm mang đậm hồn dân tộc, như bài thơ "Bên kia sông Đuống" và kiệt tác "Lá Diêu Bông". Ông quê gốc Bắc Ninh, từng là trưởng đoàn văn công, hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam, nhưng cuộc đời ông cũng trải qua nhiều biến cố, đặc biệt là vụ án "Nhân văn Giai phẩm" và những khó khăn trong giai đoạn lịch sử. Phong cách thơ của Hoàng Cầm đặc trưng bởi sự kết hợp giữa chất liệu dân gian, kiến trúc cổ và một nhạc điệu riêng, tạo nên vẻ đẹp trữ tình, lãng mạn và đầy ám ảnh. </p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/e4a6b139d4688e5ca82af6dea32be4d4/Hoang_Cam_vanvn6.jpg" />
         <pubDate>2025-10-06 13:48:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3620017600</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>tieul376</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3620081933</link>
         <description><![CDATA[<p>1. Tiểu sử, Sự nghiệp và Tác phẩm tiêu biểu</p><p>Tiểu sử</p><p>  Tên thật: Lê Khâm. Bút danh Phan Tứ được ông dùng khi hoạt động và sáng tác văn học ở chiến trường.</p><p> • Năm sinh/Năm mất: 1930 – 1995.</p><p> • Quê quán: Quy Nhơn, Bình Định (quê gốc ở Quế Sơn, Quảng Nam).</p><p> • Hoạt động cách mạng: Ông là cháu ngoại của chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh. Phan Tứ sớm giác ngộ cách mạng, tham gia kháng chiến chống Pháp, sau đó tập kết ra Bắc. Từ năm 1961, ông trở về chiến trường miền Nam (Khu V) và là cây bút chủ lực của văn nghệ giải phóng.</p><p>Sự nghiệp sáng tác</p><p>Phan Tứ là một trong những nhà văn tiêu biểu của nền văn học cách mạng Việt Nam, gắn bó mật thiết với đề tài chiến tranh và con người miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ. Ông là người chiến sĩ trực tiếp cầm súng và cầm bút, nên tác phẩm của ông mang đậm tính hiện thực và hơi thở của chiến trường.</p><p> • Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật đợt II năm 2000.</p><p>Tác phẩm tiêu biểu</p><p>Phan Tứ thành công ở cả thể loại tiểu thuyết và ký:</p><p> ▪︎ Tiểu thuyết nổi bật:</p><p>   • Mẫn và tôi (1972): Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, kể về tình yêu lãng mạn nhưng cũng đầy thử thách của một cán bộ miền Bắc (Thiêm) và cô du kích miền Nam (Mẫn), được nhà thơ Tố Hữu xem là "sách gối đầu giường" của thanh niên miền Bắc một thời.</p><p>   • Gia đình má Bảy (1968): Phản ánh cuộc đấu tranh và sự hy sinh thầm lặng của những người dân ở hậu phương, là một trong những tiểu thuyết đầu tiên viết về cuộc Đồng khởi của nhân dân miền Nam.</p><p>   • Bên kia biên giới (1958).</p><p>   • Trước giờ nổ súng (1960).</p><p>  ▪︎Tác phẩm Ký/Hồi ký nổi bật:</p><p>   • Trên đất Lào (Bút ký, 1961).</p><p>   • Măng mọc trong lửa (Bút ký, 1972).</p><p>   • Nhật ký chiến trường (Di cảo, được xuất bản thành bộ sách "Từ chiến trường khu 5" sau này): Gồm hàng ngàn trang ghi chép bằng 4 thứ tiếng (Việt, Lào, Pháp, Nga), là kho tư liệu sống vô giá về cuộc kháng chiến ở Khu V.</p><p>2. Phong cách sáng tác của Phan Tứ</p><p>Phong cách sáng tác của Phan Tứ có thể tóm gọn là Hiện thực nghiêm ngặt kết hợp với chất lãng mạn cách mạng và chất sử thi cá nhân.</p><p>A. Hiện thực nghiêm ngặt</p><p> • Lấy hiện thực làm gốc: Phan Tứ tuyên bố: "Người ta đang nô nức viết theo phong cách này, phong cách nọ, tôi chỉ theo hiện thực nghiêm ngặt". Ông kiên quyết bám sát cuộc sống chiến đấu, không tô hồng hay lãng mạn hóa quá mức.</p><p>• Cái nhìn đa diện: Ông nhìn nhận cuộc sống một cách khách quan, không né tránh cái xấu, cái đớn hèn bên cạnh cái cao cả, anh hùng. Tác phẩm của ông vừa khắc họa được sự khốc liệt, gian khổ của chiến tranh, vừa làm nổi bật sức sống mãnh liệt của con người.</p><p> • Chi tiết chân thực: Do trực tiếp sống, chiến đấu và ghi chép tỉ mỉ ("Nhật ký chiến trường"), các chi tiết trong tác phẩm của Phan Tứ rất sống động, cụ thể, mang hơi thở nóng hổi của chiến trường và đời sống nhân dân.</p><p>B. Chất lãng mạn cách mạng và chất sử thi cá nhân</p><p> • Tình cảm nhân văn sâu sắc: Dù hiện thực nghiêm ngặt, tác phẩm của ông vẫn giàu cảm xúc, thể hiện tấm lòng nhân hậu, tinh thần trách nhiệm và niềm tin vững chắc vào lý tưởng cách mạng.</p><p> • Giọng điệu trữ tình: Đặc biệt trong các tác phẩm như Mẫn và tôi, xen lẫn trong bối cảnh chiến tranh khốc liệt là những trang viết trữ tình, lãng mạn về tình yêu, tình đồng chí, tạo nên sự hấp dẫn đặc biệt cho tác phẩm.</p><p> • Sử thi cá nhân: Phan Tứ thường xây dựng nhân vật với những nét tính cách mạnh mẽ, có ý chí, nhưng lại rất đời thường, gần gũi (như Mẫn, Thiêm). Họ là những cá nhân tham gia vào cuộc chiến đấu chung của dân tộc, tạo nên một "sử thi cá nhân" giữa bối cảnh "sử thi thời đại".</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/2870278904/4985cb5cb5a2e16813a1551eed728836/1000042434.jpg" />
         <pubDate>2025-10-06 14:20:32 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3620081933</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>lthu19217</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3620085178</link>
         <description><![CDATA[<p>-Lê Anh Xuân tên thật là Ca Lê Hiến, sinh ngày 5 tháng 6 năm 1940 tại Bến Tre. Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống làm giáo dục và nghệ thuật. Cha ông là giáo sư Ca Văn Thỉnh, một nhà giáo, nhà nghiên cứu văn học, lịch sử, tích cực tham gia phong trào sinh viên Việt Nam chống chiến tranh đầu thế kỉ XX.</p><p><br/></p><p>-Sự nghiệp văn học của Lê Anh Xuân chủ yếu là thơ ca.</p><p>-Các tác phẩm tiêu biểu của Lê Anh Xuân bao gồm tập thơ Tiếng gà gáy, trường ca Nguyễn Văn Trỗi, tập thơ Hoa dừa, và đặc biệt là bài thơ Dáng đứng Việt Nam, tác phẩm cuối cùng và có ý nghĩa lớn lao của ông. </p><p>Thơ và Trường ca:</p><p>Tiếng gà gáy (1965): Tập thơ đầu tiên trong sự nghiệp của ông, thể hiện tình yêu quê hương, đất nước. </p><p>Nguyễn Văn Trỗi (1968): Một trường ca nổi tiếng, ca ngợi người anh hùng Nguyễn Văn Trỗi. </p><p>Hoa dừa (1971): Tập thơ khác thể hiện vẻ đẹp quê hương, đất nước. </p><p>Dáng đứng Việt Nam (1968): Bài thơ được viết ngay trước khi ông hy sinh, là lời khẳng định về tinh thần chiến đấu bất khuất của dân tộc.</p><p>-Phong cách sáng tác của Lê Anh Xuân nổi bật với chất thép hào hùng và nồng nàn tình yêu quê hương, đất nước, con người. Ông tập trung khắc họa hình tượng người lính Giải phóng quân với ý chí bất khuất và lý tưởng cách mạng cao đẹp, thông qua những chi tiết bình dị mà khái quát thành biểu tượng anh hùng. Thơ ông mang cảm hứng chủ đạo là tình yêu dân tộc, thể hiện sự gắn bó máu thịt với quê hương Bến Tre.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4412875095/f91e5342643af12b68dcb3f141e6f2b3/images__1_.jpeg" />
         <pubDate>2025-10-06 14:21:59 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3620085178</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>nguyentranthanhngan1910</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3620189366</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://www.thivien.net/Nguy%E1%BB%85n-M%E1%BB%B9/Cu%E1%BB%99c-chia-ly-m%C3%A0u-%C4%91%E1%BB%8F/poem-HEsMg7Z4b6G2WMGEbl8bTA" />
         <pubDate>2025-10-06 15:14:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3620189366</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>nguyentranthanhngan1910</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3620190794</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://www.thivien.net/Nguy%E1%BB%85n-M%E1%BB%B9/author-iGnHXtoJJkKt1YD3r_00uA" />
         <pubDate>2025-10-06 15:15:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3620190794</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>nguyentranthanhngan1910</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3620198212</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://www.thivien.net/L%C6%B0u-Quang-V%C5%A9/author-WpRofb64NUUZVCwLGK-ucg" />
         <pubDate>2025-10-06 15:19:48 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3620198212</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3623314679</link>
         <description><![CDATA[<p><br></p><ul><li><p>Tên thật: Nguyễn Mạnh Khải</p></li><li><p>Năm sinh – mất: 1930 – 2008</p></li><li><p>Quê quán: Làng Cát Đằng, xã Yên Đổ, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.</p></li><li><p>Tham gia cách mạng: Ông tham gia quân đội từ năm 1947, hoạt động trong lĩnh vực văn nghệ quân đội, sau này chuyển sang làm văn học dân sự.</p></li></ul><p><strong>Sự nghiệp sáng tác</strong></p><p><br></p><p>Nguyễn Khải là một cây bút có phong cách suy tư, triết lý, hiện thực sắc sảo. Tác phẩm của ông phản ánh sâu sắc những biến chuyển xã hội và con người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.</p><p><br></p><p>Một số tác phẩm tiêu biểu:</p><p><br></p><ul><li><p>“Mùa lạc” (1960) – truyện ngắn nổi tiếng, khắc họa con người Tây Bắc sau hòa bình lập lại, mang tinh thần lạc quan, tin tưởng vào cuộc sống mới.</p></li><li><p>“Xung đột” (1959) – tiểu thuyết về những mâu thuẫn trong công cuộc cải tạo xã hội.</p></li><li><p>“Đi tìm cái tôi đã mất” – tác phẩm giàu suy tưởng, thể hiện quá trình nhận thức của nhà văn trong thời kỳ đổi mới.</p></li><li><p>“Gặp gỡ cuối năm” – tiểu thuyết nổi tiếng thời hậu chiến, thể hiện cái nhìn đa chiều, nhân văn về con người.</p></li></ul><p><br></p><p><strong>Phong cách nghệ thuật</strong></p><p><br></p><ul><li><p>Giọng văn trí tuệ, sắc sảo, nhiều suy nghiệm triết lý.</p></li><li><p>Nhân vật thường được đặt trong mối quan hệ xã hội – đạo đức – tư tưởng.</p></li><li><p>Quan tâm sâu sắc đến sự đổi thay của con người trong thời đại mới.</p></li><li><p>Giai đoạn sau 1975, ông thể hiện rõ sự tự nhìn lại, đề cao tính nhân bản và trung thực trong sáng tác.</p></li></ul><p><strong>🏅</strong></p><p><strong>Giải thưởng</strong></p><p><br></p><ul><li><p>Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học – Nghệ thuật (đợt I, năm 1996).</p></li></ul><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/a0daf121e070a86ff8041ce9fd4bef1e/images__4_.jpg" />
         <pubDate>2025-10-08 09:21:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3623314679</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Ly </title>
         <author>camly6322</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3623411822</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-10-08 10:38:43 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3623411822</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>legialinh131</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3623454124</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Nguyễn Đình Thi</strong> sinh năm 1924 tại Lào, nhưng quê hương gốc rễ của ông là Hà Nội-mảnh đất đã nuôi dưỡng và truyền cảm hướng cho nhiều sáng tác của ông.Ông là <strong>nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ , nhà viết kịch và nhà lý luận phê bình văn học</strong> đa tài. Cuộc đời ông gắn liền với sự nghiệp kháng chiến, xây dựng đất nước và nền văn học cách mạng. </p><p><br/></p><p><strong>Phong cách nghệ thuật</strong> trong thơ của ông <strong>tự do, phóng khoáng</strong> nhưng vẫn <strong>hàm súc, suy tư, sâu lắng</strong> và có nhiều tìm tòi theo hướng hiện đại. Những tác phẩm <strong>văn xuôi</strong> của Nguyễn Đình Thi là sự <strong>phản ánh</strong> kịp thời cuộc chiến đấu anh dũng của nhân dân ta trong các cuộc kháng chiến. Các tác phẩm của ông đều mang tính <strong>thời sự </strong>về các cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam.</p><p><br/></p><p><strong>Tác phẩm tiêu biểu</strong> của Nguyễn Đình Thi là bài thơ “<strong>Người chiến sĩ”(1958), ”Đất nước”(1948-1955), “Bài thơ Hắc Hải”, “Tia nắng”,…</strong>Tiểu thuyết <strong>“Xung kích”, “Vỡ bờ: Thu đông năm nay”(1954) , “Mặt trận trên cao”(1967),…</strong></p><p>Phê bình văn học: <strong>“Tiểu luận Nhận đường”.</strong></p><p>Kịch: <strong>“Con nai đen”(1961), “Hoa và Ngần”(1975), “Giấc mơ”(1983), “Hòn Cuội”(1983-1986),…</strong></p><p><br/></p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4412608542/2f2419dc2bf6be14009cea0ac8aa19d0/IMG_9804.png" />
         <pubDate>2025-10-08 11:12:31 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3623454124</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường </title>
         <author>dbao9673</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3623462842</link>
         <description><![CDATA[<p>•Tiểu sử:Hoàng Phủ Ngọc Tường (1937-2023) là nhà văn Việt Nam chuyên về bút ký, được biết đến với phong cách kết hợp nhuần nhuyễn giữa triết luận và trữ tình, kiến thức uyên bác về nhiều lĩnh vực, cùng lối hành văn súc tích, tài hoa. </p><p><br></p><p>•Sự nghiệp sáng tác văn học:Sự nghiệp văn học của Hoàng Phủ Ngọc Tường nổi bật với thể loại bút ký, với nhiều tác phẩm tiêu biểu như "Rất nhiều ánh lửa", "Ai đã đặt tên cho dòng sông", "Bản di chúc của cỏ lau", "Ngọn núi ảo ảnh", "Miền cỏ thơm". Ông được biết đến với phong cách viết uyên bác, giàu tính trí tuệ và cảm xúc, kết hợp kiến thức sâu rộng về lịch sử, văn hóa, triết học với chất thơ lãng mạn, tinh tế. Tác phẩm của ông, đặc biệt là các bút ký viết về Huế, mang đậm nét đặc trưng của văn hóa và con người cố đô, xứng đáng với danh xưng "Người lập ngôn cho văn hóa Huế". </p><p><br></p><p>•Tác phẩm tiêu biểu:Tác phẩm tiêu biểu nhất của Hoàng Phủ Ngọc Tường là "Ai đã đặt tên cho dòng sông", một bài bút ký nổi tiếng được giảng dạy trong chương trình ngữ văn THPT. Ngoài ra, các tác phẩm khác cũng rất tiêu biểu bao gồm "Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu", "Rất nhiều ánh lửa" (đoạt Giải thưởng Văn học Hội Nhà văn Việt Nam 1980-1981), "Bản di chúc của cỏ lau", "Hoa trái quanh tôi", và "Miền cỏ thơm". </p><p><br></p><p>•Phong cách sáng tác:Phong cách sáng tác của Hoàng Phủ Ngọc Tường là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và chất trữ tình, với vốn kiến thức sâu rộng về lịch sử, văn hóa, triết học và địa lý, tạo nên những trang bút ký tài hoa, suy tư đa chiều và đầy cảm xúc. Lối hành văn giàu sức gợi liên tưởng, có chất thơ trong từng câu chữ, điểm xuyết ca dao, lời thơ cổ và chất Huế thơ mộng, huyền ảo, cuốn hút người đọc. </p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/1229c057099ef9ae1f2691954daea2a5/images__1_.jpg" />
         <pubDate>2025-10-08 11:18:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3623462842</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>camly6322</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3623483562</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Tiểu sử</strong></p><p><strong>- </strong>Thu Bồn&nbsp;(11/12/1935-17/6/2003), tên thật là&nbsp;Hà Đức Trọng, là một nhà thơ, nhà văn người&nbsp;Việt Nam. Thu Bồn được nhận nhiều giải thưởng văn học từ địa phương đến trung ương và quốc tế. Ông cũng là một trong những nhà thơ có đóng góp nhiều nhất suốt hai cuộc&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%C3%A1ng_chi%E1%BA%BFn_ch%E1%BB%91ng_Ph%C3%A1p">kháng chiến chống Pháp</a>&nbsp;và&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%C3%A1ng_chi%E1%BA%BFn_ch%E1%BB%91ng_M%E1%BB%B9">kháng chiến chống Mỹ</a>, cũng như trong chiến tranh biên giới Tây Nam và phía Bắc và được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng hơn 10 huân huy chương các loại.</p><p><strong>Sự nghiệp</strong></p><p>-Thu Bồn vào bộ đội năm mười một tuổi và là thiếu sinh quân ở đơn vị biệt động chiến đấu. Trong thời gian&nbsp;chiến tranh Việt Nam, ông làm phóng viên chiến trường&nbsp;Liên khu V&nbsp;sau đó về làm việc tại&nbsp;Tạp chí Văn nghệ quân đội&nbsp;thuộc&nbsp;Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam. Thu Bồn là ủy viên Ban chấp hành&nbsp;Hội Văn nghệ miền Trung Trung Bộ&nbsp;và ủy viên Ban chấp hành&nbsp;Hội Nhà văn Việt Nam&nbsp;khóa IV. Ngoài bút danh đặt theo tên dòng&nbsp;sông Thu Bồn&nbsp;quê hương, ông còn có các bút danh khác là&nbsp;“Hà Ðức Trọng”, “Bờ Lốc”.</p><p>-Ngoài thơ, Thu Bồn còn viết&nbsp;tiểu thuyết, nhưng ông được biết đến nhiều với những bài trường ca, trong đó&nbsp;Bài ca chim Chơ Rao&nbsp;vẫn được coi là thành công có tính định hướng cho phong cách tiêu biểu của ông và “không những là tác phẩm từ miền Nam gửi ra khá sớm, mà còn là bản trường ca đầu tiên của văn học giải phóng”. Đây là khúc ca ca ngợi lòng yêu tự do, ý chí bất khuất của những con người&nbsp;Tây Nguyên&nbsp;trong khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ được giảng dạy ở chương trình giáo dục phổ thông của&nbsp;Việt Nam</p><p><strong>Phong cách sáng tác</strong></p><p>- Thu Bồn là&nbsp;nhà thơ, nhà văn người Việt Nam, nổi tiếng với phong cách sáng tác sử thi kết hợp trữ tình, tập trung vào đề tài chiến tranh và tình yêu quê hương, đất nước, con người. Tác phẩm của ông thường mang đậm chất sử thi, huyền thoại, với ngôn ngữ mạnh mẽ, giàu cảm xúc, tiêu biểu là trường ca&nbsp;“ Bài ca chợ Rao”&nbsp;</p><p>Tác phẩm tiêu biểu</p><ul><li><p>Bài ca chim Chơ Rao (trường ca, 1962),</p></li><li><p>Tre xanh (thơ, 1965),</p></li><li><p>Mặt đất không quên (thơ, 1970),</p></li><li><p>Những đám mây màu cánh vạc (tiểu thuyết 2 tập, 1975);</p></li><li><p>Oran 76 ngọn (trường ca, 1979),</p></li><li><p>Người vắt sữa bầu trời (trường ca, 1985)</p></li><li><p>Thông điệp mùa xuân (trường ca, 1985)</p></li><li><p>Một trăm bài thơ tình nhờ em đặt tên (thơ, 1992)…</p></li><li><p>Tôi nhớ mưa nguồn (thơ, 1999)</p></li><li><p>Trường ca tuyển tập (1999)</p></li><li><p>Gỡi lời con đến cùng cha</p></li><li><p>Quê hương mặt trời vàng</p></li><li><p>Vùng pháo sáng (tiểu thuyết)</p></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4412921525/e17fde10940bcf969363c1ea22f1dca9/Screenshot_2025_10_08_174551.png" />
         <pubDate>2025-10-08 11:35:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3623483562</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trương Nam Hương</title>
         <author>phivan2822008</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3623486464</link>
         <description><![CDATA[<p><strong><em>Tiểu sử:</em></strong></p><p><br></p><p><br></p><p>Nhà thơ Trương Nam Hương sinh ngày 23-10-1963 tại Hải Phòng, lớn lên ở Hà Nội và vào TP Hồ Chí Minh từ năm 12 tuổi.Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, có nhiều tác phẩm tiêu biểu như Khúc hát người xa xứ, Cỏ, tuổi hai mươi, Hè phố tuổi thơ, và đã nhận nhiều giải thưởng văn học danh giá.</p><p><br></p><p><br></p><p><strong><em>Sự nghiệp sáng tác:</em></strong></p><p><br></p><p><br></p><p>Ông từng là biên tập viên của Nhà xuất bản Công an nhân dân và báo An ninh Thế giới. Với phong cách thơ trữ tình, dịu dàng và tinh tế, ông tạo nên thế giới thơ vừa lãng mạn vừa gần gũi với đời sống.</p><p><br></p><p><br></p><p><strong><em>Phong cách sáng tác:</em></strong></p><p><br></p><p><br></p><p>Trương Nam Hương là một nhà thơ tài ba, thơ ông đem đến cho người đọc một tâm hồn sâu sắc, đa âm, đa sắc. Với những từ ngữ giản đơn, bình dị, không cầu kì, rối rắm về thi pháp, mà đơn giản, tự do, giàu cảm xúc về khát vọng thể hiện tình yêu với gia đình, cha, mẹ, bà,… khắc họa lên nhưng khung cảnh bộc lộ theo tâm trạng của chủ thể, tình yêu mẫu tử thiêng liêng cao quý với chấp niệm về tình yêu của mẹ khi tuổi thơ ông vắng bóng tình thương, chỉ dẫn của mẹ, hay hình dáng mạnh mẽ, to lớn của cha cho tới khi ngọn núi ấy sụp đổ. Như vậy, thơ ông mang theo hơi thở của một người con hiếu thảo, nặng tình nặng nghĩa, một người hoài niệm, trân trọng kí ức, người biết thưởng thức cảnh đẹp không chỉ trong con người mà còn ở thiên nhiên trong quê hương đất nước. Một ánh nhìn tinh tế, nhạy cảm với mọi cái đẹp, và đem khoe nó với tất cả mọi người.</p><p><br/></p><p><br/></p><p><a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://tramvanhoc.com/tac-gia-truong-nam-huong-tieu-su-su-nghiep-tac-pham-phong-cach-sang-tac-danh-gia">https://tramvanhoc.com/tac-gia-truong-nam-huong-tieu-su-su-nghiep-tac-pham-phong-cach-sang-tac-danh-gia</a> ( kham khảo thêm nhá)</p><p><br></p><p><br></p><p><br></p><p><br></p><p><br></p><p><br></p><p><br></p><p><br></p><p><br></p><p><br></p><p><br></p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4412960944/b1e6aa7a8c0a97c6189bbb9e058dc4e1/IMG_2408.jpg" />
         <pubDate>2025-10-08 11:37:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3623486464</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>tranhungdz1709</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3623498509</link>
         <description><![CDATA[<p>Vũ Cao (tên thật là Vũ Hữu Chỉnh), sinh năm 1922 tại huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, và mất năm 2007. Ông tham gia Cách mạng từ rất sớm, từng là chiến sĩ, cán bộ trong quân đội và làm công tác văn nghệ trong Quân đội Nhân dân Việt Nam.</p><p>Vũ Cao bắt đầu sáng tác thơ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, với phong cách giản dị, chân thành, đậm chất người lính và tình quê hương. Tác phẩm của ông thường thể hiện tinh thần yêu nước, lòng trung thành với Tổ quốc và tình cảm sâu sắc đối với con người Việt Nam trong chiến tranh.</p><p><br/></p><p>Tác phẩm nổi bật nhất của ông là bài thơ “Núi Đôi” (1956), lấy cảm hứng từ một câu chuyện có thật về tình yêu của một đôi trai gái trong kháng chiến, trong đó người con gái hy sinh anh dũng. Bài thơ thể hiện tình yêu trong sáng, thủy chung và lòng son sắt của người chiến sĩ cách mạng.</p><p><br/></p><p>Ngoài “Núi Đôi”, ông còn có các tập thơ khác như:</p><p>	•	Sao chiến thắng</p><p>	•	Bên kia sông Đuống (chung)</p><p>	•	Tuyển tập Vũ Cao</p><p><br/></p><p>Ông từng giữ nhiều trọng trách trong lĩnh vực văn nghệ, như Tổng biên tập Báo Quân đội nhân dân, Phó Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/d4b74809dd377aa98c8cba290c37037a/vc.jpg" />
         <pubDate>2025-10-08 11:47:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3623498509</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>ltrongtan739</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3623520520</link>
         <description><![CDATA[<p>Trần Bảo Định (sinh năm 1944, tại Long An) là nhà văn, nhà thơ tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại, nổi tiếng với phong cách "Ông già Nam Bộ nhiều chuyện". </p><p> Ông sở hữu vốn sống phong phú, sáng tác đa dạng gồm thơ, tản văn, truyện ngắn và tiểu luận phê bình, tập trung vào đề tài quê hương, con người, văn hóa và thiên nhiên Nam Bộ, nổi bật với sự hoài niệm và tình yêu thiên nhiên.</p><p> Tự nhận là người kể chuyện, ông mang đến những trang viết đậm đà phong vị miền Nam, gần gũi và mộc mạc.Các tác phẩm như "Kiếp ba khía", "Đời bọ hung", "Phận lìm kìm" thể hiện tình yêu và sự xót xa trước những loài vật, cây cỏ quen thuộc đang dần biến mất, thức tỉnh con người về môi trường.Thơ ông thường nói về tình quê, tình người, gia đình (như tập Mẹ! Tiếng lòng, Vợ tôi, Làng tôi) và những chuyến đi.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/d04414a5fcf08d6c4533233d2204398a/hanoimoi_com_vn_uploads_images_phananh_2020_05_21__tranbaodinh.jpg" />
         <pubDate>2025-10-08 12:04:59 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3623520520</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>nguyenhnhao2208</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3623570985</link>
         <description><![CDATA[<p> - Nhà thơ Định Hải (tên thật là Nguyễn Biểu, sinh năm 1937) là một nhà văn Việt Nam, được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2007, nổi tiếng với các sáng tác cho thiếu nhi, tiêu biểu là bài thơ "Bài ca trái đất" đã được nhạc sĩ Trương Quang Lục phổ nhạc. Ông là cựu Tổng biên tập tạp chí Tuổi Xanh, có nhiều đóng góp cho nền văn học thiếu nhi và các tác phẩm của ông thường được đưa vào sách giáo khoa. </p><p> - Phong cách viết của nhà thơ Định Hải đặc trưng bởi tính nhạc cao nhờ sử dụng cấu trúc lặp giống câu hát, nhịp điệu phong phú và lối gieo vần độc đáo, tạo nên âm hưởng dịu ngọt, tươi mát và dễ đi vào lòng người đọc.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/45a35b7e893b5ce8d03f6a074097ee47/Dinh_Hai_vanvn.jpg" />
         <pubDate>2025-10-08 12:39:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3623570985</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhà thơ Trần Nhuận Minh,đánh cược cuộc đời mình vào chữ</title>
         <author>trangmai120508</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3624798827</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Nhà thơ Trần Nhuận Minh sinh năm 1944, quê quán tại Nam Sách - Hải Dương, sống và làm việc tại Quảng Ninh. Dạy học, làm báo, viết văn xuôi, viết nghiên cứu, phê bình, nhưng niềm say mê mãnh liệt nhất ông luôn dành cho thơ. Trong số gần 50 đầu sách được xuất bản của ông có tới hơn hai mươi tập thơ. Nhà thơ Trần Nhuận Minh là một gương mặt văn chương tiêu biểu, được bạn đọc đánh giá cao, ông được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật lần thứ hai (2007) cho hai tập thơ&nbsp;Nhà thơ và hoa cỏ&nbsp;và&nbsp;Bản xonat hoang dã.</strong></p><p><strong> </strong></p><p><strong>-Phong cách sáng tác:</strong></p><p>Trong mạch phát triển của nền văn học Việt Nam, Trần Nhuận Minh là người đi tiên phong, đem lại tiếng vang cho nền văn học Quảng Ninh. Giữa muôn vàn gương mặt thơ, tiếng thơ Trần Nhuận Minh nổi bật bởi chất “thực” đặc thù trong các sáng tác của nhà thơ. Chính vì chất kết dính có từ trong thơ ra đời mà thơ ông nhẹ nhàng lay động, đánh thức lương tâm người đọc.</p><p>Trần Nhuận Minh đã đóng góp nhiều công trình có giá trị cho nền văn học Quảng Ninh. Những cống hiến của Trần Nhuận Minh đã được ghi nhận bằng rất nhiều giải thưởng, trong đó có giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật (đợt 2) năm 2007 cho 2 tác phẩm: <strong><em>Nhà thơ và hoa cỏ</em></strong> và trường ca <strong><em>Bản sonata hoang dã</em></strong>, giải thưởng Sông Mekông của khu vực 6 nước sông Mekông (Trung Quốc, Myanmar, Lào, Campuchia, Thái Lan và Việt Nam) năm 2020 cho tập thơ <strong><em>Qua sóng Trường Giang</em></strong>. Thơ văn của ông từ năm 1980 đã được tuyển chọn đưa vào chương trình học Ngữ văn phổ thông, đồng thời thường xuyên được lựa chọn, giới thiệu trên các phương tiện thông tin đại chúng (báo, tạp chí, trên sóng phát thanh, truyền hình…), được giới thiệu trong chương trình văn học Quảng Ninh (thuộc chương trình giáo dục địa phương) bậc phổ thông và bậc đại học, là gương mặt thơ Quảng Ninh tiêu biểu nhất.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4412739537/e29d5533186e4aba63df89dabd260388/IMG_0094.jpeg" />
         <pubDate>2025-10-09 06:47:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3624798827</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>tranhuy87660</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3624806894</link>
         <description><![CDATA[<p>-Nhà thơ Sóng Hồng (tên thật Trường Trinh là một lãnh đạo kiệt xuất của Đảng và dân tộc Việt Nam), một nhà cách mạng với thơ ca trữ tình chính trị gắn liền với những sự kiện lịch sử lớn như Đại thắng Mùa xuân 1975, hoặc đơn giản là Sông Hồng (Hồng Hà), con sông huyết mạch của miền Bắc Việt Nam có dòng nước màu đỏ đặc trưng, mang ý nghĩa văn hóa và lịch sử sâu sắc. </p><p>-Tác phẩm tiêu biểu: Viết nhiều bài thơ về các thời kỳ cách mạng, ca ngợi sức mạnh dân tộc, ví dụ bài thơ "Sài Gòn giải phóng" viết ngay sau ngày 30/4/1975.</p><p>Phong cách sáng tác của nhà thơ Sóng Hồng (Tổng Bí thư Trường Chinh) đặc trưng bởi sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất hiện thực sâu sắc và màu sắc lãng mạn cách mạng, thể hiện lý tưởng cao đẹp, niềm tin vào tương lai tươi sáng của dân tộc, ngôn ngữ giản dị, chân thực, giàu sức gợi cảm, mang tính trữ tình-chính trị, kết hợp hài hòa giữa cái riêng tư (tình yêu, tâm hồn) và cái chung (lý tưởng, đất nước). </p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4412882985/96613ae6af993a404830e13a1f66d530/rb_PoWKVJpBRa9eRxuGRRw_1502606934.webp" />
         <pubDate>2025-10-09 06:53:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3624806894</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhà thơ Hữu Loan</title>
         <author>trangmai120508</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3624807470</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Hữu Loan </strong>tên thật là<strong> Nguyễn Hữu Loan</strong>; Bút danh: Hữu Loan (2 tháng 4 năm 1916 - 18 tháng 3 năm 2010) là một nhà thơ Việt Nam, đồng niên với nhà thơ Xuân Diệu. Quê ông tại xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.</p><p><br></p><p>-<strong>Phong cách sáng tác</strong></p><p>Hữu Loan làm thơ theo kiểu tự do, một hình thức thơ hiện đại, tân tiến, làm thức dậy những tri nhận của nhiều tác giả khác thời bấy giờ, còn băn khoăn với kiểu thơ ấy. Thực ra Hữu Loan viết không nhiều, chỉ trên dưới 20 bài thơ. Trong đó có các bài <em>Đèo Cả</em>, <em>Màu tím hoa sim</em>, <em>Những làng đi qua</em>, <em>Những tháp chuông giáo đường</em>, Yên mô, <em>Hoa lúa</em>, tính cả bài được Dương Tường, Mạc Lân, khôi phục thêm như: <em>Tình thủ đô</em>, <em>Khóc Nguyễn Sơn</em>, <em>Thánh Mẫu hài</em> <em>đồng</em>… Nhưng có lẽ nổi bật nhất là hai bài <em>Đèo Cả</em> và <em>Màu tím hoa sim</em>. Hai bài có phong cách thơ khác nhau, song vẫn là những bài thơ ấn tượng nhất, làm nên tên tuổi Hữu Loan trong con mắt của nhiều thế hệ người Việt Nam.</p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/0ab785dc212d29201c28d0b5a3ea1b66/H_u_Loan.jpg" />
         <pubDate>2025-10-09 06:54:15 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3624807470</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3625151832</link>
         <description><![CDATA[<p>-Nguyễn Quang Thiều sinh năm 1957 tại Hà Sơn Bình (nay thuộc Hà Nội). Ông là nhà thơ, nhà văn, dịch giả và hiện là Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, Phó Chủ tịch Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam.</p><p>-Nguyễn Quang Thiều khởi nghiệp văn chương từ đầu thập niên 1980. Ông được biết đến là một trong những người tiên phong đổi mới thơ Việt Nam thời kỳ hậu chiến</p><p>-Ngoài thơ, ông còn viết truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, và dịch thơ nước ngoài </p><p>-Tác phẩm tiêu biểu</p><p>	•	Tập thơ: Sự mất ngủ của lửa (1992), Những người đàn bà gánh nước sông, Châu thổ…</p><p>	•	Văn xuôi: Ngôi nhà tuổi 17, Câu chuyện của dòng sông đỏ, Cây ánh sáng…</p><p>-Phong cách sáng tác</p><p>	•	Thơ Nguyễn Quang Thiều mang màu sắc tượng trưng và siêu thực, nhiều hình ảnh ẩn dụ, mơ hồ, đa nghĩa</p><p>•	Thơ ông thể hiện khát vọng nhân bản, nỗi day dứt về thân phận con người và niềm tin vào sức mạnh của cái đẹp, của ánh sáng.</p><p>•	Giọng thơ vừa trữ tình sâu lắng, vừa hiện đại, triết lý</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/e2ce605be8f6b870d22c606f54aa83f7/nxbtre_thumb_07262016_092621.jpg" />
         <pubDate>2025-10-09 11:36:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3625151832</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hoàng Trung Thông </title>
         <author>lenguyenkimngan20212022</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3625260549</link>
         <description><![CDATA[<p>    Tiểu sử : tên thật là Hoàng Trung Thông (1925 - 1993 ) .Ông là nhà thơ, nhà văn, dịch giả, đồng thời là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1957. Trong cuộc đời sáng tác, ông từng giữ nhiều vị trí quan trọng như Tổng biên tập Nhà xuất bản Văn học và Viện trưởng Viện Văn học Việt Nam.</p><p>    Sự nghiệp sáng tác : bắt đầu sáng tác trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, sau đó tiếp tục hoạt động văn học sôi nổi trong chống Mỹ và thời kỳ xây dựng đất nước.Thơ ông thường thể hiện tình yêu quê hương, đất nước, lòng tự hào dân tộc và niềm tin vào con người Việt Nam trong đấu tranh và lao động.</p><p>     Tác phẩm tiêu biểu : Bài ca vỡ đất ; Đường chúng ta đi ; Những cánh buồm ;…</p><p>     Phong cách sáng tác : Thơ Hoàng Trung Thông mang giọng điệu chân thành, mạnh mẽ, giàu cảm xúc và tràn đầy lạc quan.Ông thường viết về người lao động, người chiến sĩ, ca ngợi sức sống, niềm tin và tinh thần cách mạng của dân tộc Việt Nam.Ngôn ngữ thơ giản dị, đậm chất dân gian, thể hiện tấm lòng gắn bó sâu sắc với nhân dân và quê hương.</p><p><br></p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/81ae3dafda43652083cc5df5eda32891/Nha_tho_Hoang_Trung_Thong.jpg" />
         <pubDate>2025-10-09 12:55:17 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3625260549</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Võ Quảng </title>
         <author>dbao9673</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3625266221</link>
         <description><![CDATA[<p>• Tiểu sử:Võ Quảng (1920–2007) là một nhà văn Việt Nam nổi tiếng, chủ yếu với các tác phẩm cho thiếu nhi, được tặng Giải thưởng Nhà nước năm 2007. Ông có nhiều đóng góp cho văn học thiếu nhi, là người đầu tiên dịch Don Quixote sang tiếng Việt và là một trong những người sáng lập NXB Kim Đồng. Cuộc đời ông gắn liền với hoạt động cách mạng, từng bị bắt giam, quản thúc, sau Cách mạng tháng Tám đã giữ nhiều vị trí quan trọng và dành trọn tâm huyết cho sự nghiệp văn học thiếu nhi. </p><p><br></p><p>• sự nghiệp sáng tác văn học:Sự nghiệp sáng tác của nhà văn Võ Quảng gắn liền với thiếu nhi, nổi bật với các tác phẩm thơ, truyện, truyện đồng thoại và kịch bản phim hoạt hình, trong đó có các tác phẩm quen thuộc như Quê nội, Thấy cái hoa nở, Cái mai, Anh đom đóm. Ông còn là dịch giả tiên phong với nhiều tác phẩm kinh điển và tích cực tham gia đào tạo nhà văn trẻ, góp phần giáo dục thẩm mỹ, nhân cách cho trẻ em. </p><p><br></p><p>• Tác Phẩm Tiêu Biểu:Tác phẩm tiêu biểu của nhà văn Võ Quảng bao gồm các truyện thiếu nhi nổi tiếng như "Tảng sáng", "Cái thăng", "Quê nội", "Cái Mai", "Những chiếc áo ấm", và các tập thơ như "Thấy cái hoa nở", "Nắng sớm", và "Anh Đom đóm", với nhiều bài thơ đã "nằm lòng" bao thế hệ như "Ai dậy sớm", "Mời vào", "Anh đom đóm". </p><p><br></p><p>Phong cách sáng tác : Phong cách sáng tác của Võ Quảng tập trung vào việc viết cho thiếu nhi với những sáng tác giàu tính giáo dục, lãng mạn hóa thế giới thiên nhiên và loài vật, sử dụng ngôn ngữ trong sáng, gần gũi với trẻ nhỏ, và tạo ra nhịp điệu thơ gần gũi như đồng dao. Ông đã để lại những tác phẩm sâu sắc về lòng yêu thiên nhiên, quê hương, và khơi gợi tình yêu thương trong lòng độc giả nhỏ tuổi. </p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/135c12706b31fd44aa0b20225708e0ce/ae5adfff_8525_400a_9ba8_7d93ec04dc6e.jpg" />
         <pubDate>2025-10-09 12:59:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3625266221</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Mai Văn Phấn - Đại sứ thơ Việt Nam </title>
         <author>tuongvy99117</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3625508108</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Tiểu sử</strong></p><p><br/></p><p>Mai Văn Phấn sinh năm 1955 tại huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Ông là nhà thơ, dịch giả, nhà phê bình và tiểu luận văn học nổi tiếng của Việt Nam. Hiện ông đang sống và sáng tác tại Hải Phòng. Năm 1974, ông nhập ngũ, rồi xuất ngũ năm 1981 và theo học tại trường Đại học Ngoại ngữ  Hà Nội ( khoa Phiên dịch ). Năm 1983, ông tiếp tục học tại Trường Đại học Sư phạm Maxim Gorky, Minsk (nay thuộc Belarus). Mai Văn Phấn đã xuất bản 19 cuốn sách tại Việt Nam, và 34 cuốn ở nước ngoài được dịch ra hơn 40 ngôn ngữ. Ông là một trong số ít nhà thơ Việt Nam trong nước được độc giả nhiều nước quan tâm.</p><p><br/></p><p><strong>Sự nghiệp sáng tác</strong></p><p><br/></p><p>Sự nghiệp sáng tác của Mai Văn Phấn đánh dấu bằng nỗ lực không ngừng nghỉ trong việc cách tân thơ ca Việt Nam. Ông bắt đầu sáng tác và xuất bản tập thơ đầu tay "Giọt nắng" vào năm 1992 và tiếp tục sáng tác cho đến nay.</p><p><br/></p><p>Một số tập thơ tiêu biểu như: "Gọi xanh" (1995), "Vách nước" (2003), "Hôm sau" (2009), "Bầu trời không mái che" (2010) và "Hoa giấu mặt" (2012), cùng một tập trường ca là "Người cùng thời" (1999),...</p><p><br/></p><p>Mai Văn Phấn được coi là nhà thơ tiểu biểu trong 20 năm qua, ông đã nhận được nhiều giải thưởng trong nước và quốc tế. Trong đó có giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2010 và giải thưởng Cikada của Thụy Điển 2017. </p><p><br/></p><p><strong>Phong cách sáng tác</strong></p><p><br/></p><p>Thơ của Mai Văn Phấn chú trọng đến suy nghĩ và lý trí, thể hiện sự tinh tế trong cách dùng từ và sáng tạo trong hình thức. Thơ của ông dựa trên nền tảng triết học và mỹ học vững vàng, là sự chiêm nghiệm sâu sắc về cuộc sống. Thấm đẫm tinh thần thiền định của Phật giáo và các tôn giáo khác, thể hiện qua sự an hoà, tự tại và giá trị bản chất, cốt lõi. Thơ ông có sự kết hợp hài hòa giữa thơ truyền thống và hiện đại, vừa giữ được hồn Việt, vừa thể hiện tư duy mới mẻ của riêng mình.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4412711832/26776b7d858e5cf0f83c6624b3dff477/1000008990.jpg" />
         <pubDate>2025-10-09 15:27:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3625508108</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3625529416</link>
         <description><![CDATA[<p>Nguyễn Đức Mậu là</p><p><strong><mark>nhà thơ, nhà văn quân đội, sinh năm 1948 tại Nam Định, quê gốc Nam Điền. Ông nhập ngũ năm 1966, chiến đấu tại Lào, sau đó là biên tập viên tạp chí, trưởng ban thơ tạp chí Văn nghệ Quân đội, và là phó chủ tịch hội đồng Thơ – Hội nhà văn Việt Nam. Tác phẩm của ông thường xoay quanh chủ đề chiến tranh và cuộc sống sau chiến tranh, với những suy tư nhân văn sâu sắc về quê hương, đồng đội và thân nhân</mark></strong>.&nbsp;</p><ul><li><p><strong>Chủ đề chính:</strong> Thơ và văn của ông tập trung vào mảng đề tài chiến tranh và hậu chiến, khắc họa sự bi tráng, hào hùng của cuộc kháng chiến, nhưng cũng không quên những mất mát, hy sinh và sự hồi tưởng về quê hương, bè bạn.</p></li><li><p><strong>Phong cách:</strong> Thơ ông mang tính da diết, chân thành, với cái nhìn nhân văn sâu sắc từ trải nghiệm sống của người lính.</p></li><li><p><strong>Tác phẩm tiêu biểu:</strong></p><ul><li><p>Thơ: <a rel="noopener noreferrer nofollow" class="GI370e" href="https://www.google.com/search?apps=ma%2Cyt&amp;bih=848&amp;biw=414&amp;channel=iss&amp;client=mobilesearchapp&amp;cs=0&amp;ctzn=Asia%2FHo_Chi_Minh&amp;dpr=2&amp;fbs=AIIjpHyNLa7NbKa1H9FnKAJNsjCP-TpdCAm2aY_P75kZYcjM4g-hvoB7IlTlGSJH6VHacWl_PWY8hG3S_m361AoSNEbWLbUmRu1p8ILGnADl5SCztJ4gYA3lK1DB8WW3l33fWqsgqGrv0X1La2jnUrk8u6OHUZwvEBTioIpyar5rt5sFOyyA31lTdI7u_olJmyBD3nRa6IWYrL6h3Z3OdwXuE79IX0Xuv9hsQKRQPi6TQ4v8lwx-pY0&amp;gsawvi=1&amp;hl=vi&amp;ie=UTF-8&amp;ioshw=iPhone12%2C1&amp;ntyp=1&amp;pbx=1&amp;q=C%C3%A2y+xanh+%C4%91%E1%BA%A5t+l%E1%BB%ADa&amp;rlz=1MDAPLA_viVN1040VN1040&amp;sa=X&amp;sca_esv=57c838167095f3b0&amp;source=ios.gsa.default&amp;sxsrf=AE3TifNAu1KfaVznqMKvSFV7jboXcLEEtQ%3A1760024366664&amp;v=389.2.814818472&amp;ved=2ahUKEwjf3_XluZeQAxUHm68BHdFTD9IQgK4QegQIBRAE&amp;vpa=2&amp;vse=1&amp;mstk=AUtExfAGgl7XLsolAr35s4XSzR1-iN89Op8ci6R1tPUuZFbxDCFQ26AjZxRRgoDr9x9QQ2Tpt7Dvvibr2P384QXszOVtSJgFfENWvNst62jiIfjbp6DSnUTU00QjKKot5UR8Mp7DzlBL2RWgaPnBXPp7msHxr2-UvoTSXSCEnwPlWYo-uswl-PaM4e5ij8HSu_FUhfeLsSYV9sy8W6Z72pjsHN3HC0b7S7T4_M5i18bGHYhCVd0laQZJsv9dmo7v6ad4wiBe8nD9XwdKP0oQDLxBACzcmb-isFhUimh8bodMffsW6etODZZna80Et5JgtDvBeQ&amp;csui=3"><strong>Cây xanh đất lửa</strong></a>, <a rel="noopener noreferrer nofollow" class="GI370e" href="https://www.google.com/search?apps=ma%2Cyt&amp;bih=848&amp;biw=414&amp;channel=iss&amp;client=mobilesearchapp&amp;cs=0&amp;ctzn=Asia%2FHo_Chi_Minh&amp;dpr=2&amp;fbs=AIIjpHyNLa7NbKa1H9FnKAJNsjCP-TpdCAm2aY_P75kZYcjM4g-hvoB7IlTlGSJH6VHacWl_PWY8hG3S_m361AoSNEbWLbUmRu1p8ILGnADl5SCztJ4gYA3lK1DB8WW3l33fWqsgqGrv0X1La2jnUrk8u6OHUZwvEBTioIpyar5rt5sFOyyA31lTdI7u_olJmyBD3nRa6IWYrL6h3Z3OdwXuE79IX0Xuv9hsQKRQPi6TQ4v8lwx-pY0&amp;gsawvi=1&amp;hl=vi&amp;ie=UTF-8&amp;ioshw=iPhone12%2C1&amp;ntyp=1&amp;pbx=1&amp;q=%C3%81o+tr%E1%BA%ADn&amp;rlz=1MDAPLA_viVN1040VN1040&amp;sa=X&amp;sca_esv=57c838167095f3b0&amp;source=ios.gsa.default&amp;sxsrf=AE3TifNAu1KfaVznqMKvSFV7jboXcLEEtQ%3A1760024366664&amp;v=389.2.814818472&amp;ved=2ahUKEwjf3_XluZeQAxUHm68BHdFTD9IQgK4QegQIBRAF&amp;vpa=2&amp;vse=1&amp;mstk=AUtExfAGgl7XLsolAr35s4XSzR1-iN89Op8ci6R1tPUuZFbxDCFQ26AjZxRRgoDr9x9QQ2Tpt7Dvvibr2P384QXszOVtSJgFfENWvNst62jiIfjbp6DSnUTU00QjKKot5UR8Mp7DzlBL2RWgaPnBXPp7msHxr2-UvoTSXSCEnwPlWYo-uswl-PaM4e5ij8HSu_FUhfeLsSYV9sy8W6Z72pjsHN3HC0b7S7T4_M5i18bGHYhCVd0laQZJsv9dmo7v6ad4wiBe8nD9XwdKP0oQDLxBACzcmb-isFhUimh8bodMffsW6etODZZna80Et5JgtDvBeQ&amp;csui=3"><strong>Áo trận</strong></a>, <a rel="noopener noreferrer nofollow" class="GI370e" href="https://www.google.com/search?apps=ma%2Cyt&amp;bih=848&amp;biw=414&amp;channel=iss&amp;client=mobilesearchapp&amp;cs=0&amp;ctzn=Asia%2FHo_Chi_Minh&amp;dpr=2&amp;fbs=AIIjpHyNLa7NbKa1H9FnKAJNsjCP-TpdCAm2aY_P75kZYcjM4g-hvoB7IlTlGSJH6VHacWl_PWY8hG3S_m361AoSNEbWLbUmRu1p8ILGnADl5SCztJ4gYA3lK1DB8WW3l33fWqsgqGrv0X1La2jnUrk8u6OHUZwvEBTioIpyar5rt5sFOyyA31lTdI7u_olJmyBD3nRa6IWYrL6h3Z3OdwXuE79IX0Xuv9hsQKRQPi6TQ4v8lwx-pY0&amp;gsawvi=1&amp;hl=vi&amp;ie=UTF-8&amp;ioshw=iPhone12%2C1&amp;ntyp=1&amp;pbx=1&amp;q=M%C6%B0a+trong+r%E1%BB%ABng+ch%C3%A1y&amp;rlz=1MDAPLA_viVN1040VN1040&amp;sa=X&amp;sca_esv=57c838167095f3b0&amp;source=ios.gsa.default&amp;sxsrf=AE3TifNAu1KfaVznqMKvSFV7jboXcLEEtQ%3A1760024366664&amp;v=389.2.814818472&amp;ved=2ahUKEwjf3_XluZeQAxUHm68BHdFTD9IQgK4QegQIBRAG&amp;vpa=2&amp;vse=1&amp;mstk=AUtExfAGgl7XLsolAr35s4XSzR1-iN89Op8ci6R1tPUuZFbxDCFQ26AjZxRRgoDr9x9QQ2Tpt7Dvvibr2P384QXszOVtSJgFfENWvNst62jiIfjbp6DSnUTU00QjKKot5UR8Mp7DzlBL2RWgaPnBXPp7msHxr2-UvoTSXSCEnwPlWYo-uswl-PaM4e5ij8HSu_FUhfeLsSYV9sy8W6Z72pjsHN3HC0b7S7T4_M5i18bGHYhCVd0laQZJsv9dmo7v6ad4wiBe8nD9XwdKP0oQDLxBACzcmb-isFhUimh8bodMffsW6etODZZna80Et5JgtDvBeQ&amp;csui=3"><strong>Mưa trong rừng cháy</strong></a>, <a rel="noopener noreferrer nofollow" class="GI370e" href="https://www.google.com/search?apps=ma%2Cyt&amp;bih=848&amp;biw=414&amp;channel=iss&amp;client=mobilesearchapp&amp;cs=0&amp;ctzn=Asia%2FHo_Chi_Minh&amp;dpr=2&amp;fbs=AIIjpHyNLa7NbKa1H9FnKAJNsjCP-TpdCAm2aY_P75kZYcjM4g-hvoB7IlTlGSJH6VHacWl_PWY8hG3S_m361AoSNEbWLbUmRu1p8ILGnADl5SCztJ4gYA3lK1DB8WW3l33fWqsgqGrv0X1La2jnUrk8u6OHUZwvEBTioIpyar5rt5sFOyyA31lTdI7u_olJmyBD3nRa6IWYrL6h3Z3OdwXuE79IX0Xuv9hsQKRQPi6TQ4v8lwx-pY0&amp;gsawvi=1&amp;hl=vi&amp;ie=UTF-8&amp;ioshw=iPhone12%2C1&amp;ntyp=1&amp;pbx=1&amp;q=Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng+ca+s%C6%B0+%C4%91o%C3%A0n&amp;rlz=1MDAPLA_viVN1040VN1040&amp;sa=X&amp;sca_esv=57c838167095f3b0&amp;source=ios.gsa.default&amp;sxsrf=AE3TifNAu1KfaVznqMKvSFV7jboXcLEEtQ%3A1760024366664&amp;v=389.2.814818472&amp;ved=2ahUKEwjf3_XluZeQAxUHm68BHdFTD9IQgK4QegQIBRAH&amp;vpa=2&amp;vse=1&amp;mstk=AUtExfAGgl7XLsolAr35s4XSzR1-iN89Op8ci6R1tPUuZFbxDCFQ26AjZxRRgoDr9x9QQ2Tpt7Dvvibr2P384QXszOVtSJgFfENWvNst62jiIfjbp6DSnUTU00QjKKot5UR8Mp7DzlBL2RWgaPnBXPp7msHxr2-UvoTSXSCEnwPlWYo-uswl-PaM4e5ij8HSu_FUhfeLsSYV9sy8W6Z72pjsHN3HC0b7S7T4_M5i18bGHYhCVd0laQZJsv9dmo7v6ad4wiBe8nD9XwdKP0oQDLxBACzcmb-isFhUimh8bodMffsW6etODZZna80Et5JgtDvBeQ&amp;csui=3"><strong>Trường ca sư đoàn</strong></a>, <a rel="noopener noreferrer nofollow" class="GI370e" href="https://www.google.com/search?apps=ma%2Cyt&amp;bih=848&amp;biw=414&amp;channel=iss&amp;client=mobilesearchapp&amp;cs=0&amp;ctzn=Asia%2FHo_Chi_Minh&amp;dpr=2&amp;fbs=AIIjpHyNLa7NbKa1H9FnKAJNsjCP-TpdCAm2aY_P75kZYcjM4g-hvoB7IlTlGSJH6VHacWl_PWY8hG3S_m361AoSNEbWLbUmRu1p8ILGnADl5SCztJ4gYA3lK1DB8WW3l33fWqsgqGrv0X1La2jnUrk8u6OHUZwvEBTioIpyar5rt5sFOyyA31lTdI7u_olJmyBD3nRa6IWYrL6h3Z3OdwXuE79IX0Xuv9hsQKRQPi6TQ4v8lwx-pY0&amp;gsawvi=1&amp;hl=vi&amp;ie=UTF-8&amp;ioshw=iPhone12%2C1&amp;ntyp=1&amp;pbx=1&amp;q=Hoa+%C4%91%E1%BB%8F+ngu%E1%BB%93n+s%C3%B4ng&amp;rlz=1MDAPLA_viVN1040VN1040&amp;sa=X&amp;sca_esv=57c838167095f3b0&amp;source=ios.gsa.default&amp;sxsrf=AE3TifNAu1KfaVznqMKvSFV7jboXcLEEtQ%3A1760024366664&amp;v=389.2.814818472&amp;ved=2ahUKEwjf3_XluZeQAxUHm68BHdFTD9IQgK4QegQIBRAI&amp;vpa=2&amp;vse=1&amp;mstk=AUtExfAGgl7XLsolAr35s4XSzR1-iN89Op8ci6R1tPUuZFbxDCFQ26AjZxRRgoDr9x9QQ2Tpt7Dvvibr2P384QXszOVtSJgFfENWvNst62jiIfjbp6DSnUTU00QjKKot5UR8Mp7DzlBL2RWgaPnBXPp7msHxr2-UvoTSXSCEnwPlWYo-uswl-PaM4e5ij8HSu_FUhfeLsSYV9sy8W6Z72pjsHN3HC0b7S7T4_M5i18bGHYhCVd0laQZJsv9dmo7v6ad4wiBe8nD9XwdKP0oQDLxBACzcmb-isFhUimh8bodMffsW6etODZZna80Et5JgtDvBeQ&amp;csui=3"><strong>Hoa đỏ nguồn sông</strong></a>….</p></li><li><p>Văn: <a rel="noopener noreferrer nofollow" class="GI370e" href="https://www.google.com/search?apps=ma%2Cyt&amp;bih=848&amp;biw=414&amp;channel=iss&amp;client=mobilesearchapp&amp;cs=0&amp;ctzn=Asia%2FHo_Chi_Minh&amp;dpr=2&amp;fbs=AIIjpHyNLa7NbKa1H9FnKAJNsjCP-TpdCAm2aY_P75kZYcjM4g-hvoB7IlTlGSJH6VHacWl_PWY8hG3S_m361AoSNEbWLbUmRu1p8ILGnADl5SCztJ4gYA3lK1DB8WW3l33fWqsgqGrv0X1La2jnUrk8u6OHUZwvEBTioIpyar5rt5sFOyyA31lTdI7u_olJmyBD3nRa6IWYrL6h3Z3OdwXuE79IX0Xuv9hsQKRQPi6TQ4v8lwx-pY0&amp;gsawvi=1&amp;hl=vi&amp;ie=UTF-8&amp;ioshw=iPhone12%2C1&amp;ntyp=1&amp;pbx=1&amp;q=%E1%BB%9E+ph%C3%ADa+r%E1%BB%ABng+L%C3%A0o&amp;rlz=1MDAPLA_viVN1040VN1040&amp;sa=X&amp;sca_esv=57c838167095f3b0&amp;source=ios.gsa.default&amp;sxsrf=AE3TifNAu1KfaVznqMKvSFV7jboXcLEEtQ%3A1760024366664&amp;v=389.2.814818472&amp;ved=2ahUKEwjf3_XluZeQAxUHm68BHdFTD9IQgK4QegQIBRAO&amp;vpa=2&amp;vse=1&amp;mstk=AUtExfAGgl7XLsolAr35s4XSzR1-iN89Op8ci6R1tPUuZFbxDCFQ26AjZxRRgoDr9x9QQ2Tpt7Dvvibr2P384QXszOVtSJgFfENWvNst62jiIfjbp6DSnUTU00QjKKot5UR8Mp7DzlBL2RWgaPnBXPp7msHxr2-UvoTSXSCEnwPlWYo-uswl-PaM4e5ij8HSu_FUhfeLsSYV9sy8W6Z72pjsHN3HC0b7S7T4_M5i18bGHYhCVd0laQZJsv9dmo7v6ad4wiBe8nD9XwdKP0oQDLxBACzcmb-isFhUimh8bodMffsW6etODZZna80Et5JgtDvBeQ&amp;csui=3"><strong>Ở phía rừng Lào</strong></a> (truyện vừa), <a rel="noopener noreferrer nofollow" class="GI370e" href="https://www.google.com/search?apps=ma%2Cyt&amp;bih=848&amp;biw=414&amp;channel=iss&amp;client=mobilesearchapp&amp;cs=0&amp;ctzn=Asia%2FHo_Chi_Minh&amp;dpr=2&amp;fbs=AIIjpHyNLa7NbKa1H9FnKAJNsjCP-TpdCAm2aY_P75kZYcjM4g-hvoB7IlTlGSJH6VHacWl_PWY8hG3S_m361AoSNEbWLbUmRu1p8ILGnADl5SCztJ4gYA3lK1DB8WW3l33fWqsgqGrv0X1La2jnUrk8u6OHUZwvEBTioIpyar5rt5sFOyyA31lTdI7u_olJmyBD3nRa6IWYrL6h3Z3OdwXuE79IX0Xuv9hsQKRQPi6TQ4v8lwx-pY0&amp;gsawvi=1&amp;hl=vi&amp;ie=UTF-8&amp;ioshw=iPhone12%2C1&amp;ntyp=1&amp;pbx=1&amp;q=T%C6%B0%E1%BB%9Bng+v%C3%A0+l%C3%ADnh&amp;rlz=1MDAPLA_viVN1040VN1040&amp;sa=X&amp;sca_esv=57c838167095f3b0&amp;source=ios.gsa.default&amp;sxsrf=AE3TifNAu1KfaVznqMKvSFV7jboXcLEEtQ%3A1760024366664&amp;v=389.2.814818472&amp;ved=2ahUKEwjf3_XluZeQAxUHm68BHdFTD9IQgK4QegQIBRAP&amp;vpa=2&amp;vse=1&amp;mstk=AUtExfAGgl7XLsolAr35s4XSzR1-iN89Op8ci6R1tPUuZFbxDCFQ26AjZxRRgoDr9x9QQ2Tpt7Dvvibr2P384QXszOVtSJgFfENWvNst62jiIfjbp6DSnUTU00QjKKot5UR8Mp7DzlBL2RWgaPnBXPp7msHxr2-UvoTSXSCEnwPlWYo-uswl-PaM4e5ij8HSu_FUhfeLsSYV9sy8W6Z72pjsHN3HC0b7S7T4_M5i18bGHYhCVd0laQZJsv9dmo7v6ad4wiBe8nD9XwdKP0oQDLxBACzcmb-isFhUimh8bodMffsW6etODZZna80Et5JgtDvBeQ&amp;csui=3"><strong>Tướng và lính</strong></a> (tiểu thuyết)</p></li><li><p><strong>Giải thưởng:</strong> Ông đã nhận nhiều giải thưởng, trong đó có Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật, Giải thưởng Văn học ASEAN, cùng 3 giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam.</p></li></ul></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/cd4add57ea8b66034e594627b887a6e5/Nha_tho_Nguyen_Duc_Mau.jpg" />
         <pubDate>2025-10-09 15:42:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3625529416</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3625532001</link>
         <description><![CDATA[<ul><li><p><strong>Tiểu sử:</strong></p><ul><li><p>Tên thật: Hoàng Nhuận Cầm, sinh năm 1952 tại Hà Nội.</p></li><li><p>Thân thế: Là con của nhạc sĩ Hoàng Giáp và là anh trai của đạo diễn, quay phim Hoàng Nhuệ.</p></li></ul></li><li><p><strong>Quá trình hoạt động:</strong></p><ul><li><p><strong>Tham gia chiến đấu:</strong> Đang học khoa Ngữ văn tại Đại học Tổng hợp Hà Nội, ông đã gác lại bút nghiên để nhập ngũ vào năm 1971, tham gia chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị.</p></li><li><p><strong>Trở lại sáng tác:</strong> Sau khi trở về, ông tiếp tục học tập và làm việc tại Hãng phim truyện Việt Nam, đảm nhận vai trò biên tập viên, nhà biên kịch.</p></li><li><p><strong>Đóng phim:</strong> Ông còn xuất hiện với vai trò diễn viên, đặc biệt là vai "bác sĩ Hoa Súng" được nhiều người yêu mến.&nbsp;</p></li></ul></li></ul><p><strong>Sự nghiệp sáng tác</strong></p><p><strong>Thơ ca</strong></p><p>Hoàng Nhuận Cầm là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ chống Mỹ, với phong cách trữ tình, trẻ trung và lãng mạn.&nbsp;</p><ul><li><p><strong>Phong cách:</strong> Thơ ông thường hướng về những rung cảm của tuổi trẻ, tình yêu, ký ức học trò và khát vọng về một cuộc sống tươi đẹp. Ông được xem là "người khơi mạch nguồn 'dòng thơ sinh viên'" với chất thơ chân thành, trong sáng.</p></li><li><p><strong>Các tập thơ tiêu biểu:</strong></p><ul><li><p><em>Thơ tuổi 20</em> (in chung, 1974)</p></li><li><p><em>Những câu thơ viết đợi mặt trời</em> (1983)</p></li><li><p><em>Xúc xắc mùa thu</em> (1992)</p></li><li><p><em>Thơ với tuổi thơ</em> (2004)</p></li><li><p><em>Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến</em> (2007)</p></li><li><p><em>Chiếc lá đầu tiên</em> (2007)</p></li><li><p><em>36 bài thơ tuyển chọn</em> (2008)&nbsp;</p></li></ul></li></ul><p><strong>Kịch bản phim</strong></p><p>Ngoài thơ ca, ông còn viết nhiều kịch bản phim được đánh giá cao, như <em>Đằng sau cánh cửa</em> và <em>Lầm lỗi</em>.&nbsp;</p><p><strong>Giải thưởng và thành tựu</strong></p><ul><li><p><strong>Giải thưởng:</strong> Ông đã nhận được nhiều giải thưởng văn học uy tín, trong đó có Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2012.</p></li><li><p><strong>Đóng góp:</strong> Với những tác phẩm giàu cảm xúc và chất lãng mạn, Hoàng Nhuận Cầm đã tạo nên một dấu ấn riêng, trở thành một trong những gương mặt thơ sáng giá, được đông đảo độc giả yêu mến.&nbsp;</p></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/7e3f4ad6c8cd5097d7c424d9290b2a5c/hoangnhuancam_jjbw44295428pm.jpg" />
         <pubDate>2025-10-09 15:43:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3625532001</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Châu ( Nông Quốc Chấn 18-11-1923 ; 04-02-2002 )</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3625600589</link>
         <description><![CDATA[<p>Nông Quốc Chấn là một nhà văn người dân tộc Tày, Việt Nam. Ông là người dân tộc đầu tiên mang hơi thở núi rừng Việt Bắc vào thi ca, được xem là cánh chim đầu đàn của những người cầm bút các dân tộc thiểu số. Ông cũng là một trong số ít người dịch thơ văn từ tiếng Việt sang tiếng dân tộc.Phong cách sáng tác của Nông Quốc Chấn nổi bật với việc tái hiện chân thực, sống động hình ảnh con người Việt Bắc, đặc biệt là người dân tộc Tày, với tình yêu quê hương, đất nước và thiên nhiên mãnh liệt</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-10-09 16:32:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3625600589</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Y Phương </title>
         <author>duyk8006</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3625616991</link>
         <description><![CDATA[<p>• Y Phương là nhà thơ dân tộc Tày, tên thật là Hứa Vĩnh Sước, sinh năm 1948 tại Cao Bằng, nổi tiếng với các tác phẩm mang âm hưởng văn hóa và con người miền núi.</p><p>• Ông có sự nghiệp gắn liền với quân đội và hoạt động văn nghệ địa phương . Ông nhập ngũ năm 1968 và phục vụ trong quân đội đến năm 1981.Sau đó, ông chuyển về công tác tại Sở Văn hóa và Thông tin tỉnh Cao Bằng.Từ năm 1993, ông là Chủ tịch Hội Văn nghệ Cao Bằng.&nbsp;</p><p>• Phong cách sáng tác : Chất sử thi: Các tác phẩm của Y Phương thường mang âm hưởng sử thi, phản ánh một cách mạnh mẽ, hào sảng về đời sống, văn hóa, lịch sử của đồng bào dân tộc Tày.Ngôn ngữ dân tộc: Ông sử dụng ngôn ngữ của dân tộc mình, gần gũi, mộc mạc, độc đáo để khắc họa chân thực hình ảnh và tâm hồn con người miền núi.Trữ tình sâu lắng: Bên cạnh chất sử thi, thơ ông còn chứa đựng tình cảm trữ tình sâu lắng, gắn bó với thiên nhiên và con người.&nbsp;</p><p>• Tác phẩm tiêu biểu :Bài thơ <a rel="noopener noreferrer nofollow" class="GI370e" href="https://www.google.com/search?apps=yt&amp;bih=848&amp;biw=414&amp;channel=iss&amp;client=mobilesearchapp&amp;cs=1&amp;ctzn=Asia%2FHo_Chi_Minh&amp;gsawvi=1&amp;hl=vi&amp;ie=UTF-8&amp;ioshw=iPhone12%2C1&amp;ntyp=1&amp;oq=gi%E1%BB%9Bi+thi%E1%BB%87u+v%E1%BB%81+ti%E1%BB%83u+s%E1%BB%AD+%2C+s%E1%BB%B1+nghi%E1%BB%87p+s%C3%A1ng+t%C3%A1c+v%C4%83n+h%E1%BB%8Dc+%2C+t%C3%A1c+ph%E1%BA%A9m+ti%C3%AAu+bi%E1%BB%83u+%2C+phong+c%C3%A1ch+s%C3%A1ng+t%C3%A1c+c%E1%BB%A7a+Y+Ph%C6%B0%C6%A1ng+&amp;pbx=1&amp;q=%22N%C3%B3i+v%E1%BB%9Bi+em%22&amp;rlz=1MDAPLA_viVN1096VN1096&amp;source=ios.gsa.default&amp;v=388.0.811331708&amp;vpa=2&amp;vse=1&amp;mstk=AUtExfB4IPrvP7EAPecvFZBUk0CgUO5MgBZ2Z47QCrXswhSD6zONgjjE9VUj6I5rPo2XYO9nqafSeff9V7jQxBA52lagItj4x3pDjAw1B_oAC--q4YyTg7-T-E3P2CTztiS6Z0T6UIAuD5PzBfpxSk6HjV3tFpdQ1cdq640i9cUlaDRiEwA&amp;csui=3&amp;ved=2ahUKEwjHubOOx5eQAxXr3jQHHXrNI7EQgK4QegQICRAB">"Nói với em"</a> là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, thể hiện rõ nét phong cách và tâm hồn của nhà thơ.&nbsp;</p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4412760732/1c61e8ff3c52de8392d1dc27bcf805f2/IMG_2627.jpg" />
         <pubDate>2025-10-09 16:45:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3625616991</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>legialinh131</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3625625681</link>
         <description><![CDATA[<p>Vũ Quần Phương sinh năm 1940, tên thật của ông là Vũ Ngọc Chúc. Ông là <strong>nhà thơ, nhà báo và nhà phê bình văn học</strong>. Bút danh của ông là Ngọc Vũ, Phương Viết. Ông tốt nghiệp Đại học Y khoa rồi làm bác sĩ 2 năm trước khi chuyển sang làm nhà thơ, nhà phê bình văn học. Hiện nay, Vũ Quần Phương là <strong>nguyên Chủ tịch Hội đồng thơ Hội Nhà Văn Việt Nam, Phó Tổng biên tập tạp chí Văn chương Việt Nam bằng tiếng Pháp.</strong></p><p><br/></p><p><strong>Phong cách sáng tạo</strong></p><p>Nhà thơ Vũ Quần Phương vốn có điểm xuất phát là nó <strong>ngành y</strong>, ông dành thanh xuân, thời gian và tuổi trẻ cho việc học y, nhưng sự tình cờ, cuộc đời sự nghiệp của nhà thơ đã rẽ sang một hướng khác, theo tiếng gọi của tâm hồn thi ca. Thơ của ông <strong>nó giàu trí tuệ, sâu sắc, kết hợp ngôn ngữ bình dị nhưng thâm thuý, đầy ý vị</strong>, đã đẩy người đọc vào không gian <strong>chiêm nghiệm</strong>, đánh giá về lẽ đời.Từ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, như bao nhà thơ khác, ông đều hướng đến <strong>khát vọng hoà bình, tự do</strong>. Ông lấy người lao động, lấy con vật, lấy hơi thở đời sống để bộc lộ cái tôi trữ tình<strong>, cái cảm xúc cá nhân, giản dị, dễ hiểu, là thước đo những giá trị đạo đức, khái niệm về tinh thần lạc quan, trân trọng cuộc sống.</strong></p><p><br/></p><p><strong>Tác phẩm tiêu biểu</strong></p><p>Cỏ mùa xuân(1966), Hoa trong cây(1977), Những điều cùng đến, Đợi(1988) , Vầng trăng trong xe bò(1988) , Vết thời gian, Giấy mênh mông trắng,….</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4412608542/47e78a55eea9b242a1271a30de38ff04/IMG_9821.jpg" />
         <pubDate>2025-10-09 16:52:17 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3625625681</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>tieul376</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3625663055</link>
         <description><![CDATA[<p>I. Tiểu sử và Sự nghiệp Sáng tác</p><p>1. Tiểu sử</p><p> • Tên đầy đủ: Trần Hữu Thung.</p><p> • Sinh: 26 tháng 7 năm 1923.</p><p> • Quê quán: Xã Diễn Minh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.</p><p> • Hoạt động cách mạng: Ông tham gia Việt Minh từ năm 1944. Trong kháng chiến chống Pháp, ông là cán sự văn hóa, cán bộ tuyên truyền thuộc Liên khu IV.</p><p> • Hoạt động văn nghệ: Ông là một trong những hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam (năm 1957) và từng giữ các chức vụ như Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, Chủ tịch Hội Văn nghệ Nghệ Tĩnh.</p><p> • Qua đời: Năm 1999 tại quê nhà (một số nguồn ghi năm 2001).</p><p> • Giải thưởng tiêu biểu:</p><p>   • Huy chương vàng Giải thưởng thơ tại Liên hoan thanh niên thế giới năm 1953 cho bài thơ "Thăm lúa".</p><p>   • Giải nhì Giải thưởng văn nghệ 1954-1955 cho hai tập "Đồng tháng Tám" và "Dặn con".</p><p>   • Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật đợt I, năm 2001 (truy tặng).</p><p>2. Tác phẩm tiêu biểu</p><p>Trần Hữu Thung sáng tác nhiều thể loại như thơ, ca dao, bút ký, kịch phim, và soạn thảo Từ điển tiếng Nghệ. Các tác phẩm nổi bật của ông bao gồm:</p><p> • Thơ:</p><p>   • "Thăm lúa" (1951) - Tác phẩm nổi tiếng nhất, được đưa vào sách giáo khoa, ca ngợi công cuộc kháng chiến và lao động sản xuất của người nông dân.</p><p>   • "Anh vẫn hành quân" (được nhạc sĩ Huy Du phổ nhạc).</p><p>   • "Hai Tộ hò khoan".</p><p>   • Tập thơ "Đồng tháng Tám".</p><p>   • Tập thơ "Dặn con".</p><p>   • Tập thơ "Gió Nam" (1962).</p><p>   • Tập thơ "Đất quê mình" (1971).</p><p>   • Tập thơ "Tiếng chim đồng" (1975).</p><p> • Bút ký: "Vinh rực lửa", "Ký ức đồng chiêm" (Đạt giải nhất cuộc thi ký năm 1986).</p><p>II. Phong cách Sáng tác</p><p>Phong cách sáng tác của Trần Hữu Thung mang đậm dấu ấn của một nhà thơ dân gian, thể hiện rõ qua các đặc điểm sau:</p><p>1. Chất liệu Dân gian và Giản dị</p><p> • Ngôn ngữ và giọng điệu: Thơ ông sử dụng lời lẽ mộc mạc, dân dã, chân chất như lời ăn tiếng nói hằng ngày của người dân quê xứ Nghệ. Giọng thơ thật thà, hồn nhiên, gần gũi với phong cách ca dao, dặm vè truyền thống. Ông từng chia sẻ: "Tôi tập làm ca dao", cho thấy ý thức rõ rệt về việc đưa chất liệu dân gian vào thơ hiện đại.</p><p> • Hình ảnh: Hình ảnh trong thơ ông chủ yếu là ruộng đồng, cây lúa, công việc đồng áng, và cuộc sống sinh hoạt của bà con nông dân trong kháng chiến và xây dựng đất nước.</p><p> • Lối kể chuyện: Ông có sở trường về thơ kể chuyện, không nặng về phô diễn tâm tình cá nhân mà thông qua việc kể lại sự kiện, tình huống, nhân vật một cách cụ thể, sinh động (như trong "Thăm lúa" hay "Hai Tộ hò khoan").</p><p>2. Mục đích Sáng tác "Phương tiện Công tác"</p><p> • Đối với Trần Hữu Thung, đặc biệt trong những ngày đầu cầm bút, thơ còn là phương tiện công tác hiệu quả để phục vụ cách mạng.</p><p> • Ông sáng tác nhằm ca ngợi chiến công, phổ biến chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, và phản ánh đời sống của người nông dân trong kháng chiến. Do đó, thơ ông dễ hiểu, phổ cập rộng rãi trong quần chúng nhân dân.</p><p>3. Hòa quyện Tình cảm Cá nhân và Vận mệnh Đất nước</p><p> • Thơ Trần Hữu Thung ít nói về vui buồn riêng tư mà gắn bó máu thịt với vận nước, tình dân. Ông luôn là nhà thơ gắn bó sâu sắc với đất quê, ruộng đồng, sẵn sàng "đi thực tế" (một thuật ngữ thường dùng của ông, có nghĩa là đi vào đời sống nhân dân, tham gia công việc đồng áng).</p><p> • Sự chân thật, bình dị và sự dâng hiến trọn vẹn cho sự nghiệp chung đã làm nên tầm vóc và giá trị lâu bền trong các sáng tác của ông, khiến ông trở thành "nhà thơ của ruộng đồng xứ Nghệ" và là một gương mặt độc đáo trong nền văn học cách mạng Việt Nam.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/2870278904/ee0d1a20f6a3546961d4a0f38c98da02/1000042543.jpg" />
         <pubDate>2025-10-09 17:23:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3625663055</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>legialinh131</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3625997860</link>
         <description><![CDATA[<p>Lò Ngân Sủn là một nhà thơ dân tộc <strong>Giáy.</strong> Ông là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam năm 1991. Ông còn có bút danh văn học khác là <strong>E Sun</strong> <strong>và Lô Quang Thuận</strong>. Lò Ngân Sủn là tác giả bài thơ "Chiều biên giới". Chính từ bài thơ này được nhạc sĩ Trần Chung phố nhạc thành ca khúc cùng tên phát thanh trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam sau chiến tranh biên giới 1979 mà công chúng biết nhiều tới ông. Tập thơ đầu tiên của ông cũng lấy tên là "Chiều biên giới" xuất bản năm 1989.</p><p><strong>Sự nghiệp sáng tác</strong></p><p>Xuất thân là một thấy giáo, từ năm 1963 đến năm 1970, nhà thơ dạy học tại quê nhà.Từ năm 1971 đến năm 1979, ông chuyển sang làm Quản lý giáo dục huyện Bát Xát, ông đã trúng cử, tham gia 4 khoá Hội đồng nhân dân, 2 khoa Ủy viên Ủy ban nhân dân huyện Bát Xát, Lao Cai. Năm 1988, Hội Văn Nghệ Hoàng Liên Sơn được thành lập, ông chuyển sang giữ chức Phó chủ tịch Hội Văn nghệ tỉnh Hoàng Liên Sơn. Năm 1992, Hội Văn Nghệ Lào Cai được thành lập, ông chuyển sang làm Chủ tịch Hội Văn nghệ Lao Cai, ông là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Văn hoá dân tộc Việt Nam. Từng là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa V, Ủy viên Ban Chấp hành Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học &amp; Nghệ thuật Việt Nam.Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam.</p><p><br></p><p><strong>Phong cách sáng tác</strong> </p><p>Thơ của ông <strong>trong sáng, mộc mạc, giản dị, thể hiện tâm hồn tinh tế.</strong></p><p><br></p><p><strong>Tác phẩm tiêu biểu</strong></p><p>﻿﻿Chiếc vòng bạc (truyện ký, 1987);﻿ ﻿Chiều biên giới (thơ, 1989);﻿﻿ Những người con của núi (thơ, 1990);﻿﻿ Đám cưới (thơ, 1992);﻿﻿ Đường dốc (thơ, 1993);﻿﻿ Tục ngữ Dáy (sưu tầm biên dịch, 1994);﻿﻿ Dòng sông mây (thơ, 1995);﻿﻿Chợ tình (thơ, 1995); Hưu tập thể (tập truyện, 1995); Lều nương (1995),…</p><p><br></p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/00f5bd267dd2af33abaadcd48f3dcc86/Nha_tho_Lo_Ngan_Sun.jpg" />
         <pubDate>2025-10-10 00:31:20 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3625997860</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>nganhue250308</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3626066111</link>
         <description><![CDATA[<p>-Phạm Vĩnh Cư là một nhà nghiên cứu, dịch giả văn học có sự nghiệp đa dạng và xuyên suốt khoảng 30 năm, tập trung vào các lĩnh vực dịch thuật, nghiên cứu, phê bình và lý luận văn học, triết-mỹ học. Tuy không có phong cách sáng tác theo nghĩa nhà văn trực tiếp viết tác phẩm văn học, nhưng phong cách của ông thể hiện qua chiều sâu nghiên cứu và cách tiếp cận các tác phẩm, văn hóa từ Việt Nam đến châu Âu, đặc biệt là văn học Nga và Nga Xô Viết.</p><p>-Phạm Vĩnh Cư có sự nghiệp văn học đồ sộ với vai trò dịch giả, nghiên cứu phê bình và tác giả, nổi tiếng với các công trình nghiên cứu về văn hóa và văn học Nga, cùng các bản dịch nhiều tác phẩm quan trọng của Nga, như Lý luận và thi pháp tiểu thuyết (M. Bakhtin), Tâm (Marina Tsvetaeva), và Đường sống (Lev Tonxtoi).</p><p>-Tác phẩm tiêu biểu: Thi pháp tiểu thuyết" (1998) của Bakhtin và "Siêu lý tình yêu" (2005) của Soloviev là những tác phẩm tiêu biểu nhất. Ngoài ra, ông còn có các bài viết nghiên cứu về Dostoievski, Gogol và các nhà văn Việt Nam, cũng như góp phần vào việc nghiên cứu dòng văn học bi kịch đương đại tại Việt Nam</p><p><a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://khoahoctamlinh.vn/img/news/2021/12/larger/5963-sieu-ly-tinh-yeu-pdf-khoahoctamlinh.vn.pdf">https://khoahoctamlinh.vn/img/news/2021/12/larger/5963-sieu-ly-tinh-yeu-pdf-khoahoctamlinh.vn.pdf</a></p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4413331077/1fb4a4981de49e308435530e10bd5c2a/IMG_8424.jpg" />
         <pubDate>2025-10-10 01:44:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3626066111</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>lthu19217</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3626073234</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Nguyễn Bá Chung </strong>sinh năm 1949 tại Kim Thanh, Hải Dương. Vào Sài Gòn sinh sống với gia đình năm 1955. Năm 1972, sang Mỹ du học. Sau khi tốt nghiệp Ông ở lại Mỹ. Giáo sư trường Ðại Học Massachuset (Boston - Hoa Kỳ). Ông là nhà thơ, bỉnh bút, dịch giả. </p><p>  <strong>Sự nghiệp văn học </strong>của Nguyễn Bá Chung chủ yếu gắn liền với vai trò nhà thơ và dịch giả, tập trung vào việc chuyển ngữ các tác phẩm văn học Việt Nam sang tiếng Anh và dịch các tuyển tập thơ Việt để giới thiệu nền văn học nước nhà với quốc tế.</p><p>   <strong>Các tác phẩm tiêu biểu </strong>của nhà thơ, nhà dịch giả Nguyễn Bá Chung bao gồm các tập thơ như Cỏ nội (1995), Mưa ngàn (1996), Ngõ hạnh (1997), Tuổi ngàn năm từ buổi sơ sinh (1999) và Nguồn thơ (2009), cùng với các tác phẩm dịch như Ly - Trần Thiền (2008). </p><p> <strong>Phong cách sáng tác của Nguyễn Bá Chung đặc trưng bởi chất thơ Việt cổ kính, tinh khiết, với giọng điệu Bắc Bộ đậm đặc mang hơi hướng Thơ Mới và có sự hiện hữu rõ nét của triết lý thiền và Phật giáo.</strong></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4412875095/8fc59794bd56068735a34891d7c0e97d/nguyenbachung_TBVL.jpg" />
         <pubDate>2025-10-10 01:52:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3626073234</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>kimtuyen0101001</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3626082665</link>
         <description><![CDATA[<p><br></p><p><br></p><p>Tên khai sinh: Vương Đình Trọng </p><p>Bút danh: Dương Nguyên, Đồ Nghệ </p><p>Ngày sinh: 01 tháng 08 năm 1943 </p><p>Quê quán: xã Trung Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An </p><p>Quốc tịch: Việt Nam </p><p>Gia đình: Cha là Vương Đình Phát — một thầy đồ </p><p>Sáng tác &amp; phong cách</p><p>Trong hơn nửa thế kỷ sáng tác, Vương Trọng đã xuất bản gần 30 đầu sách, trong đó có khoảng 16 tập thơ và trường ca, cùng các tập truyện ngắn, bút ký, dịch thơ chữ Hán… </p><p>Một số tác phẩm tiêu biểu:</p><p>Khoảng trời quê hương (thơ, 1979) </p><p>Về thôi nàng Vọng Phu (thơ, 1991) </p><p>Đảo chìm (trường ca, 1994) </p><p>Mèo đi câu (thơ thiếu nhi, 1996) </p><p>Thơ Chữ Hán Nguyễn Du (dịch thơ, 2008) </p><p>Hơi thở rừng hồi (trường ca, 2004) </p><p>Đa thanh và Phản biện (tập thơ, 2017) </p><p>Ở trong còn lắm điều hay (2018) </p><p>Ông đặc biệt say mê Truyện Kiều và cố thi hào Nguyễn Du. Ông đã viết nhiều bài thơ với chủ đề Nguyễn Du, tôn vinh Kiều và dịch thơ chữ Hán của Nguyễn Du sang thể lục bát để đưa đến độc giả rộng rãi hơn. </p><p>Phong cách thơ của ông kết hợp sự mạch lạc, đằm thắm, đồng cảm với những thân phận, sự trải nghiệm, suy tư về cuộc sống, nhưng cũng không thiếu nét dí dỏm, tinh tế </p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/f9f79e6b348bd139327cc68de909f65b/image.jpg" />
         <pubDate>2025-10-10 02:01:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3626082665</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>trannguyen000014</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3626763645</link>
         <description><![CDATA[<p>  Nguyễn Trọng Oánh có bút danh Nguyễn Thành Vân, sinh ngày 01 tháng 11 năm 1929, tại xã Nghi Long, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Nguyễn Trọng Oánh&nbsp;xuất thân trong một gia đình nông dân, là học sinh trung học tham gia Cách mạng tháng Tám, hoạt động thanh niên địa phương.</p><p>  Nguyễn Trọng Oánh làm báo, viết văn từ kháng chiến chống Pháp, nhưng phải đến sau hòa bình ông mới được bạn đọc chú ý. Trong giai đoạn đầu của cuộc đời sáng tác, Nguyễn Trọng Oánh chủ yếu làm thơ: các bài thơ của ông được in trong các tập&nbsp;Thơm hương bốn mùa, Ngày đẹp nhất, Lời người cầm súng. Tuy đã có những tập thơ trình làng nhưng những tác phẩm làm nên tiếng tăm của Nguyễn Trọng Oánh lại là văn xuôi.</p><p>  Những tác phẩm tiêu biểu của ông gồm: Thơm hương bốn mùa, Ngày đẹp nhất, Lời người cầm súng, Nhật ký chiến dịch, Đất trắng, Con tốt sang sông…</p><p>  Phong cách sáng tác của Nguyễn Trọng Oánh mang đậm chất hiện thực và sử thi, phản ánh chân thực cuộc sống, chiến đấu của con người trong kháng chiến chống Mỹ bằng ngôn ngữ giản dị, đậm màu sắc Nam bộ, kết hợp giữa tinh thần anh hùng và cảm xúc trữ tình, nhân văn sâu sắc.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4413289012/27478f71f1468fa7a3c1c571ad0e2a8e/1_nguyen_trong_oanh.jpg" />
         <pubDate>2025-10-10 13:36:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3626763645</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đỗ Phấn-người nặng tình với Hà Nội</title>
         <author>trangmai120508</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3628203619</link>
         <description><![CDATA[<p>Nhà thơ Đỗ Phấn (sinh năm 1956 tại Hà Nội) <strong><mark>là một họa sĩ kiêm nhà văn tài hoa, nổi tiếng với các tác phẩm về Hà Nội</mark></strong>. Ông tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Hà Nội năm 1980 và từng giảng dạy tại Khoa Kiến trúc, Đại học Xây dựng Hà Nội (1980-1989). Từ năm 2005, ông tập trung nhiều hơn vào sáng tác văn học và đã xuất bản hàng chục cuốn sách về truyện ngắn, tiểu thuyết và tản văn</p><p><br/></p><p>Đỗ Phấn là nghệ sĩ đã không còn xa lạ với những người yêu nghệ thuật hội họa và văn học ở nước ta.Trong các tác phẩm của họa sĩ Đỗ Phấn luôn đề cập đến hình ảnh, nét sống của người dân Thủ đô với những bút pháp nghệ thuật tài hoa, mang nhiều sắc màu và vì thế chạm đến cảm xúc của người xem. Ở lĩnh vực sáng tác văn học, Đỗ Phấn cũng rất nổi tiếng với các tác phẩm đã giới thiệu đến công chúng.</p><p>Những mẩu chuyện về con người, cảnh vật, văn hóa Hà Nội mà Đỗ Phấn thủ thỉ qua mỗi trang viết, ban đầu tưởng như vụn vặt và cũ kỹ nhưng thực tế từ cái vòi nước công cộng, cửa hiệu giặt là, chuyện phơi quần áo, nước giải khát, bún đậu mắm tôm, đèn đường, hay cái nồi đất… đều có thể trở thành chủ đề để Đỗ Phấn thư thả tâm tình với bạn đọc chuyện xưa chuyện nay, từ xa tới gần, từ hiện đại tới quá khứ, với đủ hỉ, nộ, ái, ố. Nhưng khi nhìn rộng ra, những “lát cắt ký ức” ấy lại cho độc giả một cái nhìn thật đủ đầy, chi tiết và gần gũi về Hà Nội thời chưa xa, với vẻ đẹp điềm đạm và kín đáo.</p><p>Ngoài ba tiểu thuyết Vắng mặt, Chảy qua bóng tối, Rừng người, thì từ năm 2005 đến nay, Đỗ Phấn đã in các tập như Chuyện vãn trước gương, Ông ngoại hay cười (tản văn), Đêm tiền sử, Kiến đi đằng kiến, Thác hoa (truyện ngắn)... Đặc biệt, ông cũng có nhiều trang viết về Hà Nội được đánh giá cao. Đỗ Phấn chính vì thế là người được NXB Trẻ chọn mở màn cho tủ sách “Hà Nội trong mắt một người” mới đây. Ở tủ sách này, Đỗ Phấn giới thiệu 4 cuốn tản văn, trong đó có 2 cuốn tái bản là Ngồi lê đôi mách với Hà Nội và Ngẫm ngợi phố phường. Hai cuốn in lần đầu tiên gồm Đi chơi bờ Hồ và Bâng quơ một thời Hà Nội. 4 tản văn về Hà Nội của Đỗ Phấn&nbsp; là một bức tranh Hà Nội thu nhỏ qua ngòi bút của tác giả, nhưng đậm nét văn học và cảm xúc.</p><p><br/></p><p><br/></p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4412739537/8c121c16c84990ca0c6adacff1584ef4/IMG_0111.jpeg" />
         <pubDate>2025-10-12 12:57:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3628203619</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>nguyentranthanhngan1910</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3629836450</link>
         <description><![CDATA[<p>Nhà thơ <strong>Bảo Định Giang</strong> (tên thật <strong>Nguyễn Thanh Danh</strong>, 1919-2005) là một nhà cách mạng và văn sĩ tiêu biểu của miền Nam, sinh ra tại xã Mỹ Thiện, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang nay là tỉnh Đồng Tháp. Ông tham gia cách mạng từ sớm, hoạt động tích cực trong công tác tuyên truyền, báo chí ở Nam Bộ, từng giữ các vị trí quản lý văn hóa - văn nghệ quan trọng ở cả miền Bắc (Phó Tổng thư ký Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Tổng Biên tập báo <em>Văn nghệ</em>) và miền Nam sau thống nhất (Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật TP.HCM).</p><p>Sự nghiệp văn chương của Bảo Định Giang được nuôi dưỡng từ việc <strong>nghiên cứu sâu sắc văn hóa và ca dao dân gian truyền thống Nam Bộ</strong>, giúp ông kế thừa và tôn kính các bậc thi sĩ cổ truyền. <strong>Phong cách sáng tác</strong> của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa <strong>chất dân gian mộc mạc, giàu biểu tượng</strong> với <strong>chủ đề cách mạng và đời sống hiện đại</strong>. Thành tựu lớn nhất là câu thơ nổi tiếng đã đi vào lòng dân như ca dao: <strong>“Tháp Mười đẹp nhất bông sen / Nước Nam đẹp nhất có tên Cụ Hồ”</strong>. Ông là tác giả của hơn 30 tác phẩm và được trao <strong>Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2001</strong>.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BA%A3o_%C4%90%E1%BB%8Bnh_Giang" />
         <pubDate>2025-10-13 14:10:59 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3629836450</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhà thơ Đỗ Trung Lai </title>
         <author>tuongvy99117</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3629913872</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Tiểu sử</strong></p><p><br></p><p>Đỗ Trung Lai sinh năm 1950 tại Phùng Xá, Mỹ Đức, Hà Đông cũ, nay thuộc Hà Nội. Ông từng theo học khoa Vật lý, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, nhưng rồi lại bén duyên với con đường văn chương và báo chí. Sau khi tốt nghiệp, ông làm việc tại Báo Quân đội Nhân dân, rồi trở thành Phó Tổng biên tập thường trực Báo Tiếng nói Việt Nam. Không chỉ là một người làm báo có tâm, Đỗ Trung Lai còn là một nhà thơ, một người vẽ tranh với tâm hồn tinh tế và chan chứa cảm xúc.</p><p><br></p><p><strong>Sự nghiệp sáng tác</strong></p><p><br></p><p>Từ những năm 1990, tên tuổi của Đỗ Trung Lai bắt đầu được biết đến với những tập thơ và truyện ngắn mang đậm dấu ấn riêng. </p><p><br></p><p>Các tác phẩm tiêu biểu của ông có thể kể đến như: Đêm sông Cầu (1990), Anh, em và những người khác (1990), Người chơi đàn Nguyệt ở Hàng Châu (2000, truyện ngắn và ký),...</p><p><br></p><p>Ngoài thơ, ông còn viết truyện ngắn, ký và các công trình nghiên cứu văn học, đặc biệt là thơ Đường. Ông cũng có phòng tranh riêng. </p><p><br></p><p>Năm 1991, ông trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam – một dấu mốc quan trọng ghi nhận những đóng góp của ông cho thi đàn nước nhà.</p><p><br></p><p><strong>Phong cách sáng tác</strong></p><p><br></p><p>Thơ của ông thường mang những nét trữ tình, giàu tình cảm, thể hiện sự đằm thắm trong tâm hồn. Bên cạnh đó, ông còn khéo léo gửi gắm những suy tư, chiêm nghiệm triết lý một cách tự nhiên, nhẹ nhàng. Nhiều bài thơ của ông thường gợi cảm xúc, day dứt lòng người qua những hình ảnh bình dị, chân thực.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/9c547821230164093924cd11f8f86b9b/trunglai.jpg" />
         <pubDate>2025-10-13 14:57:33 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3629913872</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Một cách nhận diện về thành tựu và sự vận động của kí Việt Nam sau 1975</title>
         <author>trongtruongthanhan</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3633396326</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Sau 1975, đặc biệt là sau 1986, thể loại ký có sự bùng nổ về số lượng, góp phần làm sôi động bức tranh văn xuôi đương đại. Những năm đầu Đổi mới, thể phóng sự tạo được nhiều tiếng vang, với các tác phẩm mạnh mẽ tuyên chiến với cái xấu, cái ác, bảo vệ cho những cái mới, cái tốt đẹp đang nảy mầm, hồi sinh. Tiếp đó, nhiều thể ký cũng gặt hái thành công, tạo nên bức tranh đa dạng của thể loại: ký sự, hồi ký, bút ký, tản văn, du ký, chân dung văn học. Cùng với sự phong phú về đề tài, về nội dung, ký sau 1975 cũng có sự đa dạng về hình thức nghệ thuật. Đáng chú ý là sự mở rộng đường biên thể loại, có sự kết hợp, giao thoa độc đáo giữa ký và các thể loại khác như tiểu thuyết, truyện, thơ, cũng như giao thoa ngay trong các thể/ tiểu loại của ký.</strong></p>]]></description>
         <enclosure url="https://vanvn.vn/mot-cach-nhan-dien-ve-thanh-tuu-va-su-van-dong-cua-ki-viet-nam-sau-1975/" />
         <pubDate>2025-10-15 08:45:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3633396326</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Ký, nó là ai ?</title>
         <author>trongtruongthanhan</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3633400146</link>
         <description><![CDATA[<p>Là loại hình văn học trung gian giữa báo chí và văn học nghệ thuật, gồm nhiều thể, chủ yếu là văn xuôi tự sự, như <em>bút kí</em>, <em>hồi kí</em>, <em>nhật kí</em>, <em>du kí</em>, <em>phóng sự</em>, <em>kí sự</em>, <em>tùy bút</em>… Do tính chất trung gian của nó, có người xếp <em>Kí</em> vào loại cận văn học. Tuy nhiên, nócó đặc trưng riêng, dễ nhận biết.</p><p>Đặc điểm quan trọng nhất của <em>Kí</em> là sử dụng hiện thực <em>phi hư cấu</em> làm chất liệu chủ yếu để kiến tạo khách thể thẩm mĩ, hiểu như là bình diện nội dung trong ý đồ nghệ thuật của chủ thể sáng tạo và ý thức tiếp nhận của độc giả. Đặc điểm này có nguồn cội từ thời xa xưa, gắn với chức năng<em> “ghi việc xen kẽ với lời bình”</em> của thể loại.</p><p>Trong lịch sử văn học, <em>Kí </em>xuất hiện rất sớm. Ở Trung Quốc, nó ra đời từ thời tiền Hán. Đến đời Đường, đời Tống, bên cạnh những tác phẩm chép sử, đã thấy có các tập <em>bút kí</em>, <em>tùy bút</em> thuộc loại <em>tạp kí</em>, phẩm chất văn học dù đậm nhạt khác nhau, nhưng chức năng thể loại của chúng thì ngày càng hình thành rõ nét. Nhan đề của các tác phẩm truyện kí như <em>sử kí</em>, <em>chí quái</em>, <em>chí nhân </em>thường ghi rõ tên gọi thể văn với hàm ý nhấn mạnh tính chất ghi chép sự vật, sự việc, con người có thật từ đời sống. Một học giả đời Minh là Ngô Nạp đúc kết: “Thể kí nói chung nhằm ghi nhớ không quên… Sau khi kể việc, bàn qua để kết lại, đó là chính thể”.</p><p><em>Kí</em> trung đại Việt Nam ra đời từ thời Lí, Trần, các trước tác <em>chí</em>,<em> lục</em>,<em> phả</em>, <em>kí</em>, <em>kí sự</em>, <em>tùy bút</em>… của tác gia Việt Nam đều thuộc loại ghi chép, nặng tính chất lịch sử về nhân vật, sông núi, đền chùa, phương vực, phẩm vật, chuyện lạ…&nbsp;&nbsp; Nhìn chung, ở thời Lí, Trần, và phần nào thời Lê, <em>Kí </em>trung đại Việt Nam về cơ bản giống với hình thức của <em>kí</em> Trung Quốc, nhưng đến cuối Lê và nhất là thời Nguyễn thì đã có sự phá cách, sáng tạo phóng túng. Tính chất văn học của thể <em>Kí </em>được thể hiện đậm nét ở những tác phẩm ví như <em>Vũ trung tùy bút </em>của Phạm Đình Hổ, <em>Thượng kinh kí sự</em> của Lê Hữu Trác.</p><p>Ở Nga và Tây Âu, <em>Kí</em> cũng xuất hiện sớm, nhưng phải đến thế kỉ XVII, đặc biệt từ thế kỉ XVIII, nhất là thế kỉ XIX, khi đời sống lịch sử của các dân tộc ngày càng phát triển theo hướng tăng tốc, kĩ nghệ in ấn và báo chí phát triển, văn học mở cửa, xé rào để thâm nhập vào các lĩnh vực hoạt động tinh thần khác, khi nhà văn ngày càng có ý thức tham gia trực tiếp vào các cuộc đấu tranh xã hội, thì nó mới thực phát triển rực rỡ. Qua những tác phẩm đăng trên các tạp chí trào phúng thời Khai sáng, ví như tờ “Kẻ ngồi lê đôi mách” (“The Tatler”) và “Khán giả (“The Spectator”) của J. Addison và R. Steele ở Anh, hay tờ “Ong thợ” và “Thợ vẽ” của N.I. Novikov ở Nga, có thể thấy rõ đặc điểm “ghi việc xen kẽ với lời bình” chi phối mạnh mẽ đặc trưng và quan điểm thể loại của <em>Kí </em>hiện đại trên phạm vi toàn thế giới. Từ sáng tác của Ch. Dickens (ví như <em>Sketches by Boz</em>), H. Balzac (ví như <em>L’Usurier</em>, tiền thân của <em>Gobseck</em>), của “Trường phái tự nhiên” và các nhà văn Nga thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX (I.S. Turgenev, Gl. Uspenski, M.E. Saltykov-Shedrin, V.G. Korolenko, M. Gorki, V.V. Ovechkin, M. Prishivin), cho đến sáng tác của nhiều nhà văn hiện thực chủ nghĩa Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX (Nguyễn Đình Lạp, Tam Lang, Vũ trọng Phụng, Ngô Tất Tố…), tất cả đều chứng tỏ <em>Kí</em> có quan điểm thể loại là <em>tôn trọng hiện thực khách quan</em> của đời sống, lấy việc <em>thông tin sự thật </em>làm mục đích sáng tác. Quan điểm thể loại này không chỉ tồn tại trong ý thức sáng tạo của nhà văn, mà còn chi phối ý thức tiếp nhận của độc giả. Người đọc bao giờ cũng muốn tìm thấy ở <em>Kí</em> những sự thật với các đặc điểm sau đây. Đặc điểm thứ nhất, có tính bao trùm, là những gì được thông tin trong <em>Kí </em>phải là <em>sự thật xác thực</em>, có thể kiểm chứng. &nbsp;Cho nên, <em>Kí</em> tránh việc hư cấu truyện kể. Sự việc và con người trong <em>Kí </em>thường được mô tả dưới hình thức của cái thực, có ghi rõ thời gian lịch biểu và có địa chỉ hẳn hoi. Khác với các thể văn hư cấu như truyện ngắn, truyện vừa, đặc biệt là tiểu thuyết, <em>Kí</em> thực hiện việc khái quát nghệ thuật bằng chính những hiện tượng đời sống riêng lẻ, cụ thể, cá biệt, có thật và bằng sự suy tưởng qua những hiện tượng xác thực ấy. Thứ hai, sự thật xác thực trong <em>Kí </em>đồng thời phải là <em>sự thật tươi mới, nóng bỏng</em> đang diễn ra ở mọi mặt của đời sống chính trị, xã hội và trong bản thân đời sống văn học nghệ thuật. Cho nên, tính thời sự, cập nhật là đặc điểm cực kì quan trọng của<em> Kí</em>, nó đòi hỏi nhà văn phải sẵn sàng có mặt ở các “điểm nóng”, trung tâm của các sự kiện, kể cả những nơi chiến sự đang diễn ra ác liệt, tức là ở những nơi mà độc giả không thể có mặt để chứng kiến, hoặc tham gia. Đó là lí do khiến <em>Mười ngày rung chuyển thế giới</em> (<em>Ten days that shook the world</em>) của nhà báo Mỹ John Reed, hay loạt kí sự nóng bỏng hơi thở chiến trường của các tác giả Việt Nam thời đầu kháng chiến chống Pháp, ví <em>Trận phố Ràng</em> của Trần Đăng, hay <em>Kí sự Cao – Lạng</em> của Nguyễn Huy Tưởng từng có sức tác động vô cùng lớn lao tới công chúng độc giả. Thứ ba, sự thật được <em>Kí </em>phơi bầy nhiều khi là những sự thật bị khuất lấp, hay bị cố ý che dấu, đòi hỏi nhà văn phải điều tra, khám phá mới có thể phát hiện. Có thể tìm thấy loại sự thật như thế trong các phóng sự trước 1945 của Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Đình Lạp, Tam Lang, Ngô Tất Tố, hay những phóng sự gần đây của lớp nhà văn thời “Đổi mới”, ví như<em> Câu chuyện về ông vua lốp, Lời khai của bị can</em> của Trần Huy Quang, <em>Đá nổi xôn xao</em> của Hoài Tố Hạnh, <em>Làng giáo có gì vui, Anh hùng khi đã sa cơ</em> của Hoàng Minh Tường; <em>Thủ tục làm người còn sống</em>&nbsp; của Minh Chuyên;&nbsp;<em>Cái đêm hôm ấy đêm gì?</em>&nbsp;của Phùng Gia Lộc,&nbsp;<em>Người đàn bà quỳ</em>&nbsp;của Trần Khắc… Ở khía cạnh này, viết <em>Kí</em> là nghề luôn đối diện với nhiều mối hiểm nguy, đòi hỏi nhà văn phải ứng phó bằng cả trí thông minh, sắc sảo, lẫn sự dũng cảm, can trường.</p><p><em>Kí</em> thông tin sự thật, lấy hiện thực phi hư cấu làm chất liệu chủ yếu để kiến tạo khách thể thẩm mĩ và khái quát nghệ thuật. Trong sáng tác văn học, mọi sự thật đều là sự thật của tư tưởng hệ, sự thật của các quan niệm về giá trị, Quan niệm giá trị và ngôn ngữ tư tưởng hệ chi phối mạnh mẽ quá trình vận động và phát triển của <em>Kí</em>. Cho nên, nhìn lại lịch sử, ta thường thấy ở mỗi thời đại nổi lên một <em>thể “cái”</em>, giữ vai trò “chủ chốt” trong dàn hợp xướng của văn học kí. Mỗi thể kí “chủ chốt” như thế gắn với một <em>thể tài</em>, một loại hình nội dung và cất lên giọng điệu của một xu hướng cảm hứng chủ đạo. Chẳng hạn nói tới <em>Kí</em> Việt Nam ở nửa đầu thế kỉ XX, ta nghĩ ngay tới thể <em>phóng sự</em> và Vũ trọng Phụng, người được xem là “ông vua phóng sự” của thời kì văn học ấy. &nbsp;Những thiên phóng sự như <em>Lục xì</em>, <em>Kĩ nghệ lấy Tây</em>, <em>Cơm thầy cơm cô</em> của Vũ trọng Phụng, <em>Ngõ hẻm</em>, <em>Ngoại ô</em> của Nguyễn Đình Lạp, <em>Tôi kéo xe</em> của Tam Lang, <em>Việc làng</em>, <em>Tập án cái đình</em> của Ngô Tất Tố… chứng tỏ văn học kí trước năm 1945 chủ yếu là văn học <em>phong tục – thế sự</em> thấm đẫm cảm hứng phê phán trạng thái phong hóa suy đồi của xã hội. Sau&nbsp; năm 1975, <em>phóng sự</em> dần dần vắng bóng trong nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, thay vào đó là <em>kí trữ tình</em> và <em>truyện kí</em> nổi lên như một hình thức thể loại chủ chốt. Thể tài <em>dân tộc – lịch sử</em> và cảm hứng ngợi ca trở thành loại hình nội dung cốt lõi và cảm hứng chủ đạo của nền văn học đậm chất sử thi qua truyện kí của Trần Đăng, Nguyễn Huy Tưởng, Nam Cao thời kháng chiến chống Pháp, kí trữ tình của Đỗ Chu, tùy bút của Nguyễn Tuân, truyện kí của Nguyễn Trung Thành, Nguyễn Thi và nhiều tác giả khác thời xây dựng chủ nghĩa xã hội và kháng chiến chống Mĩ. Nhưng sau 1975, nhất là từ năm 1986, phóng sự lại hồi sinh cùng với cao trào “đổi mới” của nền văn học dân tộc.</p><p>Giải Nobel văn học năm 2015 được trao cho Svetlana Alexievich, nữ tác giả người Belarus, đánh dấu sự lên ngôi của văn học “phi hư cấu”. Giữa cuộc sống đầy biến đông và thời đại thông tin hôm nay, <em>Kí </em>và mọi hình thức thể loại của nó đang có cơ hội phát triển mạnh mẽ hơn nữa.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://languyensp.wordpress.com/2021/02/25/ky/" />
         <pubDate>2025-10-15 08:48:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3633400146</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Kí Việt Nam sau 1975: Thực tiễn và cơ chế vận động của thể loại</title>
         <author>trongtruongthanhan</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3633408622</link>
         <description><![CDATA[<p>Tác giả hồi kí có những đặc điểm đặc thù là những người nhiều về tuổi đời, khi ở độ tuổi đủ chiêm nghiệm và có nhu cầu được viết lại những chặng đường đã qua của cá nhân và thời cuộc...</p>]]></description>
         <enclosure url="https://baovannghe.vn/ki-viet-nam-sau-1975-thuc-tien-va-co-che-van-dong-cua-the-loai-20775.html" />
         <pubDate>2025-10-15 08:54:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3633408622</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Những dấu ấn của văn xuôi tự sự trong văn học Việt Nam 80 năm sau Cách mạng tháng Tám (1945-2025)</title>
         <author>trongtruongthanhan</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3633470837</link>
         <description><![CDATA[<p>Cách mạng tháng Tám 1945 đã mở ra một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc. Bối cảnh lịch sử đó đã tạo nên bước ngoặt của văn học với những chuyển biến lớn lao.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://baovannghe.vn/nhung-dau-an-cua-van-xuoi-tu-su-trong-van-hoc-viet-nam-80-nam-sau-cach-mang-thang-tam-1945-2025-23816.html" />
         <pubDate>2025-10-15 09:44:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3633470837</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>tranthimyduyen3934</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3661245145</link>
         <description><![CDATA[<p>Giang Nam (1937-2023), tên thật là Nguyễn Sung, là một nhà thơ, nhà văn và nhà hoạt động văn hóa nổi tiếng tại Việt Nam.</p><p><br></p><p>Ông tham gia cách mạng từ sớm và có những đóng góp quan trọng trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Khi mới 16 tuổi, Giang Nam đã tham gia kháng chiến chống Pháp cùng các đồng chí của mình.</p><p><br></p><p>Sau năm 1954, ông hoạt động tại miền Nam và đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng trong các tổ chức văn hóa, nghệ thuật. Ông từng giữ chức Phó Tổng thư ký Hội Văn nghệ Giải phóng miền Nam, ủy viên tiểu ban văn nghệ Trung ương cục, và trưởng ngành văn.</p><p><br></p><p>Sau năm 1975, Giang Nam tiếp tục cống hiến cho sự nghiệp văn học của đất nước. Ông đã từng là đại biểu Quốc hội, ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, Tổng biên tập báo Văn nghệ và đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng khác.</p><p>Sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Giang Nam là một hành trình gắn bó chặt chẽ với lịch sử dân tộc, từ những năm tháng kháng chiến chống Pháp cho đến giai đoạn đổi mới. Ông để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả với những tác phẩm thơ ca đầy cảm xúc, phản ánh tinh thần yêu nước và nhân văn cao quý.</p><p>Ngoài thơ, Giang Nam còn có những đóng góp đáng kể cho nền văn học Việt Nam thông qua các tác phẩm truyện và ký. Sự nghiệp sáng tác của ông đã được công nhận bằng nhiều giải thưởng uy tín, trong đó có Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật. Tuy nhiên, việc ông chưa nhận được Giải thưởng Hồ Chí Minh vẫn là một điều đáng tiếc và gây ra nhiều tranh cãi trong giới văn học.Một số tác phẩm tiêu biểu của Giang Nam</p><p>Giang Nam để lại một di sản văn học phong phú, phản ánh những trải nghiệm sâu sắc trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm cũng như trong quá trình xây dựng đất nước. Một số tác phẩm tiêu biểu thể hiện phong cách sáng tác của Giang Nam gồm:</p><p><br></p><p>Tháng Tám ngày mai (1962)</p><p>Quê hương (1962)</p><p>Người anh hùng Đồng Tháp (1969)</p><p>Vầng sáng phía chân trời (1978)</p><p>Vở kịch cô giáo (1962)</p><p>Người giồng tre (1969)</p><p>Trên tuyến lửa (1984) </p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1463548989/ec6c047f196eb83e363b1adf7429a0a1/Nha_tho_Giang_Nam.jpg" />
         <pubDate>2025-11-01 13:19:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3661245145</guid>
      </item>
      <item>
         <title>châu</title>
         <author>ptxdgvb9rs</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3733290550</link>
         <description><![CDATA[<p> Nguyễn Ngọc Tư 1976 ( hiện vẫn còn sống) (thường gọi thân mật là "cô Tư"), là một hiện tượng đặc biệt của văn học Việt Nam đương đại.</p><p>Sáng tác đa dạng ở nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, ký, thơ.</p><p><strong>Tác phẩm tiêu biểu</strong> <a rel="noopener noreferrer nofollow" class="GI370e" href="https://www.google.com/search?q=C%C3%A1nh+%C4%91%E1%BB%93ng+b%E1%BA%A5t+t%E1%BA%ADn&amp;sca_esv=c6588870a110159b&amp;rlz=1CDGOYI_enVN1089VN1089&amp;hl=vi&amp;sxsrf=AE3TifMYz4nImtzlzdEaPf5d80Aa32gByg%3A1766843709334&amp;ei=PeVPacf5E-Dd2roPzarh6A0&amp;oq=gi%E1%BB%9Bi+thi%E1%BB%87u+nguy%E1%BB%85n+ng%E1%BB%8Dc+t%C6%B0+%2Cphong+c%C3%A1ch+s%C3%A1ng+t%C3%A1c&amp;gs_lp=EhNtb2JpbGUtZ3dzLXdpei1zZXJwIjpnaeG7m2kgdGhp4buHdSBuZ3V54buFbiBuZ-G7jWMgdMawICxwaG9uZyBjw6FjaCBzw6FuZyB0w6FjMgQQIxgnMggQABiABBiiBDIIEAAYgAQYogQyBRAAGO8FMggQABiABBiiBEj6GlDhFljhFnACeAGQAQCYAbcBoAG3AaoBAzAuMbgBA8gBAPgBAZgCA6ACywHCAgoQABiwAxjWBBhHmAMAiAYBkAYIkgcDMi4xoAfRBbIHAzAuMbgHvgHCBwMyLTPIBxGACAA&amp;sclient=mobile-gws-wiz-serp&amp;mstk=AUtExfDUna9NhiC0c4nmOuU6Lt20SUIfK6aKi3lv4DDq-RyORkRFKUcXOfCQHtb0PNYMEHtpoY9wl-1vkA1CRB2zeVbx0xfVJiLDqspfm5sVyMgOQ4qdJLo85BzvP_FpANBHbYHJZXZ_mxKseVG1dxB0_lfReL4atmBImK3xZU1e0oCO1U9tucAWjZlfEDLxVv1qXau31mu8940iPYZPNmiNXA4CIfyBAB90byPTIieci6LCTl_zmbtQh1Lvxk_NUp0a2XzMVGbGDPxxHxB9_aqdKXEk&amp;csui=3&amp;ved=2ahUKEwiP4JXh9d2RAxXQ1zQHHciPNDoQgK4QegQIAxAD">Cánh đồng bất tận</a>, <a rel="noopener noreferrer nofollow" class="GI370e" href="https://www.google.com/search?q=S%C3%B4ng&amp;sca_esv=c6588870a110159b&amp;rlz=1CDGOYI_enVN1089VN1089&amp;hl=vi&amp;sxsrf=AE3TifMYz4nImtzlzdEaPf5d80Aa32gByg%3A1766843709334&amp;ei=PeVPacf5E-Dd2roPzarh6A0&amp;oq=gi%E1%BB%9Bi+thi%E1%BB%87u+nguy%E1%BB%85n+ng%E1%BB%8Dc+t%C6%B0+%2Cphong+c%C3%A1ch+s%C3%A1ng+t%C3%A1c&amp;gs_lp=EhNtb2JpbGUtZ3dzLXdpei1zZXJwIjpnaeG7m2kgdGhp4buHdSBuZ3V54buFbiBuZ-G7jWMgdMawICxwaG9uZyBjw6FjaCBzw6FuZyB0w6FjMgQQIxgnMggQABiABBiiBDIIEAAYgAQYogQyBRAAGO8FMggQABiABBiiBEj6GlDhFljhFnACeAGQAQCYAbcBoAG3AaoBAzAuMbgBA8gBAPgBAZgCA6ACywHCAgoQABiwAxjWBBhHmAMAiAYBkAYIkgcDMi4xoAfRBbIHAzAuMbgHvgHCBwMyLTPIBxGACAA&amp;sclient=mobile-gws-wiz-serp&amp;mstk=AUtExfDUna9NhiC0c4nmOuU6Lt20SUIfK6aKi3lv4DDq-RyORkRFKUcXOfCQHtb0PNYMEHtpoY9wl-1vkA1CRB2zeVbx0xfVJiLDqspfm5sVyMgOQ4qdJLo85BzvP_FpANBHbYHJZXZ_mxKseVG1dxB0_lfReL4atmBImK3xZU1e0oCO1U9tucAWjZlfEDLxVv1qXau31mu8940iPYZPNmiNXA4CIfyBAB90byPTIieci6LCTl_zmbtQh1Lvxk_NUp0a2XzMVGbGDPxxHxB9_aqdKXEk&amp;csui=3&amp;ved=2ahUKEwiP4JXh9d2RAxXQ1zQHHciPNDoQgK4QegQIAxAE">Sông</a>, <a rel="noopener noreferrer nofollow" class="GI370e" href="https://www.google.com/search?q=Kh%C3%B4ng+ai+qua+s%C3%B4ng&amp;sca_esv=c6588870a110159b&amp;rlz=1CDGOYI_enVN1089VN1089&amp;hl=vi&amp;sxsrf=AE3TifMYz4nImtzlzdEaPf5d80Aa32gByg%3A1766843709334&amp;ei=PeVPacf5E-Dd2roPzarh6A0&amp;oq=gi%E1%BB%9Bi+thi%E1%BB%87u+nguy%E1%BB%85n+ng%E1%BB%8Dc+t%C6%B0+%2Cphong+c%C3%A1ch+s%C3%A1ng+t%C3%A1c&amp;gs_lp=EhNtb2JpbGUtZ3dzLXdpei1zZXJwIjpnaeG7m2kgdGhp4buHdSBuZ3V54buFbiBuZ-G7jWMgdMawICxwaG9uZyBjw6FjaCBzw6FuZyB0w6FjMgQQIxgnMggQABiABBiiBDIIEAAYgAQYogQyBRAAGO8FMggQABiABBiiBEj6GlDhFljhFnACeAGQAQCYAbcBoAG3AaoBAzAuMbgBA8gBAPgBAZgCA6ACywHCAgoQABiwAxjWBBhHmAMAiAYBkAYIkgcDMi4xoAfRBbIHAzAuMbgHvgHCBwMyLTPIBxGACAA&amp;sclient=mobile-gws-wiz-serp&amp;mstk=AUtExfDUna9NhiC0c4nmOuU6Lt20SUIfK6aKi3lv4DDq-RyORkRFKUcXOfCQHtb0PNYMEHtpoY9wl-1vkA1CRB2zeVbx0xfVJiLDqspfm5sVyMgOQ4qdJLo85BzvP_FpANBHbYHJZXZ_mxKseVG1dxB0_lfReL4atmBImK3xZU1e0oCO1U9tucAWjZlfEDLxVv1qXau31mu8940iPYZPNmiNXA4CIfyBAB90byPTIieci6LCTl_zmbtQh1Lvxk_NUp0a2XzMVGbGDPxxHxB9_aqdKXEk&amp;csui=3&amp;ved=2ahUKEwiP4JXh9d2RAxXQ1zQHHciPNDoQgK4QegQIAxAF">Không ai qua sông</a>, <a rel="noopener noreferrer nofollow" class="GI370e" href="https://www.google.com/search?q=Bi%E1%BB%83n+c%E1%BB%A7a+m%E1%BB%97i+ng%C6%B0%E1%BB%9Di&amp;sca_esv=c6588870a110159b&amp;rlz=1CDGOYI_enVN1089VN1089&amp;hl=vi&amp;sxsrf=AE3TifMYz4nImtzlzdEaPf5d80Aa32gByg%3A1766843709334&amp;ei=PeVPacf5E-Dd2roPzarh6A0&amp;oq=gi%E1%BB%9Bi+thi%E1%BB%87u+nguy%E1%BB%85n+ng%E1%BB%8Dc+t%C6%B0+%2Cphong+c%C3%A1ch+s%C3%A1ng+t%C3%A1c&amp;gs_lp=EhNtb2JpbGUtZ3dzLXdpei1zZXJwIjpnaeG7m2kgdGhp4buHdSBuZ3V54buFbiBuZ-G7jWMgdMawICxwaG9uZyBjw6FjaCBzw6FuZyB0w6FjMgQQIxgnMggQABiABBiiBDIIEAAYgAQYogQyBRAAGO8FMggQABiABBiiBEj6GlDhFljhFnACeAGQAQCYAbcBoAG3AaoBAzAuMbgBA8gBAPgBAZgCA6ACywHCAgoQABiwAxjWBBhHmAMAiAYBkAYIkgcDMi4xoAfRBbIHAzAuMbgHvgHCBwMyLTPIBxGACAA&amp;sclient=mobile-gws-wiz-serp&amp;mstk=AUtExfDUna9NhiC0c4nmOuU6Lt20SUIfK6aKi3lv4DDq-RyORkRFKUcXOfCQHtb0PNYMEHtpoY9wl-1vkA1CRB2zeVbx0xfVJiLDqspfm5sVyMgOQ4qdJLo85BzvP_FpANBHbYHJZXZ_mxKseVG1dxB0_lfReL4atmBImK3xZU1e0oCO1U9tucAWjZlfEDLxVv1qXau31mu8940iPYZPNmiNXA4CIfyBAB90byPTIieci6LCTl_zmbtQh1Lvxk_NUp0a2XzMVGbGDPxxHxB9_aqdKXEk&amp;csui=3&amp;ved=2ahUKEwiP4JXh9d2RAxXQ1zQHHciPNDoQgK4QegQIAxAG">Biển của mỗi người</a>, <a rel="noopener noreferrer nofollow" class="GI370e" href="https://www.google.com/search?q=Ch%E1%BA%A5m&amp;sca_esv=c6588870a110159b&amp;rlz=1CDGOYI_enVN1089VN1089&amp;hl=vi&amp;sxsrf=AE3TifMYz4nImtzlzdEaPf5d80Aa32gByg%3A1766843709334&amp;ei=PeVPacf5E-Dd2roPzarh6A0&amp;oq=gi%E1%BB%9Bi+thi%E1%BB%87u+nguy%E1%BB%85n+ng%E1%BB%8Dc+t%C6%B0+%2Cphong+c%C3%A1ch+s%C3%A1ng+t%C3%A1c&amp;gs_lp=EhNtb2JpbGUtZ3dzLXdpei1zZXJwIjpnaeG7m2kgdGhp4buHdSBuZ3V54buFbiBuZ-G7jWMgdMawICxwaG9uZyBjw6FjaCBzw6FuZyB0w6FjMgQQIxgnMggQABiABBiiBDIIEAAYgAQYogQyBRAAGO8FMggQABiABBiiBEj6GlDhFljhFnACeAGQAQCYAbcBoAG3AaoBAzAuMbgBA8gBAPgBAZgCA6ACywHCAgoQABiwAxjWBBhHmAMAiAYBkAYIkgcDMi4xoAfRBbIHAzAuMbgHvgHCBwMyLTPIBxGACAA&amp;sclient=mobile-gws-wiz-serp&amp;mstk=AUtExfDUna9NhiC0c4nmOuU6Lt20SUIfK6aKi3lv4DDq-RyORkRFKUcXOfCQHtb0PNYMEHtpoY9wl-1vkA1CRB2zeVbx0xfVJiLDqspfm5sVyMgOQ4qdJLo85BzvP_FpANBHbYHJZXZ_mxKseVG1dxB0_lfReL4atmBImK3xZU1e0oCO1U9tucAWjZlfEDLxVv1qXau31mu8940iPYZPNmiNXA4CIfyBAB90byPTIieci6LCTl_zmbtQh1Lvxk_NUp0a2XzMVGbGDPxxHxB9_aqdKXEk&amp;csui=3&amp;ved=2ahUKEwiP4JXh9d2RAxXQ1zQHHciPNDoQgK4QegQIAxAH">Chấm</a> (thơ).</p><p>Thường viết về miền Tây Nam Bộ, số phận con người nghèo khó, tình yêu, nỗi cô đơn, và những điều bình dị trong cuộc sống.&nbsp;</p><p><strong>Phong cách sáng tác</strong></p><p>Giọng văn mộc mạc, chân thành, đậm hồn quê, sử dụng ngôn ngữ địa phương gợi cảm, thủ thỉ như lời tâm sự.</p><p> Miêu tả chân thực cuộc sống nhưng lồng ghép yếu tố liêu trai, hư ảo, tạo nên sự ma mị, ám ảnh.</p><p>Dung dị mà sâu lắng, nhẹ nhàng, gợi mở những suy ngẫm về hạnh phúc, thân phận con người và ý nghĩa cuộc sống.</p><p>Thường dùng cấu trúc câu và từ ngữ lặp lại, tạo nhịp điệu miên man, dồn dập, nhấn mạnh cảm xúc và chi tiết.</p><p>Thể hiện cái nhìn bao dung, thấu cảm và sâu sắc về những phận người, đặc biệt là người phụ nữ.&nbsp;</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4412832476/e5316720fe363cdc104011bfbe8dac3f/IMG_3102.jpeg" />
         <pubDate>2025-12-27 13:58:15 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3733290550</guid>
      </item>
      <item>
         <title>châu</title>
         <author>ptxdgvb9rs</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3733291729</link>
         <description><![CDATA[<p>Nhà thơ Nông Quốc Chấn 1923-2002 nổi bật với phong cách sáng tác</p><p><strong><mark>mang hơi thở núi rừng Việt Bắc, kết hợp nhuần nhuyễn giữa tinh thần cách mạng kiên cường và vẻ đẹp văn hóa dân tộc Tày (Việt Bắc), thể hiện qua thơ ca trữ tình, giàu hình ảnh, ca ngợi thiên nhiên hùng vĩ, con người lao động dũng cảm, lạc quan, yêu đời, mang đến "tiếng ca người Việt Bắc" vào văn học dân tộc và đất nước, là "cánh chim đầu đàn" của văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam</mark></strong>.&nbsp;</p><p>Tác phẩm của ông thấm đẫm âm hưởng, nhịp điệu, hình ảnh, tứ thơ từ văn hóa Tày (then, sli), núi rừng, sông suối Việt Bắc, như "Dòng thác", "Việt Bắc đánh giặc", "Dọn về làng".Ông viết về Việt Bắc không chỉ là cảnh sắc mà còn là nơi chiến đấu, tình yêu đất nước và nhân dân, thể hiện rõ trong những bài thơ kháng chiến.Dùng ngôn ngữ mộc mạc, gần gũi nhưng hình ảnh thơ tươi đẹp, hùng tráng, miêu tả chân thực thiên nhiên và con người vùng cao. Thơ ông vừa ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng, vừa thể hiện tình yêu thương, sự lạc quan, tin tưởng vào tương lai.Ông là người đầu tiên đưa giọng nói, tâm hồn và vẻ đẹp độc đáo của đồng bào dân tộc thiểu số vào thi ca, làm phong phú kho tàng văn học Việt Nam.&nbsp;</p><p><strong>Tác phẩm tiêu biểu như</strong> <em>Tiếng ca người Việt Bắc</em>, <em>Dòng thác</em>, <em>Việt Bắc đánh giặc</em>, <em>Dọn về làng</em>, <em>Suối và biển</em>.&nbsp;</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4412832476/6e3520d20e4d9b917d0677038710f82f/IMG_3103.jpeg" />
         <pubDate>2025-12-27 14:02:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3733291729</guid>
      </item>
      <item>
         <title>châu</title>
         <author>ptxdgvb9rs</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3733293521</link>
         <description><![CDATA[<p>Nguyễn Văn Cao (1923-1995) là một trong những nhân vật quan trọng nhất của nền âm nhạc, văn học và hội họa Việt Nam hiện đại thế kỷ 20, đồng hành cùng dân tộc qua các biến động lịch sử.</p><p><strong>Tác phẩm tiêu biểu như </strong>Tác giả của "Tiến quân ca" (Quốc ca Việt Nam), "Bến xuân", "Suối mơ", "Thiên Thai", "Trương Chi", "Trường ca Sông Lô", "Tiến về Hà Nội". Tham gia Việt Minh, đóng góp lớn cho cách mạng; sau này sáng tác nhiều tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao, được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh.&nbsp;<strong> </strong><a rel="noopener noreferrer nofollow" class="GI370e" href="https://www.google.com/search?q=Phong+c%C3%A1ch+s%C3%A1ng+t%C3%A1c&amp;sca_esv=142547906ddf1424&amp;rlz=1CDGOYI_enVN1089VN1089&amp;hl=vi&amp;sxsrf=AE3TifMbQEiWWW04dF5AVszihSAQKoJBqg%3A1766844373726&amp;ei=1edPaeeDLOP91e8PyJjB8QY&amp;oq=v%C4%83n+cao+gi%E1%BB%9Bi+thi%E1%BB%87u+chung+v%C3%A0+gi%E1%BB%9Bi+thi%E1%BB%87u+phong+c%C3%A1ch+s%C3%A1ng+t%C3%A1c&amp;gs_lp=EhNtb2JpbGUtZ3dzLXdpei1zZXJwIkd2xINuIGNhbyBnaeG7m2kgdGhp4buHdSBjaHVuZyB2w6AgZ2nhu5tpIHRoaeG7h3UgcGhvbmcgY8OhY2ggc8OhbmcgdMOhYzIIEAAYgAQYogQyBRAAGO8FMgUQABjvBTIFEAAY7wUyBRAAGO8FSIkVUKEPWOYScAJ4AZABAJgBjAGgAf8CqgEDMC4zuAEDyAEA-AEBmAIFoAKYA8ICChAAGLADGNYEGEfCAgQQIRgKmAMAiAYBkAYIkgcDMi4zoAeTDLIHAzAuM7gHhwPCBwcwLjEuMy4xyAcWgAgA&amp;sclient=mobile-gws-wiz-serp&amp;mstk=AUtExfAtmwPuNw7QaqeCBrI6Oe_JUQBBw48oW73oniPR2l0YOMtGOqMmCa8B11W2PLmpZUQDUAb8Ddedg_1UAOJ4X3PoVv5xrIp0lqi-wRm5fqtpAogPX8RrXu74R3AjSN8ZjiTnC-ns86dOMqqPASkWPRjYC0iuE_pF4FqOFplgciGjBYj6QqEf5b1QJukhdRcNC0wBn8i6z0anEZodRjiNrCXS6jYslHjsNO7VmQesfEVqJ2drUDcbuCJp6lO4JQ4nERTF1nWCLBkiTSlBYvmE7Y4x8LGFPbWujDa9GYtWg2oRZw&amp;csui=3&amp;ved=2ahUKEwiQz-md-N2RAxUEk1YBHdoEMzoQgK4QegQIBBAB"><strong>Phong cách sáng tác</strong></a></p><p>Thuộc thế hệ nhạc sĩ Tân nhạc tiên phong, sáng tạo ở nhiều thể loại. Giai đoạn đầu, ông sáng tác các ca khúc trữ tình, lãng mạn sâu sắc, mang đậm chất thơ như "Thiên Thai", "Bến xuân", "Suối mơ", tạo nên trào lưu lãng mạn trong tân nhạc.<strong> </strong>Sau khi tham gia cách mạng, ông viết các ca khúc mang âm hưởng hào hùng, cổ vũ tinh thần dân tộc như "Tiến quân ca", "Tiến Hà Nội". Âm nhạc và thơ ca của Văn Cao có chất thơ đặc trưng, giàu cảm xúc, mang tính triết lý sâu sắc, tạo dấu ấn mạnh mẽ, khai mở cho nền văn nghệ Việt Nam hiện đại.Tác phẩm của ông luôn gắn bó với vận mệnh đất nước, kết hợp hài hòa giữa tiếng lòng người nghệ sĩ và khát vọng, tinh thần của dân tộc.Phong cách thể hiện sự độc đáo, độc lập trong từng lĩnh vực nhưng đều mang dấu ấn cá nhân và tính nghệ thuật cao.&nbsp;</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4412832476/58c59857044fb80b3bb7f09cf7a6da83/IMG_3104.jpeg" />
         <pubDate>2025-12-27 14:08:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3733293521</guid>
      </item>
      <item>
         <title>NGUYỄN DUY - Gương mặt tiêu biểu của lớp nhà thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ cứu nước.</title>
         <author>tranthanhtoan20212022</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3733328504</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Nhà thơ Nguyễn Duy (<mark>tên khai sinh Nguyễn Duy Nhuệ</mark>), <mark>sinh năm 1948</mark> ở Đông Sơn, Thanh Hóa. <mark>Ông đi bộ đội năm 1966</mark>, <mark>chiến đấu</mark> tại các mặt trận phía Nam và phía Bắc, rồi về <mark>công tác ở Báo Văn Nghệ - Hội Nhà văn VN</mark>, hiện đã <mark>nghỉ hưu</mark>, sống tại TP.HCM.</strong></p><p><br/></p><p><strong>Về tiểu sử,</strong> nhà thơ <strong>Nguyễn Duy</strong>, tên khai sinh là <strong>Nguyễn Duy Nhuệ</strong>, sinh ngày 7 tháng 12 năm 1948 tại xã Đông Vệ, huyện Đông Sơn (nay thuộc thành phố Thanh Hóa), tỉnh Thanh Hóa. Trước khi trở thành một nhà thơ chuyên nghiệp, ông từng là tiểu đội trưởng dân quân tại khu vực cầu Hàm Rồng năm 1965, sau đó nhập ngũ vào năm 1966 và phục vụ trong bộ đội thông tin. Nguyễn Duy đã trực tiếp tham gia chiến đấu tại nhiều chiến trường ác liệt như Khe Sanh, Đường 9 - Nam Lào và chiến trường miền Nam, trở thành một <strong>gương mặt tiêu biểu cho lớp nhà thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ cứu nước</strong>. Sau khi giải ngũ vào năm 1976, ông chuyển sang làm báo tại tạp chí <em>Văn nghệ giải phóng</em> và sau đó là đại diện thường trú của tuần báo <em>Văn nghệ</em> tại các tỉnh phía Nam.<strong> </strong></p><p><br/></p><p><strong>Sự nghiệp sáng tác</strong> của Nguyễn Duy bắt đầu từ rất sớm khi ông còn là học sinh trường cấp 3 Lam Sơn, Thanh Hóa. Ông khẳng định tài năng của mình khi đoạt <strong>giải nhất cuộc thi thơ của tuần báo <em>Văn nghệ</em> năm 1973</strong> với chùm thơ nổi tiếng gồm các bài: <em>Hơi ấm ổ rơm, Bầu trời vuông, Giọt nước mắt và nụ cười, Tre Việt Nam</em>. Đáng chú ý, từ năm 1997, ông tuyên bố "gác bút" để chiêm nghiệm lại bản thân và dành tâm huyết cho việc in thơ trên các chất liệu truyền thống như tranh, tre, nứa, lá và đặc biệt là giấy dó. Với những đóng góp to lớn cho nền văn học dân tộc, ông đã được trao tặng <strong>Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật</strong> vào năm 2007.</p><p><br/></p><p><strong>Về tác phẩm tiêu biểu</strong>,<strong> </strong>trong suốt cuộc đời cầm bút, ông đã xuất bản 13 tập thơ, tiêu biểu như <strong>Cát trắng</strong> (1973), <strong>Ánh trăng</strong> (1984), <strong>Mẹ và em</strong> (1987), <strong>Về</strong> (1994), và <strong>Bụi</strong> (1997). Bên cạnh thơ ca, ông còn viết tiểu thuyết <em>Khoảng cách</em> (1985) và nhiều tập bút ký như <em>Tôi thích làm vua</em> hay <em>Ghi và Nhớ</em>.</p><p><br/></p><p><strong>Về phong cách sáng tác</strong>, thơ của Nguyễn Duy mang một sắc thái độc đáo khi kết hợp giữa vẻ <strong>ngang tàng, phóng túng với sự trầm tĩnh và giàu chiêm nghiệm</strong>, khiến những vần thơ của ông dễ dàng "ngấm" sâu vào lòng người đọc. Điểm sáng rực rỡ nhất trong nghệ thuật thơ Nguyễn Duy chính là <strong>khả năng làm mới thể thơ lục bát truyền thống</strong>. Dưới ngòi bút của ông, câu lục bát vừa giữ được sự uyển chuyển, chặt chẽ vốn có, lại vừa mang hơi thở hiện đại, tự do của thời đại; điều này đã khiến giới phê bình đánh giá ông là người có công lớn trong việc hiện đại hóa thể thơ dân tộc này. Các tác phẩm của ông thường phác họa bức tranh Việt Nam quen thuộc, gần gũi, hướng tới cái đẹp của đời sống tâm hồn và những giá trị vĩnh hằng. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng dành cho ông một nhận định đầy hình ảnh: "<strong>Hình hài Nguyễn Duy giống như đám đất hoang, còn thơ Nguyễn Duy là thứ cây quý mọc trên đám đất hoang ấy</strong>". Có thể ví phong cách nghệ thuật của Nguyễn Duy như một chiếc cầu nối giữa quá khứ và hiện tại; ông dùng những viên gạch truyền thống của thể thơ lục bát để xây nên một ngôi nhà thơ ca hiện đại, nơi mà những giá trị cũ được khoác lên mình một lớp áo mới đầy suy tư và hơi thở của thời đại.</p><p><br/></p><p><strong><em>Thông tin được lấy trong</em></strong></p><p><a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Duy_(nh%C3%A0_th%C6%A1)">https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Duy_(nh%C3%A0_th%C6%A1)</a></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4957210270/29ef0e62fb47eb330d82094edad979cf/ND.jpg" />
         <pubDate>2025-12-27 16:03:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3733328504</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>legialinh131</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3733338237</link>
         <description><![CDATA[<p>Nguyễn Quang Sáng (bút danh Nguyễn Sáng) là nhà văn nổi tiếng với chất văn giản dị và gần gũi. Ông được mệnh danh là “ cây đại thụ văn học Nam Bộ”. Những tác phẩm nổi tiếng của Nguyễn Quang Sáng là “Chiếc lược Ngà”, “Mùa gió chướng”, cùng các kịch bản phim đặc sắc như “Cánh đồng hoang” , “Mùa nước nổi”. Về sự nghiệp văn học của ông ,vào những năm chống Mĩ, Nguyễn Quang Sáng trở về Nam Bộ tham gia kháng chiến và tiếp tục sáng tác văn học.Tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng có nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản phim và hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến cũng như sau hòa bình.</p><p>Năm 2000, ông được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.</p><p>Về phong cách sáng tác, ông có lối viết mộc mạc, chân thành, giàu chất hiện thực và trữ tình, khắc họa sâu sắc con người và cảnh sắc Nam Bộ.&nbsp;Những tác phẩm tiêu biểu của ông như "Chiếc lược ngà", "Bông cẩm thạch", "Dòng sông thơ ấu", "Con mèo của Foujita", tiểu thuyết "Mùa gió chướng", "Đất lửa", "Những người ở lại"&nbsp;,kịch bản phim "Cánh đồng hoang", "Mùa nước nổi", "Pho tượng", "Cho đến bao giờ".&nbsp;Nguyễn Quang Sáng đã để lại di sản văn học vĩ đại, góp phần quan trọng vào văn học hiện đại Việt Nam, đặc biệt là văn học Nam Bộ, với những tác phẩm sống mãi trong lòng người đọc.</p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4412608542/aef4c11814c241b1c2cb125e2498e8f2/IMG_1085.webp" />
         <pubDate>2025-12-27 16:36:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3733338237</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Quang Thiều</title>
         <author>phivan2822008</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3733361902</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Tiểu sử:</strong></p><p><br></p><p>Nguyễn Quang Thiều sinh ngày 13/2/1957 tại thôn Hoàng Dương, xã Sơn Công, huyện Ứng Hòa (nay là xã Vân Đình), thành phố Hà Nội. Ông tốt nghiệp đại học ở Cuba.Ông là một nhà thơ hiện đại của Việt Nam, ngoài lĩnh vực chính thơ ca tạo nên tên tuổi, ông còn là một nhà văn với các thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn, bút ký và tham gia vào lĩnh vực báo chí. Đến nay, đã xuất bản 7 tập thơ 15 tập văn xuôi và 3 tập sách dịch.</p><p><br></p><p><br></p><p><strong>Phong cách sáng tác:</strong></p><p><br></p><p>mang một giọng điệu độc đáo, đầy chiều sâu, phản ánh sự đổi mới trong cách tiếp cận đề tài và ngôn ngữ thi ca. Với ngôn từ bay bổng, giàu sức gợi hình, thơ ông khắc họa rõ nét những nỗi niềm nhân sinh và các cung bậc cảm xúc phức tạp ông không chỉ đơn thuần là sự miêu tả mà còn lồng ghép những triết lý sâu sắc về cuộc sống. Thơ ông có sự hòa quyện giữa truyền thống và hiện đại, giữa sự bình dị của đời thường và những tâm tư mang tầm vóc triết lý, mở ra những chiều sâu suy tưởng mới lạ cho độc giả.</p><p><br></p><p><strong>Về mảng báo chí:</strong></p><p><br></p><p>Trong lĩnh vực báo chí, Nguyễn Quang Thiều nổi bật với phong cách sắc bén và rõ ràng. Ngôn ngữ báo chí của ông mạnh mẽ, lập luận chặt chẽ và có sức thuyết phục cao.Những bài báo của ông không chỉ cung cấp thông tin mà còn đặt ra các câu hỏi, gợi mở cho người đọc những suy ngẫm sâu sắc về các vấn đề chính trị, văn hóa và xã hội.</p><p><br></p><p><strong>Những tác phẩm gắn liền với tên tuổi của ông:</strong></p><p><br></p><p><strong>Tác phẩm nổi bật (Thơ):</strong></p><ul><li><p><strong>"Sự mất ngủ của lửa" (1992):</strong> Tập thơ được đánh giá cao, thể hiện sự cách tân mạnh mẽ.</p></li><li><p><strong>"Những người đàn bà gánh nước sông" (1995):</strong> Tác phẩm mang tính biểu tượng, được dịch sang tiếng Anh và nhận giải thưởng quốc tế.</p></li></ul><p><br></p><p><strong>Tác phẩm nổi bật (Văn xuôi):</strong></p><ul><li><p><strong>"Kẻ ám sát cánh đồng" (1995):</strong> Tiểu thuyết được chuyển thể thành phim truyền hình nổi tiếng "Chuyện làng Nhô".</p></li><li><p><strong>"Chuyện của anh em nhà Mem &amp; Kya":</strong> Sách thiếu nhi ý nghĩa, viết cho các cháu của mình.</p></li></ul><p><br></p><p><br></p><p><strong>Dấu ấn nghệ thuật:</strong></p><ul><li><p><strong>Nhà thơ tiên phong:</strong> Tạo ra giọng điệu mới, kết hợp ngôn ngữ đời sống và thi ca, mang tính tự sự, triết lý.</p></li><li><p><strong>Nhà văn đa năng:</strong> Viết truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản, tiểu luận, bút ký.</p><p><br></p><p><br></p><p><strong><mark>Kham khảo ở link này nha</mark></strong></p><p><a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://www.nxbtre.com.vn/tac-gia/nguyen-quang-thieu-5728.html">https://www.nxbtre.com.vn/tac-gia/nguyen-quang-thieu-5728.html</a></p><p><br><a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vanvn.net/phong-cach-sang-tac-cua-nguyen-quang-thieu/">https://vanvn.net/phong-cach-sang-tac-cua-nguyen-quang-thieu/</a></p><p><br></p></li></ul><p><br></p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4412960944/977a8d7d67592fe6b721ede37ad5559d/IMG_4077.jpg" />
         <pubDate>2025-12-27 18:30:48 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3733361902</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Minh Quốc</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3733592587</link>
         <description><![CDATA[<p>Nguyễn Minh Quốc là một cây bút trẻ có phong cách sáng tác giàu cảm xúc và chiều sâu suy tư. Các tác phẩm của anh thường khai thác những điều bình dị trong đời sống, tập trung khắc họa thế giới nội tâm con người và những giá trị nhân văn bền vững. Ngôn ngữ viết giản dị, giọng văn nhẹ nhàng, giàu chất trữ tình giúp người đọc dễ đồng cảm và rung động.</p><p>Không ngừng tìm tòi, Nguyễn Minh Quốc mạnh dạn thử nghiệm những cách thể hiện mới, kết hợp giữa hiện thực và suy tưởng để tạo dấu ấn riêng. Một số tác phẩm tiêu biểu của anh như Những khoảng lặng đời người, Dưới bầu trời rất gần, Khi ký ức lên tiếng đã góp phần khẳng định phong cách và vị trí của Nguyễn Minh Quốc trong văn học đương đại.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-12-28 14:00:43 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3733592587</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>tranhuy87660</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3733595537</link>
         <description><![CDATA[<p>    Nhà thơ, nhà giáo Nguyễn Bùi Vợi (1933-2008) là một văn nghệ sĩ gốc Nghệ An, nổi tiếng với những tác phẩm thơ giàu tình yêu quê hương đất nước, giản dị mà sâu sắc, như "Tiếng Nghệ", "Qua Thậm Thình", từng dạy học, công tác tại Đài Tiếng nói Việt Nam và là người đồng sáng lập Hội Văn nghệ Vĩnh Phúc, để lại nhiều di sản thơ và tình yêu thương cho thế hệ sau. </p><p>    Phong cách sáng tác của nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi đậm đà tính chất phác, chân thành, giản dị, mang đậm hơi thở quê hương Nghệ An, sử dụng thể thơ lục bát truyền thống một cách mượt mà, gần gũi như kể chuyện, vẽ tranh, với ngôn ngữ bình dị, giàu hình ảnh quê mùa, gợi cảm giác thân thương, thấm đẫm tình người và tình quê sâu sắc, dễ đi vào lòng người qua nhiều thế hệ. </p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4412882985/10568d754b0b02c9cb435809897d7697/nguyen_bui_voi.jpg" />
         <pubDate>2025-12-28 14:09:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3733595537</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>mainguyen19845</author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3734782049</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4413319401/92b7074d2519c2aa2e5f54003b56e7de/IMG_2409.jpeg" />
         <pubDate>2025-12-30 13:01:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3734782049</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3734793021</link>
         <description><![CDATA[<p>Tên khai sinh là Chu Tá Nộ, sinh năm 1966 tại huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Hiện sống tại thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên. Các bút danh khác: Ha Ni, Nang Bua Khưa...</p><p>Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Các tập sách đã xuất bản và đoạt giải thưởng: Thuyền đuôi én (giải Nhì năm 2010, Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam); Lửa sàn hoa, Lễ xên mường của người Thái Đen ở Mường Then (giải Nhất năm 2012, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam), Truyện cổ Hà Nhì (39 truyện, giải Nhì năm 2013, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam)...</p><p> Thùy Liên là nhà thơ của tỉnh Điện Biên, sáng tác khá lặng lẽ và in thơ không nhiều, nhưng đã để lại dấu ấn riêng bằng một giọng thơ trong trẻo, nhẹ nhàng. Ví dụ: Cành mận bung cánh muốt/ Nhà trình tường ủ hương nếp/ Giục lửa hồng nở hoa trong bếp/ Cho người đi xa nhớ lối trở về</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4964685460/664d6e7057cfe8f83ebc48345721ea8e/IMG_7347.jpeg" />
         <pubDate>2025-12-30 13:34:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trongtruongthanhan/ea6alwvvbt3mldqs/wish/3734793021</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
