<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title>KTVM NHÓM 7 by 0635_Nguyễn Mai Lâm Thuỳ</title>
      <link>https://padlet.com/thuylam1704/e5a9ntr4wiuifnyl</link>
      <description>Được tạo với ý thích bất ngờ</description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2022-03-16 11:31:10 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2025-12-05 05:39:44 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url></url>
      </image>
      <item>
         <title>I </title>
         <author>thuylam1704</author>
         <link>https://padlet.com/thuylam1704/e5a9ntr4wiuifnyl/wish/2097835130</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>KHÁI NIỆM:<br></strong><br></div><div><br></div><div>Ở Pháp người ta cho rằng, thất nghiệp là không có việc làm, có điều kiện làm việc, đang đi tìm việc làm.</div><div><br></div><div>Thái Lan, định nghĩa về thất nghiệp khẳng định: <em>“Thất nghiệp là không có việc làm, muốn làm việc, có năng lực làm việc”.</em></div><div><br></div><div>Trung Quốc định nghĩa về thất nghiệp như sau: <em>“Thất nghiệp là người trong tuổi lao động (dân thành thị) có khả năng lao động, chưa có việc làm, đang đi tìm việc làm, đăng kí tại cơ quan giải quyết việc làm”.</em></div><div><br></div><div>Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO), <em>“Thất nghiệp là tình trạng tồn tại một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức lương thịnh hành”.</em></div><div><br></div><div>Ở Việt nam, thất nghiệp là vấn đề mới nảy sinh trong thời kì chuyển đổi nền kinh tế cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường . Vì vậy, tuy chưa có văn bản pháp qui về thất nghiệp cũng như các vấn đê có liên quan đến thất nghiệp, nhưng có nhiều công trình nghiên cứu nhất định.</div><div><br></div><div>Những nghiên cứu bước đầu khẳng định thất nghiệp là những người không có việc làm, đang đi tìm việc và sẵn sàng làm việc.</div><div><br></div><div>Theo quan điểm của tác giả tổng hợp được<em>: “Thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có nhu cầu việc làm, đang không có việc làm, đang đi tìm việc làm”.</em></div><div><br></div><div><strong>PHÂN LOẠI:<br></strong><br></div><div><br></div><div>Thất nghiệp xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, tuy nhiên dù nguyên nhân nào thì đều sẽ gây bất lợi cho người lao động. Và đặc biệt là nền kinh tế bị giảm sút. Hiện nay dựa vào các đặc điểm của thất nghiệp ta có thể phân loại thành các loại thất nghiệp như sau:</div><div><br></div><div><strong>Thứ nhất, theo đặc trưng của người thất nghiệp</strong></div><div>Thất nghiệp là một gánh nặng, nhưng gánh nặng đó rơi vào đâu, bộ phận dân cư nào, ngành nghề nào… Cần biết được điều đó để hiểu được đặc điểm, tính chất, mức độ tác hại… của thất nghiệp trong thực tế. Với mục đích đó có thể dùng những tiêu thức phân loại dưới đây:</div><div>– Thất nghiệp chia theo giới tính.</div><div>– Thất nghiệp theo lứa tuổi.</div><div>– Thất nghiệp chia theo vùng, lãnh thổ.</div><div>– Thất nghiệp chia theo ngành nghề.</div><div>– Thất nghiệp chia theo dân tộc, chủng tộc.</div><div><br></div><div><strong>Thứ hai, phân theo lý do thất nghiệp</strong></div><div>Trong khái niệm thất nghiệp, cần phân biệt rõ thất nghiệp tự nguyện và thất nghiệp không tự nguyện. Nói khác đi là những người lao động tự nguyện xin thôi việc và những người lao động buộc phải thôi việc. Trong nền kinh tế thị trường năng động, lao động ở các nhóm, các ngành, các công ty được trả tiền công lao động khác nhau (mức lương không thống nhất trong các ngành nghề, cấp bậc). Việc đi làm hay nghỉ việc là quyền của mỗi người. Cho nên, người lao động có sự so sánh, chỗ nào lương cao thì làm, chỗ nào lương thấp (không phù hợp) thì nghỉ. Vì thế xảy ra hiện tượng:</div><div><br></div><div><em>Thất nghiệp tự nguyện:</em> Là loại thất nghiệp mà ở một mức tiền công nào đó người lao động khống muốn làm việc hoặc vì lý do cá nhân nào đó (di chuyển, sinh con…). Thất nghiệp loại này thường là tạm thời.</div><div><br></div><div><em>Thất nghiệp không tự nguyện:</em> Là thất nghiệp mà ở mức tiền công nào đó người lao động chấp nhận nhưng vẫn không được làm việc do kinh tế suy thoái, cung lớn hơn cầu về lao động…</div><div><br></div><div><em>Thất nghiệp trá hình</em> (còn gọi là hiện tượng khiếm dụng lao động) là hiện tượng xuất hiện khi người lao động được sử dụng dưới mức khả năng mà bình thường người lao động sẵn sàng làm việc. Hiện tượng này xảy ra khi năng suất lao động của một ngành nào đó thấp, thất nghiệp loại này thường gắn với việc sử dụng không hết thời gian lao động.</div><div>Kết cục của những người thất nghiệp không phải là vĩnh viễn. Có những người (bỏ việc, mất việc…) sau một thời gian nào đó sẽ được trở lại làm việc. Nhưng cũng có một số người không có khả năng đó và họ phải ra khỏi lực lượng lao động do không có điều kiện bản thân phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động hoặc do mất khả năng hứng thú làm việc (hay còn có thể có những nguyên nhân khác).</div><div>Như vậy, con số thất nghiệp là con số mang tính thời điểm. Nó luôn biến động theo thời gian. Thất nghiệp xuất phát từ nhu cầu cần việc làm, có việc rồi lại mất việc, từ không thất nghiệp trở lên thất nghiệp rồi ra khỏi trạng thái đó. Vì thế việc nghiên cứu dòng lưu chuyển thất nghiệp là rất có ý nghĩa.</div><div><br></div><div><strong>Thứ ba, phân theo nguồn gốc thất nghiệp</strong></div><div>Có thể chia thành 4 loại:</div><div><br></div><div><em>Thất nghiệp tạm thời:</em> Là loại thất nghiệp phát sinh do sự di chuyển không ngừng của người lao động giữa các vùng, các loại công việc hoặc giữa các giai đoạn khác nhau của cuộc sống. Thậm chí trong một nền kinh tế có đủ việc làm vẫn luôn có sự chuyển động nào đó như một số người tìm việc làm sau khi tốt nghiệp hoặc di chuyển chỗ ở từ nơi này sang nơi khác; phụ nữ có thể quay lại lực lượng lao động sau khi sinh con…</div><div><br></div><div><em>Thất nghiệp có tính cơ cấu:</em> Xảy ra khi có sự mất cân đối giữa cung- cầu lao động (giữa các ngành nghề, khu vực…). Loại này gắn liền với sự biến động cơ cấu kinh tế và gây ra do sự suy thoái của một ngành nào đó hoặc là sự thay đổi công nghệ dẫn đến đòi hỏi lao động có chất lượng cao hơn, ai không đáp ứng được sẽ bị sa thải.</div><div>Chính vì vậy, thất nghiệp loại này còn gọi là thất nghiệp công nghệ. Trong nền kinh tế hiện đại, thất nghiệp loại này thường xuyên xảy ra. Khi sự biến động này là mạnh và kéo dài, nạn thất nghiệp trở nên trầm trọng và chuyển sang thất nghiệp dài hạn. Nếu tiền lương rất linh hoạt thì sự mất cân đối trong thị trường lao động sẽ mất đi khi tiền lương trong những khu vực có nguồn cung lao động hạ xuống, và ở trong khu vực có mức cầu lao động cao tăng lên.</div><div><br></div><div><em>Thất nghiệp do thiếu cầu:</em> Loại thất nghiệp này xảy ra khi mức cầu chung về lao động giảm xuống. Nguồn gốc chính là sự suy giảm tổng cầu.</div><div>Loại này còn được gọi là thất nghiệp chu kỳ bởi ở các nền kinh tế thị trường nó gắn liền với thời kỳ suy thoái của chu kỳ kinh doanh. Dấu hiệu chứng tỏ sự xuất hiện của loại này là tình trạng thất nghiệp xảy ra tràn lan ở khắp mọi nơi, mọi ngành nghề.</div><div><br></div><div><em>Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường:</em> Loại thất nghiệp này còn được gọi theo lý thuyết cổ điển. Nó xảy ra khi tiền lương được ấn định không bởi các lực lượng thị trường và cao hơn mức lương cân bằng thực tế của thị trường lao động. Vì tiền lương không chỉ quan hệ đến sự phân phối thu nhập gắn với kết quả lao động mà còn quan hệ đến mức sống tối thiểu nên nhiều nhiều quốc gia (Chính phủ hoặc công đoàn) có quy định cứng nhắc về mức lương tối thiểu, sự không linh hoạt của tiền lương (ngược với sự năng động của thị trường lao động), dẫn đến một bộ phận mất việc làm hoặc khó tìm việc làm.</div><div><br></div><div><strong>NGUYÊN NHÂN:<br></strong><br></div><div><br></div><div><strong>1. Các nguyên nhân khách quan<br></strong><br></div><div><strong>a. Suy thoái nền kinh tế – Nguyên nhân thứ 1</strong></div><div>“Tính đến tháng 9 năm 2020, cả nước có <strong>31,8 triệu người từ 15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng tiêu cực</strong> bởi dịch Covid-19 bao gồm người bị mất việc làm, phải nghỉ giãn việc/nghỉ luân phiên, giảm giờ làm, giảm thu nhập.” – Thông tin điện tử Tổng cục Thống kê&nbsp;</div><div>&nbsp;</div><div><br></div><div>Nguồn: Tổng Cục Thống Kê Việt Nam</div><div>&nbsp;</div><div>Năm 2020, là năm nhân lực chịu nhiều tác động về các yếu tố khách quan (Tác động của dịch bệnh, khiến thế giới biến động hết 5 tháng đầu năm, Việt Nam sau đó phục hồi nhẹ trong trạng thái bình thường mới. Tiếp tục hứng chịu các đợt thiên tai khác, bão liên tục các tỉnh miền Trung). Nhiều doanh nghiệp phá sản do nền kinh tế suy thoái, khiến cho hàng ngàn lao động bị <strong>mất việc làm</strong>, 1 số khác bị <strong>giảm lương</strong>, <strong>giảm giờ làm</strong>, <strong>giảm các chế độ ưu đãi</strong>.</div><div><strong>b. Giảm cầu thừa cung – Nguyên nhân thứ 2</strong></div><div>Bởi nguyên nhân thứ 1 dẫn đến nguyên nhân thứ 2, khi mà nhiều công ty phá sản, nguồn cung nhân lực trở nên dồi dào hơn, tuy nhiên, nhu cầu của các công ty giảm đi nhiều so với trước đó.</div><ul><li>Vì vậy, công việc trở nên khan hiếm hơn bao giờ hết, các đơn vị tìm kiếm nguồn nhân lực mới sẽ có yêu cầu và chọn lọc cao hơn (do thừa cung).</li><li>Yêu cầu về chuyên môn và kỹ năng làm việc (cứng – mềm) của các đơn vị tuyển dụng cao hơn so với các năm trước.</li></ul><div><br></div><div><strong>2. Các nguyên nhân chủ quan<br></strong><br></div><div>Ngoài những yếu tố khách quan từ nền kinh tế, các yếu tố chủ quan mới là những yếu tố có tác động trực tiếp dẫn đến thất nghiệp của ứng viên.</div><div>Các yếu tố nằm ở bản thân ứng viên được thể hiện rõ rệt khi các nhà tuyển dụng xem xét CV ứng viên và các vòng phỏng vấn. Ngoài kỹ năng chuyên môn, theo từng loại hình công việc, các nhà tuyển dụng còn đòi hỏi kinh nghiệm thực chiến và kỹ năng phối hợp &amp; xử lý tình huống của ứng viên.</div><div><strong>a. Yếu tiếng anh – Nguyên nhân thứ 3</strong></div><div>Hiện tại các công việc đòi hỏi người lao động cần có tiếng anh ngày càng nhiều.</div><div>Tiếng Anh hiện là ngôn ngữ được các công ty yêu cầu nhiều nhất bởi đó là ngôn ngữ phổ biến nhất thế giới. Công việc bắt buộc giao tiếp, làm việc &amp; đàm phán cùng với người nước ngoài ngày càng nhiều &amp; tần suất ngày càng tăng. Mặc khác, kiến thức &amp; kinh nghiệm nghề nghiệp của nhiều nước trên thế giới được truyền tải đa phần bằng tiếng Anh. Thiếu đi tiếng Anh, hầu như không thể xử lý hết các yêu cầu từ phía lãnh đạo và đối tác. Cũng như tự hạn chế về sự phát triển của bản thân.</div><div><strong>b. Không cập nhật mới về yêu cầu của thị trường – Nguyên nhân thứ 4</strong></div><div>Thế giới vận động và thay đổi hàng ngày hàng giờ, xu hướng phát triển cùng công nghệ tiên tiến ngày càng lớn.</div><div>Việc cập nhật liên tục xu hướng và thay đổi theo nhu cầu của thế giới là một trong những yếu tố tạo nên sự khác biệt của ứng viên (ít nhất trong thời điểm hiện tại).</div><div>Mỗi lĩnh vực sẽ có yêu cầu riêng về: công nghệ, kỹ thuật, kỹ năng (kỹ năng cứng, kỹ năng mềm) bắt buộc ứng viên phải liên tục cập nhật và nắm bắt theo xu hướng của thị trường lao động.</div><div><strong>Sự thụt lùi thể hiện rõ rệch khi bạn chỉ đứng yên trước sự chuyển động không ngừng của cả thế giới.</strong></div><div><strong>c. Yếu về kỹ năng hỗ trợ công việc – Nguyên nhân thứ 5</strong></div><div>Sự chuyển động của thế giới cũng ảnh hưởng gián tiếp đến các yêu cầu kỹ năng làm việc của người tuyển dụng lên người lao động.</div><div>Không chỉ là kỹ năng nghề nghiệp (kỹ năng cứng), các kỹ năng hỗ trợ công việc (kỹ năng mềm) cũng vô cùng quan trọng, khi môi trường làm việc/tương tác công việc dần thay đổi với việc giao thoa nhiều quốc gia.</div><div>+ Kỹ năng giải quyết vấn đề</div><div>+ Kỹ năng làm việc nhóm</div><div>+ Kỹ năng sử dụng công nghệ phát triển</div><div>+ Kỹ năng tự quản trị</div><div>Việc thiếu linh động và nhạy cảm biến đổi có thể hạn chế khả năng được tuyển dụng của bạn hoặc bị đào thải sau quá trình thử việc.</div><div><strong>d. Không cập nhật kiến thức &amp; kỹ năng mới theo nhu cầu thị trường – Nguyên nhân thứ 6</strong></div><div>Kiến thức &amp; kỹ năng ngành nghề (kỹ năng cứng) luôn được nâng cao và cập nhật mới theo sự vận động và thay đổi của nền kinh tế.</div><div>Hạn chế trong việc cập nhật kiến thức và kỹ năng mới sẽ khiến bạn không đủ khả năng làm việc, đáp ứng nhu cầu công ty, việc đào thải có thể xảy ra bất kỳ lúc nào.</div><div>&nbsp;</div><div><br></div><div><strong>e. Thiếu sự chủ động (mở rộng quan hệ, tự giác làm việc, tự tìm tòi học hỏi) – Nguyên nhân thứ 7</strong></div><div>Một trong những yếu tố mang lại cho bạn nhiều cơ hội mới trong công việc, chính là “mối quan hệ”. Lý do bạn không tìm thấy công ty phù hợp với nhu cầu và nguyện vọng của bản thân chính là thiếu đi mối quan hệ. Bạn không thể tìm thấy công ty phù hợp, nhà tuyển dụng không thể tìm thấy bạn.</div><div><strong>Việc bạn chủ động trong công việc, tìm tòi học hỏi, thích ứng trong công việc, tạo nên chất xúc tác cho các mối quan hệ tốt bên ngoài môi trường công việc, tạo nên vòng quan hệ ảnh hưởng trực tiếp đến sức mạnh tên tuổi của chính bạn.</strong></div><div><strong>f. Không chấp nhận thất bại và thiếu nỗ lực – Nguyên nhân thứ 8</strong></div><div>Những thiếu sót &amp; vấp ngã trong công việc là không thể tránh khỏi, nếu mỗi cá nhân không thể chấp nhận thất bại và thiếu sự vận động nỗ lực nâng cấp bản thân. Sự đào thải khỏi môi trường làm việc là điều sớm muộn.</div><div>Mỗi cá nhân đều có những điểm mạnh và điểm yếu riêng, tối ưu điểm mạnh và khắc phục điểm yếu gần như là công việc mỗi ngày để bản thân có được những kết quả mà mình mong muốn.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-03-16 11:31:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thuylam1704/e5a9ntr4wiuifnyl/wish/2097835130</guid>
      </item>
      <item>
         <title>II</title>
         <author>thuylam1704</author>
         <link>https://padlet.com/thuylam1704/e5a9ntr4wiuifnyl/wish/2097835392</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>A. Nguyên nhân</strong>:<br>- Thiếu định hướng nghề nghiệp: nhiều sinh viên do thiếu định hướng nghề nghiệp sẽ dẫn đến chọn những ngành nghề không phù hợp với bản thân. <br>- Trình độ chuyên môn kỹ thuật còn thấp: do thiếu ngoại ngữ, thiếu hiểu biết về luật pháp và văn hóa của các quốc gia đến làm việc.<br>- Lực lượng lao động phân bố không đồng đều giữa các vùng địa lý kinh tế, chủ yếu tập trung ở đồng bằng sông Hồng (không bao gồm Hà Nội): 15,2%, đồng bằng sông Cửu Long: 19,1%; trong khi các vùng đất rộng có tỉ trọng lao động thấp như trung du và miền núi phía Bắc chỉ chiếm 13,7%, Tây Nguyên chiếm 6,3% lực lượng lao động. Vì vậy, chưa tạo điều kiện phát huy được lợi thế về đất đai, tạo việc làm cho người lao động và góp phần phân bố lại lực lượng lao động, đây chính là nguyên nhân tạo ra sự mất cân đối cục bộ về lao động và là tác nhân của thất nghiệp, thiếu việc làm.<br>- Lực lượng lao động có chất lượng thấp.<br>+ Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam đạt mức 3,79 điểm (trong thang điểm 10), xếp hạng thứ 11 trong số 12 quốc gia được khảo sát tại châu Á.<br>+ Nguồn nhân lực nước ta yếu về chất lượng, thiếu năng động và sáng tạo, tác phong lao động công nghiệp... Trong tổng số hơn 53,4 triệu lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế, chỉ có khoảng 49% qua đào tạo, trong đó qua đào tạo nghề từ 3 tháng trở lên chỉ chiếm khoảng 19%. Khoảng cách khác biệt về tỉ lệ này giữa khu vực thành thị và nông thôn là khá cao (20,4% và 8,6%).<br>+ Thể lực của lao động Việt Nam ở mức trung bình kém, chưa đáp ứng được cường độ làm việc và những yêu cầu trong sử dụng máy móc thiết bị theo tiêu chuẩn quốc tế.<br>+ Công tác chăm sóc sức khỏe và an toàn nghề nghiệp chưa tốt; bên cạnh đó, kỷ luật lao động còn kém so với nhiều quốc gia trong khu vực.<br>+ Một bộ phận lớn người lao động hiện nay chưa được tập huấn về kỷ luật lao động công nghiệp, tùy tiện về giờ giấc và hành vi.<br>+ Người lao động chưa được trang bị các kiến thức và kỹ năng làm việc theo nhóm, thiếu khả năng hợp tác và gánh chịu rủi ro, ngại phát huy sáng kiến và chia sẻ kinh nghiệm làm việc..<br>- Tình trạng mất cân đối cung - cầu lao động cục bộ vẫn thường xuyên xảy ra. Thị trường lao động nước ta chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn, các vùng kinh tế trọng điểm, nơi có nhiều KCX-KCN, như: Long An, TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai… Ngược lại một số tỉnh như Bạc Liêu, Ninh Thuận, Thanh Hóa, Nghệ An lại có tình trạng dư cung, đang phải đối mặt với tỉ lệ thất nghiệp cao.<br>Mặc dù đã tiến hành hai đợt cải cách tiền lương, bước đầu tách bạch tiền lương khu vực sản xuất kinh doanh và khu vực hành chính sự nghiệp, tạo điều kiện đổi mới chính sách tiền lương khu vực sản xuất kinh doanh theo định hướng thị trường nhưng mức tiền lương tối thiểu thấp chưa được tính đúng, tính đủ cho mức sống tối thiểu và chỉ đáp ứng được 70% nhu cầu cơ bản của người lao động, thấp hơn mức lương tối thiểu thực tế trên thị trường khoảng 20% và hiện nay mới đạt khoảng 45% mức tiền lương tối thiểu trung bình của khu vực ASEAN.<br>- Công tác quản lý nhà nước về lao động - việc làm còn nhiều hạn chế:<br>+ Các chính sách, pháp luật đang từng bước hoàn thiện, hệ thống thông tin thị trường lao động còn sơ khai thiếu đồng bộ.<br>+ Chính sách bảo hiểm thất nghiệp hết sức tiến bộ nhưng chưa đạt được mục tiêu như mong muốn nhằm không chỉ hỗ trợ cuộc sống người lao động khi mất việc làm mà còn phải đào tạo nghề, tư vấn, hỗ trợ để giúp quay lại thị trường lao động.<br>-Thiên tai,dịch bênh:<br> +Thiên tai có ảnh hưởng đến một bộ phận lớn trong lực lưọng lao động tại những vùng bị thiệt hại khiến cho họ bị mất việc trong một khoảng thời gian dài.<br>VD: Lũ lục khiến cho người dân bị mất việc,tài sản,nhà cửa, ảnh hưởng đến các hoạt động nông,lâm,ngư nghiệp,....<br>+ Dịch bệnh covid đã đem lại cho chúng ta nhiều mất mác từ vật chất đến tinh thần và chngs ta phải áp dụng biện pháp giãn cách xã hôi và điều này dẫn đến rất nhiều người lao động mất việc làm, nhiều doanh nghiệp không thể cầm cự,....<br> <br><strong>B. Thực trạng</strong><br>-Năm 2018:&nbsp;<br>+Số người thất nghiệp trong quý I năm 2018 là 1,1 triệu người, giảm 4,6 nghìn người so với quý trước, giảm 35,4 nghìn người so với cùng kỳ năm trước.<br>+ Tỷ lệ thất nghiệp chung của toàn quốc quý I năm 2018 ước là 2,01%, giảm 0,01% so với quý trước.&nbsp;<br>+ Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên trong quý I năm 2018 ước là 7,25%, giảm 0,04% so với cùng kỳ năm trước.<br>+ Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi quý I năm 2018 ước là 1,48% giảm 0,1% so với quý trước.<br>+ Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi ở khu vực thành thị ước là 0,55%, ở khu vực nông thôn ước là 1,94%.<br>-Năm 2019:<br>Tỷ lệ thất nghiệp duy trì ở mức thấp, lao động thiếu việc làm và lao động phi chính thức giảm so với cùng kỳ 2018 nhưng tỷ lệ thanh niên không đi học và không đi làm vẫn ở mức cao.&nbsp;<br>Số liệu của Tổng cục Thống kê nêu rõ, số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý IV/2019 gần 1,11 triệu người, tăng 0,3 nghìn so với quý III và giảm 0,9 nghìn người so với cùng kỳ 2018.&nbsp;<br>-Tỷ lệ thất nghiệp là 1,98%.<br>+ Thất nghiệp của lao động thanh niên trong độ tuổi 15-24 quý IV/2019 ước khoảng 390,6 nghìn người.<br>+Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên khu vực thành thị là 8,91%.&nbsp;<br>+Tỷ lệ thanh niên không có việc làm và không tham gia học tập hoặc đào tạo trong quý IV ước 8,4%, giảm so với quý III, tỷ lệ này ở thành thị thấp hơn nông thôn và ở nữ thanh niên cao hơn nam thanh niên<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-03-16 11:32:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thuylam1704/e5a9ntr4wiuifnyl/wish/2097835392</guid>
      </item>
      <item>
         <title>III</title>
         <author>thuylam1704</author>
         <link>https://padlet.com/thuylam1704/e5a9ntr4wiuifnyl/wish/2097835516</link>
         <description><![CDATA[<div><br></div><ul><li>&nbsp;<strong>Các chính sách kinh tế vĩ mô nhằm làm giảm tỷ lệ thất nghiệp</strong></li></ul><div>Muốn giảm bớt thất nghiệp xã hội cần phải có thêm nhiều việc làm, đa dạng hơn và có mức tiền công tốt hơn, đồng thời phải đổi mới, hoàn thiện thị trường lao động để đáp ứng kịp thời, nhanh chóng cả yêu cầu của doanh nghiệp và người lao động.</div><div>Do yêu cầu cạnh tranh mạnh mẽ của cơ chế thị trường việc mở rộng sản xuất tạo nhiều việc làm tốt, thu nhập khá và ổn định luôn gắn liền với năng suất ngày càng cao. Ở mỗi mức tiền công sẽ thu hút nhiều lao động hơn. Trong những điều kiện đó, cầu về lao động sẽ tăng lên và khoảng thời gian thất nghiệp cũng sẽ giảm xuống.</div><div>Để thúc đẩy quá trình này cần có những chính sách khuyến khích đầu tư, thay đổi công nghệ sản xuất. Điều này lại liên quan đến chính sách tiền tệ (lãi suất), xuất nhập khẩu, giá cả (tư liệu lao động...), thuế thu nhập, giảm trợ cấp thất nghiệp....</div><div>- Giảm trợ cấp thất nghiệp: khi mất việc hay thất nghiệp thì người thất nghiệp dược nhận 60% trợ cấp. Khi có việc làm thì họ bị cắt tiền trợ cấp đi. Điều này tạo điều kiện cho những người thất nghiệp tự nguyện có được khoản thu nhập mà không cần phải lao động. Giảm trợ cấp thất nghiệp tức là giảm phạm vi trợ cấp, chỉ trợ cấp cho những đối tượng thất nghiệp thực sự. Như vậy thúc đẩy những người có khả năng lao động thất nghiệp tự nguyện tham gia vào lực lượng lao động thì tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm dần.</div><div>- Chính sách tài khoá là việc Chính phủ sử dụng thuế khoá và chi tiêu công cộng để điều tiết mức chi tiêu chung của nền kinh tế. Khi tỷ lệ thất nghiệp tăng, điều đó có nghĩa là nền kinh tế đang lầm vào tình trạng suy thoái. Khi đó các hãng tư nhân không muốn đầu tư thêm, người tiêu dùng không muốn chi tiêu thêm, tổng cầu giảm, doanh nghiệp thu hẹp sản xuất. Lúc này chính phủ tăng chi tiêu và giảm thuế sẽ khiến sản lượng tăng lên và mức việc làm đầy đủ có thể khôi phục và tỷ lệ thất nghiệp giảm.</div><div>- Các chính sách nhằm vào đường cung người lao động như chính sách nâng cao mức lương trung bình. Tiền công cao, tỷ lệ người thất nghiệp tự nguyện giảm. Đào tạo nghề đa dạng hoá các loại nghề khác nhau giúp cho người lao động có khả năng đổi nghề.</div><div>- Khi Nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ, ngân hàng trung ương giảm lãi suất. Lãi suất giảm đã khuyến khích tiêu dùng đầu tư... doanh nghiệp mở rộng sản xuất, cung việc làm tăng dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp giảm.<br><br></div><ul><li><strong>Chính sách của Chính phủ Việt Nam đã sử dụng để chống thất nghiệp và ổn định thị trường lao động</strong></li></ul><div>Việt Nam đang chịu tác động của cuộc khủng hoảng thứ tư từ nước Mĩ bắt đầu từ nhà đất, lan dang hệ thống tài chính, cộng hưởng với giá dầu, giá lương thực, thực phẩm trên thế giới đã tác động đến Việt Nam, khi Việt Nam vừa gia nhập WTO, cùng với chính sách thắt chặt tiền tệ khắc nghiệt ở trong nước đã tác động lớn đến doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn do dần ngấm sâu tác động của lạm phát. Nguy cơ thua lỗ phá sản ở không ít doanh nghiệp đã thể hiện và đi cùng với nó là tỷ lệ thất nghiệp đang có xu hướng tăng cao. Trong vài tháng qua do tình hình kinh doanh khó khăn, một số doanh nghiệp đã sa thải hàng loạt công nhân. FPT vừa tuyên bố cắt giảm bớt quy mô sản xuất cắt giảm chi phí, đặc biệt là nhân công.</div><div>- Đứng trước tình hình trên, Đảng và Nhà nước đã đề ra mục tiêu kìm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, tăng trưởng bền vững để dần làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, ổn định thị trường lao động.&nbsp;</div><div>- Chuẩn bị tốt các điều kiện để phát triển những dự án phát triển khu công nghiệp, giải quyết việc làm cho người lao động tại địa phương.</div><div>- Tăng cường công tác củng cố các trung tâm giải quyết việc làm sau cai nghiện.</div><div>- Tổ chức các phiên giao dịch việc làm, tiếp tục nghiên cứu kỹ thị trường trong và ngoài nước để xuất khẩu lao động.</div><div>- Đẩy mạnh công tác thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp bằng cách cải cách hành chính thực hiện chế độ mở cửa đã dần thu hút các nhà đầu tư nước ngoài và xây dựng kinh doanh tại Việt Nam tạo công ăn việc làm cho người lao động trong nước. Trong 6 tháng đầu năm cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 32 dự án với tổng số vốn đầu tư 8687,3 tỷ đồng đã cấp 415 giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh tăng 13% so với cùng kỳ với vốn đăng ký 2734,9 tỷ đồng.</div><div>- Chính phủ Việt Nam tằng cường các chương trình dạy nghề đào tạo lại và tổ chức tốt thị trường lao động đã tạo ra những điều kiện thuận lợi trong việc tìm kiếm việc làm, từ đó rút ngắn thời gian làm việc bởi cơ cấu và trình độ của người tìm việc ngày càng sát hơn với cơ cấu và trình độ của người tìm việc ngày càng sát hơn với cơ cấu kinh tế và sự đòi hỏi của doanh nghiệp.</div><div>- Thực hiện chính sách tăng mức lương cơ bản của người lao động. Đối với loại hình thất nghiệp tự nguyện, nhưng người tự nguyện không muốn làm việc, do việc làm và mức lương tương ứng chưa hoà hợp với mong muốn của mình. Giờ đây mức lương cơ bản được nâng lên phần nào đáp ứng được nhu cầu sống của con người đã làm cho lực lượng người thất nghiệp tự nguyện sớm quay trở lại làm việc và tìm kiếm được công việc phù hợp.</div><div>- Việc tiến hành giảm lãi suất của ngân hàng trung ương đã giúp cho các doanh nghiệp tăng nguồn vốn đầu tư, tiếp tục đẩy mạnh và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh tạo nên nhiều công ăn việc làm cho người lao động.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-03-16 11:32:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thuylam1704/e5a9ntr4wiuifnyl/wish/2097835516</guid>
      </item>
      <item>
         <title>III</title>
         <author>nguyenthithuthuy200240</author>
         <link>https://padlet.com/thuylam1704/e5a9ntr4wiuifnyl/wish/2112070567</link>
         <description><![CDATA[<div>_ BIỆN PHÁP CHÍNH PHỦ : PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG<br>Để tiếp tục phát triển kinh tế – xã hội trong tương lai, Chính phủ Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh phát triển cơ sở hạ tầng chất lượng cao (đặc biệt là hạ tầng giao thông) và xác định đây là một trong ba khâu đột phá chiến lược gồm:&nbsp;<br><br></div><div>(i) Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính;&nbsp;<br><br></div><div>(ii) Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản nền giáo dục quốc dân, gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ; và,&nbsp;<br><br></div><div>(iii) Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn.<br><br><br>-Tiếp tục hoàn thiện xây dựng hệ thống đường cao tổng:<br>Theo kế hoạch, Việt Nam tiếp tục hoàn thiện xây dựng hệ thống đường bộ cao tốc, theo đó năm 2020, sẽ hoàn thành thi công 654 km/ khoảng 1.300 Km đương cao tốc Bắc – Nam theo hình thức PPP (nhà nước tham gia đóng góp khoảng 40% tổng mức đầu tư), Nghiên cứu phương án xây dựng mới tuyến đường sắt tốc độ cao, đường đôi khổ 1435 mm trên trục Bắc – Nam (QĐ 214/QĐ-TTg); hệ thống đường bộ, đường sắt Việt Nam đồng bộ về tiêu chuẩn kỹ thuật, kết nối thuận lợi với hệ thống đường bộ ASEAN, Tiểu vùng Mê Kông mở rộng và đường sắt xuyên Á; hệ thống cảng biển đáp ứng tốt nhu cầu thông quan về hàng hóa xuất nhập khẩu và nội địa; nghiên cứu đầu tư xây dựng cảng hàng không quốc tế Long Thành có vai trò và quy mô ngang tầm với các cảng hàng không quốc tế lớn trong khu vực; phát triển giao thông đô thị hướng tới văn minh, hiện đại; tiếp tục đầu tư các tuyến đầu mối đô thị lớn như các tuyến vành đai 2, vành đai 3 Hà Nội và vành đai 2, vành đai 3 TP. Hồ Chí Minh; đẩy nhanh tiến độ xây dựng các tuyến đường sắt đô thị ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh<br>-<strong>Giải pháp chính được đưa ra</strong></div><div>Những nhóm giải pháp chính được đưa ra là nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, phát huy tính đồng bộ kết nối của hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông; đầu tư có trọng tâm, trọng điểm; tạo bước chuyển biến rõ rệt trong việc phân bổ nguồn vốn đầu tư giữa các lĩnh vực giao thông; tập trung vốn cho các công trình có tính lan tỏa, tạo sự kết nối giữa các phương thức vận tải, giữa các công trình trong cùng hệ thống, tại các vùng kinh tế trọng điểm, các cửa ngõ quốc tế.<br><br></div><div>Tổng nhu cầu vốn đầu tư phát triển KCHT giao thông Việt Nam giai đoạn 2018-2023 toàn ngành ước tính khoảng 1.015.000 tỷ đồng (khoảng 48 tỷ USD, là nhu cầu vốn đầu tư cho các công trình giao thông do Bộ GTVT, các Tổng công ty nhà nước quản lý và các công trình chủ yếu tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh). Trong đó, đường bộ có nhu cầu khoảng 651 nghìn tỷ đồng, đường sắt khoảng 119 nghìn tỷ đồng, hàng không khoảng 101 nghìn tỷ đồng, hàng hải 68 nghìn tỷ đồng và đường thủy nội địa hơn 33 nghìn tỷ đồng. Khoảng hơn 300 nghìn tỷ (14 tỷ USD) được xác định sẽ huy động từ nguồn ngoài ngân sách trong nước và nước ngoài, đặc biệt là vốn nước ngoài.<br><br><br>- BIỆN PHÁP CHÍNH PHỦ: XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG<br><br>Với năm 2017 đạt được kết quả vượt xa so với nhừng gì đề ra . Năm 2018, một số thị trường sẽ có chính sách mới, hứa hẹn tạo điều kiện tốt hơn cho người lao động.<br>Theo đánh giá của Cục Quản lý lao động ngoài nước, năm 2018:<br>+ Nhật Bản : cho phép lao động được ở lại làm việc 5 năm, cho phép một số ngành nghề đi làm việc lại lần 2, tăng mức lương cơ bản thêm từ 25-30 yen/giờ làm. Đáng chú ý, nếu như các năm trước Nhật Bản dành cơ hội cho những lao động phổ thông thì năm 2018 này sẽ có nhiều vị trí làm việc cho những lao động trí thức, tuyển dụng theo chương trình kỹ sư, kỹ thuật viên với nhiều ưu đãi đặc biệt. Đây là những điểm chính làm cho thị trường lao động Nhật Bản 2018 sẽ rất sôi động.<br>+ Malaysia: Ngày 15/12 Đại sứ quán Việt Nam tại Malaysia phối hợp với Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội) tổ chức hội thảo về các biện pháp duy trì và tăng cường đưa lao động Việt Nam sang làm việc tại Maylaysia. Hiện nay, có khoảng 30.000 lao động Việt Nam đang làm việc tại Malaysia.<br>Ngoài ra, một số thị trường như Thái Lan, Australia, Arab Saudi… cũng mở ra nhiều cơ hội mới với nhiều ưu đãi hấp dẫn cho lao động Việt Nam. Mới đây, Bản ghi nhớ về hợp tác lao động và Thỏa thuận về phái cử và tiếp nhận lao động giữa Chính phủ Việt Nam và Thái Lan đã được ký kết. Theo đó, người lao động Việt Nam đi làm việc tại Thái Lan không phải trả tiền môi giới. Khoản tiền này sẽ do chủ sử dụng lao động Thái Lan trả cho công ty môi giới Thái Lan.<br><br><br><strong><br>80% lao động qua đào tạo, xử lý nghiêm các hành vi môi giới lừa đảo<br></strong><br></div><div><br>Bộ LĐTB&amp;XH đặt mục tiêu từ nay đến năm 2020, hằng năm đưa được từ 100.000-120.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài, trong đó có khoảng 80% lao động được đào tạo.<br><br></div><div><br>Để nâng chất lượng hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, Bộ LĐTB&amp;XH sẽ thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ. Thứ trưởng Doãn Mậu Diệp cho biết, Bộ sẽ xây dựng những quy định và điều kiện chặt chẽ hơn nữa để chỉ những DN thực sự đáp ứng đủ và bảo đảm duy trì các điều kiện theo quy định của pháp luật mới được tham gia hoạt động đưa người đi làm việc ở nước ngoài.<br><br></div><div><br>Đặc biệt, Luật Người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài sẽ được sửa đổi theo hướng: Quy định cấp giấy phép có thời hạn 3-5 năm, hết thời hạn đó mà DN không đáp ứng đủ yêu cầu sẽ không được cấp lại giấy phép; cho phép tạo nguồn lao động để chuẩn bị cung ứng cho hợp đồng do những quy định về tuyển chọn lao động như hiện nay có thể khiến DN bỏ lỡ hợp đồng do không có nguồn lao động sẵn có để đối tác tuyển.<br><br></div><div><br>Để minh bạch hóa các thủ tục triển khai, Bộ đã chỉ đạo Cục Quản lý lao động ngoài nước áp dụng việc đăng ký hợp đồng trực tuyến từ ngày 1/1/2017, kết quả được thông báo trước trên mạng và gửi trực tiếp cho DN.<br><br></div><div><br>Trong thời gian tới, Bộ cũng sẽ xử lý nghiêm các DN dịch vụ có vi phạm quy định của pháp luật và các DN hoạt động kém hiệu quả. Trong năm 2017, các cuộc thanh tra chuyên đề đã tập trung vào việc tổ chức bộ máy hoạt động của DN, công tác tuyển chọn, bồi dưỡng kiến thức cần thiết và công tác thu phí.<br><br></div><div><br>Thứ trưởng Doãn Mậu Diệp khẳng định, Bộ LĐTB&amp;XH sẽ kiên quyết xử lý các DN tuyển chọn lao động thông qua môi giới, cò mồi, thu phí vượt mức quy định hoặc thu tiền nhưng không đưa được lao động đi, không bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động. Trường hợp phát hiện các DN không duy trì việc đáp ứng các điều kiện hoạt động theo quy định của pháp luật, Bộ sẽ kiên quyết thu hồi giấy phép hoạt động.<br><strong><br></strong><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-03-24 15:09:29 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thuylam1704/e5a9ntr4wiuifnyl/wish/2112070567</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
