<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title>VỢ NHẶT - KIM LÂN by Lương Thanh Mai</title>
      <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7</link>
      <description>HS chọn hoàn thành 1 trong số các nội dung sau</description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2023-12-19 07:40:16 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2023-12-19 10:03:40 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url></url>
      </image>
      <item>
         <title>Gia Nguyên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829380023</link>
         <description><![CDATA[<p><br/></p><p><strong>I. Tác giả</strong></p><p><strong>1. Tiểu sử- Cuộc đời</strong></p><p>- Kim Lân (1920-2007) tên khai sinh Nguyễn Văn Tài.</p><p>- Quê quán: Tân Hồng, Từ Sơn, Bắc Ninh.</p><p>- Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông chỉ học hết tiểu học, rồi vừa làm thợ sơn guốc, khắc tranh bình phong, vừa viết văn.</p><p>- Năm 1944, Kim Lân tham gia Hội văn hóa cứu quốc.</p><p>- Sau đó liên tục hoạt động văn nghệ phục vụ kháng chiến và cách mạng (viết văn, làm báo, diễn kịch, đóng phim).</p><p><strong>2. Sự nghiệp sáng tác</strong></p><p><em>a. Tác phẩm chính&nbsp;</em></p><p><em>Nên vợ nên chồng</em> (tập truyện ngắn, 1955); <em>Con chó xấu xí</em> (tập truyện ngắn, 1962),...</p><p><em>b. Phong cách sáng tác</em></p><p>- Là cây bút chuyên viết truyện ngắn có sở trường viết về nông thôn và người nông dân.</p><p>Có biệt tài miêu tả tâm lý nhân vật; văn phong giản dị nhưng gợi cảm, hấp dẫn; ngôn ngữ sống động, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày và mang đậm màu sắc nông thôn; am hiểu và gắn bó sâu sắc về phong tục và đời sống làng quê Bắc Bộ.</p><p><br/></p><p><strong>II. Tác phẩm</strong></p><p><br/></p><p><strong>1.Tìm hiểu chung</strong></p><p><em>a. Xuất xứ</em></p><p>- In trong tập <em>Con chó xấu xí</em> (1962).</p><p>- Tiền thân của truyện ngắn này là tiểu thuyết <em>Xóm ngụ cư</em> - được viết ngay sau Cách mạng tháng Tám nhưng dang dở và thất lạc bản thảo. Sau khi hòa bình lập lại (1954), ông dựa vào một phần cốt truyện cũ để viết truyện ngắn này.</p><p><em>b. Bố cục: </em>(4 đoạn)</p><p>- Đoạn 1 (từ đầu đến "thành vợ chồng<em>"</em>): Cảnh Tràng đưa cô vợ nhặt về nhà.</p><p>- Đoạn 2 (tiếp theo&nbsp;đến "cùng đẩy xe bò về<em>"</em>): Hoàn cảnh Tràng và Thị trở thành vợ chồng.</p><p>- Đoạn 3 (tiếp theo&nbsp;đến&nbsp;"nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng<em>"</em>): Tràng ra mắt cô vợ nhặt với mẹ và nỗi lòng của bà cụ Tứ.</p><p>- Đoạn 4 (còn lại): Bữa cơm đầu tiên đón nàng dâu mới.</p><p><em>d. Ý nghĩa nhan đề</em></p><p>- Vợ là sự trân trọng, người vợ có vị trí trung tâm để xây dựng tổ ấm.</p><p>- Ở đây là nhặt được vợ, không phải lấy vợ đàng hoàng, có ăn hỏi cưới xin mà như nhặt được đồ vật người ta đánh rơi hay quên.</p><p>→ Cái giá con người trở nên rẻ rúng. Đồng thời cũng cho thấy trong hoàn cảnh khốn cùng con người ta vẫn luôn khao khát được sống hạnh phúc, niềm tin cuộc sống trong họ thật mãnh liệt.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2257889058/f468745bd012d2c1a1af604c8188f9f7/IMG_2509.jpeg" />
         <pubDate>2023-12-19 09:30:59 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829380023</guid>
      </item>
      <item>
         <title>NgPlinhne</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829380177</link>
         <description><![CDATA[<p>TÁC GIẢ</p><p>Kim Lân tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, quê ở huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh. Ông là nhà văn chuyên viết truyện ngắn và đã có tác phẩm đăng báo trước cách mạng. Ông là một người gắn bó với nông thôn, các tác phẩm của ông chủ yếu viết về sinh hoạt làng quê và cảnh ngộ của người nông dân. Bên cạnh sự nghiệp sáng tác Kim Lân còn được biết đến với vai trò là một diễn viên. Năm 2001 ông được trao tặng giải thưởng nhà nước về văn học và nghệ thuật. Một số tác phẩm tiêu biểu của ông đó là nên vợ nên chồng, con chó&nbsp;xấu xí....</p><p><br/></p><p>TÁC PHẨM</p><p>Truyện ngắn Vợ Nhặt là chuyện ngắn xuất sắc của nhà văn Kim Lân in trong tập con chó xấu xí. Ban đầu tên truyện là tiểu thuyết Xóm&nbsp;ngụ cư, được viết ngay sau ngày cách mạng Tháng Tám thành công nhưng còn dang dở và thất lạc bản thảo. Sau khi hòa bình lặp lại ông dựa vào một phần cốt truyện cũ để viết lại truyện ngắn này.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 09:31:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829380177</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thục Anh </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829380309</link>
         <description><![CDATA[<p>1/<mark>Kim Lân (1920-2007) tên khai sinh Nguyễn Văn Tài.</mark></p><p>- Quê quán: Tân Hồng - Từ Sơn - Bắc Ninh.</p><p>- Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông chỉ học hết tiểu học, rồi vừa làm thợ sơn guốc, khắc tranh bình phong, vừa viết văn.</p><p>- Năm 1944, Kim Lân tham gia Hội văn hóa cứu quốc.</p><p>- Sau đó liên tục hoạt động văn nghệ phục vụ kháng chiến và cách mạng (viết văn, làm báo, diễn kịch, đóng phim).</p><p>- Ông bắt đầu sáng tác từ trước 1945. Tập trung vào mảng đề tài người nông dân và nông thông Bắc Bộ.</p><p>- Có biệt tài miêu tả tâm lí nhân vật; văn phong giản dị nhưng gợi cảm, hấp dẫn; ngôn ngữ sống động, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày và mang đậm màu sắc nông thôn; am hiểu và gắn bó sâu sắc về phong tục và đời sống làng quê Bắc Bộ.</p><p>- Các tác phẩm chính của ông:&nbsp;<em>Nên vợ nên chồng</em>&nbsp;(tập truyện ngắn, 1955),&nbsp;<em>Con chó xấu xí</em>&nbsp;(tập truyện ngắn, 1962),&nbsp;<em>Tuyển tập Kim Lân</em>&nbsp;(1996).</p><p><mark>2/ Tác phẩm </mark></p><p><strong>Thể loại</strong></p><p>Vợ nhặt thuộc thể loại truyện ngắn.</p><p><strong> Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác</strong></p><p>- Truyện ngắn Vợ nhặt viết về nạn đói năm Ất Dậu (1945). Tiền thân của truyện ngắn này là tiểu thuyết Xóm ngụ cư mà Kim Lân viết ngay sau Cách mạng tháng Tám. Tuy nhiên, bản thảo tiểu thuyết còn dang dở và bị thất lạc. Sau đó, tác giả đã dựa vào cốt truyện của tiểu thuyết này để viết về truyện ngắn Vợ nhặt.</p><p>- Về truyện ngắn này, Kim Lân đã tâm sự: “Khi viết về nạn đói, người ta thường viết về sự khốn cùng và bi thảm,… Tôi muốn truyện ngắn với ý khác. Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng, tin tưởng ở tương lai. Họ vẫn muốn sống, sống cho ra con người”.</p><p>- Truyện ngắn Vợ nhặt được in trong tập Con chó xấu xí 1962.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 09:31:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829380309</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Ngọc Ánh </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829380771</link>
         <description><![CDATA[<p><strong><em>1. Đôi nét về Kim Lân</em></strong></p><p>– Kim Lân (1920 – 2007). Trước CMT8: Ông chủ yếu viết về nông thôn, đề tài</p><p>người nông dân. Sau CMT8: Làm báo, viết văn. Một số tác phẩm tiêu biểu: Nên vợ nên chồng (1955), Con chó xấu xí (1962)…</p><p>– Phong cách sáng tác: Cây bút chuyên viết truyện ngắn, chủ yếu viết về đề tài nông thôn, người nông dân.</p><p><strong><em>2. Đôi nét về “Vợ nhặt”</em></strong></p><p>– Hoàn cảnh sáng tác: Truyện Vợ nhặt có tiền thân là tiểu thuyết Xóm ngụ cư – tác phẩm được viết ngay sau Cách mạng tháng Tám nhưng còn dở dang và bị mất bản thảo. Hoà bình lập lại (1954), dựa trên một phần cốt truyện cũ, Kim Lân đã viết truyện Vợ nhặt.</p><p>– Xuất xứ: Tác phẩm được in trong tập Con chó xấu xí (1962). 3.Tóm tắt truyện “Vợ nhặt”</p><p>– Truyện lấy bối cảnh là nạn đói năm 1945. Tràng – một thanh niên nghèo, lại là dân ngụ cư, trong một lần đẩy hàng đã tình cờ có được vợ. Cô vợ nhặt đã tình nguyện theo Tràng chỉ sau một câu nói đùa và bốn bát bánh đúc. Tràng đưa “thị” về giữa cảnh đói khát đang tràn đến xóm ngụ cư. Bà cụ Tứ thấy con có vợ thì vừa mừng vừa tủi cho thân phận nghèo khó của mình và thương con, thương nàng dâu đói khổ. Họ sống với nhau trong cảnh đói nghèo nhưng hạnh phúc và tin rằng: Việt Minh về làng, họ sẽ đi phá kho thóc Nhật, lấy lại thóc gạo để cứu sống mình.</p><p><strong><em>4. Ý nghĩa nhan đề</em></strong></p><p>– Nhan đề gợi tình huống éo le, kích thích trí tò mò người đọc. Thông thường, người ta có thể nhặt thứ này, thứ khác, chứ không ai “nhặt” “vợ”. Bởi dựng vợ gả chồng là việc lớn, thiêng liêng, có ăn hỏi, có cưới xin theo phong tục truyền thống của người Việt, không thể qua quýt, coi như trò đùa.</p><p>– “Vợ nhặt” là điều trái khoáy, oái ăm, bất thường, vô lí. Song thực ra nó lại rất có lí. Vì đúng là anh Tràng đã nhặt được vợ thật. Chỉ một vài câu bông đùa của Tràng mà có người đã theo về làm vợ. Điều này đã thực sự khiến một việc nghiêm túc, thiêng liêng trở thành trò đùa và ngược lại, điều tưởng như đùa ấy lại chính là sự thực. Từ đây, bản thân nhan đề tự nó đã gợi ra cảnh ngộ éo le, sự rẻ rúng của giá trị con người. Chuyện Tràng nhặt được vợ đã nói lên tình cảnh thê thảm và thân phận tủi nhục của người nông dân nghèo trong nạn đói khủng khiếp năm 1945.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://img.wattpad.com/cover/188600432-256-k640383.jpg" />
         <pubDate>2023-12-19 09:32:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829380771</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Đoan Trang</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829380846</link>
         <description><![CDATA[<ol><li><p>Tác giả</p><p>Kim Lân (1920-2007) tên khai sinh Nguyễn Văn Tài.</p><p>- Quê quán: Tân Hồng, Từ Sơn, Bắc Ninh.</p><p>- Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông chỉ học hết tiểu học, rồi vừa làm thợ sơn guốc, khắc tranh bình phong, vừa viết văn.</p><p>- Năm 1944, Kim Lân tham gia Hội văn hóa cứu quốc.</p><p>- Sau đó liên tục hoạt động văn nghệ phục vụ kháng chiến và cách mạng (viết văn, làm báo, diễn kịch, đóng phim).</p><p>2. Sự nghiệp sáng tác</p><p><em>a. Tác phẩm chính&nbsp;</em></p><p><em>Nên vợ nên chồng</em> (tập truyện ngắn, 1955); <em>Con chó xấu xí</em> (tập truyện ngắn, 1962),...</p><p><em>b. Phong cách sáng tác</em></p><p>- Là cây bút chuyên viết truyện ngắn có sở trường viết về nông thôn và người nông dân.</p><p>Có biệt tài miêu tả tâm lý nhân vật; văn phong giản dị nhưng gợi cảm, hấp dẫn; ngôn ngữ sống động, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày và mang đậm màu sắc nông thôn; am hiểu và gắn bó sâu sắc về phong tục và đời sống làng quê Bắc Bộ.</p></li><li><p>Tác phẩm</p><p>Xuất xứ</p><p>- In trong tập <em>Con chó xấu xí</em> (1962).</p><p>- Tiền thân của truyện ngắn này là tiểu thuyết <em>Xóm ngụ cư</em> - được viết ngay sau Cách mạng tháng Tám nhưng dang dở và thất lạc bản thảo. Sau khi hòa bình lập lại (1954), ông dựa vào một phần cốt truyện cũ để viết truyện ngắn này.</p></li><li><p>Tóm tắt</p><p>Giữa lúc nạn đói đang hoành hành, Tràng (một chàng trai nghèo đói, lại là dân xóm ngụ cư) dẫn một người đàn bà lạ về nhà khiến mọi người đều ngạc nhiên. Trước đó, chỉ hai lần gặp gỡ, với mấy câu đùa vu vơ, vài bát bánh đúc, Thị đã chấp nhận theo Tràng về làm vợ. Về đến nhà, Tràng vẫn còn ngỡ ngàng. Mẹ Tràng từ ngạc nhiên đến lo lắng, xót thương, rồi cũng mừng lòng đón nhận nàng con dâu. Sáng hôm sau, vợ và mẹ Tràng dậy sớm thu dọn nhà cửa. Trông thấy cảnh tượng ấy, Tràng thấy thương yêu và gắn bó với gia đình của mình. Trong bữa cơm ngày đói, nghe tiếng trống thúc thuế, hình ảnh đoàn người đi phá kho thóc và lá cờ đỏ hiện lên trong óc Tràng.</p></li><li><p>Ý nghĩa nhan đề</p><p>- Vợ là sự trân trọng, người vợ có vị trí trung tâm để xây dựng tổ ấm.</p><p>- Ở đây là nhặt được vợ, không phải lấy vợ đàng hoàng, có ăn hỏi cưới xin mà như nhặt được đồ vật người ta đánh rơi hay quên.</p><p>→ Cái giá con người trở nên rẻ rúng. Đồng thời cũng cho thấy trong hoàn cảnh khốn cùng con người ta vẫn luôn khao khát được sống hạnh phúc, niềm tin cuộc sống trong họ thật mãnh liệt.</p></li></ol><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2257889070/cb65edb2522ed42accf3a67e02591e87/6278124E_1EC4_4666_A6A3_D13E0E0E24B4.jpeg" />
         <pubDate>2023-12-19 09:32:07 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829380846</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Ngọc Ánh </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829382270</link>
         <description><![CDATA[<p>1.Tình huống truyện</p><p>– Tình huống truyện : Anh Tràng vừa nghèo, vừa xấu lại là dân ngụ cư thế mà lấy được vợ ngay giữa lúc đói khát, ranh giới giữa sự sống và cái chết hết sức mong manh.</p><p>– Tình huống lạ, độc đáo : người như Tràng mà lấy được vợ, thậm chí có vợ theo ! Thời buổi đói khát này, người như Tràng nuôi thân chẳng xong mà dám lấy vợ !</p><p>Chẳng phải thế mà việc Tràng có vợ đã tạo ra sự lạ lùng, ngạc nhiên với tất cả mọi người trong xóm ngụ cư, với bà cụ Tứ, thậm chí đã có những thời điểm chính Tràng cũng chẳng thể nào tin được vào điều đó.</p><p>– Tình huống truyện không chỉ tạo ra một hoàn cảnh “có vấn đề” cho câu chuyện mà còn nén trong đó ý đồ nghệ thuật của nhà văn đồng thời gợi mở các khía cạnh giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://wrhc2018.com/wp-content/uploads/2022/05/nha-van-kim-lan.jpg" />
         <pubDate>2023-12-19 09:33:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829382270</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lê Vũ Quế Anh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829382738</link>
         <description><![CDATA[<p>Tình huống truyện: Anh Tràng vừa nghèo, vừa xấu lại là dân ngụ cư thế mà lấy được vợ ngay giữa lúc đói khát, ranh giới giữa sự sống và cái chết hết sức mong manh.</p><p>– Tình huống lạ, độc đáo: người như Tràng mà lấy được vợ, thậm chí có vợ theo. Thời buổi đói khát này, người như Tràng nuôi thân chẳng xong mà dám lấy vợ. Chẳng phải thế mà việc Tràng có vợ đã tạo ra sự lạ lùng, ngạc nhiên với tất cả mọi người trong xóm ngụ cư, với bà cụ Tứ, thậm chí đã có những thời điểm chính Tràng cũng chẳng thể nào tin được vào điều đó.</p><p>– Ý nghĩa tình huống truyện: không chỉ tạo ra một hoàn cảnh “có vấn đề” cho câu chuyện mà còn nén trong đó ý đồ nghệ thuật độc đáo của nhà văn đồng thời gợi mở các khía cạnh giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 09:34:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829382738</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Khánh Linh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829382829</link>
         <description><![CDATA[<ul><li><p>Kim Lân sinh năm 1920, mất năm 2007.</p></li><li><p> Quê quán: làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh</p></li><li><p> Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, Kim Lân chỉ được học hết tiểu học, rồi vừa học vừa làm thợ sơn guốc, khắc tranh bình phong và viết văn. Đây là yếu tố có ảnh hưởng lớn đến phong cách sáng tác thơ văn của ông sau này.</p></li><li><p>Phong cách nghệ thuật: Ngòi bút của Kim Lân rất chân thật, xúc động về cuộc sống và người dân quê mà ông hiểu sâu sắc cảnh ngộ và tâm lí của họ</p><p>+) Trong tác phẩm của ông vẫn thấy thấp thoáng hình ảnh cuộc sống và con người làng quê Việt Nam nghèo khổ, thiếu thốn mà vẫn yêu đời, thật thà, chất phác mà thông minh, hóm hỉnh, tài hoa.</p><ul><li><p><strong>TÁC PHẨM</strong></p></li><li><p>Vợ nhặt” là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân in trong tập Con chó xấu xí. Tiền thân của tác phẩm này là tiểu thuyết Xóm ngụ cư, được viết ngay sau Cách mạng tháng Tám nhưng dang dở và bị mất bản thảo. Sau khi hòa bình lập lại (năm 1954), ông dựa vào một phần truyện cũ để viết lại cốt truyện ngắn này.</p></li><li><p>Nhan đề Vợ nhặt thâu tóm giá trị nội dung tư tưởng tác phẩm. "Nhặt" đi với những thứ không ra gì. Thân phận con người bị rẻ rúng như cái rơm, cái rác, có thể "nhặt" ở bất kì đâu, bất kì lúc nào. Nhưng "vợ" lại là sự trân trọng. Người vợ có vị trí trung tâm xây dựng tổ ấm. Người ta hỏi vợ, cưới vợ, còn ở đây Tràng "nhặt" vợ. Đó thực chất là sự khốn cùng của hoàn cảnh.</p><p>=&gt; Nhan đề Vợ nhặt vừa thể hiện thảm cảnh của người dân trong nạn đói 1945 vừa bộc lộ sự cưu mang, đùm bọc và khát vọng, sức mạnh hướng tới cuộc sống, tổ ấm, niềm tin của con người trong cảnh khốn cùng.</p></li><li><p>Truyện lấy bối cảnh nạn đói khủng khiếp năm 1945, kể về nhân vật chính có tên là Tràng, một chàng trai xấu xí nghèo khổ, làm nghề đẩy xe thóc thuê. Giữa lúc nạn đói tràn đến xóm ngụ cư của hắn, Tràng đưa vợ về nhà, người vợ hắn “nhặt” được sau vài ba bận nói đùa và bốn bát bánh đúc. Bà cụ Tứ , người mẹ giàu tình thương người, xót cho cảnh ngộ người đàn bà, vừa mừng vừa tủi, bà chấp nhận nàng dâu mới. Cái liều lĩnh của Tràng đã biến thành hạnh phúc, những con người nghèo khổ ấy cùng nương tựa vào nhau và cùng hi vọng vào tương lai. Tác phẩm kết thúc bằng hình ảnh lá cờ đỏ, niềm tin vào một tương lai tươi sáng hơn.</p></li><li><p>Giá trị hiện thực : <br>- Tố cáo tội ác thực dân, phát xít qua bức tranh xám xịt về thảm cảnh chết đói.<br>- Cái đói đã bóp méo cả nhân cách con người.<br>- Giá trị con người bị phủ nhận khi chỉ vì cùng đường đói khát mà phải trở nên trơ trẽn, liều lĩnh, bất chấp cả e thẹn.</p></li><li><p>Giá trị nhân đạo : </p><p>- Đề cao tình người, lòng nhân ái, cưu mang đùm bọc nhau, khát vọng hướng tới sự sống và hạnh phúc.<br>- Đặc biệt, sự cưu mang đùm bọc của những con người nghèo đói là sức mạnh để họ vượt lên cái chết.</p><p><br/></p></li></ul></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2259650579/fe3604af8f1fc9a750d3f31bdc503b5f/953EFD05_B8A0_4408_8D60_23B635F90590.jpeg" />
         <pubDate>2023-12-19 09:34:17 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829382829</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thục anh </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829383025</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>a. Giá trị hiện thực</strong></p><p>- Phản ánh chân thực, sắc nét và cảm động tình cảnh khốn cùng của nhân dân ta trong nạn đói năm 1945.</p><p>- Tố cáo tội ác của bọn thực dân phong kiến đã đẩy nhân dân ta vào bước đường cùng.</p><p>- Con đường đi đến với cách mạng là con đường tất yếu của người dân lao động nghèo.</p><p><br></p><p><strong>b. Giá trị nhân đạo</strong></p><p>- Niềm cảm thương, đồng cảm sâu sắc của nhà văn trước số phận của những người nghèo khổ.</p><p>- Là tiếng nói khẳng định, đề cao những tình cảm cao đẹp của người lao động nghèo khổ: đó là tình yêu thương đùm bọc, tình mẫu tử, khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 09:34:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829383025</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thuỳ Linh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829383044</link>
         <description><![CDATA[<p>Hình tượng nhân vật bà cụ Tứ</p><ul><li><p>Giới thiệu nhân vật bà cụ Tứ</p></li></ul><p>+ Là một bà mẹ nghèo khổ, goá bụa, già nua, ốm yếu, là dân ngụ cư.</p><p>+ Bà sống với con trai là một anh phụ xe nghèo</p><p>+ Ngoại hình bà: dáng đi lọng khọng, chậm chạp, run rẩy, vừa đi vừa ho húng hắng, lẩm nhẩm tính toán theo thói quen của người già.</p><ul><li><p>Diễn biến tâm trạng bà cụ Tứ</p></li></ul><p>Trước sự đon đả của đứa con trai ngờ nghệch "bà lão phấp phỏng" đó là một lâm lý bất an, phân vân, hồi hộp, "đứng sững lại"- bà cụ giật mình vì sự xuất hiện của người đàn bà mà con trai mình mang về; "hấp háy cặp mắt" là thói quen của người già, thể hiện sự ngạc nhiên và tò mò muốn nhìn rõ hơn.</p><p>Bà cụ không hề biết chuyện anh con trai đã nhặt một người vợ về, thấy người đàn bà lạ trong nhà, bà rất ngạc nhiên, tâm lí bị động trước sự việc.</p><p>- Sau khi hiểu ra:</p><p>+ Bà thương cho con trai mình phải lấy vợ nhặt</p><p>+ Bà cũng thấy hờn tủi chính mình có lỗi với con trai bởi không thể lo được chuyện lấy vợ cho con chu đáo.</p><p>+ Bà đồng cảm với người đàn bà khốn khổ cùng đường mới phải lấy con bà, thương sự ngờ nghệch của đứa con trai.</p><p>Bà mừng vì con trai đã yên bề gia thất, chấp nhận đứa con dâu vừa được nhặt về</p><p>- Bà lo lắng cho cuộc sống của các con sau này</p><p>- Bà đối xử với nàng dâu mới bằng sự cảm thông, trân trọng:</p><p>+ Ân cần quan tâm con: "con ngồi đây....đỡ mỏi chân"</p><p>+ Nói về tương lai với niềm lạc quan "biết thế nào hở con, ai giàu ba họ ai khó ba đời"</p><p>+ Bảo ban các con làm ăn.</p><p>Bà cụ Tứ là người mẹ hiền từ, chất phác, vị tha, nhân hậu, âm thầm hi sinh vì hạnh phúc của con. Bà là nhân vật tiêu biểu cho những phẩm chất tốt đẹp của người mẹ nghèo Việt Nam.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 09:34:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829383044</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Ngọc Ánh </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829383088</link>
         <description><![CDATA[<p>*Tràng là người dân lao động nghèo, “nhặt” được vợ trong thời buổi đói khát:</p><p>– Bản thân anh là dân ngụ cư, dân ăn nhờ, ở đậu.</p><p>– Tràng sống với mẹ già trong một căn nhà xiêu vẹo trên bãi đất hoang mọc lổn nhổn những búi cỏ dại.</p><p>Hoàn cảnh xuất thân : khó lấy được vợ.</p><p><br/></p><p>– Tuy nhiên, giữa cái khung cảnh tối sầm lại vì đói khát, Tràng bỗng nhiên “nhặt” được <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="http://v%E1%BB%A3.Cu">vợ.Cu</a>ộc gặp gỡ giữa Tràng và người đàn bà không tên diễn ra thât chóng vánh chỉ qua hai lần gặp mà chỉ gặp ở đường và chợ để rồi “nên vợ, nên chồng”:</p><p>+ Lần gặp thứ nhất : Trên đường kéo xe thóc lên tỉnh, Tràng hò chơi cho đỡ mệt “Muốn….”. Không ngờ, thị ra đẩy xe cho anh và còn liếc mắt cười tít nữa. Tràng thích lắm vì từ khi cha sinh mẹ đẻ đến giờ mới có một người con gái cười với hắn tình tứ đến như thế.</p><p>+ Lần gặp thứ 2, ở quán nước ngoài chợ. Ban đầu, Tràng không nhận ra vì thị khác quá, trên khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn hai con mắt. Khi nhận ra rồi, trong lời đáp “ăn gì thì ăn, chả ăn giầu” Tràng sẵn sàng đãi thị bốn bát bánh đúc. Trong bối cảnh mà người ta lo thân không xong, ai cũng đứng trên miệng vực thẳm của cái chết hành động mà Tràng đãi thị bốn bát bánh đúc chứng tỏ rằng Tràng là một người khá tốt bụng và cởi mở. Chính sự tốt bụng và cởi mở của Tràng đã đem đến cho Tràng hạnh phúc, Tràng nói đùa với thị “Này … rồi cùng về”, nhưng thị đã theo Tràng về thật. Khi quyết định “đèo bòng” Tràng cảm thấy “chợn” nhưng “chậc kệ”</p><p>* Niềm hạnh phúc khi có vợ :</p><p>– Tràng khi đưa vợ về qua xóm ngụ cư : tâm trạng của anh hôm nay phớn phở, cười tủm tỉm, hai con mắt thì sáng lên lấp lánh, trước ánh mắt nhìn đầy tò mò và ngạc nhiên của người dân trong xóm, trước những lời xì xào bàn tán của người dân trong xóm, Tràng rất hãnh diện, rất đắc ý, mặt cứ vênh lên như thể chứng tỏ với mọi người- Tràng đã có vợ.</p><p>– Tràng khi đưa vợ về đến nhà : Hành động: xăm xăm nhấc tấm phên rách ra và câu nói “Không có người đàn bà nhà cửa ra thế đấy” ta hiểu rằng có vợ rồi người đàn ông ăn nói cục cằn kia bỗng văn hóa hẳn lên. Ánh mắt của anh đã để ý đến cô vợ nhặt và thắc mắc với lòng mình “Quái, sao nó lại buồn thế nhỉ?” Tràng sốt ruột mong ngóng mẹ về để còn ra mắt cô vợ nhặt.Khi mẹ về, sau lời giới thiệu, Tràng cũng hồi hộp, lo lắng đợi chờ câu trả lời của mẹ, và chỉ khi người mẹ nói “Các con phải duyên phải kiếp với nhau u cũng mừng lòng” Tràng mới thở đánh phào một cái.</p><p>Có thể nói, Kim Lân đã rất chú ý miêu tả diễn biến tâm trạng của Tràng từ khi có vợ. Có rất nhiều lần Kim Lân nhắc đến nụ cười của Tràng để nhấn mạnh đến niềm khát khao hạnh phúc, khát khao mái ấm gia đình để thách thức với cái đói đang tung lưới bủa vây.</p><p>– Tràng trong buổi sáng ngày hôm sau :</p><p>+ Tràng thấy mình như bước ra từ một giấc mơ, trong người “êm ái lửng lơ”.</p><p>+ Trước mặt anh mọi thứ đều thay đổi: nhà cửa sân vườn hôm nay đều được quét tước sạch sẽ; mấy chiếc quần áo rách như tổ đỉa vẫn vắt ở góc nhà đã thấy đem ra sân hong; hai cái ang nước vẫn để khô cong duới gốc cây ổi giờ đã kín nước đầy ăm ắp. Rõ ràng những cảnh tượng rất đỗi bình thường ấy cũng đã làm cho anh cảm động, hạnh phúc với anh thật giản dị.</p><p>+ Từ buổi sáng đó, anh mới thấy mình nên người. Anh nghĩ đến tương lai, đến sự sinh sôi nảy nở của hạnh phúc để rồi vui sướng, phấn chấn tràn ngập trong lòng.</p><p>+ Và người vợ nhặt của Tràng hôm nay cũng khác lắm – đó là một người đàn bà hiền hậu, đúng mực, không có vẻ gì chao chát, chỏng lỏn nữa.</p><p>+ Tràng thấy “thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng. Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng. Một nguồn vui sướng, phấn chấn tràn ngập trong lòng. Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này”. Nguồn vui ấy như tia nắng, như ánh bình minh đem sinh khí đến cho cuộc sống vốn đang ngập tràn sự chết chóc của cái đói tung lưới bủa vây.</p><p>+ Và trong bữa cơm đầu tiên, bữa cơm của 3 con người đang khốn khổ vì cái đói, tràn ngập sự đầm ấm, hoà hợp.</p><p>– Hình ảnh khép lại tác phẩm trong óc Tràng là hình ảnh lá cờ đỏ và đoàn người đói đi trên đê Sộp, gợi cho người đọc nghĩ về Việt Minh, về Cách mạng tháng Tám vĩ đại, về sự vùng dậy của những người dân khốn khổ, đập tan xiềng xích, giành lại cơm áo, giành lại sự sống cho bản thân, giành lại độc lập tự do cho dân tộc. Vì thế, kết thúc của tác phẩm đã gieo vào lòng người đọc một niềm tin mãnh liệt, gieo một hạt giống hi vọng mãnh liệt vào tâm hồn Tràng, gia đình anh và tất cả bạn đọc chúng ta.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 09:34:40 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829383088</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Ngọc Linh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829383386</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Đôi nét về tác giả Kim Lân</strong></p><p>- Kim Lân (1920 - 2007), tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài.</p><p>- Quê ở huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.</p><p>- Ông là nhà văn chuyên viết truyện ngắn và đã có tác phẩm đăng báo trước cách mạng.</p><p>- Vốn gắn bó với nông thôn, các tác phẩm của ông chủ yếu chỉ viết về sinh hoạt làng quê và cảnh ngộ của người nông dân.</p><p>- Ngoài sự nghiệp sáng tác, Kim Lân còn được biết đến với vai trò là một diễn viên (vai Lão Hạc trong Làng Vũ Đại ngày ấy, Lý Cựu trong Chị Dậu…)</p><p>- Năm 2001, ông được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật.</p><p>- Một số tác phẩm tiêu biểu: Nên vợ nên chồng (tập truyện ngắn, 1955), Con chó xấu xí (tập truyện ngắn, 1962)...</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2259649869/e2cecc7fb36d780ec5b656434d1ffaa5/CA6CD2DD_620B_4B4D_B441_E3426040C119.jpeg" />
         <pubDate>2023-12-19 09:34:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829383386</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhật Minh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829383533</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>I. Tác giả</strong></p><p>- Kim Lân (1920-2007) tên khai sinh Nguyễn Văn Tài.</p><p>- Quê quán: Tân Hồng - Từ Sơn - Bắc Ninh.</p><p>- Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông chỉ học hết tiểu học, rồi vừa làm thợ sơn guốc, khắc tranh bình phong, vừa viết văn.</p><p>- Năm 1944, Kim Lân tham gia Hội văn hóa cứu quốc.</p><p>- Sau đó liên tục hoạt động văn nghệ phục vụ kháng chiến và cách mạng (viết văn, làm báo, diễn kịch, đóng phim).</p><p>- Ông bắt đầu sáng tác từ trước 1945. Tập trung vào mảng đề tài người nông dân và nông thông Bắc Bộ.</p><p>- Có biệt tài miêu tả tâm lí nhân vật; văn phong giản dị nhưng gợi cảm, hấp dẫn; ngôn ngữ sống động, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày và mang đậm màu sắc nông thôn; am hiểu và gắn bó sâu sắc về phong tục và đời sống làng quê Bắc Bộ.</p><p>- Các tác phẩm chính của ông: <em>Nên vợ nên chồng</em> (tập truyện ngắn, 1955), <em>Con chó xấu xí</em>(tập truyện ngắn, 1962), <em>Tuyển tập Kim Lân</em>(1996).</p><p>- Năm 2001, ông được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật.</p><p><br/></p><p><strong>II. Tác phẩm</strong></p><p><strong>1. Thể loại</strong></p><p>Vợ nhặt thuộc thể loại truyện ngắn.</p><p><br/></p><p><strong>2. Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác</strong></p><p>- Truyện ngắn Vợ nhặt viết về nạn đói năm Ất Dậu (1945). Tiền thân của truyện ngắn này là tiểu thuyết Xóm ngụ cư mà Kim Lân viết ngay sau Cách mạng tháng Tám. Tuy nhiên, bản thảo tiểu thuyết còn dang dở và bị thất lạc. Sau đó, tác giả đã dựa vào cốt truyện của tiểu thuyết này để viết về truyện ngắn Vợ nhặt.</p><p>- Về truyện ngắn này, Kim Lân đã tâm sự: “Khi viết về nạn đói, người ta thường viết về sự khốn cùng và bi thảm,… Tôi muốn truyện ngắn với ý khác. Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng, tin tưởng ở tương lai. Họ vẫn muốn sống, sống cho ra con người”.</p><p>- Truyện ngắn Vợ nhặt được in trong tập Con chó xấu xí 1962.</p><p><br/></p><p><br/></p><p><strong>3. Phương thức biểu đạt</strong></p><p>Văn bản Vợ nhặt có phương thức biểu đạt là tự sự</p><p><br/></p><p><strong>4. Giá trị nội dung</strong></p><p>Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân không chỉ miêu tả tình cảnh thê thảm của người nông dân nước ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945 mà còn thể hiện đưuọc bản chất tốt đẹp và sức sống kì diệu của họ: ngay trên bờ vực của chết, họ vẫn hướng về sự sống, khát khao tổ ấm gia đình và thương yêu, đùm bọc lẫn nhau.</p><p><br/></p><p><strong>5. Giá trị nghệ thuật</strong></p><p>- Xây dựng tình huống truyện độc đáo, tự nhiên, kết hợp nhuần nhuyễn hai yếu tố hiện thực và nhân đạo.</p><p>- Bút pháp phân tích tâm lí nhân vật tinh tế, sâu sắc.</p><p>- Nghệ thuật đối thoại, độc thoại nội tâm làm nổi rõ tâm lí của từng nhân vật.</p><p>- Ngôn ngữ kể chuyện phong phú, cách kể chuyện gần gũi, tự nhiên.</p><p>- Kết cấu truyện đặc sắc.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 09:35:07 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829383533</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nplinhne</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829383716</link>
         <description><![CDATA[<p><br/></p><p>2. Nhân vật</p><p>2.1. TRÀNG</p><p>*Tràng là người dân lao động nghèo, “nhặt” được vợ trong thời buổi đói khát:</p><p>– Bản thân anh là dân ngụ cư, dân ăn nhờ, ở đậu.</p><p>– Tràng sống với mẹ già trong một căn nhà xiêu vẹo trên bãi đất hoang mọc lổn nhổn những búi cỏ dại.</p><p>Hoàn cảnh xuất thân : khó lấy được vợ.</p><p>– Tuy nhiên, giữa cái khung cảnh tối sầm lại vì đói khát, Tràng bỗng nhiên “nhặt” được <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="http://v%E1%BB%A3.Cu">vợ.Cu</a>ộc gặp gỡ giữa Tràng và người đàn bà không tên diễn ra thât chóng vánh chỉ qua hai lần gặp mà chỉ gặp ở đường và chợ để rồi “nên vợ, nên chồng”:</p><p>+ Lần gặp thứ nhất : Trên đường kéo xe thóc lên tỉnh, Tràng hò chơi cho đỡ mệt “Muốn….”. Không ngờ, thị ra đẩy xe cho anh và còn liếc mắt cười tít nữa. Tràng thích lắm vì từ khi cha sinh mẹ đẻ đến giờ mới có một người con gái cười với hắn tình tứ đến như thế.</p><p>+ Lần gặp thứ 2, ở quán nước ngoài chợ. Ban đầu, Tràng không nhận ra vì thị khác quá, trên khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn hai con mắt. Khi nhận ra rồi, trong lời đáp “ăn gì thì ăn, chả ăn giầu” Tràng sẵn sàng đãi thị bốn bát bánh đúc. Trong bối cảnh mà người ta lo thân không xong, ai cũng đứng trên miệng vực thẳm của cái chết hành động mà Tràng đãi thị bốn bát bánh đúc chứng tỏ rằng Tràng là một người khá tốt bụng và cởi mở. Chính sự tốt bụng và cởi mở của Tràng đã đem đến cho Tràng hạnh phúc, Tràng nói đùa với thị “Này … rồi cùng về”, nhưng thị đã theo Tràng về thật. Khi quyết định “đèo bòng” Tràng cảm thấy “chợn” nhưng “chậc kệ”</p><p>* Niềm hạnh phúc khi có vợ :</p><p>– Tràng khi đưa vợ về qua xóm ngụ cư : tâm trạng của anh hôm nay phớn phở, cười tủm tỉm, hai con mắt thì sáng lên lấp lánh, trước ánh mắt nhìn đầy tò mò và ngạc nhiên của người dân trong xóm, trước những lời xì xào bàn tán của người dân trong xóm, Tràng rất hãnh diện, rất đắc ý, mặt cứ vênh lên như thể chứng tỏ với mọi người- Tràng đã có vợ.</p><p>– Tràng khi đưa vợ về đến nhà : Hành động: xăm xăm nhấc tấm phên rách ra và câu nói “Không có người đàn bà nhà cửa ra thế đấy” ta hiểu rằng có vợ rồi người đàn ông ăn nói cục cằn kia bỗng văn hóa hẳn lên. Ánh mắt của anh đã để ý đến cô vợ nhặt và thắc mắc với lòng mình “Quái, sao nó lại buồn thế nhỉ?” Tràng sốt ruột mong ngóng mẹ về để còn ra mắt cô vợ nhặt.Khi mẹ về, sau lời giới thiệu, Tràng cũng hồi hộp, lo lắng đợi chờ câu trả lời của mẹ, và chỉ khi người mẹ nói “Các con phải duyên phải kiếp với nhau u cũng mừng lòng” Tràng mới thở đánh phào một cái.</p><p>Có thể nói, Kim Lân đã rất chú ý miêu tả diễn biến tâm trạng của Tràng từ khi có vợ. Có rất nhiều lần Kim Lân nhắc đến nụ cười của Tràng để nhấn mạnh đến niềm khát khao hạnh phúc, khát khao mái ấm gia đình để thách thức với cái đói đang tung lưới bủa vây.</p><p>– Tràng trong buổi sáng ngày hôm sau :</p><p>+ Tràng thấy mình như bước ra từ một giấc mơ, trong người “êm ái lửng lơ”.</p><p>+ Trước mặt anh mọi thứ đều thay đổi: nhà cửa sân vườn hôm nay đều được quét tước sạch sẽ; mấy chiếc quần áo rách như tổ đỉa vẫn vắt ở góc nhà đã thấy đem ra sân hong; hai cái ang nước vẫn để khô cong duới gốc cây ổi giờ đã kín nước đầy ăm ắp. Rõ ràng những cảnh tượng rất đỗi bình thường ấy cũng đã làm cho anh cảm động, hạnh phúc với anh thật giản dị.</p><p>+ Từ buổi sáng đó, anh mới thấy mình nên người. Anh nghĩ đến tương lai, đến sự sinh sôi nảy nở của hạnh phúc để rồi vui sướng, phấn chấn tràn ngập trong lòng.</p><p>+ Và người vợ nhặt của Tràng hôm nay cũng khác lắm – đó là một người đàn bà hiền hậu, đúng mực, không có vẻ gì chao chát, chỏng lỏn nữa.</p><p>+ Tràng thấy “thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng. Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng. Một nguồn vui sướng, phấn chấn tràn ngập trong lòng. Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này”. Nguồn vui ấy như tia nắng, như ánh bình minh đem sinh khí đến cho cuộc sống vốn đang ngập tràn sự chết chóc của cái đói tung lưới bủa vây.</p><p>+ Và trong bữa cơm đầu tiên, bữa cơm của 3 con người đang khốn khổ vì cái đói, tràn ngập sự đầm ấm, hoà hợp.</p><p>– Hình ảnh khép lại tác phẩm trong óc Tràng là hình ảnh lá cờ đỏ và đoàn người đói đi trên đê Sộp, gợi cho người đọc nghĩ về Việt Minh, về Cách mạng tháng Tám vĩ đại, về sự vùng dậy của những người dân khốn khổ, đập tan xiềng xích, giành lại cơm áo, giành lại sự sống cho bản thân, giành lại độc lập tự do cho dân tộc. Vì thế, kết thúc của tác phẩm đã gieo vào lòng người đọc một niềm tin mãnh liệt, gieo một hạt giống hi vọng mãnh liệt vào tâm hồn Tràng, gia đình anh và tất cả bạn đọc chúng ta.</p><p><br/></p><p><br/></p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 09:35:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829383716</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Ngọc Ánh </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829383948</link>
         <description><![CDATA[<p>THỊ - NGƯỜI VỢ NHẶT</p><p>– Cũng giống như Tràng, khung cảnh Kim Lân để cho nhân vật này xuất hiện là một không gian tối sầm vì đói khát. Cũng giống như bao người khác, thị ngồi vêu cùng với mấy chị em gái nơi cửa nhà kho. Chị không có tên, không tuổi tác, không cha mẹ, không gia đình… môt con số không tròn trĩnh đang bao trùm lên lá số tử vi của chị. Cái đói đã cướp đi của thị tất cả.</p><p>– Khi chưa theo Tràng về làm vợ cái đói đã để lại “dấu tích” ghê gớm trên dáng hình và tính cách của chị:</p><p>+ Lần gặp thứ nhất: có vẻ táo tợn, ăn nói mạnh mẽ “Có khối cơm trắng mấy giò mà ăn đấy! “Này nhà tôi ơi! Nói thật hay nói khoác đấy”</p><p>+ Lần gặp thứ 2: chân dung của thị khiến Tràng không nhận ra, gầy (dẫn chứng)…Thị cong cớn trong lời nói, vô duyên trong hành động “sà xuống đánh… cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc… ăn xong cầm đôi đũa quệt ngang miệng, thở: Hà ngon! Về chị thấy hụt tiền thì bỏ bố”. Tuy nhiên, ẩn đằng những lời nói và hành động ấy là khát vọng về hạnh phúc và sự sống.</p><p>– Kim Lân không có ý chê bai người vợ nhặt kia, dù thực tế cũng có những người phụ nữ không đẹp. Điều mà nhà văn muốn nhấn mạnh ở đây là: sức hủy hoại khủng khiếp của cái đói đối với hình hài và tính cách của con người. Vì đói mà thị cố tạo ra cái vẻ cong cớn, chao chát, chỏng lỏn như là để thách thức với số phận. Vì đói mà thị quên đi cả sĩ diện của mình, quên đi cả lòng tự trọng theo không một người đàn ông về làm vợ trong khi chẳng biết tí gì về anh ta. Vì đói mà thị đánh liều nhắm mắt đưa chân, đánh liều với hạnh phúc cả đời mình. Thị thật đáng thương. Nhưng đằng sau sự liều lĩnh ấy của thị, người đọc hiểu rằng, thị là người có ý thức bám lấy sự sống mãnh liệt.</p><p>– Miêu tả nhân vật thị, Kim Lân không chú trọng nhiều đến diễn biến tâm trạng bên trong mà Kim Lân chú ý nhiều đến hành động:</p><p>+ Thị bước sau Tràng chừng 3-4 bước, cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che đi nửa mặt, mặt cúi xuống, chân nọ bước díu cả vào chân kia. Thị đã ý thức được về bản thân, cái dáng cúi mặt kia phải chăng đó là sự tủi phận</p><p>+ Về đến nhà, trông nếp nhà rẹo rọ của Tràng, thị nén tiếng thở dài, tiếng thở dài chấp nhận bước vào cuộc đời của Tràng.</p><p>+ Hành động khép nép, tay vân vê tà áo khi đứng trước mặt bà cụ Tứ, thị thật đáng thương</p><p>– Tuy nhiên, ở sâu thẳm bên trong con người này vẫn có một niềm khát khao mái ấm gia đình thực sự. Thị đã trở thành một con người hoàn toàn khác khi là một người vợ trong gia đình. Hạnh phúc đã làm cho thị thay đổi từ một người phụ nữ cong cớn, đanh đá bỗng trở thành một người đàn bà hiền hậu đúng mực, mái ấm gia đình đã đủ sức mạnh làm thay đổi một con người.</p><p>– Hình tượng chị vợ nhặt thể hiện rất rõ tư tưởng nhân đạo của Kim Lân</p><p>+ Một mặt nhà văn đã lên án tội ác dã man của phát xít Nhật và TDP. Nạn đói do chúng gây ra đã cướp đi mọi giá trị của con người, và biến người con gái như một thứ đồ rẻ rúng có thể nhặt được</p><p>+ Mặt khác vợ Tràng đã nói lên một sự thật ở đời đó là trong đói khổ, hoạn nạn, kề bên cái chết nhưng con người vẫn khát khao được sống, vẫn sống ngay khi cả cuộc đời không thể chịu được nữa. Những con người nghèo khổ vẫn thương yêu đùm bọc, và cùng nhau vun đắp hạnh phúc để vượt qua những thử thách khắc nghiệt.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 09:35:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829383948</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Gia Nguyên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829383951</link>
         <description><![CDATA[<p><strong><em>Tình huống truyện:</em></strong></p><p>Tình huống truyện là diễn biến của sự việc, sự phức tạp của tình tiết; là cái éo le, nghịch lí ở đời. Sự việc, câu chuyện trong tác phẩm “xảy ra như thế mà ta cứ ngỡ không phải thế”.&nbsp;Tình huống càng lạ bao nhiêu thì truyện càng hay, hấp dẫn bấy nhiêu.</p><p><em>* Tình huống truyện độc đáo trong “Vợ nhặt”:</em></p><p>Đó chính là việc anh cu Tràng “nhặt” được vợ được xem là một tình huống đầy kịch tính, xưa nay chưa từng có; vừa lạ lại vừa éo le mà Kim Lân đã phát hiện và thể hiện rất hay và lạ.</p><p>– Lạ:</p><p>+ Người như Tràng mà lấy được vợ, thậm chí lại có vợ theo. Tràng: Xấu xí, tính cách có phần hơi dở hơi, nghèo, dân ngụ cư</p><p>=&gt; Hội tụ đầy đủ những yếu tố để Tràng khó, thậm chí không lấy được vợ.</p><p>+ Giữa lúc đói khát, nuôi thân còn chẳng xong vậy mà Tràng lại dám “đèo bòng”, “rước cái của nợ đời ấy về”.</p><p>+ Tràng lấy được vợ, nhặt được vợ âu cũng chỉ qua hai lần gặp tình cờ, chỉ với mấy câu nửa đùa nửa thật vậy mà người đàn bà đã theo Tràng về → Cái công việc mà xưa nay người ta vẫn cho là khó lại vô cùng tình cờ, dễ dàng đối với Tràng.</p><p>– Éo le:</p><p>+ Tràng lấy vợ là việc được hưởng cái hạnh phúc lớn nhất của một đời người giữa cảnh “tối sầm lại vì đói khát”, giữa cái lúc mà cái chết và sự sống ranh giới mong manh, tưởng như âm - dương không có sự cách biệt.</p><p>=&gt; Chen vào hạnh phúc là nỗi lo chạy trốn cái đói, nỗi lo níu kéo sự sống.</p><p>+ Duyên cớ để đưa họ đến với nhau cũng thật buồn lòng: đó là cái đói. Ở đây, mấy bát bánh đúc thay cho trầu cau dẫn cưới. Nếu không vì cái đói đưa đẩy thì Tràng cũng khó lòng lấy được vợ → Sự thật đáng buồn.</p><p><em>* Phản ứng của mọi người trước sự kiện độc nhất vô nhị Tràng xấu trai dân ngụ cư có vợ theo về:</em></p><p>– Những người dân trong xóm ngụ cư:</p><p>+ “Người trong xóm lạ lắm”, họ “đứng cả trong ngưỡng cửa nhìn ra bàn tán”→ Ngạc nhiên tột độ.</p><p>+ Sự kiện lạ lùng ấy đem đến một “cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát, tăm tối” của họ, làm những khuôn mặt “hốc hác, u tối” bỗng dưng “rạng rỡ hẳn lên”.</p><p>+ Họ “cười rung rúc”.</p><p>+ Rồi có người thở dài.</p><p>+ Tất cả cùng “nín lặng” khi có người nói “Giời đất này còn rước cái của nợ đời về. Biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái thì này không?”</p><p>– Bản thân Tràng:</p><p>+ Mọi chuyên nhanh chóng quá đến mức chính Tràng – người trong cuộc cũng cảm thấy ngạc nhiên. Khi Tràng vui mừng đưa người vợ nhặt về nhà, nhìn thị ngồi giữa nhà mà Tràng “vẫn còn ngờ ngợ như không phải thế”</p><p>– Bà cụ Tứ - mẹ Tràng:</p><p>+ Vô cùng ngạc nhiên trước thái độ vồn vã, khác thường của đứa con trai, bà “hấp háy hay con mắt nhìn Tràng” rồi băn khoăn hỏi Tràng “Có việc gì thế vậy?”</p><p>+ Ngạc nhiên hơn nữa khi nhìn thấy người đàn bà trong nhà:</p><p>Bà “đứng sững lại”→ Quá đỗi ngạc nhiên.</p><p>Trong đầu bà cụ hiện lên một loạt những câu hỏi: “Quái sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ?”, “sao lại chào mình bằng u?”….→ Băn khoăn, ngạc nhiên.</p><p>+ Khi đã hiểu rõ cơ sự bà lão “cúi đầu nín lặng”, thương xót cho số kiếp đứa con mình.</p><p>+ Bà cụ Tứ cảm thấy tủi thân, xót xa vì chưa làm tròn bổn phận làm cha mẹ “người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này, còn mình thì..” → Độc thoại nội tâm thể hiện tâm lí nhân vật.</p><p>+ Sau đó là “mừng lòng”, chấp nhận con dâu, khuyên nhủ các con đầy lạc quan…</p><p><em>* Ý nghĩa của tình huống truyện</em></p><p>– Tình huống truyện là một trong những yếu tố để làm nổi bật chủ đề tác phẩm đồng thời tạo điều kiện cho nhà văn miêu tả tâm lí nhân vật.</p><p>– Tạo cho tác phẩm có được kết cấu chặt chẽ. Các sự việc, các chi tiết khác được kể tới đều xoay quanh tình huống này.</p><p>– Tố cáo tội ác của bọn thực dân phát xít đẩy con người đến bước đường cùng, biến giá trị con người thành số không.</p><p>– Thể hiện được cái tình của người lao động nghèo và tấm lòng nhân hậu đầy yêu thương của bà mẹ</p><p>– Nói lên được lòng ham sống, bản chất lạc quan của người lao động đang bị lâm vào cảnh khốn cùng.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 09:35:47 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829383951</guid>
      </item>
      <item>
         <title>NPlinhne</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829384707</link>
         <description><![CDATA[<p>GIÁ TRỊ HIỆN THỰC VÀ NHÂN ĐẠO</p><p>3.1. Giá trị hiện thực:</p><p>– Truyện đã dựng lại một cách chân thực những ngày tháng bi thảm trong lịch sử dân tộc, đó là khoảng thời gian diễn ra nạn đói năm 1945 :</p><p>+ Cái chết đeo bám, bủa vây khắp mọi nơi.</p><p>+ Dòng thác người đói vật vờ như những bóng ma.</p><p>+ Cái đói đã tràn đến xóm ngụ cư từ lúc nào.</p><p>+ Âm thanh của tiếng quạ gào lên từng hồi thê thiết.</p><p>+ Xóm ngụ cư, với những khuôn mặt hốc hác, u tối.</p><p>+ Cái đói hiện lên trong từng nếp nhà rúm ró, xẹo xệch, rách nát.</p><p>+ Cái đói hiện hình trên khuôn mặt của chị vợ nhặt.</p><p>+ Bữa cơm ngày đói trông thật thảm hại.</p><p>– Truyện phơi bày bản chất tàn bạo của thực dân Pháp và phát xít Nhận đã gây ra nạn đói năm 1945.</p><p>– Tuy nhiên, còn có một hiện thực được phản ánh trong tác phẩm: hiện thực mang tính xu thế, đó là tấm lòng của người dân khi đến với cách mạng.</p><p>3.2. Giá trị nhân đạo</p><p>+ Thái độ đồng cảm xót thương với số phận của người lao động nghèo khổ.</p><p>+ Lên án tội ác dã man của thực dân Pháp và phát xít Nhật đã gây ra nạn đói khủng khiếp.</p><p>+ Trân trọng tấm lòng nhân hậu, niềm khao khát hạnh phúc bình dị những người lao động nghèo.</p><p>+ Dự báo cho những người nghèo khổ con đường đấu tranh để đổi đời, vươn tới tương lai tươi sáng.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 09:36:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829384707</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Hồng Phước</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829384857</link>
         <description><![CDATA[<p>VỢ NHẶT-KIM LÂN</p><p>*Tác giả</p><p>- Kim Lân (1920-2007) tên khai sinh Nguyễn Văn Tài.</p><p>- Quê quán: Tân Hồng - Từ Sơn - Bắc Ninh.</p><p>- Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông chỉ học hết tiểu học, rồi vừa làm thợ sơn guốc, khắc tranh bình phong, vừa viết văn.</p><p>- Năm 1944, Kim Lân tham gia Hội văn hóa cứu quốc.</p><p>- Sau đó liên tục hoạt động văn nghệ phục vụ kháng chiến và cách mạng (viết văn, làm báo, diễn kịch, đóng phim).</p><p>- Ông bắt đầu sáng tác từ trước 1945. Tập trung vào mảng đề tài người nông dân và nông thông Bắc Bộ.</p><p>- Có biệt tài miêu tả tâm lí nhân vật; văn phong giản dị nhưng gợi cảm, hấp dẫn; ngôn ngữ sống động, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày và mang đậm màu sắc nông thôn; am hiểu và gắn bó sâu sắc về phong tục và đời sống làng quê Bắc Bộ.</p><p>*Tác phẩm</p><p><strong>1. Thể loại</strong></p><p>Vợ nhặt thuộc thể loại truyện ngắn.</p><p><br/></p><p>2. Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác</p><p><br/></p><p>- Truyện ngắn Vợ nhặt viết về nạn đói năm Ất Dậu (1945). Tiền thân của truyện ngắn này là tiểu thuyết Xóm ngụ cư mà Kim Lân viết ngay sau Cách mạng tháng Tám. Tuy nhiên, bản thảo tiểu thuyết còn dang dở và bị thất lạc. Sau đó, tác giả đã dựa vào cốt truyện của tiểu thuyết này để viết về truyện ngắn Vợ nhặt.</p><p><br/></p><p>- Truyện ngắn Vợ nhặt được in trong tập Con chó xấu xí 1962.</p><p><br/></p><p>3. Phương thức biểu đạt</p><p><br/></p><p>Văn bản Vợ nhặt có phương thức biểu đạt là tự sự</p><p><br/></p><p>4. Người kể chuyện</p><p><br/></p><p>Văn bản Vợ nhặt được kể theo ngôi thứ ba.</p><p><br/></p><p>5. Giá trị nội dung</p><p><br/></p><p>Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân không chỉ miêu tả tình cảnh thê thảm của người nông dân nước ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945 mà còn thể hiện đưuọc bản chất tốt đẹp và sức sống kì diệu của họ: ngay trên bờ vực của chết, họ vẫn hướng về sự sống, khát khao tổ ấm gia đình và thương yêu, đùm bọc lẫn nhau.</p><p><br/></p><p>6. Giá trị nghệ thuật</p><p><br/></p><p>- Xây dựng tình huống truyện độc đáo, tự nhiên, kết hợp nhuần nhuyễn hai yếu tố hiện thực và nhân đạo.</p><p><br/></p><p>- Bút pháp phân tích tâm lí nhân vật tinh tế, sâu sắc.</p><p><br/></p><p>- Nghệ thuật đối thoại, độc thoại nội tâm làm nổi rõ tâm lí của từng nhân vật.</p><p><br/></p><p>- Ngôn ngữ kể chuyện phong phú, cách kể chuyện gần gũi, tự nhiên.</p><p><br/></p><p>- Kết cấu truyện đặc sắc.</p><p><br/></p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2259650010/b4f4bdced7ad290681676c7c3c744aa8/t_i_xu_ng__1_.jpeg" />
         <pubDate>2023-12-19 09:37:04 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829384857</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đinh Quốc Tuấn</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829384957</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>1. Tiểu sử- Cuộc đời</strong></p><p>- Kim Lân (1920-2007) tên khai sinh Nguyễn Văn Tài.</p><p>- Quê quán: Tân Hồng, Từ Sơn, Bắc Ninh.</p><p>- Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông chỉ học hết tiểu học, rồi vừa làm thợ sơn guốc, khắc tranh bình phong, vừa viết văn.</p><p>- Năm 1944, Kim Lân tham gia Hội văn hóa cứu quốc.</p><p>- Sau đó liên tục hoạt động văn nghệ phục vụ kháng chiến và cách mạng (viết văn, làm báo, diễn kịch, đóng phim).</p><p><strong>2. Sự nghiệp sáng tác</strong></p><p><em>a. Tác phẩm chính&nbsp;</em></p><p><em>Nên vợ nên chồng</em> (tập truyện ngắn, 1955); <em>Con chó xấu xí</em> (tập truyện ngắn, 1962),...</p><p><em>b. Phong cách sáng tác</em></p><p>- Là cây bút chuyên viết truyện ngắn có sở trường viết về nông thôn và người nông dân.</p><p>Có biệt tài miêu tả tâm lý nhân vật; văn phong giản dị nhưng gợi cảm, hấp dẫn; ngôn ngữ sống động, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày và mang đậm màu sắc nông thôn; am hiểu và gắn bó sâu sắc về phong tục và đời sống làng quê Bắc Bộ</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2119783040/b7725fdf4b968eaaad68dcd53c21013f/4C9FA0BC_D831_4193_8EA3_6E99614B0491.webp" />
         <pubDate>2023-12-19 09:37:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829384957</guid>
      </item>
      <item>
         <title> Phùng Quốc Huy                                Truyện ngắn “ Vợ nhặt” đã phản ánh chân thực và cảm động tình cảnh khốn cùng của nhân dân ta trong nạn đói năm 1945.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829385055</link>
         <description><![CDATA[<p>Tố cáo tội ác của bọn thực dân phong kiến đã đẩy nhân dân ta vào bước đường cùng.</p><p><br/></p><p>Con đường đi đến với cách mạng là con đường tất yếu của người dân lao động nghèo</p><p>- Phản ánh chân thực cuộc sống của nhân dân ta trước cách mạng tháng Tám: nạn đói khủng khiếp khiến bao người phải chịu cảnh sổ sở:</p><p>+ Con người chịu cảnh tang thương, cuộc sống ngày càng thê thảm: “Người chết như ngả rạ”, “ba, bốn cái thây nằm còng queo bên đường”, người sống mặt hốc hác u tối đi lại dật dờ như những bóng ma, xanh xám như những bóng ma, ...</p><p>+ Không gian chỉ tòa những tiếng khóc hờ, tiếng quạ kêu từng hồi thê thiết.</p><p>+ Mùi gây của xác người, mùi ẩm mốc của rác rưởi, mùi khét của những đống rấm.</p><p>- Đặc biệt, bữa cháo cám ngày đói nhà anh cu Tràng đã phản ánh cuộc sống thảm hại của con người.</p><p>- Con người trong cái đói, cái khổ phải giành giật lấy sự sống cho chính mình: Tràng ngày ngày kéo xe cực khổ để sống qua ngày, bà cụ Tứ già cả vẫn phải đi làm, ...</p><p>- Nhận xét: ranh giới giữa người và ma, giữa sự sống và cái chết rất mong manh. Không gian xóm ngụ cư không khác biệt nhiều với nghĩa địa</p><p>2. Bộc lộ niềm xót xa thương cảm đối với cuộc sống bi thảm của những người dân nghèo trong nạn đói năm 1945</p><p><br/></p><p>- Cái đói khổ đã khiến cho con người bị rẻ rúng, mất đi giá trị:</p><p><br/></p><p>+ Điển hình là nhân vật người vợ nhặt, vì quá túng quẫn thị không quan tâm đến danh dự cứ vin vào lời nói đùa của Tràng mà “cong cớn đòi ăn”, còn chấp nhận theo không Tràng về làm vợ.</p><p><br/></p><p>+ Chính Tràng cũng vậy, vì quá nghèo khổ mà khó có thể lấy vợ, đến khi lấy được vợ cũng là nhờ hoàn cảnh éo le.</p><p>3. Trân trọng những khát vọng nhân văn của con người</p><p><br/></p><p>- Tác phẩm ngợi ca khát vọng sống mãnh liệt của con người: Một mặt ta thấy người vợ nhặt như mất nhân cách trong cảnh đói khổ, nhưng mặt khác đó lại là khát vọng sống mãnh liệt của thị, thị không từ bỏ bất cứ cơ hội nhỏ nhoi nào để được sống tiếp, ngay cả việc theo không người ta về làm vợ.</p><p><br/></p><p>- Ta thấy ở Tràng là một khát vọng hạnh phúc chân thành, không phải vì ngờ nghệch mà anh dẫn người vợ nhặt về, sâu thẳm bên trong là khát khao có một gia đình như bao người bình thường khác.</p><p><br/></p><p>- Truyện ngắn còn thấm đẫm vẻ đẹp của lòng thương người: vì tình thương người chân thành mà Tràng sẵn sàng mời thị ăn dù không dư dả, vì thương người mà bà cụ Tứ chấp nhận người con dâu được nhặt về dù trong cảnh đói khổ.</p><p><br/></p><p>- Dù bị đẩy đến bước đường cùng, con người vẫn luôn có niềm tin vào cuộc sống:</p><p><br/></p><p>+ Người vợ nhặt nhắc đến cảnh đoàn người phá kho thóc để tạo niềm tin cho bà cụ Tứ và Tràng, bà cụ Tứ cũng dự tính những chuyện tương lai, khuyên bảo các con</p><p>2. Giá trị nhân đạo của Vợ nhặt</p><p>Niềm cảm thương sâu sắc của nhà văn trước số phận của những người nghèo khổ.</p><p><br/></p><p>Là tiếng nói khẳng định, đề cao những tình cảm cao đẹp của người lao động nghèo khổ : đó là tình yêu thương đùm bọc, tình mẫu tử, khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc.</p><p><br/></p><p>Thể hiện niềm tin, niềm hi vọng vào cuộc sống vào tương lai dù ở trong tình cảnh khốn khóNiềm cảm thương, đồng cảm sâu sắc của nhà văn trước số phận của những người nghèo khổ.</p><p><br/></p><p><br/></p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 09:37:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829385055</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phân tích người vợ nhặt - Thu Phương (人 •͈ᴗ•͈)</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829385086</link>
         <description><![CDATA[<p>Kim Lân là nhà văn của làng quê Việt Nam với cách viết chân chất, mộc mạc và những hình ảnh nhân vật điển hình cho làng quê. Văn của Kim Lân đi sâu vào lòng người đọc bởi tình cảm bình dị, rất đời thường nhưng chan chứa nghĩa tình. Tác phẩm “Vợ nhặt” là một “kiệt tác” của văn học hiện thực Việt Nam, tái hiện thành công xã hội nghèo khổ, cùng cực, bế tắc của người nông dân. Bằng bút pháp tả thực Kim Lân đã xây dựng thành công tuyến nhân vật đại diện cho cuộc sống bần cùng giai đoạn đó. Đó là nhân vật người vợ.</p><p>   Truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân ra đời trong thời kỳ đất nước đang rơi vào nạn đói năm 1945, đời sống nhân dân bần cùng, kẻ sống người chết nham nhảm, người chết như ngả rạ, không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường. Không khí vấn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”. Tác phẩm như đã tái hiện lên khung cảnh lúc đó, ở một xóm nghèo nhỏ, người dân sống cực khổ quanh năm, lại thêm cảnh chèn ép bắt đóng thuế… nhọc nhằn sao kể xiết.</p><p>   Ngay từ nhan đề của tác phẩm, Kim Lân đã dẫn người đọc khám phá cuộc sống của những con người nghèo khổ trong xã hội Việt Nam. Là “vợ nhặt”, là chi tiết và là tình huống truyện thắt nút cho diễn biến xoay quanh nhân vật người vợ trong tác phẩm. Từ “nhặt” mang lại cho đọc giả cái cảm giác rẻ rúng, bèo bọt của phận làm nữ nhi, gợi lên niềm xót thương cho số phận con người. “Vợ nhặt” nghe quá đỗi chân thực và vẽ lên hình ảnh người phụ nữ có một cuộc sống khó khăn, chẳng được hưởng hạnh phúc trọn vẹn khi ngay cả một đám cưới nhỏ cũng không có hay chính xác hơn là một mâm cơm ngon cũng chỉ như giấc mộng hão huyền ngày cô về làm dâu nhà người ta.</p><p>   Mở đầu truyện ngắn, tác giả đã phác họa hình ảnh nhân vật anh cu Tràng “hắn bước đi ngật ngưỡng, vừa đi vừa tủm tỉm cười, hai bên quai hàm bạnh ra…”. Chỉ với vài chi tiết đó, người đọc cũng đã hình dung được diện mạo xấu xí của một anh nông dân nghèo rách mùng tơi. Từ ngày nạn đói hoành hành, đám trẻ con không buồn trêu Tràng nữa, vì chúng đã không còn sức lực. Bởi cuộc sống quá khó khăn, đói kém con người ta trở nên càng mệt mỏi, chán nản, từ già trẻ, gái trai đều đem sự khắc khổ của đời mà ghim vào những nếp nhăn, nếp chân chim, và làn da rám nắng, thân thể gầy gò quắt queo. Trong khung cảnh chiều tà, suy nghĩ của Tràng được tái hiện “hắn bước đi từng bước mệt mỏi, cái ao nâu tàng vắt sang một bên cánh tay". Hình như những lo lắng, cực nhọc đè nặng lên cái lưng gấu của hắn”. Và bỗng một hôm hắn dắt về một người đàn bà lạ hoắc không một ai trong xóm nhỏ quen biết. Dưới ngòi bút miêu tả của nhà văn đầy ám ảnh “thị cắp cái thúng con, đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt. Thị có vẻ rón rén, e thẹn”. Một người đàn bà nghèo khổ, không còn thứ gì giá trị đi cạnh một người đàn ông nghèo khổ, cùng cực đúng là một đôi trời sinh. Tưởng chừng Thị là một người phụ nữ táo bạo vô duyên nhưng thực chất cũng vô cùng e lệ và suy nghĩ như một người phụ nữ. Cắp thúng con theo Tràng về, nàng dâu mới cũng bẽn lẽn theo sau, khi bị trêu chọc cũng e thẹn như bao nàng dâu mới khác. Về đến nhà, khi được Tràng mời ngồi thị chỉ ngồi mớm ở giường, tay vân vê và bộ mặt lộ rõ vẻ đầy lo lắng. Chắc có lẽ thị nghĩ về cuộc sống mới của hai vợ chồng, rồi cuộc đời của thị sẽ đi đến đâu.</p><p>   Khi trở về nhà, hình ảnh bà cụ Tứ, mẹ Tràng được Kim Lân khắc họa diễn biến và sự chuyển đổi trong tâm tính thật tài tình và sâu sắc. Người đọc sẽ hiểu hơn tấm lòng một người mẹ bao dung và hiền hậu. Chi tiết “bà lão phấp phỏng bước theo con vào nhà, đến giữa sân bà sững lại vì thấy có một người đàn bà ở trong…”. Sự băn khoăn lo lắng của bà cụ bắt đầu hiện lên. Nhưng rồi bà cũng nhận ra, cũng hiểu “bà lão cúi đầu nín lặng, bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán, vừa xót xa cho số kiếp con mình. Chao ôi người ta dựng vợ gả chồng cho con là trong lúc làm ăn nên nổi, còn mình…”. Những suy nghĩ chua xót của bà lão được Kim Lân diễn tả qua một loạt động từ tình thái khiến cho cái khổ, cái đói lại vồ vập và hiển hiện rõ ràng hơn bao giờ hết. Thế nhưng vì thương con, lại một chữ “thương” mà bỏ qua tất cả để người mẹ chấp nhận cuộc sống vất vả, khổ cực có thêm một miệng ăn và bà cũng thương cả hai con người trẻ tuổi trước mặt mình: “Bà lão nhìn người đàn bà, lòng đầy thương xót. Nó bây giờ là con dâu trong nhà rồi”. Có hai tình huống xảy ra mà khiến độc giả có lẽ không cầm được nước mắt, đó là khi nhà ăn bữa cơm đầu tiên đón nhận thành viên mới và lúc bà mẹ già bưng nồi ‘‘chè khoán’’ nghi ngút khói ra đặt cạnh mâm cơm. Trong cái thời nạn đói, người chết như rạ ấy thì một bữa cơm đúng nghĩa quả thực rất khó để có trong một gia đình như của Tráng. Bữa cơm bao gồm “giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối, một đĩa muối ăn với cháo, nhưng cả nhà ăn đều rất ngon lành’’. Thật sự là nghèo khó đến bần cùng cạn kiệt. Người vợ vẫn ăn mà không một câu than phiền. Xuất thân của thị cũng có hơn gì ai. Thị cũng nghèo khó, gầy gò và vì tình thương mà đến làm vợ, làm con dâu nhà người ta. Thị cũng là một người vô cùng đảm đang và tháo vát. Khi về nhà Tràng, buổi sáng sớm tinh mơ, Thị đã dậy sớm để cùng bà dọn dẹp và sửa sang lại căn nhà vườn tược. Dường như Thị muốn vun vén cuộc sống của gia đình và bắt đầu một cuộc sống mới. Thị cũng rất vui tính và hòa nhập nhanh với cuộc sống mới. Trong bữa ăn, thị kể nhiều câu chuyện, có cả câu chuyện cướp kho thóc Nhật, từ đó dấy lên bao niềm khát khao hi vọng tự do của những người dân nghèo khó. Một bữa cơm đón dâu nghèo nàn đến đáng thương. Tình huống khiến người đọc nhớ mãi, hình ảnh khiến người đọc khi nhắc đến tác phẩm này đều không quên là hình ảnh “nồi cháo cám” trong buổi bữa cơm đón dâu đầu tiên. Hình ảnh “nồi cháo cám” là hiện thân của cái đói nghèo đến cùng cực trong một gia đình “không còn gì giá trị nữa". Ai cũng muốn có một bữa cơm đón dâu có mâm cao, cỗ đầy trong ngày rước dâu nhưng gia cảnh nghèo nàn, “nồi cháo cám” là thứ duy nhất đong đầy yêu thương bà Tứ có thể mang lại cho con. Và có lẽ trong thâm tâm người ‘‘vợ nhặt’’ cảm thấy xúc động thêm thương xót cho những con người trong gia đình này. Hoá ra cái đanh đá, trở trẽn trước kia ở người đàn bà Tràng lấy làm vợ chẳng qua là do đói do khát mà ra.</p><p>   Qua truyện ngắn Vợ nhặt, Kim Lân đã khắc họa nhân vật người phụ nữ vợ nhặt rất thành công. Tác giả chú trọng khắc họa hành động, cử chỉ, nét mặt của nhân vật để người đọc hiểu được tâm lí của người phụ nữ. Nhà văn lựa chọn được những chi tiết rất phù hợp để bộc lộ số phận cũng như vẻ đẹp của nhân vật. Nhân vật vợ nhặt nắm giữ vai trò khá quan trọng trong việc làm nổi bật chủ đề tư tưởng của tác phẩm đồng thời có vai trò quyết định trong việc hình thành nên tình huống truyện. Trong mái ấm gia đình, người đàn bà ấy đã sống với bản chất tốt đẹp vốn có của mình, của một người phụ nữ Việt Nam.</p><p><br/></p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 09:37:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829385086</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Ngọc Ánh </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829385505</link>
         <description><![CDATA[<p>BÀ CỤ TỨ</p><p>– Nhà văn Kim Lân tâm sự: “ Phần gây xúc động lớn nhất cho tôi khi đọc lại truyện ngắn Vợ nhặt đó là đoạn bà cụ Tứ- mẹ Tràng trở về”. Thông điệp nghệ thuật về bản chất nhân đạo trong tâm hồn người Việt ở hình tượng nhân vật bà cụ Tứ đã được Kim Lân thể hiện thành công qua diến biến tâm trạng của người mẹ nghèo ấy khi nhìn thấy chị vợ nhặt xuất hiện trong nhà mình cho đến buổi sáng ngày hôm sau.</p><p>– Ngạc nhiên và bất ngờ là tâm trạng đầu tiên ở người mẹ nghèo khi lật đật theo con từ ngõ vào nhà. Từ trước đến giờ có bao giờ Tràng mong ngóng mẹ về đến thế đâu, nhất định là phải chuyện gì quan trọng, khác thường. Chân bước theo con nhưng lòng bà đang phấp phỏng. Rồi “đứng sững lại” khi bà nhìn thấy một&nbsp; &nbsp; &nbsp; người phụ nữ đứng ở đầu giường con trai bà , mà lại chào bà bằng u. Ngạc nhiên đã làm cho bà lão không còn tin vào cảm giác của bà nữa, tự dưng bà lão thấy mắt mình nhoèn đi thì phải. Nhưng thực sự mắt bà không nhoèn, và tai bà cũng không đến mức điếc lác như chị vợ nhặt nghĩ ban đầu. Bà chưa thể tin, không thể tin rằng con mình lại có người theo và lại chưa bao giờ hình dung nhận dâu trong một tình cảnh trớ trêu, tội nghiệp đến thế.</p><p>– Bà lão cúi đầu nín lặng, đằng sau cái cúi đầu nín lặng ấy là dòng cảm xúc tuôn trào, là cơn bão lòng đang cuộn xoáy với tình thương con vô bờ bến. Bây giờ thì bà không chỉ biết sự việc “Nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ” như lời Tràng thưa gửi mà bà còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp của con trai mình. Bà tủi thân, tủi phận, bà so sánh người ta với mình “người ta dựng vợ gả chồng cho con những lúc nhà ăn lên làm nổi, còn mình thì…”. Bà lão chua chát, tự trách bản thân mình, càng thương con bao nhiêu bà lại càng tủi phận bấy nhiêu. Bà lão đã khóc, những giọt nước mắt hiếm hoi của người già dưới ngòi bút nhạy cảm của Kim Lân đã gieo vào lòng người đọc biết bao thương xót, tủi buồn.</p><p>Bà đã chấp nhận nàng dâu không phải chỉ bằng tình mẫu tử mà lớn hơn đó là tình người, là sự cảm thông với chị vợ nhặt từ cái nhìn của người cùng giới, cùng là phụ nữ. Câu nói đầu tiên mà bà cụ Tứ dành cho chị vợ nhặt “Ừ thôi các con phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng”, lời nói của bà như trút đi biết bao gánh nặng tâm trạng đang đè nặng trong Tràng, lời nói ấy như một sự chiêu tuyết cho giá trị của cô vợ nhặt. Câu nói ấy của bà làm cuộc hôn nhân của Tràng và thị không còn là chuyện nhặt nhau ở đường và chợ nữa mà là duyên phận. Cách nói giản dị mà chan chứa tình người quả thực đã làm ấm lòng những số phận tội nghiệp. Thị và Tràng dường như cũng sẽ ấm lòng hơn khi kinh nghiệm của một người mẹ từng trải nói “ai giàu ba họ, ai khó ba đời”. Bà động viên an ủi con trai và con dâu cùng nhau bước qua khó khăn đói khổ trước mắt mà lòng đầy thương xót.</p><p>– Nhưng sau những lời động viên ấy ta lại thấy Kim Lân để nhân vật bà cụ Tứ quay về với chính cuộc đời mình để mà lo lắng cho hạnh phúc thực tại của hai con. Điều mà bà lo không phải là “sự hợp nhau hay không hợp nhau” giữa hai người mà điều mà người mẹ ấy lo lắng đó là, cái đói đang đe dọa hạnh phúc của con bà.</p><p>Trong bóng tối, bà nghĩ về cuộc đời dài dằng dặc của đời mình, cuộc đời của những người thân để mà thấu hiểu, thương xót rồi “nghẹn lời” chỉ có dòng nước mắt chảy xuống ròng ròng.</p><p>– Hạnh phúc mới của con làm bà cụ Tứ được vui lây, bà động viên an ủi cáccon, nghĩ về một tương lai tươi sáng phía trước:</p><p>+ Khuôn mặt của bà nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, bà xăm xắn quét dọn, giẫy những búi cỏ dại nham nhở trong vườn, thu dọn nhà cửa cho quang quẻ với hy vọng đời sẽ có cơ khấm khá.</p><p>+ Trong bữa ăn đầu tiên, mâm cơm ngày đói sao thảm hại: chỉ có một lùm rau chuối thái rối, một đãi muối, một niêu cháo lõng bõng toàn nước và món chính là chè khoán – cháo cám nhưng không khí gia đình thật ấm áp, tình chồng vợ, tình mẹ con- những nguồn động lực lớn lao ấy giúp họ tăng thêm sức mạnh để vượt qua thực tại.</p><p>+ Bà cụ Tứ toàn nói chuyện của tương lai, toàn chuyện vui, chuyện sung sướng về sau. Bà lão bàn với con tính chuyện nuôi gà, ngoảnh đi ngoảnh lại sẽ có đàn gà cho mà xem. Câu chuyện của bà lão bất giác làm cho ta nhớ lại bài ca dao miền Trung- mười cái trứng. Cũng giống như tất cả những người bình dân xưa, bà lão đang gieo vào lòng các con bà niềm lạc quan, niềm tin và hi</p><p>vọng. Từ đàn gà mà có tất cả. Khát vọng sống bật lên ngay cả trong hoàn cảnh khốn cùng nhất “chớ than phận khó ai ơi- Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây”.</p><p>– Song niềm vui của bà cụ Tứ cũng thật tội nghiệp. Miếng cháo cám đắng chát và tiếng trống thúc thuế dồn dập vội vã đưa bà cụ Tứ trở về với thực tại với tiếng nói xen lẫn cả hơi thở dài trong lo lắng: “Đằng thì nó bắt giồng đay, đằng thì nó bắt đóng thuế. Giời đất này không chắc đã sống được qua được đâu các con ạ”! Và bà lại khóc, tình thương con lại hiện hình qua những giọt nước mắt lặng lẽ tuôn rơi.</p><p>Với sự thấu hiểu, với sự đồng cảm, Kim Lân đã dựng lên hình ảnh bà cụ Tứ- người mẹ thương con, nhân hậu, bao dung. Trong hoàn cảnh đói nghèo, bà vẫn dang rộng cánh tay đón nhận người con dâu mặc dù trong lòng còn nhiều xót xa, tủi cực, vẫn gieo vào lòng các con ngọn lửa sống trong hoàn cảnh tối tăm của xã hội lúc bấy giờ.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 09:37:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829385505</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Minh Châu</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829386289</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>1. Giá trị hiện thực của tác phẩm Vợ nhặt</strong></p><p>Truyện ngắn “ Vợ nhặt” đã phản ánh chân thực và cảm động tình cảnh khốn cùng của nhân dân ta trong nạn đói năm 1945.</p><p>Tố cáo tội ác của bọn thực dân phong kiến đã đẩy nhân dân ta vào bước đường cùng.</p><p>Con đường đi đến với cách mạng là con đường tất yếu của người dân lao động nghèo.</p><p><strong>2. Giá trị nhân đạo của Vợ nhặt</strong></p><p>Niềm cảm thương sâu sắc của nhà văn trước số phận của những người nghèo khổ.</p><p>Là tiếng nói khẳng định, đề cao những tình cảm cao đẹp của người lao động nghèo khổ : đó là tình yêu thương đùm bọc, tình mẫu tử, khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc.</p><p>Thể hiện niềm tin, niềm hi vọng vào cuộc sống vào tương lai dù ở trong tình cảnh khốn khó nhất.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 09:39:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829386289</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vũ Hồng Phúc</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829386344</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Tác giả</strong></p><p>- Kim Lân (1920-2007)</p><p><strong>Nét đặc sắc của tác giả:</strong></p><p>- Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông chỉ học hết tiểu học, rồi vừa làm thợ sơn guốc, khắc tranh bình phong, vừa viết văn.</p><p>- Năm 1944, Kim Lân tham gia Hội văn hóa cứu quốc.</p><p><em>- Phong cách sáng tác:</em></p><p>+ Là cây bút chuyên viết truyện ngắn có sở trường viết về nông thôn và người nông dân.</p><p>+ Có biệt tài miêu tả tâm lý nhân vật; văn phong giản dị nhưng gợi cảm, hấp dẫn; ngôn ngữ sống động, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày và mang đậm màu sắc nông thôn; am hiểu và gắn bó sâu sắc về phong tục và đời sống làng quê Bắc Bộ.</p><p><br/></p><p><strong>HCST + Xuất xứ:</strong></p><p>- In trong tập <em>Con chó xấu xí</em> (1962).</p><p>- Tiền thân của truyện ngắn này là tiểu thuyết <em>Xóm ngụ cư</em> - được viết ngay sau Cách mạng tháng Tám nhưng dang dở và thất lạc bản thảo. Sau khi hòa bình lập lại (1954), ông dựa vào một phần cốt truyện cũ để viết truyện ngắn này.</p><p><strong>Ý nghĩa nhan đề:</strong></p><p>- Vợ là sự trân trọng, người vợ có vị trí trung tâm để xây dựng tổ ấm.</p><p>- Ở đây là nhặt được vợ, không phải lấy vợ đàng hoàng, có ăn hỏi cưới xin mà như nhặt được đồ vật người ta đánh rơi hay quên.</p><p>→ Cái giá con người trở nên rẻ rúng. Đồng thời cũng cho thấy trong hoàn cảnh khốn cùng con người ta vẫn luôn khao khát được sống hạnh phúc, niềm tin cuộc sống trong họ thật mãnh liệt.</p><p><strong>Ý nghĩa tình huống truyện:</strong></p><p>- <em>Vợ nhặt</em> đã xây dựng được một tình huống truyện éo le, độc đáo, đau xót thấm đẫm tình người:</p><p>+ Anh Tràng - con nhà nghèo, xấu xí, ngây ngô, dân xóm ngụ cư bỗng dưng có vợ theo về mà lại là vợ nhặt trên đường trên chợ.</p><p>+ Việc Tràng có vợ khiến cả người dân xóm ngụ cư, bà cụ Tứ (mẹ Tràng) và cả chính Tràng cũng ngạc nhiên.</p><p>- Tình huống truyện là lời tố cáo chế độ thực dân, phát xít đã đẩy con người vào hoàn cảnh khốn cùng, đồng thời mang giá trị nhân bản sâu sa dù hoàn cảnh bi thảm đến đâu con người ta vẫn khao khát hạnh phúc, vẫn hướng về ánh sáng và tin tưởng vào tương lai.</p><p><strong>Giá trị nội dung:</strong></p><p>- Giá trị hiện thực: Cho thấy một thảm cảnh thê thảm của những con người nghèo trong nạn đói 1945 do phát xít Nhật và thực dân Pháp gây nên.</p><p>- Giá trị nhân đạo:</p><p>+ Tố cáo tội ác của bọn thực dân phát xít.</p><p>+ Thể hiện lòng cảm thông sâu sắc đối với số phận con người trong nạn đói.</p><p>+ Là bài ca ca ngợi sự sống, tình thương, sự cưu mang, đùm bọc, khát vọng hạnh phúc.</p><p>+ Tác phẩm chỉ ra con đường giải phóng cho những con người nghèo khổ: chỉ có thể đi theo cách mạng để tự giải phóng, để thoát khỏi đói nghèo cơ cực.</p><p><strong>Giá trị nghệ thuật:</strong></p><p>+ Cách kể chuyện giản dị nhưng rất có duyên, rất lôi cuốn.</p><p>+ Tình huống truyện độc đáo, éo le vừa nghịch lý lại vừa hợp lý.</p><p>+ Đối thoại sinh động như lời ăn tiếng nói hàng ngày ở các làng quê.</p><p>+ Miêu tả tâm lý nhân vật tự nhiên, tinh tế, chân thực, cá thể hóa logic, hợp lý.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet.com/padlets/d20vfvi5hx1ptwn7" />
         <pubDate>2023-12-19 09:39:08 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829386344</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phân tích tình huống truyện - Thu Phương </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829387276</link>
         <description><![CDATA[<p>Đối với nghệ thuật truyện ngắn, tạo ra được một tình huống độc đáo mới lạ để làm bật nổi vấn đề, bật nổi tâm trạng, tư tưởng, tính cách của các nhân vật và chủ đề của tác phẩm là một điều có ý nghĩa then chốt. Một truyện ngắn đặc sắc là nhờ được tổ chức chung quanh một tình huống như thế, và Vợ nhặt của Kim Lân là một trường hợp tiêu biểu.</p><p>Vợ nhặt đã tạo ra được một tình huống truyện độc đáo và hấp dẫn. Đó là tình huống nhân vật Tràng, một anh nhà nghèo xấu xí, dân ngụ cư (bị người làng khinh bỉ), giữa lúc đói khát lại lấy được vợ. Đó là một điều lạ. Lạ vì hai lí do. Người như Tràng mà lấy được vợ, thậm chí có vợ theo! Thời buổi đói khát này, người như Tràng, nuôi thân chẳng xong mà dám lấy vợ!</p><p>Nhưng điều tưởng không thể nào có được, lại đã xẩy ra, đã trở thành hiện thực. Bởi vì, nếu không phải năm đói, người ta không đói quá, thì ai thèm lấy Tràng. Và đây là “vợ nhặt”, có cần cheo cưới gì đâu. Năm đói thế nào cũng xong, có thế người như Tràng mới lấy được vợ.</p><p>Tình huống này dẫn đến sự ngạc nhiên của cả xóm cư ngụ, của bà cụ Tứ (mẹ Tràng) và của chính Tràng nữa. Như vậy, tình huống này đã làm cho câu chuyện có thể triển khai, phát triển dễ dàng bằng các cảnh với các chi tiết rất hấp dần: Cảnh xóm ngụ cư xì xào bàn tán khi Tràng dẫn vợ về nhà.</p><p>Cảnh buổi tối bà cụ Tứ gặp người con dâu được “nhặt về” trong sự sững sờ này đến sự ngạc nhiên khác,.. Chuyện có vợ bất ngờ với cả chính Tràng nữa, khiến anh ta không thế nào tin nổi trong buổi tối dẫn vợ về báo cho mẹ biết và ngay cả sáng hôm sau khi đã là vợ chồng (“Nhìn thị (vợ Tràng) ngồi ngay giữa nhà, đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải thế. Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư?”). Tình huống trên, đồng thời hết sức éo le. Đó là chuyện nên vui hay nên buồn nên mừng hay nên lo?</p><p>Chính điều này lại thúc đẩy cho câu chuyện tiếp tục phát triển để nhà văn có thể khắc họa tâm trạng nhân vật phong phú và tính cách nhân vật rõ nét hơn. Trong cái tình huống hết sức éo le ấy, ta thấy một sự xáo trộn buồn tủi, vui mừng, lo sợ ở trong tâm trạng của mọi người: Người trong xóm ngụ cư mừng cho anh ta và cũng lo cho anh ta. Bà cụ Tứ mừng cho con nhưng vừa thương vừa tủi, vừa lo cho con.</p><p>Chính Tràng cũng vừa vui vừa “chợn”: “thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng”. Tình huống trên dẫn đến cái hạnh phúc thật mong manh, tội nghiệp của đôi vợ chồng và bà mẹ nghèo khổ. Hạnh phúc của vợ chồng Tràng và niềm vui của bà cụ Tứ cứ phải diễn ra trong một không khí ảm đạm chết chóc, với những tiếng hờ khóc người chết đói vẳng đưa tới (“Giữa sự im lặng của đôi vợ chồng mới, có tiếng ai hờ khóc ngoài xóm lọt vào tỉ tê lúc to lúc nhỏ”). Hạnh phúc của họ đã diễn ra trong âm hưởng của tiếng khóc thê thảm ấy.</p><p>Và tiếp đó là bữa ăn đầu tiên đón nàng dâu mới thật tội nghiệp: ăn cháo cám. Ăn mà không dám nhìn nhau… Tình huống đó đà tạo cảm hứng, tạo cảnh, tạo chi tiết để nhà văn có thề viết nên những trang thật cảm động về câu chuyện “Vợ nhặt” rất hiện thực và cũng rất nhân đạo trong trận đói khủng khiếp năm 1945.</p><p>Tình huống “Vợ nhặt” độc đáo và hấp dẫn là một sáng tạo nghệ thuật đặc sắc của nhà văn Kim Lân. Tình huống ây không chỉ tạo điều kiện cho câu chuyện triển khai và phát triền dễ dàng, tốt đẹp, mà còn góp phần bộc lộ sâu sắc chủ đề truyện: niềm khát khao tổ ấm gia đình và tình thương giữa những con người nghèo khổ ngay trong trận đói khủng khiếp nhất.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 09:39:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829387276</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Mai Thuỳ Linh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829387313</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>1. Giá trị hiện thực của tác phẩm Vợ nhặt</strong></p><p>Truyện ngắn “ Vợ nhặt” đã phản ánh chân thực và cảm động tình cảnh khốn cùng của nhân dân ta trong nạn đói năm 1945.</p><p>Tố cáo tội ác của bọn thực dân phong kiến đã đẩy nhân dân ta vào bước đường cùng.</p><p>Con đường đi đến với cách mạng là con đường tất yếu của người dân lao động nghèo.</p><p><strong>2. Giá trị nhân đạo của Vợ nhặt</strong></p><p>Niềm cảm thương sâu sắc của nhà văn trước số phận của những người nghèo khổ.</p><p>Là tiếng nói khẳng định, đề cao những tình cảm cao đẹp của người lao động nghèo khổ : đó là tình yêu thương đùm bọc, tình mẫu tử, khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc.</p><p>Thể hiện niềm tin, niềm hi vọng vào cuộc sống vào tương lai dù ở trong tình cảnh khốn khó nhất.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 09:40:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829387313</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Gia Nguyên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829387354</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>1. Giá trị hiện thực của tác phẩm Vợ nhặt</strong></p><p>Truyện ngắn “ Vợ nhặt” đã phản ánh chân thực và cảm động tình cảnh khốn cùng của nhân dân ta trong nạn đói năm 1945.</p><p>Tố cáo tội ác của bọn thực dân phong kiến đã đẩy nhân dân ta vào bước đường cùng.</p><p>Con đường đi đến với cách mạng là con đường tất yếu của người dân lao động nghèo.</p><p><strong>2. Giá trị nhân đạo của Vợ nhặt</strong></p><p>Niềm cảm thương sâu sắc của nhà văn trước số phận của những người nghèo khổ.</p><p>Là tiếng nói khẳng định, đề cao những tình cảm cao đẹp của người lao động nghèo khổ : đó là tình yêu thương đùm bọc, tình mẫu tử, khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc.</p><p>Thể hiện niềm tin, niềm hi vọng vào cuộc sống vào tương lai dù ở trong tình cảnh khốn khó nhất.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 09:40:04 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829387354</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thanh Loan</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829387748</link>
         <description><![CDATA[<p><br></p><ul><li><p>Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân không chỉ miêu tả tình cảnh thê thảm của người nông dân nước ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945 mà còn thể hiện đưuọc bản chất tốt đẹp và sức sống kì diệu của họ: ngay trên bờ vực của chết, họ vẫn hướng về sự sống, khát khao tổ ấm gia đình và thương yêu, đùm bọc lẫn nhau.</p></li><li><p>Xây dựng tình huống truyện độc đáo, tự nhiên, kết hợp nhuần nhuyễn hai yếu tố hiện thực và nhân đạo.</p></li><li><p> Bút pháp phân tích tâm lí nhân vật tinh tế, sâu sắc.</p></li><li><p> Nghệ thuật đối thoại, độc thoại nội tâm làm nổi rõ tâm lí của từng nhân vật.</p></li><li><p>Ngôn ngữ kể chuyện phong phú, cách kể chuyện gần gũi, tự nhiên.</p></li><li><p>Kết cấu truyện đặc sắc.</p></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 09:40:33 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829387748</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thanh Loan </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829387752</link>
         <description><![CDATA[<p>Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân không chỉ miêu tả tình cảnh thê thảm của người nông dân nước ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945 mà còn thể hiện đưuọc bản chất tốt đẹp và sức sống kì diệu của họ: ngay trên bờ vực của chết, họ vẫn hướng về sự sống, khát khao tổ ấm gia đình và thương yêu, đùm bọc lẫn nhau.</p><p>-Xây dựng tình huống truyện độc đáo, tự nhiên, kết hợp nhuần nhuyễn hai yếu tố hiện thực và nhân đạo.</p><p>- Bút pháp phân tích tâm lí nhân vật tinh tế, sâu sắc.</p><p>- Nghệ thuật đối thoại, độc thoại nội tâm làm nổi rõ tâm lí của từng nhân vật.</p><p>- Ngôn ngữ kể chuyện phong phú, cách kể chuyện gần gũi, tự nhiên.</p><p>- Kết cấu truyện đặc sắc.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 09:40:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829387752</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Ngọc Ánh </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829387791</link>
         <description><![CDATA[<p> GIÁ TRỊ HIỆN THỰC VÀ NHÂN ĐẠO</p><p>1. Giá trị hiện thực:</p><p>– Truyện đã dựng lại một cách chân thực những ngày tháng bi thảm trong lịch sử dân tộc, đó là khoảng thời gian diễn ra nạn đói năm 1945 :</p><p>+ Cái chết đeo bám, bủa vây khắp mọi nơi.</p><p>+ Dòng thác người đói vật vờ như những bóng ma.</p><p>+ Cái đói đã tràn đến xóm ngụ cư từ lúc nào.</p><p>+ Âm thanh của tiếng quạ gào lên từng hồi thê thiết.</p><p>+ Xóm ngụ cư, với những khuôn mặt hốc hác, u tối.</p><p>+ Cái đói hiện lên trong từng nếp nhà rúm ró, xẹo xệch, rách nát.</p><p>+ Cái đói hiện hình trên khuôn mặt của chị vợ nhặt.</p><p>+ Bữa cơm ngày đói trông thật thảm hại.</p><p>– Truyện phơi bày bản chất tàn bạo của thực dân Pháp và phát xít Nhận đã gây ra nạn đói năm 1945.</p><p>– Tuy nhiên, còn có một hiện thực được phản ánh trong tác phẩm: hiện thực mang tính xu thế, đó là tấm lòng của người dân khi đến với cách mạng.</p><p>2. Giá trị nhân đạo</p><p>+ Thái độ đồng cảm xót thương với số phận của người lao động nghèo khổ.</p><p>+ Lên án tội ác dã man của thực dân Pháp và phát xít Nhật đã gây ra nạn đói khủng khiếp.</p><p>+ Trân trọng tấm lòng nhân hậu, niềm khao khát hạnh phúc bình dị những người lao động nghèo.</p><p>+ Dự báo cho những người nghèo khổ con đường đấu tranh để đổi đời, vươn tới tương lai tươi sáng.</p><p> GIÁ TRỊ HIỆN THỰC VÀ NHÂN ĐẠO</p><p>1. Giá trị hiện thực:</p><p>– Truyện đã dựng lại một cách chân thực những ngày tháng bi thảm trong lịch sử dân tộc, đó là khoảng thời gian diễn ra nạn đói năm 1945 :</p><p>+ Cái chết đeo bám, bủa vây khắp mọi nơi.</p><p>+ Dòng thác người đói vật vờ như những bóng ma.</p><p>+ Cái đói đã tràn đến xóm ngụ cư từ lúc nào.</p><p>+ Âm thanh của tiếng quạ gào lên từng hồi thê thiết.</p><p>+ Xóm ngụ cư, với những khuôn mặt hốc hác, u tối.</p><p>+ Cái đói hiện lên trong từng nếp nhà rúm ró, xẹo xệch, rách nát.</p><p>+ Cái đói hiện hình trên khuôn mặt của chị vợ nhặt.</p><p>+ Bữa cơm ngày đói trông thật thảm hại.</p><p>– Truyện phơi bày bản chất tàn bạo của thực dân Pháp và phát xít Nhận đã gây ra nạn đói năm 1945.</p><p>– Tuy nhiên, còn có một hiện thực được phản ánh trong tác phẩm: hiện thực mang tính xu thế, đó là tấm lòng của người dân khi đến với cách mạng.</p><p>2. Giá trị nhân đạo</p><p>+ Thái độ đồng cảm xót thương với số phận của người lao động nghèo khổ.</p><p>+ Lên án tội ác dã man của thực dân Pháp và phát xít Nhật đã gây ra nạn đói khủng khiếp.</p><p>+ Trân trọng tấm lòng nhân hậu, niềm khao khát hạnh phúc bình dị những người lao động nghèo.</p><p>+ Dự báo cho những người nghèo khổ con đường đấu tranh để đổi đời, vươn tới tương lai tươi sáng.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 09:40:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829387791</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thanh Loan</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829387805</link>
         <description><![CDATA[<p>Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân không chỉ miêu tả tình cảnh thê thảm của người nông dân nước ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945 mà còn thể hiện đưuọc bản chất tốt đẹp và sức sống kì diệu của họ: ngay trên bờ vực của chết, họ vẫn hướng về sự sống, khát khao tổ ấm gia đình và thương yêu, đùm bọc lẫn nhau.</p><p>Xây dựng tình huống truyện độc đáo, tự nhiên, kết hợp nhuần nhuyễn hai yếu tố hiện thực và nhân đạo.</p><p>- Bút pháp phân tích tâm lí nhân vật tinh tế, sâu sắc.</p><p>- Nghệ thuật đối thoại, độc thoại nội tâm làm nổi rõ tâm lí của từng nhân vật.</p><p>- Ngôn ngữ kể chuyện phong phú, cách kể chuyện gần gũi, tự nhiên.</p><p>- Kết cấu truyện đặc sắc.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 09:40:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829387805</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thuỳ Dương</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829388217</link>
         <description><![CDATA[<p><br>- Kim Lân (1920-2007) tên khai sinh Nguyễn Văn Tài.</p><p>- Quê quán: Tân Hồng - Từ Sơn - Bắc Ninh.</p><p>- Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông chỉ học hết tiểu học, rồi vừa làm thợ sơn guốc, khắc tranh bình phong, vừa viết văn.</p><p>- Năm 1944, Kim Lân tham gia Hội văn hóa cứu quốc.</p><p>- Sau đó liên tục hoạt động văn nghệ phục vụ kháng chiến và cách mạng (viết văn, làm báo, diễn kịch, đóng phim).</p><p>- Ông bắt đầu sáng tác từ trước 1945. Tập trung vào mảng đề tài người nông dân và nông thông Bắc Bộ.</p><p>- Có biệt tài miêu tả tâm lí nhân vật; văn phong giản dị nhưng gợi cảm, hấp dẫn; ngôn ngữ sống động, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày và mang đậm màu sắc nông thôn; am hiểu và gắn bó sâu sắc về phong tục và đời sống làng quê Bắc Bộ.</p><p>- Các tác phẩm chính của ông: <em>Nên vợ nên chồng</em> (tập truyện ngắn, 1955), <em>Con chó xấu xí</em>(tập truyện ngắn, 1962), <em>Tuyển tập Kim Lân</em>(1996).</p><p>- Năm 2001, ông được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật.</p><p><strong>II. Tìm hiểu tác phẩm Vợ nhặt</strong></p><p><strong>1. Thể loại</strong></p><p>Vợ nhặt thuộc thể loại truyện ngắn.</p><p><strong>2. Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác</strong></p><p>- Truyện ngắn Vợ nhặt viết về nạn đói năm Ất Dậu (1945). Tiền thân của truyện ngắn này là tiểu thuyết Xóm ngụ cư mà Kim Lân viết ngay sau Cách mạng tháng Tám. Tuy nhiên, bản thảo tiểu thuyết còn dang dở và bị thất lạc. Sau đó, tác giả đã dựa vào cốt truyện của tiểu thuyết này để viết về truyện ngắn Vợ nhặt.</p><p>- Về truyện ngắn này, Kim Lân đã tâm sự: “Khi viết về nạn đói, người ta thường viết về sự khốn cùng và bi thảm,… Tôi muốn truyện ngắn với ý khác. Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng, tin tưởng ở tương lai. Họ vẫn muốn sống, sống cho ra con người”.</p><p>- Truyện ngắn Vợ nhặt được in trong tập Con chó xấu xí 1962.</p><p><br/></p><p><strong>3. Phương thức biểu đạt</strong></p><p>Văn bản Vợ nhặt có phương thức biểu đạt là tự sự</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2119783040/08acdabfab08e6b525a852a6fb311042/797F30A0_06BF_469A_8C7E_D9804DD9B395.jpeg" />
         <pubDate>2023-12-19 09:41:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829388217</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Hương Giang</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829388375</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Tác giả:</strong></p><p>- Kim Lân (1920-2007) tên khai sinh Nguyễn Văn Tài.</p><p>- Quê quán: Tân Hồng - Từ Sơn - Bắc Ninh.</p><p>- Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông chỉ học hết tiểu học, rồi vừa làm thợ sơn guốc, khắc tranh bình phong, vừa viết văn.</p><p>- Ông bắt đầu sáng tác từ trước 1945. Tập trung vào mảng đề tài người nông dân và nông thông Bắc Bộ.</p><p>- Có biệt tài miêu tả tâm lí nhân vật; văn phong giản dị nhưng gợi cảm, hấp dẫn; ngôn ngữ sống động, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày và mang đậm màu sắc nông thôn; am hiểu và gắn bó sâu sắc về phong tục và đời sống làng quê Bắc Bộ.</p><p>- Các tác phẩm chính của ông:&nbsp;<em>Nên vợ nên chồng</em>&nbsp;(tập truyện ngắn, 1955),&nbsp;<em>Con chó xấu xí</em>&nbsp;(tập truyện ngắn, 1962),&nbsp;<em>Tuyển tập Kim Lân</em>&nbsp;(1996).</p><p>- Năm 2001, ông được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật.</p><p><strong>Tác phẩm:</strong></p><p><strong>1. Thể loại</strong></p><p>Truyện ngắn.</p><p><strong>2. Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác</strong></p><p>- Truyện ngắn Vợ nhặt viết về nạn đói năm Ất Dậu (1945). Tiền thân của truyện ngắn này là tiểu thuyết Xóm ngụ cư mà Kim Lân viết ngay sau Cách mạng tháng Tám. Tuy nhiên, bản thảo tiểu thuyết còn dang dở và bị thất lạc. Sau đó, tác giả đã dựa vào cốt truyện của tiểu thuyết này để viết về truyện ngắn Vợ nhặt.</p><p>- Truyện ngắn Vợ nhặt được in trong tập Con chó xấu xí 1962.</p><p><strong>3. Phương thức biểu đạt:</strong></p><p>Tự sự</p><p><strong>4. Người kể chuyện:</strong></p><p>Văn bản Vợ nhặt được kể theo ngôi thứ ba.</p><p><strong>5.Tóm tắt văn bản Vợ nhặt:</strong></p><p>Tràng sống cùng với mẹ già ở xóm ngụ cư. Ít lâu nay, anh xe thóc Liên đoàn lên tỉnh. Mỗi khi qua cửa nhà kho lại thấy mấy chị con gái ngồi ở đây. Một lần, trên đường kéo cái xe bò thóc vào dốc tỉnh, anh gặp gỡ với thị. Chỉ với bốn bát bánh đúc, thị đã đồng ý làm vợ, rồi theo anh về nhà. Về đến nhà, bà cụ Tứ - mẹ của Tràng vô cùng ngạc nhiên khi nhìn thấy một người đàn bà lạ ở trong nhà. Sau khi biết rõ sự tình, người mẹ nghèo khổ ấy đã hiểu ra, và chấp nhận nàng dâu mới. Sáng hôm sau, Tràng thức dậy và thấy mọi thứ xung quanh thay đổi. Bản thân anh cũng cảm thấy cần có bổn phận phải lo cho vợ con. Bữa ăn đầu tiên của nàng dâu mới mới thật thảm hại: chỉ có độc một lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo, nhưng cả nhà đều ăn rất ngon lành. Họ vừa ăn vừa nói đến chuyện tương lai. Bà cụ Tứ còn mang lên món chè khoán mà thực chất là cháo cám mà theo lời bà là khối nhà chẳng có mà ăn. Tiếng trống thúc thuế vang lên khiến Tràng nhớ đến đám người đói phá kho thóc và lá cờ đỏ bay phấp phới.</p><p><strong>6. Bố cục văn bản Vợ nhặt:</strong></p><p>Gồm 4 phần</p><p>- Phần 1: Từ đầu đến “tự đắc với mình”: Đoạn văn kể lại việc anh Tràng dẫn người “vợ nhặt” về xóm ngụ cư</p><p>- Phần 2: Từ “Thị lẳng lặng theo hắn vào nhà” đến “rồi cùng đẩy xe bò về”: Đoạn văn kể lại câu chuyện hai người gặp nhau và cái duyên đưa họ trở thành vợ chồng.</p><p>- Phần 3: Từ “Tràng chợt đứng dừng lại” đến “nước mắt chảy dòng dòng”: Tràng giới thiệu người vợ nhặt với mẹ mình. Tâm trạng lo lắng nhưng vui mừng, phấn khởi của bà cụ Tứ trước hạnh phúc cả đời của các con.</p><p>- Phần 4: Đoạn còn lại:&nbsp;Những thay đổi tích cực của gia đình anh cu Tràng vào buổi sáng hôm sau. Niềm tin, hy vọng về sự đổi khác trong tương lai.</p><p><br></p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 09:41:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829388375</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Hà Linh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829388687</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Tác giả</strong></p><p><strong>1. Tiểu sử- Cuộc đời</strong></p><p>- Kim Lân (1920-2007) tên khai sinh Nguyễn Văn Tài.</p><p>- Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông chỉ học hết tiểu học, rồi vừa làm thợ sơn guốc, khắc tranh bình phong, vừa viết văn.</p><p>- Năm 1944, Kim Lân tham gia Hội văn hóa cứu quốc.</p><p>- Sau đó liên tục hoạt động văn nghệ phục vụ kháng chiến và cách mạng (viết văn, làm báo, diễn kịch, đóng phim).</p><p><strong>2. Sự nghiệp sáng tác</strong></p><p><em>a. Tác phẩm chính&nbsp;</em></p><p><em>Nên vợ nên chồng</em> (tập truyện ngắn, 1955); <em>Con chó xấu xí</em> (tập truyện ngắn, 1962),...</p><p><em>b. Phong cách sáng tác</em></p><p>- Là cây bút chuyên viết truyện ngắn có sở trường viết về nông thôn và người nông dân.</p><p>Có biệt tài miêu tả tâm lý nhân vật; văn phong giản dị nhưng gợi cảm, hấp dẫn; ngôn ngữ sống động, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày và mang đậm màu sắc nông thôn; am hiểu và gắn bó sâu sắc về phong tục và đời sống làng quê Bắc Bộ.</p><p><br/></p><ol><li><p>Tác phẩm :</p></li></ol><p><strong>Tìm hiểu chung</strong></p><p><em>a. Xuất xứ</em></p><p>- In trong tập <em>Con chó xấu xí</em> (1962).</p><p>- Tiền thân của truyện ngắn này là tiểu thuyết <em>Xóm ngụ cư</em> - được viết ngay sau Cách mạng tháng Tám nhưng dang dở và thất lạc bản thảo. Sau khi hòa bình lập lại (1954), ông dựa vào một phần cốt truyện cũ để viết truyện ngắn này.</p><p><br/></p><p><em>Nội dung</em></p><ul><li><p>Tình cảnh thê thảm của người nông dân VIệt Nam trong nạn đói khủng khiếp năm 1945. Nạn đói năm ấy đã trở thành một thời kì đen tối trong lịch sử của dân tộc ta bởi hơn 2 triệu đồng bào đã bị cướp đi sinh mạng.</p></li><li><p>Đó là hệ quả của những chính sách hà khắc, vô nhân tính của bọn thực dân Pháp và phát xít Nhật: Đằng thì bắt đóng thuế, đằng thì bắt nhổ lúa trồng đay. Dân ta lâm vào cảnh một cổ hai tròng áp bức do sự đê hèn, đốn mạt của thực dân Pháp</p></li><li><p>Giá trị nhân đạo</p><ul><li><p>Tố cáo tội ác của bọn thực dân, phát xít và khẳng định tội ác mà chúng đã gây ra cho mảnh đất, con người Việt Nam</p></li><li><p>Niềm cảm thương, chia sẻ của tác giả trước những đau đớn, mất mát mà người nông dân nghèo đang phải đối mặt.&nbsp;</p></li><li><p>Ca ngợi sức sống mãnh liệt, khao khát được yêu thương, được sống hạnh phúc với gia đình nhỏ và niềm tin tưởng vào một tương lai tươi sáng đang chờ đợi họ mặc cho cái chết đang đeo đuổi và có thể đến với họ bất cứ lúc nào.</p></li><li><p>Cách mạng chính là con đường đưa họ thoát khỏi cuộc sống khốn cùng này mà đến gần hơn với hi vọng, cuộc sống tốt đẹp với hình ảnh lá cờ đỏ phấp phới trong suy nghĩ của Tràng ở cuối truyện.</p></li></ul></li></ul><p><strong>Nghệ thuật</strong></p><ul><li><p>Cách xây dựng tình huống truyện độc đáo, đầy éo le nhưng nhờ thế mà các nhân vật của Kim Lân xuất hiện mà bộc lộ hết những phẩm chất tốt đẹp của mình.</p></li><li><p>Nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn, không kịch tính nhưng sự sắp xếp các chi tiết gây được sự hứng thú, tò mò cho người đọc.</p></li><li><p>Bút pháp miêu tả tâm lí, thế giới nội tâm nhân vật tinh tế</p></li><li><p>Ngôn ngữ gần gũi, giản dị, mộc mạc mang đậm dấu ấn của vùng nông thôn Bắc Bộ - một trong những đặc trưng trong phong cách sáng tác của Kim Lân</p></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 09:41:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829388687</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đoan Trang</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829388689</link>
         <description><![CDATA[<p>a. Lai lịch, xuất thân và hoàn cảnh của thị</p><p>- Không có quê hương gia đình →&nbsp;nạn đói năm 1945 đã khiến biết bao con người bị dứt khỏi quê hương, gia đình.</p><p>- Tên tuổi cũng không có và qua tên gọi “vợ nhặt” à cho thấy sự rẻ rúng của con người trong cảnh đói.</p><p>-&nbsp;Hoàn cảnh:</p><p>+ Không việc làm cụ thể, cuộc sống bấp bênh, bị nạn đói dồn dập đẩy đang trên bờ vực cái chết.</p><p>+ Cái đói quay quắt đã dồn đẩy chị, làm chị đánh mất cả sĩ diện và lòng tự trọng.</p><p>=&gt; Thị là nạn nhân của nạn đói với số phận bi thảm, đáng thương.</p><p>b. Chân dung ngoại hình của thị</p><p>- Ngoại hình:</p><p>+ Quần áo tả tơi như tổ đỉa, gầy sọp</p><p>+ Khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn hai con mắt.</p><p>+&nbsp;Cái ngực gầy lép nhô lên</p><p>=&gt; Ngoại hình không mấy dễ nhìn, là hiện thân của sự nghèo đói, khốn khổ.</p><p>- Hành động, cử chỉ</p><p>+ Lần thứ nhất,&nbsp;khi nghe câu hò vui của Tràng, thị đã vui vẻ giúp đỡ à đây chính là sự hồn nhiên vô tư của người lao động nghèo.</p><p>+ Lần thứ hai:</p><p>* Thị sưng sỉa mắng Tràng, từ chối ăn trầu để được ăn một thứ có giá trị hơn</p><p>* Khi được mời ăn tức thì ngồi sà xuống, mắt sáng lên, “ăn một chặp bốn bát bánh đúc”</p><p>* Khi nghe Tràng nói đùa “đằng ấy có về với tớ... cùng về”, thị đã theo về thật →&nbsp;Trong cái đói khổ, đó là cơ hội để thị bấu víu lấy sự sống.</p><p>=&gt; Cái đói khổ không chỉ làm biến dạng ngoại hình mà cả nhân cách con người,&nbsp;khiến người ta mất đi cả lòng tự trọng, sĩ diện và sự e thẹn, dịu dàng vốn có của người phụ nữ.</p><p>c. Phẩm chất, vẻ đẹp tâm hồn của thị</p><p>- Có khát vọng sống mãnh liệt:</p><p>+ Quyết định theo Tràng về làm vợ dù không biết về Tràng, chấp nhận theo không về không cần sính lễ vì thị sẽ không phải sống cảnh lang thang đầu đường xó chợ.</p><p>+ Khi đến nhà thấy hoàn cảnh nghèo khổ, trái ngược lời tuyên bố “rích bố cu”, thị “nén một tiếng thở dài”, dù ngao ngán nhưng vẫn chịu đựng để có cơ hội sống.</p><p>- Thị là người ý tứ và nết na:</p><p>+ Trên đường về, thị cũng rón rén e thẹn đi sau Tràng, đầu hơi cúi xuống, thị ngại ngùng cho thân phận vợ nhặt của mình.</p><p>+ Khi vừa về đến nhà, Tràng đon đả mời ngồi, chị ta cũng chỉ dám ngồi mớm ở mép giường, hai tay ôm khư khư cái thúng, thể hiện sự ý tứ khi chưa xác lập được vị trí trong gia đình.</p><p>+ Khi gặp mẹ chồng, ngoài câu chào thị chỉ cúi đầu, “hai tay vân vê tà áo đã rách bợt”, thể hiện sự lúng túng ngượng nghịu.</p><p>+ Sáng hôm sau, thị dậy sớm quét tước nhà cửa, không còn cái vẻ “chao chát, chỏng lỏn” mà hiền hậu, đúng mực.</p><p>+ Lúc ăn cháo cám, mới nhìn “mắt thị tối lại”, nhưng vẫn điềm nhiên và vào miệng thể hiện sự nể nang, ý tứ trước người mẹ chồng, không buồn làm bà buồn.</p><p>=&gt; Cái đói có thể cướp đi nhân phẩm trong khoảnh khắc nào đó chứ không vĩnh viễn cướp đi được tâm hồn con người.</p><p>- Thị còn là người có niềm tin vào tương lai: kể chuyện phá kho thóc trên Thái Nguyên, Bắc Giang để thắp lên hi vọng cho cả gia đình, đặc biệt là cho Tràng.</p><p>=&gt;&nbsp;<em>Nhận xét chung</em>:&nbsp;Nhân vật người vợ nhặt&nbsp;là nhân vật thể hiện giá trị hiện thực và nhân đạo trong tác phẩm, tiêu biểu cho những người nghèo khổ, khốn cùng bị cái đói, cái chết đe dọa, dồn đẩy đến bước đường cùng. Thị&nbsp;luôn khao khát hạnh phúc gia đình,&nbsp;đem đến làn gió tươi sáng, ấm áp cho gia đình anh Tràng và cả người dân ở xóm ngụ cư trong hoàn cảnh bi đát nhất.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 09:41:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829388689</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thu Phương (｡•̀ᴗ-)✧</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829389224</link>
         <description><![CDATA[<p><br></p><p>I. Tìm hiểu chung</p><p>1. Tác giả: Kim Lân(1920-2007)</p><p>- Thế giới nghệ thuật của ông thường là khung cảnh nông thôn, hình tượng người nông dân.</p><p>- Là nhà văn một lòng một dạ đi về với "đất", với "người" với "thuần hậu nguyên thủy" của cuộc sống nông thôn.</p><p>- Nhận giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật năm 2001.</p><p>2. Tác phẩm</p><p>a. Xuất xứ: Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân in trong tập truyện "Con chó xấu xí"(1962)</p><p>b. Hoàn cảnh sáng tác: Tiền thân của truyện ngắn này là tiểu thuyết"Xóm ngụ cư" được viết ngay sau Cách mạng tháng Tám nhưng dang dở và bị mất bản thảo. Sau khi hoà bình lập lại(1954),Kim Lân dựa vào một phần cốt truyện cũ để viết truyện ngắn này.</p><p>c. Ý nghĩa nhan đề:</p><p>- Thâu tóm giá trị nội dung tư tưởng của tác phẩm.</p><p>- Từ nhan đề, ta thấy thân phận con người bị rẻ rúng như cái rơm, cái rác có thể nhặt ở bất kì đâu,bất kì lúc nào. Người ta hỏi vợ, cưới vợ còn ở đây Tràng nhặt vợ.</p><p>- Đây thực chất là sự khốn cùng của hoàn cảnh.</p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 09:42:47 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829389224</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thanh Loan</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829389230</link>
         <description><![CDATA[<p>a. Số phận, cảnh ngộ</p><p>- Hoàn cảnh gia đình: là dân ngụ cư bị khinh bỉ, cha mất sớm, kiếm sống bằng nghề đánh xe bò nuôi mẹ già, nhà ở tồi tàn, cuộc sống bấp bênh,...→&nbsp;Nạn nhân của nạn đói bị đẩy đến miệng vực của cái chết.</p><p>- Hoàn cảnh bản thân:</p><p>+ Ngoại hình thô kệch: dáng người vập vạp, thân hình to lớn, tấm lưng to rộng như lưng gấu, hai con mắt nhỏ tí, gà gà quai hàm bạnh ra, cái đầu trọc, dáng đi chúi về phía trước.</p><p>+ Tính cách thô mộc, ngộc nghệch: gần gũi, thân thiết với dân làng và trẻ nhỏ, hay bông đùa với lũ trẻ con rồi ngửa mặt lên trời cười hềnh hệch…, đôn hậu, vui vẻ, tốt bụng, thường nói&nbsp;cộc lốc, ngắn gọn thiếu tình cảm, không biết an ủi, chia sẻ.</p><p>b. Vẻ đẹp tâm hồn Tràng qua tâm trạng và hành động</p><p>* Gặp gỡ và quyết định</p><p>- Lần gặp 1: Lời hò của Tràng chỉ là lời nói đùa của người lao động chứ không có tình ý gì với cô gái đẩy xe cùng mình.</p><p>- Lần gặp 2:</p><p>+ Khi bị cô gái mắng, Tràng chỉ cười toét miệng và mời cô ta ăn dù không dư dả gì&nbsp;à Đó là hành động của người nông dân hiền lành tốt bụng.</p><p>+ Khi người đàn bà quyết định theo mình về: Tràng trợn nghĩ về việc đèo bòng thêm miệng ăn, nhưng rồi tặc lưỡi “chậc, kệ”. à Đây không phải quyết định của kẻ bồng bột mà là thái độ dũng cảm, chấp nhận hoàn cảnh, khát khao hạnh phúc, thương yêu người cùng cảnh ngộ.</p><p>+ Đưa người đàn bà lên chợ tỉnh mua đồ à Sự nghiêm túc, chu đáo của Tràng trước quyết định lấy vợ.</p><p>* Trên đường về nhà</p><p>- Vẻ mặt “có cái gì phơn phởn khác thường”, “tủm tỉm cười một mình”, “cảm thấy vênh vênh tự đắc”,... →&nbsp;Tâm trạng hạnh phúc, hãnh diện.</p><p>- Mua dầu về thắp để khi thị về nhà mình căn nhà trở nên sáng sủa.</p><p>* Khi về đến nhà</p><p>- Xăm xăm bước vào dọn dẹp sơ qua, thanh minh về sự bừa bộn vì thiếu bàn tay của đàn bà →&nbsp;Hành động ngượng nghịu nhưng chân thật, mộc mạc.</p><p>- Khi bà cụ Tứ chưa về, Tràng có cảm giác “sờ sợ” vì lo rằng người vợ sẽ bỏ đi vì&nbsp;gia cảnh quá khó khăn, sợ hạnh phúc sẽ tuột khỏi tay.</p><p>- Sốt ruột chờ mong bà cụ Tứ về để thưa chuyện vì trong cảnh đói khổ vẫn phải nghĩ đến quyết định của mẹ →&nbsp;Biểu hiện của đứa con biết lễ nghĩa.</p><p>- Khi bà cụ Tứ về: thưa chuyện một cách trịnh trọng, biện minh lí do lấy vợ là “phải duyên”, căng thẳng mong mẹ vun đắp. Khi bà cụ Tứ tỏ ý mừng lòng Tràng thở phào, ngực nhẹ hẳn đi.</p><p>* Sáng hôm sau khi tỉnh dậy</p><p>- Tràng nhận thấy sự thay đổi kì lạ của ngôi nhà (sân vườn, ang nước, quần áo,...), Tràng nhận ra vai trò&nbsp;và vị trí của người đàn bà trong gia đình. Cũng thấy mình trưởng thành hơn.</p><p>- Lúc ăn cơm trong suy nghĩ của Tràng là hình ảnh đám người đói và lá cờ bay phấp phới. Đó là hình ảnh báo hiệu sự đổi đời, con đường đi mới.</p><p>=&gt; Từ khi nhặt được vợ, nhân vật Tràng&nbsp;đã có sự biến đổi theo chiều hướng tốt đẹp. Qua sự biến đổi này, nhà văn ca ngợi vẻ đẹp của những con người trong cái đói.</p><p>=&gt;&nbsp;Tràng là người&nbsp;có niềm tin, niềm lạc quan, khao khát mãnh liệt về hạnh phúc tổ ấm gia đình và tình thương giữa những con người nghèo khổ đùm bọc nhau để vượt lên tất cả, bất chấp cả cái đói và cái chết.</p><p>c. Đặc sắc nghệ thuật xây dựng nhân vật</p><p>- Đặt nhân vật vào tình huống éo le, độc đáo để nhân vật bộc lộ tâm trạng, tích cách</p><p>- Miêu tả tâm lí nhân vật, ngôn ngữ bình dị, gần gũi.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 09:42:47 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829389230</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhật Minh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829389738</link>
         <description><![CDATA[<p><br/></p><p>– Truyện đã dựng lại một cách chân thực những ngày tháng bi thảm trong lịch sử dân tộc, đó là khoảng thời gian diễn ra nạn đói năm 1945 :</p><p>+ Cái chết đeo bám, bủa vây khắp mọi nơi.</p><p>+ Dòng thác người đói vật vờ như những bóng ma.</p><p>+ Cái đói đã tràn đến xóm ngụ cư từ lúc nào.</p><p>+ Âm thanh của tiếng quạ gào lên từng hồi thê thiết.</p><p>+ Xóm ngụ cư, với những khuôn mặt hốc hác, u tối.</p><p>+ Cái đói hiện lên trong từng nếp nhà rúm ró, xẹo xệch, rách nát.</p><p>+ Cái đói hiện hình trên khuôn mặt của chị vợ nhặt.</p><p>+ Bữa cơm ngày đói trông thật thảm hại.</p><p>– Truyện phơi bày bản chất tàn bạo của thực dân Pháp và phát xít Nhận đã gây ra nạn đói năm 1945.</p><p>– Tuy nhiên, còn có một hiện thực được phản ánh trong tác phẩm: hiện thực mang tính xu thế, đó là tấm lòng của người dân khi đến với cách mạng.</p><p>3.2. Giá trị nhân đạo</p><p>+ Thái độ đồng cảm xót thương với số phận của người lao động nghèo khổ.</p><p>+ Lên án tội ác dã man của thực dân Pháp và phát xít Nhật đã gây ra nạn đói khủng khiếp.</p><p>+ Trân trọng tấm lòng nhân hậu, niềm khao khát hạnh phúc bình dị những người lao động nghèo.</p><p>+ Dự báo cho những người nghèo khổ con đường đấu</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 09:43:27 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829389738</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Hà Linh </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829389741</link>
         <description><![CDATA[<p><em>Ý nghĩa nhan đề</em></p><p>- Vợ là sự trân trọng, người vợ có vị trí trung tâm để xây dựng tổ ấm.</p><p>- Ở đây là nhặt được vợ, không phải lấy vợ đàng hoàng, có ăn hỏi cưới xin mà như nhặt được đồ vật người ta đánh rơi hay quên.</p><p>→ Cái giá con người trở nên rẻ rúng. Đồng thời cũng cho thấy trong hoàn cảnh khốn cùng con người ta vẫn luôn khao khát được sống hạnh phúc, niềm tin cuộc sống trong họ thật mãnh liệt.</p><p><br/></p><p><em> Ý nghĩa tình huống truyện</em></p><p>- <em>Vợ nhặt</em> đã xây dựng được một tình huống truyện éo le, độc đáo, đau xót thấm đẫm tình người:</p><p>+ Anh Tràng - con nhà nghèo, xấu xí, ngây ngô, dân xóm ngụ cư bỗng dưng có vợ theo về mà lại là vợ nhặt trên đường trên chợ.</p><p>+ Việc Tràng có vợ khiến cả người dân xóm ngụ cư, bà cụ Tứ (mẹ Tràng) và cả chính Tràng cũng ngạc nhiên.</p><p>- Tình huống truyện là lời tố cáo chế độ thực dân, phát xít đã đẩy con người vào hoàn cảnh khốn cùng, đồng thời mang giá trị nhân bản sâu sa dù hoàn cảnh bi thảm đến đâu con người ta vẫn khao khát hạnh phúc, vẫn hướng về ánh sáng và tin tưởng vào tương lai.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 09:43:27 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829389741</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Minh Hiếu </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829390688</link>
         <description><![CDATA[<ol><li><p><strong>Tác giả Kim Lân</strong></p><ul><li><p>Kim Lân sinh năm 1920, mất năm 2007.</p></li><li><p>Tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài.</p></li><li><p>Quê quán: làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh</p></li><li><p>Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, Kim Lân chỉ được học hết tiểu học, rồi vừa học vừa làm thợ sơn guốc, khắc tranh bình phong và viết văn. Đây là yếu tố có ảnh hưởng lớn đến phong cách sáng tác thơ văn của ông sau này.</p></li><li><p>Năm 1944, ông tham gia vào Hội Văn hóa cứu quốc, sau đó liên tục hoạt động văn nghệ phục vụ kháng chiến và cách mạng (viết văn, làm văn, làm báo, diễn kịch, đóng phim)</p></li><li><p>Năm 2001, Kim Lân được tặng giải thưởng danh giá “Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật”</p></li><li><p>Các tác phẩm chính: Nên vợ nên chồng (tập truyện ngắn, 1955), Con chó xấu xí (tập truyện ngắn, 1962)</p></li><li><p>Phong cách nghệ thuật: Ngòi bút của Kim Lân rất chân thật, xúc động về cuộc sống và người dân quê mà ông hiểu sâu sắc cảnh ngộ và tâm lí của họ – những người gắn bó tha thiết với quê hương và cách mạng. Dù viết về phong tục hay con người, trong tác phẩm của ông vẫn thấy thấp thoáng hình ảnh cuộc sống và con người làng quê Việt Nam nghèo khổ, thiếu thốn mà vẫn yêu đời, thật thà, chất phác mà thông minh, hóm hỉnh, tài hoa</p></li></ul></li><li><p>Tác phẩm Vợ Nhặt</p><ul><li><p>Hoàn cảnh sáng tác: </p><p>“Vợ nhặt” là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân in trong tập Con chó xấu xí. Tiền thân của tác phẩm này là tiểu thuyết Xóm ngụ cư, được viết ngay sau Cách mạng tháng Tám nhưng dang dở và bị mất bản thảo. Sau khi hòa bình lập lại (năm 1954), ông dựa vào một phần truyện cũ để viết lại cốt truyện ngắn này.</p></li><li><p>Tóm tắt nội dung: </p><p>Năm 1945, nạn đói khủng khiếp đang lan tràn khắp nơi trên đất nước, khiến nhiều người chết đói và sống dật dờ như những bóng ma. Tràng là một chàng trai xấu xí thô kệch, ế vợ, sống ở một xóm ngụ cư cùng với người mẹ già. Anh làm nghề kéo xe bò thuê để kiếm sống. Một lần Tràng đi kéo xe thóc Liên đoàn lên tỉnh, anh đã quen với một cô gái chanh chua. Tuy nhiên, vài ngày sau gặp lại, Tràng không nhận ra cô gái ấy vì cô đã đói rách, tiều tụy và khác đi rất nhiều so với lần đầu gặp. Tràng đã mời cô gái đó ăn một bữa, và cô gái đã ăn bốn bát bánh đúc một lúc. Sau một câu nói nửa thật nửa đùa, cô gái đã đồng ý về làm vợ của Tràng. Sự kiện này khiến cho cả xóm ngụ cư đều ngạc nhiên, đặc biệt là bà Cụ Tứ – mẹ của Tràng – đã rất lo lắng và bàng hoàng. Tuy nhiên, bà đã hiểu ra và chấp nhận cô dâu mới của con trai mình. Trong bữa cơm đón chào cô dâu mới, bà Cụ Tứ đã dành cho cô một nồi cháo cám, tấm lòng độ lượng và bao dung của bà đã khiến cho cô cảm thấy rất ấm áp và tình cảm. Tuy nhiên, vào buổi sáng hôm sau, tiếng trống thuế dồn dập và quạ đen bay vù như mây đen. Thị đã kể lại chuyện Việt Minh phá kho thóc Nhật, và Tràng đã nhớ lại hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới hôm nào.</p></li><li><p>Bố cục 4 phần:</p><p>Phần 1 (từ đầu đến “hai tay ôm khư khư cái thúng, mặt bần thần”): Tràng dẫn thị về nhà</p><p>Phần 2 (tiếp đó đến “cùng đẩy xe bò về”): Lí giải câu chuyện Tràng nhặt được vợ</p><p>Phần 3 (tiếp đó đến “nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng”): Cuộc gặp gỡ giữa bà cụ Tứ và nàng dâu mới</p><p>Phần 4 (còn lại): Cảnh buổi sáng hôm sau khi Tràng có vợ.</p></li><li><p>Ý nghĩa nhan đề</p><p>Nhan đề của tác phẩm “Vợ Nhặt” có vẻ éo le và gợi lên sự tò mò của người đọc. Thông thường, người ta có thể nhặt những thứ khác nhau, nhưng không ai lại “nhặt” được một người vợ. Việc lập gia đình là điều thiêng liêng và phải tuân theo các phong tục truyền thống, chứ không thể đùa giỡn được.</p><p>Tuy nhiên, “nhặt vợ” trong trường hợp của anh Tràng lại có ý nghĩa rất đặc biệt. Anh đã “nhặt” được một người vợ thực sự, chỉ sau vài câu đùa cợt. Điều này cho thấy tình huống khó hiểu, tuy nhiên lại có sự thật đáng sợ về tình trạng thê thảm và thân phận tủi nhục của người nông dân nghèo trong năm 1945, khi nạn đói khủng khiếp đã lan rộng khắp cả nước.</p><p>Từ đó, tiêu đề của tác phẩm đã mở ra một cảnh ngộ éo le và thể hiện được giá trị con người bị coi thường và bị rẻ tiền trong bối cảnh khó khăn đó. Với việc “nhặt vợ”, tác phẩm đã truyền tải thông điệp về tình cảnh khốn khó của nhân dân và sự khát khao về tình yêu và hạnh phúc trong cuộc sống.</p></li></ul></li></ol>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2257897516/6d52dd735b6443650db447f70f8b556d/40E8E5E7_57EC_4D86_BAAF_B5628DD042DE.jpeg" />
         <pubDate>2023-12-19 09:44:48 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829390688</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Hà Linh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829391685</link>
         <description><![CDATA[<ul><li><p>Giới thiệu nhân vật bà cụ Tứ</p></li></ul><p>+ Là một bà mẹ nghèo khổ, goá bụa, già nua, ốm yếu, là dân ngụ cư.</p><p>+ Bà sống với con trai là một anh phụ xe nghèo</p><p>+ Ngoại hình bà: dáng đi lọng khọng, chậm chạp, run rẩy, vừa đi vừa ho húng hắng, lẩm nhẩm tính toán theo thói quen của người già.</p><ul><li><p>Diễn biến tâm trạng bà cụ Tứ</p></li></ul><p>Trước sự đon đả của đứa con trai ngờ nghệch "bà lão phấp phỏng" đó là một lâm lý bất an, phân vân, hồi hộp, "đứng sững lại"- bà cụ giật mình vì sự xuất hiện của người đàn bà mà con trai mình mang về; "hấp háy cặp mắt" là thói quen của người già, thể hiện sự ngạc nhiên và tò mò muốn nhìn rõ hơn.</p><p>Bà cụ không hề biết chuyện anh con trai đã nhặt một người vợ về, thấy người đàn bà lạ trong nhà, bà rất ngạc nhiên, tâm lí bị động trước sự việc.</p><p>- Sau khi hiểu ra:</p><p>+ Bà thương cho con trai mình phải lấy vợ nhặt</p><p>+ Bà cũng thấy hờn tủi chính mình có lỗi với con trai bởi không thể lo được chuyện lấy vợ cho con chu đáo.</p><p>+ Bà đồng cảm với người đàn bà khốn khổ cùng đường mới phải lấy con bà, thương sự ngờ nghệch của đứa con trai.</p><p>- Bà mừng vì con trai đã yên bề gia thất, chấp nhận đứa con dâu vừa được nhặt về</p><p>- Bà lo lắng cho cuộc sống của các con sau này</p><p>- Bà đối xử với nàng dâu mới bằng sự cảm thông, trân trọng:</p><p>+ Ân cần quan tâm con: "con ngồi đây....đỡ mỏi chân"</p><p>+ Nói về tương lai với niềm lạc quan "biết thế nào hở con, ai giàu ba họ ai khó ba đời"</p><p>+ Bảo ban các con làm ăn.</p><p>Bà cụ Tứ là người mẹ hiền từ, chất phác, vị tha, nhân hậu, âm thầm hi sinh vì hạnh phúc của con. Bà là nhân vật tiêu biểu cho những phẩm chất tốt đẹp của người mẹ nghèo Việt Nam.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 09:46:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829391685</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Khánh Linh </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829392297</link>
         <description><![CDATA[<p><em>Tình huống truyện : </em></p><p>Tình huống truyện đắt giá nhất trong tác phẩm "Vợ nhặt" là tình huống một anh chàng&nbsp;dân ngụ cư, xấu xí,&nbsp;nghèo khổ như Tràng lại có thể&nbsp;“nhặt” được vợ một cách ngẫu nhiên và quá dễ dàng, chỉ bằng mấy câu hát, mấy lời nói&nbsp;bông đùa “tầm phơ tầm phào” và vài&nbsp;bát bánh đúc. Hoàn cảnh mà Tràng nhặt được vợ thật quá trớ trêu:&nbsp;giữa lúc nạn đói khủng khiếp đang hoành hành, ngay cả bản thân Tràng gắng sức đi làm cũng không đủ để nuôi được bản thân và người mẹ già, nay lại có thêm một người "vợ nhặt". Thông thường, cưới được vợ là niềm vui của một gia đình, nhưng trước&nbsp;tình cảnh éo le này, việc “nhặt” được vợ tưởng chừng là niềm vui nhưng lại chưa chắc là niềm vui, Tràng không biết nên mừng hay nên lo, nên vui hay nên buồn. Đó thực sự là một tình huống truyện vô cùng độc đáo của tác phẩm.</p><p>=&gt; Ý nghĩa : không chỉ tạo ra một hoàn cảnh “có vấn đề” cho câu chuyện mà còn nén trong đó ý đồ nghệ thuật độc đáo của nhà văn đồng thời gợi mở các khía cạnh giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 09:47:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829392297</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhật Minh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829392843</link>
         <description><![CDATA[<p><br/></p><p>*Tràng là người dân lao động nghèo, “nhặt” được vợ trong thời buổi đói khát:</p><p>– Bản thân anh là dân ngụ cư, dân ăn nhờ, ở đậu.</p><p>– Tràng sống với mẹ già trong một căn nhà xiêu vẹo trên bãi đất hoang mọc lổn nhổn những búi cỏ dại.</p><p>Hoàn cảnh xuất thân : khó lấy được vợ.</p><p>– Tuy nhiên, giữa cái khung cảnh tối sầm lại vì đói khát, Tràng bỗng nhiên “nhặt” được <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="http://v%E1%BB%A3.Cu">vợ.Cu</a>ộc gặp gỡ giữa Tràng và người đàn bà không tên diễn ra thât chóng vánh chỉ qua hai lần gặp mà chỉ gặp ở đường và chợ để rồi “nên vợ, nên chồng”:</p><p>+ Lần gặp thứ nhất : Trên đường kéo xe thóc lên tỉnh, Tràng hò chơi cho đỡ mệt “Muốn….”. Không ngờ, thị ra đẩy xe cho anh và còn liếc mắt cười tít nữa. Tràng thích lắm vì từ khi cha sinh mẹ đẻ đến giờ mới có một người con gái cười với hắn tình tứ đến như thế.</p><p>+ Lần gặp thứ 2, ở quán nước ngoài chợ. Ban đầu, Tràng không nhận ra vì thị khác quá, trên khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn hai con mắt. Khi nhận ra rồi, trong lời đáp “ăn gì thì ăn, chả ăn giầu” Tràng sẵn sàng đãi thị bốn bát bánh đúc. Trong bối cảnh mà người ta lo thân không xong, ai cũng đứng trên miệng vực thẳm của cái chết hành động mà Tràng đãi thị bốn bát bánh đúc chứng tỏ rằng Tràng là một người khá tốt bụng và cởi mở. Chính sự tốt bụng và cởi mở của Tràng đã đem đến cho Tràng hạnh phúc, Tràng nói đùa với thị “Này … rồi cùng về”, nhưng thị đã theo Tràng về thật. Khi quyết định “đèo bòng” Tràng cảm thấy “chợn” nhưng “chậc kệ”</p><p>* Niềm hạnh phúc khi có vợ :</p><p>– Tràng khi đưa vợ về qua xóm ngụ cư : tâm trạng của anh hôm nay phớn phở, cười tủm tỉm, hai con mắt thì sáng lên lấp lánh, trước ánh mắt nhìn đầy tò mò và ngạc nhiên của người dân trong xóm, trước những lời xì xào bàn tán của người dân trong xóm, Tràng rất hãnh diện, rất đắc ý, mặt cứ vênh lên như thể chứng tỏ với mọi người- Tràng đã có vợ.</p><p>– Tràng khi đưa vợ về đến nhà : Hành động: xăm xăm nhấc tấm phên rách ra và câu nói “Không có người đàn bà nhà cửa ra thế đấy” ta hiểu rằng có vợ rồi người đàn ông ăn nói cục cằn kia bỗng văn hóa hẳn lên. Ánh mắt của anh đã để ý đến cô vợ nhặt và thắc mắc với lòng mình “Quái, sao nó lại buồn thế nhỉ?” Tràng sốt ruột mong ngóng mẹ về để còn ra mắt cô vợ nhặt.Khi mẹ về, sau lời giới thiệu, Tràng cũng hồi hộp, lo lắng đợi chờ câu trả lời của mẹ, và chỉ khi người mẹ nói “Các con phải duyên phải kiếp với nhau u cũng mừng lòng” Tràng mới thở đánh phào một cái.</p><p>Có thể nói, Kim Lân đã rất chú ý miêu tả diễn biến tâm trạng của Tràng từ khi có vợ. Có rất nhiều lần Kim Lân nhắc đến nụ cười của Tràng để nhấn mạnh đến niềm khát khao hạnh phúc, khát khao mái ấm gia đình để thách thức với cái đói đang tung lưới bủa vây.</p><p>– Tràng trong buổi sáng ngày hôm sau :</p><p>+ Tràng thấy mình như bước ra từ một giấc mơ, trong người “êm ái lửng lơ”.</p><p>+ Trước mặt anh mọi thứ đều thay đổi: nhà cửa sân vườn hôm nay đều được quét tước sạch sẽ; mấy chiếc quần áo rách như tổ đỉa vẫn vắt ở góc nhà đã thấy đem ra sân hong; hai cái ang nước vẫn để khô cong duới gốc cây ổi giờ đã kín nước đầy ăm ắp. Rõ ràng những cảnh tượng rất đỗi bình thường ấy cũng đã làm cho anh cảm động, hạnh phúc với anh thật giản dị.</p><p>+ Từ buổi sáng đó, anh mới thấy mình nên người. Anh nghĩ đến tương lai, đến sự sinh sôi nảy nở của hạnh phúc để rồi vui sướng, phấn chấn tràn ngập trong lòng.</p><p>+ Và người vợ nhặt của Tràng hôm nay cũng khác lắm – đó là một người đàn bà hiền hậu, đúng mực, không có vẻ gì chao chát, chỏng lỏn nữa.</p><p>+ Tràng thấy “thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng. Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng. Một nguồn vui sướng, phấn chấn tràn ngập trong lòng. Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này”. Nguồn vui ấy như tia nắng, như ánh bình minh đem sinh khí đến cho cuộc sống vốn đang ngập tràn sự chết chóc của cái đói tung lưới bủa vây.</p><p>+ Và trong bữa cơm đầu tiên, bữa cơm của 3 con người đang khốn khổ vì cái đói, tràn ngập sự đầm ấm, hoà hợp.</p><p>– Hình ảnh khép lại tác phẩm trong óc Tràng là hình ảnh lá cờ đỏ và đoàn người đói đi trên đê Sộp, gợi cho người đọc nghĩ về Việt Minh, về Cách mạng tháng Tám vĩ đại, về sự vùng dậy của những người dân khốn khổ, đập tan xiềng xích, giành lại cơm áo, giành lại sự sống cho bản thân, giành lại độc lập tự do cho dân tộc. Vì thế, kết thúc của tác phẩm đã gieo vào lòng người đọc một niềm tin mãnh liệt, gieo một hạt giống hi vọng mãnh liệt vào tâm hồn Tràng, gia đình anh và tất cả bạn đọc chúng ta.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 09:47:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829392843</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Quỳnh Trang </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829392923</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Mô Tả Về Hình Tượng Nhân Vật Tràng:</strong></p><p>-Tràng là <mark>nhân vật chính trong truyện ngắn Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân</mark>. Chỉ với một vài nét chấm phá tác giả đã cho người đọc hình dung về nhân vật Tràng với hoàn cảnh sống khốn khó và ngoại hình không được ưa nhìn.</p><p><strong>Hoàn Cảnh Nhân Vật Tràng:</strong></p><p><br/></p><p>+ Hoàn cảnh xã hội: Năm 1945, nạn đói khủng khiếp xảy ra tràn lan khắp nơi, người chết như ngả rạ, người sống cũng dật dờ như những bóng ma. Cái đói khiến không gian trở nên ảm đạm, xám xịt, nặng nề. </p><p><br/></p><p>+ Hoàn cảnh gia đình: Tràng là dân ngụ cư, làm nghề đẩy xe bò, cha mất sớm, sống cùng với mẹ già, nhà ở tồi tàn, xiêu vẹo, cuộc sống bấp bênh,...</p><p><br/></p><p>+Hoàn cảnh bản thân: Tràng vốn bản tính hiền lành nhưng ngoại hình xấu xí, thô kệch, “hai con mắt nhỏ tí”, “hai bên quai hàm bạnh ra”, trí tuệ ngờ nghệch, vụng về,... Ở Tràng, người ta thấy đủ những yếu tố khiến anh không thể lấy được vợ.</p><p>=&gt; <em>Tràng là một trong những  người nông dân bình dị và  nghèo khổ lại xấu xí.</em></p><p><strong>Tình Huống Nhặt Vợ Và Tâm Trạng, Hành Động Của Tràng:</strong></p><p>-<mark>Tình huống nhặt vợ</mark>: Tràng - anh nông dân nghèo thô kệch, dân ngụ cư bỗng "nhặt" được vợ trong nạn đói khủng khiếp năm 1945. Đây là một tình huống truyện rất độc đáo, nhưng lại là tiền đề cho câu chuyện diễn ra tự nhiên.</p><p>-<mark>Hành động của Tràng</mark>:</p><ul><li><p>Lần gặp 1: lời hò của Tràng chỉ là lời nói đùa của người lao động chứ không có tình ý gì với cô gái đẩy xe cùng mình.</p></li></ul><p><br/></p><ul><li><p>Lần gặp 2:</p></li></ul><p><br/></p><p>Khi bị cô gái mắng, Tràng chỉ cười toét miệng và mời cô ta ăn dù không dư dả gì. Đó là hành động của người nông dân hiền lành tốt bụng.</p><p>Khi người đàn bà quyết định theo mình về: Tràng trợn nghĩ về việc đèo bòng thêm miệng ăn, nhưng rồi tặc lưỡi “chậc, kệ”. Đây không phải quyết định của kẻ bồng bột mà là thái độ dũng cảm, chấp nhận hoàn cảnh, khát khao hạnh phúc, thương yêu người cùng cảnh ngộ.</p><p>+ Đưa người đàn bà lên chợ tỉnh mua đồ: diễn tả sự nghiêm túc, chu đáo của Tràng trước quyết định lấy vợ.</p><p><br/></p><p>=&gt; Trong cái nạn đói khủng khiếp của năm 1945, người ta nuôi thân còn chả xong vậy mà trong cái đói khổ ấy Tràng lại đem về một người vợ.</p><p><br/></p><p>-<mark>Tâm trạng và hành động của Tràng</mark>:</p><p><br/></p><ul><li><p>Lúc đầu Tràng tỏ ra lo lắng trước cảnh nghèo “… thóc gạo này mà còn đèo bòng” sau cũng tặc lưỡi "chậc, kệ".</p></li></ul><p><br/></p><ul><li><p> Trên đường về:</p></li></ul><p><br/></p><p>Vẻ mặt “có cái gì phơn phởn khác thường”</p><p>“tủm tỉm cười một mình”, “cảm thấy vênh vênh tự đắc”,... -&gt; hạnh phúc, hãnh diện.</p><p>Mua dầu về thắp để khi thị về nhà mình căn nhà trở nên sáng sủa.</p><p>+ Khi về đến nhà:</p><p><br/></p><p>Xăm xăm bước vào dọn dẹp sơ qua, thanh minh về sự bừa bộn vì thiếu bàn tay của đàn bà -&gt; Hành động ngượng nghịu nhưng chân thật, mộc mạc.</p><p>Khi bà cụ Tứ chưa về, Tràng có cảm giác “sờ sợ” vì lo rằng người vợ sẽ bỏ đi vì gia cảnh quá khó khăn, sợ hạnh phúc sẽ tuột khỏi tay.</p><p>Sốt ruột chờ mong bà cụ Tứ về để thưa chuyện vì trong cảnh đói khổ vẫn phải nghĩ đến quyết định của mẹ. -&gt; <mark>Biểu hiện của đứa con biết lễ nghĩa.</mark></p><p>Khi bà cụ Tứ về: thưa chuyện một cách trịnh trọng, biện minh lí do lấy vợ là “phải duyên”, căng thẳng mong mẹ vun đắp. Khi bà cụ Tứ tỏ ý mừng lòng Tràng thở phào, ngực nhẹ hẳn đi.</p><p>⇒ <mark>Từ khi nhặt được vợ, nhân vật Tràng đã có sự biến đổi theo chiều hướng tích cực: hào phóng, quên đi hết những cay cực tăm tối trên đời, chấp nhận cuộc sống khốn khó cùng vợ vượt qua tất cả, tin tưởng hạnh phúc sẽ tới.</mark></p><p><strong>Kết Lại :</strong> Nhân vật Tràng cho thấy dù trong hoàn cảnh như thế nào cùng quẫn hay  đói khát, nhưng Tràng – đại diện cho người lao động nghèo vẫn khao khát tình yêu và  hạnh phúc gia đình , lấp lánh niềm tin vào cuộc sống, tương lai phía trước.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 09:47:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829392923</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Minh Đức</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829393747</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>I. Tác giả</strong></p><p><br/></p><p><br/></p><p><br/></p><p><br/></p><p>- Kim Lân (1920-2007) tên khai sinh Nguyễn Văn Tài.</p><p>- Quê quán: Tân Hồng - Từ Sơn - Bắc Ninh.</p><p>- Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông chỉ học hết tiểu học, rồi vừa làm thợ sơn guốc, khắc tranh bình phong, vừa viết văn.</p><p>- Năm 1944, Kim Lân tham gia Hội văn hóa cứu quốc.</p><p>- Sau đó liên tục hoạt động văn nghệ phục vụ kháng chiến và cách mạng (viết văn, làm báo, diễn kịch, đóng phim).</p><p>- Ông bắt đầu sáng tác từ trước 1945. Tập trung vào mảng đề tài người nông dân và nông thông Bắc Bộ.</p><p>- Có biệt tài miêu tả tâm lí nhân vật; văn phong giản dị nhưng gợi cảm, hấp dẫn; ngôn ngữ sống động, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày và mang đậm màu sắc nông thôn; am hiểu và gắn bó sâu sắc về phong tục và đời sống làng quê Bắc Bộ.</p><p>- Các tác phẩm chính của ông: Nên vợ nên chồng (tập truyện ngắn, 1955), Con chó xấu xí (tập truyện ngắn, 1962), Tuyển tập Kim Lân (1996).</p><p>- Năm 2001, ông được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật.</p><p><br/></p><p><br/></p><p><strong>II. Tác phẩm</strong></p><p><br/></p><p><br/></p><p><br/></p><p><br/></p><p>A)Thể loại</p><p>Vợ nhặt thuộc thể loại truyện ngắn</p><p>B)Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác</p><p>- Truyện ngắn Vợ nhặt viết về nạn đói năm Ất Dậu (1945). Tiền thân của truyện ngắn này là tiểu thuyết Xóm ngụ cư mà Kim Lân viết ngay sau Cách mạng tháng Tám. Tuy nhiên, bản thảo tiểu thuyết còn dang dở và bị thất lạc. Sau đó, tác giả đã dựa vào cốt truyện của tiểu thuyết này để viết về truyện ngắn Vợ nhặt.</p><p>- Về truyện ngắn này, Kim Lân đã tâm sự: “Khi viết về nạn đói, người ta thường viết về sự khốn cùng và bi thảm,… Tôi muốn truyện ngắn với ý khác. Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng, tin tưởng ở tương lai. Họ vẫn muốn sống, sống cho ra con người”.</p><p>- Truyện ngắn Vợ nhặt được in trong tập Con chó xấu xí 1962.</p><p><br/></p><p><br/></p><p>C)Phương thức biểu đạt</p><p>Văn bản Vợ nhặt có phương thức biểu đạt là tự sự</p><p>D)Người kể chuyện</p><p>Văn bản Vợ nhặt được kể theo ngôi thứ ba.</p><p>E)Tóm tắt văn bản Vợ nhặt</p><p>Tràng là một người đàn ông nghèo khổ, cơ cực ở xóm ngụ cư. Một ngày kia, trong buổi chiều, trong không khí thê thảm, ảm đạm vì đói, Tràng dẫn về một người phụ nữ. Đó là vợ anh – người vợ nhặt. Tràng đã bắt gặp vợ tương lai của mình đang cảnh đói rách, mời ăn bốn bát bánh đúc kèm theo lời nói đùa vui. Bà mẹ già của Tràng đón nhận người đàn bà khốn khổ ấy làm con dâu trong mối đau đớn và thương cảm. Tràng cảm thấy con người mình đổi khác. Từ chút đùa đến thoáng lo, bây giờ Tràng thấy niềm vui thành người có trách nhiệm, dù đêm đầu tiên của đôi vợ chồng qua đi trong không khí khét lẹt mùi chết chóc và tiếng hờ khóc ai oán.</p><p>Bà mẹ nghèo đãi hai con ít cháo và nồi chè đặc biệt. Miếng cám chát bứ, nghẹn cổ nhưng Tràng vẫn cùng vợ hướng về một cuộc sống đổi khác. Trong óc anh hiện ra đám người đói phá kho thóc và lá cờ đỏ bay phất phới.</p><p><br/></p><p>F) Gtri nội dung + nghệ thuật</p><p>*Giá trị nội dung</p><p>Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân không chỉ miêu tả tình cảnh thê thảm của người nông dân nước ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945 mà còn thể hiện đưuọc bản chất tốt đẹp và sức sống kì diệu của họ: ngay trên bờ vực của chết, họ vẫn hướng về sự sống, khát khao tổ ấm gia đình và thương yêu, đùm bọc lẫn nhau.</p><p>*Giá trị nghệ thuật</p><p>- Xây dựng tình huống truyện độc đáo, tự nhiên, kết hợp nhuần nhuyễn hai yếu tố hiện thực và nhân đạo.</p><p>- Bút pháp phân tích tâm lí nhân vật tinh tế, sâu sắc.</p><p>- Nghệ thuật đối thoại, độc thoại nội tâm làm nổi rõ tâm lí của từng nhân vật.</p><p>- Ngôn ngữ kể chuyện phong phú, cách kể chuyện gần gũi, tự nhiên.</p><p>- Kết cấu truyện đặc sắc.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 09:49:08 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829393747</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Ngọc Linh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829394778</link>
         <description><![CDATA[<p>Tình huống truyện đắt giá nhất trong tác phẩm "Vợ nhặt" là tình huống một anh chàng&nbsp;dân ngụ cư, xấu xí,&nbsp;nghèo khổ như Tràng lại có thể&nbsp;“nhặt” được vợ một cách ngẫu nhiên và quá dễ dàng, chỉ bằng mấy câu hát, mấy lời nói&nbsp;bông đùa “tầm phơ tầm phào” và vài&nbsp;bát bánh đúc. Hoàn cảnh mà Tràng nhặt được vợ thật quá trớ trêu:&nbsp;giữa lúc nạn đói khủng khiếp đang hoành hành, ngay cả bản thân Tràng gắng sức đi làm cũng không đủ để nuôi được bản thân và người mẹ già, nay lại có thêm một người "vợ nhặt". Thông thường, cưới được vợ là niềm vui của một gia đình, nhưng trước&nbsp;tình cảnh éo le này, việc “nhặt” được vợ tưởng chừng là niềm vui nhưng lại chưa chắc là niềm vui, Tràng không biết nên mừng hay nên lo, nên vui hay nên buồn. Đó thực sự là một tình huống truyện vô cùng độc đáo của tác phẩm.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 09:50:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829394778</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Huỳnh Thanh Ngọc</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829394960</link>
         <description><![CDATA[<p>Chi tiết này xuất hiện trong hoàn cảnh gặp gỡ của nhân vật với Tràng ngoài chợ tỉnh, khi anh cu Tràng đang ngồi nghỉ và thị bỗng nhiên xuất hiện với một ngoại hình của một con ma đói, quần áo rách như tổ đỉa, khuôn mặt lưỡi cày xám xịt, thị gầy sọp hẳn đi , chỉ còn thấy hai con mắt . Sự biến đổi về ngoại hình ấy khiến Tràng không nhận ra người đàn bà đã đẩy xe cho mình lần trước. Thị trông nhếch nhác, tội nghiệp. Cái đói đã khiến người đàn bà không chỉ thay đổi về ngoại hình mà còn biến đổi cả nhân cách. Thị trở nên “chao chát”, “chỏng lỏn”, “chua ngoa”, “đanh đá”. Thị “cong cớn, sưng sỉa” khi giao tiếp, nói chuyện. Thị gợi ý để được ăn. Và khi được cho ăn, Thế là thị ngồi sà xuống, ăn thật. Thị cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì.”</p><p><br/></p><p>Thị phải đánh đổi cả danh dự, cái duyên của người con gái , lòng tự trọng để kiếm miếng ăn và nuôi niềm hi vọng sống…Thị đã đặt sự tồn tại của mình, miếng ăn lên trên cả nhân cách. Nhưng qua đó ta thấy nhân vật có một lòng ham sống mãnh liệt. Thị đang cố gắng bám lấy sự sống. Thị tỏ ra “đanh đá chua ngoa cũng là để bảo vệ sự sống. Sống rồi mới tính tiếp được. Và một hành động tưởng như nông nổi, dễ dãi tiếp theo là sau câu nói đùa của Tràng, thị đã đồng ý theo người đàn ông xa lạ về làm vợ. Hành động này cũng là xuất phát từ niềm ham sống mãnh liệt, thị như người sắp chết đuối cố gắng bám lấy cái phao của sự sống, với một niềm hi vọng được sống, được hạnh phúc. Cận kề bên cái chết, người đàn bà ấy không hề buông xuôi sự sống mà trái lại, thị vẫn vượt lên cái thảm đạm để hướng đến hạnh phúc, tương lai. Niềm lạc quan yêu sống của thị thật đáng quý, đáng trân trọng.</p><p><br/></p><p>Chi tiết này xuất hiện vào bữa cơm đầu tiên đón nàng dâu mới của gia đình nhà Tràng. Đọc chi tiết này ta thấy thị đã thay đổi tích cực hơn.</p><p><br/></p><p>Sáng hôm sau thị đã dậy sớm cùng mẹ chồng quét tước dọn dẹp nhà cửa cho quang quẻ, sạch sẽ.Thị cùng mẹ chồng dọn cơm. Bữa cơm ngày đói trông thật thảm hại, giữa cái mẹt rách chỉ có đĩa rau chuối thái rối và niêu cháo lõng bõng mà mỗi người chỉ được hai lưng bát là hết nhẵn. Bà cụ Tứ vui vẻ đon đả bưng ra một nồi cháo cám mà bà gọi vui là chè khoán để đãi nàng dâu. Tràng “chun mặt lại, miếng cám đắng chát nghẹn bứ trong cuống họng” không thể nuốt nổi.</p><p><br/></p><p>Nhưng thị đón lấy cái bát, đưa lên mắt nhìn, hai con mắt thị tối lại, Thị điềm nhiên và vào miệng..Cách ăn đó cho ta thấy thái độ chấp nhận sự nghèo khổ, khó khăn ở một gia đình mới,Thị không kêu ca, phàn nàn trước cái đói nghèo, cũng không thấy khó chịu. Vậy đằng sau nỗi vất vưởng là sự ý tứ biết điều, Thị cảm thông với những khó khăn của nhà chồng…cho nên dù phải ăn cháo cám nhưng thị vẫn vui vẻ bằng lòng.</p><p><br/></p><p>=&gt; Thị đã đem đến sinh khí mới cho gia đình Tràng, trong bữa cơm mẹ con nói chuyện vui vẻ, thị còn là người truyền tin cách mạng, đem đến cho gia đình này niềm hi vọng, niềm tin khi chia sẻ: “Trên mạn Thái Nguyên…” Sự hiểu biết của thị đã đem đến cho Tràng sự giác ngộ về con đường phía trước mà anh sẽ lựa chọn.</p><p><br/></p><p>+ Nghệ thuật xây dựng nhân vật: nhà văn đã đặt nhân vật trong tình huống truyện độc đáo, phân tích diễn biến tâm lí sâu sắc, lựa chọn chi tiết điển hình, ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, phù hợp với tính cách nhân vật.</p><p><br/></p><p>+ Ông Cảm thông, chia sẻ với thân phận rẻ rúng của con người</p><p><br/></p><p>+ Gián tiếp tố cáo tội ác thực dân, phong kiến, phát xít đối với nhân dân ta</p><p><br/></p><p>+ Niềm tin vào nhân cách tốt đẹp của con người cùng niềm khao khát sống, hi vọng vào một tương lai tốt đẹp ở tương lai phía trước trong bối cảnh của nạn đói khủng khiếp năm 1945.</p><p><br/></p><p>=&gt; Đánh giá về tư tưởng nhân đạo của nhà văn Kim Lân qua cách xây dựng nhân vật : Thông qua nhân vật, và đặt biệt là hai chi tiết ta thấy nhà văn Kim Lân có tư tưởng nhân đạo sâu sắc. Ông luôn quan tâm đến những biến đổi tinh tế trong tâm hồn người dân nghèo để phát hiện những vẻ đẹp về nhân cách, để trân trọng nâng niu, ngợi ca họ. Qua nhân vật này , nhà văn đã thể hiện một ý nghĩa nhân văn cao đẹp. Con người Việt Nam dù sống trong hoàn cảnh khốn khổ như thế nào thì họ cũng sẽ luôn hướng về tương lai với niềm tin vào sự sống.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 09:50:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829394960</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Hà Linh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829395297</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Hoàn cảnh nhân vật Tràng:</strong></p><p>+ Hoàn cảnh xã hội: Năm 1945, nạn đói khủng khiếp xảy ra tràn lan khắp nơi, người chết như ngả rạ, người sống cũng dật dờ như những bóng ma. Cái đói khiến không gian trở nên ảm đạm, xám xịt, nặng nề.&nbsp;</p><p>+ Hoàn cảnh gia đình: Tràng là dân ngụ cư, làm nghề đẩy xe bò, cha mất sớm,&nbsp;sống cùng với mẹ già,&nbsp;nhà ở tồi tàn, xiêu vẹo,&nbsp;cuộc sống bấp bênh,...</p><p>+ Hoàn cảnh bản thân: Tràng vốn bản tính hiền lành nhưng ngoại hình xấu xí, thô kệch, “hai con mắt nhỏ tí”, “hai bên quai hàm bạnh ra”,&nbsp;trí tuệ ngờ nghệch, vụng về,... Ở Tràng, người ta thấy đủ những yếu tố khiến anh không thể lấy được vợ.</p><p>Tình huống nhặt vợ:&nbsp;Tràng -&nbsp;anh nông dân nghèo thô kệch, dân ngụ cư bỗng "nhặt"&nbsp;được vợ trong nạn đói khủng khiếp năm 1945. Đây là một tình huống truyện rất độc đáo, nhưng lại là tiền đề cho câu chuyện diễn ra tự nhiên</p><p><strong>Lần gặp 1:</strong> lời hò của Tràng chỉ là lời nói đùa của người nông dân trong lao động chứ không có tình ý gì với cô gái đẩy xe cùng mình.</p><p><strong>Lần gặp 2:</strong></p><p>• Khi bị cô gái mắng, Tràng chỉ cười toét miệng và mời cô ta ăn dù cũng chẳng nuôi nổi bản thân mình.&nbsp;Đó là hành động của người nông dân hiền lành tốt bụng trong cái hoàn cảnh đói khổ ấy.</p><p>• Khi người đàn bà quyết định theo Tràng&nbsp;về,&nbsp;Tràng trợn nghĩ về việc bản thân mình và mẹ già còn chẳng nuôi nổi, lại phải đèo bòng thêm miệng ăn, nhưng rồi tặc lưỡi "chậc, kệ". Đây không phải quyết định của kẻ bồng bột mà là thái độ dũng cảm, chấp nhận hoàn cảnh, khát khao hạnh phúc, thương yêu người cùng cảnh ngộ, bởi ngay từ đâu, Tràng cũng đã thoáng có sự&nbsp;lo lắng về việc nhà mình có thêm một miệng ăn.</p><p>⇒ Từ tình huống truyện, có thể thấy&nbsp;trong cái nạn đói khủng khiếp của năm 1945, người ta nuôi thân còn chả xong vậy mà Tràng lại đem về&nbsp;một người vợ.</p><p><strong>- Tâm trạng và hành động của Tràng:</strong></p><p>+&nbsp;Lúc đầu Tràng tỏ ra lo lắng trước cảnh nghèo, đến bản thân mình với mẹ già còn lo chưa xong, lại còn đèo bòng thêm người đàn bà. Sau cùng Tràng&nbsp;cũng tặc lưỡi "chậc, kệ".</p><p>+ Trên đường về, khi đã gạt đi sự lo lắng ban đầu, Tràng tỏ ra vui vẻ, hãnh diên lắm, khi dắt được vợ về nhà:&nbsp;Vẻ mặt "có cái gì phơn phởn khác thường"; "tủm tỉm cười một mình", "cảm thấy vênh vênh tự đắc"</p><p>+ Khi về đến nhà, Tràng tỏ ra là người đã biết vun vén cho gia đình và cũng rất mong chờ sự chấp nhận của người mẹ với mối hôn sự này:</p><p>• Xăm xăm bước vào dọn dẹp sơ qua, thanh minh về sự bừa bộn vì thiếu bàn tay của đàn bà. Đây là hành động ngượng nghịu nhưng chân thật, mộc mạc.</p><p>Khi bà cụ Tứ chưa về, Tràng có cảm giác "sờ sợ"&nbsp;vì lo rằng người vợ sẽ bỏ đi vì&nbsp;gia cảnh quá khó khăn, sợ hạnh phúc vừa có quá dễ dàng sẽ tuột khỏi tay.</p><p>• Sốt ruột chờ mong bà cụ Tứ về để thưa chuyện vì trong cảnh đói khổ vẫn phải nghĩ đến quyết định của mẹ.&nbsp;</p><p>• Khi bà cụ Tứ về: Tràng vốn là một người ngờ nghệch, vụng về, nhưng đối với chuyện "nhặt vợ", Tràng thưa chuyện một cách trịnh trọng, biện minh lí do lấy vợ là "phải duyên", chứ không phải là "nhặt được", Tràng căng thẳng mong chờ sự chấp nhận từ mẹ.&nbsp;Khi bà cụ Tứ tỏ ý chấp nhận thì&nbsp;Tràng thở phào, ngực nhẹ hẳn đi.</p><p>Sáng hôm sau khi tỉnh dậy: Tràng nhận ra vai trò&nbsp;và vị trí của người đàn bà trong gia đình và anh cũng thấy mình trưởng thành hơn nhiều lắm,&nbsp;có&nbsp;trách nhiệm hơn&nbsp;với gia đình, với mẹ, với vợ và những đứa con sau này.</p><p>⇒&nbsp;Từ khi nhặt được vợ, nhân vật Tràng đã có sự biến đổi theo chiều hướng tích cực:&nbsp;hào phóng, quên đi hết những cay cực tăm tối trên đời, chấp nhận cuộc sống khốn khó cùng vợ vượt qua tất cả,&nbsp;tin tưởng hạnh phúc sẽ tới.</p><p>- Đặc sắc nghệ thuật: Tác giả đã xây dựng tình huống truyện độc đáo và hấp dẫn, cùng với đó là ngòi bút phân tích, miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật đỉnh cao. Tác giả đã đặt nhân vật vào tình huống éo le, độc đáo để làm ngời sáng tính cách nhân vật.<br></p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 09:51:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829395297</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829395393</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>I. Tác giả văn bản Vợ nhặt</strong></p><p><br/></p><p><br/></p><p>- Kim Lân (1920-2007) tên khai sinh Nguyễn Văn Tài.</p><p>- Quê quán: Tân Hồng - Từ Sơn - Bắc Ninh.</p><p>- Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông chỉ học hết tiểu học, rồi vừa làm thợ sơn guốc, khắc tranh bình phong, vừa viết văn.</p><p>- Năm 1944, Kim Lân tham gia Hội văn hóa cứu quốc.</p><p>- Sau đó liên tục hoạt động văn nghệ phục vụ kháng chiến và cách mạng (viết văn, làm báo, diễn kịch, đóng phim).</p><p>- Ông bắt đầu sáng tác từ trước 1945. Tập trung vào mảng đề tài người nông dân và nông thông Bắc Bộ.</p><p>- Có biệt tài miêu tả tâm lí nhân vật; văn phong giản dị nhưng gợi cảm, hấp dẫn; ngôn ngữ sống động, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày và mang đậm màu sắc nông thôn; am hiểu và gắn bó sâu sắc về phong tục và đời sống làng quê Bắc Bộ.</p><p>- Các tác phẩm chính của ông: Nên vợ nên chồng (tập truyện ngắn, 1955), Con chó xấu xí (tập truyện ngắn, 1962), Tuyển tập Kim Lân (1996).</p><p>- Năm 2001, ông được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật.</p><p><strong>II. Tìm hiểu tác phẩm Vợ nhặt</strong></p><p>1. Thể loại</p><p>Vợ nhặt thuộc thể loại truyện ngắn.</p><p>2. Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác</p><p>- Truyện ngắn Vợ nhặt viết về nạn đói năm Ất Dậu (1945). Tiền thân của truyện ngắn này là tiểu thuyết Xóm ngụ cư mà Kim Lân viết ngay sau Cách mạng tháng Tám. Tuy nhiên, bản thảo tiểu thuyết còn dang dở và bị thất lạc. Sau đó, tác giả đã dựa vào cốt truyện của tiểu thuyết này để viết về truyện ngắn Vợ nhặt.</p><p>- Về truyện ngắn này, Kim Lân đã tâm sự: “Khi viết về nạn đói, người ta thường viết về sự khốn cùng và bi thảm,… Tôi muốn truyện ngắn với ý khác. Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng, tin tưởng ở tương lai. Họ vẫn muốn sống, sống cho ra con người”.</p><p>- Truyện ngắn Vợ nhặt được in trong tập Con chó xấu xí 1962.</p><p>3. Phương thức biểu đạt</p><p>Văn bản Vợ nhặt có phương thức biểu đạt là tự sự</p><p>4. Người kể chuyện</p><p>Văn bản Vợ nhặt được kể theo ngôi thứ ba</p><p>6. Bố cục văn bản Vợ nhặt</p><p>Gồm 4 phần</p><p>- Phần 1: Từ đầu đến “tự đắc với mình”: Đoạn văn kể lại việc anh Tràng dẫn người “vợ nhặt” về xóm ngụ cư</p><p>- Phần 2: Từ “Thị lẳng lặng theo hắn vào nhà” đến “rồi cùng đẩy xe bò về”: Đoạn văn kể lại câu chuyện hai người gặp nhau và cái duyên đưa họ trở thành vợ chồng.</p><p>- Phần 3: Từ “Tràng chợt đứng dừng lại” đến “nước mắt chảy dòng dòng”: Tràng giới thiệu người vợ nhặt với mẹ mình. Tâm trạng lo lắng nhưng vui mừng, phấn khởi của bà cụ Tứ trước hạnh phúc cả đời của các con.</p><p>- Phần 4: Đoạn còn lại:&nbsp;Những thay đổi tích cực của gia đình anh cu Tràng vào buổi sáng hôm sau. Niềm tin, hy vọng về sự đổi khác trong tương lai.</p><p>7. Giá trị nội dung</p><p>Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân không chỉ miêu tả tình cảnh thê thảm của người nông dân nước ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945 mà còn thể hiện đưuọc bản chất tốt đẹp và sức sống kì diệu của họ: ngay trên bờ vực của chết, họ vẫn hướng về sự sống, khát khao tổ ấm gia đình và thương yêu, đùm bọc lẫn nhau.</p><p>8. Giá trị nghệ thuật</p><p>- Xây dựng tình huống truyện độc đáo, tự nhiên, kết hợp nhuần nhuyễn hai yếu tố hiện thực và nhân đạo.</p><p>- Bút pháp phân tích tâm lí nhân vật tinh tế, sâu sắc.</p><p>- Nghệ thuật đối thoại, độc thoại nội tâm làm nổi rõ tâm lí của từng nhân vật.</p><p>- Ngôn ngữ kể chuyện phong phú, cách kể chuyện gần gũi, tự nhiên.</p><p>- Kết cấu truyện đặc sắc</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 09:51:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829395393</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhật Minh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829395721</link>
         <description><![CDATA[<p>Bà Cụ Tứ</p><p>– Nhà văn Kim Lân tâm sự: “ Phần gây xúc động lớn nhất cho tôi khi đọc lại truyện ngắn Vợ nhặt đó là đoạn bà cụ Tứ- mẹ Tràng trở về”. Thông điệp nghệ thuật về bản chất nhân đạo trong tâm hồn người Việt ở hình tượng nhân vật bà cụ Tứ đã được Kim Lân thể hiện thành công qua diến biến tâm trạng của người mẹ nghèo ấy khi nhìn thấy chị vợ nhặt xuất hiện trong nhà mình cho đến buổi sáng ngày hôm sau.</p><p>– Ngạc nhiên và bất ngờ là tâm trạng đầu tiên ở người mẹ nghèo khi lật đật theo con từ ngõ vào nhà. Từ trước đến giờ có bao giờ Tràng mong ngóng mẹ về đến thế đâu, nhất định là phải chuyện gì quan trọng, khác thường. Chân bước theo con nhưng lòng bà đang phấp phỏng. Rồi “đứng sững lại” khi bà nhìn thấy một      người phụ nữ đứng ở đầu giường con trai bà , mà lại chào bà bằng u. Ngạc nhiên đã làm cho bà lão không còn tin vào cảm giác của bà nữa, tự dưng bà lão thấy mắt mình nhoèn đi thì phải. Nhưng thực sự mắt bà không nhoèn, và tai bà cũng không đến mức điếc lác như chị vợ nhặt nghĩ ban đầu. Bà chưa thể tin, không thể tin rằng con mình lại có người theo và lại chưa bao giờ hình dung nhận dâu trong một tình cảnh trớ trêu, tội nghiệp đến thế.</p><p>– Bà lão cúi đầu nín lặng, đằng sau cái cúi đầu nín lặng ấy là dòng cảm xúc tuôn trào, là cơn bão lòng đang cuộn xoáy với tình thương con vô bờ bến. Bây giờ thì bà không chỉ biết sự việc “Nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ” như lời Tràng thưa gửi mà bà còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp của con trai mình. Bà tủi thân, tủi phận, bà so sánh người ta với mình “người ta dựng vợ gả chồng cho con những lúc nhà ăn lên làm nổi, còn mình thì…”. Bà lão chua chát, tự trách bản thân mình, càng thương con bao nhiêu bà lại càng tủi phận bấy nhiêu. Bà lão đã khóc, những giọt nước mắt hiếm hoi của người già dưới ngòi bút nhạy cảm của Kim Lân đã gieo vào lòng người đọc biết bao thương xót, tủi buồn.</p><p>Bà đã chấp nhận nàng dâu không phải chỉ bằng tình mẫu tử mà lớn hơn đó là tình người, là sự cảm thông với chị vợ nhặt từ cái nhìn của người cùng giới, cùng là phụ nữ. Câu nói đầu tiên mà bà cụ Tứ dành cho chị vợ nhặt “Ừ thôi các con phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng”, lời nói của bà như trút đi biết bao gánh nặng tâm trạng đang đè nặng trong Tràng, lời nói ấy như một sự chiêu tuyết cho giá trị của cô vợ nhặt. Câu nói ấy của bà làm cuộc hôn nhân của Tràng và thị không còn là chuyện nhặt nhau ở đường và chợ nữa mà là duyên phận. Cách nói giản dị mà chan chứa tình người quả thực đã làm ấm lòng những số phận tội nghiệp. Thị và Tràng dường như cũng sẽ ấm lòng hơn khi kinh nghiệm của một người mẹ từng trải nói “ai giàu ba họ, ai khó ba đời”. Bà động viên an ủi con trai và con dâu cùng nhau bước qua khó khăn đói khổ trước mắt mà lòng đầy thương xót.</p><p>– Nhưng sau những lời động viên ấy ta lại thấy Kim Lân để nhân vật bà cụ Tứ quay về với chính cuộc đời mình để mà lo lắng cho hạnh phúc thực tại của hai con. Điều mà bà lo không phải là “sự hợp nhau hay không hợp nhau” giữa hai người mà điều mà người mẹ ấy lo lắng đó là, cái đói đang đe dọa hạnh phúc của con bà.</p><p>Trong bóng tối, bà nghĩ về cuộc đời dài dằng dặc của đời mình, cuộc đời của những người thân để mà thấu hiểu, thương xót rồi “nghẹn lời” chỉ có dòng nước mắt chảy xuống ròng ròng.</p><p>– Hạnh phúc mới của con làm bà cụ Tứ được vui lây, bà động viên an ủi cáccon, nghĩ về một tương lai tươi sáng phía trước:</p><p>+ Khuôn mặt của bà nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, bà xăm xắn quét dọn, giẫy những búi cỏ dại nham nhở trong vườn, thu dọn nhà cửa cho quang quẻ với hy vọng đời sẽ có cơ khấm khá.</p><p>+ Trong bữa ăn đầu tiên, mâm cơm ngày đói sao thảm hại: chỉ có một lùm rau chuối thái rối, một đãi muối, một niêu cháo lõng bõng toàn nước và món chính là chè khoán – cháo cám nhưng không khí gia đình thật ấm áp, tình chồng vợ, tình mẹ con- những nguồn động lực lớn lao ấy giúp họ tăng thêm sức mạnh để vượt qua thực tại.</p><p>+ Bà cụ Tứ toàn nói chuyện của tương lai, toàn chuyện vui, chuyện sung sướng về sau. Bà lão bàn với con tính chuyện nuôi gà, ngoảnh đi ngoảnh lại sẽ có đàn gà cho mà xem. Câu chuyện của bà lão bất giác làm cho ta nhớ lại bài ca dao miền Trung- mười cái trứng. Cũng giống như tất cả những người bình dân xưa, bà lão đang gieo vào lòng các con bà niềm lạc quan, niềm tin và hi</p><p>vọng. Từ đàn gà mà có tất cả. Khát vọng sống bật lên ngay cả trong hoàn cảnh khốn cùng nhất “chớ than phận khó ai ơi- Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây”.</p><p>– Song niềm vui của bà cụ Tứ cũng thật tội nghiệp. Miếng cháo cám đắng chát và tiếng trống thúc thuế dồn dập vội vã đưa bà cụ Tứ trở về với thực tại với tiếng nói xen lẫn cả hơi thở dài trong lo lắng: “Đằng thì nó bắt giồng đay, đằng thì nó bắt đóng thuế. Giời đất này không chắc đã sống được qua được đâu các con ạ”! Và bà lại khóc, tình thương con lại hiện hình qua những giọt nước mắt lặng lẽ tuôn rơi.</p><p>Với sự thấu hiểu, với sự đồng cảm, Kim Lân đã dựng lên hình ảnh bà cụ Tứ- người mẹ thương con, nhân hậu, bao dung. Trong hoàn cảnh đói nghèo, bà vẫn dang rộng cánh tay đón nhận người con dâu mặc dù trong lòng còn nhiều xót xa, tủi cực, vẫn gieo vào lòng các con ngọn lửa sống trong hoàn cảnh tối tăm của xã hội lúc bấy giờ.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 09:51:48 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829395721</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Hương Giang</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829395856</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>a) Giới thiệu nhân vật bà cụ Tứ</strong></p><p>+ Là một bà mẹ nghèo khổ, góa bụa, già nua - ốm yếu, là dân ngụ cư (dân ở nơi khác đến, thường bị dân bản sứ coi rẻ).</p><p>+ Bà sống với anh con trai - chỉ&nbsp;là một anh phụ xe nghèo.</p><p>+ Ngoại hình: dáng đi lọng khọng, chậm chạp, run rẩy, vừa đi vừa ho húng hắng, lẩm nhẩm tính toán theo thói quen người già.</p><p><strong>b) Phân tích&nbsp;nhân vật&nbsp;bà cụ Tứ (diễn biến tâm trạng)</strong></p><p>- Trước sự đon đả của đứa con trai ngờ nghệch “bà lão phấp phỏng”&nbsp;-&gt; tâm lý bất an, phân vân hồi hộp; "đứng sững lại" - bà giật mình bởi vì sự xuất hiện của người đàn bà lạ mà con trai mang về; "hấp háy cặp mắt" - thói quen của người có tuổi - đây là hình ảnh gợi tả sự ngạc nhiên và tò mò muốn nhìn rõ hơn.</p><p>-&gt; Bà không hề hay biết chuyện anh con trai đã nhặt một người vợ về, thấy người đàn bà lạ trong nhà, bà rất ngạc nhiên, tâm lí&nbsp;bị động trước sự việc.</p><p>- Sau khi hiểu ra:</p><p>+ Bà thương, buồn tủi cho con trai phải lấy vợ nhặt</p><p>+ Bà cũng thấy hờn tủi cho chính mình, có lỗi với con trai bởi không thể lo được chuyện dựng vợ gả chồng cho con chu đáo.</p><p>+ Bà cảm thương cho người đàn bà khốn khổ cùng đường mới phải lấy con trai bà, thương cho cả sự ngờ nghệch của đứa con trai</p><p>- Bà mừng vì con trai đã yên bề gia thất, chấp nhận đứa con dâu vừa được nhặt về.</p><p>- Bà cụ Tứ dần lo lắng cho cuộc sống các con sau này</p><p>- Bà đối xử tốt với nàng dâu mới bằng sự cảm thông, trân trọng:</p><p>+ Ân cần quan tâm con: “Con ngồi đây... đỡ mỏi chân”</p><p>+ Nói về tương lai với niềm lạc quan “biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời”</p><p>+ Bảo ban các con làm ăn</p><p>=&gt; Bà cụ Tứ là người mẹ nghèo hiền từ, chất phác, vị tha, nhân hậu, âm thầm hi sinh vì hạnh phúc của con. Bà là nhân vật tiêu biểu cho những phẩm chất tốt đẹp của người mẹ nghèo Việt Nam.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 09:51:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829395856</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Linh Anh </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829398718</link>
         <description><![CDATA[<p>- Nhân vật người vợ nhặt được Kim Lâm xây dựng là một người phụ nữ&nbsp;không tên tuổi, không gốc gác, quê quán, không người thân, họ hàng.</p><p>- Tác giả&nbsp;gọi nhân vật bằng đại từ phiếm chỉ <em>"Thị", "ả", "người đàn bà"</em>&nbsp;cho thấy thân phận mờ nhạt, đáng thương của nhân vật, nhưng đây cũng là cách mà tác giả gợi đến cho người đọc hình ảnh của&nbsp;bất cứ người đàn bà khốn khổ, nghèo đói, cùng đường và liều lĩnh trong xã hội thời đó.&nbsp;</p><p>-&gt;Chỉ vài câu miêu tả ngắn ngủi, Kim Lân đã cho thấy sự hiện hình của cái đói trên khuôn mặt Thị: <em>“Áo quần tả tơi như tổ đỉa, Thị gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt.”</em> Không chỉ là hình dáng bên ngoài, đến cả vẻ dịu dàng, nữ tính thiên bẩm của người phụ nữ ở Thị cũng bị cái đói bóp méo đến thảm hại. Thị đanh đá, táo bạo đến mức trơ trẽn, thậm chí vứt bỏ liêm sỉ.</p><p><br/></p><ul><li><p><mark>Lần đầu tiên gặp Tràng</mark>, khi nghe&nbsp;câu hò&nbsp;của Tràng: "<em>Muốn ăn cơm trắng mấy giò/ Lại đây mà đẩy xe bò với anh"</em>, Thị đã vùng đứng dậy đẩy xe cho Tràng.</p></li></ul><p><br/></p><ul><li><p><mark>Ở lần gặp thứ hai</mark>, Thị sưng sỉa đến mắng Tràng vì không giữ lời hứa, Thị từ chối lời mời ăn&nbsp;trầu của Tràng&nbsp;để được ăn một thứ có giá trị hơn. Khi được mời ăn thì Thị mắt sáng lên,&nbsp;không ngại ngùng mà<em>&nbsp;"ngồi sà xuống ăn một chập bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì".</em>&nbsp;Trong con mắt của chúng ta, Thị sao mà vô duyên, trơ trẽn quá. Nhưng ôi chao, đó đâu phải bản chất của Thị, là cái đói cái&nbsp;khổ cào cấu ruột gan đã khiến Thị quên hẳn ý tứ, đánh mất đi sự e thẹn vốn có của người con gái trước mặt một người đàn ông mới quen.&nbsp;</p></li></ul><p><br/></p><ul><li><p><mark>Khi nghe Tràng nói bông đùa</mark>: "<em>Này nói đùa chứ, có về ở với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về"</em>&nbsp;mà <em>"Thị về thật"</em>. Có thể thấy,&nbsp;đến cả việc lấy chồng, theo một người đàn ông về nhà chung sống cả đời Thị cũng quyết định&nbsp;theo bản năng, dù cho&nbsp;ánh nhìn và những lời bàn tán của người dân xóm ngụ cư đang nhắm thẳng vào Thị khiến Thị xấu hổ, tủi nhục. Tuy nhiên, từ chi tiết này ta cũng có thể thấy hình ảnh một người con gái có lòng ham sống mãnh liệt. Thị đồng ý theo Tràng là để được sống chứ không phải loại đàn bà con gái lẳng lơ. Thị không cần mai mối, không cần cưới hỏi, không cần mâm cao cỗ đầy, Thị theo&nbsp;Tràng về nhà chỉ với hy vọng có miếng ăn.</p></li></ul><p><br/></p><ul><li><p><mark>Về tới nhà Tràng</mark>, thấy cái nhà vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại, trong nhà, niêu bát, xống áo vứt bừa bộn cả trên giường, dưới đất, thì chị ta không khỏi chán nản, thất vọng: <em>"Thị đảo mắt nhìn xung quanh, cái ngực gầy lép nhô lên, nén một tiếng thở dài"</em>. Hóa ra gia cảnh của anh chàng mới ban trưa còn vỗ vỗ vào túi khoe rích bố cu là thế này đây! Chị còn biết làm sao được nữa? Việc đã rồi! Thất vọng, buồn tủi, chua xót quá nên mặc cho Tràng lăng xăng, đon đả, chị ta chỉ nhếch mép cười nhạt nhẽo. Tràng mời ngồi, chị ta chỉ <em>"ngồi mớm xuống mép giường, hai tay ôm khư khư cái thúng, mặt bần thần"</em>.</p><p><br/></p></li><li><p><mark>Khi gặp bà cụ Tứ - mẹ của Tràng</mark>, Thị lại quay về dáng vẻ khép nép, e thẹn của người con gái mới về nhà chồng.&nbsp;Nếu như hôm qua, cái đói đã làm mất đi những gì là nữ tính ở chị thì hôm nay, chỉ sau một bữa ăn no, một đêm ngủ ấm dưới mái nhà bình yên thì vẻ đẹp ấy đã trở về với Thị. Thị bắt đầu vun vén cho tổ ấm của mình:&nbsp;<em>"Nhà cửa, sân vườn hôm nay đều được quét tước, thu dọn sạch sẽ, gọn gàng.Mấy chiếc quần áo rách như tổ đỉa vẫn vắt khươm mươi niên ở một góc nhà đã thấy đem ra sân hong. Hai cái ang nước vẫn để khô cong ở dưới gốc ổi đã kín nước đầy ăm ắp. Đống rác mùn tung bành ngay lối đi đã hót sạch"</em>. Thị như một cơn gió mát lành thổi vào cuộc sống u ám của hai mẹ con Tràng, khiến sự sống trở về với người, với cảnh. Sự thay đổi ấy khiến Tràng không khỏi ngạc nhiên: <em>"Tràng nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực không còn vẻ gì chao chát, chỏng lỏn như mấy lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh"</em>.&nbsp;Còn bà cụ Tứ thì <em>"nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủng beo, u ám của bà rạng rỡ hẳn lên"</em>. </p><p>-&gt;Vẻ đẹp tiềm tàng&nbsp;của người vợ nhặt này còn thể hiện qua một chi tiết rất nhỏ trong bữa cơm đầu tiên ở nhà chồng, khi được mẹ chồng đưa cho bát chè cám <em>"đắng nghét, nghẹn bứ nơi cổ họng"</em>, hai con mắt chị ta thoảng tối lại, nhưng ngay sau đó, chị điềm nhiên và vào miệng. Đây là một chi tiết rất đắt, thể hiện sự tinh tế trong nhận thức và sự khéo léo trong cách cư xử của người đàn bà tưởng chừng&nbsp;như đanh đá, trơ trẽn. Chị hiểu ra cơ sự của mẹ con Tràng nhưng chị không muốn làm mất đi niềm vui của người mẹ chồng già nua, tội nghiệp. Cuối cùng cảnh Thị kể việc ở Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế mà đi phá kho thóc của Nhật đã bộc lộ những suy nghĩ và hướng nhìn mới của Thị, người đàn bà&nbsp;này không cam chịu cuộc đời đói kém, và có lẽ trong một mai thị sẽ cùng chồng là Tràng đi phá kho thóc, theo cách mạng để giải phóng cuộc đời, tìm kiếm một tương lai tươi sáng hơn.</p></li></ul><p>=&gt;Nhân vật Thị trong truyện ngắn "Vợ nhặt" của Kim Lân là nhân vật đại diện cho hàng ngàn&nbsp;người phụ nữ nói riêng và hàng triệu người nông dân Việt Nam trong nạn đói năm 1945. Đây là một nhân chứng có ý nghĩa tố cáo, lên án tội ác tày trời của Nhật và Pháp khi&nbsp;gây ra nạn đói khủng khiếp đẩy nhân dân ta vào cảnh lầm than, không được sống đúng nghĩa là một con người. Cũng qua tác phẩm này, nhà văn Kim Lân đã khắc họa nên hình ảnh người&nbsp;vợ nhặt vô cùng&nbsp;thành công. Tác giả chú trọng khắc họa từng&nbsp;hành động, cử chỉ, nét mặt của nhân vật để người đọc hiểu được tâm lí của người phụ nữ. Nhà văn lựa chọn được những chi tiết rất phù hợp để bộc lộ số phận cũng như vẻ đẹp của nhân vật. Từ đó làm nổi bật lên những phẩm chất quý giá của người phụ nữ Việt Nam dù họ không có vẻ ngoài đẹp đẽ hay ở trong hoàn cảnh lầm than.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 09:55:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829398718</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Khánh Linh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829400255</link>
         <description><![CDATA[<ul><li><p><em>Giới thiệu nhân vật bà cụ Tứ</em></p></li></ul><p>+ Là một bà mẹ nghèo khổ, goá bụa, già nua, ốm yếu, là dân ngụ cư.</p><p>+ Bà sống với con trai là một anh phụ xe nghèo</p><p>+ Ngoại hình bà: dáng đi lọng khọng, chậm chạp, run rẩy, vừa đi vừa ho húng hắng, lẩm nhẩm tính toán theo thói quen của người già.</p><ul><li><p><em>Diễn biến tâm trạng bà cụ Tứ</em></p></li></ul><p>Trước sự đon đả của đứa con trai ngờ nghệch "bà lão phấp phỏng" đó là một lâm lý bất an, phân vân, hồi hộp, "đứng sững lại"- bà cụ giật mình vì sự xuất hiện của người đàn bà mà con trai mình mang về; "hấp háy cặp mắt" là thói quen của người già, thể hiện sự ngạc nhiên và tò mò muốn nhìn rõ hơn.</p><ul><li><p>Bà cụ không hề biết chuyện anh con trai đã nhặt một người vợ về, thấy người đàn bà lạ trong nhà, bà rất ngạc nhiên, tâm lí bị động trước sự việc.</p><p>- Sau khi hiểu ra:</p><p>+ Bà thương cho con trai mình phải lấy vợ nhặt</p><p>+ Bà cũng thấy hờn tủi chính mình có lỗi với con trai bởi không thể lo được chuyện lấy vợ cho con chu đáo.</p><p>+ Bà đồng cảm với người đàn bà khốn khổ cùng đường mới phải lấy con bà, thương sự ngờ nghệch của đứa con trai.</p><p>Bà mừng vì con trai đã yên bề gia thất, chấp nhận đứa con dâu vừa được nhặt về</p><p>- Bà lo lắng cho cuộc sống của các con sau này</p><p>- Bà đối xử với nàng dâu mới bằng sự cảm thông, trân trọng:</p><p>+ Ân cần quan tâm con: "con ngồi đây....đỡ mỏi chân"</p><p>+ Nói về tương lai với niềm lạc quan "biết thế nào hở con, ai giàu ba họ ai khó ba đời"</p><p>+ Bảo ban các con làm ăn.</p><p>=&gt; Bà cụ Tứ là người mẹ hiền từ, chất phác, vị tha, nhân hậu, âm thầm hi sinh vì hạnh phúc của con. Bà là nhân vật tiêu biểu cho những phẩm chất tốt đẹp của người mẹ nghèo Việt Nam.</p><p><br/></p></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 09:57:48 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829400255</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần anh khôi</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829404554</link>
         <description><![CDATA[<p>Tình huống truyện đắt giá nhất trong tác phẩm "Vợ nhặt" là tình huống một anh chàng dân ngụ cư, xấu xí, nghèo khổ như Tràng lại có thể “nhặt” được vợ một cách ngẫu nhiên và quá dễ dàng, chỉ bằng mấy câu hát, mấy lời nói bông đùa “tầm phơ tầm phào” và vài bát bánh đúc. Hoàn cảnh mà Tràng nhặt được vợ thật quá trớ trêu: giữa lúc nạn đói khủng khiếp đang hoành hành, ngay cả bản thân Tràng gắng sức đi làm cũng không đủ để nuôi được bản thân và người mẹ già, nay lại có thêm một người "vợ nhặt". Thông thường, cưới được vợ là niềm vui của một gia đình, nhưng trước tình cảnh éo le này, việc “nhặt” được vợ tưởng chừng là niềm vui nhưng lại chưa chắc là niềm vui, Tràng không biết nên mừng hay nên lo, nên vui hay nên buồn. Đó thực sự là một tình huống truyện vô cùng độc đáo của tác phẩm.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 10:03:40 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829404554</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Linh Anh </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829405084</link>
         <description><![CDATA[<p><mark>Tình huống truyện:</mark> Anh Tràng vừa nghèo, vừa xấu lại là dân ngụ cư thế mà lấy được vợ ngay giữa lúc đói khát, ranh giới giữa sự sống và cái chết hết sức mong manh.</p><p>– Tình huống lạ, độc đáo: người như Tràng mà lấy được vợ, thậm chí có vợ theo. Thời buổi đói khát này, người như Tràng nuôi thân chẳng xong mà dám lấy vợ. Chẳng phải thế mà việc Tràng có vợ đã tạo ra sự lạ lùng, ngạc nhiên với tất cả mọi người trong xóm ngụ cư, với bà cụ Tứ, thậm chí đã có những thời điểm chính Tràng cũng chẳng thể nào tin được vào điều đó.</p><p>– <mark>Ý nghĩa tình huống truyện</mark>: không chỉ tạo ra một hoàn cảnh “có vấn đề” cho câu chuyện mà còn nén trong đó ý đồ nghệ thuật độc đáo của nhà văn đồng thời gợi mở các khía cạnh giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-19 10:04:28 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/mailt8/d20vfvi5hx1ptwn7/wish/2829405084</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
