<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title> Nguy cơ xung đột, tranh chấp ở Biển Đông ( Lý thuyết ) by Châu Phạm</title>
      <link>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo</link>
      <description>Made with the strength to succeed</description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2022-05-31 13:39:52 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2022-06-17 02:16:31 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url></url>
      </image>
      <item>
         <title>18.DucHungCH30B</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2206190227</link>
         <description><![CDATA[<div>Vai trò của biển Đông đối với Việt Nam<br>- Về quân sự: Các đảo lớn, nhỏ thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tạo thành tuyến phòng thủ chiến lược cho đất liền, phát hiện, ngăn chặn từ sớm, từ xa các đợt tấn công quân sự vào đất liền từ phía đông<br>- Về kinh tế, biển Đông là cơ sở, tạo điều kiện để phát triển ngành kinh tế: đánh bắt hải sản, khai thác dầu khí, vận tải đường biển, đóng tàu, dịch vụ logistic, du lịch...<br>- Vùng thềm lục địa và ven biển còn có tiềm năng lớn về dầu khí, khí đốt, sa khoáng...mà ta chưa có đủ công nghệ để thăm dò, khai thác<br>- Về văn hoá biển Đông là cửa ngõ để giao lưu, hội nhập giữa Việt Nam và Thế giới<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-05-31 14:47:15 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2206190227</guid>
      </item>
      <item>
         <title>10. Phan Thị Bắc Hà CH30B</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2206325775</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Vai trò của biển đối với sự phát triển nhân loại:<br></strong>&nbsp;<strong>Đối với môi trường sống:</strong></div><div>Biển và đại dương đại dương chiếm khoảng 71% bề mặt Trái đất và 90% sinh quyển giúp điều chỉnh cân bằng các cực từ nhiệt độ thịnh hành trên Trái đất và làm dịu các ảnh hưởng khốc liệt của thời tiết như mưa bão, lũ, lụt, khô hạn,... Thiếu biển và đại dương, các đại lục sẽ trở thành các sa mạc khô cằn, môi trường sống của loài người. Sự bốc hơi nước của các đại dương quyết định phần lớn lượng giáng thủy mà Trái Đất nhận được, nhiệt độ nước của các đại dương cũng quyết định phần lớn khí hậu và kiểu gió trên Trái Đất.&nbsp;</div><div><strong>2.</strong>&nbsp; &nbsp; <strong>Đối với nền kinh tế:&nbsp;</strong></div><div>Kinh tế phát triển là nền tảng cho sự phát triển của các quốc gia và nhân loại: Biển đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế với các ngành như: <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_t%E1%BA%BF_h%C3%A0ng_h%E1%BA%A3i&amp;action=edit&amp;redlink=1">Kinh tế hàng hải</a> (vận tải biển và dịch vụ cảng biển); <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Khai_th%C3%A1c_th%E1%BB%A7y_s%E1%BA%A3n">Khai thác hải sản</a>; <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nu%C3%B4i_tr%E1%BB%93ng_th%E1%BB%A7y_s%E1%BA%A3n">Nuôi trồng thuỷ sản trên biển</a>; Khai thác dầu khí và tài nguyên khoáng sản biển khác; Dịch vụ và Du lịch biển); Hoạt động kinh tế sử dụng các nguồn lực từ biển (Chế biến hải sản; Chế biến dầu khí); Hoạt động kinh tế hỗ trợ hoạt động kinh tế biển&nbsp; (Đào nguồn nhân lực; Đóng và sửa chữa tàu biển; Cung cấp dịch vụ biển; <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Th%C3%B4ng_tin_li%C3%AAn_l%E1%BA%A1c_bi%E1%BB%83n&amp;action=edit&amp;redlink=1">Thông tin liên lạc biển</a>; Nghiên cứu khoa học – công nghệ biển); Một số ngành kinh tế biển mới (Nuôi trồng thủy sản trên biển; Năng lượng gió ngoài biển; Năng lượng tái tạo từ biển; Khai thác mỏ dưới đáy biển; <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_ngh%E1%BB%87_sinh_h%E1%BB%8Dc">Công nghệ sinh học</a> biển; ….</div><div>Tại Việt Nam các ngành kinh tế biển đóng góp khoảng 10% GDP cả nước, kinh tế của 28 tỉnh, thành phố ven biển ước tính đạt 65-75% GDP cả nước. Biển Đông đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cả trong lịch sử, hiện tại và tương lai. Không chỉ cung cấp nguồn thức ăn cho cư dân ven bờ từ hàng nghìn năm nay, Biển Đông còn tạo điều kiện để phát triển các ngành kinh tế và là cửa ngõ để Việt Nam có quan hệ trực tiếp với các vùng miền của đất nước, giao thương với thị trường khu vực và quốc tế, là nơi trao đổi và hội nhập của nhiều nền văn hoá.Về kinh tế, Biển Đông tạo điều kiện để Việt Nam phát triển những ngành kinh tế mũi nhọn như thủy sản, dầu khí, giao thông hàng hải, đóng tàu, du lịch...Ngoài ra, ven biển Việt Nam còn chứa đựng tiềm năng to lớn về quặng sa khoáng như than, zircon, thiếc, vàng, đất hiếm... trong đó cát nặng, cát đen là nguồn tài nguyên quý giá của đất nước. Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm ở trung tâm Biển Đông, rất thuận lợi cho việc đặt các trạm thông tin, xây dựng các trạm dừng chân và tiếp nhiên liệu cho tàu thuyền... phục vụ cho tuyến đường hàng hải trên Biển Đông.</div><div><strong>3.</strong>&nbsp; &nbsp; <strong>Đối với khoa học công nghệ:</strong></div><div>Với nhu cầu đặt ra phát triển kinh tế biển xanh, bền vững kéo theo sự tiến bộ của KHCN phát triển đúng tầm, chuyên sâu với mục đích 1) Nghiên cứu, kiểm kê, đánh giá nguồn vốn tự nhiên biển; dự báo xu thế diễn biến tài nguyên và môi trường biển trong điều kiện biến đổi khí hậu. 2) Nghiên cứu và ứng dụng các quy trình công nghệ khai thác, sử dụng tài nguyên biển ít gây tác động môi trường và hạn chế ô nhiễm biển;sử dụng các nguồn năng lượng biển tái tạo và ít tác động môi trường như nhiệt, gió, sóng, thuỷ triều và sinh khối. 3) Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng trong xử lý ô nhiễm và ứng phó sự cố môi trường, thiên tai trên biển. 4) Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp tái tạo và phục hồi<strong> </strong>tài nguyên và môi trường; mở rộng diện tích vùng biển được bảo tồn. 5)<strong> </strong>Phát triển công nghệ cao, kỹ thuậthiện đại và quy trình tiên tiến phục vụ điều tra nghiên cứu<em>, </em>khai thác hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên biển, bảo vệ môi trường.6) Đẩy mạnh giám sát và dự báothiên tai, sự cố môi trường biển bằng các thiết bị hiện đại, công nghệ cao và tăng cường năng lực cho hệ thống trạm quan trắc,phục vụ dự báo và cảnh báo các hiện tượng thời tiết bất thường trên biển. 7) Xây dựng cơ sở khoa học cho phát triển kinh tế, dịch vụ môi trường(nhấn mạnh đến xác định nguồn vốn tự nhiên biển) và xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường. 8) Nghiên cứu xây dựng các quy trình, quy chuẩn quản lý,quy định kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuậtphục vụ xâydựng các chính sách, các quy định pháp luật để sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường biển, đảo, thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng. 9) Nghiên cứu và tư vấn hỗ trợ quá trình hiện thực hóa quản lý tổng hợp biển và vùng bờ biển và quy hoạch không gian biển.<br><strong>4. Với quốc phòng - an ninh: <br></strong>Với một số quốc gia có biển,hệ thống quần đảo và đảo trên vùng biển thuận lợi cho việc xây dựng các căn cứ quân sự, điểm tựa, pháo đài, trạm gác tiền tiêu, hình thành tuyến phòng thủ nhiều tầng, nhiều lớp, với thế bố trí chiến lược hợp thế trên bờ, dưới nước, tạo điều kiện thuận lợi để bảo vệ, kiểm soát, phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia. <br>Có thể thấy Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, Châu Âu <em>- </em>Châu Á, Trung Đông <em>-</em>Châu Á. Đây được coi là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của thế giới. Mỗi ngày có khoảng 150 <em>- </em>200 tàu các loại qua lại Biển Đông. Nhiều nước và vùng lãnh thổ ở khu vực Đông Á có nền kinh tế phụ thuộc sống còn vào tuyến đường biển này như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Xin-ga-po và cả Trung Quốc. Hơn 90% lượng vận tải thương mại của thế giới thực hiện bằng đường biển và 45% trong số đó phải đi qua Biển Đông. Biển Đông có những eo biển quan trọng như eo biển Ma-lắc-ca, eo biển Đài Loan là những eo biển khá nhộn nhịp trên thế giới. Do đó, Biển Đông có vai trò hết sức quan trọng đối với tất cả các nước trong khu vực về địa - chiến lược, an ninh quốc phòng, giao thông hàng hải và kinh tế. Xét về an ninh, quốc phòng, Biển Đông đóng vai trò quan trọng là tuyến phòng thủ hướng đông của đất nước. Các đảo và quần đảo trên Biển Đông, đặc biệt là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, không chỉ có ý nghĩa trong việc kiểm soát các tuyến đường biển qua lại Biển Đông mà còn có ý nghĩa phòng thủ chiến lược quan trọng đối với Việt Nam. Việt Nam có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa rộng lớn theo Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982; có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm giữa Biển Đông và hàng nghìn đảo lớn, nhỏ, gần và xa bờ, hợp thành phòng tuyến bảo vệ, kiểm soát và làm chủ các vùng biển và thềm lục địa.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-05-31 16:13:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2206325775</guid>
      </item>
      <item>
         <title>19 Nguyễn Kiều Hưng CH30B B</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2206832213</link>
         <description><![CDATA[<div>_ vai trò của biển đông đối với Viêt Nam<br>_ Về quân sự : các đảo lớn lớn nhỏ thuộc quần đảo hoàng Sa,và trường Sa tạo thành tuyến phòng thủ chiến lược cho đất liền.Phát hiện ngăn chặn chủ động từ sớm từ xa các đợt tans công quân sự vào đất liền từ phía đông.<br>- Về kinh tế trên biển đông là cơ sở tạo điều kiện phát triển nền kinh tế khai thác đánh bắt thủy hải sản,khai thác dầu khí,vận tải đường biển,đóng tầu,dự lịch.<br>- Vùng thềm lục địa vẹn biển có tiềm năng về dầu khí,khí đốt,đã khoáng mà chúng ta chưa có đủ công nghệ để thăm dò khai thác.<br>- Về văn hoá biển đông là cửa ngõ giao thương hội nhập giữa Việt Nam và các quốc gia trên thế giới.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-01 01:35:22 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2206832213</guid>
      </item>
      <item>
         <title>05. Tạ Quang Chính</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2206862693</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1719068508/a936ac17db5c6da15bcd3c218ef6697a/Vai_tr__c_a_bi_n___i_v_i_s__ph_t_tri_n_c_c_qu_c_gia.docx" />
         <pubDate>2022-06-01 02:09:40 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2206862693</guid>
      </item>
      <item>
         <title>34. Trần Ngọc Tân CH30B </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2207443960</link>
         <description><![CDATA[<div>Trong vài năm qua, <a href="http://Bi%E1%BB%83n%20%C4%90%C3%B4ng">Biển Đông</a> đã nổi lên như một “đấu trường” cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc.</div><div>Các hành động của Trung Quốc ở vùng biển này, bao gồm các hoạt động xây dựng đảo và thiết lập căn cứ trên diện rộng tại các địa điểm mà nước này chiếm đóng ở quần đảo Trường Sa, cũng như các hành động của lực lượng hàng hải Trung Quốc nhằm khẳng định yêu sách của Bắc Kinh trước những tuyên bố chủ quyền của các nước láng giềng trong khu vực như Philippines và Việt Nam, đã khiến các nhà quan sát Mỹ ngày càng lo ngại.</div><div>Đây là khu vực có tầm quan trọng về chiến lược, chính trị và kinh tế đối với Mỹ, cũng như các đồng minh và đối tác của Washington.</div><div>Bên cạnh đó, các hành động của lực lượng hàng hải Trung Quốc tại quần đảo Senkaku/Điếu Ngư ở <a href="http://Bi%E1%BB%83n%20Hoa%20%C4%90%C3%B4ng">Biển Hoa Đông</a> cũng là một mối quan tâm khác đối với giới quan sát Mỹ.</div><div>Sự quyết đoán của Trung Quốc đối với các khu vực biển Biển Đông, Biển Hoa Đông về cơ bản có thể ảnh hưởng đến các lợi ích chiến lược, chính trị và kinh tế của Mỹ ở khu vực <a href="http://%E1%BA%A4n%20%C4%90%E1%BB%99%20D%C6%B0%C6%A1ng-Th%C3%A1i%20B%C3%ACnh%20D%C6%B0%C6%A1ng">Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương</a> và nhiều nơi khác.</div><div><strong>Mục tiêu của Mỹ là gì?<br></strong><br></div><div>Mục tiêu chung của Mỹ trong cuộc cạnh tranh chiến lược với Trung Quốc ở Biển Đông và Biển Hoa Đông.</div><div>Theo đó, các mục tiêu tiềm năng tổng thể của Mỹ có thể bao gồm:</div><div>Thứ nhất, thực hiện các cam kết an ninh của Mỹ ở Tây Thái Bình Dương, trong đó có các cam kết hiệp ước với Nhật Bản và Philippines;</div><div>Thứ hai, duy trì và củng cố cấu trúc an ninh do Mỹ lãnh đạo ở Tây Thái Bình Dương, gồm các mối quan hệ an ninh của Mỹ với các đồng minh hiệp ước và các quốc gia đối tác;</div><div>Thứ ba, duy trì cán cân quyền lực trong khu vực có lợi cho Mỹ và các đồng minh cũng như đối tác của Mỹ;</div><div>Thứ tư, bảo vệ nguyên tắc giải quyết các tranh chấp một cách hòa bình và chống lại sự nổi lên của cách tiếp cận “lẽ phải thuộc về kẻ mạnh” trong các vấn đề quốc tế;</div><div>Thứ năm, bảo vệ nguyên tắc tự do trên biển, đôi khi còn được gọi là tự do hàng hải; ngăn cản Trung Quốc trở thành bá chủ khu vực ở Đông Á;</div><div>Thứ sáu, theo đuổi những mục tiêu này như một phần trong chiến lược lớn hơn của Mỹ nhằm cạnh tranh chiến lược và quản lý các mối quan hệ với Trung Quốc.</div><div><strong>Mỹ cần làm gì ở Biển Đông?<br></strong><br></div><div>Để đạt được các mục tiêu nói trên, nhất là ở Biển Đông, Mỹ cần làm những gì?</div><div>Hải quân Mỹ cần chuẩn bị cho một cuộc chơi dài hơi bằng cách tăng cường sự hiện ở Biển Đông.</div><div>“Đây là một vấn đề vô cùng nghiêm túc. Chúng ta cần chứng minh được rằng, Mỹ hay các đồng minh sẽ không chấp nhận Trung Quốc hoặc bất kỳ quốc gia nào khác đưa ra các yêu sách hàng hải vô căn cứ”.</div><div>Mỹ cũng cần duy trì “sự hiện diện liên tục và có cân nhắc ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương”.</div><div>“Mục đích của các chiến dịch tự do hàng hải và đẩy mạnh sự hiện diện là khiến các nước chấp nhận sự hiện diện của Mỹ ở những nơi luật pháp và tiền lệ hàng hải quốc tế cho phép”.</div><div>“Mỹ cần duy trì sự hiện diện ổn định và các chiến dịch tự do hàng hải thường xuyên ở Đông Á trong thời gian dài”.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-01 12:29:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2207443960</guid>
      </item>
      <item>
         <title>02. Nguyễn Thị Kiều Anh-CH30B</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2207464664</link>
         <description><![CDATA[<div><br>Biển được mọi người hiểu là các vùng nước có diện tích lớn, rất mặn và được nối liền với các đại dương bao la, cũng như là các hồ rộng lớn mà có nguồn nước mặn, nhưng lại không có những đường nối liền ra đại dương một cách trực tiếp, dễ thấy.<br><br>Đại dương được định nghĩa là khối nước mặn tạo nên phần lớn thuỷ quyển của một hành tinh. Trên bề mặt Trái Đất, mỗi đại dương là một bộ phận quy ước của đại dương toàn cầu, gồm 4 đại dương lớn là Thái Bình Dương, Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương, Bắc Băng Dương.<br><br>Khi đó, biển và đại dương đã cung cấp cho trái đất một lượng nước rất lớn, khi đó sẽ tạo ra hơi, sinh ra mây và mưa để giúp duy trì sự sống cho loại người, giúp điều hoá khí hậu tốt nhất.<br><br>Đặc điểm của nước biển<br><br>+ Nước biển có chứa các chất muối, khí như oxi, nito, cacbonic… và chất hữu cơ có nguồn gốc động, thực vật.<br>+ Trong đó, nhiều nhất là muối khoáng, trung bình mỗi kg nước biển có 35 gam muối khoáng, trong đó 77,8% là muối NaCl, tức là muối ăn.<br>+ Tỉ lệ muối và độ muối trung bình của nước biển là 35 phần nghìn và có sự khác nhau giữa các môi trường biển và đại dương.<br><br>Về nhiệt độ của nước biển thì chúng sẽ giảm dần, tuỳ vào độ sâu đối với mặt đất liền, khi mà độ sâu đến hơn 3000m thì nhiệt độ nước biển ở đó hầu như không có thay đổi. Ngoài ra, nhiệt độ của nước biển còn tuỳ thuộc vào các màu trong năm, khi đó mùa hạ sẽ cao hơn mua đông, và nhiệt độ của nước biển cũng sẽ phụ thuộc vào vị trí của xích đạo, khi đó sẽ giảm dần từ vĩ độ thấp lên vĩ độ cao …<br><br><br><br>Vai trò của nước biển<br><br>Biển và đại dương đóng vai trò vô cùng quan trọng vào đời sống của con người, ngoài việc cung cấp lượng hơi nước vô tận cho tầng khí quyển, giúp tạo ra hơi nước -&gt; mây -&gt; mưa, giúp duy trì cuộc sống của con người cũng như tất cả các loại sinh, thực vật trên Trái Đất.<br>&nbsp;Biển và đại dương còn là kho tài nguyên vô tận vớ rất nhiều loài động và thực vật, cung cấp một lượng lớn khoáng sản, đặc biệt là dầu khí.<br>Biển và đại dương cũng là nơi mà con người dùng đễ khai thác để nghỉ dưỡng và du lịch vô cùng hấp dẫn, thu hút được đông đảo khách du lịch.<br>Tầm quan trọng của vận tải đường biển<br><br>Vận tải biển là giải pháp hữu hiệu nhất cho vận chuyển hàng hóa xuyên quốc gia. Đường biển - con đường di chuyển phù hợp với các loại hàng, sản phẩm trên thị trường hiện nay (trừ một số hàng hóa đặc biệt). Do đó, vận tải đường biển có tầm trọng trong công đoạn trao đổi, buôn bán hàng hóa nội địa và quốc tế.<br><br>- Vận chuyển hàng hóa đường biển là một trong những ngành chủ lực của Việt Nam, xuất hiện từ sớm, cùng trải qua bao thăng trầm lịch sử, góp phần hình thành vai trò chủ chốt trong sự tăng trưởng kinh tế nước ta. Hiện nay, nhiều đơn vị trang bị lượng lớn tàu hàng siêu tải trọng, công suất lớn và động cơ mạnh, chở được các mặt hàng khối lượng lớn, đa dạng chủng loại hàng.<br><br>- Về kinh tế: Vận tải biển cung cấp nguyên liệu cho các ngành sản xuất, thậm chí vận chuyển hàng hóa đi buốn bán với khu vực khác. Vận chuyển đường biển là nền tảng giúp phát triển, thúc đẩy sản xuất của các ngành, mở ra thị trường lớn cho lĩnh vực kinh doanh trong nước. Đồng thời, nó tạo điều kiện hình thành và phát triển những ngành mới, đem lại nguồn lợi khổng lồ cho ngân khố mỗi quốc gia, nhờ thu chi phí khi tàu hàng đi vào lãnh hải của nước đó.<br><br>Về xã hội: Mở ra cơ hội việc làm, đáp ứng nhu cầu tìm việc của nhiều người trong thời gian vừa qua. Từ đó, ngành vận tải biển đã giải quyết được các vấn đề nhức nhối của xã hội như thất nghiệp, đói nghèo, nhằm tạo ra xu hướng hoàn toàn mới cho người dân trong học tập và làm việc.<br><br>Về đối ngoại - đối nội: Tạo dựng con đường giao thương thuận lợi với các nước trên thế giới, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, mở rộng thị trường và mối quan hệ nhằm tăng cường sự hợp tác hữu nghị giữa các quốc gia. Riêng đối nội, vận tải nội địa góp phần quan trọng trong phương thức vận tải hàng hóa nước ta.<br><br>Về chính trị: Là cầu nối chính trị giữa các nước trên thế giới, là phương tiện đánh giá, thăm dò hiệu quả động thái của các quốc gia.<br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-01 12:47:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2207464664</guid>
      </item>
      <item>
         <title>08. Nguyễn Việt Dũng CH30B</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2207491028</link>
         <description><![CDATA[<div>Hiện nay, nhiều nước trên thế giới đã và đang coi biển đảo và đại dương là định hướng chiến lược phát triển chủ yếu với các tuyến hải vận nối liền các lục địa với nhau. Quan trọng hơn, biển còn điều hoà khí hậu trái đất, vì biển giàu tài nguyên với một khối lượng nước khổng lồ, có thể hấp thụ 70% năng lượng mặt trời, bốc hơi gần 1,5 tỷ m3 nước mỗi ngày để biến thành mưa, cung cấp nước ngọt cho trái đất. Nếu đại dương bị hủy hoại, khí hậu trái đất sẽ trở nên rất khắc nghiệt, không bảo đảm sự sống cho hành tinh. Gần đây,không chỉ các nước có biển mà cả các nước không có biển trên thế giới cũng đã và đang vươn ra biển, lấy biển là hướng mở rộng không gian sinh tồn và phát triển. Điều này đã làm cho tình hình biển, đảo xuất hiện những diễn biến phức tạp, tranh chấp chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích kinh tế trên biển, điển hình là khu vực biển Hoa Đông, Biển Đông…</div><div><strong>1. Biển đem lại rất nhiều lợi ích và là nguồn tài nguyên chiến lược</strong></div><div>Theo đánh giá của giới nghiên cứu địa chất Mỹ, thì Bắc Cực có khoảng 10% dự trữ dầu thế giới và 25% trữ lượng chưa được khám phá, tương đương khoảng 90 tỷ thùng dầu, 1.699 nghìn tỷ m3 khí đốt tự nhiên và khoảng 44 tỷ thùng khí tự nhiên dạng lỏng. Viện Hải dương học Nga cũng cho biết, khu vực hình yên ngựa trong lòng Bắc Cực chứa đến 10 tỷ tấn dầu, chưa kể nhiều loại khoáng sản quý khác như niken và kim cương. Riêng ở trung tâm biển Barents tồn tại một mỏ khí đốt đã được kiểm chứng với trữ lượng khoảng 3,7 nghìn tỷ m3 khí đốt và 31 triệu m3 khí đốt hóa lỏng, đủ để cung cấp cho EU trong 7 năm.</div><div>Biển Thái Bình Dương, Biển Đông cũng là khu vực có nguồn tài nguyên thiên nhiên rất phong phú; có khoảng 2 nghìn loài cá, trong đó có hơn 100 loài có giá trị kinh tế cao; hơn 100 loài thuộc 34 giống của 11 họ tôm. Đây là nguồn nguyên liệu dồi dào phục vụ cho ngành công nghiệp sản xuất, chế biến hải sản xuất khẩu.</div><div>Giới nghiên cứu biển quốc tế đánh giá, Biển Đông có nhiều khả năng trở thành một “Vịnh Ba Tư” thứ hai trên thế giới. Biển Đông được coi là một trong những bồn trũng chứa dầu khí lớn của thế giới, với trữ lượng dầu mỏ khoảng 213 tỷ thùng và 2 nghìn tỷ m3 khí; là tuyến đường thương mại giữa Đông Á với châu Âu, Trung Đông và châu Phi; hàng năm có hơn 80% lượng dầu mỏ thế giới vận chuyển qua đây. Biển Đông còn đóng vai trò then chốt trong cấu trúc an ninh khu vực châu Á -Thái Bình Dương - khu vực phát triển năng động nhất của thế giới trong thế kỷ XXI. Theo dự đoán của Trung Quốc, riêng khu vực Trường Sa và Hoàng Sa có khoảng 105 tỷ thùng dầu và khoảng 1 nghìn tỷ m3 khí và một trữ lượng lớn băng cháy - nguồn năng lượng mới có thể thay thế dầu khí trong tương lai. Biển Đông còn có nhiều khoáng sản quý, có giá trị trong sản xuất công nghiệp như mănggan, titan, uranium, phốt phát....</div><div>Biển Đông trở thành một vùng biển chiến lược, có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển giao thông đường biển của nhiều nước trên thế giới. Nằm trên tuyến hàng hải quan trọng nối liền Đông - Tây, có mật độ giao thông hàng hải quốc tế nhộn nhịp thứ hai thế giới. Hơn 30% lượng hàng hoá giao thương trên thế giới đi qua con đường biển này. Bên cạnh đó, Biển Đông còn có ý nghĩa chiến lược về quân sự, với 16 tuyến đường hàng hải, 12 tuyến đường hàng không quốc tế từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam, Biển Đông là khu vực án ngữ lối ra vào lục địa châu Á, có ý nghĩa chiến lược cả trong thời bình và thời chiến. Đặc biệt, trên Biển Đông có nhiều quần đảo lớn, trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, có vị trí vô cùng quan trọng. Trường Sa được xem là một căn cứ chiến lược để phòng thủ, ngăn chặn, kiểm soát tuyến đường biển. Quốc gia nào muốn đứng chân ở châu Á - Thái Bình Dương nhất thiết phải khống chế Biển Đông, bởi chiếm cứ được Biển Đông có nghĩa là chiếm cứ được Tây Thái Bình Dương nói riêng, toàn bộ khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói chung. Các nước lớn như: Mỹ, Nga, Trung Quốc… hiện đã thiết lập các căn cứ quân sự nhằm thực hiện mục tiêu địa - chính trị của mình.</div><div><strong>2. Nguy cơ cạnh tranh khai thác, khủng hoảng năng lượng, ô nhiễm môi trường&nbsp;</strong></div><div>Các nước đang phát triển và các nước không có biển cũng đang tìm cách vươn ra biển để hội nhập và phát triển kinh tế. Biển đã, đang và sẽ mang lại những nguồn lợi khổng lồ cho nhiều quốc gia, nhưng biển cũng chứa đựng những nguy cơ mất an ninh, nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp trong quan hệ quốc tế: nguy cơ cạn kiệt tài nguyên, khủng hoảng năng lượng, ô nhiễm môi trường, tranh chấp chủ quyền, không đảm bảo an toàn hàng hải...</div><div>Bắc Băng Dương là đại dương nhỏ nhất trong các đại dương, được bao phủ bởi băng tuyết, nhưng trong vòng 30 năm trở lại đây, tốc độ tan băng đã làm xuất hiện nhiều vấn đề mới như tranh chấp chủ quyền, lưu thông hàng hải, khai thác tài nguyên. Trong tương lai, những vấn trên sẽ trở nên phức tạp hơn, có thể trở thành “điểm nóng” mới. &nbsp;</div><div>Đại Tây Dương có diện tích 106 triệu km2, lớn thứ hai trên thế giới, có các biển liền kề như: biển Bantic, Địa Trung Hải, Caribe. Vẻ đẹp của biển Caribe từ lâu đã nổi tiếng toàn cầu, trở thành một địa điểm du lịch được nhiều người ưa thích. Tuy nhiên, vùng biển này cũng là khu vực hoạt động của núi lửa, động đất và những cơn bão nhiệt đới dữ dội. Đại Tây Dương còn là nơi có tình hình an ninh cơ bản ổn định.</div><div>Ấn Độ Dương nằm ở phía Nam Ấn Độ, có diện tích 75 triệu km2. Ấn Độ Dương nơi có nhiều tuyến hàng hải quan trọng vận chuyển thương mại và năng lượng cho các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, nhưng tại một số quốc gia ven bờ, tình hình an ninh hàng hải rất phức tạp, nạn cướp biển thường xuyên xảy ra, nhất là ở Somali, mũi Hảo Vọng. &nbsp;</div><div>Biển Thái Bình Dương có nhiều tuyến vận tải biển quốc tế quan trọng nối liền các đại dương, tạo cơ hội cho các nước trong khu vực này hội nhập và phát triển. Với vị trí thuận lợi đó, nên trong thời gian qua, các quốc gia ven biển Thái Bình Dương thường xuyên đối mặt với nhiều thách thức như tranh chấp chủ quyền, an ninh hàng hải, cướp biển, cạnh tranh khai thác tài nguyên, phân chia ảnh hưởng giữa các nước lớn.&nbsp;</div><div>Riêng khu vực Biển Đông, vấn đề tranh chấp chủ quyền ngày càng diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ xảy ra va chạm, xung đột. Điển hình như Philíppin đã mất quyền kiểm soát bãi cạn Scaborough trong tranh chấp với Trung Quốc; Trung Quốc mời thầu 9 lô dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đưa giàn giàn khoan Hải Dương - 981 vào tác nghiệp trái phép tại khu vực Tri Tôn (Hoàng Sa), xâm phạm nghiêm trọng vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, đẩy mạnh hoạt động tôn tạo, mở rộng, xây dựng tại các đảo đá, bãi cạn trên Biển Đông, nhất là tại khu vực Trường Sa thành các căn cứ quân sự. Biển Đông còn là khu vực có số vụ cướp biển nhiều nhất thế giới.&nbsp;</div><div><strong>3. </strong>Hiện nay, một số nước trên thế giới đang tìm cách vươn ra biển, dựa vào biển để phát triển kinh tế, thương mại, quốc phòng - an ninh. Đây là nhu cầu tất yếu khách quan. Các nước có biển, nhất là các nước lớn đều có chiến lược biển rõ ràng để phát triển thành cường quốc biển. Tùy vào điều kiện cụ thể, mỗi nước lựa chọn hướng đi riêng cho mình nhằm khai thác các lợi ích từ kinh tế biển để phát triển đất nước.</div><div>Liên bang Nga đã xác định chiến lược biển với 4 nội dung: (1) Tại biển Đại Tây Dương, Nga duy trì các lực lượng, đặc biệt là hải quân trên biển Bantic, Biển Đen, biển Azov và Địa Trung Hải nhằm bảo vệ lợi ích trong khu vực; (2) Tại biển Bắc Băng Dương, Nga đã duy trì Hạm đội Phương Bắc nhằm đảm bảo đường ra của Hải quân Nga, bảo vệ khu kinh tế, thềm lục địa giàu có và tuyến giao thông đường biển phía Bắc trong quá trình phát triển đất nước; (3) Tại Ấn Độ Dương, Nga sẽ mở rộng vận tải và đánh bắt cá trên biển, hợp tác chống cướp biển; chống khủng bố; tiến hành nghiên cứu Nam Cực; biến khu vực này thành khu vực ổn định và thân thiện với các nước láng giềng, bảo đảm sự có mặt thường xuyên của hải quân Nga tại đây; (4) Tại biển Thái Bình Dương, Nga đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội vùng Viễn Đông; phát triển thăm dò và nghiên cứu tài nguyên khoáng sản và sản vật biển tại khu vực kinh tế và thềm lục địa của Nga;&nbsp;</div><div>Mỹ cũng đã đưa ra văn kiện chiến lược biển mới phản ánh toàn diện các vấn đề liên quan đến đại dương, trong đó tập trung vào 4 điển then chốt: (1) tăng cường công tác phối hợp và lãnh đạo ở cấp quốc gia nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách biển quốc gia; (2) tăng cường tiếp cận vùng nhằm đảm bảo sự tham gia đầy đủ của nhà nước, các vùng, các bộ tộc và người dân địa phương vào việc xây dựng và triển khai chính sách biển; (3) phối hợp quản lý các vùng ngoài khơi nhằm phục vụ các hoạt động khai thác đại dương trong thời gian dài; (4) tăng cường cơ cấu tổ chức cấp liên bang nhằm đáp ứng nhanh những nhu cầu của các bang và các bên liên quan, thích hợp với phương pháp quản lý dựa trên hệ sinh thái.</div><div>Đối với Biển Đông, Mỹ cho rằng, họ có lợi ích sống còn về kinh tế và chiến lược vì Mỹ hiện đang là đối tác thương mại số 1 của Nhật Bản, số 2 của Trung Quốc và thứ 3 của ASEAN. Do những lợi ích to lớn về thương mại và kinh tế trong khu vực, nên việc bảo đảm tự do cho tàu thuyền của Mỹ và các nước trên các tuyến đường Biển Đông được Mỹ rất coi trọng.</div><div>Trung Quốc cho rằng, trong thế kỷ XXI, thế giới sẽ tập trung khai thác và tận dụng tài nguyên biển, mở rộng các ngành nghề biển và phát triển kinh tế biển quy mô lớn. Do đó, Trung Quốc xác định mục tiêu và các giai đoạn để tiến ra biển: (1) xây dựng Trung Quốc trở thành “cường quốc biển”; (2) lấy xây dựng kinh tế biển làm trung tâm, có quy hoạch tổng thể khai thác về biển, sử dụng hợp lý tài nguyên biển và thúc đẩy khai thác nguồn tài nguyên biển hợp lý, bảo vệ môi trường biển...</div><div>Ấn Độ coi biển không chỉ có tiềm năng về dầu mỏ, khí đốt, sinh vật biển, mà còn có ý nghĩa chiến lược quan trọng về quốc phòng - an ninh. Ấn Độ đã xây dựng chiến lược phát triển biển nhằm mục tiêu khai thác triệt để tài nguyên biển; đẩy mạnh thương mại biển gồm dịch vụ, vận tải, du lịch; xây dựng lực lượng hải quân có sức mạnh vượt trội trong khu vực để bảo vệ, kiểm soát khu vực Ấn Độ Dương, tạo đà mở rộng tầm hoạt động của hải quân ra nhiều vùng biển trên thế giới.</div><div>Nhật Bản cũng xây dựng chiến lược biển tập trung vào 4 nội dung cốt lõi: (1) phân định “khu vực bảo vệ mực nước thủy triều thấp” xung quanh đường cơ sở hải đảo; (2) bảo vệ và sử dụng “công trình cứ điểm” của khu vực đặc quyền kinh tế; (3) sửa đổi Đại cương phòng vệ và Kế hoạch phòng vệ trung hạn, đảm bảo xây dựng lực lượng quân sự vững mạnh phục vụ cho chiến lược biển; (4) thuyết phục Mỹ cùng hợp tác với Nhật Bản trong tranh chấp quần đảo Sekaku/Điếu Ngư với Trung Quốc.</div><div>Inđônêxia, trong chiến lược biển của mình cũng đã nêu ra 5 nội dung quan trọng: (1) hồi sinh nền văn hóa biển; (2) cải thiện quản lý các đại dương và ngành thủy sản; (3) đẩy mạnh kinh tế biển bằng cách cải thiện cơ sở hạ tầng cảng biển, ngành công nghiệp vận tải biển và du lịch biển; (4) đẩy mạnh ngoại giao biển nhằm hạn chế các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, cướp biển; (5) tăng cường phòng thủ trên biển nhằm hỗ trợ chủ quyền hàng hải, sự thịnh vượng của đất nước.&nbsp;</div><div>Thái Lan, trong chiến lược phát triển đất nước, đã đưa ra kế hoạch 4 điểm về biển: (1) cải thiện hiệu quả quản lý biển; (2) khôi phục và phục hồi các nguồn tài nguyên thiên nhiên cho việc sử dụng bền vững biển; (3) tăng cường năng lực cạnh tranh trong việc phát triển các nguồn tài nguyên thiên nhiên; (4) kiểm soát ô nhiễm và an toàn hàng hải dựa trên tiêu chuẩn quốc tế. Ngoài ra, Thái Lan còn ban hành nhiều văn kiện pháp lý khác nhằm khẳng định chủ quyền của mình trên biển.</div><div>Đối với những nước không có biển, để mở rộng hội nhập và phát triển, các nước này chủ trương tăng cường quan hệ với các nước có biển để sử dụng các cảng biển dưới hình thức thuê lại nhằm phục vụ cho các hoạt động thương mại. Tuy nhiên, một số nước có biển đã lợi dụng vấn đề này để gây sức ép với các nước không có biển, làm cho quan hệ giữa các nước này có lúc trở nên rất phức tạp.</div><div>Việt Nam là một quốc gia ven bờ Biển Đông, có các vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài phán rộng khoảng 1 triệu km2, có đường ven biển dài hàng nghìn km, có hàng nghìn đảo lớn nhỏ ven bờ, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa án ngữ trên tuyến đường hàng hải quốc tế, có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng - an ninh và phát triển kinh tế - xã hội. Vùng biển Việt Nam còn là cửa ngõ giao lưu giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới. Do đó, vấn đề bảo vệ sự toàn vẹn chủ quyền quốc gia, lợi ích dân tộc trên biển ngày càng trở nên cấp thiết.</div><div>Như vậy, biển, đảo rất giàu tiềm năng, ngày càng có vị trí quan trọng hơn trong đời sống của con người. Tuy nhiên, trong quá trình vươn ra biển đã nảy sinh nhiều mâu thuẫn về quyền lợi, gây ra những tranh chấp rất phức tạp, quyết liệt về chủ quyền và lợi ích trên biển, khiến vấn đề an ninh biển và đại dương ngày càng trở nên cấp bách.</div><div>&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-01 13:07:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2207491028</guid>
      </item>
      <item>
         <title>21. Nguyễn Tiến Huy CH30B</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2207591951</link>
         <description><![CDATA[<div>Chiến lược của Trung Quốc đối với biển Đông:<br>Từ các văn kiện Đại hội Đảng, chương trình nghị sự của chính phủ và thông tin chính thức từ phía Trung Quốc, nước này xác định Biển Đông là một phần quan trọng, cũng là điểm khởi đầu cho con đường tơ lụa trên biển. Con đường này là trọng tâm của sáng kiến Vành đai - Con đường. Sáng kiến này là một phần của giấc mơ chấn hưng Trung Quốc.</div><div>Biển Đông là một phần của chiến lược biến Trung Quốc thành một cường quốc biển. Một quốc gia muốn tiến vào vị trí trung tâm quyền lực chính trị của thế giới thì không thể không trở thành một cường quốc biển. Chính giới Bắc Kinh từ lâu cũng xem việc kiểm soát Biển Đông là một phần của việc duy trì lợi ích cốt lõi của Trung Quốc, tương tự các khu vực Tân Cương, Tây Tạng và Đài Loan. Bốn khu vực này được đặc biệt chú trọng bởi nó liên quan mật thiết đến an ninh quốc gia và ổn định chính trị của Trung Quốc nên chắc chắn Bắc Kinh sẽ không có bất kỳ nhượng bộ nào về cái gọi tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở đây, không loại trừ khả năng can thiệp quân sự nếu cần.<br>Nhằm đạt được các mục tiêu trên, hàng thập kỷ qua, Trung Quốc đã triển khai chiến lược “Chống tiếp cận/ngăn chặn xâm nhập (A2/AD)” tại Biển Đông, biển Hoa Đông và khu vực xung quanh eo biển Đài Loan.<br>Các đảo tiền đồn mang lại cho Trung Quốc ưu thế quyết định trước bất kỳ thế lực thách thức nào tại Biển Đông. Ngoài triển khai sức mạnh quân sự, các đảo này còn có nhiệm vụ tích hợp thông tin tình báo thu thập được từ các tiền đồn ở Biển Đông vào hệ thống chỉ huy đầu não của Trung Quốc ở cấp độ chiến lược.<br>Mặc dù chiến lược A2/AD phù hợp với đặc điểm địa lý của Biển Đông song nó cũng có những rủi ro lớn quá trình thực thi. Khả năng của Trung Quốc và các loại vũ khí của Trung Quốc chưa được chứng minh trong thực chiến và các binh sĩ của nước này có ít kinh nghiệm chiến đấu ngoài việc tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, chưa sẵn sàng đối mặt với một kẻ thù có kinh nghiệm, công nghệ tiên tiến như Mỹ. Tương tự như vậy, Trung Quốc khó có thể sở hữu các binh sĩ có trình độ chuyên môn cao và có khả năng theo kịp các kế hoạch phát triển quân sự của nước này cũng là những rủi ro mà Trung Quốc đang gặp phải khi triển khai.</div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-01 14:20:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2207591951</guid>
      </item>
      <item>
         <title>01. Đỗ Việt Anh CH30B</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2207639031</link>
         <description><![CDATA[<div><br>Trong khi gần một nửa dân số thế giới sống trong phạm vi 50 dặm quanh bờ biển, tất cả chúng ta đều phụ thuộc vào đại dương và các nguồn tài nguyên mà nó cung cấp, cho dù đó là thực phẩm chúng ta ăn hay oxy chúng ta hít thở. Đại dương cung cấp những lợi ích và đem lại rất nhiều giá trị cho cuộc sống của con người, nó được thể hiện cơ bản trên các mặt như sau</div><div>1. Về Thực phẩm: Hơn 3,5 tỷ người phụ thuộc vào đại dương để cung cấp nguồn thực phẩm chính. Cá cung cấp phần trăm protein lớn nhất trên thế giới mà con người tiêu thụ. Thật không may, trên đầu người, nhu cầu về hải sản đang tăng trên toàn cầu, gây áp lực ngày càng lớn lên một hệ sinh thái vốn đã mỏng manh.</div><div>2. Nước ngọt: Các đại dương trên thế giới đóng một vai trò quan trọng trong chu trình nước ngọt. Nó tạo thành những đám mây mang đến cho chúng ta mưa, giúp bổ sung nguồn cung cấp nước ngọt cho chúng ta.</div><div>3. Điều hòa khí hậu: Các đại dương ảnh hưởng mạnh mẽ đến các kiểu khí hậu và thời tiết, truyền nhiệt và điều hòa mức độ carbon dioxide trong khí quyển.</div><div>4. Năng lượng tái tạo: Các đại dương của chúng ta là nguồn năng lượng sạch, tái tạo vô giá và vô tận; từ thủy triều và hải lưu cho đến những con sóng mạnh mẽ. Chúng ta nên khai thác năng lượng này thường xuyên hơn và hiệu quả hơn.</div><div>5. Bể chứa carbon: Đại dương đóng một vai trò quan trọng trong chu trình carbon của Trái đất, loại bỏ carbon khỏi khí quyển và các lớp trên đại dương. Thực vật biển cũng hoạt động như các bể chứa carbon bằng cách cô lập carbon trong trầm tích đáy biển. Thông qua quá trình lưu trữ tự nhiên này, nó cung cấp một dịch vụ điều hòa khí hậu.</div><div>6. Không khí mà chúng ta hít thở: Các thực vật ở đại dương không chỉ tạo ra một nửa lượng oxy trên thế giới mà đại dương còn hoạt động như một “thiết bị lọc không khí” bằng cách hấp thụ gần một phần ba lượng khí thải carbon dioxide do con người gây ra.</div><div>7. Vận tải và thương mại: Vận tải biển chiếm hơn 90% thương mại toàn cầu.</div><div>8. Kinh tế: Các ngành liên quan đến đại dương như đánh cá, du lịch, vận tải, mang lại nguồn thu không thể thiếu và chỉ riêng ở Mỹ, hơn 128 tỷ đô la trong GDP hàng năm là kết quả của du lịch đại dương, giải trí và tài nguyên sống.</div><div>9. Y học: Có một đỉnh điểm nhãn trong tủ phòng tắm của bạn và bạn sẽ ngạc nhiên với vô số các sản phẩm Y sinh có nguồn gốc từ các nguồn động thực vật biển. Các thành phần từ biển có nhiều lợi ích về mặt y học và sức khỏe.</div><div>10. Giải trí và phục hồi: Những lợi ích dường như vô hình thu được từ việc dành thời gian ở bên bờ biển phần lớn là không thể đo lường được, vì chúng dường như chỉ ngấm vào chúng ta thông qua sự thẩm thấu. Ví dụ như tất cả chúng ta đều biết, việc đi dạo trên bãi biển hoặc bơi trong đại dương có tác dụng trị liệu như thế nào đối với cơ thể, tâm trí và tâm hồn…</div><div>Hầu hết chúng ta coi đại dương là điều hiển nhiên, vì nó dường như rất vững chắc, có mặt khắp nơi và không thể phá hủy. Tôi nghĩ chúng tôi đánh giá nó theo kích thước của nó - rằng nó quá lớn để bị thương. Nhưng đừng để bị lừa, những hoạt động phức tạp giữ cho đại dương và hành tinh của chúng ta ở trạng thái cân bằng cộng sinh hoàn hảo, đang đạt đến điểm bùng phát. Hãy biết ơn tất cả những gì đại dương đã làm cho chúng ta và chúng ta hãy thể hiện sự tôn trọng đối với nó. Bảo vệ và Bảo tồn.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-01 14:57:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2207639031</guid>
      </item>
      <item>
         <title>07. Bùi Quang Định - CH30B</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2207645080</link>
         <description><![CDATA[<div>Vai trò của biển với các quốc gia<br>Biển và đại dương bao phủ 71% bề mặt Trái đất, chứa đựng các nguồn tài nguyên khổng lồ mà phần lớn chưa được khai thác, có tầm quan trọng chiến lược về chính trị, quân sự, kinh tế, cũng là nơi cạnh tranh và tranh chấp giữa nhiều quốc gia. Các nhà hoạch định chiến lược của các nước lớn đều cho rằng nền kinh tế thế giới&nbsp; đang ngày càng phụ thuộc vào biển và đại dương, 75% tiềm năng công nghiệp của thế giới nằm ở khu vực rộng 500km tính từ bờ biển. Những nguồn lợi về khoáng sản, sinh học và năng lượng của biển và đại dương có một ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế và hoạt động sống còn của cả hành tinh.<br>Biển và đại dương có nhiều chức năng quan trọng liên quan tới sự sống của Trái đất. Nó hoạt động với tư cách là một cỗ máy điều hoà nhiệt độ và cỗ lò sưởi khổng lồ có tác dụng điều chỉnh cân bằng các cực từ nhiệt độ thịnh hành trên Trái đất và làm dịu các ảnh hưởng khốc liệt của thời tiết nưh mưa bão, lũ lụt, khô hạn... Thiếu biển và đại dương, các đại lục sẽ trở thành các sa mạc khô cằn, môi trường sống của loài người trên Trái đất sẽ khắc nghiệt hơn.<br>Vận tải tàu biển là trụ cột của chuỗi cung ứng toàn cầu và vì có vận tải hàng hoá, các nền kinh tế đang phát triển mới có thể xuất khẩu sản phẩm của họ ra khắp thế giới, tạo việc làm và cải thiện mức sống. Cùng với vận chuyển hàng hoá bằng đường bộ, đường hàng không, vận chuyển hàng hoá qua đường biển chiếm hơn 50% tổng số hàng hoá trên thế giới.<br>Các nhà chiến lược đánh giá thế kỷ 21 là " Thế kỷ của đại dương" vì cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế và dân số hiện nay, nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là tài nguyên không tái tạo đất liền sẽ dần bị cạn kiệt trong vài thập niên tới. Kinh tế thế giới đang ngày càng phụ thuộc vào biển và đại dương. Khoảng 70% tiềm năng công nghiệp của thế giới ở khu vực rộng lớn trải 500km tính từ bờ biển. Những nguồn lợi về khoáng sản, sinh học và năng lượng của biển và đại dương có một ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế thế giới.<br>Hệ sinh thái biển đa dạng là nguồn lợi quan trọng nhất với hàng trăm nghìn loại động, thực vật và vi sinh vật. Biển và đại dương là nguồn cung cấp đa dạng và dồi dào các loại thuỷ hải sản, hoá chất, muối, dầu khí, quặng... Năng lượng sạch từ biển, khai thác từ gió, nước biển, các dòng hải lưu, thuỷ triều đạng được khai thác phục vụ vận tải, năng lượng và vô số lợi ích khách của con người. Mặt biển và thềm lục địa là đường giao thông thuỷ có thể phát triển các hoạt động du lịch, tham quan, giải trí.<br>Biển với những quần đảo là tuyến phòng thủ vững chắc từ xa cho các quốc gia. Đối với các quốc gia có nền quốc phòng phát triển, các hạm đội có vai trò quan trọng trong sức mạnh quân sự của một quốc gia. Thông qua sức mạnh quân sự trên biể, các quốc gia đảm bảo cho kinh tế biển của quốc gia mình được duy trì và phát triển.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-01 15:01:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2207645080</guid>
      </item>
      <item>
         <title>33. Lê Thị Tâm -CH30B</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2207652850</link>
         <description><![CDATA[<div>Trong vài năm qua, Biển Đông đã nổi lên như một “đấu trường” cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc.<br><br>Các hành động của Trung Quốc ở vùng biển này, bao gồm các hoạt động xây dựng đảo và thiết lập căn cứ trên diện rộng tại các địa điểm mà nước này chiếm đóng ở quần đảo Trường Sa, cũng như các hành động của lực lượng hàng hải Trung Quốc nhằm khẳng định yêu sách của Bắc Kinh trước những tuyên bố chủ quyền của các nước láng giềng trong khu vực như Philippines và Việt Nam, đã khiến các nhà quan sát Mỹ ngày càng lo ngại.<br><br>Đây là khu vực có tầm quan trọng về chiến lược, chính trị và kinh tế đối với Mỹ, cũng như các đồng minh và đối tác của Washington.<br><br>Bên cạnh đó, các hành động của lực lượng hàng hải Trung Quốc tại quần đảo Senkaku/Điếu Ngư ở Biển Hoa Đông cũng là một mối quan tâm khác đối với giới quan sát Mỹ.<br><br>Tác giả Ronald O'Rourke nhận định, sự quyết đoán của Trung Quốc đối với các khu vực biển Biển Đông, Biển Hoa Đông về cơ bản có thể ảnh hưởng đến các lợi ích chiến lược, chính trị và kinh tế của Mỹ ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và nhiều nơi khác.<br><br>Mục tiêu của Mỹ là gì?<br><br>Tác giả bài viết đã nêu ra những mục tiêu chung của Mỹ trong cuộc cạnh tranh chiến lược với Trung Quốc ở Biển Đông và Biển Hoa Đông.<br><br>Theo đó, các mục tiêu tiềm năng tổng thể của Mỹ có thể bao gồm:<br><br>Thứ nhất, thực hiện các cam kết an ninh của Mỹ ở Tây Thái Bình Dương, trong đó có các cam kết hiệp ước với Nhật Bản và Philippines;<br><br>Thứ hai, duy trì và củng cố cấu trúc an ninh do Mỹ lãnh đạo ở Tây Thái Bình Dương, gồm các mối quan hệ an ninh của Mỹ với các đồng minh hiệp ước và các quốc gia đối tác;<br><br>Thứ ba, duy trì cán cân quyền lực trong khu vực có lợi cho Mỹ và các đồng minh cũng như đối tác của Mỹ;<br><br>Thứ tư, bảo vệ nguyên tắc giải quyết các tranh chấp một cách hòa bình và chống lại sự nổi lên của cách tiếp cận “lẽ phải thuộc về kẻ mạnh” trong các vấn đề quốc tế;<br><br>Thứ năm, bảo vệ nguyên tắc tự do trên biển, đôi khi còn được gọi là tự do hàng hải; ngăn cản Trung Quốc trở thành bá chủ khu vực ở Đông Á;<br><br>Thứ sáu, theo đuổi những mục tiêu này như một phần trong chiến lược lớn hơn của Mỹ nhằm cạnh tranh chiến lược và quản lý các mối quan hệ với Trung Quốc.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-01 15:08:07 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2207652850</guid>
      </item>
      <item>
         <title>11. Vũ Thị Hiên CH30B</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2207671376</link>
         <description><![CDATA[<div>Vai trò của Biển Đông đối với Việt Nam:<br>Biển Đông đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cả trong lịch sử, hiện tại và tương lại.<br>- Về kinh tế: biển Đông đã tạo điều kiện để VN phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn như thủy sản, dầu khí, du lịch, giao thông hàng hải, đóng tàu...; ngoài ra vùng ven biển còn chứa đựng tiềm năng lớn về quặng như titan, vàng, cát đen...<br>- Về an ninh quốc phòng: biển Đông đóng vai trò quan trong như tuyến phòng thủ hướng Đông của đất nước. Các đảo, quần đảo trên biển Đông, đặc biệt là Hoàng Sa, Trường Sa có ý nghĩa phòng thủ chiến lược rất quan trọng.<br>- Biển Đông làm tăng độ ẩm của các khối khí qua biển mang lại cho nước ta lượng mưa và độ ẩm lớn, làm giảm tính chất khắc nghiệt của thời tiết lạnh khô trong mùa đông và làm dịu bớt thời tiết nóng bức trong mùa hạ. Hệ sinh thái và dạng địa hình ven biển đa dạng.<br>Tuy nhiên, mỗi năm Vn đón nhận trung bình 9-10 cơn bão gây thiệt hại về người và tài sản...</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-01 15:22:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2207671376</guid>
      </item>
      <item>
         <title>13. Giang Văn Hiếu CH30B</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2207695972</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Vai trò của biển Đông đối với Việt Nam:</strong><br>Biển Đông có diện tích khoảng 3,5 triệu km<sup>2</sup>, là một trong những biển lớn nhất trên thế giới, Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, Châu Âu - Châu Á, Trung Đông - Châu Á. Đây được coi là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của thế giới.&nbsp;</div><div>Nước ta giáp với Biển Đông ở ba phía Đông, Nam và Tây Nam. Các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam là một phần Biển Đông trải dọc theo bờ biển dài khoảng 3.260 km, từ Quảng Ninh đến Kiên Giang.</div><div>Do đó, Biển Đông có vai trò hết sức quan trọng đối với nước ta về địa - chiến lược, an ninh quốc phòng, giao thông hàng hải, kinh tế và du lịch.</div><div><strong>- Về địa - chiến lược</strong>: Với các vùng biển rộng lớn, bờ biển dài, địa hình bờ biển quanh co, khúc khuỷu, có nhiều dãy núi chạy lan ra biển, chiều ngang đất liền có nơi chỉ rộng khoảng 50km (tỉnh Quảng Bình), nên việc phòng thủ từ hướng biển luôn mang tính chiến lược.</div><div>Biển là chiến trường rộng lớn để ta triển khai thế trận quốc phòng toàn dân – thế trận an ninh nhân dân trên biển để phòng thủ bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn trật tự an ninh từ xa đến gần, trong đó có các khu vực biển trọng điểm như vịnh Bắc Bộ; vùng biển quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa; khu dịch vụ kinh tế và kỹ thuật dầu khí DK1, DK2; vùng biển Tây Nam.</div><div><strong>- Về an ninh, quốc phòng</strong>: Biển Đông đóng vai trò quan trọng là tuyến phòng thủ hướng đông của đất nước. Các đảo và quần đảo trên Biển Đông, đặc biệt là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, không chỉ có ý nghĩa trong việc kiểm soát các tuyến đường biển qua lại Biển Đông mà còn có ý nghĩa phòng thủ chiến lược quan trọng đối với Việt Nam.</div><div>Hệ thống quần đảo và đảo trên vùng biển nước ta cùng với dải đất liên ven biển thuận lợi cho việc xây dựng các căn cứ quân sự, điểm tựa, pháo đài, trạm gác tiền tiêu, hình thành tuyến phòng thủ nhiều tầng, nhiều lớp, với thế bố trí chiến lược hợp thế trên bờ, dưới nước, tạo điều kiện thuận lợi để bảo vệ, kiểm soát và làm chủ vùng biển của đất nước.</div><div>Đồng thời, đâu cũng là những lợi thế để bố trí các lực lượng, vũ khí trang bị kỹ thuật của các lực lượng hoạt động trên biển, ven biển phối hợp chặt chẽ với các lực lượng khác trên bờ, tạo thành thế liên hoàn biển-đảo-bờ trong thế trận phòng thủ khu vực.</div><div>- <strong>Về giao thông hàng hải</strong>: Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, Châu Âu - Châu Á, Trung Đông - Châu Á. Đây được coi là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của thế giới.&nbsp;</div><div>Nhiều nước và vùng lãnh thổ ở khu vực Đông Á có nền kinh tế phụ thuộc sống còn vào tuyến đường biển này như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Xin-ga-po và cả Trung Quốc. Hơn 90% lượng vận tải thương mại của thế giới thực hiện bằng đường biển và 45% trong số đó phải đi qua Biển Đông. Biển Đông có những eo biển quan trọng như eo biển Ma-lắc-ca, eo biển Đài Loan là những eo biển khá nhộn nhịp trên thế giới.&nbsp;</div><div>Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm ở trung tâm Biển Đông, rất thuận lợi cho việc đặt các trạm thông tin, xây dựng các trạm dừng chân và tiếp nhiên liệu cho tàu thuyền... phục vụ cho tuyến đường hàng hải trên Biển Đông.</div><div><strong>- Về kinh tế</strong>: Không chỉ cung cấp nguồn thức ăn cho cư dân ven bờ từ hàng nghìn năm nay, Biển Đông còn tạo điều kiện để phát triển các ngành kinh tế và là cửa ngõ để Việt Nam có quan hệ trực tiếp với các vùng miền của đất nước, giao thương với thị trường khu vực và quốc tế, là nơi trao đổi và hội nhập của nhiều nền văn hóa.</div><div>Ven biển Việt Nam còn chứa đựng tiềm năng to lớn về quặng sa khoáng như than, zircon, thiếc, vàng, đất hiếm... trong đó cát nặng, cát đen là nguồn tài nguyên quý giá của đất nước. Ngoài ra, trữ lượng dầu mỏ, khí đốt, khoáng sản và hải sản ở Biển Đông có thể đảm bảo một phần đáng kể an ninh năng lượng, lương thực cho các nước ven bờ.&nbsp;</div><div><strong>- Về du lịch</strong>: Việt Nam sở hữu chiều dài đường bờ biển hơn 3.260 km, có nhiều bãi biển cát trắng, hang động, vũng vịnh nổi tiếng và 2.773 hòn đảo ven bờ cùng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Với sự phân dị về khí hậu và cấu trúc địa mạo đường bờ, sự đa dạng và phong phú của các các làng nghề..., Việt Nam là quốc gia có nhiều tiềm năng phát triển du lịch biển trong khu vực và trên thế giới. Đây là một trong những lợi thế chủ yếu của du lịch Việt Nam trong phát triển du lịch - ngành công nghiệp không khói - đặc biệt trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh quốc tế hiện nay.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-01 15:41:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2207695972</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2207711733</link>
         <description><![CDATA[<div>38. Vũ Duy Thoại CH30B<br>Chiến lược quân sự của Mỹ trên Biển Đông của Mỹ nhằm kiềm chế Trung Quốc.<br>+ Tăng cường sức mạnh quân sự thông qua sự liên kết giữa các đồng minh quân sự thể hiện qua cuộc tập trận trên biển đông. Chiến lược trong cuộc tập trận có thể được áp dụng cho những kịch bản tác chiến trên biển khác nhau, cuộc tập trận sẽ giúp nâng cao khả năng tấn công bằng tên lửa của Mỹ thông qua việc triển khai lực lượng đặc nhiệm để nhận diện và xác định vị trí các mục tiêu.<br>+ <strong>Hợp tác và đối đầu<br></strong>Hiện tại trong vấn đề Biển Đông, Mỹ vẫn đặt chiến lược quân sự lên trên chiến lược ngoại giao. Điều này có thể giúp củng cố vị thế của Mỹ trên bàn đàm phán với Trung Quốc, nhưng sẽ dẫn đến những phản ứng “ăn miếng trả miếng” từ phía Bắc Kinh. Vì thế, Mỹ vẫn cần theo đuổi một chiến lược ngoại giao lâu dài, vừa cạnh tranh lại vừa hợp tác với Trung Quốc.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-01 15:53:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2207711733</guid>
      </item>
      <item>
         <title>29. Phạm Thị Thu Ngân CH30B</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2207738455</link>
         <description><![CDATA[<div>Chiến lược của Trung Quốc đối với Biển Đông<br>+ Trung Quốc muốn tiến vào vị trí trung tâm quyền lực chính trị của thế giới thì không thể không trở thành một cường quốc biển. Chính giới Trung Quốc đã lồng ghép vấn đề Biển Đông vào mục tiêu trăm năm, coi đó là việc triển khai thực hiện giấc mộng Trung Hoa.&nbsp;<br>+ Xác định Biển Đông là một phần quan trọng, cũng là điểm khởi đầu cho con đường tơ lụa trên biển.<br>+ Từng bước thực hiện chiến lược độc chiếm biển Đông bằng Luật giao thông hằng hải. quy định cho 5 loại tàu khi đi vào "vùng lãnh hải" của Trung Quốc phải khai báo gồm: (i) tàu ngầm; (ii) tàu chạy bằng năng lượng hạt nhân; (iii) tàu chở vật liệu phóng xạ; (iv) tàu chở chất độc hại như dầu hỏa, hóa chất hoặc khí hóa lỏng và (v) các tàu khác "có thể gây nguy hiểm cho an toàn giao thông hàng hải Trung Quốc" phải khai báo chi tiết mọi thông tin liên quan đến các con tàu đó như về danh tính, số IMO, vị trí tàu, địa điểm và ngày giờ khởi hành, địa điểm sắp đến tiếp theo và ngày giờ dự kiến đến, số điện thoại vệ tinh, tên hàng hóa nguy hiểm và số lượng cụ thể...&nbsp;Dựa trên thông tin này, có thể hiểu rằng Trung Quốc bắt buộc 5 loại tàu nói trên khi đi qua lãnh hải của Trung Quốc buộc phải khai báo, xin phép.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-01 16:15:31 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2207738455</guid>
      </item>
      <item>
         <title>25. Đặng Chiến Lĩnh CH30B</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2207748888</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Trung Quốc đang sử dụng “Chiến thuật vùng xám” nhằm độc chiếm biển đông:</strong></div><div>“Chiến thuật vùng xám” là hoạt động có chủ đích nhằm “lách luật” quốc tế để tránh bị lên án và đang được Trung Quốc sử dụng để mở rộng kiểm soát không gian biển, hiện thực hoá yêu sách đường lưỡi bò trên Biển Đông, biến khu vực không tranh chấp thành tranh chấp.</div><div>Theo đó, chiến thuật này đã liên tục được Trung Quốc thử nghiệm và điều chỉnh qua những cuộc đối đầu với lực lượng chấp pháp của các nước, đặc biệt ở Biển Đông từ năm 2006.&nbsp;</div><div>Về mặt lý thuyết, “chiến thuật vùng xám được một quốc gia sử dụng để đạt được một lợi ích nào đó, thường là về lãnh thổ, nhưng không muốn dùng vũ lực một cách quy mô và trực tiếp. Chiến thuật này có 2 đặc trưng căn bản. Thứ nhất là không để xung đột vượt ngưỡng thành chiến tranh nóng. Thứ hai là từ từ tịnh tiến. “Chiến thuật vùng xám” là hoạt động có chủ đích nhằm “lách luật” quốc tế để tránh bị lên án, không phải do luật quốc tế thiếu quy định hoặc quy định thiếu chặt chẽ như một số nước thường biện minh.</div><div>Đối với vấn đề Biển Đông, “chiến thuật vùng xám” được Trung Quốc áp dụng là "sử dụng kỹ thuật để đạt được các mục tiêu của một quốc gia và làm nản lòng các đối thủ của mình bằng cách sử dụng các công cụ sức mạnh – thường có tính chất không cân xứng và mơ hồ - mà không phải sử dụng trực tiếp các lực lượng quân sự thông thường đã biết".</div><div>Đặc biệt, thời gian qua, Trung Quốc vẫn leo thang triển khai “chiến thuật vùng xám” trên biển Đông trong toan tính biến vùng biển thuộc chủ quyền nước khác, vùng biển hoàn toàn không thể tranh chấp thành vùng biển có tranh chấp, hoặc còn ngang nhiên tuyên bố đó là vùng biển thuộc chủ quyền của Trung Quốc.</div><div>“Điều này có thể thấy rõ khi Trung Quốc cho giàn khoan Hải Dương 981 cùng đội tàu hộ tống vũ trang phi quân sự, gồm tàu hải cảnh, hải giám và đặc biệt là đội tàu cá trá hình… xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam năm 2014.</div><div>Trung Quốc cố tình ngăn chặn tất cả các hành động khai thác tài nguyên ở bên trong đường 9 đoạn. Đây là hành động đã có tiền lệ, điển hình là trước đó Trung Quốc quấy rối hoạt động thăm dò dầu khí của Malaysia ở khu vực ngoài khơi bang Sarawak hồi tháng 5. Bên cạnh đó, Trung Quốc còn cố gắng tung ra những lý lẽ có lợi cho họ; cử học giả ra nước ngoài để bảo vệ quan điểm chủ quyền hay tăng cường xuất bản các bài báo học thuật quốc tế ủng hộ quan điểm của họ.</div><div>Theo yêu sách đơn phương về đường chín đoạn, Trung Quốc đòi chủ quyền đối với khoảng 80% diện tích Biển Đông. Những diện tích mà Trung Quốc đòi chủ quyền theo yêu sách này và sau này họ gọi là học thuyết “Tứ Sa” ăn sâu vào vùng biển thuộc chủ quyền các bên liên quan khác, trong đó có những khu vực biển hoàn toàn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam cũng như một số nước liên quan ở Biển Đông.</div><div>Từ tham vọng độc chiếm Biển Đông đã sinh ra “chiến thuật vùng xám” mà Trung Quốc dùng sức mạnh vượt trội của mình so với các bên liên quan khác để thực thi thời gian qua trên Biển Đông. “Việc theo đuổi các nguồn tài nguyên biển đã khiến Trung Quốc trở nên hung hăng hơn, họ thúc đẩy các hoạt động nằm ở ranh giới giữa hòa bình và chiến tranh mà vốn vẫn được biết đến là vùng xám”.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-01 16:25:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2207748888</guid>
      </item>
      <item>
         <title>23. Nguyễn Quang Khanh CH30B</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2207774840</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><br>Mưu đồ chiến lược của Trung Quốc tại Biển Đông.</strong></div><div><strong><em><br>Thứ nhất</em></strong>, lợi ích của Biển Đông là về vấn đề kinh tế, đầu bảng là tài nguyên dầu khí, sau đó là băng cháy. Khu vực Đông Nam Á có lượng băng cháy cực lớn. Đây là nguồn năng lượng của tương lai, có thể sử dụng trong nhiều thế kỷ, theo tính toán sơ bộ là khoảng 800 năm tới.</div><div><br>Việt Nam là một trong những quốc gia sở hữu lượng băng cháy tương đối lớn. Chúng ta có khoảng 2.400 tỷ mét khối băng cháy, là quốc gia có thứ hạng ở Châu Á về loại tài nguyên này. Đây là nguồn năng lượng tuyệt vời. Do đó, Trung Quốc nhìn vào nguồn băng cháy như một loại tài nguyên thay thế cho dầu khí đang dần trở nên cạn kiệt.</div><div><strong><em><br>Thứ hai</em></strong>, Biển Đông được xác định là một trong 4 khu vực đánh cá chủ yếu của ngư dân Trung Quốc.</div><div><strong><em><br>Thứ ba</em></strong>, Biển Đông cũng được xác định là con đường sinh mệnh của nền kinh tế Trung Quốc. Trong số 27 tuyến vận tải của Trung Quốc, 17 trong số đó nằm ở Biển Đông. Biển Đông giúp kết nối Trung Quốc với 125 nước và vận chuyển 3/4 lượng dầu nhập khẩu vào nước này.</div><div><br>Về mặt địa chiến lược, Trung Quốc xác định Biển Đông như sân sau, nơi tập dượt của hải quân Trung Quốc để tiến ra thế giới bên ngoài.</div><div><br>Biển Hoa Đông ở phía đông Trung Quốc quá nông, lại có một đối thủ khó nhằn là Nhật Bản án ngữ phía ngoài. Còn đối với Biển Đông, vùng biển này rộng 3,4 triệu km2, độ sâu trung bình là 1.400 mét và có rất nhiều rãnh sâu. Đây là địa điểm tuyệt vời cho sự hoạt động của các loại tàu ngầm.</div><div><br>Muốn thành bá chủ toàn cầu, Trung Quốc phải trở thành cường quốc trên biển. Điều này chỉ có thể thực hiện được ở Biển Đông, vùng biển mà xung quanh đó toàn các quốc gia nhỏ bé. Về mặt địa chiến lược, đây là cửa ngõ duy nhất, là bàn đạp để Trung Quốc đi ra thế giới bên ngoài. Do vậy, trong cái nhìn đại chiến lược của người Trung Quốc, Biển Đông có lợi ích sống còn.</div><div><strong><br>Trung Quốc sắp đặt Biển Đông trong chiến lược an ninh - phát triển như thế nào?</strong></div><div><br>Từ các văn kiện Đại hội Đảng, chương trình nghị sự của chính phủ và thông tin chính thức từ phía Trung Quốc, nước này xác định Biển Đông là một phần quan trọng, cũng là điểm khởi đầu cho con đường tơ lụa trên biển. Con đường này là trọng tâm của sáng kiến Vành đai - Con đường. Sáng kiến này là một phần của giấc mơ chấn hưng Trung Quốc.</div><div><br>Biển Đông là một phần của chiến lược biến Trung Quốc thành một cường quốc biển. Một quốc gia muốn tiến vào vị trí trung tâm quyền lực chính trị của thế giới thì không thể không trở thành một cường quốc biển. Chính giới Trung Quốc đã lồng ghép vấn đề Biển Đông vào mục tiêu trăm năm, coi đó là việc triển khai thực hiện giấc mộng Trung Hoa. Nước này thậm chí còn đưa vấn đề chủ quyền và lợi ích trên biển thành một trong những lợi ích cốt lõi của Trung Quốc.</div><div><strong><br>Trung Quốc đang làm gì từ năm 1949 đến nay?</strong></div><div><br>1. Đưa ra các yêu sách chủ quyền và yêu sách trên biển.</div><div><br>2. Thực hiện những biện pháp hành chính. Thể hiện Biển Đông và Hoàng Sa, Trường Sa trên bản đồ, đặt tên cho các đảo, quy thuộc sát nhập Hoàng Sa, Trường Sa và vùng biển vào lãnh thổ Trung Quốc và các đơn vị hành chính thuộc Trung Quốc.</div><div><br>3. Áp đặt nội luật của Trung Quốc vào khu vực Biển Đông, coi Biển Đông thành khu vực của mình.</div><div><br>4. Các hoạt động kiểm soát, khống chế và làm chủ Biển Đông trên thực địa. Bao gồm việc từng bước thay đổi nguyên trạng của Biển Đông, tạo ra một cục diện quân sự thuận lợi cho Trung Quốc, dần dần khống chế, kiểm soát Biển Đông, tiến tới mục tiêu lâu dài là độc chiếm toàn diện Biển Đông.</div><div><br>5. Sử dụng vũ lực. Từ năm 1956 đến nay, tất cả các bước đi của Trung Quốc trên Biển Đông đều là nhờ vũ lực.&nbsp;</div><div><br>&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-01 16:47:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2207774840</guid>
      </item>
      <item>
         <title>22.Lê thuận huỳnh ch30b</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2207840303</link>
         <description><![CDATA[<div><br>Biển Đông có diện tích rộng 3,5 triệu kilômet vuông với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, trữ lượng dầu mỏ, khí đốt dồi dào, nơi thông thương và là huyết hạch hàng hải quốc tế quan trọng đã làm cho Biển Đông trở thành nơi xảy ra những cuộc xung đột gay gắt nhất khu vực Châu Á – Thái Bình Dương hiện nay. Biển Đông có tầm quan trọng, vị thế chiến lược trọng yếu không chỉ với Việt Nam và vùng lãnh thổ bao quanh, mà còn có vai trò hết sức quan trọng đối với các quốc gia trên thế giới.<br>Xét về yếu tố địa chính trị, Biển Đông có vai trò đặc biệt quan trọng để Trung Quốc hiện thực hóa tham vọng trở thành cường quốc biển và cường quốc thế giới. Giành quyền kiểm soát Biển Đông, Trung Quốc sẽ giành được nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú, đa dạng và dồi dào, đặc biệt là dầu khí. Chính vì vậy, trong nhiều năm gần đây, chính phủ của Chủ tịch Tập Cận Bình đã, đang nỗ lực thúc đẩy nhiều hoạt động nhằm kiểm soát toàn bộ Biển Đông bằng nhiều biện pháp cả ngoại giao và ngoài thực địa trên biển.<br>Trên biển, Trung Quốc triển khai nhiều biện pháp cứng rắn nhằm hiện thực hóa tham vọng chủ quyền theo yêu sách “đường lưỡi bò” mà Trung Quốc tự đặt ra. Không nằm ngoài mục tiêu đó, việc tiến hành ồ ạt các hoạt động cải tạo trên diện rộng các cấu trúc địa lý tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam mà Trung Quốc này hiện đang chiếm đóng trái phép đã bắt đầu từ đầu năm 2013 đến nay. Từ ảnh vệ tinh cho thấy Trung Quốc ráo riết thúc đẩy các hoạt động tôn tạo, huy động các lực lượng hải quân, cảnh sát biển, dân binh, tàu hậu cần, vận tải… và một lượng lớn máy móc, trang thiết bị thông tin tham gia đồng loạt đẩy mạnh xây dựng tại các đảo Phú Lâm (Hoàng Sa) và 07 bãi đá Châu Viên, Chữ Thập, Gaven, Tư Nghĩa, Gạc Ma, Vành Khăn, SuBi (Trường Sa).&nbsp;<br>Bên cạnh đó, năm 2014, Trung Quốc điều giàn khoan HD 981 xâm phạm vùng biển của Việt Nam gây ra xung đột căng thẳng trong khu vực. Không chỉ Việt Nam, nhiều quốc gia trên thế giới đã quan ngại sâu sắc trước hành động ngang ngược, leo thang căng thẳng của Trung Quốc. Tuy nhiên, hành động này không chấm dứt, Trung Quốc cho phép Tập đoàn dầu khí Hải dương (CNOOC) ngang nhiên điều nhiều lượt giàn khoan, tàu khảo sát, tàu nghiên cứu có sự hộ tống của lực lượng cảnh sát biển, dân binh đến khu vực thềm lục địa của Việt Nam. chính phủ Trung Quốc còn đồng ý cho CNOOC xây dựng chiến lược lâu dài để khai thác, tận dụng tối đa nguồn tài nguyên phong phú ở Biển Đông. Không chỉ ngang nhiên, nguy hiểm hơn, Trung Quốc coi các đảo đá và cả khu vực Biển Đông là của riêng mình, khi thường xuyên xua đuổi, thậm chí tấn công, đâm chìm tàu cá đang&nbsp; hoạt động ngư nghiệp của ngư dân Việt Nam.&nbsp;<br>Mạnh bạo hơn nữa, từ năm 2019, Trung Quốc liên tục tập trận ở Biển Đông, cả ngày lẫn đêm và kéo dài trong nhiều tuần. Điển hình gần đây, lợi dụng chiến sự căng thẳng ở Ukraina, Trung quốc đã tiến hành tập trận từ ngày 04/3/2022 đến ngày 09/4/2022 tại Biển Đông, khu vực giữa đảo Hải Nam và Việt Nam thể hiện sức mạnh quân sự, phô trương thanh thế và răn đe các nước trong khu vực.<br>Với tình hình Trung Quốc thường xuyên có những hành động nguy hiểm, gây nguy cơ xung đột cao, nhiều quốc gia trong khu vực&nbsp; đã lên tiếng và có những hành động cụ thể, đặc biệt là Philippines – quốc gia có vùng tiếp giáp lãnh hải rộng lớn với Biển Đông. Tại các diễn đàn ngoại giao, Philippines khẳng định tuyên bố chủ quyền đối với đá Ba Đầu và một số đảo tại quần đảo Trường Sa, đã thể hiện sự cứng rắn với chính quyền Trung Quốc. Bên cạnh đó, trên thực địa, Philippines cho tàu cảnh sát biển, tàu hải quân, có cả tàu ngầm và đổ dồn các khí tài, quân sự, trang thiết bị đến gần nơi các tàu cảnh sát biển, tàu dân quân của Trung Quốc có hiện diện ở Trường Sa, thể hiện lập trường nhất quán muốn xua đuổi Trung Quốc ra khỏi khu vực.&nbsp;<br>	Còn thế giới, điển hình là Mỹ và các quốc gia có chung lợi ích cũng đã thể hiện rất rõ quan điểm lập trường của mình với các nguy cơ xung đột tại Biển Đông. Nhiều lượt tàu hải quân, tàu lặn, tàu hạt nhân và các tàu quân sự khác của Mỹ, Úc, Nhật Bản và Anh đã được triển khai trên đến Biển Đông và eo biển Đài Loan gây ra căng thẳng nguy hiểm có thể dẫn tới nguy cơ chiến tranh bất cứ lúc nào. Thế giới coi khu vực Biển Đông như “Bom nổ chậm” đáng báo động, có thể xảy ra chiến tranh, đe dọa hòa bình và ổn định trên khắp các khu vực biển Châu Á – Thái Bình Dương.&nbsp;<br>Nhìn chung, sự gia tăng căng thẳng trên thực địa của Trung Quốc và các quốc gia khác trên thế giới đã làm cho tình hình Biển Đông có những diễn biến phức tạp, khó lường với nhiều hoạt động trên không, trên mặt biển, dưới đáy biển, và thậm chí trong không gian vũ trụ theo hướng quân sự hóa. Điều này khiến tình hình Biển Đông trở nên khó đoán, gia tăng nguy cơ đụng độ ngoài ý muốn, đặt ra nhiều lo ngại đối với các nước trong khu vực. Với Việt Nam, đảm bảo an ninh quốc gia và vì lợi ích chung, chúng ta đã có nhiều hoạt động quốc tế, hợp tác quốc gia nhằm giữ vững hòa bình và ổn định khu vực Biển Đông, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của đất nước trong tương lai.<br>       TQ muốn thể hiện sức mạnh quân sự để gây ảnh hưởng lên các nước Đông Nam Á, đồng thời chứng minh vị thế để củng cố tinh thần dân tộc trong nước. Không những vậy, Bắc Kinh còn muốn “thử lửa” khả năng của Mỹ trong bối cảnh Nga vẫn tiếp tục chiến dịch quân sử ở Ukraine. Rõ ràng, khi Mỹ bị phân tâm bởi xung đột ở Ukraine, thì việc chuyển hướng các nguồn lực ở Biển Đông, biển Hoa Đông, eo biển Đài Loan trở thành cơ hội chiến lược để Trung Quốc thúc đẩy các lợi ích cốt lõi mà nước này đề ra ở khu vực.</div><div>Hành động đơn phương, sử dụng lực lượng chấp pháp vượt quá thẩm quyền, thậm chí sử dụng số lượng lớn tàu cá được trang bị vũ trang để duy trì hiện diện, tạo nguyên trạng mới, đồng thời, cản trở, can thiệp vào các hoạt động thăm dò, khai thác và quản lý tài nguyên của các quốc gia ven biển đang ngày càng mở rộng về phạm vi và tần suất gây quan ngại và xói mòn lòng tin giữa các bên.</div><div>Sự hiện diện với mật độ cao, quy mô lớn của các lực lượng hải quân không chỉ là biểu hiện của cạnh tranh sức mạnh quân sự mà còn tiềm ẩn rủi ro, sơ suất dẫn tới đối đầu.</div><div>Đặc biệt, sự gia tăng đột biến các hoạt động tập trận trên biển và trên không của các nước lớn đang làm lo ngại về nguy cơ chạy đua vũ trang và quân sự hoá, khiến Biển Đông không chỉ là không gian biểu dương sức mạnh quân sự giữa các nước lớn, mà còn tiềm ẩn là điểm nóng xung đột của thế giới</div><div><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-01 17:44:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2207840303</guid>
      </item>
      <item>
         <title>31. Đặng Thị Kim Oanh CH30B</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2208109712</link>
         <description><![CDATA[<div><em>Ngày 17/12/2020, Mỹ đã công bố chiến lược “Ưu thế trên biển” trong đó, thể hiện chiến lược của Mỹ trên biển Đông.<br></em><strong><em>Thứ nhất, Mỹ gấp rút nâng cao sức mạnh trên biển<br></em></strong>Trước sự bành trướng của Trung Quốc tại biển Đông, chiến lược “Ưu thế trên biển” của Mỹ xác định gấp rút xây dựng lực lượng Hải quân mạnh chiếm ưu thế trên biển. Theo đó, Mỹ tập hợp ba lực lượng: Hải quân, Hải quân đánh bộ và lực lượng bảo vệ bờ biển (thực thi pháp luật, bảo vệ nghề cá, an toàn và an ninh hàng hải) thành một lực lượng chung trên biển, tạo sức mạnh tổng lực trong mọi môi trường: từ đáy biển đến vũ trụ; thông tin, điều khiển học và phổ điện từ ở khắp các đại dương, vùng ven biển, trải dài theo bờ biển khắp các châu lục, v.v. Việc tích hợp các chức năng độc đáo của lực lượng bảo vệ bờ biển với năng lực của Hải quân, Hải quân đánh bộ giúp Mỹ có quyền lựa chọn trong hợp tác, cạnh tranh; đồng thời, tăng khả năng kiểm soát các vùng biển và đại dương, sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa.</div><div>Để làm được điều đó, Chiến lược xác định, thời gian tới, Hải quân Mỹ sẽ đầu tư mạnh mẽ vào việc đóng mới nhiều loại tàu hiện đại: tàu ngầm, tàu nổi, tàu sân bay; trang bị trên các tàu nhiều loại vũ khí, thiết bị kỹ thuật công nghệ cao v.v. Chú trọng hoạt động tình báo, trinh sát, cảnh giới, phân tích, chia sẻ thông tin; huấn luyện, đào tạo, tuyển dụng, cũng như hợp tác với các đồng minh và đối tác.&nbsp;</div><div><strong><em>Thứ hai, Mỹ chủ động triển khai lực lượng</em></strong></div><div>Chiến lược xác định cần phải triển khai lực lượng Hải quân đủ mạnh ở biển Đông nhằm ngăn chặn, không để Trung Quốc thực hiện được ý định. Nếu việc ngăn chặn không hiệu quả, thì sẵn sàng đánh bại đối thủ bằng sức mạnh quân sự. Theo đó<sub>,</sub> các lực lượng trên biển của Mỹ cần có những điều chỉnh chiến lược theo hướng tăng cường hợp tác với các đồng minh và đối tác; phát triển lực lượng để bảo đảm khả năng răn đe, không cho các đổi thủ đạt được mục tiêu của họ. Hải quân Mỹ xác định Trung Quốc là đối thủ duy nhất có tiềm lực kinh tế, quân sự,... tạo sức mạnh tổng hợp thách thức toàn diện và lâu dài đối với Mỹ. Vì thế, các hoạt động và vị thế của lực lượng này sẽ tập trung vào việc chống lại mọi hoạt động của Trung Quốc trên toàn cầu, các đại dương, coi trọng tăng cường khả năng răn đe trong khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.&nbsp;</div><div><strong><em>Ba là, dự kiến các tình huống xử lý</em></strong></div><div>Chiến lược xác định ba kịch bản cạnh tranh, đối đầu với các đối thủ: cạnh tranh hằng ngày, khủng hoảng và xung đột. Trong cạnh tranh hằng ngày, các lực lượng trên biển sẽ chú trọng hợp tác với các đồng minh và đối tác, nhằm duy trì tự do hàng hải toàn cầu, thách thức các tuyên bố chủ quyền trên biển quá mức và bất hợp pháp, chống lại chiến lược “vùng xám” của Trung Quốc; Khi xảy ra khủng hoảng, các lực lượng trên biển của Mỹ phối hợp chặt chẽ với các đồng minh, đối tác cung cấp kịp thời tình hình và đề xuất biện pháp ứng phó, quản lý leo thang và duy trì không gian an toàn hàng hải để trung tâm chỉ huy có đủ thời gian lựa chọn, quyết định phương án tác chiến giành thắng lợi. Khi xảy ra xung đột, nếu đối phương chọn con đường chiến tranh, thì Hải quân Mỹ sẽ phối hợp với Lục quân, Không quân, Lực lượng Vũ trụ, các đồng minh và đối tác nhanh chóng tiến công, tiêu diêt, không cho họ đạt được mục tiêu, mà buộc phải chấm dứt chiến tranh.&nbsp;</div><div>Mỹ đã, đang đẩy mạnh nghiên cứu phát triển hệ thống vũ khí, trang thiết bị kỹ thuật hiện đại vượt trước so với các đối thủ. Mặt khác, Mỹ vừa ra sức củng cố đồng minh truyền thống, vừa đẩy mạnh hoạt động thiết lập đồng minh, đối tác mới trong khu vực. Như vậy, Chiến lược trên biển của Mỹ tác động trực tiếp đến khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, Đông Nam Á, nhất là Biển Đông, làm cho khu vực này ngày càng nóng lên. Hiện tại, Mỹ đã thiết lập được bộ tứ Kim cương<sup>1</sup>ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương; củng cố lại quan hệ đồng minh với Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia; lực lượng Hải quân của một số nước trong khối NATO đang gia tăng hoạt động trong khu vực.&nbsp;</div><div>&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-01 23:27:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2208109712</guid>
      </item>
      <item>
         <title>42 lương đúc trí</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2208196545</link>
         <description><![CDATA[<div>Nguy cơ xung đột, tranh chấp biển đông được Đảng ta xác định là 1 trong 4 nguy cơ đe dọa đến an ninh quốc gia.<br>1. Tác động ảnh hưởng đến kinh tế<br>Biển đông có tiềm năng rất lớn về giao thông hàng hải, thủy hải sản, khoáng sản... tranh chấp, xung đột sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề khai thác, tận dụng cadc tiềm năng trên.<br>2. Ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Các thế lực thù địch, phản động, đối tượng cực đoan lợi dụng kích động, lôi kéo diễu hành, bãi công, gây rối ảnh hưởng đến ANCT, TTATXH.<br>3. Ảnh hưởng công tác đối ngoại của việt nam đối với các bên tranh chấp </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-02 01:02:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2208196545</guid>
      </item>
      <item>
         <title>19 Nguyễn Kiều Hưng CH 30B</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2208239549</link>
         <description><![CDATA[<div>-Vai trò của biển đông đối với ta<br>- Biển đông có diện tích 3,5 triêu km2 với người tài nguyên thiên nhiên khoáng sản phòng phú trữ lượng dầu mỏ khí đốt dồi dào.là nơi thông thương huyết mạch của hàng hai của quốc tế rất quan trọng chính vì thế mà biển đông xẩy ra chanh chấp và xung đột,nhất là khu vực châu - thái bình dương hiện nay biển đông có tầm chiến lược trọng yếu không chỉ với việt Nam mà các vùng lãnh thổ mà có vài trò hết sức quan trọng để trứng quốc thực hiện hoá tham vọng đứng đầu thế giới dành quyền kiểm soát biển đông.<br>- Về kinh tế biển đông là cơ sở tạo điều kiện phát triển nền kinh tế đánh bắt hải sản,khai thác dầu khí,vận tải đường biển,đóng tầu,dự lịch.<br>- Vùng thềm lục địa và vẹn biển có tiếng năng về dầu khí và khí đốt,sa khoáng mà chúng ta chưa có đủ công nghệ để thăm dò,khai thác.<br>- Về văn hoá biển đông là cửa ngõ để giao lưu hội nhập giữa việt Nam và các nước trên thế giới.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-02 01:36:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2208239549</guid>
      </item>
      <item>
         <title>24. Phước Kiệt CH30B</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2208284521</link>
         <description><![CDATA[<div>Trong thời gian gần đây, Trung Quốc đã triển khai các máy bay tiêm kích, tên lửa, rada và các thiết bị quân sự hiện đại trên các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam ở Biển Đông. Đây là bước leo thang mới của Trung Quốc trong việc theo đuổi chiến lược quân sự hóa Biển Đông nhằm khống chế và tiến tới độc chiếm Biển Đông. Động thái trên đây đã làm gia tăng lo ngại cũng như căng thẳng khu vực trái với những thỏa thuận cấp cao hai nước Việt - Trung. Chính vì vậy, chiến lược của TQ được thể hiện rõ nét qua nội dung sau:</div><div><br></div><div><strong>1. Chuyển từ hợp tác sang cạnh tranh chủ quyền</strong></div><div><br></div><div>Theo giới nghiên cứu, để hiện thực hóa tham vọng “đường lưỡi bò”, Trung Quốc đã xác định 3 mục tiêu, 3 giải pháp chính. Trong quá trình triển khai chiến lược, Trung Quốc cũng vận dụng “linh hoạt” các nhận định và kiến nghị của giới nghiên cứu Trung Quốc sao cho có “hiệu quả”. Năm 2014, Trung Quốc lại đưa giàn khoan đến vùng biển thuộc thềm lục địa và đặc quyền kinh tế của Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, thỏa thuận DOC, thỏa thuận cấp cao hai nước…</div><div><br></div><div>Chủ trương “hợp nhất khu vực” Trung Quốc - ASEAN được lãnh đạo Trung Quốc coi là một ưu tiên hàng đầu, nhằm thực thi một phần trong chính sách “trỗi dậy hòa bình” của Trung Quốc. Sự hợp nhất khu vực bao gồm cả chính trị và kinh tế.</div><div><br></div><div>Trung Quốc đã&nbsp; tập trung hỗ trợ cho&nbsp; dự án hành lang kinh tế Nam Ninh - Singapore, với hệ thống vận tải bằng đường sắt xuyên khu vực nối Nam Ninh - Hà Nội - Thành phố Hồ Chí Mính - Phnôm Pênh, Băng Cốc - Kuala Lumpur - Singapore; Dự án hợp tác tiểu vùng sông Mê Kông nối Côn Minh, Vân Nam, Trung Quốc - Singapore; Dự án vành đai kinh tế Vịnh Bắc Bộ và sáng kiến Hải Nam. Tuy nhiên, các chương trình này phải đối mặt với nhiều thách thức vì liên quan đến các khu vực mà ở đó chủ quyền và quyền tài phán vẫn nằm trong tranh chấp.</div><div><br></div><div>Một số nhà bình luận Trung Quốc cho rằng, mục tiêu trên phản ánh một chiến lược “quả chín” nằm trong tay Trung Quốc, “nếu Trung Quốc tiếp tục áp đặt các yêu sách mở rộng của họ ở Biển Đông một cách đầy gây hấn thì các hòn đảo và không phận trên biển tương ứng của chúng có thể sẽ dễ dàng rơi vào tay họ như những quả chín. Ít nhất thì Trung Quốc cũng sẽ chi phối vấn đề này và giành được phần của kẻ mạnh trong bất kỳ giải pháp nào”.</div><div><br></div><div>Một số học giả Trung Quốc khác lại cho rằng, mục đích đầu tư lớn của Trung Quốc cùng với chính sách đóng băng tranh chấp của họ là để giành được lực hút, hay đòn bẩy và sẽ dẫn đến sự từ bỏ tự nguyện các yêu sách về Biển Đông của các nước khác. Tuy nhiên, các sự kiện sau đó cho thấy, các nước Đông Nam Á đã không muốn cường quốc nào giành quá nhiều ảnh hưởng trong khu vực. “Giờ đây. ASEAN đã chuyển từ hoan nghênh sự can dự của Trung Quốc vào khu vực sang mời gọi sự chú ý của các cường quốc bên ngoài, nhằm tạo ra sự cân bằng ảnh hưởng trong khu vực. Vì thế, theo giới phân tích, giàn khoan Hải Dương 981 được khởi động vào trước thềm Hội nghị Cấp cao ASEAN là nhằm thúc đẩy quan điểm của tổ chức này rõ ràng hơn đối với chiến lược hợp nhất khu vực của Trung Quốc”.</div><div><br></div><div>Chính sách “kiểm soát tài nguyên” là mục tiêu theo đuổi của Trung Quốc nhằm nâng cao an ninh tài nguyên và bảo đảm sự kiểm soát hầu hết tài nguyên sinh vật và vi sinh vật ở Biển Đông. Một nhà bình luận Trung Quốc nói: “Dân tộc Trung Quốc đang phải đối mặt với thách thức lớn nào? Đó chính là vấn đề tài nguyên”. Tài nguyên cá cũng rất quan trọng đối với Trung Quốc. Một ấn phẩm của Chính phủ Trung Quốc viết: “Hiệp định đánh bắt cá Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc đã thu hẹp đáng kể không gian đánh bắt của ngư dân Trung Quốc. Những thỏa thuận như vậy không chỉ làm xấu thêm tình hình mà còn có khả năng gây ra sự bất ổn định xã hội ở nhiều làng mạc và thị trấn ven biển”. Có thể nói, biển chắc chắn sẽ trở thành một vũ đài quan trọng đối với các cuộc đấu tranh quốc tế về chính trị, kinh tế và quân sự, cũng là một mục tiêu quan trọng trong cuộc đấu tranh của bất kỳ quốc gia nào cho quyền và lợi ích của họ. Với Trung Quốc, mục tiêu quan trọng của họ là phải bảo đảm được sự tiếp cận và kiểm soát được các nguồn tài nguyên ở Biển Đông trong tương lai.</div><div><br></div><div>Những động thái của Trung Quốc trong thời gian qua như: Công bố đường “lưỡi bò” (2010), cắt cáp tàu Bình Minh 02 của Việt Nam (2012), sự kiện Bãi Cỏ Mây ở Philippines (2013) và hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 (2014) là nằm trong chuỗi các vấn đề tư duy và tham vọng kiểm soát tài nguyên Biển Đông của Trung Quốc.&nbsp;</div><div><br></div><div>Chính sách “an ninh nâng cao”, là mục tiêu thứ 3 của Trung Quốc nhằm bảo đảm sự kiểm soát của họ đối với Biển Đông, tạo ra một vùng đệm an ninh biển để bảo vệ các trung tâm dân số lớn thuộc các vùng công nghiệp và văn hóa khu vực duyên hải phía Đông của Trung Quốc. Một viên tướng nghỉ hưu của Trung Quốc đã coi: “Khu vực biển của Trung Quốc là rào chắn chiến lược thứ nhất đối với an ninh nội địa. Khu vực duyên hải là tiền tuyến của sự tăng trưởng trong quá trình phát triển kinh tế và xã hội của Trung Quốc. Nếu phòng thủ bờ biển rơi vào vòng nguy hiểm thì những khu vực trung tâm quan trọng về kinh tế và chính trị đứng trước các mối đe dọa từ bên ngoài… Vì thế, khu vực duyên hải là cửa ngõ của an ninh quốc gia tổng thể của Trung Quốc”.</div><div><br></div><div>Trung Quốc cần phải kiểm soát các vùng biển duyên hải căn cứ vào cách tiếp cận địa chiến lược của một nước có nhiều quan ngại an ninh liên quan đến cả biển và đất liền. Những nước này thường theo các chiến lược an ninh vốn cân bằng sức mạnh trên bờ và trên biển, nhằm phát triển các vòng tròn đồng tâm của sự kiểm soát chiến lược, ảnh hưởng và vươn tới xung quanh khu vực trung tâm mang lợi ích quốc gia thiết yếu của họ. Vì vậy, Biển Đông, biển Hoa Đông và Hoàng Hải là những khu vực mà các chiến lược gia Trung Quốc cho là cần phải phát triển kiểm soát quân sự, để loại bỏ các mối đe dọa từ bên ngoài và qua đó nâng cao mức độ an ninh của khu vực duyên hải của Trung Quốc.</div><div><br></div><div>Theo giới phân tích, những hành động gần đây cho thấy, Trung Quốc đang thể hiện ý định nâng cao an ninh của họ bằng cách cạnh tranh với các bên yêu sách khác về chủ quyền, quyền tài phán và quyền kiểm soát đối với Biển Đông. Theo giới quan sát, ngay từ năm 2009, Trung Quốc đã hợp nhất các mục tiêu chiến lược: hợp tác khu vực, hợp tác tài nguyên sang cạnh tranh về chủ quyền và an ninh.&nbsp; Trung Quốc đã “phớt lờ” lợi ích của các nước khác.</div><div><br></div><div>Một khuynh hướng trong giới nghiên cứu Trung Quốc cho rằng: “Sự hợp tác trong quá khứ đã tạo ra những kết quả to lớn, song sự chuyển hướng của Trung Quốc từ hợp tác sang cạnh tranh gần đây có khả năng sẽ không đưa lại kết quả tốt đẹp. Theo họ, những giải pháp đôi bên cùng có lợi sẽ hứa hẹn nhiều hiệu quả hơn so với những giải pháp “5 ăn 5 thua” vốn dựa trên sự cạnh tranh về chủ quyền, quyền tài phán và quyền kiểm soát. Vì thế, việc Trung Quốc đưa giàn khoan HD981 đến vùng thềm lục địa và đặc quyền kinh tế của Việt Nam không những bị Việt Nam và quốc tế lên án mà còn gặp phải sự không đồng tình của các nhà nghiên cứu và những người chân chính trong nhân dân Trung Quốc”.</div><div><br></div><div><strong>2.Quân sự hóa được coi là giải pháp “linh hoạt”</strong></div><div><br></div><div>Tuy nhiên, độc chiếm Biển Đông từ tham vọng “kín đáo” của Bắc Kinh,&nbsp; nay đã trở nên “trắng trợn” hơn. Với một nước lớn có GDP đứng thứ 2 thế giới, Trung Quốc luôn muốn có vai trò lãnh đạo khu vực và cạnh tranh vị thế toàn cầu với Mỹ, nên Trung Quốc&nbsp; đang thực hiện cái gọi là “kiềm chế”. Theo giới quan sát, hiện nay tại Trung Quốc cũng đang có nhiều cuộc tranh luận sôi nổi làm thế nào để theo đuổi các “cốt lõi” lợi ích của Trung Quốc ở Biển Đông một cách tốt nhất và phần lớn đều không hài lòng với nguyên trạng hiện nay, nên cần phải tạo ra “vùng sở hữu chung”. Thực chất của quan điểm này là biến sở hữu của nước khác thành “sở hữu chung”.</div><div><br></div><div>Một số học giả Trung Quốc cho rằng, Bắc Kinh nên thực hiện “kiềm chế”, một số khác lại đề xuất các yêu sách khác nhau như: “Chủ động khai thác các nguồn tài nguyên ở những vùng nước tranh chấp”. Một số nhà nghiên cứu có trách nhiệm như Giáo sư Lý Lệnh Hoa lại khuyến cáo Bắc Kinh nên tuân thủ luật pháp quốc tế. Hiện nay, trong các giới chức Trung Quốc cũng xuất hiện hai luồng tư tưởng về “quân sự hóa”, có ý kiến cho rằng, “quân sự hóa chỉ làm tồi tệ thêm các cuộc tranh chấp, cải thiện và làm mạnh mẽ thêm các khả năng thực thi dân sự của Trung Quốc mới là giải pháp bảo vệ tốt nhất các lợi ích của họ. Việc đưa giàn khoan HD981 hoạt động trong vùng thềm lục địa và đặc quyền kinh tế của Việt Nam năm 2014 là đi theo hướng này. Tuy nhiên, việc bồi đắp mở rộng các đảo của Việt Nam mà Trung Quốc chiếm đóng trái phép năm 2015 đã thể hiện sự thắng thế của giới chức quân sự Trung Quốc. Việc “quân sự hóa” các đảo nói trên đã được tiến hành và họ vẫn coi đây là giải pháp “linh hoạt” trong giai đoạn&nbsp; mà các nhà hoạch định chiến lược biển của Trung Quốc gọi là “cạnh tranh chủ quyền”.</div><div><br></div><div>Cho đến nay, Trung Quốc triển khai gần chục máy bay tiêm kích thế hệ thứ 4 Shenyang (Thẩm Dương) J-11 và máy bay tiêm kích-ném bom Xian (Tây An) JH-17 trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam (bị Trung Quốc xâm chiếm bằng vũ lực năm 1974). Hoạt động này của máy bay chiến đấu Trung Quốc “diễn ra thường xuyên”.</div><div><br></div><div>Trước đó, Trung Quốc còn triển khai 2 khẩu đội tên lửa phòng không hiện đại nhất của nước này HQ-9 (tương đương như S-300 của Nga), gồm 8 ống phóng tên lửa đi kèm radar tới đảo Phú Lâm. Với việc triển khai máy bay chiến đấu, tên lửa phòng không hiện đại tới khu vực này, họ có thể khống chế cả một vùng rộng lớn trên Biển Đông. Trung Quốc đang xây dựng những hòn đảo mà nước này chiếm đóng trái phép ở Biển Đông thành những căn cứ quân sự lớn. Giới phân tích quân sự cho rằng, sau tên lửa phòng không, máy bay, radar… Trung Quốc có thể sẽ triển khai các vũ khí hiện đại hơn cùng với việc lập Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ), tiếp theo có thể sẽ là tên lửa&nbsp; hạm&nbsp; đạo để kiểm soát hoàn toàn vùng biển rộng lớn.</div><div><br></div><div>Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) đã công bố những hình ảnh vệ tinh cho thấy, Trung Quốc đang bố trí một hệ thống radar tần số cao mới trên đảo đá Châu Viên, một trong 7 bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép rồi tiến hành bồi đắp, cải tạo quy mô lớn thành đảo nổi nhân tạo.</div><div><br></div><div>Theo giới quan sát, rõ ràng mục đích sâu xa từ những hoạt động triển khai, bố trí trang bị vũ khí của Trung Quốc ở đảo Phú Lâm cũng như các hòn đảo, bãi đá chiếm đóng phi pháp trên Biển Đông là nhằm hiện thực hóa mưu đồ khống chế tiến tới độc chiếm Biển Đông. Đẩy mạnh quân sự hóa Biển Đông nhằm giành ưu thế vượt trội, Trung Quốc đã leo lên nấc thang mới nguy hiểm, sẵn sàng dùng vũ lực để hiện thực hóa yêu sách chủ quyền trên Biển Đông. Những hành động gây hấn liên tiếp gia tăng căng thẳng cũng như ý đồ độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc đã bị dư luận thế giới vạch rõ và lên án.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-02 02:11:47 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2208284521</guid>
      </item>
      <item>
         <title>16. VŨ XUÂN HỒNG CH30B</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2208316276</link>
         <description><![CDATA[<div><br>Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, Châu Âu <em>- </em>Châu Á, Trung Đông <em>- </em>Châu Á. Đây được coi là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của thế giới. Mỗi ngày có khoảng 150 <em>- </em>200 tàu các loại qua lại Biển Đông. Hơn 90% lượng vận tải thương mại của Thế giới thực hiện bằng đường biển và 45% trong số đó phải đi qua Biển Đông. Do đó, Biển Đông có vai trò hết sức quan trọng đối với tất cả các nước trong khu vực về địa - chiến lược, an ninh quốc phòng, giao thông hàng hải và kinh tế.&nbsp;<br><br>Nước ta giáp với Biển Đông ở ba phía Đông, Nam và Tây Nam. Các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam là một phần Biển Đông trải dọc theo bờ biển dài khoảng 3.260 km, từ Quảng Ninh đến Kiên Giang, với nhiều bãi biển đẹp như Trà Cổ, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Cửa Lò, Cam Ranh, Vũng Tàu... Như vậy, cứ 100 km2 lãnh thổ đất liền có 1 km bờ biển, tỷ lệ này cao gấp 6 lần tỷ lệ trung bình của thế giới (600 km2đất liền có 1 km bờ biển). Không một nơi nào trên lục địa của Việt Nam lại cách xa bờ biển hơn 500 km.&nbsp;<br><br>Xét về An ninh - Quốc phòng, Biển Đông đóng vai trò quan trọng là tuyến phòng thủ hướng đông của đất nước. Các đảo và quần đảo trên Biển Đông, đặc biệt là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, không chỉ có ý nghĩa trong việc kiểm soát các tuyến đường biển qua lại Biển Đông mà còn có ý nghĩa phòng thủ chiến lược quan trọng đối với Việt Nam.&nbsp;<br><br>Việt Nam có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa rộng lớn theo Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982; có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm giữa Biển Đông và hàng nghìn đảo lớn, nhỏ, gần và xa bờ, hợp thành phòng tuyến bảo vệ, kiểm soát và làm chủ các vùng biển và thềm lục địa.<br>&nbsp;Biển Đông không chỉ cung cấp nguồn thức ăn cho cư dân ven bờ từ hàng nghìn năm nay mà còn tạo điều kiện để phát triển các ngành kinh tế và là cửa ngõ để Việt Nam có quan hệ trực tiếp với các vùng miền của đất nước, giao thương với thị trường khu vực và quốc tế, là nơi trao đổi và hội nhập của nhiều nền văn hoá.&nbsp;<br><br>Về kinh tế, Biển Đông tạo điều kiện để Việt Nam phát triển những ngành kinh tế mũi nhọn như thủy sản, dầu khí, giao thông hàng hải, đóng tàu, du lịch...&nbsp;<br><br>Ngoài ra, ven biển Việt Nam còn chứa đựng tiềm năng to lớn về quặng sa khoáng như than, zircon, thiếc, vàng, đất hiếm... trong đó cát nặng, cát đen là nguồn tài nguyên quý giá của đất nước.&nbsp;<br><br>Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm ở trung tâm Biển Đông, rất thuận lợi cho việc đặt các trạm thông tin, xây dựng các trạm dừng chân và tiếp nhiên liệu cho tàu thuyền... phục vụ cho tuyến đường hàng hải trên Biển Đông.&nbsp;<br><br>Vì vậy. Biển Đông đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cả trong lịch sử, hiện tại và tương lai.&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-02 02:39:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2208316276</guid>
      </item>
      <item>
         <title>41. Phạm Thu Trang CH30B</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2208343085</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Biển Đông ngày nay được coi là một “đấu trường căng thẳng” có khả năng bùng nổ xung đột, trong khi Trung Quốc ngang nhiên thúc đẩy các yêu sách hàng hải phi pháp.</strong></div><div>Đối với Việt Nam, Biển Đông có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cả trong lịch sử, hiện tại và tương lai. Không chỉ cung cấp nguồn thức ăn cho cư dân ven bờ từ hàng nghìn năm nay, Biển Đông còn tạo điều kiện để phát triển các ngành kinh tế và là cửa ngõ để Việt Nam giao thương với thị trường khu vực và quốc tế, nơi trao đổi và hội nhập của nhiều nền văn hóa. Đồng thời, là không gian sinh tồn để Việt Nam phát triển bền vững các ngành kinh tế mũi nhọn. Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm ở trung tâm Biển Đông, thuận lợi cho việc đặt vị trí xây dựng các trạm thông tin, kiểm soát không lưu, hàng hải, dừng chân và tiếp nhiên liệu cho tàu, thuyền,... trên tuyến hàng hải này và có ý nghĩa đặc biệt về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trên hướng biển.</div><div>Trong bối cảnh Biển Đông có các lợi ích đan xen nhiều bên với các yêu sách về chủ quyền phức tạp, tranh chấp kéo dài, các vấn đề an ninh phi truyền thống nảy sinh như một hậu quả tất yếu, kiểu “đục nước, béo cò”. Vấn đề an ninh môi trường biển xảy ra trong Biển Đông liên quan chặt chẽ đến các hành vi ứng xử khác nhau của con người. Đặc biệt, nhằm thực hiện tham vọng chủ quyền biển, đảo, Trung Quốc đã phá hủy quy mô lớn các thực thể tự nhiên ở các quần đảo ngoài khơi Biển Đông và xây dựng đảo nhân tạo ở hai huyện đảo Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam. Hậu quả vấn đề sẽ nghiêm trọng hơn nếu các hành vi hủy hoại môi trường và tài nguyên biển như vậy không được ngăn chặn. Và rõ ràng, đây là hai mặt của một vấn đề trong Biển Đông cần phải giải quyết đồng bộ.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-02 03:01:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2208343085</guid>
      </item>
      <item>
         <title>35.Lê Thị Thảo CH30B</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2208386494</link>
         <description><![CDATA[<div>Các mục tiêu tiềm năng tổng thể của Mỹ có thể bao gồm:<br><br></div><div><em>Thứ nhất</em>, thực hiện các cam kết an ninh của Mỹ ở Tây Thái Bình Dương, trong đó có các cam kết hiệp ước với Nhật Bản và Philippines;<br><br></div><div><em>Thứ hai</em>, duy trì và củng cố cấu trúc an ninh do Mỹ lãnh đạo ở Tây Thái Bình Dương, gồm các mối quan hệ an ninh của Mỹ với các đồng minh hiệp ước và các quốc gia đối tác;<br><br></div><div><em>Thứ ba</em>, duy trì cán cân quyền lực trong khu vực có lợi cho Mỹ và các đồng minh cũng như đối tác của Mỹ;<br><br></div><div><em>Thứ tư</em>, bảo vệ nguyên tắc giải quyết các tranh chấp một cách hòa bình và chống lại sự nổi lên của cách tiếp cận “lẽ phải thuộc về kẻ mạnh” trong các vấn đề quốc tế;<br><br></div><div><em>Thứ năm</em>, bảo vệ nguyên tắc tự do trên biển, đôi khi còn được gọi là tự do hàng hải; ngăn cản Trung Quốc trở thành bá chủ khu vực ở Đông Á;<br><br></div><div><em>Thứ sáu</em>, theo đuổi những mục tiêu này như một phần trong chiến lược lớn hơn của Mỹ nhằm cạnh tranh chiến lược và quản lý các mối quan hệ với Trung Quốc.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-02 03:40:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2208386494</guid>
      </item>
      <item>
         <title>44.Trần Phi Trường CH30B</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2208420469</link>
         <description><![CDATA[<div>Biển Đông có vai trò đặc biệt quan trọng cho quá trình lưu thông thương mại đối với khu vực và thế giới, Biển đông có nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú, đa dạng và dồi dào, đặc biệt là dầu khí.Biển Đông được đánh giá là một trong năm bồn trũng chứa dầu khí lớn nhất thế giới, với trữ lượng dầu mỏ ước tính lên đến hàng trăm tỉ thùng.<br>Vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông sẽ tác động lớn đến chủ quyền, an ninh chính trị và ổn định xã hội đối với tất cả các nước có tuyên bố chủ quyền ở cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực. Nếu tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông tiếp tục diễn biến phức tạp, căng thẳng sẽ tác động tiêu cực đến tình hình an ninh chính trị và ổn định xã hội ở các nước có tuyên bố chủ quyền. Nếu tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông lắng dịu, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các nước có tranh chấp chủ quyền thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao vị thế, vai trò trên trường quốc tế.<br>Trong những năm gần đây, vấn đề tranh chấp trên Biển Đông, đặc biệt là vấn đề tranh chấp chủ quyền vẫn diễn biến căng thẳng, phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ xảy ra xung đột, thực sự là một trong những thách thức lớn đối với tất cả các nước trong khu vực. Nếu vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông tiếp tục diễn biến phức tạp, hoặc nổ ra xung đột sẽ tác động lớn đến môi trường hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực cũng như lợi ích của tất cả các nước trong khu vực Đông Nam Á trong đó có Việt nam.<br>Thời gian gần đây, khi tình hình Biển Đông xuất hiện những biến động phức tạp, các thế lực thù địch một lần nữa lại lợi dụng vấn đề này để bóp méo sự thật, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam, từ đó khuấy động lòng dân, hòng gây mất ổn định tình hình an ninh, trật tự trong nước và làm tổn hại đến quan hệ của Việt Nam với các nước liên quan.<br>Các thế lực thù địch còn tán phát nhiều tài liệu, bài viết có nội dung xuyên tạc đường lối đối ngoại hòa bình, độc lập, tự chủ; chính sách quốc phòng của Việt Nam và khả năng chiến đấu của Quân đội, gây tâm lý bất an, hoài nghi của một bộ phận quần chúng do thiếu thông tin, do ngộ nhận; đòi “hợp tác với một nước khác để giải quyết tình hình”, từ đó đánh vào tâm lý người dân, cho rằng lãnh đạo Đảng, Nhà nước “vì phe này, phe kia” để chủ quyền biển, đảo bị xâm lấn; đưa ra luận điệu: khi đất nước chỉ có một đảng thì không có đủ sức mạnh để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, từ đó hướng lái tư tưởng đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.<br><br></div><div>Lợi dụng các trang mạng xã hội, các thế lực thù địch rêu rao rằng Đảng, Nhà nước Việt Nam “nhu nhược” trong đường lối, chính sách bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển; hải quân Việt Nam “hèn yếu”, “nhu nhược”...<br><br></div><div>Mục đích của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội khi lợi dụng internet và mạng xã hội để đưa các thông tin tuyên truyền sai sự thật, xuyên tạc về tình hình biển Đông là nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, chia rẽ giữa Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân trong vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Do đó, các thế lực thù địch đã lợi dụng những diễn biến phức tạp trên Biển Đông để kích động một bộ phận nhân dân biểu tình, tuần hành gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, từ đó tác động tiêu cực tới nhận thức, tư tưởng, gây tâm lý hoang mang, hoài nghi, làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Mưu đồ sâu xa của các thế lực là thông qua vấn đề biển, đảo đểchống phá chế độ, gây chia rẽ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, thực hiện “diễn biến hòa bình”; chia rẽ quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước có liên quan, làm cho Việt Nam rơi vào tình trạng đối đầu, bị cô lập.</div><div>Có thể nhận thấy, những căng thẳng trên biển Đông đã trở thành “miếng mồi béo bở” để các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng để xuyên tạc, chống phá sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo; từ đó chia rẽ mối quan hệ mật thiết của Đảng với nhân dân; hạ vệ uy tín của Đảng, Nhà nước Việt Nam với cộng đồng quốc tế. Đó là những âm mưu thâm độc, thủ đoạn tinh vi nên cần phải có những cách thức để đấu tranh phản bác có hiệu quả.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-02 04:16:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2208420469</guid>
      </item>
      <item>
         <title>26.Nguyễn Phương Loan- CH30B</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2208428484</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;<br><br></div><div>Trung Quốc tiến hành chia rẽ, phân hóa các nước ASEAN nhằm phân tán sức mạnh đoàn kết của ASEAN. Một khi ASEAN bị chia rẽ, không coi Biển Đông là vấn đề chung của Hiệp hội mà chỉ là vấn đề giữa Trung Quốc với một nước ASEAN thì Trung Quốc có thể dễ đạt được các thỏa hiệp có lợi nhất về vấn đề Biển Đông. Nhằm mục tiêu ấy, Trung Quốc đã lợi dụng sự bất đồng về lợi ích, về quan điểm giải quyết các tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông của các nước ASEAN có tuyên bố chủ quyền để gây chia rẽ, không để các nước này đoàn kết thành một khối đối trọng với Trung Quốc. Bên cạnh đó, Trung Quốc sử dụng con bài viện trợ để các nước này vì lợi ích quốc gia trước mắt mà không ủng hộ các nước ASEAN khác trong “hồ sơ Biển Đông”; chủ trương đàm phán riêng rẽ đối với các nước có liên quan trực tiếp đến tranh chấp ở Biển Đông để đạt lợi ích riêng. Trung Quốc tăng cường ảnh hưởng đối với các nước ASEAN khác nhằm tách họ khỏi các vấn đề Biển Đông, tập trung vào bao vây, cô lập Việt Nam với các nước ASEAN, vì Trung Quốc cho rằng, Việt Nam là lực cản lớn nhất đối với chiến lược độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc.<br><br>Trung Quốc chủ trương chủ yếu đàm phán song phương với từng nước ASEAN, không đàm phán chung với cả Hiệp hội về vấn đề Biển Đông. Chủ trương của Trung Quốc là thể hiện chủ quyền ở Biển Đông thuộc về Trung Quốc và làm giảm vai trò, sức mạnh tập thể của ASEAN trong các vấn đề an ninh khu vực, qua đó làm tăng vai trò nước lớn của Trung Quốc.<br><br>Cùng với việc phản đối đàm phán về vấn đề Biển Đông với ASEAN, Trung Quốc đồng thời vô hiệu hóa các nội dung về Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) mà hai bên đã ký kết năm 2002. Trung Quốc luôn nói tuân thủ DOC nhưng thực tế, Trung Quốc trắng trợn hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 vào sâu trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam từ ngày 1-5-2014, đưa các tàu, kể cả tàu chiến và máy bay quân sự chủ động đâm va, dùng vũ lực đối với các lực lượng dân sự thi hành pháp luật của Việt Nam, đâm chìm tàu cá của ngư dân ta, đe dọa an toàn hàng hải, hàng không trên Biển Đông, bất chấp phản đối của Việt Nam và nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế.<br><br>Trung Quốc tìm lý do trì hoãn bàn với ASEAN về Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC). Trong khi chưa hoàn tất COC, Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng DOC!<br><br>Trung Quốc cũng lôi kéo ASEAN ngăn chặn ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực. Trung Quốc luôn coi Đông Nam Á là “khu vực ảnh hưởng truyền thống” của mình. Trước việc Mỹ thực hiện chính sách “tái cân bằng” ở khu vực, lấy Biển Đông làm khâu đột phá để làm suy yếu ảnh hưởng của Trung Quốc, nước này đã tìm cách phản công lại bằng cách quy kết lập trường của Mỹ về Biển Đông chỉ mang lại lợi ích cho Mỹ, không có lợi cho ASEAN.<br><br>Trung Quốc ban hành các quy định về vùng đặc quyền kinh tế (phi pháp), cấm các nước khác khảo sát, đo đạc trong vùng đặc quyền kinh tế (phi pháp) của Trung Quốc; phản đối hoạt động của các tàu do thám Mỹ, muốn đẩy Hải quân Mỹ ra khỏi Biển Đông nhằm phá thế bao vây về quân sự của Mỹ. Đồng thời, Trung Quốc có ý đồ dùng quân sự để khống chế các đường hàng hải quốc tế ở Biển Đông, nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực và hạn chế khả năng Mỹ can thiệp vào vấn đề Đài Loan khi có tình huống xảy ra.<br><br>Trung Quốc đang thực hiện ý đồ kiểm soát Biển Đông bằng “sức mạnh mềm”, đồng thời độc đoán, liều lĩnh hơn trong khẳng định yêu sách chủ quyền. Trung Quốc tăng cường đầu tư cho quân sự, quyết tâm thực hiện ba nhiệm vụ quan trọng là: Mạnh về hải quân để trở thành cường quốc biển; chạy đua trên vũ trụ; giành ưu thế về công nghệ thông tin, chiến tranh mạng.<br><br>Kể từ năm 1988 đến nay, Trung Quốc đã tăng ngân sách quốc phòng lên 13 lần, do đó, quân đội Trung Quốc đã có hải quân vào loại mạnh nhất châu Á. Hải quân và kiểm ngư Trung Quốc tăng cường hoạt động ở khu vực “đường lưỡi bò” để gây sức ép với các nước ASEAN, tạo sự lo ngại va chạm của các nước có liên quan để các nước này không dám phản đối Trung Quốc. Nước này đã sử dụng các tàu thăm dò, tàu đánh cá hoạt động ở những vùng tranh chấp và tiến hành các biện pháp nhằm dân sự hóa sự hiện diện của Trung Quốc.<br><br>Song song với việc áp đặt chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa, ngang nhiên đưa nhiều tàu đánh cá vào hoạt động ở ngư trường truyền thống của Việt Nam, Trung Quốc còn phái một đoàn tàu đánh cá đến Trường Sa. Khi dựa trên một đoàn tàu “dân sự” ngày càng mạnh của Cục Quản lý Đại dương hay của Cơ quan Ngư chính, mà tàu, thuyền được trang bị vũ khí hạng nặng, Trung Quốc đang dùng chính sách “sự đã rồi” để áp đặt chủ quyền của họ.<br><br>Trung Quốc cũng phản đối “quốc tế hóa” vấn đề Biển Đông, tránh đưa tranh chấp ra các cơ chế phán quyết quốc tế. Trung Quốc luôn yêu cầu đàm phán song phương với từng nước tranh chấp chủ quyền ở Trường Sa, luôn khước từ một bên thứ ba can thiệp vào những tranh chấp trên Biển Đông vì muốn dùng áp lực nước lớn “nói chuyện” với các nước nhỏ; phản đối Philippine, Việt Nam đưa vấn đề tranh chấp ra Tòa Trọng tài Thường trực Quốc tế (PCA). Trung Quốc né tránh sử dụng luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982, điều này chứng tỏ Trung Quốc yếu thế về cơ sở pháp lý trong các yêu sách chủ quyền phi lý của họ trên Biển Đông.<br><br>Gần đây, Trung Quốc chủ động yêu cầu Tổng Thư ký Liên hợp quốc (LHQ) cho lưu hành bức thư vu khống Việt Nam đến tất cả 193 quốc gia thành viên của tổ chức quốc tế này. Khỏi phải nói, Trung Quốc “đổi trắng thay đen” thế nào. Thử hỏi, nếu đã gửi công hàm “phản đối” Việt Nam lên LHQ thì liệu Trung Quốc có chấp thuận để cho tổ chức này phân xử những tranh chấp không? Chắc chắn là không. Sự chỉ trích của cộng đồng quốc tế với hành động của Trung Quốc ngày càng mạnh mẽ và việc Trung Quốc gửi “thư phản đối” lên Tổng Thư ký LHQ không chỉ là để bác bỏ công hàm trước đó của Việt Nam gửi Tổng Thư ký LHQ, mà chính là một nỗ lực làm giảm bớt sức cộng hưởng của vấn đề này trong dư luận thế giới. Phải chăng, Trung Quốc gửi thư này là muốn LHQ sẽ “hợp thức hóa” việc họ hạ đặt giàn khoan trái phép trong vùng biển của Việt Nam? Kháng thư gửi LHQ còn có thể được hiểu rằng, Trung Quốc sẽ có những bước leo thang mới trên Biển Đông và tìm cách xoa dịu trước những tác động tiêu cực tiềm năng do hành động của họ gây nên.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-02 04:24:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2208428484</guid>
      </item>
      <item>
         <title>12. Nguyễn Hoàng Hiệp - CH30B</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2208433022</link>
         <description><![CDATA[<div>Biển Đông là biển nửa kín1, ven lục địa có diện tích khoảng 3,5 triệu km2, là một trong những biển lớn nhất trên thế giới, nằm giữa từ vĩ độ 00 đến vĩ độ 250 Bắc và từ kinh độ 1000 Đông đến kinh độ 1210 Đông; trải dài từ bờ biển Việt Nam ở phía Tây đến các đảo Luzon, Palauwan và Borneo ở phía Đông và từ Trung Quốc ở phía Bắc đến Indonesia ở phía Nam. Ở phía Bắc, Biển Đông nối liền với biển Hoa Đông qua eo biển Đài Loan; ở phía Đông Bắc nối với biển Philippines của Thái Bình Dương qua các eo biển Luzon; ở phía Tây Nam nối với biển Andaman của Ấn Độ Dương thông qua các eo biển Singapore và Malacca; ở phía Nam thông ra biển Java qua các eo biển Karimata.<br>Đối với Việt Nam, Biển Đông có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cả trong lịch sử, hiện tại và tương lai. Không chỉ cung cấp nguồn thức ăn cho cư dân ven bờ từ hàng nghìn năm nay, Biển Đông còn tạo điều kiện để phát triển các ngành kinh tế và là cửa ngõ để Việt Nam giao thương với thị trường khu vực và quốc tế, nơi trao đổi và hội nhập của nhiều nền văn hóa. Đồng thời, là không gian sinh tồn để Việt Nam phát triển bền vững các ngành kinh tế mũi nhọn, như: thủy sản, dầu khí, giao thông hàng hải, đóng tàu, du lịch, v.v. Ngoài ra, ven biển Việt Nam còn chứa đựng tiềm năng to lớn về quặng sa khoáng, như: than, zircon, thiếc, vàng, đất hiếm,... trong đó cát nặng, cát đen là nguồn tài nguyên quý giá của đất nước. Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm ở trung tâm Biển Đông, thuận lợi cho việc đặt vị trí xây dựng các trạm thông tin, kiểm soát không lưu, hàng hải, dừng chân và tiếp nhiên liệu cho tàu, thuyền,... trên tuyến hàng hải này và có ý nghĩa đặc biệt về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trên hướng biển.</div><div><br></div><div><br></div><div><br></div><div><br></div><div><br></div><div><br></div><div><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-02 04:29:28 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2208433022</guid>
      </item>
      <item>
         <title>17. Nguyễn Quang Huấn</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2208516636</link>
         <description><![CDATA[<div>- Là một trong những biển lớn nhất trên thế giới, tuyến đường ngắn nhất nối Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương.<br>-&nbsp; Tuyến đường vận tải quốc tế qua Biển Đông được coi là nhộn nhịp thứ 2 trên thế giới (chỉ sau Địa Trung Hải), chiếm hơn một nửa trọng tải vận chuyển thương mại hàng hải toàn cầu, sự sống còn không chỉ với các quốc gia và vùng lãnh thổ bao quanh, mà còn đối với khu vực Đông Á và thế giới.</div><div>- Ngoài ra, trữ lượng dầu mỏ, khí đốt, khoáng sản và hải sản ở Biển Đông có thể đảm bảo một phần đáng kể an ninh năng lượng, lương thực cho các nước ven bờ. Theo đánh giá sơ bộ của các nhà khoa học, trữ lượng dầu mỏ và khí đốt tại đây có thể vượt cả trữ lượng dầu mỏ và khí đốt ở khu vực Trung Đông. Các khu vực được cho là có triển vọng nhất về dầu mỏ là thềm lục địa quần đảo Trường Sa, khu vực quần đảo Hoàng Sa và vịnh Bắc Bộ. Đối với nguồn lợi hải sản, theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc, Biển Đông là vùng biển được xếp hạng thứ 4 trong số 19 khu vực đánh cá tốt nhất thế giới về tổng sản lượng đánh bắt cá hằng năm.</div><div>- Đối với Việt Nam, Biển Đông có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cả trong lịch sử, hiện tại và tương lai. Không chỉ cung cấp nguồn thức ăn cho cư dân ven bờ từ hàng nghìn năm nay, Biển Đông còn tạo điều kiện để phát triển các ngành kinh tế và là cửa ngõ để Việt Nam giao thương với thị trường khu vực và quốc tế, nơi trao đổi và hội nhập của nhiều nền văn hóa. Đồng thời, là không gian sinh tồn để Việt Nam phát triển bền vững các ngành kinh tế mũi nhọn, như: thủy sản, dầu khí, giao thông hàng hải, đóng tàu, du lịch, v.v. Ngoài ra, ven biển Việt Nam còn chứa đựng tiềm năng to lớn về quặng sa khoáng, như: than, zircon, thiếc, vàng, đất hiếm,... trong đó cát nặng, cát đen là nguồn tài nguyên quý giá của đất nước. Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm ở trung tâm Biển Đông, thuận lợi cho việc đặt vị trí xây dựng các trạm thông tin, kiểm soát không lưu, hàng hải, dừng chân và tiếp nhiên liệu cho tàu, thuyền,... trên tuyến hàng hải này và có ý nghĩa đặc biệt về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trên hướng biển.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-02 05:52:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2208516636</guid>
      </item>
      <item>
         <title>40. Triệu Khắc Toản CH30B</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2208575549</link>
         <description><![CDATA[<div>Ở khu vực Biển Đông, các hệ sinh thái đang đối mặt với nguy cơ suy thoái nghiêm trọng. Hội thảo về An ninh môi trường trên Biển Đông được tổ chức tại Mỹ ngày 6/5/2016, đã chỉ ra 80% các rạn san hô ở vùng biển này bị suy giảm, dẫn đến suy giảm nguồn cá, vì san hô chính là môi trường sinh thái để các loài cá biển phát triển. Từ những năm 60 của thế kỷ XX tới nay, số lượng các loài cá tại Biển Đông đã suy giảm khoảng một nửa. Theo đánh giá của các chuyên gia, thời gian gần đây, việc Trung Quốc tiến hành hàng loạt các hoạt động tôn tạo, xây dựng trái phép các bãi đá nhân tạo với quy mô lớn tại Biển Đông là một trong những nguyên nhân dẫn tới những tác động tiêu cực về môi trường. Việt Nam là quốc gia có lợi thế đường bờ biển dài và nhiều đảo, quần đảo, với tài nguyên biển phong phú. Tuy nhiên, do&nbsp; sự tranh chấp về tài nguyên biển của các quốc gia trong khu vực có biển chung, Việt Nam cũng phải đối mặt với không chỉ các vấn đề về an ninh môi trường mà còn cả vấn đề về chủ quyền lãnh thổ và lãnh thổ Việt Nam. Vì vậy, khi xảy ra tranh chấp tại Biển Đông sẽ ảnh hưởng rất lớn đến an ninh quốc gia trong đó đặc biệt là an ninh kinh tế; an ninh chính trị; an ninh đối ngoại của Việt Nam ta.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-02 06:41:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2208575549</guid>
      </item>
      <item>
         <title>07. Nguyễn Quang Duy</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2208580042</link>
         <description><![CDATA[<div>Xét về an ninh, quốc phòng, Biển Đông đóng vai trò quan trọng là tuyến phòng thủ hướng đông của đất nước. Các đảo và quần đảo trên Biển Đông, đặc biệt là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, không chỉ có ý nghĩa trong việc kiểm soát các tuyến đường biển qua lại Biển Đông mà còn có ý nghĩa phòng thủ chiến lược quan trọng đối với Việt Nam.</div><div><br>Nước ta giáp với Biển Đông ở ba phía Đông, Nam và Tây Nam. Các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam là một phần Biển Đông trải dọc theo bờ biển dài khoảng 3.260 km, từ Quảng Ninh đến Kiên Giang, với nhiều bãi biển đẹp như Trà Cổ, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Cửa Lò, Cam Ranh, Vũng Tàu... Như vậy, cứ 100 km<sup>2</sup> lãnh thổ đất liền có 1 km bờ biển, tỷ lệ này cao gấp 6 lần tỷ lệ trung bình của thế giới (600 km<sup>2</sup> đất liền có 1 km bờ biển). Không một nơi nào trên lục địa của Việt Nam lại cách xa bờ biển hơn 500 km.</div><div><br>Việt Nam có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa rộng lớn theo Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982; có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm giữa Biển Đông và hàng nghìn đảo lớn, nhỏ, gần và xa bờ, hợp thành phòng tuyến bảo vệ, kiểm soát và làm chủ các vùng biển và thềm lục địa.</div><div><br>Biển Đông đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cả trong lịch sử, hiện tại và tương lai. Không chỉ cung cấp nguồn thức ăn cho cư dân ven bờ từ hàng nghìn năm nay, Biển Đông còn tạo điều kiện để phát triển các ngành kinh tế và là cửa ngõ để Việt Nam có quan hệ trực tiếp với các vùng miền của đất nước, giao thương với thị trường khu vực và quốc tế, là nơi trao đổi và hội nhập của nhiều nền văn hóa.</div><div><br>Về kinh tế, Biển Đông tạo điều kiện để Việt Nam phát triển những ngành kinh tế mũi nhọn như thủy sản, dầu khí, giao thông hàng hải, đóng tàu, du lịch...</div><div><br>Ngoài ra, ven biển Việt Nam còn chứa đựng tiềm năng to lớn về quặng sa khoáng như than, zircon, thiếc, vàng, đất hiếm... trong đó cát nặng, cát đen là nguồn tài nguyên quý giá của đất nước.</div><div><br>Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm ở trung tâm Biển Đông, rất thuận lợi cho việc đặt các trạm thông tin, xây dựng các trạm dừng chân và tiếp nhiên liệu cho tàu thuyền... phục vụ cho tuyến đường hàng hải trên Biển Đông.</div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-02 06:45:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2208580042</guid>
      </item>
      <item>
         <title>30. Vũ Trí Ngọc CH30B</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2208586395</link>
         <description><![CDATA[<div>Trong vài năm qua, Biển Đông đã nổi lên như một “đấu trường” cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc.<br><br>Các hành động của Trung Quốc ở vùng biển này, bao gồm các hoạt động xây dựng đảo và thiết lập căn cứ trên diện rộng tại các địa điểm mà nước này chiếm đóng ở quần đảo Trường Sa, cũng như các hành động của lực lượng hàng hải Trung Quốc nhằm khẳng định yêu sách của Bắc Kinh trước những tuyên bố chủ quyền của các nước láng giềng trong khu vực như Philippines và Việt Nam, đã khiến các nhà quan sát Mỹ ngày càng lo ngại.<br><br>Đây là khu vực có tầm quan trọng về chiến lược, chính trị và kinh tế đối với Mỹ, cũng như các đồng minh và đối tác của Washington.<br><br>Bên cạnh đó, các hành động của lực lượng hàng hải Trung Quốc tại quần đảo Senkaku/Điếu Ngư ở Biển Hoa Đông cũng là một mối quan tâm khác đối với giới quan sát Mỹ.<br><br>Những mục tiêu chung của Mỹ trong cuộc cạnh tranh chiến lược với Trung Quốc có thể bao gồm:<br><br>Thứ nhất, thực hiện các cam kết an ninh của Mỹ ở Tây Thái Bình Dương, trong đó có các cam kết hiệp ước với Nhật Bản và Philippines;<br><br>Thứ hai, duy trì và củng cố cấu trúc an ninh do Mỹ lãnh đạo ở Tây Thái Bình Dương, gồm các mối quan hệ an ninh của Mỹ với các đồng minh hiệp ước và các quốc gia đối tác;<br><br>Thứ ba, duy trì cán cân quyền lực trong khu vực có lợi cho Mỹ và các đồng minh cũng như đối tác của Mỹ;<br><br>Thứ tư, bảo vệ nguyên tắc giải quyết các tranh chấp một cách hòa bình và chống lại sự nổi lên của cách tiếp cận “lẽ phải thuộc về kẻ mạnh” trong các vấn đề quốc tế.<br>Thứ năm, bảo vệ nguyên tắc tự do trên biển, đôi khi còn được gọi là tự do hàng hải; ngăn cản Trung Quốc trở thành bá chủ khu vực ở Đông Á;<br><br>Thứ sáu, theo đuổi những mục tiêu này như một phần trong chiến lược lớn hơn của Mỹ nhằm cạnh tranh chiến lược và quản lý các mối quan hệ với Trung Quốc.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-02 06:50:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2208586395</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2209880187</link>
         <description><![CDATA[<div>Lê Văn Thinh CH30B<br>Việt Nam có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa rộng lớn theo Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982; có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm giữa Biển Đông và hàng nghìn đảo lớn, nhỏ, gần và xa bờ, hợp thành phòng tuyến bảo vệ, kiểm soát và làm chủ các vùng biển và thềm lục địa.</div><div><br>Biển Đông đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cả trong lịch sử, hiện tại và tương lai. Không chỉ cung cấp nguồn thức ăn cho cư dân ven bờ từ hàng nghìn năm nay, Biển Đông còn tạo điều kiện để phát triển các ngành kinh tế và là cửa ngõ để Việt Nam có quan hệ trực tiếp với các vùng miền của đất nước, giao thương với thị trường khu vực và quốc tế, là nơi trao đổi và hội nhập của nhiều nền văn hóa.</div><div><br>Về kinh tế, Biển Đông tạo điều kiện để Việt Nam phát triển những ngành kinh tế mũi nhọn như thủy sản, dầu khí, giao thông hàng hải, đóng tàu, du lịch...</div><div><br>Ngoài ra, ven biển Việt Nam còn chứa đựng tiềm năng to lớn về quặng sa khoáng như than, zircon, thiếc, vàng, đất hiếm... trong đó cát nặng, cát đen là nguồn tài nguyên quý giá của đất nước.</div><div><br>Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm ở trung tâm Biển Đông, rất thuận lợi cho việc đặt các trạm thông tin, xây dựng các trạm dừng chân và tiếp nhiên liệu cho tàu thuyền... phục vụ cho tuyến đường hàng hải trên Biển Đông.</div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-03 06:39:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2209880187</guid>
      </item>
      <item>
         <title>47. Đặng Văn Vịnh CH30B</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2219348961</link>
         <description><![CDATA[<div>Tác động ảnh hưởng đối với ANQG Việt Nam:<br>Việt Nam là quốc gia ven biển với bờ biển dài trên 3.260 km trải dài từ Bắc xuống Nam. Trong 63 tỉnh, thành phố của cả nước thì 28 tỉnh, thành phố có biển và gần một nửa dân số sinh sống tại các tỉnh, thành ven biển. Đối với Việt Nam, Biển Đông đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong lịch sử, hiện tại và cả tương lai. Công tác bảo vệ chủ quyền biển đảo là nhiệm vụ quan trọng, chiến lược. Trên cơ sở đánh giá đúng tình hình trong nước, khu vực, quốc tế và xu thế của thời đại, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định, bổ sung, phát triển những quan điểm cơ bản về nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo trong tình hình mới. Trong đó, Đảng đã xác định quan điểm nhất quán và đề ra các biện pháp giải quyết vấn đề tranh chấp trên biển, đảo hiện nay: “<em>Kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ, lợi ích quốc gia – dân tộc trên biển, trên không và trên bộ; hợp tác quốc tế về biển, đảo được tăng cường, duy trì môi trường hòa bình, ổn định, thúc đẩy quan hệ với các nước</em>”.&nbsp;</div><div>Biển Đông có diện tích rộng 3,5 triệu kilômet vuông với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, trữ lượng dầu mỏ, khí đốt dồi dào, nơi thông thương và là huyết hạch hàng hải quốc tế quan trọng đã làm cho Biển Đông trở thành nơi xảy ra những cuộc xung đột gay gắt nhất khu vực Châu Á - Thái Bình Dương hiện nay. Biển Đông có tầm quan trọng, vị thế chiến lược trọng yếu không chỉ với Việt Nam và vùng lãnh thổ bao quanh, mà còn có vai trò hết sức quan trọng đối với các quốc gia trên thế giới. Xét về yếu tố địa chính trị, Biển Đông có vai trò đặc biệt quan trọng để Trung Quốc hiện thực hóa tham vọng trở thành cường quốc biển và cường quốc kinh tế số 1 thế giới. Giành quyền kiểm soát Biển Đông, Trung Quốc sẽ giành được nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú, đa dạng và dồi dào, đặc biệt là dầu khí. Chính vì vậy, trong nhiều năm gần đây, Chính phủ của Chủ tịch Tập Cận Bình đã, đang nỗ lực thúc đẩy nhiều hoạt động nhằm kiểm soát toàn bộ Biển Đông bằng nhiều biện pháp cả ngoại giao và ngoài thực địa trên biển. Trên biển, Trung Quốc triển khai nhiều biện pháp cứng rắn nhằm hiện thực hóa tham vọng chủ quyền theo yêu sách “đường lưỡi bò” mà Trung Quốc tự đặt ra. Không nằm ngoài mục tiêu đó, việc tiến hành ồ ạt các hoạt động cải tạo trên diện rộng các cấu trúc địa lý tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam mà Trung Quốc này hiện đang chiếm đóng trái phép đã bắt đầu từ đầu năm 2013 đến nay. Từ ảnh vệ tinh cho thấy Trung Quốc ráo riết thúc đẩy các hoạt động tôn tạo, huy động các lực lượng hải quân, cảnh sát biển, dân binh, tàu hậu cần, vận tải… và một lượng lớn máy móc, trang thiết bị thông tin tham gia đồng loạt đẩy mạnh xây dựng tại các đảo Phú Lâm (Hoàng Sa) và 07 bãi đá Châu Viên, Chữ Thập, Gaven, Tư Nghĩa, Gạc Ma, Vành Khăn, SuBi (Trường Sa). Bên cạnh đó, năm 2014, Trung Quốc điều giàn khoan HD 981 xâm phạm vùng biển của Việt Nam gây ra xung đột căng thẳng trong khu vực. Không chỉ Việt Nam, nhiều quốc gia trên thế giới đã quan ngại sâu sắc trước hành động ngang ngược, leo thang căng thẳng của Trung Quốc. Tuy nhiên, hành động này không chấm dứt, Trung Quốc cho phép Tập đoàn dầu khí Hải dương (CNOOC) ngang nhiên điều nhiều lượt giàn khoan, tàu khảo sát, tàu nghiên cứu có sự hộ tống của lực lượng cảnh sát biển, dân binh đến khu vực thềm lục địa của Việt Nam. chính phủ Trung Quốc còn đồng ý cho CNOOC xây dựng chiến lược lâu dài để khai thác, tận dụng tối đa nguồn tài nguyên phong phú ở Biển Đông. Không chỉ ngang nhiên, nguy hiểm hơn, Trung Quốc coi các đảo đá và cả khu vực Biển Đông là của riêng mình, khi thường xuyên xua đuổi, thậm chí tấn công, đâm chìm tàu cá đang&nbsp; hoạt động ngư nghiệp của ngư dân Việt Nam. Đặc biệt, từ năm 2019, Trung Quốc liên tục tập trận ở Biển Đông, cả ngày lẫn đêm và kéo dài trong nhiều tuần. Điển hình gần đây, lợi dụng chiến sự căng thẳng ở Ukraina, Trung Quốc đã tiến hành tập trận từ ngày 04/3/2022 đến ngày 09/4/2022 tại Biển Đông, khu vực giữa đảo Hải Nam và Việt Nam thể hiện sức mạnh quân sự, phô trương thanh thế và răn đe các nước trong khu vực. Với tình hình Trung Quốc thường xuyên có những hành động nguy hiểm, gây nguy cơ xung đột cao, nhiều quốc gia trong khu vực&nbsp; đã lên tiếng và có những hành động cụ thể, đặc biệt là Philippines - quốc gia có vùng tiếp giáp lãnh hải rộng lớn với Biển Đông. Tại các diễn đàn ngoại giao, Philippines khẳng định tuyên bố chủ quyền đối với đá Ba Đầu và một số đảo tại quần đảo Trường Sa, đã thể hiện sự cứng rắn với chính quyền Trung Quốc. Bên cạnh đó, trên thực địa, Philippines cho tàu cảnh sát biển, tàu hải quân, có cả tàu ngầm và đổ dồn các khí tài, quân sự, trang thiết bị đến gần nơi các tàu cảnh sát biển, tàu dân quân của Trung Quốc có hiện diện ở Trường Sa, thể hiện lập trường nhất quán muốn xua đuổi Trung Quốc ra khỏi khu vực. Còn thế giới, điển hình là Mỹ và các quốc gia có chung lợi ích cũng đã thể hiện rất rõ quan điểm lập trường của mình với các nguy cơ xung đột tại Biển Đông. Nhiều lượt tàu hải quân, tàu lặn, tàu hạt nhân và các tàu quân sự khác của Mỹ, Úc, Nhật Bản và Anh đã được triển khai trên đến Biển Đông và eo biển Đài Loan gây ra căng thẳng nguy hiểm có thể dẫn tới nguy cơ chiến tranh bất cứ lúc nào. Thế giới coi khu vực Biển Đông như “Bom nổ chậm” đáng báo động, có thể xảy ra chiến tranh, đe dọa hòa bình và ổn định trên khắp các khu vực biển Châu Á – Thái Bình Dương. Nhìn chung, sự gia tăng căng thẳng trên thực địa của Trung Quốc và các quốc gia khác trên thế giới đã làm cho tình hình Biển Đông có những diễn biến phức tạp, khó lường với nhiều hoạt động trên không, trên mặt biển, dưới đáy biển, và thậm chí trong không gian vũ trụ theo hướng quân sự hóa. Điều này khiến tình hình Biển Đông trở nên khó đoán, gia tăng nguy cơ đụng độ ngoài ý muốn, đặt ra nhiều lo ngại đối với các nước trong khu vực. Với Việt Nam, đảm bảo an ninh quốc gia và vì lợi ích chung, chúng ta đã có nhiều hoạt động quốc tế, hợp tác quốc gia nhằm giữ vững hòa bình và ổn định khu vực Biển Đông, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của đất nước trong tương lai. Trung Quốc muốn thể hiện sức mạnh quân sự để gây ảnh hưởng lên các nước Đông Nam Á, đồng thời chứng minh vị thế để củng cố tinh thần dân tộc trong nước. Không những vậy, Bắc Kinh còn muốn “thử lửa” khả năng của Mỹ trong bối cảnh Nga vẫn tiếp tục chiến dịch quân sử ở Ukraine. Rõ ràng, khi Mỹ bị phân tâm bởi xung đột ở Ukraine, thì việc chuyển hướng các nguồn lực ở Biển Đông, biển Hoa Đông, eo biển Đài Loan trở thành cơ hội chiến lược để Trung Quốc thúc đẩy các lợi ích cốt lõi mà nước này đề ra ở khu vực.</div><div>Hành động đơn phương, sử dụng lực lượng chấp pháp vượt quá thẩm quyền, thậm chí sử dụng số lượng lớn tàu cá được trang bị vũ trang để duy trì hiện diện, tạo nguyên trạng mới, đồng thời, cản trở, can thiệp vào các hoạt động thăm dò, khai thác và quản lý tài nguyên của các quốc gia ven biển đang ngày càng mở rộng về phạm vi và tần suất gây quan ngại và xói mòn lòng tin giữa các bên.</div><div>Sự hiện diện với mật độ cao, quy mô lớn của các lực lượng hải quân không chỉ là biểu hiện của cạnh tranh sức mạnh quân sự mà còn tiềm ẩn rủi ro dẫn tới đối đầu.</div><div>Đặc biệt, sự gia tăng đột biến các hoạt động tập trận trên biển và trên không của các nước lớn đang làm lo ngại về nguy cơ chạy đua vũ trang và quân sự hoá, khiến Biển Đông không chỉ là không gian biểu dương sức mạnh quân sự giữa các nước lớn, mà còn tiềm ẩn là điểm nóng xung đột của thế giới</div><div>&nbsp;</div><div>&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-13 09:47:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2219348961</guid>
      </item>
      <item>
         <title>46. Sái Văn Tuyến CH30B</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2221620340</link>
         <description><![CDATA[<div>Nguy cơ xung đột, tranh chấp ở Biển Đông tác động đến An ninh quốc gia của Việt Nam:<br>1. Trực tiếp đe doạ đến độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam<br>2. Nguy cơ làm mất đi nguồn lực, tiềm năng phát triển Kinh tế.<br>3. Xung đột biển Đông làm mất ổn định an ninh chính trị xã hội trong nước. Dễ bị các thế lực thù địch móc nối, kích động, lôi kéo số phản động, cơ hội chính trị và cả người dân nhẹ dạ, thiếu hiểu biết tụ tập, biểu tình phản đối TQ gây mất ổn định an ninh, trật tự an toàn xã hội<br>4. Nguy cơ ảnh hưởng tiêu cực tới quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và các nước trong khu vực</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-15 06:16:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2221620340</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Trung.CH30B</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2222512759</link>
         <description><![CDATA[<div>- Ảnh hưởng đến an ninh chính trị của Việt Nam<br>- Ảnh hưởng đến công tác đối ngoại của Việt Nam với các bên tranh chấp.<br>- Ảnh hưởng đến sự khai thác các nguồn lợi, tiềm năng tại Biển Đông củ Việt Nam.<br>- Tác động đến quyền chủ quyền, an ninh chính trị và ổn định xã hội của tất cả các nước có tuyên bố chỉ quyền, trong đó có Việt Nam.<br>- Khi tình hình Biển Đông phức tạp các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề này để bóp méo sự thật, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam, hòng gây mất ổn định tình hình an ninh, trật tự trong nước. Các thế lực thù địch đã tán phát nhiều tài liệu, báo viết có nội dung xuyên tạc đường lối đối ngoại của Việt Nam và khả năng chiến đấu của quân đội, gây tâm lý bất an, hoài nghi của một bộ phận quần chúng.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-16 01:36:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2222512759</guid>
      </item>
      <item>
         <title>CH30B.06. Nguyễn Anh Điệp</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2223585046</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Vai trò của biển đối với sự phát triển nhân loại:<br></strong>&nbsp;<strong>Đối với môi trường sống:</strong></div><div>Biển và đại dương đại dương chiếm khoảng 71% bề mặt Trái đất và 90% sinh quyển giúp điều chỉnh cân bằng các cực từ nhiệt độ thịnh hành trên Trái đất và làm dịu các ảnh hưởng khốc liệt của thời tiết như mưa bão, lũ, lụt, khô hạn,... Thiếu biển và đại dương, các đại lục sẽ trở thành các sa mạc khô cằn, môi trường sống của loài người. Sự bốc hơi nước của các đại dương quyết định phần lớn lượng giáng thủy mà Trái Đất nhận được, nhiệt độ nước của các đại dương cũng quyết định phần lớn khí hậu và kiểu gió trên Trái Đất.&nbsp;</div><div><strong>2.</strong>&nbsp; &nbsp; <strong>Đối với nền kinh tế:&nbsp;</strong></div><div>Kinh tế phát triển là nền tảng cho sự phát triển của các quốc gia và nhân loại: Biển đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế với các ngành như: <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_t%E1%BA%BF_h%C3%A0ng_h%E1%BA%A3i&amp;action=edit&amp;redlink=1">Kinh tế hàng hải</a> (vận tải biển và dịch vụ cảng biển); <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Khai_th%C3%A1c_th%E1%BB%A7y_s%E1%BA%A3n">Khai thác hải sản</a>; <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nu%C3%B4i_tr%E1%BB%93ng_th%E1%BB%A7y_s%E1%BA%A3n">Nuôi trồng thuỷ sản trên biển</a>; Khai thác dầu khí và tài nguyên khoáng sản biển khác; Dịch vụ và Du lịch biển); Hoạt động kinh tế sử dụng các nguồn lực từ biển (Chế biến hải sản; Chế biến dầu khí); Hoạt động kinh tế hỗ trợ hoạt động kinh tế biển&nbsp; (Đào nguồn nhân lực; Đóng và sửa chữa tàu biển; Cung cấp dịch vụ biển; <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Th%C3%B4ng_tin_li%C3%AAn_l%E1%BA%A1c_bi%E1%BB%83n&amp;action=edit&amp;redlink=1">Thông tin liên lạc biển</a>; Nghiên cứu khoa học – công nghệ biển); Một số ngành kinh tế biển mới (Nuôi trồng thủy sản trên biển; Năng lượng gió ngoài biển; Năng lượng tái tạo từ biển; Khai thác mỏ dưới đáy biển; <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_ngh%E1%BB%87_sinh_h%E1%BB%8Dc">Công nghệ sinh học</a> biển; ….</div><div>Tại Việt Nam các ngành kinh tế biển đóng góp khoảng 10% GDP cả nước, kinh tế của 28 tỉnh, thành phố ven biển ước tính đạt 65-75% GDP cả nước. Biển Đông đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cả trong lịch sử, hiện tại và tương lai. Không chỉ cung cấp nguồn thức ăn cho cư dân ven bờ từ hàng nghìn năm nay, Biển Đông còn tạo điều kiện để phát triển các ngành kinh tế và là cửa ngõ để Việt Nam có quan hệ trực tiếp với các vùng miền của đất nước, giao thương với thị trường khu vực và quốc tế, là nơi trao đổi và hội nhập của nhiều nền văn hoá.Về kinh tế, Biển Đông tạo điều kiện để Việt Nam phát triển những ngành kinh tế mũi nhọn như thủy sản, dầu khí, giao thông hàng hải, đóng tàu, du lịch...Ngoài ra, ven biển Việt Nam còn chứa đựng tiềm năng to lớn về quặng sa khoáng như than, zircon, thiếc, vàng, đất hiếm... trong đó cát nặng, cát đen là nguồn tài nguyên quý giá của đất nước. Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm ở trung tâm Biển Đông, rất thuận lợi cho việc đặt các trạm thông tin, xây dựng các trạm dừng chân và tiếp nhiên liệu cho tàu thuyền... phục vụ cho tuyến đường hàng hải trên Biển Đông.</div><div><strong>3.</strong>&nbsp; &nbsp; <strong>Đối với khoa học công nghệ:</strong></div><div>Với nhu cầu đặt ra phát triển kinh tế biển xanh, bền vững kéo theo sự tiến bộ của KHCN phát triển đúng tầm, chuyên sâu với mục đích 1) Nghiên cứu, kiểm kê, đánh giá nguồn vốn tự nhiên biển; dự báo xu thế diễn biến tài nguyên và môi trường biển trong điều kiện biến đổi khí hậu. 2) Nghiên cứu và ứng dụng các quy trình công nghệ khai thác, sử dụng tài nguyên biển ít gây tác động môi trường và hạn chế ô nhiễm biển;sử dụng các nguồn năng lượng biển tái tạo và ít tác động môi trường như nhiệt, gió, sóng, thuỷ triều và sinh khối. 3) Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng trong xử lý ô nhiễm và ứng phó sự cố môi trường, thiên tai trên biển. 4) Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp tái tạo và phục hồi<strong> </strong>tài nguyên và môi trường; mở rộng diện tích vùng biển được bảo tồn. 5)<strong> </strong>Phát triển công nghệ cao, kỹ thuậthiện đại và quy trình tiên tiến phục vụ điều tra nghiên cứu<em>, </em>khai thác hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên biển, bảo vệ môi trường.6) Đẩy mạnh giám sát và dự báothiên tai, sự cố môi trường biển bằng các thiết bị hiện đại, công nghệ cao và tăng cường năng lực cho hệ thống trạm quan trắc,phục vụ dự báo và cảnh báo các hiện tượng thời tiết bất thường trên biển. 7) Xây dựng cơ sở khoa học cho phát triển kinh tế, dịch vụ môi trường(nhấn mạnh đến xác định nguồn vốn tự nhiên biển) và xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường. 8) Nghiên cứu xây dựng các quy trình, quy chuẩn quản lý,quy định kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuậtphục vụ xâydựng các chính sách, các quy định pháp luật để sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường biển, đảo, thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng. 9) Nghiên cứu và tư vấn hỗ trợ quá trình hiện thực hóa quản lý tổng hợp biển và vùng bờ biển và quy hoạch không gian biển.<br><strong>4. Với quốc phòng - an ninh:<br></strong>Với một số quốc gia có biển,hệ thống quần đảo và đảo trên vùng biển thuận lợi cho việc xây dựng các căn cứ quân sự, điểm tựa, pháo đài, trạm gác tiền tiêu, hình thành tuyến phòng thủ nhiều tầng, nhiều lớp, với thế bố trí chiến lược hợp thế trên bờ, dưới nước, tạo điều kiện thuận lợi để bảo vệ, kiểm soát, phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia.<br>Có thể thấy Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, Châu Âu <em>- </em>Châu Á, Trung Đông <em>-</em>Châu Á. Đây được coi là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của thế giới. Mỗi ngày có khoảng 150 <em>- </em>200 tàu các loại qua lại Biển Đông. Nhiều nước và vùng lãnh thổ ở khu vực Đông Á có nền kinh tế phụ thuộc sống còn vào tuyến đường biển này như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Xin-ga-po và cả Trung Quốc. Hơn 90% lượng vận tải thương mại của thế giới thực hiện bằng đường biển và 45% trong số đó phải đi qua Biển Đông. Biển Đông có những eo biển quan trọng như eo biển Ma-lắc-ca, eo biển Đài Loan là những eo biển khá nhộn nhịp trên thế giới. Do đó, Biển Đông có vai trò hết sức quan trọng đối với tất cả các nước trong khu vực về địa - chiến lược, an ninh quốc phòng, giao thông hàng hải và kinh tế. Xét về an ninh, quốc phòng, Biển Đông đóng vai trò quan trọng là tuyến phòng thủ hướng đông của đất nước. Các đảo và quần đảo trên Biển Đông, đặc biệt là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, không chỉ có ý nghĩa trong việc kiểm soát các tuyến đường biển qua lại Biển Đông mà còn có ý nghĩa phòng thủ chiến lược quan trọng đối với Việt Nam. Việt Nam có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa rộng lớn theo Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982; có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm giữa Biển Đông và hàng nghìn đảo lớn, nhỏ, gần và xa bờ, hợp thành phòng tuyến bảo vệ, kiểm soát và làm chủ các vùng biển và thềm lục địa.<br><br></div><div>more_vertical</div><div>19 Nguyễn Kiều Hưng CH30B B</div><div>19 Nguyễn Kiều Hưng CH30B B</div><div>_ vai trò của biển đông đối với Viêt Nam<br>_ Về quân sự : các đảo lớn lớn nhỏ thuộc quần đảo hoàng Sa,và trường Sa tạo thành tuyến phòng thủ chiến lược cho đất liền.Phát hiện ngăn chặn chủ động từ sớm từ xa các đợt tans công quân sự vào đất liền từ phía đông.<br>- Về kinh tế trên biển đông là cơ sở tạo điều kiện phát triển nền kinh tế khai thác đánh bắt thủy hải sản,khai thác dầu khí,vận tải đường biển,đóng tầu,dự lịch.<br>- Vùng thềm lục địa vẹn biển có tiềm năng về dầu khí,khí đốt,đã khoáng mà chúng ta chưa có đủ công nghệ để thăm dò khai thác.<br>- Về văn hoá biển đông là cửa ngõ giao thương hội nhập giữa Việt Nam và các quốc gia trên thế giới.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-17 02:12:28 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2223585046</guid>
      </item>
      <item>
         <title>32.Vũ Sỹ- CH30B</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2223589391</link>
         <description><![CDATA[<div>những mục tiêu, chiến lược của Mỹ trong cuộc cạnh tranh chiến lược với Trung Quốc ở Biển Đông.Theo đó, các mục tiêu tiềm năng tổng thể của Mỹ có thể bao gồm:<br><br></div><div><em>Thứ nhất</em>, thực hiện các cam kết an ninh của Mỹ ở Tây Thái Bình Dương, trong đó có các cam kết hiệp ước với Nhật Bản và Philippines;<br><br></div><div><em>Thứ hai</em>, duy trì và củng cố cấu trúc an ninh do Mỹ lãnh đạo ở Tây Thái Bình Dương, gồm các mối quan hệ an ninh của Mỹ với các đồng minh hiệp ước và các quốc gia đối tác;<br><br></div><div><em>Thứ ba</em>, duy trì cán cân quyền lực trong khu vực có lợi cho Mỹ và các đồng minh cũng như đối tác của Mỹ;<br><br></div><div><em>Thứ tư</em>, bảo vệ nguyên tắc giải quyết các tranh chấp một cách hòa bình và chống lại sự nổi lên của cách tiếp cận “lẽ phải thuộc về kẻ mạnh” trong các vấn đề quốc tế;<br><br><em>Thứ năm</em>, bảo vệ nguyên tắc tự do trên biển, đôi khi còn được gọi là tự do hàng hải; ngăn cản Trung Quốc trở thành bá chủ khu vực ở Đông Á;<br><br></div><div><em>Thứ sáu</em>, theo đuổi những mục tiêu này như một phần trong chiến lược lớn hơn của Mỹ nhằm cạnh tranh chiến lược và quản lý các mối quan hệ với Trung Quốc.<br><br></div><div><br><br><br></div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-17 02:16:31 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/v2049chaupm/czc9a3uu7lo4dypo/wish/2223589391</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
