<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title>BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI  by </title>
      <link>https://padlet.com/duyleangiang/b1w9fnmi7alkxkcx</link>
      <description>Thành công luôn đến với những người nỗ lực để tìm kiếm nó</description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2021-11-26 10:34:51 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2026-02-01 20:27:47 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url>https://padlet.net/icons/png/1f4da.png</url>
      </image>
      <item>
         <title>NHÀN-NGUYỄN BỈNH KHIÊM</title>
         <author>nguyenthituyetnhunghbangiang</author>
         <link>https://padlet.com/duyleangiang/b1w9fnmi7alkxkcx/wish/2044095255</link>
         <description><![CDATA[<div>Mỗi người có một quan điểm, ý niệm khác nhau về cuộc sống. Có người cho rằng phải thật bận rộn, phải bươn chải thì mới trưởng thành và có được cuộc sống tốt đẹp. Nhưng cũng có người quan niệm, cuộc sống nhàn hạ, thanh thản trong tâm hồn, không vướng bận những thứ xa hoa, bon chen mới là cuộc sống thanh cao. Với nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, bằng tài năng của mình, ông có những qua niệm và cái nhìn rất khác về cuộc sống của mình đáng để chúng ta suy nghĩ. Và quan niệm đó được tác giả bộc bạch qua bài thơ Nhàn.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trí thức nho sĩ, luôn khao khát đem tài năng phục vụ cho đất nước. Nhưng ông sinh vào thời buổi loạn lạc, nên chỉ làm quan có tám năm rồi ông lui về ở ẩn. Bài thơ số bài thơ số 73 hay còn được người biên soạn đặt là Nhàn, nằm trong tập Bạch Vân quốc ngữ thi là một trong những tác phẩm nổi bật của ông. Tác phẩm thể hiện triết lí, quan niệm sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm.<br><br></div><div>Cuộc sống nhàn tản hiện lên với bao điều thú vị.<br><br></div><div><em>“Một mai, một cuốc, một cần câu,</em></div><div><em>Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”</em></div><div>Ngay trước mắt người đọc sẽ hiện lên một Nguyễn Bỉnh Khiêm thật dân dã trong cái bận rộn giống như một lão nông thực thụ. Nhưng đó là cả một cách chọn lựa thú hưởng nhàn cao quý của nhà nho tìm về cuộc sống “ngư, tiều, canh, mục” như một cách đối lập dứt khoát với các loại vui thú khá, nhằm khẳng định ý nghĩa thanh cao tuyệt đối từ cuộc sống đậm chất dân quê này! Dáng vẻ thơ được phác họa trong câu thơ độc đáo, mang lại vẻ ung dung bình thản của nhà thơ trong cuộc sống nhàn tản thật sự. Thực ra, sự hiện diện của mai, cuốc, cần câu chỉ là một cách tô điểm cho cái thơ thẩn khác đời của nhà thơ mà thôi. Những vật dụng lao động quen thuộc của người bình dân trở thành hiện thân của cuộc sống không vướng bận lo toan tục lụy. Đằng sau những liệt kê của nhà thơ, ta nhận ra những suy nghĩ của ông không tách rời quan điểm thân dân của một con người chọn cuộc đời ẩn sĩ làm lẽ sống của riêng mình. Trạng Trình đã nhìn thấy từ cuộc sống của nhân dân chứa đựng những vẻ đẹp cao cả, một triết lí nhân sinh vững bền. Cách sống ấy của Nguyễn Bỉnh Khiêm có khác nào cách sống cần cù, thanh bạch của ức Trai trong thế kỉ XV sau khi đã thoát vòng danh lợi:</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; "Ao cạn vớt bèo cấy muống,</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Đìa thanh phát cỏ ương sen.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc,</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Thuyền chở yên hà nặng vạy then ”,</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;(Thuật hứng – 24)</div><div><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Đó cũng là cơ sở giúp nhà thơ khẳng định một thái độ sống khác người đầy bản lĩnh.<br><br></div><div><em>“Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ,</em></div><div><em>Người khôn người đến chốn lao xao”</em></div><div>&nbsp; Hai câu thơ đối nhau: "Ta dại” đối với “người khôn”, “ta tìm” đối với “người đến”, “nơi vắngvẻ” đối với “chốn lao xao”. Nghệ thuật đối ấy đã tương phản và đối lập hai quan niệm sống, hai cách sống, hai nhân cách trong cuộc đời. "Nơi vắng vẻ” với Nguyễn Bỉnh Khiêm là quê tổ đất cha, là am Bạch Vân, là làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại (nay là xã Lí Học, Vĩnh Bảo, Hải Phòng), là sông Tuyết Giang, là quán Trung Tân. Đó là nơi “hằng mến” đối với Tuyết Giang phu tử:<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;"Ba gian am quán, lòng hằng mến,</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Đòi chốn sơn hà, mặt đã quen.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Thanh vắng thú quê giàu mấy nả,</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Dữ lành miệng thế mặc chê khen”</div><div>"Chốn lao xao" theo Nguyễn Bỉnh Khiêm là chốn bon chen danh lợi, là nơi bọn <a href="https://hocsinhgioi.com/tag/co-hoi">cơ hội</a> vênh vang tự đắc, lên mặt đạo đức dạy đời, là nơi đồng tiền hôi tanh đã trở thành&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;"sức mạnh của cán cân cônglí”:</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; "Đạo nọ nghĩa này trăm tiếng bướm,</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Nghe thôi thinh thỉnh lại đồng tiền”</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;(Thơ nôm, bài số 5)</div><div>Đằng sau những đối cực ấy là những ngụ ý tạo thành phản đề khẳng định cho thái độ sống cùa Nguyễn Bĩnh Khiêm. Bản thân nhà thơ nhiều lần đã định nghĩa dại - khôn bằng cách nói ngược này. Bởi vì người đời lấy lẽ dại - khôn để tính toán, tranh giành thiệt hơn, cho nên thực chất dại - khôn là thói thực dạng ích kỉ làm tầm thường con người, cuốn con người vào dục vọng thấp hèn. Mượn cách nói ấy, nhà thơ chứng tỏ được một chỗ đứng cao hơn và đối lập với bọn người mờ mắt vì bụi phù hoa giữa chốn lao xao. Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng chủ động trong việc tìm nơi vắng vẻ - không vướng bụi trần. Nhưng không giống lối nói ngược của Khuất Nguyên thuở xưa “Người đời tỉnh cả, một mình ta say” đầy u uất, Trạng Trình đã cười cợt vào thói đời bằng cái nhếch môi lặng lẽ mà sâu cay, phê phán vào cả một xã hội chạy theo danh lợi, bằng tư thế của một bậc chính nhân quân tử không bận tâm những trò khôn - dại.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp;<br><br></div><div>Cũng vì thế, nhà thơ mới cảm nhận được tất cả vẻ đẹp của cuộc sống nhàn tản:<br><br></div><div><em>"Thu ăn măng trúc, đông ăn giá</em></div><div><em>Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao"</em></div><div>&nbsp;Khác hẳn với lối hưởng thụ vật chất đắm mình trong vinh hoa, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thụ hưởng những ưu đãi của một thiên nhiên hào phóng bằng một tấm lòng hòa hợp với tự nhiên. Tận hưởng lộc từ thiên nhiên bốn mùa Xuân - Hạ - Thu - Đông, nhà thơ cũng được hấp thụ tinh khí đất trời để gột rửa bao lo toan vướng bận riêng tư. Cuộc sống ấy mang dấu ấn lánh đời thoát nét gần gũi với triết lí “vô vi” của đạo Lão. “Thoát tục” của đạo Phật.&nbsp; Nhưng gạt sang một bên những triết lí siêu hình, ta nhận ra con người nghệ sĩ đích thực của Nguyễn Bỉnh Khiêm, hòa hợp với tự nhiên một cách sang trọng bằng tất cả cái hồn nhiên trong sạch của lòng mình. “Xuân tắm hồ sen ” là thú quê, là niềm vui dân dã không phải ai cũng tìm thấy, ai cũng được tận hưởng:</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;  “Rủ nhau ra tắm hồ sen,</div><div>&nbsp; &nbsp; Nước trong bóng mát hương chen cạnh mình.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Cứ chi vườn ngọc ao quỳnh,</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Thôn quê vẫn thú hữu tình xưa nay”.</div><div>Không những thế, những hình ảnh măng trúc, giá, hồ sen còn mang ý nghĩa biểu tượng gắn kết với phẩm chất thanh cao của người quân tử, sống không hổ thẹn với lòng mình. Hòa hợp với thiên nhiên là một Tuyết Giang Phu Tử đang sống đúng với thiên lương của mình.&nbsp;</div><div>Quan niệm về chữ Nhàn của nhà thơ được phát triển trọn vẹn bằng sự khẳng định:<br><br></div><div><em>“Rượu đến cội cây, ta sẽ uống,</em></div><div><em>Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao."</em></div><div>&nbsp; &nbsp;Mượn điển tích một cách rất tự nhiên-Thuần Vu Phần là một <a href="https://hocsinhgioi.com/tag/con-nguoi">con người</a> bất đắc chí, say sưa, mộng hão để nói lên thái độ sống dứt khoát đoạn tuyệt với công danh phú quý. Quan niệm ấy vốn dĩ gần với đạo Lão - Trang, có phần yếm thế tiêu cực, nhưng đặt trong thời đại nhà thơ đang sống lại bộc lộ ý nghĩa tích cực. Cuộc sống của những kẻ chạy theo công danh phú quý vốn dĩ ông căm ghét và lên án trong rất nhiều bài thơ về nhân tình thế thái của mình:<br><br></div><div><em>“Ơ thể mới hay người bạc ác,</em></div><div><em>Giàu thì tìm đến, khó thì lui”</em></div><div><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;(Thói đời)</em></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Phú quý đi với chức quyền đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ là cuộc sống của bọn người bạc ác thủ đoạn, giẫm đạp lên nhau mà sống. Bọn chúng là bầy chuột lớn gây hại nhân dân mà ông vô cùng căm ghét và lên án trong bài thơ ‘‘Tăng thử” (Ghét chuột) của mình. Bởi thế, có thể hiểu thái độ nhìn xem phú quý tựa chiêm bao cũng là cách nhà thơ chọn lựa con đường sống gần gũi, chia sẻ với nhân dân. Cuộc sống đạm bạc mà thanh cao của người bình dân đáng quý đáng trọng vì đem lại sự thanh thản cũng như giữ cho nhàn cách không bị hoen ố vẩn đục trong xã hội chạy theo thế lực kim tiền. Cội nguồn triết lí của Nguyễn Bỉnh Khiêm gắn liền với quan niệm sống lành vững tốt đẹp của nhân dân.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Chữ nhàn trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm là cùng dòng với chữ nhàn của Chu Văn An, Nguyễn Trãi. Nhưng các bậc đại hiền này thì nhàn thân mà không nhàn tâm “ Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng/ Dân giàu đủ khắp đòi phương” (Cảnh ngày hè – Nguyễn Trãi) nó khác với lối sống nhàn của cụ Trạng.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Bài thơ “Nhàn” bao quát toàn bộ triết lí, tình cảm, trí tuệ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, bộc lộ trọn vẹn một nhân cách của bậc đại ẩn tìm về với thiên nhiên, với cuộc sống của nhân dân để đối lập một cách triệt để với cả một xã hội phong kiến trên con đường suy vong thối nát. Bài thơ là kinh nghiệm sống, bản lĩnh cứng cỏi của một con người chân chính.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-02-12 22:51:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/duyleangiang/b1w9fnmi7alkxkcx/wish/2044095255</guid>
      </item>
      <item>
         <title>TRAO DUYÊN -NGUYỄN DU</title>
         <author>nguyenthituyetnhunghbangiang</author>
         <link>https://padlet.com/duyleangiang/b1w9fnmi7alkxkcx/wish/2044096306</link>
         <description><![CDATA[<div>“Truyện Kiều” từ lâu đã trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người dân Việt Nam. Với những thú chơi tao nhã như vịnh Kiều, tập Kiều, bói Kiều,…đủ cho ta thấy sức ảnh hưởng, tầm quan trọng mà đại thi hào Nguyễn Du để lại qua tác phẩm “Truyện Kiều”. Trong đó, tiêu biểu phải kể đến đoạn trích “Trao duyên” mang âm hưởng bi kịch của sự đứt đoạn một tình yêu đẹp. Đoạn trích miêu tả tình cảnh trớ trêu của Kiều khi phải trao duyên cho em. Đồng thời làm rõ diễn biến tâm trạng đau khổ tuyệt vọng của nàng khi tình yêu tan vỡ, mình phải buộc phụ lòng Kim Trọng</div><div>&nbsp;</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Tình yêu giữa Thúy Kiều và Kim Trọng đang tươi đẹp, nồng nàn thì Kim Trọng phải về Liêu Dương hộ tang chú. Trong khi đó tai họa đổ ập xuống gia đình Thúy Kiều. Của cải bị bọn sai nha vét sạch. Cha và em trai Thúy Kiều bị bắt, bị đánh. Bọn quan lại đòi đút lót “có ba trăm lạng việc này mới xuôi”. Trước biến cố đau lòng đó, một người giàu tình cảm, giàu đức hi sinh như Thúy Kiều không còn cách nào khác là phải bán mình lấy tiền cứu cha và em. Nhưng còn mối tình với Kim Trọng? Thúy Kiều hết sức đau khổ. Cuối cùng nàng quyết định nhờ em thay mình lấy Kim Trọng. Đoạn “Trao duyên” trong “Truyện Kiều” rất cảm động. Có lẽ đây là cảnh tượng đau lòng chưa từng thấy trong nền văn học nhân loại.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Dựa vào cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Nguyễn Du đã dựng lại chi tiết trao duyên thật sống động. “Thúy Vân chợt tỉnh giấc xuân” thì thấy chị mình đang thổn thức giữa đêm khuya. Vân ghé đến ân cần hỏi han. Thúy Kiều thật là khó nói, nhưng “để lòng thì phụ tấm lòng với ai”. Thương cha, nàng bán mình, thương người tình, nàng đành cậy em:</div><div><em>“Cậy em, em có chịu lời,</em></div><div><em>Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa,</em></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Đã gọi là duyên thì đến rất tự nhiên, đi tìm cũng không được, duyên đến thì giữ, duyên đi thì buông tay. Đó là duyên phận của mỗi người, mỗi cuộc đời khi gặp gỡ nhau. Trong tình yêu thì chữ ‘duyên” này càng lớn lao và quan trọng. Nhưng Thúy Kiều trong đoạn trích “Trao duyên” đã phải mang chữ duyên của mình gởi nhờ một người khác. Để diễn tả khái niệm nhờ, Nguyễn Du đã chọn từ “cậy”, tuyệt vời chính xác. Từ “cậy” được đặt lên đầu câu diễn tả hoàn cảnh ngặt nghèo, khó thưa, khó gửi của Thúy Kiều.&nbsp; “Cậy” còn hàm chứa niềm tin mà người được nhờ không thể thoái thác được.Vốn dĩ Thúy Kiều là chi, sẽ không có chuyện “thưa”, “lạy” Thúy Vân bất cứ việc gì; nhưng trong hoàn cảnh này, nàng đã phải làm những việc tưởng chừng như nghịch lý như vậy. Mối duyên với chàng Kim là mối duyên trời cho, nhưng số phận của Thúy Kiều giờ nổi trôi, bấp bênh, nàng không muốn phụ chàng, nên đã muốn cậy nhờ em gái nối tiếp mối duyên dở dang ấy. Câu thơ như cứa vào lòng người đọc nỗi chua xót cùng cực. Từ “cậy” là điểm nhấn, là sự thành công về mặt ngôn ngữ của Nguyễn Du.&nbsp;</div><div>Thúy Kiều bắt đầu giãi bày nỗi lòng của mình bằng những câu thơ như dao cắ<em>Giữa đường đứt gánh tương tư,</em></div><div><em>Keo loan chắp mối tơ thừa mặc, em’’.</em></div><div><em>Kể từ khi gặp chàng Kim</em></div><div><em>Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề</em></div><div><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Sự đâu sóng gió bất kì</em></div><div><em>Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”.</em></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Thúy Kiều đã kể nhanh những sự kiện mà Thúy Vân cũng đã chứng kiến. Chuyện gặp chàng Kim trong buổi chiều thanh minh. Chuyện thề nguyền hẹn ước với Kim Trọng. Chuyện sóng gió của gia đình. Nhưng có một chi tiết mà một người giản đơn như Thúy Vân không bao giờ biết được:</div><div><em>“Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”.</em></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Qua lời Thúy Kiều, Nguyễn Du đay nghiến cả một xã hội, Hiếu - tình là hai giá trị tinh thần không thể đặt lên bàn cân được. Một xã hội bắt con người phải lựa chọn những giá trị không thể lựa chọn được thì xã hội đấy là một xã hội tàn bạo. Thúy Kiều đã cay đắng lựa chọn chữ “hiếu”. Đến đây thì người đọc đã thực sự hiểu hết ý nghĩa của từ ‘cậy”, nó không còn là nhờ nữa mà mang tính chất ép buôc, bắt buộc phải làm. Thúy Kiều hiểu được hoàn cảnh, hiểu được nỗi đau của bản thân mình. Nàng đã hi sinh chữ tình vì chữ hiếu, quyết phụ chàng Kim, chứ không thể phụ cha mẹ. Một người con gái yếu đuối, mỏng mang nhưng rất mực hiếu thảo. “Gánh tương tư” đã đứt gánh, mối duyên đã vỡ, nhưng Kiều không muốn chàng Kim đau lòng, nàng chỉ mong Thúy Vân có thể nối lại mối duyên này. Mặc dù “trao duyên” cho em gái nhưng lòng nàng đau như cắt. Những hẹn ước, những mong chờ, những kỉ niệm cứ như xát muối vào trong trái tim người con gái mỏng manh ấy.</div><div>&nbsp;Cho nên hi sinh chữ tình, nàng Kiều coi như không tồn tại trên cõi đời này nữa. Mỗi lời của nàng không phải là nước mắt mà là máu đang rỉ ra trong lòng.</div><div><em>“Ngày xuân em hãy còn dài</em></div><div><em>Xót tình máu mủ thay lời nước non</em></div><div><em>Chị dù thịt nát xương mòn</em></div><div><em>&nbsp;Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”.</em></div><div>&nbsp;Hai chị em đều “<em>xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê</em>” vậy mà nàng nói “<em>ngày xuân em hãy còn dài”</em> đau đớn biết chừng nào! Lời lẽ thiêng liêng của nàng là vì lo cho Kim Trọng, mong sao cho chàng Kim có hạnh phúc trong tan vỡ. Trong đau khổ tuyệt vọng, nàng còn biết lo cho hạnh phúc của người khác. Thật là một cô gái có đức hi sinh lớn lao.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Biết là em thuận lòng, nàng trao cho em những kỉ vật giữa nàng và chàng Kim:</div><div><em>“Chiếc vành với bức tờ mây</em></div><div><em>Duyên này thì giữ, vật này của chung".</em></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Tình cảm dẫu sao vẫn còn trừu tượng, chứ kỉ vật của tình yêu thì cứ hiển nhiên hiện ra đó, cho nên Thúy Kiều trao “<em>chiếc vành với bức tờ mây</em>” cho em thì nàng cũng đau đớn đến tột độ. Mỗi lời của nàng nặng như chì. Nàng trao duyên, trao kỉ vật cho em mà nàng uất giận cuộc đời. Cái xã hội bắt con người phải chung cả cái không thể chung được thì có đáng nguyền rủa không Đây chính là lời tố cáo vọng đến thấu trời của Nguyễn Du đối với xã hội đã chà đạp lên hạnh phúc của con người.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Thúy Kiều trao duyên là coi như mình đã khuất. Nàng dặn em giữ gìn ki vật và còn dặn em hãy thương lấy linh hồn vật vờ đau khổ của chị trên cõi đời đen bạc này:</div><div><em>“Mai sau dù có bao giờ,</em></div><div><em>Đốt lò hương ấy, so tơ phím nàv.</em></div><div><br>&nbsp;<br>&nbsp;<em>Trông ra ngọn cỏ lá cây,</em></div><div><em>Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.</em></div><div><em>Hồn còn mang nặng lời thề,</em></div><div><em>Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai”.</em></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Thúy Kiều tưởng tượng nàng chỉ còn là bóng ma. Lời lẽ huyền hồ bóng ma nàng sẽ hiện lên trong hương trầm và âm nhạc. Hồn ma còn mang nặng lời thề với Kim Trọng, cho nên dẫu “thịt nát xương mòn” thì hồn nàng vẫn còn quanh quẩn với “ngọn cỏ lá cây”, với “hiu hiu gió...”<sub>. </sub>Tình của người bạc mệnh vẫn còn làm chấn động cả vũ trụ.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Đau đớn tột cùng trước sự đổ vỡ của tình yêu, nàng quên rằng trước mặt rành là Thúy Vân mà than khóc với Kim Trọng:</div><div><em>“Trăm nghìn gửi lạy tình quân,</em></div><div><em>Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi</em></div><div><em>Phận sao phận bạc như vôi!</em></div><div><em>Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng”.</em></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Mỗi lời của nàng là một lời vận vào. Trước nỗi đau xót này, nàng chỉ trách minh là “phận bạc”, là “hoa trôi”, những hình ảnh đó làm động lòng thương lên hết thảy chúng ta. Đối với Kim Trọng, nàng còn mặc cảm tội lỗi là chính nàng đã “phụ chàng”. Chính tâm lí mặc cảm tội lỗi cao thượng đó khiến nàng chết ngất trong tiếng kêu thương thấu trời:</div><div><em>“Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!</em></div><div><em>Thôi thôi! Thiếp đã phụ chàng từ đây!”</em></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Đoạn “Trao duyên” trong “Truyện Kiều” là một khúc “đoạn trường” trong thiên “Đoạn trường tân thanh”. Với con mắt tinh đời, Nguyễn Du đã phát hiện thấy trong truyện của Thanh Tâm Tài Nhân một tình tiết rất cảm động và bằng nghệ thuật tuyệt vời, ông đã dựng lại đoạn “Trao duyên” hết sức sâu sắc và độc đáo. Tác giả đã đối lập hai tính cách của hai chị em một cách tài tình: con người của đời thường và con người của phi thường. Trong sự kiện “sóng gió bất kì” này, Thúy Vân vô tư, hồn nhiên (cũng đừng vội chê trách Thúy Vân. Nhân vật này còn là một kho bí mật trong công trình nghệ thuật kiệt tác của Nguyễn Du mà chúng ta chưa kịp bàn ở đây), còn Thúy Kiều thì đau đớn. Nguyễn Du đã dụng công miêu tả tâm lí, sự vận động nội tâm nhân vật, cũng có thể nói Nguyễn Du đã đạt đến phép biện chứng của tâm hồn. Chỉ qua đoạn “Trao duyên”, chúng ta cũng cảm nhận được Thúy Kiều là một cô gái giàu tình cảm, giàu đức hi sinh, có ý thức về tình yêu và cuộc sống. Một nhân cách như vậy mà vừa chớm bước vào đời như một bông hoa mới nở đã bị sóng gió dập vùi tan tác. Nói như Mộng Liên Đường chủ nhân: khúc đoạn trường này như có máu rỏ trên đầu ngọn bút của Nguyễn Du, như có nước mắt của thi nhân thấm qua trang giấy. Hơn hai trăm năm rồi, những giọt nước mắt nhân tình ấy vẫn chưa ráo.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-02-12 22:53:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/duyleangiang/b1w9fnmi7alkxkcx/wish/2044096306</guid>
      </item>
      <item>
         <title>TỰ TÌNH -HXH</title>
         <author>nguyenthituyetnhunghbangiang</author>
         <link>https://padlet.com/duyleangiang/b1w9fnmi7alkxkcx/wish/2044096928</link>
         <description><![CDATA[<div>Lê Trí Viễn có viết: “Thơ Hồ Xuân Hương là tiếng nói tâm tình của người phụ nữ, thể hiện một bản lĩnh sông mạnh mẽ khác thường” Đúng như lời của Lê Trí Viến Hồ Xuân Hương là một trong những nữ sĩ tài ba bậc nhất của văn học Trung đại Việt Nam. Bà để lại sự nghiệp sáng tác đồ sộ, giàu giá trị trên cả mang thơ chữ Nôm và chữ Hán. Nổi bật trong tác phẩm của bà là tiếng nói thương cảm với số phận người phụ nữ và bài thơ <em>Tự Tình (bài II)</em> là một trong những bài thơ như vậy.</div><div>&nbsp;</div><div>&nbsp; &nbsp; Bài thơ nằm trong chùm thơ <em>Tự tình</em>, gồm có tất cả ba bài, được viết theo thể thơ Đường luật. Tác phẩm là nỗi thương mình trong sự cô đơn khi phải chịu cảnh làm lẽ, khao khát hạnh phúc mãnh liệt. Đồng thời bài thơ cũng thể hiện thái độ bứt phá, vùng vẫy, muốn thoát khỏi cảnh ngộ éo le để có thể đạt được hạnh phúc, nhưng cuối cùng bi kịch vẫn hoàn bi kịch.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; Bài thơ mở đầu là thời điểm canh khuya, khi con người đối diện thật nhất với chính mình, nhưng cũng chính lúc đó Xuân Hương tự nhận ra tình cảnh đáng thương của chính mình:<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; <em>Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn<br></em><br></div><div>&nbsp; &nbsp; <em>Trơ cái hồng nhan với nước non.<br></em><br></div><div>&nbsp; &nbsp; Trong đêm khuya thanh vắng, nhịp gấp gáp của tiếng trống <em>“dồn”</em> càng trở nên vội vã, gấp gã hơn. Đó cũng chính là những bước đi thời gian vội vàng đang chảy trôi trước mắt người con gái. Đồng thời tiếng trống đó cũng chính là sự rối bời trong tâm trạng của nhân vật trữ tình. Đối diện với nhịp thời gian vội vàng, gấp gáp là hình ảnh <em>“trơ cái hồng nhan”</em>. Chữ <em>“trơ”</em> được đặt ngay ở đầu câu nhấn mạnh nỗi cô đơn, trơ trọi của người phụ nữ. Nhưng bên cạnh nỗi đau đớn, xót tủi cho thân phận lại thể hiện một Xuân Hương thật bản lĩnh. <em>“Trơ”</em> không chỉ là sự bẽ bàng mà còn là thách thức với xã hội, với cuộc đời. Hai câu thơ đầu là tiếng than cho số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến, hồng nhan mà bạc mệnh.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; Trong cái cô đơn, tội nghiệp đến tột cùng ấy, con người tìm đến rượu để khây khỏa nỗi niềm:<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; <em>Chén rượu đưa hương say lại tỉnh<br></em><br></div><div>&nbsp; &nbsp; <em>Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn<br></em><br></div><div>&nbsp; &nbsp; Nhưng rượu cũng không thể làm cho nhân vật vơi đi nỗi cô đơn, sầu muộn. Chén rượu uống vào mà lại càng tỉnh hơn, để nhân vật trữ tình càng thấm thía hơn nỗi cô đơn, lẻ bóng của mình. Tìm đến trăng làm bạn, để tâm sự trò truyện thì lại nhận ra thực tại phũ phàng. Nỗi niềm chất chứa đã thấm dần và lan vào cảnh vật. Quả thực <em>“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu/ Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”</em>. Hai câu thơ tác giả sử dụng rất thành công cụm từ: <em>“say lại tỉnh”</em> cho thấy cái vòng luẩn quẩn, tình duyên trở thành trò đùa của tạo hóa, càng uống lại càng tỉnh, lại càng nhận ra sự hẩm hiu duyên phận của chính mình; <em>“khuyết chưa tròn”</em> vầng trăng là ngoại cảnh mà cũng chính là tâm cảnh, tạo nên sự đồng nhất giữa cảnh vật và con người. Trăng sắp tàn mà vẫn khuyết cũng như con người tuổi xuân vội vã trôi qua mà tình duyên vẫn chưa trọn vẹn. Bốn câu thơ đầu đã khắc họa sâu sắc nỗi đau, bi kịch của người phụ nữ trong xã hội cũ.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; <em>“Xiên ngang mặt đất rêu từng đám/ Đâm toạc chân mây đá mấy hòn”</em>. Các động từ mạnh <em>“xiên, đâm”</em> kết hớp với <em>“ngang, toạc”</em> đã thể hiện sự ngang ngạnh, phẫn uất đến tột cùng của nhân vật trữ tình. Nếu như người phụ nữ trung đại nổi bật lên với tính cách cam chịu, khuất phục trước số phận thì ở đây lại xuất hiện một người phụ nữ hoàn toàn khác. Những sinh vật nhỏ bé dường kia không chịu mềm yếu trước hoàn cảnh thực tại, phải mọc xiên, đâm ngang để tìm sự sống. Đá phải kiên cường, rắn chắc để có thể đêm toạc chân mây. Biện pháp đảo ngữ trong hai câu thơ đã cho thấy sự phẫn uất của cỏ cây, đá đó đồng thời cũng chính là nỗi niềm của con người trước thực tại cuộc sống. Bởi vật, hình ảnh rêu xiên ngang, đá đâm toạc chân mây cũng chính là sự phản kháng của người phụ nữ trước thực tại nhiều bất công, ngang trái.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; <em>Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại<br></em><br></div><div>&nbsp; &nbsp; <em>Mảnh tình san sẻ tí con con.<br></em><br></div><div>&nbsp; &nbsp; Trong câu thơ có hai chữ <em>“xuân”</em> xuất hiện, chữ <em>“xuân”</em> thứ nhất là tuổi xuân của con người, <em>“xuân”</em> thứ hai là mùa xuân của vạn vật. Hai chữ xuân này kết hợp với từ <em>“lại”</em> đã nhấn mạnh tuổi xuân của con người một đi không trở lại, trái ngược với mùa xuân của thiên nhiên đất trời, mỗi khi xuân của đất trời quay lại đồng nghĩa với tuổi xuân của con người ngày một rút ngắn, nỗi chán ngán lại càng gia tăng. Thủ pháp nghệ thuật tăng tiến, nhấn mạnh vào sự nhỏ bé dần, làm cho hoàn cảnh càng trở nên éo le hơn: <em>“Mảnh tình san sẻ tí con con”</em>. Mảnh tình vốn đã bé, đã nhỏ nay lại phải san sẻ lại càng trở nên ít ỏi, eo hẹp hơn. Tình cảnh đó thật xót xa, tội nghiệp. Hai câu thơ kết thể hiện nỗi lòng sâu kín của người phụ nữ trong xã hội cũ: với họ tình yêu, hạnh phúc thật mong manh, bé nhỏ.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; Hồ Xuân Hương là bậc thầy trong sử dụng ngôn ngữ, thông qua khả năng diễn đạt tư tưởng, tình cảm của nhân vật trữ tình: tả âm thanh (văng vẳng), tả cảm giác (trơ, say, lại tỉnh, ngán), tả động thái (xiên ngang, đâm toạc),… Nghệ thuật đảo ngữ tài tình (xiên ngang, đâm toạc). Giọng điệu thơ phẫn uất, tủi hờn. Tất cả đã hòa quyền với nhau để diễn tả sự cô đơn, thân phận bé nhỏ của người phụ nữ trong xã hội cũ.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; Với ngôn ngữ giản dị, giàu sức gợi cảm, sử dụng thành công phép đối, tác phẩm vừa nói lên số phận rẻ rung, bi kịch người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Đồng thời còn cho thấy khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của Hồ Xuân Hương nói riêng và của người phụ nữ trong xã hội cũ nói chung.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-02-12 22:55:28 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/duyleangiang/b1w9fnmi7alkxkcx/wish/2044096928</guid>
      </item>
      <item>
         <title>ĐỌC TIỂU THANH KÍ -ND</title>
         <author>nguyenthituyetnhunghbangiang</author>
         <link>https://padlet.com/duyleangiang/b1w9fnmi7alkxkcx/wish/2044097513</link>
         <description><![CDATA[<div>“ Thơ là rượu của thế gian” ( Huy Trụ), là tiếng nói của cảm xúc, là cái nhụy của cuộc sống được chưng cất thành. Trong thơ, người nghệ sĩ gửi gắm nỗi lòng mình, những yêu, ghét, giận, hờn,…và những suy nghĩ, những trăn trở về cuộc đời, về số phận con người trong cuộc sống. Cũng như bao nhà thơ khác, Nguyễn Du tìm đến thi ca để bộc bạch và thể hiện cõi lòng cùng tình cảm mà thi hào giành cho con người và cuộc đời. Trong số những tác phẩm của Nguyễn Du, bài thơ “ Đọc Tiểu Thanh kí” là tiêu biểu cho điều đó.<br><br></div><div>Bài thơ <em>Độc Tiểu Thanh kí</em> là một bài thơ nổi tiếng bằng chữ Hán, được in trong<em> Thanh Hiên thi tập,</em> thể hiện lòng nhân ái và sự đồng cảm của nhà thơ về nàng Tiểu Thanh tài sắc nhưng phận bạc. Tương truyền Tiểu Thanh là một cô gái Trung Quốc có tài và có sắc, sống khoảng đầu thời Minh. Vốn thông minh nên từ nhỏ cô đã thông hiểu nhiều môn nghệ thuật như thi ca, âm nhạc. Năm 16 tuổi, cô làm vợ lẽ một nhà quyền quý. Vợ cả là người hay ghen, bắt cô phải sống riêng trên Cô Sơn, cạnh Tây Hồ. Nỗi uất ức đau khổ được cô gửi gắm vào thơ nhưng bài thơ đã bị người vợ cả đốt, may mắn có một số bài thơ còn sót lại. Người ta cho khắc in số thơ đó, đặt tên là Phần dư (Bị đốt còn sót lại). Sống trong tình cảnh đó, Tiểu Thanh sinh bệnh và từ giã cõi đời ở tuổi 18. Nguyễn Du cảm thương người con gái tài sắc phận bạc ấy mà làm bài thơ này.<br><br></div><div>Có thể nói, Nguyễn Du đến với Tiểu Thanh trong hoàn cảnh có phần giống Kiều đến với Đạm Tiên. Nấm mồ Đạm Tiên “Sè sè nấm đất bên đường” gợi lên ở Kiều bao mối thương tâm. Cái gò hoang nơi chôn Tiểu Thanh&nbsp; gợi ở Nguyễn Du bao điều thổn thức:<br><br></div><div><em>“ Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư<br></em><br></div><div><em>Độc điếu song tiền nhất chỉ thư”<br></em><br></div><div><em>( Tây Hồ cảnh đẹp hoá gò hoang<br></em><br></div><div><em>Thổn thức bên song mảnh giấy tàn)<br></em><br></div><div>Tiếng thơ như tiếng than, buột miệng thành lời. Mới nghe qua, tưởng là lời than chung cho lẽ đời dâu bể, nhưng ngẫm kĩ thì hóa ra là lời than trước cái đẹp bi dập vùi. Cảm xúc trước sự thay đổi của cuộc đời là cảm xúc mang tính nhân văn khá phổ biên trong văn học trung đại. Nguyễn Trãi thăm Dục Thúy Sơn mà cảm khái trước cảnh rêu phủ trên nét chữ người xưa: “Nhớ xưa Trương Thiếu Bảo/<br>&nbsp;Bia khắc dấu rêu hoen. Bà Huyện Thanh Quan ngậm ngùi trước cảnh “Dấu xưa xe ngựa” giờ chỉ còn “ hồn thu thảo” và nền cũ lâu đài” gợi nhớ một triều đại rực rỡ đã đi qua. Câu thơ của Nguyễn Du gợi lên lẽ đời dâu bể&nbsp; nhưng mối thương tâm của thi nhân lại đặt ở nơi cái đẹp bị tàn phá phũ phàng. Hình tượng thơ đặt trong sự đối lập: cảnh đẹp, gò hoang gọi nghịch cảnh éo le. Từ “tẫn” trong nguyên bản chữ Hán “ Hoa uyển tẫn thành khư” gợi sự thay đổi khốc liệt. Vườn hoa bên Tây Hồ xinh đẹp, rực rỡ giờ đã trở thành bãi hoang, trở thành gò hoang không còn ai sinh sống hay biết đến. Cảnh thay đổi hoá thành hoang vu, hiu hắt cũng chính bởi con người nơi đây đã mất đi chẳng còn nữa. Nàng Tiểu Thanh đã ra đi ở tuổi mười tám, cái tuổi đẹp nhất của cuộc đời người con gái. Nàng đã phải chịu biết bao cay đắng, bao khổ đau vì cô đơn, cô độc, vì kiếp làm lẽ đầy bẽ bàng. Và khi chết đi, cũng chẳng một ai thương tiếc nàng, chỉ có Nguyễn Du, đại thi hào của chúng ta dành cho nàng tình yêu và nỗi xót thương trân trọng: “ Độc điếu song tiền nhất chỉ thư” ( Chỉ viếng nàng qua một tập sách đọc trước cửa sổ). Trong “Truyện Kiều” ta bắt gặp cuộc tri ngộ giữa Thúy Kiều và Đạm Tiên có sự chứng kiến của chị em Thúy Kiều còn cuộc viếng thương của Tiểu Thanh chỉ có một Nguyễn Du và một tập sách bị đốt dở. Chữ “độc” và chữ “nhất” trong câu thơ chữ Hán cũng là để nói một lòng đau tìm gặp một hồn đau. Từ “mảnh giấy tàn”- phần dư cảo trong tập thơ Tiểu Thanh bị người vợ cả đốt còn sót lại, Nguyễn Du nghĩ tới cuộc đời nàng. “Mảnh giấy tàn” ấy chính là mảnh đời Tiểu Thanh vụn tan còn vương lại.<br><br></div><div>Đời Tiểu Thanh là điển hình của hai nỗi oan: hồng nhan bạc mệnh, tài mệnh tương đố. Người đẹp như nàng mà bất hạnh, chết trẻ. Có tài thơ văn như nàng mà bị vùi dập. Nỗi đau khổ ấy của Tiểu Thanh đã được Nguyễn Du thể hiện rõ nét trong hai <a href="https://thuvientho.com/">câu thơ</a> tiếp theo:<br><br></div><div><em>“ Chi phấn hữu thần liên tử hậu<br></em><br></div><div><em>Văn chương vô mệnh lụy phần dư”<br></em><br></div><div><em>( Son phấn có thần chôn vẫn hận<br></em><br></div><div><em>Văn chương không mệnh đốt còn vương)<br></em><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Nguyễn Du nhắc tới hai nỗi oan trong đời của Tiểu Thanh bằng ẩn dụ tượng trưng quen thuộc:&nbsp; “ chi phấn” và “ văn chương” có ý nghĩa chỉ vẻ đẹp hình thức và tài năng của nàng Tiểu Thanh. Son phấn là chỉ người con gái xinh đẹp, duyên dáng, mặt hoa da phấn còn văn chương là chỉ vốn tri thức rộng lớn mà nàng am hiểu, thông tuệ. Hai vật thể vô tri, vô giác&nbsp; đã được nhân cách hóa để có “thần”, có hồn. Nếu hiểu “son phấn” và “văn chương” là chủ thể tự hận, tự thương thì đưa tới cách cảm nhận: son phấn có thần chắc xót xa vì phải những việc sau khi chết, văn chương không có số mệnh mà cũng bị đốt dở. Nếu hiểu “son phấn”, “văn chương” là đối tượng thương cảm của người đời thì dẫn đến cách cảm nhận: son phấn như có thần sau khi chết người ta phải thương tiếc, văn chương có số mệnh gì mà người ta phải bận lòng vì những bài thơ còn lại sau khi đốt. Có thể thấy cảm hứng của Nguyễn Du trước cái đẹp và tài năng không chỉ là niềm xót thương mà còn là sự trân trọng. Đồng quan điểm ấy, trong bài “Bài ca người gảy đàn ở Long Thành” Nguyễn Du xót thương trước nhan sắc người đẹp suy tàn&nbsp; mà cảm hứng ngưỡng mộ vẻ đẹp tài năng của người ca nữa, sau hai mươi năm vẫn không hề tàn theo năm tháng.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;“Băm sáu cung xuân kia chung đúc<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Đất Trường An hạt ngọc liên thành”<br><br></div><div>Viết “ Độc Tiểu Thanh kí”, Nguyễn Du cất tiếng khóc thương cho cuộc đời, số phận nàng Tiểu Thanh. Nàng, một người con gái tài sắc nhưng 16 tuổi đã phải làm lẽ, 18 tuổi chết trong cô độc ở vườn hoa Tây Hồ. Sau khi chết, những bài thơ, những nỗi lòng chất chứa trong thơ của nàng cũng bị người vợ cả đốt thành tro. Cái chết ấy, nỗi đau ấy không có lời giải thích, mãi là cái án kì oan còn vang đến ngàn đời:<br><br></div><div><em>“ Cổ kim hận sự thiên nan vấn<br></em><br></div><div><em>Phong vận kì oan ngã tự cư”<br></em><br></div><div><em>( Nỗi hờn Kim cổ trời khôn hỏi<br></em><br></div><div><em>Cái án phong lưu khách tự mang)<br></em><br></div><div>Nguyễn Du đã từ cái hận của Tiểu Thanh mà nghĩ tới cái hận muôn đời, cái hận xưa nay cứ triền miên, không bao giờ chấm dứt. Tố Như từ cái hận muôn đời mà thương cho cái hận Tiểu Thanh, dồn cái hận kim cổ vào cái hận Tiểu Thanh. Do vậy cái hận trở nên quá lớn, dồn tụ lại như một câu hỏi treo lơ lửng giữa không trung, khó mà hỏi trời được “thiên nan vấn”. Lời thơ như muốn hướng câu hỏi tới bầu trời để giải đáp một vấn đề của cuộc sống nhân sinh nơi trần thế. Nhưng có hỏi trời thì cũng không một lời giải đáp. Nguyễn Du thấu hiểu nỗi đau của nàng Tiểu Thanh, của một kiếp làm lẽ cô độc bị đày đọa“ chém cha cái kiếp lấy chồng chung” (Hồ Xuân Hương) hay “Có chồng hờ hững cũng như không” của Trần <a href="https://vanmau.edu.vn/tag/te-xuong/">Tế Xương</a>. Qua đây, ta càng thêm thấm thía hình ảnh người con gái có chồng nhưng vẫn một mình lẻ loi.<br><br></div><div>Bên cạnh cái hận là cái “án phong lưu”, cái án lạ lùng – người phong lưu lại khổ lại mang án. Câu thơ dịch chữ “ngã” (tôi, ta) thành chữ “khách” đã không tô đậm yếu tố chủ thể nhập tâm vào khách thể. Nguyễn Du đã tự coi mình là người cùng hội với kẻ mắc nổi oan lạ lùng vì nết phong nhã. Như vậy là bằng chính sự trải nghiệm của bản thân, Tố Như thấu hiểu nỗi đau oan khốc của Tiểu Thanh. Và ngược lại, từ Tiểu Thanh, Nguyễn Du tự hận, tự thương mình<em>“ Ta tự coi như người cùng một hội với kẻ mắc nỗi oan lạ lùng vì nết phong nhã”. </em>Nhà thơ như “ mượn chén rượu của người để rót rượu mình”.<br><br></div><div>Khép lại bài thơ là những suy tư của Nguyễn Du về thời thế:<br><br></div><div><em>“ Bất tri tam bách dư niên hậu<br></em><br></div><div><em>Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”<br></em><br></div><div>Hai câu kết chuyển ý thật bất ngờ nhưng không lạc giọng mà vẫn thống nhất trong mạch cảm xúc. Tiểu Thanh và Nguyễn Du cùng hội cùng thuyền nên càng xót thương Tiểu Thanh càng thương mình. Từ thương người thương đời, ý thơ chuyển sang dưới dạng tự sự thương bằng một câu hỏi. Không hỏi quá khứ, hiện tại mà hỏi tương lai, không hỏi trời mà hỏi người đời. Câu hỏi đậm sắc thái tu từ cho thấy Nguyễn Du vừa băn khoăn vừa mong đợi người đời sau đồng cảm và thương cảm cho số phận của mình. Có thể hiểu ba trăm năm là con số tượng trưng cho một khoảng thời gian rất dài. Ý Nguyễn Du muốn bày tỏ là giờ đây, một mình ta khóc nàng, coi nỗi oan của nàng như của ta. Vậy sau này liệu có còn ai mang nỗi oan như ta nhỏ lệ khóc ta chăng ? Câu thơ thể hiện tâm trạng cô đơn của nhà thơ vì chưa tìm thấy người đồng cảm trong hiện tại nên đành gửi hi vọng da diết ấy vào hậu thế. Hậu thế không chỉ khóc cho riêng Tố Như, mà là khóc cho bao kiếp tài hoa tài tử khác. Nhưng, chưa cần đợi đến 300 năm nữa, hậu thế đã có rất nhiều tiếng nói đồng cảm dành cho đại thi hào dân tộc như&nbsp;<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;“Nửa đêm qua huyện Nghi Xuân<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Bâng khuâng nhớ Cụ, thương thân nàng Kiều...<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; (Kính gửi cụ Nguyễn Du-Tố Hữu)<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Bài thơ mở đầu bằng khóc người, thương người và kết thúc bằng khóc mình, thương mình. Khóc người, thương người là sự mênh mang cao cả của trái tim nhân đạo. Khóc mình, thương mình là sự sâu sắc của tư tưởng nhân văn. Đọc Tiểu Thanh Kí đã hội tụ được cả hai điều đó. Tác phẩm là tiếng nói tri âm gắn kết thành mạch nguồn đồng điệu muôn đời của văn học vượt cả không gian và thời gian. Khát vọng của Nguyễn Du là khát vọng chung cho cả nhân loại đi tìm sự tự do, hạnh phúc. Do đó nó chạm đến và lay động trái tim chúng ta ngày hôm nay như một chân lí bền vững theo thời gian.<br>&nbsp;<br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-02-12 22:56:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/duyleangiang/b1w9fnmi7alkxkcx/wish/2044097513</guid>
      </item>
      <item>
         <title>NGHỊ LUẬN XÃ HỘI</title>
         <author>nguyenthituyetnhunghbangiang</author>
         <link>https://padlet.com/duyleangiang/b1w9fnmi7alkxkcx/wish/2044100104</link>
         <description><![CDATA[<div><em><br>Đề:&nbsp; Henry Van Dyke đã có câu nói: “ Có một khát vọng còn cao quý hơn cả việc được đứng đầu trong thiên hạ , đó là việc cúi xuống để nâng đồng loại của mình lên cao hơn.” Hãy cho biết&nbsp; suy nghĩ của bạn về câu nói này?<br></em>“Hãy tha thứ và hãy quên” , lòng vị tha và sự cao thượng là hai thứ cần thiết và quan trọng để tạo nên tình người. Với khát vọng cao quý và tuyệt đẹp, con người ta luôn muốn hướng đến sự hoàn thiện về cả tâm hồn lẫn thể xác, thành công trong công danh sự nghiệp và hướng thiện. Chính vì lẽ đó, lòng vị tha và sự bao dung là điều quan trọng hơn bao giờ hết. Đó là sự giao hòa cảm xúc, lòng trắc ẩn thiêng liêng nhất của một con người đến với một trái tim, là tấm lòng cùng tinh thần chăm lo một cách vô điều kiện đến người khác, có thể vì người mà hi sinh bản thân mình.<br><br></div><div>Tại sao lại cần có lòng vị tha? Vì đó là đức hi sinh, là tinh thần trượng nghĩa, là biểu hiện tốt đẹp nhất của đạo lí làm người. Lòng vị tha và bao dung đem đến cho lòng người sự thanh thản trong tâm hồn, sự yên bình trong giấc ngủ say, hạnh phúc và hơn cả là tình yêu thương giữa con người đến với con người. So với việc giẫm đạp lên nhau, vụ lợi , bon chen lẫn nhau để được là người đứng đầu trong thiên hạ, đứng một mình trên đỉnh cao mà không có sự yêu thương, lạc lõng, cô đơn, thầm ghen tị , khao khát được yêu thương, tại sao chúng ta không chọn cách cúi xuống để nâng đồng loại của mình lên cao hơn, để ta và bạn cùng cố gắng phấn đấu, để ta và bạn vừa có thể là đối thủ cạnh tranh công bằng , vừa có thể là bạn tốt của nhau?<br><br></div><div>&nbsp;“Lòng vị tha” , cụm từ ấy dường như đã quá quen thuộc bên mỗi trang sách, cuốn truyện, trong những câu chuyện làm người của một ai đó, là chủ đề quen thuộc trong thế giới văn học. Lòng vị tha và bao dung luôn đan xen trong cuộc sống của mỗi chúng ta từ những hành động rất vụn vặn. Khi ta quyết định tha thứ lỗi lầm cho một ai đó, khi đó ta đã đem lòng vị tha của mình trao đi. Khi một người mẹ sẵn lòng cầm roi quật mạnh vào tấm da thịt của người con, rồi một lúc sau lại sẵn lòng lấy tay lau đi những giọt nước mắt mặn nồng trên đôi gò má, khi một đứa em nghịch ngợm làm rách chiếc váy đẹp nhất của chị, nó rối rít xin lỗi và những giọt nước mắt hối hận chảy ra, chị không quan tâm và giận tím mặt quay đi,nhưng khi quay lại , thật kì diệu thay, một cây kẹo mút được cầm trên tay cùng nụ cười tươi dễ dàng tha thứ. Đúng vậy, đó là những công việc hằng ngày diễn ra một cách thoải mái và vô tư như vậy, bởi vì một lẽ, ta đang “cúi xuống để nâng đồng loại của mình lên cao hơn.”<br><br></div><div>Có một câu chuyện kể rất hay thế này, hai người bạn cùng đi qua sa mạc. Khi tranh luận xảy ra, một trong hai người bạn không kiềm chế được đã dùng những lời miệt thị xúc phạm người kia. Anh cảm thấy bị xúc phạm và không nói gì cả, chỉ viết lên cát: “Hôm nay người bạn của tôi đã làm khác đi những gì tôi nghĩ.” Họ đi tiếp và cho đến khi người bạn bị xúc phạm gặp nạn và được người kia cứu, anh lấy một miếng kim loại khắc lên đá:” Hôm nay người bạn tốt nhất của tôi đã cứu sống tôi.”&nbsp; Lòng vị tha và bao dung còn giúp ta có thêm những người bạn tốt. “Nếu như bạn muốn thấy sự dũng cảm, hãy nhìn những người biết cách tha thứ.“Khi ta sẵn lòng quên đi những vết thương lòng và mạnh mẽ mở lòng đón nhận những lỗi lầm của người khác, quên đi bao niềm đau và vết thương đã tạo nên khoảng cách giữa hai người, thì khi ấy, bạn là người dũng cảm cùng vệt sáng lấp lánh trong đôi mắt người ,<br><br></div><div>Một người mẹ, người vợ luôn tần tảo trong gia đình, dùng cả trái tim lẫn tình yêu thương hòa quyện vun đắp vào từng món ăn, chăm lo cho mọi thành viên trong gia đình mà nào có kêu than. Một người lính tay giơ cao cây súng sẵn sàng tuyên thề hi sinh cả tuổi thanh xuân cùng tình yêu lứa đôi của mình để tham gia kháng chiến chống ngoại xâm nơi biên thùy, anh đã dùng lòng vị tha và bao dung để đổi lấy sự bình yên cho đất nước. Người mẹ già ngày đêm mòn mỏi trông con trở về, người mẹ ấy đã làm một công việc vĩ đại là động viên con đi lính để bảo vệ đất nước, để bây giờ bà ngóng đứa con từng phút từng giây mà trong lòng vẫn trào dâng niềm hạnh phúc, bà mẹ ấy xứng đáng là người phụ nữ anh hùng. Tất cả, tất cả, họ đang chỉ làm theo sự dẫn dắt của trái tim và sự đồng cảm giữa tâm hồn, họ không ngại ngần mà trao đi lòng vị tha và bao dung, không ngại ngần mà “cúi xuống để nâng đồng loại của mình lên cao hơn”. Họ làm đươc, chẳng lẽ chúng ta lại không thể? Không phải cứ việc làm vĩ đại mới xây dựng lên lòng tốt, không phải cứ việc làm vĩ đại mới được đón nhận, mà khi ta trao đi lòng vị tha và bao dung, ta sẽ được sống chan hòa trong tình yêu thương và niềm hạnh phúc, xã hội sẽ không còn những bất công ,vụ lợi và lắm bon chen, những cay đắng cùng niềm đau sẽ qua đi nếu ta có lòng vị tha.<br><br></div><div>Đồng tiền luôn có hai mặt phải trái, bàn tay cũng có mặt úp mặt ngửa, bát cơm có khi đầy khi vơi, và lòng vị tha thì luôn song hành cùng lòng vị kỉ. Lòng vị kỉ xuất phát từ chính sự ích kỉ của bản thân, chỉ biết chăm lo cho lợi ích của riêng mình, có thể vì lợi ích của mình mà sẵn sàng chà đạp, hủy diệt người khác để vụ lợi cho bản thân. Lòng vị kỉ có thể giết chết nhân cách của một con người, có thể gây nên sự thờ ơ, vô cảm, lạnh lùng, toan tính và tham lam, để rồi từ đó con người sống tách biệt với thế giới bên ngoài, trái tim luôn đè nặng những tảng đá vô hình với nhiều trăn trở, suy ngẫm và dày vò rất nhiều, để rồi từ đó không tìm lại được sự bình yên và thanh thản trong tâm hồn. Ngày nay, một bộ phận giới trẻ Việt Nam cũng đang tồn tại tình trạng của lòng vị kỉ. Họ không biết đến yêu thương con người, học cách tha thứ và bao dung cho nhau mà ngày càng thờ ơ, vô cảm với thế giới xung quanh. Thật dễ dàng nhận thấy một nhóm nữ sinh đang túm đầu giật tóc, đánh nhau, làm những hành động thiếu văn minh nơi lứa tuổi học trò và những con người đứng xung quanh thì tụm năm tụm ba chen nhau hò hét, quay video, cổ vũ, hay chỉ một câu nói sáo rỗng vu vơ thôi cũng đủ để gây nên một cơn đại hồng thủy đánh nhau đến sứt đầu mẻ trán, tất cả thật đúng với câu nói của Erich Fromm :” Những người ích kỉ không có khả năng yêu người khác, và họ cũng không có khả năng yêu chính bản thân mình.”<br><br></div><div><em><br></em><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-02-12 23:03:07 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/duyleangiang/b1w9fnmi7alkxkcx/wish/2044100104</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
