<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title>12A3 by Thụ Nguyễn</title>
      <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3</link>
      <description>Các bạn chia sẻ bài tập ở đây nhé!</description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2021-11-07 17:36:42 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2025-08-26 03:39:22 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url>https://padlet.net/icons/png/1f606.png</url>
      </image>
      <item>
         <title>Các em nhấp chuột vào dấu + phía dưới tên của mình để viết nội dung chia sẻ nhé</title>
         <author>nguyenthithu18977</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1874604765</link>
         <description><![CDATA[<div>Cô chia lớp thành 9 nhóm<br>Nhóm 1 gồm STT 1,2,3,4,5<br>Nhóm 2 gồm STT 6,7,8,9,10<br>......<br>Nhóm 9 gồm STT 441,42,43,44,45,46<br>Các bạn làm việc nhóm đúng các thành viên nhóm mình</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-08 09:36:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1874604765</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tư tưởng Đất nước của Nhân dân qua 3 phương diện</title>
         <author>nguyenthithu18977</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1874647690</link>
         <description><![CDATA[<div>* Phương diện địa lí gồm những danh lam thắng cảnh<br>* Phương diện lịch sử - bốn nghìn năm lịch sử....<br>* Từ bản sắc văn hóa</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-08 10:00:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1874647690</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Các bạn tìm hiểu trong văn bản để có những cảm nhận riêng của mình</title>
         <author>nguyenthithu18977</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1874651091</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-08 10:01:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1874651091</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 3,5,7 Tìm hiểu về phương diện địa lí  (từ câu thơ Những người vợ nhớ chồng.....Những cuộc đời đã hóa núi sông ta)</title>
         <author>nguyenthithu18977</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1875397730</link>
         <description><![CDATA[<div>CH: Tác giả cảm nhận Đất nước qua những danh lam, thắng cảnh nào. những địa danh gắn liền với cái gì, của ai?<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-08 15:17:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1875397730</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 1,6,8 tìm hiểu về Bản sắc văn hóa (từ câu thơ Để Đất Nước này là ......Đi trả thù không sợ dài lâu)</title>
         <author>nguyenthithu18977</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1875440621</link>
         <description><![CDATA[<div>CH: Khi nói về truyền thống của nhân dân tác giả đã chọn những yếu tố văn học dân gian nào để làm sáng tỏ? Đó là những truyền thống gì?</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-08 15:29:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1875440621</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhà thơ đã vận dụng thành công chất liệu văn hóa dân gian. Những chất liệu ấy vừa quen thuộc (gần gũi với cuộc sống của mỗi con người Việt Nam) vừa mới lạ (với những sáng tạo mới mẻ, hấp dẫn)- Chất liệu dân gian được sử dụng rất đa dạng, phong phú, tất cả đều gần gũi, quen thuộc với mỗi con người Việt Nam + Có phong tục, lối sống, tập quán sinh hoạt, vật dụng quen thuộc (miếng trầu, tóc bới sau đầu, cái kèo, cái cột, hạt gạo xay, giã, giần, sàng, hòn than, con cúi,...).+ Có ca dao, dân ca, tục ngữ, truyền thuyết, cổ tích.   - Cách vận dụng độc đáo, sáng tạo: + Vận dụng ca dao, tục ngữ nhưng dẫn dắt khéo léo, khi lấy nguyên vẹn toàn bài khi chỉ mượn ý mượn tứ để khẳng định, tôn vinh những nét đẹp trong sinh hoạt và tâm hồn con người Việt Nam. Đó là sự chăm chỉ chịu thương, chịu khó; là tấm lòng thủy chung son sắt trong tình yêu; là sự duyên dáng, ý nhị trong từng lời ăn tiếng nói...Ví dụ:- &quot;Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn&quot; lấy ý từ bài ca dao &quot;Tay nâng chén muối đĩa gừng/ Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau&quot; hay &quot;Muối ba năm muối hãy còn mặn, gừng chín tháng gừng hãy còn cay/ Đôi ta tình nặng nghĩa dày/ Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa&quot;- &quot;Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng&quot;- &quot;Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm&quot; lấy ý từ bài ca dao &quot;Khăn thương nhớ ai/ Khăn rơi xuống đất...&quot;...+ Liệt kê hàng loạt những câu chuyện từ xa xưa trong truyền thuyết, cổ tích dân tộc để làm nổi bật  vẻ đẹp trù phú của đất nước, những truyền thống quý báu của nhân dân ta đồng thời khẳng định vai trò to lớn của nhân dân trong việc &quot;làm ra Đất Nước&quot;Ví dụ: Truyến thống đoàn kết, tinh thần cảnh giác cao độ trước kẻ thù &quot;dân mình biết trồng tre mà đánh giặc&quot;, tinh thần uống nước nhớ nguồn &quot;Hằng năm ăn đâu làm đâu/ Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ&quot;. Hoặc tô đậm sự trù phú tươi đẹp của quê hương:&quot;Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu...Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm&quot;- Chất liệu văn hóa, văn học dân gian được sử dụng đậm đặc đã tạo nên một không gian nghệ thuật riêng của đoạn trích, vừa bình dị, gần gũi, hiện thực, lại vừa giàu tưởng tượng, bay bổng, mơ mộng. Hơn nữa, có thể nói chất dân gian đã thấm sâu vào tư tưởng và cảm xúc của tác giả, tạo nên một đặc điểm trong tư duy nghệ thuật ở đoạn trích này.- Bằng việc sử dụng đậm đặc chất liệu văn hóa dân gian, bên cạnh việc lí giải, định nghĩa Đất Nước ở nhiều bình diện [không gian, thời gian lịch sử, truyền thống văn hóa] nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm còn làm nổi bật một tư tưởng mới mẻ: &quot;Đất Nước của nhân dân/ Đất Nước của ca dao thần thoại&quot;</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1876633908</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-09 00:01:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1876633908</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1876730305</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>NHÓM 5<br>*Phương diện địa lí (Những người vợ nhớ chồng ...Những cuộc đời đã hóa núi sông ta)<br>“Núi Vọng Phu”: địa danh nổi tiếng gắn với sự tích người vợ hóa đá chờ chồng → khẳng định tình cảm thủy chung, son sắt của người phụ nữ Việt Nam.<br><br>Hòn Trống Mái: hai tảng đá xếp chồng lên nhau nằm trên một ngọn núi ở Sầm Sơn, Thanh Hóa → khẳng định tình cảm, sự gắn bó trong tình cảm gia đình, tình cảm vợ chồng.<br><br>Tổ Hùng Vương: gắn với truyền thuyết 99 con voi quây bên đền thờ các vua Hùng để phục Tổ → khẳng định niềm tự hào lịch sử vua Hùng.<br><br>Núi Bút, Non Nghiên: có hình cây bút và nghiên mực ở Quảng Ngãi, nói lên truyền thống hiếu học của người Việt Nam.<br><br>Hạ Long thành: thắng cảnh Hạ Long, một di sản thiên nhiên thế giới.<br><br>Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm: sơn danh của những người có công với nước ở Nam Bộ, tự hào về truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc.<br><br>Những ao đầm, gò bãi là sự hóa thân của những con người làm nên Đất Nước.<br><br>→ Những địa danh được cảm nhận qua những số phận, những cảnh ngộ của con người, sự hóa thân của những con người không tên tuổi như một phần máu thịt của nhân dân. Chính nhân dân bao đời đã tạo nên Đất Nước này, đã ghi dấu ấn cuộc đời mình lên mỗi ngọn núi, dòng sông</strong></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-09 00:50:04 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1876730305</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 4: Tìm hiểu về phương diện lịch sử ( Em ơi em… Có nội thù thì vùng lên đánh bại )</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1876907426</link>
         <description><![CDATA[<div>Chính nhân dân, những con người bình dị, vô danh đã <em>“</em>Làm nên Đất Nước muôn đời”. Và vì vậy, khi cảm nhận Đất Nước bốn ngàn năm lịch sử, nhà thơ không nói đến các triều đại, các anh hùng mà nhấn mạnh đến những con người vô danh, bình dị:<br><em>“Em ơi em</em><br><em>Hãy nhìn rất xa</em><br><em>Vào bốn ngàn năm Đất Nước”</em><br><em>Năm tháng nào cũng người người lớp lớp</em><br><em>Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta</em><br><em>Cần cù làm lụng</em><br><em>Khi có giặc người con trai ra trận</em><br><em>Người con gái trở về nuôi cái cùng con”<br></em><br></div><div>Nếu như Nguyễn Trãi nhìn nhận lịch sử đất nước ta theo lối của một nhà sử gia chính thống thì Nguyễn Khoa Điềm lại nhìn nhận lịch sử theo lối gợi mở lịch sử. Ông xoáy sâu và nhấn mạnh vào con số “bốn ngàn năm”. Bốn ngàn năm ấy là bốn ngàn lớp người Việt Nam ra trận, là bốn ngàn thế hệ người Việt Nam ra trận, lớp cha trước lớp con sau cũng thành đồng chí chung câu quân hành. Đó là một cuộc chạy đua tiếp sức của người dân Việt Nam. Nói về lịch sử bốn nghìn năm của đất nước, nhà thơ không nhắc lại các triều đại, các anh hùng nổi tiếng mà tập trung nhấn mạnh vai trò của những con người vô danh:</div><div><em>“Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi</em><br><em>Họ đã sống và chết</em><br><em>Giản dị và bình tâm</em><br><em>Không ai nhớ mặt đặt tên</em><br><em>Nhưng họ đã làm ra Đất Nước.”<br>=&gt;</em>Họ đã làm ra Đất Nước bằng chính những công việc hằng ngày và trong suốt cuộc đời họ<br><br></div><div><em>* Bản sắc văn hoá :</em></div><div>- Cũng chính nhân dân là người lưu giữ và bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc.<br>“<em>Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng</em><br><em>Họ chuyền lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cúi</em><br><em>Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói</em><br><em>Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân</em><br><em>Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái”</em></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp;</div><div>- Đại từ “Họ” đặt đầu câu + nhiều động từ “giữ, truyền, gánh”<br><br></div><div>=&gt; Vai trò của nhân dân trong việc giữ gìn và lưu truyền văn hoá qua các thế hệ.<br><br></div><div>- Chính những con người “giản dị và bình tâm”, “không ai nhớ mặt đặt tên” đã gìn giữ và truyền lại cho thế hệ mai sau mọi giá trị tinh thần và vật chất của đất nước từ hạt lúa, ngọn lửa, tiếng nói đến cả tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân.<br><br></div><div>- Họ có công trong việc chống ngoại xâm, dẹp nội thù:</div><div><em>&nbsp; &nbsp; “</em> Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Có nội thù thì vùng lên đánh bại “</div><div>=&gt; Họ giữ yên bờ cõi và xây dựng cuộc sống hoà bình.Nhân dân không chỉ là người xây dựng và bảo vệ Đất Nước mà nhân dân còn là người làm nhiệm vụ vô cùng thiêng liêng ấy là truyền lại cho thế hệ tiếp nối những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần.<br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-09 02:05:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1876907426</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 9: Tìm hiểu về phương diện lich sử (từ câu thơ Em ơi em....Có nội thù thì vùng lên đánh bại)</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1877222941</link>
         <description><![CDATA[<div>Khi nói về bốn nghìn năm lịch sử của đất nước tác giả không điểm tên các triều đại cùng các anh hùng trong sử sách&nbsp; vì đối với tác giả sự phát triển, hình thành ,văn hóa ,phong tục tập quán và muôn vàn những vẻ đẹp&nbsp; của đất nước đều là sự kết tinh của bao công sức và khát vọng của&nbsp; nhân dân ,của những con người bình thường ,vô danh chứ không chỉ riêng các anh hùng và triều đại<br>Đối tượng mà tác giả muốn nhắc đến ở đây là những người bình thường trong xã hội những con người vô danh mà&nbsp; không ai nhớ đến họ&nbsp;</div><ol><li>Họ là những con người số phận nhỏ bé trong xã hội , những con người tần tảo, vất vả hi sinh hết mình cho sự nghiệp đấu tranh&nbsp; bảo vệ độc lập, chủ quyền của dân tộc , họ chính là những người đã ‘’ làm ra đất nước’</li></ol><div>       Họ giữ yên bờ cõi và xây dựng cuộc sống hoà bình ,họ không chỉ là người xây dựng và bảo vệ Đất Nước mà còn là người làm nhiệm vụ vô cùng thiêng liêng truyền lại cho thế hệ sau tiếp nối những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-09 04:33:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1877222941</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 3 :Phương diện địa lí (từ câu thơ Những người vợ nhớ chồng .......Những cuộc đời đã hóa núi hóa sông ta)</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1877644322</link>
         <description><![CDATA[<div>Tư tưởng Đất Nước của Nhân Dân dẫn nhà thơ đến một cách nhìn mới mẻ có chiều sâu về địa lí. Người đọc được tiếp nhận một phát hiện mới mẻ rất thú vị về những danh lam thắng cảnh trên đất nước ta như Vịnh Hạ Long, những di tích văn hóa như hòn Vọng Phu, núi Bút, non Nghiên; những di tích lịch sử như làng Gióng, đất Tổ, ... Trải dài trên đất nước ta không chỉ là địa hình sông núi thuần túy, mà tạo hóa ban tặng mà còn được cảm nhận như là sự đóng góp của nhân dân, sự hóa thân của những cảnh ngộ, số phận nhân dân và thấm đẫm vẻ đẹp tâm hồn nhân dân: thủy chung, yêu nước, hiếu học.Đoạn thơ quan sát không gian địa lí của Đất nước qua các di tích văn hóa, lịch sử. Thế nhưng, điều đáng nói nhất là tất cả những không gian địa lí đó đều được hiện lên qua những câu chuyện ngày xửa ngày xưa nào đó của Văn học dân gian. Những truyện Thánh Gióng, Sự tích hòn Vọng Phu, … - những câu chuyện, huyền thoại, sự tích hoặc sự thật về Nhân Dân trong lịch sử mấy ngàn năm giữ nước hiện lên trong thơ Nguyễn Khoa Điềm vừa gần gũi, thân yêu lại vừa thiêng liêng, quý báu. Tất cả những địa danh đó được soi chiếu qua lịch sử dân tộc, qua tâm hồn của Nhân Dân để trở thành những chất liệu phong phú, xúc động, hiển hiện lên trang thơ Đất nước đầy sinh động.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-09 08:40:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1877644322</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1877706921</link>
         <description><![CDATA[<div>nhóm 1&nbsp;: bản sắc văn hoá ( câu 81-&gt; 86)<br>&nbsp; +)“ để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại “</div><div>&nbsp; Nhân dân là những người giản dị, vô danh nhưng cũng chính là người sáng tạo ra các giá trị văn hoá, tinh thần của đất nước. một trong các giá trị văn hoá đặc sắc nhất kết tinh tâm hồn , tình cảm nhân dân chính là văn hoá dân gian, biểu hiện cụ thể là các câu ca dao, câu chuyện truyền kì….Hai âu thơ đã đưa ra định nghĩa về đất nước vừa giản dị vừa độc đáo.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; +)”Dạy anh biết “ yêu em từ thuở trong nôi”&nbsp;</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Biết trồng tre đợi ngày thành gậy</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Đi trả thù mà không sợ dài lâu”</div><div>&nbsp; &nbsp;Qua những câu thơ trên , NKĐ đã chọn ra từ kho tàng thơ ca dân gian ba nét đẹp tiêu biểu nhất của tâm hồn Việt, của bản sắc văn hoá Đất Nước: đó là những câu ca dao về tình yêu và lời ru, gợi tình yeeu trong sáng và sắt son; đó là “công cầm vàng” từ câu “ cầm vàng mà lội qua sông, vàng rơi không tiếc , tiếc công cầm vàng”, nhắc nhở trân trọng tình nghĩa giữa con người ; đó còn là sự kiên trì, bền bỉ trong công cuộc bảo vệ non sông, đấu tranh giành nước và giữ nước của dân tộc.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-09 09:14:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1877706921</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 6: Phân tích về bản sắc văn hoá ( Để Đất Nước này...... không sợ dài lâu ).</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1877709129</link>
         <description><![CDATA[<div>Có thể nói, “Đất Nước” của Nguyễn Khoa Điềm là một khúc ca – sự nhận thức về nguồn gốc sâu xa của nhà thơ về đất nước về trí tuệ, tâm hồn và ý chí của nhân dân.Để từ đó, nhà thơ khẳng định : Nhân dân chính là người – là chủ thể làm nên đất nước.<br>Trước hết, câu thơ mở đầu đọan thơ “ Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân” chính là sự thể hiện cảm hứng chủ đạo bao trùm lên tòan đọan trích và cả Chương V của bản trường ca “Mặt đường khát vọng”. Đây chính là lời kết, là sự khái quát từ những gì đã được nhà thơ triển khai trên cả chiều dài của trang thơ và trong cả chiều sâu của dòng cảm hứng trữ tình- chính luận.<br>Nhân dân sáng tạo ra mọi giá trị văn hóa như ca dao, thần thoại.Như vậy cũng chính là đã sáng tạo ra đất nước. Để khẳng định điều này, Nguyễn Khoa Điềm đã lấy ý từ ba câu ca dao có nội dung sâu sắc để nói về ba phương diện quan trọng nhất của truyền thống nhân dân :<br>“Dạy anh biết “yêu em từ thuở trong nôi”<br>Biết quý công cầnm vàng những ngày lặn lội<br>Biết trồng tre đợi ngày thành gậy<br>Đi trả thù mà không sợ dài lâu”.<br>Đó là vẻ đẹp giàu lòng yêu thương ân tình của người Việt đã bắt nguồn từ thời xa xưa với những lời dân ca ngọt ngào “Yêu em từ thuở trong nôi,<br>Em nằm em khóc, anh ngồi anh ru”<br>Và đó là vẻ đẹp của lối sống đậm nghĩa, vẹn tình, quý trọng tình nghĩa hơn cả vật chất ngàn vàng.Ở đây, ý thơ của nhà thơ được gợi lên từ chính những câu ca dao một thời đi vào đời sống tâm hồn của dân tộc :<br>“ Cầm vàng mà lội qua sông<br>Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng”<br>Và đó còn là sự thể hiện của truyền thống kiên cường, bất khuất của trong quá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta.Vẻ đẹp của truyền thống anh hùng ấy cũng được làm nên từ những câu ca dao từng ca ngợi tinh thần quật khởi của dân tộc :<br>“ Thù này ắt hẳn còn lâu<br>Trồng tre nên gậy , gặp đâu đánh què”<br>Từ đó có thể khẳng định: nhân dân đã làm ra văn hóa, làm ra đất nước bằng chính tính&nbsp; cách, lẽ sống tâm hồn mình.<br>Có thể nói, tuổi trẻ thế hệ Nguyễn Khoa Điềm đã nhận thức được một cách sâu sắc Nhân dân là người làm nên lịch sử, làm ra văn hóa đất nước bằng tất cả tình cảm trân trọng và yêu thương . Suy tư và nhận thức này của nhà thơ là tư tưởng nghệ thuật đã trở thành truyền thống trong văn học Việt Nam.Từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu …đã từng nói lên nhận thức về vai trò của nhân dân trong lịch sử.Đến các nhà thơ, nhà văn trong thời kì kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ , nhận thức ấy đã được nâng lên thành một tư tưởng .</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-09 09:15:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1877709129</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đoạn thơ thể hiện những phát hiện mới mẻ, độc đáo của nhà thơ về cảnh quan kì thú của non sông: núi Vọng phu, hòn Trống Mãi… không chỉ là tặng vật của thiên nhiên tạo hóa mà đã gắn với cuộc sống con người, với văn hóa lịch sử của dân tộc qua những áng ca dao, cổ tích, truyền thuyết, qua cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của nhân dân.+ Nếu như không có những người vợ mòn mỏi chờ chồng qua những cuộc chiến tranh li tán thì làm sao có được cảm nhận về đá Vọng Phu.+ Nếu không có truyền thuyết về người anh hùng Thánh Gióng nhổ tre đánh giặc Ân thì làm sao có cảm nhận về những ao đầm để lại, chính là những gót ngựa của người anh hùng.+ Nếu không có truyền thuyết Hùng Vương dựng nước thì làm sao có cảm nhận hùng vĩ của núi non quanh đất Phong Châu như 99 con voi chầu về đất tổ.=&gt;Nét đặc sắc ở đây là cái nhìn của nhà thơ thấm sâu ý thức về nhân dân. Nhân dân đã hóa thân vào đất nước.- Hệ thống từ chỉ địa danh:+ Mỗi dòng thơ cất lên là một địa danh của đất nước hiển hiện. Các địa danh trải dài từ địa đầu Tổ quốc (Lạng Sơn) đến mảnh đất cuối cùng của đất nước (Mũi Cà Mau). Các địa danh còn trải dài từ đồng bằng, miền núi, trung du, miền biển. Từ những địa danh cụ thể đến những ý nghĩa mang tầm khái quát. Các địa danh đã góp phần làm nên  bức tranh hoàn chỉnh về không gian địa lí, địa bàn cư trú, môi trường sinh sống của các thế hệ người Việt qua các giai đoạn lịch sử.+ Lần theo các địa danh, người đọc còn nhận thấy lịch sử hình thành của đất nước từ buổi bình minh dựng nước (Đất Tổ vua Hùng, Gióng) đến những năm tháng chống ngoại xâm của ngày hôm nay. Ta luôn có cảm giác, các địa danh lan tới đâu, một chặng đường của lịch sử đất nước được ghi lại ở đó, địa danh xuất hiện ở đâu, không gian địa lí được mở rộng tới đó. Đây là dấu hiệu cho thấy cái nhìn đất nước của Nguyễn Khoa Điềm luôn ở trạng thái động, biểu hiện đất nước luôn luôn phát triển, nghĩa là sự sống của đất nước được bảo tồn, được duy trì bền vững theo thời gian lịch sử. Nói cách khác, qua cảm nhận của nhà thơ, đất nước là một sinh thể luôn phát triển, sự phát triển ngày càng mở rộng, bền vững. - Kết hợp với những từ chỉ địa danh là sự kế thừa và vận dụng sáng tạo những chất liệu văn hóa dân gian. Ở đây, ta thấy có sự tái sinh kì diệu của những trang thần thoại, những câu chuyện cổ tích thấm đẫm chất nhân văn, cốt cách văn hóa Việt.+ Đoạn thơ mở ra bằng những dòng thơ gợi nhớ về câu chuyện sự tích núi Vọng phu – một câu chuyện tình cảm động, biểu trưng cho tấm lòng thủy chung của người phụ nữ Việt Nam. Những cặp vợ chồng yêu nhau đã hóa thân thành hòn Trống Mái để muôn đời được đoàn tụ. Gót ngựa Thánh Gióng là biểu tượng đẹp cho lịch sử chống ngoại xâm anh hùng của người Việt cổ. Núi Bút, non Nghiên không chỉ là một công trình điêu khắc dân gian mà còn là biểu tượng làm sáng lên truyền thống hiếu học của dân tộc Việt Nam. Mỗi câu chuyện gắn với một địa danh như gợi nhớ về một cuộc đời, một số phận chứa đựng một vẻ đẹp tâm hồn của con người Việt Nam.+ Điều đáng nói, khi sử dụng những chất liệu nghệ thuật này, tác giả kết hợp với số từ không xác định chỉ số nhiều “những’. Nó không đơn thuần đóng vai trò liệt kê những địa danh mà quan trọng nó biểu đạt những nhận thức đầy đủ, đúng đắn và thấm thía của tác giả về ý nghĩa lịch sử, giá trị văn hóa của những địa danh, là sự cô đọng, đúc kết một câu chuyện đời. Những câu chuyện ấy gắn với một số phận, một kiểu người mà chủ yếu là những người dân bé nhỏ. Khắp đất nước đâu đâu cũng có số phận bất hạnh và những con người thủy chung son sắt. Lời thơ chỉ nhắc đến những địa danh nhưng người đọc hiểu rằng đó là những địa danh chứa trong lòng nó sức khái quát rộng lớn cho phẩm chất, vẻ đẹp, truyền thống lịch sử của con người Việt Nam. Đất nước Việt Nam đã đang và sẽ được tạo nên bởi vô số những người dân vô danh. Những con người bình dị ấy đang bình lặng góp phần mở mang lãnh thổ, bồi đắp nên văn hóa, nối dài dòng lịch sử của dân tộc. Mỗi địa danh là sự hóa thân, hiện hữu của một cuộc đời con người. Đoạn thơ đã khép lại bằng những cảm nhận rất khái quát:</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1878116321</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-09 12:53:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1878116321</guid>
      </item>
      <item>
         <title>nhóm 8</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1878131562</link>
         <description><![CDATA[<div>- Đất nước của nhân dân là sự hội tụ và kết tinh với bao công sức và khát vọng của nhân dân. Đồng thời nhân dân là người làm ra đất nước cho nên khi viết về đất nước, nhà thơ đưa ta trở về cội nguồn của các giá trị văn hóa đân tộc, tìm thấy những nét nổi bật của tâm hồn, tính cách Việt Nam.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;+ Tinh thần, là truyền thống thủy chung say đắm trong hạnh phúc tình yêu<br>+ Biết quý trọng tình nghĩa, coi trọng đạo nghĩa con người<br>+ Quyết liệt với kẻ thù để có được hạnh phúc bền lâu<br>=&gt; Đoạn trích khép lại tư tưởng đất nước nhân dân nhưng lại ngời lên trăm dáng, trăm màu của dòng sông văn hóa, đậm đà hương sắc dân gian, linh hồn Việt.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-09 12:59:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1878131562</guid>
      </item>
      <item>
         <title>nguyễn hồng nhung✌️</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1878216720</link>
         <description><![CDATA[<div>ý1<br>Có thể nói, “Đất Nước” của Nguyễn Khoa Điềm là một khúc ca – sự nhận thức về nguồn gốc sâu xa của nhà thơ về đất nước về trí tuệ, tâm hồn và ý chí của nhân dân.Để từ đó, nhà thơ khẳng định : Nhân dân chính là người – là chủ thể .làm nên đất nước.<br>Trước hết, câu thơ mở đầu đọan thơ “ Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân” chính là sự thể hiện cảm hứng chủ đạo bao trùm lên tòan đọan trích và cả Chương V của bản trường ca “Mặt đường khát vọng”. Đây chính là lời kết, là sự khái quát từ những gì đã được nhà thơ triển khai trên cả chiều dài của trang thơ và trong cả chiều sâu của dòng cảm hứng trữ tình- chính luận.<br>Nhân dân sáng tạo ra mọi giá trị văn hóa như ca dao, thần thoại.Như vậy cũng chính là đã sáng tạo ra đất nước. Để khẳng định điều này, Nguyễn Khoa Điềm đã lấy ý từ ba câu ca dao có nội dung sâu sắc để nói về ba phương diện quan trọng nhất của truyền thống nhân dân :<br>“Dạy anh biết “yêu em từ thuở trong nôi”<br>Biết quý công cầnm vàng những ngày lặn lội<br>Biết trồng tre đợi ngày thành gậy<br>Đi trả thù mà không sợ dài lâu”.<br>.Đó là vẻ đẹp giàu lòng yêu thương ân tình của người Việt đã bắt nguồn từ thời xa xưa với những lời dân ca ngọt ngào “Yêu em từ thuở trong nôi,<br>Em nằm em khóc, anh ngồi anh ru”<br>Và đó là vẻ đẹp của lối sống đậm nghĩa, vẹn tình, quý trọng tình nghĩa hơn cả vật chất ngàn vàng.Ở đây, ý thơ của nhà thơ được gợi lên từ chính những câu ca dao một thời đi vào đời sống tâm hồn của dân tộc :<br>“ Cầm vàng mà lội qua sông<br>Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng”<br>Và đó còn là sự thể hiện của truyền thống kiên cường, bất khuất của trong quá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta.Vẻ đẹp của truyền thống anh hùng ấy cũng được làm nên từ những câu ca dao từng ca ngợi tinh thần quật khởi của dân tộc :<br>“ Thù này ắt hẳn còn lâu<br>Trồng tre nên gậy , gặp đâu đánh què”<br>Từ đó có thể khẳng định: nhân dân đã làm ra văn hóa, làm ra đất nước bằng chính tinh cách, lẽ sống tâm hồn mình.<br>Có thể nói, tuổi trẻ thế hệ Nguyễn Khoa Điềm đã nhận thức được một cách sâu sắc Nhân dân là người làm nên lịch sử, làm ra văn hóa đất nước bằng tất cả tình cảm trân trọng và yêu thương . Suy tư và nhận thức này của nhà thơ là tư tưởng nghệ thuật đã trở thành truyền thống trong văn học Việt Nam.Từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu …đã từng nói lên nhận thức về vai trò của nhân dân trong lịch sử.Đến các nhà thơ, nhà văn trong thời kì kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ , nhận thức ấy đã được nâng lên thành một tư tưởng có<br>ý2<br>ca dao thần thoại có thể coi là hình ảnh hoán dụ cho văn hoá dân gian , mà văn hoá dân gian là sản phẩm trực tiếp của trí tuệ dân gian , là nơi lưu giữ vào tôn vinh vẻ đẹp tâm hồn , tính cách của nhân dân , cũng là nơi chia sẻ cảm thông cho những đau thương , bất hạnh của nhân dân , văn học dân gian do nhân dân sáng tạo nên và phản ánh cuộc sống của nhân dân , cho nên đến với văn học dân gian cũng là đến với nhân dân&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-09 13:29:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1878216720</guid>
      </item>
      <item>
         <title>nhom 4: Tìm hiểu về phương diện lich sử (từ câu thơ Em ơi em....Có nội thù thì vùng lên đánh bại)                          </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1878231103</link>
         <description><![CDATA[<div><br>Âm điệu “em ơi em” =&gt; trữ tình thiết tha</div><div><br></div><div><br>Lời thơ giản dị nhưng mang ý nghĩa sâu xa</div><div><br>=&gt; Ý thơ mang tính chất tâm sự nhiều hơn là kêu gọi, giáo huấn nên sức truyền cảm rất mạnh</div><div><br><br></div><div><br>* Thời gian lịch sử<br><br>- Chính nhân dân, những con người bình dị, vô danh đã “Làm nên Đất Nước muôn đời”. Và vì vậy, khi cảm nhận Đất Nước bốn ngàn năm lịch sử, nhà thơ không nói đến các triều đại, các anh hùng mà nhấn mạnh đến những con người vô danh, bình dị:<br><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Có biết bao người con gái con trai<br><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; …<br><br>Nhưng họ làm ra đất nước<br><br>=&gt; Chọn nhân dân không tên tuổi kế tục nhau làm nên đất nước là nét mới mẻ độc đáo của Nguyễn Khoa Điềm.<br><br>* Bản sắc văn hoá<br><br>- Cũng chính nhân dân là người lưu giữ và bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc.<br><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Họ giữ và truyền cho ta…<br><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;…<br><br>hái trái<br><br>- Đại từ “Họ” đặt đầu câu + nhiều động từ “giữ, truyền, gánh”<br><br>=&gt; Vai trò của nhân dân trong việc giữ gìn và lưu truyền văn hoá qua các thế hệ.<br><br>- Chính những con người “giản dị và bình tâm”, “không ai nhớ mặt đặt tên” đã gìn giữ và truyền lại cho thế hệ mai sau mọi giá trị tinh thần và vật chất của đất nước từ hạt lúa, ngọn lửa, tiếng nói đến cả tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân.<br><br>- Họ có công trong việc chống ngoại xâm, dẹp nội thù:<br><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Có ngoại xâm…<br><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;…<br><br>vùng lên đánh bại<br><br>=&gt; Họ giữ yên bờ cõi và xây dựng cuộc sống hoà bình.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://www.thica.net/wp-content/uploads/2013/12/Nguy%E1%BB%85n-Khoa-%C4%90i%E1%BB%81m.jpg" />
         <pubDate>2021-11-09 13:33:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1878231103</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 4 : Tìm hiểu về phương diện lịch sử ( từ câu Em ơi em ....Có nội thù thì vùng lên đánh bại )</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1878302178</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;+ Trước hết, nghĩ về bốn ngàn năm của đất nước, nhà thơ đã nhận thức được một sự thật đó là : người làm nên lịch sử không chỉ là những anh hùng nổi tiếng mà còn là những con người vô danh bình sự trong bề dày bốn ngàn năm dựng nước, giữ nước, có biết bao thế hệ cha anh dũng cảm, chiến đấu, hy sinh và trở thành anh hùng mà tên tuổi của họ “cả anh và em đều nhớ”: “ Nhiều người đã trở thành anh hùng Nhiều anh hùng cả anh và em đều nhớ”<br>&nbsp;+ Nhưng cũng có hàng triệu , hàng triệu người cũng trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước đã ngã xuống , họ đã “sống và chết, không ai nhớ mặt đặt tên”, nhưng tất cả, họ đều có công “ làm ra Đất Nước”. Có thể nói, đây là một quan niệm mới mẻ về đất nước của nhà từ quan niệm này, Nguyễn Khoa Điềm đã hết lời ca ngợi và tôn vinh lòng yêu nước của nhân dân : “Khi có giặc người con trai ra trận Người con gái trở về nuôi cái cùng con Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh ’&nbsp;<br>+ Với tư tưởng “Đất Nước của nhân dân”, tác giả đã khẳng định tất cả những gì do nhân dân làm ra, những gì thuộc về nhân dân như “hạt lúa, ngọn lửa, giọng nói, .<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://media0.giphy.com/media/pqjYqbhoKFL9kKLhfK/giphy.gif" />
         <pubDate>2021-11-09 13:55:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1878302178</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 9: Tìm hiểu về phương diện lich sử (từ câu thơ Em ơi em....Có nội thù thì vùng lên đánh bại)</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1878317169</link>
         <description><![CDATA[<div>Khi nói về bốn nghìn năm lịch sử của đất nước tác giả không điểm tên các triều đại cùng các anh hùng trong sử sách&nbsp; vì đối với tác giả sự phát triển, hình thành ,văn hóa ,phong tục tập quán và muôn vàn những vẻ đẹp&nbsp; của đất nước đều là sự kết tinh của bao công sức và khát vọng của&nbsp; nhân dân ,của những con người bình thường ,vô danh chứ không chỉ riêng các anh hùng và triều đại<br><br></div><div>Đối tượng mà tác giả muốn nhắc đến ở đây là những người bình thường trong xã hội những con người vô danh mà&nbsp; không ai nhớ đến họ:<br><br></div><div>Họ là những con người số phận nhỏ bé trong xã hội , những con người tần tảo, vất vả hi sinh hết mình cho sự nghiệp đấu tranh&nbsp; bảo vệ độc lập, chủ quyền của dân tộc , họ chính là những người đã ‘’ làm ra đất nước’<br><br></div><div>&nbsp;Họ giữ yên bờ cõi và xây dựng cuộc sống hoà bình ,họ không chỉ là người xây dựng và bảo vệ Đất Nước mà còn là người làm nhiệm vụ vô cùng thiêng liêng truyền lại cho thế hệ sau tiếp nối những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-09 13:59:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1878317169</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 2:Tìm hiểu về phương diện lịch sử (từ câu thơ Em ơi em ...Có nội thù thì vùng lên đánh bại )</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1878451054</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;Suốt 4000 năm lịch sử, nhân dân luôn đứng dậy đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, “không ai nhớ mặt đặt tên” nhưng họ chính là những người làm ra Đất Nước.<br><br>- Nhân dân không chỉ là người xây dựng và bảo vệ Đất Nước mà nhân dân còn là người làm nhiệm vụ vô cùng thiêng liêng ấy là truyền lại cho thế hệ tiếp nối những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần.<br> -Qua đoạn thơ, tác giả đã biểu dương, ngợi ca vai trò của lịch sử bằng những hình ảnh thơ giản dị, mộc mạc, giọng thơ vừa tự sự vừa trữ tình khẳng định sức mạnh lớn lao của nhân dân trong sự nghiệp dựng nước.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1447430869/5981f81e55297a104319ceee909fe8eb/lacodosaovang_300x225.jpg" />
         <pubDate>2021-11-09 14:37:31 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1878451054</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Ta có thể nói, “Đất Nước” của Nguyễn Khoa Điềm là một khúc ca – sự nhận thức về nguồn gốc sâu xa của nhà thơ về đất nước về trí tuệ, tâm hồn và ý chí của nhân dân.Để từ đó, nhà thơ khẳng định : Nhân dân chính là người – là chủ thể .làm nên đất nước.Trước hết, câu thơ mở đầu đọan thơ “ Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân” chính là sự thể hiện cảm hứng chủ đạo bao trùm lên tòan đọan trích và cả Chương V của bản trường ca “Mặt đường khát vọng”. Đây chính là lời kết, là sự khái quát từ những gì đã được nhà thơ triển khai trên cả chiều dài của trang thơ và trong cả chiều sâu của dòng cảm hứng trữ tình- chính luận.Nhân dân sáng tạo ra mọi giá trị văn hóa như ca dao, thần thoại.Như vậy cũng chính là đã sáng tạo ra đất nước. Để khẳng định điều này, Nguyễn Khoa Điềm đã lấy ý từ ba câu ca dao có nội dung sâu sắc để nói về ba phương diện quan trọng nhất của truyền thống nhân dân :“Dạy anh biết “yêu em từ thuở trong nôi”Biết quý công cầnm vàng những ngày lặn lộiBiết trồng tre đợi ngày thành gậyĐi trả thù mà không sợ dài lâu”..Đó là vẻ đẹp giàu lòng yêu thương ân tình của người Việt đã bắt nguồn từ thời xa xưa với những lời dân ca ngọt ngào “Yêu em từ thuở trong nôi,Em nằm em khóc, anh ngồi anh ru”Và đó là vẻ đẹp của lối sống đậm nghĩa, vẹn tình, quý trọng tình nghĩa hơn cả vật chất ngàn vàng.Ở đây, ý thơ của nhà thơ được gợi lên từ chính những câu ca dao một thời đi vào đời sống tâm hồn của dân tộc :“ Cầm vàng mà lội qua sôngVàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng”Và đó còn là sự thể hiện của truyền thống kiên cường, bất khuất của trong quá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta.Vẻ đẹp của truyền thống anh hùng ấy cũng được làm nên từ những câu ca dao từng ca ngợi tinh thần quật khởi của dân tộc :“ Thù này ắt hẳn còn lâuTrồng tre nên gậy , gặp đâu đánh què”Từ đó có thể khẳng định: nhân dân đã làm ra văn hóa, làm ra đất nước bằng chính tinh cách, lẽ sống tâm hồn mình.Có thể nói, tuổi trẻ thế hệ Nguyễn Khoa Điềm đã nhận thức được một cách sâu sắc Nhân dân là người làm nên lịch sử, làm ra văn hóa đất nước bằng tất cả tình cảm trân trọng và yêu thương . Suy tư và nhận thức này của nhà thơ là tư tưởng nghệ thuật đã trở thành truyền thống trong văn học Việt Nam.Từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu …đã từng nói lên nhận thức về vai trò của nhân dân trong lịch sử.Đến các nhà thơ, nhà văn trong thời kì kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ , nhận thức ấy đã được nâng lên thành một tư tưởng </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1878483519</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-09 14:46:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1878483519</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 2,4,9 tìm hiểu về phương diện lịch sử (từ câu Em ơi em....Có nội thù thì vùng lên đánh bại)</title>
         <author>nguyenthithu18977</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1878501061</link>
         <description><![CDATA[<div>CH: Vì sao khi nói về bốn nghìn năm lịch sử của đất nước, tác giả không điểm tên các triều đại cùng bao nhân vật anh hùng trong sử sách. Đối tượng mà tác giả muốn nhắc đến là ai? Họ là những con người như thế nào?</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-09 14:51:29 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1878501061</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tiết 23,24: Đọc văn SÓNG - Xuân Quỳnh</title>
         <author>nguyenthithu18977</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1880067411</link>
         <description><![CDATA[<div>I. Tiểu dẫn<br>1. Tác giả<br>2 Tác phẩm<br>- Hoàn cảnh sáng tác<br>- Cảm nhận chung về bài thơ<br>- Bố cục<br>II. Đọc hiểu bài thơ<br>1. Khổ 1,2: Những cảm xúc suy nghĩ về sóng biển và tình yêu<br>2. Khổ 3,4: Nghĩ về sóng và cội nguồn của tình yuê đôi lứa<br>3. Khổ 5,6,7: Nghĩ về sóng và nỗi nhớ, lòng thủy chung của người con gái<br>4. Khổ 8,9: Sóng và khát khao tình yêu vĩnh cửu<br>III. Tổng kết</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-10 02:28:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1880067411</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 4: Tìm hiểu về phương diện lịch sử(Em ơi em...có nội thù vùng lên đánh bại)</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1880153460</link>
         <description><![CDATA[<div>* Thời gian lịch sử<br><br>- Chính nhân dân, những con người bình dị, vô danh đã “Làm nên Đất Nước muôn đời”. Và vì vậy, khi cảm nhận Đất Nước bốn ngàn năm lịch sử, nhà thơ không nói đến các triều đại, các anh hùng mà nhấn mạnh đến những con người vô danh, bình dị:<br><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Có biết bao người con gái con trai<br><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; …<br><br>Nhưng họ làm ra đất nước<br><br>=&gt; Chọn nhân dân không tên tuổi kế tục nhau làm nên đất nước là nét mới mẻ độc đáo của Nguyễn Khoa Điềm.<br><br>* Bản sắc văn hoá<br><br>- Cũng chính nhân dân là người lưu giữ và bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc.<br><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Họ giữ và truyền cho ta…<br><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;…<br><br>hái trái<br><br>- Đại từ “Họ” đặt đầu câu + nhiều động từ “giữ, truyền, gánh”<br><br>=&gt; Vai trò của nhân dân trong việc giữ gìn và lưu truyền văn hoá qua các thế hệ.<br><br>- Chính những con người “giản dị và bình tâm”, “không ai nhớ mặt đặt tên” đã gìn giữ và truyền lại cho thế hệ mai sau mọi giá trị tinh thần và vật chất của đất nước từ hạt lúa, ngọn lửa, tiếng nói đến cả tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân.<br><br>- Họ có công trong việc chống ngoại xâm, dẹp nội thù:<br><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Có ngoại xâm…<br><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;…<br><br>vùng lên đánh bại<br><br>=&gt; Họ giữ yên bờ cõi và xây dựng cuộc sống hoà bình.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-10 03:03:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1880153460</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhà thơ đã vận dụng thành công chất liệu văn hóa dân gian. Những chất liệu ấy vừa quen thuộc (gần gũi với cuộc sống của mỗi con người Việt Nam) vừa mới lạ (với những sáng tạo mới mẻ, hấp dẫn)- Chất liệu dân gian được sử dụng rất đa dạng, phong phú, tất cả đều gần gũi, quen thuộc với mỗi con người Việt Nam + Có phong tục, lối sống, tập quán sinh hoạt, vật dụng quen thuộc (miếng trầu, tóc bới sau đầu, cái kèo, cái cột, hạt gạo xay, giã, giần, sàng, hòn than, con cúi,...).+ Có ca dao, dân ca, tục ngữ, truyền thuyết, cổ tích.   - Cách vận dụng độc đáo, sáng tạo: + Vận dụng ca dao, tục ngữ nhưng dẫn dắt khéo léo, khi lấy nguyên vẹn toàn bài khi chỉ mượn ý mượn tứ để khẳng định, tôn vinh những nét đẹp trong sinh hoạt và tâm hồn con người Việt Nam. Đó là sự chăm chỉ chịu thương, chịu khó; là tấm lòng thủy chung son sắt trong tình yêu; là sự duyên dáng, ý nhị trong từng lời ăn tiếng nói...Ví dụ:- &quot;Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn&quot; lấy ý từ bài ca dao &quot;Tay nâng chén muối đĩa gừng/ Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau&quot; hay &quot;Muối ba năm muối hãy còn mặn, gừng chín tháng gừng hãy còn cay/ Đôi ta tình nặng nghĩa dày/ Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa&quot;- &quot;Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng&quot;- &quot;Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm&quot; lấy ý từ bài ca dao &quot;Khăn thương nhớ ai/ Khăn rơi xuống đất...&quot;...+ Liệt kê hàng loạt những câu chuyện từ xa xưa trong truyền thuyết, cổ tích dân tộc để làm nổi bật  vẻ đẹp trù phú của đất nước, những truyền thống quý báu của nhân dân ta đồng thời khẳng định vai trò to lớn của nhân dân trong việc &quot;làm ra Đất Nước&quot;Ví dụ: Truyến thống đoàn kết, tinh thần cảnh giác cao độ trước kẻ thù &quot;dân mình biết trồng tre mà đánh giặc&quot;, tinh thần uống nước nhớ nguồn &quot;Hằng năm ăn đâu làm đâu/ Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ&quot;. Hoặc tô đậm sự trù phú tươi đẹp của quê hương:&quot;Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu...Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm&quot;- Chất liệu văn hóa, văn học dân gian được sử dụng đậm đặc đã tạo nên một không gian nghệ thuật riêng của đoạn trích, vừa bình dị, gần gũi, hiện thực, lại vừa giàu tưởng tượng, bay bổng, mơ mộng. Hơn nữa, có thể nói chất dân gian đã thấm sâu vào tư tưởng và cảm xúc của tác giả, tạo nên một đặc điểm trong tư duy nghệ thuật ở đoạn trích này.- Bằng việc sử dụng đậm đặc chất liệu văn hóa dân gian, bên cạnh việc lí giải, định nghĩa Đất Nước ở nhiều bình diện [không gian, thời gian lịch sử, truyền thống văn hóa] nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm còn làm nổi bật một tư tưởng mới mẻ: &quot;Đất Nước của nhân dân/ Đất Nước của ca dao thần thoại&quot;</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1880162486</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-10 03:08:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1880162486</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1880164174</link>
         <description><![CDATA[<div>Có thể nói, “Đất Nước” của Nguyễn Khoa Điềm là một khúc ca – sự nhận thức về nguồn gốc sâu xa của nhà thơ về đất nước về trí tuệ, tâm hồn và ý chí của nhân dân.Để từ đó, nhà thơ khẳng định : Nhân dân chính là người – là chủ thể .làm nên đất nước.<br>Trước hết, câu thơ mở đầu đọan thơ “ Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân” chính là sự thể hiện cảm hứng chủ đạo bao trùm lên tòan đọan trích và cả Chương V của bản trường ca “Mặt đường khát vọng”. Đây chính là lời kết, là sự khái quát từ những gì đã được nhà thơ triển khai trên cả chiều dài của trang thơ và trong cả chiều sâu của dòng cảm hứng trữ tình- chính luận.<br>Nhân dân sáng tạo ra mọi giá trị văn hóa như ca dao, thần thoại.Như vậy cũng chính là đã sáng tạo ra đất nước. Để khẳng định điều này, Nguyễn Khoa Điềm đã lấy ý từ ba câu ca dao có nội dung sâu sắc để nói về ba phương diện quan trọng nhất của truyền thống nhân dân :<br>“Dạy anh biết “yêu em từ thuở trong nôi”<br>Biết quý công cầnm vàng những ngày lặn lội<br>Biết trồng tre đợi ngày thành gậy<br>Đi trả thù mà không sợ dài lâu”.<br>.Đó là vẻ đẹp giàu lòng yêu thương ân tình của người Việt đã bắt nguồn từ thời xa xưa với những lời dân ca ngọt ngào “Yêu em từ thuở trong nôi,<br>Em nằm em khóc, anh ngồi anh ru”<br>Và đó là vẻ đẹp của lối sống đậm nghĩa, vẹn tình, quý trọng tình nghĩa hơn cả vật chất ngàn vàng.Ở đây, ý thơ của nhà thơ được gợi lên từ chính những câu ca dao một thời đi vào đời sống tâm hồn của dân tộc :<br>“ Cầm vàng mà lội qua sông<br>Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng”<br>Và đó còn là sự thể hiện của truyền thống kiên cường, bất khuất của trong quá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta.Vẻ đẹp của truyền thống anh hùng ấy cũng được làm nên từ những câu ca dao từng ca ngợi tinh thần quật khởi của dân tộc :<br>“ Thù này ắt hẳn còn lâu<br>Trồng tre nên gậy , gặp đâu đánh què”<br>Từ đó có thể khẳng định: nhân dân đã làm ra văn hóa, làm ra đất nước bằng chính tinh cách, lẽ sống tâm hồn mình.<br>Có thể nói, tuổi trẻ thế hệ Nguyễn Khoa Điềm đã nhận thức được một cách sâu sắc Nhân dân là người làm nên lịch sử, làm ra văn hóa đất nước bằng tất cả tình cảm trân trọng và yêu thương . Suy tư và nhận thức này của nhà thơ là tư tưởng nghệ thuật đã trở thành truyền thống trong văn học Việt Nam.Từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu …đã từng nói lên nhận thức về vai trò của nhân dân trong lịch sử.Đến các nhà thơ, nhà văn trong thời kì kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ , nhận thức ấy đã được nâng lên thành một tư tưởng có</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-10 03:08:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1880164174</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1880168720</link>
         <description><![CDATA[<div>Nhóm 3 : Phương diện địa lý ( Từ câu thơ những người vợ nhớ chồng... Những cuộc đời đã hoá núi hoá sông ta )<br><br>Tư tưởng Đất Nước của Nhân Dân dẫn nhà thơ đến một cách nhìn mới mẻ có chiều sâu về địa lí. Người đọc được tiếp nhận một phát hiện mới mẻ rất thú vị về những danh lam thắng cảnh trên đất nước ta như Vịnh Hạ Long, những di tích văn hóa như hòn Vọng Phu, núi Bút, non Nghiên; những di tích lịch sử như làng Gióng, đất Tổ, ... Trải dài trên đất nước ta không chỉ là địa hình sông núi thuần túy, mà tạo hóa ban tặng mà còn được cảm nhận như là sự đóng góp của nhân dân, sự hóa thân của những cảnh ngộ, số phận nhân dân và thấm đẫm vẻ đẹp tâm hồn nhân dân: thủy chung, yêu nước, hiếu học.Đoạn thơ quan sát không gian địa lí của Đất nước qua các di tích văn hóa, lịch sử. Thế nhưng, điều đáng nói nhất là tất cả những không gian địa lí đó đều được hiện lên qua những câu chuyện ngày xửa ngày xưa nào đó của Văn học dân gian. Những truyện Thánh Gióng, Sự tích hòn Vọng Phu, … - những câu chuyện, huyền thoại, sự tích hoặc sự thật về Nhân Dân trong lịch sử mấy ngàn năm giữ nước hiện lên trong thơ Nguyễn Khoa Điềm vừa gần gũi, thân yêu lại vừa thiêng liêng, quý báu. Tất cả những địa danh đó được soi chiếu qua lịch sử dân tộc, qua tâm hồn của Nhân Dân để trở thành những chất liệu phong phú, xúc động, hiển hiện lên trang thơ Đất nước đầy sinh động.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-10 03:10:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1880168720</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1880172621</link>
         <description><![CDATA[<div>Nhóm 2: tìm hiểu về phương diện lịch sử ( từ câu thơ em ơi … có nội thù thì vùng lên đánh bại&nbsp;<br>Suốt 4000 năm lịch sử, nhân dân luôn đứng dậy đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, “không ai nhớ mặt đặt tên” nhưng họ chính là những người làm ra Đất Nước.<br><br>- Nhân dân không chỉ là người xây dựng và bảo vệ Đất Nước mà nhân dân còn là người làm nhiệm vụ vô cùng thiêng liêng ấy là truyền lại cho thế hệ tiếp nối những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-10 03:12:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1880172621</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1880178499</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><br>a. Hình tượng Đất Nước từ phương diện địa lý - lãnh thổ đã được miêu tả thông qua:</strong><br>- Những danh lam thắng cảnh xuyên suốt chiều dài địa lý từ Bắc chí Nam trong sự gắn bó với những huyền thoại thuộc nền văn hóa, văn học dân gian.<br>+ Núi Vọng Phu - những người vợ nhớ chồng<br>+ Hòn Trống Mái - cặp vợ chồng yêu nhau<br>+ Núi Bút, non Nghiên - người học trò nghèo<br>+ Ông Đốc, ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm<br>- Mỗi một không gian địa lý không chỉ là những danh lam thắng cảnh đẹp đẽ mà còn ẩn chứa vẻ đẹp tâm hồn của nhân dân, con người Việt Nam<br>+ Sự thủy chung trong tình cảm vợ chồng, gia đình<br>+ Tinh thần hiếu học<br>+ Ý thức hướng về cội nguồn,...<br><br></div><div><strong><br>b. Ý nghĩa của phương diện địa lý - lãnh thổ được miêu tả trong trích đoạn "Đất Nước"</strong><br>- Góp phần làm nổi bật tư tưởng Đất Nước của Nhân Dân xuyên suốt tác phẩm.<br>- Là sự lí giải đậm chất triết lý về việc nhân dân chính là những người tạo dựng nên vẻ đẹp của mỗi một ngọn núi, con sông,...<br><br></div><div><strong><br>c. Nghệ thuật miêu tả hình tượng Đất Nước từ phương diện địa lí, lãnh thổ</strong><br>- Thể thơ tự do, cách ngắt nhịp linh hoạt<br>- Những câu thơ hiện đại nhưng thấm nhuần chất liệu văn hóa và văn học dân gian một cách sáng tạo.<br>- Giọng thơ trữ tình với cảm xúc sâu lắng quyện hòa cùng chất chính luận mang tính suy tư, chiêm nghiệm.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-10 03:15:31 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1880178499</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>nguyenthithu18977</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1880278715</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?v=_dTNQn2V-gU" />
         <pubDate>2021-11-10 04:05:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1880278715</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Các bạn chuẩn bị về bài thơ sóng theo những nội dung gợi ý ở trên nhé.</title>
         <author>nguyenthithu18977</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1883288596</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-11 04:51:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1883288596</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Sóng và khát khao tình yêu vĩnh cửu</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1885856534</link>
         <description><![CDATA[<div>Khổ 8 :- “Cuộc đời tuy dài thế/Năm tháng vẫn đi qua”: Cảm giác cô đơn nhỏ bé trước cuộc đời, nỗi lo âu về sự hữu hạn của tình yêu trước thời gian vô tận.- “Như biển kia dẫu rộng/Mây vẫn bay về xa”: Cảm giác bất an trước cái dễ đổi thay của lòng người giữa “muôn vời cách trở”. Nhưng đây còn là vượt lên sự lo âu phấp phỏng đặt niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của tình yêu như mây có thể vượt qua biển rộng.<br>Khổ 9 :- “Làm sao” gọi sự băn khoăn, khắc khoải, ước ao được hóa thành “trăm con sóng nhỏ” để muôn đời vỗ mãi vào bờ.- Đó là khát khao của người phụ nữ được sống trong “biển lớn tình yêu” bằng tình yêu và cùng tình yêu, khát khao hòa nhập tình yêu riêng tư trong tình yêu chung rộng lớn.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-12 04:37:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1885856534</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1885866327</link>
         <description><![CDATA[<div>I. Tác giả<br><br>1. Tiểu sử&nbsp;<br><br>- Xuân Quỳnh (1942 - 1988)&nbsp;<br><br>- Quê quán: La Khê - thành phố Hà Đông - Hà Tây (nay thuộc Hà Nội).<br><br>- Cuộc đời bất hạnh, luôn khát khao tình yêu, mái ấm gia đình và tình mẫu tử.<br><br>2. Sự nghiệp sáng tác<br><br>a. Tác phẩm chính<br><br>- Hoa dọc chiến hào (1968); Gió Lào cát trắng (1974) ; Tự hát (1984); Hoa cỏ may (1989),...<br><br>b. Phong cách sáng tác<br><br>- Thơ bà là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, vừa chân thành, đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng về hạnh phúc đời thường.<br><br>3. Vị trí và tầm ảnh hưởng của tác giả<br><br>- Xuân Quỳnh là một trong số những nhà thơ tiêu biểu nhất của thế hệ các nhà thơ trẻ thời kì chống Mĩ.<br><br>Sơ đồ tư duy - Tác giả Xuân Quỳnh<br><br><br><br>II. Tác phẩm<br><br>1. Tìm hiểu chung<br><br>a. Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác<br><br>- In trong tập Hoa dọc chiến hào.<br><br>- Xuân Quỳnh sáng tác bài thơ trong chuyến đi thực tế vùng biển Diêm Điền (29/02/1967).<br><br>b. Bố cục (4 phần):<br><br>- Phần 1 (khổ 1+2) : Sóng - Khát vọng tình yêu của người con gái.<br><br>- Phần 2 (khổ 3+4) : Ngọn nguồn của sóng - Truy tìm sự bí ẩn của tình yêu.<br><br>- Phần 3 (khổ 5+6+7) : Sóng - Nỗi nhớ thủy chung trong tình yêu.<br><br>- Phần 4 (Khổ 8+9) :&nbsp; Những suy tư về cuộc đời và khát vọng trong tình yêu.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-12 04:44:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1885866327</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1885880051</link>
         <description><![CDATA[<div>2.tìm hiểu văn bản<br><br>a. Khổ 1+2 Sóng - Khát vọng tình yêu của người con gái<br><br>- Mở đầu khổ 1, tác giả đã nêu ra những trạng thái đối lập của con sóng: Dữ dội &gt;&lt; dịu êm; Ồn ào &gt;&lt; lặng lẽ<br><br>=&gt; đây chính là hình ảnh thật của những con sóng ngoài biển khơi, cũng chính là trạng thái của người con gái khi yêu. Tình yêu có lúc dịu dàng, sâu lắng nhưng cũng có những lúc cuồng nhiệt, mạnh mẽ.<br><br>- Để hướng đến một tình yêu rộng lớn, đích thực luôn là khát vọng của con người cũng giống như những con sóng không chịu bó hẹp trong lòng sông mà muốn vươn ra biển cả:<br><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; “Sông không hiểu nổi mình<br><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Sóng tìm ra tận bể”<br><br>- Sóng tìm ra tận bể là tìm thấy chính mình. Trong tình yêu của con người cũng vậy, đến với tình yêu con người mới tìm thấy chính mình và luôn tự hoàn thiện mình.<br><br>- Nhân vật trữ tình cảm nhận sự tương đồng giữa sóng và khát vọng tình yêu của tuổi trẻ:<br><br>&nbsp;“Nỗi khát vọng tình yêu<br><br>Bồi hồi trong ngực trẻ”<br><br>- Khát vọng tình yêu đã hóa thân vào một biểu tượng đẹp là sóng. Giống như con sóng muôn đời vẫn dạt dào biển cả, tình yêu muôn đời vẫn là nỗi khát khao, đam mê của tuổi trẻ.<br><br>b.&nbsp; Khổ3+4 Ngọn nguồn của sóng - Truy tìm sự bí ẩn của tình yêu<br><br>- Điểm khởi đầu bí ẩn của sóng cũng giống như điểm khởi đầu bí ẩn của tình yêu:<br><br>“Sóng bắt đầu từ gió<br><br>Gió bắt đầu từ đâu”<br><br>- Nhân vật trữ tình tự nhận thức về tình yêu trong lòng mình, tự soi vào lòng mình để tìm lời giải đáp cho sự khởi nguồn của tình yêu để rồi em bất ngờ thú nhận bằng một sự chân thành, tự nhiên và rất phụ nữ:&nbsp;<br><br>“Em cũng không biết nữa<br><br>Khi nào ta yêu nhau”<br><br>- Ngay cả Xuân Diệu “ông hoàng thơ tình” cùng từng phải khẳng định:<br><br>“Làm sao cắt nghĩa được tình yêu<br><br>Có khó gì đâu một buổi chiều<br><br>Nó chiếm hồn ta bằng gió nhạt<br><br>Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu.”<br><br>Như vậy, tình yêu đến với mỗi con người như một điều kì diệu vượt ra ngoài tầm kiểm soát của nhận thức và lí trí. Đó chính là điều kì diệu và bí ẩn tạo nên sức hấp dẫn vĩnh cửu của tình yêu.<br><br>c. Khổ 5+6+7 Sóng - Nỗi nhớ thủy chung trong tình yêu<br><br>- Âm hưởng cả đoạn thơ này là âm hưởng khẳng định, âm hưởng của niềm tin bất di bất dịch.<br><br>- Trong khổ thơ thứ 5, nỗi nhớ được diễn tả thật mãnh liệt, da diết hiển hiện trong mọi chiều kích của không gian, thời gian, trạng thái của cuộc sống. Hàng loạt các từ ngữ trái nghĩa có trong khổ thơ:<br><br>“Con sóng dưới lòng sâu<br><br>Con sóng trên mặt nước<br><br>Ôi con sóng nhớ bờ<br><br>Ngày đêm không ngủ được”<br><br>- Tình yêu luôn đi liền với nỗi nhớ, nó bao trùm cả không gian, khắc khoải trong thời gian, ăn sâu vào ý thức, tiềm thức và đi cả vào trong giấc mơ:<br><br>“Lòng em nhớ đến anh<br><br>Cả trong mơ còn thức”<br><br>Cái “thức” trong mơ ấy chính là sự thật nỗi lòng của người con gái đang yêu.<br><br>- Sự khát khao hướng về nhau, có nhau và sự bày tỏ niềm tin tuyệt đối vào lòng chung thủy được thể hiện thật dứt khoát qua các câu khẳng định tuyệt đối:<br><br>“Dẫu xuôi về phương Bắc<br><br>Dẫu ngược về phương Nam<br><br>Nơi nào em cũng nghĩ<br><br>Hướng về anh - một phương”<br><br>- Trong trời đất có bốn phương, tám hướng nhưng không có phương nào là phương anh vậy mà trong tình yêu</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-12 04:55:29 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1885880051</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1885883858</link>
         <description><![CDATA[<div>Trong trời đất có bốn phương, tám hướng nhưng không có phương nào là <em>phương anh</em> vậy mà trong tình yêu của người con gái lại có<em> phương anh </em>và chỉ hướng về một phương duy nhất ấy.<br><br></div><div>- Nhân vật trữ tình tự bạch chân thành mà mãnh liệt nỗi nhớ, khát vọng thủy chung, nỗi khao khát hướng về nhau, có nhau. Trạng thái tâm hồn ấy vừa mạnh mẽ vừa sâu lắng quyện hòa trong những quan sát và suy tư từ con sóng.<br><br></div><div>=&gt; Tóm lại, có thể nói rằng hình tượng sóng đôi “<em>sóng</em>” và “<em>em</em>” đã bộc lộ được tâm trạng khát khao, nỗi nhớ da diết vừa trực tiếp lại vừa gợi cảm như những vòng sóng nối tiếp nhau cùng dội lại, cùng cộng hưởng và lan tỏa.<br><br></div><div><strong><em>d. Khổ 8+9 Những suy tư về cuộc đời và khát vọng tình yêu<br></em></strong><br></div><div>- Suy tư về cuộc đời: Cuộc đời mỗi người tuy dài nhưng vẫn luôn là hữu hạn trong dòng thời gian, cũng như biển kia dẫu rộng vẫn không so được với cái bao la vô tận của bầu trời.<br><br></div><div>- Khát vọng hóa thân, phân thân vào sóng thật mạnh mẽ. Tình yêu đôi lứa thật sự hạnh phúc khi hòa nhập trong biển lớn tình yêu của cộng đồng:<br><br></div><div>“<em>Làm sao được tan ra<br></em><br></div><div><em>&nbsp; &nbsp; Thành trăm con sóng nhỏ<br></em><br></div><div><em>Giữa biển lớn tình yêu<br></em><br></div><div><em>Để ngàn năm còn vỗ.</em>”<br><br></div><div>=&gt; Khát vọng hóa thân vào biển lớn tình yêu mang một giá trị văn hóa lớn, tạo nên sự thống nhất giữa cái riêng và cái chung; giữa cái hữu hạn và vĩnh hằng.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-12 04:58:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1885883858</guid>
      </item>
      <item>
         <title>3. Tổng kết</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1885886937</link>
         <description><![CDATA[<div>a. Nội dung<strong><em><br></em></strong><br></div><div>&nbsp; &nbsp; Qua hình tượng sóng, trên cơ sở khám phá sự tương đồng, hòa hợp giữa sóng và em, bài thơ diễn tả tình yêu của người phụ nữ thiết tha, nồng nàn, chung thủy, muốn vượt lên thử thách của thời gian và sự hữu hạn của đời người. Từ đó thấy được tình yêu là một tình cảm cao đẹp, một hạnh phúc lớn lao của con người.<br>b.NThuat<strong><em><br></em></strong><br></div><div>- Bài thơ mang âm hưởng dạt dào, nhịp nhàng, gợi nhịp độ của con sóng liên tiếp.<br><br></div><div>- Thể thơ 5 chữ với những dòng thơ thường là không ngắt nhịp, các câu thơ ngắn, đều đặn gợi sự nhịp nhàng.<br><br></div><div>- Thành công trong việc xây dựng hình tượng sóng: hình tượng sóng trở đi trở lại với nhiều cung bậc, gợi nhũng trạng thái cảm xúc đa dạng trong cõi lòng người con gái đang yêu.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-12 05:00:47 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1885886937</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1885903803</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>&nbsp;Hai khổ cuối:hình ảnh sóng và khát khao tình yêu vĩnh cửu<br></strong><br></div><div>-&gt; So sánh “như” : biển rộng &gt;&lt; mây vẫn bay qua<br><br></div><div>+ Các cặp quan hệ từ: tuy – vẫn, dẫu – vẫn<br><br></div><div>=&gt; đời người là hữu hạn, hạnh phúc là mong manh, thể hiện những suy tư, lo âu, trăn trở trước cuộc đời của nhà thơ -&gt; ẩn chứa lời nhắn nhủ: hãy sống có ý nghĩa, yêu hết mình, đừng để phải hối tiếc.<br><br></div><div>– Cách nói giả định: “Làm sao được…” + con số ước lệ: “trăm”, “ngàn”<br><br></div><div>+ hình ảnh Â.D “sóng”, “biển lớn t/y”<br><br></div><div>=&gt; khát vọng sống hết mình trong t/y: muốn hóa thân thành sóng để bất tử hóa t/y, để hóa thân vĩnh viễn thành t/y muôn thuở -&gt; một k.vọng đẹp, một trái tim chân thành nhưng mãnh liệt với t/y.<br><br></div><div>– Khổ 8 (khổ duy nhất không có Sóng); Nhịp thơ chậm, giọng thơ trùng xuống, lắng đọng, suy tư, triết lí; Thủ pháp đối lập, tương phản<br><br></div><div>—&gt; Thời gian chảy trôi, đời người ngắn ngủi, tình yêu đẹp nhưng không còn mãi.<br><br></div><div>– Khổ 9: Khao khát tình yêu vĩnh hằng. Hòa nhập tình yêu cá nhân vào tình yêu nhân loại -&gt; Tình yêu mang tính nhân văn sâu sắc.<br><br></div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-12 05:14:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1885903803</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hai khổ cuối:-&gt; So sánh “như” : biển rộng &gt;&lt; mây vẫn bay qua+ Các cặp quan hệ từ: tuy – vẫn, dẫu – vẫn=&gt; đời người là hữu hạn, hạnh phúc là mong manh, thể hiện những suy tư, lo âu, trăn trở trước cuộc đời của nhà thơ -&gt; ẩn chứa lời nhắn nhủ: hãy sống có ý nghĩa, yêu hết mình, đừng để phải hối tiếc.– Cách nói giả định: “Làm sao được…” + con số ước lệ: “trăm”, “ngàn”+ hình ảnh Â.D “sóng”, “biển lớn t/y”=&gt; khát vọng sống hết mình trong t/y: muốn hóa thân thành sóng để bất tử hóa t/y, để hóa thân vĩnh viễn thành t/y muôn thuở -&gt; một k.vọng đẹp, một trái tim chân thành nhưng mãnh liệt với t/y.– Khổ 8 (khổ duy nhất không có Sóng); Nhịp thơ chậm, giọng thơ trùng xuống, lắng đọng, suy tư, triết lí; Thủ pháp đối lập, tương phản—&gt; Thời gian chảy trôi, đời người ngắn ngủi, tình yêu đẹp nhưng không còn mãi.– Khổ 9: Khao khát tình yêu vĩnh hằng. Hòa nhập tình yêu cá nhân vào tình yêu nhân loại -&gt; Tình yêu mang tính nhân văn sâu sắc.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1885907292</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-12 05:17:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1885907292</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hai khổ cuối: Những suy tư, lo âu, trăn trở trước cuộc đời và khát vọng tình yêu.    - cuộc đời tuy dài &gt;&lt; năm tháng vẫn đi qua.                    - Biển dẫu rộng &gt;&lt; mây vẫn bay về xa.                                    -&gt; Đó là sự nhạy cảm và lo âu, trăn trở của XQ về sự hữu hạn của đời người và sự mong manh của hạnh phúc.                                          + Làm sao ......sóng nhỏ:       khao khát sẻ chia và hòa nhập     Thành trăm       vào cuộc đời.                                    + Giữa biển lớn tình yêu:    khát vọng được sống mãi  trong tình yêu    +Để ngàn năm còn vỗ: bất tử với tình yêu.                                            =&gt; khát vọng khôn cùng về tình yêu bất diệt</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1888194808</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-13 13:12:47 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1888194808</guid>
      </item>
      <item>
         <title>                            “Sóng”</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1888235422</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>1.Tìm hiểu chung&nbsp;<br>a)Tác giả<br></strong>-Xuân Quỳnh sinh năm 1942 mất năm 1988 là nhà thơ nữ tài năng hiếm hoi tại Việt Nam<br>-Bà sinh ra tại Hà Nội trong một gia đình công chức<br>-Bà được trao tặng nhiều giải thưởng cao quý về văn học và nghệ thuật<br>-những tác phẩm nổi tiếng của Xuân Quỳnh Như sóng tiếng gà trưa thuyền và biển<br><strong>b)Tác phẩm&nbsp;<br></strong>-bài thơ được sáng tác năm 1967 được in trong tập thơ hoa dọc chiến hào<br>-sóng được sáng tác trong một lần tác giả đi thực tế tại vùng biển diêm Điền<br>-bố cục bài thơ được chia làm ba phần:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; + hai khổ thơ đầu: sự liên kết giữa sóng và tình yêu<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; + bốn khổ thơ tiếp: tình yêu và nỗi nhớ tha thiết của người con gái trong tình yêu<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; + phần còn lại: khát vọng tình yêu<br><strong>2. Đọc -hiểu&nbsp;<br></strong>Câu 1:<br>-Âm điệu, nhịp điệu bài thơ được thể hiện nhờ các yếu tố sau:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; + câu thơ năm chữ súc tích, ngắn gọn&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; + nhịp thơ có khi xao xuyến, nhịp nhàng và có khi dồn dập, rộn ràng. Nhịp điệu bài thơ mô phỏng nhịp điệu của sóng biển<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; + vần thơ: các khổ thơ liên kết với nhau bằng cách nối vần.<br>Câu 2:<br><strong>.</strong> Hình tượng sóng được nhắc đến xuyên suốt bài thơ và mang cả ý nghĩa thực cũng như ý nghĩa biểu tượng<br>-sóng mang ý nghĩa thực: con sóng ngoài biển khơi có nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau. Hình tượng sóng được miêu tả chân thực nhưng cũng hết sức sinh động với nhiều trạng thái lập, mâu thuẫn với nhau trong nhiều một thực thể, một tâm hồn sóng.<br>Câu 3:<br>-kết của bài thơ: Theo theo kiểu kết cấu song hành, sánh đôi một cách liền mạch trong suy nghĩ và cảm xúc.<br>-“sóng” và “nhân vật trữ tình em” tay hai mà một với những tương đồng, gắn kết với nhau thể hiện được nỗi lòng tác giả muốn truyền đạt, ẩn dụ ý thơ về tâm trạng người con gái khi yêu.<br>Câu 4:<br><strong>.</strong>Bài thơ là những lời thể lộ chân thành của một tâm hồn người phụ nữ đang:<br>&nbsp; &nbsp; -một tâm hồn khao khát yêu thương mãnh liệt, sôi nổi, rộn ràng,. ...<br>&nbsp; &nbsp; -luôn trân trọng và thuỷ chung với tình yêu của mình.<br>    -rất chủ động, táo bạo và quyết liệt trong tình yêu nhưng cũng vô cùng nữ tính, dịu dàng.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1444968886/4305770c45402b1cecf738d7b01f11e0/9DAF26FC_1B1C_46B0_B097_2076B9DC3380.jpeg" />
         <pubDate>2021-11-13 13:58:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1888235422</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Các em chuẩn bị bài Người lái đò sông Đà theo những gợi ý dưới đây</title>
         <author>nguyenthithu18977</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1888361768</link>
         <description><![CDATA[<div>I. Tiểu dẫn<br>1. Tác giả (xem lại ở lớp 11)<br>2. Tác phẩm Tùy bút Sông Đà<br>a. Hoàn cảnh ra đời<br>b. Nội dung, nghệ thuật<br>3. Tác phẩm Người lái đò sông Đà<br>4. Đặc trưng thể loại tùy bút<br>II. Đọc hiểu<br>1. Hình tượng sông Đà<br>a. Sông Đà hung bạo, hùng vĩ<br>- Đá bờ sông dựng vách thành<br>- Mặt ghềnh HátLoóng<br>- Hút nước<br>- Đá bày thạch trận<br>=&gt;<br>b. Sông Đà trữ tình, thơ mộng<br>- Hình dáng<br>- Màu sắc<br>- Gợi cảm xúc<br>&nbsp;=&gt;&nbsp;<br>2. Hình tượng người lái đò<br>- Hình dáng<br>- Vẻ đẹp tư thế, tâm hồn, tính cách<br>* cuộc vượt thác<br>* cuộc sống đời thường<br>III. Tổng kết</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-13 16:17:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1888361768</guid>
      </item>
      <item>
         <title>2 khổ cuối: song và khát khao tình yêu vĩnh cửu. a , Khổ 8: Câu 1, 2 song hành đối xứng với câu 3, 4 làm cho giọng thơ, âm điệu thơ tha thiết, ngọt ngào. Cấu trúc chính - phụ được sử dụng đắc địa: &quot;tuy... vẫn... &quot;, &quot;dẫu... vẫn&quot;, ý thơ được khẳng định mạnh mẽ. Điệp từ &quot;vẫn&quot; biểu lộ một niềm tin về tình yêu: &quot;Năm tháng vẫn đi qua&quot;, &quot;Mây vẫn bay về xa&quot;. &quot;Năm tháng&quot; và &quot;mây&quot; là 2 ẩn dụ nói về tình yêu, một tình yêu đẹp hướng tới hạnh phúc. b, Khổ 9: Hai tiếng &quot;làm sao&quot; gợi lên một niềm mong ước cháy bỏng tâm hồn &quot;em&quot;. Sóng trên đại dương trường tồn bất diệt. &quot;Trăm con sóng nhỏ&quot; rì rào vỗ, xôn xao reo &quot;giữa biển lớn tình yêu&quot; mang vẻ đẹp nhân văn cao quý của tình yêu. Đó là niềm ước mong của thiếu nữ được sống trong hạnh phúc bền vững như những con sóng vỗ mãi trên &quot;biển lớn tình yêu&quot; đến ngàn năm sau.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1889233869</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-14 14:01:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1889233869</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1890776138</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Chuẩn bị bài người lái đò sông Đà<br>I Tiểu dẫn <br>1.Tác giả <br><br></strong>- Nguyễn Tuân (1910-1987) sinh ra trong một nhà nho nghèo khi Hán học đã tàn, quê gốc ở Hà Nội.<br><br></div><div>- Nguyễn Tuân học hết bậc Thành chung thì bị đuổi do tham gia một cuộc bãi khóa phản đối một số giáo viên Pháp nói xấu người Việt Nam.<br><br></div><div>- Sau đó một thời gian ông lại bị tù vì “xê dịch” qua biên giới không có giấy phép.<br><br></div><div>- Ra tù, ông bắt đầu viết văn, làm báo.<br><br></div><div>- Năm 1941, Nguyễn Tuân lại bị bắt giam một lần nữa vì giao du với những người hoạt động chính trị.<br><br></div><div>- Sau Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân nhiệt tình tham gia cách mạng và trở thành cây bút tiêu biểu của nền văn học mới.<br><strong>2.Tác phẩm Tùy bút Sông Đà <br>a,Hoàn cảnh ra đời:<br>-</strong>Bài tùy bút được in trong tập Sông Đà (1960<strong>),</strong>gồm 15 tuỳ bút, là kết quả chuyến đi thực tế của tác giả năm 1958 ở vùng Tây Bắc.<br><strong>b,nội dung và nghệ thuật</strong><br><strong>*nội dung:</strong><br>- Phông cảnh Tây Bắc vừa hung bạo hùng vĩ, vừa thơ mộng trữ tình.</div><div>- Con người Tây Bắc dũng cảm, cần cù.<br><strong>*nghệ thuật:</strong></div><div>– Đậm chất tài hoa uyên bác<br>– Tác phẩm giàu chất thông tin, thời sự. Tác giả đã huy động vốn tri thức chuyên môn của nhiều ngành văn hóa, nghệ thuật khác nhau<br>– Lối so sánh liên tưởng độc đáo.<br><strong>3.Tác phẩm Người lái đò sông Đà </strong><br><strong>*bố cục </strong><br>- Phần 1 (từ đầu đến “cái gậy đánh phèn”): Vẻ hung dữ của con sông Đà<br><br></div><div>- Phần 2 (tiếp đó đến “dòng nước sông Đà”): Cuộc sống của con người trên sông Đà và hình ảnh người lái đò sông Đà<br><br></div><div>- Phần 3 (còn lại): vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của sông Đà<br><strong>4.Đặc trưng thể loại tùy bút</strong>:<br>- Tuỳ bút thuộc thể kí</div><div>-Thể hiện tính chủ quan, chất trữ tình rất đậm. Nhân vật chính là <em>cái tôi</em> của nhà văn;</div><div>-Ngôn ngữ giàu hình ảnh và chất thơ.<br><strong>II.Đọc hiểu&nbsp;<br>1.hình tượng sông Đà&nbsp;<br>a,Sông Đà hung bạo,hùng vĩ(từ đầu đến cái gậy đánh phèn<br></strong><br></div><div>- Hướng chảy của sông Đà cho thấy đó là một dòng sông đầy cá tính “Chúng thủy giai đông ...”.<br><br></div><div>- Bờ sông dựng vách thành: lòng sông hẹp, “bờ sông dựng vách thành”, “đúng ngọ mới có mặt trời”, chỗ “vách đá ... như một cái yết hầu”<br><br></div><div>- Ở mặt ghềnh Hát Loóng: “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió” một cách hỗn độn, lúc nào cũng như “đòi nợ suýt” những người lái đò.<br><br></div><div>- Ở Tà Mường Vát: “có những cái hút nước giống như cái giếng bê tông”, chúng “thở và kêu như cửa cống cái bị sặc nước”, thuyền qua đoạn hút nước “y như ô tô ...mượn cạp ngoài bờ vực”,<br><br></div><div>- Trận địa thác đá được miêu tả từ xa đến gần:<br><br></div><ul><li>Xa: âm thanh thác đá “con xa lắm” mà đã nghe tiếng thác “réo gần mãi lại, réo to mãi lên”, âm thanh ấy hiện lên với nhiều trạng thái khi “oán trách”, lúc “van xin”, khi “khiêu khích”, “chế nhạo”; cách so sánh độc đáo: “rống lên như một ngàn con trâu ... cháy bùng bùng” (lấy lửa tả nước).</li><li>Gần: Đá cũng đầy mưu mẹo: “nhăn nhúm”, “méo mó”, “”hất hàm”, “oai phong”, “bệ vệ”, có những hành động như “mai phục”, “chặn ngang”, “canh”, “đánh tan”, “tiêu diệt”, sóng: “đánh khuýp quật vu hồi”, “đánh giáp lá cà”, “đòn tỉa”</li><li>Sự biến hóa linh hoạt của trùng vi thạch trận: có 3 vòng, vòng 1 có 5 cửa sinh, một cửa tử (tả ngạn), vòng 2 có nhiều cửa tử, 1 cửa sinh (hữu ngạn), vòng 3 có ít cửa và 1 cửa sinh (giữa), gơi hình ảnh con sông Đà có tâm địa nham hiểm, mẹo lược, biến hóa khôn lường.</li></ul><div>- Nhận xét: sông Đà mang diện mạo và tâm địa của một con thủy quái, “dòng thác hùm beo”, thứ kẻ thù số một của con người<br><strong>b.Sông Đà trữ tình thơ mộng:<br></strong>- Khi từ tàu bay nhìn xuống:</div><div>+ Sông Đà “”tuôn dài, tuôn dài như một áng tóc trữ tình ... đốt nương xuân ”</div><div>+ Sông đà đổi màu theo từng mùa một cách độc đáo: mùa xuân xanh ngọc bích, mùa thu đỏ.</div><div>- Khi đi rừng lâu ngày bất ngờ gặp lại con sông:</div><div>+ Niềm vui vô hạn của tác giả khi bất ngờ gặp sông Đà: “như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm”, “nối lại chiêm bao đứt quãng”, “như gặp lại cố nhân”.</div><div>+ Sông Đà gợi cảm như một cố nhân, có vẻ đẹp như trò chơi trẻ con tinh nghịch, có vẻ đẹp Đường thi.</div><div>- Khi đi thuyền trên sông phía hạ lưu:</div><div>+ Cảnh thiên nhiên thi vị, mơn mởn: trôi qua một nương ngô “nhú lá non”, con hươu thơ ngộ, “bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử”.</div><div>+ Sông Đà như một “người tình nhân chưa quen biết”</div><div>- Nhận xét: Sông Đà trữ tình như một cố nhân, một tình nhân.</div><div>- Như vậy: hình tượng sông đà vừa mang nét hung bạo lại vừa trữ tình thơ mộng. Qua hình tượng sông Đà đã thể hiện tình cảm của Nguyễn Tuân với thiên nhiên Tây Bắc.<br><strong>*màu sắc:<br>-</strong>vẻ đẹp trữ tình của sông đà<strong> </strong>còn hiện ra qua những&nbsp; màu sắc đầy biến ảo .đó là dòng xanh ngọc bích trong sáng ,quý giá và êm nhẹ của sông đà mùa xuân;việc so sánh màu xanh bích ngọc của sông đà với màu xanh cánh hến của sông Gâm,sông Lô<br>-hình ảnh so sánh nướcc sông Đà mùa thu như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa ,lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về <br><strong>2.Hình tượng người lái đò:<br>*hình dáng:<br></strong>người lái đò đã 70 tuổi,làm nghề đò dọc mười năm liền và đã nghỉ làm nghề đôi chụ năm .nhưng mười năm người lái đò đã in dấu ấn khá đậm sâu ở ngoại hình của ông:<strong>Tay ông lêu nghêu như cái sào ,chân ông lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh ,gò lại như kẹp lấy một cuống lái tưởng tượng ,giọng ông ào ào như tiếng nước trước mặt ghềnh sông .<br>*vẻ đẹp tư thế ,tâm hồn, tính cách .<br>-</strong>Người<strong> </strong><em>&nbsp;lái đò - một nghệ sĩ tài hoa</em></div><div>- Người&nbsp; lái đò có tính cách phóng khoáng, thích đối mặt với thử thách, mạo hiểm, gian nguy.</div><div>- Người&nbsp; nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá như một nghệ sĩ điêu luyện, cao cường.</div><div>- Cuộc băng ghềnh vượt thác ngoạn mục đã khẳng định vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ của một "tay lái ra hoa”<br><strong>*cuộc vượt thác <br></strong>* Ở trùng vi thứ nhất:<br><br></div><div>- Con sông Đà:<br><br></div><ul><li>Thạch trận với bốn cửa sinh và một cửa tử.</li><li>Nước thác reo hò làm thanh viện cho đá.</li><li>Sóng thác đã đánh miếng đòn hiểm độc nhất bóp chặt lấy hạ bộ.</li></ul><div>=&gt; Không khí trận chiến nóng bỏng gay cấn hồi hộp<br><br></div><div>- Ông lái đò:<br><br></div><ul><li>Thạch trận dàn bày vừa xong thì con thuyền vut tới.</li><li>Mặt ông lái đò méo xệch đi.</li><li>Ông đò hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng.</li></ul><div>=&gt; Con thuyền thoát khỏi nguy hiểm.<br><br></div><div>* Ở trùng vi thứ hai:<br><br></div><div>- Con sông Đà:<br><br></div><ul><li>Tăng thêm nhiều cửa tử, cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn</li><li>Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá</li></ul><div>=&gt; Con sông Đà trở nên khôn ngoan hơn.<br><br></div><div>- Ông lái đò:<br><br></div><ul><li>Nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá, ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá.</li><li>Ông đò ghì cương lái, băm chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh.</li></ul><div>=&gt; Vượt qua hết cửa tử.<br><br></div><div>* Ở trùng vi cuối cùng:<br><br></div><ul><li>Ít cửa hơn mà bên trái bên phải đều là luồng chết cả, luồng sống thì lại nằm ngay giữa bọn đá hậu vệ.</li><li>Bốn năm bọn thuỷ quân cửa ải nước bên bờ trái liên xô ra cảnh níu thuyền lôi vào tập đoàn cửa tử.</li></ul><div>=&gt; Con sông ngày càng mưu mẹo muốn dồn người lái đò vào chỗ chết.<br><br></div><div>- Ông lái đò:<br><br></div><ul><li>Cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó.</li><li>Thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vào từ động lái được lượn được.</li></ul><div>=&gt; Ông lái đò đã chiến thắng con sông hung dữ.<br><strong>*cuộc sống đời thường</strong>&nbsp;</div><h1>“Cuộc sống của người lái đò Sông Đà quả là một cuộc chiến đấu hằng ngày với thiên nhiên, một thứ thiên nhiên Tây Bắc có nhiều lúc trông nó thành ra diện mạo và tâm địa của một thứ kẻ thù số một… Còn xa lắm mới đến cái thác dưới. Nhưng đã thấy tiếng nước réo gần mãi lại réo to mãi lên. Tiếng nước thác nghe như oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo<br><br><br><br><br></h1><div><strong><br></strong><br></div><div><br><br><br></div><div><br><br>&nbsp;</div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-15 09:05:07 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1890776138</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1891208693</link>
         <description><![CDATA[<div>PHÂN TÍCH KHỔ 8,9: SÓNG VÀ KHAO KHÁT TÌNH YÊU VĨNH CỬU</div><div>Khi con người ta đang đắm chìm vào những cung bậc cảm xúc nồng cháy của con tim, ắt hẳn ta chỉ mơ tới những ngày tháng đẹp tươi, hạnh phúc mà xua tan đi hết những nỗi lo toan chồng chất. Thế nhưng, Xuân Quỳnh tin rằng, tất cả sẽ đều có thể đạt được hạnh phúc nếu có sự kiên nhẫn, sức mạnh được tạo nên bởi ý chí con người.</div><div>Nhà thơ đã chắp bút cho khổ thơ:</div><div><em>“Cuộc đời tuy dài thế</em></div><div><em>Năm tháng vẫn đi qua</em></div><div><em>Như biển kia dẫu rộng</em></div><div><em>Mây vẫn bay về xa”<br></em>Tình yêu tuy lãng mạn nhưng chẳng thể tránh khỏi những điều thực tế. Đôi khi, con người ta thường yêu mất lý trí, nhưng nó sẽ không thực sự đẹp, đúng nghĩa nếu nó xa vời với những lý lẽ cuộc đời. Mà thường, cuộc đời vốn nhiều nỗi trái ngang cản trở, chỉ khi ta đồng cam cộng khổ cùng nhau vượt qua mọi giông bão khó khăn thì tình yêu của đôi ta mới càng trở nên vững bền, tỏa sáng. Đó cũng là khát vọng hướng tới của tất cả những ai đang yêu, muốn yêu và được yêu.</div><div>Cuộc đời chẳng biết bao nhiêu là dài, nhưng ắt hẳn đối với tình yêu, yêu hết mình qua bao nhiêu ngày tháng thì chắc hẳn là rất dài. Trước mắt đây sẽ là biết bao khó khăn, hình ảnh của biển được nhà thơ sử dụng để bổ sung cho từ “dài” của cuộc đời ấy. Rất dài và rất rộng, thế nhưng mây vẫn trôi, vạn vật vẫn sinh tồn và tình yêu đôi ta cũng sẽ được trường tồn theo thời gian.</div><div>Con sóng được Xuân Quỳnh ví như tình yêu “bồi hồi trong ngực trẻ”, để rồi bà tiếp tục có những mong ước thật táo bạo:</div><div><em>“Làm sao được tan ra</em></div><div><em>Thành trăm con sóng nhỏ</em></div><div><em>Giữa biển lớn tình yêu</em></div><div><em>Để ngàn năm còn vỗ”<br></em>Một câu hỏi nhẹ nhàng “Làm sao” như thay lời muốn nói của biết bao cặp nam thanh nữ tú. Khi yêu, con người ta sẽ có hàng trăm ngàn câu hỏi, lý do và thật khó để tìm câu trả lời. Tình yêu của Xuân Quỳnh phải thật to lớn tới nhường nào mới có được mong ước “tan ra” như vậy. Mong ước được biến mình thành trăm ngàn “con sóng nhỏ” để hòa vào bể đời rộng lớn, vứt bỏ những lo toan, băn khoăn để hòa tan trong hương vị ngọt ngào của tuổi trẻ, tình yêu và niềm hạnh phúc. Dù mai sau có ai biết được “tình ai có đổi thay”, nhưng ngày hôm nay ta sẽ sống như chưa từng được sống, sống để mang tình yêu đến muôn nơi, không phân biệt khoảng cách giới hạn. Tác giả sẽ mang bầu nhiệt huyết, khát vọng tình yêu mãnh liệt chia sẻ với mọi người để tình yêu sẽ tồn tại đến ngàn vạn năm sau.</div><div>Kết thúc bài thơ mà lời thơ còn vang mãi, khổ thơ năm chữ với tiết tấu nhanh, mạnh hơn càng thể hiện ý chí mãnh liệt, thôi thúc được yêu của tác giả. Dù bể lớn cuộc đời có muôn ngàn khó khăn, thì tình yêu sẽ còn sống mãi. Sóng của biển cũng là hình ảnh của những cơn sóng gió cuộc đời, sẽ có lúc mưa lặng gió ngừng để tình yêu lan tỏa.</div><div><em><br></em><br></div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-15 13:18:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1891208693</guid>
      </item>
      <item>
         <title>TÁC PHẨM:NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1891296450</link>
         <description><![CDATA[<div>I TIỂU DẪN<em><br></em><strong><em>1/ Tác giả</em></strong><br>Nguyễn Tuân sinh năm 1910, mất năm 1987 trong một gia đình nhà Nho khi Hán học đã suy tàn.</div><div>- Quê thuộc làng Mộc, nay là phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội.</div><div>- Từ năm 1948 đến năm 1968, ông là Tổng thư kí Hội Nhà văn Việt Nam</div><div>- Năm 1996, ông được nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.<br>2/tác phẩm<br>a) hoàn cảnh ra đời<br>-Tác phẩm là kết quả của chuyến đi thực tế Tây Bắc vừa thỏa mãn thú phiêu lãng vừa để tìm kiếm vẻ đẹp thiên nhiên và “chất vàng mười đã qua thử lửa” trong tâm hồn của những con người lao động và chiến đấu trên miền sông núi hùng vĩ và thơ mộng đó.</div><div>- Người lái đò sông Đà là bài tùy bút được in trong tập Sông Đà (1960)<br>b)nội dung,nghệ thuật<br>*nội dung<br>Người lái đò sông Đà là một áng văn đẹp được làm nên từ tình yêu đất nước say đắm, thiết tha của một con người muốn dùng văn chương để ca ngợi vẻ đẹp vừa kì vĩ, hào hùng vừa trữ tình thơ mộng của thiên nhiên và nhất là của con người lao động bình dị ở miền Tây Bắc.</div><div>Tác phẩm còn cho thấy công phu lao động nghệ thuật khó nhọc cùng sự tài hoa, uyên bác của Nguyễn Tuân trong việc dùng chữ nghĩa để tái tạo những kì quan của tạo hóa và những kì tích lao động của con người.<br>*nghệ thuật<br>Tùy bút pha bút kí, kết cấu linh hoạt, vận dụng được nhiều tri thức văn hóa và nghệ thuật vào trong tác phẩm.</div><div>Nhân vật mang phong thái đời thường, giản dị.</div><div>Bút pháp: kết hợp hài hào giữa hiện thực và lãng mạn.</div><div>Ngôn ngữ hiện đại kết hợp với ngôn ngữ cổ xưa.</div><div>Sử dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật độc đáo: liên tưởng, tưởng tượng thú vị; so sánh nhân hóa quái dị, mới lạ…<br>3) đặc trưng thể loại tuỳ bút<br>II)ĐỌC HIỂU<br>1)hình tượng sông đà<br>a)sông đà hùng bạo,hùng vĩ<br>- Hướng chảy của sông Đà cho thấy đó là một dòng sông đầy cá tính “Chúng thủy giai đông ...”.</div><div>- Bờ sông dựng vách thành: lòng sông hẹp, “bờ sông dựng vách thành”, “đúng ngọ mới có mặt trời”, chỗ “vách đá ... như một cái yết hầu”</div><div>- Ở mặt ghềnh Hát Loóng: “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió” một cách hỗn độn, lúc nào cũng như “đòi nợ suýt” những người lái đò.</div><div>- Ở Tà Mường Vát: “có những cái hút nước giống như cái giếng bê tông”, chúng “thở và kêu như cửa cống cái bị sặc nước”, thuyền qua đoạn hút nước “y như ô tô ...mượn cạp ngoài bờ vực”,</div><div>- Trận địa thác đá được miêu tả từ xa đến gần:</div><div>+ Xa: âm thanh thác đá “con xa lắm” mà đã nghe tiếng thác “réo gần mãi lại, réo to mãi lên”, âm thanh ấy hiện lên với nhiều trạng thái khi “oán trách”, lúc “van xin”, khi “khiêu khích”, “chế nhạo”; cách so sánh độc đáo: “rống lên như một ngàn con trâu ... cháy bùng bùng” (lấy lửa tả nước).</div><div>+ Gần: Đá cũng đầy mưu mẹo: “nhăn nhúm”, “méo mó”, “”hất hàm”, “oai phong”, “bệ vệ”, có những hành động như “mai phục”, “chặn ngang”, “canh”, “đánh tan”, “tiêu diệt”, sóng: “đánh khuýp quật vu hồi”, “đánh giáp lá cà”, “đòn tỉa”<br>+ Sự biến hóa linh hoạt của trùng vi thạch trận: có 3 vòng, vòng 1 có 5 cửa sinh, một cửa tử (tả ngạn), vòng 2 có nhiều cửa tử, 1 cửa sinh (hữu ngạn), vòng 3 có ít cửa và 1 cửa sinh (giữa), gợi hình ảnh con sông Đà có tâm địa nham hiểm, mẹo lược, biến hóa khôn lường.<br>- Nhận xét: sông Đà mang diện mạo và tâm địa của một con thủy quái, “dòng thác hùm beo”, thứ kẻ thù số một của con người<br>b) sông đà trữ tình thơ mộng<br>- Khi từ tàu bay nhìn xuống:</div><div>+ Sông Đà “”tuôn dài, tuôn dài như một áng tóc trữ tình ... đốt nương xuân ”</div><div>+ Sông đà đổi màu theo từng mùa một cách độc đáo: mùa xuân xanh ngọc bích, mùa thu đỏ.</div><div>- Khi đi rừng lâu ngày bất ngờ gặp lại con sông:</div><div>+ Niềm vui vô hạn của tác giả khi bất ngờ gặp sông Đà: “như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm”, “nối lại chiêm bao đứt quãng”, “như gặp lại cố nhân”.</div><div>+ Sông Đà gợi cảm như một cố nhân, có vẻ đẹp như trò chơi trẻ con tinh nghịch, có vẻ đẹp Đường thi.</div><div>- Khi đi thuyền trên sông phía hạ lưu:</div><div>+ Cảnh thiên nhiên thi vị, mơn mởn: trôi qua một nương ngô “nhú lá non”, con hươu thơ ngộ, “bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử”.</div><div>+ Sông Đà như một “người tình nhân chưa quen biết”</div><div>- Nhận xét: Sông Đà trữ tình như một cố nhân, một tình nhân.</div><div>- Như vậy: hình tượng sông đà vừa mang nét hung bạo lại vừa trữ tình thơ mộng. Qua hình tượng sông Đà đã thể hiện tình cảm của Nguyễn Tuân với thiên nhiên Tây Bắc.<br>2)hình tượng người lái đò<br>-Công việc: lái đò trên sông Đà, hằng ngày đối diện với thiên nhiên hung bạo<br>- Về lai lịch: tác giả xóa mờ xuất thân, tập trung miêu tả ngoại hình để ngợi ca những con người vô danh âm thầm cống hiến: “tay lêu nghêu như cái sào. Chân ông lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh, ... chất mun”, đó là ngoại hình khỏe khoắn của con người lao động luôn gắn bó với nghề</div><div>- Là người có lòng dũng cảm, tình yêu nghề: “giữ mái chèo, nén vết thương, hai chân kẹp chặt lấy cuống lái”<br>-Là người mưu trí dũng cảm, bản lĩnh và tài ba:</div><div>+ Ung dung đối đầu với thác dữ “nén đau giữ mái chèo, tỉnh táo chỉ huy bạn chèo ...” để phá trùng vi thạch trận thứ nhất,</div><div>+ Ông lái đò “không chút nghỉ tay, nghỉ mắt phá luôn vòng vây thứ hai và đổi chiến thuật,<br>+ Là người nghệ sĩ tài hoa: ưa những khúc sông nhiều ghềnh thác, không thích lái đò trên khúc sông bằng phẳng, coi việc chiến thắng “con thủy quái” là chuyện thường: sau khi vượt thác nhà đò đốt lửa nướng cơm lam và toàn bàn về chuyện cá anh vũ, cá dầm xanh, ...<br>III) TỔNG KẾT<br><strong>Giá trị nội dung</strong></div><div>- Qua ngòi bút tài hoa của người nghệ sĩ trên trang giấy, Nguyễn Tuân đã miêu tả chân thực mà không kém phần sống động về hình tượng con sông Đà mang cả nét đẹp hung bạo, kỳ vĩ đến vẻ đẹp dịu dàng, trữ tình khó quên.</div><div><strong>Giá trị nghệ thuật</strong></div><div>- Khả năng quan sát tinh tế và vốn kiến thức hiểu biết sâu rộng trên nhiều lĩnh vực.<br>- Tài năng miêu tả sắc sảo, ngôn từ đa dạng, chân thực nhưng cũng giàu tính gợi hình, gợi cảm.</div><div><br><br></div><div><br><br></div><div><br></div><div><br><br></div><div><br><br></div><div><br><br></div><div><br><br></div><div><br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-15 13:50:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1891296450</guid>
      </item>
      <item>
         <title>KHỔ 8 :-“Cuộc đời tuy dài thế /Năm tháng vẫn đi qua”:cảm giác cô  đơn nhỏ bé trước cuộc đời ,nỗi lo âu về sự hữu hạn về tình yêu trước thời gian vô tận .”Như biển kia dẫu rộng / Mây vẫn bay về xa”:cảm giác bất an trước cái dễ đổi thay của lòng người giữa “muôn vời cách  trở “ . Nhưng đây còn là vượt lên sự lo âu phấp phỏng đặt niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh  tình yêu như mây có thể vượt qua biển rộng.KHỔ 9: Khao khát tình yêu vĩnh hằng hòa nhập tình yêu cá nhân vào tình yêu nhân loại =&gt; Tình yêu mang tính nhân văn sâu sắc .</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1891348904</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-15 14:08:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1891348904</guid>
      </item>
      <item>
         <title>- Khổ 8: Suy tư về thời gian: Cụm từ &quot; tuy dài thế&quot;,&quot; vẫn đi qua&quot;,&quot; dẫu rộng &quot; như chứa đựng ở đó ít nhiều nỗi lo âu và sự ngậm ngùi của tác giả. Cuộc đời dài nhưng tuổi trẻ của con người là hữu hạn nên không ngăn nổi năm tháng vẫn đi qua. Giống như biển kia dẫu rộng cũng không ngăn nổi 1 đám mây bay về phía cuối chân trời. Nhạy cảm trước sự chảy trôi của thời gian nên XQ tiếc cho sự hữu hạn của đời người, sự mong manh của hạnh phúc.- Yêu tha thiết, mãnh liệt trong tình yêu nhưng ta vẫn bắt gặp những dự cảm lo âu đầy bất trắc của thi sĩ. Dự cảm ấy phù hợp với nguồn cảm hứng thường xuất hiện trong thơ bà.- Khổ 9: Không phải là sự lắp ghép, hòa nhập mà phải tan vào nhau ngàn năm nồng thắm, rạo rực.Đó là tình yêu cao thượng, lớn lao, cái riêng hòa nhập vào trong cái chung và ở trong cái chung mênh mông ấy, cái riêng tồn tại vĩnh hằng.Nhưng đó chính là sự ao ước, khát khao, nhà thơ trăn trở kiếm tìm</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1891369910</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-15 14:14:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1891369910</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1891389258</link>
         <description><![CDATA[<div>Nhà&nbsp;thơ đã vận dụng thành công chấy liệu văn hóa dân gian. Những chất liệu ấy vừa quen thuộc, vừa gần giũ với những người dân Việt- Chất liệu dân gian  sử dụng rất đa dạng phong phú, tất cả đều gần gũi quen thuộc với con người Việt Nam</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-15 14:21:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1891389258</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phân tích 2 khổ cuối bài sóng.       •Luận điểm 1: Nỗi lo âu của tác giả trước sự hữu hạn của thời gian, của cuộc đời và nhất là tình yêu.               +Xuân Quỳnh được nhiều độc giả yêu mến không chỉ bởi sự đa tài mà còn bởi những vần thơ chân thành, giàu tình cảm và cũng rất đằm thắm như cách mà nữ thi sĩ yêu. Bởi vậy, chỉ có sóng mới là hình ảnh phù hợp nhất để tác giả thể hiện tình yêu nồng nhiệt của những người trẻ tuổi. Hai khổ thơ cuối là tiêu biểu cho tinh thần này.  Dường như mọi thứ đều trở nên hợp lý khi người ta chìm đắm vào tình yêu. Và chẳng mấy ai khi đang yêu nồng cháy lại không mơ mộng về những ngày tháng tươi đẹp, về hạnh phúc phía trước. Xuân Quỳnh có lẽ cũng không ngoại lệ. Thế nhưng, dù khi yêu là chất ngất, là dâng trọn trái tim, Xuân Quỳnh cũng đồng thời tin rằng, những người yêu nhau sẽ có được hạnh phúc nếu biết kiên nhẫn, bởi sức mạnh của mỗi người trong đó có sức mạnh tình yêu được tạo nên bởi ý chí riêng của con người.                         “Cuộc đời tuy dài thế                          Năm tháng vẫn đi qua                         Như biển kia dẫu rộng                         Mây vẫn bay về xa”                                            •Phân tích 2 khổ cuối bài sóng ta thấy tác giả đang muốn nhấn mạnh rằng, tình yêu lãng mạn lắm và những kẻ đang yêu cũng lắm điều mơ mộng, nhưng dù mơ mộng đến đâu cũng phải nhìn vào thực tế. Con người ta khi yêu thường không còn đủ lý trí, nhưng tình yêu chỉ đẹp, chỉ có ý nghĩa khi nó gắn liền với những lý lẽ, những quy luật của cuộc đời. Những lý lẽ, quy luật ấy hẳn rằng có nhiều nỗi trái ngang, nhiều trở ngại. Điều này đòi hỏi sự chân thành và gắn bó giữa hai người để vượt qua khó khăn và vun đắp tình yêu vững bền, tình yêu mà tất cả những ai đang yêu, được yêu và muốn đều hướng tới.                         +Cuộc đời con người vô thường, dài ngắn cũng không biết đong đếm ra sao. Nhưng dù dài bao nhiêu, năm tháng vẫn trôi qua mà không chờ đợi ai. Và biển rộng cũng là thách thức, khó khăn trước mắt của tình yêu. Biển rộng được sử dụng đối sánh với từ dài của cuộc đời. Nhưng dài, rộng thế, nhưng mây vẫn cứ trôi, vạn vật cũng vẫn sinh tồn và cứ tin đi, tình yêu đôi ta đủ chân thành, thắm thiết rồi sẽ bền mãi với thời gian.                                              •Luận điểm 2: Ước vọng của nhà thơ về một tình yêu bất tử vĩnh hằng.  +Đứng trước biển, những cảm thấu về tình yêu trỗi dậy, và những con sóng với Xuân Quỳnh như là tình yêu.“bồi hồi trong ngực trẻ”. Bởi bồi hồi mà bà khát khao yêu, để rồi mong ước mãnh liệt:                                                          “Làm sao được tan ra                      Thành trăm con sóng nhỏ                 Giữa biển lớn tình yêu                           Để ngàn năm còn vỗ”                             Cái câu hỏi “làm sao” ấy là lời tác giả tự hỏi cho mình, cũng là hỏi cho biết bao những kẻ đang yêu. Nhưng cũng như nhiều câu hỏi khác trong tình yêu, thật khó để có một câu trả lời cụ thể. Ước muốn được “tan ra” ấy chính là biểu hiện của tình yêu to lớn không thể đong đếm được. Xuân Quỳnh ước được biến thành “trăm ngàn con sóng nhỏ” để được hòa mình vào bể đời rộng lớn, được thoát khỏi những lo ấy, những băn khoăn mà toàn tâm toàn ý tan cùng tình yêu tuổi trẻ mãnh liệt, ngọt ngào và hạnh phúc. Tình yêu chẳng ai biết trước mai sau, nhưng hôm nay khi yêu hãy yêu như chưa từng được sống. Có lẽ những người đang yêu cũng mang khát vọng như Xuân Quỳnh, là được chia sẻ, được tha thiết nói về tình yêu của mình với mọi người, để hòa vào với “biển lớn tình yêu”. Như thế, tình yêu sẽ còn tồn tại đến ngàn năm sau.                                                                                                                                                                                                                                                    </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1891421140</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-15 14:31:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1891421140</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phân tích 2 khổ cuối bài Sóng</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1891511194</link>
         <description><![CDATA[<div>Phân tích 2 khổ cuối bài sóng<br>Luận điểm 1: Nỗi lo âu của tác giả trước sự hữu hạn của thời gian, của cuộc đời và nhất là tình yêu<br>Xuân Quỳnh được nhiều độc giả yêu mến không chỉ bởi sự đa tài mà còn bởi những vần thơ chân thành, giàu tình cảm và cũng rất đằm thắm như cách mà nữ thi sĩ yêu. Bởi vậy, chỉ có sóng mới là hình ảnh phù hợp nhất để tác giả thể hiện tình yêu nồng nhiệt của những người trẻ tuổi. Hai khổ thơ cuối là tiêu biểu cho tinh thần này.<br><br>Dường như mọi thứ đều trở nên hợp lý khi người ta chìm đắm vào tình yêu. Và chẳng mấy ai khi đang yêu nồng cháy lại không mơ mộng về những ngày tháng tươi đẹp, về hạnh phúc phía trước. Xuân Quỳnh có lẽ cũng không ngoại lệ. Thế nhưng, dù khi yêu là chất ngất, là dâng trọn trái tim, Xuân Quỳnh cũng đồng thời tin rằng, những người yêu nhau sẽ có được hạnh phúc nếu biết kiên nhẫn, bởi sức mạnh của mỗi người trong đó có sức mạnh tình yêu được tạo nên bởi ý chí riêng của con người.&nbsp;<br><br>&nbsp;“Cuộc đời tuy dài thế<br><br>Năm tháng vẫn đi qua<br><br>Như biển kia dẫu rộng<br><br>Mây vẫn bay về xa”<br><br>Phân tích 2 khổ cuối bài sóng ta thấy tác giả đang muốn nhấn mạnh rằng, tình yêu lãng mạn lắm và những kẻ đang yêu cũng lắm điều mơ mộng, nhưng dù mơ mộng đến đâu cũng phải nhìn vào thực tế. Con người ta khi yêu thường không còn đủ lý trí, nhưng tình yêu chỉ đẹp, chỉ có ý nghĩa khi nó gắn liền với những lý lẽ, những quy luật của cuộc đời. Những lý lẽ, quy luật ấy hẳn rằng có nhiều nỗi trái ngang, nhiều trở ngại. Điều này đòi hỏi sự chân thành và gắn bó giữa hai người để vượt qua khó khăn và vun đắp tình yêu vững bền, tình yêu mà tất cả những ai đang yêu, được yêu và muốn đều hướng tới.<br><br>Cuộc đời con người vô thường, dài ngắn cũng không biết đong đếm ra sao. Nhưng dù dài bao nhiêu, năm tháng vẫn trôi qua mà không chờ đợi ai. Và biển rộng cũng là thách thức, khó khăn trước mắt của tình yêu. Biển rộng được sử dụng đối sánh với từ dài của cuộc đời. Nhưng dài, rộng thế, nhưng mây vẫn cứ trôi, vạn vật cũng vẫn sinh tồn và cứ tin đi, tình yêu đôi ta đủ chân thành, thắm thiết rồi sẽ bền mãi với thời gian.<br><br>Luận điểm 2: Ước vọng của nhà thơ về một tình yêu bất tử vĩnh hằng<br>Đứng trước biển, những cảm thấu về tình yêu trỗi dậy, và những con sóng với Xuân Quỳnh như là tình yêu “bồi hồi trong ngực trẻ”. Bởi bồi hồi mà bà khát khao yêu, để rồi mong ước mãnh liệt:<br><br>&nbsp;“Làm sao được tan ra<br><br>Thành trăm con sóng nhỏ<br><br>Giữa biển lớn tình yêu<br><br>Để ngàn năm còn vỗ”<br><br>Cái câu hỏi “làm sao” ấy là lời tác giả tự hỏi cho mình, cũng là hỏi cho biết bao những kẻ đang yêu. Nhưng cũng như nhiều câu hỏi khác trong tình yêu, thật khó để có một câu trả lời cụ thể. Ước muốn được “tan ra” ấy chính là biểu hiện của tình yêu to lớn không thể đong đếm được. Xuân Quỳnh ước được biến thành “trăm ngàn con sóng nhỏ” để được hòa mình vào bể đời rộng lớn, được thoát khỏi những lo ấy, những băn khoăn mà toàn tâm toàn ý tan cùng tình yêu tuổi trẻ mãnh liệt, ngọt ngào và hạnh phúc. Tình yêu chẳng ai biết trước mai sau, nhưng hôm nay khi yêu hãy yêu như chưa từng được sống. Có lẽ những người đang yêu cũng mang khát vọng như Xuân Quỳnh, là được chia sẻ, được tha thiết nói về tình yêu của mình với mọi người, để hòa vào với “biển lớn tình yêu”. Như thế, tình yêu sẽ còn tồn tại đến ngàn năm sau.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-15 15:00:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1891511194</guid>
      </item>
      <item>
         <title>tác giả bài Người lái đò sông </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1891515881</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>1. Tiểu sử&nbsp;<br></strong><br></div><div>- Nguyễn Tuân (1910-1987) sinh ra trong một nhà nho nghèo khi Hán học đã tàn, quê gốc ở Hà Nội.<br><br></div><div>- Nguyễn Tuân học hết bậc Thành chung thì bị đuổi do tham gia một cuộc bãi khóa phản đối một số giáo viên Pháp nói xấu người Việt Nam.<br><br></div><div>- Sau đó một thời gian ông lại bị tù vì “xê dịch” qua biên giới không có giấy phép.<br><br></div><div>- Ra tù, ông bắt đầu viết văn, làm báo.<br><br></div><div>- Năm 1941, Nguyễn Tuân lại bị bắt giam một lần nữa vì giao du với những người hoạt động chính trị.<br><br></div><div>- Sau Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân nhiệt tình tham gia cách mạng và trở thành cây bút tiêu biểu của nền văn học mới.<br><br></div><div><strong>2. Sự nghiệp văn học<br></strong><br></div><div><em>a. Tác phẩm chính<br></em><br></div><div>-<em> Vang bóng một thời</em> (1940), <em>Tùy bút sông Đà</em> (1960), <em>Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi</em> (1972), ...<br><br></div><div><em>b. Phong cách nghệ thuật<br></em><br></div><div>- Trước Cách mạng tháng Tám, phong cách sáng tác của ông gói gọn trọng một chữ <strong><em>Ngông</em></strong>. Ngông dựa trên sự tài hoa uyên bác và nhân cách hơn người.<br><br></div><div>- Sau Cách mạng tháng Tám, phong cách sáng tác của Nguyễn Tuân đã có nhiều chuyển biến quan trọng, không còn cái ngông nghênh, khinh bạc. Ông tìm thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa quá khứ - hiện tại - tương lai, giọng văn trở nên tin yêu, đôn hậu, tìm thấy cái đẹp, chất tài hoa ở những con người lao động bình thường, giọng văn khinh bạc chủ yếu để ném vào kẻ thù dân tộc hay những mặt trái của xã hội.<br><br></div><div>=&gt; Với phong cách rất riêng của mình, có thể nói Nguyễn Tuân chính là hiện thân của cái định nghĩa về người nghệ sĩ. Đối với ông, văn chương nghệ thuật phải có phong cách độc đáo, mới lạ.</div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-15 15:01:43 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1891515881</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tác phẩm Người lái đò sông Đà</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1891521559</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>1. Tóm tắt tác phẩm<br></strong><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Thiên nhiên Tây Bắc được tô điểm bởi con sông Đà vừa hung bạo vừa trữ tình. Sông Đà có lúc dịu dàng như người phụ nữ kiều diễm. Nước sông Đà thay đổi theo mùa, phản chiếu trời xuân nắng thu: “Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, mùa thu lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa”. Dọc theo sông Đà, có lắm thác nhiều ghềnh, có đá dựng vách thành, có đá tảng, đá hòn bày thế thạch trận, tạo nên cửa sinh, cửa tử. Nổi bật trên bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, đầy sức sống đó là hình ảnh ông lái đò sông Đà. Đó là một người mang vẻ đẹp khỏe khoắn của người dân lao động vùng sông nước với thân hình cao to, nước da rám nắng. Ông làm nghề lái đò đã nhiều năm, từng gắn bó với dòng sông Đà, hiểu được tính khí của nó. Ông thuộc nằm lòng từng con thác lớn, thác nhỏ, từng vách đá, luồng nước, từng cửa sinh, cửa tử do thế thạch trận tạo nên. Ông đã dùng kinh nghiệm nghề nghiệp cộng với sự cần cù gan dạ đưa con thuyền vượt thác nước sông Đà đầy nguy hiểm. Ông đã đưa nhiều chuyến hàng về xuôi an toàn để góp phần vào cuộc sống. Sau khi vượt sông Đà, ông lái đò trở về cuộc sống đời thường thanh thản của mình, ông neo thuyền chỗ khúc sông bình lặng, nấu ống cơm lam và bàn tán về cá anh vũ, cá dầm xanh.<br><br></div><div><strong>2. Tìm hiểu chung<br></strong><br></div><div><strong><em>a. Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác<br></em></strong><br></div><div><em>- Người lái đò sông Đà </em>in trong tập <em>Sông Đà </em>(1960), là tùy bút xuất sắc của Nguyễn Tuân.<br><br></div><div>- Thành quả thu hoạch được sau chuyến đi gian khổ và hào hứng tới miền Tây bắc rộng lớn, xa xôi.<br><br></div><div><strong><em>b. Bố cục (3 phần)<br></em></strong><br></div><div>- Phần 1 (từ đầu đến "gậy đánh phèn"): Sự dữ dội, hung bạo của sông Đà.<br><br></div><div>- Phần 2 (tiếp đến "dòng nước sông Đà"): Cuộc sống con người trên sông Đà, hình tượng người lái đò.<br><br></div><div>- Phần 3 (còn lại): Vẻ hiền hòa, trữ tình của sông Đà.<br><br></div><div>3.<strong>Tìm hiểu chi tiết<br></strong><br></div><div><strong><em>a. Hình tượng con sông Đà<br></em></strong><br></div><div>- Lời đề từ: Khẳng định vẻ đẹp và sự độc đáo của sông Đà. Trên trang văn Nguyễn Tuân, sông Đà đại diện cho thiên nhiên Tây Bắc và là một sinh thể có hồn, sống động, mang tính cách, tâm hồn, vừa hùng vĩ hung bạo lại vừa thơ mộng, trữ tình.<br><br></div><div><strong><em>*</em></strong><em> Sông Đà hùng vĩ, dữ dội với tính cách hung bạo:<br></em><br></div><div>- Vách đá dựng đứng, kì vĩ: "cảnh đá bờ sông dựng vách thành… sang bờ kia".<br><br></div><div>- Ghềnh Hát Loóng hung dữ: "nước xô đá, đá xô sóng… dễ lật ngửa bụng thuyền ra"<em>.<br></em><br></div><div>- Hút nước vừa tráng lệ vừa dữ dội: "như cái giếng bê tông… ặc ặc lên như vừa rót dầu sô<em>i".<br></em><br></div><div>- Thác đá: "nghe như là oán trách… cháy bùng bùng, đá thác từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông… ngỗ ngược, bệ vệ oai phong, hất hàm hiếu chiến"<em>.<br></em><br></div><div><em>- </em>Sông Đà bố trí thạch trận trùng trùng điệp điệp, đòi tóm lấy mọi con thuyền qua sông.<br><br></div><div><strong><em>*</em></strong><em> Vẻ đẹp thơ mộng và tính cách trữ tình:<br></em><br></div><div>- Hình dáng dòng sông mềm mại: "như cái dây thừng", "như mái tóc tuôn dài"…<br><br></div><div>- Màu nước thay đổi theo mùa: "xanh ngọc bích", "lừ lừ chín đỏ"<em>.<br></em><br></div><div>- Sông Đà gợi cảm, mang vẻ đẹp đa chiều: "như cố nhân", "như Đường thi"<em>,…<br></em><br></div><div>- Vẻ đẹp đôi bờ: êm ả, nguyên sơ, tràn đầy sức sống (cỏ cây, những con vật lành, đàn cá…)<br><br></div><div>=&gt; Nghệ thuật xây dựng hình tượng sông Đà: ngôn ngữ điêu luyện, giàu chất tạo hình; so sánh, liên tưởng độc đáo, táo bạo; tiếp cận con sông dưới phương diện cái đẹp, cái tôi trữ tình dạt dào cảm xúc; vận dụng tri thức của nhiều lĩnh vực; giọng điệu phóng khoáng.<br><br></div><div>=&gt; Ý nghĩa của hình tượng sông Đà: đại diện cho vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc, đóng vai trò như bức phông nền kì vĩ, làm nổi bật tài nghệ chèo đò, vượt thác của ông đò.<br><br></div><div><strong><em>b. Hình tượng người lái đò sông Đà.<br></em></strong><br></div><div><strong><em>*</em></strong><em> Vẻ đẹp bình dị của người dân lao động:<br></em><br></div><div>- Ông lái đò sinh ra đã gắn bó với dòng sông Đà. Tuổi ngoài 70 nhưng thân hình vạm vỡ như chất sừng mun, giọng nói vẫn khỏe, cặp mắt vẫn tinh tường. Có thể nói ông lái đò là con người của sông nước.<br><br></div><div>- Ông là người hiểu biết sâu rộng về dòng sông:<br><br></div><div>+ Đó là một người lái đò lão luyện: “Trên dòng sông Đà, ông xuôi, ông ngược hơn một trăm lần rồi chỉnh tay giữ lái độ sáu chục lần..<em>.</em>” trong thời gian hơn chục năm làm cái nghề đầy nguy hiểm và gian khổ này.<br><br></div><div>+ Ông hiểu biết sâu rộng và rất thành thạo, thành thạo đến mức sông Đà<em> “</em>đối với ông lái đò ấy, như một trường thiên anh hùng ca mà ông đã thuộc đến cả cái chấm than, chấm câu và những đoạn xuống dòng. Trên dòng sông Đà, ông xuôi, ông ngược hơn một trăm lần rồi, chỉnh tay giữ lái độ sáu chục lần... Cho nên ông có thể bằng cách lấy mắt mà nhớ tỉ mỉ như đóng đanh vào lòng tất cả những luồng nước của tất cả những con thác hiểm trở.<em>”<br></em><br></div><div>+ Ông có trình độ lái đò hết sức điêu luyện và là vị chỉ huy dày dạn kinh nghiệm. Giờ đây khi đã rời xa nghề chèo đò nhưng ông vẫn hoài niệm về những ngày tháng gian nan mà vui vẻ đó.<br><br></div><div><em>* Là một người nghệ sĩ tài hoa:<br></em><br></div><div>- Thủy quái sông Đà: "có diện mạo và tâm địa một thứ kẻ thù số một"<em>, </em>nguy hiểm và hung bạo, đầy cạm bẫy với những ghềnh, thác, hút nước, sóng nước, với thạch trận trùng điệp, đầy luồng chết chầu chực nuốt chửng, đập tan con thuyền.<br><br></div><div>- Người lái đò bước vào cuộc vượt thác giống như vị chỉ huy bước vào trận đánh. Phải đặt nhân vật vào trong môi trường chiến trận mới có thể bộc lộ hết phẩm chất của người lái đò:<br><br></div><div>+ Ông đò vượt trùng vây thứ nhất: Đá thác hiếu chiến ("bệ vệ oai phong, hất hàm"), nước thác làm thanh viện ùa vào đòi bẻ cán chèo, đội thuyền, túm lấy thắt lưng, bóp chặt hạ bộ, ông cố nén vết thương, kẹp chặt cuống lái, tiếng chỉ huy vẫn ngắn gọn tỉnh táo.<br><br></div><div>+ Ông đò vượt trùng vây thứ hai: trùng vây thứ 2 "tăng thêm cửa tử" để đánh lừa con thuyền, cửa sinh bị bố trí lệch đi, ông đò thay đổi chiến thuật, "cưỡi lên thác sông Đà, lái miết một đường chéo, rảo bơi chèo lên… sấn lên chặt đôi ra" để mở đường vào cửa sinh.<br><br></div><div>+ Ông đò vượt qua trùng vây thứ ba: vòng 3 bên phải, bên trái đều là luồng chết, luồng sống ở giữa bọn đá hậu vệ, ông đò "phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa.. lượn được"<em>.<br></em><br></div><div>=&gt; Ông đò là người anh hùng, người nghệ sĩ trong công việc chèo đò, vượt thác. Ông đại diện cho con người Tây Bắc và là chất vàng mười của đất nước ta.<br><br></div><div><strong><em>c. Giá trị nội dung:<br></em></strong><br></div><div>&nbsp; &nbsp;<em>Người lái đò sông Đà</em> là một áng văn đẹp được làm nên từ tình yêu đất nước say đắm, thiết tha của một con người muốn dùng văn chương để ca ngợi vẻ đẹp vừa kì vĩ, hào hùng, vừa trữ tình, thơ mộng của thiên nhiên và nhất là của con người lao động bình dị ở miền Tây Bắc.<br><br></div><div><strong><em>d. Giá trị nghệ thuật:<br></em></strong><br></div><div>&nbsp; &nbsp; Tác phẩm đã thể hiện rõ phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân. Nét tài hoa thể hiện qua ngôn ngữ, hình ảnh, câu văn sáng tạo mới mẻ, vốn từ vựng phong phú, ngôn ngữ chính xác...<br><br></div><div><br><br></div><div><br><br><br></div><div><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-15 15:03:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1891521559</guid>
      </item>
      <item>
         <title>* khổ 8:     Thời gian trôi nhanh như một con gió thoảng, đời người thật ngắn ngủi, hạnh phúc rất mong manh. Càng tha thiết hết mình cho tình yêu bao nhiêu, những trái tim yêu càng tiếc nuối lo âu trước sự trôi chảy của thời gian, hữu hạn của đời người, mong manh của hạnh phúc bấy nhiêu. Trái tim yêu của Xuân Quỳnh cũng vậy. Trong bài thơ ‘Sóng”, nhớ nhung da diết yêu thương, nồng nàn luôn song hành với nỗi lo âu khắc khoải                  &quot; Cuộc đời tuy dài thế                    Năm tháng vẫn đi qua                    Như biển kia dẫu rộng                    Mây vẫn bay về xa&quot;     Đời người trăm năm ngỡ dài thăm thẳm nhưng con tàu thời gian cứ vun vút lao đi không chờ đợi chúng ta. Biển cảm, đại dương bát ngát mênh mông tưởng như không bờ, không bến vẫn không sao níu giữa được mây rtời. Mây trời vẫn bay qua đại dương về với núi xa. Bằng nghệ thuật so sánh, Xuân Quỳnh đã nêu bật lên cái ngắn ngủi, hữu hạn của đời người và hạnh phúc.. Thấm thía quy luật nghiệt ngã ấy, nữ sĩ lo ấu tiếc nuối đến thảng thốt, Sau này, trải qua nhiều thăng trầm biến động của cuộc đời, nhiều ngọt ngào cay đắng, nỗi lo âu về hạnh phúc mong manh đã trở thành ám ảnh xót xa trong thơ Xuân Quỳnh:            Lời yêu mỏng manh như màu khói            Ai biết lòng anh có đổi thay   *Khổ 9:     Thời gian chảy trơi, người ngắn ngủi nhưng khát vọng được yêu, được  sống của con người lại hướng đến cái vô biên, vô tận. Làm sao để hóa giả nghịch lí này? Mỗi trái tim yêu dường như lại chọn cho mình giải pháp riêng.   Giờ đây, nữ hoàng tình yêu Xuân Quỳnh lại ao ước tan ra thành trăm con sóng nhỏ để hòa vào biển lớn tình yêu:                 &quot; Làm sao được tan ra                  Thành trăm con sóng nhỏ                  Giữa biển lớn tình yêu.                                      Để ngàn năm còn vỗ.&quot;                           Tha thiết với tình yêu, đắm đuối với người tình luôn khát khao hạnh phúc, đó là những xúc cảm luôn thổn thức trong trái tim của người phụ nữ. Hòa mình vào mạch chung đó, Xuân Quỳnh vẫn tìm cho mình được nói riêng. Những người phụ nữ Việt Nam thời xưa thường ít xuất đầu lộ diện, trực tiếp giãi bày khát khao, tình yêu, hạnh phúc của mình. Nếu có, họ cũng chỉ dám ước mơ nên duyên vơ nên chồng:         &quot;Có phải duyên nhau thì thắm lại           Đừng anh như lá bạc như vôi&quot;Cũng chỉ dám khát khao hạnh phúc trăm nămTrăm năm tạc một chữ đồng đến xương     Khát vọng tình yêu của Xuân Quỳnh vô cùng mãnh liệt. Không chịu dừng bước trước giới hạn trăm năm đời người ngắn ngủi, Xuân Quỳnh vươn tới tình yêu ngàn năm, vươn tới một tình yêu trường tồn, vĩnh cửu. Xuân Quỳnh ao ước được tam ra thành sóng để ngàn năm còn sống trong biển lớn tình yêu. Thật ấn tượng khi khát vọng về tinh yêu vĩnh hắng, vĩnh cửu không phải là khát vọng dâng trào trong những phút giây sôi nổi, bông bột của trái tim. Vươn tới tình yêu vĩnh cửu là khát khao cồn cào, đau đáu trong thơ Xuân Quỳnh. Khát vọng ấy trở đi trở lại thành điệp khúc ngân vang trong thơ nữ sĩ.     Lúc muốn tan ra thành sóng, lúc muốn trở về đúng nghĩa trái tim. Xoay trở mọi hướn, ao ước bao điều, trái tim yêu Xuân Quỳnh vẫn hướng về mục đích duy nhất: tình yêu vĩnh cửu. “Làm sao được tan ra – Thành trăm con sóng nhỏ”. Ước ao ta ra thành sóng đâu chỉ thỏa khát vọng vĩnh cửu hóa tình yêu mà đó còn là khát vọng cháy hết mình, dâng hiến hết mình của nữ sĩ. Có phải muôn ran ra thành sóng để hòa hợp vào biển lớn có nghĩa là em muôn tan vào trong anh để “từng nguyên tử của em thuộc về anh”. Vậy là trái tim yêu của Xuân Quỳnh không chỉ thao thức nhớ thương trong mọi không gian, thời gian, thủy chung, bất biến trước cuộc đời vạn biến mà còn yêu tha thiết trong từng tế bào nhỏ nhất.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1891532929</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-15 15:07:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1891532929</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1891577728</link>
         <description><![CDATA[<div>I.Tìm hiểu chung để soạn Người Lái Đò Sông Đà</div><div>1. Tác giả</div><div>- <strong>Nguyễn Tuân</strong> (1910 - 1987) là một trong 9 tác giả tiêu biểu nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại.</div><div>- Là nhà văn tài hoa, giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc.</div><div>- Ông có sở trường về tùy bút và ký</div><div>- Tác phẩm của Nguyễn Tuân mang cá tính riêng, độc đáo, phóng khoáng, sự hiểu biết phong phú, cách dùng từ đa dạng và đầy sáng tạo trong sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt.&nbsp;</div><div>- Phong cách sáng tác của tác giả được đánh giá lại bằng một từ “ngông”. Nguyễn Tuân ngông trên sự tài ba, xuất chúng, khí chất hơn người từ ngoài đời sống thực đến đời sống văn chương.</div><div>2. Tác phẩm</div><div>a) Hoàn cảnh ra đời</div><div>- <strong>Người lái đò sông Đà</strong> là áng văn nổi bật in trong tùy bút sông Đà (1960) của Nguyễn Tuân.</div><div>- Tác phẩm là sự kết tinh từ chuyến đi của tác giả đi tới vùng cao Tây Bắc xa xôi để tìm chất vàng thử lửa của thiên nhiên Tây Bắc và đặc biệt hơn nữa là chất vàng mười đã qua thử lửa ở trong tâm hồn của con người lao động đã chiến đấu trên miền sông núi Tây Bắc hùng vĩ và đầy chất thơ.</div><div>b) Bố cục</div><div>- Phần 1: Sự hung dữ, hùng vĩ của con sông Đà</div><div>- Phần 2: Cuộc sống của con người lao động trên sông Đà và hình ảnh người lái đò sông Đà</div><div>- Phần 3: Nét đẹp trữ tình, nên thơ của sông Đà</div><div>*Lưu ý: Trong khi <strong>soạn văn Người lái đò sông Đà </strong>luôn nắm được sơ lược về tác giả, tác phẩm để làm tốt hơn phần mở bài trong các bài văn phân tích.</div><div>II. Tìm hiểu văn bản và soạn Người Lái Đò Sông Đà</div><div>1. Hình tượng con sông Đà</div><div>- Hình tượng <strong>con sông Đà</strong> được khắc họa 2 tính cách hoàn toàn trái ngược nhau: hung bạo và trữ tình.</div><div><br></div><div>a) Hình ảnh con sông Đà hung bạo</div><div><strong>- Diện mạo sông Đà</strong></div><div>+ “Chúng thủy giai đông tẩu. Đà giang độc bắc lưu” =&gt; Lời đề từ thứ nhất trong <strong>bài thơ Người lái đò sông Đà</strong> của tác phẩm, nhà văn Nguyễn Tuân đã nhấn mạnh thế độc đáo, nghịch ngược của Sông Đà giống như con ngựa bất kham</div><div>+ “Cảnh đá … dựng vách thành”, “lòng sông hẹp”, “có quãng con hươu, con nai còn nhảy vọt từ bờ bên này sang bờ bên kia”, “chỗ vách đá…như một cái yết hầu”, “nhìn từ dưới lên như nhìn tòa nhà cao vừa tắt phụt đèn điện”,… =&gt; Tác giả dựng lên một không gian cao vút, sâu thẳm mà lại thật nhỏ, thật hẹp. Cách dùng từ so sánh và miêu tả của tác giả vô cùng độc đáo và thân thuộc.</div><div>+ Mặt ghềnh Hát Lóong: “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió”, như “đòi nợ suýt” bất cứ ai đi qua quãng ấy,…=&gt; Sự hung bạo, dữ dội và đáng sợ của dòng sông hiện hình trên mặt ghềnh.</div><div>+ Cái hút nước: như “cái giếng bê tông”, “nước thở và kêu như cái cống cái bị sặc” =&gt; cách miêu tả sáng tạo của Nguyễn Tuân đã đem đến cái nhìn mới mẻ cho người đọc từ một vật thể bình thường thành một cơ thể sống thực sự, đang vận động vô cùng mạnh mẽ và dữ dội.&nbsp;</div><div>+ Thác nước:“lúc thì gầm réo oán trách van xin, khiêu khích,…” =&gt; độ âm vang của tiếng thác nước được nhân cách hóa đầy tinh tế và sinh động như biểu hiện những cung bậc cảm xúc, tâm trạng và tính cách của con người. &nbsp;</div><div><strong>- Tâm địa sông Đà</strong></div><div>+ Thạch trận: “Đá ở đây... mai phục hết trong lòng sông, ...quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, ... là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vỗ lấy thuyền”.</div><div>+ Thủy trận: "Đám tảng đám hòn ... chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền…”</div><div>+Ba trùng vi:" Vòng đầu ... nó mở ra năm cửa trận, có bốn cửa tử một cửa sinh" , "vòng thứ hai này tăng thêm nhiều cửa tử", "còn một trùng vây thứ ba nữa, ít cửa hơn, bên trái bên phải đều là luồng chết cả”.</div><div>=&gt; Với ngòi bút điêu luyện và tài nghệ của mình, Nguyễn Tuân không chỉ miêu tả nét kỳ vĩ, hung tợn của dòng sông Đà bằng thị giác mà còn bằng tất cả mọi giác quan có thể để thu nhận tất thảy mọi chi tiết dù là nhỏ nhất một cách tinh tế nhất. Qua bút pháp lãng mạn, tác giả càng lột tả rõ ràng hơn sự mãnh liệt, dữ dội và hùng vĩ của sông Đà, của núi rừng Tây Bắc.</div><div>b) Hình ảnh con sông Đà trữ tình</div><div>+ Hình dáng: “tuôn dài ... như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc”, vẻ đẹp bình dị như “một dải dây thừng” hay lại như "một mái tóc mun… áng tóc trữ tình",…=&gt; Vẻ đẹp dung dị của hình ảnh người thiếu nữ.nói chung và người thiếu nữ vùng cao Tây Bắc nói riêng.</div><div>+ Màu nước sông Đà: mùa xuân thì mang trong mình màu xanh ngọc bích, mùa thu lại lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa =&gt; Phải quan sát kỹ lắm và phải tinh tế lắm thì Nguyễn Tuân mới có những áng văn rất thơ, rất thật và rất sáng tạo đến vậy.</div><div>+ Dòng sông khoe vẻ gợi cảm: <strong>dòng sông Đà</strong> êm đềm, thơ mộng, “cảnh hai bờ sông giống như một bờ tiền sử” =&gt; Bên cạnh vẻ quyến rũ, nên thơ là nét hoài cổ gợi lại sự quen thuộc, gần gũi xa xưa như Đường thi, như một cố nhân, một tri âm, tri kỷ. Tác giả tìm thấy sự thân thương, thân thuộc một thời bên người bạn cố nhân nơi đất khách này.</div><div>=&gt; Bằng cách diễn đạt phong phú, sáng tạo với những câu văn giàu chất thơ, giàu nhạc điệu, cùng việc sử dụng khéo léo các biện pháp nghệ thuật so sánh, ẩn dụ trong bút pháp hiện thực cùng lãng mạn đã hiện lên nàng thiếu nữ sông Đà cuốn hút, thơ mộng giữa núi rừng.&nbsp;</div><div>=&gt; Vẻ đẹp sông Đà hay chính là vẻ đẹp thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, nên thơ như bức phông nền tuyệt đẹp làm nổi bật hình ảnh người lái đò - hình ảnh của người lao động chân chất giữa núi rừng.</div><div>*Trong khi <strong>soạn văn Người lái đò sông Đà</strong>, chúng ta luôn có những ý chốt, những ý đánh giá và khái quát lại các dẫn chứng đã nêu ra để dễ nắm bài hơn.</div><div>2. Hình tượng người lái đò</div><div><br></div><div><br></div><div>- Giới thiệu về người lái đò:</div><div>Tác giả giới thiệu <strong>người lái đò sông Đà</strong> là người lái ra hoa. Cuộc sống hằng ngày của ông là lèo lái con thuyền vật lộn với dòng sông Đà, chiến đấu với thiên nhiên để dành giật sự sống. Người lái đò hiện lên với ngoại hình độc đáo “tay lêu nghêu như cái sào, chân khuỳnh khuỳnh” - một sự ví von, miêu tả rất giản dị mà giàu tính gợi hình. Hình ảnh người lái đò sông Đà còn là hiện thân của người lao động khỏe mạnh, vạm vỡ trước thiên nhiên, núi rừng.</div><div>- Hình ảnh người lái đò qua những lần vượt thác dữ:</div><div>+ “Trên sông Đà ông xuôi ngược trên một trăm lần”, “nhớ tỉ mỉ … những luồng nước” =&gt; Cho thấy người lái đò rất từng trải và vô cùng thành thạo trong nghề, cũng như am hiểu mọi thứ trên dòng sông này.</div><div>+ “Nén đau giữ mái chèo, tỉnh táo chỉ huy bạn chèo ...”, “nắm chắc binh pháp của thần sông thần núi”, “cưỡi đúng ngay trên bờm sóng, phóng thẳng thuyền vào giữa thác ...”=&gt; Hình ảnh người lái đò đầy bản lĩnh, tài ba và mưu trí để chinh phục sự hung hãn của dòng sông. Đó còn là hiện thân của người lao động với cuộc sống vất vả, gian nan nhưng luôn đầy nghị lực và không ngừng phấn đấu, lao động và làm việc.</div><div>+ Ông ưa những khúc sông nhiều ghềnh thác, thích việc chinh phục những “con thủy quái”=&gt; Ông không chỉ là người lái đò mà còn là một nghệ sĩ tài hoa thực thụ. Cảnh vượt thác như một góc quay hùng hồn về thiên nhiên và ông là một người nghệ sĩ biểu diễn đầy tâm huyết trên “sân khấu” của riêng mình.</div><div>- Sau cuộc chiến hung hãn trên dòng sông Đà, người lái đò cung có cuộc sống dung dị như bao người lao động núi rừng nơi đây: "đêm ấy nhà ông đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam.. cá tủa ra tràn đầy đồng ruộng" =&gt; Ban ngày ông chiến đấu với thiên nhiên dữ dội để sinh tồn, đêm về ông sống cùng thiên nhiên bình yên nơi đại ngàn.</div><div>=&gt; Cuộc đời ông lái đò có thể viết lên cả bản thiên anh hùng ca giữa núi non đại ngàn. Hình ảnh người lao động hiện lên bình dị, khỏe khoắn nhưng cao cả, dũng cảm và đầy bản lĩnh trong công việc, trong cuộc sống. Họ là những người nghệ sĩ thực thụ, ngự trị thiên nhiên và làm chủ chính mình. Tác giả đã thực sự tìm được thứ vàng mười quý giá trên mảnh đất núi rừng Tây Bắc hùng vĩ.</div><div>III. Tổng kết bài soạn Người Lái Đò Sông Đà</div><div>1. Tóm tắt nội dung</div><div>Tác phẩm <strong>Người lái đò sông Đà</strong> ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên vừa hùng dũng, kỳ vĩ lại vừa nên thơ, trữ tình cùng hình ảnh con người lao động bình dị mà tài hoa nơi núi rừng Tây Bắc. Thông qua tác phẩm, <strong>Nguyễn Tuân</strong> còn thể hiện tình yêu quê hương, đất nước, yêu thiên nhiên và con người lao động cũng như một tình cảm đặc biệt dành cho vùng cao Tây Bắc.</div><div>2. Giá trị nghệ thuật</div><div>Tác giả đã khai thác triệt để, kết hợp hài hòa giữa bút pháp hiện thực và lãng mạn cùng sự sử dụng tinh tế các từ ngữ gợi hình, gợi cảm, các biện pháp so sánh, nhân hóa đầy độc đáo.&nbsp; &nbsp;</div><div>Với những chia sẻ hướng dẫn cách <strong>soạn Người lái đò sông Đà</strong> như trên, hy vọng các bạn sẽ nắm được hình tượng dòng sông Đà hùng vĩ, trữ tình và người lái đò sông Đà tài hoa, bình dị được Nguyễn Tuân khắc họa rõ nét trong tác phẩm</div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-15 15:22:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1891577728</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Khổ 8: Nếu như những khổ thơ trước nhà thơ nói về niềm vui sướng dào dạt, những nhung nhớ giận hờn thì đoạn thơ này nhà thơ lại thể hiện những băn khoăn, lo lắng. Đó cũng là trực cảm của tình yêu. Có lẽ cũng là vì Xuân Quỳnh là người phụ nữ đa cảm luôn luôn dự cảm những giông bão cuộc đời dù lòng chị vẫn tin yêu. Trong tình yêu, Xuân Quỳnh cũng gặp nhiều trắc trở, những khổ đau, cay đắng. Bởi vậy, tình yêu với chị đôi khi chỉ là khoảnh khắc:Em đâu dám nghĩ là vĩnh viễnHôm nay yêu mai có thể xa rồiTác giả sử dụng phép so sánh: lấy cái không gian để nói cái thời gian. Xuân Quỳnh qua khổ thơ trên đã phần nào cho người đọc nhận thức rõ về những dự cảm và nỗi băn khoăn của chị. Những từ “tuy dài thế - vẫn đi qua - dẫu rộng” như chứa đựng ở trong nó ít nhiều nỗi âu lo và những ngậm ngùi. Cuộc đời tuy dài nhưng tuổi trẻ của mỗi con người là hữu hạn. Cho nên không thể ngăn nổi “năm tháng vẫn đi qua”. Giống như biển khơi kia “dẫu rộng” vẫn nào ngăn được một đám mây bay về cuối chân trời. Nhạy cảm với sự chảy trôi của thời gian nên Xuân Quỳnh tiếc cho sự hữu hạn của đời người.+ Tuy thế nhà thơ vẫn tin tưởng, tin tưởng ở tấm lòng nhân hậu và tình yêu chân thành của mình sẽ vượt qua tất cả. Có thể nói Xuân Quỳnh yêu thương tha thiết, mãnh liệt nhưng cũng tỉnh táo nhận thức dự cảm những trắc trở, thử thách trong tình yêu đồng thời cũng tin tưởng vào sức mạnh tình yêu sẽ giúp người phụ nữ vượt qua thử thách đến với bến bờ hạnh phúc.Bốn câu thơ khép lại bài thơ “Sóng” là khát vọng mãnh liệt của nhà thơ Xuân Quỳnh. Đó là khao khát muốn mình “được tan ra” thành “trăm con sóng nhỏ”. Sóng chỉ thực sự là sóng khi nó hòa chung vào muôn điệu của đại dương bao la. Tình yêu của con người cũng vậy, nếu chỉ biết giữ cho riêng mình thì sẽ tàn phai theo năm tháng. Và tình yêu sẽ chỉ bất tử khi tình yêu đó hòa vào biển lớn của tình yêu nhân loại. Nhà thơ đã thể hiện một khát vọng mãnh liệt muốn làm trăm con sóng để hòa mình vào đại dương bao la, hòa mình vào biển lớn tình yêu để một đời vỗ muôn điệu yêu thương “Để ngàn năm còn vỗ”.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1891599004</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-15 15:30:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1891599004</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1891621349</link>
         <description><![CDATA[<div>Khổ 8: Suy tư về thời gian: Cụm từ " tuy dài thế"," vẫn đi qua"," dẫu rộng " như chứa đựng ở đó ít nhiều nỗi lo âu và sự ngậm ngùi của tác giả. Cuộc đời dài nhưng tuổi trẻ của con người là hữu hạn nên không ngăn nổi năm tháng vẫn đi qua. Giống như biển kia dẫu rộng cũng không ngăn nổi 1 đám mây bay về phía cuối chân trời. Nhạy cảm trước sự chảy trôi của thời gian nên XQ tiếc cho sự hữu hạn của đời người, sự mong manh của hạnh phúc.<br><br><br>- Yêu tha thiết, mãnh liệt trong tình yêu nhưng ta vẫn bắt gặp những dự cảm lo âu đầy bất trắc của thi sĩ. Dự cảm ấy phù hợp với nguồn cảm hứng thường xuất hiện trong thơ bà.<br><br>- Khổ 9: Không phải là sự lắp ghép, hòa nhập mà phải tan vào nhau ngàn năm nồng thắm, rạo rực.<br><br>Đó là tình yêu cao thượng, lớn lao, cái riêng hòa nhập vào trong cái chung và ở trong cái chung mênh mông ấy, cái riêng tồn tại vĩnh hằng.<br><br>Nhưng đó chính là sự ao ước, khát khao, nhà thơ trăn trở kiếm tìm</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-15 15:37:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1891621349</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Khổ 8+9 ( Sóng - Xuân Quỳnh )</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1891623446</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Khổ 8: </strong>Nếu như những khổ thơ trước nhà thơ nói về niềm vui sướng dào dạt, những nhung nhớ giận hờn thì đoạn thơ này nhà thơ lại thể hiện những băn khoăn, lo lắng. Đó cũng là trực cảm của tình yêu. Có lẽ cũng là vì Xuân Quỳnh là người phụ nữ đa cảm luôn luôn dự cảm những giông bão cuộc đời dù lòng chị vẫn tin yêu. Trong tình yêu, Xuân Quỳnh cũng gặp nhiều trắc trở, những khổ đau, cay đắng. Bởi vậy, tình yêu với chị đôi khi chỉ là khoảnh khắc:</div><div>Em đâu dám nghĩ là vĩnh viễn</div><div>Hôm nay yêu mai có thể xa rồi</div><div>(Nói cùng anh)</div><div><br></div><div>+ Tác giả sử dụng phép so sánh: lấy cái không gian để nói cái thời gian. Xuân Quỳnh qua khổ thơ trên đã phần nào cho người đọc nhận thức rõ về những dự cảm và nỗi băn khoăn của chị. Những từ “tuy dài thế - vẫn đi qua - dẫu rộng” như chứa đựng ở trong nó ít nhiều nỗi âu lo và những ngậm ngùi. Cuộc đời tuy dài nhưng tuổi trẻ của mỗi con người là hữu hạn. Cho nên không thể ngăn nổi “năm tháng vẫn đi qua”. Giống như biển khơi kia “dẫu rộng” vẫn nào ngăn được một đám mây bay về cuối chân trời. Nhạy cảm với sự chảy trôi của thời gian nên Xuân Quỳnh tiếc cho sự hữu hạn của đời người.</div><div>+ Tuy thế nhà thơ vẫn tin tưởng, tin tưởng ở tấm lòng nhân hậu và tình yêu chân thành của mình sẽ vượt qua tất cả. Có thể nói Xuân Quỳnh yêu thương tha thiết, mãnh liệt nhưng cũng tỉnh táo nhận thức dự cảm những trắc trở, thử thách trong tình yêu đồng thời cũng tin tưởng vào sức mạnh tình yêu sẽ giúp người phụ nữ vượt qua thử thách đến với bến bờ hạnh phúc. Cho nên, sóng sẽ đến bờ, năm tháng sẽ đi qua thời gian dài đằng đẵng và mây nhỏ bé sẽ vượt qua biển rộng để bay về xa. Một loạt hình ảnh thơ ẩn dụ được bố trí thành một hệ thống tương phản, đối lập để nói lên dự cảm tỉnh táo, đúng đắn và niềm tin mãnh liệt của nhà thơ vào sức mạnh của tình yêu.</div><div><strong>- Khổ 9:</strong> Bốn câu thơ khép lại bài thơ “Sóng” là khát vọng mãnh liệt của nhà thơ Xuân Quỳnh. Đó là khao khát muốn mình “được tan ra” thành “trăm con sóng nhỏ”. Sóng chỉ thực sự là sóng khi nó hòa chung vào muôn điệu của đại dương bao la. Tình yêu của con người cũng vậy, nếu chỉ biết giữ cho riêng mình thì sẽ tàn phai theo năm tháng. Và tình yêu sẽ chỉ bất tử khi tình yêu đó hòa vào biển lớn của tình yêu nhân loại. Nhà thơ đã thể hiện một khát vọng mãnh liệt muốn làm trăm con sóng để hòa mình vào đại dương bao la, hòa mình vào biển lớn tình yêu để một đời vỗ muôn điệu yêu thương “Để ngàn năm còn vỗ”. Phải chăng đó là khát vọng muốn bất tử hóa tình yêu của nữ sĩ Xuân Quỳnh? Vâng! Đây chính là khát vọng mãnh liệt, tha thiết của người phụ nữ với trái tim hồn hậu, chân thành, giàu trực cảm.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-15 15:38:17 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1891623446</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phân tích khổ 8,9: Sóng và khát khao tình yêu vĩnh cửu</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1891628500</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>- Khổ 8:<br></strong><br></div><div><strong>+ “</strong><strong><em>Cuộc đời tuy dài thế / Năm tháng vẫn đi qua</em></strong><strong>”: cảm giác cô đơn nhỏ bé trước cuộc đời, nỗi lo âu về sự hữu hạn của tình yêu trước thời gian vô tận.<br></strong><br></div><div><strong>+ “</strong><strong><em>Như biển kia ... bay về xa</em></strong><strong>”: cảm giác bất an trước cái dễ đổi thay của lòng người giữa “muôn vời cách trở”. Nhưng đây còn là vượt lên sự lo âu phấp phỏng đặt niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của tình yêu như mây có thể vượt qua biển rộng.</strong></div><div><strong>&nbsp;- Khổ 9:</strong></div><div><strong>+ “Làm sao” gọi sự băn khoăn, khắc khoải, ước ao được hóa thành “trăm con sóng nhỏ” để muôn đời vỗ mãi vào bờ.</strong></div><div><strong>+ Đó là khát khao của người phụ nữ được sống trong “biển lớn tình yêu” bằng tình yêu và cùng tình yêu, khát khao hòa nhập tình yêu riêng tư trong tình yêu chung rộng lớn.</strong></div><div>&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-15 15:40:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1891628500</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1891677125</link>
         <description><![CDATA[<div>Khổ 8:<br><em>Cuộc đời tuy dài thế<br>Năm tháng vẫn đi qua<br>Như biển kia dẫu rộng<br>Mây vẫn bay về xa</em></div><div>Nhà thơ không trực tiếp bày tỏ tình yêu có những chiêm nghiệm như thế nào, nhưng đằng sau những vần thơ về cái vĩnh hằng trường cửu của thiên nhiên, người ta vẫn nhận ra cái hiện thực đối lập: "cuộc đời” và “năm tháng”; “biển cả” và “mây trời”. “Cuộc đời” chỉ thời gian rất ngắn ngủi của mỗi đời người, “năm tháng” là hoán dụ cho dòng thời gian vô thủy vô chung; “biển cả” là không gian mênh mông như thế nhưng vẫn chỉ là hữu hạn, còn “mây trời” lại gợi sự phiêu du trong vũ trụ vô cùng vô tận. Khổ thơ thấm thía nỗi lo âu về sự chảy trôi của thời gian. Thời gian cứ thế trôi đi, bốn mùa luân chuyển, nó chẳng bao giờ vì ai mà dừng lại cũng chẳng đứng lại chờ ai bao giờ. Tình yêu là vô biên, là vĩnh cửu, trường tồn mãi với thời gian. Sóng biển ngàn năm nó vẫn thế, vẫn lăn mãi vào bờ chỉ có thời gian cuộc đời con người là hữu hạn. Lúc này ta có thể thấy được những lo âu của Xuân Quỳnh về sự bền vững của tình yêu. Đối với Xuân Quỳnh, dù biển kia có “rộng” lớn bao nhiêu, bao dung đến mấy như tình yêu của người thi sĩ thì áng mây là tình yêu nhỏ bé mong manh vẫn có thể “bay về xa” mãi mãi. Tâm hồn người phụ nữ khi yêu là thế, dù có đang hạnh phúc bao nhiêu, say đắm bao nhiêu vẫn mang một chút trắc trở và hoài nghi về sự bền vững của tình yêu.<br>Khổ 9 :<br><em>Làm sao được tan ra<br>Thành trăm con sóng nhỏ<br>Giữa biển lớn tình yêu<br>Để ngàn năm còn vỗ</em></div><div>Xuân Quỳnh là một người phụ nữ vô cùng hiện đại, bà mong muốn được trường tồn, vĩnh cửu với tình yêu, nhà thơ ao ước được sống trọn vẹn bất tử với tình yêu con người và tình yêu cuộc đời. Đó cũng là cách để nữ thi sĩ chống lại quy luật khắc nghiệt của cuộc đời con người. Nhà thơ muốn tìm đến tình yêu như là cứu cánh để giải quyết bi kịch giữa khát vọng lớn và cái hữu hạn nhỏ bé của cuộc đời con người. Khát vọng tình yêu là mãnh liệt nhưng cách bày tỏ khát vọng đó vô cùng giản dị. Chị không chán nản, không tuyệt vọng mà trái lại càng khát được sống hết mình trong tình yêu. Chị muốn được hóa thân thành "trăm con sóng nhỏ" để vĩnh viễn hóa tình yêu của mình, để nó sống mãi với thời gian. "Biển" của Xuân Diệu dẫu nồng nàn đam mê thì vẫn có ngày thôi dạt dào, còn "Sóng" của Xuân Quỳnh thì ngàn năm vẫn vỗ. Chữ "tan ra" chưa đủ cường độ sánh với chữ "nghiến nát" của Xuân Diệu nhưng nó thăm thẳm hơn cái thăm thẳm của hai khát vọng nhập làm một - yêu hết mình. Con sóng Xuân Quỳnh giàu nữ tính ở chỗ nó tìm hạnh phúc không phải để hưởng thụ mà là dâng hiến. Hạnh phúc được dâng hiến là vẻ đẹp thánh thiện của phụ nữ trong tình yêu.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-15 15:58:27 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1891677125</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Soạn bài “ Người lái đò sông Đà “</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1891698491</link>
         <description><![CDATA[<div>1. Tác giả</div><div>- <strong>Nguyễn Tuân</strong> (1910 - 1987) là một trong 9 tác giả tiêu biểu nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại.</div><div>- Là nhà văn tài hoa, giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc.</div><div>- Ông có sở trường về tùy bút và ký</div><div>- Tác phẩm của Nguyễn Tuân mang cá tính riêng, độc đáo, phóng khoáng, sự hiểu biết phong phú, cách dùng từ đa dạng và đầy sáng tạo trong sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt.&nbsp;</div><div>- Phong cách sáng tác của tác giả được đánh giá lại bằng một từ “ngông”. Nguyễn Tuân ngông trên sự tài ba, xuất chúng, khí chất hơn người từ ngoài đời sống thực đến đời sống văn chương.</div><div>2. Tác phẩm</div><div>a) Hoàn cảnh ra đời</div><div>- <strong>Người lái đò sông Đà</strong> là áng văn nổi bật in trong tùy bút sông Đà (1960) của Nguyễn Tuân.</div><div>- Tác phẩm là sự kết tinh từ chuyến đi của tác giả đi tới vùng cao Tây Bắc xa xôi để tìm chất vàng thử lửa của thiên nhiên Tây Bắc và đặc biệt hơn nữa là chất vàng mười đã qua thử lửa ở trong tâm hồn của con người lao động đã chiến đấu trên miền sông núi Tây Bắc hùng vĩ và đầy chất thơ.</div><div>b) Bố cục</div><div>- Phần 1: Sự hung dữ, hùng vĩ của con sông Đà</div><div>- Phần 2: Cuộc sống của con người lao động trên sông Đà và hình ảnh người lái đò sông Đà</div><div>- Phần 3: Nét đẹp trữ tình, nên thơ của sông Đà</div><div>*Lưu ý: Trong khi <strong>soạn văn Người lái đò sông Đà </strong>luôn nắm được sơ lược về tác giả, tác phẩm để làm tốt hơn phần mở bài trong các bài văn phân tích.</div><div>II. Tìm hiểu văn bản và soạn Người Lái Đò Sông Đà</div><div>1. Hình tượng con sông Đà</div><div>- Hình tượng <strong>con sông Đà</strong> được khắc họa 2 tính cách hoàn toàn trái ngược nhau: hung bạo và trữ tình.</div><div>a) Hình ảnh con sông Đà hung bạo</div><div><strong>- Diện mạo sông Đà</strong></div><div>+ “Chúng thủy giai đông tẩu. Đà giang độc bắc lưu” =&gt; Lời đề từ thứ nhất trong <strong>bài thơ Người lái đò sông Đà</strong> của tác phẩm, nhà văn Nguyễn Tuân đã nhấn mạnh thế độc đáo, nghịch ngược của Sông Đà giống như con ngựa bất kham</div><div>+ “Cảnh đá … dựng vách thành”, “lòng sông hẹp”, “có quãng con hươu, con nai còn nhảy vọt từ bờ bên này sang bờ bên kia”, “chỗ vách đá…như một cái yết hầu”, “nhìn từ dưới lên như nhìn tòa nhà cao vừa tắt phụt đèn điện”,… =&gt; Tác giả dựng lên một không gian cao vút, sâu thẳm mà lại thật nhỏ, thật hẹp. Cách dùng từ so sánh và miêu tả của tác giả vô cùng độc đáo và thân thuộc.</div><div>+ Mặt ghềnh Hát Lóong: “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió”, như “đòi nợ suýt” bất cứ ai đi qua quãng ấy,…=&gt; Sự hung bạo, dữ dội và đáng sợ của dòng sông hiện hình trên mặt ghềnh.</div><div>+ Cái hút nước: như “cái giếng bê tông”, “nước thở và kêu như cái cống cái bị sặc” =&gt; cách miêu tả sáng tạo của Nguyễn Tuân đã đem đến cái nhìn mới mẻ cho người đọc từ một vật thể bình thường thành một cơ thể sống thực sự, đang vận động vô cùng mạnh mẽ và dữ dội.&nbsp;</div><div>+ Thác nước:“lúc thì gầm réo oán trách van xin, khiêu khích,…” =&gt; độ âm vang của tiếng thác nước được nhân cách hóa đầy tinh tế và sinh động như biểu hiện những cung bậc cảm xúc, tâm trạng và tính cách của con người. &nbsp;</div><div><strong>- Tâm địa sông Đà</strong></div><div>+ Thạch trận: “Đá ở đây... mai phục hết trong lòng sông, ...quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, ... là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vỗ lấy thuyền”.</div><div>+ Thủy trận: "Đám tảng đám hòn ... chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền…”</div><div>+Ba trùng vi:" Vòng đầu ... nó mở ra năm cửa trận, có bốn cửa tử một cửa sinh" , "vòng thứ hai này tăng thêm nhiều cửa tử", "còn một trùng vây thứ ba nữa, ít cửa hơn, bên trái bên phải đều là luồng chết cả”.</div><div>=&gt; Với ngòi bút điêu luyện và tài nghệ của mình, Nguyễn Tuân không chỉ miêu tả nét kỳ vĩ, hung tợn của dòng sông Đà bằng thị giác mà còn bằng tất cả mọi giác quan có thể để thu nhận tất thảy mọi chi tiết dù là nhỏ nhất một cách tinh tế nhất. Qua bút pháp lãng mạn, tác giả càng lột tả rõ ràng hơn sự mãnh liệt, dữ dội và hùng vĩ của sông Đà, của núi rừng Tây Bắc.</div><div>b) Hình ảnh con sông Đà trữ tình</div><div>+ Hình dáng: “tuôn dài ... như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc”, vẻ đẹp bình dị như “một dải dây thừng” hay lại như "một mái tóc mun… áng tóc trữ tình",…=&gt; Vẻ đẹp dung dị của hình ảnh người thiếu nữ.nói chung và người thiếu nữ vùng cao Tây Bắc nói riêng.</div><div>+ Màu nước sông Đà: mùa xuân thì mang trong mình màu xanh ngọc bích, mùa thu lại lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa =&gt; Phải quan sát kỹ lắm và phải tinh tế lắm thì Nguyễn Tuân mới có những áng văn rất thơ, rất thật và rất sáng tạo đến vậy.</div><div>+ Dòng sông khoe vẻ gợi cảm: <strong>dòng sông Đà</strong> êm đềm, thơ mộng, “cảnh hai bờ sông giống như một bờ tiền sử” =&gt; Bên cạnh vẻ quyến rũ, nên thơ là nét hoài cổ gợi lại sự quen thuộc, gần gũi xa xưa như Đường thi, như một cố nhân, một tri âm, tri kỷ. Tác giả tìm thấy sự thân thương, thân thuộc một thời bên người bạn cố nhân nơi đất khách này.</div><div>=&gt; Bằng cách diễn đạt phong phú, sáng tạo với những câu văn giàu chất thơ, giàu nhạc điệu, cùng việc sử dụng khéo léo các biện pháp nghệ thuật so sánh, ẩn dụ trong bút pháp hiện thực cùng lãng mạn đã hiện lên nàng thiếu nữ sông Đà cuốn hút, thơ mộng giữa núi rừng.&nbsp;</div><div>=&gt; Vẻ đẹp sông Đà hay chính là vẻ đẹp thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, nên thơ như bức phông nền tuyệt đẹp làm nổi bật hình ảnh người lái đò - hình ảnh của người lao động chân chất giữa núi rừng.</div><div>*Trong khi <strong>soạn văn Người lái đò sông Đà</strong>, chúng ta luôn có những ý chốt, những ý đánh giá và khái quát lại các dẫn chứng đã nêu ra để dễ nắm bài hơn.</div><div>2. Hình tượng người lái đò</div><div>- Giới thiệu về người lái đò:</div><div>Tác giả giới thiệu <strong>người lái đò sông Đà</strong> là người lái ra hoa. Cuộc sống hằng ngày của ông là lèo lái con thuyền vật lộn với dòng sông Đà, chiến đấu với thiên nhiên để dành giật sự sống. Người lái đò hiện lên với ngoại hình độc đáo “tay lêu nghêu như cái sào, chân khuỳnh khuỳnh” - một sự ví von, miêu tả rất giản dị mà giàu tính gợi hình. Hình ảnh người lái đò sông Đà còn là hiện thân của người lao động khỏe mạnh, vạm vỡ trước thiên nhiên, núi rừng.</div><div>- Hình ảnh người lái đò qua những lần vượt thác dữ:</div><div>+ “Trên sông Đà ông xuôi ngược trên một trăm lần”, “nhớ tỉ mỉ … những luồng nước” =&gt; Cho thấy người lái đò rất từng trải và vô cùng thành thạo trong nghề, cũng như am hiểu mọi thứ trên dòng sông này.</div><div>+ “Nén đau giữ mái chèo, tỉnh táo chỉ huy bạn chèo ...”, “nắm chắc binh pháp của thần sông thần núi”, “cưỡi đúng ngay trên bờm sóng, phóng thẳng thuyền vào giữa thác ...”=&gt; Hình ảnh người lái đò đầy bản lĩnh, tài ba và mưu trí để chinh phục sự hung hãn của dòng sông. Đó còn là hiện thân của người lao động với cuộc sống vất vả, gian nan nhưng luôn đầy nghị lực và không ngừng phấn đấu, lao động và làm việc.</div><div>+ Ông ưa những khúc sông nhiều ghềnh thác, thích việc chinh phục những “con thủy quái”=&gt; Ông không chỉ là người lái đò mà còn là một nghệ sĩ tài hoa thực thụ. Cảnh vượt thác như một góc quay hùng hồn về thiên nhiên và ông là một người nghệ sĩ biểu diễn đầy tâm huyết trên “sân khấu” của riêng mình.</div><div>- Sau cuộc chiến hung hãn trên dòng sông Đà, người lái đò cung có cuộc sống dung dị như bao người lao động núi rừng nơi đây: "đêm ấy nhà ông đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam.. cá tủa ra tràn đầy đồng ruộng" =&gt; Ban ngày ông chiến đấu với thiên nhiên dữ dội để sinh tồn, đêm về ông sống cùng thiên nhiên bình yên nơi đại ngàn.</div><div>=&gt; Cuộc đời ông lái đò có thể viết lên cả bản thiên anh hùng ca giữa núi non đại ngàn. Hình ảnh người lao động hiện lên bình dị, khỏe khoắn nhưng cao cả, dũng cảm và đầy bản lĩnh trong công việc, trong cuộc sống. Họ là những người nghệ sĩ thực thụ, ngự trị thiên nhiên và làm chủ chính mình. Tác giả đã thực sự tìm được thứ vàng mười quý giá trên mảnh đất núi rừng Tây Bắc hùng vĩ.</div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-15 16:06:29 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1891698491</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1891732283</link>
         <description><![CDATA[<div>I.Tìm hiểu chung để soạn Người Lái Đò Sông Đà</div><div>1. Tác giả</div><div>- <strong>Nguyễn Tuân</strong> (1910 - 1987) là một trong 9 tác giả tiêu biểu nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại.</div><div>- Là nhà văn tài hoa, giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc.</div><div>- Ông có sở trường về tùy bút và ký</div><div>- Tác phẩm của Nguyễn Tuân mang cá tính riêng, độc đáo, phóng khoáng, sự hiểu biết phong phú, cách dùng từ đa dạng và đầy sáng tạo trong sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt.&nbsp;</div><div>- Phong cách sáng tác của tác giả được đánh giá lại bằng một từ “ngông”. Nguyễn Tuân ngông trên sự tài ba, xuất chúng, khí chất hơn người từ ngoài đời sống thực đến đời sống văn chương.<br>2. Tác phẩm</div><div>a) Hoàn cảnh ra đời</div><div>- <strong>Người lái đò sông Đà</strong> là áng văn nổi bật in trong tùy bút sông Đà (1960) của Nguyễn Tuân. Tác phẩm là sự kết tinh từ chuyến đi của tác giả đi tới vùng cao Tây Bắc xa xôi để tìm chất vàng thử lửa của thiên nhiên Tây Bắc và đặc biệt hơn nữa là chất vàng mười đã qua thử lửa ở trong tâm hồn của con người lao động đã chiến đấu trên miền sông núi Tây Bắc hùng vĩ và đầy chất thơ.</div><div><strong>2. Bố cục</strong></div><div><em>Gồm 3 phần:&nbsp;</em></div><ul><li>Phần 1. Từ đầu đến “cái gậy đánh phèn”: Vẻ hung dữ của con sông Đà</li><li>Phần 2. Tiếp theo đến “dòng nước sông Đà”: Cuộc sống của con người trên sông Đà và hình ảnh người lái đò sông Đà</li><li>Phần 3. Còn lại : Vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của sông Đà</li></ul><div><strong>II. Đọc - hiểu văn bản</strong></div><div><strong>1. Hình tượng người lái đò sông Đà</strong></div><div>a. Vẻ đẹp bình dị của người dân lao động</div><div>- Ngoại hình: Tuổi ngoài bảy mươi nhưng thân hình vạm vỡ như chất sừng mun, giọng nói vẫn khỏe, cặp mắt vẫn tinh tường.</div><div>- Nghề nghiệp: Làm nghề lái đò trên sông Đà đã nhiều năm: “Trên dòng sông Đà, ông xuôi, ông ngược hơn một trăm lần rồi chỉnh tay giữ lái độ sáu chục lần...”. Ông hiểu biết sâu rộng và rất thành thạo, thành thạo đến mức sông Đà “đối với ông lái đò ấy, như một trường thiên anh hùng ca mà ông đã thuộc đến cả cái chấm than, chấm câu và những đoạn xuống dòng. Trên dòng sông Đà, ông xuôi, ông ngược hơn một trăm lần rồi, chỉnh tay giữ lái độ sáu chục lần... Cho nên ông có thể bằng cách lấy mắt mà nhớ tỉ mỉ như đóng đanh vào lòng tất cả những luồng nước của tất cả những con thác hiểm trở.</div><div>b. Vẻ đẹp tài hoa, nghệ sĩ</div><div>Người lái đò bước vào cuộc vượt thác giống như vị chỉ huy bước vào trận đánh. Phải đặt nhân vật vào trong môi trường chiến trận mới có thể bộc lộ hết phẩm chất của người lái đò:</div><div>- Trùng vây thứ nhất: Ông cố nén vết thương, kẹp chặt cuống lái, tiếng chỉ huy vẫn ngắn gọn tỉnh táo.</div><div>- Trùng vây thứ hai: Ông đò thay đổi chiến thuật, cưỡi lên thác sông Đà, lái miết một đường chéo, rảo bơi chèo lên… sấn lên chặt đôi ra để mở đường vào cửa sinh.</div><div>- Trùng vây thứ ba: Ông đò phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa.. lượn được.</div><div>=&gt; Ông lái đò chính là “chất vàng mười đã qua thử lửa” của vùng cao Tây Bắc.</div><div><strong>2. Hình tượng con sông Đà</strong></div><div>a. Vẻ đẹp hung bạo</div><div>- Hùng vĩ của sông Đà không chỉ có thác đá mà còn có “đá bờ sông, dựng vách thành”, có “vách đá thành chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu”.</div><div>- Ở mặt ghềnh Hát Loóng: “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió” một cách hỗn độn, lúc nào cũng như “đòi nợ suýt” những người lái đò.</div><div>- Ở Tà Mường Vát: “có những cái hút nước giống như cái giếng bê tông”, chúng “thở và kêu như cửa cống cái bị sặc nước”, thuyền qua đoạn hút nước “y như ô tô sang số ấn ga cho nhanh để vút qua một quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực”.<br><br></div><div>- Thác nước sông Đà: “Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo…”.Thạch trận sông Đà: đá cũng đầy mưu mẹo: “nhăn nhúm”, “méo mó”, “”hất hàm”, “oai phong”, “bệ vệ”, có những hành động như “mai phục”, “chặn ngang”, “canh”, “đánh tan”, “tiêu diệt”, sóng: “đánh khuýp quật vu hồi”, “đánh giáp lá cà”, “đòn tỉa”... Sự biến hóa linh hoạt của trùng vi thạch trận.<br><br></div><div>=&gt; Sông Đà mang diện mạo và tâm địa của một con thủy quái, kẻ thù số một của con người.<br>b. Vẻ đẹp trữ tình<br><br></div><div>- Khi từ tàu bay nhìn xuống:<br><br></div><ul><li>“Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi mèo đốt nương xuân”.</li><li>Nước sông Đà đổi màu theo từng mùa một cách độc đáo: mùa xuân xanh ngọc bích, mùa thu đỏ.</li></ul><div>- Khi đi rừng lâu ngày bất ngờ gặp lại con sông:<br><br></div><ul><li>Niềm vui khi bắt gặp dòng sông: “như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm”, “nối lại chiêm bao đứt quãng”, “như gặp lại cố nhân”.</li><li>Sông Đà gợi cảm như một cố nhân, có vẻ đẹp như trò chơi trẻ con tinh nghịch, có vẻ đẹp Đường thi.</li></ul><div>- Khi đi thuyền trên sông phía hạ lưu:<br><br></div><ul><li>Cảnh thiên nhiên thi vị, mơn mởn: trôi qua một nương ngô “nhú lá non”, con hươu thơ ngộ, “bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử”.</li><li>Sông Đà như một “người tình nhân chưa quen biết”</li></ul><div>=&gt; Sông Đà mang vẻ đẹp lãng mạn, thơ mộng.</div><div><br><br></div><div><br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-15 16:18:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1891732283</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Chuẩn bị bài &quot; Người lái đò sông Đà&quot;</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1891763483</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>I Tiểu dân</strong></div><div><strong>1.Tác giả</strong></div><div>- <strong>Nguyễn Tuân</strong> (1910 - 1987) là một trong 9 tác giả tiêu biểu nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại.</div><div>- Là nhà văn tài hoa, giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc.</div><div>- Ông có sở trường về tùy bút và ký</div><div>- Tác phẩm của Nguyễn Tuân mang cá tính riêng, độc đáo, phóng khoáng, sự hiểu biết phong phú, cách dùng từ đa dạng và đầy sáng tạo trong sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt.&nbsp;</div><div>- Phong cách sáng tác của tác giả được đánh giá lại bằng một từ “ngông”. Nguyễn Tuân ngông trên sự tài ba, xuất chúng, khí chất hơn người từ ngoài đời sống thực đến đời sống văn chương.</div><div><strong>2. Tác phẩm</strong></div><div><strong>a) Hoàn cảnh ra đời</strong></div><div>- <strong>Người lái đò sông Đà</strong> là áng văn nổi bật in trong tùy bút sông Đà (1960) của Nguyễn Tuân.</div><div>- Tác phẩm là sự kết tinh từ chuyến đi của tác giả đi tới vùng cao Tây Bắc xa xôi để tìm chất vàng thử lửa của thiên nhiên Tây Bắc và đặc biệt hơn nữa là chất vàng mười đã qua thử lửa ở trong tâm hồn của con người lao động đã chiến đấu trên miền sông núi Tây Bắc hùng vĩ và đầy chất thơ.</div><div><strong>b) Bố cục</strong></div><div>- Phần 1: Sự hung dữ, hùng vĩ của con sông Đà</div><div>- Phần 2: Cuộc sống của con người lao động trên sông Đà và hình ảnh người lái đò sông Đà</div><div>- Phần 3: Nét đẹp trữ tình, nên thơ của sông Đà</div><div><strong>II.Đọc hiểu<br></strong><br></div><div><strong>1. Hình tượng con sông Đà<br></strong><br></div><div>- Hình tượng <strong>con sông Đà</strong> được khắc họa 2 tính cách hoàn toàn trái ngược nhau: hung bạo và trữ tình.</div><div><strong>a) Hình ảnh con sông Đà hung bạo</strong></div><div><strong>- Diện mạo sông Đà</strong></div><div>+ “Chúng thủy giai đông tẩu. Đà giang độc bắc lưu” =&gt; Lời đề từ thứ nhất trong <strong>bài thơ Người lái đò sông Đà</strong> của tác phẩm, nhà văn Nguyễn Tuân đã nhấn mạnh thế độc đáo, nghịch ngược của Sông Đà giống như con ngựa bất kham</div><div>+ “Cảnh đá … dựng vách thành”, “lòng sông hẹp”, “có quãng con hươu, con nai còn nhảy vọt từ bờ bên này sang bờ bên kia”, “chỗ vách đá…như một cái yết hầu”, “nhìn từ dưới lên như nhìn tòa nhà cao vừa tắt phụt đèn điện”,… =&gt; Tác giả dựng lên một không gian cao vút, sâu thẳm mà lại thật nhỏ, thật hẹp. Cách dùng từ so sánh và miêu tả của tác giả vô cùng độc đáo và thân thuộc.</div><div>+ Mặt ghềnh Hát Lóong: “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió”, như “đòi nợ suýt” bất cứ ai đi qua quãng ấy,…=&gt; Sự hung bạo, dữ dội và đáng sợ của dòng sông hiện hình trên mặt ghềnh.</div><div>+ Cái hút nước: như “cái giếng bê tông”, “nước thở và kêu như cái cống cái bị sặc” =&gt; cách miêu tả sáng tạo của Nguyễn Tuân đã đem đến cái nhìn mới mẻ cho người đọc từ một vật thể bình thường thành một cơ thể sống thực sự, đang vận động vô cùng mạnh mẽ và dữ dội.&nbsp;</div><div>+ Thác nước: “Lúc thì gầm réo oán trách van xin, khiêu khích,…” =&gt; độ âm vang của tiếng thác nước được nhân cách hóa đầy tinh tế và sinh động như biểu hiện những cung bậc cảm xúc, tâm trạng và tính cách của con người. &nbsp;</div><div><strong>- Tâm địa sông Đà</strong></div><div>+ Thạch trận: “Đá ở đây... mai phục hết trong lòng sông, ...quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, ... là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vỗ lấy thuyền”.</div><div>+ Thủy trận: "Đám tảng đám hòn ... chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền…”</div><div>+Ba trùng vi:" Vòng đầu ... nó mở ra năm cửa trận, có bốn cửa tử một cửa sinh" , "vòng thứ hai này tăng thêm nhiều cửa tử", "còn một trùng vây thứ ba nữa, ít cửa hơn, bên trái bên phải đều là luồng chết cả”.</div><div>=&gt; Với ngòi bút điêu luyện và tài nghệ của mình, Nguyễn Tuân không chỉ miêu tả nét kỳ vĩ, hung tợn của dòng sông Đà bằng thị giác mà còn bằng tất cả mọi giác quan có thể để thu nhận tất thảy mọi chi tiết dù là nhỏ nhất một cách tinh tế nhất. Qua bút pháp lãng mạn, tác giả càng lột tả rõ ràng hơn sự mãnh liệt, dữ dội và hùng vĩ của sông Đà, của núi rừng Tây Bắc.</div><div><strong>b) Hình ảnh con sông Đà trữ tình</strong></div><div>+ Hình dáng: “tuôn dài ... như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc”, vẻ đẹp bình dị như “một dải dây thừng” hay lại như "một mái tóc mun… áng tóc trữ tình",…=&gt; Vẻ đẹp dung dị của hình ảnh người thiếu nữ.nói chung và người thiếu nữ vùng cao Tây Bắc nói riêng.</div><div>+ Màu nước sông Đà: mùa xuân thì mang trong mình màu xanh ngọc bích, mùa thu lại lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa =&gt; Phải quan sát kỹ lắm và phải tinh tế lắm thì Nguyễn Tuân mới có những áng văn rất thơ, rất thật và rất sáng tạo đến vậy.</div><div>+ Dòng sông khoe vẻ gợi cảm: <strong>dòng sông Đà</strong> êm đềm, thơ mộng, “cảnh hai bờ sông giống như một bờ tiền sử” =&gt; Bên cạnh vẻ quyến rũ, nên thơ là nét hoài cổ gợi lại sự quen thuộc, gần gũi xa xưa như Đường thi, như một cố nhân, một tri âm, tri kỷ. Tác giả tìm thấy sự thân thương, thân thuộc một thời bên người bạn cố nhân nơi đất khách này.</div><div>=&gt; Bằng cách diễn đạt phong phú, sáng tạo với những câu văn giàu chất thơ, giàu nhạc điệu, cùng việc sử dụng khéo léo các biện pháp nghệ thuật so sánh, ẩn dụ trong bút pháp hiện thực cùng lãng mạn đã hiện lên nàng thiếu nữ sông Đà cuốn hút, thơ mộng giữa núi rừng.&nbsp;</div><div>=&gt; Vẻ đẹp sông Đà hay chính là vẻ đẹp thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, nên thơ như bức phông nền tuyệt đẹp làm nổi bật hình ảnh người lái đò - hình ảnh của người lao động chân chất giữa núi rừng.</div><div><strong>2. Hình tượng người lái đò</strong></div><div><strong>- Giới thiệu về người lái đò:</strong></div><div>Tác giả giới thiệu <strong>người lái đò sông Đà</strong> là người lái ra hoa. Cuộc sống hằng ngày của ông là lèo lái con thuyền vật lộn với dòng sông Đà, chiến đấu với thiên nhiên để dành giật sự sống. Người lái đò hiện lên với ngoại hình độc đáo “tay lêu nghêu như cái sào, chân khuỳnh khuỳnh” - một sự ví von, miêu tả rất giản dị mà giàu tính gợi hình. Hình ảnh người lái đò sông Đà còn là hiện thân của người lao động khỏe mạnh, vạm vỡ trước thiên nhiên, núi rừng.</div><div><strong>- Hình ảnh người lái đò qua những lần vượt thác dữ:</strong></div><div>+ “Trên sông Đà ông xuôi ngược trên một trăm lần”, “nhớ tỉ mỉ … những luồng nước” =&gt; Cho thấy người lái đò rất từng trải và vô cùng thành thạo trong nghề, cũng như am hiểu mọi thứ trên dòng sông này.</div><div>+ “Nén đau giữ mái chèo, tỉnh táo chỉ huy bạn chèo ...”, “nắm chắc binh pháp của thần sông thần núi”, “cưỡi đúng ngay trên bờm sóng, phóng thẳng thuyền vào giữa thác ...”=&gt; Hình ảnh người lái đò đầy bản lĩnh, tài ba và mưu trí để chinh phục sự hung hãn của dòng sông. Đó còn là hiện thân của người lao động với cuộc sống vất vả, gian nan nhưng luôn đầy nghị lực và không ngừng phấn đấu, lao động và làm việc.</div><div>+ Ông ưa những khúc sông nhiều ghềnh thác, thích việc chinh phục những “con thủy quái”=&gt; Ông không chỉ là người lái đò mà còn là một nghệ sĩ tài hoa thực thụ. Cảnh vượt thác như một góc quay hùng hồn về thiên nhiên và ông là một người nghệ sĩ biểu diễn đầy tâm huyết trên “sân khấu” của riêng mình.</div><div>- Sau cuộc chiến hung hãn trên dòng sông Đà, người lái đò cung có cuộc sống dung dị như bao người lao động núi rừng nơi đây: "đêm ấy nhà ông đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam.. cá tủa ra tràn đầy đồng ruộng" =&gt; Ban ngày ông chiến đấu với thiên nhiên dữ dội để sinh tồn, đêm về ông sống cùng thiên nhiên bình yên nơi đại ngàn.</div><div>=&gt; Cuộc đời ông lái đò có thể viết lên cả bản thiên anh hùng ca giữa núi non đại ngàn. Hình ảnh người lao động hiện lên bình dị, khỏe khoắn nhưng cao cả, dũng cảm và đầy bản lĩnh trong công việc, trong cuộc sống. Họ là những người nghệ sĩ thực thụ, ngự trị thiên nhiên và làm chủ chính mình. Tác giả đã thực sự tìm được thứ vàng mười quý giá trên mảnh đất núi rừng Tây Bắc hùng vĩ.</div><div><strong>III. Tổng kết bài soạn Người Lái Đò Sông Đà</strong></div><div><strong>1. Tóm tắt nội dung</strong></div><div>Tác phẩm <strong>Người lái đò sông Đà</strong> ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên vừa hùng dũng, kỳ vĩ lại vừa nên thơ, trữ tình cùng hình ảnh con người lao động bình dị mà tài hoa nơi núi rừng Tây Bắc. Thông qua tác phẩm, <strong>Nguyễn Tuân</strong> còn thể hiện tình yêu quê hương, đất nước, yêu thiên nhiên và con người lao động cũng như một tình cảm đặc biệt dành cho vùng cao Tây Bắc.</div><div><strong>2. Giá trị nghệ thuật</strong></div><div>Tác giả đã khai thác triệt để, kết hợp hài hòa giữa bút pháp hiện thực và lãng mạn cùng sự sử dụng tinh tế các từ ngữ gợi hình, gợi cảm, các biện pháp so sánh, nhân hóa đầy độc đáo.&nbsp; &nbsp;</div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-15 16:30:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1891763483</guid>
      </item>
      <item>
         <title>- Khổ 8: Nếu như những khổ thơ trước nhà thơ nói về niềm vui sướng dào dạt, những nhung nhớ giận hờn thì đoạn thơ này nhà thơ lại thể hiện những băn khoăn, lo lắng. Đó cũng là trực cảm của tình yêu. Có lẽ cũng là vì Xuân Quỳnh là người phụ nữ đa cảm luôn luôn dự cảm những giông bão cuộc đời dù lòng chị vẫn tin yêu. Trong tình yêu, Xuân Quỳnh cũng gặp nhiều trắc trở, những khổ đau, cay đắng. Bởi vậy, tình yêu với chị đôi khi chỉ là khoảnh khắc:Em đâu dám nghĩ là vĩnh viễnHôm nay yêu mai có thể xa rồi(Nói cùng anh)+ Tác giả sử dụng phép so sánh: lấy cái không gian để nói cái thời gian. Xuân Quỳnh qua khổ thơ trên đã phần nào cho người đọc nhận thức rõ về những dự cảm và nỗi băn khoăn của chị. Những từ “tuy dài thế - vẫn đi qua - dẫu rộng” như chứa đựng ở trong nó ít nhiều nỗi âu lo và những ngậm ngùi. Cuộc đời tuy dài nhưng tuổi trẻ của mỗi con người là hữu hạn. Cho nên không thể ngăn nổi “năm tháng vẫn đi qua”. Giống như biển khơi kia “dẫu rộng” vẫn nào ngăn được một đám mây bay về cuối chân trời. Nhạy cảm với sự chảy trôi của thời gian nên Xuân Quỳnh tiếc cho sự hữu hạn của đời người. + Tuy thế nhà thơ vẫn tin tưởng, tin tưởng ở tấm lòng nhân hậu và tình yêu chân thành của mình sẽ vượt qua tất cả. Có thể nói Xuân Quỳnh yêu thương tha thiết, mãnh liệt nhưng cũng tỉnh táo nhận thức dự cảm những trắc trở, thử thách trong tình yêu đồng thời cũng tin tưởng vào sức mạnh tình yêu sẽ giúp người phụ nữ vượt qua thử thách đến với bến bờ hạnh phúc. Cho nên, sóng sẽ đến bờ, năm tháng sẽ đi qua thời gian dài đằng đẵng và mây nhỏ bé sẽ vượt qua biển rộng để bay về xa. Một loạt hình ảnh thơ ẩn dụ được bố trí thành một hệ thống tương phản, đối lập để nói lên dự cảm tỉnh táo, đúng đắn và niềm tin mãnh liệt của nhà thơ vào sức mạnh của tình yêu.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1891863943</link>
         <description><![CDATA[<div><br>- Khổ 8: Nếu như những khổ thơ&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-15 17:07:59 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1891863943</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1892542885</link>
         <description><![CDATA[<div>Khổ 8&nbsp;<br>&nbsp;Nhịp thơ chậm, giọng thơ trùng xuống, lắng đọng, suy tư, triết lí; Thủ pháp đối lập, tương phản</div><div>—&gt; Thời gian chảy trôi, đời người ngắn ngủi, tình yêu đẹp nhưng không còn mãi.</div><div>– Khổ 9: Khao khát tình yêu vĩnh hằng. Hòa nhập tình yêu cá nhân vào tình yêu nhân loại&nbsp;<br>-&gt; Tình yêu mang tính nhân văn sâu&nbsp;<br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-15 23:34:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1892542885</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Khổ 8 : Suy tư về thời gian. </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1892590861</link>
         <description><![CDATA[<div>-Câu 1,2 xong hành đối xứng với câu 3,4 làm cho giọng thơ âm điệu thơ tha thiết, ngọt ngào.&nbsp;<br>-Cấu trúc chính -phụ được sử dụng đắc địa "tuy.... vẫn... ","dẫu... vẫn" -&gt;ý thơ được khẳng định mạnh mẽ.&nbsp;<br>-Điệp từ "vẫn" biểu lộ một niềm tin về tình yêu.&nbsp;<br>-"Năm tháng"và "mây"là ẩn dụ nói về tình yêu, một tình yêu đẹp hướng tới hạnh phúc.&nbsp;<br>*Khổ9 : Lời nguyện cầu của em về tình yêu thủy chung, bền vững.&nbsp;<br>-Hai tiếng "làm sao" gợi nên một niềm mong ước cháy bỏng tâm hồn "em".<br>-"Trăm con sóng nhỏ"rì rào vỗ, xôn xao reo "giữa biển lớn tình yêu"mang vẻ đẹp nhân văn cao quý của tình yêu.&nbsp;<br>-&gt;Đó là niềm ước mong của thiếu nữ được sống trong hạnh phúc bền vững như những con sóng vỗ mãi trên "biển lớn tình yêu"đến ngàn năm sau.&nbsp;<br>-&gt;Tóm lại:Tuy không thể kéo dài năm tháng của cuộc đời,&nbsp; khi bối rối lo âu trước cái ngắn của tình yêu, Xuân Quỳnh khao khát được tan ra được dâng hiến, được sống hết mình.&nbsp;<br>-&gt;Qua đây cho ta thấy trái tim Xuân Quỳnh là một trái tim vị tha giàu đức hy sinh bao dung của người phụ nữ trong tình yêu. </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-16 00:11:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1892590861</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Soạn bài người lái đò sông ĐàI Tiểu dẫn 1.Tác giả - Nguyễn Tuân (1910-1987) sinh ra trong một nhà nho nghèo khi Hán học đã tàn, quê gốc ở Hà Nội.- Nguyễn Tuân học hết bậc Thành chung thì bị đuổi do tham gia một cuộc bãi khóa phản đối một số giáo viên Pháp nói xấu người Việt Nam.- Sau đó một thời gian ông lại bị tù vì “xê dịch” qua biên giới không có giấy phép.- Ra tù, ông bắt đầu viết văn, làm báo.- Năm 1941, Nguyễn Tuân lại bị bắt giam một lần nữa vì giao du với những người hoạt động chính trị.- Sau Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân nhiệt tình tham gia cách mạng và trở thành cây bút tiêu biểu của nền văn học mới.2.Tác phẩm Tùy bút Sông Đà a,Hoàn cảnh ra đời:-Bài tùy bút được in trong tập Sông Đà (1960),gồm 15 tuỳ bút, là kết quả chuyến đi thực tế của tác giả năm 1958 ở vùng Tây Bắc.b,nội dung và nghệ thuật*nội dung:- Phông cảnh Tây Bắc vừa hung bạo hùng vĩ, vừa thơ mộng trữ tình.- Con người Tây Bắc dũng cảm, cần cù.*nghệ thuật:– Đậm chất tài hoa uyên bác– Tác phẩm giàu chất thông tin, thời sự. Tác giả đã huy động vốn tri thức chuyên môn của nhiều ngành văn hóa, nghệ thuật khác nhau– Lối so sánh liên tưởng độc đáo.3.Tác phẩm Người lái đò sông Đà *bố cục - Phần 1 (từ đầu đến “cái gậy đánh phèn”): Vẻ hung dữ của con sông Đà- Phần 2 (tiếp đó đến “dòng nước sông Đà”): Cuộc sống của con người trên sông Đà và hình ảnh người lái đò sông Đà- Phần 3 (còn lại): vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của sông Đà4.Đặc trưng thể loại tùy bút:- Tuỳ bút thuộc thể kí-Thể hiện tính chủ quan, chất trữ tình rất đậm. Nhân vật chính là cái tôi của nhà văn;-Ngôn ngữ giàu hình ảnh và chất thơ.II.Đọc hiểu 1.hình tượng sông Đà a,Sông Đà hung bạo,hùng vĩ(từ đầu đến cái gậy đánh phèn- Hướng chảy của sông Đà cho thấy đó là một dòng sông đầy cá tính “Chúng thủy giai đông ...”.- Bờ sông dựng vách thành: lòng sông hẹp, “bờ sông dựng vách thành”, “đúng ngọ mới có mặt trời”, chỗ “vách đá ... như một cái yết hầu”- Ở mặt ghềnh Hát Loóng: “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió” một cách hỗn độn, lúc nào cũng như “đòi nợ suýt” những người lái đò.- Ở Tà Mường Vát: “có những cái hút nước giống như cái giếng bê tông”, chúng “thở và kêu như cửa cống cái bị sặc nước”, thuyền qua đoạn hút nước “y như ô tô ...mượn cạp ngoài bờ vực”,- Trận địa thác đá được miêu tả từ xa đến gần:Xa: âm thanh thác đá “con xa lắm” mà đã nghe tiếng thác “réo gần mãi lại, réo to mãi lên”, âm thanh ấy hiện lên với nhiều trạng thái khi “oán trách”, lúc “van xin”, khi “khiêu khích”, “chế nhạo”; cách so sánh độc đáo: “rống lên như một ngàn con trâu ... cháy bùng bùng” (lấy lửa tả nước).Gần: Đá cũng đầy mưu mẹo: “nhăn nhúm”, “méo mó”, “”hất hàm”, “oai phong”, “bệ vệ”, có những hành động như “mai phục”, “chặn ngang”, “canh”, “đánh tan”, “tiêu diệt”, sóng: “đánh khuýp quật vu hồi”, “đánh giáp lá cà”, “đòn tỉa”Sự biến hóa linh hoạt của trùng vi thạch trận: có 3 vòng, vòng 1 có 5 cửa sinh, một cửa tử (tả ngạn), vòng 2 có nhiều cửa tử, 1 cửa sinh (hữu ngạn), vòng 3 có ít cửa và 1 cửa sinh (giữa), gơi hình ảnh con sông Đà có tâm địa nham hiểm, mẹo lược, biến hóa khôn lường.- Nhận xét: sông Đà mang diện mạo và tâm địa của một con thủy quái, “dòng thác hùm beo”, thứ kẻ thù số một của con ngườib.Sông Đà trữ tình thơ mộng:- Khi từ tàu bay nhìn xuống:+ Sông Đà “”tuôn dài, tuôn dài như một áng tóc trữ tình ... đốt nương xuân ”+ Sông đà đổi màu theo từng mùa một cách độc đáo: mùa xuân xanh ngọc bích, mùa thu đỏ.- Khi đi rừng lâu ngày bất ngờ gặp lại con sông:+ Niềm vui vô hạn của tác giả khi bất ngờ gặp sông Đà: “như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm”, “nối lại chiêm bao đứt quãng”, “như gặp lại cố nhân”.+ Sông Đà gợi cảm như một cố nhân, có vẻ đẹp như trò chơi trẻ con tinh nghịch, có vẻ đẹp Đường thi.- Khi đi thuyền trên sông phía hạ lưu:+ Cảnh thiên nhiên thi vị, mơn mởn: trôi qua một nương ngô “nhú lá non”, con hươu thơ ngộ, “bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử”.+ Sông Đà như một “người tình nhân chưa quen biết”- Nhận xét: Sông Đà trữ tình như một cố nhân, một tình nhân.- Như vậy: hình tượng sông đà vừa mang nét hung bạo lại vừa trữ tình thơ mộng. Qua hình tượng sông Đà đã thể hiện tình cảm của Nguyễn Tuân với thiên nhiên Tây Bắc.*màu sắc:-vẻ đẹp trữ tình của sông đà còn hiện ra qua những  màu sắc đầy biến ảo .đó là dòng xanh ngọc bích trong sáng ,quý giá và êm nhẹ của sông đà mùa xuân;việc so sánh màu xanh bích ngọc của sông đà với màu xanh cánh hến của sông Gâm,sông Lô-hình ảnh so sánh nướcc sông Đà mùa thu như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa ,lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1892612183</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-16 00:24:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1892612183</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1892612892</link>
         <description><![CDATA[<div>Soạn bài người lái đò sông Đà<br>I Tiểu dẫn&nbsp;<br>1.Tác giả&nbsp;<br><br>- Nguyễn Tuân (1910-1987) sinh ra trong một nhà nho nghèo khi Hán học đã tàn, quê gốc ở Hà Nội.<br><br>- Nguyễn Tuân học hết bậc Thành chung thì bị đuổi do tham gia một cuộc bãi khóa phản đối một số giáo viên Pháp nói xấu người Việt Nam.<br><br>- Sau đó một thời gian ông lại bị tù vì “xê dịch” qua biên giới không có giấy phép.<br><br>- Ra tù, ông bắt đầu viết văn, làm báo.<br><br>- Năm 1941, Nguyễn Tuân lại bị bắt giam một lần nữa vì giao du với những người hoạt động chính trị.<br><br>- Sau Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân nhiệt tình tham gia cách mạng và trở thành cây bút tiêu biểu của nền văn học mới.<br>2.Tác phẩm Tùy bút Sông Đà&nbsp;<br>a,Hoàn cảnh ra đời:<br>-Bài tùy bút được in trong tập Sông Đà (1960),gồm 15 tuỳ bút, là kết quả chuyến đi thực tế của tác giả năm 1958 ở vùng Tây Bắc.<br>b,nội dung và nghệ thuật<br>*nội dung:<br>- Phông cảnh Tây Bắc vừa hung bạo hùng vĩ, vừa thơ mộng trữ tình.<br>- Con người Tây Bắc dũng cảm, cần cù.<br>*nghệ thuật:<br>– Đậm chất tài hoa uyên bác<br>– Tác phẩm giàu chất thông tin, thời sự. Tác giả đã huy động vốn tri thức chuyên môn của nhiều ngành văn hóa, nghệ thuật khác nhau<br>– Lối so sánh liên tưởng độc đáo.<br>3.Tác phẩm Người lái đò sông Đà&nbsp;<br>*bố cục&nbsp;<br>- Phần 1 (từ đầu đến “cái gậy đánh phèn”): Vẻ hung dữ của con sông Đà<br><br>- Phần 2 (tiếp đó đến “dòng nước sông Đà”): Cuộc sống của con người trên sông Đà và hình ảnh người lái đò sông Đà<br><br>- Phần 3 (còn lại): vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của sông Đà<br>4.Đặc trưng thể loại tùy bút:<br>- Tuỳ bút thuộc thể kí<br>-Thể hiện tính chủ quan, chất trữ tình rất đậm. Nhân vật chính là cái tôi của nhà văn;<br>-Ngôn ngữ giàu hình ảnh và chất thơ.<br>II.Đọc hiểu&nbsp;<br>1.hình tượng sông Đà&nbsp;<br>a,Sông Đà hung bạo,hùng vĩ(từ đầu đến cái gậy đánh phèn<br><br>- Hướng chảy của sông Đà cho thấy đó là một dòng sông đầy cá tính “Chúng thủy giai đông ...”.<br><br>- Bờ sông dựng vách thành: lòng sông hẹp, “bờ sông dựng vách thành”, “đúng ngọ mới có mặt trời”, chỗ “vách đá ... như một cái yết hầu”<br><br>- Ở mặt ghềnh Hát Loóng: “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió” một cách hỗn độn, lúc nào cũng như “đòi nợ suýt” những người lái đò.<br><br>- Ở Tà Mường Vát: “có những cái hút nước giống như cái giếng bê tông”, chúng “thở và kêu như cửa cống cái bị sặc nước”, thuyền qua đoạn hút nước “y như ô tô ...mượn cạp ngoài bờ vực”,<br><br>- Trận địa thác đá được miêu tả từ xa đến gần:<br><br>Xa: âm thanh thác đá “con xa lắm” mà đã nghe tiếng thác “réo gần mãi lại, réo to mãi lên”, âm thanh ấy hiện lên với nhiều trạng thái khi “oán trách”, lúc “van xin”, khi “khiêu khích”, “chế nhạo”; cách so sánh độc đáo: “rống lên như một ngàn con trâu ... cháy bùng bùng” (lấy lửa tả nước).<br>Gần: Đá cũng đầy mưu mẹo: “nhăn nhúm”, “méo mó”, “”hất hàm”, “oai phong”, “bệ vệ”, có những hành động như “mai phục”, “chặn ngang”, “canh”, “đánh tan”, “tiêu diệt”, sóng: “đánh khuýp quật vu hồi”, “đánh giáp lá cà”, “đòn tỉa”<br>Sự biến hóa linh hoạt của trùng vi thạch trận: có 3 vòng, vòng 1 có 5 cửa sinh, một cửa tử (tả ngạn), vòng 2 có nhiều cửa tử, 1 cửa sinh (hữu ngạn), vòng 3 có ít cửa và 1 cửa sinh (giữa), gơi hình ảnh con sông Đà có tâm địa nham hiểm, mẹo lược, biến hóa khôn lường.<br>- Nhận xét: sông Đà mang diện mạo và tâm địa của một con thủy quái, “dòng thác hùm beo”, thứ kẻ thù số một của con người<br>b.Sông Đà trữ tình thơ mộng:<br>- Khi từ tàu bay nhìn xuống:<br>+ Sông Đà “”tuôn dài, tuôn dài như một áng tóc trữ tình ... đốt nương xuân ”<br>+ Sông đà đổi màu theo từng mùa một cách độc đáo: mùa xuân xanh ngọc bích, mùa thu đỏ.<br>- Khi đi rừng lâu ngày bất ngờ gặp lại con sông:<br>+ Niềm vui vô hạn của tác giả khi bất ngờ gặp sông Đà: “như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm”, “nối lại chiêm bao đứt quãng”, “như gặp lại cố nhân”.<br>+ Sông Đà gợi cảm như một cố nhân, có vẻ đẹp như trò chơi trẻ con tinh nghịch, có vẻ đẹp Đường thi.<br>- Khi đi thuyền trên sông phía hạ lưu:<br>+ Cảnh thiên nhiên thi vị, mơn mởn: trôi qua một nương ngô “nhú lá non”, con hươu thơ ngộ, “bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử”.<br>+ Sông Đà như một “người tình nhân chưa quen biết”<br>- Nhận xét: Sông Đà trữ tình như một cố nhân, một tình nhân.<br>- Như vậy: hình tượng sông đà vừa mang nét hung bạo lại vừa trữ tình thơ mộng. Qua hình tượng sông Đà đã thể hiện tình cảm của Nguyễn Tuân với thiên nhiên Tây Bắc.<br>*màu sắc:<br>-vẻ đẹp trữ tình của sông đà còn hiện ra qua những&nbsp; màu sắc đầy biến ảo .đó là dòng xanh ngọc bích trong sáng ,quý giá và êm nhẹ của sông đà mùa xuân;việc so sánh màu xanh bích ngọc của sông đà với màu xanh cánh hến của sông Gâm,sông Lô<br>-hình ảnh so sánh nướcc sông Đà mùa thu như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa ,lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-16 00:25:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1892612892</guid>
      </item>
      <item>
         <title>- Khổ 8: Nếu như những khổ thơ trước nhà thơ nói về niềm vui sướng dào dạt, những nhung nhớ giận hờn thì đoạn thơ này nhà thơ lại thể hiện những băn khoăn, lo lắng. Đó cũng là trực cảm của tình yêu. Có lẽ cũng là vì Xuân Quỳnh là người phụ nữ đa cảm luôn luôn dự cảm những giông bão cuộc đời dù lòng chị vẫn tin yêu. Trong tình yêu, Xuân Quỳnh cũng gặp nhiều trắc trở, những khổ đau, cay đắng. Bởi vậy, tình yêu với chị đôi khi chỉ là khoảnh khắc:Em đâu dám nghĩ là vĩnh viễnHôm nay yêu mai có thể xa rồi(Nói cùng anh)+ Tác giả sử dụng phép so sánh: lấy cái không gian để nói cái thời gian. Xuân Quỳnh qua khổ thơ trên đã phần nào cho người đọc nhận thức rõ về những dự cảm và nỗi băn khoăn của chị. Những từ “tuy dài thế - vẫn đi qua - dẫu rộng” như chứa đựng ở trong nó ít nhiều nỗi âu lo và những ngậm ngùi. Cuộc đời tuy dài nhưng tuổi trẻ của mỗi con người là hữu hạn. Cho nên không thể ngăn nổi “năm tháng vẫn đi qua”. Giống như biển khơi kia “dẫu rộng” vẫn nào ngăn được một đám mây bay về cuối chân trời. Nhạy cảm với sự chảy trôi của thời gian nên Xuân Quỳnh tiếc cho sự hữu hạn của đời người.+ Tuy thế nhà thơ vẫn tin tưởng, tin tưởng ở tấm lòng nhân hậu và tình yêu chân thành của mình sẽ vượt qua tất cả. Có thể nói Xuân Quỳnh yêu thương tha thiết, mãnh liệt nhưng cũng tỉnh táo nhận thức dự cảm những trắc trở, thử thách trong tình yêu đồng thời cũng tin tưởng vào sức mạnh tình yêu sẽ giúp người phụ nữ vượt qua thử thách đến với bến bờ hạnh phúc. Cho nên, sóng sẽ đến bờ, năm tháng sẽ đi qua thời gian dài đằng đẵng và mây nhỏ bé sẽ vượt qua biển rộng để bay về xa. Một loạt hình ảnh thơ ẩn dụ được bố trí thành một hệ thống tương phản, đối lập để nói lên dự cảm tỉnh táo, đúng đắn và niềm tin mãnh liệt của nhà thơ vào sức mạnh của tình yêu.- Khổ 9: Bốn câu thơ khép lại bài thơ “Sóng” là khát vọng mãnh liệt của nhà thơ Xuân Quỳnh. Đó là khao khát muốn mình “được tan ra” thành “trăm con sóng nhỏ”. Sóng chỉ thực sự là sóng khi nó hòa chung vào muôn điệu của đại dương bao la. Tình yêu của con người cũng vậy, nếu chỉ biết giữ cho riêng mình thì sẽ tàn phai theo năm tháng. Và tình yêu sẽ chỉ bất tử khi tình yêu đó hòa vào biển lớn của tình yêu nhân loại. Nhà thơ đã thể hiện một khát vọng mãnh liệt muốn làm trăm con sóng để hòa mình vào đại dương bao la, hòa mình vào biển lớn tình yêu để một đời vỗ muôn điệu yêu thương “Để ngàn năm còn vỗ”. Phải chăng đó là khát vọng muốn bất tử hóa tình yêu của nữ sĩ Xuân Quỳnh? Vâng! Đây chính là khát vọng mãnh liệt, tha thiết của người phụ nữ với trái tim hồn hậu, chân thành, giàu trực cảm.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1892613348</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-16 00:25:15 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1892613348</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1892707121</link>
         <description><![CDATA[<div>-Khổ 8: Suy tư về thời gian: Cụm từ " tuy dài thế"," vẫn đi qua"," dẫu rộng " như chứa đựng ở đó ít nhiều nỗi lo âu và sự ngậm ngùi của tác giả. Cuộc đời dài nhưng tuổi trẻ của con người là hữu hạn nên không ngăn nổi năm tháng vẫn đi qua. Giống như biển kia dẫu rộng cũng không ngăn nổi 1 đám mây bay về phía cuối chân trời. Nhạy cảm trước sự chảy trôi của thời gian nên XQ tiếc cho sự hữu hạn của đời người, sự mong manh của hạnh phúc.<br>- Yêu tha thiết, mãnh liệt trong tình yêu nhưng ta vẫn bắt gặp những dự cảm lo âu đầy bất trắc của thi sĩ. Dự cảm ấy phù hợp với nguồn cảm hứng thường xuất hiện trong thơ bà.<br>- Khổ 9: Không phải là sự lắp ghép, hòa nhập mà phải tan vào nhau ngàn năm nồng thắm, rạo rực.<br>Đó là tình yêu cao thượng, lớn lao, cái riêng hòa nhập vào trong cái chung và ở trong cái chung mênh mông ấy, cái riêng tồn tại vĩnh hằng.<br><br></div><div><br>Nhưng đó chính là sự ao ước, khát khao, nhà thơ trăn trở kiếm tìm<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-16 01:10:17 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1892707121</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>nguyenthithu18977</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1893049553</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1299061697/eaacf4cf726d2ed141effec086f2a0ad/NGH__LU_N_V__M_T_B_I_TH_.docx" />
         <pubDate>2021-11-16 03:37:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1893049553</guid>
      </item>
      <item>
         <title>KHỔ 8 :-“Cuộc đời tuy dài thế /Năm tháng vẫn đi qua”:cảm giác cô đơn nhỏ bé trước cuộc đời ,nỗi lo âu về sự hữu hạn về tình yêu trước thời gian vô tận .”Như biển kia dẫu rộng / Mây vẫn bay về xa”:cảm giác bất an trước cái dễ đổi thay của lòng người giữa “muôn vời cách trở “ . Nhưng đây còn là vượt lên sự lo âu phấp phỏng đặt niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh tình yêu như mây có thể vượt qua biển rộng.KHỔ 9: Khao khát tình yêu vĩnh hằng hòa nhập tình yêu cá nhân vào tình yêu nhân loại =&gt; Tình yêu mang tính nhân văn sâu sắc .</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1893060487</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-16 03:43:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1893060487</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1893068813</link>
         <description><![CDATA[<div>Chuẩn bị bài người lái đò sông Đà<br>I Tiểu dẫn&nbsp;<br>1.Tác giả&nbsp;<br><br>- Nguyễn Tuân (1910-1987) sinh ra trong một nhà nho nghèo khi Hán học đã tàn, quê gốc ở Hà Nội.<br><br>- Nguyễn Tuân học hết bậc Thành chung thì bị đuổi do tham gia một cuộc bãi khóa phản đối một số giáo viên Pháp nói xấu người Việt Nam.<br><br>- Sau đó một thời gian ông lại bị tù vì “xê dịch” qua biên giới không có giấy phép.<br><br>- Ra tù, ông bắt đầu viết văn, làm báo.<br><br>- Năm 1941, Nguyễn Tuân lại bị bắt giam một lần nữa vì giao du với những người hoạt động chính trị.<br><br>- Sau Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân nhiệt tình tham gia cách mạng và trở thành cây bút tiêu biểu của nền văn học mới.<br>2.Tác phẩm Tùy bút Sông Đà&nbsp;<br>a,Hoàn cảnh ra đời:<br>-Bài tùy bút được in trong tập Sông Đà (1960),gồm 15 tuỳ bút, là kết quả chuyến đi thực tế của tác giả năm 1958 ở vùng Tây Bắc.<br>b,nội dung và nghệ thuật<br>*nội dung:<br>- Phông cảnh Tây Bắc vừa hung bạo hùng vĩ, vừa thơ mộng trữ tình.<br>- Con người Tây Bắc dũng cảm, cần cù.<br>*nghệ thuật:<br>– Đậm chất tài hoa uyên bác<br>– Tác phẩm giàu chất thông tin, thời sự. Tác giả đã huy động vốn tri thức chuyên môn của nhiều ngành văn hóa, nghệ thuật khác nhau<br>– Lối so sánh liên tưởng độc đáo.<br>3.Tác phẩm Người lái đò sông Đà&nbsp;<br>*bố cục&nbsp;<br>- Phần 1 (từ đầu đến “cái gậy đánh phèn”): Vẻ hung dữ của con sông Đà<br><br>- Phần 2 (tiếp đó đến “dòng nước sông Đà”): Cuộc sống của con người trên sông Đà và hình ảnh người lái đò sông Đà<br><br>- Phần 3 (còn lại): vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của sông Đà<br>4.Đặc trưng thể loại tùy bút:<br>- Tuỳ bút thuộc thể kí<br>-Thể hiện tính chủ quan, chất trữ tình rất đậm. Nhân vật chính là cái tôi của nhà văn;<br>-Ngôn ngữ giàu hình ảnh và chất thơ.<br>II.Đọc hiểu&nbsp;<br>1.hình tượng sông Đà&nbsp;<br>a,Sông Đà hung bạo,hùng vĩ(từ đầu đến cái gậy đánh phèn<br><br>- Hướng chảy của sông Đà cho thấy đó là một dòng sông đầy cá tính “Chúng thủy giai đông ...”.<br><br>- Bờ sông dựng vách thành: lòng sông hẹp, “bờ sông dựng vách thành”, “đúng ngọ mới có mặt trời”, chỗ “vách đá ... như một cái yết hầu”<br><br>- Ở mặt ghềnh Hát Loóng: “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió” một cách hỗn độn, lúc nào cũng như “đòi nợ suýt” những người lái đò.<br><br>- Ở Tà Mường Vát: “có những cái hút nước giống như cái giếng bê tông”, chúng “thở và kêu như cửa cống cái bị sặc nước”, thuyền qua đoạn hút nước “y như ô tô ...mượn cạp ngoài bờ vực”,<br><br>- Trận địa thác đá được miêu tả từ xa đến gần:<br><br>Xa: âm thanh thác đá “con xa lắm” mà đã nghe tiếng thác “réo gần mãi lại, réo to mãi lên”, âm thanh ấy hiện lên với nhiều trạng thái khi “oán trách”, lúc “van xin”, khi “khiêu khích”, “chế nhạo”; cách so sánh độc đáo: “rống lên như một ngàn con trâu ... cháy bùng bùng” (lấy lửa tả nước).<br>Gần: Đá cũng đầy mưu mẹo: “nhăn nhúm”, “méo mó”, “”hất hàm”, “oai phong”, “bệ vệ”, có những hành động như “mai phục”, “chặn ngang”, “canh”, “đánh tan”, “tiêu diệt”, sóng: “đánh khuýp quật vu hồi”, “đánh giáp lá cà”, “đòn tỉa”<br>Sự biến hóa linh hoạt của trùng vi thạch trận: có 3 vòng, vòng 1 có 5 cửa sinh, một cửa tử (tả ngạn), vòng 2 có nhiều cửa tử, 1 cửa sinh (hữu ngạn), vòng 3 có ít cửa và 1 cửa sinh (giữa), gơi hình ảnh con sông Đà có tâm địa nham hiểm, mẹo lược, biến hóa khôn lường.<br>- Nhận xét: sông Đà mang diện mạo và tâm địa của một con thủy quái, “dòng thác hùm beo”, thứ kẻ thù số một của con người<br>b.Sông Đà trữ tình thơ mộng:<br>- Khi từ tàu bay nhìn xuống:<br>+ Sông Đà “”tuôn dài, tuôn dài như một áng tóc trữ tình ... đốt nương xuân ”<br>+ Sông đà đổi màu theo từng mùa một cách độc đáo: mùa xuân xanh ngọc bích, mùa thu đỏ.<br>- Khi đi rừng lâu ngày bất ngờ gặp lại con sông:<br>+ Niềm vui vô hạn của tác giả khi bất ngờ gặp sông Đà: “như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm”, “nối lại chiêm bao đứt quãng”, “như gặp lại cố nhân”.<br>+ Sông Đà gợi cảm như một cố nhân, có vẻ đẹp như trò chơi trẻ con tinh nghịch, có vẻ đẹp Đường thi.<br>- Khi đi thuyền trên sông phía hạ lưu:<br>+ Cảnh thiên nhiên thi vị, mơn mởn: trôi qua một nương ngô “nhú lá non”, con hươu thơ ngộ, “bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử”.<br>+ Sông Đà như một “người tình nhân chưa quen biết”<br>- Nhận xét: Sông Đà trữ tình như một cố nhân, một tình nhân.<br>- Như vậy: hình tượng sông đà vừa mang nét hung bạo lại vừa trữ tình thơ mộng. Qua hình tượng sông Đà đã thể hiện tình cảm của Nguyễn Tuân với thiên nhiên Tây Bắc.<br>*màu sắc:<br>-vẻ đẹp trữ tình của sông đà còn hiện ra qua những&nbsp; màu sắc đầy biến ảo .đó là dòng xanh ngọc bích trong sáng ,quý giá và êm nhẹ của sông đà mùa xuân;việc so sánh màu xanh bích ngọc của sông đà với màu xanh cánh hến của sông Gâm,sông Lô<br>-hình ảnh so sánh nướcc sông Đà mùa thu như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa ,lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-16 03:47:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1893068813</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>huypham10052004</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1893072291</link>
         <description><![CDATA[<div>Đời người chỉ như một cái chớp mắt của vũ trụ, ngày hôm nay còn sống, nhưng chắc gì ngày mai ta đã nhìn thấy ánh mặt trời rực rỡ? Vậy nên trong trái tim khao khát yêu đương của Xuân Quỳnh, ta vẫn thấy bộn bề những lo lắng tiếc nuối lo âu trước sự mong manh của thời gian:<br><br></div><div>“Cuộc đời tuy dài thế<br><br></div><div>Năm tháng vẫn đi qua<br><br></div><div>Như biển kia dẫu rộng<br><br></div><div>Mây vẫn bay về xa<br><br></div><div>Làm sao được tan ra<br><br></div><div>Thành trăm con sóng nhỏ<br><br></div><div>Giữa biển lớn tình yêu<br><br></div><div>Để ngàn năm còn vỗ<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<em>&nbsp; (Sóng _ Xuân Quỳnh)<br></em><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Đời người vốn dĩ ngắn ngủi lắm, nếu có thể ước lượng số thời gian ta sống được trên đời dài nhất một trăm năm, thì đó cũng chính là sự hữu hạn của kiếp người. Một cái chớp mắt của vũ trụ, thời gian sự sống đã không còn nữa. Xuân Quỳnh đã liên tưởng điều đó bằng cách nói thông qua hình ảnh “biển” và “mây” cuộc đời con người tưởng như dài thăm thẳm, nhưng con tàu thời gian vẫn vun vút lao đi không chờ đợi. Biển cả dù có mênh mông, không bến bờ, nhưng vẫn không thể nào níu giữ được bước đi của mây. Biển là hình ảnh tượng trưng cho sự hữu hạn còn mây là sự trôi chảy vô thủy vô chung. Làm sao để mây ngừng trôi? Dù biển kia vẫn mênh mông là thế. Xuân Quỳnh đã thấm thía sâu sắc một quy luật bất biến của vạn vật, của kiếp người, vì thế trong thơ bà càng thêm khắc khoải, lo âu. Và vì thế về sau, cũng chính nỗi lo âu này đã trở thành niềm ám ảnh mãi trong thơ Xuân Quỳnh.<br><br></div><div>Làm sao để tan ra<br><br></div><div>Thành trăm con sóng nhỏ<br><br></div><div>Giữa biển lớn tình yêu<br><br></div><div>Để ngàn năm còn vỗ<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Vì càng thiết tha gắn bó với cuộc đời,vì hiểu rõ và sâu quy luật bản chất cuộc đời ấy. Nên trái tim nhỏ bé càng trở nên khát khao được hiến dâng và sống trọn vẹn từng phút&nbsp; giây hơi thở của lòng mình. Đời người tuy ngắn ngủi, nhưng khát khao được sống lại là vô biên. Vậy thì phải làm sao để có thể đạt được những điều này? Khi trước, Xuân Diệu cũng đã từng trăn trở về điều ấy.<br><br></div><div>Mau lên với chứ<br><br></div><div>Em ơi tình non sắp&nbsp; già rồi<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Nếu Xuân Diệu chọn cách sống vội vàng, muốn sống cho thỏa những ước vọng của đời mình. Thì với Xuân Quỳnh, một trái tim người phụ nữ mỏng manh lại thiết tha gửi gắm tình yêu cuộc đời, đam mê nhiệt huyết cuộc sống tựa thành&nbsp; trăm con sóng nhỏ. Trăm con sóng dù ngàn đời có qua đi, nó vẫn vỗ vào bờ những nhịp đập thiết tha và tựa như vĩnh cửu. Và ta cũng gặp điều đó trong những vần thơ của nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương:<br><br></div><div>Có phải duyên nhau thì thắm lại<br><br></div><div>Đừng anh như lá bạc như vôi.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Vậy đấy, ta gặp những bồi hồi này từ ngàn đời trong trái tim người phụ nữ. Nhưng phải đến khi gặp được Xuân Quỳnh ta mới thấm thía một trăn trở suy tư của người phụ nữ. Ta càng khâm phục và ngưỡng mộ Xuân Quỳnh, một người phụ nữ luôn muốn vươn lên những tình yêu đẹp đẽ nhất và không đầu hàng trước những trắc trở cuộc đời để đạt được điều đó.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Là hai khổ thơ cuối cùng của tác phẩm Sóng, cũng là kết thúc lại một mạch nguồn tâm trạng hòa trộn giữa Sóng và em. Nhờ sử dụng những biện pháp nghệ thuật liệt kê, cách sử dụng ngôn từ tài hoa của thể thơ ngũ ngôn. Xuân Quỳnh đã làm nổi bật khát vọng được dân hiến và bất tử hóa trong tình yêu. Ta càng thêm yêu một tiếng thơ của người phụ nữ giàu lòng trắc ẩn và tha thiết này, và cảm ơn Xuân Quỳnh đã mang đến một hơi thở rất riêng trong làng văn học Việt Nam.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1447454936/a83ced4d34a0761a4245f23e2d378cf7/xuan_quynh_3.jpg" />
         <pubDate>2021-11-16 03:49:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1893072291</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>huypham10052004</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1893077986</link>
         <description><![CDATA[<div>Đời người chỉ như một cái chớp mắt của vũ trụ, ngày hôm nay còn sống, nhưng chắc gì ngày mai ta đã nhìn thấy ánh mặt trời rực rỡ? Vậy nên trong trái tim khao khát yêu đương của Xuân Quỳnh, ta vẫn thấy bộn bề những lo lắng tiếc nuối lo âu trước sự mong manh của thời gian:<br><br></div><blockquote><ul><li><mark><sub>“Cuộc đời tuy dài thế</sub></mark></li></ul></blockquote><ul><li><br></li></ul><blockquote><ul><li><mark><sub>Năm tháng vẫn đi qua</sub></mark></li></ul></blockquote><ul><li><br></li></ul><blockquote><ul><li><mark><sub>Như biển kia dẫu rộng</sub></mark></li></ul></blockquote><ul><li><br></li></ul><blockquote><ul><li><mark><sub>Mây vẫn bay về xa</sub></mark></li></ul></blockquote><ul><li><br></li></ul><blockquote><ul><li><mark><sub>Làm sao được tan ra</sub></mark></li></ul></blockquote><ul><li><br></li></ul><blockquote><ul><li><mark><sub>Thành trăm con sóng nhỏ</sub></mark></li></ul></blockquote><ul><li><br></li></ul><blockquote><ul><li><mark><sub>Giữa biển lớn tình yêu</sub></mark></li></ul></blockquote><ul><li><br></li></ul><blockquote><ul><li><mark><sub>Để ngàn năm còn vỗ</sub></mark></li></ul></blockquote><div><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<em>&nbsp;<br></em><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Đời người vốn dĩ ngắn ngủi lắm, nếu có thể ước lượng số thời gian ta sống được trên đời dài nhất một trăm năm, thì đó cũng chính là sự hữu hạn của kiếp người. Một cái chớp mắt của vũ trụ, thời gian sự sống đã không còn nữa. Xuân Quỳnh đã liên tưởng điều đó bằng cách nói thông qua hình ảnh “biển” và “mây” cuộc đời con người tưởng như dài thăm thẳm, nhưng con tàu thời gian vẫn vun vút lao đi không chờ đợi. Biển cả dù có mênh mông, không bến bờ, nhưng vẫn không thể nào níu giữ được bước đi của mây. Biển là hình ảnh tượng trưng cho sự hữu hạn còn mây là sự trôi chảy vô thủy vô chung. Làm sao để mây ngừng trôi? Dù biển kia vẫn mênh mông là thế. Xuân Quỳnh đã thấm thía sâu sắc một quy luật bất biến của vạn vật, của kiếp người, vì thế trong thơ bà càng thêm khắc khoải, lo âu. Và vì thế về sau, cũng chính nỗi lo âu này đã trở thành niềm ám ảnh mãi trong thơ Xuân Quỳnh.<br><br></div><blockquote><ul><li>Làm sao để tan ra</li></ul></blockquote><ul><li><br></li></ul><blockquote><ul><li>Thành trăm con sóng nhỏ</li></ul></blockquote><ul><li><br></li></ul><blockquote><ul><li>Giữa biển lớn tình yêu</li></ul></blockquote><ul><li><br></li></ul><blockquote><ul><li>Để ngàn năm còn vỗ</li></ul></blockquote><div><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Vì càng thiết tha gắn bó với cuộc đời,vì hiểu rõ và sâu quy luật bản chất cuộc đời ấy. Nên trái tim nhỏ bé càng trở nên khát khao được hiến dâng và sống trọn vẹn từng phút&nbsp; giây hơi thở của lòng mình. Đời người tuy ngắn ngủi, nhưng khát khao được sống lại là vô biên. Vậy thì phải làm sao để có thể đạt được những điều này? Khi trước, Xuân Diệu cũng đã từng trăn trở về điều ấy.<br><br></div><div>Mau lên với chứ<br><br></div><div>Em ơi tình non sắp&nbsp; già rồi<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Nếu Xuân Diệu chọn cách sống vội vàng, muốn sống cho thỏa những ước vọng của đời mình. Thì với Xuân Quỳnh, một trái tim người phụ nữ mỏng manh lại thiết tha gửi gắm tình yêu cuộc đời, đam mê nhiệt huyết cuộc sống tựa thành&nbsp; trăm con sóng nhỏ. Trăm con sóng dù ngàn đời có qua đi, nó vẫn vỗ vào bờ những nhịp đập thiết tha và tựa như vĩnh cửu. Và ta cũng gặp điều đó trong những vần thơ của nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương:<br><br></div><div>Có phải duyên nhau thì thắm lại<br><br></div><div>Đừng anh như lá bạc như vôi.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Vậy đấy, ta gặp những bồi hồi này từ ngàn đời trong trái tim người phụ nữ. Nhưng phải đến khi gặp được Xuân Quỳnh ta mới thấm thía một trăn trở suy tư của người phụ nữ. Ta càng khâm phục và ngưỡng mộ Xuân Quỳnh, một người phụ nữ luôn muốn vươn lên những tình yêu đẹp đẽ nhất và không đầu hàng trước những trắc trở cuộc đời để đạt được điều đó.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Là hai khổ thơ cuối cùng của tác phẩm Sóng, cũng là kết thúc lại một mạch nguồn tâm trạng hòa trộn giữa Sóng và em. Nhờ sử dụng những biện pháp nghệ thuật liệt kê, cách sử dụng ngôn từ tài hoa của thể thơ ngũ ngôn. Xuân Quỳnh đã làm nổi bật khát vọng được dân hiến và bất tử hóa trong tình yêu. Ta càng thêm yêu một tiếng thơ của người phụ nữ giàu lòng trắc ẩn và tha thiết này, và cảm ơn Xuân Quỳnh đã mang đến một hơi thở rất riêng trong làng văn học Việt Nam.<br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1447454936/e7bbddef0cd267d2941fc9fda0decbc6/xuan_quynh_3.jpg" />
         <pubDate>2021-11-16 03:52:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1893077986</guid>
      </item>
      <item>
         <title>a. Hình tượng Đất Nước từ phương diện địa lý - lãnh thổ đã được miêu tả thông qua:- Những danh lam thắng cảnh xuyên suốt chiều dài địa lý từ Bắc chí Nam trong sự gắn bó với những huyền thoại thuộc nền văn hóa, văn học dân gian.+ Núi Vọng Phu - những người vợ nhớ chồng+ Hòn Trống Mái - cặp vợ chồng yêu nhau+ Núi Bút, non Nghiên - người học trò nghèo+ Ông Đốc, ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm- Mỗi một không gian địa lý không chỉ là những danh lam thắng cảnh đẹp đẽ mà còn ẩn chứa vẻ đẹp tâm hồn của nhân dân, con người Việt Nam+ Sự thủy chung trong tình cảm vợ chồng, gia đình+ Tinh thần hiếu học+ Ý thức hướng về cội nguồn,...b. Ý nghĩa của phương diện địa lý - lãnh thổ được miêu tả trong trích đoạn &quot;Đất Nước&quot;- Góp phần làm nổi bật tư tưởng Đất Nước của Nhân Dân xuyên suốt tác phẩm.- Là sự lí giải đậm chất triết lý về việc nhân dân chính là những người tạo dựng nên vẻ đẹp của mỗi một ngọn núi, con sông,...c. Nghệ thuật miêu tả hình tượng Đất Nước từ phương diện địa lí, lãnh thổ- Thể thơ tự do, cách ngắt nhịp linh hoạt- Những câu thơ hiện đại nhưng thấm nhuần chất liệu văn hóa và văn học dân gian một cách sáng tạo.- Giọng thơ trữ tình với cảm xúc sâu lắng quyện hòa cùng chất chính luận mang tính suy tư, chiêm nghiệm.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1893078874</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-16 03:52:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1893078874</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1893079774</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Chuẩn bị bài người lái đò sông Đà<br>I Tiểu dẫn <br>1.Tác giả<br><br></strong>- Nguyễn Tuân (1910-1987) sinh ra trong một nhà nho nghèo khi Hán học đã tàn, quê gốc ở Hà Nội.<br><br></div><div>- Nguyễn Tuân học hết bậc Thành chung thì bị đuổi do tham gia một cuộc bãi khóa phản đối một số giáo viên Pháp nói xấu người Việt Nam.<br><br></div><div>- Sau đó một thời gian ông lại bị tù vì “xê dịch” qua biên giới không có giấy phép.<br><br></div><div>- Ra tù, ông bắt đầu viết văn, làm báo.<br><br></div><div>- Năm 1941, Nguyễn Tuân lại bị bắt giam một lần nữa vì giao du với những người hoạt động chính trị.<br><br></div><div>- Sau Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân nhiệt tình tham gia cách mạng và trở thành cây bút tiêu biểu của nền văn học mới.<br><strong>2.Tác phẩm Tùy bút Sông Đà <br>a,Hoàn cảnh ra đời:<br>-</strong>Bài tùy bút được in trong tập Sông Đà (1960<strong>),</strong>gồm 15 tuỳ bút, là kết quả chuyến đi thực tế của tác giả năm 1958 ở vùng Tây Bắc.<br><strong>b,nội dung và nghệ thuật</strong><br><strong>*nội dung:</strong><br>- Phông cảnh Tây Bắc vừa hung bạo hùng vĩ, vừa thơ mộng trữ tình.</div><div>- Con người Tây Bắc dũng cảm, cần cù.<br><strong>*nghệ thuật:</strong></div><div>– Đậm chất tài hoa uyên bác<br>– Tác phẩm giàu chất thông tin, thời sự. Tác giả đã huy động vốn tri thức chuyên môn của nhiều ngành văn hóa, nghệ thuật khác nhau<br>– Lối so sánh liên tưởng độc đáo.<br><strong>3.Tác phẩm Người lái đò sông Đà </strong><br><strong>*bố cục </strong><br>- Phần 1 (từ đầu đến “cái gậy đánh phèn”): Vẻ hung dữ của con sông Đà<br><br></div><div>- Phần 2 (tiếp đó đến “dòng nước sông Đà”): Cuộc sống của con người trên sông Đà và hình ảnh người lái đò sông Đà<br><br></div><div>- Phần 3 (còn lại): vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của sông Đà<br><strong>4.Đặc trưng thể loại tùy bút</strong>:<br>- Tuỳ bút thuộc thể kí</div><div>-Thể hiện tính chủ quan, chất trữ tình rất đậm. Nhân vật chính là <em>cái tôi</em> của nhà văn;</div><div>-Ngôn ngữ giàu hình ảnh và chất thơ.<br><strong>II.Đọc hiểu&nbsp;<br>1.hình tượng sông Đà&nbsp;<br>a,Sông Đà hung bạo,hùng vĩ(từ đầu đến cái gậy đánh phèn<br></strong><br></div><div>- Hướng chảy của sông Đà cho thấy đó là một dòng sông đầy cá tính “Chúng thủy giai đông ...”.<br><br></div><div>- Bờ sông dựng vách thành: lòng sông hẹp, “bờ sông dựng vách thành”, “đúng ngọ mới có mặt trời”, chỗ “vách đá ... như một cái yết hầu”<br><br></div><div>- Ở mặt ghềnh Hát Loóng: “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió” một cách hỗn độn, lúc nào cũng như “đòi nợ suýt” những người lái đò.<br><br></div><div>- Ở Tà Mường Vát: “có những cái hút nước giống như cái giếng bê tông”, chúng “thở và kêu như cửa cống cái bị sặc nước”, thuyền qua đoạn hút nước “y như ô tô ...mượn cạp ngoài bờ vực”,<br><br></div><div>- Trận địa thác đá được miêu tả từ xa đến gần:<br><br></div><ul><li>Xa: âm thanh thác đá “con xa lắm” mà đã nghe tiếng thác “réo gần mãi lại, réo to mãi lên”, âm thanh ấy hiện lên với nhiều trạng thái khi “oán trách”, lúc “van xin”, khi “khiêu khích”, “chế nhạo”; cách so sánh độc đáo: “rống lên như một ngàn con trâu ... cháy bùng bùng” (lấy lửa tả nước).</li><li>Gần: Đá cũng đầy mưu mẹo: “nhăn nhúm”, “méo mó”, “”hất hàm”, “oai phong”, “bệ vệ”, có những hành động như “mai phục”, “chặn ngang”, “canh”, “đánh tan”, “tiêu diệt”, sóng: “đánh khuýp quật vu hồi”, “đánh giáp lá cà”, “đòn tỉa”</li><li>Sự biến hóa linh hoạt của trùng vi thạch trận: có 3 vòng, vòng 1 có 5 cửa sinh, một cửa tử (tả ngạn), vòng 2 có nhiều cửa tử, 1 cửa sinh (hữu ngạn), vòng 3 có ít cửa và 1 cửa sinh (giữa), gơi hình ảnh con sông Đà có tâm địa nham hiểm, mẹo lược, biến hóa khôn lường.</li></ul><div>- Nhận xét: sông Đà mang diện mạo và tâm địa của một con thủy quái, “dòng thác hùm beo”, thứ kẻ thù số một của con người<br><strong>b.Sông Đà trữ tình thơ mộng:<br></strong>- Khi từ tàu bay nhìn xuống:</div><div>+ Sông Đà “”tuôn dài, tuôn dài như một áng tóc trữ tình ... đốt nương xuân ”</div><div>+ Sông đà đổi màu theo từng mùa một cách độc đáo: mùa xuân xanh ngọc bích, mùa thu đỏ.</div><div>- Khi đi rừng lâu ngày bất ngờ gặp lại con sông:</div><div>+ Niềm vui vô hạn của tác giả khi bất ngờ gặp sông Đà: “như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm”, “nối lại chiêm bao đứt quãng”, “như gặp lại cố nhân”.</div><div>+ Sông Đà gợi cảm như một cố nhân, có vẻ đẹp như trò chơi trẻ con tinh nghịch, có vẻ đẹp Đường thi.</div><div>- Khi đi thuyền trên sông phía hạ lưu:</div><div>+ Cảnh thiên nhiên thi vị, mơn mởn: trôi qua một nương ngô “nhú lá non”, con hươu thơ ngộ, “bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử”.</div><div>+ Sông Đà như một “người tình nhân chưa quen biết”</div><div>- Nhận xét: Sông Đà trữ tình như một cố nhân, một tình nhân.</div><div>- Như vậy: hình tượng sông đà vừa mang nét hung bạo lại vừa trữ tình thơ mộng. Qua hình tượng sông Đà đã thể hiện tình cảm của Nguyễn Tuân với thiên nhiên Tây Bắc.<br><strong>*màu sắc:<br>-</strong>vẻ đẹp trữ tình của sông đà<strong> </strong>còn hiện ra qua những&nbsp; màu sắc đầy biến ảo .đó là dòng xanh ngọc bích trong sáng ,quý giá và êm nhẹ của sông đà mùa xuân;việc so sánh màu xanh bích ngọc của sông đà với màu xanh cánh hến của sông Gâm,sông Lô<br>-hình ảnh so sánh nướcc sông Đà mùa thu như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa ,lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về <br><strong>2.Hình tượng người lái đò:<br>*hình dáng:<br></strong>người lái đò đã 70 tuổi,làm nghề đò dọc mười năm liền và đã nghỉ làm nghề đôi chụ năm .nhưng mười năm người lái đò đã in dấu ấn khá đậm sâu ở ngoại hình của ông:<strong>Tay ông lêu nghêu như cái sào ,chân ông lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh ,gò lại như kẹp lấy một cuống lái tưởng tượng ,giọng ông ào ào như tiếng nước trước mặt ghềnh sông .<br>*vẻ đẹp tư thế ,tâm hồn, tính cách .<br>-</strong>Người<strong> </strong><em>&nbsp;lái đò - một nghệ sĩ tài hoa</em></div><div>- Người&nbsp; lái đò có tính cách phóng khoáng, thích đối mặt với thử thách, mạo hiểm, gian nguy.</div><div>- Người&nbsp; nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá như một nghệ sĩ điêu luyện, cao cường.</div><div>- Cuộc băng ghềnh vượt thác ngoạn mục đã khẳng định vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ của một "tay lái ra hoa”<br><strong>*cuộc vượt thác <br></strong>* Ở trùng vi thứ nhất:<br><br></div><div>- Con sông Đà:<br><br></div><ul><li>Thạch trận với bốn cửa sinh và một cửa tử.</li><li>Nước thác reo hò làm thanh viện cho đá.</li><li>Sóng thác đã đánh miếng đòn hiểm độc nhất bóp chặt lấy hạ bộ.</li></ul><div>=&gt; Không khí trận chiến nóng bỏng gay cấn hồi hộp<br><br></div><div>- Ông lái đò:<br><br></div><ul><li>Thạch trận dàn bày vừa xong thì con thuyền vut tới.</li><li>Mặt ông lái đò méo xệch đi.</li><li>Ông đò hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng.</li></ul><div>=&gt; Con thuyền thoát khỏi nguy hiểm.<br><br></div><div>* Ở trùng vi thứ hai:<br><br></div><div>- Con sông Đà:<br><br></div><ul><li>Tăng thêm nhiều cửa tử, cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn</li><li>Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá</li></ul><div>=&gt; Con sông Đà trở nên khôn ngoan hơn.<br><br></div><div>- Ông lái đò:<br><br></div><ul><li>Nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá, ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá.</li><li>Ông đò ghì cương lái, băm chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh.</li></ul><div>=&gt; Vượt qua hết cửa tử.<br><br></div><div>* Ở trùng vi cuối cùng:<br><br></div><ul><li>Ít cửa hơn mà bên trái bên phải đều là luồng chết cả, luồng sống thì lại nằm ngay giữa bọn đá hậu vệ.</li><li>Bốn năm bọn thuỷ quân cửa ải nước bên bờ trái liên xô ra cảnh níu thuyền lôi vào tập đoàn cửa tử.</li></ul><div>=&gt; Con sông ngày càng mưu mẹo muốn dồn người lái đò vào chỗ chết.<br><br></div><div>- Ông lái đò:<br><br></div><ul><li>Cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó.</li><li>Thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vào từ động lái được lượn được.</li></ul><div>=&gt; Ông lái đò đã chiến thắng con sông hung dữ.<br><strong>*cuộc sống đời thường</strong>&nbsp;</div><h1>“Cuộc sống của người lái đò Sông Đà quả là một cuộc chiến đấu hằng ngày với thiên nhiên, một thứ thiên nhiên Tây Bắc có nhiều lúc trông nó thành ra diện mạo và tâm địa của một thứ kẻ thù số một… Còn xa lắm mới đến cái thác dưới. Nhưng đã thấy tiếng nước réo gần mãi lại réo to mãi lên. Tiếng nước thác nghe như oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo</h1>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-16 03:53:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1893079774</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1893081977</link>
         <description><![CDATA[<div>K<strong>Khổ 8: </strong>Nếu như những khổ thơ trước nhà thơ nói về niềm vui sướng dào dạt, những nhung nhớ giận hờn thì đoạn thơ này nhà thơ lại thể hiện những băn khoăn, lo lắng. Đó cũng là trực cảm của tình yêu. Có lẽ cũng là vì Xuân Quỳnh là người phụ nữ đa cảm luôn luôn dự cảm những giông bão cuộc đời dù lòng chị vẫn tin yêu. Trong tình yêu, Xuân Quỳnh cũng gặp nhiều trắc trở, những khổ đau, cay đắng. Bởi vậy, tình yêu với chị đôi khi chỉ là khoảnh khắc:</div><div>Em đâu dám nghĩ là vĩnh viễn</div><div>Hôm nay yêu mai có thể xa rồi</div><div>(Nói cùng anh)</div><div>+ Tác giả sử dụng phép so sánh: lấy cái không gian để nói cái thời gian. Xuân Quỳnh qua khổ thơ trên đã phần nào cho người đọc nhận thức rõ về những dự cảm và nỗi băn khoăn của chị. Những từ “tuy dài thế - vẫn đi qua - dẫu rộng” như chứa đựng ở trong nó ít nhiều nỗi âu lo và những ngậm ngùi. Cuộc đời tuy dài nhưng tuổi trẻ của mỗi con người là hữu hạn. Cho nên không thể ngăn nổi “năm tháng vẫn đi qua”. Giống như biển khơi kia “dẫu rộng” vẫn nào ngăn được một đám mây bay về cuối chân trời. Nhạy cảm với sự chảy trôi của thời gian nên Xuân Quỳnh tiếc cho sự hữu hạn của đời người.</div><div>+ Tuy thế nhà thơ vẫn tin tưởng, tin tưởng ở tấm lòng nhân hậu và tình yêu chân thành của mình sẽ vượt qua tất cả. Có thể nói Xuân Quỳnh yêu thương tha thiết, mãnh liệt nhưng cũng tỉnh táo nhận thức dự cảm những trắc trở, thử thách trong tình yêu đồng thời cũng tin tưởng vào sức mạnh tình yêu sẽ giúp người phụ nữ vượt qua thử thách đến với bến bờ hạnh phúc. Cho nên, sóng sẽ đến bờ, năm tháng sẽ đi qua thời gian dài đằng đẵng và mây nhỏ bé sẽ vượt qua biển rộng để bay về xa. Một loạt hình ảnh thơ ẩn dụ được bố trí thành một hệ thống tương phản, đối lập để nói lên dự cảm tỉnh táo, đúng đắn và niềm tin mãnh liệt của nhà thơ vào sức mạnh của tình yêu.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-16 03:54:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1893081977</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phân tích 2 khổ cuối bài sóng. •Luận điểm 1: Nỗi lo âu của tác giả trước sự hữu hạn của thời gian, của cuộc đời và nhất là tình yêu. +Xuân Quỳnh được nhiều độc giả yêu mến không chỉ bởi sự đa tài mà còn bởi những vần thơ chân thành, giàu tình cảm và cũng rất đằm thắm như cách mà nữ thi sĩ yêu. Bởi vậy, chỉ có sóng mới là hình ảnh phù hợp nhất để tác giả thể hiện tình yêu nồng nhiệt của những người trẻ tuổi. Hai khổ thơ cuối là tiêu biểu cho tinh thần này. Dường như mọi thứ đều trở nên hợp lý khi người ta chìm đắm vào tình yêu. Và chẳng mấy ai khi đang yêu nồng cháy lại không mơ mộng về những ngày tháng tươi đẹp, về hạnh phúc phía trước. Xuân Quỳnh có lẽ cũng không ngoại lệ. Thế nhưng, dù khi yêu là chất ngất, là dâng trọn trái tim, Xuân Quỳnh cũng đồng thời tin rằng, những người yêu nhau sẽ có được hạnh phúc nếu biết kiên nhẫn, bởi sức mạnh của mỗi người trong đó có sức mạnh tình yêu được tạo nên bởi ý chí riêng của con người. “Cuộc đời tuy dài thế Năm tháng vẫn đi qua Như biển kia dẫu rộng Mây vẫn bay về xa” •Phân tích 2 khổ cuối bài sóng ta thấy tác giả đang muốn nhấn mạnh rằng, tình yêu lãng mạn lắm và những kẻ đang yêu cũng lắm điều mơ mộng, nhưng dù mơ mộng đến đâu cũng phải nhìn vào thực tế. Con người ta khi yêu thường không còn đủ lý trí, nhưng tình yêu chỉ đẹp, chỉ có ý nghĩa khi nó gắn liền với những lý lẽ, những quy luật của cuộc đời. Những lý lẽ, quy luật ấy hẳn rằng có nhiều nỗi trái ngang, nhiều trở ngại. Điều này đòi hỏi sự chân thành và gắn bó giữa hai người để vượt qua khó khăn và vun đắp tình yêu vững bền, tình yêu mà tất cả những ai đang yêu, được yêu và muốn đều hướng tới. +Cuộc đời con người vô thường, dài ngắn cũng không biết đong đếm ra sao. Nhưng dù dài bao nhiêu, năm tháng vẫn trôi qua mà không chờ đợi ai. Và biển rộng cũng là thách thức, khó khăn trước mắt của tình yêu. Biển rộng được sử dụng đối sánh với từ dài của cuộc đời. Nhưng dài, rộng thế, nhưng mây vẫn cứ trôi, vạn vật cũng vẫn sinh tồn và cứ tin đi, tình yêu đôi ta đủ chân thành, thắm thiết rồi sẽ bền mãi với thời gian. •Luận điểm 2: Ước vọng của nhà thơ về một tình yêu bất tử vĩnh hằng. +Đứng trước biển, những cảm thấu về tình yêu trỗi dậy, và những con sóng với Xuân Quỳnh như là tình yêu.“bồi hồi trong ngực trẻ”. Bởi bồi hồi mà bà khát khao yêu, để rồi mong ước mãnh liệt: “Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu Để ngàn năm còn vỗ” Cái câu hỏi “làm sao” ấy là lời tác giả tự hỏi cho mình, cũng là hỏi cho biết bao những kẻ đang yêu. Nhưng cũng như nhiều câu hỏi khác trong tình yêu, thật khó để có một câu trả lời cụ thể. Ước muốn được “tan ra” ấy chính là biểu hiện của tình yêu to lớn không thể đong đếm được. Xuân Quỳnh ước được biến thành “trăm ngàn con sóng nhỏ” để được hòa mình vào bể đời rộng lớn, được thoát khỏi những lo ấy, những băn khoăn mà toàn tâm toàn ý tan cùng tình yêu tuổi trẻ mãnh liệt, ngọt ngào và hạnh phúc. Tình yêu chẳng ai biết trước mai sau, nhưng hôm nay khi yêu hãy yêu như chưa từng được sống. Có lẽ những người đang yêu cũng mang khát vọng như Xuân Quỳnh, là được chia sẻ, được tha thiết nói về tình yêu của mình với mọi người, để hòa vào với “biển lớn tình yêu”. Như thế, tình yêu sẽ còn tồn tại đến ngàn năm sau.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1893082499</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-16 03:54:47 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1893082499</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Từ sự lo lắng cho tình yêu, hạnh phúc, nhà thơ suy tư đến cuộc đời và năm tháng. “Cuộc đời” “tuy dài” nhưng nữ sĩ lo âu “năm tháng” “vẫn đi qua”. Qua đó tác giả nhấn mạnh cuộc đời dù có dài nhưng so với sự trôi đi của bánh xe thời gian vô tận thì cuộc đời vẫn thật nhỏ bé và trôi nhanh lắm. Nhà thơ đã rất khéo léo khi mượn hình ảnh ẩn dụ “biển” và “mây” để nói lên cảm xúc lo âu của mình. Trong thơ ca viết về tình yêu, biển là một hình ảnh quen thuộc và mang giá trị biểu cảm lớn, ta đã bắt gặp khá nhiều hình ảnh của biển như:“Chỉ có thuyền mới hiểuBiển mênh mông nhường nàoChỉ có biển mới biếtThuyền đi đâu về đâu”Đối với Xuân Quỳnh, dù biển kia có “rộng” lớn bao nhiêu, bao dung đến mấy như tình yêu của người thi sĩ thì áng mây là tình yêu nhỏ bé mong manh vẫn có thể “bay về xa” mãi mãi. Tâm hồn người phụ nữ khi yêu là thế, dù có đang hạnh phúc bao nhiêu, say đắm bao nhiêu vẫn mang một chút trắc trở và hoài nghi về sự bền vững của tình yêu. Bởi thế, những lo âu thấp thỏm thường trực trong tâm hồn nữ sĩ Xuân Quỳnh cũng là một điều dễ hiểu.Từ sự lo âu về sự bền vững trong tình yêu mong manh, nhà thơ bày tỏ niềm khát khao mãnh liệt muốn sống hết mình với tình yêu vĩnh hằng:“Làm sao được tan raThành trăm con sóng nhỏGiữa biển lớn tình yêuĐể ngàn năm còn vỗ”Hai từ “làm sao” mở đầu câu thơ vang lên như một câu hỏi tu từ cho thấy nhà thơ đang mong mỏi tìm kiếm một phép màu để có được tình yêu chân thành, hạnh phúc vô ngần. Từ những con sóng lòng trong tình yêu, nhà thơ Xuân Quỳnh khát khao “được tan ra” thành “trăm con sóng nhỏ”. Điều đó cho thấy từ những trăn trở, nữ sĩ trở nên khao khát một cách mãnh liệt và cháy bỏng vô cùng, ao ước một tình yêu trọn vẹn, tròn đầy. Đối với trái tim đang yêu của người thi sĩ, dường như một con sóng vẫn chưa đủ, một con sóng quá nhỏ bé so với “biển lớn tình yêu” mênh mông, lớn lao. Bởi thế ước muốn tan ra thành “trăm con sóng nhỏ” của nhà thơ là hi vọng, là khát vọng vô cùng chính đáng. Nhà thơ không chỉ ước muốn tan thành trăm con sóng mà còn khát khao “ngàn năm còn vỗ”. Hình ảnh “ngàn năm còn vỗ” cho thấy khát khao tột cùng được sống hết mình muôn đời mãi mãi trong tình yêu. Đọc câu thơ, người đọc hình dung ra những con sóng đang xôn xao vô đập trên biển lớn, từng con sóng cứ dồn dập nối tiếp nhau vào bờ. Đó cũng chính là nhịp tim, là tiếng sóng lòng của thi sĩ Xuân Quỳnh vẫn đang thiết tha, khao khát và đắm say được sống với tình yêu vĩnh hằng.Hai khổ thơ chỉ với tám câu thơ ngắn gọn, hình ảnh thơ đặc sắc có chọn lọc đã có sức gợi lớn đối với người đọc, người nghe. Nhịp thơ khi nhịp nhàng, lúc dồn dập tựa như tiếng sóng vỗ đập lúc nhanh, lúc chậm mang cho người đọc cảm giác như được hòa mình vào bài thơ, được sống trong những phút giây dạt dào hạnh phúc của tâm hồn một người đang yêu. Đó là một trong những đặc sắc nghệ thuật tạo nên dấu ấn riêng cho bài thơ Sóng của nhà thơ Xuân Quỳnh.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1893100031</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-16 04:04:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1893100031</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Bài tập về nhà: Mỗi bạn làm 1 bài tập như sau:  Tự ra 1 đề bài và tiến hành tìm hiểu đề và lập dàn ý cho đề bài đó (Lưu ý đề bài là nghị luận về 1 bài thơ hoạc 1 đoạn thơ)</title>
         <author>nguyenthithu18977</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1893145548</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-16 04:30:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1893145548</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đề bài : Nghị luân về bài thơ sóng của Xuân Quỳnh.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1896586773</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>1.Tìm hiểu chung <br>a)Tác giả<br></strong>-Xuân Quỳnh sinh năm 1942 mất năm 1988 là nhà thơ nữ tài năng hiếm hoi tại Việt Nam<br>-Bà sinh ra tại Hà Nội trong một gia đình công chức<br>-Bà được trao tặng nhiều giải thưởng cao quý về văn học và nghệ thuật<br>-những tác phẩm nổi tiếng của Xuân Quỳnh Như sóng tiếng gà trưa thuyền và biển<br><strong>b)Tác phẩm <br></strong>-bài thơ được sáng tác năm 1967 được in trong tập thơ hoa dọc chiến hào<br>-sóng được sáng tác trong một lần tác giả đi thực tế tại vùng biển diêm Điền<br>-bố cục bài thơ được chia làm ba phần:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; + hai khổ thơ đầu: sự liên kết giữa sóng và tình yêu<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; + bốn khổ thơ tiếp: tình yêu và nỗi nhớ tha thiết của người con gái trong tình yêu<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; + phần còn lại: khát vọng tình yêu<br>2.Dàn bài<br><strong>Mở bài</strong></div><div>- Giới thiệu tác giả: Xuân Quỳnh là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ thời kì chống Mĩ cứu nước, là thi sĩ của tình thương, lòng trắc ẩn và hồn thơ nữ tính.</div><div>- Giới thiệu bài thơ <strong><em>Sóng</em></strong>: sáng tác năm 1967, in trong tập <em>Hoa dọc chiến hào</em>, là bài thơ viết về tình yêu tiêu biểu cho hồn thơ giàu chất nữ tính của Xuân Quỳnh.<br><strong>Thân bài</strong></div><div><strong><em>1. Bản chất, quy luật của “sóng” và “em”</em></strong></div><div>- Khổ 1:</div><div>+ Sử dụng nghệ thuật tương phản: dữ dội – dịu êm, ồn ào – lặng lẽ, từ đó khái quát trạng thái đối lập của sóng, gợi liên tưởng đến tâm lí của người phụ nữ khi yêu (khi mãnh liệt khi lại dịu dàng).</div><div>+ Nghệ thuật nhân hóa: “sông không hiểu” được bản tính của sóng, nên “sóng ” muốn tìm đến không gian rộng lớn, hành trình của sóng là hành trình khám phá chính bản thân mình, khát khao vươn tới giá trị tuyệt đích trong tình yêu của người phụ nữ.</div><div>- Khổ 2:</div><div>+ “<em>Ôi con sóng ... và ngày sau vẫn thế</em>”: dù trong quá khứ hay hiện tại sóng luôn dạt dào, sôi nổi, luôn khát vọng. Đó cũng là khát vọng và bản tính của người phụ nữ muôn đời.</div><div>+ “<em>Nỗi khát vọng tình yêu ... ngực trẻ</em>”: liên hệ tình yêu của tuổi trẻ với con sóng của đại dương, khát vọng tình yêu là khát vọng đặc trưng muôn đời của tuổi trẻ.<br><strong><em>2. Những suy nghĩ trăn trở về cội nguồn tình yêu</em></strong></div><div>- Khổ 3: Điệp ngữ “em nghĩ về” và câu hỏi: “<em>Từ nơi nào sóng lên</em>” nhấn mạnh niềm khát khao nhận thức bản thân, người mình yêu và nhận thức về tình yêu muôn đời.</div><div>- Khổ 4: Xuân Quỳnh dựa vào quy luật tự nhiên để tìm khởi nguồn của sóng, của tình yêu, gợi lên sự trăn trở trước bí ẩn của tình yêu, thời điểm bắt đầu tình tình yêu.<br><strong><em>3. Nỗi nhớ, lòng thủy chung của người con gái trong tình yêu</em></strong></div><div>- Khổ 5:</div><div>+ Nghệ thuật tương phản để gợi ra những phạm vi không gian khác nhau “dưới lòng sâu”, “trên mặt nước”, phạm vi thời gian khác nhau: ‘”ngày” – “đêm”, nghệ thuật nhân hóa: “ngày đêm không ngủ được”, diễn tả nỗi nhớ dạt dào, triền miên của sóng với bờ cũng là nỗi nhớ của người phụ nữ khi yêu.</div><div>+ Người phụ nữ bày tỏ nỗi nhớ một cách trực tiếp, mạnh dạn, chân thành “Lòng em nhớ đến anh”, cách nói thậm xưng “Cả trong mơ còn thức” thể hiện nỗi nhớ ăn sâu vào tiềm thức, thường trực trong suy nghĩ.</div><div>- Khổ 6:+ Nghệ thuật tương phản “xuôi – ngược”, điệp ngữ “dẫu”, “vẫn”, “về” gợi hành trình của sóng ngoài biển lớn cũng như hành trình tình yêu của người phụ nữ giữa cuộc đời.</div><div>+ Lời thề thủy chung của người phụ nữ, niềm tin chờ đợi trong tình yêu, dù ở đâu cũng “hướng về anh một phương”, nghĩ về người mình yêu bằng cả trái tim.<br><strong><em>4. </em></strong><a href="https://doctailieu.com/phan-tich-3-kho-tho-cuoi-bai-song-xuan-quynh-h1993"><strong><em>Khát vọng tình yêu vĩnh cửu trong bài Sóng</em></strong></a></div><div>- Khổ 7: Khẳng định quy luật vĩnh cửu của thiên nhiên “<em>con nào chẳng tới bờ ... Dù muôn vời cách trở</em>”, cũng giống như “em”, dù khó khăn, thử thách vẫn luôn hướng đến “anh”.</div><div>- Khổ 8:</div><div>+ “<em>Cuộc đời tuy dài thế / Năm tháng vẫn đi qua</em>”: cảm giác cô đơn nhỏ bé trước cuộc đời, nỗi lo âu về sự hữu hạn của tình yêu trước thời gian vô tận.</div><div>+ “<em>Như biển kia ... bay về xa</em>”: cảm giác bất an trước cái dễ đổi thay của lòng người giữa “muôn vời cách trở”. Nhưng đây còn là vượt lên sự lo âu phấp phỏng đặt niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của tình yêu như mây có thể vượt qua biển rộng.</div><div>- Khổ 9:</div><div>+ “Làm sao” gọi sự băn khoăn, khắc khoải, ước ao được hóa thành “trăm con sóng nhỏ” để muôn đời vỗ mãi vào bờ.</div><div>+ Đó là khát khao của người phụ nữ được sống trong “biển lớn tình yêu” bằng tình yêu và cùng tình yêu, khát khao hòa nhập tình yêu riêng tư trong tình yêu chung rộng lớn.<br><strong>Nghệ thuật đặc sắc:</strong></div><div>- Thể thơ năm chữ tạo âm điệu sâu lắng, dạt dào, như âm điệu của những con sóng biển và cũng là sóng lòng của người phụ nữ khi yêu.</div><div>- Cách ngắt nhịp linh hoạt, phóng khoáng và cách gieo vần, phối âm độc đáo, giàu sức liên tưởng</div><div>- Giọng thơ vừa thiết tha, đằm thắm, vừa mãnh liệt sôi nổi, vừa hồn nhiên, nữ tính</div><div>- Xây dựng hình ảnh ẩn dụ - với hình tượng sóng, vừa mang nghĩa thực, vừa mang nghĩa ẩn dụ</div><div>- Bài thơ sử dụng các biện pháp nhân hóa, ẩn dụ, đối lập - tương phản,...<br><strong>Kết bài</strong></div><div>- Nêu cảm nhận về bài thơ <em>Sóng</em></div><div>- Khái quát giá trị nghệ thuật: xây dựng thành công hình tượng “sóng”ngôn từ, hình ảnh trong sáng bình dị, ...</div><div>- Nội dung: qua hình tượng sóng diễn tả tình yêu thiết tha, nồng nàn của người phụ nữ, Xuân Quỳnh đã thể hiện quan niệm tình yêu mới mẻ, hiện đại: sự chủ động của người phụ nữ trong tình yêu nhưng vẫn giữ được nét truyền thống.</div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-17 11:10:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1896586773</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1899208797</link>
         <description><![CDATA[<div>*hoàn thành bài tập về nhà:<br>Đề bài:phân tích hai khổ thơ đầu trong tác phẩm <strong>sóng</strong> của Xuân Quỳnh :<br> "Dữ dội và dịu êm<br>Ồn ào và lặng lẽ<br>Sông không hiểu nổi mình<br>Sóng tìm ra tận bể<br><br>Ôi con sóng ngày xưa<br>Và ngày sau vẫn thế<br>Nỗi khát vọng tình yêu<br>Bồi hồi trong ngực trẻ"<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; BÀI LÀM<br> Chế Lan Viên đã từng nói rằng "vạt áo của triệu nhà thơ không bọc hết vàng mà đời rơi vãi,hãy nhặt chữ của đời mà góp lên trang".Qủa đúng như chia sẻ của mình nhà thơ Xuân Quỳnh đã không ngừng nhặt lấy chữ của đời để dệt lên những câu thơ neo đậu cảm xúc mãi trong lòng người đọc thông qua tác phẩm "Sóng". Hai khổ thơ đầu bài thơ là những cảm nhận tinh tế sâu sắc của một trái tim yêu<br>&nbsp; &nbsp; Mở đầu bài thơ Xuân Quỳnh đã quan sát và miêu tả những đặc tính đối lập của sóng:</div><div>“Dữ dội và dịu êm</div><div>Ồn ào và lặng lẽ”</div><div>Tác giả đã sử dụng cặp tiểu đối “dữ dội – dịu êm”, “ồn ào – lặng lẽ” để diễn tả những trạng thái bất thường, đa dạng của sóng. Cách ngắt nhịp câu thơ 2/3 đều đặn, nhịp nhàng tạo nên âm điệu của những con sóng gối lên nhau vô hồi, vô hạn vỗ vào bờ. Cách sử dụng liên từ “và” cho thấy những trạng thái đối lập này luôn tồn tại trong một thể thống nhất không mâu thuẫn mà đan xen vận động chuyển hóa không ngừng. Những trạng thái đối nghịch của sóng cũng chính là những biến động khác thường những cảm xúc đa dạng trong trái tim người phụ nữ.Dẫu sao con sóng quen thuộc trở lên lạ lùng,khó lí giải trước những mâu thuẫn ấy sóng khao khát tự khám phá,tự nhận thức:<br>"Sông không hiểu nổi mình</div><div>Sóng tìm ra tận bể"<br>Sông và bể là những không gian,hành trình tự nhiên của những con sóng là từ suối đổ về sông,từ sông đổ về biển lớn.Đó lag hành trình từ không gian chật hẹp đến không gian rộng lớn bao la thông thường sóng được khởi sinh từ lòng sông.Nếu sông không hiểu nổi sóng thì sóng quyết tìm ra bể lớn.hành trình của những con sóng cũng giống với người phụ nữ trong tình yêu .Khi yêu người phụ nữ trân thành ,mãnh liệt ,yêu hết mình ,yêu đến tận cùng.<br>&nbsp; &nbsp; Ra đến bể con sóng thấy những dao động trái ngược kia là muôn thuở, vĩnh hằng với thời gian:</div><div>“Ôi con sóng ngày xưa</div><div>Và ngày sau vẫn thế</div><div>Nỗi khát vọng tình yêu</div><div>Bồi hồi trong ngực trẻ”</div><div>Đứng trước biển con người ta có cảm giác nghìn năm trước khi chưa có mình biển vẫn thế này, nghìn năm sau mình đã tan biến khỏi mặt đất biển vẫn thế kia, sẽ vẫn mãi còn hình ảnh những con sóng từ xa mải miết chạy vào bờ tan mình vào bờ bãi. Đối diện với sự bất diệt, trường tồn của biển nhà thơ liên tưởng tới một sự bất diệt khác. Đó là sự bất diệt của khát vọng tình yêu. Khát vọng tình yêu là khát vọng vĩnh hằng muôn thuở biết bao nhiêu thế kỉ đã qua con người đã đến và sống mà không thể thiếu tình yêu. Tình yêu khiến con người ta trẻ mãi, tái sinh như con sóng biển ào lên rồi lại tan ra hòa nhập vào biển cả.<br>&nbsp; &nbsp;Câu chuyện tình yêu sẽ không là của riêng một ai, trong trái tim chúng ta đều tồn tại một tình yêu có lúc bình lặng rồi sẽ có lúc trào dâng mạnh mẽ, luôn muốn yêu và được yêu. Hai khổ thơ đầu bài Sóng cho thấy rõ hơn về phong cách thơ của Xuân Quỳnh và nét hiện đại của thi sĩ trước tình yêu nồng nàn, sôi nổi, chủ động.<br>&nbsp; &nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-18 10:47:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1899208797</guid>
      </item>
      <item>
         <title>1. Đọc hiểu chung1. Tác giả Nguyễn Tuân là một người tri thức giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc.Nguyễn Tuân là một nhà văn uyên bác tài hoa.Nguyễn Tuân là người có cá tính mạnh mẽ và phóng khoáng, ông không thích những cái gì bằng phẳng nhợt nhạt, nhà văn luôn hứng thú với những biểu hiện mạnh mẽ phi thường của tạo vật và con người                                              2. Tác phẩm Người lái đò sông Đà là một áng văn trong tùy bút sông Đà (1960)Tác phẩm là thành quả của nhà văn trong chuyến ông đi tới Tây Bắc tìm kiếm chất vàng thử lửa của thiên nhiên Tây bắc đặc biệt là chất vàng mười đã qua thử lửa ở tâm hồn con người lao động chiến đấu trên miền sông núi Tây Bắc hùng vĩ và thơ mộng.  Tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của nhà văn sau cách mạng tháng Tám.                      </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1899394820</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-18 12:46:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1899394820</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1899406684</link>
         <description><![CDATA[<div>TÌM HIỂU ĐỀ VÀ LẬP DÀN Ý KHỔ1 BÀI THƠ VIỆT BẮC <br>“<em>Mình về mình có nhớ ta</em></div><div><em>Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.</em></div><div><em>Mình về mình có nhớ không</em></div><div><em>Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?</em></div><div><em>Tiếng ai tha thiết bên cồn</em></div><div><em>Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi</em></div><div><em>Áo chàm đưa buổi phân li</em></div><div><em>Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”<br></em><br></div><div><strong>Mở Bài</strong></div><div>- Giới thiệu khái quát về tác giả Tố Hữu và tác phẩm Việt Bắc.</div><div>- Giới thiệu nhận định cần chứng minh</div><div><strong>Thân Bài</strong></div><div>a. Giải thích ý kiến đánh giá</div><div>- Giọng thơ tâm tình ngọt ngào.</div><div>- Nghệ thuật biểu hiện giàu tính dân tộc.</div><div>- Dù viết về đề tài chính trị gắn với sự kiện lịch sử tháng 10 năm 1954 nhưng bài thơ Việt Bắc nói chung và tám câu thơ đầu tiên vẫn hiện lên chất chứa cảm xúc của sự ngọt ngào, tha thiết.</div><div>b. Phân tích, bình luận về giọng thơ tâm tình ngọt ngào, tha thiết và nghệ thuật biểu hiện giàu tính dân tộc trong 8 câu thơ đầu</div><div>- Bốn câu thơ đầu: là lời của những người ở lại - nhân dân Việt Bắc.<br>+ Điệp cấu trúc câu: "Mình về mình có nhớ ta?", "Mình về mình có nhớ không?".</div><div>+ Sự láy đi láy lại của câu hỏi tu từ đã xoáy sâu vào nỗi nhớ và sự day dứt khôn nguôi.</div><div>+ "Mười lăm năm ấy" gợi tháng ngày đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi.</div><div>+ Những hình ảnh "cây", "núi", "sông", "nguồn" quen thuộc gợi nhắc lối sống ân nghĩa thủy chung.<br>→ Giọng điệu tâm tình, thủ thỉ tràn đầy cảm xúc bâng khuâng, xao xuyến của đồng bào Việt Bắc.</div><div>- Bốn câu thơ sau là lời của người đi - các cán bộ chiến sĩ cách mạng.</div><div>+ Đại từ "ai" ngân vang cùng sự "tha thiết" đã nhấn mạnh vào tình cảm, cảm xúc đặc biệt.</div><div>+ Những tính từ miêu tả cảm xúc như "bâng khuâng", "bồn chồn".</div><div>+ Tất cả mọi cảm xúc dường như nén lại: "Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay".</div><div>- Giọng điệu tâm tình được tạo nên bởi nghệ thuật biểu hiện giàu tính dân tộc</div><div>+ Sử dụng nhuần nhuyễn, sáng tạo và linh hoạt thể thơ lục bát - thể thơ dân tộc.</div><div>+ Kết cấu bài thơ được kiến tạo theo lối đối đáp giao duyên qua cặp đại từ "mình - ta"</div><div>c. Đánh giá về giọng thơ và nghệ thuật trong thơ Tố Hữu</div><div>- Giọng thơ tâm tình ngọt ngào, tha thiết quyện hòa và gắn bó chặt chẽ với nghệ thuật biểu hiện giàu tính dân tộc.</div><div>- Góp phần thể hiện đặc trưng trữ tình - chính trị trong phong cách thơ Tố Hữu.</div><div>- Tạo nên giá trị đặc sắc của tác phẩm Việt Bắc.</div><div><strong>Kết Bài</strong></div><div>Đánh giá về tính trữ tình - chính trị trong thơ Tố Hữu<br><br></div><div><br><br><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-18 12:52:15 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1899406684</guid>
      </item>
      <item>
         <title>2. Đọc hiểu chi tiết1. Hình tượng con sông ĐàCon sông Đà được nhân hóa như con người và mang hai nét tính cách cơ bản: hung bạo và trữ tìnhHung bạo:Cảnh đá ở bờ sông: đá dựng vách thành lòng sông hẹp, có quãng con hươi con nai còn nhảy vọt từ bờ bên này sang bờ bên kia, nhìn từ dưới lên như nhìn lên cái tòa nhà cao vừa tắt phụt đèn điện.Mặt ghềnh Hát loong: dài hàng ngàn cây số, &quot;nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió cuồn cuộn, luồng gió gùn ghè suốt năm như đòi nợ suýt bất cứ ai đi qua quãng ấy.Cái hút nước giống như cái giếng bê tông, nước thở và kêu như cái cống cái bị sặc, tưởng tượng một anh quay phim táo bạo ngồi thuyền thúng mà cầm máy quay cùng chìm xuống cái xoáy ấy.Thác nước: tiếng nước gần mãi réo lên, lúc thì gầm réo oán trách van xin, khiêu khích, lúc thì nghe như đàn trâu mộng &quot;...nổ lửa&quot; → nghệ thuật lấy lửa tả nước.Đá ở lòng sông: như bày thạch trậnThơ mộng: đi hết thượng nguồn đến hạ nguồn ta bắt gặp cảnh đẹp này.Hình dáng: &quot;tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời tây Bắc... xuân&quot; → đẹp như một người thiếu nữ.Màu nước sông Đà: thay đổi theo mùa: mùa xuân màu xanh ngọc bích, mùa thu lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa, chưa bao giờ nước sông Đà màu đen cả → đẹp độc đáo.Sông Đà gợi cảm:cố nhâncon sông còn gợi lên những niềm thơCảnh hai bờ sông giống như một bờ tiền sử, cổ tích thơ mộng trữ tình và thanh vắng.-&gt; Tóm lại bằng tài năng uyên bác của mình Nguyễn tuân đã đưa người đọc đến với sông Đà cảm nhận được hai nét tính cách hung bạo và trữ tình của dòng sông. Hai nét tính cách đối lập nhưng lại thống nhất bổ sung cho nhau vì thế con sông Đà dưới trang viết của Nguyễn Tuân được xem như là một công trình nghệ thuật, một kì công của tạo hóa đã ban cho Tây Bắc.                                            2. Hình tượng người lái đòNguyễn Tuân nói về người lái đò là một tay lái ra hoaNgoại hình: có ngoại hình độc đáo &quot;tay lêu nghêu như cái sào, chân khuỳnh khuỳnh&quot;Vẻ đẹp được thể hiện qua những lần vượt thác.Ông phải vượt qua 3 vòng thạch trận với vòng một có 5 cửa thì 4 cửa tử một cửa sinh lập lờ bên tả ngạn. Ông phải dùng hai chân kẹp chặt cuống lái, mặt méo bệch đi nhưng vẫn tỉnh táo chỉ huy để con thuyền vào cửa sinh.Vòng 2: tăng thêm nhiều cửa tử, 1 cửa sinh ở hữu ngạn -&gt; ông nắm chặt bờm sóng ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước phóng vào cửa sinh. Ông phải thay đổi chiến thuật, chứng tỏ ông lái đò rất am hiểu về quân sự.Vòng 3: bên phải bên trái đều là cửa tử, cửa sinh ở giữa nhưng xung quanh lại có bọn đá hậu về. Ông lái đò cứ phóng thuyền chọc thẳng cửa giữa thuyền vút qua cổng mở cổng khép giống như một mũi tên tre xuyên qua hơi nước.-&gt; Qua đây ta thấy ông lái đò quả là một người rất dũng cảm am hiểu binh pháp của thần sông thần đá, ông dám đương đầu với những khắc nghiệt của thiên nhiên. Và nhân vật ông lái đò tiêu biểu cho nhân vật mà Nguyễn Tuân chọn cho các tác phẩm của mình sau cách mạng tháng Tám. Chúng ta không chỉ thấy nét tài hoa uyên bác với những người trí thức nữa mà ta còn thấy uyên bác tài hoa trong những con người lao động bình thường.                      3. Tổng kếtNhà văn Nguyễn Tuân đã xây dựng thành công hai hình tượng lớn trong tác phẩm. Đó là thiên nhiên Tây Bắc mà cụ thể là hình tượng con sông Đà mang vẻ đẹp hùng vĩ mà thơ mộng, và hình ảnh con người lao động Tây Bắc dũng cảm và tài hoa trong lao động. Có thể nói đấy chính là chất vàng thử lửa mà Nguyễn Tuân đã tìm thấy ở Tây Bắc.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1899424782</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-18 13:00:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1899424782</guid>
      </item>
      <item>
         <title>*Đề bài: Phân tích 2 khổ đầu bài Sóng của Xuân Quỳnh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1899446625</link>
         <description><![CDATA[<div>1. Mở bài<br><br>Giới thiệu tác phẩm: Bằng tâm hồn nhạy cảm, nữ tính Xuân Quỳnh đã mang đến hơi thở đầy mới mẻ cho thơ tình Việt Nam, đặc sắc nhất trong những sáng tác của bà có thể kể đến bài thơ “Sóng”.<br>2. Thân bài<br><br>– Thơ Xuân Quỳnh là tiếng nói đằm thắm, nữ tính của tâm hồn người phụ nữ đầy nhạy cảm, tinh tế.<br><br>– Mượn hình ảnh con sóng ngoài tự nhiên, Xuân Quỳnh đã gợi ra biểu tượng tuyệt đẹp của tình yêu, những trạng thái của sóng đã trở thành những ẩn dụ về cảm xúc, tâm trạng và những khát khao của người con gái trong tình yêu.<br><br>– Trong hai khổ thơ đầu, tác giả Xuân Quỳnh không chỉ thể hiện được những trạng thái đối lập của cảm xúc trong tình yêu mà còn là những khát khao vươn tới những điều vĩ đại, cao cả.<br><br>– Nữ sĩ sử dụng liên từ “và” để thể hiện quan hệ cộng hưởng, nối tiếp của những trạng thái đối lập trong tình yêu để tạo nên chỉnh thể thống nhất về cảm xúc.<br><br>– Khi yêu, người phụ nữ không chỉ có những giây phút nồng nhiệt, sôi nổi mà còn có những lúc bình lặng, lắng sâu.<br><br>– Trong tình yêu, trái tim của chủ thể trữ tình thường có xu hướng tìm đến thế giới rộng lớn, nơi tình yêu có thể bộc lộ trọn vẹn những nồng nhiệt cũng như lắng sâu mà không chịu bó hẹp trong phạm vi nhỏ hẹp, tù túng.<br><br>– “Hiểu nổi mình” là khát vọng muôn đời của con người, để hiểu được mình thì cần đặt bản thân trong phạm vi rộng lớn của cuộc đời<br><br>– Tác giả khẳng định sự tồn tại bất biến của tình yêu trong cuộc đời<br><br>– Tác giả đã khái quát về quy luật của tình cảm, tình yêu là thứ tình cảm thiêng liêng, cháy bỏng, là nỗi khát vọng muôn đời trong trái tim những con người trẻ tuổi, trẻ lòng.<br><br>3. Kết bài<br><br>Bằng hình tượng sóng đầy đặc sắc, Xuân Quỳnh đã mang đến hơi thở đầy mới mẻ cho thơ tình Việt Nam, tình cảm nhẹ nhàng đầy nữ tính trong sóng cũng như bông hoa dọc chiến hào có thể làm dịu đi cái khốc liệt của chiến tranh, làm đắm say độc giả bao thế hệ.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-18 13:10:48 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1899446625</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1899516972</link>
         <description><![CDATA[<div>Đề bài lập dàn ý phân tích khổ 3 bài tây tiến <strong><br>Dàn ý khổ 3 bài Tây Tiến<br></strong><br></div><div><strong>I. Mở bài<br></strong><br></div><div>- Trình bày một số nét tiêu biểu về nhà thơ Quang Dũng và đặc trưng thơ ca của ông (vừa hồn nhiên vừa tinh tế, mang vẻ đẹp hào hoa, phóng khoáng, đậm chất lãng mạn).<br><br></div><div>- Nêu một số nét khái quát về bài thơ Tây Tiến: hoàn cảnh ra đời, giá trị nội dung và nghệ thuật nổi bật của bài thơ.<br><br></div><div>- Dẫn dắt khổ 3 và giới thiệu nội dung của khổ 3: Chân dung người lính Tây Tiến hào hùng mà vẫn lãng mạn hào hoa, sự hy sinh mất mát.<br><br></div><div><strong>II. Thân bài<br></strong><br></div><div><strong>1. Hoàn cảnh sáng tác<br></strong><br></div><div>Với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt – Lào và đánh tiêu hao lực lượng quân đội Pháp ở Thượng Lào và miền Tây Bắc của Tổ quốc. Địa bàn hoạt động của đơn vị Tây Tiến chủ yếu là vùng rừng núi hiểm trở. Đó cũng là nơi sinh sống của đồng bào các dân tộc Mường, Thái với những nét văn hoá đặc sắc. Lính Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, sinh viên. Họ sinh hoạt và chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn, gian khổ nhưng vẫn rất lạc quan và dũng cảm.<br><br></div><div>- Quang Dũng là một người lính trong đoàn quân Tây Tiến. Cuối năm 1948, ông chuyển sang đơn vị khác. Một năm sau ngày chia tay đoàn quân Tây Tiến, nhớ về đơn vị cũ ông viết bài thơ Tây Tiến tại làng Phù Lưu Chanh (một làng thuộc tỉnh Hà Đông cũ, nay là Hà Nội). Bài thơ được in trong tập “Mây đầu ô”(1986).<br><br></div><div><strong>2. Phân tích khổ 3 bài thơ<br><br></strong>Sau nỗi nhớ về đoàn quân Tây Tiến, cũng như vẻ đẹp thiên nhiên con người vùng Tây Bắc, Quang Dũng đã khắc họa chân dung người lính Tây Tiến:<br><br></div><div>- Người lính Tây Tiến với những khó khăn, gian khổ:<br><br></div><ul><li>“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc”: hóa chất bom đạn của kẻ thù đã làm cho mái tóc người lính không còn đẹp nữa, nhưng cũng có thể là người lính chủ động cắt tóc để thuận tiện cho sinh hoạt.</li><li>“Quân xanh màu lá dữ oai hùm”: màu xanh của lớp áo ngụy trang lẫn với màu xanh của lá cây, nhưng đó cũng được hiểu là khuôn mặt xanh xao của người lính khi bị sốt rét rừng.</li></ul><div>=&gt; Sự khó khăn, gian khổ của người lính Tây Tiến trong hoàn cảnh chiến tranh. - Mạnh mẽ là thế, nhưng cũng có đôi lúc người lính cũng đầy thơ mộng<br><br></div><ul><li>“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới”: đôi mắt đang theo dõi kẻ thù với sự căm giận và quyết tâm</li><li>“Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”. nhớ đến những cô gái Hà Nội với vẻ đẹp thướt tha thanh lịch.</li></ul><div>- Sự mất mát hy sinh của người lính:<br><br></div><ul><li>“Rải rác biên cương mồ viễn xứ”: đó không phải là một cái chết mà rất nhiều cái chết.</li><li>“Áo bào thay chiếu anh về đất”: hình ảnh “áo bào” chính là chiếc áo lính các anh đang mặc, “về đất” cách nói giảm nói tránh gợi sự hy sinh của người lính.</li><li>Hình ảnh cuối cùng “sông Mã gầm lên khúc độc hành” là sự thành kính đưa tiễn các anh.</li></ul><div><strong>3. Nghệ thuật<br></strong><br></div><div>- Bút pháp tượng trưng, ước lệ.<br><br></div><div>- Sử dụng nhiều biện pháp tu từ: nói giảm nói tránh, ẩn dụ…<br><br></div><div><strong>III. Kết bài<br></strong><br></div><ul><li>Khái quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ Tây Tiến.</li><li>Cảm nhận chung về khổ 3 của bài thơ Tây Tiến.</li></ul><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-18 13:38:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1899516972</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dàn ý về khổ 2 bài “ Tây Tiến “</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1899638155</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Mở bài:<br></strong><br></div><div>- Giới thiệu đôi nét về tác giả Quang Dũng và tác phẩm Tây Tiến</div><div>- Khổ 2 Tây Tiến thể hiện một thế giới lãng mạn và trữ tình ở vùng Tây Bắc với những kỉ niệm đẹp.</div><div>- Trích thơ:</div><div><em>"Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa</em><br><em>......</em><br><em>Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa"</em></div><div><strong>Thân bài:</strong></div><div>* Tổng</div><div>- Sơ lược về đoàn quân Tây Tiến</div><div>- Đôi nét về tác phẩm Tây Tiến</div><div>* Phân tích</div><div>- Hai câu thơ đầu:</div><div>+ "Doanh trại": nơi sống và làm việc của bộ đội, khô khan, nghiêm khắc</div><div>+ Động từ "bừng": ánh sáng mạnh mẽ, rực rỡ</div><div>+ "Hội đuốc hoa": mang màu sắc tình yêu (từ chữ Hán có nghĩa là hoa chúc) vừa duyên dáng, vừa rạng rỡ</div><div>+ "Kìa em": Ngỡ ngàng, kinh ngạc, trìu mến</div><div>+ "Xiêm áo": Trang phục đẹp đẽ, xinh xắn</div><div>- Hai câu thơ sau:</div><div>+ "Khèn": nhạc cụ mang bản sắc riêng của Tây Bắc</div><div>+ "Man điệu": điệu nhạc, điệu múa mang âm hưởng Tây Bắc</div><div>+ "E ấp": sự ngại ngùng, thẹn thùng của các thiếu nữ dân tộc</div><div>+ "Xây hồn thơ": vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình của tâm hồn người chiến sĩ</div><div>- Bốn câu thơ tiếp theo</div><div>+ Chiều sương": hình ảnh lãng mạn, nhẹ nhàng, thơ mộng khác với sự hùng vĩ dữ dội ở đầu bài</div><div>+ "Ấy": đại từ khiến hình ảnh buổi chiều sương trở nên đặc biệt</div><div>+ "Hồn lau": Tả dáng lau qua màn sương, đồng thời đem lại linh hồn cho cây cỏ</div><div>+ "Nẻo bến bờ": Nẻo- hướng đi, lối đi. Đi đâu cũng thấy mênh mông, bao la</div><div>+ Điệp ngữ: "Có thấy-có nhớ" thể hiện nỗi lưu luyến, nhớ nhung da diết</div><div>+ "Dáng người trên độc mộc": Dáng vẻ uyển chuyển, thướt tha với sự làm duyên của cánh hoa đong đưa theo dòng nước lũ.</div><div>+ "Dòng nước lũ - hoa đong đưa": Hình ảnh tưởng chừng đối lập mà hài hòa nên thơ</div><div>→ Bút pháp gợi mà không tả</div><div>* Hợp</div><div>- Ngòi bút tài hoa,tinh tế nhưng không kém phần lãng mạn, trữ tình của Quang Dũng</div><div>- Tình cảm của tác giả dành cho thiên nhiên và con người Tây Bắc cùng với các kỉ niệm đẹp.</div><div><strong>&nbsp;Kết bài:</strong></div><div>- Suy nghĩ, tình cảm của em về tác giả và tác phẩm Tây Tiến .</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-18 14:21:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1899638155</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1899663939</link>
         <description><![CDATA[<blockquote><em><sub><sup>Phân tích 10 câu thơ: bức tranh thiên nhiên đẹp thơ mộng, là bộ tứ bình về thiên&nbsp; nhiên ở việt bắc.</sup></sub></em><em><br></em><em><sub><sup>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;“Ta về mình có nhớ ta</sup></sub></em><em><br></em><em><sub><sup>Ta về ta nhớ những hoa cùng người</sup></sub></em><em><br></em><em><sub><sup>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi</sup></sub></em><em><br></em><em><sub><sup>Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lung</sup></sub></em><em><br></em><em><sub><sup>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Ngày xuân mơ nở trắng rừng</sup></sub></em><em><br></em><em><sub><sup>Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang</sup></sub></em><em><br></em><em><sub><sup>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Ve kêu rừng phách đổ vàng</sup></sub></em><em><br></em><em><sub><sup>Nhớ cô em gái hái măng một mình</sup></sub></em><em><br></em><em><sub><sup>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Rừng thu trăng rọi hòa bình</sup></sub></em><em><br></em><em><sub><sup>Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung."</sup></sub></em><sub><sup>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Bài làm<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; Có 1 nhà thơ đã từng tâm sự "tôi phải lòng đất nước và nhân dân của mình, đã viết về đất nước, về nhân dân của mình như nói với người đàn bà mình yêu". Có 1 nhà thơ cũng đã từng khẳng định " thơ là tiếng nói đồng ý, đồng chí, đồng tình và gắn cả cuộc đời mình với cuộc đời cách mạng". Nhà thơ đó không ai khác ngoài Tố Hữu, trong sự nghiệp sáng tác của mình Tố Hữu đã để lại cho nền văn đàn Việt Nam rất nhiều những áng thơ hay, 1 trong số đó phải kể đến bài thơ Việt Bắc. Bài thơ được coi là khúc tình ca chính trị, được đánh giá là 1 trong số những tác phẩm xuất sắc nhất của đời thơ Tố Hữu. Và để lại ấn tượng với độc giả là 10 câu thơ nói về bức tranh thiên nhiên-bộ tứ bình về thiên nhiên ở Việt Bắc.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 2 câu thơ đầu: sự khái quát về nỗi nhớ :"Ta về mình có nhớ ta<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; Ta về ta nhớ những hoa cùng người"<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Tác giả khẳng định nỗi nhớ thiên nhiên trong sự hòa quyện với con người. Chủ đề của bộ tứ bình đầu tiên là mùa đông<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;"Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng"<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Tạo nên bởi sự hòa phối màu sắc đặc biệt, tác giả đã dựng lên 1 bức tranh mùa đông đầy màu sắc với rừng xanh, hoa chuối đỏ tươi, con dao phản quang ánh sáng mặt trời tạo nên bức tranh thiên nhiên mùa đông đầy sức sống. Còn có sự xuất hiện của con người trong tư thế lao động đã thổi vào bức tranh 1 luồng sinh khí. Bằng việc miêu tả bức tranh mùa đông ấm áp, tràn đầy sức sống, khỏe khoắn, Tố Hữu như muốn đánh tan tất cả suy nghĩ của độc giả về thiên nhiên Việt Bắc: hoang vu, hiu hắt. Bắc tranh ấy không chỉ được tạo từ tài năng, nghệ thuật mà còn bằng cảm xúc trong tâm hồn nhà thơ,<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 2 câu tiếp là bức tranh mùa xuân: "Ngày xuân mơ nở trắng rừng<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang" &nbsp;<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Màu sắc thẩm mĩ: sử dụng gam màu mát, trang nhã. Màu xuân được chau chuốt bằng những nét vẽ cẩn thận, tinh tế, toát lên từ những cánh hoa mơ mỏng manh. Hành động "chuốt": tỉ mỉ, tinh xảo của người đan nón. Cho thấy thiên nhiên, con người có sự hòa hợp.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;2 câu tiếp là bức tranh mùa hè: " Ve kêu rừng phách đổ vàng<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Nhớ cô em gái hái măng 1 mình"<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Chữ "đổ" thể hiện sự chuyển biến rất nhanh khi tiếng ve báo hiệu mùa hè đến. Màu vàng là đặc trưng của mùa hè không giống trong thơ xưa. Màu vàng ấy khiến bức tranh đẹp trong vẻ lộng lẫy, tươi sáng. Câu thơ 1 có đủ cả thời gian, không gian, hình ảnh, màu sắc, âm thanh, không khí. Hình ảnh cô gái hái măng 1 mình, con người lao dộng với công việc bình dị, đời thường nhưng cũng là đặc trưng cho Việt Bắc.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;2 câu cuối là bức tranh mùa thu: "Rừng thu trăng rọi hòa bình<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung"<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;"Vầng trăng" là hình ảnh chủ đạo của bức tranh mùa thu, đem lại sự thơ mộng, trong lành, êm dịu, nổi bật là tiếng hát ân tình, thủy chung của con người Việt Bắc. Rừng thu, vầng trăng, tiếng hát là sự phối hợp, hòa quyện tuyệt vời.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Ngôn ngữ giàu chất nhạc, chất họa, tài năng ấy xuất phát từ cái tâm chân thành, sự thủy chung, gắn bó ân tình, sâu nặng của người cán bộ với Việt Bắc.<br>         Tóm lại, đoạn thơ đã vẽ lên bức tranh tứ binh với hình ảnh con người đậm chất riêng nhưng không hề tách biệt. Điều đó đã khơi gợi sự bâng khuâng man mác của người về xuôi. Đoạn thơ nói riêng vè bài thơ nói chung đã biểu hiện rõ nhất cho phong cách thơ trữ tình trong sáng tác Việt Bắc của Tố Hữu<br></sup></sub><br></blockquote><div>&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-18 14:29:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1899663939</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dàn Ý về khổ 3,4 bài sóng </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1899667234</link>
         <description><![CDATA[<div>1. Mở bài:<br><br>- Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm:<br><br>+ Xuân Quỳnh là một gương mặt tiêu biểu của phong trào thơ trẻ chống Mĩ với hồn thơ rất đỗi trẻ trung, tươi mát, đầy nữ tính.<br><br>+ Có thể nói, cùng với “Thuyền và biển”, “Thơ tình cuối mùa thu”, bài thơ “Sóng” đã kết tinh được tất cả những gì là sở trường nhất của hồn thơ Xuân Quỳnh.<br><br>- Khái quát nội dung khổ 3 và 4: hình tượng sóng đã thể hiện niềm khao khát của người thiếu nữ muốn được yêu, được sống trong một tình yêu hạnh phúc thủy chung.<br><br>2. Thân bài:<br><br>* Khái quát về hình tượng “sóng”<br><br>- Hình tượng trung tâm và nổi trội trong bài thơ là hình tượng "sóng", bao trùm cả bài thơ là hình tượng sóng.<br><br>+ Sức sống và vẻ đẹp tâm hồn của nhà thơ trẻ cũng như mọi sáng tạo nghệ thuật trong bài thơ đều gắn liền với hình tượng sóng. Cả bài thơ là những con sóng tâm tình của một người phụ nữ được khơi dậy khi đứng trước biển cả.<br><br>+ “Sóng” là một trong những hình tượng ẩn dụ, nó là sự hóa thân của cái tôi trữ tình của Xuân Quỳnh. “Sóng” và “em”, vừa hòa hợp là một, lại vừa phân đôi để soi chiếu, cộng hưởng. Tâm hồn người phụ nữ đang yêu soi vào sóng để thấy rõ lòng mình, nhờ sóng để biểu hiện những trạng thái của lòng mình.<br><br>-&gt; Với hình tượng sóng, có thể nói Xuân Quỳnh đã tìm được một cách thể hiện thật xác đáng tâm trạng của người phụ nữ trong tình yêu.<br><br><br>&nbsp;<br>- Hình tượng sóng đã gợi ra trong cả bài thơ bằng âm điệu: Bài thơ có một âm hưởng dào dạt, nhịp nhàng, lúc sôi nổi trào dâng, lúc thì thầm sâu lắng, gợi âm hưởng của những đợt sóng miên man, vô tận. Âm hưởng ấy được tạo dựng nên bởi thể thơ năm chữ, với những câu thơ liền mạch, từng không ngắt nhịp, các khổ thơ được gắn kết với nhau bằng cách nối vần (“Khi nào ta yêu nhau”… “Con sóng dưới lòng sâu”).<br><br>-&gt; Nhịp sóng đó cũng chính là nhịp lòng của tác giả, một tâm trạng đang xao động, trào dâng, miên man và chất chứa những khát khao, rạo rực.<br><br>* Đoạn thơ là một khám phá về sóng, mỗi khổ thơ sóng lại hiện ra một ý nghĩa khác<br><br>“Ôi con sóng… ngực trẻ”<br><br>- Đến khổ ba của bài thơ, sóng lại hiện lên với một ý nghĩa khác: Nguồn gốc của sóng cũng là nguồn gốc bí ẩn của tình yêu. Đứng trước biển, người phụ nữ muốn cắt nghĩa về nguồn gốc của sóng để tìm lời đáp cho câu hỏi về sự khởi nguồn của tình yêu trong trái tim mình.<br><br>“Sóng bắt đầu… ta yêu nhau”<br><br>-&gt; Mọi nỗ lực để cắt nghĩa về tình yêu của Xuân Quỳnh cuối cùng trở nên bất lực. Nhà thơ “thú nhận” thành thực, hồn nhiên mà không kém ý nhị, sâu sắc: “Em cũng không biết nữa – Khi nào ta yêu nhau”.<br><br>3. Kết bài:<br><br>- Khái quát lại nội dung 2 khổ thơ.<br><br>- Cảm nhận của em: Tình yêu luôn luôn quan trọng với cuộc sống của mỗi con người, mỗi chúng ta ai cũng có quyền yêu và được yêu. Và tình yêu của tuổi trẻ là tình yêu mãnh liệt và cảm xúc trong sáng nhất.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-18 14:30:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1899667234</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Bài tập về nhà phân tích 2 khổ thơ đầu bài Tây Tiến 🥰</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1899682628</link>
         <description><![CDATA[<div>"Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi !<br>Nhớ về rừng núi chơi vơi<br>Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi&nbsp;<br>Mường Lát hoa về trong đêm hơi<br>Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm<br>Heo hút cồn mây súng ngửi trời<br>Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống<br>Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi<br>Anh bạn dãi dầu không bước nữa<br>Gục lên súng mũ bỏ quên đời !<br>Chiều chiều oai linh thác gầm thét<br>Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người<br>Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói<br>Mai Châu mùa em thơm nếp xôi<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; *<br>Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa<br>Kìa em xiêm áo tự bao giờ<br>Khèn lên Viên Chăn xây hồn thơ<br>Người đi Châu Mộc chiều sương ấy<br>Có thấy hòn lau nẻo bên bờ<br>Có nhớ dáng người trên độc mộc<br>Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa"<br><br><br>Ngay hai câu thơ đầu của tác phẩm, Quang Dũng đã gợi ra một nỗi nhớ da diết, thương yêu dành cho sông Mã, cho miền Tây, cho núi rừng một thời thân thuộc:<br><br></div><div><em>Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi</em><br><em>Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi<br></em><br></div><div>Tiếng gọi “Tây Tiến ơi” nghe sao thân quen, tha thiết mà quặn lòng đến vậy! Từ “ơi” bắt vần với từ láy “chơi vơi” đã giúp tác giả tạo ra âm hưởng sâu lắng, thầm thể hiện nỗi bồi hồi nhớ mong đang ngập tràn trong tâm hồn, trái tim người lính xưa. Điệp từ “nhớ” trong câu thơ thứ hai như thu trọn lại để biểu lộ tâm trạng, cảm xúc rõ nét nhất của người lính Tây Tiến khi nghĩ về sông Mã, miền rừng núi một thời gắn bó và cả đoàn quân với biết bao kỉ niệm. Đến với hai câu thơ tiếp theo, nhà thơ nhắc đến một loạt các địa danh, bản làng như để nhắc nhớ đến nhiều kỉ niệm:<br><br></div><div><em>Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi</em><br><em>Mường Lát hoa về trong đêm hơi<br></em><br></div><div>Đó là kỉ niệm về những cuộc hành quân gian nan, thử thách qua các bản, các mường xa xôi, hoang dã, thử thách ý chí, tinh thần người lính Tây Tiến.<br><br></div><div>Những câu thơ tiếp theo đã phác họa ra trước mắt người đọc khung cảnh một bức tranh núi rừng hùng vĩ, hoang sơ và hình ảnh người lính hào hùng, mạnh mẽ:<br>&nbsp; <em>Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm</em><br>&nbsp; <em>Heo hút cồn mây súng ngửi trời</em><br>&nbsp; <em>Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống</em><br>&nbsp; <em>Nhà ai Pha Luông mưa sa khơi<br></em><br></div><div>Điệp từ “dốc” trong câu thơ đã gợi ra rõ nét nhất sự hùng vĩ của thiên nhiên. Các thanh trắc trong đoạn thơ đi cùng những từ láy “khúc khuỷu”, “thăm thẳm” mà Quang Dũng tinh tế lựa chọn đã gợi ra sự gập ghềnh, gian truân người lính Tây Tiến phải vượt qua trên đường hành quân.<br><br></div><div>Một từ “heo hút” được nhà thơ đưa lên đặt đầu câu thơ đã tái hiện chân thực một khung cảnh đầy xa xôi, hẻo lánh, quạnh hiu của thiên nhiên núi rừng nơi đây.<br><br></div><div>Cụm từ “súng ngửi trời”, một cách đầy tinh tế, đã giúp nhà thơ thể hiện được tinh thần lạc quan của người lính, dẫu có bao gian lao, thử thách, họ vẫn hiên ngang, chủ động, sẵn sàng vượt qua và giữ mãi tinh thần lạc quan, yêu đời.<br><br></div><div>Điệp từ “ngàn thước” kết hợp cùng phép đối lập “lên – xuống”, “cao – thấp” đã góp phần giúp cho bài thơ của Quang Dũng giàu chất họa hơn, người đọc thơ nhờ vậy “không chỉ ngậm nhạc mà còn thưởng tranh”.<br><br></div><div>Câu thơ “Nhà ai Pha Luông mưa sa khơi” mang nhiều thanh bằng đã tạo nên sự mềm mại cho câu thơ, đồng thời gợi ra một tâm trạng bâng khuâng, tha thiết, nhẹ nhàng và một tâm hồn rất đỗi thanh thản, thảnh thơi. Nếu như mưa trong thơ xưa thường gợi ra cái lạnh và lòng buồn thì ở thơ Quang Dũng, mưa không lạnh lẽo thê lương mà êm đềm, thơ mộng và bình yên đến lạ.<br><br></div><div>Trên nền cảnh thiên nhiên núi rừng hùng vĩ ấy, hình ảnh người lính Tây Tiến hiện lên thật đẹp với sự hi sinh bi tráng, cao cả:<br><br></div><div><em>Anh bạn dãi dầu không bước nữa</em><br><em>Gục lên súng mũ bỏ quên đời</em><br><em>Chiều chiều oai linh thác gầm thét</em><br><em>Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người<br></em><br></div><div>Cách nói “Anh bạn dãi dầu không bước nữa/ Gục lên súng mũ bỏ quên đời” là một cách nói giảm nói tránh làm giảm đi nhiều sự đau thương, mất mát – một sự thực buồn mà bất kì một người lính nào cũng có thể phải đối mặt trên đường hành quân gian khổ.<br><br></div><div>Hai câu thơ cuối khổ 1 : “Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói/ Mai Châu mùa em thơm nếp xôi” gợi liên tưởng về Mai Châu với hình ảnh khói cơm nếp, hình ảnh những con người Tây Bắc chân chất, hiền hậu – những tấm lòng thơm thảo chở che, chia sẻ khó khăn với người lính.<br><br>&nbsp; &nbsp; "Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi".</div><div>Bài thơ có 34 câu thơ thất ngôn, chia thành 4 đoạn, mỗi đoạn thơ là sự hồi tưởng bao kỉ niệm sâu sắc. Đây là đoạn thơ thứ hai có 8 câu mang vẻ đẹp như một bài hành nói về hai nỗi nhớ: nhớ hội đuốc hoa và nhớ chiều sương Châu Mộc:</div><div>"Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa</div><div>...</div><div>Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa".</div><div>Từ "Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói – Mai Châu mùa em thơm nếp xôi", Quang Dũng nhớ đến "hội đuốc hoa" thắm thiết tình quân dân:</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;"Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Kìa em xiêm áo tự bao giờ</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Khèn lên man điệu nàng e ấp</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ".</div><div>Đuốc hoa là cây nến thắp lên trong phòng tối tân hôn. "Truyện Kiều" có câu: "Đuốc hoa chẳng thẹn với chàng mai xưa" (3096). Quang Dũng sáng tạo thành "hội đuốc hoa" để nói về đêm liên hoan lửa trại giữa các cán bộ chiến sĩ đoàn binh Tây Tiến với đồng bào các bản mường. Chữ "bừng" vừa chỉ ánh lửa, ánh đuốc sáng bừng lên, vừa tả âm thanh tiếng nói, tiếng cười, tiếng hát, tiếng khèn vang lên tưng bừng rộn rã trong hội đuốc hoa. Đêm lửa trại, đêm liên hoan chắc là có múa sạp, có múa xòe của các cô gái Mường, cô gái Thái tham gia? Chữ "kìa" là đại từ để chỉ một đối tượng (người, vật) từ xa; trong văn cảnh thể hiện sự ngạc nhiên, niềm vui thích, tình tứ của chàng lính trẻ Tây Tiến khi nhìn thấy các "em", các "nàng" đến dự hội đuốc hoa trong bộ xiêm áo xinh đẹp. Hình ảnh "nàng e ấp" là một nét vẽ tài hoa và có hồn đã gợi tả vẻ đẹp duyên dáng, kín đáo, tình tứ của các thiếu nữ miền Tây. Ánh lửa, tiếng hát, tiếng khèn, màu xiêm áo rực rỡ, vẻ đẹp kiều diễm của các "em", các "nàng" như đã "xây hồn thơ" các chàng lính trẻ. Con người thì trẻ chung, xinh đẹp, hào hoa, đa tình; ngòi bút của thi nhân cũng rất tài hoa, lãng mạn. Qua hội đuốc hoa, ta càng thấy đời sống tinh thần vô cùng phong phú của đoàn binh Tây Tiến nơi chiến trường miền Tây gian khổ ác liệt.</div><div><br></div><div>Bốn câu thơ tiếp theo dòng hồi tưởng "trôi" về một miền đất lạ, đó là Châu Mộc thuộc tỉnh Sơn La, nơi có những bãi cỏ bát ngát mênh mông, nơi có dãy núi Pha Luông cao 1880m, nơi có bản Pha Luông sầm uất của người Thái. Quang Dũng người lính chiến với tâm hồn thi sĩ đã khám phá ra bao vẻ đẹp kì thú miền Châu Mộc. Năm tháng đã trôi qua, cảnh và người miền đất lạ ấy đã trở thành một mảnh tâm hồn của bao người:</div><div>"Người đi Châu Mộc chiều sương ấy</div><div>Có thấy hồn lau nẻo bến bờ</div><div>Có nhớ dáng người trên độc mộc</div><div>Trôi dòng nước lũ hoa đông đưa".</div><div>"Chiều sương ấy" là chiều thu 1947. Sương trắng phủ mờ núi rừng chiến khu chiều thu ấy in đậm hồn người; hoài niệm càng trở nên mênh mang. Chữ "ấy" câu trên bắt vần với chữ "thấy" câu dưới tạo nên một vần lưng giàu âm điệu, như một tiếng khẽ hỏi "có thấy" cất lên trong lòng. Hồn lau là hồn mùa thu. Hoa lau nở trắng cờ, lá lau kêu xào xạc trong gió thu "nẻo bến bờ", nơi bờ sông bờ suối. Với tâm hồn thi sĩ tài hoa, Quang Dũng đã cảm nhận vẻ đẹp thơ mộng của thiên nhiên Châu Mộc qua cảnh sắc "chiều sương" và "hồn lau nẻo bến bờ". Những thi liệu ấy đã tạo nên vẻ đẹp cổ điển bức tranh suối rừng nơi miền đất lạ. Thấp thoáng trong vần thơ "Tây Tiến" là những câu cổ thi tuyệt bút:</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; "Sương đầu núi buổi chiều như dội,</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Nước lòng khe nẻo suối còn sâu…"</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;( Chinh phụ ngâm)</div><div>Các thi sĩ xưa nay vẫn gọi hồn thu là hồn lau:</div><ul><li>"Ngàn lau cười trong nắng</li><li>Hồn của mùa thu về</li><li>Hồn mùa thu sắp đi</li><li>Ngàn lau xao xác trắng".</li><li>(Lau mùa thu – Chế Lan Viên)</li></ul><div>Điệp ngữ "có thấy" và "có nhớ" làm cho hoài niệm về chiều sương Châu Mộc thêm phần man mác, bâng khuâng. Nhớ cảnh rồi nhớ đến người. Trong chia phôi còn "có nhớ". "Có nhớ" con thuyền độc mộc và "dáng người" chèo thuyền độc mộc? "Có nhớ" hình ảnh "hoa đong đưa" trên dòng nước lũ? "Hoa đong đưa" có phải là hoa rừng "đong đưa" làm duyên trên dòng nước lũ như giáo sư Phan Cự Đệ đã nói? Hay "Hoa đong đưa" là hình ảnh ẩn dụ gợi tả các cô gái miền Tây xinh đẹp lái thuyền độc mộc duyên dáng, uyển chuyển như những bông hoa rừng đang "đong đưa" trên sông suối. Bài hát "Sơn nữ ca" của nhạc sĩ Trần Hoàn, "Nụ cười sơn cước" của nhạc sĩ Tô Hải cho ta cảm nhận ấy. Phải có "tay lái ra hoa" mới có thể "đong đưa" được như vậy.</div><div>Những dòng hồi tưởng trên đây về cảnh sắc và con người nơi suối rừng miền Tây, nơi cao nguyên Châu Mộc đã được thể hiện một cách tuyệt đẹp qua bút pháp tài hoa và hồn thơ lãng mạn. Thuở ấy, núi rừng Tây Bắc vô cùng hoang vu, là chốn rừng thiêng liêng nước độc, nhưng Quang Dũng với tâm hồn lạc quan và yêu đời của một khách chinh phu thời đại mới đã cảm nhận và phát hiện bao vẻ đẹp thơ mộng, xinh tươi của cảnh sắc thiên nhiên và con người Tây Bắc.</div><div>Hoài niệm, kỉ niệm về chiến trường núi rừng miền Tây như được chắt lọc qua tâm hồn. Nhà thơ có gắn bó với cảnh vật và con người Tây Bắc, có vào sinh ra tử với đồng đội mới có kỉ niệm đẹp và sâu sắc như vậy, mới có thể viết nên những vần thơ sáng giá như thế.</div><div>Bức tranh chiều sương Châu Mộc và hội đuốc hoa như một bức tranh sơn mài của một danh họa mang vẻ đẹp màu sắc cổ điển và lãng mạn kết hợp hài hòa với tính thời đại và hiện đại trong máu lửa chiến tranh.</div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-18 14:36:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1899682628</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Khổ 8+9 ( Sóng - Xuân Quỳnh )Khổ 8: Nếu như những khổ thơ trước nhà thơ nói về niềm vui sướng dào dạt, những nhung nhớ giận hờn thì đoạn thơ này nhà thơ lại thể hiện những băn khoăn, lo lắng. Đó cũng là trực cảm của tình yêu. Có lẽ cũng là vì Xuân Quỳnh là người phụ nữ đa cảm luôn luôn dự cảm những giông bão cuộc đời dù lòng chị vẫn tin yêu. Trong tình yêu, Xuân Quỳnh cũng gặp nhiều trắc trở, những khổ đau, cay đắng. Bởi vậy, tình yêu với chị đôi khi chỉ là khoảnh khắc:Em đâu dám nghĩ là vĩnh viễnHôm nay yêu mai có thể xa rồi(Nói cùng anh)+ Tác giả sử dụng phép so sánh: lấy cái không gian để nói cái thời gian. Xuân Quỳnh qua khổ thơ trên đã phần nào cho người đọc nhận thức rõ về những dự cảm và nỗi băn khoăn của chị. Những từ “tuy dài thế - vẫn đi qua - dẫu rộng” như chứa đựng ở trong nó ít nhiều nỗi âu lo và những ngậm ngùi. Cuộc đời tuy dài nhưng tuổi trẻ của mỗi con người là hữu hạn. Cho nên không thể ngăn nổi “năm tháng vẫn đi qua”. Giống như biển khơi kia “dẫu rộng” vẫn nào ngăn được một đám mây bay về cuối chân trời. Nhạy cảm với sự chảy trôi của thời gian nên Xuân Quỳnh tiếc cho sự hữu hạn của đời người.+ Tuy thế nhà thơ vẫn tin tưởng, tin tưởng ở tấm lòng nhân hậu và tình yêu chân thành của mình sẽ vượt qua tất cả. Có thể nói Xuân Quỳnh yêu thương tha thiết, mãnh liệt nhưng cũng tỉnh táo nhận thức dự cảm những trắc trở, thử thách trong tình yêu đồng thời cũng tin tưởng vào sức mạnh tình yêu sẽ giúp người phụ nữ vượt qua thử thách đến với bến bờ hạnh phúc. Cho nên, sóng sẽ đến bờ, năm tháng sẽ đi qua thời gian dài đằng đẵng và mây nhỏ bé sẽ vượt qua biển rộng để bay về xa. Một loạt hình ảnh thơ ẩn dụ được bố trí thành một hệ thống tương phản, đối lập để nói lên dự cảm tỉnh táo, đúng đắn và niềm tin mãnh liệt của nhà thơ vào sức mạnh của tình yêu.- Khổ 9: Bốn câu thơ khép lại bài thơ “Sóng” là khát vọng mãnh liệt của nhà thơ Xuân Quỳnh. Đó là khao khát muốn mình “được tan ra” thành “trăm con sóng nhỏ”. Sóng chỉ thực sự là sóng khi nó hòa chung vào muôn điệu của đại dương bao la. Tình yêu của con người cũng vậy, nếu chỉ biết giữ cho riêng mình thì sẽ tàn phai theo năm tháng. Và tình yêu sẽ chỉ bất tử khi tình yêu đó hòa vào biển lớn của tình yêu nhân loại. Nhà thơ đã thể hiện một khát vọng mãnh liệt muốn làm trăm con sóng để hòa mình vào đại dương bao la, hòa mình vào biển lớn tình yêu để một đời vỗ muôn điệu yêu thương “Để ngàn năm còn vỗ”. Phải chăng đó là khát vọng muốn bất tử hóa tình yêu của nữ sĩ Xuân Quỳnh? Vâng! Đây chính là khát vọng mãnh liệt, tha thiết của người phụ nữ với trái tim hồn hậu, chân thành, giàu trực cảm.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1899718434</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-18 14:48:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1899718434</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Soạn bài “ Người lái đò sông Đà “1. Tác giả- Nguyễn Tuân (1910 - 1987) là một trong 9 tác giả tiêu biểu nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại.- Là nhà văn tài hoa, giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc.- Ông có sở trường về tùy bút và ký- Tác phẩm của Nguyễn Tuân mang cá tính riêng, độc đáo, phóng khoáng, sự hiểu biết phong phú, cách dùng từ đa dạng và đầy sáng tạo trong sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt. - Phong cách sáng tác của tác giả được đánh giá lại bằng một từ “ngông”. Nguyễn Tuân ngông trên sự tài ba, xuất chúng, khí chất hơn người từ ngoài đời sống thực đến đời sống văn chương.2. Tác phẩma) Hoàn cảnh ra đời- Người lái đò sông Đà là áng văn nổi bật in trong tùy bút sông Đà (1960) của Nguyễn Tuân.- Tác phẩm là sự kết tinh từ chuyến đi của tác giả đi tới vùng cao Tây Bắc xa xôi để tìm chất vàng thử lửa của thiên nhiên Tây Bắc và đặc biệt hơn nữa là chất vàng mười đã qua thử lửa ở trong tâm hồn của con người lao động đã chiến đấu trên miền sông núi Tây Bắc hùng vĩ và đầy chất thơ.b) Bố cục- Phần 1: Sự hung dữ, hùng vĩ của con sông Đà- Phần 2: Cuộc sống của con người lao động trên sông Đà và hình ảnh người lái đò sông Đà- Phần 3: Nét đẹp trữ tình, nên thơ của sông Đà*Lưu ý: Trong khi soạn văn Người lái đò sông Đà luôn nắm được sơ lược về tác giả, tác phẩm để làm tốt hơn phần mở bài trong các bài văn phân tích.II. Tìm hiểu văn bản và soạn Người Lái Đò Sông Đà1. Hình tượng con sông Đà- Hình tượng con sông Đà được khắc họa 2 tính cách hoàn toàn trái ngược nhau: hung bạo và trữ tình.a) Hình ảnh con sông Đà hung bạo- Diện mạo sông Đà+ “Chúng thủy giai đông tẩu. Đà giang độc bắc lưu” =&gt; Lời đề từ thứ nhất trong bài thơ Người lái đò sông Đà của tác phẩm, nhà văn Nguyễn Tuân đã nhấn mạnh thế độc đáo, nghịch ngược của Sông Đà giống như con ngựa bất kham+ “Cảnh đá … dựng vách thành”, “lòng sông hẹp”, “có quãng con hươu, con nai còn nhảy vọt từ bờ bên này sang bờ bên kia”, “chỗ vách đá…như một cái yết hầu”, “nhìn từ dưới lên như nhìn tòa nhà cao vừa tắt phụt đèn điện”,… =&gt; Tác giả dựng lên một không gian cao vút, sâu thẳm mà lại thật nhỏ, thật hẹp. Cách dùng từ so sánh và miêu tả của tác giả vô cùng độc đáo và thân thuộc.+ Mặt ghềnh Hát Lóong: “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió”, như “đòi nợ suýt” bất cứ ai đi qua quãng ấy,…=&gt; Sự hung bạo, dữ dội và đáng sợ của dòng sông hiện hình trên mặt ghềnh.+ Cái hút nước: như “cái giếng bê tông”, “nước thở và kêu như cái cống cái bị sặc” =&gt; cách miêu tả sáng tạo của Nguyễn Tuân đã đem đến cái nhìn mới mẻ cho người đọc từ một vật thể bình thường thành một cơ thể sống thực sự, đang vận động vô cùng mạnh mẽ và dữ dội. + Thác nước:“lúc thì gầm réo oán trách van xin, khiêu khích,…” =&gt; độ âm vang của tiếng thác nước được nhân cách hóa đầy tinh tế và sinh động như biểu hiện những cung bậc cảm xúc, tâm trạng và tính cách của con người.  - Tâm địa sông Đà+ Thạch trận: “Đá ở đây... mai phục hết trong lòng sông, ...quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, ... là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vỗ lấy thuyền”.+ Thủy trận: &quot;Đám tảng đám hòn ... chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền…”+Ba trùng vi:&quot; Vòng đầu ... nó mở ra năm cửa trận, có bốn cửa tử một cửa sinh&quot; , &quot;vòng thứ hai này tăng thêm nhiều cửa tử&quot;, &quot;còn một trùng vây thứ ba nữa, ít cửa hơn, bên trái bên phải đều là luồng chết cả”.=&gt; Với ngòi bút điêu luyện và tài nghệ của mình, Nguyễn Tuân không chỉ miêu tả nét kỳ vĩ, hung tợn của dòng sông Đà bằng thị giác mà còn bằng tất cả mọi giác quan có thể để thu nhận tất thảy mọi chi tiết dù là nhỏ nhất một cách tinh tế nhất. Qua bút pháp lãng mạn, tác giả càng lột tả rõ ràng hơn sự mãnh liệt, dữ dội và hùng vĩ của sông Đà, của núi rừng Tây Bắc.b) Hình ảnh con sông Đà trữ tình+ Hình dáng: “tuôn dài ... như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc”, vẻ đẹp bình dị như “một dải dây thừng” hay lại như &quot;một mái tóc mun… áng tóc trữ tình&quot;,…=&gt; Vẻ đẹp dung dị của hình ảnh người thiếu nữ.nói chung và người thiếu nữ vùng cao Tây Bắc nói riêng.+ Màu nước sông Đà: mùa xuân thì mang trong mình màu xanh ngọc bích, mùa thu lại lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa =&gt; Phải quan sát kỹ lắm và phải tinh tế lắm thì Nguyễn Tuân mới có những áng văn rất thơ, rất thật và rất sáng tạo đến vậy.+ Dòng sông khoe vẻ gợi cảm: dòng sông Đà êm đềm, thơ mộng, “cảnh hai bờ sông giống như một bờ tiền sử” =&gt; Bên cạnh vẻ quyến rũ, nên thơ là nét hoài cổ gợi lại sự quen thuộc, gần gũi xa xưa như Đường thi, như một cố nhân, một tri âm, tri kỷ. Tác giả tìm thấy sự thân thương, thân thuộc một thời bên người bạn cố nhân nơi đất khách này.=&gt; Bằng cách diễn đạt phong phú, sáng tạo với những câu văn giàu chất thơ, giàu nhạc điệu, cùng việc sử dụng khéo léo các biện pháp nghệ thuật so sánh, ẩn dụ trong bút pháp hiện thực cùng lãng mạn đã hiện lên nàng thiếu nữ sông Đà cuốn hút, thơ mộng giữa núi rừng. =&gt; Vẻ đẹp sông Đà hay chính là vẻ đẹp thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, nên thơ như bức phông nền tuyệt đẹp làm nổi bật hình ảnh người lái đò - hình ảnh của người lao động chân chất giữa núi rừng.*Trong khi soạn văn Người lái đò sông Đà, chúng ta luôn có những ý chốt, những ý đánh giá và khái quát lại các dẫn chứng đã nêu ra để dễ nắm bài hơn.2. Hình tượng người lái đò- Giới thiệu về người lái đò:Tác giả giới thiệu người lái đò sông Đà là người lái ra hoa. Cuộc sống hằng ngày của ông là lèo lái con thuyền vật lộn với dòng sông Đà, chiến đấu với thiên nhiên để dành giật sự sống. Người lái đò hiện lên với ngoại hình độc đáo “tay lêu nghêu như cái sào, chân khuỳnh khuỳnh” - một sự ví von, miêu tả rất giản dị mà giàu tính gợi hình. Hình ảnh người lái đò sông Đà còn là hiện thân của người lao động khỏe mạnh, vạm vỡ trước thiên nhiên, núi rừng.- Hình ảnh người lái đò qua những lần vượt thác dữ:+ “Trên sông Đà ông xuôi ngược trên một trăm lần”, “nhớ tỉ mỉ … những luồng nước” =&gt; Cho thấy người lái đò rất từng trải và vô cùng thành thạo trong nghề, cũng như am hiểu mọi thứ trên dòng sông này.+ “Nén đau giữ mái chèo, tỉnh táo chỉ huy bạn chèo ...”, “nắm chắc binh pháp của thần sông thần núi”, “cưỡi đúng ngay trên bờm sóng, phóng thẳng thuyền vào giữa thác ...”=&gt; Hình ảnh người lái đò đầy bản lĩnh, tài ba và mưu trí để chinh phục sự hung hãn của dòng sông. Đó còn là hiện thân của người lao động với cuộc sống vất vả, gian nan nhưng luôn đầy nghị lực và không ngừng phấn đấu, lao động và làm việc.+ Ông ưa những khúc sông nhiều ghềnh thác, thích việc chinh phục những “con thủy quái”=&gt; Ông không chỉ là người lái đò mà còn là một nghệ sĩ tài hoa thực thụ. Cảnh vượt thác như một góc quay hùng hồn về thiên nhiên và ông là một người nghệ sĩ biểu diễn đầy tâm huyết trên “sân khấu” của riêng mình.- Sau cuộc chiến hung hãn trên dòng sông Đà, người lái đò cung có cuộc sống dung dị như bao người lao động núi rừng nơi đây: &quot;đêm ấy nhà ông đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam.. cá tủa ra tràn đầy đồng ruộng&quot; =&gt; Ban ngày ông chiến đấu với thiên nhiên dữ dội để sinh tồn, đêm về ông sống cùng thiên nhiên bình yên nơi đại ngàn.=&gt; Cuộc đời ông lái đò có thể viết lên cả bản thiên anh hùng ca giữa núi non đại ngàn. Hình ảnh người lao động hiện lên bình dị, khỏe khoắn nhưng cao cả, dũng cảm và đầy bản lĩnh trong công việc, trong cuộc sống. Họ là những người nghệ sĩ thực thụ, ngự trị thiên nhiên và làm chủ chính mình. Tác giả đã thực sự tìm được thứ vàng mười quý giá trên mảnh đất núi rừng Tây Bắc hùng vĩ.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1899719788</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-18 14:48:29 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1899719788</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đề bài : Tìm hiểu đề và lập dàn ý bài &quot; Chiều tối &quot; của Hồ Chí Minh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1899720581</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>I.Tìm hiểu đề<br>&nbsp; &nbsp;1.Hoàn cảnh sáng tác</strong></div><ul><li>&nbsp;Bài thơ rút ra từ tập thơ Nhật kí trong tù, tập thơ sáng tác khi tác giả bị chính quyền Tưởng Gới Thạch bắt giam trong suốt 13 tháng</li><li>&nbsp;Cảm hứng được gợi lên bởi cuộc chuyển lao của Hồ Chí Minh từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo</li></ul><div><strong>&nbsp; &nbsp;2. Giá trị nội dung</strong></div><ul><li>&nbsp;Bài thơ cho thấy tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, ý chí vượt lên trên hoàn cảnh khắc nghiệt của nhà thơ chiến sĩ Hồ Chí Minh</li></ul><div>&nbsp; <strong>3. Giá trị nghệ thuật</strong></div><div>- Bài thơ đậm sắc thái nghệ thuật cổ điển mà hiện đại<br><strong>II.Lập dàn ý<br>&nbsp; &nbsp;1. Mở bài:</strong></div><ul><li>Giới thiệu tác giả Hồ Chí Minh và bài thơ Chiều tối trích Nhật ký trong tù</li></ul><div>&nbsp; <strong>2. Thân bài: Nêu cảm nhận bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh</strong></div><div>&nbsp;<strong>a. Hai câu đầu</strong>: Bức tranh thiên nhiên</div><ul><li>Con người luôn hướng về thiên nhiên</li><li>Cảnh chiều tối âm u, hiu quạnh, vắng vẻ</li><li>Hình ảnh mang tượng trưng cho cảnh chiều tà</li><li>Hình ảnh chòm mây gợi tả không gian mênh mông, rộng lớn</li><li>Hình ảnh thiên nhiên mang vẻ đẹp cổ điển, thơ mộng</li><li>Qua hai câu thơ cảm nhận được ý chí, nghị lực của con người</li></ul><div><strong>b. Hai câu thơ cuối: Bức tranh đời sống</strong></div><ul><li>Những hình ảnh đời sống dân dã, đời thường</li><li>Bức tranh gần gũi, quen thuộc, mộc mạc</li><li>Hình ảnh con người lấn át hình ảnh thiên nhiên mênh mông, rộng lớn nhưng vắng vẻ</li><li>Thể hiện tình yêu thương, quan tâm đến số phận của người lao động nghèo</li><li>Ước mơ thầm kín về mái ấm gia đình của người nghèo</li><li>Bừng lên sức sống mãnh liệt của con người</li></ul><div><strong>c. Nghệ thuật</strong></div><ul><li>Đậm màu sắc cổ điển và tinh thần hiện đại</li><li>Ngôn từ tả ít, gợi nhiều, ý tồn tại ngoài lời</li></ul><div><strong>&nbsp; &nbsp;III. Kết bài:</strong> <strong>Đánh giá và nêu cảm nhận về bài thơ " Chiều tối "<br></strong><br></div><div><br>&nbsp;</div><div><br><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-18 14:48:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1899720581</guid>
      </item>
      <item>
         <title>dàn ý bài &quot; Việt Bắc&quot;</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1899734308</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>I. Mở bài</strong></div><div>- Giới thiệu khái quát về tác giả Tố Hữu: là một nhà thơ lớn, một nhà thơ trữ tình chính trị, thơ ông luôn phản ánh những chặng đường đấu tranh gian khổ song cũng nhiều thắng lợi của dân tộc.</div><div>- Giới thiệu bài thơ <em>Việt Bắc</em>: hoàn cảnh sáng tác, nội dung chính của bài thơ.</div><div><strong>II. Thân bài</strong></div><div><strong>1. Ý nghĩa nhan đề</strong></div><div>- Việt Bắc là một địa danh – là cái nôi của cách mạng Việt Nam tiền khởi nghĩa, là cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến chống Pháp.</div><div>- Việt Bắc là nơi lưu giữ nhiều kỉ niệm giữa cán bộ cách mạng và đồng bào nơi đây.</div><div><strong>2. Lời của người ở lại (20 câu thơ đầu)</strong></div><div>- Tám câu thơ đầu là tâm trạng lưu luyến bịn rịn trong buổi chia tay:</div><div>+ Bốn câu trên, sử dụng điệp cấu trúc “mình về mình co nhớ” là lời ướm hỏi, khơi gợi lại những kỉ niệm về “mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”, về thiên nhiên Việt Bắc nghĩa tình.</div><div>+ Cách xưng hô “mình - ta” như lời tâm tình của đôi lứa yêu nhau khiến cuộc chia tay trở nên thân mật, giản dị. Cách xưng hô còn gợi nhớ đến những câu đối đáp trong điệu hát giao duyên khiến những câu thơ nói về cách mạng không khô khan mà trở nên đằm thắm, sâu lắng.</div><div>+ Bốn câu thơ tiếp là nỗi lòng lưu luyến của cả người ở lại và ra đi thể hiện qua những từ ngữ diễn tả tâm trạng trực tiếp: “da diết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn”; không khí buổi chia tay thân tình, gần gũi: “áo chàm”, “cầm tay nhau”.</div><div>- Mười hai câu tiếp theo, với việc sử dụng điệp từ “nhớ”, là lời nhắn nhủ dưới hình thức câu hỏi:</div><div>+ Nhớ đến thiên nhiên, núi rừng Việt Bắc trong những ngày kháng chiến: mưa nguồn, suối lũ, mây mù, trám bùi, măng mai.</div><div>+ Nhớ đến những ân tình trong khó khăn gian khổ: “miếng cơm chấm muối” nhưng vẫn “đậm đà lòng son”.</div><div>+ Nhớ đến quang thời gian hoạt động cách mạng: kháng Nhật, Việt Minh, Tân Trào, Hồng Thái, ...</div><div>+ Đại từ xưng hô “mình” thể hiện sự gắn bó, thân thiết giữa kẻ ở, người đi. Nó giống như cách xưng hô tâm tình, thủ thỉ chân thành.</div><div><strong>3. Lời của người ra đi</strong></div><div>- Bốn câu thơ tiếp khẳng định nghĩa tình thủy chung, mặn mà, “ta với mình, mình với ta”: thể hiện sự gắn bó, thấu hiểu nhau giữ người đi, kẻ ở.</div><div>- Người đi bày tỏ nỗi nhớ đến thiên nhiên Việt Bắc: “Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương”, “bản khói cùng sương”, “rừng nứa bờ tre”,... thiên nhiên Việt Bắc qua bốn mùa xuân, hạ, thu, đông.</div><div>- Nhớ đến con người Việt Bắc:</div><div>+ Những con người dù gian khó, vất vả những vẫn có tâm lòng thủy chung, cùng chia sẻ mọi “đắng cay ngọt bùi” trong kháng chiến: “chia củ sắn lùi”, “bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng”.</div><div>+ Nhớ đến những kỉ niệm ấm áp giữa bộ đội và đồng bào Việt Bắc: “lớp họ i tờ”, “giờ liên hoan”, “ca vang núi đèo”.</div><div>+ Nhớ hình ảnh những con người mang vẻ đẹp mộc mạc, giản dị của người lao động: “người mẹ”, “cô em gái”.</div><div>- Nhớ hình ảnh quân dân Việt Bắc đoàn kết đánh giặc: “ta cùng đánh Tây”, “cả chiến khu một lòng”; khí thế hào hùng của quân dân ta trong các trận đánh: “rầm rập như là đất rung”, “quân đi điệp điệp trùng trùng”, “dân công đỏ đuốc từng đoàn”, ...</div><div>- Nhớ những chiến công, những niềm vui thắng trận: “tin vui thắng trận trăm miền ... núi Hồng”</div><div>- Nhận xét: nhịp thơ dồn dập như âm hưởng bước hành quân, hình ảnh kì vĩ... tất cả tạo nên một bức tranh sử thi hoành tráng để ca ngợi sức mạnh của nhân dân anh hùng.</div><div><strong>4. Niềm tự hào, niềm tin gửi gắm Việt Bắc Cách mạng (16 câu thơ cuối)</strong></div><div>- Nhớ hình ảnh tươi sáng nơi nguồn cội của cuộc cách mạng: ngọn cờ đỏ thắm, rực rỡ sao vàng, có trung ương Đảng, có chính phủ và có Bác Hồ.</div><div>- Đoạn thơ thể hiện niềm tin vào sức mạnh, khả năng lãnh đạo của Đảng trong các cuộc cách mạng, niềm tự hào vào những chiến công Việt Bắc.</div><div><strong>III. Kết bài</strong></div><div>- Khái quát giá trị nghệ thuật: sử dụng thể dân tộc: thể thơ lục bát để nói về tình cảm cách mạng, lối đối đáp, sử dụng đại từ xưng hô linh hoạt (mình – ta), ngôn từ mộc mạc, giàu sức gợi…</div><div>- Khái quát giá trị nội dung: Bài thơ là bản anh hùng ca về cuộc kháng chiến, là bản tình ca về nghĩa tình cách mạng và kháng chiến.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-18 14:53:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1899734308</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Soạn bài “ Người lái đò sông Đà “1. Tác giả- Nguyễn Tuân (1910 - 1987) là một trong 9 tác giả tiêu biểu nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại.- Là nhà văn tài hoa, giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc.- Ông có sở trường về tùy bút và ký- Tác phẩm của Nguyễn Tuân mang cá tính riêng, độc đáo, phóng khoáng, sự hiểu biết phong phú, cách dùng từ đa dạng và đầy sáng tạo trong sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt. - Phong cách sáng tác của tác giả được đánh giá lại bằng một từ “ngông”. Nguyễn Tuân ngông trên sự tài ba, xuất chúng, khí chất hơn người từ ngoài đời sống thực đến đời sống văn chương.2. Tác phẩma) Hoàn cảnh ra đời- Người lái đò sông Đà là áng văn nổi bật in trong tùy bút sông Đà (1960) của Nguyễn Tuân.- Tác phẩm là sự kết tinh từ chuyến đi của tác giả đi tới vùng cao Tây Bắc xa xôi để tìm chất vàng thử lửa của thiên nhiên Tây Bắc và đặc biệt hơn nữa là chất vàng mười đã qua thử lửa ở trong tâm hồn của con người lao động đã chiến đấu trên miền sông núi Tây Bắc hùng vĩ và đầy chất thơ.b) Bố cục- Phần 1: Sự hung dữ, hùng vĩ của con sông Đà- Phần 2: Cuộc sống của con người lao động trên sông Đà và hình ảnh người lái đò sông Đà- Phần 3: Nét đẹp trữ tình, nên thơ của sông Đà*Lưu ý: Trong khi soạn văn Người lái đò sông Đà luôn nắm được sơ lược về tác giả, tác phẩm để làm tốt hơn phần mở bài trong các bài văn phân tích.II. Tìm hiểu văn bản và soạn Người Lái Đò Sông Đà1. Hình tượng con sông Đà- Hình tượng con sông Đà được khắc họa 2 tính cách hoàn toàn trái ngược nhau: hung bạo và trữ tình.a) Hình ảnh con sông Đà hung bạo- Diện mạo sông Đà+ “Chúng thủy giai đông tẩu. Đà giang độc bắc lưu” =&gt; Lời đề từ thứ nhất trong bài thơ Người lái đò sông Đà của tác phẩm, nhà văn Nguyễn Tuân đã nhấn mạnh thế độc đáo, nghịch ngược của Sông Đà giống như con ngựa bất kham+ “Cảnh đá … dựng vách thành”, “lòng sông hẹp”, “có quãng con hươu, con nai còn nhảy vọt từ bờ bên này sang bờ bên kia”, “chỗ vách đá…như một cái yết hầu”, “nhìn từ dưới lên như nhìn tòa nhà cao vừa tắt phụt đèn điện”,… =&gt; Tác giả dựng lên một không gian cao vút, sâu thẳm mà lại thật nhỏ, thật hẹp. Cách dùng từ so sánh và miêu tả của tác giả vô cùng độc đáo và thân thuộc.+ Mặt ghềnh Hát Lóong: “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió”, như “đòi nợ suýt” bất cứ ai đi qua quãng ấy,…=&gt; Sự hung bạo, dữ dội và đáng sợ của dòng sông hiện hình trên mặt ghềnh.+ Cái hút nước: như “cái giếng bê tông”, “nước thở và kêu như cái cống cái bị sặc” =&gt; cách miêu tả sáng tạo của Nguyễn Tuân đã đem đến cái nhìn mới mẻ cho người đọc từ một vật thể bình thường thành một cơ thể sống thực sự, đang vận động vô cùng mạnh mẽ và dữ dội. + Thác nước:“lúc thì gầm réo oán trách van xin, khiêu khích,…” =&gt; độ âm vang của tiếng thác nước được nhân cách hóa đầy tinh tế và sinh động như biểu hiện những cung bậc cảm xúc, tâm trạng và tính cách của con người.  - Tâm địa sông Đà+ Thạch trận: “Đá ở đây... mai phục hết trong lòng sông, ...quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, ... là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vỗ lấy thuyền”.+ Thủy trận: &quot;Đám tảng đám hòn ... chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền…”+Ba trùng vi:&quot; Vòng đầu ... nó mở ra năm cửa trận, có bốn cửa tử một cửa sinh&quot; , &quot;vòng thứ hai này tăng thêm nhiều cửa tử&quot;, &quot;còn một trùng vây thứ ba nữa, ít cửa hơn, bên trái bên phải đều là luồng chết cả”.=&gt; Với ngòi bút điêu luyện và tài nghệ của mình, Nguyễn Tuân không chỉ miêu tả nét kỳ vĩ, hung tợn của dòng sông Đà bằng thị giác mà còn bằng tất cả mọi giác quan có thể để thu nhận tất thảy mọi chi tiết dù là nhỏ nhất một cách tinh tế nhất. Qua bút pháp lãng mạn, tác giả càng lột tả rõ ràng hơn sự mãnh liệt, dữ dội và hùng vĩ của sông Đà, của núi rừng Tây Bắc.b) Hình ảnh con sông Đà trữ tình+ Hình dáng: “tuôn dài ... như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc”, vẻ đẹp bình dị như “một dải dây thừng” hay lại như &quot;một mái tóc mun… áng tóc trữ tình&quot;,…=&gt; Vẻ đẹp dung dị của hình ảnh người thiếu nữ.nói chung và người thiếu nữ vùng cao Tây Bắc nói riêng.+ Màu nước sông Đà: mùa xuân thì mang trong mình màu xanh ngọc bích, mùa thu lại lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa =&gt; Phải quan sát kỹ lắm và phải tinh tế lắm thì Nguyễn Tuân mới có những áng văn rất thơ, rất thật và rất sáng tạo đến vậy.+ Dòng sông khoe vẻ gợi cảm: dòng sông Đà êm đềm, thơ mộng, “cảnh hai bờ sông giống như một bờ tiền sử” =&gt; Bên cạnh vẻ quyến rũ, nên thơ là nét hoài cổ gợi lại sự quen thuộc, gần gũi xa xưa như Đường thi, như một cố nhân, một tri âm, tri kỷ. Tác giả tìm thấy sự thân thương, thân thuộc một thời bên người bạn cố nhân nơi đất khách này.=&gt; Bằng cách diễn đạt phong phú, sáng tạo với những câu văn giàu chất thơ, giàu nhạc điệu, cùng việc sử dụng khéo léo các biện pháp nghệ thuật so sánh, ẩn dụ trong bút pháp hiện thực cùng lãng mạn đã hiện lên nàng thiếu nữ sông Đà cuốn hút, thơ mộng giữa núi rừng. =&gt; Vẻ đẹp sông Đà hay chính là vẻ đẹp thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, nên thơ như bức phông nền tuyệt đẹp làm nổi bật hình ảnh người lái đò - hình ảnh của người lao động chân chất giữa núi rừng.*Trong khi soạn văn Người lái đò sông Đà, chúng ta luôn có những ý chốt, những ý đánh giá và khái quát lại các dẫn chứng đã nêu ra để dễ nắm bài hơn.2. Hình tượng người lái đò- Giới thiệu về người lái đò:Tác giả giới thiệu người lái đò sông Đà là người lái ra hoa. Cuộc sống hằng ngày của ông là lèo lái con thuyền vật lộn với dòng sông Đà, chiến đấu với thiên nhiên để dành giật sự sống. Người lái đò hiện lên với ngoại hình độc đáo “tay lêu nghêu như cái sào, chân khuỳnh khuỳnh” - một sự ví von, miêu tả rất giản dị mà giàu tính gợi hình. Hình ảnh người lái đò sông Đà còn là hiện thân của người lao động khỏe mạnh, vạm vỡ trước thiên nhiên, núi rừng.- Hình ảnh người lái đò qua những lần vượt thác dữ:+ “Trên sông Đà ông xuôi ngược trên một trăm lần”, “nhớ tỉ mỉ … những luồng nước” =&gt; Cho thấy người lái đò rất từng trải và vô cùng thành thạo trong nghề, cũng như am hiểu mọi thứ trên dòng sông này.+ “Nén đau giữ mái chèo, tỉnh táo chỉ huy bạn chèo ...”, “nắm chắc binh pháp của thần sông thần núi”, “cưỡi đúng ngay trên bờm sóng, phóng thẳng thuyền vào giữa thác ...”=&gt; Hình ảnh người lái đò đầy bản lĩnh, tài ba và mưu trí để chinh phục sự hung hãn của dòng sông. Đó còn là hiện thân của người lao động với cuộc sống vất vả, gian nan nhưng luôn đầy nghị lực và không ngừng phấn đấu, lao động và làm việc.+ Ông ưa những khúc sông nhiều ghềnh thác, thích việc chinh phục những “con thủy quái”=&gt; Ông không chỉ là người lái đò mà còn là một nghệ sĩ tài hoa thực thụ. Cảnh vượt thác như một góc quay hùng hồn về thiên nhiên và ông là một người nghệ sĩ biểu diễn đầy tâm huyết trên “sân khấu” của riêng mình.- Sau cuộc chiến hung hãn trên dòng sông Đà, người lái đò cung có cuộc sống dung dị như bao người lao động núi rừng nơi đây: &quot;đêm ấy nhà ông đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam.. cá tủa ra tràn đầy đồng ruộng&quot; =&gt; Ban ngày ông chiến đấu với thiên nhiên dữ dội để sinh tồn, đêm về ông sống cùng thiên nhiên bình yên nơi đại ngàn.=&gt; Cuộc đời ông lái đò có thể viết lên cả bản thiên anh hùng ca giữa núi non đại ngàn. Hình ảnh người lao động hiện lên bình dị, khỏe khoắn nhưng cao cả, dũng cảm và đầy bản lĩnh trong công việc, trong cuộc sống. Họ là những người nghệ sĩ thực thụ, ngự trị thiên nhiên và làm chủ chính mình. Tác giả đã thực sự tìm được thứ vàng mười quý giá trên mảnh đất núi rừng Tây Bắc hùng vĩ.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1899741060</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-18 14:55:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1899741060</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đề bài: Phân tích khổ thơ thứ3 bài thơ Tây Tiến1. Phân tích đề- Yêu cầu đề bài: Phân tích nội dung, nghệ thuật đoạn thơ thứ 3 của bài Tây Tiến- Phạm vi tư liệu, dẫn chứng: các hình ảnh, từ ngữ, chi tiết tiêu biểu trong khổ 3 bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng- Phương pháp lập luận chính: phân tích2. Dàn ýI. Mở bài- Giới thiệu về tác giả Quang Dũng và bài thơ Tây Tiến.- Dẫn dắt vào vấn đề cần phân tích và trích dẫn đoạn thơ trên.II. Thân bài1. Khái quát chung- Hoàn cảnh sáng tác: Là bài thơ sau khi tác giả rời xa đơn vị cũ. Cuối năm 1948, ở Phù Lưu Chanh, Quang Dũng nhớ lại những kỉ niệm về đoàn quân Tây Tiến và viết nên bài thơ Tây Tiến.- Nội dung bài thơ: Là nỗi nhớ về chiến trường, về con người, về thiên nhiên Tây Bắc bằng cả tấm chân tình của chính tác giả.- Vị trí đoạn thơ: Là đoạn thơ thứ ba trong mạch cảm xúc của toàn bài thơ. Đoạn thơ đã khắc họa chân dung người lính Tây Tiến với sự hy sinh bi tráng của họ.2. Những nội dung cần phân tích- Chân dung: Những chi tiết tả thực đã khắc họa diện mạo rất độc đáo, đồng thời phản ánh hiện thực gian khổ, thiếu thốn, bệnh tật nơi chiến trường. Tác giả không hề né tránh hiện thực, và điều đó thể hiện tấm lòng yêu nước, căm thù giặc mãnh liệt của người lính Tây Tiến.- Tâm hồn hào hoa, lãng mạn, và kiêu hùng: Qua các ngôn từ thơ “dữ oai hùm”, “mắt trừng gửi mộng qua biên giới” ta thấy được khí thế và quyết tâm của người lính Tây Tiến.- Lí tưởng cao đẹp: Không trốn tránh hiện thực “Áo bào thay chiếu anh về đất”, tác giả đã khắc họa sự hi sinh của người lính một cách thanh thản, thầm lặng và cao cả, gây xúc động lòng người, lay động thiên nhiên.3. Nghệ thuật- Bút pháp tả thực khắc họa chân dung người lính với hiện thực gian khổ nơi chiến trường; dùng từ Hán - Việt cổ kính để tăng thêm sự thành kính, trân trọng với người đã khuất; nói giảm để thể hiện lí tưởng cao đẹp của người chiến sĩ trong chiến đấu, khắc họa sự hi sinh, nhấn mạnh sự mất mát nơi chiến trường- Nhận xét: Với giọng thơ trang trọng, đôi lúc lắng xuống, cảm xúc dạt dào, hình ảnh người lính Tây Tiến hiện lên với vẻ đẹp bi tráng, tạc vào lòng người như bức tượng đài bất tử về người lính không thể nào quên.III. Kết bàiKhẳng định, đánh giá về những câu thơ trên.Nêu suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về hình ảnh người lính Tây Tiến được thể hiện qua đoạn thơ trên.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1899748346</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-18 14:58:29 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1899748346</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Bài tập trang 86</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1899752777</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;<em>Tràng giang</em> được in trong tập <em>Lửa thiêng</em> (1940) là một trong những bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất trong sáng tác của Huy Cận. Tứ thơ Tràng giang được hình thành vào một buổi chiều mùa thu 1939. Khổ thơ kết cũng vừa là cảnh, vừa là tâm hồn.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Lớp lớp mây cao đùn núi bac,</div><div>Biện pháp ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: tác giả không viết về “núi cao", “mây bạc", mà viết “mây cao", “núi bạc". Đó là cách làm lộn dòng cảm giác khiến người đọc choáng ngợp....Động“đùn" tạo ra một ấn tượng mạnh mẽ.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Chùm nghiêng cánh nhỏ : bóng chiều sa:</div><div>&nbsp; Cánh chim chiều hôm mang theo nắng chiều sa xuống mặt sông. Hình ảnh cánh chim chiều hôm gợi nỗi nhớ nhà và cái buồn cô liêu của người lữ khách.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Lòng quê dợn dợn vài con nước&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;K khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.</div><div>&nbsp;Lòng quê: nỗi nhớ quê hương gợi lên theo sóng nước. Xuất xứ từ câu thơ của Thôi Hiệu đời Đường: "Nhật mô hương quan hà xứ thị? Yên ba giang thượng sử nhân sầu." ("Quê hương khuất bóng hoàng hôn - Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai" - Tản Đà dịch thơ). Tứ thơ mới mẻ, học tập thơ xưa và sáng tạo thêm cái mới. Đoạn thơ nói lên được nỗi niềm bơ vơ, buồn bã của "cái tôi" trữ tình. Cảm xúc hướng về quê hương cũng là một cách gửi gắm nỗi niềm yêu nước thầm kín của nhà thơ.<br>Nét đặc sắc nghệ thuật: Sự kết hợp giữa bút pháp cổ điển của thơ Đường với bút pháp lãng mạn của Thơ mới.<br>    &nbsp; Tâm hồn nhà thơ đôn hậu, tinh tế. Đáng quý là cảnh vật và tâm trạng tác giả tuy buồn cô liêu nhưng rất đẹp, thể hiện tài năng và sự tinh tế trong cảm nhận thế giới tự nhiên và cuộc sông con người.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-18 15:00:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1899752777</guid>
      </item>
      <item>
         <title>  Tìm hiểu đề : đoạn thơ nói về khung cảnh tâm trạng của con người ,khúc dạo đầu của bản tình ca về nỗi nhớ ,ngôn ngữa bình dị kết hợp với các bptt hoán dụ.....                                                        Lập dàn ý : A. Mở bài: Giới thiệu tác giả Tố Hữu và bài thơ Việt Bắc. (Tố Hữu là một nhà thơ lớn có nhiều đóng góp quan trọng cho nền văn học nước nhà. Một trong những sáng tác tiêu biểu của ông là bài thơ Việt Bắc.                                                B. Thân bài </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1899833884</link>
         <description><![CDATA[<div>Bốn câu thơ đầu: là lời của những người ở lại - nhân dân Việt Bắc.<br>+ Điệp cấu trúc câu: "Mình về mình có nhớ ta?", "Mình về mình có nhớ không?".<br>+ Sự láy đi láy lại của câu hỏi tu từ đã xoáy sâu vào nỗi nhớ và sự day dứt khôn nguôi.<br>+ "Mười lăm năm ấy" gợi tháng ngày đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi.<br>+ Những hình ảnh "cây", "núi", "sông", "nguồn" quen thuộc gợi nhắc lối sống ân nghĩa thủy chung.<br>→ Giọng điệu tâm tình, thủ thỉ tràn đầy cảm xúc bâng khuâng, xao xuyến của đồng bào Việt Bắc.                         Bốn câu thơ sau là lời của người đi - các cán bộ chiến sĩ cách mạng.<br>+ Đại từ "ai" ngân vang cùng sự "tha thiết" đã nhấn mạnh vào tình cảm, cảm xúc đặc biệt.<br>+ Những tính từ miêu tả cảm xúc như "bâng khuâng", "bồn chồn".<br>+ Tất cả mọi cảm xúc dường như nén lại: "Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay".<br>- Giọng điệu tâm tình được tạo nên bởi nghệ thuật biểu hiện giàu tính dân tộc<br>+ Sử dụng nhuần nhuyễn, sáng tạo và linh hoạt thể thơ lục bát - thể thơ dân tộc.<br>+ Kết cấu bài thơ được kiến tạo theo lối đối đáp giao duyên qua cặp đại từ "mình - ta                                               C. Kết bài<br>Khẳng định lại giá trị, ý nghĩa của đoạn thơ: đoạn thơ đóng góp một phần to lớn vào thành công của tác phẩm và nền văn học Việt Nam; để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng nhiều thế hệ bạn đọ</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-18 15:27:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1899833884</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dàn ý khổ 3 bài Tây Tiến - Mẫu 1I. Mở bài- Giới thiệu về tác giả Quang Dũng và bài thơ Tây Tiến.- Dẫn dắt vào vấn đề cần phân tích và trích dẫn đoạn thơ trên.II. Thân bài1. Khái quát chung- Hoàn cảnh sáng tác: Là bài thơ sau khi tác giả rời xa đơn vị cũ. Cuối năm 1948, ở Phù Lưu Chanh, Quang Dũng nhớ lại những kỉ niệm về đoàn quân Tây Tiến và viết nên bài thơ Tây Tiến.- Nội dung bài thơ: Là nỗi nhớ về chiến trường, về con người, về thiên nhiên Tây Bắc bằng cả tấm chân tình của chính tác giả.- Vị trí đoạn thơ: Là đoạn thơ thứ ba trong mạch cảm xúc của toàn bài thơ. Đoạn thơ đã khắc họa chân dung người lính Tây Tiến với sự hy sinh bi tráng của họ.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1899914189</link>
         <description><![CDATA[<div>2. Những nội dung cần phân tích<br><br>- Chân dung: Những chi tiết tả thực đã khắc họa diện mạo rất độc đáo, đồng thời phản ánh hiện thực gian khổ, thiếu thốn, bệnh tật nơi chiến trường. Tác giả không hề né tránh hiện thực, và điều đó thể hiện tấm lòng yêu nước, căm thù giặc mãnh liệt của người lính Tây Tiến.<br><br>- Tâm hồn hào hoa, lãng mạn, và kiêu hùng: Qua các ngôn từ thơ “dữ oai hùm”, “mắt trừng gửi mộng qua biên giới” ta thấy được khí thế và quyết tâm của người lính Tây Tiến.<br><br>- Lí tưởng cao đẹp: Không trốn tránh hiện thực “Áo bào thay chiếu anh về đất”, tác giả đã khắc họa sự hi sinh của người lính một cách thanh thản, thầm lặng và cao cả, gây xúc động lòng người, lay động thiên nhiên.<br><br>3. Nghệ thuật<br><br>- Bút pháp tả thực khắc họa chân dung người lính với hiện thực gian khổ nơi chiến trường; dùng từ Hán - Việt cổ kính để tăng thêm sự thành kính, trân trọng với người đã khuất; nói giảm để thể hiện lí tưởng cao đẹp của người chiến sĩ trong chiến đấu, khắc họa sự hi sinh, nhấn mạnh sự mất mát nơi chiến trường<br><br>- Nhận xét: Với giọng thơ trang trọng, đôi lúc lắng xuống, cảm xúc dạt dào, hình ảnh người lính Tây Tiến hiện lên với vẻ đẹp bi tráng, tạc vào lòng người như bức tượng đài bất tử về người lính không thể nào quên<br>III. Kết bài<br><br>Khẳng định, đánh giá về những câu thơ trên.<br>Nêu suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về hình ảnh người lính Tây Tiến được thể hiện qua đoạn thơ trên.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-18 15:57:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1899914189</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dàn ý phân tích hai khổ cuối trong bài “Sóng”</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1900650603</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>1.Mở bài:</strong><br>-xuân Quỳnh là trong những gương mặt nứng nổi bật của thế hệ nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Sóng là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ của Xuân Quỳnh luôn luôn trăn trở, khao khát được yêu thương gắn bó.<br>Đoạn từ sắp phân tích sau đây nằm ở phần cuối của bài thơ. Có thể xem đó là đoạn tiêu biểu nhất của tác phẩm và nghệ thuật và nội dung.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; “ cuộc đời tuy dài thế”<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; .......<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; “ Để ngàn năm còn vỗ”<br><strong>2.Thân bài:</strong><br><strong>a) khái quát trước khi phân tích.</strong><br>-bài thơ sóng được sáng tác tại biển diêm Điền năm 1967, sau được in trong tập hoa dọc chiến hào. Bài thơ mang âm hưởng của những con sóng biển và những con sóng lòng đang khao khát tình yêu. Bài thơ có hai hình tượng cùng song hành và hòa điệu đó là sóng và em . Hai hình tượng này đã tạo nên nét đáng yêu cho bài thơ.<br><strong>b) cảm nhận, phân tích đoạn thơ.<br>-</strong>tác giả lo âu, suy nghĩ nhưng không vì thế mà đừng yêu, ngừng nhớ trái tim vẫn đập mãnh liệt khi yêu và được yêu, vẫn muốn sống hết mình cho tình yêu của ngày hôm nay, của hiện tại.<br>-tác giả ước làm sao có thể tan thành những con sóng, từng con sóng ngày đêm vỗ về hạnh phúc tình yêu.<br>-bởi thế mà con sóng ngày đêm vỗ về nơi biển lớn của tình yêu ấy là chăm con sóng lòng xốn xang, dâng trào.<br><strong>c)Kết bài:</strong><br>Qua bài thơ, Xuân Diệu đã nói lên tâm sự của bao người trong đó, đặc biệt là những thế hệ trẻ hôm nay.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-18 22:12:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1900650603</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm với phong cách mộc mạc nhưng rất dỗi sâu sắc. Đặc biệt nó được thể hiện rõ trong chín câu thơ đầu đã nói lên được nguồn gốc sâu xa của mảnh đất quê hương tình nghĩa.Mở đầu là những lời bình dị:“Khi ta lớn lên, Đất Nước đã có rồi”. Mọi người đều được nuôi dưỡng từ đất nước… điệp khúc “ngày xửa ngày xưa…”, tác giả muốn nói rằng đất nước hình thành từ rất lâu, đất nước có trong từng lời mẹ kể. Đất nước gắn với sinh hoạt gia đình: “Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn”. Câu thơ này làm ta nhớ đến nhiều câu  ca dao và truyện Trầu cau tình nghĩa. Qua hình ảnh “miếng trầu”, Nguyễn Khoa Điềm “nhân dân hóa” thơ mình và có thêm một bằng chứng về đất nước hình thành từ xa xưa. Tuy vậy, đất nước chỉ lớn lên với truyền thống: “dân mình biết trồng tre mà đánh giặc” và quá trình hình thành nhiều phong tục, tập quán:Tóc mẹ thì bới sau đầuNguyễn Khoa Điềm thật sự xúc động khi nói đến:“Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”. Đó lời ngợi ca tình nghĩa, thuỷ chung trong gian khó. Chữ “thương” giúp thơ ông gần văn học bình dân. “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi”- điều ấy, hiển nhiên như khi ta lớn lên đã có ông bà, cha mẹ… Đất nước gắn bó, thân thiết như người ruột thịt. Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng. Đất nước ta gắn liền với nền nông nghiệp lúa nước: “Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng”. Làm nên hạt gạo phải trải qua nhiều công đoạn, phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt. Quá trình hình thành đất nước đầy ý nghĩa và sâu sắc.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1900728366</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-18 23:24:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1900728366</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1900852420</link>
         <description><![CDATA[<div><br>*hoàn thành bài tập về nhà:<br>Đề bài:phân tích hai khổ thơ đầu trong tác phẩm <strong>sóng</strong> của Xuân Quỳnh :<br>"Dữ dội và dịu êm<br>Ồn ào và lặng lẽ<br>Sông không hiểu nổi mình<br>Sóng tìm ra tận bể<br><br>Ôi con sóng ngày xưa<br>Và ngày sau vẫn thế<br>Nỗi khát vọng tình yêu<br>Bồi hồi trong ngực trẻ"<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; BÀI LÀM<br>Chế Lan Viên đã từng nói rằng "vạt áo của triệu nhà thơ không bọc hết vàng mà đời rơi vãi,hãy nhặt chữ của đời mà góp lên trang".Qủa đúng như chia sẻ của mình nhà thơ Xuân Quỳnh đã không ngừng nhặt lấy chữ của đời để dệt lên những câu thơ neo đậu cảm xúc mãi trong lòng người đọc thông qua tác phẩm "Sóng". Hai khổ thơ đầu bài thơ là những cảm nhận tinh tế sâu sắc của một trái tim yêu<br>&nbsp; &nbsp; Mở đầu bài thơ Xuân Quỳnh đã quan sát và miêu tả những đặc tính đối lập của sóng:</div><div>“Dữ dội và dịu êm</div><div>Ồn ào và lặng lẽ”</div><div>Tác giả đã sử dụng cặp tiểu đối “dữ dội – dịu êm”, “ồn ào – lặng lẽ” để diễn tả những trạng thái bất thường, đa dạng của sóng. Cách ngắt nhịp câu thơ 2/3 đều đặn, nhịp nhàng tạo nên âm điệu của những con sóng gối lên nhau vô hồi, vô hạn vỗ vào bờ. Cách sử dụng liên từ “và” cho thấy những trạng thái đối lập này luôn tồn tại trong một thể thống nhất không mâu thuẫn mà đan xen vận động chuyển hóa không ngừng. Những trạng thái đối nghịch của sóng cũng chính là những biến động khác thường những cảm xúc đa dạng trong trái tim người phụ nữ.Dẫu sao con sóng quen thuộc trở lên lạ lùng,khó lí giải trước những mâu thuẫn ấy sóng khao khát tự khám phá,tự nhận thức:<br>"Sông không hiểu nổi mình</div><div>Sóng tìm ra tận bể"<br>Sông và bể là những không gian,hành trình tự nhiên của những con sóng là từ suối đổ về sông,từ sông đổ về biển lớn.Đó lag hành trình từ không gian chật hẹp đến không gian rộng lớn bao la thông thường sóng được khởi sinh từ lòng sông.Nếu sông không hiểu nổi sóng thì sóng quyết tìm ra bể lớn.hành trình của những con sóng cũng giống với người phụ nữ trong tình yêu .Khi yêu người phụ nữ trân thành ,mãnh liệt ,yêu hết mình ,yêu đến tận cùng.<br>&nbsp; &nbsp; Ra đến bể con sóng thấy những dao động trái ngược kia là muôn thuở, vĩnh hằng với thời gian:</div><div>“Ôi con sóng ngày xưa</div><div>Và ngày sau vẫn thế</div><div>Nỗi khát vọng tình yêu</div><div>Bồi hồi trong ngực trẻ”</div><div>Đứng trước biển con người ta có cảm giác nghìn năm trước khi chưa có mình biển vẫn thế này, nghìn năm sau mình đã tan biến khỏi mặt đất biển vẫn thế kia, sẽ vẫn mãi còn hình ảnh những con sóng từ xa mải miết chạy vào bờ tan mình vào bờ bãi. Đối diện với sự bất diệt, trường tồn của biển nhà thơ liên tưởng tới một sự bất diệt khác. Đó là sự bất diệt của khát vọng tình yêu. Khát vọng tình yêu là khát vọng vĩnh hằng muôn thuở biết bao nhiêu thế kỉ đã qua con người đã đến và sống mà không thể thiếu tình yêu. Tình yêu khiến con người ta trẻ mãi, tái sinh như con sóng biển ào lên rồi lại tan ra hòa nhập vào biển cả.<br>&nbsp; &nbsp;Câu chuyện tình yêu sẽ không là của riêng một ai, trong trái tim chúng ta đều tồn tại một tình yêu có lúc bình lặng rồi sẽ có lúc trào dâng mạnh mẽ, luôn muốn yêu và được yêu. Hai khổ thơ đầu bài Sóng cho thấy rõ hơn về phong cách thơ của Xuân Quỳnh và nét hiện đại của thi sĩ trước tình yêu nồng nàn, sôi nổi, chủ động</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-19 00:45:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1900852420</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tìm hiểu đề và lập dàn ý  4 câu thơ đầu bài THƯƠNG VỢI.    Mở bài- Đôi nét về tác giả Trần Tế Xương: một tác giả mang tư tưởng li tâm Nho giáo, tuy cuộc đời nhiều ngắn ngủi-  Thương vợ là một trong số những bài thơ hay và cảm động nhất của Tú Xương viết về bà Tú- 4 câu thơ đầu đặc tả sự vất vả của người phụ nữ - người vợ thời xưa                       II.    Thân bàib                              1. Hai câu đề-    Hoàn cảnh bà Tú: mang gánh nặng gia đình, quanh năm lặn lội “mom sông”+ Thời gian “quanh năm”: làm việc liên tục, không trừ ngày nào, hết năm này qua năm khác+ Địa điểm “mom sông”:phần đất nhô ra phía lòng sông không ổn định.⇒ Công việc và hoàn cảnh làm ăn vất vả, ngược xuôi, không vững vàng, ổn định- Lí do:+ “nuôi”: chăm sóc hoàn toàn+ “đủ năm con với một chồng”: một mình bà Tú phải nuôi cả gia đình, không thiếu cũng không dư.⇒    Bản thân việc nuôi con là người bình thường, nhưng ngoài ra người phụ nữ còn nuôi chồng ⇒ hoàn cảnh éo le trái ngang+ Cách dùng số đếm độc đáo “một chồng” bằng cả “năm con”, ông Tú nhận mình cũng là đứa con đặc biệt. Kết hợp với cách ngắt nhịp 4/3 thể hiện nỗi cực nhọc của vợ.⇒    Bà Tú là người đảm đang, chu đáo với chồng con.                     2. Hai câu thực- Lặn lội thân cò khi quãng vắng: có ý từ ca dao “Con cò lặn lội bờ sông” nhưng sáng tạo hơn nhiều (cách đảo từ lặn lội lên đầu hay thay thế con cò bằng thân cò):+ “Lặn lội”: Sự lam lũ, cực nhọc, nỗi gian truân, lo lắng+ Hình ảnh “thân cò”: gợi nỗi vất vả, đơn chiếc khi làm ăn ⇒ gợi tả nỗi đau thân phận và mang tình khái quát+ “khi quãng vắng”: thời gian, không gian heo hút rợn ngợp, chứa đầy những nguy hiểm lo âu⇒ Sự vất vả gian truân của bà Tú càng được nhấn mạnh thông qua nghệ thuật ẩn dụ- “Eo sèo… buổi đò đông”: gợi cảnh chen lấn, xô đẩy, giành giật ẩn chứa sự bất trắc+ Buổi đò đông: Sự chen lấn, xô đẩy trong hoàn cranh đông đúc cũng chứa đầy những sự nguy hiểm, lo âu- Nghệ thuật đảo ngữ, phép đối, hoán dụ, ẩn dụ, sáng tạo từ hình ảnh dân gian nhấn mạnh sự lao động khổ cực của bà Tú.⇒ Thực cảnh mưu sinh của bà Tú : Không gian, thời gian rợn ngợp, nguy hiểm đồng thời thể hiện lòng xót thương da diết của ông Tú.            III.    Kết bài                                      -Khẳng định lại những nét đặc sắc tiêu biểu về nghệ thuật làm nên thành công nội dung của 4 câu đầu bài Thương vợ-    Liên hệ, bày tỏ quan điểm, suy nghĩ của bản thân về người phụ nữ trong xẫ hội hôm nay     </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1900936185</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-19 01:23:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1900936185</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Cảm nhận 8 câu đầu Việt Bắc</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1901025711</link>
         <description><![CDATA[<div>Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hiệp định Giơnevơ được ký kết, tháng 10 năm 1954, các cơ quan Trung ương của Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội. Nhân sự kiện có tính chất lịch sử ấy, Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc, khắc họa lại cuộc chia tay lịch sử với những tình cảm thủy chung son sắt. Tình cảm ấy được thể hiện qua những câu thơ sau:<br><br>“Mình về mình có nhớ ta<br>Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng<br>Mình về mình có nhớ không<br>Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn<br><br>Tiếng ai tha thiết bên cồn<br>Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi<br>Áo chàm đưa buổi phân li<br>Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”<br><br>Đoạn thơ tràn đầy một nỗi nhớ tưởng như không thể kìm nén được, cứ trào ra theo ngòi bút và tuôn chảy thành những dòng thơ. Có đến bốn chữ “nhớ” trong một đoạn thơ tám câu chắc hẳn nỗi nhớ ấy phải thật da diết và sâu nặng. Đây là nỗi nhớ quê hương cách mạng của người đã từng gắn bó sâu sắc với vùng đất thiêng đầy kỷ niệm ấy, là nỗi nhớ của nghĩa tình, của ân tình thủy chung.<br><br>Khúc hát dạo đầu đã nhắc đến nỗi nhớ của đạo lí Việt Nam, cảnh tiễn đưa bâng khuâng trong nỗi nhớ, người ở lại hỏi người ra đi cũng chỉ một nỗi nhớ và người ra đi trả lời bằng chính nỗi nhớ ấy của mình. Tố Hữu đã diễn tả nỗi nhớ quê hương cách mạng bằng tiếng nói ngọt ngào, tha thiết của khúc hát đối đáp giao duyên nam nữ trong dân ca. Khúc hát ấy thấm nhuần đạo lí ân tình thủy chung:<br><br>“Mình về mình có nhớ ta<br>Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng<br>Mình về mình có nhớ không<br>Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn”.<br><br>Nghe như ca dao, lại phảng phất âm hưởng thơ Kiều, hai câu đầu gợi ta nhớ đến một câu thơ trong Truyện Kiều:<br><br>“Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình”<br><br>Việt Bắc đã hỏi người cán bộ về xuôi có còn nhớ mình không? Có còn nhớ những tình cảm thiết tha, mặn nồng trong suốt khoảng thời gian mười lăm năm gắn bó. Nhìn cây còn có nhớ núi, nhìn sông còn có nhớ đến nguồn? Bốn câu thơ nhưng thực chất là hai câu hỏi tu từ. Lời của người ở nhưng thực chất là lời nói của người đi để nói lên đạo lí Việt Nam truyền thống vốn là bản chất tốt đẹp của dân tộc ta. Không chỉ nói lên mà chính là nhắc nhở mọi người, nhắc nhở chính mình bởi vì cái đạo lí ấy thiêng liêng lắm, quý giá lắm, phải giữ gìn và phát huy.<br><br>Sâu nặng biết bao trong “mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”, ân tình biết bao khi “nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn”. Bốn câu thơ mà có đến bốn chữ “mình”, bốn chữ “nhớ” hòa quyện quấn quýt cùng chữ “ta”, khiến cái đạo lí ân tình Việt Nam đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt bài thơ Việt Bắc, trở thành chủ đề lớn của tác phẩm.<br><br>Sau khúc hát mở đầu là cảnh tiễn đưa bâng khuâng trong nỗi nhớ của người ra đi và cả người ở lại:<br>Tiếng ai tha thiết bên cồn<br>Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi<br>Áo chàm đưa buổi phân li<br>Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”<br><br>Có âm thanh da diết và màu sắc đậm đà thủy chung, có bước chân bồn chồn và những cái nắm tay đầy lưu luyến. Mỗi bước chân của người đi mang theo nỗi niềm luyến lưu cho người ở lại. “Tiếng ai” không phải là câu hỏi, cũng chẳng phải là đại từ phiếm chỉ mà đó chính là cách nói thể hiện nỗi niềm “bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi”. “Bâng khuâng” vì “đi không nỡ”, nhưng “bồn chồn” vì ở cũng chẳng đành bởi lẽ Việt Bắc đã trở thành ký ức, thành tình yêu, thành tâm hồn:<br><br>“Khi ta ở chỉ là nơi đất ở<br>Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”<br><br>Từ láy bâng khuâng, bồn chồn được Tố Hữu sử dụng rất tinh tế ở câu thơ này. Nó thể hiện được nỗi niềm, được tâm trạng và cả những chuyển động trong cảm xúc, để rồi hình ảnh tiếp theo xuất hiện là chiếc áo chàm qua thủ pháp hoán dụ gợi tả con người Việt Bắc:<br><br>“Áo chàm đưa buổi phân li<br>Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”<br><br>Màu áo chàm là một hình ảnh đầy ý nghĩa, đó là màu áo của Việt Bắc đậm đà, son sắt như chính lòng thủy chung của con người nơi đây. Màu áo ấy nhắc nhở người ra đi nhiều ký ức khó phai nhòa.<br><br>Câu thơ “cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” mang một giá trị biểu cảm rất lớn. “Cầm tay nhau” nhưng chẳng “biết nói gì” vì có quá nhiều nỗi niềm cần bày tỏ, vì trong lòng họ tràn ngập nỗi nhớ thương nên không biết nói điều gì trước, điều gì sau, điều gì nên giãi bày, điều gì nên giấu kín trong tim. Cho nên chẳng “biết nói gì” chính là nói lên rất nhiều tấm lòng thương nhớ. Câu thơ ngắt nhịp 3/3/2 như sự ngập ngừng lưu luyến, làm ta liên tưởng đến buổi tiễn đưa của người chinh phu và chinh phụ trong Chinh phụ ngâm:<br><br>Bước đi một bước, giây giây lại dừng”.<br><br>Trong màn đối đáp giao duyên của cuộc chia tay lịch sử ấy, Tố Hữu đã để cho người ở lại lên tiếng trước. Điều này không chỉ hợp lý, tế nhị mà còn cần thiết cho sự phát triển mạch thơ trong cả bài thơ.<br><br>Bằng việc sử dụng đại từ “mình – ta” cùng thể thơ lục bát, Tố Hữu đã tái hiện cuộc chia tay lịch sử của Việt Bắc và người chiến sĩ cách mạng với biết bao ân tình, chung thủy. Con người dễ cộng khổ nhưng khó đồng cam, Việt Bắc ra đời chính là lời nhắc nhở tình nghĩa gắn bó cùng đạo lý tri ân muôn đời của dân tộc.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-19 02:00:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1901025711</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đề 2. Phân tích đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc của Tố Hữu.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1901071893</link>
         <description><![CDATA[<div>a)&nbsp; &nbsp; &nbsp;Mở bài :</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; Tố Hữu là người đại diện xuất sắc của thơ ca cách mạng Việt Nam và cũng là nhà thơ có phong cách riêng trong sáng tác. Tố Hữu có giọng thơ trữ tình đằm thắm, các sáng tác của ông luôn gắn liền với các chặng đường quan trọng của lịch sử dân tộc. Vì vậy, thơ Tố Hữu vừa đậm đà tính dân tộc nhưng không tách rời tính hiện đại. Bài thơ Việt Bắc là đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là thành tựu xuất sắc của thơ ca kháng chiến chống Pháp. Ấn tượng là 12 câu trong bài thơ :<br>&nbsp; &nbsp;Những đường Việt Bắc của ta</div><div>Đêm đêm rầm rập như là đất rung</div><div>Quân đi điệp điệp trùng trùng</div><div>Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan.</div><div>Dân công đỏ đuốc từng đoàn</div><div>Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay</div><div>Nghìn đêm thăm thẳm sương dày</div><div>Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.</div><div>Tin vui chiến thắng trăm miền</div><div>Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về.</div><div>Vui từ Đồng Tháp, An Khê</div><div>Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.</div><div><strong>b) Thân bài</strong></div><div><strong><em>* Khí thế dũng mãnh của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Việt Nam</em></strong></div><div>- 2 câu đầu: Mở ra một cảnh tượng sôi động của Việt Bắc trong những đêm hành quân vào chiến dịch:</div><div>+ “Những đường Việt Bắc”: không gian vô cùng rộng lớn.</div><div>+ Điệp từ “đêm đêm”: thời gian liên tục tiếp nối.</div><div>+ So sánh “như là đất nung” + từ láy “rầm rập”: Khí thế hào hùng làm rung đất chuyển trời.</div><div>+ Sự lớn mạnh của quân đội ta về lực lượng, khí thế.</div><div>- 6 câu tiếp: Sự phối hợp các lực lượng chiến đấu:</div><div>+ Đoàn quân:</div><ul><li>Từ láy “điệp điệp trùng trùng”: những đoàn quân tiếp nhau bước đi như những đợt sóng trào kéo dài vô tận.</li><li>Hình ảnh “ánh sao đầu súng” là một tứ thơ đẹp gợi nhiều liên tưởng:</li><li>Nghệ thuật nhân hóa: ánh sao theo chân đoàn quân, treo lơ lửng trên đầu súng, soi sáng khắp các ngả đường hành quân - thiên nhiên đã thành người bạn đồng hành cùng chiến sĩ.</li><li>Ần dụ: ánh sao - lí tưởng cách mạng luôn soi sáng dẫn đường, đến tương lai tươi sáng - niềm tin tưởng lạc quan đầy khí thế.</li></ul><div>+ Đoàn dân công:</div><ul><li>Những bó đuốc đỏ rực soi đường, làm sáng bừng lên hình ảnh những đoàn quân dân công tiếp lương, tải đạn với đủ cả: già, trẻ, gái, trai… họ đến từ những miền quê với đủ mọi phương tiện chuyên chở: xe đạp thồ, gùi, cáng… quyết tâm kiên cường vượt qua khó khăn nguy hiểm để bảo đàm vũ khí, thuốc men, lương thực… cho tiến tuyến.</li><li>Cách nói cường điệu “bước… bay”: vừa diễn tả lực lượng đông đảo vừa diễn tả một sức mạnh hùng hậu phục vụ chiến trường. Cuộc chiến đấu của ta là đấu tranh nhân dân, đã phát huy sức mạnh toàn dân.</li><li>Hình ảnh thơ thật đẹp “muôn tàn lửa bay”, “đỏ đuốc”:&nbsp; xua tan những lạnh lẽo, tăm tối nơi rừng núi.</li><li>Từ láy "điệp điệp”, “trùng trùng” + từ “nát đá” : góp phần tạo nên âm điệu hùng tráng mạnh mẽ.</li></ul><div>+ Đoàn ô tô quân sự:</div><ul><li>Xe kéo pháo, chở súng đạn, thuốc men, lương thực, chở quân rùng rùng ra trận:</li><li>Hình ảnh “đèn pha bật sáng”, "ánh sáng rực rỡ xuyên thủng đêm dày tăm tối".</li><li>Hình ảnh ẩn dụ “nghìn đêm” - quá khứ nô lệ; “sương dày” : những khó khăn vất vả, thiếu thốn trong hiện tại.</li><li>So sánh “Như ngày mai lên”, “niềm tin tưởng, lạc quan : hình ảnh thơ mang ý nghĩa biểu trưng cho tương lai tươi sáng của đất nước.</li><li>Nhịp điệu dồn dập, mạnh mẽ, gấp gáp. Âm hưởng hào hùng, sôi nổi náo nức; hình ảnh thơ hoành tráng, mỹ lệ.</li><li>Đoạn thơ tràn ngập ánh sáng: ánh sao, ánh đuốc, ánh đèn pha…, ánh sáng của niềm tin tưởng, niềm vui tràn ngập. Tất cả tạo thành khúc hùng ca chiến thắng. Việt Bắc không còn là của mình hay là của riêng ta mà là của ta – của chúng ta, của tất cả mọi người Việt Nam kháng chiến.</li></ul><div><strong><em>* Niềm vui khi tin chiến thắng cũa mọi miền đất nước tiếp nối báo về: (4 câu cuối)</em></strong></div><ul><li>Điệp từ ”vui” như tiếng reo mừng chiến thắng, cảm xúc náo nức, vui sướng, tự hào khi tin vui chiến thắng dồn dập đổ về từ khắp mọi miền đất nước.</li><li>Liệt kê những địa danh kết hợp từ “trăm miền” mở ra không gian rộng lớn của chiến thắng từ miền núi đến đồng bằng, từ bắc tới nam.</li><li>Nhịp điệu thơ dồn dập, tươi vui, náo nức cho thấy tốc độ thần kỳ, nhanh chóng của những chiến thắng.</li><li>Những từ: “vui về”, “vui lên”, ‘vui từ” đã đặt Việt Bắc làm tâm điểm của mọi niềm vui.</li><li>Giọng thơ say mê, náo nức tràn ngập niềm vui sướng trong lòng hàng triệu con người từ bắc chí nam.</li></ul><div><strong>c) Kết bài:</strong></div><div>- Chỉ với 12 câu thơ mà tác giả đã thể hiện thành công cảm hứng ngợi ca của cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp của nhân dân ta.</div><div>- Không chỉ là cảm hứng, qua <strong><em>Việt Bắc</em></strong> ta còn phải thốt lên lời khen ngợi với <a href="https://doctailieu.com/ve-dep-buc-tranh-tu-binh-kho-tho-thu-7-viet-bac">vẻ đẹp bức tranh tứ bình</a> vô cùng xuất sắc nữa.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-19 02:22:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1901071893</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đề bài : Phân tích đoạn thơ sau trong bài Tràng giang của Huy Cận.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1901121497</link>
         <description><![CDATA[<div>1. Mở bài:<br>Huy Cận là nhà thơ nổi tiếng trong phong trào Thơ mới với những tác phẩm có sự kết hợp giữa yếu tố hiện đại và cổ điển. Phong cách sáng tác của ông có sự khác biệt lớn gắn liền với hai thời điểm: trước cách mạng tháng Tám và sau cách mạng tháng Tám. Có thể nói đó là sự chuyển biến từ nỗi u sầu, buồn bã vì thời thế trước cách mạng cho đến không khí hào hứng vui tươi sau cách mạng gắn với công cuộc đổi mới. Bài thơ “Tràng giang” được viết trong thời kì trước cách mạng với một nỗi niềm chất chứa u buồn, gợi lên sự bế tắc trong cuộc sống của kiếp người trôi nổi lênh đênh. Bài thơ để lại trong lòng người đọc nhiều nỗi niềm khó tả.<br><br></div><div>2.Thân bài<br><strong>a) Bức tranh thiên nhiên</strong>.</div><div>Nhà thơ miêu tả một hoàng hôn tráng lệ với lớp lớp mây trắng chồng xếp lên nhau như những núi bạc, cánh chim nhỉ bé trao nghiêng trong áng chiều và phía dưới là sóng nước Tràng Giang vẫn nhịp nhàng vỗ nhịp.<br><strong>b) Bức tranh tâm trạng</strong></div><div>Hình ảnh vận động hữu hình: "chim nghiêng cánh" để diễn tả một vận động vô hình "bóng chiều sa". Dường như cánh chim đang trĩu xuống dưới sức nặng của bóng chiều, hoàng hôn mặt trời như sa xuống mặt đất. Nếu như trong thơ Bà Huyện Thanh Quan, Lí Bạch... thì cánh chim là biểu hiện báo hoàng hôn trong thơ Huy Cận là sự hiện diện vủa cảm giác cô đơn, lạc lõng của cái tôi lãng mạn trước cuộc đời.<br><br></div><div>Thi nhân phủ định thi liệu cổ điển để khẳng định ý tình thời đại trong hai câu kết:<br><br></div><div><em>"Lòng quê dợn dợn vời con nước</em><br> <em>Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà"</em></div><div>Tác giả đứng ngay trên quê hương mình, dòng sông không có khói mà vẫn dâng lên nỗi nhớ nhà. Nhà ở đây có thể hiểu rộng là nước nhà, chiếu lên hai chữ "lòng quê", lời thơ Huy Cận bộc lộ kín đáo tình cảm với đất nước, quê hương. Đặt bài thơ trong bối cảnh xã hội bấy giờ, có thể hiểu là nỗi buồn đất nước mất chủ quyền, nỗi buồn của cả một thế hệ mang tầm thời đại mà ta còn bắt gặp trong thơ Chế Lan Viên, văn Nguyễn Tuân...<br><br></div><div>&nbsp;+Từ láy "dợn dợn" đã đồng nhất nhịp điệu của sóng nước vố nhịp điệu của cảm xúc. Nó vừa gợi ra cái dập dềnh của sóng nước vừa gợi cảm giác hoang lạnh trong lòng nhân vật trữ tình. Từ láy "dợn dợn" còn diễn tả một cách chân thực, lãng mạn cảm giác hoang mang của cái tôi không tìm thấy điểm tựa và hướng đi cho cuộc đời mình.<br><br></div><div>=&gt; Bức tranh tâm trạng của chủ thể trữ tình mang màu sắc cổ điển khi nhân vật trữ tình cảm thấy cái nhỏ bé, hữu hạn của đời người với cái bao la, vô hạn của không gian. Đó là nét tâm trạng mang màu sắc phương Đông, tiếp nối mạch dòng ngàn đời trong thơ ca cổ điển. Tuy nhiên bài thơ vẫn mang những nét hiện đại, nhà thơ cảm thấy lạc lõng, bơ vơ, mất mối liên hệ với vũ trụ, mất sự giao cảm với cuộc đời, con người và ngập tràn niềm khao khát đồng cảm để vơi bớt cô đơn. Đó cũng là tâm trạng chung của cái tôi lãng mạn trong thơ mới.<br><br></div><div><strong>3. Kết bài</strong></div><div>Nêu cảm nghĩ của bản thân.<br><br></div><div>&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-19 02:43:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1901121497</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Cảm nhận về khổ 5 bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1901143200</link>
         <description><![CDATA[<div>•<strong>Dàn ý:&nbsp;<br></strong><br></div><div><strong>1. Mở bài<br></strong><br></div><div>- Giới thiệu tác giả, tác phẩm<br><br></div><div>- Giới thiệu đoạn thơ<br><br></div><div><strong>2. Thân bài<br></strong><br></div><div>- Hoàn cảnh sáng tác bài thơ<br><br></div><div>- Vị trí đoạn thơ<br><br></div><div>- Âm hưởng của cả đoạn thơ là âm hưởng khẳng định, âm hưởng của niềm tin bất diệt.&nbsp;<br><br></div><div>- Trong khổ thơ thứ 5, nỗi nhớ được diễn tả thật mãnh liệt, da diết hiển hiện trong không gian, thời gian, trạng thái của cuộc sống. Hàng loạt các từ ngữ trái nghĩa có trong khổ thơ:<br><br></div><div><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; Con sóng dưới lòng sâu<br></em><br></div><div><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Con sóng trên mặt nước<br></em><br></div><div><em>Ôi con sóng nhớ bờ<br></em><br></div><div><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Ngày đêm không ngủ được<br></em><br></div><div><em>- </em>Tình yêu luôn đi liền với nỗi nhớ, nó bao trùm cả không gian, khắc khoải trong thời gian, ăn sâu vào ý thức, tiềm thức và đi cả vào trong giấc mơ:<br><br></div><div>Lòng em nhớ tói anh<br><br></div><div>Cả trong mơ còn thức<br><br></div><div>- Cái "thức" trong mơ ấy chính là nỗi lòng của người con gái đang yêu<br><br></div><div>- Nghệ thuật:<br><br></div><div>+ Phép điệp sử dụng 3 lần như một điệp khúc của bản tình ca với những giai điệu da diết, như một ám ảnh thường trực về tình yêu và nỗi nhớ.&nbsp;<br><br></div><div>+ Ba câu thơ gắn liền với hình ảnh sóng giống như những đợt sóng gối lên nhau. Đó là một ẩn dụ nghệ thuật về những đợt sóng lòng đang dâng trào trong tâm hồn người phụ nữ đang yêu.<br><br></div><div><strong>3. Kết bài<br></strong><br></div><div>- Khái quát vấn đề cần nghị luận<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-19 02:53:28 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1901143200</guid>
      </item>
      <item>
         <title>1. PHÂN TÍCH ĐỀ- Yêu cầu đề bài: Phân tích nội dung, nghệ thuật của 14 câu đầu bài Tây Tiến qua đó cái nhìn chi tiết về hình ảnh thiên nhiên, núi rừng Tây Bắc và hình tượng người lính với những kỷ niệm về tình quân dân mặn nồng.- Phạm vi tư liệu dẫn chứng: các từ ngữ, chi tiết, hình ảnh có trong khổ 1 (14 câu thơ đầu) bài Tây Tiến- Phương pháp lập luận chính: phân tích.2. CÁC LUẬN ĐIỂM CHÍNH CẦN TRIỂN KHAI- Luận điểm 1: Ký ức về núi rừng Tây Bắc và đoàn quân Tây Tiến- Luận điểm 2: Hình ảnh núi rừng Tây Bắc, con đường hành quân gian khổ của những người lính, sự hy sinh cao cả của người lính và niềm xót xa của tác giả dành cho đồng đội- Luận điểm 3: Nỗi nhớ đồng đội, nhớ Tây Bắc da diết và những kỷ niệm tình quân dân ngày còn chiến đấuII. LẬP DÀN Ý PHÂN TÍCH ĐOẠN 1 BÀI TÂY TIẾN1. MỞ BÀI PHÂN TÍCH KHỔ 1 TÂY TIẾN- Giới thiệu tác giả Quang Dũng và bài thơ Tây Tiến- Dẫn dắt vào đoạn 1 của bài thơ: Đoạn đầu của bài Tây Tiến thể hiện một thời kháng chiến gian khổ, hào hùng của đoàn quân.2. THÂN BÀI PHÂN TÍCH KHỔ 1 TÂY TIẾN2.1 Ký ức về núi rừng Tây Bắc và đoàn quân Tây Tiến- “Sông Mã”, “Tây Tiến” đều như trở thành những người thân thương ruột thịt mà Quang Dũng dành trọn tình cảm nhớ thương.- “Nhớ chơi vơi” là nỗi nhớ lạ lùng của những người lính từ phố thị.=&gt; Núi rừng Tây Bắc đã khắc vào tâm hồn của họ những kỷ niệm không bao giờ quên, đồng thời cũng là nỗi trống trải, lạc lõng trong lòng tác giả.2.2 Hình ảnh núi rừng Tây Bắc và con đường hành quân gian khổ của những người lính- “Sài Khao”, “Mường Lát” là những địa danh gợi nhắc về địa bàn hoạt động của binh đoàn Tây Tiến, mở rộng sang các không gian khác trong bài thơ.- Nỗi nhớ ở đây dường như dàn trải khắp vùng không gian rộng lớn, mỗi một nơi bước chân tác giả đi qua, ông đều dành những tình cảm yêu thương đặc biệt, trở thành kỷ niệm khắc sâu trong lòng.- Những kỷ niệm nhỏ như sự “mỏi” sau chặng hành quân, ngọn đuốc hoa bập bùng trong đêm tối đều chứng minh nỗi nhớ lớn lao của tác giả.- Gợi sự hiểm trở của núi rừng Tây Bắc, sự vất vả và những nỗ lực kiên cường của người lính chiến khi hành quân.- “Súng ngửi trời” là hình ảnh nhân hóa thú vị, thể hiện tâm hồn lãng mạn, hồn nhiên và hài hước của người lính chiến trong gian khổ.- “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” là vẻ đẹp của sự sống, sự thi vị lãng mạn giữa núi rừng hoang vu, gợi sự bình yên, chốn dừng chân cho người lính.2.3 Hình ảnh người lính và kỷ niệm tình quân dân- Hai câu thơ “Anh bạn… quên đời”:+ Sự hy sinh cao cả của người lính chiến, tư thế hiên ngang, oai hùng sẵn sàng xả thân vì Tổ quốc.+ Niềm xót xa cùng với sự cảm phục tinh thần hy sinh của Quang Dũng dành cho đồng đội.- Bốn câu kết đoạn: “Chiều chiều… nếp xôi”+ Vẻ oai linh, hùng vĩ của núi rừng Tây Bắc với kết cấu thơ tân kỳ, dùng động từ mạnh, thêm vào đó là sự nguy hiểm rình rập nơi rừng thiêng nước độc của ác thú.+ Sự bừng tỉnh khỏi kỷ niệm của tác giả, quay về hiện thực với nỗi nhớ tha thiết, nồng nàn, nhớ tình quân dân ấm nồng với nắm xôi, hương lửa những ngày còn chiến đấu.3. KẾT BÀI PHÂN TÍCH ĐOẠN 1 BÀI THƠ TÂY TIẾN3.1 Giá trị nội dung- Đoạn thơ 14 câu tái hiện rõ nét thiên nhiên và con người Tây Bắc, trên nền thiên nhiên những người lính Tây Tiến hiện lên thật oai hùng, bi tráng.3.2 Giá trị nghệ thuật- Nghệ thuật tương phản và cường điệu, cách sử dụng từ láy gợi hình, gợi cảm để khắc họa một bức tranh giàu màu sắc, đường nét.- Bút pháp hiện thực kết hợp với cảm hứng lãng mạn; chất họa kết hợp với chất nhạc =&gt; dựng lại con đường hành quân giữa núi rừng Tây Bắc hiểm trở, khắc nghiệt, hùng vĩ và thơ mộng.+ Nghệ thuật hài thanh: Tác giả sử dụng câu thơ nhiều thanh trắc tạo nên sự trắc trở.+ Thơ mộng, trữ tình: với các từ ngữ độc đáo, ấn tượng: “hoa về” chứ không phải “hoa nở”; “đêm hơi” chứ không phải “đêm sương”.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1901165457</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-19 03:02:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1901165457</guid>
      </item>
      <item>
         <title>1. PHÂN TÍCH ĐỀ- Yêu cầu đề bài: Phân tích nội dung, nghệ thuật của 14 câu đầu bài Tây Tiến qua đó cái nhìn chi tiết về hình ảnh thiên nhiên, núi rừng Tây Bắc và hình tượng người lính với những kỷ niệm về tình quân dân mặn nồng.- Phạm vi tư liệu dẫn chứng: các từ ngữ, chi tiết, hình ảnh có trong khổ 1 (14 câu thơ đầu) bài Tây Tiến- Phương pháp lập luận chính: phân tích.2. CÁC LUẬN ĐIỂM CHÍNH CẦN TRIỂN KHAI- Luận điểm 1: Ký ức về núi rừng Tây Bắc và đoàn quân Tây Tiến- Luận điểm 2: Hình ảnh núi rừng Tây Bắc, con đường hành quân gian khổ của những người lính, sự hy sinh cao cả của người lính và niềm xót xa của tác giả dành cho đồng đội- Luận điểm 3: Nỗi nhớ đồng đội, nhớ Tây Bắc da diết và những kỷ niệm tình quân dân ngày còn chiến đấuII. LẬP DÀN Ý PHÂN TÍCH ĐOẠN 1 BÀI TÂY TIẾN1. MỞ BÀI PHÂN TÍCH KHỔ 1 TÂY TIẾN- Giới thiệu tác giả Quang Dũng và bài thơ Tây Tiến- Dẫn dắt vào đoạn 1 của bài thơ: Đoạn đầu của bài Tây Tiến thể hiện một thời kháng chiến gian khổ, hào hùng của đoàn quân.2. THÂN BÀI PHÂN TÍCH KHỔ 1 TÂY TIẾN2.1 Ký ức về núi rừng Tây Bắc và đoàn quân Tây Tiến- “Sông Mã”, “Tây Tiến” đều như trở thành những người thân thương ruột thịt mà Quang Dũng dành trọn tình cảm nhớ thương.- “Nhớ chơi vơi” là nỗi nhớ lạ lùng của những người lính từ phố thị.=&gt; Núi rừng Tây Bắc đã khắc vào tâm hồn của họ những kỷ niệm không bao giờ quên, đồng thời cũng là nỗi trống trải, lạc lõng trong lòng tác giả.2.2 Hình ảnh núi rừng Tây Bắc và con đường hành quân gian khổ của những người lính- “Sài Khao”, “Mường Lát” là những địa danh gợi nhắc về địa bàn hoạt động của binh đoàn Tây Tiến, mở rộng sang các không gian khác trong bài thơ.- Nỗi nhớ ở đây dường như dàn trải khắp vùng không gian rộng lớn, mỗi một nơi bước chân tác giả đi qua, ông đều dành những tình cảm yêu thương đặc biệt, trở thành kỷ niệm khắc sâu trong lòng.- Những kỷ niệm nhỏ như sự “mỏi” sau chặng hành quân, ngọn đuốc hoa bập bùng trong đêm tối đều chứng minh nỗi nhớ lớn lao của tác giả.- Gợi sự hiểm trở của núi rừng Tây Bắc, sự vất vả và những nỗ lực kiên cường của người lính chiến khi hành quân.- “Súng ngửi trời” là hình ảnh nhân hóa thú vị, thể hiện tâm hồn lãng mạn, hồn nhiên và hài hước của người lính chiến trong gian khổ.- “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” là vẻ đẹp của sự sống, sự thi vị lãng mạn giữa núi rừng hoang vu, gợi sự bình yên, chốn dừng chân cho người lính.2.3 Hình ảnh người lính và kỷ niệm tình quân dân- Hai câu thơ “Anh bạn… quên đời”:+ Sự hy sinh cao cả của người lính chiến, tư thế hiên ngang, oai hùng sẵn sàng xả thân vì Tổ quốc.+ Niềm xót xa cùng với sự cảm phục tinh thần hy sinh của Quang Dũng dành cho đồng đội.- Bốn câu kết đoạn: “Chiều chiều… nếp xôi”+ Vẻ oai linh, hùng vĩ của núi rừng Tây Bắc với kết cấu thơ tân kỳ, dùng động từ mạnh, thêm vào đó là sự nguy hiểm rình rập nơi rừng thiêng nước độc của ác thú.+ Sự bừng tỉnh khỏi kỷ niệm của tác giả, quay về hiện thực với nỗi nhớ tha thiết, nồng nàn, nhớ tình quân dân ấm nồng với nắm xôi, hương lửa những ngày còn chiến đấu.3. KẾT BÀI PHÂN TÍCH ĐOẠN 1 BÀI THƠ TÂY TIẾN3.1 Giá trị nội dung- Đoạn thơ 14 câu tái hiện rõ nét thiên nhiên và con người Tây Bắc, trên nền thiên nhiên những người lính Tây Tiến hiện lên thật oai hùng, bi tráng.3.2 Giá trị nghệ thuật- Nghệ thuật tương phản và cường điệu, cách sử dụng từ láy gợi hình, gợi cảm để khắc họa một bức tranh giàu màu sắc, đường nét.- Bút pháp hiện thực kết hợp với cảm hứng lãng mạn; chất họa kết hợp với chất nhạc =&gt; dựng lại con đường hành quân giữa núi rừng Tây Bắc hiểm trở, khắc nghiệt, hùng vĩ và thơ mộng.+ Nghệ thuật hài thanh: Tác giả sử dụng câu thơ nhiều thanh trắc tạo nên sự trắc trở.+ Thơ mộng, trữ tình: với các từ ngữ độc đáo, ấn tượng: “hoa về” chứ không phải “hoa nở”; “đêm hơi” chứ không phải “đêm sương”.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1901166038</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-19 03:03:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1901166038</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1901193275</link>
         <description><![CDATA[<div>Đề phân tích khổ 1 bài Tây Tiến.&nbsp; &nbsp;      Tìm hiểu đề : bài thơ đước sáng tác năm 1948 ở phù lưu chanh ,khi ông chuyển sang đơn vị khác, nhớ về đơn vị ông đã viết bài thơ.&nbsp; &nbsp; &nbsp;<br>&nbsp;1. MỞ BÀI&nbsp;<br>- Giới thiệu tác giả Quang Dũng và bài thơ Tây Tiến<br>- Dẫn dắt vào đoạn 1 của bài thơ: Đoạn đầu của bài Tây Tiến thể hiện một thời kháng chiến gian khổ, hào hùng của đoàn quân.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;2. THÂN BÀI&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;  &nbsp; &nbsp; 2.1 Ký ức về núi rừng Tây Bắc và đoàn quân Tây Tiến.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;- “Sông Mã”, “Tây Tiến” đều như trở thành những người thân thương ruột thịt mà Quang Dũng dành trọn tình cảm nhớ thương.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;- “Nhớ chơi vơi” là nỗi nhớ lạ lùng của những người lính từ phố thị.=&gt; Núi rừng Tây Bắc đã khắc vào tâm hồn của họ những kỷ niệm không bao giờ quên, đồng thời cũng là nỗi trống trải, lạc lõng trong lòng tác giả.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;2.2 Hình ảnh núi rừng Tây Bắc và con đường hành quân gian khổ của những người lính.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;                            &nbsp;- “Sài Khao”, “Mường Lát” là những địa danh gợi nhắc về địa bàn hoạt động của binh đoàn Tây Tiến, mở rộng sang các không gian khác trong bài thơ.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;- Nỗi nhớ ở đây dường như dàn trải khắp vùng không gian rộng lớn, mỗi một nơi bước chân tác giả đi qua, ông đều dành những tình cảm yêu thương đặc biệt, trở thành kỷ niệm khắc sâu trong lòng.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;                              &nbsp;- Những kỷ niệm nhỏ như sự “mỏi” sau chặng hành quân, ngọn đuốc hoa bập bùng trong đêm tối đều chứng minh nỗi nhớ lớn lao của tác giả.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;- Gợi sự hiểm trở của núi rừng Tây Bắc, sự vất vả và những nỗ lực kiên cường của người lính chiến khi hành quân.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;                     &nbsp; &nbsp; &nbsp;- “Súng ngửi trời” là hình ảnh nhân hóa thú vị, thể hiện tâm hồn lãng mạn, hồn nhiên và hài hước của người lính chiến trong gian khổ.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;- “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” là vẻ đẹp của sự sống, sự thi vị lãng mạn giữa núi rừng hoang vu, gợi sự bình yên, chốn dừng chân cho người lính.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;          &nbsp; &nbsp;2.3 Hình ảnh người lính và kỷ niệm tình quân dân.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;                   &nbsp; - Hai câu thơ “Anh bạn… quên đời”:      + Sự hy sinh cao cả của người lính chiến, tư thế hiên ngang, oai hùng sẵn sàng xả thân vì Tổ quốc.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;+ Niềm xót xa cùng với sự cảm phục tinh thần hy sinh của Quang Dũng dành cho đồng đội.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Bốn câu kết đoạn: “Chiều chiều… nếp xôi”                                                    + Vẻ oai linh, hùng vĩ của núi rừng Tây Bắc với kết cấu thơ tân kỳ, dùng động từ mạnh, thêm vào đó là sự nguy hiểm rình rập nơi rừng thiêng nước độc của ác thú.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; + Sự bừng tỉnh khỏi kỷ niệm của tác giả, quay về hiện thực với nỗi nhớ tha thiết, nồng nàn, nhớ tình quân dân ấm nồng với nắm xôi, hương lửa những ngày còn chiến đấu.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;              &nbsp; &nbsp;3. KẾT Bài.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;      &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;3.1 Giá trị nội dung.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;- Đoạn thơ 14 câu tái hiện rõ nét thiên nhiên và con người Tây Bắc, trên nền thiên nhiên những người lính Tây Tiến hiện lên thật oai hùng, bi tráng.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 3.2 Giá trị nghệ thuật.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;          &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Nghệ thuật tương phản và cường điệu, cách sử dụng từ láy gợi hình, gợi cảm để khắc họa một bức tranh giàu màu sắc, đường nét.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Bút pháp hiện thực kết hợp với cảm hứng lãng mạn; chất họa kết hợp với chất nhạc =&gt; dựng lại con đường hành quân giữa núi rừng Tây Bắc hiểm trở, khắc nghiệt, hùng vĩ và thơ mộng.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;                &nbsp; &nbsp;+ Nghệ thuật hài thanh: Tác giả sử dụng câu thơ nhiều thanh trắc tạo nên sự trắc trở.&nbsp;                                     + Thơ mộng, trữ tình: với các từ ngữ độc đáo, ấn tượng: “hoa về” chứ không phải “hoa nở”; “đêm hơi” chứ không phải “đêm sương”.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-19 03:16:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1901193275</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Cảm nhận về khổ 5 bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1901197785</link>
         <description><![CDATA[<div><br>•Dàn ý:&nbsp;<br><br>1. Mở bài<br><br>- Giới thiệu tác giả, tác phẩm<br><br>- Giới thiệu đoạn thơ<br><br>2. Thân bài<br><br>- Hoàn cảnh sáng tác bài thơ<br><br>- Vị trí đoạn thơ<br><br>- Âm hưởng của cả đoạn thơ là âm hưởng khẳng định, âm hưởng của niềm tin bất diệt.&nbsp;<br><br>- Trong khổ thơ thứ 5, nỗi nhớ được diễn tả thật mãnh liệt, da diết hiển hiện trong không gian, thời gian, trạng thái của cuộc sống. Hàng loạt các từ ngữ trái nghĩa có trong khổ thơ:<br><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; Con sóng dưới lòng sâu<br><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Con sóng trên mặt nước<br><br>Ôi con sóng nhớ bờ<br><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Ngày đêm không ngủ được<br><br>- Tình yêu luôn đi liền với nỗi nhớ, nó bao trùm cả không gian, khắc khoải trong thời gian, ăn sâu vào ý thức, tiềm thức và đi cả vào trong giấc mơ:<br><br>Lòng em nhớ tói anh<br><br>Cả trong mơ còn thức<br><br>- Cái "thức" trong mơ ấy chính là nỗi lòng của người con gái đang yêu<br><br>- Nghệ thuật:<br><br>+ Phép điệp sử dụng 3 lần như một điệp khúc của bản tình ca với những giai điệu da diết, như một ám ảnh thường trực về tình yêu và nỗi nhớ.&nbsp;<br><br>+ Ba câu thơ gắn liền với hình ảnh sóng giống như những đợt sóng gối lên nhau. Đó là một ẩn dụ nghệ thuật về những đợt sóng lòng đang dâng trào trong tâm hồn người phụ nữ đang yêu.<br><br>3. Kết bài<br><br>- Khái quát vấn đề cần nghị luận</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-19 03:19:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1901197785</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Cảm nhận về khổ 5 bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1901201727</link>
         <description><![CDATA[<div><br>•Dàn ý:&nbsp;<br><br>1. Mở bài<br><br>- Giới thiệu tác giả, tác phẩm<br><br>- Giới thiệu đoạn thơ<br><br>2. Thân bài<br><br>- Hoàn cảnh sáng tác bài thơ<br><br>- Vị trí đoạn thơ<br><br>- Âm hưởng của cả đoạn thơ là âm hưởng khẳng định, âm hưởng của niềm tin bất diệt.&nbsp;<br><br>- Trong khổ thơ thứ 5, nỗi nhớ được diễn tả thật mãnh liệt, da diết hiển hiện trong không gian, thời gian, trạng thái của cuộc sống. Hàng loạt các từ ngữ trái nghĩa có trong khổ thơ:<br><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; Con sóng dưới lòng sâu<br><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Con sóng trên mặt nước<br><br>Ôi con sóng nhớ bờ<br><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Ngày đêm không ngủ được<br><br>- Tình yêu luôn đi liền với nỗi nhớ, nó bao trùm cả không gian, khắc khoải trong thời gian, ăn sâu vào ý thức, tiềm thức và đi cả vào trong giấc mơ:<br><br>Lòng em nhớ tói anh<br><br>Cả trong mơ còn thức<br><br>- Cái "thức" trong mơ ấy chính là nỗi lòng của người con gái đang yêu<br><br>- Nghệ thuật:<br><br>+ Phép điệp sử dụng 3 lần như một điệp khúc của bản tình ca với những giai điệu da diết, như một ám ảnh thường trực về tình yêu và nỗi nhớ.&nbsp;<br><br>+ Ba câu thơ gắn liền với hình ảnh sóng giống như những đợt sóng gối lên nhau. Đó là một ẩn dụ nghệ thuật về những đợt sóng lòng đang dâng trào trong tâm hồn người phụ nữ đang yêu.<br><br>3. Kết bài<br><br>- Khái quát vấn đề cần nghị luận</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-19 03:20:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1901201727</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>nguyenthithu18977</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1901294696</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1299061697/0764bc4147a77d5510de73df0aeab32c/CH_A_L_I_L_P_LU_N_TRONG_V_N_NGH__LU_N.docx" />
         <pubDate>2021-11-19 04:09:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1901294696</guid>
      </item>
      <item>
         <title>I. Tác giả1. Tiểu sử - Nguyễn Tuân (1910-1987) sinh ra trong một nhà nho nghèo khi Hán học đã tàn, quê gốc ở Hà Nội.- Nguyễn Tuân học hết bậc Thành chung thì bị đuổi do tham gia một cuộc bãi khóa phản đối một số giáo viên Pháp nói xấu người Việt Nam.- Sau đó một thời gian ông lại bị tù vì “xê dịch” qua biên giới không có giấy phép.- Ra tù, ông bắt đầu viết văn, làm báo.- Năm 1941, Nguyễn Tuân lại bị bắt giam một lần nữa vì giao du với những người hoạt động chính trị.- Sau Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân nhiệt tình tham gia cách mạng và trở thành cây bút tiêu biểu của nền văn học mới.2. Sự nghiệp văn họca. Tác phẩm chính- Vang bóng một thời (1940), Tùy bút sông Đà (1960), Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi (1972), ...b. Phong cách nghệ thuật- Trước Cách mạng tháng Tám, phong cách sáng tác của ông gói gọn trọng một chữ ngông. Ngông dựa trên sự tài hoa uyên bác và nhân cách hơn người.- Sau Cách mạng tháng Tám, phong cách sáng tác của Nguyễn Tuân đã có nhiều chuyển biến quan trọng, không còn cái ngông nghênh, khinh bạc. Ông tìm thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa quá khứ - hiện tại - tương lai, giọng văn trở nên tin yêu, đôn hậu, tìm thấy cái đẹp, chất tài hoa ở những con người lao động bình thường, giọng văn khinh bạc chủ yếu để ném vào kẻ thù dân tộc hay những mặt trái của xã hội.=&gt; Với phong cách rất riêng của mình, có thể nói Nguyễn Tuân chính là hiện thân của cái định nghĩa về người nghệ sĩ. Đối với ông, văn chương nghệ thuật phải có phong cách độc đáo, mới lạ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1904271669</link>
         <description><![CDATA[<div>II. Tác phẩm<br><br>1. Tóm tắt tác phẩm<br><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Thiên nhiên Tây Bắc được tô điểm bởi con sông Đà vừa hung bạo vừa trữ tình. Sông Đà có lúc dịu dàng như người phụ nữ kiều diễm. Nước sông Đà thay đổi theo mùa, phản chiếu trời xuân nắng thu: “Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, mùa thu lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa”. Dọc theo sông Đà, có lắm thác nhiều ghềnh, có đá dựng vách thành, có đá tảng, đá hòn bày thế thạch trận, tạo nên cửa sinh, cửa tử. Nổi bật trên bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, đầy sức sống đó là hình ảnh ông lái đò sông Đà. Đó là một người mang vẻ đẹp khỏe khoắn của người dân lao động vùng sông nước với thân hình cao to, nước da rám nắng. Ông làm nghề lái đò đã nhiều năm, từng gắn bó với dòng sông Đà, hiểu được tính khí của nó. Ông thuộc nằm lòng từng con thác lớn, thác nhỏ, từng vách đá, luồng nước, từng cửa sinh, cửa tử do thế thạch trận tạo nên. Ông đã dùng kinh nghiệm nghề nghiệp cộng với sự cần cù gan dạ đưa con thuyền vượt thác nước sông Đà đầy nguy hiểm. Ông đã đưa nhiều chuyến hàng về xuôi an toàn để góp phần vào cuộc sống. Sau khi vượt sông Đà, ông lái đò trở về cuộc sống đời thường thanh thản của mình, ông neo thuyền chỗ khúc sông bình lặng, nấu ống cơm lam và bàn tán về cá anh vũ, cá dầm xanh.<br><br>2. Tìm hiểu chung<br><br>a. Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác<br><br>- Người lái đò sông Đà in trong tập Sông Đà (1960), là tùy bút xuất sắc của Nguyễn Tuân.<br><br>- Thành quả thu hoạch được sau chuyến đi gian khổ và hào hứng tới miền Tây bắc rộng lớn, xa xôi.<br><br>b. Bố cục (3 phần)<br><br>- Phần 1 (từ đầu đến "gậy đánh phèn"): Sự dữ dội, hung bạo của sông Đà.<br><br>- Phần 2 (tiếp đến "dòng nước sông Đà"): Cuộc sống con người trên sông Đà, hình tượng người lái đò.<br><br>- Phần 3 (còn lại): Vẻ hiền hòa, trữ tình của sông Đà.<br><br>2. Tìm hiểu chi tiết<br><br>a. Hình tượng con sông Đà<br><br>- Lời đề từ: Khẳng định vẻ đẹp và sự độc đáo của sông Đà. Trên trang văn Nguyễn Tuân, sông Đà đại diện cho thiên nhiên Tây Bắc và là một sinh thể có hồn, sống động, mang tính cách, tâm hồn, vừa hùng vĩ hung bạo lại vừa thơ mộng, trữ tình.<br><br>* Sông Đà hùng vĩ, dữ dội với tính cách hung bạo:<br><br>- Vách đá dựng đứng, kì vĩ: "cảnh đá bờ sông dựng vách thành… sang bờ kia".<br><br>- Ghềnh Hát Loóng hung dữ: "nước xô đá, đá xô sóng… dễ lật ngửa bụng thuyền ra".<br><br>- Hút nước vừa tráng lệ vừa dữ dội: "như cái giếng bê tông… ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi".<br><br>- Thác đá: "nghe như là oán trách… cháy bùng bùng, đá thác từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông… ngỗ ngược, bệ vệ oai phong, hất hàm hiếu chiến".<br><br>- Sông Đà bố trí thạch trận trùng trùng điệp điệp, đòi tóm lấy mọi con thuyền qua sông.<br><br>* Vẻ đẹp thơ mộng và tính cách trữ tình:<br><br>- Hình dáng dòng sông mềm mại: "như cái dây thừng", "như mái tóc tuôn dài"…<br><br>- Màu nước thay đổi theo mùa: "xanh ngọc bích", "lừ lừ chín đỏ".<br><br>- Sông Đà gợi cảm, mang vẻ đẹp đa chiều: "như cố nhân", "như Đường thi",…<br><br>- Vẻ đẹp đôi bờ: êm ả, nguyên sơ, tràn đầy sức sống (cỏ cây, những con vật lành, đàn cá…)<br><br>=&gt; Nghệ thuật xây dựng hình tượng sông Đà: ngôn ngữ điêu luyện, giàu chất tạo hình; so sánh, liên tưởng độc đáo, táo bạo; tiếp cận con sông dưới phương diện cái đẹp, cái tôi trữ tình dạt dào cảm xúc; vận dụng tri thức của nhiều lĩnh vực; giọng điệu phóng khoáng.<br><br>=&gt; Ý nghĩa của hình tượng sông Đà: đại diện cho vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc, đóng vai trò như bức phông nền kì vĩ, làm nổi bật tài nghệ chèo đò, vượt thác của ông đò.<em><br>. Hình tượng người lái đò sông Đà.<br><br>* Vẻ đẹp bình dị của người dân lao động:<br><br>- Ông lái đò sinh ra đã gắn bó với dòng sông Đà. Tuổi ngoài 70 nhưng thân hình vạm vỡ như chất sừng mun, giọng nói vẫn khỏe, cặp mắt vẫn tinh tường. Có thể nói ông lái đò là con người của sông nước.<br><br>- Ông là người hiểu biết sâu rộng về dòng sông:<br><br>+ Đó là một người lái đò lão luyện: “Trên dòng sông Đà, ông xuôi, ông ngược hơn một trăm lần rồi chỉnh tay giữ lái độ sáu chục lần...” trong thời gian hơn chục năm làm cái nghề đầy nguy hiểm và gian khổ này.<br><br>+ Ông hiểu biết sâu rộng và rất thành thạo, thành thạo đến mức sông Đà “đối với ông lái đò ấy, như một trường thiên anh hùng ca mà ông đã thuộc đến cả cái chấm than, chấm câu và những đoạn xuống dòng. Trên dòng sông Đà, ông xuôi, ông ngược hơn một trăm lần rồi, chỉnh tay giữ lái độ sáu chục lần... Cho nên ông có thể bằng cách lấy mắt mà nhớ tỉ mỉ như đóng đanh vào lòng tất cả những luồng nước của tất cả những con thác hiểm trở.”<br><br>+ Ông có trình độ lái đò hết sức điêu luyện và là vị chỉ huy dày dạn kinh nghiệm. Giờ đây khi đã rời xa nghề chèo đò nhưng ông vẫn hoài niệm về những ngày tháng gian nan mà vui vẻ đó.<br><br>* Là một người nghệ sĩ tài hoa:<br><br>- Thủy quái sông Đà: "có diện mạo và tâm địa một thứ kẻ thù số một", nguy hiểm và hung bạo, đầy cạm bẫy với những ghềnh, thác, hút nước, sóng nước, với thạch trận trùng điệp, đầy luồng chết chầu chực nuốt chửng, đập tan con thuyền.<br><br>- Người lái đò bước vào cuộc vượt thác giống như vị chỉ huy bước vào trận đánh. Phải đặt nhân vật vào trong môi trường chiến trận mới có thể bộc lộ hết phẩm chất của người lái đò:<br><br>+ Ông đò vượt trùng vây thứ nhất: Đá thác hiếu chiến ("bệ vệ oai phong, hất hàm"), nước thác làm thanh viện ùa vào đòi bẻ cán chèo, đội thuyền, túm lấy thắt lưng, bóp chặt hạ bộ, ông cố nén vết thương, kẹp chặt cuống lái, tiếng chỉ huy vẫn ngắn gọn tỉnh táo.<br><br>+ Ông đò vượt trùng vây thứ hai: trùng vây thứ 2 "tăng thêm cửa tử" để đánh lừa con thuyền, cửa sinh bị bố trí lệch đi, ông đò thay đổi chiến thuật, "cưỡi lên thác sông Đà, lái miết một đường chéo, rảo bơi chèo lên… sấn lên chặt đôi ra" để mở đường vào cửa sinh.<br><br>+ Ông đò vượt qua trùng vây thứ ba: vòng 3 bên phải, bên trái đều là luồng chết, luồng sống ở giữa bọn đá hậu vệ, ông đò "phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa.. lượn được".<br><br>=&gt; Ông đò là người anh hùng, người nghệ sĩ trong công việc chèo đò, vượt thác. Ông đại diện cho con người Tây Bắc và là chất vàng mười của đất nước ta.</em></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-21 10:50:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1904271669</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>nguyenthithu18977</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1932653415</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1299061697/8e5cd9eff92622d887a5bdde578cfcd5/z2997035759193_0cdee27f1c9ede7980342a7ff8812e4a.jpg" />
         <pubDate>2021-12-07 03:30:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1932653415</guid>
      </item>
      <item>
         <title>phân tích bài :Người lái đò sông Đà </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1939658544</link>
         <description><![CDATA[<div>1. Mở bài<br>- Giới thiệu tác giả: Nguyễn Tuân là nhà văn suốt đời đi tìm cái đẹp.<br>- Giới thiệu tác phẩm: “Người lái đò sông Đà” trích từ tập tuỳ bút “Sông Đà” là một trong những sáng tác tiêu biểu của Nguyễn Tuân sau cách mạng tháng Tám.<br>&nbsp;<br><br>2. Thân bài<br>* Khái quát chung<br>thể loại :tùy bút<br>nội dung :thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ thơ mộng ,con người Tây Bắc bình dị có tâm hòn đẹp đẽ ,những người lao động sống chiến đấu xây dựng Tổ Quốc Tác phẩm là kết quả của chuyến đi Tây Bắc của Nguyễn Tuân để kiếm tìm “chất vàng thử lửa của thiên nhiên Tây Bắc” và “chất vàng mười đã qua thử lửa” của con người nơi đây.<br><br>a.&nbsp; Vẻ đẹp hung bạo của dòng sông<br><br>+ Bờ sông<br>- “dựng vách thành”, cao vút, dựng đứng.<br>- Quãng sông thì hẹp đến nỗi “con nai, con hổ có lần vọt từ bờ sông này sang bờ kia”.<br>- “Mặt sông chỗ ấy chỉ đúng ngọ mới có mặt trời”, “đang mùa hè đi đò qua quãng ấy cũng cảm thấy lạnh”.<br><br>&nbsp;<br><br>- Khi đi qua quãng này, người ta cảm tưởng như mình “đang đứng ở một cái ngõ nào mà ngóng vọng lên cái cửa sổ trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện”.<br>→ hiện ra trước mắt là một khúc sông Đà vừa sâu, vừa hẹp, vừa tối, vừa lạnh đủ để bất kỳ ai đến đây cũng phải rùng mình sợ hãi.<br>+ Ghềnh<br>- ghềnh Hát Loóng “dài hàng cây số, nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm…”.<br>- Các từ láy “cuồn cuộn”, “gùn ghè” vừa hợi âm thanh ghê rợn vừa gợi những hình ảnh khủng khiếp của nơi đây.<br>- Được miêu tả như những kẻ sẵn sàng đòi nợ<br>→ Nó có thể gây ra rất nhiều nguy hiểm mà con người không thể nào lường trước được.<br>+ Hút nước<br>- Nhìn từ xa những cái xoáy nước trên sông giống như cái lúm đồng tiền trên má cô gái, có thể lôi tuột một cái thuyền xuống đáy sông và đánh cho tan xác.<br>- Những cái hút nước như những cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu.<br>- “Nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc”.<br>→ Ngòi bút sắc sảo của Nguyễn Tuân khiến người đọc cảm giác như đang được xem một bộ phim hành động hấp dẫn nhưng cũng vô cùng đáng sợ.<br>+ Thác nước<br>- Tiếng thác nghe như là “oán trách”, nghe như là “van xin”, “khiêu khích”, giọng gằn mà “chế nhạo”.<br>- “Thế rồi nó rống lên”,so sánh tiếng thác sông Đà giống như tiếng của một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn để phá tuông sự bủa vây của rừng lửa.<br>→ sự giữ dội của nước sông.<br>+ Đá<br>- “cả một chân trời đá” → đá sông Đà nhiều vô kể.<br>- từng tảng đá mặt hòn nào trông cũng “ngỗ ngược”, “nhăn nhúm”, “méo mó”.<br>- Rồi chúng còn vây thành một thạch trận giống như một trận đồ bát quái trên sông Đà.<br>→ sông Đà giống như kẻ thù số một của con người<br><br>b. Vẻ đẹp trữ tình của sông Đà<br><br>- Sông Đà “tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi mèo đốt nương xuân”.<br>- Không chỉ đẹp ở dáng hình mà còn đẹp ở màu nước: mùa xuân dòng xanh ngọc bích, thu sang nước sông chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa.<br>- Bờ bãi sông Đà thì mênh mang, trải dài “bờ sông Đà, bãi sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm sông Đà”.<br><br>- So sánh vô cùng gợi cảm khi miêu tả dòng sông “bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử”, “bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”.<br>→ Những câu văn miêu tả vẻ trữ tình, thơ mộng của sông Đà đã tạo nên một đoạn văn giàu chất thơ.<br>3. Kết bài<br>&nbsp;Bằng vốn hiểu biết sâu rộng cùng tài năng miêu tả sắc sảo → đưa người đọc đi hết từ sợ hãi này đến bất ngờ khác khi miêu tả hai vẻ đẹp hung bạo và trữ tình của sông Đà.<br>Khái quát vẻ đẹp sông Đà và người lao động  nơi đây<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-10 03:55:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1939658544</guid>
      </item>
      <item>
         <title>I. Mở bài- Giới thiệu tác giả Nguyễn Tuân: là tác giả yêu cái đẹp, suốt đời đi tìm cái đẹp, có phong cách nghệ thuật độc đáo, uyên bác, tài hoa.- Tác phẩm: là một tác phẩm tiêu biểu cho phong cách của Nguyễn Tuân.- Hình tượng con sông Đà chính là thứ vàng mười của thiên nhiên mà Nguyễn Tuân tìm kiếm.            II. Thân bài                                    1. Sông đà “hung bạo”- Hướng chảy của sông Đà cho thấy đó là một dòng sông đầy cá tính “Chúng thủy giai đông ...”.- Bờ sông dựng vách thành: lòng sông hẹp, “bờ sông dựng vách thành”, “đúng ngọ mới có mặt trời”, chỗ “vách đá ... như một cái yết hầu”- Ở mặt ghềnh Hát Loóng: “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió” một cách hỗn độn, lúc nào cũng như “đòi nợ suýt” những người lái đó.- Ở Tà Mường Vát: “có những cái hút nước giống như cái giếng bê tông”, chúng “thở và kêu như cửa cống cái bị sặc nước”, thuyền qua đoạn hút nước “y như ô tô ...mượn cạp ngoài bờ vực”,- Trận địa thác đá được miêu tả từ xa đến gần:+ Xa: âm thanh thác đá “con xa lắm” mà đã nghe tiếng thác “réo gần mãi lại, réo to mãi lên”, âm thanh ấy hiện lên với nhiều trạng thái khi “oán trách”, lúc “van xin”, khi “khiêu khích”, “chế nhạo”; cách so sánh độc đáo: “rống lên như một ngàn con trâu ... cháy bùng bùng” (lấy lửa tả nước).+ Gần: Đá cũng đầy mưu mẹo: “nhăn nhúm”, “méo mó”, “”hất hàm”, “oai phong”, “bệ vệ”, có những hành động như “mai phục”, “chặn ngang”, “canh”, “đánh tan”, “tiêu diệt”, sóng: “đánh khuýp quật vu hồi”, “đánh giáp lá cà”, “đòn tỉa”+ Sự biến hóa linh hoạt của trùng vi thạch trận: có 3 vòng, vòng 1 có 5 cửa sinh, một cửa tử (tả ngạn), vòng 2 có nhiều cửa tử, 1 cửa sinh (hữu ngạn), vòng 3 có ít cửa và 1 cửa sinh (giữa), gơi hình ảnh con sông Đà có tâm địa nham hiểm, mẹo lược, biến hóa khôn lường.- Nhận xét: sông Đà mang diện mạo và tâm địa của một con thủy quái, “dòng thác hùm beo”, thứ kẻ thù số một của con người   2. Sông Đà “trữ tình”- Khi từ tàu bay nhìn xuống:+ Sông Đà “”tuôn dài, tuôn dài như một áng tóc trữ tình ... đốt nương xuân ”+ Sông đà đổi màu theo từng mùa một cách độc đáo: mùa xuân xanh ngọc bích, mùa thu đỏ.- Khi đi rừng lâu ngày bất ngờ gặp lại con sông:+ Niềm vui vô hạn của tác giả khi bất ngờ gặp sông Đà: “như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm”, “nối lại chiêm bao đứt quãng”, “như gặp lại cố nhân”.+ Sông Đà gợi cảm như một cố nhân, có vẻ đẹp như trò chơi trẻ con tinh nghịch, có vẻ đẹp Đường thi.- Khi đi thuyền trên sông phía hạ lưu:+ Cảnh thiên nhiên thi vị, mơn mởn: trôi qua một nương ngô “nhú lá non”, con hươu thơ ngộ, “bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử”.+ Sông Đà như một “người tình nhân chưa quen biết”- Nhận xét: Sông Đà trữ tình như một cố nhân, một tình nhân.- Như vậy: hình tượng sông đà vừa mang nét hung bạo lại vừa trữ tình thơ mộng. Qua hình tượng sông Đà đã thể hiện tình cảm của Nguyễn Tuân với thiên nhiên Tây Bắc.                                       III. Kết bài- Nêu cảm nhận về hình tượng Sông Đà.- Nghệ thuật: so sánh, nhân hóa, tưởng tượng độc đáo, vận dụng tri thức của nhiều lĩnh vực, xây dựng hình tượng thành công.- Tác phẩm là áng văn đẹp được tạo nên từ tình yêu đất nước của một con người muốn dùng văn chương để ngợi ca vẻ đẹp kì vĩ, thơ mộng của thiên nhiên và con người Tây Bắc.                   </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1939691600</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-10 04:27:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1939691600</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1944293438</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><br>Dàn ý về khổ 2 bài “ Tây Tiến “<br></strong><br></div><div><strong>Mở bài:<br></strong><br></div><div>- Giới thiệu đôi nét về tác giả Quang Dũng và tác phẩm Tây Tiến</div><div>- Khổ 2 Tây Tiến thể hiện một thế giới lãng mạn và trữ tình ở vùng Tây Bắc với những kỉ niệm đẹp.</div><div>- Trích thơ:</div><div><em>"Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa</em><br><em>......</em><br><em>Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa"</em></div><div><strong>Thân bài:</strong></div><div>* Tổng</div><div>- Sơ lược về đoàn quân Tây Tiến</div><div>- Đôi nét về tác phẩm Tây Tiến</div><div>* Phân tích</div><div>- Hai câu thơ đầu:</div><div>+ "Doanh trại": nơi sống và làm việc của bộ đội, khô khan, nghiêm khắc</div><div>+ Động từ "bừng": ánh sáng mạnh mẽ, rực rỡ</div><div>+ "Hội đuốc hoa": mang màu sắc tình yêu (từ chữ Hán có nghĩa là hoa chúc) vừa duyên dáng, vừa rạng rỡ</div><div>+ "Kìa em": Ngỡ ngàng, kinh ngạc, trìu mến</div><div>+ "Xiêm áo": Trang phục đẹp đẽ, xinh xắn</div><div>- Hai câu thơ sau:</div><div>+ "Khèn": nhạc cụ mang bản sắc riêng của Tây Bắc</div><div>+ "Man điệu": điệu nhạc, điệu múa mang âm hưởng Tây Bắc</div><div>+ "E ấp": sự ngại ngùng, thẹn thùng của các thiếu nữ dân tộc</div><div>+ "Xây hồn thơ": vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình của tâm hồn người chiến sĩ</div><div>- Bốn câu thơ tiếp theo</div><div>+ Chiều sương": hình ảnh lãng mạn, nhẹ nhàng, thơ mộng khác với sự hùng vĩ dữ dội ở đầu bài</div><div>+ "Ấy": đại từ khiến hình ảnh buổi chiều sương trở nên đặc biệt</div><div>+ "Hồn lau": Tả dáng lau qua màn sương, đồng thời đem lại linh hồn cho cây cỏ</div><div>+ "Nẻo bến bờ": Nẻo- hướng đi, lối đi. Đi đâu cũng thấy mênh mông, bao la</div><div>+ Điệp ngữ: "Có thấy-có nhớ" thể hiện nỗi lưu luyến, nhớ nhung da diết</div><div>+ "Dáng người trên độc mộc": Dáng vẻ uyển chuyển, thướt tha với sự làm duyên của cánh hoa đong đưa theo dòng nước lũ.</div><div>+ "Dòng nước lũ - hoa đong đưa": Hình ảnh tưởng chừng đối lập mà hài hòa nên thơ</div><div>→ Bút pháp gợi mà không tả</div><div>* Hợp</div><div>- Ngòi bút tài hoa,tinh tế nhưng không kém phần lãng mạn, trữ tình của Quang Dũng</div><div>- Tình cảm của tác giả dành cho thiên nhiên và con người Tây Bắc cùng với các kỉ niệm đẹp.</div><div><strong>&nbsp;Kết bài:</strong></div><div>- Suy nghĩ, tình cảm của em về tác giả và tác phẩm Tây Tiến .</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-13 12:13:04 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1944293438</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1944716665</link>
         <description><![CDATA[<div>Dàn ý phân tích Tây tiến<br>Dàn ý<br><br>I. Mở bài<br><br>- Giới thiệu về tác giả Quang Dũng (đôi nét về tiểu sử, phong cách nghệ thuật, sáng tác chính...)<br><br>- Giới thiệu khát quát về bài thơ Tây Tiến (hoàn cảnh ra đời, giá trị nội dung, nghệ thuật)<br><br>II. Thân bài<br><br>1. Giới thiệu khái quát về đoàn quân Tây Tiến<br><br>- Tây Tiến là tên gọi của trung đoàn Tây Tiến, được thành lập năm 1947<br><br>- Nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào, bảo vệ biên giới Việt Lào<br><br>- Địa bàn hoạt động rộng: Hòa Bình, Sơn La, Thanh Hóa, Sầm Nứa<br><br>- Lính Tây Tiến chủ yếu là người Hà Nội, trẻ trung, yêu nước<br><br>2. Khung cảnh thiên nhiên miền Tây và những cuộc hành quân gian khổ của đoàn quân Tây Tiến<br><br>- Cảm xúc chủ đạo: “nhớ chơi vơi”, nỗi nhớ da diết bao trùm, mênh mang đầy ắp lên mọi cảnh vật, con người<br><br>- Cảnh thiên nhiên núi rừng Tây Bắc hiện lên hoang sơ, dữ dội và hiểm trở:<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Hình ảnh thơ: sương lấp, mây, mưa, thác, cọp... gợi nên sự gian nan, vất cả<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Địa danh: Sài Khao, Mường Lát gợi sự xa xôi, cách trở<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Sử dụng từ láy giàu giá trị tượng hình: khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút, điệp từ dốc gợi sự quanh co, gập ghềnh, địa hình hiểm trở.<br>&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp;+ Hình ảnh thơ độc đáo: “súng ngửi trời” vừa diễn tả độ cao của địa hình vừa diễn tả nét tinh nghịch, ngộ nghĩnh của những người lính<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Hình ảnh nhân hóa: “cọp trêu người”, “thác gầm thét” gợi sự hoang sơ, man dại; thời gian: “chiều chiều”, “đêm đêm” những người lính phải thường xuyên đối mặt với điều hiểm nguy chốn rừng thiêng nước độc.<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Sử dụng các câu thơ dày đặc thanh trắc có tác dụng to lớn trong việc diễn tả sự gập ghềnh, trắc trở của địa hình<br><br>- Cảnh thiên nhiên miền Tây lãng mạn, bình dị, mang lại hương vị ngọt ngào, nồng ấm<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Hoa về trong đêm hơi<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Cơm lên khói, nhà em thơm nếp xôi<br><br>- Hình ảnh người lính Tây Tiến: “dãi dầu không bước nữa”, “gục lên súng mũ bỏ quên đời”. Đó có thể là giây phút nghỉ ngơi của những người lính sau chặng đường hành quân vất vả, song đó cũng có thê là sự nghỉ ngơi vĩnh viễn của các anh<br><br>⇒ Bằng bút pháp hiện thực mạnh bạo, khỏe khoắn, miêu tả xen kẽ hài hòa… đoạn thơ phác họa bức tranh nói rừng vừa hiểm trở, hoang vu, dữ dội vừa lãng mạn, bình dị.<br><br>3. Những kỉ niệm đẹp về tình quân dân trong đêm liên hoan và cảnh sông nước miền Tây thơ mộng<br><br>a) Cảnh đêm liên hoan văn nghệ<br><br>- Không khí đêm liên hoan tưng bừng, cả doanh trại như một ngày hội, một lễ cưới: doanh trại bừng lên hội đuốc hoa<br><br>- Hình ảnh trung tâm: các cô gái với trang phục cổ truyền lộng lẫy, e thẹn, tình từ trong các điệu múa (qua hình ảnh xiêm áo, nàng e ấp)<br><br>- Hình ảnh những người lính trẻ: bay bổng, say mê trong không khí ấm áp tình người: “Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”.<br><br>⇒ Bốn câu thơ miêu tả vẻ đẹp tình tứ của các cô gái miền Tây, tình quân dân thắm thiết và tinh thần lạc quan, yêu đời của những người lính<br><br>b) Cảnh sông nước miền Tây<br><br>- Cảnh sắc thiên nhiên:<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Chiều sương ấy: màn sương mờ ảo, mang đậm màu sắc huyền thoại, cổ tích<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Hồn lau: cây lau phất phơ như có hồn<br><br>→ Thiên nhiên đẹp, huyền ảo, hoang dại, thiêng liêng.<br><br>- Con người:<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Dáng người trên độc mộc: dáng điệu mềm mại, uyển chuyển mà hiên ngang, khỏe mạnh<br><br>⇒ Bằng bút pháp lãng mạn, quang Dũng đã vẽ nên bức tranh thiên nhiên thơ mộng, cuộc sống sinh hoạt đầm ấm và hình ảnh con người duyên dáng của vùng Tây Bắc.<br>4. Chân dung người lính Tây Tiến<br><br>- Ngoại hình: “không mọc tóc”, “quân xanh màu lá”, “mắt trừng gửi mộng”. Hình ảnh người lính Tây tiến được miêu tả chân thực, vừa thể hiện hiện thực khốc liệt, gian khổ của cuộc chiến tranh vừa thể hiện niềm tự hào về dáng vẻ kì dị nhưng gân guốc, độc đáo của người lính<br><br>- Tâm hồn:<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Hào hoa, lãng mạn – nét đặc trưng của những chàng trai Hà thành: “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới/Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Ý chí: sẵn sàng hiến dâng cả sựu sống, tuổi trẻ cho tổ quốc “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”<br><br>→ Lí tưởng xả thân vì đất nước của thế hệ trẻ sau cách mạng tháng Tám<br><br>- Sự hi sinh:<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Hình ảnh thơ: “biên cương”, “mồ viễn xứ”, “áo bào”, “về đất”. “khúc độc hành”<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Nghệ thuật: sử dụng từ Hán Việt, nghệ thuật nói giảm nói tránh<br><br>→ Người lính xem cái chết, sự hi sinh rất nhẹ nhàng, thanh thản, với họ cái chết ko phải là sự ra đi mk là sự trở về với đất mẹ yêu thương<br><br>⇒ Vẻ đẹp bi tráng của những người lính.<br>5. Lời thề gắn bó với Tây Tiến và miền Tây<br><br>- Mùa xuân ấy: thời điểm lịch sử khó khăn, gian khổ mà lãng mạn, hào hùng<br><br>- Hồn về Sầm Nứa, chẳng về xuôi: Lời thề của người lính Tây Tiến vẫn gắn bó máu thịt với đoàn quân Tây Tiến và miền Tây<br><br>- Khái quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ:<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Nội dung: Hình ảnh người lính Tây Tiến bi tráng, lãng mạn trên nền thiên nhiên miền Tây vừa dữ dội, hiểm nguy, vừa thơ mộng, trữ tình<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Nghệ thuật: sự kết hợp hài hòa giữa bút pháp lãng mạn và hiện thực, cách sử dụng ngôn ngữu, hình ảnh thơ độc đáo...<br>+liên hệ, mở rộng với hình ảnh người lính trong các bài thơ Đồng chí (Chính Hữu), Bài thơ về tiểu đội xe không kính (Phạm Tiến Duật)</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-13 14:56:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1944716665</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1944754802</link>
         <description><![CDATA[<div>Dàn ý phân tích Việt Bắc<br>I. Mở bài<br>- Giới thiệu về tác giả Tố Hữu (tiểu sử, con đường cách mạng, phong cách thơ..)<br><br>- Giới thiệu về bài thơ Việt Bắc (hoàn cảnh ra đời, khái quát nội dung và nghệ thuật)<br><br>II. Thân bài<br><br>1. Lời nhắn nhủ của người ra đi và kẻ ở lại<br><br>a) Tám câu đầu: Cuộc chia tay đầy lưu luyến, bịn rịn<br><br>- Cách xưng hô mình – ta và giọng điệu ngọt ngào của những câu ca dao, những câu hát giao duyên gợi nên khung cảnh chia tay bịn rịn, lưu luyến<br><br>- Từ ngữ:<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Điệp từ “mình về”, “mình có nhớ” gợi lên một khoảng không gian, thời gian đầy ắp kỉ niệm<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Từ láy: “tha thiết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn” gợi tả tâm trạng vấn vương, lưu luyến<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Điệp từ “nhớ”gợi tả nỗi nhớ triền miên<br><br>&nbsp; &nbsp;+ 15 năm ấy: khoảng thời gian gắn bó với những tình cảm mặn nồng, thiết tha<br><br>- Hình ảnh:<br><br>&nbsp; &nbsp;+ "núi", “sông”, "nguồn" những hình ảnh tiêu biểu của núi rừng Việt Bắc.<br><br>&nbsp; &nbsp;+ “cầm tay nhau” diễn tả sự bịn rịn<br><br>&nbsp; &nbsp;+ áo chàm (hoán dụ): chỉ người dân VB Với hình ảnh chiếc áo chàm bình dị, chân thành cảm xúc của người ra đi - kẻ ở dâng trào không nói nên lời.<br><br>⇒ Tám câu đầu là khung cảnh chia tay đầy tâm trạng, bịn rịn, lưu luyến, bâng khuâng của kẻ ở người đi<br><br>b) Lời người ở lại nhắn gửi tới người ra đi<br><br>- Lời nhắn gửi được thể hiện dưới hình thức những câu hỏi: nhớ về Việt bắc cội nguồn quê hương cách mạng, nhớ thiên nhiên Việt Bắc, nhớ những địa danh lịch sử, nhớ những kỉ niệm ân tình...<br><br>- Nghệ thuật:<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Liệt kê hàng loạt các kỉ niệm<br><br>&nbsp; &nbsp;+ ẩn dụ, nhân hóa: rừng núi nhớ ai<br><br>&nbsp; &nbsp;+ điệp từ “mình”<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Cách ngắt nhịp /4, 4/4 đều tha thiết nhắn nhủ người về thật truyền cảm.<br><br>⇒ Thiên nhiên, mảnh đất và con người Việt Bắc với biết bao tình nghĩa, ân tình, thủy chung<br><br>2. Nỗi nhớ của người ra đi và niềm tin vào Đảng, Chính phủ và Bác Hồ<br><br>a) Nhớ cảnh và người Việt Bắc<br><br>- Nỗi nhớ đưuọc so sánh với nỗi nhớ người yêu<br><br>- Nhớ thiên nhiên Việt Bắc:<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Buổi chiều khói bếp hòa quyện với sương núi<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Cảnh bản làng ẩn hiện trong sương<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Cảnh rừng nứa, bờ tre...<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Thiên nhiên Việt Bắc qua 4 mùa với những hình ảnh độc đáo, đặc sắc<br><br>- Nhớ về con người Việt Bắc:<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Nhớ người Việt Bắc trong nghèo khó, vất vả mà vẫn tình nghĩa, thủy chung, gắn bó với cách mạng<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Nhớ những kỉ niệm đầy ắp vui tươi, ấm áp giữa bộ đội và người dân Việt Bắc: lớp học i tờ, những giờ liên hoan.<br>&nbsp;+ Nhớ hình ảnh những con người mang vẻ đẹp mộc mạc, giản dị của người lao động: “người mẹ”, “cô em gái”.<br>⇒ Với kết cấu đan xen, cứ một câu tả cảnh, một câu tả người đã làm nổi bật vẻ đẹp hài hoà, sự đan cài quấn quýt giữa thiên nhiên và con người. Đây là vẻ đẹp đậm màu sắc phương đông<br><br>b) Nhớ Việt Bắc đánh giặc và Việt Bắc anh hùng<br><br>- Nhớ hình ảnh cả núi rừng Việt Bắc đánh giặc: “Rừng....”<br><br>- Nhớ hình ảnh đoàn quân kháng chiến: “Quân đi...”<br><br>- Nhớ những chiến công ở Việt Bắc, những chiến thắng với niềm vui phơi phới<br><br>⇒ Nhịp thơ mạnh, dồn dập như âm hưởng bước hành quân. Hình ảnh kì vĩ... tất cả tạo nên một bức tranh sử thi hoành tráng để ca ngợi sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, của nhân dân anh hùng<br><br>c) Nhớ Việt Bắc niềm tin<br><br>- Nhớ cuộc họp cao cấp với nhiều chi tiết, hình ảnh tươi sáng.<br><br>- Nhớ hình ảnh ngọn cờ đỏ thắm, rực rỡ sao vàng, có trung ương Đảng, có chính phủ và có Bác Hồ<br><br>⇒ Việt Bắc là cội nguồn là quê hương cách mạng<br><br>III. Kết bài<br><br>- Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Nội dung: bài thơ khúc tình ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến. Thể hiện sự gắn bó, ân tình sâu nặng với nhân dân, đất nước trong niềm tự hào dân tộc…</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-13 15:09:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1944754802</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1944792547</link>
         <description><![CDATA[<div>Dàn ý phân tích ĐẤT NƯỚC 😄<br><br>I. Mở bài<br><br>- Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Khoa Điềm (tiểu sử, sáng tác chính, phong cách thơ...)<br><br>- Giới thiệu về Trường ca Mặt đường khát vọng và đoạn trích Đất nước (hoàn cảnh ra đời, nội dung chính...)<br><br>II. Thân bài<br><br>1. Đất nước bình dị, gần gũi được cảm nhận từ nhiều phương diện của đời sống<br><br>a) Nguồn gốc của đất nước<br><br>- Đất nước hình thành cùng với những câu chuyện dân gian<br><br>- Đất nước hình thành với những truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc: ăn trầu, búi tóc<br>- Đất nước hình thành với quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của cha ông.<br>- Đất nước hình thành với quá trình lao động sản xuất của cha ông: cái kèo cái cột thành tên, một nắng hai sương<br><br>⇒ Tác giả có cái nhìn mới mẻ về cội nguồn đất nước, đất nước bắt nguồn từ chiều sâu văn hóa, văn học, lịch sử và truyền thống dân tộc.<br><br>b) Định nghĩa về đất nước<br><br>- Không gian đất nước:<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Tác giả tách hai yếu tố đất và nước để cảm nhận một cách độc đáo<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Đất nước là không gian gắn với cuộc sông của mỗi người, của anh và của em, là nơi hẹn hò của anh, em, của chúng ta: nơi ta hẹn hò, nơi anh đến trường, nơi em tắm<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Không gian mênh mông với rừng vàng biển bạc<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Là nơi sinh tồn và phát triển của cả cộng đồng dân tộc<br><br>- Thời gian lịch sử của đất nước: được nhìn xuyên suốt mạch thời gian từ quá khứ đến hiện tại và đến tương lai<br><br>- Suy tư về trách nhiệm của mỗi cá nhân với đất nước: “Phải biết gắn bó và san sẻ”, đóng góp, hi sinh để góp phần dựng xây đất nước.<br>⇒ Qua cái nhìn toàn diện của nhà thơ, đất nước hiện lên vừa gần gũi, thân thuộc lại vừa thiêng liêng, hào hùng và trường tồn đến muôn đời sau.<br><br>2. Tư tưởng cốt lõi: đất nước của nhân dân<br><br>- Thiên nhiên của đất nước không phải đơn thuần là sản phẩm của tạo hóa mà hơn hết nó là một phần máu thịt của con người, do con người tạo nên:<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Tình nghĩa thủy chung, thắm thiết: núi Vọng Phu, hòn Trống Mái<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Chiến đấu bảo vệ đất nước: chuyện Thánh Gióng<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Cội nguồn thiêng liêng: đất tổ Hùng Vương<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Truyền thống hiếu học: núi Bút non Nghiên<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Hình ảnh đất nước tươi đẹp: con cóc, con gà...<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Những cuộc di dân khai phá đất nước<br><br>- Lịch sử 4000 năm của dân tộc được tạo nên từ mồ hôi và cả chính xương máu của nhân dân:<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Họ là những người con trai, con gái bình dị nhưng luôn thường trực tình yêu nước, họ vừa lao động sản xuât vừa hăng hái chiến đấu.<br>+ Tác giả nhấn mạnh đến những con người vô danh làm nên lịch sử, khẳng định vai trò của mỗi cá nhân với lịch sử dân tộc.<br><br>- Nhân dân là những người đã tạo ra và giữ gìn những giá trị vật chất, tinh thần cho đất nước: văn hóa: “truyền hạt lúa”, “truyền lửa”, “truyền giọng nói”, “gánh theo tên xã, tên làng”, ... từ đó xây dựng nền móng phát triển đất nước lâu bền<br><br>- Tư tưởng cốt lõi là tư tưởng đất nước của nhân dân: “Đất nước này là đất nước của nhân dân/Đất nước của nhân dân đất nước của ca dao huyền thoại”. Đất nước ấy thể hiện qua tâm hồn con người: biết yêu thương, biết quý trọng trọng tình nghĩa, công sức và biết chiến đấu vì đất nước. Tư tưởng đất nước nhân dân của Nguyễn Khoa Điềm có sự kế thừa và phát triển trong thời đại mới, thời đại chống Mĩ cứu nước<br><br>III. Kết bài<br><br>- Khẳng định lại giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của đoạn trích<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Nội dung: bài thơ thể hiện cách nhìn mới mẻ, độc đáo về đất nước trên nhiều góc độ khác nhau: văn hóa, lịch sử, địa lí...Từ đó, làm nổi bật tư tưởng “Đất nước của nhân dân”<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Nghệ thuật: giọng thơ trữ tình, chính trị đằm thắm, dạt dào cảm xúc, sử dụng hình ảnh, yếu tố văn học, văn hóa dân gian....<br><br>- Bài học đối với thế hệ trẻ hiện nay: đất nước luôn dung dị, gần gũi và tồn tại trong cuộc sống hằng ngày của mỗi người, vì vậy, chúng ta hãy thể hiện lòng yêu nước của mình từ những hành động nhỏ nhất.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-13 15:22:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1944792547</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1944818434</link>
         <description><![CDATA[<div>Dàn ý phân tích SÓNG.<br>I. Mở bài<br><br>- Giới thiệu khái quát về nhà thơ Xuân Quỳnh (tiểu sử, phong cách thơ...)<br><br>- Giới thiệu khát quát về bài thơ “Sóng” (hoàn cảnh ra đời, nội dung chính....)<br><br>II. Thân bài<br><br>1. Nhận thức về tình yêu qua hình tượng sóng<br><br>- Thủ pháp đối lập: dữ dội – dịu em, ồn ào – lặng lẽ<br><br>→ Các cung bậc, sắc thái khác nhau của sóng cũng giống như những cung bậc tình cảm phong phú, những trạng thái đối cực phức tạp, đầy nghịch lí của người phụ nữu khi yêu<br><br>- Hình ảnh ẩn sụ, nhân hóa “Sông không hiểu nổi mình/Sóng tìm ra tận bể”: khát vọng vươn xa, thoát khỏi những gì chật chội, nhỏ hẹp, tầm thường<br><br>→ Quan niệm mới về tình yêu: yêu là tự nhân thức, là vươn tới cái rộng lớn, cao xa.<br>- Phép so sánh, liên tưởng “Ôi con sóng ngày xưa ... Bồi hồi trong ngực trẻ”: Lời khẳng định khát vọng tình yêu cháy bỏng, mãnh liệt luôn luôn thường trực trong trái tim tuổi trẻ.<br>2. Những suy nghĩ, trăn trở về cội nguồn và quy luật của tình yêu<br><br>- Sử dụng dày đặc các câu hơi tu từ “Từ nơi nào sóng lên?”, “Gió bắt đầu từ đâu?”: thể hiện mong muốn muốn tìm được cội nguồn của tình yêu, lí giải được tình yêu, khát khao hiểu được tình yêu, hiểu được bản thân mình và hiểu được người mình yêu<br><br>- Câu trả lời “Em cũng không biết nữa”: Lời tự thú chân thành của người phụ nữ, đầy hồn nhiên, nữ tính. Tình yêu là bí ẩn, những trạng thái trong tình yêu luôn là những điều khó lí giải<br><br>3. Nỗi nhớ, lòng thủy chung son sắt của người con gái khi yêu<br><br>- Nỗi nhớ là tình cảm chủ đạo, luôn thường trực trong trái tim những người đang yêu.<br>+ Nỗi nhớ bao trùm cả không gian, thời gian: “dưới lòng sâu... trên mặt nước...”, “ngày đêm không ngủ được”<br><br>→ Nỗi nhớ da diết, sâu đậm<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Tồn tại trong ý thức và đi vào cả tiềm thức: “Lòng em nhớ đến anh/Cả trong mơ còn thức”<br><br>→ Cách nói cường điệu nhưng hết sức hợp nhằm tô đậm nỗi nhớ mãnh liệt của tác giả<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Nghệ thuật nhân hóa, hóa thân vào sóng để “em” tự bộc lộ nỗi nhớ da diết, cháy bỏng của mình<br><br>- Lòng thủy chung, son sắt của người con gái trong tình yêu:<br><br>&nbsp; &nbsp;+ “Em”: phương Bắc phương Nam – “Hướng về anh một phương”<br><br>→ Lời thể thủy chung son sắt tuyệt đối<br><br>&nbsp; &nbsp;+ “sóng” : ngoài đại dương → “Con nào chẳng tới bờ”<br><br>→ quy luật tất yếu.<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Lòng thủy chung là sức mạnh để tình yêu vượt qua mọi khó khăn, thử thách để tới với bến bờ hạnh phúc<br><br>⇒ Lời khẳng định cho cái tôi của một con người luôn vững tin ở tình yêu<br><br>4. Khát vọng về tình yêu vĩnh cửu, bất diệt<br><br>- Sự nhạy cảm và lo âu của tác giả về cuộc đời trước sự trôi chảy của thời gian “Cuộc đời tuy dài thế ... Mây vẫn bay về xa”<br><br>- “Làm sao” gợi sự băn khoăn, khắc khoải, ước ao được hóa thành “trăm con sóng nhỏ” để muôn đời vỗ mãi vào bờ.<br><br>- Khát khao của nguời phụ nữa được hòa mình vào cuộc đời, được sống trong “biển lớn tình yêu” với mooitj tình yêu trường cửu, bất diệt với thời gian<br><br>III. Kết bài<br><br>- Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ:<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Nội dung: bài thơ diễn tả tình yêu của người phụ nữ thiết tha, nồng nàn, chung thủy, muốn vượt lên thử thách của thời gian và sự hữu hạn của đời người. Từ đó cho thấy tình yêu là một thứ tình cảm cao đẹp, một hạnh phúc lớn lao của con người.<br>&nbsp;+ Nghệ thuật: hình ảnh sóng đôi sóng và em, thể thơ năm chữ, ngogn ngữu dung dị, trong sáng...<br><br>- Cảm nhận về bài thơ: bài thơ cho chúng ta thấy rõ những cung bậc cảm xúc sâu lắng, thầm kín trong tình yêu. Đó là tiếng lòng, là nhịp chảy của những trái tim đang khao khát, rạo rực yêu thương.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-13 15:31:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1944818434</guid>
      </item>
      <item>
         <title>*Phân tích bài &quot;Ai đã đặt tên cho dòng sông &quot;của Hoàng Phủ Ngọc Tường. </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1951421918</link>
         <description><![CDATA[<div>a) Mở bài. <br>- Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm:<br><br>+ Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà văn của xứ Huế chuyên viết về bút kí, có sức liên tưởng tưởng tượng dồi dào, lối hành văn mê đắm.<br><br>+ "Ai đã đặt tên cho dòng sông" là tùy bút tiêu biểu cho phong cách văn chương của tác giả: sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và trữ tình, giữa nghị luận sắc bén và suy tư đa chiều.<br><br>- Khái quát vẻ đẹp của con sông Hương - biểu tượng của cố đô thi ca.<br><br>b) Thân bài<br><br>Luận điểm 1: Vẻ đẹp tự nhiên của sông Hương<br><br>- Khi ở thượng nguồn:<br><br>+ Là “bản trường ca của rừng già” “rầm rộ dưới bóng cây đại ngàn”, “mãnh liệt qua những ghềnh thác”; lúc lại dịu dàng say đắm dưới dặm dài chói lọi hoa đỗ quyên...”<br><br>+ “cô gái Di - gan”: phóng khoáng, man dại, tâm hồn tự do, trong sáng, bản tính gan dạ, có sức mạnh bản năng<br><br>+ Sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ “người mẹ phù sa của vùng văn hóa xứ sở”.<br><br>- Khi ở ngoại vi thành phố:<br><br>+ Sông Hương “như một người gái đẹp nằm ngủ mơ màng...” được đánh thức bởi tiếng gọi của tình yêu, bắt đầu hành trình gian truân, “tìm kiếm có ý thức” đến với Huế, lần đầu đến với tình yêu một mặt rất e lệ, một mặt táo bạo chủ động “vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn”.<br><br>+ Dòng sông đổi dòng liên tục – như một sự trăn trở : “sông Hương đã chuyển dòng một cách liên tục, vòng giữa khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm …”, “sông Hương đi trong dư vang của Trường Sơn, vòng qua một lòng vực sâu dưới chân núi Ngọc Trản…”<br><br>+ Màu nước biến ảo: sớm xanh, trưa vàng, chiều tím – tím Huế.<br><br>+ Nhịp chảy chậm rãi, “mềm như tấm lụa”<br><br>+ Từ ngã ba Tuần đến chân đồi Thiên Mụ: mang dáng vẻ trầm mặc khi chảy qua những lăng tẩm, đổi dòng chuyển hướng liên tục.<br><br>+ Từ chân đồi Thiên Mụ đến lúc gặp Huế: “vui hẳn lên”, “kéo một nét thẳng” vì tìm đúng đường về<br><br>+ Giáp mặt Huế, sông Hương không gặp Huế ngay mà “uốn một cánh cung... tình yêu” như một người con gái bẽn lẽn, ngại ngùng.<br><br>- Khi chảy vào lòng thành phố<br><br>+ Tác giả so sánh sông Hương với những dòng sông nổi tiếng trên thế giới, sông Hương chỉ thuộc về một thành phố duy nhất, giống như người con gái chung thủy.<br><br>+ Sông Hương mang đến cho Huế một vẻ đẹp cổ xưa dân dã: “ánh lửa thuyền chài ... xưa cũ”, trôi đi chậm như một mặt hồ.<br><br>+ Người con gái đắm say tình tứ khi bên người mình yêu, người con gái tài hoa “tài nữ đánh đàn trong đêm khuya”.<br><br>+ Sông Hương trong cảm nhận hội họa:<br><br>“Sông Hương vui tươi hẳn lên… đông bắc” -&gt; sông Hương như một thực thể sống động, có niềm tin, tâm trạng khi tìm lại được chính mình.<br>“Chiếc cầu trắng… lời của tình yêu” -&gt; vẻ đẹp thanh thoát của sông Hương và cầu Tràng Tiền<br>“Không giống như sông Xen… yêu quý của mình” -&gt; tác giả tự hào khi so sánh sông Hương với các con sông nổi tiếng trên thế giới.<br>+ Sông Hương trong cảm nhận âm nhạc:<br><br>Sông Hương - “điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế”, sông Hương chảy chậm, điệu chảy lững lờ vì nó quá yêu thành phố của mình. -&gt; chất âm nhạc thể hiện ở nhịp điệu êm đềm của bài bút kí bởi những câu văn dài nối tiếp nhau.<br>- Khi rời thành phố:<br><br>+ “Rời khỏi kinh thành… thị trấn Bao Vinh xưa cổ…”<br><br>-&gt; Từ biệt Huế ra biển, sông Hương giống như một người tình bịn rịn, lưu luyến khi tạm biệt cố nhân.<br><br>=&gt; Tác giả chủ yếu cảm nhận vẻ đẹp sông Hương từ góc độ tình yêu khiến sông Hương hiện lên như một người con gái chung tình hết lòng vì tình yêu.<br><br>=&gt; Hoàng Phủ Ngọc Tường đã miêu tả dòng sông từ nhiều không gian, thời gian khác nhau. Ở mỗi góc độ nhà văn đều thể hiện cảm nghĩ sâu sắc mới mẻ về non sông. Qua đó, ta thấy được tình cảm yêu mến thiết tha, niềm tự hào và một thái độ trân trọng gìn giữ đối với vẻ đẹp tự nhiên đậm màu sắc văn hóa của nhà văn với dòng sông quê hương.<br><br>Luận điểm 2: Sông Hương trong cái nhìn của lịch sử<br><br>- Sông Hương là một nhân chứng lịch sử của Huế, của đất nước: “soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ”, chứng kiến những mất mát đau thương của các cuộc khởi nghĩa thế kỉ XIX,...<br><br>- Sông Hương như một công dân có ý thức trách nhiệm sâu sắc với đất nước: “biết hiến đời mình để làm nên chiến công”,...<br><br>- Là một người con gái anh hùng: cùng gắn bó với Huế qua nhiều cuộc chiến đấu anh hùng trong thời kì trung đại, đến cách mạng tháng Tám,...<br><br>=&gt; Sông Hương trở thành dòng linh giang của tổ quốc, chứng nhân lịch sử cho bao sự kiện thăng trầm của dân tộc, là dòng sông của thời gian ngân vang của sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc.<br><br>Luận điểm 3: Sông Hương nhìn ở góc độ văn hóa<br><br>- Sông Hương là “người mẹ phù sa của vùng văn hóa xứ sở”: toàn bộ âm nhạc cổ điển Huế, những bản đàn theo suốt cuộc đời Kiều và bản Tứ đại cảnh đều được sinh thành trên sông nước sông Hương.<br><br>- Là người tài nữ đánh đàn trong đêm khuya: không bao giờ lặp lại trong cảm hứng của các thi nhân.<br><br>- Là dòng sông thi ca, là cảm hứng bất tận cho các nhà văn nghệ sĩ:<br><br>+ “Dòng sông trắng - lá cây xanh” trong cái nhìn của Tản Đà<br><br>+ ”Kiếm dựng trời xanh” trong khí phách của Cao Bá Quát.<br><br>* Đặc sắc nghệ thuật<br><br>- Liên tưởng độc đáo<br><br>- Sử dụng từ ngữ đặc sắc, văn phong tao nhã<br><br>- Nghệ thuật xây dựng hình tượng sông Hương<br><br>c) Kết bài<br><br>- Đánh giá khái quát lại vẻ đẹp dòng sông Hương<br><br>- Nêu cảm nhận của em: Qua tác phẩm ta cảm nhận được niềm tự hào tha thiết của tác giả với vẻ đẹp thiên nhiên xứ Huế cũng như đất nước.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-16 10:33:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1951421918</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phân tích hình tượng sông Đà trong Người lái đò</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1952776928</link>
         <description><![CDATA[<div>Mở bài<br><br>- Giới thiệu tác giả Nguyễn Tuân: là tác giả yêu cái đẹp, suốt đời đi tìm cái đẹp, có phong cách nghệ thuật độc đáo, uyên bác, tài hoa.<br>- Tác phẩm: là một tác phẩm tiêu biểu cho phong cách của Nguyễn Tuân.<br>- Hình tượng con sông Đà chính là thứ vàng mười của thiên nhiên mà Nguyễn Tuân&nbsp;<br><br>Thân bài&nbsp;<br><br>* Vẻ hung bạo, dữ dằn :<br>– Cảnh đá bờ sông “dựng vách thành”, có quãng lòng sông bị thắt hẹp lại như cái yết hầu.<br>– Những quãng dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm…<br>– Những “hút nước” chết người luôn sẵn sàng nhấn chìm và đập tan chiếc thuyền nào lọt vào.<br>Tiếng nước thác sông Đà với nhiều cung bậc dữ dội khác nhau<br><br>– Quãng sông Đà với bao đá nổi, đá chìm, phối hợp cùng sóng thác như dàn thạch trận, lập nhiều phòng tuyến… sẵn sàng “ăn chết” con thuyền và người lái đò<br>*Vẻ đẹp thơ mộng ,trữa tình:<br>Từ trên cao nhìn xuống, dòng chảy uốn lượn của con sông như mái tóc của người thiếu nữ diễm kiều.<br>– Nhìn ngắm con sông từ nhiều thời gian, không gian khác nhau, Nguyễn Tuân đó phát hiện những sắc màu tươi đẹp và đa dạng của màu nước sông Đà. Nó biến đổi theo mùa, mỗi mùa có một vẻ đẹp riêng.<br>– “Nhìn sông Đà như một cố nhân”, nhà văn cảm nhận rõ nét cái chất “đằm đằm ấm ấm” thân quen của con sông và nhất là cái chất thơ như ngấm vào trong từng cảnh sắc thiên nhiên.<br><br>&nbsp;Kết bài<br>- Nêu cảm nhận về hình tượng Sông Đà,tóm tắt nội dung</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-17 00:15:15 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1952776928</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1952807329</link>
         <description><![CDATA[<div>DÀN Ý CẢM NHẬN VẺ ĐẸP SÔNG HƯƠNG<br><br>I.Mở bài<br><br>– Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong những cây bút kí tiêu biểu của VHVN hiện đại. Với thể loại kí, Hoàng Phủ Ngọc Tường thể hiện trên từng trang văn vốn kiến thức uyên bác và cách viết tài hoa.<br><br>– “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp của sông Hương, thiên nhiên và con người xứ Huế với những trang văn “vừa giàu chất trí tuệ, vừa giàu chất thơ, nội dung thông tin về văn hóa lịch sử rất phong phú”.<br><br>II. Thân bài<br><br>1. Khái quát:<br><br>“Ai đã đặt tên cho dòng sông?” rút từ tập bút kí cùng tên, được xuất bản năm 1984. Tập bút kí gồm tám bài viết về nhiều đề tài. Có những bài đậm chất sử thi với cảm hứng anh hùng, ca ngợi đất nước, con người VN. Có những bài thiên về miêu tả thiên nhiên, qua đó nhà văn bộc lộ lòng gắn bó với quê hương đất nước và niềm tự hào về truyền thống, văn hóa, lịch sử của dân tộc. Đặc biệt là những bài viết về Huế.<br>Trong số những bút kí đó, “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là bài kí độc đáo về sông Hương. Dòng sông khơi gợi cảm hứng cho thơ ca, nhạc họa đã được Hoàng Phủ Ngọc Tường cảm nhận từ nhiều góc nhìn, đặc biệt là góc nhìn tâm linh, mang những nét riêng của “văn hóa Phú Xuân”.<br>2. Phân tích:<br><br>a. Chất trí tuệ của một cái tôi uyên bác:<br><br>Viết về sông Hương, Hoàng Phủ Ngọc Tường thể hiện một sự hiểu biết sâu rộng về mọi mặt: văn hóa, lịch sử, địa lí, văn học nghệ thuật… Nhà văn đã cung cấp cho người đọc một lượng thông tin đa dạng để hiểu sâu hơn về dòng sông Hương và thiên nhiên, con người Huế.<br>* Vẻ đẹp của sông Hương từ góc nhìn địa lí:<br><br>– Hành trình của dòng sông: với câu hỏi gợi tìm “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”, bằng những bước chân rong ruổi, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tìm về cội nguồn và dòng chảy của sông Hương:<br><br>Ở thượng nguồn sông Hương mang vẻ đẹp hùng vĩ: chảy “rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn…”; “phóng khoáng và man dại”<br>Ra khỏi đại ngàn, sông Hương chuyển dòng, giấu kín cuộc hành trình gian truân giữa lòng Trường Sơn, “ném chìa khóa trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng” -&gt; Vẻ đẹp dữ dội, hùng vĩ của sông Hương giữa rừng già ít ai biết đến.<br>Chảy qua vùng rừng núi, sông Hương trở nên dịu dàng, “uốn mình theo những đường cong thật mềm”. “Dòng sông mềm như tấm lụa”, êm đềm trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách, chảy qua những lăng tẩm đồ sộ, chảy qua chùa Thiên Mụ và “những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà” .<br>-&gt; Sông Hương trở thành “người mẹ phù sa” mang vẻ đẹp “dịu dàng và trí tuệ”.<br><br>Giữa lòng thành phố Huế, dòng sông trở nên tĩnh lặng, trôi thật chậm, in bóng cầu Tràng Tiền xa trông nhỏ nhắn như “những vành trăng non”.<br>Xuôi về Cồn Hến “quanh năm mơ màng trong sương khói”, hòa với màu xanh của thôn Vĩ Dạ, sông Hương mang vẻ đẹp huyền ảo, mơ màng. Và thật bất ngờ, trước khi rời khỏi kinh thành Huế, sông Hương “đột ngột rẽ dòng… để gặp lại thành phố lần cuối”. Nhà văn dùng biện pháp nhân hóa để nội tâm hóa hình dáng của dòng sông: “Đó là nỗi vương vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu” -&gt; Biện pháp nhân hóa đã giúp tác giả thổi hồn vào dòng sông và hơn thế nữa là một phương thức để nhà văn kết nối sông Hương với con người và văn hóa của mảnh đất Châu Hóa xưa và Huế ngày nay.<br>– Sông Hương và thiên nhiên Huế: Lần theo dòng chảy của sông Hương, ta bắt gặp những bức tranh thiên nhiên đẹp mượt mà:<br><br>+ Thiên nhiên Huế được nhà văn tái hiện với vẻ đẹp đa dạng trong thời gian và không gian. Sông Hương phản quang vẻ đẹp biến ảo của Huế “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”. Gắn liền với dòng sông, những địa danh quen thuộc: Hòn Chén, Nguyệt Biều, Vọng Cảnh, Thiên Thai dường như sống động hơn: “sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn”, “sắc nước trở nên xanh thẳm”…-&gt; Sông Hương tôn tạo vẻ đẹp cho cảnh sắc thiên nhiên Huế và ngược lại dòng sông cũng hun đúc mọi sắc trời, văn hóa của vùng đất cố đô.<br><br>– Sông Hương và con người Huế:<br><br>Thiên nhiên và dòng sông luôn gắn bó, gần gũi với con người. Qua điệu chảy của dòng sông nhà văn thấy được tính cách con người xứ Huế: mềm mại, chí tình, “mãi mãi chung tình với quê hương xứ xở”.<br>Qua màu sắc của trời Huế, màu sương khói trên sông Hương nhà văn thấy cách trang phục trang nhã, dịu dàng của các cô gái Huế xưa “sắc áo cưới màu điều – lục các cô dâu trẻ vẫn mặc sau tiết sương giáng”<br>* Vẻ đẹp của sông Hương từ góc nhìn lịch sử:<br>– Từ góc nhìn lịch sử, sông Hương không còn là cô gái “Di – gan man dại”, không còn là “người đẹp ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa” mà trở thành chứng nhân của những biến thiên lịch sử. Nhà văn ví sông Hương như “sử thi viết giữa màu xanh cỏ lá xanh biếc” -&gt; Sự hòa quyện giữa chất hùng tráng và trữ tình. Sông Hương là một bản anh hùng ca, đồng thời giữa đời thường sông Hương là một bản tình ca “Còn non, còn nước, còn dài – Còn về, còn nhớ…”.<br><br>– Hoàng Phủ Ngọc Tường đã nhìn thấy từ dòng sông những dấu tích lịch sử; từng nhánh rẽ của dòng sông, đến “những cây đa, cây cừa cổ thụ” cũng hàm ẩn một phần lịch sử:<br>+ Nhà văn đã ngược về quá khứ để khẳng định vai trò của dòng sông Hương trong lịch sử dân tộc. Từ thời đại các Vua Hùng, sông Hương là “dòng sông biên thùy xa xôi”. Trong những thế kỉ trung đại, với tên gọi Linh Giang, nó đã “oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam của Tổ quốc Đại Việt”. Sông Hương gắn liền với những chiến công Nguyễn Huệ. Sông Hương đẫm máu những cuộc khởi nghĩa TK XIX. Sông Hương gắn liền với cuộc CMT8 với những chiến công rung chuyển. Và sông Hương cùng những di sản văn hóa Huế oằn mình dưới sự tàn phá của bom Mỹ… -&gt; Chất trữ tình của tùy bút giảm đi, nhường chỗ cho chất phóng sự với những sự kiện lịch sử cụ thể.<br><br>=&gt; Quay về quá khứ xa xưa, ngòi bút nhà văn lấp lánh niềm tự hào về lịch sử một dòng sông có cái tên mềm mại, dịu dàng nhưng kiên cường, kiêu hãnh qua thăng trầm lịch sử.<br><br>* Vẻ đẹp của sông Hương từ góc nhìn văn hóa:<br><br>Trong cảm nhận tinh tế của nhà văn, sông Hương còn hàm chứa trong bản thân nó nền văn hóa phi vật chất.<br><br>– Sông Hương _ dòng sông âm nhạc:<br><br>Từ âm thanh của dòng sông (tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga, tiếng mái chèo khua sóng đêm khuya, tiếng nước vỗ vào mạn thuyền…) đã hình thành những làn điệu hò dân gian và nền âm nhạc cổ điển Huế. Và rồi cũng chính trên dòng sông ấy, những câu hò Huế vút lên, mênh mang, xao xuyến…<br>Viết về sông Hương, nhiều lần nhà văn đã liên tưởng đến “Truyện Kiều” của Nguyễn Du. Đại thi hào đã từng có thời gian sống ở Huế, những trang Kiều ra đời từ mảnh đất có truyền thống nhã nhạc cung đình. Đó là cơ sở để H.P.N.T hóa thân vào một nghệ nhân già, nghe những câu thơ tả tiếng đàn của nàng Kiều, chợt nhận ra âm hưởng của âm nhạc cung đình và bật thốt lên: “Đó chính là Tứ đại cảnh” -&gt; Bóng dáng Nguyễn Du và những trang Kiều nhiều lần xuất hiện trong bài kí bộc lộ một khả năng liên tưởng phong phú, một vốn văn hóa sâu rộng và sự gắn kết với truyền thống, một sự đồng điệu tâm hồn nhà văn.<br>– Sông Hương _ dòng sông thi ca:<br><br>Hoàng Phủ Ngọc Tường đã làm sống dậy những vần thơ biếc xanh của Tản Đà về xứ Huế: “Dòng sông trắng – Lá cây xanh”. Hình ảnh thơ này cùng với câu chữ của tác giả “màu cỏ lá xanh biếc” là minh chứng cho sự tương giao của những tâm hồn nghệ sĩ nhạy cảm với sắc biếc của thiên nhiên Huế.<br>Nhà văn cũng làm sống dậy một sông Hương hùng tráng bất tử “như kiếm dựng trời xanh” trong thơ Cao Bá Quát, một sông Hương “nỗi quan hoài vạn cổ” trong thơ Bà Huyện Thanh Quan…<br>=&gt; Bằng vốn kiến văn phong phú, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã lay động linh hồn của con sông mà tên gọi của nó đã đi vào văn chương nghệ thuật mà theo tác giả “Dòng sông ấy không bao giờ tự lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ”<br><br>b. Chất thơ của một ngòi bút tài hoa:<br><br>Chất thơ toát ra từ những hình ảnh đẹp, từ độ nhòe mờ của hình tượng nghệ thuật: “những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà”, “lập lòe trong đêm sương những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mô tê xưa cũ…” ; qua cách so sánh liên tưởng gợi cảm: “Chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời nhỏ nhắn như những vầng trăng non”.<br>Chất thơ còn lấp lánh ở cách Hoàng Phủ Ngọc Tường điểm xuyết ca dao, lời thơ Tản Đà, Cao Bá Quát, Bà Huyện Thanh Quan.<br>Chất thơ còn tỏa ra từ nhan đề bài kí gợi mãi những âm vang trầm lắng của dòng sông : “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”<br>III. Kết bài<br><br>Chất trí tuệ và chất thơ kết hợp hài hòa trong tác phẩm của Hoàng Phủ Ngọc Tường tạo nên phong cách đặc sắc của nhà văn này.<br>“Ai đã đặt tên cho dòng sông?” không chỉ là một trong những tác phẩm hay nhất viết về sông Hương mà còn là bút kí đặc sắc vào bậc nhất của VHVN hiện đại.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-17 00:42:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1952807329</guid>
      </item>
      <item>
         <title>phân tích hình tượng dòng sông đà</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1952905733</link>
         <description><![CDATA[<div>* Mở bài: giới thiệu về tác giả, tác phẩm và vấn đề NL<br><br>-tác giả: Nguyễn Tuân sinh 10-7-1910 (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_N%E1%BB%99i">Hà Nội</a>) Ông trưởng thành trong một gia đình nhà Nho khi Hán học đã tàn. ông là một nhà văn Việt Nam.Nguyễn Tuân sở trường về tùy bút và ký. Ông viết văn với một phong cách tài hoa uyên bác và được xem là bậc thầy trong việc sáng tạo và sử dụng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ti%E1%BA%BFng_Vi%E1%BB%87t">Tiếng Việt</a>.&nbsp;<br>-Tác phẩm: tùy bút sông Đà<br>+Hoàn cảnh ra đời: là kết quả của nhiều chuyến đi thực tế lên Tây Bắc. Do sự gợi cảm của thiên nhiên Tây Bắc và không khí xây dựng cs mới<br>+Nd:&nbsp;</div><ul><li>thiên nhiên Tây Bắc</li><li>Con người</li></ul><div>-tác phẩm: người lái đò sông đà<br>-nêu vấn đề NL: Hình ảnh nổi bật trong tác phẩm phải kể đến hình tượng dòng sông đà với nhiều tâm trạng, tình cảm phức tạp.<br><br>* Thân bài: Bằng ngòi bút tài hoa và tấm lòng tri ân với quê hương đất nước, Nguyễn Tuân đã biến dòng sông thành 1 sinh thể có tâm trạng, tình cảm.<br><br>-LĐ 1: Sông Đà hung bạo, hùng vĩ.<br>&nbsp; +H/a "đá bờ sông, dựng vách thành", "đúng ngọ mới có mặt trời",... -&gt;NT so sánh liên tưởng: độc đáo, tỉ mỉ đập mạnh vào giác quan người đọc gợi lên cảm giác hiểm ác, huyền bí.<br>&nbsp; +"Quãng mặt ghềnh Hát Loong dài...tóm được qua đấy".&nbsp;</div><ul><li>NT miêu tả, nhân hóa, động từ mạnh -&gt; sông đà trở thành 1 sự vật sinh động, hấp dẫn, là mối đe dọa.</li><li>nhân hóa con sông như 1 kẻ chuyên đi đòi nợ.</li></ul><div>=&gt;làm những người qua sông sợ hãi<br>&nbsp; +Hút nước: giống như cái giếng bê tông ặc ặc nước như vừa rót dầu sôi vào.</div><ul><li>NT so sánh, liên tưởng: thuyền trồng ngay cây chuối,...</li><li>sd kiến thức của nhiều ngành , đặc biệt là điện ảnh để miêu tả sự hùng vĩ, hung bạo của sông đà -&gt; cảm giác ghê rợn, hãi hùng.</li></ul><div>+ Cảnh thác đá bày thạch trận trên sông:</div><ul><li>tiếng thác nước là 1 hợp âm ghê rợn</li><li>đến gần: cảnh đá bày thạch trận</li><li>Bố trí cửa tử, cửa sinh, thách thức con người.</li><li>bằng sự quan sát cụ thể và tài năng uyên bác, trí tưởng tượng phong phú, vận dụng ngôn ngữ nhiều ngành, hàng loạt động từ mạnh, ...</li></ul><div>=&gt; tất cả NT ấy để đặc tả tính chất hung bạo, dữ dằn của sông đà và vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên đất nước.<br><br>-LĐ 2: sông đà trữ tình<br><br>+ Hình dáng: từ trên máy bay nhìn xuống: như 1 cái dây thừng ngoằn nghoèo.<br>+"tuôn dài tuôn dài như áng tóc...đốt nương xuân" -&gt;câu văn dài như dòng sông, như 1 bức tranh thủy mặc vương vấn tâm hồn người đọc.<br>+Màu sắc: biến đổi theo mùa<br>+sông đà mĩ lệ gợi cảm như 1 mĩ nhân:</div><ul><li>gợi nhớ đến cố nhân</li><li>gợi quá khứ lịch sử thời Lí-Trần</li><li>gợi cảm xúc về vẻ đẹp tự nhiên, hoang dại của 1 bờ tiền sử</li><li>gợi cảm xúc thơ tình tứ</li></ul><div>=&gt; NT so sánh liên tưởng, những hình ảnh mới lạ đọc đáo không lặp lại,...tất cả đều thấm đẫm 1 vẻ đẹp tinh khôi căng tràn sự sống, mơn mởn. Dòng sông khi hồn nhiên như nỗi niềm cổ tích, khi lại láng chấtt trữ tình của Tản Đà gửi người tình chx quen bt.<br><br>* tóm tắt NT:<br>-miêu tả, nhân hóa, động từ mạnh: sông đà hiện ra như 1 sinh vật sinh động.<br>-những so sánh liên tưởng xuát hiện liên tiếp nhưng mới lạ, độc đáo, tri thức của nhiều ngành đã làm nên chất thơ của văn xuôi.<br><br>* KB:&nbsp;</div><div>- khái quát lại vẻ đẹp của sông đà.<br>- Nêu cảm nhận của bản thân</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-17 01:56:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1952905733</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1952953155</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1459543768/fbcf3168089b368792ea29df6a032e3b/267151044_446338803876965_6700745448468069155_n.jpg" />
         <pubDate>2021-12-17 02:30:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1952953155</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1952954717</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1459543768/6ea80ae98260716d0efd56677b450ef7/2.jpg" />
         <pubDate>2021-12-17 02:31:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1952954717</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1952956113</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1459543768/877846d55402900499754acb0ea69798/3.jpg" />
         <pubDate>2021-12-17 02:32:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1952956113</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1952957016</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1459543768/2f591bad67e0ba75c25631ad56683b59/4.jpg" />
         <pubDate>2021-12-17 02:32:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1952957016</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1952958304</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1459543768/d199f12819690fc5cdf562e0c70ce83c/5.jpg" />
         <pubDate>2021-12-17 02:33:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1952958304</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1952960713</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1459543768/d67df2fa0993724fc470501b1f7328da/263710447_620950729140710_8556275014435971165_n.jpg" />
         <pubDate>2021-12-17 02:35:31 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1952960713</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1952963289</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1459543768/b16e1ee3195061e70f6995f18e7ff383/6.jpg" />
         <pubDate>2021-12-17 02:37:22 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1952963289</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1952964039</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1459543768/fc7acf459652e9168a614809d72692d3/7.jpg" />
         <pubDate>2021-12-17 02:37:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1952964039</guid>
      </item>
      <item>
         <title>phân tích bài thơ Tây Tiến</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1952996208</link>
         <description><![CDATA[<div><br>I. Mở bài<br><br></div><div>- Trình bày một số nét tiêu biểu về tác giả Quang Dũng và đặc trưng thơ ca của ông (vừa hồn nhiên vừa tinh tế, mang vẻ đẹp hào hoa, phóng khoáng, đậm chất lãng mạn).<br><br></div><div>- Nêu một số nét khái quát về bài thơ Tây Tiến: hoàn cảnh ra đời, giá trị nội dung nổi bật của bài thơ.<br><br></div><div><br>II. Thân bài<br><br></div><div><strong>1. Một số nét khái quát<br></strong><br></div><div>- Tây Tiến: là tên một đoàn quân được thành lập năm 1947, có nhiệm vụ kết hợp với bộ đội Lào để bảo vệ biên giới Việt – Lào, làm hao mòn lực lực giặc Pháp.<br><br></div><div>- Xuất thân lính Tây Tiến: phần đông là người Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, sinh viên.<br><br></div><div>- Cảm hứng sáng tác: Quang Dũng viết bài thơ để bày tỏ nỗi nhớ với đoàn quân Tây Tiến sau khi chuyển sang công tác ở đơn vị khác.<br><br></div><div><strong>2. Đường hành quân của đoàn quân Tây Tiến giữa thiên nhiên Tây Bắc<br></strong><br></div><div>- Hai câu thơ đầu: nỗi nhớ thốt lên thành lời “Tây Tiến ơi” là tiếng gọi thân thương, “nhớ chơi vơi”là nỗi nhớ thường trực, bao trùm không gian.<br><br></div><div>- Bức tranh thiên nhiên Tây Bắc hoang sơ và dữ dội:<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Địa danh Sài Khao, Mường Lát gợi sự hẻo lánh, xa xôi;<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Các từ láy giàu tính tạo hình: “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “heo hút”, điệp từ “dốc”, nghệ thuật điệp “Dốc lên ... dốc lên” gợi địa hình hiểm trở, quanh co, gập ghềnh.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Hình ảnh “súng ngửi trời” thể hiện tầm cao của núi non mà người lính phải vượt qua nhưng cũng có cái hóm hỉnh của người lính trong đó.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Nhịp thơ bẻ đôi “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống” gợi tả sự nguy hiểm tột cùng.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Hình ảnh nhân hóa: “cọp trêu người”, “thác gầm thét” gợi sự hoang sơ, man dại; thời gian: “chiều chiều”, “đêm đêm” những người lính phải thường xuyên đối mặt với điều hiểm nguy chốn rừng thiêng nước độc.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Sử dụng phần lớn các thanh trắc nhằm nhấn mạnh sự trắc trở, ghập ghềnh của địa hình.<br><br></div><div>- Khung cảnh thiên nhiên cũng có lúc êm dịu, mang đậm hương vị cuộc sống: “nhà ai Pha Luông ...”, “cơm lên khói”, “Mai Châu mùa em ...”, thanh bằng tạo cảm giác nhẹ nhàng, yên bình.<br><br></div><div><br></div><div>- Hình ảnh bi hùng về người lính Tây Tiến “dãi dầu không bước nữa”, “gục lên súng mũ bỏ quên đời”: có thể hiểu hai câu thơ đơn thuần miêu tả khoảnh khắc nghỉ ngơi của người lính sau cuộc hành quân dài, cũng có thể hiểu đó là sự nghỉ ngơi vĩnh viễn.<br><br></div><div>- Nhận xét: Thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ nhưng đầy rẫy những hiểm nguy, đó chính là những thử thách đối với những người lính Tây Tiến trên chặng đường hành quân.<br><br></div><div><strong>3. Kỉ niệm đẹp về tình quân dân, vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc<br></strong><br></div><div>- Kỉ niệm đêm liên hoan thắm tình quân dân:<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Không khí đêm liên hoan tưng bừng với mà sắc rực rỡ, lộng lẫy: “bừng lên”, “hội đuốc hoa”, “khèn lên man điệu”; con người duyên dáng: “xiêm áo”, “nàng e ấp”.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Tâm hồn người lính bay bổng, say mê trong không khí ấm áp tình người: “Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”.<br><br></div><div>- Khung cảnh sông nước, con người vùng Tây Bắc:<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Đẹp huyền ảo, hoang dại, thiêng liêng: “Chiều sương”, “hồn lau nẻo bến bờ”<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Con người lao động bình dị, mộc mạc: “dáng người trên độc mộc”, cảnh vật duyên dáng, đầy sức sống: “trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”<br><br></div><div>- Nhận xét: nhờ bút pháp lãng mạn, quang Dũng đã vẽ nên bức tranh thiên nhiên thơ mộng, cuộc sống sinh hoạt đầm ấm và hình ảnh con người duyên dáng của vùng Tây Bắc.<br><br></div><div><strong>4. Hình tượng người lính Tây Tiến<br></strong><br></div><div>- Chân dung người lính được miêu tả chân thực: “đoàn binh không mọc tóc”, “ xanh màu lá”, họ sống và chiến đấu trong điều kiện khắc nghiệt, thiếu thốn, gian khổ nhưng vẫn mạnh mẽ “dữ oai hùm”.<br><br></div><div>- Họ là những con người có tâm hồn lãng mạn, trái tim yêu thương “Mắt trừng gửi mộng”/ “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”, lấy hình bóng người thương nơi quê nhà làm động lực chiến đấu.<br>- Vẻ đẹp bi tráng thể hiện qua sự hi sinh anh dũng của họ:<br>+ Sẵn sàng công hiến tuổi trẻ của mình cho đất nước “rải rác biên cương mồ viễn xứ”, “chẳng tiếc đời xanh”, “anh về đất”, ra đi thanh thản, nhẹ nhàng.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Cái chết đã được lí tưởng hóa như hình ảnh những tráng sĩ xưa: “áo bào”, “khúc độc hành”; thiên nhiên cũng đau đớn thay cho nỗi đau họ phải chịu.<br><br></div><div>- Nhận xét: Dù trong hoàn cảnh khó khăn những người lính Tây Tiến vẫn có những nét lãng mạn, hào hoa. Họ mang vẻ đẹp kiêu hùng, sẵn sàng hi sinh cho tổ quốc.<br><br></div><div><strong>5. Lời hẹn ước, gửi gắm tình cảm của tác giả<br></strong><br></div><div>- Câu thơ nhắc nhớ lại ý nguyện, quyết tâm ra đi một thời của đoàn quân Tây Tiến: “người đi không hẹn ước”, còn là sự tiếc thương những đồng đội đã hi sinh “thăm thẳm một chia phôi”.<br><br></div><div>- Niềm thương, nỗi nhớ, tình cảm gắn bó của tác giả luôn gửi lại nơi đoàn quân Tây Tiến: và vùng rừng núi Tây Bắc “Ai lên Tây Tiến ... / Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”<br><br></div><div><br>III. Kết bài<br><br></div><div>- Giá trị nghệ thuật: bút pháp lãng mạn, những sáng tạo trong việc sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh thơ<br><br></div><div>- Tổng kết giá trị nội dung: bài thơ đã tái hiện vẻ đẹp vừa hùng vĩ, vừa thơ mộng của núi rừng Tây Bắc; hình tượng người lính kiên cường, dũng cảm không ngại hi sinh nhưng cũng lãng mạn, mộng mơ.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-17 03:00:17 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1952996208</guid>
      </item>
      <item>
         <title>I. Mở bài- Giới thiệu khái quát về tác giả Tố Hữu: là một nhà thơ lớn, một nhà thơ trữ tình chính trị, thơ ông luôn phản ánh những chặng đường đấu tranh gian khổ song cũng nhiều thắng lợi của dân tộc.- Giới thiệu bài thơ Việt Bắc: hoàn cảnh sáng tác, nội dung chính của bài thơ.II. Thân bài1. Ý nghĩa nhan đề- Việt Bắc là một địa danh – là cái nôi của cách mạng Việt Nam tiền khởi nghĩa, là cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến chống Pháp.- Việt Bắc là nơi lưu giữ nhiều kỉ niệm giữa cán bộ cách mạng và đồng bào nơi đây.2. Lời của người ở lại (20 câu thơ đầu)- Tám câu thơ đầu là tâm trạng lưu luyến bịn rịn trong buổi chia tay:    + Bốn câu trên, sử dụng điệp cấu trúc “mình về mình co nhớ” là lời ướm hỏi, khơi gợi lại những kỉ niệm về “mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”, về thiên nhiên Việt Bắc nghĩa tình.    + Cách xưng hô “mình - ta” như lời tâm tình của đôi lứa yêu nhau khiến cuộc chia tay trở nên thân mật, giản dị. Cách xưng hô còn gợi nhớ đến những câu đối đáp trong điệu hát giao duyên khiến những câu thơ nói về cách mạng không khô khan mà trở nên đằm thắm, sâu lắng.    + Bốn câu thơ tiếp là nỗi lòng lưu luyến của cả người ở lại và ra đi thể hiện qua những từ ngữ diễn tả tâm trạng trực tiếp: “da diết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn”; không khí buổi chia tay thân tình, gần gũi: “áo chàm”, “cầm tay nhau”.- Mười hai câu tiếp theo, với việc sử dụng điệp từ “nhớ”, là lời nhắn nhủ dưới hình thức câu hỏi:    + Nhớ đến thiên nhiên, núi rừng Việt Bắc trong những ngày kháng chiến: mưa nguồn, suối lũ, mây mù, trám bùi, măng mai.    + Nhớ đến những ân tình trong khó khăn gian khổ: “miếng cơm chấm muối” nhưng vẫn “đậm đà lòng son”.    + Nhớ đến quang thời gian hoạt động cách mạng: kháng Nhật, Việt Minh, Tân Trào, Hồng Thái, ...    + Đại từ xưng hô “mình” thể hiện sự gắn bó, thân thiết giữa kẻ ở, người đi. Nó giống như cách xưng hô tâm tình, thủ thỉ chân thành.3. Lời của người ra đi- Bốn câu thơ tiếp khẳng định nghĩa tình thủy chung, mặn mà, “ta với mình, mình với ta”: thể hiện sự gắn bó, thấu hiểu nhau giữ người đi, kẻ ở.- Người đi bày tỏ nỗi nhớ đến thiên nhiên Việt Bắc: “Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương”, “bản khói cùng sương”, “rừng nứa bờ tre”, ... thiên nhiên Việt Bắc qua bốn mùa xuân, hạ, thu, đông.- Nhớ đến con người Việt Bắc:    + Những con người dù gian khó, vất vả những vẫn có tâm lòng thủy chung, cùng chia sẻ mọi “đắng cay ngọt bùi” trong kháng chiến: “chia củ sắn lùi”, “bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng”.    + Nhớ đến những kỉ niệm ấm áp giữa bộ đội và đồng bào Việt Bắc: “lớp họ i tờ”, “giờ liên hoan”, “ca vang núi đèo”.    + Nhớ hình ảnh những con người mang vẻ đẹp mộc mạc, giản dị của người lao động: “người mẹ”, “cô em gái”.- Nhớ hình ảnh quân dân Việt Bắc đoàn kết đánh giặc: “ta cùng đánh Tây”, “cả chiến khu một lòng”; khí thế hào hùng của quân dân ta trong các trận đánh: “rầm rập như là đất rung”, “quân đi điệp điệp trùng trùng”, “dân công đỏ đuốc từng đoàn”, ...- Nhớ những chiến công, những niềm vui thắng trận: “tin vui thắng trận trăm miền ... núi Hồng”- Nhận xét: nhịp thơ dồn dập như âm hưởng bước hành quân, hình ảnh kì vĩ... tất cả tạo nên một bức tranh sử thi hoành tráng để ca ngợi sức mạnh của nhân dân anh hùng.4. Niềm tự hào, niềm tin gửi gắm Việt Bắc CM (16 câu thơ cuối)- Nhớ hình ảnh tươi sáng nơi nguồn cội của cuộc cách mạng: ngọn cờ đỏ thắm, rực rỡ sao vàng, có trung ương Đảng, có chính phủ và có Bác Hồ.- Đoạn thơ thể hiện niềm tin vào sức mạnh, khả năng lãnh đạo của Đảng trong các cuộc cách mạng, niềm tự hào vào những chiến công Việt Bắc.III. Kết bài- Khái quát giá trị nghệ thuật: sử dụng thể dân tộc: thể thơ lục bát để nói về tình cảm cách mạng, lối đối đáp, sử dụng đại từ xưng hô linh hoạt (mình – ta), ngôn từ mộc mạc, giàu sức gợi…- Khái quát giá trị nội dung: bài thơ là bản anh hùng ca về cuộc kháng chiến, là bản tình ca về nghĩa tình cách mạng và kháng chiến.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1953003220</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-17 03:04:43 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1953003220</guid>
      </item>
      <item>
         <title>I. Mở bài- Giới thiệu tác giả: Xuân Quỳnh là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ thời kì chống Mĩ cứu nước, là thi sĩ của tình thương, lòng trắc ẩn và hồn thơ nữ tính.- Giới thiệu bài thơ Sóng: sáng tác năm 1967, in trong tập Hoa dọc chiến hào, là bài thơ viết về tình yêu tiêu biểu cho hồn thơ giàu chất nữ tính của Xuân Quỳnh.II. Thân bài1. Bản chất, quy luật của “sóng” và “em”- Khổ 1: + sử dụng nghệ thuật tương phản: dữ dội – dịu êm, ồn ào – lặng lẽ, từ đó khái quát trạng thái đối lập của sóng, gợi liên tưởng đến tâm lí của người phụ nữ khi yêu (khi mãnh liệt khi lại dịu dàng).    + Nghệ thuật nhân hóa: “sông không hiểu” được bản tính của sóng, nên “sóng ” muốn tìm đến không gian rộng lớn, hành trình của sóng là hành trình khám phá chính bản thân mình, khát khao vươn tới giá trị tuyệt đích trong tình yêu của người phụ nữ.- Khổ 2: +“Ôi con sóng ... và ngày sau vẫn thế”: dù trong quá khứ hay hiện tại sóng luôn dạt dào, sôi nổi, luôn khát vọng. Đó cũng là khát vọng và bản tính của người phụ nữ muôn đời.    + “Nỗi khát vọng tình yêu ... ngực trẻ”: liên hệ tình yêu của tuổi trẻ với con sóng của đại dương, khát vọng tình yêu là khát vọng đặc trưng muôn đời của tuổi trẻ.2. Những suy nghĩ trăn trở về cội nguồn tình yêu    + Khổ 3: Điệp ngữ “em nghĩ về” và câu hỏi: “Từ nơi nào sóng lên” nhấn mạnh niềm khát khao nhận thức bản thân, người mình yêu và nhận thức về tình yêu muôn đời.- Khổ 4: Xuân Quỳnh dựa vào quy luật tự nhiên để tìm khởi nguồn của sóng, của tình yêu, gợi lên sự trăn trở trước bí ẩn của tình yêu, thời điểm bắt đầu tình tình yêu.3. Nỗi nhớ, lòng thủy chung của người con gái trong tình yêu- Khổ 5: +Nghệ thuật tương phản để gợi ra những phạm vi không gian khác nhau “dưới lòng sâu”, “trên mặt nước”, phạm vi thời gian khác nhau: ‘”ngày” – “đêm”, nghệ thuật nhân hóa: “ngày đêm không ngủ được”, diễn tả nỗi nhớ dạt dào, triền miên của sóng với bờ cũng là nỗi nhớ của người phụ nữ khi yêu.    + Người phụ nữ bày tỏ nỗi nhớ một cách trực tiếp, mạnh dạn, chân thành “Lòng em nhớ đến anh”, cách nói thậm xưng “Cả trong mơ còn thức” thể hiện nỗi nhớ ăn sâu vào tiềm thức, thường trực trong suy nghĩ.- Khổ 6: + Nghệ thuật tương phản “xuôi – ngược”, điệp ngữ “dẫu”, “vẫn”, “về” gợi hành trình của sóng ngoài biển lớn cũng như hành trình tình yêu của người phụ nữ giữa cuộc đời.    + Lời thề thủy chung của người phụ nữ, niềm tin chờ đợi trong tình yêu, dù ở đâu cũng “hướng về anh một phương”, nghĩ về người mình yêu bằng cả trái tim.4. Khát vọng tình yêu vĩnh cửu- Khổ 7: khẳng định quy luật vĩnh cửu của thiên nhiên “con nào chẳng tới bờ ... Dù muôn vời cách trở”, cũng giống như “em”, dù khó khăn, thử thách vẫn luôn hướng đến “anh”.- Khổ 8: + “Cuộc đời tuy dài thế / Năm tháng vẫn đi qua”: cảm giác cô đơn nhỏ bé trước cuộc đời, nỗi lo âu về sự hữu hạn của tình yêu trước thời gian vô tận.    + “Như biển kia ... bay về xa”: cảm giác bất an trước cái dễ đổi thay của lòng người giữa “muôn vời cách trở”. Nhưng đây còn là vượt lên sự lo âu phấp phỏng đặt niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của tình yêu như mây có thể vượt qua biển rộng.- Khổ 9: + “Làm sao” gọi sự băn khoăn, khắc khoải, ước ao được hóa thành “trăm con sóng nhỏ” để muôn đời vỗ mãi vào bờ.    + Đó là khát khao của người phụ được sống “biển lớn trong tình yêu ” bằng tình yêu và cùng tình yêu, khát khao hòa nhập tình yêu riêng tư trong tình yêu chung rộng lớn.III. Kết bài- Nêu cảm nhận về bài thơ Sóng- Khái quát giá trị nghệ thuật: xây dựng thành công hình tượng “sóng”ngôn từ, hình ảnh trong sáng bình dị, ...- Nội dung: qua hình tượng sóng diễn tả tình yêu thiết tha, nồng nàn của người phụ nữ, Xuân Quỳnh đã thể hiện quan niệm tình yêu mới mẻ, hiện đại: sự chủ động của người phụ nữ trong tình yêu nhưng vẫn giữ được nét truyền thống.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1953005099</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-17 03:06:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1953005099</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1953015033</link>
         <description><![CDATA[<div>2. Những nội dung cần phân tích<br><br>- Chân dung: Những chi tiết tả thực đã khắc họa diện mạo rất độc đáo, đồng thời phản ánh hiện thực gian khổ, thiếu thốn, bệnh tật nơi chiến trường. Tác giả không hề né tránh hiện thực, và điều đó thể hiện tấm lòng yêu nước, căm thù giặc mãnh liệt của người lính Tây Tiến.<br><br>- Tâm hồn hào hoa, lãng mạn, và kiêu hùng: Qua các ngôn từ thơ “dữ oai hùm”, “mắt trừng gửi mộng qua biên giới” ta thấy được khí thế và quyết tâm của người lính Tây Tiến.<br><br>- Lí tưởng cao đẹp: Không trốn tránh hiện thực “Áo bào thay chiếu anh về đất”, tác giả đã khắc họa sự hi sinh của người lính một cách thanh thản, thầm lặng và cao cả, gây xúc động lòng người, lay động thiên nhiên.<br><br>3. Nghệ thuật<br><br>- Bút pháp tả thực khắc họa chân dung người lính với hiện thực gian khổ nơi chiến trường; dùng từ Hán - Việt cổ kính để tăng thêm sự thành kính, trân trọng với người đã khuất; nói giảm để thể hiện lí tưởng cao đẹp của người chiến sĩ trong chiến đấu, khắc họa sự hi sinh, nhấn mạnh sự mất mát nơi chiến trường<br><br>- Nhận xét: Với giọng thơ trang trọng, đôi lúc lắng xuống, cảm xúc dạt dào, hình ảnh người lính Tây Tiến hiện lên với vẻ đẹp bi tráng, tạc vào lòng người như bức tượng đài bất tử về người lính không thể nào quên</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-17 03:13:15 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1953015033</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Mở bài– Giới thiệu về Quang Dũng: Quang dũng quê ở Hà Tây nhưng ông chủ yếu sống ở Hà Nội. Ông là nghệ sĩ đa tài nhưng thành công hơn cả trong lĩnh vực thơ ca. Thơ ông thường lãng mạn, nhẹ nhàng tinh tế mà sâu lắng, phóng khoáng mang vẻ đẹp hào hoa.– Dàn ý phân tích bài thơ tây tiến – Giới thiệu về bài thơ Tây Tiến: Tây Tiến là một trong những tác phẩm thành công và hay nhất của ông. Tác phẩm được sáng tác khi nhà thơ đã rời xa đơn vị Tây Tiến một thời gian. Vì vậy bài thơ viết với một tâm trạng nhớ da diết, chơi vơi. Người lính Tây Tiến chủ yếu là thanh niên thủ đô, nhiều tầng lớp khác nhau, trong đó có cả học sinh, sinh viên. Cuộc sống chiến đấu rất khó khăn nhưng vượt lên trên cả mọi thử thách, chiến tranh học vẫn giữ được cốt các hào hoa, thanh lịch và lãng mạn hào hùng của thanh niên Hà Nội.Thân bài– Khổ 1Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi+Nói về nỗi nhớ của tác giả dành cho Tây Tiến. Tây Tiến là tiếng gọi thân thương, nỗi nhớ chơi vơi, thường trực bao trùm cả không gian. Có lẽ với một người lính đã gắn bó lâu năm với Tây Tiến thì khi xa nỗi nhớ ấy lại càng dạt dào hơn.Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi,Mường Lát hoa về trong đêm hơi.+Hai câu thơ tiếp theo vẽ lên một bức tranh thiên nhiên Tây Bắc hoang sơ và dữ dội. Đó là các địa danh như Sài Khao, Mường Lát – đều là những nơi hẻo lánh, xa xôi trúc trắc đường đi, núi rừng, vách đá cheo leo.+ “Đoàn quân mỏi” cho thấy sự vất vả gian nan của đoàn quân tây tiến– Khổ 2 bài thơDốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm,Heo hút cồn mây, súng ngửi trời.Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống,Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.+Đây chính là bức tranh thiên nhiên hùng vĩ của Tây Bắc hay cũng chính là những gian khó mà các chiến sĩ Tây  Tiến phải vượt qua hàng ngày.+ Bức tranh thiên nhiên hiện lên hùng vĩ với các từ lấy tạo hình như “khúc khủy” “heo hút” dốc=&gt; Thiên nhiên núi rừng vô cùng lớn, bao la, sâu thăm thẳm khiến người đọc hình dung ra cả tuyến đường hành quân của đoàn quân Tây Tiến vô cùng gian khó, vất vả và nguy hiểm.+ Đặc biệt khi tác giả sử dụng điệp khúc “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm,” càng thấy được địa hình hiểm trở, quanh co, gập ghềnh thế nào.+ Hình ảnh “súng ngửi trời” mang đến một sự lãng mạn trong thơ Quang Dũng. Giữ những gian khó nguy hiểm phía trước mà người lính phải vượt qua vẫn có thể lạc quan, hóm hỉnh yêu đời. Ngoài ra, hình ảnh súng ngửi trời còn cho thấy được tầm cao của núi non, sự nguy hiểm mà người lính đang vượt qua.+ Tiếp theo sang câu thơ: “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống,” gợi tả tột cùng của sự nguy hiểm, chỉ một chút xảy chân thôi có thể mất mạng rồi=&gt; Qua đây ta càng cảm phục những người lính Tây Tiến, họ không hề sợ hãi trước thiên nhiên hùng vĩ nhưng đầy hiểm trở, họ mang trong mình lý tưởng lớn lao, vượt qua mọi chông gai khó khăn bên ngoài.– Khổ 3Anh bạn dãi dầu không bước nữa,Gục lên súng mũ bỏ quên đời!Chiều chiều oai linh thác gầm thét,Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.+ Dàn ý phân tích bài thơ tây tiến  – Hình ảnh “Anh bạn dãi dầu không bước nữa,” mang đến cho người đọc sự xúc động lớn lao. Đối với người lính tây tiến, cái chết với họ nhẹ tựa lông hồng, chỉ đơn giản là không bước nữa, nhẹ nhàng vậy đó. Khi người lính đã ra chiến trận mang trong mình lý tưởng cách mạng, thì đối với họ cái chết không đáng sợ. Đây chính là sự anh dũng, quả cảm của người lính.+ Câu thơ “Gục lên súng mũ bỏ quên đời! nghe thật nhẹ nhàng, bay bổng. Đối với người thường, cái chết thật đáng sợ, nhưng với người lính chỉ là mệt mỏi rồi, gục lên súng mũ mà thôi.+ Chiều chiều oai linh thác gầm thét/ Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người. đó chính là hiện thực mà người lính Tây Tiến phải đối diện hàng ngày trong chuyến hành quân. Những người còn sống tiếp tục đối mặt với tử thần phía trước. Một bên là vực thẳm cao ngút ngàn, một bên là thú dữ rừng thiêng nước độc. Người lính Tây Tiến phải đối mặt và gạt bỏ qua nỗi sợ hãi, để tiếp tục tiến về phía trước. Câu thơ đã gợi lê sự hoang sơ, mang dại mà người lính thường xuyên phải đối mặt.– Khổ 4Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói,Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa,Kìa em xiêm áo tự bao giờ.Khèn lên man điệu nàng e ấp,Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ.+Sang khổ thơ tiếp theo, người đọc lại được tác giả dẫn dắt vào thế giới lãng mạn của các chàng lính Tây Tiến. Không còn là thú dữ, rừng thiêng nước độc nữa, thay vào đó là hình ảnh cuộc sống thi vị, hình ảnh người con gái hà Thành e ấp.+ Cuôc sống người lính Tây Tiến rất lãng mạn, thi sĩ. Họ vẫn mang trong mình nét hào hoa của người Hà thành. Họ vẫn say  mê với cuộc đời “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa,” đó là những đêm trại đốt đuốc bên nhau cùng hát ca, đó là hình ảnh người thiếu nữ Hà Thành e ấp duyên dáng. Khung cảnh lãng mạn đúng như tâm hồn những người lính Tây Tiến – những thanh niên thủ đô vẫn mang trong mình kí ức về một Hà Thành mộng mơ.– Khổ 5Người đi Châu Mộc chiều sương ấy,Có thấy hồn lau nẻo bến bờ?Có nhớ dáng người trên độc mộc,Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa?+ Khung cảnh hiện lên đẹp, ảo lung linh vào một chiều sương+ Con người lao động bình dị và mọc mạc. Cảnh vật vô cùng duyên dáng đầy sức sống: “Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa? Trong cảnh nước lũ mà người lính Tây Tiến vẫn nhận thấy dáng hoa đong đưa, cho tấy tâm hồn họ lãng mạn đậm chất thi sĩ thế nào.– Khổ 6Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc,Quân xanh màu lá dữ oai hùm.Mắt trừng gửi mộng qua biên giới,Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.+ khổ thơ miêu tả chân thật về hình ảnh người lính Tây Tiến. Đó là hình ảnh đầu không có tóc. Một hình ảnh xót xa về người Lính vì họ bị mắc căn bệnh sốt rét nơi chiến trường, rừng thiêng nước độc nên tóc không thể mọc được.+ Sang câu thơ Quân xanh màu lá càng thấy được hình ảnh người chiến sĩ gầy gòm, da xanh xao =&gt; Qua đây cho thấy những gian khó, vất vả mà người lính trải qua vậy mà họ vẫn rất oai hùng, uy nghiêm không sợ gì.+ Mắt trừng gửi mộng qua biên giới,/ Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm. Cho thấy được sự lãng mạn trong tâm hồn họ. Họ lấy hình bóng người thương nơi quê nhà để làm động lực chiến đấu.– Khổ 7Rải rác biên cương mồ viễn xứ,Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.Áo bào thay chiếu, anh về đất,Sông Mã gầm lên khúc độc hành.+ Khổ thơ thể hiện vẻ đẹp bi tráng thể hiện qua sự hi sinh của họ. Họ sẵn sàng cống hiến tuổi trẻ của mình cho đất nước, ngoài chiến trường dẫu biết là khốc liệt, là đổ máu nhưng họ chẳng ‘tiếc đời xanh”.+ Cái chết đến với họ còn nhẹ nhàng, thanh thản như lông hồng, như một sự biết trước. Câu thơ “Áo bào thay chiếu, anh về đất/ Sông Mã gầm lên khúc độc hành” đã lí tưởng hóa hình ảnh những người lính Tây Tiến. Họ được ví như những chiến sĩ xưa với hình ảnh áo bào và khi họ hi sinh đến thiên nhiên cũng đau đớn thay cho nỗi đau của họ.&gt;&gt; Dù trong hoàn cảnh khó khăn, những người lính Tây tiến vẫn có những nét lãng mạn, hào hoa, vẻ đẹp kiêu hùng và sẵn sàng hi sinh cho tổ quốc.– Khổ 8Tây Tiến người đi không hẹn ước,Đường lên thăm thẳm một chia phôi.Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy,Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.+ Khổ cuối như nhắc lại ý nguyện của đoàn quân Tây Tiến một thời, đó là người đi không hẹn ước và cũng là sự thương tiếc đồng đội đã hi sinh của tác giả.+ Lòng tác giả luôn hướng về Tây Tiến, tình cảm gắn bó da diết.Kết bài– Dàn ý phân tích bài thơ tây tiến – Tóm tắt lại nội dung bài thơ: Tây Tiến là bài thơ về những người lính Tây Tiến hào hoa, coi cái chết nhẹ tụa lông hồng, sẵn sàng chiến đấu vì lí tưởng. Bài thơ cũng là nỗi nhớ da diết của tác giả về những người đồng chí, đồng đội Tây Tiến.&gt;&gt; Xem thêm: Phân tích tây tiến của nhà thơ tài hoa Quang Dũng</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1953044383</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-17 03:33:27 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1953044383</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dàn ý bài người lái đò</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1953054372</link>
         <description><![CDATA[<div>1.Hoàn cảnh sáng tác<br>+ Người lái đò sông Đà là một áng văn trong tập tùy bút Sông Đà (1960) – thành quả nghệ thuật đẹp đẽ của Nguyễn Tuân trong chuyến đi gian khổ và hào hùng tới miền Tây Bắc rộng lớn của Tổ quốc. Sông Đà gồm 15 thiên tùy bút và một bài thơ ở dạng phác thảo.<br><br>+ Mục đích chính của chuyến đi tới Tây Bắc của nhà văn đồng thời cũng là cảm hứng chủ đạo của cả tập bút ký là tìm kiếm chất vàng của thiên nhiên Tây Bắc và nhất là chất vàng mười – “thứ vàng đã được thử lửa” ở tâm hồn những con người lao động, chiến đấu trên miền núi sông hùng vĩ và thơ mộng.<br><br>Đọc thêm: Phân tích hình tượng sông đà trong người lái đò sông đà hay nhất<br><br>2. Dàn ý Vẻ đẹp hung bạo và trữ tình của hình tượng con sông Đà<br>* Vẻ hung bạo, dữ dằn :<br>– Cảnh đá bờ sông “dựng vách thành”, có quãng lòng sông bị thắt hẹp lại như cái yết hầu.<br><br>– Những quãng dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm…<br><br>– Những “hút nước” chết người luôn sẵn sàng nhấn chìm và đập tan chiếc thuyền nào lọt vào.<br><br>– Tiếng nước thác sông Đà với nhiều cung bậc dữ dội khác nhau<br><br>– Quãng sông Đà với bao đá nổi, đá chìm, phối hợp cùng sóng thác như dàn thạch trận, lập nhiều phòng tuyến… sẵn sàng “ăn chết” con thuyền và người lái đò.<br><br>* Vẻ trữ tình, thơ mộng :&nbsp;<br>– Từ trên cao nhìn xuống, dòng chảy uốn lượn của con sông như mái tóc của người thiếu nữ diễm kiều.<br><br>– Nhìn ngắm con sông từ nhiều thời gian, không gian khác nhau, Nguyễn Tuân đó phát hiện những sắc màu tươi đẹp và đa dạng của màu nước sông Đà. Nó biến đổi theo mùa, mỗi mùa có một vẻ đẹp riêng.<br><br>– “Nhìn sông Đà như một cố nhân”, nhà văn cảm nhận rõ nét cái chất “đằm đằm ấm ấm” thân quen của con sông và nhất là cái chất thơ như ngấm vào trong từng cảnh sắc thiên nhiên sông Đà.<br><br>– Từ điểm nhìn của một khách hải hồ trên dòng sông, nhà văn đó quan sát và khắc họa những vẻ đẹp hết sức đa dạng và nên thơ của cảnh vật ven sông.<br><br>Đọc thêm: Phân tích hình tượng người lái đò trong tùy bút Người lái đò sông đà<br><br>Dàn ý bài Người Lái Đò Sông Đà đầy đủ chi tiết<br>Dàn ý bài Người Lái Đò Sông Đà đầy đủ chi tiết<br>3.Dàn Ý Hình tượng người lái đò<br>– Là người tinh thạo trong nghề nghiệp<br><br>+ Ông lão nắm vững qui luật khắc nghiệt của dòng thác sông Đà “Nắm chắc quy luật của thần sông thần đá”.<br><br>+ Ông thuộc lòng những đặc điểm địa hình của Sông Đà “ nhớ tỉ mỉ như đóng đanh vào tất cả các luồng nước của tất cả những con thác hiểm trở”, Sông Đà “như một thiên anh hùng ca mà ông đò thuộc đến cả những cái chấm than, chấm câu và những đoạn xuống dòng”.<br><br>– Là người trí dũng tuyệt vời:Ông sẵn sàng đối mặt với thác dữ, chinh phục “cửa tử”, “cửa sinh”, vượt qua trận thuỷ chiến với đá chìm, đá nổi, với những trùng vi thạch trận và phòng tuyến đầy nguy hiểm. Ông lái đò vượt qua bằng những hành động táo bạo và chuẩn xác. Ông hiện lên như một vị chủ huy dày dạn kinh nghiệm:<br><br>+ Ở trùng vây thứ nhất:thần sông dàn ra năm cửa đá thì có đến bốn cửa tử, cửa sinh duy nhất nằm sát bờ trái và huy độg hết sức mạnh của sóng thác đánh vỗ mặt con thuyền. Luồng song hung tợn “liều mạng vào sát nách mà đá trái, mà thúc gối vào bụng và hông thuyền”. Thậm chí còn đánh đòn tỉa, đánh đòn âm… nhưng người lái đò bình tĩnh giữ chắc mái chèo giúp con thuyền “khỏi bị hất khỏi bờm song trận địa phóng thẳng vào mình”. Ngay cả lúc bị trúng đòn hiểm, mặt méo bệch đi nhưng ông vẫn tỉnh táo chỉ huy con thuyền lướt đúng vào luồng sinh.<br><br>+ Ở trùng vây thứ 2, dòng sông đã thay đổi sơ đồ phục kích và cả chiến thuật. Vòng vây thứ 2 này tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào. Cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn. Nhưng ông đò đã “nắm chắc quy luật của thần sông thần đá” nên lập tức cũng thay đổi chiến thuật theo, nhận ra cạm bẫy của bọn thuỷ quân nơi cửa ải nước này. Ông không né tránh mà đưa con thuyền cưỡi lên sóng thác”“cưỡi lên thác Sông Đà, phải cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ”. “Nắm chắc được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chéo vào cửa đá ấy”. Người lái đò tả xung, hữu đột như một chiến tướng dày dạn kinh nghiệm trận mạc có thừa lòng quả cảm đã đưa được con thuyền vượt qua tập đoàn cửa tử khiến cho những bộ mặt đá hung hăng dữ tợn phải xanh lè, thất vọng.<br><br>+ Ở trùng vây thứ 3, thạch trận ít cửa tử hơn những bên phải bên trái đều là luồng chết cả, cửa sinh lại nằm giữa lòng sông và bọn đá hậu vệ canh giữ. Nhưng ông đò không hề bất ngờ trước mưu mô hiểm độc của bọn chúng, tiếp tục chỉ huy con thuyền vượt qua trùng vây thứ 3.<br><br>– Là người tài hoa nghệ sĩ:<br><br>+ Ông đối đầu với ghềnh thác cuồng bạo bằng sự tự tin, ung dung nghệ sĩ. Tay lái linh hoạt, khéo léo, tài hoa như một nghệ sĩ trên sông nước : “ông đò vẫn nhớ mặt bọn này, đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến”, “Vút, vút…thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước”. Dưới bàn tay chèo lái điêu luyện của ông con thuyền đã hoá thành con tuấn mã hiểu ý chủ- khi thì khéo léo né tránh luồng sóng dữ, khi thì phóng thẳng vào cửa đá có 3 tầng cổng “cánh mở, cánh khép”. Con thuyền như bay trong không gian, ông đò luôn nhìn thử thách bằng cái nhìn giản dị mà lãng mạn.<br><br>+ Sau cuộc vượt thác gian nan, ông đò lại có phong thái ung dung của một nghệ sĩ “Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá, nước ống cơm lam và toàn bàn tán về cá anh vũ, cá dầm xanh…”.<br><br>==&gt; Đây là hình ảnh về một người lao động mới mang vẻ đẹp khác thường. Người lái đò hiện lên như là vị chỉ huy dày dạn kinh nghiệm, tài trí và luôn có phong thái ung dung pha chút nghệ sĩ. Ông chỉ huy cuộc vượt thác một cách tài tình, khôn ngoan và biết nhìn thử thách đó qua bằng cái nhìn giản dị mà không thiếu vẻ lãng mạn. Hình ảnh ông lái đò cho thấy Nguyễn Tuân đó tìm được nhân vật mới cho mình, những con người đáng trân trọng, đáng ngợi ca, không thuộc tầng lớp thượng lưu đài các một thời vang bóng mà ngay trong quần chúng lao động bình thường xung quanh ta. Qua hình tượng người lái đò sông Đà, nhà văn muốn phát biểu quan niệm : người anh hùng không phải chỉ có trong chiến đấu mà còn có trong cuộc sống lao động thường ngày.<br><br>– Đoạn văn tả trận thủy chiến, tập trung khắc họa hình tượng ông lái đò một lần nữa cho thấy sự uyên bác, lịch lãm của Nguyễn Tuân. ở đây có tri thức, có ngôn ngữ sống động của quân sự, thể thao, võ thuật, điện ảnh…<br><br>Đọc thêm: Phân tích người lái đò sông đà ngắn gọn hay nhất.<br><br>4. Nghệ thuật<br>– Những ví von, so sánh, liên tưởng, tưởng tượng độc đáo, bất ngờ và rất thú vị của tác giả.<br><br>– Ngôn ngữ đa dạng, sống động, giàu hình ảnh và có sức gợi cảm cao.<br><br>– Câu văn có nhịp điệu, lúc thì hối hả, mau lẹ, khi thì chậm rãi, như tãi ra để diễn tả vẻ đẹp trữ tình rất nên thơ của con sông.<br><br>5. Chủ đề:<br>Qua hình tượng sông Đà và người lái đò, Nguyễn Tuân muốn thể hiện niềm yêu mến thiết tha với thiên nhiên đất nước và n</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-17 03:41:17 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1953054372</guid>
      </item>
      <item>
         <title> DÀN BÀI HÌNH TƯỢNG NGƯỜI LÁI ĐÒ TRONG BÀI &quot;NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ&quot;</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1953117441</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>1. Mở bài<br></strong><br></div><div>Giới thiệu tác giả Nguyễn Tuân, tác phẩm Người lái đò Sông Đà và hình tượng nhân vật người lái đò với những vẻ đẹp tráng lệ: người anh hùng sông nước, người nghệ sĩ tài ba và người lao động bình dị<br><br></div><div><strong>2. Thân bài<br></strong><br></div><div><strong>* Nhận xét khái quát về phong cách sáng tác của tác giả Nguyễn Tuân:<br></strong><br></div><div>- Từ nhan đề, tác giả đã đưa hình tượng con người vào trung tâm, cốt để miêu tả con người<br><br></div><div>- Phong cách nghệ thuật vốn có của tác giả là hướng tới cái đẹp, cái hoàn mỹ. Ở đây, con người là chủ thể trữ tình và là nhân vật trung tâm, tác phẩm xoay quanh cái đẹp của con người<br><br></div><div><strong>*Hình tượng người lái đò được xây dựng với những nét đẹp điển hình<br></strong>- Công việc: lái đò trên sông Đà, hằng ngày đối diện với thiên nhiên hung bạo.<br><br></div><div>- Về lai lịch: tác giả xóa mờ xuất thân, tập trung miêu tả ngoại hình để ngợi ca những con người vô danh âm thầm cống hiến: “tay lêu nghêu như cái sào. Chân ông lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh, ... chất mun”, đó là ngoại hình khỏe khoắn của con người lao động luôn gắn bó với nghề<br><br></div><div>- Là người có lòng dũng cảm, tình yêu nghề: “giữ mái chèo, nén vết thương, hai chân kẹp chặt lấy cuống lái”<br><br></div><div>- Có thể liên hệ đến hình ảnh Huấn Cao – người anh hùng trong quan niệm của Nguyễn Tuân trước cách mạng để dẫn dắt sang hình tượng ông lái đò.<br><br></div><div>- Công việc: lái đò trên sông Đà, hằng ngày đối diện với con thủy quái hung bạo.<br><br></div><div>- Là người từng trải, hiểu biết và thành thạo trong nghề lái đò: “trên sông Đà ông xuôi ngược hơn một trăm lần”, “nhớ tỉ mỉ ... những luồng nước”, “sông Đà đối với ông lái đò ấy như một thiên anh hùng mà ông đã thuộc ... xuống dòng”, ...<br><br></div><div>- Là người mưu trí dũng cảm, bản lĩnh và tài ba:<br><br></div><ul><li>Ung dung đối đầu với thác dữ “nén đau giữ mái chèo, tỉnh táo chỉ huy bạn chèo ...” để phá trùng vi thạch trận thứ nhất,</li><li>Ông lái đò “không chút nghỉ tay, nghỉ mắt phá luôn vòng vây thứ hai và đổi chiến thuật, ông ”“nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá, ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước”, động tác điêu luyện “cưỡi đúng ngay trên bờm sóng, phóng thẳng thuyền vào giữa thác ...”</li><li>Là người nghệ sĩ tài hoa: ưa những khúc sông nhiều ghềnh thác, không thích lái đò trên khúc sông bằng phẳng, coi việc chiến thắng “con thủy quái” là chuyện thường: sau khi vượt thác nhà đò đốt lửa nướng cơm lam và toàn bàn về chuyện cá anh vũ, cá dầm xanh, ...</li></ul><div>- Khái quát về phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân: là nhà văn tài hoa uyên bác, suốt đời đi tìm cái đẹp, luôn khám phá thế giới ở bình diện văn hóa, thẩm mĩ, luôn miêu tả con người trong vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ.<br><strong>3. Kết bài<br></strong><br></div><ul><li>Nêu cảm nhận về hình tượng nhân vật ông lái đò: là đại diện cho con người lao động Tây Bắc trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội, là con người vừa có phẩm chất anh hùng vừa tài hoa nghệ sĩ, chứa đựng chất vàng mười đã qua thử lửa.</li><li>Người lái đò sông Đà là tùy bút xuất sắc miêu tả chân thực vẻ đẹp vừa hung bạo vừa trữ tình của thiên nhiên Tây Bắc, giữa nền thiên nhiên nổi bật lên là vẻ đẹp của những người lao động bình dị.</li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-17 04:44:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1953117441</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dàn ý vẻ đẹp trữ tình của dòng sông Đà</title>
         <author>185d1402090105</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1953530628</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>I. Mở bài<br></strong><br></div><div>- “Người lái đò sông Đà” là một tùy bút rất đặc sắc của Nguyễn Tuân rút từ tập Sông Đà.<br><br></div><div>- Hình ảnh con sông Đà với hai đặc tính nổi bật là hung bạo và trữ tình được tác giả khắc họa đậm nét trong tùy bút. Nổi bật lên là vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình của con sông Đà.<br><strong>II. Thân bài<br></strong><br></div><div><strong>* Vẻ đẹp thơ mộng trữ tình của con sông Đà<br></strong><br></div><div>- Thác ghềnh lúc này chỉ còn lại trong nỗi nhớ. “Thuyền tôi trôi trên sông Đà” - câu văn mở đầu đoạn hoàn toàn là thanh bằng gợi cảm giác lâng lâng, mơ màng; ý lặng tờ nhắc lại trùng điệp tạo chất thơ.<br><br></div><div>- Thiên nhiên hài hòa mang vẻ trong trẻo nguyên sơ, kỳ thú: Cỏ gianh đồi núi đang ra những búp non, đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương.<br><br></div><div>- So sánh bờ sông hoang dại như bờ tiền sử, hồn nhiên như nỗi niềm cổ tích tuổi xưa mở ra những liên tưởng về sự bát ngát, lãng mạn, hư hư thực thực của dòng sông.<br><br></div><div>- Người với cảnh có sự tương giao, hư thực đan xen: Tiếng còi, con hươu ngộ ngẩng đầu nhìn và hỏi ông khách sông Đà. Cảnh làm cho vị tình nhân non nước sông Đà xúc động trong thực và mơ.<br><br></div><div><br><strong>* Nghệ thuật của ngòi bút lãng mạn tài hoa, tinh tế. Nhà văn hiến cho độc giả hình ảnh sống động, ấn tượng sâu sắc:<br></strong><br></div><div>- Lấy động tả tĩnh: Cá quẫy đủ khiến ta giật mình.<br><br></div><div>- Cái tĩnh hàm chứa sự bất ngờ bởi sự biến hóa liên tiếp: thuyền thả trôi, con hươu thơ ngộ vểnh tai, áng cỏ sương, tiếng còi sương, đàn cá dầm xanh quẫy vọt. Cảnh và vật đều ở trạng thái động, không chịu ép mình và đều mang hơi thở vận động của cuộc sống nhiều chiều<br><br></div><div>* Nhà văn đã trải lòng mình với dòng sông, hóa thân vào nó để lắng nghe nhịp sống cuộc đời mới, để nhớ, để thương cho dòng sông, cho quê hương đất nước:<br><br></div><div>- Thưởng ngoạn vẻ đẹp sông Đà,lòng ông dậy lên cảm giác liên tưởng về lịch sử, về tình cảm đối với cố nhân: nhắc tới đời Lí đời Trần.<br><br></div><div>- Trước vẻ đẹp hoang dại nhà văn suy nghĩ về về tiếng còi tàu, cuộc sống hiện đại.<br><br></div><div>- Trải lòng, hóa thân vào dòng sông trong đắm đuối của tình non sông đất nước: Nhớ thương hòn đá thác, lắng nghe giọng nói, trôi những con đò mình nở.<br><strong>III. Kết bài<br></strong><br></div><div>Qua đoạn trích thấy cảnh vật và con người gắn quyện với nhau chặt chẽ; thấy những đặc sắc của văn Nguyễn Tuân. Đọc “Sông Đà” người đọc càng thêm quý trọng tài năng và tấm lòng của con người suốt đời đi tìm cái đẹp, làm giàu có đời sống tinh thần của tất cả độc giả chúng ta.<br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-17 11:19:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1953530628</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dàn ý phân tích cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng trong bài thơ Tây Tiến</title>
         <author>185d1402090105</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1953534159</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>I. Mở bài<br></strong><br></div><ul><li>Giới thiệu về tác giả Quang Dũng và bài thơ Tây Tiến.</li><li>Nêu vấn đề cần phân tích: Cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng trong bài thơ Tây Tiến.</li></ul><div><strong>II. Thân bài<br></strong><br></div><div><strong>1. Khái niệm<br></strong><br></div><div>- Cảm hứng lãng mạn: Cảm hứng sáng tác dựa trên cái tôi chủ quan của tác giả, vượt lên trên thực tế, thoát li hiện thực và đề cao cái tôi.<br><br></div><div>- Cảm hứng lãng mạn trong văn học giai đoạn 1945 - 1975:<br><br></div><ul><li>Ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng.</li><li>Tin tưởng vào tương lai tươi sáng, chiến thắng vẻ vang của dân tộc.</li></ul><div>- Tinh thần bi tráng: Không né tránh thực tại, tuy buồn thương, gian khổ nhưng không bi lụy, ngược lại vô cùng hào hùng, mạnh mẽ.<br><br></div><div><strong>2. Cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng trong bài thơ Tây Tiến<br></strong><br></div><div>* Cảm hứng lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến<br><br></div><div>- Nỗi nhớ da diết của Quang Dũng đối với đoàn quân Tây Tiến.<br><br></div><div>- Khung cảnh thiên nhiên Tây Bắc đầy tươi đẹp, hùng vĩ, nét đẹp trong cuộc sống sinh hoạt của người dân miền núi được nhìn qua con mắt lãng mạn của người nghệ sĩ, người lính Tây Tiến.<br><br></div><ul><li>Cảnh núi non hùng vĩ, nên thơ nhưng cũng không kém phần hiểm nguy, dữ dội: “Sông Mã xa rồi... chơi vơi”, “Dốc lên... ngàn thước xuống”; “Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”...</li><li>Cảnh sinh hoạt của nhân dân miền núi: “nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”, “Mường Lát hoa về trong đêm hơi”, “Nhớ ôi... thơm nếp xôi”, “Doanh trại bừng lên... xây hồn thơ”, “Người đi Châu Mộc... hoa đong đưa”...</li></ul><div><br>=&gt; Trong cái khó khăn, gian khổ, khắc nghiệt, những người lính Tây Tiến vẫn hướng đến những điều tốt đẹp.<br><br></div><div>* Tinh thần bi tráng trong Tây Tiến<br><br></div><div>- Viết về chiến tranh, Quang Dũng không hề nhắc đến súng đạn, khung cảnh chiến trường nhưng ta cũng có thể cảm nhận được sự khốc liệt của chiến tranh: “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc…”, “Rải rác biên cương mồ viễn xứ”... nhưng vượt lên trên tất cả, họ vẫn “Quân xanh màu lá dữ oai hùm”, “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”.<br><br></div><div>=&gt; Hình tượng người chiến sĩ bất khuất, oai phong, lẫm liệt.<br><br></div><div>- Nhà thơ diễn tả sự hi sinh của những người đồng đội nhưng chúng không hề bi lụy mà lại mang tinh thần bi tráng: “Áo bào thay chiếu... khúc độc hành”.<br><br></div><div><strong>3. Giá trị của cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng<br></strong><br></div><div>- Hai cảm hứng này hòa quyện, gắn kết với nhau làm nên linh hồn của nhà thơ, tạo nên vẻ đẹp độc đáo của người lính Tây Tiến.<br><br></div><div>- Chúng góp phần đắc lực vào việc chuyển tải nội dung, tư tưởng của Quang Dũng...<br><strong>III. Kết bài<br></strong><br></div><div>Khẳng định lại giá trị của cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng trong bài thơ Tây Tiến</div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-17 11:22:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1953534159</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dàn ý phân tích 9 câu đầu bài Đất Nước</title>
         <author>185d1402090105</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1953537851</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>1. Mở bài<br></strong><br></div><div>Giới thiệu tác giả Nguyễn Khoa Điềm, đoạn thơ Đất nước và 9 câu thơ đầu.<br><br></div><div><strong>2. Thân bài<br></strong><br></div><div>- “Khi ta lớn lên, đã có rồi”: Đất Nước ra đời từ rất xa xưa như một sự tất yếu, trong chiều sâu của lịch sử thời các vua Hùng dựng nước và giữ nước.<br><br></div><div>- “Ngày xửa ngày xưa, mẹ thường hay kể”: gợi nhắc về những câu chuyện cổ tích, những bài học đạo lí làm người, ước mơ khát vọng của nhân dân về lẽ công bằng .<br><br></div><div>- “Miếng trầu”: phong tục ăn trầu của dân gian gắn với ta nhiều đời nay và gợi nhớ sự tích Trầu cau.<br><br></div><div>- “Biết trồng tre mà đánh giặc”: gợi nhớ truyền thống chống giặc ngoại xâm và truyền thuyết đầy tự hào của người Việt và truyền thuyết về người anh hùng Thánh Gióng.<br><br></div><div>- “Tóc mẹ bới sau đầu”: những phong tục lâu đời của người Việt, người phụ nữ để tóc dài và bới lên.<br><br></div><div>- “Cha mẹ, gừng cay muối mặn”: gắn với câu ca dao của dân tộc, nói về tình cảm thủy chung của người Việt.<br><br></div><div>- “Cái kèo, cái cột, hạt gạo, xay, giã, giần, sàng”: những vật quen thuộc trong đời sống hằng ngày của người Việt Nam gắn với lao động sản xuất và nền văn minh lúa nước.<br><br></div><div>=&gt; Đất Nước là những gì có thể bắt gặp ở ngay trong cuộc sống của mỗi gia đình, mỗi người: câu chuyện cổ tích của mẹ, miếng trầu bà ăn, hạt gạo ta ăn, ngôi nhà ta ở....<br><br></div><div>- “Đất Nước có từ ngày đó”: Đất Nước có từ khi dân mình biết yêu thương, sống tình nghĩa, từ ngày dân tộc có nền văn hóa riêng, từ khi dân mình biết dựng nước và giữ nước, từ trong cuộc sống hằng ngày của con người.<br><br></div><div>=&gt; Sự cảm nhận về chiều sâu của lịch sử của Đất Nước thể hiện ngay trong đời sống hằng ngày của nhân dân. Đất Nước được hình thành từ những gì nhỏ bé, gần gũi trong cuộc sống của mỗi con người, từ bề dày của truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam.<br><br></div><div><strong>3. Kết bài<br></strong><br></div><div>Cảm nhận chung về chín câu thơ đầu trong đoạn trích Đất Nước.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-17 11:26:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1953537851</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dàn ý phân tích 3 khổ cuối (7, 8, 9) bài thơ Sóng</title>
         <author>185d1402090105</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1953544062</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>1. Mở bài:<br></strong><br></div><div>- Giới thiệu tác giả và tác phẩm:<br><br></div><div>Xuân Quỳnh tên thật là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, sinh năm 1942, quê ở huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (cũ). XQ là một trong những nhà thơ tiêu biểu cho thế hệ nhà thơ trẻ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mỹ.<br><br></div><div>Sóng là bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ của Xuân Quỳnh. Đặc biệt ba khổ thơ cuối của bài thơ là 3 khổ thơ hay nhất nói về những trăn trở của XQ về tình yêu và kats vọng hòa tình yêu con sóng nhỏ của mình vào tình yêu lớn của nhẫn loại để bất tử hóa tình yêu.<br><br></div><div><strong>2. Thân bài:<br></strong><br></div><div>a. Về nội dung<br><br></div><div>- Khổ 7: Suy tư về không gian: rộng đến bao nhiêu, cách trở đến thế nào, nhưng khi đã tìm đến nhau thì nhất định sẽ gặp nhau (chú ý hình ảnh sóng và bờ được nhiều nhà thơ như Xuân Diệu, Huy Cận... dùng để diễn tả tình yêu).<br><br></div><div>- Khổ 8: Suy tư về thời gian: Cụm từ " tuy dài thế"," vẫn đi qua"," dẫu rộng " như chứa đựng ở đó ít nhiều nỗi lo âu và sự ngậm ngùi của tác giả. Cuộc đời dài nhưng tuổi trẻ của con người là hữu hạn nên không ngăn nổi năm tháng vẫn đi qua. Gioongs như biển kia dẫu rộng cũng không ngăn nổi 1 đám mây bay về phía cuối chân trời. Nhạy cảm trước sự chảy trôi của thời gian nên XQ tiếc cho sự hữu hạn của đời người, sự mong manh của hạnh phúc.<br><br></div><div><br></div><div>- Yêu tha thiết, mãnh liệt trong tình yêu nhưng ta vẫn bắt gặp những dự cảm lo âu đầy bất trắc của thi sĩ. Dự cảm ấy phù hợp với nguồn cảm hứng thường xuất hiện trong thơ bà.<br><br></div><div>- Khổ 9: Không phải là sự lắp ghép, hòa nhập mà phải tan vào nhau ngàn năm nồng thắm, rạo rực.<br><br></div><div>Đó là tình yêu cao thượng, lớn lao, cái riêng hòa nhập vào trong cái chung và ở trong cái chung mênh mông ấy, cái riêng tồn tại vĩnh hằng.<br><br></div><div>Nhưng đó chính là sự ao ước, khát khao, nhà thơ trăn trở kiếm tìm                                b. Nghệ thuật đặc sắc:<br><br></div><div>- Hình ảnh biển và sóng quyện vào nhau trong cả ba khổ thơ, nhưng ở mỗi khổ thơ lại mang một sắc thái khác nhau.<br><br></div><div>+ Khổ 7: Sóng từ đại dương xa tìm vào với bờ.<br><br></div><div>+ Khổ 8: Mây tìm đến với biển từ nơi xa.<br><br></div><div>+ Khổ 9: Tình yêu tan trong tình yêu (tan thành trăm con sóng nhỏ).<br><br></div><div>- Vần điệu tạo nên một giọng thơ vừa sôi nổi, vừa thiết tha diễn tả rất hay tâm trạng của một tâm hồn đang khát khao, tìm kiếm.<br><br></div><div>- Đánh giá: XQ đã xây dựng hình tượng sóng như một ẩn dụ về tình yêu. Sóng gửi gắm trong đó những suy tư ít nhiều thấp thoáng sự phấp phỏng, lo âu về sự ngắn ngủi của đời người, sự mong manh của hạnh phúc. Cũng bởi thế, bà mông hòa tình yêu con sóng nhỏ của mình vào tình yêu lớn của nhân loại để tình yêu ấy mãi mãi được bất tử. Đó cũng là sự hiện đại trong quan niệm tình yêu của bài thơ " Sóng "<br><br></div><div><strong>3. Kết bài:<br></strong><br></div><div>- Khẳng định giá trị của 3 khổ thơ trong toàn bộ bài thơ<br><br></div><div>- Khẳng định tài năng của tác giả.<br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-17 11:32:17 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1953544062</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dàn ý cảm nhận 8 câu thơ đầu bài Việt Bắc</title>
         <author>185d1402090105</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1953548540</link>
         <description><![CDATA[<div>I<strong>. Mở bài<br></strong><br></div><div>Tố Hữu là nhà thơ trữ tình chính trị, là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam. Thơ Tố Hữu thể hiện lẽ sống lớn, tình cảm lớn của con người Cách mạng. Thơ ông đậm đà tính dân tộc trong nội dung và hình thức thể hiện. Bài thơ “Việt Bắc” là đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là đỉnh cao của thơ ca kháng chiến chống Pháp. Bài thơ Việt Bắc có nhiều đoạn thơ hay mà tiêu biểu là đoạn thơ sau:<br><br></div><div><br></div><div><em>“Mình về mình có nhớ ta</em><br><em>…<br></em><br></div><div><em>Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”<br></em><br></div><div><strong>II. Thân bài<br></strong><br></div><div><strong>1. Hòa cảnh sáng tác<br></strong><br></div><div>- Việt Bắc là khu căn cứ địa kháng chiến được thành lập từ năm 1940, gồm sáu tỉnh viết tắt là “Cao - Bắc - Lạng - Thái - Tuyên - Hà”. Nơi đây, cán bộ chiến sĩ và nhân dân Việt Bắc đã có mười lăm năm gắn bó keo sơn, nghĩa tình (1940 - 1954).<br><br></div><div>- Sau hiệp định Giơnevơ, tháng 10.1954, Trung ương Đảng và cán bộ rời Việt Bắc. Buổi chia tay lịch sử ấy đã trở thành niềm cảm hứng cho Tố Hữu sáng tác bài thơ “Việt Bắc”. Trải dài khắp bài thơ là niềm thương nỗi nhớ về những kỷ niệm kháng chiến gian khổ nhưng nghĩa tình.<br><br></div><div><strong>2. Cảm nhận 8 câu thơ đầu<br></strong><br></div><div>a. Bốn câu thơ mở đầu: Lời của người ở lại<br><br></div><div>- Mở đầu là câu hỏi tu từ. Trong câu hỏi này, “mình” là chỉ người ra đi, “ta” là chỉ người ở lại. “mười lăm năm ấy” là trạng ngữ chỉ thời gian, đó là thời gian chỉ độ dài gắn bó nhớ thương vô vàn giữa người đi kẻ ở. Bốn chữ “thiết tha mặn nồng” đã cho thấy tình cảm giữa Việt Bắc và người cán bộ thật thủy chung sâu nặng, keo sơn bền chặt.<br><br></div><div>- Hai câu sau là lời nhắc nhở chân tình, lời dặn dò kín đáo mà rất đỗi thiết tha. Câu thơ có hai hình ảnh “núi” và “nguồn” là sự vận dụng rất linh hoạt và tài tình của Tố Hữu với câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn”. Đó là lời nhắc nhở, dặn dò kín đáo rất đỗi chân thành: Việt Bắc là cội nguồn Cách mạng, là trung tâm đầu não của cuộc kháng chiến. Xin người về đừng quên cội quên.<br><br></div><div>b. Bốn câu thơ tiếp theo: Lời của người ra đi<br><br></div><div>- “Bâng khuâng” có nghĩa là nhớ nhung, luyến tiếc, buồn vui lẫn lộn (buồn vì phải xa Việt Bắc, vui vì được trở lại quê hương của mình) mà buồn nhiều hơn vui. “Bồn chồn” là từ láy diễn tả tâm trạng cảm xúc day dứt, hồi hộp, nôn nao trong lòng khiến cho bước chân đi cũng ngập ngừng, bịn rịn không muốn chia xa .<br><br></div><div>- Buổi chia tay ấy có hình ảnh “Áo chàm đưa buổi phân ly”. “Áo chàm” là màu áo nghèo khổ, bình dị của người dân Việt Bắc, là hình ảnh hoán dụ để chỉ con người Việt Bắc. Đó là những con người nghèo khổ “hắt hiu lau xám” nhưng luôn “đậm đà lòng son” thủy chung, mặn nồng.<br><br></div><div>- Câu thơ “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” đầy tính chất biểu cảm. “Biết nói gì hôm nay…” không phải là không có gì để nói. Không nói được vì xúc động nghẹn ngào không thốt được nên lời. Những lời không nói ấy có lẽ đã nằm hết trong ba chữ “Cầm tay nhau”. “Cầm tay” là biểu tượng của tình yêu thương đoàn kết. “Cầm tay” là đã đủ nói lên bao cảm xúc trong lòng rồi. Mặt khác, ba dấu chấm lửng đặt ở cuối câu như càng tăng thêm cái tình cảm mặn nồng ấy. Nó giống như nốt lặng trong một khuông nhạc mà ở đó tình cảm cứ ngân dài sâu lắng.<br><br></div><div><strong>3. Nghệ thuật<br></strong><br></div><ul><li>Thể thơ lục bát đậm đà bản sắc dân tộc. Lối hát đối đáp tạo ra giai điệu phong phú cho bài thơ. Nhiều biện pháp tu từ được tác giả vận dụng khéo léo (hoán dụ, câu hỏi tu từ).</li><li>Ngôn ngữ trong sáng, nhuần nhị, và có nhiều nét cách tân (đặc biệt là hai đại từ Ta - mình)</li></ul><div><strong>III. Kết bài<br></strong><br></div><div>Cảm nhận chung về tám câu thơ đầu bài Việt Bắc của Tố Hữu.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-17 11:36:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1953548540</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954430427</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1457621511/d72dcef9b1a9489dbc6c3ef7b905f8d1/ai___.docx" />
         <pubDate>2021-12-18 01:22:15 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954430427</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954430809</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1457621511/62b409655a8ec508645ae85b0ba17df7/s_ng.docx" />
         <pubDate>2021-12-18 01:22:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954430809</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954431109</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1457621511/65395f5365a4ce2107e7bee71d0d6419/soogn___.docx" />
         <pubDate>2021-12-18 01:23:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954431109</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954431588</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1457621511/c98d06dfc7405ac5b2b308a3b86099bc/__t_n__c.docx" />
         <pubDate>2021-12-18 01:24:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954431588</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Người Lái Đò Sông Đà</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954431624</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1444971260/cf5a951299907bad9a253ccefc8dc095/263790969_975524293174298_1142020473625597420_n.jpg" />
         <pubDate>2021-12-18 01:24:15 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954431624</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954432200</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1444971260/ecc8e69134a871e72e57a241544ae4eb/266795731_296299679075376_7903779093843002446_n.jpg" />
         <pubDate>2021-12-18 01:25:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954432200</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954432348</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1444971260/7c068cc0bdda6cc4fd792af96a581882/263488490_645298553572385_4852200325164230021_n.jpg" />
         <pubDate>2021-12-18 01:25:29 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954432348</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954660576</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Dàn ý phân tích Ai đã đặt tên cho dòng sông<br></strong><br></div><div>I. Mở bài</div><div><br></div><div>- Giới thiệu khái quát về tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường (tiểu sử, sáng tác chính, phong cách nghệ thuật…)</div><div>- Giới thiệu về tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông? (hoàn cảnh ra đời, vị trí đoạn trích, khái quát nội dung và nghệ thuật)</div><div>II. Thân bài</div><div>1. Vẻ đẹp thiên nhiên của sông Hương</div><div>a) Vẻ đẹp của sông Hương ở thượng nguồn</div><div>- Sông Hương như “một bản trường ca của rừng già”: “rầm rộ … màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”, “rừng già đã hun đúc … tự do và trong sáng”</div><div>→ Từ ngữ tạo hình, gợi tả vẻ đẹp của sông Hương ở vùng thượng nguồn vừa hùng vĩ, man dại vừa trữ tình, say đắm lòng người</div><div><br></div><div>- Nhà văn đã khéo léo so sánh sông Hương với “cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại”, nhân hóa sông Hương thành một thực thể sống động, có hồn</div><div>- Hình ảnh so sánh độc đáo “Sông Hương như người mẹ phú sa của một vùng văn hóa xứ sở”</div><div>b) Sông Hương ở ngoại vi thành phố</div><div>- Sông Hương trước khi chảy vào thành phố thì “nằm giữa cánh đầu châu hóa đầy hoa dại”</div><div>- Vẻ đẹp mơ màng của sông Hương được miêu tả rất rõ nét, có những đường cong mềm mại, quanh co uốn khúc quanh cố đô Huế</div><div><br></div><div>- Tác giả dành một tình yêu lớn cho dòng sông. Tình yêu ấy khiến ông mơ màng nhận ra bóng dáng của dòng sông giống như tấm lụa trên có thể người thiếu nữ</div><div>c) Vẻ đẹp của sông Hương ở trung tâm thành phố</div><div>- ¬Nét đẹp của dòng sông khi chảy vào thành phố có nét khác biệt so với khu chảy ở ngoại ô</div><div>- Dòng sông trở nên vui tươi nhưng cũng rất êm dịu, như một điệu slow tình cảm của xứ Huế</div><div>- Dòng sông như người con gái tinh tế đánh đàn trong đêm khuya</div><div>2. Vẻ đẹp lịch sử và thơ ca của sông Hương</div><div>a) Dòng sông lịch sử</div><div>- Tên của dòng sông được ghi trong cuốn “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi</div><div>- Sông Hương là một nhân chứng lịch sử của xứ Huế, của đất nước:</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Là điểm tựa, bảo vệ biên cương thời Đại Việt</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Thế kỉ XVIII, vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân với tên tuổi người anh hùng Nguyễn Huệ</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Nó đọng lại đến bầm da, tím máu, “nó sống hết lịch sử bi tráng của thể kỉ XIX”</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Nó đi vào thời đại của cuộc cách mạng tháng Tám bằng những chiến công rung chuyển</div><div><br></div><div>&nbsp; &nbsp;+ Nó chứng kiến cuộc tổng tiến công và nổi dậy màu xuân năm 1968</div><div>b) Vẻ đẹp của sông Hương dưới góc độ văn hóa</div><div>- Tác giả cho rằng đó là một dòng thi ca về sông hương, đó là một dòng sông không bao giờ lặp lại mình</div><div>- Tác giả gắn sông Hương với âm nhạc cổ điển Huế</div><div>3. Hình tượng cái tôi tác giả</div><div>- Quan sát dòng sông trên nhiều góc đọ khác nhau, miêu tả dòng sông trên nhiều phương diện.</div><div>- Là nhà văn có những liên tưởng, so sánh, độc đáo, lối viết tài hoa, uyên bác.</div><div>- Là cái tôi nghệ sĩ có tình yêu tha thiết, say đắm với thiên nhiên Huế và đất nước</div><div>III. Kết bài</div><div>- Khái quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Nội dung: với những trang viết mê đắm, tài hoa, bài kí cho chúng ta cảm nhận sâu sắc vẻ đpẹ của dòng sông Hương thơ mộng, trữ tình, cái nôi của nền văn hóa Huế</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Nghệ thuật: văn phong hướng nội, súc tích, hình ảnh giàu sức liên tưởng, ngôn ngữ phong phú, giàu chất thơ,…</div><div>- Cảm nhận về văn bản: Qua tác phẩm ta cảm nhận được niềm tự hào và tình yêu tha thiết của tác giả với vẻ đẹp thiên nhiên xứ Huế nói riêng và đất nước nói chung.</div><div><br></div><div><br></div><div>- &nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-18 09:11:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954660576</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954661477</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Dàn ý phân tích Việt Bắc<br></strong><br></div><div>I. Mở bài</div><div><br></div><div>- Giới thiệu về tác giả Tố Hữu (tiểu sử, con đường cách mạng, phong cách thơ..)</div><div>- Giới thiệu về bài thơ Việt Bắc (hoàn cảnh ra đời, khái quát nội dung và nghệ thuật)</div><div>II. Thân bài</div><div>1. Lời nhắn nhủ của người ra đi và kẻ ở lại</div><div>a) Tám câu đầu: Cuộc chia tay đầy lưu luyến, bịn rịn</div><div>- Cách xưng hô mình – ta và giọng điệu ngọt ngào của những câu ca dao, những câu hát giao duyên gợi nên khung cảnh chia tay bịn rịn, lưu luyến</div><div>- Từ ngữ:</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Điệp từ “mình về”, “mình có nhớ” gợi lên một khoảng không gian, thời gian đầy ắp kỉ niệm</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Từ láy: “tha thiết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn” gợi tả tâm trạng vấn vương, lưu luyến</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Điệp từ “nhớ”gợi tả nỗi nhớ triền miên</div><div>&nbsp; &nbsp;+ 15 năm ấy: khoảng thời gian gắn bó với những tình cảm mặn nồng, thiết tha</div><div>- Hình ảnh:</div><div>&nbsp; &nbsp;+ "núi", “sông”, "nguồn" những hình ảnh tiêu biểu của núi rừng Việt Bắc.</div><div>&nbsp; &nbsp;+ “cầm tay nhau” diễn tả sự bịn rịn</div><div>&nbsp; &nbsp;+ áo chàm (hoán dụ): chỉ người dân VB Với hình ảnh chiếc áo chàm bình dị, chân thành cảm xúc của người ra đi - kẻ ở dâng trào không nói nên lời.</div><div>⇒ Tám câu đầu là khung cảnh chia tay đầy tâm trạng, bịn rịn, lưu luyến, bâng khuâng của kẻ ở người đi</div><div>b) Lời người ở lại nhắn gửi tới người ra đi</div><div>- Lời nhắn gửi được thể hiện dưới hình thức những câu hỏi: nhớ về Việt bắc cội nguồn quê hương cách mạng, nhớ thiên nhiên Việt Bắc, nhớ những địa danh lịch sử, nhớ những kỉ niệm ân tình...</div><div>- Nghệ thuật:</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Liệt kê hàng loạt các kỉ niệm</div><div>&nbsp; &nbsp;+ ẩn dụ, nhân hóa: rừng núi nhớ ai</div><div>&nbsp; &nbsp;+ điệp từ “mình”</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Cách ngắt nhịp /4, 4/4 đều tha thiết nhắn nhủ người về thật truyền cảm.</div><div>⇒ Thiên nhiên, mảnh đất và con người Việt Bắc với biết bao tình nghĩa, ân tình, thủy chung</div><div>2. Nỗi nhớ của người ra đi và niềm tin vào Đảng, Chính phủ và Bác Hồ</div><div>a) Nhớ cảnh và người Việt Bắc</div><div>- Nỗi nhớ đưuọc so sánh với nỗi nhớ người yêu</div><div>- Nhớ thiên nhiên Việt Bắc:</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Buổi chiều khói bếp hòa quyện với sương núi</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Cảnh bản làng ẩn hiện trong sương</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Cảnh rừng nứa, bờ tre...</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Thiên nhiên Việt Bắc qua 4 mùa với những hình ảnh độc đáo, đặc sắc</div><div>- Nhớ về con người Việt Bắc:</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Nhớ người Việt Bắc trong nghèo khó, vất vả mà vẫn tình nghĩa, thủy chung, gắn bó với cách mạng</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Nhớ những kỉ niệm đầy ắp vui tươi, ấm áp giữa bộ đội và người dân Việt Bắc: lớp học i tờ, những giờ liên hoan</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Nhớ hình ảnh những con người mang vẻ đẹp mộc mạc, giản dị của người lao động: “người mẹ”, “cô em gái”.</div><div>⇒ Với kết cấu đan xen, cứ một câu tả cảnh, một câu tả người đã làm nổi bật vẻ đẹp hài hoà, sự đan cài quấn quýt giữa thiên nhiên và con người. Đây là vẻ đẹp đậm màu sắc phương đông</div><div>b) Nhớ Việt Bắc đánh giặc và Việt Bắc anh hùng</div><div>- Nhớ hình ảnh cả núi rừng Việt Bắc đánh giặc: “Rừng....”</div><div>- Nhớ hình ảnh đoàn quân kháng chiến: “Quân đi...”</div><div>- Nhớ những chiến công ở Việt Bắc, những chiến thắng với niềm vui phơi phới</div><div>⇒ Nhịp thơ mạnh, dồn dập như âm hưởng bước hành quân. Hình ảnh kì vĩ... tất cả tạo nên một bức tranh sử thi hoành tráng để ca ngợi sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, của nhân dân anh hùng</div><div>c) Nhớ Việt Bắc niềm tin</div><div>- Nhớ cuộc họp cao cấp với nhiều chi tiết, hình ảnh tươi sáng.</div><div>- Nhớ hình ảnh ngọn cờ đỏ thắm, rực rỡ sao vàng, có trung ương Đảng, có chính phủ và có Bác Hồ</div><div>⇒ Việt Bắc là cội nguồn là quê hương cách mạng</div><div>III. Kết bài</div><div>- Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Nội dung: bài thơ khúc tình ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến. Thể hiện sự gắn bó, ân tình sâu nặng với nhân dân, đất nước trong niềm tự hào dân tộc…</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Nghệ thuật: đạm chất dân tộc, trong việc sử dụng hình thức đối đáp với cặp đại từ nhân xưng mình – ta, ngôn ngữu, hình ảnh thơ giản dị, nhịp thơ uyển chuyển, sử dụng thể thơ dân tộc – thể thơ lục bát...</div><div>- Cảm nhận của bản thân: bài thơ cho chúng ta thấy nghĩa tình của người dân Việt trong những năm tháng khó khăn, gian khổ của cuộc chiến tranh, giành độc lập, tự do cho dân tộc</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-18 09:13:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954661477</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954662785</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Dàn ý phân tích Tuyên ngôn độc lập<br></strong><br></div><div>Dàn ý</div><div>I. Mở bài</div><div><br></div><div><br></div><div>- Giới thiệu khái quát về tác giả Hồ Chí Minh (khái quát con người, quan điểm và phong cách sáng tác)</div><div>- Giới thiệu về tác phẩm Tuyên ngôn độc lập (hoàn cảnh sáng tác, ý nghãi lịch sử và ý nghãi văn học)</div><div>II. Thân bài</div><div>1. Cơ sở lí luận (Nguyên lí chung của bản Tuyên ngôn)</div><div>- Người trích dẫn hai bản tuyên ngôn của Pháp và Mĩ làm tiền đề lí luận cho bản Tuyên ngôn độc lập:</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Tuyên ngôn độc lập của Mĩ năm 1776: “Tất cả mọi người ... quyền mưu cầu hạnh phúc”</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1791: “Người ta sinh ra tự do ... bình đẳng về quyền lợi.”</div><div><br></div><div>- Ý nghĩa của việc trích dẫn:</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Hồ Chí Minh tôn trọng và sử dụng hai bản tuyên ngôn của Pháp và Mĩ làm cơ sở lí luận, bởi đó là những lí lẽ đã dược tất cả mọi người thừa nhân</div><div><br></div><div>&nbsp; &nbsp;+ Nghệ thuât “gậy ông đập lưng ông”: Sử dụng lời lẽ của người Pháp để nói về họ nhằm mở cuộc tranh luận ngầm với họ</div><div><br></div><div>&nbsp; &nbsp;+ Đặt ngang hàng cuộc cách mạng và giá trị bản tuyên ngôn của nước ta với hai cường quốc, thể hiện lòng tự hào, tự tôn dân tộc</div><div><br></div><div>&nbsp; &nbsp;+ Tạo tiền đề lập luận cho mệnh đề tiếp theo</div><div>- Từ quyền dân tộc trong hai bản tuyên ngôn của Pháp và Mĩ, Hồ chí minh mở rộng ra thành quyền dân tộc: “Suy rộng ra…quyền tự do”. Điều này cho thấy sự vận dụng khéo léo, sáng tạo và cách lập luận chặt chẽ của tác giả</div><div><br></div><div>⇒ Bẳng lập luận chặt chẽ, chứng cứ xác thực, Hồ chí Minh đã khẳng định quyền bình đẳng, tự do của mỗi dân tộc trong đó có dân tộc Việt Nam làm nguyên lí chung cho bản tuyên ngôn</div><div><br></div><div>2. Cơ sở thực tiễn (Tố cáo tội áo của giặc và khẳng định cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta)</div><div>a) Tố cáo tội ác của giặc</div><div><br></div><div>- Vạch rõ bản chất “khai hóa” của thực dân Pháp: thực dân Pháp đã thi hành những chính sách độc ác, dã man trên đất nước ta trên tất cả mọi lĩnh vực từ kinh tế, chính trị đến văn hóa, xã hội</div><div><br></div><div>- Vạch trần thực chất công cuộc “bảo hộ” nước ta của thực dân Pháp: Pháp quỳ gối đầu hàng mở cửa nước ta rước Nhật, trong vòng 5 năm, hai lần bán nước ta cho Nhật</div><div><br></div><div>- Chỉ rõ luận điệu xảo trá, vạch rõ tội ác của giặc: đầu hàng Nhật, khủng bố Việt Minh, giết tù chính trị của ta</div><div><br></div><div>b) Cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta</div><div>- Nhân dân Việt Nam đã đứng về phe đồng minh, chống phát xít Nhật; nhân dân Việt Nam cướp chính quyền từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp</div><div><br></div><div>- Kết quả:</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Kế Thoát li quan hệ với Pháp, xóa bỏ hiệp ước Pháp đã kí, xóa bỏ mọi đặc quyền của Pháp.</div><div><br></div><div>&nbsp; &nbsp;+ Kêu gọi nhân dân VN đoàn kết chống lại âm mưu của Pháp</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế: kêu gọi cộng đồng quốc tế công nhận độc lập tự do của VN..</div><div><br></div><div>&nbsp; &nbsp;+ Ta anh dũng chống phát xít, phải được tự do độc lập</div><div>3. Lời tuyên bố độc lập và ý chí bảo vệ chủ quyền dân tộc</div><div>- Lời khẳng định nền độc lập nhắn gọn, đanh thép, trang trọng và đầy sức thuyết phục: “Nước Việt Nam có quyền... nước tự do, độc lập”</div><div>- Ý chí kiên quyết bảo vệ nền độc lập, tự do cho dân tộc</div><div>III. Kết bài</div><div>- Khái quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản</div><div><br></div><div>&nbsp; &nbsp;+ Nội dung: bản tuyên ngôn tố cáo tội ác của kẻ thù, ngăn chặn âm mưu của các thế lực thù địch, đồng thời cho thấy tấm lòng yêu nước thương dân của tác giả</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Nghệ thuật: nghệ thuật lập luận chặt chẽ, bố cục rõ ràng, chững cứ xác thực, sự kết hợp hài hòa giữa nghị luận và biểu cảm</div><div>- Cảm nghĩ của bản thân: Tuyên ngôn độc lập là áng văn chính luận mẫu mực, cho thấy tấm lòng và tài năng của Chủ tích Hồ Chí Minh.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-18 09:15:32 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954662785</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954665359</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Dàn ý phân tích Sóng<br></strong><br></div><div>I. Mở bài</div><div><br></div><div>- Giới thiệu khái quát về nhà thơ Xuân Quỳnh (tiểu sử, phong cách thơ...)</div><div>- Giới thiệu khát quát về bài thơ “Sóng” (hoàn cảnh ra đời, nội dung chính....)</div><div>II. Thân bài</div><div>1. Nhận thức về tình yêu qua hình tượng sóng</div><div>- Thủ pháp đối lập: dữ dội – dịu em, ồn ào – lặng lẽ</div><div>→ Các cung bậc, sắc thái khác nhau của sóng cũng giống như những cung bậc tình cảm phong phú, những trạng thái đối cực phức tạp, đầy nghịch lí của người phụ nữu khi yêu</div><div>- Hình ảnh ẩn sụ, nhân hóa “Sông không hiểu nổi mình/Sóng tìm ra tận bể”: khát vọng vươn xa, thoát khỏi những gì chật chội, nhỏ hẹp, tầm thường</div><div>→ Quan niệm mới về tình yêu: yêu là tự nhân thức, là vươn tới cái rộng lớn, cao xa</div><div>- Phép so sánh, liên tưởng “Ôi con sóng ngày xưa ... Bồi hồi trong ngực trẻ”: Lời khẳng định khát vọng tình yêu cháy bỏng, mãnh liệt luôn luôn thường trực trong trái tim tuổi trẻ</div><div>2. Những suy nghĩ, trăn trở về cội nguồn và quy luật của tình yêu</div><div>- Sử dụng dày đặc các câu hơi tu từ “Từ nơi nào sóng lên?”, “Gió bắt đầu từ đâu?”: thể hiện mong muốn muốn tìm được cội nguồn của tình yêu, lí giải được tình yêu, khát khao hiểu được tình yêu, hiểu được bản thân mình và hiểu được người mình yêu</div><div>- Câu trả lời “Em cũng không biết nữa”: Lời tự thú chân thành của người phụ nữ, đầy hồn nhiên, nữ tính. Tình yêu là bí ẩn, những trạng thái trong tình yêu luôn là những điều khó lí giải</div><div>3. Nỗi nhớ, lòng thủy chung son sắt của người con gái khi yêu</div><div>- Nỗi nhớ là tình cảm chủ đạo, luôn thường trực trong trái tim những người đang yêu</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Nỗi nhớ bao trùm cả không gian, thời gian: “dưới lòng sâu... trên mặt nước...”, “ngày đêm không ngủ được”</div><div>→ Nỗi nhớ da diết, sâu đậm</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Tồn tại trong ý thức và đi vào cả tiềm thức: “Lòng em nhớ đến anh/Cả trong mơ còn thức”</div><div>→ Cách nói cường điệu nhưng hết sức hợp nhằm tô đậm nỗi nhớ mãnh liệt của tác giả</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Nghệ thuật nhân hóa, hóa thân vào sóng để “em” tự bộc lộ nỗi nhớ da diết, cháy bỏng của mình</div><div>- Lòng thủy chung, son sắt của người con gái trong tình yêu:</div><div>&nbsp; &nbsp;+ “Em”: phương Bắc phương Nam – “Hướng về anh một phương”</div><div>→ Lời thể thủy chung son sắt tuyệt đối</div><div>&nbsp; &nbsp;+ “sóng” : ngoài đại dương → “Con nào chẳng tới bờ”</div><div>→ quy luật tất yếu.</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Lòng thủy chung là sức mạnh để tình yêu vượt qua mọi khó khăn, thử thách để tới với bến bờ hạnh phúc</div><div>⇒ Lời khẳng định cho cái tôi của một con người luôn vững tin ở tình yêu</div><div>4. Khát vọng về tình yêu vĩnh cửu, bất diệt</div><div>- Sự nhạy cảm và lo âu của tác giả về cuộc đời trước sự trôi chảy của thời gian “Cuộc đời tuy dài thế ... Mây vẫn bay về xa”</div><div>- “Làm sao” gợi sự băn khoăn, khắc khoải, ước ao được hóa thành “trăm con sóng nhỏ” để muôn đời vỗ mãi vào bờ.</div><div>- Khát khao của nguời phụ nữa được hòa mình vào cuộc đời, được sống trong “biển lớn tình yêu” với một tình yêu trường cửu, bất diệt với thời gian</div><div>III. Kết bài</div><div>- Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ:</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Nội dung: bài thơ diễn tả tình yêu của người phụ nữ thiết tha, nồng nàn, chung thủy, muốn vượt lên thử thách của thời gian và sự hữu hạn của đời người. Từ đó cho thấy tình yêu là một thứ tình cảm cao đẹp, một hạnh phúc lớn lao của con người</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Nghệ thuật: hình ảnh sóng đôi sóng và em, thể thơ năm chữ, ngogn ngữu dung dị, trong sáng...</div><div>- Cảm nhận về bài thơ: bài thơ cho chúng ta thấy rõ những cung bậc cảm xúc sâu lắng, thầm kín trong tình yêu. Đó là tiếng lòng, là nhịp chảy của những trái tim đang khao khát, rạo rực yêu thương.<br><br><strong>Dàn ý phân tích Người lái đò sông Đà<br></strong><br></div><div>Dàn ý</div><div>I. Mở bài</div><div>- Giới thiệu về tác giả Nguyễn Tuân (tiểu sử, sáng tác chính, phong cách nghệ thuật…)</div><div>- Giới thiệu khái quát về tác phẩm Người lái đò sông Đà</div><div>II. Thân bài</div><div><br></div><div>1. Lời đề từ</div><div>Nguyễn Tuân chọn đề từ bằng hai câu thơ:</div><div>- Đẹp vậy sao tiếng hát con tàu: ca ngợi vẻ đẹp độc đáo, riêng biệt của sông Đà</div><div>- Chúng thủy giai đông tẩu/Đà giang độc Bắc lưu: ca ngợi vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình của sông Đà</div><div>→ Nguyễn Tuân kể chuyện về một dòng sông, về một vùng đất và cuộc sống con người Tây Bắc. Nguyễn Tuân cung cấp cho người đọc hiểu biết phong phú,tình yêu tha thiết với thiên nhiên, đất nước con người Việt Nam. Thiên tùy bút vừa là một công trình khảo cứu công phu, vừa là một áng văn trữ tình giàu tính thẩm mĩ về con Sông Đà.</div><div>2. Hình tượng sông Đà</div><div>a) Giới thiệu khát quát về sông Đà</div><div>- Sông Đà biểu tượng cho vẻ đẹp thiên nhiên Tây Bắc – một dòng chảy vĩ đại giữa núi rừng Tây Bắc</div><div>- Về địa lí: dòng sông bắt nguồn từ Trung Quốc chảy qua vùng núi cao hiểm trở, tốc độ dòng sông chảy xiết mạnh mẽ.</div><div>a) Vẻ đẹp hung bạo, hùng vĩ của sông Đà (phần 1)</div><div>- Diện mạo:</div><div>&nbsp; &nbsp;+ “Cảnh đá bờ sông dựng vách thành”: lòng sông hẹp, “bờ sông dựng vách thành”, “đúng ngọ mới có mặt trời”, chỗ “vách đá ... như một cái yết hầu”.</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Ở mặt ghềnh Hát Loóng: “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió” một cách hỗn độn, lúc nào cũng như “đòi nợ suýt” những người lái đó.</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Ở Tà Mường Vát: “có những cái hút nước giống như cái giếng bê tông”, chúng “thở và kêu như cửa cống cái bị sặc nước”</div><div>- Tâm địa của sông Đà đưuọc miêu tả qua “thạch trận”:</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Thạch trận : " Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vỗ lấy thuyền"</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Thủy trận :"Đám tảng đám hòn chia làm ba hàng ngang chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền, một cái thuyền đơn độc không biết lùi đi đâu để tránh một cuộc giáp lá cà có đá dàn sẵn trận địa.</div><div><br></div><div>Ba trùng vi giăng bẫy trên con sông:" Vòng đầu vừa rồi, nó mở ra năm cửa trận, có bốn cửa tử một cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn sông" , "vòng thứ hai này tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào", "còn một trùng vây thứ ba nữa. Ít cửa hơn, bên trái bên phải đều là luồng chết cả.</div><div>→ Với vốn từ cực kì phong phú cùng bút pháp lãng mạn tô đậm để gây ấn tượng mãnh liệt, cảm giác rùng rợn, dựng lên một con sông hung bạo đầy đe dọa với con người.</div><div>b) Vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của sông Đà</div><div>- Trữ tình ở dáng sông kiều diễm với điểm nhìn từ trên cao xuống, từ tầm xa, bao quát để ngắm một dáng sông thơ mộng , có khi nhà văn nhìn thấy nó bình dị như" một dải dây thừng", như "một mái tóc mun…áng tóc trữ tình".</div><div>- Trữ tình ở màu sắc sông nước: Nguyễn Tuân nhìn Sông Đà từ nhiều góc độ, lần này từ điểm nhìn thấp hơn và góc nhìn thật đẹp:khi nhìn bằng ánh mắt họa sĩ, khi thì nhìn bằng cảm xúc nhà thi sĩ để say sưa, quan sát tưởng tượng sắc nước Sông Đà, sự thay đổi màu sắc qua các mùa mà mùa nào cũng đẹp, một cách nhìn thật nhiều chiều và đa dạng</div><div><br></div><div>Khung cảnh bờ bãi ven sông với điểm nhìn đậu hẳn xuống mặt sông, là 1 du khách trên sông "Thuyền tôi trôi trên Sông Đà…dòng trên" .</div><div>→ Sông Đà dưới ánh mắt của Nguyễn Tuân hiện lên như một dải lụa hiền hòa giữa vùng núi rừng Tây Bắc hoang sơ, hùng vĩ</div><div>3. Hình ảnh người lái đò sông Đà</div><div>- Giới thiệu chung: ông lái đò Sông Đà làm nghề chở đò dọc trên Sông Đà- nghề vận tải đường nước, ông mang chân dung người lao động sông nước đẹp vạm vỡ khỏe mạnh. Cuộc sống hằng ngày của ông là chiến đầu với con Sông Đà, vật lộn với thiên nhiên để giành giật sự sống, để tồn tại</div><div>- Cuộc chiến đấu trên sông Đà – con sông hùng dữ và nham hiểm:</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Là người từng trải, hiểu biết và thành thạo trong nghề lái đò: “trên sông Đà ông xuôi ngược hưn một trăm lần”, “nhớ tỉ mỉ ... những luồng nước”, ...</div><div><br></div><div>+ Là người mưu trí dũng cảm, bản lĩnh và tài ba: ung dung đối đầu với thác dữ “nén đau giữ mái chèo, tỉnh táo chỉ huy bạn chèo ...”, “nắm chắc binh pháp của thần sông thần núi”, động tác điêu luyện “cưỡi đúng ngay trên bờm sóng, phóng thẳng thuyền vào giữa thác ...”</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Là người nghệ sĩ tài hoa: ưa những khúc sông nhiều ghềnh thác, không thích lái đò trên khúc sông bằng phẳng, coi việc chiến thắng “con thủy quái” là chuyện thường</div><div>- Trở về với cuộc sống đời thường, sau cuộc chiến "đêm ấy nhà ông đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam..cá túa ra tràn đầy đồng ruộng". Đó là cuộc sống thường nhật của người lái đò ngày nào cũng chiến đấu với thiên nhiên</div><div><br></div><div>→ Cuộc sống bình dị, khiêm nhường nhưng rất đáng khâm phục</div><div>III. Kết bài</div><div>- Khái quát gia trị nội dung và nghệ thuật của văn bản</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Nội dung: Người lái đò sông Đà ca ngợi vẻ đẹp vừa kì vĩ, hào hùng vừa trữ tình thơ mộng của thiên nhiên và nhất là của con người lao động bình dị ở miền Tây Bắc</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Nghệ thuật: cách sử dụng từ ngữ độc đáo, đắc địa, tài ba, sử dụng vốn hiểu biết trên nhiều lĩnh vực, kết hợp hài hòa giữa bút pháp lãng mạn và hiện thực</div><div>- Cảm nhận về văn bản: Người lái đò sông Đà lầ một áng tùy bút xuất sắc, cho thấy tài năng và tấm lòng của người nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái Đẹp – Nguyễn Tuân</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-18 09:20:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954665359</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đề Cương bài 1: Lập dàn ý phân tích bài thơ &quot;Tây Tiến&quot;</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954675159</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>I . Mở bài :</strong> - Trình bày một số nét tiêu biểu về tác giả Quang Dũng và đặc trưng thơ ca của ông (vừa hồn nhiên vừa tinh tế, mang vẻ đẹp hào hoa, phóng khoáng, đậm chất lãng mạn).<br><br></div><div>- Nêu một số nét khái quát về bài thơ Tây Tiến: hoàn cảnh ra đời, giá trị nội dung nổi bật của bài thơ.<br><br></div><div>Vd : Mọi cuộc chiến tranh rồi sẽ qua đi, bụi thời gian có thể phủ dày lên hình ảnh của những anh hùng vô danh, nhưng văn học với sứ mệnh thiêng liêng của nó đã khắc họa một cách vĩnh viễn vào tâm hồn người đọc hình ảnh những người con anh hùng của đất nước đã ngã xuống vì nền độc lập của Tổ quốc trong suốt trường kỳ lịch sử. Và “Tây Tiến” là 1 trong những bài thơ hay, tiêu biểu của Quang Dũng cũng đã dựng lên một bức tượng đài bất tử như vậy về người lính cách mạng trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược. Đó là bức tượng đài đã làm cho những người chiến sĩ yêu nước từng ngã xuống trong những tháng năm gian khổ ấy bất tử cùng thời gian<br><br></div><div><br>II. Thân bài<br><br></div><div><strong>1. Một số nét khái quát<br></strong><br></div><div>- Tây Tiến: là tên một đoàn quân được thành lập năm 1947, có nhiệm vụ kết hợp với bộ đội Lào để bảo vệ biên giới Việt – Lào, làm hao mòn lực lực giặc Pháp.<br><br></div><div>- Xuất thân lính Tây Tiến: phần đông là người Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, sinh viên.<br><br></div><div>- Cảm hứng sáng tác: Quang Dũng viết bài thơ để bày tỏ nỗi nhớ với đoàn quân Tây Tiến sau khi chuyển sang công tác ở đơn vị khác.<br><br></div><div><strong>2. Đường hành quân của đoàn quân Tây Tiến giữa thiên nhiên Tây Bắc<br></strong><br></div><div>- Hai câu thơ đầu: nỗi nhớ thốt lên thành lời “Tây Tiến ơi” là tiếng gọi thân thương, “nhớ chơi vơi”là nỗi nhớ thường trực, bao trùm không gian.<br><br></div><div>- Bức tranh thiên nhiên Tây Bắc hoang sơ và dữ dội:<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Địa danh Sài Khao, Mường Lát gợi sự hẻo lánh, xa xôi;<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Các từ láy giàu tính tạo hình: “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “heo hút”, điệp từ “dốc”, nghệ thuật điệp “Dốc lên ... dốc lên” gợi địa hình hiểm trở, quanh co, gập ghềnh.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Hình ảnh “súng ngửi trời” thể hiện tầm cao của núi non mà người lính phải vượt qua nhưng cũng có cái hóm hỉnh của người lính trong đó.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Nhịp thơ bẻ đôi “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống” gợi tả sự nguy hiểm tột cùng.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Hình ảnh nhân hóa: “cọp trêu người”, “thác gầm thét” gợi sự hoang sơ, man dại; thời gian: “chiều chiều”, “đêm đêm” những người lính phải thường xuyên đối mặt với điều hiểm nguy chốn rừng thiêng nước độc.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Sử dụng phần lớn các thanh trắc nhằm nhấn mạnh sự trắc trở, ghập ghềnh của địa hình.<br><br></div><div>- Khung cảnh thiên nhiên cũng có lúc êm dịu, mang đậm hương vị cuộc sống: “nhà ai Pha Luông ...”, “cơm lên khói”, “Mai Châu mùa em ...”, thanh bằng tạo cảm giác nhẹ nhàng, yên bình.<br><br></div><div>- Hình ảnh bi hùng về người lính Tây Tiến “dãi dầu không bước nữa”, “gục lên súng mũ bỏ quên đời”: có thể hiểu hai câu thơ đơn thuần miêu tả khoảnh khắc nghỉ ngơi của người lính sau cuộc hành quân dài, cũng có thể hiểu đó là sự nghỉ ngơi vĩnh viễn.<br><br></div><div>- Nhận xét: Thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ nhưng đầy rẫy những hiểm nguy, đó chính là những thử thách đối với những người lính Tây Tiến trên chặng đường hành quân.<br><br></div><div><strong>3. Kỉ niệm đẹp về tình quân dân, vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc<br></strong><br></div><div>- Kỉ niệm đêm liên hoan thắm tình quân dân:<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Không khí đêm liên hoan tưng bừng với mà sắc rực rỡ, lộng lẫy: “bừng lên”, “hội đuốc hoa”, “khèn lên man điệu”; con người duyên dáng: “xiêm áo”, “nàng e ấp”.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Tâm hồn người lính bay bổng, say mê trong không khí ấm áp tình người: “Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”.<br><br></div><div>- Khung cảnh sông nước, con người vùng Tây Bắc:<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Đẹp huyền ảo, hoang dại, thiêng liêng: “Chiều sương”, “hồn lau nẻo bến bờ”<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Con người lao động bình dị, mộc mạc: “dáng người trên độc mộc”, cảnh vật duyên dáng, đầy sức sống: “trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”<br><br></div><div>- Nhận xét: nhờ bút pháp lãng mạn, quang Dũng đã vẽ nên bức tranh thiên nhiên thơ mộng, cuộc sống sinh hoạt đầm ấm và hình ảnh con người duyên dáng của vùng Tây Bắc.<br><br></div><div><strong>4. Hình tượng người lính Tây Tiến<br></strong><br></div><div>- Chân dung người lính được miêu tả chân thực: “đoàn binh không mọc tóc”, “ xanh màu lá”, họ sống và chiến đấu trong điều kiện khắc nghiệt, thiếu thốn, gian khổ nhưng vẫn mạnh mẽ “dữ oai hùm”.<br><br></div><div>- Họ là những con người có tâm hồn lãng mạn, trái tim yêu thương “Mắt trừng gửi mộng”/ “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”, lấy hình bóng người thương nơi quê nhà làm động lực chiến đấu.<br><br></div><div>- Vẻ đẹp bi tráng thể hiện qua sự hi sinh anh dũng của họ:<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Sẵn sàng công hiến tuổi trẻ của mình cho đất nước “rải rác biên cương mồ viễn xứ”, “chẳng tiếc đời xanh”, “anh về đất”, ra đi thanh thản, nhẹ nhàng.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Cái chết đã được lí tưởng hóa như hình ảnh những tráng sĩ xưa: “áo bào”, “khúc độc hành”; thiên nhiên cũng đau đớn thay cho nỗi đau họ phải chịu.<br><br></div><div>- Nhận xét: Dù trong hoàn cảnh khó khăn những người lính Tây Tiến vẫn có những nét lãng mạn, hào hoa. Họ mang vẻ đẹp kiêu hùng, sẵn sàng hi sinh cho tổ quốc.<br><br></div><div><strong>5. Lời hẹn ước, gửi gắm tình cảm của tác giả<br></strong><br></div><div>- Câu thơ nhắc nhớ lại ý nguyện, quyết tâm ra đi một thời của đoàn quân Tây Tiến: “người đi không hẹn ước”, còn là sự tiếc thương những đồng đội đã hi sinh “thăm thẳm một chia phôi”.<br><br></div><div>- Niềm thương, nỗi nhớ, tình cảm gắn bó của tác giả luôn gửi lại nơi đoàn quân Tây Tiến: và vùng rừng núi Tây Bắc “Ai lên Tây Tiến ... / Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”<br><br></div><div><br>III. Kết bài<br><br></div><div>- Giá trị nghệ thuật: bút pháp lãng mạn, những sáng tạo trong việc sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh thơ<br><br></div><div>- Tổng kết giá trị nội dung: bài thơ đã tái hiện vẻ đẹp vừa hùng vĩ, vừa thơ mộng của núi rừng Tây Bắc; hình tượng người lính kiên cường, dũng cảm không ngại hi sinh nhưng cũng lãng mạn, mộng mơ.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<br><br></div><div><strong>&nbsp;<br></strong><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-18 09:37:59 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954675159</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đè cương bài 2: Lập dàn ý  phân tích bài thơ &quot;Việt Bắc&quot;</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954683536</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>I . Mở bài :<br></strong><br></div><div>Tố Hữu là nhà thơ trữ tình chính trị, là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam. Bài thơ của tác giả Tố Hữu thể hiện lẽ sống lớn, tình cảm lớn của con người Cách mạng. Thơ của ông đậm đà tính dân tộc trong nội dung và hình thức thể hiện. Bài thơ “Việt Bắc” là tác phầm đỉnh cao của&nbsp; Tố Hữu và cũng là đỉnh cao của thơ ca kháng chiến chống Pháp. Bài thơ là sự kết của hai nhân vật Mình – Ta đã trở thành một bài ca không bao giờ quên về những năm tháng kháng Pháp gian khổ, hào hùng mà tình nghĩ sắt son, thuỷ chung. Tất cả những giá trị về nội dung và nghệ thuật đặc sắc của Việt Bắc đã được ngòi bút của tác giả Tố Hữu tập trung thể hiện tinh tế qua đoạn thơ.<br><br></div><div><strong>II. Thân bài</strong></div><div><strong>1. Ý nghĩa nhan đề</strong></div><div>- Việt Bắc là một địa danh – là cái nôi của cách mạng Việt Nam tiền khởi nghĩa, là cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến chống Pháp.</div><div>- Việt Bắc là nơi lưu giữ nhiều kỉ niệm giữa cán bộ cách mạng và đồng bào nơi đây.</div><div><strong>2. Lời của người ở lại (20 câu thơ đầu)</strong></div><div>- Tám câu thơ đầu là tâm trạng lưu luyến bịn rịn trong buổi chia tay:</div><div>+ Bốn câu trên, sử dụng điệp cấu trúc “mình về mình co nhớ” là lời ướm hỏi, khơi gợi lại những kỉ niệm về “mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”, về thiên nhiên Việt Bắc nghĩa tình.</div><div>+ Cách xưng hô “mình - ta” như lời tâm tình của đôi lứa yêu nhau khiến cuộc chia tay trở nên thân mật, giản dị. Cách xưng hô còn gợi nhớ đến những câu đối đáp trong điệu hát giao duyên khiến những câu thơ nói về cách mạng không khô khan mà trở nên đằm thắm, sâu lắng.</div><div>+ Bốn câu thơ tiếp là nỗi lòng lưu luyến của cả người ở lại và ra đi thể hiện qua những từ ngữ diễn tả tâm trạng trực tiếp: “da diết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn”; không khí buổi chia tay thân tình, gần gũi: “áo chàm”, “cầm tay nhau”.</div><div>- Mười hai câu tiếp theo, với việc sử dụng điệp từ “nhớ”, là lời nhắn nhủ dưới hình thức câu hỏi:</div><div>+ Nhớ đến thiên nhiên, núi rừng Việt Bắc trong những ngày kháng chiến: mưa nguồn, suối lũ, mây mù, trám bùi, măng mai.</div><div>+ Nhớ đến những ân tình trong khó khăn gian khổ: “miếng cơm chấm muối” nhưng vẫn “đậm đà lòng son”.</div><div>+ Nhớ đến quang thời gian hoạt động cách mạng: kháng Nhật, Việt Minh, Tân Trào, Hồng Thái, ...</div><div>+ Đại từ xưng hô “mình” thể hiện sự gắn bó, thân thiết giữa kẻ ở, người đi. Nó giống như cách xưng hô tâm tình, thủ thỉ chân thành.</div><div><strong>3. Lời của người ra đi</strong></div><div>- Bốn câu thơ tiếp khẳng định nghĩa tình thủy chung, mặn mà, “ta với mình, mình với ta”: thể hiện sự gắn bó, thấu hiểu nhau giữ người đi, kẻ ở.</div><div>- Người đi bày tỏ nỗi nhớ đến thiên nhiên Việt Bắc: “Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương”, “bản khói cùng sương”, “rừng nứa bờ tre”,... thiên nhiên Việt Bắc qua bốn mùa xuân, hạ, thu, đông.</div><div>- Nhớ đến con người Việt Bắc:</div><div>+ Những con người dù gian khó, vất vả những vẫn có tâm lòng thủy chung, cùng chia sẻ mọi “đắng cay ngọt bùi” trong kháng chiến: “chia củ sắn lùi”, “bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng”.</div><div>+ Nhớ đến những kỉ niệm ấm áp giữa bộ đội và đồng bào Việt Bắc: “lớp họ i tờ”, “giờ liên hoan”, “ca vang núi đèo”.</div><div>+ Nhớ hình ảnh những con người mang vẻ đẹp mộc mạc, giản dị của người lao động: “người mẹ”, “cô em gái”.</div><div>- Nhớ hình ảnh quân dân Việt Bắc đoàn kết đánh giặc: “ta cùng đánh Tây”, “cả chiến khu một lòng”; khí thế hào hùng của quân dân ta trong các trận đánh: “rầm rập như là đất rung”, “quân đi điệp điệp trùng trùng”, “dân công đỏ đuốc từng đoàn”, ...</div><div>- Nhớ những chiến công, những niềm vui thắng trận: “tin vui thắng trận trăm miền ... núi Hồng”</div><div>- Nhận xét: nhịp thơ dồn dập như âm hưởng bước hành quân, hình ảnh kì vĩ... tất cả tạo nên một bức tranh sử thi hoành tráng để ca ngợi sức mạnh của nhân dân anh hùng.</div><div><strong>4. Niềm tự hào, niềm tin gửi gắm Việt Bắc Cách mạng (16 câu thơ cuối)</strong></div><div>- Nhớ hình ảnh tươi sáng nơi nguồn cội của cuộc cách mạng: ngọn cờ đỏ thắm, rực rỡ sao vàng, có trung ương Đảng, có chính phủ và có Bác Hồ.</div><div>- Đoạn thơ thể hiện niềm tin vào sức mạnh, khả năng lãnh đạo của Đảng trong các cuộc cách mạng, niềm tự hào vào những chiến công Việt Bắc.</div><div><strong>III. Kết bài</strong></div><div>- Khái quát giá trị nghệ thuật: sử dụng thể dân tộc: thể thơ lục bát để nói về tình cảm cách mạng, lối đối đáp, sử dụng đại từ xưng hô linh hoạt (mình – ta), ngôn từ mộc mạc, giàu sức gợi…</div><div>- Khái quát giá trị nội dung: Bài thơ là bản anh hùng ca về cuộc kháng chiến, là bản tình ca về nghĩa tình cách mạng và kháng chiến.</div><div><br>&nbsp;<br>&nbsp;<br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-18 09:54:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954683536</guid>
      </item>
      <item>
         <title>8 câu thơ đầu bài Tây Tiến</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954841049</link>
         <description><![CDATA[<blockquote>1. Mở bài&nbsp;</blockquote><div>Quang Dũng là nhà thơ miền Bắc trưởng thành và nổi danh sau Cách mạng tháng Tám.<br>Bài thơ Tây Tiến được viết vào năm 1948, khi Quang Dũng đã chuyển về đơn vị khác và nhớ về đơn vị cũ là đoàn quân Tây Tiến.<br><br>- Khái quát 8 câu thơ đầu: đoạn thơ dựng lại con đường hành quân giữa núi rừng Tây Bắc hiểm trở, khắc nghiệt, hùng vĩ và thơ mộng.<br>b) Thân bài<br>* Nỗi nhớ về núi rừng Tây Bắc và đơn vị chiến đấu cũ (hai câu đầu)<br>- Nỗi nhớ là cảm xúc chủ đạo xuyên suốt bài thơ, đoạn thơ.<br>- Nỗi nhớ ấy như dâng trào không gì có thể kiểm soát được nên đã cất lên thành tiếng gọi:<br>"Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!<br>Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi"<br>+ Từ láy “chơi vơi”: gợi hình, gợi cảm =&gt; nỗi nhớ da diết, cháy bỏng như có hình, có khối gợi lên một không gian bao la, thời gian sâu thẳm.<br>- Hình ảnh núi rừng trùng điệp, hoang sơ và con đường hành quân gian khổ của người lính<br>+ Hình ảnh dốc, đèo, vực thẳm, rừng dày và con đường hành quân chênh vênh dần hiện ra<br>Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi<br>Mường Lát hoa về trong đêm hơi<br>+ Những địa danh: Sài Khao, Mường Lát gợi lên không gian hoang sơ nơi xứ lạ<br>+ Cảm giác mệt mỏi của người lính như được xua đi bởi hình ảnh đầy thơ mộng trong đêm của Mường Lát.&nbsp;Câu thơ “Mường Lát hoa về trong đêm hơi” : tạo ra nhiều nét nghĩa khác nhau, trong đó có thể hiểu đây là cách tả cảnh đoàn quân đốt đuốc đi trong đêm mịt mù hơi sương trông như những bông hoa.<br>+ Thanh bằng: gợi cảm giác lâng lâng, chơi vơi, tài hoa và lãng mạn. Khung cảnh núi rừng hiểm trở.<br>* Con đường hành quân gian khổ của người lính:<br>Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thăm<br>Heo hút cồn mây súng ngửi trời<br>Ngàn thước lên cao, ngàn thướ xuống<br>Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi<br>- Hai câu đầu: diễn tả độ cao ngất trời vào sự chênh vênh heo hút của núi đèo Tây Bắc.<br>Từ láy tạo hình: "khúc khuỷu", "thăm thẳm", "heo hút"… được sử dụng với mật độ cao<br>Thủ pháp điệp từ, đối lập được khai thác triệt để<br>- Hai câu sau:<br>Câu thứ ba có sự ngắt nhịp ở giữa như bẻ đôi =&gt; diễn tả hai sườn núi vút lên, đổ xuống gần như thẳng đứng<br>Câu thơ thứ tư toàn thanh bằng =&gt; tạo cảm giác lâng lâng, chơi vơi<br>=&gt; Tây Bắc dữ dội, hoang sơ được mở rộng ra theo chiều không gian: theo những địa danh xứ lạ như Sài Khao, Mường Lát...<br>c) Kết bài<br>- Khái quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật của 8 câu thơ đầu: Hình ảnh núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, đầy hiểm nguy nhưng cũng rất nên thơ.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-18 14:32:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954841049</guid>
      </item>
      <item>
         <title>a) Mở bài- Trình bày một số nét tiêu biểu về tác giả Quang Dũng và đặc trưng thơ ca của ông (vừa hồn nhiên vừa tinh tế, mang vẻ đẹp hào hoa, phóng khoáng, đậm chất lãng mạn).- Nêu một số nét khái quát về bài thơ Tây Tiến: hoàn cảnh ra đời, giá trị nội dung nổi bật của bài thơ.b) Thân bài* Một số nét khái quát- Tây Tiến: là tên một đoàn quân được thành lập năm 1947, có nhiệm vụ kết hợp với bộ đội Lào để bảo vệ biên giới Việt - Lào, làm hao mòn lực lượng giặc Pháp.- Xuất thân lính Tây Tiến: phần đông là người Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, sinh viên.- Cảm hứng sáng tác: Quang Dũng viết bài thơ để bày tỏ nỗi nhớ với đoàn quân Tây Tiến sau khi chuyển sang công tác ở đơn vị khác.* Đường hành quân của đoàn quân Tây Tiến giữa thiên nhiên Tây Bắc- Hai câu thơ đầu: nỗi nhớ thốt lên thành lời “Tây Tiến ơi” là tiếng gọi thân thương, “nhớ chơi vơi” là nỗi nhớ thường trực, bao trùm không gian.- Bức tranh thiên nhiên Tây Bắc hoang sơ và dữ dội:+ Địa danh Sài Khao, Mường Lát gợi sự hẻo lánh, xa xôi;+ Các từ láy giàu tính tạo hình: “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “heo hút”, điệp từ “dốc”, nghệ thuật điệp “Dốc lên... dốc lên” gợi địa hình hiểm trở, quanh co, gập ghềnh.+ Hình ảnh “súng ngửi trời” thể hiện tầm cao của núi non mà người lính phải vượt qua nhưng cũng có cái hóm hỉnh của người lính trong đó.+ Nhịp thơ bẻ đôi “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống” gợi tả sự nguy hiểm tột cùng.+ Hình ảnh nhân hóa: “cọp trêu người”, “thác gầm thét” gợi sự hoang sơ, man dại; thời gian: “chiều chiều”, “đêm đêm” những người lính phải thường xuyên đối mặt với điều hiểm nguy chốn rừng thiêng nước độc.+ Sử dụng phần lớn các thanh trắc nhằm nhấn mạnh sự trắc trở, ghập ghềnh của địa hình.- Khung cảnh thiên nhiên cũng có lúc êm dịu, mang đậm hương vị cuộc sống: “nhà ai Pha Luông ...”, “cơm lên khói”, “Mai Châu mùa em...”, thanh bằng tạo cảm giác nhẹ nhàng, yên bình.- Hình ảnh bi hùng về người lính Tây Tiến “dãi dầu không bước nữa”, “gục lên súng mũ bỏ quên đời”: có thể hiểu hai câu thơ đơn thuần miêu tả khoảnh khắc nghỉ ngơi của người lính sau cuộc hành quân dài, cũng có thể hiểu đó là sự nghỉ ngơi vĩnh viễn.=&gt; Thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ nhưng đầy rẫy những hiểm nguy, đó chính là những thử thách đối với những người lính Tây Tiến trên chặng đường hành quân.* Kỉ niệm đẹp về tình quân dân, vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc- Kỉ niệm đêm liên hoan thắm tình quân dân:+ Không khí đêm liên hoan tưng bừng với màu sắc rực rỡ, lộng lẫy: “bừng lên”, “hội đuốc hoa”, “khèn lên man điệu”; con người duyên dáng: “xiêm áo”, “nàng e ấp”.+ Tâm hồn người lính bay bổng, say mê trong không khí ấm áp tình người: “Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”.- Khung cảnh sông nước, con người vùng Tây Bắc:+ Đẹp huyền ảo, hoang dại, thiêng liêng: “Chiều sương”, “hồn lau nẻo bến bờ”+ Con người lao động bình dị, mộc mạc: “dáng người trên độc mộc”, cảnh vật duyên dáng, đầy sức sống: “trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”=&gt; Nhờ bút pháp lãng mạn, Quang Dũng đã vẽ nên bức tranh thiên nhiên thơ mộng, cuộc sống sinh hoạt đầm ấm và hình ảnh con người duyên dáng của vùng Tây Bắc.* Hình tượng người lính Tây Tiến- Chân dung người lính được miêu tả chân thực: “đoàn binh không mọc tóc”, “xanh màu lá”, họ sống và chiến đấu trong điều kiện khắc nghiệt, thiếu thốn, gian khổ nhưng vẫn mạnh mẽ “dữ oai hùm”.- Họ là những con người có tâm hồn lãng mạn, trái tim yêu thương “Mắt trừng gửi mộng” / “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”, lấy hình bóng người thương nơi quê nhà làm động lực chiến đấu.- Vẻ đẹp bi tráng thể hiện qua sự hi sinh anh dũng của họ:+ Sẵn sàng cống hiến tuổi trẻ của mình cho đất nước “rải rác biên cương mồ viễn xứ”, “chẳng tiếc đời xanh”, “anh về đất”, ra đi thanh thản, nhẹ nhàng.+ Cái chết đã được lí tưởng hóa như hình ảnh những tráng sĩ xưa: “áo bào”, “khúc độc hành”; thiên nhiên cũng đau đớn thay cho nỗi đau họ phải chịu.=&gt; Dù trong hoàn cảnh khó khăn những người lính Tây Tiến vẫn có những nét lãng mạn, hào hoa. Họ mang vẻ đẹp kiêu hùng, sẵn sàng hi sinh cho tổ quốc.* Lời hẹn ước, gửi gắm tình cảm của tác giả- Câu thơ nhắc nhớ lại ý nguyện, quyết tâm ra đi một thời của đoàn quân Tây Tiến: “người đi không hẹn ước”, còn là sự tiếc thương những đồng đội đã hi sinh “thăm thẳm một chia phôi”.- Niềm thương, nỗi nhớ, tình cảm gắn bó của tác giả luôn gửi lại nơi đoàn quân Tây Tiến: và vùng rừng núi Tây Bắc “Ai lên Tây Tiến ... / Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”.* Đặc sắc nghệ thuật- Bút pháp hiện thực kết hợp lãng mạn, đậm chất bi tráng- Sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh thơ sáng tạo- Ngôn ngữ vừa quen thuộc vừa độc đáo, vừa có nét cổ kính, vừa mới lạ- Giọng thơ thay đổi theo dòng cảm xúc.3) Kết bài- Khái quát lại giá trị nội dung: Bài thơ đã tái hiện vẻ đẹp vừa hùng vĩ, vừa thơ mộng của núi rừng Tây Bắc; hình tượng người lính kiên cường, dũng cảm không ngại hi sinh nhưng cũng lãng mạn, mộng mơ.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954846495</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-18 14:40:17 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954846495</guid>
      </item>
      <item>
         <title>a) Mở bài- Trình bày một số nét tiêu biểu về tác giả Quang Dũng và đặc trưng thơ ca của ông (vừa hồn nhiên vừa tinh tế, mang vẻ đẹp hào hoa, phóng khoáng, đậm chất lãng mạn).- Nêu một số nét khái quát về bài thơ Tây Tiến: hoàn cảnh ra đời, giá trị nội dung nổi bật của bài thơ.b) Thân bài* Một số nét khái quát- Tây Tiến: là tên một đoàn quân được thành lập năm 1947, có nhiệm vụ kết hợp với bộ đội Lào để bảo vệ biên giới Việt - Lào, làm hao mòn lực lượng giặc Pháp.- Xuất thân lính Tây Tiến: phần đông là người Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, sinh viên.- Cảm hứng sáng tác: Quang Dũng viết bài thơ để bày tỏ nỗi nhớ với đoàn quân Tây Tiến sau khi chuyển sang công tác ở đơn vị khác.* Đường hành quân của đoàn quân Tây Tiến giữa thiên nhiên Tây Bắc- Hai câu thơ đầu: nỗi nhớ thốt lên thành lời “Tây Tiến ơi” là tiếng gọi thân thương, “nhớ chơi vơi” là nỗi nhớ thường trực, bao trùm không gian.- Bức tranh thiên nhiên Tây Bắc hoang sơ và dữ dội:+ Địa danh Sài Khao, Mường Lát gợi sự hẻo lánh, xa xôi;+ Các từ láy giàu tính tạo hình: “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “heo hút”, điệp từ “dốc”, nghệ thuật điệp “Dốc lên... dốc lên” gợi địa hình hiểm trở, quanh co, gập ghềnh.+ Hình ảnh “súng ngửi trời” thể hiện tầm cao của núi non mà người lính phải vượt qua nhưng cũng có cái hóm hỉnh của người lính trong đó.+ Nhịp thơ bẻ đôi “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống” gợi tả sự nguy hiểm tột cùng.+ Hình ảnh nhân hóa: “cọp trêu người”, “thác gầm thét” gợi sự hoang sơ, man dại; thời gian: “chiều chiều”, “đêm đêm” những người lính phải thường xuyên đối mặt với điều hiểm nguy chốn rừng thiêng nước độc.+ Sử dụng phần lớn các thanh trắc nhằm nhấn mạnh sự trắc trở, ghập ghềnh của địa hình.- Khung cảnh thiên nhiên cũng có lúc êm dịu, mang đậm hương vị cuộc sống: “nhà ai Pha Luông ...”, “cơm lên khói”, “Mai Châu mùa em...”, thanh bằng tạo cảm giác nhẹ nhàng, yên bình.- Hình ảnh bi hùng về người lính Tây Tiến “dãi dầu không bước nữa”, “gục lên súng mũ bỏ quên đời”: có thể hiểu hai câu thơ đơn thuần miêu tả khoảnh khắc nghỉ ngơi của người lính sau cuộc hành quân dài, cũng có thể hiểu đó là sự nghỉ ngơi vĩnh viễn.=&gt; Thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ nhưng đầy rẫy những hiểm nguy, đó chính là những thử thách đối với những người lính Tây Tiến trên chặng đường hành quân.* Kỉ niệm đẹp về tình quân dân, vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc- Kỉ niệm đêm liên hoan thắm tình quân dân:+ Không khí đêm liên hoan tưng bừng với màu sắc rực rỡ, lộng lẫy: “bừng lên”, “hội đuốc hoa”, “khèn lên man điệu”; con người duyên dáng: “xiêm áo”, “nàng e ấp”.+ Tâm hồn người lính bay bổng, say mê trong không khí ấm áp tình người: “Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”.- Khung cảnh sông nước, con người vùng Tây Bắc:+ Đẹp huyền ảo, hoang dại, thiêng liêng: “Chiều sương”, “hồn lau nẻo bến bờ”+ Con người lao động bình dị, mộc mạc: “dáng người trên độc mộc”, cảnh vật duyên dáng, đầy sức sống: “trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”=&gt; Nhờ bút pháp lãng mạn, Quang Dũng đã vẽ nên bức tranh thiên nhiên thơ mộng, cuộc sống sinh hoạt đầm ấm và hình ảnh con người duyên dáng của vùng Tây Bắc.* Hình tượng người lính Tây Tiến- Chân dung người lính được miêu tả chân thực: “đoàn binh không mọc tóc”, “xanh màu lá”, họ sống và chiến đấu trong điều kiện khắc nghiệt, thiếu thốn, gian khổ nhưng vẫn mạnh mẽ “dữ oai hùm”.- Họ là những con người có tâm hồn lãng mạn, trái tim yêu thương “Mắt trừng gửi mộng” / “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”, lấy hình bóng người thương nơi quê nhà làm động lực chiến đấu.- Vẻ đẹp bi tráng thể hiện qua sự hi sinh anh dũng của họ:+ Sẵn sàng cống hiến tuổi trẻ của mình cho đất nước “rải rác biên cương mồ viễn xứ”, “chẳng tiếc đời xanh”, “anh về đất”, ra đi thanh thản, nhẹ nhàng.+ Cái chết đã được lí tưởng hóa như hình ảnh những tráng sĩ xưa: “áo bào”, “khúc độc hành”; thiên nhiên cũng đau đớn thay cho nỗi đau họ phải chịu.=&gt; Dù trong hoàn cảnh khó khăn những người lính Tây Tiến vẫn có những nét lãng mạn, hào hoa. Họ mang vẻ đẹp kiêu hùng, sẵn sàng hi sinh cho tổ quốc.* Lời hẹn ước, gửi gắm tình cảm của tác giả- Câu thơ nhắc nhớ lại ý nguyện, quyết tâm ra đi một thời của đoàn quân Tây Tiến: “người đi không hẹn ước”, còn là sự tiếc thương những đồng đội đã hi sinh “thăm thẳm một chia phôi”.- Niềm thương, nỗi nhớ, tình cảm gắn bó của tác giả luôn gửi lại nơi đoàn quân Tây Tiến: và vùng rừng núi Tây Bắc “Ai lên Tây Tiến ... / Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”.* Đặc sắc nghệ thuật- Bút pháp hiện thực kết hợp lãng mạn, đậm chất bi tráng- Sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh thơ sáng tạo- Ngôn ngữ vừa quen thuộc vừa độc đáo, vừa có nét cổ kính, vừa mới lạ- Giọng thơ thay đổi theo dòng cảm xúc.3) Kết bài- Khái quát lại giá trị nội dung: Bài thơ đã tái hiện vẻ đẹp vừa hùng vĩ, vừa thơ mộng của núi rừng Tây Bắc; hình tượng người lính kiên cường, dũng cảm không ngại hi sinh nhưng cũng lãng mạn, mộng mơ.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954847290</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-18 14:41:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954847290</guid>
      </item>
      <item>
         <title>. Mở bài- Tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường: là nhà văn của xứ Huế, ông có sức liên tưởng tưởng tượng dồi dào, lối hành văn mê đắm, ông chuyên viết về bút kí.- Tác phẩm là tùy bút tiêu biểu cho phong cách văn chương của tác giả: sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và trữ tình, giữa nghị luận sắc bén và suy tư đa chiều.- Hình tượng sông Hương trong lòng thành phố Huế2. Thân bài- Trong lòng HuếTác giả so sánh sông Hương với những dòng sông nổi tiếng trên thế giới, sông Hương chỉ thuộc về một thành phố duy nhất, giống như người con gái chung thủy.Sông Hương mang đến cho Huế một vẻ đẹp cổ xưa dân dã: “ánh lửa thuyền chài ... xưa cũ”, trôi đi chậm như một mặt hồ.Người con gái đắm say tình tứ khi bên người mình yêu, người con gái tài hoa “tài nữ đánh đàn trong đêm khuya”.- Từ biệt Huế ra biển:+ Như một người con gái lưu luyến, thủy chung từ biệt người yêu.=&gt; Tác giả chủ yếu cảm nhận vẻ đẹp sông Hương từ góc độ tình yêu khiến sông Hương hiện lên như một người con gái chung tình hết lòng vì tình yêu.3. Kết bài- Nêu cảm nhận về hình tượng dòng sông Hương ở trong lòng thành phố Huế- Đánh giá nghệ thuật nổi bật: liên tưởng độc đáo, sử dụng từ ngữ đặc sắc, văn phong tao nhã, thành công trong nghệ thuật xây dựng hình tượng sông Hương.- Qua tác phẩm ta cảm nhận được niềm tự hào tha thiết của tác giả với vẻ đẹp thiên nhiên xứ Huế cũng như đất nước.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954847782</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-18 14:42:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954847782</guid>
      </item>
      <item>
         <title>. Mở bài- Tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường: là nhà văn của xứ Huế, ông có sức liên tưởng tưởng tượng dồi dào, lối hành văn mê đắm, ông chuyên viết về bút kí.- Tác phẩm là tùy bút tiêu biểu cho phong cách văn chương của tác giả: sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và trữ tình, giữa nghị luận sắc bén và suy tư đa chiều.- Hình tượng sông Hương trong lòng thành phố Huế2. Thân bài- Trong lòng HuếTác giả so sánh sông Hương với những dòng sông nổi tiếng trên thế giới, sông Hương chỉ thuộc về một thành phố duy nhất, giống như người con gái chung thủy.Sông Hương mang đến cho Huế một vẻ đẹp cổ xưa dân dã: “ánh lửa thuyền chài ... xưa cũ”, trôi đi chậm như một mặt hồ.Người con gái đắm say tình tứ khi bên người mình yêu, người con gái tài hoa “tài nữ đánh đàn trong đêm khuya”.- Từ biệt Huế ra biển:+ Như một người con gái lưu luyến, thủy chung từ biệt người yêu.=&gt; Tác giả chủ yếu cảm nhận vẻ đẹp sông Hương từ góc độ tình yêu khiến sông Hương hiện lên như một người con gái chung tình hết lòng vì tình yêu.3. Kết bài- Nêu cảm nhận về hình tượng dòng sông Hương ở trong lòng thành phố Huế- Đánh giá nghệ thuật nổi bật: liên tưởng độc đáo, sử dụng từ ngữ đặc sắc, văn phong tao nhã, thành công trong nghệ thuật xây dựng hình tượng sông Hương.- Qua tác phẩm ta cảm nhận được niềm tự hào tha thiết của tác giả với vẻ đẹp thiên nhiên xứ Huế cũng như đất nước.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954847868</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-18 14:42:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954847868</guid>
      </item>
      <item>
         <title>a) Mở bài- Giới thiệu khái quát về tác giả Hồ Chí Minh: cuộc đời, sự nghiệp cách mạng và sự nghiệp văn chương.- Nêu khái quát về hoàn cảnh sáng tác, ý nghĩa lịch sử và giá trị văn học của bản Tuyên ngôn độc lập.II. Thân bài- Trình bày khái quát về bố cục của bản Tuyên ngôn độc lập: gồm 3 phần sắp xếp chặt chẽ và logic.1. Cơ sở pháp lí của Tuyên ngôn độc lập- Trích dẫn hai bản tuyên ngôn của Mĩ và của Pháp để làm cơ sở pháp lí cho Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam:+ Tuyên ngôn độc lập của Mĩ năm 1776: “Tất cả mọi người ... quyền mưu cầu hạnh phúc”+ Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1791: “Người ta sinh ra tự do ... bình đẳng về quyền lợi.”- Ý nghĩa:+ Hồ Chí Minh tôn trọng và sử dụng hai bản tuyên ngôn có giá trị, được thế giới công nhận làm cơ sở pháp lí không thể chối cãi.+ Dùng phương pháp “gậy ông đập lưng ông”: lấy tuyên ngôn của Pháp để phản bác lại chúng, ngăn chặn âm mưu tái xâm lược của chúng.+ Đặt ngang hàng cuộc cách mạng, giá trị bản tuyên ngôn của nước ta với hai cường quốc Mĩ và Pháp, thể hiện lòng tự tôn dân tộc.+ Lập luận chặt chẽ, sáng tạo: từ quyền con người (tự do, bình dẳng, quyền mưu cầu hạnh phúc), “suy rộng ra” là quyền tự do bình đẳng của mọi dân tộc trên thế giới.2. Cơ sở thực tiễn của Tuyên ngôn độc lậpa. Tội ác của thực dân Pháp- Vạch trần bản chất công cuộc “khai hóa” của thực dân Pháp: thực chất chúng thi hành nhiều chính sách dã man về chính trị, văn hóa – xã hội – giáo dục và kinh tế.- Vạch trần bản chất công cuộc “bảo hộ” của thực dân Pháp: hai lần bán nước ta cho Nhật (vào năm 1940, 1945), khiến cho “hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói”, ...- Chỉ rõ luận điệu xảo trá, lên án tội ác của chúng: là kẻ phản bội Đồng minh, không hợp tác với Việt Minh mà còn thẳng tay khủng bố Việt Minh, ...- Nghệ thuật: Điệp cấu trúc “chúng + hành động”: nhấn mạnh tội ác của Pháp.. Cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta- Nhân dân ta đã chống ách nô lệ hơn 80 năm, đứng về phía Đồng minh chống phát xít, kêu gọi Pháp chống Nhật, lấy lại nước từ tay Nhật- Kết quả: cùng lúc phá tan 3 xiềng xích đang trói buộc dân tộc ta (Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị), thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.c. Lời tuyên bố độc lập và ý chí bảo vệ chủ quyền dân tộc- Dùng từ ngữ có ý nghĩa phủ định để tuyên bố thoát li hẳn với thực dân Pháp, xóa bỏ mọi hiệp ước đã kí kết, mọi đặc quyền của Pháp tại Việt Nam.- Dựa vào điều khoản quy định về nguyên tắc dân tộc bình đẳng tại hội nghị Tê-hê-răng và Cựu Kim Sơn để kêu gọi cộng đồng quốc tế công nhận quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam.- Tuyên bố với thế giới về nền độc lập của dân tộc Việt Nam: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do... ”. Thể hiện quyết tâm đoàn kết giữ vững chủ quyền, nên độc lập, tự do của dân tộc.- Lời văn đanh thép, rõ ràng như một lời thề cũng như một lời khích lệ tinh thần yêu nước nhân dân cả nước.c) Kết bài- Nêu khái quát về giá trị nghệ thuật: là áng văn chính luận mẫu mực với lập luận chặt chẽ, lí lẽ thuyết phục, dẫn chứng xác thực, ngôn ngữ hùng hồn, gần gũi, giàu tính biểu cảm.- Đánh giá chung về giá trị nội dung (giá trị văn học, giá trị lịch sử) của bản tuyên ngôn độc lập: nêu cao truyền thống yêu nước, ý chí chống quân xâm lược, lòng tự hào dân tộc; đánh dấu mốc son trong lịch sử dân tộc ta.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954850329</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-18 14:46:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954850329</guid>
      </item>
      <item>
         <title>a) Mở bài- Giới thiệu khái quát về tác giả Hồ Chí Minh: cuộc đời, sự nghiệp cách mạng và sự nghiệp văn chương.- Nêu khái quát về hoàn cảnh sáng tác, ý nghĩa lịch sử và giá trị văn học của bản Tuyên ngôn độc lập.II. Thân bài- Trình bày khái quát về bố cục của bản Tuyên ngôn độc lập: gồm 3 phần sắp xếp chặt chẽ và logic.1. Cơ sở pháp lí của Tuyên ngôn độc lập- Trích dẫn hai bản tuyên ngôn của Mĩ và của Pháp để làm cơ sở pháp lí cho Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam:+ Tuyên ngôn độc lập của Mĩ năm 1776: “Tất cả mọi người ... quyền mưu cầu hạnh phúc”+ Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1791: “Người ta sinh ra tự do ... bình đẳng về quyền lợi.”- Ý nghĩa:+ Hồ Chí Minh tôn trọng và sử dụng hai bản tuyên ngôn có giá trị, được thế giới công nhận làm cơ sở pháp lí không thể chối cãi.+ Dùng phương pháp “gậy ông đập lưng ông”: lấy tuyên ngôn của Pháp để phản bác lại chúng, ngăn chặn âm mưu tái xâm lược của chúng.+ Đặt ngang hàng cuộc cách mạng, giá trị bản tuyên ngôn của nước ta với hai cường quốc Mĩ và Pháp, thể hiện lòng tự tôn dân tộc.+ Lập luận chặt chẽ, sáng tạo: từ quyền con người (tự do, bình dẳng, quyền mưu cầu hạnh phúc), “suy rộng ra” là quyền tự do bình đẳng của mọi dân tộc trên thế giới.2. Cơ sở thực tiễn của Tuyên ngôn độc lậpa. Tội ác của thực dân Pháp- Vạch trần bản chất công cuộc “khai hóa” của thực dân Pháp: thực chất chúng thi hành nhiều chính sách dã man về chính trị, văn hóa – xã hội – giáo dục và kinh tế.- Vạch trần bản chất công cuộc “bảo hộ” của thực dân Pháp: hai lần bán nước ta cho Nhật (vào năm 1940, 1945), khiến cho “hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói”, ...- Chỉ rõ luận điệu xảo trá, lên án tội ác của chúng: là kẻ phản bội Đồng minh, không hợp tác với Việt Minh mà còn thẳng tay khủng bố Việt Minh, ...- Nghệ thuật: Điệp cấu trúc “chúng + hành động”: nhấn mạnh tội ác của Pháp.. Cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta- Nhân dân ta đã chống ách nô lệ hơn 80 năm, đứng về phía Đồng minh chống phát xít, kêu gọi Pháp chống Nhật, lấy lại nước từ tay Nhật- Kết quả: cùng lúc phá tan 3 xiềng xích đang trói buộc dân tộc ta (Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị), thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.c. Lời tuyên bố độc lập và ý chí bảo vệ chủ quyền dân tộc- Dùng từ ngữ có ý nghĩa phủ định để tuyên bố thoát li hẳn với thực dân Pháp, xóa bỏ mọi hiệp ước đã kí kết, mọi đặc quyền của Pháp tại Việt Nam.- Dựa vào điều khoản quy định về nguyên tắc dân tộc bình đẳng tại hội nghị Tê-hê-răng và Cựu Kim Sơn để kêu gọi cộng đồng quốc tế công nhận quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam.- Tuyên bố với thế giới về nền độc lập của dân tộc Việt Nam: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do... ”. Thể hiện quyết tâm đoàn kết giữ vững chủ quyền, nên độc lập, tự do của dân tộc.- Lời văn đanh thép, rõ ràng như một lời thề cũng như một lời khích lệ tinh thần yêu nước nhân dân cả nước.c) Kết bài- Nêu khái quát về giá trị nghệ thuật: là áng văn chính luận mẫu mực với lập luận chặt chẽ, lí lẽ thuyết phục, dẫn chứng xác thực, ngôn ngữ hùng hồn, gần gũi, giàu tính biểu cảm.- Đánh giá chung về giá trị nội dung (giá trị văn học, giá trị lịch sử) của bản tuyên ngôn độc lập: nêu cao truyền thống yêu nước, ý chí chống quân xâm lược, lòng tự hào dân tộc; đánh dấu mốc son trong lịch sử dân tộc ta.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954850619</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-18 14:46:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954850619</guid>
      </item>
      <item>
         <title>I. Mở bài- Giới thiệu về tác giả Nguyễn Khoa Điềm: ông thuộc thế hệ nhà thơ chống Mĩ cứu nước, thơ ông là sự kết hợp giữa cảm xúc nồng nàn và chất triết lí, suy tư của người trí thức về đất nước, con người.- Giới thiệu về bài thơ Đất nước: được trích trong trường ca Mặt đường khát vọng, là một bài thơ có chất triết lí sâu sắc, thể hiện tư tưởng “Đất nước của nhân dân”.II. Thân bài1. Đất nước được cảm nhận từ phương diện lịch sử, văn hóa, chiều sâu của không gian, chiều dài của thời giana. Đất nước có từ bao giờ? (lí giải cội nguồn của đất nước) (9 câu đầu)- Tác giả khẳng định một điều tất yếu: “Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi”, điều này thôi thúc mỗi con người muốn tìm đến nguồn cội đất nước.- Đất nước bắt nguồn từ những diều bình dị, gần gũi trong đời sống của người Việt Nam từ xa xưa: “ngày xửa ngày xưa” gợi nhớ đến câu mở đầu các câu chuyện dân gian, “miếng trầu” gợi nhớ tục ăn trầu của người Việt và truyện cổ tích trầu cau, “Tóc mẹ thì bới sau đầu”: thói quen búi tóc của những người phụ nữ Việt Nam, “Thương nhau bằng gừng cay muối mặn” thói quen tâm lí, truyền thống yêu thương của dân tộc.- Đất nước trưởng thành cùng quá trình lao động sản xuất “cái kèo cái cột thành tên”, “một nắng hai sương”, quá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm.- Nhận xét: Tác giả có cái nhìn mới mẻ về cội nguồn đất nước, đất nước bắt nguồn từ chiều sâu văn hóa, văn học, lịch sử và truyền thống dân tộc.b. Định nghĩa về đất nước (28 câu thơ tiếp theo)- Về phương diện không gian địa lí:+ Tác giả tách riêng hai yếu tố “đất” và “nước” để suy tư một cách sâu sắc.+ Đất nước là không gian riêng tư quen thuộc gắn với không gian sinh hoạt của mỗi con người: “nơi anh đến trường”, “nơi em tắm”; gắn với kỉ niệm tình yêu lứa đôi: “nơi em đánh rơi... thương thầm”.+ Đất nước là không gian bao la trù phú, không gian sinh tồn của cộng đồng qua bao thế hệ: “Đất là nơi con chim phượng hoàng... dân mình đoàn tụ”.- Nhìn đất nước được nhìn xuyên suốt chiều dài lịch sử từ quá khứ, hiện tại đến tương lai:+ Trong quá khứ đất nước là nơi thiêng liêng, gắn với truyền thuyết, huyền thoại: “Đất là nơi chim về... trong bọc trứng”+ Trong hiện tại: đất nước có trong tấm lòng mỗi con người, mỗi người đều thừa hưởng những giá trị của đất nước, khi có sự gắn kết giữa mỗi người đất nước sẽ nồng thắm, hài hòa, lớn lao. Đó là sự gắn kết giữa cái riêng và cái chung.+ Trong tương lai: thế hệ trẻ sẽ “mang đất nước đi xa”, “đến những ngày mơ mộng”, đất nước sẽ trường tồn, bền vững.- Suy tư về trách nhiệm của mỗi cá nhân với đất nước: “Phải biết gắn bó và san sẻ”, đóng góp, hi sinh để góp phần dựng xây đất nước.- Nhận xét: qua cái nhìn toàn diện của nhà thơ, đất nước hiện lên vừa gần gũi, thân thuộc lại vừa thiêng liêng, hào hùng và trường tồn đến muôn đời sau.2. Tư tưởng cốt lõi, cảm nhận về đất nước: Đất nước của nhân dân- Thiên nhiên địa lí của đất nước không chỉ là sản phẩm của tạo hóa mà được hình thành từ phẩm chất và số phận của mỗi người, là một phần máu thịt, tâm hồn con người:+ Nhờ tình nghĩa yêu thương, thủy chung mà có “hòn Vọng Phu”, “hòn Trống Mái”+ Nhờ tinh thần bất khuất, anh hùng trong quá trình dựng nước và giữ nước mà có những ao đầm, di tích lịch sử về quá trình dựng nước.+ Nhờ truyền thống hiếu học mà có những “núi Bút non Nghiên”- Nhân dân làm nên lịch sử 4000 năm:+ Họ là những người con trai, con gái bình dị nhưng luôn thường trực tình yêu nước.+ Tác giả nhấn mạnh đến những con người vô danh làm nên lịch sử, khẳng định vai trò của mỗi cá nhân với lịch sử dân tộc.- Nhân dân tạo ra và giữ gìn những giá trị vật chất, tinh thần cho đất nước: văn hóa: “truyền hạt lúa”, “truyền lửa”, “truyền giọng nói”, “gánh theo tên xã, tên làng”,... từ đó xây dựng nền móng phát triển đất nước lâu bền.- Tư tưởng cốt lõi, cảm hứng bao trùm cả đoạn trích: “đất nước này là đất nước của nhân dân đất nước của ca dao thần thoại”, đất nước ấy thể hiện qua tâm hồn con người: biết yêu thương, biết quý trọng trọng tình nghĩa, công sức và biết chiến đấu vì đất nước.- Nhận xét:+ Về nội dung: đoạn trích “Đất nước” đã thể hiện cái nhìn mới mẻ về đất nước trên nhiều bình diện: văn hóa, lịch sử, địa lí dựa trên tư tưởng cốt lõi: “đất nước của nhân dân”.+ Về nghệ thuật: sử dụng đa dạng và sáng tạo chất liệu văn hóa dân gian, ngôn ngữ giàu chất suy tư, triết luận sâu sắc.III. Kết bài- Khẳng định lại giá trị của đoạn trích: đoạn trích đã nhấn mạnh tư tưởng “đất nước của nhân dân”, thể hiện tinh thần yêu nước của tác giả, đánh thức tinh thần yêu nước trong mỗi con người.- Nêu cảm nhận riêng về đoạn trích Đất nước và có liên hệ thực tiễn đến trách nhiệm của thế hệ hôm nay với đất nước.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954851370</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-18 14:48:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954851370</guid>
      </item>
      <item>
         <title>I. Mở bài- Giới thiệu về tác giả Nguyễn Khoa Điềm: ông thuộc thế hệ nhà thơ chống Mĩ cứu nước, thơ ông là sự kết hợp giữa cảm xúc nồng nàn và chất triết lí, suy tư của người trí thức về đất nước, con người.- Giới thiệu về bài thơ Đất nước: được trích trong trường ca Mặt đường khát vọng, là một bài thơ có chất triết lí sâu sắc, thể hiện tư tưởng “Đất nước của nhân dân”.II. Thân bài1. Đất nước được cảm nhận từ phương diện lịch sử, văn hóa, chiều sâu của không gian, chiều dài của thời giana. Đất nước có từ bao giờ? (lí giải cội nguồn của đất nước) (9 câu đầu)- Tác giả khẳng định một điều tất yếu: “Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi”, điều này thôi thúc mỗi con người muốn tìm đến nguồn cội đất nước.- Đất nước bắt nguồn từ những diều bình dị, gần gũi trong đời sống của người Việt Nam từ xa xưa: “ngày xửa ngày xưa” gợi nhớ đến câu mở đầu các câu chuyện dân gian, “miếng trầu” gợi nhớ tục ăn trầu của người Việt và truyện cổ tích trầu cau, “Tóc mẹ thì bới sau đầu”: thói quen búi tóc của những người phụ nữ Việt Nam, “Thương nhau bằng gừng cay muối mặn” thói quen tâm lí, truyền thống yêu thương của dân tộc.- Đất nước trưởng thành cùng quá trình lao động sản xuất “cái kèo cái cột thành tên”, “một nắng hai sương”, quá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm.- Nhận xét: Tác giả có cái nhìn mới mẻ về cội nguồn đất nước, đất nước bắt nguồn từ chiều sâu văn hóa, văn học, lịch sử và truyền thống dân tộc.b. Định nghĩa về đất nước (28 câu thơ tiếp theo)- Về phương diện không gian địa lí:+ Tác giả tách riêng hai yếu tố “đất” và “nước” để suy tư một cách sâu sắc.+ Đất nước là không gian riêng tư quen thuộc gắn với không gian sinh hoạt của mỗi con người: “nơi anh đến trường”, “nơi em tắm”; gắn với kỉ niệm tình yêu lứa đôi: “nơi em đánh rơi... thương thầm”.+ Đất nước là không gian bao la trù phú, không gian sinh tồn của cộng đồng qua bao thế hệ: “Đất là nơi con chim phượng hoàng... dân mình đoàn tụ”.- Nhìn đất nước được nhìn xuyên suốt chiều dài lịch sử từ quá khứ, hiện tại đến tương lai:+ Trong quá khứ đất nước là nơi thiêng liêng, gắn với truyền thuyết, huyền thoại: “Đất là nơi chim về... trong bọc trứng”+ Trong hiện tại: đất nước có trong tấm lòng mỗi con người, mỗi người đều thừa hưởng những giá trị của đất nước, khi có sự gắn kết giữa mỗi người đất nước sẽ nồng thắm, hài hòa, lớn lao. Đó là sự gắn kết giữa cái riêng và cái chung.+ Trong tương lai: thế hệ trẻ sẽ “mang đất nước đi xa”, “đến những ngày mơ mộng”, đất nước sẽ trường tồn, bền vững.- Suy tư về trách nhiệm của mỗi cá nhân với đất nước: “Phải biết gắn bó và san sẻ”, đóng góp, hi sinh để góp phần dựng xây đất nước.- Nhận xét: qua cái nhìn toàn diện của nhà thơ, đất nước hiện lên vừa gần gũi, thân thuộc lại vừa thiêng liêng, hào hùng và trường tồn đến muôn đời sau.2. Tư tưởng cốt lõi, cảm nhận về đất nước: Đất nước của nhân dân- Thiên nhiên địa lí của đất nước không chỉ là sản phẩm của tạo hóa mà được hình thành từ phẩm chất và số phận của mỗi người, là một phần máu thịt, tâm hồn con người:+ Nhờ tình nghĩa yêu thương, thủy chung mà có “hòn Vọng Phu”, “hòn Trống Mái”+ Nhờ tinh thần bất khuất, anh hùng trong quá trình dựng nước và giữ nước mà có những ao đầm, di tích lịch sử về quá trình dựng nước.+ Nhờ truyền thống hiếu học mà có những “núi Bút non Nghiên”- Nhân dân làm nên lịch sử 4000 năm:+ Họ là những người con trai, con gái bình dị nhưng luôn thường trực tình yêu nước.+ Tác giả nhấn mạnh đến những con người vô danh làm nên lịch sử, khẳng định vai trò của mỗi cá nhân với lịch sử dân tộc.- Nhân dân tạo ra và giữ gìn những giá trị vật chất, tinh thần cho đất nước: văn hóa: “truyền hạt lúa”, “truyền lửa”, “truyền giọng nói”, “gánh theo tên xã, tên làng”,... từ đó xây dựng nền móng phát triển đất nước lâu bền.- Tư tưởng cốt lõi, cảm hứng bao trùm cả đoạn trích: “đất nước này là đất nước của nhân dân đất nước của ca dao thần thoại”, đất nước ấy thể hiện qua tâm hồn con người: biết yêu thương, biết quý trọng trọng tình nghĩa, công sức và biết chiến đấu vì đất nước.- Nhận xét:+ Về nội dung: đoạn trích “Đất nước” đã thể hiện cái nhìn mới mẻ về đất nước trên nhiều bình diện: văn hóa, lịch sử, địa lí dựa trên tư tưởng cốt lõi: “đất nước của nhân dân”.+ Về nghệ thuật: sử dụng đa dạng và sáng tạo chất liệu văn hóa dân gian, ngôn ngữ giàu chất suy tư, triết luận sâu sắc.III. Kết bài- Khẳng định lại giá trị của đoạn trích: đoạn trích đã nhấn mạnh tư tưởng “đất nước của nhân dân”, thể hiện tinh thần yêu nước của tác giả, đánh thức tinh thần yêu nước trong mỗi con người.- Nêu cảm nhận riêng về đoạn trích Đất nước và có liên hệ thực tiễn đến trách nhiệm của thế hệ hôm nay với đất nước.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954851501</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-18 14:48:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954851501</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954917535</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1445034367/7f9ff4f96a49fcadd9934a111b6d1ff6/image.jpg" />
         <pubDate>2021-12-18 16:32:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954917535</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954917957</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1445034367/b88556f69f4bd9e0d73f28151ba567e6/image.jpg" />
         <pubDate>2021-12-18 16:33:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954917957</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954918519</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1445034367/c53d4f68112f1c9cf7e078923a6bcbf4/image.jpg" />
         <pubDate>2021-12-18 16:34:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954918519</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954918914</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1445034367/4a2370e52155bb99383e7a23c1e28f90/image.jpg" />
         <pubDate>2021-12-18 16:35:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954918914</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông” là một bài bút kí nổi tiếng của tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường. Ông là một nhà văn mang nặng ân tình với xứ Huế. Tác phẩm của ông đã lột tả được hết vẻ đẹp và linh hồn của dòng sông Hương, con sông mang đậm đặc trưng và dấu ấn của xứ Huế mộng mơ.“Ai đã đặt tên cho dòng sông” được tác giả trình bày dưới dạng ký, thể loại văn ghi lại cảm xúc cũng như tình cảm của con người một cách sâu sắc và súc tích nhất. Thể loại này đưa bài kí vào lòng người đọc một cách nhẹ nhàng nhưng cũng rất chân thành. Qua giọng văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường, dòng sông Hương hiện lên thật ấn tượng, với một vẻ đẹp thơ mộng đến ngỡ ngàng. Con sông này chính là dòng chảy duy nhất qua thành phố Huế, chính vì điều đó nên nó mang một đặc trưng riêng của xứ Huế mà không nơi nào có được. Có lẽ không chỉ tác giả mà những người dân xứ Huế cũng rất tự hào vì điều này.Dưới ngòi bút tinh tế, sâu sắc cùng tình yêu tha thiết của Hoàng Phủ Ngọc Tường, con sông đã trở nên lộng lẫy, mê hoặc người đọc. Con sông hiện lên với nhiều góc độ, nhiều khía cạnh, với chiều dài của thời gian và chiều sâu của không gian. Và dù cho dưới góc độ nào thì sông Hương vẫn rất đẹp và nên thơ như thế.Đầu tiên, tác giả muốn nói đến sông Hương ở vùng thượng nguồn. Đó là một vẻ đẹp mà không lẫn vào đâu được. Hình ảnh “một cô gái di gan phóng khoáng và man dại; tự do và trong sáng” được tác giả ưu ái khiến cho bóng dáng ấy đi vào lòng người đọc một cách chân thực nhất. Sông Hương còn được tác giả vẽ Dường như chỉ có duy nhất màu đỏ, một màu sắc đầy hoang dại ấy mới toát lên được vẻ đẹp đầy sức ám ảnh nhưng lại rất đỗi bình dị của sông Hương. Vẻ đẹp của con sông ở vùng thượng nguồn chắc chắn là một vẻ đầy mê đắm và tinh tế. Và đây cũng chính là đặc trưng của xứ Huế nên thơ và trữ tình.Hơn thế nữa, sông Hương là dòng sông duy nhất thuộc về thành phố Huế. Chính vì thế nên vẻ đẹp của sông Hương là vẻ đẹp vang bóng một nền văn hóa trải qua nhiều thăng trầm nhưng cũng rất đỗi bí ẩn, quyến rũ của cố đô Huế. Trong con mắt của Hoàng Phủ Ngọc Tường, sông Hương như “người con gái dịu dàng, đằm thắm, mềm mại trong lòng Huế”. Dòng sông thật đẹp và lãng mạn biết bao.Để rồi khi sông Hương về với thành phố mộng mơ, rời xa thượng nguồn thì con sông lại trở nên mê đắm hơn bao giờ hết. Cô gái digan hoang dại ấy đã “vượt qua một lòng vực sâu dưới chân núi Ngọc Trản, để sắc nước trở nên xanh thẫm, trầm mặc như triết lý….; cho đến khi gặp được tiếng chuông Thiên Mụ, nghe âm thanh bát ngát tiếng gà, từ ấy sông Hương rạng rỡ như nắng mới, nàng uốn một cánh cung thật nhẹ, đến khi giáp mặt với thành phố, đường cong ấy làm cho nàng như mềm hẳn đi, như một tiếng vang không nói ra của tình yêu.”Những câu văn thật nhẹ nhàng nhưng vô cùng tình tứ, lãng mạn được tác giả dùng để miêu tả vẻ đẹp của sông Hương khi về với thành phố Huế. Những đường nét mềm mại, mê đắm của sông Hương khiến cho tất cả ai khi đọc cũng đều cảm thấy sửng sốt, ngỡ ngàng, và cứ thế sông Hương len lỏi vào trong lòng người đọc một cách chân thực nhất.Không chỉ vậy, đối với cố đô Huế, sông Hương còn là một nhân chứng đã cùng chứng kiến biết bao đổi thay, cùng những thăng trầm của thành phố Huế. Sông Hương cứ thế tồn tại như vậy, trải qua biết bao sự việc, cùng những năm tháng không thể nào quên của cố đô Huế nói riêng và thành phố Huế nói chung.Chỉ với những câu văn giản dị, tinh tế, cùng với tình yêu chân thành tha thiết đối với mảnh đất và con người xứ Huế, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đem đến cho người đọc hình ảnh dòng sông Hương thơ mộng, lãng mạn hơn bao giờ hết. Dòng sông Hương trong văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường khiến cho ai đã từng đọc qua đều mong muốn được một lần đặt chân đến nơi đây, để được đắm mình trong những gì nên thơ nhất của xứ Huế.ên một cách đầy mê hoặc, đó là sông Hương như bản trường ca của rừng già; rầm rộ và mãnh liệt nhưng có lúc lại “dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi của màu đỏ hoa đỗ quyên rừng”.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954925328</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-18 16:46:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954925328</guid>
      </item>
      <item>
         <title>NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954925383</link>
         <description><![CDATA[<div>Dàn ý phân tích NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG Đ<br>Dàn ý<br>I. Mở bài<br>- Giới thiệu về tác giả Nguyễn Tuân (tiểu sử, sáng tác chính, phong cách nghệ thuật…)<br><br>- Giới thiệu khái quát về tác phẩm Người lái đò sông Đà<br><br>II. Thân bài<br><br>1. Lời đề từ<br><br>Nguyễn Tuân chọn đề từ bằng hai câu thơ:<br><br>- Đẹp vậy sao tiếng hát con tàu: ca ngợi vẻ đẹp độc đáo, riêng biệt của sông Đà<br><br>- Chúng thủy giai đông tẩu/Đà giang độc Bắc lưu: ca ngợi vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình của sông Đà<br><br>→ Nguyễn Tuân kể chuyện về một dòng sông, về một vùng đất và cuộc sống con người Tây Bắc. Nguyễn Tuân cung cấp cho người đọc hiểu biết phong phú,tình yêu tha thiết với thiên nhiên, đất nước con người Việt Nam. Thiên tùy bút vừa là một công trình khảo cứu công phu, vừa là một áng văn trữ tình giàu tính thẩm mĩ về con Sông Đà.<br><br>2. Hình tượng sông Đà<br><br>a) Giới thiệu khát quát về sông Đà<br><br>- Sông Đà biểu tượng cho vẻ đẹp thiên nhiên Tây Bắc – một dòng chảy vĩ đại giữa núi rừng Tây Bắc<br><br>- Về địa lí: dòng sông bắt nguồn từ Trung Quốc chảy qua vùng núi cao hiểm trở, tốc độ dòng sông chảy xiết mạnh mẽ.<br><br>a) Vẻ đẹp hung bạo, hùng vĩ của sông Đà (phần 1)<br><br>- Diện mạo:<br><br>&nbsp; &nbsp;+ “Cảnh đá bờ sông dựng vách thành”: lòng sông hẹp, “bờ sông dựng vách thành”, “đúng ngọ mới có mặt trời”, chỗ “vách đá ... như một cái yết hầu”.<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Ở mặt ghềnh Hát Loóng: “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió” một cách hỗn độn, lúc nào cũng như “đòi nợ suýt” những người lái đó.<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Ở Tà Mường Vát: “có những cái hút nước giống như cái giếng bê tông”, chúng “thở và kêu như cửa cống cái bị sặc nước”<br><br>- Tâm địa của sông Đà đưuọc miêu tả qua “thạch trận”:<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Thạch trận : " Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vỗ lấy thuyền"<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Thủy trận :"Đám tảng đám hòn chia làm ba hàng ngang chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền, một cái thuyền đơn độc không biết lùi đi đâu để tránh một cuộc giáp lá cà có đá dàn sẵn trận địa.<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Ba trùng vi giăng bẫy trên con sông:" Vòng đầu vừa rồi, nó mở ra năm cửa trận, có bốn cửa tử một cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn sông" , "vòng thứ hai này tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào", "còn một trùng vây thứ ba nữa. Ít cửa hơn, bên trái bên phải đều là luồng chết cả.<br><br>→ Với vốn từ cực kì phong phú cùng bút pháp lãng mạn tô đậm để gây ấn tượng mãnh liệt, cảm giác rùng rợn, dựng lên một con sông hung bạo đầy đe dọa với con người.<br>b) Vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của sông Đà<br><br>- Trữ tình ở dáng sông kiều diễm với điểm nhìn từ trên cao xuống, từ tầm xa, bao quát để ngắm một dáng sông thơ mộng , có khi nhà văn nhìn thấy nó bình dị như" một dải dây thừng", như "một mái tóc mun…áng tóc trữ tình".<br><br>- Trữ tình ở màu sắc sông nước: Nguyễn Tuân nhìn Sông Đà từ nhiều góc độ, lần này từ điểm nhìn thấp hơn và góc nhìn thật đẹp:khi nhìn bằng ánh mắt họa sĩ, khi thì nhìn bằng cảm xúc nhà thi sĩ để say sưa, quan sát tưởng tượng sắc nước Sông Đà, sự thay đổi màu sắc qua các mùa mà mùa nào cũng đẹp, một cách nhìn thật nhiều chiều và đa dạng<br><br>- Khung cảnh bờ bãi ven sông với điểm nhìn đậu hẳn xuống mặt sông, là 1 du khách trên sông "Thuyền tôi trôi trên Sông Đà…dòng trên" .<br><br>→ Sông Đà dưới ánh mắt của Nguyễn Tuân hiện lên như một dải lụa hiền hòa giữa vùng núi rừng Tây Bắc hoang sơ, hùng vĩ<br><br>3. Hình ảnh người lái đò sông Đà<br><br>- Giới thiệu chung: ông lái đò Sông Đà làm nghề chở đò dọc trên Sông Đà- nghề vận tải đường nước, ông mang chân dung người lao động sông nước đẹp vạm vỡ khỏe mạnh. Cuộc sống hằng ngày của ông là chiến đầu với con Sông Đà, vật lộn với thiên nhiên để giành giật sự sống, để tồn tại<br><br>- Cuộc chiến đấu trên sông Đà – con sông hùng dữ và nham hiểm:<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Là người từng trải, hiểu biết và thành thạo trong nghề lái đò: “trên sông Đà ông xuôi ngược hưn một trăm lần”, “nhớ tỉ mỉ ... những luồng nước”, ...<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Là người mưu trí dũng cảm, bản lĩnh và tài ba: ung dung đối đầu với thác dữ “nén đau giữ mái chèo, tỉnh táo chỉ huy bạn chèo ...”, “nắm chắc binh pháp của thần sông thần núi”, động tác điêu luyện “cưỡi đúng ngay trên bờm sóng, phóng thẳng thuyền vào giữa thác ...”<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Là người nghệ sĩ tài hoa: ưa những khúc sông nhiều ghềnh thác, không thích lái đò trên khúc sông bằng phẳng, coi việc chiến thắng “con thủy quái” là chuyện thường<br><br>- Trở về với cuộc sống đời thường, sau cuộc chiến "đêm ấy nhà ông đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam..cá túa ra tràn đầy đồng ruộng". Đó là cuộc sống thường nhật của người lái đò ngày nào cũng chiến đấu với thiên nhiên<br><br>→ Cuộc sống bình dị, khiêm nhường nhưng rất đáng khâm phục<br><br>III. Kết bài<br><br>- Khái quát gia trị nội dung và nghệ thuật của văn bản<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Nội dung: Người lái đò sông Đà ca ngợi vẻ đẹp vừa kì vĩ, hào hùng vừa trữ tình thơ mộng của thiên nhiên và nhất là của con người lao động bình dị ở miền Tây Bắc<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Nghệ thuật: cách sử dụng từ ngữ độc đáo, đắc địa, tài ba, sử dụng vốn hiểu biết trên nhiều lĩnh vực, kết hợp hài hòa giữa bút pháp lãng mạn và hiện thực.<br>- Cảm nhận về văn bản: Người lái đò sông Đà lầ một áng tùy bút xuất sắc, cho thấy tài năng và tấm lòng của người nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái Đẹp.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-18 16:46:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954925383</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954929168</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>*Phần vở chụp bên trên là đề cương bài "người lái đò sông Đà" và bài "Ai đã đặt tên cho dòng sông" của em ạ<br>*còn phần file là dàn ý của một số tác phẩm thơ ạ</strong><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1459543768/f62f63edc0e08de55080dd269ac07d4c/DE_CUONG_TAC_PHAM_THO_hoangthuylinh.docx" />
         <pubDate>2021-12-18 16:53:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954929168</guid>
      </item>
      <item>
         <title>AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954929877</link>
         <description><![CDATA[<div>Dàn ý phân tích AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG<br><br>I. Mở bài<br>- Giới thiệu khái quát về tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường (tiểu sử, sáng tác chính, phong cách nghệ thuật…)<br>- Giới thiệu về tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông? (hoàn cảnh ra đời, vị trí đoạn trích, khái quát nội dung và nghệ thuật)<br><br>II. Thân bài<br>1. Vẻ đẹp thiên nhiên của sông Hương<br>a) Vẻ đẹp của sông Hương ở thượng nguồn<br>- Sông Hương như “một bản trường ca của rừng già”: “rầm rộ … màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”, “rừng già đã hun đúc … tự do và trong sáng”<br><br>→ Từ ngữ tạo hình, gợi tả vẻ đẹp của sông Hương ở vùng thượng nguồn vừa hùng vĩ, man dại vừa trữ tình, say đắm lòng người.<br>- Nhà văn đã khéo léo so sánh sông Hương với “cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại”, nhân hóa sông Hương thành một thực thể sống động, có hồn.<br>- Hình ảnh so sánh độc đáo “Sông Hương như người mẹ phú sa của một vùng văn hóa xứ sở”<br><br>b) Sông Hương ở ngoại vi thành phố<br>- Sông Hương trước khi chảy vào thành phố thì “nằm giữa cánh đầu châu hóa đầy hoa dại”<br>- Vẻ đẹp mơ màng của sông Hương được miêu tả rất rõ nét, có những đường cong mềm mại, quanh co uốn khúc quanh cố đô Huế<br>- Tác giả dành một tình yêu lớn cho dòng sông. Tình yêu ấy khiến ông mơ màng nhận ra bóng dáng của dòng sông giống như tấm lụa trên có thể người thiếu nữ<br><br>c) Vẻ đẹp của sông Hương ở trung tâm thành phố<br>- ¬Nét đẹp của dòng sông khi chảy vào thành phố có nét khác biệt so với khu chảy ở ngoại ô<br>- Dòng sông trở nên vui tươi nhưng cũng rất êm dịu, như một điệu slow tình cảm của xứ Huế<br>- Dòng sông như người con gái tinh tế đánh đàn trong đêm khuya<br><br>2. Vẻ đẹp lịch sử và thơ ca của sông Hương<br><br>a) Dòng sông lịch sử<br>- Tên của dòng sông được ghi trong cuốn “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi<br><br>- Sông Hương là một nhân chứng lịch sử của xứ Huế, của đất nước:<br>&nbsp; &nbsp;+ Là điểm tựa, bảo vệ biên cương thời Đại Việt<br>&nbsp; &nbsp;+ Thế kỉ XVIII, vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân với tên tuổi người anh hùng Nguyễn Huệ<br><br>&nbsp; &nbsp;+ Nó đọng lại đến bầm da, tím máu, “nó sống hết lịch sử bi tráng của thể kỉ XIX”<br>+ Nó đi vào thời đại của cuộc cách mạng tháng Tám bằng những chiến công rung chuyển.<br>&nbsp; + Nó chứng kiến cuộc tổng tiến công và nổi dậy màu xuân năm 1968<br><br>b) Vẻ đẹp của sông Hương dưới góc độ văn hóa<br>- Tác giả cho rằng đó là một dòng thi ca về sông hương, đó là một dòng sông không bao giờ lặp lại mình<br>- Tác giả gắn sông Hương với âm nhạc cổ điển Huế<br><br>3. Hình tượng cái tôi tác giả<br>- Quan sát dòng sông trên nhiều góc đọ khác nhau, miêu tả dòng sông trên nhiều phương diện.<br>- Là nhà văn có những liên tưởng, so sánh, độc đáo, lối viết tài hoa, uyên bác.<br><br>- Là cái tôi nghệ sĩ có tình yêu tha thiết, say đắm với thiên nhiên Huế và đất nước<br><br>III. Kết bài<br>- Khái quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật<br>&nbsp; &nbsp;+ Nội dung: với những trang viết mê đắm, tài hoa, bài kí cho chúng ta cảm nhận sâu sắc vẻ đpẹ của dòng sông Hương thơ mộng, trữ tình, cái nôi của nền văn hóa Huế<br>&nbsp; &nbsp;+ Nghệ thuật: văn phong hướng nội, súc tích, hình ảnh giàu sức liên tưởng, ngôn ngữ phong phú, giàu chất thơ,…<br>- Cảm nhận về văn bản: Qua tác phẩm ta cảm nhận được niềm tự hào và tình yêu tha thiết của tác giả với vẻ đẹp thiên nhiên xứ Huế nói riêng và đất nước nói chung.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-18 16:54:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954929877</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>huypham10052004</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954983626</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1447454936/031d1b25cac60c3eb718aa8223c766d1/269582728_281415117366293_5797154581086356413_n.jpg" />
         <pubDate>2021-12-18 18:37:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954983626</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>huypham10052004</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954984361</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1447454936/6e63c3375e6790786cbf783db9ceb926/263687091_4549320645187048_8158738518449494347_n.jpg" />
         <pubDate>2021-12-18 18:38:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954984361</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>huypham10052004</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954984526</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1447454936/2f2f4d03ee9c68605772a0aa14d365ab/263809057_281329373837731_4952115853845743705_n.jpg" />
         <pubDate>2021-12-18 18:38:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954984526</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>huypham10052004</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954985325</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1447454936/887c9d9304ec915e7ddf0f66df7ab1ee/269615247_433133561792762_3959786490862199739_n.jpg" />
         <pubDate>2021-12-18 18:40:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954985325</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>huypham10052004</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954985431</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1447454936/1423e6c35e721e3e4d3a67baaa7e430c/264600957_2977105235873501_6536170067993050522_n.jpg" />
         <pubDate>2021-12-18 18:40:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954985431</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>huypham10052004</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954985549</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1447454936/cb514d9bdb9ed1859982680ccea4f4fd/263065630_1842718732783438_2750531934369278057_n.jpg" />
         <pubDate>2021-12-18 18:40:29 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954985549</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>huypham10052004</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954985796</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1447454936/3caa69709a388af3d5b9815a01c283f0/266544429_320629783258920_368819575794953761_n.jpg" />
         <pubDate>2021-12-18 18:41:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954985796</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>huypham10052004</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954985972</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1447454936/b7776400fa36036da2f02e978c4269b5/267171517_443786780561707_1142321831984473120_n.jpg" />
         <pubDate>2021-12-18 18:41:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1954985972</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955082757</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1506455928/52ec752d391fae2b6b4cd1fcdfa9e265/T_i_li_u__1_.docx" />
         <pubDate>2021-12-18 22:27:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955082757</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955143528</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1444982937/e19479067afdd0a22a384d0541a5e509/BC4C7557_7653_4BAC_8C42_113C1C6F7A12.jpeg" />
         <pubDate>2021-12-19 01:28:29 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955143528</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955143736</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1444982937/80aab7dbf42c659e1e49e99a7fb70b26/CA422C66_2AF6_48CF_9A96_1A0A0052A357.jpeg" />
         <pubDate>2021-12-19 01:29:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955143736</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955144006</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1444982937/8b5ca956c8ec5a177e5d66f037029e86/966EA146_FC51_4E16_B96B_6759048BDA8C.jpeg" />
         <pubDate>2021-12-19 01:29:40 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955144006</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955144225</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1444982937/0bfc81189027d5350d302dbc813dff79/40F41929_4063_48FF_A06C_2D6306458CC9.jpeg" />
         <pubDate>2021-12-19 01:30:17 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955144225</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955144410</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1444982937/e1dbd19e385010c3fd6bc1691dad2289/37F820F2_73F3_4164_98FE_7798428982AD.jpeg" />
         <pubDate>2021-12-19 01:30:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955144410</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955144601</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1444982937/15d1d8781fe8a2fa957b2cbff80571bd/64094BE4_08A2_4762_8923_C90B56AEEC90.jpeg" />
         <pubDate>2021-12-19 01:31:22 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955144601</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955144814</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1444982937/693eaee50aaa623e7bb32bec2e8c2c8d/DC3FFF76_3FBD_4F76_B637_1A6D161A6021.jpeg" />
         <pubDate>2021-12-19 01:32:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955144814</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955145382</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1444982937/d71437b2ae1d0400b580f76ab4bcce9e/5675178D_B0BB_4BE7_9639_1E1586A29E4D.jpeg" />
         <pubDate>2021-12-19 01:33:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955145382</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955145616</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1444982937/01c38f83dd2560927353be89f11979dd/87293850_8A81_4C48_AF9F_8861C40DE73D.jpeg" />
         <pubDate>2021-12-19 01:34:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955145616</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955145807</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1444982937/e285486b7728a1ee6d9a02f2d906240d/73DB86CC_7069_487D_8257_C7910C0EF17D.jpeg" />
         <pubDate>2021-12-19 01:34:43 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955145807</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955145989</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1444982937/7bc76fc235c5339812bcc48a76996c57/88548885_993D_494D_88D7_E033684A00F0.jpeg" />
         <pubDate>2021-12-19 01:35:15 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955145989</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955146181</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1444982937/7ab35c3bad90cc743b2bc10558ae040a/06AA3638_406B_4B2C_BF2A_C0E2635D7F97.jpeg" />
         <pubDate>2021-12-19 01:35:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955146181</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955146431</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1444982937/97ced75063af1c4f95c696e529447e1a/4372E925_3D99_4CCD_83E1_A302BE654ECD.jpeg" />
         <pubDate>2021-12-19 01:36:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955146431</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955146660</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1444982937/8da095c004bd6c8f56a430ea980c5fce/8AB7AD96_5A6B_42BC_BDF7_F8E436BA0AF3.jpeg" />
         <pubDate>2021-12-19 01:36:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955146660</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955160337</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1444982937/20c658bf865238aa987c883aa8fd3319/0EC0EE12_217C_46B8_9CEE_EB2B70F6E14D.jpeg" />
         <pubDate>2021-12-19 02:06:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955160337</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955160568</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1444982937/ecaaf1ec43d9f9b58012bee025847170/1CD2F708_2CB1_4CB5_A3AF_1EBBC78F9F59.jpeg" />
         <pubDate>2021-12-19 02:06:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955160568</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phân tích hình tượng người lái đò sông đà (đề cương)</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955161512</link>
         <description><![CDATA[<div><br>I. Mở bài<br>Tuỳ bút “Người lái đò sông Đà” là một trong những tác phẩm đặc sắc của Nguyễn Tuân được in trong tập sông Đà (1960). Viết tùy bút này, Nguyễn Tuân tự coi mình là người đi tìm cái thứ vàng mười của màu sắc núi sông Tây Bắc và nhất là cái thứ vàng mười mang sẵn trong tâm trí tất cả những con người ngày nay đang nhiệt tình gắn bó với công cuộc xây dựng cho Tây Bắc thêm sáng sủa, được vui và vững bền. Chất vàng mười của con người ấy chính là người lái đò sông Đà. Dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân, người lái đò vừa là người anh hùng vừa là người nghệ sĩ tài hoa trong nghề của mình.<br>II. Thân bài<br><br>1.Lai lịch và ngoại hình người lái đò sông Đà.<br>a. Lai lịch :<br>Ông lái đò sinh ra và lớn lên bên bờ sông Đà, ngay ngã ba sông Đà nên con sông là máu thịt của quê hương đã ngấm vào trái tim, khối óc nên ông lái gắn bó, yêu thương và thấu hiểu tường tận, cặn kẽ dòng sông.<br>b. Ngoại hình :<br>Khi Nguyễn Tuân có dịp kiến diện với người lái đò thì cũng là lúc người lái đò đã 70 tuổi, cái tuổi của buổi xế chiều. Ông làm nghề lái đò dọc sông Đà mười năm liền và đã nghỉ đôi chục năm. Ấy thế mà ông có ngoại hình thật đặc biệt “ông có thân hình quắc thước sánh như chất sừng, chất mun trông trẻ tráng quá”. Những nét ngoại hình ấy vì đâu mà có, phải chăng mười năm trong nghề, dấu ấn của công việc đã in đậm trên ngoại hình ông lão: Tay ông lêu nghêu như cái sào. Chân ông lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh, gò lại như kẹp lấy một cuống lái tưởng tượng, giọng ông ào ào như tiếng nước trước mặt ghềnh sông, nhỡn giới ông vòi vọi như lúc nào cũng mong một cái bến xa nào đó trong sương mù. Bả vai của ông có vết củ nâu tròn, dấu tích tì sào của nghề lái đò mười năm liền trên sông nước, vượt qua bao ghềnh thác mà Nguyễn Tuân đã ca ngợi là thứ huân chương siêu hạng.<br><br>Chỉ bằng vài nét khắc họa tài hoa mà Nguyễn Tuân đã chạm khắc vào tiềm thức của người đọc một hình ảnh nhân vật ông lái đò gần gũi với với môi trường lao động trên sông nước, sinh ra trên sông nước và để sống với sông nước. Một con người suốt một đời chiến đấu với thác, đá, sóng, nước sông Đà để tồn tại và xây dựng quê hương Tây Bắc. Những dòng này được nhà văn viết ra không chỉ để giới thiệu ngoại hình một con người mà còn để ca ngợi sự gắn bó, yêu quý nghề ở chính con người đó.<br>2. Vẻ đẹp tâm hồn người lái đò qua cuộc chiến với sông Đà.<br>a. Sự từng trải và am hiểu dòng sông:<br><br>Những nét tả ngoại hình của nhà văn cho thấy người lái đò thực sự là người từng trải, thành thạo trong nghề. Nhưng như vậy cũng vẫn là chưa đủ, Nguyễn Tuân còn cho biết: người lái đò còn là một linh hồn muôn thuở của sông nước này; ông làm nghề đò đã mười năm liền, trên sông Đà, ông xuôi, ông ngược hơn một trăm lần rồi, chính tay ông giữ lái độ sáu chục lần…Cứ đọc trong thiên tùy bút này sự hung bạo của con sông Đà với thác, nước, sóng, đá mà để lái đò dọc sông Đà là một thử thách lớn trong nghiệp đời của ông.<br>Sự từng trải của người lái đò còn thể hiện, dòng sông Đà với bảy mươi ba con thác nhưng ông đã lấy mắt mà nhớ tỉ mỉ như đóng đinh vào lòng tất cả những luồng nước của tất cả các con thác hiểm trở. Hơn thế nữa, sông Đà đối với ông lái đò ấy, như một trường thiên anh hùng ca mà ông thuộc lòng đến cả những cái chấm than, chấm câu và cả những đoạn xuống dòng. Không phải bỗng dưng mà nhà văn nổi tiếng tài tử lại đưa vào trang viết của mình tỉ mỉ các ngọn thác, thời gian ông lái đò làm nghề. Phải chi li, cụ thể như vậy mới thấy hết sự từng trải, gắn bó của với nghề đến độ kỳ lạ ở ông lão lái đò. Đấy cũng là cách nhà văn bày tỏ nỗi thán phục của chính mình về một con người như được sinh ra từ những con sóng, ngọn thác hung dữ ở sông Đà.<br>b. Cuộc chiến đấu giữa ông lái đò và con sông Đà:<br>Ông lái đò đã từng ngược xuôi trên ghềnh thác sông Đà nhiều năm trong cuộc đời nên ông nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá, và thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước, để rồi từ đó mưu trí, dũng cảm vượt qua và chiến thắng thiên nhiên nghiệt ngã để tồn tại, lao động và sáng tạo. Ông lái đò hiện lên khác nào vị thần Thủy Tinh trong thần thoại VN, nhưng có điều ông không có phép tiên mà chỉ đơn thuần là con người lao động bình dị, đời thường tiêu biểu cho phẩm chất của người lao động mới trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội mới ở miền Bắc.<br><br>Chỉ từng trải thôi chưa đủ, đối với con sông Đà, ai chế ngự được nó đòi hỏi phải có lòng dũng cảm, gan dạ, mưu trí, nhanh nhẹn và cả sự quyết đoán nữa. Nguyễn Tuân đưa nhân vật của mình vào trong hoàn cảnh khốc liệt mà ở đó, tất cả những phẩm chất ấy được bộc lộ, nếu không sẽ phải trả giá bằng chính mạng sống của mình. Nhà văn gọi đây là cuộc chiến đấu gian lao của người lái đò trên chiến trường sông Đà, trên quãng thuỷ chiến ở mặt trận sông Đà. Đó chính là cuộc vượt thác đầy nguy hiểm chết người, diễn ra nhiều hồi, nhiều đợt như trận đánh mà đối phương đã hiện ra diện mạo và tâm địa của kẻ thù số một.<br>Vẻ đẹp trí dũng, tài hoa của người lái đò được thể hiện rõ nét nhất trong cuộc đối đầu với đám đá đang bày binh bố trận trên sông. Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xóa cả một chân trời. Đá ở đây ngàn năm vẫn mai phục hết trong dòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quảng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền. Với những từ ngữ : mai phục, vồ lấy thuyền khiến cho lũ đá nơi ải nước như những kẻ thù nham hiểm và hung ác. Chúng có thể bất thình lình tấn công con người bất cứ khi nào và tai họa sẽ ập đến mà không báo trước. Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này. Nguyễn đã miêu tả lũ đá ở đây mỗi hòn mang một vẻ mặt khác nhau: hòn thì ngỗ ngược, hòn méo mó, hòn mặt xanh lè, hòn hất hàm như thách thức… mỗi hòn mỗi dáng vẻ, nhưng nhìn những bộ mặt ấy thì không có chút nào thiện cảm bởi vẻ lạnh lùng, hung ác và giữ tợn.<br><br>Người đọc như đang chứng kiến thạch trận đá trên sông Đà như bày ra một trận địa chiến đấu mà mỗi vị trí và nhiệm vụ được cân nhắc và tính toán kĩ lưỡng. Sông Đà đã giao việc cho mỗi hòn. Mới thấy rằng đây là nó bày thạch trận trên sông. Đám tảng hòn chia làm ba hàng chắn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền, một cái thuyền đơn độc không còn biết lùi đi đâu để tránh một cuộc giáp lá cà có đá dàn trận địa sẵn. Có bọn đá tiền vệ, hậu vệ, đá cũng biết mai phục, biết đánh trận. Tất cả gợi lên sự hung tợn và dữ dội, quyết liệt của con sông Đà hung bạo này. Hàng tiền vệ : Có hai hòn cánh cửa thoạt nhìn tưởng chúng như sơ hở nhưng thực chất đang đóng vai trò dụ cái thuyền tiến sâu vào bên trong. Khi con thuyền đã bị dụ vào trong thì nước sóng luồng mới đánh khuýp quật vu hồi lại. Những con thuyền của ông đò đã dễ dàng vượt qua nên tuyến thứ ba là các boongke chìm và pháo đài đá nổi là phải đánh tan con thuyền. Cùng với thạch trận đá là sự tiếp ứng, phối hợp của cả sóng nước biết tung ra bao đòn đánh hiểm độc : khuýp quật vu hồi, đưa ra những đòn độc : đá trái, thúc gối, đội thuyền, túm thắt lưng, bóp chặt hạ bộ người lái đò…rồi liên tiếp các đòn trùng điệp : đánh đòn tỉa, đòn âm, hồi lùng…<br><br>Nguyễn Tuân đã sử dụng hàng loạt những động từ mạnh để diễn tả hết sự hung hăng, dữ tợn và hiểm nguy của con sông Đà. Nhưng càng hung dữ bao nhiêu thì lại càng tôn lên vẻ đẹp của ông lái đò bấy nhiêu vì con sông coi như một hình ảnh làm nền cho người lái đò hiện lên anh dũng, kiên cường, đầy hiên ngang, kiêu hãnh, hào hoa tìm sự sống trên dòng sông chết. Hay chúng ta gọi là nghệ thuật vẽ mây nẩy trăng, lấy bóng mà lộ được hình.<br><br>Trong thạch trận ấy, người lái đò hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng vào mình. Mặt nước thì hò la vang dậy như muốn bẻ gãy cán chèo, vũ khí duy nhất có trên tay ông lái đò. Sóng nước chiến đấu như một kẻ liều mạng, không do dự mà xông thẳng vào người lái đò tiến sát nách mà đá trái, thúc gối vào bụng và hông thuyền. Khi sông Đà tung ra miếng đòn hiểm độc nhất là nước bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng đặng lật ngửa mình ra giữa trận nước vang trời thanh la não bạt, ông lái đò vẫn không hề nao núng, bình tĩnh, đầy mưu trí như một vị chỉ huy, lái con thuyền vượt qua ghềnh thác. Ngay cả khi bị thương, người lái đò vẫn cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, mặt méo bệch như cái luồng sóng đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm. Đặc biệt trên con thuyền có đến sáu bơi chèo vẫn nghe thấy tiếng chỉ huy ngắn gọn mà tỉnh táo của người cầm lái. “Vậy là phá xong cái trùng vi thạch trận thứ nhất”. Trong trận đánh người lái đò đã hiện lên thật gan dạ, dũng cảm và đầy sức dẻo dai và một trí tuệ của người chỉ huy con thuyền sáng suốt.<br>Không một phút giây nghỉ tay, nghỉ mắt, người lái đò phải tiếp tục “phá luôn vòng vây thứ hai”. Ông lái đò đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá. Biết ở vòng vây thứ hai con sông đã bố trí tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào, cửa sinh lại bố trí lệch qua bờ hữu ngạn. Với vòng vây thứ hai không phải chiến đấu với đá, sóng như cửa thứ nhất mà là đương đầu với dòng thác sông Đà. Bằng nghệ thuật liên tưởng độc đáo Nguyễn như thấy ông lái đò không phải chèo thuyền vượt thác mà là cưỡi lên thác nước sông Đà. Hơn nữa bằng nghệ thuật miêu tả đòn bẩy tác giả đã ví thác sông Đà như một con hổ hung bạo đã vào cuộc chiến sinh tử với người lái đò. Nên ông lái đã cưỡi lên thác thì phải cưỡi đến cùng như cưỡi hổ. Nhằm đúng con sóng mà lướt thì cũng như nắm được cái bờm của con hổ để có chỗ bám, chỗ ghì tay. Rồi ông đò ghì cương lái của con thuyền, chắc đôi bàn tay để bám chắc lấy luồng nước mà lái miết một đường vào cửa Sinh. Nhưng con sông thật nham hiểm bởi nó không để chút sơ hở cho con thuyền có lối thoát. Luồng nước chứa cửa sinh cũng là chỗ lũ đá đang mai phục. Không chỉ có thế, một bọn thủy quân đang chờ sẵn chỗ ải nước chỉ chờ con thuyền đến là xô ra để níu con thuyền vào cửa tử. Nhưng ông đò đã nhớ mặt từng đứa một, đứa thì ông tránh để bơi chèo nhanh, đứa thì ông đè sấn lên, chặt đôi ra để lấy đường tiến. Và cứ như vậy con thuyền đã bỏ qua hết những cửa tử, và chỉ nghe bên tai tiếng reo hò của sóng nước luồng sinh. Trong trận chiến thứ hai phẩm chất nổi bật của ông lái đò lại anh hùng, linh hoạt và chủ động đối phó với thác nước sông Đà.<br><br>Nếu trong hai trận chiến trên chúng ta có thể đã đủ để ngưỡng mộ người lái đò, nhưng với Nguyễn, tìm đến con người thì con người ấy phải được miêu tả đến tài hoa tột bậc, phải trở thành nghệ sĩ. Và Nguyễn đã phải tiếp tục miêu tả người lái đò trong cuộc chiến thứ ba với con sông Đà. Và cũng đến vòng vây thứ ba với nghệ thuật miêu tả sắc nét vô cùng thì ông lái hiện lên như một tay lái nở hoa, đạt đến mức độ nghệ sĩ trong nghề lái đò của mình. Đến vòng thứ bà, ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả, nhưng người lái đã chủ động “tấn công”: Cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó. Thuyền vút qua cổng đá cánh mở khép. Vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được lượn được. Khung cảnh giao tranh dù rất quyết liệt, một mất một còn nhưng Nguyễn đã miêu tả như một cuộc chiến của giới thần tiên. Màn hơi nước mờ trắng hư ảo, con thuyền không bơi trên sóng nước sông Đà mà nó như đang bay trên dòng sông hư ảo ấy. Con thuyền như mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước. Còn người lái đò như một tiên ông với phép lạ, chỉ vẩy tay chèo mà con thuyền vút vút xuyên đi như có một mãnh lực siêu hình. Phải chăng đó là tuyệt tài của một tay lái nở hoa. Thế là kết thúc.<br>* Nghệ sĩ tài hoa :<br>Nổi bật nhất, độc đáo nhất ở người lái đò sông Đà là phong thái của một nghệ sĩ tài hoa. Khái niệm tài hoa, nghệ sĩ trong sáng tác của Nguyễn Tuân có nghĩa rộng, không cứ là những người làm thơ, viết văn mà cả những người làm nghề chẳng mấy liên quan tới nghệ thuật cũng được coi là nghệ sĩ, nếu việc làm của họ đạt đến trình độ tinh vi và siêu phàm. Trong người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân đã xây dựng một hình tượng người lái đò nghệ sĩ mà nhà văn trân trọng gọi là tay lái ra hoa. Nghệ thuật ở đây là nắm chắc các quy luật tất yếu của sông Đà và vì làm chủ được nó nên có tự do.<br><br>Song, quy luật ở trên con sông Đà là thứ quy luật khắc nghiệt. Một chút thiếu bình tĩnh, thiếu chính xác, hay lỡ tay, quá đà đều phải trả giá bằng mạng sống. Mà ngay ở những khúc sông không có thác nó dễ dại tay dại chân mà buồn ngủ như người Mèo kêu mỏi chân khi dẫm lên đồng bằng thiếu dốc, thiếu đèo. Chung quy lại, nơi nào cũng hiểm nguy. Ông lão lái đò vừa thuộc dòng sông, thuộc quy luật của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này, vừa nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá. Vì thế, vào trận mạc, ông thật khôn khéo, bình tĩnh như vị chỉ huy cầm quân tài ba. Mọi giác quan của ông lão đều hoạt động trong sự phối hợp nhịp nhàng, chính xác. Xong trận, lúc nào cũng ung dung, thanh thản như chưa từng vượt thác: Sóng thác xèo xèo tan ra trong trí nhớ. Sông nước lại thanh bình. Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam và toàn bàn về cá anh vũ, cá dầm xanh, về những cái hầm cá hang ca mùa khô nổ những tiếng to như mìn bộc phá rồi túa ra đầy tràn ruộng. Cũng chả thấy ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua nơi ải nước đủ tướng dữ quân tợn vừa rồi. Như những nghệ sĩ chân chính, sau khi vắt kiệt sức mình để thai nghén nên tác phẩm không mấy ai tự tán dương về công sức của mình. Nhà văn Nguyễn Tuân đưa ra một lời nhận xét: Cuộc sống của họ là ngày nào cũng chiến đấu với sông Đà dữ dội, ngày nào cũng giành lấy sự sống từ tay những cái thác, nên nó cũng không có gì là hồi hộp, đáng nhớ… Họ nghĩ thế, lúc ngừng chèo. Phải chăng người lái đò anh hùng có lẽ dễ thấy, nhưng nhìn người lái đò tài hoa, người lái đò chỉ có Nguyễn Tuân. Và, lời ghi chú của nhà văn thật đáng để suy ngẫm!<br>III. Kết bài<br>Nổi bật trong trang văn của Nguyễn là nhân vật luôn được nhà văn miêu tả ở phương diện tài hoa, nghệ sĩ. Nếu trước cách mạng T8 -1945, Nguyễn Tuân chỉ tập trung vào lớp nhà nho quá vãng thì nay sau cách mạng, tác giả đã tìm thấy và khẳng định cái đẹp ở ngay trong cuộc sống hàng ngày của người dân lao động. Cuộc đời của người lái đò vô danh, không tên tuổi, nơi có những ngọn thác hoang vu, khuất nẻo kia là cả một thiên anh hùng ca, một pho nghệ thuật tuyệt vời. Nếu như thiên nhiên sông Đà trong tác phẩm của Nguyễn Tuân là “kẻ thù số một” của con người, thì cũng chính thiên nhiên, qua ngòi bút của nhà văn là nơi đã tôn vinh giá trị con người vào lao động.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-19 02:09:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955161512</guid>
      </item>
      <item>
         <title>DÀN BÀI HÌNH TƯỢNG DÒNG SÔNG HƯƠNG </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955170972</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>I. Mở bài<br></strong><br></div><ul><li>Tác giả: là một người nghệ sĩ có vốn hiểu biết sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, là nhà văn chuyên viết về bút kí, có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và trữ tình, giữa nghị luận sắc bén và suy tư đa chiều.</li><li>Trích trong bút kí cùng tên, hoàn thành tại Huế, tác phẩm thể hiện vẻ đẹp nên thơ của dòng sông Hương và tình yêu thương của tác giả đối với thiên nhiên đất nước.</li></ul><div><strong>II. Thân bài<br></strong><br></div><div>Ý nghĩa nhan đề: nhấn mạnh đến vẻ đẹp huyền thoại của sông Hương, khát vọng của con người muốn đẹp cái đẹp về xây đắp cho xứ Huế, gợi lòng biết ơn đến những con người khai phá vùng đất ấy.<br><br></div><div><strong>1. Hình tượng sông Hương<br></strong><br></div><div><strong>a. Dòng sông thiên nhiên<br></strong><br></div><ul><li>Ở thượng nguồn: “bản trường ca của rừng già”, “cô gái Di gan”, “người con gái của rừng già”, “người mẹ phù sa của vùng văn hóa xứ sở”</li><li>Từ thượng nguồn đến Huế: sông Hương như người con gái lần đầu đến với tình yêu một mặt rất e lệ, một mặt táo bạo chủ động.</li><li>Trong lòng Huế: như một người con gái đắm say tình tứ khi bên người mình yêu, người con gái tài hoa “tài nữ đánh đàn trong đêm khuya”.</li><li>Từ biệt Huế ra biển: như một người con gái lưu luyến, thủy chung từ biệt người yêu.</li><li>Nhận xét: tác giả chủ yếu cảm nhận vẻ đẹp sông Hương từ góc độ tình yêu khiến sông Hương hiện lên như một người con gái chung tình hết lòng vì tình yêu.</li><li><strong>b. Dòng sông lịch sử<br></strong><br><ul><li>Sông Hương là một nhân chứng lịch sử của Huế, của đất nước: “soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ”, chứng kiến những mất mát đau thương của các cuộc khởi nghĩa thế kỉ XIX, ...</li><li>Sông Hương như một công dân có ý thức trách nhiệm sâu sắc với đất nước: “biết hiến đời mình để làm nên chiến công”, ...</li><li>Là một người con gái anh hùng: cùng gắn bó với Huế qua nhiều cuộc chiến đấu anh hùng trong thời kì trung đại, đến cách mạng tháng tám cũng có những chiến công vang dội, ...</li></ul></li><li><strong>c. Dòng sông văn hóa<br></strong><br><ul><li>Sông Hương là “người mẹ phù sa của vùng văn hóa xứ sở”: toàn bộ âm nhạc cổ điển Huế, những bản đàn theo suốt cuộc đời Kiều và bản Tứ đại cảnh đều được sinh thành trên sông nước sông Hương.</li><li>Là người tài nữ đánh đàn trong đêm khuya: không bao giờ lặp lại trong cảm hứng của các thi nhân</li><li>Nhận xét: Sông Hương chính là người con gái phóng khoáng, chung thủy trong tình yêu,anh dũng kiên cường trong lịch sử, tài hoa sáng tạo trong âm nhạc, trong văn hóa, khiêm nhường trong đời thương. Là hiện thân cho vẻ đẹp người con gái Huế.</li></ul></li></ul><div>&nbsp;<strong>&nbsp; III.Kết Bài&nbsp;</strong></div><ul><li>Đánh giá nghệ thuật nổi bật: liên tưởng độc đáo, sử dụng từ ngữ đặc sắc, văn phong tao nhã, thành công trong nghệ thuật xây dựng hình tượng sông Hương.</li><li>Qua tác phẩm ta cảm nhận được niềm tự hào tha thiết của tác giả với vẻ đẹp thiên nhiên xứ Huế cũng như đất nước. Nhà văn có lối hành văn mê đắm, súc tích</li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-19 02:32:59 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955170972</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955187676</link>
         <description><![CDATA[<div><br></div><div><strong><br>Đề Cương bài 1: Phân tích bài thơ "Tây Tiến"<br></strong><br></div><div><strong>I . Mở bài :</strong> - Trình bày một số nét tiêu biểu về tác giả Quang Dũng và đặc trưng thơ ca của ông (vừa hồn nhiên vừa tinh tế, mang vẻ đẹp hào hoa, phóng khoáng, đậm chất lãng mạn).<br><br></div><div>- Nêu một số nét khái quát về bài thơ Tây Tiến: hoàn cảnh ra đời, giá trị nội dung nổi bật của bài thơ.<br><br></div><div>Vd : Mọi cuộc chiến tranh rồi sẽ qua đi, bụi thời gian có thể phủ dày lên hình ảnh của những anh hùng vô danh, nhưng văn học với sứ mệnh thiêng liêng của nó đã khắc họa một cách vĩnh viễn vào tâm hồn người đọc hình ảnh những người con anh hùng của đất nước đã ngã xuống vì nền độc lập của Tổ quốc trong suốt trường kỳ lịch sử. Và “Tây Tiến” là 1 trong những bài thơ hay, tiêu biểu của Quang Dũng cũng đã dựng lên một bức tượng đài bất tử như vậy về người lính cách mạng trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược. Đó là bức tượng đài đã làm cho những người chiến sĩ yêu nước từng ngã xuống trong những tháng năm gian khổ ấy bất tử cùng thời gian<br><br></div><div><br>II. Thân bài<br><br></div><div><strong>1. Một số nét khái quát<br></strong><br></div><div>- Tây Tiến: là tên một đoàn quân được thành lập năm 1947, có nhiệm vụ kết hợp với bộ đội Lào để bảo vệ biên giới Việt – Lào, làm hao mòn lực lực giặc Pháp.<br><br></div><div>- Xuất thân lính Tây Tiến: phần đông là người Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, sinh viên.<br><br></div><div>- Cảm hứng sáng tác: Quang Dũng viết bài thơ để bày tỏ nỗi nhớ với đoàn quân Tây Tiến sau khi chuyển sang công tác ở đơn vị khác.<br><br></div><div><strong>2. Đường hành quân của đoàn quân Tây Tiến giữa thiên nhiên Tây Bắc<br></strong><br></div><div>- Hai câu thơ đầu: nỗi nhớ thốt lên thành lời “Tây Tiến ơi” là tiếng gọi thân thương, “nhớ chơi vơi”là nỗi nhớ thường trực, bao trùm không gian.<br><br></div><div>- Bức tranh thiên nhiên Tây Bắc hoang sơ và dữ dội:<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Địa danh Sài Khao, Mường Lát gợi sự hẻo lánh, xa xôi;<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Các từ láy giàu tính tạo hình: “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “heo hút”, điệp từ “dốc”, nghệ thuật điệp “Dốc lên ... dốc lên” gợi địa hình hiểm trở, quanh co, gập ghềnh.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Hình ảnh “súng ngửi trời” thể hiện tầm cao của núi non mà người lính phải vượt qua nhưng cũng có cái hóm hỉnh của người lính trong đó.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Nhịp thơ bẻ đôi “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống” gợi tả sự nguy hiểm tột cùng.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Hình ảnh nhân hóa: “cọp trêu người”, “thác gầm thét” gợi sự hoang sơ, man dại; thời gian: “chiều chiều”, “đêm đêm” những người lính phải thường xuyên đối mặt với điều hiểm nguy chốn rừng thiêng nước độc.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Sử dụng phần lớn các thanh trắc nhằm nhấn mạnh sự trắc trở, ghập ghềnh của địa hình.<br><br></div><div>- Khung cảnh thiên nhiên cũng có lúc êm dịu, mang đậm hương vị cuộc sống: “nhà ai Pha Luông ...”, “cơm lên khói”, “Mai Châu mùa em ...”, thanh bằng tạo cảm giác nhẹ nhàng, yên bình.<br><br></div><div>- Hình ảnh bi hùng về người lính Tây Tiến “dãi dầu không bước nữa”, “gục lên súng mũ bỏ quên đời”: có thể hiểu hai câu thơ đơn thuần miêu tả khoảnh khắc nghỉ ngơi của người lính sau cuộc hành quân dài, cũng có thể hiểu đó là sự nghỉ ngơi vĩnh viễn.<br><br></div><div>- Nhận xét: Thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ nhưng đầy rẫy những hiểm nguy, đó chính là những thử thách đối với những người lính Tây Tiến trên chặng đường hành quân.<br><br></div><div><strong>3. Kỉ niệm đẹp về tình quân dân, vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc<br></strong><br></div><div>- Kỉ niệm đêm liên hoan thắm tình quân dân:<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Không khí đêm liên hoan tưng bừng với mà sắc rực rỡ, lộng lẫy: “bừng lên”, “hội đuốc hoa”, “khèn lên man điệu”; con người duyên dáng: “xiêm áo”, “nàng e ấp”.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Tâm hồn người lính bay bổng, say mê trong không khí ấm áp tình người: “Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”.<br><br></div><div>- Khung cảnh sông nước, con người vùng Tây Bắc:<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Đẹp huyền ảo, hoang dại, thiêng liêng: “Chiều sương”, “hồn lau nẻo bến bờ”<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Con người lao động bình dị, mộc mạc: “dáng người trên độc mộc”, cảnh vật duyên dáng, đầy sức sống: “trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”<br><br></div><div>- Nhận xét: nhờ bút pháp lãng mạn, quang Dũng đã vẽ nên bức tranh thiên nhiên thơ mộng, cuộc sống sinh hoạt đầm ấm và hình ảnh con người duyên dáng của vùng Tây Bắc.<br><br></div><div><strong>4. Hình tượng người lính Tây Tiến<br></strong><br></div><div>- Chân dung người lính được miêu tả chân thực: “đoàn binh không mọc tóc”, “ xanh màu lá”, họ sống và chiến đấu trong điều kiện khắc nghiệt, thiếu thốn, gian khổ nhưng vẫn mạnh mẽ “dữ oai hùm”.<br><br></div><div>- Họ là những con người có tâm hồn lãng mạn, trái tim yêu thương “Mắt trừng gửi mộng”/ “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”, lấy hình bóng người thương nơi quê nhà làm động lực chiến đấu.<br><br></div><div>- Vẻ đẹp bi tráng thể hiện qua sự hi sinh anh dũng của họ:<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Sẵn sàng công hiến tuổi trẻ của mình cho đất nước “rải rác biên cương mồ viễn xứ”, “chẳng tiếc đời xanh”, “anh về đất”, ra đi thanh thản, nhẹ nhàng.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Cái chết đã được lí tưởng hóa như hình ảnh những tráng sĩ xưa: “áo bào”, “khúc độc hành”; thiên nhiên cũng đau đớn thay cho nỗi đau họ phải chịu.<br><br></div><div>- Nhận xét: Dù trong hoàn cảnh khó khăn những người lính Tây Tiến vẫn có những nét lãng mạn, hào hoa. Họ mang vẻ đẹp kiêu hùng, sẵn sàng hi sinh cho tổ quốc.<br><br></div><div><strong>5. Lời hẹn ước, gửi gắm tình cảm của tác giả<br></strong><br></div><div>- Câu thơ nhắc nhớ lại ý nguyện, quyết tâm ra đi một thời của đoàn quân Tây Tiến: “người đi không hẹn ước”, còn là sự tiếc thương những đồng đội đã hi sinh “thăm thẳm một chia phôi”.<br><br></div><div>- Niềm thương, nỗi nhớ, tình cảm gắn bó của tác giả luôn gửi lại nơi đoàn quân Tây Tiến: và vùng rừng núi Tây Bắc “Ai lên Tây Tiến ... / Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”<br><br></div><div><br>III. Kết bài<br><br></div><div>- Giá trị nghệ thuật: bút pháp lãng mạn, những sáng tạo trong việc sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh thơ<br><br></div><div>- Tổng kết giá trị nội dung: bài thơ đã tái hiện vẻ đẹp vừa hùng vĩ, vừa thơ mộng của núi rừng Tây Bắc; hình tượng người lính kiên cường, dũng cảm không ngại hi sinh nhưng cũng lãng mạn, mộng mơ</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-19 03:15:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955187676</guid>
      </item>
      <item>
         <title>đề cương văn 12</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955189834</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1506554453/664ff40bc8a2bc4c93108d3b0b09deca/1.jpg" />
         <pubDate>2021-12-19 03:21:43 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955189834</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955190041</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1506554453/387c82c9442e61486fe5e631ca15938a/2.jpg" />
         <pubDate>2021-12-19 03:22:20 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955190041</guid>
      </item>
      <item>
         <title>3</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955190628</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1506554453/d0b1c7f6195e266ecbe1c1c696656129/3.jpg" />
         <pubDate>2021-12-19 03:24:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955190628</guid>
      </item>
      <item>
         <title>4</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955190918</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1506554453/a22787b79e952ea4a16cc821e74d7f55/4.jpg" />
         <pubDate>2021-12-19 03:24:48 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955190918</guid>
      </item>
      <item>
         <title>5</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955191089</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1506554453/4fb3f292bafee71da4bb8716ce3959c7/5.jpg" />
         <pubDate>2021-12-19 03:25:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955191089</guid>
      </item>
      <item>
         <title>6</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955191298</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1506554453/14d71fa1039dec8f14c08fe60dee6e8b/6.jpg" />
         <pubDate>2021-12-19 03:25:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955191298</guid>
      </item>
      <item>
         <title>7</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955191474</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1506554453/06eccd6249e7123fb89d35e90e64b4ed/7.jpg" />
         <pubDate>2021-12-19 03:26:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955191474</guid>
      </item>
      <item>
         <title>8</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955191770</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1506554453/c015576fbc01aaaf57ed6586a9db38b7/8.jpg" />
         <pubDate>2021-12-19 03:27:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955191770</guid>
      </item>
      <item>
         <title>9</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955191902</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1506554453/c5422f6e6e4408e4c364eaea2106e331/9.jpg" />
         <pubDate>2021-12-19 03:27:27 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955191902</guid>
      </item>
      <item>
         <title>10</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955192124</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1506554453/0ebcb6cf2c2afc6a9ac952589b04612d/10.jpg" />
         <pubDate>2021-12-19 03:28:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955192124</guid>
      </item>
      <item>
         <title>11</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955192386</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1506554453/61680246e949d7669fc30d0e299066ca/11.jpg" />
         <pubDate>2021-12-19 03:28:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955192386</guid>
      </item>
      <item>
         <title>12</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955192588</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1506554453/6739289ad79da86b8f1fc3f682f80de7/12.jpg" />
         <pubDate>2021-12-19 03:29:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955192588</guid>
      </item>
      <item>
         <title>13</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955192794</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1506554453/cde4147bc4125a5cd2e211ae48e6e7e4/13.jpg" />
         <pubDate>2021-12-19 03:29:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955192794</guid>
      </item>
      <item>
         <title>14</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955192932</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1506554453/622a5020a898f774da2a3d5c77ba1031/14.jpg" />
         <pubDate>2021-12-19 03:30:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955192932</guid>
      </item>
      <item>
         <title>15</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955193312</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1506554453/b2812e93762a922dd0684e6822711ec6/15.jpg" />
         <pubDate>2021-12-19 03:31:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955193312</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955197291</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1445109843/eaff586b7aeef8a381077985b57befa8/5519B270_5D36_4CEB_92C1_01361547FE5B.jpeg" />
         <pubDate>2021-12-19 03:41:40 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955197291</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955197445</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1445109843/5316d0287ec074220446ff7c44e59a10/032FFAB6_A09A_4D6F_8E4F_629E8770A59D.jpeg" />
         <pubDate>2021-12-19 03:42:08 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955197445</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955197581</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1445109843/76afc7a19c92fd6263f48f04030ddfc4/F204193A_19DF_4C6F_9FDB_60C921F39CF6.jpeg" />
         <pubDate>2021-12-19 03:42:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955197581</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955198224</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1445109843/cfa9b2c2460f86c36ba4db0f8d33f147/9AB0A079_9A51_4C5C_B6D7_E5623A568199.jpeg" />
         <pubDate>2021-12-19 03:44:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955198224</guid>
      </item>
      <item>
         <title>“ phân tích hình tượng người lái đò Sông Đà”</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955200408</link>
         <description><![CDATA[<div>1. Mở bài&nbsp;<br>-Nguyễn tuân là một tác giả tài hoa, uyên bác, luôn kiếm tìm cái đẹp. Trước cách mạng ông từng kiếm vẻ đẹp trong quá khứ, khi cách mạng thành công ông đừng kiếm vẻ đẹp ngay trong cuộc sống hiện tại. Người lái đò sông đà là tùy bút tiêu biểu cho những sáng tác sau cách mạng của ông.&nbsp;<br>-Ông lái đò chính là chất vàng 10 đã được thử lửa mà Nguyễn tuân tìm kiếm, người anh hùng xây dựng chủ nghĩa xã hội.<br>2. Thân bài<br>-công việc là lái đò trên Sông Đà hằng ngày đối diện với thiên nhiên hung bạo.</div><div>-về lai lịch tác giả xóa mờ xuất thân , Tập trung miêu tả ngoại hình đáng ngợi ca những con người vô danh âm thầm công hiến: “ tay lêu nghêu&nbsp; như cái sào , Chân ông lúc nào cũng khuỳnh huỳnh ;.... chất mun”.. Đó là ngoại hình khỏe khoắn của con người lao động luôn gắn bó với nghề.<br>-là người có lòng dũng cảm, tình yêu nghề : “ giữ mái chèo,nén vết thương, hai chần kẹp chặt lấy cuống lái”<br>-có thể liên hệ đến hình ảnh huấn cao-người anh hùng trong quan niệm của Nguyễn tuân trước cách mạng để dẫn dắt sang hình tượng ông lái đò.<br>-công việc: lái đò trên Sông Đà, hằng năm đối diện với con thủy quái hung bạo.<br>-là người từng trải, hiểu biết về thành thạo trong nghề lái đò: “ trên Sông Đà ông xuôi ngược hơn 100 lần” “....” sông Đà đối với ông lái đò ấy như một thiên anh hùng mà ông đã thuộc.....xuống dòng ...”<br>-là người mưu trí dũng cảm, bản lĩnh và tài ba;<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; + ung dung đối đầu với thật giữ để phá trùng vi thạch trận thứ nhất;<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; + Ông lái đò “ không chút nghỉ tay, nghỉ mát phá luôn vòng dây thứ hai và đổi chiến thuật, Ông nắm chắc binh pháp của thần đá ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước”<br>&nbsp; &nbsp; + là người nghệ sĩ đa tài: của những khúc sông nhiều ghềnh&nbsp; thác, Không thích lái đò trên sông bằng phẳng, coi việc chiến thắng con thì quái là chuyện thường: sau khi vượt thác nhà đò đốt lửa nướng cơm lam và toàn bàn chuyện cá anh vũ, cá dầm xanh,... &nbsp;<br>-khái quát về phong cách nghệ thuật Nguyễn tuân: là nhà văn tài hoa uyên bác, suốt đời đi tìm cái đẹp, luôn khám phá thế giới ở bình diện văn hóa, thẩm mỹ, luôn miêu tả con người trong vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ.<br>3. Kết bài:<br>— nêu cảm nhận về hình tượng nhân vật ông lái đò: là đại diện cho con người lao động Tây Bắc trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội, là con người vừa có phẩm chất anh hùng vừa tài hoa nghệ sĩ, chữa đựng chất vàng 10 đã qua thử lửa.<br>— người lái đò sông đà là tùy bút xuất sắc miêu tả chân thực vẻ đẹp vừa hung bạo vừa trữ tình của thiên nhiên Tây Bắc, giữ nền thiên nhiên nổi bật lên là vẻ đẹp của người lao động bình dị.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-19 03:50:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955200408</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hình ảnh Người lái đò trên sông Đà</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955293123</link>
         <description><![CDATA[<div>1. Mở bài<br>Nguyễn Tuân là một tác giả tài hoa, uyên bác, luôn tìm kiếm cái đẹp. Một trong những&nbsp; tác phẩm đó điển hình là Người lái đò Sông Đà. Hình tượng nhân vật người lái đò với những vẻ đẹp tráng lệ: người anh hùng sông nước, người nghệ sĩ tài ba và người lao động bình dị<br>2. Thân bài<br>*Hình tượng người lái đò được xây dựng với những nét đẹp điển hình<br>- Người lái đò là một người anh hùng trên sông nước.<br><br>Vượt thạch trận sông Đà đã chứng minh sự dũng cảm, kiên cường của nhân vật: Ông nắm chắc từng luồng nước, từng con sóng, binh pháp của thần sông thần đá.<br><br>Ông thuộc lòng từng cửa sinh, cửa tử, từng đá hòn đá tảng, từng cái hút nước trên thạch trận.<br><br>Hình dung ra bộ mặt dữ tợn của nước, đá, sóng, gió, cảm nhận được thái độ giận dữ, tâm trạng cáu kỉnh của nó để rồi có những sách lược chiến thắng từng con thác, từng tảng đá.<br><br>- Người lái đò là một người nghệ sĩ.<br>+ Những hành động đều nhanh gọn, dứt khoát và điêu luyện. “Thuyền vút qua cổng đá cánh mở cánh khép, vút, vút… Cửa ngoài rồi cửa trong cùng. Thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được, lượn được.”<br>- Người lái đò là một người lao động bình dị đã cống hiến thầm lặng mà cao cả.<br><br>→ Biểu tượng cho những con người say mê với công việc, tình yêu với nghề nghiệp mà bất chấp hiểm nguy, vất vả. Nguyễn Tuân không gọi nhân vật với cái tên cụ thể, chỉ đơn giản là “ông lái đò”, tên gọi gắn liền với nghề nghiệp để khắc họa hình ảnh người lao động bình dị giống bao người khác.<br>3. Kết Bài<br>Khẳng định tài năng nghệ thuật của Nguyễn Tuân nói chung và khả năng xây dựng hình tượng nhân vật rất đặc biệt. </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-19 08:17:22 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955293123</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955296951</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1456476706/a39a1439c8bd1a2d8ce6ce4907c970f5/PH_N_T_CH_H_NH_T__NG_S_NG___.docx" />
         <pubDate>2021-12-19 08:25:08 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955296951</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955300817</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1456476706/12d5acbae08f6371360d61dfb2f67db2/PH_N_T_CH_AI______T_T_N_CHO_D_NG_S_NG.docx" />
         <pubDate>2021-12-19 08:32:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955300817</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955303999</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1456476706/2089ad3eec1b3932a790dc20e5198f92/DE_CUONG_3_T_C_PH_M_V_N_H_C_12.docx" />
         <pubDate>2021-12-19 08:39:15 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955303999</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dàn ý phân tích Người lái đò sông ĐàA. Mở bàiGiới thiệu về tác giả Nguyễn Tuân (tiểu sử, sáng tác chính, phong cách nghệ thuật…)Giới thiệu khái quát về tác phẩm Người lái đò sông ĐàB. Thân bài1. Lời đề từNguyễn Tuân chọn đề từ bằng hai câu thơ:“Đẹp vậy sao tiếng hát trên dòng sông”: ca ngợi vẻ đẹp độc đáo, riêng biệt của sông Đà.“Chúng thủy giai đông tẩu/ Đà giang độc Bắc lưu”: mọi con sông đều chảy về phía Đông, riêng sông Đà chảy về phương Bắc → Sự khác biệt độc nhất vô nhị của sông Đà, gợi ra những cá tính riêng của con sông.→ Nguyễn Tuân kể chuyện về một dòng sông, về một vùng đất và cuộc sống con người Tây Bắc; cung cấp cho người đọc hiểu biết phong phú, tình yêu tha thiết với thiên nhiên, đất nước con người Việt Nam. Thiên tùy bút vừa là một công trình khảo cứu công phu, vừa là một áng văn trữ tình giàu tính thẩm mĩ về con Sông Đà.2. Hình tượng sông Đàa) Vẻ đẹp hung bạo, hùng vĩ của sông Đà- Diện mạo: “Cảnh đá bờ sông dựng vách thành”: lòng sông hẹp, “bờ sông dựng vách thành”, “đúng ngọ mới có mặt trời”, chỗ “vách đá ... như một cái yết hầu”.Ở mặt ghềnh Hát Loóng: “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như đòi nợ suýt những người lái đò qua đây”.Ở Tà Mường Vát: “có những cái hút nước giống như cái giếng bê tông”, chúng “thở và kêu như cửa cống cái bị sặc nước”.- Tâm địa của sông Đà được miêu tả qua “thạch trận”:Thạch trận: &quot;Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vỗ lấy thuyền&quot;.Thủy trận: &quot;Đám tảng đám hòn chia làm ba hàng ngang chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền, một cái thuyền đơn độc không biết lùi đi đâu để tránh một cuộc giáp lá cà có đá dàn sẵn trận địa.”Ba trùng vi giăng bẫy trên con sông:&quot; Vòng đầu vừa rồi, nó mở ra năm cửa trận, có bốn cửa tử một cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn sông&quot;, &quot;vòng thứ hai này tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào&quot;, &quot;còn một trùng vây thứ ba nữa. Ít cửa hơn, bên trái bên phải đều là luồng chết cả.”→ Với vốn từ cực kì phong phú cùng bút pháp lãng mạn tô đậm để gây ấn tượng mãnh liệt, cảm giác rùng rợn, dựng lên một con sông hung bạo đầy đe dọa với con người.b) Vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của sông Đà- Trữ tình ở dáng sông kiều diễm với điểm nhìn từ trên cao xuống, từ tầm xa, bao quát để ngắm một dáng sông thơ mộng, có khi nhà văn nhìn thấy nó bình dị như “một dải dây thừng, như một áng tóc trữ tình”.- Trữ tình ở màu sắc sông nước: Nguyễn Tuân nhìn Sông Đà từ nhiều góc độ, lần này từ điểm nhìn thấp hơn và góc nhìn thật đẹp: khi nhìn bằng ánh mắt họa sĩ, khi thì nhìn bằng cảm xúc nhà thi sĩ để say sưa, quan sát tưởng tượng sắc nước Sông Đà, sự thay đổi màu sắc qua các mùa mà mùa nào cũng đẹp, một cách nhìn thật nhiều chiều và đa dạng.- Khung cảnh bờ bãi ven sông với điểm nhìn đậu hẳn xuống mặt sông, là 1 du khách trên sông &quot;Thuyền tôi trôi trên Sông Đà…dòng trên&quot;.→ Sông Đà dưới ánh mắt của Nguyễn Tuân hiện lên như một dải lụa hiền hòa giữa vùng núi rừng Tây Bắc hoang sơ, hùng vĩ.3. Hình ảnh người lái đò sông Đà- Giới thiệu chung: ông lái đò Sông Đà làm nghề chở đò dọc trên Sông Đà - nghề vận tải đường nước, ông mang chân dung người lao động sông nước đẹp vạm vỡ khỏe mạnh. Cuộc sống hằng ngày của ông là chiến đầu với con Sông Đà, vật lộn với thiên nhiên để giành giật sự sống, để tồn tại.- Cuộc chiến đấu trên sông Đà – con sông hùng dữ và nham hiểm:+ Là người từng trải, hiểu biết và thành thạo trong nghề lái đò: “trên sông Đà ông xuôi ngược hơn một trăm lần”, “nhớ tỉ mỉ ... những luồng nước”, ...+ Là người mưu trí dũng cảm, bản lĩnh và tài ba: ung dung đối đầu với thác dữ “nén đau giữ mái chèo, tỉnh táo chỉ huy bạn chèo ...”, “nắm chắc binh pháp của thần sông thần núi”, động tác điêu luyện “cưỡi đúng ngay trên bờm sóng, phóng thẳng thuyền vào giữa thác ...”+ Là người nghệ sĩ tài hoa: ưa những khúc sông nhiều ghềnh thác, không thích lái đò trên khúc sông bằng phẳng, coi việc chiến thắng “con thủy quái” là chuyện thường.- Trở về với cuộc sống đời thường, sau cuộc chiến &quot;đêm ấy nhà ông đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam.. cá tủa ra tràn đầy đồng ruộng&quot;. Đó là cuộc sống thường nhật của người lái đò ngày nào cũng chiến đấu với thiên nhiên.→ Cuộc sống bình dị, khiêm nhường nhưng rất đáng khâm phục.C. Kết bài- Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản.+ Nội dung: Người lái đò sông Đà ca ngợi vẻ đẹp vừa kì vĩ, hào hùng vừa trữ tình thơ mộng của thiên nhiên và nhất là của con người lao động bình dị ở miền Tây Bắc.+ Nghệ thuật: cách sử dụng từ ngữ độc đáo, đắc địa, tài ba, sử dụng vốn hiểu biết trên nhiều lĩnh vực, kết hợp hài hòa giữa bút pháp lãng mạn và hiện thực.- Cảm nhận về văn bản: Người lái đò sông Đà là một áng tùy bút xuất sắc, cho thấy tài năng và tấm lòng của người nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái Đẹp - Nguyễn Tuân.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955354601</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-19 10:15:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955354601</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đề bài: hình tượng người lái đò</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955385579</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1452263322/e00caf9331a50849679dfb531971d4df/a27ec4453a29f077a938.jpg" />
         <pubDate>2021-12-19 11:04:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955385579</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955385807</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1452263322/38ff0990f8c7fcfc5e6551f2d6676fcb/f12c28efd5831fdd4692.jpg" />
         <pubDate>2021-12-19 11:05:08 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955385807</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đề bài: NL bài Ai đã đặt tên cho dòng sông</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955386486</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1452263322/e50e79f1862318301a3e773b2987a2c8/100047af53a999f7c0b8.jpg" />
         <pubDate>2021-12-19 11:06:17 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955386486</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955386744</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1452263322/d10a3487e7ad5539072e1aa0b03d4232/bdce836097665d380477.jpg" />
         <pubDate>2021-12-19 11:06:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955386744</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955386940</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1452263322/eaaf35582274755a39d696b9c7581607/5e65a9c0bdc677982ed7.jpg" />
         <pubDate>2021-12-19 11:06:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955386940</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955387059</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1452263322/7bcdaef04d8a7fa8a53c55358b943522/f9c8da6fce6904375d78.jpg" />
         <pubDate>2021-12-19 11:07:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955387059</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dàn ý</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955406097</link>
         <description><![CDATA[<div>TÂY TIẾN (Quang Dũng)</div><div>I. Tác giả</div><div>- Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, vẽ tranh, soạn nhạc.</div><div>- Một hồn thơ lãng mạn, tài hoa: nhà thơ của xứ Đoài mây trắng, thơ giàu chất nhạc, họa...</div><div>- Các tác phẩm chính: Rừng về xuôi; Mây đầu ô....</div><div>II. Tác phẩm</div><div>1. Hoàn cảnh ra đời bài thơ</div><div>- Tây Tiến là một đơn vị quân đội thành lập năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt – Lào và đánh tiêu hao lực lượng quân đội Pháp ở Thượng Lào và miền Tây Bắc của Tổ quốc. Địa bàn hoạt động của đơn vị Tây Tiến chủ yếu là vùng rừng núi hiểm trở. Đó cũng là nơi sinh sống của đồng bào các dân tộc Mường, Thái với những nét văn hoá đặc sắc. Lính Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, sinh viên. Họ sinh hoạt và chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn, gian khổ nhưng vẫn rất lạc quan và dũng cảm.</div><div>- Quang Dũng là một người lính trong đoàn quân Tây Tiến. Cuối năm 1948, ông chuyển sang đơn vị khác. Một năm sau ngày chia tay đoàn quân Tây Tiến, nhớ về đơn vị cũ ông viết bài thơ Tây Tiến tại làng Phù Lưu Chanh (một làng thuộc tỉnh Hà Đông cũ, nay là Hà Nội). Bài thơ được in trong tập “Mây đầu ô”(1986)</div><div>2. Cảm xúc chủ đạo của bài thơ</div><div>Bài thơ được viết trong nỗi nhớ da diết của Quang Dũng về đồng đội, về những kỉ niệm của đoàn quân Tây Tiến gắn liền với khung cảnh thiên nhiên miền Tây Bắc hùng vĩ, hoang sơ nhưng cũng rất trữ tình, thơ mộng.</div><div>3. Nội dung</div><div>3.1. Đoạn 1: “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi</div><div>.....</div><div>Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”</div><div>Những cuộc hành quân gian khổ của đoàn quân Tây Tiến và khung cảnh thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, hoang sơ, dữ dội.</div><div>*Đoạn mở đầu bằng những dòng thơ chan chưa nối nhớ, lời thơ như chợt thốt lên đầy nhớ nhung và tiếc nuối:</div><div>“ Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi</div><div>Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi”</div><div>- Từ láy “chơi vơi”, hiệp vần “ơi” mở ra một không gian vời vợi của nối nhớ đồng thời diễn tả tinh tế một cảm xúc mơ hồ, khó định hình nhưng rất thực.</div><div>- Điệp từ “nhớ” tô đậm cảm xúc toàn bài, không phải ngẫu nhiên mà nhan đề ban đầu của bài thơ tác giả đặt là Nhớ Tây Tiến. Nỗi nhớ trở đi trở lại trong toàn bài thơ tạo nên giọng thơ hoài niệm sâu lắng, bồi hồi. Nỗi nhớ tha thiết, niềm thương da diết mà nhà thơ dành cho miền Tây, cho đồng đội cũ của mình khi xa cách chan chứa biết bao.</div><div>* Nỗi nhớ về thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, dữ dội nhưng cũng thật êm đềm thơ mộng.</div><div>- Nhớ những địa danh mà đoàn quân Tây Tiến đã đi qua, Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch, Mai Châu những địa danh khi đi vào thơ Quang Dũng nó không còn mang màu sắc trung tính, vô hồn trên bản đồ nữa mà gợi lên không khí núi rừng xa xôi, lạ lẫm, hoang sơ và bí ẩn.</div><div>- Nhớ con đường hành quân gập ghềnh, hiểm trở, đầy sự hiểm nguy giữa một bên là núi cao với một bên là vực sâu thăm thẳm: Dốc khúc khuỷu, dốc thăm thẳm, Heo hút, sương lấp. Không gian được mở ra ở nhiều chiều: chiều cao đến chiều sâu hút của những dốc núi, chiều sâu của vực thẳm, bề rộng của những thung lũng trải ra sau màn sương. Các từ láy giàu sức tạo hình khiến người đọc hình dung những con đường quanh co, dốc rồi lại dốc, những đỉnh đèo hoang vắng khuất vào mây trời; Cách ngắt nhịp 4/3 của câu thơ thứ ba tạo thành một đường gấp khúc của dáng núi; ba dòng thơ liên tiếp sử dụng nhiều thanh trắc gợi sự vất vả nhọc nhằn.</div><div>- Nhớ những những ngôi nhà nơi xóm núi như cánh buồm thấp thoáng trên mặt biển trong không gian bình yên và êm ả của mưa giăng đầy biến thung lũng thành ‘xa khơi”.</div><div>- Nhớ âm thanh “gầm thét” của thác dữ, tiếng gầm gào của loài hổ dữ rình rập vồ người mỗi khi chiều đến, đêm về. Thời gian buổi chiều, về đêm lại càng nhấn mạnh thêm cảm giác hoang sơ của chốn “sơn lâm bóng cả cây già”. Những từ ngữ và hình ảnh nhân hóa được nhà thơ sử dụng để tô đậm ấn tượng về một vùng núi hoang vu dữ dội. Nơi đây thiên nhiên hoang dã đang ngự trị và chiếm vai trò chúa tể.</div><div>-&gt; Bức tranh của núi rừng miền Tây giàu được vẽ bằng bút pháp vừa hiện thực, vừa lãng mạn, vừa giàu chất họa lại giàu chất nhạc. Nét vẽ vừa gân guốc, mạnh mẽ, dữ dội nhưng lại cũng rất mềm mại tạo nên vẻ đẹp hài hòa cho bức tranh thiên nhiên.</div><div>* Nỗi nhớ về đồng đội và những kỉ niệm trên đường hành quân:</div><div>- Nhớ cái tếu táo, lạc quan trong gian khổ với vẻ đẹp hồn nhiên qua cách nói hóm hỉnh “súng ngửi trời”. Nếu viết “súng chạm trời”, nhà thơ sẽ chỉ tả được độ cao của đỉnh dốc mà khi đứng trên đó, mũi súng của người lính Tây Tiến như chạm cả vào nền trời. Còn ở đây, Quang Dũng đã gợi được “chất lính” trẻ trung, vẻ tươi mới, sức sống dạt dào trong tâm hồn của người lính Tây Tiến vốn xuất thân từ những thanh niên trí thức trẻ Hà Nội.</div><div>- Nhớ những người đồng đội đã ngã xuống nhưng không bi luỵ. Nỗi mất mát, niềm cảm thương được nói bằng giọng thơ ngang tàng, kiêu hãnh gục bên súng mũ bỏ quên đời”.</div><div>- Nhớ tình cảm quân dân giữa những người lính Tây Tiến và đồng bào Tây Bắc “Nhớ ôi… thơm nếp xôi”. Họ dừng chân nơi xóm núi sau chặng đường dài vất vả, họ quây quần trong niềm vui ấm áp, niềm hạnh phúc bên những nồi cơm còn thơm làn gạo mới. Nhớ ôi!- nỗi nhớ da diết, đằm thắm, sự gắn kết tình nghĩa thủy chung, giữa những con người miền Tây Bắc của tổ quốc với bộ đội kháng chiến.</div><div>Nhận xét: Đoạn thơ chỉ là khúc dạo đầu của một bản nhạc về nối nhớ, song cũng đã kịp ghi lại những vẻ đẹp rất riêng của thiên nhiên núi rừng Tây Bắc trên nền của bức tranh thiên nhiên dữ dội ấy, những người lính Tây Tiến hiện lên thật đẹp. Sự gắn bó của nhà thơ với thiên nhiên và con người nơi ấy là biểu hiện của tấm lòng gắn bó với quê hương, đất nước. Đồng thời là tấm lòng trĩu nặng yêu thương với những người đồng đội, đồng chí của mình.</div><div>3.2. Đoạn 2: :</div><div>“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa</div><div>.....</div><div>Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa</div><div>Những kỉ niệm đẹp về tình quân dân trong đêm liên hoan và cảnh sông nước miền Tây thơ mộng.</div><div>a. Những kỉ niệm về tình quân dân thắm thiết qua những đêm liên hoan văn nghệ đậm màu sắc lãng mạn, trữ tình</div><div>- Đêm liên hoan được miêu tả bằng những chi tiết lãng mạn:</div><div>+ Đêm liên hoan như đêm hội giao duyên, đêm tân hôn của những cặp tình nhân (hội đuốc hoa)</div><div>+ Nhân vật trung tâm của đêm hội là những thiếu nữ Tây Bắc trong những bộ trang phục và vũ điệu vừa lộng lẫy, vừa e thẹn, tình tứ.</div><div>+ Cái nhìn trẻ trung, ngỡ ngàng, ngạc nhiên, say mê sung sướng của những người lính Tây Tiến trước vẻ đẹp phương xa.</div><div>Bằng bút pháp tài hoa, lãng mạn, thi trung hữu nhạc,tác giả đã làm nổi bật vẻ đẹp giàu bản sắc văn hoá, phong tục của đồng bào vùng biên giới cùng tình cảm quân dân thắm thiết và tâm hồn lạc quan yêu đời, yêu cuộc sống của người lính Tây Tiến</div><div>b. Vẻ đẹp của con người và cảnh vật miền Tây Bắc trong chiều sương trên sông nước Châu Mộc</div><div>- Không gian trên dòng sông, cảnh vật Châu Mộc hiện lên thật mờ ảo, thơ mộng nhuốm màu sắc cổ tích, huyền thoại.</div><div>- Nổi bật lên trên bức tranh sông nước là cái dáng mềm mại, uyển chuyển của các cô gái Thái trên con thuyền độc mộc.</div><div>- Những bông hoa rừng cũng như đang đong đưa làm duyên trên dòng nước lũ.&nbsp;</div><div>- Những bông lau ven rừng như có hồn và gợi nhớ da diết.</div><div>3. 3. Đoạn 3: Bức tượng người lính Tây Tiến bất tử với thời gian</div><div>Đoạn thơ tập trung vào khắc họa hình ảnh người lính Tây Tiến bằng bút pháp lãng mạn nhưng không thoát ly hiện thực với cảm xúc bi tráng.</div><div>- Vẻ đẹp lẫm liệt, kiêu hùng, hào hoa, lãng mạn:</div><div>+ Sẵn sàng đối mặt với những khó khăn, thiếu thốn, bệnh tật: Thân hình tiều tuỵ vì sốt rét rừng của người lính Tây Tiến : không mọc tóc, xanh màu lá</div><div>+ Trong gian khổ, hình tượng người lính Tây Tiến vẫn hiện ra với dáng vẻ oai phong, lẫm liệt, vẫn toát lên cốt cách, khí phách hào hùng, mạnh mẽ: xanh màu lá, dữ oai hùm</div><div>+ Trong gian khổ nhưng:</div><div>~ vẫn hướng về nhiệm vụ chiến đấu, vẫn “mộng qua biên giới” - mộng chiến công, khao khát lập công;</div><div>~ “mơ Hà Nội dáng kiều thơm” - mơ về, nhớ về dáng hình kiều diễm của người thiếu nữ đất Hà thành thanh lịch.</div><div>Những hình ảnh thơ thể hiện tâm hồn mộng mơ, lãng mạn của người lính - những chàng trai ra đi từ đất Hà Nội thanh lịch. Những giấc “mộng” và “mơ” ấy như tiếp thêm sức mạnh để các anh vượt gian khổ để lập nên nhiều chiến công.</div><div>- Vẻ đẹp bi tráng:</div><div>+ Những người lính trẻ trung, hào hoa đó gửi thân mình nơi biên cương xa xôi, sẵn sàng tự nguyện hiến dâng “Đời xanh” cho Tổ Quốc mà không hề tiếc nuối.</div><div>+ Hình ảnh “áo bào thay chiếu” là cách nói sang trọng hóa sự hy sinh của người lính Tây Tiến.</div><div>+ Họ coi cái chết tựa lông hồng. Sự hy sinh ấy nhẹ nhàng, thanh thản như trở về với đất mẹ: “anh về đất”.</div><div>+ “Sông Mã gầm lên khúc độc hành” : Linh hồn người tử sĩ đó hoà cùng sông núi. Con sông Mã đã tấu lên khúc nhạc độc tấu đau thương, hùng tráng để tiễn người lính vào cõi bất tử: Âm hưởng dữ dội tô đậm cái chết bi hùng của người lính Tây Tiến.</div><div>+ Hàng loạt từ Hán Việt: Biên cương, viễn xứ, chiến trường, độc hành… gợi không khí tôn nghiêm, trang trọng khi nói về sự hi sinh của người lính Tây Tiến.</div><div>=&gt; Hình ảnh người lính Tây Tiến phảng phất vẻ đẹp lãng mạn mà bi tráng của người tráng sĩ anh hùng xưa.</div><div>3.4. Đoạn 4: đoạn thơ còn lại</div><div>- Khẳng định vẻ đẹp tinh thần của người lính Tây Tiến đối với thời đại và đối với lịch sử:</div><div>+ Vẻ đẹp tinh thần của người vệ quốc quân thời kì đầu kháng chiến: một đi không trở lại, ra đi không hẹn ngày về.&nbsp;</div><div>+ Vẻ đẹp của người lính Tây Tiến sẽ còn mãi với thời gian, với lịch sử dân tộc, là chứng nhân đẹp đẽ của thời đại chống thực dân Pháp.</div><div>- Cụm từ người đi không hẹn ước thể hiện tinh thần quyết ra đi không hẹn ngày về. Hình ảnh đường lên thăm thẳm gợi lên cả một chặng đường gian lao của đoàn quân Tây Tiến.</div><div>è Vẻ đẹp bất tử của người lính Tây Tiến được thể hiện ở âm hưởng, giọng điệu của cả 4 dòng thơ. Chất giọng thoáng buồn pha lẫn chút bâng khuâng, song chủ đạo vẫn là giọng hào hùng đầy khí phách.</div><div>4. Nghệ thuật</div><div>+ Cảm hứng lãng mạn, bi tráng</div><div>+ Sử dụng ngôn từ đặc sắc: từ địa danh, từ tượng hình, từ Hán Việt</div><div>+ Kết hợp chất nhạc và họa.</div><div>5. Chủ đề: Qua bài thơ, Quang Dũng đó ngợi ca vẻ đẹp hùng vĩ và trữ tình, dữ dội mà mĩ lệ của thiên nhiên núi rừng miền Tây Bắc của Tổ quốc, đặc biệt khắc vào thời gian một bức tượng đài bất tử về người lính Tây Tiến anh dũng, hào hoa.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp;<br><br><br><br><br><br>VIỆT BẮC (TỐ HỮU)</div><div>I.Hoàn cảnh sáng tác</div><div>- Việt Bắc là khu căn cứ đầu não của cuộc kháng chiến chống Pháp</div><div>- Tháng 7 năm 1954 hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, hòa bình lập lại ở miền Bắc. Tháng 10 năm 1954, ngay sau cuộc kháng chiến chống TDP kết thúc thắng lợi, các cơ quan trung ương của Đảng và chính phủ từ Việt Bắc về lại thủ đô Hà Nội. Tố Hữu cũng là một trong số những cán bộ kháng chiến từng sống và gắn bó nhiều năm với Việt Bắc, nay từ biệt chiến khu Việt Bắc để về xuôi. Bài thơ được viết trong buổi chia tay lưu luyến đó.</div><div>II.Nội dung văn bản.</div><div>1.Kết cấu của bài thơ</div><div>+ Đối đáp giữa Việt Bắc và người cán bộ kháng chiến từ giã Việt Bắc. Đây là cuộc chia tay mang ý nghĩa lịch sử, cuộc chia tay giữa những người đã từng gắn bó dài lâu, đầy tình nghĩa sâu nặng, mặn nồng, từng chia sẻ mọi đắng cay, ngọt bùi, nay trong giờ phút chia tay, cùng nhau gợi lại bao kỉ niệm đẹp đẽ, cùng cất lên nỗi hoài niệm tha thiết về những ngày đã qua, khẳng định nghĩa tình bền chặt và hẹn ước trong tương lai.</div><div>+ Lời đối đáp gần gũi, thân thuộc như trong ca dao, dân ca.</div><div>+ Bài thơ vì thế mà như lời tâm tình chan chứa yêu thương của những người yêu nhau.</div><div>+ Trong đối đáp Tố Hữu sử dụng đại từ mình – ta với ý nghĩa vừa là ngôi thứ nhất, vừa là ngôi thứ hai. Tình cảm chan chứa yêu thương vì thế mà như được nhân lên. Chuyện nghĩa tình cách mạng, kháng chiến đến với lòng người bằng con đường của tình yêu.</div><div>+ Nhìn sâu hơn vào kết cấu bài thơ thì đối thoại chỉ là lớp kết cấu bên ngoài, còn ở chiều sâu bên trong chính là lời độc thoại của chính nhân vật trữ tình đang đắm mình trong hoài niệm về quá khứ gian khổ mà tươi đẹp ấm áp nghĩa tình, nghĩa tình nhân dân, nghĩa tình kháng chiến và cách mạng, khát vọng về tương lai tươi sáng. Kẻ ở- người đi; lời hỏi- lời đáp có thể xem là sự phân thân để tâm trạng được bộc lộ đầy đủ hơn trong sự hô ứng, đồng vọng, vang ngân.</div><div>2.Phân tích văn bản.</div><div>2.1. Tám câu đầu: những phút giây đầu tiên của buổi chia tay đầy bâng khuâng, lưu luyến giữa kẻ ở người đi.</div><div>- Bốn câu đầu: lời ướm hỏi của người ở lại.</div><div>+ Câu hỏi ngọt ngào, khéo léo “mười lăm năm” cách mạng gian khổ hào hùng, cảnh và người VB gắn bó nghĩa tình với những người kháng chiến; đồng thời khẳng định tấm lòng thủy chung của mình.</div><div>+ Nghĩa tình của kẻ ở- người về được biểu hiện qua các đại từ mình- ta quen thuộc trong thơ ca dân gian gắn liền với tình yêu đôi lứa, cách xưng hô: mình- ta tạo nên sự thân mật, gần gũi. Điệp từ nhớ, láy đi, láy lại cùng với lời nhắn nhủ “mình có nhớ ta”, “mình có nhớ không” vang lên day dứt khôn nguôi.</div><div>+ Các từ thiết tha, mặn nồng thể hiện bao ân tình gắn bó.</div><div>- Bốn câu sau: tiếng lòng của người cán bộ về xuôi</div><div>+ Tuy không trả lời trực tiếp câu hỏi của người ở lại nhưng tâm trạng bâng khuâng, bồn chồn, cùng với cử chỉ ‘cầm tay nhau” xúc động bồi hồi đã nói lên tình cảm : chưa xa đã nhớ, sự bịn rịn luyến lưu của người cán bộ với cảnh và người Việt Bắc.</div><div>+ Lời hỏi của người ở lại đã khéo nhưng câu trả lời còn khéo léo hơn thế. Không phải là câu trả lời có hay không mà là những cử chỉ. Câu thơ bỏ lửng “cầm tay…” diễn tả thái độ nghẹn ngào không nói lên lời của người cán bộ giã từ Việt Bắc về xuôi.</div><div>+ Hình ảnh “áo chàm”- nghệ thuật hoán dụ, trang phục quen thuộc của người dân Việt Bắc. Rất có thể đó là hình ảnh thực, nhưng cũng có thể là hình ảnh trong tưởng tượng của người cán bộ kháng chiến để rồi mỗi lần hình ảnh áo chàm bay về trong tâm trí của người cán bộ là mỗi lần bao nỗi nhớ thân thương lại dội về.</div><div>è khúc dạo đầu của bản tình ca về nỗi nhớ.</div><div>2.2. Mười hai câu tiếp: gợi lại những kỉ niệm chiến khu gian khổ mà nghĩa tình:</div><div>- Nhớ về thiên nhiên, cuộc sống, tình người VB:</div><div>+ Nhớ một thiên nhiên khắc nghiệt: “mưa nguồn, suối lũ, mây cùng mù”</div><div>+ Nhớ một chiến khu đầy gian khổ, nhưng sẵn lòng căm thù giặc sâu sắc: cơm chấm muối, mối thù nặng vai.</div><div>+ Nhớ những sản vật miền rừng: trám bùi, măng mai.</div><div>+ Nhớ những mái nhà nghèo nàn nhưng ấm áp tình người, tình cách mạng.</div><div>+ Nhớ những năm đầu kháng Nhật với những địa danh lịch sử: Tân Trào Hồng Thái mái đình cây đa.</div><div>- Nỗi nhớ ấy được thể hiện bằng những dòng thơ lục bất đâm chất dân gian, những cặp câu thơ lục bát có sự phối hợp thanh điệu hài hòa. Sáu dòng lục tào thành một điệp khúc âm thanh: nó đan dày thành những cấu trúc thanh bằng- trắc- bằng tạo ra nhạc điệu ngân nga trầm bổng nhẹ nhàng, khoan thai.</div><div>- Hầu hết các câu thơ ngắt theo nhịp 4/4 làm nên những tiểu đối cân xứng, hô ứng về câu trúc, nhạc điệu: Mưa nguồn suối lũ/những mây cùng mù; Miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai… Có những cặp tiểu đối khắc ghi những sự kiện, có những cặp tiểu đối vế đầu nói về hiện thực gian khổ, vế còn lại khắc sâu vẻ đẹp tâm hồn của con người Việt Bắc gắn bó son sắt cùng với lối sống ân nghĩa thủy chung. Người đọc như gặp lại hồn xưa dân tộc nương náu trong những trang thơ lục bát của Tố Hữu.</div><div>- Câu thơ “Mình đi mình lại nhớ mình”: nhớ mình- tức nhớ người ở lại nhưng cũng như là nhắc nhở chính mình hãy nhớ về quá khứ gian khổ nhưng thấm đẫm nghĩa tình.</div><div>2.3.Từ câu 25 đến câu 42: Nỗi nhớ những kỉ niệm sinh hoạt nghèo khổ mà ấm áp nghĩa tình.</div><div>Nhớ gì như nhớ người yêu</div><div>……</div><div>Chày đêm nện cối đều đều suối xa</div><div>- Nỗi nhớ được so sánh với nhớ người yêu: Nỗi nhớ mãnh liệt và da diết.</div><div>- Từ nỗi nhớ như nhớ người yêu, Việt Bắc hiện lên với những nét đẹp rất riêng: Trăng đầu núi, nắng lưng nương cùng những tên gọi, địa danh cụ thể.</div><div>- Điệp từ “nhớ từng” lặp đi lặp lại làm cho nỗi nhớ thêm da diết. Trong kí ức của người đi còn in dấu khoảnh khắc thời gian (trăng đấu núi, nắng chiều lưng nương), từng khoảng không gian của cây, sông, suối (Nhớ từng rừng nứa… vơi đầy). Vẻ đẹp thiên nhiên nên thơ sẽ còn đọng mãi trong nỗi nhớ nhung của người ra đi.</div><div>- Tuy nhiên, da diết và đậm sâu hơn cả vẫn là nỗi nhớ về con người, về ân tình Việt Bắc: bình thường, giản dị mà ân nghĩa thủy chung:</div><div>+ Nhớ Việt Bắc là nhớ đến tấm lòng biết sẻ chia: bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng.</div><div>+ Nhớ đến nghĩa tình:người mẹ địu con, bẻ từng bắp ngô.</div><div>+ Nhưng cũng là nhớ đến đồng chí, đồng đội với bao gian nan vất vả: Nhớ sao … núi đèo</div><div>- Việt Bắc vì thế tuy gian khổ, vất vả nhưng trong kí ức vẫn thanh bình, đẹp đẽ: Nhớ sao tiếng mõ … suối xa</div><div>=&gt;Đoạn thơ đủ sức gợi ra thật rõ nét và thấm thía khung cảnh bản làng, tình người, tình quân dân của chiến khu những năm kháng Pháp với tất cả những dáng nét, âm thanh, không khí, tâm tình. Những câu thơ cất lên nghe sao trìu mến, nói về mẹ, về trẻ thơ, về người thương yêu dấu.</div><div>2.4. Từ câu 43 đến câu 52: bức tranh tứ bình về thiên nhiên, con người Việt Bắc.</div><div>Ta về mình có nhớ ta</div><div>.....</div><div>Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung</div><div>- Hai dòng thơ đầu là lời khẳng định vể nỗi nhớ thương da diết và tình cảm thủy chung của người ra đi dành cho quê hương Việt Bắc. Nỗi nhớ đã làm sống dậy trong tâm tưởng hình ảnh thiên nhiên, con người nơi chiến khu cách mạng.</div><div>- Thiên nhiên Việt Bắc đẹp trong sự đan cài với vẻ đẹp của con người “hoa” cùng “người”: Đoạn thơ có bốn cặp câu lục bát: câu 6 miêu tả thiên nhiên, câu 8 miêu tả con người.</div><div>- Thiên nhiên Việt Bắc hiện lên trong vẻ đẹp bốn mùa:</div><div>+ Mùa đông trên nền xanh bạt ngàn cây lá bỗng bất ngờ hiện lên sắc màu đỏ tươi của hoa chuối. Màu đỏ ấy làm ấm cả không gian</div><div>+ Mùa xuân với sắc trắng của hoa mơ- loài hoa đặc trưng của Việt Bắc, 1 màu trắng miên man, tinh khiết, đẹp đến nao lòng.</div><div>+ Mùa hè, với tiếng ve kêu vang ngân và sắc vàng của rừng phách.</div><div>+ Mùa thu với ánh trăng chan hòa trên mặt đất, đem lại không khí bình yên.</div><div>- Hình ảnh con người đã trở thành tâm điểm của bức tranh tứ bình, tạo nên sức sống của thiên nhiên cảnh vật. Những con người Việt Bắc hiện về trong nỗi nhớ thật thân quen, bình dị, thầm lặng trong những công việc của đời thường:</div><div>+ Mùa đông trở nên ấm áp với “ánh nắng dao giài thắt lưng”.</div><div>+ Bức tranh mùa xuân hòa cùng với dáng vẻ cần mẫn chút chăm của “người đan nón” + Bức tranh màu hè hoá dịu dàng với hình ảnh cô em gái hái măng một mình</div><div>+ Mùa thu là tiếng hát nghĩa tình thủy chung của con người cất lên giữa đêm trăng.</div><div>- Đoạn thơ mang nét đẹp cổ điển mà hiện đại</div><div>+ Vẻ đẹp cổ điển: Bức tranh tứ bình hiện lên qua những nét gợi tả</div><div>+ Vẻ đẹp hiện đại: Hình ảnh con người đã trở thành tâm điểm, tạo nên vẻ đẹp, sức sống của bức tranh.</div><div>2.5. Từ câu 53 đến câu 83: khung cảnh Việt Bắc kháng chiến, lập nhiều chiến công, vai trò của Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến.</div><div>a. Từ câu 53-&gt; 74</div><div>“Nhớ khi giặc đến giặc lùng</div><div>………………..Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng”</div><div>Trong hoài niệm bao trùm có ba mảng thống nhất hòa nhập đó là: nỗi nhớ thiên nhiên- nỗi nhớ con người cuộc sống ở Việt Bắc- nỗi nhớ về cuộc chiến đấu anh hùng chống TDP xâm lược. Theo dòng hồi tưởng, người đọc được sống lại những giây phút của cuộc kháng chiến với không gian rộng lớn, những hoạt động tấp nập, sôi động được vẽ bằng bút pháp của những tráng ca. Cảnh Việt Bắc đánh giặc được miêu tả bằng những bức tranh rộng lớn, kì vĩ.</div><div>+ Rừng núi mênh mông hùng vĩ trở thành bạn của ta, chở che cho bộ đội ta, cùng quân và dân ta đánh giặc.</div><div>+ Chiến khu là căn cứ vững chắc, đầy nguy hiểm với quân thù.</div><div>+ Nghệ thuật so sánh, nhân hoá: núi giăng…luỹ sắt, rừng che, rừng vây…</div><div>+ Những cái tên, những địa danh ở chiến khu Việt Bắc: phủ Thông, đèo Giàng, sông Lô, Cao- Lạng…vang lên đầy mến yêu, tự hào, cũng trở thành nỗi nhớ của người cán bộ kháng chiến về xuôi.</div><div>+ Không khí chiến đấu sôi nổi hào hùng, khí thế hừng hực trào sôi:</div><div>~ Sức mạnh của quân ta với các lực lượng bộ đội, dân công… sự hợp lực của nhiều thành phần tạo thành khối đoàn kết vững chắc.</div><div>~ Các từ: Rầm rập, điệp diệp, trùng trùng…thể hiện khí thế dồn dập.</div><div>~ Hình ảnh người chiến sĩ được gợi lên qua chi tiết giàu chất tạo hình: “ánh sao đầu mũ bạn cùng mũ nan”-&gt; ánh sáng của sao dẫn đường, ánh sáng của niềm tin, của lí tưởng.</div><div>~ Thành ngữ “Chân cứng đá mềm” đã được nâng lên thành một bước cao hơn “bước chân nát đá muôn tàn lửa bay”.</div><div>+ Chiến công tưng bừng vang dội khắp nơi: Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên, đèo De, núi Hồng… Niềm vui chiến thắng chan hoà bốn phương: Vui từ…vui về…vui lên…</div><div>+ Đoạn thơ ngập tràn ánh sáng: ánh sao, ánh đuốc, ánh đèn pha… như ánh sáng của niềm tin tưởng, niềm vui tràn ngập.</div><div>+ Nhịp thơ dồn dập gấp gáp, ấm hưởng hào hùng náo nức tạo thành khúc ca chiến thắng.</div><div>b.Từ câu 75- câu 83.</div><div>Đoạn thơ phác họa hình ảnh giản dị mà trang trọng của một cuộc họp Chính phủ trong hang núi mà vẫn rực rỡ dưới ánh cờ đỏ sao vàng trong nắng trưa và kết thúc bằng sự thâu tóm hình ảnh Việt Bắc quê hương cách mạng, đầu não của cuộc kháng chiến, nơi đặt niềm tin tưởng và hy vọng của con người Việt Nam từ mọi miền đất nước, đặc biệt là những nơi còn “u ám quân thù”.</div><div>3. Đặc sắc nghệ thuật</div><div>Việt Bắc là một trong những đỉnh cao của thơ ca cách mạng Việt Nam. Tiếng thơ trữ tình- chính trị của Tố Hữu đậm đà tính dân tộc.</div><div>- Những bức tranh chân thực, đậm đà bản sắc dân tộc về thiên nhiên và con người Việt Bắc được tái hiện trong tình cảm tha thiết , gắn bó sâu sắc của tác giả.</div><div>- Tình nghĩa của người cán bộ và đồng bào Việt Bắc với cách mạng, kháng chiến, với Bác Hồ là những tình cảm cách mạng sâu sắc của thời đại mới. Những tình cảm ấy hòa nhập và tiếp nối mạch nguồn tình cảm yêu nước, đạo lí ân tình thủy chung vốn là truyền thống sâu bền của dân tộc.</div><div>+ Thể thơ: thể thơ lục bát truyền thống đã được vận dụng tài tình trong một bài thơ dài, vừa tạo âm hưởng thống nhất mà lại biến hóa đa dạng.</div><div>+ Kết cấu: lối kết cấu đối đáp trong ca dao dân ca được vận dụng một cách thích hợp, tài tình</div><div>+ Những lối nói giàu hình ảnh, các cách chuyển nghĩa truyền thống (so sánh, ẩn dụ, tượng trưng, ước lệ)</div><div>+ Giọng thơ ngọt ngào, tâm tình, cách xưng hô mình- ta quen thuộc trong ca dao khiến bài thơ như một bản tình ca về lòng thủy chung son sắt của người cách mạng với người dân Việt Bắc</div><div>4. Chủ đề</div><div>Việt Bắc là một câu chuyện lớn, một vấn đề tư tưởng được diễn đạt bằng một cảm nhận mang tính chất riêng tư. Bài thơ gợi về những ân nghĩa, nhắc nhở sự thủy chung của con người đỗi với con người và đối với quá khứ cách mạng nói chung<br><br><br>SÓNG (XUÂN QUỲNH)</div><div>I. Tác giả</div><div>- Xuân Quỳnh có cuộc đời bất hạnh, luôn khát khao tình yêu, mái ấm gia đìnhvà tình mẫu tử</div><div>- Đặc điểm hồn thơ: tiếng nói của người phụ nữ giàu yêu thương, khát khao hạnh phúc đời thường, bình dị, nhiều âu lo, day dứt, trăn trở trong tình yêu.</div><div>II. Bài thơ “Sóng”</div><div>1. Hoàn cảnh sáng tác</div><div>Sóng được sáng tác năm 1967 trong chuyến đi công tác vùng biển Diêm Điền. Trước khi Sóng ra đời, Xuân Quỳnh đã phải nếm trải những đổ vỡ trong tình yêu. Đây là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ và phong cách thơ Xuân Quỳnh. Tác phẩm được in trong tập Hoa dọc chiến hào (1968).</div><div>2. Âm điệu, nhịp điệu của bài thơ</div><div>- Âm điệu của bài thơ Sóng là âm điệu, của những con sóng ngoài biển khơi, lúc ào ạt, dữ dội lúc nhẹ nhàng, khoan thai. Âm điệu đó được tạo nên bởi: Thể ngũ ngôn với những câu thơ được ngắt nhịp linh hoạt.</div><div>- Bài thơ có hai hình tượng là “sóng” và “em” - lúc phân tách, soi chiếu vào nhau, lúc nhập hòa làm một trong một cái tôi trữ tình duy nhất là Xuân Quỳnh.</div><div>3. Nội dung</div><div>- Khổ 1 :</div><div>+ Sóng hiện ra với những đối cực Dữ dội &gt;&lt; Dịu êm; ồn ào&gt;&lt; lặng lẽ như những cung bậc tâm trạng của người phụ nữ khi yêu.</div><div>+ Sóng khát khao thoát khỏi giới hạn chật hẹp (sông) để tìm ra “bể” như người phụ nữ khát khao tìm đến những chân trời đích thực của tình yêu.</div><div>- Khổ 2 :</div><div>+ Từ ngàn, triệu năm qua, con sóng vẫn thế như từ ngàn, triệu năm qua, tình yêu vẫn là một khát vọng cháy bỏng trong trái tim con người, nhất là tuổi trẻ.</div><div>+ Đó cũng là khát vọng cháy bỏng trong trái tim không bao giờ thôi khát khao yêu đương của nhân vật trữ tình trong bài thơ.</div><div>- Khổ 3, 4 :</div><div>+ Không thể truy nguyên nguồn gốc của sóng cũng như tình yêu của con người. Đó mãi mãi là bí ẩn diệu kì, là sức hấp dẫn mời gọi của tình yêu. Không thể cắt nghĩa tình yêu và cũng chẳng nên cắt nghĩa tình yêu bởi rất có thể khi ta biết yêu vì lẽ gì thì cũng là lúc tình yêu ra đi.</div><div>+ Người phụ nữ, nhân vật em trong bài thơ cũng không thể cắt nghĩa được tình yêu. Một sự bất lực đáng yêu của một trái tim yêu không chỉ đòi hỏi cảm xúc mà còn đòi hỏi nhận thức mãnh liệt.&nbsp;</div><div>- Khổ 5 :</div><div>+ Con sóng, dù ở trạng thái nào (trong lòng sâu, trên mặt nước, ngày hay đêm), đều thao thức một nỗi niềm “nhớ bờ”. Nỗi nhớ choán cả không gian, thời gian.</div><div>+ Tình yêu của người phụ nữ trong bài thơ cũng vậy. Hạt nhân của nó là nỗi nhớ, một nỗi nhớ cồn cào, da diết, nỗi nhớ chiếm cả tầng sâu, chiều rộng và trải dài theo thời gian, lúc hiện hữu, khi lắng sâu, lúc ý thức, khi nằm ngoài sự kiểm soát của ý thức.</div><div>Khổ 6, 7</div><div>+ Cũng như sóng chỉ có một hướng đích duy nhất là bờ, em chỉ có phương anh làm điểm đến, bất chấp cuộc đời có nhiều trái ngang.</div><div>+ Sự thuỷ chung của sóng với bờ hay cũng chính là sự chung thuỷ của em với anh. Nếu nỗi nhớ làm thành biểu hiện nồng nàn, sôi nổi của tình yêu thì sự thuỷ chung lại là phần đằm sâu trong trái tim người phụ nữ.&nbsp;</div><div>- Hai khổ cuối :</div><div>+ Sự sống, tình yêu ở thời đại nào cũng luôn hữu hạn trong tương quan với cái vô thuỷ, vô chung, vô cùng, vô tận của thiên nhiên, vũ trụ. Trước cái vĩnh hằng của tạo hoá, trước dòng chảy vô hồi, vô hạn của cuộc đời, tình yêu của con người mãi mãi chỉ là “bóng câu qua cửa sổ”. Đó là cảm thức về thời gian. Dường như càng yêu mãnh liệt, càng khát khao gắn bó, con người càng hay nghĩ về thời gian ! Người phụ nữ đang cháy bóng khát khao yêu và được yêu trong Sóng cũng không phải là ngoại lệ.</div><div>+ Vậy, chỉ có một cách duy nhất để tình yêu trường tồn với thời gian, để trái tim yêu được đập mãi. Đó là “Làm sao được tan ra - Thành trăm con sóng nhỏ - Giữa biển lớn tình yêu - Để ngàn năm còn vỗ”. Đó là khát vọng được vĩnh cửu hoá tình yêu, được hoà tình yêu của mình vào khối tình chung của nhân loại, như con sóng hoà vào đại dương mênh mông, bất tận.</div><div>4. Nghệ thuật</div><div>- Nhịp điệu độc đáo, giàu sức liên tưởng: thể thơ năm chữ, cách ngắt nhịp, gieo vần, nối khổ linh hoạt</div><div>- Giọng điệu tha thiết chân thành, ít nhiều có sự phấp phỏng lo âu.</div><div>- Xây dựng hình tượng sóng như một ẩn dụ nghệ thụât về tình yêu của người phụ nữ.</div><div>-Kết cấu song hành: sóng và em</div><div>5. Chủ đề</div><div>Sóng là bài thơ tình đặc sắc. Bài thơ là sự khám phá những khát vọng tình yêu của trái tim người phụ nữ chân thành, giàu khao khát nhưng cũng rất tự nhiên<br><br><br>ĐẤT NƯỚC</div><div>(trích Trường ca Mặt đường khát vọng- Nguyễn Khoa Điềm)</div><div>I. Tác giả</div><div>- Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ những nhà thơ trưởng thành trong khói lửa kháng chiến chống Mỹ</div><div>- Thơ ông giàu chất suy tư, cảm xúc dồn nén, thể hiện tâm tư người trí thức tham gia chiến đấu.</div><div>II. Đoạn trích “Đất Nước”</div><div>1.Hoàn cảnh ra đời, xuất xứ</div><div>“Đất Nước” thuộc phần đầu của chương V trong trường ca Mặt đường khát vọng – tác phẩm được hoàn thành ở chiến khu Trị – Thiên năm 1971, viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ vùng đô thị tạm chiếm miền Nam về non sông đất nước, về sứ mệnh của thế hệ mình, xuống đường đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược.</div><div>2. Nội dung</div><div>2.1.Phần 1: Cảm nhận về Đất Nước</div><div>- Đất nước thật dung dị, đời thường: Đất Nước hiện lên qua câu chuyện cổ tích mẹ kể, miếng trầu bà ăn, những dãy tre làng, “bới” tóc của mẹ, gừng cay, muối mặn, cái kèo, cái cột, hạt gạo...</div><div>- Đất nước “đã có” từ thủa rất xa xưa và rất gần gũi thân thương đối với mỗi con người.</div><div>- Nét độc đáo trong nghệ thuật thể hiện: Đoạn thơ là sự kết tinh đặc sắc giữa chất liệu văn hoá dân gian với hình thức thơ trữ tình- chính luận.&nbsp;</div><div>- Về không gian địa lý :</div><div>+ Đất nước là nơi rất gần gũi với cuộc sống mỗi người ( nơi anh đến trường... nơi em tắm).&nbsp;</div><div>+ Đất Nước tồn tại ngay cả trong những không gian riêng tư của tình yêu đôi lứa : “Đất Nước là nơi ta hò hẹn. Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”.</div><div>+ Đất Nước còn là không gian sinh tồn hết sức đời thường của nhân dân qua bao thế hệ “Những ai đã khuất. Những ai bây giờ. Yêu nhau và sinh con đẻ cái. Gánh vác phần người đi trước để lại…”).</div><div>- Về thời gian lịch sử : Đất Nước được cảm nhận suốt chiều dài thời gian lịch sử từ quá khứ đến hiện tại và tương lai.</div><div>+ Đó là một Đất Nước thiêng liêng, hào hùng trong quá khứ (gắn liền với huyền thoại Lạc Long Quân và Âu Cơ, truyền thuyết về các vua Hùng dựng nước).</div><div>+ Đó là một Đất nước giản dị, gần gũi trong hiện tại (“Trong anh và em hôm nay. Đều có một phần Đất Nước”)</div><div>+ Và một Đất Nước triển vọng sáng tươi trong tương lai (“Mai này con ta lớn lên. Con sẽ mang Đất Nước đi xa. Đến những tháng ngày mơ mộng”).</div><div>- Từ cách cảm nhận và lí giải Đất Nước như thế nhà thơ suy nghĩ về trách nhiệm của mọi người :</div><div>+ Đất nước kết tinh, hoá thân trong cuộc sống của mỗi con người, vì thế mọi người phải có tinh thần cống hiến, có trách nhiệm đối với sự trường tồn của quê hương, xứ sở.</div><div>+ Cần biết gắn bó biết san sẻ : sự sống của mỗi con người không chỉ là của riêng cá nhân mà còn thuộc về Đất nước.</div><div>+ Lời nhắn nhủ với thế hệ trẻ, lời tự nhủ với chính bản thân đầy chân thành tha thiết.&nbsp;</div><div>2.2.Tư tưởng “Đất nước của nhân dân” trong phần 2 của đoạn trích</div><div>- Về địa lý : nhà thơ đã nhìn ngắm Đất Nước mình qua các danh thắng trải dài từ Bắc chí Nam. Tất cả các địa danh được nhắc đến đều gắn liền với một huyền thoại, huyền tích và sự thật về nhân dân trong lịch sử. Nói cách khác, chính những huyền thoại, huyền tích và sự thật lịch sử về nhân dân đã làm nên tên tuổi của các địa danh ấy, biến chúng thành danh thắng, thành di tích lịch sử văn hóa được mọi người thừa nhận và biết đến :</div><div>+ những người vợ nhớ chồng – núi Vọng Phu;</div><div>+ cặp vợ chồng yêu nhau – hòn Trống Mái;</div><div>+ người học trò nghèo – núi Bút, non Nghiên;</div><div>+ Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm…</div><div>Trong con mắt của nhà thơ, mỗi danh thắng không chỉ là một nét vẽ tô điểm vào bức “tranh họa đồ” Đất Nước mà còn ẩn chứa những nét đẹp tâm hồn của nhân dân trong mấy nghìn năm lịch sử : sự thủy chung; tình nghĩa vợ chồng; tinh thần yêu nước; ý thức hướng về tổ tông, nguồn cội; tinh thần hiếu học, ý chí vượt khó vươn lên; tinh thần xả thân vì cộng đồng, dân tộc… Tựu chung lại, đúng như nhà thơ đã khái quát : “Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi. Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha. Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy. Những cuộc đời đã hóa núi sông ta”.</div><div>- Về lịch sử : khi nhìn vào “bốn nghìn năm Đất Nước”, Nguyễn Khoa Điềm nhấn mạnh đến “lớp lớp” những con người “giản dị và bình tâm. Không ai nhớ mặt đặt tên. Nhưng họ đã làm ra Đất Nước”. Không ai khác mà chính họ đã gìn giữ và truyền lại cho các thế hệ mai sau mọi giá trị văn hóa vật chất và tinh thần của Đất Nước: hạt lúa, ngọn lửa, tiếng nói, ngôn ngữ dân tộc, bản sắc văn hóa các vùng miền… Cũng chính họ “Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm. Có nội thù thì vùng lên đánh bại” tạo dựng chủ quyền, đắp nền xây móng cho ngôi nhà Đất Nước để các thế hệ mai sau kế thừa và tiếp tục dựng xây, phát triển.</div><div>- Về văn hóa : khi khẳng định “Đất Nước của Nhân dân”, tác giả đã trở về với ngọn nguồn phong phú, đẹp đẽ của văn hóa, văn học dân gian mà tiêu biểu là ca dao. Ca dao chính là diện mạo tinh thần, là nơi lưu giữ đời sống tâm hồn tình cảm của nhân dân qua bao thế hệ. Nguyễn Khoa Điềm đã chọn ra từ kho tàng thơ ca dân gian ba nét đẹp tiêu biểu nhất của tâm hồn Việt, của bản sắc văn hóa Đất Nước: thật say đắm trong tình yêu, quý trọng tình nghĩa và kiên trì, bền bỉ trong đấu tranh cho đến ngày toàn thắng.</div><div>3. Nghệ thuật</div><div>- Thể thơ tự do.</div><div>- Sử dụng chất liệu văn hóa dân gian: ngôn từ, hình ảnh bình dị, dân dã, giàu sức gợi</div><div>- Giọng thơ thủ thỉ, tâm tình, biến đổi linh hoạt</div><div>- Sức truyền cảm lớn từ sự hòa quyện của chất chính luận và chất trữ tình.</div><div>4. Chủ đề</div><div>Bằng sự vận dụng đầy sáng tạo hình thức thơ trữ tình- chính trị, đoạn trích Đất Nước đã quy tụ mọi cảm nhận, mọi cái nhìn và vốn liếng sách vở cũng như những trải nghiệm cá nhân của người nghệ sĩ để làm nên một tuyên ngôn về tư tưởng, về nhận thức của cả một thế hệ nghệ sĩ, ấy là tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân”</div><div>Nhận xét về cách sử dụng chất liệu văn hoá dân gian của tác giả (ca dao, tục ngữ, truyền thuyết, phong tục…), từ đó tìm hiểu những đóng góp riêng của nhà thơ về nghệ thuật biểu đạt.</div><div>- Chất liệu văn hóa dân gian được sử dụng rất đa dạng và sáng tạo. Có phong tục, lối sống, tập quán sinh hoạt, (miếng trầu, tóc bới sau đầu, cái kèo, cái cột. hạt gạo xay, giã, dần sàng, hòn than, con cúi…); Có ca dao, dân ca, tục ngữ, có truyền thuyết Hùng Vương, các truyện cổ tích từ xa xưa. Cách vận dụng của tác giả là thường là chỉ gợi ra bằng một vài chữ của câu ca dao hay một hình ảnh, một chi tiết trong truyền thuyết. cổ tích, trừ trường hợp câu dân ca Bình- Trị- Thiên được lấy lại nguyên vẹn “Con chim phượng hoàng … biển khơi”.</div><div>- Chất liệu văn hóa, văn học dân gian được sử dụng đậm đặc đã tạo nên một không gian nghệ thuật riêng cho đoạn trích: vừa bình dị, gần gũi, hiện thực, lại vừa giàu tưởng tượng, vừa bay bổng, mơ mộng.</div><div><br><br>NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ (NGUYỄN TUÂN)</div><div>1.Hoàn cảnh sáng tác</div><div>+ Người lái đò sông Đà là một áng văn trong tập tùy bút Sông Đà (1960) – thành quả nghệ thuật đẹp đẽ của Nguyễn Tuân trong chuyến đi gian khổ và hào hùng tới miền Tây Bắc rộng lớn của Tổ quốc. Sông Đà gồm 15 thiên tùy bút và một bài thơ ở dạng phác thảo.</div><div>+ Mục đích chính của chuyến đi tới Tây Bắc của nhà văn đồng thời cũng là cảm hứng chủ đạo của cả tập bút ký là tìm kiếm chất vàng của thiên nhiên Tây Bắc và nhất là chất vàng mười – “thứ vàng đã được thử lửa” ở tâm hồn những con người lao động, chiến đấu trên miền núi sông hùng vĩ và thơ mộng.</div><div>2. Vẻ đẹp hung bạo và trữ tình của hình tượng con sông Đà</div><div>* Vẻ hung bạo, dữ dằn :</div><div>- Cảnh đá bờ sông “dựng vách thành”, có quãng lòng sông bị thắt hẹp lại như cái yết hầu.</div><div>- Những quãng dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm…</div><div>- Những “hút nước” chết người luôn sẵn sàng nhấn chìm và đập tan chiếc thuyền nào lọt vào.</div><div>- Tiếng nước thác sông Đà với nhiều cung bậc dữ dội khác nhau</div><div>- Quãng sông Đà với bao đá nổi, đá chìm, phối hợp cùng sóng thác như dàn thạch trận, lập nhiều phòng tuyến… sẵn sàng “ăn chết” con thuyền và người lái đò.</div><div>* Vẻ trữ tình, thơ mộng :&nbsp;</div><div>- Từ trên cao nhìn xuống, dòng chảy uốn lượn của con sông như mái tóc của người thiếu nữ diễm kiều.</div><div>- Nhìn ngắm con sông từ nhiều thời gian, không gian khác nhau, Nguyễn Tuân đó phát hiện những sắc màu tươi đẹp và đa dạng của màu nước sông Đà. Nó biến đổi theo mùa, mỗi mùa có một vẻ đẹp riêng.</div><div>- “Nhìn sông Đà như một cố nhân”, nhà văn cảm nhận rõ nét cái chất “đằm đằm ấm ấm” thân quen của con sông và nhất là cái chất thơ như ngấm vào trong từng cảnh sắc thiên nhiên sông Đà.</div><div>- Từ điểm nhìn của một khách hải hồ trên dòng sông, nhà văn đó quan sát và khắc họa những vẻ đẹp hết sức đa dạng và nên thơ của cảnh vật ven sông.</div><div>3.Hình tượng người lái đò</div><div>- Là người tinh thạo trong nghề nghiệp</div><div>+ Ông lão nắm vững qui luật khắc nghiệt của dòng thác sông Đà “Nắm chắc quy luật của thần sông thần đá”.</div><div>+ Ông thuộc lòng những đặc điểm địa hình của Sông Đà “ nhớ tỉ mỉ như đóng đanh vào tất cả các luồng nước của tất cả những con thác hiểm trở”, Sông Đà “như một thiên anh hùng ca mà ông đò thuộc đến cả những cái chấm than, chấm câu và những đoạn xuống dòng”.</div><div>- Là người trí dũng tuyệt vời:Ông sẵn sàng đối mặt với thác dữ, chinh phục “cửa tử”, “cửa sinh”, vượt qua trận thuỷ chiến với đá chìm, đá nổi, với những trùng vi thạch trận và phòng tuyến đầy nguy hiểm. Ông lái đò vượt qua bằng những hành động táo bạo và chuẩn xác. Ông hiện lên như một vị chủ huy dày dạn kinh nghiệm:</div><div>+ Ở trùng vây thứ nhất:thần sông dàn ra năm cửa đá thì có đến bốn cửa tử, cửa sinh duy nhất nằm sát bờ trái và huy độg hết sức mạnh của sóng thác đánh vỗ mặt con thuyền. Luồng song hung tợn “liều mạng vào sát nách mà đá trái, mà thúc gối vào bụng và hông thuyền”. Thậm chí còn đánh đòn tỉa, đánh đòn âm… nhưng người lái đò bình tĩnh giữ chắc mái chèo giúp con thuyền “khỏi bị hất khỏi bờm song trận địa phóng thẳng vào mình”. Ngay cả lúc bị trúng đòn hiểm, mặt méo bệch đi nhưng ông vẫn tỉnh táo chỉ huy con thuyền lướt đúng vào luồng sinh.</div><div>+ Ở trùng vây thứ 2, dòng sông đã thay đổi sơ đồ phục kích và cả chiến thuật. Vòng vây thứ 2 này tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào. Cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn. Nhưng ông đò đã “nắm chắc quy luật của thần sông thần đá” nên lập tức cũng thay đổi chiến thuật theo, nhận ra cạm bẫy của bọn thuỷ quân nơi cửa ải nước này. Ông không né tránh mà đưa con thuyền cưỡi lên sóng thác”“cưỡi lên thác Sông Đà, phải cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ”. “Nắm chắc được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chéo vào cửa đá ấy”. Người lái đò tả xung, hữu đột như một chiến tướng dày dạn kinh nghiệm trận mạc có thừa lòng quả cảm đã đưa được con thuyền vượt qua tập đoàn cửa tử khiến cho những bộ mặt đá hung hăng dữ tợn phải xanh lè, thất vọng.</div><div>+ Ở trùng vây thứ 3, thạch trận ít cửa tử hơn những bên phải bên trái đều là luồng chết cả, cửa sinh lại nằm giữa lòng sông và bọn đá hậu vệ canh giữ. Nhưng ông đò không hề bất ngờ trước mưu mô hiểm độc của bọn chúng, tiếp tục chỉ huy con thuyền vượt qua trùng vây thứ 3.</div><div>- Là người tài hoa nghệ sĩ:</div><div>+ Ông đối đầu với ghềnh thác cuồng bạo bằng sự tự tin, ung dung nghệ sĩ. Tay lái linh hoạt, khéo léo, tài hoa như một nghệ sĩ trên sông nước : “ông đò vẫn nhớ mặt bọn này, đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến”, “Vút, vút…thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước”. Dưới bàn tay chèo lái điêu luyện của ông con thuyền đã hoá thành con tuấn mã hiểu ý chủ- khi thì khéo léo né tránh luồng sóng dữ, khi thì phóng thẳng vào cửa đá có 3 tầng cổng “cánh mở, cánh khép”. Con thuyền như bay trong không gian, ông đò luôn nhìn thử thách bằng cái nhìn giản dị mà lãng mạn.</div><div>+ Sau cuộc vượt thác gian nan, ông đò lại có phong thái ung dung của một nghệ sĩ “Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá, nước ống cơm lam và toàn bàn tán về cá anh vũ, cá dầm xanh…”.</div><div>è Đây là hình ảnh về một người lao động mới mang vẻ đẹp khác thường. Người lái đò hiện lên như là vị chỉ huy dày dạn kinh nghiệm, tài trí và luôn có phong thái ung dung pha chút nghệ sĩ. Ông chỉ huy cuộc vượt thác một cách tài tình, khôn ngoan và biết nhìn thử thách đó qua bằng cái nhìn giản dị mà không thiếu vẻ lãng mạn. Hình ảnh ông lái đò cho thấy Nguyễn Tuân đó tìm được nhân vật mới cho mình, những con người đáng trân trọng, đáng ngợi ca, không thuộc tầng lớp thượng lưu đài các một thời vang bóng mà ngay trong quần chúng lao động bình thường xung quanh ta. Qua hình tượng người lái đò sông Đà, nhà văn muốn phát biểu quan niệm : người anh hùng không phải chỉ có trong chiến đấu mà còn có trong cuộc sống lao động thường ngày.</div><div>- Đoạn văn tả trận thủy chiến, tập trung khắc họa hình tượng ông lái đò một lần nữa cho thấy sự uyên bác, lịch lãm của Nguyễn Tuân. ở đây có tri thức, có ngôn ngữ sống động của quân sự, thể thao, võ thuật, điện ảnh…</div><div>4. Nghệ thuật</div><div>- Những ví von, so sánh, liên tưởng, tưởng tượng độc đáo, bất ngờ và rất thú vị của tác giả.</div><div>- Ngôn ngữ đa dạng, sống động, giàu hình ảnh và có sức gợi cảm cao.</div><div>- Câu văn có nhịp điệu, lúc thì hối hả, mau lẹ, khi thì chậm rãi, như tãi ra để diễn tả vẻ đẹp trữ tình rất nên thơ của con sông.</div><div>5. Chủ đề:</div><div>Qua hình tượng sông Đà và người lái đò, Nguyễn Tuân muốn thể hiện niềm yêu mến thiết tha với thiên nhiên đất nước và ngợi ca những con người lao động - chất vàng mười của cuộc sống.<br><br><br>AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG (Hoàng Phủ Ngọc Tường)</div><div>I. KIẾN THỨC CƠ BẢN</div><div>1. Tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường</div><div>- Sinh năm 1937 tại t.p Huế</div><div>- Là một người con của xứ Huế.</div><div>- Là một trong những nhà văn chuyên về bút ký.</div><div>- Văn phong: “Nét đặc sắc … tài hoa” (tr197)</div><div>- Tác phẩm tiêu biểu: (Sgk)</div><div>2. Tác phẩm:</div><div>- Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác: Là bài bút kí đặc sắc, viết tại Huế (1981), in trong tập sách cùng tên</div><div>- Kết cấu: Tác phẩm gồm ba phần</div><div>+ Phần 1: Sông Hương ở thượng nguồn</div><div>+ Phần 2: Sông Hương ở ngoại vi thành phố Huế</div><div>+ Phần 3: Sông Hương giữa lòng thành phố Huế.</div><div>- Vị trí văn bản: chỉ là một đoạn trích trong bài bút kí dài về dòng sông Hương thơ mộng của xứ Huế.</div><div>II. Phân tích:</div><div>1: Ý nghĩa nhan đề “ Ai đã đặt tên cho dòng sông”</div><div>- “Ai đã đặt tên cho dòng sông” Câu hỏi tu từ đặt ra “Với trời, với đất” đưa nhà văn và độc giả về với hành trình lịch sử tìm về cuội nguồn văn hoá dân tộc. Từ đó dòng sông Hương hiện ra trên nhiều phương diện địa lí, lịch sử, văn hoá, thơ ca… Kết thúc tuỳ bút là một huyền thoại rất đẹp, bộc lộ cái tôi trữ tình suy tư: “ Con người ở hai bờ đã nấu nước trăm loài hoa đổ xuống sông, đẻ làn nước thơm tho mãi”. Tác giả gửi gắm vào đấy tất cả ước vọng muốn đem cái đẹp và tiếng thơm để xây đắp văn hoá lịch sử.</div><div>- Nhan đề và kết thúc tác phẩm thể hiện rõ chủ đề và phong cách bút kí của tác giả giàu sức gợi cảm thấm đẫm chất thơ.Qua đó tác giả ca ngợi tính chất sông Hương – con sông gắn bó với lịch sử, văn hoá Huế của dân tộc ta. Tác phẩm thể hiện long yêu mến say mê cảnh vật, văn hoá đất nước. Hình ảnh dòng sông đất nước được thể hiện bằng tài năng của một cây bút giàu chất chí tuệ, chất văn hoá và ngôn ngữ trong sáng, chọn lọc, tinh tế.</div><div>2. Chứng minh vẻ đẹp của sông Hương qua các góc nhìn khác nhau :</div><div>Mở bài: - Ai đã đặt tên cho dòng sông là tác phẩm bút kí kiệt xuất của Hoàng Phủ Ngọc Tường</div><div>-Đoạn trích thể hiện vẻ đẹp, chất thơ từ cảnh sác thiên nhiên của song Hương</div><div>Thân bài:</div><div>* Từ thượng nguồn:</div><div>- Khi qua dãy Trường Sơn hùng vĩ:</div><div>+ Sông Hương là bản tình ca của rừng già; Rầm rộ và mãnh liệt…Dịu dàng và say đắm….</div><div>+ Sông Hương như một cô gái Di-gan phóng khoáng man dại.</div><div>+ Rừng già đã hun đúc cho nó 1 bản tính gan dạ, 1 tâm hồn tự do, phóng khoáng.</div><div>=&gt; Vẻ đẹp của một sức sống trẻ trung, mãnh liệt và hoang dại.</div><div>- Khi ra khỏi rừng già:</div><div>+ Đóng kín phần tâm hồn sâu thẳm của mình ở cửa rừng…</div><div>+ Mang sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hoá xứ sở.</div><div>=&gt; Vẻ đẹp đầy bí ẩn, sâu thẳm của dòng sông.</div><div>Tiểu kết:</div><div>Bằng óc quan sát tinh tế và trí tưởng tượng phong phú, bằng việc sử dụng nghệ thuật so sánh, nhân hoá tài hoa, táo bạo, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã phát hiện và khắc hoạ vẻ đẹp mạnh mẽ, trẻ trung đầy cá tính của dòng sông, gợi lên ở người đọc những liên tưởng kì thú, gợi cảm, đầy sức hấp dẫn.</div><div>* Về châu thổ:</div><div>- Sông Hương trên đường tìm đến Huế:</div><div>+ Chuyển dòng một cách liên tục, uốn mình theo những đường cong thật mềm, như một cuộc tìm kiếm có ý thức.</div><div>+ Vẻ đẹp của dòng sông trở nên biến ảo, đa dạng trong nhiều thời gian và không gian khác nhau (dẫn chứng...). Vẻ đẹp của Huế như trở thành vẻ đẹp của sông Hương.</div><div>=&gt; Sông Hương qua cái nhìn đầy lãng mạn của Hoàng Phủ Ngọc Tường như 1 cô gái dịu dàng mơ mộng đang khao khát đi tìm thành phố tình yêu của nó.</div><div>- Sông Hương gặp gỡ Huế:</div><div>+ Uốn 1 cánh cung rất nhẹ... &gt; Vẻ e lệ, ngượng ngùng khi gặp người trong mong đợi, sự thuận tình mà không nói ra.</div><div>+ Các nhánh sông toả đi khắp thành phố như muốn ôm trọn Huế vào lòng. Sông Hương và Huế hoà lẫn vào nhau.</div><div>+ Sông Hương giảm hẳn lưu tốc, xuôi đi thực chậm (điệu slow)… thực yên tĩnh như niềm say mê, như khát vọng được gắn bó, lưu lại mãi với mảnh đất nơi đây.</div><div>+ Liên tưởng với những dòng sông khác &gt; Niềm tự hào của Hoàng Phủ Ngọc Tường về dòng sông quê hương.</div><div>=&gt; Được nhìn từ góc độ tâm trạng, nên cuộc gặp gỡ của Huế và Sông Hương như cuộc hội ngộ của tình yêu với nhiều cung bậc cảm xúc.</div><div>- Sông Hương tạm biệt Huế để ra đi:</div><div>+ Rời khỏi kinh thành, sông Hương ôm lấy đảo Cồn Huế, lưu luyến ra đi…</div><div>+ Đột ngột rẽ ngoặt lại để gặp thành phố yêu dấu một lần cuối.</div><div>=&gt; Quyến luyến, ngập ngừng, bịn rịn không nỡ rời xa.</div><div>Tiểu kết:</div><div>- Cách tiếp cận đối tượng bằng nhiều ngành nghệ thuật như hội họa, âm nhạc; nghệ thuật nhân hóa, so sánh đầy mới lạ, bất ngờ làm cho sông Hương, xứ Huế trở nên có linh hồn, có sự sống. Đó là cuộc trở về, gặp gỡ của cô gái si tình - sông Hương - đang say đắm trong tình yêu.</div><div>- Nhà văn: Tâm hồn đa cảm, lãng mạn; cách viết tài hoa.</div><div>Vẻ đẹp văn hoá của dòng sông:</div><div>- Dòng sông âm nhạc:</div><div>+ Là người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya.</div><div>+ Là nơi sinh thành ra toàn bộ nền âm nhạc có điểm của Huế.</div><div>+ Là cảm hứng để Nguyễn Du viết lên khúc đàn của nàng Kiều.</div><div>- Dòng sông thi ca:</div><div>+ Là vẻ đẹp mơ màng Dòng sông trắng lá cây xanh trong thơ Tản Đà.</div><div>+ Vẻ đẹp hùng tráng như kiếm dựng trời xanh của Cao Bá Quát.</div><div>+ Là nỗi quan hoài vạn cổ trong thơ bà Huyện Thanh Quan.</div><div>+ Là sức mạnh phục sinh tâm hồn trong thơ Tố Hữu</div><div>=&gt; Sông Hương luôn đem đến nguồn cảm hứng mới mẻ, bất tận cho các nghệ sĩ.</div><div>- Dòng sông gắn với những phong tục, với vẻ đẹp tâm hồn của người dân xứ Huế.</div><div>+ Màn sương khói trên sông Hương là màu áo điền lục, 1 sắc áo cưới của các cô dâu trẻ trong tiết sương giáng.</div><div>+ Vẻ trầm mặc sâu lắng của sông Hương cũng như 1 nét riêng trong vẻ đẹp tâm hồn của người xứ Huế: rất dịu dàng và rất trầm tư…</div><div>Tiểu kết:</div><div>Với kiến thức uyên bác, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã lí giải vẻ đẹp văn hóa phong phú của sông Hương, vẻ đẹp gắn liền với xứ Huế, với con người Huế.</div><div>* Sông Hương với lịch sử hào hùng:</div><div>- Là 1 dòng sông anh hùng:</div><div>•Từ xa xưa: là một dòng sông biên thùy xa xôi của đất nước</div><div>•Thời trung đại:bảo vệ biên giới phiá nam của tổ quốc</div><div>•Thời chống Pháp: sống hết lịch sử bi tráng với các cuộc khởi nghĩa</div><div>•Đi vào thời đại cách mạng tháng 8 với những chiến công rung chuyển.</div><div>•Thời chống Mĩ:</div><div>- Sông Hương cùng với thành phố Huế cũng chịu nhiều đau thương mất mát.</div><div>Tiểu kết:</div><div>- Vừa là bản tình ca dịu dàng, Sông Hương cũng là một bản hùng ca gắn liền với lịch sử oanh liệt của dân tộc.&nbsp;</div><div>Kết bài:</div><div>- Bài kí lột tả được vẻ đẹp đa dạng, phong phú của sông Hương, cũng là của xứ Huế, con người Huế.&nbsp;</div><div>-Tình yêu thiết tha, say đắm của tác giả đối với cảnh và người nơi đây.</div><div>- Phong cách viết kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường: Phóng túng, tài hoa, giàu thông tin văn hoá, địa lí, lịch sử ; giàu chất trữ tình lãng mạn.</div><div>3. Chất trí tuệ và chất thơ của Hoàng Phủ Ngọc Tường.</div><div>* Chất trí tuệ:</div><div>Hoàng Phủ Ngọc Tường vận dụng những am hiểu trong ca dao Huế vào bút kí của mình.</div><div>“ Bốn bề núi phủ mây phong</div><div>Mảnh trăng thiên cổ bóng tùng vạn niên”</div><div>cho đến câu thơ của Tản Đà “ Dòng sông trắng- lá cây xanh”, thơ của Tố Hữu, Cao Bá Quát, Bà Huyện Thanh Quan, Truyện Kiều.</div><div>Những hiểu biết về phương diện địa lí để miêu tả vẻ đẹp của sông Hương từ thượng nguồn, đến đồng bằng, cho đến cố đô Huế.</div><div>Những hiểu biết về lịch sử văn hoá.</div><div>Sự liên tưởng so sánh với các công trình kiến trúc của Hi Lạp, La Mã, nền văn minh Châu Âu.</div><div>Những tác phẩm văn học Châu Âu, những lời nhận xét của các nhà khoa học nước ngoài.</div><div>* Chất thơ:</div><div>- Cách ví von, so sánh đầy chất thơ, mượt mà, ý vị.</div><div>“ Chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời, nhỏ nhắn như những vành trăng non”. Và “ giáp mặt thành phố ở Cồn Giã Viên, sông Hương uốn một cách cung rất nhẹ sang đến Cồn Hiến, đường cong ấy làm cho dòng sông mền hẳn đi như một tiếng vâng không nói ra của tình yêu. Hay “ Sông Hương là vậy, là dòng sông của sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc”.</div><div>Những câu văn có sự mài dũa, đẽo gọt kĩ càng, nhẹ nhàng như một câu thơ</div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-19 11:35:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955406097</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đề cương bài 3 : Lập dàn ý phân tích tác phẩm &quot;Đất Nước&quot;</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955407732</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>I . Mở bài<br></strong><br></div><div><strong>VD:&nbsp; Đất nước, quê hương là mảng đề tài lớn trong thi ca. Đã có rất nhiều tác giả thành công trong việc xây dựng lên một dáng hình đất nước, phác họa sống động một tình cảm lớn lao, thiêng liêng cho quê hương, xứ sở, đó là một đất nước dù trải qua đau thương nhưng vẫn ngời sáng tinh thần đấu tranh trong trang thơ Nguyễn Đình Thi, là một đất nước bình dị nhưng gắn bó yêu thương trong thơ Hoàng Cầm. Cũng viết về chủ đề đất nước quen thuộc ấy, Nguyễn Khoa Điềm trong bài thơ Đất nước đã mang đến những cảm nhận vô cùng mới mẻ về đất nước, nhà thơ đã định nghĩa đất nước bằng những gì bình dị, thân thuộc nhất đối với đời sống con người để từ cái thân thuộc, vô danh nhà thơ đã khái quát lên một đất nước hữu hình, đẹp đẽ mà thiêng liêng nhất</strong>.<br><br></div><div><strong>II. Thân bài</strong></div><div><strong>1.</strong> Đất nước được cảm nhận từ phương diện lịch sử, văn hóa, chiều sâu của không gian, chiều dài của thời gian</div><div><strong>a.</strong> Đất nước có từ bao giờ? (lí giải cội nguồn của đất nước) (9 câu đầu)</div><div>- Tác giả khẳng định một điều tất yếu: “Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi”, điều này thôi thúc mỗi con người muốn tìm đến nguồn cội đất nước.</div><div>- Đất nước bắt nguồn từ những diều bình dị, gần gũi trong đời sống của người Việt Nam từ xa xưa: “ngày xửa ngày xưa” gợi nhớ đến câu mở đầu các câu chuyện dân gian, “miếng trầu” gợi nhớ tục ăn trầu của người Việt và truyện cổ tích trầu cau, “Tóc mẹ thì bới sau đầu”: thói quen búi tóc của những người phụ nữ Việt Nam, “Thương hau bằng gừng cay muối mặn” thói quen tâm lí, truyền thống yêu thương của dân tộc.</div><div>&nbsp;- Đất nước trưởng thành cùng quá trình lao động sản xuất “cái kèo cái cột thành tên”, “một nắng hai sương”, quá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm.</div><div>- Nhận xét: Tác giả có cái nhìn mới mẻ về cội nguồn đất nước, đất nước bắt nguồn từ chiều sâu văn hóa, văn học, lịch sử và truyền thống dân tộc.</div><div><strong>b.</strong> Định nghĩa về đất nước (28 câu thơ tiếp theo)</div><div>- Về phương diện không gian địa lí:</div><div>+ Tác giả tách riêng hai yếu tố “đất” và “nước” để suy tư một cách sâu sắc.</div><div>+ Đất nước là không gian riêng tư quen thuộc gắn với không gian sinh hoạt của mỗi con người: “nơi anh đến trường”, “nơi em tắm”; gắn với kỉ niệm tình yêu lứa đôi: “nơi em đánh rơi ... thương thầm”.</div><div>+ Đất nước là không gian bao la trù phú, không gian sinh tồn của cộng đồng qua bao thế hệ: “Đất là nơi con chim phượng hoàng ... dân mình đoàn tụ”.</div><div>- Nhìn đất nước được nhìn xuyên suốt chiều dài lịch sử từ quá khứ, hiện tại đến tương lai:</div><div>+ Trong quá khứ đất nước là nơi thiêng liêng, gắn với truyền thuyết, huyền thoại: “Đất là nơi chim về ... trong bọc trứng”</div><div>+ Trong hiện tại: đất nước có trong tấm lòng mỗi con người, mỗi người đều thừa hưởng những giá trị của đất nước, khi có sự gắn kết giữa mỗi người đất nước sẽ nồng thắm, hài hòa, lớn lao. Đó là sự gắn kết giữa cái riêng và cái chung.</div><div>&nbsp;+ Trong tương lai: thế hệ trẻ sẽ “mang đất nước đi xa” “đến những ngày mơ mộng”, đất nước sẽ trường tồn, bền vững.</div><div>- Suy tư về trách nhiệm của mỗi cá nhân với đất nước: “Phải biết gắn bó và san sẻ”, đóng góp, hi sinh để góp phần dựng xây đất nước.</div><div>- Nhận xét: qua cái nhìn toàn diện của nhà thơ, đất nước hiện lên vừa gần gũi, thân thuộc lại vừa thiêng liêng, hào hùng và trường tồn đến muôn đời sau.</div><div><strong>2.</strong> Tư tưởng cốt lõi, cảm nhận về đất nước: đất nước của nhân dân</div><div>- Thiên nhiên địa lí của đất nước không chỉ là sản phẩm của tạo hóa mà được hình thành từ phẩm chất và số phận của mỗi người, là một phần máu thịt, tâm hồn con người:</div><div>+ Nhờ tình nghĩa yêu thương, thủy chung mà có “hòn Vọng Phu”, “hòn Trống Mái”</div><div>+ Nhờ tinh thần bất khuất, anh hùng trong quá trình dựng nước và giữ nước mà có những ao đầm, di tích lịch sử về quá trình dựng nước.</div><div>+ Nhờ truyền thống hiếu học mà có những “núi Bút non Nghiên”</div><div>- Nhân dân làm nên lịch sử 4000 năm:</div><div>+ Họ là những người con trai, con gái bình dị nhưng luôn thường trực tình yêu nước.</div><div>+ Tác giả nhấn mạnh đến những con người vô danh làm nên lịch sử, khẳng định vai trò của mỗi cá nhân với lịch sử dân tộc.</div><div>- Nhân dân tạo ra và giữ gìn những giá trị vật chất, tinh thần cho đất nước: văn hóa: “truyền hạt lúa”, “truyền lửa”, “truyền giọng nói”, “gánh theo tên xã, tên làng”, ... từ đó xây dựng nền móng phát triển đất nước lâu bền.</div><div>- Tư tưởng cốt lõi, cảm hứng bao trùm cả đoạn trích: “đất nước này là đất nước của nhân dân đất nước của ca dao thần thoại”, đất nước ấy thể hiện qua tâm hồn con người: biết yêu thương, biết quý trọng trọng tình nghĩa, công sức và biết chiến đấu vì đất nước.</div><div>&nbsp;- Nhận xét:</div><div>+ Về nội dung: đoạn trích “Đất nước” đã thể hiện cái nhìn mới mẻ về đất nước trên nhiều bình diện: văn hóa, lịch sử, địa lí dựa trên tư tưởng cốt lõi: “đất nước của nhân dân”.</div><div>+ Về nghệ thuật: sử dụng đa dạng và sáng tạo chất liệu văn hóa dân gian, ngôn ngữ giàu chất suy tư, triết luận sâu sắc.</div><div><strong>III. Kết bài</strong></div><div>- Khẳng định lại giá trị của đoạn trích: đoạn trích đã nhấn mạnh tư tưởng “đất nước của nhân dân”, thể hiện tinh thần yêu nước của tác giả, đánh thức tinh thần yêu nước trong mỗi con người.</div><div>- Nêu cảm nhận riêng về đoạn trích đất nước và có liên hệ thực tiễn đến trách nhiệm của thế hệ hôm nay với đất nước.</div><div>&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-19 11:37:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955407732</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đề cương bài 4 : dàn ý phân tích tác phẩm &quot; Người lái đò Sông Đà&quot;</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955410391</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>I. Mở bài<br></strong><br></div><div>Giới thiệu tác giả Nguyễn Tuân và tác phẩm Người lái đò sông Đà. (Nguyễn Tuân là một tác giả lớn có nhiều đóng góp quan trọng cho nền văn học của Việt Nam).<br><br></div><div><strong>II. Thân bài<br></strong><br></div><div><strong><em>1. Hình tượng con sông Đà<br></em></strong><br></div><div><em>a. Con sông Đà hung bạo<br></em><br></div><div>– Cảnh vách đá hai bên sông dựng đứng như vách thành và ở quãng sông hẹp:<br><br></div><ul><li>Có vách đá chẹt dòng sông Đà như một cái yết hầu.</li><li>Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách. Có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bên bờ này sang bên kia.</li><li>Mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời.</li></ul><div>→ Tác giả sử dụng nhiều giác quan (thị giác, xúc giác) để cảm nhận.<br><br></div><div>– Cảnh ở quãng mặt ghềnh Hát Loóng:<br><br></div><ul><li>Dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò sông Đà…</li><li>Quãng này mà khinh suất tay lái thì cũng dễ lật ngửa bụng thuyền ra.</li></ul><div>→ Sử dụng nhiều câu văn ngắn, điệp từ, điệp cấu trúc gợi lên nhịp chuyển động gấp gáp của sóng gió đang phối hợp với nhau, tạo thêm nét hung bạo của sông Đà.<br><br></div><div>– Cảnh ở quãng Tà Mường Vát:<br><br></div><ul><li>Trên sông bỗng có những cái hút nước giống như cái giếng bê tông thả xuống dòng sông để chuẩn bị làm móng cầu.</li><li>Nước ở đây thở và kêu như cái cửa cống bị sặc… những cái giếng sâu nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào.</li><li>Nhiều thuyền bè gỗ đi nghênh ngang vô ý là những cái giếng hút nước ấy nó lôi tụt xuống.</li></ul><div>→ Sử dụng các biện pháp so sánh, liên tưởng, nhân hóa độc đáo gợi lên cảm giác về những mối nguy hiểm của sông Đà.<br><br></div><div>– Cuộc thủy chiến giữa con sông Đà và người lái đò:<br><br></div><ul><li>Một thứ thiên nhiên Tây Bắc có nhiều lúc trông nó thành ra diện mạo và tâm địa một thứ kẻ thù số một.</li><li>Tiếng nước nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo…rống lên như tiếng của một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng.</li><li>Sông Đà đã giao việc cho mỗi hòn, nó bày thạch trận trên sông: Đám tảng đám hòn, chia làm ba hàng chặng ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền. Hàng tiền vệ, có hai hòn canh một cửa đá trông như là sơ hở, nhưng chính hai đứa giữ vai trò dụ cái thuyền đối phương đi vào sâu nữa,….</li><li>Phối hợp với đá, nước thác reo hò làm thanh viện cho đá, những hòn đá bệ vệ oai phong, lẫm liệt, thách thức chiếc thuyền.</li><li>Nước bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng ông lái đò lật ngửa mình ra giữa trận nước vang trời thanh la não bạt.</li><li>Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá…</li></ul><div>→ Sử dụng các biện pháp so sánh, nhân hóa, đầy sáng tạo để khắc họa sự hung bạo, dữ dằn trong trận thủy chiến gay go, quyết liệt.<br><br></div><div>Sông Đà hiện lên qua ngòi bút của Nguyễn Tuân không phải là con sông vô tri, vô giác mà là một sinh thể có hoạt động, có tính cách, cá tính, có tâm trạng, không chỉ hung hãn mà nó còn rất xảo huyệt, mưu ma để lừa người lá đò vào thế trận đã bày sẵn và hướng người ta vào cửa tử.<br><br></div><div><br></div><div>Hình tượng con sông Đà hiện lên thật kì vĩ, hiểm trở, dữ dội và rất hung bạo… Sông Đà biểu tượng cho sức mạnh dữ dội và vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên núi rừng Tây Bắc.<br><br></div><div><em>b. Vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình<br></em><br></div><div>Từ trên tàu bay nhìn xuống “con sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo”<br><br></div><div>“Mùa xuân xanh màu ngọc bích”, khác với sông Gâm, sông Lô “màu xanh canh hến”. Mùa thu nước sông “lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa”<br><br></div><div>→ Sông Đà mỗi mùa mang một vẻ đẹp riêng, quyến rũ và tình tứ.<br><br></div><div><br></div><div>Nguyễn Tuân nhìn sông Đà như một cố nhân với những cảnh quan hai bên bờ cực kì gợi cảm: lá non nhú trên những nương ngô, những con hươu “ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương” Dòng sông Đà như gợi những nỗi niềm sâu thẳm trong lịch sử đất Việt: Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như nỗi niềm cổ tích xưa.<br><br></div><div>→ Nguyễn Tuân say mê miêu tả dòng sông với tất cả sự tinh tế của cảm xúc, và bằng một tình yêu thiết tha. Lòng ngưỡng mộ, trân trọng, nâng niu tự hào về một dòng sông đã tạo nên những trang văn đẹp hiếm có.<br><br></div><div><strong><em>2. Hình ảnh người lái đò<br></em></strong><br></div><div>– Về lai lịch: một ông lão gần 70 tuổi, làm nghề lái đò nhiều năm.<br><br></div><div>– Ngoại hình: “tay lêu nghêu … chất mun” để ngợi ca những con người vô danh âm thầm cống hiến.<br><br></div><div><br></div><div>-Công việc: lái đò trên sông Đà, hằng ngày đối diện với con thủy quái hung bạo..<br><br></div><div>-Tài năng và tâm hồn:<br><br></div><ul><li>Là người từng trải, hiểu biết và thành thạo trong nghề lái đò: “trên sông Đà ông xuôi ngược hơn một trăm lần”, “nhớ tỉ mỉ… những luồng nước”…</li><li>Là người mưu trí dũng cảm, bản lĩnh và tài ba: ung dung đối đầu với thác dữ “nén đau giữ mái chèo, tỉnh táo chỉ huy bạn chèo…”, “nắm chắc binh pháp của thần sông thần núi”, động tác điêu luyện “cưỡi đúng ngay trên bờm sóng, phóng thẳng thuyền vào giữa thác…”</li><li>Là người nghệ sĩ tài hoa: ưa những khúc sông nhiều ghềnh thác, không thích lái đò trên khúc sông bằng phẳng, coi việc chiến thắng “con thủy quái” là chuyện thường.</li></ul><div><strong>III. Kết bài<br></strong><br></div><div>Khẳng định lại giá trị của tác phẩm.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-19 11:42:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955410391</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đề cương bài 5 : đàn ý phân tích tác phẩm &quot; Ai đã đặt tên cho dòng sông&quot;</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955411937</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>I. Mở bài:</strong></div><div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;H.P.N.T là một trong những cây bút kí tiêu biểu của VHVN hiện đại. Với thể loại kí, H.P.N.T thể hiện trên từng trang văn vốn kiến thức uyên bác và cách viết tài hoa.</div><div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;"Ai đã đặt tên cho dòng sông?" là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách kí của H.P.N.T. Tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp của sông Hương, thiên nhiên và con người xứ Huế với những trang văn "vừa giàu chất trí tuệ, vừa giàu chất thơ, nội dung thông tin về văn hóa lịch sử rất phong phú".</div><div><strong>II. Thân bài:</strong></div><div><strong>1. Hoàn cảnh sáng tác</strong></div><div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;"Ai đã đặt tên cho dòng sông?" rút từ tập bút kí cùng tên, được xuất bản năm 1984. Tập bút kí gồm tám bài viết về nhiều đề tài. Có những bài đậm chất sử thi với cảm hứng anh hùng, ca ngợi đất nước, con người VN. Có những bài thiên về miêu tả thiên nhiên, qua đó nhà văn bộc lộ lòng gắn bó với quê hương đất nước và niềm tự hào về truyền thống, văn hóa, lịch sử của dân tộc. Đặc biệt là những bài viết về Huế.</div><div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Trong số những bút kí đó, "Ai đã đặt tên cho dòng sông?" là bài kí độc đáo về sông Hương. Dòng sông khơi gợi cảm hứng cho thơ ca, nhạc họa đã được H.P.N.T cảm nhận từ nhiều góc nhìn, đặc biệt là góc nhìn tâm linh, mang những nét riêng của "văn hóa Phú Xuân".</div><div><strong>2. Phân tích:</strong></div><div>a. Chất trí tuệ của một cái tôi uyên bác: Viết về sông Hương, H.P.N.T thể hiện một sự hiểu biết sâu rộng về mọi mặt: văn hóa, lịch sử, địa lí, văn học nghệ thuật... Nhà văn đã cung cấp cho người đọc một lượng thông tin đa dạng để hiểu sâu hơn về dòng sông Hương và thiên nhiên, con người Huế.</div><div>* Vẻ đẹp của sông Hương từ góc nhìn địa lí:</div><div>- Hành trình của dòng sông: với câu hỏi gợi tìm "Ai đã đặt tên cho dòng sông?", bằng những bước chân rong ruổi, H.P.N.T đã tìm về cội nguồn và dòng chảy của sông Hương:</div><div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Ở thượng nguồn sông Hương mang vẻ đẹp hùng vĩ: chảy "rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, cuộn xoáy như con lốc vào những đáy vực bí ẩn..."; "phóng khoáng và man dại"</div><div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Ra khỏi đại ngàn, sông Hương chuyển dòng, giấu kín cuộc hành trình gian truân giữa lòng Trường Sơn, "ném chìa khóa trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng" -&gt; Vẻ đẹp dữ dội, hùng vĩ của sông Hương giữa rừng già ít ai biết đến.</div><div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Chảy qua vùng rừng núi, sông Hương trở nên dịu dàng, "uốn mình theo những đường cong thật mềm". "Dòng sông mềm như tấm lụa", êm đềm trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách, chảy qua những lăng tẩm đồ sộ, chảy qua chùa Thiên Mụ và "những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà" .</div><div>-&gt; Sông Hương trở thành "người mẹ phù sa" mang vẻ đẹp "dịu dàng và trí tuệ".</div><div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Giữa lòng thành phố Huế, dòng sông trở nên tĩnh lặng, trôi thật chậm, in bóng cầu Tràng Tiền xa trông nhỏ nhắn như "những vành trăng non".</div><div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Xuôi về Cồn Hến "quanh năm mơ màng trong sương khói", hòa với màu xanh của thôn Vĩ Dạ, sông Hương mang vẻ đẹp huyền ảo, mơ màng. Và thật bất ngờ, trước khi rời khỏi kinh thành Huế, sông Hương "đột ngột rẽ dòng... để gặp lại thành phố lần cuối". Nhà văn dùng biện pháp nhân hóa để nội tâm hóa hình dáng của dòng sông: "Đó là nỗi vương vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu" -&gt; Biện pháp nhân hóa đã giúp tác giả thổi hồn vào dòng sông và hơn thế nữa là một phương thức để nhà văn kết nối sông Hương với con người và văn hóa của mảnh đất Châu Hóa xưa và Huế ngày nay.</div><div>- Sông Hương và thiên nhiên Huế: Lần theo dòng chảy của sông Hương, ta bắt gặp những bức tranh thiên nhiên đẹp mượt mà:</div><div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Thiên nhiên Huế được nhà văn tái hiện với vẻ đẹp đa dạng trong thời gian và không gian. Sông Hương phản quang vẻ đẹp biến ảo của Huế "sớm xanh, trưa vàng, chiều tím". Gắn liền với dòng sông, những địa danh quen thuộc: Hòn Chén, Nguyệt Biều, Vọng Cảnh, Thiên Thai dường như sống động hơn: "sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn", "sắc nước trở nên xanh thẳm"...-&gt; Sông Hương tôn tạo vẻ đẹp cho cảnh sắc thiên nhiên Huế và ngược lại dòng sông cũng hun đúc mọi sắc trời, văn hóa của vùng đất cố đô.</div><div>- Sông Hương và con người Huế:</div><div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Thiên nhiên và dòng sông luôn gắn bó, gần gũi với con người. Qua điệu chảy của dòng sông nhà văn thấy được tính cách con người xứ Huế: mềm mại, chí tình, "mãi mãi chung tình với quê hương xứ xở".</div><div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Qua màu sắc của trời Huế, màu sương khói trên sông Hương nhà văn thấy cách trang phục trang nhã, dịu dàng của các cô gái Huế xưa "sắc áo cưới màu điều – lục các cô dâu trẻ vẫn mặc sau tiết sương giáng"</div><div>* Vẻ đẹp của sông Hương từ góc nhìn lịch sử:</div><div>- Từ góc nhìn lịch sử, sông Hương không còn là cô gái "Di – gan man dại", không còn là "người đẹp ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa" mà trở thành chứng nhân của những biến thiên lịch sử. Nhà văn ví sông Hương như "sử thi viết giữa màu xanh cỏ lá xanh biếc" -&gt; Sự hòa quyện giữa chất hùng tráng và trữ tình. Sông Hương là một bản anh hùng ca, đồng thời giữa đời thường sông Hương là một bản tình ca "Còn non, còn nước, còn dài – Còn về, còn nhớ...".</div><div>- H.P.N.T đã nhìn thấy từ dòng sông những dấu tích lịch sử; từng nhánh rẽ của dòng sông, đến "những cây đa, cây cừa cổ thụ" cũng hàm ẩn một phần lịch sử:</div><div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Nhà văn đã ngược về quá khứ để khẳng định vai trò của dòng sông Hương trong lịch sử dân tộc. Từ thời đại các Vua Hùng, sông Hương là "dòng sông biên thùy xa xôi". Trong những thế kỉ trung đại, với tên gọi Linh Giang, nó đã "oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam của Tổ quốc Đại Việt". Sông Hương gắn liền với những chiến công Nguyễn Huệ. Sông Hương đẫm máu những cuộc khởi nghĩa TK XIX. Sông Hương gắn liền với cuộc CMT8 với những chiến công rung chuyển. Và sông Hương cùng những di sản văn hóa Huế oằn mình dưới sự tàn phá của bom Mỹ... -&gt; Chất trữ tình của tùy bút giảm đi, nhường chỗ cho chất phóng sự với những sự kiện lịch sử cụ thể.</div><div>=&gt; Quay về quá khứ xa xưa, ngòi bút nhà văn lấp lánh niềm tự hào về lịch sử một dòng sông có cái tên mềm mại, dịu dàng nhưng kiên cường, kiêu hãnh qua thăng trầm lịch sử.</div><div>* Vẻ đẹp của sông Hương từ góc nhìn văn hóa:</div><div>Trong cảm nhận tinh tế của nhà văn, sông Hương còn hàm chứa trong bản thân nó nền văn hóa phi vật chất.</div><div>- Sông Hương - dòng sông âm nhạc:</div><div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Từ âm thanh của dòng sông (tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga, tiếng mái chèo khua sóng đêm khuya, tiếng nước vỗ vào mạn thuyền...) đã hình thành những làn điệu hò dân gian và nền âm nhạc cổ điển Huế. Và rồi cũng chính trên dòng sông ấy, những câu hò Huế vút lên, mênh mang, xao xuyến...</div><div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Viết về sông Hương, nhiều lần nhà văn đã liên tưởng đến "Truyện Kiều" của Nguyễn Du. Đại thi hào đã từng có thời gian sống ở Huế, những trang Kiều ra đời từ mảnh đất có truyền thống nhã nhạc cung đình. Đó là cơ sở để H.P.N.T hóa thân vào một nghệ nhân già, nghe những câu thơ tả tiếng đàn của nàng Kiều, chợt nhận ra âm hưởng của âm nhạc cung đình và bật thốt lên: "Đó chính là Tứ đại cảnh" -&gt; Bóng dáng Nguyễn Du và những trang Kiều nhiều lần xuất hiện trong bài kí bộc lộ một khả năng liên tưởng phong phú, một vốn văn hóa sâu rộng và sự gắn kết với truyền thống, một sự đồng điệu tâm hồn nhà văn.</div><div>- Sông Hương - dòng sông thi ca:</div><div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;H.P.N.T đã làm sống dậy những vần thơ biếc xanh của Tản Đà về xứ Huế: "Dòng sông trắng – Lá cây xanh". Hình ảnh thơ này cùng với câu chữ của tác giả "màu cỏ lá xanh biếc" là minh chứng cho sự tương giao của những tâm hồn nghệ sĩ nhạy cảm với sắc biếc của thiên nhiên Huế.</div><div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Nhà văn cũng làm sống dậy một sông Hương hùng tráng bất tử "như kiếm dựng trời xanh" trong thơ Cao Bá Quát, một sông Hương "nỗi quan hoài vạn cổ" trong thơ Bà Huyện Thanh Quan...</div><div>=&gt; Bằng vốn kiến văn phong phú, H.P.N.T đã lay động linh hồn của con sông mà tên gọi của nó đã đi vào văn chương nghệ thuật mà theo tác giả "Dòng sông ấy không bao giờ tự lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ"</div><div>b. Chất thơ của một ngòi bút tài hoa:</div><div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Chất thơ toát ra từ những hình ảnh đẹp, từ độ nhòe mờ của hình tượng nghệ thuật: "những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà", "lập lòe trong đêm sương những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mô tê xưa cũ..." ; qua cách so sánh liên tưởng gợi cảm: "Chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời nhỏ nhắn như những vầng trăng non".</div><div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Chất thơ còn lấp lánh ở cách H.P.N.T điểm xuyết ca dao, lời thơ Tản Đà, Cao Bá Quát, Bà Huyện Thanh Quan.</div><div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Chất thơ còn tỏa ra từ nhan đề bài kí gợi mãi những âm vang trầm lắng của dòng sông: "Ai đã đặt tên cho dòng sông?"</div><div><strong>III. Kết bài:</strong></div><div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Chất trí tuệ và chất thơ kết hợp hài hòa trong tác phẩm của H.P.N.T tạo nên phong cách đặc sắc của nhà văn này.</div><div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;"Ai đã đặt tên cho dòng sông?" không chỉ là một trong những tác phẩm hay nhất viết về sông Hương mà còn là bút kí đặc sắc vào bậc nhất của VHVN hiện đại.</div><div>&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-19 11:44:31 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955411937</guid>
      </item>
      <item>
         <title>đề cương văn học kì 1 </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955537693</link>
         <description><![CDATA[<div>Tuyên ngôn độc lập</div><div><em>(HỒ CHÍ MINH)</em></div><div><strong>I. Tác giả:&nbsp;</strong></div><div><strong>1. Quan điểm sáng tác văn học:&nbsp;</strong></div><div>- Hồ Chí Minh coi văn học - nghệ thuật là vũ khí chiến đấu lợi hại phụng sự cho sự nghiệp cách mạng.</div><div>- Hồ Chí Minh luôn chú trọng tính chân thật và tính dân tộc của văn chương. Người coi tính chân thật như một thước đo giá trị của văn chương nghệ thuật, miêu tả “cho hay” cho hùng hồn hiện thực đời sống.. Người nhắc nhở người nghệ sĩ “Nên chú ý phát huy cốt cách dân tộc và đề cao sự sáng tạo, chớ gò bó họ vào khuôn làm mất vẻ sáng tạo”, viết cho dễ hiểu, cho “sâu sắc”, “có cốt cách dân tộc” thì quần chúng mới thích đọc</div><div>- Khi cầm bút, Hồ Chí Minh bao giờ cũng xuất phát từ mục đích, đối tượng tiếp nhận để quyết định nội dung và hình thức của tác phẩm văn học. Người luôn tự đặt câu hỏi : “Viết cho ai?”(đối tượng) “Viết để làm gì ?”( mục đích). Sau đó mới quyết định “Viết cái gì ?”(nội dung) và viết “Như thế nào” (hình thức). Vì thế các sáng tác của Người chẳng những có tư tưởng sâu sắc nội dung thiết thực mà còn có hình thức nghệ thuật sinh động, phong phú.</div><div><strong>2. Phong cách nghệ thuật:</strong> Phong cách nghệ thuật HCM độc đáo, đa dạng:</div><div>- Văn chính luận: bộc lộ tư duy sắc sảo, giàu tri thức văn hoá, gắn lí luận với thực tiễn.</div><div>- Truyện kí rất chủ động và sáng tạo. lối kể chân thực, tạo không khí gần gũi,có khi giọng điệu châm biếm, sắc sảo, thâm thuý và tinh tế. Truyện ngắn của Người rất giàu chất trí tuệ và tính hiện đại.</div><div>- Thơ ca có phong cách đa dạng: nhiều bài cổ thi hàm súc, uyên thâm đạt chuẩn mực cao về nghệ thuật, có những bài là lời kêu gọi ... dễ hiểu.</div><div>*Nét chung: ngắn gọn, trong sáng, giản dị, sử dụng linh hoạt các thủ pháp và bút pháp nghệ thuật khác nhau nhằm đạt hiệu quả cao nhất.</div><div><strong>II. Tác phẩm: </strong><a href="https://doctailieu.com/tuyen-ngon-doc-lap-ho-chi-minh-c5621">Tuyên ngôn độc lập</a></div><div><strong>1. Nội dung&nbsp;</strong></div><div><strong><em>a. Nêu nguyên lí chung về quyền bình đẳng, tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của con người và các dân tộc.&nbsp;</em></strong></div><div>- Trích dẫn hai bản tuyên ngôn của Mĩ, Pháp (“Tuyên ngôn độc lập” (1776) của Mỹ và “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền” (1791) của Pháp. Hai bản Tuyên ngôn này khẳng định tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc) nhằm đề cao những giá trị của tư tưởng nhân đạo và văn minh nhân loại, tạo tiền đề cho những lập luận tiếp theo.</div><div><br></div><div>- Từ quyền bình đẳng, tự do của con người, Hồ Chí Minh suy rộng ra về quyền bình đẳng, tự do của các dân tộc. Đây là một đóng góp riêng của Người vào lịch sử tư tưởng nhân loại.</div><div><strong><em>b. Tố cáo tội ác của thực dân Pháp:&nbsp;</em></strong></div><div>+ Thực dân Pháp đã phản bội và chà đạp lên chính nguyên lí mà tổ tiên họ xây dựng: “lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta”</div><div>+ Vạch trần bản chất xảo quyệt, tàn bạo, man rợ của thực dân Pháp bằng những lí lẽ và sự thật lịch sử không thể chối cãi. Đó là những tội ác về chính trị, kinh tế, văn hóa, là những âm mưu thâm độc, chính sách tàn bạo:</div><div>- Tội ác về chính trị: tước đoạt tự do dân chủ, luật pháp dã man, chia để trị, chém giết những chiến sĩ yêu nước của ta, ràng buộc dư luận và thi hành chính sách ngu dân, đầu độc bằng rượu cồn, thuốc phiện;</div><div>- Tội ác về kinh tế: bóc lột tước đoạt, độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng, sưu thuế nặng nề, vô lý đã bần cùng nhân dân ta, đè nén khống chế các nhà tư sản ta, bóc lột tàn nhẫn công nhân ta, gây ra thảm họa làm cho hơn 2 triệu đồng bào ta bị chết đói năm 1945.</div><div>- Trong vòng 5 năm (1940 - 1945) thực dân Pháp đã hèn hạ và nhục nhã “bán nước ta 2 lần cho Nhật”.</div><div>- Thẳng tay khủng bố Việt Minh; “thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng”.</div><div>+ Sự thật đó có sức mạnh lớn lao, bác bỏ luận điệu của thực dân Pháp về công lao “khai hóa”, quyền “bảo hộ” Đông Dương, Những luận điệu khác của các thế lực phản cách mạng quốc tế cũng bị phản bác mạnh mẽ bằng những chứng cớ xác thực, đầy sức thuyết phục</div><div>+ Bản tuyên ngôn cũng khẳng định thực tế lịch sử : nhân dân ta nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.</div><div><strong><em>c. Tuyên bố độc lập :</em></strong> Tuyên bố thoát li hẳn quan hệ thực dân với Pháp, kêu gọi toàn dân đoàn kết chống lại âm mưu của thực dân Pháp, kêu gọi cộng đồng quốc tế công nhận quyền độc lập, tự do của Việt Nam và khẳng định quyết tâm bảo vệ quyền độc lập, tự do ấy.</div><div><strong>2. Nghệ thuật&nbsp;</strong></div><div>- Lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng xác thực, giàu sức thuyết phục.</div><div>- Ngôn ngữ vừa chính xác vừa gợi cảm.</div><div>- Giọng văn linh hoạt.</div><div><strong>3. Ý nghĩa văn bản&nbsp;</strong></div><div>- Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện lịch sử vô giá tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới về quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam và khẳng định quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do ấy.</div><div>- Kết tinh lý tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc và tinh thần yêu chuộng độc lập, tự do.</div><div>- Là một áng văn chính luận mẫu mực.</div><div>Xem thêm bài văn mẫu: <a href="https://doctailieu.com/cam-nghi-ve-tuyen-ngon-doc-lap-ho-chi-minh">Cảm nghĩ về tác phẩm Tuyên ngôn độc lập</a></div><div>Nguyễn Đình Chiểu - Ngôi sao sáng trong văn nghệ dân tộc</div><div><em>(PHẠM VĂN ĐỒNG)&nbsp;</em></div><div><em>Xem lại: </em><a href="https://doctailieu.com/soan-bai-nguyen-dinh-chieu-ngoi-sao-sang-trong-van-nghe-dan-toc"><em>Soạn bài Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc</em></a></div><div><strong>A. Tác giả - Tác phẩm:&nbsp;</strong></div><div>- Phạm Văn Đồng (1906 - 2000) không chỉ là một nhà cách mạng xuất sắc mà còn là nhà văn hóa lớn, một nhà lí luận văn nghệ uyên bác của nước ta trong thế kỉ XX.</div><div>- <a href="https://doctailieu.com/nguyen-dinh-chieu-ngoi-sao-sang-trong-van-nghe-cua-dan-toc-c5622">Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc</a> được viết nhân kỉ niệm 75 năm ngày mất của Nguyễn Đình Chiểu (3-7-1888), in trong Tạp chí Văn học, tháng 7 năm 1963. Lúc này, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang bắt đầu ở miền Nam và cả nước.</div><div><strong>B. Nội dung:&nbsp;</strong></div><div><strong>1. Phần mở đầu:</strong> Nêu cách tiếp cận vừa có tính khoa học vừa có ý nghĩa phương pháp luận đối với thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, một hiện tượng văn học độc đáo có vẻ đẹp riêng không dễ nhận ra.</div><div>- Hình ảnh so sánh: “những vì sao có ánh sáng khác thường” “con mắt ... mới thấy”</div><div>- Đưa ra cách tiếp cận mới mẻ: Thơ văn NĐC là một hiện tượng văn học độc đáo…</div><div>- Coi thơ văn là vũ khí chiến đấu bảo vệ chính nghĩa, chống lại kẻ thù xâm lược và tay sai, vạch trần âm mưu, thủ đoạn và lên án những kẻ lợi dụng văn chương làm điều phi nghĩa</div><div><strong>2. Phần tiếp theo</strong>: Ý nghĩa, giá trị to lớn của cuộc đời, văn nghiệp Nguyễn Đình Chiểu.</div><div>+ Cuộc đời và quan niệm sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu - một chiến sĩ yêu nước, trọn đời phấn đấu hi sinh vì nghĩa lớn của dân tộc: coi thơ văn là vũ khí chiến đấu bảo vệ chính nghĩa, chống lại kẻ thù xâm lược và tay sai, vạch trần âm mưu, thủ đoạn và lên án những kẻ lợi dụng văn chương làm điều phi nghĩa.</div><div>+ Thơ văn yêu nước chống ngoại xâm của Nguyễn Đình Chiểu “làm sống lại” một thời kì “khổ nhục” nhưng vĩ đại, tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh của thời đại, cổ vũ mạnh mẽ cho cuộc chiến đấu chống ngoại xâm bằng những hình tượng văn học “sinh động và não nùng” xúc động lòng người. Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc làm sống dậy một hình tượng mà từ trước tới nay chưa từng có trong văn chương thời trung đại: hình tượng người nông dân.</div><div>+ Truyện Lục Vân Tiên là một tác phẩm lớn của Nguyễn Đình Chiểu, chứa đựng những nội dung tư tưởng gần gũi với quần chúng nhân dân, là “một bản trường ca ca ngợi chính nghĩa, những đạo đức đáng quý trọng ở đời”, có thể “truyền bá rộng rãi trong dân gian”.</div><div><strong>3. Phần kết:</strong> Khẳng định vị trí của Nguyễn Đình Chiểu trong nền văn học dân tộc.</div><div><strong>C. Nghệ thuật:&nbsp;</strong></div><div>- Bố cục chặt chẽ, các luận điểm triển khai bám sát vấn đề trung tâm.</div><div>- Cách lập luận từ khái quát đến cụ thể, kết hợp cả diễn dịch, quy nạp và hình thức “đòn bẩy”.</div><div>- Lời văn có tính khoa học, vừa có màu sắc văn chương vừa khách quan; ngôn ngữ giàu hình ảnh.</div><div>- Giọng điệu linh hoạt, biến hóa: khi hào sảng, lúc xót xa,...</div><div><strong>D. Ý nghĩa văn bản:</strong> Khẳng định ý nghĩa cao đẹp của cuộc đời và văn nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu: cuộc đời của một chiến sĩ phấn đấu hết mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc; sự nghiệp thơ văn của ông là một minh chứng hùng hồn cho địa vị và tác dụng to lớn của văn học nghệ thuật cũng như trách nhiệm của người cầm bút đối với đất nước, dân tộc.</div><div>Xem thêm: <a href="https://doctailieu.com/phan-tich-nguyen-dinh-chieu-ngoi-sao-sang-trong-van-nghe">Phân tích Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc</a></div><div>Tây Tiến</div><div><em>(QUANG DŨNG)&nbsp;</em></div><div>Xem lại: <a href="https://doctailieu.com/soan-bai-tay-tien-quang-dung">Soạn bài Tây Tiến</a></div><div><strong>I. Tác giả&nbsp;</strong></div><div>- Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, vẽ tranh, soạn nhạc. - Một hồn thơ lãng mạn, tài hoa: nhà thơ của xứ Đoài mây trắng, thơ giàu chất nhạc, họa...</div><div>- Các tác phẩm chính: Rừng về xuôi; Mây đầu ô....</div><div><strong>II. Tác phẩm&nbsp;</strong></div><div><strong>1. Hoàn cảnh ra đời bài thơ</strong></div><div>- <a href="https://doctailieu.com/tay-tien-c5653">Tây Tiến</a> là một đơn vị quân đội thành lập năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt - Lào và đánh tiêu hao lực lượng quân đội Pháp ở Thượng Lào và miền Tây Bắc của Tổ quốc. Địa bàn hoạt động của đơn vị Tây Tiến chủ yếu là vùng rừng núi hiểm trở. Đó cũng là nơi sinh sống của đồng bào các dân tộc Mường, Thái với những nét văn hoá đặc sắc. Lính Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, sinh viên. Họ sinh hoạt và chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn, gian khổ nhưng vẫn rất lạc quan và dũng cảm.</div><div>- Quang Dũng là một người lính trong đoàn quân Tây Tiến. Cuối năm 1948, ông chuyển sang đơn vị khác. Một năm sau ngày chia tay đoàn quân Tây Tiến, nhớ về đơn vị cũ ông viết bài thơ Tây Tiến tại làng Phù Lưu Chanh (một làng thuộc tỉnh Hà Đông cũ, nay là Hà Nội). Bài thơ được in trong tập “Mây đầu ô”(1986)</div><div><strong>2. Cảm xúc chủ đạo của bài thơ&nbsp;</strong></div><div>Bài thơ được viết trong nỗi nhớ da diết của Quang Dũng về đồng đội, về những kỉ niệm của đoàn quân Tây Tiến gắn liền với khung cảnh thiên nhiên miền Tây Bắc hùng vĩ, hoang sơ nhưng cũng rất trữ tình, thơ mộng.</div><div><strong>3. Nội dung&nbsp;</strong></div><div><strong>3.1. Đoạn 1 (từ câu 1 đến câu 14): Những cuộc hành quân gian khổ của đoàn quân Tây Tiến và khung cảnh thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, hoang sơ, dữ dội.&nbsp;</strong></div><div><strong><em>a. Nỗi nhớ thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, dữ dội, khắc nghiệt, đầy chết chóc nhưng thơ mộng, trữ tình.&nbsp;</em></strong></div><div>- Nhớ những địa danh mà đoàn quân Tây Tiến đã đi qua (Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch, Mai Châu), những địa danh khi đi vào thơ Quang Dũng, nó không còn mang màu sắc trung tính, vô hồn trên bản đồ nữa mà gợi lên không khí núi rừng xa xôi, lạ lẫm, hoang sơ và bí ẩn.</div><div>- Nhớ thời tiết, khí hậu lạnh giá, khắc nghiệt (sương lấp). Nhớ con đường hành quân gập ghềnh, hiểm trở, đầy hiểm nguy giữa một bên là núi cao với một bên là vực sâu thăm thẳm. Không gian được mở ra ở nhiều chiều: chiều cao đến chiều sâu hút của những dốc núi, vực thẳm. Nhớ khung cảnh hoang vu của núi rừng với âm thanh “gầm thét” của thác nước, của loài hổ dữ rình rập vồ người mỗi khi chiều đến, đêm về.</div><div>- Nhớ những những ngôi nhà nơi xóm núi như cánh buồm thấp thoáng trên mặt biển trong không gian bình yên và êm ả của mưa giăng đầy biến thung lũng thành “xa khơi”. Bức tranh của núi rừng miền Tây giàu được vẽ bằng bút pháp vừa hiện thực, vừa lãng mạn, vừa giàu chất họa lại giàu chất nhạc. Nét vẽ vừa gân guốc, mạnh mẽ, dữ dội nhưng lại cũng rất mềm mại tạo nên vẻ đẹp hài hòa cho bức tranh thiên nhiên.</div><div>* Nỗi nhớ về đồng đội và những kỉ niệm trên đường hành quân:</div><div>- Nhớ cái tếu táo, lạc quan trong gian khổ với vẻ đẹp hồn nhiên qua cách nói hóm hỉnh “súng ngửi trời”. Nếu viết “súng chạm trời”, nhà thơ sẽ chỉ tả được độ cao của đỉnh dốc mà khi đứng trên đó, mũi súng của người lính Tây Tiến như chạm cả vào nền trời. Còn ở đây, Quang Dũng đã gợi được “chất lính” trẻ trung, vẻ tươi mới, sức sống dạt dào trong tâm hồn của người lính Tây Tiến vốn xuất thân từ những thanh niên trí thức trẻ Hà Nội.</div><div>- Nhớ những người đồng đội đã ngã xuống nhưng không bi luỵ. Nỗi mất mát, niềm cảm thương được nói bằng giọng thơ ngang tàng, kiêu hãnh gục bên súng mũ bỏ quên đời”.</div><div>- Nhớ tình cảm quân dân giữa những người lính Tây Tiến và đồng bào Tây Bắc “Nhớ ôi... thơm nếp xôi”. Họ dừng chân nơi xóm núi sau chặng đường dài vất vả, họ quây quần trong niềm vui ấm áp, niềm hạnh phúc bên những nồi cơm còn thơm làn gạo mới. Nhớ ôi! - nỗi nhớ da diết, đằm thắm, sự gắn kết tình nghĩa thủy chung, giữa những con người miền Tây Bắc của tổ quốc với bộ đội kháng chiến.</div><div>Xem thêm văn mẫu: <a href="https://doctailieu.com/phan-tich-doan-1-bai-tho-tay-tien-cua-quang-dung">Phân tích đoạn 1 bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng</a></div><div><strong>3.2. Đoạn 2 (từ câu 15 đến câu 22): Những kỉ niệm đẹp về tình quân dân giữa người lính Tây Tiến với nhân dân Tây Bắc&nbsp;</strong></div><div><strong><em>a. Những kỉ niệm về tình quân dân thắm thiết qua những đêm liên hoan văn nghệ đậm màu sắc lãng mạn, trữ tình&nbsp;</em></strong></div><div>- Đêm liên hoan được miêu tả bằng những chi tiết lãng mạn:</div><div>+ Đêm liên hoan như đêm hội giao duyên, đêm tân hôn của những cặp tình nhân (hội đuốc hoa)</div><div>+ Nhân vật trung tâm của đêm hội là những thiếu nữ Tây Bắc trong những bộ trang phục và vũ điệu vừa lộng lẫy, vừa e thẹn, tình tứ.</div><div>+ Cái nhìn trẻ trung, ngỡ ngàng, ngạc nhiên, say mê sung sướng của những người lính Tây Tiến trước vẻ đẹp phương xa. Bằng bút pháp tài hoa, lãng mạn, thi trung hữu nhạc, tác giả đã làm nổi bật vẻ đẹp giàu bản sắc văn hoá, phong tục của đồng bào vùng biên giới cùng tình cảm quân dân thắm thiết và tâm hồn lạc quan yêu đời, yêu cuộc sống của người lính Tây Tiến</div><div><strong><em>b. Vẻ đẹp của con người và cảnh vật miền Tây Bắc trong chiều sương trên sông nước Châu Mộc&nbsp;</em></strong></div><div>- Không gian trên dòng sông, cảnh vật Châu Mộc hiện lên thật mờ ảo, thơ mộng nhuốm màu sắc cổ tích, huyền thoại.</div><div>- Nổi bật lên trên bức tranh sông nước là cái dáng mềm mại, uyển chuyển của các cô gái Thái trên con thuyền độc mộc.</div><div>- Những bông hoa rừng cũng như đang đong đưa làm duyên trên dòng nước lũ.</div><div>- Những bông lau ven rừng như có hồn và gợi nhớ da diết.</div><div><strong>3. 3. Đoạn 3: (từ câu 23 đến câu 30): Chân dung người lính Tây Tiến&nbsp;</strong></div><div>Đoạn thơ tập trung vào khắc họa hình ảnh người lính Tây Tiến bằng bút pháp lãng mạn nhưng không thoát ly hiện thực với cảm xúc bi tráng.</div><div><strong><em>a. Vẻ đẹp lẫm liệt, kiêu hùng, hào hoa, lãng mạn:&nbsp;</em></strong></div><div>+ Sẵn sàng đối mặt với những khó khăn, thiếu thốn, bệnh tật: Thân hình tiều tuỵ vì sốt rét rừng của người lính Tây Tiến : không mọc tóc, xanh màu lá</div><div>+ Trong gian khổ, hình tượng người lính Tây Tiến vẫn hiện ra với dáng vẻ oai phong, lẫm liệt, vẫn toát lên cốt cách, khí phách hào hùng, mạnh mẽ: xanh màu lá, dữ oai hùm</div><div>+ Trong gian khổ nhưng vẫn hướng về nhiệm vụ chiến đấu, vẫn “gửi mộng qua biên giới” - mộng chiến công, khao khát lập công và “mơ Hà Nội dáng kiều thơm” - mơ về, nhớ về dáng hình kiều diễm của người thiếu nữ đất Hà thành thanh lịch. Những hình ảnh thơ thể hiện tâm hồn mộng mơ, lãng mạn của người lính - những chàng trai ra đi từ đất Hà Nội thanh lịch. Những giấc “mộng” và “mơ” ấy như tiếp thêm sức mạnh để các anh vượt gian khổ để lập nên nhiều chiến công.</div><div><strong><em>b. Vẻ đẹp bi tráng:&nbsp;</em></strong></div><div>+ Những người lính trẻ trung, hào hoa đó gửi thân mình nơi biên cương xa xôi, sẵn sàng tự nguyện hiến dâng “đời xanh” cho tổ quốc mà không hề tiếc nuối.</div><div>+ Hình ảnh “áo bào thay chiếu” là cách nói thi vị, sang trọng hóa sự hy sinh của người lính Tây Tiến.</div><div>+ Họ coi cái chết tựa lông hồng. Sự hy sinh ấy nhẹ nhàng, thanh thản như trở về với đất mẹ: “anh về đất”.</div><div>+ “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”: Linh hồn người tử sĩ đó hoà cùng sông núi. Con sông Mã đã tấu lên khúc nhạc độc tấu đau thương, hùng tráng để tiễn người lính vào cõi bất tử.&nbsp; m hưởng dữ dội tô đậm cái chết bi hùng của người lính Tây Tiến.</div><div>+ Hàng loạt từ Hán Việt: Biên cương, viễn xứ, chiến trường, độc hành... gợi không khí tôn nghiêm, trang trọng khi nói về sự hi sinh của người lính Tây Tiến.</div><div>⇒Hình ảnh người lính Tây Tiến phảng phất vẻ đẹp lãng mạn mà bi tráng của người tráng sĩ anh hùng xưa.</div><div>Xem thêm bài văn mẫu: <a href="https://doctailieu.com/phan-tich-kho-ba-bai-tay-tien-quang-dung">Phân tích khổ thơ thứ 3 bài Tây Tiến</a></div><div><strong>3.4. Đoạn 4 (Những câu còn lại): Khẳng định vẻ đẹp tinh thần của người lính Tây Tiến đối với thời đại và đối với lịch sử.&nbsp;</strong></div><div>+ Vẻ đẹp tinh thần của người vệ quốc quân thời kì đầu kháng chiến: một đi không trở lại, ra đi không hẹn ngày về.</div><div>+ Vẻ đẹp của người lính Tây Tiến sẽ còn mãi với thời gian, với lịch sử dân tộc, là chứng nhân đẹp đẽ của thời đại chống thực dân Pháp.</div><div>- Cụm từ người đi không hẹn ước thể hiện tinh thần quyết ra đi không hẹn ngày về. Hình ảnh đường lên thăm thẳm gợi lên cả một chặng đường gian lao của đoàn quân Tây Tiến.</div><div>Vẻ đẹp bất tử của người lính Tây Tiến được thể hiện ở âm hưởng, giọng điệu của cả 4 dòng thơ. Chất giọng thoáng buồn pha lẫn chút bâng khuâng, song chủ đạo vẫn là giọng hào hùng đầy khí phách.</div><div><strong>4. Nghệ thuật&nbsp;</strong></div><div>+ Cảm hứng lãng mạn, bi tráng</div><div>+ Sử dụng ngôn từ đặc sắc: từ địa danh, từ tượng hình, từ Hán Việt</div><div>+ Kết hợp chất nhạc và họa.</div><div>Việt Bắc</div><div><em>(TỐ HỮU)&nbsp;</em></div><div>Xem lại: <a href="https://doctailieu.com/soan-bai-viet-bac-to-huu-tiep-theo">Soạn bài Việt Bắc</a></div><div><strong>I. Tác giả&nbsp;</strong></div><div>- Là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam.</div><div>- Thơ ông tiêu biểu cho khuynh hướng thơ trữ tình - chính trị: mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn; giọng thơ tâm tình ngọt ngào, tha thiết, đậm đà tính dân tộc.</div><div>- Các tác phẩm chính: Từ ấy, <a href="https://doctailieu.com/viet-bac-to-huu-c5654">Việt Bắc</a>, Gió lộng, Ra trận,...</div><div><strong>II. Tác phẩm&nbsp;</strong></div><div><strong>1. Hoàn cảnh sáng tác&nbsp;</strong></div><div>- Việt Bắc là khu căn cứ đầu não của cuộc kháng chiến chống Pháp.</div><div>- Tháng 7 năm 1954 hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, hòa bình lập lại ở miền Bắc. Tháng 10 năm 1954, ngay sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, các cơ quan Trung ương của Đảng và chính phủ từ Việt Bắc về lại thủ đô Hà Nội. Tố Hữu cũng là một trong số những cán bộ kháng chiến từng sống và gắn bó nhiều năm với Việt Bắc, nay từ biệt chiến khu Việt Bắc để về xuôi. Bài thơ được viết trong buổi chia tay lưu luyến đó.</div><div><strong>2. Cấu tứ của bài thơ:&nbsp;</strong></div><div>Mượn tình yêu lứa đôi để diễn tả tình yêu quê hương, đất nước. Việc sử dụng cặp đại từ xưng hô Mình - Ta và hình thức đối đáp giao duyên quen thuộc của ca dao, khiến cho bài thơ ca ngợi nghĩa tình kháng chiến, cách mạng trở thành một khúc hát ru kỉ niệm ngọt ngào, tha thiết. Kẻ ở - người đi, lời hỏi - lời đáp thực chất là sự phân thân cái tôi trữ tình của nhà thơ nhằm tạo sự hô ứng, đồng vọng, vang ngân.</div><div><strong>3. Nội dung.&nbsp;</strong></div><div><strong><em>a. Tám câu thơ đầu: Khung cảnh chia tay và tâm trạng của con người kháng chiến.&nbsp;</em></strong></div><div><em>* Bốn câu trên:</em> Lời ướm hỏi, khơi gợi kỉ niệm về một giai đoạn đã qua, về không gian nguồn cội, nghĩa tình, qua đó thể hiện tâm trạng của người ở lại:</div><div>- Người ở lại lên tiếng trước và gợi nhắc về những kỷ niệm gắn bó suốt 15 năm kháng chiến - thời gian càng dài thì nghĩa tình càng đong đầy. - Gợi nhắc không gian nguồn cội, nghĩa tình: «nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn»</div><div>- Lời ướm hỏi đã khơi gợi cả một quá khứ đầy ắp kỷ niệm, khơi nguồn cho mạch cảm xúc nhớ thương tuôn chảy.</div><div><em>* Bốn câu thơ tiếp:</em> Tiếng lòng của người về xuôi.</div><div>- Động tác cầm tay nhau cùng các từ láy tha thiết, bâng khuâng, bồn chồn vừa diễn tả tâm trạng lưu luyến, bịn rịn vừa lo lắng, bất an của con người kháng chiến trong buổi tiễn đưa. Nỗi xúc động ấy không thể diễn tả thành lời : «biết nói gì hôm nay»</div><div>Xem thêm: <a href="https://doctailieu.com/phan-tich-8-cau-tho-dau-bai-viet-bac">Phân tích 8 câu thơ đầu bài Việt Bắc</a></div><div><strong><em>b. Tám mươi hai câu sau: Những kỉ niệm về Việt Bắc hiện lên trong hoài niệm.&nbsp;</em></strong></div><div><em>* Mười hai câu hỏi của người ở lại:&nbsp;</em></div><div>- Sáu câu hỏi liên tục, trùng điệp biểu lộ sự bức xúc, múc độ mãnh liệt của cảm xúc “Mình đi có nhớ”, “mình về có nhớ”</div><div>+ Hỏi chỉ để gợi lên trong hoài niệm của cả người đi và kẻ ở những kỉ niệm ở Việt Bắc trong những năm tháng đã qua.</div><div>+ Khơi gợi, nhắc nhớ những kỉ niệm trong những năm kháng chiến: Cuộc sống gian khổ, khó nhọc nhưng nặng nghĩa ân tình, con người giàu tình cảm thủy chung,...</div><div><em>* Bảy mươi câu đáp của người ra đi:&nbsp;</em></div><div>- Nhớ những vẻ đẹp đơn sơ, bình dị, thân quen đặc trưng cho VB: ánh nắng ban chiều, ánh trăng buổi tối, những bản làng mờ trong sương sớm, những bếp lửa hồng trong đêm khuya, rừng nứa bờ tre.</div><div>- Nhớ những con người Việt Bắc nghèo khó, cần cù trong lao động, thuỷ chung trong nghĩa tình.</div><div>- Nhớ những ngày tháng sinh hoạt kháng chiến gian khổ mà lạc quan, nghĩa tình.</div><div>- Bức tranh tứ bình độc đáo về núi rừng Việt Bắc.</div><div>+ Bức tranh bốn mùa tươi đẹp, đầy màu sắc, mỗi mùa có một vẻ đẹp, màu sắc riêng.</div><div>+ Cảnh và người gắn bó, hòa hợp, cứ một câu tả cảnh lại xen vào một câu người tạo một bức tranh thiên nhiên ấm áp sự sống. Thiên nhiên Việt Bắc hiện lên với bao vẻ đẹp thật đa dạng, phong phú, sinh động, thay đổi theo từng từng mùa; Núi rừng ấm áp, chan hòa sự sống vì sự hiện diện của con người: người đi làm nương rẫy, người đan nón, người hái măng, người mẹ “nắng cháy lưng ...bắp ngô”, những tháng ngày đồng cam cộng khổ “Thương nhau, chia củ sắn lùi</div><div>- Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng, những mái nhà “hắt hiu ...lòng son”,</div><div>- Nhớ về cuộc kháng chiến anh hùng: Khắc họa khung cảnh Việt Bắc hùng tráng trong chiến đấu với không gian núi rừng rộng lớn, những hoạt động tấp nập với những đoàn bộ đội, dân công hùng hậu thông qua các thủ pháp phóng đại, điệp từ: “điệp điệp trùng trùng”, “bước chân nát đá”,..., những âm thanh sôi nổi, dồn dập, náo nức: “bước chân “rầm rập” tràn đầy âm hưởng anh hùng ca, mang dáng vẻ một sử thi hiện đại.</div><div>- Nhớ Việt Bắc- đầu não kháng chiến, quê hương cách mạng:</div><div>+ Nhịp, hình ảnh thơ , trang nghiêm nhớ về Trung ương, chính phủ đang điều hành cuộc kháng chiến</div><div>+ Giọng thơ suy tưởng suy lắng nhớ về Bác Hồ và Việt Bắc quê hương cách mạng, nơi hội tụ niềm tin</div><div><strong>4. Đặc sắc nghệ thuật&nbsp;</strong></div><div>+ Thể thơ: thể thơ lục bát truyền thống đã được vận dụng tài tình trong một bài thơ dài, vừa tạo âm hưởng thống nhất mà lại biến hóa đa dạng.</div><div>+ Kết cấu: lối kết cấu đối đáp trong ca dao dân ca được vận dụng một cách thích hợp, tài tình</div><div>+ Những lối nói giàu hình ảnh, các cách chuyển nghĩa truyền thống (so sánh, ẩn dụ, tượng trưng, ước lệ)</div><div>+ Giọng thơ ngọt ngào, tâm tình, cách xưng hô mình- ta quen thuộc trong ca dao khiến bài thơ như một bản tình ca về lòng thủy chung son sắt của người cách mạng với người dân Việt Bắc.</div><div>Xem thêm: <a href="https://doctailieu.com/lien-he-so-sanh-viet-bac-va-tu-ay-to-huu">Liên hệ và so sánh hai tác phẩm Việt Bắc và Từ Ấy</a></div><div>Đất nước</div><div><em>(Trích Trường ca Mặt đường khát vọng - Nguyễn Khoa Điềm)&nbsp;</em></div><div>Xem lại: <a href="https://doctailieu.com/soan-bai-dat-nuoc-nguyen-khoa-diem">Soạn bài Đất nước (Nguyễn Khoa Điềm)</a></div><div><strong>I. Tác giả&nbsp;</strong></div><div>- Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ thơ trẻ chống Mỹ.</div><div>- Thơ ông giàu chất suy tư, cảm xúc dồn nén, thể hiện tâm tư người trí thức về nhân dân và đất nước.</div><div><strong>II. Đoạn trích “Đất Nước”&nbsp;</strong></div><div><strong>1. Xuất xứ&nbsp;</strong></div><div>“<a href="https://doctailieu.com/dat-nuoc-nguyen-khoa-diem-c5655">Đất Nước</a>” thuộc phần đầu của chương V trong trường ca Mặt đường khát vọng - tác phẩm được hoàn thành ở chiến khu Trị - Thiên năm 1971, viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ vùng đô thị tạm chiếm miền Nam về non sông đất nước, về sứ mệnh của thế hệ mình, xuống đường đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược.</div><div><strong>2. Nội dung&nbsp;</strong></div><div><strong>2.1. Phần 1: Cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm về đất nước&nbsp;</strong></div><div><strong><em>a. Đất nước được cảm nhận ở phương diện văn hóa, phong tục - tập quán&nbsp;</em></strong></div><div>- Đất nước thật giản dị, đời thường, gắn bó với con người Việt Nam. Đất Nước hiện lên qua câu chuyện cổ tích mẹ kể ; qua miếng trầu bà ăn ; qua những dãy tre làng ; qua gừng cay, muối mặn, cái kèo, cái cột, hạt gạo...</div><div>- Đất nước kết tinh trong văn hóa, phong tục - tập quán của người Việt : tục ăn trầu, tục bới tóc sau đầu của phụ nữ, tục đặt tên bình dị của người bình dân ; trong truyền thống đánh giặc ; trong cuộc sống nghĩa tình lứa đôi ; trong công việc mưu sinh vất vả của người nông dân Việt Nam... Cách cảm nhận như thế gợi nên một đất nước vừa xa xôi vừa gần gũi, trừu tượng nhưng cụ thể, thiêng liêng, huyền ảo nhưng cũng hết sức bình dị, thân quen với con người Việt Nam.</div><div>- Nét độc đáo trong nghệ thuật thể hiện: Đoạn thơ là sự kết tinh đặc sắc giữa chất liệu văn hoá dân gian với hình thức thơ trữ tình - chính luận.</div><div><strong><em>b. Đất nước được cảm nhận ở phương diện không gian - địa lý, thời gian - lịch sử.&nbsp;</em></strong></div><div><em>* Về không gian - địa lý :&nbsp;</em></div><div>+ Đất nước là nơi rất gần gũi với cuộc sống mỗi người ( nơi anh đến trường... nơi em tắm).</div><div>+ Đất Nước tồn tại ngay cả trong những không gian riêng tư của tình yêu đôi lứa : “Đất Nước là nơi ta hò hẹn. Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”.</div><div>+ Đất Nước còn là không gian sinh tồn hết sức đời thường của nhân dân qua bao thế hệ “Những ai đã khuất. Những ai bây giờ. Yêu nhau và sinh con đẻ cái. Gánh vác phần người đi trước để lại...”).</div><div><em>* Về thời gian - lịch sử :</em></div><div>- Đất Nước được cảm nhận suốt chiều dài thời gian lịch sử từ quá khứ đến hiện tại và tương lai.</div><div>+ Đó là một Đất Nước thiêng liêng, hào hùng trong quá khứ (gắn liền với huyền thoại Lạc Long Quân và&nbsp; u Cơ, truyền thuyết về các vua Hùng dựng nước).</div><div>+ Đó là một Đất nước giản dị, gần gũi trong hiện tại (“Trong anh và em hôm nay. Đều có một phần Đất Nước”)</div><div>+ Và một Đất Nước triển vọng sáng tươi trong tương lai (“Mai này con ta lớn lên. Con sẽ mang Đất Nước đi xa. Đến những tháng ngày mơ mộng”).</div><div>- Từ cách cảm nhận và lí giải Đất Nước như thế nhà thơ suy nghĩ về trách nhiệm của mọi người :</div><div>+ Đất nước kết tinh, hoá thân trong cuộc sống của mỗi con người, vì thế mọi người phải có tinh thần cống hiến, có trách nhiệm đối với sự trường tồn của quê hương, xứ sở.</div><div>+ Cần biết gắn bó biết san sẻ: sự sống của mỗi con người không chỉ là của riêng cá nhân mà còn thuộc về đất nước.</div><div>+ Lời nhắn nhủ với thế hệ trẻ, lời tự nhủ với chính bản thân đầy chân thành tha thiết.</div><div><strong>&nbsp;2.2. Phần 2: Tư tưởng “Đất nước của nhân dân”&nbsp;</strong></div><div><strong><em>a. Về địa lý :&nbsp;</em></strong></div><div>- Nhà thơ đã nhìn ngắm đất nước mình qua các danh thắng trải dài từ Bắc chí Nam. Tất cả các địa danh được nhắc đến đều gắn liền với một huyền thoại, huyền tích và sự thật về nhân dân trong lịch sử. Nói cách khác, chính những huyền thoại, huyền tích và sự thật lịch sử về nhân dân đã làm nên tên tuổi của các địa danh ấy, biến chúng thành danh thắng, thành di tích lịch sử văn hóa được mọi người thừa nhận và biết đến :</div><div>+ những người vợ nhớ chồng - núi Vọng Phu;</div><div>+ cặp vợ chồng yêu nhau - hòn Trống Mái;</div><div>+ người học trò nghèo - núi Bút, non Nghiên;</div><div>+ Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm</div><div>…<br><br>Trong con mắt của nhà thơ, mỗi danh thắng không chỉ là một nét vẽ tô điểm vào bức “tranh họa đồ” đất nước mà còn ẩn chứa những nét đẹp tâm hồn của nhân dân trong mấy nghìn năm lịch sử : sự thủy chung; tình nghĩa vợ chồng; tinh thần yêu nước; ý thức hướng về tổ tông, nguồn cội; tinh thần hiếu học, ý chí vượt khó vươn lên; tinh thần xả thân vì cộng đồng, dân tộc...</div><div>- Sử dụng hình thức diễn đạt quy nạp: từ những bằng chứng riêng lẻ, cụ thể, nhà thơ khái quát nâng lên thành chân lý. Qua đó ông khẳng định: Nhân dân là người làm ra đất nước.</div><div><strong><em>b. Về lịch sử :&nbsp;</em></strong></div><div>- Khi nhìn vào “bốn nghìn năm đất nước”, Nguyễn Khoa Điềm nhấn mạnh đến vai trò lịch sử của nhân dân trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Bên cạnh những người anh hùng có tên tuổi là những anh hùng vô danh. Đó là nhân dân lao động. Trong cuộc sống mưu sinh, họ đã gìn giữ và truyền lại cho các thế hệ mai sau những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần của đất nước: hạt lúa, ngọn lửa, tiếng nói, ngôn ngữ dân tộc, bản sắc văn hóa các vùng miền... Cũng chính họ “Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm. Có nội thù thì vùng lên đánh bại” tạo dựng chủ quyền, đắp nền xây móng cho ngôi nhà đất nước để các thế hệ mai sau kế thừa và tiếp tục dựng xây, phát triển.</div><div><strong><em>c. Về văn hóa :&nbsp;</em></strong></div><div>- Khi khẳng định chất liệu để làm nên “Đất Nước của nhân dân” chính là văn hóa dân gian, mà tiêu biểu là ca dao. Ca dao chính là diện mạo tinh thần, là nơi lưu giữ đời sống tâm hồn tình cảm của nhân dân qua bao thế hệ. Nguyễn Khoa Điềm đã chọn ra từ kho tàng thơ ca dân gian ba nét đẹp tiêu biểu nhất của tâm hồn Việt, của bản sắc văn hóa đất nước: say đắm trong tình yêu, quý trọng tình nghĩa và kiên trì, bền bỉ trong đấu tranh chống ngoại xâm.</div><div><strong>3. Nghệ thuật&nbsp;</strong></div><div>- Thể thơ tự do.</div><div>- Sử dụng chất liệu văn hóa dân gian: ngôn từ, hình ảnh bình dị, dân dã, giàu sức gợi</div><div>- Giọng thơ thủ thỉ, tâm tình, biến đổi linh hoạt - Sức truyền cảm lớn từ sự hòa quyện của chất chính luận và chất trữ tình.</div><div>Xem thêm văn mẫu: <a href="https://doctailieu.com/phan-tich-bai-dat-nuoc-cua-nguyen-khoa-diem">Phân tích bài Đất nước</a></div><div>Sóng</div><div><em>(XUÂN QUỲNH)&nbsp;</em></div><div>Xem lại: <a href="https://doctailieu.com/soan-bai-song-xuan-quynh">Soạn bài Sóng</a></div><div><strong>I. Tác giả&nbsp;</strong></div><div>- Là gương mặt thơ nữ tài năng, hiếm hoi trong nền thi ca cách mạng Việt Nam.</div><div>- Cuộc đời bất hạnh, luôn khát khao tình yêu, mái ấm gia đình và tình mẫu tử.</div><div>- Đặc điểm hồn thơ: là tiếng nói của người phụ nữ giàu yêu thương, khát khao hạnh phúc đời thường, bình dị, nhiều âu lo, day dứt, trăn trở trong tình yêu.</div><div>- Tác phẩm chính: Lời ru trên mặt đất, Hoa dọc chiến hào,...</div><div><strong>II. Bài thơ “Sóng”&nbsp;</strong></div><div><strong>1. Hoàn cảnh sáng tác&nbsp;</strong></div><div><a href="https://doctailieu.com/song-xuan-quynh-c5661">Sóng</a> được sáng tác năm 1967, trong chuyến đi công tác vùng biển Diêm Điền. Bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ và phong cách thơ Xuân Quỳnh. Tác phẩm được in trong tập Hoa dọc chiến hào (1968).</div><div><strong>2. Âm điệu, nhịp điệu của bài thơ&nbsp;</strong></div><div>- Âm điệu của bài thơ Sóng là âm điệu, của những con sóng ngoài biển khơi, lúc ào ạt, dữ dội lúc nhẹ nhàng, khoan thai.&nbsp; m điệu đó được tạo nên bởi: Thể ngũ ngôn với những câu thơ được ngắt nhịp linh hoạt.</div><div>- Bài thơ có hai hình tượng là “sóng” và “em” - lúc phân tách, soi chiếu vào nhau, lúc nhập hòa làm một trong một cái tôi trữ tình duy nhất là Xuân Quỳnh.</div><div><strong>3. Nội dung&nbsp;</strong></div><div><strong><em>a. Khổ 1 :&nbsp;</em></strong></div><div>+ Sóng hiện ra với những đối cực Dữ dội › ‹ Dịu êm; ồn ào › ‹ lặng lẽ như những cung bậc tâm trạng của người phụ nữ khi yêu.</div><div>+ Sóng khát khao thoát khỏi giới hạn chật hẹp (sông) để tìm ra “bể” như người phụ nữ khát khao tìm đến những chân trời đích thực của tình yêu.</div><div><strong><em>b. Khổ 2 :&nbsp;</em></strong></div><div>+ Từ ngàn, triệu năm qua, con sóng vẫn thế như từ ngàn, triệu năm qua, tình yêu vẫn là một khát vọng cháy bỏng trong trái tim con người, nhất là tuổi trẻ.</div><div>+ Đó cũng là khát vọng cháy bỏng trong trái tim không bao giờ thôi khát khao yêu đương của nhân vật trữ tình trong bài thơ.</div><div><strong><em>c. Khổ 3, 4 :&nbsp;</em></strong></div><div>+ Không thể truy nguyên nguồn gốc của sóng cũng như tình yêu của con người. Đó mãi mãi là bí ẩn diệu kì, là sức hấp dẫn mời gọi của tình yêu. Không thể cắt nghĩa tình yêu và cũng chẳng nên cắt nghĩa tình yêu bởi rất có thể khi ta biết yêu vì lẽ gì thì cũng là lúc tình yêu ra đi.</div><div>+ Người phụ nữ, nhân vật em trong bài thơ cũng không thể cắt nghĩa được tình yêu. Một sự bất lực đáng yêu của một trái tim yêu không chỉ đòi hỏi cảm xúc mà còn đòi hỏi nhận thức mãnh liệt.</div><div><strong><em>d. Khổ 5 :&nbsp;</em></strong></div><div>+ Con sóng, dù ở trạng thái nào (trong lòng sâu, trên mặt nước, ngày hay đêm), đều thao thức một nỗi niềm “nhớ bờ”. Nỗi nhớ choáng cả không gian, thời gian.&nbsp;<br>+ Tình yêu của người phụ nữ trong bài thơ cũng vậy. Hạt nhân của nó là nỗi nhớ, một nỗi nhớ cồn cào, da diết, nỗi nhớ chiếm cả tầng sâu, chiều rộng và trải dài theo thời gian, lúc hiện hữu, khi lắng sâu, lúc ý thức, khi nằm ngoài sự kiểm soát của ý thức.</div><div><strong><em>&nbsp;e. Khổ 6, 7&nbsp;</em></strong></div><div>+ Cũng như sóng chỉ có một hướng đích duy nhất là bờ, em chỉ có phương anh làm điểm đến, bất chấp cuộc đời có nhiều trái ngang.</div><div>+ Sự thuỷ chung của sóng với bờ hay cũng chính là sự chung thuỷ của em với anh. Nếu nỗi nhớ làm thành biểu hiện nồng nàn, sôi nổi của tình yêu thì sự thuỷ chung lại là phần đằm sâu trong trái tim người phụ nữ.</div><div><strong><em>f. Hai khổ cuối :&nbsp;</em></strong></div><div>+ Sự sống, tình yêu ở thời đại nào cũng luôn hữu hạn trong tương quan với cái vô thuỷ, vô chung, vô cùng, vô tận của thiên nhiên, vũ trụ. Trước cái vĩnh hằng của tạo hoá, trước dòng chảy vô hồi, vô hạn của cuộc đời, tình yêu của con người mãi mãi chỉ là “bóng câu qua cửa sổ”. Đó là cảm thức về thời gian. Dường như càng yêu mãnh liệt, càng khát khao gắn bó, con người càng hay nghĩ về thời gian. Người phụ nữ đang cháy bỏng khát khao yêu và được yêu trong Sóng cũng không phải là ngoại lệ.</div><div>+ Vậy, chỉ có một cách duy nhất để tình yêu trường tồn với thời gian, để trái tim yêu được đập mãi đó là hóa thân vào sóng. Đó là khát vọng được vĩnh cửu hóa tình yêu, được hòa tình yêu của mình vào khối tình chung của nhân loại, như con sóng hòa vào đại dương mênh mông, bất tận.</div><div>Xem thêm: <a href="https://doctailieu.com/phan-tich-bai-tho-song-xuan-quynh">Phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh</a></div><div><strong>4. Nghệ thuật&nbsp;</strong></div><div>- Nhịp điệu độc đáo, giàu sức liên tưởng: thể thơ năm chữ, cách ngắt nhịp, gieo vần, nối khổ linh hoạt.</div><div>- Giọng điệu tha thiết chân thành, ít nhiều có sự phấp phỏng lo âu.</div><div>- Xây dựng hình tượng sóng như một ẩn dụ nghệ thuật về tình yêu của người phụ nữ.</div><div>- Kết cấu song hành: sóng và em</div><div><br><br>Xem thêm tại: <a href="https://doctailieu.com/de-cuong-on-tap-hoc-ki-1-van-12-nghi-luan-van-hoc">https://doctailieu.com/de-cuong-on-tap-hoc-ki-1-van-12-nghi-luan-van-hoc</a></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-19 14:20:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955537693</guid>
      </item>
      <item>
         <title> Dàn Ý Phân Tích Bài Thơ Tây Tiến .(đề cương 1)                           - Nêu một số  trình bày một số nét tiêu biểu về tác giả Quang Dũng và đặc trưng thơ ca của oonhg ông (vừa hồn nhiên vừa tinh tế mang vẻ đẹp hào hoa,phnogs khoáng,đậm chất lãng mạn)                                                  -hoàn cảnh ra đời, giá trị nội dung nổi bật của bài thơ                                                                                       2. Thân Bài                                                                         a. Một số nét khái quát                                                   - Tây Tiến: là tên một đoàn quân được thành lập năm 1947, có nhiệm vụ kết hợp với bộ đội Lào để bảo vệ biên giới Việt                                                        - Lào, làm hao mòn lực lượng giặc Pháp.                                                         - Xuất thân lính Tây Tiến: phần đông là người Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, sinh viên.                   - Cảm hứng sáng tác: Quang Dũng viết bài thơ để bày tỏ nỗi nhớ với đoàn quân Tây Tiến sau khi chuyển sang công tác ở đơn vị khác.                       b. Đường hành quân của đoàn quân Tây Tiến giữa thiên nhiên Tây Bắc                                                         - Hai câu thơ đầu: nỗi nhớ thốt lên thành lời &quot;Tây Tiến ơi&quot; là tiếng gọi thân thương, &quot;nhớ chơi vơi&quot;là nỗi nhớ thường trực, bao trùm không gian.                                                          - Bức tranh thiên nhiên Tây Bắc hoang sơ và dữ dội:                                                                                       + Địa danh Sài Khao, Mường Lát gợi sự hẻo lánh, xa xôi;                                                                                  + Các từ láy giàu tính tạo hình: &quot;khúc khuỷu&quot;, &quot;thăm thẳm&quot;, &quot;heo hút&quot;, điệp từ &quot;dốc&quot;, nghệ thuật điệp &quot;Dốc lên ... dốc lên&quot; gợi địa hình hiểm trở, quanh co, gập ghềnh.                                                    + Hình ảnh &quot;súng ngửi trời&quot; thể hiện tầm cao của núi non mà người lính phải vượt qua nhưng cũng có cái hóm hỉnh của người lính trong đó.                                                             + Nhịp thơ bẻ đôi &quot;Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống&quot; gợi tả sự nguy hiểm tột cùng.                            + Hình ảnh nhân hóa: &quot;cọp trêu người&quot;, &quot;thác gầm thét&quot; gợi sự hoang sơ, man dại; thời gian: &quot;chiều chiều&quot;, &quot;đêm đêm&quot; những người lính phải thường xuyên đối mặt với điều hiểm nguy chốn rừng thiêng nước độc.                                                             + Sử dụng phần lớn các thanh trắc nhằm nhấn mạnh sự trắc trở, ghập ghềnh của địa hình.- Khung cảnh thiên nhiên cũng có lúc êm dịu, mang đậm hương vị cuộc sống: &quot;nhà ai Pha Luông ...&quot;, &quot;cơm lên khói&quot;, &quot;Mai Châu mùa em ...&quot;, thanh bằng tạo cảm giác nhẹ nhàng, yên bình.                                                          - Hình ảnh bi hùng về người lính Tây Tiến &quot;dãi dầu không bước nữa&quot;, &quot;gục lên súng mũ bỏ quên đời&quot;: có thể hiểu hai câu thơ đơn thuần miêu tả khoảnh khắc nghỉ ngơi của người lính sau cuộc hành quân dài, cũng có thể hiểu đó là sự nghỉ ngơi vĩnh viễn.                                                                                      - Nhận xét: Thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ nhưng đầy rẫy những hiểm nguy, đó chính là những thử thách đối với những người lính Tây Tiến trên chặng đường hành quân.                                             c. Kỉ niệm đẹp về tình quân dân, vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc                                                                    - Kỉ niệm đêm liên hoan thắm tình quân dân:                                               + Không khí đêm liên hoan tưng bừng với mà sắc rực rỡ, lộng lẫy: &quot;bừng lên&quot;, &quot;hội đuốc hoa&quot;, &quot;khèn lên man điệu&quot;; con người duyên dáng: &quot;xiêm áo&quot;, &quot;nàng e ấp&quot;.                                                                       + Tâm hồn người lính bay bổng, say mê trong không khí ấm áp tình người: &quot;Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ&quot;.                                                           - Khung cảnh sông nước, con người vùng Tây Bắc:                           + Đẹp huyền ảo, hoang dại, thiêng liêng: &quot;Chiều sương&quot;, &quot;hồn lau nẻo bến bờ&quot;                                                    + Con người lao động bình dị, mộc mạc: &quot;dáng người trên độc mộc&quot;, cảnh vật duyên dáng, đầy sức sống: &quot;trôi dòng nước lũ hoa đong đưa&quot;                                                          - Nhận xét: nhờ bút pháp lãng mạn, Quang Dũng đã vẽ nên bức tranh thiên nhiên thơ mộng, cuộc sống sinh hoạt đầm ấm và hình ảnh con người duyên dáng của vùng Tây Bắc.                                                         d. Hình tượng người lính Tây Tiến                               - Chân dung người lính được miêu tả chân thực: &quot;đoàn binh không mọc tóc&quot;, &quot; xanh màu lá&quot;, họ sống và chiến đấu trong điều kiện khắc nghiệt, thiếu thốn, gian khổ nhưng vẫn mạnh mẽ &quot;dữ oai hùm&quot;.                                                                                    - Họ là những con người có tâm hồn lãng mạn, trái tim yêu thương &quot;Mắt trừng gửi mộng&quot;/ &quot;Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm&quot;, lấy hình bóng người thương nơi quê nhà làm động lực chiến đấu.                             - Vẻ đẹp bi tráng thể hiện qua sự hi sinh anh dũng của họ:                                                                     + Sẵn sàng công hiến tuổi trẻ của mình cho đất nước &quot;rải rác biên cương mồ viễn xứ&quot;, &quot;chẳng tiếc đời xanh&quot;, &quot;anh về đất&quot;, ra đi thanh thản, nhẹ nhàng.                                                                                 + Cái chết đã được lí tưởng hóa như hình ảnh những tráng sĩ xưa: &quot;áo bào&quot;, &quot;khúc độc hành&quot;; thiên nhiên cũng đau đớn thay cho nỗi đau họ phải chịu.                                                                            - Nhận xét: Dù trong hoàn cảnh khó khăn những người lính Tây Tiến vẫn có những nét lãng mạn, hào hoa. Họ mang vẻ đẹp kiêu hùng, sẵn sàng hi sinh cho tổ quốc.                                                            e. Lời hẹn ước, gửi gắm tình cảm của tác giả                                                                          - Câu thơ nhắc nhớ lại ý nguyện, quyết tâm ra đi một thời của đoàn quân Tây Tiến: &quot;người đi không hẹn ước&quot;, còn là sự tiếc thương những đồng đội đã hi sinh &quot;thăm thẳm một chia phôi&quot;.                                                - Niềm thương, nỗi nhớ, tình cảm gắn bó của tác giả luôn gửi lại nơi đoàn quân Tây Tiến: và vùng rừng núi Tây Bắc &quot;Ai lên Tây Tiến ... / Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi&quot;                                                                                           3. Kết bài                                                                             - Giá trị nghệ thuật: bút pháp lãng mạn, những sáng tạo trong việc sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh thơ                                                                                        - Tổng kết giá trị nội dung: bài thơ đã tái hiện vẻ đẹp vừa hùng vĩ, vừa thơ mộng của núi rừng Tây Bắc; hình tượng người lính kiên cường, dũng cảm không ngại hi sinh nhưng cũng lãng mạn, mộng mơ.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                   </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955584863</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-19 15:08:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955584863</guid>
      </item>
      <item>
         <title>       đề cương ôn tập 2 bài Việt Bắc                                                                                       I. Mở bài“Chín năm làm một Điện BiênNên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng”(Tố Hữu)- Chặng đường kháng chiến chống Pháp đầy gian lao đã kết thúc với thắng lợi vẻ vang. Tháng 10 năm 1945, trung ương Đảng và chính phủ từ chiến khu Việt Bắc dời về thủ đô Hà Nội. Trong buổi chia tay đầy lưu luyến với đồng bào Việt Bắc, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ Việt Bắc.- Bài thơ là khúc hát giao duyên, là lời nhắn gửi tâm tình giữa người về xuôi và người ở lại, lời giãi bày tình cảm thắm thiết và cả nỗi nhớ trùng điệp của người ra đi. Việt Bắc chính là một trong những tác phẩm thể hiện phong cách sáng tác thơ của Tố Hữu.II. Thân bài1. Khung cảnh chia tay* Lời của người ở lại:- Bốn câu thơ đầu là lời của người ở lại hỏi người ra đi có còn nhớ “ta”, hỏi nhớ “núi, nguồn” là nhớ mảnh đất đã từng chung sống, gắn bó mười lăm năm nghĩa tình. Câu hỏi tu từ mượn cớ nhưng thực ra là nhắc nhở, nhắn nhủ người về xuôi đừng quên mảnh đất tình người. =&gt; Sự tình chung, tình cảm đạo lí. Hiệu quả của nghệ thuật câu hỏi tu từ để bộc lộ cảm xúc người nói, người ở lại kín đáo bộc lộ nỗi nhớ và tình yêu dành cho người về xuôi không phai mờ, trân trọng.* Lời của người ra đi:- Khung cảnh chia tay: Ở một bến sông, có tiếng hát làm nền. Nhân vật người đi kẻ ở bịn rịn, ban tay nắm chặt không rời, xúc động không nói nên lời.- Từ láy “bâng khuâng, bồn chồn” lột tả tâm trạng xốn xang, xao xuyến vì tình cảm bị níu kéo lại. Diễn tả nỗi lòng thương mến của người ở lại dành cho con người, Việt Bắc.- “Áo chàm” hình ảnh ẩn dụ Việt Bắc. Tượng trưng cho tâm hồn chất phác, chân thành, sâu nặng của người Việt Bắc.- Nhớ lại những tháng ngày gian khổ ở chiến khu:“Mưa nguồn suối lũ”: đất trời vần vũ, chìm trong mưa gió bão bùng, sự khắc nghiệt của mùa mưa Việt Bắc khiến cuộc sống trong rừng thêm khó khăn.“Những mây cùng mù”: biện pháp chêm xen nhấn mạnh bầu trời u ám nặng nề, gian khổ đè nặng, ẩn dụ những ngày đầu khó khăn của kháng chiến“Miếng cơm chấm muối”: vừa tả thực vừa ước lệch chỉ những thiếu thốn mọi mặt ở chiến khu.Khi gian khổ có nhau đến khi vui sướng người đi kẻ ở, giờ phút chia tay lòng người ở lại bỗng xôn xao vì tiếc nuối nhớ nhung. Biện pháp hoán dụ “rừng núi” chỉ người Việt Bắc, nỗi nhớ thêm kín đáo, đại từ “ai” phong cách dân gian mộc mạcNgười Việt Bắc nhắc đến kỉ niệm lịch sử khó quên, tự hào về mảnh đất anh hùng. =&gt; Hình thức đối thoại, đoạn thơ diễn tả tình cảm người Việt Bắc dành cho cán bộ chiến sĩ thắm thiết, mặn nồng.2. Nỗi nhớ của người ra đi- “Ta với mình, mình với ta… Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu”: Khẳng định tấm lòng thủy chung, một lòng mặn mà của người đi kẻ ở.- Nỗi nhớ của người ra đi được so sánh với nỗi nhớ người yêu: Tình quân dân bỗng trở nên thắm thiết như tình yêu lứa đôi.- Người ra đi luyến tiếc để nỗi nhớ vào thiên nhiên: nhớ về trăng vào những buổi chiều tà, nắng hiu hắt chiều sương, rừng nứa bờ tre, các địa danh quen thuộc như Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê…- Nhớ về con người Việt Bắc: cùng nhau chia sẻ ngọt bùi qua cơn đói rét, kỉ niệm ấm áp bên bộ đội và đồng bào cùng các điệu hát, hình ảnh mộc mạc của “cô em gái” lao động…=&gt; Tình cảm người chiến sĩ dành cho con người và quê hương Việt Bắc cũng là tình cảm nhà thơ dành cho nhân dân, đất nước, tình yêu cuộc sống kháng chiến3. Bức tranh tứ bình- Hai câu thơ đầu tiên:“Hoa và người”: nỗi nhớ hướng đến đối tượng cụ thểĐại từ nhân xưng “mình - ta” thể hiện tình yêu thương gắn bó sâu nặng của người đi kẻ ởĐiệp từ “ta về” đầu câu bộc lộ nỗi niềm xao xuyến, tâm trạng luyến lưu, vấn vương trong buổi chia tay, khơi gợi về quá khứ.- Bức tranh tứ bình:Bức tranh mùa đông: Thiên nhiên có nét chấm phá sắc đỏ thắm tươi của hoa chuối, sự tương phản màu sắc gợi vẻ rực rỡ. Không gian bỗng trong sáng, ấm áp nhờ sắc đỏ, khiến nỗi nhớ thêm rạo rực lòng người.Bức tranh màu xuân: Thiên nhiên Việt Bắc khoác trên mình gam màu xanh lá của núi rừng điểm tô dưới sắc trắng tinh khôi của hoa mơ. Động từ “nở” cùng tính từ “trắng” gợi những đóa hoa đang khoe sắc, độ xuân thì. Trong cảnh xuân con người miệt mài lao động, tạo bức tranh hài hòa.Bức tranh mùa hè: Việt Bắc mang sắc vàng tươi xinh của rừng phách. Phong cảnh mùa hạ hiện ra cổ điển, hữu tình ngời sáng, lung linh.Bức tranh mùa thu: Cảnh thu với vẻ đẹp của đêm trăng. Một nét huyền ảo, hiền hòa, mộng mơ. Vẻ đẹp mang theo bao ước mơ tươi sáng ở tương lai. Đoạn thơ khép lại bằng “khúc hát ân tình thủy chung”. Đó là tiếng hát của người ở lại, cũng là của người ra đi. Khúc hát của sự hy vọng thiết tha, tình quân dân đậm sâu.. =&gt; Bức tranh thiên nhiên đẹp, con người đẹp, trong đó là tấm lòng đẹp theo cùng nỗi nhớ đẹp. Thể hiện tình quân dân, tình đất nước cao đẹp của nhà thơ.4. Khung cảnh ra trận- Bút pháp sử thi tác giả khắc họa đoàn quân sục sôi khí thế trên những nẻo đường ra trận.Điệp từ “đêm đêm” tả thời gian dài, từ láy “rầm rập” âm thanh phối hợp cùng nhịp thơ 2/2 gợi tả bước chân hành quân đều nhịp, chắc khỏe.Biện pháp nói quá “đất rung” chứng tỏ sức mạnh đoàn quân phi thường.Chân dung đoàn quân tiêu biểu cho dân tộc anh hùng.- Đường hành quân gian lao, nguy hiểm nhưng chiến sĩ vẫn cảm nhận được vẻ đẹp thiên nhiên, mây trời, niềm vui ngắm cảnh: cho thấy lòng yêu đời, lạc quan, tin vào tương lai.Hoán dụ “mũ nan”: người chiến sĩ ra chiến trường mang theo mối tình quân dân để tiếp thêm động lực chiến đấuHình ảnh súng và sao cụ thể mà giàu tính biểu tượng. đầu súng gợi cảnh chiến tranh, sao vẽ ra khung cảnh thanh bình, tương lai tươi sáng hay ánh sao còn ẩn dụ cho đôi mắt người yêu.- Hình ảnh đoàn dân côngÁnh đuốc sáng gợi không khí lao động hăng say, phá đá mở đường. Ánh sáng đó toát lên sức mạnh, khí thế và gieo lên niềm tin tươi sáng.Hình ảnh “bước chân nát đá” tô đậm sức mạnh vĩ đại của đoàn dân công.Đoàn dân công có vẻ đẹp của anh hùng ra trận, sức mạnh của chiến tranh nhân dân.- Đoàn quân ra trận gởi về bao chiến công vang dội, làm chấn động địa cầu:Liệt kê các địa danh để thấy chiến thắng dồn dập, tưng bừngĐiệp từ “vui” diễn tả niềm hồ hởi, phấn khích vô biên trong chiến thắng=&gt; Đoạn thơ tái hiện chân dung Việt Bắc trong những ngày ra trận, qua đó ca ngợi Việt Bắc anh hùng, đất nước anh hùng.III. Kết bàiViệt Bắc là bài thơ xuất sắc ghi đậm dấu ấn của Tố Hữu. Tác phẩm không chỉ hài hào giữa cổ điển và hiện đại, cảnh và người, tình và lý mà còn là chất thơ dân gian, sử thi anh hùng ca đặc biệt chỉ có ở Tố Hữu.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955593800</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-19 15:18:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955593800</guid>
      </item>
      <item>
         <title>. Dàn ý phân tích Đất nước (đề 3)                                         a. Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm:+ Nguyễn Khoa Điềm thuộc lớp nhà thơ lớn lên trong những ngày hòa bình và trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, tiêu biểu cho thế hệ thơ trẻ những năm chống Mĩ.+ Bài thơ Đất nước trích trong trường ca Mặt đường khát vọng, là một bài thơ có chất triết lí sâu sắc, thể hiện tư tưởng “Đất nước của nhân dân”, thức tỉnh thanh niên, tuổi trẻ thành thị miền Nam xuống đường đấu tranh.b. Thân bài phân tích Đất nước* Luận điểm 1: Cảm nhận của tác giả về đất nước từ nhiều phương diện- Lí giải cội nguồn của đất nước (phương diện lịch sử, văn hoá dân tộc)+ “Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi” -&gt; Đất nước đã có từ lâu đời+ “ngày xửa ngày xưa” -&gt; gợi nhớ đến câu mở đầu các câu chuyện dân gian+ “miếng trầu” -&gt; tục ăn trầu của người Việt và truyện cổ tích trầu cau+ “Tóc mẹ thì bới sau đầu” -&gt; thói quen búi tóc của những người phụ nữ Việt Nam =&gt; Đất nước gắn liền với truyền thống văn hoá, quá trình hình thành phong tục tập quán.+ “Thương nhau bằng gừng cay muối mặn” -&gt; thói quen tâm lí, truyền thống yêu thương của dân tộc.+ “cái kèo cái cột thành tên”, “một nắng hai sương” -&gt; Đất nước trưởng thành cùng quá trình lao động sản xuất.=&gt; Đất nước bắt nguồn từ những điều bình dị, gần gũi trong đời sống của người Việt Nam từ xa xưa mà không hề xa xôi, trừu tượng.- Cảm nhận về đất nước qua phương diện không gian và thời gian+ Về không gian địa lí:&quot;Đất / nước&quot; : hai yếu tố được tách riêng để suy tư một cách sâu sắc“nơi anh đến trường”, “nơi em tắm”, “nơi em đánh rơi... thương thầm” : là nơi sinh sống của mỗi người (sinh ra, lớn lên, đi học, trưởng thành và những những rung động đầu đời,...)“nơi con chim phượng hoàng”, “nơi con cá ngư ông móng nước biển khơi” : Là núi, sông, rừng, biển&quot;là nơi dân mình đoàn tụ...&quot; : là không gian sinh tồn của cộng đồng dân tộc qua bao thế hệ ()+ Về thời gian:Dài “đằng đẵng” từ xa xưa, gắn liền với truyền thuyết các dân tộc anh em cùng chung con Rồng, cháu Lạc và truyền thuyết dựng nước của vua Hùng cùng ngày giỗ Tổ.Trong hiện tại: đất nước có trong tấm lòng mỗi con người, mỗi người đều thừa hưởng những giá trị của đất nước, khi có sự gắn kết giữa mỗi người đất nước sẽ nồng thắm, hài hòa, lớn lao.Đó là sự gắn kết giữa cái riêng và cái chung.Trong tương lai: thế hệ trẻ sẽ “mang đất nước đi xa”, “đến những ngày mơ mộng”, đất nước sẽ trường tồn, bền vững.=&gt; Đất nước được cảm nhận suốt chiều dài thời gian lịch sử từ quá khứ đến hiện tại và tương lai. * Luận điểm 2: Tư tưởng cốt lõi Đất nước của Nhân dân.- Thiên nhiên địa lí của đất nước không chỉ là sản phẩm của tạo hóa mà được hình thành từ phẩm chất và số phận của mỗi người, là một phần máu thịt, tâm hồn con người:+ Nhờ tình nghĩa yêu thương, thủy chung mà có “hòn Vọng Phu”, “hòn Trống Mái”+ Nhờ tinh thần bất khuất, anh hùng trong quá trình dựng nước và giữ nước mà có những ao đầm, di tích lịch sử về quá trình dựng nước.+ Nhờ truyền thống hiếu học mà có những “núi Bút non Nghiên”- Nhân dân làm nên lịch sử 4000 năm:+ Họ là những người con trai, con gái bình dị nhưng luôn thường trực tình yêu nước.+ Tác giả nhấn mạnh đến những con người vô danh làm nên lịch sử, khẳng định vai trò của mỗi cá nhân với lịch sử dân tộc.- Nhân dân tạo ra và giữ gìn những giá trị vật chất, tinh thần cho đất nước: văn hóa “truyền hạt lúa”, “truyền lửa”, “truyền giọng nói”, “gánh theo tên xã, tên làng”,... từ đó xây dựng nền móng phát triển đất nước lâu bền.- Tư tưởng cốt lõi, cảm hứng bao trùm cả đoạn trích: “đất nước này là đất nước của nhân dân đất nước của ca dao thần thoại”, đất nước ấy thể hiện qua tâm hồn con người: biết yêu thương, biết quý trọng trọng tình nghĩa, công sức và biết chiến đấu vì đất nước.c. Kết bài phân tích Đất nước- Khái quát giá trị nội dung bài thơ: Đất nước được cảm nhận ở nhiều phương diện, cái nhìn mới mẻ về đất nước với tư tưởng cốt lõi là tư tưởng đất nước của nhân dân. Đồng thời cũng nêu lên trách nhiệm của các thế hệ, đặc biệt là thế hệ trẻ với đất nước mình. - Đặc sắc nghệ thuật:+ Sử dụng các chất liệu của văn hoá dân gian đa dạng, sáng tạo+ Ngôn ngữ giàu chất suy tư, triết luận sâu sắc+ Thể thơ tự do hiện đại linh hoạt+ Giọng thơ trữ tình - chính luận sâu lắng, thiết tha.- Nêu cảm nhận của em về bài thơLiên hệ trách nhiệm của thế hệ trẻ ngày nay với đất nước.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955599637</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-19 15:24:43 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955599637</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lập dàn ý phân tích bài thơ SóngMở bài phân tích bài Sóng(đề 4)- Giới thiệu tác giả, tác phẩm:+ Xuân Quỳnh là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ thời kì chống Mĩ cứu nước, là thi sĩ của tình thương, lòng trắc ẩn và hồn thơ nữ tính.+ Bài thơ Sóng sáng tác năm 1967, in trong tập Hoa dọc chiến hào, là bài thơ viết về tình yêu tiêu biểu cho hồn thơ giàu chất nữ tính của Xuân Quỳnh.Thân bài phân tích bài thơ Sóng* Luận điểm 1: Bản chất, quy luật của “sóng” và “em” (khổ 1,2)- Mở đầu bài thơ là trạng thái tâm lý đặc biệt của một tâm hồn khao khát yêu đương đang tìm đến một tình yêu rộng lớn hơn.+ &quot;dữ dội - dịu êm, ồn ào - lặng lẽ&quot;: nghệ thuật tương phản.-&gt; Hai trạng thái tâm lí đối nghịch lại được diễn tả trong một ngữ cảnh cụ thể làm hiện lên vẻ đẹp của những con sóng biển ngàn đời đối cực, gợi liên tưởng đến tâm lí của người phụ nữ khi yêu (khi mãnh liệt khi lại dịu dàng).=&gt; Xuân Quỳnh đã diễn tả thật cụ thể trạng thái khác thường, vừa phong phú vừa phức tạp trong một trái tim đang cồn cào, khao khát tình yêu.+ Ba hình ảnh “sông”, “sóng”, “bể” bổ sung cho nhau: Sông và bể làm nên đời sóng, sóng chỉ thực sự có đời sống riêng khi ra với biển khơi mênh mang thăm thẳm.=&gt; Hành trình của sóng là hành trình khám phá chính bản thân mình, khát khao vươn tới giá trị tuyệt đích trong tình yêu của người phụ nữ, bứt phá không gian chật hẹp để khát khao một không gian lớn lao. + “Ôi con sóng... và ngày sau vẫn thế”Thán từ “ôi” thể hiện nét nồng nàn trong giọng thơ Xuân Quỳnh, là tiếng lòng thốt lên từ nỗi thổn thức của trái tim yêu.Nghệ thuật đối lập “ngày xưa” - “ngày sau” càng làm tôn thêm nét đáng yêu của sóng-&gt; Dù trong quá khứ hay hiện tại sóng luôn dạt dào, sôi nổi, luôn khát vọng. Đó cũng là khát vọng và bản tính của người phụ nữ muôn đời, mãi trường tồn, vĩnh hằng với thời gian.+ “Nỗi khát vọng tình yêu... ngực trẻ”“bồi hồi” là trạng thái tâm hồn bất định, khắc họa thật rõ ràng những nét cảm xúc: có cái nôn nao, xao xuyến; có nỗi khắc khoải, da diết của tình yêu muôn đời vĩnh hằng trong “ngực trẻ”.=&gt; Liên hệ tình yêu của tuổi trẻ với con sóng của đại dương, khát vọng tình yêu là khát vọng đặc trưng muôn đời của tuổi trẻ.* Luận điểm 2: Những suy nghĩ trăn trở về cội nguồn tình yêu (khổ 3,4)- Từ “Không hiểu nổi mình” nhà thơ liên tiếp đặt ra những băn khoăn, thắc mắc về biển cả, về tình yêu+ Điệp ngữ “em nghĩ về”+ Câu hỏi: “Từ nơi nào sóng lên”-&gt; Nhấn mạnh niềm khát khao, nhu cầu tự nhận thức bản thân, người mình yêu và nhu cầu nhận thức, lí giải nhưng lại không thể cắt nghĩa nổi của tình yêu.+ “Em cũng không biết nữa - Khi nào ta yêu nhau”-&gt; Người phụ nữ băn khoăn về khởi nguồn của tình yêu và bộc bạch một cách hồn nhiên, chân thành, cách cắt nghĩa rất nữ tính, rất trực cảm của Xuân Quỳnh.- Xuân Quỳnh dựa vào quy luật tự nhiên để tìm khởi nguồn của sóng, của tình yêu, gợi lên sự trăn trở trước bí ẩn của tình yêu, thời điểm bắt đầu tình tình yêu.+ Lí giải được ngọn nguồn của sóng: “Sóng bắt đầu từ gió”+ “Gió bắt đầu từ đâu?”: “Em cũng không biết nữa”-&gt; Tình yêu đến rất bất ngờ và tự nhiên không báo động trước.=&gt; Câu thơ “Em cũng không biết nữa” như một cái lắc đầu nhè nhẹ, phân vân.+ Câu hỏi tu từ “Khi nào ta yêu nhau” -&gt; nữ sĩ đang bâng khuâng và băn khoăn về câu hỏi muôn đời không ai lí giải nổi.* Luận điểm 3: Nỗi nhớ, lòng thủy chung của người con gái trong tình yêu (khổ 5,6)- Nghệ thuật tương phản:+ “dưới lòng sâu”, “trên mặt nước” -&gt; gợi những phạm vi không gian khác nhau+ &quot;ngày&quot; - &quot;đêm&quot; -&gt; phạm vi thời gian khác nhau- “ngày đêm không ngủ được”: nhân hóa=&gt; Diễn tả nỗi nhớ dạt dào, triền miên của sóng với bờ cũng là nỗi nhớ của người phụ nữ khi yêu.- Người phụ nữ bày tỏ nỗi nhớ một cách trực tiếp, mạnh dạn, chân thành:+ “Lòng em nhớ đến anh”+ Cách nói thậm xưng: “Cả trong mơ còn thức”-&gt; Nỗi nhớ mãnh liệt của một trái tim đang yêu, nỗi nhớ thường trực cả khi thức, khi ngủ, bao trùm cả không gian và thời gian.+ Nghệ thuật tương phản “xuôi - ngược”, &quot;bắc - nam&quot;+ Điệp ngữ “dẫu”, “vẫn”, “về”-&gt; Hành trình của sóng ngoài biển lớn cũng như hành trình tình yêu của người phụ nữ giữa cuộc đời=&gt; Tình cảm thủy chung của người con gái: dù đi đâu, dù xuôi ngược bốn phương, thì em cũng chỉ hướng về một phương của anh, có anh, cho anh.* Luận điểm 4: Khát vọng tình yêu vĩnh cửu (khổ 7,8,9)- “Con nào chẳng tới bờ... Dù muôn vời cách trở”-&gt; Quy luật vĩnh cửu của thiên nhiên, cũng giống như “em” muốn được gần bên anh, được hòa nhịp vào trong tình yêu với anh, dù khó khăn, thử thách vẫn luôn hướng đến “anh”.=&gt; Người phụ nữ hồn nhiên, tha thiết yêu đời ấp ủ biết bao hi vọng, niềm tin vào hạnh phúc tương lai, vào cái đích cuối cùng của một tình yêu lớn như con sóng nhất định sẽ “tới bờ”, “dù muôn vời cách trở”.ADVERTISINGX- “Cuộc đời tuy dài thế / Năm tháng vẫn đi qua”: cảm giác cô đơn nhỏ bé trước cuộc đời, nỗi lo âu về sự hữu hạn của tình yêu trước thời gian vô tận.- “Như biển kia... bay về xa”: cảm giác bất an trước cái dễ đổi thay của lòng người giữa “muôn vời cách trở”. Nhưng đây còn là vượt lên sự lo âu phấp phỏng đặt niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của tình yêu như mây có thể vượt qua biển rộng.- “Làm sao” gọi sự băn khoăn, khắc khoải, ước ao được hóa thành “trăm con sóng nhỏ” để muôn đời vỗ mãi vào bờ.=&gt; Đó là khát khao của người phụ nữ được sống trong “biển lớn tình yêu” bằng tình yêu và cùng tình yêu, khát khao hòa nhập tình yêu riêng tư trong tình yêu chung rộng lớn.Kết bài phân tích bài thơ Sóng- Giá trị nội dung của bài Sóng: Bài thơ là sự cảm nhận về tình yêu từ hình tượng sóng với tất cả những sắc thái, cung bậc (nỗi nhớ, sự thủy chung, trắc trở) và cả khát vọng vĩnh cửu hóa tình yêu của một tâm hồn phụ nữ luôn chân thành, khát khao hạnh phúc.- Đặc sắc nghệ thuật+ Thể thơ ngũ ngôn liền mạch+ Xây dựng thành công hình tượng “sóng”+ Biện pháp nhân hóa, ẩn dụ, đối lập - tương phản,...+ Ngôn từ, hình ảnh trong sáng bình dị+ Cách ngắt nhịp linh hoạt, phóng khoáng+ Cách gieo vần, phối âm độc đáo, giàu sức liên tưởng+ Giọng thơ phong phú, vừa thiết tha, đằm thắm, vừa mãnh liệt sôi nổi, vừa hồn nhiên, nữ tính- Nêu cảm nhận của em về bài thơ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955602296</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-19 15:27:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955602296</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dàn ý Phân tích Người lái đò sông ĐàI. Mở bài- Tác giả Nguyễn Tuân: có phong cách nghệ thuật độc đáo, cái tôi đầy cá tính, một nhà văn tài hoa uyên bác, luôn khám phá thế giới ở bình diện văn hóa thẩm mĩ.- Tác phẩm được sáng tác trong gian đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, với nội dung ngợi ca vẻ đẹp của con người và thiên nhiên Tây Bắc.II. Thân bài1. Lời đề từ- Lời đề từ “Đẹp vậy thay ...”: thể hiện xúc cảm mãnh liệt trước vẻ đẹp của dòng sông và con người gắn bó với dòng sông, thấy được cảm hứng chủ đạo là ngợi ca.- Lời đề từ tiếp: “Chúng thủy ...”: thể hiện cá tính độc đáo của của con sông Đà.2. Hình tượng dòng sông Đàa. Dòng sông “hung bạo”- “Cảnh đá bờ sông dựng vách thành”: lòng sông hẹp, “bờ sông dựng vách thành”, “đúng ngọ mới có mặt trời”, chỗ “vách đá ... như một cái yết hầu”.- Ở mặt ghềnh Hát Loóng: “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió” một cách hỗn độn, lúc nào cũng như “đòi nợ suýt” những người lái đó. - Ở Tà Mường Vát: “có những cái hút nước giống như cái giếng bê tông”, chúng “thở và kêu như cửa cống cái bị sặc nước”.- Trận địa thác đá được miêu tả từ xa đến gần:+ Xa: từ xa âm thanh thác nước hiện lên với nhiều trạng thái: “oán trách”, “van xin”, “khiêu khích”, “chế nhạo”; “rống lên như một ngàn con trâu ... cháy bùng bùng” (lấy lửa tả nước).+ Gần: Đá cũng đầy mưu mẹo: “nhăn nhúm”, “”hất hàm”, “oai phong”, có những hành động như “mai phục”, “chặn ngang”, “tiêu diệt”; sóng: “đánh khuýp quật vu hồi”, “đánh giáp lá cà”, “đòn tỉa”.+ Sự biến hóa linh hoạt của 3 trùng vi thạch trận:- Nhận xét: sông Đà mang diện mạo và tâm địa của một con thủy quái, “dòng thác hùm beo”, thứ kẻ thù số một của con người.b. Sông Đà trữ tình- Từ trên cao nhìn xuống như “dây thừng ngoằn ngoèo”, “áng tóc trữ tình”, mùa xuân có màu xanh ngọc bích, thu lừ lừ chín đỏ.- Khi đi rừng lâu ngày gặp lại con sông: sông Đà như một “cố nhân”, có ánh sáng “loang loáng như trẻ con chiếu gương vào mắt”, như “nắng tháng ba Đường thi”, ...- Khi đi thả thuyền trên sông: “bờ sông như một bờ tiền sử”, “hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”, thiên nhiên mơn mởn: lá ngô non, “con hươu thơ ngộ”, ... 3. Hình tượng người lái đò sông Đà- Có thể liên hệ đến hình ảnh Huấn Cao - người anh hùng trong quan niệm của Nguyễn Tuân trước cách mạng để dẫn dắt sang hình tượng ông lái đò.- Về lai lịch: tác giả xóa mờ xuất thân, tập trung miêu tả ngoại hình: “tay lêu nghêu ... chất mun” để ngợi ca những con người vô danh âm thầm cống hiến.- Công việc: lái đò trên sông Đà, hằng ngày đối diện với con thủy quái hung bạo..- Tài năng và tâm hồn:+ Là người từng trải, hiểu biết và thành thạo trong nghề lái đò: “trên sông Đà ông xuôi ngược hơn một trăm lần”, “nhớ tỉ mỉ ... những luồng nước”, ...+ Là người mưu trí dũng cảm, bản lĩnh và tài ba: ung dung đối đầu với thác dữ “nén đau giữ mái chèo, tỉnh táo chỉ huy bạn chèo ...”, “nắm chắc binh pháp của thần sông thần núi”, động tác điêu luyện “cưỡi đúng ngay trên bờm sóng, phóng thẳng thuyền vào giữa thác ...”+ Là người nghệ sĩ tài hoa: ưa những khúc sông nhiều ghềnh thác, không thích lái đò trên khúc sông bằng phẳng, coi việc chiến thắng “con thủy quái” là chuyện thường.- Khái quát về phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân.III. Kết bài- Tổng kết nghệ thuật đặc sắc: ngôn ngữ điêu luyện, tưởng tượng độc đáo, vận dụng tri thức nhiều ngành nghệ thuật, xây dựng thành công hình tượng sông Đà và ông lái đò.- Khái quát nội dung: tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp của con người lao động, vẻ đẹp thiên nhiên đất nước.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955604437</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-19 15:30:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955604437</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dàn ý phân tích Ai đã đặt tên cho dòng sôngI. Mở bàiTác giả: là một người nghệ sĩ có vốn hiểu biết sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, là nhà văn chuyên viết về bút kí, có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và trữ tình, giữa nghị luận sắc bén và suy tư đa chiều.Trích trong bút kí cùng tên, hoàn thành tại Huế, tác phẩm thể hiện vẻ đẹp nên thơ của dòng sông Hương và tình yêu thương của tác giả đối với thiên nhiên đất nước.II. Thân bàiÝ nghĩa nhan đề: nhấn mạnh đến vẻ đẹp huyền thoại của sông Hương, khát vọng của con người muốn đẹp cái đẹp về xây đắp cho xứ Huế, gợi lòng biết ơn đến những con người khai phá vùng đất ấy. 1. Hình tượng sông Hươnga. Dòng sông thiên nhiênỞ thượng nguồn: “bản trường ca của rừng già”, “cô gái Di gan”, “người con gái của rừng già”, “người mẹ phù sa của vùng văn hóa xứ sở”Từ thượng nguồn đến Huế: sông Hương như người con gái lần đầu đến với tình yêu một mặt rất e lệ, một mặt táo bạo chủ động.Trong lòng Huế: như một người con gái đắm say tình tứ khi bên người mình yêu, người con gái tài hoa “tài nữ đánh đàn trong đêm khuya”.Từ biệt Huế ra biển: như một người con gái lưu luyến, thủy chung từ biệt người yêu.Nhận xét: tác giả chủ yếu cảm nhận vẻ đẹp sông Hương từ góc độ tình yêu khiến sông Hương hiện lên như một người con gái chung tình hết lòng vì tình yêu.b. Dòng sông lịch sửSông Hương là một nhân chứng lịch sử của Huế, của đất nước: “soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ”, chứng kiến những mất mát đau thương của các cuộc khởi nghĩa thế kỉ XIX, ...Sông Hương như một công dân có ý thức trách nhiệm sâu sắc với đất nước: “biết hiến đời mình để làm nên chiến công”, ...Là một người con gái anh hùng: cùng gắn bó với Huế qua nhiều cuộc chiến đấu anh hùng trong thời kì trung đại, đến cách mạng tháng tám cũng có những chiến công vang dội, ... c. Dòng sông văn hóaSông Hương là “người mẹ phù sa của vùng văn hóa xứ sở”: toàn bộ âm nhạc cổ điển Huế, những bản đàn theo suốt cuộc đời Kiều và bản Tứ đại cảnh đều được sinh thành trên sông nước sông Hương.Là người tài nữ đánh đàn trong đêm khuya: không bao giờ lặp lại trong cảm hứng của các thi nhânNhận xét: Sông Hương chính là người con gái phóng khoáng, chung thủy trong tình yêu,anh dũng kiên cường trong lịch sử, tài hoa sáng tạo trong âm nhạc, trong văn hóa, khiêm nhường trong đời thương. Là hiện thân cho vẻ đẹp người con gái Huế.2. Hình tượng cái tôi tác giảQuan sát dòng sông trên nhiều góc độ khác nhau, miêu tả dòng sông trên nhiều phương diện.Là nhà văn có những liên tưởng, so sánh, độc đáo, lối viết tài hoa, uyên bác.Là cái tôi nghệ sĩ có tình yêu tha thiết, say đắm với thiên nhiên Huế và đất nước.III. Kết bàiĐánh giá nghệ thuật nổi bật: liên tưởng độc đáo, sử dụng từ ngữ đặc sắc, văn phong tao nhã, thành công trong nghệ thuật xây dựng hình tượng sông Hương.Qua tác phẩm ta cảm nhận được niềm tự hào tha thiết của tác giả với vẻ đẹp thiên nhiên xứ Huế cũng như đất nước. Nhà văn có lối hành văn mê đắm, súc tích</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955606138</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-19 15:31:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955606138</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phân tích hình tượng người lái đò trong &quot;Người lái đò sông Đà&quot;</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955616632</link>
         <description><![CDATA[<div>1. Mở bài<br><br>Giới thiệu tác giả Nguyễn Tuân, tác phẩm Người lái đò Sông Đà và hình tượng nhân vật người lái đò với những vẻ đẹp tráng lệ: người anh hùng sông nước, người nghệ sĩ tài ba và người lao động bình dị<br><br>2. Thân bài<br><br>* Nhận xét khái quát về phong cách sáng tác của tác giả Nguyễn Tuân:<br><br>- Từ nhan đề, tác giả đã đưa hình tượng con người vào trung tâm, cốt để miêu tả con người<br><br>- Phong cách nghệ thuật vốn có của tác giả là hướng tới cái đẹp, cái hoàn mỹ. Ở đây, con người là chủ thể trữ tình và là nhân vật trung tâm, tác phẩm xoay quanh cái đẹp của con người<br><br>*Hình tượng người lái đò được xây dựng với những nét đẹp điển hình<br><br>- Người lái đò là một người anh hùng trên sông nước.<br><br>Vượt thạch trận sông Đà đã chứng minh sự dũng cảm, kiên cường của nhân vật: Ông nắm chắc từng luồng nước, từng con sóng, binh pháp của thần sông thần đá.<br>Ông thuộc lòng từng cửa sinh, cửa tử, từng đá hòn đá tảng, từng cái hút nước trên thạch trận.<br>Hình dung ra bộ mặt dữ tợn của nước, đá, sóng, gió, cảm nhận được thái độ giận dữ, tâm trạng cáu kỉnh của nó để rồi có những sách lược chiến thắng từng con thác, từng tảng đá.<br>- Người lái đò là một người nghệ sĩ.<br><br>+ Những hành động đều nhanh gọn, dứt khoát và điêu luyện. “Thuyền vút qua cổng đá cánh mở cánh khép, vút, vút… Cửa ngoài rồi cửa trong cùng. Thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được, lượn được.”<br>- Người lái đò là một người lao động bình dị đã cống hiến thầm lặng mà cao cả.<br><br>→ Biểu tượng cho những con người say mê với công việc, tình yêu với nghề nghiệp mà bất chấp hiểm nguy, vất vả. Nguyễn Tuân không gọi nhân vật với cái tên cụ thể, chỉ đơn giản là “ông lái đò”, tên gọi gắn liền với nghề nghiệp để khắc họa hình ảnh người lao động bình dị giống bao người khác.<br><br>3. Kết Bài<br><br>Khẳng định tài năng nghệ thuật của Nguyễn Tuân nói chung và khả năng xây dựng hình tượng nhân vật điển hình của tác giả.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-19 15:44:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955616632</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phân tích ai đặt tên cho dòng sông</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955618499</link>
         <description><![CDATA[<div><br>I. Mở bài<br><br>Tác giả: là một người nghệ sĩ có vốn hiểu biết sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, là nhà văn chuyên viết về bút kí, có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và trữ tình, giữa nghị luận sắc bén và suy tư đa chiều.<br>Trích trong bút kí cùng tên, hoàn thành tại Huế, tác phẩm thể hiện vẻ đẹp nên thơ của dòng sông Hương và tình yêu thương của tác giả đối với thiên nhiên đất nước.<br>II. Thân bài<br><br>Ý nghĩa nhan đề: nhấn mạnh đến vẻ đẹp huyền thoại của sông Hương, khát vọng của con người muốn đẹp cái đẹp về xây đắp cho xứ Huế, gợi lòng biết ơn đến những con người khai phá vùng đất ấy.<br><br>1. Hình tượng sông Hương<br><br>a. Dòng sông thiên nhiên<br><br>Ở thượng nguồn: “bản trường ca của rừng già”, “cô gái Di gan”, “người con gái của rừng già”, “người mẹ phù sa của vùng văn hóa xứ sở”<br>Từ thượng nguồn đến Huế: sông Hương như người con gái lần đầu đến với tình yêu một mặt rất e lệ, một mặt táo bạo chủ động.<br>Trong lòng Huế: như một người con gái đắm say tình tứ khi bên người mình yêu, người con gái tài hoa “tài nữ đánh đàn trong đêm khuya”.<br>Từ biệt Huế ra biển: như một người con gái lưu luyến, thủy chung từ biệt người yêu.<br>Nhận xét: tác giả chủ yếu cảm nhận vẻ đẹp sông Hương từ góc độ tình yêu khiến sông Hương hiện lên như một người con gái chung tình hết lòng vì tình yêu.<br>b. Dòng sông lịch sử<br><br>Sông Hương là một nhân chứng lịch sử của Huế, của đất nước: “soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ”, chứng kiến những mất mát đau thương của các cuộc khởi nghĩa thế kỉ XIX, ...<br>Sông Hương như một công dân có ý thức trách nhiệm sâu sắc với đất nước: “biết hiến đời mình để làm nên chiến công”, ...<br>Là một người con gái anh hùng: cùng gắn bó với Huế qua nhiều cuộc chiến đấu anh hùng trong thời kì trung đại, đến cách mạng tháng tám cũng có những chiến công vang dội, ..<br>c. Dòng sông văn hóa<br><br>Sông Hương là “người mẹ phù sa của vùng văn hóa xứ sở”: toàn bộ âm nhạc cổ điển Huế, những bản đàn theo suốt cuộc đời Kiều và bản Tứ đại cảnh đều được sinh thành trên sông nước sông Hương.<br>Là người tài nữ đánh đàn trong đêm khuya: không bao giờ lặp lại trong cảm hứng của các thi nhân<br>Nhận xét: Sông Hương chính là người con gái phóng khoáng, chung thủy trong tình yêu,anh dũng kiên cường trong lịch sử, tài hoa sáng tạo trong âm nhạc, trong văn hóa, khiêm nhường trong đời thương. Là hiện thân cho vẻ đẹp người con gái Huế.<br>2. Hình tượng cái tôi tác giả<br><br>Quan sát dòng sông trên nhiều góc độ khác nhau, miêu tả dòng sông trên nhiều phương diện.<br>Là nhà văn có những liên tưởng, so sánh, độc đáo, lối viết tài hoa, uyên bác.<br>Là cái tôi nghệ sĩ có tình yêu tha thiết, say đắm với thiên nhiên Huế và đất nước.<br>III. Kết bài<br><br>Đánh giá nghệ thuật nổi bật: liên tưởng độc đáo, sử dụng từ ngữ đặc sắc, văn phong tao nhã, thành công trong nghệ thuật xây dựng hình tượng sông Hương.<br>Qua tác phẩm ta cảm nhận được niềm tự hào tha thiết của tác giả với vẻ đẹp thiên nhiên xứ Huế cũng như đất nước. Nhà văn có lối hành văn mê đắm, súc tích</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-19 15:46:28 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955618499</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955620515</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em>I. Dàn ý phân tích bài thơ Tây tiến,&nbsp;<br></em></strong><br></div><div><strong><br>1. Mở bài<br></strong><br></div><div><br>- Trình bày một số nét tiêu biểu về tác giả Quang Dũng và đặc trưng thơ ca của ông (vừa hồn nhiên vừa tinh tế, mang vẻ đẹp hào hoa, phóng khoáng, đậm chất lãng mạn).<br>- Nêu một số nét khái quát về bài thơ Tây Tiến: hoàn cảnh ra đời, giá trị nội dung nổi bật của bài thơ.<br><strong><em>2. Thân bài<br></em></strong><br></div><div><strong><br>a. Một số nét khái quát<br></strong><br></div><div><br>- Tây Tiến: là tên một đoàn quân được thành lập năm 1947, có nhiệm vụ kết hợp với bộ đội Lào để bảo vệ biên giới Việt - Lào, làm hao mòn lực lượng giặc Pháp.<br>- Xuất thân lính Tây Tiến: phần đông là người Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, sinh viên.<br>- Cảm hứng sáng tác: Quang Dũng viết bài thơ để bày tỏ nỗi nhớ với đoàn quân Tây Tiến sau khi chuyển sang công tác ở đơn vị khác.<br><br></div><div><strong><br>b. Đường hành quân của đoàn quân Tây Tiến giữa thiên nhiên Tây Bắc<br></strong><br></div><div><br>- Hai câu thơ đầu: nỗi nhớ thốt lên thành lời "Tây Tiến ơi" là tiếng gọi thân thương, "nhớ chơi vơi"là nỗi nhớ thường trực, bao trùm không gian.<br>- Bức tranh thiên nhiên Tây Bắc hoang sơ và dữ dội:<br>+ Địa danh Sài Khao, Mường Lát gợi sự hẻo lánh, xa xôi;<br>+ Các từ láy giàu tính tạo hình: "khúc khuỷu", "thăm thẳm", "heo hút", điệp từ "dốc", nghệ thuật điệp "Dốc lên ... dốc lên" gợi địa hình hiểm trở, quanh co, gập ghềnh.<br>+ Hình ảnh "súng ngửi trời" thể hiện tầm cao của núi non mà người lính phải vượt qua nhưng cũng có cái hóm hỉnh của người lính trong đó.<br>+ Nhịp thơ bẻ đôi "Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống" gợi tả sự nguy hiểm tột cùng.<br>+ Hình ảnh nhân hóa: "cọp trêu người", "thác gầm thét" gợi sự hoang sơ, man dại; thời gian: "chiều chiều", "đêm đêm" những người lính phải thường xuyên đối mặt với điều hiểm nguy chốn rừng thiêng nước độc.<br>+ Sử dụng phần lớn các thanh trắc nhằm nhấn mạnh sự trắc trở, ghập ghềnh của địa hình.<br>- Khung cảnh thiên nhiên cũng có lúc êm dịu, mang đậm hương vị cuộc sống: "nhà ai Pha Luông ...", "cơm lên khói", "Mai Châu mùa em ...", thanh bằng tạo cảm giác nhẹ nhàng, yên bình.<br>- Hình ảnh bi hùng về người lính Tây Tiến "dãi dầu không bước nữa", "gục lên súng mũ bỏ quên đời": có thể hiểu hai câu thơ đơn thuần miêu tả khoảnh khắc nghỉ ngơi của người lính sau cuộc hành quân dài, cũng có thể hiểu đó là sự nghỉ ngơi vĩnh viễn.<br>- Nhận xét: Thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ nhưng đầy rẫy những hiểm nguy, đó chính là những thử thách đối với những người lính Tây Tiến trên chặng đường hành quân.<br><br></div><div><strong><br>c. Kỉ niệm đẹp về tình quân dân, vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc<br></strong><br></div><div><br>- Kỉ niệm đêm liên hoan thắm tình quân dân:<br>+ Không khí đêm liên hoan tưng bừng với mà sắc rực rỡ, lộng lẫy: "bừng lên", "hội đuốc hoa", "khèn lên man điệu"; con người duyên dáng: "xiêm áo", "nàng e ấp".<br>+ Tâm hồn người lính bay bổng, say mê trong không khí ấm áp tình người: "Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ".<br>- Khung cảnh sông nước, con người vùng Tây Bắc:<br>+ Đẹp huyền ảo, hoang dại, thiêng liêng: "Chiều sương", "hồn lau nẻo bến bờ"<br>+ Con người lao động bình dị, mộc mạc: "dáng người trên độc mộc", cảnh vật duyên dáng, đầy sức sống: "trôi dòng nước lũ hoa đong đưa"<br>- Nhận xét: nhờ bút pháp lãng mạn, Quang Dũng đã vẽ nên bức tranh thiên nhiên thơ mộng, cuộc sống sinh hoạt đầm ấm và hình ảnh con người duyên dáng của vùng Tây Bắc.<br><strong><br>d. Hình tượng người lính Tây Tiến<br></strong><br></div><div><br>- Chân dung người lính được miêu tả chân thực: "đoàn binh không mọc tóc", " xanh màu lá", họ sống và chiến đấu trong điều kiện khắc nghiệt, thiếu thốn, gian khổ nhưng vẫn mạnh mẽ "dữ oai hùm".<br>- Họ là những con người có tâm hồn lãng mạn, trái tim yêu thương "Mắt trừng gửi mộng"/ "Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm", lấy hình bóng người thương nơi quê nhà làm động lực chiến đấu.<br>- Vẻ đẹp bi tráng thể hiện qua sự hi sinh anh dũng của họ:<br>+ Sẵn sàng công hiến tuổi trẻ của mình cho đất nước "rải rác biên cương mồ viễn xứ", "chẳng tiếc đời xanh", "anh về đất", ra đi thanh thản, nhẹ nhàng.<br>+ Cái chết đã được lí tưởng hóa như hình ảnh những tráng sĩ xưa: "áo bào", "khúc độc hành"; thiên nhiên cũng đau đớn thay cho nỗi đau họ phải chịu.<br>- Nhận xét: Dù trong hoàn cảnh khó khăn những người lính Tây Tiến vẫn có những nét lãng mạn, hào hoa. Họ mang vẻ đẹp kiêu hùng, sẵn sàng hi sinh cho tổ quốc.<br><br></div><div><strong><br>e. Lời hẹn ước, gửi gắm tình cảm của tác giả<br></strong><br></div><div><br>- Câu thơ nhắc nhớ lại ý nguyện, quyết tâm ra đi một thời của đoàn quân Tây Tiến: "người đi không hẹn ước", còn là sự tiếc thương những đồng đội đã hi sinh "thăm thẳm một chia phôi".<br>- Niềm thương, nỗi nhớ, tình cảm gắn bó của tác giả luôn gửi lại nơi đoàn quân Tây Tiến: và vùng rừng núi Tây Bắc "Ai lên Tây Tiến ... / Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi"<br>&nbsp;<br><br></div><div><strong>3. Kết bài<br></strong><br></div><div><br>- Giá trị nghệ thuật: bút pháp lãng mạn, những sáng tạo trong việc sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh thơ<br>- Tổng kết giá trị nội dung: bài thơ đã tái hiện vẻ đẹp vừa hùng vĩ, vừa thơ mộng của núi rừng Tây Bắc; hình tượng người lính kiên cường, dũng cảm không ngại hi sinh nhưng cũng lãng mạn, mộng mơ.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-19 15:48:48 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955620515</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phân tích khổ 3 việt bắc </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955631110</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;<br>Mở bài<br><br>- Giới thiệu về 12 câu thơ trong bài thơ Việt Bắc<br><br>Thân bài<br><br>a. Phân tích 4 câu đầu đoạn<br><br>- Tiếng "mình" cất lên thật gần gũi, thân thuộc →&nbsp; tình cảm thắm thiết, thân tình<br><br>- Những câu hỏi vừa như trách móc lại vừa như lo lắng, bùi ngùi: mưa nguồn suối lũ; mây cùng mù; miếng cơm chấm muối; mối thù chung<br>Nhịp thơ 2/4; 2/2/4 đều đặn lại càng thể hiện được sự thiết tha trong lòng người ở lại<br><br>b. Phân tích 6 câu tiếp&nbsp;<br><br>- Lối xưng hô "mình", "ta"&nbsp; độc đáo, chỉ hai mà một, đó là hình ảnh những người cách mạng đã về xuôi.<br><br>- "Rừng núi" là cách nói hoán dụ để chỉ những người dân nơi chiến khu Việt Bắc.<br><br>- Người cách mạng ra đi không chỉ để lại nỗi nhớ nhung trong lòng người ở lại mà cảnh vật cũng nhuốm màu buồn bã, quyến luyến: trám bùi rụng; măng mai già.<br><br>- Tình cảm của nhân dân Việt Bắc luôn "đậm đà lòng son"<br><br>=&gt; Nhân dân Việt Bắc thì vẫn luôn thắm thiết một mối tình son sắt với cách mạng, với cán bộ miền xa.&nbsp;<br><br>c. Phân tích 2 câu cuối đoạn<br><br>- 3 tiếng " mình" trong hai câu thơ chỉ người ở lại và kẻ ra đi<br><br>- Sự hài hoà, thấu hiểu nhau của nhân dân với cách mạng<br><br>- Nhắn nhủ về cách sống thủy chung với quá khứ khi gợi nhắc những địa điểm đánh dấu bước ngoặt cách mạng: Tân Trào, Hồng Thái<br><br>Kết bài<br><br>Khẳng định lại giá trị của đoạn trích và tài năng của tác giả.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-19 16:01:17 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955631110</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955644848</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Dàn ý Phân tích bài thơ Sóng -&nbsp;</strong></div><div><br>I. Mở bài<br><br></div><div>- Giới thiệu tác giả: Xuân Quỳnh là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ thời kì chống Mĩ cứu nước, là thi sĩ của tình thương, lòng trắc ẩn và hồn thơ nữ tính.</div><div>- Giới thiệu bài thơ <em>Sóng</em>: sáng tác năm 1967, in trong tập <em>Hoa dọc chiến hào</em>, là bài thơ viết về tình yêu tiêu biểu cho hồn thơ giàu chất nữ tính của Xuân Quỳnh.</div><div><br>II. Thân bài<br><br></div><div><strong>1. Bản chất, quy luật của “sóng” và “em”</strong></div><div>- Khổ 1: + sử dụng nghệ thuật tương phản: dữ dội – dịu êm, ồn ào – lặng lẽ, từ đó khái quát trạng thái đối lập của sóng, gợi liên tưởng đến tâm lí của người phụ nữ khi yêu (khi mãnh liệt khi lại dịu dàng).</div><div>&nbsp; &nbsp; + Nghệ thuật nhân hóa: “sông không hiểu” được bản tính của sóng, nên “sóng ” muốn tìm đến không gian rộng lớn, hành trình của sóng là hành trình khám phá chính bản thân mình, khát khao vươn tới giá trị tuyệt đích trong tình yêu của người phụ nữ.&nbsp;</div><div>- Khổ 2: +“Ôi con sóng ... và ngày sau vẫn thế”: dù trong quá khứ hay hiện tại sóng luôn dạt dào, sôi nổi, luôn khát vọng. Đó cũng là khát vọng và bản tính của người phụ nữ muôn đời.<br>+ “Nỗi khát vọng tình yêu ... ngực trẻ”: liên hệ tình yêu của tuổi trẻ với con sóng của đại dương, khát vọng tình yêu là khát vọng đặc trưng muôn đời của tuổi trẻ.</div><div><strong>2. Những suy nghĩ trăn trở về cội nguồn tình yêu</strong></div><div>&nbsp; &nbsp; + Khổ 3: Điệp ngữ “em nghĩ về” và câu hỏi: “Từ nơi nào sóng lên” nhấn mạnh niềm khát khao nhận thức bản thân, người mình yêu và nhận thức về tình yêu muôn đời.</div><div>- Khổ 4: Xuân Quỳnh dựa vào quy luật tự nhiên để tìm khởi nguồn của sóng, của tình yêu, gợi lên sự trăn trở trước bí ẩn của tình yêu, thời điểm bắt đầu tình tình yêu.</div><div><strong>3. Nỗi nhớ, lòng thủy chung của người con gái trong tình yêu</strong></div><div>- Khổ 5: +Nghệ thuật tương phản để gợi ra những phạm vi không gian khác nhau “dưới lòng sâu”, “trên mặt nước”, phạm vi thời gian khác nhau: ‘”ngày” – “đêm”, nghệ thuật nhân hóa: “ngày đêm không ngủ được”, diễn tả nỗi nhớ dạt dào, triền miên của sóng với bờ cũng là nỗi nhớ của người phụ nữ khi yêu.</div><div>- Khổ 6: + Nghệ thuật tương phản “xuôi – ngược”, điệp ngữ “dẫu”, “vẫn”, “về” gợi hành trình của sóng ngoài biển lớn cũng như hành trình tình yêu của người phụ nữ giữa cuộc đời.</div><div>&nbsp; &nbsp; + Lời thề thủy chung của người phụ nữ, niềm tin chờ đợi trong tình yêu, dù ở đâu cũng “hướng về anh một phương”, nghĩ về người mình yêu bằng cả trái tim.</div><div><strong>4. Khát vọng tình yêu vĩnh cửu</strong></div><div>- Khổ 7: khẳng định quy luật vĩnh cửu của thiên nhiên “con nào chẳng tới bờ ... Dù muôn vời cách trở”, cũng giống như “em”, dù khó khăn, thử thách vẫn luôn hướng đến “anh”.</div><div>- Khổ 8: + “Cuộc đời tuy dài thế / Năm tháng vẫn đi qua”: cảm giác cô đơn nhỏ bé trước cuộc đời, nỗi lo âu về sự hữu hạn của tình yêu trước thời gian vô tận.</div><div>&nbsp; &nbsp; + “Như biển kia ... bay về xa”: cảm giác bất an trước cái dễ đổi thay của lòng người giữa “muôn vời cách trở”. Nhưng đây còn là vượt lên sự lo âu phấp phỏng đặt niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của tình yêu như mây có thể vượt qua biển rộng.</div><div>&nbsp;Khổ 9: + “Làm sao” gọi sự băn khoăn, khắc khoải, ước ao được hóa thành “trăm con sóng nhỏ” để muôn đời vỗ mãi vào bờ.</div><div>&nbsp; &nbsp; + Đó là khát khao của người phụ được sống “biển lớn trong tình yêu ” bằng tình yêu và cùng tình yêu, khát khao hòa nhập tình yêu riêng tư trong tình yêu chung rộng lớn.</div><div><br>III. Kết bài<br><br></div><div>- Nêu cảm nhận về bài thơ <em>Sóng</em></div><div>- Khái quát giá trị nghệ thuật: xây dựng thành công hình tượng “sóng”ngôn từ, hình ảnh trong sáng bình dị, ...</div><div>- Nội dung: qua hình tượng sóng diễn tả tình yêu thiết tha, nồng nàn của người phụ nữ, Xuân Quỳnh đã thể hiện quan niệm tình yêu mới mẻ, hiện đại: sự chủ động của người phụ nữ trong tình yêu nhưng vẫn giữ được nét truyền thống.</div><div><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-19 16:17:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1955644848</guid>
      </item>
      <item>
         <title> </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956157276</link>
         <description><![CDATA[<div><br>DÀN Ý PHÂN TÍCH BÀI THƠ VIỆT BẮC<br><br></div><div><strong>I. Mở bài</strong></div><div>- Giới thiệu khái quát về tác giả Tố Hữu: là một nhà thơ lớn, một nhà thơ trữ tình chính trị, thơ ông luôn phản ánh những chặng đường đấu tranh gian khổ song cũng nhiều thắng lợi của dân tộc.</div><div>- Giới thiệu bài thơ <em>Việt Bắc</em>: hoàn cảnh sáng tác, nội dung chính của bài thơ.</div><div><strong>II. Thân bài</strong></div><div><strong>1. Ý nghĩa nhan đề</strong></div><div>- Việt Bắc là một địa danh – là cái nôi của cách mạng Việt Nam tiền khởi nghĩa, là cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến chống Pháp.</div><div>- Việt Bắc là nơi lưu giữ nhiều kỉ niệm giữa cán bộ cách mạng và đồng bào nơi đây.</div><div><strong>2. Lời của người ở lại (20 câu thơ đầu)</strong></div><div>- Tám câu thơ đầu là tâm trạng lưu luyến bịn rịn trong buổi chia tay:</div><div>+ Bốn câu trên, sử dụng điệp cấu trúc “mình về mình co nhớ” là lời ướm hỏi, khơi gợi lại những kỉ niệm về “mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”, về thiên nhiên Việt Bắc nghĩa tình.</div><div>+ Cách xưng hô “mình - ta” như lời tâm tình của đôi lứa yêu nhau khiến cuộc chia tay trở nên thân mật, giản dị. Cách xưng hô còn gợi nhớ đến những câu đối đáp trong điệu hát giao duyên khiến những câu thơ nói về cách mạng không khô khan mà trở nên đằm thắm, sâu lắng.</div><div>+ Bốn câu thơ tiếp là nỗi lòng lưu luyến của cả người ở lại và ra đi thể hiện qua những từ ngữ diễn tả tâm trạng trực tiếp: “da diết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn”; không khí buổi chia tay thân tình, gần gũi: “áo chàm”, “cầm tay nhau”.</div><div>- Mười hai câu tiếp theo, với việc sử dụng điệp từ “nhớ”, là lời nhắn nhủ dưới hình thức câu hỏi:</div><div>+ Nhớ đến thiên nhiên, núi rừng Việt Bắc trong những ngày kháng chiến: mưa nguồn, suối lũ, mây mù, trám bùi, măng mai.</div><div>+ Nhớ đến những ân tình trong khó khăn gian khổ: “miếng cơm chấm muối” nhưng vẫn “đậm đà lòng son”.</div><div>+ Nhớ đến quang thời gian hoạt động cách mạng: kháng Nhật, Việt Minh, Tân Trào, Hồng Thái, ...</div><div>+ Đại từ xưng hô “mình” thể hiện sự gắn bó, thân thiết giữa kẻ ở, người đi. Nó giống như cách xưng hô tâm tình, thủ thỉ chân thành.</div><div><strong>3. Lời của người ra đi</strong></div><div>- Bốn câu thơ tiếp khẳng định nghĩa tình thủy chung, mặn mà, “ta với mình, mình với ta”: thể hiện sự gắn bó, thấu hiểu nhau giữ người đi, kẻ ở.</div><div>- Người đi bày tỏ nỗi nhớ đến thiên nhiên Việt Bắc: “Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương”, “bản khói cùng sương”, “rừng nứa bờ tre”,... thiên nhiên Việt Bắc qua bốn mùa xuân, hạ, thu, đông.</div><div>- Nhớ đến con người Việt Bắc:</div><div>+ Những con người dù gian khó, vất vả những vẫn có tâm lòng thủy chung, cùng chia sẻ mọi “đắng cay ngọt bùi” trong kháng chiến: “chia củ sắn lùi”, “bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng”.</div><div>+ Nhớ đến những kỉ niệm ấm áp giữa bộ đội và đồng bào Việt Bắc: “lớp họ i tờ”, “giờ liên hoan”, “ca vang núi đèo”.</div><div>+ Nhớ hình ảnh những con người mang vẻ đẹp mộc mạc, giản dị của người lao động: “người mẹ”, “cô em gái”.</div><div>- Nhớ hình ảnh quân dân Việt Bắc đoàn kết đánh giặc: “ta cùng đánh Tây”, “cả chiến khu một lòng”; khí thế hào hùng của quân dân ta trong các trận đánh: “rầm rập như là đất rung”, “quân đi điệp điệp trùng trùng”, “dân công đỏ đuốc từng đoàn”, ...</div><div>- Nhớ những chiến công, những niềm vui thắng trận: “tin vui thắng trận trăm miền ... núi Hồng”</div><div>- Nhận xét: nhịp thơ dồn dập như âm hưởng bước hành quân, hình ảnh kì vĩ... tất cả tạo nên một bức tranh sử thi hoành tráng để ca ngợi sức mạnh của nhân dân anh hùng.</div><div><strong>4. Niềm tự hào, niềm tin gửi gắm Việt Bắc Cách mạng (16 câu thơ cuối)</strong></div><div>- Nhớ hình ảnh tươi sáng nơi nguồn cội của cuộc cách mạng: ngọn cờ đỏ thắm, rực rỡ sao vàng, có trung ương Đảng, có chính phủ và có Bác Hồ.</div><div>- Đoạn thơ thể hiện niềm tin vào sức mạnh, khả năng lãnh đạo của Đảng trong các cuộc cách mạng, niềm tự hào vào những chiến công Việt Bắc.</div><div><strong>III. Kết bài</strong></div><div>- Khái quát giá trị nghệ thuật: sử dụng thể dân tộc: thể thơ lục bát để nói về tình cảm cách mạng, lối đối đáp, sử dụng đại từ xưng hô linh hoạt (mình – ta), ngôn từ mộc mạc, giàu sức gợi…</div><div>- Khái quát giá trị nội dung: Bài thơ là bản anh hùng ca về cuộc kháng chiến, là bản tình ca về nghĩa tình cách mạng và kháng chiế</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-20 02:26:04 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956157276</guid>
      </item>
      <item>
         <title>HÌNH TƯỢNG NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956170518</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>1. Mở bài<br></strong><br></div><div>Giới thiệu tác giả Nguyễn Tuân, tác phẩm Người lái đò Sông Đà và hình tượng nhân vật người lái đò với những vẻ đẹp tráng lệ: người anh hùng sông nước, người nghệ sĩ tài ba và người lao động bình dị<br>THÂN BÀI<br><strong>* Nhận xét khái quát về phong cách sáng tác của tác giả Nguyễn Tuân:<br></strong><br></div><div>- Từ nhan đề, tác giả đã đưa hình tượng con người vào trung tâm, cốt để miêu tả con người<br><br></div><div>- Phong cách nghệ thuật vốn có của tác giả là hướng tới cái đẹp, cái hoàn mỹ. Ở đây, con người là chủ thể trữ tình và là nhân vật trung tâm, tác phẩm xoay quanh cái đẹp của con người<br><br></div><div><strong>*Hình tượng người lái đò được xây dựng với những nét đẹp điển hình<br></strong><br></div><div>- Người lái đò là một người anh hùng trên sông nước.<br><br></div><ul><li>Vượt thạch trận sông Đà đã chứng minh sự dũng cảm, kiên cường của nhân vật: Ông nắm chắc từng luồng nước, từng con sóng, binh pháp của thần sông thần đá.</li><li>Ông thuộc lòng từng cửa sinh, cửa tử, từng đá hòn đá tảng, từng cái hút nước trên thạch trận.</li><li>Hình dung ra bộ mặt dữ tợn của nước, đá, sóng, gió, cảm nhận được thái độ giận dữ, tâm trạng cáu kỉnh của nó để rồi có những sách lược chiến thắng từng con thác, từng tảng đá.</li></ul><div>- Người lái đò là một người nghệ sĩ.<br><br></div><div>+ Những hành động đều nhanh gọn, dứt khoát và điêu luyện. “Thuyền vút qua cổng đá cánh mở cánh khép, vút, vút… Cửa ngoài rồi cửa trong cùng. Thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được, lượn được.”<br>- Người lái đò là một người lao động bình dị đã cống hiến thầm lặng mà cao cả.<br><br></div><div>→ Biểu tượng cho những con người say mê với công việc, tình yêu với nghề nghiệp mà bất chấp hiểm nguy, vất vả. Nguyễn Tuân không gọi nhân vật với cái tên cụ thể, chỉ đơn giản là “ông lái đò”, tên gọi gắn liền với nghề nghiệp để khắc họa hình ảnh người lao động bình dị giống bao người khác.<br><br></div><div><strong>3. Kết Bài<br></strong><br></div><div>Khẳng định tài năng nghệ thuật của Nguyễn Tuân nói chung và khả năng xây dựng hình tượng nhân vật điển hình của tác giả.<br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-20 02:35:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956170518</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Mở bài– Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà văn chuyên về bút kí, có văn phong giàu chất trí tuệ và tài hoa.– Ai đã đặt tên cho dòng sông? Là tác phẩm xuất sắc thể hiện tình yêu của tác giả dành cho xứ Huế và cũng là cho đất nước. Hình tượng sông Hương được khác họa với nhiều vẻ đẹp khác nhau.                                               2. Giải thích– Vẻ đẹp nổi bật là vẻ đẹp hiện trên bề nổi, gây ấn tượng vượt trội, dễ nhận thấy bằng trực cảm. ý kiến thứ nhất coi cảnh sắc thiên nhiên thơ mộng, tình tứ là vẻ đẹp nổi bật của sông Hương.– Vẻ đẹp bề sâu là vẻ đẹp ẩn chìm, đòi hỏi phải có tri thức sâu rộng và chiêm nghiệm công phu mới khám phá được. Ý kiến thứ hai coi những trầm tích văn hóa, lịch sử là vẻ đẹp bề sâu của sông Hương.                                           3. Cảm nhận về hình tượng sông HươngCó thể cảm nhận về các vẻ đẹp khác nhau của hình tượng sông Hương, nhưng cần bám sát các ý kiến dưới đây là những ý kiến tham khảo:– Vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên thơ mộng, tình tứ: những cảnh trí, sắc màu của sông nước, núi đồi, bãi biển, cây cỏ,… giàu chất thơ, đầy gợi cảm; những dáng nét của khúc uốn, đường cong, điệu chả, nhịp trôi,… gọi nhiều liên tưởng về mĩ nhân, về tình tự lứa đôi đầy quyến rũ và say đắm.– Vẻ đẹp của những trầm tích văn hóa, lịch sử: sông Hương là “người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở”. là bao đời nay vẫn được tô điểm bởi vô vàn công trình thi ca, âm nhạc, hội họa, kiến trúc, điêu khắc; sông Hương gắn với biết bao võ công oanh liệt qua các thời đại lịch sử.– Nghệ thuật: phối hợp kể và tả; biện pháp ẩn dụ, nhân hóa, so sánh; ngôn ngữ giàu chất trữ tình, chất triết luận.Kết bàiĐưa ra nhận định khác của riêng mình về vẻ đẹp hình tượng của sông Hương: cảnh sắc thiên nhiên thơ mộng, tình tứ là vẻ đẹp nổi bật; những trầm tích văn hóa, lịch sử là vẻ đẹp bề sâu.      </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956170651</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-20 02:35:27 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956170651</guid>
      </item>
      <item>
         <title>TÂY TIẾN</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956175133</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>1. Mở bài<br></strong><br></div><div><br>- Trình bày một số nét tiêu biểu về tác giả Quang Dũng và đặc trưng thơ ca của ông (vừa hồn nhiên vừa tinh tế, mang vẻ đẹp hào hoa, phóng khoáng, đậm chất lãng mạn).<br>- Nêu một số nét khái quát về bài thơ Tây Tiến: hoàn cảnh ra đời, giá trị nội dung nổi bật của bài thơ.<br><strong><em>2. Thân bài<br></em></strong><br></div><div><strong><br>a. Một số nét khái quát<br></strong><br></div><div><br>- Tây Tiến: là tên một đoàn quân được thành lập năm 1947, có nhiệm vụ kết hợp với bộ đội Lào để bảo vệ biên giới Việt - Lào, làm hao mòn lực lượng giặc Pháp.<br>- Xuất thân lính Tây Tiến: phần đông là người Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, sinh viên.<br>- Cảm hứng sáng tác: Quang Dũng viết bài thơ để bày tỏ nỗi nhớ với đoàn quân Tây Tiến sau khi chuyển sang công tác ở đơn vị khác.<br><br></div><div><strong><br>b. Đường hành quân của đoàn quân Tây Tiến giữa thiên nhiên Tây Bắc<br></strong><br></div><div><br>- Hai câu thơ đầu: nỗi nhớ thốt lên thành lời "Tây Tiến ơi" là tiếng gọi thân thương, "nhớ chơi vơi"là nỗi nhớ thường trực, bao trùm không gian.<br>- Bức tranh thiên nhiên Tây Bắc hoang sơ và dữ dội:<br>+ Địa danh Sài Khao, Mường Lát gợi sự hẻo lánh, xa xôi;<br>+ Các từ láy giàu tính tạo hình: "khúc khuỷu", "thăm thẳm", "heo hút", điệp từ "dốc", nghệ thuật điệp "Dốc lên ... dốc lên" gợi địa hình hiểm trở, quanh co, gập ghềnh.<br>+ Hình ảnh "súng ngửi trời" thể hiện tầm cao của núi non mà người lính phải vượt qua nhưng cũng có cái hóm hỉnh của người lính trong đó.<br>+ Nhịp thơ bẻ đôi "Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống" gợi tả sự nguy hiểm tột cùng.<br>+ Hình ảnh nhân hóa: "cọp trêu người", "thác gầm thét" gợi sự hoang sơ, man dại; thời gian: "chiều chiều", "đêm đêm" những người lính phải thường xuyên đối mặt với điều hiểm nguy chốn rừng thiêng nước độc.<br>+ Sử dụng phần lớn các thanh trắc nhằm nhấn mạnh sự trắc trở, ghập ghềnh của địa hình.<br>- Khung cảnh thiên nhiên cũng có lúc êm dịu, mang đậm hương vị cuộc sống: "nhà ai Pha Luông ...", "cơm lên khói", "Mai Châu mùa em ...", thanh bằng tạo cảm giác nhẹ nhàng, yên bình.<br>- Hình ảnh bi hùng về người lính Tây Tiến "dãi dầu không bước nữa", "gục lên súng mũ bỏ quên đời": có thể hiểu hai câu thơ đơn thuần miêu tả khoảnh khắc nghỉ ngơi của người lính sau cuộc hành quân dài, cũng có thể hiểu đó là sự nghỉ ngơi vĩnh viễn.<br>- Nhận xét: Thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ nhưng đầy rẫy những hiểm nguy, đó chính là những thử thách đối với những người lính Tây Tiến trên chặng đường hành quân.<br><br></div><div><strong><br>c. Kỉ niệm đẹp về tình quân dân, vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc<br></strong><br></div><div><br>- Kỉ niệm đêm liên hoan thắm tình quân dân:<br>+ Không khí đêm liên hoan tưng bừng với mà sắc rực rỡ, lộng lẫy: "bừng lên", "hội đuốc hoa", "khèn lên man điệu"; con người duyên dáng: "xiêm áo", "nàng e ấp".<br>+ Tâm hồn người lính bay bổng, say mê trong không khí ấm áp tình người: "Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ".<br>- Khung cảnh sông nước, con người vùng Tây Bắc:<br>+ Đẹp huyền ảo, hoang dại, thiêng liêng: "Chiều sương", "hồn lau nẻo bến bờ"<br>+ Con người lao động bình dị, mộc mạc: "dáng người trên độc mộc", cảnh vật duyên dáng, đầy sức sống: "trôi dòng nước lũ hoa đong đưa"<br>- Nhận xét: nhờ bút pháp lãng mạn, Quang Dũng đã vẽ nên bức tranh thiên nhiên thơ mộng, cuộc sống sinh hoạt đầm ấm và hình ảnh con người duyên dáng của vùng Tây Bắc.<br><br></div><div><strong><br>d. Hình tượng người lính Tây Tiến<br></strong><br></div><div><br>- Chân dung người lính được miêu tả chân thực: "đoàn binh không mọc tóc", " xanh màu lá", họ sống và chiến đấu trong điều kiện khắc nghiệt, thiếu thốn, gian khổ nhưng vẫn mạnh mẽ "dữ oai hùm".<br>- Họ là những con người có tâm hồn lãng mạn, trái tim yêu thương "Mắt trừng gửi mộng"/ "Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm", lấy hình bóng người thương nơi quê nhà làm động lực chiến đấu.<br>- Vẻ đẹp bi tráng thể hiện qua sự hi sinh anh dũng của họ:<br>+ Sẵn sàng công hiến tuổi trẻ của mình cho đất nước "rải rác biên cương mồ viễn xứ", "chẳng tiếc đời xanh", "anh về đất", ra đi thanh thản, nhẹ nhàng.<br>+ Cái chết đã được lí tưởng hóa như hình ảnh những tráng sĩ xưa: "áo bào", "khúc độc hành"; thiên nhiên cũng đau đớn thay cho nỗi đau họ phải chịu.<br>- Nhận xét: Dù trong hoàn cảnh khó khăn những người lính Tây Tiến vẫn có những nét lãng mạn, hào hoa. Họ mang vẻ đẹp kiêu hùng, sẵn sàng hi sinh cho tổ quốc.<br><br></div><div><strong><br>e. Lời hẹn ước, gửi gắm tình cảm của tác giả<br></strong><br></div><div><br>- Câu thơ nhắc nhớ lại ý nguyện, quyết tâm ra đi một thời của đoàn quân Tây Tiến: "người đi không hẹn ước", còn là sự tiếc thương những đồng đội đã hi sinh "thăm thẳm một chia phôi".<br>- Niềm thương, nỗi nhớ, tình cảm gắn bó của tác giả luôn gửi lại nơi đoàn quân Tây Tiến: và vùng rừng núi Tây Bắc "Ai lên Tây Tiến ... / Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi"<br>&nbsp;<br><br></div><div><strong>3. Kết bài<br></strong><br></div><div><br>- Giá trị nghệ thuật: bút pháp lãng mạn, những sáng tạo trong việc sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh thơ<br>- Tổng kết giá trị nội dung: bài thơ đã tái hiện vẻ đẹp vừa hùng vĩ, vừa thơ mộng của núi rừng Tây Bắc; hình tượng người lính kiên cường, dũng cảm không ngại hi sinh nhưng cũng lãng mạn, mộng mơ.<br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-20 02:38:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956175133</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Việt Bắc</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956178193</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>I. Mở bài</strong></div><div>- Giới thiệu khái quát về tác giả Tố Hữu: là một nhà thơ lớn, một nhà thơ trữ tình chính trị, thơ ông luôn phản ánh những chặng đường đấu tranh gian khổ song cũng nhiều thắng lợi của dân tộc.</div><div>- Giới thiệu bài thơ <em>Việt Bắc</em>: hoàn cảnh sáng tác, nội dung chính của bài thơ.</div><div><strong>II. Thân bài</strong></div><div><strong>1. Ý nghĩa nhan đề</strong></div><div>- Việt Bắc là một địa danh – là cái nôi của cách mạng Việt Nam tiền khởi nghĩa, là cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến chống Pháp.</div><div>- Việt Bắc là nơi lưu giữ nhiều kỉ niệm giữa cán bộ cách mạng và đồng bào nơi đây.</div><div><strong>2. Lời của người ở lại (20 câu thơ đầu)</strong></div><div>- Tám câu thơ đầu là tâm trạng lưu luyến bịn rịn trong buổi chia tay:</div><div>+ Bốn câu trên, sử dụng điệp cấu trúc “mình về mình co nhớ” là lời ướm hỏi, khơi gợi lại những kỉ niệm về “mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”, về thiên nhiên Việt Bắc nghĩa tình.</div><div>+ Cách xưng hô “mình - ta” như lời tâm tình của đôi lứa yêu nhau khiến cuộc chia tay trở nên thân mật, giản dị. Cách xưng hô còn gợi nhớ đến những câu đối đáp trong điệu hát giao duyên khiến những câu thơ nói về cách mạng không khô khan mà trở nên đằm thắm, sâu lắng.</div><div>+ Bốn câu thơ tiếp là nỗi lòng lưu luyến của cả người ở lại và ra đi thể hiện qua những từ ngữ diễn tả tâm trạng trực tiếp: “da diết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn”; không khí buổi chia tay thân tình, gần gũi: “áo chàm”, “cầm tay nhau”.</div><div>- Mười hai câu tiếp theo, với việc sử dụng điệp từ “nhớ”, là lời nhắn nhủ dưới hình thức câu hỏi:</div><div>+ Nhớ đến thiên nhiên, núi rừng Việt Bắc trong những ngày kháng chiến: mưa nguồn, suối lũ, mây mù, trám bùi, măng mai.</div><div>+ Nhớ đến những ân tình trong khó khăn gian khổ: “miếng cơm chấm muối” nhưng vẫn “đậm đà lòng son”.</div><div>+ Nhớ đến quang thời gian hoạt động cách mạng: kháng Nhật, Việt Minh, Tân Trào, Hồng Thái, ...</div><div>+ Đại từ xưng hô “mình” thể hiện sự gắn bó, thân thiết giữa kẻ ở, người đi. Nó giống như cách xưng hô tâm tình, thủ thỉ chân thành.</div><div><strong>3. Lời của người ra đi</strong></div><div>- Bốn câu thơ tiếp khẳng định nghĩa tình thủy chung, mặn mà, “ta với mình, mình với ta”: thể hiện sự gắn bó, thấu hiểu nhau giữ người đi, kẻ ở.</div><div>- Người đi bày tỏ nỗi nhớ đến thiên nhiên Việt Bắc: “Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương”, “bản khói cùng sương”, “rừng nứa bờ tre”,... thiên nhiên Việt Bắc qua bốn mùa xuân, hạ, thu, đông.</div><div>- Nhớ đến con người Việt Bắc:</div><div>+ Những con người dù gian khó, vất vả những vẫn có tâm lòng thủy chung, cùng chia sẻ mọi “đắng cay ngọt bùi” trong kháng chiến: “chia củ sắn lùi”, “bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng”.</div><div>+ Nhớ đến những kỉ niệm ấm áp giữa bộ đội và đồng bào Việt Bắc: “lớp họ i tờ”, “giờ liên hoan”, “ca vang núi đèo”.</div><div>+ Nhớ hình ảnh những con người mang vẻ đẹp mộc mạc, giản dị của người lao động: “người mẹ”, “cô em gái”.</div><div>- Nhớ hình ảnh quân dân Việt Bắc đoàn kết đánh giặc: “ta cùng đánh Tây”, “cả chiến khu một lòng”; khí thế hào hùng của quân dân ta trong các trận đánh: “rầm rập như là đất rung”, “quân đi điệp điệp trùng trùng”, “dân công đỏ đuốc từng đoàn”, ...</div><div>- Nhớ những chiến công, những niềm vui thắng trận: “tin vui thắng trận trăm miền ... núi Hồng”</div><div>- Nhận xét: nhịp thơ dồn dập như âm hưởng bước hành quân, hình ảnh kì vĩ... tất cả tạo nên một bức tranh sử thi hoành tráng để ca ngợi sức mạnh của nhân dân anh hùng.</div><div><strong>4. Niềm tự hào, niềm tin gửi gắm Việt Bắc Cách mạng (16 câu thơ cuối)</strong></div><div>- Nhớ hình ảnh tươi sáng nơi nguồn cội của cuộc cách mạng: ngọn cờ đỏ thắm, rực rỡ sao vàng, có trung ương Đảng, có chính phủ và có Bác Hồ.</div><div>- Đoạn thơ thể hiện niềm tin vào sức mạnh, khả năng lãnh đạo của Đảng trong các cuộc cách mạng, niềm tự hào vào những chiến công Việt Bắc.</div><div><strong>III. Kết bài</strong></div><div>- Khái quát giá trị nghệ thuật: sử dụng thể dân tộc: thể thơ lục bát để nói về tình cảm cách mạng, lối đối đáp, sử dụng đại từ xưng hô linh hoạt (mình – ta), ngôn từ mộc mạc, giàu sức gợi…</div><div>- Khái quát giá trị nội dung: Bài thơ là bản anh hùng ca về cuộc kháng chiến, là bản tình ca về nghĩa tình cách mạng và kháng chiến.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-20 02:41:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956178193</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Bài Việt Bắc</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956179715</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>I. Mở bài</strong></div><div>- Giới thiệu khái quát về tác giả Tố Hữu: là một nhà thơ lớn, một nhà thơ trữ tình chính trị, thơ ông luôn phản ánh những chặng đường đấu tranh gian khổ song cũng nhiều thắng lợi của dân tộc.</div><div>- Giới thiệu bài thơ <em>Việt Bắc</em>: hoàn cảnh sáng tác, nội dung chính của bài thơ.</div><div><strong>II. Thân bài</strong></div><div><strong>1. Ý nghĩa nhan đề</strong></div><div>- Việt Bắc là một địa danh – là cái nôi của cách mạng Việt Nam tiền khởi nghĩa, là cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến chống Pháp.</div><div>- Việt Bắc là nơi lưu giữ nhiều kỉ niệm giữa cán bộ cách mạng và đồng bào nơi đây.</div><div><strong>2. Lời của người ở lại (20 câu thơ đầu)</strong></div><div>- Tám câu thơ đầu là tâm trạng lưu luyến bịn rịn trong buổi chia tay:</div><div>+ Bốn câu trên, sử dụng điệp cấu trúc “mình về mình co nhớ” là lời ướm hỏi, khơi gợi lại những kỉ niệm về “mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”, về thiên nhiên Việt Bắc nghĩa tình.</div><div>+ Cách xưng hô “mình - ta” như lời tâm tình của đôi lứa yêu nhau khiến cuộc chia tay trở nên thân mật, giản dị. Cách xưng hô còn gợi nhớ đến những câu đối đáp trong điệu hát giao duyên khiến những câu thơ nói về cách mạng không khô khan mà trở nên đằm thắm, sâu lắng.</div><div>+ Bốn câu thơ tiếp là nỗi lòng lưu luyến của cả người ở lại và ra đi thể hiện qua những từ ngữ diễn tả tâm trạng trực tiếp: “da diết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn”; không khí buổi chia tay thân tình, gần gũi: “áo chàm”, “cầm tay nhau”.</div><div>- Mười hai câu tiếp theo, với việc sử dụng điệp từ “nhớ”, là lời nhắn nhủ dưới hình thức câu hỏi:</div><div>+ Nhớ đến thiên nhiên, núi rừng Việt Bắc trong những ngày kháng chiến: mưa nguồn, suối lũ, mây mù, trám bùi, măng mai.</div><div>+ Nhớ đến những ân tình trong khó khăn gian khổ: “miếng cơm chấm muối” nhưng vẫn “đậm đà lòng son”.</div><div>+ Nhớ đến quang thời gian hoạt động cách mạng: kháng Nhật, Việt Minh, Tân Trào, Hồng Thái, ...</div><div>+ Đại từ xưng hô “mình” thể hiện sự gắn bó, thân thiết giữa kẻ ở, người đi. Nó giống như cách xưng hô tâm tình, thủ thỉ chân thành.</div><div><strong>3. Lời của người ra đi</strong></div><div>- Bốn câu thơ tiếp khẳng định nghĩa tình thủy chung, mặn mà, “ta với mình, mình với ta”: thể hiện sự gắn bó, thấu hiểu nhau giữ người đi, kẻ ở.</div><div>- Người đi bày tỏ nỗi nhớ đến thiên nhiên Việt Bắc: “Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương”, “bản khói cùng sương”, “rừng nứa bờ tre”,... thiên nhiên Việt Bắc qua bốn mùa xuân, hạ, thu, đông.</div><div>- Nhớ đến con người Việt Bắc:</div><div>+ Những con người dù gian khó, vất vả những vẫn có tâm lòng thủy chung, cùng chia sẻ mọi “đắng cay ngọt bùi” trong kháng chiến: “chia củ sắn lùi”, “bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng”.</div><div>+ Nhớ đến những kỉ niệm ấm áp giữa bộ đội và đồng bào Việt Bắc: “lớp họ i tờ”, “giờ liên hoan”, “ca vang núi đèo”.</div><div>+ Nhớ hình ảnh những con người mang vẻ đẹp mộc mạc, giản dị của người lao động: “người mẹ”, “cô em gái”.</div><div>- Nhớ hình ảnh quân dân Việt Bắc đoàn kết đánh giặc: “ta cùng đánh Tây”, “cả chiến khu một lòng”; khí thế hào hùng của quân dân ta trong các trận đánh: “rầm rập như là đất rung”, “quân đi điệp điệp trùng trùng”, “dân công đỏ đuốc từng đoàn”, ...</div><div>- Nhớ những chiến công, những niềm vui thắng trận: “tin vui thắng trận trăm miền ... núi Hồng”</div><div>- Nhận xét: nhịp thơ dồn dập như âm hưởng bước hành quân, hình ảnh kì vĩ... tất cả tạo nên một bức tranh sử thi hoành tráng để ca ngợi sức mạnh của nhân dân anh hùng.</div><div><strong>4. Niềm tự hào, niềm tin gửi gắm Việt Bắc Cách mạng (16 câu thơ cuối)</strong></div><div>- Nhớ hình ảnh tươi sáng nơi nguồn cội của cuộc cách mạng: ngọn cờ đỏ thắm, rực rỡ sao vàng, có trung ương Đảng, có chính phủ và có Bác Hồ.</div><div>- Đoạn thơ thể hiện niềm tin vào sức mạnh, khả năng lãnh đạo của Đảng trong các cuộc cách mạng, niềm tự hào vào những chiến công Việt Bắc.</div><div><strong>III. Kết bài</strong></div><div>- Khái quát giá trị nghệ thuật: sử dụng thể dân tộc: thể thơ lục bát để nói về tình cảm cách mạng, lối đối đáp, sử dụng đại từ xưng hô linh hoạt (mình – ta), ngôn từ mộc mạc, giàu sức gợi…</div><div>- Khái quát giá trị nội dung: Bài thơ là bản anh hùng ca về cuộc kháng chiến, là bản tình ca về nghĩa tình cách mạng và kháng chiến.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-20 02:42:08 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956179715</guid>
      </item>
      <item>
         <title>      Dàn ý phân tích 8 câu thơ đầu trong bài Việt Bắc - Mẫu số 1Mở Bài- Giới thiệu khái quát về tác giả Tố Hữu và tác phẩm Việt Bắc.- Giới thiệu nhận định cần chứng minhThân Bàia. Giải thích ý kiến đánh giá- Giọng thơ tâm tình ngọt ngào.- Nghệ thuật biểu hiện giàu tính dân tộc.- Dù viết về đề tài chính trị gắn với sự kiện lịch sử tháng 10 năm 1954 nhưng bài thơ Việt Bắc nói chung và tám câu thơ đầu tiên vẫn hiện lên chất chứa cảm xúc của sự ngọt ngào, tha thiết.b. Phân tích, bình luận về giọng thơ tâm tình ngọt ngào, tha thiết và nghệ thuật biểu hiện giàu tính dân tộc trong 8 câu thơ đầu- Bốn câu thơ đầu: là lời của những người ở lại - nhân dân Việt Bắc.+ Điệp cấu trúc câu: &quot;Mình về mình có nhớ ta?&quot;, &quot;Mình về mình có nhớ không?&quot;.+ Sự láy đi láy lại của câu hỏi tu từ đã xoáy sâu vào nỗi nhớ và sự day dứt khôn nguôi.+ &quot;Mười lăm năm ấy&quot; gợi tháng ngày đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi.+ Những hình ảnh &quot;cây&quot;, &quot;núi&quot;, &quot;sông&quot;, &quot;nguồn&quot; quen thuộc gợi nhắc lối sống ân nghĩa thủy chung.→ Giọng điệu tâm tình, thủ thỉ tràn đầy cảm xúc bâng khuâng, xao xuyến của đồng bào Việt Bắc.- Bốn câu thơ sau là lời của người đi - các cán bộ chiến sĩ cách mạng.+ Đại từ &quot;ai&quot; ngân vang cùng sự &quot;tha thiết&quot; đã nhấn mạnh vào tình cảm, cảm xúc đặc biệt.+ Những tính từ miêu tả cảm xúc như &quot;bâng khuâng&quot;, &quot;bồn chồn&quot;.+ Tất cả mọi cảm xúc dường như nén lại: &quot;Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay&quot;.- Giọng điệu tâm tình được tạo nên bởi nghệ thuật biểu hiện giàu tính dân tộc+ Sử dụng nhuần nhuyễn, sáng tạo và linh hoạt thể thơ lục bát - thể thơ dân tộc.+ Kết cấu bài thơ được kiến tạo theo lối đối đáp giao duyên qua cặp đại từ &quot;mình - ta&quot;c. Đánh giá về giọng thơ và nghệ thuật trong thơ Tố Hữu- Giọng thơ tâm tình ngọt ngào, tha thiết quyện hòa và gắn bó chặt chẽ với nghệ thuật biểu hiện giàu tính dân tộc.- Góp phần thể hiện đặc trưng trữ tình - chính trị trong phong cách thơ Tố Hữu.- Tạo nên giá trị đặc sắc của tác phẩm Việt Bắc                          .Kết Bài                                     Đánh giá về tính trữ tình - chính trị trong thơ Tố Hữu                   </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956246687</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-20 03:34:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956246687</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dàn ý phân tích SóngI. Mở bài- Giới thiệu khái quát về nhà thơ Xuân Quỳnh (tiểu sử, phong cách thơ...)- Giới thiệu khát quát về bài thơ “Sóng” (hoàn cảnh ra đời, nội dung chính....)                                        II. Thân bài                                    1. Nhận thức về tình yêu qua hình tượng sóng- Thủ pháp đối lập: dữ dội – dịu em, ồn ào – lặng lẽ→ Các cung bậc, sắc thái khác nhau của sóng cũng giống như những cung bậc tình cảm phong phú, những trạng thái đối cực phức tạp, đầy nghịch lí của người phụ nữu khi yêu- Hình ảnh ẩn sụ, nhân hóa “Sông không hiểu nổi mình/Sóng tìm ra tận bể”: khát vọng vươn xa, thoát khỏi những gì chật chội, nhỏ hẹp, tầm thường→ Quan niệm mới về tình yêu: yêu là tự nhân thức, là vươn tới cái rộng lớn, cao xa- Phép so sánh, liên tưởng “Ôi con sóng ngày xưa ... Bồi hồi trong ngực trẻ”: Lời khẳng định khát vọng tình yêu cháy bỏng, mãnh liệt luôn luôn thường trực trong trái tim tuổi trẻ                                                     2. Những suy nghĩ, trăn trở về cội nguồn và quy luật của tình yêu- Sử dụng dày đặc các câu hơi tu từ “Từ nơi nào sóng lên?”, “Gió bắt đầu từ đâu?”: thể hiện mong muốn muốn tìm được cội nguồn của tình yêu, lí giải được tình yêu, khát khao hiểu được tình yêu, hiểu được bản thân mình và hiểu được người mình yêu- Câu trả lời “Em cũng không biết nữa”: Lời tự thú chân thành của người phụ nữ, đầy hồn nhiên, nữ tính. Tình yêu là bí ẩn, những trạng thái trong tình yêu luôn là những điều khó lí giải3. Nỗi nhớ, lòng thủy chung son sắt của người con gái khi yêu- Nỗi nhớ là tình cảm chủ đạo, luôn thường trực trong trái tim những người đang yêu   + Nỗi nhớ bao trùm cả không gian, thời gian: “dưới lòng sâu... trên mặt nước...”, “ngày đêm không ngủ được”→ Nỗi nhớ da diết, sâu đậm   + Tồn tại trong ý thức và đi vào cả tiềm thức: “Lòng em nhớ đến anh/Cả trong mơ còn thức”→ Cách nói cường điệu nhưng hết sức hợp nhằm tô đậm nỗi nhớ mãnh liệt của tác giả   + Nghệ thuật nhân hóa, hóa thân vào sóng để “em” tự bộc lộ nỗi nhớ da diết, cháy bỏng của mình- Lòng thủy chung, son sắt của người con gái trong tình yêu:   + “Em”: phương Bắc phương Nam – “Hướng về anh một phương”→ Lời thể thủy chung son sắt tuyệt đối   + “sóng” : ngoài đại dương → “Con nào chẳng tới bờ”→ quy luật tất yếu.   + Lòng thủy chung là sức mạnh để tình yêu vượt qua mọi khó khăn, thử thách để tới với bến bờ hạnh phúc⇒ Lời khẳng định cho cái tôi của một con người luôn vững tin ở tình yêu4. Khát vọng về tình yêu vĩnh cửu, bất diệt- Sự nhạy cảm và lo âu của tác giả về cuộc đời trước sự trôi chảy của thời gian “Cuộc đời tuy dài thế ... Mây vẫn bay về xa”- “Làm sao” gợi sự băn khoăn, khắc khoải, ước ao được hóa thành “trăm con sóng nhỏ” để muôn đời vỗ mãi vào bờ.- Khát khao của nguời phụ nữa được hòa mình vào cuộc đời, được sống trong “biển lớn tình yêu” với một tình yêu trường cửu, bất diệt với thời gian                                      III. Kết bài- Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ:   + Nội dung: bài thơ diễn tả tình yêu của người phụ nữ thiết tha, nồng nàn, chung thủy, muốn vượt lên thử thách của thời gian và sự hữu hạn của đời người. Từ đó cho thấy tình yêu là một thứ tình cảm cao đẹp, một hạnh phúc lớn lao của con người   + Nghệ thuật: hình ảnh sóng đôi sóng và em, thể thơ năm chữ, ngogn ngữu dung dị, trong sáng...- Cảm nhận về bài thơ: bài thơ cho chúng ta thấy rõ những cung bậc cảm xúc sâu lắng, thầm kín trong tình yêu. Đó là tiếng lòng, là nhịp chảy của những trái tim đang khao khát, rạo rực yêu thương.            </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956250594</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-20 03:38:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956250594</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Người lái đò sông đà</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956253374</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><br>I. Mởbài( hìnhtượngngườiláiđò)</strong></div><div>- Nguyễn Tuân là một tác giả tài hoa, uyên bác, luôn kiếm tìm cái đẹp .Trước cách mạng ông tìm kiếm vẻ đẹp trong quá khứ ,khi cách mạng thành công ông tìm kiếm vẻ đẹp ngay trong cuộc sống hiện tại .<em>Người lái đò sông Đà </em>là tùy bút tiêu biểu cho những sáng tác sau cách mạng của ông.</div><div>-Ông lái đò chính là chất vàng mười đã được thử lửa mà Nguyễn Tuân tìm kiếm ,người anh hùng trong thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội<br><br></div><div><strong>&nbsp;</strong></div><div><strong>I. Mởbài:(( sôngđà)</strong></div><div>·&nbsp; Là một nhà văn tài hoa, độc đáo, Nguyễn Tuân thích miêu tả những cái gì dữ dội, mãnh liệt hoặc đẹp một cách tuyệt đỉnh. Những trang viết hay nhất của ông thường là những trang tả đèo cao, vực sâu, thác nước</div><div>·&nbsp;Nguyễn Tuân yêu thiên nhiên tha thiết, ông có nhiều phát hiện tinh tế về vẻ đẹp của núi sông, cỏ cây trên đất nước mình. Bút kí "Người lái đò sông Đà" đã thể hiện đậm nét phong cách Nguyễn Tuân. CảmhứngvềdòngsôngĐà "hung bạovàtrữtình" chảytrêntrangvăncủaNguyễnTuânbiếnvùngsôngnướcấythànhmộthìnhtượngnghệthuậtđặcsắc.</div><div><strong>II. Thânbài:<br></strong><br></div><div><strong>a. SôngĐà hung bạo:</strong></div><div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Váchđá "đábờsôngdựngváchthành" vànhữngbứcthànhváchđácaochẹtchặtlấylòngsônghẹp. Cáihẹpcủalòngsôngtácgiảtảtheođủcách:</div><div>o&nbsp; &nbsp; <em>"Mặtsôngchỗấychỉlúcđúngngọmớicómặttrời"</em></div><div>o&nbsp; &nbsp; Con hổ con naicóthểvọt qua sông, vàchỉcầnnhẹtaythôicũngcóthểnémhònđátừbờbênnày qua bên kia vách</div><div>o&nbsp; &nbsp; "Ngồitrongkhoangđò qua quãngấy, đangmùahècũngthấylạnh, cảmthấymìnhnhưđứng ở hèmộtcáingõmàngóngvọnglênmộtcáikhungcửasổnàotrêncáitầngnhàthứmấynàovừatắtphụtđènđiện"</div><div>-&gt; So sánhvừachínhxác, tinhtế, vừabấtngờvàlạlùng. Cảmgiácnhư N.T luônlụclọiđếntậnkiệtcùngcáikhoấntượng nay ămắpđểtìmchođượcmộtcáchnóicóthểlàmkinhđộnghồntrí con người.</div><div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;GiótrênsôngĐà: "<em>Dàihàngcâysốnướcxôđá, đáxôsóng, sóngxôgió, cuồncuộnluồnggiógùnghèsuốtnăm " </em>-&gt;bằnglốiviếttàihoa, nhữngcâuvăndiễnđạttheokiểumócxích, cấutrúccâutrùngđiệp, gợihìnhảnh con sôngĐàcuồngnộ, dữdằnnhưlúcnàocũngmuốntiêudiệt con người.</div><div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Nhữnghútnước ở quãngTàMườngVát: <em>"nước ở đâythởvàkêunhưcửacốngcáibịsặc", "chỗgiếngnướcsâuặcặclênnhữngcáihútnướclôituộtbègỗxuốnghoặchútnhữngchiếcthuyềnxuốngrồiđánhchúng tan xác"</em> -&gt;Lối so sánhđộcđáokhiếncon sôngĐàkhôngkhácgìloàithủyquáivớinhữngtiếngkêughêrợnnhưmuốnkhủngbốtinhthầnvàuyhiếp con người.</div><div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;ÂmthanhthácnướcsôngĐà:</div><div>o&nbsp; &nbsp; NguyễnTuânnhưmộtnhạctrưởngđangđiềukhiểnmộtdàngiaohưởngchơithậthùngtrángbài ca củagióthácxôsóngđá.</div><div>o&nbsp; &nbsp; Ban đầutácgiảmớiđểcấtlênkhúcnhưđang <em>"oántrách", "van xin", "khiêukhích", "giọnggằnmàchếnhạo"</em>. Thếrồibấtngờâmthanhđượcphóng to hếtcỡ, cácnhạckhíbừngbừngthétlênkhúcnhạccủamộtthiênnhiênđang ở đỉnhđiểmcủamộtcơnphấnkhíchmạnhmẽvà man dại: <em>"nórốnglênnhưtiếngmộtngàn con trâumộngđanglồnglộngiữarừngvầurừngtrenứanổlửarừnglửacùnggầmthétvớiđàntrâu da cháybùngbùng"</em> -&gt;Sựliêntưởngvôcùngphongphú, âmthanhcủathácnướcsôngĐàđượcNguyễnTuânmiêutảkhôngkhácgìâmthanhcủamộttrậnđộngrừng, độngđất hay nạnnúilửathờitiềnsử. Lấylửađểtảnước, lấyrừngđểtảsông, N.T quảlàđãchơingônglắmtrongnghệthuật.</div><div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Bằngthủphápnhânhóa, ngườiđọcnhận ra từngsắcdiệnngườitrongnhữnghìnhthùđávô tri. NguyễnTuânđãdùngsứcmạnhđiêukhắccủangôntừđểthổihồnvàotừngthớđá: "Cảmộtchântrờiđámặthònnàotrôngcũng "ngỗngược", "nhănnhúm", "méomó" -&gt;Nhữnghònđávô tri vôgiácnhưng qua cáinhìncủaNguyễnTuânchúngmangvẻ du côncủathiênnhiênhoangdạivà hung dữvớibatrùng vi thạchtrận.</div><div>o&nbsp; &nbsp; Trùng vi thạchtrậnthứ I: Bọnđáđứathì "hấthàm" đứathì "tháchthức", "mặtnướchò la ùavàobẻgãycánchèo", sóngnước "đátrái, thúcgốivàobụngvàohôngthuyền"</div><div>o&nbsp; &nbsp; Trùng vi thạchtrậnthứ II: Sôngnướcbàibinhbốtrận ở khắpnơi, tăngnhiềucửatử, cửasinhnằm ở phíahữungạn</div><div>o&nbsp; &nbsp; Trùng vi thạchtrậnthứ III: SôngĐàsắpđặtbênphảibêntráiđềulàluồngchết, luồngsống ở ngaygiữa.</div><div>-&gt; Con sôngĐà hung bạo, tànáckhôngkhácgì "<em>kẻthùsốmộtcủa con người".</em> Nhưngcũngchínhtừhìnhảnh con sôngấylạilàkẻtônvinhtàinăngnghệthuậttàihoa, tàitửvàcựckìuyênbáccủamộtngòibútsốmộtvềthểloạitùybút VN.</div><div>&nbsp;</div><div><strong>b. SôngĐàtrữtình:</strong></div><div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;DòngsôngĐàkhôngchỉcónhững "<em>dòngtháchùmbeođanghồnghộctếmạnhtrênsôngđá"</em> mànócònlàbứctranhthủymặcvươngvấnlòngngười. Từtrêntàu bay nhìnxuống<em> "con sôngĐàtuôndàinhưmộtángtóctrữtình, đầutóc, chântócẩnhiệntrongmâytrờiTâyBắc bung nởhoa ban, hoagạo"</em></div><div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Màusắcdòngsôngthayđổitheomùa:</div><div>o&nbsp; &nbsp; <em>"Mùaxuânxanhmàungọcbích"</em>, khácvớisôngGâm, sông Lô "màuxanhcanhhến".</div><div>o&nbsp; &nbsp; Mùa thu nướcsông <em>"lừlừchínđỏnhư da mặtmộtngườibầmđivìrượubữa"</em> -&gt;SôngĐàmỗimùamangmộtvẻđẹpriêng, quyếnrũvàtìnhtứ.</div><div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;ĐếnvớisôngĐà, hămhở, say mêđếnnỗitácgiảnhưthấymìnhnhưđang "sắpđổ ra sôngĐà". NguyễnTuânnhìnsôngĐànhưmộtcốnhânvớinhữngcảnhquanhaibênbờcựckìgợicảm: lá non nhútrênnhữngnươngngô, những con hươu"ngẩngđầunhungkhỏiángcỏsương" DòngsôngĐànhưgợinhữngnỗiniềmsâuthẳmtronglịchsửđấtViệt: "Bờsônghoangdạinhưmộtbờtiềnsử. Bờsônghồnnhiênnhưmộtnỗiniềmcổtíchtuổixưalặngtờ "nhưtừLí, đờiTrần, đời Lê".</div><div>-&gt;NguyễnTuân say mêmiêutảdòngsôngvớitấtcảsựtinhtếcủacảmxúc, vàbằngmộttìnhyêuthiếtthathiênnhiênđấtnước. Lòngngưỡngmộ, trântrọng, nângniutựhàovềmộtdòngsông, mộtngọnthác, mộtdòngchảyđãtạonênnhữngtrangvănđẹphiếmcóNguyễnTuânxứngđánglàmộtcâybúttàihoabậcnhấtcủanềnvănhọcViệt Nam.</div><div>&nbsp;</div><div><strong>III. Kếtbài:</strong></div><div>PhongcáchNguyễnTuânđộcđáovàphongphú. Ở tùybút "NgườiláiđòsôngĐà" chúng ta thấyphongcáchgiátrịcủaôngthểhiệnrõnhấtlàsựnhọnsắccủagiácquannghệsĩđiđôivớimộtkhochữnghĩagiàucóvàđầymàusắc, lốivănrấtmựctàihoa. DòngsôngĐà "<strong><em>hung bạovàtrữtình</em></strong>" chảymãitrongdòngvănhọcnướcnhànhưniềmyêumếnvàtựhàovềcỏcâysôngnúiquêhươngcủanhàvănNguyễnTuân.</div><div><strong>3.Dàn Ý Hìnhtượngngườiláiđò</strong></div><div>– Làngườitinhthạotrongnghềnghiệp</div><div>&nbsp;</div><div>+ Ônglãonắmvững qui luậtkhắcnghiệtcủadòngthácsôngĐà “Nắmchắcquyluậtcủathầnsôngthầnđá”.</div><div>+ ÔngthuộclòngnhữngđặcđiểmđịahìnhcủaSôngĐà“ nhớtỉmỉnhưđóngđanhvàotấtcảcácluồngnướccủatấtcảnhững con tháchiểmtrở”, SôngĐà “nhưmộtthiênanhhùng ca màôngđòthuộcđếncảnhữngcáichấm than, chấmcâuvànhữngđoạnxuốngdòng”.</div><div>– Làngườitrídũngtuyệtvời:</div><div>Ôngsẵnsàngđốimặtvớithácdữ, chinhphục “cửatử”, “cửasinh”, vượt qua trậnthuỷchiếnvớiđáchìm, đánổi, vớinhữngtrùng vi thạchtrậnvàphòngtuyếnđầynguyhiểm. Ôngláiđòvượt qua bằngnhữnghànhđộngtáobạovàchuẩnxác. Ônghiệnlênnhưmộtvịchủhuydàydạnkinhnghiệm:</div><div>+ Ở trùngvâythứnhất:thầnsôngdàn ra nămcửađáthìcóđếnbốncửatử, cửasinhduynhấtnằmsátbờtráivàhuyđộghếtsứcmạnhcủasóngthácđánhvỗmặt con thuyền. Luồng song hung tợn “liềumạngvàosátnáchmàđátrái, màthúcgốivàobụngvàhôngthuyền”. Thậmchícònđánhđòntỉa, đánhđònâm… nhưngngườiláiđòbìnhtĩnhgiữchắcmáichèogiúp con thuyền “khỏibịhấtkhỏibờm song trậnđịaphóngthẳngvàomình”. Ngaycảlúcbịtrúngđònhiểm, mặtméobệchđinhưngôngvẫntỉnhtáochỉhuy con thuyềnlướtđúngvàoluồngsinh.</div><div>+ Ở trùngvâythứ 2, dòngsôngđãthayđổisơđồphụckíchvàcảchiếnthuật. Vòngvâythứ 2 nàytăngthêmnhiềucửatửđểđánhlừa con thuyềnvào. Cửasinhlạibốtrílệch qua phíabờhữungạn. Nhưngôngđòđã “nắmchắcquyluậtcủathầnsôngthầnđá” nênlậptứccũngthayđổichiếnthuậttheo, nhận ra cạmbẫycủabọnthuỷquânnơicửaảinướcnày. Ôngkhông né tránhmàđưa con thuyềncưỡilênsóngthác”“cưỡilênthácSôngĐà, phảicưỡiđếncùngnhưlàcưỡihổ”. “Nắmchắcđượccáibờmsóngđúngluồngrồi, ôngđòghìcươnglái, bámchắclấyluồngnướcđúngmàphóngnhanhvàocửasinh, màláimiếtmộtđườngchéovàocửađáấy”. Ngườiláiđòtảxung, hữuđộtnhưmộtchiếntướngdàydạnkinhnghiệmtrậnmạccóthừalòngquảcảmđãđưađược con thuyềnvượt qua tậpđoàncửatửkhiếnchonhữngbộmặtđá hung hăngdữtợnphảixanhlè, thấtvọng.</div><div>+ Ở trùngvâythứ 3, thạchtrậnítcửatửhơnnhữngbênphảibêntráiđềulàluồngchếtcả, cửasinhlạinằmgiữalòngsôngvàbọnđáhậuvệcanhgiữ. Nhưngôngđòkhônghềbấtngờtrướcmưumôhiểmđộccủabọnchúng, tiếptụcchỉhuy con thuyềnvượt qua trùngvâythứ 3.</div><div>– Làngườitàihoanghệsĩ:</div><div>+ Ôngđốiđầuvớighềnhtháccuồngbạobằngsựtự tin, ung dung nghệsĩ. Tay láilinhhoạt, khéoléo, tàihoanhưmộtnghệsĩtrênsôngnước : “ôngđòvẫnnhớmặtbọnnày, đứathìôngtránhmàrảobơichèolên, đứathìôngđèsấnlênmàchặtđôi ra đểmởđườngtiến”, “Vút, vút…thuyềnnhưmộtmũitêntrexuyênnhanh qua hơinước”. Dướibàntaychèoláiđiêuluyệncủaông con thuyềnđãhoáthành con tuấnmãhiểu ý chủ- khithìkhéoléo né tránhluồngsóngdữ, khithìphóngthẳngvàocửađácó 3 tầngcổng “cánhmở, cánhkhép”. Con thuyềnnhư bay trongkhônggian, ôngđòluônnhìnthửtháchbằngcáinhìngiảndịmàlãngmạn.</div><div>+ Sau cuộcvượtthácgian nan, ôngđòlạicóphongtháiung dung củamộtnghệsĩ “Đêmấynhàđòđốtlửatrong hang đá, nướcốngcơm lam vàtoànbàntánvềcáanhvũ, cádầmxanh…”.</div><div>==&gt;Đâylàhìnhảnhvềmộtngườilaođộngmớimangvẻđẹpkhácthường. Ngườiláiđòhiệnlênnhưlàvịchỉhuydàydạnkinhnghiệm, tàitrívàluôncóphongtháiung dung phachútnghệsĩ. Ôngchỉhuycuộcvượtthácmộtcáchtàitình, khônngoanvàbiếtnhìnthửtháchđó qua bằngcáinhìngiảndịmàkhôngthiếuvẻlãngmạn. HìnhảnhôngláiđòchothấyNguyễnTuânđótìmđượcnhânvậtmớichomình, những con ngườiđángtrântrọng, đángngợi ca, khôngthuộctầnglớpthượnglưuđàicácmộtthời vang bóngmàngaytrongquầnchúnglaođộngbìnhthườngxungquanh ta. Qua hìnhtượngngườiláiđòsôngĐà, nhàvănmuốnphátbiểuquanniệm :ngườianhhùngkhôngphảichỉcótrongchiếnđấumàcòncótrongcuộcsốnglaođộngthườngngày.</div><div>– Đoạnvăntảtrậnthủychiến, tậptrungkhắchọahìnhtượngôngláiđòmộtlầnnữachothấysựuyênbác, lịchlãmcủaNguyễnTuân. ở đâycó tri thức, cóngônngữsốngđộngcủaquânsự, thểthao, võthuật, điệnảnh…</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-20 03:40:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956253374</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dàn ý PhântíchbàithơĐấtnướccủaNguyễn Khoa Điềm</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956262029</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>I. Mởbài<br></strong><br></div><div>- GiớithiệuvềtácgiảNguyễn Khoa Điềm: ôngthuộcthếhệnhàthơchốngMĩcứunước, thơônglàsựkếthợpgiữacảmxúcnồngnànvàchấttriếtlí, suytưcủangườitríthứcvềđấtnước, con người.<br><br></div><div>- Giớithiệuvềbàithơ <em>Đấtnước</em>: đượctríchtrongtrường ca <em>Mặtđườngkhátvọng</em>, làmộtbàithơcóchấttriếtlísâusắc, thểhiệntưtưởng “Đấtnướccủanhândân”.<br><br></div><div><strong>II. Thânbài<br></strong><br></div><div><strong>1. Đấtnướcđượccảmnhậntừphươngdiệnlịchsử, vănhóa, chiềusâucủakhônggian, chiềudàicủathờigian<br></strong><br></div><div><strong>a. Đấtnướccótừ bao giờ? (lígiảicộinguồncủađấtnước) (9 câuđầu)</strong></div><div><br></div><div>- Tácgiảkhẳngđịnhmộtđiềutấtyếu: “Khi ta lớnlênđấtnướcđãcórồi”, điềunàythôithúcmỗi con ngườimuốntìmđếnnguồncộiđấtnước.<br><br></div><div>- Đấtnướcbắtnguồntừnhữngdiềubìnhdị, gầngũitrongđờisốngcủangườiViệt Nam từxaxưa: “ngàyxửangàyxưa” gợinhớđếncâumởđầucáccâuchuyệndângian, “miếngtrầu” gợinhớtụcăntrầucủangườiViệtvàtruyệncổtíchtrầucau, “Tócmẹthìbớisauđầu”: thóiquenbúitóccủanhữngngườiphụnữViệt Nam, “Thươngnhau bằnggừng cay muốimặn” thóiquentâmlí, truyềnthốngyêuthươngcủadântộc.</div><div>- Đấtnướctrưởngthànhcùngquátrìnhlaođộngsảnxuất “cáikèocáicộtthànhtên”, “mộtnắnghaisương”, quátrìnhđấutranhchốnggiặcngoạixâm.</div><div>- Nhậnxét: Tácgiảcócáinhìnmớimẻvềcộinguồnđấtnước, đấtnướcbắtnguồntừchiềusâuvănhóa, vănhọc, lịchsửvàtruyềnthốngdântộc.</div><div>b. Địnhnghĩavềđấtnước (28 câuthơtiếptheo)</div><div>- Vềphươngdiệnkhônggianđịalí:</div><div>&nbsp; &nbsp; + Tácgiảtáchriênghaiyếutố “đất” và “nước” đểsuytưmộtcáchsâusắc.</div><div>&nbsp;+Đấtnướclàkhônggianriêngtưquenthuộcgắnvớikhônggiansinhhoạtcủamỗi con người: “nơianhđếntrường”, “nơiemtắm”; gắnvớikỉniệmtìnhyêulứađôi: “nơiemđánhrơi ... thươngthầm”.</div><div>&nbsp; &nbsp; + Đấtnướclàkhônggian bao la trùphú, khônggiansinhtồncủacộngđồng qua bao thếhệ: “Đấtlànơi con chimphượnghoàng ... dânmìnhđoàntụ”.</div><div>-Nhìn đất nước được nhìn xuyên suốt chiều dài lịch sử từ quá khứ, hiện tại đến tương lai:<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Trongquákhứđấtnướclànơithiêngliêng, gắnvớitruyềnthuyết, huyềnthoại: “Đấtlànơichimvề ... trongbọctrứng”<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Tronghiệntại: đất nước&nbsp; có trong tấm lòng mỗi con người, mỗi người đều thừa hưởng những giá trị của đất nước, khicósựgắnkếtgiữamỗingườiđấtnướcsẽnồng thắm , hàihòa ,&nbsp; lớnlao. Đólàsựgắnkếtgiưacáiriêngvàcáichung.</div><div>&nbsp; &nbsp; + Trongtươnglai: thếhệtrẻsẽ “mangđấtnướcđixa” “đếnnhữngngàymơmộng”, đấtnướcsẽtrườngtồn, bềnvững.</div><div>- Suy tư về trách nhiệm của mỗi cá nhân với đất nước: “Phải biết gắn bó và san sẻ”, đóng góp, hi sinhđểgópphầndựngxâyđấtnước.</div><div>- Nhậnxét: qua cáinhìntoàndiệncủanhàthơ, đấtnướchiệnlênvừagầngũi, thânthuộclạivừathiêngliêng, hàohùngvàtrườngtồnđếnmuônđờisau.<br><br></div><div><strong>2. Tưtưởngcốtlõi, cảmnhậnvềđấtnước: đấtnướccủanhândân<br></strong><br></div><div>-&nbsp; Thiên nhiên địa lí của đất nước không chỉ làsảnphẩmcủatạohóamàđượchìnhthànhtừ phẩm chấtvàsốphậncủamỗingười, làmộtphầnmáuthịt, tâmhồn con người:</div><div>&nbsp; &nbsp; + Nhờtìnhnghĩayêuthương, thủychungmàcó “hònVọngPhu”, “hònTrốngMái”&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;</div><div>&nbsp; &nbsp; + Nhờtinhthầnbấtkhuất,&nbsp; &nbsp; &nbsp; anhhùngtrongquátrìnhdựngnướcvàgiữnướcmàcónhữngaođầm, di tíchlịchsửvềquátrìnhdựngnước.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Nhờtruyềnthốnghiếuhọcmàcónhững “núiBút non Nghiên”<br><br></div><div>- Nhândânlàmnênlịchsử 4000 năm:<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Họlànhữngngười con trai, con gáibìnhdịnhưngluônthườngtrựctìnhyêunước.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Tácgiảnhấnmạnhđếnnhững con ngườivôdanhlàmnênlịchsử, khẳngđịnhvaitròcủamỗicánhânvớilịchsửdân tộc.<br><br></div><div>- Nhândântạo ra vàgiữgìnnhữnggiátrịvậtchất, tinhthầnchođấtnước: vănhóa: “truyềnhạtlúa”, “truyềnlửa”, “truyềngiọngnói”, “gánhtheotênxã, tênlàng”, ... từđóxâydựngnềnmóngpháttriểnđấtnướclâubền.<br><br></div><div>- Tưtưởngcốtlõi, cảmhứng bao trùmcảđoạntrích: “đấtnướcnàylàđấtnướccủanhândânđấtnướccủa ca daothầnthoại”, đấtnướcấythểhiện qua tâmhồn con người: biếtyêuthương, biếtquýtrọngtrọngtìnhnghĩa, côngsứcvàbiếtchiếnđấuvìđấtnước.<br><br></div><div>- Nhậnxét:<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Vềnội dung: đoạntrích “Đấtnước” đãthểhiệncáinhìnmớimẻvềđấtnướctrênnhiềubìnhdiện: vănhóa, lịchsử, địalídựatrêntưtưởngcốtlõi: “đấtnướccủanhândân”.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Vềnghệthuật: sửdụngđadạngvàsángtạochấtliệuvănhóadângian, ngônngữgiàuchấtsuytư, triếtluậnsâusắc.<br><br></div><div><strong>III. Kếtbài<br></strong><br></div><div>- Khẳngđịnhlạigiátrịcủađoạntrích: đoạntríchđãnhấnmạnhtưtưởng “đấtnướccủanhândân”, thểhiệntinhthầnyêunướccủatácgiả, đánhthứctinhthầnyêunướctrongmỗi con người.</div><div>-Nêucảmnhậnriêngvềđoạntríchđấtnướcvàcóliênhệthựctiễnđếntráchnhiệmcủathếhệhôm nay vớiđấtnước.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-20 03:48:27 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956262029</guid>
      </item>
      <item>
         <title>DÀN Ý BÀI TÂY TIẾNI. Mở bài- Quang Dũng là một người nghệ sĩ đa tài, hồn thơ ông luôn phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn, tài hoa.- Bài thơ được in trong tập Mây đầu ô, được Quang Dũng viết khi đã rời đơn vị Tây Tiến.- Hình tượng nổi bật trong bài thơ chính là hình tượng người lính Tây Tiến.II. Thân bài1. Khái quát chung- Tây Tiến: là tên một đoàn quân được thành lập năm 1947, có nhiệm vụ kết hợp với bộ đội Lào để bảo vệ biên giới Việt – Lào, làm hao mòn lực lực giặc Pháp.- Xuất thân lính Tây Tiến: phần đông là người Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, sinh viên.- Cảm hứng sáng tác: Quang Dũng viết bài thơ để bày tỏ nỗi nhớ với đoàn quân Tây Tiến sau khi chuyển sang công tác ở đơn vị khác.2. Vẻ đẹp của tinh thần nỗ lực, vượt lên những khó khăn gian khổChặng đường hành quân gian khổ:    + Địa danh Sài Khao, Mường Lát gợi sự hẻo lánh, xa xôi; các từ láy giàu tính tạo hình: “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “heo hút”, điệp từ “dốc” gợi địa hình hiểm trở, quanh co, gập ghềnh.    + Nhịp thơ bẻ đôi “Ngàn thước ... xuống” gợi tả sự nguy hiểm tột cùng.+ Hình ảnh nhân hóa: “cọp trêu người”, “thác gầm thét” gợi sự hoang sơ, man dại; thời gian: “chiều chiều”, “đêm đêm” những người lính phải thường xuyên đối mặt với điều hiểm nguy chốn rừng thiêng nước độc.    + Sử dụng phần lớn các thanh trắc nhấn mạnh sự trắc trở, ghập ghềnh của địa hình.    + Hình ảnh “súng ngửi trời” thể hiện tầm cao của núi non mà người lính phải vượt qua nhưng cũng có cái hóm hỉnh của người lính trong hoàn cảnh gian khổ.    + Khung cảnh thiên nhiên cũng có lúc êm dịu, đậm hương vị cuộc sống: “nhà ai Pha Luông ...”, “cơm lên khói”, “Mai Châu mùa em ...”, thanh bằng tạo cảm giác nhẹ nhàng, yên bình. Là tiếng thở phào nhẹ nhõm sau chặng đường dài hành quân.3. Vẻ đẹp ngoại hình: dữ dội, lẫm liệt, oai phong    + “đoàn binh không mọc tóc”: đó là hậu quả của những trận sốt rét rừng khắc nghiệt. Phần nào cho thấy phong thái ngang tàng, gan góc, ngạo nghễ của những người lính trẻ.    + “quân xanh màu lá”: là hình ảnh làn da tái xanh như màu lá do bệnh sốt rét rừng (có thể là màu xanh của lá ngụy trang, có thể hiểu là màu xanh áo lính). Đó cũng là những mất mát hi sinh thầm lặng (dần mất sức khỏe, sức trai tráng).    + “mắt trừng”: cái nhìn dữ dội, người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp của những người tráng sĩ xưa, cũng gợi hình ảnh khuôn mặt hốc hác do điều kiện vật chất thiếu thốn.+ “đoàn binh”: gợi hình ảnh một tập thể đông đảo mang những nét chung phổ biến của mọi người lính (đầu không mọc tóc, da xanh, mắt trừng dữ dội)- Nhận xét: nếu cảm nhận theo cách thông thường họ mang vẻ ngoại hình kì dị, nhưng chỉ bằng ba chữ “dữ oai hùm” tác giả đã làm nổi bật vẻ đẹp dữ dội, lẫm liệt, oai phong của người lính Tây Tiến.4. Vẻ đẹp nội tâm: hào hoa, đa tình, lãng mạn của những người lính trẻ    + “Kìa em xiêm áo ... xây hồn thơ”: cái nhìn đắm say, tình tứ của những người lính Tây Tiến trước vẻ đẹp duyên dáng của con người Tây Bắc. Tâm hồn người lính bay bổng, say mê trong không khí ấm áp tình người.    + “gửi mộng”, “đêm mơ”: lính Tây Tiến là những con người mơ mộng, là những người trai xuất thân từ đất hà thành nên họ mang vào chiến trường cả nét thi vị, lãng mạn trong tâm hồn (so sánh người lính xuất thân từ nông dân trong bài Đồng Chí – Chính Hữu).    + “Hà Nội” là khung trời thương nhớ, là không gian khác hẳn đời sống gian khổ chiến trường, đó là nỗi nhớ quê hương.    + “dáng Kiều thơm” gợi hình ảnh những thiếu nữ Hà Nội yêu kiều, kiêu sa, hình bóng người thương của lính Tây Tiến. Đó là nguồn động lực để họ chiến đấu nơi chiến trường gian khổ.- Nhận xét: Trong hoàn cảnh chiến đấu khăc nghiệt họ vẫn giữ được những nét hào hoa, lang mạn vốn có của những thanh niên trí thức Hà Nội.5. Vẻ đẹp của lẽ sống: tinh thần hi sinh cao cả- Hình ảnh bi hùng về người lính Tây Tiến “dãi dầu không bước nữa”, “gục lên súng mũ bỏ quên đời”: đó là sự nghỉ ngơi vĩnh viễn, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng.- Sẵn sàng công hiến tuổi trẻ của mình cho đất nước:“rải rác biên cương mồ viễn xứ”, “chẳng tiếc đời xanh”, “anh về đất”, ra đi thanh thản, nhẹ nhàng.- Cái chết đã được lí tưởng hóa như hình ảnh những tráng sĩ xưa: “áo bào”, “khúc độc hành”; thiên nhiên cũng đau đớn thay cho nỗi đau họ phải chịu.- Nhận xét: Những người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp bi tráng, tầm vóc của họ sánh ngang với các tráng sĩ xưa. Với cảm hứng lang mạn Quang Dũng đã bất tử hóa hình ảnh của họ.III. Kết bài- Nêu cảm nhận về hình tượng người lính Tây Tiến.- Khái quát một số giá trị nghệ thuật tiêu biểu: bút pháp lãng mạn, những sáng tạo trong việc sử dụng ngôn ngữ, Sử dụng nghệ thuật điệp, đối, hình ảnh thơ độc đáo, mới mẻ.- Tổng kết giá trị nội dung: bài thơ đã tái hiện vẻ đẹp vừa hùng vĩ, vừa thơ mộng của núi rừng Tây Bắc; vẻ đẹp hình tượng người lính Tây Tiến.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956273125</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-20 04:00:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956273125</guid>
      </item>
      <item>
         <title> Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong những cây bút kí tiêu biểu của VHVN hiện đại. Với thể loại kí, Hoàng Phủ Ngọc Tường thể hiện trên từng trang văn vốn kiến thức uyên bác và cách viết tài hoa.– “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp của sông Hương, thiên nhiên và con người xứ Huế với những trang văn “vừa .Phân tích bài kí Ai đã đặt tên cho dòng sông .                                       Thân bài:                                           MB:– “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” rút từ tập bút kí cùng tên, được xuất bản năm 1984. Tập bút kí gồm tám bài viết về nhiều đề tài. Có những bài đậm chất sử thi với cảm hứng anh hùng, ca ngợi đất nước, con người VN. Có những bài thiên về miêu tả thiên nhiên, qua đó nhà văn bộc lộ lòng gắn bó với quê hương đất nước và niềm tự hào về truyền thống, văn hóa, lịch sử của dân tộc. Đặc biệt là những bài viết về Huế.– Trong số những bút kí đó, “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là bài kí độc đáo về sông Hương. Dòng sông khơi gợi cảm hứng cho thơ ca, nhạc họa đã được Hoàng Phủ Ngọc Tường cảm nhận từ nhiều góc nhìn, đặc biệt là góc nhìn tâm linh, mang những nét riêng của “văn hóa Phú Xuân”.        2. Phân tích:a. Chất trí tuệ của một cái tôi uyên bác: Viết về sông Hương, Hoàng Phủ Ngọc Tường thể hiện một sự hiểu biết sâu rộng về mọi mặt: văn hóa, lịch sử, địa lí, văn học nghệ thuật… Nhà văn đã cung cấp cho người đọc một lượng thông tin đa dạng để hiểu sâu hơn về dòng sông Hương và thiên nhiên, con người Huế.* Vẻ đẹp của sông Hương từ góc nhìn địa lí:– Hành trình của dòng sông: với câu hỏi gợi tìm “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”, bằng những bước chân rong ruổi, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tìm về cội nguồn và dòng chảy của sông Hương:+ Ở thượng nguồn sông Hương mang vẻ đẹp hùng vĩ: chảy “rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, cuộn xoáy như con lốc vào những đáy vực bí ẩn…”; “phóng khoáng và man dại”+ Ra khỏi đại ngàn, sông Hương chuyển dòng, giấu kín cuộc hành trình gian truân giữa lòng Trường Sơn, “ném chìa khóa trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng” -&gt; Vẻ đẹp dữ dội, hùng vĩ của sông Hương giữa rừng già ít ai biết đến.+ Chảy qua vùng rừng núi, sông Hương trở nên dịu dàng, “uốn mình theo những đường cong thật mềm”. “Dòng sông mềm như tấm lụa”, êm đềm trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách, chảy qua những lăng tẩm đồ sộ, chảy qua chùa Thiên Mụ và “những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà” .-&gt; Sông Hương trở thành “người mẹ phù sa” mang vẻ đẹp “dịu dàng và trí tuệ”.+ Giữa lòng thành phố Huế, dòng sông trở nên tĩnh lặng, trôi thật chậm, in bóng cầu Tràng Tiền xa trông nhỏ nhắn như “những vành trăng non”.+ Xuôi về Cồn Hến “quanh năm mơ màng trong sương khói”, hòa với màu xanh của thôn Vĩ Dạ, sông Hương mang vẻ đẹp huyền ảo, mơ màng. Và thật bất ngờ, trước khi rời khỏi kinh thành Huế, sông Hương “đột ngột rẽ dòng… để gặp lại thành phố lần cuối”. Nhà văn dùng biện pháp nhân hóa để nội tâm hóa hình dáng của dòng sông: “Đó là nỗi vương vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu” -&gt; Biện pháp nhân hóa đã giúp tác giả thổi hồn vào dòng sông và hơn thế nữa là một phương thức để nhà văn kết nối sông Hương với con người và văn hóa của mảnh đất Châu Hóa xưa và Huế ngày nay.READ:  Cái tôi của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong Ai đã đặt tên cho dòng sông– Sông Hương và thiên nhiên Huế: Lần theo dòng chảy của sông Hương, ta bắt gặp những bức tranh thiên nhiên đẹp mượt mà:+ Thiên nhiên Huế được nhà văn tái hiện với vẻ đẹp đa dạng trong thời gian và không gian. Sông Hương phản quang vẻ đẹp biến ảo của Huế “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”. Gắn liền với dòng sông, những địa danh quen thuộc: Hòn Chén, Nguyệt Biều, Vọng Cảnh, Thiên Thai dường như sống động hơn: “sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn”, “sắc nước trở nên xanh thẳm”…-&gt; Sông Hương tôn tạo vẻ đẹp cho cảnh sắc thiên nhiên Huế và ngược lại dòng sông cũng hun đúc mọi sắc trời, văn hóa của vùng đất cố đô.– Sông Hương và con người Huế:+ Thiên nhiên và dòng sông luôn gắn bó, gần gũi với con người. Qua điệu chảy của dòng sông nhà văn thấy được tính cách con người xứ Huế: mềm mại, chí tình, “mãi mãi chung tình với quê hương xứ xở”.+ Qua màu sắc của trời Huế, màu sương khói trên sông Hương nhà văn thấy cách trang phục trang nhã, dịu dàng của các cô gái Huế xưa “sắc áo cưới màu điều – lục các cô dâu trẻ vẫn mặc sau tiết sương giáng”* Vẻ đẹp của sông Hương từ góc nhìn lịch sử:– Từ góc nhìn lịch sử, sông Hương không còn là cô gái “Di – gan man dại”, không còn là “người đẹp ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa” mà trở thành chứng nhân của những biến thiên lịch sử. Nhà văn ví sông Hương như “sử thi viết giữa màu xanh cỏ lá xanh biếc” -&gt; Sự hòa quyện giữa chất hùng tráng và trữ tình. Sông Hương là một bản anh hùng ca, đồng thời giữa đời thường sông Hương là một bản tình ca “Còn non, còn nước, còn dài – Còn về, còn nhớ…”.– Hoàng Phủ Ngọc Tường đã nhìn thấy từ dòng sông những dấu tích lịch sử; từng nhánh rẽ của dòng sông, đến “những cây đa, cây cừa cổ thụ” cũng hàm ẩn một phần lịch sử:+ Nhà văn đã ngược về quá khứ để khẳng định vai trò của dòng sông Hương trong lịch sử dân tộc. Từ thời đại các Vua Hùng, sông Hương là “dòng sông biên thùy xa xôi”. Trong những thế kỉ trung đại, với tên gọi Linh Giang, nó đã “oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam của Tổ quốc Đại Việt”. Sông Hương gắn liền với những chiến công Nguyễn Huệ. Sông Hương đẫm máu những cuộc khởi nghĩa TK XIX. Sông Hương gắn liền với cuộc CMT8 với những chiến công rung chuyển. Và sông Hương cùng những di sản văn hóa Huế oằn mình dưới sự tàn phá của bom Mỹ… -&gt; Chất trữ tình của tùy bút giảm đi, nhường chỗ cho chất phóng sự với những sự kiện lịch sử cụ thể.=&gt; Quay về quá khứ xa xưa, ngòi bút nhà văn lấp lánh niềm tự hào về lịch sử một dòng sông có cái tên mềm mại, dịu dàng nhưng kiên cường, kiêu hãnh qua thăng trầm lịch sử.* Vẻ đẹp của sông Hương từ góc nhìn văn hóa:Trong cảm nhận tinh tế của nhà văn, sông Hương còn hàm chứa trong bản thân nó nền văn hóa phi vật chất.– Sông Hương _ dòng sông âm nhạc:READ:  Ý nghĩa chi tiết tiếng sáo trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ+ Từ âm thanh của dòng sông (tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga, tiếng mái chèo khua sóng đêm khuya, tiếng nước vỗ vào mạn thuyền…) đã hình thành những làn điệu hò dân gian và nền âm nhạc cổ điển Huế. Và rồi cũng chính trên dòng sông ấy, những câu hò Huế vút lên, mênh mang, xao xuyến…+ Viết về sông Hương, nhiều lần nhà văn đã liên tưởng đến “Truyện Kiều” của Nguyễn Du. Đại thi hào đã từng có thời gian sống ở Huế, những trang Kiều ra đời từ mảnh đất có truyền thống nhã nhạc cung đình. Đó là cơ sở để H.P.N.T hóa thân vào một nghệ nhân già, nghe những câu thơ tả tiếng đàn của nàng Kiều, chợt nhận ra âm hưởng của âm nhạc cung đình và bật thốt lên: “Đó chính là Tứ đại cảnh” -&gt; Bóng dáng Nguyễn Du và những trang Kiều nhiều lần xuất hiện trong bài kí bộc lộ một khả năng liên tưởng phong phú, một vốn văn hóa sâu rộng và sự gắn kết với truyền thống, một sự đồng điệu tâm hồn nhà văn.– Sông Hương _ dòng sông thi ca:+ Hoàng Phủ Ngọc Tường đã làm sống dậy những vần thơ biếc xanh của Tản Đà về xứ Huế: “Dòng sông trắng – Lá cây xanh”. Hình ảnh thơ này cùng với câu chữ của tác giả “màu cỏ lá xanh biếc” là minh chứng cho sự tương giao của những tâm hồn nghệ sĩ nhạy cảm với sắc biếc của thiên nhiên Huế.+ Nhà văn cũng làm sống dậy một sông Hương hùng tráng bất tử “như kiếm dựng trời xanh” trong thơ Cao Bá Quát, một sông Hương “nỗi quan hoài vạn cổ” trong thơ Bà Huyện Thanh Quan…=&gt; Bằng vốn kiến văn phong phú, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã lay động linh hồn của con sông mà tên gọi của nó đã đi vào văn chương nghệ thuật mà theo tác giả “Dòng sông ấy không bao giờ tự lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ”b. Chất thơ của một ngòi bút tài hoa:– Chất thơ toát ra từ những hình ảnh đẹp, từ độ nhòe mờ của hình tượng nghệ thuật: “những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà”, “lập lòe trong đêm sương những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mô tê xưa cũ…” ; qua cách so sánh liên tưởng gợi cảm: “Chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời nhỏ nhắn như những vầng trăng non”.– Chất thơ còn lấp lánh ở cách Hoàng Phủ Ngọc Tường điểm xuyết ca dao, lời thơ Tản Đà, Cao Bá Quát, Bà Huyện Thanh Quan.– Chất thơ còn tỏa ra từ nhan đề bài kí gợi mãi những âm vang trầm lắng của dòng sông : “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”III.                                           Kết bài– Chất trí tuệ và chất thơ kết hợp hài hòa trong tác phẩm của Hoàng Phủ Ngọc Tường tạo nên phong cách đặc sắc của nhà văn này.– “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” không chỉ là một trong những tác phẩm hay nhất viết về sông Hương mà còn là bút kí đặc sắc vào bậc nhất của VHVN hiện đại   </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956294989</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-20 04:24:17 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956294989</guid>
      </item>
      <item>
         <title>II. Thân bài1. Khái quát:– “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” rút từ tập bút kí cùng tên, được xuất bản năm 1984. Tập bút kí gồm tám bài viết về nhiều đề tài. Có những bài đậm chất sử thi với cảm hứng anh hùng, ca ngợi đất nước, con người VN. Có những bài thiên về miêu tả thiên nhiên, qua đó nhà văn bộc lộ lòng gắn bó với quê hương đất nước và niềm tự hào về truyền thống, văn hóa, lịch sử của dân tộc. Đặc biệt là những bài viết về Huế.– Trong số những bút kí đó, “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là bài kí độc đáo về sông Hương. Dòng sông khơi gợi cảm hứng cho thơ ca, nhạc họa đã được Hoàng Phủ Ngọc Tường cảm nhận từ nhiều góc nhìn, đặc biệt là góc nhìn tâm linh, mang những nét riêng của “văn hóa Phú Xuân”.2. Phân tích:a. Chất trí tuệ của một cái tôi uyên bác: Viết về sông Hương, Hoàng Phủ Ngọc Tường thể hiện một sự hiểu biết sâu rộng về mọi mặt: văn hóa, lịch sử, địa lí, văn học nghệ thuật… Nhà văn đã cung cấp cho người đọc một lượng thông tin đa dạng để hiểu sâu hơn về dòng sông Hương và thiên nhiên, con người Huế.* Vẻ đẹp của sông Hương từ góc nhìn địa lí:– Hành trình của dòng sông: với câu hỏi gợi tìm “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”, bằng những bước chân rong ruổi, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tìm về cội nguồn và dòng chảy của sông Hương:+ Ở thượng nguồn sông Hương mang vẻ đẹp hùng vĩ: chảy “rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, cuộn xoáy như con lốc vào những đáy vực bí ẩn…”; “phóng khoáng và man dại”+ Ra khỏi đại ngàn, sông Hương chuyển dòng, giấu kín cuộc hành trình gian truân giữa lòng Trường Sơn, “ném chìa khóa trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng” -&gt; Vẻ đẹp dữ dội, hùng vĩ của sông Hương giữa rừng già ít ai biết đến.+ Chảy qua vùng rừng núi, sông Hương trở nên dịu dàng, “uốn mình theo những đường cong thật mềm”. “Dòng sông mềm như tấm lụa”, êm đềm trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách, chảy qua những lăng tẩm đồ sộ, chảy qua chùa Thiên Mụ và “những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà” .-&gt; Sông Hương trở thành “người mẹ phù sa” mang vẻ đẹp “dịu dàng và trí tuệ”.+ Giữa lòng thành phố Huế, dòng sông trở nên tĩnh lặng, trôi thật chậm, in bóng cầu Tràng Tiền xa trông nhỏ nhắn như “những vành trăng non”.+ Xuôi về Cồn Hến “quanh năm mơ màng trong sương khói”, hòa với màu xanh của thôn Vĩ Dạ, sông Hương mang vẻ đẹp huyền ảo, mơ màng. Và thật bất ngờ, trước khi rời khỏi kinh thành Huế, sông Hương “đột ngột rẽ dòng… để gặp lại thành phố lần cuối”. Nhà văn dùng biện pháp nhân hóa để nội tâm hóa hình dáng của dòng sông: “Đó là nỗi vương vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu” -&gt; Biện pháp nhân hóa đã giúp tác giả thổi hồn vào dòng sông và hơn thế nữa là một phương thức để nhà văn kết nối sông Hương với con người và văn hóa của mảnh đất Châu Hóa xưa và Huế ngày nay.READ:  Cái tôi của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong Ai đã đặt tên cho dòng sông– Sông Hương và thiên nhiên Huế: Lần theo dòng chảy của sông Hương, ta bắt gặp những bức tranh thiên nhiên đẹp mượt mà:+ Thiên nhiên Huế được nhà văn tái hiện với vẻ đẹp đa dạng trong thời gian và không gian. Sông Hương phản quang vẻ đẹp biến ảo của Huế “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”. Gắn liền với dòng sông, những địa danh quen thuộc: Hòn Chén, Nguyệt Biều, Vọng Cảnh, Thiên Thai dường như sống động hơn: “sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn”, “sắc nước trở nên xanh thẳm”…-&gt; Sông Hương tôn tạo vẻ đẹp cho cảnh sắc thiên nhiên Huế và ngược lại dòng sông cũng hun đúc mọi sắc trời, văn hóa của vùng đất cố đô.– Sông Hương và con người Huế:+ Thiên nhiên và dòng sông luôn gắn bó, gần gũi với con người. Qua điệu chảy của dòng sông nhà văn thấy được tính cách con người xứ Huế: mềm mại, chí tình, “mãi mãi chung tình với quê hương xứ xở”.+ Qua màu sắc của trời Huế, màu sương khói trên sông Hương nhà văn thấy cách trang phục trang nhã, dịu dàng của các cô gái Huế xưa “sắc áo cưới màu điều – lục các cô dâu trẻ vẫn mặc sau tiết sương giáng”* Vẻ đẹp của sông Hương từ góc nhìn lịch sử:– Từ góc nhìn lịch sử, sông Hương không còn là cô gái “Di – gan man dại”, không còn là “người đẹp ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa” mà trở thành chứng nhân của những biến thiên lịch sử. Nhà văn ví sông Hương như “sử thi viết giữa màu xanh cỏ lá xanh biếc” -&gt; Sự hòa quyện giữa chất hùng tráng và trữ tình. Sông Hương là một bản anh hùng ca, đồng thời giữa đời thường sông Hương là một bản tình ca “Còn non, còn nước, còn dài – Còn về, còn nhớ…”.– Hoàng Phủ Ngọc Tường đã nhìn thấy từ dòng sông những dấu tích lịch sử; từng nhánh rẽ của dòng sông, đến “những cây đa, cây cừa cổ thụ” cũng hàm ẩn một phần lịch sử:+ Nhà văn đã ngược về quá khứ để khẳng định vai trò của dòng sông Hương trong lịch sử dân tộc. Từ thời đại các Vua Hùng, sông Hương là “dòng sông biên thùy xa xôi”. Trong những thế kỉ trung đại, với tên gọi Linh Giang, nó đã “oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam của Tổ quốc Đại Việt”. Sông Hương gắn liền với những chiến công Nguyễn Huệ. Sông Hương đẫm máu những cuộc khởi nghĩa TK XIX. Sông Hương gắn liền với cuộc CMT8 với những chiến công rung chuyển. Và sông Hương cùng những di sản văn hóa Huế oằn mình dưới sự tàn phá của bom Mỹ… -&gt; Chất trữ tình của tùy bút giảm đi, nhường chỗ cho chất phóng sự với những sự kiện lịch sử cụ thể.=&gt; Quay về quá khứ xa xưa, ngòi bút nhà văn lấp lánh niềm tự hào về lịch sử một dòng sông có cái tên mềm mại, dịu dàng nhưng kiên cường, kiêu hãnh qua thăng trầm lịch sử.* Vẻ đẹp của sông Hương từ góc nhìn văn hóa:Trong cảm nhận tinh tế của nhà văn, sông Hương còn hàm chứa trong bản thân nó nền văn hóa phi vật chất.– Sông Hương _ dòng sông âm nhạc:READ:  Ý nghĩa chi tiết tiếng sáo trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ+ Từ âm thanh của dòng sông (tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga, tiếng mái chèo khua sóng đêm khuya, tiếng nước vỗ vào mạn thuyền…) đã hình thành những làn điệu hò dân gian và nền âm nhạc cổ điển Huế. Và rồi cũng chính trên dòng sông ấy, những câu hò Huế vút lên, mênh mang, xao xuyến…+ Viết về sông Hương, nhiều lần nhà văn đã liên tưởng đến “Truyện Kiều” của Nguyễn Du. Đại thi hào đã từng có thời gian sống ở Huế, những trang Kiều ra đời từ mảnh đất có truyền thống nhã nhạc cung đình. Đó là cơ sở để H.P.N.T hóa thân vào một nghệ nhân già, nghe những câu thơ tả tiếng đàn của nàng Kiều, chợt nhận ra âm hưởng của âm nhạc cung đình và bật thốt lên: “Đó chính là Tứ đại cảnh” -&gt; Bóng dáng Nguyễn Du và những trang Kiều nhiều lần xuất hiện trong bài kí bộc lộ một khả năng liên tưởng phong phú, một vốn văn hóa sâu rộng và sự gắn kết với truyền thống, một sự đồng điệu tâm hồn nhà văn.– Sông Hương _ dòng sông thi ca:+ Hoàng Phủ Ngọc Tường đã làm sống dậy những vần thơ biếc xanh của Tản Đà về xứ Huế: “Dòng sông trắng – Lá cây xanh”. Hình ảnh thơ này cùng với câu chữ của tác giả “màu cỏ lá xanh biếc” là minh chứng cho sự tương giao của những tâm hồn nghệ sĩ nhạy cảm với sắc biếc của thiên nhiên Huế.+ Nhà văn cũng làm sống dậy một sông Hương hùng tráng bất tử “như kiếm dựng trời xanh” trong thơ Cao Bá Quát, một sông Hương “nỗi quan hoài vạn cổ” trong thơ Bà Huyện Thanh Quan…=&gt; Bằng vốn kiến văn phong phú, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã lay động linh hồn của con sông mà tên gọi của nó đã đi vào văn chương nghệ thuật mà theo tác giả “Dòng sông ấy không bao giờ tự lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ”b. Chất thơ của một ngòi bút tài hoa:– Chất thơ toát ra từ những hình ảnh đẹp, từ độ nhòe mờ của hình tượng nghệ thuật: “những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà”, “lập lòe trong đêm sương những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mô tê xưa cũ…” ; qua cách so sánh liên tưởng gợi cảm: “Chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời nhỏ nhắn như những vầng trăng non”.– Chất thơ còn lấp lánh ở cách Hoàng Phủ Ngọc Tường điểm xuyết ca dao, lời thơ Tản Đà, Cao Bá Quát, Bà Huyện Thanh Quan.– Chất thơ còn tỏa ra từ nhan đề bài kí gợi mãi những âm vang trầm lắng của dòng sông : “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”III. Kết bài– Chất trí tuệ và chất thơ kết hợp hài hòa trong tác phẩm của Hoàng Phủ Ngọc Tường tạo nên phong cách đặc sắc của nhà văn này.– “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” không chỉ là một trong những tác phẩm hay nhất viết về sông Hương mà còn là bút kí đặc sắc vào bậc nhất của VHVN hiện đại.                                                             </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956297410</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-20 04:27:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956297410</guid>
      </item>
      <item>
         <title>II. Thân bài1. Khái quát:– “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” rút từ tập bút kí cùng tên, được xuất bản năm 1984. Tập bút kí gồm tám bài viết về nhiều đề tài. Có những bài đậm chất sử thi với cảm hứng anh hùng, ca ngợi đất nước, con người VN. Có những bài thiên về miêu tả thiên nhiên, qua đó nhà văn bộc lộ lòng gắn bó với quê hương đất nước và niềm tự hào về truyền thống, văn hóa, lịch sử của dân tộc. Đặc biệt là những bài viết về Huế.– Trong số những bút kí đó, “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là bài kí độc đáo về sông Hương. Dòng sông khơi gợi cảm hứng cho thơ ca, nhạc họa đã được Hoàng Phủ Ngọc Tường cảm nhận từ nhiều góc nhìn, đặc biệt là góc nhìn tâm linh, mang những nét riêng của “văn hóa Phú Xuân”.2. Phân tích:a. Chất trí tuệ của một cái tôi uyên bác: Viết về sông Hương, Hoàng Phủ Ngọc Tường thể hiện một sự hiểu biết sâu rộng về mọi mặt: văn hóa, lịch sử, địa lí, văn học nghệ thuật… Nhà văn đã cung cấp cho người đọc một lượng thông tin đa dạng để hiểu sâu hơn về dòng sông Hương và thiên nhiên, con người Huế.* Vẻ đẹp của sông Hương từ góc nhìn địa lí:– Hành trình của dòng sông: với câu hỏi gợi tìm “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”, bằng những bước chân rong ruổi, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tìm về cội nguồn và dòng chảy của sông Hương:+ Ở thượng nguồn sông Hương mang vẻ đẹp hùng vĩ: chảy “rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, cuộn xoáy như con lốc vào những đáy vực bí ẩn…”; “phóng khoáng và man dại”+ Ra khỏi đại ngàn, sông Hương chuyển dòng, giấu kín cuộc hành trình gian truân giữa lòng Trường Sơn, “ném chìa khóa trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng” -&gt; Vẻ đẹp dữ dội, hùng vĩ của sông Hương giữa rừng già ít ai biết đến.+ Chảy qua vùng rừng núi, sông Hương trở nên dịu dàng, “uốn mình theo những đường cong thật mềm”. “Dòng sông mềm như tấm lụa”, êm đềm trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách, chảy qua những lăng tẩm đồ sộ, chảy qua chùa Thiên Mụ và “những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà” .-&gt; Sông Hương trở thành “người mẹ phù sa” mang vẻ đẹp “dịu dàng và trí tuệ”.+ Giữa lòng thành phố Huế, dòng sông trở nên tĩnh lặng, trôi thật chậm, in bóng cầu Tràng Tiền xa trông nhỏ nhắn như “những vành trăng non”.+ Xuôi về Cồn Hến “quanh năm mơ màng trong sương khói”, hòa với màu xanh của thôn Vĩ Dạ, sông Hương mang vẻ đẹp huyền ảo, mơ màng. Và thật bất ngờ, trước khi rời khỏi kinh thành Huế, sông Hương “đột ngột rẽ dòng… để gặp lại thành phố lần cuối”. Nhà văn dùng biện pháp nhân hóa để nội tâm hóa hình dáng của dòng sông: “Đó là nỗi vương vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu” -&gt; Biện pháp nhân hóa đã giúp tác giả thổi hồn vào dòng sông và hơn thế nữa là một phương thức để nhà văn kết nối sông Hương với con người và văn hóa của mảnh đất Châu Hóa xưa và Huế ngày nay.READ:  Cái tôi của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong Ai đã đặt tên cho dòng sông– Sông Hương và thiên nhiên Huế: Lần theo dòng chảy của sông Hương, ta bắt gặp những bức tranh thiên nhiên đẹp mượt mà:+ Thiên nhiên Huế được nhà văn tái hiện với vẻ đẹp đa dạng trong thời gian và không gian. Sông Hương phản quang vẻ đẹp biến ảo của Huế “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”. Gắn liền với dòng sông, những địa danh quen thuộc: Hòn Chén, Nguyệt Biều, Vọng Cảnh, Thiên Thai dường như sống động hơn: “sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn”, “sắc nước trở nên xanh thẳm”…-&gt; Sông Hương tôn tạo vẻ đẹp cho cảnh sắc thiên nhiên Huế và ngược lại dòng sông cũng hun đúc mọi sắc trời, văn hóa của vùng đất cố đô.– Sông Hương và con người Huế:+ Thiên nhiên và dòng sông luôn gắn bó, gần gũi với con người. Qua điệu chảy của dòng sông nhà văn thấy được tính cách con người xứ Huế: mềm mại, chí tình, “mãi mãi chung tình với quê hương xứ xở”.+ Qua màu sắc của trời Huế, màu sương khói trên sông Hương nhà văn thấy cách trang phục trang nhã, dịu dàng của các cô gái Huế xưa “sắc áo cưới màu điều – lục các cô dâu trẻ vẫn mặc sau tiết sương giáng”* Vẻ đẹp của sông Hương từ góc nhìn lịch sử:– Từ góc nhìn lịch sử, sông Hương không còn là cô gái “Di – gan man dại”, không còn là “người đẹp ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa” mà trở thành chứng nhân của những biến thiên lịch sử. Nhà văn ví sông Hương như “sử thi viết giữa màu xanh cỏ lá xanh biếc” -&gt; Sự hòa quyện giữa chất hùng tráng và trữ tình. Sông Hương là một bản anh hùng ca, đồng thời giữa đời thường sông Hương là một bản tình ca “Còn non, còn nước, còn dài – Còn về, còn nhớ…”.– Hoàng Phủ Ngọc Tường đã nhìn thấy từ dòng sông những dấu tích lịch sử; từng nhánh rẽ của dòng sông, đến “những cây đa, cây cừa cổ thụ” cũng hàm ẩn một phần lịch sử:+ Nhà văn đã ngược về quá khứ để khẳng định vai trò của dòng sông Hương trong lịch sử dân tộc. Từ thời đại các Vua Hùng, sông Hương là “dòng sông biên thùy xa xôi”. Trong những thế kỉ trung đại, với tên gọi Linh Giang, nó đã “oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam của Tổ quốc Đại Việt”. Sông Hương gắn liền với những chiến công Nguyễn Huệ. Sông Hương đẫm máu những cuộc khởi nghĩa TK XIX. Sông Hương gắn liền với cuộc CMT8 với những chiến công rung chuyển. Và sông Hương cùng những di sản văn hóa Huế oằn mình dưới sự tàn phá của bom Mỹ… -&gt; Chất trữ tình của tùy bút giảm đi, nhường chỗ cho chất phóng sự với những sự kiện lịch sử cụ thể.=&gt; Quay về quá khứ xa xưa, ngòi bút nhà văn lấp lánh niềm tự hào về lịch sử một dòng sông có cái tên mềm mại, dịu dàng nhưng kiên cường, kiêu hãnh qua thăng trầm lịch sử.* Vẻ đẹp của sông Hương từ góc nhìn văn hóa:Trong cảm nhận tinh tế của nhà văn, sông Hương còn hàm chứa trong bản thân nó nền văn hóa phi vật chất.– Sông Hương _ dòng sông âm nhạc:READ:  Ý nghĩa chi tiết tiếng sáo trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ+ Từ âm thanh của dòng sông (tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga, tiếng mái chèo khua sóng đêm khuya, tiếng nước vỗ vào mạn thuyền…) đã hình thành những làn điệu hò dân gian và nền âm nhạc cổ điển Huế. Và rồi cũng chính trên dòng sông ấy, những câu hò Huế vút lên, mênh mang, xao xuyến…+ Viết về sông Hương, nhiều lần nhà văn đã liên tưởng đến “Truyện Kiều” của Nguyễn Du. Đại thi hào đã từng có thời gian sống ở Huế, những trang Kiều ra đời từ mảnh đất có truyền thống nhã nhạc cung đình. Đó là cơ sở để H.P.N.T hóa thân vào một nghệ nhân già, nghe những câu thơ tả tiếng đàn của nàng Kiều, chợt nhận ra âm hưởng của âm nhạc cung đình và bật thốt lên: “Đó chính là Tứ đại cảnh” -&gt; Bóng dáng Nguyễn Du và những trang Kiều nhiều lần xuất hiện trong bài kí bộc lộ một khả năng liên tưởng phong phú, một vốn văn hóa sâu rộng và sự gắn kết với truyền thống, một sự đồng điệu tâm hồn nhà văn.– Sông Hương _ dòng sông thi ca:+ Hoàng Phủ Ngọc Tường đã làm sống dậy những vần thơ biếc xanh của Tản Đà về xứ Huế: “Dòng sông trắng – Lá cây xanh”. Hình ảnh thơ này cùng với câu chữ của tác giả “màu cỏ lá xanh biếc” là minh chứng cho sự tương giao của những tâm hồn nghệ sĩ nhạy cảm với sắc biếc của thiên nhiên Huế.+ Nhà văn cũng làm sống dậy một sông Hương hùng tráng bất tử “như kiếm dựng trời xanh” trong thơ Cao Bá Quát, một sông Hương “nỗi quan hoài vạn cổ” trong thơ Bà Huyện Thanh Quan…=&gt; Bằng vốn kiến văn phong phú, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã lay động linh hồn của con sông mà tên gọi của nó đã đi vào văn chương nghệ thuật mà theo tác giả “Dòng sông ấy không bao giờ tự lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ”b. Chất thơ của một ngòi bút tài hoa:– Chất thơ toát ra từ những hình ảnh đẹp, từ độ nhòe mờ của hình tượng nghệ thuật: “những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà”, “lập lòe trong đêm sương những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mô tê xưa cũ…” ; qua cách so sánh liên tưởng gợi cảm: “Chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời nhỏ nhắn như những vầng trăng non”.– Chất thơ còn lấp lánh ở cách Hoàng Phủ Ngọc Tường điểm xuyết ca dao, lời thơ Tản Đà, Cao Bá Quát, Bà Huyện Thanh Quan.– Chất thơ còn tỏa ra từ nhan đề bài kí gợi mãi những âm vang trầm lắng của dòng sông : “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”III. Kết bài– Chất trí tuệ và chất thơ kết hợp hài hòa trong tác phẩm của Hoàng Phủ Ngọc Tường tạo nên phong cách đặc sắc của nhà văn này.– “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” không chỉ là một trong những tác phẩm hay nhất viết về sông Hương mà còn là bút kí đặc sắc vào bậc nhất của VHVN hiện đại.                                                              </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956367727</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-20 05:43:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956367727</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956379257</link>
         <description><![CDATA[<div>Dàn ý cảm nhận bài thơ Đất nước<br>1. Mở bài:<br><br>- Giới thiệu về tác giả Nguyễn Khoa Điềm: ông thuộc thế hệ nhà thơ chống Mĩ cứu nước, thơ ông là sự kết hợp giữa cảm xúc nồng nàn và chất triết lí, suy tư của người trí thức về đất nước, con người.<br><br>- Giới thiệu về bài thơ Đất nước: được trích trong trường ca Mặt đường khát vọng, là một bài thơ có chất triết lí sâu sắc, thể hiện tư tưởng “Đất nước của nhân dân”.<br><br><br>2. Thân bài<br><br>* Đất nước được cảm nhận từ phương diện lịch sử, văn hóa, chiều sâu của không gian, chiều dài của thời gian<br><br>* Đất nước có từ bao giờ? (lí giải cội nguồn của đất nước) (9 câu đầu)<br><br>- Tác giả khẳng định một điều tất yếu: “Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi”, điều này thôi thúc mỗi con người muốn tìm đến nguồn cội đất nước.<br><br>- Đất nước bắt nguồn từ những diều bình dị, gần gũi trong đời sống của người Việt Nam từ xa xưa: “ngày xửa ngày xưa” gợi nhớ đến câu mở đầu các câu chuyện dân gian, “miếng trầu” gợi nhớ tục ăn trầu của người Việt và truyện cổ tích trầu cau, “Tóc mẹ thì bới sau đầu”: thói quen búi tóc của những người phụ nữ Việt Nam, “Thương hau bằng gừng cay muối mặn” thói quen tâm lí, truyền thống yêu thương của dân tộc.<br><br>- Đất nước trưởng thành cùng quá trình lao động sản xuất “cái kèo cái cột thành tên”, “một nắng hai sương”, quá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm.<br><br>- Nhận xét: Tác giả có cái nhìn mới mẻ về cội nguồn đất nước, đất nước bắt nguồn từ chiều sâu văn hóa, văn học, lịch sử và truyền thống dân tộc.<br><br>* Định nghĩa về đất nước (28 câu thơ tiếp theo)<br><br>- Về phương diện không gian địa lí:<br><br>Tác giả tách riêng hai yếu tố “đất” và “nước” để suy tư một cách sâu sắc.<br>Đất nước là không gian riêng tư quen thuộc gắn với không gian sinh hoạt của mỗi con người: “nơi anh đến trường”, “nơi em tắm”; gắn với kỉ niệm tình yêu lứa đôi: “nơi em đánh rơi ... thương thầm”.<br>Đất nước là không gian bao la trù phú, không gian sinh tồn của cộng đồng qua bao thế hệ: “Đất là nơi con chim phượng hoàng ... dân mình đoàn tụ”.<br><br>- Nhìn đất nước được nhìn xuyên suốt chiều dài lịch sử từ quá khứ, hiện tại đến tương lai:<br><br>Trong quá khứ đất nước là nơi thiêng liêng, gắn với truyền thuyết, huyền thoại: “Đất là nơi chim về ... trong bọc trứng”<br>Trong hiện tại: đất nước có trong tấm lòng mỗi con người, mỗi người đều thừa hưởng những giá trị của đất nước, khi có sự gắn kết giữa mỗi người đất nước sẽ nồng thắm, hài hòa, lớn lao. Đó là sự gắn kết giưa cái riêng và cái chung.<br>Trong tương lai: thế hệ trẻ sẽ “mang đất nước đi xa” “đến những ngày mơ mộng”, đất nước sẽ trường tồn, bền vững.<br>- Suy tư về trách nhiệm của mỗi cá nhân với đất nước: “Phải biết gắn bó và san sẻ”, đóng góp, hi sinh để góp phần dựng xây đất nước.<br><br>- Nhận xét: qua cái nhìn toàn diện của nhà thơ, đất nước hiện lên vừa gần gũi, thân thuộc lại vừa thiêng liêng, hào hùng và trường tồn đến muôn đời sau.<br><br>* Tư tưởng cốt lõi, cảm nhận về đất nước: đất nước của nhân dân<br><br>- Thiên nhiên địa lí của đất nước không chỉ là sản phẩm của tạo hóa mà được hình thành từ phẩm chất và số phận của mỗi người, là một phần máu thịt, tâm hồn con người:<br><br>Nhờ tình nghĩa yêu thương, thủy chung mà có “hòn Vọng Phu”, “hòn Trống Mái”<br>Nhờ tinh thần bất khuất, anh hùng trong quá trình dựng nước và giữ nước mà có những ao đầm, di tích lịch sử về quá trình dựng nước.<br>Nhờ truyền thống hiếu học mà có những “núi Bút non Nghiên”<br>- Nhân dân làm nên lịch sử 4000 năm:<br><br>Họ là những người con trai, con gái bình dị nhưng luôn thường trực tình yêu nước.<br>Tác giả nhấn mạnh đến những con người vô danh làm nên lịch sử, khẳng định vai trò của mỗi cá nhân với lịch sử dân tộc.<br><br>- Nhân dân tạo ra và giữ gìn những giá trị vật chất, tinh thần cho đất nước: văn hóa: “truyền hạt lúa”, “truyền lửa”, “truyền giọng nói”, “gánh theo tên xã, tên làng”, ... từ đó xây dựng nền móng phát triển đất nước lâu bền.<br><br>- Tư tưởng cốt lõi, cảm hứng bao trùm cả đoạn trích: “đất nước này là đất nước của nhân dân đất nước của ca dao thần thoại”, đất nước ấy thể hiện qua tâm hồn con người: biết yêu thương, biết quý trọng trọng tình nghĩa, công sức và biết chiến đấu vì đất nước.<br><br>- Nhận xét:<br><br>Về nội dung: đoạn trích “Đất nước” đã thể hiện cái nhìn mới mẻ về đất nước trên nhiều bình diện: văn hóa, lịch sử, địa lí dựa trên tư tưởng cốt lõi: “đất nước của nhân dân”.<br>Về nghệ thuật: sử dụng đa dạng và sáng tạo chất liệu văn hóa dân gian, ngôn ngữ giàu chất suy tư, triết luận sâu sắc.<br>3. Kết bài:<br><br>- Khẳng định lại giá trị của đoạn trích: đoạn trích đã nhấn mạnh tư tưởng “đất nước của nhân dân”, thể hiện tinh thần yêu nước của tác giả, đánh thức tinh thần yêu nước trong mỗi con người.<br><br>- Nêu cảm nhận riêng về đoạn trích đất nước và có liên hệ thực tiễn đến trách nhiệm của thế hệ hôm nay với đất nước.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-20 05:58:27 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956379257</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dàn ý cảm nhận bài thơ Đất nước1. Mở bài:- Giới thiệu về tác giả </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956379682</link>
         <description><![CDATA[<div>Dàn ý cảm nhận bài thơ Đất nước<br>1. Mở bài:<br><br>- Giới thiệu về tác giả Nguyễn Khoa Điềm: ông thuộc thế hệ nhà thơ chống Mĩ cứu nước, thơ ông là sự kết hợp giữa cảm xúc nồng nàn và chất triết lí, suy tư của người trí thức về đất nước, con người.<br><br>- Giới thiệu về bài thơ Đất nước: được trích trong trường ca Mặt đường khát vọng, là một bài thơ có chất triết lí sâu sắc, thể hiện tư tưởng “Đất nước của nhân dân”.<br><br><br>2. Thân bài<br><br>* Đất nước được cảm nhận từ phương diện lịch sử, văn hóa, chiều sâu của không gian, chiều dài của thời gian<br><br>* Đất nước có từ bao giờ? (lí giải cội nguồn của đất nước) (9 câu đầu)<br><br>- Tác giả khẳng định một điều tất yếu: “Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi”, điều này thôi thúc mỗi con người muốn tìm đến nguồn cội đất nước.<br><br>- Đất nước bắt nguồn từ những diều bình dị, gần gũi trong đời sống của người Việt Nam từ xa xưa: “ngày xửa ngày xưa” gợi nhớ đến câu mở đầu các câu chuyện dân gian, “miếng trầu” gợi nhớ tục ăn trầu của người Việt và truyện cổ tích trầu cau, “Tóc mẹ thì bới sau đầu”: thói quen búi tóc của những người phụ nữ Việt Nam, “Thương hau bằng gừng cay muối mặn” thói quen tâm lí, truyền thống yêu thương của dân tộc.<br><br>- Đất nước trưởng thành cùng quá trình lao động sản xuất “cái kèo cái cột thành tên”, “một nắng hai sương”, quá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm.<br><br>- Nhận xét: Tác giả có cái nhìn mới mẻ về cội nguồn đất nước, đất nước bắt nguồn từ chiều sâu văn hóa, văn học, lịch sử và truyền thống dân tộc.<br><br>* Định nghĩa về đất nước (28 câu thơ tiếp theo)<br><br>- Về phương diện không gian địa lí:<br><br>Tác giả tách riêng hai yếu tố “đất” và “nước” để suy tư một cách sâu sắc.<br>Đất nước là không gian riêng tư quen thuộc gắn với không gian sinh hoạt của mỗi con người: “nơi anh đến trường”, “nơi em tắm”; gắn với kỉ niệm tình yêu lứa đôi: “nơi em đánh rơi ... thương thầm”.<br>Đất nước là không gian bao la trù phú, không gian sinh tồn của cộng đồng qua bao thế hệ: “Đất là nơi con chim phượng hoàng ... dân mình đoàn tụ”.<br><br>- Nhìn đất nước được nhìn xuyên suốt chiều dài lịch sử từ quá khứ, hiện tại đến tương lai:<br><br>Trong quá khứ đất nước là nơi thiêng liêng, gắn với truyền thuyết, huyền thoại: “Đất là nơi chim về ... trong bọc trứng”<br>Trong hiện tại: đất nước có trong tấm lòng mỗi con người, mỗi người đều thừa hưởng những giá trị của đất nước, khi có sự gắn kết giữa mỗi người đất nước sẽ nồng thắm, hài hòa, lớn lao. Đó là sự gắn kết giưa cái riêng và cái chung.<br>Trong tương lai: thế hệ trẻ sẽ “mang đất nước đi xa” “đến những ngày mơ mộng”, đất nước sẽ trường tồn, bền vững.<br>- Suy tư về trách nhiệm của mỗi cá nhân với đất nước: “Phải biết gắn bó và san sẻ”, đóng góp, hi sinh để góp phần dựng xây đất nước.<br><br>- Nhận xét: qua cái nhìn toàn diện của nhà thơ, đất nước hiện lên vừa gần gũi, thân thuộc lại vừa thiêng liêng, hào hùng và trường tồn đến muôn đời sau.<br><br>* Tư tưởng cốt lõi, cảm nhận về đất nước: đất nước của nhân dân<br><br>- Thiên nhiên địa lí của đất nước không chỉ là sản phẩm của tạo hóa mà được hình thành từ phẩm chất và số phận của mỗi người, là một phần máu thịt, tâm hồn con người:<br><br>Nhờ tình nghĩa yêu thương, thủy chung mà có “hòn Vọng Phu”, “hòn Trống Mái”<br>Nhờ tinh thần bất khuất, anh hùng trong quá trình dựng nước và giữ nước mà có những ao đầm, di tích lịch sử về quá trình dựng nước.<br>Nhờ truyền thống hiếu học mà có những “núi Bút non Nghiên”<br>- Nhân dân làm nên lịch sử 4000 năm:<br><br>Họ là những người con trai, con gái bình dị nhưng luôn thường trực tình yêu nước.<br>Tác giả nhấn mạnh đến những con người vô danh làm nên lịch sử, khẳng định vai trò của mỗi cá nhân với lịch sử dân tộc.<br><br>- Nhân dân tạo ra và giữ gìn những giá trị vật chất, tinh thần cho đất nước: văn hóa: “truyền hạt lúa”, “truyền lửa”, “truyền giọng nói”, “gánh theo tên xã, tên làng”, ... từ đó xây dựng nền móng phát triển đất nước lâu bền.<br><br>- Tư tưởng cốt lõi, cảm hứng bao trùm cả đoạn trích: “đất nước này là đất nước của nhân dân đất nước của ca dao thần thoại”, đất nước ấy thể hiện qua tâm hồn con người: biết yêu thương, biết quý trọng trọng tình nghĩa, công sức và biết chiến đấu vì đất nước.<br><br>- Nhận xét:<br><br>Về nội dung: đoạn trích “Đất nước” đã thể hiện cái nhìn mới mẻ về đất nước trên nhiều bình diện: văn hóa, lịch sử, địa lí dựa trên tư tưởng cốt lõi: “đất nước của nhân dân”.<br>Về nghệ thuật: sử dụng đa dạng và sáng tạo chất liệu văn hóa dân gian, ngôn ngữ giàu chất suy tư, triết luận sâu sắc.<br>3. Kết bài:<br><br>- Khẳng định lại giá trị của đoạn trích: đoạn trích đã nhấn mạnh tư tưởng “đất nước của nhân dân”, thể hiện tinh thần yêu nước của tác giả, đánh thức tinh thần yêu nước trong mỗi con người.<br><br>- Nêu cảm nhận riêng về đoạn trích đất nước và có liên hệ thực tiễn đến trách nhiệm của thế hệ hôm nay với đất nước.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-20 05:59:07 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956379682</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956380028</link>
         <description><![CDATA[<div>Dàn ý phân tích Người lái đò sông Đà - Mẫu 1<br>I. Mở bài<br><br>Giới thiệu tác giả Nguyễn Tuân và tác phẩm Người lái đò sông Đà. (Nguyễn Tuân là một tác giả lớn có nhiều đóng góp quan trọng cho nền văn học của Việt Nam).<br><br>II. Thân bài<br><br>1. Hình tượng con sông Đà<br><br>a. Con sông Đà hung bạo<br><br>- Cảnh vách đá hai bên sông dựng đứng như vách thành và ở quãng sông hẹp:<br><br><br>Có vách đá chẹt dòng sông Đà như một cái yết hầu.<br>Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách. Có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bên bờ này sang bên kia.<br>Mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời.<br>→ Tác giả sử dụng nhiều giác quan (thị giác, xúc giác) để cảm nhận.<br><br>- Cảnh ở quãng mặt ghềnh Hát Loóng:<br><br>Dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò sông Đà...<br>Quãng này mà khinh suất tay lái thì cũng dễ lật ngửa bụng thuyền ra.<br>→ Sử dụng nhiều câu văn ngắn, điệp từ, điệp cấu trúc gợi lên nhịp chuyển động gấp gáp của sóng gió đang phối hợp với nhau, tạo thêm nét hung bạo của sông Đà.<br><br>- Cảnh ở quãng Tà Mường Vát:<br><br>Trên sông bỗng có những cái hút nước giống như cái giếng bê tông thả xuống dòng sông để chuẩn bị làm móng cầu.<br>Nước ở đây thở và kêu như cái cửa cống bị sặc... những cái giếng sâu nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào.<br>Nhiều thuyền bè gỗ đi nghênh ngang vô ý là những cái giếng hút nước ấy nó lôi tụt xuống.<br>→ Sử dụng các biện pháp so sánh, liên tưởng, nhân hóa độc đáo gợi lên cảm giác về những mối nguy hiểm của sông Đà.<br><br><br>- Cuộc thủy chiến giữa con sông Đà và người lái đò:<br><br>Một thứ thiên nhiên Tây Bắc có nhiều lúc trông nó thành ra diện mạo và tâm địa một thứ kẻ thù số một.<br>Tiếng nước nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo...rống lên như tiếng của một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng.<br>Sông Đà đã giao việc cho mỗi hòn, nó bày thạch trận trên sông: Đám tảng đám hòn, chia làm ba hàng chặng ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền. Hàng tiền vệ, có hai hòn canh một cửa đá trông như là sơ hở, nhưng chính hai đứa giữ vai trò dụ cái thuyền đối phương đi vào sâu nữa,....<br>Phối hợp với đá, nước thác reo hò làm thanh viện cho đá, những hòn đá bệ vệ oai phong, lẫm liệt, thách thức chiếc thuyền.<br>Nước bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng ông lái đò lật ngửa mình ra giữa trận nước vang trời thanh la não bạt.<br>Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá...<br>→ Sử dụng các biện pháp so sánh, nhân hóa, đầy sáng tạo để khắc họa sự hung bạo, dữ dằn trong trận thủy chiến gay go, quyết liệt.<br><br>Sông Đà hiện lên qua ngòi bút của Nguyễn Tuân không phải là con sông vô tri, vô giác mà là một sinh thể có hoạt động, có tính cách, cá tính, có tâm trạng, không chỉ hung hãn mà nó còn rất xảo huyệt, mưu ma để lừa người lá đò vào thế trận đã bày sẵn và hướng người ta vào cửa tử.<br><br>Hình tượng con sông Đà hiện lên thật kì vĩ, hiểm trở, dữ dội và rất hung bạo… Sông Đà biểu tượng cho sức mạnh dữ dội và vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên núi rừng Tây Bắc.<br><br><br>b. Vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình<br><br>Từ trên tàu bay nhìn xuống "con sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo"<br><br>"Mùa xuân xanh màu ngọc bích", khác với sông Gâm, sông Lô "màu xanh canh hến". Mùa thu nước sông "lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa"<br><br>→ Sông Đà mỗi mùa mang một vẻ đẹp riêng, quyến rũ và tình tứ.<br><br>Nguyễn Tuân nhìn sông Đà như một cố nhân với những cảnh quan hai bên bờ cực kì gợi cảm: lá non nhú trên những nương ngô, những con hươu "ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương" Dòng sông Đà như gợi những nỗi niềm sâu thẳm trong lịch sử đất Việt: Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như nỗi niềm cổ tích xưa.<br><br>→ Nguyễn Tuân say mê miêu tả dòng sông với tất cả sự tinh tế của cảm xúc, và bằng một tình yêu thiết tha. Lòng ngưỡng mộ, trân trọng, nâng niu tự hào về một dòng sông đã tạo nên những trang văn đẹp hiếm có.<br><br>2. Hình ảnh người lái đò<br><br>- Về lai lịch: một ông lão gần 70 tuổi, làm nghề lái đò nhiều năm.<br><br>- Ngoại hình: “tay lêu nghêu ... chất mun” để ngợi ca những con người vô danh âm thầm cống hiến.<br><br>-Công việc: lái đò trên sông Đà, hằng ngày đối diện với con thủy quái hung bạo..<br><br>-Tài năng và tâm hồn:<br><br>Là người từng trải, hiểu biết và thành thạo trong nghề lái đò: “trên sông Đà ông xuôi ngược hơn một trăm lần”, “nhớ tỉ mỉ... những luồng nước”...<br>Là người mưu trí dũng cảm, bản lĩnh và tài ba: ung dung đối đầu với thác dữ “nén đau giữ mái chèo, tỉnh táo chỉ huy bạn chèo...”, “nắm chắc binh pháp của thần sông thần núi”, động tác điêu luyện “cưỡi đúng ngay trên bờm sóng, phóng thẳng thuyền vào giữa thác...”<br>Là người nghệ sĩ tài hoa: ưa những khúc sông nhiều ghềnh thác, không thích lái đò trên khúc sông bằng phẳng, coi việc chiến thắng “con thủy quái” là chuyện thường.<br>III. Kết bài<br><br>Khẳng định lại giá trị của tác phẩm.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-20 05:59:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956380028</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956380203</link>
         <description><![CDATA[<div>Dàn ý phân tích Người lái đò sông Đà - Mẫu 1<br>I. Mở bài<br><br>Giới thiệu tác giả Nguyễn Tuân và tác phẩm Người lái đò sông Đà. (Nguyễn Tuân là một tác giả lớn có nhiều đóng góp quan trọng cho nền văn học của Việt Nam).<br><br>II. Thân bài<br><br>1. Hình tượng con sông Đà<br><br>a. Con sông Đà hung bạo<br><br>- Cảnh vách đá hai bên sông dựng đứng như vách thành và ở quãng sông hẹp:<br><br><br>Có vách đá chẹt dòng sông Đà như một cái yết hầu.<br>Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách. Có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bên bờ này sang bên kia.<br>Mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời.<br>→ Tác giả sử dụng nhiều giác quan (thị giác, xúc giác) để cảm nhận.<br><br>- Cảnh ở quãng mặt ghềnh Hát Loóng:<br><br>Dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò sông Đà...<br>Quãng này mà khinh suất tay lái thì cũng dễ lật ngửa bụng thuyền ra.<br>→ Sử dụng nhiều câu văn ngắn, điệp từ, điệp cấu trúc gợi lên nhịp chuyển động gấp gáp của sóng gió đang phối hợp với nhau, tạo thêm nét hung bạo của sông Đà.<br><br>- Cảnh ở quãng Tà Mường Vát:<br><br>Trên sông bỗng có những cái hút nước giống như cái giếng bê tông thả xuống dòng sông để chuẩn bị làm móng cầu.<br>Nước ở đây thở và kêu như cái cửa cống bị sặc... những cái giếng sâu nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào.<br>Nhiều thuyền bè gỗ đi nghênh ngang vô ý là những cái giếng hút nước ấy nó lôi tụt xuống.<br>→ Sử dụng các biện pháp so sánh, liên tưởng, nhân hóa độc đáo gợi lên cảm giác về những mối nguy hiểm của sông Đà.<br><br><br>- Cuộc thủy chiến giữa con sông Đà và người lái đò:<br><br>Một thứ thiên nhiên Tây Bắc có nhiều lúc trông nó thành ra diện mạo và tâm địa một thứ kẻ thù số một.<br>Tiếng nước nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo...rống lên như tiếng của một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng.<br>Sông Đà đã giao việc cho mỗi hòn, nó bày thạch trận trên sông: Đám tảng đám hòn, chia làm ba hàng chặng ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền. Hàng tiền vệ, có hai hòn canh một cửa đá trông như là sơ hở, nhưng chính hai đứa giữ vai trò dụ cái thuyền đối phương đi vào sâu nữa,....<br>Phối hợp với đá, nước thác reo hò làm thanh viện cho đá, những hòn đá bệ vệ oai phong, lẫm liệt, thách thức chiếc thuyền.<br>Nước bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng ông lái đò lật ngửa mình ra giữa trận nước vang trời thanh la não bạt.<br>Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá...<br>→ Sử dụng các biện pháp so sánh, nhân hóa, đầy sáng tạo để khắc họa sự hung bạo, dữ dằn trong trận thủy chiến gay go, quyết liệt.<br><br>Sông Đà hiện lên qua ngòi bút của Nguyễn Tuân không phải là con sông vô tri, vô giác mà là một sinh thể có hoạt động, có tính cách, cá tính, có tâm trạng, không chỉ hung hãn mà nó còn rất xảo huyệt, mưu ma để lừa người lá đò vào thế trận đã bày sẵn và hướng người ta vào cửa tử.<br><br>Hình tượng con sông Đà hiện lên thật kì vĩ, hiểm trở, dữ dội và rất hung bạo… Sông Đà biểu tượng cho sức mạnh dữ dội và vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên núi rừng Tây Bắc.<br><br><br>b. Vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình<br><br>Từ trên tàu bay nhìn xuống "con sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo"<br><br>"Mùa xuân xanh màu ngọc bích", khác với sông Gâm, sông Lô "màu xanh canh hến". Mùa thu nước sông "lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa"<br><br>→ Sông Đà mỗi mùa mang một vẻ đẹp riêng, quyến rũ và tình tứ.<br><br>Nguyễn Tuân nhìn sông Đà như một cố nhân với những cảnh quan hai bên bờ cực kì gợi cảm: lá non nhú trên những nương ngô, những con hươu "ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương" Dòng sông Đà như gợi những nỗi niềm sâu thẳm trong lịch sử đất Việt: Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như nỗi niềm cổ tích xưa.<br><br>→ Nguyễn Tuân say mê miêu tả dòng sông với tất cả sự tinh tế của cảm xúc, và bằng một tình yêu thiết tha. Lòng ngưỡng mộ, trân trọng, nâng niu tự hào về một dòng sông đã tạo nên những trang văn đẹp hiếm có.<br><br>2. Hình ảnh người lái đò<br><br>- Về lai lịch: một ông lão gần 70 tuổi, làm nghề lái đò nhiều năm.<br><br>- Ngoại hình: “tay lêu nghêu ... chất mun” để ngợi ca những con người vô danh âm thầm cống hiến.<br><br>-Công việc: lái đò trên sông Đà, hằng ngày đối diện với con thủy quái hung bạo..<br><br>-Tài năng và tâm hồn:<br><br>Là người từng trải, hiểu biết và thành thạo trong nghề lái đò: “trên sông Đà ông xuôi ngược hơn một trăm lần”, “nhớ tỉ mỉ... những luồng nước”...<br>Là người mưu trí dũng cảm, bản lĩnh và tài ba: ung dung đối đầu với thác dữ “nén đau giữ mái chèo, tỉnh táo chỉ huy bạn chèo...”, “nắm chắc binh pháp của thần sông thần núi”, động tác điêu luyện “cưỡi đúng ngay trên bờm sóng, phóng thẳng thuyền vào giữa thác...”<br>Là người nghệ sĩ tài hoa: ưa những khúc sông nhiều ghềnh thác, không thích lái đò trên khúc sông bằng phẳng, coi việc chiến thắng “con thủy quái” là chuyện thường.<br>III. Kết bài<br><br>Khẳng định lại giá trị của tác phẩm.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-20 05:59:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956380203</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956380647</link>
         <description><![CDATA[<div>Dàn ý phân tích bài thơ Việt Bắc - Mẫu 1<br>I. Mở bài<br><br>“Chín năm làm một Điện Biên<br>Nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng”<br><br>(Tố Hữu)<br><br>- Chặng đường kháng chiến chống Pháp đầy gian lao đã kết thúc với thắng lợi vẻ vang. Tháng 10 năm 1945, trung ương Đảng và chính phủ từ chiến khu Việt Bắc dời về thủ đô Hà Nội. Trong buổi chia tay đầy lưu luyến với đồng bào Việt Bắc, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ Việt Bắc.<br><br>- Bài thơ là khúc hát giao duyên, là lời nhắn gửi tâm tình giữa người về xuôi và người ở lại, lời giãi bày tình cảm thắm thiết và cả nỗi nhớ trùng điệp của người ra đi. Việt Bắc chính là một trong những tác phẩm thể hiện phong cách sáng tác thơ của Tố Hữu.<br><br>II. Thân bài<br><br>1. Khung cảnh chia tay<br><br>* Lời của người ở lại:<br><br>- Bốn câu thơ đầu là lời của người ở lại hỏi người ra đi có còn nhớ “ta”, hỏi nhớ “núi, nguồn” là nhớ mảnh đất đã từng chung sống, gắn bó mười lăm năm nghĩa tình. Câu hỏi tu từ mượn cớ nhưng thực ra là nhắc nhở, nhắn nhủ người về xuôi đừng quên mảnh đất tình người.<br><br><br>=&gt; Sự tình chung, tình cảm đạo lí. Hiệu quả của nghệ thuật câu hỏi tu từ để bộc lộ cảm xúc người nói, người ở lại kín đáo bộc lộ nỗi nhớ và tình yêu dành cho người về xuôi không phai mờ, trân trọng.<br><br>* Lời của người ra đi:<br><br>- Khung cảnh chia tay: Ở một bến sông, có tiếng hát làm nền. Nhân vật người đi kẻ ở bịn rịn, ban tay nắm chặt không rời, xúc động không nói nên lời.<br><br>- Từ láy “bâng khuâng, bồn chồn” lột tả tâm trạng xốn xang, xao xuyến vì tình cảm bị níu kéo lại. Diễn tả nỗi lòng thương mến của người ở lại dành cho con người, Việt Bắc.<br><br>- “Áo chàm” hình ảnh ẩn dụ Việt Bắc. Tượng trưng cho tâm hồn chất phác, chân thành, sâu nặng của người Việt Bắc.<br><br>- Nhớ lại những tháng ngày gian khổ ở chiến khu:<br><br>“Mưa nguồn suối lũ”: đất trời vần vũ, chìm trong mưa gió bão bùng, sự khắc nghiệt của mùa mưa Việt Bắc khiến cuộc sống trong rừng thêm khó khăn.<br>“Những mây cùng mù”: biện pháp chêm xen nhấn mạnh bầu trời u ám nặng nề, gian khổ đè nặng, ẩn dụ những ngày đầu khó khăn của kháng chiến<br>“Miếng cơm chấm muối”: vừa tả thực vừa ước lệch chỉ những thiếu thốn mọi mặt ở chiến khu.<br>Khi gian khổ có nhau đến khi vui sướng người đi kẻ ở, giờ phút chia tay lòng người ở lại bỗng xôn xao vì tiếc nuối nhớ nhung. Biện pháp hoán dụ “rừng núi” chỉ người Việt Bắc, nỗi nhớ thêm kín đáo, đại từ “ai” phong cách dân gian mộc mạc<br>Người Việt Bắc nhắc đến kỉ niệm lịch sử khó quên, tự hào về mảnh đất anh hùng.<br><br>=&gt; Hình thức đối thoại, đoạn thơ diễn tả tình cảm người Việt Bắc dành cho cán bộ chiến sĩ thắm thiết, mặn nồng.<br><br>2. Nỗi nhớ của người ra đi<br><br>- “Ta với mình, mình với ta… Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu”: Khẳng định tấm lòng thủy chung, một lòng mặn mà của người đi kẻ ở.<br><br>- Nỗi nhớ của người ra đi được so sánh với nỗi nhớ người yêu: Tình quân dân bỗng trở nên thắm thiết như tình yêu lứa đôi.<br><br>- Người ra đi luyến tiếc để nỗi nhớ vào thiên nhiên: nhớ về trăng vào những buổi chiều tà, nắng hiu hắt chiều sương, rừng nứa bờ tre, các địa danh quen thuộc như Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê…<br><br>- Nhớ về con người Việt Bắc: cùng nhau chia sẻ ngọt bùi qua cơn đói rét, kỉ niệm ấm áp bên bộ đội và đồng bào cùng các điệu hát, hình ảnh mộc mạc của “cô em gái” lao động…<br><br>=&gt; Tình cảm người chiến sĩ dành cho con người và quê hương Việt Bắc cũng là tình cảm nhà thơ dành cho nhân dân, đất nước, tình yêu cuộc sống kháng chiến<br><br>3. Bức tranh tứ bình<br><br>- Hai câu thơ đầu tiên:<br><br>“Hoa và người”: nỗi nhớ hướng đến đối tượng cụ thể<br>Đại từ nhân xưng “mình - ta” thể hiện tình yêu thương gắn bó sâu nặng của người đi kẻ ở<br>Điệp từ “ta về” đầu câu bộc lộ nỗi niềm xao xuyến, tâm trạng luyến lưu, vấn vương trong buổi chia tay, khơi gợi về quá khứ.<br>- Bức tranh tứ bình:<br><br>Bức tranh mùa đông: Thiên nhiên có nét chấm phá sắc đỏ thắm tươi của hoa chuối, sự tương phản màu sắc gợi vẻ rực rỡ. Không gian bỗng trong sáng, ấm áp nhờ sắc đỏ, khiến nỗi nhớ thêm rạo rực lòng người.<br>Bức tranh màu xuân: Thiên nhiên Việt Bắc khoác trên mình gam màu xanh lá của núi rừng điểm tô dưới sắc trắng tinh khôi của hoa mơ. Động từ “nở” cùng tính từ “trắng” gợi những đóa hoa đang khoe sắc, độ xuân thì. Trong cảnh xuân con người miệt mài lao động, tạo bức tranh hài hòa.<br>Bức tranh mùa hè: Việt Bắc mang sắc vàng tươi xinh của rừng phách. Phong cảnh mùa hạ hiện ra cổ điển, hữu tình ngời sáng, lung linh.<br>Bức tranh mùa thu: Cảnh thu với vẻ đẹp của đêm trăng. Một nét huyền ảo, hiền hòa, mộng mơ. Vẻ đẹp mang theo bao ước mơ tươi sáng ở tương lai. Đoạn thơ khép lại bằng “khúc hát ân tình thủy chung”. Đó là tiếng hát của người ở lại, cũng là của người ra đi. Khúc hát của sự hy vọng thiết tha, tình quân dân đậm sâu..<br><br>=&gt; Bức tranh thiên nhiên đẹp, con người đẹp, trong đó là tấm lòng đẹp theo cùng nỗi nhớ đẹp. Thể hiện tình quân dân, tình đất nước cao đẹp của nhà thơ.<br><br>4. Khung cảnh ra trận<br><br>- Bút pháp sử thi tác giả khắc họa đoàn quân sục sôi khí thế trên những nẻo đường ra trận.<br><br>Điệp từ “đêm đêm” tả thời gian dài, từ láy “rầm rập” âm thanh phối hợp cùng nhịp thơ 2/2 gợi tả bước chân hành quân đều nhịp, chắc khỏe.<br>Biện pháp nói quá “đất rung” chứng tỏ sức mạnh đoàn quân phi thường.<br>Chân dung đoàn quân tiêu biểu cho dân tộc anh hùng.<br>- Đường hành quân gian lao, nguy hiểm nhưng chiến sĩ vẫn cảm nhận được vẻ đẹp thiên nhiên, mây trời, niềm vui ngắm cảnh: cho thấy lòng yêu đời, lạc quan, tin vào tương lai.<br><br>Hoán dụ “mũ nan”: người chiến sĩ ra chiến trường mang theo mối tình quân dân để tiếp thêm động lực chiến đấu<br>Hình ảnh súng và sao cụ thể mà giàu tính biểu tượng. đầu súng gợi cảnh chiến tranh, sao vẽ ra khung cảnh thanh bình, tương lai tươi sáng hay ánh sao còn ẩn dụ cho đôi mắt người yêu.<br>- Hình ảnh đoàn dân công<br><br>Ánh đuốc sáng gợi không khí lao động hăng say, phá đá mở đường. Ánh sáng đó toát lên sức mạnh, khí thế và gieo lên niềm tin tươi sáng.<br>Hình ảnh “bước chân nát đá” tô đậm sức mạnh vĩ đại của đoàn dân công.<br>Đoàn dân công có vẻ đẹp của anh hùng ra trận, sức mạnh của chiến tranh nhân dân.<br>- Đoàn quân ra trận gởi về bao chiến công vang dội, làm chấn động địa cầu:<br><br>Liệt kê các địa danh để thấy chiến thắng dồn dập, tưng bừng<br>Điệp từ “vui” diễn tả niềm hồ hởi, phấn khích vô biên trong chiến thắng<br>=&gt; Đoạn thơ tái hiện chân dung Việt Bắc trong những ngày ra trận, qua đó ca ngợi Việt Bắc anh hùng, đất nước anh hùng.<br><br>III. Kết bài<br><br>Việt Bắc là bài thơ xuất sắc ghi đậm dấu ấn của Tố Hữu. Tác phẩm không chỉ hài hào giữa cổ điển và hiện đại, cảnh và người, tình và lý mà còn là chất thơ dân gian, sử thi anh hùng ca đặc biệt chỉ có ở Tố Hữu.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-20 06:00:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956380647</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956380797</link>
         <description><![CDATA[<div>Dàn ý phân tích bài thơ Việt Bắc - Mẫu 1<br>I. Mở bài<br><br>“Chín năm làm một Điện Biên<br>Nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng”<br><br>(Tố Hữu)<br><br>- Chặng đường kháng chiến chống Pháp đầy gian lao đã kết thúc với thắng lợi vẻ vang. Tháng 10 năm 1945, trung ương Đảng và chính phủ từ chiến khu Việt Bắc dời về thủ đô Hà Nội. Trong buổi chia tay đầy lưu luyến với đồng bào Việt Bắc, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ Việt Bắc.<br><br>- Bài thơ là khúc hát giao duyên, là lời nhắn gửi tâm tình giữa người về xuôi và người ở lại, lời giãi bày tình cảm thắm thiết và cả nỗi nhớ trùng điệp của người ra đi. Việt Bắc chính là một trong những tác phẩm thể hiện phong cách sáng tác thơ của Tố Hữu.<br><br>II. Thân bài<br><br>1. Khung cảnh chia tay<br><br>* Lời của người ở lại:<br><br>- Bốn câu thơ đầu là lời của người ở lại hỏi người ra đi có còn nhớ “ta”, hỏi nhớ “núi, nguồn” là nhớ mảnh đất đã từng chung sống, gắn bó mười lăm năm nghĩa tình. Câu hỏi tu từ mượn cớ nhưng thực ra là nhắc nhở, nhắn nhủ người về xuôi đừng quên mảnh đất tình người.<br><br><br>=&gt; Sự tình chung, tình cảm đạo lí. Hiệu quả của nghệ thuật câu hỏi tu từ để bộc lộ cảm xúc người nói, người ở lại kín đáo bộc lộ nỗi nhớ và tình yêu dành cho người về xuôi không phai mờ, trân trọng.<br><br>* Lời của người ra đi:<br><br>- Khung cảnh chia tay: Ở một bến sông, có tiếng hát làm nền. Nhân vật người đi kẻ ở bịn rịn, ban tay nắm chặt không rời, xúc động không nói nên lời.<br><br>- Từ láy “bâng khuâng, bồn chồn” lột tả tâm trạng xốn xang, xao xuyến vì tình cảm bị níu kéo lại. Diễn tả nỗi lòng thương mến của người ở lại dành cho con người, Việt Bắc.<br><br>- “Áo chàm” hình ảnh ẩn dụ Việt Bắc. Tượng trưng cho tâm hồn chất phác, chân thành, sâu nặng của người Việt Bắc.<br><br>- Nhớ lại những tháng ngày gian khổ ở chiến khu:<br><br>“Mưa nguồn suối lũ”: đất trời vần vũ, chìm trong mưa gió bão bùng, sự khắc nghiệt của mùa mưa Việt Bắc khiến cuộc sống trong rừng thêm khó khăn.<br>“Những mây cùng mù”: biện pháp chêm xen nhấn mạnh bầu trời u ám nặng nề, gian khổ đè nặng, ẩn dụ những ngày đầu khó khăn của kháng chiến<br>“Miếng cơm chấm muối”: vừa tả thực vừa ước lệch chỉ những thiếu thốn mọi mặt ở chiến khu.<br>Khi gian khổ có nhau đến khi vui sướng người đi kẻ ở, giờ phút chia tay lòng người ở lại bỗng xôn xao vì tiếc nuối nhớ nhung. Biện pháp hoán dụ “rừng núi” chỉ người Việt Bắc, nỗi nhớ thêm kín đáo, đại từ “ai” phong cách dân gian mộc mạc<br>Người Việt Bắc nhắc đến kỉ niệm lịch sử khó quên, tự hào về mảnh đất anh hùng.<br><br>=&gt; Hình thức đối thoại, đoạn thơ diễn tả tình cảm người Việt Bắc dành cho cán bộ chiến sĩ thắm thiết, mặn nồng.<br><br>2. Nỗi nhớ của người ra đi<br><br>- “Ta với mình, mình với ta… Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu”: Khẳng định tấm lòng thủy chung, một lòng mặn mà của người đi kẻ ở.<br><br>- Nỗi nhớ của người ra đi được so sánh với nỗi nhớ người yêu: Tình quân dân bỗng trở nên thắm thiết như tình yêu lứa đôi.<br><br>- Người ra đi luyến tiếc để nỗi nhớ vào thiên nhiên: nhớ về trăng vào những buổi chiều tà, nắng hiu hắt chiều sương, rừng nứa bờ tre, các địa danh quen thuộc như Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê…<br><br>- Nhớ về con người Việt Bắc: cùng nhau chia sẻ ngọt bùi qua cơn đói rét, kỉ niệm ấm áp bên bộ đội và đồng bào cùng các điệu hát, hình ảnh mộc mạc của “cô em gái” lao động…<br><br>=&gt; Tình cảm người chiến sĩ dành cho con người và quê hương Việt Bắc cũng là tình cảm nhà thơ dành cho nhân dân, đất nước, tình yêu cuộc sống kháng chiến<br><br>3. Bức tranh tứ bình<br><br>- Hai câu thơ đầu tiên:<br><br>“Hoa và người”: nỗi nhớ hướng đến đối tượng cụ thể<br>Đại từ nhân xưng “mình - ta” thể hiện tình yêu thương gắn bó sâu nặng của người đi kẻ ở<br>Điệp từ “ta về” đầu câu bộc lộ nỗi niềm xao xuyến, tâm trạng luyến lưu, vấn vương trong buổi chia tay, khơi gợi về quá khứ.<br>- Bức tranh tứ bình:<br><br>Bức tranh mùa đông: Thiên nhiên có nét chấm phá sắc đỏ thắm tươi của hoa chuối, sự tương phản màu sắc gợi vẻ rực rỡ. Không gian bỗng trong sáng, ấm áp nhờ sắc đỏ, khiến nỗi nhớ thêm rạo rực lòng người.<br>Bức tranh màu xuân: Thiên nhiên Việt Bắc khoác trên mình gam màu xanh lá của núi rừng điểm tô dưới sắc trắng tinh khôi của hoa mơ. Động từ “nở” cùng tính từ “trắng” gợi những đóa hoa đang khoe sắc, độ xuân thì. Trong cảnh xuân con người miệt mài lao động, tạo bức tranh hài hòa.<br>Bức tranh mùa hè: Việt Bắc mang sắc vàng tươi xinh của rừng phách. Phong cảnh mùa hạ hiện ra cổ điển, hữu tình ngời sáng, lung linh.<br>Bức tranh mùa thu: Cảnh thu với vẻ đẹp của đêm trăng. Một nét huyền ảo, hiền hòa, mộng mơ. Vẻ đẹp mang theo bao ước mơ tươi sáng ở tương lai. Đoạn thơ khép lại bằng “khúc hát ân tình thủy chung”. Đó là tiếng hát của người ở lại, cũng là của người ra đi. Khúc hát của sự hy vọng thiết tha, tình quân dân đậm sâu..<br><br>=&gt; Bức tranh thiên nhiên đẹp, con người đẹp, trong đó là tấm lòng đẹp theo cùng nỗi nhớ đẹp. Thể hiện tình quân dân, tình đất nước cao đẹp của nhà thơ.<br><br>4. Khung cảnh ra trận<br><br>- Bút pháp sử thi tác giả khắc họa đoàn quân sục sôi khí thế trên những nẻo đường ra trận.<br><br>Điệp từ “đêm đêm” tả thời gian dài, từ láy “rầm rập” âm thanh phối hợp cùng nhịp thơ 2/2 gợi tả bước chân hành quân đều nhịp, chắc khỏe.<br>Biện pháp nói quá “đất rung” chứng tỏ sức mạnh đoàn quân phi thường.<br>Chân dung đoàn quân tiêu biểu cho dân tộc anh hùng.<br>- Đường hành quân gian lao, nguy hiểm nhưng chiến sĩ vẫn cảm nhận được vẻ đẹp thiên nhiên, mây trời, niềm vui ngắm cảnh: cho thấy lòng yêu đời, lạc quan, tin vào tương lai.<br><br>Hoán dụ “mũ nan”: người chiến sĩ ra chiến trường mang theo mối tình quân dân để tiếp thêm động lực chiến đấu<br>Hình ảnh súng và sao cụ thể mà giàu tính biểu tượng. đầu súng gợi cảnh chiến tranh, sao vẽ ra khung cảnh thanh bình, tương lai tươi sáng hay ánh sao còn ẩn dụ cho đôi mắt người yêu.<br>- Hình ảnh đoàn dân công<br><br>Ánh đuốc sáng gợi không khí lao động hăng say, phá đá mở đường. Ánh sáng đó toát lên sức mạnh, khí thế và gieo lên niềm tin tươi sáng.<br>Hình ảnh “bước chân nát đá” tô đậm sức mạnh vĩ đại của đoàn dân công.<br>Đoàn dân công có vẻ đẹp của anh hùng ra trận, sức mạnh của chiến tranh nhân dân.<br>- Đoàn quân ra trận gởi về bao chiến công vang dội, làm chấn động địa cầu:<br><br>Liệt kê các địa danh để thấy chiến thắng dồn dập, tưng bừng<br>Điệp từ “vui” diễn tả niềm hồ hởi, phấn khích vô biên trong chiến thắng<br>=&gt; Đoạn thơ tái hiện chân dung Việt Bắc trong những ngày ra trận, qua đó ca ngợi Việt Bắc anh hùng, đất nước anh hùng.<br><br>III. Kết bài<br><br>Việt Bắc là bài thơ xuất sắc ghi đậm dấu ấn của Tố Hữu. Tác phẩm không chỉ hài hào giữa cổ điển và hiện đại, cảnh và người, tình và lý mà còn là chất thơ dân gian, sử thi anh hùng ca đặc biệt chỉ có ở Tố Hữu.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-20 06:00:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956380797</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956381077</link>
         <description><![CDATA[<div>Dàn ý: Phân tích tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường<br><br><br><br>1. Mở bài<br><br>*&nbsp; Giới thiệu tác giả, tác phẩm:<br>- Hoàng Phủ Ngọc Tường (1937) là nhà văn xứ Huế, có phong cách nghệ thuật độc đáo với sở trường là tùy bút, bút kí.<br>- Bài kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” rút từ tập bút kí cùng tên thể hiện cái “tôi” uyên bác trữ tình và vẻ đẹp của thiên nhiên xứ Huế.<br><br>2. Thân bài<br><br>-Nhan đề bài kí:<br>+ Nhan đề độc đáo, mới lạ bằng cách sử dụng câu hỏi tu từ.<br>+ Nhấn mạnh vẻ đẹp trữ tình của sông Hương - dòng sông lịch sử, cho thấy khát vọng về cái đẹp và xây dựng cái đẹp của con người xứ Huế.<br><br>a)&nbsp; Hình ảnh sông Hương<br>- Dưới góc độ địa lí:<br>+ Sông Hương ở thượng nguồn:<br><br>&nbsp;Nhìn từ thượng nguồn, sông Hương có mối quan hệ mật thiết với dãy Trường Sơn.<br>Sông Hương rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn.<br>Sông Hương mang dáng vẻ trữ tình hiện đại.<br>Sông Hương hiện ra như một cô gái Di-gan phóng khoáng, man dại.<br>Nghệ thuật: Động từ, tính từ gây ấn tượng mạnh, so sánh, nhân hóa táo bạo.<br>+ Sông Hương trước khi vào kinh thành Huế:<br><br>Trở thành người tình dịu dàng và chung thủy của cố đô.<br>Toàn bộ thủy trình của dòng sông như một cuộc kiếm tìm có ý thức.<br>Sông Hương là người con gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng châu hóa đầy hoang dại.<br>-&gt; Khi ra khỏi vùng núi, sông Hương như một nàng thiếu nữ được đánh thức bỗng bừng lên sức trẻ và niềm khao khát của tuổi thanh xuân để chuyển dòng liên tục.<br><br>Nghệ thuật: Biện pháp kể, tả kết hợp nhuần nhuyễn và tài hoa làm nổi bật sông Hương ở sự phối cảnh kì thú vừa hài hòa nên thơ, trữ tình.<br>+ Sông Hương chảy vào thành phố Huế:<br><br>Sông Hương vui tươi hẳn lên giữa những bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long.<br>Dòng sông kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hướng Tây Nam - Đông Bắc, tự uốn một cánh cung rất nhẹ nhàng sang đến Cồn Hến, dòng sông mềm mại hẳn đi như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu.<br>Sông Hương duy nhất thuộc về một thành phố, là niềm tự hào của xứ Huế.<br>Nhìn bằng con mắt hội họa, sông Hương và những chi lưu của nó tạo nên những nét cổ kính của cố đô.<br>Qua cách cảm nhận âm nhạc, sông Hương như một điệu “slow” dành riêng cho xứ Huế.<br><br>-&gt; Sông Hương được cảm nhận ở nhiều phương diện khác nhau, sông Hương được nhìn nhận, đối sánh trong các ngành nghệ thuật, vẻ đẹp ấy được hội tụ dưới cái nhìn tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường.<br>- Sông Hương trong mối quan hệ với lịch sử dân tộc:<br>+ Sông Hương mang vẻ đẹp hùng ca, ghi dấu những vinh quang từ thuở còn là một dòng sông biên thùy, xa xôi.<br>+ Sông Hương trở thành chứng nhân lịch sử.<br><br>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Sông Hương qua góc nhìn văn hóa và thơ ca:<br>+ Sông Hương từ góc độ văn hóa:<br><br>Trong cách nhìn với âm nhạc: Gắn sông Hương với một nền âm nhạc cổ điển Huế.<br>+ Từ góc nhìn văn hóa: Người nghệ sĩ đã tưởng tượng về đại thi hào Nguyễn Du và về Kiều.<br>+ Sông Hương từ góc độ thơ ca:<br><br>Mỗi nhà thơ đều có một khám phá riêng về nó.<br>Sông Hương oan hoài trong nỗi sầu vạn cổ trong thơ Bà huyện Thanh Quan, sức mạnh phục sinh của tâm hồn trong thơ Tố Hữu.<br>-&gt; Nghệ thuật so sánh, liên tưởng độc đáo tạo nên một dấu ấn riêng về phong cách nghệ thuật giàu chất thơ.<br><br>b) Cái “tôi” của Hoàng Phủ Ngọc Tường<br>- &nbsp; Cái “tôi” tài hoa, uyên bác.<br>-&nbsp; Cái “tôi” nặng lòng với quê hương xứ sở.<br>-&nbsp; Cái “tôi” đa phong cách, mang dấu ấn riêng biệt, giàu chất thơ.<br><br>c) Nghệ thuật<br><br>-&nbsp; Văn phong tao nhã, tinh tế, tài hoa, lắng vào chiều sâu nội tâm.<br>-&nbsp; So sánh, nhân hóa táo bạo.<br>- Được vận dụng nhiều kiến thức về địa lí, văn hóa, lịch sử&nbsp; do vậy sông Hương được nhìn dưới nhiều góc độ khác nhau.<br>- Ngôn từ chọn lọc, uyên bác.<br><br>d) Đánh giá<br><br>- Thể hiện tấm lòng yêu thiết tha sông Hương, cố đô Huế của nhà văn.<br>- Qua tác phẩm, cho thấy vốn hiểu biết phong phú về văn hóa, lịch sử, địa lí của tác giả.<br>- Khẳng định được thành công của tác giả ở thể bút kí, thể hiện cái “tôi” riêng biệt, trữ tình.<br>- Để lại bài học về tình yêu thiên nhiên, quê hương đất nước cho mỗi chúng ta.<br><br>3. &nbsp; Kết bài<br><br>&nbsp;Nêu cảm nghĩ cá nhân: “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là một tìm tòi và thể nghiệm mới mẻ của Hoàng Phủ Ngọc Tường đối với thể loại bút kí. Qua đó, tác giả đã ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên xứ Huế và khẳng định được tài năng uyên bác của mình.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-20 06:00:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956381077</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956381183</link>
         <description><![CDATA[<div>Dàn ý: Phân tích tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường<br><br><br><br>1. Mở bài<br><br>*&nbsp; Giới thiệu tác giả, tác phẩm:<br>- Hoàng Phủ Ngọc Tường (1937) là nhà văn xứ Huế, có phong cách nghệ thuật độc đáo với sở trường là tùy bút, bút kí.<br>- Bài kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” rút từ tập bút kí cùng tên thể hiện cái “tôi” uyên bác trữ tình và vẻ đẹp của thiên nhiên xứ Huế.<br><br>2. Thân bài<br><br>-Nhan đề bài kí:<br>+ Nhan đề độc đáo, mới lạ bằng cách sử dụng câu hỏi tu từ.<br>+ Nhấn mạnh vẻ đẹp trữ tình của sông Hương - dòng sông lịch sử, cho thấy khát vọng về cái đẹp và xây dựng cái đẹp của con người xứ Huế.<br><br>a)&nbsp; Hình ảnh sông Hương<br>- Dưới góc độ địa lí:<br>+ Sông Hương ở thượng nguồn:<br><br>&nbsp;Nhìn từ thượng nguồn, sông Hương có mối quan hệ mật thiết với dãy Trường Sơn.<br>Sông Hương rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn.<br>Sông Hương mang dáng vẻ trữ tình hiện đại.<br>Sông Hương hiện ra như một cô gái Di-gan phóng khoáng, man dại.<br>Nghệ thuật: Động từ, tính từ gây ấn tượng mạnh, so sánh, nhân hóa táo bạo.<br>+ Sông Hương trước khi vào kinh thành Huế:<br><br>Trở thành người tình dịu dàng và chung thủy của cố đô.<br>Toàn bộ thủy trình của dòng sông như một cuộc kiếm tìm có ý thức.<br>Sông Hương là người con gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng châu hóa đầy hoang dại.<br>-&gt; Khi ra khỏi vùng núi, sông Hương như một nàng thiếu nữ được đánh thức bỗng bừng lên sức trẻ và niềm khao khát của tuổi thanh xuân để chuyển dòng liên tục.<br><br>Nghệ thuật: Biện pháp kể, tả kết hợp nhuần nhuyễn và tài hoa làm nổi bật sông Hương ở sự phối cảnh kì thú vừa hài hòa nên thơ, trữ tình.<br>+ Sông Hương chảy vào thành phố Huế:<br><br>Sông Hương vui tươi hẳn lên giữa những bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long.<br>Dòng sông kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hướng Tây Nam - Đông Bắc, tự uốn một cánh cung rất nhẹ nhàng sang đến Cồn Hến, dòng sông mềm mại hẳn đi như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu.<br>Sông Hương duy nhất thuộc về một thành phố, là niềm tự hào của xứ Huế.<br>Nhìn bằng con mắt hội họa, sông Hương và những chi lưu của nó tạo nên những nét cổ kính của cố đô.<br>Qua cách cảm nhận âm nhạc, sông Hương như một điệu “slow” dành riêng cho xứ Huế.<br><br>-&gt; Sông Hương được cảm nhận ở nhiều phương diện khác nhau, sông Hương được nhìn nhận, đối sánh trong các ngành nghệ thuật, vẻ đẹp ấy được hội tụ dưới cái nhìn tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường.<br>- Sông Hương trong mối quan hệ với lịch sử dân tộc:<br>+ Sông Hương mang vẻ đẹp hùng ca, ghi dấu những vinh quang từ thuở còn là một dòng sông biên thùy, xa xôi.<br>+ Sông Hương trở thành chứng nhân lịch sử.<br><br>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Sông Hương qua góc nhìn văn hóa và thơ ca:<br>+ Sông Hương từ góc độ văn hóa:<br><br>Trong cách nhìn với âm nhạc: Gắn sông Hương với một nền âm nhạc cổ điển Huế.<br>+ Từ góc nhìn văn hóa: Người nghệ sĩ đã tưởng tượng về đại thi hào Nguyễn Du và về Kiều.<br>+ Sông Hương từ góc độ thơ ca:<br><br>Mỗi nhà thơ đều có một khám phá riêng về nó.<br>Sông Hương oan hoài trong nỗi sầu vạn cổ trong thơ Bà huyện Thanh Quan, sức mạnh phục sinh của tâm hồn trong thơ Tố Hữu.<br>-&gt; Nghệ thuật so sánh, liên tưởng độc đáo tạo nên một dấu ấn riêng về phong cách nghệ thuật giàu chất thơ.<br><br>b) Cái “tôi” của Hoàng Phủ Ngọc Tường<br>- &nbsp; Cái “tôi” tài hoa, uyên bác.<br>-&nbsp; Cái “tôi” nặng lòng với quê hương xứ sở.<br>-&nbsp; Cái “tôi” đa phong cách, mang dấu ấn riêng biệt, giàu chất thơ.<br><br>c) Nghệ thuật<br><br>-&nbsp; Văn phong tao nhã, tinh tế, tài hoa, lắng vào chiều sâu nội tâm.<br>-&nbsp; So sánh, nhân hóa táo bạo.<br>- Được vận dụng nhiều kiến thức về địa lí, văn hóa, lịch sử&nbsp; do vậy sông Hương được nhìn dưới nhiều góc độ khác nhau.<br>- Ngôn từ chọn lọc, uyên bác.<br><br>d) Đánh giá<br><br>- Thể hiện tấm lòng yêu thiết tha sông Hương, cố đô Huế của nhà văn.<br>- Qua tác phẩm, cho thấy vốn hiểu biết phong phú về văn hóa, lịch sử, địa lí của tác giả.<br>- Khẳng định được thành công của tác giả ở thể bút kí, thể hiện cái “tôi” riêng biệt, trữ tình.<br>- Để lại bài học về tình yêu thiên nhiên, quê hương đất nước cho mỗi chúng ta.<br><br>3. &nbsp; Kết bài<br><br>&nbsp;Nêu cảm nghĩ cá nhân: “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là một tìm tòi và thể nghiệm mới mẻ của Hoàng Phủ Ngọc Tường đối với thể loại bút kí. Qua đó, tác giả đã ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên xứ Huế và khẳng định được tài năng uyên bác của mình.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-20 06:01:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956381183</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956381487</link>
         <description><![CDATA[<div>Dàn ý phân tích bài thơ Sóng<br>Mẫu 1<br><br>I. Mở bài<br><br>- Giới thiệu tác giả: Xuân Quỳnh là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ thời kì chống Mĩ cứu nước. Chị là thi sĩ của tình thương, lòng trắc ẩn và hồn thơ nữ tính.<br><br>- Giới thiệu bài thơ Sóng: Bài thơ được sáng tác năm 1967, in trong tập “Hoa dọc chiến hào”, là bài thơ viết về tình yêu tiêu biểu cho hồn thơ giàu chất nữ tính của Xuân Quỳnh.<br><br>II. Thân bài<br><br>1. Nhận thức về tình yêu qua hình tượng sóng<br><br><br>- Khổ 1:<br><br>Sử dụng nghệ thuật tương phản: “dữ dội - dịu êm”, “ồn ào - lặng lẽ”, từ đó khái quát trạng thái đối lập của sóng, gợi liên tưởng đến tâm lý của người phụ nữ khi yêu (khi mãnh liệt khi lại dịu dàng).<br>Nghệ thuật nhân hóa: “sông không hiểu” được mình, nên “sóng” muốn tìm đến không gian rộng lớn, hành trình của sóng là hành trình khám phá chính bản thân mình, khát khao vươn tới giá trị tuyệt đích trong tình yêu của người phụ nữ.<br>- Khổ 2:<br><br>“Ôi con sóng... và ngày sau vẫn thế”: Dù trong quá khứ hay hiện tại sóng luôn dạt dào, sôi nổi, luôn khát vọng. Đó cũng là khát vọng và bản tính của người phụ nữ muôn đời.<br>“Nỗi khát vọng tình yêu... ngực trẻ”: Liên hệ tình yêu của tuổi trẻ với con sóng của đại dương, khát vọng tình yêu là khát vọng đặc trưng muôn đời của tuổi trẻ.<br>2. Suy nghĩ nguồn gốc của tình yêu<br><br>- Khổ 3: Điệp ngữ “em nghĩ về” và câu hỏi: “Từ nơi nào sóng lên” nhấn mạnh niềm khát khao nhận thức bản thân, người mình yêu và nhận thức về tình yêu muôn đời.<br><br>- Khổ 4: Xuân Quỳnh dựa vào quy luật tự nhiên để tìm khởi nguồn của sóng, của tình yêu, gợi lên sự trăn trở trước bí ẩn của tình yêu, thời điểm bắt đầu tình tình yêu.<br><br>3. Nỗi nhớ, lòng thủy chung của người con gái trong tình yêu<br><br><br>- Khổ 5:<br><br>Nghệ thuật tương phản để gợi ra những phạm vi không gian khác nhau “dưới lòng sâu”, “trên mặt nước”, phạm vi thời gian khác nhau: “ngày” - “đêm”, nghệ thuật nhân hóa: “ngày đêm không ngủ được”, diễn tả nỗi nhớ dạt dào, triền miên của sóng với bờ cũng là nỗi nhớ của người phụ nữ khi yêu.<br>Người phụ nữ bày tỏ nỗi nhớ một cách trực tiếp, mạnh dạn, chân thành “Lòng em nhớ đến anh”, cách nói thậm xưng “Cả trong mơ còn thức” thể hiện nỗi nhớ ăn sâu vào tiềm thức, thường trực trong suy nghĩ.<br>- Khổ 6:<br><br>Nghệ thuật tương phản “xuôi - ngược”, điệp ngữ “dẫu”, “vẫn”, “về” gợi hành trình của sóng ngoài biển lớn cũng như hành trình tình yêu của người phụ nữ giữa cuộc đời.<br>Lời thề thủy chung của người phụ nữ, niềm tin chờ đợi trong tình yêu, dù ở đâu cũng “hướng về anh một phương”, nghĩ về người mình yêu bằng cả trái tim.<br>4. Khát vọng tình yêu vĩnh cửu<br><br>- Khổ 7: Khẳng định quy luật vĩnh cửu của thiên nhiên “Con nào chẳng tới bờ/Dù muôn vời cách trở”, cũng giống như “em”, dù khó khăn, thử thách vẫn luôn hướng đến “anh”.<br><br>- Khổ 8:<br><br>“Cuộc đời tuy dài thế/Năm tháng vẫn đi qua”: Cảm giác cô đơn nhỏ bé trước cuộc đời, nỗi lo âu về sự hữu hạn của tình yêu trước thời gian vô tận.<br>“Như biển kia dẫu rộng/Mây vẫn bay về xa”: Cảm giác bất an trước cái dễ đổi thay của lòng người giữa “muôn vời cách trở”. Nhưng đây còn là vượt lên sự lo âu phấp phỏng đặt niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của tình yêu như mây có thể vượt qua biển rộng.<br>- Khổ 9:<br><br>“Làm sao” gọi sự băn khoăn, khắc khoải, ước ao được hóa thành “trăm con sóng nhỏ” để muôn đời vỗ mãi vào bờ.<br>Đó là khát khao của người phụ nữ được sống trong “biển lớn tình yêu” bằng tình yêu và cùng tình yêu, khát khao hòa nhập tình yêu riêng tư trong tình yêu chung rộng lớn.<br><br>III. Kết bài<br><br>Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ.<br>Cảm nhận chung về bài thơ Sóng.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-20 06:01:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956381487</guid>
      </item>
      <item>
         <title> Mở bài:Nguyễn Tuân là một tác giả tài hoa, uyên bác, luôn kiếm tìm cái đẹp. Trước cách mạng ông tìm kiếm vẻ đẹp trong quá khứ, khi cách mạng thành công ông tìm kiếm vẻ đẹp ngay trong cuộc sống hiện tại. Người lái đò sông Đà là tùy bút tiêu biểu cho những sáng tác sau cách mạng của ông.Ông lái đò chính là chất vàng mười đã được thử lửa mà Nguyễn Tuân tìm kiếm, người anh hùng trong thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội. Liên hệ hình ảnh người anh hùng trong thơ ca Nguyễn Tuân trước cách mạng (Huấn Cao – Chữ người tử tù)                                                                phần 1:sông Đà trữ tình, thơ mộng.                    *Con sông Đà hùng vĩ, hung bạo:Nó thể hiện qua bốn yếu tố-                                                                  Vách đá sông Đà:+Cao và sâu: Cụm từ &quot;vách thành&quot; làm liên tưởng đến trước mắt người dọc hình ảnh hai bờ sông Đà vách đá như thành cao, vực thẳm như hào sâu vừa sừng sững vừa hun hút. Độ cao của bờ sông Đà còn được Nguyễn Tuân miêu tả qua những chi tiết như: &quot;Mặt sông chỗ ấy đúng lúc ngọ mới có mặt trời.. vừa tắt phụt đèn điện&quot;. Đây là cách so sánh rất độc đáo, rất Nguyễn Tuân, liên tưởng cái hoang sơ của vùng Tây Bắc với cái hiện đại của thị thành. Vừa tạo nên bất ngờ thú vị, vừa tạo cho người đọc cảm giác rợn ngợp trước vẻ đẹp vừa kì vĩ vừa dữ dội của thiên nhiên.+Vách đá rất hẹp: &quot;Có vách đá thành chet lòng sông Đà.. vọt từ bờ này sang bờ kia&quot; cách miêu tả này gợi lên trước mắt người đọc những quãng sông nhỏ hẹp, âm u, tăm tối, tiềm ẩn những nguy hiểm cho người lái đò Tây Bắc. Sự hung bạo dữ dội còn thể hiện qua:- Sóng nước sông Đà:[​IMG]+Cụm từ ngữ &quot;dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió&quot; với nhịp ngắt nhanh, dồn dập. Hình ảnh nối tiếp luôn chuyển cho nhau đã tái hiện sức mạnh dữ dội của nước, sóng, gió cùng với đá sông Đà.+Điệp từ &quot;xô&quot; lặp lại ba lần gây ấn tượng với sự chuyển động khủng khiếp. Gợi liên tưởng đến những con sóng chồm lên nhau theo chiều ngang, vút lên nhau theo chiều dọc rồi đổ ập xuống.+Từ láy &quot;gùn ghè&quot; thể hiện sự hung hãn, trái tính trái nết của dòng sông. Sự dữ dội ấy khiến ta nghĩ đến hình ảnh một chú ngựa dũng mãnh nhưng bất kham chưa được thuần hóa bởi mẹ thiên nhiên nơi thượng nguồn Tây Bắc. Nó tạo ra sự nguy hiểm khôn lường cho người lái đò bởi vì &quot;quãng này mà khinh suất tay lái thì cũng dễ lật ngửa bụng thuyền ra&quot;. Tiếp theo sự dữ dội là những:- Hút nước sông Đà:[​IMG]+Sức mạnh khủng khiếp: Hình ảnh so sánh &quot;cái hút nước giống như cái giếng bê tông xoáy tít đáy&quot;, so sánh âm thanh &quot;thở và kêu như cửa cống cái bị sặc, nước ặc ặc lên như rót dầu sôi vào&quot; cho ta hình dung về một con quái vật đang giận dữ. Hệ quả của sức mạnh khủng khiếp ấy là:+Là nguy hiểm khôn lường: Hình ảnh liên tưởng mép rìa của hút nước như &quot;quãng đường vượt cáp ngoài bờ vực&quot;+Hình ảnh những con thuyền bị hút nước ấy hút vào &quot;thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi.. tan xác ở khuỷnh sông dưới&quot; tạo cho người đọc cảm giác hãi hùng khi phải đi thuyền qua đấy. Không dừng lại ở đó, Nguyễn Tuân còn dẫn dụ người đọc chơi trò cảm giác mạnh khi hình dung một anh bạn quay phim táo bạo ngồi trên một chiếc thuyền thúng để lao vào xoáy nước ấy nhằm cung cấp cho người xem những thước phim cân não. Người xem sẽ sống trong cảm giác hãi hùng thật sự khi cảm thấy tay mình phải giữ chặt chiếc ghê như &quot;ghì chặt lấy mép một chiếc lá rừng.. cái gậy đánh phèn&quot;. Nhưng thể hiện rõ nhất, hung hãn nhất của con sông Đà là những:- Thác đá sông Đà:[​IMG]+Từ xa đã nghe thấy những âm thanh ghê rợn &quot;tiếng nước réo gần mãi rồi réo to mãi lên.. giọng gằn mà chế nha.. với đàn trâu da cháy bừng bừng&quot; đó là khúc nhạc của tự nhiên đang ở đỉnh điểm của cơn phấn khích, man dại. Dám lấy lửa để tự nước, dám lấy rừng để tả sông, Nguyễn Tuân thật sự đã cho thấy cái ngông, cái tài của mình.+Khi đến gần thấy bọt tung trắng xóa cả một chân trời đá, câu văn gợi lên trước mắt người đọc một không gian sóng nước mênh mông và dữ dội đang chuyển động va chạm mãnh liệt ở tột đỉnh của sự giận dữ, sẵn sàng nghiền nát mọi thứ.+Không những thế sông Đà còn thể hiện sự nham hiểm của mình qua cách bày thạch trận trên sông:- &gt;Sông Đà có đội quân đá hùng hậu hung hãn, đá ở đây không nằm, ngồi một cách lộn xộn mà &quot;sông Đà đã giao nhiệm vụ cho mỗi hòn&quot; như đá tướng, đá quân, đá tiền vệ, đá hậu vệ, bong ke chim, pháo đào đá nỗi. Hòn thì như sơ hở để dụ thuyền vào, hòn thì hất hàm hỏi chiếc thuyền xưng tên tuổi trước khi giao chiến, hòn thì như khiêu khích thách thức cái thuyền có giỏi thì đánh ngay vào. Hình dáng của lũ đá như lũ thủy quái, hòn thì &quot;mặt ngỗ ngược&quot; hòn thì mặt &quot;nhăn nhúm, méo mó&quot;. Khi thuyền đã đi vào, sóng và đá như quân liều mạng nhổm cả dậy, xông lên vồ lấy thuyền &quot;mà đá trái mà thúc gối vào bụng và hông thuyền&quot;- &gt; Đội quân đá ấy cùng với sóng nước sông Đà lại được điều khiển bởi một chiến thuật vô cùng lão luyện và hiểm ác. Có đánh sáp lá cà, đánh khuýp quật vu hồi, có đánh tổng lực phối hợp với nước với thác, thác nước hò reo làm thanh viện để uy hiếp tinh thần đối phương. Chúng còn thực hiện những đòn chí mạng như: &quot;Bẻ gãy cán chèo, đá trái thúc gối vào bụng và hông thuyền&quot; nhằm tiêu diệt tất cả thuyền trưởng và thuyền thủ. Chiến thuật ấy còn được thể hiện qua việc bố trí binh pháp theo cửa sinh, cửa tử. Cửa sinh luôn thay đổi vị trí từ tả ngạn sang hữu hạn rồi cuối cùng nằm ngay ở giữa hòn đá hậu vệ của con thắc với mục đích khiến cho người lái đò không kịp trở tay.*Con sông Đà trữ tình, thơ mộng:[​IMG]Bên cạnh tính cách hung bạo, tác giả còn thấy con sông mang một vẻ đẹp thơ mộng và trữ tình. Vẻ đẹp ấy được thể hiện qua ba góc nhìn:- Đầu tiên là góc từ trên cao nhìn xuống:+Dáng hình mềm mại: &quot;Con sông tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình.. cuồn cuội mù khói núi Mèo đốt nương xuân&quot; câu văn rất dài chỉ có một dấu phẩy kết hợp với điệp ngữ &quot;tuôn dài&quot; vừa gợi tả sinh động độ dài tưởng như bất tận của dòng sông vừa làm cho dòng sông trở nên êm đềm, mềm mại, kiều diễm và đầy nữ tính như mái tóc của một người con gái đẹp Tây Bắc, một áng tóc có cả mây trời, có hương sắc của hoa ban, hoa gạo lẫn cả khói sương mờ ảo, huyền hoặc của núi Mèo đốt nương xuân thật thơ mộng và trữ tình.+Vẻ đẹp màu sắc của dòng nước huyền ảo theo mùa: Màu xanh ngọc bích trong trẻo khi mùa xuân đến, là màu nước lừ lừ chín đỏ mỗi độ mùa thu. Hình ảnh so sánh nước mùa thu như &quot;da mặt một người bầm đi vì rượu bữa.. mỗi độ thu về&quot; đã không chỉ làm hiện lên cái màu sắc đặc trưng của sông nước sông Đà mùa thu. Mà còn hé lộ cho ta thấy ẩn chứa bên trong dòng chảy êm ả của hạ lưu ấy lại tiềm ẩn một sức mạnh ghê gớm của con con sông trái tính, trái nết, thoắt hiền lành đấy nhưng bỗng chốc có thể gắt gỏng, thác lũ ngay đấy.- Thứ hai là góc từ trong rừng đi ra:+Tác giả thấy con sông Đà gợi cảm và đầm ấm, sự gợi cảm và đầm ấm của con sông Đà được tác Nguyễn Tuân so sánh việc gặp lại con sông như việc gặp lại một cố nhân, vì ở rừng đi cũng đã hơi lâu, đã thấy &quot;thèm chỗ thoáng&quot; nhưng khi con sông Đà hiện ra trước mắt với &quot;bờ sông Đà, bãi sông Đà, chuồn chuồn bươm bươma trên sông Đà&quot; tác giả như vỡ òa trong niềm vui sướng, xúc động. &quot;Chao ôi, trông con sông vui.. nối lại chiêm bao đứt quãng&quot; quả thật con sông Đà không chỉ có thắc lu, không chỉ biết hung bạo mà nó còn là một người bạn giàu tình nặng nghĩa. Có những quãng sông rất phẳng lặng, dòng chảy cứ lửng lờ như nhớ thương những hòn, thác đá xa xôi đã để lại trên thượng Tây Bắc. Lại có những quãng sông đã thật dễ thương, chầm chậm trôi đi như thể lắng nghe tiếng nối êm êm của người về xuôi.+Tác giả còn cảm nhận con sông Đà có nét cổ kính, yên bình qua màu cái nắng tháng ba Đường thi &quot;Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu&quot; đó là cái nắng vàng tươi gợi cái đẹp vàng son của một thời vang vọng. Cái vẻ đẹp phẳng lặng, trong sáng, lấp lánh, hồn nhiên thật thanh bình.- Thứ ba là góc nhìn khi đi thuyền trên sông:+Tác giả nhìn thấy hai bờ sông Đà một vẻ đẹp hoang dại, hồn nhiên. Đoạn văn tả cảnh sông Đà bắt đầu từ câu &quot;Thuyền tôi trôi trên sông Đà&quot; một câu văn toàn thanh bằng, đẹp như một lời thơ tọa cảm xúc nhẹ nhàng, thư thái. Cảnh con thuyền lừ lừ trôi giữa một không gian tịnh không một bóng người chỉ có &quot;cỏ gianh đồi nui đang ra những nõn búp&quot;, &quot;đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm&quot; thật là thơ mộng. Cái lặng lẽ tuyệt đối của bờ sông cùng với phép so sánh &quot;bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử&quot;, &quot;sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa&quot; như ru hồn  người lạc vào một cảnh thiên thai nào đó.           III. Kết bài:Nêu cảm nhận về hình tượng nhân vật ông lái đò: là đại diện cho con người lao động Tây Bắc trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội, là con người vừa có phẩm chất anh hùng vừa tài hoa nghệ sĩ, chứa đựng chất vàng mười đã qua thử lửa.Người lái đò sông Đà là tùy bút xuất sắc miêu tả chân thực vẻ đẹp vừa hung bạo vừa trữ tình của thiên nhiên Tây Bắc, giữa nền thiên nhiên nổi bật lên là vẻ đẹp của những người lao động bình dị              </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956381511</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-20 06:01:28 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956381511</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956381614</link>
         <description><![CDATA[<div>Dàn ý phân tích bài thơ Sóng<br>Mẫu 1<br><br>I. Mở bài<br><br>- Giới thiệu tác giả: Xuân Quỳnh là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ thời kì chống Mĩ cứu nước. Chị là thi sĩ của tình thương, lòng trắc ẩn và hồn thơ nữ tính.<br><br>- Giới thiệu bài thơ Sóng: Bài thơ được sáng tác năm 1967, in trong tập “Hoa dọc chiến hào”, là bài thơ viết về tình yêu tiêu biểu cho hồn thơ giàu chất nữ tính của Xuân Quỳnh.<br><br>II. Thân bài<br><br>1. Nhận thức về tình yêu qua hình tượng sóng<br><br><br>- Khổ 1:<br><br>Sử dụng nghệ thuật tương phản: “dữ dội - dịu êm”, “ồn ào - lặng lẽ”, từ đó khái quát trạng thái đối lập của sóng, gợi liên tưởng đến tâm lý của người phụ nữ khi yêu (khi mãnh liệt khi lại dịu dàng).<br>Nghệ thuật nhân hóa: “sông không hiểu” được mình, nên “sóng” muốn tìm đến không gian rộng lớn, hành trình của sóng là hành trình khám phá chính bản thân mình, khát khao vươn tới giá trị tuyệt đích trong tình yêu của người phụ nữ.<br>- Khổ 2:<br><br>“Ôi con sóng... và ngày sau vẫn thế”: Dù trong quá khứ hay hiện tại sóng luôn dạt dào, sôi nổi, luôn khát vọng. Đó cũng là khát vọng và bản tính của người phụ nữ muôn đời.<br>“Nỗi khát vọng tình yêu... ngực trẻ”: Liên hệ tình yêu của tuổi trẻ với con sóng của đại dương, khát vọng tình yêu là khát vọng đặc trưng muôn đời của tuổi trẻ.<br>2. Suy nghĩ nguồn gốc của tình yêu<br><br>- Khổ 3: Điệp ngữ “em nghĩ về” và câu hỏi: “Từ nơi nào sóng lên” nhấn mạnh niềm khát khao nhận thức bản thân, người mình yêu và nhận thức về tình yêu muôn đời.<br><br>- Khổ 4: Xuân Quỳnh dựa vào quy luật tự nhiên để tìm khởi nguồn của sóng, của tình yêu, gợi lên sự trăn trở trước bí ẩn của tình yêu, thời điểm bắt đầu tình tình yêu.<br><br>3. Nỗi nhớ, lòng thủy chung của người con gái trong tình yêu<br><br><br>- Khổ 5:<br><br>Nghệ thuật tương phản để gợi ra những phạm vi không gian khác nhau “dưới lòng sâu”, “trên mặt nước”, phạm vi thời gian khác nhau: “ngày” - “đêm”, nghệ thuật nhân hóa: “ngày đêm không ngủ được”, diễn tả nỗi nhớ dạt dào, triền miên của sóng với bờ cũng là nỗi nhớ của người phụ nữ khi yêu.<br>Người phụ nữ bày tỏ nỗi nhớ một cách trực tiếp, mạnh dạn, chân thành “Lòng em nhớ đến anh”, cách nói thậm xưng “Cả trong mơ còn thức” thể hiện nỗi nhớ ăn sâu vào tiềm thức, thường trực trong suy nghĩ.<br>- Khổ 6:<br><br>Nghệ thuật tương phản “xuôi - ngược”, điệp ngữ “dẫu”, “vẫn”, “về” gợi hành trình của sóng ngoài biển lớn cũng như hành trình tình yêu của người phụ nữ giữa cuộc đời.<br>Lời thề thủy chung của người phụ nữ, niềm tin chờ đợi trong tình yêu, dù ở đâu cũng “hướng về anh một phương”, nghĩ về người mình yêu bằng cả trái tim.<br>4. Khát vọng tình yêu vĩnh cửu<br><br>- Khổ 7: Khẳng định quy luật vĩnh cửu của thiên nhiên “Con nào chẳng tới bờ/Dù muôn vời cách trở”, cũng giống như “em”, dù khó khăn, thử thách vẫn luôn hướng đến “anh”.<br><br>- Khổ 8:<br><br>“Cuộc đời tuy dài thế/Năm tháng vẫn đi qua”: Cảm giác cô đơn nhỏ bé trước cuộc đời, nỗi lo âu về sự hữu hạn của tình yêu trước thời gian vô tận.<br>“Như biển kia dẫu rộng/Mây vẫn bay về xa”: Cảm giác bất an trước cái dễ đổi thay của lòng người giữa “muôn vời cách trở”. Nhưng đây còn là vượt lên sự lo âu phấp phỏng đặt niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của tình yêu như mây có thể vượt qua biển rộng.<br>- Khổ 9:<br><br>“Làm sao” gọi sự băn khoăn, khắc khoải, ước ao được hóa thành “trăm con sóng nhỏ” để muôn đời vỗ mãi vào bờ.<br>Đó là khát khao của người phụ nữ được sống trong “biển lớn tình yêu” bằng tình yêu và cùng tình yêu, khát khao hòa nhập tình yêu riêng tư trong tình yêu chung rộng lớn.<br><br>III. Kết bài<br><br>Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ.<br>Cảm nhận chung về bài thơ Sóng.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-20 06:01:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956381614</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956381924</link>
         <description><![CDATA[<div>Dàn ý phân tích bài Tuyên ngôn độc lập - Mẫu 1<br>I. Mở bài<br><br>- Giới thiệu khái quát về tác giả Hồ Chí Minh: cuộc đời, sự nghiệp cách mạng và sự nghiệp văn chương.<br><br>- Nêu khái quát về hoàn cảnh sáng tác, ý nghĩa lịch sử và giá trị văn học của bản Tuyên ngôn độc lập.<br><br>II. Thân bài<br><br>1. Cơ sở pháp lý của Tuyên ngôn độc lập<br><br>- Trích dẫn hai bản tuyên ngôn của Mỹ và của Pháp để làm cơ sở pháp lý cho Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam:<br><br>Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776: “Tất cả mọi người ... quyền mưu cầu hạnh phúc”<br>Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1791: “Người ta sinh ra tự do ... bình đẳng về quyền lợi.”<br><br>- Ý nghĩa:<br><br>Hồ Chí Minh tôn trọng và sử dụng hai bản tuyên ngôn có giá trị, được thế giới công nhận làm cơ sở pháp lý không thể chối cãi.<br>Dùng phương pháp “gậy ông đập lưng ông”: lấy tuyên ngôn của Pháp để phản bác lại chúng, ngăn chặn âm mưu tái xâm lược của chúng.<br>Đặt ngang hàng cuộc cách mạng, giá trị bản tuyên ngôn của nước ta với hai cường quốc Mỹ và Pháp, thể hiện lòng tự tôn dân tộc.<br>Lập luận chặt chẽ, sáng tạo: từ quyền con người (tự do, bình đẳng, quyền mưu cầu hạnh phúc), “suy rộng ra” là quyền tự do bình đẳng của mọi dân tộc trên thế giới.<br>2. Cơ sở thực tiễn của Tuyên ngôn độc lập<br><br>- Tội ác của thực dân Pháp<br><br>Vạch trần bản chất công cuộc “khai hóa” của thực dân Pháp: thực chất chúng thi hành nhiều chính sách dã man về chính trị, văn hóa – xã hội – giáo dục và kinh tế.<br>Vạch trần bản chất công cuộc “bảo hộ” của thực dân Pháp: hai lần bán nước ta cho Nhật (vào năm 1940, 1945), khiến cho “hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói”, ...<br>Chỉ rõ luận điệu xảo trá, lên án tội ác của chúng: là kẻ phản bội Đồng minh, không hợp tác với Việt Minh mà còn thẳng tay khủng bố Việt Minh, ...<br>Nghệ thuật: Điệp cấu trúc “chúng + hành động”: nhấn mạnh tội ác của Pháp.<br><br>- Cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta:<br><br>Nhân dân ta đã chống ách nô lệ hơn 80 năm, đứng về phía Đồng minh chống phát xít, kêu gọi Pháp chống Nhật, lấy lại nước từ tay Nhật<br>Kết quả: cùng lúc phá tan 3 xiềng xích đang trói buộc dân tộc ta (Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị), thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.<br>3. Lời tuyên bố độc lập và ý chí bảo vệ chủ quyền dân tộc<br><br>- Dùng từ ngữ có ý nghĩa phủ định để tuyên bố thoát ly hẳn với thực dân Pháp, xóa bỏ mọi hiệp ước đã ký kết, mọi đặc quyền của Pháp tại Việt Nam.<br><br>- Dựa vào điều khoản quy định về nguyên tắc dân tộc bình đẳng tại hội nghị Tê-hê-răng và Cựu Kim Sơn để kêu gọi cộng đồng quốc tế công nhận quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam.<br><br>- Tuyên bố với thế giới về nền độc lập của dân tộc Việt Nam: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do ... ”. Thể hiện quyết tâm đoàn kết giữ vững chủ quyền, nên độc lập, tự do của dân tộc.<br><br>- Lời văn đanh thép, rõ ràng như một lời thề cũng như một lời khích lệ tinh thần yêu nước nhân dân cả nước.<br><br>III. Kết bài<br><br>- Nêu khái quát về giá trị nghệ thuật: là áng văn chính luận mẫu mực với lập luận chặt chẽ, lí lẽ thuyết phục, dẫn chứng xác thực, ngôn ngữ hùng hồn, gần gũi, giàu tính biểu cảm.<br><br>- Đánh giá chung về giá trị nội dung (giá trị văn học, giá trị lịch sử) của bản tuyên ngôn độc lập: nêu cao truyền thống yêu nước, ý chí chống quân xâm lược, lòng tự hào dân tộc; đánh dấu mốc son trong lịch sử dân tộc ta.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-20 06:01:59 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956381924</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956382045</link>
         <description><![CDATA[<div>Dàn ý phân tích bài Tuyên ngôn độc lập - Mẫu 1<br>I. Mở bài<br><br>- Giới thiệu khái quát về tác giả Hồ Chí Minh: cuộc đời, sự nghiệp cách mạng và sự nghiệp văn chương.<br><br>- Nêu khái quát về hoàn cảnh sáng tác, ý nghĩa lịch sử và giá trị văn học của bản Tuyên ngôn độc lập.<br><br>II. Thân bài<br><br>1. Cơ sở pháp lý của Tuyên ngôn độc lập<br><br>- Trích dẫn hai bản tuyên ngôn của Mỹ và của Pháp để làm cơ sở pháp lý cho Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam:<br><br>Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776: “Tất cả mọi người ... quyền mưu cầu hạnh phúc”<br>Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1791: “Người ta sinh ra tự do ... bình đẳng về quyền lợi.”<br><br>- Ý nghĩa:<br><br>Hồ Chí Minh tôn trọng và sử dụng hai bản tuyên ngôn có giá trị, được thế giới công nhận làm cơ sở pháp lý không thể chối cãi.<br>Dùng phương pháp “gậy ông đập lưng ông”: lấy tuyên ngôn của Pháp để phản bác lại chúng, ngăn chặn âm mưu tái xâm lược của chúng.<br>Đặt ngang hàng cuộc cách mạng, giá trị bản tuyên ngôn của nước ta với hai cường quốc Mỹ và Pháp, thể hiện lòng tự tôn dân tộc.<br>Lập luận chặt chẽ, sáng tạo: từ quyền con người (tự do, bình đẳng, quyền mưu cầu hạnh phúc), “suy rộng ra” là quyền tự do bình đẳng của mọi dân tộc trên thế giới.<br>2. Cơ sở thực tiễn của Tuyên ngôn độc lập<br><br>- Tội ác của thực dân Pháp<br><br>Vạch trần bản chất công cuộc “khai hóa” của thực dân Pháp: thực chất chúng thi hành nhiều chính sách dã man về chính trị, văn hóa – xã hội – giáo dục và kinh tế.<br>Vạch trần bản chất công cuộc “bảo hộ” của thực dân Pháp: hai lần bán nước ta cho Nhật (vào năm 1940, 1945), khiến cho “hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói”, ...<br>Chỉ rõ luận điệu xảo trá, lên án tội ác của chúng: là kẻ phản bội Đồng minh, không hợp tác với Việt Minh mà còn thẳng tay khủng bố Việt Minh, ...<br>Nghệ thuật: Điệp cấu trúc “chúng + hành động”: nhấn mạnh tội ác của Pháp.<br><br>- Cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta:<br><br>Nhân dân ta đã chống ách nô lệ hơn 80 năm, đứng về phía Đồng minh chống phát xít, kêu gọi Pháp chống Nhật, lấy lại nước từ tay Nhật<br>Kết quả: cùng lúc phá tan 3 xiềng xích đang trói buộc dân tộc ta (Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị), thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.<br>3. Lời tuyên bố độc lập và ý chí bảo vệ chủ quyền dân tộc<br><br>- Dùng từ ngữ có ý nghĩa phủ định để tuyên bố thoát ly hẳn với thực dân Pháp, xóa bỏ mọi hiệp ước đã ký kết, mọi đặc quyền của Pháp tại Việt Nam.<br><br>- Dựa vào điều khoản quy định về nguyên tắc dân tộc bình đẳng tại hội nghị Tê-hê-răng và Cựu Kim Sơn để kêu gọi cộng đồng quốc tế công nhận quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam.<br><br>- Tuyên bố với thế giới về nền độc lập của dân tộc Việt Nam: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do ... ”. Thể hiện quyết tâm đoàn kết giữ vững chủ quyền, nên độc lập, tự do của dân tộc.<br><br>- Lời văn đanh thép, rõ ràng như một lời thề cũng như một lời khích lệ tinh thần yêu nước nhân dân cả nước.<br><br>III. Kết bài<br><br>- Nêu khái quát về giá trị nghệ thuật: là áng văn chính luận mẫu mực với lập luận chặt chẽ, lí lẽ thuyết phục, dẫn chứng xác thực, ngôn ngữ hùng hồn, gần gũi, giàu tính biểu cảm.<br><br>- Đánh giá chung về giá trị nội dung (giá trị văn học, giá trị lịch sử) của bản tuyên ngôn độc lập: nêu cao truyền thống yêu nước, ý chí chống quân xâm lược, lòng tự hào dân tộc; đánh dấu mốc son trong lịch sử dân tộc ta.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-20 06:02:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956382045</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phần 1:Con sông Đà hùng vĩ, hung bạo và con sông Đà trữ tình, thơ mộng.*Con sông Đà hùng vĩ, hung bạo:Nó thể hiện qua bốn yếu tố- Vách đá sông Đà:[​IMG]+Cao và sâu: Cụm từ &quot;vách thành&quot; Phần 1:Con sông Đà hùng vĩ, hung bạo và con I. Mở bài:Nguyễn Tuân là một tác giả tài hoa, uyên bác, luôn kiếm tìm cái đẹp. Trước cách mạng ông tìm kiếm vẻ đẹp trong quá khứ, khi cách mạng thành công ông tìm kiếm vẻ đẹp ngay trong cuộc sống hiện tại. Người lái đò sông Đà là tùy bút tiêu biểu cho những sáng tác sau cách mạng của ông.Ông lái đò chính là chất vàng mười đã được thử lửa mà Nguyễn Tuân tìm kiếm, người anh hùng trong thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội. Liên hệ hình ảnh người anh hùng trong thơ ca Nguyễn Tuân trước cách mạng (Huấn Cao – Chữ người tử tù)                                                                phần 1:sông Đà trữ tình, thơ mộng.                    *Con sông Đà hùng vĩ, hung bạo:Nó thể hiện qua bốn yếu tố-                                                                  Vách đá sông Đà:+Cao và sâu: Cụm từ &quot;vách thành&quot; làm liên tưởng đến trước mắt người dọc hình ảnh hai bờ sông Đà vách đá như thành cao, vực thẳm như hào sâu vừa sừng sững vừa hun hút. Độ cao của bờ sông Đà còn được Nguyễn Tuân miêu tả qua những chi tiết như: &quot;Mặt sông chỗ ấy đúng lúc ngọ mới có mặt trời.. vừa tắt phụt đèn điện&quot;. Đây là cách so sánh rất độc đáo, rất Nguyễn Tuân, liên tưởng cái hoang sơ của vùng Tây Bắc với cái hiện đại của thị thành. Vừa tạo nên bất ngờ thú vị, vừa tạo cho người đọc cảm giác rợn ngợp trước vẻ đẹp vừa kì vĩ vừa dữ dội của thiên nhiên.+Vách đá rất hẹp: &quot;Có vách đá thành chet lòng sông Đà.. vọt từ bờ này sang bờ kia&quot; cách miêu tả này gợi lên trước mắt người đọc những quãng sông nhỏ hẹp, âm u, tăm tối, tiềm ẩn những nguy hiểm cho người lái đò Tây Bắc. Sự hung bạo dữ dội còn thể hiện qua:- Sóng nước sông Đà:[​IMG]+Cụm từ ngữ &quot;dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió&quot; với nhịp ngắt nhanh, dồn dập. Hình ảnh nối tiếp luôn chuyển cho nhau đã tái hiện sức mạnh dữ dội của nước, sóng, gió cùng với đá sông Đà.+Điệp từ &quot;xô&quot; lặp lại ba lần gây ấn tượng với sự chuyển động khủng khiếp. Gợi liên tưởng đến những con sóng chồm lên nhau theo chiều ngang, vút lên nhau theo chiều dọc rồi đổ ập xuống.+Từ láy &quot;gùn ghè&quot; thể hiện sự hung hãn, trái tính trái nết của dòng sông. Sự dữ dội ấy khiến ta nghĩ đến hình ảnh một chú ngựa dũng mãnh nhưng bất kham chưa được thuần hóa bởi mẹ thiên nhiên nơi thượng nguồn Tây Bắc. Nó tạo ra sự nguy hiểm khôn lường cho người lái đò bởi vì &quot;quãng này mà khinh suất tay lái thì cũng dễ lật ngửa bụng thuyền ra&quot;. Tiếp theo sự dữ dội là những:- Hút nước sông Đà:[​IMG]+Sức mạnh khủng khiếp: Hình ảnh so sánh &quot;cái hút nước giống như cái giếng bê tông xoáy tít đáy&quot;, so sánh âm thanh &quot;thở và kêu như cửa cống cái bị sặc, nước ặc ặc lên như rót dầu sôi vào&quot; cho ta hình dung về một con quái vật đang giận dữ. Hệ quả của sức mạnh khủng khiếp ấy là:+Là nguy hiểm khôn lường: Hình ảnh liên tưởng mép rìa của hút nước như &quot;quãng đường vượt cáp ngoài bờ vực&quot;+Hình ảnh những con thuyền bị hút nước ấy hút vào &quot;thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi.. tan xác ở khuỷnh sông dưới&quot; tạo cho người đọc cảm giác hãi hùng khi phải đi thuyền qua đấy. Không dừng lại ở đó, Nguyễn Tuân còn dẫn dụ người đọc chơi trò cảm giác mạnh khi hình dung một anh bạn quay phim táo bạo ngồi trên một chiếc thuyền thúng để lao vào xoáy nước ấy nhằm cung cấp cho người xem những thước phim cân não. Người xem sẽ sống trong cảm giác hãi hùng thật sự khi cảm thấy tay mình phải giữ chặt chiếc ghê như &quot;ghì chặt lấy mép một chiếc lá rừng.. cái gậy đánh phèn&quot;. Nhưng thể hiện rõ nhất, hung hãn nhất của con sông Đà là những:- Thác đá sông Đà:[​IMG]+Từ xa đã nghe thấy những âm thanh ghê rợn &quot;tiếng nước réo gần mãi rồi réo to mãi lên.. giọng gằn mà chế nha.. với đàn trâu da cháy bừng bừng&quot; đó là khúc nhạc của tự nhiên đang ở đỉnh điểm của cơn phấn khích, man dại. Dám lấy lửa để tự nước, dám lấy rừng để tả sông, Nguyễn Tuân thật sự đã cho thấy cái ngông, cái tài của mình.+Khi đến gần thấy bọt tung trắng xóa cả một chân trời đá, câu văn gợi lên trước mắt người đọc một không gian sóng nước mênh mông và dữ dội đang chuyển động va chạm mãnh liệt ở tột đỉnh của sự giận dữ, sẵn sàng nghiền nát mọi thứ.+Không những thế sông Đà còn thể hiện sự nham hiểm của mình qua cách bày thạch trận trên sông:- &gt;Sông Đà có đội quân đá hùng hậu hung hãn, đá ở đây không nằm, ngồi một cách lộn xộn mà &quot;sông Đà đã giao nhiệm vụ cho mỗi hòn&quot; như đá tướng, đá quân, đá tiền vệ, đá hậu vệ, bong ke chim, pháo đào đá nỗi. Hòn thì như sơ hở để dụ thuyền vào, hòn thì hất hàm hỏi chiếc thuyền xưng tên tuổi trước khi giao chiến, hòn thì như khiêu khích thách thức cái thuyền có giỏi thì đánh ngay vào. Hình dáng của lũ đá như lũ thủy quái, hòn thì &quot;mặt ngỗ ngược&quot; hòn thì mặt &quot;nhăn nhúm, méo mó&quot;. Khi thuyền đã đi vào, sóng và đá như quân liều mạng nhổm cả dậy, xông lên vồ lấy thuyền &quot;mà đá trái mà thúc gối vào bụng và hông thuyền&quot;- &gt; Đội quân đá ấy cùng với sóng nước sông Đà lại được điều khiển bởi một chiến thuật vô cùng lão luyện và hiểm ác. Có đánh sáp lá cà, đánh khuýp quật vu hồi, có đánh tổng lực phối hợp với nước với thác, thác nước hò reo làm thanh viện để uy hiếp tinh thần đối phương. Chúng còn thực hiện những đòn chí mạng như: &quot;Bẻ gãy cán chèo, đá trái thúc gối vào bụng và hông thuyền&quot; nhằm tiêu diệt tất cả thuyền trưởng và thuyền thủ. Chiến thuật ấy còn được thể hiện qua việc bố trí binh pháp theo cửa sinh, cửa tử. Cửa sinh luôn thay đổi vị trí từ tả ngạn sang hữu hạn rồi cuối cùng nằm ngay ở giữa hòn đá hậu vệ của con thắc với mục đích khiến cho người lái đò không kịp trở tay.*Con sông Đà trữ tình, thơ mộng:[​IMG]Bên cạnh tính cách hung bạo, tác giả còn thấy con sông mang một vẻ đẹp thơ mộng và trữ tình. Vẻ đẹp ấy được thể hiện qua ba góc nhìn:- Đầu tiên là góc từ trên cao nhìn xuống:+Dáng hình mềm mại: &quot;Con sông tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình.. cuồn cuội mù khói núi Mèo đốt nương xuân&quot; câu văn rất dài chỉ có một dấu phẩy kết hợp với điệp ngữ &quot;tuôn dài&quot; vừa gợi tả sinh động độ dài tưởng như bất tận của dòng sông vừa làm cho dòng sông trở nên êm đềm, mềm mại, kiều diễm và đầy nữ tính như mái tóc của một người con gái đẹp Tây Bắc, một áng tóc có cả mây trời, có hương sắc của hoa ban, hoa gạo lẫn cả khói sương mờ ảo, huyền hoặc của núi Mèo đốt nương xuân thật thơ mộng và trữ tình.+Vẻ đẹp màu sắc của dòng nước huyền ảo theo mùa: Màu xanh ngọc bích trong trẻo khi mùa xuân đến, là màu nước lừ lừ chín đỏ mỗi độ mùa thu. Hình ảnh so sánh nước mùa thu như &quot;da mặt một người bầm đi vì rượu bữa.. mỗi độ thu về&quot; đã không chỉ làm hiện lên cái màu sắc đặc trưng của sông nước sông Đà mùa thu. Mà còn hé lộ cho ta thấy ẩn chứa bên trong dòng chảy êm ả của hạ lưu ấy lại tiềm ẩn một sức mạnh ghê gớm của con con sông trái tính, trái nết, thoắt hiền lành đấy nhưng bỗng chốc có thể gắt gỏng, thác lũ ngay đấy.- Thứ hai là góc từ trong rừng đi ra:+Tác giả thấy con sông Đà gợi cảm và đầm ấm, sự gợi cảm và đầm ấm của con sông Đà được tác Nguyễn Tuân so sánh việc gặp lại con sông như việc gặp lại một cố nhân, vì ở rừng đi cũng đã hơi lâu, đã thấy &quot;thèm chỗ thoáng&quot; nhưng khi con sông Đà hiện ra trước mắt với &quot;bờ sông Đà, bãi sông Đà, chuồn chuồn bươm bươma trên sông Đà&quot; tác giả như vỡ òa trong niềm vui sướng, xúc động. &quot;Chao ôi, trông con sông vui.. nối lại chiêm bao đứt quãng&quot; quả thật con sông Đà không chỉ có thắc lu, không chỉ biết hung bạo mà nó còn là một người bạn giàu tình nặng nghĩa. Có những quãng sông rất phẳng lặng, dòng chảy cứ lửng lờ như nhớ thương những hòn, thác đá xa xôi đã để lại trên thượng Tây Bắc. Lại có những quãng sông đã thật dễ thương, chầm chậm trôi đi như thể lắng nghe tiếng nối êm êm của người về xuôi.+Tác giả còn cảm nhận con sông Đà có nét cổ kính, yên bình qua màu cái nắng tháng ba Đường thi &quot;Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu&quot; đó là cái nắng vàng tươi gợi cái đẹp vàng son của một thời vang vọng. Cái vẻ đẹp phẳng lặng, trong sáng, lấp lánh, hồn nhiên thật thanh bình.- Thứ ba là góc nhìn khi đi thuyền trên sông:+Tác giả nhìn thấy hai bờ sông Đà một vẻ đẹp hoang dại, hồn nhiên. Đoạn văn tả cảnh sông Đà bắt đầu từ câu &quot;Thuyền tôi trôi trên sông Đà&quot; một câu văn toàn thanh bằng, đẹp như một lời thơ tọa cảm xúc nhẹ nhàng, thư thái. Cảnh con thuyền lừ lừ trôi giữa một không gian tịnh không một bóng người chỉ có &quot;cỏ gianh đồi nui đang ra những nõn búp&quot;, &quot;đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm&quot; thật là thơ mộng. Cái lặng lẽ tuyệt đối của bờ sông cùng với phép so sánh &quot;bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử&quot;, &quot;sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa&quot; như ru hồn  người lạc vào một cảnh thiên thai nào đó.           III. Kết bài:Nêu cảm nhận về hình tượng nhân vật ông lái đò: là đại diện cho con người lao động Tây Bắc trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội, là con người vừa có phẩm chất anh hùng vừa tài hoa nghệ sĩ, chứa đựng chất vàng mười đã qua thử lửa.Người lái đò sông Đà là tùy bút xuất sắc miêu tả chân thực vẻ đẹp vừa hung bạo vừa trữ tình của thiên nhiên Tây Bắc, giữa nền thiên nhiên nổi bật lên là vẻ đẹp của những người lao động bình dị              </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956382222</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-20 06:02:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956382222</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956440412</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1507598685/d0c55e6a7ae17250ac2b733b07c63fc2/FILE_20211219_160504_soogn___.docx" />
         <pubDate>2021-12-20 07:10:29 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956440412</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956441043</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1507598685/8e4fbab95c9b633a0e9f967825d0f12a/FILE_20211219_160511_s_ng.docx" />
         <pubDate>2021-12-20 07:11:07 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956441043</guid>
      </item>
      <item>
         <title>DÀN Ý BÀI TÂY TIẾNI. Mở bài- Quang Dũng là một người nghệ sĩ đa tài, hồn thơ ông luôn phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn, tài hoa.- Bài thơ được in trong tập Mây đầu ô, được Quang Dũng viết khi đã rời đơn vị Tây Tiến.- Hình tượng nổi bật trong bài thơ chính là hình tượng người lính Tây Tiến.II. Thân bài1. Khái quát chung- Tây Tiến: là tên một đoàn quân được thành lập năm 1947, có nhiệm vụ kết hợp với bộ đội Lào để bảo vệ biên giới Việt – Lào, làm hao mòn lực lực giặc Pháp.- Xuất thân lính Tây Tiến: phần đông là người Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, sinh viên.- Cảm hứng sáng tác: Quang Dũng viết bài thơ để bày tỏ nỗi nhớ với đoàn quân Tây Tiến sau khi chuyển sang công tác ở đơn vị khác.2. Vẻ đẹp của tinh thần nỗ lực, vượt lên những khó khăn gian khổChặng đường hành quân gian khổ:    + Địa danh Sài Khao, Mường Lát gợi sự hẻo lánh, xa xôi; các từ láy giàu tính tạo hình: “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “heo hút”, điệp từ “dốc” gợi địa hình hiểm trở, quanh co, gập ghềnh.    + Nhịp thơ bẻ đôi “Ngàn thước ... xuống” gợi tả sự nguy hiểm tột cùng.+ Hình ảnh nhân hóa: “cọp trêu người”, “thác gầm thét” gợi sự hoang sơ, man dại; thời gian: “chiều chiều”, “đêm đêm” những người lính phải thường xuyên đối mặt với điều hiểm nguy chốn rừng thiêng nước độc.    + Sử dụng phần lớn các thanh trắc nhấn mạnh sự trắc trở, ghập ghềnh của địa hình.    + Hình ảnh “súng ngửi trời” thể hiện tầm cao của núi non mà người lính phải vượt qua nhưng cũng có cái hóm hỉnh của người lính trong hoàn cảnh gian khổ.    + Khung cảnh thiên nhiên cũng có lúc êm dịu, đậm hương vị cuộc sống: “nhà ai Pha Luông ...”, “cơm lên khói”, “Mai Châu mùa em ...”, thanh bằng tạo cảm giác nhẹ nhàng, yên bình. Là tiếng thở phào nhẹ nhõm sau chặng đường dài hành quân.3. Vẻ đẹp ngoại hình: dữ dội, lẫm liệt, oai phong    + “đoàn binh không mọc tóc”: đó là hậu quả của những trận sốt rét rừng khắc nghiệt. Phần nào cho thấy phong thái ngang tàng, gan góc, ngạo nghễ của những người lính trẻ.    + “quân xanh màu lá”: là hình ảnh làn da tái xanh như màu lá do bệnh sốt rét rừng (có thể là màu xanh của lá ngụy trang, có thể hiểu là màu xanh áo lính). Đó cũng là những mất mát hi sinh thầm lặng (dần mất sức khỏe, sức trai tráng).    + “mắt trừng”: cái nhìn dữ dội, người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp của những người tráng sĩ xưa, cũng gợi hình ảnh khuôn mặt hốc hác do điều kiện vật chất thiếu thốn.+ “đoàn binh”: gợi hình ảnh một tập thể đông đảo mang những nét chung phổ biến của mọi người lính (đầu không mọc tóc, da xanh, mắt trừng dữ dội)- Nhận xét: nếu cảm nhận theo cách thông thường họ mang vẻ ngoại hình kì dị, nhưng chỉ bằng ba chữ “dữ oai hùm” tác giả đã làm nổi bật vẻ đẹp dữ dội, lẫm liệt, oai phong của người lính Tây Tiến.4. Vẻ đẹp nội tâm: hào hoa, đa tình, lãng mạn của những người lính trẻ    + “Kìa em xiêm áo ... xây hồn thơ”: cái nhìn đắm say, tình tứ của những người lính Tây Tiến trước vẻ đẹp duyên dáng của con người Tây Bắc. Tâm hồn người lính bay bổng, say mê trong không khí ấm áp tình người.    + “gửi mộng”, “đêm mơ”: lính Tây Tiến là những con người mơ mộng, là những người trai xuất thân từ đất hà thành nên họ mang vào chiến trường cả nét thi vị, lãng mạn trong tâm hồn (so sánh người lính xuất thân từ nông dân trong bài Đồng Chí – Chính Hữu).    + “Hà Nội” là khung trời thương nhớ, là không gian khác hẳn đời sống gian khổ chiến trường, đó là nỗi nhớ quê hương.    + “dáng Kiều thơm” gợi hình ảnh những thiếu nữ Hà Nội yêu kiều, kiêu sa, hình bóng người thương của lính Tây Tiến. Đó là nguồn động lực để họ chiến đấu nơi chiến trường gian khổ.- Nhận xét: Trong hoàn cảnh chiến đấu khăc nghiệt họ vẫn giữ được những nét hào hoa, lang mạn vốn có của những thanh niên trí thức Hà Nội.5. Vẻ đẹp của lẽ sống: tinh thần hi sinh cao cả- Hình ảnh bi hùng về người lính Tây Tiến “dãi dầu không bước nữa”, “gục lên súng mũ bỏ quên đời”: đó là sự nghỉ ngơi vĩnh viễn, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng.- Sẵn sàng công hiến tuổi trẻ của mình cho đất nước:“rải rác biên cương mồ viễn xứ”, “chẳng tiếc đời xanh”, “anh về đất”, ra đi thanh thản, nhẹ nhàng.- Cái chết đã được lí tưởng hóa như hình ảnh những tráng sĩ xưa: “áo bào”, “khúc độc hành”; thiên nhiên cũng đau đớn thay cho nỗi đau họ phải chịu.- Nhận xét: Những người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp bi tráng, tầm vóc của họ sánh ngang với các tráng sĩ xưa. Với cảm hứng lang mạn Quang Dũng đã bất tử hóa hình ảnh của họ.III. Kết bài- Nêu cảm nhận về hình tượng người lính Tây Tiến.- Khái quát một số giá trị nghệ thuật tiêu biểu: bút pháp lãng mạn, những sáng tạo trong việc sử dụng ngôn ngữ, Sử dụng nghệ thuật điệp, đối, hình ảnh thơ độc đáo, mới mẻ.- Tổng kết giá trị nội dung: bài thơ đã tái hiện vẻ đẹp vừa hùng vĩ, vừa thơ mộng của núi rừng Tây Bắc; vẻ đẹp hình tượng người lính Tây Tiến.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956599402</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-20 09:23:31 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956599402</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956600755</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Dàn ý phân tích Việt Bắc<br></strong><br></div><div>I. Mở bài</div><div><br></div><div>- Giới thiệu về tác giả Tố Hữu (tiểu sử, con đường cách mạng, phong cách thơ..)</div><div>- Giới thiệu về bài thơ Việt Bắc (hoàn cảnh ra đời, khái quát nội dung và nghệ thuật)</div><div>II. Thân bài</div><div>1. Lời nhắn nhủ của người ra đi và kẻ ở lại</div><div>a) Tám câu đầu: Cuộc chia tay đầy lưu luyến, bịn rịn</div><div>- Cách xưng hô mình – ta và giọng điệu ngọt ngào của những câu ca dao, những câu hát giao duyên gợi nên khung cảnh chia tay bịn rịn, lưu luyến</div><div>- Từ ngữ:</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Điệp từ “mình về”, “mình có nhớ” gợi lên một khoảng không gian, thời gian đầy ắp kỉ niệm</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Từ láy: “tha thiết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn” gợi tả tâm trạng vấn vương, lưu luyến</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Điệp từ “nhớ”gợi tả nỗi nhớ triền miên</div><div>&nbsp; &nbsp;+ 15 năm ấy: khoảng thời gian gắn bó với những tình cảm mặn nồng, thiết tha</div><div>- Hình ảnh:</div><div>&nbsp; &nbsp;+ "núi", “sông”, "nguồn" những hình ảnh tiêu biểu của núi rừng Việt Bắc.</div><div>&nbsp; &nbsp;+ “cầm tay nhau” diễn tả sự bịn rịn</div><div>&nbsp; &nbsp;+ áo chàm (hoán dụ): chỉ người dân VB Với hình ảnh chiếc áo chàm bình dị, chân thành cảm xúc của người ra đi - kẻ ở dâng trào không nói nên lời.</div><div>⇒ Tám câu đầu là khung cảnh chia tay đầy tâm trạng, bịn rịn, lưu luyến, bâng khuâng của kẻ ở người đi</div><div>b) Lời người ở lại nhắn gửi tới người ra đi</div><div>- Lời nhắn gửi được thể hiện dưới hình thức những câu hỏi: nhớ về Việt bắc cội nguồn quê hương cách mạng, nhớ thiên nhiên Việt Bắc, nhớ những địa danh lịch sử, nhớ những kỉ niệm ân tình...</div><div>- Nghệ thuật:</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Liệt kê hàng loạt các kỉ niệm</div><div>&nbsp; &nbsp;+ ẩn dụ, nhân hóa: rừng núi nhớ ai</div><div>&nbsp; &nbsp;+ điệp từ “mình”</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Cách ngắt nhịp /4, 4/4 đều tha thiết nhắn nhủ người về thật truyền cảm.</div><div>⇒ Thiên nhiên, mảnh đất và con người Việt Bắc với biết bao tình nghĩa, ân tình, thủy chung</div><div>2. Nỗi nhớ của người ra đi và niềm tin vào Đảng, Chính phủ và Bác Hồ</div><div>a) Nhớ cảnh và người Việt Bắc</div><div>- Nỗi nhớ đưuọc so sánh với nỗi nhớ người yêu</div><div>- Nhớ thiên nhiên Việt Bắc:</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Buổi chiều khói bếp hòa quyện với sương núi</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Cảnh bản làng ẩn hiện trong sương</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Cảnh rừng nứa, bờ tre...</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Thiên nhiên Việt Bắc qua 4 mùa với những hình ảnh độc đáo, đặc sắc</div><div>- Nhớ về con người Việt Bắc:</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Nhớ người Việt Bắc trong nghèo khó, vất vả mà vẫn tình nghĩa, thủy chung, gắn bó với cách mạng</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Nhớ những kỉ niệm đầy ắp vui tươi, ấm áp giữa bộ đội và người dân Việt Bắc: lớp học i tờ, những giờ liên hoan</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Nhớ hình ảnh những con người mang vẻ đẹp mộc mạc, giản dị của người lao động: “người mẹ”, “cô em gái”.</div><div>⇒ Với kết cấu đan xen, cứ một câu tả cảnh, một câu tả người đã làm nổi bật vẻ đẹp hài hoà, sự đan cài quấn quýt giữa thiên nhiên và con người. Đây là vẻ đẹp đậm màu sắc phương đông</div><div>b) Nhớ Việt Bắc đánh giặc và Việt Bắc anh hùng</div><div>- Nhớ hình ảnh cả núi rừng Việt Bắc đánh giặc: “Rừng....”</div><div>- Nhớ hình ảnh đoàn quân kháng chiến: “Quân đi...”</div><div>- Nhớ những chiến công ở Việt Bắc, những chiến thắng với niềm vui phơi phới</div><div>⇒ Nhịp thơ mạnh, dồn dập như âm hưởng bước hành quân. Hình ảnh kì vĩ... tất cả tạo nên một bức tranh sử thi hoành tráng để ca ngợi sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, của nhân dân anh hùng</div><div>c) Nhớ Việt Bắc niềm tin</div><div>- Nhớ cuộc họp cao cấp với nhiều chi tiết, hình ảnh tươi sáng.</div><div>- Nhớ hình ảnh ngọn cờ đỏ thắm, rực rỡ sao vàng, có trung ương Đảng, có chính phủ và có Bác Hồ</div><div>⇒ Việt Bắc là cội nguồn là quê hương cách mạng</div><div>III. Kết bài</div><div>- Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Nội dung: bài thơ khúc tình ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến. Thể hiện sự gắn bó, ân tình sâu nặng với nhân dân, đất nước trong niềm tự hào dân tộc…</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Nghệ thuật: đạm chất dân tộc, trong việc sử dụng hình thức đối đáp với cặp đại từ nhân xưng mình – ta, ngôn ngữu, hình ảnh thơ giản dị, nhịp thơ uyển chuyển, sử dụng thể thơ dân tộc – thể thơ lục bát...</div><div>- Cảm nhận của bản thân: bài thơ cho chúng ta thấy nghĩa tình của người dân Việt trong những năm tháng khó khăn, gian khổ của cuộc chiến tranh, giành độc lập, tự do cho dân tộc</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-20 09:24:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956600755</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dàn ý phân tích Người lái đò sông ĐàDàn ýI. Mở bài- Giới thiệu về tác giả Nguyễn Tuân (tiểu sử, sáng tác chính, phong cách nghệ thuật…)- Giới thiệu khái quát về tác phẩm Người lái đò sông ĐàII. Thân bài1. Lời đề từNguyễn Tuân chọn đề từ bằng hai câu thơ:- Đẹp vậy sao tiếng hát con tàu: ca ngợi vẻ đẹp độc đáo, riêng biệt của sông Đà- Chúng thủy giai đông tẩu/Đà giang độc Bắc lưu: ca ngợi vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình của sông Đà→ Nguyễn Tuân kể chuyện về một dòng sông, về một vùng đất và cuộc sống con người Tây Bắc. Nguyễn Tuân cung cấp cho người đọc hiểu biết phong phú,tình yêu tha thiết với thiên nhiên, đất nước con người Việt Nam. Thiên tùy bút vừa là một công trình khảo cứu công phu, vừa là một áng văn trữ tình giàu tính thẩm mĩ về con Sông Đà.2. Hình tượng sông Đàa) Giới thiệu khát quát về sông Đà- Sông Đà biểu tượng cho vẻ đẹp thiên nhiên Tây Bắc – một dòng chảy vĩ đại giữa núi rừng Tây Bắc- Về địa lí: dòng sông bắt nguồn từ Trung Quốc chảy qua vùng núi cao hiểm trở, tốc độ dòng sông chảy xiết mạnh mẽ.a) Vẻ đẹp hung bạo, hùng vĩ của sông Đà (phần 1)- Diện mạo:   + “Cảnh đá bờ sông dựng vách thành”: lòng sông hẹp, “bờ sông dựng vách thành”, “đúng ngọ mới có mặt trời”, chỗ “vách đá ... như một cái yết hầu”.   + Ở mặt ghềnh Hát Loóng: “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió” một cách hỗn độn, lúc nào cũng như “đòi nợ suýt” những người lái đó.   + Ở Tà Mường Vát: “có những cái hút nước giống như cái giếng bê tông”, chúng “thở và kêu như cửa cống cái bị sặc nước”- Tâm địa của sông Đà đưuọc miêu tả qua “thạch trận”:   + Thạch trận : &quot; Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vỗ lấy thuyền&quot;   + Thủy trận :&quot;Đám tảng đám hòn chia làm ba hàng ngang chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền, một cái thuyền đơn độc không biết lùi đi đâu để tránh một cuộc giáp lá cà có đá dàn sẵn trận địa.Ba trùng vi giăng bẫy trên con sông:&quot; Vòng đầu vừa rồi, nó mở ra năm cửa trận, có bốn cửa tử một cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn sông&quot; , &quot;vòng thứ hai này tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào&quot;, &quot;còn một trùng vây thứ ba nữa. Ít cửa hơn, bên trái bên phải đều là luồng chết cả.→ Với vốn từ cực kì phong phú cùng bút pháp lãng mạn tô đậm để gây ấn tượng mãnh liệt, cảm giác rùng rợn, dựng lên một con sông hung bạo đầy đe dọa với con người.b) Vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của sông Đà- Trữ tình ở dáng sông kiều diễm với điểm nhìn từ trên cao xuống, từ tầm xa, bao quát để ngắm một dáng sông thơ mộng , có khi nhà văn nhìn thấy nó bình dị như&quot; một dải dây thừng&quot;, như &quot;một mái tóc mun…áng tóc trữ tình&quot;.- Trữ tình ở màu sắc sông nước: Nguyễn Tuân nhìn Sông Đà từ nhiều góc độ, lần này từ điểm nhìn thấp hơn và góc nhìn thật đẹp:khi nhìn bằng ánh mắt họa sĩ, khi thì nhìn bằng cảm xúc nhà thi sĩ để say sưa, quan sát tưởng tượng sắc nước Sông Đà, sự thay đổi màu sắc qua các mùa mà mùa nào cũng đẹp, một cách nhìn thật nhiều chiều và đa dạngKhung cảnh bờ bãi ven sông với điểm nhìn đậu hẳn xuống mặt sông, là 1 du khách trên sông &quot;Thuyền tôi trôi trên Sông Đà…dòng trên&quot; .→ Sông Đà dưới ánh mắt của Nguyễn Tuân hiện lên như một dải lụa hiền hòa giữa vùng núi rừng Tây Bắc hoang sơ, hùng vĩ3. Hình ảnh người lái đò sông Đà- Giới thiệu chung: ông lái đò Sông Đà làm nghề chở đò dọc trên Sông Đà- nghề vận tải đường nước, ông mang chân dung người lao động sông nước đẹp vạm vỡ khỏe mạnh. Cuộc sống hằng ngày của ông là chiến đầu với con Sông Đà, vật lộn với thiên nhiên để giành giật sự sống, để tồn tại- Cuộc chiến đấu trên sông Đà – con sông hùng dữ và nham hiểm:   + Là người từng trải, hiểu biết và thành thạo trong nghề lái đò: “trên sông Đà ông xuôi ngược hưn một trăm lần”, “nhớ tỉ mỉ ... những luồng nước”, ...+ Là người mưu trí dũng cảm, bản lĩnh và tài ba: ung dung đối đầu với thác dữ “nén đau giữ mái chèo, tỉnh táo chỉ huy bạn chèo ...”, “nắm chắc binh pháp của thần sông thần núi”, động tác điêu luyện “cưỡi đúng ngay trên bờm sóng, phóng thẳng thuyền vào giữa thác ...”   + Là người nghệ sĩ tài hoa: ưa những khúc sông nhiều ghềnh thác, không thích lái đò trên khúc sông bằng phẳng, coi việc chiến thắng “con thủy quái” là chuyện thường- Trở về với cuộc sống đời thường, sau cuộc chiến &quot;đêm ấy nhà ông đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam..cá túa ra tràn đầy đồng ruộng&quot;. Đó là cuộc sống thường nhật của người lái đò ngày nào cũng chiến đấu với thiên nhiên→ Cuộc sống bình dị, khiêm nhường nhưng rất đáng khâm phụcIII. Kết bài- Khái quát gia trị nội dung và nghệ thuật của văn bản   + Nội dung: Người lái đò sông Đà ca ngợi vẻ đẹp vừa kì vĩ, hào hùng vừa trữ tình thơ mộng của thiên nhiên và nhất là của con người lao động bình dị ở miền Tây Bắc   + Nghệ thuật: cách sử dụng từ ngữ độc đáo, đắc địa, tài ba, sử dụng vốn hiểu biết trên nhiều lĩnh vực, kết hợp hài hòa giữa bút pháp lãng mạn và hiện thực- Cảm nhận về văn bản: Người lái đò sông Đà lầ một áng tùy bút xuất sắc, cho thấy tài năng và tấm lòng của người nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái Đẹp – Nguyễn Tuân</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956622885</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-20 09:42:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956622885</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dàn ý phân tích Ai đã đặt tên cho dòng sôngI. Mở bài- Giới thiệu khái quát về tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường (tiểu sử, sáng tác chính, phong cách nghệ thuật…)- Giới thiệu về tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông? (hoàn cảnh ra đời, vị trí đoạn trích, khái quát nội dung và nghệ thuật)II. Thân bài1. Vẻ đẹp thiên nhiên của sông Hươnga) Vẻ đẹp của sông Hương ở thượng nguồn- Sông Hương như “một bản trường ca của rừng già”: “rầm rộ … màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”, “rừng già đã hun đúc … tự do và trong sáng”→ Từ ngữ tạo hình, gợi tả vẻ đẹp của sông Hương ở vùng thượng nguồn vừa hùng vĩ, man dại vừa trữ tình, say đắm lòng người- Nhà văn đã khéo léo so sánh sông Hương với “cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại”, nhân hóa sông Hương thành một thực thể sống động, có hồn- Hình ảnh so sánh độc đáo “Sông Hương như người mẹ phú sa của một vùng văn hóa xứ sở”b) Sông Hương ở ngoại vi thành phố- Sông Hương trước khi chảy vào thành phố thì “nằm giữa cánh đầu châu hóa đầy hoa dại”- Vẻ đẹp mơ màng của sông Hương được miêu tả rất rõ nét, có những đường cong mềm mại, quanh co uốn khúc quanh cố đô Huế- Tác giả dành một tình yêu lớn cho dòng sông. Tình yêu ấy khiến ông mơ màng nhận ra bóng dáng của dòng sông giống như tấm lụa trên có thể người thiếu nữc) Vẻ đẹp của sông Hương ở trung tâm thành phố- ¬Nét đẹp của dòng sông khi chảy vào thành phố có nét khác biệt so với khu chảy ở ngoại ô- Dòng sông trở nên vui tươi nhưng cũng rất êm dịu, như một điệu slow tình cảm của xứ Huế- Dòng sông như người con gái tinh tế đánh đàn trong đêm khuya2. Vẻ đẹp lịch sử và thơ ca của sông Hươnga) Dòng sông lịch sử- Tên của dòng sông được ghi trong cuốn “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi- Sông Hương là một nhân chứng lịch sử của xứ Huế, của đất nước:   + Là điểm tựa, bảo vệ biên cương thời Đại Việt   + Thế kỉ XVIII, vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân với tên tuổi người anh hùng Nguyễn Huệ   + Nó đọng lại đến bầm da, tím máu, “nó sống hết lịch sử bi tráng của thể kỉ XIX”   + Nó đi vào thời đại của cuộc cách mạng tháng Tám bằng những chiến công rung chuyển   + Nó chứng kiến cuộc tổng tiến công và nổi dậy màu xuân năm 1968b) Vẻ đẹp của sông Hương dưới góc độ văn hóa- Tác giả cho rằng đó là một dòng thi ca về sông hương, đó là một dòng sông không bao giờ lặp lại mình- Tác giả gắn sông Hương với âm nhạc cổ điển Huế3. Hình tượng cái tôi tác giả- Quan sát dòng sông trên nhiều góc đọ khác nhau, miêu tả dòng sông trên nhiều phương diện.- Là nhà văn có những liên tưởng, so sánh, độc đáo, lối viết tài hoa, uyên bác.- Là cái tôi nghệ sĩ có tình yêu tha thiết, say đắm với thiên nhiên Huế và đất nướcIII. Kết bài- Khái quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật   + Nội dung: với những trang viết mê đắm, tài hoa, bài kí cho chúng ta cảm nhận sâu sắc vẻ đpẹ của dòng sông Hương thơ mộng, trữ tình, cái nôi của nền văn hóa Huế   + Nghệ thuật: văn phong hướng nội, súc tích, hình ảnh giàu sức liên tưởng, ngôn ngữ phong phú, giàu chất thơ,…- Cảm nhận về văn bản: Qua tác phẩm ta cảm nhận được niềm tự hào và tình yêu tha thiết của tác giả với vẻ đẹp thiên nhiên xứ Huế nói riêng và đất nước nói chung</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956623520</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-20 09:43:28 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956623520</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dàn ý phân tích SóngI. Mở bài- Giới thiệu khái quát về nhà thơ Xuân Quỳnh (tiểu sử, phong cách thơ...)- Giới thiệu khát quát về bài thơ “Sóng” (hoàn cảnh ra đời, nội dung chính....)II. Thân bài1. Nhận thức về tình yêu qua hình tượng sóng- Thủ pháp đối lập: dữ dội – dịu em, ồn ào – lặng lẽ→ Các cung bậc, sắc thái khác nhau của sóng cũng giống như những cung bậc tình cảm phong phú, những trạng thái đối cực phức tạp, đầy nghịch lí của người phụ nữu khi yêu- Hình ảnh ẩn sụ, nhân hóa “Sông không hiểu nổi mình/Sóng tìm ra tận bể”: khát vọng vươn xa, thoát khỏi những gì chật chội, nhỏ hẹp, tầm thường→ Quan niệm mới về tình yêu: yêu là tự nhân thức, là vươn tới cái rộng lớn, cao xa- Phép so sánh, liên tưởng “Ôi con sóng ngày xưa ... Bồi hồi trong ngực trẻ”: Lời khẳng định khát vọng tình yêu cháy bỏng, mãnh liệt luôn luôn thường trực trong trái tim tuổi trẻ2. Những suy nghĩ, trăn trở về cội nguồn và quy luật của tình yêu- Sử dụng dày đặc các câu hơi tu từ “Từ nơi nào sóng lên?”, “Gió bắt đầu từ đâu?”: thể hiện mong muốn muốn tìm được cội nguồn của tình yêu, lí giải được tình yêu, khát khao hiểu được tình yêu, hiểu được bản thân mình và hiểu được người mình yêu- Câu trả lời “Em cũng không biết nữa”: Lời tự thú chân thành của người phụ nữ, đầy hồn nhiên, nữ tính. Tình yêu là bí ẩn, những trạng thái trong tình yêu luôn là những điều khó lí giải3. Nỗi nhớ, lòng thủy chung son sắt của người con gái khi yêu- Nỗi nhớ là tình cảm chủ đạo, luôn thường trực trong trái tim những người đang yêu   + Nỗi nhớ bao trùm cả không gian, thời gian: “dưới lòng sâu... trên mặt nước...”, “ngày đêm không ngủ được”→ Nỗi nhớ da diết, sâu đậm   + Tồn tại trong ý thức và đi vào cả tiềm thức: “Lòng em nhớ đến anh/Cả trong mơ còn thức”→ Cách nói cường điệu nhưng hết sức hợp nhằm tô đậm nỗi nhớ mãnh liệt của tác giả   + Nghệ thuật nhân hóa, hóa thân vào sóng để “em” tự bộc lộ nỗi nhớ da diết, cháy bỏng của mình- Lòng thủy chung, son sắt của người con gái trong tình yêu:   + “Em”: phương Bắc phương Nam – “Hướng về anh một phương”→ Lời thể thủy chung son sắt tuyệt đối   + “sóng” : ngoài đại dương → “Con nào chẳng tới bờ”→ quy luật tất yếu.   + Lòng thủy chung là sức mạnh để tình yêu vượt qua mọi khó khăn, thử thách để tới với bến bờ hạnh phúc⇒ Lời khẳng định cho cái tôi của một con người luôn vững tin ở tình yêu4. Khát vọng về tình yêu vĩnh cửu, bất diệt- Sự nhạy cảm và lo âu của tác giả về cuộc đời trước sự trôi chảy của thời gian “Cuộc đời tuy dài thế ... Mây vẫn bay về xa”- “Làm sao” gợi sự băn khoăn, khắc khoải, ước ao được hóa thành “trăm con sóng nhỏ” để muôn đời vỗ mãi vào bờ.- Khát khao của nguời phụ nữa được hòa mình vào cuộc đời, được sống trong “biển lớn tình yêu” với một tình yêu trường cửu, bất diệt với thời gianIII. Kết bài- Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ:   + Nội dung: bài thơ diễn tả tình yêu của người phụ nữ thiết tha, nồng nàn, chung thủy, muốn vượt lên thử thách của thời gian và sự hữu hạn của đời người. Từ đó cho thấy tình yêu là một thứ tình cảm cao đẹp, một hạnh phúc lớn lao của con người   + Nghệ thuật: hình ảnh sóng đôi sóng và em, thể thơ năm chữ, ngogn ngữu dung dị, trong sáng...- Cảm nhận về bài thơ: bài thơ cho chúng ta thấy rõ những cung bậc cảm xúc sâu lắng, thầm kín trong tình yêu. Đó là tiếng lòng, là nhịp chảy của những trái tim đang khao khát, rạo rực yêu thương.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956626014</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-20 09:45:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956626014</guid>
      </item>
      <item>
         <title> Bài tây tiến</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956832957</link>
         <description><![CDATA[<div>Đề phân tích khổ 1 bài Tây Tiến.&nbsp; &nbsp; Tìm hiểu đề : bài thơ đước sáng tác năm 1948 ở phù lưu chanh ,khi ông chuyển sang đơn vị khác, nhớ về đơn vị ông đã viết bài thơ.&nbsp; &nbsp; &nbsp;<br>&nbsp;1. MỞ BÀI&nbsp;<br>- Giới thiệu tác giả Quang Dũng và bài thơ Tây Tiến<br>- Dẫn dắt vào đoạn 1 của bài thơ: Đoạn đầu của bài Tây Tiến thể hiện một thời kháng chiến gian khổ, hào hùng của đoàn quân.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;2. THÂN BÀI&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 2.1 Ký ức về núi rừng Tây Bắc và đoàn quân Tây Tiến.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;- “Sông Mã”, “Tây Tiến” đều như trở thành những người thân thương ruột thịt mà Quang Dũng dành trọn tình cảm nhớ thương.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;- “Nhớ chơi vơi” là nỗi nhớ lạ lùng của những người lính từ phố thị.=&gt; Núi rừng Tây Bắc đã khắc vào tâm hồn của họ những kỷ niệm không bao giờ quên, đồng thời cũng là nỗi trống trải, lạc lõng trong lòng tác giả.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;2.2 Hình ảnh núi rừng Tây Bắc và con đường hành quân gian khổ của những người lính.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;- “Sài Khao”, “Mường Lát” là những địa danh gợi nhắc về địa bàn hoạt động của binh đoàn Tây Tiến, mở rộng sang các không gian khác trong bài thơ.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;- Nỗi nhớ ở đây dường như dàn trải khắp vùng không gian rộng lớn, mỗi một nơi bước chân tác giả đi qua, ông đều dành những tình cảm yêu thương đặc biệt, trở thành kỷ niệm khắc sâu trong lòng.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;- Những kỷ niệm nhỏ như sự “mỏi” sau chặng hành quân, ngọn đuốc hoa bập bùng trong đêm tối đều chứng minh nỗi nhớ lớn lao của tác giả.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;- Gợi sự hiểm trở của núi rừng Tây Bắc, sự vất vả và những nỗ lực kiên cường của người lính chiến khi hành quân.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;- “Súng ngửi trời” là hình ảnh nhân hóa thú vị, thể hiện tâm hồn lãng mạn, hồn nhiên và hài hước của người lính chiến trong gian khổ.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;- “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” là vẻ đẹp của sự sống, sự thi vị lãng mạn giữa núi rừng hoang vu, gợi sự bình yên, chốn dừng chân cho người lính.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;2.3 Hình ảnh người lính và kỷ niệm tình quân dân.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Hai câu thơ “Anh bạn… quên đời”: + Sự hy sinh cao cả của người lính chiến, tư thế hiên ngang, oai hùng sẵn sàng xả thân vì Tổ quốc.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;+ Niềm xót xa cùng với sự cảm phục tinh thần hy sinh của Quang Dũng dành cho đồng đội.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Bốn câu kết đoạn: “Chiều chiều… nếp xôi” + Vẻ oai linh, hùng vĩ của núi rừng Tây Bắc với kết cấu thơ tân kỳ, dùng động từ mạnh, thêm vào đó là sự nguy hiểm rình rập nơi rừng thiêng nước độc của ác thú.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; + Sự bừng tỉnh khỏi kỷ niệm của tác giả, quay về hiện thực với nỗi nhớ tha thiết, nồng nàn, nhớ tình quân dân ấm nồng với nắm xôi, hương lửa những ngày còn chiến đấu.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;3. KẾT Bài.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;3.1 Giá trị nội dung.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;- Đoạn thơ 14 câu tái hiện rõ nét thiên nhiên và con người Tây Bắc, trên nền thiên nhiên những người lính Tây Tiến hiện lên thật oai hùng, bi tráng.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 3.2 Giá trị nghệ thuật.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Nghệ thuật tương phản và cường điệu, cách sử dụng từ láy gợi hình, gợi cảm để khắc họa một bức tranh giàu màu sắc, đường nét.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Bút pháp hiện thực kết hợp với cảm hứng lãng mạn; chất họa kết hợp với chất nhạc =&gt; dựng lại con đường hành quân giữa núi rừng Tây Bắc hiểm trở, khắc nghiệt, hùng vĩ và thơ mộng.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;+ Nghệ thuật hài thanh: Tác giả sử dụng câu thơ nhiều thanh trắc tạo nên sự trắc trở.&nbsp; + Thơ mộng, trữ tình: với các từ ngữ độc đáo, ấn tượng: “hoa về” chứ không phải “hoa nở”; “đêm hơi” chứ không phải “đêm sương”.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-20 12:35:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956832957</guid>
      </item>
      <item>
         <title> Đất nước</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956834534</link>
         <description><![CDATA[<div>Có thể nói, “Đất Nước” của Nguyễn Khoa Điềm là một khúc ca – sự nhận thức về nguồn gốc sâu xa của nhà thơ về đất nước về trí tuệ, tâm hồn và ý chí của nhân dân.Để từ đó, nhà thơ khẳng định : Nhân dân chính là người – là chủ thể .làm nên đất nước.<br>Trước hết, câu thơ mở đầu đọan thơ “ Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân” chính là sự thể hiện cảm hứng chủ đạo bao trùm lên tòan đọan trích và cả Chương V của bản trường ca “Mặt đường khát vọng”. Đây chính là lời kết, là sự khái quát từ những gì đã được nhà thơ triển khai trên cả chiều dài của trang thơ và trong cả chiều sâu của dòng cảm hứng trữ tình- chính luận.<br>Nhân dân sáng tạo ra mọi giá trị văn hóa như ca dao, thần thoại.Như vậy cũng chính là đã sáng tạo ra đất nước. Để khẳng định điều này, Nguyễn Khoa Điềm đã lấy ý từ ba câu ca dao có nội dung sâu sắc để nói về ba phương diện quan trọng nhất của truyền thống nhân dân :<br>“Dạy anh biết “yêu em từ thuở trong nôi”<br>Biết quý công cầnm vàng những ngày lặn lội<br>Biết trồng tre đợi ngày thành gậy<br>Đi trả thù mà không sợ dài lâu”.<br>.Đó là vẻ đẹp giàu lòng yêu thương ân tình của người Việt đã bắt nguồn từ thời xa xưa với những lời dân ca ngọt ngào “Yêu em từ thuở trong nôi,<br>Em nằm em khóc, anh ngồi anh ru”<br>Và đó là vẻ đẹp của lối sống đậm nghĩa, vẹn tình, quý trọng tình nghĩa hơn cả vật chất ngàn vàng.Ở đây, ý thơ của nhà thơ được gợi lên từ chính những câu ca dao một thời đi vào đời sống tâm hồn của dân tộc :<br>“ Cầm vàng mà lội qua sông<br>Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng”<br>Và đó còn là sự thể hiện của truyền thống kiên cường, bất khuất của trong quá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta.Vẻ đẹp của truyền thống anh hùng ấy cũng được làm nên từ những câu ca dao từng ca ngợi tinh thần quật khởi của dân tộc :<br>“ Thù này ắt hẳn còn lâu<br>Trồng tre nên gậy , gặp đâu đánh què”<br>Từ đó có thể khẳng định: nhân dân đã làm ra văn hóa, làm ra đất nước bằng chính tinh cách, lẽ sống tâm hồn mình.<br>Có thể nói, tuổi trẻ thế hệ Nguyễn Khoa Điềm đã nhận thức được một cách sâu sắc Nhân dân là người làm nên lịch sử, làm ra văn hóa đất nước bằng tất cả tình cảm trân trọng và yêu thương . Suy tư và nhận thức này của nhà thơ là tư tưởng nghệ thuật đã trở thành truyền thống trong văn học Việt Nam.Từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu …đã từng nói lên nhận thức về vai trò của nhân dân trong lịch sử.Đến các nhà thơ, nhà văn trong thời kì kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ , nhận thức ấy đã được nâng lên thành một tư tưởng có</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-20 12:36:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956834534</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956836538</link>
         <description><![CDATA[<div>Phân tích 2 khổ cuối bài sóng<br>Luận điểm 1: Nỗi lo âu của tác giả trước sự hữu hạn của thời gian, của cuộc đời và nhất là tình yêu<br>Xuân Quỳnh được nhiều độc giả yêu mến không chỉ bởi sự đa tài mà còn bởi những vần thơ chân thành, giàu tình cảm và cũng rất đằm thắm như cách mà nữ thi sĩ yêu. Bởi vậy, chỉ có sóng mới là hình ảnh phù hợp nhất để tác giả thể hiện tình yêu nồng nhiệt của những người trẻ tuổi. Hai khổ thơ cuối là tiêu biểu cho tinh thần này.<br><br>Dường như mọi thứ đều trở nên hợp lý khi người ta chìm đắm vào tình yêu. Và chẳng mấy ai khi đang yêu nồng cháy lại không mơ mộng về những ngày tháng tươi đẹp, về hạnh phúc phía trước. Xuân Quỳnh có lẽ cũng không ngoại lệ. Thế nhưng, dù khi yêu là chất ngất, là dâng trọn trái tim, Xuân Quỳnh cũng đồng thời tin rằng, những người yêu nhau sẽ có được hạnh phúc nếu biết kiên nhẫn, bởi sức mạnh của mỗi người trong đó có sức mạnh tình yêu được tạo nên bởi ý chí riêng của con người.&nbsp;<br><br>&nbsp;“Cuộc đời tuy dài thế<br><br>Năm tháng vẫn đi qua<br><br>Như biển kia dẫu rộng<br><br>Mây vẫn bay về xa”<br><br>Phân tích 2 khổ cuối bài sóng ta thấy tác giả đang muốn nhấn mạnh rằng, tình yêu lãng mạn lắm và những kẻ đang yêu cũng lắm điều mơ mộng, nhưng dù mơ mộng đến đâu cũng phải nhìn vào thực tế. Con người ta khi yêu thường không còn đủ lý trí, nhưng tình yêu chỉ đẹp, chỉ có ý nghĩa khi nó gắn liền với những lý lẽ, những quy luật của cuộc đời. Những lý lẽ, quy luật ấy hẳn rằng có nhiều nỗi trái ngang, nhiều trở ngại. Điều này đòi hỏi sự chân thành và gắn bó giữa hai người để vượt qua khó khăn và vun đắp tình yêu vững bền, tình yêu mà tất cả những ai đang yêu, được yêu và muốn đều hướng tới.<br><br>Cuộc đời con người vô thường, dài ngắn cũng không biết đong đếm ra sao. Nhưng dù dài bao nhiêu, năm tháng vẫn trôi qua mà không chờ đợi ai. Và biển rộng cũng là thách thức, khó khăn trước mắt của tình yêu. Biển rộng được sử dụng đối sánh với từ dài của cuộc đời. Nhưng dài, rộng thế, nhưng mây vẫn cứ trôi, vạn vật cũng vẫn sinh tồn và cứ tin đi, tình yêu đôi ta đủ chân thành, thắm thiết rồi sẽ bền mãi với thời gian.<br><br>Luận điểm 2: Ước vọng của nhà thơ về một tình yêu bất tử vĩnh hằng<br>Đứng trước biển, những cảm thấu về tình yêu trỗi dậy, và những con sóng với Xuân Quỳnh như là tình yêu “bồi hồi trong ngực trẻ”. Bởi bồi hồi mà bà khát khao yêu, để rồi mong ước mãnh liệt:<br><br>&nbsp;“Làm sao được tan ra<br><br>Thành trăm con sóng nhỏ<br><br>Giữa biển lớn tình yêu<br><br>Để ngàn năm còn vỗ”<br><br>Cái câu hỏi “làm sao” ấy là lời tác giả tự hỏi cho mình, cũng là hỏi cho biết bao những kẻ đang yêu. Nhưng cũng như nhiều câu hỏi khác trong tình yêu, thật khó để có một câu trả lời cụ thể. Ước muốn được “tan ra” ấy chính là biểu hiện của tình yêu to lớn không thể đong đếm được. Xuân Quỳnh ước được biến thành “trăm ngàn con sóng nhỏ” để được hòa mình vào bể đời rộng lớn, được thoát khỏi những lo ấy, những băn khoăn mà toàn tâm toàn ý tan cùng tình yêu tuổi trẻ mãnh liệt, ngọt ngào và hạnh phúc. Tình yêu chẳng ai biết trước mai sau, nhưng hôm nay khi yêu hãy yêu như chưa từng được sống. Có lẽ những người đang yêu cũng mang khát vọng như Xuân Quỳnh, là được chia sẻ, được tha thiết nói về tình yêu của mình với mọi người, để hòa vào với “biển lớn tình yêu”. Như thế, tình yêu sẽ còn tồn tại đến ngàn năm sau.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-20 12:38:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1956836538</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phân tích bài Người lái đò sông Đà</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1957755893</link>
         <description><![CDATA[<div>Mở bài<br>Khi lòng ta đã hóa những con tàu<br>Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát<br>Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu.<br><br>(Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên)<br><br>Hoàn cảnh lịch sử diễn ra đó là khi cả nước rộn ràng lên đường theo tiếng gọi của “tâm hồn Tây Bắc” để có thể xây dựng lại một miền quê của Tổ quốc. Lúc bấy giờ có biết bao nhà văn, nhà thơ lúc này đây dường như cũng đã thực hiện quá trình lột xác để đến với cách mạng. Trong đó không thể không nhắc đến người nghệ sĩ yêu nước Nguyễn Tuân được ví như một cây độc huyền cầm của nền văn học Việt Nam. Nhà văn Nguyễn Tuân đã sáng tác ra tác phẩm “Người lái đò sông Đà” để có thể thể hiện được rõ nét và vô cùng sâu sắc phong cách nghệ thuật độc đáo của ông.<br>THân bài<br>Có thể nói khi đến với nghệ thuật, thì chính đối với Nguyễn Tuân là đến với sự tìm tòi và sáng tạo, bởi vì chính nhà văn là người sáng tạo lại thế giới. Tác giả Nguyễn Tuân sợ mình của ngày hôm nay dường như cũng giống với mình của ngày hôm qua, ông như sợ sự trùng lặp tầm thường. Cho nên ông đã lấy “chủ nghĩa” xê dịch “làm đề tài cho tác phẩm, phải đi thì mới có thể viết lên các tác phẩm có giá trị được.<br><br>Hình ảnh con sông Đà cũng được nhiều nhà văn, nhà thơ khắc họa, nhưng phải đến với Nguyễn Tuân thì con sông Đà mới hiện ra chân thực và vô cùng cảm động. Với ngòi bút Nguyễn Tuân, con sông Đà hiện lên vừa hung bạo nhưng cũng vừa trữ tình biết bao nhiêu. Con sông Đà như còn mang tâm địa xảo quyệt của thứ kẻ thù số một, tất cả như cũng có thể cướp đi mạng sống của bất cứ kẻ nào lỡ sa chân vào “thạch trận”…” không dừng lại ở đó thì nước sông Đà reo như đun sôi lên một trăm độ…đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông”. Nguyễn Tuân còn miêu tả có khi thấy chiếc thuyền nào nhô vào thì chúng “nhổm cả dậy để vồ lấy”… Thế nhưng chính cái hung hãn dữ tợn ấy vẫn không làm mất đi được nét trữ tình ở sông Đà. Nhà văn còn miêu tả nổi bật lên được hình ảnh con sông ở những đoạn xuôi dòng, không những thế thì ngòi bút Nguyễn Tuân bỗng trở nên mềm mại, thật uyển chuyển, mang đậm chất thơ với đoạn miêu tả: “Con sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn khói núi Mèo đốt nương xuân”…<br><br>Chính trên con sông ấy, hình ảnh ông lái đò xuất hiện, dữ dội và phi thường. Khi đứng trong một cuộc chiến đấu “một mất, một còn” với những cái thác nước, tác giả Nguyễn Tuân lúc này cũng đã cho ta thấy được cái tài hoa, sự trí dũng tuyệt vời của ông lái đò. Hình ảnh của người lái đò sông Đà cũng chính là một hiện thân của tác giả, ông như cũng chỉ thích lao vào những cuộc chiến đấu nguy hiểm với thác nước dữ dội mà dường như cũng không ưa xuôi thuyền trên dòng sông êm ả…<br><br>Sử dụng giọng văn thật tự nhiên và phóng túng khi miêu tả hai trạng thái đối lập của cùng một sự vật là một thành công của Nguyễn Tuân. Hình ảnh con sông Đà vừa trữ tình vừa hung bạo, đồng thời con sông Đà cũng chính là một kẻ thù nhưng lại là một cố nhân. Chính dưới ngòi bút tác giả, con sông không chết cứng mà vận động một cách mạnh mẽ, thêm với đó có một sự sôi nổi bằng những từ ngữ gợi hình ảnh, tất cả như đã tác động mạnh vào giác quan người đọc. Hình ảnh của ông lái đò cũng thế cũng xuất hiện một cách sinh động, thể hiện một sự rõ nét và sắc sảo… Đối với nhà văn Nguyễn Tuân thì “đã là văn thì trước hết phải là văn”. Đầu tiên đã là văn phải đẹp, phải trau chuốt. Và đối với cái đẹp ấy đã chi phối cách nhìn của tác giả Nguyễn Tuân như đứng trên toàn bộ tác phẩm. Hình ảnh con người và sự vật lúc này đây cũng lại thông qua ngòi bút Nguyễn Tuân, đều được khai thác trên phương tiện mĩ thuật và tài hoa nghệ sĩ biết bao nhiêu.<br><br>Qua bài tùy bút thì nét đẹp sông Đà được đánh giá chính là một công trình dày công sáng tạo của tạo hóa. Con sông Đà như cũng vừa hùng vĩ vừa nên thơ. Nó đẹp từ dáng dấp đến màu sắc, với những câu văn miêu tả dòng nước, tốc độ chảy của con sông Đà mới đẹp làm sao. Đó cũng chính là nguồn cảm hứng của bao nhiêu văn, nghệ sĩ. Nước của con sông Đà khi đến mùa xuân dòng xanh ngọc bích, còn với mùa thu thì nước sông Đà dường như cứ lừ lừ chín đỏ giống như da mặt người bầm đi vì rượu bữa”. Hình ảnh con sông ấy đối với tác giả không chỉ đơn thuần là một cảnh đẹp thiên nhiên mà nó cũng thật gợi cảm. Con sông Đà như cũng đã gây nên nỗi nhớ da diết cho những ai đã từng một lần gặp gỡ rồi lại đi xa. Khi gặp lại sông Đà, tác giả Nguyễn Tuân như cũng cảm thấy tâm hồn lâng lâng vui sướng như gặp lại cố nhân mà phải thốt lên: “Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng”.<br><br>Cũng chính trong cái đẹp đẽ, một cái đẹp như thật thơ mộng của đất trời thiên nhiên, hình ảnh con người xuất hiện như một nghệ sĩ tài hoa. Ông lái đò sông Đà điêu luyện điều khiển con thuyền một cách chủ động và thuần thục nhất giống như một người nghệ sĩ. Hình ảnh ông lái đò bao giờ cũng đứng trên thác sóng dữ dội mà bắt chúng phải quy hàng. Với đoạn văn miêu tả cảnh ông lái đò vượt thác thật đẹp: “Nắm chặt lấy được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chèo về phía cửa đá ấy”. Nhà văn Nguyễn Tuân miêu tả hình ảnh ông lái điều khiển chiếc thuyền cứ như một nhạc sĩ đang kéo đàn violon thật hay, thật nhịp nhàng không chệch một nốt.<br><br>Có thể nói tác phẩm “Người lái đò sông Đà” là một bước chuyển lớn trong phong cách Nguyễn Tuân. Ở trước cách mạng, nhà văn Nguyễn Tuân lúc đó cũng thường đi tìm đề tài cho tác phẩm bằng cách quay về với quá khứ. Nguyễn Tuân luôn viết, tìm hiểu với một thời vang bóng đã qua. Người đọc có thể dễ dàng nhận thấy được nhân vật của Nguyễn Tuân là những Huấn Cao, nhân vật quản ngục mang tâm trạng của kẻ có phí phách “nào biết trên đầu có ai”. Tất cả các nhân vật “vang bóng một thời” là những vị anh hùng ngang dọc, họ đều khinh bạc đến điều. Thế nhưng sau cách mạng thì nhà văn Nguyễn Tuân đã tìm thấy chất tài hoa nghệ sĩ ở những con người lao động hết sức bình dị, gần gũi nhất ở ngay chính trong các công việc bình thường mà họ đang làm.<br><br>Với tác phẩm “Người lái đò sông Đà” thì người lái xuất hiện trước mắt chúng ta như những người nghệ sĩ tài hoa có một trí dũng song toàn. Nguyễn Tuân cũng đã miêu tả hình ảnh người đời thường lái đò, Thêm với đó là Nguyễn Tuân đã thể hiện tấm lòng trân trọng, sự cảm phục những con người góp phần vào công cuộc xây dựng Tổ quốc. Chính trong việc tái hiện lại hình ảnh sông núi Tây Bắc và thêm với đó là hình ảnh của người lái đò, tác giả Nguyễn Tuân đã kết hợp nhiều phương tiện của nhiều ngành nghệ thuật khác nhau trong tác phẩm của chính mình như: hội họa, điêu khắc, điện ảnh, âm nhạc… Tất cả mọi vật, mọi sự như hiện ra trước mắt ta sừng sững và sinh động biết bao nhiêu. Miêu tả đoạn “Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xóa cả một chân trời đá”. Con sông Đà còn có âm thanh sóng vỗ vào đá, vào mạn thuyền thế rồi những con sóng dậy lên thành thác núi. Đọc tác phẩm độc giả giống như đang tận mắt chứng kiến cuộc vật lộn giữa ông lái với thác nước, đồng thời cũng lại chứng kiến từng đoạn sông dữ tợn, lởm chởm những đá ngầm, đá nổi và cả những đoạn sông êm ả, trữ tình biết bao nhiêu.<br><br>Chẳng phải ngẫu nhiên mà người ta lại coi Nguyễn Tuân từng được mệnh danh là nhà văn của sự tài hoa và uyên bác. Vì vốn cũng như nguồn tri thức khổng lồ của ông về lịch sử, khoa học, địa lí, sinh học… thật lớn. Tất cả các kiến thức này cũng thường được tuôn trào dào dạt trong tác phẩm của ông. Thể hiện rất rõ trong tùy bút “Người lái đò sông Đà” thì Nguyễn Tuân cũng đã đưa ta đến với một miền quê hương Tổ quốc. Vị trí sông Đà, rồi lịch sử sông Đà đã được Nguyễn Tuân giới thiệu bằng những trang viết đầy tính uyên bác, tài hoa.<br><br>Nói riêng về khả năng diễn đạt và vốn ngôn ngữ của tác giả Nguyễn Tuân thật phong phú. Cứ mỗi từ ngữ khi đưa vào câu văn dường như đã được chắt lọc, gọt giũa cẩn thận. Nguyễn Tuân như cũng đã khéo sáng tạo nên nhiều từ ngữ mới lạ, độc đáo. Giọng văn của Nguyễn Tuân đôi khi có vẻ thô kệch, nó dường như cũng đã dàn trải nhưng lại hết sức cô đúc và tự nhiên. Tác giả không chỉ viết lên những trang văn tài hoa mà còn khiến cho người đọc cảm nhận được âm hưởng trong mỗi đoạn văn.<br>Kết bài<br>Tác giả đã viết về người lái đò sông Đà, cũng như viết về một vùng quê hương Tổ quốc thì nhà văn Nguyễn Tuân đã thể hiện nguồn xúc cảm yêu thương tha thiết đối với người lao động và thêm với đó là tình yêu thiên nhiên đất nước. Thực sự chính văn chương của ông đã mang đến cho chúng ta một vẻ đẹp tri thức tài hoa, uyên bác.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-20 22:27:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1957755893</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1958819165</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1445109843/0d7c68e645346fd84f1756ca6a0c69b2/66ECA06B_6104_46C4_9232_D3F8BAD47829.jpeg" />
         <pubDate>2021-12-21 13:46:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1958819165</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1958820080</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1445109843/c8279b9cc84bde4553b0177618add7e6/E9772AD8_CD3D_484E_8FE5_AAC89CE26346.jpeg" />
         <pubDate>2021-12-21 13:47:20 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1958820080</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1958820883</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1445109843/b29e90f4cac5732f1e8333a4eee41011/21082BB2_3451_47FB_AFE5_125D7F5C0F68.jpeg" />
         <pubDate>2021-12-21 13:47:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1958820883</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1958821812</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1445109843/36914cf311e48794a5b8904e4d1f56f0/A4B6B1E6_A856_4986_A7FE_03E151A918EF.jpeg" />
         <pubDate>2021-12-21 13:48:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1958821812</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dàn ý phân tích bài thơ Việt Bắc(đề 1)I. Mở bài- Giới thiệu khái quát về tác giả Tố Hữu: là một nhà thơ lớn, một nhà thơ trữ tình chính trị, thơ ông luôn phản ánh những chặng đường đấu tranh gian khổ song cũng nhiều thắng lợi của dân tộc. - Giới thiệu bài thơ Việt Bắc: hoàn cảnh sáng tác, nội dung chính của bài thơ.II. Thân bài1. Ý nghĩa nhan đề- Việt Bắc là một địa danh – là cái nôi của cách mạng Việt Nam tiền khởi nghĩa, là cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến chống Pháp.- Việt Bắc là nơi lưu giữ nhiều kỉ niệm giữa cán bộ cách mạng và đồng bào nơi đây.2. Lời của người ở lại (20 câu thơ đầu)- Tám câu thơ đầu là tâm trạng lưu luyến bịn rịn trong buổi chia tay:+ Bốn câu trên, sử dụng điệp cấu trúc “mình về mình co nhớ” là lời ướm hỏi, khơi gợi lại những kỉ niệm về “mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”, về thiên nhiên Việt Bắc nghĩa tình.+ Cách xưng hô “mình - ta” như lời tâm tình của đôi lứa yêu nhau khiến cuộc chia tay trở nên thân mật, giản dị. Cách xưng hô còn gợi nhớ đến những câu đối đáp trong điệu hát giao duyên khiến những câu thơ nói về cách mạng không khô khan mà trở nên đằm thắm, sâu lắng.+ Bốn câu thơ tiếp là nỗi lòng lưu luyến của cả người ở lại và ra đi thể hiện qua những từ ngữ diễn tả tâm trạng trực tiếp: “da diết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn”; không khí buổi chia tay thân tình, gần gũi: “áo chàm”, “cầm tay nhau”.- Mười hai câu tiếp theo, với việc sử dụng điệp từ “nhớ”, là lời nhắn nhủ dưới hình thức câu hỏi:+ Nhớ đến thiên nhiên, núi rừng Việt Bắc trong những ngày kháng chiến: mưa nguồn, suối lũ, mây mù, trám bùi, măng mai.+ Nhớ đến những ân tình trong khó khăn gian khổ: “miếng cơm chấm muối” nhưng vẫn “đậm đà lòng son”.+ Nhớ đến quang thời gian hoạt động cách mạng: kháng Nhật, Việt Minh, Tân Trào, Hồng Thái, ...+ Đại từ xưng hô “mình” thể hiện sự gắn bó, thân thiết giữa kẻ ở, người đi. Nó giống như cách xưng hô tâm tình, thủ thỉ chân thành.3. Lời của người ra điADVERTISINGX- Bốn câu thơ tiếp khẳng định nghĩa tình thủy chung, mặn mà, “ta với mình, mình với ta”: thể hiện sự gắn bó, thấu hiểu nhau giữ người đi, kẻ ở.- Người đi bày tỏ nỗi nhớ đến thiên nhiên Việt Bắc: “Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương”, “bản khói cùng sương”, “rừng nứa bờ tre”,... thiên nhiên Việt Bắc qua bốn mùa xuân, hạ, thu, đông.- Nhớ đến con người Việt Bắc:+ Những con người dù gian khó, vất vả những vẫn có tâm lòng thủy chung, cùng chia sẻ mọi “đắng cay ngọt bùi” trong kháng chiến: “chia củ sắn lùi”, “bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng”. + Nhớ đến những kỉ niệm ấm áp giữa bộ đội và đồng bào Việt Bắc: “lớp họ i tờ”, “giờ liên hoan”, “ca vang núi đèo”.+ Nhớ hình ảnh những con người mang vẻ đẹp mộc mạc, giản dị của người lao động: “người mẹ”, “cô em gái”.- Nhớ hình ảnh quân dân Việt Bắc đoàn kết đánh giặc: “ta cùng đánh Tây”, “cả chiến khu một lòng”; khí thế hào hùng của quân dân ta trong các trận đánh: “rầm rập như là đất rung”, “quân đi điệp điệp trùng trùng”, “dân công đỏ đuốc từng đoàn”, ...- Nhớ những chiến công, những niềm vui thắng trận: “tin vui thắng trận trăm miền ... núi Hồng”- Nhận xét: nhịp thơ dồn dập như âm hưởng bước hành quân, hình ảnh kì vĩ... tất cả tạo nên một bức tranh sử thi hoành tráng để ca ngợi sức mạnh của nhân dân anh hùng.4. Niềm tự hào, niềm tin gửi gắm Việt Bắc Cách mạng (16 câu thơ cuối)- Nhớ hình ảnh tươi sáng nơi nguồn cội của cuộc cách mạng: ngọn cờ đỏ thắm, rực rỡ sao vàng, có trung ương Đảng, có chính phủ và có Bác Hồ.- Đoạn thơ thể hiện niềm tin vào sức mạnh, khả năng lãnh đạo của Đảng trong các cuộc cách mạng, niềm tự hào vào những chiến công Việt Bắc.III. Kết bài- Khái quát giá trị nghệ thuật: sử dụng thể dân tộc: thể thơ lục bát để nói về tình cảm cách mạng, lối đối đáp, sử dụng đại từ xưng hô linh hoạt (mình – ta), ngôn từ mộc mạc, giàu sức gợi…- Khái quát giá trị nội dung: Bài thơ là bản anh hùng ca về cuộc kháng chiến, là bản tìnhca về nghĩa tình cách mạng và khángchiến.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1958907518</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-21 14:27:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1958907518</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dàn ý phân tích Đất nước(đề 2)a. Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm:Nguyễn Khoa Điềm thuộc lớp nhà thơ lớn lên trong những ngày hòa bình và trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, tiêu biểu cho thế hệ thơ trẻ những năm chống Mĩ.Bài thơ Đất nước trích trong trường ca Mặt đường khát vọng, là một bài thơ có chất triết lí sâu sắc, thể hiện tư tưởng “Đất nước của nhân dân”, thức tỉnh thanh niên, tuổi trẻ thành thị miền Nam xuống đường đấu tranh. b. Thân bài phân tích Đất nước* Luận điểm 1: Cảm nhận của tác giả về đất nước từ nhiều phương diện- Lí giải cội nguồn của đất nước (phương diện lịch sử, văn hoá dân tộc)“Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi” -&gt; Đất nước đã có từ lâu đời“ngày xửa ngày xưa” -&gt; gợi nhớ đến câu mở đầu các câu chuyện dân gian“miếng trầu” -&gt; tục ăn trầu của người Việt và truyện cổ tích trầu cau“Tóc mẹ thì bới sau đầu” -&gt; thói quen búi tóc của những người phụ nữ Việt Nam=&gt; Đất nước gắn liền với truyền thống văn hoá, quá trình hình thành phong tục tập quán.“Thương nhau bằng gừng cay muối mặn” -&gt; thói quen tâm lí, truyền thống yêu thương của dân tộc.“cái kèo cái cột thành tên”, “một nắng hai sương” -&gt; Đất nước trưởng thành cùng quá trình lao động sản xuất.=&gt; Đất nước bắt nguồn từ những điều bình dị, gần gũi trong đời sống của người Việt Nam từ xa xưa mà không hề xa xôi, trừu tượng. - Cảm nhận về đất nước qua phương diện không gian và thời gian+ Về không gian địa lí:&quot;Đất / nước&quot; : hai yếu tố được tách riêng để suy tư một cách sâu sắc“nơi anh đến trường”, “nơi em tắm”, “nơi em đánh rơi... thương thầm” : là nơi sinh sống của mỗi người (sinh ra, lớn lên, đi học, trưởng thành và những những rung động đầu đời,...)“nơi con chim phượng hoàng”, “nơi con cá ngư ông móng nước biển khơi” : Là núi, sông, rừng, biển&quot;là nơi dân mình đoàn tụ...&quot; : là không gian sinh tồn của cộng đồng dân tộc qua bao thế hệ ()+ Về thời gian:Dài “đằng đẵng” từ xa xưa, gắn liền với truyền thuyết các dân tộc anh em cùng chung con Rồng, cháu Lạc và truyền thuyết dựng nước của vua Hùng cùng ngày giỗ Tổ.Trong hiện tại: đất nước có trong tấm lòng mỗi con người, mỗi người đều thừa hưởng những giá trị của đất nước, khi có sự gắn kết giữa mỗi người đất nước sẽ nồng thắm, hài hòa, lớn lao.Đó là sự gắn kết giữa cái riêng và cái chung.Trong tương lai: thế hệ trẻ sẽ “mang đất nước đi xa”, “đến những ngày mơ mộng”, đất nước sẽ trường tồn, bền vững.=&gt; Đất nước được cảm nhận suốt chiều dài thời gian lịch sử từ quá khứ đến hiện tại và tương lai. * Luận điểm 2: Tư tưởng cốt lõi Đất nước của Nhân dân.- Thiên nhiên địa lí của đất nước không chỉ là sản phẩm của tạo hóa mà được hình thành từ phẩm chất và số phận của mỗi người, là một phần máu thịt, tâm hồn con người:Nhờ tình nghĩa yêu thương, thủy chung mà có “hòn Vọng Phu”, “hòn Trống Mái”Nhờ tinh thần bất khuất, anh hùng trong quá trình dựng nước và giữ nước mà có những ao đầm, di tích lịch sử về quá trình dựng nước.Nhờ truyền thống hiếu học mà có những “núi Bút non Nghiên”- Nhân dân làm nên lịch sử 4000 năm:Họ là những người con trai, con gái bình dị nhưng luôn thường trực tình yêu nước.Tác giả nhấn mạnh đến những con người vô danh làm nên lịch sử, khẳng định vai trò của mỗi cá nhân với lịch sử dân tộc.- Nhân dân tạo ra và giữ gìn những giá trị vật chất, tinh thần cho đất nước: văn hóa “truyền hạt lúa”, “truyền lửa”, “truyền giọng nói”, “gánh theo tên xã, tên làng”,... từ đó xây dựng nền móng phát triển đất nước lâu bền.- Tư tưởng cốt lõi, cảm hứng bao trùm cả đoạn trích: “đất nước này là đất nước của nhân dân đất nước của ca dao thần thoại”, đất nước ấy thể hiện qua tâm hồn con người: biết yêu thương, biết quý trọng trọng tình nghĩa, công sức và biết chiến đấu vì đất nước.c. Kết bài phân tích Đất nước- Khái quát giá trị nội dung bài thơ: Đất nước được cảm nhận ở nhiều phương diện, cái nhìn mới mẻ về đất nước với tư tưởng cốt lõi là tư tưởng đất nước của nhân dân. Đồng thời cũng nêu lên trách nhiệm của các thế hệ, đặc biệt là thế hệ trẻ với đất nước mình. - Đặc sắc nghệ thuật:Sử dụng các chất liệu của văn hoá dân gian đa dạng, sáng tạoNgôn ngữ giàu chất suy tư, triết luận sâu sắcThể thơ tự do hiện đại linh hoạtGiọng thơ trữ tình - chính luận sâu lắng, thiết tha.- Nêu cảm nhận của em về bài thơ- Liên hệ trách nhiệm của thế hệ trẻ ngày nay với đất nước.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1958911716</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-21 14:29:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1958911716</guid>
      </item>
      <item>
         <title>dàn ý bài sóng của xuân quỳnhI. Mở bài- Giới thiệu tác giả: Xuân Quỳnh là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ thời kì chống Mĩ cứu nước. Chị là thi sĩ của tình thương, lòng trắc ẩn và hồn thơ nữ tính.- Giới thiệu bài thơ Sóng: Bài thơ được sáng tác năm 1967, in trong tập “Hoa dọc chiến hào”, là bài thơ viết về tình yêu tiêu biểu cho hồn thơ giàu chất nữ tính của Xuân Quỳnh.II. Thân bài1. Nhận thức về tình yêu qua hình tượng sóng - Khổ 1:Sử dụng nghệ thuật tương phản: “dữ dội - dịu êm”, “ồn ào - lặng lẽ”, từ đó khái quát trạng thái đối lập của sóng, gợi liên tưởng đến tâm lý của người phụ nữ khi yêu (khi mãnh liệt khi lại dịu dàng).Nghệ thuật nhân hóa: “sông không hiểu” được mình, nên “sóng” muốn tìm đến không gian rộng lớn, hành trình của sóng là hành trình khám phá chính bản thân mình, khát khao vươn tới giá trị tuyệt đích trong tình yêu của người phụ nữ.- Khổ 2:“Ôi con sóng... và ngày sau vẫn thế”: Dù trong quá khứ hay hiện tại sóng luôn dạt dào, sôi nổi, luôn khát vọng. Đó cũng là khát vọng và bản tính của người phụ nữ muôn đời.“Nỗi khát vọng tình yêu... ngực trẻ”: Liên hệ tình yêu của tuổi trẻ với con sóng của đại dương, khát vọng tình yêu là khát vọng đặc trưng muôn đời của tuổi trẻ.2. Suy nghĩ nguồn gốc của tình yêu- Khổ 3: Điệp ngữ “em nghĩ về” và câu hỏi: “Từ nơi nào sóng lên” nhấn mạnh niềm khát khao nhận thức bản thân, người mình yêu và nhận thức về tình yêu muôn đời.- Khổ 4: Xuân Quỳnh dựa vào quy luật tự nhiên để tìm khởi nguồn của sóng, của tình yêu, gợi lên sự trăn trở trước bí ẩn của tình yêu, thời điểm bắt đầu tình tình yêu.3. Nỗi nhớ, lòng thủy chung của người con gái trong tình yêu - Khổ 5:Nghệ thuật tương phản để gợi ra những phạm vi không gian khác nhau “dưới lòng sâu”, “trên mặt nước”, phạm vi thời gian khác nhau: “ngày” - “đêm”, nghệ thuật nhân hóa: “ngày đêm không ngủ được”, diễn tả nỗi nhớ dạt dào, triền miên của sóng với bờ cũng là nỗi nhớ của người phụ nữ khi yêu.Người phụ nữ bày tỏ nỗi nhớ một cách trực tiếp, mạnh dạn, chân thành “Lòng em nhớ đến anh”, cách nói thậm xưng “Cả trong mơ còn thức” thể hiện nỗi nhớ ăn sâu vào tiềm thức, thường trực trong suy nghĩ.- Khổ 6:Nghệ thuật tương phản “xuôi - ngược”, điệp ngữ “dẫu”, “vẫn”, “về” gợi hành trình của sóng ngoài biển lớn cũng như hành trình tình yêu của người phụ nữ giữa cuộc đời.Lời thề thủy chung của người phụ nữ, niềm tin chờ đợi trong tình yêu, dù ở đâu cũng “hướng về anh một phương”, nghĩ về người mình yêu bằng cả trái tim.4. Khát vọng tình yêu vĩnh cửu- Khổ 7: Khẳng định quy luật vĩnh cửu của thiên nhiên “Con nào chẳng tới bờ/Dù muôn vời cách trở”, cũng giống như “em”, dù khó khăn, thử thách vẫn luôn hướng đến “anh”.- Khổ 8:“Cuộc đời tuy dài thế/Năm tháng vẫn đi qua”: Cảm giác cô đơn nhỏ bé trước cuộc đời, nỗi lo âu về sự hữu hạn của tình yêu trước thời gian vô tận.“Như biển kia dẫu rộng/Mây vẫn bay về xa”: Cảm giác bất an trước cái dễ đổi thay của lòng người giữa “muôn vời cách trở”. Nhưng đây còn là vượt lên sự lo âu phấp phỏng đặt niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của tình yêu như mây có thể vượt qua biển rộng.- Khổ 9:“Làm sao” gọi sự băn khoăn, khắc khoải, ước ao được hóa thành “trăm con sóng nhỏ” để muôn đời vỗ mãi vào bờ.Đó là khát khao của người phụ nữ được sống trong “biển lớn tình yêu” bằng tình yêu và cùng tình yêu, khát khao hòa nhập tình yêu riêng tư trong tình yêu chung rộng lớn. III. Kết bàiKhái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ.Cảm nhận chung về bài thơ Sóng.Mẫu 2I. Mở bàiGiới thiệu khái quát về nhà thơ Xuân Quỳnh (tiểu sử, phong cách thơ...)Giới thiệu khái quát về bài thơ “Sóng” (hoàn cảnh ra đời, nội dung chính....)II. Thân bài1. Nhận thức về tình yêu qua hình tượng sóng- Thủ pháp đối lập “dữ dội - dịu êm”, “ồn ào - lặng lẽ”: cho thấy các cung bậc, sắc thái khác nhau của sóng cũng giống như những cung bậc tình cảm phong phú, những trạng thái đối cực phức tạp, đầy nghịch lý của người phụ nữ khi yêu.- Hình ảnh ẩn dụ, nhân hóa “Sông không hiểu nổi mình/Sóng tìm ra tận bể”: Khát vọng vươn xa, thoát khỏi những gì chật chội, nhỏ hẹp, tầm thường.- Phép so sánh, liên tưởng “Ôi con sóng ngày xưa ... Bồi hồi trong ngực trẻ”: Lời khẳng định khát vọng tình yêu cháy bỏng, mãnh liệt luôn luôn thường trực trong trái tim tuổi trẻ2. Những suy nghĩ, trăn trở về cội nguồn và quy luật của tình yêu- Sử dụng các câu hỏi tu từ “Từ nơi nào sóng lên?”, “Gió bắt đầu từ đâu?”: Thể hiện mong muốn muốn tìm được cội nguồn của tình yêu, lý giải được tình yêu, khát khao hiểu được tình yêu, hiểu được bản thân mình và hiểu được người mình yêu.- Câu trả lời “Em cũng không biết nữa”: Lời tự thú chân thành của người phụ nữ, đầy hồn nhiên, nữ tính. Tình yêu là bí ẩn, những trạng thái trong tình yêu luôn là những điều khó lý giải.3. Nỗi nhớ, lòng thủy chung son sắt của người con gái khi yêu- Nỗi nhớ là tình cảm chủ đạo, luôn thường trực trong trái tim những người đang yêu.Nỗi nhớ bao trùm cả không gian, thời gian: “dưới lòng sâu... trên mặt nước...”, “ngày đêm không ngủ được”.Tồn tại trong ý thức và đi vào cả tiềm thức: “Lòng em nhớ đến anh/Cả trong mơ còn thức”.Nghệ thuật nhân hóa, hóa thân vào sóng để “em” tự bộc lộ nỗi nhớ da diết, cháy bỏng của mình.=&gt; Cách nói cường điệu nhưng hết sức hợp nhằm tô đậm nỗi nhớ mãnh liệt của tác giả.- Lòng thủy chung, son sắt của người con gái trong tình yêu: “Dẫu xuôi về phương Bắc/Dẫu ngược về phương Nam”: ngược với cách nói thông thương.“Nơi nào em cũng nghĩ/Hướng về anh - một phương”: Khẳng định lòng thủy chung son sắc trong tình yêu.=&gt; Lời khẳng định cho cái tôi của một con người luôn vững tin ở tình yêu4. Khát vọng về tình yêu vĩnh cửu, bất diệt- Khẳng định quy luật vĩnh cửu của thiên nhiên “Con nào chẳng tới bờ/Dù muôn vời cách trở”, cũng giống như “em”, dù khó khăn, thử thách vẫn luôn hướng đến “anh”.- Sự nhạy cảm và lo âu của tác giả về cuộc đời trước sự trôi chảy của thời gian “Cuộc đời tuy dài thế ... Mây vẫn bay về xa”.- “Làm sao” gợi sự băn khoăn, khắc khoải, ước ao được hóa thành “trăm con sóng nhỏ” để muôn đời vỗ mãi vào bờ.- Khát khao của người phụ nữ được hòa mình vào cuộc đời, được sống trong “biển lớn tình yêu” với một tình yêu trường cửu, bất diệt với thời gian.III. Kết bài</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1958916136</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-21 14:31:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1958916136</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dàn ý phân tích bài Người lái đò sông ĐàI. Mở bài- Tác giả Nguyễn Tuân: có phong cách nghệ thuật độc đáo, cái tôi đầy cá tính, một nhà văn tài hoa uyên bác, luôn khám phá thế giới ở bình diện văn hóa thẩm mĩ. - Tác phẩm được sáng tác trong gian đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, với nội dung ngợi ca vẻ đẹp của con người và thiên nhiên Tây Bắc.II. Thân bài1. Lời đề từ- Lời đề từ “Đẹp vậy thay ...”: thể hiện xúc cảm mãnh liệt trước vẻ đẹp của dòng sông và con người gắn bó với dòng sông, thấy được cảm hứng chủ đạo là ngợi ca.- Lời đề từ tiếp: “Chung thủy ...”: thể hiện cá tính độc đáo của của con sông Đà.2. Hình tượng dòng sông Đàa. Dòng sông “hung bạo”ADVERTISINGX- “Cảnh đá bờ sông dựng vách thành”: lòng sông hẹp, “bờ sông dựng vách thành”, “đúng ngọ mới có mặt trời”, chỗ “vách đá ... như một cái yết hầu”.- Ở mặt ghềnh Hát Loóng: “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió” một cách hỗn độn, lúc nào cũng như “đòi nợ suýt” những người lái đó.- Ở Tà Mường Vát: “có những cái hút nước giống như cái giếng bê tông”, chúng “thở và kêu như cửa cống cái bị sặc nước”,- Trận địa thác đá được miêu tả từ xa đến gần:+ Xa: từ xa âm thanh thác nước hiện lên với nhiều trạng thái: “oán trách”, “van xin”, “khiêu khích”, “chế nhạo”; “rống lên như một ngàn con trâu ... cháy bùng bùng” (lấy lửa tả nước).+ Gần: Đá cũng đầy mưu mẹo: “nhăn nhúm”, “hất hàm”, “oai phong”, có những hành động như “mai phục”, “chặn ngang”, “tiêu diệt”; sóng: “đánh khuýp quật vu hồi”, “đánh giáp lá cà”, “đòn tỉa”+ Sự biến hóa linh hoạt của 3 trùng vi thạch trận:- Nhận xét: sông Đà mang diện mạo và tâm địa của một con thủy quái, “dòng thác hùm beo”, thứ kẻ thù số một của con ngườib. Sông Đà trữ tình- Từ trên cao nhìn xuống như “dây thừng ngoằn ngoèo”, “áng tóc trữ tình”, mùa xuân có màu xanh ngọc bích, thu lừ lừ chín đỏ.- Khi đi rừng lâu ngày gặp lại con sông: sông Đà như một “cố nhân”, có ánh sáng “loang loáng như trẻ con chiếu gương vào mắt”, như “nắng tháng ba Đường thi”, ...- Khi đi thả thuyền trên sông: “bờ sông như một bờ tiền sử”, “hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”, thiên nhiên mơn mởn: lá ngô non, “con hươu thơ ngộ”, ...3. Hình tượng người lái đò sông Đà- Có thể liên hệ đến hình ảnh Huấn Cao – người anh hùng trong quan niệm của Nguyễn Tuân trước cách mạng để dẫn dắt sang phân tích hình tượng ông lái đò. - Về lai lịch: tác giả xóa mờ xuất thân, tập trung miêu tả ngoại hình: “tay lêu nghêu ... chất mun” để ngợi ca những con người vô danh âm thầm cống hiến.- Công việc: lái đò trên sông Đà, hằng ngày đối diện với con thủy quái hung bạo.- Tài năng và tâm hồn:+ Là người từng trải, hiểu biết và thành thạo trong nghề lái đò: “trên sông Đà ông xuôi ngược hưn một trăm lần”, “nhớ tỉ mỉ ... những luồng nước”, ...+ Là người mưu trí dũng cảm, bản lĩnh và tài ba: ung dung đối đầu với thác dữ “nén đau giữ mái chèo, tỉnh táo chỉ huy bạn chèo ...”, “nắm chắc binh pháp của thần sông thần núi”, động tác điêu luyện “cưỡi đúng ngay trên bờm sóng, phóng thẳng thuyền vào giữa thác ...”+ Là người nghệ sĩ tài hoa: ưa những khúc sông nhiều ghềnh thác, không thích lái đò trên khúc sông bằng phẳng, coi việc chiến thắng “con thủy quái” là chuyện thường.- Khái quát về phong cách nghệ thuật Nguyễn TuânIII. Kết bài- Tổng kết nghệ thuật đặc sắc: ngôn ngữ điêu luyện, tưởng tượng độc đáo, vận dụng tri thức nhiều ngành nghệ thuật, xây dựng thành công hình tượng sông Đà và ông lái đò.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1958919884</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-21 14:32:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1958919884</guid>
      </item>
      <item>
         <title>đè cương bài ai đã đặt tên cho dòng sông của hoàng phủ ngọc tườngI. Mở bài- Tác giả: là một người nghệ sĩ có vốn hiểu biết sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, là nhà văn chuyên viết về bút kí, có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và trữ tình, giữa nghị luận sắc bén và suy tư đa chiều.- Trích trong bút kí cùng tên, hoàn thành tại Huế, tác phẩm thể hiện vẻ đẹp nên thơ của dòng sông Hương và tình yêu thương của tác giả đối với thiên nhiên đất nước. II. Thân bài- Ý nghĩa nhan đề: nhấn mạnh đến vẻ đẹp huyền thoại của sông Hương, khát vọng của con người muốn đẹp cái đẹp về xây đắp cho xứ Huế, gợi lòng biết ơn đến những cn người khai phá vùng đất ấy.1. Hình tượng sông Hươnga. Dòng sông thiên nhiên- Ở thượng nguồn: “bản trường ca của rừng già”, “cô gái Di - gan”, “người con gái của rừng già”, “người mẹ phù xa của vùng văn hóa xứ sở”- Từ thượng nguồn đến Huế: sông Hương như người con gái lần đầu đến với tình yêu một mặt rất e lệ, một mặt táo bạo chủ động. - Trong lòng Huế: như một người con gái đắm say tình tứ khi bên người mình yêu, người con gái tài hoa “tài nữ đánh đàn trong đêm khuya”.- Từ biệt Huế ra biển: như một người con gái lưu luyến, thủy chung từ biệt người yêu.- Nhận xét: tác giả chủ yếu cảm nhận vẻ đẹp sông Hương từ góc độ tình yêu khiến sông Hương hiện lên như một người con gái chung tình hết lòng vì tình yêu.Advertisement: 6:05Close Playerb. Dòng sông lịch sử- Sông Hương là một nhân chứng lịch sử của Huế, của đất nước: “soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ”, chứng kiến những mất mát đau thương của các cuộc khởi nghĩa thế kỉ XIX, ...Soạn bài Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Hoàng Phủ Ngọc Tường) hay nhấtTác giả - tác phẩm bài Ai đã đặt tên cho dòng sôngTrắc nghiệm bài Ai đã đặt tên cho dòng sông? (có đáp án)- Sông Hương như một công dân có ý thức trách nhiệm sâu sắc với đất nước: “biết hiến đời mình để làm nên chiến công”, ...- Là một người con gái anh hùng: cùng gắn bó với Huế qua nhiều cuộc chiến đấu anh hùng trong thời kì trung đại, đến cách mạng tháng tám cũng có nhưng chiến công vang dội, ...c. Dòng sông văn hóa- Sông Hương là “người mẹ phù sa của vùng văn hóa xứ sở”: toàn bộ âm nhạc cổ điển Huế, những bản đàn theo suốt cuộc đời Kiều và bản Tứ đại cảnh đều được sinh thành trên sông nước sông Hương.- Là người tài nữ đánh đàn trong đêm khuya: không bao giờ lặp lại trong cảm hứng của các thi nhân- Nhận xét: Sông Hương chính là người con gái phóng khoáng, chung thủy trong tình yêu,anh dũng kiên cường trong lịch sử, tài hoa sáng tạo trong âm nhạc, trong văn hóa, khiêm nhường trong đời thương. Là hiện than cho vẻ đẹp người con gái Huế. 2. Hình tượng cái tôi tác giả- Quan sát dòng sông trên nhiều góc đọ khác nhau, miêu tả dòng sông trên nhiều phương diện.- Là nhà văn có những liên tưởng, so sánh, độc đáo, lối viết tài hoa, uyên bác.- Là cái tôi nghệ sĩ có tình yêu tha thiết, say đắm với thiên nhiên Huế và đất nước.III. Kết bài- Đánh giá nghệ thuật nổi bật: liên tưởng độc đáo, sử dụng từ ngữ đặc sắc, văn phong tao nhã, thành công trong nghệ thuật xây dựng hình tượng sông Hương.- Qua tác phẩm ta cảm nhận được niềm tự hào tha thiết của tác giả với vẻ đẹp thiên nhiên xứ Huế cũng như đất nước. Nhà văn có lối hành văn mê đắm, súc tích</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1958925271</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-21 14:35:15 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1958925271</guid>
      </item>
      <item>
         <title>đè cương bài tây tiến1. Mở bàiGiới thiệu về tác giả và tác phẩm (Nhà thơ Quang Dũng và bài thơ Tây Tiến)Dẫn dắt vào vấn đề cần nghị luận (Bức tranh thiên nhiên được khắc họa qua ngôn ngữ bài thơ Tây Tiến)2. Thân bài- Những nét khái quát:Hoàn cảnh sáng tác: Khơi nguồn từ nỗi nhớ sâu sắc vô bờ của tác giả về những kỉ niệm một thời nơi chiến trường.Nội dung: Song song với bức tượng đài bi tráng về hình tượng người lính trong tác phẩm là hình ảnh thiên nhiên nơi đây với những nét riêng, thần thái riêng một cõi nỗi niềm thương nhớ trong lòng tác giả.- Thiên nhiên hùng vĩ, dữ dội:Điều kiện thiên nhiên không thuận lợi làm tăng thêm những vất quả gian lao cho người lính (Sài Khao - sương lấp - đoàn quân mỏi).Địa hình nguy hiểm, khó khăn, gập ghềnh, trắc trở vừa cao vừa sâu hun hút vừa dốc chơi vơi. (Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm và ngàn thước lên cao ngàn thước xuống)- Thiên nhiên mỹ lệ, trữ tình:Bên cạnh những nét vẽ gân guốc, mạnh mẽ lột tả vẻ hùng vĩ, dữ dội của đất trời Tây Bắc là những đường nét thanh thoát, lãng mạn khắc họa vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của núi rừng (Nhà ai Pha luông mưa xa khơi, Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói, Mai Châu mùa em thơm nếp xôi)Thiên nhiên mang trong mình những nét trữ tình đằm thắm như một tiếng vọng da diết làm nao lòng người.Cảnh sông nước mênh mang hoang dại, tĩnh lặng, mờ ảo chứa chan thi vị với hình ảnh “Người đi Châu Mộc chiều sương ấy/Có thấy hồn lau nẻo bến bờ” và “Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”. - Cảm nhận:Thiên nhiên hùng vĩ, dội dường như được tô đậm thêm về chiều cao, độ sâu đầy ấn tượng với cách ngắt nhịp 4/3 trong mỗi câu thơ.Vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình của vùng núi Tây Bắc dường như được khảm sâu và vang vọng vào lòng người bằng những câu thơ với nhiều thanh bằng như xoa dịu đi những gian khó, nhọc nhằn, vất vả.Từ những cảm nhận trên, ta thấy được bức tranh thiên nhiên Tây Tiến được khắc họa và gieo vào lòng người bằng sự tài hoa và tâm hồn nhạy cảm của nhà thơ, của người lính Tây Tiến3. Kết bàiNhận xét của cá nhân về bức tranh thiên nhiên được tái hiện qua bài thơ Tây Tiến (một bức tranh sống động: dữ dội, hiểm trở; trữ tình và thơ mộng; thi trung hữu họa; một chút khắc khoải, da diết; một chút đắm say…)</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1958929608</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-21 14:37:17 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1958929608</guid>
      </item>
      <item>
         <title>( ĐẤT NƯỚC )I. Mở bài- Giới thiệu về tác giả Nguyễn Khoa Điềm: ông thuộc thế hệ nhà thơ chống Mĩ cứu nước, thơ ông là sự kết hợp giữa cảm xúc nồng nàn và chất triết lí, suy tư của người trí thức về đất nước, con người.- Giới thiệu về bài thơ Đất nước: được trích trong trường ca Mặt đường khát vọng, là một bài thơ có chất triết lí sâu sắc, thể hiện tư tưởng “Đất nước của nhân dân”.II. Thân bài1. Đất nước được cảm nhận từ phương diện lịch sử, văn hóa, chiều sâu của không gian, chiều dài của thời giana. Đất nước có từ bao giờ? (lí giải cội nguồn của đất nước) (9 câu đầu)- Tác giả khẳng định một điều tất yếu: “Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi”, điều này thôi thúc mỗi con người muốn tìm đến nguồn cội đất nước.- Đất nước bắt nguồn từ những diều bình dị, gần gũi trong đời sống của người Việt Nam từ xa xưa: “ngày xửa ngày xưa” gợi nhớ đến câu mở đầu các câu chuyện dân gian, “miếng trầu” gợi nhớ tục ăn trầu của người Việt và truyện cổ tích trầu cau, “Tóc mẹ thì bới sau đầu”: thói quen búi tóc của những người phụ nữ Việt Nam, “Thương nhau bằng gừng cay muối mặn” thói quen tâm lí, truyền thống yêu thương của dân tộc.- Đất nước trưởng thành cùng quá trình lao động sản xuất “cái kèo cái cột thành tên”, “một nắng hai sương”, quá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm.- Nhận xét: Tác giả có cái nhìn mới mẻ về cội nguồn đất nước, đất nước bắt nguồn từ chiều sâu văn hóa, văn học, lịch sử và truyền thống dân tộc.b. Định nghĩa về đất nước (28 câu thơ tiếp theo)- Về phương diện không gian địa lí:+ Tác giả tách riêng hai yếu tố “đất” và “nước” để suy tư một cách sâu sắc.+ Đất nước là không gian riêng tư quen thuộc gắn với không gian sinh hoạt của mỗi con người: “nơi anh đến trường”, “nơi em tắm”; gắn với kỉ niệm tình yêu lứa đôi: “nơi em đánh rơi... thương thầm”.+ Đất nước là không gian bao la trù phú, không gian sinh tồn của cộng đồng yqua bao thế hệ: “Đất là nơi con chim phượng hoàng... dân mình đoàn tụ”.- Nhìn đất nước được nhìn xuyên suốt chiều dài lịch sử từ quá khứ, hiện tại đến tương lai:+ Trong quá khứ đất nước là nơi thiêng liêng, gắn với truyền thuyết, huyền thoại: “Đất là nơi chim về... trong bọc trứng” + Trong hiện tại: đất nước có trong tấm lòng mỗi con người, mỗi người đều thừa hưởng những giá trị của đất nước, khi có sự gắn kết giữa mỗi người đất nước sẽ nồng thắm, hài hòa, lớn lao. Đó là sự gắn kết giữa cái riêng và cái chung.+ Trong tương lai: thế hệ trẻ sẽ “mang đất nước đi xa”, “đến những ngày mơ mộng”, đất nước sẽ trường tồn, bền vững.- Suy tư về trách nhiệm của mỗi cá nhân với đất nước: “Phải biết gắn bó và san sẻ”, đóng góp, hi sinh để góp phần dựng xây đất nước.- Nhận xét: qua cái nhìn toàn diện của nhà thơ, đất nước hiện lên vừa gần gũi, thân thuộc lại vừa thiêng liêng, hào hùng và trường tồn đến muôn đời sau.2. Tư tưởng cốt lõi, cảm nhận về đất nước: Đất nước của nhân dân- Thiên nhiên địa lí của đất nước không chỉ là sản phẩm của tạo hóa mà được hình thành từ phẩm chất và số phận của mỗi người, là một phần máu thịt, tâm hồn con người:+ Nhờ tình nghĩa yêu thương, thủy chung mà có “hòn Vọng Phu”, “hòn Trống Mái”+ Nhờ tinh thần bất khuất, anh hùng trong quá trình dựng nước và giữ nước mà có những ao đầm, di tích lịch sử về quá trình dựng nước.+ Nhờ truyền thống hiếu học mà có những “núi Bút non Nghiên”- Nhân dân làm nên lịch sử 4000 năm:+ Họ là những người con trai, con gái bình dị nhưng luôn thường trực tình yêu nước.+ Tác giả nhấn mạnh đến những con người vô danh làm nên lịch sử, khẳng định vai trò của mỗi cá nhân với lịch sử dân tộc.- Nhân dân tạo ra và giữ gìn những giá trị vật chất, tinh thần cho đất nước: văn hóa: “truyền hạt lúa”, “truyền lửa”, “truyền giọng nói”, “gánh theo tên xã, tên làng”,... từ đó xây dựng nền móng phát triển đất nước lâu bền.- Tư tưởng cốt lõi, cảm hứng bao trùm cả đoạn trích: “đất nước này là đất nước của nhân dân đất nước của ca dao thần thoại”, đất nước ấy thể hiện qua tâm hồn con người: biết yêu thương, biết quý trọng trọng tình nghĩa, công sức và biết chiến đấu vì đất nước.- Nhận xét:+ Về nội dung: đoạn trích “Đất nước” đã thể hiện cái nhìn mới mẻ về đất nước trên nhiều bình diện: văn hóa, lịch sử, địa lí dựa trên tư tưởng cốt lõi: “đất nước của nhân dân”.+ Về nghệ thuật: sử dụng đa dạng và sáng tạo chất liệu văn hóa dân gian, ngôn ngữ giàu chất suy tư, triết luận sâu sắc.III. Kết bài- Khẳng định lại giá trị của đoạn trích: đoạn trích đã nhấn mạnh tư tưởng “đất nước của nhân dân”, thể hiện tinh thần yêu nước của tác giả, đánh thức tinh thần yêu nước trong mỗi con người.- Nêu cảm nhận riêng về đoạn trích Đất nước và có liên hệ thực tiễn đến trách nhiệm của thế hệ hôm nay với đất nước.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1958935863</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-21 14:40:15 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1958935863</guid>
      </item>
      <item>
         <title>( AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG)a) Mở bài- Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm:+ Hoàng Phủ Ngọc Tường là một người nghệ sĩ có vốn hiểu biết sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, là nhà văn chuyên viết về bút kí, có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và trữ tình, giữa nghị luận sắc bén và suy tư đa chiều.+ Ai đã đặt tên cho dòng sông trích trong bút kí cùng tên, hoàn thành tại Huế, nội dung chính thể hiện vẻ đẹp nên thơ của dòng sông Hương và tình yêu thương của tác giả đối với thiên nhiên đất nước.b) Thân bài* Ý nghĩa nhan đề: nhấn mạnh đến vẻ đẹp huyền thoại của sông Hương, khát vọng của con người muốn đem cái đẹp về xây đắp cho xứ Huế, gợi lòng biết ơn đến những con người khai phá vùng đất ấy.- Nhan đề “Ai đã đặt tên cho dòng sông&quot; đã dẫn dắt người đọc đến với cội nguồn tên gọi của dòng Hương thơ mộng.- Bài bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông” đã lí giải tên dòng sông bằng một huyền thoại mĩ lệ của người dân làng Thành Chung.- Lấy tên nhan đề cho bài bút kí dưới hình thức của một câu hỏi nhằm mục đích dẫn dắt, gợi mở người đọc về nguồn gốc tên gọi của dòng sông, nói lên những khát vọng, niềm tự hào của con người khi muốn mang cái đẹp, tiếng thơm để gây dựng, vun đắp cho văn hóa, lịch sử của xứ Huế.- Nhan đề “Ai đã đặt tên cho dòng sông” cũng thể hiện được niềm biết ơn đối với những con người đã khai phá vùng đất này, bộc lộ niềm tự hào về vẻ đẹp của đất nước.* Hình tượng sông Hương- Dòng sông thiên nhiên+ Ở thượng nguồn: “bản trường ca của rừng già”, “cô gái Di-gan”, “người con gái của rừng già”, “người mẹ phù sa của vùng văn hóa xứ sở” + Từ thượng nguồn đến Huế: sông Hương như người con gái lần đầu đến với tình yêu một mặt rất e lệ, một mặt táo bạo chủ động.+ Trong lòng Huế: như một người con gái đắm say tình tứ khi bên người mình yêu, người con gái tài hoa “tài nữ đánh đàn trong đêm khuya”.+ Từ biệt Huế ra biển: như một người con gái lưu luyến, thủy chung từ biệt người yêu.=&gt; Tác giả chủ yếu cảm nhận vẻ đẹp sông Hương từ góc độ tình yêu khiến sông Hương hiện lên như một người con gái chung tình hết lòng vì tình yêu.- Dòng sông lịch sử+ Sông Hương là một nhân chứng lịch sử của Huế, của đất nước: “soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ”, chứng kiến những mất mát đau thương của các cuộc khởi nghĩa thế kỉ XIX,...+ Sông Hương như một công dân có ý thức trách nhiệm sâu sắc với đất nước: “biết hiến đời mình để làm nên chiến công”,...+ Là một người con gái anh hùng: cùng gắn bó với Huế qua nhiều cuộc chiến đấu anh hùng trong thời kì trung đại, đến cách mạng tháng Tám cũng có nhưng chiến công vang dội,...- Dòng sông văn hóa+ Sông Hương là “người mẹ phù sa của vùng văn hóa xứ sở”: toàn bộ âm nhạc cổ điển Huế, những bản đàn theo suốt cuộc đời Kiều và bản Tứ đại cảnh đều được sinh thành trên sông nước sông Hương.+ Là người tài nữ đánh đàn trong đêm khuya: không bao giờ lặp lại trong cảm hứng của các thi nhân.=&gt; Sông Hương chính là người con gái phóng khoáng, chung thủy trong tình yêu, anh dũng kiên cường trong lịch sử, tài hoa sáng tạo trong âm nhạc, trong văn hóa, khiêm nhường trong đời thường, là hiện thân cho vẻ đẹp người con gái Huế.* Hình tượng cái tôi tác giả- Quan sát dòng sông trên nhiều góc độ khác nhau, miêu tả dòng sông trên nhiều phương diện.- Là nhà văn có những liên tưởng, so sánh, độc đáo, lối viết tài hoa, uyên bác.- Là cái tôi nghệ sĩ có tình yêu tha thiết, say đắm với thiên nhiên Huế và đất nước.* Đặc sắc nghệ thuật- Nghệ thuật xây dựng hình tượng sông Hương.- Liên tưởng độc đáo- Sử dụng từ ngữ đặc sắc, văn phong tao nhã.c) Kết bài- Khái quát giá trị nội dung tác phẩm.- Cảm nhận của em.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1958942037</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-21 14:43:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1958942037</guid>
      </item>
      <item>
         <title>( SÓNG )I. Mở bài- Giới thiệu tác giả: Xuân Quỳnh là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ thời kì chống Mĩ cứu nước. Chị là thi sĩ của tình thương, lòng trắc ẩn và hồn thơ nữ tính.- Giới thiệu bài thơ Sóng: Bài thơ được sáng tác năm 1967, in trong tập “Hoa dọc chiến hào”, là bài thơ viết về tình yêu tiêu biểu cho hồn thơ giàu chất nữ tính của Xuân Quỳnh.II. Thân bài1. Nhận thức về tình yêu qua hình tượng sóng Khổ 1:Sử dụng nghệ thuật tương phản: “dữ dội - dịu êm”, “ồn ào - lặng lẽ”, từ đó khái quát trạng thái đối lập của sóng, gợi liên tưởng đến tâm lý của người phụ nữ khi yêu (khi mãnh liệt khi lại dịu dàng).Nghệ thuật nhân hóa: “sông không hiểu” được mình, nên “sóng” muốn tìm đến không gian rộng lớn, hành trình của sóng là hành trình khám phá chính bản thân mình, khát khao vươn tới giá trị tuyệt đích trong tình yêu của người phụ nữ.- Khổ 2:“Ôi con sóng... và ngày sau vẫn thế”: Dù trong quá khứ hay hiện tại sóng luôn dạt dào, sôi nổi, luôn khát vọng. Đó cũng là khát vọng và bản tính của người phụ nữ muôn đời.“Nỗi khát vọng tình yêu... ngực trẻ”: Liên hệ tình yêu của tuổi trẻ với con sóng của đại dương, khát vọng tình yêu là khát vọng đặc trưng muôn đời của tuổi trẻ.2. Suy nghĩ nguồn gốc của tình yêu- Khổ 3: Điệp ngữ “em nghĩ về” và câu hỏi: “Từ nơi nào sóng lên” nhấn mạnh niềm khát khao nhận thức bản thân, người mình yêu và nhận thức về tình yêu muôn đời.- Khổ 4: Xuân Quỳnh dựa vào quy luật tự nhiên để tìm khởi nguồn của sóng, của tình yêu, gợi lên sự trăn trở trước bí ẩn của tình yêu, thời điểm bắt đầu tình tình yêu.3. Nỗi nhớ, lòng thủy chung của người con gái trong tình yêu- Khổ 5:Nghệ thuật tương phản để gợi ra những phạm vi không gian khác nhau “dưới lòng sâu”, “trên mặt nước”, phạm vi thời gian khác nhau: “ngày” - “đêm”, nghệ thuật nhân hóa: “ngày đêm không ngủ được”, diễn tả nỗi nhớ dạt dào, triền miên của sóng với bờ cũng là nỗi nhớ của người phụ nữ khi yêu.Người phụ nữ bày tỏ nỗi nhớ một cách trực tiếp, mạnh dạn, chân thành “Lòng em nhớ đến anh”, cách nói thậm xưng “Cả trong mơ còn thức” thể hiện nỗi nhớ ăn sâu vào tiềm thức, thường trực trong suy nghĩ.- Khổ 6:Nghệ thuật tương phản “xuôi - ngược”, điệp ngữ “dẫu”, “vẫn”, “về” gợi hành trình của sóng ngoài biển lớn cũng như hành trình tình yêu của người phụ nữ giữa cuộc đời.Lời thề thủy chung của người phụ nữ, niềm tin chờ đợi trong tình yêu, dù ở đâu cũng “hướng về anh một phương”, nghĩ về người mình yêu bằng cả trái tim.4. Khát vọng tình yêu vĩnh cửu- Khổ 7: Khẳng định quy luật vĩnh cửu của thiên nhiên “Con nào chẳng tới bờ/Dù muôn vời cách trở”, cũng giống như “em”, dù khó khăn, thử thách vẫn luôn hướng đến “anh”.- Khổ 8:“Cuộc đời tuy dài thế/Năm tháng vẫn đi qua”: Cảm giác cô đơn nhỏ bé trước cuộc đời, nỗi lo âu về sự hữu hạn của tình yêu trước thời gian vô tận.“Như biển kia dẫu rộng/Mây vẫn bay về xa”: Cảm giác bất an trước cái dễ đổi thay của lòng người giữa “muôn vời cách trở”. Nhưng đây còn là vượt lên sự lo âu phấp phỏng đặt niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của tình yêu như mây có thể vượt qua biển rộng.- Khổ 9:“Làm sao” gọi sự băn khoăn, khắc khoải, ước ao được hóa thành “trăm con sóng nhỏ” để muôn đời vỗ mãi vào bờ.Đó là khát khao của người phụ nữ được sống trong “biển lớn tình yêu” bằng tình yêu và cùng tình yêu, khát khao hòa nhập tình yêu riêng tư trong tình yêu chung rộng lớn.III. Kết bàiKhái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ.Cảm nhận chung về bài thơ Sóng.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1958954832</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-21 14:49:22 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/1958954832</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2061946519</link>
         <description><![CDATA[<div>Vở ghi 23/2</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1596255720/0e51f2f9ccccec027413086ec636b526/A9B2B60B_1EEC_46D5_9729_4BB1D0388928.jpeg" />
         <pubDate>2022-02-23 05:21:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2061946519</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2061959237</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1506259362/3fe2ec72bdb885b6da2e82fc8b16ecb8/4EBFB4C0_9BF9_4AA5_8027_EF42A0B1ED9A.jpeg" />
         <pubDate>2022-02-23 05:35:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2061959237</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2061959791</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1506259362/bc50a37f2f3b737c81350bb7df0398f0/C832873D_FCE2_428B_8069_8F65CEFA689A.jpeg" />
         <pubDate>2022-02-23 05:35:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2061959791</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2061976371</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1506509958/7dd75b82875a3d4e841e2121c7867a29/822D322B_17F5_4FB0_8201_59BB542B3A3F.jpeg" />
         <pubDate>2022-02-23 05:52:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2061976371</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2061976678</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1506509958/e78938a1ebf69c447200c1f1ffa680ff/A5DE8DE6_DACA_43E9_AC94_CD2B8A426EC2.jpeg" />
         <pubDate>2022-02-23 05:53:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2061976678</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2062034203</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1452263322/40c88a510ff3f39d17cf3bec440f3be1/z3205023624949_6b04579d314bd75b1ec97257c848bb26.jpg" />
         <pubDate>2022-02-23 06:49:15 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2062034203</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2062034476</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1452263322/50956d41df57abc2386feed7d6d552be/z3205023627013_9c4f969dd9fd65913a75559c9a0ac5c4.jpg" />
         <pubDate>2022-02-23 06:49:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2062034476</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2062053379</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1596810920/69660a004a3d62977ed034919b86bb86/20220223_140128.jpg" />
         <pubDate>2022-02-23 07:06:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2062053379</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2062055822</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1596810920/cb840407b7a5ce97d4549a5e620dc870/20220223_140143.jpg" />
         <pubDate>2022-02-23 07:08:07 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2062055822</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2062518034</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1444985235/45eac930fe7d993dad7e83f866482e34/IMG20220223194722.jpg" />
         <pubDate>2022-02-23 12:54:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2062518034</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2062523969</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1444985235/5aea19d8f029aff042807f138b28fab9/IMG20220223194734.jpg" />
         <pubDate>2022-02-23 12:58:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2062523969</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2062526020</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1444985235/eaa552f0e0489d2192d13e7e1d287589/IMG20220223194739.jpg" />
         <pubDate>2022-02-23 12:59:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2062526020</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2062567749</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1598009739/f1ddd20ad9d2121d76ec4f9ec45d5768/IMG20220223201732.jpg" />
         <pubDate>2022-02-23 13:26:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2062567749</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2062572439</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1598009739/92b479a101b7191defb076b15b4e173a/IMG20220223201736.jpg" />
         <pubDate>2022-02-23 13:29:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2062572439</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2062574314</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1598009739/c91807e98c09e4117a382cc4ec250aa9/IMG20220223201741.jpg" />
         <pubDate>2022-02-23 13:30:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2062574314</guid>
      </item>
      <item>
         <title>chụp vở sáng 23/2/2022</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2062714971</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1459543768/8fc515802ef5693da3878f415f0f3320/_nh_1.jpg" />
         <pubDate>2022-02-23 14:39:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2062714971</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2062737110</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1598319377/2d55ff183408ee79137f402738f707d6/06F0B50F_FDD4_43A6_A816_BC57C695BCAC.jpeg" />
         <pubDate>2022-02-23 14:50:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2062737110</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2062738104</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1598319377/b1651260155abcb996ed6e0dcb37c5c5/F7221AC2_D917_41C6_B8CA_23420CD0B0AA.jpeg" />
         <pubDate>2022-02-23 14:51:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2062738104</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2062744857</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1598122773/99044d62142339c3135d2bed85265ba3/D8326ABC_4F58_4CDD_9B6A_192668152FE2.jpeg" />
         <pubDate>2022-02-23 14:54:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2062744857</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Chụp vơ 23/2/2022</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2062765781</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1459543768/62631d9fb42a882524c904cb68cf8559/_nh_1.jpg" />
         <pubDate>2022-02-23 15:04:32 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2062765781</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2062766904</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1459543768/3ed8f53fc19ca012dc9c5c3f40449f97/_nh_2.jpg" />
         <pubDate>2022-02-23 15:05:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2062766904</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2062837506</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1598122773/c5fd5676d3b02f634f73f02596528cda/955B9A35_7496_4E34_B1FD_056520787319.jpeg" />
         <pubDate>2022-02-23 15:39:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2062837506</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nộp vở văn ngày 23/2.2022</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2062862421</link>
         <description><![CDATA[<div>Trang&nbsp;1</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1596256438/67eeca541e0577f09196fef5a0760a62/274150744_424975746091972_8482050226463813981_n.jpg" />
         <pubDate>2022-02-23 15:52:28 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2062862421</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nộp vở văn ngày 23/2/2022</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2062863207</link>
         <description><![CDATA[<div>Trang&nbsp;2</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1596256438/723e7510d82154aeed199e8156c218f9/273949936_529355488482200_1430841269151725296_n.jpg" />
         <pubDate>2022-02-23 15:52:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2062863207</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nộp vở văn ngày23/2/2022</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2062864113</link>
         <description><![CDATA[<div>Trang&nbsp;3</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1596256438/0415eb2b0fbc2eb76134c1865b678452/273981430_3090767401193499_3805825870068229496_n.jpg" />
         <pubDate>2022-02-23 15:53:22 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2062864113</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2063124247</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1459543768/8eeb1a9be2c2c9c22058af45c209c4d2/123.jpg" />
         <pubDate>2022-02-23 18:11:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2063124247</guid>
      </item>
      <item>
         <title>TRẢ LỜI CÂU HỎI LÀM VIỆC NHÓM &quot;CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2063126281</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><mark>*</mark></strong><mark>các chi tiết người đàn bà giải bày về bản thân với cương vị là người mẹ ở tòa án huyện</mark><strong><mark>:<br></mark></strong>- Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con, nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được! Mong các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu. Các chú đừng bắt tôi bỏ nó!<br>- Có chứ, chú! Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no...<br>-Trong cái đám con cái đông đúc đang sống ở dưới thuyền, mụ không yêu một đứa nào bằng thằng Phác, cái thằng con từ tính khí đến mặt mũi giống như lột ra từ cái lão đàn ông đã từng hành hạ mụ, và không khéo sẽ còn hành hạ mụ cho đến khi chết - nếu không có cách mạng về.<br>-Mụ cho chúng tôi biết, vì sợ thằng bé có thể làm điều gì dại dột đối với bố nó, mụ đã phải gửi nó lên rừng nhờ bố mình nuôi đã nửa năm nay. ở với ông ngoại, thằng bé sướng hơn ở trên thuyền với bố mẹ. Nhưng hễ rời ra là nó trốn về. Thằng bé tuyên bố với các bác ở xưởng đóng thuyền rằng nó còn có mặt ở dưới biển này thì mẹ nó không bị đánh.<br><mark>*suy nghĩ của em về người mẹ ấy:</mark><br>Bản thân em nghĩ chị là một người mẹ luôn yêu thương con ,đó là tình yêu thương that đơn giản,và giàu tỉnh mẫu từ bởi với chị niềm vui là được thấy đàn con của mình ăn no.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-02-23 18:12:43 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2063126281</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2063617490</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1507444293/2be0b345d900121b9bb0bf7aeaaf1b7a/v_n_2.jpg" />
         <pubDate>2022-02-24 00:49:59 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2063617490</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2063618270</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1507444293/168fcc786d2860f87ed061ba103d52c8/v_n1.jpg" />
         <pubDate>2022-02-24 00:50:33 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2063618270</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2063635311</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1599728241/785fce6881ebf700203da1ead1824c2c/z3206891381108_2b4f6eddbace4f949267f798cb8294a1.jpg" />
         <pubDate>2022-02-24 01:03:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2063635311</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2063636455</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1599728241/907664d658b288d825138a9d41731603/z3206891416598_a2e476dca9d72befae15881b36daece5.jpg" />
         <pubDate>2022-02-24 01:03:59 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2063636455</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2063645144</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1445099479/eb092c2390f39758456e59328d2f2ce6/bce016d0825c4e02174d.jpg" />
         <pubDate>2022-02-24 01:10:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2063645144</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2063645746</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1445099479/ebdd33c93324378a569abd259dc1e7bc/f6ac4197d51b1945400a.jpg" />
         <pubDate>2022-02-24 01:11:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2063645746</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2063646104</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1445099479/ffff2f4315f68bce261fa7f399d9727a/5623d01d449188cfd180.jpg" />
         <pubDate>2022-02-24 01:11:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2063646104</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2063678675</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Các chi tiết người đàn bà giải bày về bản thân với cương vị là người mẹ ở tòa án huyện:</strong><strong><mark><br></mark></strong>- Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con, nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được! Mong các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu. Các chú đừng bắt tôi bỏ nó!<br>- Có chứ, chú! Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no...<br>-Trong cái đám con cái đông đúc đang sống ở dưới thuyền, mụ không yêu một đứa nào bằng thằng Phác, cái thằng con từ tính khí đến mặt mũi giống như lột ra từ cái lão đàn ông đã từng hành hạ mụ, và không khéo sẽ còn hành hạ mụ cho đến khi chết - nếu không có cách mạng về.<br>-Mụ cho chúng tôi biết, vì sợ thằng bé có thể làm điều gì dại dột đối với bố nó, mụ đã phải gửi nó lên rừng nhờ bố mình nuôi đã nửa năm nay. ở với ông ngoại, thằng bé sướng hơn ở trên thuyền với bố mẹ. Nhưng hễ rời ra là nó trốn về. Thằng bé tuyên bố với các bác ở xưởng đóng thuyền rằng nó còn có mặt ở dưới biển này thì mẹ nó không bị đánh.<br><strong>Cảm nghĩ của bản thân em :</strong><br>Bản thân em nghĩ chị là một người mẹ luôn yêu thương con ,đó là tình yêu thương that đơn giản,và giàu tỉnh mẫu từ bởi với chị niềm vui là được thấy đàn con của mình ăn no.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-02-24 01:36:59 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2063678675</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2063696288</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1599800785/6787ca540711ec1c2284773be01b4a7e/16456672299801781730280.jpg" />
         <pubDate>2022-02-24 01:51:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2063696288</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2063704170</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1599800785/f97a0eba9f994b462db6a48e54bc2cfd/1645667842378683589181.jpg" />
         <pubDate>2022-02-24 01:58:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2063704170</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2063706546</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1596271967/162487d95633f30676fac6d906eb93ff/57DE2FD3_F01C_468E_9717_082C8A7DC68C.jpeg" />
         <pubDate>2022-02-24 02:00:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2063706546</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2063707041</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1596271967/f1080215f44b21a3808da5b9b5f53d56/CE016E6C_1639_464C_85AD_E44C7974273E.jpeg" />
         <pubDate>2022-02-24 02:00:47 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2063707041</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2063757751</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1599868300/456d1b9b778f4c840d3ea57d0be07c45/20220224_092756.jpg" />
         <pubDate>2022-02-24 02:44:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2063757751</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2063759370</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1599868300/6a721b596c1e9b2d15e92460f6699375/20220224_092804.jpg" />
         <pubDate>2022-02-24 02:45:29 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2063759370</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2065941597</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1596256438/fd3371989e8291eeb001fc9a59ec6489/274150744_424975746091972_8482050226463813981_n.jpg" />
         <pubDate>2022-02-25 07:10:08 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2065941597</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2065941898</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1596256438/d31a018b7c4f4b9f0a25dab104fb5fe9/273949936_529355488482200_1430841269151725296_n.jpg" />
         <pubDate>2022-02-25 07:10:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2065941898</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2065942126</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1596256438/f0fea225c67c4c56fcbe9d09a04a8e1e/273981430_3090767401193499_3805825870068229496_n.jpg" />
         <pubDate>2022-02-25 07:10:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2065942126</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>nguyenthithu18977</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2072748384</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1299061697/1105db4b233865fab4bf954ccc884dee/Di_n___t_trong_v_n_ngh__lu_n__2_ti_t_.docx" />
         <pubDate>2022-03-02 03:18:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2072748384</guid>
      </item>
      <item>
         <title>CHUYÊN ĐỀ 1: PHƯƠNG PHÁP ĐỌC HIỂU-KỸ NĂNG VIẾT ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI</title>
         <author>nguyenthithu18977</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2072794670</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>I. Phương pháp, kỹ năng đọc hiểu<br>1. Cấu trúc bài đọc hiểu<br>2. các loại văn bản đọc hiểu<br>- Văn bản nghệ thuật<br>- văn bản thông tin<br>3. Các phần của văn bản đọc hiểu: 3 phần<br>- Câu hỏi nhận biết:<br>- Câu hỏi thông hiểu: Nd chính,...<br>- Câu hỏi vân dụng:+ Vân dụng thấp:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;+ Vận dụng cao:<br>4. Cách trình bày:- Hình thức:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;- Nội dung:<br>II. Phương pháp viết đoạn văn nghị luận xã hội<br>1. Những vấn đề chung<br>2. Các dạng NLXH: 3 dạng<br><br></strong><strong><mark>DẠNG 1: NL VỀ 1 HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG</mark></strong><strong><br>* Hiện tượng đời sống: phong phú, đa dạng<br>* Các bước cần đảm bảo<br></strong><strong><mark>BƯỚC 1</mark></strong><strong>: GIẢI THÍCH HIỆN TƯỢNG Đ/S CẦN NL<br></strong><strong><mark>BƯỚC 2</mark></strong><strong>: NÊU THỰC TRẠNG VÀ BIỂU HIỆN<br>-Thực trạng: + vấn đề đặt ra ở mức độ nào? đối tượng nào?<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;+ có ảnh hưởng ra sao đến đời sông cộng đồng?<br>- Biểu hiện (nêu khái quát) <br></strong><strong><mark>BƯỚC 3</mark></strong><strong>: TÁC ĐỘNG: đến đời sống cá nhân, đ/s cộng đồng&nbsp; -&gt; tích cực với hiện tượng tốt và tiêu cực với hiện tượng xấu<br></strong><strong><mark>BƯỚC 4: </mark></strong><strong>NGUYÊN NHÂN, GIẢI PHÁP<br>- Nguyên nhân:+ Chủ quan<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; + Khách quan<br>- Giải pháp: + (hiện tượng tốt) cần phát huy<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; + (tiêu cực) khắc phục</strong><strong><mark><br>BƯỚC 5: </mark></strong><strong>NÊU PHẢN ĐỀ, RÚT RA BÀI HỌC<br>- Nhìn nhận vấn đề toàn diện hơn, nêu cả hiện tượng trái chiều<br>- Rút ra bài học trong nhận thức và hành động<br>* Đề luyện tập<br></strong><strong><mark>Đề 1: Bàn về cách sử dụng ngôn ngữ, một bạn trẻ thế hệ 10x cho rằng: "Bây giờ nói chuyện với bạn bè mà thỏ thẻ những từ đúng chuẩn tiếng việt thì chứng nó cười cho",\. Bên cạnh đó thế hệ này còn lập ra nhiều hội như: hội nói tục, hội chửi thề,...trên các trang mạng xã hội. Cũng là một người trẻ tuổi, a/c suy nghĩ gì trước hiện tượng nêu trên? Viết đoạn văn ngắn (200 chữ) thể hiện suy nghĩ của mình.<br></mark></strong><strong>- Vấn đề nl: Htg sử dụng ngôn ngữ lệch chuẩn của giới trẻ<br>- </strong><strong><mark>&nbsp;BƯỚC 1: GIAỈ THÍCH:</mark></strong><strong> + Ngôn ngữ là một trong những p/tiện g/tiếp chủ yếu trong xh loài người<br>+ H/tượng s/dụng ngôn ngữ lệch chuẩn là việc dùng ngôn ngữ để g/tiếp sai quy tắc, chuẩn mực.<br>-</strong><strong><mark> BƯỚC 2: THỰC TRẠNG VÀ BIỂU HIỆN:<br>+</mark></strong><strong>Thực trạng<br>+ Biểu hiện:<br>- </strong><strong><mark>BƯỚC 3</mark></strong><strong>: TÁC ĐỘNG: tiêu cực, a/hưởng xấu đến v/hóa g/tiếp và v/hóa ứng xử<br>+ t/hiện sự thiếu v/hóa trong ứng xử của người s/dụng ngôn ngữ, không tạo ra được m/đích g.tiếp mong muốn, nhiều khi tạo ra ác cảm, hiểu lầm, mâu thuẫn, xô sát không đáng có.<br>+ làm mất đi sự trong sáng, vẻ đẹp đáng trân trọng, tôn vinh của t/việt<br>- </strong><strong><mark>BƯỚC 4: </mark></strong><strong>NGUYÊN NHÂN, GIẢI PHÁP<br>+ Nguyên nhân: xảy ra chủ yếu do những n/nhân chủ quan: ý thức kém, muốn t/hiện b/thân, không kìm chế được c/xúc nên văng ra những lời lẽ thiếu lịc sự; do hiểu biết h/chế về quy tắc ngôn ngữ, chuẩn mực trong sử dụng ngôn ngữ, chưa có t/cảm yêu mến, trân trọng đúng mực với tiếng mẹ đẻ; do xu thế t/đại, xã hội hội nhập, chúng ta phải chịu sự xâm lấn của tiếng nước ngoài<br>+ Giải pháp:<br>- </strong><strong><mark>BƯỚC 5: </mark></strong><strong>NÊU PHẢN ĐỀ, RÚT RA BÀI HỌC<br>+ Nêu phản đề: Bên cạnh những đ/tượng...<br>+ Rút ra bài học trong nhận thức và hành động<br><br><br></strong><strong><mark>DẠNG 2: NL VỀ 1 TƯ TƯỞNG, QUAN ĐIỂM<br>* </mark></strong><strong>TƯ TƯỞNG, QUAN ĐIỂM: những ý kiến, n/xét, bìn luận, đánh gia của một cá nhân, hoặc một lớp người,..về v/đề nào đó thuộc đ/sống xh, n/thức, tư tưởng, lối sống.<br>&nbsp;Tư tưởng, quan điểm đem ra n/luận thường là những tư tưởng lớn..<br>* các bước cần triển khai<br></strong><strong><mark>BƯỚC 1: GIAỈ THÍCH: </mark></strong><strong>- những t/ngữ quan trọng<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;- ý nghĩ của cả câu nói</strong><strong><mark><br>BƯỚC 2: BÌNH LUẬN:</mark></strong><strong>- Tính đúng/sai, phải/trái&nbsp; của v/đề cần n/luận (hoàn toàn đúng/ hoàn toàn sai/ đúng những chưa đầy đủ toàn diện; còn phiến diện)<br>- vai trò, tác động (tầm ảnh hưởng của tư tưởng, đạo lí đến n/thức và h/động của đ/sống xh)<br></strong><strong><mark>BƯỚC 3: PHÂN TÍCH VÀ CHỨNG MINH </mark></strong><strong>tính đúng/sai, phải/trái của v/đề<br></strong><strong><mark>BƯỚC 4: NÊU PHẢN ĐỀ VÀ RÚT RA BÀI HỌC<br>* ĐỀ LUYÊN TẬP<br>Đề 2: Tục nhữ VN có câu: "Im lặng là vàng" song nhà triết học Pytago lại k/định: " C/đời anh sẽ chấm dứt ngay khi anh im lặng trước những v/đề hệ trọng". Trình bày q/điểm riêng của a/c bằng đoạn văn ngắn khoảng 200 chữ.<br>Gợi ý:<br>BƯỚC 1: GIAỈ THÍCH:<br>BƯỚC 2: BÌNH LUẬN:<br>BƯỚC 3: PHÂN TÍCH VÀ CHỨNG MINH<br>BƯỚC 4: NÊU PHẢN ĐỀ VÀ RÚT RA BÀI HỌC<br><br><br>DẠNG 3: NL VỀ ĐẠO LÍ, NĂNG LỰC, PHẨM CHẤT, LỐI SỐNG...<br>* Đạo lí</mark></strong><strong>: là những quy tắc ứng xử đẹp đẽ của con người trong các mối quan hệ xh</strong><strong><mark><br>VD:<br>* Phương pháp làm bài:<br>BƯỚC 1: GIẢI THÍCH:<br>BƯỚC 2: NÊU NHỮNG KHÍA CẠNH BIỂU HIỆN CỦA NHỮNG NĂNG LỰC, P/CHẤT, LỐI SỐNG<br>BƯỚC 3: TÁC ĐỘNG <br></mark></strong><strong>+tích cực (năng lực, p/chất, l/sống tốt đẹp)<br>+tiêu cực (năng lực kém, p/chất, l/sống không đẹp)<br>=&gt; bản thân mỗi người, xã hội</strong><strong><mark><br>BƯỚC 4: NÊU PHẢN ĐỀ&nbsp; </mark></strong><strong>(hiện tượng trái chiều)</strong><strong><mark><br>VÀ RÚT RA BÀI HỌC&nbsp; </mark></strong><strong>(làm t/nào để phát huy những năng lực, p/chất, l/sống đẹp/ làm t/nào để tránh những lối sông, p/chất chưa tốt)</strong><strong><mark><br>* Đề luyện tập:<br>Đề 3: Lối sống buông thả-nhận thức và hành động của a/c.</mark></strong></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-03-02 03:55:04 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2072794670</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vở Ghi Ngày 3/3</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2075070941</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1596256152/ed01f84c917a9a38cdc71de41c5cb672/inbound6222869070324751321.jpg" />
         <pubDate>2022-03-03 04:47:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2075070941</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2075072187</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1596256152/60fa2b1ce6bb1e0df3252dd2656cf2dd/inbound5971070743299729793.jpg" />
         <pubDate>2022-03-03 04:47:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2075072187</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2075073450</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1596256152/c24533dd03695dac55b5bc90a538fbf9/inbound7291846682000755545.jpg" />
         <pubDate>2022-03-03 04:48:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2075073450</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2075091586</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1506509958/07e13469022ef6b32ec48fd8a9773ad8/image.jpg" />
         <pubDate>2022-03-03 05:01:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2075091586</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2075092136</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1506509958/5f37c5cc7610e82111b7809f91a9bba8/image.jpg" />
         <pubDate>2022-03-03 05:02:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2075092136</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2075092681</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1506509958/e5136a5dfb3d1df27f80d581c9329c3d/image.jpg" />
         <pubDate>2022-03-03 05:02:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2075092681</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2075786044</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1610205878/fd45e182be9d659f9cc2aec4397730a8/z3228529462759_a6554453674145f48bd1e4951b237b81.jpg" />
         <pubDate>2022-03-03 13:29:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2075786044</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2075787982</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1610205878/6cae5bee985b02274123c5fd10f02755/z3228529471765_17bb3b89eeaa71ac5b2d1e125f9f6ac9.jpg" />
         <pubDate>2022-03-03 13:30:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2075787982</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2075788436</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1610205878/8b44c552e06249765135ea3584b773d2/z3228529486546_c2425abf905ea9e8f3760cc387b8500c.jpg" />
         <pubDate>2022-03-03 13:30:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2075788436</guid>
      </item>
      <item>
         <title>dàn ý theo yêu cầu 3/3/2022</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2076059630</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1459543768/2314f3f06cef08a5889ac7dd26cb7522/v1.jpg" />
         <pubDate>2022-03-03 15:32:33 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2076059630</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2076060388</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1459543768/fa1c97ae4f09e2239ebb5c0a25b1efe9/v2.jpg" />
         <pubDate>2022-03-03 15:32:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2076060388</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2076063064</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1452263322/6d916ff00cb0a14d94d852fc971ca734/8ce297a802fbcda594ea.jpg" />
         <pubDate>2022-03-03 15:34:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2076063064</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2076063956</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1452263322/e592181ea6348a194ae998ea2caaf4dd/6a59111f844c4b12125d.jpg" />
         <pubDate>2022-03-03 15:34:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2076063956</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2076064568</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1452263322/ffbf5c8119dc0a6a211ef1ad65204228/351fa25d370ef850a11f.jpg" />
         <pubDate>2022-03-03 15:34:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2076064568</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2076065056</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1452263322/7b9ca6884c9a134266b4e9ed5eb4b83c/a4a28e9c1bcfd4918dde.jpg" />
         <pubDate>2022-03-03 15:35:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2076065056</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2076065576</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1452263322/4a893ba60578f2153b748c42cceab6f5/fa9d9ca709f4c6aa9fe5.jpg" />
         <pubDate>2022-03-03 15:35:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2076065576</guid>
      </item>
      <item>
         <title>1. Mở bài- Giới thiệu vấn đề nghị luận: Có phải lúc nào im lặng cũng là vàng?                      2. Thân bài: Bàn luận vấn đề- Trong cuộc sống của chúng ta, im lặng mang đến vô vàn những giá trị: im lặng để cảm thông, thấu hiểu mọi điều, mọi người; im lặng giúp ta tập trung làm việc cao hơn từ đó cho năng suất lao động lớn hơn; im lặng cũng là cách để ta thư giãn tâm hồn sau những ồn ào, vất vả của cuộc sống,...- Nhưng không phải lúc nào im lặng cũng là vàng:+ Im lặng trước cái xấu, cái ác đang hoành hành đó là sự im lặng sai lầm. Ta không hiếm bắt gặp những kẻ móc túi trên xe bus, có nhiều người sợ liên lụy, phiền phức liền im lặng lẩn tránh. Sự im lặng đó tạo điều kiện cho cái xấu lên ngôi, lây lan, phát triển sự im lặng ở đây đồng nghĩa với lối sống thờ ơ, vô trách nhiệm.+ Im lặng đôi khi cũng mang đến những thiệt thòi không đáng có. + Im lặng còn có thể tàn phá một mối quan hệ tốt đẹp. Hẳn bạn đã từng có những cuộc tranh luận nảy lửa với một ai đó, nếu cả hai cùng im lặng không trao đổi để tìm ra hướng giải quyết chung, chắc chắn mối quan hệ của hai người cũng chấm dứt từ đó.    3. Kết bài:- Im lặng là cần thiết trong cuộc sống, nhưng không phải lúc nào ta cũng im lặng. Hãy lựa chọn lời nói, thời điểm, phát ngôn thích hợp để vừa giúp bản thân, vừa thúc đẩy xã hội phát triển.                    </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2076967897</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-03-04 01:14:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2076967897</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2076981285</link>
         <description><![CDATA[<div>Nộp&nbsp;vở ngày 3/3</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1444985235/d6fd7d74c3d7ce026cf1459cb1f50ba8/IMG20220304081630.jpg" />
         <pubDate>2022-03-04 01:21:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2076981285</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2076984157</link>
         <description><![CDATA[<div>Nộp vở ngày 3/3</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1444985235/da20269abcfca51ef5428850d9d92819/IMG20220304081543.jpg" />
         <pubDate>2022-03-04 01:22:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2076984157</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nộp vở ngày 3/3</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2076986286</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1444985235/f756ac0d8ead03d7aeae3f893f9b7f23/IMG20220304081554.jpg" />
         <pubDate>2022-03-04 01:24:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2076986286</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2077180403</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1598009739/fd79385af4d963410d5da9c0c20019e3/IMG20220304101004.jpg" />
         <pubDate>2022-03-04 03:14:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2077180403</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2077181986</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1598009739/50eedb7960f0e8ef12649cf9a0945230/IMG20220304101011.jpg" />
         <pubDate>2022-03-04 03:15:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2077181986</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đề 2</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2077209270</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>1. Mở bài:<br></strong><br></div><div>– Giới thiệu vấn đề nghị luận: Im lặng là vàng. Thế nhưng, đôi khi, sự im lặng lại là biểu hiện của sự ích kỉ và nỗi sợ hãi của con người. Cớ những lúc, im lặng chưa hẳn đã là vàng.<br><br></div><div><strong>2. Thân bài:<br></strong><br></div><div>* Bàn luận vấn đề:<br><br></div><div>– Trong cuộc sống của chúng ta, im lặng mang đến vô vàn những giá trị:<br><br></div><div>+ Im lặng là biểu hiện của nghị lực, bản lĩnh của con người trong việc kiềm chết bản thân, điềm tĩnh và cẩn trọng trong lời nói, trong hành động.<br><br></div><div>+ Im lặng để cảm thông, thấu hiểu mọi điều, mọi người<br>+ Im lặng giúp ta tập trung làm việc cao hơn từ đó cho năng suất lao động lớn hơn.<br><br></div><div>+ Im lặng cũng là cách để ta thư giãn tâm hồn sau những ồn ào, vất vả của cuộc sống,…<br><br></div><div>– Nhưng không phải lúc nào im lặng cũng là vàng:<br><br></div><div>+ Im lặng trước cái xấu, cái ác đang hoành hành đó là sự im lặng sai lầm. Ta không hiếm bắt gặp những kẻ móc túi trên xe bus, có nhiều người sợ liên lụy, phiền phức liền im lặng lẩn tránh. Sự im lặng đó tạo điều kiện cho cái xấu lên ngôi, lây lan, phát triển sự im lặng ở đây đồng nghĩa với lối sống thờ ơ, vô trách nhiệm.<br><br></div><div>+ Im lặng đôi khi cũng mang đến những thiệt thòi không đáng có. Bởi vì im lặng mà người khác không phát hiện hay chú ý đến mình. Nhiều người tỏ ra xem thường những người chỉ biết im lặng.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;+ Im lặng còn có thể tàn phá một mối quan hệ tốt đẹp. Hẳn bạn đã từng có những cuộc tranh luận nảy lửa với một ai đó, nếu cả hai cùng im lặng không trao đổi để tìm ra hướng giải quyết chung, chắc chắn mối quan hệ của hai người cũng chấm dứt từ đó.<br><br></div><div><strong>3. Kết bài:<br></strong><br></div><div>Khẳng định vấn đề: Im lặng là cần thiết trong cuộc sống, nhưng không phải lúc nào ta cũng im lặng. Hãy lựa chọn lời nói, thời điểm, phát ngôn thích hợp để vừa giúp bản thân, vừa thúc đẩy xã hội phát triển.<br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-03-04 03:32:33 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2077209270</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2077225270</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1596256152/8201921d04f59397ee2a5add9552cc34/inbound64947493672643141.jpg" />
         <pubDate>2022-03-04 03:43:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2077225270</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2077226574</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1596256152/67ff0bbfd553824ccb1d7c8e9e888d6f/inbound2216722463005980914.jpg" />
         <pubDate>2022-03-04 03:44:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2077226574</guid>
      </item>
      <item>
         <title>ĐỀ LUYỆN TẬP ĐỌC HIỂU-NLXH</title>
         <author>nguyenthithu18977</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2108855129</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1299061697/1133cf5fa57a734968c826da20b4c576/___LUY_N_T_P___C_HI_U_NLXH.doc" />
         <pubDate>2022-03-23 03:11:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2108855129</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2108981023</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1639255654/45a02767d1c048da5b69647d7847f779/inbound1465731009.jpg" />
         <pubDate>2022-03-23 04:56:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2108981023</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2108983024</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1639255654/3d4dbb23321e5de08833ddfdf9571c8a/inbound891455874.jpg" />
         <pubDate>2022-03-23 04:57:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2108983024</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2109035786</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1596810920/be41441990bbcefda69a3bb11553fc8c/20220323_122910.jpg" />
         <pubDate>2022-03-23 05:35:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2109035786</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2109042856</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1596810920/41bce02b3d4f7c57df8ebd48cb7100ba/20220323_122844.jpg" />
         <pubDate>2022-03-23 05:41:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2109042856</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Làm đề ngày 23/3</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2109639875</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1444985235/84af6339599e31de38a2701d27113491/IMG20220323195600.jpg" />
         <pubDate>2022-03-23 13:00:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2109639875</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2109639993</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1445099479/37ebd82a9daf60b1b47a1acd33d7dddd/z3284389890427_603ef3d15977790d1587e23aaabf8776.jpg" />
         <pubDate>2022-03-23 13:00:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2109639993</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2109640663</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1445099479/5738fd3e9c21b84b7399756a863d19d7/z3284389926793_e6c247c16f674958d3a95a5fad365e87.jpg" />
         <pubDate>2022-03-23 13:00:33 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2109640663</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2109641310</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1445099479/a1b1e1445d0f8cef56f34a789ac941f9/z3284389954276_a19a081c571de57f1973dde5540c17a9.jpg" />
         <pubDate>2022-03-23 13:00:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2109641310</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2109641455</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1444985235/ebbfebb16308df74ad32ff3b545cae0c/IMG20220323195609.jpg" />
         <pubDate>2022-03-23 13:00:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2109641455</guid>
      </item>
      <item>
         <title>bài tập ngày 23/3</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2109780937</link>
         <description><![CDATA[<div>Câu 1.<br>&nbsp;Đoạn trích trên được viết theo thể thơ: Tự do</div><div>Câu 2.&nbsp;<br>Trong đoạn trích, những yếu tố thuộc về tiềm lực tự nhiên của đất nước là: đất đai, khoáng sản, châu báu, rừng đại ngàn, phù sa, sông bể.</div><div>Câu 3:<br>&nbsp;Hiệu quả của việc sử dụng câu hỏi tu từ trong đoạn trích:</div><div>- Xoáy sâu vào vấn đề: Tiềm lực tự nhiên của đất nước và việc đánh thức tiềm lực ấy.</div><div>- Sự trăn trở của người viết về việc đánh thức tiềm lực quốc gia và khai thác có hiệu quả những nguồn lực đó.</div><div>- Nhắc nhở mỗi cá nhân: tự vấn, tự hỏi về sự đối lập giữa cuộc sống hiện tại còn nghèo khó và sự giàu có của tài nguyên đất nước</div><div>Câu 4.<br>&nbsp;Quan điểm của tác giả trong hai dòng thơ: phù hợp với thực tiễn hiện nay. Vì: trước hết, hai câu thơ là sự tự hào về tài nguyên thiên nhiên phong phú của đất nước. Nhưng trên tất cả là sự trăn trở của tác giả về việc chúng ta mới chỉ khai thác và tận dụng được một phần nhỏ trong sự giàu có của tài nguyên đất nước, mà sự khai thác ấy thực tế chưa đúng cách, chưa đi cùng sự bảo vệ, giữ gìn khiến tài nguyên thiên nhiên đất nước hoang phí, dần cạn kiệt. Trong khi đó tiềm lực thực sự của đất nước còn phong phú, còn cần sự "đánh thức" một cách khoa học, bền vững.<br>II làm văn&nbsp;<br>câu 1&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; bài làm&nbsp;<br>Đất nước Việt Nam tươi đẹp là một phần trong mỗi con người. Hòa bình, hạnh phúc hôm nay đều được đánh đổi bằng máu xương của cha ông. Vì vậy, mỗi người lại càng cần phải có ý thức trong việc phát triển đất nước và đặc biệt là đánh thức tiềm lực đất nước. Gọi là đánh thức tiềm lực đất nước vfi đất nước ta đã có quá nhiều tài nguyên ngủ yên. Tài nguyên ở đây không chỉ là khoáng sản, đất đai mà còn là tài nguyên con người. Những khoáng sản, tài nguyên thiên nhiên được khai thác hay không dựa trên sự phát triển của xã hội này. Và mỗi người là một tài nguyên quý giá cần được gìn giữ. Chúng ta phải nhận ra trách nhiệm của bản thân vơi đất nước. Đồng thời, ta cần biết đâu là sứ mệnh của mình. Ta không nên chỉ ích kỉ, chỉ biết sống cho riêng mình. Học tập, tu dưỡng, rèn luyện là cách ta trau dồi bản thân cũng như tạo nên tiền đề phát triển đất nước. Còn nếu như chỉ mãi lặng thinh, chỉ mãi thờ ơ, vô cảm, thì đất nước ta sẽ đi đâu về đâu. Chúng ta cần có hành động cụ thể. Hành động của ta có thể nhỏ nhoi nhưng lại mang giá trị lan tỏa để cống hiến cho quê hương, cho đất nước. Tiềm lực đất nước cần thức trong mỗi con người. Nhưng không chỉ trogn bản thân ta. Chúng ta cũng hãy tác động tích cực đến cộng đồng với những hành động tuyên truyền ,lan tỏa giá trị. Đời sống dài với nhiều gian truân. Con người không chỉ thể ích kỉ. Chúng ta là một phần của đất nước và là những chúa sơn lâm kiên cường đánh thức rừng già!&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-03-23 14:03:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2109780937</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2109851138</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1452263322/d12125005b471890b372514f4fc2e4d1/z3284711311658_ed13e4ead4b28d1def8f7e58157fd177.jpg" />
         <pubDate>2022-03-23 14:33:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2109851138</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>nguyenthithu18977</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2110833434</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1299061697/c055abfdb45ef23144e087bf095cf930/___LUY_N_T_P__TI_P_.doc" />
         <pubDate>2022-03-24 01:16:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2110833434</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>nguyenthithu18977</author>
         <link>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2110975476</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1299061697/45c3c973a386779923f0367012a69e34/___LUY_N_T_P__TI_P_.doc" />
         <pubDate>2022-03-24 02:47:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenthithu18977/cothuvan12a3/wish/2110975476</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
