<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title>TÀI LIỆU HỌC TẬP LỚP 4A4 NĂM HỌC 2025- 2026 (CÔ GIÁO MAI LIÊN) by Lanh Pham</title>
      <link>https://padlet.com/lamanhpham099/atb8oupj51rmujjk</link>
      <description></description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2025-09-17 05:24:41 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2025-10-14 13:59:52 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url></url>
      </image>
      <item>
         <title>SỰ TÍCH TRẦU CAU</title>
         <author>lamanhpham099</author>
         <link>https://padlet.com/lamanhpham099/atb8oupj51rmujjk/wish/3589142648</link>
         <description><![CDATA[<p>Ngày xưa có Tân và Lang là hai anh em ruột, dáng người và mặt mày giống nhau như đúc, chính người nhà cũng nhiều phen nhầm lẫn. Cha họ là một người cao to nhất trong vùng từng được vua Hùng triệu về Phong Châu ban thưởng và đặt tên là Cao. Từ đó gia đình lấy họ "Cao".</p><p>Hai anh em lớn lên thì cha mẹ qua đời. Cả hai quyến luyến nhau không rời nửa bước. Người cha trước khi mất có gửi gắm Tân cho một đạo sĩ họ Lưu, Lang không chịu ở nhà một mình cũng cố xin cùng được học với anh. Đạo sĩ họ Lưu có cô con gái cùng lứa tuổi với họ.</p><p>Để biết ai là anh, ai là em, một hôm cô gái họ Lưu bày ra một mẹo nhỏ. Giữa lúc họ đang đói, nàng chỉ dọn cho họ một bát cháo với một đôi đũa. Đứng sau khe vách, nàng thấy người này nhường cháo cho người kia ăn nên cô biết đó là người anh.Tân và cô gái gặp gỡ và yêu nhau. Đạo sĩ họ Lưu vui lòng gả con cho Tân. Sau khi cưới, hai vợ chồng đến ở một ngôi nhà mới, có Lang ở chung.</p><p>Từ ngày lấy vợ, Tân không âu yếm em như trước nữa. Lang nghĩ anh "mê vợ quên ta" trong lòng chán nản buồn bực.</p><p>Một hôm Lang và Tân cùng lên nương đến tối mịt mới về. Lang về trước làm vợ Tân nhầm liền ôm chầm lấy, lúc đó Tân bước vào nhà và ghen em, hững hờ với Lang. Lang vừa giận vừa thẹn. Chàng bỏ nhà ra đi lúc trời mới mờ sáng, trong lòng bực bội. Mấy ngày đường, Lang tới bờ một con sông lớn nước chảy xiết. Lang quyết không chịu trở lại, cúi gục trên bờ, ôm mặt khóc. Chàng khóc mãi, khóc mãi, đến nỗi những con chim đi kiếm ăn khuya vẫn còn nghe tiếng nức nở. Sáng hôm sau, Lang hóa đá.</p><p>Mãi sau vẫn không thấy em về, Tân bổ đi tìm không thấy tăm dạng. Biết là em bỏ đi vì giận mình, chàng hối hận. Hôm sau nữa, cũng không thấy về, Tân hoảng hốt để vợ lại nhà, cất bước đi tìm. Chàng đến bờ con sông thấy em đã hóa thành đá. Tân đứng bên cạnh hòn đá khóc mãi cho đến lúc chết và hóa thành một cây thân mọc thẳng lên trời, bên cạnh hòn đá.</p><p>Vợ Tân chờ mãi không thấy chồng về, cũng bỏ nhà đi tìm. Nàng cũng tới con sông khóc cạn cả nước mắt và chết hóa thành một cây dây quấn quanh lấy cây kia.</p><p>Đợi mãi không thấy ba người về, vợ chồng đạo sĩ nhờ mọi người chia nhau tìm kiếm. Trước hòn đá và hai cây lạ, họ dựng miếu thờ cả ba người trẻ tuổi ở ven sông. Nhân dân quanh vùng gọi là miếu "anh em hòa thuận, vợ chồng tiết nghĩa".</p><p>Một năm nọ trời hạn hán rất dữ chỉ có hai cây mọc bên cạnh hòn đá trước miếu là vẫn xanh mượt. Mọi người cho là linh dị. Vua Hùng một hôm ngự giá qua xứ đó. Khi đi qua trước miếu, vua ngạc nhiên hỏi: -"Miếu này thờ vị thần nào? Mấy loại cây này ta chưa từng thấy bao giờ?". Lạc tướng cho gọi mấy cụ già ở quanh vùng đến hỏi. Hùng Vương càng nghe, không ngăn được sự cảm động. Vua vạch lá trèo lên nhìn khắp mọi chỗ và sai một người trèo cây hái quả xuống nếm thử. Vị chát không có gì lạ. Nhưng khi nhai với lá cây dây thì một vị là lạ đến ở đầu lưỡi: nó vừa ngon ngọt, vừa thơm cay.</p><p>Tự nhiên có một viên quan hầu kêu lên: - "Trời ơi! Máu!". Thì ra những bãi nhai quả và lá của hai thứ cây đó một khi nhổ xuống đá bỗng đỏ ối ra như máu. Vua sai lấy cả ba thứ nhai lẫn với nhau thì bỗng người thấy nóng bừng như có hơi men, môi đỏ tươi sắc mặt hồng hào tươi đẹp. Vua bảo:</p><p>- Thật là linh dị! Đúng là họ rồi! Tình yêu thương của họ thật là nồng nàn thắm đỏ.</p><p>Từ đó vua Hùng ra lệnh cho mọi nơi phải gây giống cho nhiều hai loại cây ấy, bắt buộc trai gái khi kết hôn thế nào cũng phải tìm cho được ba món: trầu, cau và vôi cho mọi người nhai nhai nhổ nhổ một tý để ghi nhớ tình yêu không bao giờ phai lạt. Từ đó dân Việt mới có tục ăn trầu.</p><p>Cho đến ngày nay, trầu cau vẫn là thứ không thể thiếu việc giao hiếu, kết thân và cưới hỏi của người Việt và thể hiện rõ tình cảm thắm thiết giữa những người thân trong gia đình.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-09-17 05:27:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lamanhpham099/atb8oupj51rmujjk/wish/3589142648</guid>
      </item>
      <item>
         <title>SỰ TÍCH CÂY KHẾ</title>
         <author>lamanhpham099</author>
         <link>https://padlet.com/lamanhpham099/atb8oupj51rmujjk/wish/3589156263</link>
         <description><![CDATA[<p>Ngày xửa, ngày xưa, có hai anh em nhà kia cha mẹ mất sớm. Khi người anh lấy vợ, người anh không muốn ở chung với em nữa, nên quyết định chia gia tài. người anh tham lam chiếm hết cả nhà cửa, ruộng vườn, trâu bò của cha mẹ để lại, chỉ cho người em một túp lều nhỏ và mảnh vườn, trong đó có cây khế ngọt. người em không chút phàn nàn, ngày ngày chăm bón cho cây khế và cày thuê, cuốc mướn nuôi thân.</p><p>&nbsp;– Năm ấy, cây khế trong vườn nhà người em bỗng sai quả lạ thường, cành nào cũng trĩu quả ngọt, vàng ruộm. người em nhìn cây khế mà lòng khấp khởi mừng thầm tính chuyện bán khế lấy tiền đong gạo.</p><p>&nbsp;– Một hôm, có con chim phượng hoàng từ đâu bay đến mổ khế ăn lia lịa. Thấy thế, người em vác gậy đuổi chim và nói.</p><p>&nbsp;– Này chim! Ta chỉ có duy nhất một cây khế này, và ta đã khó nhọc chăm sóc đến ngày hái quả. Nay nếu chim ăn hết ta chẳng có gì để bán đi mua gạo. Vậy nếu chim muốn ăn hãy mang trả ta vật gì có giá.</p><p>&nbsp;– Chim vừa ăn vừa đáp:</p><p>&nbsp;Ăn một qủa, trả cục vàng</p><p>&nbsp;May túi ba gang, mang theo mà đựng</p><p>&nbsp;Người em nghe chim nói vậy, cũng đành để chim ăn. Mấy hôm sau, chim lại đến ăn khế. Ăn xong chim bảo người em lấy túi ba gang đi lấy vàng. Chim bay mãi, bay mãi qua núi cao, qua biển rộng bao la và đỗ xuống một hòn đảo đầy vàng bạc, châu báu. Người em đi khắp đảo nhìn ngắm thỏa thích rồi lấy vàng bỏ đầy túi ba gang. Chim phượng hoàng bảo lấy thêm, người em cũng không lấy. Xong xuôi, người em trở về nhà.</p><p>&nbsp;– Từ đó, người em trở nên giàu có, người em mang thóc, gạo, vàng bạc giúp đỡ những người nghèo khổ. Người anh nghe tin em giàu có liền sang chơi và đòi đổi nhà, ruộng vườn của mình lấy cây khế ngọt, người em cũng đồng ý đổi cho anh. Thế là người anh chuyển sang nhà người em.</p><p>&nbsp;– Mùa năm sau, cây khế lại sai trĩu quả, chim phượng hoàng lại tới ăn. người anh giả vờ khóc lóc, chim bèn nói:</p><p>&nbsp;Ăn một qủa, trả cục vàng</p><p>&nbsp;May túi ba gang, mang theo mà đựng</p><p>&nbsp;Người anh mừng quá, giục vợ may túi không phải 3 gang mà là 12 gang để đựng được nhiều vàng. Hôm sau chim phượng hoàng đưa người anh đi lấy vàng. Vừa đến nơi, người anh đã vội vàng vơ lấy vàng bỏ vào túi, lại còn giắt thêm đầy vàng bỏ vào người. Chim cố sức bay nhưng đường thì xa mà vàng thì nhiều nên nặng quá. Mấy lần chim bảo người anh vứt bớt vàng đi cho nhẹ nhưng người anh vẫn khăng khăng ôm lấy túi. Chim phượng hoàng bực tức, nó nghiêng cánh hất người anh tham lam xuống biển.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-09-17 05:35:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lamanhpham099/atb8oupj51rmujjk/wish/3589156263</guid>
      </item>
      <item>
         <title>BÁNH CHƯNG BÁNH GIÀY</title>
         <author>lamanhpham099</author>
         <link>https://padlet.com/lamanhpham099/atb8oupj51rmujjk/wish/3589157874</link>
         <description><![CDATA[<p>Ngày xưa ở nước ta, trong số các con của vua Hùng Vương thứ 6, có một con người con trai tên là Lang Liêu. Các hoàng tử khác đều văn hay giỏi võ, nhưng lại không thích lao động chân lấm tay bùn, chỉ riêng có Lang Liêu là chăm chỉ hiền lành, ưa nghề trồng trọt. Chàng đem vợ con về quê vỡ nương, cuốc bãi, cùng với bà con nông dân đổ mồ hôi làm ăn nuôi miệng.<br>Một hôm vào dịp cuối năm, vua Hùng Vương cho vời đông đủ các con đến và bảo:<br>-&nbsp;&nbsp; &nbsp;Đến ngày hội lớn đầu năm, ai tìm được của ngon vật lạ nhất đem đến để tế trời, đất thì sẽ được nhường ngôi.<br>Các hoàng tử tỏa đi khắp bốn phương. Người thì lên rừng đốc thúc bộ hạ săn thú, bắn chim. Kẻ thì xuống biển bắt dân chài mò trai, bắt cá. Riêng Lang Liêu rất băn khoăn lo lắng không biết tìm vật gì dâng lên vua cha.<br>Một hôm đi thăm đồng, Lang Liêu thấy ruộng lúa nếp của mình đã chín vàng, những hạt nếp vừa mẩy, vừa thơm, tưởng không còn gì quý&nbsp;hơn nữa. Chàng về gọi vợ cùng bà con trong xóm ra gặt. Đến quá trưa gặt xong thửa ruộng, mọi người vui vẻ gánh lúa về.<br>Tối hôm ấy, Lang Liêu đập lúa dưới trăng. Nhìn lên bầu trời trong xanh bát ngát, nhớ đến cánh đồng lúa mênh mông nuôi sống con người. Lang Liêu chợt nghĩ:<br>-&nbsp;&nbsp; &nbsp;Ta sẽ dùng nếp trắng thơm này để làm hai thứ bánh, một cái tròn như hình bầu trời cao xa, một thứ vuông giống như hình đất màu mỡ. Bánh ngon, thơm lại ngụ ý tốt, nhất định phải được mọi người quý trọng, vua cha hẳn vui lòng.<br>Sáng hôm sau Lang Liêu đem ý định của mình nói với vợ con. Ai nấy đều mừng, cùng nhau bàn cách làm hai thứ bánh.<br>Họ lấy gạo nếp vo kĩ, đồ xôi thật dẻo, cho vào cối giã thật mịn rồi nặn một thứ bánh hình tròn mịn màng và trong trẻo như bầu trời.<br>Họ lại lấy lá dong tươi gói gạo nếp sống, ngâm đỗ xanh làm một thứ bánh hình vuông có màu xanh cây cỏ, có những thứ hạt nuôi sống người, giống như mặt đất.<br>Để tiêu biểu cho loài muông thú trên mặt đất, Lang Liêu xách nỏ vào rừng săn lợn to để làm nhân thịt vào bánh.<br>Bà con xung quanh vốn mến tính hiền lành chăm chỉ của Lang Liêu, thấy vợ chồng chàng bận rộn làm hai thứ bánh quý bèn kéo nhau sang làm giúp.<br>Gói xong bánh hình đất, hai vợ chồng Lang Liêu xếp cả vào nồi lớn, nhóm lửa đun kĩ. Cả đêm hôm ấy, gia đình Lang Liêu quây quần xung quanh bếp lửa cho đến khi bánh chín.<br>Sáng hôm sau, vợ chồng Lang Liêu sung sướng nhìn lại hai chiếc mâm lớn xếp đầy hai thứ bánh quý, kết quả công sức và sáng tạo của mình. Hai thứ bánh quả là món quà quý nhất, ngon nhất, lạ nhất để chàng dâng lên chúc thọ vua cha nhân ngày hội lớn đầu năm.<br>Đúng ngày hội lớn, các hoàng tử mang của ngon, vật lạ các nơi về đông đủ. Bên cạnh những thứ đó, lễ vật của Lang Liêu có vẻ đơn giản quá. Nhưng sau khi nghe Lang Liêu tâu trình rõ cách làm và ý nghĩa của hai thứ bánh quý thì vua cha rất vui mừng và cảm động .<br>Vua Hùng chọn hai thứ bánh của Lang Liêu để tế trời đất rồi chia cho các hoàng tử và các quần thần nếm thử. Ai cũng phải khen bánh có vị ngon, hương lạ mà lại có ý nghĩa sâu xa, đúng là của quý nhất trong ngày hội đầu năm.<br>Vua Hùng thứ 6 bèn truyền ngôi cho Lang Liêu, ngài đặt tên cho hai thứ bánh quý, bánh giầy là hình bầu trời, bánh chưng là bánh hình mặt đất.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-09-17 05:37:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lamanhpham099/atb8oupj51rmujjk/wish/3589157874</guid>
      </item>
      <item>
         <title>CÁI ÁO CỦA BA</title>
         <author>lamanhpham099</author>
         <link>https://padlet.com/lamanhpham099/atb8oupj51rmujjk/wish/3589158396</link>
         <description><![CDATA[<p>Ngày xưa ở nước ta, trong số các con của vua Hùng Vương thứ 6, có một con người con trai tên là Lang Liêu. Các hoàng tử khác đều văn hay giỏi võ, nhưng lại không thích lao động chân lấm tay bùn, chỉ riêng có Lang Liêu là chăm chỉ hiền lành, ưa nghề trồng trọt. Chàng đem vợ con về quê vỡ nương, cuốc bãi, cùng với bà con nông dân đổ mồ hôi làm ăn nuôi miệng.<br>Một hôm vào dịp cuối năm, vua Hùng Vương cho vời đông đủ các con đến và bảo:<br>-&nbsp;&nbsp; &nbsp;Đến ngày hội lớn đầu năm, ai tìm được của ngon vật lạ nhất đem đến để tế trời, đất thì sẽ được nhường ngôi.<br>Các hoàng tử tỏa đi khắp bốn phương. Người thì lên rừng đốc thúc bộ hạ săn thú, bắn chim. Kẻ thì xuống biển bắt dân chài mò trai, bắt cá. Riêng Lang Liêu rất băn khoăn lo lắng không biết tìm vật gì dâng lên vua cha.<br>Một hôm đi thăm đồng, Lang Liêu thấy ruộng lúa nếp của mình đã chín vàng, những hạt nếp vừa mẩy, vừa thơm, tưởng không còn gì quý&nbsp;hơn nữa. Chàng về gọi vợ cùng bà con trong xóm ra gặt. Đến quá trưa gặt xong thửa ruộng, mọi người vui vẻ gánh lúa về.<br>Tối hôm ấy, Lang Liêu đập lúa dưới trăng. Nhìn lên bầu trời trong xanh bát ngát, nhớ đến cánh đồng lúa mênh mông nuôi sống con người. Lang Liêu chợt nghĩ:<br>-&nbsp;&nbsp; &nbsp;Ta sẽ dùng nếp trắng thơm này để làm hai thứ bánh, một cái tròn như hình bầu trời cao xa, một thứ vuông giống như hình đất màu mỡ. Bánh ngon, thơm lại ngụ ý tốt, nhất định phải được mọi người quý trọng, vua cha hẳn vui lòng.<br>Sáng hôm sau Lang Liêu đem ý định của mình nói với vợ con. Ai nấy đều mừng, cùng nhau bàn cách làm hai thứ bánh.<br>Họ lấy gạo nếp vo kĩ, đồ xôi thật dẻo, cho vào cối giã thật mịn rồi nặn một thứ bánh hình tròn mịn màng và trong trẻo như bầu trời.<br>Họ lại lấy lá dong tươi gói gạo nếp sống, ngâm đỗ xanh làm một thứ bánh hình vuông có màu xanh cây cỏ, có những thứ hạt nuôi sống người, giống như mặt đất.<br>Để tiêu biểu cho loài muông thú trên mặt đất, Lang Liêu xách nỏ vào rừng săn lợn to để làm nhân thịt vào bánh.<br>Bà con xung quanh vốn mến tính hiền lành chăm chỉ của Lang Liêu, thấy vợ chồng chàng bận rộn làm hai thứ bánh quý bèn kéo nhau sang làm giúp.<br>Gói xong bánh hình đất, hai vợ chồng Lang Liêu xếp cả vào nồi lớn, nhóm lửa đun kĩ. Cả đêm hôm ấy, gia đình Lang Liêu quây quần xung quanh bếp lửa cho đến khi bánh chín.<br>Sáng hôm sau, vợ chồng Lang Liêu sung sướng nhìn lại hai chiếc mâm lớn xếp đầy hai thứ bánh quý, kết quả công sức và sáng tạo của mình. Hai thứ bánh quả là món quà quý nhất, ngon nhất, lạ nhất để chàng dâng lên chúc thọ vua cha nhân ngày hội lớn đầu năm.<br>Đúng ngày hội lớn, các hoàng tử mang của ngon, vật lạ các nơi về đông đủ. Bên cạnh những thứ đó, lễ vật của Lang Liêu có vẻ đơn giản quá. Nhưng sau khi nghe Lang Liêu tâu trình rõ cách làm và ý nghĩa của hai thứ bánh quý thì vua cha rất vui mừng và cảm động .<br>Vua Hùng chọn hai thứ bánh của Lang Liêu để tế trời đất rồi chia cho các hoàng tử và các quần thần nếm thử. Ai cũng phải khen bánh có vị ngon, hương lạ mà lại có ý nghĩa sâu xa, đúng là của quý nhất trong ngày hội đầu năm.<br>Vua Hùng thứ 6 bèn truyền ngôi cho Lang Liêu, ngài đặt tên cho hai thứ bánh quý, bánh giầy là hình bầu trời, bánh chưng là bánh hình mặt đất.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-09-17 05:37:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lamanhpham099/atb8oupj51rmujjk/wish/3589158396</guid>
      </item>
      <item>
         <title>TẤM CÁM</title>
         <author>lamanhpham099</author>
         <link>https://padlet.com/lamanhpham099/atb8oupj51rmujjk/wish/3589160701</link>
         <description><![CDATA[<p>Ngày xửa ngày xưa, có hai chị em cùng cha khác mẹ tên là Tấm và Cám. Mẹ Tấm mất sớm, còn cha Tấm cưới thêm mẹ Cám, cha Tấm vô cùng hết mực yêu thương cô, nhưng rồi ông bệnh nặng, không lâu sau đó thì qua đời.</p><p>Tấm phải sống chung với dì ghẻ là mẹ của Cám. Bà mẹ ghẻ là người cay nghiệt, hàng ngày bắt Tấm phải làm hết mọi công việc trong nhà còn Cám thì ngược lại được lêu lổng vui chơi tối ngày.</p><p>&nbsp;</p><p>Một hôm bà mẹ bảo 2 chị em Tấm và Cám ra đồng đi bắt cá. Bà mẹ dặn: “Hễ đứa nào bắt được nhiều cá hơn sẽ được thưởng”. Tấm vâng lời dặn của mẹ, chăm chỉ siêng năng bắt cá, chẳng chốc mà giỏ cá đã đầy, còn Cám mải rong chơi nên đã xế chiều rồi mà Cám vẫn chưa bắt được con nào. Thấy chị Tấm bắt được nhiều cá, Cám mới nảy ra ý định bảo Tấm:</p><p>- Chị Tấm ơi chị Tấm. Đầu chị lấm, chị hụp cho sâu kẻo về mẹ mắng.</p><p>Tấm tin lời em mình nên để giỏ cá nhờ em coi, lội xuống ao gội đầu. Trên bờ Cám đã trút hết giỏ cá của Tấm vào giỏ mình rồi chạy về nhà trước. Khi Tấm bước lên bờ thì giỏ cá không còn. Tấm ngồi khóc nức nở thì bỗng đột nhiên ông Bụt hiện lên hỏi:</p><p>- Tại sao con khóc?</p><p>Tấm kể hết sự tình xảy ra cho ông Bụt nghe, ông Bụt bảo Tấm tìm xem trong giỏ còn con nào không thì còn duy nhất một con cá bống. Ông Bụt mới cất lời:</p><p>- Thôi con hãy nín đi. Con đem con cá bống này về bỏ xuống giếng nuôi, mỗi ngày đem cơm cho bống ăn. Khi cho ăn con nhớ gọi bống: “Bống bống bang bang, Lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta, chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người.”</p><p>Nói xong Bụt biến mất. Tấm nghe lời Bụt dặn nên đem Bống về bỏ xuống giếng nuôi. Hàng ngày cứ đến bữa Tấm lại mang cơm ra cho bống, hai bát cơm thì Tấm chỉ ăn một, để dành một bát lại cho cá bống. Chẳng bao lâu sau, cá bống đã lớn nhanh như thổi.</p><p>&nbsp;</p><p>Thấy Tấm ngày ngày đem cơm ra giếng, dì ghẻ mới đem lòng sinh nghi, sai Cám rình xem thế nào. Cám về kể hết mọi chuyện cho mẹ biết. Sáng ngày hôm sau mẹ ghẻ cho Tấm đi chăn trâu ở đồng xa, bà ngọt ngào dặn Tấm rằng:</p><p>- Con ơi, đồng làng mình cấm chăn trâu. Con đi chăn trâu thì chăn đồng xa, chớ chăn đồng nhà làng bắt mất trâu.</p><p>Tấm nghe lời mẹ nên dẫn trâu đi thật xa. Ở nhà mẹ con Cám ra giếng gọi y như Tấm hay gọi mỗi ngày, cá nghe tiếng trồi lên miệng giếng, hai mẹ con Cám bắt bống đem làm thịt. Đến chiều chăn trâu về, Tấm đem cơm ra giếng kêu mà không thấy Bống lên, chỉ thấy nổi lên một cục máu đỏ. Thấy vậy Tấm ngồi khóc nức nở, Bụt hiện lên và hỏi:</p><p>- Làm sao con khóc?</p><p>Tấm lại kể hết cho Bụt nghe, lúc này Bụt mới bảo:</p><p>- Bống của con đã bị người ta ăn thịt rồi. Thôi con hãy nín đị! Về nhà lượm lấy xương cá bỏ vào bốn cái hũ và chôn dưới bốn chân giường.</p><p>Tấm nghe lời vào nhà tìm xương bống, nhưng tìm mãi không thấy đâu. Bỗng có con gà ở đâu chạy ra: “cục ta cục tác, cho ta nắm thóc, ta bới xương cho”. Tấm lấy nắm thóc cho gà ăn, gà vào trong bếp, bới đống tro ra thì thấy xương bống ở đó. Tấm nhặt lấy đem bỏ vào 4 lọ chôn bốn chân giường.</p><p>Ít lâu sau nhà Vua mở hội, mọi người nô nức đi xem hội. Mẹ con Cám chuẩn bị đi từ rất sớm, Tấm xin mẹ cho đi xem cùng thì dì ghẻ trộn một đấu thóc với một đấu gạo rồi bắt Tấm ngồi nhặt, khi nào nhặt xong thì mới được đi xem hội. Tấm lại khóc nức nở.</p><p>Bụt lại hiện lên và hỏi:</p><p>- Làm sao con khóc?</p><p>Tấm kể rõ sự tình cho Bụt nghe, Bụt sai một đàn chim sẻ xuống nhặt cho Tấm, chỉ một loáng một cái là đã xong. Nhưng Tấm không có quần áo đẹp đi xem hội, thế là cô lại ôm mặt khóc. Bụt lại hiện lên:</p><p>- Làm sao con khóc?</p><p>Tấm sụt sùi:</p><p>- Quần áo con rách rưới thế này sao có thể đi xem hội được?</p><p>Bụt đáp:</p><p>- Con hãy đào bốn hũ chôn ở bốn chân giường lên đi.</p><p>Tấm nghe lời vào đào bốn hũ lên, hũ thứ nhất mở ra là một bộ váy áo đẹp rực rỡ, hũ thứ hai mở ra là một đôi giày thêu rất đẹp, hũ thứ 3 là một con ngựa nhỏ xíu, nhưng kì lạ là khi đặt xuống đất, con ngựa bỗng chốc biến thành ngựa thật, hũ cuối cùng là một yên cương vững chắc. Tấm vui mừng khôn xiết, vội thay đồ rồi lên đường tiến kinh. Ngựa phóng một lúc đã tới kinh thành, nhưng chẳng may trên đường đi qua chỗ lội, Tấm đã vô tình đánh rơi một chiếc giày không kịp nhặt. Đến hội Tấm lấy khăn gói chiếc giày còn lại và chen vào biển người.</p><p>Giữa lúc ấy, đoàn quân hộ tống nhà Vua đi qua chỗ lầy mà Tấm đánh rơi mất giày, hai con voi ngự đầu đàn cứ cắm đầu xuống, không chịu đi, vua cho lính xem xét thì tìm ra được một chiếc giày, nhà Vua đưa lên ngắm nghía: “Giày đẹp thế này, hẳn là người đi nó cũng rất đẹp”.</p><p>Nhà vua ra lệnh cho tất cả đàn bà con gái đi trẩy hội thử giày, nếu ai đi vừa chiếc giày thì sẽ lấy về làm vợ. Ai ai cũng nô nức đến thử giày nhưng không một ai vừa, mẹ con Cám cũng qua thử nhưng không được, đến lượt Tấm, dì ghẻ mới bĩu môi: “Chuông khánh còn chẳng ăn ai. Nữa là mảnh chĩnh mảnh chai bờ rào”</p><p>Nhưng trái lại, khi Tấm thử giày, chiếc giày vừa như in, nàng đưa nốt chiếc thứ hai đang cầm trong tay thì đúng là một đôi, quân lính reo hò, nhà Vua thấy thế thì mừng khôn xiết, vội cho người rước nàng về cung.</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>Từ ngày đó mẹ con Cám căm giận lắm, nhân ngày giỗ cha, Tấm xin phép nhà vua về nhà để làm giỗ. Thấy Tấm về mẹ con Cám sẵn bụng không ưa nên đã bày mưu giết Tấm.</p><p>Mẹ ghẻ bảo Tấm:</p><p>- Nay là ngày giỗ cha con, con hãy trèo lên cây cau hái xuống cúng cha</p><p>Tấm vâng lời trèo lên cây cau thì ở dưới bà mẹ ghẻ đốn gốc, Tấm thấy cây rung rung mới hỏi.</p><p>- Dì ơi dì làm gì dưới đó thế ạ?</p><p>Dì ghẻ trả lời:</p><p>- Gốc này nhiều kiến quá, dì bắt kiến cho nó khỏi đốt con.</p><p>Tấm ngã xuống ao chết chìm. Bà mẹ ghẻ đem quần áo của Tấm cho Cám mặc và về cung nói dối với Vua rằng.</p><p>- Chị Tấm không may rớt xuống ao chết. Nay Cám là em vào thế chị.</p><p>Nhà Vua giận dữ nhưng không nói lời nào. Tấm chết đi biến thành con chim Vàng Anh, bay vào cung vua. Một lần Cám đang giặt áo cho nhà vua, bỗng nghe tiếng hót:</p><p>“Giặt áo chồng tao thì giặt cho sạch</p><p>Phơi áo chồng tao phơi lao phơi sào</p><p>Chớ phơi bờ rào rách áo chồng tao”</p><p>Cám nghe thấy thế sợ lắm,Vàng Anh ở trong cung thì hót líu lo, nhà Vua đi đâu Vàng Anh bay theo đó, thấy chim quyến luyến theo mình Vua bảo: “Vàng ảnh vàng anh, có phải vợ anh chui vào tay áo”</p><p>Chim bay đến đậu trên tay nhà vua rồi chui vào tay áo. Từ ngày đó nhà vua chỉ chăm lo cho chim, làm cho chim một cái chuồng bằng vàng, ngày ngày chăm sóc chim.</p><p>Cám thấy thế tức lắm về nhà hỏi ý mẹ, bà mẹ ghẻ xúi Cám bắt chim ăn thịt, lông chim mang đem chôn vào góc vườn, nhà vua biết được chuyện thì giận lắm. Góc vườn chỗ chôn lông chim Vàng Anh mọc ra hai cây xoan đào tỏa bóng sum suê, nhà vua thấy vậy bèn mắc võng ra nằm nghỉ ngơi. Cám lại về kể chuyện với mẹ, mẹ Cám lại xúi chặt hai cây xoan đi làm khung cửi, một lần ngồi dệt áo cho nhà Vua, nghe tiếng khung cửi kêu:</p><p>“Cót ca cót két</p><p>Lấy tranh chồng chị</p><p>Chị khoét mắt ra”</p><p>Cám vô cùng sợ hãi vội sai người mang khung cửi đi đốt, từ đống tro mọc lên một cây thị cành lá xanh tốt um tùm, nhưng lại chỉ có một quả. Một buổi nọ, có một bà cụ đi chợ qua, ngồi nghỉ dưới gốc cây, thấy quả thị bà mới ngỏ:</p><p>“Thị ơi thị rụng bị bà</p><p>Bà để bà ngửi</p><p>Chứ bà không ăn”</p><p>Bà lão nói xong thị rụng vào bị của bà. Bà đem về nhà để trên gối, chỉ ngửi mà không ăn. Hàng ngày bà ra chợ, về đến nhà là cơm nước đã tinh tươm, nhà cửa sạch sẽ, mấy ngày như vậy, bà sinh nghi. Một lần bà giả vờ đi chợ, nhưng đi đến nửa đường bà lại quay về. Bà đứng bên ngoài cửa nhìn vào thì thấy một cô gái chui ra từ quả thị, dọn dẹp nhà cửa, bà vội vàng chạy vào xé ngay vỏ thị và ôm chầm lấy cô. Bà nhận cô làm con gái.&nbsp;</p><p>Từ đó, Tấm ở nhà giúp bà làm việc, bà lão mở quán nước ngay tại nhà, Tấm giúp bà têm trầu cánh phượng, quán mỗi ngày lại một đông khách. Một lần nhà Vua đi qua, dừng chân nghỉ bên quán nước, thấy trầu têm giống như Tấm têm ngày xưa mới ngỏ ý hỏi:</p><p>- Bà ơi, trầu này ai têm mà khéo vậy?</p><p>Bà lão thật thà:</p><p>- Trầu này con gái bà têm.</p><p>Nhà vua muốn gặp con gái của bà, bà mới gọi Tấm ra, vua vui mừng khi nhận ra Tấm nên đã cho người đem nàng về cung. Về đến cung, Tấm kể rõ những sự tình cho nhà vua nghe, nhà vua tức giận cho người đem mẹ con Cám lên xử tội, nhưng Tấm thương cảm, xin nhà vua tha tội. Nhà vua đuổi mẹ con Cám ra ngoài cung, vừa ra khỏi thành, giông tố ập đến, mẹ con Cám bị sét đánh chết giữa đồng. Từ đó nhà Vua và Tấm sống hạnh phúc đến trọn đời.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-09-17 05:38:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lamanhpham099/atb8oupj51rmujjk/wish/3589160701</guid>
      </item>
      <item>
         <title>ẾCH NGỒI ĐÁY GIẾNG</title>
         <author>lamanhpham099</author>
         <link>https://padlet.com/lamanhpham099/atb8oupj51rmujjk/wish/3589166164</link>
         <description><![CDATA[<p>Có một con ếch sống lâu ngày trong một giếng nọ. Xung quanh nó chỉ có vài con nhái, cua, ốc bé nhỏ. Từ dưới đáy giếng nhìn lên, ếch ta chỉ thấy một khoảng trời bé bằng cái vung. Nó nghĩ: Tất cả vũ trụ chỉ có vậy, vì thế ếch tự coi mình là chúa tể.&nbsp;Hằng ngày nó cất tiếng kêu ồm ộp làm vang động cả giếng, khiến các con vật kia rất hoảng sợ. Ếch cứ tưởng bầu trời trên đầu chỉ bé bằng chiếc vung và nó thì oai như một vị chúa tể.</p><p>Một năm nọ, trời mưa to làm nước trong giếng dềnh lên, tràn bờ, đưa ếch ta ra ngoài.</p><p>Quen thói cũ, ếch nhâng nháo nhìn lên trời, nó bỗng thấy cả một bầu trời rộng lớn hơn nhiều so với cái khoảng trời nó vẫn thấy. Ếch ta không tin và thấy bực bội vì điều đó. Để ra oai, nó cất tiếng kêu ồm ộp. Vị chúa tể hy vọng là sau những tiếng kêu của mình, mọi thứ phải trở lại như cũ. Nhưng bầu trời vẫn là bầu trời. Còn con ếch vì mải nhìn lên trời đã không chú ý đến xung quanh nên đã bị một con trâu đi qua dẫm bẹp.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-09-17 05:42:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lamanhpham099/atb8oupj51rmujjk/wish/3589166164</guid>
      </item>
      <item>
         <title>CHÚ DÊ DEN</title>
         <author>lamanhpham099</author>
         <link>https://padlet.com/lamanhpham099/atb8oupj51rmujjk/wish/3589167798</link>
         <description><![CDATA[<p>Dê đen và Dê trắng cùng sống trong một khu rừng. Hàng ngày, cả hai thường đến uống nước và tìm cái ăn ở trong khu rừng quen thuộc.</p><p>Một hôm, Dê trắng đi tìm cái ăn và uống nước suối như mọi khi. Dê đang mải mê ngặm cỏ, bất chợt một con Sói ở đâu nhảy xổ ra. Sói quát hỏi:<br>– Dê kia! mày đi đâu?<br>Dê trắng sợ rúm cả người, lắp bắp:<br>– Dạ, dạ, tôi đi tìm… tìm cỏ non và…và uống nước suối ạ!<br>Sói lại quát hỏi:<br>– Mày có gì ở chân?<br>– Dạ, dạ, chân của tôi có móng ạ…ạ!<br>– Trên đầu mày có gì?<br>– Dạ, dạ, trên đầu tôi có đôi sừng mới nhú…<br>Sói càng quát to hơn:<br>– Trái tim mày thế nào?<br>– Ôi, ôi, trái…trái tim tôi đang run sợ…sợ…<br>– Hahaha…<br>Sói cười vang rồi ăn thịt chú Dê trắng tội nghiệp</p><p>Dê đen cũng đi tới khu rừng để ăn cỏ non và uống nước suối. Đang tha thẩn ngặm cỏ, chợt Sói xuất hiện, nó quát hỏi:<br>– Dê kia, mày đi đâu?<br>Dê đen nhìn con Sói từ đầu tới chân rồi nghểnh cổ trả lời:<br>– Tao đi tìm kẻ nào thích gây sự đây!<br>Sói bị bất ngờ, nó hỏi tiếp:<br>– Thế dưới chân mày có gì?<br>– Chân thép của tao có móng bằng đồng.<br>– Thế…thế…trên đầu mày có gì?<br>– Trên đầu của tao có đôi sừng bằng kim cương!<br>Sói sợ lắm rồi, nhưng vẫn cố vớt vát:<br>– Mày…mày…trái tim mày thế nào?<br>Dê đen dõng dạc trả lời:<br>– Trái tim thép của tao bảo tao rằng: hãy cắm đôi sừng kim cương vào đầu Sói. Nào, Sói hãy lại đây.</p><p>Ôi trời, sợ quá, con Sói ba chân bốn cẳng chạy biến vào rừng, từ đó không ai trông thấy nó lởn vởn ở khu rừng đó nữa.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-09-17 05:43:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lamanhpham099/atb8oupj51rmujjk/wish/3589167798</guid>
      </item>
      <item>
         <title>THỎ VÀ RÙA</title>
         <author>lamanhpham099</author>
         <link>https://padlet.com/lamanhpham099/atb8oupj51rmujjk/wish/3589169557</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Ngày xửa ngày xưa, trong khu rừng nọ có thỏ và rùa là đôi bạn rất thân thiết với nhau. Thế nhưng, vào một ngày kia, cả hai lại xảy ra trận cãi vã chỉ vì muốn biết ai là người chạy nhanh nhất. Vậy là thỏ và rùa liền tổ chức một cuộc thi chạy để quyết định ra ai là người chạy nhanh hơn.</strong></p><p>Lúc bắt đầu cuộc đua, chú thỏ chạy rất nhanh, vượt xa chú rùa cả một đoạn đường rất dài. Thỏ ta thấy vậy liền nghĩ bụng rằng rùa còn lâu mới đuổi kịp với mình nên chú thỏ cứ vui vẻ chậm rãi đi bộ, bắt bướm, đùa vui hái hoa, từ chỗ này đến chỗ khác cho đến khi thỏ mệt quá liền tìm gốc cây lớn để ngồi nghỉ và ngủ quên lúc nào không hay.&nbsp;</p><p>Trong lúc đó, chú rùa vẫn chậm rãi kiên trì vượt mọi vất vả khó nhọc, để đi từng bước trên đường đua.</p><p>Sau một khoảng thời gian rất lâu, Thỏ mới chợt tỉnh dậy, nhận ra Rùa đã đi rất xa và gần tới vạch đích. Thỏ thấy vậy liền ba chân bốn cẳng chạy đuổi theo nhưng đã muộn, chú rùa đã tới vạch đích đầu tiên. Và thế là chú thỏ đành phải chịu thua trước chú rùa.</p><p>Qua câu chuyện cổ tích loài vật này, lời khuyên cho các bé là không nên coi thường người khác, không nên tự cao tự đại trong mọi công việc nhé.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-09-17 05:45:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lamanhpham099/atb8oupj51rmujjk/wish/3589169557</guid>
      </item>
      <item>
         <title>CHIM SƠN CA VÀ BÔNG CÚC TRẮNG</title>
         <author>lamanhpham099</author>
         <link>https://padlet.com/lamanhpham099/atb8oupj51rmujjk/wish/3589173067</link>
         <description><![CDATA[<p>CHIM SƠN CA VÀ BÔNG CÚC TRẮNG</p><p>1. Bên bờ rào, giữa đám cỏ dại, có bông cúc trắng. Một chú sơn ca sà xuống bên bông cúc. Chim véo von mãi rồi mới bay về bầu trời xanh thẳm.</p><p>2. Nhưng sáng hôm sau, khi vừa xòe cánh đón bình minh, bông cúc đã nghe thấy tiếng sơn ca buồn thảm. Thì ra sơn ca đã bị nhốt trong lồng.</p><p>3. Bỗng có hai cậu bé đi vào vườn, căt cả đám cỏ lẫn bông cúc, bỏ vào lồng sơn ca. Con chim bị cầm tù, họng khô bỏng vì khát. Nhưng dù khát, nó vẫn không đụng đến bông hoa.</p><p>Tối rồi, chẳng ai cho con chim khốn khổ một giọt nước. Đêm ấy, sơn ca lìa đời. Bông cúc héo lả đi vì thương xót.</p><p>4. Sáng hôm sau, thấy sơn ca đã chết, hai cậu bé đặt con chim vào một chiếc hộp rất đẹp và chôn cất thật long trọng. Tội nghiệp con chim! Khi nó còn sống và ca hát, các cậu đã để mặc nó chết vì đói khát. Còn bông hoa, giá các cậu đừng ngắt nó thì hôm nay chắc nó vẫn đang tắm nắng Mặt Trời.</p><p>(Theo AN-ĐÉC-XEN (Nguyễn Văn Hải, Vũ Minh Toàn dịch)</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-09-17 05:46:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lamanhpham099/atb8oupj51rmujjk/wish/3589173067</guid>
      </item>
      <item>
         <title>CÁO, THỎ VÀ GÀ TRỐNG</title>
         <author>lamanhpham099</author>
         <link>https://padlet.com/lamanhpham099/atb8oupj51rmujjk/wish/3589174655</link>
         <description><![CDATA[<p>Ngày xửa, ngày xưa, trong khu rừng nọ có một con Cáo và một con Thỏ. Cáo sống trong ngôi nhà bằng băng, còn Thỏ có một ngôi nhà bằng gỗ. Mùa xuân đến, nhà Cáo tan thành nước, Cáo xin sang nhà Thỏ sưởi nhờ rồi đuổi luôn Thỏ ra khỏi nhà. Thỏ vừa đi vừa khóc. Một lát sau, Thỏ gặp bầy Chó, bầy Chó hỏi Thỏ:<br>- Tại sao Thỏ khóc?<br>- Làm sao mà tôi không khóc cho được. Tôi có một ngôi nhà bằng gỗ, Cáo có một ngôi nhà bằng băng, mùa xuân đến nhà Cáo tan thành nước, Cáo xin sang nhà tôi sưởi nhờ rồi đuổi luôn tôi ra khỏi nhà.<br>- Thỏ ơi Thỏ đừng khóc nữa! bầy Chó an ủi Thỏ. Chúng tôi sẽ đuổi được Cáo đi. Bầy Chó cùng Thỏ đi về nhà Thỏ. Bầy Chó nói: Gâu gâu gâu ! Cáo cút đi ngay!</p><p>Cáo ngồi trên bệ lò sưởi, nói vọng ra:<br>- Ta mà nhảy ra thì chúng mày tan xác!</p><p>Bầy Chó sợ quá chạy mất. Thỏ ngồi dưới bụi cây và khóc. Một con Gấu đi qua, Gấu hỏi:<br>- Tại sao Thỏ khóc?<br>- Làm sao mà tôi không khóc cho được. Tôi có một ngôi nhà bằng gỗ, Cáo có một ngôi nhà bằng băng, mùa xuân đến nhà Cáo tan thành nước, Cáo xin sang nhà tôi sưởi nhờ rồi đuổi luôn tôi ra khỏi nhà<br>- Thỏ ơi, đừng khóc! Ta sẽ đuổi được Cáo đi!<br>- Không bác Gấu ơi, bác không đuổi được đâu. Chó đuổi mãi không được thì bác làm sao đuổi được?<br>- Đuổi được chứ! Bác Gấu nói giọng kiên quyết.</p><p>Gấu và Thỏ về đến nhà Thỏ, Gấu gầm lên:<br>- Cáo! Cút ngay!<br>- Ta mà nhảy ra thì chúng mày tan xác - Cáo trả lời</p><p>Gấu sợ quá chạy đi mất. Thỏ lại ngồi dưới bụi cây và khóc. Một con Gà Trống mào đỏ đi qua, vai vác một cái hái. Gà Trống thấy Thỏ khóc, liền hỏi:<br>- Làm sao Thỏ khóc?<br>- Làm sao mà tôi không khóc cho được. Tôi có một ngôi nhà bằng gỗ, Cáo có một ngôi nhà bằng băng, mùa xuân đến nhà Cáo tan thành nước, Cáo xin sang nhà tôi sưởi nhờ rồi đuổi luôn tôi ra khỏi nhà<br>- Ta về nhà đi, tôi sẽ đuổi được Cáo.<br>- Không! Anh không đuổi được đâu, chó đuổi mãi không được, Gấu đuổi mãi không được thì làm sao anh đuổi được<br>- Thế mà tôi đuổi được đấy, nào đi!</p><p>Gà Trống và Thỏ cùng về nhà. Gà Trống cất tiếng hát<br>Cúc cù cu cu<br>Ta vác hái trên vai<br>Đi tìm Cáo gian ác<br>Cáo ở đâu ra ngay!<br>Cáo sợ quá bảo:<br>- Tôi đang mặc quần áo</p><p>Gà Trống lại hát:<br>Cúc cù cu cu<br>Ta vác hái trên vai<br>Đi tìm Cáo gian ác<br>Cáo ở đâu ra ngay!<br>Cáo nói:<br>- Cho tôi mặc áo bông đã</p><p>Lần này thì gà quát lên:<br>Cúc cù cu cu<br>Ta vác hái trên vai<br>Đi tìm Cáo gian ác<br>Cáo ở đâu ra ngay!<br>Cáo từ trong nhà gỗ vọt ra, chạy biến vào rừng. Từ đó, Thỏ lại được sống trong ngôi nhà của mình.<br>(Sưu tầm)</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-09-17 05:47:28 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lamanhpham099/atb8oupj51rmujjk/wish/3589174655</guid>
      </item>
      <item>
         <title>SƯ TỬ VÀ CHUỘT NHẮT</title>
         <author>lamanhpham099</author>
         <link>https://padlet.com/lamanhpham099/atb8oupj51rmujjk/wish/3589176412</link>
         <description><![CDATA[<p>Một hôm, Chuột Nhắt bị Sư Tử bắt sống. Chuột Nhắt van lạy Sư Từ tha cho nó! Xin ngài nhón tay làm phúc, tha cho tôi. Tôi bé nhỏ thế này, ngài ăn chẳng bõ dính răng.</p><p>Suy nghĩ một lát, Sư Tử mỉm cười, rồi tha Chuột Nhắt.</p><p>Sau khi được tha, Chuột Nhắt hết lời cám ơn Sư Tử. Nó hứa:</p><p>- Thưa ngài, có ngày tôi sẽ đền ơn đáp nghĩa cho ngài.</p><p>Sử Tử phì cười, nói:</p><p>- Chú bé tí tẹo thế mà cũng cứu được chúa sơn lâm à?&nbsp;</p><p>ít lâu sau, Sư Tử bị sập bẫy. Nó gầm gào, vùng vẫy mãi nhưng vẫn không sao thoát được. Nó đành nằm im, nước mắt chảy ra, chờ chết. Chuột Nhắt đi qua, bỗng nhìn thấy ân nhân của mình. Nó vội chạy về gọi cả nhà ra cắn tung các mắt lưới.</p><p>Chỉ trong nháy mắt, các mắt lưới bị họ hàng Chuột Nhắt cắn đứt hết. Thế là Sư Tử được cứu thoát.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-09-17 05:48:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lamanhpham099/atb8oupj51rmujjk/wish/3589176412</guid>
      </item>
      <item>
         <title>BÀN CHÂN KÌ DIỆU</title>
         <author>lamanhpham099</author>
         <link>https://padlet.com/lamanhpham099/atb8oupj51rmujjk/wish/3615235824</link>
         <description><![CDATA[<p>Kí bị liệt hai cánh tay từ nhỏ. Thấy các bạn cắp sách đến trường, Kí thèm lắm. Kí quyết định đến lớp xin cô giáo vào học. Cô giáo cầm tay Kí thấy hai cánh tay mềm nhũn, buông thõng, bất động cô không dám nhận em vào học. Kí thất vọng trở về vừa đi vừa khóc.</p><p>Mấy hôm sau, cô giáo đến nhà Kí. Bất chợt cô thấy Kí ngồi ở giữa sân hí hoáy dùng chân tập viết. Cô rất cảm động cho em mấy viên phấn. Một thời gian sau, Kí lại đến lớp. Lần này, cô giáo nhận em vào học. Cô dọn cho Kí một chỗ riêng ở góc lớp, trải chiếu cho Kí ngồi tập viết ở đó. Kí cặp cây bút vào chân luyện viết. Lúc đầu cây bút không theo ý Kí. Bàn chân dẫm lên trang giấy nhàu nát, mực giây bê bết. Mấy ngón chân mỏi chuột rút, bàn chân co quắp lại, đau điếng. Kí quẳng bút chì vào góc lớp, chán nản. Nhưng nhờ cô giáo và các bạn động viên Kí lại lao vào tập luyện một cách kiên nhẫn và bền bỉ.</p><p>Sau một thời gian Kí đã thành công. Hết lớp Một Kí đuổi kịp các bạn. Chữ của Kí mỗi ngày đẹp hơn. Bao năm khổ luyện Kí đã tốt nghiệp phổ thông và thi đậu vào trường Đại học Tổng hợp.</p><p>Nguyễn Ngọc Kí là tấm gương sáng về ý chí vượt khó. Ngay Bác Hồ còn sống, đã hai lần Bác gửi tặng huy hiệu của Người cho cậu học trò dũng cảm giàu nghị lực ấy.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-10-02 11:34:22 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lamanhpham099/atb8oupj51rmujjk/wish/3615235824</guid>
      </item>
      <item>
         <title>NGUYỄN HIỀN – TRẠNG NGUYÊN NHỎ TUỔI NHẤT VIỆT NAM VÀ GIAI THOẠI “XÂU CHỈ QUA VỎ ỐC”</title>
         <author>lamanhpham099</author>
         <link>https://padlet.com/lamanhpham099/atb8oupj51rmujjk/wish/3615237280</link>
         <description><![CDATA[<p>Nguyễn Hiền sinh năm 1234-1256 tại làng Dương A, huyện Thượng Hiền, phủ&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Thi%C3%AAn_Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng">Thiên Trường</a>&nbsp;(nay là Thôn Dương A, xã&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_Th%E1%BA%AFng">Nam Thắng</a>, huyện&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_Tr%E1%BB%B1c">Nam Trực</a>, tỉnh&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_%C4%90%E1%BB%8Bnh">Nam Định</a>). Ông thi đỗ&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A1ng_nguy%C3%AAn_Vi%E1%BB%87t_Nam">trạng nguyên</a>&nbsp;khi mới 13 tuổi, trở thành trạng nguyên trẻ nhất trong lịch sử khoa cử Việt Nam, tại khoa thi tháng 2 năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 16 (<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1247">1247</a>) thời vua&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_Th%C3%A1i_T%C3%B4ng">Trần Thái Tông</a>.</p><p>Nguyễn Hiền mồ côi cha từ nhỏ, bà mẹ đã cho ông theo học sư cụ chùa Hà Dương ở làng Dương A. Tương truyền, lúc đầu vào học sư mới viết được 10 trang giấy, Hiền liền đọc ngay được như người đã từng đi học rồi, sư cụ lấy làm lạ. Một đêm, sư cụ nằm mộng thấy&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BA%ADt">Phật</a>&nbsp;quở rằng: “Trạng nguyên mỗi lần vào chùa thường nghịch ngợm, sao nhà ngươi không răn đe, ngăn chặn?”. Sư tỉnh dậy, đốt đuốc khắp chùa thấy sau lưng các pho tượng đều có viết chữ “phạt 30 roi”, riêng hai pho hộ pháp ghi “phạt 60 roi”, sư nhận ra ngay chữ của Hiền. Một hôm, sư lên lớp bèn lấy một câu trong sách: “Kính quỷ thần mà phải lánh xa” mà dặn Hiền rằng: “Phật tức quỷ thần, trò không được nhạo báng”. Hiền liền nhận lỗi và tự lau sạch những chữ mình đã viết. Từ đó, Hiền càng chăm chỉ học tập, học đến đâu nhớ đến đấy, xuất khẩu thành chương.</p><p>Khi ông đỗ trạng nguyên, vì còn thiếu niên nên vua&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_Th%C3%A1i_T%C3%B4ng">Trần Thái Tông</a>&nbsp;cho ông về quê 3 năm tu dưỡng thêm rồi mới gọi ra làm quan. Nguyễn Hiền trở về quê nuôi dưỡng mẹ, ngày ngày đọc sách. Hiền vẫn rất ham chơi, thường lúc rỗi rãi vẫn cùng trẻ làng chơi khăng, thả diều… Một lần, triều đình tiếp sứ Trung Hoa, viên sứ đưa ra một con ốc xoắn nhờ xâu qua ruột nó bằng một sợi chỉ mảnh. Được như vậy y mới chịu vào thành. Ấy là viên sứ muốn thử tài người Nam ra sao. Vua truyền cho các quan tìm cách xâu thử, nhưng vị nào cũng lè lưỡi, lắc đầu. Bấy giờ vua chợt nghĩ đến trạng nguyên trẻ Nguyễn Hiền, bèn cho triệu trạng về kinh.</p><p>Viên quan được giao việc đến quê gặp trạng, gặp ngay một lũ trẻ chăn trâu nghịch đất đầu làng, thấy trong đó có một cậu bé mặt mũi khôi ngô đang bày cho lũ bạn đắp một con voi bằng đất mà bốn chân lẫn tai, vòi… có thể ngoe nguẩy được. Sứ giả đồ chừng đó là trạng Hiền, truyền lại ý vua vời trạng về kinh. Nhưng trạng Hiền không chịu, viện lẽ rằng, trước vua cho trạng kém lễ buộc về, nhưng lần này vua cho vời trạng lên cũng không giữ đúng lễ. Viên quan không biết làm thế nào, phải trần tình đầu đuôi câu chuyện sứ giả nước ngoài đưa câu đố mà chưa ai giải được. Trạng Hiền nghe chỉ mỉm cười, trở lại với đám trẻ chăn trâu. Chờ khi viên quan lên ngựa, Hiền mới xui đám trẻ cùng hát:</p><p><em>Tích tịch tình tang!</em></p><p><em>Bắt con kiến càng buộc chỉ ngang lưng</em></p><p><em>Bên thì lấy giấy mà bưng</em></p><p><em>Bên thì bôi mỡ kiến mừng kiến sang</em></p><p>Viên quan nghe nhẩm thuộc lời ấy, biết trạng đã chỉ cách giải, vui vẻ trở về kinh tâu với vua cách giải câu đố.</p><p>Ngày 14 tháng 8 năm Bính Thìn (1256), Trạng nguyên Nguyễn Hiền lâm bệnh nặng rồi qua đời, hưởng dương 21 tuổi. Vua Trần Thái Tông thương tiếc truy phong ông là “Đại vương thành hoàng” và tôn làm thần ở 32 nơi, trong đó có đình Lại Đà ở xã&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_H%E1%BB%99i">Đông Hội</a>, huyện&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_Anh">Đông Anh</a>,&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_N%E1%BB%99i">Hà Nội</a>.</p><p>Hiện nay, tại đền thờ Trạng nguyên Nguyễn Hiền ở quê hương ông, thôn Dương A (<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_Th%E1%BA%AFng,_Nam_Tr%E1%BB%B1c">Nam Thắng</a>,&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_Tr%E1%BB%B1c">Nam Trực</a>,&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_%C4%90%E1%BB%8Bnh">Nam Định</a>) còn giữ được nhiều bài vị, sắc phong, câu đối, đại tự, đặc biệt bảo tồn được cuốn Ngọc phả nói về sự nghiệp của ông. Hằng năm vào ngày 14/8 âm lịch, nhân dân địa phương tổ chức lễ hội để tưởng nhớ đến công lao của ông.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-10-02 11:35:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/lamanhpham099/atb8oupj51rmujjk/wish/3615237280</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
