<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title>4T - TÌM HIỂU TRANH DÂN GIAN VIỆT NAM by Nguyễn Minh</title>
      <link>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k</link>
      <description>Các con thực hiện 2 nhiệm vụ sau: 
1.Nêu hiểu biết của mình về tranh dân gian Việt Nam.
2.Mô phỏng một bức tranh dân gian yêu thích 
(Lưu ý: Các con ghi tên và lớp trước khi gửi)</description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2022-02-20 14:50:51 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2022-03-26 05:09:01 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url></url>
      </image>
      <item>
         <title>Trần Đại An-4T</title>
         <author>tdan3105</author>
         <link>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2059595178</link>
         <description><![CDATA[<div>-Tranh dân gian Việt Nam có lịch sử rất lâu đời, đã từng có thời gian phát triển rất mạnh mẽ, ngày nay nó có phần giảm sút nhưng vẫn còn được giữ gìn bảo tồn trong một số làng nghề và một số gia đình làm tranh. Về cơ bản có hai loại tranh chính là tranh Tết và tranh thờ. Sở dĩ chúng xuất hiện rất sớm là bởi vì nó với hai loại chính là tranh tết và tranh thờ xuất hiện gần như cùng lúc với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt và việc thần thánh hoặc các hiện tượng tự nhiên.<br>-Hầu hết tranh dân gian được vẽ theo quan niệm "sống" hơn "giống". Đường nét của mỗi bức tranh hết sức gạn lọc, thuần khiết, cốt sao rung cảm thẩm mỹ cho người xem hơn là vẽ đúng luật. Các thành phần trong tranh không có một điểm nhìn cố định mà hầu hết được thiết kế để có thể quan sát di động, từ nhiều góc độ khác nhau.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1419188454/b811889250313e363d39a22352d290e5/CCD296A7_4256_45D0_B157_D2862F197AAB.jpeg" />
         <pubDate>2022-02-22 01:18:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2059595178</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Hoàng Nam-4T</title>
         <author>namnh261099</author>
         <link>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2061900572</link>
         <description><![CDATA[<div>-Tranh Đông Hồ treo trong ngày Tết đã trở thành một thú chơi tao nhã, một phong tục đẹp của người nông dân Việt Nam xưa, các gia đình dù giàu hay nghèo, ngoài bánh chưng, thịt mỡ dưa hành đều không thể thiếu câu đối đỏ cùng những bức tranh Tết.&nbsp;<br>-Trong các loại tranh chơi Tết của vùng châu thổ Bắc Bộ, tranh dân gian Đông Hồ thuộc dòng tranh in từ ván khắc gỗ là điển hình hơn cả. Ra đời từ khoảng thế kỉ 16 - 17 và phát triển cho đến nửa đầu thế kỉ 20 sau đó suy tàn dần. Đây là dòng tranh gắn bó và thể hiện sinh động xã hội nông nghiệp Việt cổ truyền, phong tục, tập quán, sinh hoạt của người dân Việt Nam.</div><div>-Trên nền giấy ấy, một số tờ tranh chỉ cần diễn hình bằng nét đen, phần lớn bảng màu của tranh sử dụng chất liệu trong tự nhiên như trắng của sò điệp, đen của than lá tre già, đỏ của gỗ vang, xanh của lá chàm, vàng của hoa hòe,… Những màu nguyên ấy đều được in mảng bẹt cạnh nhau không cần màu trung gian.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1431193997/1fe73051200956d61a9af513faf5227c/photo_2022_02_23_23_06_11.jpg" />
         <pubDate>2022-02-23 04:37:27 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2061900572</guid>
      </item>
      <item>
         <title>4T - TRẦN ĐẠI LÂM</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2062693176</link>
         <description><![CDATA[<div>Tranh dân gian Đông Hồ, hay tên đầy đủ là tranh khắc gỗ dân gian Đông Hồ, là một dòng tranh dân gian Việt Nam với xuất xứ từ làng Đông Hồ (xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh).&nbsp;<br>🌘 Giấy vẽ tranh đông hồ được làm từ vỏ con điệp (sau khi đã nghiền nát vỏ điệp) trộn với hồ (bột gạo nếp, gạo tẻ hoặc bột sắn) sau đó dùng chổi lá thông quét trên bề mặt giấy, tạo nên loại giấy trắng sáng, lấp lánh khi để ngoài ánh sáng.<br>🌗 Màu tranh vẽ tranh đông hồ được lấy hoàn toàn từ tự nhiên không pha màu, chỉ có 4 màu cơ bản là xanh (lấy từ lá chàm hoặc gỉ đồng), đen (than lá tre), vàng (lấy từ hoa hòe) và đỏ (lấy từ gỗ vang, sỏi son… ). Tùy vào sở thích và độ đậm của tranh người ta sẽ tô đậm để làm nổi bật hoặc làm nhạt các chi tiết trong tranh Đông Hồ.<br>🌖 Những bức tranh phác họa lại đời sống thường ngày với mong muốn về một cuộc sống gia đình thuận hòa, ý chí nghị lực trong cuộc sống, yêu thương con người, cuộc sống sung túc, an nhàn, ấm no, hạnh phúc.&nbsp;<br>🌕 Nguyên liệu dùng để vẽ tranh được lấy hoàn toàn từ thiên nhiên nên màu sơn vẽ của tranh Đông Hồ tuy đơn giản nhưng lại rất đặc biệt , không nhầm lẫn với bất kỳ tranh nào khác. Chủ đề của tranh luôn gần gũi quen thuộc và được thể hiện một cách dí dỏm hài hước nên đến nay tranh Đông Hồ vẫn được lưu giữ, phát triển và công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1583403395/71b707e6b8e4cf5546e75df240b6c967/AA0B5C94_44AC_4429_A2BA_9E93607895CA.jpeg" />
         <pubDate>2022-02-23 14:29:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2062693176</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Chí Hải 4T </title>
         <author>nguyenchihai14042012</author>
         <link>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2066284961</link>
         <description><![CDATA[<div><br>Giấy in tranh Đông Hồ được gọi là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%E1%BA%A5y_%C4%91i%E1%BB%87p">giấy điệp</a>: người ta nghiền nát vỏ <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Con_%C4%91i%E1%BB%87p&amp;action=edit&amp;redlink=1">con điệp</a>, một loại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%B2">sò</a> vỏ mỏng ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Bi%E1%BB%83n">biển</a>, trộn với <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=H%E1%BB%93_(h%C3%B3a_ch%E1%BA%A5t)&amp;action=edit&amp;redlink=1">hồ</a> dán (hồ được nấu từ <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=B%E1%BB%99t_g%E1%BA%A1o_t%E1%BA%BB&amp;action=edit&amp;redlink=1">bột gạo tẻ</a>, hoặc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/G%E1%BA%A1o_n%E1%BA%BFp">gạo nếp</a>, có khi nấu bằng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BB%99t_s%E1%BA%AFn">bột sắn</a> - hồ dùng để quét nền tranh thường được nấu loãng từ bột gạo tẻ hoặc bột sắn, hồ nấu từ bột nếp thường dùng để dán) rồi dùng chổi lá <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Th%C3%B4ng_(th%E1%BB%B1c_v%E1%BA%ADt)&amp;action=edit&amp;redlink=1">thông</a> quét lên mặt <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%E1%BA%A5y_d%C3%B3">giấy dó</a>.Chổi <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%C3%A1_th%C3%B4ng&amp;action=edit&amp;redlink=1">lá thông</a> tạo nên những ganh chạy theo đường quét và vỏ điệp tự nhiên cho <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%AFng">màu trắng</a> với ánh lấp lánh của những mảnh điệp nhỏ dưới <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C3%81nh_s%C3%A1ng">ánh sáng</a>, cũng có thể pha thêm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/M%C3%A0u">màu</a> khác vào hồ trong quá trình làm giấy điệp.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tranh_%C4%90%C3%B4ng_H%E1%BB%93#cite_note-:2-3"><sup><br></sup></a><br></div><div><br>Màu sắc được sử dụng trong tranh Đông Hồ là màu tự nhiên: màu đen lấy từ than gỗ xoan, rơm nếp hay than lá tre được ngâm kĩ trong chum vại vài tháng rồi mới sử dụng được; màu xanh lấy từ gỉ đồng hay lá chàm – lá ở vùng dân tộc thiểu số phía Bắc, họ thường dùng để nhuộm quần áo; màu vàng lấy từ hoa giành giành, hoa hòe – loài hoa về mùa hè người ta vẫn dùng để sắc nước uống thanh nhiệt; màu đỏ lấy từ gỗ vang và sỏi son trên núi Thiên Thai; màu trắng lấy từ điệp. Những chất màu thô này được trộn với nhau và hoà với một lượng bột nếp trước khi in để tạo một lớp hồ, làm cho giấy tranh cứng hơn sau khi phơi khô.<br><br></div><div><br>Ván khắc in tranh có hai loại: ván in nét và ván in màu. Ván in nét thường được làm từ gỗ thị hoặc gỗ thừng mực.<br><br></div><div><br>Gỗ thị có thớ đa chiều, vừa mềm, dễ khắc. Dụng cụ khắc ván là những mũi đục hay còn gọi là bộ ve, được làm bằng thép cứng. Mỗi bộ ve có khoảng 30-40 chiếc. Ván in màu được làm bằng gỗ mỡ bởi vì khi phết màu nên để in tranh gỗ mỡ có khả năng giữ màu cao hơn nhiều loại gỗ khác.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1228315447/1385422095e531ebfc99e8a11ce272ee/img20220228_07344258.jpg" />
         <pubDate>2022-02-25 12:35:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2066284961</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Khang</title>
         <author>runiminhkhang</author>
         <link>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2067434027</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em>Tranh dân gian đồng hồ la một bức tranh có màu sắc giản dị, bên trong là con người, cá, heo rồi trâu... nếu chung những bức ăn này là những bức tranh giân gian, nổi tiếng của Việt Nam từ rất lâu đến bây giờ, dù bạn có đi đâu, đi xa đến mấy thì bạn cũng chỉ có thể thấy ở việt nam mà thôi. Tranh không có nền, màu sắc là màu cơ bản, không có bắt mắt, nhiều khi những bức tranh dân gian này lại trở nên kì lạ, kì thú. Đa số loại giấy được dùng là giấy điệp: người ta nghiền nát vỏ con điệp, một loại sò vỏ mỏng ở biển, trộn với hồ dán (hồ được nấu từ bột gạo tẻ, hoặc </em></strong><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/G%E1%BA%A1o_n%E1%BA%BFp"><strong><em>g</em></strong></a><strong><em>ạo nếp, có khi nấu bằng bột sắn - hồ dùng để quét nền tranh thường được nấu loãng từ bột gạo tẻ hoặc bột sắn, hồ nấu từ bột nếp thường dùng để dán) rồi dùng chổi lá thông quét lên mặt giấy dó.Chổi lá thông tạo nên những ganh chạy theo đường quét và vỏ điệp tự nhiên cho màu trắng với ánh lấp lánh của những mảnh điệp nhỏ dưới ánh sáng, cũng có thể pha thêm màu khác vào hồ trong quá trình làm giấy điệp. </em></strong><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tranh_%C4%90%C3%B4ng_H%E1%BB%93#cite_note-:2-3"><strong><em><sup><br></sup></em></strong></a><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-02-26 10:49:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2067434027</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nam Khánh-4T</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2067531963</link>
         <description><![CDATA[<div>Tranh Đông Hồ, hay tên đầy đủ là tranh khắc gỗ dân gian Đông Hồ, là một dòng tranh dân gian Việt Nam với xuất xứ từ làng Đông Hồ (xã Song hồ, huyện Thuận Thuận thành, tỉnh Bắc Ninh). Trước kia tranh được bán ra chủ yếu phục vụ cho dịp Tết Nguyên Đán, người dân nông thôn mua tranh về dán trên tường, hết năm lại lột bỏ, dùng tranh mới.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1603063247/6aa6ff5850b72007de98e9535c5c574f/image.jpeg" />
         <pubDate>2022-02-26 14:09:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2067531963</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dương</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2067561675</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Về cơ bản, tranh được in từ các bản khắc gỗ, nhưng mỗi nơi lại có những kỹ thuật riêng tạo nên đặc trưng của mỗi trung tâm, mỗi làng nghề, như: Đông Hồ (Bắc Ninh), Hàng Trống (Hà Nội), Kim Hoàng (Hà Tây cũ), Nam Hoành (Nghệ An), Sình (Huế)… Hiện nay, các dòng tranh này đã và đang chịu những tác động, những thách thức không nhỏ về nguyên vật liệu, về tiêu thụ sản phẩm và lực lượng kế nghiệp. Chính vì vậy, cần có những chính sách, những giải pháp hữu hiệu để bảo tồn được các di sản văn hóa này.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1603100145/9dfcca29f761be009a81aeef4bc1f25b/25A9C633_E12B_4A1D_AB1F_DF139948638F.jpeg" />
         <pubDate>2022-02-26 14:55:59 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2067561675</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Mai Anh 4T</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2067561832</link>
         <description><![CDATA[<div>Tranh dân gian việt nam có rất nhiều hình thù khác nhau,nhưng cái nào cũng thú vị,khác lạ.Chúng có màu sắc đơn giản mà trông đầy tính cổ truyền.Hoa văn được thiết kế tinh tế ,cẩn thận.Những cái hoa văn như những vẩy cá, những cái áo của con voi,ngựa đều được chăm chút.Tranh dân gian được vẽ trên nền vàng nhạt,trông rất đẹp.Trang thường vẽ các nhân vật hay con vật quen thuộc khiến ta thích chúng hơn.Tranh dân giần thứ cần được nhân dân việt nam tôn trọng.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-02-26 14:56:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2067561832</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phương Nam</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2067562629</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Tranh dân gian</strong> là những tác phẩm được sáng tác để phục vụ đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân được lưu truyền qua từng thế hệ. Tranh dân gian tại Việt Nam thường gồm hai loại tranh chính là tranh thờ và tranh Tết với các làng tranh có tiếng như tranh Đông Hồ và tranh Hàng Trống. Khác với các tác phẩm tranh nghệ thuật hiện đại được sản xuất bởi một số ít người và thường có nhiều mẫu mã khác nhau.<br><br></div><div>Tranh dân gian thường được in với số lượng lớn với cùng một nguyên mẫu để phục vụ tất cả mọi người. Tranh dân gian dần dần không chỉ là những tác phẩm riêng của những tầng lớp bình dân nghèo khó mà trở thành một nét nghệ thuật đại chúng được sử dụng rộng rãi bởi cả quan lại quý tộc. Ngày nay những làng nghề tranh dân gian không còn được phát triển như trước đây. Tuy nhiên những tác phẩm tranh dân gian Việt Nam vẫn được đánh giá rất cao và được coi là đặc trưng nghệ thuật độc đáo cần được lưu giữ và bảo tồn.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1534129904/5c92f9a5f0322964cd6888cd5a27d5e1/image.png" />
         <pubDate>2022-02-26 14:57:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2067562629</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Linh Nhi</title>
         <author>linhnhi2629</author>
         <link>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2067886329</link>
         <description><![CDATA[<div>Tranh dân gian Việt Nam đã gắn bó với Người Việt từ rất lâu rồi! Nổi bật nhất chắc có lẽ là Tranh dân gian Đông Hồ!&nbsp;<strong>Tranh dân gian Đông Hồ</strong> là nghề làm <strong>tranh</strong> khắc gỗ <strong>dân gian</strong>, thuộc lĩnh vực Nghề thủ công truyền thống, được cộng đồng <strong>dân</strong> làng <strong>Đông Hồ</strong>, xã Song <strong>Hồ</strong>, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh sáng tạo và phát triển từ mấy trăm năm qua, có giá trị <strong>về</strong> lịch sử, văn hóa và nghệ thuật đặc sắc.</div><div>Và với những chất liệu hoàn toàn tự nhiên, tranh Đông Hồ có màu sắc gần gũi, ấm áp rất đặc biệt mà có lẽ chỉ riêng Việt Nam mới có.</div><div>Tranh Đông Hồ, hay tên đầy đủ là tranh khắc gỗ dân gian Đông Hồ, đây là một dòng tranh dân gian Việt Nam với xuất xứ từ làng Đông Hồ thuộc xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Theo tìm hiểu, trước kia tranh được bán ra chủ yếu phục vụ cho dịp Tết Nguyên Đán, người dân nông thôn mua tranh về dán trên tường, hết năm lại lột bỏ, dùng tranh mới.</div><div>Với những nét tinh túy riêng và mang đậm những giá trị văn hóa to lớn, tranh tết Đông Hồ bằng những hình ảnh biểu tượng dân dã, gần gũi nhưng lại chứa đựng những thông điệp ẩn ngữ đầy tính nhân văn. Sự phong phú và đa dạng cả về mẫu mã, thể loại, chủ đề, tranh dân gian Đông Hồ phản ánh hầu như tất cả những gì diễn ra trong đời sống bình dị của người lao động như: Chăn trâu thổi sáo, Hứng dừa, Đấu vật, Đánh ghen… cho tới những ước mơ, khát vọng cuộc sống tốt đẹp hơn như Lễ trí, Nhân nghĩa, Vinh hoa, Phú quý, Lợn đàn, Gà đàn… Nét hấp dẫn của tranh dân gian Đông Hồ không chỉ đề cập đến cuộc sống: thóc đầy bồ, gà đầy sân, mong ước vinh hoa phú quý… mà còn đề cập đến cuộc sống lứa đôi, vợ chồng với cái nhìn hóm hỉnh mà sâu sắc.</div><div>Về chất liệu và màu sắc:</div><div>Nét độc đáo đầu tiên thu hút cảm quan người xem của tranh chính là ở màu sắc và chất liệu giấy in. Giấy dùng in tranh là giấy dó được làm từ vỏ cây dó, với đặc tính xốp, mềm, mỏng, dai, dễ hút màu mà khi in không bị nhòe. Trên giấy được quét lên một lớp hồ điệp có nét sáng óng ánh rất đặc thù bằng cách: người ta nghiền nát vỏ con điệp (một loại sò vỏ mỏng ở biển) trộn với hồ (loại bột gạo tẻ, hoặc gạo nếp, có khi là bột sắn), dùng chổi lá thông quét lên mặt giấy dó. Với chổi lá thông sẽ tạo thành những đường ganh chạy theo đường quét và vỏ điệp tự nhiên cho màu trắng có ánh lấp lánh của những mảnh điệp nhỏ dưới ánh sáng, trong quá trình làm giấy điệp có thể pha thêm màu khác vào hồ. Màu sắc được sử dụng trong tranh là màu tự nhiên từ cây cỏ như màu đen từ than cây xoan hay than lá tre, màu xanh từ gỉ đồng, lá chàm, màu vàng từ hoa hòe, màu đỏ từ sỏi son, gỗ vang,… Đây là những màu cơ bản, không pha trộn.</div><div>Về thể loại, theo nội dung chủ đề, tranh Đông Hồ có thể chia thành 7 loại chính: tranh thờ, tranh chúc tụng, tranh lịch sử, tranh truyện, tranh phương ngôn, tranh cảnh vật và tranh phản ánh sinh hoạt.</div><div>Về qui trình sản xuất tranh có nhiều công đoạn, trong đó có 2 khâu chính gồm: sáng tác mẫu (khắc ván) và in (vẽ tranh). Ở đây có thể thấy mỗi nghệ nhân đòi hỏi có ít nhiều năng khiếu bẩm sinh cũng như kỹ năng lao động cao.</div><div>Ván khắc in tranh có 2 loại: ván in nét và ván in màu. Ván in nét được làm từ gỗ thị hoặc gỗ thừng mực. Dụng cụ khắc ván là những mũi đục hay còn gọi là bộ ve làm bằng thép cứng (khoảng 30 - 40 chiếc/bộ).</div><div>Các nghệ nhân làng Hồ sáng tác mẫu vẽ tranh bằng tay còn các công đoạn khác thì dùng ván in.</div><div>Về giá trị nghệ thuật thì dòng tranh dân gian Đông Hồ mang tính biểu trưng, trang trí nhưng vẫn giữ được nét mộc mạc, dễ hiểu, rất gần với đời sống người dân vùng đồng bằng Bắc Bộ.</div><div>Về nội dung, tranh dân gian Đông Hồ phản ánh sâu sắc đời sống tinh thần, vật chất của con người, xã hội theo quan điểm mỹ học dân gian của người dân vùng này. Những bức tranh nói lên ước mơ ngàn đời của người lao động về một cuộc sống gia đình thuận hòa, ấm no, hạnh phúc và một xã hội công bằng, tốt đẹp.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-02-27 03:24:40 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2067886329</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Gia Hân 4T</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2067905491</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Tranh dân gian</strong> là những tác phẩm được sáng tác để phục vụ đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân được lưu truyền qua từng thế hệ. Tranh dân gian tại Việt Nam thường gồm hai loại tranh chính là tranh thờ và tranh Tết với các làng tranh có tiếng như tranh Đông Hồ và tranh Hàng Trống. Khác với các tác phẩm tranh nghệ thuật hiện đại được sản xuất bởi một số ít người và thường có nhiều mẫu mã khác nhau.&nbsp;<br>Tranh dân gian thường được in với số lượng lớn với cùng một nguyên mẫu để phục vụ tất cả mọi người. Tranh dân gian dần dần không chỉ là những tác phẩm riêng của những tầng lớp bình dân nghèo khó mà trở thành một nét nghệ thuật đại chúng được sử dụng rộng rãi bởi cả quan lại quý tộc. Ngày nay những làng nghề tranh dân gian không còn được phát triển như trước đây. Tuy nhiên những tác phẩm tranh dân gian Việt Nam vẫn được đánh giá rất cao và được coi là đặc trưng nghệ thuật độc đáo cần được lưu giữ và bảo tồn.&nbsp;</div><ul><li>Tranh dân gian Việt Nam thường được in ấn với số lượng lớn, với phong cách vẽ dựng hình theo kiểu lấy các nét khoanh, mảng màu để bao lại toàn hình. Các thành phần trong tranh không cố định mà được thiết kế di động để có thể quan sát với nhiều góc độ khác nhau với cách tạo màu đặc biệt để nhằm làm cho bức tranh trở lên ưa nhìn hơn. Tranh dân gian thường sử dụng các bản khắc gỗ để có thể sản xuất với số lượng lớn và nghệ thuật tranh dân gian Việt Nam khá giống với phong cách sản xuất hiện đại ngày nay.</li><li>Các loại màu trong tranh dân gian Việt Nam được tổng hợp từ những màu sắc từ tự nhiên như than, rỉ đồng, hoa hòe, lá chàm, quả dành dành, vỏ điệp, tro, sỏi đồi… Giúp cho màu sắc trong bức tranh trở lên thật hơn và gần gũi với người xem. Những màu sắc này được vẽ trên giấy điệp, giấy dó giúp cho bức tranh bền hơn, không nhòe và ít khi bị mối mọt, ẩm mốc. Có thể nói nghệ thuật tranh dân gian Việt Nam đã đạt đến trình độ tổng hợp màu sắc và nguyên vật liệu khá cao so với những gì có thể đáp ứng được tại thời điểm đó.</li><li>Bố cục của các bức tranh dân gian Việt Nam thường được vẽ theo quan niệm “sống” hơn “giống” do đó mỗi đường nét đều được gạn lọc, thuần khiết sao cho tạo nên những cảm nhận chân thật nhất cho người xem thay vì vẽ đúng luật. Nhờ đó nhìn từ nhiều góc độ bức tranh vẫn giữ nguyên được những màu sắc, hình ảnh đặc trưng nhất của mình. Tranh Đông Hồ thường được gọi là tranh làng Hồ được phát triển từ thế kỷ 17 và phát triển đến nửa đầu thế kỷ 20. Những tác phẩm trong tranh làng Hồ thường mang trong mình những giá trị văn hóa to lớn về đời sống hàng ngày của nhân dân. Các tác phẩm nội bật như bịt mắt bắt dê, hứng dừa, đám cưới chuột, đánh ghen, Phú Quý, Nhân Nghĩa. Cách in ấn của dòng tranh này khá đặc trưng khi sử dụng các ván khắc gỗ để in tranh , tranh có bao nhiêu màu thì có bấy nhiêu lần in.&nbsp;</li><li>Mặc dù không còn được ưa chuộng như trước đây tuy nhiên tranh Đông Hồ hiện nay được xem như một biểu tượng của nghệ thuật văn hóa dân gian Việt Nam và được đánh giá rất cao bởi tính nghệ thuật cũng như cách thức sản xuất đặc trưng của nó.</li></ul>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1439396756/51439376158ee220ba43276566c4033f/20220227_205215.jpg" />
         <pubDate>2022-02-27 04:12:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2067905491</guid>
      </item>
      <item>
         <title>4T - Vũ Thiên Kim</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2067926512</link>
         <description><![CDATA[<ul><li><strong>Tranh dân gian</strong> là những tác phẩm được sáng tác để phục vụ đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân được lưu truyền qua từng thế hệ. Tranh dân gian tại Việt Nam thường gồm hai loại tranh chính là tranh thờ và tranh Tết với các làng tranh có tiếng như tranh Đông Hồ và tranh Hàng Trống. Khác với các tác phẩm tranh nghệ thuật hiện đại được sản xuất bởi một số ít người và thường có nhiều mẫu mã khác nhau. Tranh dân gian dần dần không chỉ là những tác phẩm riêng của những tầng lớp bình dân nghèo khó mà trở thành một nét nghệ thuật đại chúng được sử dụng rộng rãi bởi cả quan lại quý tộc. Ngày nay, những làng nghề tranh dân gian không còn được phát triển như trước đây. Tuy vậy, những tác phẩm tranh dân gian Việt Nam vẫn được đánh giá rất cao và được coi là đặc trưng nghệ thuật độc đáo cần được lưu giữ và bảo tồn.</li><li>Tranh dân gian Việt Nam thường được in ấn với số lượng lớn, với phong cách vẽ dựng hình theo kiểu lấy các nét khoanh, mảng màu để bao lại toàn hình. Các thành phần trong tranh không cố định mà được thiết kế di động để có thể quan sát với nhiều góc độ khác nhau với cách tạo màu đặc biệt để nhằm làm cho bức tranh trở lên ưa nhìn hơn. Tranh dân gian thường sử dụng các bản khắc gỗ để có thể sản xuất với số lượng lớn và nghệ thuật tranh dân gian Việt Nam khá giống với phong cách sản xuất hiện đại ngày nay.</li><li>Các loại màu trong tranh dân gian Việt Nam được tổng hợp từ những màu sắc từ tự nhiên như than, rỉ đồng, hoa hòe, lá chàm, quả dành dành, vỏ điệp, tro, sỏi đồi… Giúp cho màu sắc trong bức tranh trở lên thật hơn và gần gũi với người xem. Những màu sắc này được vẽ trên giấy điệp, giấy dó giúp cho bức tranh bền hơn, không nhòe và ít khi bị mối mọt, ẩm mốc. Có thể nói nghệ thuật tranh dân gian Việt Nam đã đạt đến trình độ tổng hợp màu sắc và nguyên vật liệu khá cao so với những gì có thể đáp ứng được tại thời điểm đó.</li></ul><div><strong><br>Các loại tranh dân gian Việt Nam:<br></strong><br></div><ul><li><a href="https://thegioitranhsondau.com/tranh-dong-ho"><strong>Tranh Đông Hồ</strong></a><strong>:</strong> Tranh Đông Hồ được phát triển từ thế kỷ 17 đến nửa đầu thế kỷ 20. Những tác phẩm trong tranh làng Hồ thường mang trong mình những giá trị văn hóa to lớn về đời sống hàng ngày của nhân dân. Các tác phẩm nội bật như bịt mắt bắt dê, hứng dừa, đám cưới chuột, đánh ghen, Phú Quý, Nhân Nghĩa. Cách in ấn của dòng tranh này khá đặc trưng khi sử dụng các ván khắc gỗ để in tranh , tranh có bao nhiêu màu thì có bấy nhiêu lần in. Mặc dù không còn được ưa chuộng như trước đây tuy nhiên tranh Đông Hồ hiện nay được xem như một biểu tượng của nghệ thuật văn hóa dân gian Việt Nam và được đánh giá rất cao bởi tính nghệ thuật cũng như cách thức sản xuất đặc trưng của nó.</li></ul><div><br></div><ul><li><strong>Tranh Hàng Trống</strong>: Khác với tranh làng Hồ thường hướng đến những chủ đề về cuộc sống hàng ngày thì các tác phẩm tranh Hàng Trống thường dùng để thờ cúng nhiều hơn. Với những tác phẩm mang nặng tư tưởng của Nho giáo và Phật Giáo như Ngũ Hổ, Phật Bà Quan Âm… Những tác phẩm tranh Hàng Trống được tạo hình không hề đúng với công thức chuẩn mà chỉ sao cho thuận mắt và ưa nhìn với người xem. Dòng tranh dân gian này không sử dụng hoàn toàn bản khắc gỗ để in và chỉ in “một nửa” sau đó sử dụng các công cụ để tô vẽ lại nhờ đó những màu sắc được chăm chút hơn và đa dạng hơn. Tạo nên sức hấp dẫn riêng và đặc trưng của dòng tranh này so với các dòng tranh dân gian khác.</li></ul><div>- <strong>Tranh làng Sình</strong>: được phát triển ở một làng quê ven con sông Hương thơ mộng với những đường nét và bố cục thô sơ chất phác hồn nhiên. Ở đó người họa sĩ có thể thỏa sức sáng tạo theo mong muốn và khả năng của bản thân mình. Tranh làng Sình có nhiều kiểu in vẽ khác nhau như là với bản in khổ lớn thì đặt bản khắc nằm dưới đất sau đó dùng phết để đập dập một đầu sau đó quét màu đen để in lên trên ván. Sau đó phủ giấy lên trên dùng miếng xơ mướp xoa đều cho ăn màu rồi bóc giấy ra.Đối với các bức tranh nhỏ thì đặt từng tập xuống dưới rồi lấy ván in dập lên. Đặc trưng của tranh làng Sình đó là mỗi màu đều có chỗ cố định trên tranh tạo nên sự hài hòa về màu sắc phù hợp với ý nghĩa của từng bức tranh.</div><div><br></div><ul><li><strong>Tranh Kim Hoàng</strong>: Tương tự như tranh Đông Hồ dòng tranh này gắn liền với cuộc sống quen thuộc của người dân với những chủ đề như đời sống làng quê, cảnh ngày Tết, ông Táo. Ngoài ra dòng tranh này thường được điểm thêm những câu thơ chữ Hán theo lối chữ thảo trên góc trái của bức tranh. Nhờ đó tạo nên một tổng thể hài hòa, chặt chẽ và điểm nhấn riêng để nhận biết với các dòng tranh khác. Khác với tranh Đông Hồ, dòng tranh Kim Hoàng chỉ sử dụng một bản khắc để in nét đen trên giấy rồi dựa vào đó tự chấm phá theo cách vẽ của người họa sĩ. Vì thế dù được in ra từ một bản khắc nhưng mỗi bức tranh đều có những nét riêng tạo nên sự hấp dẫn của dòng tranh này với người sử dụng.</li></ul><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1435985724/5bdd3a7d73387fd8586ce03d37df9086/tranh_vinh_hoa.jpg" />
         <pubDate>2022-02-27 05:02:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2067926512</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trung Nguyên</title>
         <author>trungnguyen4T</author>
         <link>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2068109607</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><br>Tranh Đông Hồ</strong>, hay tên đầy đủ là <strong>tranh khắc gỗ dân gian Đông Hồ l</strong>à một dòng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tranh_d%C3%A2n_gian_Vi%E1%BB%87t_Nam">tranh dân gian Việt Nam</a> với xuất xứ từ <strong>làng Đông Hồ</strong> (xã <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Song_H%E1%BB%93,_Thu%E1%BA%ADn_Th%C3%A0nh">Song Hồ</a>, huyện <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Thu%E1%BA%ADn_Th%C3%A0nh">Thuận Thành</a>, tỉnh <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BA%AFc_Ninh">Bắc Ninh</a>). Trước kia <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tranh">tranh</a> được bán ra chủ yếu phục vụ cho dịp <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%BFt_Nguy%C3%AAn_%C4%90%C3%A1n">Tết Nguyên Đán</a>, người dân <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%93ng_qu%C3%AA">nông thôn</a> mua tranh về dán trên tường, hết <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/N%C4%83m">năm</a> lại lột bỏ, dùng tranh mới.<br><br></div><div><br>Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ là Di sản văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia. Được sự đồng ý của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%A7_t%C6%B0%E1%BB%9Bng_Ch%C3%ADnh_ph%E1%BB%A7_Vi%E1%BB%87t_Nam">Thủ tướng Chính phủ</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BB%99_V%C4%83n_h%C3%B3a,_Th%E1%BB%83_thao_v%C3%A0_Du_l%E1%BB%8Bch_(Vi%E1%BB%87t_Nam)">Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch</a> đã phối hợp với Ủy ban Nhân dân tỉnh Bắc Ninh và các cơ quan chuyên môn tiến hành nghiên cứu, lập hồ sơ khoa học cho Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ để đệ trình <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/UNESCO">UNESCO</a> đề nghị công nhận <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Di_s%E1%BA%A3n_v%C4%83n_h%C3%B3a_phi_v%E1%BA%ADt_th%E1%BB%83">Di sản văn hóa phi vật thể</a>.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tranh_%C4%90%C3%B4ng_H%E1%BB%93#cite_note-7"><sup>[7]</sup></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tranh_%C4%90%C3%B4ng_H%E1%BB%93#cite_note-8"><sup>[8]<br></sup></a><br></div><div><br>Thơ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_T%E1%BA%BF_X%C6%B0%C6%A1ng">Tú Xương</a> có tranh Đông Hồ về ngày Tết là:<br><br></div><div><em>Đì đoẹt ngoài sân tràng pháo chuột<br></em><br></div><div><em>Loẹt lòe trên vách bức tranh gà<br></em><br></div><div><br>Đó cũng là lí do để chứng minh rằng tranh gỗ dân gian Đông Hồ rất phổ biến.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1525518573/4621c9853007dd6087cc4af000dac24f/image.png" />
         <pubDate>2022-02-27 11:35:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2068109607</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Chí Bách</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2068174480</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Tranh Hàng Trống</strong> một trong những dòng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tranh_d%C3%A2n_gian_Vi%E1%BB%87t_Nam">tranh dân gian Việt Nam</a> được làm chủ yếu tại phố Hàng Nón, Hàng Trống của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_N%E1%BB%99i">Hà Nội</a> xưa. Hàng Trống xưa kia thuộc đất cũ của thôn Tự Tháp, tổng Tiền Túc (sau đổi thành Thuận Mỹ), huyện <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%8D_X%C6%B0%C6%A1ng">Thọ Xương</a>, nay thuộc <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0n_Ki%E1%BA%BFm">quận Hoàn Kiếm</a>, Hà Nội. Phố Hàng Trống nằm kề các phố Hàng Nón, Hàng Hòm, Hàng Quạt... là nơi chuyên sản xuất đồ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%A7_c%C3%B4ng_m%E1%BB%B9_ngh%E1%BB%87">thủ công mỹ nghệ</a> nhất là đồ thờ như: tranh thờ, trống, quạt, lọng, cờ... Dòng tranh này hiện nay gần như đã bị mai một hết, chỉ còn lưu giữ trong các <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87n_b%E1%BA%A3o_t%C3%A0ng">viện bảo tàng</a>. Chính vì vậy, những nghệ nhân vẽ tranh Hàng Trống giảm hẳn. Hiện, chỉ còn duy nhất nghệ nhân <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%C3%AA_%C4%90%C3%ACnh_Nghi%C3%AAn&amp;action=edit&amp;redlink=1">Lê Đình Nghiên</a> còn gắn bó với nghệ thuật tranh Hàng Trống và những nét tinh hoa của dòng tranh đó.<br>Tranh Hàng Trống sử dụng kỹ thuật nửa <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/In">in</a> nửa vẽ, tranh chỉ in ván nét lấy hình, còn màu là thuốc nước, tô bằng bút lông mềm rộng bản, một nửa ngọn bút chấm màu, còn nửa ngọn bút kia chấm nước lã, tô tranh theo kỹ thuật <em>vờn</em> màu.Tranh được in trên <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Gi%E1%BA%A5y_d%C3%B3_b%E1%BB%93i&amp;action=edit&amp;redlink=1">giấy dó bồi</a> dày hay giấy báo khổ rộng. Có những tranh bộ khổ to và dài, thường bồi dày, hai đầu trên dưới lồng suốt trục để tiện treo, phù hợp với kiểu kiến trúc nhà cao, cửa rộng nơi thành thị.Ván khắc được làm bằng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/G%E1%BB%97">gỗ</a> lồng mực hoặc gỗ thị. <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/M%E1%BB%B1c">Mực</a> in truyền thống dùng bằng những chất liệu dân dã nhưng cầu kỳ và tinh xảo trong chế tác.<br>Tranh dùng các gam màu chủ yếu là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Lam">lam</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93ng">hồng</a> đôi khi có thêm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%A5c">lục</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%8F">đỏ</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Da_cam">da cam</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C3%A0ng">vàng</a>... Tỷ lệ được tạo không hề đúng với công thức chuẩn mà chỉ để cho thật thuận mắt và ưa nhìn.<br>Tranh Hàng Trống được tô màu bằng bút lông và phẩm nhuộm nên màu sắc đậm đà hơn <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tranh_%C4%90%C3%B4ng_H%E1%BB%93">tranh Đông Hồ</a>.<br>Đề tài của tranh rất phong phú nhưng chủ yếu là <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tranh_th%E1%BB%9D&amp;action=edit&amp;redlink=1">tranh thờ</a> như: Hương chủ, Ngũ hổ, Độc hổ, Sơn trang, Ông Hoàng Ba, Ông Hoàng Bảy, Phật Bà Quan Âm... Ngoài ra cũng có những bức tranh chơi như các bộ Tứ Bình (4 bức) hoặc Nhị bình (2 bức). Tứ bình thì có thể là tranh Tố nữ, Tứ dân (ngư, tiều, canh, mục) hoặc Tứ quý (Bốn mùa). Tứ bình còn có thể trình bày theo thể liên hoàn rút từ các truyện tích như <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%E1%BB%8B_%C4%91%E1%BB%99_mai"><em>Nhị độ mai</em></a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%A1ch_Sanh_(truy%E1%BB%87n_th%C6%A1)"><em>Thạch Sanh</em></a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Truy%E1%BB%87n_Ki%E1%BB%81u"><em>Truyện Kiều</em></a>. Nhị bình thì vẽ những đề tài như "Lý ngư vọng nguyệt" (Cá chép trông trăng) hoặc "Chim công múa" có tính cách cầu phúc, thái bình. Những bức về đề tài dân dã như cảnh "Chợ quê" hay "Canh nông chi đồ" cũng thuộc loại tranh Hàng Trống.<br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1596979989/f7ff31a1c4c30a9797032e41b1dfd11f/t_i_xu_ng.jfif" />
         <pubDate>2022-02-27 13:32:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2068174480</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phương Linh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2068206984</link>
         <description><![CDATA[<div>Tranh dân gian Đông Hồ là loại hình đồ họa khắc gỗ, có ưu điểm là in được nhiều bản. Đồ họa là một loại hình nghệ thuật có sự đơn giản đường nét và có tính khái quát cao đến mức tối thiểu nhất, tinh giản đến mức không thể tinh giản hơn được nữa, để biểu đạt ý tưởng của người nghệ sỹ, nghệ nhân.<br><br></div><div>Tranh in trên chất liệu giấy dó, quét nền mầu hoặc quét điệp. Có 6 mầu cơ bản được làm từ các sản vật có nguồn gốc tự nhiên rất rẻ tiền, dễ kiếm, như:&nbsp; Mầu trắng được làm từ vỏ sò, vỏ điệp; Mầu vàng làm từ hoa hòe, hạt dành dành; Mầu đỏ vang làm từ gỗ vang; Mầu xanh chàm làm từ lá cây chàm; Mầu đỏ son làm từ sỏi son; Màu đen làm từ rơm nếp, hoặc lá tre.<br><br></div><div>Một tờ tranh đẹp phải đạt được những yếu tố sau: Đường nét phải dứt khoát, hình thể có tính khái quát cao, miêu tả đúng đối tượng về dáng dấp cũng như thần thái. Mầu sắc phải tươi tắn, trong trẻo, mầu sắc rõ ràng, tách bạch. Thường gặp bố cục cân xứng, vì đăng đối, cân xứng là nguyên lý về cái đẹp của Phương Đông. Không gian ước lệ, không phối cảnh to nhỏ xuất phát từ một điểm nhìn như nghệ thuật tạo hình Phương Tây…) Thường có chữ Hán, chữ Nôm đề trên mặt tranh, một phần để làm rõ hơn ý nghĩa của tờ tranh, một phần làm chặt chẽ thêm cho bố cục.<br><br></div><div>Nếu đánh giá một chiếc bình gốm người ta thường nói nhất dáng, nhì da (Hình dáng ủa sản phẩm quan trọng hàng đầu, mầu men quan trọng thứ hai), thì trong tranh Đông Hồ đường nét là chủ yếu, còn mầu sắc là thứ yếu. Ván in nét mầu đen có chức năng định hình, nhưng cũng làm cho các mầu nguyên chất đặt cạnh nhau giảm bớt độ sặc sỡ. Nét giữ nhịp làm ổn định, tăng hiệu quả các mảng mầu. Mầu sắc chia làm hai loại và chia theo sắc: Loại tranh sắc đỏ có nền màu đỏ vàng, hồng điều, hồng hoàng; Tranh sắc trắng có loại để nguyên mầu giấy dó, loại thứ hai được quét điệp.<br>Ngày xưa tranh Đông Hồ cung cấp cho cả vùng đồng bằng Bắc Bộ, người buôn đóng thành bồ trở đi bán tất cả các chợ quê. Lối chơi tranh cũng như cách thức làm tranh, xuất phát từ nền kinh tế tiểu nông. Người ta làm tranh lúc nông nhàn. Những hình tượng thể hiện trong tranh Đông Hồ thường nói lên ước mơ của người nông dân sống ở làng xã, đó là những sự cầu mong sao cho nhân khang vật thịnh, tốt con người, tươi con của, mùa màng bội thu, học hành đỗ đạt, rồi mô tả cả công việc làm ăn cũng như khi vui chơi trong hội hè đình đám… Dù mô tả cái gì chăng nữa cũng luôn thể hiện được cái hồn cốt của người nông dân sống ở làng quê bắc Bộ. Người ta xem tranh dân gian Đông Hồ cốt đạt được cái đại thể, cái ý tứ, chứ không xem bằng con mắt kỹ thuật, kỹ xảo (tecnic), không xem cần biết vẽ đúng hay không đúng. Chỉ cần sự thuận mắt, thuận tình, không phức tạp, mà luôn phóng khoáng, khỏe khoắn, hồn nhiên và dí dỏm. Nơi ăn chốn ở của các gia đình nông dân xưa còn sơ sài, thiếu thốn, nhà tranh vách đất, ánh sáng trong nhà ảm đạm…Chuẩn bị đón xuân, ăn tết người ta mua tranh Đông Hồ về dán lên vách, lên tường làm cho căn nhà sáng sủa, tươi vui lên. Vả lại tranh có giá cả phải chăng, phù hợp với túi tiền của mọi người, mọi nhà, vì thế mua vài tờ tranh về treo tết cho không khí vui nhộn, ấm áp lòng người.</div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1488862878/b345b77208b41ef682670321609a1ee5/z3216891725287_4b835c8eec483ca2ea64173a038db9bd.jpg" />
         <pubDate>2022-02-27 14:20:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2068206984</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>quangdm2i1</author>
         <link>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2068225033</link>
         <description><![CDATA[<div>Tranh đông hồ là tranh in từ ván khắc gỗ , tranh có bao nhiêu màu thì có bấy nhiêu mẫu ván khắc gỗ với màu tương ứng và là một loại tranh dân gian của Việt Nam , xuất phát từ làng Đông Hồ , Xã Song Hồ , Huyện Thuận Thành, Tỉnh Bắc Ninh . Trước đây vào mỗi dịp tết đến xuân về thì tranh đông hồ được bầy bán khắp nơi để người mua trang trí trong dịp tết nhưng nay với thời đại mới thì việc giao thương rất dễ dàng và nó cũng đã thay đổi thói quen mua tranh đông hồ của nhiều người , nhiều cơ sở kinh doanh mọc lên họ buôn bán liên tục trong 1 năm và tranh đông hồ có thể mua ở khắp mọi nơi .Tranh đông hồ đã có từ xa xưa , là nét văn hóa đặc trưng của người dân Bắc Ninh vậy đâu là điều làm nên thương hiệu tranh đông hồ ? điều đặc biệt của tranh đông hồ nằm ở đường nét vẽ , bố cục , màu sắc và giấy vẽ .<br>– Giấy vẽ tranh đông hồ được làm từ vỏ con điệp( sau khi đã nghiền nát vỏ điệp ) trộn với hồ ( bột gạo nếp , gạo tẻ hoặc bột sắn ) sau đó dùng chổi lá thông quét trên bề mặt giấy , tạo nên loại giấy trắng sáng , lấp lánh khi để ngoài ánh sáng . Giấy vẽ tranh đông hồ người ta thường gọi giấy điệp ( làm từ vỏ con điệp ở biển ) . Màu tranh vẽ tranh đông hồ được lấy hoàn toàn từ tự nhiên không pha màu , chỉ có 4 màu cơ bản là xanh ( lấy từ lá chàm hoặc gỉ đồng ) , đen ( than lá che ) , vàng ( lấy từ hoa hòe ) và đỏ ( lấy từ gỗ vang , sỏi son … ) . Tùy vào sở thích và độ đậm của tranh người ta sẽ tô đậm để làm nổi bật hoặc làm nhạt các chi tiết trong tranh đông hồ .<br>Được lấy hoàn toàn từ thiên nhiên nên màu sơn vẽ của tranh đông hồ tuy đơn giản nhưng lại rất đặc biệt , không nhầm lẫn với bất kỳ tranh nào khác . Đến nay tranh đông hồ vẫn được lưu giữ , phát triển và công nhận là nét văn hóa phi vật thể cấp quốc gia .Người dân Làng Đông Hồ , Xã Song Hồ , Huyện Thuận Thành, Tỉnh Bắc Ninh xem tranh đông hồ như hơi thở , nhịp sống của họ . Những bức tranh phác họa lại đời sống thường ngày với mong muốn về một cuộc sống gia đình thuận hòa , yêu thương con người , cuộc sống sung túc , an nhàn , ấm no , hạnh phúc . Hay như ý chí nghị lực trong cuộc sống .</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1536861080/d204fa3de4a2cb6498d55980e3d9b425/tranh_dan_gian_dong_ho_2.jpg" />
         <pubDate>2022-02-27 14:47:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2068225033</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Ana - 4T</title>
         <author>anna_hs</author>
         <link>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2068724211</link>
         <description><![CDATA[<div>Tranh Đông Hồ là một loại tranh in mảng, nét, kích cỡ không lớn như tranh Hàng Trống. Màu sắc của tranh Đông Hồ rực rỡ, trong sáng và có một số màu cơ bản như đỏ, xanh, vàng, nâu được chế tác từ hoa quả lá cây trong tự nhiên là chủ yếu, màu đen làm bằng thân lá, thân cây phù hợp như lá tre. Do việc in nét và in mảng hàng loạt nên số lượng tranh bán vào ngày tết cũng khá lớn, hầu như thỏa mãn được nhu cầu của nhân dân nhất là vùng thôn quê, bản làng, hải đảo. Tranh Đông Hồ sản xuất cả năm nhưng gần đến ngày tết thì càng bận rộn nên phải huy động nhiều nhân lực cho khâu đóng gói, vận chuyển, phát hành vào những ngày giáp tết ở chợ đô thị, nông thôn kể cả miền xuôi và miền ngược xa xôi.</div><div>Dòng tranh Đông Hồ có nội dung và hình thức biểu đạt rất phong phú, chủ yếu đi sâu miêu tả tính chân thực cuộc sống sinh hoạt, lao động sản xuất đời thường trong mối quan hệ giữa người với người, và giữa người với thiên nhiên thể hiện tính nhân quả cầu an, cầu phúc, cầu lộc, cầu tài. Tính triết lý của tranh Đông Hồ rất sâu sắc vừa vui tươi dí dỏm, hóm hỉnh vừa sâu cay nửa hư nửa thực mang tính trừu tượng. “Nói đó cho cạy lòng đây” như tranh đánh ghen, hứng dừa, đám cưới chuột,... Nhiều bức tranh nói lên nỗi niềm khát khao được hạnh phúc, ấm no, ước nguyện, giàu có, yên lành, trồng cây thì cây tốt, chăn nuôi thì sinh sôi nảy nở béo khỏe và sâu xa hơn nữa mong sao tình làng nghĩa xóm hòa thuận, đoàn kết, an khang, thịnh vượng như tranh đàn lợn, đàn gà, tứ quý, hoa lá, chim muông...</div><div>Thời xưa, gần đến ngày tết người ta còn tặng quà cho nhau bằng tranh, theo nội dung mà họ đã định từ trước phù hợp với hoàn cảnh tình cảm của người được trao tặng để trang trí trong ngày vào xuân, mong sao “mọi việc như ý” cho một năm mới tốt lành. Đó là nét đẹp văn hóa trong tranh dân gian Đông Hồ, Hàng Trống,... mà có lẽ người Việt Nam mới có.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1326282599/71a22c0f08a35eb9f821d0242af75c36/image.png" />
         <pubDate>2022-02-28 02:50:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2068724211</guid>
      </item>
      <item>
         <title>4T - Vũ Hoàng Bách</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2068737384</link>
         <description><![CDATA[<h1><br></h1><h1>Tranh dân gian Đông Hồ</h1><div><strong>Tranh dân gian Đông Hồ là nghề làm tranh khắc gỗ dân gian, thuộc lĩnh vực Nghề thủ công truyền thống, được cộng đồng dân làng Đông Hồ, xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh sáng tạo và phát triển từ mấy trăm năm qua, có giá trị về lịch sử, văn hóa và nghệ thuật đặc sắc.</strong></div><div><br></div><div>Trong các dòng tranh dân gian ở Việt Nam, tranh Đông Hồ thuộc dòng tranh in từ ván khắc gỗ, do người dân làng Đông Hồ sáng tạo, sản xuất và phát triển thành làng nghề. Đây là dòng tranh gắn bó và thể hiện sinh động xã hội nông nghiệp Việt cổ truyền, cuộc sống lao động của người nông dân bình dị, chất phác, phong tục, tập quán, sinh hoạt của người dân Việt. Để thể hiện một bức tranh, ngoài bản nét đen chủ đạo, tranh mẫu có bao nhiêu màu thì cần bấy nhiêu bản gỗ khắc in màu tương ứng. Đặc biệt, giấy in là loại giấy dó truyền thống, có quét điệp và màu sử dụng in tranh được chế từ nguồn gốc tự nhiên, như màu vàng của hoa hòe, màu đỏ của hoa hiên, màu trắng từ bột vỏ sò, điệp và màu đen của than lá tre..., tạo ra mỹ cảm dung dị, độc đáo.</div><div>Về thể loại, dựa vào nội dung chủ đề, có thể chia tranh Đông Hồ thành 7 loại chính, gồm tranh thờ, tranh chúc tụng, tranh lịch sử, tranh truyện, tranh phương ngôn, tranh cảnh vật và tranh phản ánh sinh hoạt.</div><div>Quá trình sản xuất tranh có nhiều khâu, song có thể tạm chia thành 2 công đoạn chính như sau: khâu sáng tác mẫu/khắc ván và khâu in/vẽ tranh. Sáng tác mẫu tranh và khắc ván là khâu lao động sáng tạo, khâu quan trọng, quyết định sự sinh tồn của một làng tranh. Nó đòi hỏi ít nhiều năng khiếu bẩm sinh và kỹ năng lao động cao ở các nghệ nhân. Công việc sáng tác mẫu tranh tốn rất nhiều thời gian, trước tiên phải lựa chọn đề tài, ý nghĩa, nội dung sâu sắc, màu sắc hài hoà, bố cục chặt chẽ và có giá trị nghệ thuật cao. Khi sáng tác mẫu tranh, các nghệ nhân thường sử dụng bút lông và mực Nho để vẽ lên giấy bản mỏng và phẳng để người thợ khắc, đục ván theo mẫu. Việc sáng tác mẫu tranh không phải là việc của riêng các nghệ nhân mà thường là kết quả chung của một làng tranh, của nhiều thế hệ. Cũng chính vì thế mà trong tranh Đông Hồ, có trường hợp một mẫu nhưng có nhiều dị bản khác nhau, hoặc một mẫu tranh cũng có đến hai, ba cách phân bố màu khác nhau. Vì vậy, có nhiều mẫu tranh cổ đến nay chúng ta cũng chưa xác định được chủ nhân sáng tạo.</div><div>Ván khắc in tranh có 2 loại: ván in nét và ván in màu. Ván in nét thường được làm từ gỗ thị hoặc gỗ thừng mực. Gỗ thị có thớ đa chiều, vừa mềm, dễ khắc lại vừa dai, do đó khi khắc ván in, nghệ nhân có kỹ năng chạm khắc giỏi, sẽ tạo được các nét gọn, mảnh, nhỏ, tinh vi và ván in lại mềm. Dụng cụ khắc ván là những mũi đục hay còn gọi là bộ ve, được làm bằng thép cứng. Mỗi bộ ve có khoảng 30 - 40 chiếc.</div><div>Vật liệu và dụng cụ dùng để in tranh gồm: giấy dó, các loại màu, ván in, co ván, bìa và thét (chổi làm bằng lá thông). Cách thức in tranh như sau: trước khi in tranh, phải chuẩn bị sẵn giấy in để thành 1 tập (khoảng từ 100 đến 200 tờ ở trước mặt). Khi in, người ta nhúng thét lá thông vào chậu màu để lấy màu, rồi quét đều trên mặt bìa. Phương pháp lấy mực để in tranh dân gian Đông Hồ theo cách xếp ván, tức là cầm "co" ván dập đi, dập lại tấm ván xuống mặt bìa đã được phết màu, để màu thấm đều trên bề mặt ván, sau đó đặt ván in lên tờ giấy định in sao cho cân đối, chính xác, ấn mạnh ván in vào tờ giấy, để có sự liên kết nhất định, rồi lật ngửa ván in có dính cả tờ giấy in tranh lên; lấy xơ mướp xoa đều lên mặt sau tờ giấy, để cho phẩm mầu trên mặt ván tiếp tục thấm đều trên mặt giấy. Tiếp đó, gỡ tờ tranh ra khỏi ván in, rồi mang tranh ra phơi ở những nơi thoáng mát. Tranh khô rồi mới tiếp tục lần lượt in các màu khác. Bản nét đen bao giờ cũng được in cuối cùng.</div><div>Trước kia, chỉ có nghệ nhân làng Hồ sáng tác mẫu mới vẽ tranh bằng tay. Các công đoạn khác trong sản xuất tranh dân gian Đông Hồ đều dùng ván in. Ngày nay, người ta còn vẽ tranh theo cách thức khác (ngoài in), đó là tô màu, vờn màu trên tranh đã được in ván nét trước (theo lối vẽ tranh Hàng Trống) và vẽ tranh trên giấy trắng hoặc giấy màu bồi. Khi vẽ tranh trên giấy đã in ván nét, người nghệ nhân chỉ việc phân bố màu sắc sao cho hài hoà, hợp lý, thể hiện rõ nội dung của bức tranh, mà vẫn biểu đạt được giá trị thẩm mỹ.</div><div>Về giá trị nghệ thuật, so với các dòng tranh&nbsp; khác, tranh dân gian Đông Hồ có tính biểu trưng, trang trí nhưng vẫn giữ được nét mộc mạc, dễ hiểu, gần gũi với đời sống của người dân vùng châu thổ Bắc Bộ, độc đáo trong việc sử dụng đường nét tiết giản và những mảng màu dẹt đều, là màu tự nhiên của cỏ cây, hoa lá, tươi sáng trên nền giấy dó quét điệp óng ánh. Về nội dung, tranh dân gian Đông Hồ phản ánh sâu sắc đời sống tinh thần, vật chất của con người, xã hội theo quan điểm mỹ học dân gian của người dân nơi đây. Đó là những bức tranh khắc hoạ ước mơ ngàn đời của người lao động về cuộc sống gia đình thuận hoà, ấm no, hạnh phúc, về một xã hội công bằng, tốt đẹp. Tranh dân gian Đông Hồ góp phần không nhỏ vào việc lưu giữ những vốn văn hoá truyền thống của dân tộc, làm cho đời sống tinh thần của người Việt Nam thêm phong phú.</div><div>Hiện nay, tranh dân gian Đông Hồ đang đứng trước nguy cơ mai một do tác động của nền kinh tế thị trường, nhu cầu thẩm mỹ của người dân thay đổi, “đầu ra” cho tranh gặp nhiều khó khăn. Dân làng tranh giờ đây chủ yếu làm hàng mã. Bên cạnh đó, theo đánh giá của một số họa sĩ, tranh Đông Hồ không còn mang tính hồn nhiên, chất phác, “thuần Việt” như xưa, mà đang dần bị thương mại hoá, không có màu sắc thắm như tranh cổ, do người ta trộn màu trắng vào điệp để tiết kiệm lượng điệp, khiến giấy mất độ óng ánh. Đồng thời, màu sử dụng cũng chuyển sang dùng loại màu công nghiệp cho rẻ và tiện, các bản khắc mới thường thô và sơ sài, không được tinh tế như bản cổ. Đặc biệt, một số bản khắc đã bị đục bỏ phần chữ Hán, hoặc chữ Nôm, vốn là một phần cấu tạo nên bố cục của tranh, khiến tranh bị mất đi tính hoàn chỉnh.</div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1488861880/3651ee953552c7446189fc5eae8cb9e1/vinh_quy_bai_to.jpg" />
         <pubDate>2022-02-28 03:01:59 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2068737384</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Quỳnh Anh</title>
         <author>nguyenquynhanh2a2</author>
         <link>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2068796548</link>
         <description><![CDATA[<div>Và với những chất liệu hoàn toàn tự nhiên, tranh Đông Hồ có màu sắc gần gũi, ấm áp rất đặc biệt mà có lẽ chỉ riêng Việt Nam mới có.</div><div>Tranh Đông Hồ, hay tên đầy đủ là tranh khắc gỗ dân gian Đông Hồ, đây là một dòng tranh dân gian Việt Nam với xuất xứ từ làng Đông Hồ thuộc xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Theo tìm hiểu, trước kia tranh được bán ra chủ yếu phục vụ cho dịp Tết Nguyên Đán, người dân nông thôn mua tranh về dán trên tường, hết năm lại lột bỏ, dùng tranh mới.</div><div>Với những nét tinh túy riêng và mang đậm những giá trị văn hóa to lớn, tranh tết Đông Hồ bằng những hình ảnh biểu tượng dân dã, gần gũi nhưng lại chứa đựng những thông điệp ẩn ngữ đầy tính nhân văn. Sự phong phú và đa dạng cả về mẫu mã, thể loại, chủ đề, tranh dân gian Đông Hồ phản ánh hầu như tất cả những gì diễn ra trong đời sống bình dị của người lao động như: Chăn trâu thổi sáo, Hứng dừa, Đấu vật, Đánh ghen… cho tới những ước mơ, khát vọng cuộc sống tốt đẹp hơn như Lễ trí, Nhân nghĩa, Vinh hoa, Phú quý, Lợn đàn, Gà đàn… Nét hấp dẫn của tranh dân gian Đông Hồ không chỉ đề cập đến cuộc sống: thóc đầy bồ, gà đầy sân, mong ước vinh hoa phú quý… mà còn đề cập đến cuộc sống lứa đôi, vợ chồng với cái nhìn hóm hỉnh mà sâu sắc.</div><div>Về chất liệu và màu sắc:</div><div>Nét độc đáo đầu tiên thu hút cảm quan người xem của tranh chính là ở màu sắc và chất liệu giấy in. Giấy dùng in tranh là giấy dó được làm từ vỏ cây dó, với đặc tính xốp, mềm, mỏng, dai, dễ hút màu mà khi in không bị nhòe. Trên giấy được quét lên một lớp hồ điệp có nét sáng óng ánh rất đặc thù bằng cách: người ta nghiền nát vỏ con điệp (một loại sò vỏ mỏng ở biển) trộn với hồ (loại bột gạo tẻ, hoặc gạo nếp, có khi là bột sắn), dùng chổi lá thông quét lên mặt giấy dó. Với chổi lá thông sẽ tạo thành những đường ganh chạy theo đường quét và vỏ điệp tự nhiên cho màu trắng có ánh lấp lánh của những mảnh điệp nhỏ dưới ánh sáng, trong quá trình làm giấy điệp có thể pha thêm màu khác vào hồ. Màu sắc được sử dụng trong tranh là màu tự nhiên từ cây cỏ như màu đen từ than cây xoan hay than lá tre, màu xanh từ gỉ đồng, lá chàm, màu vàng từ hoa hòe, màu đỏ từ sỏi son, gỗ vang,… Đây là những màu cơ bản, không pha trộn.</div><div>Về thể loại, theo nội dung chủ đề, tranh Đông Hồ có thể chia thành 7 loại chính: tranh thờ, tranh chúc tụng, tranh lịch sử, tranh truyện, tranh phương ngôn, tranh cảnh vật và tranh phản ánh sinh hoạt.</div><div>Về qui trình sản xuất tranh có nhiều công đoạn, trong đó có 2 khâu chính gồm: sáng tác mẫu (khắc ván) và in (vẽ tranh). Ở đây có thể thấy mỗi nghệ nhân đòi hỏi có ít nhiều năng khiếu bẩm sinh cũng như kỹ năng lao động cao.</div><div>Ván khắc in tranh có 2 loại: ván in nét và ván in màu. Ván in nét được làm từ gỗ thị hoặc gỗ thừng mực. Dụng cụ khắc ván là những mũi đục hay còn gọi là bộ ve làm bằng thép cứng (khoảng 30 - 40 chiếc/bộ).</div><div>Các nghệ nhân làng Hồ sáng tác mẫu vẽ tranh bằng tay còn các công đoạn khác thì dùng ván in.</div><div>Về giá trị nghệ thuật thì dòng tranh dân gian Đông Hồ mang tính biểu trưng, trang trí nhưng vẫn giữ được nét mộc mạc, dễ hiểu, rất gần với đời sống người dân vùng đồng bằng Bắc Bộ.</div><div>Về nội dung, tranh dân gian Đông Hồ phản ánh sâu sắc đời sống tinh thần, vật chất của con người, xã hội theo quan điểm mỹ học dân gian của người dân vùng này. Những bức tranh nói lên ước mơ ngàn đời của người lao động về một cuộc sống gia đình thuận hòa, ấm no, hạnh phúc và một xã hội công bằng, tốt đẹp.</div><div>Ý nghĩa của một số bức tranh dân gian Đông Hồ:</div><div>Tranh Gà mẹ và đàn con: nói về tình mẫu tử, tình yêu thương, đùm bọc nhau giữa các thành viên trong gia đình, trách nhiệm của cha mẹ với con cái.</div><div>Tranh Đàn lợn âm dương: gắn bó với cuộc sống sinh hoạt bình dân, mong muốn cuộc sống sung túc, an nhàn. Đây chính là chiều sâu của sự cảm nhận về yêu thương, chở che của tình mẫu tử.</div><div>Tranh Gà trống và hoa hồng: Gà trống là con vật đại diện cho 5 phẩm chất tốt đẹp: văn, võ, dũng, nhân, tín. Tranh có hàm ý mang đến năm mới cát tường, lộc thọ cho ngày xuân.</div><div>Tranh Lí ngư vọng nguyệt (Cá chép trông trăng) ngụ ý về tinh thần vượt khó, ý chí vươn lên, phấn đấu trong học hành và sự thành đạt.</div><div>Tranh Vinh hoa: đem đến cho năm mới ý nguyện hiển đạt với đủ đức hạnh quân tử: nhân, nghĩa, tín, dũng và văn võ song toàn cho người đàn ông trong gia đình.</div><div>Tranh Phú quí: với hình ảnh em bé gái ôm vịt đem đến ước nguyện phẩm chất duyên dáng, dịu dàng, trong sáng.</div><div>Tranh Mục đồng thổi sáo: cho thấy sự thanh bình an lạc trong cuộc sống nghèo khổ, cơ hàn của trẻ chăn trâu.</div><div>Tranh Thầy đồ cóc: Ca ngợi đức tính ham học và tôn sư trọng đạo của người Việt Nam.</div><div>Tranh Trê có kiện nhau: bi hài kịch về sự thiếu hiểu biết, ngu dốt của dân đen và phản ánh thói quan tham, tham nhũng của quan lại trong chế độ cũ.</div><div>Tranh Vinh Quy bái tổ: Vinh quy bái tổ không chỉ là vinh dự cho vị tân khoa, cho cha mẹ họ hàng, làng xóm mà còn là dịp để tân khoa bày tỏ lòng biết ơn đối với tổ tiên, cha mẹ và người thầy dạy theo đúng đạo lý Việt Nam “Công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy”. Đây là một truyền thống văn hóa rất đáng quý, đáng trân trọng.</div><div>Tranh Đấu vật: đề cao tinh thần thượng võ. Đấu vật là môn võ cổ truyền của Việ Nam xuất hiện từ khi lập quốc và tồn tại gắn liền với hoạt động bảo vệ tổ quốc và lễ hội xuân. Bức tranh nổi tiếng của làng Đông Hồ.</div><div>Tranh Đánh ghen: là một trong những tranh sinh hoạt dí dỏm, nhưng mang tính giáo dục rất lớn. Hình ảnh một bà vợ xắn váy xông tới, tay cầm kéo định cắt tóc cô nhân tình. Hình ảnh ông chồng bị bắt quả tang nhưng một tay vẫn đặt lên ngực nhân tình để bảo vệ còn tay kia thì để hòa hoãn với vợ. Đứa bé đang chắp tay van lạy vì sự cư xử của bậc phụ mẫu. Bức tranh như một lời cảnh báo những hành động của cha mẹ sẽ đi sâu vào tâm thức con trẻ tác động rất lớn tới sự hình thành nhân cách sau này. Tranh mang đậm ý nghĩa nhân văn.</div><div>Tranh Đám cưới chuột (Chuột vinh qui): thể hiện đậm đà tâm hồn, tính cách thuần hậu, chất phác của người bình dân và cũng giàu chất triết lý dân gian, mang tính nhân văn sâu sắc, ý nhị. Đám cưới chuột bề ngoài là một đám cưới vui vẻ thế phải có cống vật dâng lên mèo. Bức tranh khoác lên vẻ đẹp duyên dáng của tầng lớp xã hội phong kiến thông qua hình tượng các con vật một cách dí dỏm và sâu sắc…</div><div>Ngoài những bức tranh dân gian Đông Hồ mang nội dung bình dân với cuộc sống giản dị mà đầy ý nghĩa, còn có những màu sắc tôn quý hơn với những bức tranh tứ quý thể hiện sự sang trọng, cao quý chỉ dùng cho vua chúa, quan lại thời xưa. Ví dụ: Tứ quý, Tứ bình, Tứ quý hạc, Tứ quý tố nữ… mang đậm chất vương giả bởi những hình ảnh tượng trưng cho sự sang trọng, quyền quý, mong ước mọi sự như ý trong một năm mới.</div><div>Ngày nay, nghề làm tranh Đông Hồ đang đứng trước nguy cơ mai một, chỉ còn lại rất ít gia đình duy trì. Theo thống kê gần đây, số lượng nghệ nhân hiện chỉ còn 3 người nhưng chỉ có 2 người còn khả năng truyền dạy đều đã cao tuổi (ông Nguyễn Hữu Sam, ông Nguyễn Đăng Chế).</div><div>Hiện tại, nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế còn lưu giữ tại nhà Bộ sưu tập các bản khắc cổ có độ tuổi trên dưới 200 năm.</div><div>Bảo tàng Lịch sử quốc gia, hiện đang lưu giữ những bức tranh dân gian Đông Hồ với khoảng 40 bức. Mỗi tranh là một đề tài khác nhau, tranh có kích thước trung bình: dài 35cm, rộng 25cm. Tranh được bảo quản tại kho hiện vật của bảo tàng. (Ảnh 1- 12: Tranh DG Đông Hồ lưu giữ tại BTLSQG).</div><div>Nói tóm lại, tranh dân gian Đông Hồ với ngôn ngữ tạo hình đơn giản, dễ hiểu, hình tượng rõ ràng, nói lên tư tưởng, tình cảm và mong ước, khát vọng sống của con người về một cuộc sống no đủ, hạnh phúc. Từ những bức tranh dân gian mộc mạc, tươi sáng, các nghệ nhân Đông Hồ đã đưa vào trong tranh những lời hay, ý đẹp, những kinh nghiệm đúc rút qua cuộc sống mà bao đời nay để lại bằng cách thể hiện rất riêng, độc đáo, tinh tế, đầy chất biểu cảm mà sâu sắc.</div><div>Được tôn vinh và công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia, mong rằng <em>Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ</em> sẽ tồn tại và phát triển mãi với thời gian, là một phần không thể thiếu trong đời sống người dân lao động Việt Nam.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-02-28 03:57:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2068796548</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Quang Bách</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2068807250</link>
         <description><![CDATA[<div>Trong các dòng tranh dân gian ở Việt Nam, tranh Đông Hồ thuộc dòng tranh in từ ván khắc gỗ, do người dân làng Đông Hồ sáng tạo, sản xuất và phát triển thành làng nghề. Đây là dòng tranh gắn bó và thể hiện sinh động xã hội nông nghiệp Việt cổ truyền, cuộc sống lao động của người nông dân bình dị, chất phác, phong tục, tập quán, sinh hoạt của người dân Việt. Để thể hiện một bức tranh, ngoài bản nét đen chủ đạo, tranh mẫu có bao nhiêu màu thì cần bấy nhiêu bản gỗ khắc in màu tương ứng. Đặc biệt, giấy in là loại giấy dó truyền thống, có quét điệp và màu sử dụng in tranh được chế từ nguồn gốc tự nhiên, như màu vàng của hoa hòe, màu đỏ của hoa hiên, màu trắng từ bột vỏ sò, điệp và màu đen của than lá tre..., tạo ra mỹ cảm dung dị, độc đáo.</div><div>Về thể loại, dựa vào nội dung chủ đề, có thể chia tranh Đông Hồ thành 7 loại chính, gồm tranh thờ, tranh chúc tụng, tranh lịch sử, tranh truyện, tranh phương ngôn, tranh cảnh vật và tranh phản ánh sinh hoạt.</div><div>Quá trình sản xuất tranh có nhiều khâu, song có thể tạm chia thành 2 công đoạn chính như sau: khâu sáng tác mẫu/khắc ván và khâu in/vẽ tranh. Sáng tác mẫu tranh và khắc ván là khâu lao động sáng tạo, khâu quan trọng, quyết định sự sinh tồn của một làng tranh. Nó đòi hỏi ít nhiều năng khiếu bẩm sinh và kỹ năng lao động cao ở các nghệ nhân. Công việc sáng tác mẫu tranh tốn rất nhiều thời gian, trước tiên phải lựa chọn đề tài, ý nghĩa, nội dung sâu sắc, màu sắc hài hoà, bố cục chặt chẽ và có giá trị nghệ thuật cao. Khi sáng tác mẫu tranh, các nghệ nhân thường sử dụng bút lông và mực Nho để vẽ lên giấy bản mỏng và phẳng để người thợ khắc, đục ván theo mẫu. Việc sáng tác mẫu tranh không phải là việc của riêng các nghệ nhân mà thường là kết quả chung của một làng tranh, của nhiều thế hệ. Cũng chính vì thế mà trong tranh Đông Hồ, có trường hợp một mẫu nhưng có nhiều dị bản khác nhau, hoặc một mẫu tranh cũng có đến hai, ba cách phân bố màu khác nhau. Vì vậy, có nhiều mẫu tranh cổ đến nay chúng ta cũng chưa xác định được chủ nhân sáng tạo.</div><div>Ván khắc in tranh có 2 loại: ván in nét và ván in màu. Ván in nét thường được làm từ gỗ thị hoặc gỗ thừng mực. Gỗ thị có thớ đa chiều, vừa mềm, dễ khắc lại vừa dai, do đó khi khắc ván in, nghệ nhân có kỹ năng chạm khắc giỏi, sẽ tạo được các nét gọn, mảnh, nhỏ, tinh vi và ván in lại mềm. Dụng cụ khắc ván là những mũi đục hay còn gọi là bộ ve, được làm bằng thép cứng. Mỗi bộ ve có khoảng 30 - 40 chiếc.</div><div>Vật liệu và dụng cụ dùng để in tranh gồm: giấy dó, các loại màu, ván in, co ván, bìa và thét (chổi làm bằng lá thông). Cách thức in tranh như sau: trước khi in tranh, phải chuẩn bị sẵn giấy in để thành 1 tập (khoảng từ 100 đến 200 tờ ở trước mặt). Khi in, người ta nhúng thét lá thông vào chậu màu để lấy màu, rồi quét đều trên mặt bìa. Phương pháp lấy mực để in tranh dân gian Đông Hồ theo cách xếp ván, tức là cầm "co" ván dập đi, dập lại tấm ván xuống mặt bìa đã được phết màu, để màu thấm đều trên bề mặt ván, sau đó đặt ván in lên tờ giấy định in sao cho cân đối, chính xác, ấn mạnh ván in vào tờ giấy, để có sự liên kết nhất định, rồi lật ngửa ván in có dính cả tờ giấy in tranh lên; lấy xơ mướp xoa đều lên mặt sau tờ giấy, để cho phẩm mầu trên mặt ván tiếp tục thấm đều trên mặt giấy. Tiếp đó, gỡ tờ tranh ra khỏi ván in, rồi mang tranh ra phơi ở những nơi thoáng mát. Tranh khô rồi mới tiếp tục lần lượt in các màu khác. Bản nét đen bao giờ cũng được in cuối cùng.</div><div>Trước kia, chỉ có nghệ nhân làng Hồ sáng tác mẫu mới vẽ tranh bằng tay. Các công đoạn khác trong sản xuất tranh dân gian Đông Hồ đều dùng ván in. Ngày nay, người ta còn vẽ tranh theo cách thức khác (ngoài in), đó là tô màu, vờn màu trên tranh đã được in ván nét trước (theo lối vẽ tranh Hàng Trống) và vẽ tranh trên giấy trắng hoặc giấy màu bồi. Khi vẽ tranh trên giấy đã in ván nét, người nghệ nhân chỉ việc phân bố màu sắc sao cho hài hoà, hợp lý, thể hiện rõ nội dung của bức tranh, mà vẫn biểu đạt được giá trị thẩm mỹ.</div><div>Về giá trị nghệ thuật, so với các dòng tranh&nbsp; khác, tranh dân gian Đông Hồ có tính biểu trưng, trang trí nhưng vẫn giữ được nét mộc mạc, dễ hiểu, gần gũi với đời sống của người dân vùng châu thổ Bắc Bộ, độc đáo trong việc sử dụng đường nét tiết giản và những mảng màu dẹt đều, là màu tự nhiên của cỏ cây, hoa lá, tươi sáng trên nền giấy dó quét điệp óng ánh. Về nội dung, tranh dân gian Đông Hồ phản ánh sâu sắc đời sống tinh thần, vật chất của con người, xã hội theo quan điểm mỹ học dân gian của người dân nơi đây. Đó là những bức tranh khắc hoạ ước mơ ngàn đời của người lao động về cuộc sống gia đình thuận hoà, ấm no, hạnh phúc, về một xã hội công bằng, tốt đẹp. Tranh dân gian Đông Hồ góp phần không nhỏ vào việc lưu giữ những vốn văn hoá truyền thống của dân tộc, làm cho đời sống tinh thần của người Việt Nam thêm phong phú.</div><div>Hiện nay, tranh dân gian Đông Hồ đang đứng trước nguy cơ mai một do tác động của nền kinh tế thị trường, nhu cầu thẩm mỹ của người dân thay đổi, “đầu ra” cho tranh gặp nhiều khó khăn. Dân làng tranh giờ đây chủ yếu làm hàng mã. Bên cạnh đó, theo đánh giá của một số họa sĩ, tranh Đông Hồ không còn mang tính hồn nhiên, chất phác, “thuần Việt” như xưa, mà đang dần bị thương mại hoá, không có màu sắc thắm như tranh cổ, do người ta trộn màu trắng vào điệp để tiết kiệm lượng điệp, khiến giấy mất độ óng ánh. Đồng thời, màu sử dụng cũng chuyển sang dùng loại màu công nghiệp cho rẻ và tiện, các bản khắc mới thường thô và sơ sài, không được tinh tế như bản cổ. Đặc biệt, một số bản khắc đã bị đục bỏ phần chữ Hán, hoặc chữ Nôm, vốn là một phần cấu tạo nên bố cục của tranh, khiến tranh bị mất đi tính hoàn chỉnh.</div><div>Nghề làm tranh Đông Hồ ngày nay tồn tại “yếu ớt”, chỉ còn một vài gia đình duy trì. Theo thống kê mới đây, số lượng nghệ nhân hiện chỉ còn 3 người, số lượng người thực hành khoảng 20 người, số nghệ nhân hiện còn khả năng truyền dạy chỉ còn 2 người (ông Nguyễn Hữu Sam và ông Nguyễn Đăng Chế) đều đã cao tuổi. Trước nguy cơ này, Tỉnh Ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã có một số chủ trương, biện pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể nghề làm tranh dân gian Đông Hồ, như ban hành Nghị quyết về phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp, trong đó có nghề làm tranh dân gian Đông Hồ; ban hành Quyết định về xây dựng và phát triển khu công nghiệp tập trung, khu công nghiệp làng nghề trên địa bàn tỉnh; giao Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Bắc Ninh thực hiện Dự án “Bảo tồn văn hoá phi vật thể làng tranh Đông Hồ”; Đảng bộ và chính quyền và nhân dân xã Song Hồ, huyện Thuận Thành đề xuất xuất với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho tổ chức khảo sát, đánh giá thực trạng, tổ chức hội thảo khoa học về nghề làm tranh dân gian Đông Hồ và cho lập Hồ sơ đề nghị UNESCO ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp.</div><div>Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ có giá trị cao về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, được Chính phủ đồng ý cho lập hồ sơ trình UNESCO và được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (đợt 1), loại hình Nghề thủ công truyền thống tháng 12 năm 2012.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1600183990/159db58603340f09e490db68abc2481d/download.jpg" />
         <pubDate>2022-02-28 04:08:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2068807250</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tuệ Lâm</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2068824558</link>
         <description><![CDATA[<div>Tranh dân gian Đông Hồ hay còn có tên gọi khác là tranh khắc gỗ dân gian Đông Hồ. Đây là một trong những dòng tranh dân gian nổi tiếng của Việt Nam được sản sinh từ làng Đông Hồ, Bắc Ninh. Từ trước đến nay, nhắc đến tranh Đông Hồ là người ta thường nghĩ đến ngay những nét tranh vô cùng độc đáo và tinh xảo. Đây chính là một niềm tự hào và tượng trưng cho nét đặc sắc của văn hóa tranh Việt.</div><div>Nguồn gốc xuất xứ của tranh dân gian Đông Hồ xuất phát từ làng tranh Đông Hồ, một làng nghề đã có danh tiếng từ rất lâu đời. Các nghệ nhân khắc tranh Đông Hồ của làng luôn có trình độ cao với tay nghề điêu luyện. Ngôi làng này còn có lịch sử truyền thống văn hóa lên đến hơn 400 năm với hơn 17 dòng họ đều theo nghề khắc tranh gỗ truyền thống. Ngày nay, làng tranh Đông Hồ còn là một địa điểm tham quan và du lịch nổi tiếng tại xứ Kinh Bắc, thu hút đông đảo khách du lịch đến khám phá, trải nghiệm.Để tạo ra một bức tranh dân gian Đông Hồ đẹp và có hồn thì phải trải qua rất nhiều công đoạn hết sức công phu: Từ sáng tác mẫu và tạo bản khắc gỗ, chuẩn bị giấy dó và màu vẽ. Sau đó in tranh, phơi tranh dưới ánh nắng để ráo mực và giúp sản phẩm hoàn chỉnh cũng như đạt chất lượng tốt nhất.</div>]]></description>
         <enclosure url="http://3.bp.blogspot.com/-PAe4ajKvEj4/UVAANuR6RUI/AAAAAAAAAF8/oqgzgyuGQdM/s1600/%E5%A4%A9%E4%B8%8B%E5%A4%AA%E5%B9%B3.jpg" />
         <pubDate>2022-02-28 04:26:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2068824558</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Hoàng Nam</title>
         <author>hien0402</author>
         <link>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2068981417</link>
         <description><![CDATA[<div>Tranh dân gian Việt Nam có lịch sử rất lâu đời, đã từng có thời gian phát triển rất mạnh mẽ, ngày nay nó có phần giảm sút nhưng vẫn còn được giữ gìn bảo tồn trong một số làng nghề và một số gia đình làm tranh. Về cơ bản có hai loại tranh chính là tranh Tết và tranh thờ. Sở dĩ chúng xuất hiện rất sớm là bởi vì nó với hai loại chính là tranh tết và tranh thờ xuất hiện gần như cùng lúc với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt và việc thần thánh hóa các hiện tượng tự nhiên.</div><div><br><br></div><div><br>Vào thời nhà Lý (thế kỷ 12) đã bắt đầu xuất hiện những gia đình hay thậm chí là cả một làng chuyên làm khắc ván, làm tranh. Đến cuối đời nhà Trần nhiều nơi đã in được tiền giấy (là một cách thể hiện của tranh dân gian) và sang đời nhà Hồ tiền giấy đã được phát triển mạnh.<br>Tời thời kỳ Lê sơ việc in khắc tranh đã được tiếp thu thêm kỹ thuật khắc ván in của Trung Quốc và sau khi vào Việt Nam đã được cải tiến thêm cho phù hợp. Cùng với đó là sự phân hoá của tranh dân gian xuất hiện ngày càng rõ nét.<br><br>Đến đời nhà Mạc (thế kỷ 16) một thay đổi đặc biệt đã xảy ra, tranh dân gian không còn là sản phẩm riêng của những người nông dân nghèo khó nữa, mà đã được cả tầng lớp quý tộc ở kinh thành Thăng Long ưa thích, thường sử dụng vào dịp Tết Nguyên Đán.<br>Sang thế kỷ 18 - 19, tranh dân gian đã dần đi vào giai đoạn ổn định và phát triển mạnh mẽ. Nghề làm tranh đã lan truyền rộng rãi hầu khắp cả nước. Cùng với đó là sự phân hóa, những dòng tranh mới xuất hiện, được gọi tên theo địa danh nơi sản xuất, đã có những phong cách riêng của mình. Nét riêng của mỗi dòng tranh được thể hiện ngay từ quy trình làm tranh cũng như trong mỗi đường nét của tranh. Đó là sự khác biệt giữa kỹ thuật khắc ván in, kỹ thuật vẽ, nguyên liệu làm tranh, cách pha chế tạo màu sắc riêng.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-02-28 07:07:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2068981417</guid>
      </item>
      <item>
         <title>nguyễn minh nhật 4t</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2069047217</link>
         <description><![CDATA[<div><br></div><div><strong>Nhìn gà mái vất vả tần tảo một mình lầm lũi bới đất, tìm mồi nuôi con khác nào cha mẹ chúng ta đã gian nan, vất vả nuôi chúng ta? Nhìn gà mẹ mỗi khi mưa nắng nó xòe lông che bóng cho con khỏi cái nóng nực hay ướt. Khi có đại bàng, diều hâu hung dữ đến, nó sẵn sàng xả thân bảo vệ con dù có phải chết đi nữa cũng không sợ hãi. Thật khiến ta cảm động biết nhường nào khi thấy cái tình mẫu tử đó khác chi con người? Cho nên, gà là bầu bạn và rất đáng yêu, đáng quý, là bạn hiền của mọi người chúng ta.&nbsp;<br></strong><br></div><div>Các bạn thân mến!<br><br></div><div>Nhiều người Việt Nam ở lứa tuổi 50, 60 hẳn không quên câu thơ:&nbsp;<br><br></div><div><em>“Làng Mái có lịch, có lề&nbsp;</em></div><div><em>Có sông tắm mát, có nghề làm tranh”<br></em>Tranh dân gian đã sống với cái Tết dân tộc bao ngàn năm qua là nhờ bàn tay điêu luyện của các nghệ nhân dân gian mà nổi tiếng nhất là các nghệ nhân tranh Đông Hồ, Làng Mái (còn gọi là Đông Mại) nghèo mà hào hoa ven bờ sông Đuống. Làng bên sông đó đã góp cho đời sống văn hoá Việt Nam phong phú, đa dạng và thật vô giá đó là dòng tranh dân gian Đông Hồ “độc nhất vô nhị” đã đi vào thơ ca bao đời nay.</div><div><br></div><div>Ngày xưa, thường mỗi gia đình ngày xuân đều có tranh dân gian treo ở trong nhà làm cho bầu không khí gia đình thêm ấm cúng, tạo ra khí thế sung mãn đầy đủ, ấm no. Vì thế, đã nhiều nhà thơ viết về làng tranh nhưng nhà thơ Hoài Anh lại riêng chọn cho mình một góc độ thích hợp trong Bức tranh gà như ký thác nỗi niềm người nghệ sĩ trong sáng tạo nghệ thuật và sức sống mãnh liệt, trọn vẹn của tranh dân gian.<br><br>Các bài thơ đơn giản mộc mạc miêu tả những cảnh thường nhật hàng ngày qua hình ảnh các nghệ nhân già ngồi in tranh gà để làm đề tài cho thơ như:</div><div><em>Khuôn tranh làng Hồ</em></div><div><em>Thơm mùi gỗ thị</em></div><div><em>Vỏ xơ mướp khô</em></div><div><em>Vuốt trên giấy bản</em></div><div><em>Sắc màu đã tô<br></em><br></div><div>Rồi từ đó mà phát triển tứ thơ trong hình tượng con gà độc đáo với rất nhiều liên tưởng trong quá trình làm tranh. Dưới bàn tay thuần thục và khéo léo của nghệ nhân thì bức tranh như có hồn, sinh động trước mắt người mua tranh khi ngắm nó:<br><br></div><div><em>Con gà đứng dậy&nbsp;</em></div><div><em>Ơ sao bỗng thấy</em></div><div><em>Mắt gà chớp nhanh&nbsp;</em></div><div><em>Mắt bác không chớp...<br></em><br></div><div>Tranh Đông Hồ với sắc màu kỳ ảo, tươi tắn, nét khắc tinh tế đến hết sức ngạc nhiên hết sức kỳ thú được xử lý chất liệu từ thiên nhiên quanh ta nên nhà thơ cũng nhập cuộc mà phát triển ra những vần thơ có hồn:<br><br></div><div><em>Con gà xòe lông</em></div><div><em>Bảy sắc cầu vồng</em></div><div><em>Màu đen than cói</em></div><div><em>Màu xanh gỉ đồng</em></div><div><em>Màu lam lá chàm</em></div><div><em>Màu vàng hạt dành</em></div><div><em>Màu trắng chất điệp</em></div><div><em>Vỏ sò vỏ hến</em></div><div><em>Quê bờ biển xanh</em></div><div><em>Như còn long lanh…<br></em><br></div><div>Từ những chất liệu có trong thiên nhiên, với sự nhào nặn của nghệ nhân thì những con gà từ đời sống thường nhật giản dị thân quen, gần gũi là thế bây giờ hiện về trong tranh sống động trước mắt người ngắm tranh:<br><br></div><div><em>Cái mào lửa cháy&nbsp;</em></div><div><em>Cổ vươn tiếng gà&nbsp;</em></div><div><em>O o bình minh&nbsp;</em></div><div><em>Chân vàng sừng sững…<br></em>Ngày xưa, khi xã hội Việt Nam còn nghèo, con gà đã là biểu tượng điềm lành, cái đồng hồ báo thức của thiên nhiên tuyệt vời, ước mơ giản dị của bao đời dân Việt như ấm lại vách nứa tường tre: <br><em><br></em><br></div><div><em>Bao mùa xuân qua&nbsp;</em></div><div><em>Để màu hồng lại&nbsp;</em></div><div><em>Sông núi cho xanh&nbsp;</em></div><div><em>Hồn nước sống mãi&nbsp;</em></div><div><em>Con gà đứng canh…</em><br><br></div><div>Và lòng người nghệ nhân dân gian cũng hòa trong niềm vui sáng tạo của chính mình:<br><br></div><div><em>Bác thợ ngắm tranh&nbsp;</em></div><div><em>Thấy lòng vỗ cánh&nbsp;</em></div><div><em>Thấy đời lại xanh…</em><br><br></div><div>Qua bức tranh, qua thơ đã làm cho cuộc đời có nhiều ý nghĩa hơn, tâm hồn nhà thơ cũng thăng hoa, hòa trộn vào trong nghệ thuật dân gian Đông Hồ mà nhả mật, để lại những vần thơ hay cho đời:<br><br></div><div><em>Ơi người nghệ sĩ</em></div><div><em>Tên là dân gian</em></div><div><em>Góp cùng trời đất</em></div><div><em>Con gà Việt Nam…</em></div><div><em>Các bạn thân mến!<br></em><br></div><div>Ngày nay cho dù với kĩ thuật số và công nghệ cao của Internet người ta có thể đưa ra nhiều bức tranh đẹp sống động, nhưng người Việt Nam vẫn không quên bức tranh Đông Hồ dân gian và muốn nó mãi đồng hành với mọi người Việt Nam mai sau.&nbsp;<br><br></div><div>Còn với người phật tử thì nhân sinh quan nhìn tranh có khác, đối với họ con gà trống là người bạn đã giúp đánh thức chúng ta bừng dậy sau một đêm dài mê mệt trong giấc ngủ để trở lại cuộc sống lao động tu hành hàng ngày. Nó mạnh mẽ, hùng dũng nhưng cũng rất thân thương.Nhìn gà mái vất vả tần tảo một mình lầm lũi bới đất, tìm mồi nuôi con khác nào cha mẹ chúng ta đã gian nan, vất vả nuôi chúng ta? Nhìn gà mẹ mỗi khi mưa nắng nó xòe lông che bóng cho con khỏi cái nóng nực hay ướt. Khi có đại bàng, diều hâu hung dữ đến, nó sẵn sàng xả thân bảo vệ con dù có chết đi nữa cũng không sợ hãi. Thật làm ta cảm động biết nhường nào khi thấy cái tình mẫu tử đó khác chi con người? Cho nên, gà là bầu bạn và rất đáng yêu, đáng quý là bạn hiền của mọi người chúng ta.&nbsp;<br><br></div><div>Lại nữa, các bạn tưởng tượng xem làng xóm sáng sớm không có tiếng gà gáy thì buồn tẻ biết chừng nào, người ta biết ngay đó là làng không có sinh khí, thịnh vượng và hạnh phúc. Vì thế, Tết đến xin các bạn đừng giết bạn của mình để cúng ông bà, thần linh hay làm mồi nhắm trên bàn tiệc ngày đầu năm nhé. Xin đừng thịt bạn nhé!</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1591737972/ddae212344c980202be1d01af6149dca/image.png" />
         <pubDate>2022-02-28 08:04:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2069047217</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Mai Anh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2071303962</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1606584957/fd0ccea7b93a5ff664569360f66dddec/9B0DB880_D537_4719_BD7A_08FE72F4C113.jpeg" />
         <pubDate>2022-03-01 11:57:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2071303962</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Mai Anh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2114587581</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1606584957/0ffc7a7c1d4dabf9999e74ca68766153/image.jpg" />
         <pubDate>2022-03-26 05:08:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2114587581</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Mai Anh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2114587728</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1606584957/3d66e1712eff2b0257166aeaa6f1beb3/image.jpg" />
         <pubDate>2022-03-26 05:09:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/minhna1/amt2uepyu0nzj54k/wish/2114587728</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
