<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title>NGHỊ LUẬN VĂN HỌC by Thanh Tran Hoai</title>
      <link>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4</link>
      <description>9V2</description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2022-04-13 11:52:52 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2024-02-08 02:38:05 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url></url>
      </image>
      <item>
         <title>Thầy Thanh</title>
         <author>thanhtran6</author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2142278224</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-13 11:54:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2142278224</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lâm Ngọc Cát Vương</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2142280150</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; Mùa xuân là sự khởi đầu của một năm mới, không khi khắp nơi đều nhộn nhịp và tươi vui. Đó chính là thời khắc trăm hoa đua nở, vạn vật tưng bừng thức tỉnh chào đón xuân sang. Đứng trước khung cảnh mùa xuân thiên nhiên tuyệt đẹp, các thi sĩ đều lấy xuân làm đề tài sáng tác. Trong số các tác phẩm nổi tiếng, “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải đã nhẹ nhàng đi vào lòng người và để lại ấn tượng vô cùng sâu sắc. Đặc biệt, thông qua khổ 4 và khổ 5 của bài thơ, độc giả đã có thể cảm nhận trọn vẹn những những khát vọng, ước mơ cháy bỏng của tác giả.</div><div>“Ta làm con chim hót</div><div>Ta làm một cành hoa</div><div>Ta nhập vào hòa ca</div><div>Một nốt trầm xao xuyến.</div><div><br></div><div>Một mùa xuân nho nhỏ</div><div>Lặng lẽ dâng cho đời</div><div>Dù là tuổi hai mươi</div><div>Dù là khi tóc bạc.”</div><div>&nbsp; Tác giả Thanh Hải là nhà thơ cách mạng trưởng thành qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước. Ông sinh ra trên mảnh đất thấm nhuần văn hóa dân tộc Việt Nam,Thừa Thiên-Huế. Bởi lẽ đó, sự cảm nhận sâu sắc cùng sự quan sát tinh tế đã giúp các tác phẩm của Thanh Hải tạo ra những tiếng vang lớn trong nền văn học. Ông là một trong những cây bút có công xây dựng nền văn học cách mạng ở miền Nam từ những ngày đầu. Nhà thơ có một phong cách sáng tác chân chất,bình dị, chân thành và đôn hậu. Trong các tác phẩm văn học, Thanh Hải thường ngợi ca tình yêu quê hương đất nước, sự hy sinh anh dũng của đồng bào nhân dân miền Nam và đồng thời khẳng định niềm tin vững chắc vào ngày chiến thắng của cách mạng Việt Nam. Nhờ cách cảm nhận sâu sắc mà thơ của Thanh Hải có ngôn ngữ trong sáng, giàu âm điệu đã giúp bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” trở nên vô cùng chân thành và lắng đọng.</div><div>&nbsp; Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” được sáng tác vào tháng 11 năm 1980, không bao lâu trước khi nhà thơ qua đời. Đó là khi đất nước đã được thống nhất, hòa bình và mùa đông se lạnh đang bao phủ cả mảnh đất xứ Huế. Khoảng thời gian đó, Thanh Hải bị bệnh nặng và đang được điều trị tại bệnh viện và bài thơ ra đời trong hoàn cảnh vô cùng đặc biệt. Bài thơ là những dòng chữ cuối cùng mà tác giả muốn để lại cho đời, nó như một lời tâm niệm chân thành, lời gửi gắm tha thiết về niềm yêu mến cuộc sống, đất nước và ước nguyện của tác giả. “Mùa xuân nho nhỏ” là bức tranh thiên nhiên về mùa xuân của tự nhiên, của đất nước và là mùa xuân tươi đẹp trong trái tim của mỗi con người. Thông qua khổ thơ 4, 5, tác giả đã gửi những suy nghĩ, khát vọng của mình trước mùa xuân đất nước.</div><div>&nbsp;Trong sắc xuân đang tưng bừng nở rộ đầy sức sống, cảm xúc rung động, hãnh diện trong tác giả càng dâng trào. Đó là mùa xuân của lòng người, mùa xuân của sức sống tuổi trẻ và mùa xuân của cống hiến và hy sinh.</div><div>&nbsp;Đứng trước khung cảnh nhộn nhịp, rạo rực của mùa xuân, tâm hồn tác giả chỉ có một nguyện ước đơn sơ, bình dị mà lại thật tha thiết, cảm động:</div><div>“Ta làm con chim hót</div><div>Ta làm một cành hoa</div><div>Ta nhập vào hòa ca</div><div>Một nốt trầm xao xuyến.”</div><div> Mở đầu dòng thơ, tác giả đã sử dụng đại từ “ta”, chuyển từ cái nhỏ bé riêng tư “tôi”, thành cái “ta” chung của đất nước, hòa nhịp chung cùng mọi người. Với phép điệp ngữ “ta”, Thanh Hải đã thể hiện trọn vẹn những ước nguyện cao đẹp, khát vọng được cống hiến sức mình vào cuộc đời, vào mùa xuân của đất nước. Qua những hình ảnh “con chim”, “cành hoa”, “nốt trầm” đã thể hiện được ước nguyện đóng góp một phần dù bé nhỏ nhưng lại có ích cho đời. Trong muôn ngàn điều ước, tác giả chỉ ước làm một tiếng chim trong muôn ngàn giọng hót để gọi xuân về, một bông hoa trong muôn triệu đóa hoa để tô điểm cho mùa xuân. Những ước muốn giản dị để thành những vật nhỏ bé, nhưng chính những vật nhỏ bé này lại góp phần quan trọng để vẽ nên bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp. Bên cạnh đó, tác giả còn muốn làm một nốt trầm trong bản hòa ca êm ái. Chỉ là một nốt trầm kín đáo, khiêm nhường chứ không phải là một nốt thanh thánh thót, nổi trội. Lẫn vào trong bản hòa ca, khó nghe và nhận ra nhưng nốt trầm khiêm nhường ấy đã góp phần tạo nên cái hay của bản nhạc.Tác giả muốn làm một nốt trầm nhưng là nốt trầm xao xuyến, có sức ngân vang, một nốt trầm có ích cho đời. Từ những hình ảnh hết sức giản dị, nhỏ bé nhưng đã cho thấy ước nguyện khiêm nhường mà cao quý của Thanh Hải. Cống hiến cho đời, cho đất nước chính là một lẽ sống tốt đẹp mà Thanh Hải luôn theo đuổi. Ở khổ thơ này, giọng thơ nhỏ nhẹ, chân thành mà lại đằm thắm, lắng đọng, thiếu tha sâu sắc, để lại trong tâm trí độc giả những ấn tượng mạnh mẽ.&nbsp;</div><div> Khổ thơ thứ năm chính là tiếng lòng cao cả của nhà thơ, tâm hồn tác giả đang khẩn trương, thôi thúc trước ước nguyện cống hiến, thế nhưng Thanh Hải chỉ mong có thể lặng lẽ, dâng sắc xuân của mình cho mùa xuân của đất nước:</div><div>“Một mùa xuân nho nhỏ</div><div>Lặng lẽ dâng cho đời</div><div>Dù là tuổi hai mươi</div><div>Dù là khi tóc bạc.”</div><div> Mở đầu dòng thơ, tác giả đã điệp lại một lần nữa “mùa xuân nho nhỏ” để thể hiện ước mơ, nguyện ước sẽ được làm việc và hi sinh vì đất nước trong sự lặng lẽ, khiêm tốn. Đó là ý thích, mong ước tốt đẹp của Thanh Hải và cũng đồng thời là tấm lòng chân tình của tác giả. “Mùa xuân nho nhỏ” chính là tuổi xuân, tuổi trẻ, khi ta còn căng tràn nhiệt huyết, sức lực và mang trong mình bao hoài bão, khát vọng của tuổi thanh xuân. “Lặng lẽ dâng cho đời” đã khẳng định rõ nét tính khiêm tốn trong tâm hồn tác giả. Tấm lòng của tác giả luôn hướng tới sự cống hiến tốt đẹp, mong rằng có thể góp một phần sắc xuân nho nhỏ để vẽ nên bầu trời mùa xuân của đất trời rộng lớn. Tác giả chỉ muốn âm thầm dâng hiến, chẳng phô trương, khoe khoang, kêu ca mà chỉ lặng lẽ dâng cho tương lai của đất nước, tổ quốc. Thanh Hải đã sử dụng phép điệp ngữ “dù là” như một lời hứa, lời tự nhủ với chính mình sẽ mãi mãi cống hiến mùa xuân nhỏ bé vào mùa xuân rộng lớn của quê hương dù cho hoàn cảnh có ra sao. Mặc cho những biến chuyển của thời gian, những quy luật của tự nhiên, khi vạn vật đều trở mình đổi thay thì tấm lòng, ước nguyện của tác giả vẫn trường tồn mãi mãi. “Tuổi hai mươi” chính là tuổi trẻ, khi ta còn khỏe mạnh, căng tràn sức sống và nhiệt huyết. Thời gian trôi qua, khi mái tóc đã bạc dần và trở mình qua tuổi trung niên, khát vọng được sống, được cống hiến của tác giả đã trở thành một điều bất diệt trong tâm hồn. Dù cho thời gian trôi qua lấy đi bao sức lực, nhiệt huyết thì khát vọng cống hiến của tác giả vẫn tồn tại vĩnh hằng và trở thành một ngôi sao sáng giữa bầu trời đêm. Khổ thơ như một lời nhắn nhủ, một lẽ sống. Sống là để cống hiến. Đồng thời khổ thơ cũng là một sự tổng kết, chiêm nghiệm từ chính cuộc đời đã cố gắng không biết mệt mỏi từ tuổi hai mươi căng tràn nhiệt huyết đến khi phải nằm trên giường bệnh của nhà thơ. Đoạn thơ được tác giả bỏ trống cách xưng hô nhưng điều đó lại như mở rộng tới mọi người, lay động người đọc cùng chung ý nghĩ.&nbsp;</div><div>&nbsp;Khi nói đến khát vọng sống tốt đẹp, ước nguyện được làm việc, cống hiến và hy sinh, trong tác phẩm “Viếng lăng Bác”, tác giả Viễn Phương đã từng viết rằng:</div><div>“ Mai về miền Nam thương trào nước mắt</div><div>Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác,&nbsp;</div><div>Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây</div><div>Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.”</div><div> Cả hai nhà thơ lớn đều sử dụng phép điệp ngữ để nhấn mạnh ước nguyện, khát vọng được cống hiến của bản thân. Đồng thời sử dụng những hình ảnh đóa hoa, tiếng chim hót làm chất liệu sáng tác để vẽ nên một bức tranh của tấm lòng chân chân thành sâu sắc. Viễn Phương và Thanh Hải cùng mượn hình ảnh của thiên nhiên giản dị, gần gũi để thể hiện trọn vẹn ước nguyện của bản thân.</div><div>&nbsp; Trong tác phẩm “Mùa xuân nho nhỏ”, Thanh Hải đã khắc họa thành công bức tranh thiên nhiên của tự nhiên, đất nước và giờ đây chính là mùa xuân trong trái tim của mỗi con người. Những ước nguyện cống hiến dù nhỏ bé nhưng lại trở thành một phần của bầu trời mùa xuân đất nước. Mặc cho hoàn cảnh có thay đổi, thời gian đem đến những đổi thay thì khát vọng cống hiến của tác giả vẫn trường tồn mãi mãi khiến em vô cùng cảm mến và tự hào.</div><div><br><br></div><div><br><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-13 11:57:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2142280150</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Minh Khang</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2142297373</link>
         <description><![CDATA[<div>Thơ ca không chỉ đơn giản là những tác phẩm văn học thông thường mà còn là nơi trải lòng của nhiều thi nhân. Có những tâm tư mà ta khó có thể bộc lộ bằng lời nhưng khi qua áng văn, thơ ca, những suy sư và đặc biệt là mong ước của nhà thơ lại được thể hiện một cách chân thật, rõ ràng và sâu sắc hơn bao giờ hết. Nhà thơ tạo ra ước nguyện từ tận đáy lòng và cũng chính ước nguyện lại làm đẹp thêm cho cách sống và phẩm chất của người thi sĩ ấy. Ta lại thấy rõ điều đó hơn ở những ước nguyện chân thành đến từ nhân vật trữ tình được thể hiện ở khố thơ thứ tư và thứ năm trong tác phẩm “Mùa xuân nho nhỏ” của tác giả Thanh Hải, chân thành đến lay động lòng người.</div><div>&nbsp;</div><div>&nbsp;</div><div>Nói sơ qua về “Mùa xuân nho nhỏ”, thi phẩm được tác giả Thanh Hải sáng tác vào tháng 11 năm 1980 và chỉ ít lâu sau khi bài thơ được hoàn thành, nhà thơ đã vĩnh viễn ra đi vào cõi vĩnh hằng. Bài thơ thể hiện niềm yêu mến thiết tha cuộc sống, đất nước và cả nguyện ước của chính Thanh Hải.</div><div>&nbsp;</div><div>&nbsp;</div><div>Đến với khổ thơ thứ tư, đó là những nguyện ước giản dị của người thi sĩ, muốn hóa thân thành những gì đời thường, mộc mạc và giản dị trong cuộc sống:</div><div>&nbsp;</div><div>“Ta làm con chim hót</div><div>&nbsp; Ta làm một cành hoa</div><div>Ta nhập vào hòa ca</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Một nốt trầm xao xuyến”</div><div>&nbsp;</div><div>Những mong nguyện dâng hiện của người thi nhân ấy được thể hiện qua những sự vật sinh động mà ông muốn hoa thân thành. Tác giả muốn hóa thân thành con chim, vô tư cất lên tiếng hót ngân nga, dâng lên cho đời những khúc hát vui tươi, đầy sức sống của một mùa xuân. Ông muốn làm một cành hoa giữa một vườn hoa xuân đại ngàn, rực rỡ, làm đẹp cho đời bằng những nét màu trong sáng, tươi đẹp và dâng cho đời những hương thơm dịu nhẹ, bình yên. Và đặc biệt, thi sĩ còn muốn làm một nốt trầm giữa dàn hoa tấu muôn điệu. Thanh Hải đã khéo léo lồng ghép tính từ “xao xuyến” với nốt trầm thầm lặng. Nhà Thơ Thanh Hải chỉ muốn trở thành một nốt trầm nhưng là một nốt trầm xao xuyến, nâng đỡ để những nốt nhạc khác trở nên thăng hoa hơn. Bên cạnh đó, chính nốt trầm xao xuyến ấy cũng tạo nên những xao động đẹp đẽ trong lòng người nghe, khiến bản ca mang tên “cuộc sống” thêm phần ý nghĩa. Qua những hình ảnh “con chim”, “cành hoa” và “nốt trầm”, ta thấy được tác giả đã bộc lộ rõ niềm mong muốn được sống có ích, cống hiến những gì tốt đẹp nhất cho đời và hơn hết là mong ước được trở thành “một mùa xuân nho nhỏ” góp vào mùa xuân lớn của cả đất nước và của cuộc đời chung. Để ý kĩ, ta sẽ thấy ở khổ thơ thứ tư này, thi nhân đã thay đổi cách xưng hô từ “tôi” sang “ta”, đồng thời sử dụng nghệ thuật điệp từ “ta”, qua đó nhằm khẳng định rằng nguyện ước được cống hiến cho đời ấy không phải chỉ của riêng ông mà còn là khát vọng chung của nhiều người</div><div>&nbsp;</div><div>Những ước vọng của Thanh Hải không chỉ dừng lại ở việc hóa thân thành những sự vật giản dị quanh ta, ông còn muốn được hóa thân thành những điều lớn lao hơn, mặc cho mọi khó khăn của dòng đời, dâng hiến cho đời:</div><div>&nbsp;</div><div>&nbsp;</div><div>“Một mùa xuân nho nhỏ</div><div>Lặng lẽ dâng cho đời</div><div>Dù là tuổi hai mươi</div><div>Dù là khi tóc bạc.”</div><div>&nbsp;</div><div>Đến với dòng thơ đầu tiên, ta vô tình bắt gặp tên&nbsp; đứa con tinh thần của tác giả Thanh Hải, “Mùa xuân nho nhỏ”. Ở đây hình ảnh “Mùa xuân nho nhỏ” được ẩn dụ một cách tinh tế cho cuộc đời vô giá của mỗi người. Chúng ta tồn tại không phải là những tạo vật lớn lao của tạo hóa mà chỉ là những sinh mạng nhỏ bé giữa dòng đời to lớn. Mùa xuân đại diện cho khoảng thời gian đẹp đẽ, sung sức nhất của cuộc đời mỗi con người. Nếu mùa xuân là mùa tươi trẻ, tràn đầy sức sống, là thời điểm mang lại cho đất nước nhiều sự đổi thay diệu kì thì Thanh Hải mong ước cuộc đời mỗi người cũng phải sống như mùa xuân trẻ trung ấy, sống có ích và cống hiến nhưng gì đẹp nhất vào mùa xuân vĩ đại của đất nước. Các tính từ “lặng lẽ” và “nho nhỏ” được dùng một cách đầy sáng tạo và linh hoạt thể hiện một cách nói khiêm tốn, chân thành mà giản dị của chính nhân vật trữ tình. Qua đó làm lộ nên cách sống cao đẹp ở người tác giả giàu sức sống kia. Ông không mong cầu sự tôn vinh mà chỉ muốn âm thầm, lặng lẽ cống hiến hết mình cho đất nước và cho đời. Biệp pháp điệp từ “Dù cho” đã xuất sắc hoàn thành nhiệm vụ của mình, một lời khẳng định chắc chắn rằng lẽ sống muốn cống hiến cho đời ấy không chỉ là mong muốn nhất thời, mà còn là ước nguyện cả đời của chính ông. Bất kể là khi nhà thơ còn hăng hái hay ốm đau, già yếu, dẫu cho thời gian có bào mòn đi tuổi trẻ và sức lực của người thi sĩ thì khát vọng được cống hiến thầm lặng của ông vẫn bùng cháy mạnh mẽ, không bao giờ có thể vụt tắt</div><div>&nbsp;</div><div>Tạm giác lại “Mùa xuân nho nhỏ”, ta hãy đến với những ước nguyện giản đơn nhưng chân thành khác trong bài “Viếng lăng Bác” của tác giả Viếng Phương. Nói sơ qua về “Viếng lăng Bác”, tác phẩm được tác giả Viễn Phương viết vào năm 1976, sau khi cuộc kháng chiến chống Mĩ kết thúc thắng lợi, đất nước thống nhất, lăng chủ tịch Hồ Chí Minh cũng vừa khánh thành, Viễn Phương ra thăm miền Bắc, vào viếng lăng Bác. Cả bài thơ là tâm tư và những cảm xúc khi vừa đến lăng Bác đến khi nghẹn ngào rời xa Người của chính Viễn Phương</div><div>&nbsp;</div><div>Đến với khổ thơ cuối của bài thơ “Viếng lăng Bác”, người thi nhân đã bộc lộ những nguyện ước và cảm xúc chân thành của không của không chỉ cá nhân ông mà còn của tất cả những người con Việt Nam khác khi nghẹn ngào rời lăng Bác:</div><div>&nbsp;</div><div>“Mai về miền Nam thương trào nước mắt</div><div>Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác</div><div>Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây</div><div>Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.”</div><div>Mở đầu khổ thơ là lời từ biệt xót xa và luyến tiếc của tác giả. Hình ảnh “miền Nam” được nhà thơ Viễn Phương sử dụng để nói lên khoảng cách xa vời vợi của không gian. Đã nhiều năm kể từ lúc Bác từ giã cõi đời. Đã phải nhiều năm rồi nhà thơ và nhiều người con Việt Nam khác mới có cơ hội gặp lại người cha chung vĩ đại và ấm áp của mình. Ấy vậy mà giờ đây, nhà thơ lại phải rời xa Người, rời xa người cha đã xa cách bao nhiêu năm mà mãi mới gặp lại được. Những nỗi đau, tâm tư và cảm xúc nghẹn ngào không thể kìm nén được của người thi nhân đã được tóm gọn và bộc lộ thông qua từ “trào”. Hình ảnh “thương trào nước mắt” đã khơi gợi trong ta một nỗi buồn da diết, chẳng thể diễn tả bằng lời mà chỉ có thể bộc lộ qua những dòng nước mắt ngậm ngùi ướt dẫm khóe mi. Qua đó gợi cho ta về khung cảnh chia tay đau buồn giữa đứa con và người cha đã lâu không gặp của mình, tựa như cuộc chia tay của bé Thu và ông Sáu trong tác phẩm “Chiếc lược ngà” của tác giả Nguyễn Quang Sáng, ngậm ngùi, luyến tiếc, ướt đẫm nước mắt nhưng lại chẳng thể nào níu kéo. Bên cạnh đó, biện pháp điệp từ “muốn làm” đã xuất sắc nói lên những nguyện ước chân thành&nbsp; của thi nhân và toàn bộ đồng bào, muốn được làm con chim để cất lên tiếng hót ngân nga làm vui Bác, muốn trở thành bông hoa tỏa hương khoe sắc nơi Bác yên nghỉ và hơn hết muốn hóa thân thành cây tre trung hiếu để được ở cạnh và canh mãi giấc ngủ bình yên cho Người. Ba dòng thơ “muốn làm” như thay mặt hàng triệu đồng bào Việt nam cùng chung nỗi đau với nhà thơ để nói lên khát vọng làm người công dân có ích để làm vui lòng bác và cả mong muốn được gần Bác dù chỉ trong giây phút nhưng không bao giờ muốn xa Bác bởi Người quá đỗi ấm áp và rộng lượng.</div><div>Cả hai tác phẩm “Mùa xuân nho nhỏ” và “Viếng lăng Bác” đều sử dụng những hình ảnh thiên nhiên mộc mạc giản dị để nó lên những ước vọng chân thành của cả hai thi nhân. Thế nhưng đối với “Mùa xuân nho nhỏ”, ta thấy được nguyện ước của nhân vật trữ tình chính là muốn được cống hiến cho đời. Thi nhân muốn được trở thành “một mùa xuân nho nhỏ”, dâng hiến tất cả sức lực của mình và những gì đẹp nhất cho đất nước lẫn cuộc đời. Còn với “Viếng lăng Bác”, đó là lòng thành kính và tình cảm lưu luyến, chân thành của Viễn Phương dành cho Bác. Những nguyện ước của nhà thơ chỉ hướng về duy nhất một mình Bác, muốn được làm những gì giản dị xung quanh lăng Bác để được ở bên Bác, mãi mãi không rời xa.</div><div>&nbsp;</div><div>Tuy cả hai tác phẩm “Mùa xuân nho nhỏ” và “Viếng lăng Bác” đều không cùng nói về một nguyện ước nhưng từng mong ước lại rất đỗi chân thành và giản dị. Qua đó ta lại thấy được những phẩm chất cao đẹp ẩn giấu trong tâm hồn thi ca của hai nhà thơ Thanh Hải và Viễn Phương. Giá mà mỗi người trong chúng ta cũng đều là “những cây tre trung hiếu”, cùng dâng lên cho đời những “mùa xuân nho nhỏ” hệt như nguyện ước của hai người thi nhân kia thì ắt xã hội đã trở nên tốt đẹp hơn. Là một học sinh, em sẽ rèn luyện và giữ cho mình những đức tính cao đẹp và cố gắng học tập thật tốt để trở thành một người công dân tốt, góp vào “mùa xuân” của đất nước và cả cuộc đời.&nbsp;</div><div>&nbsp;<br><br><br></div><div>&nbsp;</div><div>&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-13 12:15:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2142297373</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Pham Quynh Anh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2142309238</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1651306531/cf3e82629a3389d698ac6232cebef633/Doc1.pdf" />
         <pubDate>2022-04-13 12:26:22 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2142309238</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vương Quốc Hùng</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2142312562</link>
         <description><![CDATA[<div>BÀI LÀM<br><br></div><div>&nbsp;Mùa xuân luôn là đề tài bất tận của thi ca nhạc hoạ xưa và nay. Trong kho tàng văn học của dân tộc, chúng ta đã được biết đến “Mùa xuân chín” của Hàn Mạc Tử, “Mùa xuân xanh” của Nguyễn Bính,”Một chiều xuân” của Anh Thơ. Và giờ đâyta lại được biết thêm “Mùa xuân nho nhỏ: của một người con xứ Huế - Thanh Hải. Bài thơ thể hiện niềm yêu mến thiết tha cuộc sống, đất nước và ước nguyện của mình mà rõ ràng nhất là qua hai khổ thơ bốn và năm.<br><br></div><div><em>"Ta làm con chim hót</em><br> <em>Ta làm một cành hoa</em><br> <em>Ta nhập vào hòa ca</em><br> <em>Một nốt trầm xao xuyến.</em></div><div><em>&nbsp;</em></div><div><em>Một mùa xuân nho nhỏ</em><br> <em>Lặng lẽ dâng cho đời</em><br> <em>Dù là tuổi hai mươi</em><br> <em>Dù là khi tóc bạc."</em></div><div><em>&nbsp;Nhà thô Thanh Hải tên thật là Phạm Bá Ngoãn, ông được sinh ra tại xứ Huế mộng mơ. Ông hoạt đông văn nghệ từ cuối những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong thời kì chống Mỹ cứu nước, nhà thơ Thanh Hải đã ở lại quê hương hoạt động và là một trong những cây bút có công xây dựng nền văn học cách mạng từ những ngày đầu. Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” được sáng tác không bao lâu trước khi nhà thơ qua đời.</em></div><div><em>&nbsp;Ở những khổ thơ trước, nhà thơ đã cho chúng ta biết được cảm nhận của ông về mùa xuân thiên nhiên xứ Huế qua khổ thơ đầu; sau đó, ta lại tiếp tục cảm nhận được suy nghĩ và cảm nhận về mùa xuân đất nước của nhà thơ Thanh Hải qua hai khổ thơ tiếp theo. Đến khổ thơ thư tư và năm, ông đã cho ta thấy khát vọng cống hiến mãnh liệt của mình.</em></div><div><em>&nbsp;Trong những năm tháng cuối đời phải nằm trên giường bệnh, nhà thơ Thanh Hải vẫn mong muốn cống hiến cho Tổ quốc :</em></div><div><em>"Ta làm con chim hót</em><br> <em>Ta làm một cành hoa”</em></div><div><em>&nbsp;So với khổ thơ đầu, tác giả đã có sự thay đổi ngôi nhân xưng từ “tôi” sang “ta”, cho thấy đây không còn là sự cảm nhận riêng của tác giả mà là cảm nhận chung của tất cả mọi người. Điệp từu “ta làm” nhấn mạnh khát vọng cống hiến cho cuộc đời của nhà thơ Thanh Hải. Nhà thơ mong muốn làm con chim hót để được cất tiếng hát yêu đời vào mỗi buổi sớm mai khi đất nước tỉnh dậy, muốn mang lại niềm hạnh phúc, rộn ràng đến khắp mọi nơi. Nhà thơ muốn làm một cành hoa để toả hương thơm ngát cho đời, để vẻ đạp của bản thân tô điểm thêm cho cuộc đời. Hình ảnh con chim hót và một cành hoa đã thể hiện mong muốn sống có ích, ý nghĩa của tác giả.</em></div><div>&nbsp;</div><div><em>“Ta nhập vào hòa ca</em><br> <em>Một nốt trầm xao xuyến.”<br></em><br></div><div><em>Nghệ thuật ản dụ “ta nhập” thể hiện khát vọng hoà nhập của tác giả. Tác giả ví rằng nếu cuộc đời là một bản hoà ca thì tác giả chỉ mong muốn bản thân là một nốt trầm, một nốt trầm gây rung động, nhớ mãi đối với mọi người. Tác giả chỉ ví bản thân là một nốt trầm cho thấy sự đức tính khiêm tốn, không thích thể hiện bản thân.&nbsp;<br></em><br></div><div><em>&nbsp;Qua bốn câu thơ của khổ thơ thứ tư, nhà thơ đã thể hiện khát vọng cống hiến, mong muốn sống có ích cho cuộc đời, đất nước.<br></em><br></div><div><em>&nbsp;Tuy qua khổ thơ thứ tư, nhà thơ đã thể hiện khát vọng cống hiến. mong muốn sống có ích cho cuộc đời, đất nước một cách rất mãnh liệt nhưng khi đến khổ thơ thứ năm, ông tiếp tục khẳng định lại khát vọng cống hiên của mình :<br></em><br></div><div><em>“Một mùa xuân nho nhỏ</em><br> <em>Lặng lẽ dâng cho đời”<br></em><br></div><div><em>&nbsp;Nhà thơ đã dùng nghệ thuật ẩn dụ để ví cuộc đời mình chỉ là một mùa xuân nho nhỏ, ông cho rằng nếu cuộc đời là một mùa xuân lớn thì ông cống hiến công sức của mình như một mùa xuân nho nhỏ đóng góp vào mùa xuân lớn đó. Qua đó ta thấy được ông là một người có nhân cách sống cao đẹp. Số từ “ một” cùng với các từ láy “lặng lẽ, nho nhỏ” thể hiện phẩm chất khiêm tốn của nhà thơ Thanh Hải. Tác giả sử dụng động từ “dâng” để thể hiện đóng góp một cách tự nguyện, một cách chân thành.<br></em><br></div><div><em>“Dù là tuổi hai mươi</em><br> <em>Dù là khi tóc bạc."<br></em><br></div><div><em>&nbsp;Điệp từ “dù là” nhấn mạnh sự thách thức của nhà thơ về thời gian và bệnh tật. Hai cụm từ “tuổi hai mươi” và “tóc bạc” được tác giả hoán dụ với tuổi trẻ và tuổi già, cho thấy khát khao cống hiến trọn đời, từ tuổi thanh xuân cho tới lúc về già mà ví dụ cho thấy rõ về khát khao cống hiến của ông cho tới những ngày cuối đời, ông vẫn cống hiến những vần thơ của mình cho văn học nước nhà.<br></em><br></div><div><em>&nbsp;Hai khổ thơ trên đã cho thấy khát vọng cống hiến sống có ích cho đời, cho đất nước. Tác giả đã dùng nhiều biện pháp tu từ như điệp từ, ẩn dụ, hoán dụ cùng với các loại từ nhưu từ láy, số từu,.. để khẳng định và nhấn mạnh khát vọng của bản thân. Cùng với tài năng của tác giả trong từng khổ thơ, nhân cách sống khiêm nhường tốt đẹp của tác giả nên được học hỏi và ca ngôi.<br></em><br></div><div><em>&nbsp;Ngoài tác phẩm “Mùa xuân nho nhỏ”, cũng có rất nhiều tác phẩm khác nói về đề tài khác vọng cống hiến. Chẳng hạn như khổ thơ cuối trong bài thơ “Viếng Lăng Bác”, nhân vật anh thanh niên trong tác phẩm “Lặng lẻ Sa Pa”.<br></em><br></div><div><em>&nbsp;Toàn bộ bài thơ là mong muốn mãnh liệt cùng khát khao cháy bỏng của Thanh Hải dành cho cuộc đời. Đọc từng khổ thơ</em>, ta mới thấy thêm yêu cuộc sống, thêm biết ơn những con người thầm lặng hy sinh vì đất nước như nhà thơ. Mỗi chúng ta cần phải biết trân trọng cuộc sống, biết sắp xếp quỹ thời gian của mình để sống một cuộc đời thật ý nghĩa và hạnh phúc. Đó chính là thông điệp mà nhà thơ Thanh Hải muốn gửi gắm đến bạn đọc qua bài thơ. Sau khi đọc bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” đã truyền cảm hứng cho em để làm những việc có ý nghĩa hơn<br><br></div><div>&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-13 12:29:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2142312562</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2143405741</link>
         <description><![CDATA[<div>Bùi Ngọc Mai Hân&nbsp;<br>      Thanh Hải quê ở Thừa Thiên Huế ông là một trong những cây bút có công xây dựng nền văn học cách mạng ở miền Nam từ những ngày đầu. Phong cách thơ của Thanh Hải chân thành mà tiêu biểu là tác phẩm “mùa xuân nho nhỏ”. Em rất ấn tượng với khổ 4 và 5 của bài thơ&nbsp; thể hiện ước nguyện và khát vọng sống của tác giả:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; “Ta làm con chim hót<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Ta làm một cành hoa&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Ta nhập vào hoà ca<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Một nốt trầm xao xuyến<br><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Một mùa xuân nho nhỏ&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Lặng lẽ dâng cho đời<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Dù là tuổi hai mươi<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Dù là khi tóc bạc “<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Mở đầu khổ thơ là những ước nguyện sống cống hiến cho đời của tác giả được thể hiện qua&nbsp; các hình ảnh con chim hót, một cành hoa,một nốt trầm xao xuyến. Từ “ta” vừa là số ít vừa là số nhiều như muốn thể hiện ước nguyện của tác giả cũng là ước nguyện chung của mọi người. Điệp&nbsp; cấu trúc ngữ pháp “Ta làm…Ta nhập” ở vị trí đầu của ba câu thơ khiến cho câu thơ như một lời thủ thỉ của Thanh Hải&nbsp; về ước nguyện hoá thân, hiến dâng sức lực của mình cho quê hương đất nước. Tác&nbsp; giả muốn làm một mùa xuân nho nhỏ để âm thầm cống hiến cho mùa xuân lớn của dân tộc. Từ láy “nho nhỏ” thể hiện ước muốn khiêm tốn và giản dị của nhà thơ. Điệp ngữ “dù là” và hình ảnh đối lập “tuổi hai mươi” và “khi tóc bạc” như một giọng điệu bất chấp thời gian tuổi tác để khẳng định những khát vọng sống, lí tưởng cống hiến hi sinh của tác giả. Khát&nbsp; vọng sống đẹp và cống hiến cho đời của Thanh Hải làm em liên tưởng đến anh thanh nhiên trong tác phẩm “Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long. Dù sống trong hoàn cảnh khó khăn nhưng anh vẫn lạc quan và muốn cống hiến tuổi trẻ của mình cho đời như lời tâm sự của anh với bác họa sĩ :“Công việc của cháu gian khổ thế đấy, chứ cất nó đi, cháu buồn chết mất”.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Qua khổ 4 và khổ 5 của bài “mùa xuân nho nhỏ “ đã bộc lộ ước nguyện chân thành của nhà thơ được cống hiến cho đất nước và như lời nhắn nhủ của Thanh Hải rằng mỗi người trong chúng ta hãy là một mùa xuân nho nhỏ góp phần vào mùa xuân của dân tộc.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-14 04:36:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2143405741</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Hoàng Anh Tú</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2143811632</link>
         <description><![CDATA[<div>Thơ là tâm hồn, tình cảm. Nó diễn đạt mọi khung bậc tình cảm đa dạng và phong phú của con người. Và có những tâm trạng, nỗi lòng của con người chỉ có thể diễn đạt bằng thơ. Chính vì thế, trong những giây phút cuối đời của mình, nhà thơ Thanh Hải đã dồn hết những tâm tình, ước nguyện của mình vào bài thơ: “ Mùa xuân nho nhỏ”. Bài thơ được sáng tác vào năm 1980, nói lên những ước nguyện hiến dâng cuộc đời mình và điều đó được tác giả thể hiện rõ nhất trong khổ thơ 4-5 của bài thơ, và qua đó tác giả còn thể hiện được tình yêu quê hương đất nước.&nbsp;<br><br></div><div>“Ta làm con chim hót</div><div>Ta là một cành hoa</div><div>Ta nhập vào hòa ca</div><div>Một nốt trầm xao xuyến</div><div>&nbsp;</div><div>Một mùa xuân nho nhỏ</div><div>Lặng lẽ dân cho đời</div><div>Dù là tuổi hai mươi</div><div>Dù là khi tóc bạc.”.</div><div>&nbsp;<br><br></div><div>Nhà thơ Thanh Hải, tên khai sinh của ông là Phạm Bá Ngoãn, quê ở Thừa Thiên - Huế, sinh năm 1930 mất năm 1980. Ông là một trong những nhà thơ tiêu biểu của cách mạng Việt Nam. Bài thơ: “Mùa xuân nho nhỏ” được tác giả viết vào tháng 11 năm 1980. Bài thơ được xem là bản di ngôn cuối cùng của nhà thơ Thanh Hải vì sau khi sáng tác xong bài thơ thì tác giả đã qua đời không lâu sau đó. Trong nhan đề của bài thơ, tác giả đã chỉ ra mùa xuân, một mùa trong năm. Mùa mang đến hy vọng, niềm tin, hạnh phúc và là mùa làm cho con người ta cảm thấy tràn đầy sức sống. Còn từ “nho nhỏ” dùng để thể hiện sự nhỏ bé, khiêm nhường. Nhan đề bài thơ thể lên quan niệm sống của nhà thơ. Ông quan niệm rằng dù trẻ hay già đều phải cống hiến cho xả hội, đó là phần cống hiến tự nguyện, nó còn là sự hòa nhập giữa cái riêng và cái chung, giữa cá nhân và tập thể.&nbsp;<br><br></div><div>Những khát vọng kháo khát hiến dâng cuộc đời của mình cho xã hội được tác giả miêu tả qua bốn dòng thơ ở khổ thơ thứ 4<br><br></div><div>“Ta làm con chim hót</div><div>Ta là một cành hoa</div><div>Ta nhập vào hòa ca</div><div>Một nốt trầm xao xuyến”.</div><div><br>Ta có thể thấy rằng tác giả ở đây đã dùng biện pháp điệp từ từ”ta” nhằm nhấn mạnh cái chung. Nếu ở trên tác giả dùng từ “tôi” để chỉ một mình ông nhưng ở đây tác giả Thanh Hải đã dùng từ “ta” nhằm ám chỉ hết tất cả mọi người. Tác giả ao ước, khát vọng&nbsp; được hóa thành một chú chim, một cành hóa, được nhập vào hòa ca. Nhà&nbsp; thơ muốn làm một chú chim để ngân vang những giai điệu nhộn nhịp, vui tươi để đem lại hạnh phúc, niềm vui cho mọi người. Nhà thơ muốn làm một cành hoa góp phần dâng hương, dâng sắc cho đời. Dù chỉ là một cành hoa, tuy nhỏ bé&nbsp; nhưng nó đã thể hiện được tấm lòng trung thành, yêu thương quê hương, đất nước sâu đậm của nhà thơ. Thành Hải còn muốn được nhập vào hòa ca để ngân vang những giai điệu tuyệt diệu cho đời. Những giai điệu đó có một nốt trầm khiến cho con người ta xao xuyến. Trong hòa ca thì nốt trầm là âm thanh mà nhiều người thích nghe. Nhà thơ đã dùng từ xao xuyến nhằm diễn đạt âm thanh ấy vang ra nhưng không hề tan biến đi mất mà nó sẽ in sâu trong lòng mỗi người. Từ những ao ước, nguyện vọng hóa thành những thứ nhỏ bé nhưng nó cũng góp phần khiên cho quê hương đất nước ngày càng đẹp. Và từ những hình ảnh nhó bé trên cũng có thể dễ dàng thấy được tình yêu quê hương sâu đậm của tác giả.</div><div>&nbsp;</div><div>Khát vọng cống hiến sức nhỏ, cống hiến hết cả cuộc đời của một con người cho xã hội đã làm sáng lên hồn thơ, và như để khẳng định điều đó, nhà thơ Thanh Hải đã thể hiện lối sống khiêm tốn, cao cả qua khổ thơ thứ 5</div><div>“Một mùa xuân nho nhỏ</div><div>Lặng lẽ dân cho đời</div><div>Dù là tuổi hai mươi</div><div>Dù là khi tóc bạc.”.</div><div>Mùa xuân, một khái niệm thời gian được nhà thơ sử dụng từ láy “nho nhỏ” chỉ sự khiêm nhường nhỏ bé để định hình cho cái khái niệm trừu tượng ấy. Tính từ “lăng lẽ” cho thấy sự nhẹ nhàng, yên ắng, thể hiện cho một lối sống cao đẹp, không khoa trương, ồn ào, thể hiện. Lối sống ấy lặng lẽ dâng cho đời một mùa xuân tuyệt đẹp, góp phần tô thêm sắc màu cho mùa xuân của đất nước. Những điều trên làm cho ta liên tưởng đến anh thanh niên trong bài “Lặng lẽ Sa Pa”, sống lặng lẽ nhưng góp phần giúp cho mọi người có một mùa xuân thịnh vượng, trọn vẹn. Trong hai câu thơ cuối của khổ thơ thứ 5:</div><div>“Dù là tuổi hai mươi</div><div>Dù là khi tóc bạc.”</div><div>tác giả đã tinh tế dùng biện pháp nghệ thuật điệp từ “dù là” để đánh dấu hai hình ảnh,hai cột mốc thời gian quan trọng của đời người. Đó là tuổi hai mươi, tuổi thanh niên, còn trẻ và tràn đầy nhiệt huyết. Còn lại đó chính là khi đã già, tóc đã bạc và sức lực thì cũng không còn sung mãn, đầy nhiệt huyết như thời trẻ nữa. Tuy nhiên, ở đây nhà thơ Thanh Hải muốn nói rằng bất kể già, trẻ đều có quyền cống hiến, và từ đó Thành Hải cũng muốn nhắn gửi con người ta rằng phải có trách nhiệm với quê hương đất nước.&nbsp;</div><div>&nbsp;</div><div>Với thể thơ 5 chữ, giọng thơ nhẹ nhàng trong sáng, nhịp thơ được tác giả thay đổi linh hoạt để phù hợp trọng việc diễn đạt cảm xúc. Nhà thơ đã dùng những hình ảnh đầy biểu tượng để gợi lên những ước nguyện của mình. Những hình ảnh : con chim, cành hoa tuy nhỏ bé nhưng đã góp phần tạo nên bức tranh mùa xuân tuyệt đẹp, mà những hình ảnh đấy còn là những hình ảnh vô cùng đơn giản nhưng gắn liền với quê hương, đất nước. Câu thơ đầy sức gợi hình gợi cảm, nhịp thơ 3/2 xen lẫn nhịp 2/3 linh hoạt, tạo nên một âm thanh giòn giã như thể nhịp phách tiền.&nbsp;</div><div><br>Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” đã nói lên lí tưởng sống cao đẹp của tác giả và tình yêu quê hương đất nước sâu đậm. Không cần nhất thiết phải cống hiến sao cho mọi người đều phải biết mà có những cống hiến vô cùng lặng lẽ nhưng cũng góp phần không nhỏ vào xã hội. Bài thơ trên của tác giả Thanh Hải đã làm cho tôi liên tưởng đến anh thanh niên trong văn bản “Lặng lẽ Sa Pa” của tác giả Nguyễn Thành Long. Trong câu chuyện ấy, cậu thanh niên làm khí tượng ở đỉnh Yên Sơn cao 2600m cũng âm thầm và lặng lẽ làm việc mà không màn danh lợi. Anh âm thầm làm việc, đo đạt và dự báo thời tiết chuẩn nhất có thể để mọi người có thể sống vui vẻ và chuẩn bị được việc đi chơi hay làm việc nhờ những dự báo thời tiết. Anh cũng âm thầm, lặng lẽ đóng góp cho xã hội, dù sức người nhỏ bé nhưng anh cũng góp phần vào xã hội như những ước nguyện của nhà thơ Thanh Hải trong bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ”.Qua tất cả, ta thấy rằng có những người làm việc không màn đến danh lợi trong cuộc sống, họ làm vì muốn đóng góp sức nhỏ của mình để giúp cho xã hội ngày càng phát triển. Đó là một lối sống cao thượng và đẹp đẽ mà chúng ta nên noi theo.&nbsp;<br><br></div><div>Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” là bài thơ cuối cùng của nhà thơ Thanh Hải, nó đã thể hiện những ước nguện, mong ước của nhà thơ. Những mong muốn được cống hiến hết mình cho xã hội, và những mong muốn ấy đã tạo nên một lối sống cao thượng và đẹp đẽ. Nhờ bài thơ trên cùng với tác phẩm “Lặng lẽ Sa Pa” mà đã có rất nhiều người hiểu ra rằng thế nào là sự cống hiến. Sự cống hiến ấy không phải là vì danh tiếng, quyền lợi mà là từ cá nhân, mỗi người góp phần một ít. Cả 2 văn bản trên đều nêu lên rất rõ sự cống hiến hết mình cho đất nước và tình yêu quê hương đất nước và đối với nhà thơ Thanh Hải thì ông đã sử dụng hình ảnh thiên nhiên để thể hiện những ước nguyện của mình để nói lên điều đó.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-14 12:36:28 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2143811632</guid>
      </item>
      <item>
         <title>NGHỊ LUẬN VĂN HỌC VỀ ANH THANH NIÊN TRONG ĐỀ THỬ SỨC 2022</title>
         <author>thanhtran6</author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2144830236</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-15 11:02:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2144830236</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Hoàng Anh Tú</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2144831009</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-15 11:05:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2144831009</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lâm Ngọc Cát Vương</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2144831069</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp; Đất nước Việt nam ta đã trải qua bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, với tinh thần bất khuất, kiên định trước quân thù, đất nước ta đã giành được độc lập, tự do. Khi đến giai đoạn xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, những con người thầm lặng cống hiến cho sự đổi thay của đất nước đã trở thành đề tài thu hút nhà văn Lê Minh Khuê. Trong tác phẩm “Lặng lẽ Sa Pa’, tác giả đã sử dụng hình ảnh nhân vật anh thanh niên để đại diện cho những con người luôn âm thầm bồi đắp cho đất nước thêm đẹp giàu.</div><div>&nbsp; Nguyễn Thành Long được sinh ra trên mảnh đất Quảng Nam thân thuộc, dân giã. Ông là nhà văn trưởng thành qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước. Ông là cây bút chuyên viết về truyện ngắn, và kí. Nguyễn Thành Long là một trong những cây bút có nhiều đóng góp cho nền văn xuôi cách mạng nói riêng và văn học Việt Nam hiện đại nói chung. Nhờ cách quan sát tinh tế, sự cảm nhận sâu sắc, truyện ngắn của ông nhẹ nhàng, tình cảm, thường pha chút chất kí cùng với ngôn ngữ trong sáng, giàu chất thơ đã giúp hình ảnh nhân vật được xây dựng đầy tính hình tượng. Bởi lẽ đó mà tác phẩm “Lặng lẽ Sa Pa” để lại bao ấn tượng sâu sắc cho độc giả.&nbsp;</div><div>&nbsp;Truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” được sáng tác vào năm 1970, khi tác giả được tham gia chuyến đi thâm nhập thực tế Lào Cai trong mùa hè. Tác phẩm đã lấy đề tài về cuộc sống, con người trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. “Lặng lẽ Sa Pa” kể về cuộc gặp gỡ tình cờ của nhân vật anh thanh niên làm công tác khí tượng trên đỉnh Yên Sơn với bác lái xe và hai hành khách. Từ đó, tác giả đã khắc họa thành công hình ảnh những con người lao động lặng lẽ, say mê mà tiêu biểu là nhân vật anh thanh niên trong công cuộc xây dựng xã hội mới.</div><div>Trong tác phẩm, nhân vật anh thanh niên hiện lên là một người con trai hai mươi bảy tuổi có tầm vóc bé nhỏ và làm công tác khí tượng kiêm vật lý địa cầu trên đỉnh Yên Sơn quanh năm chỉ có cỏ cây và mây mù lạnh lẽo. Công việc hằng ngày của anh là đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất, dựa vào việc báo trước thời tiết hằng ngày, phục vụ cho sản xuất, chiến đấu. Anh chính là một trong những tấm gương sáng trong công cuộc xây dựng đất nước. Hồi đầu, lúc mới lên trạm khí tượng vì thèm người quá mà anh ấy đã đẩy một thân cây chắn ngang đường để xe dừng lại, nhân đó mà được gặp gỡ và trò chuyện với mọi người. Vì vậy khi phải một mình trên đỉnh núi cao Yên Sơn quanh năm suốt tháng giữa cái lặng lẽ mênh mông của cỏ cây, mây núi, khó khăn và thử thách lớn nhất đối với anh chính là sự cô độc.&nbsp;</div><div>&nbsp; &nbsp;Anh thanh niên là một người có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc. Dù phải một mình trên đỉnh núi cao và không có sự giám sát của ai song anh vẫn luôn tự giác, tận tụy. Mỗi ngày đều lấy những con số báo về nhà bằng máy bộ đàm vào giờ “ốp” bốn giờ, mười một giờ, bảy giờ tối và một giờ sáng. Vào những đêm mưa tuyết vào lúc một giờ sáng, đang nằm trong chăn, nghe chuông đồng hồ anh chỉ muốn đưa tay tắt đi. Thế nhưng cậu thanh niên vẫn chui ra khỏi chăn và cách đèn ra vườn. Gió tuyết và lặng im ở bên ngoài như chỉ chực đợi để ào ào xô tới, cái lặng im lúc đó nó dễ sợ làm sao, nó như bị gió chặt ra từng khúc, mà gió thì giống những nhát chổi lớn muốn quét đi tất cả, ném vứt lung tung… Những lúc im lặng lạnh cóng mà lại hừng hực như cháy. Thời tiết và hoàn cảnh làm việc vô cùng khắc nghiệt song anh thanh niên vẫn nghiêm túc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Tinh thần trách nhiệm ấy còn được thể hiện qua căn phòng, khu vườn mà anh sinh sống. Căn nhà ba gian được hiện lên sạch sẽ, những vật dụng được bài trí một cách gọn gàng, đẹp mắt khiến cho mọi người ngạc nhiên. Với cách sắp đặt mọi thứ đã nói lên anh là một người sống rất có kỷ luật và nề nếp. Anh có một tác phong làm việc khoa học, nghiêm túc trong công việc và luôn đong đếm chính xác đến từng giây phút trong cuộc gặp gỡ vì sợ hết ba mươi phút.&nbsp;</div><div>&nbsp;Anh thanh niên là một người say mê yêu nghề và dám chấp nhận hy sinh. Dù phải sống và làm việc trong hoàn cảnh, môi trường vô cùng đặc biệt đó chính là đỉnh núi Yên Sơn cao hai nghìn sáu trăm mét, quanh năm chỉ có cỏ cây và mây mù lạnh lẽo thế nhưng anh chưa một lần phàn nàn, từ bỏ. Anh ấy vẫn luôn cố gắng, hoàn thanh nhiệm vụ và vượt qua “nỗi thèm người” của bản thân để có thể cống hiến cho đất nước.&nbsp;</div><div>&nbsp; Trong công việc, anh thanh niên là người có lý tưởng, quan niệm sống đúng đắn. Anh nhận thấy rằng: “Khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được?” Câu nói mang trong mình ý nghĩa khi con người ta say mê với công việc, công việc ấy không còn là trách nhiệm nữa mà đã trở thành niềm vui, niềm hạnh phúc, là lẽ sống cao đẹp. Anh thanh niên đồng thời còn coi công việc như một người bạn tri kỷ: “Công việc của cháu gian khổ thế đấy chứ cất nó đi, cháu buồn chết mết.” Qua lời kể: “báo trước thời tiết hàng phục, phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu” đã khắc họa rõ nét sự nhận thức đúng đắn và việc tìm thấy trọn vẹn ý nghĩa trong công việc của anh. Anh hiểu rõ công việc thầm lặng của mình là cần thiết và có ích cho mọi người, nó gắn liền với người dân và cuộc sống chung của đất nước. Anh thanh niên còn say sưa kể về công việc của mình với một niềm tự hào không chút giấu giếm “làm khí tượng được ở cao thế này mới là lí tưởng chứ.” Lòng nhiệt huyết ấy đã khiến cô gái trẻ và bác họa sĩ lão thành sống gần hết cuộc đời cũng phải ngưỡng mộ, khâm phục. Anh đã khiến cho cô gái trẻ cảm thấy “một ấn tượng hàm ơn khó tả dạt lên trong lòng cô gái”, khiến niềm hạnh phúc như căng tràn trong tim người họa sĩ bởi lẽ “bắt gặp một con người như anh ta là một cơ hội hãn hữu cho sáng tác”. Và bác họa sĩ còn hứa sẽ quay trở lại để xem công việc của anh như thế nào. Anh thanh niên đã trở thành một tấm gương cho những người trẻ tuổi đầy nhiệt huyết đáng tự hào, ngưỡng mộ.&nbsp;</div><div>Trong chàng trai trẻ tuổi này còn có những hoài bão, khát vọng cao đẹp, khát vọng được đi đến những vùng đất mới, khát vọng được cống hiến tuổi trẻ cho đất nước. Anh không ngần ngại chia sẻ những suy nghĩ của mình: “Cháu tưởng cháu được đi xa lắm cơ đấy, hóa lại không”. Những người trẻ tuổi hăng hái đi xây dựng cuộc sống mới ở vùng đất Tây Bắc đã trở thành lý tưởng sống cao đẹp của con người trong thời đại lúc bấy giờ.&nbsp;</div><div>Với anh, hạnh phúc chính là khi hoàn thành tốt công việc, nhiệm vụ của mình, đóng góp một phần công sức của bản thân cho thành công của tập thể. Anh thanh niên biết đặt nhiệm vụ của mình trong công việc của cả tập thể qua lời kể: “Huống chi việc của cháu gắn liền với việc của bao anh em, đồng chí dưới kia.” Anh đã cảm thấy tự hào, hạnh phúc bởi anh không chỉ giúp ích cho lao động mà cả trong chiến đấu. Khi anh phát hiện một đám mây khô giúp không quân ta hạ được bao nhiêu phản lực Mỹ trên cầu Hàm Rồng, niềm vui sướng trong anh như dâng trào. Qua lời trò chuyện cùng với bác họa sĩ:” Mình sinh ra là gì, mình đẻ ở đâu, mình vì ai mà làm việc?” đã cho thấy niềm hạnh phúc của một cá nhân được hòa mình vào tập thể, được góp một phần công sức bé nhỏ của mình cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Anh thanh niên là hiện thân cho những con người lao động mới trong công cuộc xây dựng và bảo vệ quê hương, góp phần xây dựng đất nước thêm giàu đẹp.</div><div>&nbsp;Nét đẹp của nhân vật anh thanh niên không chỉ thể hiện ở cách sống có lý tưởng mà còn ở những suy nghĩ sâu sắc về công việc và cuộc sống. Khi nói đến sự&nbsp; cô đơn, anh đã chia sẻ rằng: “Hồi chưa vào nghề, những đêm bầu trời đen kịt, nhìn kỹ mới thấy một ngôi nhà sao xa, cháu cũng nghĩ ngay ngôi sao kia lẻ loi một mình. Bây giờ làm nghề này, cháu không nghĩ như vậy nữa. Vả khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được? Huống chi, việc của cháu gắn liền với việc của bao anh em, đồng chí dưới kia.” Khi đến nỗi “thèm người”, anh thanh niên nghĩ rằng: “Con người thì ai mà chả “thèm” hở bác? Mình sinh ra làm gì, mình đẻ ở đâu, mình vì ai mà làm việc?”&nbsp;</div><div>&nbsp; Khi phải sống giữa núi cao mây mù, anh ấy vẫn biết cách tự tìm niềm vui trong cuộc sống cho bản thân. Anh tìm thấy sách như một người bạn đồng hành luôn trò chuyện cùng anh trong mọi nẻo đường của cuộc sống. Anh thanh niên cũng đồng thời tự trau dồi, hoàn thiện bản thân qua những trang sách để nâng cao hiểu biết và chất lượng cuộc sống. Anh đồng thời tự tay vẽ nên màu sắc sinh động cho bức tranh cuộc sống của mình bằng việc trồng đủ loại hoa rực rỡ để làm đẹp cho ngôi nhà mình ở, nuôi gà, nuôi ong để làm giàu nguồn lương thực của bản thân. Căn nhà ba gian sạch sẽ khiến ông họa sĩ phải trầm trồ, bất ngờ đã cho ta thấy anh là một người rất gọn gàng, ngăn nắp. Anh thanh niên cũng luôn chủ động xây dựng các mối quan hệ giao lưu thân thiết với mọi người xung quanh như bác tài xế và luôn vui vẻ chào đón, gặp gỡ những vị khách mời. Tinh thần lạc quan đã trở thành điểm tựa tinh thần vững chắc giúp anh chủ động vượt lên hoàn cảnh khó khăn cả về vật chất lẫn tinh thần và tìm được niềm vui, ý nghĩa trong cuộc sống.&nbsp;</div><div>&nbsp; Anh thanh niên còn là một con người chân thành, cởi mở và hiếu khách. Khi gặp được những hành khách thì anh mừng đến mức tất tả, cuống cuồng như không kìm được cảm xúc: “Anh chạy vụt đi, cũng tất tả như khi đến”. Cậu thanh niên đồng thời là một người thân thiện, cởi mở ngay cả với những người mới gặp lần đầu. Khi mới gặp hai vị khách mời thì không giấu nỗi niềm nở, hồ hởi, anh còn tặng cô kĩ sư một bó hoa để làm quà kỉ niệm, tiếp khách bằng món chè pha nước mưa thơm như nước hoa của Yên Sơn và đồng thời gửi tặng một làn trứng để ăn trên đường. Anh thanh niên trận trọng từng giây phút gặp gỡ. Vì sợ sẽ hết ba mươi phút quý báu nên luôn đếm từng giây, từng phút. Khi nghe tin bác lái xe kể về việc vợ mình bị bệnh, anh đã lặng lẽ đi tìm củ tam thất để bác gái ngâm rượu ống để thể hiện trọn vẹn sự quan tâm, chu đáo của anh đối với những người tình cờ gặp gỡ. Anh thanh niên đã đại diện trở thành biểu tượng phẩm chất tốt đẹp và con người gần gũi nơi mảnh đất Sa Pa tươi đẹp.&nbsp;</div><div>&nbsp; Anh thanh niên không chỉ là một con người có lý tưởng sống cao đẹp, đồng thời còn là một người khiêm tốn. Công việc của anh đang làm góp một phần quan trọng cho những bước chuyển mình của đất nước, phục vụ cho sản xuất và chiến đấu nhưng anh lại cho rằng những đóng góp của mình là vô cùng nhỏ bé so với bao người. Vì vậy khi bác họa sĩ xin ký họa chân dung, anh từ chối, e ngại :”Không, không đừng vẽ cháu! Để cháu giới thiệu với bác những người khác đáng cho bác vẽ hơn.” Chính sự khiêm nhường ấy đã làm nhân cách anh thêm cao đẹp, khiến người họa sĩ già bối rối và cô kĩ sư trẻ ngưỡng mộ và vững tin hơn với hướng đi, quyết định của mình trong tương lai.&nbsp;</div><div>&nbsp;Qua hình ảnh nhân vật anh thanh niên, tác giả đã thể hiện niềm yêu mến, lời ngợi ca đối với những con người có lẽ sống cao đẹp đang lặng lẽ quên mình cống hiến cho sự nghiệp của Tổ quốc. Họ chính là những dòng sông cuộn chảy mang phù sa bồi đắp cho đất nước thêm đẹp giàu. Tác phẩm đã gieo vào trong tâm trí độc giả những nhận thức đúng đắn, cảm xúc tích cực về ý nghĩa của cuộc đời khi sống và làm việc có lý tưởng đúng đắn và khát vọng cao đẹp. Tác phẩm “Lặng lẽ Sa Pa” đã để lại bao ấn tượng sâu sắc bằng nghệ thuật xây dựng tình huống truyện hợp lí với cách trần thuật tự nhiên. Tác giả đã kết hợp giữa phương thức tự sự, miêu tả, biểu cảm và bình luận. Nhờ lời văn mượt mà, trau chuối, giàu chất thơ và chất hội họa, truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” đã nhẹ nhàng đi vào lòng người đọc.</div><div>&nbsp;Khi nói đến những tấm gương sáng đã thầm lặng cống hiến cho đất nước, nhân vật Phương Định trong tác phẩm “Những ngôi sao xa xôi” cũng là một ngôi sao sáng trong sự nghiệp bảo vệ, xây dựng Tổ quốc. Cô cũng có một hoàn cảnh sống và làm việc vô cùng khó khăn, một cái hàng dưới chân cao điểm bị bán phá ác liệt do bom đạn của Mỹ. Thế nhưng dù phải đối mặt với bao gian nan, thử thách cô vẫn giữ thế giới tâm hồn qua việc hát những bài ca và giữ những mảnh kí ức về đất trời Hà Nội thân thương. Phương Định cũng có tinh thần trách nhiệm với công việc, quên mình vì nhiệm vụ qua lần phá bom chậm được miêu tả vô cùng tài tình. Phương Định chính là biểu tượng cho vẻ đẹp sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng, cách mạng trong tâm hồn của những nữ thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn. Nhân vật anh thanh niên và Phương Định chính là những ngôi sao sáng đã cống hiến sắc xuân của mình vào bầu trời mùa xuân của đất nước trong những ngày tháng đấu tranh, xây dựng chủ nghĩa xã hội trên mảnh đất quê hương. Họ đều là những con người yêu đời, yêu cuộc sống và đồng thời có lý tưởng sống cao đẹp.&nbsp;</div><div>&nbsp;Qua những nét phác họa của Nguyễn Thành Long, anh thanh niên hiện lên thật chân thực, sinh động, đẹp đẽ. Giữa thiên nhiên im lặng, hắt hiu, giữa cái lặng lẽ muôn thuở của Sa Pa đã vang lên trong âm thanh trong sáng, những sắc màu lung linh của những con người lao động mới như anh.&nbsp; Hình ảnh nhân vật anh thanh niên trong tác phẩm “Lặng lẽ Sa Pa” đã trở thành biểu tượng cho phẩm chất và con người nơi mảnh đất Sa Pa. Anh thanh niên chính là đại diện cho những ngôi sao sáng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.</div><div><br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-15 11:05:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2144831069</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Nhật Khôi</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2144831089</link>
         <description><![CDATA[<div>Nguyễn Thành Long quê ở Quảng Nam, là cây bút chuyên viết truyện ngắn và bút kí. Người lao động mới, hình ảnh có thể coi là hình mẫu của sự lý tưởng, sự thay đổi và trưởng thành trong thời đại mới. Có những con người lao động luôn cống hiến hết khả năng của mình cho sự phát triển chung của đất nước mà không hề nhận lại bất kỳ phần thưởng xứng đáng nào. Để làm nổi bật hình mẫu lý tưởng ấy, nhà văn Nguyễn Thành Long đã khắc họa nên nhân vật anh thanh niên qua truyện ngắn "Lặng lẽ Sa Pa" để có thể coi đó như là hình mẫu đại diện cho lý tưởng, khát vọng cống hiến của người lao động mới trong thời đại phát triển sau này.&nbsp;<br>Câu truyện bắt đầu khi trên một chuyến xe khách, tình cừ bác lái xe quen được một người họa sĩ cao tuổi chuẩn bị về hưu và cô kĩ sư trẻ mới ra trường. Bác lái xe giới thiệu cho hai người làm quen với anh thanh niên 27 tuổi làm việc trên đỉnh Yên Sơn cao 2600m mà bác lái xe cho rằng đó là người cô độc nhất thế gian. Anh thanh niên kể về cuộc sống, công việc hàng ngày cho người họa sĩ và cô kĩ sư nghe. Khi người họa sĩ ngỏ lời muốn vẽ anh, anh từ chối và giới thiệu rằng vẫn còn những người khác xứng đáng hơn anh. Cuối cùng, họ tạm biệt và hẹn nhau vào một ngày không xa với tâm trạng đầy lưu luyến và nuối tiếc.<br>Tuy nhân vật anh thanh niên là nhân vật chính của câu truyện, nhưng anh chỉ xuất hiện "một cách tình cờ" khi được bác lái xe giới thiệu cho người họa sĩ và cô kĩ sư. Nhưng cũng vì chi tiết bất ngờ này, tác giả đã khắc họa được sự cô độc, lặng lẽ, và đặc biệt là "thèm người" của anh.&nbsp; Nhưng sự thu hút đặc biệt của anh lại không nằm ở đó, mà nó nằm ở tấm lòng yêu đời, yêu nghề, tinh thần trách nhiệm cao, cống hiến trong thầm lặng, nhất là khi công việc của anh lại vô cùng khó khăn và khắc nghiệt.<br>Anh thanh niên "sống một mình trên đỉnh Yên Sơn cao 2600m bốn bề chỉ có cỏ cây và mây mù lạnh lẽo". Công việc hàng ngày của anh là "đo gió, đo mưa, đo chấn động mặt đất" một cách tỉ mỉ, cẩn thận và báo cáo về cho trung tâm khí tượng. Nhiều đêm, anh phải "đối chọi với gió tuyết và lặng im đáng sợ", nhất là vào "những lần ghi và báo về lúc một giờ sáng".Rõ ràng nhữngđiều này đã khắc họa được tính chất công việc cô cùng khó khăn, vất vả của anh. Đặc biệt là sự cô đơn.Nhưng khi anh trò chuyện với cha con ông họa sĩ, anh bảo rằng:"Khi ta làm việc ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được?". Lời nói ấy cho ta thấy cảm xúc và sự trân trọng của anh thanh niên đối với công việc to lớn tới nhường nào. Đồng thời, câu nói ấy cũng thể hiện được quan niệm, lập trường và ý nghĩa sống đúng đắn, sâu sắc. Ngoài ra, ở anh còn toát lên lối sống giản dị, trái tim giàu lòng yêu thương và tinh thần trách nhiệm cao đối với chính bản thân mình. Tuy sống trong điều kiện vật chất thiếu thốn nhưng anh vẫn sống vô cùng kỉ luật. Anh có niềm vui đọc sách, anh xem sách như người bạn tâm giao :"lúc nào tôi cũng có người trò chuyện, nghĩa là có sách ấy mà".&nbsp;<br>Tuy sống trong hoàn cảnh cô đơn là thế, nhưng anh lại thật đáng quý. Anh "thèm người", hiếu khách và đón tiếp khách mọt cách ân cần và hiếu khách nhất có thể.Qua những nét mặt, cử chỉ thì sự hiếu khách, ân cần và tôn trọng của anh đã gầy dựng được lòng yêu mến và thân mật nơi ông họa sĩ và cô kĩ sư. Chưa dừng lại ở đó, sự quan tâm, suy nghĩ cho người khác của anh còn được thể hiện thông qua hành động hỏi thăm sức khỏe của vợ bác tài xế, rồi còn tặng củ tam thất để biếu bác, hồn nhiên kể về công việc nơi Sa Pa lặng lẽ của mình,.....Những điều ấy đều nói lên ở anh một cảm xúc, một suy nghĩ quan tâm, trân trọng những người mà anh quen, những người anh gặp và những người mà anh tôn trọng,..... để rồi thông qua đó, khắc họa nên hình ảnh người con trai tâm lý, tấm lòng sốt sắng, tháo vát và tận tình với mọi người.<br>Tuy rằng cuộc sống và công việc khắc nghiệt là thế, anh thanh niên vẫn rất khiêm tốn. Anh cảm thấy những đóng góp của mình là vô cùng nhỏ bé so với những người khác. Bởi thế nên anh mới từ chối việc ông họa sĩ vẽ mình mà lại giới thiệu cho bác một người khác. Con người khiêm tốn ấy hồ hởi giới thiệu cho ông họa sĩ những người mà anh biết :ông kĩ sư vườn rau dưới Sa Pa, đồng chí nghiên cứu khoa học ở cơ quan suốt ngày trong tư thế sẵn sàng chờ sét,..... Dù vẫn còn trẻ tuổi, người thanh niên ấy đã thấm thía cái nghĩa tình nơi mảnh đất Sa Pa, thấm thía được ý nghĩa của sự hy sinh thầm lặng của những người đang ngày đêm làm việc cho sự phát triển của tổ quốc.<br>Qua truyện ngắn "Lặng lẽ Sa Pa" và hình ảnh nhân vật anh thanh niên, nhà văn Nguyễn Thành Long đã giấu những lời ngợi ca anh thanh niên qua các hành động và cử chỉ của anh ấy, ngầm khẳng định rằng đó là hình mẫu lý tưởng của con người lao động thời đại mới. Những con người cần mẫn, nhiệt thành, tâm lý, giàu cảm xúc như anh thật đáng để trân trọng, học hỏi và noi gương theo.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-15 11:05:28 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2144831089</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Minh Khôi</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2144831154</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-15 11:05:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2144831154</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2144831211</link>
         <description><![CDATA[<div>Bùi Ngọc Mai Hân&nbsp;<br><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Nguyễn Thành Long quê ở huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Ông là cây bút chuyên về chuyện ngắn và kí. Một trong những tác phẩm tiêu biểu&nbsp; của ông là truyện ngắn “lặng lẽ Sa Pa” được sáng vào mùa hè 1970 khi tác giả đi lên Lào Cai. Trong&nbsp; truyện lặng lẽ Sa Pa&nbsp; Nguyễn Thành Long đã có những lời ca ngợi dành cho anh thanh niên để làm bật lên vẻ đẹp của những con người làm việc thầm lặng trên đỉnh núi cao hai nghìn sáu trăm mét ấy.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Mở đầu câu truyện là lời giới thiệu của bác lái xe về một trong những người cô độc nhất thế gian. Đó là một anh thanh niên hai mươi bảy tuổi làm công tác khí tượng kim vật lí địa cầu trên đỉnh Yên Sơn cao hai nghìn sáu trăm mét bốn bề chỉ cây cỏ và mây mù lạnh lẽo nên&nbsp; “thèm người”. Mỗi khi thèm người anh lại để một khúc thân cây chắn ngang đường làm xe dừng lại và được gặp mọi người trên xe. Anh thanh niên hiện lên qua ngòi bút của tác giả là một người rất ngăn nắp, hiếu khách, yêu đời và say mê với công việc. Tuy sống trên đỉnh núi cao nhưng anh vẫn nuôi gà, trồng hoa, đọc sách. Anh trao bó hoa đã cắt cho cô kĩ sư và nói muốn lấy bao nhiêu nữa tuỳ ý, nói qua công việc của mình rồi mời bác họa sĩ và cô kĩ sư vào nhà uống chè. Công việc của anh là đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất, phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu. Ở đỉnh núi có mưa tuyết khi anh xách đèn ra vườn làm việc thì gió tuyết ào ào xô tới và khi trở vào không thể nào ngủ lại được. Công việc của anh vất vả là thế nhưng anh vẫn rất say mê: “ khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được”. Anh còn rất khiêm tốn khi bác họa sĩ&nbsp; vẽ anh, anh lại giới thiệu những người khác đáng vẽ hơn mình như ông kĩ sư vườn rau dưới Sa Pa, đồng chí nghiên cứu sét ở cùng cơ quan với anh. Qua anh thanh niên truyện ngắn “lặng lẽ sa pa” là em liên tưởng đến Phương Định trong “Những ngôi sao xa xôi”. Phương Định là một cô gái hồn nhiên, nhạy cảm, thích mơ mộng nhưng lại hết mình vì công việc. Công việc của cô là quan sát địch ném bom, đếm số bom chưa nổ, đo đất đá để san lấp vào hố bom và nếu cần thì phá bom. Cô chạy trên cao điểm cả một ngày trong khi “thần chết là một tay không thích đùa”. Hắn lẩn trong ruột các quả bom do vậy tinh thần cô thường căng như chão tim đập bất chấp cả nhịp điệu khi cô làm nhiệm vụ. Cô có nghĩ đến cái chết nhưng cái chết mờ nhạt thoáng qua không cụ thể còn cái chính là liệu mìn có nổ không, bom có nổ không. Cô dặn mình phải cảnh giác với quả bom nhưng không phải cô sợ nó, mà chỉ sợ “lỡ mảnh bom ghim vào cánh tay thì khá phiền”. Tinh thần trách nhiệm trong công việc đã làm mờ nhoè đi nỗi sợ hãi từ đó lòng dũng cảm được tỏa sáng trong cô.<br>Truyện ngắn “lặng lẽ sa pa” đã khắc họa thành công những người lao động “bình thường”. Truyện đã xây dựng được tình huống hợp lí, cách kể chuyện tự nhiên, có sự kết hợp giữa tự sự, trữ tình với bình luận. Trong truyện ngắn “những ngôi sao xa xôi” Lê Minh Khuê đã đặc điểm nhìn trần thuật vào Phương Định, tạo thuận lợi để thể hiện thế giới nội tâm nhân vật phong phú.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Qua hình ảnh&nbsp; anh thanh niên trong truyện “lặng lẽ Sa Pa” và Phương Định trong “Những ngôi sao xa xôi “ cả hai tác giả đã khắc họa và ca ngợi tinh thần trách nhiệm trong công việc, phẩm chất tốt đẹp của những con người lao động làm việc thầm lặng cống hiến sức trẻ của mình cho quê hương đất nước.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-15 11:05:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2144831211</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Minh Khang</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2144831226</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-15 11:05:48 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2144831226</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đoàn Minh Yến</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2144831346</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-15 11:06:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2144831346</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Quỳnh Anh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2144831373</link>
         <description><![CDATA[<div>Như Puskin đã từng viết: “<em>Linh hồn là ấn tượng của một tác phẩm. Cây có sống được là nhờ ánh sáng, chim muông sống được là nhờ tiếng ca, một tác phẩm sống được là nhờ tiếng lòng của người cầm bút.” </em>Và nhà văn Nguyễn Thành Long chuyên viết truyện ngắn và kí đã để lại tiếng lòng của mình, cất lên qua tác phẩm “Lặng lẽ Sa Pa”. Vào năm 1970, tác phẩm ấy đã “cất tiếng chào đời” với các hình tượng nhân vật đẹp cả trong tâm hồn lẫn tính cách. Trong đó ta bắt gặp hình ảnh anh thanh niên âm thầm cống hiến cho đất nước và chân dung ấy tiêu biểu cho vẻ đẹp con người Việt Nam trong quá trình lao động, xây dựng cuộc sống mới.&nbsp;<br><br></div><div>Mở đầu cho cuộc đời của tác phẩm, bức tranh thiên nhiên ở Sa Pa vô cùng nên thơ hiện ra êm đềm, đậm chất trữ tình, nắng lúc ấy <em>“bắt đầu len tới, đốt cháy rừng” .</em>Thế nhưng đằng sau những ngọn núi bạt ngàn, mây phủ yên bình lại là cuộc sống sôi nổi, cháy hết mình của những người lao động, tuổi trẻ tài cao, cống hiến cả tài trí lẫn sức lực cho quê hương,&nbsp; đất nước. Họ đã thắp lên tình yêu nước mãnh liệt, khiến giữa Sa Pa <em>“lặng lẽ”, </em>im lặng trở nên đầy sức sống hơn, đặc biệt là anh thanh niên hai mươi bảy tuổi- công tác khí tượng kiêm vật lý địa cầu ở trên đỉnh Yên Sơn, cao 2600m.&nbsp;<br><br></div><div>Công tác khí tượng- nhiệm vụ hằng ngày là đo gió, đo nhiệt độ, đo mưa, đo nắng rồi ghi chép, gọi vào máy bộ đàm báo về trung tâm nhằm báo trước thời tiết hằng ngày, phục vụ sản xuất, chiến đấu. Tưởng chừng như đơn giản nhưng nó đòi hỏi sự tỉ mỉ cao, chính xác cũng như tinh thần trách nhiệm tốt, hơn thế nữa còn phải chịu đựng nào là thời tiết khắc nghiệt, giờ “ốp” nghiêm ngặt. Kể cả nắng hay mưa, nóng hay lạnh giá, anh vẫn ở đó thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Thế nhưng, đó chưa phải là tất cả. Có lẽ điều gian khổ nhất mà anh thanh niên phải vượt qua là sự cô đơn, quanh năm suốt tháng phải sống một mình trên đỉnh núi vắng vẻ, làm bạn với cây cỏ, hầu như không một bóng người. Chính vì thế dưới cái nhìn của bác lái xe, anh được gọi bằng cái tên vô cùng đặc biệt là “<em>người cô độc nhất thế gian”.</em> Từ cách gọi đó mà ta có thể cảm nhận được sự cô đơn, buồn chán của anh thanh niên, đến mức phải hạ cây chắn ô tô để bắt chuyện chỉ vì <em>“thèm người quá</em>” để vơi đi nỗi buồn chán bấy lâu nay cứ khó chịu trong lòng. Chính vì thế mà khi có khách lên thăm, anh chăm lo cho mọi người chỉ vì sợ họ chưa quen với cái rét khắc nghiệt, vui mừng vì được gặp họ.&nbsp;<br><br></div><div>Nổi bật nhất là ở anh thanh niên toát lòng yêu nghề, hăng say với công việc của mình. Dẫu cuộc sống đầy thử thách làm anh nản lòng, bỏ cuộc nhưng anh vẫn vượt qua tất cả khi có những suy nghĩ sâu sắc, đúng đắn về việc cống hiến cho con người từ đó khích lệ bản thân bước tiếp:<em> “Khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được?</em>” bởi lẽ trong anh có sự gắn bó say mê với công việc, một phần nữa là vì “<em>việc cháu gắn liền với việc bao anh em đồng chí dưới kia.” .“Công việc của cháu gian khổ thế đấy, chứ cất nó đi, cháu buồn đến chết mất”. </em>Anh hiểu được mình sống có ích cho mọi người, có ý thức tự giác cao và ở người thanh niên ấy toát lên lòng yêu khoa học và nghề hết sức sâu đậm. Có thể hiểu như thế thì ta mới cảm nhận được niềm hạnh phúc trong anh khi anh biết được chính mình cũng góp phần vào cuộc chiến hạ phản lực Mỹ trên cầu Hàm rồng.<br><br></div><div>Thế những niềm hạnh phúc ấy càng thêm sâu sắc khi ông họa sĩ già và cô kĩ sư trẻ đến thăm nhà. Sống trong hoàn cảnh như thế, sẽ có người dần thu mình lại trong nỗi cô đơn. Nhưng anh thanh niên này thật đáng yêu ở nỗi “thèm người”, lòng hiếu khách đến nồng nhiệt, ở sự quan tâm đến người khác một cách chu đáo. Ngay từ những phút gặp gỡ ban đầu, lòng mến khách, nhiệt tình của anh đã gây được thiện cảm tự nhiên đối với người hoạ sĩ già, cô kĩ sư trẻ. Niềm vui được đón khách dào dạt trong lòng anh, toát lên trên nét mặt, qua từng cử chỉ. Anh biếu bác lái xe củ tam thất để mang về cho vợ bác mới ốm dậy. Anh mừng quýnh đón quyển sách bác mua hộ. Anh hứng hởi đón mọi người lên thăm <em>“nhà”</em> mình và hồn nhiên kể về công việc, cuộc sống của mình, bạn bè nơi Sa Pa lặng lẽ. Chúng ta khó có thể quên việc làm đầu tiên của anh thanh niên khi có khách lên thăm nơi ở của mình: hái một bó hoa rực rỡ sắc màu tặng người con gái chưa hề quen biết. <em>“Anh con trai, rất tự nhiên như với một người bạn đã quen thân, trao bó hoa đã cắt cho người con gái, và cũng tự nhiên , cô đỡ lấy”.</em> Củ tam thất gửi vợ bác lái xe, làn trứng, bó hoa tiễn người hoạ sĩ già, cô gái trẻ tiếp tục cuộc hành trình, đó là những kỉ niệm của một tấm lòng sốt sắng, tận tình đáng quý. Hành động ấy như lời chúc họ lên đường bình an, làm ta cứ ngỡ như thân thiết từ lâu. Tình cảm ấy tuy thể hiện qua rất giản dị nhưng lại vô cùng chân thật, ấm áp lòng người.<br><br></div><div>Ở những tác phẩm khác, việc đặt tên cho các nhân vật hay thành phần khác đều được các tác giả chú trọng, quan tâm đến. Ngoài việc giúp bạn đọc có thể nhận biết được đâu là nhân vật nào mà còn giúp tác phẩm trở nên rõ ràng, tên nhân vật sẽ khắc sâu, để lại dấu ấn đặc biệt trong lòng người đọc hơn. Nhưng trong <em>“Lặng lẽ Sa Pa”</em> lại không như thế. Nhân vật chính và nhân vật phụ của chúng ta lại không có tên, tác giả đơn giản chỉ gọi nhân vật chính là <em>“anh thanh niên”</em> , phổ theo đó là một bản vẽ đơn sơ với “<em>tầm vóc nhỏ bé</em>, nét mặt rạng rỡ”. Phải chăng đây có thể là một dụng ý nghệ thuật của tác giả? Có lẽ vậy vì cách gọi ấy giống với cái tính cách quên mình của anh.<br><br></div><div>&nbsp;Công việc vất vả, có nhiều đóng góp quan trọng cho đất nước như thế nhưng người thanh niên hiếu khách và sôi nổi ấy lại rất khiêm tốn, cảm thấy sự cô đơn của mình chỉ là chuyện nhỏ bởi :<em>“Một mình thì anh bạn trên đỉnh Phăng-xi-Păng ba nghìn một trăm bốn mươi hai mét kia mới một mình hơn cháu”. </em>Anh cảm thấy đóng góp của mình bình thường, nhỏ bé so với bao người khác. Bởi thế, khi ông họa sĩ nhận thấy vẻ đẹp tâm hồn của anh, ông đã định thể hiện hết vẽ đẹp ấy trong trang giấy. Ấy vậy mà anh lại ngượng ngùng, thay vào đó, con người khiêm tốn ấy lại hào hứng giới thiệu cho hoạ sĩ những người đáng để vẽ hơn mình. Ví dụ như ông kĩ sư ở vườn rau dưới Sa Pa, đồng chí cán bộ khoa học nghiên cứu làm bản đồ sét riêng cho nước nhà. &nbsp;</div><div><br></div><div>Qua tác phẩm trên đã gợi đến hình ảnh những người như cô Phương Định trong tác phẩm <em>Những ngôi sao xa xôi&nbsp; </em>Lê Minh Khuê.<br>Là cô thanh niên xung phong làm công tác trinh sát mặt đường trên đường mòn Trường Sơn trong giai đoạn kháng chiến chống Mĩ gian khổ, ác liệt và đầy nguy hiểm. Dẫu cho hoàn cảnh như thế nào, cô vẫn rất lạc quan, thích đùa tếu, mỗi người một vẻ, có tâm hồn nhạy cảm, lao động và chiến đấu gan góc, dũng cảm và cũng là người có ý thức, có tình cảm đẹp về tình đồng đội của những người thanh niên:<em> Xẻ dọc Trường Sơn đi đánh Mĩ - Mà lòng phơi phới dậy tương lai</em>.<br><br>Từ đó cho thấy, họ đều là những nhân vật khác nhau trong những tác phẩm văn học khác nhau. Họ khác nhau về giới tính, về môi trường sống, về công việc cụ thể. Nhưng họ là những người thanh niên của cùng một thời kì chiến tranh, cùng thể hiện vẻ đẹp của thế hệ trẻ Việt Nam trong một thời kì lịch sử đầy khốc liệt của Tổ quốc và cùng để lại những ấn tượng sâu đậm đối với người đọc ở các giai đoạn sau.<br><br>Anh thanh niên dù còn trẻ tuổi, anh thấm thía cái nghĩa, cái tình của mảnh đất Sa Pa mà mình được sinh ra, lớn lên, thấm thía sự hy sinh lặng thầm của những con người ngày đêm làm việc, lo nghĩ cho đất nước .Tuy những chi tiết dù nhỏ nhặt nhất nhưng cũng đủ làm cho người đọc cảm thấy tự hào, qua đó ta thấy được anh niên là đại diện chung cho những người lao động nhiệt huyết, sống đẹp, cống hiến vì Tổ quốc một cách thầm lặng, vô tư.&nbsp;<br><br></div><div>Sau khi đọc sau cuộc đời của tác phẩm “Lặng lẽ Sa Pa”, tôi tự hỏi tác phẩm ấy đem lại điều gì mà khiến nhiều đọc yêu thích đến thế. Có lẽ tác giả Nguyễn Thành Long đã dùng tất cả lớp ngôn từ tinh tế nhất, kết hợp hài hòa giữa tự sự, trữ tình với bình luận để tạo nên chân dung của “anh thanh niên” cùng những người đồng nghiệp thầm lặng cống hiến sức trẻ, thanh xuân cho đất nước, dân tộc đến độ hoàn hảo như thế. Từ đó càng thêm khẳng định vẻ đẹp của con người lao động và ý nghĩa cao đẹp của những công việc thầm lặng mà vĩ đại ấy.<br><br></div><div><br>&nbsp;<br>&nbsp;<br>&nbsp;<br>&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-15 11:06:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2144831373</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trương Chí Quyền</title>
         <author>quyentruong5478</author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2144831421</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-15 11:06:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2144831421</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đoàn Minh Yến </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2145506302</link>
         <description><![CDATA[<div>Mùa xuân có thể nói là mùa được hưởng nhiều sự ưu ái nhất. Đất trời tạo vật ban cho nó một vẻ đẹp rất êm đềm rất nhẹ nhàng, đằm thắm. Và cũng chính bởi lẽ đó đã làm không biết bao nhiêu thi sĩ phải chùng lòng, xao xuyến. Đến lượt Thanh Hải, cũng không là ngoại lệ. Ông cũng đã say mê nó bằng cả tâm hồn mình để rồi viết nên một “Mùa Xuân nho nhỏ” hết sức mộc mạc mà cũng vô cùng dễ thương dễ mến.&nbsp; Đặc biệt ở khổ 4, 5 đó còn là nơi ông âm thầm gửi gắm những tâm tình và nguyện ước của cả cuộc đời.&nbsp;</div><div>“Ta làm con chim hót</div><div>Ta làm một cành hoa&nbsp;</div><div>Ta nhập vào hào ca</div><div>Một nốt trầm xao xuyến.&nbsp;</div><div>&nbsp;</div><div>Một mùa xuân nho nhỏ&nbsp;</div><div>Lặng lẽ dâng cho đời</div><div>Dù là tuổi hai mươi</div><div>Dù là khi tóc bạc.”</div><div>Nhắc đến nhà văn Thanh Hải, người ta không chỉ&nbsp; biết đến một cây có công dựng xây nền văn học cách mạng miền Nam đất nước mà còn là người mang đến một chất thơ hết sức mới lạ. Nó bình dị, khiêm nhường nhưng luôn để lại trong người đọc ấn tượng về tính triết lí của cuộc đời và tình yêu cuộc sống tha thiết. Và trong ngày cuối đời của người nghệ sĩ, ông dường như đã dồn hết điều đó vào “Mùa xuân nho nhỏ” và rồi tác phẩm ra đời với một hoàn cảnh đặc biệt, song càng ý nghĩ, dáng quý vô cùng.&nbsp;</div><div>Bước qua phần đầu của bài thơ, ta được chiêm nghiệm một sắc xuân, một tâm hồn thi ca đầy ráo rức . Và để tô điểm thêm cho vẻ đẹp và tâm hôn đó, ở hai khổ tiếp theo, mạch thơ chuyển một cách đầy tự nhiên sang những suy ngẫm, tâm niệm của thi sĩ về lẽ sống và lý tưởng của mỗi con người:&nbsp;</div><div>“Ta làm con chim hót</div><div>Ta làm một cành hoa&nbsp;</div><div>Ta nhập vào hào ca</div><div>Một nốt trầm xao xuyến.&nbsp;</div><div>	Mở đầu đoạn thơ, ta dường như đã hòa vào một nhịp điệu hết sức chan hòa và, ngọt ngào của những thanh bằng được xếp liên tiếp nhau, “ta” - “hoa” - “ca”.&nbsp; Tiếp đến, bằng điệp từ “ta” cộng với những động từ “làm” - “nhập” đã khiến nhịp thơ càng trở nên da diết và cảm xúc hơn. Như một lời khẳng định, nhấn mạnh cho khao khát, nguyện ước được hóa thân vào những điều tốt đẹp, hóa thân để được sống có ích cho cuộc đời qua những điều nhỏ nhặt nhất trong cuộc sống: “con chim”, “cành hoa” và “nốt trầm”. Ông muốn là “con chim hót’ để cất tiếng ca lảnh lót góp vui cho đời, dù là họa mi, sơn ca hay chỉ là một chú sẻ con tầm thường. Ông muốn thành một cành hoa tươi để dâng hiến cho đời mùi hương thơm nhất, dù có là nhàng hồng thắm hay hoa dại mọc ở vệ đường. Và ông cũng muốn “nhập vào hào ca” để cùng chung vui với bản giao hưởng của quê hương đất nước, dù chỉ là một nốt trầm nhẹ chẳng dễ nhận ra nhưng lại là “nốt trầm” mà ai nghe cũng phải “xao xuyến”. Và rồi những khát khao cống hiến đó không chỉ dành riêng cho Thanh Hải mà còn là chỉ chung cho tất cả. Bởi từ “tôi” mang tính riêng tư, cá nhân trước kia cũng đã trở thành “ta” của cộng đồng, tập thể.</div><div>Đọc đến đây, ta càng phải khâm phục tài thi ca và vượt trên hết là lí tưởng cao đẹp của thi nhân - người dù đang thoi thóp trên giường bệnh nhưng vẫn luôn căng tràn sức sống. Vì bởi chỉ đơn thuần bằng những điều giản đơn, bình dị thường ngày, ông cũng khiến ta phải suy ngẫm về sự cống hiến cho đời mà con người ta tưởng chừng là đơn giản ấy lại lớn lao vô cùng. Cũng cảm thán trước sắc xuân, cũng đề cao chủ nghĩa tốt đẹp ấy, Tố Hữu đã từng viết trong <em>Một khúc ca xuân rằng</em>:&nbsp;</div><div>“Nếu là con chim chiếc lá</div><div>Con chim phải hót, chiếc lá phải xanh</div><div>Lẽ nào vay mà không trả&nbsp;</div><div>Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình.”&nbsp;</div><div>	Rồi nối tiếp với cảm xúc trào dâng đó, Thanh Hải lại một lần nữa nói lên ước mong cống hiến cho cuộc đời:</div><div>“Một mùa xuân nho nhỏ&nbsp;</div><div>Lặng lẽ dâng cho đời</div><div>Dù là tuổi hai mươi</div><div>Dù là khi tóc bạc.”</div><div>	Đọc qua khổ 5, từng áng thơ vang lên như từng lời gửi gắm, lời thủ thỉ thân tình dành cho độc giả. Cả cụm từ “mùa xuân nho nhỏ” đã cho ta thấy một ẩn dụ hết sức sâu sắc về một lẽ sống biết cho đi, biết dâng hiến cho cộng đồng xã hội. Đó là cho đi, dâng hiến tuổi trẻ, tuổi thanh xuân khi mà chúng ta vẫn còn đang tràn đầy sức lực, tràn đầy nhiệt huyết, những hoài bão, ước mơ, những khát vọng to lớn của cuộc đời. Từ đó mà góp vào mùa xuân của chung tất cả những gì tốt đẹp nhất. Thế nhưng, tâm hồn đó cho đi trong “lặng lẽ”, trong kín đáo, khiêm nhường chứ không phô trương, khoe mẽ.&nbsp; Điệp từ “dù là” và những hình ảnh hoán dụ về đời người qua “tuổi đôi mươi” và “tóc bạc” lại càng chứng minh rõ hơn cho triết lý làm người. Sống là sự cống hiến miệt mài, không vụ lợi vụ danh, không phân biệt tuổi tác mà vĩnh hằng, vô tận. &nbsp;</div><div>	Bước qua hai khổ cuối của tác phẩm, với thể thơ năm chữ cùng với sự kết hợp hài hòa của các biện pháp tu từ và những thi ảnh mộc mạc nhưng đầy sức gợi,&nbsp; Thanh Hải đã cho ta thấy giá trị sâu sắc của cuộc sống. Rằng con người sinh ra là phải đóng góp cho đời những gì tinh túy, tươi đẹp nhất để từ đó làm đẹp mùa xuân không chỉ của quê hương, đất nước mà còn của chính cuộc đời mình nữa. Nhưng phải lặng lẽ thôi. Cũng như nhân vật anh Thanh Niên trong “Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long. Một người trai trẻ, đáng lẽ phải tận hưởng tuổi trẻ của anh ở một nơi náo nhiệt, năng động, thì anh đã chọn hy sinh sức trẻ ấy cho một công việc trên đỉnh núi cao hơn hai ngàn sáu trăm mét lạnh lẽo và cô đơn. Thế nhưng người con trai ấy vẫn luôn hết mình, trách nhiệm và mạnh để hoàn thành từng nhiệm vụ một. Và khi trở về với Thanh Hải, ta cũng đã thấy nhà đã sống đúng với những cao đẹp mà ông luôn hướng tới. Dâng trọn tuổi trẻ cho cách mạng kháng chiến, hiến trọn tuổi già cho nghệ thuật và cho những lý tưởng cao đẹp. &nbsp;</div><div>	Cả hai tác phẩm đều thể hiện nên sự cống hiến hết mình cho cuộc đời. Những con người quên đi ham muốn, ước nguyện cá nhân mà biến chúng thành niềm tin, thành lẽ sống để dành cho con đường, giấc mơ chung của tập thể. Họ chỉ có một vọng ước to lớn nhất là cống hiến mà thôi.&nbsp;</div><div>Khép lại “Mùa xuân nho nhỏ”. Đó không chỉ là một tâm hồn yêu thơ say mê trước sắc xuân rạo rực mà còn là tâm hồn của một con người từng trải, chính cháng suy ngẫm về chân lý đẹp đẽ nhất của đời người. Thanh Hải đã biến nơi ký thác cuối cùng của chính mình thành một bản giao hưởng trầm lắng giữa nghệ thuật và cuộc đời. Để rồi khi nghe qua sẽ cô đọng mãi trong người, hiện hữu mãi qua bao nghiệt ngã của thời gian. &nbsp;</div><div><br><br></div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-16 14:11:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2145506302</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Minh Khang</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2150124486</link>
         <description><![CDATA[<div>Sống vì người khác là lẽ sống đúng đắn và có ý nghĩa nhất trong cuộc sống. Dẫu vậy trong thế giới hiện đại ngày nay, khi mà con người tranh nhau từng miếng cơm ăn áo mặc, từng tấc đất tấc vàng hay ganh ghét nhau chỉ vì những điều nhỏ nhặt nhất, ta lại khó có thể tìm được một người biết nghĩ và sống vì người khác. Thế nhưng không tìm được không đồng nghĩa với việc không có. Trong vận đời đầy gian nan, vẫn còn những người biết sống vì người khác. Qua tác phẩm “Lặng lẽ sapa”, Nguyễn Thành Long đã gây dựng nên hình tượng người thanh niên cao với lẽ sống cao đẹp, sống vì người khác và cùng với đó là những phẩm chất đáng quý khác.</div><div><br></div><div><br></div><div><br></div><div><br></div><div>Nói sơ về “Lặng lẽ sapa”, tác phẩm được tác giả Nguyễn Thành Long viết vào tháng 7 năm 1970, là kết quả của chuyến đi lên Lào Cai trong mùa hè năm 1970 của chính tác giả. Tác phẩm đã vẽ nên một khung cảnh sapa huyền ảo, mơ mộng giữa biển núi bạt ngan, xanh mát. Bên cạnh đó truyện còn khắc họa thành công hình ảnh những người lao động bình thường, mà tieu biểu là là anh thanh niên làm công tác khí tượng ở một mìnt trên đỉnh núi cao. Qua đó, truyện khẳng định vẻ đẹp của con người lao động và ý nghĩa của những công việc thầm lặng.</div><div><br></div><div>Nhân vật chính là anh thanh niên, một con người giản dị. Dẫu cho năm nay anh chỉ mới 27 tuổi, nhưng anh đã phải đơn độc sống trên đỉnh núi , bốn bề cỏ cây và mây mù lạnh lẽo để làm công việc dự báo thời tiết. Chính hoàn cảnh sống đặc biệt cô độc vừa là thử thách của anh nhưng cũng vừa là những vẽ đặc biệt làm sáng lên những phẩm chất tốt đẹp trong anh.</div><div><br></div><div>Qua lời giới thiệu của bác lái xe và những biểu hiện ngạc nhiên, xúc động mạnh mẽ của người họa sĩ già khi lần đầu được gặp gỡ anh thanh niên, ta lại dễ dàng nhận thấy được ở anh một tình yêu nghề sâu đậm và cả tinh thần trách nhiệm cao với công việc của mình. Con người chúng ta khó có thể mà chịu đựng sự lặng yên, không ai bầu bạn dẫu chỉ 1 ngày. Bởi nó như một lưỡi dao đang từ từ tiếp cận trái tim ta. Những khi ta buồn, không ai đến bầu bạn với ta, những lúc ta vui, ta cũng chỉ có một mình không một ai sẻ chia và cho chúng ta những lời ngợi khen. Hay thậm chí là khi ta cô đơn, nỗi cô đơn ấy lại dày vò tâm can ta từng giây, từng phút. Khi ấy, tâm hồn ta chẳng khác gì bị tra tấn và cuộc sống lúc ấy cũng như một địa ngục đầy đau khổ. Thế nhưng dẫu vậy, anh thanh niên lại chấp nhận cuộc sống khắc khổ để gắn bó với công việc dự báo của mình. Dẫu cho bản thân đang ở độ tuổi 27, độ tuổi đẹp nhất của đời người, nhưng anh vẫn chấp nhận thu mình lại trong một căn nhà ba gian nhỏ bé trên đỉnh núi hẻo lánh, lặng lẽ cống hiến âm thầm. Trong một lúc chuyện trò của bác họa sĩ và cô kĩ sư,&nbsp; người thanh niên ấy đã chia sẻ rằng: “Vả, khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được?”.&nbsp; Qua những lời tâm tình ấy, ta lại vô tình nhận ra, đối với anh, anh không coi công việc đầy gian lao của mình là nghĩa vụ mà bản thân phải hoàn thành, mà hơn hết, đó là người bạn thân thiết, gắn bó với anh tại cái khoảng không gian vắng lặng đến đáng sợ của nơi đồi cao, bốn bề cỏ cây. Bên cạnh đó, anh không chỉ yêu mà còn tự hào về công việc dự báo của bản thân dẫu cho nó gây ra cho anh bao khó khăn trong cuộc sống. Trong lúc trò chuyện cùng bác họa sĩ, anh cũng đã chia sẻ: “Huống chi việc của chau gắn liền với công việc của bao anh em, đồng chí dưới kia. Công việc của chau gian khổ thế đấy, cứ cất nó đi cháu buồn đến chết mất”. Anh tự hào và hạnh phúc về công việc của mình bởi anh không chỉ giúp đỡ cho những người nông dân gắt hái được vụ mùa bội thu mà còn giúp cho những anh chiến sĩ đang chiến đấu ngoài kia, góp phần vào chiến thắng vẻ vang của cả dân tộc</div><div><br></div><div>Song song với tình yêu nghề sâu đậm ấy, anh thanh niên còn có ý thức và tinh thần trách nhiệm cao đối với công việc của mình. Sống trên nơi đồi núi yên ắng và vắng lặng, dù cho không có một ai giám sát song anh thanh niên vẫn luôn tự giác, tận tụy với công việc của mình. Khi giới thiệu về công việc của mình, anh đã nói: “Cháu lấy những con số, mỗi ngày báo về “nha” bằng máy bộ đàm bống giờ, mười giờ, bảy giờ tối, lại một giờ sáng. Gian khổ nhất là lần ghi vào một giờ sáng”. Qua lời kể của chính anh thanh niên, ta thấy được công việc dự báo thời tiết không chỉ khiến anh chịu một nỗi cô đơn một mình mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống sinh hoạt của anh. Đặc biệt là khoảng thời gian vào lúc bốn giờ hay lúc một giờ sáng. Rõ ràng đấy là khung giờ mà con người chúng ta đáng lẽ phải được nghỉ ngơi, tận hưởng những giấc ngủ bình yên, ngon lành sau cả ngày làm việc căng thẳng. Thế nhưng còn với anh thanh niên, anh lại phải tạm giác lại cơn “thèm ngủ” của mình mà thức dậy để hoàn thành bản “ốp” gửi về “nhà”. Đặc biệt ở sapa vào buổi đêm, thời tiết lại càng thêm lạnh lẽo, gió rét hơn. “Cái lặng im lúc đó mới thật dễ sợ: nó như bị gió chặt ra từng khúc, mà gij thì giống những nhat chổi lớn muốn quét đi tất cả, ném vứt lung tung… Những lúc im lặng lạnh cóng mà lại hừng hực như cháy”. Xong việc, trở vào thì người thanh niên lại không tài nào chợp mắt được. Tuy công việc có bất tiện, gây hại không ít đến sức khỏe của chàng thanh niên, thế nhưng anh vẫn hoàn thành nó một cách nghiêm túc và có trách nhiệm, luôn luôn đúng giờ và chinh xác đến tận phút. Với anh, hạnh phúc là khi được cống hiến cho nhân dân và đất nước. Người thanh niên ấy đã thực sự tìm thấy niềm vui và hạnh phúc trong cái công việc thầm lặng mà khó khăn ấy giữa chốn núi rừng ảm đạm, lặng yên đến đáng sợ.</div><div><br></div><div>Ngoài ra, người thanh niên ấy còn là biểu tượng của sự khiêm tốn và thành thật. Người con trai khi ở độ tuổi trẻ trung, sung sức như anh thanh niên, họ luôn muốn được thể hiện, chứng tỏ bản thân của mình để được nhiều người biết đến hơn. Thế nhưng bản thân anh thanh niên lại không như vậy. So với những người thanh niên tự cao, kiêu căng trong cuộc sống thì anh thanh niên lại mang một vẻ đẹp khiêm tốn hết sức đáng trân trọng. Khi người họa sĩ già định phát họa lại chân dung của anh, người thanh niên đã e ngại từ chối: “ Không, không, đừng vẽ cháu! Để cháu giới thiệu cho bác những người khác đang cho bac vẽ hơn”. Nào là ông kĩ sự ở vườn rau dưới sapa hay người đồng chí nghiên cứu khoa học ở cơ quan của anh, anh đã gợi ý cho bác họa sĩ những người mà anh cho rằng họ đáng để được bác họa sĩ vẽ hơn là anh. Bản thân người thanh niên ấy cho rằng những đóng góp của mình âu cũng chỉ là những đóng góp nhỏ nhoi, không thể sánh được với những thành quả lớn lao của bao người. Bên cạnh đó anh còn là người thẳng thắn, vô tư và hồn nhiên. Trong suy nghĩ của mình, người họa sĩ cũng như tác giả Nguyễn Thành Long cũng đã nhận xét rằng: “Người con trai nói to những điều đáng lẽ người ta chỉ nghĩ. Cũng là những điều ta ít nghĩ”. Ngoài ra anh còn vô tư trả lại chiếc khăn tay cho cô kĩ sư mà chẳng mảy may nghĩ ngợi gì nhiều. Tất cả những mảnh ghép ấy đã dựng nên một bức phác thảo về người thành niên chân thành mà thẳng thắng, vô tư mà cũng hồn nhiêu đến lạ kì.</div><div><br></div><div>Ở “Lặng lẽ sapa”, ta bắt gặp được hình ảnh người thanh niên giản dị mà cũng mộc mạc, gần gũi. Nguyễn Thành Long đã xây dựng tình huống truyện hợp lí với cách kể truyện tự nhiên, kết hợp giữa tự sự, trữ tình và cả bình luận, tất cả cũng chỉ để khắc họa nên người thanh niên hiền dịu, nhân hậu, khắc họa nên những hoàn cảnh ngặt nghèo đã khiến con người chân thành ấy phải sống trong cô độc, lạnh lẽo, “thèm người” của mảnh đất xứ sapa. Ngoài ra các chi tiết như khung cảnh thiên nhiên đẹp như bức tranh và chất thơ trữ tình như gắn liền với tâm hồn của người thanh niên, chất thơ đi liền với chất họa, qua đó thấy được lối kể truyện tài tình của người nghệ sĩ văn học mang tên Nguyễn Thành Long.</div><div><br></div><div>Qua tác phẩm truyện “Lặng lẽ sapa”, cây but Nguyễn Thành Long đã vẽ nên một bức họa về thiên nhiên trữ tình, thơ mộng của xứ Sapa, cùng với đó là hình ảnh người thanh niên với những vẻ đẹp phẩm chất đáng mến. Tác giả đã không đặt tên cho anh thanh niên nhằm ám chỉ những con người tốt đẹp như anh không chỉ là một cá nhân, mà là số đông trong cuộc sống. Vì công việc mà họ sẵn sàng hi sinh tuổi xuân, cuộc đời và tình cảm gia đình.&nbsp; Cuộc sống của họ lặng lẽ và nhân ái biết bao. Giá như ai trong cuộc sống cũng đều như anh thanh niên, biết quan tâm và sống vì người khác thé ắt cuộc sống đã trở nên tốt đẹp hơn</div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-20 10:44:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2150124486</guid>
      </item>
      <item>
         <title>THẦY THANH</title>
         <author>thanhtran6</author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2156313203</link>
         <description><![CDATA[<div>Thông qua tác phẩm, tác giả cất lên tiếng nói của mình. Thông qua quá trình đọc, người đọc lắng nghe những thông điệp mà tác giả gửi gắm:</div><div>Thông điệp về những giá trị sống tốt đẹp cần gìn giữ ở mỗi người qua đoạn thơ:</div><div><em>Ngửa mặt lên nhìn mặt</em></div><div><em>Có cái gì rưng rưng</em></div><div><em>Như là đồng là bể</em></div><div><em>Như là sông là rừng</em></div><div><em>&nbsp;</em></div><div><em>Trăng cứ tròn vành vạnh</em></div><div><em>Kể chi người vô tình</em></div><div><em>Ánh trăng im phăng phắc</em></div><div><em>Đủ cho ta giật mình.&nbsp;</em></div><div>(Ánh trăng, Nguyễn Duy)</div><div>Thông điệp về những cảm xúc yêu thương dành cho gia đình qua đoạn thơ:</div><div><em>Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa</em></div><div><em>Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ</em></div><div><em>Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm</em></div><div><em>Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm</em></div><div><em>Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi</em></div><div><em>Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui</em></div><div><em>Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ</em></div><div><em>Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!</em></div><div>Thông điệp về khát vọng cống hiến cho xã hội qua đoạn thơ:</div><div><em>Ta làm con chim hót</em></div><div><em>Ta làm một cành hoa</em></div><div><em>Ta nhập vào hoà ca</em></div><div><em>Một nốt trầm xao xuyến.</em></div><div><em>&nbsp;</em></div><div><em>Một mùa xuân nho nhỏ</em></div><div><em>Lặng lẽ dâng cho đời</em></div><div><em>Dù là tuổi hai mươi</em></div><div><em>Dù là khi tóc bạc.</em></div><div><em>Học sinh được chọn 1 trong 2 đề sau:</em></div><div><em>Đề 1</em></div><div><em>Em hãy viết bài văn trình bày cảm nhận về một trong ba thông điệp trên. Từ đó, liên hệ với một tác phẩm khác để làm nổi bật thông điệp mà em chọn.</em></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-25 10:56:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2156313203</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Nhật Khôi</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2156316934</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-25 11:00:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2156316934</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đoàn Minh Yến</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2156317092</link>
         <description><![CDATA[<div>Những năm 1960 là thời điểm đất nước diễn cuộc kháng chiến chống Mỹ vô cùng ác liệt. Hòa vào không khí của thời cuộc, đã có rất nhiều tác phẩm ra đời nói về chiến tranh, cách mạng. Bên cạnh đó, còn có những bài thơ ra đời để củng cố tình yêu thương giữa con người với nhau. Và đó là tình cảm gia đình, là chỗ dựa vững chắc cho những con ra trận, những người con xa phương. “Bếp lửa” là một bài thơ như thế. Nó chứa chan tình thân yêu ruột thịt, những kí ức ấu thơ mà người cháu Bằng Việt nơi xa luôn nhung nhớ về bà. Qua đó còn như một thông điệp đầy xúc cảm và sâu sắc về tình yêu thương gia đình mà tác giả đã truyền tải qua lòng thành kính, niềm biết ơn to lớn mà ông dành cho bà:&nbsp;</div><div>“Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa</div><div>Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ</div><div>Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm</div><div>Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm</div><div>Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi</div><div>Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui</div><div>Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ</div><div>Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!”</div><div>Tác giả Bằng Việt sinh năm 1941, thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành từ kháng chiến chống Mỹ. Thơ ông mang một giọng rất trong trẻo, mượt mà, song vẫn luôn để lại trong tim người đọc những ấn tượng khó phai. “Bếp lửa” - một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông, ra đời vào năm 1963 khi người thi sĩ đang theo học luật tại nước Nga xa xôi. Lạnh giá, cô đơn và nhớ nhà, hình ảnh chiếc bếp lửa nồng đượm và những hoài niệm ấu thơ bên bà hiện ra càng rõ ràng trong nỗi nhung nhớ không nguôi của tác giả. Và rồi từng dòng thơ được viết ra càng chân thực và xao xuyến lòng người .&nbsp;</div><div>	Nếu như những khổ đầu là nỗi xúc động, là những dòng kí ức lấp đầy tâm trí thi nhân về tháng ngày gắn bó với bà “đói mòn đói mỏi” của những năm 1945, về những hồi ức đau thương của chiến tranh, loạn lạc. Thì đến với khổ thứ 6 này, là nỗi thương xót, lòng biết ơn vô tận của người cháu phương xa về sự tần tảo sớm hôm, chịu thương chịu khó của người bà kính yêu:&nbsp;</div><div>“Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa</div><div>Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ</div><div>Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm”</div><div>Ở dòng thơ đầu tiên, qua từ láy “lận đận” đi cùng với hình ảnh ẩn dụ “nắng mưa” đã cho ta thấy cuộc đời của một người bà chẳng mấy êm đềm, hạnh phúc mà luôn phải lam lũ ngày đêm để chăm lo cho gia đình. Thế nhưng dù có trải bao gian truân, vất vả, dù dòng đời có vô thường vạn biến đến đâu thì lòng bà vẫn luôn gìn một nếp sống không bao giờ đổi. Đó là “thói quen dậy sớm” để nhóm lên chiếc bếp hồng nung ấm cả gian nhà. Qua đó, từ hình ảnh người bà, nhà thơ đã tinh tế khắc hoạ nên những đức tính cao đẹp của bao người phụ nữ khác khi ấy. Dẫu hoàn cảnh có khó khăn, túng cùng nhưng họ vẫn sáng lên với một tấm lòng tràn đầy yêu thương và giàu đức hi sinh.Từ đó đã chứng minh cho tình cảm hết sức chân thành, thiêng liêng, sâu nặng mà người cháu Bằng Việt dành cho bà. Cũng như đã làm bật một giá trị thật đẹp giữa tình thân ruột thịt của những người phụ nữ ở nơi hậu phương, người bà người mẹ luôn che chở, săn sóc cho con cháu, gia đình hết lòng dù vẫn phải đấu tranh với thời cuộc.&nbsp;</div><div>Đi tiếp với những suy ngẫm, nỗi cảm xúc đang trào dâng của thi nhân về người bà và chiếc bếp lửa thân yêu:&nbsp;</div><div>“Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm</div><div>Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi</div><div>Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui</div><div>Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ”</div><div>Đến đây, bằng biện pháp nghệ thuật điệp ngữ, từ “nhóm” được nhắc lại bốn qua đó đã thể hiện lên những ý nghĩa sâu sắc ẩn sau hình ảnh chiếc bếp lửa. “Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm”, đấy chính là hành động bén cho lửa cháy lên bập bùng. Một ngọn lửa thật như đang sưởi ấm cả một gian nhà, xua tan đi cái giá lạnh của buổi sương sớm ở miền quê Bắc Bộ. Và không chỉ đơn thuần như thế, nó còn là ngọn lửa từ đôi tay gầy guộc, khẳng khiu của người bà chứa đựng bao thương yêu, ngọt ngào nhóm lên nữa. Để rồi từ hơi nóng ấy đã nấu chín nên biết bao món ăn- thứ nuôi sống cả gia đình. Dù “khoai sắn ngọt bùi” hay ”nồi xôi gạo”, chúng đều là những món ăn đạm bạc, đời thường nhưng luôn hiện hữu trong trái tim nhà thơ lại là những thứ đáng quý vô cùng, nhắc ông về những năm tháng cơ cực khi còn sống bên bà. Và rồi từ đó đã&nbsp; “nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ” trong tác giả và hơn hết là trong mỗi con người Việt Nam khi ấy. Bà đã nhóm lên đã khơi dậy niềm yêu thương tô lớn, những kí ức tuy khó khăn mà đẹp đẽ vô cùng của tuổi thơ. Bà đã truyền đi hơi ấm tình người trong tâm hồn của cháu, là tình đoàn kết, sẻ chia xóm làng, giữa những người “tắt lửa tối đèn có nhau” qua “nồi xôi gạo mới sẻ chung vui” ấy. Và rồi từ tình gia đình, nghĩa láng giềng sâu đậm, gắn bó rộng ra là tình yêu quê hương đất nước.&nbsp;</div><div>Đứng trước những giá trị quá đỗi cao đẹp và thiêng liêng ấy, người cháu Bằng Việt nơi phương xa đã chẳng thể kìm được nỗi xúc động mà phải thốt nên:&nbsp;</div><div>“Ôi kì lạ và thiêng liêng - bếp lửa!”</div><div>	Bằng câu cảm thán với cấu trúc đảo đặc biệt, câu thơ đã thể hiện nên sự ngỡ ngàng, ngạc nhiên của nhà thơ như đã khám phá ra một điều kỳ diệu giữa cuộc đời bình dị này vậy. Bởi hình ảnh chiếc lửa đơn sơ chỉ với mấy cái chân kiềng và vài khóm củi nhưng lại mang cho ta những giá trị, thông điệp&nbsp; về tình thân yêu ruột thịt vô cùng đáng quý. Và trên tất cả đối với tác giả đó còn là một phần kí ức thiêng liêng, sâu nặng không bao giờ phai được. Nó nhắc ông nhớ về cội nguồn, quê hương, tổ quốc, về nơi miền quê chôn nhau cắt rốn mà ông trải qua cả tuổi thơ bên bà.&nbsp; Song chiếc bếp “ấp iu nồng đượm” ấy còn là nơi bắt nguồn cho những yêu thương, những ước mong tốt đẹp nhất mà bà dành cho người cháu thân yêu. Để rồi nó trở thành niềm tin, sức mạnh cho người thi sĩ ở nơi đất khách quê người thêm ý chí, nghị lực để ông dựa vào mà hướng về một tương lai tươi sáng của chính mình và cả của tổ quốc.&nbsp;</div><div>	Đọc qua khổ thứ 6, từng vần thơ như cho ta hoà vào những suy ngẫm về bà và cuộc đời của bà thật xúc động. Tác phẩm đã sử dụng nhuần nhuyễn các phương thức miêu tả, tự sử và bình luận. Song còn được đáng giá cao những sáng tạo của ông về hình ảnh chiếc bếp lửa và bà luôn gắn liền với nhau. Mỗi lần căn bếp ấy xuất hiện là mỗi lần người bà hiện hữu trong tâm trí thi nhân và cả người đọc. Qua đó đã khắc hoạ nên sâu sắc về tình yêu và lòng biết ơn chân thành, sâu nặng mà ông dành cho bà.&nbsp;</div><div>	Và rồi khi nói về tình bà cháu thiêng liêng, ta cũng không thể không nhắc đến tác phẩm “Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh.&nbsp;</div><div>“Tiếng gà trưa</div><div>Mang bao nhiêu hạnh phúc</div><div>Đêm cháu về nằm mơ</div><div>Giấc ngủ hồng sắc trứng.”</div><div>	Nếu như với Bằng Việt là một người cháu xa xứ nhớ về những kỉ niệm ấu thơ bên bà qua hình ảnh chiếc bếp lửa bập bùng trong sương sớm. Thì với “Tiếng gà trưa”, Xuân Quỳnh cũng đã khắc họa nên thứ tình cảm thiêng liêng ấy qua câu chuyện của một người lính trẻ. Khi anh đang trên đường ra trận thì tiếng gà trong trẻo đã đánh thức lên nỗi thương nhớ đầy da diết của anh về bà. Cả hai tác phẩm trên đều đều cho ta thấy một tình thương ruột thịt hết sức to lớn của tình bà cháu. Những bà ấy đều là những người xuất thân nhỏ bé, nghèo khó cùng khổ với chiến tranh nhưng rồi tình yêu thương gia đình mà họ dành nhau đã vượt lên trên cả nghịch cảnh. Để rồi chúng trở thành niềm tin, thành động lực để con cháu dựa vào, vượt qua những gian truân trong cuộc sống mà hết lòng cống hiến cho giang sơn, tổ quốc.&nbsp;</div><div>Gấp lại bài thơ “Bếp Lửa”, Bằng Việt đã thành công vẽ nên một tình cảm gia đình vô cùng sâu sắc qua những suy ngẫm về chiếc bếp lửa và cuộc đời, con người bà. Qua đó ông còn gửi gắm vào đấy là những thông điệp đáng quý của tình thương yêu ruột thịt. Rằng con người khi sinh ra, một lúc nào đó rồi cũng phải rời xa tổ ấm, phải tự bước đi bằng chính đôi chân mình. Đôi khi ta nản lòng, chùn bước, chênh vênh giữa dòng đời bộn bề thì chính những kí ức đẹp đẽ, tình yêu to lớn từ ông bà, bố mẹ sẽ luôn là sức mạnh để ta vượt qua trở ngại và tiến về phía trước.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-25 11:00:17 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2156317092</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2156317277</link>
         <description><![CDATA[<div>Bùi Ngọc Mai Hân </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-25 11:00:28 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2156317277</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lâm Ngọc Cát Vương</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2156317526</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp;Nhà văn tài ba của nước nga, Alexander Pushkin đã từng viết rằng: “Linh hồn là ấn tượng của một tác phẩm. Cây cỏ sống được là nhờ ánh sáng, chim muông sống được là nhờ tiếng ca, một tác phẩm sống được là nhờ tiếng lòng của người cầm bút.” Và nhà thơ Bằng Việt đã cất lên tiếng lòng của mình trong tác phẩm “Bếp lửa” với thông điệp về những cảm xúc dành cho gia đình. Thông qua những hình ảnh về bếp lửa và người bà, nhà thơ như muốn độc giả nhận ra tấm lòng kính yêu, trân trọng và biết ơn của người cháu đối với người bà thân thương. Khi đọc đến khổ thơ 6, ta có thể cảm nhận rõ nét dòng thông điệp mà Bằng Việt muốn gửi gắm.&nbsp;</div><div>&nbsp;“Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa</div><div>Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ</div><div>Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm</div><div>Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm</div><div>Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi</div><div>Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui</div><div>Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ</div><div>Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!”</div><div>&nbsp;Nhà thơ Bằng Việt được sinh ra trên mảnh đất thủ đô Hà Nội và thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành qua cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ông thường viết về những kỉ niệm, ước mơ gần gũi với cảm xúc tinh tế, giọng điệu trầm tĩnh, sâu lắng, giàu chất suy tư, triết luận.</div><div>&nbsp;Bài thơ “Bếp lửa” được sáng tác vào năm 1963, đó là khi mà tác giả đang học ngành Luật ở nước ngoài. Bao trùm cả bài thơ đó là những kỉ niệm về bà và tình bà cháu sâu sắc, cảm động. Thông qua khổ thơ thứ sáu, bức tranh về những suy ngẫm của tác giả về bà và bếp lửa đã hiện lên rõ nét qua từng dòng chữ.</div><div>&nbsp;Những khổ thơ đầu, tác giả đã sử dụng “bếp lửa” làm hình ảnh khơi nguồn cho dòng hồi tưởng cảm xúc về bà, đó là những kỷ niệm tuổi ấu thơ được sống bên bà và trò chuyện cùng bà. Sau những mảnh ghép kí ức tuổi thơ ấu được sống cùng bà, mạch cảm xúc trong người cháu như dâng trào và tiếp tục suy ngẫm, chiêm nghiệm về cuộc đời của bà qua hình ảnh bếp lửa. Hình ảnh người bà luôn được gắn liền với hình ảnh bếp lửa, ngọn lửa. Bà không chỉ là người tiếp lửa, truyền lửa cho người cháu nhỏ bé. Bà còn là đã luôn giữ ngọn lửa ấy ấm nóng và tỏa sáng rực rỡ. Để rồi mỗi khi trong tâm trí thoáng nhớ đến bà thì người cháu lại vô cùng cảm phục và biết ơn những tháng ngày mà bà đã khổ cực:</div><div>“Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa</div><div>Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ</div><div>Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm”</div><div>&nbsp;Mở đầu dòng thơ, tác giả sử dụng cụm từ chỉ thời gian “đời bà”, “mấy chục năm rồi” gắn liền với từ lý tượng hình “lận đận” và hình ảnh ẩn dụ “nắng mưa” đã khắc họa một cách sâu sắc, trọn vẹn về cuộc đời đầu những lận đận, gian truân, vất vả của bà. Bên cạnh đó cũng tô điểm cho những phẩm chất thiêng liêng, cao quý của người bà đó chính là tần tảo, giàu đức hi sinh, giàu lòng nhân ái. Khi thời gian trôi qua và vạn vật đều chuyển mình đổi thay, thì chỉ duy nhất một sự bất biến đó chính là “thói quen dậy sớm” của bà. Suốt cả một đời lận đận, vất vả, bà dường như không thể quên đi được và luôn giữ cho mình “thói quen dậy sớm” để làm công việc nhóm lửa, nhóm lên niềm tin, tình yêu thương cho cháu. Qua từng dòng chữ, ta có thể cảm nhận rõ nét tình yêu thương to lớn mà tác giả dành cho bà. Đó là một tình cảm giản dị, chân thành mà thật sâu nặng thiết tha.&nbsp;</div><div>&nbsp; Bà không chỉ thắp lên ngọn lửa bằng đôi tay khẳng khiu, gầy guộc, mà còn bằng tất cả tấm lòng đôn hậu đối với con cháu:</div><div>“Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm</div><div>Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi</div><div>Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui</div><div>Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ”</div><div>&nbsp;Tác giả sử dụng phép điệp ngữ với động từ “nhóm” được lặp đi lặp lại bốn lần ở đầu dòng thơ, liên kết cùng những chi tiết tả thực đã gợi đến cho ta bao liên tưởng mới lạ cùng các tầng ý nghĩa độc đáo, sâu sắc. “Nhóm bếp lửa” và “nhóm nồi xôi gạo” là hình ảnh tả thực cho công việc của bà. “Nhóm niềm yêu thương”, “nhóm dậy cả những tâm tình” chính là hình ảnh ẩn dụ về công việc thiêng liêng và cao quý nhất của con người. Bà chính là người đã nhóm lên ngọn lửa của tình yêu thương và đức hi sinh cao quý trong lòng cháu. Khi bà nhóm bếp lửa “ấp iu nồng đượm”, bà đã dạy cho cháu biết yêu thương là gì, sự liên kết gắn bó với những người xung quanh là như thế nào. Nhóm “nồi xôi gạo mới sẻ chung vui” đã khắc họa tình làng xóm láng giềng vô cùng gần gũi, thân thương. Tình quê “khoai sắn ngọt bùi” chính là tình yêu thương làng xóm, mảnh đất quê hương nơi mà ta đã cất tiếng khóc chào đời. Bà đã khơi dậy, nuôi dưỡng nên tâm hồn của cháu và những người xung quanh niềm yêu thương, sự chia sẻ. Trong những dòng suy ngẫm về bà và bếp lửa, mạch cảm xúc của nhà thơ như dâng trào và đạt đỉnh điểm. Khổ thơ chính là sự tổng kết để ngợi ca và khẳng định những phẩm chất cao quý của người bà. Bà chính là người phụ nữ tần tảo, giàu đức hi sinh, luôn chăm lo, quan tâm đến mọi người xung quanh.&nbsp;</div><div>&nbsp;Khi đắm chìm trong những dòng hồi ức, suy ngẫm về bà và bếp lửa, những câu thơ dạt dào, lan tỏa như lửa ấm như thể đó chính là cảm xúc dâng trào trong trái tim người thi sĩ khiến Bằng Việt phải thốt lên:</div><div>“Ôi kì lạ và thiêng liêng-bếp lửa!”</div><div>&nbsp;Dòng thơ dù chỉ vỏn vẹn có tám chữ nhưng mang trong mình bao ý nghĩa về suy nghĩ và tình cảm mà tác giả dành cho bếp lửa gắn liền cùng với người bà của mình. Mở đầu dòng thơ tác giả sử dụng từ cảm thán “ôi” kết hợp với nghệ thuật đảo ngữ thể hiện sự ngạc nhiên, ngỡ ngàng, bất ngờ như vừa phát hiện ra một chân lý mới, một điều kì diệu tưởng chừng như không tồn tại. Đó chính là sự hòa hợp giữa bếp lửa và bà. Cả hai như hòa vào làm một và chạy rực trong trái tim của cháu. Bà là người giữa lửa, nhóm lửa, truyền lửa, thắp sáng tuổi thơ của cháu với bao kỉ niệm tuyệt đẹp. Có lẽ vì thế mà bà và bếp lửa đã trở thành một mảnh tâm hồn không thể thiếu trong trái tim của nhà thơ.</div><div>&nbsp; Thông qua khổ thơ thứ 6 trong tác phẩm “Bếp lửa” của Bằng Việt, ta đã có thể nhận ra tình yêu thương to lớn mà nhà thơ dành cho bà và những dòng suy ngẫm đầy sâu sắc về công việc nhóm lửa và hình ảnh bếp lửa bập bùng. Bài thơ được viết theo thể thơ tự do, phù hợp với giọng điệu tha thiết, tình cảm xúc động bồi hồi, suy tưởng, kết hợp nhuần nhuyễn giữa biểu cảm với miêu tả, tự sự và nghị luận cùng hình ảnh bếp lửa vừa cụ thể vừa gần gũi, vừa giàu cảm xúc mang đến ý nghĩa biểu tượng. Tác giả còn kết hợp phép điệp ngữ với nhiều chi tiết phong phú đã gợi ra trong tâm trí độc giả bao liên tưởng thú vị và độc đáo về công việc của người bà.&nbsp;</div><div>&nbsp; &nbsp;Tình cảm gia đình là một chủ đế vô cùng ý nghĩa, độc đáo đã thu hút bao hồn thơ. Trong tác phẩm “Tiếng gà trưa”, Xuân Quỳnh cũng khắc họa tình cảm bà cháu vô cùng thân thương:</div><div>“Tiếng gà trưa</div><div>Mang bao nhiêu hạnh phúc</div><div>Đêm cháu về nằm mơ</div><div>Giấc ngủ hồng sắc trứng.”</div><div>&nbsp; Cả hai bài thơ đều khắc họa tình cảm gia đình thắm thiết, tình bà cháu ấm áp thiêng liêng. Cội nguồn của thứ tình cảm thiêng liêng ấy đều bắt nguồn từ những sự vật bình dị, thân thương. Trong tác phẩm “Tiếng gà trưa”, dòng cảm xúc của người cháu về bà được gợi ra khi nghe thấy âm thanh trong trẻo của tiếng gà trưa, còn Bằng Việt đã khắc họa tình cảm ấy bằng hình ảnh bếp lửa bập bùng. Trong bài thơ “Tiếng gà trưa”, ta bắt gặp nỗi nhớ bà da diệt ùa về trong tâm trí người cháu khi đang đi trên đường hành quân. Người bà kính yêu trong tác phẩm là một người nông dân nghèo khó. Dù điều kiện sống vô cùng khó khăn, thế nhưng sự chắt chiu, yêu thương, giàu đức hi sinh vẫn cháy bỏng trong lòng bà. Người cháu cũng rất yêu thương, kính trọng và giữ trong mình tình mến thương da diết về bà, về quê hương và về hậu phương. Chính nhờ tình cảm tươi đẹp ấy đã thôi thúc tinh thần chiến đấu mạnh mẽ, kiên cường nơi biên giới để có thể nhanh chóng quay về với bà.&nbsp; Cả hai nhà thơ lớn đều sử dụng tình cảm gia đình, tình yêu những sự vật giản đơn ấy để khẳng định tình yêu quê hương đất nước sâu sắc trong lòng mỗi người dân Việt Nam.&nbsp;</div><div>&nbsp; Thông qua bài thơ “Bếp lửa”, Bằng Việt muốn gửi gắm đến độc giả những tình cảm thiêng liêng mà gia đình dành cho nhau qua hình ảnh người bà vô cùng thân thương. Khổ thơ đã gieo vào lòng độc giả những rung động man mác, nhẹ nhàng đầy sâu lắng. Bà chính là ngôi sao đã thắp sáng những mảnh kí ức tuổi thơ của người cháu. Những tháng ngày dù vất vả nhưng bà chính là người nhóm lửa, giữ lửa và truyền lửa để cháu có thể vững tin vào hành trình trong tương lai của mình. Qua những dòng thơ đầy sâu sắc em cảm thấy nghẹn ngào về sự hy sinh to lớn của bà và cũng ngưỡng mộ ngọn lửa sáng rực cháy bỏng mà bà đã chuyển cho bao thế hệ.&nbsp;<br>Đề 2:<br>&nbsp; Mùa xuân chính là sự khởi đầu của một năm mới, đó là khi mà không khí khắp nơi đều rộn rã, nhộn nhịp và vạn vực đều tưng bừng thức tỉnh để đón chào một năm mới. Mùa xuân cũng chính là thời điểm mà sự nhạy cảm của hồn tạo vật thách thức sự nhạy cảm của hồn thơ. Dường như mùa xuân đã trở thành đề tài thu hút các hồn thơ, buộc họ phải viết nên những vần thơ tuyệt sắc. Tác phẩm “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải đã nhẹ nhàng đi vào lòng độc giả và để lại bao ấn tượng sâu sắc. Thông qua khổ 4,5 của bài thơ, độc giả đã có thể cảm nhận những ước mơ và khát vọng cống hiến cháy bóng của nhà thơ.</div><div>“Ta làm con chim hót</div><div>Ta làm một cành hoa</div><div>Ta nhập vào hòa ca</div><div>Một nốt trầm xao xuyến</div><div><br></div><div>Một mùa xuân nho nhỏ</div><div>Lặng lẽ dâng cho đời</div><div>Dù là tuổi hai mươi</div><div>Dù là khi tóc bạc.”</div><div>Nhà thơ Thanh Hải được sinh ra trên mảnh đất thấm nhuần văn hóa Việt Nam, đó là Thừa Thiên-Huế. Ông là nhà&nbsp; thơ trưởng thành qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước. Đồng thời là một cây bút có công xây dựng nền văn học ở miền Nam từ những ngày đầu. Khi cầm bút, các tác giả của ông thường hướng về đài tài ca ngợi tình yêu quê hương đất nước, sự hy sinh anh dũng của các đồng bào nhân dân miền Nam và niềm tin vững chắc vào ngày chiến thắng của cách mạng Việt Nam. Thơ Thanh Hải có ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhạc điệu, cảm xúc chân thành, đằm thắm.&nbsp;</div><div>&nbsp; Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” được sáng tác vào tháng 11 năm 1980, không bao lâu trước khi nhà thơ qua đời. Đây là thời điểm Thanh Hải đang bệnh năng và cũng là khi làn gió se lạnh của mùa đông đang dần bước chân vào mảnh đất quê hương. Bài thơ là những dòng chữ cuối cùng mà tác giả muốn để lại cho đời, nó như một lời tâm niệm chân thành, lời gửi gắm tha thiết về niềm yêu mến cuộc sống, đất nước và ước nguyện của tác giả. “Mùa xuân nho nhỏ” là bức tranh thiên nhiên về mùa xuân của tự nhiên, của đất nước và là mùa xuân tươi đẹp trong trái tim của mỗi con người. Thông qua khổ thơ 4, 5, tác giả đã gửi những suy nghĩ, khát vọng của mình trước mùa xuân đất nước.</div><div>&nbsp;Trong sắc xuân đang tưng bừng nở rộ đầy sức sống, cảm xúc rung động, hãnh diện trong tác giả càng dâng trào. Đó là mùa xuân của lòng người, mùa xuân của sức sống tuổi trẻ và mùa xuân của cống hiến và hy sinh.</div><div>&nbsp;Đứng trước khung cảnh nhộn nhịp, rạo rực của mùa xuân, tâm hồn tác giả chỉ có một nguyện ước đơn sơ, bình dị mà lại thật tha thiết, cảm động:</div><div>“Ta làm con chim hót</div><div>Ta làm một cành hoa</div><div>Ta nhập vào hòa ca</div><div>Một nốt trầm xao xuyến.”</div><div>Mở đầu dòng thơ, tác giả đã sử dụng đại từ “ta”, chuyển từ cái nhỏ bé riêng tư “tôi”, thành cái “ta” chung của đất nước, hòa nhịp chung cùng mọi người. Với phép điệp ngữ “ta”, Thanh Hải đã thể hiện trọn vẹn những ước nguyện cao đẹp, khát vọng được cống hiến sức mình vào cuộc đời, vào mùa xuân của đất nước. Qua những hình ảnh “con chim”, “cành hoa”, “nốt trầm” đã thể hiện được ước nguyện đóng góp một phần dù bé nhỏ nhưng lại có ích cho đời. Trong muôn ngàn điều ước, tác giả chỉ ước làm một tiếng chim trong muôn ngàn giọng hót để gọi xuân về, một bông hoa trong muôn triệu đóa hoa để tô điểm cho mùa xuân. Những ước muốn giản dị để thành những vật nhỏ bé, nhưng chính những vật nhỏ bé này lại góp phần quan trọng để vẽ nên bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp. Bên cạnh đó, tác giả còn muốn làm một nốt trầm trong bản hòa ca êm ái. Chỉ là một nốt trầm kín đáo, khiêm nhường chứ không phải là một nốt thanh thánh thót, nổi trội. Lẫn vào trong bản hòa ca, khó nghe và nhận ra nhưng nốt trầm khiêm nhường ấy đã góp phần tạo nên cái hay của bản nhạc.Tác giả muốn làm một nốt trầm nhưng là nốt trầm xao xuyến, có sức ngân vang, một nốt trầm có ích cho đời. Từ những hình ảnh hết sức giản dị, nhỏ bé nhưng đã cho thấy ước nguyện khiêm nhường mà cao quý của Thanh Hải. Cống hiến cho đời, cho đất nước chính là một lẽ sống tốt đẹp mà Thanh Hải luôn theo đuổi. Ở khổ thơ này, giọng thơ nhỏ nhẹ, chân thành mà lại đằm thắm, lắng đọng, thiếu tha sâu sắc, để lại trong tâm trí độc giả những ấn tượng mạnh mẽ.&nbsp;</div><div>Khổ thơ thứ năm chính là tiếng lòng cao cả của nhà thơ, tâm hồn tác giả đang khẩn trương, thôi thúc trước ước nguyện cống hiến, thế nhưng Thanh Hải chỉ mong có thể lặng lẽ, dâng sắc xuân của mình cho mùa xuân của đất nước:</div><div>“Một mùa xuân nho nhỏ</div><div>Lặng lẽ dâng cho đời</div><div>Dù là tuổi hai mươi</div><div>Dù là khi tóc bạc.”</div><div>Mở đầu dòng thơ, tác giả đã điệp lại một lần nữa “mùa xuân nho nhỏ” để thể hiện ước mơ, nguyện ước sẽ được làm việc và hi sinh vì đất nước trong sự lặng lẽ, khiêm tốn. Đó là ý thích, mong ước tốt đẹp của Thanh Hải và cũng đồng thời là tấm lòng chân tình của tác giả. “Mùa xuân nho nhỏ” chính là tuổi xuân, tuổi trẻ, khi ta còn căng tràn nhiệt huyết, sức lực và mang trong mình bao hoài bão, khát vọng của tuổi thanh xuân. “Lặng lẽ dâng cho đời” đã khẳng định rõ nét tính khiêm tốn trong tâm hồn tác giả. Tấm lòng của tác giả luôn hướng tới sự cống hiến tốt đẹp, mong rằng có thể góp một phần sắc xuân nho nhỏ để vẽ nên bầu trời mùa xuân của đất trời rộng lớn. Tác giả chỉ muốn âm thầm dâng hiến, chẳng phô trương, khoe khoang, kêu ca mà chỉ lặng lẽ dâng cho tương lai của đất nước, tổ quốc. Thanh Hải đã sử dụng phép điệp ngữ “dù là” như một lời hứa, lời tự nhủ với chính mình sẽ mãi mãi cống hiến mùa xuân nhỏ bé vào mùa xuân rộng lớn của quê hương dù cho hoàn cảnh có ra sao. Mặc cho những biến chuyển của thời gian, những quy luật của tự nhiên, khi vạn vật đều trở mình đổi thay thì tấm lòng, ước nguyện của tác giả vẫn trường tồn mãi mãi. “Tuổi hai mươi” chính là tuổi trẻ, khi ta còn khỏe mạnh, căng tràn sức sống và nhiệt huyết. Thời gian trôi qua, khi mái tóc đã bạc dần và trở mình qua tuổi trung niên, khát vọng được sống, được cống hiến của tác giả đã trở thành một điều bất diệt trong tâm hồn. Dù cho thời gian trôi qua lấy đi bao sức lực, nhiệt huyết thì khát vọng cống hiến của tác giả vẫn tồn tại vĩnh hằng và trở thành một ngôi sao sáng giữa bầu trời đêm. Khổ thơ như một lời nhắn nhủ, một lẽ sống. Sống là để cống hiến. Đồng thời khổ thơ cũng là một sự tổng kết, chiêm nghiệm từ chính cuộc đời đã cố gắng không biết mệt mỏi từ tuổi hai mươi căng tràn nhiệt huyết đến khi phải nằm trên giường bệnh của nhà thơ. Đoạn thơ được tác giả bỏ trống cách xưng hô nhưng điều đó lại như mở rộng tới mọi người, lay động người đọc cùng chung ý nghĩ. Cả hai tác phẩm đều khắc họa ước nguyện được cống hiến trong thầm lặng, không kêu ca, khoa khang mà chỉ lặng lẽ góp sức mình vào trong công cuộc xây dựng Tổ quốc.</div><div>&nbsp;Trong tác phẩm “Mùa xuân nho nhỏ”, khổ thơ 4 và 5 chính là kết tinh rực rỡ của sức sống mãnh liệt và tình yêu tha thiết của người nghệ sĩ một lòng muốn góp trọn sắc xuân của mình cho cuộc đời và đất nước. Tác giả Thanh Hải đã sử dụng thể thơ 5 chữ gần với các điệu dân ca, đặc biệt là dân ca miền Trung, có âm hưởng nhẹ nhàng, tha thiết. Đồng thời sử dụng cách gieo vần liền giữa các khổ thơ tạo sự liền mạch trong dòng cảm xúc. Nhà thơ kết hợp những hình ảnh tự nhiên giản dị từ thiên nhiên với những hình ảnh mang giá trị biểu tượng. Điểm nhấn đặc sắc trong nghệ thuật của bài thơ đó là những hình ảnh biểu trưng được phát triển từ những hình ảnh thực, tạo nên sự lặp lại mà nâng cao, đổi mới của hệ thống hình ảnh. Cấu tứ thơ chặt chẽ, dựa trên sự phát triển của hình ảnh mùa xuân theo bậc thang tăng dần từ mùa xuân đất trời sang mùa xuân của đất nước đến mùa xuân trong trái tim của mỗi con người. Giọng điệu bài thơ thể hiện đúng tâm trạng, cảm xúc của tác giả và cũng có sự biến đổi phù hợp với nội dung từng đoạn.&nbsp;</div><div>&nbsp; Khi nói đến ước nguyện được cống hiến vì Tổ quốc, tác giả Nguyễn Thành Long cũng viết về đề tài này qua hình ảnh anh thanh niên trong tác phẩm “Lặng lẽ Sa Pa”. Trong câu chuyện này, anh thanh niên là một nhân vật hai mươi bảy tuổi, sống và làm việc một mình trên đỉnh Yên Sơn cao 2600m quanh năm chỉ có mây mù bao phủ. Công việc chính của anh là công tác khí tượng kiêm vật lý địa cầu, hằng ngày anh luôn âm thầm, lặng lẽ đo đạc để dự báo thời tiết phục vụ sản xuất, chiến đấu. Dù anh đang làm một công việc vô cùng quan trọng góp phần xây dựng đất nước, thế nhưng vẫn luôn khiêm nhường, từ chối những ngợi khen của ông họa sĩ. Anh thanh niên là tấm gương sáng đã luôn âm thầm làm việc, cống hiện cho sự đổi thay của đất nước mà không màng danh lợi. Cũng giống như ước nguyện của nhà thơ Thanh Hải, chỉ muốn lặng lẽ dâng cho đời những điều tuy nhỏ bé nhưng lại vô cùng có ích và ý nghĩa.&nbsp;</div><div>&nbsp; Trong tác phẩm “Mùa xuân nho nhỏ”, Thanh Hải đã khắc họa thành công bức tranh thiên nhiên của tự nhiên, đất nước và giờ đây chính là mùa xuân trong trái tim của mỗi con người. Những ước nguyện cống hiến dù nhỏ bé nhưng lại trở thành một phần của bầu trời mùa xuân đất nước. Mặc cho hoàn cảnh có thay đổi, thời gian đem đến những đổi thay thì khát vọng cống hiến của tác giả vẫn trường tồn mãi mãi khiến em vô cùng cảm mến và tự hào.</div><div><br><br><br></div><div>&nbsp;</div><div><br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-25 11:00:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2156317526</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Bùi Phương Linh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2156317584</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-25 11:00:48 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2156317584</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Hoàng Anh Tú </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2156318351</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-25 11:01:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2156318351</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Quỳnh Anh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2156318511</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1415280189/f1b7698c0d7af97e29a2c55d60ff70c5/thong_diep_bep_lua.pdf" />
         <pubDate>2022-04-25 11:01:47 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2156318511</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Minh Khang</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2156321140</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-04-25 11:04:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2156321140</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Mở bài</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2873366377</link>
         <description><![CDATA[<p>Nếu mùa xuân là mùa hội tụ của những bàn tay nghệ sĩ tài hoa thì mùa thu bước vào thơ ca cũng tự nhiên và gần <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="http://g%C5%A9i.Th">gũi.Th</a>ơ về bức tranh thiên nhiên được nhiều nhà thơ sáng tác:Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải,Cảnh ngày xuân của Nguyễn Du,...Và không thể không nhắc đến bài thơ Sang Thu của Hữu Thỉnh. Chỉ hai khổ thơ đầu,Hữu Thỉnh đã khắc họa lên được một bức tranh thiên nhiên: "Bỗng nhận ra hương ổi...Vắt nửa mình sang thu."</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-02-05 10:51:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2873366377</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2873383037</link>
         <description><![CDATA[<p>Nhắc đến nhà thơ Hữu Thỉnh,ta biết ông là cây bút tiêu biểu của nền thơ ca hiện đại Việt Nam.Ông viết nhiều về con người, về cuộc sống nông thôn, đặc biệt là mùa thu với một giọng thơ ấm áp tình người và giàu sức gợi cảm.Bài thơ "Sang Thu" của Hữu Thỉnh được sáng tác vào năm 1977,in trong tập"Từ chiến hào đến thành phố".</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-02-05 11:07:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2873383037</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thân bài</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2873420868</link>
         <description><![CDATA[<p>Thiên nhiên được cảm nhận từ những gì vô hình,mờ ảo, nhỏ hẹp và gần, đó là những cảm nhận riêng của bài thơ.</p><p>        Bỗng nhận ra hương ổi</p><p>         Phả vào trong gió se</p><p>Từ "bỗng" như một tiếng kêu vang thích thú,diễn tả một tráng thái ngạc nhiên,ngỡ ngàng về một khoảng khắc của mùa thu.Nhà thơ cảm nhận mùa thu đã về từ mùi hương ổi chín,một mùi hương quên thuộc của người dân vùng nông thôn Bắc Bộ.Mùi ổi chín "Phả vào trong gió se" đem đến hương vị dịu ngọt,đằm thắm của mùa thu khiến cho nhà thơ ngạc nhiên đến ngỡ ngàng,bâng khuâng trước sự thay đổi của thiên nhiên.Từ "Phả" là động từ mạnh diễn tả mùi hương ổi thơm nồng nàn lan tỏa. Đằng sau hương ổi là "gió se"."Gió se" là làn gió lành lạnh,đặc trưng của mùa thu miền Bắc.</p><p>        Sương chùng chình qua ngõ</p><p>         Hình như thu đã về</p><p>"Sương chùng chình" như cố ý chậm chạp, như chờ đợi ai đó.Từ láy"chùng chình" kết hợp với phép tu từ nhân hóa để diễn tả sự lưu luyến tiếc nuối chưa muốn chia tay mùa hạ để bước sang thu.. Bởi thế “ngõ” vừa là con ngõ thực, nơi mọi người qua lại vừa là con ngõ ảo, cửa ngõ thời gian. Nhà thơ đã thổi hồn vào câu thơ khiến cho màn sương thu chứa đầy tâm trạng giống như người đi còn vương vấn ngập ngừng khi qua ngõ nhà ai. Cảnh vật cứ chậm rãi như thế, mềm mại như thế và thu đến tự lúc nào không hay.Và trong khoảnh khắc ấy nhà thơ giật mình bối " Hình như thu đã về". Thu về từ hương ổi, từ gió hay từ sương có gì đó thật mơ hồ, chưa rõ nét. Trước phút giây giao mùa của thiên nhiên ấy, nhìn thấy rồi, cảm thấy rồi mà vẫn sững sờ khó tin. Do đó câu thơ cuối còn như một lời thầm hỏi lại mình để có một sự khẳng định. Hóa ra bức tranh sang thu kia không phải cảm nhận bằng giác quan mà bằng cả tâm hồn nữa. Một tâm hồn bâng khuâng trước thoáng đi bất chợt của mùa thu.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-02-05 11:46:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2873420868</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2877406626</link>
         <description><![CDATA[<p>Đọc khổ thơ, ta thấy thiên nhiên lúc sang thu được nhà thơ phát hiện bằng những hình ảnh quen thuộc làm nên một bức tranh mùa thu đẹp đẽ và trong sáng.</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Sông được lúc dềnh dàng</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Chim bắt đầu vội vã</p><p>Sự vận động của thiên nhiên trong thời khắc giao mùa được cụ thể hóa bằng những thay đổi của vạn vật. Từ láy "dềnh dàng" đã nhân hóa dòng sông khiến ta có cảm giác con sông mùa thu như nghỉ ngơi thong thả. Đối lập với hình ảnh con sông là hình ảnh đàn chim. Khi thu sang, bầu trời se lạnh, những đàn chim vội vã bay về Phương Nam tránh rét. Từ "bắt đầu" trong câu thơ được dùng rất độc đáo. Phải tinh tế lắm, phải yêu và gần gũi với thiên nhiên lắm tác giả mới nhận ra được cái bắt đầu trong những cánh chim bay.</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Có đám mây mùa hạ</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Vắt nửa mình sang thu</p><p>Ta thấy bức tranh lúc giao mùa không có trời thu xanh ngắt,không tĩnh lặng như thu xưa mà là bức tranh thu với những nét chuyển động dềnh dàng,vội vã với đám mây không bồng bềnh mà "Vắt nửa mình sang thu". Đó chính là hình ảnh nhân hóa được vẽ lên từ trí tưởng tượng phong phú của nhà thơ. Mùa hạ, mùa thu là hai đầu bến. Đám mây như kéo dài vắt lên, đặt ngang bầu trời. Cái hay ở hình ảnh này còn ở cái nhìn đầy sáng tạo của nhà thơ khi đã lấy không gian để miêu tả thời gian. Vì vậy đám mây sống động hơn, hình ảnh hơn, cảm xúc thị giác được nhiều hơn, tạo nên một nét duyên&nbsp; riêng cho “Sang thu".</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Với ngôn từ bình dị, giọng thơ ngọt ngào, giàu cảm xúc, hình ảnh thơ tự nhiên, không chau chuốt mà giàu sức gợi cảm, cùng việc sử dụng thành công biện pháp tu từ đối lập, nhân hóa độc đáo, những từ láy biểu cảm… khổ thơ đã diễn tả mùa thu hiện ra ngày càng rõ hơn và lan tỏa ở một chiều không gian cao, rộng hơn thật hay, thật ấn tượng.</p><p>&nbsp;&nbsp; &nbsp;Có thể nói<strong> </strong>“Sang thu ” của Hữu Thỉnh là một bài thơ hay viết về đề tài mùa thu đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Hữu Thỉnh đã góp một bài thơ hay về mùa thu trong nền thơ ca dân tộc. Đọc bài thơ "Sang thu" chúng ta cảm nhận sâu sắc hơn về vẻ đẹp của mùa thu quê hương, làm sâu sắc hơn tình cảm của ta đối với quê hương, với mùa thu của đất nước, mùa thu của dân tộc. Chắc hẳn ,sức lan tỏa của bài thơ sẽ để lại những dư âm ngọt ngào trong lòng bạn đọc bao thế hệ.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-02-08 02:38:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/thanhtran6/a73barb8t41gjto4/wish/2877406626</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
