<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title>nhóm 2 - 10CA3 (padlet 1) by 10CA3-19- Trương Uyên Hồng Phúc</title>
      <link>https://padlet.com/truonguyenhongphuc/92w2yzc9edhbyids</link>
      <description>Hãy trình bày những đặc điểm nổi bật về nghệ thuật của ca dao, có 1 - 2 ví dụ minh họa cho mỗi đặc điểm.</description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2021-11-11 09:04:01 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2025-12-23 16:42:15 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url>https://nhipsongquehuong.com/datafiles/setone/15497980232302_luachincuoidau.jpg</url>
      </image>
      <item>
         <title>Sử dụng ngôn ngữ dân tộc, bình dân</title>
         <author>truonguyenhongphuc</author>
         <link>https://padlet.com/truonguyenhongphuc/92w2yzc9edhbyids/wish/1884546806</link>
         <description><![CDATA[<ul><li><strong><mark>1/ Sự giản dị, bình dân, gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày</mark></strong></li></ul><div><br></div><div>Ngôn ngữ đặc trưng trong ca dao là ngôn ngữ bình dân giản dị nhưng được sử dụng theo phương thức trữ tình của dân ca, mang tính chất nghệ thuật hóa và có sắc thái riêng biệt. Vẻ đẹp ngôn từ trong ca dao thật sinh động và ẩn chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc. Có vẻ đó là lý do khiến nhà phê bình văn học Hoài Thanh từng nhận định: “Lời thơ dân gian không những sẽ bước đầu cho ta làm quen với tâm tư tình cảm của đồng bào ta xưa mà đồng thời sẽ còn giúp ta học được những cách nói năng tài tình chính xác.”<br>&nbsp;</div><div>Để có thể phân tích và hiểu sâu về ca dao, chúng ta phải nắm bắt được ý, tứ, sự, tình trong đó. Ví dụ như:<br><br></div><div><em>“Khi đi bóng hãy còn dài</em></div><div><em>Giờ về bóng đã nghe ai bóng tròn?”<br></em><br></div><div>Từ <em>“dài”, “tròn”, “bóng”</em> đều là những từ rất đỗi thân thuộc nhưng lại ẩn chứa hàm ý sâu xa. <em>“Bóng”</em> ở đây chính là người yêu, là chàng trai hay cô gái. <em>“Dài”</em> ở đây là tình cảm của người yêu thuở ban đầu, thứ tình cảm vẫn còn vẹn nguyên, mặn nồng. Vậy mà khi về, <em>“bóng”</em> đã trở thành <em>“bóng tròn”</em>, tình cảm ấy giờ đây đã thay đổi theo năm tháng, đã nhạt phai theo thời gian. Những ngôn từ tuy bình dị, giản đơn, những ám chỉ sự thay lòng đổi dạ của người yêu, khiến câu ca dao nghe như một lời trách cứ thầm kín về sự đổi thay của con người.</div><div><br></div><ul><li><strong><mark>2/ Tính địa phương (dùng các từ ngữ địa phương)</mark></strong></li></ul><div><br>Ca dao từ lâu đã là một phần quan trọng của dòng văn học truyền khẩu, mà nhắc đến đặc tính truyền miệng này, chúng ta không thể không nhắc đến phương ngữ. Ngôn ngữ địa phương hay còn gọi là phương ngữ, là hình thức ngôn từ đặc sắc, thể hiện rõ nhất văn hóa và bản sắc của đời sống con người ở mỗi vùng miền. Phương ngữ dùng trong ca dao không chỉ tạo nên nét đẹp truyền thống mà còn dễ đi sâu vào lòng những con người đã lớn lên nhờ những câu từ của địa phương. Không dừng lại ở đó, phương ngữ trong tiếng hát dân ca đã hút hồn biết bao con người, dù hiểu hay không, chúng ta đều cảm thấy như gắn kết hơn nhờ ngôn ngữ địa phương mình sinh sống. <br><br>Để tỏ tường cho quan điểm này, chúng ta cùng điểm qua một số đoạn ca dao có sử dụng loại hình nghệ thuật phương ngữ :<br><br><em>" Có trai có gái mới bui</em></div><div><em>Có trai khung gái như trâu cui lọi sừng "</em><br><br></div><div>Ở câu trên, các từ ngữ địa phương được đề cập là <em>"bui"</em> (vui), <em>"khung"</em> (không), <em>"trâu cui"</em> ( trâu sừng ngắn ), <em>"lọi"</em> (gãy). Với cấu trúc so sánh tương hỗ bổ sung vô cùng độc đáo, câu ca dao thể hiện quan niệm cân bằng giữa số lượng trai và gái là hòa hợp nhất, nếu thiếu đi một trong hai sẽ trơ trọi, đi ngược lại tự nhiên. Ngoài ra, yếu tố từ ngữ địa phương khiến câu ca dao đằm thắm và gần gũi hơn biết bao. Dù không sinh ở đất Quảng, ta cũng cảm nhận được sự chân thành và ấm áp trong câu nói.<br><br></div><div>Ca dao còn là lời nói tâm tình lứa đôi khi thời xưa quan niệm trai gái hà khắc không dễ gì mà đến gần nhau. Các cô gái có thể mượn lối nghệ thuật ca dao để bày tỏ lòng mình mà không quá phô trương, các chàng trai cũng có thể dùng lối đối đáp này để hỏi cưới cô gái. Bài ca dao sau đây là ví dụ điển hình:<br><br></div><div><em>" Chuột kêu chút chít trung rương</em></div><div><em>Eng đi chù khéo đụng chờng mạ nghe! "<br></em><br></div><div>Dễ dàng nhìn thấy được các từ ngữ địa phương dùng trong đây là : <em>"trung"</em> (trong), <em>"rương" </em>(sập đựng), <em>"Eng"</em> (Anh), <em>"chù"</em>(cho),<em> "chờng"</em> (giường), <em>"mạ"</em> (mẹ). Nghe qua ta cũng nắm được đại ý của người phụ nữ nhắc nhở chồng mình chú ý không gây tiếng động lớn. Nhưng hiểu sâu hơn ta biết được sau hôn nhân, cuộc sống vợ chồng không sinh hoạt thoải mái được do có mẹ chồng quan sát nhất cử nhất động. Vì vậy mà qua 2 câu đầy ẩn ý này, nàng bộc lộ nỗi niềm rạo rực khát khao của người vợ, tuy nhiên phận là nữ nhi phải giữ ý tứ, nếu nàng bộc lộ tâm tình quá thẳng thắn sẽ bị phán xét. Nhờ vậy mà ta thấy các từ địa phương trong đây nghe thật êm tai, diễn đạt được tâm trạng sốt sắng nhưng phải kìm lại của người phụ nữ. Cũng qua đó, ta thấy người con gái trong bài ca dao này có điểm vừa khôn khéo lại chân thành, đáng yêu.</div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-11 15:55:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/truonguyenhongphuc/92w2yzc9edhbyids/wish/1884546806</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Sử dụng công thức ngôn từ</title>
         <author>truonguyenhongphuc</author>
         <link>https://padlet.com/truonguyenhongphuc/92w2yzc9edhbyids/wish/1884551225</link>
         <description><![CDATA[<div>Đặc điểm phổ biến nhất trong ca dao chính là đều có cùng một cụm từ mở đầu, hay còn gọi là công thức ngôn từ dùng chung trong nhiều bài ca dao khác nhau. Chẳng hạn, những bài mở đầu như <em>“Tháng giêng, tháng hai, tháng ba, tháng bốn,…”</em> thể hiện tiếng ca thân thân của người nông dân:&nbsp;<br><br></div><div>"<em>Tháng giêng, tháng hai, tháng ba, tháng bốn, tháng khốn, tháng nạn</em></div><div><em>Đi vay đi tạm được tám quan hai&nbsp;</em></div><div><em>Xuống dưới chợ Mai&nbsp;</em></div><div><em>Mua một cái đó&nbsp;</em></div><div><em>Trời mưa trời gió&nbsp;</em></div><div><em>Vác đó đi đơm&nbsp;</em></div><div><em>Chạy vô ăn cơm&nbsp;</em></div><div><em>Chạy ra mất đó!&nbsp;</em></div><div><em>Kể từ ngày ai lấy đó, đó ơi</em></div><div><em>Răng (sao) đó không phân qua nói đôi lời cho đây hay?"</em></div><div><em>(Lí cái đó - Dân ca Nam Trung Bộ)<br></em><br></div><div>hay chùm bài “Thân em” phiếm chỉ thân phận phụ nữ bấp bênh trong xã hội phong kiến xưa,…&nbsp;</div><div>"<em>Thân em như hạt mưa sa</em></div><div><em>Hạt vào đài các, hạt ra ruộng đồng"<br>&nbsp;</em></div><div>hay</div><div>"<em>Thân em như giếng giữa đàng&nbsp;</em></div><div><em>Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân"<br></em><br></div><div>Tất cả những cụm từ trên đã đại diện cho nét đặc trưng riêng của ca dao Việt Nam, thể hiện rõ ràng và thống nhất chủ thể trữ tình, biểu hiện cho tiếng nói chung của tập thể, phản chiếu tâm hồn và đời sống dân tộc. Bởi lẽ, đơn giản khi nghe <em>“thân em”</em> được cất lên, ta dễ dàng nhận ra đây chính là lời than của một người phụ nữ, chỉ nghe thôi, nhìn thôi vào cụm từ <em>“thân em</em>” là đủ. Thêm vào đó, công thức ngôn từ thể hiện yếu tố cấu trúc của một câu ca dao, nối nội dung muốn bày tỏ với cái truyền thống, để gắn kết thực tại với cái sẵn có, giúp ta có được một câu ca dao hoàn chỉnh về ngữ lẫn nghĩa, đồng thời thể hiện sự sáng tạo của tác giả dân gian. Nó mở đường cho hàng trăm câu ca dao có mở đầu giống nhau nhưng mang đậm tính địa phương và hoàn cảnh, khiến nó phù hợp hơn với tình cảnh bấy giờ. Truyền thống mà vừa hiện đại, kịp thời, biến ca dao thành “thể thơ kể chuyện của dân chúng” (Nguyễn Đình Thi), đó chính là tác dụng của công thức ngôn từ này.<br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-11 15:56:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/truonguyenhongphuc/92w2yzc9edhbyids/wish/1884551225</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Biện pháp tu từ : So sánh, ẩn dụ</title>
         <author>truonguyenhongphuc</author>
         <link>https://padlet.com/truonguyenhongphuc/92w2yzc9edhbyids/wish/1884552102</link>
         <description><![CDATA[<div>Dân tộc ta lưu giữ cả một kho tàng ca dao phong phú, đa dạng, giàu đẹp về nội dung và hình thức. Ca dao vận dụng nhiều biện pháp tu từ nghệ thuật giúp hình tượng hóa, lãng mạn hóa những hình ảnh vốn rất đỗi mộc mạc, đời thường. Trong đó phổ biến hơn cả là biện pháp so sánh và ẩn dụ.&nbsp;<br><br></div><ul><li><strong><mark>1/ So sánh</mark></strong></li></ul><div><br></div><div>So sánh tu từ là cách đối chiếu hai hay nhiều hiện tượng khác loại có cùng một dấu hiệu chung nào đấy (nét giống nhau) nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm đối tượng. Dấu hiệu nhận biết biện pháp tu từ này là sự xuất hiện của các từ so sánh : như, tựa, cũng thế,....<br><br>Một số kiểu cấu trúc so sánh trong ca dao :<br><br></div><div><strong><em>a. So sánh trực tiếp:</em></strong> kiểu so sánh trực tiếp với sự hiện diện của các từ liên từ “như”, “như thế”, “cũng thế”.<br><br></div><div>- <em>Cấu trúc so sánh triển khai:</em> câu lục (6) nêu lên định đề có tính chất khái quát: A như B (A và B là hai đối tượng khác loại). Còn câu bát (8) là B’ nêu rõ đặc tính nào đấy của B theo dấu hiệu tương đồng.<br><br></div><div>"<em>Đôi ta như thể con tằm&nbsp; </em>(A như B)</div><div><em>Cùng ăn một lá cùng nằm một nong " </em>(B’)<em><br></em><br></div><div>Phép so sánh <em>“đôi ta</em>” với <em>“con tằm”</em> diễn tả sự thân thiết, gắn bó của cặp trai gái. Đôi tằm ăn cùng một lá, nằm cùng một nong cũng tựa như anh và em cùng dùng chung một mâm cơm, sống chung một nhà, chung đôi nếm trải hết thảy như dư vị mặn ngọt đắng cay của cuộc sống. Nếu chỉ ví đôi ta như thể con tằm mà không có sự triển khai tiếp theo, chắc chắn người nghe sẽ thấy khó hiểu, không rõ con tằm ở đây được nhấn mạnh với đặc điểm gì. Vì vậy B’ đã triển khai rõ ràng cùng ăn một lá cùng nằm một nong để diễn tả một cách đặc sắc phù hợp với việc bộc lộ tình cảm, sự gắn bó không rời của đôi lứa yêu nhau.<br><br></div><div>- <em>Cấu trúc so sánh tương hỗ bổ sung:</em> nêu lên một hoặc hai đối tượng cùng lúc so sánh với nhiều sự vật khác nhau. Các sự vật này có nét tương đồng hoặc đối lập nhau.</div><div><br></div><div>" <em>Đôi ta như lửa mới nhen</em></div><div><em>Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu "<br></em><br></div><div>Việc dùng nhiều hình ảnh so sánh đôi ta với “<em>lửa mới nhen</em>”, “<em>trăng mới mọc</em>”,”<em>đèn mới khêu</em>” đã nhấn mạnh sự nhen nhóm của tình yêu đôi lứa - Một tình yêu ở giai đoạn khởi đầu vẫn còn vẹn nguyên, thanh khiết, đẹp đẽ. Thêm vào đó, câu ca dao thể hiện niềm tin lạc quan vào tình yêu của anh và em. Lửa mới nhen rồi sẽ bùng cháy, trăng mới mọc rồi sẽ tròn đầy, đèn mới khêu rồi sẽ sáng rực. Tình yêu ta cũng thế, rồi cũng sẽ mãnh liệt, chan chứa những điều tốt đẹp.</div><div><br></div><div><strong><em>b. So sánh song hành:</em></strong> là kiểu so sánh chìm, giữa hai vế không có từ liên từ “ như”, “ là”, “ như thế”.<br><br></div><div>"<em>Cây rầu thì lá cũng rầu (A)</em></div><div><em>Anh về anh bỏ mối sầu cho ai" (B)<br></em><br></div><div>Ở bài cao dao trên, câu lục thể hiện điều mang tính quy luật tự nhiên : cây héo úa thì lá cũng chẳng tươi tốt được. Từ đó làm chiếc cầu nối đánh vào tâm trạng của người con trai ở câu bát. Đó là tâm trạng buồn khổ, sầu não, nhớ nhung mà ắt hẳn khi yêu chúng ta đều đã từng nếm trải. Giữa hai vế của bài ca dao mang một nét tương đồng tạo nên sự so sánh ngầm, làm tăng sức mạnh của lí lẽ được nêu ra, tạo nên sức mạnh của đòn bẩy nghệ thuật.<br><br>Dù là kiểu so sánh nào, chung quy lại chúng đều mang đến bạn đọc nhận thức sâu sắc hơn về sự vật, hiện tượng, hình ảnh hóa những khái niệm, đặc điểm, thuộc tính trừu tượng của chúng. Phép so sánh góp phần xây dựng hình tượng ca dao thêm rõ nét, giúp lột tả những tình cảm trong sáng, cao đẹp hay những trạng thái cảm xúc cụ thể nào đó của nhân vật trữ tình, gợi nên trong lòng bạn đọc những xúc cảm thẩm mỹ dạt dào.&nbsp;<br><br></div><ul><li><strong><mark>2/ Ẩn dụ</mark></strong></li></ul><div><br></div><div>Có thể hiểu khái quát rằng ẩn dụ là hình thức thay đổi tên gọi của sự vật hiện tượng có tên là A bằng sự vật hiện tượng có tên là B, trong đó A với B có nét tương đồng với nhau. Ẩn dụ nói nôm na chính là cách so sánh ngầm mà đối tượng so sánh được ẩn đi.&nbsp;<br>Biện pháp ẩn dụ trong ca dao giúp cho tác giả dân gian có thể diễn tả được những điều thầm kín khó nói ra nhưng vẫn mang tính giản dị và giàu chất thơ.&nbsp;</div><div><br></div><div><em>“Em tưởng nước giếng sâu,</em></div><div><em>Em nối sợi dây dài</em></div><div><em>Ai ngờ giếng cạn,</em></div><div><em>Em tiếc hoài sợi dây.”</em></div><div><br></div><div>Những từ ngữ như <em>“nước giếng sâu”</em> và <em>“nước giếng cạn"</em> được dùng ở đây tạo nên một hình ảnh ẩn dụ cho tình cảm được trao giữa người con gái và người con trai.&nbsp; <em>“Sâu”</em> tức đậm sâu, vẫn còn tình cảm đong đầy, mặn nồng. <em>“Cạn"</em> trong cạn tình, cạn nghĩa. Lời than phiền của người con gái từ đầu đã thấy rõ được sự hụt hẫng, đau buồn, tiếc nuối. Khi yêu, người con gái thường yêu hết mình. Cô đã tưởng rằng tình cảm của mình cũng được đáp lại. Vậy nên cô cứ hi sinh mù quáng trong tình yêu. Ở đây tác giả đã mượn hình ảnh sợi dây nhằm ẩn dụ cho điều đấy. Ngoài ra với các điệp ngữ như <em>“em", “sợi dây"</em> cho ta thấy được đâu đó sự lặp đi lặp lại của quá trình hi sinh của người con gái đến khi cô nhận ra được sự mong chờ, trao gửi yêu thương của mình rồi cũng trở nên vô nghĩa.&nbsp;</div><div><br></div><div><em>“Thuyền về có nhớ bến chăng,&nbsp;</em></div><div><em>Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”</em></div><div><br></div><div>Trong bài ca dao trên, ta thấy hai hình ảnh ẩn dụ chứa đựng tình cảm sâu nặng giữa thuyền và bến. Thuyền ở đây ẩn dụ cho người con trai luôn đi xuôi đi ngược tựa như chiếc thuyền. Còn bến tức nơi nương tựa, chỗ dựa vững chắc cho thuyền tìm về; cũng giống như hình ảnh của người con gái dù có thế nào cũng sẽ ở đó, làm hậu phương vững chắc cho người con trai kia, dẫu biết chờ đợi là khó khăn. Qua đó ta càng thêm phần nào ngưỡng mộ lòng thuỷ chung của người con gái đó. Thuyền nhớ bến, bến đợi thuyền, khăng khăng mãi trong lòng. Hình ảnh thuyền và bến tượng trưng cho tình nghĩa sắt son, chung thuỷ của lứa đôi, không bao giờ có thể đổi thay, phai nhạt .</div><div><br><br></div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-11 15:57:17 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/truonguyenhongphuc/92w2yzc9edhbyids/wish/1884552102</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thể thơ lục bát hoặc lục bát biến thể</title>
         <author>truonguyenhongphuc</author>
         <link>https://padlet.com/truonguyenhongphuc/92w2yzc9edhbyids/wish/1884553823</link>
         <description><![CDATA[<div>Trong những tác phẩm thơ ca dân gian, ca dao được sáng tác ở nhiều hình thức thơ khác nhau, tuy nhiên được vận dụng phổ biến hơn cả là thể lục bát. Điều này thật dễ hiểu vì thơ lục bát là “những lời nói vần” gần gũi với lời ăn tiếng nói của nhân dân, dễ nhớ, dễ thuộc. Thể lục bát trong ca dao bộc lộ trực tiếp những tâm tình nảy sinh từ thực tiễn cuộc sống; thể hiện từ những bức tranh lao động đến những suy nghĩ về cuộc đời, từ khoảnh khắc hồn nhiên vô tư của con người đến những diễn biến tình cảm trữ tình phong phú.<br><br><strong><mark>1/ </mark></strong><strong><em><mark>Thể thơ lục bát:</mark></em></strong><strong><mark>&nbsp;</mark></strong></div><div><br>Về hình thức là một cặp lục bát với số tiếng cố định: sáu tiếng (câu lục) và tám tiếng (câu bát).&nbsp;<br>Phương thức gieo vần 6-8 (Cụ thể tiếng thứ sáu của câu lục hiệp vần với tiếng thứ sáu của câu bát) : đây là thao tác đặc biệt tạo nên được vẻ nhịp nhàng trong ngôn ngữ thơ, là phương tiện tổ chức văn bản và là chỗ dựa cho sự phát triển nhạc tính để hình thành nên những âm hưởng nhiều màu sắc vang vọng trong thơ.&nbsp;</div><div>Nhịp điệu thơ lục bát về cơ bản là nhịp chẵn 2/2/2, 2/4/2, hoặc 4/4, 3/3/2. Nhịp điệu thơ uyển chuyển, linh hoạt vô cùng nhằm đáp ứng nhu cầu biểu đạt các trạng thái tình cảm khác nhau.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp;&nbsp; &nbsp;<em>“ Đói lòng ăn nửa quả sim,</em></div><div><em>&nbsp; Uống lưng chén nước đi tìm người thương.</em></div><div><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp;Người thương/ ơi hỡi/ người thương!</em></div><div><em>&nbsp;&nbsp; Đi đâu mà để/ buồng hương/ lạnh lùng? “<br></em><br></div><div>Ở đây, đặc trưng thể thơ lục bát thể hiện qua việc tiếng thứ sáu của câu lục cùng vần với tiếng thứ sáu câu bát : sim - tìm; thương - hương. Mùi vị ngọt tím đậm của quả sim vương vấn trên đầu lưỡi, gây thương nhớ cho những ai đã từng nếm qua loại quả này. Sim tượng trưng cho lòng chung thủy, vậy nên phải chăng dù đói khát thế nào, chỉ <em>“nửa quả sim”, “lưng chừng chén nước”</em> thì lòng dạ vẫn sắt son vững bền ? Hai câu cuối với nhịp chẵn góp phần diễn tả cảm giác đau lòng, xót xa của người ở lại, sự nhớ nhung tột độ người thương.&nbsp;<br><br></div><ul><li><strong><em><mark>2/ Thể thơ lục bát biến thể:&nbsp;</mark></em></strong></li></ul><div><br></div><div>Theo Mai Ngọc Chừ: “Lục bát biến thể ở đây được quan niệm là những nội dung hết sức đa dạng của hiện thực. Câu ca dao có hình thức lục bát nhưng không khít khịt “trên sáu dưới tám” mà có sự co giãn nhất định về số lượng âm tiết.”<br><br></div><div>&nbsp;Một số ví dụ về lục bát biến thể :</div><blockquote><strong><em>Dòng lục giữ nguyên, dòng bát thay đổi</em></strong></blockquote><div>&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp; "<em>Lời nguyền trước cũng như sau,</em></div><div><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Ta không ham vui bỏ bạn, bạn chớ tham giàu bỏ ta."</em></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; (6/12 tiếng)<br><br></div><div>Câu ca dao là lời khuyên nhủ về tình bạn. Nếu ta không vì những thứ đắt giá, xa xỉ che mờ mắt mà bỏ rơi bè bạn thì từ đó ta cũng sẽ nhận lại một tình bạn chân thành. Sự thủy chung trong tình bạn sẽ là chất keo gắn kết cho mối quan hệ giữa hai người thêm bền chặt.&nbsp;</div><div><br></div><blockquote><strong><em>Cả hai dòng đều thay đổi</em></strong></blockquote><div><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;"Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo,</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Ngũ lục sông cũng lội, thất bát đèo cũng qua."</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;(7/10 tiếng)</div><div><br></div><div>Bài ca dao nói lên sức mạnh phi thường của tình yêu. Vì yêu người ta sẵn sàng hi sinh, làm tất cả cho người mình yêu. Tình yêu đã ban cho họ một nghị lực mạnh mẽ thực hiện những điều tưởng chừng như khó nhằn, vô thường như trèo núi, lội sông, vượt đèo. Thể lục bát biến thể với câu đầu bảy tiếng, câu sau mười tiếng đã góp phần thể hiện sự phi thường của con người khi yêu : không quản ngại tất cả để đến với người thương.<br><br></div><blockquote><strong><em>Song thất lục bát</em></strong></blockquote><div><br></div><div>Thơ song thất lục bát gồm có hai câu đầu bảy chữ kèm một câu lục bát.&nbsp;<br>Cách gieo vần thường thấy : Chữ cuối câu bảy trên vần với chữ thứ 5 câu bảy dưới, chữ cuối câu bảy dưới vần với chữ cuối câu lục, tiếng cuối câu lục vần với chữ thứ 6 câu bát. Và chữ cuối câu bát vần với chữ thứ 5 (đôi khi chữ thứ 3) của câu thất tiếp theo. Ví dụ như :<br><br></div><div><em>“ Thang mô cao bằng thang danh vọng<br>Nghĩa mô trọng bằng nghĩa chồng con<br>Trăm năm nước chảy đá mòn<br>Xa nhau nghìn dặm dạ còn nhớ thương "</em></div><div><br>Thể song thất lục bát kết hợp với lục bát đã tạo nên được một âm hưởng vang vọng, bay xa hơn cho ca dao Việt Nam. Đa dạng phong phú nhưng không kém phần tinh túy sâu xa, một cách tự nhiên, ca dao đã thấm dần vào hồn thơ của người. &nbsp;</div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-11-11 15:58:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/truonguyenhongphuc/92w2yzc9edhbyids/wish/1884553823</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hình ảnh trong ca dao - Những hình ảnh thiên nhiên hay sinh hoạt quen thuộc, gần gũi</title>
         <author>truonguyenhongphuc</author>
         <link>https://padlet.com/truonguyenhongphuc/92w2yzc9edhbyids/wish/1886477417</link>
         <description><![CDATA[<div>Cái đẹp của khung cảnh đất trời, của những sinh hoạt đời thường luôn chạm vào những người dân Việt Nam bởi cái chất nhẹ nhàng, gần gũi nhưng lại vô cùng đặc biệt. Qua ca dao, người đọc dễ thấy được sự hài hòa của thuyền - biển, của núi - sông, của cây cối..., bởi đó là phương tiện chuyển tải những xúc cảm của người dân Việt Nam dành cho đất nước, cho vạn vật xung quanh, cho tình yêu đôi lứa, và cho cả tình thân gia đình. Tính thẩm mỹ ấy, trước hết là nảy mầm và lãng mạn hóa những tình cảm đôi lứa:<br><br></div><div><em>“ Bến em có gốc dừa tơ,&nbsp;</em></div><div><em>&nbsp; Đêm trăng em đứng em chờ đợi ai. ”</em></div><div><br><em>“Bến”</em> vốn dùng để biểu trưng cho tình yêu đôi lứa được sử dụng trong câu ca dao để nói lên chủ đề của câu ca dao: tình yêu của một cô gái vừa lớn . Không phải không gian ban ngày, nhân gian sử dụng hình ảnh <em>“đêm trăng”</em> lãng mạn, nhấn mạnh thêm sự lẻ loi của cô gái. Bởi lẽ đêm về là khoảng thời gian mà sự cô đơn và nỗi nhớ nhung như dậy sóng trong lòng những con người với tâm hồn mỏng manh. Nhờ những hình ảnh thiên đậm tính trữ tình ấy, tình cảm đôi lứa trong ca dao được trở nên mộng mơ hơn, lãng mạng hơn.&nbsp;<br><br>Ngoài ra, nhân dân Việt Nam cũng có vô vàn câu ca dao thể hiện tình yêu đất nước qua cảnh vật xung quanh:<br><br></div><div><em>“ Xem kìa Yên Thái như kia</em></div><div><em>Giếng sâu chín trượng nước thì trong xanh</em></div><div><em>Đầu chợ Bưởi điếm cầm canh</em></div><div><em>Người đi kẻ lại như tranh họa đồ</em></div><div><em>Cổng chợ có miếu thờ vua</em></div><div><em>Đường cái chính xứ lên chùa Thiên Niên…”</em><br><br></div><div>Tình yêu quê hương trong câu ca dao được thể hiện trong sự tự hào về cái đẹp của quang cảnh của một vùng quê Việt Nam. Hình ảnh Yên Thái với giếng sâu chín trượng với đầu chợ Bưởi nô nức người qua kẻ lại, đôi mắt thể hiện lòng yêu say đắm nơi này chẳng khác nào một bức tranh họa đồ tuyệt mĩ. Bằng những hình ảnh của một Yên Thái thơ mộng, từng câu ca dao lại như được thổi vào một sức sống, một sự diệu kỳ, gợi lên trong lòng người đọc sự yêu mến và niềm tự hào đất nước.&nbsp;<br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://image.tinnhanhchungkhoan.vn/w860/Uploaded/2020/bpikpjik/2017_02_10/canh-dong-viet-nam-dep_ipyk.jpg" />
         <pubDate>2021-11-12 12:12:22 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/truonguyenhongphuc/92w2yzc9edhbyids/wish/1886477417</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
