<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title>CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM - 10D4 by nguyễn xuân</title>
      <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16</link>
      <description></description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2023-04-14 02:03:26 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2023-04-21 00:12:36 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url></url>
      </image>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2554027767</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>* Dân Số của dân tộc Xinh Mun :<br>&nbsp;Người Xinh Mun</strong>, còn gọi <strong>người Puộc</strong>, <strong>người Pụa </strong>là một dân tộc ít người, sinh sống ở bắc <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/C%C3%A1c_d%C3%A2n_t%E1%BB%99c_Vi%E1%BB%87t_Nam">Việt Nam</a> và <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/C%C3%A1c_d%C3%A2n_t%E1%BB%99c_L%C3%A0o">Lào</a>.<strong><br> =&gt; Dân số : 31500+<br><br><br><br>* Địa bàn cư trú:</strong></div><div><br>Tập trung ở một số huyện vùng biên giới Việt - Lào: Yên Châu, Sông Mã, Mộc Châu, thuộc tỉnh Sơn La (đa số) và một số ít cư trú ở huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên,...<br><br>* <strong><em>Tín ngưỡng tôn giáo, tín ngưỡng</em></strong></div><div>Người Xinh Mun tin vào tín ngưỡng đa thần, quan niệm vạn vật hữu linh, mọi vật kể cả vật vô tri vô giác đều có linh hồn. Con người cũng có linh hồn, do đó sau khi chết phải thờ cúng, gọi là thờ cúng tổ tiên.&nbsp;</div><div>Đồng bào Xinh Mun thờ cúng tổ tiên hai đời: bố mẹ và ông bà. Tổ tiên được thờ ngay trong nhà ở của đồng bào, ở một góc nhà.&nbsp;<br>Biểu trưng cho nơi thờ tổ tiên là một chiếc xương hàm lợn, ít trầu đựng trên nắp giỏ cơm, ống tre đựng nước. Cúng vào các dịp cơm mới, đám cưới, nhà mới. Việc thờ cúng tổ tiên, tuỳ nơi, có thể chỉ do anh cả, cũng có thể do các anh em trai cùng đảm nhiệm. Bố mẹ vợ được thờ riêng ở một chiếc lán nhỏ, bên cạnh nhà, cơm nước cúng được nấu ở ngoài nhà. Lễ cúng bản hàng năm rất được coi trọng.</div><div><br><strong>&nbsp;* Phong tục tập quán:<br>Hoạt động sản xuất</strong>: Họ chuyên trồng lúa trên nương, một số ít làm ruộng.<br><br><strong>Ăn</strong>: Người Xinh Mun ăn cơm nếp, cơm tẻ, thích gia vị cay, uống rượu cần, có tập quán ăn trầu, nhuộm răng đen.<br><br><strong>Mặc</strong>: Y phục của họ giống <a href="https://dantocmiennui.vn/nation/dan-toc-thai/49.html">người Thái</a>.<br><br><strong>Ở</strong>: Họ ở nhà sàn. Nhà có mái vòm hình mai rùa.<br><br><strong>Phương tiện vận chuyển</strong>: Phổ biến dùng gùi đeo trên trán.<br><br></div><div><strong>Quan hệ xã hội</strong>: Gia đình nhỏ, phụ quyền là chủ yếu, nhưng những đại gia đình gồm ba thế hệ hay các anh em trai đã có vợ vẫn sống chung trong một nhà còn tồn tại khá đậm nét. Số lượng thành viên trong nhà khoảng 10-15 người, cũng có nhà lên tới 20-30 người. Người Xinh Mun có nhiều họ nhưng phổ biến nhất là hai họ: họ Vì và họ Lò.<br><br><strong>Cưới xin</strong>: Phổ biến tục ở rể. Trước đây con trai phải ở rể khoảng 8-12 năm hoặc ở rể suốt đời nếu bên vợ không có con trai.</div><div><br><strong><em>Sinh đẻ</em></strong><strong>:</strong> Phụ nữ có mang vẫn đi nương, đi rừng cho đến tận ngày sinh. Trẻ gần một tuổi mới mời thầy cúng về, làm lễ đặt tên.<br><strong>&nbsp;<br>* Đời sống tinh thần:<br><br></strong>Dân tộc Xinh Mun sống trong từng đơn vị được gọi là bản và không có một đơn vị địa lý nào khác lớn hơn hay nhỏ hơn. Ngày xưa, các bản chỉ tập trung có khoảng 10 hộ sinh sống, đến nay nhờ chính sách định canh định cư của Nhà nước mà số lượng hộ gia đình của một bản đã lên đến con số trăm, sống rải rác trên đường biên giới Việt Lào. Trong gia đình, người đàn ông (chồng, cha hoặc con trường) là người đứng đầu và có toàn quyền quyết định mọi công việc trong cuộc sống. Các con, không phân biệt nam nữ, đều có quyền thừa kế tài sản, nhưng nếu người con gái đã đi lấy chồng thì được mặc định không còn thuộc về gia đình nữa. Nếu không có con trai thì gia đình có thể nhận cháu ruột làm con trai nuôi.</div><div><br>Người Xinh Mun có 2 dòng họ lớn là họ Vì và họ Lò, với những vật tổ, tập quán và những điều cấm kỵ riêng. Tuy nhiên, cả hai dòng họ đều thờ cúng các thế lực siêu nhiên mà họ gọi là ma lành và ma dữ, trở thành một tập quán chung được hình thành lâu đời của người Xinh Mun. Ngoài ra, việc thờ cúng cha mẹ, ông bà cũng vô cùng được coi trọng, nhưng không được tổ chức vào ngày họ mất hằng năm như người Kinh mà được tổ chức chung khi có tiệc làm nhà mới, ăn cơm mới hay có tiệc hỷ… Cúng bản được tổ chức định kỳ mỗi năm để cầu sức khỏe cho dân làng và mùa màng bội thu. Ngoài ra người Xinh Mun còn có những lễ hội khác như lễ Mương Ama (cầu an, cầu phúc), cúng cơm mới, Tết Nguyên Đán và lễ cúng chung với người Thái trong vùng.</div><div><br><strong>* Lễ Hội :<br>-</strong> Lễ hội Lộc Hoa : Nhắc đến dân tộc Xinh Mun là không thể không nhắc đến lễ hội Lộc hoa được tổ chức vào mùa xuân hằng năm vô cùng độc đáo của dân tộc này. Với mục đích cầu phúc, cầu lộc, cầu mùa màng tốt tươi, cho mưa thuận gió hòa và cho con dân khỏe mạnh, lễ hội được tổ chức lớn và kéo dài nhiều ngày, chỉ kết thúc khi hoa ban nở và măng đắng mọc báo hiệu vào vụ mùa mới.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2021289610/471646c79e2552d4ef89717b078795bb/E7B9AA60_3075_4CC3_9270_E757918DCCF6.jpeg" />
         <pubDate>2023-04-14 03:15:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2554027767</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc thổ </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2554034400</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Tên tự gọi:</strong> Thổ.<br><br></div><div><strong>Tên gọi khác:</strong> Người Nhà làng, Mường, Con Kha, Xá Lá Vàng.<br><br></div><div><strong>Dân số:</strong> 91.430 người&nbsp;<br><br></div><div><strong>Ngôn ngữ:</strong> Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Việt Mường (ngữ hệ Nam Á).<br><br></div><div><strong>Lịch sử:</strong> Ðịa bàn cư trú hiện nay của người Thổ vốn là giao điểm của các luồng di cư xuôi ngược. Do những biến động lịch sử ở những thế kỷ trước, những nhóm người Mường từ miền Tây Thanh Hoá dịch chuyển vào phía Nam gặp gỡ người Việt từ các huyện ven biển Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Thanh Chương ngược lên hoà nhập với cư dân địa phương có thể là gốc Việt cổ ở đây. Những người tha hương cùng chung cảnh ngộ ấy ngày một hoà nhập vào nhau thành một cộng&nbsp; đồng chung dân tộc Thổ.<br><strong>Hoạt động sản xuất</strong>: Người Thổ sống chủ yếu dựa vào làm nương, rẫy và một số nhỏ làm ruộng nước. Dù làm ruộng hay làm nương, trình độ canh tác của đồng bào đã phát triển khá cao biểu hiện ở kỹ thuật làm đất (dùng cày nương "cà nộn" một cách thành thạo), thâm canh cây trồng. Cây lương thực được trồng chủ yếu là lúa sau đó đến sắn và ngô. Ở CÁC NHÓM KẸO, MỌN, Cuối, gai là cây được trồng nhiều và giữ vị trí quan trọng trong đời sống KINH TẾ CỦA HỌ. Ở người Thổ, nghề đánh cá cũng rất phát triển, săn bắt, hái lượm tuy chỉ phát triển ở một số vùng nhưng nó đã góp phần đáng kể vào việc giảm bớt những khó khăn trong cuộc sống của họ.<br><em>&nbsp;</em></div><div><strong>Ăn:</strong> Trước đây, người Thổ ăn gạo nếp là chính nhưng hiện nay hầu hết đã chuyển sang ăn gạo tẻ. Những khi giáp hạt đói kém họ thường ăn các loại củ, các loại rau và các loại quả hái ở rừng.<br><br></div><div>Trong các ngày lễ, tết người Thổ thường làm các loại bánh chưng, bánh giầy, bánh gai.<br><br></div><div><strong>Mặc:</strong> Ðàn ông mặc tương tự người Việt với chiếc quần trắng cạp vấn, áo dài lương đen và đầu đội khăn nhiễu tím. Phụ nữ vùng Lâm La mặc váy vải sợi bông màu đen, có thêu hai đường chỉ màu từ cạp tới gấu váy; mặc áo 5 thân màu nâu hoặc trắng. Ở vùng Qùy Hợp, váy phụ nữ thường được mua hoặc đổi của người Thái. Váy bằng vải sợi bông nhuộm chàm, dệt kẻ sọc ngang, khi mặc những đường sọc đó tạo thành vòng tròn song song quanh thân. Áo cánh trắng cổ viền, tay hẹp như áo cánh người Việt. Phụ nữ đều đội khăn vuông trắng giống như người Mường và để tang bằng khăn dài trắng giống người Việt.<br><br></div><div><strong>Ở:</strong> Người Thổ cư tập trung ở các huyện miền Tây tỉnh Nghệ An. Họ sống thành những làng bản đông đúc, chủ yếu theo lối mật tập.<br><br></div><div>Nhà ở truyền thống là loại nhà sàn được che xung quanh bằng liếp nứa hoặc gỗ. Nhưng ở một số vùng, nhà lại được làm theo kiểu cột ngoãm. Ngày nay, nhà cửa của họ cũng đang trong quá trình chuyển từ nhà sàn sang nhà đất như kiểu nhà người Việt trong vùng.<br><br></div><div><strong>Phương tiện vận chuyển: </strong>Người Thổ chủ yếu dùng hai phương thức vận chuyển. Ðối với những thứ nhỏ gọn thì có thể mang, xách hay cho vào sọt, bồ để gánh, còn những vật nặng phải dùng đến sức trâu, bò để kéo xe (toàn bộ khung và bánh xe đều được làm bằng gỗ).<br><br></div><div><strong>Quan hệ xã hội: </strong>Ðơn vị hành chính nhỏ nhất trước kia của người Thổ là làng với một ông trùm làng đứng đầu. Trùm làng được bầu lại hàng năm và có nhiệm vụ đốc thúc công việc sưu dịch, thuế khoá, giải quyết các vụ việc xảy ra trong phạm vi của làng.<br><br>Tuy sống xen cài giữa nhiều dân tộc nhưng việc kết hôn giữa người Thổ với các dân tộc lân cận dường như không đáng kể, song quan hệ hôn nhân giữa các nhóm Thổ với nhau lại không có sự phân biệt nào.<br><br></div><div><strong>Cưới xin:</strong> Tục ngủ mái thịnh hành trong các nhóm Thổ vùng Nghĩa Ðàn, Tân Kỳ, Quỳ Hợp nhưng lại vắng bóng ở các nhóm Thổ vùng Tương Dương, Con Cuông. Từ những đêm ngủ mái các đôi nam nữ tìm hiểu nhau dẫn đến xây dựng gia đình. Hôn lễ của người Thổ phải qua nhiều bước. Thông thường khi cưới, nhà trai phải dẫn một con trâu, 100 đồng bạc trắng, 30 vuông vải, 6 thúng xôi, một con lợn. Nhiều vùng còn có tục ở rể.<br><br></div><div><strong>Sinh đẻ:</strong> Khi sinh được 3 ngày thì cúng bà mụ để đặt tên cho con và người mẹ phải kiêng cữ trong vòng một tháng, trong tháng đó người lạ không được vào nhà.<br><br></div><div><strong>Ma chay:</strong> Tổ chức khá linh đình và tốn kém, trước đây có nhà đã giết tới 12 con trâu, người chết được quàn trong nhà hàng tuần. Quan tài của người Thổ là một cây gỗ nguyên, đục bụng, giống như cách làm thuyền, làm máng đập lúa. Khi đặt quan tài cho phía chân xuôi theo dòng nước chảy. Sau khi chôn cất, cúng người chết vào dịp 30 ngày, 50 ngày và 100 ngày.<br><br></div><div><strong>Lịch: </strong>Người Thổ theo âm lịch.<br><br></div><div><strong>Thờ cúng:</strong> Người Thổ thờ rất nhiều loại thần, ma, đặc biệt là các vị thần có liên quan đến việc đánh giặc và khai khẩn đất đai. Trong phạm vi gia đình, ngoài việc thờ cúng tổ tiên, họ còn làm lễ cúng bà mụ mỗi khi trẻ em đau ốm và cúng vía cho người lớn vào dịp lễ, tết, khi đau ốm.<br><br></div><div><strong>Học:</strong> Người Thổ không có văn tự riêng, chỉ một số người biết chữ Hán. Ngày nay, tiếng Việt được phổ cập và sử dụng rộng rãi.<br><br></div><div><strong>Văn nghệ:</strong> Vốn văn nghệ dân gian Thổ khá đa dạng, các bài hát đồng dao vẫn được lưu truyền, ca dao, tục ngữ rất phong phú.<br><br></div><div><strong>Chơi:</strong> Trò chơi gồm kéo co, múa sư tử, chơi cờ tướng. Trẻ em thích chơi đá cầu và đánh cù.<br> &nbsp;<br><br>Self-name: Tho.&nbsp;<br>Other names: Village People, Muong, Con Kha, Xa La Vang.&nbsp;<br>Local groups: Candy, Mon, Cuoi, Ho, Dan Lai, Ly Ha, Tay Poong. Population: 91,430 people (According to the census of 53 ethnic minorities on April 1, 2019).&nbsp;<br>Language: The language belongs to the Viet Muong group of languages ​​(the Austroasiatic language family).&nbsp;<br>History: The current residence of the Tho people is the intersection of upstream and downstream migration flows. Due to historical upheavals in the previous centuries, groups of Muong people from western Thanh Hoa moved to the south to meet Vietnamese people from the coastal districts of Dien Chau, Quynh Luu, and Thanh Chuong, upstream to integrate with the inhabitants. The locality may be of ancient Vietnamese origin here. The expatriates with the same plight are increasingly integrating into a common Turkish community. Production activities: The Tho people live mainly on farming, farming and a small number of people working on wet fields. Whether farming or upland farming, the cultivation level of the people has developed quite high, which is reflected in the techniques of tillage (using plowing "ca Don" skillfully), intensive crop cultivation. Food crops are grown mainly rice, then cassava and maize. IN THE GROUPS OF SUGAR, MON, LONG, thorns are plants that are grown a lot and hold an important position in THEIR ECONOMIC life. In the Turks, fishing is also very developed, hunting and gathering is only developed in some areas, but it has contributed significantly to alleviating difficulties in their lives. Customs are diverse, often contradictory. In many other ethnic groups, a white scarf is a sign of mourning, but in the Tho and Muong people, white towels are used daily to enhance the beauty of their costumes. Many ethnic groups have the custom of making crematoriums for the dead in the afterlife, donating the crematorium by burning or leaving it as is. The Turks do not burn but place the crematorium right next to the grave. Those who are not allowed to worship at home are allowed to set up shrines to worship outside. The place to worship girls who died before adulthood is represented by wooden poles. Eat: In the past, the Tho people ate glutinous rice mainly, but now most have switched to eating plain rice. In times of famine, they often eat tubers, vegetables and fruits picked in the forest. During holidays and Tet, the Tho people often make banh chung, banh day, and banh gai. Wearing: Men wear similar clothes to Vietnamese people with white waist pants, black ao dai and purple scarves on their heads. Lam La women wear black cotton skirts, embroidered with two colored threads from waist to hem; wear a brown or white five-piece shirt. In Quy Hop area, women's dresses are often bought or exchanged by Thai people. Dress of indigo-dyed cotton fabric, woven with horizontal stripes, when worn those stripes form a parallel circle around the body. A white blouse with a collar, narrow sleeves like a Vietnamese blouse. Women all wear white square scarves like the Muong and mourn with white long scarves like the Vietnamese. In: The Tho people are concentrated in the western districts of Nghe An province. They live in crowded villages, mainly following the secret method. A traditional house is a house on stilts covered with bamboo or wood. But in some areas, houses are made in the style of columns. Today, their houses are also in the process of converting from stilt houses to land houses like the Vietnamese houses in the region. Means of transport: The Turks mainly use two modes of transportation. For compact things, it can be carried, carried or put in a basket, a carrier to carry, while heavy objects must use the strength of buffaloes and cows to pull the cart (the whole frame and wheels are made of wood). Social relations: Formerly the smallest administrative unit of the Tho people was a village with a village tycoon as its head. The village boss is re-elected every year and is responsible for promoting the work of translation, taxation, and handling of cases occurring within the village. Small family patriarchy is the main. The relationship in the family as well as in the village is mutual and friendly. Although living interspersed between many ethnic groups, the marriage between the Turks and neighboring ethnic groups seems to be insignificant, but the marriage relationship between the Turkic groups does not make any distinction. Marriage: The custom of sleeping on the roof is popular among Tho groups in Nghia Dan, Tan Ky, and Quy Hop areas, but it is absent in Tho groups in Tuong Duong and Con Cuong areas. From the nights of sleeping on the roof, couples get to know each other to build a family. The Turkish wedding has to go through many steps. Usually, when getting married, the groom's family has to bring a buffalo, 100 white silver coins, 30 square meters of cloth, 6 baskets of sticky rice, and a pig. Many regions still have the custom of in-laws. Childbirth: When giving birth for 3 days, the midwife makes offerings to the midwife to name the child and the mother must abstain for a month, in that month strangers are not allowed to enter the house. Funeral: The organization is quite expensive and expensive. In the past, a family has killed up to 12 buffaloes, the dead are buried in the house every week. The coffin of the Tho people is a whole tree, hollowed out, similar to the way a boat is made, a threshing trough. When placing the coffin, put the foot down with the flowing water. After burial, make offerings to the dead on the occasion of 30 days, 50 days and 100 days. Calendar: The Turks follow the lunar calendar. Worship: Tho people worship many kinds of gods and ghosts, especially gods related to fighting the enemy and reclaiming the land. Within the family, in addition to worshiping ancestors, they also make offerings to midwives when children are sick and worship for adults on holidays, Tet, when sick. Study: Tho people do not have their own writing, only some people know Chinese characters. Today, Vietnamese is popular and widely used. Culture: The capital of Turkish folk art is quite diverse, folk songs are still handed down, folk songs and proverbs are very rich. Play: The game includes tug of war, lion dance, and chess. Children love to play soccer and tickle.<br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2021290706/984f317f275a8c46f5285e3707549276/4674AB97_1381_4F44_B4CC_77BEB763AFA9.jpeg" />
         <pubDate>2023-04-14 03:20:29 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2554034400</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Khơ Mú</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2554035403</link>
         <description><![CDATA[<div><br><strong>Dân số: </strong>90612<br><br>Địa bàn cư trú: Người Khơ Mú là những cư dân bản thổ ở miền bắc Lào. Hiện tại có khoảng 479.249-540.000 người Khơ Mú khắp thế giới, với dân số khoảng 389.694 người (năm 1985) tại Lào,72.929 người (năm 2009) tại Việt Nam,31.403 (năm 2000) tại Thái Lan,1.600 người (năm 1990) tại Trung Quốc,không rõ số liệu tại Myanmar và cỡ 8.000 tại Hoa Kỳ<br><br>Nét đặc sắc về đời sống tinh thần:<br>Cũng như nhiều dân tộc khác, việc thờ cúng tổ tiên của người Khơ Mú là phong tục không thể thiếu. Trong đó, các nghi lễ thờ cúng tổ tiên trong dịp lễ Tết thể hiện nét văn hóa độc đáo của đồng bào. Do những điều kiện giao thoa với các nền văn hóa các dân tộc khác, nhà sàn của người Khơ Mú gần giống với nhà sàn của người dân tộc Thái. Tuy nhiên vẫn có nét khác biệt, đó là nơi thờ phụng trong ngôi nhà. Nhìn chung, việc thờ cúng của người Khơ Mú&nbsp; là nhằm cầu mong cho mọi điều lành, nhưng theo quan niệm tín ngưỡng của đồng bào đôi khi các ma, các thần giận giữ cũng có thể gây tại họa, vì thế người Khơ Mú tổ chức nghi lễ cúng còn để bày tỏ sự tôn kính và thể hiện mong ước của mình. Ông Lương Văn Bình dân tộc Khơ Mú cho biết: Việc thờ cúng để cầu cho con cháu, gia đình mạnh khỏe không gặp hoạn nạn, rủi ro, gặp những cái đáng lo, đáng ngại.&nbsp;<br>Theo tập quán của người Khơ Mú, để làm lễ cúng cho ngày Tết, nhà nào cũng phải có 2 con gà , một con để cúng tiễn năm cũ, kính cáo với tổ tiên về tình hình nhà cửa, con cái của gia chủ trong năm qua. Một con gà khác dùng để cúng đón năm mới, cầu một năm mạnh khỏe, làm ăn phát đạt.. Khi làm lễ tất cả mọi người trong gia đình phải có mặt đầy đủ. Theo phong tục, người ta bôi một chút máu gà lên đầu gối mỗi người với ý nghĩa cầu xin cho mọi người được bình an mạnh khỏe, học hành, làm ăn phát đạt. Trong quan niện của người Khơ Mú, ngày Tết là ngày gặp gỡ. Khu vực thờ phụng trong nhà chính là nơi các vị tiên tổ nối tới con cháu bằng tâm linh giao cảm. Phong tục thờ cúng của người Khơ Mú&nbsp; là dịp con cháu bày tỏ sự hiếu nghĩa, biết ơn tiên tổ, làng bản, gia đình.&nbsp;<br>Ông Lữ Văn Hợi, dân tộc Khơ Mú cho biết: Khi mà mình sinh ra, bố mẹ dặn phải làm lễ cúng thì đừng có bỏ phong tục này, phải làm theo. Nếu không làm theo thì bố mẹ phạt, trời phạt …Phong tục này có từ lâu đời rồi, cứ một năm làm một lần làm lễ cúng vào dịp cuối năm. Làm lễ cúng này để bỏ năm cũ đón năm mới.<br>Ngoài thờ cúng tổ tiên, dòng họ và ma bếp trong nhà, người Khơ Mú còn cúng một số thần và ma khác&nbsp; như: cúng thần núi, thần rừng, thần khe suối để có nước làm ruộng, có gỗ làm nhà. Cúng ma rẫy để cầu mùa màng tốt tươi . Cúng ma để xua đuổi bệnh tật, cúng ma cho người đi xa gặp nhiều may mắn…&nbsp;<br>Trong các nghi lễ cầu cúng, lễ hội cúng cầu mùa của người Khơ Mú mang giá trị văn hóa phi vật thể độc đáo. Cũng như nhiều dân tộc anh em khác, người Khơ Mú quan niệm, vạn vật có linh hồn, thiên nhiên xung quanh chúng ta như trời, đất, nương, rẫy… đều có quan hệ mật thiết với đời sống và sản xuất của con người.<br>&nbsp;Lễ hội cung cầu mùa phản ánh niềm tin vào các thế lực siêu nhiên của người Khơ Mú thuở sơ khai, đồng thời thể hiện ước muốn về mùa màng bội thu, cuộc sống no ấm, đầy đủ như khát vọng ngàn đời của các cư dân nông nghiệp. Lễ hội cung cầu mùa&nbsp; gồm 5 phần: phần lễ cúng ma nhà, tổ tiên - rượu cần; phần lễ tôn vinh cây lúa cây khoai sọ; phần lễ cầu mưa; lễ chọc lỗ tra hạt; cuối cùng là các trò chơi dân gian mừng lễ hội... Trong phần lễ thường có các tiết mục múa tra hạt (tiếng Khơ Mú gọi là “Tẹ chư moi”), múa đao, múa đuổi chim, múa Cá lượn (Tẹ cạ grang), thổi Pilưmblang, nhạc cụ độc đáo của dân tộc Khơ Mú được thổi theo giọng tơm, múa mừng lúa mới; lễ hội cầu mưa; lễ chọc lỗ, tra hạt. Sau phần lễ là các trò chơi dân gian dân tộc. Lễ hội cúng cầu mùa là nghi thức để nhớ ơn người xưa đã biết tìm cây lúa, cây hoa màu và thể hiện quan niệm cây lúa cây hoa màu cũng có hồn, có thần. Lễ hội được tổ chức uy nghiêm, trang trọng phản ánh niềm tin của đồng bào vào thiên nhiên, trời, đất, nương rẫy đồng thời thể hiện ước muốn về mùa màng bội thu, cuộc sống đầy đủ.&nbsp;<br><br></div><div><br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2021290322/7e18eea1f6b9f8b9fdf3356f03ed496a/IMG_0952.jpeg" />
         <pubDate>2023-04-14 03:21:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2554035403</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2554036176</link>
         <description><![CDATA[<div>Dân tộc Lào-Phương Nhi</div><pre>-<mark>Người Lào có tổng dân cư 14.928 người,cư trú tại 42/63 tỉnh thành.(theo tổng điều tra 2009)</mark></pre><div>-<mark>Người Lào tại Việt Nam cư trú tập trung</mark> tại các huyện Điện Biên, Phong Thổ (tỉnh Điện Biên), huyện Sốp Cốp(Tỉnh Sơn La ), Than Uyên (tỉnh Lào Cai)<br>-<mark>Văn Hoá:</mark>Trong xã hội người Lào, những ông Mo Lăm là lớp người giỏi chữ và biết nhiều truyện cổ, dân ca. Họ ghi chép lại truyện cổ và các điệu dân ca quen thuộc. Trong vốn văn nghệ dân gian Lào có cả ảnh hưởng văn nghệ dân gian Thái. Người Lào múa Lăm vông trong các dịp liên hoan, lễ hội...</div><div>-<mark>Phong Tục:<br></mark>Trong phong tục ma chay, người chết được làm lễ và chôn cất chu đáo. Riêng người đứng đầu mường, bản dưới chế độ cũ khi chết thì thiêu xác.<br>-<mark>Nhà cửa,Trang phục:</mark><br>+Nhà ở thường rộng lòng, thoáng đãng, chắc chắn, cây cột chính ở cạnh bếp đun và các cột, kèo, được chạm khắc trang trí. Nóc nhà có mái cao, uốn khum hai đầu hồi, tạo dáng hình mai rùa<br>+Đàn ông Lào thường xăm hình chữ "vạn" vào <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/C%E1%BB%95_tay">cổ tay</a>và thường xăm hình con vật vào đùi.<br>+mặc váy đen quấn cao đến ngực, gấu váy thêu nhiều hoa văn sặc sỡ. Kiểu áo cánh ngắn bó thân với hàng khuy bạc phổ biến ở vùng Sông Mã (nữ)<br><mark>Tôn giáo</mark>: Phật giáo thượng toạ bộ,vật linh<br><br><br><br></div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2021291071/df387fb6c5945627de1e8b1111ac6542/6A121E78_FF77_41C8_978D_8FBE2B637734.jpeg" />
         <pubDate>2023-04-14 03:22:07 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2554036176</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2554039380</link>
         <description><![CDATA[<div>*Dân số:&nbsp;<br>-Lớn thứ hai sau dân tộc kinh<br>-Tổng dân số: 1.845.492 (2019)<br>*Địa bàn cư trú:cư trú tại các tỉnh trung du và miền núi phía bắc: Lạng Sơn, Tuyên Quang,Cao Bằng,....<br>*Nét đặc sắc về đời sống tinh thần<br>-Tín ngưỡng,tôn giáo<br>+ thờ cúng tổ tiên, bàn thờ của họ được đặt ở nơi trang trọng nhất của ngôi nhà.<br>+ Quan niệm: “Vạn vật hữu linh” với họ mọi thứ đều có linh hồn<br>+ Trong gia đình có việc gì xảy ra, gia chủ đều phải khấn báo với gia tiên.<br>+ tôn giáo:ngày tảo mộ (3/3 âm lịch)<br>+ Tết Nguyên Đán là ngày lễ quan trọng nhất của trong năm<br>+ chịu ảnh hưởng của tôn giáo như Phật, Đạo, Nho&nbsp;<br>-Phong tục tập quán, lễ hội<br>+hầu hết người Tày kết hôn trong cùng dòng họ. Gia đình người Tày theo chế độ gia đình hạt nhân, phụ hệ, một vợ một chồng<br>+lễ hội: Lễ cưới (người Tày) Lễ hội Lồng tồng, Lễ hội Nàng Hai, gia đình có các Lễ cầu an, Lễ cưới, Lễ mừng thọ,...<br>•••••••••••••••••••••••••••••<br>*Population:<br>&nbsp;-Second largest after Kinh people<br>&nbsp;-Total population: 1,845,492 (2019)<br>&nbsp;* Place of residence: residing in the northern midland and mountainous provinces: Lang Son, Tuyen Quang, Cao Bang,....<br>&nbsp;*Special features of spiritual life<br>&nbsp;-Religious beliefs<br>&nbsp;+ worship ancestors, their altar is placed in the most solemn place of the house.<br>&nbsp;+ Concept: "Things are animistic". For them, everything has a soul<br>&nbsp;+ If something happens in the family, the householder must confess to the ancestors.<br>&nbsp;+ religion: grave digging day (3/3 lunar calendar)<br>&nbsp;+ Lunar New Year is the most important holiday of the year<br>&nbsp;+ influenced by religions such as Buddhism, Taoism, Confucianism<br>&nbsp;-Traditions, festivals<br>&nbsp;Most of the Tay get married in the same clan.&nbsp; The Tay family follows the nuclear, patriarchal, and monogamous family system<br>&nbsp;+ Festivals: Wedding ceremony (Tay people) Long Tong festival, Nang Hai festival, families have peace ceremonies, wedding ceremonies, Long life celebrations,...</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2021298789/2ae935a27e5189d18637d195c4ad843b/inbound977749206488358343.png" />
         <pubDate>2023-04-14 03:25:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2554039380</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc La Ha - Võ Thị Minh Tuệ </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2554040735</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><mark>Dân số:</mark></strong> 10,157 người <br><strong><mark>Địa bàn cư trú:</mark></strong> Tuyệt đại đa số người La Ha cư trú tập trung tại tỉnh Sơn La, cư trú đông nhất ở huyện Bắc Yên và Mường La, Thuận Châu. Ngoài ra người La Ha còn sinh sống tại Hà Nội (thống kê được 13 người) và Đắk Nông (12 người).<br><strong><mark>Nét đặc sắc về đời sống tinh thần: <br></mark></strong><strong>1. Tín ngưỡng, tôn giáo:&nbsp;</strong></div><div>- Giống như nhiều tộc người khác, <em>người La Ha</em> cũng theo tín ngưỡng “vạn vật hữu linh”. Đồng bào có những kiêng kỵ và thờ cúng rất nhiều loại ma được gọi bằng những tên khác nhau, thí dụ như: cái dạ, kà dạ...<br>- Thờ cúng tổ tiên là tín ngưỡng phổ biến ở đồng bào. Họ chỉ thờ cúng tới hai đời, nghĩa là chỉ thờ cúng ma bố mẹ đã mất.</div><div>- Người La Ha có rất nhiều kiêng kỵ trong đời sống hằng ngày như không được tự do đi lại hay chơi đùa ở nơi thờ cúng ma, con dâu, con rể không được vào gian cuối, nơi ngủ của ông bà, bố mẹ, nơi thờ cúng, đặc biệt là vào những ngày cúng lễ và cửa sổ ma nằm ở phía đối diện với gian thờ.</div><div>- Họ không bao giờ xâm phạm đến rừng ma (nơi chôn người chết của cả bản). Cụ thể là không được khai thác những cây đã đổ, không được săn bắn và thả gia súc,... trong rừng ma.<br><strong>2. Phong tục tập quán: <br>- </strong>Dân tộc La Ha sống chủ yếu bằng nghề làm rẫy theo lối du canh. Việc hái lượm rất quan trọng, thường xuyên hơn so với săn bắn và đánh cá. Ngày nay, nhiều bản đã làm ruộng, biết đắp bờ chống xói mòn nương, có nơi đã biết dùng phân bón. Chăn nuôi có lợn, gà, nay thêm trâu, bò dùng để cày kéo.<br>- Bản của người La Ha thường có khoảng chục nóc nhà. Đồng bào ở nhà sàn có hai cửa ra vào với thanh lên xuống tại hai đầu nhà, một cửa vào chỗ để tiếp khách và một cửa vào chỗ dành cho sinh hoạt nội bộ gia đình.<br>- Người La Ha không dệt vải, chỉ trồng bông và đem bông trao đổi với người Thái lấy vải mặc, nên mặc giống người Thái Đen.<br>- Theo phong tục làm ma của người La Ha, người chết được chôn theo cả tiền và thóc. Người La Ha tin có nhiều loại ma, như: Ma rừng, ma nước, ma nương, ma nhà…Mỗi người có 8 hồn, sau khi chết bình thường hồn hoá ra ma nhà hoặc ma nương. Trong mỗi gia đình đều có bàn thờ ma nhà, nhưng chỉ thờ một ông bố mà thôi. Hàng năm vào mùa hoa ban nở, nhà nhà đều làm lễ tạ ơn cha mẹ.<br>- Trai gái La Ha được tự do tìm hiểu nhau, không bị cha mẹ ép buộc cưới gả. Tuy nhiên, việc cưới gả phải được cha mẹ ưng thuận. Để tỏ tình chàng trai phải đến nhà cô gái và dùng sáo, nhị, lời hát trước khi trò chuyện bình thường. Sau lễ dạm hỏi, nếu nhà gái không trả lại trầu do bà mối của nhà trai đưa đến thì tổ chức lễ xin ở rể và chàng trai phải ở rể từ 4 đến 8 năm. Hết hạn đó, lễ cưới mới tiến hành, cô dâu được về ở nhà chồng. <br><strong>3. Lễ hội:</strong> Lễ hội Pang A, Tang chế, Lễ dâng hoa măng<br><strong>4. Ẩm thực: </strong><br>- Về ăn uống, lương thực chính của người La Ha là ngô và gạo nếp. Tuy nhiên, sắn và khoai sọ cũng chiếm một vị trí quan trọng. Gạo nếp thường được đồ lên bằng cái ninh xôi. Gạo tẻ cũng đã bắt đầu xuất hiện trong bữa ăn của đồng bào nhưng chỉ để đãi khách không ăn được cơm nếp... Hiện nay, đồng bào vẫn giữ thói quen ăn cơm nếp.</div><div>- Rượu là đồ uống được đồng bào ưa chuộng, nhất là trong các dịp tiếp khách, lễ hội, cưới xin, ma chay. Đồng bào thường sử dụng rượu nấu để trong chai hoặc rượu cần ủ trong chum. Gia đình nào cũng ủ sẵn vài chum rượu cần trong nhà để mời nhau những khi rỗi rãi, vui vẻ hay vào những dịp lễ hội.<br><br><br><br><strong><mark>Population:</mark></strong> 10,157 people<br><strong><mark>Place of residence:</mark></strong> The vast majority of La Ha people reside in Son La province, the largest population is in Bac Yen and Muong La, and Thuan Chau districts. In addition, La Ha people also live in Hanoi (13 people) and Dak Nong (12 people).<br><strong><mark>Features of spiritual life:<br></mark></strong><strong>1. Beliefs and religions:<br></strong>- Like many other ethnic groups, the La Ha also follow the belief in "animistic things". The people have taboos and worship many kinds of ghosts called by different names, for example, da, ka da...<br>- Ancestor worship is a popular belief among the people. They only worship for two generations, that is, they only worship the ghosts of their deceased parents.<br>- La Ha people have a lot of taboos in daily life such as not being allowed to move freely or play in places of worshiping ghosts, daughters-in-law and son-in-law not allowed to enter the last room, the sleeping place of grandparents, parents, the place of worship, especially on the days of worship, and the ghost window is on the opposite side of the altar.<br>- They never encroach on the ghost forest (where the village's dead are buried). Specifically, it is not allowed to exploit fallen trees, not to hunt and release livestock, etc. in the ghost forest.<br><strong><mark>2. Customs:<br></mark></strong>- La Ha people live mainly by farming in the way of shifting cultivation. The gathering is important, more often than hunting and fishing. Today, many villages have cultivated fields, know how to build banks to prevent erosion, and in some places, they know how to use fertilizers. Raising pigs and chickens, now adding buffaloes and cows used for plowing and pulling.<br>- The La Ha village usually has about ten roofs. People living on stilts have two doors with up and down bars at both ends of the house, one entrance to the place to receive guests, and one door to the place for internal family activities.<br>- La Ha people do not weave cloth, only grow cotton and exchange cotton with Thai people for cloth, so they dress like the Black Thai.<br>- According to the La Ha ghost custom, the dead are buried with money and grain. The La Ha believe there are many types of ghosts, such as forest ghosts, water ghosts, house ghosts, house ghosts, etc. Each person has 8 spirits. In every family, there is an altar for house ghosts, but only one father is worshiped. Every year in the flowering season, the family celebrates Thanksgiving with their parents.<br>- La Ha boys and girls are free to get to know each other, not forced by their parents to get married. However, the marriage must be approved by the parents. To confess his love, the boy must go to the girl's house and use the flute, erhu, and lyrics before having a normal conversation. After the marriage ceremony, if the bride's family does not return the betel nut brought by the groom's matchmaker, the bridegroom's marriage ceremony will be held and the boy must stay in law for 4 to 8 years. After that time limit, the new wedding ceremony will take place, and the bride will be allowed to stay at her husband's house.<br><strong>3. Festivals: </strong>Pang A Festival, Funeral, Bamboo Shoot Ceremony<br><strong>4. Cuisine:</strong><br>- In terms of food, the main food of the La Ha people is corn and sticky rice. However, cassava and taro also occupy an important position. Sticky rice is usually cooked with sticky rice. Plain rice has also begun to appear in people's meals, but only to treat guests who cannot eat sticky rice... Currently, people still keep the habit of eating sticky rice.<br>- Wine is a favorite drink of the people, especially at receptions, festivals, weddings, and funerals. People often use cooking wine in bottles or wine to be brewed in jars. Every family also brews a few canned can wine in the house to invite each other during free time, fun, or on festive occasions.</div><div><br><br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-14 03:26:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2554040735</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc La Hủ - Đinh Huyền Trân</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2554043953</link>
         <description><![CDATA[<div><br><strong>Dân số</strong>: 12.113 người (Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số 01/4/ 2019).<br><strong>Địa bàn cư trú:</strong> cư trú chủ yếu ở huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.<br>* <strong>Nét đặc sắc về đời sống tinh thần:<br>Hoạt động sản xuất</strong>: Người La Hủ chủ yếu làm nương du canh với nhịp độ luân chuyển cao. Gần đây họ chuyển dần sang trồng lúa trên ruộng bậc thang. Người La Hủ nổi tiếng về nghề đan lát (mâm cơm, ghế mây), rèn. Săn bắt, đánh cá, hái lượm có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống kinh tế.<br><br></div><div><strong>Ăn</strong>: Người La Hủ đã chuyển từ ăn ngô, cơm nếp sang chủ yếu cơm tẻ, thích dùng các loại thịt chim, thú do săn bắn được, cá bắt ở khe suối, măng chua, canh đậu, bầu bí.<br><br></div><div><strong>Mặc</strong>: Người La Hủ không có truyền thống trồng bông. Trước đây, phụ nữ thường đem thịt thú rừng, nấm hương, thuốc phiện và các lâm thổ sản quý đổi lấy vải của các dân tộc khác hoặc đổi lấy bông để tự dệt thành vải. Phụ nữ mặc quần áo dài. Mặc hai lớp áo, áo trong tay dài, cài khuy bên nách phải, áo ngoài tay ngắn, cài khuy giữa ngực. Ngày thường họ chỉ mặc áo dài, ngày lễ, tết mặc thêm áo ngắn ra ngoài.<br><br></div><div><strong>Ở</strong>: Trước đây họ thường làm nhà, lều rải rác ở ngay trên nương, trên núi cao thuộc hai xã Pa Ủ VÀ PA VỆ SỦ HUYỆN Mường Tè (Lai Châu). Nhà lợp lá, lá vàng lại chuyển đi nơi khác nên người La Hủ mới có tên Xá lá vàng. Hiện nay, họ phổ biến ở nhà trệt hoặc trình tường bằng đất hoặc ván. Bếp, nhà thờ và giường ngủ của gia đình bao giờ cũng ở chung một gian.<br><br><strong>Quan hệ xã hội</strong>: Người La Hủ cư trú phân tán thành nhiều xóm nhỏ với thành phần dân cư thay đổi thường xuyên do lối sống du canh. Xã hội chưa có sự phân hoá giàu nghèo. Người phụ nữ được tôn trọng trong gia đình song có ít vai trò xã hội.<br><br></div><div>Quan hệ dòng họ lỏng lẻo, không có người đứng đầu dòng họ và không có nghi lễ cúng bái cho cả họ. Một số mang tên chim, thú nhưng nhiều họ khác không còn ai nhớ ý nghĩa.<br><br></div><div><strong>Cưới xin</strong>: Trai gái La Hủ được phép tự do yêu đương khi đến tuổi lập gia đình. Việc cưới hỏi được tiến hành qua nhiều bước. Trong só lễ vật nhà trai đưa sang nhà gái bắt buộc phải có thịt sóc. Sau lễ cưới, cô dâu cư trú bên chồng. Tuy nhiên, tục ở rể vẫn tồn tại với những chàng trai không sắm đủ đồ dẫn cưới, nhất là bạc trắng.<br><br></div><div><strong>Sinh đẻ</strong>: Phụ nữ La Hủ được phép đẻ trong gian buồng của mình với sự giúp đỡ của mẹ chồng hay chị em gái. Sau khi đẻ ba ngày thì lễ đặt tên cho đứa trẻ. Tên của trẻ sơ sinh thường được đặt theo ngày sinh, do vậy trong cộng đồng người La Hủ, việc trùng tên khá phổ biến. Nếu thấy trẻ lâu lớn hoặc hay đau ốm, có thể làm lễ đổi tên khác.<br><br></div><div><strong>Ma chay</strong>: Khi nhà có người chết, người ta bắn súng để đuổi ma và báo cho họ hàng, làng xóm biết. Quan tài thường là một khúc gỗ bổ đôi, khoét rỗng cả hai nửa. Ngày giờ đi chôn được lựa chọn cẩn thận.<br><br></div><div>Người La Hủ không có nghĩa địa cố định. Thời hạn để tang của con cái đối với cha mẹ là ba năm song không có các dấu hiệu đặc biệt trên trang phục hay đầu tóc.<br><br></div><div><strong>Thờ cúng</strong>: Người ta cúng tổ tiên, bố mẹ và những người thân đã mất chỉ vào các dịp cơm mới, ngày tết tháng bảy hay gieo xong lúa nương, khi cưới xin, ma chay. Không có tục cúng vào ngày giỗ. Lễ vật duy nhất dâng cho tổ tiên là cơm gói trong lá rừng.<br><br><strong>Học</strong>: Xưa kia, người La Hủ Không có chữ. Hiện nay, học sinh học chữ quốc ngữ. Người La Hủ sử dụng lịch truyền miệng chia năm thành 12 tháng, mỗi tháng tương ứng với một con vật. Họ biết nhiều cây thuốc trên rừng. Ðể giữ bí mật và mong sự linh nghiệm của những cây thuốc, người ta thường phủ lên trên những nghi lễ, tín ngưỡng. Mỗi lần định đi hái thuốc họ giữ kín cả buổi không nói chuyện với ai, bất chợt lẻn vào rừng không cho người khác biết.<br><br></div><div><strong>Văn nghệ</strong>: Người La Hủ thích nghe và sử dụng thành thạo khèn.<br><br></div><div><strong>Chơi</strong>: Chiều chiều, trẻ em thường quây quần bên đống lửa quanh nhà, bên bờ suối vừa chơi, vừa hát, gõ cây làm nhịp<br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2021289140/e3d19d800c880c11b075b2c09bf243c9/59750593_1C05_43EF_ADCC_D5C0B3E85BA3.jpeg" />
         <pubDate>2023-04-14 03:29:29 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2554043953</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc: Mạ- Dân số: 50322 (người)- Địa bàn cư trú: từ vùng giáp ranh khu vực cao nguyên Đà Lạt trên địa bàn các huyện Bảo Lâm, Bảo Lộc, Đạ Huoai, Đức Trọng và Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, 1 phần ở vùng đệm rừng quốc gia Cát Tiên về phía Tây Nam, tỉnh Bình Phước và Đồng Nai.- Tín ngưỡng: tín ngưỡng đa thần giáo, với quan niệm vạn vật hữu linh. Thần (Yàng), Thần núi (Yang bơ nơm), Thần nhà (Yang hiu), Thần lúa (Yang koi), Thần sông (Yang đạ)... - Trang phục: Nam đóng khố, nữ mặc áo dài sát thân.- Phong tục tập quán: cà răng, căng tai, phụ nữ thích đeo chuỗi hạt cườm nhiều màu sắc.- Lễ hội: lễ hội mừng lúa mới, lễ cúng bến nước, lễ lên nhà mới,...</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2554047516</link>
         <description><![CDATA[<div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2013144022/c485ce6977631acb24626d95dc111bbf/inbound100879950146232727.jpg" />
         <pubDate>2023-04-14 03:32:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2554047516</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Chu Ru - Nguyễn Bình Nhi</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2554048020</link>
         <description><![CDATA[<div>- Dân số: 23.242 (2019)<br>- Người Chu Ru cư trú chủ yếu ở Lâm Đồng.<br>- Tín ngưỡng tôn giáo: Đồng bào dân tộc Chu Ru theo tín ngưỡng đa thần: thờ cúng tổ tiên và các thần linh. Thờ cúng tổ tiên - pơ khi mô cay, nhưng không đặt bàn thờ ở trong nhà, mà chỉ lập bàn thờ ở ngoài nghĩa địa - cốt a tau.<br>-&nbsp; Thờ cúng tổ tiên: Người Chu-ru thờ cúng tổ tiên. Trong nhà không có bàn thờ, việc thờ cúng diễn ra ở nghĩa địa. Các nghi lễ nông nghiệp ở người Chu-ru khá phong phú như cúng thần đập nước, thần mương nước, thần lúa, ăn mừng lúa mới...<br>- Lễ hội: Lễ hội (bok) là dịp sinh hoạt cộng đồng được người Chu Ru mong chờ, ở đó, cồng chiêng là tiếng nói tâm linh kết nối con người với thần linh, Bok Bơmung cúng thần đập nước cũng diễn ra trong không gian của những thanh âm linh thiêng ấy suốt 3 ngày đêm.<br>- Ngôn ngữ: Người Chu Ru đa số nói <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Ti%E1%BA%BFng_Chu_Ru">tiếng Chu Ru</a>, một ngôn ngữ thuộc <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Ng%E1%BB%AF_chi_Malay-Polynesia">ngữ chi Malay-Polynesia</a> trong <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Ng%E1%BB%AF_h%E1%BB%87_Nam_%C4%90%E1%BA%A3o">ngữ hệ Nam Đảo</a>. Tuy nhiên, do cư trú lân cận với người <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_C%C6%A1_Ho">Cơ Ho</a>, nên một bộ phận dân tộc Chu Ru cũng nói <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Ti%E1%BA%BFng_C%C6%A1_Ho">tiếng Cơ Ho</a>, thuộc <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Ng%E1%BB%AF_t%E1%BB%99c_M%C3%B4n-Khmer">nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer</a>.<br>- Kinh tế: Người Chu Ru là một dân tộc đã <a href="https://vi.m.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90%E1%BB%8Bnh_canh&amp;action=edit&amp;redlink=1">định canh</a> <a href="https://vi.m.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90%E1%BB%8Bnh_c%C6%B0&amp;action=edit&amp;redlink=1">định cư</a> và làm ruộng từ lâu đời. Nghề <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BB%93ng_tr%E1%BB%8Dt">trồng trọt</a> chiếm vị trí hàng đầu trong đời sống kinh tế và <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/L%C3%BAa">lúa</a> là cây lương thực chủ yếu. Ngoài ra họ còn trồng ngô, khoai, sắn và một số loại rau, đậu trên rẫy hoặc trong vườn.<br>- Xã hội cổ truyền Chu ru dựa trên cơ sở làng (plei). Phạm vi của làng là một khoảng đất rộng ba, bốn km², gồm: thổ cư, đất trồng trọt, các công trình thủy lợi cùng với rừng núi, sông suối..., có ranh giới tự nhiên như con sông, dòng suối hoặc quả đồi, do các chủ làng (pô plei nay pô plơi) quy ước với nhau và được lưu truyền qua nhiều thế hệ.<br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-14 03:33:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2554048020</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc Raglai- Nguyễn Đan Lê</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2554073986</link>
         <description><![CDATA[<div>• Dân số : 146,613<br>• Địa bàn cư trú : Người Ra Glai cư trú chủ yếu ở tỉnh Ninh Thuận và huyện Khánh Sơn, phía nam tỉnh Khánh Hòa cũng như tại Bình Thuận.&nbsp;<br>• Nét đặc sắc về đời sống tinh thần :<br>+) Tín ngưỡng : Người Raglai theo tín ngưỡng đa thần “vạn vật hữu linh”. “Giàng” là vị thần linh tối cao nhất, văn hoá có chữ viết, truyện thần thoại về các vị thần sáng tạo trời đất, muôn loài.<br>+) Tôn giáo : Tôn giáo truyền thống của người Raglai là thờ cúng tổ tiên (Mok kei, awei ama), thần đất (Yang tanah), thần rừng (Yang lakaik) thông qua các lễ nghi hằng năm gắn liền với mùa rẫy và vòng đời người.<br>+)Phong tục, tập quán:&nbsp;<br>&nbsp; -Phụ nữ thì mặc váy hoặc quần áo sơ mi, áo bà ba, trong các dịp lễ hội, cúng tế cũng như ngày thường. Tương truyền ngày xưa đàn ông Raglai cởi trần đóng khố; đàn bà quấn váy tấm, mặc áo cộc luồn đầu. Đồ trang sức của nữ có vòng đeo cổ tay, vòng đeo cổ, các loại vòng cườm, bông tai bằng đồng thau hay bằng bạc.<br>&nbsp;-Nhà ở của người Raglai thường xây dựng trên sườn đồi về một bên của dòng suối và có tập quán xây dựng cách xa nhau. Người Raglai ở nhà sàn (còn gọi là nhà dài), là nơi sinh sống quây quần của ít nhất ba, bốn thế hệ dưới sự cai quản của chủ nhà, thường là người già, cao tuổi nhất trong gia đình, trong dòng họ.<br>&nbsp;-Về quan hệ gia đình, người Raglai theo chế độ mẫu hệ, cho đến nay họ vẫn duy trì tuy đã có sự thay đổi theo môi trường xã hội mới. Con gái cưới chồng về nhà mình với quan niệm “Chặt cây rừng về làm nhà, bắt người ta về làm người nhà mình”. Chàng rể, người chồng trở thành trụ cột trong gia đình nhà vợ nhưng quyền quyết định những công việc lớn lao vẫn thuộc về người vợ và ông cậu bên vợ. Con gái sinh ra mang họ mẹ và luôn giữ mối quan hệ huyết thống theo dòng họ mẹ suốt 7 đời. Quyền thừa kế tài sản chỉ thuộc về con gái, đặc biệt là người con gái út.<br>&nbsp;-Ngôi nhà dài truyền thống Raglai kết cấu vững chắc, quanh khu nhà ở có hàng rào chắc chắn, có một hoặc hai cửa ra vào và luôn có máng nước bằng tre nứa dẫn từ suối về bảo đảm sinh hoạt hàng ngày và có chỗ tắm giặt cho đàn bà, con gái, trẻ em. Ngoài ra, trên đám rẫy đang canh tác, người Raglai còn có nhà rẫy để ăn uống nghỉ ngơi trong những ngày lao động mùa vụ, có kho tạm chứa hoa lợi trước khi mang về nhà.<br>+) Lễ hội : Dân tộc Raglai có nhiều lễ hội lớn. Ví dụ như : -Lễ hội ăn mừng lúa mới.&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; -Lễ báo hiếu<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; -Mạn đàm "Tết"&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; -Lễ bỏ Mã<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; -.........<br>• Population : 146,613<br>• Place of residence: The Ra Glai live mainly in Ninh Thuan province and Khanh Son district, in the south of Khanh Hoa province as well as in Binh Thuan.<br>• Characteristics of spiritual life:<br>+) Beliefs: The Raglai follow the polytheistic belief of "animistic things". "Giang" is the highest deity, written culture, mythical stories about the gods who created heaven and earth, all species.<br>+)Customs and habits:<br>&nbsp; -Women wear skirts or shirts, ba ba shirts, in festivals, sacrifices as well as on weekdays. Legend has it that in the past, Raglai men wore loincloths naked; women wear skirts, wear blazers. Women's jewelry includes bracelets, necklaces, beads, and earrings in brass or silver.<br>-The Raglai people's houses are usually built on the hillside to one side of the stream and have the custom of building far away from each other. The Raglai live in a stilt house (also known as a long house), which is a gathering place for at least three or four generations under the rule of the host, usually the oldest and oldest in the family. .<br>&nbsp;-Regarding family relations, the Raglai people follow the matrilineal system, so far they have maintained it despite the changes in the new social environment. Daughter married her husband to her house with the concept of "Cutting down forest trees to build a house, forcing people to come back to be family members". The groom and the husband become the breadwinner in the wife's family, but the right to decide on great things still belongs to the wife and his uncle on the wife's side. Daughters are born with the mother's last name and always keep a blood relationship according to the mother's family for 7 generations. The right to inherit property belongs only to daughters, especially the youngest daughter.<br>&nbsp;The traditional long house Raglai has a solid structure, surrounded by a solid fence, has one or two doors and always has a bamboo water trough leading from the stream to ensure daily living and space. bathing for women, girls and children. In addition, on the fields of cultivation, the Raglai people also have a swidden house to eat and rest in the days of seasonal labor, and a temporary storehouse to store their crops before bringing them home.<br>+) Festivals: The Raglai people have many big festivals. For example:<br>&nbsp;                         -Lễ hội ăn mừng lúa mới.&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; -Lễ báo hiếu<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; -Mạn đàm "Tết"&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; -Lễ bỏ Mã<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; -.........<br><br><br></div><div>&nbsp;<br><br></div><div><br><br>&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2021290664/7bda2a1a3cd3ef445b8d7ed0bb18c5cb/inbound710670723914821722.jpg" />
         <pubDate>2023-04-14 04:06:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2554073986</guid>
      </item>
      <item>
         <title>DÂN TỘC DAO </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2554613934</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Phần 1: Tiếng Việt.</strong></div><div><strong>* Dân số:</strong></div><div>&nbsp; Người Dao là một trong số 54 dân tộc Việt Nam, với số dân là 891.151 người năm 2019.&nbsp;</div><div><strong>* Địa bàn cư trú:<br>&nbsp; </strong>Ở Việt Nam, người Dao tuy có dân số không đông nhưng các bản làng của họ trải rộng tại các miền rừng núi phía Bắc (Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Tuyên Quang,...) đến một số tỉnh trung du như: Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hòa Bình, Hà Nội và miền biển Quảng Ninh (người Dao Thanh Y).</div><div><strong>* Nét đặc sắc về đời sống tinh thần:<br></strong>- Người Dao chia ra thành nhiều nhóm khác nhau, với những nét riêng về phong tục tập quán mà biểu hiện rõ rệt nhất là trên trang phục của họ như: Dao Đỏ, Dao Quần Chẹt, Dao Thanh Y, Dao Áo dài, Dao Quần Trắng,... Mặc dù, họ có nhiều nhóm người khác nhau.</div><div>- Về hoạt động sản xuất, người Dao phổ biến là làm nương, thổ canh trên hốc đá và canh tác ruộng. Cây lương thực chính của họ là lúa, ngô và các loại rau màu như bầu, bí, khoai... Nghề trồng bông, dệt vải phổ biến ở các nhóm Dao và họ ưa dùng vải nhuộm chàm. Hầu hết các xóm tộc người Dao đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ, nhiều nơi còn làm súng hoả mai, súng kíp, đúc những hạt đạn bằng gang. Người Dao cũng có nghề thợ bạc là nghề gia truyền, chủ yếu làm những đồ trang sức...</div><div>- Phụ nữ Dao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài, yếm, váy hoặc quần, y phục thêu rất sặc sỡ. Bộ y phục của người phụ nữ Dao là chiếc áo được thiết kế dài đến gần đầu gối. Cổ áo được thiết kế theo hình chữ V có thêu hoa văn, lưng áo cũng thêu hoa văn. Theo quan niệm của đồng bào Dao, nhìn vào cách thêu hoa văn ở phần đuôi áo của người phụ nữ sẽ biết được người phụ nữ khéo hay không, có đảm đang hay không. Còn đàn ông Dao, trước đây để tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn.&nbsp;</div><div>- Dù sinh sống ở nhiều vùng miền, nhưng sinh hoạt cộng đồng của đồng bào dân tộc Dao vẫn mang tính chất khép kín, thể hiện qua phong tục tập quán, qua hôn nhân. Khi dựng vợ gả chồng cho con cái, đồng bào Dao chỉ mong gả trong cộng đồng dân tộc mình.</div><div>- Tục thờ cúng: Đối với người Dao, việc thờ cúng đặc biệt được chú trọng, vì vậy các nghi lễ liên quan đến thờ cúng tổ tiên luôn được đồng bào duy trì, thể hiện với những nghi lễ độc đáo, đặc sắc. Nghi lễ thờ cúng nói chung của người Dao mang đậm tính nhân văn, hướng con người nhớ đến nguồn cội, xua đuổi cái ác và là sợi dây liên kết cộng đồng sâu sắc. Trong nghi lễ thờ cúng, người Dao sử dụng nhiều tranh cúng và mỗi dịp lễ, Tết, lại có những loại tranh cúng riêng; trong đó phổ biến là bộ tranh Tam Tượng (hay còn gọi là Tam Thanh) và bộ Đại Đường Quân. Tranh thờ không chỉ là tín ngưỡng mà còn thể hiện niềm tin của người Dao với cuộc sống. Đồng bào quan niệm, các vị thần linh luôn nhìn thấu mọi việc và sẵn sàng phạt người nào định làm điều ác. Chỉ cần nhìn ngắm bức tranh có các vị thần được khắc họa oai nghiêm là những ai có ý định làm việc xấu sẽ phải dừng lại.&nbsp;</div><div>- Lễ cấp sắc: là một trong những nét văn hóa truyền thống đặc sắc nhất của dân tộc Dao. Theo quan niệm của đồng bào, lễ cấp sắc là một thủ tục không thể thiếu của người đàn ông dân tộc Dao, được cấp sắc mới được coi là người đàn ông đã trưởng thành và có đủ quyền tham gia các công việc của cộng đồng. Lễ cấp sắc của người Dao thường được tổ chức vào tháng 11, 12 hoặc tháng Giêng hàng năm, với rất nhiều nghi lễ đa dạng và độc đáo của các ngành đồng bào Dao. Mỗi ngành Dao đều có không gian hành lễ, mang đặc trưng riêng. Với những giá trị đặc sắc, nghi lễ cấp sắc của người Dao ở Tuyên Quang đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.</div><div>- Hát Páo Dung: được coi là như một trong những báu vật văn hóa của dân tộc Dao. Hát Páo Dung thể hiện những tâm tư, tình cảm và ước muốn của người Dao trong cuộc sống thường ngày. Ở mỗi ngành Dao, Páo Dung lại được biểu diễn khác nhau, có vùng thì với âm điệu trầm kéo dài, có vùng âm điệu lại cao, bay bổng. Tuy có sự khác nhau về cách thể hiện giữa các ngành Dao, nhưng những làn điệu Páo Dung của đồng bào Dao ở Tuyên Quang đều có nét chung là đề cao lẽ sống, cách ứng xử, ca ngợi thiên nhiên và tinh thần lao động sáng tạo. Với những nét độc đáo, nghệ thuật hát Páo Dung cũng đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.</div><div><strong>Phần 2: Tiếng Anh.</strong></div><div><strong>* Population:</strong></div><div>  The Dao people are one of the 54 ethnic groups in Vietnam, with a population of 891,151 people in 2019.&nbsp;</div><div><strong>* Place of residence:<br>&nbsp; &nbsp;</strong>In Vietnam, the Dao people have a small population, but their villages are spread in the northern mountainous regions (Cao Bang, Ha Giang, Lao Cai, Yen Bai, Lai Chau, and Tuyen Quang,...) to some midland provinces such as Phu Tho, Vinh Phuc, Hoa Binh, Hanoi and Quang Ninh coastal region (Dao Thanh Y people).&nbsp;</div><div><strong>* Features of spiritual life:<br>- </strong>The Dao people are also divided into many different groups, with their characteristics of customs and habits that are most evident in their costumes such as Red Dao, Dao Quan Chet, Dao Thanh Y, Dao Ao Dai, and Dao White Pants,... Although, they have different groups of people.</div><div>- Regarding production activities, the Dao people are popular in upland farming, soil cultivation on rock niches and field cultivation. Their main food crops are rice, maise and vegetables such as gourds, squash, and potatoes... Cotton cultivation and weaving are common among Dao groups and they prefer to use indigo-dyed fabrics. Most of the Dao villages have forged to repair agricultural tools, in many places they also make muskets, flintlocks, and cast iron bullets. The Dao people also have a silversmith profession, which is an heirloom profession, mainly making jewellery...</div><div>- Dao women wear various clothes, often wearing ao dai, bib, skirt or pants, and colourfully embroidered clothes. The dress of the Dao woman is a shirt designed to reach knee length. The collar is designed in a V shape with embroidered patterns, and the back of the shirt is also embroidered with patterns. According to the Dao people's concept, looking at the embroidery pattern on the back of a woman's shirt will tell if a woman is smart or not, brave or not. As for Dao men, formerly had long hair, a bun at the nape of the neck or long hair on top of the head, shaved around.</div><div>- Although living in many regions, the community activities of the Dao ethnic group are still closed in nature, expressed through customs and practices, through marriage. When marrying for their children, the Dao people only want to get married in their ethnic community.</div><div>- Worshiping custom: For the Dao, special attention is paid to worshipping, so the rituals related to ancestor worship are always maintained by the people, expressed with unique and special rituals. The general worshipping rituals of the Dao people are deeply humane, directing people to remember their roots, warding off evil and being a deep community link. In worshipping rituals, the Dao uses many offerings and each festival and New Year has its own type of worshipping pictures; in which the most popular is the set of Tam Tuong (also known as Tam Thanh) and the set of Dai Duong Quan. Worshipping paintings are not only a belief but also an expression of the Dao people's belief in life. People believe that the gods always see through everything and are ready to punish anyone who intends to do evil. Just looking at the picture with the gods depicted majestically, those who intend to do bad things will have to stop.</div><div>- The ceremony of honour: is one of the most unique traditional cultural features of the Dao ethnic group. According to the people's opinion, the ceremony is an indispensable procedure for the Dao man, who is considered an adult man and has the right to participate in community affairs. The ceremony of the Dao people is usually held in November, December or January every year, with many diverse and unique rituals of the Dao ethnic groups. Each branch of Dao has its own ceremony space with its own characteristics. With unique values, the Dao ethnic ceremony in Tuyen Quang has been recognized as a National Intangible Cultural Heritage.</div><div>- Pao Dung singing: is considered one of the cultural treasures of the Dao people. Pao Dung singing expresses the thoughts, feelings and wishes of the Dao people in daily life. In each branch of Dao, Pao Dung is performed differently, in some areas with prolonged low tones, and in other high and soaring tones. Although there are differences in expression between the Dao branches, the Pao Dung melodies of the Dao people in Tuyen Quang all have the common feature of upholding the meaning of life, manners, praising nature and the spirit of labour. creative. With its unique features, the art of Pao Dung singing has also been recognized as a National Intangible Cultural Heritage.</div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1374196215/d658d33b50d0907bf8540268f18c8fe7/image.png" />
         <pubDate>2023-04-14 14:24:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2554613934</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc La Chí</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2555133949</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Dân số</strong>: 15,126 người.</div><div><strong>Địa bàn cư trú</strong>: Hà Giang, Lào Cai. Cư trú tập trung đông nhất ở 4 xã: Bản Phùng, Bản Díu, Bản Pắng và Bản Máy thuộc huyện Xín Mần, kế đến là ở các huyện Hoàng Su Phì và Bắc Quang.</div><div><strong>Nét đặc sắc về đời sống tinh thần</strong>:</div><ul><li><strong>Tín ngưỡng, Tôn giáo</strong>:</li></ul><div>+ Người La Chí tin rằng, mỗi con người đều có 12 hồn, trong đó, có 2 hồn trọng yếu nhất nằm ở 2 vai.</div><div>+ Người La Chí thờ cúng tổ tiên tới ba đời tính từ đời bố ngược lên tới đời ông và đời cụ.</div><div>+ Người La Chí tổ chức quản lý và điều hành các hoạt động tôn giáo khá chặt chẽ.</div><ul><li><strong>Phong tục tập quán</strong>: Ở nhà sàn ba gian, bàn thờ tổ tiên đặt ở gian to nhất. Con lấy họ cha. Trong lễ cưới nhà trai phải nộp tiền cho nhà gái. Mỗi dòng họ đều có trống và chiêng riêng, dùng vào việc cúng bái. Tết tháng 7 là tết lớn nhất.</li><li>&nbsp;<strong>Văn hoá</strong>: Nhạc cụ có trống, chiêng, đàn tính, đàn môi bằng lá cây... Các trò chơi trong dịp lễ hội: ném còn, đánh quay, đu quay, đu dây...</li><li><strong>Trang phục</strong>: Nam mặc áo 5 thân dài tới ngang bắp chân, quần lá tọa, đầu quấn khăn. Nữ mặc áo dài tứ thân, có dây thắt lưng, yếm, đội khăn dài, mặc quần hoặc váy.</li></ul><div>•••••••••••••••••••••••••••••••••••<br>&nbsp;<br><strong>Population</strong>: 15,126 people</div><div><strong>Place of residence</strong>: Ha Giang, Lao Cai. The largest concentration is in 4 communes: Ban Phung, Ban Diu, Ban Pang and Ban May in Xin Man district, followed by Hoang Su Phi and Bac Quang districts.</div><div><strong>Features of spiritual life</strong>:</div><ul><li><strong>Beliefs, Religions</strong>:&nbsp;</li></ul><div>+ The La Chi people believe that each human being has 12 souls, of which the two most important souls are located in the shoulders.</div><div>+ The La Chi people worship their ancestors for three generations from the father's life up to his grandfather's life and his life.</div><div>+ The La Chi people organize and manage religious activities quite closely.</div><ul><li><strong>Customs</strong>: In the three-room stilt house, the ancestral altar is placed in the largest room. Children take their father's last name. During the wedding ceremony, the groom's family has to pay money to the bride's family. Each clan has its own drum and gong, used for worship. Tet in July is the biggest Tet.</li><li><strong>Culture</strong>: Musical instruments with drums, gongs, zithers, lip lutes made of leaves... Games during festivals: throwing con, spinning, swinging, swinging...</li><li><strong>Attire</strong>: Men wear a 5-body shirt with a length of the calf, pants, and a scarf. Women wear a long dress with a waistband, bib, long scarf, pants or skirt</li></ul><div><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="http://www.vietnam-tourism.com/imguploads/tourist/2014/VNDatNuocConNguoi/01Khaiquatchung/03Dancu/Cacdantoc/24Dantoclachi.jpg" />
         <pubDate>2023-04-15 03:44:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2555133949</guid>
      </item>
      <item>
         <title>DÂN TỘC TÀ ÔI</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2555325458</link>
         <description><![CDATA[<div>*Vietsub.<br>1.Dân số: 52 356 người.<br><br></div><div>2.Phân bố: Huyện Hướng Hóa - Quảng Trị, A Lưới và Phong Điền của Thừa Thiên Huế.<br><br>3. Tín ngưỡng: Người Tà Ôi quan niệm vạn vật đều có linh hồn, tín ngưỡng đa thần chi phối hầu hết các mặt trong cuộc sống của họ. Các thần linh đều có chung tên gọi là giàng. Có nhiều loại giàng khác nhau như: giàng núi, giàng sông, giàng đất,….Trong thế giới thần linh của người Tà Ôi trước tiên phải kể đến hồn. Ngoài ra, họ còn cho rằng người sống là có xác và có vía. Hơn nữa, trong quan niệm của họ là cây lúa, ngô và các của cải khác cũng đều có giàng.&nbsp;<br><br></div><div>4. Nhà cửa.</div><div>- Nhà sàn dài phổ biến tại nhiều vùng Trường Sơn - Tây Nguyên. Nhìn bề ngoài, nhà Tà Ôi kể cả nhà sàn và nhà đất đều có nó hình mai rùa và đều có "sừng" trang trí hình hai đầu chim cu tượng trưng cho tình yêu quê hương và tâm tính hiền hòa của dân tộc.</div><div>- Trung tâm của ngôi nhà là căn mong: nơi thờ tự, tiếp khách, hội họp chung của mọi thành viên trong nhà. Diện tích còn lại được ngăn thành từng buồng, chỗ ở và sinh hoạt của các gia đình. Thông thường thì các buồng được bố trí thành hai hàng theo chiều dọc. Ở giữa là hành lang dành để đi lại. Đến nay ở những nhà đất người ta vẫn duy trì bố cục bên trong nhà như vậy.<br><br>5.Trang phục.</div><div>- Đồ trang sức bằng đồng, bạc, hạt cườm, xương là phổ biến. Tục cà răng, căng tai, xăm mình, để tóc lá bài trước trán đã phai nhạt đi.</div><div>- Trang phục nam: Nam giới đóng khố, mặc áo hoặc ở trần.</div><div>- Trang phục nữ: Phụ nữ có áo, váy, có nơi dùng loại váy dài kéo lên che ngực thay áo.<br><br></div><div>6. Kinh tế truyền thống.</div><div>- Trồng trọt: Sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt trên nương rẫy- nương rẫy đa canh và du canh, theo phương thức canh tác cổ truyền là: phát cây, đốt rẫy, trỉa hạt.</div><div>- Chăn nuôi: Chăn nuôi trâu, bò, lợn, dê, gà,….</div><div>- Khai thác tự nhiên: Sinh sống ở miền Tây tỉnh Thừa Thiên - Huế và Quảng Trị, là vùng rừng núi, đồng bào Tà Ôi hết sức tận dụng khai thác các sản vật từ núi rừng, Đó là nấm khô, măng tươi, song, mây, mật ong rừng, các loại thảo dược,..<br><br></div><div>7. Ẩm thực: Người Tà Ôi ăn cơm là chính. Cơm có cơm nếp và cơm tẻ. Ngoài ra họ còn hay ăn cá khô. ngô, hoặc độn thêm khoai, sắn. Thức ăn có nguồn gốc động vật còn có các loại thịt trâu, bò, dê, lợn, gà, vịt. Thịt trâu băm nhỏ trộn muối ớt, tỏi nhồi vào ống lồ ô để vài ba ngày đem ra ăn được đồng bào ưa thích.<br><br></div><div>8. Ngôn ngữ, chữ viết: Thuộc hệ ngôn ngữ Nam Á, nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer và không có chữ viết riêng.<br><br></div><div>9. Văn hóa xã hội.</div><div>- Hình thái gia đình nhỏ phụ hệ là hình thái gia đình mang tính phố biến. Trong gia đình người Tà Ôi, quyền thừa kế tài sản thuộc về con trai.&nbsp;</div><div>-Trong quan hệ gia đình của người Tà Ôi, vai trò ông cậu - anh hoặc em trai của mẹ, có vai trò quan trọng trong việc tổ chức cưới xin cho các cháu - con của chị hoặc em gái của mình.</div><div>-Gia đình người Tà Ôi là gia đình nhỏ phụ quyền. Trong gia đình, người cha có quyền hành lớn giải quyết các công việc như sản xuất, làm nhà mới, tổ chức cưới xin, giao tiếp họ hàng, giao tiếp cộng đồng. Khi người cha mất đi, những điều đó thuộc về trách nhiệm người con trai cả.</div><div>- Khi dựng vợ, gả chồng rồi, đôi vợ chồng trẻ đều tách ra ở riêng để sớm có cơ hội gây dựng một cơ ngơi riêng cho mình và hơn nữa cũng muốn khẳng định mình trong dòng tộc và trong cộng đồng.</div><div>*Tục lệ cưới xin.</div><div>-Người Tà Ôi thực hiện hôn nhân ngoại dòng tộc và là hôn nhân một vợ một chồng bền vững. Nghiêm cấm những người có quan hệ huyết thống kết hôn với nhau. Người Tà Ôi tổ chức hôn nhân thuận chiều, theo hình thức liên minh ba và khép kín.</div><div>-Sau hôn nhân, người phụ nữ Tà Ôi phải về cư trú bên nhà chồng.Tục lệ cưới xin của người Tà Ôi gồm hai nghi lễ chính: nghi lễ thứ nhất là tập aboh - đập bếp và nghi lễ thứ hai là pei blô - mua cái đầu. Trong nghi lễ thứ nhất, nhà trai đưa đến nhà gái một phần tiền cưới; trong nghi lễ thứ hai, nhà trai thanh toán nốt số tiền cưới còn thiếu.</div><div>*Tập quán tang ma: Lễ cải táng là nghi lễ lớn nhất trong các nghi lễ thờ cúng tổ tiên của người Tà Ôi, đồng thời là một ngày hội lớn của dân làng và của các làng lân cận.&nbsp;<br><br></div><div>10. Văn nghệ: Vốn tục ngữ, ca dao, câu đố, truyện cổ khá phong phú. Người già am hiểu thường kể cho con cháu các truyện thời xưa, có tác dụng vừa giải trí, vừa giáo dục. Dân ca có điệu Calơi đối đáp khi uống rượu, hội hè, điệu Ba boih hát một mình khi lao động hoặc đi đường, điệu Roih gửi gắm, dặn dò đối với các bậc con cháu nhân các dịp vui vẻ, điệu Cha chap dành cho tình cảm trai gái của thanh niên...<br>* Engsub.<br><br>1.Population: 52,356 people.<br><br>2. Distribution: Huong Hoa - Quang Tri, A Luoi and Phong Dien districts of Thua Thien Hue.<br><br>3. Beliefs: Evil people believe that all things have souls, polytheistic beliefs dominate most aspects of their lives. The gods all share the same name. There are many different types of trellises such as mountain trellises, river trellises, earth trellises ,....In the spirit world of the Ta O people, the soul must first be mentioned. In addition, they claim that the living are corpse and astral. Moreover, in their conception rice, corn and other possessions were also available.&nbsp;<br><br>4. Homes.<br>- Long stilt houses are popular in many Truong Son - Central Highlands regions. On the outside, the Ta O house, both stilt houses and land houses, have turtle shells and have "horns" decorated with two cuckoo heads symbolizing the love of the homeland and the gentle disposition of the nation.<br>- The center of the house is the foundation: a place of worship, reception, and common gatherings of all members of the house. The remaining area is separated into rooms, accommodation and activities of families. Typically, the chambers are arranged in two vertical rows. In the middle is a corridor for travel. Up to now, in real estate houses, people still maintain such an internal layout.<br><br>5.Costumes.<br>- Bronze, silver, bead, bone jewelry is common. The custom of tying teeth, straining ears, tattooing, leaving the hair of the card in front of the forehead has faded.<br>- Men's clothing: Men in loincloths, wearing shirts or bare.<br>- Women's clothing: Women have tops and skirts, some use long skirts pulled up to cover the breasts instead of tops.<br><br>6. Traditional economy.<br>- Farming: Subsistence mainly by slash-and-burn farming and nomadism, according to traditional farming methods: tree distribution, burning, pruning seeds.<br>- Breeding: Raising buffaloes, cows, pigs, goats, chickens ,....<br>- Natural exploitation: Living in the west of Thua Thien - Hue and Quang Tri provinces, which are mountainous forests, Ta O people take great advantage of exploiting products from mountains and forests, such as dried mushrooms, fresh bamboo shoots, songs, rattan, forest honey, herbs,..<br><br>7. Cuisine: The Ta O people eat rice as the main thing. The rice has glutinous rice and boring rice. In addition, they often eat dried fish. corn, or add potatoes, cassava. Food of animal origin also includes buffalo, beef, goat, pig, chicken, duck. Minced buffalo meat mixed with salt, chili and garlic stuffed into an umbrella tube for a few days to eat is preferred by fellow citizens.<br><br>8. Language and writing: Belongs to the South Asian language family, the Mon-Khmer language group and does not have its own script.<br><br>9. Socio-cultural.<br>- A small patriarchal family form is a common family form. In the Ta O family, the right to inherit property belongs to the son.&nbsp;<br>In the family relations of the Ta Oi people, the role of grandfather - brother or brother of the mother, has an important role in organizing marriages for the grandchildren - children of his sister or sister.<br>- The Ta O family is a small patriarchal family. In the family, the father has great power to handle tasks such as manufacturing, building a new house, organizing weddings, communicating with relatives, communicating with the community. When the father dies, those things are the eldest son's responsibility.<br>- When married and married, the young couple both separated to have the opportunity to build a property of their own and moreover wanted to assert themselves in the clan and in the community.<br>*Wedding customs.<br>- The Ta O people practice inter-clan marriages and are stable monogamous marriages. It is strictly forbidden for people related by blood to marry each other. The Ta O people celebrate marriage in the form of a three-way and closed alliance.<br>- After marriage, the Ta O woman must reside at her husband's house. The wedding custom of the Ta O people consists of two main rituals: the first is to practice aboh - beating the stove and the second ritual is pei blo - buying the head. In the first ritual, the boy brings to the girl's house a portion of the wedding money; In the second ritual, the boy pays off the missing wedding money.<br>* Funeral practices: The reburial ceremony is the largest of the ancestor worship rituals of the Ta Oi people, as well as a great festival of the villagers and neighboring villages.&nbsp;<br><br>10. Art: The capital of proverbs, songs, riddles, and fairy tales is quite rich. Knowledgeable elderly people often tell their children and grandchildren ancient stories, which have the effect of both entertaining and educational. Folk songs have the Caloi dance when drinking, the summer festival, the Ba boih dance sung alone when working or on the road, the Roih dance sent and instructed to the descendants on happy occasions, the Cha chap dance for the affection of boys and girls of young people...<br><br><br><br><br></div><div>&nbsp;<br><br></div><div><br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://youtu.be/mm4eOkOr0gA" />
         <pubDate>2023-04-15 14:21:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2555325458</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc Phù Lá - Lê Trần Hà Trang</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2555548823</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2022545324/b7b5240f955295f3cf9af5f7401edcc3/t_m_hi_u_v__d_n_t_c_ph__l_.docx" />
         <pubDate>2023-04-16 02:37:43 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2555548823</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2555764919</link>
         <description><![CDATA[<div>https://drive.google.com/file/d/17MLOxe50TMDWKQlXGHapjstvNhTizQms/view?usp=drivesdk</div>]]></description>
         <enclosure url="https://drive.google.com/file/d/17MLOxe50TMDWKQlXGHapjstvNhTizQms/view?usp=drivesdk" />
         <pubDate>2023-04-16 13:12:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2555764919</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2556275492</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Người H'rê<br></strong><br></div><div><strong>Người H'rê</strong>, còn có tên gọi khác là <strong>Chăm Rê</strong>, <strong>Chom Krẹ</strong>, <strong>Lùy</strong></div><div>Người Hrê cư trú tập trung tại các tỉnh: <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A3ng_Ng%C3%A3i">Quảng Ngãi</a> (115.268 người, chiếm 90,5% tổng số người Hrê tại Việt Nam), <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/B%C3%ACnh_%C4%90%E1%BB%8Bnh">Bình Định</a> (9.201 người), <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Kon_Tum">Kon Tum</a> (1.547 người), <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%AFk_L%E1%BA%AFk">Đắk Lắk</a> (341 người), <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Gia_Lai">Gia Lai</a> (128 người)</div><div>Dân số tính đến năm 2019 là 149.460 người&nbsp;</div><div>( The Hre reside mainly in the following provinces: Quang Ngai (115,268 people, accounting for 90.5% of the total number of Hre people in Vietnam), Binh Dinh (9,201 people), Kon Tum (1,547 people), Dak Lak (341 people). , Gia Lai (128 people)</div><div><strong>Nét đặc sắc về đời sống tinh thần</strong></div><ul><li>Tín ngưỡng, tôn giáo:&nbsp;</li></ul><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; + Dân tộc H'rê hầu hết không theo một tôn giáo nào cả. Tuy nhiên, tín ngưỡng của người H'rê rất gần với thuyết linh vật.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; + Người H'rê còn theo một số đạo khác, chủ yếu thuộc Thiên chúa giáo như Đạo Báp-tít Liên Hiệp, Ngũ Tuần, Tin Lành, Trưởng Lão,..</div><div>+ Ngôn ngữ: Người Hrê dùng ngôn ngữ thuộc nhóm Môn-Khơ Me (Ngữ hệ Nam Á). Từ thời kỳ trước năm 1975, người Hrê đã có chữ viết dùng hệ thống kí tự La-tinh. Chữ viết này từng được sử dụng rộng rãi nhưng nay đã bị mai một.</div><div><strong>Features of spiritual life</strong></div><div>Most of the H're ethnic group do not follow any religion. However, the beliefs of the H're people are very close to the mascot theory.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; + The H're also follow a number of other religions, mainly belonging to the Catholic Church such as United Baptist, Pentecostal, Protestant, Presbyterian, ..</div><div>- Language: The Hre use languages belonging to the Mon-Khmer group. From the period before 1975, the Hre had a script using the Latin script system. This script used to be widely used but has now been lost.</div><div><strong>Phong tục tập quán</strong>&nbsp;</div><ul><li>Các nghi lễ cúng hồn lúa và nghi lễ cúng thần đất, thần nước…được thực hiện trong quá trình sản xuất lúa, nhưng tập trung chủ yếu vào hai giai đoạn của mỗi mùa, khi gieo cấy và khi thu hoạch, cất lúa vào kho. Đặc biệt, lễ cúng nào cũng đều có con vật hiến sinh và con vật hiến sinh lớn nhất là con trâu. Lễ cúng trâu là nghi lễ mang tính chất cộng đồng luôn thu hút đông đảo dân làng đến dự.</li><li>Người Hrê cũng có lễ đâm trâu như phong tục chung ở Trường Sơn - Tây Nguyên. Người Hrê thích sáng tác thơ ca, ham mê ca hát và chơi các loại nhạc cụ. Ka-choi và Ka-lêu là làn điệu dân ca quen thuộc của người Hrê.&nbsp;</li><li>Ngày nay, người Hrê mặc quần áo như người Kinh. Người Hrê thích đeo trang sức bằng đồng, bạc, vàng, đồng hồ, nữ có thêm hoa tai. Tục cà răng đã được xóa bỏ.</li></ul><div>The customs</div><div><br></div><div>- The rituals of worshiping the rice spirits and the rituals of worshiping the earth and water gods... are performed during the rice production process, but focus mainly on two phases of each season, when sowing and when harvesting and storing rice. into the warehouse. In particular, every offering ceremony has a sacrificial animal and the largest animal sacrifice is a buffalo. The buffalo offering ceremony is a community-based ritual that always attracts a large number of villagers to attend.</div><ul><li>Hre people like to compose poetry, sing and play musical instruments</li><li>Hre used to live in a long house on stilts. Now, almost the longhouse is no longer there.</li><li>- Nowadays, the Hre wear clothes like the Kinh people. Hre people like to wear jewelry made of copper, silver, gold, watches, and women have earrings. The custom of blacken the teeth has been abolished.</li></ul>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2023122546/160142e102a05725b26b64090d6ddaf2/882A54E9_2563_4A6C_9701_0DC7CEB9F5F8.jpeg" />
         <pubDate>2023-04-17 03:00:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2556275492</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân Tộc Thái - Phan Lê Mai Anh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2556694046</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Tìm hiểu về các dân tộc Việt Nam</strong></div><div>Learn about the ethnic groups of Vietnam</div><div><strong>Dân tộc Thái - Thai ethnic</strong></div><div>Phan Lê Mai Anh</div><div><br></div><div>1.&nbsp; &nbsp; &nbsp;<strong>Dân số:</strong> Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số năm 2019, dân tộc Thái có 1.820.950 người. Trong đó, có 910.202 nam và 910.748 nữ.</div><div>2.&nbsp; &nbsp; &nbsp;<strong>Địa bàn cư trú:</strong> Người Thái cư trú ở một số tỉnh chủ yếu sau đây tại Việt Nam: Hòa Bình, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Thanh Hóa, Nghệ An. Quá trình di cư từ đầu những năm 1990 đã mở rộng địa bàn cư trú của tộc người này ra một số vùng khác, trong đó có các tỉnh ở khu vực Tây Nguyên.</div><div><strong>3.</strong>&nbsp; &nbsp; &nbsp;<strong>Nét đặc sắc về đời sống tinh thần:&nbsp;</strong></div><div><strong>- Thiết chế xã hội truyền thống:</strong> Thiết chế bản mường, một hình thức tổ chức mang tính tiền nhà nước, đánh dấu trình độ phát triển cao của xã hội người Thái.</div><div><strong>- Tôn giáo, tín ngưỡng:</strong> Người Thái thờ cúng tổ tiên, thờ cúng thần nông nghiệp, thần sông núi. Việc thờ cúng gắn liền với các lễ hội trong năm như: lễ xuống đồng, lễ cầu mưa, lễ rước hồn lúa, lễ cầu mùa, lễ mừng cơm mới... Tục cưới xin, tang ma được tổ chức chặt chẽ theo nghi thức truyền thống.</div><div><strong>- Nhà ở:</strong> Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau. Hình tượng “khau cút” được khắc họa như là biểu tượng độc đáo cho ngôi nhà sàn có mái hình mui rùa của người Thái Đen. Trong khi đó, ngôi nhà của người Thái Trắng thường được dựng trên mặt bằng hình chữ nhật, có lan can gỗ chạy trước hoặc chung quanh nhà. Một trong những nét kiến trúc của nhà sàn người Thái mang nhiều đặc trưng tộc người là cầu thang, nơi lưu giữ những giá trị văn hóa tinh thần đặc trưng tộc người, giá trị tôn giáo, những kiêng kỵ về giới, sinh đẻ.&nbsp;</div><div><strong>- Trang phục:</strong> Các nhóm người Thái như Thái Đen, Thái Trắng đều có nhiều điểm chung trong trang phục hằng ngày nhưng trong đó, vẫn nổi bật bản sắc riêng để phân biệt. Phụ nữ Thái Trắng mặc áo cánh ngắn màu sáng, trắng, cài cúc bạc tạo hình bướm hoặc ong; váy màu đen không trang trí hoa văn. Khăn đội đầu bằng vải chàm dài khoảng hai mét...Phụ nữ Thái Đen với trang phục áo cánh ngắn màu tối (chàm hoặc đen). Áo nam giới có hai loại, áo cánh ngắn và áo dài. Áo ngắn may bằng vải chàm, kiểu xẻ ngực, tay dài hoặc ngắn, cổ tròn. Khuy áo làm bằng đồng hay tết thành nút vải.</div><div><strong>- Ẩm thực:</strong> Xôi nếp, cơm lam, rượu cần, các loại đồ nướng thường được coi là những đặc trưng của ẩm thực Thái.</div><div><strong>- Nghệ thuật:</strong> Người Thái có các điệu xòe đặc sắc, hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú. Nhạc cụ truyền thống có các loại sáo lam, tiêu.</div><div><strong>- Trò chơi dân gian:</strong> Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ.<br><br></div><div><strong>( Phần phiên âm tiếng anh )&nbsp;</strong></div><div><strong>1. Population:</strong> According to the 2019 census of 53 ethnic minorities, the Thai ethnic group has 1,820,950 people. In which, there are 910,202 men and 910,748 women.</div><div><strong>2. Place of residence:</strong> Thai people reside in some of the following major provinces in Vietnam: Hoa Binh, Lai Chau, Dien Bien, Son La, Lao Cai, Yen Bai, Thanh Hoa, Nghe An. The migration process since the early 1990s has expanded the residence of this ethnic group to a number of other regions, including provinces in the Central Highlands.</div><div><strong>3. Characteristics of spiritual life:</strong></div><div><strong>- Traditional social institution: </strong>Muong village institution, a pre-state form of organization, marks the high level of development of Thai society.</div><div><strong>- Religion and belief:</strong> Thai people worship their ancestors, worship the god of agriculture, the god of mountains and rivers. Worship is associated with festivals of the year such as: the ceremony to go down to the field, the ceremony to pray for rain, the ceremony to process the spirit of rice, the ceremony to pray for the harvest, the celebration of the new rice... Wedding and funeral customs are strictly organized according to rituals. traditional formula.</div><div><strong>- Housing:</strong> In the house on stilts, the appearance is different. The image of "khau quail" is depicted as a unique symbol for the Black Thai people's house on stilts with a tortoise roof. Meanwhile, the house of the White Thai people is usually built on a rectangular plan, with a wooden railing running in front of or around the house. One of the architectural features of the Thai stilt house with many ethnic characteristics is the staircase, which preserves ethnic cultural and spiritual values, religious values, gender and birth taboos.</div><div><strong>Costumes: </strong>Thai groups such as Thai Den, Thai Trang all have many things in common in their daily clothes, but in it, they still have their own distinctive identities to distinguish them. White Thai women wear short, bright white blouses with silver buttons in the shape of butterflies or bees; black dress without pattern decoration. An indigo head scarf about two meters long...Black Thai women wear short dark blouses (indigo or black). Men's shirt has two types, short blouse and long shirt. Short shirt made of indigo fabric, slit chest style, long or short sleeves, round neck. Buttons made of copper or braided into fabric buttons.</div><div><strong>- Cuisine:</strong> Sticky rice, lam rice, can wine, baked goods are often considered the characteristics of Thai cuisine.</div><div><strong>- Arts:</strong> Thai people have unique Xoe dances, poetry singing, rich love exchange. Traditional musical instruments include blue and pepper flutes.</div><div><strong>- Folk games:</strong> Popular Thai games are throwing arrows, tug of war, horse racing, boating, crossbow shooting, spar dancing, spinning and quick mak.<br><br></div><div>&nbsp;<br><br></div><div>&nbsp;<br><br></div><div>&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://review24h.vn/wp-content/uploads/2020/09/net-diu-dang-con-gai-thai_1533286500.jpg" />
         <pubDate>2023-04-17 09:34:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2556694046</guid>
      </item>
      <item>
         <title>DÂN TỘC BA NA ( Bahnar)</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2557257584</link>
         <description><![CDATA[<div><br> •&nbsp; Dân số:<br>Người Ba Na có dân số sấp xỉ 287 nghìn người năm 2019<br>•&nbsp; Địa bàn cư trú:<br>Cư trú chủ yếu ở vùng&nbsp;Tây Nguyên&nbsp;và cao nguyên trung phần&nbsp;Việt Nam<br>•&nbsp; Đời sống tinh thần:<br>Đời sống văn hóa tinh thần phong phú và giàu bản sắc. Nét đẹp trong văn hóa được thể hiện ở nhiều mặt, từ hoạt động sản xuất, sinh hoạt hàng ngày đến các lễ hội.<br><br>*Kinh tế:<br>- Người Ba Na sinh sống nhờ nông nghiệp, chủ yếu là trồng rẫy. Cùng với trồng trọt, từng gia đình thường có nuôi gia cầm, gia súc như&nbsp;trâu,&nbsp;bò,&nbsp;dê,&nbsp;lợn,&nbsp;gà.&nbsp;Chó&nbsp;cũng được nuôi nhưng không bị giết thịt.&nbsp;<br><br>*Văn hóa:<br>- Nhạc cụ đa dạng: cồng, chiêng kết cấu đa dạng, đàn:&nbsp;t'rưng, khinh khung, gôông...&nbsp;<br>- Nghệ thuật chạm&nbsp;khắc gỗ&nbsp;phát triển.&nbsp;Trong kho tàng văn nghệ dân gian, còn phải kể đến các làn điệu dân ca, các điệu múa trong những ngày hội hay các nghi lễ tôn giáo. Những hình thức trang trí sinh động trên nhà rông và đặc biệt những&nbsp;tượng nhà mồ&nbsp;v.v... mộc mạc, đơn sơ, nhưng tinh tế và sinh động như cuộc sống của người Ba Na.<br><br>*Trang phục<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;-Trang phục nam: Nam giới Ba Na mặc áo chui đầu, cổ xẻ.Trong dịp lễ bỏ mả, họ thường búi tóc sau gáy và cắm một lông chim công. Nam cũng thường mang vòng tay bằng đồng.&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;-Trang phục nữ: Phụ nữ Ba Na ưa để tóc ngang vai, có khi búi và cài lược hoặc lông chim, hoặc trâm bằng đồng, thiếc.Tục xả tai và&nbsp;tục cà răng mang theo quan niệm của cộng đồng hơn là trang sức.<br>&nbsp;<br>*Tôn giáo, tín ngưỡng:&nbsp;<br>Trong hệ thống tín ngưỡng của người Ba na, sự sống hiển hiện như một thể thống nhất và là sự sắp đặt từ bàn tay của các vị thần linh (yang). Trong đó, Bok Kei Dei và Yă Kuh Keh là cặp đôi thần linh tối cao -là người sáng tạo ra tất cả và coi sóc con người, mùa màng. Ngoài ra, họ còn thờ thần Rừng (yang Bri), thần Đất (yang The), thần Đá (yang Tmo), thần Núi (yang Kông),...<br><br>*Ẩm thực:<br>Đồng bào Ba na ăn cơm gạo tẻ. Vào những dịp cúng lễ hoặc khi có khách quý, người Ba na thường uống rượu cần được chế biến từ lúa, ngô, sắn, kê, ủ với một loại men làm từ các loại thảo dược. Nam nữ người Ba na đều thích hút thuốc lá.<br><br>*Giáo dục:&nbsp;<br>Việc giáo dục truyền thống cho thanh thiếu niên người Ba na đ­ược tổ chức thư­ờng xuyên tại nhà làng do các già làng đảm nhiệm. Đó cũng là nơi dạy nghề, huấn luyện chiến đấu và học tập các truyền thống văn hóa của cộng đồng.<br>_____________[English]<br>BAHNAR&nbsp;<br>• Population:<br>The Ba Na people have a population of approximately 287 thousand people in 2019<br>• Place of residence:<br>Inhabited mainly in the Central Highlands&nbsp;and central highlandsVietnam<br>• Spiritual life:<br>Cultural and spiritual life is rich and rich in identity. Beauty in culture is reflected in many aspects, from production activities, daily activities to festivals.<br><br>*Economy:<br>- The Ba Na people live on agriculture, mainly cultivating fields. Along with farming, each family often has poultry and livestock such as buffaloes, cows, goats, pigs, and chickens. Dogs&nbsp;are also kept but not slaughtered.<br><br>*Culture:<br>- Diverse musical instruments: gongs, gongs with various textures, instruments: &nbsp;t'rung, contemplative frames, gongs...<br>- The art of carving&nbsp;wood carving&nbsp;development. In the treasure of folk music, there are also folk songs, dances in festivals or religious ceremonies. The forms of vivid decoration on the communal house and especially the statues of the tomb house, etc., are rustic, simple, but delicate and vivid like the life of the Ba Na people.<br><br>*Skin<br>&nbsp; &nbsp;-Men's costume: Ba Na men wear pullovers with split neck. On the occasion of leaving the grave, they often put their hair in a bun at the nape of their neck and stick a peacock feather. Men also often wear copper bracelets.<br>&nbsp; &nbsp;-Women's costumes: Ba Na women prefer to wear shoulder-length hair, sometimes bun and wear combs or feathers, or brass and tin brooches. The custom of rinsing ears and teething carries the concept of the community rather than jewelry.&nbsp;<br>*Religious beliefs:<br>In the Bana belief system, life manifests itself as a unity and arrangement from the hands of the gods (yang). In it, Bok Kei Dei and Yă Kuh Keh are the supreme divine couple - the creator of everything and taking care of people and crops. In addition, they also worship the forest god (yang Bri), the earth god (yang The), the rock god (yang Tmo), the mountain god (yang Kong),...<br><br>*Cuisine:<br>The Ba Na people eat plain rice. On ceremonial occasions or when there are precious guests, the Ba Na people often drink wine that should be made from rice, corn, cassava, millet, brewed with a yeast made from herbs. Ba Na men and women both like to smoke.<br><br>*Education:<br>The traditional education for Ba Na youth is held regularly in the village house by the village elders. It is also a place for vocational training, combat training and learning the cultural traditions of the community.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2023864327/2f9d70c6e0edcf1762b84352b287e921/Notes_230417_232850_3e3.jpg" />
         <pubDate>2023-04-17 16:29:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2557257584</guid>
      </item>
      <item>
         <title>NGƯỜI CHỨT</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560793681</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://docs.google.com/document/d/1-ZwyOvnSiwKxP4s99wsq2QRkRdzG-27vMLqkxT7bfoA/edit?usp=sharing" />
         <pubDate>2023-04-19 23:18:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560793681</guid>
      </item>
      <item>
         <title>1. Dân số- Có 212 277 người ( theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 ).2. Địa bàn cư trúNgười Xơ-đăng cư trú ở tỉnh Kon Tum và hai huyện Trà My, Phước Sơn tỉnh Quảng Nam, huyện Tây Sơn, tỉnh Quảng Ngãi; sống tập trung nhất ở vùng quần sơn Ngọc Linh.3. Nét đặc sắc và đời sống tinh thần* Tín ngưỡng, tôn giáo:Người Xơ-đăng theo tín ngưỡng đa thần bởi quan niệm vạn vật hữu linh, tức mọi vật đều có linh hồn.Trang phục truyền thống của đồng bào Xơ Đăng chủ yếu màu đen, nam giới đóng khố, cởi trần. Khố là một tấm vải dài, khổ hẹp luồn qua háng, quấn quanh thắt lưng, thả mành mành hai đầu buông dài trước và sau đến gần cổ chân. Một bộ trang phục truyền thống của phụ nữ Xơ Đăng gồm có: áo, váy và tấm choàng (khăn vai). Áo là kiểu áo chui đầu, không có tay. Tấm choàng hay còn gọi là khăn vai của phụ nữ Xơ Đăng được dệt từ những sợi bông với nhiều màu sắc khác nhau, chủ yếu là màu đen. Phụ nữ Xơ Đăng cũng thích đeo đồ  trang sức bằng cườm đá nhiều màu sắc ở thắt lưng, cổ tay, cổ chân, đeo vòng đồng, vòng bạc trên cổ và khuyên tai. Bà Lương Thanh Sơn, Nhà nghiên cứu dân tộc Tây Nguyên, cho biết: Trang phục của đồng bào Xơ Đăng giống với trang phục với các dân tộc ở khu vực Tây Nguyên. Điểm khác là trang phục của dân tộc Xơ Đăng là nhiều họa tiết, hoa văn trên trang phục. Trong các lễ hội, trang phục của người đàn ông quấn thêm một tấm vải quấn chéo trên ngực, nhìn như một chiến binh đang ra trận. Còn những người phụ nữ mặc váy áo sát nách, khi múa thì người đàn ông nhìn mạnh mẽ, phụ nữ thì uyển chuyển, mềm mại.Người Xơ-đăng có nhiều loại nhạc cụ (đàn, nhị, sáo dọc, ống vỗ kloongbút, trống, chiêng, cồng, tù và, ống gõ, giàn ống hoạt động nhờ sức nước...). Họ có nhiều làn điệu dân ca, điệu hát phổ biến là: hát đối đáp của trai gái, hát của người lớn tuổi, hát ru. Trong một số dịp lễ hội, đồng bào trình diễn múa: có điệu múa riêng cho nam, riêng cho nữ, cũng có điệu múa cả nam, nữ cùng tham gia. Truyện cổ Xơ-đăng phong phú, đặc sắc.Người Xơ Ðăng không chỉ đan đồ mây tre rất đẹp mà còn tạo ra một số đồ dùng bằng lá như cái nón trong Mọi việc trong buôn làng Xơ Đăng đều do “Già làng”, người uy tín, được nể trọng và nhiều tuổi nhất trong buôn, là người điều hành các hoạt động trong làng và là đại diện cho tiếng nói của dân làng. Mỗi lần buôn làng có việc, những người dân trong làng Xơ Đăng đều quây quần trong ngồi nhà rông để bàn bạc, lắng nghe ý kiến già làng, rồi cùng chia sẻ công việc. Nhà rông được đặt ở giữa mỗi làng, không chỉ là nơi để đồng bào nghỉ ngơi, vui chơi, giao lưu, tiếp khách, mà còn là nơi trưng bày các các đồ vật liên quan đến cuộc sống của dân làng như cồng chiêng, các pho tượng thờ tổ tiên.Người Xơ Ðăng không chỉ đan đồ mây tre rất đẹp mà còn tạo ra một số đồ dùng bằng lá như cái nón trong Mọi việc trong buôn làng Xơ Đăng đều do “Già làng”, người uy tín, được nể trọng và nhiều tuổi nhất trong buôn, là người điều hành các hoạt động trong làng và là đại diện cho tiếng nói của dân làng. Mỗi lần buôn làng có việc, những người dân trong làng Xơ Đăng đều quây quần trong ngồi nhà rông để bàn bạc, lắng nghe ý kiến già làng, rồi cùng chia sẻ công việc. Nhà rông được đặt ở giữa mỗi làng, không chỉ là nơi để đồng bào nghỉ ngơi, vui chơi, giao lưu, tiếp khách, mà còn là nơi trưng bày các các đồ vật liên quan đến cuộc sống của dân làng như cồng chiêng, các pho tượng thờ tổ tiên. Ăn: Người Xơ-đăng ăn cơm tẻ, cơm nếp với muối ớt và các thức kiếm được từ rừng; thích uống rượu cần, hút thuốc lá.Ở: Họ ở nhà sàn, trước kia nhà dài, thường cả đại gia đình ở chung (nay phổ biến hình thức tách hộ riêng).Phương tiện vận chuyển: Gùi được dùng hàng ngày chuyên chở hầu như mọi thứ trên lưng, mỗi quai khoác vào một vai. Gùi ở các nhóm Xơ-đăng có sự khác biệt nhau nhất định về kiểu dáng, kỹ thuật đan.Hôn nhân: Phong tục ở các vùng không hoàn toàn giống nhau. Song, phổ biến là cư trú luân chuyển mỗi bên mấy năm, thường khi cha mẹ qua đời mới ở hẳn một chỗ. Ðám cưới có lễ thức cô dâu chú rể đưa đùi gà cho nhau ăn, đưa rượu cho nhau uống, cùng ăn một mâm cơm... để tượng trưng sự kết gắn hai người. Không có tính chất mua bán trong hôn nhân.Đồng bào Xơ Đăng vẫn duy trì chế độ gia đình nhiều thế hệ ở trong một ngôi nhà sàn dài. Tên của người Xơ Đăng không có họ kèm đi theo, nhưng có từ chỉ định giới tính: nam có chữ đầu là A hay U, còn nữ là Y. Trai gái lớn lên, được tự do  tìm hiểu, yêu nhau. Lễ cưới hỏi của đồng bào Xơ Đăng khá  đơn giản và khi cưới, vợ chồng có thể ở bên nhà trai hoặc nhà gái.Tang ma:  Ngùi chết được &quot;chia của&quot;, bỏ trong tài độc mộc, chôn trong bãi mộ chung của làng, không có lễ bỏ mả.Lễ hội: Các lễ tết gắn liền chu kỳ sản xuất nông nghiệp và đời người. Tiêu biểu là lễ cúng thần nước</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560793735</link>
         <description><![CDATA[<div>https://youtu.be/hrncIql6nVI</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-19 23:18:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560793735</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc Nùng</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560827748</link>
         <description><![CDATA[<div>Phần I/ Tiếng Việt<br>1/ Dân số<br>Là dân tộc có số đông thứ 7 ở Việt Nam, dân tộc Nùng hiện có hơn 1 triệu người<br>2/ Địa bàn cư trú<br>Sống phân tán tại 63 tỉnh, thành phố, nhưng tập trung nhiều nhất ở các tỉnh miền núi thuộc phía Bắc và Đông Bắc Bộ như: Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Tuyên Quang...&nbsp;<br>3/ Ngôn ngữ<br>Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Kadai)&nbsp;<br>4/ Nhà ở<br>Ngôi nhà truyền thống tiêu biểu của dân tộc Nùng là ngôi nhà sàn, lợp ngói máng, có ba tầng sử dụng. Tầng 1 là gầm sàn dành cho gia cầm, gia súc, công cụ sản xuất; tầng 2 là sàn dành cho người ở và các đồ dùng sinh hoạt; tầng 3 là gác, làm kho chứa lương thực, các thứ khác được bảo quản ở nơi khô ráo.<br>5/ Tín ngưỡng<br>Người Nùng tin theo tín ngưỡng đa thần là chính. Họ thường thờ ba đời (bố mẹ, ông bà, cụ). Thờ cúng thần linh được thực hiện thông qua các lễ hội lùng tùng, cầu mùa. Trong cách thờ cúng cũng như các quan niệm ứng xử thể hiện dấu ấn của tam giáo (Phật giáo, Khổng giáo, Đạo giáo). Trong thực hành tín ngưỡng của dân tộc Nùng, nổi bật vai trò của các thầy cúng: Tào, Mo, Pựt, Then.<br>6/ Đặc sắc văn hóa<br>- Người Nùng được chia thành nhiều nhóm khác nhau: Nùng Xuồng, Nùng Giang, Nùng An, Nùng Lòi, Nùng Phàn Sình, Nùng Cháo, Nùng Inh, Nùng Quy Rịn, Nùng Dín<br>- Lễ hội tiêu biểu: Lễ Thanh Minh- Được tổ chức tại xã Phúc Sen, huyện Quảng Uyên. Hội do dân tộc Nùng An khởi xướng và được tổ chức vào ngày thanh minh hàng năm có ý nghĩa cầu mùa cho bản, cầu phúc cho lứa đôi.<br>-Nghệ thuật: Một loại dân ca rất đặc trưng khác của người Nùng là sli. Sli là hát giao duyên của thanh niên nam nữ dưới hình thức diễn xướng tập thể, thường là đôi nam, đôi nữ hát đối đáp với nhau và được hát theo hai bè.<br>- Về trồng trọt, người Nùng canh tác ở những vùng đất bằng phẳng và cả những nơi đất dốc, đất đồi, vườn quanh nhà. Lúa nước là cây trồng truyền thống mà người Nùng trồng trọt bao năm qua. Ngoài ra, người Nùng còn trồng các loại cây có giá trị cao khác như: trẩu, sở, thuốc lá, chè, mía, tre, trám, bông, chàm...<br>Chăn nuôi có một vai trò quan trọng trong hoạt động kinh tế cũng như trong đời sống sinh hoạt của người Nùng. Vật nuôi phổ biến là: trâu, bò, ngựa, dê, lợn; gà, vịt, ngan, ngỗng; chó, mèo; ong, tằm, cá .<br>Họ biết làm nhiều nghề thủ công: dệt, rèn, đúc, đan lát, làm đồ gỗ, làm giấy dó, làm ngói âm dương... Nổi bật là nghề rèn<br>- Trang phục: Y phục truyền thống của người Nùng khá đơn giản, thường làm bằng vải thô tự dệt, nhuộm chàm và hầu như không có thêu thùa trang trí. Nam giới mặc áo cổ đứng, xẻ ngực, có hàng cúc vải. Phụ nữ mặc áo năm thân, cài cúc bên nách phải, thường chỉ dài quá hông. Phụ nữ Nùng đội khăn vuông, chít kiểu mỏ quạ. Nam giới Nùng đội mũ, nhất là khi tiến hành các nghi lễ mang tính tâm linh.<br>- Ẩm thực: Người Nùng cũng ăn cơm gạo tẻ, ăn xôi và chế biến nhiều món ăn từ gạo tẻ và gạo nếp. Từ gạo tẻ, đồng bào làm cao quyển, cao xằng, từ gạo nếp chế biến xôi màu (tím, đen, đỏ, vàng), xôi trám đen, xôi trứng kiến; chế biến thành các loại bánh.<br><br><br><br><br><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2021296051/e41718701c6db6e51cd36c63228a991d/Hat_then1.jpeg" />
         <pubDate>2023-04-20 00:07:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560827748</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Pà Thẻn: Nguyễn Bảo Uyên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560830806</link>
         <description><![CDATA[<div><br></div><div><br></div><ul><li>Dân số: 8.248</li><li>Địa bàn cả nước: Hà Giang, Tuyên Quang</li><li>Các nét đặc sắc về đời sống tinh thần:</li></ul><div>+ Tín ngưỡng tôn giáo: Trước kia, do ít tiếp cận với giáo dục, họ vẫn cho rằng thế giới và mọi sinh vật đều do hai ông bà Quơ Vo và Me quơ O tạo ra, bệnh tật do ma làm, chữa bằng cúng bái.</div><div><br></div><div>Người Pà Thẻn tin vào sự tồn tại của các siêu linh, vạn vật có linh hồn. Ma quỷ, thần thánh gồm hai loại: lành dữ. Loại lành gồm các thần ở trên trời, tổ tiên, thổ địa...; loại ma dữ như ma sông, ma suối, ma của người chết bất đắc kỳ tử... chúng thường phá hoại mùa màng, làm hại gia súc.</div><div>Chủ yếu là thờ cúng tổ tiên trong nhà. Bàn thờ làm bằng tấm gỗ hình chữ U lộn ngược. Mặt bàn để một bát hương và một bát nước lã. Người Pà Thẻn có nhiều tín ngưỡng liên quan đến nông nghiệp như: cúng trước khi tra hạt, lễ cúng cơm mới. Truyền thuyết về sự xuất hiện của cây lúa là do 3 con vật: chó, mèo, lợn lấy trộm giống lúa trên trời về cho con người, nên khi cúng cơm mới phải cho 3 con vật trên ăn trước. Khi hạn hán lâu, dân bản làm lễ cầu mưa. Các nghi lễ liên quan đến chăn nuôi, săn bắn cũng được chú trọng.</div><div>Hiện nay, số người Pà Thẻn hiểu biết về các kiến thức phổ thông ngày một tăng lên. Hệ thống ma quỷ, thần linh, quan niệm duy tâm không còn hoàn toàn chi phối đời sống của họ nữa.</div><div><br></div><div>+ Phong tục tập quán, lễ hội: Tết Nguyên đán, nghi lễ vòng đời, nghi lễ liên quan đến nông nghiệp, lễ cầu mưa, lễ cúng cơm mới, lễ cúng thần săn bắn, lễ kéo chày, lễ cấp sắc, đặc biệt là lễ hội nhảy lửa.</div><div><br></div><div>____________________________________</div><div><br></div><div><br></div><div>- Population: 8,248</div><div>&nbsp;- The whole country: Ha Giang, Tuyen Quang</div><div>&nbsp;- Features of spiritual life:</div><div>&nbsp;+ Religious beliefs: In the past, due to little access to education, they still believed that the world and all living things were created by two grandparents, Quao Vo and Me quoc O.&nbsp; worship.</div><div><br></div><div>&nbsp;Pa Then people believe in the existence of supernatural beings, everything has a soul.&nbsp; Demons and gods are of two types: good and evil.&nbsp; Good type includes gods in heaven, ancestors, earth...;&nbsp; types of evil spirits such as river ghosts, stream ghosts, ghosts of people who die suddenly... they often destroy crops and harm livestock.</div><div>&nbsp;Mainly ancestor worship in the house.&nbsp; The altar is made of an upside down U-shaped wooden panel.&nbsp; The table top holds a bowl of incense and a bowl of water.&nbsp; The Pa Then people have many beliefs related to agriculture such as: worshiping before planting seeds, offering new rice.&nbsp; The legend of the appearance of the rice plant is because 3 animals: dog, cat, and pig stole the rice from heaven for humans, so when offering rice, you have to feed the 3 animals first.&nbsp; When the drought is long, the villagers hold a ceremony to pray for rain.&nbsp; Rituals related to livestock and hunting are also emphasized.</div><div>&nbsp;Currently, the number of Pa Then people who know about common knowledge is increasing day by day.&nbsp; The system of demons, gods, idealistic conceptions no longer completely dominates their lives.</div><div><br></div><div>&nbsp;+ Customs and festivals: Lunar New Year, life cycle rituals, agriculture-related rituals, rain praying ceremony, new rice offering ceremony, hunting god worshiping ceremony, pestle-pulling ceremony, merit-granting ceremony, special&nbsp; especially the fire dance festival.</div><div><br></div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2026602410/f9bbdc24ed6bffffb8faa02c652088a9/D20D6FFF_A781_4DA2_A8F0_5259B0CF48D1.jpeg" />
         <pubDate>2023-04-20 00:11:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560830806</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc Chơ Ro - Tăng Thảo Nguyên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560845735</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-20 00:25:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560845735</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Bru-Vân Kiều || Hoàng Hà Linh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560867174</link>
         <description><![CDATA[<div>1.Tên gọi khác: Bru, Vân Kiều</div><div>•Ngôn ngữ: Ngôn ngữ của người Bru là tiếng Bru, một ngôn ngữ thuộc nhóm Môn- Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), gần gũi với Tiếng Tà Ôi, Cơ Tu.</div><div>•Cư trú: Người Bru-Vân Kiều cư trú tại 39/63 tỉnh, thành phố nhưng tập trung chủ yếu tại 3 tỉnh: Quảng Trị, Quảng Bình và Thừa Thiên Huế. Ngoài ra, còn một số lượng nhỏ người Bru-Vân Kiều hiện đang cư trú ở Đắk Lắk do Mỹ-Ngụy cưỡng ép di cư vào năm 1972.</div><div>Lịch sử: Hiện nay có hai luồng ý kiến khác nhau về nguồn gốc của người Bru-Vân Kiều, nhưng đa phần các ý kiến đều cho rằng, đây là cư dân bản địa, sống lâu đời ở vùng Trung Đông Dương. Sau những biến động lịch sử, họ di cư đi các nơi, trong đó có một bộ phận đi về hướng đông và tụ cư ở miền tây tỉnh Quảng Trị của Việt Nam.</div><div>•Dân số: Theo số liệu điều tra 53 dân tộc thiểu số 1/4/ 2019, tổng dân số người Bru-Vân Kiều: 94.598 người; dân số nam: 47.301 người; dân số nữ: 47.297 người; quy mô hộ: 4.5 người/hộ; tỷ lệ dân số sống ở khu vực nông thôn: 91.9%.</div><div>- Ngôn ngữ: Ngôn ngữ của người Bru là tiếng Bru, một ngôn ngữ thuộc nhóm Môn- Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), gần gũi với Tiếng Tà Ôi, Cơ Tu.</div><div><br></div><div>2.Đặc điểm chính:</div><div>• Thiết chế xã hội truyền thống: Người Bru-Vân Kiều quần cư thành Vil (Làng).Mỗi vil có một bộ máy tổ chức điều hành và quản lý mọi sinh hoạt của cộng đồng với người đứng đầu là xuất vil (chủ làng). Giúp việc cho xuất vil trong việc quản lý sinh hoạt cộng đồng là hội đồng già làng (bao gồm các xuất mu, xuất tape). Xã hội truyền thống của người Bru-Vân Kiều còn có chủ xứ, đây là người đứng đầu xứ (kruông), có công phát hiện ra vùng đất mới và sáng lập ra làng. Với hình thức sở hữu tập thể, tất cả các thành viên trong vil đều có quyền sở hữu và khai thác mọi tài nguyên đất đai, rừng núi, sông suối,... thuộc phạm vi của vil.</div><div>• Nhà ở: Nhà truyền thống của người Vân Kiều là nhà sàn nhỏ (thường gồm 3, 4 gian), chia làm 2 phần rõ rệt, được ngăn cách bằng một bức phên có tính ước lệ và thông nhau bằng một cửa phụ. Phần ngoài thường gồm 2 gian gọi là: pum (phía ngoài, gần cửa ra vào) và poong (phía trong, nơi thờ cúng).&nbsp;</div><div>•Trang phục: Theo phong tục, nam giới người Bru-Vân Kiều thường đóng khố, có thêm khăn đội đầu; còn nữ giới mặc áo không có ống tay, cổ được khoét tròn hoặc vuông, và váy (xấn) là nguyên tấm vải quấn quanh thân rồi dùng dây vải buộc chặt.</div><div>Đàn ông, đàn bà người Bru–Vân Kiều đều búi tóc.</div><div><br></div><div>• Tôn giáo, tín ngưỡng: Theo truyền thống, người Bru-Vân Kiều coi trọng việc thờ cúng tổ tiên, ngoài ra còn thờ các thần linh như thần lúa, thần bếp, thần núi, thần đất, thần sông nước. Người Vân Kiều nhận thức về thế giới quan cho rằng vạn vật hữu linh. Vì vậy thần lúa, thần sông được sắp xếp thứ tự để thờ trong nhà và ngoài rừng với mục đích cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt. Đặc biệt là thần lúa được nâng lên cao nhất, được sùng bái với nhiều lễ thức quan trọng.</div><div>Đồng bào Bru Vân Kiều hiện còn lưu giữ nhiều lễ hội độc đáo. (Ảnh: Báo Dân tộc và phát triển)</div><div>• Ẩm thực: Người Bru-Vân Kiều thích các món nướng. Họ ăn cơm tẻ thường ngày. Còn vào các dịp lễ hội đồng bào ăn cơm nếp nấu trong ống tre tươi. Đồng bào Vân Kiều quen ăn bốc, uống nước lã và rượu cần. Nam nữ đều thích hút thuốc lá bằng tẩu làm từ đất nung hoặc cây le. - Nhạc cụ: Nhạc cụ phổ biến của người Bru-Vân kiều là: cồng, chiêng, đàn Achung, Plư, Ta-lư, kèn Amam, Ta-ral,...</div><div>•Giáo dục: Trước đây, nền giáo dục học đường không tồn tại ở vùng người Bru - Vân Kiều. Nhưng với sự đầu tư của Nhà nước và các tổ chức phi chính phủ, tình trạng giáo dục của người Vân Kiều đã có những bước chuyển biến tích cực.</div><div>• Hôn nhân: Ở dân tộc Bru-Vân Kiều, sau khi cưới, cô dâu về ở nhà chồng. Sau lễ cưới, đôi vợ chồng còn phải làm "lễ cưới" lần thứ 2 khi có điều kiện về kinh tế, gọi là lễ Khơi, để người vợ chính thức được coi là thành viên dòng họ nhà chồng.</div><div>• Lễ tết: Người Bru-Vân Kiều có nhiều lễ cúng khác nhau trong quá trình canh tác lúa rẫy nhằm cầu mùa, gắn với các khâu, phát, trỉa và thu hoạch. Ðặc biệt lễ thức trước dịp trỉa lúa diễn ra như một ngày hội của dân làng. Trong một đời người, mỗi người cũng có hàng loạt nghi lễ cúng về bản thân mình như: khi ra đời, lúc đau ốm, khi qua đời, lúc thành hôn v.v...</div><div>3.Điều kiện kinh tế:</div><div>•Chủ yếu bằng canh tác rẫy, trồng lúa.&nbsp;</div><div>•Nông cụ thô sơ như: rìu, dao quắm, gậy trỉa,... •Phương thức sản xuất đơn giản: phát rừng, đốt, rồi chọc lỗ gieo hạt giống, làm cỏ, tuốt lúa bằng tay.&nbsp;</div><div>•Ngoài kinh tế nông nghiệp, người Bru-Vân Kiều còn chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà,... Họ không phát triển nghệ thủ công và chủ yếu trao đổi hàng hoá với người Việt và người Lào.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2026628581/014cb09d305073cef9d8d5f596d3b28d/B8D677D2_3138_479C_96A3_AD0A1A0A35AE.jpeg" />
         <pubDate>2023-04-20 00:42:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560867174</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560868021</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2026628581/b9c7c55e1adc2783cffb27e310297049/BE3B70AE_F6AB_423B_A485_E928841D9D46.jpeg" />
         <pubDate>2023-04-20 00:43:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560868021</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560870912</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2026628581/fb2167b343ee86b37142ec7922105c00/231612DA_F602_48A5_8EF1_FA82604906DE.jpeg" />
         <pubDate>2023-04-20 00:45:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560870912</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560871660</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2026628581/e61f2253e8ee5f28fb65ebdab9fbc443/5D6F24DF_B26C_4DC2_9AB2_FD90FC44D12C.jpeg" />
         <pubDate>2023-04-20 00:46:15 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560871660</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560873052</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2026628581/558ae36e613290a9661a3a036edb086d/FC7BF711_91B5_412A_97C9_8F304C3359DA.jpeg" />
         <pubDate>2023-04-20 00:47:32 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560873052</guid>
      </item>
      <item>
         <title>The Bru-Van Kieu</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560876454</link>
         <description><![CDATA[<div>+ Introduce: Bru-Van Kieu is one of the ethnic minority groups in Vietnam.&nbsp;<br><br></div><div>+ Name of the ethnic group: It is also called Tri, Khua, Ma Coong, and Bru.&nbsp;<br><br></div><div>+ Population: Bru-Van Kieu has a population of 40,132 people.<br><br></div><div>+ Regions: The Bru live primary in the two central provinces of Quảng Trị and Quảng Bình.<br><br></div><div>+ Language: The Bru language belongs to the Mon-Khmer language group, which is close to languages spoken by the Tay Oi and Cotu people.&nbsp;<br><br></div><div>+ Production activities: The Bru live mainly on swidden fields. They practice slash-and-burn agriculture, using a digging stick to make holes in the ground for sowing seeds. Weeding and rice harvesting are done by hand. Multi-crop and rotating cast crops are grown each year between March and October. Apart from paddy, the Bru also grow manioc, gourd, banana, eggplant, pineapple, sweet potato, etc. Almost every family raises buffalo (later cows), pigs, chickens, and dogs.&nbsp;<br><br></div><div>+ Festivals: The Bru perform different rituals in an attempt to harvest bumper crops. These rites are connected to specific stages of agricultural production, such as clearing the field, sowing the seeds, and harvest. The most important event is the buffalo sacrificing ceremony. Tet is celebrated in villages at different times, usually after the rice has been harvested and threshed.<br><br></div><div>+ Conclusions: Learning about this group makes me more proud of the cultural diversity of Vietnam.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2026628581/72ba3be2426a40f76a4c31696f0832cb/8F28D934_94A1_4743_9A9C_FB3D809C460A.jpeg" />
         <pubDate>2023-04-20 00:50:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560876454</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hà Ngọc Khánh- dân tộc tày</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560878064</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>NGUỒN GỐC LỊCH SỬ<br></strong><br></div><div>– Tên gọi khác: Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao</div><div>– Ngôn ngữ: Ngôn ngữ của người Tày thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái.Bảng chữ cái của họ dựa trên các ký tự La tinh được tạo ra vào năm 1960, tương tự như bảng chữ cái của người Việt.</div><div>– Cư trú: ở Việt Nam dân tộc Tày cư trú tại các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lào Cai, Thái Nguyên…&nbsp;</div><div><br></div><div>&lt;</div><div><strong>VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG<br></strong><br></div><div><strong>1. Các tín ngưỡng<br></strong><br></div><div><br></div><div>Người Tày thờ cúng tổ tiên, linh hồn nhà, linh hồn bếp và linh hồn hộ sinh.</div><div><br></div><div><strong>2. Trang phục<br></strong><br></div><div><br></div><div>Chiếc váy truyền thống được làm từ vải bông nhuộm chàm.&nbsp;</div><div>Những người phụ nữ mặc một chiếc váy với các cúc bạc đính từ tên xuống và quần màu đen.</div><div>Cả nam và nữa đều đeo khăn đội đầu màu sắc sặc sỡ. Ngày nay, Người tày thường mặc quần áo theo người Việt và người phương Tây.</div><div><br></div><div><strong>3. Tổ chức xã hội<br></strong><br></div><div><br></div><div>Hệ thống xã hội của người Tày từng giống với xã hội phong kiến.</div><div>Giờ đây người Tày sống trong các bản hỗn hợp nhiều nhóm dân tộc, tham gia vào các cuộc hôn nhân hỗn hợp và dần từ bỏ truyền thống định cư&nbsp;</div><div>Họ thích nghi với các yếu tố văn hóa của người Kinh và những người nói tiêng Tày được coi là một trong những nền văn hóa chủ đạo của Việt Nam.</div><div>4<strong> Các hoạt động sản xuất</strong></div><div>Người Tày sử dụng phương thức canh tác trồng lúa nước truyền thống.Lúa được trồng trên những quả đồi gần nguồn nước, thuận tiện cho các phương pháp tưới tiêu như đào kênh và đặt đường ống dẫn nước.Họ sản xuất ra thực phẩm chất lượng cao bằng cách thực hiện các phương pháp trồng cấy trên diện rộng.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-20 00:52:07 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560878064</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc Xtieng</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560959789</link>
         <description><![CDATA[<div><br></div><div><br></div><div>Dân số: 100752</div><div><br></div><div>Địa bàn cư trú: Người Xtiêng cư trú tập trung tại tỉnh <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/B%C3%ACnh_Ph%C6%B0%E1%BB%9Bc">Bình Phước</a> (81.708 người, chiếm 95,6% tổng số người Xtiêng tại Việt Nam), <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2y_Ninh">Tây Ninh</a> (1.654 người), <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%93ng_Nai">Đồng Nai</a> (1.269 người), <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/L%C3%A2m_%C4%90%E1%BB%93ng">Lâm Đồng</a> (380 người), <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/B%C3%ACnh_D%C6%B0%C6%A1ng">Bình Dương</a> (153 người)…</div><div><br></div><div>Nét đặc sắc đời sống tinh thần:&nbsp;</div><div>- Tôn giáo, tín ngưỡng: Người Xtiêng tin vào tôn giáo đa thần, vạn vật hữu linh, mọi vật đều có hồn. Vì vậy họ thờ thần sấm sét, trời, đất, mặt trăng, mặt trời, núi, sông,…&nbsp;</div><div>&nbsp;- Phong tục tập quán: tục cà răng, tục căng tai, tục ăn trầu, tục chia của cho người chết,…</div><div>- Lễ tết: Có rất nhiều lễ cúng lớn nhỏ khác nhau trong đời sống của người Xtiêng. Trong đó, lễ hội đâm trâu là lớn nhất. Tết của người Xtiêng được gọi là "lễ cúng rơm", được tiến hành sau khi tuốt lúa rẫy xong, trước khi đốt rẫy vụ sau, nhằm tạ ơn thần lúa sau một mùa nương rẫy<br><br></div><div>Trang phục của người X’tiêng khá đơn giản, không cầu kỳ và sặc sỡ như một số dân tộc anh em khác sống ở vùng núi Đông và Tây Bắc Việt Nam, cả với một số cộng đồng ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Đàn bà, phụ nữ X’tiêng mặc váy, đàn ông, thanh niên đóng khố. Mùa đông được choàng thêm một tấm vải để chống rét.</div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2026682159/27a11380c97b14ae3d3c5ad8910622f7/DF353E44_29AB_4DA6_91E4_AB67A3A5430E.jpeg" />
         <pubDate>2023-04-20 01:59:20 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560959789</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lô Lô- Hà Vi</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560960704</link>
         <description><![CDATA[<div>https://docs.google.com/document/d/1svUblY_XFy14Jh86KGbLLA0rKzOzq29QoIbTVawJdWQ/edit?usp=sharing</div>]]></description>
         <enclosure url="https://docs.google.com/document/d/1svUblY_XFy14Jh86KGbLLA0rKzOzq29QoIbTVawJdWQ/edit?usp=sharing" />
         <pubDate>2023-04-20 02:00:15 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560960704</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560964060</link>
         <description><![CDATA[<div>Dân số: 94598</div><div>Địa bàn cư trú:&nbsp;</div><div>Người Bru-Vân Kiều cư trú tại 39/63 tỉnh, thành phố nhưng tập trung chủ yếu tại 3 tỉnh: Quảng Trị, Quảng Bình và Thừa Thiên Huế. Ngoài ra, còn một số lượng nhỏ người Bru-Vân Kiều hiện đang cư trú ở Đắk Lắk do Mỹ-Ngụy cưỡng ép di cư vào năm 1972.&nbsp;</div><div>Nét đặc sắc về đời sống tinh thần</div><div>-Tôn giáo: Theo truyền thống, người Bru-Vân Kiều coi trọng việc thờ cúng tổ tiên, ngoài ra còn thờ các thần linh như thần lúa, thần bếp, thần núi, thần đất, thần sông nước. Người Vân Kiều nhận thức về thế giới quan cho rằng vạn vật hữu linh. Vì vậy thần lúa, thần sông được sắp xếp thứ tự để thờ trong nhà và ngoài rừng với mục đích cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt. Đặc biệt là thần lúa được nâng lên cao nhất, được sùng bái với nhiều lễ thức quan trọng.</div><div>-Phong tục: Thờ cúng tổ tiên và có tục thờ cúng vật thiêng như thanh kiếm, mảnh bát... Ðặc biệt là tục thờ lửa và thờ bếp lửa. Người trưởng làng có vai trò quan trọng và có uy tín hơn đối với dân làng. Ở nhà sàn nhỏ, nếu gần bờ sông, suối thì các nhà tập trung thành một khu trải dọc theo dòng chảy, nếu ở chỗ bằng phẳng, rộng rãi, các ngôi nhà xếp thành vòng tròn hay hình bầu dục, ở giữa là nhà công cộng.</div><div>-Văn hoá:&nbsp;</div><div><br></div><div>Với người Bru Vân Kiều, Chủ làng tồn tại theo nguyên tắc cha truyền con nối (Chủ làng và chủ đất là một). Nhưng với người Pa Kô, có trường hợp Chủ làng, Chủ đất là hai người khác nhau. Tuy nhiên, cả người Bru Vân Kiều và Pa Kô đều coi việc chọn đất để dựng bản làng là việc cực kỳ quan trọng.</div><div>Với người Bru Vân Kiều, công việc này được Già làng quyết định, dựa vào các yếu tố thực tế (bảo đảm các yếu tố thuận lợi cho sản xuất, cư trú, gần nguồn nước…) và yếu tố tâm linh (tức là phải được thần linh - Yàng đồng ý). Khi được Yàng đồng ý (thông qua việc xem chân giò gà), “Già làng chọn 8 hạt gạo tốt (hạt gạo nguyên, lành lặn, không sứt mẻ) bỏ vào 1 ống tre, chôn nằm ngang xuống chỗ đất đã chọn. Sau 3 ngày đêm đào lên, nếu 8 hạt gạo còn nguyên vẹn, không xê dịch, có nghĩa Yàng báo cho biết đây là chỗ đất tốt lành… bấy giờ mới tiến hành dựng bản làng” (Bản làng truyền thống của người Bru Vân Kiều).</div><div>-Lễ hội: Lễ tế Yàng trong sản xuất của người Bru Vân Kiều (Hồ Chư); Tục đi sim (Y Thi); Lễ hội A-gia của đồng bào Pa Kô (Hồ Phương), Lễ hoàn ân thổ thần ở bản A Liêng, xã Tà Rụt, Đakrông (Kray Sứk)…</div><div>-Trang phục: Theo phong tục, nam giới người Bru-Vân Kiều thường đóng khố, có thêm khăn đội đầu; còn nữ giới mặc áo không có ống tay, cổ được khoét tròn hoặc vuông, và váy (xấn) là nguyên tấm vải quấn quanh thân rồi dùng dây vải buộc chặt.</div><div>Đàn ông, đàn bà người Bru–Vân Kiều đều búi tóc.</div><div><br></div><div>- Ngôn ngữ: Ngôn ngữ của người Bru là tiếng Bru, một ngôn ngữ thuộc nhóm Môn- Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), gần gũi với Tiếng Tà Ôi, Cơ Tu.</div><div><br></div><div>-Nhà ở: Nhà truyền thống của người Vân Kiều là nhà sàn nhỏ (thường gồm 3, 4 gian), chia làm 2 phần rõ rệt, được ngăn cách bằng một bức phên có tính ước lệ và thông nhau bằng một cửa phụ. Phần ngoài thường gồm 2 gian gọi là: pum (phía ngoài, gần cửa ra vào) và poong (phía trong, nơi thờ cúng).</div><div><br></div><div>Ẩm thực: Người Bru-Vân Kiều thích các món nướng. Họ ăn cơm tẻ thường ngày. Còn vào các dịp lễ hội đồng bào ăn cơm nếp nấu trong ống tre tươi. Đồng bào Vân Kiều quen ăn bốc, uống nước lã và rượu cần. Nam nữ đều thích hút thuốc lá bằng tẩu làm từ đất nung hoặc cây le.<br><br>Population: 94598</div><div>Place of residence:</div><div>Bru-Van Kieu people reside in 39/63 provinces and cities, but mainly concentrate in 3 provinces: Quang Tri, Quang Binh and Thua Thien Hue. In addition, there is a small number of Bru-Van Kieu people who are currently residing in Dak Lak because the Americans and Wei forced them to migrate in 1972.</div><div>Features of spiritual life</div><div>-Religion: Traditionally, Bru-Van Kieu people attach great importance to ancestor worship, in addition, they also worship gods such as the god of rice, god of kitchen, god of mountain, god of land, god of water and river. The Van Kieu people are aware of the worldview that all things are animate. Therefore, the gods of rice and rivers are arranged to worship in the house and in the forest for the purpose of praying for favorable rain and good summer. Especially, the god of rice is raised to the highest level, worshiped with many important rituals.</div><div>-Customs: Worshiping ancestors and having the custom of worshiping spiritual objects such as swords, bowls... Especially the custom of worshiping fire and worshiping the fire stove. The village chief has a more important and prestigious role to the villagers. In a small house on stilts, if it is close to the river bank, the houses are gathered into an area spread along the stream; if in a flat, spacious place, the houses are arranged in a circle or an oval shape, in the middle is a house on stilts. plus plus.</div><div><br></div><div>Culture:</div><div><br></div><div>With the Bru Van Kieu people, the village owner exists according to the principle of inheritance (the village owner and the land owner are one). But with the Pa Ko people, there is a case where the village owner and the land owner are two different people. However, both Bru Van Kieu and Pa Ko people consider it extremely important to choose land to build a village.</div><div>For the Bru Van Kieu, this job is decided by the Village Elder, based on practical factors (ensure factors favorable for production, residence, proximity to water sources...) and spiritual factors (ie. must be approved by the gods - Yang agrees). When Yang agreed (through looking at chicken feet), “The village elder chose 8 good grains of rice (whole rice grains, healthy, not chipped) put in a bamboo tube, buried horizontally in the selected soil. After 3 days and nights of digging, if 8 grains of rice are still intact, not moving, it means that Yang informed that this is a good place... then proceed to build a village" (Traditional village of Bru Van people) Kieu).</div><div><br>Festival: The festival of Yang in the production of the Bru Van Kieu (Ho Chu); The custom of going sim (Y Thi); The Agia festival of the Pa Ko people (Ho Phuong), the return of favors to the earth god in A Lieng village, Ta Rut commune, Dakrong (Kray Suk)...</div><div>-Attire: According to custom, Bru-Van Kieu men often wear loincloths, with extra headscarves; while women wear sleeveless tops, the neck is cut round or square, and the skirt is a whole piece of cloth wrapped around the body and tied with a cloth string.</div><div>Bru-Van Kieu men and women all have their hair in a bun.</div><div><br></div><div>Language: The Bru language is Bru, a language belonging to the Mon-Khmer group (Southern Asian language family), close to Ta Oi and Co Tu languages.</div><div><br></div><div>-House: The traditional house of the Van Kieu people is a small house on stilts (usually consisting of 3 or 4 rooms), divided into 2 distinct parts, separated by a conventional wall and connected by a side door. The outer part usually consists of 2 compartments called: pum (outside, near the door) and poong (inside, place of worship).</div><div><br></div><div>Cuisine: Bru-Van Kieu people love grilled dishes. They eat ordinary rice every day. On the occasion of festivals, the people eat sticky rice cooked in fresh bamboo tubes. Van Kieu people are used to eating and drinking cold water and can wine. Both men and women like to smoke with pipes made from terracotta or pear trees.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2021289513/385b212b250df9a95aa4b2d8430c49ef/9ABDC8BF_83FE_4741_B821_E5C90E9C3E70.jpeg" />
         <pubDate>2023-04-20 02:03:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560964060</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Co |||. Bảo Ngọc</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560965155</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Tên tự gọi</strong>: Cor, Col.</div><div>&nbsp;</div><div><strong>Tên gọi khác</strong>: Cua, Trầu.</div><div>&nbsp;</div><div><strong>Dân số</strong>: 33.817 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).</div><div>&nbsp;</div><div><strong>Ngôn ngữ</strong>: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), tương đối gần gũi các dân tộc khác trong vùng bắc Tây Nguyên và lân cận như: <a href="https://dantocmiennui.vn/nation/dan-toc-hre/21.html">Hrê</a>, <a href="https://dantocmiennui.vn/nation/dan-toc-xo-dang/53.html">Xơ Ðăng</a>, <a href="https://dantocmiennui.vn/nation/dan-toc-ba-na/1.html">Ba Na</a>... Chữ viết ra đời từ thời kỳ trước năm 1975 trên cơ sở dùng chữ cái La-tinh. Hiện nay chữ viết này không không phổ biến nữa.</div><div>&nbsp;</div><div><strong>Lịch sử</strong>: Người Co cư trú rất lâu đời ở tây bắc <a href="https://dantocmiennui.vn/quang-ngai-vai-net-tong-quan/172872.html">tỉnh Quảng Ngãi</a> và tây nam <a href="https://dantocmiennui.vn/quang-nam-vai-net-tong-quan/172140.html">tỉnh Quảng Nam</a>.</div><div>&nbsp;</div><div><strong>Hoạt động sản xuất</strong>: Kinh tế rẫy là nguồn sống chủ yếu, lúa rẫy là nguồn lương thực chính. Canh tác theo hình thức phát rừng, đốt, chọc lỗ tra hạt giống, tuốt lúa bằng tay. Kỹ thuật xen canh - đa canh trên từng đám rẫy và luân canh giữa các đám rẫy. Trầu không và quế của người Co nổi tiếng lâu đời. Ðặc biệt quế quý và nhiều là một nguồn lợi lớn: quế rừng và quế trồng. Rẫy quế của mỗi gia đình là loại tài sản quan trọng, thường 10 năm trở lên mới được thu hoạch. Nhờ bán quế, các gia đình có tiền mua sắm các gia sản được ưa chuộng (cồng, chiêng, ché, trâu, v.v... và nay thì xe, đài, đồng hồ, xây nhà, đóng đồ gỗ), đồng thời cũng chi dùng vào việc ăn uống, mặc, v.v... Hình thức dùng vật đổi vật được ưa thích.</div><div>&nbsp;</div><div><strong>Chăn nuôi</strong>: Trâu, lợn, gà trước hết để cúng tế; chó hầu như nhà nhà đều có. Nghề dệt và rèn không phát triển. Ðồ đan đẹp và phong phú. Sản phẩm hái lượm và săn bắt có ý nghĩa không nhỏ trong đời sống người Co.</div><div>&nbsp;</div><div><strong>Ăn</strong>: Bữa ăn thông thường là cơm gạo tẻ, muối ớt, các loại rau rừng và thịt cá kiếm được. Trước kia, đồng bào quen ăn bốc. Ðồ uống là nước lã, rượu cần, nay nhiều người đã dùng nước chín, nước chè xanh, rượu cất. Tục ăn trầu cau chỉ được duy trì ở lớp người lớn tuổi, nhưng tục hút thuốc lá vẫn còn phổ biến.</div><div>&nbsp;</div><div><strong>Ở</strong>: Người Co sống tập trung ở Trà Bồng và Trà Mi thuộc tây bắc tỉnh Quảng Ngãi và tây nam tỉnh Quảng Nam. Nhà sàn dài, cửa ra vào ở hai đầu hồi. Trong nhà chia dọc thành 3 phần: lối đi ở giữa, một bên được ngăn thành từng buồng nhỏ cho các gia đình sinh hoạt riêng, còn một bên dùng làm nơi sinh hoạt chung (tiếp khách, họp bàn, tổ chức lễ hội, ăn uống đông người, đan lát, vui chơi...). Xưa kia thường mỗi làng ở tập trung trong một vài ngôi nhà kiểu này, dài có khi hàng trăm mét, bên ngoài có rào chắn và bố trí vũ khí để phòng vệ. Gần đây, khắp vùng người Co phát triển trào lưu từng gia đình tách ra làm nhà ở riêng, nhà trệt, dựng theo kiểu nhà <a href="https://dantocmiennui.vn/nation/dan-toc-viet/51.html">người Việt</a> ở địa phương, đã có nhiều nhà lợp tôn, lợp ngói, cả nhà xây nữa.</div><div>&nbsp;</div><div><strong>Mặc</strong>: Ðồ mặc của người Co chủ yếu mua của người Xơ Ðăng và người Việt. Theo nếp truyền thống, nam đóng khố, ở trần, nữ quấn váy, mặc áo cộc tay; mùa lạnh thì khoác tấm vải choàng. Bộ quần áo dài với khăn xếp du nhập từ đồng bằng lên từng được dùng trưng diện trong ngày lễ hội, nhất là những bô lão khá giả. Ngày nay, quần áo người Việt được dùng lan tràn, váy còn thấy một số phụ nữ mặc nhưng đều dùng vải công nghiệp. Các loại vòng trang sức cũng chỉ bắt gặp thưa thớt, đơn giản, không dễ tìm được những phụ nữ quấn nhiều chuỗi hạt cườm quanh đầu, quanh cổ tay, cổ chân, trước ngực và quanh thắt lưng như trước kia nữa.</div><div>&nbsp;</div><div><strong>Phương tiện vận chuyển</strong>: Người Co có các loại gùi tự đan dùng để vận chuyển rất tiện lợi, thích hợp với điều kiện đất dốc, rừng núi và suối. Mọi thứ đều bỏ trong gùi và gùi được cõng trên lưng, có 2 quai quàng qua đôi vai.</div><div>&nbsp;</div><div><strong>Quan hệ xã hội</strong>: Mỗi làng có ông "già làng" được mọi người kính trọng và nghe theo. Dân làng sinh sống trên một địa vực ổn định có ranh giới, việc chuyển dịch cư trú của làng cũng chỉ trong vùng lãnh thổ ấy. Trong làng thường có quan hệ thân thuộc qua lại với nhau: hoặc về huyết thống, hoặc do hôn nhân. Tuy mỗi gia đình làm ăn riêng, chiếm hữu riêng đất rẫy, nhưng tính cộng đồng làng khá cao. Xã hội truyền thống Co đã nảy sinh giàu - nghèo khác nhau, nhưng chưa phát triển các hình thức bóc lột: nô lệ gia đình, cho vay nặng lãi...</div><div>&nbsp;</div><div><strong>Cưới xin</strong>: Hình thức hôn nhân cư trú đằng chồng là phổ biến. Phong tục cho phép nếu vợ chết có thể lấy tiếp em hoặc chị của vợ, nhưng vợ goá không thể lấy em chồng; nếu 2 anh em trai lấy 2 chị em gái thì phải anh lấy chị, em lấy em; nếu con gái nhà này đã làm dâu nhà kia thì 2 - 3 đời sau nhà kia mới gả con gái cho nhà này. Con cô - con cậu, con gì - con già, con có chung cha mẹ đều không được lấy nhau. Cùng một gốc sinh thành, nếu là anh em trai thì đời chắt của họ hoặc sau đó nữa mới có thể lấy nhau, song nếu là chị em gái hay một gái một bên trai thì cháu hoặc chắt của họ có thể lấy nhau. Ðám cưới đơn giản, gọn nhẹ, không tốn kém nhiều, chỉ là dịp mọi người uống rượu vui chứng kiến đôi trai gái thành vợ, thành chồng.</div><div>&nbsp;</div><div><strong>Ma chay</strong>: Quan tài gỗ, đẽo theo kiểu độc mộc. Người chết được chôn trong bãi mộ của làng, đặt không xa chỗ ở. Tang gia "chia của" cho người mới chết, đưa ra mộ không chỉ vật dụng và tư trang của người ấy, mà cả ché, chiêng...</div><div>&nbsp;</div><div><strong>Thờ cúng</strong>: Những đỉnh núi cao được người Co gọi là núi Ông núi Bà. Họ cho rằng có "thần linh" trú ngụ ở đó. Hệ thống "ma" (ka muych) và "thần" (kơi, ma) rất đông: ma người chết bình thường, ma người chết bất bình thường, ma quế, ma cây đa, ma nước, thần bếp lửa... Bởi vậy, người ra có nhiều kiêng cữ và cúng quải gắn với sản xuất và đời sống.</div><div>&nbsp;</div><div><strong>Lễ tết</strong>: Người Co có nhiều lễ, lớn nhất là lễ có đâm trâu tế thần - đây cũng là ngày hội lớn trong làng. Ngoài ra, tết gắn với sự kết thúc một mùa lúa rẫy là dịp sinh hoạt nhộn nhịp. Trong hai dịp đó, các món ăn dân tộc, nghệ thuật dân tộc và trang phục dân tộc được thể hiện tập trung, khơi dậy văn hoá truyền thống.</div><div>&nbsp;</div><div><strong>Lịch</strong>: Cách tính ngày tháng tương đương với âm lịch của người Việt, nhưng chỉ có 10 tháng, tiếp đến là thời gian nghỉ ngơi sau vụ canh tác. Bên cạnh đó, người Co coi trọng việc xác định ngày tốt, xấu để thực hiện các công việc khác nhau.</div><div>&nbsp;</div><div><strong>Văn nghệ</strong>: Ưa thích âm nhạc, dùng bộ chiêng 3 chiếc là phổ biến: nhạc cụ còn có trống, các loại đàn nhị. Múa chỉ xuất hiện trong lễ đâm trâu. Các điệu dân ca Xru (Klu), Agiới được lưu truyền rộng rãi. Vốn truyện cổ khá phong phú, có huyền thoại, truyền thuyết, truyện ngụ ngôn... Nghệ thuật trang trí tập trung nhất ở cây cột lễ và cái "gu" trong lễ hội đâm trâu.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2026628581/f667ca5462f8614e5625ca8bc9b5f291/144CCAB6_7F09_4D67_93FF_6F81B94F2E38.jpeg" />
         <pubDate>2023-04-20 02:04:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560965155</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560966376</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Người Giẻ Triêng</strong> (<em>Jeh-Tariang</em>) là một dân tộc cư trú chủ yếu tại miền trung Việt Nam và nam Lào. Theo <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Joshua_Project">Joshua Project</a> tổng dân số năm 2019 là 75 ngàn người.<br>Ngôn ngữ: Tiếng giẻ, tiếng triêng cùng thuộc <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Ng%E1%BB%AF_chi_Bahnar">Ngữ chi Bahnar</a> của <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Ng%E1%BB%AF_h%E1%BB%87_Nam_%C3%81">ngữ hệ Nam Á</a>.<br>Tôn giáo: Tín ngưỡng dân gian<br>Đặc điểm kinh tế: Người Giẻ Triêng sống chủ yếu bằng nghề làm <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/R%E1%BA%ABy">rẫy</a>. Ngoài ra họ còn săn bắn, đánh cá, hái lượm các loại rau rừng, hoa quả, <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/N%E1%BA%A5m">nấm</a>... làm thức ăn hàng ngày. Người Giẻ Triêng còn nuôi <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Tr%C3%A2u">trâu</a>, <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/B%C3%B2">bò</a>, <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Chi_L%E1%BB%A3n">lợn</a>, <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/G%C3%A0">gà</a> nhưng chủ yếu chỉ dùng vào lễ hiến sinh.<br>Hôn nhân gia đình: Theo tục lệ cũ, con trai khoảng 10 tuổi bắt đầu ngủ đêm tại <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_r%C3%B4ng">nhà rông</a>, khoảng 13-15 tuổi thì <a href="https://vi.m.wikipedia.org/w/index.php?title=C%C3%A0_r%C4%83ng&amp;action=edit&amp;redlink=1">cà răng</a> và sau đó vài ba năm sẽ lấy vợ. Con gái chủ động trong việc hôn nhân của mình và sự lựa chọn của con cái được cha mẹ tôn trọng. Trước khi lập gia đình, con trai phải biết đan lát, biết tấu <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/C%E1%BB%93ng_chi%C3%AAng">chiêng</a> <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/C%E1%BB%93ng_chi%C3%AAng">cồng</a>, các cô gái phải thạo đan chiếu, dệt vải (ở những vùng có nghề dệt). Cô gái phải chuẩn bị đủ 100 bó củi đẹp để nộp cho nhà trai trong lễ cưới. Sau <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%85_c%C6%B0%E1%BB%9Bi">đám cưới</a>, đôi vợ chồng trẻ phải sống và luân phiên chuyển nhà từ nhà cha mẹ vợ sang nhà cha mẹ chồng, và ngược lại cứ ba đến bốn năm một lần, cho đến khi cha mẹ một bên qua đời mới định cư một chỗ.<br>Ma chay: Người Giẻ Triêng khi chết được <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%B4n_c%E1%BA%A5t">chôn</a> trong quan tài độc mộc, có đẽo tượng đầu trâu, huyệt đào rất nông, đưa đám tang chỉ có vài người nhà và sau một thời gian thì làm lễ bỏ mả để đoạn tang.<br>Nhà cửa: Người Giẻ Triêng ở <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_s%C3%A0n">nhà sàn</a> dài, nhiều nơi làm mái đầu hồi uốn khum hình mu <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/B%E1%BB%99_R%C3%B9a">rùa</a>. Thường thì các nhà trong làng được xếp thành hình tròn xung quanh <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_r%C3%B4ng">nhà rông</a>. Khác với nhà rông của một số dân tộc khác, nhà sàn Giẻ Triêng được hành lang chạy dọc chia đôi: một nửa dành cho nam giới, nửa kia dành cho phụ nữ.</div><div>Hiện nay, người Giẻ Triêng ở Kon Tum làm nhà sàn ngắn và vài hộ gia đình cùng chung sống với nhau. Những nhà này cũng có những đặc trưng đáng quan tâm: nhà sàn mái hình mai rùa, hai đầu đốc được trang trí bằng hai <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/S%E1%BB%ABng">sừng</a><a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Tr%C3%A2u">trâu</a>.<br>Trang phục: Nam giới để tóc ngắn hoặc đội khăn chàm theo lối chữ nhất trên đầu. Thân ở trần hoặc mặc <em>tấm áo</em>, khoác ngoài chéo qua vai, màu chàm có các sọc trang trí. Họ mang khố khổ hẹp, dài không có tua, thân và các mép khố được viền và trang trí hoa văn ở hai đầu trên nền chàm. Nam cũng đeo vòng cổ, vòng ngoài khố mang chuỗi hạt vòng. Trong các dịp tết lễ, họ mang thêm tấm choàng rộng màu chàm, có các sắc màu trang trí phủ kín thân.</div><div>Phụ nữ Giẻ Triêng để tóc dài, quấn sau gáy. Họ không mặc áo mà mang loại váy dài, cao sát nách. Đây là loại váy ống tương đối dài rộng. Đầu váy, giữa thân và gấu váy được trang trí các sọc hoa văn màu đỏ trên nền chàm. Lối mặc có tính chất vừa váy, vừa áo này là một đặc điểm rất khác biệt của phụ nữ Gié Triêng, ít gặp ở các dân tộc khác từ Bắc vào Nam. Đây cũng là một lý do trang phục Giẻ Triêng được chọn vào "Làng văn hóa các dân tộc". Lối mặc váy, đặc biệt là quấn mép ra trước giữa thân, đầu váy còn thừa (váy loại này thường dài - cao gấp rưỡi váy bình thường), lộn ngược ra phía trước hoặc quấn thành nhiều nếp gấp ra xung quanh trông như một chiếc áo ngắn. Phụ nữ còn mang vòng tay vòng cổ.</div><div>Trang phục Giẻ Triêng là đặc điểm riêng, cùng với một số dân tộc khu vực <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/D%C3%A3y_Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_S%C6%A1n">Trường Sơn</a> - <a href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2y_Nguy%C3%AAn">Tây Nguyên</a> có giá trị quan trọng cho việc nghiên cứu lịch sử trang phục ở Việt Nam.<br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-20 02:05:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560966376</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560967579</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2021288751/7475d9f118e7fcc02ec93c18fa99ad26/image.jpeg" />
         <pubDate>2023-04-20 02:06:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560967579</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560969400</link>
         <description><![CDATA[<div>Người Ơ Đu nói tiếng Ơ Đu, ngôn ngữ thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer trong ngữ hệ Nam Á. Tuy nhiên hầu hết người Ơ Đu dùng các tiếng Khơ Mú, Thái để giao tiếp hàng ngày.<br>Người Ơ Đu, còn có tên gọi khác là người Tày Hạt, là một dân tộc ít người có vùng cư trú là huyện Tương Dương phía tây tỉnh Nghệ An, và Trung Lào. Họ là một trong những dân tộc ít người nhất của Việt Nam và Lào.<br>Tại Việt Nam, họ cư trú tại một bản là Văng Môn, xã Nga My, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An với 103 hộ và 441 người (2019).&nbsp;<br>Theo thống kê dân số vào tháng 4 năm 1999, người Ơ Đu có 301 người. Theo ước tỉnh của Ủy ban dân tộc Việt Nam thì dân số năm 2003 vào khoảng 370 người<br>Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Ơ Đu ở Việt Nam có dân số 376 người, có mặt tại 11 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Ơ Đu cư trú tập trung tại các tỉnh: Nghệ An (340 người, chiếm 90,4% tổng số người Ơ Đu tại Việt Nam), Thành phố Hồ Chí Minh (12 người), Hà Nội (7 người), Lâm Đồng (4 người), Đồng Nai (4 người)<br>&nbsp;<br>Xưa kia người Ơ Đu cư trú suốt hai bên bờ sông Nậm Mộ, Nậm Nơn, nhưng do nhiều biến cố lịch sử, họ phải dời đi nơi khác hoặc ở lẫn vào các dân tộc khác. Hiện nay họ sống rải rác trong nhiều bản vùng sâu vùng xa thuộc huyện Tương Dương, tập trung ở hai bản Kim Hòa, Xốp Pột tại xã Kim Đa và một số cư trú lẻ tẻ ở các bản các xã kế cận, thuộc huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.<br>Sau khi thủy điện Bản Vẽ được xây dựng, họ tiếp tục di dời đến khu định cư mới tại Bản Văng Môn, xã Nga My, huyện Tương Dương cách nơi ở cũ 30 km về phía Đông.<br>Tiếng Ơ Đu thuộc ngữ chi Khơ Mú của ngữ tộc Môn-Khmer. Nhưng hiện nay người Ơ Đu chỉ còn giữ được ý thức tự giác về tộc người, còn ngôn ngữ thì hầu như đã mất (chỉ còn một vài người biết tiếng mẹ đẻ). Họ sử dụng thông thạo tiếng Thái và tiếng Khơ Mú hoặc biết thêm tiếng Việt. Bản sắc văn hóa của người Ơ Đu mờ nhạt vì chịu ảnh hưởng của người Thái và người Khơ Mú. Trong lần tổng điều tra dân số toàn quốc năm 1989, nhiều người Ơ Đu tự khai là người Thái hay người Khơ Mú.<br>Trang phục không có đặc tính tộc Ơ Đu mà chịu ảnh hưởng khá mạnh mẽ của cư dân Việt - Mường và Thái.<br>Người Ơ Đu có lịch tính năm riêng, tiếng sấm đầu xuân cũng là thời điểm bắt đầu năm mới.<br>Họ quan niệm người có hồn, khi chết, hồn biến thành ma, ma nhà chi phối mọi hoạt động của người sống trong nhà.<br>Cho đến nay, chỉ có một người tốt nghiệp đại học (từ năm 1981): đó là anh Lô Kim Trọng ở bản Kim Hòa, xã Kim Đa, Tương Dương, Nghệ An, làm hiệu trưởng trường trung học cơ sở Kim Đa từ năm 1999<br>Trang phục: Hiện nay, nam và nữ đều ăn mặc theo kiểu người Thái, Việt trong vùng. Những bộ trang phục cổ truyền còn rất ít.<br>Nhà ở: Trước đây, ngôi nhà truyền thống, nhà sàn, phải dựng quay đầu vào núi (dựng chiều dọc). Khi dựng cột phải tuân theo một thứ tự nhất định. Nay kiểu nhà này không còn nữa. Họ ở sàn nhà giống như nhà sàn người Thái.<br>Quan hệ xã hội: Do số lượng dân số ít, sống xen kẽ với người Khơ Mú và Thái cho nên các mặt quan hệ xã hội văn hóa của họ chịu nhiều ảnh hưởng hai dân tộc này. Người Ơ Ðu lấy họ theo họ Thái, Lào. Tổ chức dòng họ rất mờ nhạt. Trưởng họ là người có uy tín, được kính trọng và có vai trò lớn trong dòng họ. Gia đình người Ơ Ðu là gia đình nhỏ phụ quyền. Ðàn ông quyết định tất thẩy các công việc trong nhà. Phụ nữ không được hưởng thừa tự. Họ phổ biến tục ở rể. Lễ vật trong dịp cưới không thể thiếu là thịt sóc, thịt chuột sấy khô và cá ướp muối.<br>Thờ cúng: Người Ơ Ðu tin rằng khi người chết, hồn biến thành ma. Hồn thân thể ngụ tại bãi tha ma, hồn gốc ở chỏm tóc ở lại làm ma nhà. Ma nhà chỉ ở với con cháu một đời theo thứ tự từ con trai cả đến con trai thứ. Khi các con trai đã chết hết, người ta làm lễ tiễn ma nhà về với tổ tiên. Nơi thờ ma nhà tại góc hồi của gian thứ hai. Bàn thờ đơn giản, treo cao sát mái nhà.<br><br><br><br><br><br><br><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;<br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-20 02:08:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560969400</guid>
      </item>
      <item>
         <title>DÂN TỘC H’MÔNG</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560973310</link>
         <description><![CDATA[<div>1. dân số: 1393547 người</div><div>2. địa bàn cư trú: Dân tộc H'Mông cư trú thường ở độ cao từ 800 đến 1500 m so với mực nước biển gồm hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc trong một địa bàn khá rộng lớn, dọc theo biên giới Việt - Trung và Việt - Lào từ Lạng Sơn đến Nghệ An, trong đó tập trung chủ yếu ở các tỉnh thuộc Đông và Tây bắc Việt Nam như: Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu ...</div><div>3. đời sống tinh thần</div><div>- tôn giáo: vạn vật hữu linh, Saman giáo, Phật giáo, Kitô giáo</div><div>- tín ngưỡng: tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ các loại ma, tín ngưỡng liên quan đến chu kỳ đời người, tín ngưỡng thờ cúng nông nghiệp, tín ngưỡng liên quan đến lễ hội<br>- lễ hội: Gầu Tào, Nào Cống, Tầu Sừ<br>- phong tục tập quán<br>&nbsp; &nbsp;+&nbsp;xuống chợ phiên, nhất là những phiên chợ tết rực rỡ sắc màu thổ cẩm vào dịp cuối năm<br>&nbsp; &nbsp;+&nbsp;sống quần tụ trong từng bản có vài chục nóc nhà, họ thường thích sống khép kín, nhiều nơi đồng bào xây tường đá ngang đầu quanh nhà ở<br>&nbsp; &nbsp; +&nbsp;dùng ngựa thồ hàng và cưỡi đi chợ, gùi có hai quai đeo vai.&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp; +&nbsp;Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau</div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-20 02:11:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560973310</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Bru-Vân Kiều || Hoàng Hà Linh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560980232</link>
         <description><![CDATA[<div>1.Tên gọi khác: Bru, Vân Kiều</div><div>•Ngôn ngữ: Ngôn ngữ của người Bru là tiếng Bru, một ngôn ngữ thuộc nhóm Môn- Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), gần gũi với Tiếng Tà Ôi, Cơ Tu.</div><div>•Cư trú: Người Bru-Vân Kiều cư trú tại 39/63 tỉnh, thành phố nhưng tập trung chủ yếu tại 3 tỉnh: Quảng Trị, Quảng Bình và Thừa Thiên Huế. Ngoài ra, còn một số lượng nhỏ người Bru-Vân Kiều hiện đang cư trú ở Đắk Lắk do Mỹ-Ngụy cưỡng ép di cư vào năm 1972.</div><div>Lịch sử: Hiện nay có hai luồng ý kiến khác nhau về nguồn gốc của người Bru-Vân Kiều, nhưng đa phần các ý kiến đều cho rằng, đây là cư dân bản địa, sống lâu đời ở vùng Trung Đông Dương. Sau những biến động lịch sử, họ di cư đi các nơi, trong đó có một bộ phận đi về hướng đông và tụ cư ở miền tây tỉnh Quảng Trị của Việt Nam.</div><div>•Dân số: Theo số liệu điều tra 53 dân tộc thiểu số 1/4/ 2019, tổng dân số người Bru-Vân Kiều: 94.598 người; dân số nam: 47.301 người; dân số nữ: 47.297 người; quy mô hộ: 4.5 người/hộ; tỷ lệ dân số sống ở khu vực nông thôn: 91.9%.</div><div>- Ngôn ngữ: Ngôn ngữ của người Bru là tiếng Bru, một ngôn ngữ thuộc nhóm Môn- Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), gần gũi với Tiếng Tà Ôi, Cơ Tu.</div><div><br></div><div>2.Đặc điểm chính:</div><div>• Thiết chế xã hội truyền thống: Người Bru-Vân Kiều quần cư thành Vil (Làng).Mỗi vil có một bộ máy tổ chức điều hành và quản lý mọi sinh hoạt của cộng đồng với người đứng đầu là xuất vil (chủ làng).</div><div>• Nhà ở: Nhà truyền thống của người Vân Kiều là nhà sàn nhỏ (thường gồm 3, 4 gian), chia làm 2 phần rõ rệt, được ngăn cách bằng một bức phên có tính ước lệ và thông nhau bằng một cửa phụ. Phần ngoài thường gồm 2 gian gọi là: pum (phía ngoài, gần cửa ra vào) và poong (phía trong, nơi thờ cúng).&nbsp;</div><div>•Trang phục: Theo phong tục, nam giới người Bru-Vân Kiều thường đóng khố, có thêm khăn đội đầu; còn nữ giới mặc áo không có ống tay, cổ được khoét tròn hoặc vuông, và váy (xấn) là nguyên tấm vải quấn quanh thân rồi dùng dây vải buộc chặt.</div><div>Đàn ông, đàn bà người Bru–Vân Kiều đều búi tóc.</div><div><br></div><div>• Tôn giáo, tín ngưỡng: Theo truyền thống, người Bru-Vân Kiều coi trọng việc thờ cúng tổ tiên, ngoài ra còn thờ các thần linh như thần lúa, thần bếp, thần núi, thần đất, thần sông nước. Người Vân Kiều nhận thức về thế giới quan cho rằng vạn vật hữu linh. Vì vậy thần lúa, thần sông được sắp xếp thứ tự để thờ trong nhà và ngoài rừng với mục đích cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt. Đặc biệt là thần lúa được nâng lên cao nhất, được sùng bái với nhiều lễ thức quan trọng.</div><div>Đồng bào Bru Vân Kiều hiện còn lưu giữ nhiều lễ hội độc đáo. (Ảnh: Báo Dân tộc và phát triển)</div><div>• Ẩm thực: Người Bru-Vân Kiều thích các món nướng. Họ ăn cơm tẻ thường ngày. Còn vào các dịp lễ hội đồng bào ăn cơm nếp nấu trong ống tre tươi. Đồng bào Vân Kiều quen ăn bốc, uống nước lã và rượu cần. Nam nữ đều thích hút thuốc lá bằng tẩu làm từ đất nung hoặc cây le. - Nhạc cụ: Nhạc cụ phổ biến của người Bru-Vân kiều là: cồng, chiêng, đàn Achung, Plư, Ta-lư, kèn Amam, Ta-ral,...</div><div>•Giáo dục: Trước đây, nền giáo dục học đường không tồn tại ở vùng người Bru - Vân Kiều. Nhưng với sự đầu tư của Nhà nước và các tổ chức phi chính phủ, tình trạng giáo dục của người Vân Kiều đã có những bước chuyển biến tích cực.</div><div>• Hôn nhân: Ở dân tộc Bru-Vân Kiều, sau khi cưới, cô dâu về ở nhà chồng. Sau lễ cưới, đôi vợ chồng còn phải làm "lễ cưới" lần thứ 2 khi có điều kiện về kinh tế, gọi là lễ Khơi, để người vợ chính thức được coi là thành viên dòng họ nhà chồng.</div><div>• Lễ tết: Người Bru-Vân Kiều có nhiều lễ cúng khác nhau trong quá trình canh tác lúa rẫy nhằm cầu mùa, gắn với các khâu, phát, trỉa và thu hoạch. Ðặc biệt lễ thức trước dịp trỉa lúa diễn ra như một ngày hội của dân làng. Trong một đời người, mỗi người cũng có hàng loạt nghi lễ cúng về bản thân mình như: khi ra đời, lúc đau ốm, khi qua đời, lúc thành hôn v.v...</div><div>3.Điều kiện kinh tế:</div><div>•Chủ yếu bằng canh tác rẫy, trồng lúa.&nbsp;</div><div>•Nông cụ thô sơ như: rìu, dao quắm, gậy trỉa,... •Phương thức sản xuất đơn giản: phát rừng, đốt, rồi chọc lỗ gieo hạt giống, làm cỏ, tuốt lúa bằng tay.&nbsp;</div><div>•Ngoài kinh tế nông nghiệp, người Bru-Vân Kiều còn chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà,... Họ không phát triển nghệ thủ công và chủ yếu trao đổi hàng hoá với người Việt và người Lào.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-20 02:16:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560980232</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Chơ Ro - Thảo Nguyên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560983662</link>
         <description><![CDATA[<div>https://docs.google.com/document/d/1Ltb5LwYd75VZ3GdSVCIvQvlwM19Cy26THlJSxei158A/edit?usp=sharing</div>]]></description>
         <enclosure url="https://docs.google.com/document/d/1Ltb5LwYd75VZ3GdSVCIvQvlwM19Cy26THlJSxei158A/edit?usp=sharing" />
         <pubDate>2023-04-20 02:19:08 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560983662</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560988067</link>
         <description><![CDATA[<div>Dân số : 1. Tại Việt Nam người Hà Nhì là một dân tộc trong số 54 dân tộc tại Việt Nam,&nbsp; với dân số là 25.539 người• Địa bàn cư trú:1. Người Hà Nhi cư trú tại 32 tỉnh, thành phố ở Việt Nam2. Người Hà Nhì cư trú tập trung tại các tỉnh:&nbsp;Lai Châu&nbsp;(13.752 người,63,3%), Lào Cai&nbsp;(4.026 người),&nbsp;Điện Biên&nbsp;(3.786 người)• Nét đặc sắc về đời sống tinh thần1. Tín ngưỡng dân gian2. Tôn giáo: Phật giáo, Kitô giáo3. Phong tục, tập quán: Người&nbsp;Hà Nhì&nbsp;có nhiều lễ hội trong năm. Ngoài lễ chính là Tết Nguyên đán và Tết thiếu nhi thì còn có lễ Khu Già Già (tháng 6), lễ Ga Tho Tho (tháng 11). Ngoài ra có thêm một số lễ cúng nhỏ như: ăn lúa mới (tháng 8), ăn nếp mới (tháng 9)... Người&nbsp;Hà Nhì&nbsp;có nhiều truyện cổ, có cả truyện thơ dài.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-20 02:22:08 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560988067</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nét độc đáo văn hóa người Bru</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560988314</link>
         <description><![CDATA[<div><a href="https://youtu.be/cYnMNBu_auA">https://youtu.be/cYnMNBu_auA</a></div>]]></description>
         <enclosure url="https://youtu.be/cYnMNBu_auA" />
         <pubDate>2023-04-20 02:22:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560988314</guid>
      </item>
      <item>
         <title>video</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560989550</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1661290669/80bd598ac36eb334f97a257a0f55bba3/dt_cho_ro.mp4" />
         <pubDate>2023-04-20 02:23:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2560989550</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2561199288</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1661290669/cb76f88098f6c05c6bc6afb599b2d760/L__c_ng_t__ti_n_truy_n_th_ng_c_a_ng__i_d_n_t_c_L__L____H__giang.webm" />
         <pubDate>2023-04-20 05:57:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2561199288</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc Mường - Muong ethnic.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2562090373</link>
         <description><![CDATA[<div><mark>1.</mark><strong><mark> Dân số:</mark></strong><br>&nbsp; &nbsp; - Lớn thứ tư trong 54 dân tộc Việt Nam.<br>&nbsp; &nbsp; - Tổng dân số: 1 452 095 (năm 2019)<br><strong><mark>2. Địa bàn cư trú:</mark></strong><br>&nbsp; &nbsp; - Sống ở khu vực trung du và miền núi phía Bắc Việt&nbsp; &nbsp; Nam.<br>&nbsp; &nbsp; -&nbsp; Tập trung đông nhất ở tỉnh <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%B2a_B%C3%ACnh">Hòa Bình</a> chiếm 42% và các tỉnh lân cận là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Thanh_H%C3%B3a">Thanh Hóa</a> 29%, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%BA_Th%E1%BB%8D">Phú Thọ</a> 15%, Sơn La 6%, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ninh_B%C3%ACnh">Ninh Bình</a> 4%, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_N%E1%BB%99i">Hà Nội</a> 0.13%. Các vùng còn lại chiếm 3.9% dân số Mường.<br><strong><mark>3. Nét đặc sắc về đời sống tinh thần:</mark></strong><strong><br>&nbsp; &nbsp; </strong><strong><em>&nbsp;</em></strong><em>a, Tín ngưỡng:</em><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; + Thờ Vua Cha Ngọc Hoàng, Phật, Thánh, Quốc mẫu Hoàng Bà. <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4_%C4%90%C3%B4i_Th%C6%B0%E1%BB%A3ng_Ng%C3%A0n">Cô Đôi Thượng Ngàn</a> trong <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%ADn_ng%C6%B0%E1%BB%A1ng_th%E1%BB%9D_M%E1%BA%ABu_Vi%E1%BB%87t_Nam">tín ngưỡng thờ mẫu Tam Phủ</a> là người Mường.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; + Thờ cúng tổ tiên ông bà.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; + Đối với người Mường: "Vạn vật hữu linh".<br>&nbsp; &nbsp;<em>&nbsp;b, Tôn giáo:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;</em>Người Mường theo đạo Tin Lành, Thiên Chúa, Phật giáo và Không theo đạo nhưng có sự khác biệt ở người theo đạo Phật là mọi nghi lễ đều phải có chủ lễ là thầy mo chủ trì.<br>&nbsp; &nbsp;<em>&nbsp;c, Phong tục:</em><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; + Phụ nữ Mường có phong tục chuyền nhau hút một điếu thuốc.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; + Đãi khách quý, trong các cuộc vui tập thể thường uống rượu cần.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; + Sống tập trung thành làng xóm ở chân núi, bên sườn đồi, nơi đất thoải gần sông suối. Đại bộ phận ở nhà sàn, kiểu nhà bốn mái.<br>&nbsp; &nbsp; <em>&nbsp;d, Lễ hội: <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;</em>Người Mường có nhiều ngày hội quanh năm: Sắc bùa, hội xuống đồng (Khung mùa), hội cầu mưa (tháng 4), lễ rửa lá lúa (tháng 7, 8 âm lịch), lễ cơm mới...<br><br>~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~<br><br><strong><mark>1. Population:</mark></strong><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;- Fourth largest in 54 ethnic groups of Vietnam.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;- Total population: 1 452 095 ( according to the 2019 census ).<br><strong><mark>2. Place of residence:</mark></strong></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;- Residing in the Northen midland and mountainous of Vietnam.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;- Especially: Hoa Binh, Thanh Hoa, Phu Tho, Son La, Ninh Binh, Ha Noi and so on.<br><strong><mark>3. Special features of spiritual life:</mark></strong><br>&nbsp; &nbsp; <em>&nbsp;a, Religious beliefs:</em><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; + Traditional ethnic religion, worshiping ancestral spirits and other supernatural deities. <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; +&nbsp; Follow <a href="https://en.wikipedia.org/wiki/Buddhism">Buddhism</a> and <a href="https://en.wikipedia.org/wiki/Christianity">Christianity</a> (<a href="https://en.wikipedia.org/wiki/Catholicism">Catholics</a>), often with local <a href="https://en.wikipedia.org/wiki/Animism">animistic</a> influences. <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; +&nbsp; They are primarily animists, which means that they believe that non-living objects have spirits. <strong><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;</strong><em>&nbsp;b, Traditions, customs:</em><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; + Muong women have the custom of passing each other to smoke a cigarette.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; + Treat distinguished guests, during collective fun often drink Can alcohol.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; +&nbsp; They live concentrated in villages at the foot of the mountain, on the hillside, where the land is comfortable near rivers and streams. Most of them are on stilts, four-roofed houses.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;<em>&nbsp;c, Festivals: <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;</em>The Muong people have many festivals all year round: Talisman, Festival of Going to the Field (Frame of the Season), Rain-Praying Festival (May 4), Rice Leaf Washing Ceremony (7th month, 8th lunar month), New rice festival ...<br><br><br><br><br><br><br><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?v=pKSvD2J4nNQ" />
         <pubDate>2023-04-20 15:58:15 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2562090373</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lễ hội của người Mường</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2562097262</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?v=6zKpJPBnNpM" />
         <pubDate>2023-04-20 16:03:27 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2562097262</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Gia rai</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2562250592</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><br>* Dân số:</strong></div><div>Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số 1/4/2019: Tổng dân số: 513.930 người. Trong đó, nam: 252.234 người; nữ: 261.696 người. Tỷ lệ dân số sống ở khu vực nông thôn: 89,5%.</div><div><strong><br>* Ngôn ngữ:</strong></div><div><br>Gia-rai là một trong năm dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Mã Lai-Đa Đảo và là một trong những dân tộc tại chỗ thuộc khu vực Tây Nguyên, Việt Nam.</div><div><strong><br>3.Phân bố địa lý</strong></div><div><br>Địa bàn cư trú của dân tộc Gia-rai ở Tây Nguyên chủ yếu tại tỉnh Gia Lai, phía tây tỉnh Phú Yên, phía nam tỉnh Kon Tum, và phía bắc tỉnh Đắk Lắk.&nbsp;</div><div><strong><br>4.Đặc điểm chính:</strong></div><div><strong><br>Thực phẩm:</strong> Gạo tẻ là lương thực chính; lương thực phụ là ngô. Thức ăn có rau, muối, ớt, canh rau, lâu lâu mới có bữa thịt, cá. Bữa tiệc, lấy chén rượu cần làm trung tâm, quanh đó có các món ăn đựng trên bát, đĩa hoặc lá chuối để vừa ăn, vừa uống. Khi rượu ngà say có hát, nhảy múa, đánh chiêng.&nbsp;</div><div><strong><br>Trang phục:</strong> Ðàn ông đóng khố vải trắng kẻ sọc nhiều màu (toai), ngày lễ đóng khố vải chàm dài 4m và rộng 0,30m, có đường viền hoa văn và buông tua chỉ nhiều màu ở hai đầu. Áo màu đen cộc tay, hở nách, đường viền hoa văn chỉ màu chạy dọc hai sườn mang đậm dấu vết kiểu pông-sô.&nbsp;</div><div><br>Pơtao hoặc chủ làng mặc áo chàm che kín mông, tay dài, chui đầu, có một mảng sợi màu đỏ làm khuy và khuyết cài từ cổ đến ngực. Dưới dải cúc là miếng vải đỏ hình vuông khâu đáp vào để làm dấu hiệu là áo. Ðàn bà mặc váy chàm (dài 1,4m x rộng 1m), có đường viền hoa văn chạy quanh gấu. Phần cạp có tua chỉ trắng hoặc màu. Váy không khâu liền thành ống nên khi mặc chỉ cuốn vào thân để chỗ giáp hai đầu về phía trước. Họ mặc áo cánh ngắn bó sát thân, dài tay. Trên cánh tay áo có chiếc được thêu những đường vòng hoa văn chỉ màu. Nơi ở quanh năm nóng nực nên cả nam lẫn nữ ưa thích cởi trần.</div><div><strong><br>Nơi ở:</strong> Nhà sàn</div><div><br>Kiến trúc có hai loại: Nhà sàn dài kiểu la-yun-pa, dài 13,5m và rộng 3,5m là kích thước trung bình cho mỗi nhà. Nhà được phân thành hai phần: bên mang và bên óc. Cửa bên óc chỉ quay về hướng bắc và bên óc dành cho những người đàn bà - chủ gia đình mẫu hệ. Trong nhà có hai bếp.&nbsp;</div><div><br>Nhà nhỏ kiểu Hđrung với kích thước rộng 3m x dài 9m. Chiều cao từ đất lên đòn nóc không quá 4,5m. Cửa chính thông ra sàn phơi chỉ quay về hướng bắc. Hai bên cửa chính có hai cửa sổ. Trong nhà chỉ có một bếp.</div><div><strong><br>Ma chay:</strong> Người Gia Rai theo tục tất cả người cùng họ mẹ chôn chung một huyệt. Người đàn ông chết phải khiêng về chôn ở huyệt phía mẹ mình. Trong huyệt chung ấy, các quan tài được xếp kề sát bên nhau theo chiều ngang rồi chồng lên theo chiều dọc. Khi quan tài cao bằng miệng huyệt thì lấy ván kê bốn bề để chôn tiếp vài ba lớp nữa mới làm lễ "bỏ mả" (Họa lui, Thi nga hay Bó thi) - một nghi thức lớn trong quá trình tang lễ.</div><div><strong><br>Thờ cúng:</strong> Người Gia Rai theo vạn vật hữu linh. Thần linh (Yang) có nhiều loại, trong đó có ba loại nổi bật được nhắc đến trong lễ cúng hàng năm hay nhiều năm một lần:</div><ul><li><br>Thần nhà (Yang sang) lực lượng bảo vệ nhà cửa được cúng trong nhà. Khi nhà mới dựng thì phải tiến hành nghi thức lễ đâm trâu và trồng cây gạo.</li><li><br>Thần làng (yang ala bôn) và thần nước (yang ia) là lực lượng bảo vệ làng xóm và cuộc sống của mọi thành viên được cúng ở bến nước và chân núi.</li><li><br>Thần vua (Yang pó tao) do vua lửa, vua nước, vua gió (ptao agin) tiến hành lễ cầu trời, mưa thuận, gió hoà và mùa màng tươi tốt.</li></ul><div><br>Ngoài ra, người Gia Rai còn tin khi chết các linh hồn biến thành ma. Có hiện tượng gán cho người có ma thuật làm hại gọi là ma lai.</div><div><strong><br>Văn hóa-văn nghệ: </strong>Người Gia Rai có nhiều trường ca như Ðăm San, Xinh Nhã, Ðăm Di... thể hiện dưới hình thức hát thơ có đệm đàn Tưng nưng. Những điệu vũ dân gian Gia Rai có một số động tác mô phỏng những cuộc chiến tranh giữa các bộ tộc. Ðàn Tơ rưng, Krông put, Tưng nưng... rất được phổ biến.<br><strong>Bản tiếng anh (English version)<br>Population:<br>According to the census of 53 ethnic minorities April 1, 2019: Total population: 513,930 people. In which, male: 252,234 people; female: 261,696 people. Proportion of population living in rural areas: 89.5%.<br>* Language:<br>The Giarai are one of five ethnic groups belonging to the Malayo-Polynesian language group and one of the local ethnic groups in the Central Highlands region of Vietnam.<br>3.Geographic distribution<br>The Giarai ethnic group resides in the Central Highlands mainly in Gia Lai province, in the west of Phu Yen province, in the south of Kon Tum province, and in the north of Dak Lak province.<br>4.Main features:<br>Food: Plain rice is the main food; The by-product is corn. Food with vegetables, salt, chili, vegetable soup, sometimes meat and fish meals. At the party, the wine cup should be the center, surrounded by dishes served on bowls, plates or banana leaves to both eat and drink. When ivory is drunk, there is singing, dancing, and playing gongs.<br>Outfits: Men wear white cloth loincloths with multi-colored stripes (toi), on holidays wear indigo loincloths 4m long and 0.30m wide, with patterned borders and colorful tassels at both ends. Black shirt with short sleeves, open armpits, border of color pattern running along the sides bearing bold poncho style.<br>Petao or the village head wears an indigo shirt that covers his buttocks, has long sleeves, pulls his head, has a patch of red yarn for buttons and buttonholes from neck to chest. Under the buttons is a square red cloth sewn on to mark the shirt. Women wear indigo skirts (1.4m long x 1m wide), with a patterned border running around the hem. The waistband has white or colored thread tassels. The skirt is not sewn into a tube, so when worn, it is only wrapped around the body so that the two ends are forward. They wear short, tight-fitting, long-sleeve blouses. On the sleeves, there is one embroidered with colored thread patterns. The place is hot all year round, so both men and women prefer to go topless.<br>Residence: House on stilts<br>The architecture has two types: La-yun-pa-style long stilt house, 13.5m long and 3.5m wide is the average size for each house. The house is divided into two parts: the gill side and the brain side. The door to the brain only faces north and the right side is for women - the head of a matriarchal family. There are two kitchens in the house.<br>Small house in Hdrung style with dimensions of 3m wide x 9m long. The height from the ground to the roof beam is not more than 4.5m. The main door leading to the drying floor only faces north. There are two windows on either side of the main door. There is only one kitchen in the house.<br>Funeral: Gia Rai people follow the custom that all people with the same mother's surname are buried in the same grave. The dead man had to be carried back and buried in his mother's grave. In that common grave, the coffins are placed next to each other horizontally and then stacked vertically. When the coffin is as high as the mouth of the grave, the four-sided plank is used to bury a few more layers before performing the ceremony of "leaving the grave" (Hoa Lui, Thi Nga or Bo Thi) - a big ritual in the funeral process.<br>Worshiping: Gia Rai people follow all living things. Spirits (Yang) are of many types, of which three are prominently mentioned in annual or biennial worship:<br>The house god (Yang sang) is the force that protects the house and is worshiped in the house. When a new house is built, the ritual of stabbing buffaloes and planting rice must be carried out.<br>The village god (yang alabon) and the water god (yang ia) are the forces that protect the village and the lives of all members worshiped at the water wharf and the foot of the mountain.<br>The god of kings (Yang po tao) is performed by the king of fire, the king of water, and the king of wind (ptao agin) to pray for heaven, favorable rain, good wind and good crops.<br>In addition, Gia Rai people also believe that when they die, souls turn into ghosts. There is a phenomenon attributed to people with harmful magic called ma lai.<br>Culture and art: The Gia Rai have many epics such as Dam San, Xinh Nha, Dam Di... expressed in the form of poetry singing with the accompaniment of Tung Nung. Gia Rai folk dances have some movements that simulate wars between tribes. Tuong Dan, Krong put, Tung Nung... are very popular.</strong></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-04-20 18:07:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2562250592</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dân tộc Hoa</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2562302891</link>
         <description><![CDATA[<div>Hoa<br><br>1. Dân số: 749.466 vào năm 2019<br>2. Địa bàn cư trú: sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh Đông Nam Bộ<br>3. Nét đặc sắc về đời sống tinh thần<br>- Tín ngưỡng: tương đồng với Việt Nam<br>- Tôn giáo: Chủ yếu là Phật giáo Đại thừa, Đạo giáo và Khổng giáo, thờ cúng tổ tiên. Một lượng nhỏ theo Công giáo Roma và Tin Lành, Đạo Cao Đài<br>- Phong tục tập quán:&nbsp;<br>+ Về ẩm thực, có thể thấy người Hoa đã có sự giao lưu rất lớn với nền ẩm thực bản địa Việt Nam.<br><br>+ Người dân tộc Hoa thường cư trú tập trung thành làng xóm hoặc đường phố, tạo thành khu vực đông đúc và gắn bó.<br><br>+ Trong gia đình người Hoa, người chồng hoặc người cha là chủ hộ; chỉ con trai được thừa kế gia tài và con trai cả luôn được phần hơn<br><br>+ Ca kịch cũng là một hình thức sinh hoạt nghệ thuật mà đồng bào người dân tộc Hoa ưa chuộng. Nhạc cụ có kèn, sáo, nhị, hồ, trống, thanh la, não bạt, đàn tỳ bà, tam thập lục… Ngày tết thường biểu diễn múa sư tử, múa quyền thuật. Lễ hội cũng là dịp tổ chức chơi đu, đua thuyền, vật, đánh cờ…<br><br>+ Nhà ở cổ truyền của người dân tộc Hoa có những đặc trưng mang dấu ấn của người phương Bắc rất rõ. Kiểu nhà “hình cái ấn” là rất điển hình<br><br>____<br>English translate:<br><br>Hoa</div><ol><li>Population: 749,466 in 2019</li><li>Residential area: living in Ho Chi Minh City, the Mekong Delta region, and the Southeast provinces of Vietnam</li><li>Distinctive features of spiritual life:</li></ol><ul><li>Beliefs: similar to those in Vietnam</li><li>Religion: mainly Mahayana Buddhism, Taoism, Confucianism, ancestor worship. A small number also follow Roman Catholicism, Protestantism, and Caodaism.</li><li>Customs and traditions:</li><li>Regarding cuisine, the Hoa people have had significant cultural exchange with the indigenous cuisine of Vietnam.</li><li>The Hoa people often reside in concentrated communities such as villages or streets, forming densely populated and cohesive areas.</li><li>In Hoa families, the husband or father is the head of the household; only sons inherit the family wealth, and the eldest son always receives more.</li><li>Drama is also a popular form of artistic activity among the Hoa people. Musical instruments include the flute, clarinet, erhu, houguan, drum, cymbal, gong, and lute. During festivals, lion dance and martial arts performances are common. Festivals are also occasions for playing on swings, racing boats, wrestling, and playing chess.</li><li>Traditional Hoa houses have distinct features that reflect Northern Chinese influence. The "seal-shaped" house is a typical example.<br>Festivals: The Hoa people have many diverse festivals, but the most prominent of these is the Nguyen Tieu (Lantern) Festival<ol><li>Population: 749,466 in 2019</li><li>Residential area: living in Ho Chi Minh City, the Mekong Delta region, and the Southeast provinces of Vietnam</li><li>Distinctive features of spiritual life:</li></ol><ul><li>Beliefs: similar to those in Vietnam</li><li>Religion: mainly Mahayana Buddhism, Taoism, Confucianism, ancestor worship. A small number also follow Roman Catholicism, Protestantism, and Caodaism.</li><li>Customs and traditions:</li><li>Regarding cuisine, the Hoa people have had significant cultural exchange with the indigenous cuisine of Vietnam.</li><li>The Hoa people often reside in concentrated communities such as villages or streets, forming densely populated and cohesive areas.</li><li>In Hoa families, the husband or father is the head of the household; only sons inherit the family wealth, and the eldest son always receives more.</li><li>Drama is also a popular form of artistic activity among the Hoa people. Musical instruments include the flute, clarinet, erhu, houguan, drum, cymbal, gong, and lute. During festivals, lion dance and martial arts performances are common. Festivals are also occasions for playing on swings, racing boats, wrestling, and playing chess.</li><li>Traditional Hoa houses have distinct features that reflect Northern Chinese influence. The "seal-shaped" house is a typical example.<br><br></li></ul></li></ul><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2027572580/4e702028649470be7677d90c8b3c89bc/image.png" />
         <pubDate>2023-04-20 18:56:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2562302891</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lễ hội: Người Hoa có nhiều lễ hội đa dạng nhưng nổi bật trong số đó là lễ Tết Nguyên Tiêu</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2562306841</link>
         <description><![CDATA[<div>Festivals: The Hoa people have many diverse festivals, but the most prominent of these is the Nguyen Tieu (Lantern) Festival.</div><div><br></div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://youtu.be/PtCqlebpqVc" />
         <pubDate>2023-04-20 18:59:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyenxuan281/92gexg67woivte16/wish/2562306841</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
