<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title>NGHIÊN CỨU TRONG TÂM LÝ HỌC LÂM SÀNG by Nguyen Luan</title>
      <link>https://padlet.com/luannguyenhuynh/Bookmarks</link>
      <description>Mỗi nhóm sẽ tạo 1 cột riêng và trình bày một thiết kế nghiên cứu mà nhóm cho là khả thi nhất cho một trong các câu hỏi ở cột đầu tiên nhé</description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2022-03-14 13:46:43 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2025-09-16 02:59:19 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url></url>
      </image>
      <item>
         <title>CÁC CÂU HỎI ĐỀ XUẤT</title>
         <author>luannguyenhuynh</author>
         <link>https://padlet.com/luannguyenhuynh/Bookmarks/wish/3585140608</link>
         <description><![CDATA[<p>Đề xuất một thiết kế nghiên cứu để tìm câu trả lời cho một số câu hỏi dưới đây trong TLHLS:</p><p>1. “Dành quá nhiều thời gian trên TikTok có khiến lo âu của tôi tệ hơn không?”</p><p>2. “Chatbot AI có thật sự hỗ trợ được sức khỏe tinh thần không?”</p><p>3. “Có khác biệt hay không về mức độ căng thẳng tâm lý khi làm việc tại nhà so với làm việc tại văn phòng?”</p><p>4. “Người bị hội chứng hậu COVID (long COVID) có sức khỏe tinh thần kém hơn hay không?”</p><p>5. “Người sống ở thành phố ô nhiễm có gặp nhiều vấn đề sức khỏe tinh thần hơn không?”</p><p>6. “Lo lắng về môi trường (ecoanxiety) sẽ gây ra những hệ quả nào về mặt sức khỏe tinh thần?”</p><p>7. “Gia đình sẽ là yếu tố bảo vệ hay yếu tố gây căng thẳng ở thanh thiếu niên thuộc cộng đồng LGBTIQ+ ở Việt Nam?”</p><p>8. “Những người tự khởi nghiệp (start-up) có gặp phải nhiều vấn đề về tâm lý hơn so với nhân viên truyền thống không?”</p><p>9. “Giấc ngủ trưa có giúp cải thiện sức khỏe tinh thần ở công nhân Việt Nam hay không?”</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-09-15 09:26:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/luannguyenhuynh/Bookmarks/wish/3585140608</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm của Mỹ Nha - Thiết kế nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của giấc ngủ trưa đến sức khỏe tinh thần (mức độ căng thẳng, mệt mỏi, tâm trạng tích cực) của công nhân Việt Nam.</title>
         <author>2356160075</author>
         <link>https://padlet.com/luannguyenhuynh/Bookmarks/wish/3585571667</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>1. Mục đích nghiên cứu</strong></p><p>Khám phá và đánh giá ảnh hưởng của giấc ngủ trưa đến sức khỏe tinh thần (mức độ căng thẳng, mệt mỏi, tâm trạng tích cực) của công nhân Việt Nam.</p><p><strong>2. Đối tượng nghiên cứu</strong></p><p>Thói quen ngủ trưa, sức khỏe tinh thần&nbsp;</p><p><strong>3. Khách thể nghiên cứu</strong></p><p><em>3.1. Đặc điểm mẫu</em></p><p>Công nhân Việt Nam tại các khu công nghiệp, khu chế xuất từ 18 đến 60 tuổi.&nbsp;</p><p><em>3.2. Kích cỡ mẫu</em></p><p>Người chăm sóc sức khỏe tâm thần đang công tác tại Việt Nam với tổng số sinh viên là 16,5 triệu người (<em>Đức Thiệm</em>, n.d.). Nhóm sử dụng công thức ước tính cỡ mẫu ngẫu nhiên phi xác suất của Yamane (1967): n = N/(1+ N(e)²) (với n là kích cỡ mẫu; N là tổng thể; e là sai số tối đa cho phép, thông thường sai số tối đa cho phép trong nghiên cứu khoa học xã hội là 0.05). Suy ra, cỡ mẫu được tính theo công thức trên cho nghiên cứu của nhóm chúng tôi là 400 khách thể.&nbsp;</p><p><strong><em>Thiết kế nghiên cứu</em></strong></p><p>Nghiên cứu sử dụng thiết kế thực nghiệm có đối chứng nhằm đánh giá ảnh hưởng của giấc ngủ trưa đến sức khỏe tinh thần của công nhân Việt Nam. Cụ thể, công nhân được phân chia thành hai nhóm: (1) nhóm thực nghiệm được hướng dẫn ngủ trưa trong khoảng 30 phút vào giữa ca làm việc, (2) nhóm đối chứng không được ngủ trưa. Sức khỏe tinh thần của hai nhóm được đo lường trước và sau can thiệp để so sánh sự thay đổi.</p><p><strong><em>Câu hỏi nghiên cứu</em></strong></p><p>Giấc ngủ trưa có ảnh hưởng như thế nào đến sức khỏe tinh thần của công nhân Việt Nam?</p><p><strong><em>Giải thuyết nghiên cứu&nbsp;</em></strong></p><p>H1: Giấc ngủ trưa có mối tương quan giữa giấc ngủ trưa và sức khỏe tinh thần</p><p>H2: Giấc ngủ cải thiện sức khỏe tinh thần</p><p><strong><em>Cách tiến hành</em></strong></p><p><strong>Giai đoạn 1: Đo lường ban đầu</strong></p><p>Vào buổi sáng trước khi bắt đầu ca làm việc buổi chiều, tất cả người tham gia cả hai nhóm (thực nghiệm và đối chứng) được yêu cầu hoàn thành các bộ câu hỏi khảo sát về mức độ căng thẳng, mệt mỏi và tâm trạng tích cực.</p><p>Khảo sát bao gồm các thông tin nhân khẩu học và sử dụng các thang đo để thu thập dữ liệu, cụ thể:</p><p>+&nbsp;&nbsp; Căng thẳng: Perceived Stress Scale (PSS-10).</p><p>+&nbsp;&nbsp; Mệt mỏi: Multidimensional Fatigue Inventory (MFI-20).</p><p>+&nbsp;&nbsp; Tâm trạng tích cực: Positive Affect Subscale – PANAS.</p><p>→ Tất cả thang đo được Việt hóa, kiểm định độ tin cậy Cronbach’s alpha và độ giá trị bằng nghiên cứu thí điểm.</p><p><strong>Giai đoạn 2: Can thiệp</strong></p><p>Trong giờ nghỉ trưa, nhóm thực nghiệm được yêu cầu ngủ trưa khoảng 30 phút.</p><p>Nhóm đối chứng được yêu cầu không ngủ trưa, thay vào đó họ có thể thư giãn hoặc thực hiện các hoạt động khác.</p><p><strong>Giai đoạn 3: Đo lường sau can thiệp</strong></p><p>Ngay sau giờ nghỉ trưa, cả hai nhóm tiếp tục hoàn thành lại các bộ câu hỏi khảo sát tương tự như ở Giai đoạn 1.</p><p><strong><em>Công cụ </em></strong></p><ul><li><p>Thang đo Căng thẳng Nhận thức (Perceived Stress Scale - PSS-10)</p></li></ul><p>Thang đo này được phát triển bởi Cohen, Kamarck và Mermelstein (1983), gồm 10 câu hỏi, nhằm đo lường mức độ mà người tham gia cảm nhận cuộc sống của họ là căng thẳng và khó kiểm soát trong vòng một tháng qua. Các mục được trả lời theo thang Likert 5 mức, từ 0 (“không bao giờ”) đến 4 (“rất thường xuyên”).</p><ul><li><p>Thang đo Đa chiều về Mệt mỏi (Multidimensional Fatigue Inventory - MFI-20)</p></li></ul><p>MFI-20 được hình thành bởi Smets và cộng sự (1995), gồm 20 câu hỏi nhằm đánh giá 5 khía cạnh của mệt mỏi: mệt mỏi toàn thể, mệt mỏi thể chất, mệt mỏi tinh thần, hoạt động giảm sút và động lực giảm sút. Các câu hỏi được trả lời trên thang Likert 5 mức, từ 1 (“hoàn toàn không đúng”) đến 5 (“hoàn toàn đúng”).</p><ul><li><p>Thang đo Ảnh hưởng Tích cực và Tiêu cực (Positive and Negative Affect Schedule - PANAS)</p></li></ul><p>PANAS do Watson, Clark và Tellegen (1988) xây dựng, bao gồm 20 từ mô tả cảm xúc, chia thành hai thang phụ: ảnh hưởng tích cực (positive affect) và ảnh hưởng tiêu cực (negative affect), mỗi thang có 10 mục. Người tham gia đánh giá mức độ họ trải nghiệm mỗi cảm xúc trên thang Likert 5 mức, từ 1 (“rất ít hoặc không bao giờ”) đến 5 (“cực kỳ hoặc rất thường xuyên”).</p><p><strong><em>Kế hoạch phân tích dữ liệu</em></strong></p><ul><li><p>Thu thập dữ liệu: Mẫu nghiên cứu được tuyển chọn theo phương pháp thuận tiện, sau đó được phân bổ ngẫu nhiên vào nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng bằng phần mềm SPSS.</p></li><li><p>Kiểm tra độ tin cậy Cronbach’s alpha của các thang đo được sử dụng trong nghiên cứu thử nghiệm và nghiên cứu.&nbsp;</p></li><li><p>Dữ liệu được phân tích thông qua phần mềm SPSS.</p></li><li><p>Các thông tin nhân khẩu học được thực hiện thống kê mô tả để phân tích đặc điểm của khách thể nghiên cứu.</p></li><li><p>Các số liệu về ảnh hưởng của giấc ngủ trưa và sức khỏe tinh thần của công nhân được tiến hành phân tích thống kê mô tả.</p></li><li><p>Thống kê suy luận nhằm phân tích các giả thuyết.</p></li></ul><p><strong>TÀI LIỆU THAM KHẢO</strong></p><p>Cohen, S., Kamarck, T., &amp; Mermelstein, R. (1983). A global measure of perceived stress. <em>Journal of Health and Social Behavior, 24</em>(4), 385–396. <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://doi.org/10.2307/2136404">https://doi.org/10.2307/2136404</a></p><p>Đồng, C. T. T. Đ. T. T. L. (n.d.). <em>Những biến đổi tích cực trong giai cấp công nhân nước ta hiện nay</em>. <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://lamdong.gov.vn/sites/ldld/diendantraodoi/SitePages/Nhung-bien-doi-tich-cuc-cua-giai-cap-cong-nhan-nuoc-ta-hien-nay.aspx">https://lamdong.gov.vn/sites/ldld/diendantraodoi/SitePages/Nhung-bien-doi-tich-cuc-cua-giai-cap-cong-nhan-nuoc-ta-hien-nay.aspx</a></p><p>Smets, E. M. A., Garssen, B., Bonke, B., &amp; De Haes, J. C. J. M. (1995). The Multidimensional Fatigue Inventory (MFI): Psychometric qualities of an instrument to assess fatigue. <em>Journal of Psychosomatic Research, 39</em>(3), 315–325. <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://doi.org/10.1016/0022-3999(94)00125-O">https://doi.org/10.1016/0022-3999(94)00125-O</a></p><p>Watson, D., Clark, L. A., &amp; Tellegen, A. (1988). Development and validation of brief measures of positive and negative affect: The PANAS scales. <em>Journal of Personality and Social Psychology, 54</em>(6), 1063–1070. <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://doi.org/10.1037/0022-3514.54.6.1063">https://doi.org/10.1037/0022-3514.54.6.1063</a></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-09-15 14:05:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/luannguyenhuynh/Bookmarks/wish/3585571667</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm của Hoàng Linh - Đề xuất thiết kế nghiên cứu để tìm câu trả lời cho các câu trả lời trong TLHLS (P1): </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/luannguyenhuynh/Bookmarks/wish/3585767878</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>CHỦ ĐỀ 1: </strong></p><p><strong>Dành quá nhiều thời gian trên TikTok có khiến lo âu của tôi tệ hơn không?</strong></p><p><strong>1. Xác định vấn đề nghiên cứu</strong></p><ul><li><p><strong>Bối cảnh:</strong> TikTok ngày càng phổ biến, đặc biệt ở giới trẻ và câu hỏi đặt ra là việc sử dụng quá mức có thể liên quan đến lo âu hay không?</p></li><li><p><strong>Câu hỏi nghiên cứu:</strong> Việc dành quá nhiều thời gian trên TikTok có làm gia tăng mức độ lo âu ở sinh viên không?</p></li></ul><p><strong>2. Giả thuyết nghiên cứu</strong></p><ul><li><p><strong>Giả thuyết có hướng (H1):</strong> Dành nhiều thời gian trên TikTok có liên quan đến mức độ lo âu cao hơn</p></li><li><p><strong>Giả thuyết không hướng (H0):</strong> Không có mối liên hệ đáng kể giữa thời gian sử dụng TikTok và lo âu</p></li></ul><p><strong>3. Đối tượng và mẫu nghiên cứu</strong></p><ul><li><p><strong>Đối tượng:</strong> Sinh viên đại học (18–24 tuổi)</p></li><li><p><strong>Cỡ mẫu:</strong> Khoảng 150–200 sinh viên, chia theo nhóm thời gian sử dụng TikTok (thấp, trung bình, cao)</p></li></ul><p><strong>4. Phương pháp</strong></p><ul><li><p><strong>Thiết kế:</strong> Nghiên cứu định lượng cắt ngang</p></li><li><p><strong>Công cụ đo lường:</strong></p><ul><li><p>Thời gian sử dụng TikTok: khảo sát tự báo cáo (giờ/ngày)</p></li><li><p>Lo âu: thang đo</p></li></ul></li><li><p><strong>Phân tích dữ liệu:</strong></p><ul><li><p>Kiểm tra tương quan Pearson/Spearman giữa thời gian dùng TikTok và điểm lo âu</p></li><li><p>So sánh trung bình mức lo âu giữa các nhóm (ANOVA hoặc t-test)</p></li></ul></li></ul><p><strong>5. Ý nghĩa nghiên cứu</strong></p><ul><li><p>Giúp hiểu rõ tác động của việc sử dụng mạng xã hội ngắn hạn như TikTok đến mức độ lo âu</p></li><li><p>Cung cấp dữ liệu cho các chương trình hướng dẫn sinh viên dùng mạng xã hội lành mạnh</p></li></ul><p><strong><br>CHỦ ĐỀ 2: </strong></p><p>”Tỷ lệ mắc các rối loạn tâm lý ở đối tượng start-up khác biệt như thế nào so với nhân viên truyền thống”</p><p><br></p><p><strong>Vấn đề nghiên cứu:</strong> xác định liệu start-up founders và nhân viên start-up có gặp phải nhiều vấn đề về sức khỏe tâm lý (stress, lo âu, trầm cảm...) hơn so với nhân viên làm việc trong các doanh nghiệp truyền thống không?</p><p><strong>Các giả thuyết:&nbsp;</strong></p><p>- Không có sự khác biệt về tỷ lệ gặp vấn đề tâm lý giữa người làm start-up và nhân viên truyền thống <strong>(h0)</strong></p><p>- Người tự khởi nghiệp sẽ có xu hướng gặp nhiều vấn đề tâm lý (căng thẳng, lo âu, trầm cảm, mất ngủ...) hơn so với nhân viên ở doanh nghiệp truyền thống <strong>(h1)</strong></p><p><strong>Đối tượng:</strong>&nbsp;</p><p>2 nhóm:&nbsp;</p><p>- 1 nhóm gồm các chủ doanh nghiệp startup/nhân viên thuộc doanh nghiệp startup - dưới 3 năm thành lập, quy mô nhỏ .</p><p>- 1 nhóm gồm các chủ doanh nghiệp +nhân viên doanh nghiệp truyền thống - lâu năm, quy mô lớn.</p><p><strong>Cỡ mẫu: </strong>100 - 200 người</p><p><strong>Công cụ: </strong>thang đo DASS-21</p><p><strong>Ý nghĩa nghiên cứu:</strong></p><p>Cung cấp dữ liệu thực tiễn cho nhà hoạch định chính sách, doanh nghiệp và các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp trong xây dựng chính sách phúc lợi, tư vấn sức khỏe tâm thần và nâng cao hiệu suất lao động</p><p>Làm rõ đặc điểm và mức độ các vấn đề sức khỏe tâm lý ở nhóm người startup so với nhóm doanh nghiệp truyền thống, từ đó nâng cao nhận thức và đề xuất biện pháp phòng ngừa, can thiệp sớm cho cộng đ</p><p><strong><br>CHỦ ĐỀ 3:</strong></p><p><br></p><p><strong>Giới thiệu</strong></p><p>Gia đình thường được xem là nguồn lực bảo vệ sức khỏe tâm lý của thanh thiếu niên. Tuy nhiên, với thanh thiếu niên LGBTIQ+, gia đình vừa có thể là chỗ dựa, vừa có thể là nguồn gây căng thẳng do sự bác bỏ hay xung đột. Nghiên cứu này nhằm xác định vai trò của gia đình đối với sức khỏe tâm lý của thanh thiếu niên LGBTIQ+ ở Việt Nam.<br></p><p><strong>Câu hỏi nghiên cứu</strong></p><p>Gia đình là yếu tố bảo vệ hay yếu tố gây căng thẳng với sức khỏe tâm lý của thanh thiếu niên LGBTIQ+ ở Việt Nam?</p><p><strong>Thiết kế nghiên cứu</strong></p><ul><li><p>Loại hình: Nghiên cứu cắt ngang (cross-sectional), có thể kết hợp định lượng + định tính.</p></li><li><p>Đối tượng: Thanh thiếu niên LGBTIQ+ (18–30 tuổi) ở Việt Nam.</p></li><li><p>Lấy mẫu: Snowball sampling qua mạng xã hội/tổ chức cộng đồng.</p></li><li><p>Cỡ mẫu: 300–500 người.</p></li></ul><p>Biến &amp; công cụ đo</p><p>Kết quả (outcome): Sức khỏe tâm lý (DASS-21, PHQ-9, GAD-7).</p><p>Biến độc lập:</p><ul><li><p>Hỗ trợ gia đình (Family APGAR, MSPSS).</p></li><li><p>Căng thẳng gia đình (thang đo bác bỏ/xung đột).</p></li><li><p>Biến trung gian/điều tiết: Nội bộ hóa kỳ thị, hỗ trợ bạn bè.</p></li><li><p>Covariates: tuổi, giới, kinh tế, nơi sống.</p></li></ul><p>Phân tích dữ liệu</p><ul><li><p>Thống kê mô tả, t-test/ANOVA.</p></li><li><p>Hồi quy tuyến tính đa biến.</p></li><li><p>Mediation/Moderation (PROCESS, bootstrap).</p></li></ul><p>Kết quả dự kiến</p><ul><li><p>Hỗ trợ gia đình có liên quan âm với trầm cảm, lo âu, stress.</p></li><li><p>Căng thẳng từ gia đình có liên quan dương với các triệu chứng này.</p></li><li><p>Nội bộ hóa kỳ thị có thể trung gian tác động của gia đình đến sức khỏe tâm lý.</p></li><li><p>Hỗ trợ bạn bè có thể điều tiết ảnh hưởng tiêu cực từ gia đình.</p></li></ul><p>Thảo luận</p><ul><li><p>Kết quả góp phần làm rõ hai mặt của vai trò gia đình: vừa là yếu tố bảo vệ, vừa có thể là yếu tố nguy cơ đối với thanh thiếu niên LGBTIQ+.&nbsp;</p></li><li><p>Điều này nhấn mạnh sự cần thiết của các chương trình can thiệp gia đình và chính sách hỗ trợ để nâng cao sức khỏe tâm lý của nhóm dễ tổn thương này.</p></li></ul><p>Đạo đức</p><ul><li><p>Bảo mật và ẩn danh thông tin.</p></li><li><p>Đồng ý tham gia tự nguyện (informed consent).</p></li><li><p>Cung cấp kênh hỗ trợ tâm lý khẩn cấp cho người tham gia.</p></li></ul><p>Kết luận</p><ul><li><p>Nghiên cứu sẽ cung cấp bằng chứng thực nghiệm về vai trò hai mặt của gia đình trong đời sống thanh thiếu niên LGBTIQ+ tại Việt Nam, góp phần định hướng chính sách và can thiệp tâm lý – xã hội phù hợp.</p></li></ul><p><br></p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-09-15 15:45:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/luannguyenhuynh/Bookmarks/wish/3585767878</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm của Hoàng Linh - Đề xuất thiết kế nghiên cứu để tìm câu trả lời cho các câu trả lời trong TLHLS (P2)</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/luannguyenhuynh/Bookmarks/wish/3585768888</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>CHỦ ĐỀ 4: </strong></p><p><strong>Người bị hội chứng hậu COVID (long COVID) có sức khỏe tinh thần kém hơn hay không?</strong></p><p><strong>I. Xác định vấn đề nghiên cứu</strong></p><p>- Bối cảnh: Trong đại dịch COVID-19, người dân phải cách ly xã hội trong một khoảng thời gian dài, kèm với đó là những thông tin về sự ra đi của những người mắc phải dịch bệnh và những ảnh hưởng của virus Corona đến sức khỏe thể chất của bệnh nhân, những điều trên mang nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần của mọi người, đặc biệt là người từng mắc bệnh.</p><p>- Câu hỏi nghiên cứu: Người bị hội chứng hậu COVID (long COVID) có sức khỏe tinh thần kém hơn hay không?</p><p><strong>II. Giả thuyết nghiên cứu</strong></p><p>- Giả thuyết có hướng (H1): Người bị hội chứng hậu COVID (long COVID) có sức khỏe tinh thần kém hơn.</p><p>- Giả thuyết vô hướng (H0): Không có mối liên hệ đáng kể giữa việc bị hội chứng hậu COVID và sức khỏe tinh thần kém hơn.</p><p><strong>III. Đối tượng và mẫu nghiên cứu</strong></p><p>- Đối tượng: Sinh viên đại học (18-24 tuổi).</p><p>- Cỡ mẫu: Khoảng 200-300 sinh viên, chia theo bị và không bị hội chứng hậu COVID.</p><p><strong>IV. Phương pháp</strong></p><p>- Thiết kế: Nghiên cứu định lượng cắt ngang</p><p>- Công cụ đo lường:</p><ul><li><p>Hội chứng hậu COVID: khảo sát tự báo cáo (có/không)</p></li><li><p>Sức khỏe tinh thần: thang đo</p></li></ul><p>- Phân tích dữ liệu:&nbsp;</p><ul><li><p>Kiểm tra tương quan Pearson/Spearman giữa việc bị hội chứng hậu COVID và điểm sktt</p></li><li><p>So sánh trung bình mức lo âu giữa các nhóm có và không bị hội chứng hậu COVID (ANOVA hoặc t-test)</p></li></ul><p><strong>V. Ý nghĩa nghiên cứu</strong></p><p>- Giúp hiểu rõ tác động của việc bị hội chứng hậu COVID đến sktt</p><p>-&nbsp; Cung cấp dữ liệu cho các chương trình, hoạt động chăm sóc sktt cho người bị hội chứng hậu COVID</p><p><strong><br>CHỦ ĐỀ 5: </strong></p><p><strong>Chủ đề: Người sống ở thành phố ô nhiễm có gặp nhiều vấn đề về sức khoẻ tinh thần hơn không?</strong></p><p><br/></p><p><strong>1. Xác định vấn đề nghiên cứu</strong></p><ul><li><p><strong>Bối cảnh:</strong> Vấn đề ô nhiễm môi trường ở thành phố (khói bụi, tiếng ồn, mật độ dân số cao…) ngày càng nghiêm trọng ở các thành phố lớn tại Việt Nam. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất mà có thể tác động tiêu cực đến sức khỏe tinh thần của người dân.</p></li><li><p><strong>Câu hỏi nghiên cứu:</strong> Người sống ở thành phố ô nhiễm có nhiều vấn đề sức khỏe tinh thần hơn người sống ở khu vực ít ô nhiễm hơn không?</p></li></ul><p><strong>2. Giả thuyết nghiên cứu</strong></p><ul><li><p><strong>Giả thuyết 1 (có hướng):</strong> Người sống trong môi trường đô thị ô nhiễm sẽ có mức độ lo âu, stress và trầm cảm cao hơn so với người sống ở khu vực ít ô nhiễm hơn.</p></li><li><p><strong>Giả thuyết 0 (vô hướng):</strong> Không có sự khác biệt đáng kể về sức khỏe tinh thần giữa hai nhóm.</p></li></ul><p><strong>3. Phương pháp nghiên cứu đề xuất</strong></p><p>Ở đây có thể kết hợp nghiên cứu tương quan và bán thực nghiệm:&nbsp;</p><ul><li><p><strong>Nghiên cứu tương quan:</strong></p><ul><li><p>Thu thập dữ liệu từ người dân ở nhiều khu vực với mức độ ô nhiễm khác nhau.&nbsp;</p></li><li><p>Đo mức độ sức khỏe tinh thần bằng thang đo chuẩn (để đo mức độ trầm cảm, lo âu, stress).</p></li><li><p>Phân tích mối tương quan giữa mức độ ô nhiễm và chỉ số sức khỏe tinh thần.</p></li></ul></li><li><p><strong>Nghiên cứu bán thực nghiệm:</strong></p><ul><li><p>Chia nhóm so sánh: người sống ở thành phố ô nhiễm (Hà Nội, TP.HCM, …) và người sống ở khu vực ít ô nhiễm (các tỉnh miền núi hoặc nông thôn).</p></li><li><p>So sánh điểm trung bình sức khỏe tinh thần giữa hai nhóm.</p></li></ul></li></ul><p><strong>4. Đối tượng và mẫu nghiên cứu</strong></p><ul><li><p><strong>Đối tượng:</strong> Người trưởng thành (18-35 tuổi).</p></li><li><p><strong>Mẫu:</strong> Khoảng 200 người, chia đều hai nhóm (100 ở thành phố ô nhiễm, 100 ở vùng ít ô nhiễm).</p></li><li><p><strong>Phương pháp chọn mẫu:</strong> Chọn mẫu thuận tiện kết hợp phân tầng (theo khu vực sinh sống).</p></li></ul><p><strong>5. Công cụ đo lường</strong></p><ul><li><p><strong>Sức khỏe tinh thần:</strong></p><ul><li><p>DASS-21 (Depression Anxiety Stress Scale - 21 items).</p></li></ul></li><li><p><strong>Ô nhiễm môi trường:</strong> Sử dụng dữ liệu AQI (chỉ số chất lượng không khí) do Bộ TN&amp;MT hoặc các tổ chức có thẩm quyền công bố.&nbsp;</p></li></ul><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-09-15 15:46:32 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/luannguyenhuynh/Bookmarks/wish/3585768888</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm của Lan Khuê</title>
         <author>2356160043</author>
         <link>https://padlet.com/luannguyenhuynh/Bookmarks/wish/3585769673</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://docs.google.com/document/d/1Wi5jMy3BnlLUFGR_KQUgv1yaalQz-bbRy9ZG9LgOIC8/edit?tab=t.0#heading=h.wziwxdtsssc5" />
         <pubDate>2025-09-15 15:47:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/luannguyenhuynh/Bookmarks/wish/3585769673</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm của Hồng Nhung</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/luannguyenhuynh/Bookmarks/wish/3585886842</link>
         <description><![CDATA[<p><a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://docs.google.com/document/d/1vpmcr9E9bjEY49jAerisfkuQgiZJaQlnWqKOFYt0XIY/edit?usp=sharing">https://docs.google.com/document/d/1vpmcr9E9bjEY49jAerisfkuQgiZJaQlnWqKOFYt0XIY/edit?usp=sharing</a></p><p><strong>Câu hỏi nghiên cứu: Giấc ngủ trưa có giúp cải thiện sức khỏe tinh thần ở công nhân Việt Nam hay không?</strong></p><p><strong>Tên đề tài: Giấc ngủ trưa và chất lượng sức khỏe tinh thần, kiệt sức trong công việc có đóng vai trò điều tiết ở công nhân Việt Nam</strong></p><p><strong><em>I. Khách thể nghiên cứu</em></strong></p><ul><li><p>Cỡ mẫu: sử dụng công thức ước tính cỡ mẫu của Yamane (1967): n = N/(1 + N x e2) (với n là cỡ mẫu; N là tổng thể; e là sai số cho phép, thông thường là 0.05) (Agrasuta, 2013). Cho đến nay, công nhân nước ta đã có hơn 15 triệu người (Thu Thanh, 2024). Như vậy, cỡ mẫu tính theo công thức trên thu được cỡ mẫu cho nghiên cứu của chúng tôi là 37.501 sinh viên.&nbsp;</p></li><li><p>Đặc điểm mẫu: Vì nghiên cứu xoay quanh sức khỏe tinh thần của công nhân Việt Nam nên chúng tôi chọn khách thể nghiên cứu là công nhân Việt Nam, đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam.</p></li></ul><p><strong><em>II. Biến X: Giấc ngủ trưa&nbsp;</em></strong></p><ol><li><p>Định nghĩa: Ngủ trưa là những khoảng thời gian ngủ ngắn diễn ra ngoài giấc ngủ chính vào ban đêm (Stampi, 1992).&nbsp;</p></li><li><p>Thang đo: Napping Behaviour Questionnaire (Lovato và cộng sự, 2014).</p></li></ol><ul><li><p>6 mục nhằm hỏi người tham gia liệu họ có ngủ trưa hay không, đồng thời bao gồm các mục liên quan tới đặc điểm của giấc ngủ trưa, chẳng hạn như tần suất, thời lượng, thời điểm trong ngày khi ngủ trưa và lý do ngủ trưa.&nbsp;</p></li></ul><ol start="3"><li><p>Tình hình nghiên cứu&nbsp;</p></li></ol><ul><li><p>Các nghiên cứu quốc tế về giấc ngủ trưa cho thấy hầu hết bằng chứng được thu thập trên các mẫu dân số chung hoặc các nhóm đặc thù như người già, sinh viên hay nhân viên y tế, chứ rất ít nghiên cứu tập trung chuyên biệt vào công nhân/lao động sản xuất ở Việt Nam. Như nghiên cứu của Lovato và cộng sự (2014) khảo sát mối quan hệ giữa việc ngủ trưa và khả năng hoạt động ban ngày do sinh viên tự báo cáo.</p></li><li><p>Các nghiên cứu về giấc ngủ trưa phần lớn sử dụng tự báo cáo với các mục đơn lẻ về việc có ngủ trưa, tần suất, thời lượng và lý do; đồng thời thiếu một bảng hỏi chuẩn hóa bằng tiếng Việt dành riêng cho giấc ngủ trưa và rất ít nghiên cứu kết hợp biện pháp đo khách quan như thiết bị theo dõi hoạt động/giấc ngủ. Bên cạnh đó, do nhiều câu hỏi là dữ liệu phân loại hoặc mô tả, nên các nghiên cứu hiếm khi báo cáo các chỉ số độ tin cậy chuẩn (ví dụ Cronbach's alpha cho một thang tổng hợp), dẫn tới hạn chế về mặt đo lường khi muốn so sánh hoặc nhân rộng kết quả. Như nghiên cứu của Girschik và cộng sự (2012) đã so sánh phương pháp tự báo cáo giấc ngủ thường dùng trong nghiên cứu dịch tễ với đo actigraphy bằng thiết bị đeo và ghi lại chuyển động liên tục trong 7 đêm ở mẫu phụ nữ Tây Úc; tác giả báo cáo mức độ tương ứng rất thấp giữa tự báo cáo và phương pháp đo khách quan.</p></li></ul><p><strong><em>III. Biến Y: Sức khỏe tinh thần</em></strong></p><ol><li><p>Thang đo Phổ sức khỏe tinh thần rút gọn (Mental Health Continuum - Short Form, MHC-SF) (Trương Thị Khánh Hà, 2015)</p></li></ol><ul><li><p>Sức khỏe tinh thần được đo bằng Thang đo Phổ sức khoa tinh thần rút gọn (Mental Health Continuum - Short Form, MHC-SF), thang đo này đã được Việt hóa và sử dụng lần đầu trong nghiên cứu của tác giả Trương Thị Khánh Hà (2015). Thang đo Phổ sức khỏe tinh thần rút gọn có nguồn gốc từ thang đo Phổ sức khỏe tinh thần đầy đủ (Mental Health Continuum - Long Form). Thang đo bao gồm 14 nội dung, được nhóm thành 3 phương diện: hạnh phúc cảm xúc, hạnh phúc xã hội và hạnh phúc tâm lý. Mỗi nội dung của thang đo có 6 phương án trả lời: (1) Không lần nào; (2) 1-2 lần trong tháng; (3) Khoảng mỗi tuần 1 lần; (4) Khoảng mỗi tuần 2-3 lần; (5) Gần như hằng ngày; (6) Hằng ngày.</p></li></ul><ol start="2"><li><p>Tình hình nghiên cứu</p></li></ol><ul><li><p>Nghiên cứu bởi Sinh và cộng sự (2024) trên 660 nhân viên y tế ở Bệnh viện Hùng Vương sau đại dịch cho thấy khoảng 39,5% có ít nhất một rối loạn tinh thần; trong đó 31,7% bị lo âu, 18,9% bị trầm cảm và 16,2% bị stress. Các yếu tố liên quan gồm gánh nặng hành chính, khối lượng công việc cao, mối quan hệ đồng nghiệp không tốt và cảm nhận đánh giá công việc không công bằng.</p></li><li><p>Một phân tích meta toàn cầu với hơn 38 nghiên cứu cho thấy, ở nhóm nhân viên y tế trong đại dịch COVID-19 có mức tỉ lệ rối loạn tinh thần rất cao: PTSD khoảng 49%, lo âu xấp xỉ 40%, trầm cảm xấp xỉ 37% (Saragih và cộng sự, 2021). Nghiên cứu khác trên dân số chung và nhân viên y tế còn cho biết tỉ lệ well-being (các trạng thái tích cực) thấp hơn: khoảng 52% ở dân số chung và 45% ở nhân viên y tế (Blasco-Belled và cộng sự, 2022). Ngoài ra, ở lao động châu Á, một khảo sát cho thấy khoảng 82% công nhân có nguy cơ vừa đến cao về các vấn đề sức khỏe tinh thần, với khoảng 35% trong số đó thuộc nhóm nguy cơ cao (Tong, 2023).</p></li></ul><p><strong><em>IV. Kiệt sức trong công việc&nbsp;</em></strong></p><ol><li><p>Định nghĩa: Kiệt sức trong công việc là sự kiệt quệ về thể chất, cảm xúc hoặc tinh thần, đi kèm với sự suy giảm động lực, hiệu suất làm việc thấp hơn và những thái độ tiêu cực đối với bản thân cũng như người khác (APA Dictionary of Psychology, n.d.).</p></li><li><p>Thang đo:<strong> Thang đo Kiệt sức Maslach (phiên bản Khảo sát chung) (Maslach Burnout Inventory-General Survey [MBI-GS])&nbsp;</strong></p></li></ol><p>Bản khảo sát MBI–General Survey là một công cụ gồm 22 mục dùng để đo lường ba khía cạnh của kiệt sức trong công việc. 22 mục này được chấm điểm theo thang tần suất bảy mức, từ 0 (“không bao giờ”) đến 6 (“mỗi ngày”). Bảng khảo sát gồm ba phần A, B và C. Phần A đo lường mức độ kiệt sức cảm xúc, phần B đo lường mức độ mất nhân cách (depersonalisation), và phần C đo lường mức độ thành tựu cá nhân. Ba phần này lần lượt bao gồm chín, năm và tám câu hỏi (Maslach và cộng sự, 2001).</p><ol start="3"><li><p>Tình hình nghiên cứu</p></li></ol><p>Nghiên cứu của Nguyễn Mai Hồng &amp; Ngô Vũ Minh (2021) đã chỉ ra rằng kiệt sức trong công việc có mối quan hệ tiêu cực với chất lượng cuộc sống nghề nghiệp. Bên cạnh đó, Nghiên cứu của Chen và các tác giả khác (2023) đã chỉ ra rằng có mối liên hệ chặt chẽ giữa chất lượng giấc ngủ và cả ba khía cạnh của kiệt sức trong công việc. Chất lượng giấc ngủ kém có liên quan đến mức Kiệt sức cảm xúc và Phi nhân cách hóa cao hơn, đồng thời liên quan đến mức Thành tựu cá nhân thấp hơn.</p><p>Nhóm nghiên cứu chưa tìm được nghiên cứu chứng minh vai trò trung gian của Kiệt sức trong công việc trong mối liên hệ giữa Giấc ngủ trưa và Sức khỏe tâm thần. Đồng thời, nhóm chưa tìm được nghiên cứu chỉ ra mối liên hệ giữa giấc ngủ trưa và kiệt sức trong công việc. Cũng như chưa có nhiều nghiên cứu về 2 biến này ở Việt Nam. Điều này thể hiện rằng nghiên cứu trên phạm vi các biến tồn tại lỗ hổng dân số và lỗ hổng kiến thức.</p><p><strong><em>V.  Mối quan hệ giữa các biến:&nbsp;</em></strong></p><p>Dựa vào nguồn dữ liệu và khả năng tìm kiếm, nhóm nghiên cứu chưa tìm được nghiên cứu về mối quan hệ giữa giấc ngủ trưa và sức khỏe tinh thần với vai trò trung gian của kiệt sức trong công việc. Song, mối liên hệ của giấc ngủ trưa và sức khỏe tinh thần đã được nghiên cứu rộng rãi. Ngủ trưa giúp cải thiện độ chính xác, hiệu suất nhận thức, khả năng tập trung, sáng tạo, tâm trạng, trí nhớ, thời gian phản ứng, đồng thời làm giảm buồn ngủ và mệt mỏi <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://www.zotero.org/google-docs/?v0Wla7">(Anand và cộng sự, 2025)</a>. Ngủ trưa một đến hai lần một tuần có tác dụng làm giảm căng thẳng, tăng cường hệ miễn dịch và giảm nguy cơ tim mạc <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://www.zotero.org/google-docs/?eeSS6K">(Faraut et al., 2015; Häusler et al., 2019)</a>. Nghiên cứu tổng hợp của Anand và cộng sự (2025) chỉ ra rằng ngủ trưa giúp cải thiện hiệu suất làm việc, giảm mắc lỗi và tai nạn trong công việc.</p><p><strong><em>VI. Giả thuyết nghiên cứu:&nbsp;</em></strong></p><p>	H1: Giấc ngủ trưa có tương quan với Sức khỏe tinh thần.</p><p>	H2: Giấc ngủ trưa có tương quan với Kiệt sức trong công việc.</p><p>	H3: Kiệt sức trong công việc có tương quan với Sức khỏe tinh thần.</p><p>	H4: Kiệt sức trong công việc đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa Giấc ngủ trưa và Sức khỏe tinh thần.</p><p><strong><em>VII. Mô hình nghiên cứu:&nbsp;</em></strong></p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4375462008/d2971fbdccfb4fbb7e9c5fcd5ab076cc/image.png" />
         <pubDate>2025-09-15 16:58:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/luannguyenhuynh/Bookmarks/wish/3585886842</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm của Thanh Yên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/luannguyenhuynh/Bookmarks/wish/3585926334</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>DANH SÁCH THÀNH VIÊN:</strong></p><p>Đặng Ngọc Thanh Yên - 2356160146</p><p>Lê Huỳnh Triệu Uyên - 2356160137</p><p>Huỳnh Nguyễn Minh Tâm - 2356160109</p><p>Đặng Trần Vỹ Triệu - 2356160133</p><p>Phan Thành Trung<strong> </strong>- 2356160136</p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="https://docs.google.com/document/d/1ebtxAK5mKw1sxQOAfxTwwyLkss4WiT_YnG4fuj48ooY/edit?tab=t.0#heading=h.wj9k5jbtw5ah" />
         <pubDate>2025-09-15 17:25:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/luannguyenhuynh/Bookmarks/wish/3585926334</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm của Hồng Trâm</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/luannguyenhuynh/Bookmarks/wish/3585928666</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4375659546/5f3aef00df29495b8214eef8c63ccdb5/B_i_t_p_m_n_T_m_l__h_c_l_m_s_ng.pdf" />
         <pubDate>2025-09-15 17:27:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/luannguyenhuynh/Bookmarks/wish/3585928666</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm của Minh Anh </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/luannguyenhuynh/Bookmarks/wish/3585949492</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://docs.google.com/document/d/1k0Enowj4fAAYh2bW_nm8OD4LsUh0ff90H0iVbQ9dW8A/edit?usp=sharing" />
         <pubDate>2025-09-15 17:41:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/luannguyenhuynh/Bookmarks/wish/3585949492</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm của Khiết Nghi</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/luannguyenhuynh/Bookmarks/wish/3586035011</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://docs.google.com/spreadsheets/d/1KzvTPImZYSWaRlbtotemFFwA103mqGOT_kce9JzlNh8/edit?usp=sharing" />
         <pubDate>2025-09-15 18:41:47 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/luannguyenhuynh/Bookmarks/wish/3586035011</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm của Phương Nghi</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/luannguyenhuynh/Bookmarks/wish/3586332815</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://docs.google.com/document/d/1Ol1wUFCZsvz-bNjvJxzZuNEV_oEsxUF98WDtxMzRjB8/edit?usp=sharing" />
         <pubDate>2025-09-16 00:09:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/luannguyenhuynh/Bookmarks/wish/3586332815</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm của Đăng Khoa</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/luannguyenhuynh/Bookmarks/wish/3586371403</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://docs.google.com/document/d/1q53HHVDg2D9ISjAxCLi0wcoGSW8bcfeeOTH-coWVgw8/edit?usp=sharing" />
         <pubDate>2025-09-16 00:32:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/luannguyenhuynh/Bookmarks/wish/3586371403</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm của Hồng Nhung</title>
         <author>2356160016</author>
         <link>https://padlet.com/luannguyenhuynh/Bookmarks/wish/3586395346</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://docs.google.com/document/d/1vpmcr9E9bjEY49jAerisfkuQgiZJaQlnWqKOFYt0XIY/edit?tab=t.0" />
         <pubDate>2025-09-16 00:44:20 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/luannguyenhuynh/Bookmarks/wish/3586395346</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm Vi Diệu</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/luannguyenhuynh/Bookmarks/wish/3586516407</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://docs.google.com/document/d/1S9vaY9ll5eej8oQEPT5jUru-n5zbuow34XgW90joSoM/edit?tab=t.0" />
         <pubDate>2025-09-16 01:45:31 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/luannguyenhuynh/Bookmarks/wish/3586516407</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Những người tự khởi nghiệp (start-up) có gặp phải nhiều vấn đề về tâm lý hơn so với nhân viên truyền thống ko?
</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/luannguyenhuynh/Bookmarks/wish/3586675279</link>
         <description><![CDATA[<ol><li><p><strong>Vấn đề nghiên cứu</strong></p></li></ol><ul><li><p>Sự khác biệt về tình trạng sức khỏe tâm lý giữa nhóm khởi nghiệp và nhóm nhân viên truyền thống tại Việt Nam&nbsp;</p></li></ul><ol start="2"><li><p><strong>Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu</strong></p></li></ol><ul><li><p>Đánh giá sự khác biệt về tình trạng sức khỏe tâm lý (stress, lo âu, trầm cảm) giữa nhóm khởi nghiệp và nhóm nhân viên truyền thống</p></li><li><p>Xem xét mối liên hệ giữa áp lực công việc, hỗ trợ xã hội và sức khỏe tâm lý</p></li><li><p>Tìm hiểu những yếu tố tăng hoặc giảm nguy cơ gặp vấn đề tâm lý trong quá trình khởi nghiệp</p></li></ul><ol start="3"><li><p><strong>Cơ sở lý thuyết</strong></p></li></ol><ul><li><p>Lý thuyết Job Demands - Resources (JD-R Model) (Makker &amp; Demerouti, 2007)</p></li><li><p>Tháp nhu cầu (Maslow, 1943)</p></li><li><p>Mô hình nhu cầu tâm lý cơ bản (Self-determination Theory) (Deci &amp; Ryan, 1985)</p></li><li><p>Thuyết Tự quyết (Self-Determination Theory – SDT, Deci &amp; Ryan, 1985)</p></li></ul><ol start="4"><li><p><strong>Đối tượng nghiên cứu</strong></p></li></ol><ul><li><p>Tình trạng sức khỏe tâm lý</p></li></ul><ol start="5"><li><p><strong>Khách thể nghiên cứu</strong></p></li></ol><ul><li><p>Nhóm khởi nghiệp (Start-up) ở Việt Nam</p></li><li><p>Nhóm nhân viên truyền thống ở Việt Nam&nbsp;</p></li></ul><ol start="6"><li><p><strong>Phương pháp thu thập dữ liệu</strong></p></li></ol><ul><li><p>Định lượng: Khảo sát bằng bảng hỏi online/offline</p></li><li><p>Định tính: Phỏng vấn bán cấu trúc</p></li></ul><ol start="7"><li><p><strong>Chiến lược chọn mẫu</strong></p></li></ol><ul><li><p>Mẫu thuận tiện</p></li><li><p>Mẫu quả cầu tuyết (snowballing)</p></li></ul><ol start="8"><li><p><strong>Đóng góp</strong></p></li></ol><ul><li><p>Về lý thuyết: làm phong phú thêm cho các lý thuyết cơ sở bằng dữ liệu thực tế tại Việt Nam, từ đó có thể mở rộng mô hình lý thuyết cho các ngữ cảnh văn hóa Á Đông&nbsp;</p></li><li><p>Về thực tiễn: cung cấp cơ sở để phát triển các chương trình hỗ trợ tâm lý cho người khởi nghiệp, giúp doanh nghiệp truyền thống cải thiện phúc lợi tinh thần cho nhân viên</p></li><li><p>Về xã hội: gia tăng nhận thức về sức khỏe tâm thần trong cộng đồng người đi làm, góp phần xây dựng môi trường làm việc lành mạnh hơn tại Việt Nam</p></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-09-16 02:58:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/luannguyenhuynh/Bookmarks/wish/3586675279</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nghiên cứu định tính: Gia đình sẽ là yếu tố bảo vệ hay yếu tố gây căng thẳng ở thanh thiếu niên LGBTQI+ tại Việt Nam? </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/luannguyenhuynh/Bookmarks/wish/3586676869</link>
         <description><![CDATA[<ol><li><p><strong>Vấn đề nghiên cứu</strong></p></li></ol><ul><li><p>Ý niệm về gia đình ở thanh thiếu niên LGBTQI+ tại Việt Nam&nbsp;</p></li></ul><ol start="2"><li><p><strong>Mục tiêu nghiên cứu&nbsp;</strong></p></li></ol><ul><li><p>Tìm hiểu thanh thiếu niên LGBTQI+ tại Việt Nam nhìn nhận như thế nào về gia đình của họ (nguồn lực hay mối đe dọa?).</p></li><li><p>Xác định các hình thức hỗ trợ/áp lực từ gia đình mà thanh thiếu niên LGBTQI+ tại Việt Nam thường gặp.</p></li></ul><ol start="3"><li><p><strong>Cơ sở lý thuyết&nbsp;</strong></p></li></ol><ul><li><p>Lý thuyết căng thẳng ở nhóm thiểu số (Minority stress theory) (Meyer, 2003)&nbsp;</p></li><li><p>Family Acceptance Project Framework (Ryan và cộng sự, 2009)&nbsp;</p></li><li><p>Attachment Theory (Bowlby, 1969).</p></li></ul><ol start="4"><li><p><strong>Đối tượng nghiên cứu&nbsp;</strong></p></li></ol><ul><li><p>Ý niệm, trải nghiệm về gia đình ở thanh thiếu niên LGBTQI+ tại Việt Nam.</p></li></ul><ol start="5"><li><p><strong>Khách thể nghiên cứu&nbsp;</strong></p></li></ol><ul><li><p>Thanh thiếu niên tự xác định là LGBTQI+&nbsp; trong độ tuổi từ 13 đến 18 tại Việt Nam.</p></li></ul><ol start="6"><li><p><strong>Phương pháp thu thập dữ liệu&nbsp;</strong></p></li></ol><ul><li><p>Phỏng vấn bán cấu trúc</p></li></ul><ol start="7"><li><p><strong>Chiến lược chọn mẫu&nbsp;</strong></p></li></ol><ul><li><p>Mẫu quả cầu tuyết (snowball sampling)&nbsp;</p></li></ul><ol start="8"><li><p><strong>Đóng góp&nbsp;</strong></p></li></ol><ul><li><p>Cung cấp hiểu biết về gia đình trong góc nhìn của thanh thiếu niên LGBTQI+ từ đó xây dựng các mô hình lý thuyết, chương trình hỗ trợ,...</p></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-09-16 02:58:47 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/luannguyenhuynh/Bookmarks/wish/3586676869</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm của Lan Khuê</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/luannguyenhuynh/Bookmarks/wish/3586678079</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-09-16 02:59:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/luannguyenhuynh/Bookmarks/wish/3586678079</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
