<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title>Lớp 10A8 by Ngọc Hà</title>
      <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k</link>
      <description>Siêu lầy</description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2021-11-12 10:11:31 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2025-10-21 14:36:52 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url>https://padlet.net/icons/png/1f970.png</url>
      </image>
      <item>
         <title>Đặng Thị Ngọc Hoa</title>
         <author>dangthingochoa206</author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968507378</link>
         <description><![CDATA[<div>Chúng ta khó có thể thành công nếu cứ theo lối sống rập khuôn đã có sẵn hay cố gắng bắt chước một ai đó.Chính sự khác biệt sẽ giúp chúng ta nhận ra chính mình và tìm kiếm được nhũng điều mới lạ mà trước giờ ta chưa từng nghĩ đến,tuy gặp nhiều gian nan nhưng nếu ta dũng cảm ,kiên trì thì ta có thể tạo ra một con đường mới. .Vậy sự khác biệt có nghĩa là gì?Sự khác biệt là những nét riêng, nét độc đáo khiến cho con người thể hiện được bản sắc riêng,không bị hòa tan trong đám đông. Sống khác biệt giúp chúng ta có những suy nghĩ độc lập, táo bạo, thể hiện được cá tính của bản thân.Khẳng định,đề cao vai trò cá nhân trong xã hội. Vì mỗi cá nhân chúng ta là một thực thể với những màu sắc đa dạng. Sống khác biệt để tránh rập khuôn, một màu một cách sáo rỗng.&nbsp; Khi đó ta sẽ có những suy nghĩ khác về góc nhìn, thế giới và mọi vật xung quanh. Nhà bác học Thomas Edison , ông tự học ở sách theo cách riêng của mình. Với sự suy nghĩ, tìm tòi, từng bước ông đã dám phá vỡ các nguyên tắc, thử một lần khác biệt và&nbsp; đã thành công với phát minh vĩ đại - “đèn điện”, đưa nhân loại bước sang một kỷ nguyên của ánh sáng. Tuy nhiên, không phải sự khác biệt nào cũng có ý nghĩa. Có sự khác biệt có ý nghĩa tích cực nhưng cũng có những sự khác biệt có ý nghĩa tiêu cực. Sự khác biệt tiêu cực chính là sự kì dị, quái gở, phá vỡ những nét đẹp văn hóa truyền thống và các quy tắc chuẩn mực xã hội.Qua đó,ta thấy ý nghĩa của sự khác biệt đối với cuộc sống con người là rất quan trọng, rất cần thiết. Vậy nên cần phải khác biệt, đừng sống bằng hình ảnh của người khác, điều đó chỉ làm bạn mờ nhạt mà thôi. Hãy dũng cảm sống khác, hãy mạnh dạn khác biệt để là chính mình bởi bạn là một, là riêng, là duy nhất.<br><br></div><div>&nbsp;<br><br></div><div>&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-30 05:42:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968507378</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lê Thị Ngọc Hân</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968510917</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Trong cuộc sống này, ai cũng có những điểm khác biệt riêng. Những khác biệt đó làm ta nổi bật và để lại dấu ấn trong lòng người khác. Vậy sự khác biệt là gì? Sự khác biệt là những nét riêng, nét độc đáo khiến con người thể hiện được bản sắc riêng, không bị hòa tan trong đám đông. Sống khác biệt giúp chúng ta có những suy nghĩ độc lập, thể hiện được cá tính của bản thân. Việc sống khác biệt giúp ta khẳng định, đề cao vai trò cá nhân trong xã hội. Không những thế, nó còn giúp ta thay đổi tư duy, tìm cho mình cách tiếp cận mới mẻ về sự vật, hiện tượng.&nbsp; Như Denis Dang - bàn tay phù thủy của những MV triệu views là minh chứng rõ rệt cho thấy sự khác biệt đem lại giá trị của người trẻ. Thử hỏi rằng, không khác biệt sao được khi anh sinh ra trong gia đình không có truyền thống nghệ thuật, bị ngăn cản và hoàn toàn không nhận được sự hỗ trợ từ những người thân yêu. Thế nhưng, anh vẫn đam mê và sẵn lòng theo đuổi. Nhưng không phải sự khác biệt nào cũng có ý nghĩa. Có sự khác biệt có ý nghĩa tích cực nhưng cũng có những sự khác biệt có ý nghĩa tiêu cực. Khác biệt tiêu cực chính là sự kì dị, quái gở, phá vỡ những nét đẹp văn hóa truyền thống. Khác biệt của họ chỉ có một mục đích đó là làm cho mình thật nổi bật giữa đám đông. Ngoài ra, đề cao sự khác biệt không có nghĩa là cổ vũ cho lối sống hẹp hòi, ích kỉ, chối bỏ trách nhiệm với cộng đồng. Tuy nhiên ngoài những người luôn cố gắng phát huy những đặc điểm khác biệt của bản thân để đi đến thành công thì đâu đó trong xã hội này vẫn còn những người vốn có năng lực nhưng không tự nhận thức được giá trị của mình, thiếu tự tin về bản thân, sống không có quan điểm riêng, nên đánh mất nhiều cơ hội. Vì vậy, mỗi cá nhân phải luôn cố gắng rèn luyện bản thân mình để đạt được thành công và tạo dấu ấn riêng trong cộng đồng.&nbsp; Nhưng sự khác biệt phải phù hợp với quy chuẩn đạo đức và thuần phong mĩ tục của xã hội.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-30 05:48:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968510917</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phan Thanh Khang.10A8     Dàn Ý Bài Tỏ Lòng:</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968597261</link>
         <description><![CDATA[<div>1.Mở bài:Giới thiệu về vấn đề cần nghị luận.<br>2.Thân bài:<br>- Giới thiệu đôi nét về tác giả ,tác phẩm.<br>- Giới thiệu về Hào Khí Đông A :vẻ đẹp của con người và quân đội thời Trần.<br>*Phân tích -&nbsp; chứng minh:<br>-Vẻ đẹp sức mạnh của con người&nbsp;<br>-Câu đầu tiên:&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Hoành sóc giang sơn khắp kỉ thu<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp;<br>*So sánh với bản dịch thơ :<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Múa giáo non sông trải mấy thu<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp;<br>- So sánh "Hoành sóc" với "Múa giáo"<br>+"Hoành sóc" nghĩa là cầm ngang ngọn giáo thể hiện sự hiên ngang,lẫm liệt, hào hùng, sánh ngang trời đất,...<br>+ Còn "Múa giáo" thì tạo ra cảm giác thiên về kĩ thuật nhiều hơn.<br>-Thời gian,không gian:khắc họa vẻ đẹp của con người thời Trần.<br>+Không gian:"giang sơn" nghĩa là đất nước là non sông , không gian to lớn ,bao la.<br>+Thời gian :"kháp kỉ thu" , chỉ sự dài ,liên miên đã qua mấy mùa thu rồi.<br>--&gt;Tầm vóc vĩ đại và vẻ đẹp của con người thời Trần,....<br>-Câu thứ 2:&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; "Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu "<br>+Quan niệm:hình ảnh quân đội nhà Trần thường&nbsp; có 3 đội quân là tiền quân,hậu quân,trung quân,nói lên được sự đông đảo,hùng mạnh của quân nhân nhà Trần.<br>-Nghệ thuật:So sánh với hổ báo cho thấy sưu hùng mạnh ,sục sôi của quân đội nhà Trần&nbsp;<br>- "khí thôn ngưu " 2 cách hiểu:<br>+ Có thể hiểu là có sức mạnh khí thế át sao ngưu--&gt;Lột&nbsp; tả sự lãng mạn, hùng tráng của quân đội nhà Trần.<br>+2:Khí thế hùng dũng nuốt trôi trâu--&gt;Lột tả sức mạnh vật chất ,dũng mãnh.<br>2.Nỗi lòng người anh hùng với chí lớn lao.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Nam nhi vị liễu công danh trái<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu.<br>-Nhấn mạnh hoài bão lớn lao của người nam nhi phải lập được công danh , bày tỏ nỗi lòng của Phạm Ngũ Lão.<br>-Một vấn đề luôn xoay quanh người năm nhi : chí làm trai -nợ công danh.Một món nợ không thể không trả&nbsp;<br>-Dù Phạm Ngũ Lão đã cống hiến cho đất nước rất nhiều.Nhưng ta thấy đức tính của ông khiêm tốn,khiêm nhường<br>- &nbsp; "Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu"<br>+ Hổ thẹn khi nghe chuyện Vũ Hầu, ngưỡng mộ Gia Cát Lượng và hổ thẹn với chính mình chưa cống hiên được nhiều cho đất nước.<br>Kết bài:Đánh giá lại vấn đề nghị luận.<br>-Tỏ lòng:<br>Bài thơ là nỗi niềm của Phạm Ngũ Lão muốn cống hiến hết mình,đồng thời thể hiện ý chí hùng dũng,hùng mạnh,sục sôi của con người thời Trần.<br>Hào Khí Đông A là hào khí của thời Trần là hào khí oai hùng,hào sảng của thời Trần.Là khát khao mang tính thời đại,người người góp sức mình đem giữ gìn non sông đất nước<br>Là biểu tượng đi vào trong thơ văn,là sự cao đẹp về lòng yêu nước, mang hơi thở khác hoàn toàn các thời đại khác.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Múa giáo non sông trải mấy thu<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu&nbsp;<br>Khi so sánh với bản dịch thơ:" Hoành sóc" hành động cầm ngang ngọn giáo ,thể hiện sự oai phong,hùng vĩ của con người thời Trần trong tư thế chủ động luôn luôn sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc.Con"múa giáo" mang thiên hướng phô trương cao về kĩ thuật cầm giáo.<br>Bài thơ đã khắc họa được vẻ&nbsp; của non sông đất nước và con người thời Trần ,một bức tranh được&nbsp; khắc họa rõ nét về thời gian và không gian.Không gian to lớn của non sông đất nước kì vĩ ,bao la mang tầm vóc vũ trụ.Trải qua một thời gian dài liên miên "trải mấy thu".Đã góp phần làm tô đậm,rõ nét đẹp của con người thời Trần thật vĩ đại cả qua hành động "Hoành&nbsp; sóc" tư thế thật&nbsp; hùng vĩ và to lớn.<br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-30 07:50:28 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968597261</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lê Đình Sơn </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968599415</link>
         <description><![CDATA[<div>Để xây dựng một đất nước giàu mạnh, tốt đẹp, phồn vinh thì mỗi cá nhân đều cần chung tay xây dựng, góp sức mình vào công cuộc gây dựng ấy. Chính vì mục tiêu cao cả ấy, mỗi người cần có ý thức sống và làm việc có ích để hướng tới một cuộc sống hạnh phúc, tốt đẹp hơn.Sống có ích là gì? Chính là lối sống lành mạnh, không sa vào các tệ nạn xã hội, sống đẹp biết giúp đỡ người và cũng cần có trách nhiệm cho bản thân. Sống có ích chính là lối sống được vạn người phấn đấu, luôn vì cũng những điều tích cực mà hoàn thiện bản thân, không ngừng học tập để phát triển. Việc sống có ích sẽ mang đến rất nhiều điều tích cực không chỉ cho bản thân, gia đình mà toàn xã hội. Mỗi một cá thể tuy nhỏ bé, nhưng khi tất cả mọi người đều làm việc có ích để tạo nên một cộng đồng vững bền. Khi bản thân mình biết sống đẹp, sẽ kéo theo những người khác cũng luôn có cái nhìn hướng thiện hơn, nhờ đó xã hội cũng trở nên an bình hơn. Thế nhưng, bên cạnh đó vẫn có rất nhiều sống ích kỉ, không có một mục tiêu, lối sống rõ ràng. Cả ngày chỉ biết ăn bám, dựa dẫm vào người khác. Họ chỉ biết lo nghĩ cho bản thân, sa đà vào các tệ nạn xã hội với tâm lý, một mình bản thân họ làm gì nghĩ gì cũng chẳng ảnh hưởng đến ai. Vì vậy trong cuộc chúng ta hãy là một người sống có ít để giúp xã hội ngày càng phát triển</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-30 07:54:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968599415</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hồ Diệp Nhã Uyên 10A8</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968602081</link>
         <description><![CDATA[<div>Sống có ích đến từ những hành động thiết thực nhất: sống thật với bản thân, biết cách đối nhân xử thế với mọi người, giúp đỡ những người đang hoạn nạn, lắng nghe và chia sẻ với những mảnh đời bất hạnh. Sống có ích là một lối sống lành mạnh, lạc quan, sống làm sao khiến cho bản thân mình có giá trị cho chính mình cũng như mang đến lợi ích cho xã hội. Sống có ích rất cần thiết và quan trọng trong xã hội hiện nay. Chúng ta có thể tự thấy bản thân mình đã sống có ích hay chưa. Sống có ích là khi chúng ta tràn đầy lối sống tích cực, sống vì người khác, biết bỏ qua lợi ích của bản thân vì xã hội cộng đồng. Những người sống có ích luôn biết làm đẹp cho cuộc sống của riêng mình và mang lại những điều tốt đẹp cho những người xung quanh&nbsp;<br>Đáng buồn thay, trong xã hội hiện tại vẫn còn rất nhiều người với lối sống íc kỷ, vụ lợi cho chính bản thân mình.Vì thế chúng ta hãy làm nên sự khác biệt, hãy biết sống có ích mỗi một ngày mới bắt đầu hãy nở một nụ cười và làm nên sự khác biệt để cả thế giới này trở thành một nơi tốt đẹp hơn, những đứa trẻ sẽ có một tương lai sáng hơn vì việc sống có ích của mỗi người, thế giới sẽ không còn chiến tranh không còn đói khát nếu chúng ta biết sống có ích. Hãy là một tấm gương, hãy tìm một mục đích sống của mình để sống có ích từng ngày từng giờ, đừng lãng phí một thời gian Vì thế chúng ta hãy làm nên sự khác biệt, hãy biết sống có ích mỗi một ngày mới bắt đầu hãy nở một nụ cười và làm nên sự khác biệt để cả thế giới này trở thành một nơi tốt đẹp hơn, những đứa trẻ sẽ có một tương lai sáng hơn vì việc sống có ích của mỗi người, thế giới sẽ không còn chiến tranh không còn đói khát nếu chúng ta biết sống có ích. Hãy là một tấm gương, hãy tìm một mục đích sống của mình để sống có ích từng ngày từng giờ, đừng lãng phí một thời gian nào cả và chúng ta sẽ giúp thế giới trở thành một ngôi nhà tốt đẹp cho mọi người.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-30 07:58:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968602081</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lê Thị Hương: Suy nghĩ về ý nghĩa của sự khác biệt</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968606818</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Trong cuộc sống, ai cũng có cho riêng mình một lối sống khác biệt. Bởi để tạo ra một lối sống hoàn hảo và đúng đắn là một vấn đề vô cùng khó khăn và không để thực hiện nó. Vậy nên tuổi trẻ cần sống khác biệt. Thực chất, sống khác biệt không phải là lối sống lập dị, sống một cách độc nhất vô nhị mà đây chính là một lối sống khác với các lứa tuổi còn lại, lối sống có lí tưởng, có quan niệm cao đẹp. Nó vốn là bản chất của đời sống phong phú, đa dạng, muôn màu muôn vẻ. Tuổi trẻ chúng ta nhất định phải sống khác biệt. Bởi khi sống khác biệt sẽ tạo cơ hội để bộc lộ được tính cách cá nhân, và thể hiện được khả năng của bản thân. Giá như tuổi trẻ ai cũng sống khác biệt thì cuộc sống sẽ tươi đẹp biết bao! Bởi "sự khác biệt"&nbsp; nó có thể gây cho người ta những thiện cảm, lòng yêu thương và sự sáng tạo. Hãy dựa vào chính bản thân của bạn, hãy tự tin khác biệt.Nếu không có cái nhìn khác biệt và trí óc sáng tạo thì Albert Einstein đâu thể nào sáng tạo ra học thuyết tương đối trong vật lý học hiện đại. Ông nhìn thấy cái mà người khác đã không nhìn thấy ngay trong cuộc sống đời thường.&nbsp;Tuy nhiên, trong cuộc sống vẫn có nhiều người không có cách nhìn khác. Họ cứ làm việc theo khuôn khổ, cứ giữ những quan niệm xưa cũ của ông cha ta truyền lại. Họ không có sự bức phá, không có sáng tạo thì họ sẽ không bao giờ thành công và nổi tiếng. Những người đó sẽ sống một cuộc sống tẻ nhạt, vô vị theo quy luật vô thường của “sinh, lão, bệnh, tử”. Là học sinh ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường hãy cố gắng, quyết tâm học tập tạo nên cho bản thân một sự khác biệt.&nbsp; Có làm được như vậy thì sự khác biệt của bạn mới được khẳng định.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-30 08:06:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968606818</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đoàn thân thuý hằng</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968608576</link>
         <description><![CDATA[<div>Dàn ý bài tỏ lòng<br>1.MB: Giới thiệu tác giả Phạm Ngũ Lão. Khái quát nội dung bài thơ.<br>2.TB:<br>- Giới thiệu về tác phẩm<br>- Giới thiệu về hào khí Đông A, vẻ đẹp sức mạnh của con người thời về hào khí thời đại.<br>- Hình tượng nam nhi thời Trần.<br>- Sức mạnh của quân đội thời Trần.<br>- Nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lão.<br>-Liên hệ với trách nhiệm của thế hệ trẻ ngày nay đối với việc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.<br>3.KB: Khái quát nội dung và nghệ thuật của bài thơ<br>Mở bài :<br>&nbsp; Phạm Ngũ Lão sinh năm 1255, mất năm 1320, quê ở làng Phù Ủng, huyện Đường Hào nay là huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên, là con rễ của Trần Hưng Đạo, được giữ đội quân hữu vệ. Tuy là võ tướng nhưng ông lại thích đọc sách và ngâm thơ, từng được người đời ngợi ca là người văn võ song toàn. Chính từ niềm đam mê với nền thơ ca ấy mà bài thơ Tỏ lòng của ông đã tạo nên ấn tượng trong lòng người đọc. Vì tác phẩm này ra đời trước thềm cuộc kháng&nbsp; chiến chống giặc Mông - Nguyên lần hai do đó bài thơ luôn mang âm hưởng Hào khí Đông A thời Trần. Cả bài thơ là sự khắc họa vẻ đẹp của vị tướng và quân đội thời Trần mạnh mẽ trong khí thế sục sôi giết giặc.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-30 08:08:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968608576</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thảo Ly</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968608843</link>
         <description><![CDATA[<div>Ý nghĩa của sự khác biệt:&nbsp;<br>Trong cuộc sống muôn màu muôn vẻ luôn xuất hiện những khác biệt.Vậy sự khác biệt là gì? Sự khác biệt là những nét riêng, nét độc đáo khiến con người thể hiện được bản sắc riêng, không bị hóa trong đám đông.Ý nghĩa của sự khác biệt là giúp chúng ta có thể suy nghĩ độc lập, thể hiện cá tính bản thân , khẳng định, đề cao vai trò cá nhân trong xã hội, giúp thay đổi tư duy, tìm cho mình cách tiếp cận mới về sự vật, hiện tượng.Để nói đến sự khác biệt trong cuộc sống thì có thể nói đến sự thành công của Steve Jobs khi sáng chế ra máy tính Mac.Dù  tuy chán ghét việc học nhưng lại có một niềm đam mê đặc biệt với các kiểu chữ.Chính niềm say mê này đã khiến ông theo một khóa luyện và ông đã thành công. Tuy nhiên, không phải sự khác biệt  nào cũng có ý nghĩa tích cực nhưng cũng có những khác biệt tiêu cực, sự khác biệt tiêu cực chính là sự kì dị,phá vỡ những nét đẹp truyền thống.Khác biệt của họ chỉ chỉ có những nét đẹp văn hóa đời sống.Hay lối sống khác biệt theo kiểu ta đây trong xã hội.Họ cố tạo ra sự khác biệt để khoe mẽ bản thân, làm cho những điều đó trở nên không bình thường và lập dị.Sự khác biệt rất quan trọng, rất cần thiết.Bạn cần phải khác biệt, dùng hình ảnh của người khác chỉ làm bạn mờ nhạt, bạn đừng sợ vấp ngã, bởi con đường mới mẻ nào cũng đầy gian nan và khó khăn.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-30 08:09:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968608843</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thủy Nhi</title>
         <author>annielanhine</author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968609744</link>
         <description><![CDATA[<div>Để trở thành người tốt hay người xấu trong xã hội bây giờ không phải điều khó khăn đối với mỗi con người.Nhưng để trở thành một người sống hữu ích cũng không phải một điều dễ dàng.Vậy sống có ích đem lại ý nghĩa gì?Sống có ích là sống có ước mơ, hoài bão, biết vươn lên trong cuộc sống và chan hòa, yêu thương, giúp đỡ những người xung quanh, có ý thức cống hiến cho cuộc đời.Những nguời có ý tưởng sống có ích sẽ luôn cố găng phấn đấu đem lại những điều tốt đẹp cho chính mình và người thân cũng như xã hội chúng ta đang sinh sống.Dù những điều ta đem lại nhỏ bé hay to lớn tới đâu cũng sẽ đem lại những điều tích cực cho người khác.Nhưng nhiều người mang trong mình suy nghĩ tiêu cực trái ngược ại với lối sống hữu ích này.Họ chỉ ích kỷ,sống cho bản thân,sẵn sàng vì lợi ích bản thân mà gây hại cho người khác.Nếu cứ tiếp tục như vậy,xã hội sẽ ngày càng kém văn minh và khó phát triển hơn.Vì vậy ngay khi mọi thứ chưa quá muộn hãy trở thành một người sống có ích.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-30 08:10:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968609744</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tên: Trịnh Lâm Tú Uyên </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968611203</link>
         <description><![CDATA[<div>Cách&nbsp;để sự tồn tại của con người trở nên tốt đẹp hơn đó là sống một cuộc sống thật ý nghĩa, thật hữu ích. Vậy sống hữu ích là gì? Sống hữu ích là lối sống có ích cho bản thân, gia đình và cộng đồng. Lối sống hữu ích giúp con người có được cuộc sống ý nghĩa, cao đẹp hơn, biết làm nhiều việc tốt, việc thiện, biết hi sinh và chia sẻ với những người xung quanh mình hơn. Người biết sống hữu ích sẽ có được cuộc sống tốt đẹp hơn, đem lại hiệu quả cho bản thân cũng như cho cộng đồng. Trong cuộc sống có rất nhiều người có lối sống hữu ích. Điển hình như Bác Hồ, Bác là người có lối sống hữu ích, luôn giúp đỡ và quan tâm đến những người xung quanh mình. Thế nhưng, trong xã hội vẫn còn rất nhiều người có lối sống ích kỉ, chỉ biết nghĩ cho bản thân của mình. Chúng ta cần phải phê phán những người như vậy. Cuộc sống hiện tại đang không ngừng  phát triển và biến đổi vì thế mỗi người cần phải thay đổi lối sống của mình để trở thành người sống hữu ích với bản thân, với xã hội, góp phần giúp cho xã hội ngày càng phát triển, tiến bộ hơn.  </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-30 08:12:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968611203</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lý Gia Hân</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968614154</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Mở bài</strong></div><div>-Giới thiệu tác giả Phạm Ngũ Lão và bài thơ Tỏ lòng ( Thuật Hoài).</div><div>– Khái quát những tâm lý, cảm nhận về tác phẩm này : Bài thơ với âm điệu tự hào về hào khí Đông A và sự tự ý thức về chí làm trai đời Trần làm dấy lên lòng yêu nước và tự hào về dân tộc bản địa.</div><div><strong>Thân bài&nbsp;</strong></div><div><strong><em>Hoàn cảnh sáng tác</em></strong></div><div>-Bài thơ được sáng tác trong không khí sục sôi, hừng hực chiến đấu của quân dân thời Trần và chiến thắng quân Mông Nguyên lần hai. Bài thơ mang âm hưởng tự hào, cổ vũ, khích lệ cùng với ngợi ca.<br><strong><em>Hình tượng trang nam nhi và sức mạnh quân đội nhà Trần</em></strong></div><div>a. <strong><em>Hình tượng trang nam nhi thời Trần</em></strong></div><div>- Hành động, tư thế hiên ngang: “Hoành sóc”</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Bản dịch nghĩa dịch thành “Cắp ngang ngọn giáo”: Thể hiện tư thế hiên ngang, vững trải, sừng sững cùng tâm thế uy dũng, sẵn sàng chiến đấu.</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Bản dịch thơ dịch thành “Múa giáo”: Thiên về hành động phô trương, biểu diễn, không lột tả hết tầm vóc vĩ đại của tư thế<br>&nbsp;-&gt; Không truyền tải được ý nghĩa hình ảnh thơ nguyên tác.</div><div>-<em> </em>Không gian “Giang sơn” – Non sông: Rộng lớn, vĩ đại, chí trai nhà Trần tung hoành ngang dọc. Không chỉ đơn thuần là núi rừng mà còn là biên cương, đất nước.</div><div>- Thời gian kì vĩ “Kháp kỷ thu” – Đã mấy thu: Thời gian kì vĩ, đăng đẳng, không đong đếm được, năm này qua năm khác&nbsp;<br>-&gt; Chỉ sự bền bỉ, kiên cường chiến đấu.</div><div>=&gt; Hình tượng trang nam nhi thời Trần hiện lên trong tầm vóc vĩ đại, tư thế cắp ngang ngọn giáo chỉ sự sẵn chiến đấu, lập chiến công.</div><div>=&gt; Hình ảnh giang sơn nâng tầm vóc người nam nhi sánh ngang tầm vóc non sông, gấm vóc, vũ trụ.</div><div>=&gt; Người tráng sĩ ra đi không màng ngày trở lại, khí thế bất khuất, hiên ngang trường tồn theo năm tháng.<br><strong>b. </strong><strong><em>Bài thơ còn vẽ nên bức chân dung về ý chí của người anh hùng</em></strong><br>– Tiềm lực quân đội : “ Tam quân ” – ba quân tiền quân, trung quân, hậu quân : Ý chỉ quân đội nhà Trần, tiềm lực quân sự chiến lược của cả dân tộc bản địa .<br>→ Tiềm lực quân đội can đảm và mạnh mẽ, vững vàng<br>– Khí thế đội quân : Hình ảnh so sánh tăng tiến với hai cấp độ</div><div>+ Cấp độ một: “Tam quân” được so sánh với “tì hổ”: Cụ thể hóa sức mạnh của đội quân. Hổ báo là loài mãnh thú, chúa rừng là nỗi khiếp đảm của loài vật khác thì tiềm lực sức mạnh dũng mãnh của quân đội nhà Trần là nỗi khiếp đảm của quân thù.<br>+ Cấp độ hai : Tác giả làm rõ sức mạnh ấy bằng hình ảnh “ khí thôn ngưu ” có hai cách hiểu, cả hai cách đều đúng :<br>( 1 ) Khí thế ba quân hùng mạnh nuốt trôi trâu<br>( 2 ) Khí thế hào hùng ngút trời làm mờ sao Ngưu<br>→ Khí thế dũng mãnh, hào dùng ngút trời, niềm tin “ sát thát ” của quân đội nhà Trần được cụ thể hóa bằng những hình ảnh ước lệ.<br>⇒ Hai câu thơ đầu mang âm hưởng của niềm tự hào can đảm và mạnh mẽ, đó là bộc lộ của lòng yêu nước.<br>⇒ Qua hai câu thơ khiến ta thêm yêu và hiểu hơn về sức mạnh và ý thức chiến đấu, ý chí chiến bại và phẩm chất anh hùng của quân đội nhà Trần. Từ đó có những tâm lý và hành vi đúng đắn xứng danh với cha ông.<strong><br>Vẻ đẹp chí làm trai qua tâm tình tác giả</strong></div><div><strong>a.</strong><strong><em> Món nợ công danh</em></strong></div><div>– Chí đàn ông : Làm trai phải có ý chí đàn ông, xông pha, gánh vác.<br>– Nợ sự nghiệp : Theo ý niệm Nho gia, đây là món nợ mà một kẻ làm trai sinh ra đã phải có nghĩa vụ và trách nhiệm trả. Nó gồm có hai phương diện lập công và lập danh. Khi hoàn thành xong hai trách nhiệm này mới được xem là trả xong món nợ.<br>→ Trân trọng sự ý thức, nghĩa vụ và trách nhiệm về việc hoàn trả món nợ công danh sự nghiệp của tác giả.<br><strong>b. Nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lão.</strong></div><div>– “ Thẹn ” là trạng thái xấu hổ, ngại ngùng khi thấy chưa bằng người khác<br>– “ Thuyết Vũ Hầu ” : Điển tích Trung Quốc nói về một con người kĩ năng, mưu chước, hết lòng báo đáp công ơn của chủ tướng, lập được sự nghiệp sự nghiệp lớn.<br>– Phạm Ngũ Lão cũng là một trang đàn ông hết lòng vì nước, cả công lao và khét tiếng đều vang xa. Vậy mà ông vẫn thẹn vì chưa báo đáp được hết ơn chiêu mộ của Trần Quốc Tuấn, chưa tận tâm tận lực trả hết món nợ sự nghiệp.<br>→ Đây là nỗi thẹn của một nhân cách lớn. Thẹn không làm hạ thấp nhân cách mà trái lại làm cho nhân cách hùng vĩ hơn<br>→ Thể hiện ý thức muốn góp sức nhiều hơn nữa cho dân tộc bản địa. Đồng thời thức tỉnh ý thức làm người và chí làm trai cho đàn ông đời Trần.</div><div>⇒ Trân trọng ngợi ca nhân cách cao đẹp của người anh hùng Phạm Ngũ Lão.<br>⇒ Rút ra bài học kinh nghiệm : Sống phải có tham vọng, tham vọng. Phải quyết tâm và nỗ lực rất là để triển khai tham vọng ấy dù phải trải qua những khó khăn vất vả, thử thách.<br><strong>Kết bài</strong></div><div>– Khái quát nội dung và thẩm mỹ và nghệ thuật của bài thơ.<br>– Trình bày những cảm nhận chung về bài thơ : Cảm thức chủ yếu là lòng tự hào và niềm kính yêu với cha ông. Nhận thức và hành vi của bản thân trong hiện tại và tương lai.<br><br></div><div><br><br></div><div><br><br></div><div><br><br></div><div><br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-30 08:16:40 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968614154</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thùy Trang </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968614327</link>
         <description><![CDATA[<div>NGHỊ LUẬN SỐNG HỮU ÍCH<br>Cuộc đời của mỗi con người đều nằm trong chính bàn tay họ, thành công hay thất bại đều do họ lựa chọn. Tùy vào từng cá nhân mà họ chọn cho mình một lối đi riêng để đến với thành công của mình nhưng tất cả đều có một điểm chung họ đều lựa chọn lối sống có ích.</div><div>Sống có ích là một lối sống lành mạnh, lạc quan, sống làm sao khiến cho bản thân mình có giá trị cho chính mình cũng như mang đến lợi ích cho xã hội. Chúng ta có thể tự thấy bản thân mình đã sống có ích hay chưa. Sống có ích là khi chúng ta tràn đầy lối sống tích cực, sống vì người khác, biết bỏ qua lợi ích của bản thân vì xã hội cộng đồng. Những người sống có ích luôn biết làm đẹp cho cuộc sống của riêng mình và mang lại những điều tốt đẹp cho những người xung quanh. Họ là những người luôn được người khác tôn trọng và được đánh giá cao. Sống có ích không phải là điều đao to búa lớn gì, nó thể hiện ở những hành động diễn ra trong đời thường như con cháu yêu thương ông bà cha mẹ, chăm lo anh chị em khi ốm đau, giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn, hoạn nạn. Hàng xóm láng giềng “tối lửa tắt đèn có nha”, cùng nhau chung tay xây dựng xóm làng. Bởi vì một lối sống có ích, mà rất nhiều hoạt động thiết thực được đề ra như: dọn rác để bảo vệ môi trường, giúp đỡ các em nhỏ miền núi bằng cách quyên góp ủng hộ sách vở, quần áo,... Mỗi con người mà sống có ích rồi nhiều điều tốt đẹp sẽ đến với họ, họ được gặp gỡ giao lưu với nhiều người bạn mới, được chia sẻ thêm các điều hay. Họ sẽ có những trải nghiệm riêng cho bản thân mình, được hòa mình vào một cộng đồng chung, được tiếp xúc với nhiều hoàn cảnh trong xã hội.</div><div>Tuy nhiên, trong xã hội hiện nay vẫn tồn tại khá nhiều lối sống ích kỉ. Những người như vậy thật đáng chê trách, bởi chỉ biết nghĩ cho lợi ích của cá nhân mình, không biết vì người khác, người xung quanh. Thấy rác không bỏ vào thùng đựng rác mà lại còn xả rác bừa bãi, tham gia giao thông không đội mũ bảo hiểm, đèo ba đèo bốn..., tất cả những hành động đó thật đáng xấu hổ, và những người làm như vậy sẽ bị người khác coi thường, và không bao giờ được tôn trọng.</div><div>Trong xã hội hiện đại ngày nay, xảy ra rất nhiều tệ nạn, nhiều điều không hay có thể xảy đến bất cứ khi nào, vì vậy mỗi chúng ta hãy tự lựa chọn cho bản thân mình một lối sống thật tốt, lành mạnh. Mọi người cần nhận thức rõ về lối sống có ích từ đó đưa ra cách hành động việc làm mang đến đến lợi ích cho toàn xã hội.</div><div>“Cho đi mới là của mình” - đó là một điều hoàn toàn đúng, cuộc sống của bạn có tốt đẹp hay không, tất cả đều do bạn lựa chọn.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-30 08:16:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968614327</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Mai Đăng Khoa</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968614924</link>
         <description><![CDATA[<div>Dàn ý cảm nhận về bài thơ Tỏ Lòng :<br>A Mở Bài :&nbsp;<br>- Giới thiệu khái quát về tác giả và tác Phẩm .<br>- Cảm nhận khái quát về tác phẩm , suy nghĩ về Hào Khí Đông A , ý chí sức mạnh và lòng yêu nước của dân tộc&nbsp;<br>&nbsp;<br>B Thân Bài :<br>1. Hoàn cảnh sáng tác&nbsp;<br>- Bài thơ được viết trong thời kì nhà Trần đang chiến đấu và giành chiến thắng quân Mông Nguyên xâm lược .&nbsp;<br>2. Phân tích các câu thơ :<br>- Hai câu thơ đầu : Vẻ đẹp mạnh mẽ , hùng dũng của quân đội nhà Trần<br>- Hai câu thơ sau : Lời bộc bạch của kẻ làm trai, công danh, sự nghiệp như một món nợ đời<br>3. Vẻ đẹp chí làm trai qua tâm tình của tác giả :<br>- Mang một món nợ công danh bắt buộc phải trả<br>-Nỗi thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu<br>4.Khái quát nội dung và nghệ thuật được sử dụng trong bài thơ.<br>&nbsp;<br>C.Kết bài :<br>-Trình bày cảm nhận chung về bài thơ , bày tỏ lòng tự hào và kính trọng đến cha ông .<br>-Liên hệ bản thân .<br><br>&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-30 08:18:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968614924</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thùy Trang </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968615008</link>
         <description><![CDATA[<div>DÀN Ý TỎ LÒNG<br>I. Mở bài<br>- Giới thiệu khái quát những suy nghĩ, cảm nhận về tác giả và bài thơ: Phạm Ngũ Lão là người văn võ toàn tài, có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên. Ông để lại cho đời hai bài thơ trong đó nổi tiếng hơn cả là bài Tỏ lòng. Bài thơ với âm điệu tự hào về hào khí Đông A và sự tự ý thức về chí làm trai đời Trần làm dấy lên lòng yêu nước và tự hào về dân tộc.<br><br>II. Thân bài<br>* Hoàn cảnh sáng tác:<br>- Bài thơ ra đời trong không khí quân và dân nhà Trần đang hừng hực, sục sôi khí thế chiến đấu và chiến thắng quân Mông – Nguyên xâm lược lần thứ hai. Bài thơ mang âm hưởng tự hào, ngợi ca, cổ vũ, khích lệ.<br>*Vẻ đẹp hào hùng của con người thời Trần:<br>a. Vẻ đẹp người anh hùng vệ quốc<br>- Tư thế: "hoành sóc" – cầm ngang ngọn giáo<br>+ Ngọn giáo: Là vũ khí chiến đấu của quân đội thời trước<br>+ Tay cầm ngang ngọn giáo: thể hiện sự chủ động, tự tin<br>+ Bản dịch thơ là "múa giáo": cách dịch mang tính hình ảnh, hoa mĩ, phù hợp với vần nhịp nhưng chỉ thể hiện được hành động phô trương, biểu diễn bên ngoài, không nói lên được được sức mạnh nội lực bên trong. Cách dịch không thoát ý.<br>&nbsp;-&gt; Tư thế chủ động, tự tin, vững trãi đầy kiên cường, hiên ngang, hào hùng, sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng<br>- Tầm vóc<br>+ Không gian: “Giang sơn" – sông nước, non sông, tổ quốc<br>-&gt; Không gian vũ trụ rộng lớn, kì vĩ, rợn ngợp. Nam nhi thuở trước thường nói chí tỏ lòng qua không gian<br>vũ trụ rộng lớn.<br>+ Thời gian: “kháp ki thu": Con số ước lệ tượng trưng cho thời gian dài, vô tận<br>-&gt; Khẳng định tầm vóc lớn lao, kì vĩ, sánh ngang tầm vũ trụ, lấn át cả không gian và thời gian của người anh hùng nhà Trần. Họ như những dũng tướng uy phong, lẫm liệt.<br>b. Vẻ đẹp sức mạnh của quân đội nhà Trần.<br>- Tiềm lực quân đội: “Tam quân" - ba quân tiền quân, trung quân, hậu quân: Ý chỉ quân đội nhà Trần, tiềm lực quân sự của cả dân tộc.<br>- Tiềm lực quân đội mạnh mẽ, vững vàng<br>- Khí thế đội quân: Hình ảnh so sánh tăng tiến với hai cấp độ<br>+ Cấp độ một: “Tam quân" được so sánh với “tì hổ": Cụ thể hóa sức mạnh của đội quân. Hổ báo là loài mãnh thú, chúa rừng là nỗi khiếp đảm của loài vật khác thì tiềm lực sức mạnh dũng mãnh của quân đội nhà Trần là nỗi khiếp đảm của quân thù<br>+ Cấp độ hai: Tác giả làm rõ sức mạnh ấy bằng hình ảnh "khí thôn ngưu" có hai cách hiểu, cả hai cách đều đúng:<br>(1) Khí thế ba quân hùng mạnh nuốt trôi trâu<br>(2) Khí thế hào hùng ngút trời làm mờ sao Ngưu<br>- Khí thế dũng mãnh, hào hùng ngút trời, tinh thần "sát thát" của quân đội nhà Trần được cụ thể hóa bằng những hình ảnh ước lệ.<br>=&gt; Hai câu thơ đầu mang âm hưởng của niềm tự hào mạnh mẽ, đó là biểu hiện của lòng yêu nước.<br>=&gt;Qua hai câu thơ khiến ta thêm yêu và hiểu hơn về sức mạnh và tinh thần chiến đấu, ý chí chiến bại và phẩm chất anh hùng của quân đội nhà Trần. Từ đó có những suy nghĩ và hành động đúng đắn xứng đáng với cha ông.<br>*Vẻ đẹp chí làm trai qua tâm tình tác giả:<br>a. Món nợ công danh:<br>- Chí nam nhi: Làm trai phải có ý chí nam nhi, xông pha, gánh vác.<br>- Nợ công danh: Theo quan niệm Nho gia, đây là món nợ mà một kẻ làm trai sinh ra đã phải có trách nhiệm trả. Nó bao gồm hai phương diện lập công và lập danh. Khi hoàn thành hai nhiệm vụ này mới được xem là trả xong món nợ.<br>&nbsp;- Trân trọng sự ý thức, trách nhiệm về việc hoàn trả món nợ công danh của tác giả.<br>b. Nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lão:<br>- "Then" là trạng thái xấu hổ, ngại ngùng khi thấy chưa bằng người khác<br>- "Thuyết Vũ Hầu": Điển tích Trung Quốc nói về một con người tài năng, mưu chước, hết lòng báo đáp công<br>ơn của chủ tướng, lập được công danh sự nghiệp lớn.<br>- Phạm Ngũ Lão cũng là một trang nam nhi hết lòng vì nước, cả công lao và danh tiếng đều vang xa. Vậy mà ông vẫn thẹn vì chưa báo đáp được hết ơn chiêu mộ của Trần Quốc Tuấn, chưa tận tâm tận lực trả hết món nợ công danh.<br>&nbsp;-&gt; Đây là nỗi thẹn của một nhân cách lớn. Thẹn không làm hạ thấp nhân cách mà trái lại làm cho nhân cách cao thượng hơn<br>-&gt; Thể hiện ý thức muốn cống hiến nhiều hơn nữa cho dân tộc. Đồng thời đánh thức ý thức làm người và chí làm trai cho nam nhi đời Trần.<br>=&gt; Trân trọng ngợi ca nhân cách cao đẹp của người anh hùng Phạm Ngũ Lão<br>=&gt; Rút ra bài học: Sống phải có ước mơ, hoài bão. Phải quyết tâm và cố gắng hết sức để thực hiện ước mơ ấy dù phải trải qua những khó khăn, thử thách.<br>III. Kết bài<br>- Khái quát nội dung và nghệ thuật của bài thơ.<br>- Trình bày những cảm nhận chung về bài thơ: Cảm thức chủ đạo là lòng tự hào và niềm kính yêu với cha ông. Nhận thức và hành động của bản thân trong hiện tại và tương lai.<br><br><br>Bài làm:<br><br>Trong kho tàng văn học trung đại Việt Nam, ngoài nội dung lớn là nhân đạo còn có một nội dung luôn đồng hành suốt các chặng đường của văn học dân tộc chính là nội dung yêu nước. Lòng yêu nước được thể hiện dưới nhiều dạng thức khác nhau: ý chí đánh giặc xâm lược, tình yêu thiên nhiên,.. Góp một phần vào chủ đề này là bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão. Bài thơ đã cho thấy vẻ đẹp hào hùng của con người, quân đội nhà Trần và thể hiện vẻ đẹp tâm hồn, lòng yêu nước của tác giả.</div><div><br>Trước hết, bài thơ làm người đọc biết bao xúc động, tự hào về vẻ đẹp hào hùng của con người và quân đội nhà Trần. Con người xuất hiện trong tư thế thật kì vĩ lớn lao. Để chuẩn bị cho sự xuất hiện của con người tác giả đã dựng lên bối cảnh không gian hùng vĩ, to lớn. Không gian: giang sơn, đó là không gian bao la, lớn rộng, không gian của quốc gia, dân tộc. Thời gian: kháp kỉ thu (đã mấy thu) cho thấy khoảng thời gian dài lâu, bền bững. Trên bức phông nền đó hình ảnh con người hiện lên thật nổi bật với tư thế hoành sóc (cầm ngang ngọn giáo). Dường như ở đây chiều dài ngọn giáo sánh ngang với tầm vóc non sông, đất nước. Con người không bé nhỏ trước không gian thiên nhiên rộng lớn mà tầm vóc con người sánh ngang với vũ trụ. Con người hiên ngang, kiên cường, bền bi trong nhiệm vụ bảo vệ đất nước, trấn giữ biên cương.</div><div><br>Bên cạnh vẻ đẹp của nhân vật trữ tình, ở câu thơ thứ hai tác giả khẳng định vẻ đẹp anh hùng, dũng mãnh của quân đội nhà Trần.</div><div><br>“Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”</div><div><br>(Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu)</div><div><br>Tam quân để nói về cách thức tổ chức quân đội thời xưa gồm ba đội quân: toàn quân (tiền quân, trung quân, hậu quân). Đồng thời thể hiện sức mạnh, sự đồng lòng của cả dân tộc, cả thời đại trước kẻ thù. Tác giả sử dụng hình ảnh so sánh đặc sắc, mang đến hai cách hiểu: có thể hiểu ba quân mạnh như hổ báo, nuốt trôi trâu; nhưng cũng có thể hiểu ba quân mạnh như hổ báo, khí thế át cả sao Ngưu trên trời. Câu thơ vừa có chất hiện thực vừa có chất lãng mạn và dù hiểu theo cách nào, cũng có thể thấy được sức mạnh vô địch, lớn lao của hào khí Đông A đời Trần.</div><div>Không chỉ dừng lại ở hào khí hào hùng của dân tộc, bài thơ còn thể hiện vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách và lí tưởng của tác giả. Nhân vật trữ tình thể hiện chí lớn lập công danh thể hiện qua nợ công danh: Nam nhi vị liễu công danh trái. Quan niệm nợ công danh xuất phát từ quan niệm nhập thế tích cực của Nho giáo: phải ở giữa cuộc đời này, dốc hết tâm sức để giúp dân, giúp đời. Xuất phát từ tinh thần thời đại, hình thành lí tưởng sống của những trang nam nhi trong xã hội đương thời: phải lập công danh (công: sự nghiệp lớn lao, danh: để tiếng thơm của mình lưu truyền muôn đời). Quan niệm này được nhắc đến nhiều lần trong thơ ca xưa nay:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;"Làm trai cho đáng nên trai<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Xuống đông đông tĩnh lên đoài đoài yên"<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;"Làm trai cho đáng nên trai<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Phú Xuân đã trải Đồng Nai đã từng"<br>Không chỉ có trong văn học dân gian, mà văn học trung đại cũng nói đến chí làm trai:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; "Chí làm trai Nam Bắc Tây Đông<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Cho phi sức vẫy vùng trong bốn bể"<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;"Đã mang tiếng ở trong trời đất<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Phải có danh gì với núi sông"<br>Nợ công danh đặt trong hoàn cảnh đương thời, khi Phạm Ngũ Lão viết bài thơ này: Đất nước đối mặt với giặc ngoại xâm hùng mạnh, đây là lúc những kẻ làm trai thể hiện chí lớn, để trả món nợ công danh. Món nợ công danh càng bị hối thúc hơn bao giờ hết. Nhân vật trữ tình tự nhắc nhở mình trả món nợ công danh, từ bỏ lối sống ích kỉ, xông pha trận mạc để cứu nước, cứu dân. Món nợ công danh trong nhận thức của Phạm Ngũ Lão vừa mang tư tưởng tích cực của thời đại, vừa mang tinh thần dân tộc. Chính vì thế nó luôn luôn canh cánh trong lòng Phạm Ngũ Lão.<br>Ông còn là người có nhân cách vô cùng lớn lao, điều đó được thể hiện qua nỗi thẹn với Vũ Hầu: Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu. Vũ Hầu tức là Gia Cát Lượng – vị quân sư nổi tiếng, nhân vật lịch sử lỗi lạc, một bề tôi trung thành giúp Lưu Bị làm nên những chiến công oanh liệt để xây dựng và giữ vững nước Thục. Khi nhắc đến Vũ Hầu đã thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của Phạm Ngũ Lão. Đó là một con người có ý chí, nỗ lực muốn theo gương người xưa để lập công danh cho xứng tầm. Chí lớn đó còn mong muốn mình có những chiến công sánh ngang những nhân vật lịch sử lỗi lạc. Qua đó còn cho thấy nhân cách lớn của một con người yêu nước, thương dân, luôn mang trong mình nỗi cánh cánh cứu nước, giúp đời.<br>Bài thơ vô cùng hàm súc, cô đọng đã khắc họa một cách chân thực và đầy đủ nhất về hình tượng người anh hùng vệ quốc hiên ngang, lẫm liệt với lí tưởng và nhân cách lỗi lạc. Tuy là bài thơ “nói chí tỏ lòng”, nhưng không hề khô khan bởi nghệ thuật dựng hình ảnh biểu tượng hàm súc, giàu ý nghĩa. “Tỏ lòng” là bài thơ Đường luật ngắn gọn đã đạt tới độ súc tích cao. Qua đó, bài thơ đã thể hiện được vẻ đẹp của con người và quân đội nhà Trần.<br><br>&nbsp;</div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-30 08:18:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968615008</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968616355</link>
         <description><![CDATA[<div>Mở Bài<br><br>Giới thiệu tác giả Phạm Ngũ Lão<br>Giới thiệu bài thơ Thuật hoài.<br>Thân Bài<br>Vẻ đẹp sức mạnh qua hai câu thơ đầu:<br>Người tráng sĩ hiện lên oai phong lẫm liệt, múa “giáo” trong không gian rộng lớn của “giang sơn” và thời gian “kháp kỉ thu”.<br>Hình ảnh ẩn dụ phóng đại “hổ khí thôn ngưu” – cho thấy sức mạnh của ba quân thời Trần.<br>Vẻ đẹp lý tưởng và nhân cách qua hai câu thơ cuối:<br>Lý tưởng của kẻ làm trai thời này là phải làm nên công danh sự nghiệp. Qua đó cho thấy khát vọng làm nên những điều lớn lao<br>Câu thơ cuối tập trung miêu tả nhân cách: tác giả tự thấy mình “thẹn” với Vũ Hầu vì thua kém về tài năng và trí tuệ. Đó là cái thẹn để thay đổi, để khẳng định bản thân mình và khát khao được cống hiến.<br>Kết Bài<br><br>Khẳng định vẻ đẹp bài thơ và tài năng của tác giả.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-30 08:20:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968616355</guid>
      </item>
      <item>
         <title>võ nguyễn quỳnh như </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968616695</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><mark>Dàn ý bài thơ " Cảnh ngày hè "</mark></strong><strong><br>Mở bài:<br>-</strong>Giới thiệu tác giả, tác phẩm :<br>+ Nguyễn Trãi là nhà quân sự , chính trị tài ba<br>+Là nhà văn lớn của văn học dân tộc <br>+ Ông để lại nhiều áng văn bất tử : Đại Cáo Bình Ngô, Cảnh Ngày Hè ,...<br>- Nêu luận đề :"Cảnh ngày hè" -&gt; thấy được vẻ đẹp của bức tranh ngày hè <br>+Xuất xứ "cảnh ngày hè" là bài số 43 trong tập "Quốc Âm Thi Tập"<br>+Bài thơ thể thất ngôn bát cú đường luật<br><strong>Thân bài</strong> :<br><mark>* Hoàn cảnh sống của Nguyễn Trãi trong những ngày về ở ẩn:</mark></div><div>- “Rồi”: Là một từ cổ có nghĩa là rảnh rỗi, nhàn hạ</div><div>- “Ngày trường”: Ngày dài, chỉ khoảnh thời gian rảnh rỗi.</div><div>- Hóng mát: Hoạt động an nhàn, tĩnh tại, thư thái<br>-&gt; hoàn cảnh lý tưởng gợi nhiều cảm hứng cho nhà thơ&nbsp;<br>-&gt; Sự thay đổi nhịp thơ từ 4/3 sang 1/2/3</div><div>=&gt; Tâm thế an nhàn, thảnh thơi của tác giả. Nguyễn Trãi một đời bận rộn, tận tâm vì đất nước, đây là những giây phút hiếm hoi của cuộc đời<br><mark>* Bức tranh cảnh ngày hè nổi lên với bức tranh thiên nhiên ngày hè rực rỡ:</mark><br>- Hình ảnh, sự vật được liệt kê:&nbsp; cây hòe, cây lựu, hoa sen.<br>+ Cây hòe có sức sống mãnh liệt giờ tán là xanh che phủ cả khoảng không gian<br>-&gt;Gợi lên sức sống, sinh lực&nbsp;</div><div>+ Sắc đỏ của cây thạch lựu tô đậm thêm cho khung cảnh ngày hè<br>-&gt;Gợi sự sinh sôi, sức sống dồi dào</div><div>+ Hương hoa sen tỏa ngát bay theo làn gió<br>-&gt; Hương thơm thanh quý , ngào ngạt&nbsp;<br>- Màu sắc: đỏ , lục , hồng&nbsp;</div><div>=&gt;Cảnh vật ngày hè tươi tắn, tràn đầy sức sống, tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, yêu thiên nhiên của của Nguyễn Trãi<br><mark>*. Bức tranh cuộc sống con người lao động: </mark><br>- Cuộc sống được cảm nhận bằng thính giác: Âm thanh từ làng chợ cá, âm thanh tiếng ve râm ran gợi ra bùi ngùi trong lòng người. <br>-&nbsp; Dùng nhiều từ Hán Việt như ngư phủ, cầm ve, tịch dương kết hợp nhuần nhuyễn với những từ thuần Việt tạo nên vẻ đẹp vừa mộc mạc, bình dị, vừa trang trọng tao nhã.<br>-Từ láy: <em>đùn đùn, lao xao, dắng dỏi</em>…-&gt; Cảnh ngày hè xôn xao, náo nức, không khí rất nhộn nhịp<br>- Động từ: <em>rợp, đùn, tiễn đưa</em> khiến cho người đọc thấy được cảm giác sức sống trỗi dậy của cảnh vật mùa hè<br>- Thời gian: tịch dương, chiều tà. <br>-&gt; Con người xuất hiện trong bức tranh với tâm thế, với hành động và thể hiện cái đẹp ,tình yêu sự gắn bó với thiên nhiên vạn vật. <br><mark>* Nhà thơ đã cảm nhận cái tinh tế, thú vị của ngày hè qua thị giác và thính giác:</mark><br>- Nhà thơ nhìn những tán lá xanh cây hòe, màu đỏ rực của thạch lựu, tiếng ve kêu ran cả khoảng không gian và hình ảnh người dân làng chài mỗi sớm thức dậy và bóng người kéo lưới buổi chiều ta.</div><div>-&nbsp; Ngày hè cảm nhận qua thính giác khi nhà thơ thấy được hương sen thoảng theo gió</div><div>-&gt; Tâm hồn nhà thơ Nguyễn Trãi được hòa vào thiên nhiên, nói lên được tác giả là người rất yêu đời, yêu cuộc sống.</div><div><mark>*Tình yêu nước thương dân của nhà thơ: </mark><br>- “Dẽ” là từ cổ nghĩa là lẽ, lẽ ra<br>- “Ngu cầm” điển cố ước mơ cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. <br>- Thái độ khiêm tốn: "một tiếng", sự mong mỏi hi vọng vào ấm no của nhân dân. <br>-&gt; Thi nhân thân nhàn mà tâm không nhàn.<br><mark>* Nghệ thuật </mark><br>+ Giọng điệu trữ tình, sâu lắng, bút pháp tả sinh động</div><div>+ Thể thơ sáng tạo thất ngôn xen lục ngôn</div><div>+ Ngôn ngữ thơ phong phú, đa dạng vừa có lớp từ Hán Việt vừa có lớp từ thuần Việt tạo nên vẻ đẹp vừa trang trọng vừa bình dị</div><div>+ Sử dụng các điển tích, điển cố</div><div><strong>Kết bài:</strong></div><div>- Khái quát lại tác phẩm&nbsp;<br>- Nêu cảm nhận của bản thân&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-30 08:20:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968616695</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968617130</link>
         <description><![CDATA[<div>Lê Đức Hoàng<br>Mở Bài<br><br>Giới thiệu tác giả Phạm Ngũ Lão<br>Giới thiệu bài thơ Thuật hoài.<br>Thân Bài<br>Vẻ đẹp sức mạnh qua hai câu thơ đầu:<br>Người tráng sĩ hiện lên oai phong lẫm liệt, múa “giáo” trong không gian rộng lớn của “giang sơn” và thời gian “kháp kỉ thu”.<br>Hình ảnh ẩn dụ phóng đại “hổ khí thôn ngưu” – cho thấy sức mạnh của ba quân thời Trần.<br>Vẻ đẹp lý tưởng và nhân cách qua hai câu thơ cuối:<br>Lý tưởng của kẻ làm trai thời này là phải làm nên công danh sự nghiệp. Qua đó cho thấy khát vọng làm nên những điều lớn lao<br>Câu thơ cuối tập trung miêu tả nhân cách: tác giả tự thấy mình “thẹn” với Vũ Hầu vì thua kém về tài năng và trí tuệ. Đó là cái thẹn để thay đổi, để khẳng định bản thân mình và khát khao được cống hiến.</div><div><br></div><div><br></div><div><br></div><div>Enter</div><div>Bạn đã gửi</div><div><br>Kết Bài<br><br>Khẳng định vẻ đẹp bài thơ và tài năng của tác giả.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-30 08:21:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968617130</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Quốc Thịnh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968617509</link>
         <description><![CDATA[<div>Cuộc sống bao giờ cũng đầy rẫy những khó khăn, thử thách. Nhiều người tự hỏi bản thân sẽ làm gì để vượt qua khó khăn ấy và vươn tới cuộc sống hạnh phúc. Đó là chúng ta hãy sống có ích từng ngày để có một cuộc sống đầy màu sắc. "Sống có ích" không phải là điều dễ dàng nhưng cũng không khó khăn, chủ yếu là từ ý thức của bản thân mình. Sống có ích không chỉ làm đẹp cho cuộc sống, sống hoà hợp với mọi người mà phải có những hành động, những tình cảm tốt đẹp đem lại năng lượng cho cá nhân cũng như cộng đồng. Cuộc sống không phải lúc nào cũng màu hồng mà đôi khi là những giọt nước mắt, những nỗi đau, vết thương khó có thể lành. Nhưng đừng bỏ cuộc! Hãy sống có ích để tìm được giá trị của cuộc sống. Chúng ta hãy sống thật với bản thân, biết cách đối xử với mọi người, giúp đỡ những người đang khó khăn hay gặp hoạn nan, biết lắng nghe và cảm thông cho họ. Chính vì thế, chúng ta hãy làm nên khác biệt, hãy biết sống có ích để cuộc sống này trở nên tốt đẹp hơn.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-30 08:22:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968617509</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Quỳnh Anh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968618789</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1452499007/3c59c142b7d193d9e5262da01fc09055/T__l_ng.docx" />
         <pubDate>2021-12-30 08:24:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968618789</guid>
      </item>
      <item>
         <title>thảo vy</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968619874</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Dàn ý bài Tỏ Lòng<br></strong><br></div><div>I. Mở bài<br><br></div><div>- Giới thiệu tác giả Phạm Ngũ Lão&nbsp;<br><br></div><div>- Giới thiệu bài thơ <em>Tỏ lòng<br></em><br></div><div>&nbsp;II. Thân bài<br><br></div><div>- Giới thiệu đôi nét về tác giả và tác phẩm<br><br></div><div>- Hào khí Đông A qua hình tượng trang nam nhi và sức mạnh quân đội nhà Trần.(2 câu đầu)&nbsp;<br><br></div><div>+ vẻ đẹp của nam nhi yêu nước<br><br></div><div>+vẻ đẹp của quân đội nhà trần<br><br></div><div>-Nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lão<br><br></div><div>-Khái quát nội dung và nghệ thuật được sử dụng trong bài thơ.<br>&nbsp;&nbsp;<br>&nbsp; * liên hệ với trách nhiệm của thế hệ trẻ ngày nay đối với việc xây dựng và bảo vệ đất nước<br><br></div><div>III. Kết bài<br><br></div><div>-Đáng giá vấn đề cần nghị luận<br><br></div><div>- Khái quát nội dung và nghệ thuật của bài thơ<br>&nbsp;&nbsp;<br><br></div><div><br>&nbsp;<br>&nbsp;&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-30 08:26:27 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968619874</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968623981</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1452498593/12a4612d6911d802f5bc3c595fc58ff5/D_n___t__l_ng_Nguy_n_Ho_ng_Duy_10A8.docx" />
         <pubDate>2021-12-30 08:33:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968623981</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Mai Linh                            -Dàn ý cảm nhận bài Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão                                              </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968624204</link>
         <description><![CDATA[<div>Mở bài:<br>- Giới thiệu tác giả và bài thơ: Phạm Ngũ Lão là người văn võ toàn tài, có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên. Ông để lại cho đời hai bài thơ trong đó nổi tiếng hơn cả là bài Tỏ lòng.<br>- Giới thiệu khái quát nội dung và nghệ thuật bài thơ Tỏ lòng: Tỏ lòng là bài thơ Đường luật ngắn gọn, súc tích, khắc họa vẻ đẹp của con người có sức mạnh, có lí tưởng, nhân cách cao cả cùng khí thế hào hùng của thời đại.<br>Thân bài:<br>1.Hoàn cảnh sáng tác<br>- Bài thơ ra đời trong không khí quân và dân nhà Trần đang hừng hực, sục sôi khí thế chiến đấu và chiến thắng quân Mông – Nguyên xâm lược lần thứ hai. Bài thơ mang âm hưởng tự hào, ngợi ca, cổ vũ, khích lệ.<br>2.Hình tượng con người và sức mạnh quân đội nhà Trần<br>a) Hình tượng con người thời Trần<br>&nbsp;- Hành động: hoành sóc – cầm ngang ngọn giáo<br>=&gt;Tư thế hùng dũng, oai nghiêm, hiên ngang sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.<br>- Không gian kì vĩ: giang sơn – non sông<br>&nbsp;=&gt; Không gian rộng lớn, mênh mông, nó không đơn thuần là sông, là núi mà là giang sơn, đất nước, Tổ quốc<br>&nbsp;- Thời gian kì vĩ: kháp kỉ thu – đã mấy thu<br>&nbsp;=&gt; Thời gian dài đằng đẵng, không biết đã bao nhiêu mùa thu, bao nhiêu năm đi qua, thể hiện quá trình đấu tranh bền bỉ, lâu dài.<br>&nbsp;=&gt; Như vậy:<br>+ Hình ảnh người tráng sĩ cho thấy một tư thế hiên ngang, mạnh mẽ, hào hùng, sẵn sàng lập nên những chiến công vang dội<br>&nbsp;+ Hình ảnh, tầm vó những người tráng sĩ ấy sánh với núi sông, đất nước, với tầm vóc hùng vĩ của vũ trụ.<br>+ Người tráng sĩ ấy ra đi bảo vệ Tổ quốc ròng rã mấy năm trời àm chưa từng một giây phút nào cảm thấy mệt mỏi mà trái lại vẫn bừng bừng khí thế hiên ngang, bất khuất, hùng dũng.<br>b) Hình tượng quân đội thời Trần<br>&nbsp;- “Tam quân” (ba quân): tiền quân, trung quân, hậu quân – quân đội của cả đất nước, cả dân tộc cùng nhau đứng lên để chiến đấu.<br>- Sức mạnh của quân đội nhà Trần:<br>+ Hình ảnh quân đội nhà Trần được so sánh với “tì hổ” (hổ báo) qua đó thể hiện sức mạnh hùng dũng, dũng mãnh của đội quân.<br>&nbsp;+ “Khí thôn ngưu”: khí thế hào hùng, mạnh mẽ lấn át cả trời cao, cả không gian vũ trụ bao la, rộng lớn.<br>=&gt; Với các hình ảnh so sánh, phóng đại độc đáo, sự kết hợp giữa hiện thực và lãng mạn, giữa hình ảnh khách quan với cảm nhận chủ quan đã cho thấy sưc mạnh và tầm vóc của quân đội nhà Trần.<br>&nbsp; =&gt; Như vậy, hai câu thơ đầu đã cho thấy hình ảnh người tráng sĩ hùng dũng, oai phong cùng tầm vóc mạnh mẽ và sức mạnh của quân đội nhà Trần. Nghệ thuật so sánh phong đại cùng giọng điệu hào hùng mang lại hiệu quả cao.<br>c. Vẻ đẹp chí làm trai qua tâm tình tác giả<br>- Món nợ công danh<br>- Chí nam nhi: Làm trai phải có ý chí nam nhi, xông pha, gánh vác.<br>- Nợ công danh: Theo quan niệm Nho gia, đây là món nợ mà một kẻ làm trai sinh ra đã phải có trách nhiệm trả. Nó bao gồm hai phương diện lập công và lập danh. Khi hoàn thành hai nhiệm vụ này mới được xem là trả xong món nợ.<br>→ Trân trọng sự ý thức, trách nhiệm về việc hoàn trả món nợ công danh của tác giả.<br>3.Nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lão<br>- “Thẹn” là trạng thái xấu hổ, ngại ngùng khi thấy chưa bằng người khác<br>- “Thuyết Vũ Hầu”: Điển tích Trung Quốc nói về một con người tài năng, mưu chước, hết lòng báo đáp công ơn của chủ tướng, lập được công danh sự nghiệp lớn.<br>- Phạm Ngũ Lão cũng là một trang nam nhi hết lòng vì nước, cả công lao và danh tiếng đều vang xa. Vậy mà ông vẫn thẹn vì chưa báo đáp được hết ơn chiêu mộ của Trần Quốc Tuấn, chưa tận tâm tận lực trả hết món nợ công danh.<br>→ Đây là nỗi thẹn của một nhân cách lớn. Thẹn không làm hạ thấp nhân cách mà trái lại làm cho nhân cách cao thượng hơn<br>→ Thể hiện ý thức muốn cống hiến nhiều hơn nữa cho dân tộc. Đồng thời đánh thức ý thức làm người và chí làm trai cho nam nhi đời Trần.<br>⇒ Trân trọng ngợi ca nhân cách cao đẹp của người anh hùng Phạm Ngũ Lão<br>⇒ Rút ra bài học: Sống phải có ước mơ, hoài bão. Phải quyết tâm và cố gắng hết sức để thực hiện ước mơ ấy dù phải trải qua những khó khăn, thử thách.<br>Kết bài:<br>- Khái quát nội dung và nghệ thuật của bài thơ.<br>- Trình bày những cảm nhận chung về bài thơ: Cảm thức chủ đạo là lòng tự hào và niềm kính yêu với cha ông. Nhận thức và hành động của bản thân trong hiện tại và tương lai.<br><br></div><div><br><br></div><div><br><br></div><div><br><br></div><div><br><br></div><div><br><br></div><div><br><br></div><div><br><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-30 08:34:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968624204</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Võ Nhật nguyên 10A8                                                                               </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968624213</link>
         <description><![CDATA[<div>Phân tích bài thơ Tỏ Lòng&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Mở Bài&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; -Giới thiệu về tác giả&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;-Giới thiệu khái quát nội dung và nghề thuật&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Thân Bài&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;1.Hoàn cảnh sáng tác:chiến thắng quân Mông – Nguyên xâm lược lần thứ hai&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;2. Vẻ đẹp hào hùng của con người thời Trần&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; a. Vẻ đẹp người anh hùng vệ quốc&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; -Tư thế: cầm ngang ngọn giáo&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; -Tay cầm ngang ngọn giáo:thể hiện sự chủ động, tự tin&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;-Tầm vóc:&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;+Không gian:“Giang sơn” – sông nước, non sông, tổ quốc&nbsp; &nbsp; +Thời gian: “kháp kỉ thu”: Con số ước lệ tượng trưng cho thời gian dài, vô tận&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; -So sánh với bản dịch thơ&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;--&gt; Kết luận&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; b. Vẻ đẹp sức mạnh của quân đội nhà Trần.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; -Tiềm lực quân đội: “Tam quân”&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;-Khí thế đội quân:&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; +“Tam quân” được so sánh với “tì hổ”&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; +Làm rõ sức mạnh ấy bằng hình ảnh “khí thôn ngưu” có hai cách hiểu:&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;++Khí thế ba quân hùng mạnh nuốt trôi trâu&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;++Khí thế hào hùng ngút trời làm mờ sao Ngưu&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;--&gt;Khí thế dũng mãnh, hào hùng&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;* Kết luận&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; 3.Vẻ đẹp chí làm trai&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; a. Món nợ công danh&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; +Chí nam nhi: Làm trai phải có ý chí nam nhi&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; +Nợ công danh:Đây là món nợ mà một kẻ làm trai sinh ra đã phải có trách nhiệm trả.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; --&gt;Ý thức, trách nhiệm về việc hoàn trả món nợ công danh của tác giả&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;b. Nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lão.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;+"Thẹn” là trạng thái xấu hổ, ngại ngùng&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;+“Thuyết Vũ Hầu”: Điển tích Trung Quốc nói về một con người tài năng,lập được công danh sự nghiệp lớn.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; +Phạm Ngũ Lão cũng là một trang nam nhi hết lòng vì nước mà ông vẫn thẹn vì chưa báo đáp được hết ơn chưa trả hết món nợ công danh&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;--&gt;Đây là nỗi thẹn của một nhân cách lớn&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;--&gt;Ý thức muốn cống hiến nhiều hơn,&nbsp; ý thức làm người và chí làm trai cho nam nhi đời Trần&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;*Nghệ thuật&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;*Kết luận&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Kết Bài : Khái quát nội dung và nghệ thuật của bài thơ<br>&nbsp;<br><br><br>2 câu cuối<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Nam nhi vị liễu công danh trái<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; ( Công danh nam tử còn vương nợ ) &nbsp;<br>Hai câu thơ trên tác giả nhấn mạnh ý thức và trách nhiệm của chí làm trai về việc lập công danh, thể hiện rõ nỗi lòng của ông và từ đó nói lên vẻ đẹp nhân cách tâm hồn của một vị tướng cao thượng và cao đẹp. Câu thơ trên đang nhắc cho chúng ta về chí làm trai bất cứ đấng nam nhi sinh thời đều phải có trách nhiệm đó là : chí làm trai nợ công danh &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-30 08:34:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968624213</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Long Tứ...Dàn Ý cảm nhận bài thơ &quot;Tỏ Lòng&quot;</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968624568</link>
         <description><![CDATA[<div>I.Mở Bài <br>-Giới thiệu về tác giả Phạm Ngũ Lão<br>-Giới thiệu về bài thơ "Tỏ Long"<br>II.Thân bài<strong><br>a)</strong> Hai câu đầu: hình tượng về con người và quân đội nhà Trần<br>- Câu 1: hình tượng người tráng sĩ</div><ul><li>Người tráng sĩ có tầm vóc hiên ngang, dũng khí</li><li>Không gian rất rộng lớn</li><li>Thời gian thể hiện sự không ổn định</li><li>Hình ảnh người tráng sĩ oai phong, uy nghi và lẫm liệt</li></ul><div>- Câu 2: hình tượng quân đội nhà Trần</div><ul><li>Quân đội nhà Trần hùng mạnh</li><li>Khí thế của quân đội nhà Trần ngút trời</li><li>Ca ngợi và niềm tự hào dân tộc của tác giả</li></ul><div>b) Hai câu cuối: nỗi lòng của tác giả<br>- Câu 3: chí khí anh hùng</div><ul><li>Lý tưởng sống của con trai thời phong kiến</li><li>Có ý thức và trách nhiệm về đất nước, dân tộc</li><li>Lí tưởng sống rất đẹp đẽ</li></ul><div>- Câu 4: cai tâm của người anh hùng</div><ul><li>Có một hoài bão cao cả</li><li>Thể hiện một nhân cách lớn</li><li>Mong có tài cao, chí lớn để mang lại niềm tự hào cho dân tộc<br>III.Kết bài<br>-Khẳng định lại nội dung và nghệ thuật của bài thơ "Tỏ Lòng"</li></ul><div>&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>BÀI LÀM <br></strong>Trong lịch sử văn học của Việt Nam, Phạm Ngũ Lão chỉ để lại vỏn vẹn có hai bài thơ nhưng tên tuổi của ông vẫn luôn được sánh ngang những tác giả như danh tiếng nhất của văn học thời Trần – dòng văn học yêu nước. Tỏ lòng có thể nói là bài thơ để lại dấu ấn sâu đậm nhất trong sự nghiệp thơ của tác giả, khắc họa vẻ đẹp hào hùng, oai phong lẫm liệt của tráng sĩ thời Trần và ẩn sâu mỗi dòng thơ là nỗi lòng về chí làm trai của vị chủ tướng yêu nước.<br>Dù chỉ vỏn vẹn hai mươi tám chữ nhưng tác phẩm "Tỏ lòng" đã thể hiện rõ hình tượng người tráng sĩ đời Trần với tư thế hùng dũng, hiên ngang và tấm lòng tận trung báo quốc. Hình ảnh đẹp đẽ ấy đã được bắt gặp luôn ngay ở hai câu thơ đầu:<br><br>Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu,<br>Tam quân tì hổ khí thôn ngưu.<br><br>(Múa giáo non sông trải mấy thu,<br>Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu)<br><br>Trong phần dịch thơ, từ “hoành sóc” nghĩa là “múa giáo”, ý chỉ tư thế của người anh hùng đang cầm giáo gìn giữ và bảo vệ đất nước. Tuy nhiên, chỉ có từ “hoành sóc” mới có thể biểu lộ một cách rõ ràng nhất về tư thế hiên ngang, lẫm liệt – biểu hiện cho tinh thần sắt đá, anh dũng của vị anh hùng đang tràn đầy khí thế, luôn sẵn sàng xả thân vì dân vì nước. Tác giả không đề chủ ngữ là ai, nhưng người đọc vẫn hiểu những từ ngữ ấy chỉ dành cho anh hùng, cho những người đang tràn đầy khí thế chiến đấu chống lại kẻ thù. Họ không cần biết về không gian hay thời gian, bất kỳ nơi đâu trên “non sông” này đều là đất nước mình, và dù có “trải mấy thu” hay cả nghìn thu thì họ vẫn vậy, vẫn luôn một lòng một dạ chung thủy với nước nhà, luôn sẵn sàng hi sinh bất cứ khi nào để cứu lấy dân tộc mình. Và từ những người như vậy, đã tạo nên một đội quân vô cùng mạnh mẽ:<br><br><br>“Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”<br>(Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu).<br><br>Câu thơ trên có thể hiểu theo hai cách: cách hiểu như lời dịch và một cách khác: cách hiểu như lời dịch và một cách khác là khí thế át sao Ngưu, nghĩa là khí thế át cả sao trời. Có lẽ, không có một từ ngữ nào có thể nói hết về chí khí hùng mạnh của quân đội nhà Trần, đến mức Phạm Ngũ Lão phải lấy cả sao Ngưu để thể hiện sức mạnh hùng dũng ấy.<br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-30 08:34:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968624568</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Mai Đăng Khoa</title>
         <author>khmai2810</author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968625693</link>
         <description><![CDATA[<div>Mở bài cảm nhận về bài thơ Tỏ Lòng :<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Phạm Ngũ Lão là một nhà thơ văn võ song toàn, ông là người có nhiều công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên. Là một võ tướng nhưng ông lại thích đọc sách , ngâm thơ . Thơ của ông thường nói về lòng yêu nước và vẻ đẹp của dân tộc . Một trong những tác phẩm tiêu biểu là Tỏ Lòng . Bài thơ với âm điệu tự hào về hào khí Đông A , về chí làm trai đời Trần ca ngợi lòng yêu nước và tự hào về dân tộc được thể hiện qua các câu thơ : <br><br>Phân tích Hai câu thơ đầu :<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<em>Múa giáo non sông trải mấy thu<br>&nbsp; &nbsp;</em>Câu thơ trên gợi tả mạnh mẽ Hào Khí Đông A thời bấy giờ, miêu tả một vẻ đẹp cầm giáo hiên ngang của con người thời Trần. Ngọn giáo ấy không chỉ là vũ khí chiến đấu của những người anh hùng như Phạm Ngũ Lão mà còn là một thứ thể hiện sức mạnh, bản lĩnh cũng như ý chí bất khuất của mình. Họ đã cùng ngọn giáo trải qua bao nhiêu chiến công lẫy lừng trên con đường đánh giặc bảo vệ đất nước . Với " trải mấy thu " đã thể hiện lên một thời gian lịch sử lâu dài như muốn nói lên tầm quan trọng của ngọn giáo được đo bằng thước do lịch sử hùng vĩ của dân tộc ta . <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Nếu như câu thơ trên miêu tả một vẻ đẹp của những anh hùng cầm giáo thì câu thơ tiếp theo tác giả mang đến cho chúng ta một vẻ đẹp của quân đội thời Trần :<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<em>Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu<br>&nbsp; &nbsp; </em>Một quân đội mang cả sức mạnh về quân dân cũng như là tinh thần , một sức mạnh to lớn có thể vượt qua tất cả những khó khăn trở ngại . Chiến thắng quân Mông - Nguyên là một chứng minh cho sự hùng mạnh đó . Ba đội quân ý chí bất khuất , hùng dũng trên con đường giải cứu đất nước dù nguy hiểm đến mấy cũng không làm vơi đi sức mạnh trong lòng quân ta được. Một câu thơ được Phạm Ngũ Lão miêu tả vô cùng độc đáo , qua đó thể hiện được rõ ràng&nbsp; hào khí Đông A , nói lên một chủ nghĩa yêu nước anh hùng .<br><br><br><br><br><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-30 08:36:32 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968625693</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Hương Giang</title>
         <author>giangtran26022000</author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968626216</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Lập dàn ý cho đề : Cảm nhận của anh/chị về bài thơ Tỏ Lòng của Phạm Ngũ Lão.</strong><br><em><mark>&nbsp;a) Mở bài :</mark></em><br>- Giới thiệu chung về tác giả Phạm Ngũ Lão<br>+ Phạm Ngũ Lão (1255 - 1320) là danh tướng văn võ toàn tài thời nhà Trần đã để lại cho đời hai tác phẩm ''Thuật hoài'' và ''Vãn thượng quốc công Hưng Đạo Đại Vương''<br>- Giới thiệu khái quát về bài thơ Tỏ Lòng<br>+ Bài thơ được viết bằng chữ Hán, không rõ thời gian sáng tác<br>+ Thể hiện niềm tự hào về chí nam nhi và ý chí quyết tâm bảo vệ đất nước của con người thời Trần.<br><em><mark>&nbsp;b) Thân bài :</mark></em><br><strong>1. Hình tượng con người và sức mạnh quân đội nhà Trần</strong><strong><em><sub><br></sub></em></strong><em>- Hình tượng con người </em><em><sub><br></sub></em>+)<strong><em><sub> </sub></em></strong>Hành động : hoành sóc -&gt; cầm ngang ngọn giáo<br>=&gt; Tư thế đẹp, hào hùng, hiên ngang, chủ động<br>+) Không gian : giang sơn -&gt; non sông (rộng lớn)<br>=&gt; Không gian rộng lớn, mênh mông, nó không đơn thuần là sông, là núi mà là giang sơn, đất nước, Tổ quốc.<br>+) Thời gian : kháp kỉ thu -&gt; trải qua mấy thu (dài lâu)<br>=&gt;&nbsp; Thể hiện quá trình đấu tranh bền bỉ, lâu dài.<br><em>- Sức mạnh quân đội nhà Trần <br></em>+) Tam quân : ba đạo quân ( trung quân, tiền quân, hậu quân)<br>-&gt; Chỉ quân sĩ, quân đội nhà Trần <br>+) Tì hổ : chỉ loài mãnh thú chốn rừng sâu dũng mãnh <br>+) Khí thôn ngưu : khí thế hào hùng, mạnh mẽ lấn át cả trời cao, cả không gian vũ trụ bao la, rộng lớn <br>=&gt; Hình ảnh tượng trưng, so sánh, phóng đại sự kết hợp giữa hiện thực và lãng mạn, giữa hình ảnh khách quan với cảm nhận chủ quan đã cho thấy sức mạnh và tầm vóc của quân đội nhà Trần<br><strong>2. Nỗi lòng muốn bày tỏ của tác giả</strong><br><sup>.</sup>) Công danh trái : Nợ công danh<br><em>- Nợ công danh </em><br>+ Thể hiện chí làm trai theo tinh thần Nho Giáo : lập công (để lại cho sự nghiệp ), lập danh (để lại tiếng thơm).<br>-&gt; Lí tưởng sống của thanh niên thời Trần <br>+) Chưa hoàn thành nghĩa vụ đối với đất nước <br>-&gt; Trăn trở, khát vọng, trách nhiệm cao với đời<br><em>- Nỗi trăn trở của tác giả</em><br> +) Thẹn (xấu hổ): Vì chưa có tài mưu lược lớn như Khổng Minh Gia Cát Lượng: một cái thẹn cao cả, khát vọng được phục vụ dân, nước.<br>=&gt; Tâm hồn chân thành, trong sáng, nhân cách cao đẹp -&gt; Tâm trạng của người con trai thời Trần. <br><em><mark>&nbsp;c) Kết bài:<br></mark></em><em>- </em>Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ.</div><div>- Đánh giá, cảm nhận về bài thơ.</div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-30 08:37:29 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968626216</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tuấn Anh</title>
         <author>anhhnttm1702</author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968626880</link>
         <description><![CDATA[<div>Dàn ý cảm nhận của anh/ chị về bài thơ Tỏ Lòng của Phạm Ngũ Lão</div><div>I Mở bài:&nbsp;</div><div>- Giới thiệu tác giả: Phạm Ngũ Lão &nbsp;</div><div>-&nbsp; Giới thiệu tác phẩm</div><div>II Thân bài:</div><div>* câu 1 và 2 thể hiện con người và quân đội nhà Trần:</div><div>- con người thời Trần:&nbsp;</div><div>+ hoành sóc: cầm ngang ngọn giáo =&gt; thể hiện tư thế hào hùng, hiên ngang, chủ động</div><div>+ tư thế được đặt trong khồng gian non sông rộng lớn , thời gian dài lâu ( cáp kỉ thu: qua mấy mùa thu)</div><div>+ so sánh hình ảnh của ngọn giáo với non sông , người cầm giáo với đất trời =&gt; hình ảnh đầy kì vĩ, anh hùng&nbsp;</div><div>- quân đội thời Trần:&nbsp;</div><div>+ tam quân ( ba đội quân: trung – tiền – hậu) =&gt; sức mạnh toàn dân dưới thời nhà Trần ( hình ảnh hổ nuốt trâu)&nbsp;</div><div>=&gt; hào khí đông á, lòng tự hào của nhân dân dưới thười Trần</div><div>* câu 3 và 4 thể hiện vẻ đẹp tâm hồn lí tưởng nhân cách của nhà thơ:</div><div>- công danh trái: nợ công danh =&gt; muốn lập công lập danh để lại sự nghiệp tiếng thơm cho&nbsp; đời.</div><div>- thẹn với đời khi chưa bằng người khác, có dùng thuyết Vũ Hầu (Điển tích Trung Quốc nói về một con người tài năng, mưu chước, hết lòng báo đáp công ơn của chủ tướng, lập được công danh sự nghiệp lớn) =&gt;Thể hiện ý thức muốn cống hiến nhiều hơn nữa cho dân tộc. Đồng thời đánh thức ý thức làm người và chí làm trai cho nam nhi đời Trần.</div><div>=&gt; Trân trọng ngợi ca nhân cách cao đẹp của người anh hùng Phạm Ngũ Lão</div><div>III Kết bài:</div><div>- khái quát nội dung và nghệ thuật của bài thơ</div><div>- rút ra bài học và liên hệ bản thân</div><div>&nbsp;</div><div>&nbsp;</div><div>&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-30 08:38:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968626880</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thủy Nhi</title>
         <author>annielanhine</author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968626897</link>
         <description><![CDATA[<div>Dàn ý bài thơ Tỏ Lòng-Phạm Ngũ Lão<br>I.Mở bài:<br>&nbsp;Giới thiệu về tác giả,tác phẩm<br>II.Thân bài:<br>1.Khái quát sơ lược về bài thơ(hoàn cảnh sáng tác,thể thơ)<br>2.Phân tích bài thơ:<br>-Cảm nhận,phân tích câu thơ đầu tiên:Tư thế hiên ngang,tầm vóc kì vĩ của ngời tráng sĩ-Vẻ đẹp của thời đại nhà Trần<br>+Hình ảnh cầm ngang ngọn giáo được đặt trong không gian rộng lớn kết hợp với thời gian trải dài đã tái hiện thành công hình ảnh người anh hùng trấn giữ đất nước trong tư thế hiên ngang,tô đậm tầm vóc,sức mạnh đầy nội lực của một người anh hùng thời đại nhà Trần<br>-Cảm nhận,phân tích câu thơ thứ 2:sức mạnh của dân tộc thông qua hình tượng "tam quân":<br>+"Tam quân":quân đội nhà Trần,là nhân dân,là đất nước=&gt;đông đảo,lớn lao<br>+Biện pháp so sánh+phóng đại:"Tì hổ khí thôn ngưu"=&gt;tô đậm sức mạnh và khí thế của quân đội thời Trần=&gt;thêr hiện niềm cảm phục lớn lao của tác giả đối với sức mạnh và khí thể của quân đội và nhân dân ta<br>-Cảm nhận,phân tích hai câu thơ 3,4:vẻ đẹp nhân cách,khát vọng của người anh hùng thời đại nhà Trần<br>+Ở thời trung đại,làm trai phải lập công và lập danh=&gt;chưa lập được công danh=&gt;còn mang nợ công danh.<br>+Phạm Ngũ lão cảm thấy mình còn mang nợ công danh<br>+Dùng điển tích về Vũ Hầu Gia Cát Lượng để nói đến vấn đề chưa trả xong nợ công danh<br>=&gt;Thể hiện sự khiêm nhường,tích cực học hỏi<br>=&gt;Khát vọng muốn cống hiến nhiều hơn=&gt;Thể hiện nhân cách,khát vọng của Phạm Ngũ Lão và nam nhi thời Trần<br>3.Đánh giá:<br>&nbsp; Nhận xét nghệ thuật,nội dung của bài thơ<br>III.Kết bài:<br>&nbsp; &nbsp;Nhận xét về Phạm Ngũ Lão và ý nghĩa bài thơ mang lại từ đó rút ra bài học<br><br>Mở bài:Trong suốt bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước,con người Việt Nam luôn thể hiện những vẻ đẹp đáng quý.Vẻ đẹp ấy được kế thừa ,kết tinh,phát triển theo chiều dài lịch sử,làm nên tính cách cũng như tâm hồn dân tộc.Văn học đã phản ánh được những nét đẹp đó.Bài thơ "Tỏ lòng" của Phạm Ngũ Lão đã khắc họa được vẻ đẹp của một tráng sĩ và khí phách,lí tưởng cao đẹp,qua đó làm hiện lên vẻ đẹp của thời đại nhà Trần.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-30 08:38:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968626897</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968628664</link>
         <description><![CDATA[<div>Nguyễn Quỳnh Như <br><strong>I. Mở bài<br></strong><br></div><div>- Giới thiệu về tác giả Phạm Ngũ Lão, bài thơ Tỏ lòng.<br><br></div><div>- Cảm nhận chung về bài thơ: đã khắc họa được vẻ đẹp của con người có sức mạnh cũng như lý tưởng, nhân cách cao cả cùng khí thế hào hùng của thời đại.<br><br></div><div><strong>II. Thân bài<br></strong><br></div><div><strong>1. Vẻ đẹp hào hùng của con người thời Trần<br></strong><br></div><div>a. Vẻ đẹp người anh hùng trong cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên<br><br></div><div>- Tư thế “hoành sóc”: cầm ngang ngọn giáo<br><br></div><ul><li>Ngọn giáo: Là vũ khí chiến đấu của quân đội thời trước</li><li>Tay cầm ngang ngọn giáo: thể hiện sự chủ động, tự tin</li><li>So sánh mở rộng với bản dịch thơ của Trần Trọng Kim: là “múa giáo”: mang tính hình ảnh, hoa mĩ, phù hợp với vần nhịp nhưng chỉ thể hiện được hành động phô trương, biểu diễn bên ngoài, không nói lên được được sức mạnh nội lực bên trong.</li></ul><div>=&gt; Tư thế chủ động, tự tin cũng như đầy kiên cường, hiên ngang, sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng.<br><br></div><div>- Tầm vóc của người anh hùng thể hiện qua không gian, thời gian:<br><br></div><div><br></div><ul><li>Không gian: “Giang sơn” - đất nước, rộng lớn. Nam nhi thuở trước thường nói chí tỏ lòng qua không gian vũ trụ rộng lớn.</li><li>Thời gian: “kháp kỉ thu”: Con số ước lệ tượng trưng cho thời gian dài, vô tận.</li></ul><div>=&gt; Khẳng định tầm vóc lớn lao, kì vĩ, sánh ngang tầm vũ trụ, lấn át cả không gian và thời gian của người anh hùng nhà Trần. Họ như những dũng tướng uy phong, lẫm liệt.<br><br></div><div>b. Vẻ đẹp của quân đội nhà Trần.<br><br></div><div>- Tiềm lực quân đội: “Tam quân” - ba quân tiền quân, trung quân, hậu quân: Ý chỉ quân đội nhà Trần, tiềm lực quân sự của cả dân tộc.<br><br></div><div>=&gt; Nhấn mạnh sự mạnh mẽ, vững vàng của quân đội nhà Trần.<br><br></div><div>- Khí thế đội quân:<br><br></div><ul><li>“Tam quân” so sánh với “tì hổ”: Hổ báo là chúa tể rừng xanh, so sánh nhằm nhấn mạnh tiềm lực sức mạnh dũng mãnh của quân đội nhà Trần là nỗi khiếp đảm của quân thù.</li><li>Tác giả làm rõ sức mạnh ấy bằng hình ảnh “khí thôn ngưu” có hai cách hiểu: Khí thế ba quân hùng mạnh nuốt trôi trâu hoặc khí thế hào hùng ngút trời làm mờ sao Ngưu</li></ul><div>=&gt; Cho thấy khí thế dũng mãnh, hào dùng ngút trời, tinh thần “sát thát” của quân đội nhà Trần được cụ thể hóa bằng những hình ảnh ước lệ.<br><br></div><div>=&gt; Qua hai câu thơ khiến ta thêm yêu và hiểu hơn về sức mạnh và tinh thần chiến đấu, ý chí chiến bại và phẩm chất anh hùng của quân đội nhà Trần. Từ đó có những suy nghĩ và hành động đúng đắn xứng đáng với cha ông.<br><strong>2. Vẻ đẹp chí làm trai qua tâm tư của nhà thơ<br></strong><br></div><div>a. Món nợ công danh của đáng nam nhi<br><br></div><div>- Chí nam nhi: Làm trai phải có ý chí nam nhi, xông pha, gánh vác.<br><br></div><div>- Nợ công danh: Xuất phát từ tư tưởng Nho giáo, đây là món nợ mà một kẻ làm trai sinh ra đã phải có trách nhiệm trả. Có hai hình thức là lập công và lập danh.<br><br></div><div>=&gt; Trân trọng sự ý thức, trách nhiệm về việc hoàn trả món nợ công danh của tác giả.<br><br></div><div>b. Nỗi lòng của Phạm Ngũ Lão<br><br></div><div>- “Thẹn”: xấu hổ, ngại ngùng khi không bằng người khác.<br><br></div><div>- “Thuyết Vũ Hầu”: Điển tích Trung Quốc nói về Vũ Hầu - một con người tài năng, mưu lược và hết lòng báo đáp công ơn của chủ tướng, lập được công danh sự nghiệp lớn.<br><br></div><div>- Phạm Ngũ Lão cũng là một trang nam nhi hết lòng vì nước, cả công lao và danh tiếng đều vang xa. Vậy mà ông vẫn thẹn vì chưa báo đáp được hết ơn chiêu mộ của Trần Quốc Tuấn, chưa tận tâm tận lực trả hết món nợ công danh.<br><br></div><div>=&gt; Tâm trạng hổ thẹn của nhà thơ khi chưa thể trả món nợ công danh với đời. Đó là tấm lòng thiết tha muốn cống hiến cho đất nước.<br><br></div><div><strong>III. Kết bài<br></strong>Khái quát nội dung và nghệ thuật của bài thơ. nêu cảm nhận của em về bài thơ.</div><div><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<strong><em>Bài Làm</em></strong><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Trong dòng chảy của văn học trung đại Việt Nam, chủ nghĩa yêu nước là một nội dung lớn, bao trùm và xuyên suốt văn học giai đoạn này với nhiều tác giả, tác phẩm nổi tiếng. Nhưng có lẽ tiêu biểu hơn cả là bài thơ “Tỏ Lòng” (Thuật hoài) của tác giả Phạm Ngũ Lão. Ra đời sau chiến thắng Mông - Nguyên của quân đội nhà Trần, bài thơ đã thể hiện vẻ đẹp của hào khí Đông A, sức mạnh của con người và quân đội thời Trần, thể hiện được tinh thần đoàn kết, ý chí quyết tâm chống giặc của dân tộc. Từ âm vang của thời đại, của Hào Khí Đông A sống dậy, Phạm Ngũ Lão đã sáng tác nên bài thơ Tỏ lòng đầy đặc sắc và ý nghĩa.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Đọc bài thơ, người đọc có thể nhận thấy hai câu thơ mở đầu bài thơ đã khắc họa một cách rõ nét, chân thực hình tượng của con người và quân đội thời Trần. Trước hết đó chính là hình tượng con người thời Trần được khắc họa qua câu thơ đầu tiên:</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp; <em>Múa ngang ngọn giáo trải mấy thu</em></div><div><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;(Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu)</em></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp;Mở đầu cho bài thơ, tác giả đã dựng lên hình ảnh người anh hùng chiến trận được khắc họa trên khung nền kì vĩ, rộng lớn của non sông đất nước đằng đẵng suốt một khoảng thời gian dài “kháp kỉ thu”. Nhờ bối cảnh không gian và thời gian kì vĩ lớn lao ấy tác giả đã vẽ lên hình ảnh của con người thời Trần càng trở nên nổi bật hơn, điều đó đã được thể hiện rõ qua hành động “hoành sóc”. Nếu “hoành sóc” trong bản phiên âm thể hiện rõ khí phách hùng dũng, oai phong, hiên ngang lẫm liệt của người anh hùng cầm ngang ngọn giáo, luôn trong tư thế bảo vệ đất nước, áp đảo quân thù thì từ “múa giáo” lại tạo cảm giác thiên về phô trương, biểu diễn kĩ thuật nhiều hơn. Tiếp đến tác giả đã vẽ lên hình ảnh con người tay cầm ngang ngọn giáo mà bảo vệ, trấn giữ quê hương, đất nước. “Cầm ngang ngọn giáo” là một hành động rất mạnh mẽ, nó gợi lên tư thế hiên ngang, hùng dũng, sẵn sàng chiến đấu của người chiến sĩ. Như vậy, chỉ với một hình ảnh thơ, tác giả Phạm Ngũ Lão đã chạm nổi trước mắt người đọc một bức tượng đài sừng sững đầy hiên ngang về người anh hùng đang thực hiện sứ mệnh bảo vệ sự bình yên của đất nước.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Nếu câu thơ đầu toát lên thần thái, tư thế của người anh hùng thì ở câu thơ tiếp theo, tác giả đã tái hiện thật sống động hình tượng quân đội nhà Trần tràn đầy sức mạnh và khí thế:</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <em>Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu</em></div><div><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;(Tam quân tì hổ khí thôn ngưu)</em></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Theo quan niệm truyền thống, “Tam quân” chính là ba quân trong quân đội nhà Trần xây dựng, đó là tiền quân, trung quân và hậu quân. Những người lính đời Trần thích lên cánh tay hai chữ “sát Thát”, những người đàn ông dân quê lam lũ thích ở ngực, ở bụng tám chữ “Nghĩa dĩ quyên khu, hình vu báo nước” (Vì nghĩa quên thân, báo đền ơn nước) và cả sáu chữ vàng được thêu trên lá cờ của Trần Quốc Toản “Phá cường địch, báo hoàng ân”. Tất cả những con người ấy tập hợp lại thành “Tam quân tì hổ” sẵn sàng lăn xả vào bọn giặc dữ một khi chúng tràn đến. Ở đây, tác giả đã sử dụng nghệ thuật so sánh quen thuộc trong thi pháp thơ ca trung đại đó là so sánh sức mạnh người anh hùng và quân đội tinh nhuệ với sức mạnh của những loài mãnh thú. Bởi lẽ hổ báo vốn là chúa sơn lâm nên khi so sánh với quân đội nhà Trần đã gợi ra được khí thế sục sôi, kiên cường, khiến cho người đọc có ấn tượng mạnh mẽ với quân đội “sát thát” của nhà Trần. Khí thế ấy còn được khắc họa qua hình ảnh giàu sức gợi – “khí thôn ngưu”. Cụm từ này có thể hiểu là khí thế của ba quân sức mạnh giống hổ báo. Giống hổ báo tuy còn nhỏ, lưng chưa có vằn, nhưng đã có sức nuốt trâu, lột tả được sức mạnh vật chất, sự dũng mãnh của quân đội nhà Trần. Đỗ Phủ cũng đã từng có câu: “Tiểu nhi ngũ tuế khí thôn ngưu” tức trẻ con mới 5 tuổi mà đã có khí thế hùng dũng có thể nuốt được trâu. Bên cạnh đó, “khí thôn ngưu” cũng có thể hiểu theo nghĩa tráng chí làm lu mờ sao Ngưu, nuốt cả sao trên bầu trời. Với cách nói ẩn dụ ước lệ kết hợp với phép phóng đại đã tạo cho người đọc một ấn tượng mạnh mẽ về khí thế dũng mãnh, kiên cường. Khí thế hiên ngang của quân đội ta xông</div><div>pha ra trận phi thường đến mức có thể "nuốt trôi trâu". Ẩn sau cách nói cường điệu hóa, người đọc cảm nhận được lòng tự tôn, niềm tự hào dân tộc của nhà thơ khi đưa tầm vóc của quân dân nhà Trần sánh ngang với vũ trụ bao la. Đó còn là tình yêu tổ quốc, dân tộc với khát vọng vươn lên để gìn giữ, bảo vệ độc lập, chủ quyền của dân tộc. Vẻ đẹp người tráng sĩ hiên ngang, hùng sảng là kết tinh của vẻ đẹp dân tộc, đây không chỉ là của một vị anh hùng cụ thể nào mà là vẻ đẹp muôn thuở của cả một dân tộc anh hùng. Thêm vào đó, câu thơ với việc sử dụng hàng loạt các hình ảnh so sánh đã cho thấy khí thế dũng mãnh, hào hùng của quân đội nhà Trần. Đó cũng chính là sức mạnh, là khí thế của Hào Khí Đông A được cả dân tộc tự hào.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Như vậy, hai câu thơ mở đầu bài thơ, với hình ảnh so sánh, phóng đại và giọng điệu hào hùng đã khắc họa một cách rõ nét tư thế hiên ngang, bất khuất của các tráng sĩ thời Trần cùng sức mạnh, tầm vóc mạnh mẽ của quân đội nhà Trần. Nếu hai câu thơ mở đầu bài thơ đã thể hiện hình tượng con người và quân đội thời Trần thì trong hai câu thơ còn lại tác giả đã tập trung làm nổi bật nỗi lòng của chính mình.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; <em>Công danh nam tử còn vương nợ<br>&nbsp; &nbsp;  &nbsp;Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; (Nam nhi vị liễu công danh trái<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp;Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu.)</em></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; Theo quan niệm của Nho giáo, công danh chính là lập công, ghi danh sử sách để tiếng thơm còn vương lại đến muôn đời sau, đây cũng chính là một món nợ lớn đối với mỗi trang nam nhi. “Công danh” dường như đã trở thành lí tưởng đối với nam nhi dưới thời đại phong kiến. Là một người văn võ song toàn, từng ghi được nhiều chiến công, nhưng với ông, mình vẫn còn mắc nợ - món nợ “công danh”. Hai chữ “vương nợ” trong bản dịch thơ như khắc sâu thêm nỗi niềm da diết trong lòng tác giả, ông vẫn luôn tự ý thức một cách sâu sắc về trách nhiệm của mình với quê hương, với đất nước. Không dừng lại ở đó, hai câu thơ còn cho chúng ta thấy được vẻ đẹp nhân cách, tâm hồn của Phạm Ngũ Lão. Vẻ đẹp ấy được thể hiện qua nỗi “thẹn” của ông với Vũ Hầu. Như chúng ta đã biết, Vũ Hầu tức là Gia Cát Lượng, một nhân vật lịch sử lỗi lạc và là một con người tài năng, một bề tôi trung thành, đã từng nhiều lần giúp đỡ Lưu Bị khôi phục nhà Hán. Nhắc đến tích chuyện về Vũ Hầu, Phạm Ngũ Lão cảm thấy “thẹn”, thấy xấu hổ, thua kém. Nỗi “thẹn” ấy của Phạm Ngũ Lão xét đến cùng là biểu hiện của một nhân cách cao đẹp và khiêm tốn, là lời thề suốt đời tập trung với nước với dân của Phạm Ngũ Lão: Dù cho đã cống hiến hết tài năng và sức lực của mình vì đất nước, vì nhân dân nhưng Phạm Ngũ Lão vẫn cảm thấy chưa đủ, vẫn khao khát quyết tâm nổ lực không ngừng để được cống hiến nhiều hơn để trở thành người trí dũng song toàn,…</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Như vậy, hai câu thơ khép lại bài thơ với âm hưởng trầm lắng, đã cho người đọc thấy được vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách cao cả, vẻ đẹp của khát vọng lập công, khát vọng hi sinh cho đất nước của Phạm Ngũ Lão cùng quan điểm tiến bộ về chí làm trai của ông.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Phạm Ngũ Lão đã sử dụng thể thơ ngắn gọn(thất ngôn tứ tuyệt), ngôn ngữ cô đọng hàm súc( lời ít ý nhiều) hình ảnh thơ giàu sức gợi, giàu giá trị tạo hình, biểu cảm, sử dụng phép tu từ so sánh, phóng đại,… bài thơ làm sáng ngời vẻ đẹp của con người thời Trần với sức mạnh phi thường, luôn nung nấu khát vọng cống hiến hết mình cho đất nước. Bài thơ tiêu biểu cho cảm hứng yêu nước của thời đại nhà Trần.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Tóm lại, bài thơ “Tỏ Lòng” ngắn gọn nhưng mang đậm dấu ấn lịch sử( dấu ấn về âm hưởng của Hào khí Đông A),bài thơ là vẻ đẹp của thời đại với khí thế hiên ngang, dũng mãnh của con người và quân đội thời Trần. Đồng thời, qua đó cũng giúp người đọc thấy được vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách của nhà thơ Phạm Ngũ Lão. Bài thơ cũng giúp cho các thế hệ trẻ ngày nay nói chung và bản thân của em nói riêng: không chỉ có trách nhiệm bảo vệ mà còn phải xây dựng và phát triển đất nước đi theo hướng Công Nghiệp Hóa-Hiện&nbsp; Đại Hóa. Cần xác định được mục đích học tập, đúng đắn, rèn luyện tu dưỡng đạo đức có đủ đức, đủ tài cống hiến cho đất nước. Cần loại bỏ lối sống tầm thường, ích kỉ, lối sống chỉ biết hưởng thụ. Phải không ngừng học hỏi bạn bè quốc tế để đưa đất nước ta hội nhập với thế giới. Phê phán những bạn trẻ chưa xác định được mục đích sống, chưa xác định được trách nhiệm của bản thân đối với gia đình, xã hội và đất nước nói chung.<br><br></div><div>&nbsp;<br><br></div><div><br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-30 08:41:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968628664</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Phan Nguyên Ánh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968629498</link>
         <description><![CDATA[<div>Mở bài<br>Giới thiệu bài thơ "Tỏ lòng" của tác giả Phạm Ngũ Lão.<br>Thân bài<br>a. Bài thơ đã khắc họa tư thế hiên ngang và tầm vóc kì vĩ của người anh hùng Phạm Ngũ Lão và vẻ đẹp của thời đại nhà Trần<br>- "Hoành sóc" đã tái hiện thành công hình ảnh người anh hùng trấn giữ đất nước trong tư thế hiên ngang.<br>- "Ba quân hùng mạnh nuốt trôi trâu": Tái hiện hình ảnh cụ thể của quân đội nhà Trần, đồng thời khái quát sức mạnh của dân tộc.<br>b. Bài thơ còn vẽ nên bức chân dung về ý chí của người anh hùng<br>- "Công danh": Mong muốn để lại sự nghiệp và để lại tiếng thơm.<br>- Nỗi "thẹn": Khi chưa có tài thao lược lớn như Gia Cát Lượng.<br>Kết bài<br>Đánh giá giá trị của tác phẩm.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-30 08:42:32 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968629498</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Mai Anh Thư</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968629880</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;        Có người đã từng nói rằng "Đừng cố gắng trở thành người nổi tiếng mà trước hết hãy là người có ích". Ý kiến ấy đã khẳng định được giá trị đích thực của mỗi con người thông qua sự đóng góp của họ. Đó là điều thiết yếu trong cuộc sống hiện nay. Sống có ích là một lối sống lành mạnh, lạc quan, sống làm sao khiến cho bản thân có giá trị cho chính mình cũng như mang đến lợi ích cho xã hội. Sống có ích rất cần thiệt và quan trọng trong xã hội hiện nay. Người có ích là người đem lại những lợi ích, những giá trị tốt đẹp cho xã hội bằng những việc cụ thể của mình. Họ luôn biết làm đẹp cho cuộc sống của riêng mình và mang lại những điều tốt đẹp cho mọi người xung quanh. Bởi vậy, những người sống có ích luôn được người khác tôn trọng và đánh giá cao. Để trở thành một người sống có ích không khó để thực hiện. Bằng những việc nhỏ nhặt trong cuộc sống: Giúp đỡ ông bà, cha mẹ, anh chị em, hàng xóm láng giềng trong lúc hoạn nạn khó khăn "tối lửa tắt đèn có nhau" cũng đủ để ta trở thành một người sống có ích. Nick Vujicic cũng là một người như vậy, tuy là một người khuyết tật cả hai tay và hai chân nhưng ông vẫn luôn có một thái độ lạc quan với cuộc sống để truyền cảm hứng đến nhiều người khuyết tật khác, giúp họ sống tích cực hơn. Tuy nhiên, trong cuộc sống vẫn còn rất nhiều thanh thiếu niên sống một cách buông thả, phó mặc với cuộc sống hiện tại, họ không có chí tiến thủ. Chính vì vậy càng làm bản thân họ thụt lùi về sau. Nhìn ra cuộc sống và nhìn lại bản thân, tôi cảm thấy mình thật may mắn khi đã làm được những việc có ích cho xã hội. Vậy nên là học sinh, chúng ta cần phải cố gắng quyết tâm học tập. Có như vậy thì bạn mới nhận ra được bản thân mình là một có ích trong cuộc sống.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-30 08:43:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968629880</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hồng Hạnh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968630120</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em>Dàn ý: Cảm nhận của anh/chị về bài thơ “Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão.&nbsp; &nbsp;<br></em></strong><br></div><div><strong><em>I.Mở bài:&nbsp;<br></em></strong><br></div><div>-Dẫn dắt, giới thiệu đôi nét về Phạm Ngũ Lão.<br><br></div><div>-Khái quát sơ lược về tác phẩm.<br><br></div><div><strong><em>II.Thân bài:&nbsp;<br></em></strong><br></div><div>1.Hoàn cảnh sáng tác:&nbsp;<br><br></div><div>-Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh đất nước vừa giành được chiến thắng chống quân Mông-Nguyên lần thứ 2 xâm lược của vua tôi nhà Trần. Bài thơ thể hiện rõ âm hưởng, khí thế hào hùng của thời đại và thể hiện tư tưởng của nhà thơ.<br><br></div><div>2. Hình tượng của con người và sức mạnh quân đội nhà Trần:<br><br></div><div>a.Hình tượng con người thời Trần: (2 câu thơ đầu)&nbsp;<br><br></div><div>. - Tư thế: “hoành sóc” – “cầm ngang ngọn giáo”<br><br></div><div>+ Ngọn giáo: Là vũ khí chiến đấu của quân đội thời trước<br><br></div><div>+ Tay cầm ngang ngọn giáo: thể hiện sự chủ động, tự tin<br><br></div><div>+ Bản dịch thơ là “múa giáo”: cách dịch mang tính hình ảnh, hoa mĩ, phù hợp với vần nhịp nhưng chỉ thể hiện được hành động phô trương, biểu diễn bên ngoài, không nói lên được được sức mạnh nội lực bên trong. Bản dịch nghĩa không thoát được ý nghĩa của câu thơ.<br><br></div><div>→ Tư thế chủ động, tự tin, vững trãi đầy kiên cường, hiên ngang, hào hùng, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc.<br><br></div><div>-Không gian:&nbsp; “giang sơn” –“non sông”<br><br></div><div>-&gt;Không gian rộng lớn, mênh mông, nó không chỉ đơn thuần là sông, núi mà thay vào đó là giang sơn, đất nước.<br><br></div><div>-Thời gian kì vĩ:&nbsp; ‘kháp kỉ thu”- “ trải mấy thu”<br><br></div><div>-&gt;Thời gian dài đăng đẳng, không biết đã bao nhiêu mùa thu, bao nhiêu năm đi qua, thể hiện quá trình đấu tranh bền bỉ, lâu dài.<br><br></div><div>=&gt; Như vậy, qua hai câu thơ đầu, hình ảnh người tráng sĩ cho thấy một tư thế hiên ngang, mạnh mẽ, hào hùng, sẵn sàng lập nên những chiến công vang dội. Hình ảnh, tầm vóc của những người tráng sĩ ấy sánh ngang với tầm vũ trụ, lấn át của không gian và thời gian&nbsp; của con người thời Trần.<br><br></div><div>b.Hình tượng quân đội thời Trần: (2 câu tiếp)<br><br></div><div>- Tiềm lực quân đội: “Tam quân” – ba quân tiền quân, trung quân, hậu quân à Ý chỉ quân đội nhà Trần, có tiềm lực về quân sự mạnh mẽ, vững vàng.&nbsp;</div><div>-Sức mạnh của quân đội nhà Trần:</div><div>+Hình ảnh quân đội nhà Trần được so sánh với “tì hổ” thể hiện sức mạnh hùng dũng, dũng mãnh của quân đội nhà Trần.</div><div>+Hình ảnh “khí thôn ngưu” có hai cách hiểu :<br><br></div><div>Cách hiểu thứ 1: Khí thế ba quân hùng mạnh nuốt trôi trâu<br><br></div><div>Cách hiểu thứ 2: Khí thế hào hùng ngút trời làm mờ sao Ngưu<br><br></div><div>→ Khí thế dũng mãnh, hào hùng ngút trời, tinh thần “sát thát” của quân đội nhà Trần được cụ thể hóa bằng những hình ảnh ước lệ.<br><br></div><div>=&gt;Như vậy, hai câu thơ đầu đã cho thấy hình ảnh của quân đội hùng dũng, oai phong cùng với tầm vóc mạnh mẽ và sức mạnh của quân đội nhà Trần. Với các hình ảnh so sánh, phóng đại độc đáo đã lột tả được sức mạnh to lớn của quân đội nhà Trần cũng như khí thế sục sôi, hào hùng.<br><br></div><div>c.Nỗi lòng của người anh hùng với chí lớn cao cả.</div><div>&nbsp;</div><div><em>a. Món nợ công danh</em></div><div>- Chí nam nhi: Làm trai phải có ý chí nam nhi, xông pha, gánh vác.</div><div>- Nợ công danh: Theo quan niệm Nho gia, đây là món nợ lướn mà một đấng nam nhi khi sinh ra phải mang trong mình. “Lập công” (để lại chến công, sự nghiệp), “lập danh” (để lại tiếng thơm cho hậu thế).</div><div>→ Trân trọng sự ý thức, trách nhiệm về việc hoàn trả món nợ công danh của tác giả.</div><div><em>&nbsp;</em></div><div><em>b. Nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lão.</em></div><div>- “Thẹn” là trạng thái xấu hổ, ngại ngùng khi thấy chưa bằng người khác</div><div>- “Thuyết Vũ Hầu”:&nbsp; sửu dụng điển tích về Khổng Minh - một con người tài năng,&nbsp; hết lòng báo đáp công ơn của chủ tướng, lập được công danh sự nghiệp lớn.</div><div>- Phạm Ngũ Lão cũng là một trang nam nhi hết lòng vì nước, cả công lao và danh tiếng đều vang xa. Vậy mà ông vẫn thẹn vì chưa báo đáp được hết ơn chiêu mộ của Trần Quốc Tuấn, chưa tận tâm tận lực trả hết món nợ công danh. → Đây là nỗi thẹn của một nhân cách lớn.&nbsp;</div><div>⇒ Ngợi ca nhân cách cao đẹp của người anh hùng Phạm Ngũ Lão.</div><div>&nbsp;</div><div><strong>III. Kết bài:&nbsp;</strong></div><div>-Khái quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật.</div><div>-Liên hệ đối với thế hệ trẻ ngày nay: Sống phải có ước mơ, hoài bão, biết vượt qua khó khăn, thử thách để biến ước mơ thành hiện thực, có ý thức trách nhiệm với cá nhân và cả cộng động.</div><div>&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<em><mark>Mở bài:</mark></em><br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Từ ngàn xưa, nhân dân ta đã có truyền thống yêu nước nồng nàn, luôn sẵn sàng đứng lên bảo vệ đất nước mỗi khi đất nước cần. Lòng yêu nước được thể hiện qua nhiều lĩnh vực nhưng có lẽ nổi bật nhất vẫn là ở lĩnh vực văn học. Và Phạm Ngũ Lão là một trong những con người tài giỏi, có lòng yêu nước nồng nàn. Ông trước là môn khách, sau là con rể của Trần Hưng Đạo. Ông đã lập nhiều chiến công trong cuộc kháng chiến chống quân Mông-Nguyên,là người văn võ song toàn đã để lại một số bài thơ lắng đọng trong lòng người đọc, trong đó có bài thơ “Thuật Hoài”. Bài thơ thể hiện những tâm tư, nỗi niềm của vị tướng tài, đồng thời tái hiện chân thực Hào Khí Đông A sôi sục, hào hùng của thời đại nhà Trần.<br><br></div><div><br><br></div><div>&nbsp;</div><div>&nbsp;</div><div>&nbsp;</div><div>&nbsp;<br><br></div><div>&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-30 08:43:33 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968630120</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lê Thị Ngọc Hân</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968630374</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Dàn ý:</strong> Cảm nhận của anh/ chị về bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão.<br> <strong>A. Mở bài:</strong> <br>&nbsp; - Giới thiệu tác giả Phạm Ngũ Lão.<br>&nbsp; - Giới thiệu bài thơ "Tỏ lòng": hoàn cảnh<br>sáng tác, nội dung bao trùm và dẫn dắt ấn tượng ban đầu về bài thơ.<br> <strong>B. Thân bài:</strong><br> <strong>* Luận điểm 1:</strong> Hình tượng con người và quân đội đời Trần.<br>&nbsp; - Hình ảnh người tráng sĩ: xuất hiện trong không gian<br>và thời gian:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Múa giáo non sông trải mấy thu<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;+ Không gian: "non sông" rộng lớn.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;+ Thời gian: "trải mấy thu"&nbsp; ("kháp kỉ thu") thời gian lâu dài, con người vươn tới sự xả thân vô tư, ý thức sâu sắc về nghĩa vụ đối với đất nước.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;+ Con người với tư thế: "múa giáo"<br>(nguyên tác (hoành sóc) -&gt; cầm ngang ngọn giáo -&gt; Người tráng sĩ có thư<br>thế hiên ngang, hùng dũng, chủ động, mang tầm vóc vũ trụ. Con người nổi bật giữa bối cảnh không gian, thời gian kì vĩ, tạo nên tầm vóc của con người vũ trụ,<br>hình ảnh đẹp như trong thần thoại.<br>&nbsp; &nbsp; -&gt; Hình ảnh người tráng sĩ đẹp về lí tưởng, tư thế và ý thức bảo vệ đất nước.<br> <strong>* Luận điểm 2:</strong><br>&nbsp; - Hình ảnh quân đội thời Trần:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu.&nbsp; &nbsp;<br>&nbsp; + "Ba quân": gợi lực lượng hùng hậu của<br>quân đội thời Trần với: Tiền quân, Trung quân, Hậu quân.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;+ "khí mạnh nuốt trôi trâu": nhấn mạnh khí phách, khí thế dũng mãnh, hừng hực, sôi sục<br>của đoàn quân.<br>&nbsp; &nbsp;-&gt; Nghệ thuật so sánh, phóng đại hình ảnh mang đậm chất sử thi hoành tráng, mang tính khái quát, nhà thơ vừa cụ thể hóa sức mạnh vật chất của quân đội nhà Trần, vừa hướng tới khái quát sức mạnh tinh thần của dân tộc, gây ấn tượng mạnh về một đội quân hùng hậu, dũng mãnh, khí thế hào hùng, chủ động khiến quân giặc phải khiếp sợ. Qua đây thể hiện lòng tự hào cao độ của tác giả trước vẻ đẹp kì vĩ, tư thế và khí thế hào hùng, sức mạnh phi thường của con người và thời đại nhà Trần.<br> *Hình ảnh người tráng sĩ lồng trong hình ảnh dân tộc cả hai đều kì vĩ lớn lao, hừng hực hào khí Đông A.<br> *Sơ kết 2 câu thơ đầu: Hao câu thơ thể hiện rõ vẻ đẹp của con người và quân đội thời Trần. Qua đây bộc lộ niềm tự hào, kiêu hãnh về con người và thời đại mình của Phạm Ngũ Lão. Thời đại nhà Trần tập hợp được những con người tài năng, đức độ như vậy nên đã tồn tại đến 175 năm (từ 1225-1400) với nhiều chiến công hiển hách như Chương Dương, Hàm Tử, 3 lần chiến thắng quân Nguyên-Mông.<br><br></div><div><strong>* Luận điểm 3: <br>&nbsp;</strong>- Nỗi lòng nhà thơ: Về trách nhiệm của nam nhi <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Công danh nam tử còn vương nợ <br>&nbsp; + “Công danh nam tử”: lập công có sự nghiệp lớn, “lập danh” tiếng thơm cho đời.&nbsp; &nbsp; &nbsp;+ “còn vương nợ”: cảm thấy mình chưa làm trọn vẹn, vẫn còn nợ công danh của kẻ làm trai.<br>&nbsp; → thể hiện rõ ý thức trách nhiệm kẻ làm trai, coi công sự nghiệp là một món nợ phải trả. Đây là một quan niệm tích cực của đạo Nho về trách nhiệm kẻ sĩ, luôn thúc giục con người phấn đấu vươn lên.<br>&nbsp;- Nỗi lòng nhà thơ: Về nỗi thẹn của kẻ làm trai. <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu<br>+ Thẹn: vì nghĩ công sức mình đóng góp cho Đất nước so với Vũ Hầu còn quá nhỏ bé, chưa bằng Vũ Hầu. Vũ Hầu Gia Cát Lượng – người có công khôi phục lại nhà Hán, nhưng Đại Việt của mình vẫn còn đó vó ngựa xâm lược của giặc Nguyên- Mông. Từ đó, nhà thơ càng ý thức rõ về trách nhiệm, bổn phận của mình đối với đất nước. Đây là cái thẹn cao cả, nâng cao nhân cách con người. Và ông đã làm được rất nhiều cho Đất Nước mà vẫn còn cảm thấy thẹn -&gt; Câu thơ đề cao cái đức, cái tâm của một người yêu nước.<br>=&gt; Sơ kết 2 câu sau:&nbsp; Âm hưởng thơ lắng thể hiện sự trăn trở, day dứt của Phạm Ngũ Lão về trách nhiệm của kẻ làm trai đối với đất nước. Đồng thời thể hiện khát khao được lập công lớn cống hiến cho đất nước. Qua đây ta cảm nhận được tấm lòng yêu nước tha thiết của nhà thơ.<br><strong>* Luận điểm 4:</strong> Đánh giá bài thơ: là bài thơ hay về lòng yêu nước thể hiện niềm tự hào dân tộc và trăn trở về trách nhiệm cống hiến của kẻ làm trai thời loạn.<br><br><strong>C. Kết bài:</strong> - Khái quát vấn đề, liên hệ thực tiễn.</div><div>&nbsp;<br><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;<br>&nbsp;&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-30 08:43:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968630374</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Yến Nhi</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968630491</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em>Lập dàn ý cho đề sau : Cảm nhận của anh/chị về bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão.</em></strong><br> Bài làm :<br><mark>&nbsp;1.Mở bài : </mark><br>&nbsp;- Giới thiệu tác giả và tác phẩm<br>&nbsp;+ Phạm Ngũ Lão là người văn võ toàn tài, có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên.Ông để lại cho đời hai bài thơ trong đó nổi tiếng hơn cả là bài Tỏ lòng.<br>&nbsp;+ Bài thơ ra đời trong không khí quân và dân nhà Trần đang hừng hực, sục sôi khí thế chiến đấu và chiến thắng quân Mông – Nguyên xâm lược lần thứ hai. Bài thơ mang âm hưởng tự hào, ngợi ca, cổ vũ, khích lệ.<br>&nbsp;<mark>2.Thân bài </mark><br>&nbsp;<em>* Vẻ đẹp sức mạnh của con người thời Trần và hào khí thời đại.</em><br> - Câu 1 :&nbsp; “Múa giáo non sông trải mấy thu”&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;(Dịch thơ)<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; “Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu”<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; (Nguyên tác)<br> + Phân tích ý nghĩa của từ “múa giáo” đối chiếu với từ “hoành sóc” - cầm ngang ngọn giáo.-&gt; Con người xuất hiện với tư thế hiên ngang,lẫm liệt,hào hùng sánh ngang với trời đất.<br> +Bối cảnh không gian,thời gian kì vĩ. Không gian mở ra theo chiều rộng non sông.Thời gian trải dài cùng năm thánh,đã qua mấy thu rồi.-&gt; Bối cảnh không gian và thời gian càng làm nổi bật lên tầm vóc lớn lao của con người.<br> - Nghệ thuật : hình ảnh thơ kì vĩ, lớn lao,sánh ngang tầm vũ trụ, lấn át cả không gian và thời gian của người anh hùng nhà Trần. Họ như những dũng tướng uy phong, lẫm liệt.<br> - Câu 2 : “ Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu”<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; (Dịch thơ)<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;“Tam quân tì hổ nuốt trôi trâu"&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; (Nguyên tác)<br>+Phân tích hình ảnh ba quân : tiền quân,trung quân,hậu quân -&gt; Chỉ chung sức mạnh quân dân thời Trần.<br> + Để nhấn mạnh khí thế của ba quân,tác giả đã sử dụng hình ảnh so sánh “Tam quân tì hổ - Ba quân như hổ báo”.Sử dụng hình ảnh phóng đại,cường điệu hóa”khí thôn ngưu-khí thế nuốt trôi trâu”-&gt;Tác giả đã tô đậm khí thế chiến đấu hào hùng của dân tộc. Khí thế dũng mãnh, hào hùng ngút trời, tinh thần “sát thát” của quân đội nhà Trần được cụ thể hóa bằng những hình ảnh ước lệ.<br> ⇒ Hai câu thơ đầu mang âm hưởng của niềm tự hào mạnh mẽ, đó là biểu hiện của lòng yêu nước.<br> <em>* Nỗi lòng và vẻ đẹp nhân cách của Phạm Ngũ Lão</em><br>&nbsp; - Câu 3: “Công danh nam tử còn vương nợ"&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;(Dịch thơ)<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; “Nam nhi vị liễu công danh trái"&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;(Nguyên tác)<br> +Nam nhi : chỉ người làm trai.<br> + Công danh trái : chỉ món nợ công danh.<br> -&gt; Phạm Ngũ Lão nhắc tới món nợ công danh của kẻ làm trai, của người quân tử : người đàn ông trong xã hội phong kiến phải lập được công danh,sự nghiệp để lại tiếng thơm cho đời.Đó là món nợ thường trục mà kẻ nam nhi nguyện trả, nguyện đền bằng cả tính mạnh,xương máu.<br> - Câu 4 :&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; “Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;(Dịch thơ)<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;“Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu”&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; (Nguyên tác)<br> + Phạm Ngũ Lão cảm thấy mình chưa tra được món nợ công danh nên trong lòng nảy sinh nỗi thẹn khi nghe người đời kể chuyện Vũ Hầu.<br> + Nhân vật Vũ Hầu – Gia Cát Lượng là người có tài mưu lược, lập được nhiều chiến công giúp lưu bị thống nhất nhà Hán.Phạm Ngũ Lão thẹn vì chưa có tài mưu lược,chưa lập được công như Vũ Hầu.<br> -&gt;Thực chất, nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lão là khát vọng lập công,phụng sự nhà Trần,là lời thề suốt đời tận tâm với nước với dân,cho thấy quyết tâm và nỗ lực không ngừng nghỉ của ông.<br> =&gt; Hai câu thơ mang vẻ đẹp khát vọng lập công,khát vọng hi sinh cho đất nước.<br> <em>* Rút ra nội dung và nghệ thuật của bài thơ.</em><br><mark>&nbsp;3.Kết bài</mark><br> Khái quát những cảm nhận chung về bài thơ.Rút ra bài học và nhận thức hành dộng của bản thân.<br><strong><em><mark>Bài làm</mark></em></strong><br>Thời đại nhà Trần là thời kỳ vàng son của Hào khí đông A, hào khí ấy đã trở thành một sức mạnh tinh thần to lớn của quân và dân ta trong một thời đại đầy hào hùng máu lửa,cái khí thế hừng hực của niềm vui chiến thắng đã thể hiện được tinh thần đoàn kết, ý chí quyết tâm chống giặc của dân tộc.Hào khí Đông A từ xã hội đi vào thơ văn đã trở thành sự kết tinh cho những biểu hiện cao đẹp của lòng yêu nước. Từ âm vang của thời đại, của hào khí Đông A dậy sóng, Phạm Ngũ Lão đã sáng tác bài thơ “Tỏ lòng”&nbsp; trước thềm của cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông-Nguyên lần thứ hai.&nbsp; Bài thơ có giá trị sâu sắc về cả nội dung lẫn nghệ thuật.&nbsp;<br>&nbsp;<br>&nbsp;<br>&nbsp;<br>&nbsp;<br>&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-30 08:44:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968630491</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trương Thị Thúy Hảo</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968634860</link>
         <description><![CDATA[<div>a)Mở bài: giới thiệu về tác giả Phạm Ngũ Lão và bài thơ Tỏ lòng.<br>b)Thân bài: cảm nhận/phân tích bài thơ.<br>*Vẻ đẹp sức mạnh của con người thời Trần và hào khí thời đại.<br>-Múa giáo non sông trải mấy thu (hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu).<br>+Phân tích ý nghĩ của từ “múa giáo” đối chiếu với từ “hoàng sóc”.<br>-&gt;Con người xuất hiện với tư thế hiên ngang, lẫm liệt hào hùng, sánh ngang với trời đất…<br>+Bối cảnh không gian, thời gian: kì vĩ. Không gian mở ra theo chiều rộng của non sông. Thời gian trải dài cùng năm tháng, đã qua mấy thu rồi.<br>-&gt;Bối cảnh không gian và thời gian càng làm nổi bật lên tầm vóc lớn lao của con người.<br>=&gt;Nghệ thuật: hình ảnh thơ kì vĩ, lớn lao.<br>-Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu (tam quân tì hổ khí thôn ngưu).<br>+Phân tích hình ảnh ba quân: tiền quân, trung quân, hậu quân-&gt;chỉ chung sức mạnh quân dân thời Trần.<br>+Để nhân mạnh khí thế của ba quân, tác giả đã sử dụng hình ảnh so sánh"Tam quân tì hổ"-ba quân như hổ báo.<br>+Sử dụng hình ảnh phóng đại, cường điệu hóa "khi thôn ngưu"-khí thế nuốt trôi trâu-&gt;tác giả đã tô đậm khí thế chiến đấu hào hùng của dân tộc.<br>=&gt;Hai câu thơ đã cho thấy hào khí sục sôi của thời đại Nhà Trần.<br>*Nỗi lòng và vẻ đẹp nhân cách của Phạm Ngũ Lão.<br>-Công danh nam tử còn vương nợ (nam nhi vị liễu công danh trái)<br>+Nam nhi: chỉ người làm trai.<br>+Công danh trái: chỉ món nợ công danh.<br>-&gt;Phạm Ngũ Lão nhắc tới món nợ công danh của kẻ làm trai, của người quân tử: người đàn ông trong xã hội phong kiến phải lập được công danh, sự nghiệp để lại tiếng thơm cho đời. Đó là món nợ thường trực mà kẻ nam nhi nguyện trả, nguyện đền bằng cả tính mạng, xương máu.<br>-Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu (tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu)&nbsp;<br>+Phạm Ngũ Lão cảm nhận mình chư ttar được món nợ công danh nên trong lòng nảy sinh nỗi ghẹn khi ngje người đời kể truyện Vũ Hầu.<br>+Vũ Hầu-Gia Cát Lượn là người có tài mưu lược, lập được nhiều chiến công giúp Lưu Bị thống nhất nhà Hán.<br>+Phạm Ngũ Lão thẹn vì chưa có tài mưu lược, chưa lập được công như Vũ Hầu.<br>-&gt;Đây là nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lão đã cống hiến tài năng và sức lực hết mình đất nước nhưng Phạm Ngũ Lão vẫn cảm thấy chưa đủ, vẫn khát khao được cống hiến nhiều hơn để trở thành người trí dũng song toàn.<br>=&gt;Hai câu thơ mang vẻ đẹp của khát vọng lập công, hi sinh cho đất nước.<br>*Nghệ thuật: thể thơ ngắn gọn, ngôn ngữ cô đọng hàm súc, hình ảnh giàu sức gợi, giàu giá trị biểu cảm,...<br>c)Kết bài: khái quát lại vấn đề cần nghị luận, cảm nhận của bản thân.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Bài làm<br>Phạm Ngũ Lão được biết đến là võ tướng có nhiều công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Bên cạnh đó ông còn rất ham đọc sách, làm thơ và được xem là người văn võ toàn tài. Tác phẩm của ông hiện chỉ còn hai bài thơ là "Tỏ lòng" và "Viếng thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương". Đặc biệt, "Tỏ lòng" đã thể hiện vẻ đẹp của hình tượng người anh hùng hiên ngang với lí tưởng và nhân cách lớn lao, đồng thời phản ánh hào khí của thời đại Đông A với sức mạnh và khí thế hào hùng.&nbsp;<br>Hai câu thơ đầu của bài thơ đã ca ngợi vẻ đẹp hào hùng của con người, quân đội thời Trần qua việc khắc họa hình tượng người anh hùng hiên ngang lẫm liệt:<br>Múa giáo non sông trải mấy thu&nbsp;<br>Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu<br>(Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu<br>Tam quân tì hổ khí thôn ngưu)<br>&nbsp; Mở đầu bài thơ hình ảnh một võ tướng được cách điệu, khoa trương, huyền thoại hóa thành hình tượng người anh hùng chiến trận mang tầm vóc vũ trụ, đo đếm bằng núi rộng và sông dài. Bức phác họa người tráng sĩ hiện lên với tư thế hiên ngang, kiên cường trong bối cảnh không gian bao la rộng lớn. Đó là tư thế "hoành sóc" - cầm ngang ngọn giáo để trấn giữ biên cương, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ lãnh thổ. Người tráng sĩ ấy được đặt trong bối cảnh "giang sơn" rộng lớn, thời gian "kháp kỉ thu" muôn đời. Không gian rộng lớn mang tầm vũ trụ ấy cùng thời gian trải dài như bất tử hóa, thiêng liêng hóa tư thế hào hùng lẫm liệt của người anh hùng. So với bản dịch thơ, trong bản phiên âm đã thể hiện rõ hơn khí phách oai phong lẫm liệt của người anh hùng khi luôn trong tư thế chủ động, sẵn sàng chiến đấu, còn hai chữ “múa giáo” ở bản dịch thơ tạo ra cảm giác thiên về phô diễn kĩ thuật nhiều hơn. Có thể thấy ngọn giáo mà người tráng sĩ cầm ngang bảo vệ Tổ quốc là ngọn giáo thông thường nhưng lại được đo bằng chiều dài và kích thước của giang sơn nên đã nâng tầm vóc của người anh hùng sánh ngang với tầm vóc vũ trụ. Như vậy chỉ với một hình ảnh, câu thơ đầu tiên Phạm Ngũ Lão đã tái hiện trước mắt người đọc vẻ đẹp người tráng sĩ trong tư thế oai phong trong lẫm liệt, sẵn sàng lập nên những chiến công oanh liệt cho Tổ quốc. Không chỉ dừng lại ở vẻ đẹp của trang nam nhi, ở câu thơ thứ hai PNL còn khắc họa vẻ đẹp của quân đội nhà Trần. “Tam quân” là ba đội quân lớn “Tiền quân, Trung quân, Hậu quân”. Bởi vậy, hình ảnh “tam quân” đã khái quát được toàn bộ hình ảnh đông đảo, hùng hậu của quân dân nhà Trần. Tác giả sử dụng nghệ thuật so sánh để diễn tả sức mạnh quân đội nhà Trần như hổ báo. Hổ vốn là chúa tể sơn lâm, bởi vậy hình ảnh so sánh này đã gợi ra được khí thế nào hùng sục sôi của quân đội nhà Trần. Bản dịch thơ dịch ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu càng làm tăng hào khí của quân đội nhà Trần, giọng thơ vừa hào sảng nhưng cũng rất giàu yếu tố thẩm mỹ. Câu thơ có sự kết hợp giữa những hình ảnh khách quan và những cảm nhận chủ quan của Phạm Ngũ Lão, góp phần miêu tả vẻ đẹp và hào khí dũng mãnh của quân đội nhà Trần.<br>&nbsp; &nbsp;Sinh vào thời Trần, ai cũng có cơ hội trở thành anh hùng. Điều ấy đã được chứng minh bằng những sự kiện lịch sử: hai chữ “sát Thát” được thích trên cánh tay người lính thời Trần, đó còn là sáu chữ vàng được thêu trên lá cờ Trần Quốc Toản “Phá cường địch báo hoàng ân”, đó còn là tám chữ “Nghĩa dĩ nguyên khu, hình vu báo quốc” được thích ở ngực ở bụng của những người đàn ông dân quê lam lũ. Tất cả những con người ấy tập hợp lại thành Tam quân tì hổ sẵn sàng lăn xả vào bọn giặc dữ một khi chúng tràn đến. đúng là “giống hổ báo tuy còn nhỏ, lưng chưa có vằn, nhưng đã đủ sác nuốt trôi trâu” (Chi Tử). Với nghệ thuật so sánh, phóng đại hai câu thơ đầu người đọc đã cảm nhận được vẻ đẹp hùng dũng của người tráng sĩ cũng như tầm vóc mạnh mẽ của quân đội thời đại Đông A, qua đó gián tiếp thấy được niềm tự hào của tác giả.<br>&nbsp; Là một thành viên ưu tú của quân đội hào hùng ấy, Phạm Ngũ Lão ý thức rất rõ về trách nhiệm của bản thân, bởi vậy ông đã bày tỏ nỗi lòng mình:<br>Công danh nam tử còn vương nợ<br>Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu.<br>(Nam nhi vị liễu công danh trái<br>Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu)<br>&nbsp; &nbsp; Trong hai câu thơ, Phạm Ngũ Lão nhấn mạnh hoài bão, ý thức của bậc nam nhi với việc lập công danh để đời, thể hiện rõ tâm sự nỗi lòng của Phạm Ngũ Lão, từ đó ánh lên vẻ đẹp tâm hồn ông luôn đề cao lí tưởng trung quân, ái quốc. Bởi vậy, ông cho rằng đã là nam nhi thì phải trả nợ công danh, mà nợ công danh ở đây chính là làm điều có công với đất nước: "Công danh nam tử còn vương nợ " câu thơ đã nhắc đến vấn đề cốt lõi của bất cứ đấng nam nhi nào trong thời đại đó là: chí làm trai - nợ công danh. Theo quan niệm của Nho giáo, là một đấng nam nhi cần phải tề gia trị quốc bình thiên hạ trong đó nợ công danh là món nợ không thể không trả. Lí tưởng công danh ấy thể hiện cái nhìn tiến bộ và nhân cách cao đẹp của một vị tướng hết lòng muốn giúp nước, giúp đời. Có thể thấy nguyện ước lập công danh xuất hiện rất nhiều trong thơ của các trí thức Nho sĩ, đặc biệt chính là Nguyễn Công Trứ: “Đã mang tiếng ở trong trời đất, phải có danh gì với núi sông”. Phạm Ngũ Lão là một danh tướng của nhà Trần, ông đã lập được rất nhiều chiến công lừng lẫy, góp phần không nhỏ vào chiến thắng của quân đội Đại Việt. Rõ ràng, Phạm Ngũ Lão đã trả được món nợ công danh, đã thỏa mãn được chí làm trai nhưng bản thân ông lại nhận thức mình vẫn chưa trả được món nợ này. Qua đó, ta thấy Phạm Ngũ Lão là một con người vô cùng khiêm tốn, khiêm nhường, không ngừng học hỏi và có chí khí.&nbsp; &nbsp;&nbsp;<br>Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu.<br>&nbsp; &nbsp; Vũ Hầu - Khổng Minh Gia Cát Lượng, một bậc kì tài thời Tam quốc của Trung Hoa, ông vừa là một nhà chính trị, một nhà tư tưởng vừa là nhà quân sự ngoại giao, ông đã có những đóng góp rất lớn cho sự nghiệp Lưu Bị và người đời sau thường lấy lấy ông làm tấm gương sáng để noi theo. Vậy nên Phạm Ngũ Lão cảm thấy rất "thẹn" khi đối sánh mình với cha ông, tự thấy bản thân chưa thể sánh được với họ. Khát vọng mong muốn lập nhiều công danh hơn nữa được diễn tả hết sức khiêm nhường khi đặt bản thân mình bên cạnh mưu thần Gia Cát Lượng. Âm hưởng câu thơ trầm lắng thể hiện khát vọng lập công và chí làm trai hết sức tiến bộ của Phạm Ngũ Lão. Người ta thường hổ thẹn khi làm việc sai trái, việc xấu và cảm xúc đó khiến cho con người ta nhỏ bé đi nhưng với PNL nỗi thẹn lại cho thấy một nhân cách lớn lao, đẹp đẽ. Nỗi thẹn của PNL cũng có nét tương đồng với nỗi thẹn của Nguyễn Khuyến trong bài “Thu Vịnh”:<br>&nbsp; Nhân hứng cũng vừa toan cất bút<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp;<br>Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào<br>Với thể thơ ngắn gọn, ngôn ngữ hàm súc, hình ảnh thơ dầu sức gợi, dầu giá trị hình ảnh, biểu cảm, sử dụng phép tu từ so sánh, phóng đại...bài thơ làm sáng người vẻ đẹp con người thời Trần với sức mạnh phi thường, luôn nung nấu, khát vọng cống hiến hết mình cho đất nước. Bài thơ tiêu biểu cho cảm hứng yêu nước của thời đại nhà Trần.<br>Bài thơ “Tỏ lòng” đã khắc họa vẻ đẹp của con người thời nhà Trần có sức mạnh, lí tưởng, nhân cách cao cả, đồng thời phản ánh khí thế hào hùng của thời đại. Âm hưởng mạnh mẽ ấy để lại dư ba trong lòng người đọc, nhắc nhở thế hệ trẻ chúng ta sống không bao giờ quên đề ra lí tưởng sống cao cả để sống đẹp, sống có ích hơn.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-30 08:51:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968634860</guid>
      </item>
      <item>
         <title>võ nguyễn quỳnh như </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968664300</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>Dàn ý bài "Tỏ Lòng" của Phạm Ngũ Lão </strong><strong><mark><br>I. Mở bài</mark></strong></div><div>- Giới thiệu tác giả Phạm Ngũ Lão: Là người văn võ toàn tài, để lại cho đời hai tác phẩm <em>Thuật hoài</em> (Tỏ lòng) và <em>Vãn Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương.</em></div><div>- Giới thiệu bài thơ <em>Tỏ lòng</em>:</div><div>+ Ra đời sau những chiến thắng vẻ vang của quân và dân nhà Trần đánh đuổi quân Nguyên Mông xâm lược.</div><div>+ Bài thơ làm sống dậy khí thế của thời đại với niềm vui, niềm tự hào. Đồng thời cũng thể hiện ý thức làm người và chí hướng lập công của nam nhi.<br><strong><mark>II. Thân bài:</mark></strong><strong><br>1. Hình tượng con người và sức mạnh quân đội nhà Trần<br>a. Hình tượng con người thời Trần<br></strong>- Hành động: hoành sóc – cầm ngang ngọn giáo → Tư thế hùng dũng, oai nghiêm, hiên ngang sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc<br>- Không gian kì vĩ: giang sơn – non sông → Không gian rộng lớn, mênh mông, nó không đơn thuần là sông, là núi mà là giang sơn, đất nước, Tổ quốc<br>- Thời gian kì vĩ: kháp kỉ thu – đã mấy thu → Thời gian dài đằng đẵng, không biết đã bao nhiêu mùa thu, bao nhiêu năm đi qua, thể hiện quá trình đấu tranh bền bỉ, lâu dài.<br>⇒ Như vậy:<br>+ Hình ảnh người tráng sĩ cho thấy một tư thế hiên ngang, mạnh mẽ, hào hùng, sẵn sàng lập nên những chiến công vang dội<br>+ Hình ảnh, tầm vó những người tráng sĩ ấy sánh với núi sông, đất nước, với tầm vóc hùng vĩ của vũ trụ.<br>+ Người tráng sĩ ấy ra đi bảo vệ Tổ quốc ròng rã mấy năm trời mà chưa từng một giây phút nào cảm thấy mệt mỏi mà trái lại vẫn bừng bừng khí thế hiên ngang, bất khuất, hùng dũng<br><strong><em>b. Sức mạnh của quân đội nhà Trần</em></strong><em>&nbsp;</em></div><div>- “Tam quân”: Ba quân – tiền quân, trung quân, hậu quân. Hình ảnh chỉ quân đội nhà Trần.</div><div>- Sức mạnh của quân đội nhà Trần: “tì hổ”, khí thôn ngưu”</div><div>+ Quân đội được so sánh với “tì hổ” – hổ báo: loài mãnh thú chốn rừng sâu qua đó cụ thể hóa sức mạnh và sự dũng mãnh, khí thế hừng hực làm chủ của quân đội nhà Trần.</div><div>+ Tác giả làm rõ sức mạnh ấy bằng hình ảnh “khí thôn ngưu”: Là biểu tượng chỉ người trẻ tuổi mà khí phách anh hùng.</div><div>→ Với các hình ảnh so sánh, phóng đại, tác giả đã thể hiện sự ngợi ca, tự hào về sức mạnh, khí thế của quân đội nhà Trần đập tan âm mưu xâm lược của kẻ thù.</div><div>=&gt; Hai câu thơ đầu làm sống dậy thời đại nhà Trần với hào khí Đông A vang núi dậy sông bằng hình ảnh của những người anh hùng vệ quốc tư thế hiên ngang, kiêu dũng tầm vóc sánh ngang tầm vũ trụ cùng lực lượng quân đội hùng hậu khí thế ngút trời. Ẩn sau đó là niềm tự hào của tác giả về sức mạnh và chiến công của dân tộc. Đó là biểu hiện của lòng yêu nước</div><div>-&gt; sử dụng bút pháp gợi, không tả, kể chi tiết. Sử dụng các hình ảnh ước lệ: Kháp kỉ thu, tì hổ, khí thôn ngưu. Sử dụng các biện pháp so sánh, ước lệ độc đáo<br><strong>2. Nỗi lòng muốn bày tỏ của tác giả<br></strong>- Giọng điệu: trầm lắng, suy tư, qua đó bộc lộ tâm trạng băn khoăn, trăn trở<br>- Nợ công danh: Theo quan niệm nhà Nho, đây là món nợ lớn mà một trang nam nhi khi sinh ra đã phải mang trong mình. Nó gồm 2 phương diện: Lập công (để lại chiến công, sự nghiệp), lập danh (để lại danh thơm cho hậu thế). Kẻ làm trai phải làm xong hai nhiệm vụ này mới được coi là hoàn trả món nợ.<br>- Theo quan niệm của Phạm Ngũ Lão, làm trai mà chưa trả được nợ công danh “thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”:<br><br></div><ul><li>Thẹn: cảm thấy xấu hổ, thua kém với người khác</li><li>Chuyện Vũ Hầu: tác giả sử dụng tích về Khổng Minh - tấm gương về tinh thần tận tâm tận lực báo đáp chủ tướng. Hết lòng trả món nợ công danh đến hơi thở cuối cùng, để lại sự nghiệp vẻ vang và tiếng thơm cho hậu thế → Nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lão hết sức cao cả của một nhân cách lớn. Thể hiện khát khao, hoài bão hướng về phía trước để thực hiện lí tưởng, nó đánh thức ý chí làm trai, chí hướng lập công cho các trang nam tử</li></ul><div>⇒ Với âm hưởng trầm lắng, suy tư và việc sử dụng điển cố điển tích, hai câu thơ cuối đã thể hiện tâm tư và khát vọng lập công của Phạm Ngũ Lão cùng quan điểm về chí làm trai rất tiến bộ của ông<br>-&nbsp; Sử dụng điển cố “thuyết Vũ Hầu”, bút pháp gợi kết hợp với bút pháp biểu cảm.<br><strong><mark>III. Kết bài</mark></strong></div><div>- Khái quát nội dung và nghệ thuật của bài thơ<br>- Nêu cảm nghĩ về tác phẩm&nbsp;</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-30 09:34:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968664300</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thu Hằng                                              dàn ý cảm nhận của anh/ chị về bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968920951</link>
         <description><![CDATA[<div>[mở bài] giới thiệu tác giả: Phạm Ngũ Lão<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;giới thiệu tác phẩm<br>[thân bài]&nbsp;<br>a. Hai câu đầu: thể hiện con người và quân đội thời Trần<br>+ Hoành sóc: cầm ngang ngọn giáo --&gt; tư thế đẹp, hào hùng, hiên ngang, chủ động<br>+ Tư thế ấy được đặt trong:&nbsp;<br>Khoảng cách: giang sơn( non sông rộng lớn)<br>Thời gian: cáp kỉ thu(trải qua mấy thu): dài lâu<br>--&gt; hình ảnh mũi giáo được đo bằng kích thước non sông và hình ảnh người tráng sĩ được đo bằng kích thước của đất trời, vũ trụ<br>+ Tam quân: ba đạo quân<br>trung quân, tiền quân, hậu quân: chỉ nhận định quân đội nhà Trần--&gt; sức mạnh quân đội nhà Trần, sức mạnh của toàn dân và đất nước<br>- Nghệ thuật: hình ảnh tượng trưng, so sánh phóng đại( tì hể, nuốt trôi trâu): sức mạnh vật chất cộng với tinh thần<br>--&gt; Hào khí Đông A: lòng tự hào, tự tin của nhân dân dưới thời Trần<br>b. Hai câu sau: vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách, lý tưởng của nhà thơ<br>- Công danh nam tử: sự nghiệm của người đàn ông<br>- Công danh trái: nợ công danh<br>+ Thể hiện chí làm trai theo tinh thần: nho giáo: lập công( để lại sự nghiệp), lập danh( để lại tiếng thơm)<br>+ Chưa hoàn thành nghĩa vụ đối với dân, nước<br>- Công danh( lập công+ lập danh): lí tưởng sống--&gt; trắc trở, khát vọng--&gt; tinh thần trách nhiệm cao với đời&nbsp;<br>- Thẹn( xấu hổ): vì chưa có tài mưu lược lớn như Khổng Minh Gia Cát Lượng: một cái thẹn cao cả, khát vọng được phục vụ vua, dân và nước<br>--&gt; Tâm hồn chân thành trong sáng, nhân cách cao đẹp<br>--&gt; Tâm trạng của người trai thời Trần<br>c. Nghệ thuật:<br>+ giọng điệu trữ tình, sâu lắng<br>+ thể thơ sáng tạo thất ngôn xen lẫn lục ngôn<br>+ ngôn ngữ thơ phong phú, đa dạng vừa có lớp từ Hán Việt vừa có lớp từ Thuần Việt tạo nên vẻ đẹp vừa trang trọng vừa bình dị<br>+ sử dụng các điển tích, điển cố<br>[kết bài] khái quát lại tác phẩm, nêu cảm nhận của bản thân, rút ra bài học<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-30 14:53:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968920951</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phan Hữu Lộc</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968974597</link>
         <description><![CDATA[<div>Giàn ý tỏ lòng: Phan Hữu Lộc</div><div>-Mở bài:</div><div>+ Giới thiệu tác giả và bài thơ: Ở thời Trần có một vị tướng giỏi là Phạm Ngũ Lão, tuy là một võ tướng nhưng ông lại thích đọc sách ngâm thơ và được người đời ca ngợi là văn võ toàn tài. Cuộc đời của ông đã để lại hai tác phẩm sống mãi với thời gian. Nhưng ấn tượng nhất có lẽ là bài thơ “Tỏ lòng” (Thuật hoài).</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Khái quát bài thơ: Bài thơ của ông đã khắc họa đã khắc họa được vẻ đẹp của con</div><div>người có sức mạnh cũng như lý tưởng, nhân cách cao cả cùng khí thế hào hùngcủa thời đại:</div><div>-Thân bài :&nbsp;</div><div>+ Nêu hoàn cảnh sáng tác bài thơ: được sáng tác trong hoàn cảnh quân và dân nhà Trần đang hừng hực, sục sôi khí thế chiến đấu và chiến thắng quân Mông – Nguyên xâm lược lần thứ hai. Bài thơ mang âm hưởng tự hào, ngợi ca, cổ vũ, khuyến khích.</div><div>+ Thể hiện tư thế, vẻ đẹp hào hùng của con người thời Trần:</div><div>+ Bản dịch nghĩa: “Cắp ngang ngọn giáo”: Thể hiện tư thế hiên ngang, vững trải, sừng sững cùng tâm thế uy dũng, sẵn sàng chiến đấu.</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Bản dịch thơ:“Múa giáo”: Thiên về hành động phô trương, biểu diễn, không lột tả hết tầm vóc vĩ đại của tư thế<br>&nbsp; -&gt; Hình ảnh truyền tải không được ý nghĩa hình ảnh thơ nguyên tác.</div><div>-<em> </em>Không gian “Giang sơn” – Non sông: Rộng lớn, vĩ đại, chí trai nhà Trần tung hoành ngang dọc. Không chỉ đơn thuần là núi rừng mà còn là biên cương, đất nước.</div><div>- Thời gian kì vĩ “Kháp kỷ thu” – Đã mấy thu: Thời gian kì vĩ, đăng đẳng, không đong đếm được, năm này qua năm khác&nbsp;<br>&nbsp;-&gt; Chỉ sự bền bỉ, kiên cường chiến đấu.</div><div>=&gt; Hình tượng trang nam nhi thời Trần hiện lên trong tầm vóc vĩ đại, tư thế cắp ngang ngọn giáo chỉ sự sẵn chiến đấu, lập chiến công.</div><div>=&gt; Hình ảnh giang sơn nâng tầm vóc người nam nhi sánh ngang tầm vóc non sông, gấm vóc, vũ trụ.</div><div>=&gt; Người tráng sĩ ra đi không màng ngày trở lại, khí thế bất khuất, hiên ngang trường tồn theo năm tháng.<br>&nbsp;+ <em>Bài thơ còn vẽ nên bức chân dung về ý chí của người anh hùng</em><br> – Tiềm lực quân đội : “ Tam quân ” – ba quân tiền quân, trung quân, hậu quân : Ý chỉ quân đội nhà Trần, tiềm lực quân sự chiến lược của cả dân tộc bản địa .<br> → Tiềm lực quân đội can đảm và mạnh mẽ, vững vàng<br> – Khí thế đội quân : Hình ảnh so sánh tăng tiến</div><div>→ Khí thế dũng mãnh, hào dùng ngút trời, niềm tin “ sát thát ” của quân đội nhà Trần được cụ thể hóa bằng những hình ảnh ước lệ.<br>&nbsp;⇒ Hai câu thơ đầu mang âm hưởng của niềm tự hào can đảm và mạnh mẽ, đó là bộc lộ của lòng yêu nước.<br>&nbsp;⇒ Qua hai câu thơ khiến ta thêm yêu và hiểu hơn về sức mạnh và ý thức chiến đấu, ý chí chiến bại và phẩm chất anh hùng của quân đội nhà Trần. Từ đó có những tâm lý và hành vi đúng đắn xứng danh với cha ông.<strong><br> +</strong>Vẻ đẹp chí làm trai qua tâm tình tác giả</div><div>+Món nợ công danh</div><div>– Chí đàn ông : Làm trai phải có ý chí đàn ông, xông pha, gánh vác.<br>&nbsp;– Nợ sự nghiệp : Theo ý niệm Nho gia, đây là món nợ mà một kẻ làm trai sinh ra đã phải có nghĩa vụ và trách nhiệm trả. Nó gồm có hai phương diện lập công và lập danh. Khi hoàn thành xong hai trách nhiệm này mới được xem là trả xong món nợ.<br>&nbsp;→ Trân trọng sự ý thức, nghĩa vụ và trách nhiệm về việc hoàn trả món nợ công danh sự nghiệp của tác giả.<br>&nbsp;+Nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lão.</div><div>– “ Thẹn ” là trạng thái xấu hổ, ngại ngùng khi thấy chưa bằng người khác<br>&nbsp;– “ Thuyết Vũ Hầu ” : Điển tích Trung Quốc nói về một con người kĩ năng, mưu chước, hết lòng báo đáp công ơn của chủ tướng, lập được sự nghiệp sự nghiệp lớn.<br>&nbsp;– Phạm Ngũ Lão cũng là một trang đàn ông hết lòng vì nước, cả công lao và khét tiếng đều vang xa. Vậy mà ông vẫn thẹn vì chưa báo đáp được hết ơn chiêu mộ của Trần Quốc Tuấn, chưa tận tâm tận lực trả hết món nợ sự nghiệp.<br>&nbsp;→ Đây là nỗi thẹn của một nhân cách lớn. Thẹn không làm hạ thấp nhân cách mà trái lại làm cho nhân cách hùng vĩ hơn<br>&nbsp;→ Thể hiện ý thức muốn góp sức nhiều hơn nữa cho dân tộc bản địa. Đồng thời thức tỉnh ý thức làm người và chí làm trai cho đàn ông đời Trần.</div><div>⇒ Trân trọng ngợi ca nhân cách cao đẹp của người anh hùng Phạm Ngũ Lão.<br>&nbsp;⇒ Rút ra bài học kinh nghiệm : Sống phải có tham vọng, tham vọng. Phải quyết tâm và nỗ lực rất là để triển khai tham vọng ấy dù phải trải qua những khó khăn vất vả, thử thách.<br>&nbsp;Kết bài:</div><div>– Khái quát nội dung và thẩm mỹ và nghệ thuật của bài thơ.<br>&nbsp;– Trình bày những cảm nhận chung về bài thơ : Cảm thức chủ yếu là lòng tự hào và niềm kính yêu với cha ông. Nhận thức và hành vi của bản thân trong hiện tại và tương lai.</div><div>&nbsp;</div><div>&nbsp;</div><div>&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-30 15:54:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1968974597</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trịnh Lâm Tú Uyên </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1969236404</link>
         <description><![CDATA[<div>Dàn ý bài Tỏ lòng:<br>1)Mở bài<br>Giới thiệu chung về tác giả Phạm Ngũ Lão và bài thơ Tỏ lòng&nbsp;<br>2)Thân bài<br>-Khái quát nội dung bài thơ&nbsp;<br>-Giới thiệu về hào khí Đông A<br>-Hình tượng con người thời Trần&nbsp;<br>-Vẻ đẹp sức mạnh của quân đội thời Trần&nbsp;<br>-Nỗi thẹn của tác giả Phạm Ngũ Lão&nbsp;<br>-Nghệ thuật của bài thơ&nbsp;<br>3)Kết bài<br>-Khái quát lại nội dung bài thơ&nbsp;<br>-Liên hệ trách nhiệm của thanh niên ngày nay trong việc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc<br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-31 00:53:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1969236404</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đặng Thị Ngọc Hoa</title>
         <author>dangthingochoa206</author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1969436198</link>
         <description><![CDATA[<div>I. Mở bài<br><br></div><div>- Giới thiệu tác giả Phạm Ngũ Lão<br><br></div><div>- Giới thiệu bài thơ Tỏ lòng:<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp;+ Ra đời sau những chiến thắng vẻ vang của quân và dân nhà Trần đánh đuổi quân Nguyên Mông xâm lược.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp;+ Bài thơ làm sống dậy khí thế của thời đại với niềm vui, niềm tự hào. Đồng thời cũng thể hiện ý thức làm người và chí hướng lập công của nam nhi.<br><br></div><div>II. Thân bài<br><br></div><div><strong>1. Hào khí Đông A qua hình tượng trang nam nhi và sức mạnh quân đội nhà Trần.<br></strong><br></div><div><strong>a. Hình tượng trang nam nhi nhà Trần (câu 1)<br></strong><br></div><div>- Tư thế “hoành sóc”: Múa giáo<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp;+ “Cầm ngang ngọn giáo” diễn đạt sự vững trãi, kiên cường, uy dũng, tư thế sẵn sàng chiến đấu của người lính.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp;+&nbsp; “Múa giáo”: Thiên về phô trương biểu diễn, không thể hiện sức mạnh nội lực vì vậy không truyền tải được ý nghĩa hình ảnh thơ trong nguyên tác.<br><br></div><div>- Không gian “giang sơn”: Không chỉ là sông núi mà còn chỉ non sông, đất nước, tổ quốc.<br><br></div><div>→ Không gian vũ trụ rộng lớn để nam nhi nói chí, tỏ lòng<br><br></div><div>- Thời gian “kháp kỉ thu”: mấy thu – mấy năm<br><br></div><div>→ Thời gian trải dài, thể hiện quá trình bền bỉ chiến đấu lâu dài.<br><br></div><div>⇒ Chính thời gian, không gian đã nâng cao tầm vóc của người anh hùng vệ quốc, họ trở nên lớn lao kì vĩ, sánh ngang tầm vũ trụ, trời đất, bất chấp sự tàn phá của thời gian họ vẫn luôn bền bỉ cùng nhiệm vụ<br><br></div><div>b. Sức mạnh của quân đội nhà Trần (Câu 2)<br><br></div><div>- “Tam quân”: Ba quân –tiền quân, trung quân, hậu quân. Hình ảnh chỉ quân đội nhà Trần.<br><br></div><div>- Sức mạnh của quân đội nhà Trần: “tì hổ”, khí thôn ngưu”<br><br></div><div>-&gt; Với các hình ảnh so sánh, phóng đại, tác giả đã thể hiện sự ngợi ca, tự hào về sức mạnh, khí thế của quân đội nhà Trần đập tan âm mưu xâm lược của kẻ thù.<br><br></div><div>2. Nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lão<br><br></div><div>- Nợ công danh: Theo quan niệm nhà Nho, đây là món nợ lớn mà một trang nam nhi khi sinh ra đã phải mang trong mình.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp;+ Nó gồm 2 phương diện: Lập công (để lại chiến công, sự nghiệp), lập danh (để lại danh thơm cho hậu thế). Kẻ làm trai phải làm xong hai nhiệm vụ này mới được coi là hoàn trả món nợ.<br><br></div><div>-&lt;&gt; Đây là nỗi thẹn khiêm tốn và cao cả của PNL,cả cuộc đời ông đã cống hiến tài năng cho đất nước,nhưng ông vẫn cảm thấy chưa đủ vì muốn được cống hiến nhiều hơn. Nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lão hết sức cao cả của một nhân cách lớn. Thể hiện khát khao, hoài bão hướng về phía trước để thực hiện lí tưởng<br><br></div><div>&lt;-&gt; Hai câu cuối&nbsp; mang lại vẻ đẹp khát vọng muốn lập công và hi sinh cho đất nước.<br><br></div><div>III. Kết bài<br><br></div><div>- Khái quát nội dung và nghệ thuật của bài thơ<br><br></div><div>&nbsp;<br><br></div><div>&nbsp;<br><br></div><div>&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-31 04:35:31 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1969436198</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Bùi Thị Mai Hương</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1969540756</link>
         <description><![CDATA[<div>DÀN Ý:Cảm nhận của anh/chị về bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão.<br>I.Mở bài:Giới thiệu về bài thơ Tỏ lòng,tác giả Phạm Ngũ Lão(Khái quát về nội dung)<br>II.Thân bài:<br>&nbsp;Hình tượng con người thời Trần<br>- Hành động: hoành sóc – cầm ngang ngọn giáo<br>&nbsp; &nbsp; → Tư thế hùng dũng, oai nghiêm, hiên ngang sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc<br>- Không gian kì vĩ: giang sơn – non sông<br>&nbsp; &nbsp; → Không gian rộng lớn, mênh mông, nó không đơn thuần là sông, là núi mà là giang sơn, đất nước, Tổ quốc<br>- Thời gian kì vĩ: kháp kỉ thu – đã mấy thu<br>&nbsp; &nbsp; → Thời gian dài đằng đẵng, không biết đã bao nhiêu mùa thu, bao nhiêu năm đi qua, thể hiện quá trình đấu tranh bền bỉ, lâu dài.<br>&nbsp; &nbsp; ⇒ Như vậy:<br>+ Hình ảnh người tráng sĩ cho thấy một tư thế hiên ngang, mạnh mẽ, hào hùng, sẵn sàng lập nên những chiến công vang dội<br>+ Hình ảnh, tầm vó những người tráng sĩ ấy sánh với núi sông, đất nước, với tầm vóc hùng vĩ của vũ trụ.<br>+ Người tráng sĩ ấy ra đi bảo vệ Tổ quốc ròng rã mấy năm trời àm chưa từng một giây phút nào cảm thấy mệt mỏi mà trái lại vẫn bừng bừng khí thế hiên ngang, bất khuất, hùng dũng<br>b) Hình tượng quân đội thời Trần<br>- “Tam quân” (ba quân): tiền quâ, trung quân, hậu quân – quân đội của cả đất nước, cả dân tộc cùng nhau đứng lên để chiến đấu<br>- Sức mạnh của quân đội nhà Trần:<br>+ Hình ảnh quân đội nhà Trần được so sánh với “tì hổ” (hổ báo) qua đó thể hiện sức mạnh hùng dũng, dũng mãnh của đội quân<br>+ “Khí thôn ngưu”: khí thế hào hùng, mạnh mẽ lấn át cả trời cao, cả không gian vũ trụ bao la, rộng lớn.<br>&nbsp; &nbsp; → Với các hình ảnh so sánh, phóng đại độc đáo, sự kết hợp giữa hiện thực và lãng mạn, giữa hình ảnh khách quan với cảm nhận chủ quan đã cho thấy sưc mạnh và tầm vóc của quân đội nhà Trần<br>&nbsp; &nbsp; ⇒ Như vậy, hai câu thơ đầu đã cho thấy hình ảnh người tráng sĩ hùng dũng, oai phong cùng tầm vóc mạnh mẽ và sức mạnh của quân đội nhà Trần. Nghệ thuật so sánh phong đại cùng giọng điệu hào hùng mang lại hiệu quả cao.<br>2. Nỗi lòng muốn bày tỏ của tác giả<br>- Giọng điệu: trầm lắng, suy tư, qua đó bộc lộ tâm trạng băn khoăn, trăn trở<br>- Nợ công danh: Theo quan niệm nhà Nho, đây là món nợ lớn mà một trang nam nhi khi sinh ra đã phải mang trong mình. Nó gồm 2 phương diện: Lập công (để lại chiến công, sự nghiệp), lập danh (để lại danh thơm cho hậu thế). Kẻ làm trai phải làm xong hai nhiệm vụ này mới được coi là hoàn trả món nợ.<br>- Theo quan niệm của Phạm Ngũ Lão, làm trai mà chưa trả được nợ công danh “thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”:<br>+ Thẹn: cảm thấy xấu hổ, thua kém với người khác<br>+ Chuyện Vũ Hầu: tác giả sử dụng tích về Khổng Minh - tấm gương về tinh thần tận tâm tận lực báo đáp chủ tướng. Hết lòng trả món nợ công danh đến hơi thở cuối cùng, để lại sự nghiệp vẻ vang và tiếng thơm cho hậu thế.<br>&nbsp; &nbsp; → Nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lão hết sức cao cả của một nhân cách lớn. Thể hiện khát khao, hoài bão hướng về phía trước để thực hiện lí tưởng, nó đánh thức ý chí làm trai, chí hướng lập công cho các trang nam tử<br>&nbsp; &nbsp; ⇒ Với âm hưởng trầm lắng, suy tư và việc sử dụng điển cố điển tích, hai câu thơ cuối đã thể hiện tâm tư và khát vọng lập công của Phạm Ngũ Lão cùng quan điểm về chí làm trai rất tiến bộ của ông<br>III. Kết bài<br>- Khái quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật<br>- Bài học đối với thế hệ thanh niên ngày nay: Sống phải có ước mơ, hoài bão, biết vượt qua khó khăn, thử thách để biến ước mơ thành hiện thực, có ý thức trách nhiệm với cá nhân và cộng đồng</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-31 08:24:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1969540756</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Nguyên Văn</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1969544305</link>
         <description><![CDATA[<div>"Sống có ích" không phải là điều dễ dàng cũng không thật sự là một điều khó khăn. Mấu chốt của việc sống có ích chính là từ ý thức bản thân của mỗi người. Ắt hẳn sẽ có nhiều người băn khoăn về việc sống có ích, sống có ích chính là lối sống tích cực phù hợp với thời đại; làm đẹp cho cuộc sống bản thân, sống hòa hợp với mọi người xung quanh, được nhiều người thừa nhận. Sống có ích còn phải có những hành động việc làm (giá trị vật chất), những tình cảm tốt đẹp (giá trị tinh thần) đem lại hiệu quả thiết thực cho cá nhân cũng như cho cộng đồng.</div><div>Sống có ích là khi chúng ta biết nghĩ đến người khác, biết hi sinh những cái nhỏ nhặt, từ bỏ những cám dỗ của xã hội và biết rộng mở vòng tay để có chia sẻ với những mảnh đời bất hạnh hơn chúng ta. Sống có ích là khi chúng ta phạm phải những lỗi lầm và tự hứa với bản thân sẽ sửa đổi và coi đó một kinh nghiệm quý giá trong cuộc sống. Sống có ích là khi chúng ta biết nghĩ đến người khác, không ích kỉ, nhỏ nhen với mọi người.</div><div>Cuộc sống không phải lúc nào cũng là một màu hồng thắm tươi, đôi khi sẽ những giọt nước mắt, những đổ vỡ, những cuộc chia ly, những nỗi đau, vết thương không thể nào lành được. Đừng vấp ngã bạn à! Đừng bỏ cuộc! Chúng hãy cố gắng sống có ích mỗi ngày để tìm được giá trị thực sự của cuộc sống, cuộc sống là như thế đôi khi nó buông tay ta nhưng ta phải níu nó lại để tìm được một chút hi vọng, một chút ý nghĩa để có thể biến một màu đen tăm tối thành một màu hồng tươi thắm. Sống có ích có một sức mạnh mãnh liệt giống tâm hồn ta thanh thản sau những vấp ngã, sau những khó khăn và thứ mà ta phải trải qua.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-31 08:31:07 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1969544305</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Nguyên Văn</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1969545571</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>I. Mở bài<br></strong><br></div><div>- Giới thiệu vê tác giả Phạm Ngũ Lão: Phạm Ngũ Lão là người văn võ song toàn, ông có nhiều sáng tác nói về chí làm trai và lòng yêu nước, song hiện chỉ còn lại hai bài thơ chữ Hán là Tỏ lòng (Thuật hoài) và Viếng Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương (Văn Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương)<br><br></div><div>- Giới thiệu khái quát nội dung và nghệ thuật bài thơ Tỏ lòng: Tỏ lòng là bài tơ Đường luật ngắn gọn, súc tích, khắc họa vẻ đẹp của con người có sức mạnh, có lí tưởng, nhân cách cao cả cùng khí thế hào hùng của thời đại.<br><br></div><div><strong>II. Thân bài<br></strong><br></div><div><strong>1. Hình tượng con người và sức mạnh quân đội nhà Trần<br></strong><br></div><div><strong>a) Hình tượng con người thời Trần<br></strong><br></div><div>- Hành động: hoành sóc – cầm ngang ngọn giáo<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; → Tư thế hùng dũng, oai nghiêm, hiên ngang sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc<br><br></div><div>- Không gian kì vĩ: giang sơn – non sông<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; → Không gian rộng lớn, mênh mông, nó không đơn thuần là sông, là núi mà là giang sơn, đất nước, Tổ quốc<br><br></div><div>- Thời gian kì vĩ: kháp kỉ thu – đã mấy thu<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; → Thời gian dài đằng đẵng, không biết đã bao nhiêu mùa thu, bao nhiêu năm đi qua, thể hiện quá trình đấu tranh bền bỉ, lâu dài.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; ⇒ Như vậy:<br><br></div><div>+ Hình ảnh người tráng sĩ cho thấy một tư thế hiên ngang, mạnh mẽ, hào hùng, sẵn sàng lập nên những chiến công vang dội<br><br></div><div>+ Hình ảnh, tầm vó những người tráng sĩ ấy sánh với núi sông, đất nước, với tầm vóc hùng vĩ của vũ trụ.<br><br></div><div><br></div><div>+ Người tráng sĩ ấy ra đi bảo vệ Tổ quốc ròng rã mấy năm trời àm chưa từng một giây phút nào cảm thấy mệt mỏi mà trái lại vẫn bừng bừng khí thế hiên ngang, bất khuất, hùng dũng<br><br></div><div><strong>b) Hình tượng quân đội thời Trần<br></strong><br></div><div>- “Tam quân” (ba quân): tiền quâ, trung quân, hậu quân – quân đội của cả đất nước, cả dân tộc cùng nhau đứng lên để chiến đấu<br><br></div><div>- Sức mạnh của quân đội nhà Trần:<br><br></div><div>+ Hình ảnh quân đội nhà Trần được so sánh với “tì hổ” (hổ báo) qua đó thể hiện sức mạnh hùng dũng, dũng mãnh của đội quân<br><br></div><div>+ “Khí thôn ngưu”: khí thế hào hùng, mạnh mẽ lấn át cả trời cao, cả không gian vũ trụ bao la, rộng lớn.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; → Với các hình ảnh so sánh, phóng đại độc đáo, sự kết hợp giữa hiện thực và lãng mạn, giữa hình ảnh khách quan với cảm nhận chủ quan đã cho thấy sưc mạnh và tầm vóc của quân đội nhà Trần<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; ⇒ Như vậy, hai câu thơ đầu đã cho thấy hình ảnh người tráng sĩ hùng dũng, oai phong cùng tầm vóc mạnh mẽ và sức mạnh của quân đội nhà Trần. Nghệ thuật so sánh phong đại cùng giọng điệu hào hùng mang lại hiệu quả cao.<br><br></div><div><strong>2. Nỗi lòng muốn bày tỏ của tác giả<br></strong><br></div><div>- Giọng điệu: trầm lắng, suy tư, qua đó bộc lộ tâm trạng băn khoăn, trăn trở<br><br></div><div>- Nợ công danh: Theo quan niệm nhà Nho, đây là món nợ lớn mà một trang nam nhi khi sinh ra đã phải mang trong mình. Nó gồm 2 phương diện: Lập công (để lại chiến công, sự nghiệp), lập danh (để lại danh thơm cho hậu thế). Kẻ làm trai phải làm xong hai nhiệm vụ này mới được coi là hoàn trả món nợ.<br><br></div><div><br></div><div>- Theo quan niệm của Phạm Ngũ Lão, làm trai mà chưa trả được nợ công danh “thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”:<br><br></div><div>+ Thẹn: cảm thấy xấu hổ, thua kém với người khác<br><br></div><div>+ Chuyện Vũ Hầu: tác giả sử dụng tích về Khổng Minh - tấm gương về tinh thần tận tâm tận lực báo đáp chủ tướng. Hết lòng trả món nợ công danh đến hơi thở cuối cùng, để lại sự nghiệp vẻ vang và tiếng thơm cho hậu thế.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; → Nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lão hết sức cao cả của một nhân cách lớn. Thể hiện khát khao, hoài bão hướng về phía trước để thực hiện lí tưởng, nó đánh thức ý chí làm trai, chí hướng lập công cho các trang nam tử<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; ⇒ Với âm hưởng trầm lắng, suy tư và việc sử dụng điển cố điển tích, hai câu thơ cuối đã thể hiện tâm tư và khát vọng lập công của Phạm Ngũ Lão cùng quan điểm về chí làm trai rất tiến bộ của ông<br><br></div><div><strong>III. Kết bài<br></strong><br></div><div>- Khái quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật<br><br></div><div>- Bài học đối với thế hệ thanh niên ngày nay: Sống phải có ước mơ, hoài bão, biết vượt qua khó khăn, thử thách để biến ước mơ thành hiện thực, có ý thức trách nhiệm với cá nhân và cộng đồng<br>&nbsp;<br>&nbsp; bài làm&nbsp;<br>Phạm Ngũ Lão&nbsp; là một nhân tài có lòng yêu nước nồng nàn và lòng dũng cảm phi thường. Ông không chỉ là một danh tướng của nhà Trần mà còn là một nhà thơ, người đã viết nhiều bài thơ về chí trai và lòng yêu nước. Tác phẩm tiêu biểu nhất của ông là tập thơ "Những lời thú tội". Văn bản thể hiện những tâm tư, tình cảm của vị tướng thiên tài, đồng thời tái hiện chân thực không khí Đông A sôi sục, hào sảng của thời đại bấy giờ.<br><br>Hai câu thơ đầu tác giả tập trung thể hiện vẻ đẹp hiên ngang trong tranh đấu cũng như vẻ đẹp đoàn kết tinh thần vượt mọi khó khăn gian khổ của những binh lính nhà Trần:</div><div><em>“Hoành sóc giang san kháp kỉ thu</em></div><div><em>Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”</em></div><div><em>(Múa giáo non sông trải mấy thu</em></div><div><em>Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu)</em></div><div>Hình ảnh con người nhà Trần hiện lên hiên ngang với ngọn giáo trong tay họ có thể đi bất cứ nơi nào có giặc, hành hiệp trượng nghĩa cứu giúp người nghèo kẻ yếu cũng như đánh đuổi quân xâm lược Mông Nguyên. Xét về vẻ đẹp hiên ngang ấy trong bản dịch chữ “hoành sóc” thành “múa giáo” không lột tả hết được sự hiên ngang ấy. Múa giáo thể hiện sự yếu ớt đồng nghĩa với việc không lột tả được sự hùng mạnh anh dũng của quân đội, con người nhà Trần. Hai chữ “hoành sóc” như khắc tạc lên những con người anh dũng lẫm liệt với ngọn giáo ngang trong tay đi khắp giang sơn để bảo vệ đất nước. Tưởng chừng quân giặc cả thế giới phải công nhận là sức mạnh kia chỉ là một ngọn gió nhẹ trước khí thế ngút ngàn của họ. Chúng mạnh về số lượng cũng như chất lượng, đầy đủ về vật chất nhưng chúng lại thiếu đi sự đánh giá và ý chí vượt qua gian khổ nên chúng phải chuốc lấy thất bại vì đã đánh giá thấp con người nhà Trần. Những con người ấy tuy có nhỏ bé về mặt thể chất hay không đông đảo như số lượng quân của nhà Mông nhưng ý chí của họ thì vượt qua hữu hạn về mặt thế chất và số lượng ấy. Và cứ thế với ngọn giáo ngang trong tay họ đã trải qua biết bao nhiêu mùa thu như thế để bảo vệ đất nước tổ quốc này. Họ góp phần tạo nên một đất nước tươi đẹp như xã hội ngày nay. Hình ảnh ngọn giáo trở nên thật đẹp khi được hiện lên trong cái rộng lớn của không gian và chiều dài của thời gian lịch sử. Hình ảnh ấy cũng như thể hiện được vẻ đẹp của chính tác giả trong những trận chiến nảy lửa, cam go vẫn ngang ngọn giáo để bảo vệ đất nước. Không chỉ đẹp về mặt ngoại hình con người nhà Trần còn hiện lên với vẻ đẹp của khí chất cao ngất, mạnh mẽ lấn át hết cả sao Ngưu trên trời. Sức mạnh của quân đội Sát Thát giống như hổ như báo có thể nuốt trôi cả một con trâu mộng. Hay cũng chính là vẻ đẹp đoàn kết ba quân một lòng khơi dậy trong nhau một tinh thần thép để có thể vượt qua những khó khăn chông gai của cuộc chiến và đi đến một cái kết đẹp và có hậu cho cuộc chiến tranh chính nghĩa bảo vệ tổ quốc.</div><div><br><br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-31 08:33:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1969545571</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1969552245</link>
         <description><![CDATA[<div>Ksor H' Wưn<br>Dàn ý Tỏ lòng<br><strong>I. Mở Bài<br></strong><br></div><div>- Giới thiệu tác giả Phạm Ngũ Lão<br><br></div><div>- Giới thiệu bài thơ Thuật hoài<br><br></div><div><strong>II. Thân Bài<br></strong><br></div><div>- Nhận xét chung về ý kiến: Nhận định trên đã cho thấy nội dung của bài thơ cũng những phẩm chất của người tráng sĩ đời Trần.<br><br></div><div><strong>1. Vẻ đẹp sức mạnh qua hai câu thơ đầu:<br></strong><br></div><div>Người tráng sĩ hiện lên oai phong lẫm liệt, múa "giáo" trong không gian rộng lớn của "giang sơn" và thời gian "kháp kỉ thu".<br><br></div><div>Hình ảnh ẩn dụ phóng đại "hổ khí thôn ngưu" - cho thấy sức mạnh của ba quân thời Trần.<br><br></div><div><strong>2. Vẻ đẹp lý tưởng và nhân cách qua hai câu thơ cuối:<br></strong><br></div><div>- Lý tưởng của kẻ làm trai thời này là phải làm nên công danh sự nghiệp. Qua đó cho thấy khát vọng làm nên những điều lớn lao<br><br></div><div>- Câu thơ cuối tập trung miêu tả nhân cách: tác giả tự thấy mình "thẹn" với Vũ Hầu vì thua kém về tài năng và trí tuệ. Đó là cái thẹn để thay đổi, để khẳng định bản thân mình và khát khao được cống hiến.<br><br></div><div><strong>III. Kết Bài<br></strong><br></div><div>Khẳng định vẻ đẹp bài thơ và tài năng của tác giả.<br><br>Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão là bài thơ đã làm nổi bật lí tưởng sống cao cả của chính tác giả.<br>Lý tưởng sống ấy của Phạm Ngũ Lão được thể hiện trong bài thơ thông qua bức tượng đài đẹp đẽ của một trang nam thi với tầm vóc hào hùng,tấm lòng đáng trọng và ý chí quyết tâm thực hiện những hoài bão cao đẹp trong hoàn cảnh đất nước có giặc ngoại xâm.<br>&nbsp;Đọc bài thơ, người đọc có thể nhận thấy hai câu thơ mở đầu bài thơ đã khắc họa một cách rõ nét, chân thực hình tượng của con người và quân đội thời trần. Trước hết đó chính là hình tượng con người thời Trần được khắc họa qua câu thơ đầu tiên:<br><br></div><div><em>Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu</em><br><em>(Múa ngang ngọn giáo trải mấy thu)<br></em><br></div><div>&nbsp; &nbsp; Câu thơ đã vẽ lên hình ảnh con người tay cầm ngang ngọn giáo mà bảo vệ, trấn giữ quê hương, đất nước. “Cầm ngang ngọn giáo” là một hành động rất mạnh mẽ, nó gợi lên tư thế hiên ngang, hùng dũng, sẵn sàng chiến đấu của người chiến sĩ. Thêm vào đó, tác giả còn đặt hình ảnh người tráng sĩ trong không gian “giang sơn” rộng lớn của núi rừng, của Tổ quốc và thời gian chiến đấu dài đằng đẵng, suốt từ năm này qua năm khác - “kháp kỉ thu” đã thêm một lần nữa tô đậm thêm tư thế tư thế hiên ngang, bất khuất của người tráng sĩ trong công cuộc đấu tranh bảo vệ quê hương, đất nước.<br>Thêm vào đó, hình tượng quân đội nhà Trần tràn đầy sức mạnh và khí thế cũng được tác giả Phạm Ngũ Lão tái hiện thật sống động, rõ nét.<br><br></div><div>Tam quân tì hổ khí thôn ngưu<br>(Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu)<br><br></div><div>“Tam quân” chính là ba quân trong được quân đội nhà Trần xây dựng, đó là tiền quân, trung quân và hậu quân.<br><br></div><div>Thêm vào đó, câu thơ với việc sử dụng hàng loạt các hình ảnh so sánh và lối nói phóng đại khi so sánh quân đội nhà Trần với “tì hổ” – sức mạnh của loài hổ báo, nó có thể át đi cả sao Ngưu trên trời đã cho thấy khí thế dũng mãnh, hào hùng của quân đội nhà Trần.<br><br></div><div>Đó cũng chính là sức mạnh, là khí thế của hào khí Đông A được cả dân tộc tự hào.<br><br></div><div>Như vậy, hai câu thơ mở đầu bài thơ, với hình ảnh so sánh, phóng đại và giọng điệu hào hùng đã khắc họa một cách rõ nét tư thế hiên ngang, bất khuất của các tráng sĩ thời Trần cùng sức mạnh, tầm vóc mạnh mẽ của quân đội nhà Trần.<br>&nbsp;Hai câu thơ sau lại là dùng để thể hiện nỗi lòng của người tráng sĩ. Nỗi lòng đó là cái chí, cái tâm của người anh hùng:<br><br></div><div><em>“ Nam nhi vị liệu công danh trái,<br></em><br></div><div><em>Tu thính nhân gian Thuyết vũ hầu.”<br></em><br></div><div>&nbsp; &nbsp; Ở đây, chí làm trai mang tinh thần, tư tưởng tích cực của nho giáo là lập công, lập danh, lập nghiệp. Quan niệm lập công danh đã trở thành một quan niệm lý tưởng để đánh giá nam nhi thời phong kiến xưa. Công danh được coi là món nợ đời mà kẻ làm trai phải trả. Trả xong nợ công danh tức là có nghĩa đã hoàn thành nhiệm vụ đối với đời, với dân, với nước. Chí làm trai thời bây giờ khiến cho con người có thể từ bỏ lối sống tầm thường, ích kỷ để thay vào đó là sự hy sinh, chiến đấu cho sự nghiệp lớn lao, cứu nước và giữ nước.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; Điều đáng chú ý hơn nữa đó là bên cạnh cái chí của người anh hùng thì cái tâm còn sáng tỏ hơn nữa. Cái tâm ấy thể hiện qua nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lão. Ông thẹn khi mình chưa có tài mưu lược lớn như Vũ hầu Gia Cát Lượng thời Hán để giúp cho Hán Vũ Đế cứu nước, cứu dân. Một cái nỗi thẹn nhưng không khiến cho người thẹn bị hạ thấp danh phẩm mà nó lại khiến cho ta càng trân trọng yêu thương phẩm giả tuyệt vời của thi nhân. Nỗi thẹn đặc biệt ấy vừa có giá trị nhân cách vừa cao cả, lớn lao.<br><br>Với tác giả, không thể nào chấp nhận một cuộc sống không công danh, một sự tồn tại nằm ngoài trách nhiệm với dân tộc, với đất nước.<br><br></div><div>Bài thơ được viết nên bởi cả tấm lòng của người quân tử. Chỉ với 4 câu thơ thôi nhưng ý tứ thật sâu sắc, chí nguyện giúp đời cứu nước thật lớn lao.<br><br></div><div>Bài thơ đã thôi thúc trong lòng em ý thức sống trách nhiệm với bản thân, gia đình và đất nước mình, sẽ sống hết mình, cống hiến thật nhiều cho sự phát triển của Tổ quốc hôm nay và mai sau.<br><br></div><div><br><br></div><div><br><br></div><div><br><br></div><div><br><br><br></div><div><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-31 08:46:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1969552245</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1969553109</link>
         <description><![CDATA[<div>                      LÊ ĐỨC HOÀNG<br>Phạm Ngũ Lão là một trong những danh tướng nước ta thời nhà Trần. Ông không viết thơ nhiều nhưng tác phẩm của ông đều để lại những dấu ấn riêng. Bài thơ "Thuật hoài" hay còn gọi là "tỏ lòng" là một tác phẩm nổi tiếng của Phạm Ngũ Lão thể hiện tình yêu nước nồng nàn cùng niệm tự hào và khát vọng cống hiến khi tổ quốc bị xâm lăng.<br>Bằng lối viết trực tiếp, mở đầu hai câu thơ tác giả đã dựng những nét vẽ đầu tiên về chân dung người tráng sĩ Đông A:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Hoàng sóc giang sơn kháp kỉ thu<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Tam quân tì hổ khí thôn ngưu</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; (Múa giáo non sông trải mấy thu<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu)<br>Hình ảnh con người thời Trần hiện lên với vẻ đẹp kiêu hãnh, khí chất ngời ngời được miêu tả qua hai từ đầu tiên là “hoành sóc”, tư thế oai phong lẫm liệt của anh như khắc họa đậm nét những con người anh dũng lẫm liệt với ngọn giáo trong tay đi khắp giang sơn để bảo vệ quê hương, đất nước .. Nó như một tượng đài kiêu hãnh, sừng sững , hiên ngang “giang sơn” và dòng thời gian chảy xiết “tháp kỉ thu” ngày nào đã mang vẻ đẹp hào hùng mà anh hùng trải qua. Vận mệnh và hòa bình của đất nước được đặt lên ngọn giáo kia đó&nbsp; là trọng trách lớn lao đặt lên vai những người anh hùng, nhưng đó cũng là ngọn giáo đó, là điểm tựa vững chắc để bảo vệ sự tồn vong của cả dân tộc. Câu thơ không chủ ngữ mang hàm ý của tác giả: đó không phải chỉ là hình ảnh của một người, mà là đại diện của nhiều người trong một thời đại, khí thế sục sôi của đất trời Đông A<br>Chưa từng có thời đại nào trong lịch sử mà hình ảnh con người lại trở nên oai phong, lẫm liệt, hùng vĩ đến vậy: “tam quân, tì hổ khí khôn ngưu”. Sự kết hợp của ẩn dụ ước lệ kết hợp với phép phóng đại đã tạo cho người đọc một ấn tượng mạnh mẽ về khí thế dũng mãnh, kiên cường. Sự hiện diện đáng tự hào của quân đội ta phi thường đến mức có thể “nuốt trôi trâu”. Ẩn sau cách nói cường điệu hóa, người đọc cảm nhận được lòng tự tôn, niềm tự hào dân tộc của nhà thơ khi đưa tầm vóc của quân dân nhà Trần sánh ngang với vũ trụ bao la. Đây cũng là dân tộc yêu quê hương đất nước, khát vọng vùng lên bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc. Vẻ đẹp của người tráng sĩ , hiên ngang là kết tinh của vẻ đẹp dân tộc, nó không chỉ là vẻ đẹp của một anh hùng nào đó mà còn là vẻ đẹp vĩnh hằng của một dân tộc anh hùng.<br><br><br></div><div><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-31 08:48:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1969553109</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Nhật Minh dàn ý cảm nhận về bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1969557919</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1516259508/2c9e9b53c689bced330655536abaf132/l_e.docx" />
         <pubDate>2021-12-31 08:57:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1969557919</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Ksor H&#39; Wưn </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1969558662</link>
         <description><![CDATA[<div>NGHỊ LUẬN XÃ HỘI<br>Em có rất nhiều suy nghĩ về ý nghĩa của sống hữu ích trong cuộc đời mỗi con người. Vậy sống hữu ích là gì? Đó là lối sống tích cực, luôn mang lại những giá trị tốt đẹp cho cuộc sống. Người sống hữu ích sẽ được mọi người yêu mến và ngợi ca. Thực tế cho thấy có rất nhiều người có phong cách sống này. Tiêu biểu Nick Vujicik, dù là người khuyết tật, những tưởng anh sẽ chẳng thể sống có ích, đem lại nhiều điều cho cuộc sống. Nhưng không, anh đã cảm hóa được rất nhiều người có hoàn cảnh như anh. Hơn hết, anh còn khơi gợi lên những giá trị vô cùng tốt đẹp đến với thế giới này. Thật vậy, sống có ích không chỉ giúp tâm hồn bạn được rộng mở mà nó còn giúp bạn có cái nhìn thiện cảm với đời hơn. Chưa dừng lại ở đó, sống hữu ích còn là một trong những lối sống được mọi người ưa chuộng, làm theo. Tuy nhiên, cạnh bên những người sống có ích vẫn còn có những người sống chỉ biết nghĩ đến bản thân, không biết san sẻ hạnh phúc của mình cho người khác. Nhưng ta cũng không thể sống tốt đẹp với những kẻ bần tiện, vô lương tâm. Thật vậy, mỗi chúng ta hãy sống tốt, sống luôn tỏa hương thơm ngát cho đời. Đừng sống vị kỉ và xấu xa</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-31 08:58:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1969558662</guid>
      </item>
      <item>
         <title>LÊ ĐỨC HOÀNG</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1969572329</link>
         <description><![CDATA[<div>Bài thơ này là nỗi niềm của Phạm Ngũ Lão muốn gửi gắm,cống hiến hết mình đồng thời nó cũng thể hiện ý chí dũng cảm, mạnh mẽ và đầy nghị lực của con người thời Trần.<br><br></div><div>Hào Khí Đông A là niềm tự hào của nhà Trần, là niềm kiêu hãnh, hào khí oai hùng,hào sảng&nbsp; của nhà Trần, là khát vọng của thời đại, là người góp phần bảo vệ non sông đất nước.<br><br></div><div>Nó là một biểu tượng đi vào thơ ca, một vẻ đẹp yêu nước và nó mang một hơi thở hoàn toàn khác với những thời đại khác.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Múa giáo non sông trải mấy thu<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu<br><br></div><div>So sánh với bản dịch thơ: Động tác cầm ngang ngọn giáo, thể hiện sự oai phong, lẫm liệt của con người nhà Trần luôn sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.. Còn "múa giáo" mang thiên hướng phô trương cao về kĩ thuật cầm giáo.<br><br></div><div>&nbsp;<br><br></div><div>Bài thơ này khắc họa&nbsp; vẻ đẹp của đất nước và con người thời Trần, một bức tranh khắc họa rõ nét về thời gian và không gian. Bao la sông núi của đất nước thật kỳ vĩ, bao la. vũ trụ. Trong một khoảng thời gian dài, “trải mấy thu”. Giúp làm nổi bật, rõ ràng, tô đậm,rõ nét đẹp của con người thời Trần thật vĩ đại cả qua hành động "Hoành&nbsp; sóc", tư thế oai nghiêm và to lớn<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-31 09:28:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1969572329</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Thảo Ly </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1969579491</link>
         <description><![CDATA[<div>Cảm nhận bài thơ Tỏ Lòng<br>&nbsp;Phạm Ngũ Lão xuất thân là một người văn võ song toàn nên được trọng dụng .Ông là con rễ của Trần Hưng Đạo là người có nhiều công lao chống quân xâm lược Mông Nguyên .Phạm Ngũ Lão là một danh tướng tài ba lỗi lạc lại ghi tên mình vào văn chương có một số tác phẩm đặc sắc, trong đó có bài Tỏ lòng (Thuật Hoài).<br><br>Bài thơ ‘’Tỏ Lòng’’ ra&nbsp; đời trước thềm cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông – Nguyên lần thứ hai , do đó bài thơ mang đậm hào khí Đông A&nbsp; thời Trần . Bài thơ đã khắc họa được vẻ đẹp vị tướng và quân đội thời Trần mạnh mẽ tong hí thế sực sôi , giết giặc. Mở đầu bài thơ, Phạm Ngũ Lão đã thể hiện được vẻ đẹp&nbsp; sức mạnh của con người thời Trần mạnh mẽ , oai phong, lẫm liệt:</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <em>Múa giáo non sông trải mấy thu</em></div><div><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; (Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu)</em></div><div>Câu thơ đầu khắc họa được không gian rộng lớn với tâm thế hiên ngang , hùng dũng của người tráng sĩ . Những con người thời Trần đã đc khắc họa trong một phông nền có tính kì vĩ, rộng lớn của không gian và thời gian . Không gian đó là’’ giang sơn’’ nghĩa là non sông đất nước, có tầm vóc vũ trụ.Thời gian ‘’ kháp kỉ thu’’ được trải ra không có giới hạn , như được mở rộng ra hết . Đó là phông nền kì vĩ cho sự xuất hiện của con người. Tuy vóc dáng nhỏ bé hơn trước thiên nhiên, không gian và thời gian những tầm vóc của họ thì không hề nhỏ.Người tráng sĩ thời Trần hiên ngang, hùng dũng và làm chủ mọi vật.Tầm vóc vĩ đại , to lớn của con người thời Trần và tầm vóc ấy càng được thể hiện rõ hơn qua hành động’’ hoành sóc’’đó chính là cầm ngang ngọn giáo . So với bản dịch thơ, hai chữ ‘’ hoành sóc’’ở bản phiên âm đã thể hiện rõ hơn khí phách, oai hùng, hiên ngang , lẫm liệt của người anh hùng khi luôn trong tư thế sẵn sàng bao vệ Tổ Quốc . Còn 2 chữ ‘’ múa giáo’’ trong bản dịch thơ tạo ra cảm giác thiên về phô diễn kĩ thuật nhiều hơn.Ngọn giáo mà người tráng sĩ cầm ngang để bảo vệ Tổ quốc là ngọn giáo bình thường nhưng lại được đo bằng chiều dài của giang sơn nên đã nâng cao tầm vóc của người anh hùng sánh ngang với tầm vóc vũ trụ.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<em>Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu</em></div><div><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; (Tam quân tì hổ khí thôn ngưu)</em></div><div>Câu thơ thứ hai là hình ảnh quân đội nhà Trần,quân đội ngày xưa thường có ba đội quân lớn là tiền quân, trung quân và hậu quân. Bởi vậy, hình ảnh ‘’tam quân’’ đã khái quát được toàn bộ hình ảnh đông đảo của quân đội nhà Trần .Tác giả đã sử dụng nghệ thuật so sánh để cho thấy sức mạnh của quân đội nhà Trần như hổ báo vốn là chúa sơn lâm, vì thế , hình ảnh so sánh này đã gợi ra được khí thế hào hùng, sục sôi của quân đội nhà Trần .Khí thế ấy còn được khắc họa qua hình ảnh giàu sức gợi- khí thôn ngưu. Câu thơ này có hai cách hiểu :thứ nhất, theo cách hiểu truyền thống ba quân có sức mạnh như hổ báo khí thế át cả sao Ngưu. Thứ hai, ba quân dũng mãnh , khí thế nuốt trôi trâu . Nếu ngưu là trâu thì câu thơ thiên về lột tả sức mạnh vật chất, sự dũng mãnh của quân đội nhà Trần.Vì thế, chúng ta nên hiểu theo cách thứ hai để thấy được hào khí Đông A.Với hai câu thơ đầu , tác giả Phạm&nbsp; Ngũ Lão đã khắc họa thành công vẻ đẹp sức mạnh người tráng sĩ tuy nhỏ bé nhưng mưu cao chí lớn . Đó là những phẩm chất đáng quý của con người có lý tưởng lớn, khát vọng lớn.</div><div>Hai câu thơ cuối , nhà thơ đã thể hiện nổi lòng và&nbsp; nhân cách của mình:</div><div><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Công danh nam tử còn vương nợ</em></div><div><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; (Nam nhi vị liễu công danh trái)</em></div><div>Hai từ ‘’ công danh’’ là quy luật tất yếu trong cuộc đời của đấng nam tử.’’Nợ công&nbsp; danh’’là món nợ mà ai cũng phải trả, nam nhi thời Trần cũng không ngoại lệ.Nhưng với người tráng sĩ ‘’bình nguyên’’ thuở ấy , thời điểm đất nước đang bị giặc xâm chiếm thì ‘’ nợ công danh’’ mà họ phải trả lại ở một tầm vóc khác .Đó là sự cống&nbsp; hiến hết mình, làm sao để bảo vệ độc lập chủ quyền, để nhân dân ấm no, yên ổn, và kẻ nam nhi nguyện phải trả nguyện đền bằng cả tính mạng và xướng máu của mình.</div><div><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu</em></div><div><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;( Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu)</em></div><div>&nbsp;Phạm Ngũ Lão đã khẳng định sự hổ thẹn của mình khi nghe người đời kể chuyện Vũ Hầu ( Khổng Minh-Gia Cát Lượng).Gia Cát Lượng vốn là một bật kì tài thời Tam quốc Trung Hoa, ông vừa là một nhà chính trị, một nhà tư tưởng vừa là quân sự ngoại giao, ông đã có những đóng góp rất lớn cho sự nghiệp Lưu Bị và người đời sau thường lấy ông làm tấm gương sáng để phấn đấu noi theo.Việc Phạm Ngũ Lão thấy hổ thẹn khi nghe chuyện về Vũ Hầu cho thấy ông là một người không bằng lòng với những gì mình đang có, chưa bao giờ bằng lòng với những gì mình đạt được.Người ta thường hổ thẹn khi làm những việc sai trái, việc xấu và cảm xúc đó khiến cho con người nhỏ bé đi.Nhưng với PNL nỗi thẹn lại cho thấy một nhân cách lớn lao, đẹp đẽ.Nỗi thẹn của PNL thực chất là khát khao lập công , phụng sự nhà Trần, là lời thề suốt đề tận trung với nước với dân của PNL.Nó cho tháy quyết tâm không ngừng của PNL. Hai câu thơ cuối cho thấy PNL là một võ tướng tài ba nhưng lại có trái tim nhạy cảm của một thi nhân.’’Thuật Hoài’’là bài thơ trữ tình bày tỏ được vẻ đẹp, hoài bão lớn lao của tuổi tẻ đương thời.<br>Tóm lại,bài thơ hiện lên một đấng nam nhi thời đại bình nguyễn, với khát vọng có thể phá được cường địch để báo đáp hoàng ân, để non sông được hưởng vàng.Vẻ đẹp của người anh hùng lòng trong vẻ đẹp của thời đại làm nên vẻ đẹp hào khí Đông A.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-31 09:46:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1969579491</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tỏ lòng ( lê thị hương)</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1969609926</link>
         <description><![CDATA[<div>Văn học rung đại Việt Nam Là mạch nguồn trong dòng chảy của cảm hứng yêu nước, mang hơi thở của hào khí Đông A . Đây chính là hào khí của thời đại nhà trần với tình thần quyết chiến, quyết thắng. Ngược dòng thời gian, chúng ta như được sống lại với những tác phẩm văn học thấm đẫm tình yêu nước và hào khí ấy quá tác phẩm Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, Nam Quốc Sơn Hà của Lí Thường Kiệt, Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi. Đây có thể coi là những áng văn bất hủ, làm ngời sáng lên vẻ đẹp của cả dân tộc. Hoà chung vào dòng chảy bất tận của những nguồn cảm hứng lớn lao ấy, Phạm Ngũ Lão đã viết bài thơ " Tỏ lòng " như truyền đến cho người đọc vẻ đẹp trong sức mạnh, trong khí thế hào hùng của quân dân nhà Trần.&nbsp;<br>Nhắc đến Phạm Ngũ Lão ta nghĩ ngay đến 1 đánh tướng thời Trần. Ông là 1 người có công rất lớn trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên - Mông . Tuy là một võ tài bà nhưng ông lại rất thích đọc sách ngâm thơ và từng đọc được ngợi ca là một người văn võ song toàn. Bài thơ được ra đời trong khí thế quyết chiến, quyết thắng giặc Nguyên - Mông của cả dân tộc. Qua thì phẩm này, tác giả đã khắc hoạ vẻ đẹp của người có sức mạnh, có lí tưởng,có nhân cách cao cả cùng khí thế hào hùng của thời đại nhà Trần.&nbsp;<br>Trước hết, hai câu thơ mở đầu của bài thơ này, tác giả đã hướng ngòi bút tô đậm vẻ đẹp trong hình tượng người tráng sĩ và sức mạnh quân đội nhà Trần:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;" Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Tam quân tì hổ khí thôn ngưu"&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;( Múa giáo non sông trải mấy thU<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu)<br>Hình ảnh người tráng sĩ hiện lên qua hai từ " hoành sóc"- hành động của người cầm ngang ngọn giáo. Đây là một tư thế hào hùng, hiên ngang, lẫm liệt và đầy kiêu hãnh của người với khát vọng chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Bản dịch thơ dịch thành "múa giáo" tuy thể hiện được sự điêu luyện, bền bỉ, dẻo dai, khéo léo nhưng lại làm mất đi sự cứng rắn, mạnh mẽ và tư thế hiên ngang hào hùng của người tráng sĩ. Trong câu thơ này, còn người xuất hiện trong bối cảnh không gian và thời gian đều rộng lớn. Không gian mở theo chiều rộng của núi sông và mở lên theo chiều cao của sao Ngưu thăm thẳm. Thời gian không phải đo bằng ngày, bằng tháng mà đo bằng năm, không phải mới một năm mà đã mấy năm rồi ( kháp kỉ thu). Con người cầm cây trường giáo( cũng đo bằng chiều ngang của non sông), lại được đặt trong một không gian, thời gian như thế thì thật kì vĩ. Còn người hiên ngang ấy mang tầm vóc của con người vũ trụ, non sông.Tác giả đã thành công khi sử dụng nghệ thuật đối qUa&nbsp; hình ảnh " hoành sóc" với " giang sơn" cho ta thấy được một người nhỏ bé cùng ngọn giáo trong tay với đất nước, núi sông rộng lớn, bao la. Hình ảnh thơ góp phần tôn vinh vẻ đẹp của người tráng sĩ ấy vẫn kiên cường, bền bỉ chiến đấu.<br>Nếu câu thơ đầu thể hiện vẻ đẹp của con người với tầm vóc tư thế, hành động lớn lao kì vĩ thì câu thơ thứ hai , tác giả mở ra trước mắt chúng ta hình ảnh của bà quân, tượng trưng cho sức mạnh của cả dân tộc:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;" Tam quân tì hổ khí thôn ngưu"<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; ( Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu)<br>Tam quân ở đây chỉ quân đội nhà Trần. Ngưu ở đây có thể hiểu là "sao Ngưu" hoặc "trâu". Hình ảnh quân đội nhà Trần Trọng tư thế xông lên giết giặc với sức mạnh, khí thế bừng bừng. Bằng nghệ thuật so sánh kết hợp với phóng đại quá hình ảnh " tì hổ khí thôn Ngưu", nhà thơ cho ta cảm nhận được sức mạnh và tinh thần, ý chí chiến đấu của quân đội nhà Trần hùng mạnh như hổ, báo- những động vật mạnh nhất của rừng xanh và sức mạnh ấy có thể nuốt trôi trâu. Nhưng&nbsp; cũng có thể giải thích theo cách khác, với cách hiểu là: ba quân hùng mạnh khí thế át sao Ngưu. Dù hiểu theo cách nào thì điều mà tác giả muốn nhấn mạnh chính là khí thế hào hùng giết giặc, lập công, tính thần chiến đấu của quân đội nhà Trần. Có thể nói, quân đội nhà Trần mạnh cả về trí và lực, không những nó có được đầy đủ bình hùng tướng mạnh mà còn có những vị đại tướng quân trí dũng song toàn như Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão,.... Vì thế thật không quá khoa trương khi nói : cái khí thế ấy đúng là đủ sức làm đổi thay trời đất.&nbsp;<br>Chỉ với hai câu thơ thật ngắn gọn, súc tích nhưng lại chứa đựng hai hình ảnh lớn lao, phí thường. Hình ảnh người tráng sĩ cầm ngang ngọn giáo đi cứu nước đã bao nhiêu năm nhưng không một chút mệt mỏi. Thêm vào đó là hình ảnh ba quân xông lên giết giặc bừng bừng hùng khí. Đẹp hơn nữa là hình ảnh người tráng sĩ được lồng vào trong hình ảnh dân tộc, mang tầm vóc sử thì. Đây chính là sức mạnh, là hơi thở, là âm vang thời đại, là vẻ đẹp của người thời Trần hay đó chính là sản phẩm của hào khí Đông A.&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp;Nếu như hai câu đầu giọng điệu sôi nổi hùng tráng để tái hiện được sức mạnh, khí thế của cả một thời đại thì hai câu thơ cuối như một nốt nhạc trầm lắng để Phạm Ngũ Lão bày tỏ nổi niềm bộc bạch tâm trạng của lòng mình để rồi qua đó ta thấy ngời sáng lên vẻ đẹp trong tâm hồn, nhân cách vĩ đánh tướng ấy.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; " Nam nhi vị liễu công danh trái<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu"<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;( Công danh nam nhi còn vương nợ,<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Luống thẹn tại nghe chuyện Vũ hầu)<br>Vẻ đẹp của người con trai thời Trần không chỉ thể hiện ở tầm vóc, tư thế, khí phách,sức mạnh mà trên hết còn thể hiện ở cái chí, cái tâm của người tráng sĩ. Điều đó đã được thể hiện rõ nét tư tưởng nam nhi, chí gắn với ý thức, trách nhiệm gắn với hai chữ" công danh". Phạm Ngũ Lão khẳng định đã là nam nhi thì phải có ý thức lập công để lại sự nghiệp, lập danh để lại tiếng thơm muôn đời. Đây chính là món nợ phải trả. Trả được món nợ công danh nghĩa là đã hoàn thành nhiệm vụ của dân đối với nước. Trong kho tàn văn học Việt Nam, ta vẫn thường hay bắt gặp rất nhiều bài thơ gắn với tư tưởng nam nhi chí，trong đó phải kể đến Nguyễn Công Trứ với "chí làm trai":<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; " Làm trai đã ở trong trời đất&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Phải có đánh gì với núi sông"<br>Hay:<br>" Không công danh chị ngang với cỏ cây"<br>Còn Phan Bội Châu có bài thơ"xuất dương lưu biệt" lại khẳng định:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; " Làm trai phải lạ trên đời.&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Há để&nbsp; càn khôn tự chuyển dời"<br>Có thể nói chí làm trai của Phan Bội Châu hay quan niệm của Phạm Ngũ Lão đều xuất phát từ cái tôi cá nhân đầy trách nhiệm với đất nước và nhân dân. Chính từ suy nghĩ như vậy mà trong trái tim của vị danh tướng này đã trào dâng một nổi thẹn lớn vì mình chưa được như Vũ Hầu Gia Cát Lượng, nghĩa là vẫn muốn lập công lập danh để giúp nước giúp đời:<br>&nbsp; &nbsp;" Luống thẹn tại nghe chuyện Vũ hầu"<br>Phạm Ngũ Lão thấy thẹn với Gia Cát Lượng, thẹn vì mình chưa có tài mưu lược lớn như người xưa để trừ giặc cứu nước. Ông còn thấy thẹn vì sợ với cha ông, những cống hiến, đóng góp của mình còn bé nhỏ, chưa có gì đáng nói. Gia Cát Lượng vốn là quân sư của Lưu Bị từng giúp Lưu Bị khôi phục nhà hán. Tuy nhiên yếu tố làm cho Gia Cát Lượng nổi tiếng là lòng trung hiếu. Phải chăng, nổi thẹn này của Phạm Ngũ Lão ngầm thể hiện một lời thề suốt đời trung thành với chủ tướng Trần Hưng Đạo. Nổi thẹn này còn được hiểu là một cách nói thể hiện khát vọng hoài bảo, sánh ngang với Vũ hầu. Nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lão thể hiện sự khiêm nhường. Nó không làm cho con người trở nên nhỏ bé mà góp phần nâng cao phẩm giá con người. Từ nổi thẹn của Phạm Ngũ Lão, ta chợt nhớ đến nổi thẹn của Tam Nguyên Yên Đổ - Nguyễn khuyến trong bài " Thu vịnh ":<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;" Nhân hứng cũng vừa toàn cất bút,<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Nghĩ lại thẹn với ông Đào"<br>Đây chính là nổ thẹn làm nên nhân cách lớn.<br>Bài thơ không chỉ sâu sắc bởi nội dung tư tưởng mà kết tinh được những yếu tố nghệ thuật đặc sắc. Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt đường luật ngắn gọn đạt tới độ súc tích cao. Giọng điệu thơ khoẻ khoắn hào hùng, cơ lúc trầm lắng, thấm đẫm suy tư. Ngôn ngữ và hình tượng thơ mang vẻ đẹp kì vĩ, tráng lệ bơi rất nhiều biện pháp nghệ thuật góp phần làm tăng tính hình tượng và tăng sắc thái biểu cảm.<br>Bài thơ là sự phản ánh của một thời đại hào hùng, khi lí tưởng trung quân ái quốc hoà nhập trọn vẹn trong tính cảm tâm hồn nhà thơ, thời đại " vua tôi đồng lòng, Anhem hòa thuận, cả nước gắng sức". Tâm nguyện của Phạm tướng quân đã phản chiếu tâm tư của bao người trai nhà Trần: ý thức rõ giá trị bản thân, sự gắn bó giữa cá nhân với cộng đồng - dân tộc - đất nước. Xúc cảm hào hùng toả sáng trong hình tượng thơ, đem đến cho người đọc cái nhìn trọn vẹn về con người thời đại Đông A.<br><br><br><br><br><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-31 11:05:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1969609926</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phan Hữu Lộc</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1969625524</link>
         <description><![CDATA[<div>*Mở bài và 2 câu thơ đầu bài thơ Tỏ Lòng:</div><div>Ở thời Trần có một vị tướng giỏi là Phạm Ngũ Lão, tuy là một võ tướng nhưng ông lại thích đọc sách ngâm thơ và được người đời ca ngợi là văn võ toàn tài. Cuộc đời của ông đã để lại hai tác phẩm sống mãi với thời gian. Nhưng ấn tượng nhất có lẽ là bài thơ “Tỏ lòng” (Thuật hoài). Bài thơ của ông đã khắc họa đã khắc họa được vẻ đẹp của con người có sức mạnh cũng như lý tưởng, nhân cách cao cả cùng khí thế hào hùng của thời đại</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Múa giáo non sông trải mấy thu<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Hào Khí Đông Á thời bấy giờ được thể hiện mạnh mẽ trong câu thơ trên đồng thời miêu tả một vẻ đẹp cầm giáo hiên ngang của con người thời Trần. Ngọn giáo ấy không chỉ là vũ khí chiến đấu của những người anh hùng như Phạm Ngũ Lão mà còn là một thứ thể hiện sức mạnh, bản lĩnh cũng như ý chí bất khuất của mình. Họ đã cùng ngọn giáo trải qua bao nhiêu chiến công lẫy lừng trên con đường đánh giặc bảo vệ đất nước . Tầm quan trọng của ngọn giáo trong suốt một thời gian lịch sử lâu dài với " trải mấy thu " đã thể hiện lên như muốn nói lên tầm quan trọng của ngọn giáo đối với lịch sử hùng vĩ của dân tộc.</div><div>Sau câu thơ trên miêu tả một vẻ đẹp của những anh hùng cầm giáo thì câu thơ tiếp theo tác giả đã mang đến cho chúng ta một vẻ đẹp của quân đội thời Trần :<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu</div><div>Câu thơ cho ta thấy được hình ảnh một quân đội mang cả sức mạnh về quân dân và tinh thần , một sức mạnh to lớn có thể vượt qua mọi khó khăn. Và chiến thắng quân Mông - Nguyên là một chứng minh cho sự hùng mạnh đó . Ba đội quân ý chí bất khuất , hùng dũng trên con đường giải cứu đất nước dù nguy hiểm đến mấy cũng không làm vơi đi sức mạnh trong lòng quân ta được. Một câu thơ được Phạm Ngũ Lão miêu tả vô cùng độc đáo , qua đó thể hiện được rõ ràng chủ nghĩa yêu nước anh hùng .</div><div>Hai câu tứ tuyệt chỉ mười bốn chữ ngắn gọn, cô đúc nhưng đã tạc vào thời gian một bức tượng đài tuyệt đẹp về người lính quả cảm trong đạo quân Sát Thát nổi tiếng đời Trần.</div><div>&nbsp;</div><div>&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-31 11:48:32 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1969625524</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Phan Thanh Ngân</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1973491790</link>
         <description><![CDATA[<div>2 câu sau bài tỏ lòng<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;"Công danh nam tử còn vương nợ&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu"<br><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; (Nam nhi vị liễu công danh trái<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu)<br>&nbsp;Trong hai câu thơ sau, Phạm Ngũ Lão nhấn mạnh hoài bão, ý chí của bậc nam nhi về việc lập công danh để đời ( nam nhi -&gt; chỉ người làm trai; công danh trái-&gt; là món nợ công danh của kẻ làm trai ). Thể hiện những tâm sự nỗi long của Phạm Ngũ Lão,từ đó cho thấy vẻ đẹp nhân cách lẫn tấm hồn của ông.<br>&nbsp; Câu thơ "Công danh nam tử còn vương nợ" Phạm Ngũ Lão đã nhắc đến một vấn đề vô cùng quan trọng đối với bất cứ đấng nam nhi nào sống trong thời đại xưa, đó là món nợ công danh của chí làm trai. "Nợ công danh" ở đây không chỉ là món nợ tầm thường của riêng bản thân mà đó còn là món nợ lớn đối với đất nước, là ý chí tài năng của một nam tử hán, đại trượng phu đầu đội trời chân đạp đất,dám nghĩ, dám làm, dám hi sinh cả tính mạng, xương máu&nbsp; vì sự nghiệp của dân tộc, theo quan niệm nho giáo đây là món nợ không thể không trả.<br>&nbsp; Nguyện ước lập công danh còn trở đi trở lại trong thơ của nhiều tri thức Nho sĩ như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùn Khắc Khoan, Cao Bá Quát, đặc biệt là Nguyễn Công Trứ&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Đã mang tiếng ở trong trời đất<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Phải có danh gì với núi sông<br>&nbsp; Phạm Ngũ Lão là một danh tướng nhà Trần, ông đã lập được nhiều chiến công lừng lẫy góp phần lớn vào chiến thắng quân dân Đại Việt ta. Rõ ràng..ông đã trả được món nợ công danh, thoả được chí làm trai... tuy vậy bản thân ông vẫn cho rằng mình chưa trả được món nợ này. Qua đó cho thấy ông là một vị tướng tài cao lại khiêm tốn, khiêm nhường, không ngừng học hỏi và có chí khí.&nbsp;<br>&nbsp; Phạm Ngũ Lão còn khẳng định cảm thấy "hổ thẹn" khi nghe "thuyết Vũ Hầu". Ông đã khéo léo khi nhắc đến một người đa mưu túc trí là Gia Cát Lượng để thể hiện nỗi thẹn của mình. Gia Cát Lượng vốn là một bậc kì tài thời Tam Quốc của Trung Hoa, ông vừa là một nhà chính trị, một nhà tư tưởng văn vừa là nhà quân sự ngoại giao, ông đã có những đóng góp rất lớn cho sự nghiệp Lưu Bị và người đời sau thường lấy ông làm tấm gương sáng để phấn đấu noi theo. Việc Phạm Ngũ Lão thấy thẹn khi nghe chuyện về Gia Cát Lượng cho thấy ông là một người bằng lòng với những gì mình đã có, không bằng long với những gì mình chưa đạt được. Nhưng cái "thẹn" ấy lại càng làm toát lên nhân cách cao đẹp của ông; người ta chỉ thẹn khi làm việc sai trái, làm việc xấu camr xúc ấy làm cho con người bị rụt lại nhỏ bé đi, còn Phạm Ngũ Lão lại thẹn vì mưu trí chưa đủ cao như Gia Cát Lượng. Câu thơ thể hiện khát khao của vị tướng có tài, muốn cống hiến hết mình cho sự nghiệp chung của đất nước, dân tộc. Đó là chí khí anh hùng của một vị tướng vừa có tâm, vừa có tầm đáng kính trọng.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-01-04 04:35:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngocpl2012811/618hp7gz8ov8ju6k/wish/1973491790</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
