<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title>&quot;SỐNG CÙNG THANH ÂM NGHỆ THUẬT XỨ QUẢNG&quot; by Thuy Tram Nguyen</title>
      <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h</link>
      <description></description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2025-03-21 04:34:05 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2025-03-21 07:46:09 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url>https://padlet.net/icons/8.0/png/1fa77.png</url>
      </image>
      <item>
         <title>Nhóm5-12A12</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376283159</link>
         <description><![CDATA[<p>1. Tiểu sử ngắn gọn</p><p><br></p><p>Lưu Quang Vũ (1948 – 1988) sinh tại Phú Thọ (quê ngoại), nhưng quê nội ở Đà Nẵng. Ông là nhà thơ, nhà viết kịch, nhà văn hóa tiêu biểu của Việt Nam thế kỷ XX. Lưu Quang Vũ sáng tác thơ từ thập niên 1960 và sau này trở thành một trong những nhà viết kịch xuất sắc nhất của sân khấu hiện đại Việt Nam.</p><p><br></p><p>2. Phong cách nghệ thuật</p><p><br></p><p>Lưu Quang Vũ có phong cách sáng tác đặc sắc, thể hiện qua:</p><p>• Tính hiện thực sâu sắc: Phản ánh những vấn đề xã hội, con người, đặc biệt là xung đột giữa cái tốt và cái xấu, giữa lương tri và quyền lực.</p><p>• Chất thơ trong kịch: Ngôn ngữ giàu hình ảnh, bay bổng nhưng vẫn đời thường và sâu sắc.</p><p>• Tính triết lý và nhân văn: Các vở kịch thường đặt ra những câu hỏi về đạo đức, trách nhiệm cá nhân và sự thay đổi của xã hội.</p><p><br></p><p>3. Sự nghiệp sáng tác và các tác phẩm tiêu biểu</p><p><br></p><p>Thơ</p><p>• Hương cây - Bếp lửa (1968, in chung với Bằng Việt)</p><p>• Mây trắng của đời tôi</p><p>• Bầy ong trong đêm sâu</p><p>• Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi</p><p><br></p><p>Kịch</p><p>• Sống mãi tuổi 17 (1979) – vở kịch đầu tay, đoạt Huy chương Vàng năm 1980</p><p>• Bệnh sĩ</p><p>• Tôi và chúng ta</p><p>• Hồn Trương Ba, da hàng thịt – vở kịch nổi tiếng nhất của Lưu Quang Vũ</p><p>• Lời thề thứ chín</p><p>• Khoảnh khắc và vô tận</p><p>• Vụ án hai ngàn ngày</p><p>• Chuyện tình bên dòng sông Thu</p><p><br></p><p>Lưu Quang Vũ được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật năm 2000 với hai kịch bản Tôi và chúng ta và Lời thề thứ chín. Tên ông cũng được đặt cho một con đường tại quận Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng – quê nội của ông.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:23:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376283159</guid>
      </item>
      <item>
         <title>nhóm 2 12a6</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376283175</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Chu Cẩm Phong (1941–1971) là một nhà văn, nhà báo và chiến sĩ cách mạng Việt Nam, nổi tiếng với những tác phẩm ghi lại hiện thực cuộc kháng chiến chống Mỹ.</strong></p><p><br/></p><p><strong>Nét riêng trong phong cách nghệ thuật</strong></p><p><strong>• Hiện thực sinh động, phản ánh chân thực cuộc chiến.</strong></p><p><strong>• Bút pháp giàu cảm xúc, kết hợp giữa chất sử thi và lãng mạn.</strong></p><p><strong>• Ngôn ngữ tự nhiên, giàu chất đời sống.</strong></p><p><br/></p><p><strong>Sự nghiệp sáng tác</strong></p><p><br/></p><p><strong>Chu Cẩm Phong hoạt động trong lực lượng vũ trang, ghi chép về chiến tranh qua nhật ký và các tác phẩm văn học. Ông hy sinh năm 1971 tại Quảng Nam.</strong></p><p><br/></p><p><strong>Một số tác phẩm tiêu biểu:</strong></p><p><strong>• <em>Nhật ký Chu Cẩm Phong</em></strong></p><p><strong>• <em>Mặt trận kêu gọi</em></strong></p><p><strong>• <em>Đến với vùng giải phóng</em></strong></p><p><strong>• <em>Bão thép</em></strong></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:23:27 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376283175</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 1_ 12A2</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376284248</link>
         <description><![CDATA[<p>1. Tác giả là ai? (Trình bày ngắn gọn thông tin tiểu sử)</p><p>Võ Quảng (1920 – 2007) là nhà văn, nhà thơ và dịch giả nổi tiếng của Việt Nam, quê ở tỉnh Quảng Nam. Ông là một trong những tác giả tiên phong của nền văn học thiếu nhi Việt Nam, với nhiều tác phẩm giàu giá trị nhân văn, gần gũi với trẻ em. Bên cạnh sự nghiệp sáng tác, ông còn hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và văn hóa.</p><p>2. Nét riêng trong phong cách nghệ thuật của tác giả được thể hiện như thế nào?</p><p>Võ Quảng có phong cách sáng tác giản dị, trong sáng và hồn nhiên, phản ánh vẻ đẹp thiên nhiên và cuộc sống con người miền quê Việt Nam, đặc biệt là vùng đất Quảng Nam. Ông thường sử dụng hình ảnh tươi sáng, ngôn ngữ nhẹ nhàng, giàu cảm xúc, giúp trẻ em dễ tiếp cận và yêu thích văn học.</p><p>3. Trình bày sơ lược về sự nghiệp sáng tác của tác giả; nêu tên một số tác phẩm tiêu biểu.</p><p>Võ Quảng để lại dấu ấn sâu đậm trong nền văn học Việt Nam, đặc biệt ở mảng văn học thiếu nhi. Ông sáng tác nhiều thể loại như truyện, thơ, ký... Một số tác phẩm tiêu biểu của ông gồm:</p><ul><li><p><strong>Truyện dài:</strong> "Quê nội" (tác phẩm nổi tiếng nhất, kể về tuổi thơ hồn nhiên của bé Cục ở miền quê)</p></li><li><p><strong>Truyện ngắn:</strong> "Tảng sáng", "Chim chích bông"</p></li><li><p><strong>Thơ:</strong> "Mặt trời xanh của tôi", "Gió lộng"</p></li></ul><p>Nhìn chung, Võ Quảng là một trong những nhà văn có nhiều đóng góp quan trọng cho nền văn học thiếu nhi Việt Nam, với những tác phẩm giàu giá trị nhân văn, giúp nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:24:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376284248</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 2-12A10</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376284566</link>
         <description><![CDATA[<p>Thu Bồn tên thật là Hà Đức Trọng, quê làng Ngũ Giáp (nay thuộc phường</p><p>Điện Thắng Nam, thị xã Điện Bàn, tỉnh</p><p>Quảng Nam). Năm 1954, Thu Bồn tập kết ra miền Bắc, học ở Trường Sĩ quan</p><p>Lục quân, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Tuyên huấn - Báo chi (khóa ngắn hạn phục vụ cho chiến trường).</p><p>Năm 1960, Thu Bồn xung phong trở lại</p><p>Hình 3.13. Nhà thơ Thu Bón</p><p>miền Nam, được điều động về công tác</p><p>ở Tây Nguyên và tại huyện Chư Prông tỉnh Gia Lai năm 1962. Ông đã sáng tác</p><p>Bài ca chim Chơ-rao dài 230 khổ với 920 câu thơ - được xem là trường ca đầu tiên của văn học giải phóng, được dịch sang tiếng Trung Quốc và được Giải thưởng văn học Nguyễn Đình Chiếu của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Giải thưởng Văn học quốc tế Lotus của Hội Nhà văn Á Phi năm</p><p>1973. Không chỉ gắn bó với Đất Quảng qua bút danh Thu Bồn, nhà thơ còn gắn bó với quê hương qua bài thơ Đà Nẵng gọi ta sáng tác năm 1968:</p><p>Đà Nẵng gọi ta như mẹ gọi con như người yêu gọi người yêu xa cách ta muốn nói với từng viên gạch nếp rêu xưa còn in bóng cờ sao ta muốn hỏi Ngũ Hành Sơn mấy đinh non cao mà da diết trông chờ ai đó vậy</p><p>Hay bài thơ Gửi lòng con đến cùng Cha sáng tác khi được tin Chủ tịch Hồ Chí Minh</p><p>từ trần năm 1969:</p><p>Con qua Cẩm Lệ sông Hàn</p><p>Ngũ Hành Sơn đứng mơ màng bóng Cha;</p><p>Bài Tạm biệt Huế sáng tác năm 1980:</p><p>Tạm biệt Huế với em là tiền biệt</p><p>Hải Vân ơi xin người đừng tắt ngọn sao khuya</p><p>Tạm biệt nhé với chiếc hôn thầm lặng</p><p>Anh trở về hóá đá phía bên kia....</p><p>Tuy nhiên, Thu Bồn không chỉ là một nhà thơ mà còn là một nhà văn tài năng được ghi nhận qua Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2001 với</p><p>Tuyển tập Trường ca (1999) cùng bộ tiểu thuyết hai tập Dưới đám mây màu cánh vạc (1975) và Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 2017 với hai tiểu thuyết Chớp trắng (1970), Vùng pháo sáng (1986) cùng tập truyện ngắn</p><p>Dưới tro (1986). Đà Nẵng đặt tên đường Thu Bồn trên địa bàn quận Cẩm Lệ theo</p><p>Nghị quyết số 42/2013/NQ-HĐND ngày 11 - 7 - 2013 của Hội đồng Nhân dân thành phố Đà Nẵng. Tại tỉnh Quảng Nam, trên địa bàn phường Điện Thắng Nam, thị xã Điện Bản, có Trường Trung học cơ sở Thu Bồn.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:24:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376284566</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 4-12A6</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376284611</link>
         <description><![CDATA[<p> * Thông tin tiểu sử:</p><p> * Nhà văn Chu Cẩm Phong, tên thật là Trần Tiến, sinh ngày 12 tháng 8 năm 1941 tại làng Minh Hương, Hội An, Quảng Nam.</p><p> * Năm 1954, ông theo cha tập kết ra Bắc và học tại trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.</p><p> * Ông là một nhà văn, chiến sĩ. Ông đã hi sinh ngày 1 tháng 5 năm 1971 tại Duy Xuyên, Quảng Nam.</p><p>* Nét riêng trong phong cách nghệ thuật:</p><p>* Các tác phẩm của ông thường mang đậm tính chân thực, sinh động, giàu cảm xúc, thể hiện lòng yêu nước và tinh thần chiến đấu kiên cường.</p><p> * Bản thân cuộc đời chiến đấu và những trang viết ít ỏi của nhà văn, liệt sĩ Chu Cẩm Phong là một cuốn tiểu thuyết sinh động, chân thực và giàu sức sáng tạo.</p><p> * Sự nghiệp sáng tác:</p><p> * Ông được biết đến nhiều qua cuốn nhật ký ghi lại về cuộc đời ông trong thời gian tham gia cuộc Chiến tranh Việt Nam, mà sau này được biết đến với tên gọi "Nhật ký chiến tranh".</p><p>* Ông đã được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007 với tác phẩm “Nhật ký chiến tranh”.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:24:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376284611</guid>
      </item>
      <item>
         <title>nhóm 3-12A10</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376284822</link>
         <description><![CDATA[<p>Thu Bồn tên thật là Hà Đức Trọng, quê làng Ngũ Giáp (nay thuộc phường</p><p>Điện Thắng Nam, thị xã Điện Bàn, tỉnh</p><p>Quảng Nam). Năm 1954, Thu Bồn tập kết ra miền Bắc, học ở Trường Sĩ quan</p><p>Lục quân, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Tuyên huấn - Báo chi (khóa ngắn hạn phục vụ cho chiến trường).</p><p>Năm 1960, Thu Bồn xung phong trở lại</p><p>Hình 3.13. Nhà thơ Thu Bón</p><p>miền Nam, được điều động về công tác</p><p>ở Tây Nguyên và tại huyện Chư Prông tỉnh Gia Lai năm 1962. Ông đã sáng tác</p><p>Bài ca chim Chơ-rao dài 230 khổ với 920 câu thơ - được xem là trường ca đầu tiên của văn học giải phóng, được dịch sang tiếng Trung Quốc và được Giải thưởng văn học Nguyễn Đình Chiếu của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Giải thưởng Văn học quốc tế Lotus của Hội Nhà văn Á Phi năm</p><p>1973. Không chỉ gắn bó với Đất Quảng qua bút danh Thu Bồn, nhà thơ còn gắn bó với quê hương qua bài thơ Đà Nẵng gọi ta sáng tác năm 1968:</p><p>Đà Nẵng gọi ta như mẹ gọi con như người yêu gọi người yêu xa cách ta muốn nói với từng viên gạch nếp rêu xưa còn in bóng cờ sao ta muốn hỏi Ngũ Hành Sơn mấy đinh non cao mà da diết trông chờ ai đó vậy</p><p>Hay bài thơ Gửi lòng con đến cùng Cha sáng tác khi được tin Chủ tịch Hồ Chí Minh</p><p>từ trần năm 1969:</p><p>Con qua Cẩm Lệ sông Hàn</p><p>Ngũ Hành Sơn đứng mơ màng bóng Cha;</p><p>Bài Tạm biệt Huế sáng tác năm 1980:</p><p>Tạm biệt Huế với em là tiền biệt</p><p>Hải Vân ơi xin người đừng tắt ngọn sao khuya</p><p>Tạm biệt nhé với chiếc hôn thầm lặng</p><p>Anh trở về hóá đá phía bên kia....</p><p>Tuy nhiên, Thu Bồn không chỉ là một nhà thơ mà còn là một nhà văn tài năng được ghi nhận qua Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2001 với</p><p>Tuyển tập Trường ca (1999) cùng bộ tiểu thuyết hai tập Dưới đám mây màu cánh vạc (1975) và Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 2017 với hai tiểu thuyết Chớp trắng (1970), Vùng pháo sáng (1986) cùng tập truyện ngắn</p><p>Dưới tro (1986). Đà Nẵng đặt tên đường Thu Bồn trên địa bàn quận Cẩm Lệ theo</p><p>Nghị quyết số 42/2013/NQ-HĐND ngày 11 - 7 - 2013 của Hội đồng Nhân dân thành phố Đà Nẵng. Tại tỉnh Quảng Nam, trên địa bàn phường Điện Thắng Nam, thị xã Điện Bản, có Trường Trung học cơ sở Thu Bồn.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:24:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376284822</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 1-12A12</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376285052</link>
         <description><![CDATA[<p>Lưu Quang Vũ (1948–1988) là một nhà viết kịch, nhà thơ và nhà văn nổi tiếng của Việt Nam. Ông được biết đến nhiều nhất với các vở kịch phản ánh sâu sắc đời sống xã hội và khát vọng đổi mới.</p><p><br></p><p>Một số điểm chính về Lưu Quang Vũ:</p><p>• Sinh năm: 1948, tại Phú Thọ, nhưng quê gốc ở Đà Nẵng.</p><p>• Sự nghiệp: Ông bắt đầu sáng tác thơ từ khi còn trẻ, nhưng sau này nổi tiếng hơn với những vở kịch mang tính phê phán xã hội mạnh mẽ.</p><p>• Tác phẩm tiêu biểu: Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Tôi và chúng ta, Lời thề thứ 9, Bệnh sĩ…</p><p>• Phong cách sáng tác: Ngôn ngữ sắc sảo, tư tưởng sâu sắc, phản ánh hiện thực xã hội và khát vọng tự do, dân chủ.</p><p>• Qua đời: Năm 1988 trong một tai nạn giao thông, cùng vợ là nhà thơ Xuân Quỳnh và con trai.</p><p><br></p><p>Dù mất sớm, nhưng các tác phẩm của ông vẫn có giá trị lớn và được biểu diễn nhiều trên sân khấu Việt Nam.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:25:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376285052</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376285136</link>
         <description><![CDATA[<p> snabanas</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:25:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376285136</guid>
      </item>
      <item>
         <title>nhóm 2 - 12a9</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376285145</link>
         <description><![CDATA[<p>Bùi Giáng quê làng Vĩnh Trinh (nay thuộc xã Duy Hoà, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam), là nhà thơ, dịch giả và nghiên cứu văn học của Việt Nam. Nhà thơ Bùi Giáng nổi tiếng từ thập niên 1960 với các tập thơ Mưa nguồn (1962), Màu hoa trên ngàn (1963), Mười hai con mắt (1964), Ngàn thu rớt hột (1967), Rong rêu (1972), Thơ vô tận vui (1987), Mùa màng tháng tư (1987), Mùi hương xuân sắc (1987),</p><p> Đêm ngắm trăng (1997),... Có nhiều câu thơ Bùi Giáng gây ấn tượng mạnh với các thế hệ độc giả yêu thơ như:</p><p>– Hỏi tên: Rằng biển xanh dâu</p><p>Hỏi quê: Rằng mộng ban đầu đã xa</p><p>– Xin chào nhau giữa con đường</p><p>Mùa xuân phía trước miên trường phía sau Tóc xanh dù có phai màu</p><p>Thì cây xanh vẫn cùng nhau hẹn rằng</p><p>– Dạ thưa xứ Huế bây giờ</p><p>Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương</p><p>Với tư cách nhà nghiên cứu văn học, Bùi Giáng đã khảo cứu và xuất bản trong ba năm 1957 – 1959 một số công trình mang tính giáo khoa sau đây: Nhận xét về Bà Huyện Thanh Quan, Nhận xét về Lục Vân Tiên; Nhận xét về Chinh Phụ Ngâm và Quan Âm Thị Kính, Nhận xét về truyện Kiều và truyện Phan Trần, Giảng luận về Nguyễn Công Trứ, Giảng luận về Cung oán ngâm khúc, Giảng luận về Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Giảng luận về Phan Bội Châu, Giảng luận về Chu Mạnh Trinh, Giảng luận về Tôn Thọ Tường, Giảng luận về Phan Văn Trị,... và một số khảo luận về thi ca như: Đi vào cõi thơ (1969), Mùa xuân trong thi ca (1969), Mùa thu trong thi ca (1970),... Với tư cách dịch giả, Bùi Giáng đã dịch Cõi người ta (1966, nguyên tác Terre des Hommes của Saint-Exupéry) và Hoàng tử bé (1973, nguyên tác Le Petit Prince của Saint-Exupéry), Khung cửa hẹp (1966, nguyên tác La Porte étroite của André Gide), Ngộ nhận (1967, nguyên tác Le Malentendu của Albert Camus), Mùi hương xuân sắc (1974, nguyên tác Sylvie của Gérard de Nerval) và Nhà sư vướng luỵ (1969, nguyên tác Đoạn hồng linh nhạn ký của Tô Mạn Thù – Su Manshu),...</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:25:07 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376285145</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 5 - 12A10</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376285960</link>
         <description><![CDATA[<p>Thu Bồn tên thật là Hà Đức Trọng, quê làng Ngũ Giáp (nay thuộc phường</p><p>Điện Thắng Nam, thị xã Điện Bàn, tỉnh</p><p>Quảng Nam). Năm 1954, Thu Bồn tập kết ra miền Bắc, học ở Trường Sĩ quan</p><p>Lục quân, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Tuyên huấn - Báo chi (khóa ngắn hạn phục vụ cho chiến trường).</p><p>Năm 1960, Thu Bồn xung phong trở lại</p><p> </p><p>Nhà thơ Thu Bồn</p><p>miền Nam, được điều động về công tác</p><p>ở Tây Nguyên và tại huyện Chư Prông tỉnh Gia Lai năm 1962. Ông đã sáng tác</p><p>Bài ca chim Chơ-rao dài 230 khổ với 920 câu thơ - được xem là trường ca đầu tiên của văn học giải phóng, được dịch sang tiếng Trung Quốc và được Giải thưởng văn học Nguyễn Đình Chiếu của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Giải thưởng Văn học quốc tế Lotus của Hội Nhà văn Á Phi năm</p><p>1973. Không chỉ gắn bó với Đất Quảng qua bút danh Thu Bồn, nhà thơ còn gắn bó với quê hương qua bài thơ Đà Nẵng gọi ta sáng tác năm 1968:</p><p>Đà Nẵng gọi ta như mẹ gọi con như người yêu gọi người yêu xa cách ta muốn nói với từng viên gạch nếp rêu xưa còn in bóng cờ sao ta muốn hỏi Ngũ Hành Sơn mấy đinh non cao mà da diết trông chờ ai đó vậy</p><p>Hay bài thơ Gửi lòng con đến cùng Cha sáng tác khi được tin Chủ tịch Hồ Chí Minh</p><p>từ trần năm 1969:</p><p>Con qua Cẩm Lệ sông Hàn</p><p>Ngũ Hành Sơn đứng mơ màng bóng Cha;</p><p>Bài Tạm biệt Huế sáng tác năm 1980:</p><p>Tạm biệt Huế với em là tiền biệt</p><p>Hải Vân ơi xin người đừng tắt ngọn sao khuya</p><p>Tạm biệt nhé với chiếc hôn thầm lặng</p><p>Anh trở về hóá đá phía bên kia....</p><p>Tuy nhiên, Thu Bồn không chỉ là một nhà thơ mà còn là một nhà văn tài năng được ghi nhận qua Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2001 với</p><p>Tuyển tập Trường ca (1999) cùng bộ tiểu thuyết hai tập Dưới đám mây màu cánh vạc (1975) và Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 2017 với hai tiểu thuyết Chớp trắng (1970), Vùng pháo sáng (1986) cùng tập truyện ngắn</p><p>Dưới tro (1986). Đà Nẵng đặt tên đường Thu Bồn trên địa bàn quận Cẩm Lệ theo</p><p>Nghị quyết số 42/2013/NQ-HĐND ngày 11 - 7 - 2013 của Hội đồng Nhân dân thành phố Đà Nẵng. Tại tỉnh Quảng Nam, trên địa bàn phường Điện Thắng Nam, thị xã Điện Bản, có Trường Trung học cơ sở Thu Bồn.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:25:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376285960</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 1 - 12A8</title>
         <author>huynguyen150507</author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376286250</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Nhóm 1-12A8</strong></p><p><br/></p><p><strong>Hằng Phương</strong> (1908–1983) là một nữ sĩ, nhà thơ Việt Nam thuộc thế hệ Thơ Mới, có giọng thơ nhẹ nhàng, tinh tế, đậm chất nữ tính.</p><p><strong>Nét riêng trong phong cách nghệ thuật</strong></p><p>Thơ mang đậm chất trữ tình, nhẹ nhàng, trong sáng. Giàu cảm xúc, thể hiện tâm tư của người phụ nữ với tình yêu, quê hương, đất nước. Ngôn từ giản dị, gần gũi nhưng sâu sắc.</p><p><strong>Sơ lược về sự nghiệp sáng tác</strong></p><p>Bà sáng tác từ những năm 1930, nổi bật trong phong trào Thơ Mới. Sau Cách mạng tháng Tám, thơ bà hướng đến chủ đề yêu nước, cách mạng.</p><p><strong>Một số tác phẩm tiêu biểu</strong></p><ol><li><p><em>Hương Xuân</em></p></li><li><p><em>Mơ Tiếc</em></p></li><li><p><em>Người Em Nhỏ</em></p></li><li><p><em>Tâm Sự Ngày Xanh</em></p></li></ol><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:25:59 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376286250</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 1 - 12A16</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376286394</link>
         <description><![CDATA[<ol><li><p><strong>Tác giả là ai?</strong><br>Tác giả là Hoàng Châu Ký, người gốc phường Cẩm Kim, Hội An, Quảng Nam. Ông là một nghệ sĩ sân khấu, đạo diễn, nhà nghiên cứu và giảng viên, có nhiều đóng góp lớn cho nghệ thuật tuồng và sân khấu Việt Nam.</p></li><li><p><strong>Nét riêng trong phong cách nghệ thuật của tác giả được thể hiện như thế nào?</strong><br>Nét riêng trong phong cách nghệ thuật của Hoàng Châu Ký thể hiện qua việc sáng tác và dàn dựng các vở tuồng từ những đề tài lịch sử, cách mạng và dân gian. Ông không chỉ là một đạo diễn tài ba mà còn là người sáng tác kịch bản, với khả năng kết hợp giữa truyền thống và hiện đại trong nghệ thuật tuồng, đặc biệt là qua các vở tuồng mang giá trị văn hóa và lịch sử sâu sắc.</p></li><li><p><strong>Trình bày sơ lược về sự nghiệp sáng tác của tác giả, nêu tên một số tác phẩm tiêu biểu.</strong><br>Hoàng Châu Ký có sự nghiệp dài và đóng góp lớn cho nghệ thuật sân khấu Việt Nam. Ông giữ nhiều vị trí quan trọng như Uỷ viên Thường vụ Chi hội văn nghệ Liên khu V, Tổng Thư kí Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam và Giám đốc Đoàn tuồng Bắc Trung ương. Ông cũng là người sáng lập các đơn vị nghệ thuật biểu diễn tuồng chuyên nghiệp và góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho nghệ thuật sân khấu. Một số tác phẩm tiêu biểu của ông gồm: <em>Thanh gươm chủ chiến</em> (tuồng cổ), <em>Trần Quý Cáp</em> (kịch bản sân khấu).</p></li></ol>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:26:07 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376286394</guid>
      </item>
      <item>
         <title>nhóm 2 - 12a12</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376286526</link>
         <description><![CDATA[<p><br/></p><p>   * Lưu Quang Vũ (1948 – 1988) là một nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch nổi tiếng của Việt Nam.</p><p>   * Ông sinh tại xã Thiệu Cơ, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ, nhưng quê gốc ở Đà Nẵng.</p><p>   * Tuổi thơ của ông gắn liền với Phú Thọ và sau đó gia đình chuyển về Hà Nội sinh sống.</p><p>   * Ông và vợ là nhà thơ Xuân Quỳnh cùng con trai Lưu Quỳnh Thơ mất trong một vụ tai nạn giao thông vào ngày 29 tháng 8 năm 1988 tại Hải Dương.</p><p> * Nét riêng trong phong cách nghệ thuật của tác giả Lưu Quang Vũ:</p><p>   * Lưu Quang Vũ được biết đến với phong cách viết kịch hiện thực, sắc sảo, thường khai thác các vấn đề nhức nhối của xã hội.</p><p>   * Các tác phẩm của ông thường mang tính thời sự, phản ánh những mâu thuẫn, xung đột trong cuộc sống hàng ngày.</p><p>   * Ông có khả năng xây dựng nhân vật sống động, gần gũi với đời thường, và sử dụng ngôn ngữ đối thoại tự nhiên, giàu tính biểu cảm.</p><p>   * Ông là người tiên phong cho văn học đổi mới, đặc biệt ở thể loại kịch.</p><p> * Sự nghiệp sáng tác và một số tác phẩm tiêu biểu:</p><p>   * Lưu Quang Vũ là một tác giả đa tài, để lại dấu ấn trong nhiều thể loại văn học, bao gồm thơ ca, văn xuôi và kịch.</p><p>   * Ông được mệnh danh là một trong những nhà viết kịch tài năng nhất của văn học Việt Nam hiện đại.</p><p>   * Một số tác phẩm tiêu biểu của ông bao gồm:</p><p>     * Kịch: "Tôi và chúng ta", "Hồn Trương Ba, da hàng thịt", "Lời thề thứ 9", "Bệnh sĩ"…</p><p>     * Thơ: Hương cây, Mây trắng của đời tôi...</p><p>     * Văn xuôi: Sống mãi với cây đàn, Người trong cuộc...</p><p>   * Ông được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về nghệ thuật sân khấu năm 2000.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:26:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376286526</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 1 12A17</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376286795</link>
         <description><![CDATA[<p><strong><em>• Tiểu sử </em></strong></p><p>Phan Huỳnh Điểu – "con chim vàng" của âm nhạc Việt Nam – quê ở thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam nhưng sinh ra và lớn lên tại Đà Nẵng (khi qua đời năm 2015, ông di nguyện được hoả táng và rải tro cốt xuống sông Hàn). </p><p>Ông tham gia hoạt động âm nhạc khi còn rất trẻ với ca khúc đầu tay Trầu cau và ca khúc Mùa đông binh sĩ sáng tác đầu thập niên 1940. Phan Huỳnh Điểu nổi tiếng với ca khúc Đoàn Vệ quốc quân viết cuối năm 1945. Sau khi tập kết ra miền Bắc, năm 1955 Phan Huỳnh Điểu công tác ở Ban Nhạc vũ Hội Văn nghệ Việt Nam, sáng tác ca khúc Tình trong lá thiếp; năm 1957 ông được cử vào Ban Thường vụ Hội Nhạc sĩ Việt Nam mới thành lập; năm 1962 ông sáng tác ca khúc Những ánh sao đêm. </p><p><strong>• Phong cách nghệ thuật:</strong></p><p>Trả lời phỏng vấn Báo Thanh Niên hồi tháng 4 năm 2006, Phan Huỳnh Điểu cho rằng: "Thơ phổ nhạc đạt đến mức độ cộng hưởng tâm hồn của nhạc sĩ và thi sĩ. Tìm thấy một bài thơ phù hợp, nhạc sĩ phổ nhạc và gửi gắm tâm trạng mình. Xét đến cùng, chất thơ trong ca từ của một nhạc sĩ thuần túy không thể bằng được chất thơ trong ca từ vốn là bài thơ của một nhà thơ. Nhà thơ chắt chiu từng con chữ, nhạc sĩ chăm chút từng nốt nhạc sẽ cho ra một tác phẩm toàn vẹn và đầy đặn. Bởi vậy, tôi hết sức thích phổ nhạc cho thơ. Thơ và nhạc như cặp anh chị em song sinh, thơ một cánh, nhạc một cánh cho tác phẩm bay lên...". </p><p><strong>• Sự nghiệp sáng tác - Tác phẩm tiêu biểu</strong></p><p>Không phải ngẫu nhiên Phan Huỳnh Điểu rất thành công với nhiều ca khúc phổ thơ, như Bóng cây Kơ-nia (1971, phổ thơ Ngọc Anh), Cuộc đời vẫn đẹp sao (1971, phổ thơ Dương Hương Ly), Hành khúc ngày và đêm</p><p>(1972, phổ thơ Bùi Công Minh), Sợi nhớ sợi thương (1978, phổ thơ Thuý Bắc), Anh ở đầu sông em cuối sông (1978, phổ thơ Hoài Vũ), Thuyền và biển (1981, phổ thơ Xuân Quỳnh), Ở hai đầu nỗi nhớ (1987, phổ thơ Trần Hoài Thu – bút danh của Trần </p><p>Đình Chính),… </p><p>Phan Huỳnh Điểu được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ </p><p>thuật năm 2000 với các ca khúc Đoàn Vệ quốc quân, Tình trong lá thiếp, Những </p><p>ánh sao đêm, Bóng cây Kơ-nia, Thuyền và biển. Phan Huỳnh Điểu được đặt tên </p><p>đường ở quận Ngũ Hành Sơn theo Nghị quyết số 106/2023/NQ-HĐND ngày </p><p>14 – 12 – 2023 của Hội đồng Nhân dân thành phố Đà Nẵng.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:26:32 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376286795</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 5 - 12A6</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376286841</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>1. Tác giả là ai?</strong><br>Chu Cẩm Phong (1941–1971), tên thật là Trần Tiến, quê ở làng Minh Hương (nay thuộc thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam). Năm 1954, ông theo cha tập kết ra Bắc, đến năm 1964 tốt nghiệp Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Sau đó, ông tham gia khóa đào tạo phóng viên cấp tốc rồi vào chiến trường miền Nam, công tác tại Ban Tuyên huấn Khu V, làm phóng viên Thông tấn xã Việt Nam và sau đó làm việc tại Tạp chí Văn nghệ Giải phóng Trung Trung Bộ. Ông đã hoạt động tại vùng sâu Hòa Hải (Đà Nẵng) và hy sinh tại xã Duy Tân, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.</p><p><strong>2. Nét riêng trong phong cách nghệ thuật của tác giả</strong><br>Chu Cẩm Phong có phong cách nghệ thuật chân thực, sinh động, mang đậm hơi thở cuộc chiến tranh và đời sống kháng chiến. Tác phẩm của ông không chỉ ghi lại những sự kiện, con người trong chiến tranh mà còn thể hiện cảm xúc mãnh liệt, tinh thần chiến đấu kiên cường và niềm tin vào chiến thắng. Văn phong của ông giàu chất hiện thực, xúc động và có tính chiến đấu cao.</p><p><strong>3. Sự nghiệp sáng tác và tác phẩm tiêu biểu</strong><br>Chu Cẩm Phong sáng tác nhiều truyện ký và nhật ký phản ánh cuộc kháng chiến chống Mỹ, tiêu biểu như: <em>Vườn cây ăn quả nhà mẹ Thám, Gió lộng từ Cửa Đại, Mặt biển – Mặt trận, Rét tháng Giêng, Mẹ con chị Hiền</em> và đặc biệt là <em>Nhật ký chiến tranh</em> (viết từ 1967–1971). Ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007 và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 2010.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:26:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376286841</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhom 5 12a2</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376286867</link>
         <description><![CDATA[<p> 1: Võ Quảng – người từng giữ chức Uỷ viên Tư pháp thành phố Thái Phiên sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 – quê làng Thượng Phước (nay thuộc xã Đại Hoà, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam). Sau năm 1954, Võ Quảng tập kết ra miền Bắc và sau một thời gian ngắn làm việc ở Bộ Tư pháp, ông chuyển sang làm Trưởng Bộ phận Tuyên truyền Văn hoá đối ngoại của Bộ Văn hoá và từ đó chuyên tâm sáng tác văn học thiếu nhi   </p><p>2: Ông viết cả thơ lẫn văn xuôi, cho cả lứa tuổi thiếu niên lẫn lứa tuổi nhi đồng và ở thể loại nào ông cũng thành công, để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng bạn đọc nhỏ tuổi, với quan niệm rất rõ ràng: "Văn học cho thiếu nhi có một nhiệm vụ chính yếu, đó là giáo dục các em trở thành người tốt. Văn học thiếu nhi phải "tải đạo". </p><p>3: tập thơ Gà mái hoa, Võ Quảng tiếp tục sáng tác các tập thơ thiếu nhi như: Thấy cái hoa nở, Nắng sớm, Anh Đom đóm, Măng tre, Quả đỏ,… Qua thế giới nghệ thuật sinh động của cỏ cây, hoa lá và những con vật bé nhỏ, Võ Quảng hướng dẫn cho các em cách quan sát và khám phá những vẻ đẹp rất độc đáo, rất khác biệt trong sinh hoạt hằng ngày. Về văn xuôi, Võ Quảng viết nhiều truyện đồng thoại cho lứa tuổi nhi đồng như: Cái mai, Bài học tốt, Những chiếc áo ấm, Ngày tết của Trâu Xe,… nhưng nổi bật nhất là hai truyện dài viết cho lứa tuổi thiếu niên: Quê nội (1972) và Tảng sáng (1978). </p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:26:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376286867</guid>
      </item>
      <item>
         <title>nhóm3-12a12</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376287063</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Lưu Quang Vũ</strong> (1948–1988) là một nhà thơ, nhà viết kịch và nhà văn nổi bật của Việt Nam. Ông được biết đến nhiều nhất với các vở kịch mang tính hiện thực, phản ánh sâu sắc những vấn đề xã hội và khát vọng đổi mới.</p><p>🔹 <strong>Một số tác phẩm tiêu biểu:</strong></p><ul><li><p><em>Hồn Trương Ba, da hàng thịt</em> – Vở kịch nổi tiếng về xung đột giữa phần hồn và thể xác, mang ý nghĩa triết lý sâu sắc.</p></li><li><p><em>Tôi và chúng ta</em> – Phản ánh những mâu thuẫn trong cơ chế quản lý kinh tế.</p></li><li><p><em>Lời thề thứ 9</em> – Đề cập đến sự tha hóa của con người trong bộ máy quan liêu.</p></li><li><p><em>Bệnh sĩ</em> – Châm biếm thói sĩ diện hão trong xã hội.</p></li></ul><p>Lưu Quang Vũ cùng vợ là nhà thơ Xuân Quỳnh và con trai đã qua đời trong một vụ tai nạn giao thông năm 1988, để lại nhiều tiếc nuối cho nền văn học Việt Nam.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:26:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376287063</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 3-12A8</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376287149</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Hằng Phương</strong> (1908–1983) là một nữ sĩ, nhà thơ Việt Nam thuộc thế hệ Thơ Mới, có giọng thơ nhẹ nhàng, tinh tế, đậm chất nữ tính.</p><p><strong>Nét riêng trong phong cách nghệ thuật</strong></p><p>Thơ mang đậm chất trữ tình, nhẹ nhàng, trong sáng. Giàu cảm xúc, thể hiện tâm tư của người phụ nữ với tình yêu, quê hương, đất nước. Ngôn từ giản dị, gần gũi nhưng sâu sắc.</p><p><strong>Sơ lược về sự nghiệp sáng tác</strong></p><p>Bà sáng tác từ những năm 1930, nổi bật trong phong trào Thơ Mới. Sau Cách mạng tháng Tám, thơ bà hướng đến chủ đề yêu nước, cách mạng.</p><p><strong>Một số tác phẩm tiêu biểu </strong></p><ol><li><p><em>Hương Xuân</em></p></li><li><p><em>Mơ Tiếc</em></p></li><li><p><em>Người Em Nhỏ</em></p></li><li><p><em>Tâm Sự Ngày Xanh</em></p></li></ol>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:26:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376287149</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 5 12A9</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376287342</link>
         <description><![CDATA[<p>## Tiểu sử</p><p>Bùi Giáng (1926-1998) là một trong những nhà thơ, nhà văn nổi bật của Việt Nam trong thế kỷ 20. Ông sinh ra tại tỉnh Quảng Nam, trong một gia đình có truyền thống yêu văn học. Bùi Giáng không chỉ nổi tiếng với thơ mà còn với các tác phẩm văn xuôi, phê bình văn học và dịch thuật.</p><p>## Phong cách nghệ thuật</p><p>Phong cách nghệ thuật của Bùi Giáng rất độc đáo và phong phú. Ông thường sử dụng ngôn ngữ giản dị nhưng giàu hình ảnh, cảm xúc. Thơ của ông mang tính triết lý sâu sắc, kết hợp giữa cái đẹp của hình thức và nội dung tư tưởng. Ông có khả năng tạo ra những hình ảnh thơ lạ lùng, đầy tính biểu tượng và sâu sắc, thể hiện tâm tư, tình cảm của con người trong bối cảnh xã hội đầy biến động.</p><p>## Sự nghiệp sáng tác</p><p>Bùi Giáng bắt đầu sự nghiệp sáng tác từ những năm 1940. Ông tham gia vào phong trào văn học kháng chiến và có nhiều tác phẩm nổi bật trong giai đoạn này. Sau năm 1975, ông tiếp tục sáng tác và có những đóng góp quan trọng cho nền văn học Việt Nam. Bùi Giáng không chỉ viết thơ mà còn viết tiểu thuyết, truyện ngắn, và nghiên cứu phê bình văn học.</p><p>## Tác phẩm tiêu biểu</p><p>Một số tác phẩm tiêu biểu của Bùi Giáng bao gồm:</p><p>1. <strong>Thơ</strong>:</p><p>   - <em>Mưa nguồn</em>: Một trong những tập thơ nổi bật của ông, thể hiện cái nhìn sâu sắc về cuộc sống và con người.</p><p>   - <em>Những bài thơ tình</em>: Những bài thơ tình của ông vừa lãng mạn vừa triết lý, thể hiện tâm hồn nhạy cảm.</p><p>2. <strong>Văn xuôi</strong>:</p><p>   - <em>Cõi người rung chuông tận thế</em>: Một tác phẩm nổi bật với những suy tư triết lý về cuộc sống và cái chết.</p><p>   - <em>Truyện ngắn</em>: Ông có nhiều truyện ngắn nổi bật, thể hiện sự tinh tế trong việc nắm bắt tâm lý nhân vật.</p><p>Bùi Giáng để lại một di sản văn học phong phú và đa dạng, ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều thế hệ nhà văn và độc giả Việt Nam.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:27:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376287342</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 6-12A9</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376287348</link>
         <description><![CDATA[<p>Bùi Giáng quê làng Vĩnh Trinh (nay thuộc xã Duy Hoà, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam), là nhà thơ, dịch giả và nghiên cứu văn học của Việt Nam. Nhà thơ Bùi Giáng nổi tiếng từ thập niên 1960 với các tập thơ Mưa nguồn (1962), Màu hoa trên ngàn (1963), Mười hai con mắt (1964), Ngàn thu rớt hột (1967), Rong rêu (1972), Thơ vô tận vui (1987), Mùa màng tháng tư (1987), Mùi hương xuân sắc (1987),</p><p>Đêm ngắm trăng (1997),... Có nhiều câu thơ Bùi Giáng gây ấn tượng mạnh với các thế hệ độc giả yêu thơ như:</p><p>– Hỏi tên: Rằng biển xanh dâu</p><p>Hỏi quê: Rằng mộng ban đầu đã xa</p><p>– Xin chào nhau giữa con đường</p><p>Mùa xuân phía trước miên trường phía sau Tóc xanh dù có phai màu</p><p>Thì cây xanh vẫn cùng nhau hẹn rằng</p><p>– Dạ thưa xứ Huế bây giờ</p><p>Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương</p><p>Với tư cách nhà nghiên cứu văn học, Bùi Giáng đã khảo cứu và xuất bản trong ba năm 1957 – 1959 một số công trình mang tính giáo khoa sau đây: Nhận xét về Bà Huyện Thanh Quan, Nhận xét về Lục Vân Tiên; Nhận xét về Chinh Phụ Ngâm và Quan Âm Thị Kính, Nhận xét về truyện Kiều và truyện Phan Trần, Giảng luận về Nguyễn Công Trứ, Giảng luận về Cung oán ngâm khúc, Giảng luận về Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Giảng luận về Phan Bội Châu, Giảng luận về Chu Mạnh Trinh, Giảng luận về Tôn Thọ Tường, Giảng luận về Phan Văn Trị,... và một số khảo luận về thi ca như: Đi vào cõi thơ (1969), Mùa xuân trong thi ca (1969), Mùa thu trong thi ca (1970),... Với tư cách dịch giả, Bùi Giáng đã dịch Cõi người ta (1966, nguyên tác Terre des Hommes của Saint-Exupéry) và Hoàng tử bé (1973, nguyên tác Le Petit Prince của Saint-Exupéry), Khung cửa hẹp (1966, nguyên tác La Porte étroite của André Gide), Ngộ nhận (1967, nguyên tác Le Malentendu của Albert Camus), Mùi hương xuân sắc (1974, nguyên tác Sylvie của Gérard de Nerval) và Nhà sư vướng luỵ (1969, nguyên tác Đoạn hồng linh nhạn ký của Tô Mạn Thù – Su Manshu),...</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:27:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376287348</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 1-12A10</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376287352</link>
         <description><![CDATA[<p>+Tác giả là Thu Bồn tên thật là Hà Đức Trọng, quê làng Ngũ Giáp (nay thuộc phường Điện Thắng Nam, thị xã Điện Bàn, tỉnhQuảng Nam). </p><p>+Năm 1954, Thu Bồn tập kết ra miền Bắc, học ở Trường Sĩ quan</p><p>Lục quân, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Tuyên huấn - Báo chí</p><p>+Năm 1960, Thu Bồn xung phong trở lại</p><p>miền Nam, được điều động về công tác</p><p>ở Tây Nguyên và tại huyện Chư Prông tỉnh Gia Lai năm 1962.</p><p>+ Ông đã sáng tác Bài ca chim Chơ-rao dài 230 khổ với 920 câu thơ - được xem là trường ca đầu tiên của văn học giải phóng, được dịch sang tiếng Trung Quốc và được Giải thưởng văn học Nguyễn Đình Chiếu của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Giải thưởng Văn học quốc tế Lotus của Hội Nhà văn Á Phi năm</p><p>+1973. Không chỉ gắn bó với Đất Quảng qua bút danh Thu Bồn, nhà thơ còn gắn bó với quê hương qua bài thơ Đà Nẵng gọi ta sáng tác năm 1968</p><p>Tuy nhiên, Thu Bồn không chỉ là một nhà thơ mà còn là một nhà văn tài năng được ghi nhận qua Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2001 với</p><p>Tuyển tập Trường ca (1999) cùng bộ tiểu thuyết hai tập Dưới đám mây màu cánh vạc (1975) và Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 2017 với hai tiểu thuyết Chớp trắng (1970), Vùng pháo sáng (1986) cùng tập truyện ngắn</p><p>Dưới tro (1986).</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:27:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376287352</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 2-12A2</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376287371</link>
         <description><![CDATA[<p>1. Tác giả là ai? (Trình bày ngắn gọn thông tin tiểu sử)</p><p>Võ Quảng (1920 – 2007) là nhà văn, nhà thơ và dịch giả nổi tiếng của Việt Nam, quê ở tỉnh Quảng Nam. Ông là một trong những tác giả tiên phong của nền văn học thiếu nhi Việt Nam, với nhiều tác phẩm giàu giá trị nhân văn, gần gũi với trẻ em. Bên cạnh sự nghiệp sáng tác, ông còn hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và văn hóa.</p><p>2. Nét riêng trong phong cách nghệ thuật của tác giả được thể hiện như thế nào?</p><p>Võ Quảng có phong cách sáng tác giản dị, trong sáng và hồn nhiên, phản ánh vẻ đẹp thiên nhiên và cuộc sống con người miền quê Việt Nam, đặc biệt là vùng đất Quảng Nam. Ông thường sử dụng hình ảnh tươi sáng, ngôn ngữ nhẹ nhàng, giàu cảm xúc, giúp trẻ em dễ tiếp cận và yêu thích văn học.</p><p>3. Trình bày sơ lược về sự nghiệp sáng tác của tác giả; nêu tên một số tác phẩm tiêu biểu.</p><p>Võ Quảng để lại dấu ấn sâu đậm trong nền văn học Việt Nam, đặc biệt ở mảng văn học thiếu nhi. Ông sáng tác nhiều thể loại như truyện, thơ, ký... Một số tác phẩm tiêu biểu của ông gồm:</p><ul><li><p><strong>Truyện dài:</strong> "Quê nội" (tác phẩm nổi tiếng nhất, kể về tuổi thơ hồn nhiên của bé Cục ở miền quê)</p></li><li><p><strong>Truyện ngắn:</strong> "Tảng sáng", "Chim chích bông"</p></li><li><p><strong>Thơ:</strong> "Mặt trời xanh của tôi", "Gió lộng"</p></li></ul><p>Nhìn chung, Võ Quảng là một trong những nhà văn có nhiều đóng góp quan trọng cho nền văn học thiếu nhi Việt Nam, với những tác phẩm giàu giá trị nhân văn, giúp nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:27:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376287371</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 1-12A1</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376287426</link>
         <description><![CDATA[<p>Huỳnh Thị Bảo Hòa (1896–1980) là một trong những nữ nhà văn tiên phong của nền văn học Việt Nam hiện đại. Bà sinh ra tại Quảng Nam trong một gia đình có truyền thống Nho học.</p><p>Nét riêng trong phong cách nghệ thuật:</p><p>Bà được biết đến với lối viết hiện thực, phản ánh sâu sắc đời sống xã hội và thân phận con người, đặc biệt là phụ nữ trong xã hội phong kiến. Văn phong của bà giàu cảm xúc nhưng cũng mang tính luận đề rõ rệt.</p><p>Sự nghiệp sáng tác và tác phẩm tiêu biểu:</p><p>Huỳnh Thị Bảo Hòa là một trong những nhà văn nữ đầu tiên viết tiểu thuyết bằng chữ Quốc ngữ. Một số tác phẩm tiêu biểu của bà gồm:</p><p>- Chuyện đời xưa lạ lắm à nghen</p><p>- Kế nghiệp</p><p>- Hà Hương phong nguyệt</p><p>Bà không chỉ là nhà văn mà còn là một nhà báo, tích cực đấu tranh cho quyền lợi phụ nữ và đổi mới xã hội.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:27:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376287426</guid>
      </item>
      <item>
         <title>nhóm6(12A9)</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376287469</link>
         <description><![CDATA[<p>## Tiểu sử</p><p>Bùi Giáng (1926-1998) là một trong những nhà thơ, nhà văn nổi bật của Việt Nam trong thế kỷ 20. Ông sinh ra tại tỉnh Quảng Nam, trong một gia đình có truyền thống yêu văn học. Bùi Giáng không chỉ nổi tiếng với thơ mà còn với các tác phẩm văn xuôi, phê bình văn học và dịch thuật.</p><p>## Phong cách nghệ thuật</p><p>Phong cách nghệ thuật của Bùi Giáng rất độc đáo và phong phú. Ông thường sử dụng ngôn ngữ giản dị nhưng giàu hình ảnh, cảm xúc. Thơ của ông mang tính triết lý sâu sắc, kết hợp giữa cái đẹp của hình thức và nội dung tư tưởng. Ông có khả năng tạo ra những hình ảnh thơ lạ lùng, đầy tính biểu tượng và sâu sắc, thể hiện tâm tư, tình cảm của con người trong bối cảnh xã hội đầy biến động.</p><p>## Sự nghiệp sáng tác</p><p>Bùi Giáng bắt đầu sự nghiệp sáng tác từ những năm 1940. Ông tham gia vào phong trào văn học kháng chiến và có nhiều tác phẩm nổi bật trong giai đoạn này. Sau năm 1975, ông tiếp tục sáng tác và có những đóng góp quan trọng cho nền văn học Việt Nam. Bùi Giáng không chỉ viết thơ mà còn viết tiểu thuyết, truyện ngắn, và nghiên cứu phê bình văn học.</p><p>## Tác phẩm tiêu biểu</p><p>Một số tác phẩm tiêu biểu của Bùi Giáng bao gồm:</p><p>1. <strong>Thơ</strong>:</p><p>   - <em>Mưa nguồn</em>: Một trong những tập thơ nổi bật của ông, thể hiện cái nhìn sâu sắc về cuộc sống và con người.</p><p>   - <em>Những bài thơ tình</em>: Những bài thơ tình của ông vừa lãng mạn vừa triết lý, thể hiện tâm hồn nhạy cảm.</p><p>2. <strong>Văn xuôi</strong>:</p><p>   - <em>Cõi người rung chuông tận thế</em>: Một tác phẩm nổi bật với những suy tư triết lý về cuộc sống và cái chết.</p><p>   - <em>Truyện ngắn</em>: Ông có nhiều truyện ngắn nổi bật, thể hiện sự tinh tế trong việc nắm bắt tâm lý nhân vật.</p><p>Bùi Giáng để lại một di sản văn học phong phú và đa dạng, ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều thế hệ nhà văn và độc giả Việt Nam.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:27:20 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376287469</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 6 12a3</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376287512</link>
         <description><![CDATA[<p>Nguyễn Văn Bổng (1918–2001) là nhà văn tiêu biểu của văn học cách mạng Việt Nam, chuyên viết về chiến tranh và con người Nam Bộ.</p><p><strong>Nét riêng trong phong cách nghệ thuật</strong></p><ul><li><p>Đề tài cách mạng, kháng chiến, tái hiện chân thực chiến tranh.</p></li><li><p>Nhân vật mang đậm tính cách Nam Bộ, kiên cường, chân chất.</p></li><li><p>Văn phong giàu chất sử thi và trữ tình.</p></li></ul><p><strong>Sự nghiệp sáng tác và tác phẩm tiêu biểu</strong></p><p>Nguyễn Văn Bổng vừa hoạt động cách mạng vừa sáng tác, có nhiều đóng góp cho văn học. Một số tác phẩm nổi bật:</p><ul><li><p><em>Tiêu Sơn tráng sĩ</em> (1952)</p></li><li><p><em>Con trâu</em> (1952)</p></li><li><p><em>Rừng U Minh</em> (1962)</p></li><li><p><em>Bên kia biên giới</em> (1976)</p></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:27:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376287512</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 3 12A1</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376287611</link>
         <description><![CDATA[<p>- <strong>Tên đầy đủ:</strong> Huỳnh Thị Bảo Hòa  </p><p>- <strong>Thời gian sống:</strong> 1896 – 1981  </p><p>- <strong>Quê quán:</strong> Quảng Nam  </p><p>- <strong>Lĩnh vực hoạt động:</strong> Nữ nhà văn tiên phong của Việt Nam đầu thế kỷ 20  </p><p>- <strong>Thành tựu nổi bật:</strong>  </p><p>  - Một trong những người phụ nữ đầu tiên viết văn bằng chữ Quốc ngữ  </p><p>  - Tác phẩm tiêu biểu: <strong>"Kim Tú Cầu"</strong> – phản ánh tư tưởng bình đẳng giới và hạnh phúc hôn nhân  </p><p>  - Cộng tác với nhiều tờ báo lớn thời bấy giờ như <strong>Nam Phong</strong>, <strong>Phụ Nữ Tân Văn</strong>, và <strong>Đông Pháp Thời Báo</strong>  </p><p>- <strong>Đóng góp:</strong> Góp phần nâng cao nhận thức về quyền phụ nữ và thúc đẩy cải cách xã hội thông qua văn học và báo chí</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:27:29 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376287611</guid>
      </item>
      <item>
         <title>NHÓM 2 - 12A5 </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376287612</link>
         <description><![CDATA[<ol><li><p><strong>Tác giả là ai?</strong></p><ul><li><p>Phan Tứ (1930–1995), tên thật là Lê Khâm, sinh tại Quy Nhơn, quê gốc ở làng Gia Cát, xã Quế Phong, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam.</p></li><li><p>Ông là cháu ngoại của Phan Châu Trinh, một nhà yêu nước nổi tiếng.</p></li><li><p>Năm 1950, ông nhập ngũ và chiến đấu tại Hạ Lào, đến 1954 tập kết ra Bắc.</p></li></ul></li></ol><ol start="2"><li><p><strong>Nét riêng trong phong cách nghệ thuật:</strong></p><ul><li><p>Phan Tứ chuyên viết về chiến tranh cách mạng và lực lượng vũ trang.<br>📝 Phong cách giàu cảm xúc, chân thực, đậm chất người lính, thể hiện quaHình tượng nhân vật kiên cường, dũng cảm</p></li><li><p>Không khí chiến trường dữ dội nhưng vẫn thấm đẫm chất nhân văn</p></li><li><p>Câu chuyện mang tính thời sự, giàu tính tự sự và hiện thực</p></li></ul></li><li><p><strong>Sự nghiệp sáng tác &amp; tác phẩm tiêu biểu</strong></p></li></ol><p>- Bắt đầu viết từ năm 1958 với bút danh Lê Khâm, sau dùng bút danh Phan Tứ.<br>Một số tác phẩm tiêu biểu:</p><ul><li><p>Trước giờ nổ súng (1960)</p></li><li><p>Bên kia biên giới (1958)</p></li><li><p>Gia đình Má Bảy (1968)</p></li><li><p>Mẫn và tôi (1972)</p></li><li><p>Trại ST 18 (1974)</p></li><li><p>Về làng (tập truyện ngắn)</p></li><li><p>Từ chiến trường Khu 5 (ghi chép, nhật ký)</p></li></ul><p>- Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học – Nghệ thuật năm 2000.<br>- Tên ông được đặt cho đường phố tại Đà Nẵng, cùng với cha ông – nhà giáo Lê Ấm.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:27:29 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376287612</guid>
      </item>
      <item>
         <title>.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376287702</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:27:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376287702</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 1 - 12A9 </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376287704</link>
         <description><![CDATA[<p>1. Tiểu sử</p><p><br/></p><p>Bùi Giáng (1926–1998) quê ở làng Vĩnh Trinh (nay thuộc xã Duy Hòa, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam). Ông là một nhà thơ, dịch giả và nhà nghiên cứu văn học nổi bật của Việt Nam, nổi tiếng từ thập niên 1960 với phong cách nghệ thuật độc đáo và tư duy sáng tạo.</p><p><br/></p><p>2. Phong cách nghệ thuật</p><p><br/></p><p>Bùi Giáng có phong cách thơ giàu chất triết lý, kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, giữa tư tưởng phương Đông và phương Tây. Thơ ông vừa trữ tình, sâu sắc, vừa mang tính siêu thực và hóm hỉnh. Ngôn ngữ trong thơ ông biến hóa, giàu hình ảnh và đôi khi mang màu sắc huyền hoặc, bí ẩn.</p><p><br/></p><p>3. Sự nghiệp sáng tác</p><p><br/></p><p>Bùi Giáng sáng tác nhiều thể loại, bao gồm thơ ca, nghiên cứu văn học và dịch thuật.</p><p><br/></p><p>Một số tập thơ tiêu biểu:</p><p>• Mưa nguồn (1962)</p><p>• Màu hoa trên ngàn (1963)</p><p>• Mười hai con mắt (1964)</p><p>• Ngàn thu rớt hột (1967)</p><p>• Rong rêu (1972)</p><p>• Thơ vô tận vui (1987)</p><p><br/></p><p>Các công trình nghiên cứu tiêu biểu:</p><p>• Nhận xét về truyện Kiều và truyện Phan Trần (1957–1959)</p><p>• Giảng luận về Nguyễn Công Trứ</p><p>• Đi vào cõi thơ (1969)</p><p>• Mùa xuân trong thi ca (1969)</p><p><br/></p><p>Dịch thuật tiêu biểu:</p><p>• Hoàng tử bé (Le Petit Prince – Saint-Exupéry, 1973)</p><p>• Khung cửa hẹp (La Porte étroite – André Gide, 1966)</p><p>• Ngộ nhận (Le Malentendu – Albert Camus, 1967)</p><p><br/></p><p>Bùi Giáng là một hiện tượng độc đáo của văn học Việt Nam, để lại dấu ấn sâu sắc với tư tưởng và ngôn ngữ mang đậm cá tính riêng.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:27:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376287704</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 1 12A11</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376287822</link>
         <description><![CDATA[<p>1. <strong>Tiểu sử tác giả Lưu Quang Vũ</strong>  </p><p>Lưu Quang Vũ (1948–1988) là nhà thơ, nhà viết kịch, nhà văn nổi tiếng của Việt Nam. Ông sinh ra tại Phú Thọ, nhưng quê gốc ở Quảng Nam. Từ nhỏ, ông đã sống và học tập tại Hà Nội. Trong những năm 1965–1970, Lưu Quang Vũ nhập ngũ và phục vụ trong quân đội, sau đó chuyển sang sáng tác văn học và nghệ thuật. Cuộc đời ông kết thúc đột ngột vào năm 1988 trong một vụ tai nạn giao thông thảm khốc, cùng với vợ là nhà thơ Xuân Quỳnh và con trai.  </p><p> 2. <strong>Nét riêng trong phong cách nghệ thuật của Lưu Quang Vũ</strong>  </p><p>Lưu Quang Vũ nổi bật với phong cách sáng tác sắc sảo, giàu tính triết lý và tính hiện thực. Một số nét đặc trưng trong phong cách nghệ thuật của ông gồm:  </p><p>- <strong>Chất chính luận kết hợp với tính trữ tình</strong>: Ông đưa ra những vấn đề nóng bỏng của xã hội với cách thể hiện giàu cảm xúc và tinh tế.  </p><p>- <strong>Ngôn ngữ sinh động, giàu tính đối thoại</strong>: Lời thoại trong các vở kịch của ông thường gần gũi, sâu sắc, mang tính triết lý nhưng vẫn đời thường.  </p><p>- <strong>Xây dựng nhân vật có chiều sâu tâm lý</strong>: Nhân vật của ông thường mang tâm trạng giằng xé giữa cái cũ và cái mới, giữa lý tưởng và thực tế, thể hiện sự trăn trở về cuộc sống và con người.  </p><p>- <strong>Phản ánh hiện thực xã hội sắc bén</strong>: Tác phẩm của ông lên án những bất công, tiêu cực trong xã hội, đồng thời thể hiện khát vọng đổi thay, khẳng định giá trị chân – thiện – mỹ.  </p><p>3. <strong>Sự nghiệp sáng tác và các tác phẩm tiêu biểu</strong>  </p><p>Lưu Quang Vũ sáng tác trên nhiều thể loại như thơ, truyện ngắn, nhưng thành công nhất ở lĩnh vực kịch nói.  </p><p>- <strong>Thơ</strong>: Ông khởi đầu sự nghiệp văn học bằng thơ với giọng điệu vừa lãng mạn, vừa hiện thực, như các tập <em>Mây trắng của đời tôi</em>, <em>Bầy ong trong đêm sâu</em>.  </p><p>- <strong>Kịch</strong>: Đây là mảng thành công nhất của ông, đưa kịch Việt Nam sang một trang mới. Một số vở kịch tiêu biểu:  </p><p>  - <em>Hồn Trương Ba, da hàng thịt</em> (tác phẩm nổi tiếng nhất, mang ý nghĩa triết lý sâu sắc về cuộc sống con người).  </p><p>  - <em>Lời thề thứ 9</em>  </p><p>  - <em>Tôi và chúng ta</em>  </p><p>  - <em>Nàng Sita</em>  </p><p>  - <em>Khoảnh khắc và vô tận</em>  </p><p>Lưu Quang Vũ là một trong những nhà viết kịch xuất sắc nhất của Việt Nam thế kỷ 20. Tác phẩm của ông vẫn được biểu diễn và yêu thích cho đến ngày nay.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:27:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376287822</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 4 - 12A15</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376287866</link>
         <description><![CDATA[<p>Giới thiệu</p><p><em>Giáo sư Hoàng Châu Ký (1921-2008)</em></p><p>Giáo sư Hoàng Châu Ký sinh ngày 16/5/1921 tại xã Quế Lộc, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam và qua đời ngày 31/1/2008 tại thành phố Đà Nẵng, hưởng thọ 87 tuổi.</p><p>Giáo sư Hoàng Châu Ký nguyên là Bí thư Ðảng đoàn, Tổng Thư ký đầu tiên của Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam. Ông cũng là Viện trưởng Sân khấu và Hiệu trưởng đầu tiên của Trường nghệ thuật Sân khấu dân tộc (nay là Trường đại học Sân khấu - Ðiện ảnh Hà Nội); Người đầu tiên cho ra đời "Sơ thảo lịch sử tuồng" và thành lập Ban Nghiên cứu tuồng, một trong những bộ phận nghiên cứu hình thành Viện Sân khấu sau này.</p><p>Cả cuộc đời Giáo sư Hoàng Châu Ký đã cống hiến cho sự nghiệp bảo tồn và phát triển nghệ thuật Tuồng. Ông được những người yêu mến nghệ thuật Tuồng trân trọng tôn vinh là “Bậc thầy của nghệ thuật Tuồng”, “Cây đại thụ Tuồng”, “Người sáng lập nghệ thuật Tuồng cách mạng”, “Cánh chim đầu đàn của nghệ thuật Tuồng”...</p><p>Giáo sư Hoàng Châu Ký đã để lại khoảng hơn 50 tác phẩm và bài viết trong các lĩnh vực từ sáng tác, chỉnh lý, đạo diễn, nghiên cứu lý luận, các chuyên luận chuyên sâu về nghệ thuật Tuồng.</p><p>Với những cống hiến cho nền sân khấu Việt Nam, năm 1984, ông được phong hàm Giáo sư. Năm 2001, ông được Nhà nước trao tặng giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật.</p><p>Năm 2022, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật với cụm tác phẩm “Sách: Tuồng cổ; kịch bản sân khấu: Thanh gươm chủ chiến; kịch bản sân khấu: Trần Quý Cáp”./.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:27:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376287866</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 2 12A16</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376287867</link>
         <description><![CDATA[<ol><li><p><strong>Tác giả là ai?</strong><br>Tác giả là Hoàng Châu Ký, người gốc phường Cẩm Kim, Hội An, Quảng Nam. Ông là một nghệ sĩ sân khấu, đạo diễn, nhà nghiên cứu và giảng viên, có nhiều đóng góp lớn cho nghệ thuật tuồng và sân khấu Việt Nam.</p></li><li><p><strong>Nét riêng trong phong cách nghệ thuật của tác giả được thể hiện như thế nào?</strong><br>Nét riêng trong phong cách nghệ thuật của Hoàng Châu Ký thể hiện qua việc sáng tác và dàn dựng các vở tuồng từ những đề tài lịch sử, cách mạng và dân gian. Ông không chỉ là một đạo diễn tài ba mà còn là người sáng tác kịch bản, với khả năng kết hợp giữa truyền thống và hiện đại trong nghệ thuật tuồng, đặc biệt là qua các vở tuồng mang giá trị văn hóa và lịch sử sâu sắc.</p></li><li><p><strong>Trình bày sơ lược về sự nghiệp sáng tác của tác giả, nêu tên một số tác phẩm tiêu biểu.</strong><br>Hoàng Châu Ký có sự nghiệp dài và đóng góp lớn cho nghệ thuật sân khấu Việt Nam. Ông giữ nhiều vị trí quan trọng như Uỷ viên Thường vụ Chi hội văn nghệ Liên khu V, Tổng Thư kí Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam và Giám đốc Đoàn tuồng Bắc Trung ương. Ông cũng là người sáng lập các đơn vị nghệ thuật biểu diễn tuồng chuyên nghiệp và góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho nghệ thuật sân khấu. Một số tác phẩm tiêu biểu của ông gồm: <em>Thanh gươm chủ chiến</em> (tuồng cổ), <em>Trần Quý Cáp</em> (kịch bản sân khấu)</p></li></ol>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:27:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376287867</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 6- 12A7</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376287884</link>
         <description><![CDATA[<p>1. Tiểu sử ngắn gọn</p><p>Phan Khôi (1887 – 1959) sinh tại Quảng Nam. Ông là nhà thơ, nhà văn, nhà báo và nhà phê bình văn học tiêu biểu của Việt Nam thế kỷ XX. Phan Khôi được biết đến là người tiên phong trong phong trào Thơ Mới với bài thơ "Tình già" (1932), đồng thời là một trí thức có tư tưởng đổi mới mạnh mẽ trong lĩnh vực văn học và báo chí.</p><p>2. Phong cách nghệ thuật</p><p>Phan Khôi có phong cách sáng tác độc đáo, thể hiện qua:</p><ul><li><p><strong>Tính hiện đại và đổi mới</strong>: Là người khởi xướng phong trào Thơ Mới, ông phá bỏ các quy phạm cũ, đưa đến một cách viết tự do, gần gũi với đời sống.</p></li><li><p><strong>Giọng điệu sắc sảo, lý trí</strong>: Trong văn xuôi và phê bình, ông thể hiện tư duy phản biện mạnh mẽ, sắc bén.</p></li><li><p><strong>Tinh thần dân chủ và nhân văn</strong>: Ông đề cao quyền tự do tư tưởng, phê phán những lối mòn bảo thủ trong xã hội và văn học.</p></li></ul><p>3. Sự nghiệp sáng tác và các tác phẩm tiêu biểu</p><p>Thơ</p><ul><li><p><strong>Tình già</strong> (1932) – bài thơ mở đầu phong trào Thơ Mới.</p></li><li><p><strong>Chơi xuân nhớ cảnh</strong></p></li><li><p><strong>Trên đường đời</strong></p></li></ul><p>Văn xuôi và phê bình</p><ul><li><p><strong>Chương Dân thi thoại</strong></p></li><li><p><strong>Vấn đề phụ nữ ở nước ta</strong></p></li><li><p><strong>Phê bình và biện luận</strong></p></li></ul><p>Phan Khôi là một trong những trí thức tiêu biểu có đóng góp lớn cho nền văn học hiện đại Việt Nam. Dù gây nhiều tranh luận, tư tưởng đổi mới của ông đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử văn học và báo chí nước nhà.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:27:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376287884</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 5 12A4</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376287929</link>
         <description><![CDATA[<p>1. Nguyễn Văn Xuân sinh ngày 10 tháng 5 năm 1921 tại làng Thanh Chiêm, xã Điện Phương, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.</p><p>Lúc nhỏ, ông học ở quê, sau ra học ở Huế. Năm 16 tuổi, ông bắt đầu tự học và tập viết văn.</p><ul><li><p>Từ năm 1945 đến năm 1954, ông tham gia phong trào cách mạng ở quê nhà, từng làm Ủy viên kịch nghệ thuộc Hội Văn nghệ Quảng Nam, Ủy viên kịch nghệ thuộc Hội Văn nghệ liên khu V.</p></li></ul><ul><li><p>Sau năm 1954, ông ở lại Quảng Nam dạy giờ tại các trường tư và tiếp tục sáng tác.</p></li><li><p>Năm 1955, ông bị bắt giam ở nhà lao Thừa phủ (Huế), vì tham gia phong trào đấu tranh đòi thống nhất đất nước .</p></li></ul><ul><li><p>Ngoài công việc viết văn, ông còn dạy học tại các trường trung học tư thục Đà Nẵng, Đại học Văn khoa Huế,...và sau nầy dạy thêm ở Đại Học Đà Nẵng (thành lập năm 1974).</p></li></ul><ul><li><p>Ông qua đời vào lúc 21 giờ 30 ngày 4 tháng 7 năm 2007 tại Đà Nẵng.</p></li></ul><p>2. Ngôn từ trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân điềm đạm, mực thước của người từng trải, hiểu biết sâu sắc về lịch sử, về dân tộc học, về đất Quảng Nam. Điều đó làm cho sáng tác của nhà văn vừa gần gũi với người đọc trên mọi miền đất nước vừa thể hiện được những nét riêng của một nhà văn được đồng nghiệp, bạn bè mến yêu gọi là “ông thầy Quảng”. Chất Quảng thể hiện rõ ở cách sử dụng lời ăn tiếng nói hàng ngày: chân chất, sát thực tế, không cầu kì ước lệ mà vẫn không thô tục trong hành văn.</p><p><br/></p><p>3. Năm 1939, truyện ngắn đầu tay của ông có tên là "Bóng tối và ánh sáng" được chọn đăng trên tạp chí Thế giới (Hà Nội) và được trao giải nhất . Sau đó, ông lần lượt cộng tác với các báo, như: Bạn dân (Hà Nội), Thế giới (Hà Nội), Mới (Sài Gòn), Văn Lang (tạp chí, Sài Gòn), Tiểu thuyết thứ Bảy (tạp chí, Hà Nội)...</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:27:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376287929</guid>
      </item>
      <item>
         <title>nhóm 2 12A11</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376287984</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Tiểu sử ngắn gọn</strong></p><p>Lưu Quang Vũ (1948 – 1988) là một nhà thơ, nhà viết kịch, và nhà văn hóa nổi bật của Việt Nam trong thế kỷ XX. Ông sinh ra tại Phú Thọ, quê ngoại nhưng quê nội ở Đà Nẵng. Bắt đầu sáng tác thơ từ thập niên 1960, ông nhanh chóng khẳng định được tên tuổi như một trong những cây viết kịch xuất sắc nhất trên sân khấu hiện đại Việt Nam.</p><p><strong>Phong cách nghệ thuật</strong></p><p>Lưu Quang Vũ có một phong cách sáng tác rất đặc trưng, thể hiện qua:</p><ul><li><p><strong>Tính hiện thực sâu sắc:</strong> Ông phản ánh các vấn đề xã hội, nổi bật là xung đột giữa cái tốt và cái xấu, giữa lương tri và quyền lực.</p></li><li><p><strong>Chất thơ trong kịch:</strong> Ngôn ngữ của ông vừa giàu hình ảnh, vừa bay bổng, mang tính đời thường nhưng sâu sắc.</p></li><li><p><strong>Tính triết lý và nhân văn:</strong> Các vở kịch của ông thường chứa đựng những câu hỏi về đạo đức, trách nhiệm cá nhân và sự tiến hóa của xã hội.</p></li></ul><p><strong>Sự nghiệp sáng tác và các tác phẩm tiêu biểu</strong></p><p><strong>Thơ</strong></p><ul><li><p><strong>Hương cây - Bếp lửa</strong> (1968, in chung với Bằng Việt)</p></li><li><p><strong>Mây trắng của đời tôi</strong></p></li><li><p><strong>Bầy ong trong đêm sâu</strong></p></li><li><p><strong>Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi</strong></p></li></ul><p><strong>Kịch</strong></p><ul><li><p><strong>Sống mãi tuổi 17</strong> (1979) – vở kịch đầu tay, đã giành Huy chương Vàng năm 1980</p></li><li><p><strong>Bệnh sĩ</strong></p></li><li><p><strong>Tôi và chúng ta</strong></p></li><li><p><strong>Hồn Trương Ba, da hàng thịt</strong> – vở kịch nổi tiếng nhất của ông</p></li><li><p><strong>Lời thề thứ chín</strong></p></li><li><p><strong>Khoảnh khắc và vô tận</strong></p></li><li><p><strong>Vụ án hai ngàn ngày</strong></p></li><li><p><strong>Chuyện tình bên dòng sông Thu</strong></p></li></ul><p>Lưu Quang Vũ đã được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật năm 2000 với hai tác phẩm kịch: <strong>Tôi và chúng ta</strong> và <strong>Lời thề thứ chín</strong>. Đặc biệt, tên ông đã được đặt cho một con đường tại quận Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng, quê nội của ông.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:27:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376287984</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 3 12a15</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376288001</link>
         <description><![CDATA[<p>Hoàng Châu Ký (1921-2008), một nhà nghiên cứu văn hóa và nghệ thuật sân khấu nổi tiếng của Việt Nam.</p><p><br/></p><p>1. Tác giả là ai? </p><p><br/></p><p>Hoàng Châu Ký sinh năm 1921 tại Quảng Nam. Ông là nhà nghiên cứu sân khấu, đặc biệt có nhiều đóng góp cho nghệ thuật tuồng Việt Nam.</p><p><br/></p><p>Ông từng giữ nhiều vị trí quan trọng trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, như Viện trưởng Viện Sân khấu Việt Nam.</p><p><br/></p><p>Ông qua đời vào năm 2008.</p><p><br/></p><p><br/></p><p><br/></p><p>2. Nét riêng trong phong cách nghệ thuật của tác giả được thể hiện như thế nào?</p><p><br/></p><p>Hoàng Châu Ký là người có công nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn và phát huy nghệ thuật tuồng truyền thống.</p><p><br/></p><p>Ông có phong cách nghiên cứu khoa học sâu sắc, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn biểu diễn.</p><p><br/></p><p>Ông luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của bản sắc dân tộc trong nghệ thuật sân khấu.</p><p><br/></p><p><br/></p><p><br/></p><p>3. Trình bày sơ lược về sự nghiệp sáng tác của tác giả; nêu tên một số tác phẩm tiêu biểu.</p><p><br/></p><p>Ông có nhiều công trình nghiên cứu quan trọng về tuồng, giúp khẳng định vị trí của loại hình nghệ thuật này trong văn hóa dân gian Việt Nam.</p><p><br/></p><p>Một số tác phẩm tiêu biểu:</p><p><br/></p><p>Đặc trưng nghệ thuật tuồng</p><p><br/></p><p>Sơ khảo lịch sử nghệ thuật tuồng</p><p><br/></p><p>Tìm hiểu nghệ thuật hát</p><p><br/></p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:27:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376288001</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 6 12A8</title>
         <author>phuc16082007</author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376288105</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Câu 1</strong>: Hằng Phương nữ sĩ là một nhà thơ thuộc Phong trào Thơ mới 1932 – 1945, tên thật là Lê Hằng Phương, quê làng Bảo An (nay thuộc xã Điện Quang, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam).</p><p><strong>Câu 2: </strong></p><p>Nhận định về thơ Hằng Phương thời kỳ trước 1945, Lưu Khánh Thơ đã chỉ ra những đặc trưng làm nên hồn cốt thơ bà: “Hồn thơ Hằng Phương mang nặng tình quê, nó luôn hướng về đồng nội, về nơi sơ sinh và trưởng thành của mình. Thơ bà in đậm tấm lòng đôn hậu, yêu thương. Có lẽ trước Hằng Phương, chưa ai diễn đạt được tâm trạng xao xuyến, bồi hồi của một người con gái lần đầu đi theo tiếng gọi của tình yêu với rất nhiều yêu thương trao gửi nhưng vẫn không nguôi nỗi niềm hoài nhớ cảnh xưa, chốn cũ”. Chính tình cảm đối với gia đình, quê hương và rộng hơn là đất nước là mạch nguồn sáng tạo của Hằng Phương, là yếu tố làm nên phong cách thơ cũng như định vị vị trí của nữ sĩ trên thi đàn Thơ mới nói riêng, thơ ca Việt Nam hiện đại nói chung.</p><p><strong>Câu3:</strong> </p><p>Tác phẩm đầu tiên của Hằng Phương nữ sĩ là bài thơ Nhớ con nhỏ Bội Trinh đăng trên báo Phụ nữ tân văn năm 1929. Năm 1943, Hằng Phương nữ sĩ cùng ba nhà thơ Vân Đài, Mộng Tuyết, Anh Thơ in chung tập thơ có nhan đề Hương xuân (Nhà xuất bản Nguyễn Du). Đây là tuyển tập thơ nữ bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam. Trong Hương xuân, Hằng Phương nữ sĩ có các bài Tết xưa, Trăng lên, Trên đò suối, Tư cố hương, Bình minh, Tịch mịch, Nhớ mẹ, Chiều hè đứng bên sông, Phật tụng, Thu nhớ quê nhà. Trong sách Thi nhân Việt Nam xuất bản lần đầu năm 1942, hai tác giả Hoài Thanh và Hoài Chân đã tuyển bài thơ Lòng quê của Hằng Phương nữ sĩ. Năm 1946, bà được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tặng bài thơ Cảm ơn người tặng cam đăng trên tờ Tiếng gọi phụ nữ, cơ quan ngôn luận của tổ chức Phụ nữ cứu quốc: Cảm ơn bà biếu gói cam Nhận thì không đúng từ làm sao đây Ăn quả nhớ kẻ trồng cây Phải chăng khổ tận đến ngày cam lai? Năm 1954, bà công tác ở báo Văn nghệ và là một trong những hội viên đầu tiên của Hội Nhà văn Việt Nam. Năm 1968, dù đã sang tuổi 60, bà vẫn xung phong vào tuyến lửa Quảng Bình, đến với đội nữ thanh niên xung phong ở Nghệ An, sống và chiến đấu cùng bà con dân tộc Vân Kiều. Ngoài tập thơ in chung Hương xuân, Hằng Phương nữ sĩ còn có các tập thơ của riêng bà như Một mùa hoa (1960), Mùa gặt (1961), Chim én bay xa (1962), Hương đất nước (1974). Tên Hằng Phương nữ sĩ được đặt tên đường ở quận Ngũ Hành Sơn theo Nghị quyết số 33/2012/NQ-HĐND ngày 6 – 12 – 2012 của Hội đồng Nhân dân thành phố Đà Nẵng.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:27:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376288105</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 4- 12a1</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376288191</link>
         <description><![CDATA[<p>Huỳnh Thị Bảo Hòa (1896 - 1982), tên thật là -Huỳnh Thị Thái, được biết đến như một trong những nữ sĩ tiên phong của văn học Việt Nam hiện đại. Bà xuất thân từ làng Đa Phước, xã Hòa Minh, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam. Huỳnh Thị Bảo Hòa không chỉ nổi bật trong vai trò nhà văn mà còn là nhà báo nữ đầu tiên tại Đất Quảng</p><p>-Một trong những nét riêng trong phong cách nghệ thuật của bà là việc <strong><em>sử dụng ngôn ngữ duyên dáng và biểu cảm.</em></strong> Huỳnh Thị Bảo Hòa đã sử dụng chữ Quốc ngữ để viết tiểu thuyết, điều này không chỉ giúp tác phẩm trở nên gần gũi với độc giả mà còn thể hiện sự hiện đại trong cách tiếp cận và văn hóa trong viết lách vào thời điểm đó</p><p>-Sự nghiệp viết lách của bà bắt đầu từ những năm 1920, thời điểm mà việc nữ giới tham gia viết văn còn gặp nhiều khó khăn. Bà đã sử dụng chữ Quốc ngữ để viết tiểu thuyết, khẳng định vị thế của phụ nữ trong văn học và xã hội lúc bấy giờ.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:28:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376288191</guid>
      </item>
      <item>
         <title>nhóm 5 12A16</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376288200</link>
         <description><![CDATA[<p><br/></p><ol><li><p><strong>Tác giả là ai?</strong><br>Tác giả là Hoàng Châu Ký, người gốc phường Cẩm Kim, Hội An, Quảng Nam. Ông là một nghệ sĩ sân khấu, đạo diễn, nhà nghiên cứu và giảng viên, có nhiều đóng góp lớn cho nghệ thuật tuồng và sân khấu Việt Nam.</p></li><li><p><strong>Nét riêng trong phong cách nghệ thuật của tác giả được thể hiện như thế nào?</strong><br>Nét riêng trong phong cách nghệ thuật của Hoàng Châu Ký thể hiện qua việc sáng tác và dàn dựng các vở tuồng từ những đề tài lịch sử, cách mạng và dân gian. Ông không chỉ là một đạo diễn tài ba mà còn là người sáng tác kịch bản, với khả năng kết hợp giữa truyền thống và hiện đại trong nghệ thuật tuồng, đặc biệt là qua các vở tuồng mang giá trị văn hóa và lịch sử sâu sắc.</p></li><li><p><strong>Trình bày sơ lược về sự nghiệp sáng tác của tác giả, nêu tên một số tác phẩm tiêu biểu.</strong><br>Hoàng Châu Ký có sự nghiệp dài và đóng góp lớn cho nghệ thuật sân khấu Việt Nam. Ông giữ nhiều vị trí quan trọng như Uỷ viên Thường vụ Chi hội văn nghệ Liên khu V, Tổng Thư kí Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam và Giám đốc Đoàn tuồng Bắc Trung ương. Ông cũng là người sáng lập các đơn vị nghệ thuật biểu diễn tuồng chuyên nghiệp và góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho nghệ thuật sân khấu. Một số tác phẩm tiêu biểu của ông gồm: <em>Thanh gươm chủ chiến</em> (tuồng cổ), <em>Trần Quý Cáp</em> (kịch bản sân khấu).</p></li></ol><p><br/></p><p><strong>0Bài đăng này có 0 lượt thích</strong></p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:28:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376288200</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 4 12A4</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376288205</link>
         <description><![CDATA[<p>Nhà văn Nguyễn Văn Xuân sinh năm 1921 (Tân Dậu) tại làng Thanh Chiêm, xã Điện Phương, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Ông thuộc thế hệ các nhà văn xuất hiện trên văn đàn từ trước Cách mạng Tháng Tám (1945). Sau khi rời ghế nhà trường tại Huế (1937), ông bắt đầu cộng tác cho nhiều tờ báo và tạp chí lúc bấy giờ như: Văn Lang, Mới (Sài Gòn), Tiểu Thuyết Thứ Bảy (Hà Nội)... Tài năng của ông sớm bộc lộ từ những tác phẩm ban đầu với các truyện ngắn: "Ngày giỗ cha", "Ngày cuối năm trên đảo"...</p><p>Tuổi thanh xuân thuộc lớp ông lúc bấy giờ đã hòa vào bầu không khí hừng hực toàn quốc kháng chiến, ông lên đường tham gia vào các hoạt động nghệ thuật sân khấu như: kịch nói, hát bội. Hội Văn nghệ Quảng Nam và Liên khu 5 vào những năm sục sôi bầu không khí kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Văn Xuân đã tích cực tham gia với tư cách là ủy viên.</p><p><strong>Cầm cái thư mời tham dự buổi tọa đàm kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Nguyễn Văn Xuân (10.5.1921 - 10.5.2021), do Liên hiệp Các Hội Văn học Nghệ thuật Đà Nẵng tổ chức, chỉ bấy nhiêu thông tin đó thôi, ấy vậy mà một cõi mù khơi trí nhớ trong tôi động vọng.</strong></p><p>Vâng, có những con người mà khi mất đi, họ như những bóng râm đại thụ bị khuyết mà không thể lấy bất cứ bóng râm nào thay thế cho được. Với tôi, nhà văn <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://nld.com.vn/nguyen-van-xuan.html">Nguyễn Văn Xuân</a>, học giả Nguyễn Văn Xuân - cây đại thụ của văn học xứ Quảng là một người như thế.</p><p>Hơn 70 năm hoạt động văn học nghệ thuật, ông đã để lại cho đời một khối lượng tác phẩm đồ sộ, bao gồm: tiểu thuyết, truyện ngắn, biên khảo, nghiên cứu, lịch sử, kịch bản... Các nhà nghiên cứu phê bình văn học thuộc lớp về sau đã có nhận định về ông: "Với sự hiểu biết sâu sắc về sử học, dân tộc học, xã hội học, ông đã làm sống lại những sự kiện vang dội mà đau xót cũng như đã khắc họa thành công hình ảnh những người con ưu tú đất Quảng: Hoàng Diệu, Thái Phiên, Trần Cao Vân, các lãnh tụ Cần Vương Nguyễn Duy Hiệu, Phan Bá Phiến..."(Nguyễn Văn Xuân "Nhà văn đậm đặc chất Quảng" - Giáo sư Trần Hữu Tá).</p><p>Nói tới nhà văn Nguyễn Văn Xuân sẽ khó mà quên "Bão rừng" (1955), tiểu thuyết đầu tay của ông đã in đậm nét của một thời bóng tối "... anh chạy vào đất đỏ làm phu". Liên tiếp về sau là những: "Dịch cát" - tập truyện ngắn (1966), "Hương máu" - truyện ký (1969), tên tuổi của ông vào những năm tháng ấy đã là một dấu ấn giữa lòng công chúng.</p><p>Nhưng tài năng của ông không gói lại chỉ trong lĩnh vực sáng tác. Cũng trong thời gian này, Nguyễn Văn Xuân đã cho ra đời những công trình biên khảo, lịch sử đặc sắc và dày công phu, mà tiếng vang chắc rằng không thu hẹp trong bất cứ thời gian nào.</p><p>"Khi những lưu dân trở lại" (1967), tập khảo luận sâu sắc, với một nhãn quan kinh nghiệm từng trải, ông chiêm nghiệm và mở ra một cái nhìn quán xuyến, thấu đạt những gian truân của một thời mở đất tiến về phương Nam theo cách tư duy của nhà văn.Là một nhà văn lớn, mang tầm vóc cây cao bóng cả của xứ Quảng nhưng ông sống rất giản dị, thanh bần, luôn gần gũi với mọi người. Với lớp văn nghệ sĩ đàn em dường như với ông chưa bao giờ là khoảng cách. Tất cả nhận từ ông những vốn sống tích lũy, những trải nghiệm của một người thầy, người anh. Những hạt giống Nguyễn Văn Xuân đã gieo vãi vào tâm hồn bao lớp tuổi về sau, trong vô vàn cây đời xanh biếc ấy có nỗi lòng ông kỳ vọng!</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:28:04 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376288205</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 2 - 12A4 </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376288214</link>
         <description><![CDATA[<p>Nguyễn Văn Xuân – Tiểu sử và sự nghiệp văn học</p><ol><li><p><br/></p><p>Nguyễn Văn Xuân (quê làng Thanh Chiêm, nay thuộc xã Điện Phương, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam) là một nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa và lịch sử nổi bật. Ông dạy học và viết văn ở Đà Nẵng từ những năm 1950, cống hiến trọn đời cho nền văn học và văn hóa miền Trung.</p><p><br/></p><p>1. Tiểu sử và sự nghiệp</p><p><br/></p><p>Nguyễn Văn Xuân khởi đầu sự nghiệp văn chương với truyện ngắn “Bóng tối và ánh sáng”, tác phẩm đạt giải Nhất của báo Thế Giới tại Hà Nội. Dù có cơ hội vào Sài Gòn để có cuộc sống ổn định hơn, ông vẫn quyết định ở lại quê hương để nghiên cứu và bảo tồn những giá trị văn hóa, lịch sử của vùng đất Quảng Nam – Đà Nẵng. Ông cũng là một trong những người sáng lập Viện Đại học Cộng đồng Quảng Đà năm 1974, góp phần vào sự phát triển giáo dục địa phương.</p><p><br/></p><p>Ngoài sáng tác văn học, Nguyễn Văn Xuân còn có đóng góp lớn trong nghiên cứu nghệ thuật tuồng. Ông được độc giả đánh giá cao qua bài viết “Trại Ba Công Chúa”, phân tích về tuồng Địch Thanh. Đặc biệt, ông là người có công phát hiện 80 trên tổng số 120 hồi của bộ tuồng hát bội Vạn bửu trình tường của Đào Tấn.</p><p><br/></p><p>2. Phong cách nghệ thuật</p><p><br/></p><p>Nguyễn Văn Xuân là một nhà văn có lối viết sâu sắc, giàu chất lịch sử và văn hóa. Tác phẩm của ông thường xoay quanh những sự kiện quan trọng, những nhân vật anh hùng gắn liền với lịch sử Quảng Nam và Việt Nam. Văn phong ông giàu hình ảnh, có sự kết hợp giữa tính hiện thực và chất lãng mạn, đồng thời thể hiện sự trăn trở về vận mệnh dân tộc.</p><p><br/></p><p>3. Tác phẩm tiêu biểu</p><p>• Tiểu thuyết:</p><p>• Bão rừng (1957)</p><p>• Kỳ nữ họ Tổng (2002) – đoạt giải A về văn học năm 2003 của Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam.</p><p>• Truyện ngắn:</p><p>• Dịch cát (1966)</p><p>• Hương máu (1969) – viết về các lãnh tụ phong trào Nghĩa hội Quảng Nam và cuộc khởi nghĩa Duy Tân năm 1916.</p><p>• Khảo luận:</p><p>• Chinh phụ ngâm diễn âm tân khúc (1971)</p><p><br/></p><p>Với những đóng góp lớn lao cho văn học và văn hóa, Nguyễn Văn Xuân đã được vinh danh bằng việc đặt tên đường tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng theo Nghị quyết số 42/2013-HĐND ngày 11-7-2013.</p></li></ol>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:28:04 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376288214</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 1_12A4</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376288251</link>
         <description><![CDATA[<p>NGUYỄN VĂN XUÂN</p><ul><li><p>Nguyễn Văn Xuân sinh năm 1921 tại làng Thanh Chiêm, xã Điện Phương, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; qua đời vào lúc 21 giờ 30 ngày 4 tháng 7 năm 2007 tại Đà Nẵng. Ông là một học giả, nhà văn, nhà nghiên cứu.</p></li><li><p>Ngôn từ trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân điềm đạm, mực thước của người từng trải, hiểu biết sâu sắc về lịch sử, về dân tộc học, về đất Quảng Nam. Điều đó làm cho sáng tác của nhà văn vừa gần gũi với người đọc trên mọi miền đất nước vừa thể hiện được những nét riêng của một nhà văn được đồng nghiệp, bạn bè mến yêu gọi là “ông thầy Quảng”. Chất Quảng thể hiện rõ ở cách sử dụng lời ăn tiếng nói hàng ngày: chân chất, sát thực tế, không cầu kì ước lệ mà vẫn không thô tục trong hành văn.</p></li><li><p>Nói tới nhà văn Nguyễn Văn Xuân sẽ khó mà quên "Bão rừng" (1955), tiểu thuyết đầu tay của ông đã in đậm nét của một thời bóng tối "... anh chạy vào đất đỏ làm phu". Liên tiếp về sau là những: "Dịch cát" - tập truyện ngắn (1966), "Hương máu" - truyện ký (1969), tên tuổi của ông vào những năm tháng ấy đã là một dấu ấn giữa lòng công chúng</p></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:28:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376288251</guid>
      </item>
      <item>
         <title>NHÓM 1 12A3</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376288295</link>
         <description><![CDATA[<p>Nguyễn Văn Bổng (1921–2001) là nhà văn Việt Nam, quê ở Hà Tĩnh. Ông tham gia cách mạng từ sớm, từng đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng trong ngành văn hóa và báo chí.</p><p><br/></p><p>Phong cách nghệ thuật</p><p><br/></p><p>Nguyễn Văn Bổng nổi bật với lối viết hiện thực, phản ánh sâu sắc cuộc sống chiến đấu và lao động của con người Việt Nam trong kháng chiến và xây dựng đất nước. Văn phong của ông giản dị, giàu chất sử thi, chú trọng khắc họa tính cách nhân vật và không khí thời đại.</p><p><br/></p><p>Sự nghiệp sáng tác &amp; tác phẩm tiêu biểu</p><p><br/></p><p>Nguyễn Văn Bổng để lại nhiều tác phẩm có giá trị, đặc biệt là tiểu thuyết và truyện ngắn về đề tài chiến tranh và cách mạng. Một số tác phẩm tiêu biểu của ông:</p><p>• “Con trâu” (1952) – Tiểu thuyết về cuộc đấu tranh giai cấp ở nông thôn Việt Nam.</p><p>• “Đất” (1959) – Khắc họa cuộc sống của nhân dân trong cuộc kháng chiến chống Pháp.</p><p>• “Rừng U Minh” (1962) – Viết về cuộc sống và chiến đấu của quân dân miền Nam.</p><p><br/></p><p>Ông được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2000.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:28:08 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376288295</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 5 12A8</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376288345</link>
         <description><![CDATA[<p>​Hằng Phương (9 tháng 9 năm 1908 – 2 tháng 2 năm 1983), tên thật là Lê Hằng Phương, là một trong những nữ sĩ tiên phong của văn học hiện đại Việt Nam. Bà sinh tại làng Bảo An, xã Điện Thọ, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, trong một gia đình trí thức danh tiếng. Cha bà là nhà nghiên cứu Hán Nôm Lê Dư (bút hiệu Sở Cuồng), và bà gọi học giả Phan Khôi là bác ruột bên ngoại.&nbsp;</p><p><br/></p><p>Phong cách nghệ thuật của Hằng Phương mang đậm nét nữ tính, thể hiện sự tinh tế và sâu sắc trong cảm xúc. Thơ của bà thường phản ánh tình yêu quê hương, gia đình và thiên nhiên, với ngôn ngữ giản dị nhưng giàu hình ảnh. Bà là một trong những nữ thi sĩ tiêu biểu trong phong trào Thơ mới, cùng với các tên tuổi như Anh Thơ, Mộng Tuyết, Vân Đài.</p><p><br/></p><p>Trong sự nghiệp sáng tác, Hằng Phương đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị, tiêu biểu như:​</p><p><strong>Tập thơ "Hương xuân"</strong> (1943): Tập thơ đầu tay, thể hiện tình cảm nhẹ nhàng và sâu lắng về cuộc sống và thiên nhiên.​<br></p><p><strong>Tập thơ "Mùa gặt"</strong> (1957): Phản ánh cuộc sống lao động và tình yêu quê hương trong thời kỳ đổi mới.​<br></p><p><strong>Tập thơ "Chiều vàng"</strong> (1960): Thể hiện sự chiêm nghiệm về cuộc đời và con người.​<br></p><p>Ngoài ra, bà còn có nhiều bài thơ đăng trên các tạp chí văn học thời bấy giờ, góp phần làm phong phú nền thơ ca Việt Nam hiện đại.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:28:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376288345</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 1_12A4</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376288380</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>NGUYỄN VĂN XUÂN</strong></p><ul><li><p>Nguyễn Văn Xuân sinh năm 1921 tại làng Thanh Chiêm, xã Điện Phương, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; qua đời vào lúc 21 giờ 30 ngày 4 tháng 7 năm 2007 tại Đà Nẵng. Ông là một học giả, nhà văn, nhà nghiên cứu.</p></li><li><p>Ngôn từ trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân điềm đạm, mực thước của người từng trải, hiểu biết sâu sắc về lịch sử, về dân tộc học, về đất Quảng Nam. Điều đó làm cho sáng tác của nhà văn vừa gần gũi với người đọc trên mọi miền đất nước vừa thể hiện được những nét riêng của một nhà văn được đồng nghiệp, bạn bè mến yêu gọi là “ông thầy Quảng”. Chất Quảng thể hiện rõ ở cách sử dụng lời ăn tiếng nói hàng ngày: chân chất, sát thực tế, không cầu kì ước lệ mà vẫn không thô tục trong hành văn.</p></li><li><p>Nói tới nhà văn Nguyễn Văn Xuân sẽ khó mà quên "Bão rừng" (1955), tiểu thuyết đầu tay của ông đã in đậm nét của một thời bóng tối "... anh chạy vào đất đỏ làm phu". Liên tiếp về sau là những: "Dịch cát" - tập truyện ngắn (1966), "Hương máu" - truyện ký (1969), tên tuổi của ông vào những năm tháng ấy đã là một dấu ấn giữa lòng công chúng</p></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:28:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376288380</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 6 lớp 12A13</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376288383</link>
         <description><![CDATA[<p>Tống Phước Phổ (1902-1991) là một soạn giả tuồng tài năng và nhà cách mạng Việt Nam, sinh ra tại làng An Quán, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, trong một gia đình nhà Nho có truyền thống yêu nước.&nbsp; Ông là cháu của nhà viết tuồng trứ danh Nguyễn Hiển Dĩnh, điều này đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự nghiệp nghệ thuật của ông.</p><p><br/></p><p>Từ những năm 1930, Tống Phước Phổ tham gia hoạt động cách mạng và nhiều lần bị thực dân Pháp bắt giam. Ông đã sử dụng nghệ thuật tuồng như một phương tiện để thể hiện lòng yêu nước và khơi dậy tinh thần đấu tranh của dân tộc.&nbsp; Trong sự nghiệp của mình, ông đã sáng tác hơn 100 kịch bản tuồng, trong đó có nhiều vở nổi tiếng như “Hai Bà Trưng khởi nghĩa”, “Ngô Quyền”, “Đinh Bộ Lĩnh”, “Lam Sơn tụ nghĩa”, “An Tư công chúa”, “Sao Khuê trời Việt” và “Lục Vân Tiên”.</p><p><br/></p><p>Ngoài việc sáng tác, Tống Phước Phổ còn là một nhà thơ với nhiều tác phẩm thể hiện tư tưởng và tình cảm sâu sắc. Ông cũng tham gia tích cực vào các hoạt động phục vụ kháng chiến, cùng các nghệ nhân tuồng ra tiền tuyến để cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân và dân ta.</p><p><br/></p><p>Để tưởng nhớ và tôn vinh những đóng góp của ông, nhiều hoạt động kỷ niệm đã được tổ chức, như lễ kỷ niệm 110 năm ngày sinh của ông vào năm 2012, cùng với việc tái dựng 23 vở tuồng do ông sáng tác.&nbsp; Những đóng góp của Tống Phước Phổ đã để lại dấu ấn sâu đậm trong nền nghệ thuật tuồng Việt Nam và trong lòng người yêu nghệ thuật truyền thống.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:28:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376288383</guid>
      </item>
      <item>
         <title>NHÓM 3 - 12A5: Nhà văn Phan Tứ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376288628</link>
         <description><![CDATA[<p>Phan Tứ - nhà văn chuyên viết về đề tài chiến tranh cách mạng và lực lượng vũ trang.</p><p>- Tên thật là Lê Khâm sinh tại Quy Nhơn nhưng quê ở làng Gia Cát (nay thuộc xã Quế Phong, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam). Ông là cháu ngoại nhà yêu nước Phan Châu Trinh.</p><p>- Sau khi tốt nghiệp đại học năm 1961, Lê Khâm vào công tác tại Ban Tuyên huấn Khu uỷ 5, là Uỷ viên Đảng đoàn Ban Văn nghệ khu 5 và viết văn dưới bút danh Phan Tứ với nhiều tiếu thuyết nối tiềng như Gia đình Má Bảy (1968), Mẫn và tôi (1972), Trại ST 18 (1974),...</p><p>- Sau ngày đất nước thống nhất, Phan Tứ sống và sáng tác tại Đà Nẵng, từng giữ chức Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng và qua đời khi đang viết dang dở bộ tiểu thuyết ba tập Người cùng quê.</p><p>- Ngoài sáng tác tiểu thuyết, Phan Tứ còn để lại một bộ nhật kí và ghi chép với hàng trăm sổ tay, vở viết, tổng cộng gần 5 000 trang, thời gian ghi chép từ tháng 7 năm 1961 khi ông rời Hà Nội vào chiến trường và kết thúc cuối năm 1975 - về sau được tuyển chọn và biên soạn thành bộ sách Từ chiền trường Khu 5 (Nhà xuất bản Văn Học, 2011).</p><p>- Phan Tứ được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 2000 với các tiểu thuyết Trước giờ nổ súng, Gia đình Má Bảy, Mẫn và tôi và tập truyện ngắn Về làng.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:28:28 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376288628</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 5 - 12A7</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376288876</link>
         <description><![CDATA[<p>1. Tiểu sử ngắn gọn</p><p>Phan Khôi (1887 – 1959) sinh tại Quảng Nam. Ông là nhà thơ, nhà văn, nhà báo và nhà phê bình văn học tiêu biểu của Việt Nam thế kỷ XX. Phan Khôi được biết đến là người tiên phong trong phong trào Thơ Mới với bài thơ "Tình già" (1932), đồng thời là một trí thức có tư tưởng đổi mới mạnh mẽ trong lĩnh vực văn học và báo chí.</p><p><br/></p><p>2. Phong cách nghệ thuật</p><p>Phan Khôi có phong cách sáng tác độc đáo, thể hiện qua:</p><p><br/></p><p>Tính hiện đại và đổi mới: Là người khởi xướng phong trào Thơ Mới, ông phá bỏ các quy phạm cũ, đưa đến một cách viết tự do, gần gũi với đời sống.</p><p>Giọng điệu sắc sảo, lý trí: Trong văn xuôi và phê bình, ông thể hiện tư duy phản biện mạnh mẽ, sắc bén.</p><p>Tinh thần dân chủ và nhân văn: Ông đề cao quyền tự do tư tưởng, phê phán những lối mòn bảo thủ trong xã hội và văn học.</p><p>3. Sự nghiệp sáng tác và các tác phẩm tiêu biểu</p><p>Thơ</p><p>Tình già (1932) – bài thơ mở đầu phong trào Thơ Mới.</p><p>Chơi xuân nhớ cảnh</p><p>Trên đường đời</p><p>Văn xuôi và phê bình</p><p>Chương Dân thi thoại</p><p>Vấn đề phụ nữ ở nước ta</p><p>Phê bình và biện luận</p><p>Phan Khôi là một trong những trí thức tiêu biểu có đóng góp lớn cho nền văn học hiện đại Việt Nam. Dù gây nhiều tranh luận, tư tưởng đổi mới của ông đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử văn học v báo chí nước nhà.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:28:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376288876</guid>
      </item>
      <item>
         <title>nhóm 4 - 12A16</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376288993</link>
         <description><![CDATA[<ol><li><p><strong>Tác giả là ai?</strong><br>Tác giả là Hoàng Châu Ký, người gốc phường Cẩm Kim, Hội An, Quảng Nam. Ông là một nghệ sĩ sân khấu, đạo diễn, nhà nghiên cứu và giảng viên, có nhiều đóng góp lớn cho nghệ thuật tuồng và sân khấu Việt Nam.</p></li><li><p><strong>Nét riêng trong phong cách nghệ thuật của tác giả được thể hiện như thế nào?</strong><br>Nét riêng trong phong cách nghệ thuật của Hoàng Châu Ký thể hiện qua việc sáng tác và dàn dựng các vở tuồng từ những đề tài lịch sử, cách mạng và dân gian. Ông không chỉ là một đạo diễn tài ba mà còn là người sáng tác kịch bản, với khả năng kết hợp giữa truyền thống và hiện đại trong nghệ thuật tuồng, đặc biệt là qua các vở tuồng mang giá trị văn hóa và lịch sử sâu sắc.</p></li><li><p><strong>Trình bày sơ lược về sự nghiệp sáng tác của tác giả, nêu tên một số tác phẩm tiêu biểu.</strong><br>Hoàng Châu Ký có sự nghiệp dài và đóng góp lớn cho nghệ thuật sân khấu Việt Nam. Ông giữ nhiều vị trí quan trọng như Uỷ viên Thường vụ Chi hội văn nghệ Liên khu V, Tổng Thư kí Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam và Giám đốc Đoàn tuồng Bắc Trung ương. Ông cũng là người sáng lập các đơn vị nghệ thuật biểu diễn tuồng chuyên nghiệp và góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho nghệ thuật sân khấu. Một số tác phẩm tiêu biểu của ông gồm: <em>Thanh gươm chủ chiến</em> (tuồng cổ), <em>Trần Quý Cáp</em> (kịch bản sân khấu).</p></li></ol>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:28:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376288993</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 2 12A15</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376289035</link>
         <description><![CDATA[<p>Hoàng Châu Ký sinh tại xã Quế Lộc, huyện Quế Sơn nhưng quê gốc ở phường Cẩm Kim, thị Xã Hội An, tỉnh Quảng Nam; tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1942.</p><p><br></p><p>Với những cống hiến cho nền sân khấu Việt Nam, Hoàng Châu Ký được phong hàm Giáo sư năm 1984, được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Khoa học xã hội và nhân văn năm 2000; được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về</p><p>Văn học nghệ thuật năm 2022 với cụm tác phẩm: Thanh gươm chủ chiến (tuồng cổ, kịch bản sân khấu), Trần Quý Cáp (kịch bản sân khấu). Tên của ông được đặt tên đường ở quận Cẩm Lệ theo Nghị quyết số 42/2013-HĐND ngày 11- 7 - 2013 của Hội đồng Nhân dân thành phố Đà Nẵng.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:28:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376289035</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 2 12A7</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376289275</link>
         <description><![CDATA[<p>1. Tác giả Phan Khôi là ai?</p><p>Phan Khôi (1887–1959) là một nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu văn học và dịch giả nổi tiếng của Việt Nam. Ông sinh ra tại làng Bảo An, tỉnh Quảng Nam, trong một gia đình Nho học. Phan Khôi là một trong những trí thức tiên phong của phong trào Duy Tân và là người có ảnh hưởng lớn đến văn hóa và tư tưởng Việt Nam đầu thế kỷ 20. Ông cũng là một trong những người đi đầu trong việc sử dụng chữ Quốc ngữ và phát triển nền báo chí hiện đại ở Việt Nam.</p><p>2. Nét riêng trong phong cách nghệ thuật của Phan Khôi</p><p>Phan Khôi nổi bật với phong cách nghệ thuật sắc sảo, thẳng thắn và đầy tính phê phán. Ông thường sử dụng lối viết châm biếm, trào phúng để đả kích những thói hư tật xấu trong xã hội. Văn phong của ông rõ ràng, mạch lạc, giàu tính lý luận và logic, phản ánh tư duy sắc bén của một nhà trí thức uyên bác. Phan Khôi cũng là người tiên phong trong việc kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, đưa những tư tưởng mới vào văn học Việt Nam.</p><p>3. Sự nghiệp sáng tác của Phan Khôi</p><p>Phan Khôi có sự nghiệp sáng tác đa dạng, bao gồm nhiều thể loại như văn xuôi, thơ, dịch thuật và nghiên cứu văn học. Ông là một trong những cây bút chủ chốt của các tờ báo lớn như <em>Đông Dương tạp chí</em>, <em>Phụ nữ tân văn</em>, và <em>Nam Phong tạp chí</em>. Phan Khôi cũng là người dịch nhiều tác phẩm văn học nước ngoài sang tiếng Việt, góp phần mở rộng kiến thức và tầm nhìn cho độc giả Việt Nam.</p><p>Một số tác phẩm tiêu biểu của Phan Khôi:</p><ul><li><p><strong>"Chương Dân thi thoại"</strong>: Tập thơ phản ánh tư tưởng và tình cảm của ông.</p></li><li><p><strong>"Tình già"</strong>: Bài thơ nổi tiếng, được coi là một trong những tác phẩm tiên phong của thơ mới Việt Nam.</p></li><li><p><strong>"Văn minh tân học sách"</strong>: Tác phẩm nghiên cứu về văn hóa và giáo dục.</p></li><li><p><strong>Dịch thuật</strong>: Ông dịch nhiều tác phẩm của các nhà văn lớn như Victor Hugo, Lev Tolstoy, và các tác phẩm triết học phương Tây.</p></li></ul><p>Phan Khôi được coi là một trong những nhà văn tiên phong, có đóng góp lớn cho sự phát triển của văn học và báo chí Việt Nam hiện đại.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:29:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376289275</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 6-12A19</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376289278</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Tiểu sử:</strong></p><ul><li><p>Phan Huỳnh Điểu quê ở thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam nhưng sinh ra và lớn lên tại Đà Nẵng.</p></li><li><p>Ông tham gia hoạt động âm nhạc từ khi còn trẻ, với ca khúc đầu tay <em>Trầu cau</em> và <em>Mùa đông binh sĩ</em> vào đầu thập niên 1940.</p></li><li><p>Năm 1955, sau khi tập kết ra miền Bắc, ông công tác tại Ban Nhạc vũ Hội Văn nghệ Việt Nam.</p></li><li><p>Ông mất năm 2015, theo di nguyện, tro cốt của ông được rải xuống sông Hàn.</p></li></ul><p><strong>Nét riêng trong phong cách nghệ thuật:</strong></p><ul><li><p>Phan Huỳnh Điểu nổi tiếng với việc phổ nhạc từ thơ, quan niệm rằng "thơ và nhạc như cặp anh chị em song sinh".</p></li><li><p>Ông cho rằng ca từ từ thơ gốc của nhà thơ có giá trị cao hơn so với ca từ do nhạc sĩ tự sáng tác, vì thế ông đặc biệt thành công với các ca khúc phổ thơ.</p></li><li><p>Giai điệu trong nhạc của ông thường mềm mại, trữ tình nhưng vẫn mang âm hưởng hào sảng, phù hợp với tinh thần yêu nước và lãng mạn cách mạng.</p></li></ul><p><strong>Sơ lược sự nghiệp:</strong></p><ul><li><p>Ông nổi tiếng với ca khúc <em>Đoàn Vệ quốc quân</em> (1945).</p></li><li><p>Sáng tác <em>Tình trong lá thiếp</em> (1955), <em>Những ánh sao đêm</em> (1962).</p></li><li><p>Thành công với các ca khúc phổ thơ như:</p><ul><li><p><em>Bóng cây Kơ-nia</em> (1971, phổ thơ Ngọc Anh)</p></li><li><p><em>Cuộc đời vẫn đẹp sao</em> (1971, phổ thơ Dương Hương Ly)</p></li><li><p><em>Hành khúc ngày và đêm</em> (1972, phổ thơ Bùi Công Minh)</p></li><li><p><em>Sợi nhớ sợi thương</em> (1978, phổ thơ Thuý Bắc)</p></li><li><p><em>Anh ở đầu sông em cuối sông</em> (1978, phổ thơ Hoài Vũ)</p></li><li><p><em>Thuyền và biển</em> (1981, phổ thơ Xuân Quỳnh)</p></li><li><p><em>Ở hai đầu nỗi nhớ</em> (1987, phổ thơ Trần Hoài Thu)</p></li></ul></li><li><p>Ông được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật năm 2000.</p></li><li><p>Được đặt tên đường ở quận Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng theo Nghị quyết số 106/2023/NQ-HĐND.</p></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:29:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376289278</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 4 - 12A17</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376289315</link>
         <description><![CDATA[<ol><li><p> Phan Huỳnh Điểu (1924 – 2015) là một trong những nhạc sĩ tiêu biểu của nền âm nhạc Việt Nam, đặc biệt trong dòng nhạc cách mạng và trữ tình.  Ông sinh năm 1924 tại Đà Nẵng. Tham gia kháng chiến chống Pháp và sáng tác nhiều ca khúc cách mạng. Sau 1954, ông tiếp tục hoạt động âm nhạc, sáng tác nhiều ca khúc nổi tiếng cả về cách mạng lẫn tình ca.</p></li><li><p>Nét riêng trong nghệ thuật của Phan Huỳnh Điểu thể hiện qua giai điệu mượt mà, dễ nhớ, dễ hát nhưng vẫn sâu lắng và truyền cảm. Lời ca trong các sáng tác của ông giàu hình ảnh, mang đậm chất thơ, đặc biệt là những ca khúc phổ từ thơ. Ông có khả năng thể hiện hai mảng âm nhạc đối lập nhưng đều rất thành công: nhạc cách mạng hào hùng, lạc quan, thể hiện tinh thần yêu nước mạnh mẽ, và nhạc trữ tình nhẹ nhàng, sâu sắc, giàu cảm xúc. Phong cách sáng tác của Phan Huỳnh Điểu giản dị, gần gũi, dễ đi vào lòng người, phù hợp với mọi tầng lớp công chúng.</p></li><li><p>Sơ lược về sự nghiệp của Phan Huỳnh Điểu</p><p>• Bắt đầu sáng tác từ thời kháng chiến chống Pháp, nổi bật với nhạc cách mạng.</p><p>• Sau 1954, tập kết ra Bắc, tiếp tục sáng tác nhạc cách mạng và trữ tình.</p><p>• Nổi tiếng với các ca khúc phổ thơ: Thuyền và biển, Bóng cây Kơ-nia, Thơ tình cuối mùa thu…</p><p>• Nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật.</p><p>• Phong cách sáng tác giản dị, gần gũi, giàu cảm xúc.</p></li><li><p>Một số tác phẩm tiêu biểu của Phan Huỳnh Điểu</p><p><br></p><p>1. Nhạc cách mạng</p><p>• Cuộc đời vẫn đẹp sao</p><p>• Những ánh sao đêm</p><p>• Hành khúc ngày và đêm</p></li></ol>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:29:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376289315</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 3 - 12A7</title>
         <author>chienthuatcovua2_</author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376289504</link>
         <description><![CDATA[<p>PHAN KHÔI</p><ul><li><p>Phan Khôi bút danh Chương Dân, quê</p></li></ul><p>làng Bảo An (nay thuộc xã Điện Quang,</p><p>thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam)</p><ul><li><p>Cháu ngoại của nhà yêu nước Hoàng</p></li></ul><p>Diệu</p><ul><li><p>Năm 1908, Phan Khôi bị bắt giam</p><p>tại nhà lao Hội An và ông đã sáng tác</p><p>bốn bài thơ thất ngôn tứ tuyệt bằng chữ</p><p>Hán nhan đề Hải Phố ngục trung dữ Mính</p><p>Viên lưu biệt </p></li><li><p>Ông được xem là người cổ vũ và mở đầu cho Phong</p><p>trào Thơ mới 1932 – 1945</p></li></ul><ul><li><p>Những bài ông bàn về thơ Nôm trên chuyên mục Nam âm thi thoại đăng báo từ năm 1918 đến</p><p>năm 1932 để xuất bản cuốn sách Chương Dân thi thoại (Nhà in Đắc Lập ở Huế) được tuyển chọn</p></li></ul><ul><li><p>Tên Phan Khôi được đặt tên đường ở quận Cẩm Lệ theo Nghị quyết số</p><p>42/2013 HĐND ngày 11 – 7 – 2013 của Hội đồng Nhân dân thành phố Đà Nẵng.</p></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:29:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376289504</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 6 12a6</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376289657</link>
         <description><![CDATA[<p>Chu Cẩm Phong (1941-1971), tên thật là Trần Tiến, là một nhà văn, nhà báo và liệt sĩ Việt Nam. Ông sinh ngày 12 tháng 8 năm 1941 tại Hội An, tỉnh Quảng Nam.&nbsp; Năm 1954, ông theo cha tập kết ra Bắc, học tại Trường học sinh miền Nam, sau đó theo học Khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Năm 1963, khi đang học năm thứ ba, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Tốt nghiệp loại xuất sắc năm 1964, ông từ chối cơ hội du học nước ngoài để vào Nam tham gia kháng chiến, làm phóng viên Thông tấn xã Việt Nam và sau đó là biên tập viên Tạp chí Văn nghệ Giải phóng Trung Trung Bộ. Ông hy sinh ngày 1 tháng 5 năm 1971 tại thôn Vĩnh Cường, xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.</p><p><br/></p><p>Phong cách nghệ thuật của Chu Cẩm Phong nổi bật với sự chân thực và sống động, phản ánh sâu sắc hiện thực khắc nghiệt của chiến trường. Ông thường xuyên ghi chép tỉ mỉ về cuộc sống và con người trong chiến tranh, tạo nên những tác phẩm giàu cảm xúc và giá trị nhân văn.</p><p><br/></p><p>Trong sự nghiệp sáng tác ngắn ngủi hơn 3 năm, Chu Cẩm Phong đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị như:</p><p>• “Mặt Biển – Mặt trận” (1968)</p><p>• “Rét tháng Giêng” (1985)</p><p>• “Nhật ký chiến tranh”</p><p>• “Vườn cây ăn quả nhà mẹ Thám”</p><p>• “Gió lộng từ Cửa Đại”</p><p>• “Mẹ con chị Hiền”</p><p><br/></p><p>Đặc biệt, “Nhật ký chiến tranh” là tác phẩm ghi lại những suy nghĩ và trải nghiệm của ông trong thời gian tham gia kháng chiến, được đánh giá cao về giá trị văn học và lịch sử. Năm 2007, ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật, và năm 2010, ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, trở thành nhà văn duy nhất trong lịch sử Hội Nhà văn Việt Nam được phong tặng danh hiệu cao quý này.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:29:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376289657</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 3-12a9</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376289754</link>
         <description><![CDATA[<p>Tiểu sử Bùi Giáng (1926-1998) là một trong những nhà thơ, nhà văn nổi bật của Việt Nam trong thế kỷ 20. Ông sinh ra tại tỉnh Quảng Nam, trong một gia đình có truyền thống yêu văn học. Bùi Giáng không chỉ nổi tiếng với thơ mà còn với các tác phẩm văn xuôi, phê bình văn học và dịch thuật. </p><p> Phong cách nghệ thuật Phong cách nghệ thuật của Bùi Giáng rất độc đáo và phong phú. Ông thường sử dụng ngôn ngữ giản dị nhưng giàu hình ảnh, cảm xúc. Thơ của ông mang tính triết lý sâu sắc, kết hợp giữa cái đẹp của hình thức và nội dung tư tưởng. Ông có khả năng tạo ra những hình ảnh thơ lạ lùng, đầy tính biểu tượng và sâu sắc, thể hiện tâm tư, tình cảm của con người trong bối cảnh xã hội đầy biến động. Sự nghiệp sáng tác Bùi Giáng bắt đầu sự nghiệp sáng tác từ những năm 1940. Ông tham gia vào phong trào văn học kháng chiến và có nhiều tác phẩm nổi bật trong giai đoạn này. Sau năm 1975, ông tiếp tục sáng tác và có những đóng góp quan trọng cho nền văn học Việt Nam. Bùi Giáng không chỉ viết thơ mà còn viết tiểu thuyết, truyện ngắn, và nghiên cứu phê bình văn học.</p><p>  Tác phẩm tiêu biểu Một số tác phẩm tiêu biểu của Bùi Giáng bao gồm: 1. <strong><em>Thơ</em></strong>: - <strong>Mưa nguồn</strong>: Một trong những tập thơ nổi bật của ông, thể hiện cái nhìn sâu sắc về cuộc sống và con người. - <strong>Những bài thơ tình</strong>: Những bài thơ tình của ông vừa lãng mạn vừa triết lý, thể hiện tâm hồn nhạy cảm. 2. <strong><em>Văn xuôi</em></strong>: - <strong>Cõi người rung chuông tận thế</strong>: Một tác phẩm nổi bật với những suy tư triết lý về cuộc sống và cái chết. - <strong>Truyện ngắn</strong>: Ông có nhiều truyện ngắn nổi bật, thể hiện sự tinh tế trong việc nắm bắt tâm lý nhân vật. Bùi Giáng để lại một di sản văn học phong phú và đa dạng, ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều thế hệ nhà văn và độc giả Việt Nam.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:29:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376289754</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 3 12A17</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376289788</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>-Thông tin tiểu sử: </strong></p><p>Phan Huỳnh Điểu – "con chim vàng" </p><p>của âm nhạc Việt Nam – quê ở thị xã </p><p>Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam nhưng sinh </p><p>ra và lớn lên tại Đà Nẵng (khi qua đời </p><p>năm 2015, ông di nguyện được hoả </p><p>táng và rải tro cốt xuống sông Hàn). </p><p>-<strong>Phong cách nghệ thuật:</strong></p><p>Phan Huỳnh Điểu nổi tiếng với ca khúc Đoàn Vệ quốc quân  viết cuối năm 1945. Sau khi tập kết ra miền Bắc, năm 1955 Phan Huỳnh Điểu công  tác ở Ban Nhạc vũ Hội Văn nghệ Việt Nam, sáng tác ca khúc Tình trong lá thiếp; </p><p>-<strong>Cuộc đời sự nghiệp:</strong></p><p>Năm 1957 ông được cử vào Ban Thường vụ Hội Nhạc sĩ Việt Nam mới thành lập; </p><p>năm 1962 ông sáng tác ca khúc Những ánh sao đêm. Trả lời phỏng vấn Báo Thanh </p><p>Niên hồi tháng 4 năm 2006, Phan Huỳnh Điểu cho rằng: "Thơ phổ nhạc đạt đến </p><p>mức độ cộng hưởng tâm hồn của nhạc sĩ và thi sĩ. Tìm thấy một bài thơ phù hợp, </p><p>nhạc sĩ phổ nhạc và gửi gắm tâm trạng mình. Xét đến cùng, chất thơ trong ca từ </p><p>của một nhạc sĩ thuần túy không thể bằng được chất thơ trong ca từ vốn là bài </p><p>thơ của một nhà thơ. Nhà thơ chắt chiu từng con chữ, nhạc sĩ chăm chút từng nốt </p><p>nhạc sẽ cho ra một tác phẩm toàn vẹn và đầy đặn. Bởi vậy, tôi hết sức thích phổ </p><p>nhạc cho thơ. Thơ và nhạc như cặp anh chị em song sinh, thơ một cánh, nhạc một </p><p>cánh cho tác phẩm bay lên...". </p><p>-<strong>Tác phẩm tiêu biểu:</strong></p><p>Phan Huỳnh Điểu rất thành </p><p>công với nhiều ca khúc phổ thơ, như Bóng cây Kơ-nia (1971, phổ thơ Ngọc Anh), </p><p>Cuộc đời vẫn đẹp sao (1971, phổ thơ Dương Hương Ly), Hành khúc ngày và đêm</p><p>(1972, phổ thơ Bùi Công Minh), Sợi nhớ sợi thương (1978, phổ thơ Thuý Bắc), Anh </p><p>ở đầu sông em cuối sông (1978, phổ thơ Hoài Vũ), Thuyền và biển (1981, phổ thơ </p><p>Xuân Quỳnh), Ở hai đầu nỗi nhớ (1987, phổ thơ Trần Hoài Thu – bút danh của Trần </p><p>Đình Chính),… </p><p><strong>-Giải thưởng:</strong></p><p>Phan Huỳnh Điểu được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ </p><p>thuật năm 2000 với các ca khúc Đoàn Vệ quốc quân, Tình trong lá thiếp, Những </p><p>ánh sao đêm, Bóng cây Kơ-nia, Thuyền và biển. Phan Huỳnh Điểu được đặt tên </p><p>đường ở quận Ngũ Hành Sơn theo Nghị quyết số 106/2023/NQ-HĐND ngày </p><p><a rel="noopener noreferrer nofollow">14 – 12 – 2023</a> của Hội đồng Nhân dân thành phố Đà Nẵng.</p><p><br/></p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:29:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376289788</guid>
      </item>
      <item>
         <title>A19 - nhóm 2</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376289875</link>
         <description><![CDATA[<p>1.Tác giả là ai?</p><p>Phan Huỳnh Điểu (1924–2015) là nhạc sĩ quê Đà Nẵng, có nhiều đóng góp cho âm nhạc cách mạng Việt Nam.</p><p><br/></p><p>2.Nét riêng trong phong cách nghệ thuật?</p><p>Nhạc của ông giàu trữ tình, giai điệu mượt mà, kết hợp hào hùng và lãng mạn.</p><p><br/></p><p>3.Sự nghiệp sáng tác &amp; tác phẩm tiêu biểu?</p><p>Ông có nhiều ca khúc nổi tiếng như Bóng cây Kơ-nia, Thuyền và biển, Cuộc đời vẫn đẹp sao và được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:29:43 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376289875</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 4 - 12A10</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376289894</link>
         <description><![CDATA[<p>Thu Bồn tên thật là Hà Đức Trọng, quê làng Ngũ Giáp (nay thuộc phường</p><p>Điện Thắng Nam, thị xã Điện Bàn, tỉnh</p><p>Quảng Nam). Năm 1954, Thu Bồn tập kết ra miền Bắc, học ở Trường Sĩ quan</p><p>Lục quân, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Tuyên huấn - Báo chi (khóa ngắn hạn phục vụ cho chiến trường).</p><p>Năm 1960, Thu Bồn xung phong trở lại</p><p>Hình 3.13. Nhà thơ Thu Bón</p><p>miền Nam, được điều động về công tác</p><p>ở Tây Nguyên và tại huyện Chư Prông tỉnh Gia Lai năm 1962. Ông đã sáng tác</p><p>Bài ca chim Chơ-rao dài 230 khổ với 920 câu thơ - được xem là trường ca đầu tiên của văn học giải phóng, được dịch sang tiếng Trung Quốc và được Giải thưởng văn học Nguyễn Đình Chiếu của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Giải thưởng Văn học quốc tế Lotus của Hội Nhà văn Á Phi năm</p><p>1973. Không chỉ gắn bó với Đất Quảng qua bút danh Thu Bồn, nhà thơ còn gắn bó với quê hương qua bài thơ Đà Nẵng gọi ta sáng tác năm 1968:</p><p>Đà Nẵng gọi ta như mẹ gọi con như người yêu gọi người yêu xa cách ta muốn nói với từng viên gạch nếp rêu xưa còn in bóng cờ sao ta muốn hỏi Ngũ Hành Sơn mấy đinh non cao mà da diết trông chờ ai đó vậy</p><p>Hay bài thơ Gửi lòng con đến cùng Cha sáng tác khi được tin Chủ tịch Hồ Chí Minh</p><p>từ trần năm 1969:</p><p>Con qua Cẩm Lệ sông Hàn</p><p>Ngũ Hành Sơn đứng mơ màng bóng Cha;</p><p>Bài Tạm biệt Huế sáng tác năm 1980:</p><p>Tạm biệt Huế với em là tiền biệt</p><p>Hải Vân ơi xin người đừng tắt ngọn sao khuya</p><p>Tạm biệt nhé với chiếc hôn thầm lặng</p><p>Anh trở về hóá đá phía bên kia....</p><p>Tuy nhiên, Thu Bồn không chỉ là một nhà thơ mà còn là một nhà văn tài năng được ghi nhận qua Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2001 với</p><p>Tuyển tập Trường ca (1999) cùng bộ tiểu thuyết hai tập Dưới đám mây màu cánh vạc (1975) và Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 2017 với hai tiểu thuyết Chớp trắng (1970), Vùng pháo sáng (1986) cùng tập truyện ngắn</p><p>Dưới tro (1986). Đà Nẵng đặt tên đường Thu Bồn trên địa bàn quận Cẩm Lệ theo</p><p>Nghị quyết số 42/2013/NQ-HĐND ngày 11 - 7 - 2013 của Hội đồng Nhân dân thành phố Đà Nẵng. Tại tỉnh Quảng Nam, trên địa bàn phường Điện Thắng Nam, thị xã Điện Bản, có Trường Trung học cơ sở Thu Bồn.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:29:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376289894</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 6-12A5</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376289897</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Giới thiệu về nhà văn Phan Tứ</strong></p><p><br/></p><p>Phan Tứ (1930–1995) tên thật là Lê Khâm, quê ở Quảng Nam. Ông là một nhà văn nổi tiếng của nền văn học Việt Nam hiện đại, đặc biệt trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ. Ngoài vai trò là một nhà văn, ông còn tham gia hoạt động cách mạng và giữ nhiều chức vụ quan trọng trong lĩnh vực văn học – nghệ thuật.</p><p><br/></p><p><strong>Nét riêng trong nghệ thuật của Phan Tứ</strong></p><p>• <strong>Đề tài chiến tranh và cách mạng:</strong> Phan Tứ tập trung viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ, với những hình tượng nhân vật kiên cường, giàu lý tưởng.</p><p>• <strong>Phong cách tự sự kết hợp trữ tình: </strong>Ông có lối kể chuyện chân thực, sinh động nhưng vẫn mang đậm chất trữ tình, sâu lắng.</p><p>• <strong>Khai thác chiều sâu tâm lý nhân vật: </strong>Thay vì chỉ tái hiện chiến tranh qua hành động, ông đi sâu vào nội tâm con người, thể hiện ý chí và tình cảm của họ.</p><p>• <strong>Ngôn ngữ giàu chất tạo hình: </strong>Văn phong của Phan Tứ thường gợi cảm, giàu hình ảnh, giúp tái hiện sinh động không khí chiến đấu và đời sống con người.</p><p><br/></p><p><strong>Sự nghiệp sáng tác</strong></p><p><br/></p><p>Phan Tứ bắt đầu sáng tác từ những năm 1950 và có nhiều tác phẩm nổi bật trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ. Các tác phẩm của ông không chỉ ghi lại những trang sử hào hùng của dân tộc mà còn phản ánh chân thực cuộc sống, tình cảm của con người trong chiến tranh.</p><p><br/></p><p>Ngoài văn chương, ông còn hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu, dịch thuật và biên soạn tài liệu lịch sử.</p><p><br/></p><p><strong>Một số tác phẩm tiêu biểu</strong></p><p>• “Mẫn và tôi” (1966)</p><p>• “Trước giờ nổ súng” (1969)</p><p>• “Gia đình má Bảy” (1970)</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:29:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376289897</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 5-12A18</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376289906</link>
         <description><![CDATA[<p><strong><mark>Nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu</mark></strong></p><p><strong>1. Tóm tắt tiểu sử:</strong></p><p>Phan Huỳnh Điểu (1924–2015) là một nhạc sĩ nổi tiếng của Việt Nam, sinh tại Đà Nẵng. Ông được mệnh danh là "Con chim vàng của nền âm nhạc Việt Nam" nhờ những đóng góp lớn lao cho âm nhạc cách mạng và trữ tình. Ông từng tham gia kháng chiến chống Pháp và Mỹ, đồng thời nhận nhiều giải thưởng cao quý như Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật.</p><p><strong>2. Nét riêng trong phong cách nghệ thuật:</strong></p><p>Phong cách âm nhạc của Phan Huỳnh Điểu mang đậm chất trữ tình, sâu lắng và tinh tế. Ông nổi bật với khả năng phổ nhạc từ thơ, tạo nên những giai điệu vừa lãng mạn vừa hào hùng. Ngay cả trong các hành khúc, âm nhạc của ông vẫn giữ được sự mềm mại và cảm xúc.</p><p><strong>3. Sơ lược sự nghiệp sáng tác và tác phẩm tiêu biểu:</strong></p><p>Phan Huỳnh Điểu bắt đầu sáng tác từ năm 1940 và để lại hơn 100 ca khúc, trong đó hơn một nửa là các bài hát phổ thơ. Một số tác phẩm tiêu biểu của ông bao gồm:</p><p>- <strong>"Hành khúc ngày và đêm"</strong>: Một hành khúc nổi tiếng trong thời kỳ kháng chiến.</p><p>- <strong>"Thuyền và biển"</strong>: Phổ từ thơ Xuân Quỳnh, mang âm hưởng trữ tình, lãng mạn.</p><p>- <strong>"Cuộc đời vẫn đẹp sao"</strong>: Ca ngợi tinh thần lạc quan trong cuộc sống.</p><p>- <strong>"Đoàn Vệ quốc quân"</strong>: Một biểu tượng âm nhạc cách mạng.</p><p>Ông còn sáng tác nhiều bài hát dành cho thiếu nhi như <strong>"Đội kèn tí hon"</strong> và <strong>"Nhớ ơn Bác"</strong>. Những tác phẩm của ông không chỉ phản ánh lịch sử mà còn khơi dậy tình yêu quê hương, đất nước.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:29:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376289906</guid>
      </item>
      <item>
         <title>nhóm 5 - 12a5</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376289933</link>
         <description><![CDATA[<p>1. Thông tin tiểu sử tác giả</p><p>	•	Tên thật: Lê Khâm</p><p>	•	Bút danh: Phan Tứ</p><p>	•	Năm sinh - mất: 1930 - 1995</p><p>	•	Quê quán: Làng Gia Cát, xã Quế Phong, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam</p><p>	•	Xuất thân: Cháu ngoại nhà yêu nước Phan Châu Trinh</p><p>2. Nét riêng trong phong cách nghệ thuật</p><p>	•	Viết về chiến tranh cách mạng và lực lượng vũ trang với lối kể chuyện chân thực, hấp dẫn.</p><p>	•	Xây dựng hình tượng nhân vật có chiều sâu tâm lý, mang đậm tinh thần đấu tranh kiên cường.</p><p>	•	Sử dụng ngôn ngữ sinh động, giàu hình ảnh, phản ánh hiện thực kháng chiến hào hùng.</p><p>	•	Ghi chép tỉ mỉ, giàu tính tư liệu, thể hiện qua hàng nghìn trang nhật ký chiến trường.</p><p>3. Sự nghiệp sáng tác và tác phẩm tiêu biểu</p><p>	•	Tiểu thuyết tiêu biểu:</p><p>	•	Bên kia biên giới (1958)</p><p>	•	Trước giờ nổ súng (1960)</p><p>	•	Gia đình Má Bảy (1968)</p><p>	•	Mẫn và tôi (1972)</p><p>	•	Trại ST 18 (1974)</p><p>	•	Tác phẩm khác:</p><p>	•	Bộ nhật ký chiến trường Tư chiến trường Khu 5</p><p>	•	Tập truyện ngắn Về làng</p><p>	•	Giải thưởng:</p><p>	•	Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật (2000)</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:29:47 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376289933</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Bùi Giáng</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376290074</link>
         <description><![CDATA[<ul><li><p>Tiểu sử: Bùi Giáng (17/12/1926 - 7/10/1998) sinh tại Thanh Châu, Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, con thứ của ông bà Bùi Thuyên và Huỳnh Thị Kiều. Ông được văn giới, không phân biệt không gian thời gian, yêu mến trọng vọng. Những tác phẩm đầu của ông được in trong sách giáo khoa năm 1957, như <em>Một vài nhận xét về Bà huyện Thanh Quan</em>, <em>Lục Vân Tiên</em>, <em>Chinh phụ ngâm</em>,... nhưng tiếng tăm ông nổi bật từ tập thơ <em>Lá hoa cồn</em>(1963). Ông là một người tự học và học rất trễ, tuy nhiên khả năng tinh thông nhiều ngôn ngữ của ông, kể cả những ngôn ngữ khó như chữ Hán và tiếng Đức, làm kinh ngạc mọi người trong văn giới.</p></li><li><p>Các tập thơ đã xuất bản: <em>Mưa nguồn</em> (1962), <em>Lá hoa cồn</em> (1963), <em>Màu hoa trên ngàn</em> (1963), <em>Ngàn thu rớt hột</em> (1963), <em>Bài ca quần đảo</em> (1963)...</p></li><li><p>Phong cách sáng tác: Thơ của Bùi Giáng mang phong cách dị thường và huyền bí, nhiều người còn gọi ông là nhà thơ điên của thế kỉ 20 vì nét thơ độc đáo, không thể lẫn vào đâu được. Đọc thơ Bùi Giáng phải đọc chậm, vừa đọc vừa ngẫm nghĩ để hiếu hết cái hay, cái ý nghĩa trong thơ ông. Từng dòng chữ là sự kết hợp giữa triết học và thi ca. Cõi thơ của ông không chỉ đậm đặc nỗi buồn mà còn chất chứa sự cô đơn của thân phận trước những cuộc bể dâu của cuộc đời. Ngôn ngữ trong thơ Bùi Giáng là một vũ trụ ngôn ngữ riêng, mà trong đó có sự phối diệu giữa thi ca và tư tưởng, nó là một thứ ngôn ngữ phi logic, ngôn ngữ nghệ thuật phi nghệ thuật.</p></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:29:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376290074</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 5 - 12A15</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376290113</link>
         <description><![CDATA[<p><strong><em>1. Tiểu sử tác giả Hoàng Châu Ký</em></strong> Hoàng Châu Ký (1921–2008) là một nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, nhà sưu tầm và phê bình nghệ thuật nổi tiếng của Việt Nam. Ông sinh tại Hà Nội, nguyên quán ở Hải Dương.</p><p><strong><em>2. Phong cách nghệ thuật</em></strong> Hoàng Châu Ký không phải là nghệ sĩ sáng tác mà là nhà nghiên cứu, phê bình nghệ thuật. Phong cách của ông thể hiện qua: - <strong><em>Tính hệ thống, khoa học</em></strong> - <strong><em>Bảo tồn và đổi mới</em></strong> - <strong><em>Gắn bó với văn hóa dân tộc</em></strong> </p><p><strong><em>3. Sự nghiệp sáng tác và tác phẩm tiêu biểu</em></strong> - <strong><em>Sự nghiệp</em></strong>: - Làm việc tại Viện Nghệ thuật (Bộ Văn hóa), tham gia giảng dạy tại Trường Nghệ thuật Sân khấu Việt Nam. - Chủ biên nhiều công trình nghiên cứu về nghệ thuật truyền thống. - Được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật (2001). - <strong><em>Tác phẩm tiêu biểu</em></strong>: - <strong>Nghệ thuật Chèo Việt Nam</strong> (1974) - <strong>Tìm hiểu nghệ thuật Tuồng</strong> (1983) - <strong>Văn hóa dân gian và sân khấu</strong> (1995) Hoàng Châu Ký là một trong những học giả tiên phong đặt nền móng cho nghiên cứu nghệ thuật dân gian Việt Nam, để lại di sản quý giá cho thế hệ sau.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:29:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376290113</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 5 - 12a17</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376290149</link>
         <description><![CDATA[<p>Phan Huỳnh Điểu, được mệnh danh là "con chim vàng" của âm nhạc Việt Nam, sinh ra tại Đà Nẵng nhưng quê gốc ở thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Khi qua đời vào năm 2015, theo di nguyện, tro cốt của ông đã được rải xuống sông Hàn.</p><p>Ông bắt đầu con đường âm nhạc từ rất sớm với ca khúc đầu tay "Trầu cau" và "Mùa đông binh sĩ" vào đầu thập niên 1940. Tuy nhiên, cái tên Phan Huỳnh Điểu chỉ thật sự được biết đến rộng rãi với ca khúc "Đoàn Vệ quốc quân" vào cuối năm 1945.</p><p>Sau khi tập kết ra miền Bắc vào năm 1955, Phan Huỳnh Điểu công tác tại Ban Nhạc vũ Hội Văn nghệ Việt Nam và sáng tác ca khúc "Tình trong lá thiếp". Năm 1957, ông tham gia vào Ban Thường vụ Hội Nhạc sĩ Việt Nam và vào năm 1962, ông sáng tác "Những ánh sao đêm" – một trong những tác phẩm nổi tiếng của mình.</p><p>Phan Huỳnh Điểu đặc biệt thành công trong việc phổ nhạc cho thơ. Ông cho rằng sự kết hợp giữa nhạc và thơ là sự cộng hưởng tâm hồn giữa nhạc sĩ và thi sĩ. Với ông, thơ và nhạc như hai cánh của một tác phẩm nghệ thuật, giúp nó "bay lên". Các ca khúc phổ thơ nổi bật của ông bao gồm:</p><ul><li><p>"Bóng cây Kơ-nia" (1971, phổ thơ Ngọc Anh)</p></li><li><p>"Cuộc đời vẫn đẹp sao" (1971, phổ thơ Dương Hương Ly)</p></li><li><p>"Hành khúc ngày và đêm" (1972, phổ thơ Bùi Công Minh)</p></li><li><p>"Sợi nhớ sợi thương" (1978, phổ thơ Thuý Bắc)</p></li><li><p>"Anh ở đầu sông em cuối sông" (1978, phổ thơ Hoài Vũ)</p></li><li><p>"Thuyền và biển" (1981, phổ thơ Xuân Quỳnh)</p></li><li><p>"Ở hai đầu nỗi nhớ" (1987, phổ thơ Trần Hoài Thu).</p></li></ul><p>Năm 2000, Phan Huỳnh Điểu được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật với các ca khúc tiêu biểu như "Đoàn Vệ quốc quân", "Tình trong lá thiếp", "Những ánh sao đêm", "Bóng cây Kơ-nia" và "Thuyền và biển". Để ghi nhận những đóng góp của ông, tên Phan Huỳnh Điểu đã được đặt cho một con đường ở quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng theo Nghị quyết số 106/2023/NQ-HĐND ngày 14/12/2023.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:30:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376290149</guid>
      </item>
      <item>
         <title>12A13 - Nhóm 4: Tống Phước Phổ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376290165</link>
         <description><![CDATA[<p>1. Tiểu sử: </p><p>Nghệ sĩ Nhân dân Tống Phước Phổ là một soạn giả tuồng xuất sắc, quê ở làng An Quán (nay thuộc xã Điện Phương, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam). Ông xuất thân từ gia đình giàu truyền thống yêu nước, khi mẹ ông là cháu nội của nhà yêu nước Hoàng Diệu. Ông được đánh giá là một trong những tác giả lớn nhất của sân khấu tuồng Việt Nam, chỉ đứng sau Đào Tấn và Nguyễn Hiển Dĩnh.  </p><p><br/></p><p>2. Nét riêng về phong cách nghệ thuật:</p><p>Tống Phước Phổ thể hiện nét riêng trong nghệ thuật bằng tư tưởng yêu nước sâu sắc và ý tưởng dùng nghệ thuật để phục vụ nhân sinh. Phong cách sáng tác của ông là sự kết hợp giữa việc kế thừa di sản tuồng cổ và sáng tạo mới mẻ, đặc biệt với đề tài lịch sử và cách mạng. Ông nhấn mạnh rằng viết tuồng là một quá trình nghiêm túc và phải tập trung mọi sở học để tạo ra tác phẩm chất lượng. Những nhân vật và sự kiện lịch sử như Trưng Nữ Vương, Lê Lợi, Quang Trung thường xuyên xuất hiện trong sáng tác của ông, như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt để làm sống lại những trang sử hào hùng.  </p><p><br/></p><p>3. Sơ lược sự nghiệp sáng tác và tác phẩm tiêu biểu: </p><p>- Nghệ sĩ Nhân dân Tống Phước Phổ sáng tác hơn 100 kịch bản tuồng, trong đó có hơn 20 kịch bản về đề tài cách mạng. Một số tác phẩm tiêu biểu bao gồm:  </p><p>  - *Trưng Nữ Vương* (1952)  </p><p>  - *Lam Sơn khởi nghĩa* (1957)  </p><p>  - *An Tư công chúa* (1960)  </p><p>  - *Quán Thăng Long*  </p><p>  - *Hội nghị Diên Hồng*  </p><p>  - *Cờ giải phóng*  </p><p>  - *Bốn nghìn năm họp mặt anh hùng* (chuyển thể kịch thơ của Huy Cận)  </p><p><br/></p><p>- Ông cũng gia công chỉnh lý nhiều vở tuồng cổ nổi tiếng như *Sơn Hậu*, *Đào Phi Phụng*, và *Tam nữ đồ vương*.  </p><p><br/></p><p>Nghệ sĩ Nhân dân Tống Phước Phổ đã được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật năm 1996. Tên ông còn được đặt cho một con đường tại quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.  </p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:30:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376290165</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 4 lớp 12A8 </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376290188</link>
         <description><![CDATA[<p>Câu 1 Tác giả là ai</p><p>Nhà thơ Hằng Phương, tên thật là Lê Hằng Phương, sinh ra trên vùng đất học Gò Nổi (làng Bảo An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam)</p><p>Câu 2: Nét riêng trong phong cách nghệ thuật của tác giả được thể hiện như thế nào?</p><p>Thơ trữ tình, nhẹ nhàng, sâu lắng:</p><p>Hằng Phương thể hiện những cung bậc cảm xúc tinh tế, sâu sắc qua thơ của mình.</p><p>Chất nữ tính đậm nét: Thơ bà mang giọng điệu dịu dàng, đằm thắm, thể hiện nỗi niềm của người phụ nữ trong xã hội truyền thống.</p><p>Chủ đề đa dạng: Bà viết về tình yêu quê hương, gia đình, tình mẫu tử, thiên nhiên, tình yêu đôi lứa và những trăn trở của người phụ nữ.</p><p>Ngôn ngữ mộc mạc nhưng tinh tế:</p><p>Câu từ trong thơ bà không quá cầu kỳ nhưng giàu cảm xúc và có sức lay động lòng người.</p><p>Câu 3: Trình bày sơ lược về sự nghiệp sáng tác của tác giả; nêu tên một số tác phẩm tiêu biểu.</p><p>Hằng Phương (1908–1983) là một nhà thơ thuộc phong trào Thơ Mới, với phong cách trữ tình, nhẹ nhàng, thể hiện tình yêu quê hương, gia đình và thân phận người phụ nữ. Bà có đóng góp quan trọng trong văn học Việt Nam trước 1945.</p><p><strong>Một số tác phẩm tiêu biểu </strong></p><p><em>Hương Xuân</em> (1943, in chung với Anh Thơ, Vân Đài, Mộng Tuyết)</p><p>Các bài thơ nổi bật: <em>Trưa hè</em>, <em>Chiều quê</em>, <em>Mưa xuân</em>…</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:30:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376290188</guid>
      </item>
      <item>
         <title>NHÓM 6-12A4 </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376290198</link>
         <description><![CDATA[<p><br/></p><p>1. Tác giả Nguyễn Văn Xuân là ai? (Thông tin tiểu sử)</p><p> * Nguyễn Văn Xuân (1892-1989) là một học giả, nhà văn và nhà giáo nổi tiếng của Việt Nam.</p><p> * Ông sinh ra tại làng Thanh Chiêm, xã Điện Phương, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.</p><p> * Ông là một người có tinh thần tự học rất cao, chỉ học đến năm 16 tuổi thì tự học và tập viết văn.</p><p> * Nguyễn Văn Xuân là một người có kiến thức rộng về văn hóa và lịch sử Việt Nam. Ông có nhiều đóng góp cho việc nghiên cứu và bảo tồn văn hóa Việt Nam.</p><p>2. Nét riêng trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Văn Xuân:</p><p> * Nguyễn Văn Xuân được biết đến là một nhà văn "đậm đặc chất Quảng". Các tác phẩm của ông thường mang đậm hơi thở của văn hóa và con người xứ Quảng.</p><p> * Ông có lối viết chân thực, giản dị, nhưng cũng rất sâu sắc.</p><p> * Ông thường sử dụng ngôn ngữ địa phương trong các tác phẩm của mình, tạo nên một phong cách riêng biệt.</p><p> * Ông luôn quan niệm rằng, nghiên cứu một vấn đề lịch sử không chỉ căn cứ trên văn bản, còn phải khảo sát từ thực địa.</p><p>3. Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Văn Xuân và một số tác phẩm tiêu biểu:</p><p> * Nguyễn Văn Xuân có một sự nghiệp sáng tác đồ sộ với nhiều thể loại khác nhau, bao gồm truyện ngắn, tiểu luận, nghiên cứu văn hóa, lịch sử.</p><p> * Một số tác phẩm tiêu biểu của ông:</p><p>   * "Quê hương và xã hội" (tiểu luận)</p><p>   * "Nghiên cứu về phong trào Duy Tân ở Quảng Nam" (nghiên cứu)</p><p>   * "Con người và văn hóa Việt Nam" (nghiên cứu)</p><p>   * Và nhiều tác phẩm khác được tập hợp trong bộ sách "Nguyễn Văn Xuân toàn tập: Di sản chữ và di sản người".</p><p> * Ông được mệnh danh là nhà “Quảng Nam học”.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:30:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376290198</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm3 12A18</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376290230</link>
         <description><![CDATA[<p>1.Phan Huỳnh Điểu – "con chim vàng"</p><p>của âm nhạc Việt Nam – quê ở thị xã</p><p>Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam nhưng sinh</p><p>ra và lớn lên tại Đà Nẵng (khi qua đời</p><p>năm 2015, ông di nguyện được hoả</p><p>táng và rải tro cốt xuống sông Hàn).</p><p>2.Chất thơ trong ca từ</p><p>của một nhạc sĩ thuần túy không thể bằng được chất thơ trong ca từ vốn là bài</p><p>thơ của một nhà thơ. Nhà thơ chắt chiu từng con chữ, nhạc sĩ chăm chút từng nốt</p><p>nhạc sẽ cho ra một tác phẩm toàn vẹn và đầy đặn. Bởi vậy, tôi hết sức thích phổ</p><p>nhạc cho thơ. Thơ và nhạc như cặp anh chị em song sinh, thơ một cánh, nhạc một</p><p>cánh cho tác phẩm bay lên...". </p><p>3.Ông tham gia hoạt động âm nhạc khi</p><p>còn rất trẻ với ca khúc đầu tay Trầu cau</p><p>và ca khúc Mùa đông binh sĩ sáng tác</p><p>đầu thập niên 1940. Phan Huỳnh Điểu nổi tiếng với ca khúc Đoàn Vệ quốc quân</p><p>viết cuối năm 1945. Sau khi tập kết ra miền Bắc, năm 1955 Phan Huỳnh Điểu công</p><p>tác ở Ban Nhạc vũ Hội Văn nghệ Việt Nam, sáng tác ca khúc Tình trong lá thiếp;</p><p>năm 1957 ông được cử vào Ban Thường vụ Hội Nhạc sĩ Việt Nam mới thành lập;</p><p>năm 1962 ông sáng tác ca khúc Những ánh sao đêm. </p><p>4.Phan Huỳnh Điểu rất thành</p><p>công với nhiều ca khúc phổ thơ, như Bóng cây Kơ-nia (1971, phổ thơ Ngọc Anh),</p><p>Cuộc đời vẫn đẹp sao (1971, phổ thơ Dương Hương Ly), Hành khúc ngày và đêm</p><p>(1972, phổ thơ Bùi Công Minh), Sợi nhớ sợi thương (1978, phổ thơ Thuý Bắc), Anh</p><p>ở đầu sông em cuối sông (1978, phổ thơ Hoài Vũ), Thuyền và biển (1981, phổ thơ</p><p>Xuân Quỳnh), Ở hai đầu nỗi nhớ (1987, phổ thơ Trần Hoài Thu – bút danh của Trần</p><p>Đình Chính),…</p><p>Phan Huỳnh Điểu được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ</p><p>thuật năm 2000 với các ca khúc Đoàn Vệ quốc quân, Tình trong lá thiếp, Những</p><p>ánh sao đêm, Bóng cây Kơ-nia, Thuyền và biển</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:30:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376290230</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 1:12A6: Chu Cẩm Phong</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376290255</link>
         <description><![CDATA[<p>1.Chu Cẩm Phong (1931 - 2005) là một nhà văn, nhà báo nổi tiếng của Việt Nam, sinh tại Quảng Nam. Ông có sự nghiệp sáng tác gắn liền với nhiều thập kỷ biến động trong lịch sử đất nước, đặc biệt là trong thời kỳ chiến tranh và những năm sau này. Chu Cẩm Phong đã tham gia vào công tác văn hóa, báo chí và được biết đến với những tác phẩm viết về cuộc sống con người trong xã hội Việt Nam trong giai đoạn khó khăn.</p><p>2.Phong cách nghệ thuật của Chu Cẩm Phong đặc trưng bởi sự phản ánh chân thực đời sống xã hội trong những năm tháng chiến tranh và thời kỳ hậu chiến. Ông nổi bật với cách khai thác tâm lý nhân vật sâu sắc, đi vào những mâu thuẫn nội tâm của con người trong hoàn cảnh éo le, biến động. Ngòi bút của ông giàu tính hiện thực, đồng thời lãng mạn, trữ tình nhưng cũng rất sắc bén trong việc phản ánh những vấn đề xã hội và nhân sinh.</p><p>3.Chu Cẩm Phong có một sự nghiệp sáng tác dài, với những tác phẩm phản ánh rõ nét những khía cạnh của cuộc sống con người trong chiến tranh, xã hội và những năm tháng khó khăn. Các tác phẩm của ông thường đi sâu vào tình cảm, nỗi đau, khát vọng và những lựa chọn của con người trong hoàn cảnh xã hội đầy biến động. Một số tác phẩm tiêu biểu của ông là:</p><p><strong>"Nỗi buồn chiến tranh"</strong>: Tác phẩm thể hiện nỗi đau, mất mát và những tác động của chiến tranh đối với con người.</p><p><strong>"Người con gái làng Thị"</strong>: Khắc họa cuộc sống của những người dân bình thường trong thời kỳ chiến tranh.</p><p><strong>"Đoạn trường tân thanh"</strong>: Tác phẩm nổi bật về chủ đề tình yêu và mất mát trong bối cảnh xã hội nhiều biến động.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:30:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376290255</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 3 12A11</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376290294</link>
         <description><![CDATA[<p>1.</p><p>- Lưu Quang Vũ (1948 – 1988), ông sinh ra ở Phú Thọ, là con trai của nhà viết kịch Lưu Quang Thuận.</p><p>- Năm 1954, gia đình ông chuyển về sống tại Hà Nội.</p><p>- Năm 1965 đến 1970, ông nhập ngũ và gia nhập Quân chủng phòng không – không quân.</p><p>- Năm 1970 – 1978, ông xuất ngũ là làm nhiều nghề để kiếm sống: làm ở Xưởng Cao su Đường sắt do Tạ Đình Đề làm Giám đốc, làm hợp đồng cho nhà xuất bản Giải phóng, chấm công trong một đội cầu đường, vẽ pa-nô, áp phích,...</p><p>- Năm 1978 – 1988, ông làm biên tập viên “Tạp chí sân khấu”.</p><p>- Giữa lúc tài năng đang vào độ chín, Lưu Quang Vũ qua đời trong một tai nạn ô tô trên quốc lộ số 5 tại Hải Dương, cùng với người bạn đời là nhà thơ Xuân Quỳnh và con trai Lưu Quỳnh Thơ.</p><ol start="2"><li><p>-Kịch của Lưu Quang Vũ thể hiện nhiều cách tân độc đáo; quan tâm thể hiện xung đột trong cách sống và quan niệm sống, bày tỏ khát vọng hoàn thiện nhân cách con người</p></li><li><p>-Ông để lại di sản văn học đồ sộ gồm kịch, thơ và tiểu luận, với các tác phẩm như <em>Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Hương cây, Tôi và chúng ta, Sống mãi tuổi 17, Nàng Xita, Ngọc Hân công chúa,...</em></p><p>→&nbsp;Các tác phẩm của ông đã để lại một dấu ấn đáng kể trong lòng công chúng.&nbsp;</p><p>&nbsp; &nbsp; -&nbsp; Các vở kịch, truyện ngắn, thơ của Lưu Quang Vũ giàu tính hiện thực và nhân văn cũng như in đậm dấu ấn của từng giai đoạn trong cuộc sống của ông</p><p><strong>hưởng</strong></p><p>&nbsp; &nbsp;- &nbsp;Lưu Quang Vũ là hiện tượng đặc biệt của sân khấu kịch trường những năm tám mươi của thế kỉ XX, và cũng là nhà soạn kịch tài năng nhất của văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại.</p><p>&nbsp;- &nbsp; Ông được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về nghệ thuật sân khấu năm 2000.</p><p><br/></p></li></ol>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:30:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376290294</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 3-A12</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376290358</link>
         <description><![CDATA[<p>1. Tiểu sử ngắn gọn</p><p>Lưu Quang Vũ (1948 - 1988) sinh tại Phú Thọ (quê ngoại), nhưng quê nội ở Đà Nẵng. Ông là nhà thơ, nhà viết kịch, nhà văn hóa tiêu biểu của Việt Nam thế kỷ XX. Lưu Quang Vũ sáng tác thơ từ thập niên 1960 và sau này trở thành một trong những nhà viết kịch xuất sắc nhất của sân khẩu hiện đại Việt Nam.</p><p><br/></p><p>2. Phong cách nghệ thuật</p><p>Lưu Quang Vũ có phong cách sáng tác đặc sắc, thể hiện qua:</p><p>đời</p><p>• Tính hiện thực sâu sắc: Phản ánh những vấn đề xã hội, con người, đặc biệt là xung đột giữa cái tốt và cái xấu, giữa lương tri và quyền lực.• Chất thơ trong kịch: Ngôn ngữ giàu hình ảnh, bay bổng nhưng vẫn đời thường và sâu sắc.</p><p>• Tính triết lý và nhân văn: Các vở kịch thường đặt ra những câu hỏi về đạo đức, trách nhiệm cá nhân và sự thay đổi của xã hội.</p><p><br/></p><p>3. Sự nghiệp sáng tác và các tác phẩm tiêu biểu</p><p><br/></p><p>Thơ</p><p>• Hương cây - Bếp lửa (1968, in chung với Bằng Việt)</p><p>• Mây trắng của đời tôi</p><p>• Bầy ong trong đêm đời sâu</p><p>• Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi</p><p>Kịch</p><p>• Sống mãi tuổi 17 (1979) – vở kịch đầu tay, đoạt Huy chương Vàng năm 1980</p><p>• Bệnh sĩ</p><p>• Tôi và chúng ta</p><p>• Hồn Trương Ba, da hàng thịt – vở kịch nổi tiếng nhất của Lưu Quang Vũ</p><p>• Lời thề thứ chín</p><p>• Khoảnh khắc và vô tận</p><p>• Vụ án hai ngàn ngày</p><p>• Chuyện tình bên dòng sông Thu</p><p>Lưu Quang Vũ được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật năm 2000 với hai kịch bản Tôi và chúng ta và Lời thề thứ chín. Tên ông cũng được đặt cho một con đường tại quận Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng – quê nội của ông.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:30:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376290358</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 3 - 12A4</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376290520</link>
         <description><![CDATA[<p>1.Tác giả là ai? </p><p>+Nguyễn Văn Xuân quê làng Thanh Chiêm (nay thuộc xã Điện Phương, thị xã  </p><p>Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam) </p><p>+dạy học và viết văn ở Đà Nẵng từ thập niên 1950.  </p><p>+Truyện ngắn đầu tay Bóng tối và ánh sáng(1) của ông được báo Thế Giới ở Hà Nội  </p><p>trao giải Nhất – và là một trong những người có công sáng lập Viện Đại học cộng  </p><p>đồng Quảng Đà năm 1974. </p><p>2.Phong cách nghệ thuật </p><p>+Ngôn từ trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân điềm đạm, mực thước của người từng trải, hiểu biết sâu sắc về lịch sử, về dân tộc học, về đất Quảng Nam  </p><p>+Điều đó làm cho sáng tác của nhà văn vừa gần gũi với người đọc trên mọi miền đất nước vừa thể hiện được những nét riêng của một nhà văn được đồng nghiệp, bạn bè mến yêu gọi là “ông thầy Quảng”.  </p><p>+Chất Quảng thể hiện rõ ở cách sử dụng lời ăn tiếng nói hàng ngày: chân chất, sát thực tế, không cầu kì ước lệ mà vẫn không thô tục trong hành văn.</p><p><br/></p><p>Tiểu sử:</p><p>- Nguyễn Văn Xuân (1921-2007), là một học giả, nhà văn và nhà giáo Việt Nam. </p><p>Sự nghiệp:</p><p>- Lúc nhỏ, ông học ở quê, sau ra học ở Huế. Năm 16 tuổi, ông bắt đầu tự học và tập viết văn.</p><p>- Năm 1939, truyện ngắn đầu tay của ông có tên là "Bóng tối và ánh sáng" được chọn đăng trên tạp chí Thế giới (Hà Nội) và được trao giải nhất. Sau đó, ông lần lượt cộng tác với các báo, như: Bạn dân (Hà Nội), Thế giới (Hà Nội), Mới (Sài Gòn), Văn Lang (tạp chí, Sài Gòn), Tiểu thuyết thứ Bảy (tạp chí, Hà Nội)...</p><p>- Từ năm 1945 đến năm 1954, ông tham gia phong trào cách mạng ở quê nhà, từng làm Ủy viên kịch nghệ thuộc Hội Văn nghệ Quảng Nam, Ủy viên kịch nghệ thuộc Hội Văn nghệ liên khu V.</p><p>Sau năm 1954, ông ở lại Quảng Nam dạy giờ tại các trường tư và tiếp tục sáng tác.</p><p>- Năm 1955, ông bị bắt giam ở nhà lao Thừa phủ (Huế), vì tham gia phong trào đấu tranh đòi thống nhất đất nước.</p><p>- Ngoài công việc viết văn, ông còn dạy học tại các trường trung học tư thục Đà Nẵng, Đại học Văn khoa Huế,...và sau nầy dạy thêm ở Đại Học Đà Nẵng (thành lập năm 1974).</p><p>- Ông qua đời vào lúc 21 giờ 30 ngày 4 tháng 7 năm 2007 tại Đà Nẵng.</p><p>Tác phẩm tiêu biểu:</p><p>- Truyện ngắn: Ngày giỗ cha (1943), Ngày cuối năm trên đảo (1945), Hương máu (1969)</p><p>- Tiểu thuyết: Báo rừng (1957)</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:30:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376290520</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 4 - 12A11</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376290671</link>
         <description><![CDATA[<p>Câu 1: Lưu Quang Vũ ai ?</p><p>- Lưu Quang Vũ (1948 – 1988), ông sinh ra ở Phú Thọ, là con trai của nhà viết kịch Lưu Quang Thuận.</p><p>- Năm 1954, gia đình ông chuyển về sống tại Hà Nội.</p><p>- Năm 1965 đến 1970, ông nhập ngũ và gia nhập Quân chủng phòng không – không quân.</p><p>- Năm 1970 – 1978, ông xuất ngũ là làm nhiều nghề để kiếm sống: làm ở Xưởng Cao su Đường sắt do Tạ Đình Đề làm Giám đốc, làm hợp đồng cho nhà xuất bản Giải phóng, chấm công trong một đội cầu đường, vẽ pa-nô, áp phích,...</p><p>- Năm 1978 – 1988, ông làm biên tập viên “Tạp chí sân khấu”.</p><p>- Giữa lúc tài năng đang vào độ chín, Lưu Quang Vũ qua đời trong một tai nạn ô tô trên quốc lộ số 5 tại Hải Dương, cùng với người bạn đời là nhà thơ Xuân Quỳnh và con trai Lưu Quỳnh Thơ.</p><p>Câu 2 : </p><p>Lưu Quang Vũ là một tác giả có phong cách nghệ thuật độc đáo, thể hiện rõ qua các tác phẩm thơ và kịch của ông. Nét riêng trong phong cách nghệ thuật của Lưu Quang Vũ được thể hiện qua nhiều khía cạnh đặc sắc.</p><p><br/></p><p>Trước hết, tác phẩm của ông mang đậm tính hiện thực và tính thời sự sâu sắc. Kịch của Lưu Quang Vũ phản ánh chân thực những vấn đề nóng bỏng của xã hội, đặc biệt là những bất công, thói quan liêu, sự tha hóa của con người trong bối cảnh đất nước đổi mới. Các vở kịch như Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Tôi và chúng ta, Lời thề thứ 9… đều đề cập đến những mâu thuẫn giữa đạo đức và thực tiễn, giữa lý tưởng và hiện thực cuộc sống.</p><p><br/></p><p>Bên cạnh đó, ông có cách kết hợp hài hòa giữa chất trữ tình và triết lý sâu sắc. Trong thơ và kịch của Lưu Quang Vũ, chất trữ tình thấm đẫm qua từng câu chữ, thể hiện khát vọng yêu thương, sự khao khát lẽ công bằng và chân lý. Tuy nhiên, triết lý trong tác phẩm của ông không mang tính giáo điều mà được thể hiện một cách nhẹ nhàng, thấm thía, khiến người đọc, người xem phải suy ngẫm.</p><p><br/></p><p>Ngoài ra, phong cách nghệ thuật của Lưu Quang Vũ còn ghi dấu ấn bởi những sáng tạo trong hình thức thể hiện. Kịch của ông thường có kết cấu linh hoạt, lời thoại giàu chất văn chương, vừa đời thường vừa mang tính triết lý. Nhân vật trong kịch được xây dựng chân thực, có chiều sâu tâm lý, thể hiện rõ những xung đột nội tâm giữa cái thiện và cái ác, giữa ước mơ và thực tại.</p><p><br/></p><p>Chính nhờ những nét riêng đó, tác phẩm của Lưu Quang Vũ không chỉ mang giá trị nghệ thuật cao mà còn có sức sống lâu bền, để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng độc giả và khán giả.</p><p>Câu 3: </p><p>Lưu Quang Vũ (1948–1988) là một nhà thơ, nhà viết kịch tài năng của nền văn học Việt Nam hiện đại. Ông bắt đầu sáng tác thơ từ những năm 1960 với giọng thơ trữ tình, giàu cảm xúc, thể hiện khát vọng tự do, tình yêu và niềm tin vào cuộc sống.</p><p><br/></p><p>Tuy nhiên, Lưu Quang Vũ được biết đến nhiều nhất với tư cách là một nhà viết kịch xuất sắc. Từ cuối thập niên 1970, ông tập trung vào kịch nói và nhanh chóng trở thành một hiện tượng với hàng loạt vở kịch có giá trị nghệ thuật và tư tưởng sâu sắc. Kịch của ông thường phản ánh những vấn đề xã hội, phê phán bất công, thói quan liêu, đồng thời thể hiện khát vọng về một xã hội công bằng, tốt đẹp hơn.</p><p><br/></p><p>Một số tác phẩm tiêu biểu của ông gồm có:</p><p>Thơ: Bầy ong trong đêm sâu, Mây trắng của đời tôi</p><p>Kịch: Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Tôi và chúng ta, Lời thề thứ 9, Nếu anh không đốt lửa, Khoảnh khắc và vô tận</p><p><br/></p><p>Sự nghiệp sáng tác của Lưu Quang Vũ tuy ngắn ngủi nhưng đã để lại dấu ấn sâu đậm trong nền văn học và sân khấu Việt Nam.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:30:29 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376290671</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 1- 12A19</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376290724</link>
         <description><![CDATA[<p>1. Tác giả Phan Huỳnh Điểu:</p><p>Phan Huỳnh Điểu (1924-2021) là một nhà thơ và nhạc sĩ nổi tiếng của Việt Nam. Ông sinh ra tại tỉnh Quảng Nam và có một tuổi thơ gắn liền với những biến động lịch sử và văn hóa của đất nước. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm, và sự nghiệp văn học của ông gắn liền với nhiều giai đoạn lịch sử quan trọng của Việt Nam, đặc biệt là trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Ông cũng là một trong những người sáng lập Hội Nhạc sĩ Việt Nam.</p><p>2. Nét riêng trong phong cách nghệ thuật của tác giả: Phong cách nghệ thuật của Phan Huỳnh Điểu được thể hiện qua:</p><p>-Ngôn ngữ giản dị, gần gũi, từ ngữ mộc mạc, dễ hiểu nhưng giàu hình ảnh, giúp người đọc dễ dàng cảm nhận được tâm tư và tình cảm.</p><p>-Tác phẩm của ông thường thể hiện tình yêu quê hương, đất nước, lòng tự hào dân tộc và sự hy sinh của con người trong cuộc kháng chiến.</p><p>-Nhạc của ông mang âm hưởng trữ tình sâu lắng, phản ánh tâm tư của người Việt trong bối cảnh xã hội đầy biến động.</p><p> 3. Sự nghiệp sáng tác:</p><p>Phan Huỳnh Điểu có một sự nghiệp sáng tác phong phú với nhiều tác phẩm nổi tiếng. Ông bắt đầu sáng tác từ những năm 1940 và đã để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ.</p><p>*Một số tác phẩm tiêu biểu:</p><p>- Thơ: "Mùa xuân nho nhỏ", "Tình yêu quê hương".</p><p>- Nhạc: "Như có Bác trong ngày vui đại thắng", "Bài ca hy vọng", "Hát về cây lúa hôm nay".</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:30:33 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376290724</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 5 - lớp 12a14</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376290777</link>
         <description><![CDATA[<p>Tống Phước Phổ (1902–1991) là một soạn giả tuồng nổi tiếng của Việt Nam, sinh ra tại Điện Bàn, Quảng Nam. Ông được biết đến như một trong những tác giả hàng đầu của sân khấu tuồng cách mạng, với gần 100 kịch bản trong suốt sự nghiệp kéo dài hơn 60 năm2.</p><p>Nét riêng trong phong cách nghệ thuật</p><p>Phong cách của Tống Phước Phổ mang đậm chất dân gian, trữ tình, dễ nhớ và dễ thuộc. Ông không rập khuôn theo cấu trúc truyền thống mà sáng tạo, làm mới nội dung và hình thức của tuồng. Văn phong của ông chịu ảnh hưởng từ cụ Đào Tấn và người cậu Nguyễn Hiển Dĩnh, nhưng vẫn giữ được nét độc đáo riêng, phản ánh tinh thần yêu nước và cách mạng.</p><p>Hành trình sáng tác</p><ul><li><p><strong>Thời trẻ</strong>: Ông bắt đầu sáng tác từ năm 18 tuổi với vở "Lâm Sanh - Xuân Hương". Sau đó, ông tham gia cách mạng và viết nhiều bài báo, kịch bản ca ngợi tinh thần yêu nước.</p></li><li><p><strong>Giai đoạn kháng chiến</strong>: Sau Cách mạng Tháng Tám, ông cùng các nghệ sĩ khác thành lập đoàn tuồng để biểu diễn gây quỹ kháng chiến. Đây là tiền thân của Nhà hát tuồng Đào Tấn ngày nay.</p></li><li><p><strong>Thời kỳ cách mạng</strong>: Ông sáng tác hơn 20 vở tuồng cách mạng, góp phần quan trọng trong việc phục hồi và phát triển nghệ thuật tuồng.</p></li></ul><p>Một số tác phẩm tiêu biểu</p><ul><li><p><strong>Tuồng cách mạng</strong>: "Trưng Nữ Vương", "Hội nghị Diên Hồng", "Cờ giải phóng", "Hùm Yên Thế".</p></li><li><p><strong>Tuồng cổ chỉnh lý</strong>: "Sơn Hậu", "Lam Sơn khởi nghĩa", "An Tư công chúa".</p></li></ul><p>Ông được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt đầu tiên, ghi nhận những đóng góp to lớn cho nghệ thuật tuồng Việt Nam.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:30:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376290777</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 3-12a19</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376290782</link>
         <description><![CDATA[<p>1.Tác giả là ai ?</p><p>- Phan Huỳnh Điểu (sinh ngày 11 tháng 11 năm 1924 - mất ngày 29 tháng 6 năm 2015) là một trong những nhạc sĩ tiêu biểu nhất của dòng nhạc cách mạng Việt Nam trong thế kỉ XX. Phần lớn các ca khúc của Phan Huỳnh Điểu là nhạc đỏ, nhưng ông cũng có nhiều ca khúc trữ tình đặc sắc.</p><p>2.Nét riêng trong phong cách nghệ thuật của tác giả ?</p><p>- Phong cách nghệ thuật của Phan Huỳnh Điểu mang nét riêng với giai điệu trữ tình, sâu lắng, giàu chất thơ và đậm đà tính dân tộc. Ông có biệt tài phổ nhạc cho thơ, tạo nên những ca khúc vừa bay bổng vừa gần gũi, dễ đi vào lòng người. Nhạc của ông thường tươi sáng, lạc quan nhưng vẫn chan chứa cảm xúc, tiêu biểu qua các bài như Thuyền và biển, Cuộc đời vẫn đẹp sao, Bóng cây Kơ-nia…</p><ol start="3"><li><p>Sơ lược về sự nghiệp sáng tác của tác giả và một số tác phẩm tiêu biểu:</p><p>-Sự nghiệp sáng tác: Ông bắt đầu sáng tác từ những năm 1940, khi còn hoạt động trong phong trào thanh niên yêu nước.</p><p>Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, ông sáng tác nhiều ca khúc cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân dân.</p><p>Sau năm 1975, ông tiếp tục sáng tác với nhiều tác phẩm trữ tình nổi tiếng, đặc biệt là các ca khúc phổ thơ.</p><p>Ông từng đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng như Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhạc sĩ Việt Nam, Giám đốc Nhà hát Ca múa nhạc Trung ương.</p></li></ol><p>Một số tác phẩm tiêu biểu: Nhạc cách mạng: Cuộc đời vẫn đẹp sao, Bóng cây Kơ-nia, Những ánh sao đêm.</p><p>Nhạc trữ tình: Thuyền và biển, Thơ tình cuối mùa thu, Anh ở đâu.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:30:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376290782</guid>
      </item>
      <item>
         <title>N4-12A5</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376290809</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>1. Tác giả là ai?</strong></p><p>Phan Tứ (1930–1995), tên thật Lê Khâm, quê Quảng Nam, là nhà văn nổi bật trong văn học kháng chiến. Ông vừa tham gia chiến đấu, vừa sáng tác, giữ nhiều vị trí quan trọng trong lĩnh vực văn học nghệ thuật.</p><p><br></p><p><strong>2. Nét riêng trong phong cách nghệ thuật của tác giả được thể hiện như thế nào?</strong></p><p>• Kết hợp hiện thực và trữ tình, phản ánh chân thực cuộc chiến và con người.</p><p>• Văn phong súc tích, giàu cảm xúc, khai thác sâu tâm lý nhân vật.</p><p>• Mô tả sinh động bối cảnh chiến tranh, xây dựng tình huống kịch tính.</p><p><br></p><p>3<strong>.  Sự nghiệp sáng tác và tác phẩm tiêu biểu</strong></p><p><br></p><p>Phan Tứ để lại nhiều tác phẩm giá trị như:</p><p>Mẫn và tôi, Trước giờ nổ súng, Gia đình má Bảy, thể hiện tinh thần yêu nước và cuộc sống chiến đấu gian khổ.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:30:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376290809</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 2, 12A13</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376290894</link>
         <description><![CDATA[<p>Tống Phước Phổ (1902-1991) là một soạn giả tuồng tài năng và nhà cách mạng Việt Nam, sinh ra tại làng An Quán, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, trong một gia đình nhà Nho có truyền thống yêu nước.&nbsp; Ông là cháu của nhà viết tuồng trứ danh Nguyễn Hiển Dĩnh, điều này đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự nghiệp nghệ thuật của ông.</p><p><br/></p><p>Từ những năm 1930, Tống Phước Phổ tham gia hoạt động cách mạng và nhiều lần bị thực dân Pháp bắt giam. Ông đã sử dụng nghệ thuật tuồng như một phương tiện để thể hiện lòng yêu nước và khơi dậy tinh thần đấu tranh của dân tộc.&nbsp; Trong sự nghiệp của mình, ông đã sáng tác hơn 100 kịch bản tuồng, trong đó có nhiều vở nổi tiếng như “Hai Bà Trưng khởi nghĩa”, “Ngô Quyền”, “Đinh Bộ Lĩnh”, “Lam Sơn tụ nghĩa”, “An Tư công chúa”, “Sao Khuê trời Việt” và “Lục Vân Tiên”.</p><p><br/></p><p>Ngoài việc sáng tác, Tống Phước Phổ còn là một nhà thơ với nhiều tác phẩm thể hiện tư tưởng và tình cảm sâu sắc. Ông cũng tham gia tích cực vào các hoạt động phục vụ kháng chiến, cùng các nghệ nhân tuồng ra tiền tuyến để cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân và dân ta.</p><p><br/></p><p>Để tưởng nhớ và tôn vinh những đóng góp của ông, nhiều hoạt động kỷ niệm đã được tổ chức, như lễ kỷ niệm 110 năm ngày sinh của ông vào năm 2012, cùng với việc tái dựng 23 vở tuồng do ông sáng tác.&nbsp; Những đóng góp của Tống Phước Phổ đã để lại dấu ấn sâu đậm trong nền nghệ thuật tuồng Việt Nam và trong lòng người yêu nghệ thuật truyền thống</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:30:43 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376290894</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 5-12A11</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376290924</link>
         <description><![CDATA[<p>câu 1 :Tiểu sử </p><p>-Lưu Quang Vũ (1948 – 1988), ông sinh ra ở Phú Thọ, là con trai của nhà viết kịch Lưu Quang Thuận.</p><p>- Năm 1954, gia đình ông chuyển về sống tại Hà Nội.</p><p>- Năm 1965 đến 1970, ông nhập ngũ và gia nhập Quân chủng phòng không – không quân.</p><p>- Năm 1970 – 1978, ông xuất ngũ là làm nhiều nghề để kiếm sống: làm ở Xưởng Cao su Đường sắt do Tạ Đình Đề làm Giám đốc, làm hợp đồng cho nhà xuất bản Giải phóng, chấm công trong một đội cầu đường, vẽ pa-nô, áp phích,...</p><p>- Năm 1978 – 1988, ông làm biên tập viên “Tạp chí sân khấu”.</p><p>- Giữa lúc tài năng đang vào độ chín, Lưu Quang Vũ qua đời trong một tai nạn ô tô trên quốc lộ số 5 tại Hải Dương, cùng với người bạn đời là nhà thơ Xuân Quỳnh và con trai Lưu Quỳnh Thơ.</p><p>câu 2 : Phong cách nghệ thuật của Lưu Quang Vũ kết hợp hài hòa giữa hiện thực và trữ tình, phản ánh sâu sắc những vấn đề xã hội với khát vọng đổi mới. Nhân vật trong kịch của ông có nội tâm phức tạp, lời thoại sắc sảo, giàu triết lý và chất thơ. Ông khéo léo lồng ghép yếu tố bi và hài, tạo nên sức hấp dẫn riêng, góp phần đưa kịch Việt Nam lên tầm cao mới.</p><p>câu 3 sự nghiệp sáng tác và tác phẩm tiêu biểu :</p><p>Thơ ca Ông bắt đầu sáng tác thơ từ rất sớm, được biết đến với giọng thơ trẻ trung, sâu sắc nhưng cũng đầy khắc khoải.</p><p> Một số tập thơ tiêu biểu: Hương cây - Bếp lửa (cùng Bằng Việt, 1968), Bầy ong trong đêm sâu. Kịch nói Lưu Quang Vũ nổi bật với các vở kịch phản ánh chân thực đời sống xã hội, đấu tranh chống tiêu cực, cổ vũ những giá trị nhân văn. </p><p>Những vở kịch nổi tiếng: Hồn Trương Ba, da hàng thịt Lời thề thứ 9 Tôi và chúng ta Nàng Sita Bệnh sĩ Kịch của ông mang tính triết lý sâu sắc, giàu tính nhân văn, đề cao quyền con người, và thường đụng chạm đến những vấn đề gai góc trong xã hội. </p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:30:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376290924</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 3 - 12A2</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376291040</link>
         <description><![CDATA[<p>1. Tiểu sử Võ Quảng</p><p><br/></p><p>Võ Quảng (1920–2007) là nhà văn, nhà thơ quê Quảng Nam, nổi tiếng với văn học thiếu nhi và hoạt động trong giáo dục, xuất bản.</p><p><br/></p><p>2. Phong cách nghệ thuật</p><p><br/></p><p>Ông có lối viết giản dị, trong sáng, giàu hình ảnh, gắn liền với thiên nhiên và quê hương.</p><p><br/></p><p>3. Sự nghiệp &amp; tác phẩm tiêu biểu</p><p><br/></p><p>Võ Quảng sáng tác nhiều truyện và thơ cho thiếu nhi. Một số tác phẩm nổi bật: Quê Nội, Anh Đom Đóm, Mùa Gặt, Gà Mái Hoa.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:30:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376291040</guid>
      </item>
      <item>
         <title>NHÓM 1 - 12A7</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376291153</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>1. Thông tin về tác giả</strong></p><p>Phan Khôi (1887 – 1959), bút danh Chương Dân, quê ở làng Bảo An, nay thuộc xã Điện Quang, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Ông là cháu ngoại của nhà yêu nước Hoàng Diệu. Phan Khôi học chữ Hán từ nhỏ, đỗ tú tài Hán học năm 19 tuổi. Ông từng tham gia phong trào Trung Kỳ dân biến năm 1908 và bị bắt giam.</p><p><strong>2. Nét riêng trong phong cách nghệ thuật</strong></p><ul><li><p>Là <strong>người khởi xướng và mở đầu phong trào Thơ mới (1932 – 1945)</strong>.</p></li><li><p><strong>Đổi mới cách thể hiện thơ ca</strong>, dùng ngôn ngữ tự nhiên, gần gũi đời sống.</p></li><li><p><strong>Phong cách nghị luận sắc bén</strong>, tư duy độc lập, thể hiện trong các bài báo và khảo luận.</p></li><li><p><strong>Chú trọng tư tưởng cá nhân</strong>, phản ánh tinh thần đổi mới, vượt khỏi khuôn khổ văn chương cũ.</p></li></ul><p><strong>3. Sự nghiệp sáng tác và tác phẩm tiêu biểu</strong></p><ul><li><p><strong>Thơ ca</strong>:</p><ul><li><p><em>Tình già</em> (bài thơ mở đầu phong trào Thơ mới, 1932)</p></li><li><p><em>Một lối "thơ mới" trình chánh giữa làng thơ</em></p></li></ul></li><li><p><strong>Khảo luận và báo chí</strong>:</p><ul><li><p><em>Nam âm thi thoại</em> (1918)</p></li><li><p><em>Chương Dân thi thoại</em> (1932)</p></li></ul></li><li><p>Ông là <strong>nhà báo, nhà phê bình văn học</strong> có ảnh hưởng lớn trong văn đàn đầu thế kỷ XX.</p></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:31:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376291153</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 2 12A17</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376291238</link>
         <description><![CDATA[<p>Phan Huỳnh Điểu - "con chim vàng"</p><p>của âm nhạc Việt Nam - quê ở thị xã</p><p>Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam nhưng sinh</p><p>ra và lớn lên tại Đà Nẵng (khi qua đời</p><p>năm 2015, ông di nguyện được hỏa táng và rải tro cốt xuống sông Hàn).</p><p>Ông tham gia hoạt động âm nhạc khi</p><p>còn rất trẻ với ca khúc đầu tay Trầu cau</p><p>và ca khúc Mùa đông binh sĩ sáng tác</p><p>đầu thập niên 1940. Phan Huỳnh</p><p>Điều nổi tiếng với ca khúc Đoàn Vệ quốc quân</p><p>viết cuối năm 1945. Sau khi tập kết ra miền Bắc, năm 1955 Phan Huỳnh Điểu công</p><p>tác ở Ban Nhạc vũ Hội Văn nghệ</p><p>Việt Nam, sáng tác ca khúc Tình</p><p>trong lá thiếp;</p><p>năm 1957 ông được cử vào Ban</p><p>Thường vụ Hội Nhạc sĩ Việt Nam mới thành lập;</p><p>năm 1962 ông sáng tác ca khúc</p><p>Những ánh sao đêm. Trả lời phỏng vấn Báo Thanh</p><p>Niên hồi tháng 4 năm 2006, Phan Huỳnh Điểu cho rằng: "Thơ phổ nhạc đạt đến</p><p>mức độ cộng hưởng tâm hồn của nhạc sĩ và thi sĩ. Tìm thấy một bài thơ phù hợp,</p><p>nhạc sĩ phổ nhạc và gửi gắm tâm trạng mình. Xét đến cùng, chất thơ trong ca từ</p><p>của một nhạc sĩ thuần túy không thể bằng được chất thơ trong ca từ vốn là bài</p><p>thơ của một nhà thơ. Nhà thơ chắt chiu từng con chữ, nhạc sĩ chăm chút từng nốt</p><p>nhạc sẽ cho ra một tác phẩm toàn vẹn và đầy đặn. Bởi vậy, tôi hết sức thích phổ nhạc cho thơ. Thơ và nhạc như cặp anh chị em song sinh, thơ một cánh, nhạc một cánh cho tác phẩm bay lên....</p><p>Không phải ngẫu nhiên Phan</p><p>Huỳnh Điểu rất thành công với nhiều ca khúc phổ thơ, như Bóng cây Kơ-nia (1971, phổ thơ</p><p>Ngọc Anh),</p><p>Cuộc đời vẫn đẹp sao (1971, phổ thơ</p><p>Dương Hương Ly), Hành khúc ngày và đêm</p><p>(1972, phổ thơ Bùi Công Minh), Sợi nhớ sợi thương (1978, phổ thơ Thuý</p><p>Bắc), Anh</p><p>ở đầu sông em cuối sông (1978, phổ thơ Hoài Vũ), Thuyền và biển (1981, phổ thơ</p><p>Xuân Quỳnh), Ở hai đầu nỗi nhớ (1987, phổ thơ Trần Hoài Thu - bút danh của Trần Đình Chính),...</p><p>Phan Huỳnh Điểu được trao tặng</p><p>Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 2000 với các ca khúc</p><p>Đoàn Vệ quốc quân, Tình trong lá thiếp, Những</p><p>ánh sao đêm, Bóng cây Kơ-nia,</p><p>Thuyền và biển. Phan Huỳnh Điểu được đặt tên</p><p>đường ở quận Ngũ Hành Sơn theo</p><p>Nghị quyết số 106/2023/NQ-HĐND ngày</p><p>14 - 12 -2023 của Hội đồng Nhân dân thành phố Đà Nẵng.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:31:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376291238</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 2 - 12A15</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376291404</link>
         <description><![CDATA[<p>là nhà hoạt động văn hoá, nhà hoạt động cách mạng, nhà văn, nhà nghiên cứu <a rel="noopener noreferrer nofollow" class="mw-redirect" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%A2n_kh%E1%BA%A5u_d%C3%A2n_gian_Vi%E1%BB%87t_Nam">sân khấu dân gian Việt Nam</a>. Ông là hiệu trưởng đầu tiên của Trường Ca kịch dân tộc Việt Nam (nay là <a rel="noopener noreferrer nofollow" class="mw-redirect" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_S%C3%A2n_kh%E1%BA%A5u_v%C3%A0_%C4%90i%E1%BB%87n_%E1%BA%A3nh_H%C3%A0_N%E1%BB%99i">Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội</a>), nguyên Tổng Thư ký <a rel="noopener noreferrer nofollow" class="new" href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=H%E1%BB%99i_Ngh%E1%BB%87_s%C4%A9_s%C3%A2n_kh%E1%BA%A5u_Vi%E1%BB%87t_Nam&amp;action=edit&amp;redlink=1">Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam</a>, nguyên Viện trưởng Viện Sân khấu - Bộ Văn hóa. Ông có nhiều đóng góp lớn trong việc nghiên cứu, bảo tồn, phát triển và truyền bá nghệ thuật <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tu%E1%BB%93ng">tuồng</a>.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:31:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376291404</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhom 1 12A13</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376291405</link>
         <description><![CDATA[<p>câu 1 : Tống Phước Phổ (2 tháng 8 năm 1902 – 31 tháng 8 năm 1991) là soạn giả tuồng. Ông là một trong những tác giả lớn nhất của sân khấu tuồng với gần 100 kịch bản. Ông được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt 1 (1996). câu 2: Phong cách nghệ thuật Tống Phước Phổ của tác giả được thể hiện qua việc kết hợp tinh tế giữa các yếu tố truyền thống và hiện đại, làm nổi bật nét đặc trưng của văn hóa dân tộc câu 3 : Bắt đầu sự nghiệp: Tống Phước Phổ bắt đầu viết văn từ những năm đầu thập niên 1950 và nhanh chóng nổi lên như một tác giả có phong cách nghệ thuật đặc sắc. Ông được biết đến với các tác phẩm thơ ca mang đậm màu sắc triết lý và cảm xúc sâu sắc. Các sáng tác của ông phản ánh sự gắn kết giữa hiện thực xã hội, tâm hồn con người và những suy tư về cuộc sống. Phong cách sáng tác: Tống Phước Phổ thể hiện sự độc đáo trong việc kết hợp giữa yếu tố truyền thống và sáng tạo hiện đại. Những bài thơ của ông thường có một cấu trúc ngắn gọn, sâu sắc, với lối viết giàu hình ảnh và biểu cảm, kết hợp với các yếu tố triết lý và suy tư về con người và cuộc sống. Chủ đề sáng tác: Chủ đề trong các tác phẩm của ông rất đa dạng, từ những suy tư về tình yêu, quê hương, cho đến những vấn đề xã hội, chiến tranh và những thách thức của cuộc sống. Các tác phẩm của ông mang đậm dấu ấn của thời kỳ lịch sử mà ông sống và làm việc, thể hiện sự thấu hiểu sâu sắc về những biến động trong xã hội. -Chuyến đi cuối cùng,dòng sông xưa,mùa hè muộn</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:31:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376291405</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 6 (A18)</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376291511</link>
         <description><![CDATA[<p>1.Tác giả: Phan Huỳnh Điểu – "con chim vàng"</p><p>của âm nhạc Việt Nam – quê ở thị xã</p><p>Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam nhưng sinh</p><p>ra và lớn lên tại Đà Nẵng (khi qua đời</p><p>năm 2015, ông di nguyện được hoả</p><p>táng và rải tro cốt xuống sông Hàn).</p><p>2.Chất thơ trong ca từ của một nhạc sĩ thuần túy không thể bằng được chất thơ trong ca từ vốn là bài thơ của một nhà thơ. Nhà thơ chắt chiu từng con chữ, nhạc sĩ chăm chút từng nốt nhạc sẽ cho ra một tác phẩm toàn vẹn và đầy đặn. Bởi vậy, tôi hết sức thích phổ nhạc cho thơ. Thơ và nhạc như cặp anh chị em song sinh, thơ một cánh, nhạc một cánh cho tác phẩm bay lên...".</p><ol start="3"><li><p>Ông tham gia hoạt động âm nhạc khi</p><p>còn rất trẻ với ca khúc đầu tay Trầu cau và ca khúc Mùa đông binh sĩ sáng tác đầu thập niên 1940. Phan Huỳnh Điểu nổi tiếng với ca khúc Đoàn Vệ quốc quân viết cuối năm 1945. Sau khi tập kết ra miền Bắc, năm 1955 Phan Huỳnh Điểu công tác ở Ban Nhạc vũ Hội Văn nghệ Việt Nam, sáng tác ca khúc Tình trong lá thiếp; năm 1957 ông được cử vào Ban Thường vụ Hội Nhạc sĩ Việt Nam mới thành lập; năm 1962 ông sáng tác ca khúc Những ánh sao đêm.</p><p>Phan Huỳnh Điểu rất thành công với nhiều ca khúc phổ thơ, như Bóng cây Kơ-nia (1971, phổ thơ Ngọc Anh), Cuộc đời vẫn đẹp sao (1971, phổ thơ Dương Hương Ly), Hành khúc ngày và đêm (1972, phổ thơ Bùi Công Minh), Sợi nhớ sợi thương (1978, phổ thơ Thuý Bắc), Anh ở đầu sông em cuối sông (1978, phổ thơ Hoài Vũ), Thuyền và biển (1981, phổ thơ Xuân Quỳnh), Ở hai đầu nỗi nhớ (1987, phổ thơ Trần Hoài Thu – bút danh của Trần Đình Chính),… Phan Huỳnh Điểu được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ</p><p>thuật năm 2000 với các ca khúc Đoàn Vệ quốc quân, Tình trong lá thiếp, Những ánh sao đêm, Bóng cây Kơ-nia, Thuyền và biển</p></li></ol>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:31:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376291511</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 1-12A18</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376291560</link>
         <description><![CDATA[<p>-Phan Huỳnh Điểu – "con chim vàng"</p><p>của âm nhạc Việt Nam – quê ở thị xã</p><p>Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam nhưng sinh</p><p>ra và lớn lên tại Đà Nẵng (khi qua đời</p><p>năm 2015, ông di nguyện được hoả</p><p>táng và rải tro cốt xuống sông Hàn).</p><p>-chất thơ trong ca từ</p><p>của một nhạc sĩ thuần túy không thể bằng được chất thơ trong ca từ vốn là bài</p><p>thơ của một nhà thơ. Nhà thơ chắt chiu từng con chữ, nhạc sĩ chăm chút từng nốt</p><p>nhạc sẽ cho ra một tác phẩm toàn vẹn và đầy đặn. Bởi vậy, tôi hết sức thích phổ</p><p>nhạc cho thơ. Thơ và nhạc như cặp anh chị em song sinh, thơ một cánh, nhạc một</p><p>cánh cho tác phẩm bay lên...".</p><p>-Ông tham gia hoạt động âm nhạc khi</p><p>còn rất trẻ với ca khúc đầu tay Trầu cau</p><p>và ca khúc Mùa đông binh sĩ sáng tác</p><p>đầu thập niên 1940. Phan Huỳnh Điểu nổi tiếng với ca khúc Đoàn Vệ quốc quân</p><p>viết cuối năm 1945. Sau khi tập kết ra miền Bắc, năm 1955 Phan Huỳnh Điểu công</p><p>tác ở Ban Nhạc vũ Hội Văn nghệ Việt Nam, sáng tác ca khúc Tình trong lá thiếp;</p><p>năm 1957 ông được cử vào Ban Thường vụ Hội Nhạc sĩ Việt Nam mới thành lập;</p><p>năm 1962 ông sáng tác ca khúc Những ánh sao đêm.</p><p>-Phan Huỳnh Điểu rất thành</p><p>công với nhiều ca khúc phổ thơ, như Bóng cây Kơ-nia (1971, phổ thơ Ngọc Anh),</p><p>Cuộc đời vẫn đẹp sao (1971, phổ thơ Dương Hương Ly), Hành khúc ngày và đêm</p><p>(1972, phổ thơ Bùi Công Minh), Sợi nhớ sợi thương (1978, phổ thơ Thuý Bắc), Anh</p><p>ở đầu sông em cuối sông (1978, phổ thơ Hoài Vũ), Thuyền và biển (1981, phổ thơ</p><p>Xuân Quỳnh), Ở hai đầu nỗi nhớ (1987, phổ thơ Trần Hoài Thu – bút danh của Trần</p><p>Đình Chính),…</p><p>Phan Huỳnh Điểu được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ</p><p>thuật năm 2000 với các ca khúc Đoàn Vệ quốc quân, Tình trong lá thiếp, Những</p><p>ánh sao đêm, Bóng cây Kơ-nia, Thuyền và biển</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:31:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376291560</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 2 12A1</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376291582</link>
         <description><![CDATA[<p>Huỳnh Thị Bảo Hòa (1896–1980) là một trong những nữ nhà văn tiên phong của nền văn học Việt Nam hiện đại. Bà sinh ra tại Quảng Nam trong một gia đình có truyền thống Nho học.</p><p>Nét riêng trong phong cách nghệ thuật:</p><p>Bà được biết đến với lối viết hiện thực, phản ánh sâu sắc đời sống xã hội và thân phận con người, đặc biệt là phụ nữ trong xã hội phong kiến. Văn phong của bà giàu cảm xúc nhưng cũng mang tính luận đề rõ rệt.</p><p>Sự nghiệp sáng tác và tác phẩm tiêu biểu:</p><p>Huỳnh Thị Bảo Hòa là một trong những nhà văn nữ đầu tiên viết tiểu thuyết bằng chữ Quốc ngữ. Một số tác phẩm tiêu biểu của bà gồm:</p><p>- Chuyện đời xưa lạ lắm à nghen</p><p>- Kế nghiệp</p><p>- Hà Hương phong nguyệt</p><p>Bà không chỉ là nhà văn mà còn là một nhà báo, tích cực đấu tranh cho quyền lợi phụ nữ và đổi mới xã hội.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:31:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376291582</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 4-12A7</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376291584</link>
         <description><![CDATA[<p><br/></p><p>1. Tiểu sử ngắn gọn</p><p><br/></p><p>Phan Khôi (1887 – 1959) sinh tại Quảng Nam. Ông là nhà thơ, nhà văn, nhà báo và nhà phê bình văn học tiêu biểu của Việt Nam thế kỷ XX. Phan Khôi được biết đến là người tiên phong trong phong trào Thơ Mới với bài thơ "Tình già" (1932), đồng thời là một trí thức có tư tưởng đổi mới mạnh mẽ trong lĩnh vực văn học và báo chí.</p><p><br/></p><p>2. Phong cách nghệ thuật</p><p><br/></p><p>Phan Khôi có phong cách sáng tác độc đáo, thể hiện qua:</p><p><br/></p><p>Tính hiện đại và đổi mới: Là người khởi xướng phong trào Thơ Mới, ông phá bỏ các quy phạm cũ, đưa đến một cách viết tự do, gần gũi với đời sống.</p><p><br/></p><p>Giọng điệu sắc sảo, lý trí: Trong văn xuôi và phê bình, ông thể hiện tư duy phản biện mạnh mẽ, sắc bén.</p><p><br/></p><p>Tinh thần dân chủ và nhân văn: Ông đề cao quyền tự do tư tưởng, phê phán những lối mòn bảo thủ trong xã hội và văn học.</p><p><br/></p><p>3. Sự nghiệp sáng tác và các tác phẩm tiêu biểu</p><p><br/></p><p>Thơ</p><p><br/></p><p>Tình già (1932) – bài thơ mở đầu phong trào Thơ Mới.</p><p><br/></p><p>Chơi xuân nhớ cảnh</p><p><br/></p><p>Văn xuôi và phê bình</p><p><br/></p><p>Chương Dân thi thoại</p><p><br/></p><p>Vấn đề phụ nữ ở nước ta</p><p><br/></p><p>Phê bình và biện luận</p><p><br/></p><p>Phan Khôi là một trong những trí thức tiêu biểu có đóng góp lớn cho nền văn học hiện đại Việt Nam. Dù gây nhiều tranh luận, tư tưởng đổi mới của ông đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử văn học và báo chí nước nhà.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:31:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376291584</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 3 12A1</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376291593</link>
         <description><![CDATA[<p>- <strong>Tên đầy đủ:</strong> Huỳnh Thị Bảo Hòa  </p><p>- <strong>Thời gian sống:</strong> 1896 – 1981  </p><p>- <strong>Quê quán:</strong> Quảng Nam  </p><p>- <strong>Lĩnh vực hoạt động:</strong> Nữ nhà văn tiên phong của Việt Nam đầu thế kỷ 20  </p><p>- <strong>Thành tựu nổi bật:</strong>  </p><p>  - Một trong những người phụ nữ đầu tiên viết văn bằng chữ Quốc ngữ  </p><p>  - Tác phẩm tiêu biểu: <strong>"Kim Tú Cầu"</strong> – phản ánh tư tưởng bình đẳng giới và hạnh phúc hôn nhân  </p><p>  - Cộng tác với nhiều tờ báo lớn thời bấy giờ như <strong>Nam Phong</strong>, <strong>Phụ Nữ Tân Văn</strong>, và <strong>Đông Pháp Thời Báo</strong>  </p><p>- <strong>Đóng góp:</strong> Góp phần nâng cao nhận thức về quyền phụ nữ và thúc đẩy cải cách xã hội thông qua văn học và báo chí</p><ol start="2"><li><p>Phong cách sáng tác</p><p> ​Huỳnh Thị Bảo Hòa có các tác phẩm nổi bật: “Tây phương mỹ nhơn” (2 tập, có tựa của Huỳnh Thúc Kháng, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Bùi Thế Mỹ; Nhà in Bảo tồn, Sài Gòn, 1927, 76 trang), “Huyền Trân công chúa” (Tuồng cải lương, Tiếng Dân xuất bản - Huế, 1927), “Bà Nà du ký” (Nam phong Tạp chí, số 163, tháng 6.1931), “Chiêm Thành lược khảo” (Có tựa của Phạm Quỳnh. Nxb Đông Tây - Hà Nội, 1936, 64 trang)…</p><p>Nói riêng trên phương diện ký giả, nữ sĩ Huỳnh Thị Bảo Hòa mang đậm phong cách tư duy báo chí, ghi chép, ký sự trên cả bốn phương diện chủ yếu (sáng tác tiểu thuyết, khảo cứu dân tộc học, du ký và khơi nguồn thông tin qua các bài báo cụ thể).</p></li></ol>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:31:27 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376291593</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 5 -12A1</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376291705</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Tiểu sử:</strong></p><p>Nữ sĩ Huỳnh Thị Bảo Hòa (1896 - 1982), tên thật là Huỳnh Thị Thái, người làng Đa Phước.</p><p>Năm 1926, Phan Châu Trinh mất, bà cùng các trí thức ở Đà Nẵng tổ chức trọng thể lễ truy điệu và kêu gọi đóng góp xây dựng nhà thờ chí sĩ yêu nước.</p><p>Năm 1927, bà đứng ra thành lập Nữ công học hội Đà Nẵng và được bầu làm Hội trưởng. Thời kỳ toàn quốc kháng chiến, bà tham gia Hội Phụ nữ cứu quốc, từng cùng gia quyến tản cư, sau quay trở về Đà Nẵng.</p><p><strong>Nét riêng trong phong cách nghệ thuật:</strong></p><p>Nữ sĩ Huỳnh Thị Bảo Hòa mang đậm phong cách tư duy báo chí, ghi chép, ký sự trên cả bốn phương diện chủ yếu (sáng tác tiểu thuyết, khảo cứu dân tộc học, du ký và khơi nguồn thông tin qua các bài báo cụ thể).</p><p><strong>Sự nghiệp sáng tác:</strong></p><p>Huỳnh Thị Bảo Hòa có các tác phẩm nổi bật: “Tây phương mỹ nhơn” (2 tập, có tựa của Huỳnh Thúc Kháng, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Bùi Thế Mỹ...</p><p>Trong năm 1927 đã thấy Huỳnh Thị Bảo Hòa cho in các bài: “Làm người phải biết chọn đường chánh mà đi” (số 536, ra ngày 21.1), “Người đàn bà nên học nghề nghiệp” (số 556, ra ngày 16.3), “Xem nam nữ cảm tưởng về Trưng Nữ Vương” (số 579, ra ngày 13.5), “Tư cách người đàn bà đối với chồng ngày xưa” (ký Huỳnh Nương, số 600, ra ngày 6.7 và 604, ra ngày 15.7), “Nữ lưu ta nên có lòng công ích” (số 605, ra ngày 18.7), “Một điều nên mừng” (số 546, ra ngày 2.12)...</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:31:29 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376291705</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 2 -12a8</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376291752</link>
         <description><![CDATA[<p>Câu 1</p><p>Hằng Phương sinh tại làng Nông Sơn, xã Điện Thọ, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Bà là con gái nhà nghiên cứu Hán - Nôm Lê Dư (bút hiệu Sở Cuồng). Thiếu thời, bà học chữ Hán và học trường Pháp đến hết lớp nhất (hết tiểu học). Trong khi đang sống cùng gia đình tại Hà Nội, ngày 25 tháng 12 năm 1925, bà kết hôn với nhà văn, nhà nghiên cứu văn học Vũ Ngọc Phan; con gái bà là họa sĩ Vũ Giáng Hương</p><p>Câu 2</p><p>Phong cách nghệ thuật của Hằng Phương nữ sĩ mang những nét riêng độc đáo, thể hiện qua những đặc điểm sau:</p><p> * Tình cảm quê hương sâu sắc:</p><p>   * Thơ bà thể hiện rõ tình yêu quê hương Quảng Nam, với những hình ảnh làng quê, sông nước, và những kỷ niệm tuổi thơ.</p><p>   * Nỗi nhớ quê hương da diết, đặc biệt khi xa quê, là một đề tài xuyên suốt trong các tác phẩm của bà.</p><p> * Nỗi lòng người phụ nữ:</p><p>   * Thơ Hằng Phương thể hiện tâm tư, tình cảm của người phụ nữ trong xã hội cũ, với những nỗi buồn, sự cô đơn, và khát vọng về tình yêu và hạnh phúc.</p><p>   * Bà viết về những cung bậc cảm xúc của người vợ, người mẹ, với sự dịu dàng, đằm thắm.</p><p> * Giọng thơ nhẹ nhàng, đằm thắm:</p><p>   * Thơ Hằng Phương sử dụng ngôn ngữ giản dị, trong sáng, với những hình ảnh gần gũi, quen thuộc.</p><p>   * Giọng thơ bà nhẹ nhàng, đằm thắm, thể hiện sự nữ tính và tinh tế.</p><p> * Mang tính trữ tình và triết lý:</p><p>   * Bên cạnh những dòng thơ trữ tình bà còn lồng vào đó những dòng thơ mang tính triết lý, thể hiện sự suy tư sâu sắc về cuộc đời.</p><p> * Bút pháp tả cảnh tinh tế:</p><p>   * Bà có khả năng miêu tả cảnh vật thiên nhiên một cách sinh động, gợi cảm, chỉ qua vài chi tiết chọn lọc đã gợi tả được thần thái của cảnh vật.</p><p>Tóm lại, phong cách nghệ thuật của Hằng Phương nữ sĩ là sự kết hợp hài hòa giữa tình cảm quê hương, nỗi lòng người phụ nữ, và giọng thơ nhẹ nhàng, đằm thắm.</p><p>Câu3</p><p>Sự nghiệp sáng tác của bà gắn liền với phong trào Thơ mới, mang đậm dấu ấn cá nhân và tình cảm gia đình. Thơ của bà thường thể hiện nỗi lòng của người phụ nữ trong xã hội cũ, với những tâm sự về tình yêu, cuộc sống và quê hương.</p><p>1 số tác phẩm </p><p>Hương xuân (1943, in chung với Anh Thơ, Vân Đài, Mộng Tuyết)</p><p>Một mùa hoa (1960)</p><p>Chim én bay xa (1962)</p><p>Mùa gặt (1961)</p><p>Hương đất nước (1974)</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:31:29 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376291752</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 4- 12A14</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376291753</link>
         <description><![CDATA[<p>Tiểu sử : Tổng Phước Phổ (1916-1975) là một nhà văn, nhà giáo người Quảng Nam, được biết đến những tác phẩm văn họ mang đậm dấu ấn nhân văn. Ông sinh ra và lớn lên ở đất Quảng Nam, một nơi giàu truyền thống và văn hoá. Nơi đã hun đúc nên tư tưởng và phong cách sáng tác của ông. </p><p>Tác phẩm tiểu biểu: "Người thầy đầu tiên", các truyện nhắn về đời sống người Quảng.</p><p>Phong cách sáng tác: hiện thực nhân văn, giàu cảm xúc nhưng sâu lắng, ngôn ngữ giản dị.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:31:29 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376291753</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 4 12A18 </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376291774</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Tác giả là ai? </strong></p><p>Phan Huỳnh Điểu – "con chim vàng" của âm nhạc Việt Nam – quê ở thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam nhưng sinh ra và lớn lên tại Đà Nẵng (khi qua đời năm 2015, ông di nguyện được hoả táng và rải tro cốt xuống sông Hàn). Ông tham gia hoạt động âm nhạc khi còn rất trẻ với ca khúc đầu tay Trầu cau và ca khúc Mùa đông binh sĩ sáng tác</p><p> đầu thập niên 1940. Phan Huỳnh Điểu nổi tiếng với ca khúc Đoàn Vệ quốc quân viết cuối năm 1945.</p><p><strong>Nét riêng trong phòng cách nghệ thuật của tác giả được thể hiện ntn? </strong></p><p>Trả lời phỏng vấn Báo Thanh Niên hồi tháng 4 năm 2006, Phan Huỳnh Điểu cho rằng: "Thơ phổ nhạc đạt đến mức độ cộng hưởng tâm hồn của nhạc sĩ và thi sĩ. Tìm thấy một bài thơ phù hợp, nhạc sĩ phổ nhạc và gửi gắm tâm trạng mình. Xét đến cùng, chất thơ trong ca từ của một nhạc sĩ thuần túy không thể bằng được chất thơ trong ca từ vốn là bài thơ của một nhà thơ. Nhà thơ chắt chiu từng con chữ, nhạc sĩ chăm chút từng nốt nhạc sẽ cho ra một tác phẩm toàn vẹn và đầy đặn. Bởi vậy, tôi hết sức thích phổ nhạc cho thơ. Thơ và nhạc như cặp anh chị em song sinh, thơ một cánh, nhạc một cánh cho tác phẩm bay lên...".</p><p><strong>Trình bày sơ lượt về sự nghiệp sáng tác của tác giả, nên tên một số tác phẩm tiên biểu </strong></p><p>Ông tham gia hoạt động âm nhạc khi còn rất trẻ với ca khúc đầu tay Trầu cau và ca khúc Mùa đông binh sĩ sáng tác</p><p> đầu thập niên 1940. Phan Huỳnh Điểu nổi tiếng với ca khúc Đoàn Vệ quốc quân viết cuối năm 1945. Sau khi tập kết ra miền Bắc, năm 1955 Phan Huỳnh Điểu công tác ở Ban Nhạc vũ Hội Văn nghệ Việt Nam, sáng tác ca khúc Tình trong lá thiếp; năm 1957 ông được cử vào Ban Thường vụ Hội Nhạc sĩ Việt Nam mới thành lập; năm 1962 ông sáng tác ca khúc Những ánh sao đêm.</p><p>Phan Huỳnh Điểu được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 2000 với các ca khúc Đoàn Vệ quốc quân, Tình trong lá thiếp, Những ánh sao đêm, Bóng cây Kơ-nia, Thuyền và biển.</p><p><br/></p><p><br/></p><p><br/></p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:31:31 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376291774</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 3-12A3</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376291784</link>
         <description><![CDATA[<p>Nhà văn Nguyễn Văn Bổng (1921-2001), bút danh Trần Hiếu Minh, sinh ngày 1 tháng 1 năm 1921 tại xã Đại Quang, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Ông là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại, với sự nghiệp phong phú và đa dạng.&nbsp; </p><p><strong>Tiểu sử và sự nghiệp:</strong></p><p>Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ông tham gia hoạt động văn nghệ, giữ vai trò Chi hội phó Chi hội Văn nghệ Liên khu V. Sau khi tập kết ra Bắc, ông tiếp tục hoạt động văn nghệ, đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng như Phó Tổng thư ký Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam. Năm 1963, ông vào chiến trường miền Nam, giữ chức Phó Chủ tịch Hội Văn nghệ Giải phóng miền Nam với bút danh Trần Hiếu Minh. Từ năm 1972, ông trở lại Hội Nhà văn Việt Nam và từng làm Tổng biên tập tuần báo Văn ngheej<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://baotangvanhoc.vn/giai-thuong-ho-chi-minh/dot-2/nha-van-nguyen-van-bong-1921-2001/"> </a></p><p><strong>Phong cách nghệ thuật:</strong></p><p>Nguyễn Văn Bổng được biết đến với phong cách viết mộc mạc, chân thành và sâu lắng, phản ánh chân thực cuộc sống và con người Việt Nam trong thời kỳ biến động lịch sử. Ông thường khắc họa hình ảnh sống động về cuộc sống hàng ngày, tập trung vào việc phân tích tâm lý con người và những mâu thuẫn xã hội, thể hiện sự nhân văn và sâu sắc trong việc đặt ra những câu hỏi về cuộc sống và tồn tại. Phong cách của ông mang đậm tinh thần dân tộc, từ những bức tranh về cảnh đời sống quê hương đến những hình ảnh về cuộc sống trong thời kỳ chiến tranh và cách mạng.&nbsp; </p><p><strong>Tác phẩm tiêu biểu:</strong></p><ul><li><p><em>Con trâu</em> (tiểu thuyết, 1952): Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, nhận Giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam (1954-1955)</p></li><li><p><em>Cửu Long cuộn sóng</em> (tập bút ký, 1965): Được trao Giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu của Hội đồng Văn học Nghệ thuật Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. </p></li><li><p><em>Rừng U Minh</em> (tiểu thuyết, 1966-1970): Khắc họa cuộc sống và con người miền Tây Nam Bộ trong kháng chiến. </p></li><li><p><em>Áo trắng</em> (tiểu thuyết, 1972): Phản ánh cuộc sống đô thị Sài Gòn trong thời kỳ chiến tranh.</p></li><li><p><em>Sài Gòn 1967</em> (tiểu thuyết, 1972-1983): Miêu tả sâu sắc về Sài Gòn trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ. </p></li></ul><p>Ngoài ra, ông còn có nhiều tác phẩm khác như <em>Bếp đỏ lửa</em> (tiểu thuyết, 2 tập, 1955-1956), <em>Người chị</em> (tập truyện ngắn, 1960), <em>Chuyện bên cầu Chữ Y</em> (tập truyện, 1985) và <em>Tiểu thuyết cuộc đời</em> (tiểu thuyết, 1986-1991).&nbsp;</p><p>Với những đóng góp to lớn cho văn học Việt Nam, Nguyễn Văn Bổng đã được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật đợt II năm 2000.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:31:31 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376291784</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tống Phước Phổ ( nhóm 3 12A14 )</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376291834</link>
         <description><![CDATA[<p>Tống Phước Phổ (1916–1977) là một nhà viết kịch và nhà giáo dục người Việt Nam, được biết đến với những đóng góp của ông cho sân khấu truyền thống và hiện đại Việt Nam, đặc biệt là tuồng </p><p>Nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của Tống Phước Phổ</p><p><br/></p><p>Tống Phước Phổ là một nhà soạn tuồng, nhà nghiên cứu sân khấu có nhiều đóng góp quan trọng trong việc gìn giữ và phát triển nghệ thuật tuồng Việt Nam. Phong cách nghệ thuật của ông mang những nét đặc sắc riêng biệt, thể hiện qua các yếu tố sau:  </p><p><br/></p><p>1. Kết hợp giữa truyền thống và hiện đại  </p><p>2. Xây dựng cốt truyện có chiều sâu lịch sử và nhân văn  </p><p>3. Ngôn ngữ trau chuốt, giàu chất thơ</p><p>4. Nghệ thuật dàn dựng sân khấu chặt chẽ  </p><p>5. Nhấn mạnh vào tinh thần dân tộc </p><p>Sự nghiệp sáng tác của Tống Phước Phổ</p><p><br/></p><p>Ông có nhiều đóng góp quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển nghệ thuật tuồng truyền thống, giúp loại hình này không bị mai một</p><p><br/></p><p>Quá trình hoạt động nghệ thuật</p><p>Ông xuất thân từ miền Trung, vùng đất có truyền thống tuồng lâu đời, và sớm bộc lộ niềm đam mê với nghệ thuật này</p><p>Từ những năm 1940, ông vừa giảng dạy, nghiên cứu, vừa sáng tác và cải biên nhiều vở tuồng, góp phần đổi mới và phát triển nghệ thuật tuồng</p><p>Ông giữ vai trò quan trọng trong việc cải tiến tuồng truyền thống, giúp loại hình này có thể tiếp cận với công chúng rộng rãi hơn.</p><p>Một số biểu tượng sản phẩm</p><p>Mặc dù không có quá nhiều tài liệu được sao chép chi tiết về tuồng sách của ông, một số sản phẩm được biểu hiện nhanh chóng bao gồm:</p><p><br/></p><p>Ngọn cờ nghĩa – Vở tuồng mang đậm tinh thần yêu nước.</p><p>Trung thần – Khắc họa lòng trung nghĩa của các bậc trung thần trong lịch sử.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:31:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376291834</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 1 Lớp 12A1</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376291843</link>
         <description><![CDATA[<p>1. <strong>Tác giả là ai? (Trình bày ngắn gọn thông tin tiểu sử)</strong></p><p>Huỳnh Thị Bảo Hoà (tên thật là Huỳnh Thị Thái) là một nhà văn nữ tiên phong của Việt Nam đầu thế kỷ XX. Bà sinh ra và lớn lên tại làng Đa Phước (nay thuộc phường Hoà Khánh Bắc, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng). Bà không chỉ là một nhà văn mà còn là một nhà hoạt động nữ quyền nổi tiếng, từng giữ chức Hội trưởng Nữ công học hội Tourane (Đà Nẵng). Huỳnh Thị Bảo Hoà là một trong những tác giả nữ đầu tiên viết tiểu thuyết bằng chữ Quốc ngữ và có tác phẩm được in thành sách sớm nhất.</p><p>2. <strong>Nét riêng trong phong cách nghệ thuật của tác giả được thể hiện như thế nào?</strong></p><p>Huỳnh Thị Bảo Hoà có phong cách nghệ thuật độc đáo, thể hiện qua:</p><ul><li><p><strong>Tính hiện thực và nhân văn:</strong> Các tác phẩm của bà thường phản ánh hiện thực xã hội đương thời, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến phụ nữ và tình yêu. Ví dụ, tiểu thuyết <em>Tây phương mỹ nhơn</em> kể về mối tình chung thủy giữa một cô gái Pháp và người chồng Việt, qua đó đề cao giá trị nhân văn và sự vượt qua rào cản văn hóa.</p></li><li><p><strong>Tính tiên phong:</strong> Bà là một trong những nhà văn nữ đầu tiên viết tiểu thuyết bằng chữ Quốc ngữ, mở đường cho sự phát triển của văn học nữ giới Việt Nam.</p></li><li><p><strong>Đa dạng thể loại:</strong> Bà không chỉ viết tiểu thuyết mà còn sáng tác kịch bản tuồng và các bài du ký, thể hiện sự linh hoạt và tài năng đa dạng trong sáng tác.</p></li></ul><p>3. <strong>Trình bày sơ lược về sự nghiệp sáng tác của tác giả; nêu tên một số tác phẩm tiêu biểu.</strong></p><p>Huỳnh Thị Bảo Hoà có sự nghiệp sáng tác đa dạng và giàu thành tựu. Một số tác phẩm tiêu biểu của bà bao gồm:</p><ul><li><p><strong>Tiểu thuyết:</strong></p><ul><li><p><em>Tây phương mỹ nhơn</em> (1927): Tác phẩm đầu tay, kể về mối tình chung thủy giữa một cô gái Pháp và người chồng Việt, được in thành sách với lời tựa của các danh nhân như Huỳnh Thúc Kháng, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, và Bùi Thế Mỹ.</p></li><li><p><em>Nhi nữ tạo anh hùng</em> (đăng nhiều kỳ trên <em>Đông Pháp thời báo</em> năm 1928).</p></li></ul></li><li><p><strong>Kịch bản tuồng:</strong></p><ul><li><p><em>Huyền Trân công chúa</em> (1927): Kịch bản tuồng được in bởi Nhà xuất bản Tiếng Dân (Huế).</p></li></ul></li><li><p><strong>Du ký:</strong></p><ul><li><p><em>Bà Nà du ký</em> (đăng trên <em>Nam phong tạp chí</em> năm 1931 và tái bản trên <em>Phụ nữ tân văn</em> năm 1932).</p></li></ul></li></ul><p>Ngoài ra, bà còn tham gia hoạt động xã hội, diễn thuyết về nữ quyền và làm bầu gánh hát bội, góp phần thúc đẩy văn hóa và giáo dục phụ nữ thời bấy giờ.</p><p>4. <strong>Tiểu thuyết <em>Tây phương mỹ nhơn</em> có ý nghĩa như thế nào đối với sự nghiệp sáng tác của Huỳnh Thị Bảo Hoà?</strong></p><ul><li><p><strong>Ý nghĩa tiên phong:</strong> <em>Tây phương mỹ nhơn</em> là tác phẩm đầu tay của Huỳnh Thị Bảo Hoà và cũng là một trong những tiểu thuyết bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên của một tác giả nữ được in thành sách. Điều này khẳng định vị trí tiên phong của bà trong nền văn học Việt Nam hiện đại.</p></li><li><p><strong>Giá trị nội dung:</strong> Tác phẩm không chỉ kể về một câu chuyện tình yêu vượt qua rào cản văn hóa mà còn phản ánh tinh thần nhân văn, sự cởi mở và tiến bộ trong tư tưởng của tác giả.</p></li><li><p><strong>Dấu ấn lịch sử:</strong> Với sự ủng hộ của các danh nhân như Huỳnh Thúc Kháng và Tản Đà, <em>Tây phương mỹ nhơn</em> đã góp phần nâng cao vị thế của văn học nữ giới và chữ Quốc ngữ trong giai đoạn đầu thế kỷ XX</p></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3574238321/f3311b07d81b21437395b4a1a0f348d7/image.png" />
         <pubDate>2025-03-21 07:31:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376291843</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 6 - Lớp 12A17</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376291863</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Câu 1: </strong>Phan Huỳnh Điểu – "con chim vàng"  của âm nhạc Việt Nam – quê ở thị xã  Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam nhưng sinh  ra và lớn lên tại Đà Nẵng (khi qua đời  </p><p>năm 2015, ông di nguyện được hoả  </p><p>táng và rải tro cốt xuống sông Hàn).  </p><p>Ông tham gia hoạt động âm nhạc khi  </p><p>còn rất trẻ với ca khúc đầu tay Trầu cau  và ca khúc Mùa đông binh sĩ sáng tác </p><p>đầu thập niên 1940.</p><p><strong>Câu 2: Nét riêng trong phong cách nghệ thuật</strong>: Phong cách nghệ thuật của Phan Huỳnh Điểu đặc biệt nổi bật trong việc phổ thơ thành nhạc. Ông tạo nên sự cộng hưởng tuyệt vời giữa tâm hồn của thi sĩ và nhạc sĩ, mang lại những tác phẩm toàn vẹn và giàu cảm xúc. Các ca khúc của ông thường chứa đựng chất thơ sâu sắc, kết hợp giữa lời ca đầy tính nghệ thuật và giai điệu phong phú, bay bổng.</p><p><strong>Câu 3:</strong> <strong>Sơ lược về sự nghiệp sáng tác và một số tác phẩm tiêu biểu</strong>: Phan Huỳnh Điểu đã sáng tác nhiều ca khúc xuất sắc qua các thời kỳ:</p><p>Ca khúc đầu tay: Trầu cau và Mùa đông binh sĩ (1940s).</p><p>Giai đoạn kháng chiến: Đoàn Vệ quốc quân (1945).</p><p>Giai đoạn tập kết ra Bắc: Tình trong lá thiếp (1955), Những ánh sao đêm (1962).</p><p>Ca khúc phổ thơ nổi bật: Bóng cây Kơ-nia (1971), Cuộc đời vẫn đẹp sao (1971), Hành khúc ngày và đêm (1972), Sợi nhớ sợi thương (1978), Anh ở đầu sông em cuối sông (1978), Thuyền và biển (1981), Ở hai đầu nỗi nhớ (1987).</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:31:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376291863</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 4 12A14</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376292162</link>
         <description><![CDATA[<p>Thông tin: </p><p> Nghệ sĩ Nhân dân Tống Phước Phổ quê </p><p>làng An Quán (nay thuộc xã Điện Phương, </p><p>thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam) – mẹ </p><p>ông là cháu nội của nhà yêu nước Hoàng </p><p>Diệu. </p><p>Phong cách nghệ thuật:</p><p>Tống Phước Phổ rất nghiêm túc trong lao </p><p>động nghệ thuật tuồng, ông từng nói: "Viết một bản tuồng là đem hết bình sinh </p><p>sở học của mình để đúc kết lại chứ không phải đụng đâu viết đấy, viết thế nào </p><p>cũng được, miễn xuôi tai thì thôi"</p><p>Cơ nghiệp :</p><p>Nghệ sĩ Nhân dân Tống Phước Phổ được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh </p><p>về Văn học nghệ thuật năm 1996 với các kịch bản tuồng Trưng Nữ Vương (1952), </p><p>Lam Sơn khởi nghĩa (1957), An Tư công chúa (1960). Tên Tống Phước Phổ </p><p>được đặt tên đường ở quận Hải Châu theo Nghị quyết số 07/1998/NQ-HĐ ngày </p><p>2 – 7 – 1998 của Hội đồng Nhân dân thành phố Đà Nẵng.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:31:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376292162</guid>
      </item>
      <item>
         <title>nhóm 3- 12A13</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376292261</link>
         <description><![CDATA[<p>1.Tống Phước Phổ (1917–1999) là một nhà giáo, nhà văn, nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng của Việt Nam. Ông có nhiều đóng góp trong lĩnh vực giáo dục và văn học, đặc biệt là trong việc giảng dạy và nghiên cứu về văn học Việt Nam.</p><ol start="2"><li><p>Phong cách nghệ thuật của Phước </p><ol><li><p><strong>Đậm chất dân gian</strong>: Các tác phẩm của Phước Phổ thường khai thác đề tài từ cuộc sống thường nhật, văn hóa và phong tục dân gian, thể hiện sự gần gũi, mộc mạc.</p></li><li><p><strong>Ngôn ngữ biểu đạt bình dị, chân thực</strong>: Ông sử dụng lối diễn đạt giản dị nhưng sâu sắc, phản ánh hiện thực đời sống với những cảm xúc chân thành.</p></li><li><p><strong>Hình tượng nghệ thuật giàu sức gợi</strong>: Các nhân vật, cảnh vật trong tác phẩm thường được xây dựng với hình ảnh sinh động, dễ dàng tạo ấn tượng mạnh đối với người đọc.</p></li><li><p><strong>Chất trữ tình hòa quyện với hiện thực</strong>: Phước Phổ không chỉ phản ánh cuộc sống mà còn lồng ghép những cảm xúc mang tính trữ tình, giúp tác phẩm có chiều sâu và sức lay động.</p></li></ol></li></ol><p>3.Phước Phổ (1919–1978) là một nhạc sĩ nổi bật trong nền tân nhạc Việt Nam, đặc biệt trong dòng nhạc cách mạng.</p><p><strong>Sự nghiệp sáng tác:</strong></p><ul><li><p><strong>Giai đoạn đầu:</strong> Ông bắt đầu sáng tác trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, với nhiều ca khúc thể hiện tinh thần yêu nước và cổ vũ chiến đấu.</p></li><li><p><strong>Giai đoạn kháng chiến chống Mỹ:</strong> Ông tiếp tục sáng tác các ca khúc cách mạng sôi nổi, góp phần động viên tinh thần chiến đấu của quân và dân.</p></li><li><p><strong>Tác phẩm tiêu biểu:</strong></p><ul><li><p><em>Tình Bác sáng đời ta</em> – ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh.</p></li><li><p><em>Đường chúng ta đi</em> – thể hiện quyết tâm xây dựng đất nước.</p></li><li><p><em>Khúc ca ngày mùa</em> – mang âm hưởng dân ca, ca ngợi lao động sản xuất.</p></li></ul></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:31:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376292261</guid>
      </item>
      <item>
         <title>nhóm 1-12A15</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376292377</link>
         <description><![CDATA[<p>Tác giả là Hoàng Châu Ký, người gốc phường Cẩm Kim, Hội An, Quảng Nam. Ông là một nghệ sĩ sân khấu, đạo diễn, nhà nghiên cứu và giảng viên, có nhiều đóng góp lớn cho nghệ thuật tuồng và sân khấu Việt Nam.</p><p>Nét riêng trong phong cách nghệ thuật của Hoàng Châu Ký thể hiện qua việc sáng tác và dàn dựng các vở tuồng từ những đề tài lịch sử, cách mạng và dân gian. Ông không chỉ là một đạo diễn tài ba mà còn là người sáng tác kịch bản, với khả năng kết hợp giữa truyền thống và hiện đại trong nghệ thuật tuồng, đặc biệt là qua các vở tuồng mang giá trị văn hóa và lịch sử sâu sắc.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:32:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376292377</guid>
      </item>
      <item>
         <title>NHÓM 4 - 12A3</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376292392</link>
         <description><![CDATA[<ol><li><p>Tiểu sử</p></li></ol><p>Nguyễn Văn Bổng (1 tháng 1 năm 1921 - 6 tháng 9 năm 2001) là một nhà văn người Việt Nam. Ngoài tên thật, ông còn viết với bút danh Trần Hiếu Minh. Ông đã đoạt nhiều giải thưởng văn học, tiêu biểu là Giải thưởng Hồ Chí Minh.</p><ol start="2"><li><p>Phong cách nghệ thuật</p></li></ol><p>Nguyễn Văn Bổng sở trường về thể loại ký và tiểu thuyết, tập trung hai mảng đề tài chính: vấn đề nông thôn và người nông dân trong cách mạng dân tộc dân chủ; Sài Gòn và các thành thị Miền Nam trong những năm đánh Mỹ. Tác giả Trần Hữu Tá trong sách đã dẫn, nhận định: “Nguyễn Văn Bổng có phong cách năng động, nhạy bén của nhà báo. Ông đi nhiều, sáng tác sung sức. Tác phẩm của ông mang đậm nét hiện thực tỉnh táo và thường có tính thời sự nóng hổi”.</p><ol start="3"><li><p>Sơ lược sự nghiệp</p></li></ol><p>Ông sinh năm 1966 quê ở Hải Phòng.</p><p>Trước năm 2015, ông là Phó Cục trưởng Cục Tổ chức, Tổng cục Chính trị</p><p>Năm 2015, ông được bổ nhiệm giữ chức Chính ủy Quân đoàn 1</p><p>Năm 2016, ông được bổ nhiệm giữ chức Cục trưởng Cục Tổ chức, Tổng cục Chính trị</p><p>Năm 2017, ông được bổ nhiệm giữ chức Chánh Văn phòng Quân ủy Trung ương - Bộ Quốc phòng.</p><p>Ngày 31 tháng 12 năm 2019, tại Quyết định 1968/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc bổ nhiệm Trung tướng Nguyễn Văn Bổng, Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng giữ chức vụ Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân chủng Hải quân thay Chuẩn đô đốc Phạm Văn Vững nghỉ để chữa bệnh.</p><p>Ngày 05 tháng 8 năm 2020, tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân chủng Hải quân lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2020-2025, ông được Ban Chấp hành Đảng bộ Quân chủng nhiệm kỳ 2020-2025 tín nhiệm bầu tiếp tục giữ chức vụ Bí thư Đảng ủy Quân chủng</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:32:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376292392</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 1-12A5</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376292699</link>
         <description><![CDATA[<p>Phan Tứ là nhà văn chuyên viết về chiến tranh cách mạng và lực lượng vũ trang.</p><p>-Tên thật: Lê Khâm (1930-1995)</p><p>-Quê ở làng Gia Cát</p><p>-Năm 1960, cũng với bút danh Lê Khâm, ông lại cho ra mắt độc giả tiểu thuyết Trước giờ nổ súng</p><p>-Ông viết về cuộc chiếm đấu của quân tình nguyện Việt Nam tại Hạ Lao</p><p>-Một số tác phẩm: Gia đình Má Bảy(1968); Mẫn và tôi(1972); Trại ST 18(1974);...</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:32:20 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376292699</guid>
      </item>
      <item>
         <title>12A18 nhóm 2</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376292724</link>
         <description><![CDATA[<p>Phan Huỳnh Điểu, được mệnh danh là "con chim vàng của âm nhạc Việt Nam," là một nhạc sĩ tiêu biểu của dòng nhạc cách mạng và trữ tình Việt Nam. Ông sinh ngày 11 tháng 11 năm 1924 tại Đà Nẵng và qua đời năm 2015, với di nguyện được rải tro cốt xuống sông Hàn.&nbsp;</p><p><br></p><p><strong>Phong cách nghệ thuật</strong></p><p>Phan Huỳnh Điểu nổi bật với khả năng phổ nhạc từ thơ, tạo nên sự cộng hưởng sâu sắc giữa tâm hồn nhạc sĩ và thi sĩ. Ông từng chia sẻ rằng thơ và nhạc như hai cánh giúp tác phẩm "bay lên." Âm nhạc của ông thường mang giai điệu trữ tình, sâu lắng, ngay cả trong các ca khúc hành khúc.</p><p><br></p><p><strong>Sự nghiệp sáng tác</strong></p><p>Ông bắt đầu sáng tác từ rất trẻ, với ca khúc đầu tay <em>Trầu cau</em> và <em>Mùa đông binh sĩ</em> vào đầu thập niên 1940. Năm 1945, ông nổi tiếng với ca khúc <em>Đoàn Vệ quốc quân</em>. Sau khi tập kết ra Bắc, ông tiếp tục sáng tác nhiều tác phẩm nổi bật như <em>Tình trong lá thiếp</em> (1955) và <em>Những ánh sao đêm</em> (1962). Ông cũng giữ nhiều vai trò quan trọng trong Hội Nhạc sĩ Việt Nam.</p><p><br></p><p><strong>Một số tác phẩm tiêu biểu</strong></p><p>- <em>Bóng cây Kơ-nia</em> (1971, phổ thơ Ngọc Anh)</p><p>- <em>Cuộc đời vẫn đẹp sao</em> (1971, phổ thơ Dương Hương Ly)</p><p>- <em>Hành khúc ngày và đêm</em> (1972, phổ thơ Bùi Công Minh)</p><p>- <em>Sợi nhớ sợi thương</em> (1978, phổ thơ Thuý Bắc)</p><p>- <em>Anh ở đầu sông em cuối sông</em> (1978, phổ thơ Hoài Vũ)</p><p>- <em>Thuyền và biển</em> (1981, phổ thơ Xuân Quỳnh)</p><p>- <em>Ở hai đầu nỗi nhớ</em> (1987, phổ thơ Trần Hoài Thu</p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:32:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376292724</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 3 ( 12A16 )</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376292766</link>
         <description><![CDATA[<p>câu 1 tác giả</p><p>Hoàng Châu Ký (16 tháng 5 năm 1921 – 31 tháng 1 năm 2008) là nhà hoạt động văn hoá, nhà hoạt động cách mạng, nhà văn, nhà nghiên cứu sân khấu dân gian Việt Nam. Ông là hiệu trưởng đầu tiên của Trường Ca kịch dân tộc Việt Nam (nay là Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội), nguyên Tổng Thư ký Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam, nguyên Viện trưởng Viện Sân khấu - Bộ Văn hóa. Ông có nhiều đóng góp lớn trong việc nghiên cứu, bảo tồn, phát triển và truyền bá nghệ thuật tuồng.</p><p><br/></p><p>câu 2 phong cách kệ thuật </p><p>Nghệ thuật là lĩnh vực của sự độc bản nên nó đòi hỏi mỗi người sáng tác phải có phong cách riêng, có “chất” riêng, có tính đặc thù, mới lạ thể hiện trong tác phẩm của mình. Khẳng định này đã nêu lên một yêu cầu rất đặc thù của văn học nghệ thuật, đó là tính độc đáo. Chính sự độc đáo này sẽ tạo nên phong cách nghệ thuật cho mỗi người. Một khi tác giả văn học tạo được dấu ấn riêng biệt, độc đáo trong quá trình cảm nhận và suy ngẫm về giá trị đích thực của cuộc sống, thì tính độc đáo được thể hiện rõ nét qua các phương diện nội dung và hình tượng. của mỗi tác phẩm, nhà văn này sẽ được gọi là nhà văn có nét riêng. phong cách nghệ thuật.</p><p><br/></p><p>câu 3  sơ lược về sự nghiệp sáng tác của tác giả</p><p>Trình bày sơ lược về sự nghiệp sáng tác của tác giả, nêu tên một số tác phẩm tiêu biểu. Hoàng Châu Ký có sự nghiệp dài và đóng góp lớn cho nghệ thuật sân khấu Việt Nam. Ông giữ nhiều vị trí quan trọng như Uỷ viên Thường vụ Chi hội văn nghệ Liên khu V, Tổng Thư kí Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam và Giám đốc Đoàn tuồng Bắc Trung ương. Ông cũng là người sáng lập các đơn vị nghệ thuật biểu diễn tuồng chuyên nghiệp và góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho nghệ thuật sân khấu. Một số tác phẩm tiêu biểu của ông gồm: Thanh gươm chủ chiến (tuồng cổ), Trần Quý Cáp (kịch bản sân khấu)</p><p><br/></p><p><br/></p><p><br/></p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:32:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376292766</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 3 - 12A3</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376292803</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Tiểu sử tác giả Nguyễn Văn Bổng</strong></p><p>Nguyễn Văn Bổng (1918–2001) là nhà văn, nhà báo nổi tiếng của nền văn học hiện thực cách mạng Việt Nam. Ông sinh ra tại tỉnh Hà Tĩnh, trong một gia đình có truyền thống yêu nước. Từ nhỏ, ông đã chứng kiến cảnh áp bức bóc lột của thực dân phong kiến, điều này đã hun đúc tinh thần cách mạng và tình yêu văn chương trong ông.</p><p>Trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Nguyễn Văn Bổng hoạt động trong ngành báo chí và văn học, tham gia trực tiếp vào phong trào cách mạng, ghi chép lại những sự kiện quan trọng của đất nước bằng ngòi bút đầy nhiệt huyết. Sau năm 1975, ông tiếp tục cống hiến cho văn học nước nhà và giữ nhiều vị trí quan trọng trong Hội Nhà văn Việt Nam.</p><p><strong>Nét riêng trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Văn Bổng</strong></p><p>Nguyễn Văn Bổng là một trong những cây bút tiêu biểu của văn học cách mạng Việt Nam, với phong cách nghệ thuật mang nhiều nét đặc trưng:</p><ul><li><p><strong>Tính hiện thực sâu sắc</strong>: Ông tập trung tái hiện cuộc đấu tranh gian khổ nhưng anh dũng của nhân dân, đặc biệt là trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.</p></li><li><p><strong>Cốt truyện giàu kịch tính, xây dựng nhân vật sinh động</strong>: Nhân vật trong tác phẩm của ông thường là những người lao động, chiến sĩ kiên cường, có lý tưởng và tinh thần đấu tranh mạnh mẽ.</p></li><li><p><strong>Ngôn ngữ giản dị, gần gũi nhưng giàu cảm xúc</strong>: Nguyễn Văn Bổng có lối viết mộc mạc, dễ hiểu nhưng chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa, thể hiện rõ tinh thần thời đại.</p></li><li><p><strong>Bút pháp lãng mạn cách mạng kết hợp với hiện thực khốc liệt</strong>: Dù phản ánh hiện thực chiến tranh đầy gian khổ, nhưng tác phẩm của ông vẫn thấm đẫm tinh thần lạc quan, niềm tin vào chiến thắng của cách mạng.</p></li></ul><p><strong>Sơ lược về sự nghiệp sáng tác</strong></p><p>Nguyễn Văn Bổng bắt đầu sự nghiệp văn chương với các bài báo, truyện ngắn và tiểu thuyết mang đậm chất cách mạng. Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp, ông ghi lại những câu chuyện về cuộc đấu tranh của nhân dân với tinh thần quyết tử cho Tổ quốc. Đến thời kỳ chống Mỹ, tác phẩm của ông tiếp tục khắc họa tinh thần kiên cường của quân và dân ta, phản ánh chân thực những cuộc chiến ác liệt.</p><p>Sau năm 1975, ông vẫn tiếp tục sáng tác, chủ yếu về đề tài chiến tranh và công cuộc xây dựng đất nước thời kỳ đổi mới.</p><p><strong>Một số tác phẩm tiêu biểu</strong></p><ul><li><p><strong>"Con trâu"</strong> (1952) – Tiểu thuyết nổi tiếng, kể về cuộc sống và số phận của người nông dân trong cuộc kháng chiến.</p></li><li><p><strong>"Sức Mới"</strong> (1957) – Tiểu thuyết phản ánh tinh thần đấu tranh của nhân dân trong cải cách ruộng đất.</p></li><li><p><strong>"Rừng U Minh"</strong> (1965) – Tác phẩm nói về cuộc sống gian khổ nhưng đầy kiên cường của chiến sĩ cách mạng trong rừng U Minh.</p></li><li><p><strong>"Bên kia biên giới"</strong> (1972) – Tiểu thuyết lấy bối cảnh chiến tranh biên giới Tây Nam, phản ánh tinh thần yêu nước và lòng tự hào dân tộc.</p></li></ul><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:32:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376292803</guid>
      </item>
      <item>
         <title>12A2 Nhóm 4</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376292925</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>1. Tác giả là ai? (Trình bày ngắn gọn thông tin tiểu sử)</strong></p><ul><li><p><strong>Khương Hữu Dụng</strong> (1907 – 2005), quê tại <strong>Hội An, Quảng Nam</strong>.</p></li><li><p>Ông là <strong>nhà thơ nổi bật trong phong trào Thơ Mới</strong> và sau này gắn bó với thơ ca cách mạng.</p></li><li><p>Từng tham gia <strong>kháng chiến chống Pháp</strong>, viết nhiều về cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam.</p></li></ul><p><strong>2. Nét riêng trong phong cách nghệ thuật của tác giả được thể hiện như thế nào?</strong></p><ul><li><p><strong>Trước Cách mạng tháng Tám (1945)</strong>: Thơ ông mang màu sắc <strong>lãng mạn, trữ tình</strong> nhưng cũng thể hiện <strong>tinh thần yêu nước, phản ánh hiện thực xã hội</strong>.</p></li><li><p><strong>Sau Cách mạng tháng Tám</strong>: Thơ ông mang đậm <strong>tính sử thi, hào hùng</strong>, cổ vũ tinh thần chiến đấu của nhân dân.</p></li><li><p>Ông có giọng thơ <strong>mạnh mẽ, sôi nổi, ngôn ngữ sắc bén</strong>, giàu hình ảnh và cảm xúc.</p></li></ul><p><strong>3. Trình bày sơ lược về sự nghiệp sáng tác của tác giả; nêu tên một số tác phẩm tiêu biểu.</strong></p><ul><li><p><strong>Sự nghiệp sáng tác</strong>: Ông có nhiều đóng góp cho thơ ca cách mạng và là một trong những nhà thơ <strong>nổi bật của thế kỷ XX</strong>.</p></li><li><p><strong>Tác phẩm tiêu biểu</strong>:</p><ul><li><p><em>Từ đêm Mười chín</em> (trường ca nổi tiếng về cuộc kháng chiến chống Pháp, sáng tác 1947 – 1948).</p></li><li><p><em>Gửi miền Bắc</em> (thơ).</p></li><li><p><em>Chim gõ cửa</em> (thơ).</p></li><li><p><em>Sóng cửa Đại</em> (thơ).</p></li></ul></li></ul><p>📌 <strong>Tóm lại</strong>: Khương Hữu Dụng là nhà thơ lớn của Việt Nam, có đóng góp quan trọng trong cả Thơ Mới và thơ ca kháng chiến, đặc biệt với tác phẩm <em>Từ đêm Mười chín</em> ca ngợi cuộc chiến đấu anh dũng của nhân dân Quảng Nam – Đà Nẵng.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:32:29 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376292925</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 3 12A18</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376293199</link>
         <description><![CDATA[<p>Phan Huỳnh Điểu&nbsp;(sinh ngày&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/11_th%C3%A1ng_11">11 tháng 11</a>&nbsp;năm&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1924">1924</a>&nbsp;- mất ngày&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/29_th%C3%A1ng_6">29 tháng 6</a>&nbsp;năm&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/2015">2015</a>&nbsp;là một trong những&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%E1%BA%A1c_s%C4%A9">nhạc sĩ</a>&nbsp;tiêu biểu nhất của dòng nhạc cách mạng&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam">Việt Nam</a>&nbsp;trong thế kỉ XX. Phần lớn các ca khúc của Phan Huỳnh Điểu là&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%E1%BA%A1c_%C4%91%E1%BB%8F">nhạc đỏ</a>, nhưng ông cũng có nhiều ca khúc trữ tình đặc sắc. Ông được mệnh danh là&nbsp;"Con chim vàng của nền âm nhạc Việt Nam"và được Nhà nước Việt Nam trao tặng&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%E1%BA%A3i_th%C6%B0%E1%BB%9Fng_H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh">Giải thưởng Hồ Chí Minh</a>&nbsp;về văn học nghệ thuật vì những đóng góp của mình cho sự nghiệp âm nhạc Việt Nam, ngoài ra còn có&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hu%C3%A2n_ch%C6%B0%C6%A1ng_%C4%90%E1%BB%99c_l%E1%BA%ADp">Huân chương Độc lập</a>&nbsp;hạng Ba và&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hu%C3%A2n_ch%C6%B0%C6%A1ng_Kh%C3%A1ng_chi%E1%BA%BFn">Huân chương Kháng chiến</a>&nbsp;hạng Nhất,... Rất nhiều các bài hát của ông có lời từ các tác phẩm thơ.</p><p>Âm nhạc của cụ có phong cách rất riêng, không trộn lẫn với những nhạc sĩ khác. Sự khác biệt đó, thể hiện sự thấm đẫm nét dân ca của 3 miền Bắc - Trung - Nam. Ví dụ, như ca khúc “<strong><em>Nh</em></strong>ớ” phảng phất làn điệu dân ca Bắc Trung Bộ, ca khúc “<strong><em>Mưa miền Trung</em></strong>” thấm đượm điệu hò Huế. Ca khúc “<strong><em>Quảng Nam yêu thương</em></strong>” lại đậm nét của hò Quảng…</p><p>Những tiết tấu, độ cao thấp trong từng nốt nhạc và những giai điệu trong các ca khúc của cụ làm cho ca từ thật đắt, sâu lắng và da diết, nồng nàn. Âm nhạc của cụ thấm đẫm tình yêu đối với đất nước. Nó xuất phát từ sâu thẳm trái tim của một người nghệ sĩ lớn, tài hoa và làm nên phong cách rất riêng, mang tên Phan Huỳnh Điểu. Những ca khúc của cụ làm người ta dễ nhớ, nhớ lâu và khó có thể cưỡng lại vẻ đẹp của những ca khúc đó.</p><ul><li><p>Ánh điện cùng chắp cánh em bay (thơ Trình Vân)</p></li><li><p>Anh ở đầu sông em cuối sông (1978, thơ Hoài Vũ)</p></li><li><p>Ai ra ngoài</p></li><li><p>Bạn đến chơi nhà</p></li><li><p>Bác Hồ của chúng em</p></li><li><p>Bến Tre xanh biếc quê dừa</p></li><li><p><a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%B3ng_c%C3%A2y_K%C6%A1-nia">Bóng cây Kơ-nia</a>&nbsp;(1971, thơ Ngọc Anh)</p></li><li><p>Bóng nắng (thơ Vương Tâm)</p></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:32:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376293199</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 2: 12A11</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376293401</link>
         <description><![CDATA[<ol><li><p>- Lưu Quang Vũ (1948 – 1988), ông sinh ra ở Phú Thọ, là con trai của nhà viết kịch Lưu Quang Thuận.</p><p>- Năm 1954, gia đình ông chuyển về sống tại Hà Nội.</p><p>- Năm 1965 đến 1970, ông nhập ngũ và gia nhập Quân chủng phòng không – không quân.</p><p>- Năm 1970 – 1978, ông xuất ngũ là làm nhiều nghề để kiếm sống: làm ở Xưởng Cao su Đường sắt do Tạ Đình Đề làm Giám đốc, làm hợp đồng cho nhà xuất bản Giải phóng, chấm công trong một đội cầu đường, vẽ pa-nô, áp phích,...</p><p>- Năm 1978 – 1988, ông làm biên tập viên “Tạp chí sân khấu”.</p><p>- Giữa lúc tài năng đang vào độ chín, Lưu Quang Vũ qua đời trong một tai nạn ô tô trên quốc lộ số 5 tại Hải Dương, cùng với người bạn đời là nhà thơ Xuân Quỳnh và con trai Lưu Quỳnh Thơ.</p></li><li><p>Nét riêng trong phong cách nghệ thuật của Lưu Quang Vũ thể hiện qua sự kết hợp giữa chủ đề nhân văn sâu sắc và ngôn ngữ giản dị, dễ hiểu. Ông khắc họa các nhân vật với mâu thuẫn nội tâm phức tạp, thường pha trộn bi kịch và hài kịch, tạo ra sự cân bằng giữa đau thương và hy vọng. Các vở kịch của ông có tính đối thoại mạnh mẽ, phản ánh những xung đột xã hội và khát vọng thay đổi xã hội, đồng thời dễ gây cảm xúc mạnh mẽ cho người xem.</p></li><li><p>Hơn 10 năm cầm bút ông để lại cho sân khấu Việt Nam hơn 50 vở kịch, chiếm lĩnh các sân khấu kịch lúc bấy giờ. Ngoài ra ông còn làm thơ, sáng tác truyện ngắn, vẽ tranh. Thơ Lưu Quang Vũ không sắc sảo và dữ dội như kịch nhưng giàu cảm xúc, trăn trở, khát khao.</p><p>+ Các tác phẩm kịch nổi tiếng: Lời nói dối cuối cùng, Nàng Xi-ta, Chết cho điều chưa có, Nếu anh không đốt lửa, Lời thề thứ 9, Khoảnh khắc và vô tận,</p><p>Bệnh sĩ, Tôi và chúng ta,...</p><p>+ Các tác phẩm thơ: Và anh tôn tại, Tiếng Việt, Vườn trong phố, Bầy ong trong đêm sâu,...</p><p>_Tài năng của Lưu Quang Vũ:</p><p>+ Ảnh hưởng của cha - nhà viết kịch Lưu Quang Thuận.</p><p>+ Sau những biến cố của cuộc đời, Lưu Quang Vũ gặp Xuân Quỳnh - được hôi sinh con người nghệ thuật, tiếp thêm năng lượng sáng tác.</p><p>+ Ảnh hưởng của thời đại.</p><p>_Năm 2000, ông được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.</p></li></ol>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:32:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376293401</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 1-12A14</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376293585</link>
         <description><![CDATA[<p>Tổng Phước Phổ là một nhạc sĩ nổi tiếng của Việt Nam, đặc biệt trong dòng nhạc trữ tình và nhạc Phật giáo. Ông có nhiều đóng góp quan trọng cho nền âm nhạc Việt Nam với những tác phẩm sâu sắc, giàu chất triết lý và tình cảm.</p><p><strong>1. Tiểu sử:</strong><br>Tổng Phước Phổ sinh ra tại Việt Nam, ông gắn bó với âm nhạc từ sớm và có niềm đam mê đặc biệt với nhạc Phật giáo.</p><p><strong>2. Phong cách nghệ thuật:</strong><br>Ông sáng tác chủ yếu theo phong cách nhạc trữ tình và nhạc Phật giáo, với ca từ sâu lắng, giàu ý nghĩa triết lý và hướng thiện.</p><p><strong>3. Sự nghiệp và tác phẩm tiêu biểu:</strong><br>Tổng Phước Phổ có nhiều tác phẩm nổi bật trong dòng nhạc Phật giáo, trong đó có những bài hát quen thuộc như:</p><ul><li><p>"Dấu chân Phật"</p></li><li><p>"Nam mô A Di Đà Phật"</p></li><li><p>"Tâm sự Phật tử"</p></li></ul><p>Nhạc của ông được nhiều thế hệ yêu thích và sử dụng trong các chương trình Phật giáo cũng như trong đời sống tinh thần của nhiều người.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:33:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376293585</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 5 - 12A13</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376293595</link>
         <description><![CDATA[<p>Tống Phước Phổ (1902-1991) là một soạn giả tuồng xuất sắc của Việt Nam, được xem là "cây đại thụ" trong lĩnh vực nghệ thuật tuồng. Ông sinh ra tại làng An Quán, nay thuộc xã Điện Phương, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, trong một gia đình nhà Nho có truyền thống yêu nước và hiếu học. Mẹ ông là cháu nội của nhà yêu nước Hoàng Diệu.</p><p><br/></p><p><strong>Phong cách nghệ thuật đặc trưng</strong></p><p>Tống Phước Phổ được biết đến với phong cách sáng tác đậm chất dân gian, trữ tình, dễ nhớ, dễ thuộc và dễ nghe. Mặc dù học hỏi nhiều từ tuồng cổ, ông không rập khuôn theo cấu trúc cũ mà linh hoạt trong việc thể hiện nội dung. Phong cách kịch bản tuồng của ông chịu ảnh hưởng từ cụ Đào Tấn, dù thời trẻ ông gắn bó và ngưỡng mộ người cậu, người thầy của mình là nhà viết tuồng trứ danh Nguyễn Hiển Dĩnh.</p><p><br/></p><p><strong>Sự nghiệp sáng tác</strong></p><p>Trong hơn 60 năm gắn bó với nghệ thuật tuồng, Tống Phước Phổ đã sáng tác gần 100 kịch bản, trong đó có hơn 20 vở về đề tài cách mạng. Ông được coi là soạn giả tuồng chuyên nghiệp đầu tiên của sân khấu tuồng cách mạng, góp phần phục hồi nghệ thuật truyền thống sau những năm bị bế tắc.</p><p><br/></p><p><br/></p><p>Ngoài sáng tác, ông còn tham gia cách mạng từ những năm 1930, là đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương và từng bị chính quyền bảo hộ bắt giam một năm tù. Ông cũng là một trong những nghệ sĩ tuồng đầu tiên khoác ba lô cùng các nghệ nhân tuồng ra tiền tuyến phục vụ kháng chiến.</p><p><br/></p><p><br/></p><p><strong>Một số tác phẩm tiêu biểu</strong></p><p>Một trong những tác phẩm tâm đắc nhất của Tống Phước Phổ là vở "Trưng Vương đề cờ", được viết năm 1927 và chỉnh sửa nhiều lần sau đó. Tác phẩm này được xem là mẫu mực của tuồng lịch sử và vẫn được biểu diễn đến ngày nay.</p><p><br/></p><p><br/></p><p>Ngoài ra, ông còn có nhiều tác phẩm nổi tiếng khác như:</p><ul><li><p>"Sao Khuê trời Việt"</p></li><li><p>"An Tư Công chúa"</p></li><li><p>"Thoại Khanh - Châu Tuấn"</p></li><li><p>"Lê Lai đổi áo"</p></li></ul><p>Những tác phẩm này đã góp phần khẳng định vị trí quan trọng của Tống Phước Phổ trong nền nghệ thuật tuồng Việt Nam.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:33:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376293595</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 6-12A15</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376293679</link>
         <description><![CDATA[<ol><li><p><strong>Tác giả là ai?</strong></p><p>Hoàng Châu Ký (1921–2008) là một nhà hoạt động văn hóa, nhà cách mạng, nhà văn và nhà nghiên cứu sân khấu dân gian Việt Nam. Ông sinh ngày 16 tháng 5 năm 1921 tại xã Cẩm Kim, Hội An, Quảng Nam. Ông đã có những đóng góp lớn trong việc nghiên cứu, bảo tồn và phát triển nghệ thuật tuồng. Hoàng Châu Ký là hiệu trưởng đầu tiên của Trường Ca kịch dân tộc Việt Nam (nay là Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội) và từng giữ chức Tổng Thư ký Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam. Ông được phong học hàm Giáo sư năm 1984 và được trao Giải thưởng Nhà nước năm 2001, cùng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật năm 2022 với các tác phẩm tiêu biểu như Tuồng cổ, Thanh gươm chủ chiến, và Trần Quý Cáp</p></li><li><p><strong>Nét riêng trong phong cách nghệ thuật của tác giả được thể hiện như thế nào?</strong></p><p>Hoàng Châu Ký nổi bật với phong cách nghệ thuật mang đậm dấu ấn dân tộc và lòng nhiệt huyết với việc bảo tồn nghệ thuật truyền thống. Những nét riêng trong phong cách của ông bao gồm:</p><p> 1. Tôn vinh bản sắc dân tộc: Ông chuyên sunghiên cứu về tưồng, một loại hình</p><p>sân khấu dân gian độc đáo của Việt Nam. Ông không chỉ lưu giữ những giá trị</p><p>truyền thống mà còn cách tân phù hợp với thời đại, giúp tuồng tiếp cận gần hơn</p><p>với khán giả hiện đại.</p><p>2. Tư duy hệ thống và khoa học: Các tác phẩm của Hoàng Chu Ký thể hiện sự</p><p>hiểu biết sâu sắc và phân tích có hệ thống về nghệ thuật tuồng, từ cấu trúc, kỹ</p><p>thuật biểu diễn đến ngôn ngữ và âm nhạc.</p><p>3. Tích hợp cách mạng trong sáng tạo: Là một nhà cách mạng, ông thường lòng</p><p>ghép tinh thần yêu nước và khát vọng độc lập, tự do vào các tác phẩm của mình,</p><p>tạo nên sự mạnh mẽ và cảm xúc sâu sắc.</p><p>4. Đa dạng vai trò: Không chỉ là một nh nghiên cứu và sáng tác, ông còn là một</p><p>- nhà giáo dục và người quản lý văn hoa, góp phầnđào tạo thế hệ nghệ sĩ trẻ và</p><p>phát triển nghệ thuật sân khấu dân tộc.</p></li><li><p><strong>Trình bày sơ lược về sự nghiệp sáng tác của tác giả; nêu tên một số tác phẩm tiêu biểu.</strong></p><p>Hoàng Châu Ký là một nhà nghiên cứu và sáng tác nổi bật trong lĩnh vực nghệ thuật tuồng. Ông đã sáng tác hơn 20 vở tuồng, trong đó có những tác phẩm tiêu biểu như Ông Ích Khiêm, Nguyễn Huệ, Quang Trung, Vua Duy Tân, Trưng Nữ Vương, Nguyễn Duy Hiệu, Cao Doãn, Thái tử Câu La Na, và Trần Quý Cáp. Ngoài ra, ông còn cải biên và chỉnh lý nhiều vở tuồng cổ như Nghêu, Sò, Ốc, Hến, Ngọn lửa Hồng Sơn, và Sơn Hậu.</p><p>Bên cạnh sáng tác, ông cũng xuất bản nhiều công trình nghiên cứu quan trọng về nghệ thuật tuồng, tiêu biểu là cuốn Sơ khảo lịch sử nghệ thuật tuồng (1973). Những đóng góp của ông không chỉ giúp bảo tồn mà còn phát triển nghệ thuật tuồng, đưa loại hình sân khấu này đến gần hơn với công chúng hiện đại.</p></li></ol>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:33:04 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376293679</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 5-12A3</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376294081</link>
         <description><![CDATA[<p>1. Tác giả Nguyễn Văn Bổng là ai?</p><p>Năm sinh - năm mất: (1921 - 2001).</p><p>Quê quán: Quảng Bình.</p><p>Hoạt động: Ông tham gia cách mạng từ sớm, từng là phóng viên, biên tập viên báo chí, sau đó đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng trong ngành văn học nghệ thuật.</p><p>2. Nét riêng trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Văn Bổng</p><p>Ông là một nhà văn nổi bật với các tác phẩm viết về chiến tranh và cách mạng, thể hiện sự kiên cường, bất khuất của con người Việt Nam.</p><p>Văn phong chân thực, giàu cảm xúc, mang đậm hơi thở thời đại.</p><p>Có khả năng xây dựng hình tượng nhân vật mạnh mẽ, sống động, gắn liền với bối cảnh lịch sử.</p><p>3. Sự nghiệp sáng tác và tác phẩm tiêu biểu</p><p>Nguyễn Văn Bổng đã sáng tác nhiều tác phẩm phản ánh cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và công cuộc xây dựng đất nước.</p><p>Một số tác phẩm tiêu biểu:</p><p>"Con trâu" (1952) – Tiểu thuyết nổi bật viết về số phận người nông dân nghèo.</p><p>"Rừng U Minh" (1962) – Tiểu thuyết phản ánh cuộc chiến đấu kiên cường của quân dân miền Nam.</p><p>"Lửa trên đảo" (1971) – Viết về tinh thần chiến đấu và ý chí kiên cường trong kháng chiến chống Mỹ.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:33:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376294081</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 2 - A14</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376294170</link>
         <description><![CDATA[<p>**1. Tác giả là ai?**  </p><p>Tác giả Tống Phước Phổ (1800–1867) là một danh thần và nhà thơ dưới triều Nguyễn. Ông quê ở Huế, từng giữ nhiều chức vụ quan trọng dưới các triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức. Ông không chỉ nổi tiếng với tài năng chính trị, hành chính mà còn là một nhà thơ có đóng góp cho văn học Việt Nam thế kỷ XIX.</p><p><br/></p><p>---</p><p><br/></p><p>**2. Nét riêng trong phong cách nghệ thuật**  </p><p>Phong cách sáng tác của Tống Phước Phổ mang đậm dấu ấn **Nho giáo**, thể hiện qua:  </p><p>- **Tư tưởng trung quân, ái quốc**: Thơ ông thường đề cao đạo đức, trách nhiệm của bậc quân tử, lòng trung thành với triều đình.  </p><p>- **Tính trang trọng, quy phạm**: Sử dụng thể thơ Đường luật chặt chẽ, ngôn ngữ trau chuốt, hình ảnh ước lệ.  </p><p>- **Chất triết lý sâu sắc**: Nhiều bài thơ phản ánh suy tư về thời cuộc, thân phận con người và đạo làm quan.  </p><p><br/></p><p>---</p><p><br/></p><p>3. Sự nghiệp sáng tác và tác phẩm tiêu biểu**  </p><p>- **Sự nghiệp**: Ông sáng tác chủ yếu bằng chữ Hán, tham gia vào việc biên soạn các văn bản chính sử và thơ ca triều đình. Tác phẩm của ông gắn liền với tinh thần trách nhiệm của một trí thức Nho học.  </p><p>- Tác phẩm tiêu biểu:  </p><p>  - Các bài thơ chép trong **"Ngự chế thi tập"** (tuyển tập thơ của vua Thiệu Trị, ông tham gia biên soạn).  </p><p>  - Một số bài thơ được lưu lại trong **"Đại Nam thực lục"** hoặc các tuyển tập thơ văn triều Nguyễn.  </p><p>  - Tác phẩm riêng như "Tống Phước Phổ thi tập"</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:33:32 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376294170</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 5 12A19</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376294179</link>
         <description><![CDATA[<p>Hoàng Châu Ký (1921–2008) là một nhà nghiên cứu văn hóa và nghệ thuật sân khấu nổi tiếng của Việt Nam, đặc biệt có nhiều đóng góp trong lĩnh vực Tuồng truyền thống. Ông là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu quan trọng về nghệ thuật sân khấu, giúp bảo tồn và phát triển loại hình nghệ thuật này.</p><p>Một số tác phẩm tiêu biểu của Hoàng Châu Ký:</p><ol><li><p><strong>Sân khấu Tuồng</strong> – Nghiên cứu sâu về nghệ thuật Tuồng truyền thống Việt Nam.</p></li><li><p><strong>Tìm hiểu nghệ thuật sân khấu dân gian Việt Nam</strong> – Giới thiệu và phân tích các loại hình sân khấu dân gian như Tuồng, Chèo, Cải lương.</p></li><li><p><strong>Nghệ thuật hát bội</strong> – Một công trình nghiên cứu chuyên sâu về hát bội (Tuồng).</p></li><li><p><strong>Nguyễn Du và chủ nghĩa hiện thực trong Truyện Kiều</strong> – Nghiên cứu về Nguyễn Du và tác phẩm Truyện Kiều.</p></li><li><p><strong>Từ điển nghệ thuật sân khấu Việt Nam</strong> – Hệ thống hóa các thuật ngữ, khái niệm trong sân khấu Việt Nam.</p></li></ol><p>Ông còn đóng vai trò quan trọng trong việc sưu tầm, bảo tồn và phát huy giá trị của nghệ thuật Tuồng, giúp đưa loại hình nghệ thuật này đến với công chúng hiện đại.Hoàng Châu Ký (1921–2008) là một nhà nghiên cứu văn hóa và nghệ thuật sân khấu nổi tiếng của Việt Nam, đặc biệt có nhiều đóng góp trong việc bảo tồn và phát triển nghệ thuật Tuồng.  </p><p>Ông là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu quan trọng như <em>Sân khấu Tuồng</em>, <em>Tìm hiểu nghệ thuật sân khấu dân gian Việt Nam</em>, <em>Nghệ thuật hát bội</em>… Các tác phẩm của ông giúp hệ thống hóa và nâng cao hiểu biết về nghệ thuật sân khấu truyền thống.  </p><p>Bên cạnh nghiên cứu, ông còn tham gia giảng dạy, biên soạn từ điển về sân khấu và góp phần đưa nghệ thuật Tuồng đến với công chúng hiện đại. Nhờ những đóng góp to lớn, Hoàng Châu Ký được xem là một trong những nhà nghiên cứu hàng đầu về nghệ thuật sân khấu Việt Nam.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:33:33 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376294179</guid>
      </item>
      <item>
         <title>12A18 - Nhóm 2</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376294242</link>
         <description><![CDATA[<p>Phan Huỳnh Điểu, được mệnh danh là "con chim vàng của âm nhạc Việt Nam," là một nhạc sĩ tiêu biểu của dòng nhạc cách mạng và trữ tình Việt Nam. Ông sinh ngày 11 tháng 11 năm 1924 tại Đà Nẵng và qua đời năm 2015, với di nguyện được rải tro cốt xuống sông Hàn.&nbsp;</p><p><br></p><p>### Phong cách nghệ thuật</p><p>Phan Huỳnh Điểu nổi bật với khả năng phổ nhạc từ thơ, tạo nên sự cộng hưởng sâu sắc giữa tâm hồn nhạc sĩ và thi sĩ. Ông từng chia sẻ rằng thơ và nhạc như hai cánh giúp tác phẩm "bay lên." Âm nhạc của ông thường mang giai điệu trữ tình, sâu lắng, ngay cả trong các ca khúc hành khúc.</p><p><br></p><p>### Sự nghiệp sáng tác</p><p>Ông bắt đầu sáng tác từ rất trẻ, với ca khúc đầu tay <em>Trầu cau</em> và <em>Mùa đông binh sĩ</em> vào đầu thập niên 1940. Năm 1945, ông nổi tiếng với ca khúc <em>Đoàn Vệ quốc quân</em>. Sau khi tập kết ra Bắc, ông tiếp tục sáng tác nhiều tác phẩm nổi bật như <em>Tình trong lá thiếp</em> (1955) và <em>Những ánh sao đêm</em> (1962). Ông cũng giữ nhiều vai trò quan trọng trong Hội Nhạc sĩ Việt Nam.</p><p><br></p><p>### Một số tác phẩm tiêu biểu</p><p>- <em>Bóng cây Kơ-nia</em> (1971, phổ thơ Ngọc Anh)</p><p>- <em>Cuộc đời vẫn đẹp sao</em> (1971, phổ thơ Dương Hương Ly)</p><p>- <em>Hành khúc ngày và đêm</em> (1972, phổ thơ Bùi Công Minh)</p><p>- <em>Sợi nhớ sợi thương</em> (1978, phổ thơ Thuý Bắc)</p><p>- <em>Anh ở đầu sông em cuối sông</em> (1978, phổ thơ Hoài Vũ)</p><p>- <em>Thuyền và biển</em> (1981, phổ thơ Xuân Quỳnh)</p><p>- <em>Ở hai đầu nỗi nhớ</em> (1987, phổ thơ Trần Hoài Thu</p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:33:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376294242</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 2 12A3</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376294763</link>
         <description><![CDATA[<ul><li><p>Nguyễn Văn Bổng là một nhà văn người Việt Nam. Ngoài tên thật, ông còn viết với bút danh Trần Hiếu Minh. Ông đã đoạt nhiều giải thưởng văn học, tiêu biểu là Giải thưởng Hồ Chí Minh.</p></li></ul><ul><li><p>Phong cách nghệ thuật của ông có những nét riêng biệt thể hiện qua nhiều khía cạnh:</p></li></ul><p><br></p><ol><li><p>Tình yêu quê hương: Những tác phẩm của Nguyễn Văn Bổng thường thể hiện sâu sắc tình yêu quê hương, đất nước. Ông mô tả sinh động, chân thực vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Việt Nam, từ những cánh đồng xanh mướt đến hình ảnh ấm áp của gia đình.</p></li></ol><p><br></p><p>2. Ngôn ngữ giản dị nhưng sâu sắc: Ông sử dụng ngôn ngữ gần gũi, dễ hiểu, nhưng cũng chứa đựng nhiều tầng nghĩa. Cách hành văn của ông vừa thiết thực, vừa tinh tế, tạo nên sự kết nối mạnh mẽ với độc giả.</p><p><br></p><p>3. Nhân văn và tâm lý: Các nhân vật trong tác phẩm của Nguyễn Văn Bổng thường được xây dựng với chiều sâu tâm lý, thể hiện rõ những trăn trở, khát vọng và nỗi đau của con người. Ông luôn có sự đồng cảm với nhân vật, tạo ra những câu chuyện gần gũi và đầy tính nhân văn.</p><p><br></p><p>4. Khả năng quan sát tinh tế: Ông là một nhà quan sát nhạy bén về cuộc sống, có khả năng ghi lại những chi tiết nhỏ nhất, tạo nên bức tranh cuộc sống sinh động và phong phú.</p><p><br></p><p>5. Truyền tải thông điệp xã hội: Tác phẩm của ông không chỉ đơn thuần là những câu chuyện giải trí mà còn chứa đựng những thông điệp về cuộc sống, xã hội, và giá trị nhân văn. Ông thường nhấn mạnh đến tình yêu thương, sự sẻ chia và trách nhiệm của con người với nhau.</p><p>Nguyễn Văn Bổng là một trong những tác giả nổi bật trong nền văn học Việt Nam, đặc biệt được biết đến qua những tác phẩm về đề tài nông thôn và cuộc sống bình dị của con người.&nbsp;</p><p><br></p><ul><li><p>Sự nghiệp sáng tác</p></li></ul><p><br></p><p>1. <strong>Giai đoạn đầu</strong>: Bắt đầu sáng tác từ thập niên 1950, Nguyễn Văn Bổng đã có những tác phẩm đầu tay phản ánh cuộc sống khốn khó của người nông dân trong bối cảnh đất nước đang chuyển mình.&nbsp;</p><p><br></p><p>2. <strong>Thế kỷ 20</strong>: Ông đã có nhiều đóng góp cho văn học miền Bắc trong những năm chiến tranh. Các tác phẩm của ông thường mang tính hiện thực và nhân văn, mô tả sinh động đời sống và tâm tư của con người.</p><p><br></p><p>3. <strong>Sự nghiệp đa dạng</strong>: Tác giả không chỉ viết văn thơ mà còn sáng tác kịch bản, viết cho truyền hình và đóng góp cho các tạp chí văn học. Ông có khả năng viết cho nhiều lứa tuổi và thể loại khác nhau.</p><p><br></p><ul><li><p>Một số tác phẩm tiêu biểu</p></li></ul><p><br></p><p>1. Một trời đầy sao: Tác phẩm nổi tiếng về cuộc sống và ước mơ của người nông dân Việt Nam.</p><p>2. Người mẹ cầm súng: Một tác phẩm nổi bật về hình ảnh người mẹ trong thời chiến tranh.</p><p>3. Chiếc lá cuối cùng: Tác phẩm thể hiện câu chuyện cảm động về tình người và nghị lực sống.</p><p><br></p><p><br></p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:34:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376294763</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 6 - 12A11</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376295051</link>
         <description><![CDATA[<ol><li><p> Tiểu sử</p></li></ol><p>Lưu Quang Vũ (1948 – 1988), ông sinh ra ở Phú Thọ, là con trai của nhà viết kịch Lưu Quang Thuận.Năm 1954, gia đình ông chuyển về sống tại Hà Nội.Năm 1965 đến 1970, ông nhập ngũ và gia nhập Quân chủng phòng không – không quân.Năm 1970 – 1978, ông xuất ngũ là làm nhiều nghề để kiếm sống: làm ở Xưởng Cao su Đường sắt do Tạ Đình Đề làm Giám đốc, làm hợp đồng cho nhà xuất bản Giải phóng, chấm công trong một đội cầu đường, vẽ pa-nô, áp phích,...Năm 1978 – 1988, ông làm biên tập viên “Tạp chí sân khấu”.Giữa lúc tài năng đang vào độ chín, Lưu Quang Vũ qua đời trong một tai nạn ô tô trên quốc lộ số 5 tại Hải Dương, cùng với người bạn đời là nhà thơ Xuân Quỳnh và con trai Lưu Quỳnh Thơ.</p><ol start="2"><li><p>Phong cách sáng tác</p><p>Thơ ca của Lưu Quang Vũ không chỉ giàu tình cảm, mang nhiều tâm trạng mà còn vô cùng sâu sắc và bay bổng. Sự nghiệp sáng tác của ông rất phong phú với bao gồm đa dạng thể loại khác nhau như: Văn xuôi, thơ, kịch, ...</p></li><li><p>Sự nghiệp sáng tác, tác phẩm tiêu biểu</p><p>Hồn Trương Ba da hàng thịt, Mùa hè đang đến, Người lính đánh cọp, Một vùng mặt trận, Người tốt nhà số 5, Ngọc Hân công chúa, Hồn của đất, Ông vua hoá rồng, Vắng mặt trong hồ sơ, Chiếc ô công lý, Ông không phải là bố tôi, Điều không thể mất, Ai là thủ phạm, Mây trắng của cuộc đời tôi, ...</p><p>→&nbsp;Các tác phẩm của ông đã để lại một dấu ấn đáng kể trong lòng công chúng.&nbsp;</p><p>Các vở kịch, truyện ngắn, thơ của Lưu Quang Vũ giàu tính hiện thực và nhân văn cũng như in đậm dấu ấn của từng giai đoạn trong cuộc sống của ông</p><p><br/></p></li></ol>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:34:27 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376295051</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 4</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376295326</link>
         <description><![CDATA[<p>Tiểu sử:</p><ul><li><p>﻿﻿Phan Huỳnh Điểu quê ở thị xã<br>Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam nhưng sinh ra và lớn lên tại Đà Nẵng</p></li><li><p>﻿﻿Ông tham gia hoạt động âm nhạc từ khi còn trẻ, với ca khúc đầu tay Trầu cau và Mùa đông binh sĩ vào đầu thập niên<br>1940.</p></li><li><p>﻿﻿Năm 1955, sau khi tập kết ra miền Bắc, ông công tác tại Ban Nhạc vũ Hội Văn nghệ Việt Nam.</p></li><li><p>﻿﻿Ông mất năm 2015, theo di nguyện, tro cốt của ông được rải xuống sông Hàn.</p></li><li><p>Nét riêng trong phong cách nghệ thuật:</p><ul><li><p>﻿﻿Phan Huỳnh Điều nổi tiếng với việc phổ nhạc từ thơ, quan niệm rằng "thơ và nhạc như cặp anh chị em song sinh".</p></li><li><p>﻿﻿Ông cho rằng ca từ từ thơ gốc của nhà thơ có giá trị cao hơn so với ca từ do nhạc sĩ tự sáng tác, vì thế ông đặc biệt thành công với các ca khúc phổ thơ.</p></li><li><p>﻿﻿Giai điệu trong nhạc của ông thường mềm mại, trữ tình nhưng vẫn mang âm hưởng hào sảng, phù hợp với tinh thần yêu nước và lãng mạn cách mạng.</p></li><li><p>Sơ lược sự nghiệp:</p><ul><li><p>﻿﻿Ông nổi tiếng với ca khúc Đoàn<br>Vệ quốc quân (1945).</p></li><li><p>﻿﻿Sáng tác Tình trong lá thiếp</p></li></ul><p>(1955), Những ánh sao đêm</p><p>(1962).</p><ul><li><p>﻿﻿Thành công với các ca khúc phổ thơ như:</p></li><li><p>﻿﻿Bóng cây Kơ-nia (1971, phổ thơ Ngọc Anh)</p></li><li><p>﻿﻿Cuộc đời vẫn đẹp sao (1971, phổ thơ Dương Hương Ly)</p></li><li><p>﻿﻿Hành khúc ngày và đêm<br>(1972, phổ thơ Bùi Công<br>Minh)</p></li><li><p>﻿﻿Sợi nhớ sợi thương (1978, phổ thơ Thuý Bắc)</p></li><li><p>﻿﻿Anh ở đầu sông em cuối sông (1978, phổ thơ Hoài<br>Vũ)</p></li><li><p>﻿﻿Thuyền và biển (1981, phổ thơ Xuân Quỳnh)</p></li><li><p>﻿﻿Ở hai đầu nỗi nhớ (1987, phổ thơ Trần Hoài Thu)</p></li><li><p>﻿﻿Ông được trao Giải thưởng Hồ<br>Chí Minh về Văn học Nghệ thuật năm 2000.</p></li><li><p>﻿﻿Được đặt tên đường ở quận<br>Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng theo<br>Nghị quyết số 106/2023/NQ-HĐND.</p></li><li><p><br/></p></li></ul></li></ul></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:34:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376295326</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 4 - 12a16</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376295652</link>
         <description><![CDATA[<p>Phan Huỳnh Điểu – "con chim vàng"</p><p>của âm nhạc Việt Nam – quê ở thị xã</p><p>Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam nhưng sinh</p><p>ra và lớn lên tại Đà Nẵng (khi qua đời</p><p>năm 2015, ông di nguyện được hoả</p><p>táng và rải tro cốt xuống sông Hàn).</p><p>chất thơ trong ca từ của một nhạc sĩ thuần túy không thể bằng được chất thơ trong ca từ vốn là bài thơ của một nhà thơ. Nhà thơ chắt chiu từng con chữ, nhạc sĩ chăm chút từng nốt nhạc sẽ cho ra một tác phẩm toàn vẹn và đầy đặn. Bởi vậy, tôi hết sức thích phổ nhạc cho thơ. Thơ và nhạc như cặp anh chị em song sinh, thơ một cánh, nhạc một cánh cho tác phẩm bay lên...". Ông tham gia hoạt động âm nhạc khi</p><p>còn rất trẻ với ca khúc đầu tay Trầu cau</p><p>và ca khúc Mùa đông binh sĩ sáng tác</p><p>đầu thập niên 1940. Phan Huỳnh Điểu nổi tiếng với ca khúc Đoàn Vệ quốc quân</p><p>viết cuối năm 1945. Sau khi tập kết ra miền Bắc, năm 1955 Phan Huỳnh Điểu công</p><p>tác ở Ban Nhạc vũ Hội Văn nghệ Việt Nam, sáng tác ca khúc Tình trong lá thiếp;</p><p>năm 1957 ông được cử vào Ban Thường vụ Hội Nhạc sĩ Việt Nam mới thành lập;</p><p>năm 1962 ông sáng tác ca khúc Những ánh sao đêm. Phan Huỳnh Điểu rất thành</p><p>công với nhiều ca khúc phổ thơ, như Bóng cây Kơ-nia (1971, phổ thơ Ngọc Anh),</p><p>Cuộc đời vẫn đẹp sao (1971, phổ thơ Dương Hương Ly), Hành khúc ngày và đêm</p><p>(1972, phổ thơ Bùi Công Minh), Sợi nhớ sợi thương (1978, phổ thơ Thuý Bắc), Anh</p><p>ở đầu sông em cuối sông (1978, phổ thơ Hoài Vũ), Thuyền và biển (1981, phổ thơ</p><p>Xuân Quỳnh), Ở hai đầu nỗi nhớ (1987, phổ thơ Trần Hoài Thu – bút danh của Trần</p><p>Đình Chính),… Phan Huỳnh Điểu được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 2000 với các ca khúc Đoàn Vệ quốc quân, Tình trong lá thiếp, Những ánh sao đêm, Bóng cây Kơ-nia, Thuyền và biển</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:34:59 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376295652</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 6 - 12A1</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376296428</link>
         <description><![CDATA[<ol><li><p>Tác giả là ai?</p><p>Huỳnh Thị Bảo Hòa (<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1896">1896</a> - <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1982">1982</a>), tên thật là Huỳnh Thị Thái, bút danh là Huỳnh Bảo Hòa hay Huỳnh Thị Bảo Hòa; là một nữ sĩ <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam">Việt Nam</a> thời hiện đại. Theo một số nhà nghiên cứu, thì bà là một trong số ít tác giả nữ đầu tiên viết tiểu thuyết bằng chữ <a rel="noopener noreferrer nofollow" class="mw-redirect" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BB%91c_ng%E1%BB%AF">Quốc ngữ</a>; và được xem là người phụ nữ thuộc hàng tiên phong trong <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Phong_tr%C3%A0o_Duy_T%C3%A2n">phong trào Duy Tân</a> ở Việt Nam.</p></li><li><p>Nét riêng trong phong cách nghệ thuật:</p><p>Bà được biết đến với lối viết hiện thực, phản ánh sâu sắc đời sống xã hội &amp; thân phận con người, đặc biệt là phun nữ trong xã hội phong kiến. Văn phong của bà giàu cảm xúc nhưng cũng mang tính luận đề rõ rệt</p></li><li><p>Sự nghiệp sáng tác &amp; tác phẩm tiêu biểu:</p><p>Huỳnh Thị Bảo Hòa là một trong những nhà văn nữ đầu tiên viết tiểu thuyết bằng chữ Quốc ngữ:</p><ul><li><p><a rel="noopener noreferrer nofollow" class="new" href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=T%C3%A2y_ph%C6%B0%C6%A1ng_m%E1%BB%B9_nh%C6%A1n&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong>Tây phương mỹ nhơn</strong></a><strong> I, II</strong> (tiểu tuyết, gồm 15 hồi), Nhà in Bảo Tồn, Sài Gòn, 1927. Đây là một "tiểu thuyết luân lý". Trong sách có bài "Tựa" của <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hu%E1%BB%B3nh_Th%C3%BAc_Kh%C3%A1ng">Huỳnh Thúc Kháng</a>, bài "Mấy lời tặng" của <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%A3n_%C4%90%C3%A0">Tản Đà</a> và bài "Tựa cuối cùng" của Bùi Thế Mỹ<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hu%E1%BB%B3nh_Th%E1%BB%8B_B%E1%BA%A3o_H%C3%B2a#cite_note-5"><sup>[5]</sup></a>.</p></li><li><p><strong>Bà Nà du ký</strong> (<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/K%C3%BD">ký</a>), <em>Nam Phong tạp chí</em> số 163, 1931, Hà Nội. Nội dung bài ký kể lại chuyến đi nghỉ mát ở <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A0_N%C3%A0">Bà Nà</a> (Đà Nẵng) vào năm <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1930">1930</a> của tác giả. Theo Nguyễn Q. Thắng, thì đây là "lần đầu tiên một nữ tác giả có bài đăng trên Nam Phong tạp chí" <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hu%E1%BB%B3nh_Th%E1%BB%8B_B%E1%BA%A3o_H%C3%B2a#cite_note-ReferenceA-6"><sup>[6]</sup></a>.</p></li><li><p><strong>Chiêm Thành lược khảo</strong>, 1936 (gồm 3 hồi, không biết tên nhà xuất bản, vì không tìm thấy bản in, chỉ còn lại di cảo). Trong sách có "Lời tựa" của <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BA%A1m_Qu%E1%BB%B3nh">Phạm Quỳnh</a>.</p></li><li><p><strong>Huyền Trân công chúa</strong> (tuồng <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tu%E1%BB%93ng">hát bội</a>)</p></li></ul></li></ol>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:35:47 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376296428</guid>
      </item>
      <item>
         <title>EM YÊU FPT 🦛</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376297139</link>
         <description><![CDATA[<p>~``~ </p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:36:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376297139</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 6-12a12</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376299741</link>
         <description><![CDATA[<p>1. Tiểu sử ngắn gọn</p><p><br/></p><p>Lưu Quang Vũ (1948 – 1988) sinh tại Phú Thọ (quê ngoại), nhưng quê nội ở Đà Nẵng. Ông là nhà thơ, nhà viết kịch, nhà văn hóa tiêu biểu của Việt Nam thế kỷ XX. Lưu Quang Vũ sáng tác thơ từ thập niên 1960 và sau này trở thành một trong những nhà viết kịch xuất sắc nhất của sân khấu hiện đại Việt Nam.</p><p><br/></p><p>2. Phong cách nghệ thuật:</p><p>* Lưu Quang Vũ có phong cách sáng tác đặc sắc, thể hiện qua:</p><p>• Thể hiện nhiều cách tân độc đáo</p><p>• Quan tâm thể hiện quan niệm trong cách sống và quan niệm sống</p><p>• Bày tỏ khát vọng hoàn thiện nhân cách con người</p><p>• Tính hiện thực sâu sắc: Phản ánh những vấn đề xã hội, con người, đặc biệt là xung đột giữa cái tốt và cái xấu, giữa lương tri và quyền lực.</p><p>• Chất thơ trong kịch: Ngôn ngữ giàu hình ảnh, bay bổng nhưng vẫn đời thường và sâu sắc.</p><p>• Tính triết lý và nhân văn: Các vở kịch thường đặt ra những câu hỏi về đạo đức, trách nhiệm cá nhân và sự thay đổi của xã hội.</p><p>3. </p><p>• Lưu Quang Vũ bắt đầu sự nghiệp viết kịch từ những năm 1970 và đã để lại dấu ấn sâu đậm với các tác phẩm nổi bật như <em>"Hồn Trương Ba, da hàng thịt"</em>, <em>"Lao xao"</em>, <em>"Cái chết của con chim hoàng yến"</em>, và <em>"Tình yêu và tham vọng"</em>. Những vở kịch của ông không chỉ phản ánh những nghịch lý trong đời sống xã hội mà còn chứa đựng những suy ngẫm về số phận con người, tình yêu, và những khát khao tự do.</p><p>• Với tài năng văn chương và khả năng tạo dựng kịch bản độc đáo, Lưu Quang Vũ đã góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa kịch nghệ Việt Nam. Tuy nhiên, cuộc đời của ông khá ngắn ngủi, và ông qua đời sớm ở tuổi 40. Dù vậy, những di sản văn học và kịch nghệ của ông vẫn sống mãi trong lòng công chúng và những người yêu thích nghệ thuật kịch.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:38:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376299741</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 3 12A6</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376308096</link>
         <description><![CDATA[<p>Chu Cẩm Phong</p><p>1.Chu Cẩm Phong (1931 - 2005) là một nhà văn, nhà báo nổi tiếng của Việt Nam, sinh tại Quảng Nam. Ông có sự nghiệp sáng tác gắn liền với nhiều thập kỷ biến động trong lịch sử đất nước, đặc biệt là trong thời kỳ chiến tranh và những năm sau này. Chu Cẩm Phong đã tham gia vào công tác văn hóa, báo chí và được biết đến với những tác phẩm viết về cuộc sống con người trong xã hội Việt Nam trong giai đoạn khó khăn.</p><p><br/></p><p>2.Phong cách nghệ thuật của Chu Cẩm Phong đặc trưng bởi sự phản ánh chân thực đời sống xã hội trong những năm tháng chiến tranh và thời kỳ hậu chiến. Ông nổi bật với cách khai thác tâm lý nhân vật sâu sắc, đi vào những mâu thuẫn nội tâm của con người trong hoàn cảnh éo le, biến động. Ngòi bút của ông giàu tính hiện thực, đồng thời lãng mạn, trữ tình nhưng cũng rất sắc bén trong việc phản ánh những vấn đề xã hội và nhân sinh.</p><p><br/></p><p>3.Chu Cẩm Phong có một sự nghiệp sáng tác dài, với những tác phẩm phản ánh rõ nét những khía cạnh của cuộc sống con người trong chiến tranh, xã hội và những năm tháng khó khăn. Các tác phẩm của ông thường đi sâu vào tình cảm, nỗi đau, khát vọng và những lựa chọn của con người trong hoàn cảnh xã hội đầy biến động. Một số tác phẩm tiêu biểu của ông là:</p><p>"Nỗi buồn chiến tranh": Tác phẩm thể hiện nỗi đau, mất mát và những tác động của chiến tranh đối với con người.</p><p>"Người con gái làng Thị": Khắc họa cuộc sống của những người dân bình thường trong thời kỳ chiến tranh.</p><p>"Đoạn trường tân thanh": Tác phẩm nổi bật về chủ đề tình yêu và mất mát trong bối cảnh xã hội nhiều biến động.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 07:46:07 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/donganhnttt/5z8x0hkx2di4398h/wish/3376308096</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
