<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title>Học sinh giỏi - sổ tay dẫn chứng by Nguyễn Thị Đậu</title>
      <link>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1</link>
      <description></description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2025-05-22 02:12:32 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2025-09-06 08:23:27 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url></url>
      </image>
      <item>
         <title>Tích lũy dẫn chứng</title>
         <author>nguyendau20187</author>
         <link>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3462234719</link>
         <description><![CDATA[<ul><li><p>Giai đoạn nào?</p></li><li><p>Tên tác giả</p></li><li><p>Tác phẩm</p></li><li><p>Khả năng vận dụng</p></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-05-22 02:14:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3462234719</guid>
      </item>
      <item>
         <title>QUỲNH ANH.                                       Ca dao &quot;KHĂN THƯƠNG NHỚ AI&quot;</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3472373347</link>
         <description><![CDATA[<p>Khăn thương nhớ ai,</p><p>Khăn rơi xuống đất.</p><p>Khăn thương nhớ ai,</p><p>Khăn vắt lên vai.</p><p>Khăn thương nhớ ai,</p><p>Khăn chùi nước mắt.</p><p>Đèn thương nhớ ai,</p><p>Mà đèn không tắt.</p><p>Mắt thương nhớ ai,</p><p>Mắt ngủ không yên.</p><p>Đêm qua em những lo phiền,</p><p>Lo vì một nỗi không yên một bề…</p><p><br/></p><p><br/></p><ul><li><p>Mượn hình ảnh cái khăn, nhân hóa trở thành vật có tri giác biết nhớ, biết mong. Cái khăn, nó không biết "thương nhớ" không biết "rơi xuống" "vắt lên", "chùi nước mắt", nhưng những hình ảnh vận động mang cảm xúc của con người đã làm hiện lên nỗi nhớ mong của người con gái với người yêu mình đến thấp thỏm đứng ngồi không yên.</p></li></ul><ul><li><p>Hình ảnh ngọn đèn thể hiện nỗi nhớ càng dồng đầy không chỉ đứng ngồi không yên mà thậm chí mắt cũng không nhắm, không thể nào ngủ được, luôn lo lắng cho người mình yêu. Nhớ mong ngày đêm không nguôi.</p><p>=&gt; Các tác giả dân gian đã mượn hai hình ảnh ấy để thể hiện những cảm xúc, tâm tư, tình cảm của mình: đó là nỗi nhớ thương, chờ đợi người con trai của con gái, sau đó nỗi nhớ lại nâng lên từng bước thành nỗi lòng thầm kín và cuối cùng tiếng khóc chan chứa đầy xót xa</p><p><strong>Đọc thêm</strong></p></li><li><p>Bài hát "Khăn rơi" của nhạc sĩ Trần Nhật Minh</p></li><li><p>Bài thơ "Khăn thương nhớ ai" của Tế Nam</p><p><strong>Khả năng vận dụng</strong></p></li><li><p>Tình yêu đôi lứa trong văn học dân gian: Thể hiện nỗi nhớ thương sâu sắc, chân thành qua hình ảnh chiếc khăn.</p></li><li><p> Vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ Việt Nam xưa: Dịu dàng, thủy chung, biết giữ gìn và giãi bày tình cảm một cách kín đáo.</p></li><li><p>Cách thể hiện cảm xúc tinh tế trong ca dao: Dùng hình ảnh tượng trưng để diễn tả nỗi nhớ, tránh nói thẳng một cách trực tiếp.</p></li><li><p>Nghệ thuật biểu cảm của văn học dân gian: Giọng điệu nhẹ nhàng, tha thiết; hình ảnh giàu tính gợi cảm và ẩn dụ.</p><ul><li><p><br/></p></li></ul></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-05-29 08:59:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3472373347</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thần Thoại &quot; Con rồng cháu tiên &quot;</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3472480715</link>
         <description><![CDATA[<p><mark>Cẩm Ly </mark></p><p><strong>1. Tóm tắt </strong></p><p>Ngày xưa ở vùng đất Lạc Việt có vị thần con trai thần Long Nữ, tên Lạc Long Quân kết duyên cùng nàng Âu Cơ thuộc dòng họ Thần Nông xinh đẹp. Về sau, Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng, từ trăm trứng nở ra một trăm người con khôi ngô tuấn tú. Vì Lạc Long Quân không quen sống trên cạn lâu ngày nên hai vợ chồng mỗi người dẫn năm mươi người con lên rừng và xuống biển. Người con trưởng được suy tôn làm vua Hùng trên đất Phong Châu, đặt tên nước là Văn Lang, cứ thế kế tục tới muôn đời sau.</p><p><strong>2. Bố cục (3 phần)</strong></p><p>- Phần 1 (từ đầu đến “cung điện Long Trang”): Giới thiệu về Lạc Long Quân và Âu Cơ</p><p>- Phần 2 (tiếp đó đến “rồi chia tay nhau lên đường”): Việc sinh con và chia con của Lạc Long Quân và Âu Cơ</p><p>- Phần 3 (còn lại): Việc lập nước Văn Lang và nguồn gốc của dân tộc Việt</p><p><strong>3. Giá trị nội dung</strong></p><p>Truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên” nhằm giải thích, suy tôn nguồn gốc giống nòi và qua đó thể hiện ý nguyện đoàn kết, thống nhất cộng đồng Việt</p><p><strong>4. Giá trị nghệ thuật</strong></p><p>- Sử dụng nhiều chi tiết tưởng tượng, hoang đường, kì ảo</p><p>- Hình tượng nhân vật mang dáng dấp thần linh.</p><p><mark>Phân tích</mark></p><p><strong>1. Giới thiệu về Lạc Long Quân và Âu Cơ</strong></p><p>- Lạc Long Quân:</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;+ Vị thần thuộc nòi rồng, con trai thần Long Nữ</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;+ Thần mình rồng, thường ở dưới nước, tỉnh thoảng lên sống trên cạn, sức khỏe vô địch, có nhiều phép lạ</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;+ Giúp dân diệt trừ Ngư Tinh, Hồ Tinh, Mộc Tinh</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;+ Dạy dân cách trồng trọt, chăn nuôi và cách ăn ở</p><p>- Âu Cơ: ở vùng núi cao phương Bắc, thuộc dòng họ Thần Nông, xinh đẹp tuyệt trần</p><p>→ Lạc Long Quân và Âu Cơ gặp nhau, đem lòng yêu nhau rồi thành vơ thành chồng, cùng nhau chung sống trên cạn</p><p>→ Sự kết duyên của những con người phi thường</p><p><strong>2. Việc sinh con và chia con của Lạc Long Quân và Âu Cơ</strong></p><p>- Âu Cơ sinh ra một cái bọc trăm trứng, trăm trứng nở ra một trăm người con hồng hào, đẹp đẽ lạ thường. Đàn con không cần bú mớm mà tự lớn lên như thổi, mặt mũi khôi ngô, khỏe mạnh như thần</p><p>→ Hình tượng cái bọc một trăm trứng thể hiện những con người của dân tộc Việt do cùng một mẹ sinh ra</p><p>- Lạc Long Quân và Âu Cơ chia con: 50 con xuống biển, 50 con lên núi, chia nhau cai quản các phương, khi có việc thì giúp đơc lẫn nhau</p><p>→ Giải thích nguồn gốc của các dân tộc Việt Nam sinh sống trên khắp đất nước. Đồng thời, qua đó phản ánh truyền thống đoàn kết của dân tộc ta từ ngàn đời nay</p><p><strong>3. Việc lập nước Văn Lang và nguồn gốc của dân tộc Việt</strong></p><p>- Người con trưởng theo Âu Cơ được tôn lên làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương, đóng đô ở đất Phong Châu, đặt tên nước là Văn Lang</p><p>- Khi nhắc đến nguồn gốc của mình, thường xưng là con Rồng cháu Tiên</p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-05-29 11:31:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3472480715</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Bảo Hân  - Sống chết mặc bay - Phạm Duy Tốn</title>
         <author>phama3189</author>
         <link>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3481901354</link>
         <description><![CDATA[<p><strong><mark>Văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX - 1945 </mark></strong></p><p><strong><mark>( Giai đoạn 1  từ năm 1900  - năm 1920 ) </mark></strong></p><p><strong>1. Tiểu sử tác giả</strong></p><p>- Nhà văn Phạm Duy Tốn sinh (1883 – 1924) tại Thành phố Hà Nội.</p><p>- Phạm Duy Tốn là một nhà văn tiên phong của văn học mới Việt Nam hồi đầu thế kỷ 20. Ông có một số bút danh như Ưu Thời Mẫn, Đông Phương Sóc, Thọ A. Ông là cha của nhà văn, nhà báo Phạm Duy Khiêm và nhạc sĩ Phạm Duy.</p><p>- Phạm Duy Tốn sáng tác văn rất ít, chỉ có 4 tác phẩm. Tuy nhiên, ông vẫn được xem là một nhà văn có sức ảnh hưởng đến nền văn học Việt Nam. Ông được xem là người tiên phong mở lối cho giai đoạn thành tựu rực rỡ của nền văn học Việt Nam cách tân giai đoạn sau này.</p><p>- <strong>Bực mình hay Câu chuyện thương tâm </strong>(Ðông Dương tạp chí số 55, Hà Nội, 1914)</p><p>- <strong>Sống chết mặc bay! </strong>(báo Nam Phong, Hà Nội, ngày 8 tháng 12 năm 1918)</p><p>- <strong>Con người Sở Khanh</strong> (báo Nam Phong, Hà Nội, tháng 2 năm 1919)</p><p>- <strong>Nước đời lắm nỗi </strong>(báo Nam Phong, Hà Nội, ngày 23 tháng 5 năm 1919)</p><p>- <strong>Tiếu lâm An Nam</strong> (bút danh Thọ An, hai tập, nhà xuất bản Ích Ký, Hà Nội, 1924).</p><p><strong>2.Tác phẩm</strong></p><p><strong>a. Hoàn cảnh ra đời</strong></p><p>- “Sống chết mặc bay” được sáng tác tháng 7 năm 1918</p><p>- Đây là tác phẩm được xem là thành công nhất của Phạm Duy Tốn</p><p><strong>b. Tóm tắt: </strong></p><p><strong><em>Sống chết mặc bay </em></strong>là câu chuyện về sự tắc trách của quan phụ mẫu làng X, thuộc phủ X dẫn đến cái chết của hàng bao nhiêu con người, nhà cửa trôi băng, lúa má ngập hết, kẻ sống không chỗ ở, kẻ chết không nơi chôn. Bởi trong khi dân chúng khổ cực, vất vả giữ đê ngăn nước lũ từ sông Nhị Hà thì quan phụ mẫu vẫn say sưa với ván bài tổ tôm trong cái đình cao và vững chãi, mặc kệ dân chúng ngoài kia.</p><p><strong> c. Phân tích </strong></p><p><strong>* Tình hình vỡ đê và sức chống đỡ</strong></p><p>- Tình hình vỡ đê:</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;+ Thời gian: gần một giờ đêm</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;+ Địa điểm: Khúc đê làng X, thuộc phủ X</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;+ Thời tiết: trời mưa tầm tã, nước càng ngày càng dâng cao</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;+ Thế đê: hai ba đoạn nước đã ngấm qua và rỉ chảy đi nơi khác</p><p>⇒ Nghệ thuật tăng cấp, qua đó diễn tả sức hung bạo của mực nước và điều đó đang đe dọa nghiêm trọng đến cuộc sống của người dân</p><p>- Sức chống đỡ của người dân:</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;+ Thời gian: từ chiều cho đên gần 1 giờ sáng</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;+ Dân phu hàng trăm người vất vả, cố sức giữ đê: kẻ thì thuổng, người thì cuốc, kẻ đội đất, người vác tre, nào đắo, nào cừ…</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;+ Tiếng người xao xác gọi nhau sang hộ nhưng ai cũng đã mệt lử cả rồi</p><p>⇒ Nghệ thuật: ngôn ngữ miêu tả, liệt kê, sử dụng động từ mạnh..</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;+ Không khí: khẩn trương, gấp gáp (trống đánh liên thanh, ốc thổi vô hồi..)</p><p>⇒ Cảnh tượng nhốn nháo, căng thẳng, con người dường như bất lực hoàn toàn. Qua đó thể hiện tâm trạng lo lắng của tác giả</p><p><strong>* Cảnh quan phụ mẫu đánh tổ tôm khi đi hộ đê</strong></p><p>- Địa điểm: đình trên mặt đê, vững chãi, an toàn</p><p>- Khung cảnh trong đình:</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;+ Đèn thắp sáng trưng, khói bay nghi ngút</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;+ Nha lệ lính tráng, kẻ hầu người hạ đi lại rộn ràng</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;+ Quan phủ cùng nha lại đánh tổ tôm: quan phụ mẫu uy nghi chễm chệ ngồi trên sập, say mê đánh tổ tôm</p><p>- Khi đê vỡ:</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;+ Không hề lo lắng: “cau mặt, gắt: mặc kệ!”</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;+ Vẫn không ngừng việc chơi bài</p><p>⇒ Tên quan là kẻ vô trạch nhiệm, thờ ơ trước nỗi khổ của nhân dân</p><p>- Nghệ thuật: tương phản giữa cảnh tượng trong đình và ngoài đê, qua đó làm nổi bật sự hưởng lạc, vô trách nhiệm của tên quan phụ mẫu trước tình cảnh khốn khổ của nhân dân</p><p>- Thái độ của tác giả: mỉa mai, châm biếm, phê phán bọn quan lại vô trách nhiệm và cảm thương với nối khổ của nhân dân (thể hiện qua các từ: than ôi, ôi…)</p><p><strong>* Cảnh vỡ đê và nhân dân lâm vào cảnh lầm than</strong></p><p>- Nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà cửa trôi băng, lúa má ngập hết</p><p>- Kẻ sống không có chỗ ở, kẻ chết không nơi chôn</p><p>⇒ Tình cảnh thảm sầu, đau thương</p><p><strong>4.Giá trị </strong></p><p>- Nội dung: lên án gay gắt tên quan phủ “lòng lang dạ thú” và bày tỏ niềm thương cảm trước cảnh “nghìn sầu muôn thảm” của nhân dân do thiên tai và cũng do thái độ vô trách nhiệm của kẻ cầm quyền gây nên</p><p>- Nghệ thuật: tăng cấp kết hợp với tương phản, lời văn cụ thể, sinh động..</p><p>- Cảm nhận truyện ngắn: giàu giá trị hiện thực và nhân đạo, thể hiện tài năng của tác giả…</p><p><strong>5.Khả năng vận dụng</strong></p><ul><li><p>Phê phán sự vô trách nhiệm của quan lại</p></li><li><p>Giá trị hiện thực và nhân đạo</p></li><li><p>Hiện thực xã hội phong kiến thối nát</p></li><li><p>Có thể so sánh với các tpham khác như : Lão Hạc ( Nam Cao ) , Chí Phèo ( Nam Cao ) , Bí ẩn của làn nước ( Bảo Ninh ) ....</p></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-06-07 06:57:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3481901354</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hoàng Anh- Chí Phèo ( Nam Cao)</title>
         <author>hoanganhhdminhtan</author>
         <link>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3482394394</link>
         <description><![CDATA[<p><strong><em>Văn học Việt Nam giai đoạn đầu thế kỉ XX – Cách mạng tháng 8</em></strong></p><p><strong>I, Giai đoạn</strong></p><p>- Truyện ngắn ra đời trong giai đoạn văn học hiện thực phê phán (1930-1945)</p><p>- Chí Phèo là một truyện ngắn nổi tiếng của nhà văn Nam Cao viết vào tháng 2 năm 1941</p><p><strong>II, Tác giả</strong></p><p>- Nam Cao (1917 – 1951) tên khai sinh là Trần Hữu Tri (có tài liệu chép là Trần Hữu Trí), quê ở làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, phủ Lý Nhân (nay là xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân), tỉnh Hà Nam.</p><p>- Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông từng làm nhiều nghề để kiếm sống: dạy trường tư, làm gia sư, viết văn,… Đề tài sáng tác của Nam Cao thường xoay quanh đời sống cơ cực của người nông dân và các bi kịch của tầng lớp tri thức nghèo ở thành thị.</p><p>- Sau Cách mạng, ông tích cực tham gia các hoạt động báo chí, văn nghệ phục vụ cuộc sống mới, thường viết về những chuyển biến trong nhận thức và hành động của nhiều tầng lớp nhân dân tham gia kháng chiến chống Pháp. Trong một chuyến công tác ở vùng địch tạm chiếm thuộc tỉnh Ninh Bình, Nam Cao rơi vào ổ phục kích của địch và hi sinh.</p><p>- Nam Cao khẳng định vị trí trong lịch sử văn học bằng thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết. Bộ phận sáng tác này của ông được xem là một dấu mốc quan trọng của văn học thực hiện chủ nghĩa, giàu tính khái quát triết lí và tinh thần nhân đạo.</p><p>- Những tác phẩm tiêu biểu của ông: Chí Phèo (truyện ngắn, 1941), Giăng sáng (truyện ngắn, 1942), Lão Hạc (truyện ngắn, 1943), Đời thừa (truyện ngắn, 1943), Truyện người hàng xóm (tiểu thuyết, 1944), Sống mòn (tiểu thuyết, 1944), Đôi mắt (truyện ngắn, 1948),…</p><p><strong>III, Tác phẩm</strong></p><p><strong>a, Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác</strong></p><p>- Truyện ngắn Chí Phèo được xây dựng dựa trên một số nguyên mẫu tại làng Đại Hoàng.</p><p>- Tác phẩm vốn có tên là Cái lò gạch cũ. Năm 1941, khi Nhà xuất bản Đời mới tại Hà Nội in một tập truyện ngắn riêng của Nam Cao, người viết lời tựa cho cuốn sách là nhà văn Lê Văn Trương đã đổi tên tác phẩm này thành Đôi lứa xứng đôi và lấy nó làm tên chung cho cả tập. Khi đưa in lại trong tập Luống cày (Hội văn hóa cứu quốc Việt Nam xuất bản, Hà Nội, 1945), nhà văn đã đặt tên mới cho tác phẩm là Chí Phèo.</p><p><strong>b, Tóm tắt</strong></p><p>Ở làng Vũ Đại có thằng Chí Phèo nổi tiếng là hay ăn vạ, đi đâm thuê chém mướn cho nhà Bá Kiến, ngày nào cũng chửi làng phá xóm. Chả là trước kia hắn bị mẹ bỏ rơi ở cái lò gạch cũ, được dân làng thay nhau nuôi. Cho đến năm 18 tuổi đi làm thuê cho nhà bá Kiến nhưng vì vợ hắn cứ gọi Chí lên xoa đầu, bóp vai nên Bá Kiến ghen bắt Chí Phèo phải đi tù. Cuộc đời Chí rơi vào đau thương từ đây. Khi Chí trở về, hắn trở thành một con người hoàn toàn khác, cầm dao và vỏ chai đến nhà bá Kiến - kẻ đã tống hắn vào tù - ăn vạ. Ông Bá xoa dịu hắn bằng bữa rượu và mấy đồng bạc, Chí ngoan ngoãn đi về và từ đó trở thành một con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Nhưng Chí vẫn là một con người, khi gặp Thị Nở vào một đêm trăng, hắn và Thị đã âu yếm nhau. Thị cho hắn tình thương khiến hắn muốn trở lại làm người. Nhưng Thị cũng dập tắt mọi hy vọng khi bà cô của Thị một mực không đồng ý cho tình cảm của hai người. Chẳng còn ai trên đời này quan tâm đến mình, yêu thương mình, cuộc đời thì đi vào lầm lỗi, sa ngã nên Chí đã đến nhà Bá Kiến kêu lên: “Ai cho tao lương thiện?” Chí giết chết Bá Kiến và kết liễu cuộc đời mình. Thị lúc này chỉ nhìn xuống bụng và nghĩ về cái lò gạch - nơi Chí Phèo được người ta tìm thấy mang về nuôi.</p><p><strong>c, Phương thức biểu đạt và ngôi kể</strong></p><p>- PTBĐ: tự sự</p><p>- Ngôi kể thứ 3</p><p><strong>d, Phân tích truyện ngắn</strong></p><p>*CON NGƯỜI CHÍ PHÈO CHẲNG NHỮNG BỊ TƯỚC ĐOẠT NHÂN TÍNH MÀ CÒN BỊ HỦY HOẠI CẢ NHÂN HÌNH NỮA.</p><p><em>1. Chí Phèo bị hủy hoại nhân hình.</em></p><p>- Ngay từ khi chào đời, Chí Phèo là một đứa con hoang, bị bỏ rơi bên một lò gạch cũ. Được dân làng nuôi, Chí Phèo, lớn lên như cây cỏ, tuổi thơ hết đi ở nhà này lại đi ở nhà nọ, tuổi thanh niên ra sức làm thân trâu ngựa cho nhà lí Kiến. Vì một chuyện ghen tuông vớ vẩn, lí Kiến đã nhẫn tâm đẩy Chí Phèo vào tù. Sau bảy, tám năm biệt tích trở về làng, Chí Phèo đã hoàn toàn biến đổi. Ngoại hình thật kinh tởm, cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen và rất cơng cơng, hai mắt gờm gờm trông gớm chết.</p><p>- Chí Phèo chuyên đập đầu, rạch mặt và đâm chém người cho nên cái mặt hắn vàng mà lại muốn xạm màu gio, nó vằn dọc vằn ngang, không thứ tự, biết bao nhiêu là sẹo.</p><p>- Người cố nông ấy hoàn toàn bị tước đoạt nhân hình, biến thành nửa người nửa vật: nó không còn phải là mặt người: nó là mặt của một con vật lạ.</p><p><em>2. Chí Phèo bị tước đoạt nhân tính.</em></p><p>- Từ lúc về làng, Chí Phèo hoàn toàn không kiểm soát được hành động của mình. Khi mua chịu rượu, bà hàng ngần ngừ không muốn đưa thì hắn rút bao diêm, đánh cái xòe, châm lên mái lều của mụ. Mụ hoảng hốt kêu gọi om sòm, vội dập tắt được ngọn lửa mới chạy, rồi khóc lóc mêu mêu, mụ đưa ra chai ruợu.- Chí Phèo hoàn toàn bị tha hóa, hành động như người mất trí. Bao nhiêu việc ức hiếp, phá phách, đâm chém, mưu hại, người ta giao cho hắn làm. Trong cơn say, Chí Phèo hành động tàn bạo như một con quỷ dữ, hoàn toàn mất nhân tính. Những cơn say của hắn tràn cơn này sang cơn khác, thành một cơn say mênh mông, hắn ăn trong lúc say, uống rượu trong lúc say, để rồi say nữa, say vô tận (…). Hắn biết đâu đã phá bao nhiêu cơ nghiệp, đập nát bao nhiêu cảnh yên vui, đạp đổ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nước mắt của bao nhiêu người lương thiện!.</p><p>*NGƯỜI NÔNG DÂN BỊ LƯU MANH HÓA ẤY CUỐI CÙNG ĐÃ THỨC TỈNH.</p><p><em>1. Người nông dân bị tha hóa.</em></p><p>- Trong tâm hồn tưởng chừng như chai đá, thậm chí bị huỷ hoại hoàn toàn của Chí Phèo, bản chất lương thiện ngày thường bị che lấp đi, vẫn le lói một ánh lương tri, sẽ bừng sáng khi gặp được cơ hội. Lúc được thị Nở chăm sóc, Chí Phèo rất ngạc nhiên vì xưa nay, nào hắn có thấy ai tự nhiên cho cái gì. Hắn phải dọa nạt hay giật cướp mới có.</p><p>- Tình cảm chân thật của thị Nở đã khơi dậy ý thức và lương tâm của Chí Phèo. Từ lúc này, Chí mới ý thức tình trạng tha hóa của mình và bi kịch bắt đầu diễn ra trong đời sống nội tâm.</p><p><em>2. Cuối cùng đã thức tỉnh</em></p><p>- Sau khi được thị Nở chăm sóc, lần đầu tiên khi tỉnh giấc, Chí Phèo bâng khuâng nghe tiếng chim hót, tiếng cười nói của những nguời đi chợ thì niềm ao ước có một gia đình nho nhỏ bừng lên. Hắn có thể tìm bạn được, sao lại chỉ gây kẻ thù?</p><p>- Bản chất tốt đẹp của người lao động thức tỉnh trong lòng Chí: Trời ơi. Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao!… Người ta sẽ nhận hắn vào cái xã hội bằng phẳng, thân thiện của những người lương thiện.</p><p>&nbsp;</p><p>* NHƯNG ĐIỀU BI THẢM LÀ ANH TA CHỈ MUỐN TRỞ LẠI LÀM NGƯỜI MÀ KHÔNG ĐƯỢC</p><p><em>1. Chí Phèo lại rơi vào bế tắc</em></p><p>- Chí Phèo tha thiết muốn trở về sống lương thiện với mọi người, nhưng tất cả làng Vũ Đại đều sợ hãi, xa lánh anh ta. Thị Nở lại “cắt đứt” với Chí Phèo. Chí lại rơi vào tình thế hoàn toàn tuyệt vọng: Sống lương thiện thì không được chấp nhận, làm lưu manh như cũ thì không thể và cũng không muốn.</p><p>- Những lời lẽ cuối cùng của Chí Phèo bộc lộ tất cả bi kịch nội tâm đó: “Tao muốn làm người lương thiện (…). Không được! Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được những mảnh chai trên mặt này! Tao không thể là người lương thiện được nữa. Biết không!”.</p><p><em>2. Bi kịch biến thành thảm kịch</em></p><p>- Chí Phèo đã đâm chết Bá Kiến, kẻ đã gây ra bi kịch đời Chí, rồi tự sát.</p><p>- Nhân vật Chí Phèo được xây dựng thành công: vừa có nét khái quát, vừa có cá tính. Người cố nông đó đã vừa bị hủy hoại nhân hình, vừa bị tước đoạt cả nhân tính. Nhân vật được miêu tả sâu sắc từ chân dung đến tính cách, từ bộ mặt đến những diễn biến tâm lí.</p><p><strong>e, Giá trị nội dung</strong></p><p>- Lời tố cáo đanh thép của Nam Cao về xã hội đương thời tàn bạo, thối nát đã đẩy người dân lương thiện vào con đường tha hóa, lưu manh hóa.</p><p>- Đồng thời ca ngợi vẻ đẹp của con người ngay cả khi bị vùi dập mất hết cả nhân hình, nhân tính.</p><p><strong>g. Giá trị nghệ thuật</strong></p><p>- Nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình bất hủ vừa có tính chung tiêu biểu vừa có những điểm riêng biệt không trộn lẫn.</p><p>- Nam Cao có biệt tài phân tích tâm lí nhân vật khiến nhân vật của ông thật hơn con người thật.</p><p>- Nghệ thuật trần thuật hết sức linh hoạt phóng túng nhưng nhất quán và chặt chẽ.</p><p>- Ngôn ngữ giàu có đậm hơi thở cuộc sống.</p><p>- Giọng văn biến hóa đa dạng.</p><p><strong>IV. Khả năng vận dụng</strong></p><p>-Phản ánh hiện thực nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám: tối tăm, bế tắc, mục ruỗng, gợi ra khát vọng được làm người, được yêu thương dù chỉ le lói, yếu ớt</p><p>-Đề cao quyền sống, quyền làm người chính đáng của mỗi cá nhân.</p><p>-Vận dụng trong đề: “Giá trị nhân đạo trong văn học hiện thực phê phán” hay</p><p>“Nhà văn chân chính là người mang nỗi đau của con người”</p><p>- Có thể liên hệ với "Lão Hạc" (Nam Cao), "Tắt đèn" (Ngô Tất Tố) ,"Vợ nhặt" (Kim Lân), "Một người Hà Nội" (Nguyễn Khải), "Số phận con người" (Sô-lô-khốp), "Người trong bao" (Sê-khốp), "Đời thừa" (Nam Cao)</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p><strong>&nbsp;</strong></p><p>&nbsp;</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-06-08 13:33:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3482394394</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tuệ Minh</title>
         <author>ltwgxx</author>
         <link>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3482434720</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Bài thơ: Thư gửi mẹ - Nguyễn Quang Thiều</strong><br><br>“Thưa mẹ!<br>Con về với mẹ đây<br>Những ngọn gió thổi qua vườn cuối hạ<br>Lá xôn xao những cánh thư thầm<br>…<br>Chiến tranh qua rồi và mãi mãi mẹ ơi<br>Đồng đội con trở về với thư con viết dở<br>Ôi lá thư chỉ một câu gọi mẹ<br>Là lá thư dài nhất ở trên đời.”<br><br><strong>1, Tác giả</strong><br>- Nguyễn Quang Thiều là nhà thơ, nhà văn, kịch tác gia, và dịch giả, sinh ngày 13/2/1957 tại Hà Tây, hiện sống ở Hà Đông. Ông đã đoạt nhiều giải thưởng văn học ở Việt Nam.<br>- <strong>Tác phẩm tiêu biểu: </strong>&nbsp;Hương khúc, Bầy chim chìa vôi, Mon và Mên đang ở đâu?, Sông Đáy.<br>- <strong>Phong cách nghệ thuật:</strong>&nbsp;Ông sáng tác về nhiều đề tài với những cách biểu hiện khác nhau và nhiều cung bậc cảm xúc vượt khỏi phạm vi cảm hứng hiện thực hay siêu thực. Ông không mô phỏng, sao chép đời sống để viết thành những vần thơ đầy ẩn ý.<br><br><strong>2, Tác phẩm</strong><br>- <strong>HCST:</strong> Năm 1981 <em><mark>(giai đoạn sau 1975)</mark></em>, tại Sài Gòn, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều viết&nbsp;trường ca “Những người lính của làng”&nbsp;khi ông vừa bước sang tuổi 24.<br>- <strong>Nội dung:</strong> Trường ca&nbsp;“Những người lính của làng”&nbsp;nói về những chàng trai, cô gái đi ra mặt trận từ một làng quê nhỏ bé, bình yên, và khi trở về ngôi nhà xưa yêu dấu của mình, họ đã thành những người “sống suốt đời mười tám tuổi”... Những trang viết tri ân những người lính trẻ, nhưng những khúc hay nhất trong bản trường ca này lại được dành dâng tặng những người mẹ.&nbsp;<br>- “Thư gửi mẹ” (trích trong trường ca "Những người lính của làng") được Nguyễn Quang Thiều viết vào năm ông là một chàng trai mới ngoài 20 tuổi. Khi đó, chiến tranh mới đi qua và những người mẹ ở làng quê nhà thơ cũng như bao người mẹ khác vẫn tin rằng con mình, dù có giấy báo tử thì vẫn sẽ về vì một sự nhầm lẫn hoặc vì một phép màu nào đó. Nhưng sự khốc liệt của chiến tranh là một thực tế không thể không đối mặt. Và rồi những người mẹ không bao giờ được gặp lại con mình bằng hiện hữu, họ chỉ có thể gặp trong sự tưởng tượng của tâm trí, tinh thần.<br><br><strong>3, Nghệ thuật</strong><br>- <mark>Hình tượng</mark> “con” trong “Thư gửi mẹ” là linh hồn người lính trẻ đã hy sinh, trở về với mẹ trong ký ức và tưởng tượng. Dù đã mất, “con” vẫn gắn bó tha thiết với mẹ, với quê hương, là biểu tượng cho tuổi trẻ mãi mãi dừng lại vì Tổ quốc. Câu thơ “con không chết, con chỉ không lớn nữa” thể hiện sự bất tử của tình mẹ con và lý tưởng sống cao đẹp.<br>- <mark>Phép điệp</mark> “con đã về” lặp lại xuyên suốt bài thơ như một sự nhấn mạnh cùng khẳng định khao khát được trở về, được ở trong vòng tay ấm áp của mẹ, được ngắm nhìn bầu trời tự do của dân tộc. Nhưng sau tất cả đó chỉ là sự mường tượng của tác giả, người lính ấy đã hi sinh và ngủ sâu trong cánh rừng già.<br>- <mark>Cấu trúc</mark> bài thơ như một bức thư gửi từ cõi vô hình, không theo trình tự thời gian, mà đan xen ký ức, cảm xúc và hình ảnh hiện tại của mẹ và quê hương.<br>- Nguyễn Quang Thiều rất mạnh về tạo hình ảnh, đặc biệt là <mark>những hình ảnh giản dị đời thường</mark>, nhưng được lồng vào ngữ cảnh linh hồn, làm bật lên sự thiêng liêng và nỗi đau:<br>&nbsp; + “Con mèo thay con thức cùng với mẹ”<br>&nbsp; → Hình ảnh quen thuộc nhưng được gán nghĩa linh thiêng – con mèo như là hóa thân của người con, lặng lẽ ở bên mẹ.</p><p>&nbsp; + “Cỏ đã lên mầm trên những hố bom”<br>&nbsp; → Hình ảnh biểu tượng cho sự hồi sinh sau chiến tranh, sự sống dần thay thế chết chóc, đau thương.</p><p>&nbsp; + “Con ngủ quên dưới cánh rừng lá bạc”, “Theo đường gió con về ngắm mẹ sau lưng”<br>&nbsp; → Các hình ảnh tự nhiên (rừng, lá, gió) mang tính chất hư ảo, làm mờ ranh giới giữa người sống và người đã khuất.</p><p>&nbsp; + “Niêu tép mẹ kho suốt đời không thể nguội”<br>&nbsp; → Một hình ảnh vừa hiện thực vừa biểu tượng, gợi nỗi nhớ da diết, gắn bó giữa mẹ và con, giữa bếp lửa và hồn người.</p><p>- <mark>Giọng thơ chuyển biến linh hoạt:</mark> có lúc là lời thủ thỉ thân tình “Mẹ ơi mẹ, mẹ đừng ngồi khuya quá”, có lúc trầm ngâm triết lý “Chiến tranh qua rồi và mãi mãi con tin”, lại có lúc như mộng như thực “Con đã về trong tiếng sấm tháng Tư”.<br>- Những vần thơ của Nguyễn Quang Thiều không chỉ tinh tế mà còn giàu cảm xúc. Ở bài thơ này, mỗi vần thơ cứ như những sợi dây níu những người con và những người mẹ. Nhà thơ đã nói hộ rất nhiều tâm tư của những người mẹ nhớ con. Đặc biệt hơn, ông đã nói thay những người lính hy sinh bằng những lá thư, bằng những vần thơ gửi vào tâm hồn những người mẹ và hơn hết, ông đã viết bằng cả nỗi niềm thành kính, biết ơn, cảm thông tận sâu thẳm tâm hồn mình.<br><br><strong>4, Khả năng vận dụng</strong><br>- Phản ánh sự hi sinh của những người lính vô danh nhưng mang trong mình dáng vẻ của dân tộc<br>- Tình cảm gia đình thiêng liêng<br>- Phản ánh nỗi đau, sự hy sinh cao cả của người mẹ trong thời chiến “tiễn con đi với đủ hình hài, đón con về con hoá thành đất nước”<br>- Sự hồn nhiên của những người lính <br>- Liên hệ: “Bếp lửa” – Bằng Việt, “Mãi mãi tuổi hai mươi” – Nhật ký liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc, “Lá thư dài nhất” – Nguyễn Đức Mậu<br></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-06-08 15:03:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3482434720</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thư Linh - Ăn mày dĩ vãng( Chu Lai )</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3482472020</link>
         <description><![CDATA[<p><mark>Văn học Việt Nam sau năm 1975, thuộc gia đoạn văn học thời kỳ đổi mới, khi đất nước đã hoà bình, thống nhất. </mark></p><p><strong>I. Tác giả</strong> </p><p>- Chu Lai (1946), tên khai sinh là Chu Văn Lai. Là con trai của nhà viết kịch Học Phi</p><p>- Quê quán: xã Hưng Đạo, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên</p><p>- PCST:</p><p>+ giàu chất hiện thực</p><p>+ nặng chiều sâu nội tâm nhân vật</p><p>+ kết hợp giữa lãng mạn và bi kịch</p><p>+ giọng văn da diết, ngôn từ giản dị</p><p>- Trong chiến tranh Việt Nam ông công tác trong đoàn kịch nói Tổng cục Chính trị rồi trở thành chiến sĩ đặc công hoạt động trong vùng Sài Gòn. Sau 1973, ông về làm trợ lý tuyên huấn Quân khu 7. Đến cuối năm 1974 ông tham dự trại sáng tác văn học Tổng cục Chính trị và sau đó học tại Trường Viết văn Nguyễn Du khóa 1. Sau khi tốt nghiệp, ông biên tập và sáng tác cho Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Nhà văn Chu Lai còn viết một số kịch bản sân khấu, kịch bản phim và tham gia đóng phim.</p><p>- Các tác phẩm tiêu biểu: Nắng đồng bằng (1978), Phố(1993), Ba lần và một lần(1999)Cuộc đời dài lắm(2001), Mưa đỏ(2016),...</p><p><strong>II. Tác phẩm</strong></p><p><strong>1. Xuất xứ: </strong>Nằm trong số những tiểu thuyết tiêu biểu của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới, tác phẩm được Nhà xuất bản Văn học xuất bản lần đầu <mark>năm 1991.</mark> </p><p><strong>2. Tóm tắt:</strong></p><p>Tác phẩm xoay quanh người cựu binh Hai Hùng, một chiến sĩ quân giải phóng vùng ven đô thành Sài Gòn trở về với đời thường trong hiện tại, đã làm một cuộc hành trình lần ngược quá khứ; đi từ hiện tại về quá khứ, từ quá khứ đến hiện tại; nhằm tìm lại người yêu đồng thời cũng là đồng chí của mình. Một ngày như mọi ngày trong thời hậu chiến tại một nhà hàng sang trọng, Hai Hùng tình cờ gặp một người đàn bà giống hệt người yêu cũ Ba Sương từ thời chiến tranh của anh. Người con gái bị cho là đã chết ngờ đâu giờ vẫn còn hiện hữu giữa nhân gian với một cái tên khác, Tư Lan, và đang rất thành đạt trên cương vị một nữ giám đốc Sở lâm nghiệp nức tiếng lục tỉnh miền Tây. Tất cả đã thôi thúc Hai Hùng tìm về quá khứ, sống lại một thời hoa lửa hào hùng và bi tráng ở cương vị một chiến sĩ, người đội trưởng đặc nhiệm, với những kỷ niệm tình yêu ngọt ngào bên cô y tá, xã đội trưởng Ba Sương. Nhưng cuộc kiếm tìm cũng đầy khó khăn khi người con gái kia đã quay lưng với quá khứ <em>"Ngay cả cái chuyện ai đang nằm dưới mộ kia cũng là một lý do sâu xa và bất cập để cô ấy tự chối bỏ mình"</em>. Dù sau cùng cả hai đã tìm được đối phương và cả chính mình, nhưng mọi sự đã quá muộn màng, dẫu cuộc kiếm tìm này đã kết thúc và các bí ẩn đã được giải mã, dẫu tình yêu ngày nào dường như vẫn vẹn nguyên sự trong trẻo và thủy chung, họ lại không thể đến được với nhau nữa.</p><p><strong>3. Nội dung</strong></p><p><strong>a) Nhân vật Hai Hùng</strong></p><p><strong>* Quá khứ: </strong></p><p>Hai mươi năm trước, Hai Hùng từng là đội trưởng đội trinh sát với <mark>lòng yêu nước nồng nàn với trái tim nhân hậu. Sự dũng cảm, kiên cường, khả năng lãnh đạo tài ba</mark> khiến anh trở thành một người được <mark>đồng đội hết mực tín nhiệm, được người dân yêu mến.</mark></p><p><strong>* Hiện tại:</strong></p><p>Tưởng chừng người chỉ huy ấy sẽ gắn mãi với hình ảnh một người chiến sĩ oai hùng, lẫm liệt nhưng khi bước ra khỏi cuộc chiến, người lính chỉ còn <em>“mảnh ký ức đập phập phồng trong lồng ngực”</em> giống như <mark>một kẻ đứng ngoài rìa xã hội</mark>. Từ một thanh niên suýt soát bảy mươi cân với thân hình cường tráng, Hai Hùng trở thành một người <mark>hốc hác</mark> với <em>“tóc nham nhở, môi thâm và răng rụng gần một phần ba”</em>. Chàng trai đầy sức sống năm nào giờ đây chỉ biết <mark>thu mình, xa cách với xã hội</mark>. Anh <mark>sợ những nơi đông người</mark> nên <mark>ít giao tiếp</mark> với thế giới xung quanh, thậm chí trở thành <mark>kẻ vô gia cư</mark>, không có tiền bạc và phải đi tha hương cầu thực ở nơi khác.</p><p><strong>=&gt; Tâm lý phức tạp</strong>: Giằng xé giữa quá khứ và hiện tại</p><p>Hai Hùng không chỉ khổ vì xã hội, mà còn khổ vì chính mình:</p><p>- Không buông được quá khứ:</p><p>+ Anh mê sảng, nói chuyện với người đã chết, lặp đi lặp lại những ký ức chiến trường như thể chỉ có quá khứ là thật.</p><p> - Không hòa nhập được với hiện tại:</p><p>+ Anh không thể thích nghi với cơ chế thị trường, với sự thực dụng và đổi thay chóng mặt của xã hội mới.</p><p> - Tâm trạng đau đớn, giận dữ, hoang mang và bất lực:</p><p> + Anh lúc tỉnh, lúc mê; lúc cười, lúc khóc.</p><p> + Tâm trí anh vỡ vụn giữa hai thế giới, không nơi nào thuộc về mình.</p><p><strong>b) Nhân vật Ba Sương</strong></p><p><strong>* Quá khứ:</strong></p><p>Là một nữ <mark>chiến sĩ quân y</mark> của lực lượng du kích địa phương, được nhiều người thầm thương trộm nhớ bởi <mark>vẻ ngoài mảnh dẻ, xinh xắn và tấm lòng lương thiện, nhân hậu</mark>. Cô và anh đội trưởng Hai Hùng đã từng có một cuộc tình đẹp trong những cánh rừng, dưới làn mưa bom bão đạn nhưng đã hy sinh trong đợt thả bom tại ấp chiến lược.</p><p><strong>* Hiện tại:</strong></p><p>Xuất hiện như một <mark>vị giám đốc uy quyền, danh tiếng</mark> của lục tỉnh miền Tây, một người <mark>đàn bà đẹp</mark> một vẻ vừa quen thuộc đến nghẹn lời lại vừa xa lạ đến chói mắt, với giọng nói <em>“vuốt nhọn ở âm tiết cuối”</em> và <mark>bàn tay thiếu mất một ngón trỏ</mark>. <mark>Cố tình hành động như thể không nhận ra Hai Hùng</mark>, dẫu có lẽ cô biết rõ cố tình quên đi người mình yêu cũng là cố tình quên đi quá khứ vốn rất đáng trọng của mình, quên đi người chị Hai Hợi mà cô yêu thương, quên đi cả những người đồng đội đã ngã xuống, quên đi tất cả. Có lẽ chúng ta rồi sẽ gặp một phần nào đó của mình ở trong nhân vật này, mải mê sống trong sự ca tụng của người khác mà ngoảnh mặt với con người thật của mình. Cô ấy giết chết chính mình, giết chết Ba Sương, và cái này còn đáng sợ hơn cái chết thật sự cả ngàn lần. Ba Sương nằm lại ở chiến trường năm xưa, còn Tư Lan lại chết trong thời bình, khi cô ấy nhận lại phát đạn cô đã bắn để khai tử quá khứ của chính mình.</p><p><strong><em><mark>=&gt;</mark></em></strong> Nếu như Hai Hùng mải mê tìm về quá khứ, đúng như tên tác phẩm "<em>Ăn mày dĩ vãng"</em>, anh cố tìm về một điều gì còn sót lại, một điều gì đáng nhớ, đáng quý từ những tháng ngày đã quá xa xôi ấy thì người tình cũ của anh, Ba Sương, hay là Tư Lan, dường như đã quên mất rồi, dường như cô ấy chết đi để rồi lại sống lại, bỏ lại tất cả những gì thuộc về cuộc đời trước xuống nấm mồ mà chàng trai cô từng yêu đã chôn cất cô. Hành trình của kẻ ăn mày quá khứ và kẻ chạy trốn quá khứ ngược chiều nhau, tưởng như không có lấy một giao điểm khi Ba Sương thỏa hiệp với cái ác, không dám đối diện với chính mình để yên tâm sống với hiện tại</p><p><strong>4. Nghệ thuật</strong></p><p><strong>4.1. Miêu tả tâm lý nhân vật sâu sắc</strong></p><p>- Chu Lai là người từng tham chiến, nên ông diễn tả nội tâm Hai Hùng rất chân thật:</p><p> + Những cơn trầm cảm, những giấc mơ dĩ vãng, những ánh nhìn vô định…</p><p> + Tác phẩm giống như một cuốn nhật ký tinh thần bị xé vụn, lộ rõ sự bất lực và đau đớn của một người từng đứng giữa chiến trường, nay đứng bên lề xã hội.</p><p><strong>4.2. Thủ pháp dòng ý thức và độc thoại nội tâm</strong></p><p> - Chu Lai sử dụng nhiều đoạn hồi tưởng, cắt ghép ký ức và hiện tại:</p><p> - Ký ức ùa về như dòng thác – không theo trình tự thời gian – khiến người đọc như bước vào thế giới tâm tưởng rối loạn của Hai Hùng.</p><p><strong>4.3. Ngôn ngữ trần thuật giàu chất suy tư</strong></p><p> - Giọng văn trầm buồn, da diết, giàu chất triết lý, không màu mè, không bi lụy, nhưng từng câu chữ thấm đẫm nỗi cô độc và phản tỉnh.</p><p><strong>III. Khả năng vận dụng</strong></p><p>- Nội dung:</p><p>+ Hình tượng người lính</p><p>+ Tri ân và lãng quên trong đời sống hiện nay</p><p>+ Giá trị quá khứ</p><p>+ Mối liên hệ giữa quá khứ-hiện tại-tương lai, giữa lý tưởng-đời sống thực tiện</p><p>- Nghệ thuật</p><p>=&gt; <mark>Liên hệ:</mark> Rừng xà nu, Nỗi buồn chiến tranh, Làng, Chiếc thuyền ngoài xa, Những người thợ xẻ</p><p><br/></p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-06-08 16:45:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3482472020</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Mai Chi - Từ ấy ( Tố Hữu )</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3483603290</link>
         <description><![CDATA[<p><strong><em>Từ ấy – Tố Hữu</em><br></strong><br>Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ<br>Mặt trời chân lý chói qua tim<br>Hồn tôi là một vườn hoa lá<br>Rất đậm hương và rộn tiếng chim...<br><br>Tôi buộc lòng tôi với mọi người<br>Để tình trang trải với trăm nơi<br>Để hồn tôi với bao hồn khổ<br>Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời<br><br>Tôi đã là con của vạn nhà<br>Là em của vạn kiếp phôi pha<br>Là anh của vạn đầu em nhỏ<br>Không áo cơm, cù bất cù bơ...<br><br><strong><em>I.Giai đoạn</em></strong><br>- Tác phẩm nằm trong giai đoạn đầu của phong trào thơ ca cách mạng Việt Nam hiện đại ( 1930 – 1945 ), đây là thời kì phong trào cách mạng và phong trào yêu nước do Đảng lãnh đạo bắt đầu lan rộng trong giới trí thức, thanh niên yêu nước.<br>- Đặc điểm thơ ca của giai đoạn này:<br>&nbsp;+ &nbsp;Có sự tự do về hình thức<br>&nbsp;+ Bộc lộ sâu sắc cái tôi cá nhân, diễn tả sự rung động mạnh mẽ của tâm hồn<br>&nbsp;+ Sử dụng nhiều từ ngữ mới mẻ,độc đáo,tinh tế<br><br><strong><em>II. Tác giả</em></strong><br>- Tố Hữu : (1920-2002) tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành<br>- Tố Hữu giác ngộ cách mạng từ rất sớm (mười sáu tuổi đã tham gia phong trào đấu tranh của học sinh sinh viên, mười tám tuổi được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương). Cả cuộc đời ông gắn bó với cách mạng<br>- Đặc điểm sáng tác:<br>&nbsp;+ &nbsp;Thơ Tố Hữu gắn bó chặt chẽ với cuộc đấu tranh cách mạng nên các chặng đường thơ cũng song hành với các giai đoạn của cuộc đấu tranh ấy đồng thời thể hiện sự vận động trong tư tưởng nhà thơ<br>&nbsp;+ &nbsp;Thơ ông có sự hòa quyện giữa chất trữ tình chí trị ở nội dung và tính dân tộc đậm đà trong nghệ thuật<br>- Với Tố Hữu lí tưởng đấu tranh cách mạng là lẽ sống và cũng là nguồn cảm hướng vô tận của thi ca<br>- Các tác phẩm chính:<br>&nbsp;+ Thơ: Lượm (1949), Từ ấy (1946), Việt Bắc (1954), Gió lộng (1961), Ra trận (1962-1971), Máu và Hoa (1977), Từ Cuba, Một tiếng đờn (1992), Ta với ta (1999)<br>&nbsp;+ Tiểu luận: Xây dựng một nền văn nghệ lớn xứng đáng với nhân dân ta, Thời đại ta, Cuộc sống cách mạng và văn học nghệ thuật<br><br><strong><em>III. Tác phẩm</em></strong><em><br><br></em><strong>1.Hoàn cảnh sáng tác <br></strong>- Bài thơ được sáng tác vào năm 1938,khi Tố Hữu vừa tròn 18 tuổi<br>- Đây là thời điểm ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, đánh dấu bước ngoặt lớn trong nhận thức và tư tưởng<strong> </strong>của ông.<br>- Bài thơ in trong phần “Máu lửa” của tập thơ <em>Từ ấy</em> (1946) – tập thơ đầu tay, đánh dấu sự ra đời của thơ ca cách mạng Việt Nam hiện đại.<br>- Thể thơ : 7 chữ<br><strong>2.Nội dung</strong> <br>- Bài thơ thể hiện niềm vui sướng, tự hào của một thanh niên khi bắt gặp lý tưởng cách mạng, đồng thời cho thấy sự chuyển biến sâu sắc trong nhận thức và tình cảm: từ cái tôi cá nhân đến cái ta cộng đồng, nguyện sống gắn bó, chiến đấu vì nhân dân lao khổ.<br>- Khổ 1: Niềm vui sướng, bừng sáng trong tâm hồn khi bắt gặp ánh sáng lý tưởng cách mạng.<br>- Khổ 2: Chuyển biến trong nhận thức: từ sống cho riêng mình → sống vì mọi người.<br>- Khổ 3: Ý thức trách nhiệm gắn bó sâu sắc với nhân dân lao động.<br><strong>- </strong>Tác phẩm khẳng định một lí tưởng sống cao đẹp: sống không chỉ cho riêng mình, mà sống vì cộng đồng, vì những kiếp người bất hạnh, vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc. Đồng thời, bài thơ cũng là minh chứng tiêu biểu cho dòng thơ trữ tình chính trị của Tố Hữu nói riêng và thơ ca cách mạng Việt Nam giai đoạn 1930–1945 nói chung.<br><strong>3.Nghệ thuật</strong><br><strong>a.Sự kết hợp giữa lý trí và cảm xúc, tư tưởng và trữ tình </strong><br>- Bài thơ tuy viết về lý tưởng cách mạng nhưng lại được diễn đạt bằng một giọng điệu tha thiết, say mê,đầy cảm xúc<br>- Biến lý tưởng cộng sản thành tình cảm của trái tim, khiến người đọc cảm nhận được cái đẹp của lý tưởng bằng rung cảm chứ không chỉ lý trí.<br>=&gt; Đặc trưng nổi bật trong thơ Tố Hữu<br><strong>b. Biện pháp nghệ thuật</strong><br>- Hình ảnh ẩn dụ : “Mặt trời chân lý”, “vườn hoa lá”, “tiếng chim”, “trăm nơi”, “khối đời” là những hình ảnh sinh động,tạo cảm giác bừng nở,tràn đầy sức sống.<br>- Ánh sáng lý tưởng được ví như “nắng hạ”, “mặt trời” làm bừng tỉnh tâm hồn → tăng tính biểu cảm, nhấn mạnh vẻ đẹp thiêng liêng của cách mạng.<br>=&gt; Tác giả đã biến tư tưởng thành hình ảnh cụ thể, dễ nhớ, có sức truyền cảm mạnh mẽ.<br><a rel="noopener noreferrer nofollow" href="http://c.Ng"><strong>c.Ng</strong></a><strong>ôn ngữ, hình ảnh<br></strong>- Giản dị,trong sáng, sử dụng nhiều từ ngữ quen thuộc như “buộc lòng tôi”, “mọi người”, “vạn nhà”, “em nhỏ”, “không áo cơm”, “cù bất cù bơ”...<br>- Hình ảnh thơ không cầu kì nhưng giàu tính biểu tượng : "Mặt trời chân lý chói qua tim","Hồn tôi là một vườn hoa lá / Rất đậm hương và rộn tiếng chim","Buộc lòng tôi với mọi người",….<br><strong>d. Nhịp thơ,giọng điệu<br></strong>- Nhịp thơ linh hoạt, giọng thơ trẻ trung, đầy nhiệt huyết, thể hiện tinh thần của một thế hệ thanh niên mới bước vào con đường cách mạng.<br><strong><br>IV. Vận dụng<br><br></strong>-  Lý tưởng sống, trách nhiệm cá nhân – cộng đồng</p><p>- Sự giác ngộ, trưởng thành của người trẻ</p><p>- <strong> </strong>Tình cảm nhân đạo, yêu thương con người</p><p>- &nbsp;Phân tích nghệ thuật thơ ca cách mạng</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-06-09 14:49:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3483603290</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Bảo Hân  - Nhớ - Hồng Nguyên</title>
         <author>phama3189</author>
         <link>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3489648361</link>
         <description><![CDATA[<p><mark>Văn học Việt Nam từ cách mạng tháng Tám 1945 - 1975</mark></p><p><em>Bài thơ :         NHỚ   -  HỒNG NGUYÊN</em></p><p>Lũ chúng tôi<br>&nbsp;Bọn người tứ xứ<br>&nbsp;Gặp nhau hồi chưa biết chữ<br>&nbsp;Quen nhau từ buổi "một hai"<br>&nbsp;Súng bắn chưa quen<br>&nbsp;Quân sư mươi bài<br>&nbsp;Lòng vẫn cười vui kháng chiến.<br>&nbsp;Lột sắt đường tàu<br>&nbsp;Rèn thêm dao kiếm<br>&nbsp;Áo vải chân không<br>&nbsp;Đi lùng giặc đánh<br>&nbsp;Ba năm rồi gửi lại quê hương<br>&nbsp;Mái lều gianh<br>&nbsp;Tiếng mõ đêm trường<br>&nbsp;Luống cày đất đỏ<br>&nbsp;Ít nhiều người vợ trẻ<br>&nbsp;Mòn chân bên cối gạo canh khuya</p><p>&nbsp;Chúng tôi đi<br>&nbsp;Nắng mưa sờn mép ba lô<br>&nbsp;Tháng năm bạn cùng thôn xóm<br>&nbsp;Nghỉ lại lưng đèo<br>&nbsp;Nằm trên dốc nắng<br>&nbsp;Kỳ hộ lưng nhau ngang bờ cát trắng<br>&nbsp;Quờ chân tìm hơi ấm đêm mưa<br>&nbsp;- Đằng nớ vợ chưa?<br>&nbsp;- Đằng nớ?<br>&nbsp;- Tớ còn chờ độc lập!<br>&nbsp;Cả lũ cười vang bên ruộng bắp<br>&nbsp;Nhìn o thôn nữ cuối nương dâu...</p><p>&nbsp;Chúng tôi đi mang cuộc đời lưu động<br>&nbsp;Qua nhiều nơi không nhớ hết tên làng<br>&nbsp;Đã nghỉ lại rất nhiều nhà dân chúng<br>&nbsp;Tôi nhớ bờ tre gió lộng<br>&nbsp;Làng xuôi xóm ngược, mái rạ như nhau<br>&nbsp;Có nắng chiều đột kích mấy hàng cau<br>&nbsp;Có tiếng gà gáy xóm<br>&nbsp;Có "khai hội, yêu cầu, chất vấn"<br>&nbsp;Có mẹ già bắt rận cho những đứa con xa<br>&nbsp;Trăng lên tập hợp hát om nhà...<br>&nbsp;Tôi nhớ<br>&nbsp;Giường kê cánh cửa<br>&nbsp;Bếp lửa khoai vùi<br>&nbsp;Đồng chí nứ vui vui<br>&nbsp;Đồng chí nứ dạy tôi dăm tối chữ<br>&nbsp;Đồng chí mô nhớ nữa<br>&nbsp;Kể chuyện Bình Trị Thiên<br>&nbsp;Cho bầy tôi nghe ví<br>&nbsp;Bếp lửa rung rung đôi vai đồng chí<br>&nbsp;- Thưa trong nớ hiện chừ vô cùng gian khổ<br>&nbsp;Đồng bào ta phải kháng chiến ra ri!</p><p>&nbsp;Đêm đó chúng tôi đi<br>&nbsp;Nòng súng nghiêng nghiêng<br>&nbsp;Đường mòn thấp thoáng...<br>&nbsp;Trong Điếm nhỏ mươi người trai tráng<br>&nbsp;Sờ chuôi lựu đạn<br>&nbsp;Ngồi thổi nùn rơm<br>&nbsp;Thức vừa rạng sáng<br>&nbsp;Nhìn trời sương nhẩm bước chúng tôi đi...</p><p>&nbsp;Chúng tôi đi nhớ nhất câu ri<br>&nbsp;Dân chúng cầm tay lắc lắc:<br>&nbsp;"Độc lập nhớ rẽ viền chơi với chắc"!</p><p><strong><em>     <mark>1. Tác giả </mark></em></strong></p><ul><li><p><strong>Hồng Nguyên</strong> (<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1924">1924</a>–<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1951">1951</a>), tên thật <strong>Nguyễn Văn Vượng</strong> là một <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_th%C6%A1">nhà thơ</a> <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam">Việt Nam</a>, nổi tiếng với bài thơ <strong><em>Nhớ.</em></strong></p></li><li><p>Hồng Nguyên làm công tác văn nghệ trong quân đội và trở thành một nhà thơ được chú ý đến trong nền thơ ca <a rel="noopener noreferrer nofollow" class="mw-redirect" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%C3%A1ng_Chi%E1%BA%BFn_Ch%E1%BB%91ng_Ph%C3%A1p">kháng chiến chống Pháp</a>. Ông có nhiều bài thơ in trên các báo <em>Chiến sĩ</em>, <em>Dân mới</em>, <em>Sáng tạo</em>, <em>Thép mới</em>... của <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Khu_4">Liên khu IV</a> lúc bấy giờ. Thơ ông viết về nhiều đề tài như ca ngợi cuộc sống mới ở nông thôn, thể hiện tình cảm đối với anh bộ đội, nói lên niềm tin son sắt vào <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh">Chủ tịch Hồ Chí Minh</a>, vào thắng lợi của cuộc kháng chiến.</p><p><strong><em><mark>2. Tác phẩm</mark></em></strong></p><p><strong><em>a. Hoàn cảnh sáng tác </em></strong></p></li><li><p><em>Nhớ</em> là bài thơ nổi tiếng nhất của Hồng Nguyên, được ông sáng tác vào năm <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1948">1948</a> và sau này được đưa vào tuyển tập <em>100 bài thơ Việt Nam hay nhất thế kỷ XX</em> do Trung tâm văn hoá doanh nhân và <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_xu%E1%BA%A5t_b%E1%BA%A3n_Gi%C3%A1o_d%E1%BB%A5c_Vi%E1%BB%87t_Nam">Nhà xuất bản Giáo dục</a> tuyển chọn và công bố vào năm <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/2007">2007</a><a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93ng_Nguy%C3%AAn_(nh%C3%A0_th%C6%A1)#cite_note-3"><sup>[3]</sup></a>. Bài thơ viết về người lính và tình cảm dân quân</p></li><li><p>Xuất hiện vào thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, <em>Nhớ</em> của Hồng Nguyên đã giành giải nhất cuộc thi <em>Văn nghệ Lam Sơn.</em></p><p><strong><em><mark>b. Nội dung </mark></em></strong></p><ul><li><p>Bài thơ có tất cả 62 dòng thơ, dòng dài nhất có 10 chữ (<em>Có mẹ già bắt rận cho những đứa con xa</em>), dòng ít nhất có hai chữ (- <em>Đằng nớ?</em> ) và được chia làm ba khổ thơ mạch lạc, khúc triết, có mở có khép và có phát triển ở khoảng giữa thân bài. Cả bài thơ giống như "kịch bản phân cảnh" của một bộ phim tài liệu, nói về một cuộc hành quân chiến đấu của những người lính Vệ quốc đoàn trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.</p></li><li><p>Bài thơ <em>Nhớ</em> của Hồng Nguyên là một bản ghi chép xúc động về ký ức của người lính trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp. Mở đầu bằng lời giới thiệu hóm hỉnh và gần gũi, bài thơ tái hiện hình ảnh những người lính xuất thân từ nông dân, "bọn người tứ xứ" cùng nhau ra trận khi còn chưa biết chữ, chưa quen súng đạn, nhưng mang trong mình tinh thần yêu nước mãnh liệt và niềm vui kháng chiến. Trong gian khổ, họ vẫn quyết tâm "lột sắt đường tàu, rèn thêm dao kiếm", chiến đấu bằng vũ khí thô sơ, biểu hiện cho tinh thần chiến tranh nhân dân. Không chỉ có khí thế, bài thơ còn chan chứa tình cảm với quê hương, gia đình, đặc biệt là hình ảnh người vợ trẻ "mòn chân bên cối gạo canh khuya" đã trở thành nỗi nhớ thường trực trong tâm hồn người lính.</p></li><li><p> Bên cạnh đó là tình đồng chí keo sơn, gắn bó, sự sẻ chia giữa những người bạn chiến đấu và tình cảm quân dân đầm ấm, chân thành trên mọi nẻo đường hành quân. Bằng ngôn ngữ mộc mạc, mang đậm chất khẩu ngữ, giọng điệu tự nhiên, phóng khoáng, <em>Nhớ</em> không chỉ là bài thơ về ký ức người lính mà còn là khúc ca đẹp đẽ về lòng yêu nước, tinh thần lạc quan và những tình cảm lớn lao trong thời chiến.</p><p><strong><mark>c. Nghệ thuật</mark></strong></p></li><li><p>Trước hết, bài thơ sử dụng thể tự do với nhịp điệu linh hoạt, giàu tính khẩu ngữ, góp phần tạo nên một giọng điệu thân mật, tự nhiên như lời trò chuyện của người lính với bạn bè, với nhân dân, với chính mình. </p></li><li><p>Đáng chú ý là việc sử dụng đại từ <strong>“chúng tôi” </strong>xuyên suốt, thể hiện tinh thần tập thể và tính cộng đồng cao trong chiến tranh. Hồng Nguyên còn đưa vào thơ nhiều từ ngữ bình dị, đời thường, thậm chí là phương ngữ và tiếng địa phương (như <strong>“đằng nớ”, “nứ”, “rứa”…</strong>), tạo cảm giác gần gũi, dân dã và chân thực. </p></li><li><p>Bên cạnh đó, hình ảnh thơ giản dị nhưng giàu sức gợi, từ những chi tiết nhỏ như <strong>“mòn chân bên cối gạo canh khuya”</strong> đến cảnh sinh hoạt của người lính <strong>“nằm trên dốc nắng, kỳ hộ lưng nhau”,</strong> tất cả đều khắc họa sống động đời sống và tâm hồn người lính trong kháng chiến. Ngoài ra, bài thơ sử dụng nhiều hình ảnh điện ảnh như “cú máy đặc tả”, “cảnh phim không lời”, khiến thơ vừa gợi hình, vừa gợi cảm xúc mạnh mẽ, giàu chất điện ảnh và tính hiện thực cao. Tất cả đã góp phần làm nên một phong cách thơ vừa chân thật, gần gũi, vừa giàu chất thơ và cảm xúc.</p><p><strong><mark>d. Khả năng vận dụng </mark></strong></p></li><li><p>Phân tích hình ảnh người lính cách mạng trong thơ ca kháng chiến chống Pháp.</p></li><li><p>Cảm nhận về tinh thần lạc quan và tình đồng chí trong thơ ca Việt Nam giai đoạn 1945–1954.</p></li><li><p>Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo trong bài thơ “Nhớ” của Hồng Nguyên.</p></li><li><p>So sánh hình tượng người lính trong bài “Nhớ” (Hồng Nguyên) và “Đồng chí” (Chính Hữu).</p></li><li><p>Vẻ đẹp của tình quân dân trong thơ kháng chiến chống Pháp.</p></li><li><p>Phân tích nét độc đáo trong giọng điệu và ngôn ngữ thơ “Nhớ” của Hồng Nguyên.</p></li><li><p>So sánh với các bài như : “Đồng chí” – Chính Hữu , “Tây Tiến” – Quang Dũng, “Tiểu đội xe không kính” – Phạm Tiến Duật, “Bộ đội về làng” – Hoàng Trung Thông, “Từ ấy” – Tố Hữu</p></li></ul></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-06-13 15:32:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3489648361</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thân Thảo - Những giọt lệ - Hàn Mặc Tử</title>
         <author>peeteeilu</author>
         <link>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3489657832</link>
         <description><![CDATA[<p><br/></p><p>Trời hỡi, bao giờ tôi chết đi?<br>Bao giờ tôi hết được yêu vì,<br>Bao giờ mặt nhựt tan thành máu,<br>Và khối lòng tôi cứng tợ si?<br><br>Họ đã xa rồi khôn níu lại,<br>Lòng thương chưa đã, mến&nbsp;chưa bưa...<br>Người đi, một nửa hồn tôi mất,<br>Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ.<br><br>Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?<br>Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu?<br>Sao bông phượng nở trong màu huyết,<br>Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?</p><p>&nbsp;</p><p><strong>I.&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tác giả</strong></p><p>-&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ra ở Đồng Hới, Quảng Bình.</p><p>-&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Hàn Mặc Tử là người khởi xướng Trường thơ Loạn và cũng là người tiên phong của dòng thơ lãng mạn hiện đại Việt Nam.</p><p>-&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Là một trong những nhà thơ tiên phong trong phong trào Thơ mới.</p><p>-&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Ông đã đưa vào Thơ mới sự sáng tạo, những hình ảnh đầy ấn tượng. Thế giới nội tâm đa dạng Hàn Mặc Tử đem đến cho nền văn học Việt Nam những tác phẩm để đời. Ngoài sử dụng bút pháp lãng mạn, ông còn sử dụng bút pháp tượng trưng và bút pháp siêu thực.</p><p>-&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Đọc thơ của ông, ta bắt gặp một tâm hồn thiết tha yêu cuộc sống, yêu thiên cảnh, yêu con người đến khát khao, cháy bỏng; một khát vọng sống mãnh liệt đến đau đớn tột cùng</p><p><strong>II.&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tác phẩm</strong></p><p>-&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Xuất xứ: “Những giọt lệ” là bài thơ đầu tiên ở trong phần “Mật đắng” của tập “Thơ Điên” (còn gọi là Đau thương) được sáng tác năm 1938.(<em>thuộc giai đoạn văn học 1930–1945)</em></p><p>-&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Nội dung: Bài thơ diễn tả nỗi đau và tuyệt vọng của một người sau khi mất đi tình yêu, cảm giác trống rỗng, hoang mang và day dứt vì chưa yêu trọn vẹn.</p><p>-&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;Ý nghĩa: Tác phẩm cho thấy tình yêu mãnh liệt có thể khiến con người tan vỡ, mất phương hướng khi chia ly, đồng thời gợi lên nỗi đau sâu sắc và sự cô đơn trong tâm hồn.</p><p>-&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Thể thơ: 7 chữ</p><p>·&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; <strong><em>Phân tích</em></strong></p><p><strong>Nội dung</strong></p><p><strong>Khổ 1</strong>: Nỗi tuyệt vọng tột cùng khi tình yêu tan vỡ, khát khao được chết để thoát khỏi nỗi đau.</p><p>·&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; “<em>Trời hỡi</em>” là một tiếng gọi tuyệt vọng, thể hiện nỗi đau không thể giãi bày, như đang cầu cứu trời cao.</p><p>·&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; “<em>bao giờ tôi chết đi</em>” và điệp ngữ “<em>bao giờ</em>” tạo nhịp thơ dồn dập, nhấn mạnh nỗi khắc khoải, tuyệt vọng.</p><p>·&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; “<em>mặt nhựt tan thành máu</em>” là một hình ảnh <strong>ẩn dụ</strong> dữ dội, gợi cảnh hoàng hôn máu lửa, tượng trưng cho tận cùng bi thương.</p><p>·&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; “<em>khối lòng tôi cứng tợ si</em>” là <strong>so sánh</strong>, diễn tả trái tim đã tê liệt cảm xúc vì đau khổ, hóa đá như chì.<br><strong>-&gt;</strong> Khổ thơ thể hiện nỗi đau tình yêu sâu sắc đến mức tuyệt vọng, khao khát được giải thoát bằng cái chết. Tình cảm quá nặng nề khiến tâm hồn như bị đông cứng, thế giới cũng nhuốm màu thảm khốc.</p><p>&nbsp;<strong>Khổ 2</strong>: Nỗi tiếc nuối và mất mát sâu sắc vì tình yêu dang dở, chia ly khiến tâm hồn tan vỡ.</p><p>·&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; “<em>khôn níu lại</em>” là một cách nói cổ, tăng tính nhấn mạnh về sự bất lực khi chia ly.</p><p>·&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; “<em>chưa đã, chưa bưa</em>” là cách dùng từ <strong>nói lái – từ láy cổ</strong> mang tính nhấn nhá, gợi cảm giác yêu thương còn dang dở, chưa trọn.</p><p>·&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; “<em>một nửa hồn tôi mất – một nửa hồn tôi dại khờ</em>” là <strong>ẩn dụ</strong> cực kỳ sâu sắc, thể hiện tình yêu như linh hồn, và khi người kia rời đi, nhân vật trữ tình mất luôn chính mình.<br><strong>-&gt;</strong> &nbsp;Khổ thơ diễn tả nỗi tiếc nuối và mất mát khôn nguôi. Chia ly trong tình yêu không chỉ là rời xa về thể xác mà còn là sự tan vỡ của tâm hồn.</p><p><strong>&nbsp;Khổ 3</strong>: Cảm giác trống rỗng, lạc lõng và đau đớn khi tình yêu không còn, không gian và thời gian đều nhuốm màu bi thương.</p><p>·&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Câu hỏi tu từ “<em>Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?</em>” gợi cảm giác mất phương hướng, lạc lõng.</p><p>·&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; “<em>trời sâu</em>” là <strong>ẩn dụ không gian</strong> xa thẳm, vô định, đầy nỗi cô đơn.</p><p>·&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; “<em>bông phượng nở trong màu huyết</em>” là <strong>hoán dụ và ẩn dụ</strong>, biến hoa phượng (biểu tượng chia ly) thành hình ảnh máu đỏ – nỗi đau chảy máu.</p><p>·&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; “<em>giọt châu</em>” (giọt lệ) là <strong>ẩn dụ</strong>, biến nỗi buồn thành những giọt ngọc – vừa đẹp vừa đau.<br><strong>-&gt;</strong> Khổ thơ cuối thể hiện sự mất phương hướng sau chia ly, đồng thời gợi không gian và thời gian đầy ám ảnh – mùa hè, hoa phượng, và nỗi đau như đang rơi thấm dần vào lòng.</p><p><strong>Nghệ thuật</strong></p><p>-&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;<strong>Biện pháp tu từ:</strong><br>+Câu hỏi tu từ: xuất hiện liên tục “Bao giờ tôi chết đi?”, “Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu?” để diễn tả sự tuyệt vọng, hoang mang của nhân vật trữ tình.<br>&nbsp;+So sánh: “khối lòng tôi cứng tợ si”, “một nửa hồn tôi mất…” làm nổi bật nỗi đau hóa thành cảm giác vật lý.<br>+Ẩn dụ: “mặt nhựt tan thành máu”, “bông phượng nở trong màu huyết”, “giọt châu” gợi nỗi đau tình yêu sâu sắc, dữ dội và giàu chất tượng trưng.</p><p>- &nbsp;<strong>Hình ảnh thơ:</strong><br>+ Hình ảnh mang tính tượng trưng mạnh mẽ (mặt trời tan thành máu, hoa phượng, giọt châu) chuyển tải nội tâm đau đớn, sầu thảm.<br>+ Hình ảnh “một nửa hồn tôi mất, một nửa hồn tôi dại khờ” tạo ấn tượng ám ảnh về sự tan vỡ trong tình yêu.</p><p>- <strong>Giọng điệu</strong>:<br>+ Giọng thơ đau xót, day dứt và đầy ám ảnh, chuyển biến từ dữ dội (khổ 1), sang tiếc nuối (khổ 2), rồi trở nên trầm lặng, lạc lõng (khổ 3).<br>+ Cảm xúc dồn nén, nghẹn ngào nhưng tinh tế và giàu tính biểu cảm.</p><p><strong>- Ngôn ngữ:</strong><br>+Kết hợp giữa <strong>từ cổ</strong> (“chưa bưa”, “khôn níu”) và <strong>từ hiện đại</strong> tạo nên sắc thái riêng, vừa gần gũi, vừa mới mẻ.<br>+Ngôn ngữ mang màu sắc <strong>trữ tình – u buồn</strong>, diễn tả hiệu quả tâm trạng tan vỡ trong tình yêu.</p><p><strong>- Thể thơ:</strong><br>– Thơ 7 chữ, không gò bó niêm luật, giúp cảm xúc tràn ra tự nhiên và mạnh mẽ.<br>– Nhịp thơ linh hoạt, lúc dồn dập, lúc lặng chậm, phản ánh đúng diễn biến tâm trạng của nhân vật trữ tình.</p><p><strong>* Khả năng vận dụng</strong></p><p>- Phân tích tâm trạng của cái tôi trữ tình trong Thơ Mới.</p><p>- Bàn về nỗi đau trong tình yêu lứa đôi.</p><p>- Chất bi trong thơ ca lãng mạn Việt Nam.</p><p>- Sự phá cách về hình ảnh và ngôn ngữ trong Thơ Mới.</p><p>*<strong>Có thể</strong> <strong>liên hệ với các tác phẩm khác:</strong></p><p>- “Tương tư” – Nguyễn Bính</p><p>- &nbsp;“Đây thôn Vĩ Dạ” – Hàn Mặc Tử<br>- &nbsp;“Tràng giang” – Huy Cận</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-06-13 15:47:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3489657832</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hoàng Anh - Đàn ghi-ta của Lorca - Thanh Thảo</title>
         <author>hoanganhhdminhtan</author>
         <link>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3490234140</link>
         <description><![CDATA[<p><strong><em>Văn học Việt Nam giai đoạn sau năm 1975</em></strong></p><p><strong>I, Giai đoạn</strong></p><p>- Bài thơ ra đời trong giai đoạn sau năm 1975 - thời kỳ hậu chiến</p><p>- Bài thơ in trong tập “Khối vuông rubic” (1985), nhưng được Thanh Thảo sáng tác sớm hơn – ông viết ở trại sáng tác Quân khu Năm-Đà Nẵng năm 1979.</p><p><strong>II, Tác giả</strong></p><p><strong>1. Tiểu sử</strong></p><p>- Thanh Thảo sinh năm 1946,&nbsp;tên khai sinh là Hồ Thành Công.</p><p>- Quê quán: huyện Mộ Đức - tỉnh Quảng Ngãi.</p><p><strong>2. &nbsp;Sự nghiệp sáng tác</strong></p><p><strong>a. Tác phẩm chính</strong></p><p>- Những người đi tới biển (1977), Dấu chân qua trảng cỏ (1980), Những ngọn sóng mặt trời (1994), Khối vuông ru-bích (1985), Từ một đến một trăm (1988)...</p><p><strong>b. Phong cách nghệ thuật</strong></p><p>- Ông luôn nỗ lực cách tân thơ Việt với xu hướng đào sâu vào cái tôi nội cảm, tìm kiếm những cách biểu đạt mới qua hình thức câu thơ tự do, xóa bỏ mọi ràng buộc, khuôn sáo bằng nhịp điệu bất thường để mở đường cho một cơ chế liên tưởng phóng khoáng nhằm đem đến cho thơ một mỹ cảm hiện đại với hệ thống thi ảnh và ngôn từ mới mẻ.</p><p><strong>III. Tác phẩm</strong></p><p><strong>1. Tìm hiểu chung</strong></p><p><strong>a. Xuất xứ</strong></p><p>- In trong tập Khối vuông Rubic (1985)</p><p><strong>b. Bố cục (3 đoạn)</strong></p><p>- Đoạn 1 (từ đầu đến “yên ngựa mỏi mòn”): Hình ảnh người nghệ sĩ Lorca.</p><p>- Đoạn 2 (tiếp đến “ròng ròng máu chảy”): Cái chết của Lorca và nỗi xót xa trước cái chết ấy.</p><p>- Đoạn 3 (còn lại): Niềm tin vào sự bất tử của tiếng đàn Lorca.</p><p><strong>c. Ý nghĩa nhan đề “Đàn ghi-ta của Lor-ca”</strong></p><p>- Đàn ghi-ta là niềm tự hào, là một phần hồn của đất nước Tây Ban Nha nên còn được gọi là “Tây Ban Cầm.”</p><p>- Đàn ghi-ta gắn bó thân thiết với Lor-ca trên những nẻo đường ca hát và sáng tạo. Nhan đề bài thơ thể hiện tình yêu của Lor-ca đối với đất nước Tây Ban Nha.</p><p>- Đồng thời nhan đề tượng trưng cho con đường nghệ thuật của tác giả, cho khát vọng cao cả mà Lorca muốn hướng tới suốt đời.</p><p><strong>d. Ý nghĩa lời đề từ “Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn”</strong></p><p>- Đây là di chúc của nhà thơ khi dự cảm về cái chết của mình.</p><p>- “Hãy chôn tôi với cây đàn” thể hiện tình yêu tổ quốc nồng nàn và tình yêu nghệ thuật say đắm bởi cây đàn là biểu trưng cho sự nghiệp của Lorca, là khát vọng cả đời mà Lorca theo đuổi.</p><p>- Nhưng Lorca cũng lo sợ một ngày nào đó thơ ca của mình sẽ là bước cản cho những người đi sau, vì vậy ông mong muốn xóa bỏ sự ảnh hưởng của bản thân để dọn đường cho thế hệ sau vươn tới → thể hiện một nhân cách cao đẹp.</p><p><strong>2, Phân tích</strong></p><p><em>1. Người nghệ sĩ tự do đơn độc – Lor – ca (6 dòng đầu)</em></p><p>- 2 câu thơ đầu gợi liên tưởng đến không gian Tây Ban Nha với những nét đặc trưng: tiếng đàn truyền thống, những trận đấu bò tót.</p><p>&nbsp;+ Tuy nhiên hình ảnh “tiếng đàn” đặt cạnh hình ảnh “bọt nước”: nghệ thuật của Lor – ca lung linh như bọt nước, nhưng lại có thể vỡ tan bất cứ lúc nào, đó cũng là số phận ngắn ngủi của Lor – ca.</p><p>&nbsp;+ “áo choàng đỏ gắt”, gợi hình ảnh đấu trường, cuộc đấu tranh gay gắt giữa một bên là khát vọng tự do, một bên là bọ phát xít độc tài.</p><p>- Trong cuộc đấu tranh, Lor – ca như một người hùng đơn độc đi trên hành trình đấu tranh cho tự do với vũ khí là nghệ thuật và lòng yêu tự do.</p><p>- Chuỗi âm thanh “li la li la li la”: đây có thể là âm thanh tiếng đàn, cũng có thể là hình ảnh những vòng hoa li – la (tử đinh hương) của thảo nguyên Tây Ban Nha.</p><p><em>2. Cái chết oán khuất và bi phẫn của Lor – ca (12 câu tiếp)</em></p><p>- “Tây Ban Nha/ hát nghêu ngao”: hình ảnh người nghệ sĩ Lor – ca say sưa với ca từ ngợi ca tự do trên quê hương.</p><p>- “bỗng kinh hoàng/ áo choàng bê bết đỏ”: cái chết bi thảm đột ngột ập đến với Lor – ca. Cái chết ấy khiến cả “Tây Ban Nha” “kinh hoàng” bởi bọ phát xít độc tài đã giết chết một người hùng đấu tranh cho tự do, dân chủ của đất nước Tây Ban Nha.</p><p>- “Lor – ca bị điệu về bãi bắn/ chàng đi như người mộng du”: hình ảnh hiên ngang của Lor – ca khi cận kề cái chết, chàng chỉ say mê với những cách tân nghệ thuật chân chính.</p><p><em>3. Hình ảnh tiếng ghi – ta</em></p><p>- Nghệ thuật ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, kết hợp từ ngữ, hình ảnh độc đáo</p><p>- “tiếng ghi – ta nâu bầu trời cô gái ấy”: màu nâu là màu của vỏ đàn, của đất đai quê hương, màu của làn da, mái tóc, đôi mắt của cô gái. Câu thơ là ẩn dụ về tình yêu thương.</p><p>- “tiếng ghi ta lá xanh”: sức sống mãnh liệt của nghệ thuật, tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan”: sự lung linh mong manh của nghệ thuật, cuộc đời người nghệ sĩ.</p><p>- “tiếng ghi ta ròng ròng/ máu chảy”: cái chết bi thảm, đau đớn của nghệ thuật, thể hiện sự phẫn uất với chế độ phát xít độc tài và sự thương xót với người nghệ sĩ.</p><p><em>4. Sự vĩnh hằng của nghệ thuật</em></p><p>- “không ai chôn cất ... mọc hoang”: có thể hiểu không ai có thể vượt qua nghệ thuật Lor –ca, không ai bước tiếp trên hành trình cách tân mà bỏ “hoang” nghệ thuật. Mặt khác, có thể hiểu, đó là sự bất diệt của nghệ thuật chân chính, dù Lor – ca chết nhưng nghệ thuật của chàng vẫn sinh sôi, phát triển.</p><p>- “giọt nước mắt” là sự tiếc thương, “vầng trăng” là niềm tin nghệ thuật, dù ở nơi tối tăm sâu thẳm thì tâm hồn trong sáng của người nghệ sĩ vẫn soi tỏ cho thế hệ sau.</p><p>- Lor - ca đã mất “đương chỉ tay đã đứt”, chàng giã từ cuộc đời hữu hạn để đến thế giới vô hạn bằng phương tiện “chiếc ghi ta” – nghệ thuật.</p><p>- “ném lá bùa”, “ném trái tim”: chính là sự giải thoát của Lor – ca sau khi chết. Người nghệ sĩ chân chính ý thức được “cái chết” của bản thân là để nghệ thuật được tái sinh mạnh mẽ, để hệ sau tiếp tục cách tân.</p><p>- “li la li la ...”: tiếng ghi ta bất tử dùng người nghệ sĩ đã chết, có thể là vòng hoa tử đinh hương viếng linh hồn Lor – ca.</p><p><strong>3, Giá trị nội dung</strong></p><p>- Qua biểu tượng nghệ thuật quen thuộc độc đáo đàn ghi ta, tác giả thể hiện nỗi đau và sự xúc động sâu sắc trước cái chết bi thảm của nghệ sĩ Lor-ca – một nghệ sĩ khao khát tự do, dân chủ, luôn mong muốn sự cách tân nghệ thuật và nghệ thuật đi tới không ngừng. Tình yêu con người, tình yêu nghệ thuật và khát vọng tự do mà Lor-ca hằng ôm ấp là cái đẹp mà sự tàn ác không thể nào hủy diệt được.</p><p>- Lor-ca là một hình tượng bi tráng về người nghệ sĩ chân chính trong một môi trường bạo lực thống trị đã sống và chết rất cao đẹp. Qua việc thể hiện cái chết đau xót của Lor-ca, bài thơ còn là tiếng nói tri âm của Thanh Thảo với nghệ thuật chân chính và nghệ sĩ Lor-ca.</p><p><strong>4, Giá trị nghệ thuật</strong></p><p>- Hình thức biểu đạt mang phong cách hiện đại, độc đáo với mạch dòng tượng trưng và siêu thực.</p><p>- Cấu trúc bài thơ mang tính chất kết hợp và giao hòa:</p><p>+ Kết hợp giữa tự sự và trữ tình.</p><p>+ Giữa thơ và nhạc, giữa màu sắc thơ phương Đông và chất bi tráng trong nhạc giao hưởng phương Tây</p><p>- Những liên tưởng, so sánh bất ngờ, thú vị, so sánh, ẩn dụ, hoán dụ...</p><p><strong>IV, Khả năng vận dụng</strong></p><p>-Dẫn chứng cho đề nghị luận về sứ mệnh của người nghệ sĩ</p><p>- Minh chứng cho đề nghị luận về nghệ thuật vị nhân sinh</p><p>- Có thể liên hệ với” Tràng giang”-Huy Cận , “ Chữ người tử tù”…</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-06-14 14:46:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3490234140</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thư Linh - Tràng giang ( Huy Cận )</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3490728271</link>
         <description><![CDATA[<p><strong><mark>Văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX- 1945</mark></strong> Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài </p><p><br/></p><p>Sóng gợn tràng giang buồn điệp,</p><p>Con thuyền xuôi mái nước song song.</p><p>Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả</p><p>Củi một cành khô lạc mấy dòng.</p><p><br/></p><p>Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,<br>Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.<br>Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;<br>Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.<br><br>Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;<br>Mênh mông không một chuyến đò ngang.<br>Không cầu gợi chút niềm thân mật,<br>Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.<br></p><p>Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,<br>Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.<br>Lòng quê dợn dợn vời con nước,<br>Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/3995489798/7dbf3b0ede70838d4d8a0d0b955bdb05/Tr_ng_Giang___Huy_C_n.docx" />
         <pubDate>2025-06-15 16:35:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3490728271</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Giai đoạn từ thế kỷ XX - CMt8</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3491153933</link>
         <description><![CDATA[<p><mark>Cẩm Ly </mark></p><p>Tác phẩm " Số đổ " của Vũ Trọng Phụng </p><p>I. Giới thiệu chung</p><p>Tác giả: Vũ Trọng Phụng (1912–1939) là nhà văn hiện thực xuất sắc, nổi tiếng với ngòi bút trào phúng sắc bén, được mệnh danh là “ông vua phóng sự đất Bắc”.</p><p>Tác phẩm: Số đỏ (viết năm 1936) là tiểu thuyết tiêu biểu của ông, phơi bày một cách chua chát, hài hước bộ mặt lố lăng, giả dối của xã hội tư sản thành thị Việt Nam trong thời kỳ giao thời giữa cũ và mới.</p><p>Thể loại: Tiểu thuyết trào phúng hiện thực.</p><p>II. Tóm tắt nội dung</p><p>“Số đỏ” kể về cuộc đời của Xuân Tóc Đỏ, một thanh niên thất học, lưu manh vặt, tình cờ bước chân vào giới thượng lưu thành thị. Nhờ những hiểu lầm, sự trớ trêu, và cái xã hội lố bịch lúc bấy giờ, hắn “số đỏ” bất ngờ nổi tiếng, được coi là “nhà cải cách xã hội”, “anh hùng thể thao”, thậm chí được cưới cô Tuyết – con gái bà Phó Đoan – và bước chân vào hàng ngũ “trí thức mới” mà không cần học hành hay đạo đức gì.</p><p>III. Hệ thống nhân vật mang tính trào phúng sâu sắc</p><p>a. Nhân vật chính: Xuân Tóc Đỏ – biểu tượng của kẻ cơ hội trong xã hội đảo điên</p><p>Xuất thân: Tên lưu manh vặt, thất học, lươn lẹo, sống bằng nghề gác dan, bán thuốc lậu, chạy vặt…</p><p>Sự “lên đời” phi lý: </p><p>Cứu bà Phó Đoan thoát khỏi cái mũi chảy máu → được coi là “nhà đạo đức học”.</p><p>Dạy đánh quần vợt → trở thành “vận động viên thể thao ưu tú”.</p><p>Gọi cô Tuyết là “dâm đãng” → được ca ngợi là người “cứu vớt đời trinh”.</p><p>Vô tình làm cụ cố Hồng “bất tỉnh” → lại được gọi là người chữa bệnh thần kỳ.</p><p>→ Đặc điểm trào phúng: Xuân Tóc Đỏ thành công không phải vì tài năng hay đạo đức mà vì... xã hội quá ngu dốt, quá dị hợm. Nhân vật phản ánh một xã hội đảo lộn giá trị: vô học mà thành danh, trơ trẽn mà được khen ngợi.</p><p>b. Các nhân vật phụ tiêu biểu: đại diện cho tầng lớp tư sản nửa mùa</p><p>Bà Phó Đoan: Góa phụ “tân tiến”, thích cặp kè trai trẻ, ham mê xác thịt, lại luôn nhân danh "đạo đức mới" và phong trào “giải phóng phụ nữ”.</p><p>Cụ Cố Hồng: Biểu tượng cho sự lố lăng của lễ nghi truyền thống. Câu nói nổi tiếng: “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi” là lời nhại lại chính sự bảo thủ, giáo điều vô nghĩa.</p><p>Cô Tuyết: Cô gái đỏng đảnh, thích mặc váy ngắn, tô son trát phấn, vẫn tự nhận là còn “trinh”, phản ánh sự lố bịch trong đạo đức giả.</p><p>Ông TYPN, Văn Minh: Những trí thức giả hiệu, thích lý luận suông, không hiểu gì về khoa học hay đạo đức thật sự.</p><p>→ Các nhân vật đều bị “biếm hóa” – mang nét cực đoan, phóng đại nhằm nhấn mạnh sự đồi bại và dị hợm của một xã hội Tây hóa nửa mùa.</p><p>IV. Phê phán xã hội tư sản thành thị Việt Nam đương thời</p><p>a. Chế giễu lối sống "văn minh Âu hóa" nửa mùa</p><p>Người ta cho rằng mặc áo tân thời, hút thuốc lá, nói tiếng Tây là “tân tiến”, là “đạo đức mới”.</p><p>Mọi hành động trơ trẽn được biện minh bằng danh nghĩa “giải phóng phụ nữ”, “xây dựng xã hội văn minh”.</p><p>Những thứ bị coi là đồi bại ở phương Tây lại được tâng bốc thành “tiến bộ” ở Việt Nam thời bấy giờ.</p><p>b. Đảo lộn chuẩn mực đạo đức và xã hội</p><p>Cái xấu được tâng bốc, cái dốt được tung hô, cái đồi bại được coi là cao quý.</p><p>Con người mất hết nhân cách, bị đồng tiền và danh vọng chi phối hoàn toàn.</p><p>Trí thức, văn hóa, khoa học bị bóp méo, trở thành công cụ kiếm danh kiếm tiền.</p><p>V. Giá trị nội dung</p><p>1. Phê phán sâu sắc xã hội tư sản thành thị đương thời</p><p>Sự lố lăng của “Âu hóa”: Vũ Trọng Phụng đả kích một lớp người mượn cái “văn minh Âu hóa” để tô vẽ cho sự suy đồi đạo đức. Những hành vi như mặc váy ngắn, hút thuốc, bỏ lễ nghi truyền thống… được coi là "văn minh", bất kể sự phản cảm và phi đạo đức.</p><p>Giới trí thức giả hiệu: Các nhân vật như ông TYPN, Văn Minh, cụ cố Hồng… đều đại diện cho một xã hội nửa mùa – mang danh tân tiến nhưng thực chất ngu dốt, đồi bại.</p><p>Tầng lớp tư sản thành thị: Tác phẩm cho thấy sự thối nát trong các mối quan hệ xã hội, tình dục bị thương mại hóa, tình yêu và hôn nhân bị chi phối bởi danh vọng và đồng tiền.</p><p>2. Phản ánh bi kịch tha hóa của con người trong xã hội thực dân</p><p>Xuân Tóc Đỏ – nhân vật trung tâm – là biểu tượng cho kiểu người sống bằng sự may mắn phi lý, phản ánh một xã hội đảo điên, nơi kẻ vô học lại được tung hô như “nhân vật cách mạng”.</p><p>Không chỉ cá nhân, cả xã hội cũng bị lật ngược các chuẩn mực: cái xấu thành cái tốt, cái ngu thành cái khôn, kẻ vô đạo đức lại được tôn vinh.</p><p>VI. Nghệ thuật đặc sắc</p><p>Trào phúng sắc sảo: Vũ Trọng Phụng sử dụng thủ pháp cường điệu, đối lập trào phúng, hài hước đen để châm biếm thâm thúy mọi mặt xã hội.</p><p>Xây dựng nhân vật độc đáo: Nhân vật Xuân Tóc Đỏ là “phát hiện” nghệ thuật đặc biệt – đại diện cho kẻ cơ hội sống nhờ sự ngu xuẩn của người khác.</p><p>Ngôn ngữ sống động, dí dỏm: Ngôn ngữ kể chuyện mang phong cách châm biếm, giàu tính khẩu ngữ, tạo nên giọng điệu trào lộng đặc trưng.</p><p>VII. Kết luận</p><p>Số đỏ là bức tranh xã hội Việt Nam thời kỳ giao thời được lột tả một cách sắc sảo, hài hước nhưng cũng vô cùng thâm thúy. Tác phẩm không chỉ tố cáo cái xã hội nửa mùa, chạy theo “văn minh rởm” mà còn khiến người đọc nhận ra giá trị của nhân cách, trí tuệ thật sự giữa một thế giới đảo điên</p><p>VIII. Khả năng vận dụng</p><p>I.  Phê phán xã hội, vạch trần hiện thực</p><p>• Tác phẩm liên hệ:</p><p>“Chí Phèo” – Nam Cao</p><p>Giống: Đều vạch trần xã hội bất công, tha hóa con người.</p><p>Khác: Chí Phèo là bi kịch hiện thực – nghiêm túc và đau xót, còn Số đỏ dùng tiếng cười để châm biếm một xã hội thành thị lố bịch.</p><p>“Tắt đèn” – Ngô Tất Tố</p><p>Liên hệ: Cùng phơi bày sự khổ cực, bóc lột người dân dưới xã hội thực dân phong kiến.</p><p>Tuy nhiên, chị Dậu là hình ảnh phản kháng, còn Xuân Tóc Đỏ là hình ảnh kẻ thích nghi cơ hội trong xã hội thối nát.</p><p>“Lão Hạc” – Nam Cao</p><p>Liên hệ theo hướng: Lão Hạc là tiếng nói nhân đạo cho con người bị dồn vào nghèo khổ; Số đỏ tố cáo xã hội lố bịch, nơi con người mất cả đạo lý để chạy theo danh vọng.</p><p> II. Tiếng cười trào phúng – nghệ thuật phê phán</p><p>• Tác phẩm liên hệ:</p><p>“Hạnh phúc của một tang gia” – trích Số đỏ</p><p>Đây là chương đặc sắc nhất của tiểu thuyết, bạn có thể phân tích riêng chương này hoặc dẫn chứng minh họa cho các đề tài tiếng cười/phê phán.</p><p>“Đời thừa” – Nam Cao</p><p>Có thể so sánh về sự mất phương hướng của người trí thức.</p><p>Trong Số đỏ, “trí thức” là giả hiệu, đạo đức giả. Trong Đời thừa, nhân vật là trí thức thật, nhưng đầy bi kịch.</p><p>Thơ trào phúng Hồ Xuân Hương</p><p>Có thể liên hệ rộng theo nghệ thuật châm biếm, dùng tiếng cười để phản ánh xã hội phong kiến và đạo đức giả (dù cách thể hiện khác nhau: một bên thơ Nôm, một bên văn xuôi hiện đại).</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-06-16 03:01:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3491153933</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Quỳnh Anh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3491202388</link>
         <description><![CDATA[<p>"BỈ VỎ" - Nguyên Hồng</p><p>     giai đoạn đầu thế kỉ XX đến 1945 </p><p><br/></p><ol><li><p>Tác giả : Nguyên Hồng (1918 – 1982)</p></li></ol><p><br/></p><ul><li><p> Tên khai sinh của ông là Nguyễn Nguyên Hồng, quê ở thành phố Nam Định. Nguyên Hồng sống chủ yếu ở thành phố cảng Hải Phòng, trong một xóm lao động nghèo.</p></li><li><p>Ông có tuổi thơ thiếu thốn tình cảm và vật chất, sinh ra trong gia đình có hoàn cảnh bất hạnh</p></li><li><p>Ông viết nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, kí, thơ.</p></li><li><p>Được mệnh danh là nhà văn của những người cùng khổ với biệt hiệu “Nhà văn của phụ nữ và trẻ em”.</p></li><li><p>Là nhà văn của niềm tin và ánh sáng, luôn đi tìm vẻ đẹp của con người trong khổ đau, khám phá chất thơ của đời sống cần lao.</p></li><li><p>Giọng điệu trữ tình vừa bồng bột thiết tha, vừa sôi nổi mãnh liệt.</p><p>Hoàn cảnh ra đời : được viết vào năm 1937 khi Nguyên Hồng chỉ mới 19 tuổi và được xuất bản năm 1938. Dù là tiểu thuyết đầu tay, nhưng tác phẩm đã nhanh chóng gây tiếng vang và đưa tên tuổi Nguyên Hồng vào hàng ngũ những cây bút hiện thực xuất sắc thời kỳ đó   </p><ol start="2"><li><p>Tác phẩm:</p></li></ol><ul><li><p> Hoàn cảnh ra đời : được viết vào năm 1937 khi Nguyên Hồng chỉ mới 19 tuổi và được xuất bản năm 1938. Dù là tiểu thuyết đầu tay, nhưng tác phẩm đã nhanh chóng gây tiếng vang và đưa tên tuổi Nguyên Hồng vào hàng ngũ những cây bút hiện thực xuất sắc thời kỳ đó.     </p></li><li><p>Tác phẩm ra đời trong bối cảnh xã hội Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp, khi những người nghèo khổ, đặc biệt là phụ nữ, bị đẩy vào cảnh lầm than, không có quyền lựa chọn số phận. Qua câu chuyện về cuộc đời của Tám Bính – một cô gái quê nghèo khổ, bị lừa gạt, xô đẩy vào con đường tội lỗi, Nguyên Hồng đã tố cáo mạnh mẽ những bất công xã hội và đồng thời bày tỏ lòng thương cảm sâu sắc đối với những con người dưới đáy.  </p></li><li><p>Tóm tắt tác phẩm : Tác phẩm phản ánh số phận khốn cùng của những con người ở tầng lớp đáy xã hội, đặc biệt là nhân vật chính - Tám Bính, một cô gái nông thôn hiền lành nhưng bị xô đẩy vào con đường tội lỗi.                                                             -Nhân vật chính : Tám Bính ( Trinh):</p><p>    </p></li><li><p>Cô gái ngây thơ và giấc mộng yêu đương</p><p>Tám Bính là cô gái quê xinh đẹp, hiền lành, chất phác.</p><p>Gặp Năm Sài Gòn – gã giang hồ hào hoa, cô yêu bằng cả trái tim non dại.</p><p>Bị hắn lừa dối, phản bội, cô rơi vào đau khổ, tan vỡ ảo mộng tình yêu.</p></li><li><p>Nỗi đau bị ruồng bỏ và con đường cùng</p><p>Về quê, cô bị cha mẹ từ mặt, hàng xóm khinh miệt.</p><p>Không còn nơi nương tựa, cô lang thang, đói khát nơi phố chợ Hà Nội.</p><p>Bị xã hội vùi dập, không có cơ hội làm lại cuộc đời.                    </p></li><li><p> Lạc bước vào thế giới giang hồ</p><p>Gặp lại Năm Sài Gòn, hắn dắt cô vào con đường tội lỗi.</p><p>Tám Bính dấn thân vào giới giang hồ: móc túi, trộm cắp để sống.</p><p>Từ người con gái quê trở thành “nữ tướng cướp” khét tiếng.</p></li><li><p>Giằng xé giữa quá khứ và hiện tại  </p><p>Dù đã tha hóa, cô vẫn day dứt với quá khứ, khát khao cuộc sống bình thường.</p><p>Luôn bị giằng xé giữa lương tâm và cuộc đời tội lỗi.</p><p>Có quyền lực, tiền bạc, nhưng không có hạnh phúc.</p></li><li><p> Cái giá của cuộc đời giang hồ</p><p>Bị phản bội bởi chính Năm Sài Gòn và đồng bọn.</p><p>Bị bắt trong một vụ cướp, cô không chống cự, chấp nhận số phận.</p><p>Kết thúc bằng một nụ cười cay đắng – như sự giải thoát sau cả đời khổ đau.</p></li></ul></li></ul><p>- Giá trị hiện thực: Bỉ Vỏ phản ánh chân thực xã hội thực dân nửa phong kiến với những bất công, tàn bạo, nơi mà những con người nghèo khổ, đặc biệt là phụ nữ, bị xã hội ruồng bỏ, không có lối thoát. Tác phẩm cũng khắc họa thế giới giang hồ với đầy rẫy những quy luật ngầm, những cuộc thanh trừng và những kẻ bị cuốn vào vòng xoáy tội lỗi mà không thể thoát ra.</p><p><br/></p><p>-Giá trị nhân văn: Dù viết về một nữ tướng cướp, nhưng Nguyên Hồng không hề tô vẽ hay thần thánh hóa nhân vật. Ông đi sâu vào phân tích tâm lý, để người đọc thấy được rằng Tám Bính không phải sinh ra đã là tội phạm, mà chính xã hội đã đẩy cô vào con đường ấy. Tác phẩm là lời tố cáo mạnh mẽ sự bất công xã hội và là tiếng nói cảm thông với những con người lầm lạc nhưng vẫn mang trong mình khát vọng được làm lại cuộc đời.</p><p><br/></p><p>-Nghệ thuật đặc sắc: </p><ul><li><p>Nguyên Hồng sử dụng giọng văn giàu cảm xúc, kết hợp giữa hiện thực phê phán và chất trữ tình.</p></li><li><p>Nhân vật được xây dựng sống động, có chiều sâu tâm lý, đặc biệt là Tám Bính – từ một cô gái quê trong sáng đến một nữ tướng cướp đầy bi kịch.</p></li><li><p>Cách kể chuyện lôi cuốn, tình tiết gay cấn, giúp người đọc bị cuốn vào từng diễn biến của câu chuyện</p></li></ul><p>3. Dẫn chứng:</p><ul><li><p>Thân phận người phụ nữ khốn khổ:</p></li></ul><p> “Trinh bị lừa bán vào nhà chứa khi còn trinh trắng.”</p><ul><li><p>  Xã hội tàn nhẫn, vô nhân đạo:</p></li></ul><p> “Trần truồng, tả tơi như con chó ghẻ giữa đêm đông.”</p><ul><li><p>Quá trình tha hóa con người:       </p><p>"Trinh từ cô gái quê ngây thơ thành kẻ giang hồ lọc lõi.”</p></li><li><p>Tình mẫu tử trong bùn lầy:</p></li></ul><p>“Dù là trộm cướp, Trinh vẫn thương con vô bờ bến.”</p><ul><li><p>Lối viết hiện thực sâu sắc:</p></li></ul><p>Miêu tả trần trụi, không che giấu sự thật tàn nhẫn.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-06-16 03:33:40 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3491202388</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Quỳnh Anh &quot; Dấu chân qua trảng cỏ &quot; - Thanh Thảo</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3491294578</link>
         <description><![CDATA[<p>Buổi chiều qua trảng cỏ voi</p><p>Ngước nhìn mút mắt khoảng trời long lanh</p><p>Gió nghiêng ngả giữa màu xanh</p><p>Tiếng bầy chim két bỗng thành mênh mang.</p><p><br/></p><p>Lối mòn như sợi chỉ giăng</p><p>Còn in đậm đặc vô vàn dấu chân</p><p>Dấu chân ai đọc nên vần</p><p>Nên nào biết, ai đi gần, đi xa.</p><p><br/></p><p>Cuộc đời trải mút mắt ta</p><p>Lối mòn nhỏ cũng dẫn ra chiến trường</p><p>Những người sốt rét đang cơn</p><p>Dấu chân bấm xuống đường trơn, cỏ nhoè?...</p><p><br/></p><p>Chiếc bòng con đựng những gì</p><p>Mà đi cuối đất mà đi cùng trời.</p><p><br/></p><p>Mang bao khát vọng con người</p><p>Dấu chân nho nhỏ không lời không tên</p><p>Thời gian như cỏ vượt lên</p><p>Lối mòn như sợi chỉ bền kéo qua.</p><p><br/></p><p>Ai đi gần, ai đi xa</p><p>Những gì gợi lại chỉ là dấu chân</p><p>Vùi trong trảng cỏ thời gian</p><p>Vẫn âm thầm trải mút tầm mắt ta</p><p>Vẫn đằm hơi ấm thiết tha</p><p>Cho người sau biết đường ra chiến trường...</p><p><br/></p><p><strong>1. Tác giả:</strong></p><ul><li><p>Thanh Thảo sinh năm 1946, tên khai sinh là Hồ Thành Công.</p></li><li><p>Quê quán: huyện Mộ Đức - tỉnh Quảng Ngãi.</p></li><li><p>Những năm gần đây, Thanh Thảo vẫn tiếp tục làm thơ đồng thời viết báo, tiểu luận phê bình và nhiều thể loại khác, nhưng đóng góp quan trọng và đặc sắc nhất của ông vẫn là thơ ca.</p></li><li><p>Thơ Thanh Thảo là tiếng nói của người trí thức nhiều suy tư, trăn trở về các vấn đề xã hội và thời đại. Tuy nhiên, ông muốn cuộc sống phải được cảm nhận và thể hiện ở bề sâu nên luôn khước từ lối biểu đạt dễ dãi.</p></li></ul><p><br/></p><p><strong>2.Tác phẩm</strong> : 1980</p><ul><li><p>Được sáng tác trong bối cảnh đất nước sau chiến tranh, khi cuộc sống đang dần hồi phục và những người lính trở về với đời thường. Tác phẩm này là một phần trong chùm thơ viết về chiến tranh và thời hậu chiến của nhà thơ, mang đến những cảm xúc và suy tư về sự mất mát, sự trở lại và khát vọng hòa bình. </p></li></ul><p><br/></p><p><mark>-Biểu tượng “dấu chân” – vết tích của sự sống và hy sinh</mark></p><p>"Những dấu chân đi thẳng không ngoái lại</p><p>trên trảng cỏ cháy bùng ban mai..."</p><ul><li><p>Hình ảnh "dấu chân" là một ẩn dụ giàu ý nghĩa: đó là sự hiện diện lặng lẽ của người lính, không phô trương, không để lại gì ngoài những bước chân trên nền đất.</p></li><li><p>Dấu chân không chỉ là vết tích vật lý, mà là dấu ấn tinh thần – tượng trưng cho ý chí, lòng dũng cảm, và lý tưởng của tuổi trẻ.</p></li><li><p>Câu thơ “đi thẳng không ngoái lại” thể hiện thái độ kiên định, dứt khoát, không do dự trước sự lựa chọn dấn thân vào con đường cách mạng, sẵn sàng hy sinh vì đất nước.</p></li></ul><p><mark>-Không gian “trảng cỏ” – thiên nhiên mang ý nghĩa thiêng liêng</mark></p><ul><li><p>“Trảng cỏ” là một cánh đồng cỏ rộng lớn, nơi thiên nhiên yên bình đối lập với hiện thực chiến tranh. Nhưng trong bài thơ, trảng cỏ không hề bình thường – nó như một chứng nhân lịch sử, nơi ghi dấu sự ra đi của những người lính.</p></li><li><p>Hình ảnh “trảng cỏ cháy bùng ban mai” gợi cảm giác vừa dữ dội, vừa rực rỡ – như một khoảnh khắc thiêng liêng khi sự sống chạm vào lý tưởng, như một sự thăng hoa trước khi bước vào cái chết.</p></li></ul><p><mark>-Giọng thơ trầm lắng, suy tư – ca ngợi cái đẹp của lý tưởng</mark></p><ul><li><p>Thanh Thảo không dùng giọng thơ hùng tráng, mà chọn cách nhẹ nhàng, triết lý, để tôn vinh những người lính như những thi sĩ trong tâm hồn, dẫu họ có thể chưa từng viết một dòng thơ nào.</p></li><li><p>Họ ra đi không vì danh vọng, mà bởi lý tưởng. Không ồn ào, mà để lại sự sống và tinh thần cho thế hệ sau.</p></li></ul><p>-<mark>Chiến tranh qua lăng kính nhân văn</mark></p><ul><li><p>Khác với cái nhìn đau thương, bi lụy về chiến tranh, Thanh Thảo viết bằng cái nhìn tôn vinh con người, nhất là vẻ đẹp lý tưởng của thanh niên thời loạn lạc.</p></li><li><p>Người lính trong thơ ông không chỉ là người chiến đấu, mà còn là người biết yêu, biết mơ mộng, biết sống đẹp và chết cao cả.</p></li></ul><p><mark>=&gt;</mark>Bài thơ viết về cuộc hành quân chiến đấu ở dọc Trường Sơn và đồng bằng Nam Bộ, viết về con người và vùng đất ở đây. Dấu chân qua trảng cỏ là bản giải mã sâu sắc những gì mà những thế hệ con người đi kháng chiến trong cuộc hành quân mải miết suốt bao năm đã tình cờ gửi lại trên mặt đất.</p><p><mark>=&gt;</mark>Mặt khác, bài thơ còn gợi lên sức mạnh của thời gian và ý chí con người: Thời gian như cỏ có thể lấn át, xóa nhòa dấu vết của con người nếu con người sống mờ nhạt, không ý nghĩa. Ngược lại nếu con người có ý chí bền bĩ sẽ tạo nên được con đường mòn vượt qua sự lấn át của thời gian</p><p><mark>-Nghệ thuật:</mark></p><ul><li><p>Hình ảnh thơ phong phú, ngôn từ mới mẻ góp phần làm nên diện mạo phong phú của thơ ca VN sau 1975.</p></li><li><p>Bài thơ được viết theo thể thơ lục bát với nhịp điệu đa dạng trong từng câu thơ</p></li><li><p>Sử dụng các từ láy như: mênh mông, long lanh,..</p></li><li><p>Sử dụng biện pháp ẩn dụ về dấu chân để nói về dấu ấn mà con người để lại</p></li></ul><p><strong>3.Vận dụng dẫn chứng</strong> </p><p>- Lý tưởng sống cao đẹp của tuổi trẻ</p><p>→ Kiên định, dũng cảm, sống vì cộng đồng, đất nước.</p><p>- Sự hy sinh thầm lặng của người lính vô danh</p><p>→ Không cần ghi danh, để lại dấu ấn âm thầm, sâu sắc.</p><p>-Chiến tranh nhìn từ góc độ nhân văn, trữ tình</p><p>→ Gắn với thiên nhiên, mang vẻ đẹp thiêng liêng, xúc động.</p><p>-Sự bất tử của lý tưởng và tinh thần cống hiến</p><p>→ Con người mất đi nhưng tinh thần sống còn mãi với thời gian.</p><p>- Hình tượng người lính thời chống Mỹ trong thơ hiện đại</p><p>→ Sống đẹp, chiến đấu vì lý tưởng, để lại dấu ấn trong lịch sử dân tộc.</p><p><br/></p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-06-16 04:51:20 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3491294578</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tuệ Minh</title>
         <author>ltwgxx</author>
         <link>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3491320074</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Trẻ con không được ăn thịt chó – Nam Cao</strong><br><br><mark>1, Tác giả</mark><br>- Nam Cao (1915/1917 – 1951), tên thật là Trần Hữu Tri<br>- Quê ông ở Lý Nhân, Hà Nam.<br>- Ông để lại khối lượng tác phẩm lớn với nhiều thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, truyện ký như các tác phẩm: “Sống mòn”, “Lão Hạc”, “Chí Phèo”, “ Giăng sáng”, “Chí Phèo”, “Đôi mắt”, ...<br>- Phong cách nghệ thuật: Đề cao tư tưởng con người : Quan tâm tới đời sống tinh thần của con người, luôn hứng thú khám phá "con người trong con người", đi sâu khám phá nội tâm nhân vật, thường viết về những cái nhỏ nhặt nhưng lại mang ý nghĩa triết lý sâu sắc, ông có phong cách triết lý trữ tình sắc lạnh.<br><br><mark>2, Tác phẩm</mark><br>- <strong>HCST:</strong> “Trẻ con không được ăn thịt chó”&nbsp;là truyện ngắn đặc sắc của&nbsp;Nam Cao, được sáng tác năm 1942 (giai đoạn từ Thế kỉ XX – 1945)<br>- <strong>Thế loại:</strong> truyện ngắn<br>- Trẻ con không được ăn thịt chó là tác phẩm xuất sắc của Nam Cao, nó đã khắc họa một cách chân thực khung cảnh làng quê nghèo và tình cảnh bi kịch trước cái đói của nhân dân Việt Nam trước năm 1945.<br>- <strong>Cốt truyện</strong> xoay quanh một gia đình đông con, người bố thì nghiện rượu đi ăn chịu khắp các cửa hàng, thậm chí hắn còn mổ nốt con chó trong nhà và mời bạn bè đến ăn nhậu, trong khi đó vợ con chỉ biết đứng nhìn cùng những giọt nước mắt.<br>- <strong>Nhan đề</strong> "Trẻ con không được ăn thịt chó" của Nam Cao tuy ngắn gọn nhưng lại ẩn chứa nhiều tầng ý nghĩa sâu sắc, phản ánh chân thực cuộc sống và tâm lý con người trong xã hội Việt Nam trước cách mạng. "Trẻ con không được ăn thịt chó" không chỉ đơn thuần là một quy định về ăn uống mà còn là một biểu tượng cho những bất công xã hội, những hạn chế về quyền lợi mà con người phải chịu đựng. Câu nói này cũng ngầm chỉ những giới hạn, những điều mà trẻ con bị cấm đoán, không được phép làm.<br><br><mark>3, Phân tích</mark><br><strong><mark>*Trẻ con không được ăn thịt chó họa lại hiện thực những năm tháng đói khát</mark></strong><br><br>- Mở đầu tác phẩm là hình ảnh của một nhân vật không tên, hắn đang thưởng thức điếu thuốc lào, đột nhiên hắn nhìn thấy con chó thui vàng ươm trên trống hàng nhà bà Tam, nên hình ảnh được ngồi ăn thịt chó cùng chai rượu xâm chiếm tất cả suy nghĩ của hắn. <br>- Hắn chẳng có tiền để ăn được một bữa cho đàng hoàng nên hắn tức mình chửi trời. Vậy là gã mang con chó ra mổ trong sự háo hức của những đứa con vì chúng tưởng sẽ được một bữa ăn ngon, mặt khác người vợ khi đi chợ về nhìn thấy cảnh tượng ấy thì vô cùng bàng hoàng. Cái nghèo, cái đói từ lâu đã trở thành nỗi ám ảnh của nhân dân ta bởi vậy nó đi vào trong trang văn của Nam Cao thật tự nhiên, chỉ qua những chi tiết nhỏ nhặt như việc trong nhà của hắn chẳng có bát đũa gì nhiều, hai cái chậu là cả gia tài rồi.<br>- Người vợ đau khổ nhìn người chồng giết con chó chỉ để thỏa cái thói tham ăn của hắn, thị than thân phận mình sao khốn nạn mới lấy phải người như thế, chẳng những không biết lo toan cho gia đình mà còn đem nợ về chồng chất.<br>- Thị nghèo lắm, trong nhà đến gạo ăn cũng chẳng có vậy mà để phục vụ cho bữa thịt chó xa xỉ của người chồng, hắn bắt thị phải đi mua chịu gạo, nước mắm và cả rượu. Thị đau đến quặn lòng, thị nghĩ đến những đứa con phải chịu đói khát mà rơi nước mắt. <br><br><strong><mark>*Nhân phẩm của con người trước bi kịch của cái đói<br></mark></strong>- Người vợ luôn phải đối mặt với những bi kịch dồn dập của việc thiếu miếng ăn nhưng thị vẫn quan tâm đến các con, dành chút tiền nhỏ để mua quà cho con khi đi chợ về. Chỉ cần nghĩ đến cảnh chúng vui mừng khi thấy mấy cây mía lách mẹ mang về là thị lại tủm tỉm cười suốt dọc đường.<br>- Miếng ăn là thử thách ghê gớm với tính cách con người và người cha trong tác phẩm là nhân vật điển hình không thể vượt qua được chướng ngại vật ấy. Hắn lừa hàng xóm để bán mấy cây chuối, ăn chịu thịt chó nhà mụ Tam đến ba lần và hắn còn mổ nốt con chó trong nhà để thỏa cái miệng thèm ăn. Hắn ngồi ăn nhậu cùng bạn bè mặc cho người vợ gầy và những đứa con còm cõi nheo nhóc dưới bếp, không hề mảy may thương xót hay động lòng. <br>- Nam Cao so sánh tình cảnh của gia đình này như những thân phận con sâu, cái kiến bị áp bức bởi một ông bạo chúa, để lột tả hết cái cùng cực của thân phận phụ nữ trong xã hội còn trọng nam khinh nữ. Tác phẩm khép lại với những giọt nước mắt vì thất vọng và đói khát của những đứa con cùng với sự đắng cay, chua chát của người vợ. <br><br><strong>4, Giá trị</strong><br><mark>- Nội dung:</mark> Nam Cao, với ngòi bút hiện thực sắc sảo, đã thường xuyên viết về cái đói, cốt truyện và những vấn đề xoay quanh miếng ăn. Qua "Trẻ con không được ăn thịt chó," ông không chỉ khắc họa một giai đoạn khốn khó của dân tộc mà còn lột tả sự cùng cực của thân phận phụ nữ trong xã hội trọng nam khinh nữ. Tác phẩm khép lại với những giọt nước mắt thất vọng và đói khát của những đứa con, cùng với sự đắng cay, chua chát của người vợ, đã làm nổi bật bi kịch của xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám và số phận khốn khổ của con người, đặc biệt là phụ nữ.<br><mark>- Nghệ thuật: </mark><br>+ Nổi bật về nghệ thuật tự sự như sự chân thực và sống động trong miêu tả, sự đắng cay và chua xót của nhân vật, cùng với khả năng khái quát và phản ánh xã hội<br>+ Nghệ thuật tự sự của Nam Cao còn thể hiện sâu sắc qua việc phân tích tâm lý nhân vật<br>+ Cốt truyện đơn giản<br>+ Nhân vật chủ yếu được khắc họa qua lời nói, suy nghĩ, hành động của chính họ<br><mark>- Giá trị hiện thực:</mark> Tác phẩm thể hiện sự khốn cùng, bế tắc của người dân trong xã hội cũ, đồng thời lên án thói ăn chơi, vô trách nhiệm của một bộ phận người.<br><mark>- Giá trị nhân đạo: </mark>Nam Cao thể hiện sự cảm thông, xót thương cho những người phụ nữ và trẻ em trong hoàn cảnh khó khăn. <br><mark>- Khả năng vận dụng:</mark><br>+ Phản ánh hiện thực về cuộc sống của người nông dân trước CMt8: cuộc sống đói nghèo cả về vật chất và đạo đức làm người<br>+ Lên án về xã hội trọng nam khinh nữ<br>+ Lên án thói ăn chơi, vô trách nhiệm của một bộ phận người<br><mark>- Liên hệ:</mark> “Lão Hạc”, “Một bữa no”, “Vợ nhặt”, “Tắt đèn”,…</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-06-16 05:07:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3491320074</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Sau 1975</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3491623199</link>
         <description><![CDATA[<p><mark>Cẩm Ly </mark></p><p>"BIỂN CỦA MỖI NGƯỜI" – NGUYỄN MINH CHÂU</p><p>I. Giới thiệu chung</p><p>Tác giả: Nguyễn Minh Châu (1930–1989), là một trong những nhà văn tiên phong đổi mới tư duy văn học từ sau 1975.</p><p>Tác phẩm "Biển của mỗi người" là truyện ngắn mang màu sắc triết lý sâu sắc, tiêu biểu cho giai đoạn nhà văn từ chủ nghĩa sử thi chuyển sang tư duy nhân bản, phản ánh chiều sâu tâm hồn con người.</p><p>Thông điệp chính: Mỗi con người đều có một “biển” riêng – tức một không gian nội tâm sâu lắng, nhiều suy tư, và việc khám phá nó là hành trình tìm kiếm bản thể.</p><p>II. Tóm tắt nội dung</p><p>Nhân vật chính là nhà văn Phan, một người từng trải qua chiến tranh và có nhiều tác phẩm về đề tài cách mạng. Trong một chuyến đi nghỉ mát ở vùng biển miền Trung cùng gia đình và bạn bè, Phan trải qua những giây phút trầm lắng, suy tư giữa thiên nhiên bao la và cuộc sống đời thường.</p><p>Dù đi cùng nhiều người, nhưng Phan thường tách mình ra khỏi đám đông. Anh thích một mình đi dọc bãi biển, lặng lẽ quan sát cuộc sống, hồi tưởng quá khứ, và suy ngẫm về chính mình. Sự yên tĩnh và vô tận của biển khiến anh cảm thấy cô đơn, nhưng đồng thời giúp anh nhận ra rằng mỗi người đều có một "biển" riêng – tức là một thế giới nội tâm sâu kín, không ai hiểu thấu được.</p><p>Qua chuyến đi, Phan bắt đầu nhận thức rõ hơn về giá trị của sự sống thật, về trách nhiệm của người cầm bút phải đi sâu vào nội tâm con người, chứ không chỉ viết theo khuôn mẫu. Tác phẩm không có xung đột kịch tính, nhưng lại mang đậm chất triết lý, thể hiện quá trình tự nhận thức và phản tỉnh của một người trí thức sau chiến tranh.</p><p>III. Phân tích chi tiết</p><p>1. Hình ảnh biển – biểu tượng sâu sắc</p><p>Biển không chỉ là khung cảnh thiên nhiên mà còn là biểu tượng cho:</p><p>Đời sống nội tâm: sâu thẳm, rộng lớn, đôi khi dữ dội, đôi khi lặng im.</p><p>Sự cô đơn, nỗi trăn trở của con người khi đối diện với chính mình.</p><p>Tự do và giới hạn: Biển là nơi con người có thể tìm đến để thoát khỏi sự gò bó, nhưng cũng khiến người ta nhận ra sự nhỏ bé và bất lực.</p><p>2. Nhân vật Phan – người trí thức tự vấn</p><p>Từng là người viết lý tưởng, nay hoài nghi chính mình.</p><p>Trăn trở: Liệu những điều mình viết có thật sự đi vào tâm hồn con người, hay chỉ là sáo rỗng?</p><p>Đại diện cho lớp trí thức hậu chiến: mang trong mình nhiều vết thương tinh thần, khủng hoảng giá trị sau một thời gian dài viết theo khuôn mẫu.</p><p>3. Chiều sâu triết lý nhân sinh</p><p>Mỗi con người có một “biển” riêng, một thế giới nội tâm không ai có thể hiểu hết.</p><p>Văn chương không chỉ để ca ngợi chiến thắng mà còn để khám phá con người, lắng nghe những khát vọng âm thầm.</p><p>Cuộc sống không chỉ là lý tưởng mà còn là sự tổn thương, hoài nghi và hối tiếc.</p><p>IV. Nghệ thuật đặc sắc </p><p>Bút pháp tượng trưng – biểu tượng: Biển mang ý nghĩa triết học, không chỉ là khung cảnh.</p><p>Tự sự kết hợp với triết lý: Dòng kể chuyện chậm rãi, đậm chất suy tư, dẫn dắt người đọc vào thế giới tâm hồn.</p><p>Ngôn ngữ tinh tế, giản dị nhưng sâu sắc: Không cầu kỳ, không kịch tính nhưng giàu chiều sâu tư tưởng.</p><p>Tình huống truyện nhẹ nhàng mà ám ảnh: Không có cao trào, xung đột gay gắt, nhưng khiến người đọc day dứt.</p><p>V. Thông điệp và giá trị tư tưởng</p><p>Mỗi người phải đối diện và khám phá “biển” trong chính mình – tức hiểu được chính bản thân, hiểu người khác bằng sự chân thành, không khuôn mẫu.</p><p>Nhà văn không nên chạy theo lý tưởng sáo rỗng mà cần viết thật, sống thật, lắng nghe những nỗi niềm sâu kín nhất của con người.</p><p>Tác phẩm đặt ra vấn đề tự vấn – tự tỉnh – tự làm mới, rất phù hợp với tinh thần văn học sau 1975.</p><p>•Liên hệ mở rộng</p><p>Có thể so sánh hoặc liên hệ với:</p><p>"Chiếc thuyền ngoài xa" – cũng của Nguyễn Minh Châu, cùng đặt ra vấn đề về cái nhìn đa chiều và khám phá bản chất con người.</p><p>"Nỗi buồn chiến tranh" (Bảo Ninh) – cũng nói về hành trình nội tâm của con người sau chiến tranh.</p><p>Tác phẩm văn học hiện đại phương Tây (như Hemingway, Kafka) – đều đi sâu vào cảm giác cô đơn, sự phi lý và nỗi ám ảnh tinh thần.</p><p>• Kết luận</p><p>"Biển của mỗi người" không chỉ là một truyện ngắn mà còn là một hành trình triết lý, khơi gợi độc giả suy ngẫm về chính mình, về ý nghĩa cuộc sống và văn chương. Đây là tác phẩm đánh dấu bước trưởng thành trong tư duy nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu và cũng là minh chứng cho sự đổi mới của văn học Việt Nam sau 1975 – từ cái lớn lao sang cái cá nhân, từ tuyên truyền sang nhân bản.</p><p>VI: khả năng vận dụng </p><p>1. Vận dụng vào nghị luận về con người và nội tâm</p><p>→ Dẫn chứng cho:</p><p>Mỗi con người đều có một thế giới nội tâm riêng biệt, không ai hiểu trọn ai.</p><p>Không nên vội phán xét người khác khi chưa hiểu rõ những gì họ đang chịu đựng.</p><p>Tôn trọng sự khác biệt, không áp đặt suy nghĩ cá nhân lên người khác.</p><p> 2. Vận dụng vào nghị luận về sự cô đơn và sự tự nhận thức</p><p>→ Dẫn chứng cho:</p><p>Cô đơn không hoàn toàn tiêu cực, đôi khi cần thiết để con người trưởng thành, sống thật với mình.</p><p>Từ sự cô đơn, con người có thể nhận ra điều sâu xa về bản thân, từ đó thay đổi tích cực. </p><p> 3. Vận dụng vào các đề về trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp</p><p>→ Dẫn chứng cho:</p><p>Người cầm bút (hay bất kỳ nghề nghiệp nào) cần có trách nhiệm với sự thật và con người.</p><p>Không nên sống và làm việc theo khuôn mẫu rập khuôn, mà phải suy nghĩ độc lập và dũng cảm đổi mới.</p><p> 4. Vận dụng vào bài so sánh các tác phẩm văn học</p><p>→ So sánh tốt với:</p><p>Chiếc thuyền ngoài xa (cũng của Nguyễn Minh Châu): cùng khai thác chiều sâu nội tâm và cái nhìn đa chiều.</p><p>Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh): cùng là tiếng nói của người nghệ sĩ hậu chiến, đầy hoài nghi và khắc khoải.</p><p>Ai đã đặt tên cho dòng sông (Hoàng Phủ Ngọc Tường): cùng gợi suy tư về chiều sâu văn hóa và con người.</p><p>5. Vận dụng vào các chủ đề về sống thật, sống sâu sắc</p><p>→ Dẫn chứng cho:</p><p>Sống thật với cảm xúc, với chính mình là điều quan trọng trong xã hội hiện đại.</p><p>Mỗi người cần tự khám phá, thấu hiểu bản thân thì mới có thể thấu hiểu và đồng cảm với người khác.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-06-16 08:33:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3491623199</guid>
      </item>
      <item>
         <title> Thân Thảo - Cây cam ngọt của tôi- José Mauro de Vasconcelos</title>
         <author>peeteeilu</author>
         <link>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3497330518</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/3294612910/c5793aff6de8b98721e890afbcab6355/C_y_cam_ng_t_c_a_t_i.docx" />
         <pubDate>2025-06-20 16:59:15 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3497330518</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Bảo Hân - Sông Đông êm đềm - nhà văn Nga Mikhail Sholokhov.</title>
         <author>phama3189</author>
         <link>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3497610006</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI </strong></p><p><strong>1. Tác giả : Mikhail Sholokhov ( 1905 - 1984 )</strong></p><p>- Mikhail Sholokhov sinh năm <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1905">1905</a> trong một gia đình người <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Cossack">Cossack</a> ở <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Vyoshenskaya&amp;action=edit&amp;redlink=1">Vyoshenskaya</a> thuộc <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_Nga">Đế quốc Nga</a>.</p><p>- Sholokhov bắt đầu sáng tác ở tuổi 17. Ông cho ra đời tác phẩm đầu tiên, truyện ngắn <em>Cái bớt</em> năm 19 tuổi.</p><p>- Mikhail Sholokhov là một trong số ít nhà văn Xô Viết được tặng thưởng <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%E1%BA%A3i_Nobel_V%C4%83n_h%E1%BB%8Dc">Giải Nobel Văn học</a>, ông được đánh giá cao cả trong và ngoài Liên Xô. Nhiều bức tượng của nhà văn đã được dựng lên ở các thành phố Nga trong đó bức tượng mới nhất được dựng ngày <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/25_th%C3%A1ng_4">25 tháng 4</a> năm <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/2007">2007</a> ở Moskva.</p><p><strong>2. Tác phẩm : Sông Đông êm đềm</strong></p><p><strong><mark>a. Xuất xứ</mark></strong></p><p>- “Sông Đông êm đềm” là bộ tiểu thuyết vĩ đại nhất của nhà văn Nga Mikhail Sholokhov. Ông đã được tặng Giải Nobel văn học năm 1965.</p><p>- Sông Đông êm đềm được chuyển thể điện ảnh 3 lần: 1930 (phim câm), 1958 (phim mầu, màn ảnh rộng, đạo diễn Sergei Gerasimov) và 1992 (phim truyền hình 7 tập, đạo diễn Sergei Bondarchuk).&nbsp;</p><p><strong><mark>b. Tóm tắt</mark></strong></p><p>Chuyện khắc hoạ 10 năm cuộc đời của nhân vật Gregori Melekhov. Anh đem lòng yêu Aksinia, vợ một người hàng xóm. Để ngăn cản mối quan hệ này phát triển, gia đình Melekhov cưới Natalia cho Gregori. Để được sống bên nhau, Gregori và Aksinia cùng bỏ nhà đi làm thuê. Tủi nhục, phẫn uất vì bị chồng mới cưới ruồng bỏ, Natalia đã quyên sinh nhưng không chết.</p><p><br/></p><p>Sau này, Gregori phải đi lính trong những năm đầu của Thế chiến I. Tham gia chiến tranh, Gregori cảm nhận được tính chất tàn bạo, vô nghĩa của nó. Mặc dù chán ghét chiến tranh và không ý thức được mình chém giết để làm gì nhưng vó ngựa của Gregori vẫn phiêu bạt khắp các chiến trường, lao vào những trận đánh đẫm máu.</p><p>Ở nhà, Aksinia sống trong cơ cực, cô đơn, đứa con đầu lòng chết vì bệnh tật, nàng đã ngã vào vòng tay của tay con trai chủ nhà. Khi về phép, biết chuyện dan díu của Aksinia, Gregori quay trở về sống với Natalia. Sau khi Gregori hết nghỉ phép và quay về quân ngũ, Natalia sinh đôi một trai, một gái.</p><p><br/></p><p>Sau những gì đã xảy ra, Gregori và Aksinia vẫn nối lại quan hệ. Tuyệt vọng vì lại mất Gregori lần nữa, Natalia nhờ một bà lang bỏ đi đứa con đang mang trong người. Nàng chết do mất máu, trước khi chết Natalia đã tha thứ cho Gregori. Không lâu sau, đứa con gái của Gregori và Natalia cũng chết do bệnh tật.</p><p><br/></p><p>Sau khi giải ngũ về quê, trải qua nhiều biến cố chính trị, Gregori bỏ trốn theo quân thổ phỉ. Tới khi không còn đất dung thân, Gregori đem Aksinia bỏ trốn đi một nơi xa mong có được cuộc sống yên ổn nhưng trên đường trốn chạy bị phát hiện, Aksinia trúng đạn chết trên tay Gregori…</p><p><strong><mark>c. Nội dung</mark></strong></p><p>- <em>Sông Đông êm đềm</em>&nbsp;miêu tả một giai đoạn lịch sử 10 năm từ 1912-1922 tập trung chủ yếu ở hai bờ sông Đông và một làng quê người Kozak ở ven sông. Truyện kể về số phận con người trong chiến tranh, sự đúng sai của những quyết định trong cuộc đời mỗi con người, quan niệm về tình yêu, hôn nhân và ngoại tình…</p><p><br/></p><p>- Người ta thường so sánh&nbsp;<strong><em>Sông Đông êm đềm</em></strong>&nbsp;với&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://sachvui.com/ebook/chien-tranh-va-hoa-binh-lev-tolstoy.2413.html"><strong><em>Chiến tranh và Hoà bình</em></strong></a><strong><em>&nbsp;</em></strong>của Lev Tolstoy. Sholokhov đã viết&nbsp;<strong><em>Sông Đông êm đềm</em></strong>&nbsp;với tất cả sự thật dù tàn nhẫn nhưng nó là hệ quả tất yếu của hoàn cảnh và tác động xã hội. Mặc dù những nhân vật chính đều rất đáng yêu, đáng được hưởng hạnh phúc nhưng số phận của Gregori, Aksinia, Natalia và nhiều nhân vật khác đều kết thúc bi thảm trong dòng chảy khốc liệt của những biến động xã hội lớn lao ở Nga trong thời kỳ Nội chiến.</p><p><br/></p><p>- Tác phẩm với trên <strong>100 nhân vật</strong> diễn ra trong khoảng <strong>thời gian 10 năm</strong> trên một không gian rộng lớn, với những sự kiện lịch sử dồn dập nhưng được kết cấu vô cùng chặt chẽ. Độc giả đã bị cuốn hút bởi tính cách và tâm hồn của <strong>nàng Aksinia </strong>sẵn sàng chiến đấu đến cùng để giành giật tình yêu nhưng cũng có lúc không vượt qua nổi phút cô đơn, tuyệt vọng và bản năng. <strong>Natalia </strong>thì ngược lại, rất mực thủy chung, hiền dịu nhưng nhẫn nhục, cam chịu đến mức trở nên yếu đuối.</p><p><br/></p><p>- Những nhân vật của Sông Đông êm đềm rất giàu tính hiện thực. Sholokhov đã đưa vào Sông Đông êm đềm những cảnh vật quê hương, những tập tục, những bài dân ca một cách nhuần nhuyễn, hòa quyện.</p><p><br/></p><p>- Trong&nbsp;<strong><em>Sông Đông êm đềm</em></strong>&nbsp;hình tượng nhân vật Gregori tiêu biểu cho tầng lớp trung nông trải qua nhiều lầm lạc về tư tưởng chính trị trong những năm tháng bão táp lịch sử. Đó là con người chính trực, tự trọng, nồng nhiệt, mạnh mẽ và dũng cảm, yêu làng xóm quê hương, nhưng cũng có những mặt xấu như thô bạo, ít nhiều tàn nhẫn và tư hữu.</p><p><br/></p><p>- Gregori đã rơi vào lầm lạc khi đi theo quân bạch vệ, phạm tội chống lại nhân dân và Tổ quốc. Ngay trong những ngày tháng đó chàng vẫn không thôi dằn vặt, cảm thấy lạc lõng, đau khổ vì quyết định của mình. Kết cục của sự lừng chừng giữa những dòng xoáy của xã hội đã khiến chàng không tìm được cho mình một con đường đi đúng đắn, không tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống, khiến những người phụ nữ gắn bó với chàng phải chịu kết cục thảm thương và bản thân Gregori cũng rơi vào tình thế nguy hiểm khi mang trọng tội phản bội chính quyền và sau cùng bên chàng cũng không còn một ai thân thích.</p><p><br/></p><p>- Ngay cả trên đất Mỹ, trong một bài viết đăng trên tạp chí New Republic, phát hành vào ngày 18.8.1941, giáo sư D.Stuare đánh giá:&nbsp;<em>“Sông Đông êm đềm cũng như anh hùng ca Homer, là sự phản ánh đời sống và nền văn hóa nhân dân.</em></p><p><em>Nó là tác phẩm vĩ đại, mang tính nhân dân, những thành tố thẩm mỹ của nó không tách rời nhau, sự kết hợp này, các nhà văn phương Tây ở thế kỷ XX gần như chưa bao giờ đạt được".</em></p><p>&nbsp;</p><p><strong><mark>d. Nghệ thuật</mark></strong></p><p>- <strong>&nbsp;Nghệ thuật xây dựng nhân vật</strong></p><ul><li><p>Sholokhov xây dựng <strong>nhân vật Gregori Melekhov</strong> hết sức sống động, giàu nội tâm, có chiều sâu tâm lý, phản ánh bi kịch con người giữa cơn xoáy của thời đại.</p></li><li><p>Các nhân vật khác cũng được khắc họa tinh tế, vừa mang vẻ đẹp truyền thống, vừa có khát vọng sống và yêu mãnh liệt.</p></li></ul><p>-&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; <strong>Kết hợp giữa hiện thực và trữ tình</strong></p><ul><li><p>Dù là một tiểu thuyết hiện thực, “Sông Đông êm đềm” vẫn đậm chất <strong>trữ tình</strong>, nhất là qua miêu tả nội tâm và cảnh vật.</p></li><li><p>Sholokhov dùng thủ pháp đối lập (chiến tranh - hòa bình, yêu thương - thù hận, truyền thống - cách mạng) để tăng chiều sâu cảm xúc.</p></li></ul><p>-&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; <strong>Lối kể chuyện hấp dẫn</strong></p><ul><li><p><strong>Giọng văn đậm chất sử thi</strong>, kết hợp với các đoạn đối thoại dân dã,</p></li><li><p>Cách kể chuyện <strong>đa tuyến</strong>, đan xen giữa các số phận nhân vật trong bối cảnh lịch sử rộng lớn (Chiến tranh thế giới, nội chiến Nga, cách mạng) tạo nên <strong>tính sử thi sâu sắc</strong>.</p></li></ul><p>&nbsp;</p><p>-&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; <strong>&nbsp;Chất sử thi và bi tráng</strong></p><ul><li><p>Tác phẩm vừa mang tính <strong>lịch sử sử thi</strong>, ghi lại cả một giai đoạn đầy biến động của nước Nga, vừa mang tính <strong>bi tráng</strong>, thể hiện bi kịch của con người nhỏ bé trong guồng quay lịch sử.</p></li></ul><p>&nbsp;<strong>3.  Khả năng vận dụng </strong></p><ul><li><p>Đề văn học về chiến tranh và con người</p></li><li><p>Đề nghị luận về số phận cá nhân trong dòng chảy lịch sử</p></li><li><p>Đề nghị luận về chủ nghĩa nhân đạo trong văn học</p></li><li><p>Nghệ thuật </p></li><li><p><strong><mark>Có thể liên hệ : </mark></strong></p></li><li><p>Rừng xà xu ( Nguyễn Trung Thành ) </p></li><li><p> Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ (<em>Svetlana Alexievich</em>)</p></li><li><p><strong> </strong>Số phận con người ( cùng tác giả )</p></li><li><p> Thép đã tôi thế đấy (<em>Ostrovsky</em>)</p></li><li><p> Chiếc thuyền ngoài xa (<em>Nguyễn Minh Châu</em>)</p></li><li><p>Đất rừng phương Nam<strong> </strong>(<em>Đoàn Giỏi</em>)</p></li><li><p>Chuông nguyện hồn ai (<em>Ernest Hemingway</em>)<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://nhasachmienphi.com/dem-dinh-menh-after-the-night.html"><strong><br></strong></a></p></li></ul><p>&nbsp;</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-06-21 07:07:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3497610006</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hoàng Anh - &quot; Những người khốn khổ&quot; ( Victor Hugo).</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3497721371</link>
         <description><![CDATA[<p><strong><em><mark>Văn học nước ngoài: Những người khốn khổ - Victor Hugo.</mark></em></strong></p><p><strong>I, Giai đoạn</strong></p><p>- Xuất bản lần đầu : 1862</p><p>- Tiểu thuyết được viết theo chủ nghĩa lãng mạn.</p><p><strong>II, Tác giả</strong></p><p>- Victor Hugo (1802 – 1885)&nbsp; là một thiên tài nở sớm và rọi sáng từ đầu thế kỉ XIX cho đến nay.</p><p>- Ông là một tác giả, nhà thơ, nhà viết tiểu luận, nhà viết kịch, nhà báo, nhà hoạt động nhân quyền và là chính trị gia người Pháp theo trường phái Lãng mạn .</p><p>- Mỹ học lãng mạn kết hợp với cảm quan hiện thực tạo nên sức lôi cuốn và thuyết phục của lí tưởng thẩm mỹ V. Huy-go đối với cuộc đời. Đó là Cái đẹp của Tình thương yêu hòa đồng, của Hạnh phúc bình đẳng và của sự Tiến bộ vô tận của Con người. Và đó chính là giá trị bất hủ của ý nghĩa nhân văn trong tác phẩm Victor Hugo.</p><p>- Ông đã không ngần ngại xác định chức năng của nghệ sĩ như là một "nhà tiên tri" (prophète), một "pháp sư" (mage), mà tác phẩm là một "âm vang" (écho sonore) của thời đại, hòa hợp cá nhân người sáng tạo với dân tộc, nhân loại và lịch sử trong nhiệm vụ cải tạo cuộc sống để do đó khẳng định vai trò và sứ mệnh cao quí của người nghệ sĩ.</p><p>- Những tác phẩm tiêu biểu của ông: Nhà thờ Đức bà Pa-ri&nbsp;(1831),&nbsp;Những người khốn khổ&nbsp;(1862),&nbsp;Chín ba mươi&nbsp;(1874), Lá thu&nbsp;(1831),&nbsp;Tia sáng và bóng tối&nbsp;(1840), Ec-na-ni&nbsp;(1830)…..</p><p><strong>III, Tác phẩm</strong></p><p><strong>1, Xuất xứ</strong></p><p>- Tiểu thuyết “ Những người khốn khổ” được xuất bản lần đầu năm 1862. Đây là một trong những tác phẩm văn học vĩ đại nhất thế kỷ 19 và của văn học thế giới.</p><p><strong>2, Tóm tắt</strong></p><p>- Sau 19 năm ngồi tù với số tù 24601 vì ăn cướp thức ăn cho gia đình của mình đang lâm vào cảnh chết đói, Jean Valjean được thả. Tuy nhiên, anh phải mang theo giấy thông hành vàng - dấu hiệu cho thấy người mang nó từng phạm tội, vì vậy Jean bị chủ quán trọ từ chối và buộc phải ngủ ngoài đường. May cho anh là giám mục Myriel, một người nổi tiếng hay làm từ thiện đã cho Jean Valjean một chỗ nương náu. Khi mọi người đã ngủ, Jean lại ăn cắp mấy thứ đồ bạc của giám mục và chạy trốn, anh bị bắt lại sau đó nhưng lại được ông Myriel cứu thoát khi nói với cảnh sát rằng đó là đồ ông tặng cho Valjean. Khi chia tay vị giám mục già nói với Jean Valjean rằng anh nhất định phải trở thành một người lương thiện và làm nhiều việc tốt cho mọi người... Nhờ lòng tốt của vị giám mục, Valjean quyết tâm bắt đầu lại cuộc sống. Anh trở thành một nhà công nghiệp giàu có đồng thời là một thị trưởng uy tín. Anh có một người bạn Fantine - một cô gái tội nghiệp buộc phải làm nghề mại dâm để có tiền nuôi con gái Cosette đang sống với gia đình nhà Thénardier độc ác. Sau khi Fantine qua đời, Valjean đã nuôi dưỡng và yêu thương Cosette như con đẻ. Tuy nhiên thời gian này, ông vẫn bị viên thanh tra Javert (Russell Crowe) truy đuổi ráo riết. Sau khi Cosette khôn lớn, cô đem lòng yêu chàng trai quý tộc đóng giả làm dân nghèo Marius. Mặc dù rất đau lòng vì nghĩ đến cảnh Cosette sẽ rời xa mình nhưng Jean Valjean vẫn âm thầm tác thành cho đôi trẻ bằng cách cứu Marius thoát chết và mang anh trở về bên Cosette...</p><p><strong>c, Phương thức biểu đạt và ngôi kể</strong></p><p>- PTBĐ: Tự sự</p><p>- Ngôi kể thứ 3 toàn tri</p><p><strong>d, Phân tích tiểu thuyết</strong></p><p><strong>*<em>Tố cáo mạnh mẽ bất công xã hội tư sản đối với người nghèo</em></strong></p><p>- Tác phẩm vạch trần bản chất tàn ác của hệ thống xã hội Pháp thế kỷ XIX – nơi luật pháp được xây dựng để bảo vệ người giàu và đàn áp người nghèo.</p><p>- Jean Valjean phải chịu 19 năm tù chỉ vì ăn trộm một ổ bánh mì để cứu gia đình mình – một minh chứng đau lòng cho hiện thực bất công.</p><p>- Fantine bị xã hội đẩy vào bước đường cùng: bị đuổi việc, bán tóc, răng, rồi phải làm gái điếm để nuôi con.</p><p>- Những đứa trẻ như Cosette, Gavroche phải sống trong kiếp mồ côi, lang thang, không được bảo vệ.</p><p><em>→ Victor Hugo không chỉ mô tả nỗi đau, mà còn kết án trực diện xã hội thối nát đã tạo ra những “người khốn khổ”.</em></p><p><strong><em>*Khẳng định khả năng đánh thức lương tri con người qua lòng vị tha và tình thương</em></strong></p><p>- Jean Valjean là hình tượng trung tâm của thông điệp: Con người dù lầm lỗi vẫn có thể hướng thiện nếu được yêu thương và trao cơ hội.</p><p>- Đức Giám mục Myriel – người tha thứ và tặng nến bạc – mở ra cho Valjean con đường mới.</p><p>- Valjean từ một tù nhân trở thành một người sống vị tha: cứu giúp Fantine, nuôi Cosette, tha mạng cho Javert.</p><p><em>→ Tình thương không chỉ cảm hóa một cá nhân, mà còn thay đổi số phận của cả những người xung quanh</em></p><p><strong><em>*Ngợi ca tình mẫu tử và tình phụ tử như cội nguồn của đức hy sinh</em></strong></p><p>- Fantine là hiện thân của tình mẹ thiêng liêng: hy sinh mọi phẩm giá để con gái có được cuộc sống tử tế.</p><p>- Jean Valjean yêu thương và bảo vệ Cosette như con ruột, suốt cả đời ông chỉ sống vì cô.</p><p>- Tình yêu cha-con được thể hiện qua sự hi sinh âm thầm, vô điều kiện, không đòi hỏi báo đáp.</p><p><em>→ Tác phẩm </em><strong><em>đề cao </em></strong><em>những tình cảm căn cốt và thiêng liêng trong đời sống con người – dù trong hoàn cảnh tăm tối nhất</em>.</p><p><strong><em>*Khát vọng về công lý và một xã hội lý tưởng qua hình ảnh đấu tranh và hi sinh</em></strong></p><p>- Nhân vật như Marius, Enjolras, Gavroche… đại diện cho thế hệ thanh niên Pháp dấn thân cách mạng dù biết trước thất bại.</p><p>- Cuộc nổi dậy của nhân dân trên chiến lũy tuy bị đàn áp, nhưng ánh lên niềm tin rằng “cái chết vì lý tưởng không bao giờ là vô nghĩa”.</p><p>- Gavroche – một đứa trẻ đường phố – ngã xuống trong tiếng hát, thể hiện khát vọng công bằng từ tận đáy xã hội.</p><p>→<em> Victor Hugo thể hiện </em><strong><em>niềm tin mãnh liệt </em></strong><em>vào phẩm giá con người và tiến bộ xã hội dù con đường đi tới lý tưởng đầy máu và nước mắt.</em></p><p><strong><em>*Tư tưởng nhân đạo sâu sắc – lấy con người làm trung tâm của mọi giá trị</em></strong></p><p>- Hugo <strong>hướng ngòi bút </strong>về những số phận bị xã hội bỏ rơi – không phải để than khóc, mà để đấu tranh giành lại nhân phẩm cho họ.</p><p>- Ông <strong>không tuyệt đối hóa cái thiện hay cái ác, </strong>mà cho thấy con người luôn mang trong mình khả năng thay đổi – hướng thiện – yêu thương.</p><p>- Thông điệp sâu xa: Không có con người xấu, chỉ có những con người không được yêu thương và thấu hiểu.</p><p>→<em> Tư tưởng này là linh hồn của tác phẩm, khiến “Les Misérables” hay “ Những người khốn khổ” trở thành một kiệt tác văn chương mang tầm vóc nhân loại.</em></p><p><strong>e, Giá trị nội dung</strong></p><p>- Tác phẩm <strong>phản ánh chân thực</strong> xã hội Pháp trong thế kỷ 19, với sự phân chia giai cấp rõ rệt, những bất công và áp bức của giai cấp thống trị đối với nhân dân lao động. Tác phẩm đã <strong>lên án </strong>mạnh mẽ chế độ phong kiến chuyên chế, đồng thời thể hiện <strong>sự đồng cảm</strong> của nhà văn đối với những người nghèo khổ, bất hạnh.</p><p>- Tác phẩm <strong>ca ngợi </strong>những giá trị nhân văn cao đẹp, như tình yêu thương, lòng nhân ái, sự tha thứ, khát vọng tự do và công lý. Hình ảnh Jean Valjean là <strong>biểu tượng</strong> cho những con người chịu nhiều bất hạnh trong xã hội, nhưng luôn khao khát được chuộc lại lỗi lầm và sống một cuộc đời lương thiện. Ông đã vượt qua bao khó khăn, thử thách để trở thành một người tốt đẹp, giúp đỡ những người nghèo khổ và bất hạnh.</p><p><strong>g, Giá trị nghệ thuật</strong></p><p>- Tác phẩm được viết bằng ngôn ngữ trau chuốt, giàu hình ảnh và biểu cảm.</p><p>- Cốt truyện hấp dẫn, lôi cuốn, với nhiều tình tiết kịch tính, bất ngờ.</p><p>- Tác phẩm còn có giá trị về mặt âm nhạc, với bài hát “Vọng phu ca” của Fantine đã trở thành một trong những bài hát nổi tiếng nhất thế giới.</p><p><strong>IV, Khả năng vận dụng</strong></p><p>- Làm dẫn chứng tiêu biểu cho các chủ đề nghị luận:</p><p>+ Giá trị của lòng vị tha, yêu thương và sự cứu rỗi</p><p>+ Phê phán xã hội bất công, sự tha hóa của con người….</p><p>- Liên hệ được với các tác phẩm: <em>“Chiếc lá cuối cùng” (O. Henry) , “Tội ác và hình phạt” (Dostoyevsky) , “ Chí Phèo” ( Nam Cao), “ Vợ nhặt”( Kim Lân)…</em></p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;</p><p><strong>&nbsp;</strong></p><p>&nbsp;</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-06-21 13:21:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3497721371</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thư Linh - Cuốn theo chiều gió (Margaret Mitchell)</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3497766271</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4026786453/e3163fc479ada1098e5f3538017e74eb/Cu_n_theo_chi_u_gi____Margaret_Mitchell.docx" />
         <pubDate>2025-06-21 15:30:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3497766271</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tuệ Minh</title>
         <author>ltwgxx</author>
         <link>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3498011852</link>
         <description><![CDATA[<p>VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI<br>Ông già và biển cả - Ernest Hemingway<br><br><strong>1, Tác giả</strong><br>- Hemingway (1899 – 1961), ông sinh ra trong một gia đình trí thức tại một vùng ngoại ô của Chicago.<br>- Dù viết về đề tài nào ông cũng nhằm mục đích: “Viết một áng văn xuôi đơn giản và trung thực về con người”.<br>- Ông để lại di sản văn học đồ sồ, gồm các tác phẩm tiêu biểu như: Mặt trời vẫn mọc, Giã từ vũ khí, Chuông nguyện hồn ai, Vườn địa đàng, Ông già và biển cả,...<br>- Hemingway là nhà văn Mỹ nổi tiếng thế kỉ XX, người góp phần đổi mới lối viết truyện, tiểu thuyết của nhiều nhà văn trên thế giới. Năm 1954, ông được trao giải thưởng Nobel về văn học.<br><br><strong>2, Tác phẩm</strong> <br>- <mark>Tóm tắt:</mark> Xan-ti-a-gô - ông lão đánh cá người Cu-Ba, sống cô độc và nghèo khổ trong túp lều cạnh bờ biển ngoại ô La-ha-ba-na. Vận đen đang bám riết lấy ông khi suốt&nbsp;tám mươi tư&nbsp;ngày không bắt được con cá nào ra hồn. Những người xung quanh chẳng còn tin vào cơ may của Xan-ti-a-gô, còn cậu bé Ma-nô-lin cũng bị cấm không được giao du với lão nữa. Ông quyết định ra khơi xa một mình, ông đến vùng nguy hiểm nhưng nhiều cá lớn. Một con cá kiếm khổng lồ mắc câu và ông lão bắt đầu cuộc săn đuổi con cá trong ba ngày liền. Đó là con cá kiếm lớn nhất và đẹp nhất ông từng thấy trong đời. Suốt mấy ngày, Xan-ti-a-gô tìm mọi cách để bám trụ và giữ con cá cho kì được. Cuối cùng, lão cũng cắm được mũi lao vào tim con cá và chinh phục được nó. Xan-ti-a-gô phấn chấn nghĩ đến những gì mà chiến lợi phẩm này mang lại khi trở về. Tuy vậy, mùi máu của con cá kiếm đã thu hút cả đàn cá mập đến rỉa mồi. Khi ông đuổi được chúng, con cá kiếm chỉ còn là bộ xương trắng khổng lồ phía sau đuôi thuyền. Về đến túp lều, Xan-ti-a-gô hoàn toàn kiệt sức và ngủ thiếp đi.<br>- <mark>HCST:</mark> Ra đời năm 1952 , sau 10 năm ông sống ở Cu-ba. Đây là cuốn tiểu thuyết ngắn nhưng có ý nghĩa quan trọng nhất trong sự nghiệp của Hemingway, có ý nghĩa như di chúc nghệ thuật của ông.<br>- <mark>Bố cục:</mark><br>&nbsp; + Phần 1 (từ đầu đến “nước bắn tung, trùm lên cả ông lão lẫn con thuyền”): Cuộc chiến đấu của Xan-ti-a-gô<br>&nbsp; + Phần 2 (còn lại): Hành trình Xan-ti-a-gô đưa con cá về bờ<br><br><strong>3, Tìm hiểu tác phẩm “ông già và biển cả”</strong><br><strong>&nbsp;3.1, Hình tượng con cá kiếm</strong><br>&nbsp; *Đó là con cá lớn, đầy sức mạng và kiêu hùng<br>- Con cá lớn<br>+ “một cái bóng đen vượt dài”<br>+ ”cái đuôi lớn hơn cả chiếc lưỡi hái lớn”<br>+ “thân hình đồ sộ”&nbsp;<br>+ “Cánh vi, bộ vây to sụ bên sườn xòe rộng”<br>+ “dài cả thước”<br>- Con cá đầy sức mạnh<br>+ Lượn “những vòng tròn rất lớn”<br>+ Khiến ông lão “hoa cả mắt suốt cả tiếng đồng hồ...”<br>- Con cá kiêu hùng trong cái chết<br>“phóng vút lên khỏi mặt nước phô hết tầm vóc khổng lồ, vẻ đẹp và sức lực của nó”<br><em><br>&nbsp; </em>*Con cá kiếm vừa là hình ảnh thực vừa là hình ảnh biểu tượng<br>- Con cá mang vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên.<br>- Con cá là biểu tượng của những khó khăn, thử thách trong cuộc sống.<br>- Con cá là biểu tượng của khát vọng nghệ thuật chân chính, cao đẹp.<br>&nbsp;&nbsp;&nbsp; <strong>→ Tập trung miêu tả con cá kiếm làm cho chiến thắng của ông lão trở lên vẻ vang, vĩ đại hơn.</strong><br><br><strong>&nbsp;3.2, Hình tượng ông lão đánh cá</strong><br>- Được khắc họa qua những lời độc thoại và độc thoại nội tâm.<br>- Mang vẻ đẹp song song tương đồng trong tình huống căng thẳng, đối lập với con cá kiếm (người đi săn và con mồi, già nua yếu ớt và mạnh khỏe, cô độc và bầy đàn,...)<br>- Sự chiến thắng của ông lão đối với con cá<br>&nbsp; + Thể hiện niềm tin vào bản thân và khả năng có thể chiến thắng, chinh phục thiên nhiên của con người.<br>&nbsp; + Thể hiện ý chí và nghị lực phi thường của ông lão: “mệt thấu xương” nhưng vẫn cố gắng chiến đấu.<br>&nbsp; + Thể hiện khát khao chiến thắng, chinh phục thiên nhiên, vũ trụ của con người.<br>&nbsp; + Ông lão đã chiến thắng con cá bằng năng lực và kinh nghiệm của bản thân.<br>&nbsp;&nbsp; <strong>→ Qua hình tượng ông lão Xan-ti-a-gô, tác giả muốn thể hiện niềm tin yêu và ca ngợi vẻ đẹp, tài năng của con người trong công cuộc chinh phục thiên nhiên, vũ trụ.<br><br>4, Giá trị</strong><br>- <strong>Giá trị nội dung:</strong> Hình ảnh ông lão đánh cá đơn độc, dũng cảm săn đuổi con cá lớn nhất đời là một biểu tượng về <mark>vẻ đẹp của ước mơ và hành trình gian khổ để biến ước mơ thành hiện thực</mark>. Sự chuyển hóa bức tranh với những nét trần trụi, chân thực, giản dị sang một lớp nghĩa hàm ẩn chính là sự thể hiện nguyên lý “tảng băng trôi”.<br>- <strong>Giá trị nghệ thuật: </strong><br>&nbsp; + Cách viết dung dị, lời văn có nhiều “khoảng trống”<br>&nbsp; + Hình tượng được lựa chọn kĩ lưỡng, mang tính biểu tượng và đa nghĩa.<br>&nbsp; + Nghệ thuật độc thoại và độc thoại nội tâm.<br><br><strong>5, Liên hệ</strong><br>- Dũng cảm biến ước mơ thành hiện thực<br>- Ý chí và nghị lực<br>- Khao khát chiến thắng thiên nhiên, vũ trụ <br>- Niềm tin vào bản thân<br>- Liên hệ tác phẩm có cùng để tài <br>&nbsp; + Văn học nước ngoài: "Robinson Crusoe" – Daniel Defoe, “Những người khốn khổ” – Victor Hugo<br>&nbsp; + Văn học Việt Nam: “Người lái đò sông Đà” – Nguyễn Tuân, “Rừng xà nu” – Nguyễn Trung Thành, “Đoàn thuyền đánh cá” – Huy Cận,…</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-06-22 08:18:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3498011852</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Mai Chi - Người trong bao (Chekhov)</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3498188909</link>
         <description><![CDATA[<p> Người trong bao – Anton Pavlovich Chekhov<br><br><strong>I.Tác giả </strong><br>- Anton Pavlovich Chekhov (1860–1904)<br>- Bậc thầy truyện ngắn Nga, nổi tiếng với lối viết giản dị mà sâu sắc, khắc họa những bi kịch rất đời thường.<br>- Ông thường viết về những con người bị giam cầm trong chính cuộc đời của mình.<br>- Văn của ông không lên gân, không ồn ào, nhưng tác động tâm lý mạnh và để lại dư âm dài lâu trong lòng độc giả. Ông đề cao con người,nhưng lại phê phán xã hội làm cho con người bị bóp méo.<br>- Các tác phẩm của ông có sự ảnh hưởng mạnh đến văn học thế giới, đặc biệt là các nhà văn thế kỷ 20 (Hemingway, Carver, Murakami… )<br>- Một số tác phẩm tiêu biểu : Người trong bao, Nỗi buồn, Con kì nhông, Phòng số 6, Cái chết của viên thanh tra,…<strong><br><br>II.Tác phẩm<br>1. Giai đoạn<br>- </strong>Văn học Nga cuối thế kỷ XIX<br>- Thời kỳ này, nước Nga ngập trong trì trệ, bảo thủ, xã hội có nhiều bất công và lề thói cổ hủ.<br>- Văn học giai đoạn này thiên về phê phán xã hội, khám phá chiều sâu tâm lý con người, đặc biệt là con người trong trạng thái cô đơn, khủng hoảng giá trị sống.<br>2. Hoàn cảnh sáng tác<br>&nbsp;- Truyện “Người trong bao” được viết vào năm 1898.<br>- Là truyện ngắn đầu tiên trong bộ ba truyện ngắn nổi tiếng của Chekhov,được gọi là “bộ ba truyện nhỏ về con người cô lập”<strong><br>- </strong>Chekhov lúc này đã là một nhà văn tên tuổi nhưng sức khỏe giảm sút, ông trở nên sâu sắc và bi quan hơn về số phận con người → điều này phản ánh rõ trong những tác phẩm cuối đời như Người trong bao.<strong><br>2. Tóm tắt<br>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </strong>Bê-li-cốp là giáo viên trung học dạy tiếng Hi Lạp cổ. Ông nổi tiếng khắp thành phố nước Nga với phong cách ăn mặc đặc biệt. Tất cả những vật dụng của ông đều được để trong một cái bao giống như một con rùa, con ốc sên mang trên mình vỏ bọc của cái xã hội chuyên chế Nga Hoàng thời ấy. Thậm chí ngay cả vào những ngày nắng đẹp trời ông vẫn cầm ô, đi giày cao su và mặc chiếc áo bành tô ấm cốt bông. Ô Bê – li – cốp để trong bai, cái đồng hồ quả quý ông cũng để trong bao bằng da hươu và khi rút chiếc dao nhỏ để gọt bút chì thì chiếc dao ấy cũng đặt trong bao. Cả bộ mặt của Bê – li – cốp dường như cũng ở trong bao bởi lúc nào ông cũng giấu mặt sau chiếc áo bành tô bẻ cứng. Bê – li – cốp khát khao thu mình vào trong một cái vỏ và tạo cho mình một cái bao để ngăn cách với bên ngoài. Ông luôn có những ý nghĩ không thực, luôn ngợi ca quá khứ, ca ngợi tiếng Hi lạp. Ngay cả ý nghĩ cũng được ông giấu kĩ vào bao. Ông có thói quen kì quặc là đi hết nhà các đồng nghiệp, kéo ghế ngồi rồi chẳng nói gì, chỉ nhìn xung quanh độ một giờ sau thì ra về khiến ai cũng sợ. Ông cũng nghĩ đến chuyện cưới Va-ren-cô làm vợ . Có người đã vẽ bức tranh châm biếm về ông và Va-ren-cô. Ngày chủ nhật hôm sau, ông chứng kiến cảnh hai chị em Va-ren-ca phóng xe vụt qua khiến ông ngạc nhiên và sửng sốt. Ông quyết định đến nhà Va-ren-ca để góp ý cho hai chị em. Ông và cô em gái Cô-va-len-cô đã cãi nhau. Bê-li-cốp đoạn sẽ báo cáo với hiệu trưởng nên Cô-va-len-cô đã túm áo và xô mạnh khiến Bê-li-cốp ngã xuống cầu thang. Vừa lúc đó, Va-ren-ca nhìn thấy, cười phá lên khiến Bê-li-cốp cảm thấy nhục nhã, lo sợ và vội vã về nhà. Một tháng sau, Bê- li- cốp qua đời. Mọi người ai cũng cảm thấy nhẹ nhàng nhưng lâu sau họ lại cảm thấy nặng nề, mệt nhọc, vô vị. Bê – li – cốp qua đời nhưng trong thành phố hiện còn nhiều người trong bao,và trong tương lai chắc hẳn vẫn sẽ còn nhiều “người trong bao” như thế nữa.<br><br><strong>3.Nội dung<br></strong>a. Hình ảnh trung tâm – cái bao<br>- Biểu tượng của sự khép kín và sợ hãi<br>+ Nhân vật Belikov sống trong nỗi ám ảnh bị đe dọa bởi mọi điều tự do, khác biệt và mới mẻ.Ông tự bọc mình trong hàng ngàn lớp bảo vệ giống như một cái bao ( mang áo banh tô, luôn cầm theo ô,luôn giấu mặt, sống theo quy tắc,..)<br>+ Đó là một “cái bao tinh thần” mà ông chui vào để cảm thấy an toàn<br>- Biểu tượng của xã hội trì trệ, giáo điều<br>+ Belikov không chỉ là một cá nhân, mà là đại diện cho một tầng lớp trí thức bảo thủ, sống rập khuôn.<br>+ “Cái bao” trở thành một mô hình xã hội thu nhỏ,nơi mà cái đúng thì tuân theo,cái sai thì tự do tự thưởng<br>- Biểu tượng của cái chết tinh thần<br>+ Belikov vẫn sống nhưng không thật sự sống, bởi tâm hồn ông đã chết từ lâu =&gt; sống như một cái xác biết đi<strong><br>+ </strong>Cái chết ở cuối truyện được miêu tả như một sự “bọc kín hoàn toàn” khi belikov nằm trong quan tài – cái bao cuối cùng : “Cuối cùng thì ông ta cũng đã được ‘bao’ kín hoàn toàn, và vĩnh viễn.”<br>b. Phê phán kiểu người sống bảo thủ, máy móc, vô cảm<br>- Chekhov không miêu tả&nbsp; Belikov bằng những câu từ gay gắt, mà ông cho thấy bi kịch của người sống không dám sống thật.<br>- Tác giả ngầm phê phán lối giáo dục cứng nhắc, kiểu người trí thức hèn nhát – biểu tượng của sự thụ động, sợ tự do, không dám đổi thay.<br>- Qua đó, Chekhov đặt ra vấn đề nhân sinh rất hiện đại: con người có dám vượt khỏi cái “bao” do mình tự tạo ra hay mãi mãi sống trong sự bao bọc an toàn đó.<br>c. Con người cô đơn, mất kết nối với xã hội<br>- Dù sống giữa xã hội, Belikov lại không có ai để chia sẻ, không thực sự yêu thương ai, không để ai bước vào “bao” của mình.<br>- Belikov là điển hình cho con người sống giữa đám đông mà cô lập, chọn an toàn hơn là cảm xúc thật.<br>d. sự hủy diệt tinh thần<br>- Belikov chết khi không còn gì để sợ, và chính xã hội đã góp phần “giết chết” ông bằng cách duy trì nỗi sợ, cổ vũ sự tuân phục.<br>- Cái chết của Belikov là lời cảnh tỉnh cho độc giả : nếu con người sống mãi trong sợ hãi và nguyên tắc, thì không còn là sống nữa.<strong><br>&nbsp;4.Nghệ thuật<br>-</strong> Xây dựng biểu tượng nghệ thuật sâu sắc: “Cái bao”<br>+ Hình ảnh “cái bao” không chỉ là đồ vật, mà trở thành biểu tượng trung tâm, mang nhiều tầng ý nghĩa khác nhau: sự khép kín, tư tưởng bảo thủ, cái chết về tinh thần,..<br>+ Hình ảnh cái bao tạo nên chiều sâu tư tưởng cho tác phẩm<br>- Xây dựng nhân vật<br>+ Nhân vật belikhov được miêu tả là người khép kín, rập khuôn,luôn sợ vi phạm quy tắc =&gt; Đại diện cho con người hèn nhát,bảo thủ trong xã hội<br>- Lối kể chuyện gián tiếp<br>+ Truyện được kể qua lời một nhân vật khác (Burkin) kể lại câu chuyện về Belikov<br>+ Chekhov không kể bằng cảm xúc dữ dội, mà kể chậm rãi, gần như thờ ơ =&gt; thủ pháp kể chuyện đặc trưng của Chekhov: nhẹ nhàng về hình thức, nặng nề về cảm giác.<br>+ Truyện không có cao trào kịch tích,không có nút thắt mở truyền thống nhưng chính điều đó lại càng làm nổi bật lên nỗi cô đơn khép kín của Belikov<br>- Giọng điệu, ngôn ngữ,hình ảnh<br>+ Giọng văn mỉa mai, nhẹ nhàng mà sâu sắc, không có lời chửi, không có kết tội gay gắt nhưng ai đọc cũng thấy đây là một kiểu sống sai lầm và đáng thương.<br>+ Ngôn ngữ giản dị với những câu văn ngắn, phù hợp với tâm lí nhân vật<br>+ Hình ảnh cái bao, nhân vật Belikov và cái chết của ông nhằm lên án lối sống vô cảm,phi lý của xã hội<br>+ Hình ảnh đối lập Varenka, cô gái được miêu tả là người tươi tắn, vui vẻ, thích cười, thích đi xe đạp (điều Belikov ghét) =&gt; hình ảnh đối lập hoàn toàn với Belikov, từ đó làm nổi bật sự lạc lõng, bất lực của lối sống cũ kỹ.<br><strong>&nbsp;III. Vận dụng</strong><br>- Sự vô cảm, thờ ơ<br>- Lối sống tiêu cực, cô lập<br>- Nỗi sợ sự thay đổi<br>- Những định kiến,sức ép của xã hội<br>- Cần vượt qua khỏi vùng an toàn</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-06-22 15:44:43 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3498188909</guid>
      </item>
      <item>
         <title>&quot; KIÊU HÃNH VÀ ĐỊNH KIẾN &quot;  - Jane Austen</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3498577427</link>
         <description><![CDATA[<p>1.Tác giả :</p><ul><li><p> (sinh ngày 16 tháng 12 năm 1775, Steventon, Hampshire, Anh - mất ngày 18 tháng 7 năm 1817, Winchester, Hampshire), nhà văn người Anh là người đầu tiên mang đến cho tiểu thuyết tính hiện đại rõ rệt thông qua cách bà xử lý những con người bình thường trong cuộc sống hàng ngày</p></li><li><p>Austen đã xuất bản bốn tiểu thuyết trong suốt cuộc đời mình: Lý trí và tình cảm (1811), Kiêu hãnh và định kiến ​​(1813), Công viên Mansfield (1814) và Emma (1815). </p></li><li><p>Các tiểu thuyết của bà đã định hình nên tiểu thuyết về cách cư xử của thời đại đó , nhưng chúng cũng trở thành những tác phẩm kinh điển vượt thời gian vẫn là những thành công được giới phê bình và công chúng đón nhận trong hai thế kỷ sau khi bà qua đời.</p></li></ul><p>2.Tác phẩm :</p><ul><li><p>Kiêu hãnh và Định kiến" (Pride and Prejudice) là một tiểu thuyết lãng mạn kinh điển của nhà văn người Anh Jane Austen, xuất bản lần đầu năm 1813. Tác phẩm xoay quanh câu chuyện tình yêu và hôn nhân của các nhân vật thuộc tầng lớp quý tộc nhỏ ở Anh đầu thế kỷ 19, đặc biệt là mối quan hệ giữa Elizabeth Bennet và Fitzwilliam Darcy. </p><p><br/></p></li><li><p>Bối cảnh:  Câu chuyện diễn ra trong bối cảnh xã hội Anh thời bấy giờ, nơi hôn nhân được xem là một công cụ để thăng tiến địa vị và tài chính. Các gia đình có con gái thường tìm cách gả con gái cho những người đàn ông giàu có và có địa vị. </p><p><br/></p><p>Nhân vật chính:</p></li><li><p>Elizabeth Bennet: Một cô gái thông minh, cá tính, có chính kiến và không ngần ngại thể hiện quan điểm. </p></li><li><p>Fitzwilliam Darcy: Một quý ông giàu có, có vẻ ngoài lạnh lùng và kiêu ngạo, nhưng ẩn chứa bên trong là một trái tim ấm áp và chính trực. </p></li></ul><p><br/></p><p>-Tóm tắt : </p><p>Ông bà Bennet có năm người con gái (Jane, Elizabeth, Mary, Kitty, Lydia) đã đến tuổi cập kê và bà Bennet đang ráo riết tìm chồng cho con. Cả làng đang xôn xao về anh Bingley, một địa chủ giàu có mới dọn đến vùng này. Bingley đem theo người bạn là Fitzwilliam Darcy. Người ta kháo nhau rằng Darcy rất giàu. Tuy nhiên, sau khi gặp Darcy ở buổi dạ vũ do Bingley tổ chức, nhiều người đã thấy rằng anh quá kiêu hãnh. Khi Bingley gợi ý Darcy khiêu vũ với Elizabeth, Darcy cho rằng cô không đủ tài sắc để quyến rũ anh. Elizabeth nghe lỏm được và có ác cảm với Darcy.</p><p>Elizabeth lại quen biết một sĩ quan tên Wickham đang đóng quân gần nhà. Wickham kể rằng anh đã bị Darcy cướp đi tài sản thừa kế, làm Elizabeth càng không ưa Darcy.</p><p>Vài ngày sau dạ hội, gia đình ông Bennet có khách là người bà con tên Collins, vốn đang muốn làm rể nhà Bennet. Đầu tiên Collins chọn cô chị cả, Jane, nhưng bà Bennet nói rằng Jane sắp được gả cho Bingley. Collins lại chọn Elizabeth, nhưng cô không ưa anh. Sau khi bị Elizabeth nhất mực từ chối, Collins cầu hôn Charlotte Lucas, bạn thân của Elizabeth. Charlotte bằng lòng ngay vì cô đã lớn tuổi (27 tuổi), chỉ muốn an phận. Bà Bennet rất bực vì Collins sau này sẽ thừa kế tài sản nhà Bennet và Charlotte sẽ thay thế bà, trong khi Elizabeth lại thất vọng vì nghĩ rằng cô bạn thân lấy chồng vì tiền.</p><p>Ít lâu sau, Bingley bất ngờ rời làng về Luân Đôn, làm Jane bị thất tình.</p><p>Phu nhân Catherine đối chất với Elizabeth về Darcy. Đây là tấm hình minh họa thứ hai của cuốn tiểu thuyết.</p><p>Charlotte mời Elizabeth đến thăm vợ chồng cô. Trong khi ở với họ, Elizabeth gặp Darcy (Darcy là cháu của Phu nhân Catherine, người bảo trợ anh Collins). Darcy bất ngờ tỏ tình và cầu hôn Elizabeth, nhưng lại hạ thấp gia cảnh cô. Cô còn khám phá ra rằng chính Darcy đã khuyên can Bingley đừng hỏi cưới Jane. Elizabeth bảo Darcy rằng cô sẽ không bao giờ chịu lấy anh. Sáng hôm sau, Darcy đưa cho Elizabeth một lá thư và bỏ đi. Trong thư Darcy biện hộ hành động của mình. Darcy nói rằng Jane chẳng những có địa vị thấp mà còn tỏ ra thờ ơ với Bingley. Darcy còn tiết lộ rằng Wickham là một gã Sở Khanh. Việc này đã khiến Elizabeth xét lại suy nghĩ về Darcy và dần dần các định kiến của cô đã được tháo gỡ.</p><p>Một thời gian sau, trong một lần du ngoạn, ông bà Gardiner (cậu mợ của Elizabeth) thuyết phục cô đến tham quan Pemberley, khu đất của Darcy. Cô đồng ý khi biết chủ nhà đã đi vắng. Nào ngờ Darcy đột ngột về thăm nhà và chạm mặt Elizabeth. Darcy tỏ ra thân thiện hơn, và làm cho Elizabeth thấy rằng dưới vẻ kiêu hãnh anh là một người hào phóng.</p><p><br/></p><p>Cũng trong thời gian này, Elizabeth được tin cô em út Lydia đã trốn nhà theo Wickham. Wickham bị nợ nần vì đánh bạc và đã giải ngũ. Nghe tin, Darcy tìm Wickham và cho tiền để hắn cưới Lydia, nhưng lại giấu Elizabeth chuyện này. Elizabeth tình cờ biết được, cô rất xúc động và hoàn toàn thay đổi thái độ đối với Darcy.</p><p><br/></p><p>Biết được tình cảm của Darcy đối với Elizabeth, Phu nhân Catherine rất tức giận vì bà đã định gả con gái cho Darcy. Bà đến nhà Bennet đòi Elizabeth phải bỏ Darcy, nhưng cô bảo bà không có quyền can thiệp vào chuyện riêng của cô. Nghe được chuyện này, Darcy hiểu tình cảm của Elizabeth đối với anh đã thay đổi. Darcy khuyến khích Bingley cầu hôn Jane và Darcy cầu hôn Elizabeth lần thứ hai. Lúc này thì sự kiêu hãnh và định kiến đã không còn, và Elizabeth nhận lời làm vợ Darcy.</p><p><br/></p><p>3.Nội dung :</p><p>- Phê phán định kiến xã hội:</p><ul><li><p>Tác phẩm cho thấy xã hội Anh lúc bấy giờ coi trọng hôn nhân vì địa vị, gia sản hơn là cảm xúc.</p></li><li><p>Những định kiến giai cấp đã khiến con người đánh giá lẫn nhau một cách phiến diện.</p></li></ul><p><br/></p><p>Đề cao giá trị cá nhân:</p><ul><li><p>Elizabeth đại diện cho mẫu phụ nữ độc lập, dám yêu – dám từ chối một cuộc hôn nhân không tình cảm.</p></li><li><p>Darcy dũng cảm vượt qua danh dự quý tộc để đến với người con gái mình yêu.</p></li></ul><p><br/></p><p>Thông điệp nhân văn:</p><ul><li><p>Con người cần biết vượt lên cái tôi, từ bỏ định kiến và mở lòng nhìn nhận người khác bằng sự tôn trọng.</p></li></ul><p>4.Nghệ thuật:</p><p>-Xây dựng nhân vật sinh động, có chiều sâu tâm lý:</p><ul><li><p>Elizabeth thông minh, sắc sảo nhưng cũng biết sai và dám thay đổi.</p></li><li><p>Darcy lạnh lùng, kiêu hãnh nhưng giàu tình cảm và biết vượt qua định kiến giai cấp.</p></li></ul><p>-Lối kể chuyện hấp dẫn:</p><ul><li><p>Kết cấu logic với các nút thắt – cao trào – mở nút rõ ràng.</p></li><li><p>Sử dụng ngôn ngữ mỉa mai, hài hước đặc trưng của Jane Austen để phê phán xã hội.</p></li></ul><p>-Đối thoại tinh tế:</p><ul><li><p>Các đoạn đối thoại sắc sảo phản ánh rõ quan điểm, cá tính và tâm lý nhân vật.</p></li></ul><p>5.Vận dụng:</p><p>- Hôn nhân và tình yêu</p><ul><li><p>Phê phán hôn nhân vì lợi, đề cao tình yêu chân thành</p></li></ul><p>-Định kiến xã hội và giai cấp</p><ul><li><p>Phê phán phân biệt tầng lớp, đề cao con người thật</p><p> </p><p>- Sự trưởng thành trong nhận thức</p></li><li><p>Nhân vật thay đổi sau trải nghiệm, tự hoàn thiện</p></li></ul><p> -Lối sống đạo đức và lòng tự trọng</p><ul><li><p>Đề cao nhân cách, sống tử tế và không toan tính</p></li></ul><p> Hình ảnh người phụ nữ</p><ul><li><p>Đề cao phụ nữ có cá tính, tư duy độc lập</p></li></ul><p><br/></p><p><br/></p><p>Trong tiểu thuyết, tác phẩm đã mở đầu bằng một câu nói mà sau này đã trở thành bất hủ trong văn chương: </p><p><br/></p><p><em><mark>It is a truth universally acknowledged, that a single man in possession of a good fortune, must be in want of a wife (Có một sự thật mà ai cũng công nhận, đấy là: một người đàn ông có một tài sản khá hẳn sẽ muốn lấy vợ).</mark></em></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-06-23 02:26:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3498577427</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Bảo Hân - Kiêu Hãnh Và Định Kiến - Jane Austen</title>
         <author>phama3189</author>
         <link>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3511422496</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/2283151681/79da3c3cff83d8394c43360453b1c494/KI_U_H_NG_V____NH_KI_N.docx" />
         <pubDate>2025-07-06 08:34:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3511422496</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hoàng Anh- &quot; Lão hà tiện&quot; ( Molierè)</title>
         <author>hoanganhhdminhtan</author>
         <link>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3511452985</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1330053078/b0a0348682a15690a6533743d30887d1/V_n_h_c_n__c_ngo_i_2_.docx" />
         <pubDate>2025-07-06 10:04:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3511452985</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tuệ Minh</title>
         <author>ltwgxx</author>
         <link>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3511543155</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/2311098696/fb8d062fd497d531f94a9d8c8e56ce86/__I_GI__H_.docx" />
         <pubDate>2025-07-06 14:36:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3511543155</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Mai Chi - Của chuột và người ( John Steinbeck )</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3511571670</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4088492580/412d4866fb3c7d8fda8e8a71c52f884b/C_a_chu_t_v__ng__i.docx" />
         <pubDate>2025-07-06 15:54:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3511571670</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hoàng Anh - Gió lạnh đầu mùa ( Thạch Lam)</title>
         <author>hoanganhhdminhtan</author>
         <link>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3529525384</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/1330053078/4863e518048a40b296125654d3cac6b9/V_n_h_c_hi_n___i_Vi_t_Nam_giai__o_n___u_th__k__XX.docx" />
         <pubDate>2025-07-27 14:34:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3529525384</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Mai Chi - Tổ quốc gọi tên ( Nguyễn Phan Quế Mai) </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3529527853</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4164928914/89862e13e24634a1de9791a40ec91cf4/T__qu_c_g_i_t_n.docx" />
         <pubDate>2025-07-27 14:44:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3529527853</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Bao Han - Bước đường cùng - Nguyễn Công Hoan</title>
         <author>phama3189</author>
         <link>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3529539049</link>
         <description><![CDATA[<ol><li><p><strong><mark>Tác giả</mark></strong></p><ul><li><p>Nguyễn Công Hoan quê ở làng Xuân Cầu, tổng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, phủ Thuận Thành, tỉnh&nbsp;Bắc Ninh&nbsp;(nay thuộc xã&nbsp;Nghĩa Trụ, huyện&nbsp;Văn Giang, tỉnh&nbsp;Hưng Yên).</p><p><br/></p></li></ul><ul><li><p>Ông sinh trong một gia đình quan lại xuất thân&nbsp;Nho học&nbsp;thất thế. Trong gia đình, từ nhỏ Nguyễn Công Hoan đã được nghe và thuộc rất nhiều câu thơ,&nbsp;câu đối&nbsp;và những giai thoại có tính chất trào lộng, châm biếm, đả kích tầng lớp quan lại. Điều đó ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong cách văn chương của ông sau này.</p><p><br/></p></li><li><p>Phong cách của một nhà văn hiện thực bậc thầy.</p></li><li><p>Là một cây bút trào phúng xuất sắc, Nguyễn Công Hoan sử dụng tiếng cười để đả phá ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp và bè lũ tay sai.</p><p><br/></p></li><li><p>Tác phẩm chính : </p><p>Ông để lại hơn 20 tiểu thuyết và khoảng 200 truyện ngắn..</p></li></ul><p>&nbsp; + Truyện ngắn: Kép tư bền (1935), Hai thằng khốn nạn (1937), Người vợ lẽ bạn tôi (1937),...</p><p>&nbsp; + Tiểu thuyết:&nbsp;Lá ngọc cành vàng (1935), Ông chủ (1935), Bước đường cùng (1938)....</p><p><br/></p></li><li><p><strong><mark>Tác phẩm</mark></strong></p><p><strong><mark>a.Tóm tắt</mark></strong></p><p><br/></p><p>Pha, một nông dân nghèo bị Trương Thi – người hàng xóm không tốt bỏ bã rượu vào ruộng rồi báo Tây đoan về bắt. Nhưng Thi bỏ lầm vào ruộng Nghị Lại, một địa chủ lớn trong vùng. Pha thoát nạn. Nghị Lại xúi Trương Thi kiện Pha, rồi lại xúi Pha kiện Trương Thi, hứa cho cả hai người vay tiền lo kiện và nói lót với quan cho cả hai! Pha lên huyện hầu kiện, bị lính lệ hạch sách, đánh đấm, cướp giật, lại bị quan ra lệnh tống giam vì không mang tiền “lễ”. Đến khi vợ đem tiền đến, anh mới được tha về. Nghị Lại đến dụ dỗ, Pha lại phải vay thêm lão hai chục để “tạ quan”! Bá Tân, người anh vợ có chữ nghĩa của Pha, bàn với Pha tìm cách trả kỳ được món nợ của Nghị Lại. Nhưng lão đã có chủ ý, nhất định chưa nhận. Vụ thuế đến, lính cơ về làng, tróc nã, bắt trói, cùm kẹp; Quan huyện về đốc thuế, đem lính vào từng nhà, cướp trâu, vơ vét đồ đạc, tiền bạc...! Sau vụ thuế, nhiều gia đình nông dân khánh kiệt, trong khi Nghị Lại và bọn kỳ hào kiếm hàng trăm. Vợ chồng Pha phải đến làm thuê cho Nghị Lại, vất vả quần quật mà cơm độn cà thiu không đủ no. Chị Pha về ốm nặng, Pha lại phải đến vay thóc Nghị Lại để ăn. Vợ anh vẫn ốm, không có tiền mua thuốc, chỉ uống mấy thứ lá linh tinh, rồi lễ bái, chạy mồ... Anh phải đến phục dịch nhà Nghị Lại, rồi bị đòn, bị đuổi oan ức. Nước sông lên to, Pha và hàng trăm nông dân phải đi hộ đê, trong khi vợ con nhịn đói. Rồi nạn dịch tả. Chị Pha chỉ vì không chịu tiêm chủng đã chết về dịch. Đã thế, Pha còn bị “làng” bắt vạ vì cho rằng anh “hỗn xược với thần” để làng bị dịch! Đứa con của anh cũng chết nốt, chỉ còn mình anh trơ trọi, túng đói...</p><p><br/></p><p><strong><mark>b. Hoàn cảnh sáng tác</mark></strong></p><p>-"Bước Đường Cùng" của Nguyễn Công Hoan được sáng tác vào năm 1938</p><p>-Trong bối cảnh xã hội Việt Nam nửa phong kiến, nửa thực dân đầy bất công và áp bức<strong>. </strong>Tác phẩm phản ánh cuộc sống khốn khổ của người nông dân dưới ách thống trị của địa chủ, cường hào và chính quyền thực dân.</p><ul><li><p><br/></p></li></ul><p><strong><mark>c. Nội dung, phân tích</mark></strong></p><p><br/></p><p>- “Bước đường cùng” kể về cuộc đời của một người nông dân tên Pha, người đã phải đối mặt với sự tàn ác của bọn quan lại và thực dân, khiến cuộc sống của anh bị đẩy vào bước đường cùng.</p><p><br/></p><p>-Vợ chồng Pha, do thiếu học vấn, trở nên dễ bị lừa dối và bị địa chủ ác độc tên là Nghị Lại lợi dụng để chiếm đoạt tài sản.</p><p><br/></p><p>- Nghị Lại nói chuyện ngon ngọt để dụ dân vay tiền, sau đó hắn không nhận tiền của dân khi trả nợ sớm mà hắn phải đợi đến khi tiền lãi tăng cao lên ngút trời mới bắt đầu đòi nợ để đẩy dân vào đường cùng.</p><p><br/></p><p>-Ban đầu, người dân sống cách biệt và thường xuyên xung đột với nhau vì những mâu thuẫn nhỏ, nhưng khi bị áp bức thì họ mới đứng lên chống áp bức đối mặt với thực dân và quan lại.</p><p><br/></p><p>- Cuộc đời của anh Pha là cuộc đời của hàng ngàn con người khác trong xã hội lúc bấy giờ, không nhà không cửa, hoặc bị tước đoạt đi mạng sống của chính mình. </p><p>-&gt; Từ những người có quyền lực nhất cho đến tên cai tù, ai cũng xấu xí luôn tìm cách để làm hại người dân nghèo thấp cổ bé họng.</p><p><br/></p><p>-Tuy nhiên tiếng nói của người nông dân vẫn yếu đuối và không đủ sức chống lại bọn thực dân, chỉ biết bày tỏ sự uất ức, căm hận của mình.</p><p><br/></p><p><strong>-Tác giả đưa ra những hình ảnh đối lập tạo nên bức tranh hiện thực đầy màu sắc và mâu thuẫn.</strong></p><p>+ Một bên là bọn tham quan đế quốc được biết đến với tư cách là quan phụ mẫu. Họ bắt người dân vay tiền nhưng không cho họ trả nợ sớm, để lãi kép tĩnh lãi mẹ đẻ lãi con → người nông dân trở nên nợ nần chồng chất.</p><p>+ Những hình ảnh xa hoa và bất công của bọn quan lại với sự đối lập sắc nét giữa cuộc sống bọn quan lại với dân nghèo</p><p>+ Anh Pha đem năm tờ giấy một đồng để chứng minh sự thật, bọn quan lại nhận tiền rồi hả hê, còn cười nhạo anh → Anh Pha tự hỏi anh sẽ làm gì đẻ trình quan quan lại, hay cuộc sống anh lại rơi vào bước đường cùng</p><p><strong><mark>d. Nghệ thuật</mark></strong></p><p>- Sự thông minh của nhà văn Nguyễn Công Hoan được thể hiện ở biệt tài gây dựng xây dựng cốt truyện.</p><p>- Nhà văn rất biết cách đẩy câu chuyện lên cao trào, không phải nhà văn không dành tình cảm cho nhân vật, không đặt vào hoàn cảnh của họ. Thay vào đó, ông muốn lên tiếng tố cáo tội ác của bọn quan lại trong thời kì thực dân nửa phong kiến, nhà văn muốn dùng ngòi bút thật nhất để vẽ lên thảm cảnh ấy đồng thời cũng bày tỏ sự cảm thông của mình dành cho những người nông dân thấp cổ bé họng thời đó.</p><p>- Tác giả dùng ngòi bút châm chích, giễu cợt đám quan lại. </p><p>- Nhân vật điển hình: Anh Pha- điển hình cho người nông dân lúc bấy giờ, đại diện cho tầng lớp bị bóc lột, nằm ở tận cùng đáy xã hội</p><p>- Nghệ thuật tương phản đối lập đặc sắc</p><p>- Xây dựng nghệ thuật độc thoại nội tâm</p><p>-&gt; Tất cả đã vẽ ra một bức họa về nạn cường hào địa chủ bóc lột lột người dân, trắng trợn cướp đoạt ruộng đất đẩy một người nông dân rơi vào cảnh tan cửa nát nhà. Đó là hiện thực, không phải bịa đặt, nhà văn Nguyễn Công Hoan đã thành công tái hiện lên thảm cảnh của người nông dân trước cách mạng năm 1945.</p><p><strong><mark>e. Khả năng vận dụng</mark></strong></p><ul><li><p>Tắt đèn - Ngô Tất Tố </p></li><li><p>Đói - Thạch Lam</p></li><li><p>Lão Hạc - Nam Cao</p></li><li><p>Chí Phèo - Nam Cao</p></li><li><p>Hình ảnh người nông dân trong văn học hiện thực phê phán 1930–1945.</p></li><li><p>Số phận bi thảm của người nông dân dưới ách áp bức thực dân phong kiến qua các tác phẩm văn học hiện thực.</p></li><li><p>Bàn về sự cảm thông của nhà văn đối với người nông dân trong xã hội cũ.</p></li><li><p>Văn học phải gắn bó và phản ánh cuộc sống nhân dân.</p></li></ul><p><br/></p></li></ol>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-07-27 15:23:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3529539049</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tuệ Minh - Ngủ yên đồng chí nhé (Chế Lan Viên)</title>
         <author>ltwgxx</author>
         <link>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3529546643</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/2311098696/61a012506891f42986de50b300594bc7/NG__Y_N___NG_CH__NH_.docx" />
         <pubDate>2025-07-27 15:54:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3529546643</guid>
      </item>
      <item>
         <title>&#39;&#39; KHÔNG GIA ĐÌNH &#39;&#39; - Hector Malot ( Pháp )</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3529821981</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>1 .Tác giả:</strong></p><ul><li><p>-Hector-Henri Malot (20/ 5/ 1830 – 18 /7/1907), thường được biết đến với tên Hector Malot, là một nhà văn người Pháp nổi tiếng, sinh tại La Bouille, Seine-Maritime.</p></li><li><p>Ban đầu, ông học luật ở Rouen và Paris. Mặc dù tốt nghiệp đại học luật và từng làm việc trong một văn phòng luật sư, niềm đam mê văn học đã thúc đẩy ông trở thành nhà phê bình kịch cho tờ Lloyd Francais và nhà phê bình văn học cho tờ L’Opinion Nationale</p></li><li><p>Malot đã viết hơn 70 cuốn sách</p></li></ul><p><strong>2 .Tác phẩm:</strong></p><ul><li><p><strong><em>Không gia đình</em></strong> (<strong><em>Sans famille</em></strong>), có thể được xem là tiểu thuyết nổi tiếng nhất của nhà văn Pháp Hector Malot được xuất bản năm 1878 .Tác phẩm đã nhận được giải thưởng của Viện hàn lâm Văn học Pháp. Nhiều nước trên thế giới đã dịch lại tác phẩm và xuất bản nhiều lần. Từ một trăm năm nay, <em>Không gia đình</em> đã trở nên quen thuộc đối với thiếu nhi Pháp và thế giới. Kiệt tác này đã được xuất hiện nhiều lần trên phim ảnh và truyền hình</p></li></ul><p><strong>3 .Nội dung chính:</strong></p><ul><li><p><strong><em>Không gia đình</em></strong> kể chuyện một cậu bé tên là Rémi bị bỏ rơi từ nhỏ rồi bị bỏ lại ở 1 góc đường, cậu được 1 gia đình khác nhận nuôi. Rémi được chăm sóc trong vòng tay yêu thương của má Barberin. Cho đến một ngày người chồng của má làm việc ở Paris bị tai nạn và tàn phế trở về, và bán rémi cho ông cụ Vitalis, sau đó Rémi đi theo gánh xiếc của cụ Vitalis để làm thuê. Hai người đã đi lang thang khắp mọi miền nước Anh và Pháp trình diễn xiếc để kiếm sống, sau đó cụ Vitalis bị 2 tháng tù giam ở Anh, cuối cùng tìm thấy mẹ và em.Em bé Rémi ấy đã lớn lên trong gian khổ. Em đã chung đụng với mọi hạng người, sống khắp mọi nơi, "Nơi thì lừa đảo, nơi thì xót thương". Em đã lao động lấy mà sống, lúc đầu dưới quyền điều khiển của một ông già từng trải và đạo đức, cụ Vitalis, về sau thì tự lập và không những lo cho mình, còn bảo đảm việc biểu diễn và sinh sống cho cả một gánh hát rong. Đã có khi em và cả đoàn lang thang suốt mấy ngày không có chút gì trong bụng.Đã có khi em mắc oan, bị giải ra trước toà án và bị ở tù. Và cũng có khi em được nuôi nấng đàng hoàng, no ấm. Nhưng dù ở đâu, trong cảnh ngộ nào, em vẫn noi theo nếp rèn dạy của ông già Vitalis giữ phẩm chất làm người, nghĩa là ngay thẳng, gan dạ, tự trọng, thương người, ham lao động, không ngửa tay xin xỏ, không dối trá, gian giảo, nhớ ơn nghĩa, luôn luôn muốn làm người có ích.</p></li><li><p>Bên cạnh Rémi có chú bé nghệ sĩ Mattia khôn ngoan, linh lợi, tháo vát, tận tình với bạn, một tài hoa nghệ thuật nở sớm cộng với tấm lòng vàng, con chó Capi khôn như người và rất có nghĩa, con khỉ Joli-Cœur liến láu và đáng thương... Những con người và con vật ấy ở đây được dựng lên linh hoạt như sống, gây nhiều hứng thú cho bạn đọc nhỏ tuổi.</p></li><li><p>Cuối cùng em cũng tìm được gia đình thật sự của mình và sống hạnh phúc cùng với Lise sau này</p></li></ul><p><strong>4 .Nhân vật:</strong> Tác phẩm phác họa nhiều nhân vật, dù quan trọng nhiều hay ít, đã giúp đỡ cậu bé Rémi trên hành trình của cậu cũng như trong cuộc sống của cậu, đặc biệt là đi tìm gia đình thật của cậu.</p><ul><li><p><mark>Rémi</mark> :nhân vật chính của truyện, là người dẫn chuyện và kể lại ,câu chuyện ở ngôi thứ nhất (xưng "tôi"), là một cậu bé người Anh bị bỏ rơi ở phố&nbsp; Breteuil, Pairis, thủ đô nước Pháp, rồi được một gia đình nông dân nghèo ở thôn&nbsp; Chavanon nhận nuôi.</p></li><li><p><mark>Vitalis</mark> : người hát dạo, đã mua lại Rémi từ bố nuôi Jérôme Barberin của cậu. Ông đã dạy học cũng như kinh nghiệm sống cho Rémi khi cả hai đi lưu diễn khắp nước Pháp. Ông là người Ý và đã từng có thời huy hoàng lúc còn&nbsp; trẻ. Ông xem Rémi như con trai mình cũng như Rémi xem ông là người cha vĩ đại&nbsp; mà cậu hằng mong muốn. Sau cùng, ông đã qua đời trong cảnh lang thang giữa&nbsp; mùa đông lạnh giá.</p></li><li><p><mark>Mattia</mark> : cậu bạn của rémi, biết chơi tất cả các nhạc cụ và chu du khắp nước Pháp cùng Rémi để mua con bò sữa trả ơn má Barberin và sau đó là đi tìm gia đình thật của Rémi. Cậu có em gái là Cristana sống ở Ý- quê hương của cậu.</p></li><li><p><mark>Arthur</mark> : con của bà Milligan, là một cậu bé tật nguyền đã chống lại bệnh tật để sống sót. Hình tượng của lòng dũng cảm, cậu dành cho Rémi một&nbsp; tình cảm lớn. Hai người gặp nhau lần đầu tiên trên con thuyền Le Cygne của người mẹ Arthur, sau khi Rémy đang lang thang sau khi ông Vitalis bị bắt ở Toulouse</p></li></ul><p><br/></p><p><strong>5 .Giá trị nhân đạo:</strong></p><p>Tiểu thuyết Không gia đình là tác phẩm có giá trị nhân văn cao, đề cao tinh thần bền bỉ chịu khó, chịu khổ của người lao động, đồng thời tác giảcũng khích lệ tình bạn chân chính, lòng nhân ái và ý chí vượt lên không ngừng</p><p>nghỉ.</p><p><strong>6 .Giá trị hiện thực:</strong></p><p>Không gia đình đã dựng nên bức tranh toàn cảnh hết sức sinh động về hiện thực của xã hội Pháp và một số nước tư bản châu Âu nửa cuối thế kỉ XIX, một xã hội đầy rấy sự bất công, ngang trái. Tác giả đã thể hiện những cảnh</p><p>sống rất khác nhau của nhiều lớp người trong xã hội. Trước hết, đó là cuộc sống hết sức bấp bênh và luôn luôn bị đe doạ bởi cái đói và cái chết của những kẻ hát rong, những người nông dân và những người thơ mỏ. Họ chiêm một phần đồng</p><p><br/></p><p><strong><mark>Một số câu trích dẫn ấn tượng trong cuốn sách</mark></strong></p><ul><li><p>“Trên đời này không có ai là mồ côi nếu còn một trái tim để yêu thương.”</p></li><li><p>“Điều quan trọng không phải là chúng ta đến từ đâu, mà là chúng ta đi về đâu.”</p></li><li><p>“Cuộc sống giống như một con đường dài, đôi khi đầy chông gai, nhưng nếu ta có lòng kiên trì, ánh sáng hy vọng sẽ luôn xuất hiện.”</p></li><li><p>“Hạnh phúc không phải là thứ ta chờ đợi, mà là thứ ta phải tự tìm kiếm trên hành trình của mình.</p></li><li><p>“Gia đình không chỉ là những người có chung dòng máu, mà còn là những người yêu thương và chăm sóc ta bằng cả trái tim.”</p></li><li><p>“Khi một cánh cửa đóng lại, đừng khóc than, vì có thể một cánh cửa khác đang mở ra cho ta.”</p></li><li><p>“Chúng ta không bao giờ thực sự nghèo nếu còn lòng tốt và sự chân thành.”&nbsp;</p></li></ul><p><br/></p><p><strong>7 .Vận dụng dẫn chứng:</strong></p><p><strong><em>Tình cảm gia đình – tình thương của mẹ nuôi bà Barberi</em></strong></p><p><strong><em>Tình thầy trò – thầy Vitalis</em></strong></p><p><strong><em>Tình bạn – lòng trung thành của các con vật</em></strong></p><p><strong><em>Lòng tốt và sự giúp đỡ từ người xa lạ</em></strong></p><p><strong><em>Hành trình trưởng thành – nghị lực vượt kh</em>ó</strong></p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-07-28 04:28:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3529821981</guid>
      </item>
      <item>
         <title> Thân Thảo- Muối của rừng- Nguyễn Huy Thiệp</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3532253042</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4176248998/fdafe768c134789e25713eacffcb7ad8/Mu_i_c_a_r_ng.docx" />
         <pubDate>2025-07-30 15:31:48 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/nguyendau20187/3ut348pxev8g1au1/wish/3532253042</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
