<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title>Di sản văn hóa Ninh Thuận by Đinh Lê Bích Ngọc - THPT Nguyen Trai</title>
      <link>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT</link>
      <description>Thư viện ảo 
( Di sản văn hóa quê hương )</description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2021-11-04 13:47:20 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2026-01-17 06:34:09 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url>https://padlet.net/icons/png/1f340.png</url>
      </image>
      <item>
         <title>Lễ hội Katê</title>
         <author>5815384530</author>
         <link>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1867579301</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp; <strong>Lễ hội Katê:</strong></div><div>Katê là một trong những lễ hội quan trọng và mang đậm tính dân gian lớn nhất của người Chăm hiện nay. Có thể, xa xưa, lễ hội Katê chung cho người Chăm cả hai cộng đồng tôn giáo. Sau thế kỉ XIII, một bộ phận người Chăm tiếp nhận Hồi giáo (sau này thành đạo Bàni) nên tổ chức lễ hội Ramưwan theo quy định của tôn giáo. Quá trình bản địa hóa các yếu tố văn hóa tôn giáo, hình thành nên hệ thống lễ hội, trong đó có lễ hội Katê mang đậm tính dân gian hơn là tôn giáo.<br>Cho đến hiện nay cũng chưa ai giải thích được nguồn gốc của từ “Katê” và bản thân từ đó có ý nghĩa là gì. Người ta chỉ biết rằng Katê là lễ cúng để tưởng nhớ thần Cha. Còn Cambun là lễ cúng tưởng nhớ thần Mẹ. Thần Cha thuộc “dương” còn thần “Mẹ” thuộc âm nên Katê được tổ chức vào thưởng tuần trăng (1/7 lịch chăm), và Cambun được tổ chức vào hạ tuần trăng (15/9 lịch Chăm) đều được tổ chức ở đền – tháp. Hai lễ này được xem là “một cặp” tương ứng (âm - dương) thống nhất trong quan niệm dân gian người Chăm. Các vị thần này là các thần xứ sở cao cả theo truyền thuyết. Tuy nhiên, về sau do ảnh hưởng tôn giáo du nhập từ bên ngoài vào nên trong lễ Katê mặc dù chính là cúng thần cha Yang Po Yang Amâ nhưng ngoài ra cũng mời gọi các thần Yang trong đền tháp (thần Ấn Độ, thần - Vua), thần Mới, thần Mukay (Tổ tiên), thần làng, thần thổ địa và các vị thần khác.<br>Mục đích: nhằm cúng thần Yang Po Yang Amâ và tưởng nhớ các vị vua Thần có công như Po Klong Girai, Po Rome, tưởng nhớ ông bà tổ tiên đã độ trì cho cộng đồng người Chăm và cầu mong mưa thuận gió hòa, được mùa, sức khỏe, thuận lợi, trong đó có cúng cả nữ thần Po Inâ Nâgar.<br>Lễ Katê được diễn ra trong một không gian rộng lớn và thời gian kéo dài. Ngày mồng 1 tháng 7 lịch Chăm được gọi là ngày lễ chính tại đền – tháp. Còn lễ hội Katê kéo dài cả tháng, nên mới có câu “Bilan Katê” (tháng Katê). Tuy nhiên, mùa Katê vẫn được hiểu là kéo dài cả tháng trong đó chia ra làm 3 phần và diễn ra ở 3 khu vực đền tháp của cộng đồng người Chăm Ahier (Chăm Bàlamôn). Trong tháng Katê, theo qui định thì khu vực tháp Poklong Girai và khu vực đền Po Inâ Nâgar ăn Katê vào thượng tuần trăng (từ ngày 1 đến ngày 15 tháng 7 lịch Chăm), còn khu vực tháp Po Rome thì ăn Katê vào hạ tuần trăng (thời gian còn lại sau đó cho đến hết tháng).<br>Phần thứ nhất cũng là phần chính của lễ là katê ở đền tháp. Phần này diễn ra đồng loạt cho tất cả cộng đồng các làng Chăm Ahier chia theo khu vực đền tháp vào ngày 1 tháng 7 lịch chăm. Ba khu vực đền tháp là đền thờ Po Inâ Nâgar (Hữu Đức), tháp Poklong Girai và tháp Po Rome (riêng tháp Hòa Lai không tổ chức cúng Kate hay bất kì lễ nào khác). Trước ngày diễn ra lễ katê chính thức (30/6 lịch Chăm) cả 3 khu vực đều tiến hành lễ thức đón nhận y trang (của thần mẹ xứ sở Po Inâ Nâgar, vua Poklong Girai và vua Po Rome) do người Raglai gìn giữ nay họ mang xuống giao lại để làm lễ (sau đó họ lại mang về miền núi cất giữ đến năm sau lại mang xuống). Sáng hôm sau (1 đến 7 lịch chăm) mới tổ chức lễ rước y trang lên tháp/ vào đền và tổ chức chính thức lễ cúng Katê tại đền/ tháp. Tuy nhiên, hiện nay chỉ còn đền ở Po Inâ Nâgar (Hữu Đức) là còn lễ đón y trang vì y trang thần Po Inâ Nâgar vẫn do người Raglai (Phước Hà) cất giữ. Còn y trang của vua Poklong Girai và vua Po Rome thì người Raglai đã giao lại hẳn cho người Chăm cất giữ. Vì thế, thay cho lễ đón người ta chỉ có một nghi lễ nhỏ đơn giản gồm lễ vật trầu, cau, trứng, rượu để hạ “ciet” chuẩn bị y trang cho lễ rước từ đền thờ vua lên tháp vào sáng hôm sau.<br>Các lễ chính trong ngày lên tháp gồm có: lễ rước y trang lên tháp, lễ mở cửa tháp, lễ mộc dục (tắm tượng và mặc y phục) và cuối cùng là đại lễ.<br>Sau Katê ở tháp là Katê làng và sau đó là Katê gia đình, dòng tộc.<br>Ngày nay, Katê đã có nhiều thay đổi, biến tấu. Kate dần trở thành một lễ hội mang đầy đủ tính chất “lễ” và “hội”. Katê đã thu hút sự chú ý đặc biệt của các cộng đồng dân tộc khác sống trong vùng lân cận và về sau là khách tham quan du lịch từ các nơi khác tìm đến, vừa là tìm hiểu vừa hòa chung vào không khí lễ hội để tiếp cận, giao lưu văn hóa làm cho Katê ngày càng hấp dẫn và tạo ra không khí vui chơi rộng khắp trong vùng.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1369513287/0ebe6728f4725887349c9967c3c4a539/QVJQoc1n.jpg" />
         <pubDate>2021-11-04 14:23:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1867579301</guid>
      </item>
      <item>
         <title>	Lễ hội Ramưwan:</title>
         <author>5815384530</author>
         <link>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1867587391</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; <strong>Lễ hội Ramưwan:</strong></div><div>Ramưwan có nguồn gốc là lễ tháng chay Ramadan của người Hồi giáo (tháng 9 Hồi lịch).&nbsp;</div><div>Tháng chay Ramưwan là thời gian quan trọng nhất của người Bàni, nhưng người theo Bàni không phải nhịn ăn vào ban ngày như luật Hồi giáo quy định. Chỉ có các tu sĩ nhịn ăn 3 ngày đầu của tháng Ramưwan. Trong tháng Ramưwan, các tu sĩ phải tu ở thánh đường không được về nhà và chỉ được ăn những lễ vật dâng cúng. Khi ăn cơm chỉ được dùng tay và chỉ ăn nửa bên phải. Tu sĩ phải tắm rửa sạch sẽ, ít nhất mỗi ngày một lần.</div><div>Tại thánh đường, vào đêm 27 của tháng Ramưwan diễn ra cuộc họp của các thầy Akar và các nhân sĩ trí thức, bô lão và những người có uy tín trong thôn và bầu ra một vị Mâdin. Vào rạng sáng của ngày cuối tháng Rmưwan, các tu sĩ được ăn bữa cơm cuối cùng để làm lễ mãn tháng của tháng Ramưwan.</div><div>Khác với tín ngưỡng Hồi giáo trên toàn thế giới, tháng chay tịnh là tháng yên tĩnh, chỉ tập trung cầu nguyện trong thánh đường và không tổ chức các hoạt động vui chơi, hội hè, nhưng đối với người Chăm Bàni, vài chục năm nay, để chuẩn bị đón Ramưwan, các làng Chăm Bàni đều tổ chức các hoạt động văn hóa thể thao, tạo nên không khí tưng bừng, nhộn nhịp.</div><div>Lễ gồm hai phần: lễ tảo mộ sau đó cúng tổ tiên ở các gia đình và tháng chay tịnh trong thánh đường.<br><br></div><div><br><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1369513287/15bbcbbc5638a6f09556e251e20289ae/z2905589191152_259bd17c96c40554ae48b242093d9fbe.jpg" />
         <pubDate>2021-11-04 14:26:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1867587391</guid>
      </item>
      <item>
         <title> Lễ Bỏ mả của người Raglai</title>
         <author>5815384530</author>
         <link>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1867620139</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Lễ Bỏ mả của người Raglai</strong></div><div>Là một tập tục có ý nghĩa hết sức quan trọng trong đời sống tâm linh của người Raglai, lễ Bỏ mả (cúng tuần mã, mãn tang) nhằm tiễn đưa người đã mất về với ông bà, tổ tiên, đồng thời chấm dứt mối quan hệ giữa người sống đối với người đã mất.</div><div>Đồng bào Raglai sinh sống chủ yếu ở khu vực miền Trung-Tây Nguyên, tập trung ở các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa. Vừa qua, cộng đồng người Raglai ở xã Phước Chiến, huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận, nơi có số dân Raglai sinh sống chiếm 97% dân số toàn xã đã tổ chức hoạt động tái hiện lại lễ Bỏ mả.<br>&nbsp; Lễ Bỏ mả thường được tổ chức vào tháng 3, tháng 4 dương lịch, sau một hoặc hai năm tính từ ngày có người mất. Theo quan niệm của người Raglai, nếu không làm lễ Bỏ mả, linh hồn người đã mất vẫn còn ở nhân thế và chưa thể về được thế giới “bên kia” để đoàn tụ với tổ tiên.<br>&nbsp; Trước lễ Bỏ mả, người thân trong gia đình chuẩn bị nhiều công đoạn khác nhau như: dựng nhà mồ, làm kago (mô hình thuyền bằng gỗ), rạp lễ, gậy cúng, trang phục và đồ lễ như: rượu cần, rượu trắng, trầu cau, đầu heo, thịt heo, cơm, bánh tét, thịt trâu, thịt gà, chuối, cơm rượu…</div><div>Lễ Bỏ mả diễn ra trong 3 ngày với nhiều nghi thức khác nhau, trong đó có những nghi thức quan trọng như: Lễ rước atuw (linh hồn người quá cố), tổ tiên về chứng giám kago và cúng thức ăn lần một (cúng đám nhỏ); lễ cúng đưa kago về nhà mồ và rước linh hồn người quá cố về cúng thức ăn (cúng đám lớn); ngày cuối tiếp tục cúng thức ăn tống tiễn vong linh người quá cố về với tổ tiên. Lễ Bỏ mả sẽ do ba vị thầy cúng đảm nhiệm, trong đó thầy cúng chính là người cầm cây gậy cúng đọc lời khấn chủ trì các nghi thức quan trọng.<br><br>&nbsp;/ <strong>Là một nghi lễ quan trọng chứa đựng những yếu tố văn hóa, nghệ thuật đặc trưng và mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, lễ Bỏ mả của người Raglai đã được công nhận là Di sản văn hóa Phi vật thể cấp quốc gia vào ngày 30/10/2018./<br></strong><br></div><div>Trong buổi cúng lễ, các vị thầy cúng cầm gạo, rượu múa 3 vòng rồi đặt vào kago và giỏ đựng thức ăn, thầy cúng chính cầm cây gậy cúng (gai tuah) để chỉ đường cho atuw cũng như chỉ vào các món đồ ăn, thức uống để thực hiện các nghi lễ. Ngày cuối cùng là ngày quan trọng nhất, ngày tiễn đưa người mất về thế giới bên kia.<br>&nbsp;Cuối lễ Bỏ mả là nghi thức tiễn biệt vong linh người quá cố thông qua một bữa cơm thịnh soạn do các thành viên trong gia đình thiết đãi, mời atuw ăn và nhắc lại những kỷ niệm trước lúc chia xa vĩnh viễn.<br>&nbsp;Sau lễ Bỏ mả, linh hồn người chết sẽ tách biệt hoàn toàn với người sống, người chết thực sự về với quê hương mới của mình, còn người sống được giải phóng, thoát khỏi mọi quan hệ với người đã chết, do vậy người Raglai không có tục thờ cúng ông bà tổ tiên hay giỗ chạp.<br>&nbsp; Lễ bỏ mả được coi là lễ hội lớn của gia đình, dòng tộc và cộng đồng người Raglai, nó thể hiện sự gắn bó, trách nhiệm, tình thương của tộc người Raglai.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1369513287/6ecda8116ece71a8417d58d69511544b/08082019105326862Le_Bo_Ma_10CV.jpg" />
         <pubDate>2021-11-04 14:37:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1867620139</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tháp Pô Klong Garai</title>
         <author>5815384530</author>
         <link>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1867642859</link>
         <description><![CDATA[<h1><strong>Tháp Pô Klong Garai</strong></h1><div><em>Tháp Pô Klong Garai (còn được gọi là Tháp Pô Klông Giarai, tháp Pô Klaung Garai, PoKlaun Garai, tháp Bửu Sơn), thuộc phường Đô Vinh, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.</em><br>Tháp Pô Klông Garai là một quần thể gồm 3 ngôi tháp: tháp chính thờ tượng vua Pô Klông Garai, tháp cổng ở phía Đông và tháp Thần Lửa chếch phía Nam có mái hình thuyền. Quần thể tháp được bao bởi một khung tường thành vuông góc ở 2 mặt Đông và Nam. Đây là một công trình thờ phượng song có giá trị nghệ thuật kiến trúc xây dựng và điêu khắc các phù điêu như Thần Siva, tượng Bò Thần Nandin, tượng vua... đạt mức hoàn mỹ. Chính vì thế công trình đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng là Di tích Lịch sử Văn hóa Quốc gia vào năm 1979.&nbsp;</div><div>Tháp chính cao 20m50, nhiều tầng, tầng trên là sự lập lại tầng dưới thu nhỏù cho đến đỉnh là một trụ đá nhọn, biểu tượng là một Linga. Ở các góc tháp lên dần đều là các ụ vuông nhỏ, các góc có gắn tượng thú bằng đá và các hình ngọn lửa bằng gạch nung. Tháp gồm một cửa chính ra vào ở hướng Đông, trên cửa là mái vòm, có 2 trụ đá lớn đỡ, mặt trụ đá khắc chữ Chăm cổ, bên trên cửa có phù điêu thần Siva múa, có 6 tay; ba cửa còn lại ở 3 hướng Nam, Bắc, Tây là cửa giả, trụ ốp gạch lồi, lõm vào trong trên mỗi cửa giả có một tượng thần tư thế thiền.&nbsp;</div><div>Từ cửa vào, bên trái có một tượng bò thần Nandin bằng đá, đầu hướng vào trong tháp. Vào trong tháp, có một Yoni cạnh dài 1m47, cạnh ngang 0m94, trên Yoni là một Linga tròn, phía trên trụ Linga có chạm khắc chân dung vua Pô Klông Girai. Phía ngoài có một sảnh nối sân để cúng tế bằng một tầng cấp.</div><div>Thẳng về phía Đông là tháp cổng, cao 8m56, có 2 cửa thông nhau theo hướng Đông - Tây nên gọi là tháp cổng. Tháp cũng được xây theo nguyên tắc lên dần thu nhỏ.<br>Phía Nam giữa hai tháp trên là tháp thờ Thần Lửa, cao 9m31. Tháp có 3 cửa thông nhau 3 hướng Đông, Bắc và Nam, riêng phía Nam là cửa sổ. Chức năng tháp để các tu sĩ Bàlamôn, các thầy cúng bày các vật tế lễ và giữ ngọn lửa tế nên người Chăm gọi là Tháp Lửa. Điều đặc biệt là cấu trúc tháp xây mái theo kiểu hình mái nhà (hình giống mái nhà prông ở Tây Nguyên hoặc mái nhà hình thuyền như mặt trên trống đồng). <br>Ở phía sau tháp chính có 1 miếu thờ tượng Kút hoàng hậu, trong sử ghi tên là Tố Lý. Ở ngoài vòng thành phía Nam quần thể tháp có 1 trụ đá (Linga) cao 2m20. Cũng nằm ngoài vòng thành phía Đông Bắc quần thể tháp có 1 tảng đá bánh ú 3 mặt có chữ có khắc chữ Chăm cổ.<br>Hằng năm vào ngày cuối tháng 6, ngày 1 tháng 7 tính theo lịch Chăm, (khoảng tháng 9, 10 Dương lịch), đúng ngày lễ hội Katê, hàng ngàn người Chăm tổ chức cúng tại 3 tháp Pô klông garai, Pô Rômê, đền Pô Inư Nưgar một cách trang trọng. Trong lễ này, các tu sĩ Bàlamôn giáo và đông đúc nhân dân sẽ tiến hành các lễ rước trang phục vua Pô Klông Girai, cúng vua Pô Rômê và nữ thần Pô Inư Nưgar từ ngôi làng cách đó 6 km lên tháp, làm lễ tắm tượng, mặc trang phục cho tượng vua. Cũng chính trong sáng ngày 1 tháng 7, một nghi thức múa nghi lễ và tấu nhạc dân gian do người Chăm diễn ngay trước tháp để dâng lên vua. Bấy giờ chung quanh tháp là cả ngàn mâm lễ vật hoa quả, bánh trái, thịt gà, dê, rượu, trầu cau của các chủ gia đình người Chăm đang dâng cúng lên cho Thánh Thần, vua và hoàng hậu... cầu cho hạnh phúc, quốc thái dân an.Tháp Po Klong Garai nằm trên ngọn đồi Trầu, phường Đô Vinh, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm. Là một quần thể gồm tháp Chính, tháp Lửa và tháp Cổng, nơi đây được xem là cụm tháp hùng vĩ và đẹp nhất trong những đền tháp của người Chăm còn tồn tại ở Việt Nam hiện nay.<br>Du khách men theo những bậc tam cấp để bước lên ngọn đồi, tham quan toàn bộ ngôi tháp Lửa cao hơn 9 m. Theo quan niệm của người Chăm, đây là nơi an nghỉ và chứa đồ vật cho những nghi lễ xưa kia.Tháp Cổng cũng là nơi dừng chân nghỉ ngơi, tĩnh tâm trước khi vào tháp Chính.<br>Tháp Chính là trung tâm của cụm tháp, cao hơn 20 m, có một lối ra vào. Năm 1979 cụm tháp được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích Lịch sử - Kiến trúc nghệ thuật điêu khắc Chăm.<br>Trong ngôi tháp Chính thờ vua Po Klong Garai (1151 - 1205) với biểu tượng Mukha - Linga. Ngài là người có công trạng to lớn trong việc xây dựng hệ thống dẫn thủy nhập điền phục vụ nông nghiệp của người Chăm trong vùng. Công trình của vị vua nổi tiếng này vẫn được sử dụng cho đến ngày hôm nay là đập Nha Trinh và kênh Chàm.Cây me cũng là một điểm nhấn trong cụm tháp này. Theo truyền thuyết Chăm, cây me chính là nơi dựa lưng của vua Po Klong Garai lúc còn trẻ trong một chuyến đi buôn. Truyền thuyết khác lại cho rằng cây me là vị thần trấn giữ và bảo vệ vị vua trong ngôi tháp cổ này.Vào cuối tháng 10 hàng năm, người Chăm Ninh Thuận thường hành hương đến tháp vào dịp lễ hội Kate. Đến đây mọi người cùng cúng tế và cầu nguyện cho mùa màng bội thu. Trang phục rực rỡ của các thiếu nữ cùng sắc màu đỏ trắng độc đáo của chức sắc Chăm là một trong những điểm thu hút của lễ hội này.Dưới chân ngọn đồi Trầu là một loạt công trình phụ trợ nhằm phục vụ du khách tham quan như khu trưng bày sách, ảnh văn hóa Chăm, vật dụng truyền thống Chăm và các món quà lưu niệm.Trong khu trưng bày du khách có thể tìm thấy nhiều vật dụng xưa kia của người Chăm còn hiện hữu như: cối xay lúa, nhạc cụ truyền thống và các trang phục của tu sĩ Chăm. Trong đó, xe trâu là một trong những vật dụng đặc trưng còn sót lại. Bánh xe và các vật dụng khác được làm hoàn toàn bằng gỗ. Các mối nối được được đục đẽo và đóng sao cho vừa khít mà không cần dùng đến vật phụ trợ khác. Ngày nay chỉ còn tồn tại 3 chiếc và chủ yếu dùng để trưng bày trong các nhà văn hóa.<br>Túi xách, ví cầm tay, khăn choàng xinh xắn được bày bán trong khu nhà trưng bày. Tuy nhiên giá cả cao hơn so với làng dệt truyền thống Mỹ Nghiệp cách đó khoảng 10 km theo hướng nam.<em><br></em><strong><em>Lưu ý: Du khách vào đền tháp ăn mặc lịch sự, không viết, vẽ bậy lên gạch, không đốt nhang và để tiền trong lòng tháp vì không phù hợp với tôn giáo, văn hóa Chăm.<br></em></strong><br></div><div>&nbsp;</div><div><br><br></div><div>&nbsp;</div><div><br><br></div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1369513287/263f31865f547a94549d38fde1a61f71/3.png" />
         <pubDate>2021-11-04 14:46:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1867642859</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tháp Hòa Lai</title>
         <author>5815384530</author>
         <link>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1867656554</link>
         <description><![CDATA[<div>Tháp Hòa Lai được xây dựng vào khoảng thế kỷ IX thuần theo phong cách Hòa Lai (phong cách kiến trúc Champa cổ, nổi bật vào khoảng thế kỷ IX đến thế kỷ XI). Điểm nổi bật của phong cách này chính là vòm cửa nhiều mũi tròn, các trụ bổ tường hình bát giác cùng lối trang trí hình lá uốn cong.</div><div>Nguyên khởi, tháp là một tổng thể kiến trúc gồm Tháp Bắc, Tháp Giữa (tháp trung tâm) và Tháp Nam. Hiện diện bên cạnh các công trình tháp còn là tường thành bao quanh và một lò gạch. Tuy nhiên vào cuối thế kỷ XIX, người Pháp và quan chức địa phương đã cho phá phần trên của tháp trung tâm để phục vụ quá trình nghiên cứu nên hiện nay chỉ còn lại phần nền.</div><div>Mặc dù chỉ còn hai ngôi tháp Nam và Bắc trong cụm tháp gồm ba ngôi tháp lớn, thế nhưng tháp Hòa Lai vẫn được xem như một quần thể rất có giá trị về kiến trúc và điêu khắc của người Chăm thời bấy giờ. Chính vì điều này mà tháp mang một dấu ấn kiến trúc đặc biệt trên dải đất miền Trung.</div><div>….</div><div><em>Đền tháp Hòa Lai với một kiểu cách kiến trúc độc đáo thế kỷ IX</em></div><div>Nhìn tổng thể, mỗi công trình tháp trong cụm thể đền tháp Hòa Lai đều mang một nét riêng biệt, nhưng cũng rất hòa hợp với nhau. Cụ thể, ngôi Tháp Bắc cao, được xây bằng gạch, mặt tường gạch chạm khắc hoa văn mặt chim, thú huyền thoại, lá hoa… rất tinh xảo. Ở hướng Đông tháp có một cửa vào, 3 hướng còn lại chỉ là cửa giả. Vào trong tháp xây dựng gạch nhỏ dần lên, có các ô hình tam giác để gắn đèn khi cúng tế.&nbsp;</div><div>Tháp Nam cao hơn, cũng được xây bằng gạch, mặt tường gạch chạm khắc hoa văn nhưng ở dạng đang phác thảo. Toàn bộ thân tháp là một khối lập phương khoẻ nhô lên từ một phần bệ vuông và đỡ cả một hệ thống các tầng nhỏ hơn. Nét đặc sắc nổi bậc tại các công trình thuộc cụm tháp Hòa Lai này chính là nối trang trí hoa văn bên ngoài mặt tháp chỉ giới hạn ở vòm cửa, ở các trụ ốp, ở bộ diềm mái. Lối trang trí này vừa mang tính chức năng nhấn mạnh ấn tượng cho các thành phần cấu trúc vừa phô bày vẻ đẹp của các hoa văn.Bên cạnh lối trang trí độc đáo bên ngoài mặt tháp, các trụ cà bộ diềm mái. Những vòm cửa tò vò trùm lên trên cửa ra vào, các cửa giả và các ô khám của các tầng. Đặc biệt là vành của cửa vòm được phủ kín bằng những hoa văn hình cuộn vọt ra từ miệng của quái vật Kala trên đỉnh là một điểm nhất rất hấp dẫn.Chưa dừng lại, hình ảnh của khoảng tường giữa hai trụ ốp được phủ bằng các hình chạm khắc hoa lá; bộ diềm mái là nơi hiện diện những hoa văn tràng hoa chạy dài và hình các thần điểu Garuda đang xoè cánh. Hòa Lai quả là một công trình kiến trúc, nghệ thuật tuyệt vời.Năm 1986, trong khi khảo sát, Bảo tàng tỉnh đã phát hiện một linga bằng đá (sa thạch) ở khu vực Tháp. Đây là một phát hiện quý báu có giá trị không chỉ riêng về văn hóa mà còn là lịch sử. Quan trọng là minh chứng rõ hơn về một quá trình thịnh vượng trong việc phát triển kiến trúc, nghệ thuật và điêu khắc của vương quốc Pandurangga.</div><div>Năm 1997, Bộ Văn hóa – Thông tin đã cấp bằng công nhận cụm tháp Hòa Lai là di tích lịch sử quốc gia.</div><div><em>Đôi điều về nguồn gốc, địa danh về đền tháp Hòa Lai Ninh Thuận</em></div><div>Ở tỉnh Ninh Thuận, hiện có hai ngọn tháp Chăm đứng cạnh Quốc lộ I A, nhưng lại được gọi là Ba Tháp, bởi trong quá khứ tại đây có ba ngôi tháp nhưng có một ngôi tháp đã bị sụp đổ nên mới có tên gọi như vậy! Giới khảo cổ gọi cụm tháp ấy là tháp Hòa Lai.</div><div>Theo như hiện trạng, ngày nay cụm tháp Hòa Lai chỉ còn hai công trình tháp Nam và tháp Bắc. Còn công trình tháp Giữa đã chỉ còn lại phần nền do bị phá vỡ vào thế kỷ XIX. Chính vì vậy mà tên gọi Ba Tháp là một điều đang được nhiều người chú ý. Đặc biệt, càng chú ý hơn khi Hòa Lai được đặt câu hỏi là có nguồn gốc và địa danh được gọi dựa theo cái gì?</div><div>Để hiểu rõ về điều này, trong bài viết về “Nguồn gốc địa danh…” của Chế Vỹ Tân về địa danh Hòa Lai có đề cập: “là một địa danh ở bắc Ninh Thuận thường được gọi là Ba Tháp, thuộc xã Tân Hải, huyện Ninh Hải. Trên Quốc lộ số 1, du khách bắt gặp hai ngọn tháp Chăm cổ kính tọa lạc phía đông con đường, cách ranh giới Khánh Hòa – Ninh Thuận khoảng 8km (ngọn thứ ba đã bị đổ nát từ lâu). Nơi đây chính là Hòa Lai. Xưa kia địa danh này mang tên là Bal Lai (thủ đô đã điêu mất). Chính từ Bal Lai này đã được phiên âm thành Hòa Lai”.</div><div>Bằng việc giải thích này của Chế Vỹ Tân, có thể hiểu rằng, Hòa Lai là tên được phiên âm lại từ người Kinh vùng Ninh Thuận dựa theo từ Bal Lai (tên gọi của một thủ đô đã bị mất trong lịch sử).</div><div><em>Thuận Lai hay Hòa Lai</em></div><div>Trước năm 1888 vùng đất tỉnh Ninh Thuận hiện nay gọi là phủ Ninh Thuận, thuộc tỉnh Bình Thuận. Tất cả các dịch trạm (trạm thông tin liên lạc) thuộc tỉnh Bình Thuận đều bắt đầu bằng chữ “Thuận”. Dịch trạm đầu tiên trên đất tỉnh Bình Thuận tính từ phía bắc vào là Thuận Lai, Thuận Mai, Thuận Trinh, Thuận Lãng…</div><div>Nằm giữa ranh giới Khánh Hòa và Bình Thuận là dịch trạm Hòa Thuận (dịch trạm nằm ở ranh giới giữa hai tỉnh thì lấy một từ trong tên của tỉnh này và một từ trong tên của tỉnh kia ghép lại. Ví dụ dịch trạm giữa tỉnh Bình Định và Phú Yên là dịch trạm Bình Phú; dịch trạm giữa tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa gọi là dịch trạm Phú Hòa; dịch trạm giữa tỉnh Bình Thuận và Biên Hòa là dịch trạm Thuận Biên …).&nbsp;</div><div>Theo tác phẩm Hoàng Việt nhất thống dư địa chí do Lê Quang Định soạn xong năm 1806 thì từ dịch trạm Hòa Thuận đi khoảng 4876 tầm (1 tầm= 2,12m, như vậy khoảng 10 km) là đến dịch trạm Thuận Lai: “đến quán nghỉ trạm Thuận Lai, trước mặt trạm có quán nghỉ, khách đi đường có thể nghỉ lại” (chí quán cư Thuận Lai dịch. Trạm tiền hữu quán cư, hành nhân khả trú túc).&nbsp;</div><div>Qua khỏi trạm Thuận Lai 1600 tầm (khoảng hơn 3 km): “đường đi bằng phẳng, hai bên là rừng thưa, phía tây đều là ruộng cấy lúa, phía đông cóba tòa tháp cổ, tục gọi tháp Cao Miên, nay đã đổ nát(kỳ lộ bình thản, lưỡng bàng sơ lâm, lộ tây điền trù, lộ đông hữu tam cổ tháp, tục danh Cao Miên tháp. Kim dĩ đồi hoại).</div><div>Đại Nam nhất thống chí ghi chép về trạm Thuận Lai: “Ở thôn Nhơn Sơn huyện An Phước, phía bắc đến trạm Hòa Quân tỉnh Khánh Hòa 43 dặm linh, phía nam đến trạm Thuận Mai 20 dặm linh”. Nếu tính từ bắc vào nam thì dịch trạm Thuận Lai là dịch trạm đầu tiên trên đất Bình Thuận, nếu tính từ nam ra bắc thì dịch trạm Thuận Lai là dịch trạm thứ 16 và cũng là dịch trạm cuối cùng trên đất Bình Thuận.</div><div>Tháng giêng năm Mậu Tý (1888): “phủ Ninh Thuận, nguyên vẫn lệ thuộc ở tỉnh Bình Thuận, nên trích ra cho lệ thuộc vào tỉnh Khánh Hòa. Các dịch trạm trên đất Khánh Hòa đều bắt đầu chữ “Hòa” như: Hòa Mã, Hòa Lãng, Hòa Huỳnh, Hòa Cát, Hòa Thạnh, Hòa Tân, Hòa Do, Hòa Quân.&nbsp;</div><div>Do lệ thuộc vào tỉnh Khánh Hòa, cho nên các dịch trạm Thuận Lai, Thuận Mai, Thuận Trinh, Thuận Lãng nằm trên phần đất phủ Ninh Thuận được đổi chữ “Thuận” thành chữ “Hòa” cho giống các dịch trạm trên đất Khánh Hòa và dịch trạm Thuận Lai được đổi thành Hòa Lai.Địa danh Hòa Lai bắt đầu xuất hiện từ đây.</div><div><em>Từ địa danh Hòa Lai đổi thành Ninh Lai</em></div><div>Dưới thời vua Minh Mạng, dân trạm Hòa Thuận (nằm ở ranh giới giữa Khánh Hòa và Bình Thuận) xiêu tán nên triều đình xóa bỏ trạm Hòa Thuận.&nbsp;</div><div>Trong tác phẩm “De Qui Nhon en Cochinchine” của tác giả J. Brien xuất bản năm 1893 (sau khi phủ Ninh Thuận nhập vào đất Khánh Hòa hơn 5 năm) cho biết là từ trạm Hòa Quân (Cam Ranh) đến trạm Hòa Lai có chiều dài là 26,620 km và ông viết về trạm Hòa Lai: “Le tram de Hòa Lai est très vaste, construit en briques, entouré d’un mur en pierres avec une cour dallée. C’est le plus beau de tous les relais de trams de l’Annam” (Trạm Hòa Lai rất rộng, xây bằng gạch, được bao quanh bằng một bức tường đá với một cái sân lát gạch. Đó là cái trạm dừng đẹp nhất trong tất cả các trạm của xứ An Nam).</div><div>Ông viết tiếp: “A trois kilomètres de Hòa Lai, on trouve à gauche, sur le bord de la route, les ruines de trois tours chams, encore bien conservées et rappelant celles du Binh Đinh et de Nha Trang” (Cách Hòa Lai 3 ki lô mét, người ta tìm thấy ở phía trái, bên lề đường, phế tích 3 tháp Chàm, hãy còn giữ gìn kỹ, nhắc nhớ tới những cái[tháp] ở Bình Định và Nha Trang).</div><div>Tháng 3 năm Tân Sửu (1901) “Bắt đầu đặt đạo Ninh Thuận (trích phủ Ninh Thuận và huyện An Phước tỉnh Khánh Hòa lập thành một đạo, lỵ sở đặt ở xứ Phan Rang) lấy Tri phủ Nguyễn Văn Thụy thăng làm Quản Đạo”.</div><div>Do không còn trong phần đất Khánh Hòa nữa và được nâng lên thành đạo Ninh Thuận cho nên vào tháng 9 năm Tân Sửu (1901): “Đổi các dịch trạm Hòa Lai, Hòa Mai, Hòa Trinh ở đạo Ninh Thuận thành Ninh Lai, Ninh Mai, Ninh Trinh để có phân biệt” (9)</div><div>&nbsp;Như vậy địa danh Hòa Lai bắt đầu xuất hiện vào năm 1888 và tồn tại đến tháng 9 năm Tân Sửu (1901) thì được đổi thành Ninh Lai. Vào thập kỷ cuối của thế kỷ XIX các nhà khảo cổ đã lấy địa danh dịch trạm Hòa Lai đặt tên cho cụm di tích Ba Tháp gần đó (cách dịch trạm Hòa Lai khoảng 3km) nên mới có tên tháp Hòa Lai.</div><div>Địa danh Hòa Lai hoàn toàn có nguồn gốc mang yếu tố ngôn ngữ Việt chứ không hề có chút yếu tố Chăm nào cả!</div><div><br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1369513287/9a45a2cdbd5a1125a6cdb862a6d7dca9/1_2.jpg" />
         <pubDate>2021-11-04 14:51:04 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1867656554</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đình Tấn Lộc – phường Tấn Tài </title>
         <author>5815384530</author>
         <link>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1867673130</link>
         <description><![CDATA[<div>Đình Tấn Lộc thuộc khu phố 4, phường Tấn Tài, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Đình được xây dựng ở đầu làng. Từ trung tâm thành phố Phan Rang - Tháp Chàm đi dọc theo đường Hải Thượng Lãn Ông đến đường Trần Thi rẽ phải đi thêm khoảng 200m là đến di tích. Khách có thể đến di tích bằng các phương tiện cơ giới bằng đường bộ hoặc đường sông. Theo các cụ già trong làng thì vào năm Minh Mạng thứ 11 sau khi ông Phan Văn Nghi xin thành lập làng Tấn Lộc thuộc Kinh Dinh, phủ Ninh Thuận thì Đình Tấn Lộc lúc bấy giờ có tên là Đình Dinh Thủy, mới được xây dựng ở cuối làng bằng các vật liệu thanh tre đơn giản. Đến năm Giáp Dần (1853) đời vua Tự Đức, Đình Dinh Thủy mới được dời về địa điểm hiện nay. Đình thờ Thần Thành Hoàng, Thiên Y A Na và Chưởng Thái Giám Bạch Mã. Theo tục lệ của tiền nhân lưu lại, hàng năm thôn Tấn Lộc tổ chức tại đình làng làm đại lễ theo Xuân kỳ vào tháng 2 Âm lịch và làm trung lễ theo thu lệ vào tháng 8 Âm lịch. Mỗi đợt tế được chia làm ba phần, với những nghi thức rất trang trọng, từ lễ Khai sắc, đến lễ kỵ Tiền hiền và lễ Tế tại Chánh điện. Đình Tấn Lộc phường Tấn Tài đã được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật theo Quyết định 05/2005/VHTT. Đình Tấn Lộc được xây dựng trên một khu đất có diện tích là 1.950 m 2, xung quanh có tường rào bao bọc. Mặt trước của Đình hướng ra sông Dinh, mặt sau nhìn ra xa có ngọn núi Cà Đú là điểm tựa lưng vững chãi.Đình Tấn Lộc là một tổng thể kiến trúc bao gồm: từ ngoài vào là nghi môn, bình phong, sân gạch, cách chừng 15m là tòa chánh điện, nối chánh điện với nhà Kiều là một khoảng sân nhỏ mà các cụ thường gọi là Thiên Tĩnh (giếng trời). Liền với nhà Kiều l nhà Tiền Hiền. Hai bên hông của tòa Chánh điện là nhà Đông và nhà Tây, phía trước nhà Đông và nhà Tây là hai ngôi miếu nhỏ, miếu Đông thờ Ngũ hành, miếu Tây thờ Thổ thần, còn hai bên hông của nhà Kiều là hai nhà Trù (nhà bếp) nhưng chỉ còn một căn phía Đông, còn căn phía Tây đã bị đổ nát. Ở phía Đông, giữa nhà Đông với nhà Trù có một cổng nhỏ (còn gọi là cổng Đông) dùng để ra giếng lấy nước. Đình Tấn Lộc là một công trình kiến trúc, điêu khắc gỗ có giá trị. Về mặt kiến trúc Đình là một quần thể gồm nhiều ngôi nhà Tứ trụ ghép lại, sự có mặt của các kèo đâm, kèo khuyết làm cho diện tích của ngôi đình được nới rộng ra xung quanh. Đề tài trang trí ở Đình khá phong phú, hầu hết các mô típ cổ điển đều được sử dụng và mang tính triết lý sâu sắc như:“Tứ linh”: Rồng biểu trưng cho quyền lực, Lân biểu trưng cho ước vọng Thái Bình, Quy ngoài biểu trưng cho sự chịu đựng và sống lâu thì nó còn được quan niệm là hợp thể trong quan hệ đối đãi của trời cha đất mẹ, Phụng biểu hiện về ước vọng muôn đời của người dân Việt trong mối quan hệ với thần linh. Với đề tài bát bửu thì có Hoa mặt trời (trời) tượng trưng cho nơi ngự trị của thần linh mang tính linh thiêng. Gươm biểu hiện cho sức mạnh của con nhà võ diệt trừ xấu xa, ma quỷ. Quạt vả nhằm tiêu trừ độc hại ma quỷ. Đàn biểu hiện sự thanh cao của đạo nhân. Bầu rượu biểu trưng của Lý Thiết Quài đi tìm “lẻ quên” thoát khỏi sự ràng buộc xấu xa của cuộc đời và cây gậy Như Ý biểu hiện cho quyền lực… Hơn 100 năm qua, do sự tác động của thiên nhiên nên Đình đã qua nhiều lần tu bổ. Trong những lần tu sửa đó, do nhận thức có hạn nên một số kiến trúc như nhà Đông, nhà Tây đã được làm mới lại hoàn toàn trên nền cũ song cơ bản Chánh điện và nhà Tiền hiền vẫn giữ được những yếu tố nguyên gốc nên vẫn không làm mất đi dáng vẻ uy nghi, cổ kính của ngôi đình.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1369513287/d797836321ab25c1523a7c38120dc110/1d__1_.png" />
         <pubDate>2021-11-04 14:57:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1867673130</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đình làng La Chữ</title>
         <author>5815384530</author>
         <link>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1867683022</link>
         <description><![CDATA[<div>Làng La Chữ địa danh gần gũi thân thương đối với mỗi người dân Ninh Thuận. Có những người con miền "nắng gió" Phan Rang khi xa quê vẫn da diết nhớ về La Chữ như nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Đình làng La Chữ tuy không mang dấu ấn cổ kính nhưng sân đình và cây sộp đại thụ là “nhân chứng” tinh thần tụ nghĩa và ý chí quật cường của người dân địa phương.</div><div>Các cụ cao niên làng La Chữ cho biết làng hình thành vào khoảng năm 1885. Vùng đất này thuở xa xưa có tục danh Nha Chá rừng rậm hoang vu. Hưởng ứng phong trào Cần Vương của vua Hàm Nghi, ông Phan Lành lãnh đạo nghĩa quân lập căn cứ tại vùng Nha Chá chống thực dân Pháp. Lực lượng nghĩa quân của ông Lành gây tổn thất nặng nề cho quân đội viễn chinh Pháp đóng tại các xã Phước Nam, Phước Diêm. Năm 1890, thực dân Pháp tấn công vào khu căn cứ nghĩa quân bắt ông Lành và những người chỉ huy. Phong trào Cần Vương tan rả, một bộ phận nghĩa quân trở về khẩn hoang lập ấp hình thành thôn La Chữ. Các đời vua Thành Thái, Duy Tân có sắc phong lập làng La Chữ hiện còn lưu giữ tại đình làng.Tuy phong trào Cần Vương dưới sự chỉ huy của ông Phan Lành bị thất bại nhưng hào khí nghĩa quân vẫn lan tỏa trong tâm hồn, cốt cách người dân làng La Chữ. Sau khi tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam ở Ninh Thuận được thành lập, nhiều đảng viên đến La Chữ hoạt động lãnh đạo phong trào cách mạng địa phương. Làng La Chữ thành lập các nhóm thanh niên đọc sách báo công khai thông tin phong trào cách mạng. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và đánh Mỹ xâm lược, làng La Chữ trở thành chiếc nôi của phong trào cách mạng địa phương. Nhiều cán bộ cốt cán của Đảng được nhân dân che dấu hoạt động đến ngày toàn thắng. Nhiều người con ưu tú của La Chữ lên đường nhập ngũ anh dũng hy sinh góp phần làm nên chiến thắng lịch sử mùa xuân 1975. Chiến công của cán bộ, nhân dân La Chữ tô thắm trang sử vẻ vang của quân và dân xã Phước Hữu anh hùng.</div><div>Khuôn viên đình làng La Chữ hiện nay rộng khoảng năm sào rợp mát bóng cây sộp đại thụ trên hai trăm năm tuổi. Cây sộp được ví như “ngọn hải đăng trên cạn” cho những người La Chữ xa quê thương nhớ tìm về. Tương truyền ngày xưa, ông Phan Lành chọn gò đất cây sộp làm nơi an quân dưỡng tướng, luyện tập binh sĩ. Ngày 22-8-1945, dưới bóng cây sộp, cán bộ và nhân dân làng La Chữ tổ chức mít- tinh khởi nghĩa giành chính quyền. Ngày 22-1- 1946, quân Pháp tái chiếm Phan Rang, cơ quan Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Ninh Thuận chuyển về La Chữ chỉ đạo phong trào cách mạng địa phương.Từ những năm đầu thế kỷ XX, nhân dân La Chữ lập đình thờ thần hoàng và những người có công khẩn hoang lập ấp. Tháng 4-1948, thực dân Pháp càn quét La Chữ đốt phá đình làng. Nhân dân dựng lại đình nhưng qua nhiều năm mưa nắng bị hư hỏng. Đến tháng 9- 2011, người dân La Chữ tiếp tục huy động mọi nguồn lực đóng góp xây dựng ngôi đình mới khang trang trên nền đất cũ. Mái đình và cây sộp là biểu tượng tình cảm thiêng, truyền thống cách mạng hào hùng của người dân làng La Chữ xưa và nay.</div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1369513287/fcb8b467974e7403b30dd44a9c9969ee/unnamed.jpg" />
         <pubDate>2021-11-04 15:00:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1867683022</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đình Dư Khánh</title>
         <author>5815384530</author>
         <link>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1867690286</link>
         <description><![CDATA[<div>Tỉnh Ninh Thuận ngày nay nằm trên vùng đất <a href="http://www.yeusuviet.com/2017/08/thap-chien-quang-nam-dau-tich-vuong.html"><strong>Panduranga</strong></a> ngày xưa và từng có tên Thuận Thành trấn cho đến năm 1832. Với đình Dư Khánh, năm 1819, sau một khỏang thời gian dài khai hoang, khẩn đất từ chính quyền <a href="http://www.yeusuviet.com/search/label/chua-nguyen"><strong>Đàng Trong</strong></a>, vùng đất mới đã dần hình thành và những người đứng đầu nhóm dân khai hoang gọi là Hương chức của làng có ý định lập đình theo truyền thống của người Việt. Nhưng vì dân số lúc ấy còn ít, mọi người chỉ lập tạm ngôi miếu để tạm là nơi trung tâm của dân cư mới. 24 năm sau, khi dân cư đã đông đúc hơn, cuộc sống tại vùng đất mới đã dần có thế hệ mới tiếp quản, người dân quyết định tu bổ lại ngôi miếu và đến năm 1858, đình Dư Khánh được đại tu một lần nữa để trở nên khang trang hơn, tương xứng hơn sau gần 40 năm ngôi làng được hình thành. Hiện nay, trong đình Dư Khánh vẫn còn ghi lại tên gọi các vị hương chức có công với làng như Hương sư Lê Quang Vận, Hương chủ Kiều Văn Thư, Đốc công Trần Văn Sanh, Đốc tượng La Văn Sơn... Tuy nhiên, đáng tiếc là vị Thành hoàng của đình lại không rõ lai lịch nhưng đã được <a href="http://www.yeusuviet.com/2017/08/hoang-e-tu-uc-nguoi-minh-quan-sinh-lam.html"><strong>Hoàng đế Tự Đức</strong></a> sắc phong "Tĩnh hậu trung đẳng thần".<br>Đình Dư Khánh sau khi được xây dựng và trải qua đến hôm nay đã có một diện mạo bề thế. Đình tọa lạc trên khuôn viên khoảng 1.956m2 với ác công trình tiêu biểu của đình làng Việt như cổng tam quan, tòa chánh điện, nhà tiền hiền, bức bình phong, sân đình và nhà trù (bếp), nhà cối (kho). Ngoài ra, còn có hai dãy nhà nằm ở hướng Bắc và hướng Nam của đình và dãy tường kiên cố bao xung quanh khu đất đình tọa lạc.Đình Dư Khánh là tiêu biểu cho lối kiến trúc của mái đình Việt. Tại cổng tam quan để bước vào đình, cửa Trung môn có hai tầng ba lớp mái và hai cổng hai bên có một tầng hai lớp mái, trên cổng Trung môn có cặp rồng bằng sứ xanh và hai cổng hai bên là cặp búp sen chớm nở cùng với các đường chạm khối, trang trí Bát tiên, Hoa khôi, Dơi... đã đủ diễn tả vẻ uy nghiêm mang đậm chất văn hóa Việt của đình. Bên trong, đình có bình phong nội (bình phong ngoại nằm trước cổng đình cũng chạm trổ tinh xảo) xây dựng theo kiểu tứ trụ với hai cặp lân, rồng xanh chính diện cùng với hình ảnh long - phụng&nbsp; chạm nổi ở mặt trước bình phong thể hiện âm dương hòa hợp, mưa thuận gió hòa.</div><div><br></div><div>Đình Dư Khánh nằm gần bãi biển Ninh Chữ. Phía Bắc đình là dòng sông Tri Thủy, phía Nam là ngọn núi Bút, phía Tây là ngọn Cà Đú, cửa đình hướng về biển cả mênh mông với ngọn núi Tân Án án ngữ. Khi du khách ghé thăm Ninh Thuận, đến thăm biển Ninh Chữ có thể ghé lại thăm đình Dư Khánh để cảm nhận vẻ không khí tĩnh mịch nhưng không u tịch của mái đình Việt cũng như tìm thấy sự thư thái, an nhiên và nhẹ nhàng của chốn thiêng nơi lưu giữ linh hồn tiền nhân thuở trước. Tại đình Dư Khánh, với không gian lắng đọng, người viếng thăm sẽ như đang được nghe lại những câu chuyện thuở xa xưa của tiền nhân đi về miền rừng thiêng, nước độc khai khẩn đất hoang làm nơi nương thân ngàn đời cho con cháu!</div><div><br></div><div>Đình Dư Khánh như muôn vạn ngôi đình khác trên lãnh thổ Tổ quốc từ Bắc chí Nam, là nơi lưu giữ những khát vọng dựng nước, giữ nước và mở nước của tiền nhân! Nhìn vào đình, chúng ta như nhìn thấy lịch sử mở nước của cha ông mà thêm lòng tự hào về <a href="http://www.yeusuviet.com/"><strong>Sử Việt</strong></a>, về những tiền nhân đã luôn không ngơi nghĩ mà nhìn về tương lai, nghĩ cho con cháu của dân tộc. Chúng ta phải giữ lấy tinh thần và ý chí đó, để truyền lại cho con cháu đời sau lòng quyết tâm giữ lấy từng tấc đất, tấc sông, tấc biển mà người xưa đã dùng máu và nước mắt để mở ra! Đó là lời tiền nhân vọng về nơi những mái đình Việt như đình Dư Khánh!</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1369513287/452cab8b59122701d705d537b449e767/nh_D_Khnh.png" />
         <pubDate>2021-11-04 15:03:20 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1867690286</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lễ hội Nghinh Ông</title>
         <author>5815384530</author>
         <link>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1867700537</link>
         <description><![CDATA[<div>Ở các địa phương khác, lễ hội Nghinh Ông được tổ chức hàng năm. Còn ở làng biển Đông Hải (Ninh Thuận), lễ hội này 3 năm mới được tổ chức 1 lần. Trong hội còn có phần lễ hát mừng Ông cầu ngư rất khác lạ và đặc sắc.Với mong muốn cầu mưa thuận gió hoà, thuyền đầy tôm cá, trong 4 ngày (từ ngày 21 đến 24 tháng 6), ngư dân làng cá Đông Hải (phường Đông Hải, TP Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận) tổ chức <a href="https://dantri.com.vn/bat-dong-san/sac-mau-nhat-ban/xu-so-le-hoi.htm">lễ hội</a> “Hát mừng Ông cầu ngư” tại lăng Hải Chữ, hay còn gọi là Lễ hội hát mừng Ông đầm Phan Rang. Đây là một trong những nét văn hoá của ngư dân vùng biển Đông Hải và được tổ chức định kỳ 3 năm một lần.Lăng Hải Chữ ở phường Đông Hải được vua Tự Đức sắc phong từ năm 1851 và lễ hội này được tổ chức suốt gần 170 năm qua. Lăng này cũng đã được tôn vinh là di tích văn hóa cấp tỉnh từ năm 2003.<br><br></div><div>Lễ hội hát mừng Ông cầu ngư ở Lăng Hải Chữ thường được chia làm hai phần: phần lễ và phần hội. Trong phần lễ, các vị chức sắc cao niên tiến hành các nghi lễ cầu quốc&nbsp; thái dân an, mưa thuận gió hòa, thu được nhiều sản vật trong những chuyến ra khơi. Trong phần hội, ngư dân địa phương tham gia trò chơi dân gian đua thuyền thúng và trình diễn múa siêu nhằm tái hiện lại đời sống sinh hoạt của bà con ngư dân, cổ súy cho tinh thần yêu chuộng lao động, cần cù nhẫn nại, vượt qua mọi cam go thử thách, bám biển quê hương của bà con ngư dân.Lễ hội hát mừng Ông Cầu Ngư – Lăng Hải Chữ đã trở thành một trong những nghi lễ truyền thống được duy trì qua nhiều thế hệ của người dân địa phương, tạo nên sức mạnh đoàn kết giúp bà con ngư dân tại làng cá Đông Hải vươn khơi, bám biển, góp phần phát triển kinh tế địa phương và khẳng định chủ quyền biển đảo quê hương.<br><br></div><div><br><br></div><div><br><br></div><div><br><br><br><br></div><div><br><br></div><div><br><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1369513287/71a3a11519048eacff2db6f6ca430ecb/1_1561521307510.png" />
         <pubDate>2021-11-04 15:06:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1867700537</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nghệ thuật làm gốm Bàu Trúc</title>
         <author>5815384530</author>
         <link>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1867714401</link>
         <description><![CDATA[<blockquote>Làng nghề Bàu Trúc nằm ven quốc lộ 1A thuộc thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, cách thành phố Phan Rang – Tháp Chàm 10km về hướng Nam. Có lẽ Bàu Trúc phát triển được nghề gốm nhờ mỏ đất, mỏ cát riêng biệt chỉ phù sa sông Quao mới có. Ðất mịn, dẻo; cát cũng rất mịn, hạt nhỏ li ti. Theo truyền thuyết của người Chăm, nghề gốm do vợ chồng ông tổ Poklong Chanh dạy cho phụ nữ trong làng từ ngàn xưa. Bởi vậy, ở Ninh Thuận, phụ nữ người Chăm ai ai cũng biết làm gốm còn đàn ông chỉ tham gia vào những việc như đập đất, nung gốm.<br>Nguồn gốc của tên gọi<strong> "Bàu Trúc"?</strong> “Bàu” là cái ao hay vũng nước có diện tích tương đối rộng được hình thành tự nhiên, ở cuối làng Bàu Trúc từ xưa đến nay vẫn còn một ao nước rộng, nước trong ao này nhiều hay ít tùy theo mùa và lượng mưa mỗi năm. Điểm nổi bật khi xưa ao nước này mọc xung quanh rất nhiều cây Trúc, vì vậy theo đặc điểm này người làng mới lấy tên gọi “<strong>Làng Bàu Trúc</strong>“.</blockquote><div>Để làm ra sản phẩm gốm Bàu Trúc, người ta dùng loại đất có độ dẻo cao. Đất được làm sạch, đập nhuyễn, ngâm nước, sau đó trộn với cát trắng hạt nhỏ theo tỷ lệ hai đất sét một cát. Khâu chuẩn bị đất phải rất kỹ lưỡng, chỉ cần sót ít bụi bẩn thì sản phẩm sau khi nung sẽ bị nứt, hư hỏng ngay. Người làm gốm gửi tình cảm, tâm linh mình vào từng đường nét hoa văn. Vì vậy sản phẩm của mỗi người thợ có những “tiếng nói” riêng không thể trộn lẫn được. Mỗi sản phẩm đã bán đi 5-10 năm, khi gặp lại họ vẫn nhận được mặt hàng do tay mình làm ra.</div><div>Nghề làm gốm rất công phu. Với loại gốm khác, để tạo hình một đồ vật nào đó, các nghệ nhân phải cần sự hỗ trợ của bàn xoay, nhưng với gốm Bàu Trúc thì người ta làm bằng tay từ bước tạo hình cho đến trang trí tạo hoa văn không cần dùng bàn xoay. Các nghệ nhân chỉ sử dụng đôi bàn chân để làm bệ đỡ thay cho bàn xoay và đồng thời vuốt khối đất để tạo hình sản phẩm. Sau khi tạo dáng, sản phẩm được phơi nắng 4-6 giờ rồi dùng mảnh sàng làm láng. Hoa văn gốm Bàu Trúc chủ yếu là hình răng cưa, khắc vạch, sóng nước, hoa văn thực vật, vỏ sò… Sản phẩm gốm Bàu Trúc được làm nhiều nhất là những bức phù điêu của phụ nữ Chăm, các vị vua Chăm, hình ảnh của vũ nữ và những vật dụng sử dụng hằng ngày trong đời sống. Không quá nhiều màu sắc cầu kỳ, cũng không được tô vẽ, không dùng men, nhưng gốm Bàu Trúc đã mang một nét đẹp rất riêng – đẹp bởi hình dáng sản phẩm, bởi sự mộc mạc, tỉ mỉ, cẩn thận của người bà, người mẹ, người chị.</div><div>Gốm mộc được sản xuất trong khoảng 5-10 ngày rồi đem ra nung. Kỹ thuật nung cũng khá đặc biệt, không phải là lò nung điện hay than mà là được đun trực tiếp bằng rơm và củi xung quanh sản phẩm. Gốm được xếp bên trên một lớp củi khô và chất rơm lên trên cùng, thế nên khi ra lò, chất gốm cũng tạo nên một nét đặc sắc không nhầm lẫn ở đâu được.</div><div>Thời gian nung khoảng từ 4-5 giờ, màu sắc gốm được tạo nên từ nhiều mảng màu tự nhiên vừa có màu đặc trưng vàng đỏ, đỏ hồng, đen xám như màu khói ám, rồi vệt nâu, tạo thành các sản phẩm gốm độc đáo, mang đặc trưng nền văn hóa Chăm. Sản phẩm ra lò được những già làng chọn lựa, chỉ những sản phẩm đủ tiêu chuẩn mới được đưa ra thị trường tiêu thụ. Nhờ coi trọng chất lượng, sản phẩm gốm làng Bàu Trúc được thị trường các tỉnh khu vực miền Trung-Tây Nguyên tiêu thụ ổn định, hàng trăm ngàn sản phẩm mỗi năm.</div><div>Hơn 4 năm trước, một nghệ nhân trẻ của Bàu Trúc là Vạn Quan Phú Đoan đã mạnh dạn thành lập Công ty TNHH Gốm Chăm Pa, nhằm quảng bá, xúc tiến thương mại cho sản phẩm gốm. Được sự giúp đỡ từ chương trình khuyến công, anh Đoan đã xây dựng lò nung gốm kiểu mới với chi phí gần 200 triệu đồng. Theo Đoan, mỗi mẻ nung từ lò của anh có thể cho ra khoảng 450-500 sản phẩm và ít nhất trên 90% trong số đó đạt chất lượng. Lò nung mới dùng nguyên liệu để đốt là vỏ trấu, loại phụ phẩm từ nông nghiệp có rất nhiều tại Ninh Thuận nên giảm ô nhiễm môi trường. Giá thành sản phẩm gốm cũng giảm gần 1/3 so với cách nung truyền thống.&nbsp;</div><div>Hiện nay, bình quân mỗi hộ làm gốm ở đây thu nhập khoảng 5-6 triệu đồng/tháng. Đây là mức thu nhập khá cao so với nhiều vùng nông thôn ở Ninh Thuận. Nếu được sự hỗ trợ giúp đỡ của các ngành chức năng tìm thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu, sản phẩm gốm Bàu Trúc sẽ tạo bước phát triển mới cho một làng nghề truyền thống độc đáo của cộng đồng dân tộc Chăm ở Việt Nam.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1369513287/8aa2b33a78c4d73b172be9fd3b8bac51/unnamed__1_.jpg" />
         <pubDate>2021-11-04 15:12:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1867714401</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Làng nghề dệt Mỹ Nghiệp</title>
         <author>5815384530</author>
         <link>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1867728438</link>
         <description><![CDATA[<div>Theo QL1A theo hướng từ trung tâm Tp. Phan Rang về phía Nam thì làng Dệt Mỹ Nghiệp cách Tp. Phan Rang 12km. Nằm tại địa chỉ: thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận (đối diện bên đường so với làng Gốm Bàu Trúc)Đến nơi đây, du khách sẽ chứng kiến tận mắt cách dệt sản phẩm thổ cẩm hết sức công phu và độc đáo. <strong><em>Đặc biệt, biết được cách phân biệt giữa hàng thổ cẩm dệt thủ công &amp; dệt máy khác nhau như thế nào?</em></strong></div><div>Đây là điều tuyệt vời nhất khi tận mắt được thấy các nghệ nhân dệt trực tiếp những tấm thổ cẩm, mỗi tấm thổ cẩm đều mang theo hoa văn, màu sắc đậm chất văn hóa Chăm và cả hồn của nghệ nhân Chăm gửi gắm trong từng sản phẩm. Từ xưa, để làm nên một sản phẩm thổ cẩm hoàn chỉnh thì khâu nguyên liệu là khâu nghệ nhân phải chuẩn bị vất vả nhất vì hoàn toàn làm bằng thủ công: từ công đoạn trồng bông, cán bông, kéo sợi, nhuộm màu (<em>nhuộm màu là công đoạn khó nhất quyết định sản phẩm có chất lượng theo thời gian hay không?</em> <em>đây là bí quyết gia truyền riêng của từng gia đình), hoặc có gia đình nuôi tằm lấy tơ – làm sợi – lên màu</em>… Sau đó, nghệ nhân mới đem sợi hoàn chỉnh để dệt thành phẩm. <br>Ngày nay, nghệ nhân Chăm đỡ phải vất vả hơn với giai đoạn chuẩn bị nguyên liệu, người Chăm sử dụng chỉ màu có sẵn trên thị trường với ưu điểm giá thành rẻ, màu sắc phong phú, tiết kiệm được chi phí sản xuất và có nhiều thời gian hơn để chăm chút cho từng sản phẩm của mình tới tay người tiêu dùng.Làng dệt Mỹ Nghiệp vẫn giữ được các nét văn hóa độc đáo riêng của mình: cách dệt thổ cẩm ở đây vẫn làm hoàn toàn bằng thủ công, không có dấu hiệu của máy móc. Chỉ khi đến giai đoạn thành phẩm mới sử dụng máy may để lên khung hình cho sản phẩm được bền, đẹp và chắc chắn phù hợp với mục đích sử dụng.<br><strong>Nghệ nhân sử dụng 2 loại khung dệt gỗ chính:<br></strong>+ <strong>Khung dệt cao</strong> – dùng để dệt các khổ vải có đường kính nhỏ, được dệt chủ yếu làm viền điểm nhấn các sản phẩm lưu niệm: ví, túi xách, viền nón, balo…<br>+ <strong>Khung dệt thấp (ngồi)</strong> dùng để dệt các khổ vải thổ cẩm có kích thước lớn. Với khung dệt này đòi hỏi người nghệ nhân phải có tay nghề cao và kinh nghiệm lâu năm để hoàn tất tấm thổ cẩm chỉnh chu cả về mặt hình thức và toát lên được hồn Chăm trong từng sản phẩm.Đặc biệt, các nghệ nhân lớn tuổi trong làng vẫn lưu giữ được cách dệt các hoa văn cổ truyền thống quý giá: thần voi, thần siva…<strong><em>hoa văn này</em></strong> <strong><em>được dùng để dệt cho các vua chúa Champa xưa</em></strong>. <br>Khi đến đây du khách được xem các nghệ nhân: <em>cần mẫn luồng từng sợi chỉ trên khung dệt, kết hợp với cây dao gỗ ép chặt từng sợi chỉ một cùng với đôi bàn tay chuyển tiếp các hoa văn một cách điêu luyện tạo nên các sản phẩm thổ cẩm đẹp mắt và công phu.<br></em><br></div><div><br><br></div><div><br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1369513287/5ed1f4db80a1b1ff2cccbb674659c806/M__Nghi_p_1_768x511.jpg" />
         <pubDate>2021-11-04 15:17:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1867728438</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vịnh Vĩnh Hy</title>
         <author>5815384530</author>
         <link>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1867792833</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em>Vịnh Vĩnh Hy</em></strong>:<strong> </strong>Nằm<strong> </strong>cách thành phố Phan Rang - Tháp Chàm khoảng 40 km về phía đông bắc, thuộc địa phận xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải. Vịnh Vĩnh Hy được xem là vùng sơn cùng thủy tận của tỉnh Ninh Thuận mang nhiều nét đẹp hoang sơ, hùng vĩ của biển và rừng núi bạt ngàn. Vĩnh Hy như một cô gái đẹp đang ẩn mình trong rừng sâu, đợi những tín đồ du lịch đến đánh thức!&nbsp;</div><div>Được bao bọc bởi các dãy núi nhô thẳng ra biển và được vỗ về bởi dòng biển xanh. Vịnh Vĩnh Hy là nơi duy nhất của tỉnh Ninh Thuận ít chịu thiên tai bão lụt nhất. Thay vào đó là được thiên nhiên ưu đãi cho những cảnh đẹp dịu dàng khiến ai cũng ghen tỵ.</div><div>Chỉ mới đưa vào khai thác du lịch gần 10 năm nay, nhưng vịnh Vĩnh Hy được đánh giá là một trong những điểm du lịch sinh thái ấn tượng nhất khu vực Nam Trung Bộ. Đường vào Vĩnh Hy đi qua những vườn nho trĩu quả và cánh rừng xanh mát tạo cho du khách cảm giác ban đầu thoải mái, yên bình của miền quê. Đến Vĩnh Hy, ngay lập tức du khách bị cuốn hút bởi phong cảnh hữu tình với biển xanh, bờ cát mịn và những dãy núi đá vôi bao bọc đón từng cơn sóng tung trắng xóa. Ở đây, trong không gian tĩnh lặng, khách có thể thỏa sức dạo chơi bên bờ cát trắng, tắm biển hoặc thư giãn bằng thú câu cá. Đối với những người ưa mạo hiểm thì có thể leo lên những vách núi chênh vênh bên bờ biển hoặc khám phá những hang động thiên nhiên tuyệt đẹp. Du khách cũng có thể gặp gỡ và tìm hiểu cuộc sống cũng như nghề đánh bắt hải sản của người dân vạn chài… Nếu có thời gian ở lại Vĩnh Hy qua đêm, du khách đừng bỏ lỡ cơ hội đi xem rùa biển đẻ trứng. Nhưng hấp dẫn nhất ở Vĩnh Hy vẫn là tour xem san hô bằng tàu đáy kính. Khu bảo tồn biển Vĩnh Hy là vùng biển có rạn san hô đẹp và đa dạng nhất Việt Nam với trên 300 loài san hô cứng có nhiều hình dáng, sắc màu phong phú. Năm 2003, Vĩnh Hy là vùng biển đầu tiên của Việt Nam được chọn để thực hiện thí điểm đề án bảo tồn san hô dựa vào cộng đồng.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1369513287/c7061e06ec20c7c2660ca49df8eb406c/vinh_vinh_hy_vinh_dep_nhat_viet_nam_dulichchat_11_1_650x405.jpg" />
         <pubDate>2021-11-04 15:40:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1867792833</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thác Chaper</title>
         <author>5815384530</author>
         <link>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1867800388</link>
         <description><![CDATA[<div>Thác Chaper thuộc thôn Ma Lâm, xã Phước Tân, huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận là ngọn thác mới được phát hiện và thu hút nhiều du khách thập phương đến tham quan. Từ thành phố Phan Rang theo quốc lộ 27 hướng lên Đà Lạt, đến ngã ba Ninh Bình (huyện Ninh Sơn), rẽ phải đi theo quốc lộ 27B đến thôn Ma Lâm. Từ đây, du khách phải đi bộ một đoạn đường đất đỏ nép mình dưới tán cây mát rượi của rừng già, chừng vài phút thác Chaper huyền ảo sẽ hiện ra trước mắt.Thác Chaper theo tiếng gọi người Raglai là “thác nước bay”, mang trong mình câu chuyện thần thoại bí hiểm.<br>Chuyện kể rằng ngày xưa người Raglai thường đi lần theo các con suối, dòng nước để tìm đất trồng trọt. Có đôi vợ chồng nọ trên đường mưu sinh phát hiện một ngọn thác nhỏ. Họ ở lại và dựng nhà sàn sinh sống. Sau một thời gian, họ hạ sinh được một cô con gái và đặt tên là Chaper. Ngày qua ngày, cô gái Chaper càng lớn càng xinh đẹp, hát hay. Sắc đẹp của nàng khiến các chàng trai trong buôn làng say mê.<br>Một ngày nọ, khi thần mặt trời đi vắng, thần mưa cho trút nước xuống trần gian. Mưa ngày này qua ngày khác, cuốn trôi hoa màu và cả nàng Chaper. Khi thần mặt trời và dân làng trở về thì đã quá muộn. Thương tiếc nàng, dân làng tìm đủ mọi cách vớt xác nhưng không thể.Trong lúc gần như tuyệt vọng, mọi người thấy hình ảnh nàng ẩn hiện trong ánh cầu vồng, mái tóc nàng buông theo dòng nước, giọng hát của nàng hòa lẫn tiếng thác đổ ầm vang. Thấy hiện tượng kỳ lạ và để tưởng nhớ người con gái xinh đẹp bạc mệnh, người dân bèn đặt tên cho dòng thác là Chaper.<br>Thác Chaper có độ cao hơn 50 mét với bề ngang chân thác rộng khoảng 40 mét, là một trong những địa điểm du lịch hấp dẫn ở Ninh Thuận. Dưới tán lá xanh rì của khu rừng nguyên sinh, bạn sẽ lắng nghe tiếng thác nước chảy như tiếng hát của người con gái núi rừng, dòng nước như dải lụa trắng mềm mại phủ lên những tảng đá của vách núi Ma Lâm.Bờ hồ là những ghềnh đá phẳng lỳ nấp dưới tán cây kín đáo, dành đợi những tay phượt ham thích khám phá thiên nhiên hoang dã đến ngâm mình thưởng thức dòng nước mát lạnh. Sự quyến rũ của thác Chaper đang ngày một thu hút nhiều khách thập phương mặc dù đường sá lên đây vẫn còn khó khăn.<br>Một ngày ghé thác Chaper sẽ không đủ, du khách có thể xin ngủ nhờ nhà người Raglai. Đêm đến, đốt lửa quây quần để nghe người Raglai hát sử thi, thưởng thức những món ăn đặc sản, nhâm nhi ché rượu cần của miền sơn cước là một cảm giác thú vị. Nếu thích, du khách có thể tận hưởng cảm giác ngủ nhà sàn, tĩnh tâm lắng nghe âm thanh của núi rừng, như nỗi tâm sự của nàng Chaper xin đẹp. Phía xa xa, tiếng đàn Chapi vọng về làm xốn xang lòng người, quên đi sự xô bồ của cuộc sống.<br>Sáng hôm sau, bạn sẽ dành một buổi tham quan bẫy đá Pinăng Tắc, công trình quân sự của anh hùng lực lượng vũ trang Pinăng Tắc (người Raglai, ở huyện Bác Ái, Ninh Thuận) thời kháng chiến chống Pháp. Bẫy đá Pinăng Tắc được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia vào năm 2010.<br>Huyện núi Bắc Ái, Ninh Thuận đang trở mình, ngày một thu hút nhiều du khách. Thác Chaper ẩn mình giữa rừng núi hoang vu, mang một huyền sử bí ẩn của người Raglai đang trở thành một địa điểm du lịch đáng đến của tỉnh Ninh Thuận.<br>&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1369513287/5d9059b00bbad2e5b6fe3cce53d01c70/yuYJzLMVx_thac.jpg" />
         <pubDate>2021-11-04 15:43:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1867800388</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Núi Cà Đú - Di tích lịch sử cách mạng (Ninh Thuận) </title>
         <author>nnhuyentrann</author>
         <link>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1869686043</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Núi Cà Đú là một địa danh lịch sử nằm giữa vùng đồng bằng rộng lớn, cạnh Quốc lộ 1A thuộc huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận. Chính nhờ địa thế này, từ những ngày đầu của phong trào Cần Vương, nghĩa quân đã chọn núi Cà Đú làm căn cứ chống Pháp.&nbsp;<br></strong><br></div><div>Cũng từ đây, các đội trinh sát, các đơn vị vũ trang và cán bộ cách mạng suốt những năm tháng kháng chiến chống Mỹ đã bám trụ và gầy dựng cơ sở chiến đấu. Với nhiều ý nghĩa lịch sử như thế, ngày 16/04/1999 UBND tỉnh Ninh Thuận đã ra quyết định công nhận núi Cà Đú là di tích lịch sử cách mạng của tỉnh.<br><br></div><div><strong>Núi Cà Đú là một địa danh lịch sử nằm giữa vùng đồng bằng rộng lớn, cạnh Quốc lộ 1A thuộc huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận. Chính nhờ địa thế này, từ những ngày đầu của phong trào Cần Vương, nghĩa quân đã chọn núi Cà Đú làm căn cứ chống Pháp.&nbsp;<br></strong><br></div><div>Cũng từ đây, các đội trinh sát, các đơn vị vũ trang và cán bộ cách mạng suốt những năm tháng kháng chiến chống Mỹ đã bám trụ và gầy dựng cơ sở chiến đấu. Với nhiều ý nghĩa lịch sử như thế, ngày 16/04/1999 UBND tỉnh Ninh Thuận đã ra quyết định công nhận núi Cà Đú là di tích lịch sử cách mạng <em><br></em><br></div><div>Vượt qua địa hình hiểm trở với những tảng đá chồng chất lên nhau và nhiều hang lớn khi tới đỉnh núi, du khách sẽ bị choáng ngợp bởi sự bao la, rộng lớn của ngọn núi Cà Đú hùng vĩ. Phóng tầm mắt ra xa, du khách sẽ cảm nhận nét thơ mộng của Đầm Nại, vẻ đẹp lãng mạn của bãi biển Ninh Chữ, núi Đá Chồng với những ngôi chùa cổ kính và xa xa là thành phố Phan Rang - Tháp Chàm tươi trẻ.<br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1340520731/aa668c2147b48135cad7ba05e13bdbf1/32C2BADE_59E2_4ADE_8152_AE8F25691B1E.jpeg" />
         <pubDate>2021-11-05 11:08:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1869686043</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Di sản văn hóa </title>
         <author>5815384530</author>
         <link>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1870099417</link>
         <description><![CDATA[<div>Việt Nam có một kho tàng di sản văn hóa vô cùng phong phú và đa dạng. Không chỉ góp phần quan trọng vào việc giáo dục lịch sử, vun đắp truyền thống tốt đẹp của dân tộc, di sản văn hóa còn giúp phát triển kinh tế, xây dựng và quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới. Vì vậy, việc bảo tồn các di sản, di tích là việc làm quan trọng, trách nhiệm của Nhà nước và cộng đồng.</div><div>Di sản văn hóa tạo nên bản sắc riêng của mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc là tiếng nói, chữ viết, lễ hội, kiến trúc, trang phục… Các giá trị văn hóa này do các cộng đồng dân tộc thiểu số sáng tạo ra trong quá trình sinh tồn, phát triển, là những yếu tố làm nên giá trị đặc sắc của mỗi cộng đồng; là tiền đề quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.</div><div><strong><em><mark>* Di sản văn hóa là gì?</mark></em></strong></div><div>Di sản văn hóa là những sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác.</div><div><strong><em><mark>* Phân loại di sản văn hóa</mark></em></strong></div><div>Di sản văn hóa gồm <strong>di sản văn hóa phi vật thể </strong>và <strong>di sản văn hóa vật thể.&nbsp;</strong></div><div>- Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền, từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác.&nbsp;</div><div>- Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.</div><div>+ Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.</div><div>+ Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mĩ, khoa học.</div><div><strong><br>&nbsp;* Ý nghĩa của việc bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa</strong></div><div>- Di sản văn hóa là cảnh đẹp của đất nước, là tài sản của dân tộc.<br>- Di sản văn hóa thể hiện truyền thống, công sức, kinh nghiệm sống của dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.<br>- Bảo vệ di sản văn hóa để làm cơ sở cho thế hệ sau phát huy và phát triển.&nbsp;<br>- Phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc, góp phần làm phong phú kho tàng di sản văn hóa thế giới.</div><div><strong><em><mark>Di sản văn hóa của tỉnh Ninh Thuận</mark></em></strong></div><div>Ninh Thuận là tỉnh có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, đã để lại cho thế hệ hôm nay nhiều di sản văn hóa tiêu biểu và độc đáo góp phần không nhỏ vào việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Đặc biệt là những di sản văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể gắn liền với vùng đất đầy nắng và đầy gió này. Trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, ít nhiều đã tác động cả tích cực lẫn tiêu cực đến quá trình bảo tồn gìn giữ các giá trị di sản văn hóa trong giai đoạn hiện nay. Vì thế việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết, và đây cũng là một trong nhiệm vụ quan trọng nhằm gìn giữ tốt vốn di sản văn hóa của cha ông truyền lại cho thế hệ mai sau.</div><div>Tính tới thời điểm tháng 12/2018, tỉnh Ninh Thuận có tổng số gần 60 di tích được xếp hạng (trong đó 02 di tích cấp quốc gia đặc biệt; 15 di tích cấp quốc gia, 12 di tích vật thể, 03 di sản văn hóa được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, khoảng gần 38 di tích cấp tỉnh); là 01 trong 21 tỉnh có Nghệ thuật Đờn ca Tài tử được UNESCO vinh danh di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Trong năm 2018, tỉnh Ninh Thuận đã tiến hành hoàn tất các thủ tục liên quan đến việc lập hồ sơ đề nghị Hội đồng Di sản thế giới công nhận “Nghệ thuật làm Gốm của người Chăm Bầu trúc” là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại cần bảo vệ khẩn cấp. &nbsp;</div><div>Trải qua hàng ngàn năm tồn tại và phát triển chịu nhiều sự tác động của các yếu tố tự nhiên và xã hội. Nhiều di tích trên địa bàn toàn tỉnh đã và đang bị xuống cấp. Nhưng với sự nỗ lực của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch, sự quan tâm, hỗ trợ của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Di sản văn hóa, UBND tỉnh, sự phối hợp chặt chẽ của các Sở, ban ngành chức năng, sự đóng góp tích cực của đông đảo các tầng lớp nhân dân. Đến nay, đã có nhiều di tích xếp hạng được bảo quản, trùng tu – tôn tạo, phục hồi chống xuống cấp theo đúng quy định của Nhà nước. Kinh phí trùng tu, tôn tạo và phục hồi mỗi di tích từ vài trăm triệu đến vài chục tỷ đồng. Do đó, nhiều di tích di tích xếp hạng được bảo tồn khan trang như: cụm du lịch tháp Poklong Garai, tháp Pô Rôme, tháp Hòa Lai, Đình Vạn Phước, Đình Thuận Hòa, Miếu Xóm Bánh, Đình Tấn Lộc, nhà Cách Mạng Nguyễn Hữu Hương,….</div><div>Có thể nói, làm tốt công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của tỉnh trong xu thế công nghiệp hóa – hiện đại hóa hiện nay, tức là chúng ta đã làm tròn bổn phận của mình với cha anh, với cộng đồng đương đại và thế hệ mai sau. Và vì vậy, bảo vệ, giữ gìn các di sản văn hóa địa phương là trách nhiệm và lương tâm của tất cả chúng ta, nhất là thế hệ trẻ.<br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1369513287/f21e9d259ee107d7a1c0c36bf18f6438/T_i_y_u__3_.png" />
         <pubDate>2021-11-05 14:27:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1870099417</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hò Bả trạo</title>
         <author>5815384530</author>
         <link>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1872886481</link>
         <description><![CDATA[<div>Hò Bả trạo là loại hình nghệ thuật dân gian có truyền thống lâu đời ở các làng biển. Hò Bả trạo đi kèm các động tác múa, “bả” có nghĩa là nắm chắc, “trạo” có nghĩa là mái chèo. Hò Bả trạo trong Lễ hội Cầu ngư là cách để ngư dân-những người có cuộc sống, sinh mạng gắn liền với mênh mang sóng nước cầu nguyện cho trời yên, biển lặng, cá đầy khoang, thuyền bè đi khơi về lộng an toàn. Với ý nghĩa này, Hò Bả trạo không chỉ là hình thức giải trí dân gian đơn thuần, mà còn là sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của ngư dân. Ở tỉnh ta, tại làng biển Mỹ Nghĩa, phường Mỹ Đông (Tp. Phan Rang-Tháp Chàm) còn lưu giữ lại loại hình văn hóa phi vật thể này.</div><div>Theo tục lệ cổ truyền, đúng vào tháng tư Âm lịch, Ban quản lý Đình-Lăng Mỹ Nghĩa và ngư dân khu phố 7, 8 của phường Mỹ Đông lại tổ chức Lễ hội Cầu ngư. Trong ngày rước sắc đi qua Lăng Hải Chử, Đình Tân Thành và Cảng Đông Hải, ngư dân trong làng được tận mắt thấy đội Hò Bả trạo biểu diễn. Ông Nguyễn Văn Đồng, Phó Ban tổ chức (BTC) Lễ hội Cầu ngư Đình-Lăng Mỹ Nghĩa, cho biết: Trong nghi lễ, Hò Bả trạo đóng vai trò phần “cốt lõi”. Bởi ngoài ý nghĩa cầu an, hay nói khác hơn thông qua nghi thức Hò Bả trạo ngư dân mong muốn “ông” Nam Hải (cá voi) và Ngũ Hành Thần nữ sẽ che chở, phù hộ mang đến một mùa màng bội thu, một cuộc sống ấm no cũng như thể hiện lòng thành kính của ngư dân đối với công đức của những người đến đây lập làng. Qua đó, gia tăng tinh thần đoàn kết cộng đồng, giúp ngư dân vững vàng ra khơi bám biển, góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.Ông Võ Khôi Viên, thành viên BTC Lễ hội Cầu ngư Đình-Lăng Mỹ Nghĩa, cho biết: Hò Bả trạo đã tồn tại trên 100 năm, có “gốc” từ ngư dân các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên. Khi vào lập làng định cư, đa phần ngư dân ở đây sống chủ yếu bằng nghề biển và dựa vào thúng, thuyền, “định vị” của trăng, sao để ra khơi xa chèo lái đánh bắt. Thường thì một đội chèo gồm có khoảng 20 “bạn”, chèo lên hai bên và có một tổng lái, một tổng mũi, một tổng thương, thể hiện các hoạt động, cách đánh bắt của ngư dân thời xưa; đồng thời động viên, cổ vũ tinh thần các bạn chèo vượt qua sóng gió bằng các bài trình bày theo lối vịnh, hò, xướng...</div><div>Năm 2015, Hò Bả trạo được UBND tỉnh công nhận Di sản văn hóa phi vật thể cấp tỉnh. Tuy nhiên, loại hình diễn xướng dân gian này đang gặp những khó khăn trong công tác bảo tồn cũng như phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể như: Các bậc tiền bối truyền nghề có tâm huyết, trách nhiệm, am hiểu, tinh thần cống hiến hầu như tuổi đã lớn; còn về phía thành viên tham gia đội chèo, nhất là lớp trẻ vẫn chưa hiểu hết được ý nghĩa của Hò Bả trạo như nội dung bài hát, các hình thức diễn xướng dân gian… do vậy, đôi lúc diễn xuất mang tính ngẫu nhiên, chưa lột tả sâu sắc chất “hồn” tinh tế của nhân vật trong bổn (bản) Hò Bả trạo… Ông Nguyễn Văn Đồng lý giải: Do Hò Bả trạo xuất phát từ đời sống của ngư dân, mô phỏng cuộc sống qua lời ca, tiếng nhạc. Do đó người nghệ sĩ của biển-người hát bả trạo phải đồng thời là ngư dân dãi dầu mưa nắng, bám biển, hiểu từng con gió, thấu từng ngọn sóng. Điều này mới giúp niềm vui, nhiệt huyết của người con miền biển được gửi gắm linh thiêng và thể hiện trọn vẹn qua lời hát bả trạo. Thế nhưng, nghề đi biển hiện nay không còn như trước, ngư dân thường đóng tàu và thuê bạn đi biển chứ không trực tiếp ra khơi, thế hệ trẻ không tiếp nối truyền thống của cha ông nên không hiểu hết được giá trị văn hóa-âm nhạc đích thực trong làn điệu bả trạo, dẫn đến mai một.</div><div>Bà Nguyễn Thị Thanh Thuỳ, Phó Phòng Di sản văn hoá, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VH,TT&amp;DL), cho biết: Trước mắt, ngành VH,TT&amp;DL đang kêu gọi những người có tâm huyết, kinh nghiệm lâu năm tại các làng biển, nhất là các thành viên trong BTC Lễ hội Cầu ngư Đình-Lăng Mỹ Nghĩa tiếp tục truyền dạy, đào tạo cho thế hệ trẻ để bảo tồn giá trị văn hóa phi vật thể Hò Bả trạo. Chủ trì, phối hợp với các địa phương tiếp tục nghiên cứu bảo tồn và khai thác di sản văn hóa dân gian này. Ngoài ra, kinh phí dành riêng để hỗ trợ bảo tồn Hò Bả trạo của tỉnh đang gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, hiện nay, ngành đang tham mưu tỉnh lập hồ sơ đề nghị Bộ VH,TT&amp;DL đưa Hò Bả trạo vào danh mục văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, từ đó sẽ có thêm kinh phí để bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân gian này.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1369513287/3bf9524872a9024d139794168db2da15/unnamed.png" />
         <pubDate>2021-11-07 15:03:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1872886481</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lễ Suk Yeng ( Kinh hội )</title>
         <author>5815384530</author>
         <link>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1894415609</link>
         <description><![CDATA[<div>Suk Yeng có nghĩa là Kinh hội xoay vòng, tức là chu kỳ lễ lặp lại vào ngày thứ Sáu của mỗi tuần trong tháng lễ ở các thánh đường người Chăm Awal.<br>&nbsp;Được tổ chức theo chu kỳ thời gian của lễ Ramưwan nhưng thường tiến hành hàng năm vào tháng 11 hoặc 12 theo Hồi lịch, tức là khoảng đầu tháng 3 theo lịch Dương. Đây là một trong những nghi lễ lớn và quan trọng của người Chăm Awal chỉ đứng sau lễ hội Ramưwan.&nbsp;</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Suk Yeng là dịp để nhóm Tu sĩ Chăm Awal kiểm điểm lại những sai trái cùng các vấn đề nảy sinh trong đạo giáo từ chức sắc cho đến các tín đồ trong việc thực hiện nghi lễ cúng bái, sinh hoạt của tôn giáo tại các thánh đường. Bên cạnh, một số chênh lệch lịch pháp, hay các vấn đề xã hội khác cũng cần được bàn bạc, điều chỉnh trong dịp lễ Suk Yeng. Đây là dịp để đạo giáo người Chăm Awal tổng kết một năm hoạt động tôn giáo của mình và đề ra phương hướng, kế hoạch hoạt động tôn giáo trong các năm tiếp theo. Đặc biệt là tính toán việc tổ chức các nghi lễ nông nghiệp như: lễ cầu mưa, lễ cầu đảo, lễ xuống giống, gieo hạt,.. để các tín đồ Awal thực hiện trong năm.<br>&nbsp; &nbsp;Nghi lễ Suk Yeng có giá trị văn hóa rất đặc trưng của người Chăm Awal, không chỉ đối với tầng lớp tu sĩ Po Acar mà còn có ý nghĩa cả cộng đồng người Chăm Awal và Chăm Ahiér. Bởi lẽ, Suk Yeng là dịp để các bậc tu sĩ Po Acar mở cửa thánh đường làm lễ cầu nguyện cho quốc thái dân an, tẩy uế và tống khứ những tai ương, bệnh tật của năm cũ, cầu an cho năm mới. Đây cũng là dịp họp mặt của các vị chức sắc tôn giáo kể cả người Chăm Awal và Chăm Ahier để cùng nhau trao đổi thông tin, chia sẻ niềm vui. Từ đó, tạo mối gắn kết trong việc thực hiện lễ nghi tôn giáo cũng như thắt chặt mối quan hệ láng giềng, đoàn kết gắn bó bên nhau trong cuộc sống. Trong lễ Suk Yeng còn là dịp diễn ra lễ tấu chức (lễ thụ phong) cho một số vị tu sĩ Po Acar.<br>&nbsp; &nbsp; Đứng về gốc độ văn hóa, nghi lễ Suk Yeng mang một ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống tín ngưỡng thờ cúng ông bà, tổ tiên của dân tộc Chăm . Đây là dịp để các tín đồ Awal chuẩn bị và chọn các món ăn đặc biệt nhất để dâng cúng Po Awloah (Alla), tổ tiên và ông bà, nhằm cầu nguyện cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, nhân sinh vật thịnh. Qua đó, nghi lễ Suk Yeng tạo nên khối đại đoàn kết của các cộng đồng dân cư từ người Chăm, đến người Kinh, người Hoa,… đều đến tham gia và chia vui cùng cộng đồng người Chăm Awal trong dịp diễn ra nghi lễ này.<br> Vì vậy, để bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của nghi lễ Suk Yeng theo đúng tinh thần xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, vận hành phù hợp với thời kỳ hội nhập hiện nay. Chúng ta tăng cường công tác tuyên truyền, vận động dân tộc Chăm cần nâng cao nhận thức, tinh thần trách nhiệm trong việc loại bỏ dần những hủ tục lạc hậu đang kèm hãm sự phát triển bản sắc văn hóa và nền kinh tế của dân tộc. Đồng thời, phải biết giữ lấy những giá trị văn hóa truyền thống tinh túy nhất, nhân văn nhất, làm cho văn hóa của dân tộc mình ngày càng trong sáng, mang tính tiên tiến, đậm đà bản sắc phù hợp với chủ trương, sự quan tâm của Đảng và Nhà nước.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1369513287/6623faadb5f90cdec8f1d31173c7e513/z2921530521971_933e427bb76b49cf893006f41c5d1f6e.jpg" />
         <pubDate>2021-11-16 15:14:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1894415609</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nghề làm thuốc Nam</title>
         <author>5815384530</author>
         <link>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1894429478</link>
         <description><![CDATA[<div><br>Nói đến làng nghề truyền thống Chăm, thường thì người ta chỉ nhắc đến dệt thổ cẩm nổi tiếng Mỹ Nghiệp hay gốm Bàu Trúc ở Ninh Thuận, hoặc làng gốm Bình Đức, tỉnh Bình Thuận. Ít có người biết đến làng thuốc nam Phước Nhơn, cho dù bóng dáng bà con Chăm với giỏ thuốc dân tộc khắp tỉnh thành Việt Nam đã thành quen thuộc với mọi người.</div><div>Phước Nhơn và An Nhơn là hai làng Chăm thuộc xã Xuân Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận. Làng nằm cách quốc lộ số 1 về hướng tây non cây số, và nằm về hướng bắc thành phố Phan Rang - Tháp Chàm khoảng 10 km. Người dân Chăm ở đây thường sống dựa vào trồng lúa nước, chăn nuôi bò, làm rẫy trên mảnh đất đầy nắng gió, khô cằn và khắc nghiệt. Nhưng may mắn thay, ngoài nghề nông, bà con còn có nghề mẹ truyền con nối từ ngàn xưa, đó là thuốc nam dân tộc.</div><div>Nghề làm thuốc của người Chăm đã có từ lâu đời, nhưng nếu hỏi do đâu mà ra, thì không một ai trong làng nhớ nổi. Hầu như từ khi lập làng đã có nghề làm thuốc, cứ thế mẹ truyền con nối, hết đời này sang đời khác. Hiện nay toàn xã có hơn ngàn hội viên Đông y. Tất cả đều đã qua các lớp tập huấn chế biến dược liệu lấy từ thiên nhiên.</div><div>Người Chăm ở đây biết tận dụng các loại cây cỏ trong tự nhiên để làm thuốc chữa bệnh cứu người. Với sự hiểu biết về tâm sinh lý, đồng thời qua bí quyết do cha mẹ truyền lại, kết hợp với sự "mát tay" cá nhân, mà mỗi thầy thuốc chế biến thang thuốc theo kiểu riêng của mình. Họ biết biến những hoa lá, cây cỏ trong nhà và các lá cây họ kiếm chặt hái trong rừng tưởng không có ích, để trở thành những bài thuốc trị bệnh hiệu quả.</div><div>Với các bệnh thông thường, hầu như người Chăm Phước Nhơn từ già đến trẻ đều thuộc nằm lòng vài phương thuốc để phòng thân, hoặc phòng khi trong gia đình, hàng xóm bị ốm đau bệnh tật. Còn các loại bệnh ngặt nghèo nguy hại đến tính mạng như: rắn cắn, sốt rét, ung thư... thì cần đến các thầy thuốc tay nghề cao hơn.</div><div>Cây thuốc nam như một món quà của thiên nhiên ban tặng cho người dân Chăm. Hiện nay, con cháu trong làng đều được học làm thuốc từ cha mẹ, ông bà. Ban đầu họ theo cha mẹ lên rừng hái thuốc, rồi cách phân biệt các loại cây thuốc. Sau đó họ sẽ được ba mẹ, người lớn tuổi dạy lại về kinh nghiệm bắt mạch các chứng bệnh.</div><div>Cây thuốc nam ở làng Chăm, xã Xuân Hải đã được người dân chế thành những bài thuốc hay được lan truyền, nên bệnh nhân nhiều nơi khác tìm mua. Từ đó bà con bắt đầu nghĩ đến việc lấy nghề bốc thuốc làm kế sinh nhai, qua đó lưu truyền thành nghề truyền thống của người Chăm.</div><div>Ở góc chợ làng quê hay góc phố, người ta hay thấy người Chăm ngồi bốc thuốc. Người Xuân Hải thường đi chữa bệnh ở xa. Họ đi từ nam ra bắc, có khi sang cả Trung Quốc, Thái-lan, Lào và Cam-pu-chia. Mỗi đợt đi từ hai đến bảy, tám tháng trời mới quay về, nhất là vào các dịp lễ hội Ramưvan hay dịp Tết. Khi đã bán hết số thuốc đem theo, họ về làng lấy thuốc, nghỉ vài ngày lại đi.</div><div>Nghề thuốc gia truyền phát triển đã tạo nguồn thu ổn định cho người dân nơi đây. Bằng cách bán và bốc thuốc chữa bệnh trực tiếp, hay gián tiếp mà nhiều hộ gia đình đã có nguồn thu nhập đủ cho trang trải cuộc sống. Bà Lượng Thị Dãnh, người có nhiều năm làm nghề bốc thuốc, từng chữa lành các chứng bệnh khó trị, cứu mạng sống cho nhiều người, chia sẻ: Tôi năm nay đã 74 tuổi rồi. Tôi thường đi rất nhiều tỉnh trong nước để bốc thuốc chữa trị cho người bệnh. Nhiều người được tôi chữa khỏi đã giới thiệu cho người khác và họ gọi tôi là bà thầy mát tay.<br>Điều quan tâm và lo lắng nhất hiện nay là nghề bốc thuốc có nguy cơ ngày càng mai một thất truyền, vì cây thuốc nam hiện nay rất hiếm.</div><div>Đó cũng là mối bận tâm của bà con Chăm ở làng này. Nguồn dược liệu tự nhiên ngày càng cạn kiệt trước cách khai thác "đào tận gốc, trốc tận rễ" của những người thiếu hiểu biết. Cho nên, muốn có bài thuốc hay, có khi nhiều người phải lên mãi vào miệt trên những vùng rừng núi Ninh Sơn, Ninh Phước hay Bắc Ái (Ninh Thuận), hoặc tận Lâm Đồng để tìm cây thuốc, mà có khi lặn lội trong rừng tìm mỏi mắt không ra...</div><div>Càng thấy, việc giữ gìn và bảo vệ nguồn tài nguyên thuốc nam là điều đáng quan tâm nhất hiện nay trong cộng đồng làng Chăm. Bởi chỉ làm được như vậy, làng nghề thuốc cổ truyền của người Chăm mới mong duy trì và phát triển.<br><br></div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1369513287/d5cf6e466ca8e4c810274dc49e7e90e7/IMG_1462.jpg" />
         <pubDate>2021-11-16 15:18:59 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1894429478</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hang Rái</title>
         <author>5815384530</author>
         <link>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1894494243</link>
         <description><![CDATA[<div><em>Hang Rái nổi tiếng với vẻ đẹp tự nhiên làm mê hoặc lòng người. Khung cảnh xung quanh là núi non và biển trời xanh thẳm tạo nên một bức tranh sơn thủy hữu tình.</em>Hang Rái nằm ở <a href="https://goo.gl/maps/wFUemkQiXDaSGtnH6"><strong><em>xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận</em></strong></a>. Nơi đây có vị trí khá thuận lợi khi chỉ cách thành phố Phan Rang khoảng 35km, cách Cam Ranh 40km và cách Nha Trang 90km.</div><div>Hang Rái nằm trong quần thể <a href="https://halotravel.vn/vuon-quoc-gia-nui-chua/"><strong><em>Vườn quốc gia Núi Chúa</em></strong></a> nên bạn có thể kết hợp ghé tới 2 địa điểm này trong hành trình du lịch của mình. Điều mà nhiều người yêu thích ở đây chính là những rạn san hô cổ và hang núi kéo dài ra biển. Chắc chắn sẽ khiến du khách cảm thấy thích thú.<br><strong>Vì sao gọi là Hang Rái?<br></strong><br></div><div>Chắc hẳn lần đầu khi nghe thấy tên địa danh này bạn sẽ thắc mắc vì sao lại có tên gọi đặc biệt như vậy? Theo người dân địa phương chia sẻ, cái tên Hang Rái xuất phát từ hai lý do:<br><br></div><ul><li>Một là, vì thời gian trước, có rất nhiều loài rái cá sống trong các hang động. Nên người dân gọi luôn với cái tên là Hang Rái.</li><li>Hai là, ở hang Rái có nhiều cây rái mọc. Loại cây này thường để lấy dầu sơn tàu, thuyền để chống thấm</li></ul><div>Đường đi đến với Hang Rái là một quãng đường đẹp tuyệt vời. Chính vì vậy, bạn hãy thuê xe máy để chủ động đi lại cũng như thỏa thích ngắm nhìn khung cảnh trên đường nhé! Đặc biệt, khi tới đây bạn còn có cơ hội khám phá cung đường biển Phan Rang – Ninh Chữ – <a href="https://halotravel.vn/vinh-vinh-hy/"><strong><em>vịnh Vĩnh Hy</em></strong></a><em>.</em> Đây chính là cung đường biển đẹp nhất nhì Việt Nam đó!thời gian khám phá Hang Rái Ninh Thuận đẹp nhất là từ tháng 11 đến tháng 3. Đây là khoảng thời gian thời tiết không quá nắng nóng, nước biển trong xanh vô cùng đẹp.<br>Đến với Hang Rái bạn sẽ được ngắm nhìn công viên đá tuyệt đẹp. Những tảng đá tại đây có muôn hình muôn dáng khác nhau. Đặc biệt, ở Hang Rái còn có những hang động siêu nhỏ chỉ đủ một người chui qua mà thôi.<br><br></div><div>Khám phá một vòng công viên đá bạn sẽ được chiêm ngưỡng sự hùng vĩ của biển và núi. Nhất là những bãi san hô cổ và những tảng đá nhiều hình thù đa dạng. Chắc chắn đây sẽ là một trải nghiệm vô cùng tuyệt vời mà bạn không nên bỏ lỡ.<br><br></div><div><br><br></div><div><br><br></div><div><br><br><br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1369513287/96dbdaa6d9e323ac0058b6c203a17e16/hang_rai_ninh_thuan_mytour_1.jpg" />
         <pubDate>2021-11-16 15:41:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1894494243</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Múa náp Mỹ Tân </title>
         <author>5815384530</author>
         <link>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1894510140</link>
         <description><![CDATA[<div>Múa náp là một trong những loại hình văn hóa dân gian đặc sắc của cư dân miền biển Ninh Thuận. Trải qua hơn ba trăm năm khai hoang lập ấp, múa náp đã đồng hành với đời sống tinh thần của ngư dân Mỹ Tân. Mỗi đường siêu, thế võ trong múa náp thể hiện tinh thần đấu tranh bất khuất của cha ông thời mở cõi, nhằm bảo vệ cuộc sống thôn xóm bình yên.<br>Nằm cách Tp. Phan Rang- Tháp Chàm khoảng 20 cây số về hướng Đông-Bắc, làng biển Mỹ Tân thuộc xã Thanh Hải, nổi tiếng với nghề đánh cá phát triển thịnh vượng vào bậc nhất của huyện Ninh Hải. Cảng Mỹ Tân tấp nập tàu thuyền trong và ngoài tỉnh đến neo đậu mua bán hải sản và tiếp tế nhiên liệu. Mỹ Tân còn bảo tồn nhiều giá trị văn hóa đặc trưng của làng biển Nam Trung Bộ. Tương truyền cư dân Mỹ Tân ngày nay có nguồn gốc từ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên đến sinh cơ lập nghiệp từ hơn 300 năm trước. Cùng với việc di dân, cha ông mang theo phong tục, tập quán đến vùng đất mới lưu truyền cho con cháu. Những người thuở khai hoang mở cõi được dân làng tôn làm thần hoàng bổn cảnh thờ phụng tại đình làng. Cùng với hát hò bả trạo, hát giao duyên thì múa náp là loại hình văn hóa dân gian mang tinh thần thượng võ có giá trị bền vững trong đời sống cư dân làng biển.<br>Ông Phạm Ngọc Huề, năm nay 93 tuổi là bậc kỳ cựu ở Mỹ Tân. Ông được mời làm “cố vấn” của làng trong các kỳ lễ hội, cúng tế. Ông Huề cho biết, từ khi ông còn nhỏ đã thấy trong làng có múa náp. Các kỳ cúng đình, cúng lăng Ông Nam Hải đều có múa náp. Đội múa náp thường có từ 8 đến 10 người được tuyển chọn từ các trai đinh có đạo đức, sức khỏe tốt. Ông thủ chỉ hướng dẫn trai đinh rèn luyện việc múa náp theo đúng bài bản. Đội múa chia làm hai hàng chịu sự chỉ huy của đội trưởng theo tiếng gõ ra hiệu cặp sênh được làm bằng gỗ dài chừng 30 cm. Người múa náp đầu chít khăn, mặc quần áo rộng, lưng cuốn đai, chân cuốn xà cạp đi giày vải bó như những đội thủy binh thời xưa. Chiếc náp dài khoảng 100 cm, phần lưỡi dài khoảng 40 cm, hình thức như một thanh đao. Người học múa náp phải mất 3-5 tháng chuyên tâm rèn luyện mới có thể thành thạo thế đánh. Các bài múa náp được truyền dạy với tên gọi dân dã cho dễ nhớ: Bái tổ, ba thoi, đá đầu, đánh cán, đánh lưỡi, nhảy ngựa, tạ hàng ngang, tạ hàng xuôi, sắp mặt, sắp lưng, ra lưng, nhảy trái…<br>Sáng ngày 23/7, tại thôn Mỹ Tân, chúng tôi được chứng kiến buổi tổng dượt lễ cúng nghinh Ông Nam Hải và biểu diễn múa náp. Đây là hoạt động thiết thực của&nbsp; nhân dân địa phương chuẩn bị tham gia Liên hoan các Làng biển Việt Nam diễn ra tại tỉnh ta vào đầu tháng tám. Sau hồi trống chầu vang vọng thông báo với chư thần và dân chúng lễ hội nghinh Ông Nam Hải, ông Lê Văn Xị, 73 tuổi với vai trò chánh tế mặc lễ phục đứng trước hương án đọc bài vọng Ông Nam Hải. Các ông bồi tế và học trò lễ giúp việc cho chánh lễ thực hiện trình tự các bước cúng tế.&nbsp;<br>Sau bài tế, tiếng trống chầu vang vọng, anh Nguyễn Hữu Hà, 37 tuổi cầm cặp sênh gõ nhịp chỉ huy đội múa náp “chiếm lĩnh” sân lễ. Múa náp là những thế võ với cách đánh nhanh, mạnh mẽ, dứt khoát thể hiện sức chiến đấu bền bỉ của cư dân thời khẩn hoang lập ấp. Lực lượng ngư dân trẻ khỏe sẵn sàng chiến đấu chống giặc giã, thú dữ để bảo vệ cuộc sống bình yên cho dân làng.”Chúng tôi rất vui mừng khi được tham gia biểu diễn tại Liên hoan Làng biển Việt Nam năm 2011. Đây là dịp để đội múa náp Mỹ Tân cống hiến cho du khách gần xa nét đẹp văn hóa đặc sắc của người dân làng biển Mỹ Tân. Chúng tôi tiếp tục bảo tồn và truyền dạy các bài múa náp cho thế hệ trẻ thôn Mỹ Tân gìn giữ một loại hình văn hóa đặc trưng của cư dân làng biển Việt Nam”, anh Nguyễn Hữu Hà, phấn khởi nói</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1369513287/80e5ad565b08b91eeb476b45173e8d43/unnamed__2_.jpg" />
         <pubDate>2021-11-16 15:46:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1894510140</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Núi Đá Chồng</title>
         <author>5815384530</author>
         <link>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1894569493</link>
         <description><![CDATA[<div>Thiên nhiên ưu ái ban tặng cho thị trấn Khánh Hải ngọn núi Đá Chồng được xếp vào danh mục sơn thủy hữu tình thuộc diện bậc nhất của huyện Ninh Hải. Với chiều cao khoảng vài chục mét so với mặt nước biển, núi Đá Chồng trở thành điểm đến du lịch hấp dẫn. Từ đây, du khách phóng tầm mắt thưởng ngoạn cảnh sắc thiên nhiên non xanh nước biếc tươi đẹp của vùng biển Ninh Chử, Đầm Nại, núi Đá Dao, đồng muối Dư Khánh và những ruộng lúa, vườn nho trải dài xanh biêng biếc…<strong><br></strong>Núi Đá Chồng được các bậc chân tu chọn làm nơi xây dựng nhiều cơ sở thờ tự Phật giáo có kiến trúc đặc sắc trở thành điểm đến du lịch tâm linh thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước. Trong đó có những ngôi chùa được xây dựng kiểu dáng hiện đại kết hợp truyền thống văn hóa phương Đông như Trùng Sơn Cổ Tự, Thiền viện Trúc Lâm Viên Ngộ…</div><div>Vị trí núi Đá Chồng là “tâm điểm” của cung đường du lịch khám phá cảnh đẹp thiên nhiên của tỉnh Ninh Thuận. Từ thị trấn Khánh Hải, du khách xuôi theo tuyến đường ven biển khám phá vịnh Vĩnh Hy, Hang Rái, vườn nho Thái An, suối Lồ Ồ, biển Bình Tiên. Hoặc ngược lên đồi cát Nam Cương, Mũi Dinh, làng nghề dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp, làng gốm cổ Bàu Trúc, tháp Poklong Garai có kiến trúc đặc sắc vừa được Thủ tướng Chính phủ công nhận di tích văn hóa đặc biệt cấp Quốc gia…</div><div>Thắng cảnh núi Đá Chồng là điểm đến du lịch hấp dẫn mời gọi du khách gần xa đến thưởng lãm cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp cùng với tấm lòng hồn hậu mến khách của người dân bản địa và những sản vật phong phú riêng có của vùng đất Ninh Thuận.</div><div><br><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1369513287/4a6abb473cf6fa86094ef28069f35613/foody_mobile_hmb_s_jpg_259_636131784673195316.jpg" />
         <pubDate>2021-11-16 16:08:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1894569493</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lễ hội đầu năm làng Chăm Bỉnh Nghĩa </title>
         <author>5815384530</author>
         <link>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1894576589</link>
         <description><![CDATA[<div>LỄ HỘI ĐẦU NĂM LÀNG CHĂM BỈNH NGHĨA xã Bắc Sơn, huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận</div><div>Làng Bỉnh Nghĩa tiếng Chăm gọi là Palei Bal Riya. Vào tháng Giêng hàng năm theo Chăm lịch (khoảng tháng 4 Dương lịch), cộng đồng người Chăm Bỉnh Nghĩa tổ chức lễ hội Đầu năm. Lễ hội này còn được gọi là “Tập quán xã hội và tín ngưỡng của làng Chăm Bỉnh Nghĩa, xã Bắc Sơn, huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận”, đã được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 606/QĐ-BVHTTDL, ngày 03/02/2021. Đây là niềm vui lớn của làng Bỉnh Nghĩa nói riêng và cộng đồng Chăm trong tỉnh nói chung. Để giới thiệu cho du khách tham quan, tham gia và nghiên cứu, sau đây là lịch tổ chức 8 lễ nghi, lễ hội sẽ diễn ra:</div><div>1. Lễ hội Rija Harei, tổ chức vào lúc 8 giờ, ngày 21/4/2021 tại Đền thờ Po Bin Thuer, thôn Bỉnh Nghĩa, xã Bắc Sơn, huyện Thuận Bắc.</div><div>2. Lễ hội Rija Nagar, tổ chức vào lúc 14 giờ, ngày 01/5/2021 tại sân BQL thôn Bỉnh Nghĩa, xã Bắc Sơn, huyện Thuận Bắc.&nbsp;</div><div>3. Lễ hội Po Bin Thuer, tại Thôn Mỹ Tường 1, xã Nhơn Hải, huyện Ninh Hải. Rước y trang từ đền làng đến đền thờ Po Bin Thuer bắt đầu vào lúc 6 giờ 30 phút, ngày 05/5/2021. Sau đó di chuyển về Cửa Ngâm, thôn Mỹ Tân, xã Thanh Hải, huyện Ninh Hải, có giao lưu văn nghệ.</div><div>4. Lễ hội Po Bia Chuai, tổ chức lúc 8 giờ sáng, ngày 06/5/2021 tại Miếu Bà Đỏ, thôn Mỹ Hiệp, xã Thanh Hải, huyện Ninh Hải.</div><div>5. Lễ hội Paralao Kasah, tổ chức lúc 15 giờ, ngày 6/5/2021 tại cửa Ngâm, thôn Mỹ Tân, xã Thanh Hải, huyện Ninh Hải.</div><div>6. Lễ hội Po Ina Nagar Hamu Kut tổ chức lúc 8 giờ sáng, ngày 8/5/2021 Đền thờ Po Ina Nagar Thôn Bỉnh Nghĩa, xã Bắc Sơn, Thuận Bắc.</div><div>7. Po Nai và Po Riyak tổ chức lúc 15 giờ, ngày 09/5/2021 tại Đền thờ Po Bin Thuer, Thôn Bỉnh Nghĩa, xã Bắc Sơn, huyện Thuận Bắc.</div><div>8. Nghi lễ tống ôn tổ chức lúc 16 giờ, ngày 12/5/2021 tại ngã ba đường thuộc thôn Bỉnh Nghĩa, xã Bắc Sơn, huyện Thuận Bắc.</div><div>Việc tổ chức lễ hội giúp gắn kết cộng đồng Chăm thêm bền chặt, góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống. Qua việc thực hành lễ hội, người Chăm bảo tồn các giá trị bản sắc văn hóa truyền thống như âm nhạc, ẩm thực, trang phục truyền thống và các nét sinh hoạt văn hóa gia đình. Vì vậy, cần phát huy các giá trị lễ hội của người Chăm gắn với phát triển du lịch cộng đồng. Thông qua lịch trình lễ hội, các tổ chức hoạt động du lịch có thể thông tin, hướng dẫn khách tham quan cùng tham gia.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1369513287/76586d6c01196292799c1b3e204870e8/174218801_1837416869764843_444993520693881865_n.jpg" />
         <pubDate>2021-11-16 16:10:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1894576589</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Miếu Xóm Bánh</title>
         <author>5815384530</author>
         <link>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1894594695</link>
         <description><![CDATA[<div><br>Miếu Xóm Bánh nằm ở khu phố  phường Đài Sơn, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, từ trung tâm thành phố Phan Rang - Tháp Chàm dọc theo đường Nguyễn Văn Cừ khoảng 400m, rẽ theo một con hẻm về phía tay trái hơn 100m là tới di tích.</div><div>Thời Minh Mạng, Ấp Thanh Sơn (hiện nay là phường Đài Sơn) là vùng đất thuộc thôn Văn Sơn, huyện An Phước, tỉnh Bình Thuận, cư dân nơi đây đã xây dựng một ngôi Miếu nhỏ để thờ phụng nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của cộng đồng. Miếu có tên chữ là Thanh Sơn Miếu, nhưng tên thường gọi là Miếu Xóm Bánh.&nbsp; Nơi đây thờ nữ thần Thiên Y - A Na (bà Chúa Ngọc), một hiện tượng thờ phổ biến của cư dân người Việt trong quá trình di dân và sinh sống trên vùng đất mới. Ban đầu chỉ là một ngôi miếu nhỏ, đến năm Thành Thái thứ 14 được chuyển dời đến địa điểm hiện nay và xây dựng với quy mô lớn còn giữ nguyên vẹn cho đến ngày nay.<br>Miếu Xóm Bánh nằm trong khu vực đông dân cư nhưng lại được xây dựng trên một khu đất khá rộng đến 4629m2, toàn bộ kiến trúc được bao quanh bởi tường thành xây bằng đá, vữa vôi, chừa hai cổng đi vào khu vực Miếu. Cổng phía trước miếu gọi là Nghi môn nằm hướng Nam, cổng phía sau nằm hướng Bắc.<br>Nghi môn có cấu trúc giống như một ngôi nhà nhỏ có 6 trụ bằng vữa vôi, phân đều hai bên theo chiều dọc, nâng đỡ phần mái ở trên, trụ ở giữa được được gắn hai cánh cửa gỗ, mái lợp ngói âm dương, ở hai đầu đường bờ nóc đắp nổi vân mây xoắn tạo dáng hình thuyền. Hai bên sân xây am thờ sơn thần, ngũ hành. Bên trong xây dựng khá bề thế, thể hiện những mảng chạm khắc gỗ với nhiều đề tài phong phú như: tứ linh, bát hữu, hoa lá, chim thú; các dải hoa dây, hoa lá tập trung ở các khám thờ, hương án, các bức hoành phi, câu đối, đầu dư, đầu bẩy,…với đường nét tỉ mỉ, tinh xảo, đòi hỏi người nghệ nhân phải dày công mới hoàn thành.</div><div>Hàng năm, vào rằm tháng giêng, tháng 7 và tháng 10 tiến hành lễ cúng Thượng Nguyên, Trung Nguyên và Hạ Nguyên. Vào ngày 25 tháng chạp âm lịch cúng đưa Chư thần về trời. Ngày 30 tháng chạp âm lịch cúng rước Chư thần về Miếu đón năm mới. Ngoài ra Miếu Xóm Bánh còn tổ chức Lễ Kỳ Yên với đầy đủ nghi thức cổ truyền gần giống nghi thức tế Đình ở Ninh Thuận, được bắt đầu từ sáng hôm trước đến trưa ngày hôm sau, đây là lễ lớn nhất trong năm cầu thần phù hộ cho làng xã bình yên, cơm no áo ấm, lễ diễn ra vào Tiết Thanh Minh. Miếu Xóm Bánh được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật vào năm 2002./.</div><div><br>&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1369513287/ead186590157c762736169a8d41e644b/2b.png" />
         <pubDate>2021-11-16 16:17:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1894594695</guid>
      </item>
      <item>
         <title> Đình Đắc Nhơn</title>
         <author>5815384530</author>
         <link>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1894606333</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;Đình Đắc Nhơn thuộc Thôn Đắc Nhơn-Xã Nhơn Sơn-Huyện Ninh Sơn-Tỉnh Ninh Thuận. Nằm dọc theo quốc lộ 27 cách trung tâm TP Phan Rang Tháp Chàm khoảng 9 km về phía Tây. Đình Đắc Nhơn tọa lạc trên một khu đất có diện tích 1319m<sup>2</sup>. Cửa Đình nhìn về hướng Đông, phía Bắc là con kênh tưới cho cả vùng và xa hơn nữa là dãy núi Nga Sơn hay còn gọi là Núi Ngỗng bao bọc, phía Nam có dòng sông Dinh. Đình Đắc Nhơn là một công trình kiến trúc điêu khắc mang đậm nét phong cách kiến trúc thời Nguyễn. Đình Đắc Nhơn do Hòa thượng Liễu Minh Đức Tạng- vị tổ khai sơn chùa Thiền Lâm Ninh Thuận, Khai sơn vào năm Kỷ Dậu 1789. Theo sách non nước Ninh Thuận có ghi: Song song với việc lập chùa Thiền Lâm, ngài còn lập đình. Tương truyền ông là người Trung Quốc đến Phan Rang vào khoảng cuối&nbsp; thế kỷ 18, ông có công khai khẩn đất đai lập làng Đắc Nhơn, về sau ông vân du vào Nam Hoàng dương phật pháp, ngày 25 tháng 5 năm Gia Long thứ 12 năm 1813 ông viên tịch trong đó. Nhớ ơn công đức của ngài, sơn môn và dân làng Đắc Nhơn xây tháp tưởng niệm tại chùa Thiền Lâm.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Đình Đắc Nhơn gắn liền với lịch sử khai khẩn lập làng, Đắc Nhơn thời ấy cư dân còn thưa thớt, cuộc sống gặp nhiều khó khăn Đình chỉ là một ngôi miếu nhỏ được Đức Tạng lập ra cho dân làng thờ phụng. Dần về sau cư dân đông đúc, ngài dồn dân lập ấp, chứng tích còn cho đến ngày nay là bức hoành phi treo ở nhà Tiền đàn, chính giữa có ghi : <strong><em>Đắc Nhơn Từ Miếu -Miếu Đắc Nhơn</em></strong>. Ngôi Đình thẩm mĩ hiện còn là sản phẩm của lần trùng tu đầu tiên có thể là vào năm 1852. Dần về sau những năm 1950, 1963 ...&nbsp; nhân dân Đắc Nhơn đều tu bổ lại Đình, cơ bản vẫn giữ được nguyên nét, nguyên khởi ban đầu.</div><div>PôKlông Garai - vua của người Chăm, ngài là người dạy dân phương pháp đào sông, xây đập dẫn thủy nhập điền. PôKlông Garai được tôn làm Thần thành hoàng ở đình. Theo sử Phương Nam viết vua PôKlông Garai không những là vị anh hùng mà đồng thời là vị thần nông của dân tộc. Phải chăng đây là nguyên nhân chính để cư dân Việt vốn có truyền thống canh tác lúa nước từ ngàn xưa tôn ngài thành Thần thành hoàng. Các vua triều Nguyễn phong cho ngài mỹ tự Lạc Thiên Dương Thần. Hàng năm nhân dân thôn Đắc Nhơn đều tổ chức lễ tạ thần ở đình. Đình thờ thần hoàng PôKlông Garai Đắc Nhơn được các triều Nguyễn sắc phong: vua Minh Mạng thứ 21 sắc phong năm 1840; vua Thiệu Trị thứ 3 sắc phong năm 1843; vua Tự Đức thứ 3 sắc phong năm 1850, vua Tự Đức thứ 33 sắc phong năm 1880; vua Đồng Khánh thứ 2 sắc phong năm 1887; vua Duy Tân thứ 3 sắc phong 1909; vua Khải Định thứ 9 sắc phong năm 1924. Các sắc phong hiện vẫn còn được lưu trữ tại đình và được bảo quản như là một vật thiêng.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Việc tế lễ ở đình: Lễ Tế thần là nghi lễ chính ở đình, khi xưa lễ Tế thần được tổ chức một năm hai lần: Tế Xuân và Tế Thu, gọi là Xuân Thu Nhị Kỳ. Lễ Tến Xuân được tổ chức vào tháng 3 âm lịch gọi là Hữu nghĩa Xuân kỳ, ý nghĩa cầu mưa hòa gió thuận, quốc thái dân an, sĩ nông công thương phát đạt; Lễ Tế Thu tổ chức vào tháng 8 âm lịch gọi là Thu Bái, với ý nghĩa đền đáp công ơn của thần. Ngày nay do một số điều kiện không chó phép nên một năm chỉ tổ chức lễ Tế Thần một lần vào dịp xuân gọi chung là Xuân Thu Hợp nhất. Lễ Tế Xuân rất quan trọng, tất cả các thành viên trong làng đều tham gia. Trước ngày lễ các hương chức họp tại đình bàn việc sắm sửa lễ vật, bầu ra một Ban Tế tự. Những người trong Ban Tế tự phải là người hiểu biết, mạnh khỏe, gia đình sung túc. Quan niệm của dân làng chỉ có những người như vậy mới mang lại may mắn cho cộng đồng làng.</div><div>Lễ tế xuân hàng năm diễn ra trong hai ngày, ngày thứ nhất gồm các lễ:</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Lễ Thỉnh nhạc vào lúc 20 giờ, lễ thỉnh nhạc là lễ rước đội nhạc phục vụ trong quá trình tiến hành nghi lễ, thường thì đội nhạc có từ 5 đến 7 người, sử dụng các loại nhạc cụ dân tộc;</div><div>- Lễ khai sắc diễn ra vào lúc 20 giờ 30 phút; Ban Tế lễ làm lễ dâng hương trước áng thờ thần, sau đó Chánh lễ mở cửa áng thần lấy hộp sắc tức là sắc phong mở ra để kiểm tra.</div><div>- Lễ Thỉnh sinh sau đó vào lúc 21 giờ, lễ Thỉnh sinh là lễ rước heo-vật hiến sinh cho thần.</div><div>- Lễ khai đao tức là chọc tiết heo diễn ra vào lúc 22 giờ, đồ tể tức là người chọc tiết heo, bưng một mâm lễ gồm có một cây đao, trầu, rượu, tiến đến áng thờ thần làm lễ dâng hương, cầm đao bái 3 bái sau đó ra chỗ đặt heo sẵn dùng đao chọc vào yết hầu con vật tế, chánh tế dùng chén hứng một ít máu con vật, đồ tể cạo thêm một nhúm lông con vật bỏ vào chén huyết rồi đặt lên bàn thờ thần.</div><div>- Lễ Tiền hiền diễn ra vào lúc 22 giờ 30 phút, lễ Tiền hiền là lễ tế những người có công lập làng, dựng đình, lễ được cử hành tại nhà tiền hiền.</div><div>Ngày thứ hai là Lễ Tế thần cử hành vào lúc 1 giờ sáng, sau khi lễ vật đã chuẩn bị xong, Ban Tế tự đứng vào vị trí của mình tiến hành làm nghi lễ. Ba hồi mõ vừa dứt chánh tế tiến vào bàn thờ thần kiểm soát lại lễ vật, xem lông và máu heo, tiếp đến là ba hồi chuông trổ nhạc nghi lễ bắt đầu, chánh tế làm thủ tục rửa mặt, rửa tay rồi dâng hương, dâng rượu, dâng trà cho thần thành hoàng.</div><div>Đình Đắc Nhơn là nơi thờ thần thành hoàng, thỏa mãn tín ngưỡng của cư dân địa phương. Người dân Đắc Nhơn sau khi khai khẩn lập làng họ tôn thờ thần để thờ với lòng tin thần sẽ bảo trợ cuộc sống ấm no, tránh những hiểm nguy thường xảy ra trong đời sống của họ, song song với việc thờ thần, những vị tiền hiền có công khai cơ lập ấp cũng được thờ phụng ở đình, lòng tôn kính biểu hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây, một đạo lý tốt đẹp của dân tộc Đại Việt.</div><div>Tóm lại đình Đắc Nhơn là một công trình kiến trúc điêu khắc cổ có giá trị mang đậm nét phong cách kiến trúc thời Nguyễn, di tích được xây dựng vào cuối thế kỷ 18, đình gắn với lịch sử khai khẩn lập làng, tâm tư tình cảm của người dân Đắc Nhơn, ngày hội ở đình mang đậm bản sắc dân tộc. Chính vì những giá trị đó mà ngày 04/01/1999, Bộ VHTT ra Quyết định số 01/1999/QĐ-BVHTT công nhận Đình Đắc Nhơn là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1369513287/922c65b03af2b1a4b8bf2c47eb00155a/unnamed__4_.jpg" />
         <pubDate>2021-11-16 16:22:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1894606333</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Bẫy đá Pi-năng Tắc</title>
         <author>nnhuyentran061</author>
         <link>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1895940781</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Lịch sử cách mạng Việt Nam có những trang ghi lại các trận đánh hào hùng với hầm chông, bẫy đá, cung tên… Bẫy đá Pi-năng Tắc, bẫy đá duy nhất của Việt Nam được công nhận Di tích quốc gia, gắn liền với trận đánh lẫy lừng tiêu diệt hơn 100 tên lính ngụy khơi nguồn cho cao trào kháng chiến chống Mỹ bằng vũ khí thô sơ.</strong></div><div><br></div><div><strong>Những chiếc bẫy đá thần kỳ</strong></div><div>Từ những tính năng, sự độc đáo của những chiếc bẫy đá, hầm chông, mà anh hùng Pi Năng Tắc đã sáng tạo để tiêu diệt địch, nên đến nay làng bẫy đá Pi Năng Tắc đã được công nhận là Di tích quốc gia. Ở vùng rừng núi Bác Ái này khó khăn và khắc nghiệt, địa hình hết sức hiểm trở, bốn bề đều có rừng núi bao bọc.</div><div>Những dãy núi đá sừng sững có thể thành những rào chắn vững chắc. Địa thế này có thể che chở và bảo vệ được nhiều đơn vị bộ đội của ta trong các cuộc kháng chiến. Bởi vậy, quân Mỹ - ngụy luôn tìm mọi cách chiếm được thung lũng Bác Ái để làm nơi tập hợp quân rồi mở rộng đánh phá ra các vùng lân cận. Chúng liên tục ráo riết cho máy bay rà trên cao và bất ngờ thả xuống hàng trăm tiểu đội đánh bộ hòng bất ngờ luồn vào các bản làng ở Bác Ái để đánh úp bộ đội cũng như truy quét người dân.</div><div><br></div><div>Những đêm khuya nằm nghỉ tạm bên vách đá bắt ngang qua những con đường mòn độc đạo, trong đầu Pi Năng Tắc lóe lên ý tưởng, lấy những thứ dây rừng bền nhất kết nối với những loại câu nhỏ và rắn rỏi kết thành những chiếc giàn, treo lơ lửng trên không rồi chất đầy đá tảng, đá cục lên đó. Sau đó dụ địch vào, chỉ cần cắt dây, hàng trăm khối đá rớt xuống sẽ đè nát chúng.</div><div>Khi bắt được liên lạc với tổ chức, trình bày các ý tưởng của mình, Pi Năng Tắc cùng với bộ đội, du kích... làm hàng loạt chiếc bẫy đánh tan tác nhiều trung đội của địch, đốt cháy và phá hủy nhiều lán trại tập trung của Mỹ - ngụy.</div><div>Quân Mỹ - ngụy ngày càng bị tiêu hao lực lượng. Chúng ráo riết treo thưởng cho ai bắt được Pi Năng Tắc và phá được các thế trận bẫy đá lẫn cung tên của ông, nhưng không tài nào lùng bắt được người chiến sỹ kiên trung Pi Năng Tắc. Những chiến công lẫy lừng liên tục được ông cùng đồng đội lập nên.</div><div>Sau ngày giải phóng, Pi Năng Tắc tiếp tục đi làm nhiệm vụ tìm hài cốt đồng đội và tham gia rà phá bom mìn, ông mất năm 1977. Đến nay, nhiều người dân ở Bác Ái nhớ đến ông như nhớ đến một người hùng của các buôn làng. Nhiều gia đình người Rắk Lây còn tự hào sao tấm hình chân dung của ông để treo trong nhà.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1442611766/777317405313e1fe3455530bf08cdb98/FC6E7CE8_19D4_481B_AE4F_D6E86AA29336.jpeg" />
         <pubDate>2021-11-17 04:06:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1895940781</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đề-pô xe lửa Tháp Chàm</title>
         <author>nnhuyentran061</author>
         <link>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1895951382</link>
         <description><![CDATA[<div><br>Trên lộ trình đường sắt xuyên Việt, giao lộ 27A đi Đà Lạt, trong địa phận thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, Ga Tháp Chàm hiện ra là một nhà ga nhỏ, xinh xắn; hàng ngày tiếp nhận bao đoàn tàu xuôi ngược Bắc Nam… Chính tại Ga Tháp Chàm này những năm đầu thế kỷ 20 đã diễn ra nhiều sự kiện chính trị, xã hội mang tầm vóc khu vực miền Trung, góp phần vào trang sử vẻ vang của nhân dân Ninh Thuận và công nhân ngành Đường Sắt Việt Nam.<br><br></div><div>Ga Tháp Chàm thời bấy giờ là một quần thể hoạt động chuyên ngành đường sắt gọi là Sở Hỏa xa bao gồm: Nhà ga, Khu bảo trì, sửa chửa đầu máy toa xe, Khu ở công chức; người dân quen gọi là Đề-pô Hỏa xa Tháp Chàm <em>(dùng danh tự cũ để phù hợp thời điểm đầu thế kỷ 20)</em>. Theo tài liệu thì đoạn đường sắt Nha Trang - Tháp Chàm - Sài Gòn hoạt động từ năm 1903; đường sắt từ Tháp Chàm đi Đà Lạt dài 84km, trong đó có 16km đường sắt răng cưa, khởi công xây dựng năm 1906 đến năm 1933 hoàn thành. Đề-pô Hỏa xa Tháp Chàm thực sự hoạt động nhộn nhịp từ sau sự kiện viên quan Toàn quyền Đông Dương khởi lệnh nối ray cuối cùng tại km 1221 ga Hảo Sơn, Phú Yên ngày 2-9-1938, hợp thông đường sắt xuyên Việt Bắc – Nam từ biên giới Trung Quốc vào, từ Sài Gòn ra. Thời điểm này, các chuyến tàu bằng hơi nước, than đá, đã chảy xuyên suốt đất nước, chủ yếu chuyên chở hàng hóa phục vụ công cuộc khai thác kinh tế thuộc địa của Pháp. Đề-pô Hỏa xa Tháp Chàm là 1 trong 5 cơ sở đường sắt lớn nhất Đông Dương bấy giờ cùng với Gia Lâm (Hà Nội), Vinh (Nghệ An), Đà Nẵng (Quảng Nam), Dĩ An (Sài Gòn). Chính vì vậy, ngành Đường Sắt sớm hình thành giai cấp công nhân thuần túy như một số ngành dệt, khai thác mỏ than, đồn điền cao su… và sau này trở thành lực lượng tiên phong tham gia vào tổ chức Đảng, lãnh đạo nhân dân chiến đấu giành độc lập. Cũng do đặc điểm này Đề-pô Hỏa xa Tháp Chàm hoạt động mạnh nhiều lĩnh vực xã hội, kỹ nghệ và nhất là đấu tranh chính trị.<br><br></div><div>Theo tài liệu, với quy mô 200 công nhân, Đề-pô Hỏa xa Tháp Chàm hội tụ nhiều cá nhân ưu tú từ nhiều nơi khác vào làm việc, từ đây họ là hạt nhân tuyên truyền các tư tưởng chính trị tiến bộ. Ông Đoàn Quế, Đốc công Đề-pô, liên lạc với Nguyễn Hữu Hương, Trần Kỷ, quê tại Ninh Thuận, cùng Trần Hữu Duyệt, Lê Trọng Mân, Trần Hữu Chương, đảng viên Đảng Tân Việt từ Sài Gòn ra Ninh Thuận hoạt động. Đến cuối năm 1928, họ thành lập chi bộ Tân Việt tại làng Bảo An. Năm sau, Tân Việt Nam Kỳ cử Trần Đình Giáp ra làm thợ nguội tại Đề-pô Hỏa xa Tháp Chàm. Ở đây ông đã tuyên truyền vận động công nhân và thành lập chi bộ trong lòng Đề-pô Hỏa xa Tháp Chàm. Như vậy, các tổ chức chi bộ Tân Việt đầu tiên ở Ninh Thuận đều xuất phát, liên quan mật thiết từ những công nhân đường sắt ở Tháp Chàm. Khi phong trào phát triển mạnh, đảng Tân Việt thành lập cơ quan liên tỉnh: Khánh Hòa, Lâm Viên, Đắc Lắc, Ninh Thuận, lấy bí danh là Ngũ Trang, trụ sở đặt tại khu vực Bảo An, Tháp Chàm. Tháng 4-1929, đảng Tân Việt chuyển thành Đông Dương Cộng sản liên đoàn. Cơ sở đảng Tân Việt tại Ninh Thuận cũng đổi tên và hoạt động theo phương hướng mới.<br><br></div><div>Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, ngày 24-4-1930, các chi bộ Tân Việt tại Ninh Thuận chuyển thành các chi bộ Đảng Cộng sản theo chủ trương chung của cả nước, bao gồm chi bộ Đề-pô Hỏa xa Tháp Chàm, chi bộ Cầu Bảo, chi bộ Sở Muối Cà Ná và lập tổ chức quần chúng tại nhiều nơi: Vạn Phước, Đắc Nhơn, Phú Quý, Kinh Dinh. Đây là một chuyển biến quan trọng trong đời sống chính trị ở địa bàn Ninh Thuận. Từ đây những người cộng sản đã tập hợp đông đảo công nhân và quần chúng giác ngộ, tổ chức đấu tranh đòi quyền dân chủ, dân sinh cho người lao động. Thực dân Pháp ở Phan Rang hết sức hoang mang trước những cuộc đấu tranh của công nhân đường sắt và nhân dân.<br><br></div><div>Tiêu biểu cho nhiều cuộc đấu tranh thời kỳ Đảng mới ra đời, đó là cuộc tổ chức biểu tình ngày Quốc tế Lao động 1-5-1930. Cuộc đấu tranh được hoạch định kỹ, phân công may cờ, in truyền đơn. Sáng sớm ngày 1-5 công nhân đi làm thấy cờ đỏ búa liềm xuất hiện trên đỉnh tháp nước ga Tháp Chàm và trên cây me cổ thụ làng Bảo An; truyền đơn rải nhiều khu vực ga, khu dân cư Bảo An. Cùng lúc đó, 120 công nhân Đề-pô Hỏa xa Tháp Chàm tổ chức mít-tinh kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động và yêu cầu giới chủ thực hiện các quy định lao động. Nội dung gồm: <em>tăng lương, ngày làm việc 8 giờ, bãi bỏ cúp phạt, phải phụ cấp khi công nhân ốm đau, tai nạn</em>. Lính khố xanh được điều đến chuẩn bị đàn áp, nhưng đồng chí Trần Đình Giáp, đại diện công nhân đưa bản yêu sách cho viên quản đốc người Pháp. Nhận thấy không có lý do đàn áp nên lính khố xanh rút lui. Cuộc mít-tinh này có sức cổ vũ nhiều nơi trong tỉnh, tinh thần chống Pháp lên cao ở các vùng nông thôn và công nhân Sở Muối Cà Ná. Trong một báo cáo mật ngày 6-5-1930, Công sứ Pháp ở Ninh Thuận thừa nhận <em>“Mặc dù đã kiểm soát nghiêm ngặt các tuyến đường xe hơi và những người từ các tỉnh khác đến, thật đáng buồn vẫn chưa tìm thấy những kẻ khởi xướng trực tiếp cuộc biểu tình tại Tháp Chàm, điều đó cho thấy chắc chắn rằng các tên chủ mưu cuộc vận động này vốn nằm ngay trong những viên chức hỏa xa…”<br></em><br></div><div>Có thể nói vừa ra đời, chi bộ Đảng tại Đề-pô Hỏa xa Tháp Chàm đã tổ chức đấu tranh đầu tiên trực diện với Pháp. Sau này, những công nhân, đảng viên cùng với đông đảo đồng bào, đồng chí ở Ninh Thuận đoàn kết đấu tranh cho đến ngày toàn thắng 30-4-1975. Đã hơn 77 năm qua kể từ những hoạt động khởi đầu của những người công nhân yêu nước, cách mạng, cho đến nay hình ảnh Đề-pô Hỏa xa Tháp Chàm vẫn là hình ảnh đẹp trong lòng nhân dân Ninh Thuận và ngành Đường Sắt Việt Nam.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1442611766/83df38634dee723a342b41a4d272ad66/0D8BF2DC_B0D9_4030_A734_EA898ADDE399.png" />
         <pubDate>2021-11-17 04:13:08 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1895951382</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Chùa Ông</title>
         <author>5815384530</author>
         <link>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1896904090</link>
         <description><![CDATA[<div><br>Chùa Ông có diện tích xây dựng 400 mét vuông tọa lạc tại phường Kinh Dinh, Tp. Phan Rang- Tháp Chàm. Đây là cơ sở thờ Đức Quan Thánh của cộng đồng người Hoa có kiến trúc đặc sắc phản ảnh đỉnh cao kỹ năng xây dựng đình chùa của cư dân địa phương vào cuối thế kỷ XIX. Chùa Ông được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp Bằng xếp hạng di tích Quốc gia vào ngày 14/4/2011.<br>Chùa Ông xây cất theo hình chữ Tam gồm có ba gian: Gian thánh điện thờ Quan Công; gian bái đình có khoảng sân rộng cho nhân dân đến cúng bái; gian hội quán làm nơi trao đổi của cộng đồng Hoa kiều. Hệ thống&nbsp; cột cái, đòn dông, vĩ kèo được chạm khắc tinh xảo, phản ảnh đỉnh cao trong nghệ thuật kiến trúc đình chùa vào cuối thế kỷ XIX. Trên nóc chùa được trang trí hình tượng lưỡng long tranh châu; các mái được chạm khắc lân, phụng, hoa lá đường nét sinh động, sắc màu tươi thắm. Chùa Ông còn lưu trữ nhiều vật dụng thờ cúng cổ có giá trị về nghệ thuật đúc đồng, gốm sứ, liễn thờ. Và bốn sắc phong của các đời vua Thiệu Trị, Tự Đức, Đồng Khánh.</div><div>Ông Hàng Thái Châu, Trưởng Ban quản lý di tích Chùa Ông cho biết, theo các bia ký tại chùa cho thấy đồng bào Hoa từ các tỉnh Phúc Kiến, Triều Châu di dân đến Ninh Thuận vào đầu thế kỷ XIX. Năm 1831, bà con lập miếu thờ ngài Quan Công biểu thị lòng trung nghĩa nhằm mục đích động viên cộng đồng Hoa kiều đoàn kết, trung thực, hiếu nghĩa. Ngôi miếu xây cất nhỏ nằm ven đường thiên lý Bắc Nam rất thuận lợi cho việc đi lại giao lưu của cộng đồng Hoa kiều. Đến năm 1909, Chùa Ông chính thức được trùng tu xây dựng có quy mô lớn mang đậm văn hóa tín ngưỡng của đồng bào Hoa tồn tại đến ngày nay.<br>Chùa Ông diễn ra các hoạt động tế lễ hàng năm vào các ngày 13 tháng Giêng âm lịch cúng “ Đào viên kết nghĩa”; ngày 13 tháng năm âm lịch vía Quan Bình; ngày 24 tháng sáu vía Ngài Quan Thánh. Đặc biệt vào đêm Giao thừa, người Hoa địa phương đến thắp hương cầu mong quốc thái dân an, gia đình làm ăn thịnh vượng trong năm mới. Chùa Ông có kiến trúc đẹp nằm giữa trung tâm Tp. Phan Rang- Tháp Chàm là điểm đến tham quan của du khách vào dịp đầu Xuân mới Quý Tỵ- 2013.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1369513287/0e28e9d2e9affdf2927ec1e9bdc05b6b/1e.png" />
         <pubDate>2021-11-17 13:52:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1896904090</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Di tích cây me Bảo An </title>
         <author>5815384530</author>
         <link>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1896955862</link>
         <description><![CDATA[<div><a href="https://plo.vn/tags/ZGkgdMOtY2ggY8OieSBtZQ==/di-tich-cay-me.html"><strong>Di tích cây me</strong></a> là nơi lần đầu tiên cờ đỏ búa liềm ở tỉnh <a href="https://plo.vn/tags/IG5pbmggdGh14bqtbg==/ninh-thuan.html">Ninh Thuận</a>, nay thuộc số nhà 31/2 Nguyễn Du, khu phố 3, phường Bảo An, thuộc quyền sử dụng của hộ ông Võ Văn Huy và bà Nguyễn Thị Bích Ngọc. Cây me đã chết, hiện ở đây chỉ còn tấm bia di tích tấm bia của di tích nằm trong phần đất của gia đình ông Võ Văn Huy đã được cấp giấy chứng nhận từ năm 2002. “Do tấm bia của di tích nằm trong diện tích đất của người dân nên trong sinh hoạt hằng ngày có những tác động gây mất tôn nghiêm của di tích.<br><br><strong>Sau phản ánh của báo </strong><strong><em>Pháp Luật TP.HCM</em></strong><strong> về sự thiếu tôn trọng di tích lịch sử cây me cổ thụ làng Bảo An, Ninh Thuận đã chỉ đạo các sở, ngành lập phương án gìn giữ bảo tồn di tích.</strong></div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1369513287/77f7c39abcb7974fbeaeb404a1d369be/qua_me_chua.jpg" />
         <pubDate>2021-11-17 14:10:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1896955862</guid>
      </item>
      <item>
         <title>NGUYỄN HỮU HƯƠNG</title>
         <author>5815384530</author>
         <link>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1896970968</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><br>NGUYỄN HỮU HƯƠNG</strong></div><div><strong>(1894 – 1961)</strong></div><div>Đồng chí Nguyễn Hữu Hương (thường gọi Cửu É) sinh ngày 2/8/1894, là người con trưởng thành trong một gia đình nổi tiếng giàu có tại làng Cầu Bảo – Tháp Chàm (nay thuộc phường Bảo An, thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận). Cha mẹ ông từng trải qua cuộc sống lao động vất cả mới có được hàng trăm mẫu ruộng và trâu bò, nên thấu hiểu sự cực khổ của người nông dân.<br>Năm 24 tuổi (1918), đồng chí mua chức Cửu phẩm nhưng không phải để chen đua danh lợi với những chức sắc địa phương mà tạo thế hợp pháp tránh phải làm lính đánh thuê cho thực dân Pháp. Điều ngày giúp đồng chí thoát khỏi sự dòm ngó của bọn thực dân khi cùng bạn bè tìm hiểu về con đường hoạt động cách mạng cứu dân, cứu nước thông qua những sách báo tiến bộ lúc bấy giờ.</div><div>Những hoạt động yêu nước của các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh vang dội đến Ninh Thuận đã gây ra ấn tượng rất sâu sắc đối với đồng chí Nguyễn Hữu Hương. Điều đồng chí mong muốn là được đóng góp công sức đấu tranh để giành lại quyền độc lập, tự do cho dân tộc. Năm 1928, một đảng viên Tân Việt Nam kỳ là Trần Hữu Duyệt đến hoạt động ở Ninh Thuận đã gặp gỡ, tìm hiểu và giao nhiệm vụ cách mạng cho đồng chí Nguyễn Hữu Hương. Vào ngày 8/12/1928, đồng chí được công nhận là đảng viên của chi bộ Tân Việt đầu tiên tỉnh Ninh Thuận.</div><div>Khi các tổ chức ở Ninh Thuận chuyển thành các chi bộ Cộng sản vào tháng 4/1930, đồng chí Nguyễn Hữu Hương cũng được chuyển thành đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam. Từ đây đồng chí được tham gia đấu tranh dưới ngọn cờ của một chính đảng duy nhất ở Việt Nam. Giữa năm 1930, đồng chí Hương lại ủng hộ Đảng 1.000 đồng (tiền Đông Dương) để lập một trạm ấn hành tài liệu tuyên truyền của Đảng ở Đà Lạt. Kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1/5/1930 và hưởng ứng phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh vào tháng 10/1930, đồng chí tham gia rải truyền đơn một số nơi ở Phan Rang, Tháp Chàm… Bọn thực dân Pháp hết sức hoảng hốt ra sức lùng sục khắp nơi nhưng vẫn không nghi ngờ đồng chí Nguyễn Hữu Hương.</div><div>Chỉ vài ngày sau khi cơ quan Khánh Hòa bị vỡ, địch lấy được biên bản Hội nghị 4 của tỉnh và bắt đồng chí Trần Hữu Duyệt. Biết được đồng chí Nguyễn Hữu Hương có tham gia rải truyền đơn ở Tháp Chàm, địch cho bắt đồng chí vào ngày 23/10/1930 và giam ở nhà lao Phan Rang. Tại đây đồng chí đã bị những đợt tra tấn dã man, những lời dụ dỗ ngon ngọt của kẻ địch, nhưng không khai thác được gì ở đồng chí.</div><div>Tại phiên tòa ngày 4/2/1931, bọn thực dân kết án đồng chí Nguyễn Hữu Hương 5 năm tù và sau đó chuyển lên nhà lao Buôn Mê Thuột. Ở nhà lao Buôn Mê Thuột đồng chí liên lạc với các đồng chí Nguyễn Công Phương, Trần Huy, Nguyễn Duy Trinh… được học tập tài liệu của Đảng viết bằng tay và được phân công quyên góp tiền trong lao để cứu tế, tương trợ lẫn nhau vượt qua được chế độ nhà tù hà khắc của chế độ thực dân.</div><div>Cuối năm 1935, sau khi ra khỏi tù, đồng chí Nguyễn Hữu Hương vẫn bí mật nối lại liên lạc với các đảng viên ở tù về, bàn bạc phương cách hoạt động mới cho địa phương khi chưa liên lạc được với Xứ ủy. Và trên con đường hoạt động cách mạng, đồng chí Nguyễn Hữu Hương đã gặp người vợ thủy chung son sắt, cùng chí hướng đã đi với đồng chí đến trọn đời, đó là bà Trần Thị Có, em gái đồng chí Trần Kỷ.</div><div>Lúc này tranh thủ Mặt trận Bình dân ở Pháp lên nắm chính quyền (1936), thực hiện một số cải cách tiến bộ về dân sinh dân chủ ở Đông Dương, đồng chí Nguyễn Hữu Dương ra hoạt động công khai, quyên tiền của những phụ huynh và những người khá giả xây dựng được 2 lớp học văn hóa (lớp 3 và 4 cũ) ở Tháp Chàm, đồng thời xin ruộng của người thân cho thuê để gây quỹ giúp đỡ học sinh nghèo. Bằng hình thức hợp pháp này đồng chí đã tạo điều kiện cho con em lao động Tháp Chàm có điều kiện học hành và đưa đồng chí Nguyễn Văn Chi vào làm hiệu trưởng của trường tạo chỗ đứng hợp pháp để đồng chí có điều kiện hoạt động cách mạng ở Ninh Thuận.</div><div>Tháng 5/1938, đồng chí Lê Duẩn lúc này là Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Xứ ủy Trung kỳ vào Ninh Thuận để khảo sát phong trào cách mạng các tỉnh cực Nam và được bố trí ăn ở tại nhà đồng chí Nguyễn Hữu Hương. Sau khi báo cáo tình hình của Ninh Thuận, đồng chí Nguyễn Hữu Hương trực tiếp đưa đồng chí Lê Duẩn đi nắm tình hình và gặp các đồng chí cũ để củng cố lại phong trào.</div><div>Tháng 9/1938, Xứ ủy đã cử đồng chí Nguyễn Công Xứng vào phụ trách các tỉnh cực Nam Trung bộ. Đồng chí Nguyễn Hữu Hương bố trí cho đồng chí Nguyễn Công Xứng đến ở nhà Nguyễn Hữu Khiếu là công nhân Đề Pô Tháp Chàm để đồng chí có điều kiện hoạt động trong công nhân. Đến tháng 5/1939, Ban cán sự Liên tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Viên được thành lập, đồng chí Nguyễn Công Xứng là Trưởng Ban cán sự phụ trách chung, đồng chí Nguyễn Hữu Hương là Ủy viên Ban cán sự được giao nhiệm vụ phụ trách phong trào ở Ninh Thuận.<br>Để khôi phục phong trào, tháng 5/1940, Xứ ủy Trung kỳ cử đồng chí Trần Hữu Dực vào phụ trách các tỉnh miền Nam Trung kỳ và Tây Nguyên, cùng đi có đồng chí Đào Duy Dzếch là người am hiểu tình hình Ninh Thuận. Thông qua đồng chí Nguyễn Hữu Hương, các đồng chí nắm được tình hình Ninh Thuận và dùng nhà đồng chí Nguyễn Hữu Hương làm nơi trú ngụ, vạch ra kế hoạch nhằm khôi phục phát triển phong trào ở Ninh Thuận. Để việc bảo vệ được tốt hơn, đồng chí Nguyễn Hữu Hương đưa đồng chí Trần Hữu Dực đến Vạn Phước và tháng 8/1940, đồng chí Trần Hữu Dực vào ở khu rẫy Sông Quao dưới hình thức là người làm công cho ông Tổng La (em của đồng chí Nguyễn Hữu Hương). Từ đó, khu rẫy này trở thành cơ sở hoạt động bí mật của Đảng, và cũng tại nơi đây tờ báo Chiến Thắng - cơ quan tuyên truyền của Đảng ở Ninh Thuận và các tỉnh Nam Trung kỳ đã ra đời vào tháng 10/1940.</div><div>Khi đồng chí Trần Hữu Dực bị mật thám Pháp từ Bình Thuận ra bắt tại rẫy Sông Quao vào tháng 9/1941, do lời cung khai của người liên lạc: đất rẫy Sông Quao là của đồng chí Nguyễn Hữu Hương nên đồng chí bị bắt giam tại nhà lao Phan Rang cùng với một số đồng chí khác. Nơi đây bọn địch tra tấn đồng chí Nguyễn Hữu Hương suốt hai tháng, nhưng đồng chí không khai bất cứ điều gì.</div><div>Sau đó địch đưa đồng chí Nguyễn Hữu Hương và các đồng chí bị tình nghi có liên quan đến sự kiện xảy ra ở Sông Quao vào nhà lao Phan Thiết.</div><div>Đầu năm 1942, đồng chí Nguyễn Hữu Hương bị đày lên Buôn Mê Thuột lần thứ hai. Tại đây đồng chí gặp lại các đồng chí Cao Kế, Trần Thi, Trần Hiếm… và tham gia học chính trị, văn hóa , tham gia các cuộc đấu tranh trong tù cùng các đồng chí của mình.<br>Tháng 9/1943, đồng chí Nguyễn Hữu Hương mãn tù về lại Ninh Thuận nhưng vẫn còn quản thúc tại địa phương. Tuy bị quản thúc nhưng đồng chí Nguyễn Hữu Hương vẫn chủ động qua làng Vạn Phước gặp đồng chí Trần Thi bàn các khôi phục phong trào. Việc qua lại giữa hai đồng chí thường bị gián đoạn vì bọn hương lý giám sát rất chặt chẽ. Đến đầu năm 1945, Ủy ban Việt Minh lâm thời tỉnh được thành lập do đồng chí Lê Tự Nhiên làm chủ nhiệm. Các đồng chí Nguyễn Hữu Hương, Trần Thi do bị địch quản thúc nên không bầu vào cơ quan lãnh đạo tỉnh, nhưng mọi công việc của Ủy ban Việt Minh lâm thời tỉnh đều được trao đổi với hai đồng chí.</div><div>Sau ngày Nhật đảo chính Pháp 9/3/1945, bác sĩ Đặng Dư mời đồng chí Nguyễn Hữu Hương tham gia thành lập Ban ủng hộ Chính phủ thân Nhật. Đồng chí cương quyết từ chối và giải thích tuyên truyền cho bà con xung quanh biết được chiêu bài “độc lập giả hiệu” của bọn phát xít Nhật. Tiếp đó đồng chí Nguyễn Hữu Hương và Trần Thi đã họp bàn thành lập “Đội danh dự” để bảo vệ cơ sở cách mạng. Sau khi tuyên truyền thuyết phục và tổ chức, Đội danh dự Tháp Chàm - Vạn Phước ra đời gồm 6 người do đồng chí Lê Thám làm đội trưởng. Cũng trong thời gian này do quen biết từ trước, các đồng chí Lê Chưởng, Lê Hàn từ nhà lao Buôn Mê Thuột thoát ra, cũng đến thẳng Tháp Chàm tìm gặp đồng chí Nguyễn Hữu Hương để bắt liên lạc với các đồng chí lãnh đạo tỉnh, tham gia vào phong trào cách mạng trên địa bàn Ninh Thuận.</div><div>Thời cơ đến, các đồng chí lãnh đạo tỉnh đã biến cuộc mít tinh ngày 21/8/1945 của lực lượng “Thanh niên tiền tuyến” thân Nhật tại Tháp Chàm thành cuộc tuần hành thị uy của quần chúng cách mạng khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn tỉnh.</div><div>Sau khởi nghĩa thành công, Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh được thành lập ngày 22/8/1945, đồng chí Nguyễn Hữu Hương được cử làm Ủy viên kinh tế rồi Ủy viên Mặt trận Việt minh tỉnh. Cuối tháng 1/1946, thực dân Pháp đánh chiếm lại Ninh Thuận, cơ quan của Tỉnh ủy chuyển ra khỏi thị xã. Lúc này đồng chí Nguyễn Hữu Hương kiêm nhiệm vụ tổ chức ba kho lúa để dự trữ và giữ tiền quỹ dự trữ. Tháng 5/1946, khi cơ quan Ủy ban Hành chính tỉnh bị bắt và chi đội II được lệnh giải tán, đồng chí ra Huế báo cáo với đồng chí Trần Hữu Dực bấy giờ là Chủ tịch Ủy ban Hành chính Trung bộ. Đồng chí Nguyễn Văn Chi, Giám đốc phòng liên lạc Miền Nam Trung bộ phân công đồng chí Nguyễn Hữu Hương ở lại công tác tại phòng làm đại diện Ủy ban hành chính Ninh Thuận.</div><div>Năm 1947, đồng chí chuyển ra Bình Định làm chủ nhiệm Việt Minh huyện Hoài Ân, Bình Định. Tại đây đồng chí Nguyễn Hữu Hương gặp lại vợ của mình đang làm công nhân ở xưởng dệt Xi Ta (bà chuyển ra Bình Định khi quân Pháp đánh chiếm Ninh Thuận). Được sự dìu dắt, hướng dẫn của đồng chí Nguyễn Hữu Hương, ngày 201/1/1949, bà Trần Thị Có được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Việt Nam tại chi bộ thôn Bình Hòa, xã Ân Hảo, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. Từ đây vợ chồng đồng chí có điều kiện gắn bó hơn trong cuộc sống và công tác.</div><div>Tháng 11/1954, Hội đồng tập kết Liên khu 5 quyết định cho vợ chồng đồng chí Nguyễn Hữu Hương tập kết ra Bắc. Đồng chí được cử làm hiệu trưởng trường Sơ-Trung cấp Bưu điện Hà Đông. Đến tháng 10/1956 đồng chí bị đau yếu phải chuyển về điều trị tại bệnh viện Việt&nbsp; - Xô (Hà Nội). Đồng chí mất tại đây ngày 27/8/1961 và an táng tại nghĩa trang Văn Điển Hà Nội, đến năm 1978 mộ phần của đồng chí được cải táng đưa về chôn ở quê nhà.<br>Với những đóng góp lớn lao, đồng chí Nguyễn Hữu Hương được Đảng và Nhà nước truy tặng danh hiệu “Cách mạng lão thành” và Huân chương độc lập hạng hai.<br><br></div><div><br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1369513287/25a1fa6d6b25fcbb8ea2160bff461291/ong_nguyen_huu_phuong.png" />
         <pubDate>2021-11-17 14:15:04 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1896970968</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đền thờ Đức Thánh Trần</title>
         <author>nnhuyentran061</author>
         <link>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1899234496</link>
         <description><![CDATA[<div>Đền thờ Đức Thánh Trần tọa lạc tại phường Phủ Hà, Tp. Phan Rang-Tháp Chàm. Đây là nơi thờ tự Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, vị anh hùng dân tộc đã ba lần đánh thắng giặc Nguyên-Mông xâm lược hùng mạnh. Ông không chỉ có tài năng kiệt xuất về quân sự mà còn là một tấm gương sáng về lòng trung nghĩa.</div><div><br></div><div>Tôn chỉ hoạt động của Đền này là Ca ngợi và tín ngưỡng đạo lý luân thường, lòng nhân ái, đức từ bi, bác ái và đức độ của các bậc thánh hiền tài cao đức rộng, là những bậc vĩ nhân đã được thế nhân tôn sùng là Thánh Đế, trong đó có Đức Thánh Trần Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, vị anh hùng dân tộc đại tài, đức độ và mưu lược đã 3 lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên, Mông, cứu nguy dân tộc, giữ yên bờ cõi. Suốt trên 80 năm qua, tại ngôi đền thờ linh thiêng này luôn là nơi thờ tự để nhân dân địa phương, trong đó có những nhân sĩ, những đạo hữu của Đạo thánh thờ phụng và chiêm bái Đức Thánh Trần.<br><br></div><div>Từ khi được hình thành ngôi đền này đến nay đã trên 80 năm với nhiều tên gọi khác nhau, “Chùa Thánh” là tên gọi thông dụng nhất nhưng cũng chỉ là tên gọi “truyền khẩu”. Trong tất cả các văn tự còn lưu lại không thấy có tên “Chùa Thánh”. Như vậy, tên gọi Đền thờ Đức Thánh Trần ngày nay là sự kế thừa nguồn cội và phát huy giá trị lịch sử của các tên gọi trước đây phù hợp với tình hình và điều kiện thực tiễn của giai đoạn lịch sử hiện nay, được đông đảo người dân đồng tình và ủng hộ.</div><div><br></div><div>Thấy được giá trị lịch sử và tầm quan trọng của ngôi đền này, năm 2009, Tỉnh ủy có chủ trương và UBND tỉnh đã quyết định giao quyền quản lý và bảo quản cơ sở Đền thờ Đức Thánh Trần này cho Ban Đại diện Hội Người cao tuổi tỉnh. Đến nay, ngôi đền đã từng bước được khôi phục, duy tu, tôn tạo, đã cố gắng giữ được nét cổ kính và tôn nghiêm về kiến trúc của ngôi đền, cảnh quan và môi trường chung quanh cơ bản được bảo quản và sử dụng hợp lý… đã tạo được sự quan tâm và tình cảm của nhân dân địa phương, phản ánh được nhu cầu và nguyện vọng của đông đảo nhân dân về một địa chỉ tâm linh hướng về cội nguồn dân tộc, về một vị anh hùng dân tộc có công lớn với đất nước trong việc tập hợp được sức mạnh của toàn dân trong công cuộc chống ngoại xâm, củng cố và giữ vững độc lập dân tộc. Giá trị lịch sử ấy trong thời đại ngày nay càng có ý nghĩa sâu sắc hơn bao giờ hết.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1442611766/1ac452ebecdf24d5e19380dbe0c24695/816106BB_5EE6_4116_B32D_F09AE9BC5BE2.jpeg" />
         <pubDate>2021-11-18 11:03:47 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1899234496</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Miếu Hoà Xuân</title>
         <author>nnhuyentran061</author>
         <link>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1899257029</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Miếu Hòa Xuân, tọa lạc tại khu phố 3, phường Đạo Long, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Theo các vị bô lão trong làng kể lại có một ông tên là Sóc người ở làng Long An sang khai khẩn đất hoang để canh tác đất nông nghiệp, trong lúc khai hoang ông đã nhặt được 1 tượng nhỏ như ngón tay cái “Tượng nữ”. Từ đó ông lập Miếu bằng phên tre để thờ, miếu rất hiển linh nên nhân dân trong vùng thường gọi là Miếu Ông Sóc.</strong></div><div><br></div><div>&nbsp;Năm 1840 miếu được nhân dân đóng góp công sức tiền của cùng ông xây dựng lại Miếu lớn hơn để thờ Bà và đặt tên Miếu Hòa Xuân theo tên địa phương trước kia. Năm Bính Thìn (1976), Miếu được trùng tu xây dựng khang trang đến ngày hôm nay. Miếu Hòa Xuân được xây dựng trên gò đất màu mỡ nằm về phía Tây của làng có diện tích rộng. Tuy không có án phong, nhà tiền hiền, trụ thờ, nhà Đông và nhà Tây như các ngôi Miếu khác nhưng Miếu Hòa Xuân có kiến trúc xây dựng và điêu luyện chạm khắc khá đặc sắc. Miếu được xây dựng theo kiểu nhà tứ trụ bao gồm 02 bộ vì kèo, bốn cột cái, hai cây trính…Bên trong Miếu có nhiều mảng chạm, cẩn, lọng trên gõ với nhiều đề tài khác nhau, chủ yếu là đề tài “Tứ linh” ẩn vân cùng với dải hoa, dây lá ở các hương án, khám thờ, câu đối trên các cột... thể hiện sự khéo léo của các nghệ nhân xưa.</div><div><br></div><div>Miếu Hòa Xuân có giá trị kiến trúc nghệ thuật, là nơi thờ bà Ana tước phong “Hỏa tinh thần nữ” vừa phục vụ tâm linh tín ngưỡng của cư dân địa phương vừa là nơi tổ chức lễ hội diễn ra hàng năm. Đối với người dân Đạo Long, Miếu Hòa Xuân thờ bà Ana là nơi mà mọi người tin tưởng bà sẽ bảo trợ cho dân làng có cuộc sống an lành và hạnh phúc.</div><div><br></div><div>Miếu Hòa Xuân được các Triều Nguyễn phong sắc để phụng thờ: vua Duy Tân phong vào năm 1912; vua Khải Định năm thứ 9 (năm 1925).</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1442611766/e5d05263b8041a5fc080252c499a3c71/0937A6CA_2E04_4FE6_BBAD_E5A5B3CA2573.jpeg" />
         <pubDate>2021-11-18 11:19:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1899257029</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đình Đạo Long </title>
         <author>nnhuyentran061</author>
         <link>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1899258758</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Đình Đạo Long thuộc khu phố 5, phường Đạo Long, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Đình Đạo Long được xây dựng hoàn thành vào năm 1824, với sự đóng góp của nhân dân địa phương đứng đầu là ông sư chủ Lê Hưng Nhân. Ngôi đình được xây khang trang trên gò đất cao do sông Dinh bồi đắp gồm các kiến trúc: Tòa chánh điện, nhà Đông, nhà tây, nhà Tiền hiền, cổng tam quan, nhà khói, nhà phẫm vật, cột cờ, 02 miếu thờ thần nông và ngũ hành ở phía Đông và phía Tây sân Đình, 02 tượng thờ: Ông thiện, ông ác được đắp nổi ở trước tiền Đình, vòng thành …</strong></div><div><br></div><div>Với nguyên liệu chủ yếu bằng ống ghè, vữa vôi trộn mật mía, ngói âm dương. Kiến trúc bên trong Đình Đạo Long có sự kết hợp hài hòa giữa 02 dạng nhà chính (nhà tứ trụ và nhà ba gian). Với kỹ thuật rắp láp mộng truyền thống, các bộ phận liên kết với nhau thành một thể thống nhất rất vững chắc cho thấy sự quan tâm đầu tư công sức cùng với sự khéo léo từ bàn tay của các bậc tiền nhân trong việc thực hiện các mảng trang trí đặc biệt là trang trí trên bộ vì kèo ở tòa chánh bái (gian Tiền đàng và gian Hậu tẩm) và các mảng chạm khắc trên các liễn đối, liên cảnh, khám thờ thần, bàn thờ, hoành phi … đã được các nghệ nhân xưa đưa vào trang trí một cách công phu tinh tế, làm cho các mảng chạm khắc trở nên sinh động, có hồn trong sự linh thiêng vốn có của ngôi Đình.</div><div><br></div><div>Cũng như các ngôi Đình khác, bên cạnh những giá trị&nbsp; về mặt kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc, Đình Đạo Long còn gắn liền với đời sống tâm linh của cư dân trong làng. Đình là nơi thờ thần Thành Hoàng là vị thần bảo hộ cư dân ở thôn làng, phù hộ cho dân làng được an khang thịnh vượng. Đây cũng là nơi diễn ra các hoạt động văn hóa của nhân dân địa phương từ bao đời nay, với nghi thức tế lễ, cúng tế vẫn được duy trì nguyên giá trị.</div><div><br></div><div>Ngôi đình dưới triều vua Nguyễn đã được sắc phong bốn lần: sắc phong của vua Tự Đức năm thứ 33 (1879), Đồng khánh năm thứ hai (1886), Duy Tân năm thứ ba (1909) và Khải Định năm thứ 9 (1924).</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1442611766/c13a78d87acd724a37bb302789ea7a17/E6696D48_D6BB_4CB9_B714_DCC3D1BDC4EE.jpeg" />
         <pubDate>2021-11-18 11:20:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1899258758</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nghệ thuật Đờn Ca Tài Tử</title>
         <author>nnhuyentran061</author>
         <link>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1941466111</link>
         <description><![CDATA[<div>Đờn ca tài tử Nam bộ là dòng nhạc dân gian, cổ xưa của Việt Nam được UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại là một danh hiệu UNESCO ở Việt Nam có vùng ảnh hưởng rất lớn. Hiện nó tác động tới 21 tỉnh thành trong đó có tỉnh Ninh Thuận&nbsp;</div><div><br>Đờn ca tài tử hình thành và phát triển từ cuối thế kỷ 19, Đờn ca tài tử Nam Bộ là sản phẩm văn hóa phi vật thể của Nam Bộ, vừa mang tính bác học, vừa dân gian gắn liền với mọi sinh hoạt cộng đồng dân cư Nam Bộ, được cải biên từ nhạc cung đình Huế và sáng tác mới trên nền tảng âm nhạc dân ca, hát đối, hò vè của vùng đất Nam Bộ.</div><div>Thường được những người nam thanh nữ tú sau những giờ làm việc mệt mỏi thể hiện những bài hát bên nhau để giao lưu và tăng giá trị ý nghĩa của cuộc sống.</div><div>Đờn ca tài tử xuất hiện hơn 100 năm trước. Là loại hình diễn tấu có ban nhạc gồm bốn loại là đàn kìm, đàn cò, đàn tranh và đàn bầu (gọi là tứ tuyệt), sau này, có cách tân bằng cách thay thế độc huyền ầm bằng cây guitar phím lõm. Những người tham gia đờn ca tài tử phần nhiều là bạn bè, chòm xóm với nhau. Họ tập trung lại để cùng chia sẻ thú vui tao nhã nên thường không câu nệ về trang phục…</div><div><br>Ông tổ của đờn ca tài tử đó chính là nhạc sĩ, tác giả bài “Dạ cổ Hài Lang” Ông tổ Cao Văn Lầu (thường gọi là Sáu Lầu). Ông sinh ngày 22/12/1892 mất ngày 13/08/1976.</div><div>Đờn ca tài tử Nam Bộ bao gồm Đờn và ca:</div><div>* Đờn: Nhạc tài tử Nam Bộ gồm có 05 nốt nhạc chính: Hò, xự xang, xê cóng. Nốt nhạc phụ: Phạn, tồn, là, oan.</div><div>* Ca: Là ca theo bài bản có sẵn, người viết chỉ dựa vào đó mà đặt lời ca sao cho phù hợp với âm nhạc</div><div><br>Hệ thống bài bản của Đờn ca tài tử vô cùng phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, quan trọng nhất phải kể đến 20 bài tổ gồm: 6 Bắc (Lưu thủy, Phú lục, Tây Thi, Cổ bản, Bình bán, Xuân tình), 3 Nam (Nam xuân, Nam ai, Nam đảo), 4 oán (Tứ đại, Giang Nam, Phụng hoàng, Phụng cầu), 7 bài nhạc lễ (Xàng xê, Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, Long đăng, Long ngâm, Vạn giá, Tiểu khúc). Ngoài ra, đờn ca tài tử còn có các bài lý, ngâm, 8 bài ngự,… để thuộc hết 20 bài tổ và các bài lý, ngâm, ngự không hề đơn giản, mà mất rất nhiều thời gian, công sức.</div><div><br>Cải Lương chính là “con đẻ” của Đờn ca tài tử Nam bộ, nó không được coi là một thực thể độc lập, tách bạch với Đờn ca tài tử. Nói một cách dễ hiểu , Nếu Đờn ca tài tử được xem là gốc rễ thì Cải lương chính là ngọn. Vì có mối quan hệ mật thiết như vậy nên rất nhiều người nhầm lẫn hai hình thức âm nhạc này với nhau.</div><div>Vai trò:&nbsp;</div><div>Đờn ca tài tử ra đời trong giai đoạn thực dân Pháp xâm lược nước ta và trở thành nguồn động viên tinh thần cho nhân dân trong cuôc̣ chiến chống ngoại xâm, đồng thời kiên cường chống chọi với những trào lưu nghệ thuật, âm nhạc mới từ phương Tây tràn vào.</div><div>Nó như một món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống hằng ngày. Mọi niềm vui, nỗi buồn đều có thể gửi gắm qua những làn điệu mượt mà, sâu lắng ấy. Cả trong những lúc lao động, học tập hay những khi nông nhàn, đờn ca tài tử đều có thể ngân lên mang đến một không gian thư giãn thoải mái, vui tươi cho tất cả mọi người.&nbsp;</div><div><br></div><div><br></div><div><br></div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1442611766/26d3a894c95ef32f867caddb8fe1ea13/4CA798E0_6CC7_43A7_84DA_F786046473E7.jpg" />
         <pubDate>2021-12-11 06:37:48 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/5815384530/NguyenTrai_NT_KHKT/wish/1941466111</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
