<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title>THẢO LUẬN: Phân tích việc dạy và học trước và sau khi có CNGD? 
Lấy ví dụ minh họa 
 by TranDinhMinh</title>
      <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk</link>
      <description>THẢO LUẬN: Phân tích việc dạy và học trước và sau khi có CNGD? 
Lấy ví dụ minh họa 
</description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2023-08-03 13:03:46 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2025-10-23 05:33:17 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url></url>
      </image>
      <item>
         <title>Giàng Thị chia - trường MN Chiềng Công - mường la- Sơn laĐể thảo luận trực tiếp ạ, và trao đổi chia sẻ cách làm hay </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655481106</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-03 13:08:17 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655481106</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tòng Thị Hòa- Trường MN Nậm Giôn- Mường La - Sơn La </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655482002</link>
         <description><![CDATA[<div>NCBH với cách bồi dưỡng, dự giờ hiện nay giúp các thầy cô có thể được trao đổi, kiến thức với đồng nghiệp một cách dễ dàng,&nbsp;<br>- NCBH là để cải tiến nội dung dạy học cụ thể thông qua quá trình hợp tác với các giáo viên trong nhóm, hiểu sâu hơn về nội dung kiến thức bài học.&nbsp;<br>- NCBH thúc đẩy, duy trì sự hợp tác giwuxa các giáo viên, giúp các giáo viên phát triển kỹ năng làm việc nhóm </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-03 13:10:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655482002</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Minh - Trường Mần Non Quốc Tuấn, Kiến Xương, Thái Bình.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655482940</link>
         <description><![CDATA[<div>NCBH để cải tiến nội dung bài học, các giáo viên cùng các thầy cô, cùng nhau thiết kế bài học.<br>NCBH thúc đẩy duy trì sự hợp tác các giáo viên<br>Mang tính bình đẳng<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-03 13:12:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655482940</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655483189</link>
         <description><![CDATA[<div>Hà Thị Thảo_ MN Võng Xuyên A Phúc Thọ Hà Nội&nbsp;<br>Thứ nhất, thay cho việc cung cấp kiến thức được xác định từ các chuyên gia bên ngoài nhà trường, NCBH xuất phát từ chính nhu cầu giải quyết những vấn đề trong thực tiễn lớp học mà giáo viên đang phải đối mặt. Trong các lớp bồi dưỡng giáo viên truyền thống các chuyên gia bên ngoài là người cung cấp kiến thức, còn các giáo viên là những người thụ động tiếp nhận kiến thức. Khi tham gia NCBH, các nhóm nghiên cứu tự nhận thấy những yêu cần giải quyết đối với mỗi bài học nhất định và cùng nhau thảo luận để tìm cách giải quyết các yêu cầu đó. Trong NCBH cũng có thể có sự tham gia của các chuyên gia bên ngoài nhưng họ chỉ đóng vai trò là người quan sát, tư vấn, rút kinh nghiệm cho nhóm và cung cấp thêm những kinh nghiệm của các nhóm nghiên cứu khác chứ không đóng vai trò chủ đạo như trong các phương pháp truyền thống khác.</div><div>Thứ hai, mối quan hệ giữa những người tham gia NCBH là bình đẳng khác với quan hệ thứ bậc, giữa người dạy với người học trong các lớp tập huấn. Trong các phương pháp bồi dưỡng giáo viên truyền thống, giáo viên khi đó đóng vai trò là người học và những chuyên gia đóng vai trò là thầy giáo, là người cung cấp kiến thức. Trong NCBH, những người tham gia có vai trò như nhau, cùng nhau hợp tác, cùng nghiên cứu,&nbsp; cùng thảo luận hướng tới một mục tiêu chung của sự phát triển. Những người tham gia NCBH đều trên tinh thần tự nguyện và có vai trò như nhau trong việc phát triển bài học đạt được những mục tiêu đề ra.</div><div>Thứ ba, trong các lớp tập huấn, giáo viên là người tiếp nhận kiến thức mới (ở vị thế bị động),&nbsp; còn trong nghiên cứu bài học giáo viên giữ vai trò chủ động, là một người cải cách, một nhà quan sát, tự đánh giá thực tiễn của mình. Với phương pháp truyền thống giáo viên được tiếp xúc với cái mới thông qua các chuyên gia, hoàn toàn theo kiểu thầy truyền thụ trò lắng nghe. Trong khi ở NCBH, giáo viên là người mang cái mới vào dạy học, là nhà quan sát thực tế có thể tự đánh giá khả năng của mình thông qua việc quan sát trực tiếp lớp học.</div><div>Với các phương pháp dạy học truyền thống phẩm chất và năng lực của giáo viên luôn luôn là một vấn đề để đánh giá trong những buổi dự giờ, giáo viên luôn mang nặng tâm lí về xếp hạng và chủ yếu chú trọng tới bài giảng,&nbsp; giáo án của mình mà ít quan tâm xem học sinh học như thế nào. Hơn nữa, nếu có quan tâm đến học sinh thì đó là những học sinh nổi bật trong các lớp học. Trong khi đó đối với NCBH, thì sự quan sát hướng đến tất cả học sinh trong lớp không riêng gì các học sinh nổi bật, thậm chí là chú ý hơn tới những học sinh cá biệt trong lớp để xem cách học sinh học, cách học sinh tư duy, chứ phẩm chất hay năng lực của giáo viên không phải là vấn đề được đánh giá. Trong các phương pháp dự giờ truyền thống yếu tố phẩm chất nghề nghiệp của giáo viên luôn là một vấn đề được xem xét đánh giá cho nên có một số hạn chế trong việc nhận xét, góp ý của các giáo viên khác, nhất là đối với các giáo viên trẻ thì vấn đề nhận xét, đánh giá các giáo viên nhiều kinh nghiệm là điều cực kì khó khăn; còn với NCBH các giáo viên góp ý với tinh thần cùng giúp nhau hoàn thiện hơn chứ không phải để đánh giá giáo viên, do vậy sự góp ý là chân thành và mọi thành viên có thể tự do nói nên ý kiến của mình mà không sợ làm giảm tình đoàn kết giữa các đồng nghiệp.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Dự giờ bài học: theo phương pháp dự giờ truyền thống các giáo viên dự giờ chỉ chú ý đến giáo viên dạy và họ thích ngồi ở đằng sau và ít chú ý tới học sinh. Theo mô hình NCBH trọng tâm quan sát giờ học là bài học và quá trình học của học sinh, giáo viên dự giờ quan sát từ phía trước để có thể thấy nét mặt của học sinh.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Suy ngẫm về bài học: theo phương pháp dự giờ truyền thống có nhiều giáo viên có thái độ phê phán giáo viên dạy (như thường nhận xét: cô, thầy không thể làm việc này hay việc kia,&nbsp; phải làm như thế này, không được làm như thế kia… ) hay ca ngợi rõ ràng nhưng không chi tiết. Theo mô hình NCBH các giáo viên hợp tác cùng nhau xây dựng kế hoạch bài học và nó là sản phẩm của cả nhóm, tất cả các thành viên đều phải chịu trách nhiệm về bài học cho dù nó thành công hay thất bại chứ không phải chỉ riêng giáo viên đứng lớp, và do đó sẽ không có thái độ phê phán cách dạy của giáo viên, vì cách dạy đó đã được cả nhóm thống nhất trong kế hoạch của bài học, nếu cách dạy đó chưa phù hợp, đó là khuyết điểm của cả nhóm và việc họ cần làm là cùng nhau khắc phụ</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-03 13:12:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655483189</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Thanh Thuỷ -trường MN Suối Hoa Tp bắc ninh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655483472</link>
         <description><![CDATA[<div>Ncbh với cách bồi dưỡng dự giờ với giáo viên hiện nay là ncbh là giáo viên được nói chuyện giao tiếp bài một cách thẳng thắn giao lưu và nói được&nbsp; theo ý mk để cùng giao tiếp và chao đổi học hỏi kinh nghiệm giữa đồng nghiệp với nhau. Gắn kết chị em để hiểu nhau hơn&nbsp;<br><br>Bồi dưỡng dự giờ&nbsp; là để đánh giá thực tiễn và xem bạn học sinh học tiếp thu tới đâu và làm được đến mức nào&nbsp;<br>Ví dụ : cả hai chuyên môn này đều nâng cao được trình độ giáo viên và các con được hiểu biết hơn và thúc đấy sự phát triểm </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-03 13:13:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655483472</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn thị tân trường mầm non </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655483498</link>
         <description><![CDATA[<div>NCBH là để cải tiến nội dung dạy học cụ thể nên thông qua quá trình hợp tác với các giáo viên trong nhóm, họ hiểu sâu hơn về nội dung kiến thức của bài học vì chính họ phải đào sâu suy nghĩ hơn và được bổ sung từ ý kiến của những người khác, qua đó năng lực sư phạm của họ được cải thiện. Giáo viên phải cùng nhau thảo luận về những biểu hiện có thể có ở học sinh trong quá trình học để có những phương pháp dạy học cho phù hợp.<br>Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học là hoạt động GV cùng nhau học tập từ thực tế việc học của HS. Ở đó, GV cùng nhau thiết kế kế hoạch bài học, cùng dự giờ, quan sát, suy ngẫm và chia sẻ. SHCM&nbsp; theo nghiên cứu bài học không tập trung vào đánh giá giờ học, xếp loại giờ dạy như trước đây mà&nbsp; giáo viên, quan sát trẻ có đang học không? Học như thế nào? Việc học có ý nghĩa không? Trẻ&nbsp; học thêm được điều gì có ý nghĩa không? và hướng đến khuyến khích GV tìm ra nguyên nhân học tại sao HS chưa đạt kết quả như mong muốn và kịp thời có biện pháp khắc phục &nbsp; (tập&nbsp; trung chủ yếu vào cải thiện việc&nbsp; học của&nbsp; trẻ ). Đồng thời đưa ra những nhận xét về sự tác động của lời giảng, các câu hỏi, các nhiệm vụ học tập mà GV đưa ra,… có ảnh hưởng đến việc học của trẻ, nhận diện được tình trạng học tập của mỗi trẻ, những khó khăn, những sai lầm và các yếu tố đang cản trở ( hay đang thúc đẩy) việc học của trẻ&nbsp; để từ đó tìm ra cách thức để tác động&nbsp; phù hợp, hiệu quả hơn. Không chỉ tạo cơ hội cho mọi giáo viên <em>được tham gia vào quá trình học tập để nâng cao trình độ chuyên môn mà cách</em> làm này còn giúp GV chủ động điều chỉnh cách dạy phù hợp với đối tượng HS lớp mình, và phù hợp với thực tế của trường mình Trên cơ sở đó, GV được chia sẻ, học tập lẫn nhau, rút kinh nghiệm và điều chỉnh nội dung, PPDH vào việc tỏ chức các hoạt động&nbsp; hằng ngày một cách hiệu quả.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-03 13:13:28 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655483498</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Họ và tên nghiêm thị lan hoạt động sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học là nơi giáo viên tập trung phân tích xác vấn đề liên quan đến nguoi học không tập trung vào đánh giá xếp loại giáo viên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655483780</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-03 13:14:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655483780</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lê Thị Thùy Linh Mn Phan Sào Nam</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655483878</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2100708562/ad0c18ee25c71b7a2531908d871930bd/Ph_n_bi_t_SHCM_theo_NCBH_v__d__gi_.docx" />
         <pubDate>2023-08-03 13:14:17 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655483878</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đàm Thị Diệu My- trường MN Võng Xuyên A </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655483922</link>
         <description><![CDATA[<div>(NCBH) Là hoạt động chuyên môn nhưng ở đó GV tập trung phân tích các vấn đề liên quan đến người học (học sinh).<br>- Không tập trung vào việc đánh giá giờ học, xếp loại GV mà nhằm khuyến khích GV tìm ra nguyên nhân tại sao HS chưa đạt kết quả như mong muốn và có biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học, tạo cơ hội cho HS được tham gia vào quá trình học tập; giúp GV có khả năng chủ động điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy sao cho phù hợp với từng đối tượng HS.&nbsp;<br>Cách bồi dưỡng dự giờ hiện nay:&nbsp;<br>- là quan sát đánh giá quá trình dạy học và nội dung giảng dạy của người được dự giờ.<br>- tập trung vào việc đánh giá giờ học, xếp loại GV </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-03 13:14:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655483922</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Ánh- Trường Mn Mường Bú</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655484010</link>
         <description><![CDATA[<div>Sự khác biệt giữa sinh hoạt chuyên môn nghiên cứa bài học và sinh hoạt truyền thống, dự giờ như sau: <br>Thứ nhất, thay cho việc cung cấp kiến thức được xác định từ các chuyên gia bên ngoài nhà trường, NCBH xuất phát từ chính nhu cầu giải quyết những vấn đề trong thực tiễn lớp học mà giáo viên đang phải đối mặt. Trong các lớp bồi dưỡng giáo viên truyền thống các chuyên gia bên ngoài là người cung cấp kiến thức, còn các giáo viên là những người thụ động tiếp nhận kiến thức. Khi tham gia NCBH, các nhóm nghiên cứu tự nhận thấy những yêu cần giải quyết đối với mỗi bài học nhất định và cùng nhau thảo luận để tìm cách giải quyết các yêu cầu đó. Trong NCBH cũng có thể có sự tham gia của các chuyên gia bên ngoài nhưng họ chỉ đóng vai trò là người quan sát, tư vấn, rút kinh nghiệm cho nhóm và cung cấp thêm những kinh nghiệm của các nhóm nghiên cứu khác chứ không đóng vai trò chủ đạo như trong các phương pháp truyền thống khác.</div><div>Thứ hai, mối quan hệ giữa những người tham gia NCBH là bình đẳng khác với quan hệ thứ bậc, giữa người dạy với người học trong các lớp tập huấn. Trong các phương pháp bồi dưỡng giáo viên truyền thống, giáo viên khi đó đóng vai trò là người học và những chuyên gia đóng vai trò là thầy giáo, là người cung cấp kiến thức. Trong NCBH, những người tham gia có vai trò như nhau, cùng nhau hợp tác, cùng nghiên cứu,&nbsp; cùng thảo luận hướng tới một mục tiêu chung của sự phát triển. Những người tham gia NCBH đều trên tinh thần tự nguyện và có vai trò như nhau trong việc phát triển bài học đạt được những mục tiêu đề ra.</div><div>Thứ ba, trong các lớp tập huấn, giáo viên là người tiếp nhận kiến thức mới (ở vị thế bị động),&nbsp; còn trong nghiên cứu bài học giáo viên giữ vai trò chủ động, là một người cải cách, một nhà quan sát, tự đánh giá thực tiễn của mình. Với phương pháp truyền thống giáo viên được tiếp xúc với cái mới thông qua các chuyên gia, hoàn toàn theo kiểu thầy truyền thụ trò lắng nghe. Trong khi ở NCBH, giáo viên là người mang cái mới vào dạy học, là nhà quan sát thực tế có thể tự đánh giá khả năng của mình thông qua việc quan sát trực tiếp lớp học.</div><div>Với các phương pháp dạy học truyền thống phẩm chất và năng lực của giáo viên luôn luôn là một vấn đề để đánh giá trong những buổi dự giờ, giáo viên luôn mang nặng tâm lí về xếp hạng và chủ yếu chú trọng tới bài giảng,&nbsp; giáo án của mình mà ít quan tâm xem học sinh học như thế nào. Hơn nữa, nếu có quan tâm đến học sinh thì đó là những học sinh nổi bật trong các lớp học. Trong khi đó đối với NCBH, thì sự quan sát hướng đến tất cả học sinh trong lớp không riêng gì các học sinh nổi bật, thậm chí là chú ý hơn tới những học sinh cá biệt trong lớp để xem cách học sinh học, cách học sinh tư duy, chứ phẩm chất hay năng lực của giáo viên không phải là vấn đề được đánh giá. Trong các phương pháp dự giờ truyền thống yếu tố phẩm chất nghề nghiệp của giáo viên luôn là một vấn đề được xem xét đánh giá cho nên có một số hạn chế trong việc nhận xét, góp ý của các giáo viên khác, nhất là đối với các giáo viên trẻ thì vấn đề nhận xét, đánh giá các giáo viên nhiều kinh nghiệm là điều cực kì khó khăn; còn với NCBH các giáo viên góp ý với tinh thần cùng giúp nhau hoàn thiện hơn chứ không phải để đánh giá giáo viên, do vậy sự góp ý là chân thành và mọi thành viên có thể tự do nói nên ý kiến của mình mà không sợ làm giảm tình đoàn kết giữa các đồng nghiệp.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Dự giờ bài học: theo phương pháp dự giờ truyền thống các giáo viên dự giờ chỉ chú ý đến giáo viên dạy và họ thích ngồi ở đằng sau và ít chú ý tới học sinh. Theo mô hình NCBH trọng tâm quan sát giờ học là bài học và quá trình học của học sinh, giáo viên dự giờ quan sát từ phía trước để có thể thấy nét mặt của học sinh.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Suy ngẫm về bài học: theo phương pháp dự giờ truyền thống có nhiều giáo viên có thái độ phê phán giáo viên dạy (như thường nhận xét: cô, thầy không thể làm việc này hay việc kia,&nbsp; phải làm như thế này, không được làm như thế kia… ) hay ca ngợi rõ ràng nhưng không chi tiết. Theo mô hình NCBH các giáo viên hợp tác cùng nhau xây dựng kế hoạch bài học và nó là sản phẩm của cả nhóm, tất cả các thành viên đều phải chịu trách nhiệm về bài học cho dù nó thành công hay thất bại chứ không phải chỉ riêng giáo viên đứng lớp, và do đó sẽ không có thái độ phê phán cách dạy của giáo viên, vì cách dạy đó đã được cả nhóm thống nhất trong kế hoạch của bài học, nếu cách dạy đó chưa phù hợp, đó là khuyết điểm của cả nhóm và việc họ cần làm là cùng nhau khắc phục.</div><div><br></div><div>&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-03 13:14:33 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655484010</guid>
      </item>
      <item>
         <title>EM TRẦN THỊ THU HIỀN - TRƯỜNG MN HOA HUỆ - TP YÊN BÁI - TỈNH YÊN BÁI NỘP BÀI Ạ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655484189</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Sinh hoạt CM theo NCBH</strong><br>| <strong>1. Mục đích</strong><br>- Không đánh giá xếp loại giờ dạy theo tiêu chí, quy định.<br>- Người dự giờ tập trung phân tích các hoạt động của HS để rút kinh nghiệm.<br>-Tự rút ra những kinh nghiệm để vận dụng vào thực tiễn dạy trên lớp<br>| <strong>2. Thiết kế bài dạy minh hoạ</strong><br>- Bài dạy minh hoạ được các GV trong tổ thiết kế.không nhất thiết theo mẫu qui định<br>-Nội dung bài học được thiết kế&nbsp; linh hoạt&nbsp; phù hợp với từng đối tượng HS<br>- Không nhất thiết theo khuôn mẫu qui định<br>- Phát huy sự sáng tạo trong việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học<br>| <strong><em>3.Gv dạy minh hoạ</em></strong><br><strong><em>* </em></strong>Một người được chọn trong nhóm hoặc tổ hoặc tự gv đăng kí<br>&nbsp; | <strong>4. Thảo luận giờ dạy minh hoạ</strong><br>- Người dạy chia sẻ mục tiêu bài học, những ý tưởng mới, những cảm nhận của mình qua tiết dạy minh họa.<br>-Không khí sinh hoạt thân thiện cởi mở.<br>&nbsp; theo tinh thần trao đổi, chia sẻ, tập trung vào phân tích các hoạt động của HS và tìm ra các nguyên nhân và giải pháp khắc phục.<br>- Không xếp loại tiết dạy. <br><strong>Dự giờ thăm lớp<br>- </strong>Nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ năm học&nbsp; thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn cũng như thực hiện tốt chương trình giáo dục mầm non. Vì vậy, căn cứ vào tình hình thực tế, ngay từ năm học bộ phận chuyên môn đã lên kế hoạch dự giờ, kiểm tra chuyên đề, kiểm tra toàn diện đến từng giáo viên. Ban giám hiệu, tổ trưởng, tổ phó chuyên môn cùng với giáo viên trong nhà trường đã tham gia dự các hoạt động có học, hoạt động góc và hoạt động ngoài trời của các giáo viên trong nhà trường theo đúng kế hoạch.</div><div>- Đây là một việc làm hết sức quan trọng đối với mỗi giáo viên; Thông qua việc dự giờ giúp giáo viên từng bước trưởng thành trong công tác chuyên môn; giúp cho giáo viên chủ động, tích cực hơn trong các bài giảng của mình.</div><div>- Qua các buổi dự giờ, giáo viên tự đánh giá khả năng, năng lực chuyên môn của mình, đồng thời tiếp thu ý kiến đóng góp của các bạn đồng nghiệp, nhận biết những ưu điểm và hạn chế của mình qua đó nâng cao nghiệp vụ sư phạm, rèn luyện nhân cách, tinh thần trách nhiệm để có thể hoàn thành nhiệm vụ một cách tốt nhất.&nbsp; Bên cạnh đó Ban Giám hiệu nhà trường sẽ có được những nhận xét, đánh giá về các tiết học để rút kinh nghiệm trong quá trình thực hiện chương trình giáo dục mầm non.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<br>- Qua các tiết dự giờ, các giáo viên thể hiện được năng lực chuyên môn, kỹ năng sư phạm của các cô thực sự ngày một nâng cao. Các hoạt động lồng ghép nội dung giáo dục, tích hợp nhiều lĩnh vực đặc biệt là đã áp dụng chuyên đề giáo dục lấy trẻ làm trung tâm phù hợp với từng độ tuổi của từng nhóm lớp. Kỹ năng chuyên môn của cô giáo được khẳng định, kết quả trên trẻ rất cao. Cô say mê hướng dẫn và tương tác cùng trẻ, trẻ hồn nhiên hứng thú và hoạt động cùng nhau với cô rất tích cực.&nbsp;<br>- Các tiết dự giờ diễn ra thành công tốt đẹp, với nhiều ưu điểm và khuyết điểm được tập thể BGH và giáo viên đưa ra, trên tinh thần rút kinh nghiệm, chia sẻ học hỏi lẫn nhau, cùng hướng đến mục tiêu nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường.&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-03 13:14:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655484189</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Cầm Thị Phương -mầm non Hoa Hồng- Mường la- Sơn La</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655484308</link>
         <description><![CDATA[<div>Nhằm tạo cơ hội cho giáo viên được học tập lẫn nhau thông qua hoạt động cùng nhau xây dựng kế hoạch bài học, cùng nhau dự giờ, phân tích bài học, qua đó giúp giáo viên phát triển năng lực chuyên môn, kĩ năng giảng dạy, phát triển khả năng sáng tạo, …Tạo cơ hội cho tất cả giáo viên nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng sư phạm và phát huy khả năng sáng tạo trong việc áp dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học thông qua việc dự giờ, trao đổi, thảo luận, chia sẻ sau khi dự giờ. Nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường. <br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-03 13:15:07 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655484308</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lò Thị Hậu 10/10/1990 Trường MN Ngọc Chiến </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655484455</link>
         <description><![CDATA[<div>Xuất phát từ nhu cầu giải quyết những vấn đề thực tiễn trong lớp học. Mối quán hệ giữa những người thâm giá ncbh là quan hệ bình đẳng . GV là người giữ vai trò chủ động là người cải cách một nhà quản sát tự đánh giá thực tiễn của mình .&nbsp; Xác định mục tiêu, xây dựng kế hoạch bài học nghiên cứu.<br><br></div><div>- Tiến hành bài học và dự giờ.<br><br></div><div>- Suy ngẫm, thảo luận về bài học nghiên cứu.<br><br></div><div>- Áp dụng cho thực tiễn dạy học hàng ngày.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-03 13:15:27 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655484455</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lù Thị Thủy MN Mường Bú, Mường La, Sơn La</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655484516</link>
         <description><![CDATA[<div>Cách nghiên cứu bài học là giáo viên tự nghiên cứu học tập, qua các tài liệu hay qua các trang thông tin để đáp ứng được mục đích&nbsp; của giáo viên để giải quyết các vần đề xảy ra<br>Còn dự thì thì giáo viên sẽ đc dự giờ một hoạt động nào đó từ đó GV được rút kinh nghiệm  tìm ra được nhiều phương pháp mới từ đó GV có thể nâng cao kiến thức kỹ năng cho bản thân và có nhiều cách dạy phong phú hơn</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-03 13:15:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655484516</guid>
      </item>
      <item>
         <title>phân biệt ncbh với bồi dưỡng dự giờ gv hiện nay thì </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655484579</link>
         <description><![CDATA[<div>sinh hoạt chuyên môn dự trên nchb<br>b1; xác định mục tiêu, xd kh bài học nghiên cứu<br>b2: tiến hành dạy học và dự giờ&nbsp;<br>b3 suy ngẫm thảo luận và bhnc<br>b4, áp dụng cho thực tiễn dạy học hàng ngày<br>khác nhau giữa ncbh&nbsp;<br>nghiên cứu bài học nghiên cứu 1 bài học để chuẩn bị dạy<br>bồi dưỡng dự giờ thì giáo viên chuẩn bị bài học dự giờ cho các đồng nghiệp dự và nhận xét rút kinh nghiệp<br>cà thị quỳnh, trường mn mường chùm, mường la sơn la<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-03 13:15:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655484579</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655484905</link>
         <description><![CDATA[<div>Trương Thị Soa - MN Sao Sáng quận Tanh Xuân<br><strong>Phân biệt “nghiên cứu bài học” với cách bồi dưỡng, dự giờ giáo viên hiện nay</strong></div><div>Như đã trình bày ở trên, NCBH là một mô hình bồi dưỡng, phát triển nghề nghiệp cho giáo viên, nhưng nó có sự khác biệt cơ bản với cách bồi dưỡng, dự giờ truyền thống ở chỗ:</div><div>Thứ nhất, thay cho việc cung cấp kiến thức được xác định từ các chuyên gia bên ngoài nhà trường, NCBH xuất phát từ chính nhu cầu giải quyết những vấn đề trong thực tiễn lớp học mà giáo viên đang phải đối mặt. Trong các lớp bồi dưỡng giáo viên truyền thống các chuyên gia bên ngoài là người cung cấp kiến thức, còn các giáo viên là những người thụ động tiếp nhận kiến thức. Khi tham gia NCBH, các nhóm nghiên cứu tự nhận thấy những yêu cần giải quyết đối với mỗi bài học nhất định và cùng nhau thảo luận để tìm cách giải quyết các yêu cầu đó. Trong NCBH cũng có thể có sự tham gia của các chuyên gia bên ngoài nhưng họ chỉ đóng vai trò là người quan sát, tư vấn, rút kinh nghiệm cho nhóm và cung cấp thêm những kinh nghiệm của các nhóm nghiên cứu khác chứ không đóng vai trò chủ đạo như trong các phương pháp truyền thống khác.</div><div>Thứ hai, mối quan hệ giữa những người tham gia NCBH là bình đẳng khác với quan hệ thứ bậc, giữa người dạy với người học trong các lớp tập huấn. Trong các phương pháp bồi dưỡng giáo viên truyền thống, giáo viên khi đó đóng vai trò là người học và những chuyên gia đóng vai trò là thầy giáo, là người cung cấp kiến thức. Trong NCBH, những người tham gia có vai trò như nhau, cùng nhau hợp tác, cùng nghiên cứu,&nbsp; cùng thảo luận hướng tới một mục tiêu chung của sự phát triển. Những người tham gia NCBH đều trên tinh thần tự nguyện và có vai trò như nhau trong việc phát triển bài học đạt được những mục tiêu đề ra.</div><div>Thứ ba, trong các lớp tập huấn, giáo viên là người tiếp nhận kiến thức mới (ở vị thế bị động),&nbsp; còn trong nghiên cứu bài học giáo viên giữ vai trò chủ động, là một người cải cách, một nhà quan sát, tự đánh giá thực tiễn của mình. Với phương pháp truyền thống giáo viên được tiếp xúc với cái mới thông qua các chuyên gia, hoàn toàn theo kiểu thầy truyền thụ trò lắng nghe. Trong khi ở NCBH, giáo viên là người mang cái mới vào dạy học, là nhà quan sát thực tế có thể tự đánh giá khả năng của mình thông qua việc quan sát trực tiếp lớp học.</div><div>Với các phương pháp dạy học truyền thống phẩm chất và năng lực của giáo viên luôn luôn là một vấn đề để đánh giá trong những buổi dự giờ, giáo viên luôn mang nặng tâm lí về xếp hạng và chủ yếu chú trọng tới bài giảng,&nbsp; giáo án của mình mà ít quan tâm xem học sinh học như thế nào. Hơn nữa, nếu có quan tâm đến học sinh thì đó là những học sinh nổi bật trong các lớp học. Trong khi đó đối với NCBH, thì sự quan sát hướng đến tất cả học sinh trong lớp không riêng gì các học sinh nổi bật, thậm chí là chú ý hơn tới những học sinh cá biệt trong lớp để xem cách học sinh học, cách học sinh tư duy, chứ phẩm chất hay năng lực của giáo viên không phải là vấn đề được đánh giá. Trong các phương pháp dự giờ truyền thống yếu tố phẩm chất nghề nghiệp của giáo viên luôn là một vấn đề được xem xét đánh giá cho nên có một số hạn chế trong việc nhận xét, góp ý của các giáo viên khác, nhất là đối với các giáo viên trẻ thì vấn đề nhận xét, đánh giá các giáo viên nhiều kinh nghiệm là điều cực kì khó khăn; còn với NCBH các giáo viên góp ý với tinh thần cùng giúp nhau hoàn thiện hơn chứ không phải để đánh giá giáo viên, do vậy sự góp ý là chân thành và mọi thành viên có thể tự do nói nên ý kiến của mình mà không sợ làm giảm tình đoàn kết giữa các đồng nghiệp.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Dự giờ bài học: theo phương pháp dự giờ truyền thống các giáo viên dự giờ chỉ chú ý đến giáo viên dạy và họ thích ngồi ở đằng sau và ít chú ý tới học sinh. Theo mô hình NCBH trọng tâm quan sát giờ học là bài học và quá trình học của học sinh, giáo viên dự giờ quan sát từ phía trước để có thể thấy nét mặt của học sinh.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Suy ngẫm về bài học: theo phương pháp dự giờ truyền thống có nhiều giáo viên có thái độ phê phán giáo viên dạy (như thường nhận xét: cô, thầy không thể làm việc này hay việc kia,&nbsp; phải làm như thế này, không được làm như thế kia… ) hay ca ngợi rõ ràng nhưng không chi tiết. Theo mô hình NCBH các giáo viên hợp tác cùng nhau xây dựng kế hoạch bài học và nó là sản phẩm của cả nhóm, tất cả các thành viên đều phải chịu trách nhiệm về bài học cho dù nó thành công hay thất bại chứ không phải chỉ riêng giáo viên đứng lớp, và do đó sẽ không có thái độ phê phán cách dạy của giáo viên, vì cách dạy đó đã được cả nhóm thống nhất trong kế hoạch của bài học, nếu cách dạy đó chưa phù hợp, đó là khuyết điểm của cả nhóm và việc họ cần làm là cùng nhau khắc phục.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-03 13:16:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655484905</guid>
      </item>
      <item>
         <title>       Lê Thị Nguyệt - MN Võng Xuyên A - Phúc Thọ - Hà Nội              NCBH là một mô hình bồi dưỡng  phát triển chuyên môn nghiệp vụ cho Gv bởi những lợi ích to lớn mà nó mang lại cho người tham gia. </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655486628</link>
         <description><![CDATA[<div>NCBH để cải tiến nội dung dạy học cụ thể nên thông qua quá trình hợp tác với các giáo viên trong nhóm&nbsp;<br>NCBH đặt trọng tâm vào học tập của học sinh thông qua quan sát và thảo luận<br>NCBH thúc đẩy sự duy trì hợp tác giữa các giáo viên giúp các gv phát triển kĩ năng làm việc nhóm góp phần phát triển không khí hợp tác đoàn kết trong nhà trường.<br>NCBH tạo ra cộng đồng học tập văn hóa học tập và củng cố tình đồng nghiệp trong nhà trường</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-03 13:18:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655486628</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Họ và tên : cầm phương thảo </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655486852</link>
         <description><![CDATA[<div>Trường:mầm non hoa hồng chiềng san&nbsp; mường la&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Trả lời<br><br>Yêu cầu đối với giáo viên khi tham gia nghiên cứu bài học<br><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; Khi tham gia NCBH, các giáo viên sẽ họp thành từng nhóm nhỏ 4-6 người có thể khác nhau về trình độ chuyên môn, khác nhau về chuyên ngành thậm chí có thể khác trường. Tuy nhiên, để thuận lợi cho quá trình thực hiện bài học, thông thường các nhóm NCBH là các giáo viên cùng trường và có cùng chuyên ngành. Trong quá trình tiến hành bài học nghiên cứu có thể có sự tham gia của các giáo viên khác ngoài nhóm hoặc có thể mời những học giả, những giáo sư tiến sĩ đến từ các trường Đại học, những chuyên viên của Bộ giáo dục, v.v… những người này sẽ đóng góp những ý kiến chuyên môn, quan sát bài học và đưa ra những ý kiến, nhận xét, góp ý để quá trình trở nên hiệu quả hơn.<br><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Các giáo viên cùng nhau nghiên cứu, xây dựng mục tiêu học tập cho học sinh. Sự tham gia của các thành viên phải mang tính chất tự nguyện trên cơ sở muốn nâng cao hiệu quả học tập của học sinh. Trong nhóm các thành viên cùng nhau hợp tác hướng đến mục tiêu chung của bài học, cùng chia sẻ kinh nghiệm và cùng nhận xét, bổ sung giúp nhau hoàn thiện hơn về chuyên môn nghiệp vụ. Cần tránh những biểu hiện tiêu cực như sự phê phán nhau về năng lực chuyên môn hay phẩm chất nghề nghiệp của các giáo viên với nhau. Các nhóm sẽ làm việc trung bình từ 2-3 bài học/ năm do việc nghiên cứu có cường độ cao và chiếm khá nhiều thời gian.<br><br>2.2. Quá trình nghiên cứu bài học<br><br>NCBH để đánh giá hoặc cung cấp cho giáo viên những thông tin phản hồi về thực tiễn dạy học. Giáo viên thực hiện NCBH thì thu thập được những nhận xét, kết quả cho việc sử dụng các phương pháp của mình đến sự tư duy của học sinh. Có nhiều cách phân chia các giai đoạn của quá trình NCBH.<br><br>Stigler và Hiebert(1999) chia quá trình NCBH thành 7 bước cụ thể:<br><br>+Lập kế hoạch nghiên cứu bài học.<br><br>+ dạy học&nbsp; và quan sát các bài học nghiên cứu.<br><br>+ Đánh giá, nhận xét các bài học đã được dạy.<br>+ Chỉnh sửa các bài học dựa trên sự góp ý, bổ sung sau những gì thu thập được sau khi tiến hành bài học nghiên cứu lần 1.<br>+ Tiến hành dạy các bài học đã được chỉnh sửa.<br>2.<br>+ Tiếp tục đánh giá, nhận xét kết quả lần&nbsp;<br>.3. Phân biệt “nghiên cứu bài học” với cách bồi dưỡng, dự giờ giáo viên hiện nay<br>Như đã trình bày ở trên, NCBH là một mô hình bồi dưỡng, phát triển nghề nghiệp cho giáo viên, nhưng nó có sự khác biệt cơ bản với cách bồi dưỡng, dự giờ truyền thống ở chỗ:<br>Thứ nhất, thay cho việc cung cấp kiến thức được xác định từ các chuyên gia bên ngoài nhà trường, NCBH xuất phát từ chính nhu cầu giải quyết những vấn đề trong thực tiễn lớp học mà giáo viên đang phải đối mặt. Trong các lớp bồi dưỡng giáo viên truyền thống các chuyên gia bên ngoài là người cung cấp kiến thức, còn các giáo viên là những người thụ động tiếp nhận kiến thức. Khi tham gia NCBH, các nhóm nghiên cứu tự nhận thấy những yêu cần giải quyết đối với mỗi bài học nhất định và cùng nhau thảo luận để tìm cách giải quyết các yêu cầu đó. Trong NCBH cũng có thể có sự tham gia của các chuyên gia bên ngoài nhưng họ chỉ đóng vai trò là người quan sát, tư vấn, rút kinh nghiệm cho nhóm và cung cấp thêm những kinh nghiệm của các nhóm nghiên cứu khác chứ không đóng vai trò chủ đạo như trong các phương pháp truyền thống khác.<br>Thứ hai, mối quan hệ giữa những người tham gia NCBH là bình đẳng khác với quan hệ thứ bậc, giữa người dạy với người học trong các lớp tập huấn. Trong các phương pháp bồi dưỡng giáo viên truyền thống, giáo viên khi đó đóng vai trò là người học và những chuyên gia đóng vai trò là thầy giáo, là người cung cấp kiến thức. Trong NCBH, những người tham gia có vai trò như nhau, cùng nhau hợp tác, cùng nghiên cứu,&nbsp; cùng thảo luận hướng tới một mục tiêu chung của sự phát triển. Những người tham gia NCBH đều trên tinh thần tự nguyện và có vai trò như nhau trong việc phát triển bài học đạt được những mục tiêu đề ra.<br>Thứ ba, trong các lớp tập huấn, giáo viên là người tiếp nhận kiến thức mới (ở vị thế bị động),&nbsp; còn trong nghiên cứu bài học giáo viên giữ vai trò chủ động, là một người cải cách, một nhà quan sát, tự đánh giá thực tiễn của mình. Với phương pháp truyền thống giáo viên được tiếp xúc với cái mới thông qua các chuyên gia, hoàn toàn theo kiểu thầy truyền thụ trò lắng nghe. Trong khi ở NCBH, giáo viên là người mang cái mới vào dạy học, là nhà quan sát thực tế có thể tự đánh giá khả năng của mình thông qua việc quan sát trực tiếp lớp học.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-03 13:19:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655486852</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Em: Lò Thị Kim - Trường MN Chiềng Công - Mường La - Sơn La</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655486974</link>
         <description><![CDATA[<div>NCBH là một mô hình bồi dưỡng, phát triển chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên bởi những lợi ích to lớn mà nó mang lại cho những người tham gia. Mục đích của NCBH là tìm hiểu những gì học sinh nghĩ, những gì học sinh tư duy để có những phương pháp dạy cho phù hợp chứ không phải là một bài học biểu diễn. Tất cả các thành viên trong nhóm đều phải có những đóng góp và các ý tưởng đó cần phải được tôn trọng. Do vậy, bài học là thuộc về cả nhóm chứ không phải của riêng người dạy. Như vậy khi các thành viên tham gia vào NCBH thì sẽ kết hợp được những ưu điểm và cùng hoàn thiện bài học hơn. Thông qua NCBH, giáo viên cảm thấy tập trung hơn vào bài học và tăng sự thích thú trong công việc dạy học.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; NCBH là để cải tiến nội dung dạy học cụ thể nên thông qua quá trình hợp tác với các giáo viên trong nhóm, họ hiểu sâu hơn về nội dung kiến thức của bài học vì chính họ phải đào sâu suy nghĩ hơn và được bổ sung từ ý kiến của những người khác, qua đó năng lực sư phạm của họ được cải thiện. Giáo viên phải cùng nhau thảo luận về những biểu hiện có thể có ở học sinh trong quá trình học để có những phương pháp dạy học cho phù hợp.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; NCBH đặt trọng tâm vào học tập của học sinh. Thông qua quan sát và thảo luận về những gì đang xảy ra trong lớp học, cách học sinh biểu hiện với các tác động, giáo viên tham gia có nhận thức đầy đủ hơn về cách học sinh học và suy nghĩ cũng như cách học sinh hiểu bài, đáp lại những cái giáo viên dạy. Hơn nữa, tham gia nghiên cứu bài học giúp giáo viên học được cách quan sát, không phải là quan sát những cái bề ngoài hời hợt mà là quan sát quá trình học sinh học những cái họ dạy. Giáo viên học được cách phân tích, rút ra kết luận, sửa đổi từ những số liệu quan sát được. Ngoài ra, tham gia NCBH giúp giáo viên nâng cao kĩ năng thiết kế công cụ dạy học để làm cho học tập và tư duy của học sinh trở nên dễ hiểu đối với giáo viên và có thể nhìn thấy được.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; NCBH thúc đẩy, duy trì sự hợp tác giữa các giáo viên, giúp các giáo viên phát triển kĩ năng làm việc nhóm, góp phần phát triển không khí hợp tác, đoàn kết trong nhà trường. NCBH tạo ra cộng đồng học tập, văn hóa học tập và củng cố tình đồng nghiệp trong nhà trường. Tham gia vào NCBH giáo viên thực hiện vai trò của người nghiên cứu, cải tạo thực tiễn và họ trở nên vững vàng hơn về chuyên môn,&nbsp; nghiệp vụ, tăng sự chuyên nghiệp của giáo viên và giúp giáo viên tự tin hơn trong việc giải quyết vấn đề của thực tiễn để nâng cao chất lượng dạy học của mình.. Nghiên cứu bài học tạo cơ hội cho giáo viên có thể quan tâm tới tất cả các học sinh trong lớp, tạo cơ hội phát triển cho mọi học sinh. Và dẫn tới hệ quả tất yếu là nâng cao chất lượng học tập của học sinh.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Qua việc NCBH chúng ta có thể nhận ra tính ưu việc của NCBH so với các hình thức bồi dưỡng nghiệp vụ khác. NCBH xuất phát từ thực tiễn cần giải quyết những khó khăn thực tiễn trong lớp học của giáo viên. Thông qua NCBH giáo viên được hợp tác cùng nhau, làm việc cùng nhau để xây dựng một kế hoạch bài học hoàn chỉnh. Phát huy được năng lực chuyên môn của tập thể, giúp GV rèn luyện, củng cố, phát triển kĩ năng quan sát; hiểu học sinh hơn. Đồng thời, giúp GV tích luỹ kinh nghiệm, nâng cao năng lực chuyên môn và đổi mới phương pháp dạy học, kĩ thuật dự giờ theo hướng dạy học tích cực, lấy việc học của học sinh làm trung tâm khi tham gia sinh hoạt chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học.<br><br></div><div>&nbsp;Dự giờ giáo viên: Bước đầu đánh giá việc thực hiện chương trình giáo dục tổng thể 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, thực hiện sách giáo khoa mới năm học 2020- 2021.</div><div>- Thông qua các tiết dự giờ, giúp giáo viên từng bước kết hợp và sử dụng linh hoạt các phương pháp, vận dụng phương pháp giảng dạy tích cực, nâng cao chất lượng giảng dạy.</div><div>- Nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chuyên môn, tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ giáo viên khối 1 nâng cao chất lượng nội dung bài giảng, đổi mới phương pháp dạy học, bồi dưỡng năng lực, nâng cao tay nghề.</div><div>- Tạo điều kiện để các tổ chuyên môn trong nhà trường tăng cường giao lưu, trao đổi kinh nghiệm, chuyên môn, nghiệp vụ giảng dạy, thúc đẩy hoạt động thi đua “dạy tốt, học tốt”.</div><div><strong><br></strong><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-03 13:19:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655486974</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Thị Liên – trường MN Mường Phạm Thị Liên - Mường Bú- Mường La – Sơn La </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655488830</link>
         <description><![CDATA[<div>Nghiên cứu bài học là nơi GV tập trung phân tích các vấn đề liên quan đến người học Không tập trung vào việc đánh giá giờ dạy, xếp loại GV mà nhằm khuyến khích GV tìm ra nguyên nhân tại sao HS chưa đạt kết quả như mong muốn và tìm ra biện pháp hiệu quả để nâng cao chất lượng dạy học, tạo cơ hội cho HS được tham gia vào quá trình học tập; giúp GV có khả năng chủ động điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy sao cho phù hợp với từng đối tượng HS. Dự giờ, thao giảng là một việc làm hết sức quan trọng đối với mỗi giảng viên. Hoạt động này giúp giảng viên bồi dưỡng năng lực chuyên môn, đặc biệt là đổi mới phương pháp giảng dạy.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-03 13:22:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655488830</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Hồng Hoa-trường Mn đồng nguyên 1 - Bắc Ninh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655491533</link>
         <description><![CDATA[<div>NCBH với cách bồi dưỡng ,dự giờ hiện nay giúp các thầy cô có thể. Được trao đổi ,kiến thức với đồng nghiệp một cách dễ dàng&nbsp;<br>-NCBH là để cải tiến nội dung dạy học cụ thể thông qua quá trình hợp tác với các giáo viên trong nhóm ,hiểu sâu hơn về nội dung kiến thức bài học&nbsp;<br>NCBH&nbsp; thúc đẩy ,duy trì sự hợp tác giữa các giáo viên phát triển kĩ năng làm việc nhóm<br>Phan biệt nghiêm cứu&nbsp; bài học với dự giờ giờ gv hiện nay<br>Thứ nhất thay cho việc cung cấp kiến thức được xách định từ các chuyên gia bên ngoài nhà trường ,NCBH xuất phát từ chính nhu cầu giải quyết những vấn đề trong thực hiện lớp học mà gv đang phải đối mặt .trong các lớp bồi dưỡng giáo viên tuyên truyền thống các chuyên gia bên ngoài là người cung cấp kiến thức ,còn gv là những người thụ động tiếp nhận kiến thức .khi tham gia NCBH các nhóm nghiên cứu tự nhận thấy những yêu cần giải quyết đối với mỗi bài học nhất định </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-03 13:27:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655491533</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lường Thị Lả - Trường mầm non nặm păm  _ Mường La -Sơn la </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655493425</link>
         <description><![CDATA[<div>NCBH với các bồi dưỡng, dự giờ hiện nay là: Giúp các cô trao đổi kiến thức và kỹ năng về bài dạy, mô tả hiện tượng nguyên nhân giải pháp, những khó khăn, để phù hợp với nhận thức của trẻ<br>- NCBH là cải tiến nội dung dạy học, minh họa dự giờ chia sẻ ý kiến, rút kinh nghiệm....</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-03 13:31:07 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655493425</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655497506</link>
         <description><![CDATA[<div>Lường Thị Ánh Kiều. Trường Mầm Non Chiềng Hoa - Mường La - Sơn La&nbsp;<br>Nghiên cứu bài học với bồi dưỡng và dự giờ giáo viên.&nbsp;<br>NCBH. Giúp các cô trao đổi kinh nghiệm và cùng tháo gỡ vướng mắc 1 cách dễ dàng<br>Dự giờ giáo viên. Trên vị trí là 1 người giảng dạy và dự giờ đến khi xong bài dạy mới được nhận xét và rút kinh nghiệm những thiếu xót của mình</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-03 13:38:04 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2655497506</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dương Thu Uyên- trường TH Yên Sơn-Quốc Oai-Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656465223</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Nghiên cứu bài học</strong> là thuật ngữ chỉ một phương pháp nâng cao năng lực sư phạm của giáo viên có nguồn gốc từ Nhật Bản. Khái niệm này đề cập đến việc nghiên cứu và cải thiện chất lượng dạy học thông qua các nội dung bài học cụ thể, trong đó học sinh là trọng tâm. Từ đó, thầy cô có thể thay đổi cách truyền đạt, hướng dẫn học sinh sao cho hiệu quả nhất.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:02:31 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656465223</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hà Thị Thu - tiểu học kim sơn, sơn tây, hà nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656465665</link>
         <description><![CDATA[<div>Thứ nhất, thay cho việc cung cấp kiến thức được xác định từ các chuyên gia bên ngoài nhà trường, NCBH xuất phát từ chính nhu cầu giải quyết những vấn đề trong thực tiễn lớp học mà giáo viên đang phải đối mặt. Trong các lớp bồi dưỡng giáo viên truyền thống các chuyên gia bên ngoài là người cung cấp kiến thức, còn các giáo viên là những người thụ động tiếp nhận kiến thức. Khi tham gia NCBH, các nhóm nghiên cứu tự nhận thấy những yêu cần giải quyết đối với mỗi bài học nhất định và cùng nhau thảo luận để tìm cách giải quyết các yêu cầu đó. Trong NCBH cũng có thể có sự tham gia của các chuyên gia bên ngoài nhưng họ chỉ đóng vai trò là người quan sát, tư vấn, rút kinh nghiệm cho nhóm và cung cấp thêm những kinh nghiệm của các nhóm nghiên cứu khác chứ không đóng vai trò chủ đạo như trong các phương pháp truyền thống khác.</div><div>Thứ hai, mối quan hệ giữa những người tham gia NCBH là bình đẳng khác với quan hệ thứ bậc, giữa người dạy với người học trong các lớp tập huấn. Trong các phương pháp bồi dưỡng giáo viên truyền thống, giáo viên khi đó đóng vai trò là người học và những chuyên gia đóng vai trò là thầy giáo, là người cung cấp kiến thức. Trong NCBH, những người tham gia có vai trò như nhau, cùng nhau hợp tác, cùng nghiên cứu,&nbsp; cùng thảo luận hướng tới một mục tiêu chung của sự phát triển. Những người tham gia NCBH đều trên tinh thần tự nguyện và có vai trò như nhau trong việc phát triển bài học đạt được những mục tiêu đề ra.</div><div>Thứ ba, trong các lớp tập huấn, giáo viên là người tiếp nhận kiến thức mới (ở vị thế bị động),&nbsp; còn trong nghiên cứu bài học giáo viên giữ vai trò chủ động, là một người cải cách, một nhà quan sát, tự đánh giá thực tiễn của mình. Với phương pháp truyền thống giáo viên được tiếp xúc với cái mới thông qua các chuyên gia, hoàn toàn theo kiểu thầy truyền thụ trò lắng nghe. Trong khi ở NCBH, giáo viên là người mang cái mới vào dạy học, là nhà quan sát thực tế có thể tự đánh giá khả năng của mình thông qua việc quan sát trực tiếp lớp học.</div><div>Với các phương pháp dạy học truyền thống phẩm chất và năng lực của giáo viên luôn luôn là một vấn đề để đánh giá trong những buổi dự giờ, giáo viên luôn mang nặng tâm lí về xếp hạng và chủ yếu chú trọng tới bài giảng,&nbsp; giáo án của mình mà ít quan tâm xem học sinh học như thế nào. Hơn nữa, nếu có quan tâm đến học sinh thì đó là những học sinh nổi bật trong các lớp học. Trong khi đó đối với NCBH, thì sự quan sát hướng đến tất cả học sinh trong lớp không riêng gì các học sinh nổi bật, thậm chí là chú ý hơn tới những học sinh cá biệt trong lớp để xem cách học sinh học, cách học sinh tư duy, chứ phẩm chất hay năng lực của giáo viên không phải là vấn đề được đánh giá. Trong các phương pháp dự giờ truyền thống yếu tố phẩm chất nghề nghiệp của giáo viên luôn là một vấn đề được xem xét đánh giá cho nên có một số hạn chế trong việc nhận xét, góp ý của các giáo viên khác, nhất là đối với các giáo viên trẻ thì vấn đề nhận xét, đánh giá các giáo viên nhiều kinh nghiệm là điều cực kì khó khăn; còn với NCBH các giáo viên góp ý với tinh thần cùng giúp nhau hoàn thiện hơn chứ không phải để đánh giá giáo viên, do vậy sự góp ý là chân thành và mọi thành viên có thể tự do nói nên ý kiến của mình mà không sợ làm giảm tình đoàn kết giữa các đồng nghiệp.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Dự giờ bài học: theo phương pháp dự giờ truyền thống các giáo viên dự giờ chỉ chú ý đến giáo viên dạy và họ thích ngồi ở đằng sau và ít chú ý tới học sinh. Theo mô hình NCBH trọng tâm quan sát giờ học là bài học và quá trình học của học sinh, giáo viên dự giờ quan sát từ phía trước để có thể thấy nét mặt của học sinh.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Suy ngẫm về bài học: theo phương pháp dự giờ truyền thống có nhiều giáo viên có thái độ phê phán giáo viên dạy (như thường nhận xét: cô, thầy không thể làm việc này hay việc kia,&nbsp; phải làm như thế này, không được làm như thế kia… ) hay ca ngợi rõ ràng nhưng không chi tiết. Theo mô hình NCBH các giáo viên hợp tác cùng nhau xây dựng kế hoạch bài học và nó là sản phẩm của cả nhóm, tất cả các thành viên đều phải chịu trách nhiệm về bài học cho dù nó thành công hay thất bại chứ không phải chỉ riêng giáo viên đứng lớp, và do đó sẽ không có thái độ phê phán cách dạy của giáo viên, vì cách dạy đó đã được cả nhóm thống nhất trong kế hoạch của bài học, nếu cách dạy đó chưa phù hợp, đó là khuyết điểm của cả nhóm và việc họ cần làm là cùng nhau khắc phục.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:05:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656465665</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thu Hương - TH Phương Canh - Nam Từ Liêm</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656465677</link>
         <description><![CDATA[<div>NCBH là một mô hình bồi dưỡng, phát triển chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên bởi những lợi ích to lớn mà nó mang lại cho những người tham gia. Mục đích của NCBH là tìm hiểu những gì học sinh nghĩ, những gì học sinh tư duy để có những phương pháp dạy cho phù hợp chứ không phải là một bài học biểu diễn.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:05:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656465677</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656465739</link>
         <description><![CDATA[<div>Mùa Thị Xay-trường TH Ngọc Chiến - Mường La - Sơn La.</div><div>NCBH với cách bồi dưỡng ,dự giờ hiện nay giúp các thầy cô có thể. Được trao đổi ,kiến thức với đồng nghiệp một cách dễ dàng&nbsp;<br>-NCBH là để cải tiến nội dung dạy học cụ thể thông qua quá trình hợp tác với các giáo viên trong nhóm ,hiểu sâu hơn về nội dung kiến thức bài học&nbsp;<br>NCBH&nbsp; thúc đẩy ,duy trì sự hợp tác giữa các giáo viên phát triển kĩ năng làm việc nhóm<br>Phan biệt nghiêm cứu&nbsp; bài học với dự giờ giờ gv hiện nay<br>Thứ nhất thay cho việc cung cấp kiến thức được xách định từ các chuyên gia bên ngoài nhà trường ,NCBH xuất phát từ chính nhu cầu giải quyết những vấn đề trong thực hiện lớp học mà gv đang phải đối mặt .trong các lớp bồi dưỡng giáo viên tuyên truyền thống các chuyên gia bên ngoài là người cung cấp kiến thức ,còn gv là những người thụ động tiếp nhận kiến thức .khi tham gia NCBH các nhóm nghiên cứu tự nhận thấy những yêu cần giải quyết đối với mỗi bài học nhất định</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:05:22 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656465739</guid>
      </item>
      <item>
         <title>NCBH </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656465864</link>
         <description><![CDATA[<div>Không đánh giá xếp loại giờ dạy theo tiêu chí, quy định.<br>- Người dự giờ tập trung phân tích các hoạt động của HS để rút kinh nghiệm.<br>-Tự rút ra những kinh nghiệm để vận dụng vào thực tiễn dạy trên lớp</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:06:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656465864</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Anh - Tiểu học Nông Nghiệp</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656466026</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em>sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học (NCBH)<br></em></strong><br></div><div>- Là hoạt động chuyên môn nhưng ở đó GV tập trung phân tích các vấn đề liên quan đến người học (học sinh).<br><br></div><div>- Không tập trung vào việc đánh giá giờ học, xếp loại GV mà nhằm khuyến khích GV tìm ra nguyên nhân tại sao HS chưa đạt kết quả như mong muốn và có biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học, tạo cơ hội cho HS được tham gia vào quá trình học tập; giúp GV có khả năng chủ động điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy sao cho phù hợp với từng đối tượng HS.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:07:04 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656466026</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Thị Nga- TH Phương Canh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656466077</link>
         <description><![CDATA[<div>Không đánh giá xếp loại giờ dạy theo tiêu chí, quy định.<br>- Người dự giờ tập trung phân tích các hoạt động của HS để rút kinh nghiệm.<br>-Tự rút ra những kinh nghiệm để vận dụng vào thực tiễn dạy trên lớp</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:07:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656466077</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Ngô Thị Thuý Hiền - TH Thanh Lương HBT HN</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656466087</link>
         <description><![CDATA[<div>Nghiên cứu bài học là một mô hình bồi dưỡng, phát triển chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên bởi những lợi ích to lớn mà nó mang lại cho những người tham gia. Mục đích của nghiên cứu bài học là tìm hiểu những gì học sinh nghĩ, những gì học sinh tư duy để có những phương pháp dạy cho phù hợp chứ không phải là một bài học biểu diễn. Tất cả các thành viên trong nhóm đều phải có những đóng góp và các ý tưởng đó cần phải được tôn trọng. Do vậy, bài học là thuộc về cả nhóm chứ không phải của riêng người dạy. Như vậy khi các thành viên tham gia vào nghiên cứu bài học thì sẽ kết hợp được những ưu điểm và cùng hoàn thiện bài học hơn. Thông qua nghiên cứu bài học, giáo viên cảm thấy tập trung hơn vào bài học và tăng sự thích thú trong công việc dạy học.Nghiên cứu bài học đặt trọng tâm vào học tập của học sinh. Thông qua quan sát và thảo luận về những gì đang xảy ra trong lớp học, cách học sinh phản ứng với các tác động, giáo viên tham gia có nhận thức đầy đủ hơn về cách học sinh học và suy nghĩ cũng như cách học sinh hiểu bài, đáp lại những cái giáo viên dạy. Hơn nữa, tham gia nghiên cứu bài học&nbsp; &nbsp; giúp giáo viên học được cách quan sát, không phải là quan sát những cái bề ngoài hời hợt mà là quan sát quá trình học sinh học những cái họ dạy. Giáo viên học được cách phân tích, rút ra kết luận, sửa đổi từ những số liệu quan sát được. Ngoài ra, tham gia nghiên cứu bài học giúp giáo viên nâng cao kĩ năng thiết kế công cụ dạy học để làm cho học tập và tư duy của học sinh trở nên dễ hiểu đối với giáo viên và có thể nhìn thấy được.<br><br></div><div>Nghiên cứu bài học thúc đẩy, duy trì sự hợp tác giữa các giáo viên, giúp các giáo viên phát triển kĩ năng làm việc nhóm, góp phần phát triển không khí hợp tác, đoàn kết trong nhà trường.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:07:20 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656466087</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dương Thu Uyên- TH Yên Sơn-Quốc Oai-Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656466091</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Sinh hoạt CM truyền thống</strong> | <strong>Sinh hoạt CM theo NCBH</strong><br><strong>1. Mục đích</strong><br>- Đánh giá xếp loại giờ dạy theo tiêu chí từ các văn bản chỉ đạo của cấp trên.<br>- Người dự tập trung quan sát các hoạt động của GV để rút kinh nghiệm.<br>- Thống nhất cách dạy các dạng bài để tất cả GV trong từng khối thực hiện. | <strong>1. Mục đích</strong><br>- Không đánh giá xếp loại giờ dạy theo tiêu chí, quy định.<br>- Người dự giờ tập trung phân tích các hoạt động của HS để rút kinh nghiệm.<br>-Tự rút ra những kinh nghiệm để vận dụng vào thực tiễn dạy trên lớp<br><strong>2. Thiết kế bài dạy minh hoạ</strong><br>- Bài dạy minh hoạ được phân công cho một GV thiết kế; được chuẩn bị, thiết kế theo đúng mẫu quy định.<br>- Nội dung bài học được thiết kế theo sát nội dung SGV, SGK, không linh hoạt xem có phù hợp với từng đối tượng HS không.<br>- Thiếu sự sáng tạo trong việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học. | <strong>2. Thiết kế bài dạy minh hoạ</strong><br>- Bài dạy minh hoạ được các GV trong tổ thiết kế.không nhất thiết theo mẫu qui định<br>-Nội dung bài học được thiết kế&nbsp; linh hoạt&nbsp; phù hợp với từng đối tượng HS<br>- Không nhất thiết theo khuôn mẫu qui định<br>- Phát huy sự sáng tạo trong việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học<br> <br><strong><em>3. Gv dạy minh hoạ</em></strong><br>* Một người dạy minh hoạ đã chỉ định từ trước<br><strong><em>* Vị trí người dự giờ</em></strong><br>- Thường ngồi ở cuối lớp học quan sát người dạy như thế nào, ít chú ý đến những biểu hiện thái độ, tâm lí, hoạt động của HS. | <strong><em>3.Gv dạy minh hoạ</em></strong><br><strong><em>* </em></strong>Một người được chọn trong nhóm hoặc tổ hoặc tự gv đăng kí<br><strong><em>* Vị trí người dự giờ</em></strong><br>- Ngồi hoặc đứng ở vị trí thích hợp quan sát và chú ý đến những biểu hiện thái độ, tâm lí, hoạt động của&nbsp; học sinh.<br><strong>. Thảo luận giờ dạy minh hoạ</strong><br>- Các ý kiến nhận xét sau giờ học nhằm&nbsp; mục đích đánh giá, xếp loại GV.<br>- Không khí các buổi SHCM nặng nề, căng thẳng, quan hệ giữa các GV thiếu thân thiện.<br> <br>- Có xếp loại tiết dạy.<br>&nbsp; | <strong>4. Thảo luận giờ dạy minh hoạ</strong><br>- Người dạy chia sẻ mục tiêu bài học, những ý tưởng mới, những cảm nhận của mình qua tiết dạy minh họa.<br>-Không khí sinh hoạt thân thiện cởi mở.<br>&nbsp; theo tinh thần trao đổi, chia sẻ, tập trung vào phân tích các hoạt động của HS và tìm ra các nguyên nhân và giải pháp khắc phục.<br>- Không xếp loại tiết dạy.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:07:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656466091</guid>
      </item>
      <item>
         <title>hoàng thị kim dung - th đồng quang A</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656466098</link>
         <description><![CDATA[<div>ncbh là là giúp các cô trao đổi kinh nghiệm và cùng tháo gỡ một vấn đề giảng dạy<br>Dự giờ gv là trên 1 vị trí 1 người giảng dạy và dự đến khi xong một bài mới được nhận xét và rút kinh nghiệm những thiếu xót của mình trong bài dạy<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:07:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656466098</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lê Thị Thúy ( 15/04/1971) - Tiểu học Kim sơn - Sơn Tây - Hà nội</title>
         <author>lethuyks2015</author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656466145</link>
         <description><![CDATA[<div>Thuật ngữ “nghiên cứu bài học” (NCBH) (tiếng Anh là <em>Lesson Study </em>hoặc<em> Lesson Research)</em> được chuyển từ nguyên nghĩa tiếng Nhật <em>(jugyou kenkyuu) </em>. Thuật ngữ <em>NCBH </em>có nguồn gốc trong lịch sử giáo dục Nhật Bản, từ thời Meiji (1868 -1912), như một biện pháp để nâng cao năng lực nghề nghiệp của giáo viên thông qua nghiên cứu cải tiến các hoạt động dạy học các bài học cụ thể, qua đó cải tiến chất lượng học của học sinh. Cho đến nay NCBH được xem như một mô hình và cách tiếp cận nghề nghiệp của giáo viên và vẫn được sử dụng rộng rãi tại các trường học ở Nhật Bản, hình thức này đã được áp dụng trên nhiều nước, bước đầu được áp dụng ở Việt Nam và đã chứng minh được tính khả thi của nó trong việc bồi dưỡng và phát triển năng lực chuyên môn của giáo viên so với các phương pháp truyền thống khác. Điều đó cho thấy tính ưu việt và sức hấp dẫn to lớn của NCBH.<br>Như đã trình bày ở trên, NCBH là một mô hình bồi dưỡng, phát triển nghề nghiệp cho giáo viên, nhưng nó có sự khác biệt cơ bản với cách bồi dưỡng, dự giờ truyền thống ở chỗ:</div><div><strong>Thứ nhất</strong>, thay cho việc cung cấp kiến thức được xác định từ các chuyên gia bên ngoài nhà trường, NCBH xuất phát từ chính nhu cầu giải quyết những vấn đề trong thực tiễn lớp học mà giáo viên đang phải đối mặt. Trong các lớp bồi dưỡng giáo viên truyền thống các chuyên gia bên ngoài là người cung cấp kiến thức, còn các giáo viên là những người thụ động tiếp nhận kiến thức. Khi tham gia NCBH, các nhóm nghiên cứu tự nhận thấy những yêu cần giải quyết đối với mỗi bài học nhất định và cùng nhau thảo luận để tìm cách giải quyết các yêu cầu đó. Trong NCBH cũng có thể có sự tham gia của các chuyên gia bên ngoài nhưng họ chỉ đóng vai trò là người quan sát, tư vấn, rút kinh nghiệm cho nhóm và cung cấp thêm những kinh nghiệm của các nhóm nghiên cứu khác chứ không đóng vai trò chủ đạo như trong các phương pháp truyền thống khác.</div><div><strong>Thứ hai,</strong> mối quan hệ giữa những người tham gia NCBH là bình đẳng khác với quan hệ thứ bậc, giữa người dạy với người học trong các lớp tập huấn. Trong các phương pháp bồi dưỡng giáo viên truyền thống, giáo viên khi đó đóng vai trò là người học và những chuyên gia đóng vai trò là thầy giáo, là người cung cấp kiến thức. Trong NCBH, những người tham gia có vai trò như nhau, cùng nhau hợp tác, cùng nghiên cứu,&nbsp; cùng thảo luận hướng tới một mục tiêu chung của sự phát triển. Những người tham gia NCBH đều trên tinh thần tự nguyện và có vai trò như nhau trong việc phát triển bài học đạt được những mục tiêu đề ra.</div><div>Thứ ba, trong các lớp tập huấn, giáo viên là người tiếp nhận kiến thức mới (ở vị thế bị động),&nbsp; còn trong nghiên cứu bài học giáo viên giữ vai trò chủ động, là một người cải cách, một nhà quan sát, tự đánh giá thực tiễn của mình. Với phương pháp truyền thống giáo viên được tiếp xúc với cái mới thông qua các chuyên gia, hoàn toàn theo kiểu thầy truyền thụ trò lắng nghe. Trong khi ở NCBH, giáo viên là người mang cái mới vào dạy học, là nhà quan sát thực tế có thể tự đánh giá khả năng của mình thông qua việc quan sát trực tiếp lớp học.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:07:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656466145</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phan THị Phụng- TH Tiên Yên-Duy Tiên -Hà Nam</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656466146</link>
         <description><![CDATA[<div>NCBH là một mô hình bồi dưỡng mang lại nhiều lợi ích cho giáo viên. NCBH xuất phát từ chính nhu cầu giải quyết những vấn đề trong thực tiễn lớp học mà giáo viên đang phải đối mặt.&nbsp;<br>-Trong NCBH, những người tham gia có vai trò như nhau, cùng nhau hợp tác, cùng nghiên cứu,&nbsp; cùng thảo luận hướng tới một mục tiêu chung của sự phát triển. Những người tham gia NCBH đều trên tinh thần tự nguyện và có vai trò như nhau trong việc phát triển bài học đạt được những mục tiêu đề ra.<br>-NCBH, giáo viên là người mang cái mới vào dạy học, là nhà quan sát thực tế có thể tự đánh giá khả năng của mình thông qua việc quan sát trực tiếp lớp học.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:07:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656466146</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656466191</link>
         <description><![CDATA[<div>Bùi Thị Thu Hà - TH Phú Cát- Quốc Oai- Hn.        Nghiên cứu bài học là thuật ngữ chỉ một phương pháp nâng cao năng lực, bồi dưỡng chuyên môn của Giáo Viên. NCBH giúp giáo viên trao đổi kinh nghiệm trong dạy học và một số vấn đề còn vướng mắc và rút kinh nghiệm cho mỗi người để chuyên môn ngày càng vững vàng hơn.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:07:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656466191</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Thu Hương - TH Phượng Cách - Quốc Oai- Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656466283</link>
         <description><![CDATA[<div>NCBH với cách bồi dưỡng ,dự giờ hiện nay giúp các thầy cô có thể. Được trao đổi ,kiến thức với đồng nghiệp một cách dễ dàng&nbsp;<br>-NCBH là để cải tiến nội dung dạy học cụ thể thông qua quá trình hợp tác với các giáo viên trong nhóm ,hiểu sâu hơn về nội dung kiến thức bài học&nbsp;<br>NCBH&nbsp; thúc đẩy ,duy trì sự hợp tác giữa các giáo viên phát triển kĩ năng làm việc nhóm<br>Phan biệt nghiêm cứu&nbsp; bài học với dự giờ giờ gv hiện nay<br>Thứ nhất thay cho việc cung cấp kiến thức được xách định từ các chuyên gia bên ngoài nhà trường ,NCBH xuất phát từ chính nhu cầu giải quyết những vấn đề trong thực hiện lớp học mà gv đang phải đối mặt .trong các lớp bồi dưỡng giáo viên tuyên truyền thống các chuyên gia bên ngoài là người cung cấp kiến thức ,còn gv là những người thụ động tiếp nhận kiến thức .khi tham gia NCBH các nhóm nghiên cứu tự nhận thấy những yêu cần giải quyết đối với mỗi bài học nhất định</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:08:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656466283</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Minh Dịu - TH Đồng Quang A - Quốc Oai - Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656466300</link>
         <description><![CDATA[<div><br><br>NCBH với cách bồi dưỡng ,dự giờ hiện nay giúp các thầy cô có thể. Được trao đổi ,kiến thức với đồng nghiệp một cách dễ dàng&nbsp;<br>-NCBH là để cải tiến nội dung dạy học cụ thể thông qua quá trình hợp tác với các giáo viên trong nhóm ,hiểu sâu hơn về nội dung kiến thức bài học&nbsp;<br>NCBH&nbsp; thúc đẩy ,duy trì sự hợp tác giữa các giáo viên phát triển kĩ năng làm việc nhóm<br>Phan biệt nghiêm cứu&nbsp; bài học với dự giờ giờ gv hiện nay<br>Thứ nhất thay cho việc cung cấp kiến thức được xách định từ các chuyên gia bên ngoài nhà trường ,NCBH xuất phát từ chính nhu cầu giải quyết những vấn đề trong thực hiện lớp học mà gv đang phải đối mặt .trong các lớp bồi dưỡng giáo viên tuyên truyền thống các chuyên gia bên ngoài là người cung cấp kiến thức ,còn gv là những người thụ động tiếp nhận kiến thức .khi tham gia NCBH các nhóm nghiên cứu tự nhận thấy những yêu cần giải quyết đối với mỗi bài học nhất định</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:08:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656466300</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hà Thị Liên trường tiểu học Chiềng hoa </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656466330</link>
         <description><![CDATA[<div>NCBH là một mô hình bồi dưỡng, phát triển nghề nghiệp cho giáo viên, nhưng nó có sự khác biệt cơ bản với cách bồi dưỡng, dự giờ truyền thống ở chỗ:</div><div>Thứ nhất, thay cho việc cung cấp kiến thức được xác định từ các chuyên gia bên ngoài nhà trường, NCBH xuất phát từ chính nhu cầu giải quyết những vấn đề trong thực tiễn lớp học mà giáo viên đang phải đối mặt. Trong các lớp bồi dưỡng giáo viên truyền thống các chuyên gia bên ngoài là người cung cấp kiến thức, còn các giáo viên là những người thụ động tiếp nhận kiến thức. Khi tham gia NCBH, các nhóm nghiên cứu tự nhận thấy những yêu cần giải quyết đối với mỗi bài học nhất định và cùng nhau thảo luận để tìm cách giải quyết các yêu cầu đó. Trong NCBH cũng có thể có sự tham gia của các chuyên gia bên ngoài nhưng họ chỉ đóng vai trò là người quan sát, tư vấn, rút kinh nghiệm cho nhóm và cung cấp thêm những kinh nghiệm của các nhóm nghiên cứu khác chứ không đóng vai trò chủ đạo như trong các phương pháp truyền thống khác.</div><div>Thứ hai, mối quan hệ giữa những người tham gia NCBH là bình đẳng khác với quan hệ thứ bậc, giữa người dạy với người học trong các lớp tập huấn. Trong các phương pháp bồi dưỡng giáo viên truyền thống, giáo viên khi đó đóng vai trò là người học và những chuyên gia đóng vai trò là thầy giáo, là người cung cấp kiến thức. Trong NCBH, những người tham gia có vai trò như nhau, cùng nhau hợp tác, cùng nghiên cứu,&nbsp; cùng thảo luận hướng tới một mục tiêu chung của sự phát triển. Những người tham gia NCBH đều trên tinh thần tự nguyện và có vai trò như nhau trong việc phát triển bài học đạt được những mục tiêu đề ra.</div><div>Thứ ba, trong các lớp tập huấn, giáo viên là người tiếp nhận kiến thức mới (ở vị thế bị động),&nbsp; còn trong nghiên cứu bài học giáo viên giữ vai trò chủ động, là một người cải cách, một nhà quan sát, tự đánh giá thực tiễn của mình. Với phương pháp truyền thống giáo viên được tiếp xúc với cái mới thông qua các chuyên gia, hoàn toàn theo kiểu thầy truyền thụ trò lắng nghe. Trong khi ở NCBH, giáo viên là người mang cái mới vào dạy học, là nhà quan sát thực tế có thể tự đánh giá khả năng của mình thông qua việc quan sát trực tiếp lớp học.</div><div>Với các phương pháp dạy học truyền thống phẩm chất và năng lực của giáo viên luôn luôn là một vấn đề để đánh giá trong những buổi dự giờ, giáo viên luôn mang nặng tâm lí về xếp hạng và chủ yếu chú trọng tới bài giảng,&nbsp; giáo án của mình mà ít quan tâm xem học sinh học như thế nào. Hơn nữa, nếu có quan tâm đến học sinh thì đó là những học sinh nổi bật trong các lớp học. Trong khi đó đối với NCBH, thì sự quan sát hướng đến tất cả học sinh trong lớp không riêng gì các học sinh nổi bật, thậm chí là chú ý hơn tới những học sinh cá biệt trong lớp để xem cách học sinh học, cách học sinh tư duy, chứ phẩm chất hay năng lực của giáo viên không phải là vấn đề được đánh giá. Trong các phương pháp dự giờ truyền thống yếu tố phẩm chất nghề nghiệp của giáo viên luôn là một vấn đề được xem xét đánh giá cho nên có một số hạn chế trong việc nhận xét, góp ý của các giáo viên khác, nhất là đối với các giáo viên trẻ thì vấn đề nhận xét, đánh giá các giáo viên nhiều kinh nghiệm là điều cực kì khó khăn; còn với NCBH các giáo viên góp ý với tinh thần cùng giúp nhau hoàn thiện hơn chứ không phải để đánh giá giáo viên, do vậy sự góp ý là chân thành và mọi thành viên có thể tự do nói nên ý kiến của mình mà không sợ làm giảm tình đoàn kết giữa các đồng nghiệp.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Dự giờ bài học: theo phương pháp dự giờ truyền thống các giáo viên dự giờ chỉ chú ý đến giáo viên dạy và họ thích ngồi ở đằng sau và ít chú ý tới học sinh. Theo mô hình NCBH trọng tâm quan sát giờ học là bài học và quá trình học của học sinh, giáo viên dự giờ quan sát từ phía trước để có thể thấy nét mặt của học sinh.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Suy ngẫm về bài học: theo phương pháp dự giờ truyền thống có nhiều giáo viên có thái độ phê phán giáo viên dạy (như thường nhận xét: cô, thầy không thể làm việc này hay việc kia,&nbsp; phải làm như thế này, không được làm như thế kia… ) hay ca ngợi rõ ràng nhưng không chi tiết. Theo mô hình NCBH các giáo viên hợp tác cùng nhau xây dựng kế hoạch bài học và nó là sản phẩm của cả nhóm, tất cả các thành viên đều phải chịu trách nhiệm về bài học cho dù nó thành công hay thất bại chứ không phải chỉ riêng giáo viên đứng lớp, và do đó sẽ không có thái độ phê phán cách dạy của giáo viên, vì cách dạy đó đã được cả nhóm thống nhất trong kế hoạch của bài học, nếu cách dạy đó chưa phù hợp, đó là khuyết điểm của cả nhóm và việc họ cần làm là cùng nhau khắc phục.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:08:33 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656466330</guid>
      </item>
      <item>
         <title>So sánh NCBH với cách bồi dưỡng, dự giờ GV hiện nay:</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656466349</link>
         <description><![CDATA[<div>“Đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học” là một bước thay đổi cơ bản để nâng cao hiệu quả sinh hoạt chuyên môn, nâng cao chất lượng dạy và học.&nbsp;<br>a) Quan điểm:<br>Hoạt động sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học là nơi GV tập trung phân tích các vấn đề liên quan đến người học (học sinh); Không tập trung vào việc đánh giá giờ dạy, xếp loại GV mà nhằm khuyến khích GV tìm ra nguyên nhân tại sao HS chưa đạt kết quả như mong muốn và tìm ra biện pháp hiệu quả để nâng cao chất lượng dạy học, tạo cơ hội cho HS được tham gia vào quá trình học tập; giúp GV có khả năng chủ động điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy sao cho phù hợp với từng đối tượng HS.<br>Như vậy có thể nói đổi mới sinh hoạt chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học. Thực tế là việc dự giờ và đánh giá tiết dạy của GV thông qua quan sát HS.<br>b) Mục đích:<br>- Làm thay đổi hình thức sinh hoạt chuyên môn theo kiểu truyền thống.<br>- Nâng cao tay nghề GV và khả năng sáng tạo qua các lần sinh hoạt chuyên môn ở trường hoặc ở cụm.<br>- Tạo cơ hội cho học sinh tham gia vào quá trình học tập qua các hoạt động, GV quan tâm đến khả năng học tập của từng học sinh.<br>- Nâng cao chất lượng dạy - học và văn hóa ứng xử trong nhà trường.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:08:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656466349</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Hồng -TH Phương Canh, NTL, Hà Nội </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656466568</link>
         <description><![CDATA[<div><br>- Không đánh giá xếp loại giờ dạy theo tiêu chí, quy định.<br>- Người dự giờ tập trung phân tích các hoạt động của HS để rút kinh nghiệm.<br>-Tự rút ra những kinh nghiệm để vận dụng vào thực tiễn dạy trên lớp</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:09:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656466568</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Ninh Trang - TH Phương Canh - Nam Từ Liêm - HN</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656466580</link>
         <description><![CDATA[<div>So sánh NCBH với cách bồi dưỡng, GV dự giờ hiện nay:<br>&nbsp;Đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học” là một bước thay đổi cơ bản để nâng cao hiệu quả sinh hoạt chuyên môn, nâng cao chất lượng dạy và học.&nbsp;<br>a) Quan điểm:<br>Hoạt động sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học là nơi GV tập trung phân tích các vấn đề liên quan đến người học (học sinh); Không tập trung vào việc đánh giá giờ dạy, xếp loại GV mà nhằm khuyến khích GV tìm ra nguyên nhân tại sao HS chưa đạt kết quả như mong muốn và tìm ra biện pháp hiệu quả để nâng cao chất lượng dạy học, tạo cơ hội cho HS được tham gia vào quá trình học tập; giúp GV có khả năng chủ động điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy sao cho phù hợp với từng đối tượng HS.<br>Như vậy có thể nói đổi mới sinh hoạt chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học. Thực tế là việc dự giờ và đánh giá tiết dạy của GV thông qua quan sát HS.<br>b) Mục đích:<br>- Làm thay đổi hình thức sinh hoạt chuyên môn theo kiểu truyền thống.<br>- Nâng cao tay nghề GV và khả năng sáng tạo qua các lần sinh hoạt chuyên môn ở trường hoặc ở cụm.<br>- Tạo cơ hội cho học sinh tham gia vào quá trình học tập qua các hoạt động, GV quan tâm đến khả năng học tập của từng học sinh.<br>- Nâng cao chất lượng dạy - học và văn hóa ứng xử trong nhà trường.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:10:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656466580</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Thơm- Tiểu học Đồng Quang A</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656466610</link>
         <description><![CDATA[<div>NCBH: nghiên cứu các nội dung phương pháp dạy học phù hợp liên quan đến bài từng môn học.<br>Dự giờ: nhận xét nội dung, phương pháp, cách truyền đạt, tương tác của gv và hs.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:10:08 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656466610</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Văn Hòa -TH&amp;THCS TẠ BÚ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656466682</link>
         <description><![CDATA[<div>nghiên cứu bài học là để cải tiến nội dung dạy học cụ thể nên thông qua quá trình hợp tác với các giáo viên trong nhóm. dự giờ là thông qua hoạt động giảng dạy trên lớp để các đồng nghiệp chỉ ra các mặt mạnh. yếu trong giảngbdayj</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:10:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656466682</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đặng Thị Thanh Huyền- TH Phương Canh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656466824</link>
         <description><![CDATA[<div><br>- Đánh giá xếp loại giờ dạy theo tiêu chí từ các văn bản chỉ đạo của cấp trên.<br>- Người dự tập trung quan sát các hoạt động của GV để rút kinh nghiệm.<br>- Thống nhất cách dạy các dạng bài để tất cả GV trong từng khối thực hiện.&nbsp;<br>&nbsp;<br><br><br>- Không đánh giá xếp loại giờ dạy theo tiêu chí, quy định.<br>- Người dự giờ tập trung phân tích các hoạt động của HS để rút kinh nghiệm.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:11:32 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656466824</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Em là Vương Thị Vân trường Tiểu Học Vân Hòa- Ba Vì- Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656466836</link>
         <description><![CDATA[<div>NCBH là để cải tiến ND dạy học cụ thể nên thông qua quá trình hợp tác với các GV trong nhóm,họ hiểu sâu hơn về nội dung kiến thức của bài học vì chính họ phải đào sâu suy nghĩ hơn được bổ sung từ ý kiến của những nguoiwfkhacs qua đó năng lực sư phạm của học được cải tiến .Nghiên cứu bài học với cách dự giờ  hiện nay thì NCBH  giúp Gv hieur nội dung bài mình sáp giảng sẽ tốt hon.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:11:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656466836</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Kim Thành-Tiểu học Đức Thượng-Hoài Đức</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656466887</link>
         <description><![CDATA[<div>Yêu cầu đối với giáo viên khi tham gia nghiên cứu bài học<br><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; Khi tham gia NCBH, các giáo viên sẽ họp thành từng nhóm nhỏ 4-6 người có thể khác nhau về trình độ chuyên môn, khác nhau về chuyên ngành thậm chí có thể khác trường. Tuy nhiên, để thuận lợi cho quá trình thực hiện bài học, thông thường các nhóm NCBH là các giáo viên cùng trường và có cùng chuyên ngành. Trong quá trình tiến hành bài học nghiên cứu có thể có sự tham gia của các giáo viên khác ngoài nhóm hoặc có thể mời những học giả, những giáo sư tiến sĩ đến từ các trường Đại học, những chuyên viên của Bộ giáo dục, v.v… những người này sẽ đóng góp những ý kiến chuyên môn, quan sát bài học và đưa ra những ý kiến, nhận xét, góp ý để quá trình trở nên hiệu quả hơn.<br><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Các giáo viên cùng nhau nghiên cứu, xây dựng mục tiêu học tập cho học sinh. Sự tham gia của các thành viên phải mang tính chất tự nguyện trên cơ sở muốn nâng cao hiệu quả học tập của học sinh. Trong nhóm các thành viên cùng nhau hợp tác hướng đến mục tiêu chung của bài học, cùng chia sẻ kinh nghiệm và cùng nhận xét, bổ sung giúp nhau hoàn thiện hơn về chuyên môn nghiệp vụ. Cần tránh những biểu hiện tiêu cực như sự phê phán nhau về năng lực chuyên môn hay phẩm chất nghề nghiệp của các giáo viên với nhau. Các nhóm sẽ làm việc trung bình từ 2-3 bài học/ năm do việc nghiên cứu có cường độ cao và chiếm khá nhiều thời gian.<br><br>2.2. Quá trình nghiên cứu bài học<br><br>NCBH để đánh giá hoặc cung cấp cho giáo viên những thông tin phản hồi về thực tiễn dạy học. Giáo viên thực hiện NCBH thì thu thập được những nhận xét, kết quả cho việc sử dụng các phương pháp của mình đến sự tư duy của học sinh. Có nhiều cách phân chia các giai đoạn của quá trình NCBH.<br><br>Stigler và Hiebert(1999) chia quá trình NCBH thành 7 bước cụ thể:<br><br>+Lập kế hoạch nghiên cứu bài học.<br><br>+ dạy học&nbsp; và quan sát các bài học nghiên cứu.<br><br>+ Đánh giá, nhận xét các bài học đã được dạy.<br>+ Chỉnh sửa các bài học dựa trên sự góp ý, bổ sung sau những gì thu thập được sau khi tiến hành bài học nghiên cứu lần 1.<br>+ Tiến hành dạy các bài học đã được chỉnh sửa.<br>2.<br>+ Tiếp tục đánh giá, nhận xét kết quả lần&nbsp;<br>.3. Phân biệt “nghiên cứu bài học” với cách bồi dưỡng, dự giờ giáo viên hiện nay<br>Như đã trình bày ở trên, NCBH là một mô hình bồi dưỡng, phát triển nghề nghiệp cho giáo viên, nhưng nó có sự khác biệt cơ bản với cách bồi dưỡng, dự giờ truyền thống ở chỗ:<br>Thứ nhất, thay cho việc cung cấp kiến thức được xác định từ các chuyên gia bên ngoài nhà trường, NCBH xuất phát từ chính nhu cầu giải quyết những vấn đề trong thực tiễn lớp học mà giáo viên đang phải đối mặt. Trong các lớp bồi dưỡng giáo viên truyền thống các chuyên gia bên ngoài là người cung cấp kiến thức, còn các giáo viên là những người thụ động tiếp nhận kiến thức. Khi tham gia NCBH, các nhóm nghiên cứu tự nhận thấy những yêu cần giải quyết đối với mỗi bài học nhất định và cùng nhau thảo luận để tìm cách giải quyết các yêu cầu đó. Trong NCBH cũng có thể có sự tham gia của các chuyên gia bên ngoài nhưng họ chỉ đóng vai trò là người quan sát, tư vấn, rút kinh nghiệm cho nhóm và cung cấp thêm những kinh nghiệm của các nhóm nghiên cứu khác chứ không đóng vai trò chủ đạo như trong các phương pháp truyền thống khác.<br>Thứ hai, mối quan hệ giữa những người tham gia NCBH là bình đẳng khác với quan hệ thứ bậc, giữa người dạy với người học trong các lớp tập huấn. Trong các phương pháp bồi dưỡng giáo viên truyền thống, giáo viên khi đó đóng vai trò là người học và những chuyên gia đóng vai trò là thầy giáo, là người cung cấp kiến thức. Trong NCBH, những người tham gia có vai trò như nhau, cùng nhau hợp tác, cùng nghiên cứu,&nbsp; cùng thảo luận hướng tới một mục tiêu chung của sự phát triển. Những người tham gia NCBH đều trên tinh thần tự nguyện và có vai trò như nhau trong việc phát triển bài học đạt được những mục tiêu đề ra.<br>Thứ ba, trong các lớp tập huấn, giáo viên là người tiếp nhận kiến thức mới (ở vị thế bị động),&nbsp; còn trong nghiên cứu bài học giáo viên giữ vai trò chủ động, là một người cải cách, một nhà quan sát, tự đánh giá thực tiễn của mình. Với phương pháp truyền thống giáo viên được tiếp xúc với cái mới thông qua các chuyên gia, hoàn toàn theo kiểu thầy truyền thụ trò lắng nghe. Trong khi ở NCBH, giáo viên là người mang cái mới vào dạy học, là nhà quan sát thực tế có thể tự đánh giá khả năng của mình thông qua việc quan sát trực tiếp lớp học.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:11:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656466887</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đỗ Thị Hồng - TH Mường Bú, Mường La , Sơn La </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656466922</link>
         <description><![CDATA[<div>Như đã trình bày ở trên, NCBH là một mô hình bồi dưỡng, phát triển nghề nghiệp cho giáo viên, nhưng nó có sự khác biệt cơ bản với cách bồi dưỡng, dự giờ truyền thống ở chỗ:</div><div>Thứ nhất, thay cho việc cung cấp kiến thức được xác định từ các chuyên gia bên ngoài nhà trường, NCBH xuất phát từ chính nhu cầu giải quyết những vấn đề trong thực tiễn lớp học mà giáo viên đang phải đối mặt. Trong các lớp bồi dưỡng giáo viên truyền thống các chuyên gia bên ngoài là người cung cấp kiến thức, còn các giáo viên là những người thụ động tiếp nhận kiến thức. Khi tham gia NCBH, các nhóm nghiên cứu tự nhận thấy những yêu cần giải quyết đối với mỗi bài học nhất định và cùng nhau thảo luận để tìm cách giải quyết các yêu cầu đó. Trong NCBH cũng có thể có sự tham gia của các chuyên gia bên ngoài nhưng họ chỉ đóng vai trò là người quan sát, tư vấn, rút kinh nghiệm cho nhóm và cung cấp thêm những kinh nghiệm của các nhóm nghiên cứu khác chứ không đóng vai trò chủ đạo như trong các phương pháp truyền thống khác.</div><div>Thứ hai, mối quan hệ giữa những người tham gia NCBH là bình đẳng khác với quan hệ thứ bậc, giữa người dạy với người học trong các lớp tập huấn. Trong các phương pháp bồi dưỡng giáo viên truyền thống, giáo viên khi đó đóng vai trò là người học và những chuyên gia đóng vai trò là thầy giáo, là người cung cấp kiến thức. Trong NCBH, những người tham gia có vai trò như nhau, cùng nhau hợp tác, cùng nghiên cứu,&nbsp; cùng thảo luận hướng tới một mục tiêu chung của sự phát triển. Những người tham gia NCBH đều trên tinh thần tự nguyện và có vai trò như nhau trong việc phát triển bài học đạt được những mục tiêu đề ra.</div><div>Thứ ba, trong các lớp tập huấn, giáo viên là người tiếp nhận kiến thức mới (ở vị thế bị động),&nbsp; còn trong nghiên cứu bài học giáo viên giữ vai trò chủ động, là một người cải cách, một nhà quan sát, tự đánh giá thực tiễn của mình. Với phương pháp truyền thống giáo viên được tiếp xúc với cái mới thông qua các chuyên gia, hoàn toàn theo kiểu thầy truyền thụ trò lắng nghe. Trong khi ở NCBH, giáo viên là người mang cái mới vào dạy học, là nhà quan sát thực tế có thể tự đánh giá khả năng của mình thông qua việc quan sát trực tiếp lớp học.</div><div>Với các phương pháp dạy học truyền thống phẩm chất và năng lực của giáo viên luôn luôn là một vấn đề để đánh giá trong những buổi dự giờ, giáo viên luôn mang nặng tâm lí về xếp hạng và chủ yếu chú trọng tới bài giảng,&nbsp; giáo án của mình mà ít quan tâm xem học sinh học như thế nào. Hơn nữa, nếu có quan tâm đến học sinh thì đó là những học sinh nổi bật trong các lớp học. Trong khi đó đối với NCBH, thì sự quan sát hướng đến tất cả học sinh trong lớp không riêng gì các học sinh nổi bật, thậm chí là chú ý hơn tới những học sinh cá biệt trong lớp để xem cách học sinh học, cách học sinh tư duy, chứ phẩm chất hay năng lực của giáo viên không phải là vấn đề được đánh giá. Trong các phương pháp dự giờ truyền thống yếu tố phẩm chất nghề nghiệp của giáo viên luôn là một vấn đề được xem xét đánh giá cho nên có một số hạn chế trong việc nhận xét, góp ý của các giáo viên khác, nhất là đối với các giáo viên trẻ thì vấn đề nhận xét, đánh giá các giáo viên nhiều kinh nghiệm là điều cực kì khó khăn; còn với NCBH các giáo viên góp ý với tinh thần cùng giúp nhau hoàn thiện hơn chứ không phải để đánh giá giáo viên, do vậy sự góp ý là chân thành và mọi thành viên có thể tự do nói nên ý kiến của mình mà không sợ làm giảm tình đoàn kết giữa các đồng nghiệp.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Dự giờ bài học: theo phương pháp dự giờ truyền thống các giáo viên dự giờ chỉ chú ý đến giáo viên dạy và họ thích ngồi ở đằng sau và ít chú ý tới học sinh. Theo mô hình NCBH trọng tâm quan sát giờ học là bài học và quá trình học của học sinh, giáo viên dự giờ quan sát từ phía trước để có thể thấy nét mặt của học sinh.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Suy ngẫm về bài học: theo phương pháp dự giờ truyền thống có nhiều giáo viên có thái độ phê phán giáo viên dạy (như thường nhận xét: cô, thầy không thể làm việc này hay việc kia,&nbsp; phải làm như thế này, không được làm như thế kia… ) hay ca ngợi rõ ràng nhưng không chi tiết. Theo mô hình NCBH các giáo viên hợp tác cùng nhau xây dựng kế hoạch bài học và nó là sản phẩm của cả nhóm, tất cả các thành viên đều phải chịu trách nhiệm về bài học cho dù nó thành công hay thất bại chứ không phải chỉ riêng giáo viên đứng lớp, và do đó sẽ không có thái độ phê phán cách dạy của giáo viên, vì cách dạy đó đã được cả nhóm thống nhất trong kế hoạch của bài học, nếu cách dạy đó chưa phù hợp, đó là khuyết điểm của cả nhóm và việc họ cần làm là cùng nhau khắc phục.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:12:08 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656466922</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656466953</link>
         <description><![CDATA[<div>Kiều Thị Thu Diệp , tiểu học Phú cát&nbsp;<br>Sự khác nhau làncbh: là mô hình bồi dưỡng phát triển cm cho gv,mục đích là tìm hiểu những gì học sinh nghĩ, học sinh tư duy<br>xuất phát từ chính nhu cầu giải quyết thực tiễn trong lớp mà gv đang phải đối mặt<br>mqh giữa người tham gia ncbh là bình đẳng giữa ng dạy và ng học.<br>gv là ng hướng dẫn, mang cái mới vào bài dạy để hs tiếp cận nhanh chóng hơn&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:12:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656466953</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656467014</link>
         <description><![CDATA[<div>ncbh: là mô hình bồi dưỡng phát triển cm cho gv,mục đích là tìm hiểu những gì học sinh nghĩ, học sinh tư duy<br>xuất phát từ chính nhu cầu giải quyết thực tiễn trong lớp mà gv đang phải đối mặt<br>mqh giữa người tham gia ncbh là bình đẳng giữa ng dạy và ng học.<br>gv là ng hướng dẫn, mang cái mới vào bài dạy để hs tiếp cận nhanh chóng hơn</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:12:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656467014</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Bạch Thanh Hải - TH Kim Bôi - Hòa Bình</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656467078</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Sinh hoạt CM truyền thống</strong> | <strong>Sinh hoạt CM theo NCBH</strong><br><strong>1. Mục đích</strong><br>- Đánh giá xếp loại giờ dạy theo tiêu chí từ các văn bản chỉ đạo của cấp trên.<br>- Người dự tập trung quan sát các hoạt động của GV để rút kinh nghiệm.<br>- Thống nhất cách dạy các dạng bài để tất cả GV trong từng khối thực hiện. | <strong>1. Mục đích</strong><br>- Không đánh giá xếp loại giờ dạy theo tiêu chí, quy định.<br>- Người dự giờ tập trung phân tích các hoạt động của HS để rút kinh nghiệm.<br>-Tự rút ra những kinh nghiệm để vận dụng vào thực tiễn dạy trên lớp<br><strong>2. Thiết kế bài dạy minh hoạ</strong><br>- Bài dạy minh hoạ được phân công cho một GV thiết kế; được chuẩn bị, thiết kế theo đúng mẫu quy định.<br>- Nội dung bài học được thiết kế theo sát nội dung SGV, SGK, không linh hoạt xem có phù hợp với từng đối tượng HS không.<br>- Thiếu sự sáng tạo trong việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học. | <strong>2. Thiết kế bài dạy minh hoạ</strong><br>- Bài dạy minh hoạ được các GV trong tổ thiết kế.không nhất thiết theo mẫu qui định<br>-Nội dung bài học được thiết kế&nbsp; linh hoạt&nbsp; phù hợp với từng đối tượng HS<br>- Không nhất thiết theo khuôn mẫu qui định<br>- Phát huy sự sáng tạo trong việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học<br> <br><strong><em>3. Gv dạy minh hoạ</em></strong><br>* Một người dạy minh hoạ đã chỉ định từ trước<br><strong><em>* Vị trí người dự giờ</em></strong><br>- Thường ngồi ở cuối lớp học quan sát người dạy như thế nào, ít chú ý đến những biểu hiện thái độ, tâm lí, hoạt động của HS. | <strong><em>3.Gv dạy minh hoạ</em></strong><br><strong><em>* </em></strong>Một người được chọn trong nhóm hoặc tổ hoặc tự gv đăng kí<br><strong><em>* Vị trí người dự giờ</em></strong><br>- Ngồi hoặc đứng ở vị trí thích hợp quan sát và chú ý đến những biểu hiện thái độ, tâm lí, hoạt động của&nbsp; học sinh.<br><strong>. Thảo luận giờ dạy minh hoạ</strong><br>- Các ý kiến nhận xét sau giờ học nhằm&nbsp; mục đích đánh giá, xếp loại GV.<br>- Không khí các buổi SHCM nặng nề, căng thẳng, quan hệ giữa các GV thiếu thân thiện.<br> <br>- Có xếp loại tiết dạy.<br>&nbsp; | <strong>4. Thảo luận giờ dạy minh hoạ</strong><br>- Người dạy chia sẻ mục tiêu bài học, những ý tưởng mới, những cảm nhận của mình qua tiết dạy minh họa.<br>-Không khí sinh hoạt thân thiện cởi mở.<br>&nbsp; theo tinh thần trao đổi, chia sẻ, tập trung vào phân tích các hoạt động của HS và tìm ra các nguyên nhân và giải pháp khắc phục.<br>- Không xếp loại tiết dạy.</div><div>&nbsp;<br><br></div><div><br></div><div><br>&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:12:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656467078</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656467116</link>
         <description><![CDATA[<div>Nguyễn Thị Thuý Dung - TH Đồng Quang A - Quốc Oai - Hà Nội<br>NCBH là một mô hình bồi dưỡng, phát triển chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên bởi những lợi ích to lớn mà nó mang lại cho những người tham gia. Mục đích của NCBH là tìm hiểu những gì học sinh nghĩ, những gì học sinh tư duy để có những phương pháp dạy cho phù hợp chứ không phải là một bài học biểu diễn. Tất cả các thành viên trong nhóm đều phải có những đóng góp và các ý tưởng đó cần phải được tôn trọng. Do vậy, bài học là thuộc về cả nhóm chứ không phải của riêng người dạy. Như vậy khi các thành viên tham gia vào NCBH thì sẽ kết hợp được những ưu điểm và cùng hoàn thiện bài học hơn. Thông qua NCBH, giáo viên cảm thấy tập trung hơn vào bài học và tăng sự thích thú trong công việc dạy học.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; NCBH là để cải tiến nội dung dạy học cụ thể nên thông qua quá trình hợp tác với các giáo viên trong nhóm, họ hiểu sâu hơn về nội dung kiến thức của bài học vì chính họ phải đào sâu suy nghĩ hơn và được bổ sung từ ý kiến của những người khác, qua đó năng lực sư phạm của họ được cải thiện. Giáo viên phải cùng nhau thảo luận về những biểu hiện có thể có ở học sinh trong quá trình học để có những phương pháp dạy học cho phù hợp.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; NCBH đặt trọng tâm vào học tập của học sinh. Thông qua quan sát và thảo luận về những gì đang xảy ra trong lớp học, cách học sinh biểu hiện với các tác động, giáo viên tham gia có nhận thức đầy đủ hơn về cách học sinh học và suy nghĩ cũng như cách học sinh hiểu bài, đáp lại những cái giáo viên dạy. Hơn nữa, tham gia nghiên cứu bài học giúp giáo viên học được cách quan sát, không phải là quan sát những cái bề ngoài hời hợt mà là quan sát quá trình học sinh học những cái họ dạy. Giáo viên học được cách phân tích, rút ra kết luận, sửa đổi từ những số liệu quan sát được. Ngoài ra, tham gia NCBH giúp giáo viên nâng cao kĩ năng thiết kế công cụ dạy học để làm cho học tập và tư duy của học sinh trở nên dễ hiểu đối với giáo viên và có thể nhìn thấy được.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; NCBH thúc đẩy, duy trì sự hợp tác giữa các giáo viên, giúp các giáo viên phát triển kĩ năng làm việc nhóm, góp phần phát triển không khí hợp tác, đoàn kết trong nhà trường. NCBH tạo ra cộng đồng học tập, văn hóa học tập và củng cố tình đồng nghiệp trong nhà trường. Tham gia vào NCBH giáo viên thực hiện vai trò của người nghiên cứu, cải tạo thực tiễn và họ trở nên vững vàng hơn về chuyên môn,&nbsp; nghiệp vụ, tăng sự chuyên nghiệp của giáo viên và giúp giáo viên tự tin hơn trong việc giải quyết vấn đề của thực tiễn để nâng cao chất lượng dạy học của mình.. Nghiên cứu bài học tạo cơ hội cho giáo viên có thể quan tâm tới tất cả các học sinh trong lớp, tạo cơ hội phát triển cho mọi học sinh. Và dẫn tới hệ quả tất yếu là nâng cao chất lượng học tập của học sinh.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Qua việc NCBH chúng ta có thể nhận ra tính ưu việc của NCBH so với các hình thức bồi dưỡng nghiệp vụ khác. NCBH xuất phát từ thực tiễn cần giải quyết những khó khăn thực tiễn trong lớp học của giáo viên. Thông qua NCBH giáo viên được hợp tác cùng nhau, làm việc cùng nhau để xây dựng một kế hoạch bài học hoàn chỉnh. Phát huy được năng lực chuyên môn của tập thể, giúp GV rèn luyện, củng cố, phát triển kĩ năng quan sát; hiểu học sinh hơn. Đồng thời, giúp GV tích luỹ kinh nghiệm, nâng cao năng lực chuyên môn và đổi mới phương pháp dạy học, kĩ thuật dự giờ theo hướng dạy học tích cực, lấy việc học của học sinh làm trung tâm khi tham gia sinh hoạt chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học.<br><br></div><div>&nbsp;Dự giờ giáo viên: Bước đầu đánh giá việc thực hiện chương trình giáo dục tổng thể 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, thực hiện sách giáo khoa mới năm học 2020- 2021.</div><div>- Thông qua các tiết dự giờ, giúp giáo viên từng bước kết hợp và sử dụng linh hoạt các phương pháp, vận dụng phương pháp giảng dạy tích cực, nâng cao chất lượng giảng dạy.</div><div>- Nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chuyên môn, tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ giáo viên khối 1 nâng cao chất lượng nội dung bài giảng, đổi mới phương pháp dạy học, bồi dưỡng năng lực, nâng cao tay nghề.</div><div>- Tạo điều kiện để các tổ chuyên môn trong nhà trường tăng cường giao lưu, trao đổi kinh nghiệm, chuyên môn, nghiệp vụ giảng dạy, thúc đẩy hoạt động thi đua “dạy tốt, học tốt”.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:13:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656467116</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đào Thị Tú Hà- TH Xuân Đình</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656467361</link>
         <description><![CDATA[<div>S<strong><em>inh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học (NCBH)<br></em></strong><br></div><div>- Là hoạt động chuyên môn nhưng ở đó GV tập trung phân tích các vấn đề liên quan đến người học.<br><br></div><div>- Không tập trung vào việc đánh giá giờ học, xếp loại GV mà nhằm khuyến khích GV tìm ra nguyên nhân tại sao HS chưa đạt kết quả như mong muốn và có biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học, tạo cơ hội cho HS được tham gia vào quá trình học tập; giúp GV có khả năng chủ động điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy sao cho phù hợp với từng đối tượng HS.<br>- Không đánh giá xếp loại giờ dạy theo tiêu chí, quy định.<br>- Người dự giờ tập trung phân tích các hoạt động của HS để rút kinh nghiệm.<br>-Tự rút ra những kinh nghiệm để vận dụng vào thực tiễn dạy trên lớp<br><strong>&nbsp;- Dự giờ thăm lớp, bồi dưỡng giáo viên </strong>là nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy của đội ngũ giáo viên<strong> </strong>đặc biệt là đội ngũ giáo viên trẻ, nâng cao năng lực sư phạm của cán bộ giáo viên nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong sự</div><div>nghiệp giáo giáo dục đào tạo thời kì đổi mới.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;- Phát hiện những hạn chế về năng lực chuyên môn của&nbsp;<br>đội ngũ giáo viên<br>- Đánh giá xếp loại giờ dạy theo tiêu chí từ các văn bản chỉ đạo của cấp trên.<br>- Người dự tập trung quan sát các hoạt động của GV để rút kinh nghiệm.<br>- Thống nhất cách dạy các dạng bài để tất cả GV trong từng khối thực hiện.</div><div>trẻ, từ đó có kế hoạch bồi dưỡng phù hợp, động viên đội ngũ giáo viên trẻ phát</div><div>huy tính tích cực sáng tạo trong giảng dạy.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;- Phát huy tinh thần đoàn kết, chia sẻ kinh nghiệm và phương pháp tổ chức</div><div>dạy học tích cực, đẩy mạnh phong trào tự bồi dưỡng của giáo viên.</div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:14:29 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656467361</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Huỳnh Thị tuyết Ngọc, Tiểu học vĩnh phú, Bình dương</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656467371</link>
         <description><![CDATA[<div>NCBH là một mô hình bồi dưỡng, phát triển chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên,để đánh giá hoặc cung cấp cho giáo viên những thông tin phản hồi về thực tiễn dạy học. Giáo viên thực hiện NCBH thì thu thập được những nhận xét, kết quả cho việc sử dụng các phương pháp của mình đến sự tư duy của học sinh. Có nhiều cách phân chia các giai đoạn của quá trình NCBH.</div><div>NCBH được chia thành 7 bước cụ thể:</div><div>+Lập kế hoạch nghiên cứu bài học.</div><div>+ dạy học&nbsp; và quan sát các bài học nghiên cứu.</div><div>+ Đánh giá, nhận xét các bài học đã được dạy.</div><div>+ Chỉnh sửa các bài học dựa trên sự góp ý, bổ sung sau những gì thu thập được sau khi tiến hành bài học nghiên cứu lần 1.</div><div>+ Tiến hành dạy các bài học đã được chỉnh sửa.</div><div>+ Tiếp tục đánh giá, nhận xét kết quả lần 2.</div><div>+ Đưa vào ứng dụng rộng rãi trong quá trình dạy học.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:14:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656467371</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lò Văn Toản - Trường TH&amp;THCS Hua Trai; NCBH la thuật ngữ chỉ một phương pháp năng BDCM của giáo viên, NCBH giúp, GV trao đổi kinh nghiệm trong dạy học và một số vấn đề còn vướng mắc và rút kinh nghiệm cho mối người để chuyên môn ngày càng vững vàng hơn</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656467464</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:15:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656467464</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hoàng Thị Thu Hiền TH Cổ Đông, Sơn Tây , Hà Nôi.</title>
         <author>tranvanchu6872</author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656467482</link>
         <description><![CDATA[<div>NCBH với cách bồi dưỡng dự giờ hiện nay là giúp giaó  viên trao đổi kiến thức và kỹ năng về bài dạy, mô tả hiện thực ,nguyên nhân giaie pháp, những khó khăn đề phù hợp với nhận thức của học sinh.Dự giờ GV trên vị trí ;là một người giảng dạy và dự giò đến khi xong bài dạy mới được nhận xét và rút kinh nghiệm những thiếu sót của mình</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:15:17 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656467482</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Bùi Thị Hậu- Tiểu Học Dương Quang</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656467491</link>
         <description><![CDATA[<div>Thuật ngữ “nghiên cứu bài học” (NCBH) (tiếng Anh là <em>Lesson Study </em>hoặc<em> Lesson Research)</em> được chuyển từ nguyên nghĩa tiếng Nhật <em>(jugyou kenkyuu) </em>. Thuật ngữ <em>NCBH </em>có nguồn gốc trong lịch sử giáo dục Nhật Bản, từ thời Meiji (1868 -1912), như một biện pháp để nâng cao năng lực nghề nghiệp của giáo viên thông qua nghiên cứu cải tiến các hoạt động dạy học các bài học cụ thể, qua đó cải tiến chất lượng học của học sinh. Cho đến nay NCBH được xem như một mô hình và cách tiếp cận nghề nghiệp của giáo viên và vẫn được sử dụng rộng rãi tại các trường học ở Nhật Bản, hình thức này đã được áp dụng trên nhiều nước, bước đầu được áp dụng ở Việt Nam và đã chứng minh được tính khả thi của nó trong việc bồi dưỡng và phát triển năng lực chuyên môn của giáo viên so với các phương pháp truyền thống khác. Điều đó cho thấy tính ưu việt và sức hấp dẫn to lớn của NCBH.</div><div>Trong bài báo này chúng tôi giới thiệu việc nghiên cứu, quy trình xây dựng và sử dụng NCBH cho giáo viên và sinh viên sư phạm (là giáo viên tương lai) và lợi ích to lớn mà NCBH mang lại.</div><div><strong>2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU</strong></div><div><strong>2.1. Yêu cầu đối với giáo viên khi tham gia nghiên cứu bài học</strong></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; Khi tham gia NCBH, các giáo viên sẽ họp thành từng nhóm nhỏ 4-6 người có thể khác nhau về trình độ chuyên môn, khác nhau về chuyên ngành thậm chí có thể khác trường. Tuy nhiên, để thuận lợi cho quá trình thực hiện bài học, thông thường các nhóm NCBH là các giáo viên cùng trường và có cùng chuyên ngành. Trong quá trình tiến hành bài học nghiên cứu có thể có sự tham gia của các giáo viên khác ngoài nhóm hoặc có thể mời những học giả, những giáo sư tiến sĩ đến từ các trường Đại học, những chuyên viên của Bộ giáo dục, v.v… những người này sẽ đóng góp những ý kiến chuyên môn, quan sát bài học và đưa ra những ý kiến, nhận xét, góp ý để quá trình trở nên hiệu quả hơn.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Các giáo viên cùng nhau nghiên cứu, xây dựng mục tiêu học tập cho học sinh. Sự tham gia của các thành viên phải mang tính chất tự nguyện trên cơ sở muốn nâng cao hiệu quả học tập của học sinh. Trong nhóm các thành viên cùng nhau hợp tác hướng đến mục tiêu chung của bài học, cùng chia sẻ kinh nghiệm và cùng nhận xét, bổ sung giúp nhau hoàn thiện hơn về chuyên môn nghiệp vụ. Cần tránh những biểu hiện tiêu cực như sự phê phán nhau về năng lực chuyên môn hay phẩm chất nghề nghiệp của các giáo viên với nhau. Các nhóm sẽ làm việc trung bình từ 2-3 bài học/ năm do việc nghiên cứu có cường độ cao và chiếm khá nhiều thời gian.</div><div><strong>2.2. Quá trình nghiên cứu bài học</strong></div><div>NCBH để đánh giá hoặc cung cấp cho giáo viên những thông tin phản hồi về thực tiễn dạy học. Giáo viên thực hiện NCBH thì thu thập được những nhận xét, kết quả cho việc sử dụng các phương pháp của mình đến sự tư duy của học sinh. Có nhiều cách phân chia các giai đoạn của quá trình NCBH.</div><div>Stigler và Hiebert(1999) chia quá trình NCBH thành 7 bước cụ thể:</div><div>+Lập kế hoạch nghiên cứu bài học.</div><div>+ dạy học&nbsp; và quan sát các bài học nghiên cứu.</div><div>+ Đánh giá, nhận xét các bài học đã được dạy.</div><div>+ Chỉnh sửa các bài học dựa trên sự góp ý, bổ sung sau những gì thu thập được sau khi tiến hành bài học nghiên cứu lần 1.</div><div>+ Tiến hành dạy các bài học đã được chỉnh sửa.</div><div>+ Tiếp tục đánh giá, nhận xét kết quả lần 2.</div><div>+ Đưa vào ứng dụng rộng rãi trong quá trình dạy học.<br><strong>Phân biệt “nghiên cứu bài học” với cách bồi dưỡng, dự giờ giáo viên hiện nay</strong></div><div>Như đã trình bày ở trên, NCBH là một mô hình bồi dưỡng, phát triển nghề nghiệp cho giáo viên, nhưng nó có sự khác biệt cơ bản với cách bồi dưỡng, dự giờ truyền thống ở chỗ:</div><div>Thứ nhất, thay cho việc cung cấp kiến thức được xác định từ các chuyên gia bên ngoài nhà trường, NCBH xuất phát từ chính nhu cầu giải quyết những vấn đề trong thực tiễn lớp học mà giáo viên đang phải đối mặt. Trong các lớp bồi dưỡng giáo viên truyền thống các chuyên gia bên ngoài là người cung cấp kiến thức, còn các giáo viên là những người thụ động tiếp nhận kiến thức. Khi tham gia NCBH, các nhóm nghiên cứu tự nhận thấy những yêu cần giải quyết đối với mỗi bài học nhất định và cùng nhau thảo luận để tìm cách giải quyết các yêu cầu đó. Trong NCBH cũng có thể có sự tham gia của các chuyên gia bên ngoài nhưng họ chỉ đóng vai trò là người quan sát, tư vấn, rút kinh nghiệm cho nhóm và cung cấp thêm những kinh nghiệm của các nhóm nghiên cứu khác chứ không đóng vai trò chủ đạo như trong các phương pháp truyền thống khác.</div><div>Thứ hai, mối quan hệ giữa những người tham gia NCBH là bình đẳng khác với quan hệ thứ bậc, giữa người dạy với người học trong các lớp tập huấn. Trong các phương pháp bồi dưỡng giáo viên truyền thống, giáo viên khi đó đóng vai trò là người học và những chuyên gia đóng vai trò là thầy giáo, là người cung cấp kiến thức. Trong NCBH, những người tham gia có vai trò như nhau, cùng nhau hợp tác, cùng nghiên cứu,&nbsp; cùng thảo luận hướng tới một mục tiêu chung của sự phát triển. Những người tham gia NCBH đều trên tinh thần tự nguyện và có vai trò như nhau trong việc phát triển bài học đạt được những mục tiêu đề ra.</div><div>Thứ ba, trong các lớp tập huấn, giáo viên là người tiếp nhận kiến thức mới (ở vị thế bị động),&nbsp; còn trong nghiên cứu bài học giáo viên giữ vai trò chủ động, là một người cải cách, một nhà quan sát, tự đánh giá thực tiễn của mình. Với phương pháp truyền thống giáo viên được tiếp xúc với cái mới thông qua các chuyên gia, hoàn toàn theo kiểu thầy truyền thụ trò lắng nghe. Trong khi ở NCBH, giáo viên là người mang cái mới vào dạy học, là nhà quan sát thực tế có thể tự đánh giá khả năng của mình thông qua việc quan sát trực tiếp lớp học.</div><div>Với các phương pháp dạy học truyền thống phẩm chất và năng lực của giáo viên luôn luôn là một vấn đề để đánh giá trong những buổi dự giờ, giáo viên luôn mang nặng tâm lí về xếp hạng và chủ yếu chú trọng tới bài giảng,&nbsp; giáo án của mình mà ít quan tâm xem học sinh học như thế nào. Hơn nữa, nếu có quan tâm đến học sinh thì đó là những học sinh nổi bật trong các lớp học. Trong khi đó đối với NCBH, thì sự quan sát hướng đến tất cả học sinh trong lớp không riêng gì các học sinh nổi bật, thậm chí là chú ý hơn tới những học sinh cá biệt trong lớp để xem cách học sinh học, cách học sinh tư duy, chứ phẩm chất hay năng lực của giáo viên không phải là vấn đề được đánh giá. Trong các phương pháp dự giờ truyền thống yếu tố phẩm chất nghề nghiệp của giáo viên luôn là một vấn đề được xem xét đánh giá cho nên có một số hạn chế trong việc nhận xét, góp ý của các giáo viên khác, nhất là đối với các giáo viên trẻ thì vấn đề nhận xét, đánh giá các giáo viên nhiều kinh nghiệm là điều cực kì khó khăn; còn với NCBH các giáo viên góp ý với tinh thần cùng giúp nhau hoàn thiện hơn chứ không phải để đánh giá giáo viên, do vậy sự góp ý là chân thành và mọi thành viên có thể tự do nói nên ý kiến của mình mà không sợ làm giảm tình đoàn kết giữa các đồng nghiệp.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Dự giờ bài học: theo phương pháp dự giờ truyền thống các giáo viên dự giờ chỉ chú ý đến giáo viên dạy và họ thích ngồi ở đằng sau và ít chú ý tới học sinh. Theo mô hình NCBH trọng tâm quan sát giờ học là bài học và quá trình học của học sinh, giáo viên dự giờ quan sát từ phía trước để có thể thấy nét mặt của học sinh.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Suy ngẫm về bài học: theo phương pháp dự giờ truyền thống có nhiều giáo viên có thái độ phê phán giáo viên dạy (như thường nhận xét: cô, thầy không thể làm việc này hay việc kia,&nbsp; phải làm như thế này, không được làm như thế kia… ) hay ca ngợi rõ ràng nhưng không chi tiết. Theo mô hình NCBH các giáo viên hợp tác cùng nhau xây dựng kế hoạch bài học và nó là sản phẩm của cả nhóm, tất cả các thành viên đều phải chịu trách nhiệm về bài học cho dù nó thành công hay thất bại chứ không phải chỉ riêng giáo viên đứng lớp, và do đó sẽ không có thái độ phê phán cách dạy của giáo viên, vì cách dạy đó đã được cả nhóm thống nhất trong kế hoạch của bài học, nếu cách dạy đó chưa phù hợp, đó là khuyết điểm của cả nhóm và việc họ cần làm là cùng nhau khắc phục.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:15:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656467491</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Ngọc - TH Phương Canh - Nam Từ Liêm - Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656467543</link>
         <description><![CDATA[<div>Hoạt động sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học là nơi GV tập trung phân tích các vấn đề liên quan đến người học (học sinh); Không tập trung vào việc đánh giá giờ dạy, xếp loại GV mà nhằm khuyến khích GV tìm ra nguyên nhân tại sao HS chưa đạt kết quả như mong muốn và tìm ra biện pháp hiệu quả để nâng cao chất lượng dạy học, tạo cơ hội cho HS được tham gia vào quá trình học tập; giúp GV có khả năng chủ động điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy sao cho phù hợp với từng đối tượng HS.</div><div>Như vậy có thể nói đổi mới sinh hoạt chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học. Thực tế là việc dự giờ và đánh giá tiết dạy của GV thông qua quan sát HS.<br>Điểm mới với việc bồi dưỡng GV dự giờ: </div><div>- Làm thay đổi hình thức sinh hoạt chuyên môn theo kiểu truyền thống.<br><br></div><div>- Nâng cao tay nghề GV và khả năng sáng tạo qua các lần sinh hoạt chuyên môn ở trường hoặc ở cụm.<br><br></div><div>- Tạo cơ hội cho học sinh tham gia vào quá trình học tập qua các hoạt động, GV quan tâm đến khả năng học tập của từng học sinh.<br><br></div><div>- Nâng cao chất lượng dạy - học và văn hóa ứng xử trong nhà trường.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:15:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656467543</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656467562</link>
         <description><![CDATA[<div>Nguyễn Thị Tuyến - Trường Tiểu học Mễ Trì, Nam Từ Liêm, Hà Nội&nbsp;<br>- NCBH với cách bồi dưỡng, dự giờ hiện nay giúp các thầy cô có thể được trao đổi kiến thức với đồng nghiệp một cách dễ dàng - NCBH là để cải tiến nội dung dạy học cụ thể thông qua quá trình hợp tác với các giáo viên trong nhóm, hiểu sâu hơn về nội dung kiến thức bài học. - NCBH&nbsp; thúc đẩy, duy trì sự hợp tác giữa các giáo viên, phát triển kĩ năng làm việc&nbsp; Phân biệt nghiên cứu&nbsp; bài học với dự giờ giờ GV hiện nay. Thay cho việc cung cấp kiến thức được xác định từ các chuyên gia bên ngoài nhà trường, NCBH xuất phát từ chính nhu cầu giải quyết những vấn đề trong thực hiện lớp học mà GV đang phải đối mặt trong các lớp bồi dưỡng giáo viên truyền thống. Các chuyên gia bên ngoài là người cung cấp kiến thức, còn gv là những người thụ động tiếp nhận kiến thức. Khi tham gia NCBH các nhóm nghiên cứu tự nhận thấy những yêu cần giải quyết đối với mỗi bài học nhất định</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:15:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656467562</guid>
      </item>
      <item>
         <title>QUÀNG THỊ ÂM - TH MƯỜNG CHÙM, MƯỜNG LA, SƠN LA.  </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656467575</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2101755795/e0ccce7d58e29662e2c5b652c081b700/SO_S_NH_NCBH_V_I_C_CH_B_I_D__NG_D__GI__GV_HI_N_NAY.doc" />
         <pubDate>2023-08-05 13:15:48 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656467575</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Bùi Minh Nguyệt TH Đông Xuân -Quốc Oai</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656467648</link>
         <description><![CDATA[<div>ncbh: là mô hình bồi dưỡng phát triển cm cho gv,mục đích là tìm hiểu những gì học sinh nghĩ, học sinh tư duy<br>xuất phát từ chính nhu cầu giải quyết thực tiễn trong lớp mà gv đang phải đối mặt<br>mqh giữa người tham gia ncbh là bình đẳng giữa ng dạy và ng học.<br>gv là ng hướng dẫn, mang cái mới vào bài dạy để hs tiếp cận nhanh chóng hơn hiệu quả hơn&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:16:15 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656467648</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Phương Anh - TH Phương Canh - Nam Từ Liêm - HN</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656467787</link>
         <description><![CDATA[<div>ncbh: là mô hình bồi dưỡng phát triển cm cho gv,mục đích là tìm hiểu những gì học sinh nghĩ, học sinh tư duy<br>Xuất phát từ chính nhu cầu giải quyết thực tiễn trong lớp mà gv đang phải đối mặt<br>Mqh giữa người tham gia ncbh là bình đẳng giữa ng dạy và ng học.<br>gv là ng hướng dẫn, mang cái mới vào bài dạy để hs tiếp cận nhanh chóng hơn hiệu quả hơn&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:17:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656467787</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vương Thị vân Tiểu học Vân Hòa Ba Vì Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656467905</link>
         <description><![CDATA[<div>Khi tham gia NCBH, các giáo viên sẽ họp thành từng nhóm nhỏ 4-6 người có thể khác nhau về trình độ chuyên môn, khác nhau về chuyên ngành thậm chí có thể khác trường. Tuy nhiên, để thuận lợi cho quá trình thực hiện bài học, thông thường các nhóm NCBH là các giáo viên cùng trường và có cùng chuyên ngành. Trong quá trình tiến hành bài học nghiên cứu có thể có sự tham gia của các giáo viên khác ngoài nhóm hoặc có thể mời những học giả, những giáo sư tiến sĩ đến từ các trường Đại học, những chuyên viên của Bộ giáo dục, v.v… những người này sẽ đóng góp những ý kiến chuyên môn, quan sát bài học và đưa ra những ý kiến, nhận xét, góp ý để quá trình trở nên hiệu quả hơn.<br><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Các giáo viên cùng nhau nghiên cứu, xây dựng mục tiêu học tập cho học sinh. Sự tham gia của các thành viên phải mang tính chất tự nguyện trên cơ sở muốn nâng cao hiệu quả học tập của học sinh. Trong nhóm các thành viên cùng nhau hợp tác hướng đến mục tiêu chung của bài học, cùng chia sẻ kinh nghiệm và cùng nhận xét, bổ sung giúp nhau hoàn thiện hơn về chuyên môn nghiệp vụ. Cần tránh những biểu hiện tiêu cực như sự phê phán nhau về năng lực chuyên môn hay phẩm chất nghề nghiệp của các giáo viên với nhau. Các nhóm sẽ làm việc trung bình từ 2-3 bài học/ năm do việc nghiên cứu có cường độ cao và chiếm khá nhiều thời gian.<br><br>2.2. Quá trình nghiên cứu bài học<br><br>NCBH để đánh giá hoặc cung cấp cho giáo viên những thông tin phản hồi về thực tiễn dạy học. Giáo viên thực hiện NCBH thì thu thập được những nhận xét, kết quả cho việc sử dụng các phương pháp của mình đến sự tư duy của học sinh. Có nhiều cách phân chia các giai đoạn của quá trình NCBH.<br><br>Stigler và Hiebert(1999) chia quá trình NCBH thành 7 bước cụ thể:<br><br>+Lập kế hoạch nghiên cứu bài học.<br><br>+ dạy học&nbsp; và quan sát các bài học nghiên cứu.<br><br>+ Đánh giá, nhận xét các bài học đã được dạy.<br>+ Chỉnh sửa các bài học dựa trên sự góp ý, bổ sung sau những gì thu thập được sau khi tiến hành bài học nghiên cứu lần 1.<br>+ Tiến hành dạy các bài học đã được chỉnh sửa.<br>2.<br>+ Tiếp tục đánh giá, nhận xét kết quả lần&nbsp;<br>.3. Phân biệt “nghiên cứu bài học” với cách bồi dưỡng, dự giờ giáo viên hiện nay<br>Như đã trình bày ở trên, NCBH là một mô hình bồi dưỡng, phát triển nghề nghiệp cho giáo viên, nhưng nó có sự khác biệt cơ bản với cách bồi dưỡng, dự giờ truyền thống ở chỗ:<br>Thứ nhất, thay cho việc cung cấp kiến thức được xác định từ các chuyên gia bên ngoài nhà trường, NCBH xuất phát từ chính nhu cầu giải quyết những vấn đề trong thực tiễn lớp học mà giáo viên đang phải đối mặt. Trong các lớp bồi dưỡng giáo viên truyền thống các chuyên gia bên ngoài là người cung cấp kiến thức, còn các giáo viên là những người thụ động tiếp nhận kiến thức. Khi tham gia NCBH, các nhóm nghiên cứu tự nhận thấy những yêu cần giải quyết đối với mỗi bài học nhất định và cùng nhau thảo luận để tìm cách giải quyết các yêu cầu đó. Trong NCBH cũng có thể có sự tham gia của các chuyên gia bên ngoài nhưng họ chỉ đóng vai trò là người quan sát, tư vấn, rút kinh nghiệm cho nhóm và cung cấp thêm những kinh nghiệm của các nhóm nghiên cứu khác chứ không đóng vai trò chủ đạo như trong các phương pháp truyền thống khác.<br>Thứ hai, mối quan hệ giữa những người tham gia NCBH là bình đẳng khác với quan hệ thứ bậc, giữa người dạy với người học trong các lớp tập huấn. Trong các phương pháp bồi dưỡng giáo viên truyền thống, giáo viên khi đó đóng vai trò là người học và những chuyên gia đóng vai trò là thầy giáo, là người cung cấp kiến thức. Trong NCBH, những người tham gia có vai trò như nhau, cùng nhau hợp tác, cùng nghiên cứu,&nbsp; cùng thảo luận hướng tới một mục tiêu chung của sự phát triển. Những người tham gia NCBH đều trên tinh thần tự nguyện và có vai trò như nhau trong việc phát triển bài học đạt được những mục tiêu đề ra.<br>Thứ ba, trong các lớp tập huấn, giáo viên là người tiếp nhận kiến thức mới (ở vị thế bị động),&nbsp; còn trong nghiên cứu bài học giáo viên giữ vai trò chủ động, là một người cải cách, một nhà quan sát, tự đánh giá thực tiễn của mình. Với phương pháp truyền thống giáo viên được tiếp xúc với cái mới thông qua các chuyên gia, hoàn toàn theo kiểu thầy truyền thụ trò lắng nghe. Trong khi ở NCBH, giáo viên là người mang cái mới vào dạy học, là nhà quan sát thực tế có thể tự đánh giá khả năng của mình thông qua việc quan sát trực tiếp lớp học.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:17:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656467905</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Thu Trang - TH Mễ Trì - Nam Từ Liêm - Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656467942</link>
         <description><![CDATA[<div>Sinh&nbsp;hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học là nơi GV tập trung phân tích các vấn đề liên quan đến người học (học sinh); Không tập trung vào việc đánh giá giờ dạy, xếp loại GV mà nhằm khuyến khích GV tìm ra nguyên nhân tại sao HS chưa đạt kết quả như mong muốn và tìm ra biện pháp hiệu quả để nâng cao chất lượng dạy học, tạo cơ hội cho HS được tham gia vào quá trình học tập; giúp GV có khả năng chủ động điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy sao cho phù hợp với từng đối tượng HS.</div><div>Như vậy có thể nói đổi mới sinh hoạt chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học. Thực tế là việc dự giờ và đánh giá tiết dạy của GV thông qua quan sát HS.<br>Điểm mới với việc bồi dưỡng GV dự giờ:&nbsp;</div><div>- Làm thay đổi hình thức sinh hoạt chuyên môn theo kiểu truyền thống.<br><br></div><div>- Nâng cao tay nghề GV và khả năng sáng tạo qua các lần sinh hoạt chuyên môn ở trường hoặc ở cụm.<br><br></div><div>- Tạo cơ hội cho học sinh tham gia vào quá trình học tập qua các hoạt động, GV quan tâm đến khả năng học tập của từng học sinh.<br><br></div><div>- Nâng cao chất lượng dạy - học và văn hóa ứng xử trong nhà trường.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:17:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656467942</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn thị thư - TH Vĩnh phú - Thuận an - Bình dương</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656468020</link>
         <description><![CDATA[<div>SHCM Truyền thống: Đánh giá xếp loại giờ dạy theo tiêu chí từ các văn bản chỉ đạo của cấp trên.Nội dung bài học được thiết kế theo sát nội dung SGV, SGK, không linh hoạt xem có phù hợp với từng đối tượng HS không.Giáo viên dạy minh hoạ.Các ý kiến nhận xét sau giờ học nhằm mục đích đánh giá, xếp loại GV.<br>NCBH: Không đánh giá xếp loại giờ dạy theo tiêu chí, quy định.<br><br></div><div>- Người dự giờ tập trung phân tích các hoạt động của HS để rút kinh nghiệm.<br>Tạo cơ hội cho GV phát triển năng lực chuyên môn, tiềm năng sáng tạo của mình.<br>Các hoạt động trong thiết kế bài học cần đảm bảo được mục tiêu bài học, tạo cơ hội cho tất cả HS được tham gia bài học.<br>&nbsp;Người dạy chia sẻ mục tiêu bài học, những ý tưởng mới, những cảm nhận của mình qua giờ học.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:18:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656468020</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656468147</link>
         <description><![CDATA[<div>Nguyễn Thu Hương -Th Vạn Bảo&nbsp;<br>Bồi dưỡng - Dự giờ<br><strong>1. Mục đích </strong><br>- Đánh giá xếp loại giờ dạy theo tiêu chí từ các văn bản chỉ đạo của cấp trên.<br>- Người dự tập trung quan sát các hoạt động của GV để rút kinh nghiệm.<br>- Thống nhất cách dạy các dạng bài để tất cả GV trong từng khối thực hiện. | <strong>1. Mục đích</strong><br>- Không đánh giá xếp loại giờ dạy theo tiêu chí, quy định.<br>- Người dự giờ tập trung phân tích các hoạt động của HS để rút kinh nghiệm.<br>-Tự rút ra những kinh nghiệm để vận dụng vào thực tiễn dạy trên lớp<br><strong>2. Thiết kế bài dạy minh hoạ</strong><br>- Bài dạy minh hoạ được phân công cho một GV thiết kế; được chuẩn bị, thiết kế theo đúng mẫu quy định.<br>- Nội dung bài học được thiết kế theo sát nội dung SGV, SGK, không linh hoạt xem có phù hợp với từng đối tượng HS không.<br>- Thiếu sự sáng tạo trong việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học. | <strong>2. Thiết kế bài dạy minh hoạ</strong><br>- Bài dạy minh hoạ được các GV trong tổ thiết kế.không nhất thiết theo mẫu qui định<br>-Nội dung bài học được thiết kế&nbsp; linh hoạt&nbsp; phù hợp với từng đối tượng HS<br>- Không nhất thiết theo khuôn mẫu qui định<br>- Phát huy sự sáng tạo trong việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học<br> <br><strong><em>3. Gv dạy minh hoạ</em></strong><br>* Một người dạy minh hoạ đã chỉ định từ trước<br><strong><em>* Vị trí người dự giờ</em></strong><br>- Thường ngồi ở cuối lớp học quan sát người dạy như thế nào, ít chú ý đến những biểu hiện thái độ, tâm lí, hoạt động của HS. | <strong><em>3.Gv dạy minh hoạ</em></strong><br><strong><em>* </em></strong>Một người được chọn trong nhóm hoặc tổ hoặc tự gv đăng kí<br><strong><em>* Vị trí người dự giờ</em></strong><br>- Ngồi hoặc đứng ở vị trí thích hợp quan sát và chú ý đến những biểu hiện thái độ, tâm lí, hoạt động của&nbsp; học sinh.<br><strong>. Thảo luận giờ dạy minh hoạ</strong><br>- Các ý kiến nhận xét sau giờ học nhằm&nbsp; mục đích đánh giá, xếp loại GV.<br>- Không khí các buổi SHCM nặng nề, căng thẳng, quan hệ giữa các GV thiếu thân thiện.<br> <br>- Có xếp loại tiết dạy.<br>&nbsp;<strong>4. Thảo luận giờ dạy minh hoạ</strong><br>- Người dạy chia sẻ mục tiêu bài học, những ý tưởng mới, những cảm nhận của mình qua tiết dạy minh họa.<br>-Không khí sinh hoạt thân thiện cởi mở.<br>&nbsp; theo tinh thần trao đổi, chia sẻ, tập trung vào phân tích các hoạt động của HS và tìm ra các nguyên nhân và giải pháp khắc phục.<br>- Không xếp loại tiết dạy.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:19:07 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656468147</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Cấn Anh Dưỡng- Tiểu học Phú Kim</title>
         <author>duongphukim</author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656468232</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>SỰ KHÁC NHAU <br>1. Mục đích<br>2. Thiết kế bài dạy minh hoạ<br>3.</strong><strong><em>Gv dạy minh hoạ<br>* Vị trí người dự giờ<br></em></strong><strong>4. Thảo luận giờ dạy minh hoạ</strong></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:19:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656468232</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Thị Hằng -TH cổ Đông, sơn Tây Hà Nôi,</title>
         <author>tranvanchu6872</author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656468236</link>
         <description><![CDATA[<div>NCBH là thuật ngữ chỉ một phương pháp BDCM của GV, CNBH giúp GV trao đổi kinh nghiệm trong dạy học và một số vấn đề còn vướng mắc và rút kinh nghiệm cho mỗi người đê CM ngày cang vững</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-05 13:19:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656468236</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thu Trang - TH Thanh Lương </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656470017</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2101761517/cc28143de4064d5ac00fd877446ee0ab/Nguy_n_Thu_Trang__TH_Thanh_L__ng.docx" />
         <pubDate>2023-08-05 13:28:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2656470017</guid>
      </item>
      <item>
         <title>1.mục đích</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658000501</link>
         <description><![CDATA[<div>2. Thiết kế bài dạy<br>3. Chú trọng hơn hoạt động của hs<br>4. Phương pháp đổi mới<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:07:15 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658000501</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dương Thuý Minh- THCS Khương Mai</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658000864</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>SỰ KHÁC NHAU <br>1. Mục đích<br>2. Thiết kế bài dạy minh hoạ<br>3.</strong><strong><em>Gv dạy minh hoạ<br>* Vị trí người dự giờ<br></em></strong><strong>4. Thảo luận giờ dạy minh hoạ</strong></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:07:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658000864</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Sự khác nhau giữa SHCM theo NCBH và Dự giờ: </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658001366</link>
         <description><![CDATA[<div>1. Khác nhau về mục đích<br>2. NCBH là dựa trên bài học, cách học của hs&nbsp; và hướng tới học sinh<br>3. Dự giờ là dựa trên bài dạy của GV, đánh gia GV<br>4. Khi tham gia NCBH, các GV họp thành từng nhóm nhỏ&nbsp; để thảo luận về cách học của hs, đánh giá và rút ra phương pháp qua việc học của hs<br>5. Dự giờ: có thể nhiều người&nbsp; dự giờ đánh giá&nbsp; chất&nbsp; lượng giờ dạy để cùng rút kinh nghiệm<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:08:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658001366</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Thanh Hương - THCS Phú Đo - NTL - HN</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658001467</link>
         <description><![CDATA[<div>Nguyễn Thị Thanh Hương - THCS Phú Đô - NTL - HN<br><br>NCBH là một mô hình bồi dưỡng, phát triển chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên,để đánh giá hoặc cung cấp cho giáo viên những thông tin phản hồi về thực tiễn dạy học. Giáo viên thực hiện NCBH thì thu thập được những nhận xét, kết quả cho việc sử dụng các phương pháp của mình đến sự tư duy của học sinh. Có nhiều cách phân chia các giai đoạn của quá trình NCBH.</div><div>NCBH được chia thành 7 bước cụ thể:</div><div>+Lập kế hoạch nghiên cứu bài học.</div><div>+ dạy học&nbsp; và quan sát các bài học nghiên cứu.</div><div>+ Đánh giá, nhận xét các bài học đã được dạy.</div><div>+ Chỉnh sửa các bài học dựa trên sự góp ý, bổ sung sau những gì thu thập được sau khi tiến hành bài học nghiên cứu lần 1.</div><div>+ Tiến hành dạy các bài học đã được chỉnh sửa.</div><div>+ Tiếp tục đánh giá, nhận xét kết quả lần 2.</div><div>+ Đưa vào ứng dụng rộng rãi trong quá trình dạy học.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:09:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658001467</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Hồng Nhung - 10/5/1998-THCS</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658001525</link>
         <description><![CDATA[<div>Dự giờ:<br>Dự giờ chỉ chú ý cách dạy của thầy và khi đánh giá chỉ góp ý, rút kinh nghiệm về nội dung kiến thức, phương pháp giảng dạy (chú ý quá nhiều vào bài dạy).<br>- GV giảng dạy chuyên đề, thao giảng thường đi theo một khung chương trình sẵn có, phản ánh trung thành kiến thức trong SGK chứ rất ít quan tâm đến tầm đón nhận của học sinh.<br><br></div><div>- Giờ dạy minh họa thường mang tính chất phô diễn vì GV sợ bị đánh giá thiếu năng lực; giờ dạy mang tính nhồi nhét, học sinh “khó tiêu”; ít quan tâm tới tới mọi đối tượng học sinh (đặc biệt là học sinh tiếp thu chậm) vì sợ các em làm ảnh hưởng đến tiến độ tiết dạy của GV (cháy giáo án)<br><br></div><div>- Trong qua trình đánh giá, người dự giờ do chỉ chăm chăm vào GV nên mọi ý kiến mổ xẻ đều hướng về người dạy mà bỏ quên người học. Chính vì thế kết quả học tập của HS ít được cải thiện, nhất là các đối tượng học sinh tiếp thu chậm luôn bị “bỏ rơi”. HS tieepsthu nhanh xa cách HS tiếp thu chậm, còn HS tiếp thu chậm lại tự ti sợ học, chán nản, …<br>Sinh hoạt chuyên môn:<br>Là hình thức sinh hoạt chuyên môn không tập trung vào việc đánh giá giờ học, xếp loại GV mà nhằm khuyến khích GV tìm ra nguyên nhân tại sao HS chưa đạt kết quả như mong muốn từ đó có biện pháp cải tiến phương pháp dạy để nâng cao chất lượng học tập của học sinh.<br><br></div><ul><li>- Là hoạt động chuyên môn mà ở đó tạo cơ hội tốt cho HS tham gia xây dựng</li></ul><div>nội dung bài học; HS thực sự là chủ thể của hoạt động dạy học.<br><strong>Mục đích<br></strong><br></div><div>– Làm thay đổi hình thức sinh hoạt chuyên môn.&nbsp;<br><br></div><div>– GV nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng sư phạm, khả năng sáng tạo.&nbsp;<br><br></div><div>– Học sinh có cơ hội tham gia vào quá trình học tập, GV quan tâm đến năng lực của từng học sinh.<br><br></div><div>- Nâng cao chất lượng dạy - học và văn hóa ứng xử trong nhà trường.<br><br></div><div><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:09:07 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658001525</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hoàng Thị Kiều Trang -THCS MỘC BẮC</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658001549</link>
         <description><![CDATA[<div>Nghiên cứu bài học là&nbsp;để cải tiến nội dung dạy&nbsp;học&nbsp;cụ thể nên thông qua quá trình hợp tác với các giáo viên trong nhóm, họ hiểu sâu hơn về nội dung kiến thức của&nbsp;bài học&nbsp;vì chính họ phải đào sâu suy nghĩ hơn và được bổ sung từ ý kiến của những người khác, qua đó năng lực sư phạm của họ được cải thiện.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:09:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658001549</guid>
      </item>
      <item>
         <title>So sánh ( Phạm Tuyết Lan)</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658001666</link>
         <description><![CDATA[<div>Nghiên cứu bài học là căn cứ vào mục đích yêu cầu, nội dung của bài học còn dự giờ là sinh hoạt chuyên môn học taajp kinh nghiem,  dong gop y kien…</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:09:22 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658001666</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Ninh Thị Sen - THCS Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658001833</link>
         <description><![CDATA[<div>NCBH là một mô hình bồi dưỡng, phát triển nghề nghiệp cho giáo viên, nhưng nó có sự khác biệt cơ bản với cách bồi dưỡng, dự giờ truyền thống ở chỗ:</div><div>Thứ nhất, thay cho việc cung cấp kiến thức được xác định từ các chuyên gia bên ngoài nhà trường, NCBH xuất phát từ chính nhu cầu giải quyết những vấn đề trong thực tiễn lớp học mà giáo viên đang phải đối mặt. Trong các lớp bồi dưỡng giáo viên truyền thống các chuyên gia bên ngoài là người cung cấp kiến thức, còn các giáo viên là những người thụ động tiếp nhận kiến thức. Khi tham gia NCBH, các nhóm nghiên cứu tự nhận thấy những yêu cần giải quyết đối với mỗi bài học nhất định và cùng nhau thảo luận để tìm cách giải quyết các yêu cầu đó. Trong NCBH cũng có thể có sự tham gia của các chuyên gia bên ngoài nhưng họ chỉ đóng vai trò là người quan sát, tư vấn, rút kinh nghiệm cho nhóm và cung cấp thêm những kinh nghiệm của các nhóm nghiên cứu khác chứ không đóng vai trò chủ đạo như trong các phương pháp truyền thống khác.</div><div>Thứ hai, mối quan hệ giữa những người tham gia NCBH là bình đẳng khác với quan hệ thứ bậc, giữa người dạy với người học trong các lớp tập huấn. Trong các phương pháp bồi dưỡng giáo viên truyền thống, giáo viên khi đó đóng vai trò là người học và những chuyên gia đóng vai trò là thầy giáo, là người cung cấp kiến thức. Trong NCBH, những người tham gia có vai trò như nhau, cùng nhau hợp tác, cùng nghiên cứu,&nbsp; cùng thảo luận hướng tới một mục tiêu chung của sự phát triển. Những người tham gia NCBH đều trên tinh thần tự nguyện và có vai trò như nhau trong việc phát triển bài học đạt được những mục tiêu đề ra.</div><div>Thứ ba, trong các lớp tập huấn, giáo viên là người tiếp nhận kiến thức mới (ở vị thế bị động),&nbsp; còn trong nghiên cứu bài học giáo viên giữ vai trò chủ động, là một người cải cách, một nhà quan sát, tự đánh giá thực tiễn của mình. Với phương pháp truyền thống giáo viên được tiếp xúc với cái mới thông qua các chuyên gia, hoàn toàn theo kiểu thầy truyền thụ trò lắng nghe. Trong khi ở NCBH, giáo viên là người mang cái mới vào dạy học, là nhà quan sát thực tế có thể tự đánh giá khả năng của mình thông qua việc quan sát trực tiếp lớp học.</div><div>Với các phương pháp dạy học truyền thống phẩm chất và năng lực của giáo viên luôn luôn là một vấn đề để đánh giá trong những buổi dự giờ, giáo viên luôn mang nặng tâm lí về xếp hạng và chủ yếu chú trọng tới bài giảng,&nbsp; giáo án của mình mà ít quan tâm xem học sinh học như thế nào. Hơn nữa, nếu có quan tâm đến học sinh thì đó là những học sinh nổi bật trong các lớp học. Trong khi đó đối với NCBH, thì sự quan sát hướng đến tất cả học sinh trong lớp không riêng gì các học sinh nổi bật, thậm chí là chú ý hơn tới những học sinh cá biệt trong lớp để xem cách học sinh học, cách học sinh tư duy, chứ phẩm chất hay năng lực của giáo viên không phải là vấn đề được đánh giá. Trong các phương pháp dự giờ truyền thống yếu tố phẩm chất nghề nghiệp của giáo viên luôn là một vấn đề được xem xét đánh giá cho nên có một số hạn chế trong việc nhận xét, góp ý của các giáo viên khác, nhất là đối với các giáo viên trẻ thì vấn đề nhận xét, đánh giá các giáo viên nhiều kinh nghiệm là điều cực kì khó khăn; còn với NCBH các giáo viên góp ý với tinh thần cùng giúp nhau hoàn thiện hơn chứ không phải để đánh giá giáo viên, do vậy sự góp ý là chân thành và mọi thành viên có thể tự do nói nên ý kiến của mình mà không sợ làm giảm tình đoàn kết giữa các đồng nghiệp. Dự giờ bài học: theo phương pháp dự giờ truyền thống các giáo viên dự giờ chỉ chú ý đến giáo viên dạy và họ thích ngồi ở đằng sau và ít chú ý tới học sinh. Theo mô hình NCBH trọng tâm quan sát giờ học là bài học và quá trình học của học sinh, giáo viên dự giờ quan sát từ phía trước để có thể thấy nét mặt của học sinh.</div><div>Suy ngẫm về bài học: theo phương pháp dự giờ truyền thống có nhiều giáo viên có thái độ phê phán giáo viên dạy (như thường nhận xét: cô, thầy không thể làm việc này hay việc kia,&nbsp; phải làm như thế này, không được làm như thế kia… ) hay ca ngợi rõ ràng nhưng không chi tiết. Theo mô hình NCBH các giáo viên hợp tác cùng nhau xây dựng kế hoạch bài học và nó là sản phẩm của cả nhóm, tất cả các thành viên đều phải chịu trách nhiệm về bài học cho dù nó thành công hay thất bại chứ không phải chỉ riêng giáo viên đứng lớp, và do đó sẽ không có thái độ phê phán cách dạy của giáo viên, vì cách dạy đó đã được cả nhóm thống nhất trong kế hoạch của bài học, nếu cách dạy đó chưa phù hợp, đó là khuyết điểm của cả nhóm và việc họ cần làm là cùng nhau khắc phục.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:09:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658001833</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vũ Hân - THCS Tứ Liên: So sánh NCBH với cách bồi dưỡng, dự giờ GV hiện nay? </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658002444</link>
         <description><![CDATA[<div>Giống: Đều là các phương pháp nhằm khuyến khích giáo viên nâng cao chất lượng giảng dạy, tập trung chuyên môn.<br>Khác: NCBH lấy việc giáo viên cùng nhau đóng góp đưa ra sự thống nhất chung về nội dung trước khi đưa ra giảng dạy học sinh<br>Dự giờ GV là các ý kiến đóng góp của tổ nhóm chuyên môn sau khi dự giờ đồng nghiệp. </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:10:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658002444</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tô Thị Sơn Thành THCS Phụng Thượng </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658002559</link>
         <description><![CDATA[<div>-Về mục đích: NCBH không đánh giá xếp loại giờ dạy mà tập trung chủ yếu vào hoạt động của HS, sinh hoạt chuyên môn truyền thống tập trung đánh giá giờ dạy<br>- Trong NCBH bài dạy dỗ nhóm tổ thiết kế, sinh hoạt chuyên dự giờ môn do 1 giáo viên thiết kế.<br>- Trong NCBH bài dạy thiết kế không nhât thiết phải theo mẫu SGK, Dự giờ truyền thống theo mẫu sgk<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:10:48 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658002559</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Võ Song Hà </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658002576</link>
         <description><![CDATA[<div>Như đã trình bày ở trên, NCBH là một mô hình bồi dưỡng, phát triển nghề nghiệp cho giáo viên, nhưng nó có sự khác biệt cơ bản với cách bồi dưỡng, dự giờ truyền thống ở chỗ:</div><div>Thứ nhất, thay cho việc cung cấp kiến thức được xác định từ các chuyên gia bên ngoài nhà trường, NCBH xuất phát từ chính nhu cầu giải quyết những vấn đề trong thực tiễn lớp học mà giáo viên đang phải đối mặt. Trong các lớp bồi dưỡng giáo viên truyền thống các chuyên gia bên ngoài là người cung cấp kiến thức, còn các giáo viên là những người thụ động tiếp nhận kiến thức. Khi tham gia NCBH, các nhóm nghiên cứu tự nhận thấy những yêu cần giải quyết đối với mỗi bài học nhất định và cùng nhau thảo luận để tìm cách giải quyết các yêu cầu đó. Trong NCBH cũng có thể có sự tham gia của các chuyên gia bên ngoài nhưng họ chỉ đóng vai trò là người quan sát, tư vấn, rút kinh nghiệm cho nhóm và cung cấp thêm những kinh nghiệm của các nhóm nghiên cứu khác chứ không đóng vai trò chủ đạo như trong các phương pháp truyền thống khác.</div><div>Thứ hai, mối quan hệ giữa những người tham gia NCBH là bình đẳng khác với quan hệ thứ bậc, giữa người dạy với người học trong các lớp tập huấn. Trong các phương pháp bồi dưỡng giáo viên truyền thống, giáo viên khi đó đóng vai trò là người học và những chuyên gia đóng vai trò là thầy giáo, là người cung cấp kiến thức. Trong NCBH, những người tham gia có vai trò như nhau, cùng nhau hợp tác, cùng nghiên cứu,&nbsp; cùng thảo luận hướng tới một mục tiêu chung của sự phát triển. Những người tham gia NCBH đều trên tinh thần tự nguyện và có vai trò như nhau trong việc phát triển bài học đạt được những mục tiêu đề ra.</div><div>Thứ ba, trong các lớp tập huấn, giáo viên là người tiếp nhận kiến thức mới (ở vị thế bị động),&nbsp; còn trong nghiên cứu bài học giáo viên giữ vai trò chủ động, là một người cải cách, một nhà quan sát, tự đánh giá thực tiễn của mình. Với phương pháp truyền thống giáo viên được tiếp xúc với cái mới thông qua các chuyên gia, hoàn toàn theo kiểu thầy truyền thụ trò lắng nghe. Trong khi ở NCBH, giáo viên là người mang cái mới vào dạy học, là nhà quan sát thực tế có thể tự đánh giá khả năng của mình thông qua việc quan sát trực tiếp lớp học.</div><div>Với các phương pháp dạy học truyền thống phẩm chất và năng lực của giáo viên luôn luôn là một vấn đề để đánh giá trong những buổi dự giờ, giáo viên luôn mang nặng tâm lí về xếp hạng và chủ yếu chú trọng tới bài giảng,&nbsp; giáo án của mình mà ít quan tâm xem học sinh học như thế nào. Hơn nữa, nếu có quan tâm đến học sinh thì đó là những học sinh nổi bật trong các lớp học. Trong khi đó đối với NCBH, thì sự quan sát hướng đến tất cả học sinh trong lớp không riêng gì các học sinh nổi bật, thậm chí là chú ý hơn tới những học sinh cá biệt trong lớp để xem cách học sinh học, cách học sinh tư duy, chứ phẩm chất hay năng lực của giáo viên không phải là vấn đề được đánh giá. Trong các phương pháp dự giờ truyền thống yếu tố phẩm chất nghề nghiệp của giáo viên luôn là một vấn đề được xem xét đánh giá cho nên có một số hạn chế trong việc nhận xét, góp ý của các giáo viên khác, nhất là đối với các giáo viên trẻ thì vấn đề nhận xét, đánh giá các giáo viên nhiều kinh nghiệm là điều cực kì khó khăn; còn với NCBH các giáo viên góp ý với tinh thần cùng giúp nhau hoàn thiện hơn chứ không phải để đánh giá giáo viên, do vậy sự góp ý là chân thành và mọi thành viên có thể tự do nói nên ý kiến của mình mà không sợ làm giảm tình đoàn kết giữa các đồng nghiệp.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Dự giờ bài học: theo phương pháp dự giờ truyền thống các giáo viên dự giờ chỉ chú ý đến giáo viên dạy và họ thích ngồi ở đằng sau và ít chú ý tới học sinh. Theo mô hình NCBH trọng tâm quan sát giờ học là bài học và quá trình học của học sinh, giáo viên dự giờ quan sát từ phía trước để có thể thấy nét mặt của học sinh.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Suy ngẫm về bài học: theo phương pháp dự giờ truyền thống có nhiều giáo viên có thái độ phê phán giáo viên dạy (như thường nhận xét: cô, thầy không thể làm việc này hay việc kia,&nbsp; phải làm như thế này, không được làm như thế kia… ) hay ca ngợi rõ ràng nhưng không chi tiết. Theo mô hình NCBH các giáo viên hợp tác cùng nhau xây dựng kế hoạch bài học và nó là sản phẩm của cả nhóm, tất cả các thành viên đều phải chịu trách nhiệm về bài học cho dù nó thành công hay thất bại chứ không phải chỉ riêng giáo viên đứng lớp, và do đó sẽ không có thái độ phê phán cách dạy của giáo viên, vì cách dạy đó đã được cả nhóm thống nhất trong kế hoạch của bài học, nếu cách dạy đó chưa phù hợp, đó là khuyết điểm của cả nhóm và việc họ cần làm là cùng nhau khắc phục.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:10:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658002576</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đỗ Thị Cẩm Tuyền, Trường THCS Phan Chu Trinh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658002625</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1394943062/af7a77c71cb674330fb07ebf3d98a697/28716530_CA84_43D4_BE9A_91ECC3537D6B.png" />
         <pubDate>2023-08-08 13:10:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658002625</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dự giờ phạm vi hẹp chủ yéu đánh giá giờ dạy của gv còn NCBH phạm vi rộng hơn </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658002659</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:11:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658002659</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658002667</link>
         <description><![CDATA[<div>NCBH&nbsp;chủ yếu đánh giá thông qua các hoạt động của HS để từ đó điều chỉnh phương pháp, cách tiếp cận, có thể điều chỉnh cả mục tiêu dạy học cho phù hợp. NCBH do nhóm, tổ CM thực hiện theo 7 bước, thống nhất chung. Dự giờ thì chủ yếu đánh giá phương pháp, cách thức tổ chức của giáo viên</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:11:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658002667</guid>
      </item>
      <item>
         <title>NCBH để đánh giá hoặc cung cấp cho giáo viên những thông tin phản hồi về thực tiễn dạy học. Giáo viên thực hiện NCBH thì thu thập được những nhận xét, kết quả cho việc sử dụng các phương pháp của mình đến sự tư duy của học sinh. Có nhiều cách phân chia các giai đoạn của quá trình NCBH.Stigler và Hiebert(1999) chia quá trình NCBH thành 7 bước cụ thể:</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658002697</link>
         <description><![CDATA[<div>Dự giờ là để đánh giá, xếp loại giáo viên dựa vào kết quả hoạt động của giáo viên và học sinh trên lớp<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:11:04 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658002697</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Thanh Hương - THCS Phú Đô - NTL - HN</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658002775</link>
         <description><![CDATA[<div>Nguyễn Thị Thanh Hương - THCS Phú Đô - NTL - HN<br>Dự giờ:<br>Dự giờ chỉ chú ý cách dạy của thầy và khi đánh giá chỉ góp ý, rút kinh nghiệm về nội dung kiến thức, phương pháp giảng dạy (chú ý quá nhiều vào bài dạy).<br>- GV giảng dạy chuyên đề, thao giảng thường đi theo một khung chương trình sẵn có, phản ánh trung thành kiến thức trong SGK chứ rất ít quan tâm đến tầm đón nhận của học sinh.<br><br></div><div>- Giờ dạy minh họa thường mang tính chất phô diễn vì GV sợ bị đánh giá thiếu năng lực; giờ dạy mang tính nhồi nhét, học sinh “khó tiêu”; ít quan tâm tới tới mọi đối tượng học sinh (đặc biệt là học sinh tiếp thu chậm) vì sợ các em làm ảnh hưởng đến tiến độ tiết dạy của GV (cháy giáo án)<br><br></div><div>- Trong qua trình đánh giá, người dự giờ do chỉ chăm chăm vào GV nên mọi ý kiến mổ xẻ đều hướng về người dạy mà bỏ quên người học. Chính vì thế kết quả học tập của HS ít được cải thiện, nhất là các đối tượng học sinh tiếp thu chậm luôn bị “bỏ rơi”. HS tieepsthu nhanh xa cách HS tiếp thu chậm, còn HS tiếp thu chậm lại tự ti sợ học, chán nản, …<br>Sinh hoạt chuyên môn:<br>Là hình thức sinh hoạt chuyên môn không tập trung vào việc đánh giá giờ học, xếp loại GV mà nhằm khuyến khích GV tìm ra nguyên nhân tại sao HS chưa đạt kết quả như mong muốn từ đó có biện pháp cải tiến phương pháp dạy để nâng cao chất lượng học tập của học sinh.<br><br></div><ul><li>- Là hoạt động chuyên môn mà ở đó tạo cơ hội tốt cho HS tham gia xây dựng</li></ul><div>nội dung bài học; HS thực sự là chủ thể của hoạt động dạy học.<br><strong>Mục đích<br></strong><br></div><div>– Làm thay đổi hình thức sinh hoạt chuyên môn.&nbsp;<br><br></div><div>– GV nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng sư phạm, khả năng sáng tạo.&nbsp;<br><br></div><div>– Học sinh có cơ hội tham gia vào quá trình học tập, GV quan tâm đến năng lực của từng học sinh.<br><br></div><div>- Nâng cao chất lượng dạy - học và văn hóa ứng xử trong nhà trường.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:11:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658002775</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Chang thị chu</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658002976</link>
         <description><![CDATA[<div>1. Mục đích<br>2. Thiết kế bài dạy<br>3. Chú trọng hơn hoạt động của học sinh<br>4. Phương pháp đổi mới</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:11:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658002976</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Thị Hồng - THCS Phương Liệt, Thanh Xuân, Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658003106</link>
         <description><![CDATA[<div>- Sinh hoạt chuyên môn: diễn ra theo các bước, muc đích thảo luận giữa các GV trong tổ nhóm để xây dựng nôi dung và PP dạy bài cụ thể hoặc dự án cụ thể. sau đó giáo viên dạy minh hoạ cho tổ nhóm dự giờ để rút kinh nghiệm, áp dụng cho các khối lớp.&nbsp;<br>-Dự giờ: Người dạy minh hoạ kế hoạch bài học của mình. người dự quan sát hoạt động của cô và trò. nhận xét về hiệu quả cũng như tương tác về các hoạt động GV đã xây dựng&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:11:40 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658003106</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lương Thị Thúy Mai</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658003304</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;NCBH là một mô hình bồi dưỡng, phát triển chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên bởi những lợi ích to lớn mà nó mang lại cho những người tham gia. Mục đích của NCBH là tìm hiểu những gì học sinh nghĩ, những gì học sinh tư duy để có những phương pháp dạy cho phù hợp chứ không phải là một bài học biểu diễn. Tất cả các thành viên trong nhóm đều phải có những đóng góp và các ý tưởng đó cần phải được tôn trọng. Do vậy, bài học là thuộc về cả nhóm chứ không phải của riêng người dạy. Như vậy khi các thành viên tham gia vào NCBH thì sẽ kết hợp được những ưu điểm và cùng hoàn thiện bài học hơn. Thông qua NCBH, giáo viên cảm thấy tập trung hơn vào bài học và tăng sự thích thú trong công việc dạy học.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; NCBH là để cải tiến nội dung dạy học cụ thể nên thông qua quá trình hợp tác với các giáo viên trong nhóm, họ hiểu sâu hơn về nội dung kiến thức của bài học vì chính họ phải đào sâu suy nghĩ hơn và được bổ sung từ ý kiến của những người khác, qua đó năng lực sư phạm của họ được cải thiện. Giáo viên phải cùng nhau thảo luận về những biểu hiện có thể có ở học sinh trong quá trình học để có những phương pháp dạy học cho phù hợp.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; NCBH đặt trọng tâm vào học tập của học sinh. Thông qua quan sát và thảo luận về những gì đang xảy ra trong lớp học, cách học sinh biểu hiện với các tác động, giáo viên tham gia có nhận thức đầy đủ hơn về cách học sinh học và suy nghĩ cũng như cách học sinh hiểu bài, đáp lại những cái giáo viên dạy. Hơn nữa, tham gia nghiên cứu bài học giúp giáo viên học được cách quan sát, không phải là quan sát những cái bề ngoài hời hợt mà là quan sát quá trình học sinh học những cái họ dạy. Giáo viên học được cách phân tích, rút ra kết luận, sửa đổi từ những số liệu quan sát được. Ngoài ra, tham gia NCBH giúp giáo viên nâng cao kĩ năng thiết kế công cụ dạy học để làm cho học tập và tư duy của học sinh trở nên dễ hiểu đối với giáo viên và có thể nhìn thấy được.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; NCBH thúc đẩy, duy trì sự hợp tác giữa các giáo viên, giúp các giáo viên phát triển kĩ năng làm việc nhóm, góp phần phát triển không khí hợp tác, đoàn kết trong nhà trường. NCBH tạo ra cộng đồng học tập, văn hóa học tập và củng cố tình đồng nghiệp trong nhà trường. Tham gia vào NCBH giáo viên thực hiện vai trò của người nghiên cứu, cải tạo thực tiễn và họ trở nên vững vàng hơn về chuyên môn,&nbsp; nghiệp vụ, tăng sự chuyên nghiệp của giáo viên và giúp giáo viên tự tin hơn trong việc giải quyết vấn đề của thực tiễn để nâng cao chất lượng dạy học của mình.. Nghiên cứu bài học tạo cơ hội cho giáo viên có thể quan tâm tới tất cả các học sinh trong lớp, tạo cơ hội phát triển cho mọi học sinh. Và dẫn tới hệ quả tất yếu là nâng cao chất lượng học tập của học sinh.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Qua việc NCBH chúng ta có thể nhận ra tính ưu việc của NCBH so với các hình thức bồi dưỡng nghiệp vụ khác. NCBH xuất phát từ thực tiễn cần giải quyết những khó khăn thực tiễn trong lớp học của giáo viên. Thông qua NCBH giáo viên được hợp tác cùng nhau, làm việc cùng nhau để xây dựng một kế hoạch bài học hoàn chỉnh. Phát huy được năng lực chuyên môn của tập thể, giúp GV rèn luyện, củng cố, phát triển kĩ năng quan sát; hiểu học sinh hơn. Đồng thời, giúp GV tích luỹ kinh nghiệm, nâng cao năng lực chuyên môn và đổi mới phương pháp dạy học, kĩ thuật dự giờ theo hướng dạy học tích cực, lấy việc học của học sinh làm trung tâm khi tham gia sinh hoạt chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:11:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658003304</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vũ Thị Hiền THCS Phụng Thượng Phúc Thọ Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658003480</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Sinh hoạt CM truyền thống</strong> | <strong>Sinh hoạt CM theo NCBH</strong><br><strong>1. Mục đích</strong><br>- Đánh giá xếp loại giờ dạy theo tiêu chí từ các văn bản chỉ đạo của cấp trên.<br>- Người dự tập trung quan sát các hoạt động của GV để rút kinh nghiệm.<br>- Thống nhất cách dạy các dạng bài để tất cả GV trong từng khối thực hiện. | <strong>1. Mục đích</strong><br>- Không đánh giá xếp loại giờ dạy theo tiêu chí, quy định.<br>- Người dự giờ tập trung phân tích các hoạt động của HS để rút kinh nghiệm.<br>-Tự rút ra những kinh nghiệm để vận dụng vào thực tiễn dạy trên lớp<br><strong>2. Thiết kế bài dạy minh hoạ</strong><br>- Bài dạy minh hoạ được phân công cho một GV thiết kế; được chuẩn bị, thiết kế theo đúng mẫu quy định.<br>- Nội dung bài học được thiết kế theo sát nội dung SGV, SGK, không linh hoạt xem có phù hợp với từng đối tượng HS không.<br>- Thiếu sự sáng tạo trong việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học. | <strong>2. Thiết kế bài dạy minh hoạ</strong><br>- Bài dạy minh hoạ được các GV trong tổ thiết kế.không nhất thiết theo mẫu qui định<br>-Nội dung bài học được thiết kế&nbsp; linh hoạt&nbsp; phù hợp với từng đối tượng HS<br>- Không nhất thiết theo khuôn mẫu qui định<br>- Phát huy sự sáng tạo trong việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học<br> <br><strong><em>3. Gv dạy minh hoạ</em></strong><br>* Một người dạy minh hoạ đã chỉ định từ trước<br><strong><em>* Vị trí người dự giờ</em></strong><br>- Thường ngồi ở cuối lớp học quan sát người dạy như thế nào, ít chú ý đến những biểu hiện thái độ, tâm lí, hoạt động của HS. | <strong><em>3.Gv dạy minh hoạ</em></strong><br><strong><em>* </em></strong>Một người được chọn trong nhóm hoặc tổ hoặc tự gv đăng kí<br><strong><em>* Vị trí người dự giờ</em></strong><br>- Ngồi hoặc đứng ở vị trí thích hợp quan sát và chú ý đến những biểu hiện thái độ, tâm lí, hoạt động của&nbsp; học sinh.<br><strong>. Thảo luận giờ dạy minh hoạ</strong><br>- Các ý kiến nhận xét sau giờ học nhằm&nbsp; mục đích đánh giá, xếp loại GV.<br>- Không khí các buổi SHCM nặng nề, căng thẳng, quan hệ giữa các GV thiếu thân thiện.<br> <br>- Có xếp loại tiết dạy.<br>&nbsp; | <strong>4. Thảo luận giờ dạy minh hoạ</strong><br>- Người dạy chia sẻ mục tiêu bài học, những ý tưởng mới, những cảm nhận của mình qua tiết dạy minh họa.<br>-Không khí sinh hoạt thân thiện cởi mở.<br>&nbsp; theo tinh thần trao đổi, chia sẻ, tập trung vào phân tích các hoạt động của HS và tìm ra các nguyên nhân và giải pháp khắc phục.<br>- Không xếp loại tiết dạy.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:12:15 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658003480</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn thị Giang - THCS Suối Hoa Bắc Ninh </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658003535</link>
         <description><![CDATA[<div>nch:là mô hình bồi dưỡng phát triển cm cho gv ,mục đích là tìm hiểu những gì học sinh nghĩ , học sinh tư duy xuất phát từ chính nhu cầu giải quyết thực tiễn trong lớp mà giáo viên đang phải đối mặt  mối quan hệ giữa người tham gia ncbh là bình đẳng giữa người dạy và người học gv hướng dẫn mang cái mới vào bài dạy để hs tiếp cận nhanh chóng và hiệu quả hơn </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:12:20 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658003535</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658003752</link>
         <description><![CDATA[<div>Nghiên cứu bài học chỉ trong một phạm vi hẹp, chủ yếu để nâng cao chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên khi giảng dạy những bài khó trong chương trình giáo dục THCS. Còn dự giờ vừau để đánh giá giáo viên và cả học sinh. Đinh Trung Hiếu - Trường THCS Đại Sơn, quảng hoà, cao bằng </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:12:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658003752</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lê Thị Sim </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658003810</link>
         <description><![CDATA[<div>NCBH là một mô hình bồi dưỡng, phát triển nghề nghiệp cho giáo viên, nhưng nó có sự khác biệt cơ bản với cách bồi dưỡng, dự giờ truyền thống ở chỗ:</div><div>Thứ nhất, thay cho việc cung cấp kiến thức được xác định từ các chuyên gia bên ngoài nhà trường, NCBH xuất phát từ chính nhu cầu giải quyết những vấn đề trong thực tiễn lớp học mà giáo viên đang phải đối mặt. Trong các lớp bồi dưỡng giáo viên truyền thống các chuyên gia bên ngoài là người cung cấp kiến thức, còn các giáo viên là những người thụ động tiếp nhận kiến thức. Khi tham gia NCBH, các nhóm nghiên cứu tự nhận thấy những yêu cần giải quyết đối với mỗi bài học nhất định và cùng nhau thảo luận để tìm cách giải quyết các yêu cầu đó. Trong NCBH cũng có thể có sự tham gia của các chuyên gia bên ngoài nhưng họ chỉ đóng vai trò là người quan sát, tư vấn, rút kinh nghiệm cho nhóm và cung cấp thêm những kinh nghiệm của các nhóm nghiên cứu khác chứ không đóng vai trò chủ đạo như trong các phương pháp truyền thống khác.</div><div>Thứ hai, mối quan hệ giữa những người tham gia NCBH là bình đẳng khác với quan hệ thứ bậc, giữa người dạy với người học trong các lớp tập huấn. Trong các phương pháp bồi dưỡng giáo viên truyền thống, giáo viên khi đó đóng vai trò là người học và những chuyên gia đóng vai trò là thầy giáo, là người cung cấp kiến thức. Trong NCBH, những người tham gia có vai trò như nhau, cùng nhau hợp tác, cùng nghiên cứu,&nbsp; cùng thảo luận hướng tới một mục tiêu chung của sự phát triển. Những người tham gia NCBH đều trên tinh thần tự nguyện và có vai trò như nhau trong việc phát triển bài học đạt được những mục tiêu đề ra.</div><div>Thứ ba, trong các lớp tập huấn, giáo viên là người tiếp nhận kiến thức mới (ở vị thế bị động),&nbsp; còn trong nghiên cứu bài học giáo viên giữ vai trò chủ động, là một người cải cách, một nhà quan sát, tự đánh giá thực tiễn của mình. Với phương pháp truyền thống giáo viên được tiếp xúc với cái mới thông qua các chuyên gia, hoàn toàn theo kiểu thầy truyền thụ trò lắng nghe. Trong khi ở NCBH, giáo viên là người mang cái mới vào dạy học, là nhà quan sát thực tế có thể tự đánh giá khả năng của mình thông qua việc quan sát trực tiếp lớp học.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:12:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658003810</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658004027</link>
         <description><![CDATA[<div>Dự giờ GV: - Bài dạy minh hoạ được phân công cho một GV thiết kế; được chuẩn bị, thiết kế theo đúng mẫu quy định. - Nội dung bài học được thiết kế theo sát nội dung SGV, SGK, không linh hoạt xem có phù hợp với từng đối tượng HS không. - Thiếu sự sáng tạo trong việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học.<br>&nbsp;NCBD: - Bài dạy minh hoạ được các GV trong tổ thiết kế.không nhất thiết theo mẫu qui định -Nội dung bài học được thiết kế&nbsp; linh hoạt&nbsp; phù hợp với từng đối tượng HS - Không nhất thiết theo khuôn mẫu qui định - Phát huy sự sáng tạo trong việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:13:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658004027</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Nho Nghĩa-THCS Thanh Đa-Phúc Thọ-Hà Nội: Việc nghiên cứu bài học là cá nhân, nhóm chuyên môn cùng nghiên cứu và xây dựng cách thức, phương pháp tiến hành dạy một bài học cụ thể sao cho hiệu quả với đối tượng học sinh cụ thể. Còn bồi dưỡng, dự giờ là việc dự một giờ dạy để học tập những ưu điểm và rút kinh nghiệm những hạn chế mà giáo viên đã thể hiện tại tiết học đó.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658004148</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:13:22 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658004148</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Diệu Linh - THCS Phương Mai, Đống Đa - Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658004169</link>
         <description><![CDATA[<div>- Dự giờ chỉ là một bước nhỏ trong NCBH<br>- NCBH sẽ huy động được trí tuệ của tập thể<br>- NCBH sẽ giúp cho năng lực chuyên môn của tập thể được nâng cao<br>- NCBH giống với dự giờ là giúp GV rút kinh nghiệm.<br>- GV trong NCBH và trong tiết dự giờ có vị trsi khác nhau<br>- Trong khi NCBH GV sẽ đưa ra được nhiều ý, nhiều ý tưởng về bài dạy hơn so với tiết dự giờ<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:13:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658004169</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Điêu Thị Thu Trang - Trường PTDTBT TH&amp;THCS Phiêng Cằm - Sơn La</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658004263</link>
         <description><![CDATA[<div>Dự giờ GV: - Bài dạy minh hoạ được phân công cho một GV thiết kế; được chuẩn bị, thiết kế theo đúng mẫu quy định. - Nội dung bài học được thiết kế theo sát nội dung SGV, SGK, không linh hoạt xem có phù hợp với từng đối tượng HS không. - Thiếu sự sáng tạo trong việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học.<br>&nbsp;NCBD: - Bài dạy minh hoạ được các GV trong tổ thiết kế.không nhất thiết theo mẫu qui định -Nội dung bài học được thiết kế&nbsp; linh hoạt&nbsp; phù hợp với từng đối tượng HS - Không nhất thiết theo khuôn mẫu qui định - Phát huy sự sáng tạo trong việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:13:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658004263</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Linh Giang - THCS Yên Hoà - Cầu Giấy - Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658004269</link>
         <description><![CDATA[<div>Phân biệt NCBH với cách bồi dưỡng, dự giờ GV hiện nay<br>-Mục đích: Nghiên cứu bài học xuất phát từ chính nhu cầu giải quyết những vấn đề thực tiễn trong lớp học. Dự giờ GV xuất phát từ việc đánh giá năng lực của GV.<br>- Mối quan hệ giữa những người tham gia NCBH là quan hệ bình đẳng. Trong khi dự giờ thì là mối quan hệ đánh giá giữa lãnh đạo và GV, không bình đẳng.<br>- Vai trò: Trong NCBH, GV là người giữ vai trò chủ động, là người cải cách, một nhà quan sát, tự đánh giá thực tiễn của mình. Còn trong dự giờ GV là người được đánh giá, bị động hơn.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:13:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658004269</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Em mới vào dạy tháng 5 nên chưa có kinh nghiệm j ah. Nhưng e nghĩ dự giờ cũng sẽ góp phần lớn trong sinh hoạt chuyên môn, nếu thầy cô đánh giá kiến thức mà hs đạt đk trong tiết học chứ ko phải chỉ đánh giá gv. Sau đó góp ý chuyên môn cùng nhau. Cũng sẽ là sinh hoạt chuyên môn.  </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658004527</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:14:07 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658004527</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Sinh hoạt chuyên môn: diễn ra theo các bước, muc đích thảo luận giữa các GV trong tổ nhóm để xây dựng nôi dung và PP dạy bài cụ thể hoặc dự án cụ thể. sau đó giáo viên dạy minh hoạ cho tổ nhóm dự giờ để rút kinh nghiệm, áp dụng cho các khối lớp. -Dự giờ: Người dạy minh hoạ kế hoạch bài học của mình. người dự quan sát hoạt động của cô và trò. nhận xét về hiệu quả cũng như tương tác về các hoạt động GV đã xây dựng </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658004754</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:14:31 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658004754</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hoàng Thị Thùy Linh-THCS Vân Phúc</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658004877</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Sinh hoạt CM truyền thống</strong> <br><strong>1. Mục đích</strong><br>- Đánh giá xếp loại giờ dạy theo tiêu chí từ các văn bản chỉ đạo của cấp trên.<br>- Người dự tập trung quan sát các hoạt động của GV để rút kinh nghiệm.<br>- Thống nhất cách dạy các dạng bài để tất cả GV trong từng khối thực hiện.  <br><strong>Sinh hoạt CM theo NCBH<br>1. Mục đích</strong><br>- Không đánh giá xếp loại giờ dạy theo tiêu chí, quy định.<br>- Người dự giờ tập trung phân tích các hoạt động của HS để rút kinh nghiệm.<br>-Tự rút ra những kinh nghiệm để vận dụng vào thực tiễn dạy trên lớp<br><strong>2. Thiết kế bài dạy minh hoạ</strong><br>- Bài dạy minh hoạ được phân công cho một GV thiết kế; được chuẩn bị, thiết kế theo đúng mẫu quy định.<br>- Nội dung bài học được thiết kế theo sát nội dung SGV, SGK, không linh hoạt xem có phù hợp với từng đối tượng HS không.<br>- Thiếu sự sáng tạo trong việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học. <br><strong>Sinh hoạt CM theo NCBH<br>2. Thiết kế bài dạy minh hoạ</strong><br>- Bài dạy minh hoạ được các GV trong tổ thiết kế.không nhất thiết theo mẫu qui định<br>-Nội dung bài học được thiết kế&nbsp; linh hoạt&nbsp; phù hợp với từng đối tượng HS<br>- Không nhất thiết theo khuôn mẫu qui định<br>- Phát huy sự sáng tạo trong việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học<br> <br><strong><em>3. Gv dạy minh hoạ</em></strong><br>* Một người dạy minh hoạ đã chỉ định từ trước<br><strong><em>* Vị trí người dự giờ</em></strong><br>- Thường ngồi ở cuối lớp học quan sát người dạy như thế nào, ít chú ý đến những biểu hiện thái độ, tâm lí, hoạt động của HS. <strong>Sinh hoạt CM theo NCBH<br></strong><strong><em>3.Gv dạy minh hoạ</em></strong><br><strong><em>* </em></strong>Một người được chọn trong nhóm hoặc tổ hoặc tự gv đăng kí<br><strong><em>* Vị trí người dự giờ</em></strong><br>- Ngồi hoặc đứng ở vị trí thích hợp quan sát và chú ý đến những biểu hiện thái độ, tâm lí, hoạt động của&nbsp; học sinh.<br><strong>. Thảo luận giờ dạy minh hoạ</strong><br>- Các ý kiến nhận xét sau giờ học nhằm&nbsp; mục đích đánh giá, xếp loại GV.<br>- Không khí các buổi SHCM nặng nề, căng thẳng, quan hệ giữa các GV thiếu thân thiện.<br> - Có xếp loại tiết dạy.<br>&nbsp; <strong>Sinh hoạt CM theo NCBH<br></strong> <strong>4. Thảo luận giờ dạy minh hoạ</strong><br>- Người dạy chia sẻ mục tiêu bài học, những ý tưởng mới, những cảm nhận của mình qua tiết dạy minh họa.<br>-Không khí sinh hoạt thân thiện cởi mở.<br>&nbsp; theo tinh thần trao đổi, chia sẻ, tập trung vào phân tích các hoạt động của HS và tìm ra các nguyên nhân và giải pháp khắc phục.<br>- Không xếp loại tiết dạy.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:14:43 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658004877</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần quang Nghĩa - THCS Phụng Thượng</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658004942</link>
         <description><![CDATA[<div>NCBH là một mô hình bồi dưỡng, phát triển nghề nghiệp cho giáo viên, nhưng nó có sự khác biệt cơ bản với cách bồi dưỡng, dự giờ truyền thống ở chỗ:</div><div>Thứ nhất, thay cho việc cung cấp kiến thức được xác định từ các chuyên gia bên ngoài nhà trường, NCBH xuất phát từ chính nhu cầu giải quyết những vấn đề trong thực tiễn lớp học mà giáo viên đang phải đối mặt. Trong các lớp bồi dưỡng giáo viên truyền thống các chuyên gia bên ngoài là người cung cấp kiến thức, còn các giáo viên là những người thụ động tiếp nhận kiến thức. Khi tham gia NCBH, các nhóm nghiên cứu tự nhận thấy những yêu cần giải quyết đối với mỗi bài học nhất định và cùng nhau thảo luận để tìm cách giải quyết các yêu cầu đó. Trong NCBH cũng có thể có sự tham gia của các chuyên gia bên ngoài nhưng họ chỉ đóng vai trò là người quan sát, tư vấn, rút kinh nghiệm cho nhóm và cung cấp thêm những kinh nghiệm của các nhóm nghiên cứu khác chứ không đóng vai trò chủ đạo như trong các phương pháp truyền thống khác.</div><div>Thứ hai, mối quan hệ giữa những người tham gia NCBH là bình đẳng khác với quan hệ thứ bậc, giữa người dạy với người học trong các lớp tập huấn. Trong các phương pháp bồi dưỡng giáo viên truyền thống, giáo viên khi đó đóng vai trò là người học và những chuyên gia đóng vai trò là thầy giáo, là người cung cấp kiến thức. Trong NCBH, những người tham gia có vai trò như nhau, cùng nhau hợp tác, cùng nghiên cứu, cùng thảo luận hướng tới một mục tiêu chung của sự phát triển. Những người tham gia NCBH đều trên tinh thần tự nguyện và có vai trò như nhau trong việc phát triển bài học đạt được những mục tiêu đề ra.</div><div>Thứ ba, trong các lớp tập huấn, giáo viên là người tiếp nhận kiến thức mới (ở vị thế bị động), còn trong nghiên cứu bài học giáo viên giữ vai trò chủ động, là một người cải cách, một nhà quan sát, tự đánh giá thực tiễn của mình. Với phương pháp truyền thống giáo viên được tiếp xúc với cái mới thông qua các chuyên gia, hoàn toàn theo kiểu thầy truyền thụ trò lắng nghe. Trong khi ở NCBH, giáo viên là người mang cái mới vào dạy học, là nhà quan sát thực tế có thể tự đánh giá khả năng của mình thông qua việc quan sát trực tiếp lớp học.</div><div>Với các phương pháp dạy học truyền thống phẩm chất và năng lực của giáo viên luôn luôn là một vấn đề để đánh giá trong những buổi dự giờ, giáo viên luôn mang nặng tâm lí về xếp hạng và chủ yếu chú trọng tới bài giảng, giáo án của mình mà ít quan tâm xem học sinh học như thế nào. Hơn nữa, nếu có quan tâm đến học sinh thì đó là những học sinh nổi bật trong các lớp học. Trong khi đó đối với NCBH, thì sự quan sát hướng đến tất cả học sinh trong lớp không riêng gì các học sinh nổi bật, thậm chí là chú ý hơn tới những học sinh cá biệt trong lớp để xem cách học sinh học, cách học sinh tư duy, chứ phẩm chất hay năng lực của giáo viên không phải là vấn đề được đánh giá. Trong các phương pháp dự giờ truyền thống yếu tố phẩm chất nghề nghiệp của giáo viên luôn là một vấn đề được xem xét đánh giá cho nên có một số hạn chế trong việc nhận xét, góp ý của các giáo viên khác, nhất là đối với các giáo viên trẻ thì vấn đề nhận xét, đánh giá các giáo viên nhiều kinh nghiệm là điều cực kì khó khăn; còn với NCBH các giáo viên góp ý với tinh thần cùng giúp nhau hoàn thiện hơn chứ không phải để đánh giá giáo viên, do vậy sự góp ý là chân thành và mọi thành viên có thể tự do nói nên ý kiến của mình mà không sợ làm giảm tình đoàn kết giữa các đồng nghiệp. Dự giờ bài học: theo phương pháp dự giờ truyền thống các giáo viên dự giờ chỉ chú ý đến giáo viên dạy và họ thích ngồi ở đằng sau và ít chú ý tới học sinh. Theo mô hình NCBH trọng tâm quan sát giờ học là bài học và quá trình</div><div>học của học sinh, giáo viên dự giờ quan sát từ phía trước để có thể thấy nét mặt của học sinh.</div><div>Suy ngẫm về bài học: theo phương pháp dự giờ truyền thống có nhiều giáo viên có thái độ phê phán giáo viên dạy (như thường nhận xét: cô, thầy không thể làm việc này hay việc kia, phải làm như thế này, không được làm như thế kia… ) hay ca ngợi rõ ràng nhưng không chi tiết. Theo mô hình NCBH các giáo viên hợp tác cùng nhau xây dựng kế hoạch bài học và nó là sản phẩm của cả nhóm, tất cả các thành viên đều phải chịu trách nhiệm về bài học cho dù nó thành công hay thất bại chứ không phải chỉ riêng giáo viên đứng lớp, và do đó sẽ không có thái độ phê phán cách dạy của giáo viên, vì cách dạy đó đã được cả nhóm thống nhất trong kế hoạch của bài học, nếu cách dạy đó chưa phù hợp, đó là khuyết điểm của cả nhóm và việc họ cần làm là cùng nhau kh</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:14:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658004942</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658005156</link>
         <description><![CDATA[<div>Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học là hoạt động GV cùng nhau học tập từ thực tế việc học của HS. Ở đó GV cùng nhau thiết kế kế hoạch học, cùng dự giờ, quan sát, suy ngẫm và chia sẻ (tập trung chủ yếu vào việc học của HS). Đồng thời đưa ra những nhận xét về sự tác động của lời giảng, các câu hỏi, các nhiệm vụ học tập mà GV đưa ra,…có ảnh hưởng đến việc học của HS. Trên cơ sở đó, GV được chia sẻ, học tập lẫn nhau, rút kinh nghiệm và điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy học vào bài học hằng ngày một các có hiệu quả.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:15:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658005156</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Cao Phương Ngọc - THCS Võng Xuyên B, Phúc Thọ. Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658005375</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>SỰ KHÁC NHAU GIỮA SINH HOẠT CHUYÊN MÔN TRUYỀN THỐNG (</strong><strong><em>dự giờ) </em></strong><strong>VỚI SINH HOẠT CHUYÊN MÔN THEO NGHIÊN CỨU BÀI HỌC<br></strong>&nbsp;<strong>Sinh hoạt CM truyền thống (</strong><strong><em>dự giờ)</em></strong><br> <strong>1. Mục đích</strong><br> - Đánh giá xếp loại giờ dạy theo tiêu chí từ các văn bản chỉ đạo của cấp trên.<br> - Người dự tập trung quan sát các hoạt động của GV để rút kinh nghiệm.<br> - Thống nhất cách dạy các dạng bài để tất cả GV trong từng khối thực hiện.<br>  <strong>2. Thiết kế bài dạy minh hoạ</strong><br> - Bài dạy minh hoạ được phân công cho một GV thiết kế; được chuẩn bị, thiết kế theo đúng mẫu quy định.<br> - Nội dung bài học được thiết kế theo sát nội dung SGV, SGK, không linh hoạt xem có phù hợp với từng đối tượng HS không.<br> - Thiếu sự sáng tạo trong việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học.<br> <strong><em>3. Gv dạy minh hoạ</em></strong><br> * Một người dạy minh hoạ đã chỉ định từ trước<br> <strong><em>* Vị trí người dự giờ</em></strong><br> - Thường ngồi ở cuối lớp học quan sát người dạy như thế nào, ít chú ý đến những biểu hiện thái độ, tâm lí, hoạt động của HS.<br> 4<strong>. Thảo luận giờ dạy minh hoạ</strong><br> - Các ý kiến nhận xét sau giờ học nhằm&nbsp; mục đích đánh giá, xếp loại GV.<br> - Không khí các buổi SHCM nặng nề, căng thẳng, quan hệ giữa các GV thiếu thân thiện.<br> - Có xếp loại tiết dạy.<br>&nbsp; <strong>Sinh hoạt CM theo NCBH</strong><br> <strong>1. Mục đích</strong><br> - Không đánh giá xếp loại giờ dạy theo tiêu chí, quy định.<br> - Người dự giờ tập trung phân tích các hoạt động của HS để rút kinh nghiệm.<br> -Tự rút ra những kinh nghiệm để vận dụng vào thực tiễn dạy trên lớp<br>  <strong>2. Thiết kế bài dạy minh hoạ</strong><br> - Bài dạy minh hoạ được các GV trong tổ thiết kế.không nhất thiết theo mẫu qui định<br> -Nội dung bài học được thiết kế&nbsp; linh hoạt&nbsp; phù hợp với từng đối tượng HS<br> - Không nhất thiết theo khuôn mẫu qui định<br> - Phát huy sự sáng tạo trong việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học<br> | <strong><em>3.Gv dạy minh hoạ</em></strong><br> <strong><em>* </em></strong>Một người được chọn trong nhóm hoặc tổ hoặc tự gv đăng kí<br>&nbsp;<strong><em>* Vị trí người dự giờ</em></strong><br> - Ngồi hoặc đứng ở vị trí thích hợp quan sát và chú ý đến những biểu hiện thái độ, tâm lí, hoạt động của&nbsp; học sinh.<br> <strong>4. Thảo luận giờ dạy minh hoạ</strong><br> - Người dạy chia sẻ mục tiêu bài học, những ý tưởng mới, những cảm nhận của mình qua tiết dạy minh họa.<br> -Không khí sinh hoạt thân thiện cởi mở.<br>&nbsp; &nbsp;theo tinh thần trao đổi, chia sẻ, tập trung vào phân tích các hoạt động của HS và tìm ra các nguyên nhân và giải pháp khắc phục.<br> - Không xếp loại tiết dạy.</div><div>&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:15:33 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658005375</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Thanh Loan THCS Kinh Bắc TP Bắc Ninh </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658005422</link>
         <description><![CDATA[<div>Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học là hoạt động GV cùng nhau học tập từ thực tế việc học của HS. Ở đó GV cùng nhau thiết kế kế hoạch học, cùng dự giờ, quan sát, suy ngẫm và chia sẻ (tập trung chủ yếu vào việc học của HS). Đồng thời đưa ra những nhận xét về sự tác động của lời giảng, các câu hỏi, các nhiệm vụ học tập mà GV đưa ra,…có ảnh hưởng đến việc học của HS. Trên cơ sở đó, GV được chia sẻ, học tập lẫn nhau, rút kinh nghiệm và điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy học vào bài học hằng ngày một các có hiệu quả.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:15:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658005422</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tạ Thị Thúy -THCS Tam Hiệp</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658005443</link>
         <description><![CDATA[<div>NCBH là một mô hình bồi dưỡng, phát triển nghề nghiệp cho giáo viên, nhưng nó có sự khác biệt cơ bản với cách bồi dưỡng, dự giờ truyền thống ở chỗ:</div><div>Thứ nhất, thay cho việc cung cấp kiến thức được xác định từ các chuyên gia bên ngoài nhà trường, NCBH xuất phát từ chính nhu cầu giải quyết những vấn đề trong thực tiễn lớp học mà giáo viên đang phải đối mặt. Trong các lớp bồi dưỡng giáo viên truyền thống các chuyên gia bên ngoài là người cung cấp kiến thức, còn các giáo viên là những người thụ động tiếp nhận kiến thức. Khi tham gia NCBH, các nhóm nghiên cứu tự nhận thấy những yêu cần giải quyết đối với mỗi bài học nhất định và cùng nhau thảo luận để tìm cách giải quyết các yêu cầu đó. Trong NCBH cũng có thể có sự tham gia của các chuyên gia bên ngoài nhưng họ chỉ đóng vai trò là người quan sát, tư vấn, rút kinh nghiệm cho nhóm và cung cấp thêm những kinh nghiệm của các nhóm nghiên cứu khác chứ không đóng vai trò chủ đạo như trong các phương pháp truyền thống khác.</div><div>Thứ hai, mối quan hệ giữa những người tham gia NCBH là bình đẳng khác với quan hệ thứ bậc, giữa người dạy với người học trong các lớp tập huấn. Trong các phương pháp bồi dưỡng giáo viên truyền thống, giáo viên khi đó đóng vai trò là người học và những chuyên gia đóng vai trò là thầy giáo, là người cung cấp kiến thức. Trong NCBH, những người tham gia có vai trò như nhau, cùng nhau hợp tác, cùng nghiên cứu, cùng thảo luận hướng tới một mục tiêu chung của sự phát triển. Những người tham gia NCBH đều trên tinh thần tự nguyện và có vai trò như nhau trong việc phát triển bài học đạt được những mục tiêu đề ra.</div><div>Thứ ba, trong các lớp tập huấn, giáo viên là người tiếp nhận kiến thức mới (ở vị thế bị động), còn trong nghiên cứu bài học giáo viên giữ vai trò chủ động, là một người cải cách, một nhà quan sát, tự đánh giá thực tiễn của mình. Với phương pháp truyền thống giáo viên được tiếp xúc với cái mới thông qua các chuyên gia, hoàn toàn theo kiểu thầy truyền thụ trò lắng nghe. Trong khi ở NCBH, giáo viên là người mang cái mới vào dạy học, là nhà quan sát thực tế có thể tự đánh giá khả năng của mình thông qua việc quan sát trực tiếp lớp học.</div><div>Với các phương pháp dạy học truyền thống phẩm chất và năng lực của giáo viên luôn luôn là một vấn đề để đánh giá trong những buổi dự giờ, giáo viên luôn mang nặng tâm lí về xếp hạng và chủ yếu chú trọng tới bài giảng, giáo án của mình mà ít quan tâm xem học sinh học như thế nào. Hơn nữa, nếu có quan tâm đến học sinh thì đó là những học sinh nổi bật trong các lớp học. Trong khi đó đối với NCBH, thì sự quan sát hướng đến tất cả học sinh trong lớp không riêng gì các học sinh nổi bật, thậm chí là chú ý hơn tới những học sinh cá biệt trong lớp để xem cách học sinh học, cách học sinh tư duy, chứ phẩm chất hay năng lực của giáo viên không phải là vấn đề được đánh giá. Trong các phương pháp dự giờ truyền thống yếu tố phẩm chất nghề nghiệp của giáo viên luôn là một vấn đề được xem xét đánh giá cho nên có một số hạn chế trong việc nhận xét, góp ý của các giáo viên khác, nhất là đối với các giáo viên trẻ thì vấn đề nhận xét, đánh giá các giáo viên nhiều kinh nghiệm là điều cực kì khó khăn; còn với NCBH các giáo viên góp ý với tinh thần cùng giúp nhau hoàn thiện hơn chứ không phải để đánh giá giáo viên, do vậy sự góp ý là chân thành và mọi thành viên có thể tự do nói nên ý kiến của mình mà không sợ làm giảm tình đoàn kết giữa các đồng nghiệp. Dự giờ bài học: theo phương pháp dự giờ truyền thống các giáo viên dự giờ chỉ chú ý đến giáo viên dạy và họ thích ngồi ở đằng sau và ít chú ý tới học sinh. Theo mô hình NCBH trọng tâm quan sát giờ học là bài học và quá trình</div><div>học của học sinh, giáo viên dự giờ quan sát từ phía trước để có thể thấy nét mặt của học sinh.</div><div>Suy ngẫm về bài học: theo phương pháp dự giờ truyền thống có nhiều giáo viên có thái độ phê phán giáo viên dạy (như thường nhận xét: cô, thầy không thể làm việc này hay việc kia, phải làm như thế này, không được làm như thế kia… ) hay ca ngợi rõ ràng nhưng không chi tiết. Theo mô hình NCBH các giáo viên hợp tác cùng nhau xây dựng kế hoạch bài học và nó là sản phẩm của cả nhóm, tất cả các thành viên đều phải chịu trách nhiệm về bài học cho dù nó thành công hay thất bại chứ không phải chỉ riêng giáo viên đứng lớp, và do đó sẽ không có thái độ phê phán cách dạy của giáo viên, vì cách dạy đó đã được cả nhóm thống nhất trong kế hoạch của bài học, nếu cách dạy đó chưa phù hợp, đó là khuyết điểm của cả nhóm và việc họ cần làm là cùng nhau kh</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:15:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658005443</guid>
      </item>
      <item>
         <title>-NCBH: Chú trọng vào bàn kế hoạch dạy học cho một dạng bài học, chủ đề học mà không xếp laoij tiết dạy của giáo viên.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658005693</link>
         <description><![CDATA[<div>-Dự giờ thì đánh giá giáo viên, xếp loại giờ dạy của giáo viên.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:16:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658005693</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658006105</link>
         <description><![CDATA[<div>Ncbh người dự  tập chung phân tích các hoạt động của học sinh để giúp kinh nghiệm. Còn dự giờ truyền thống người dự tập trung phân tích hoạt động của giáo viên để rút kinh nghiệm </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:16:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658006105</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hoàng minh chính</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658006230</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2103384294/87592e1fde2101f1dea8ed814e0aba82/Nghi_n_c_u_b_i_h_c.docx" />
         <pubDate>2023-08-08 13:17:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658006230</guid>
      </item>
      <item>
         <title>SHCM: giáo viên trong tổ dự 1 tiết dạy của GV trong tổ sau đó nhận xét cách mà học sinh tiếp thu kiến thức, nhận thức được kết quả như nào sau đó nghiên cứu để đưa ra giải pháp phù hợp.Dự giờ: GV dạy trên lớp 1 tiết để nhận xét cách truyền đạt kiến thức cho học sinh từ phong thái, tác phong đến kiến thức chuyên môn của GV dạy.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658006522</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:17:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658006522</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658006585</link>
         <description><![CDATA[<div>Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học là hoạt động GV cùng nhau học tập từ thực tế việc học của HS. Ở đó GV cùng nhau thiết kế kế hoạch học, cùng dự giờ, quan sát, suy ngẫm và chia sẻ (tập trung chủ yếu vào việc học của HS). Đồng thời đưa ra những nhận xét về sự tác động của lời giảng, các câu hỏi, các nhiệm vụ học tập mà GV đưa ra,…có ảnh hưởng đến việc học của HS. Trên cơ sở đó, GV được chia sẻ, học tập lẫn nhau, rút kinh nghiệm và điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy học vào bài học hằng ngày một các có hiệu quả.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:17:40 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658006585</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Vân Anh, THCS Đồng Phú, Chương Mỹ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658007174</link>
         <description><![CDATA[<div>Dự giờ: tham gia tiết dạy của một giáo viên. Giáo viên dạy là người thiết kế bài học, được người dự giờ đánh giá, cho điểm<br>SHCM: Giáo viên trong tổ chuyên môn cùng tham gia và cùng đưa ra ý kiến, rút kinh nghiệm, không cho điểm.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:18:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658007174</guid>
      </item>
      <item>
         <title>NCBH  xuất phát từ chính nhu cầu giải quyết những vấn đề thực tiễn trong lớp học.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658007566</link>
         <description><![CDATA[<div>Trong bài NCKH GV là người giữ vai trò chủ động, là người cải cách, quan sát, đánh giá thực tiễn của mình </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:19:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658007566</guid>
      </item>
      <item>
         <title>So sánh giữa SHCM dựa trên NCBH với dự giờ: </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658008083</link>
         <description><![CDATA[<div>Điểm giống: Cả NCBH và dự giờ đều được GV thực hiện dựa trên 1 nội dung bài học.<br>- Điểm khác:&nbsp;<br>&nbsp;+ Nội dung SHCM là do 1 nhóm GV cùng trao đổi, thống nhất nội dung, phương pháp dạy. Còn dự giờ thì nội dung và phương pháp dạy là do 1 GV thực hiện.<br>+ SHCM tập trung vào việc học của HS, còn dự giờ thì tập trung vào việc dạy của GV.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:20:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658008083</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658008630</link>
         <description><![CDATA[<div>Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học là hoạt động GV cùng nhau học tập từ thực tế việc học của HS. Ở đó GV cùng nhau thiết kế kế hoạch học, cùng dự giờ, quan sát, suy ngẫm và chia sẻ (tập trung chủ yếu vào việc học của HS). Đồng thời đưa ra những nhận xét về sự tác động của lời giảng, các câu hỏi, các nhiệm vụ học tập mà GV đưa ra,…có ảnh hưởng đến việc học của HS. Trên cơ sở đó, GV được chia sẻ, học tập lẫn nhau, rút kinh nghiệm và điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy học vào bài học hằng ngày một các có hiệu quả.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:21:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658008630</guid>
      </item>
      <item>
         <title>NCBH là mang tính bàn bạc thảo luận đi tới thống nhất còn dự là tập chung vào việc dạy của giáo viên từ góp ý kiến, rút kinh nghiệm cho giáo viên về kiến thức và phương thức giảng dạy</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658009115</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:21:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658009115</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đinh Thu Hà</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658009355</link>
         <description><![CDATA[<div>Dự giờ GV - Đánh giá xếp loại giờ dạy theo tiêu chí từ các văn bản chỉ đạo của cấp trên. - Người dự tập trung quan sát các hoạt động của GV để rút kinh nghiệm. - Thống nhất cách dạy các dạng bài để tất cả GV trong từng khối thực hiện.<br>NCBH - Không đánh giá xếp loại giờ dạy theo tiêu chí, quy định. - Người dự giờ tập trung phân tích các hoạt động của HS để rút kinh nghiệm. -Tự rút ra những kinh nghiệm để vận dụng vào thực tiễn dạy trên lớp</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:22:22 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658009355</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Thuỳ Linh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658009698</link>
         <description><![CDATA[<div>So sánh giữa SHCM dựa trên NCBH với dự giờ:</div><div>Điểm giống: Cả NCBH và dự giờ đều được GV thực hiện dựa trên 1 nội dung bài học.<br>- Điểm khác:&nbsp;<br>&nbsp;+ Nội dung SHCM là do 1 nhóm GV cùng trao đổi, thống nhất nội dung, phương pháp dạy. Còn dự giờ thì nội dung và phương pháp dạy là do 1 GV thực hiện.<br>+ SHCM tập trung vào việc học của HS, còn dự giờ thì tập trung vào việc dạy của GV.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:23:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658009698</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nghiên cứu bài học phạm vi rộng mang tính chất bàn bạc thảo luận thống nhất đi đến một cái chung, còn dự giờ chỉ chú ý đến cách của thầy cô giáo, còn khi đánh giá chỉ góp ý kiến , rút kinh nghiệm về nội dung kiến thức, phương pháp giảng dạy</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658010067</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:23:47 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658010067</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Xuyến - THCS Phú Đô - Nam Từ Liêm - Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658010081</link>
         <description><![CDATA[<div>NCBH là một mô hình bồi dưỡng, phát triển nghề nghiệp cho giáo viên, nhưng nó có sự khác biệt cơ bản với cách bồi dưỡng, dự giờ truyền thống ở chỗ:</div><div>Thứ nhất, thay cho việc cung cấp kiến thức được xác định từ các chuyên gia bên ngoài nhà trường, NCBH xuất phát từ chính nhu cầu giải quyết những vấn đề trong thực tiễn lớp học mà giáo viên đang phải đối mặt. Trong các lớp bồi dưỡng giáo viên truyền thống các chuyên gia bên ngoài là người cung cấp kiến thức, còn các giáo viên là những người thụ động tiếp nhận kiến thức. Khi tham gia NCBH, các nhóm nghiên cứu tự nhận thấy những yêu cần giải quyết đối với mỗi bài học nhất định và cùng nhau thảo luận để tìm cách giải quyết các yêu cầu đó. Trong NCBH cũng có thể có sự tham gia của các chuyên gia bên ngoài nhưng họ chỉ đóng vai trò là người quan sát, tư vấn, rút kinh nghiệm cho nhóm và cung cấp thêm những kinh nghiệm của các nhóm nghiên cứu khác chứ không đóng vai trò chủ đạo như trong các phương pháp truyền thống khác.</div><div>Thứ hai, mối quan hệ giữa những người tham gia NCBH là bình đẳng khác với quan hệ thứ bậc, giữa người dạy với người học trong các lớp tập huấn. Trong các phương pháp bồi dưỡng giáo viên truyền thống, giáo viên khi đó đóng vai trò là người học và những chuyên gia đóng vai trò là thầy giáo, là người cung cấp kiến thức. Trong NCBH, những người tham gia có vai trò như nhau, cùng nhau hợp tác, cùng nghiên cứu, cùng thảo luận hướng tới một mục tiêu chung của sự phát triển. Những người tham gia NCBH đều trên tinh thần tự nguyện và có vai trò như nhau trong việc phát triển bài học đạt được những mục tiêu đề ra.</div><div>Thứ ba, trong các lớp tập huấn, giáo viên là người tiếp nhận kiến thức mới (ở vị thế bị động), còn trong nghiên cứu bài học giáo viên giữ vai trò chủ động, là một người cải cách, một nhà quan sát, tự đánh giá thực tiễn của mình. Với phương pháp truyền thống giáo viên được tiếp xúc với cái mới thông qua các chuyên gia, hoàn toàn theo kiểu thầy truyền thụ trò lắng nghe. Trong khi ở NCBH, giáo viên là người mang cái mới vào dạy học, là nhà quan sát thực tế có thể tự đánh giá khả năng của mình thông qua việc quan sát trực tiếp lớp học.</div><div>Với các phương pháp dạy học truyền thống phẩm chất và năng lực của giáo viên luôn luôn là một vấn đề để đánh giá trong những buổi dự giờ, giáo viên luôn mang nặng tâm lí về xếp hạng và chủ yếu chú trọng tới bài giảng, giáo án của mình mà ít quan tâm xem học sinh học như thế nào. Hơn nữa, nếu có quan tâm đến học sinh thì đó là những học sinh nổi bật trong các lớp học. Trong khi đó đối với NCBH, thì sự quan sát hướng đến tất cả học sinh trong lớp không riêng gì các học sinh nổi bật, thậm chí là chú ý hơn tới những học sinh cá biệt trong lớp để xem cách học sinh học, cách học sinh tư duy, chứ phẩm chất hay năng lực của giáo viên không phải là vấn đề được đánh giá. Trong các phương pháp dự giờ truyền thống yếu tố phẩm chất nghề nghiệp của giáo viên luôn là một vấn đề được xem xét đánh giá cho nên có một số hạn chế trong việc nhận xét, góp ý của các giáo viên khác, nhất là đối với các giáo viên trẻ thì vấn đề nhận xét, đánh giá các giáo viên nhiều kinh nghiệm là điều cực kì khó khăn; còn với NCBH các giáo viên góp ý với tinh thần cùng giúp nhau hoàn thiện hơn chứ không phải để đánh giá giáo viên, do vậy sự góp ý là chân thành và mọi thành viên có thể tự do nói nên ý kiến của mình mà không sợ làm giảm tình đoàn kết giữa các đồng nghiệp. Dự giờ bài học: theo phương pháp dự giờ truyền thống các giáo viên dự giờ chỉ chú ý đến giáo viên dạy và họ thích ngồi ở đằng sau và ít chú ý tới học sinh. Theo mô hình NCBH trọng tâm quan sát giờ học là bài học và quá trình</div><div>học của học sinh, giáo viên dự giờ quan sát từ phía trước để có thể thấy nét mặt của học sinh.</div><div>Suy ngẫm về bài học: theo phương pháp dự giờ truyền thống có nhiều giáo viên có thái độ phê phán giáo viên dạy (như thường nhận xét: cô, thầy không thể làm việc này hay việc kia, phải làm như thế này, không được làm như thế kia… ) hay ca ngợi rõ ràng nhưng không chi tiết. Theo mô hình NCBH các giáo viên hợp tác cùng nhau xây dựng kế hoạch bài học và nó là sản phẩm của cả nhóm, tất cả các thành viên đều phải chịu trách nhiệm về bài học cho dù nó thành công hay thất bại chứ không phải chỉ riêng giáo viên đứng lớp, và do đó sẽ không có thái độ phê phán cách dạy của giáo viên, vì cách dạy đó đã được cả nhóm thống nhất trong kế hoạch của bài học, nếu cách dạy đó chưa phù hợp, đó là khuyết điểm của cả nhóm và việc họ cần làm là cùng nhau</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:23:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658010081</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Vân - THCS Phương Liệt</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658014949</link>
         <description><![CDATA[<div>, NCBH xuất phát từ chính nhu cầu giải quyết những vấn đề trong thực tiễn lớp học mà giáo viên đang phải đối mặt. Trong các lớp bồi dưỡng giáo viên truyền thống các chuyên gia bên ngoài là người cung cấp kiến thức, còn các giáo viên là những người thụ động tiếp nhận kiến thức. Khi tham gia NCBH, các nhóm nghiên cứu tự nhận thấy những yêu cần giải quyết đối với mỗi bài học nhất định và cùng nhau thảo luận để tìm cách giải quyết các yêu cầu đó. Trong NCBH cũng có thể có sự tham gia của các chuyên gia bên ngoài nhưng họ chỉ đóng vai trò là người quan sát, tư vấn, rút kinh nghiệm cho nhóm và cung cấp thêm những kinh nghiệm của các nhóm nghiên cứu khác chứ không đóng vai trò chủ đạo như trong các phương pháp truyền thống khác.<br>Thứ hai, mối quan hệ giữa những người tham gia NCBH là bình đẳng khác với quan hệ thứ bậc, giữ</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:32:04 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658014949</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Hoàng Giang- THCS Phụng Thượng, Phúc Thọ, Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658015435</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>SỰ KHÁC NHAU GIỮA SINH HOẠT CHUYÊN MÔN TRUYỀN THỐNG VỚI SINH HOẠT CHUYÊN MÔN THEO NGHIÊN CỨU BÀI HỌC<br>Sinh hoạt CM truyền thống</strong> <br><strong>1. Mục đích</strong><br> - Đánh giá xếp loại giờ dạy theo tiêu chí từ các văn bản chỉ đạo của cấp trên.<br> - Người dự tập trung quan sát các hoạt động của GV để rút kinh nghiệm.<br> - Thống nhất cách dạy các dạng bài để tất cả GV trong từng khối thực hiện. <br><strong>2. Thiết kế bài dạy minh hoạ</strong><br> - Bài dạy minh hoạ được phân công cho một GV thiết kế; được chuẩn bị, thiết kế theo đúng mẫu quy định.<br> - Nội dung bài học được thiết kế theo sát nội dung SGV, SGK, không linh hoạt xem có phù hợp với từng đối tượng HS không.<br> - Thiếu sự sáng tạo trong việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học. <br><strong><em>3. Gv dạy minh hoạ</em></strong><br> * Một người dạy minh hoạ đã chỉ định từ trước<br> <strong><em>* Vị trí người dự giờ</em></strong><br> - Thường ngồi ở cuối lớp học quan sát người dạy như thế nào, ít chú ý đến những biểu hiện thái độ, tâm lí, hoạt động của HS. <br><strong>4 Thảo luận giờ dạy minh hoạ</strong><br> - Các ý kiến nhận xét sau giờ học nhằm&nbsp; mục đích đánh giá, xếp loại GV.<br> - Không khí các buổi SHCM nặng nề, căng thẳng, quan hệ giữa các GV thiếu thân thiện.<br>- Không xếp loại giờ dạy<br> <br><strong>Sinh hoạt CM theo NCBH</strong> <br><strong>1. Mục đích</strong><br> - Không đánh giá xếp loại giờ dạy theo tiêu chí, quy định.<br> - Người dự giờ tập trung phân tích các hoạt động của HS để rút kinh nghiệm.<br> -Tự rút ra những kinh nghiệm để vận dụng vào thực tiễn dạy trên lớp <br><strong>2. Thiết kế bài dạy minh hoạ</strong><br> - Bài dạy minh hoạ được các GV trong tổ thiết kế.không nhất thiết theo mẫu qui định<br> -Nội dung bài học được thiết kế&nbsp; linh hoạt&nbsp; phù hợp với từng đối tượng HS<br> - Không nhất thiết theo khuôn mẫu qui định<br> - Phát huy sự sáng tạo trong việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học <br><strong><em>3.Gv dạy minh hoạ</em></strong><br> <strong><em>* </em></strong>Một người được chọn trong nhóm hoặc tổ hoặc tự gv đăng kí<br>&nbsp;<strong><em>* Vị trí người dự giờ</em></strong><br> - Ngồi hoặc đứng ở vị trí thích hợp quan sát và chú ý đến những biểu hiện thái độ, tâm lí, hoạt động của&nbsp; học sinh. <br><strong>4. Thảo luận giờ dạy minh hoạ</strong><br> - Người dạy chia sẻ mục tiêu bài học, những ý tưởng mới, những cảm nhận của mình qua tiết dạy minh họa.<br> -Không khí sinh hoạt thân thiện cởi mở.<br>&nbsp; &nbsp;theo tinh thần trao đổi, chia sẻ, tập trung vào phân tích các hoạt động của HS và tìm ra các nguyên nhân và giải pháp khắc phục.<br> - Không xếp loại tiết dạy. <strong><br></strong><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:32:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658015435</guid>
      </item>
      <item>
         <title>1) Hoàng Tuấn Linh - THCS Phú Đô - Nam Từ Liêm - Hà Nội; 2) Trần Quang Nghĩa 10/1/1982 - Trường THCS Phụng Thượng; 3) Phùng Thị Thu 02/02/1996 - THCS Mễ Trì; 4) Là Văn Máy - 06/08/1986 - THCS Chiềng Lao, Mường La, Sơn La; 5) Hoàng Thị Minh - 06/01/1992 - PTDTBT TH&amp;THCS Phiêng Cằm; 6) Lê Thị Tuyết Hằng - 17/02/1993 - THCS Mễ Trì; 7) Trần Nho Nghĩa - 19/12/1975 - THCS Thanh Đa, Phúc Thọ, Hà Nội.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658016479</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>1. Quan điểm và mục đích đổi mới sinh hoạt chuyên môn.<br></strong><br></div><div><strong>a) Quan điểm:<br></strong><br></div><div>Hoạt động sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học là nơi GV tập trung phân tích các vấn đề liên quan đến người học (học sinh); Không tập trung vào việc đánh giá giờ dạy, xếp loại GV mà nhằm khuyến khích GV tìm ra nguyên nhân tại sao HS chưa đạt kết quả như mong muốn và tìm ra biện pháp hiệu quả để nâng cao chất lượng dạy học, tạo cơ hội cho HS được tham gia vào quá trình học tập; giúp GV có khả năng chủ động điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy sao cho phù hợp với từng đối tượng HS.<br><br></div><div>Như vậy có thể nói đổi mới sinh hoạt chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học. Thực tế là việc dự giờ và đánh giá tiết dạy của GV thông qua quan sát HS.<br><br></div><div><strong>b) Mục đích:<br></strong><br></div><div>- Làm thay đổi hình thức sinh hoạt chuyên môn theo kiểu truyền thống.<br><br></div><div>- Nâng cao tay nghề GV và khả năng sáng tạo qua các lần sinh hoạt chuyên môn ở trường hoặc ở cụm.<br><br></div><div>- Tạo cơ hội cho học sinh tham gia vào quá trình học tập qua các hoạt động, GV quan tâm đến khả năng học tập của từng học sinh.<br><br></div><div>- Nâng cao chất lượng dạy - học và văn hóa ứng xử trong nhà trường.<br><br></div><div><strong>2. Các bước tiến hành sinh hoạt chuyên môn dựa trên NCBH<br></strong><br></div><div><strong>*Bước 1. Xác định mục tiêu, xây dựng kế hoạch bài học nghiên cứu<br></strong><br></div><div><strong>&nbsp;a) Xác định mục tiêu:<br></strong><br></div><div>&nbsp;Cần xác định mục tiêu kiến thức và kỹ năng mà học sinh cần đạt được (theo chuẩn kiến thức, kỹ năng ở từng môn học, đặc biệt cần chú ý xây dựng mục tiêu về phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh), đảm bảo phù hợp với trình độ và lứa tuổi của HS khi chọn bài học nghiên cứu.<br><br></div><div><strong>b) Xây dựng kế hoạch bài học nghiên cứu (Thiết kế bài dạy minh họa):&nbsp;<br></strong><br></div><div>- Bài dạy minh họa không phải do một giáo viên thiết kế mà do giáo viên trong tổ cùng thiết kế, thảo luận, thống nhất lựa chọn phương án tối ưu nhất.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - Việc thiết kế bài soạn không nhất thiết phụ thuộc máy móc vào quy trình bước dạy theo SGK hoặc SGV mà dựa vào mục tiêu bài học đã đề ra để thiết kế cho phù hợp.<br><br></div><div>- GV trong tổ thảo luận nội dung bài học, các phương pháp, phương tiện dạy học đạt hiệu quả cao, cách tổ chức dạy học, cách rèn kỹ năng, hướng dẫn học sinh cách vận dụng kiến thức đã học để giải quyết tình huống thực tiễn...&nbsp;<br><br></div><div>- Dự kiến những thuận lợi, khó khăn của HS khi học tập và các tình huống xảy ra cùng với cách xử lý tình huống (nếu có) …<br><br></div><div>Sau khi kết thúc cuộc thảo luận, GV thực hiện dạy minh họa sẽ nghiên cứu, phát triển … các ý kiến góp ý của tổ CM. GV thực hiện hoàn thiện kế hoạch dạy minh họa và chuẩn bị điều kiện tốt nhất cho tiết dạy.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<br><br></div><div><strong>*Bước 2. Tiến hành dạy bài học (bài giảng minh họa) và dự giờ<br></strong><br></div><div>- Sau khi hoàn thành xây dựng kế hoạch dạy học chi tiết, GV sẽ dạy minh hoạ bài học nghiên cứu ở một lớp đã chuẩn bị trước.<br><br></div><div>- Các yêu cầu cụ thể của giờ dạy minh họa như sau:<br><br></div><div>+ Chuẩn bị lớp dạy minh hoạ, bố trí lớp có đủ chỗ ngồi quan sát thuận lợi cho người dự.<br><br></div><div>+ Điều chỉnh số lượng người dự ở mức vừa phải, không quá đông.<br><br></div><div>+ Việc dự giờ cần đảm bảo không ảnh hưởng đến việc học của học sinh, không gây khó khăn cho người dạy minh hoạ.<br><br></div><div>- GV dạy và dự cần quan sát việc học của tất cả học sinh, cách làm việc nhóm, thái độ tình cảm của học sinh...&nbsp; Khi dự giờ GV tập trung vào việc học của học sinh, theo dõi nét mặt, hành vi, sự quan tâm đến bài học của học sinh đặc biệt cần ghi chép cụ thể thái độ của học sinh khi tham gia trả lời các câu hỏi của GV, thông qua đó tìm mối liên hệ giữa việc học của HS với tác động của giáo viên về cách sử dụng các phương pháp dạy học, cách tổ chức lớp học.<br><br></div><div>- Điều chỉnh thói quen đánh giá giờ dạy qua hoạt động của giáo viên, người dự cần hiểu và thông cảm với khó khăn của người dạy, đặt mình vào vị trí của người dạy để phát hiện những khó khăn trong việc học tập của học sinh nhằm tìm cách giải quyết.<br><br></div><div><strong>*Bước 3. Suy ngẫm, thảo luận về bài học nghiên cứu<br></strong><br></div><div>Giáo viên dạy minh họa chia sẻ về bài học: những ý tưởng mới; những thay đổi, điều chỉnh về nội dung; phương pháp dạy học; những điều hài lòng và chưa hài lòng trong quá trình dạy minh họa.<br><br></div><div>Sau đó, người dự suy ngẫm và chia sẻ các ý kiến của GV về bài học sau khi dự giờ:&nbsp;<br><br></div><div>- Người dự trao đổi, chia sẻ, lắng nghe mang tính xây dựng.&nbsp;<br><br></div><div>- Thảo luận xem HS học như thế nào? (mức độ tham gia, hứng thú và kết quả học tập của từng em).<br><br></div><div>- Cùng suy nghĩ: vì sao học sinh chưa tích cực tham gia vào hoạt động học, học chưa đạt kết quả... và đưa ra các biện pháp thay đổi cách dạy phù hợp.<br><br></div><div>- Mọi người phải lắng nghe, tôn trọng ý kiến của nhau khi thảo luận, không nên quan tâm đến các tiêu chuẩn truyền thống của một giờ dạy.<br><br></div><div>- Không nên phê phán đồng nghiệp.<br><br></div><div>- Không đánh giá xếp loại giờ dạy minh hoạ.<br><br></div><div>- Lấy hành vi học tập của HS làm trung tâm thảo luận.<br><br></div><div>- Tổ trưởng không nên áp đặt, tạo cơ hội cho GV trong tổ phát biểu, có sự dẫn dắt để GV trong tổ cùng thảo luận.<br><br></div><div><strong>* Bước 4.</strong> <strong>Áp dụng cho thực tiễn dạy học hàng ngày<br></strong><br></div><div>Thông qua tiết dạy minh họa, thông qua thảo luận tiết dạy của đồng nghiệp, giáo viên tự rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân, kiểm nghiệm những vấn đề đã được dự giờ và thảo luận, áp dụng vào bài giảng hàng ngày trên lớp<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:34:15 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658016479</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Thanh Loan THCS Kinh Bắc TP Bắc Ninh </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658018126</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học</strong> thúc đẩy, duy trì sự hợp tác giữa các giáo viên, giúp các giáo viên phát triển kĩ năng làm việc nhóm, góp phần phát triển không khí hợp tác, đoàn kết trong nhà trường. NCBH tạo ra cộng đồng học tập, văn hóa học tập và củng cố tình đồng nghiệp trong nhà trường. Tham gia vào NCBH giáo viên thực hiện vai trò của người nghiên cứu, cải tạo thực tiễn và họ trở nên vững vàng hơn về chuyên môn,&nbsp; nghiệp vụ, tăng sự chuyên nghiệp của giáo viên và giúp giáo viên tự tin hơn trong việc giải quyết vấn đề của thực tiễn để nâng cao chất lượng dạy học của mình. Nghiên cứu bài học tạo cơ hội cho giáo viên có thể quan tâm tới tất cả các học sinh trong lớp, tạo cơ hội phát triển cho mọi học sinh. Và dẫn tới hệ quả tất yếu là nâng cao chất lượng học tập của học sinh.<br><br></div><div><strong>Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học</strong> thúc đẩy, duy trì sự hợp tác giữa các giáo viên, giúp các giáo viên phát triển kĩ năng làm việc nhóm, góp phần phát triển không khí hợp tác, đoàn kết trong nhà trường. NCBH tạo ra cộng đồng học tập, văn hóa học tập và củng cố tình đồng nghiệp trong nhà trường. Tham gia vào NCBH giáo viên thực hiện vai trò của người nghiên cứu, cải tạo thực tiễn và họ trở nên vững vàng hơn về chuyên môn,&nbsp; nghiệp vụ, tăng sự chuyên nghiệp của giáo viên và giúp giáo viên tự tin hơn trong việc giải quyết vấn đề của thực tiễn để nâng cao chất lượng dạy học của mình. Nghiên cứu bài học tạo cơ hội cho giáo viên có thể quan tâm tới tất cả các học sinh trong lớp, tạo cơ hội phát triển cho mọi học sinh. Và dẫn tới hệ quả tất yếu là nâng cao chất lượng học tập của học sinh.<br><br></div><div>Ngoài ra <strong>NCBH</strong> còn là cái cầu kết nối các nội dung kiến thức, giữa các bộ môn để thu được sự hỗ trợ bổ sung tốt nhất giữa các bộ môn góp phần đào tạo toàn diện cho học sinh, giữa các cấp học để thu được chương trình đào tạo mạch lạc, thông suốt. Một lợi ích nữa xuất phát từ tính linh hoạt, ưu việt của NCBH, đó là nó có thể thực hiện được ở mọi cấp học, mọi môn học từ các môn tự nhiên, xã hội,… cho tới các môn giáo dục thể chất, nó cũng không đòi hỏi một sự đầu tư khổng lồ mà chỉ cần một nhóm giáo viên sẵn sàng hợp tác cùng nhau.<br><br></div><div>Qua việc NCBH chúng ta có thể nhận ra tính ưu việt của NCBH so với các hình thức bồi dưỡng nghiệp vụ khác. NCBH xuất phát từ thực tiễn cần giải quyết những khó khăn thực tiễn trong lớp học của giáo viên. Thông qua NCBH giáo viên được hợp tác cùng nhau, làm việc cùng nhau để xây dựng một kế hoạch bài học hoàn chỉnh.<br><br></div><div><br></div><div><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp;</div><div><br></div><div><br></div><div><br></div><div><br></div><div><br></div><div><br></div><div><br></div><div><br></div><div><br></div><div><br></div><div><br></div><div><br></div><div><br></div><div><br></div><div><br></div><div><br></div><div><br></div><div><br></div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:37:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658018126</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658019327</link>
         <description><![CDATA[<div>người dạy với người học trong các lớp tập huấn. Trong các phương pháp bồi dưỡng giáo viên truyền thống, giáo viên khi đó đóng vai trò là người học và những chuyên gia đóng vai trò là thầy giáo, là người cung cấp kiến thức. Trong NCBH, những người tham gia có vai trò như nhau, cùng nhau hợp tác, cùng nghiên cứu,&nbsp; cùng thảo luận hướng tới một mục tiêu chung của sự phát triển. Những người tham gia NCBH đều trên tinh thần tự nguyện và có vai trò như nhau trong việc phát triển bài học đạt được những mục tiêu đề ra.<br>Thứ ba, trong các lớp tập huấn, giáo viên là người tiếp nhận kiến thức mới (ở vị thế bị động),&nbsp; còn trong nghiên cứu bài học giáo viên giữ vai trò chủ động, là một người cải cách, một nhà quan sát, tự đánh giá thực tiễn của mình. Với phương pháp truyền thống giáo viên được tiếp xúc với cái mới thông qua các chuyên gia, hoàn toàn theo kiểu thầy truyền thụ trò lắng nghe. Trong khi ở NCBH, giáo viên là người mang cái mới, tìm ra hướng giải quyết cho nhửng bài khó</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:39:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658019327</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Sang -THCS Phụng Thượng Phúc Thọ Hà Nội </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658019755</link>
         <description><![CDATA[<div>So sánh: điểm giống nhau là cùng nghiên cứu bài dạy<br>Khác: Thực hiện bài dậy của một cá nhân giữa moitj nhóm cá nhân&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:39:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658019755</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phan Thu Trang - THCS Phú Đô - Nam Từ Liêm - Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658021480</link>
         <description><![CDATA[<div>NCBH là một mô hình bồi dưỡng, phát triển nghề nghiệp cho giáo viên, nhưng nó có sự khác biệt cơ bản với cách bồi dưỡng, dự giờ truyền thống ở chỗ:</div><div>Thứ nhất, thay cho việc cung cấp kiến thức được xác định từ các chuyên gia bên ngoài nhà trường, NCBH xuất phát từ chính nhu cầu giải quyết những vấn đề trong thực tiễn lớp học mà giáo viên đang phải đối mặt. Trong các lớp bồi dưỡng giáo viên truyền thống các chuyên gia bên ngoài là người cung cấp kiến thức, còn các giáo viên là những người thụ động tiếp nhận kiến thức. Khi tham gia NCBH, các nhóm nghiên cứu tự nhận thấy những yêu cần giải quyết đối với mỗi bài học nhất định và cùng nhau thảo luận để tìm cách giải quyết các yêu cầu đó. Trong NCBH cũng có thể có sự tham gia của các chuyên gia bên ngoài nhưng họ chỉ đóng vai trò là người quan sát, tư vấn, rút kinh nghiệm cho nhóm và cung cấp thêm những kinh nghiệm của các nhóm nghiên cứu khác chứ không đóng vai trò chủ đạo như trong các phương pháp truyền thống khác.</div><div>Thứ hai, mối quan hệ giữa những người tham gia NCBH là bình đẳng khác với quan hệ thứ bậc, giữa người dạy với người học trong các lớp tập huấn. Trong các phương pháp bồi dưỡng giáo viên truyền thống, giáo viên khi đó đóng vai trò là người học và những chuyên gia đóng vai trò là thầy giáo, là người cung cấp kiến thức. Trong NCBH, những người tham gia có vai trò như nhau, cùng nhau hợp tác, cùng nghiên cứu, cùng thảo luận hướng tới một mục tiêu chung của sự phát triển. Những người tham gia NCBH đều trên tinh thần tự nguyện và có vai trò như nhau trong việc phát triển bài học đạt được những mục tiêu đề ra.</div><div>Thứ ba, trong các lớp tập huấn, giáo viên là người tiếp nhận kiến thức mới (ở vị thế bị động), còn trong nghiên cứu bài học giáo viên giữ vai trò chủ động, là một người cải cách, một nhà quan sát, tự đánh giá thực tiễn của mình. Với phương pháp truyền thống giáo viên được tiếp xúc với cái mới thông qua các chuyên gia, hoàn toàn theo kiểu thầy truyền thụ trò lắng nghe. Trong khi ở NCBH, giáo viên là người mang cái mới vào dạy học, là nhà quan sát thực tế có thể tự đánh giá khả năng của mình thông qua việc quan sát trực tiếp lớp học.</div><div>Với các phương pháp dạy học truyền thống phẩm chất và năng lực của giáo viên luôn luôn là một vấn đề để đánh giá trong những buổi dự giờ, giáo viên luôn mang nặng tâm lí về xếp hạng và chủ yếu chú trọng tới bài giảng, giáo án của mình mà ít quan tâm xem học sinh học như thế nào. Hơn nữa, nếu có quan tâm đến học sinh thì đó là những học sinh nổi bật trong các lớp học. Trong khi đó đối với NCBH, thì sự quan sát hướng đến tất cả học sinh trong lớp không riêng gì các học sinh nổi bật, thậm chí là chú ý hơn tới những học sinh cá biệt trong lớp để xem cách học sinh học, cách học sinh tư duy, chứ phẩm chất hay năng lực của giáo viên không phải là vấn đề được đánh giá. Trong các phương pháp dự giờ truyền thống yếu tố phẩm chất nghề nghiệp của giáo viên luôn là một vấn đề được xem xét đánh giá cho nên có một số hạn chế trong việc nhận xét, góp ý của các giáo viên khác, nhất là đối với các giáo viên trẻ thì vấn đề nhận xét, đánh giá các giáo viên nhiều kinh nghiệm là điều cực kì khó khăn; còn với NCBH các giáo viên góp ý với tinh thần cùng giúp nhau hoàn thiện hơn chứ không phải để đánh giá giáo viên, do vậy sự góp ý là chân thành và mọi thành viên có thể tự do nói nên ý kiến của mình mà không sợ làm giảm tình đoàn kết giữa các đồng nghiệp. Dự giờ bài học: theo phương pháp dự giờ truyền thống các giáo viên dự giờ chỉ chú ý đến giáo viên dạy và họ thích ngồi ở đằng sau và ít chú ý tới học sinh. Theo mô hình NCBH trọng tâm quan sát giờ học là bài học và quá trình</div><div>học của học sinh, giáo viên dự giờ quan sát từ phía trước để có thể thấy nét mặt của học sinh.</div><div>Suy ngẫm về bài học: theo phương pháp dự giờ truyền thống có nhiều giáo viên có thái độ phê phán giáo viên dạy (như thường nhận xét: cô, thầy không thể làm việc này hay việc kia, phải làm như thế này, không được làm như thế kia… ) hay ca ngợi rõ ràng nhưng không chi tiết. Theo mô hình NCBH các giáo viên hợp tác cùng nhau xây dựng kế hoạch bài học và nó là sản phẩm của cả nhóm, tất cả các thành viên đều phải chịu trách nhiệm về bài học cho dù nó thành công hay thất bại chứ không phải chỉ riêng giáo viên đứng lớp, và do đó sẽ không có thái độ phê phán cách dạy của giáo viên, vì cách dạy đó đã được cả nhóm thống nhất trong kế hoạch của bài học, nếu cách dạy đó chưa phù hợp, đó là khuyết điểm của cả nhóm và việc họ cần làm là cùng nhau</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:42:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658021480</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Sang Thầy Phụng Thượng Phúc Thọ Hà Nội </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658022202</link>
         <description><![CDATA[<div>SỰ KHÁC NHAU GIỮA SINH HOẠT CHUYÊN MÔN TRUYỀN THỐNG VỚI SINH HOẠT CHUYÊN MÔN THEO NGHIÊN CỨU BÀI HỌC<br>Sinh hoạt CM truyền thống&nbsp;<br>1. Mục đích<br>&nbsp;- Đánh giá xếp loại giờ dạy theo tiêu chí từ các văn bản chỉ đạo của cấp trên.<br>&nbsp;- Người dự tập trung quan sát các hoạt động của GV để rút kinh nghiệm.<br>&nbsp;- Thống nhất cách dạy các dạng bài để tất cả GV trong từng khối thực hiện.&nbsp;<br>2. Thiết kế bài dạy minh hoạ<br>&nbsp;- Bài dạy minh hoạ được phân công cho một GV thiết kế; được chuẩn bị, thiết kế theo đúng mẫu quy định.<br>&nbsp;- Nội dung bài học được thiết kế theo sát nội dung SGV, SGK, không linh hoạt xem có phù hợp với từng đối tượng HS không.<br>&nbsp;- Thiếu sự sáng tạo trong việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học.&nbsp;<br>3. Gv dạy minh hoạ<br>&nbsp;* Một người dạy minh hoạ đã chỉ định từ trước<br>&nbsp;* Vị trí người dự giờ<br>&nbsp;- Thường ngồi ở cuối lớp học quan sát người dạy như thế nào, ít chú ý đến những biểu hiện thái độ, tâm lí, hoạt động của HS.&nbsp;<br>4 Thảo luận giờ dạy minh hoạ<br>&nbsp;- Các ý kiến nhận xét sau giờ học nhằm&nbsp; mục đích đánh giá, xếp loại GV.<br>&nbsp;- Không khí các buổi SHCM nặng nề, căng thẳng, quan hệ giữa các GV thiếu thân thiện.<br>- Không xếp loại giờ dạy<br>&nbsp;<br>Sinh hoạt CM theo NCBH&nbsp;<br>1. Mục đích<br>&nbsp;- Không đánh giá xếp loại giờ dạy theo tiêu chí, quy định.<br>&nbsp;- Người dự giờ tập trung phân tích các hoạt động của HS để rút kinh nghiệm.<br>&nbsp;-Tự rút ra những kinh nghiệm để vận dụng vào thực tiễn dạy trên lớp&nbsp;<br>2. Thiết kế bài dạy minh hoạ<br>&nbsp;- Bài dạy minh hoạ được các GV trong tổ thiết kế.không nhất thiết theo mẫu qui định<br>&nbsp;-Nội dung bài học được thiết kế&nbsp; linh hoạt&nbsp; phù hợp với từng đối tượng HS<br>&nbsp;- Không nhất thiết theo khuôn mẫu qui định<br>&nbsp;- Phát huy sự sáng tạo trong việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học&nbsp;<br>3.Gv dạy minh hoạ<br>&nbsp;* Một người được chọn trong nhóm hoặc tổ hoặc tự gv đăng kí<br>&nbsp;* Vị trí người dự giờ<br>&nbsp;- Ngồi hoặc đứng ở vị trí thích hợp quan sát và chú ý đến những biểu hiện thái độ, tâm lí, hoạt động của&nbsp; học sinh.&nbsp;<br>4. Thảo luận giờ dạy minh hoạ<br>&nbsp;- Người dạy chia sẻ mục tiêu bài học, những ý tưởng mới, những cảm nhận của mình qua tiết dạy minh họa.<br>&nbsp;-Không khí sinh hoạt thân thiện cởi mở.<br>&nbsp; &nbsp;theo tinh thần trao đổi, chia sẻ, tập trung vào phân tích các hoạt động của HS và tìm ra các nguyên nhân và giải pháp khắc phục.<br>&nbsp;- Không xếp loại tiết dạy.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 13:43:22 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658022202</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phan Thuỳ Dương - THCS Tứ Liên - Hà Nội</title>
         <author>DuongPhan</author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658057430</link>
         <description><![CDATA[<div>NCBH là một mô hình bồi dưỡng, phát triển nghề nghiệp cho giáo viên, nhưng nó có sự khác biệt cơ bản với cách bồi dưỡng, dự giờ truyền thống ở chỗ:</div><div>Thứ nhất, thay cho việc cung cấp kiến thức được xác định từ các chuyên gia bên ngoài nhà trường, NCBH xuất phát từ chính nhu cầu giải quyết những vấn đề trong thực tiễn lớp học mà giáo viên đang phải đối mặt. Trong các lớp bồi dưỡng giáo viên truyền thống các chuyên gia bên ngoài là người cung cấp kiến thức, còn các giáo viên là những người thụ động tiếp nhận kiến thức. Khi tham gia NCBH, các nhóm nghiên cứu tự nhận thấy những yêu cần giải quyết đối với mỗi bài học nhất định và cùng nhau thảo luận để tìm cách giải quyết các yêu cầu đó. Trong NCBH cũng có thể có sự tham gia của các chuyên gia bên ngoài nhưng họ chỉ đóng vai trò là người quan sát, tư vấn, rút kinh nghiệm cho nhóm và cung cấp thêm những kinh nghiệm của các nhóm nghiên cứu khác chứ không đóng vai trò chủ đạo như trong các phương pháp truyền thống khác.</div><div>Thứ hai, mối quan hệ giữa những người tham gia NCBH là bình đẳng khác với quan hệ thứ bậc, giữa người dạy với người học trong các lớp tập huấn. Trong các phương pháp bồi dưỡng giáo viên truyền thống, giáo viên khi đó đóng vai trò là người học và những chuyên gia đóng vai trò là thầy giáo, là người cung cấp kiến thức. Trong NCBH, những người tham gia có vai trò như nhau, cùng nhau hợp tác, cùng nghiên cứu,&nbsp; cùng thảo luận hướng tới một mục tiêu chung của sự phát triển. Những người tham gia NCBH đều trên tinh thần tự nguyện và có vai trò như nhau trong việc phát triển bài học đạt được những mục tiêu đề ra.</div><div>Thứ ba, trong các lớp tập huấn, giáo viên là người tiếp nhận kiến thức mới (ở vị thế bị động),&nbsp; còn trong nghiên cứu bài học giáo viên giữ vai trò chủ động, là một người cải cách, một nhà quan sát, tự đánh giá thực tiễn của mình. Với phương pháp truyền thống giáo viên được tiếp xúc với cái mới thông qua các chuyên gia, hoàn toàn theo kiểu thầy truyền thụ trò lắng nghe. Trong khi ở NCBH, giáo viên là người mang cái mới vào dạy học, là nhà quan sát thực tế có thể tự đánh giá khả năng của mình thông qua việc quan sát trực tiếp lớp học.</div><div>Với các phương pháp dạy học truyền thống phẩm chất và năng lực của giáo viên luôn luôn là một vấn đề để đánh giá trong những buổi dự giờ, giáo viên luôn mang nặng tâm lí về xếp hạng và chủ yếu chú trọng tới bài giảng,&nbsp; giáo án của mình mà ít quan tâm xem học sinh học như thế nào. Hơn nữa, nếu có quan tâm đến học sinh thì đó là những học sinh nổi bật trong các lớp học. Trong khi đó đối với NCBH, thì sự quan sát hướng đến tất cả học sinh trong lớp không riêng gì các học sinh nổi bật, thậm chí là chú ý hơn tới những học sinh cá biệt trong lớp để xem cách học sinh học, cách học sinh tư duy, chứ phẩm chất hay năng lực của giáo viên không phải là vấn đề được đánh giá. Trong các phương pháp dự giờ truyền thống yếu tố phẩm chất nghề nghiệp của giáo viên luôn là một vấn đề được xem xét đánh giá cho nên có một số hạn chế trong việc nhận xét, góp ý của các giáo viên khác, nhất là đối với các giáo viên trẻ thì vấn đề nhận xét, đánh giá các giáo viên nhiều kinh nghiệm là điều cực kì khó khăn; còn với NCBH các giáo viên góp ý với tinh thần cùng giúp nhau hoàn thiện hơn chứ không phải để đánh giá giáo viên, do vậy sự góp ý là chân thành và mọi thành viên có thể tự do nói nên ý kiến của mình mà không sợ làm giảm tình đoàn kết giữa các đồng nghiệp.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Dự giờ bài học: theo phương pháp dự giờ truyền thống các giáo viên dự giờ chỉ chú ý đến giáo viên dạy và họ thích ngồi ở đằng sau và ít chú ý tới học sinh. Theo mô hình NCBH trọng tâm quan sát giờ học là bài học và quá trình học của học sinh, giáo viên dự giờ quan sát từ phía trước để có thể thấy nét mặt của học sinh.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Suy ngẫm về bài học: theo phương pháp dự giờ truyền thống có nhiều giáo viên có thái độ phê phán giáo viên dạy (như thường nhận xét: cô, thầy không thể làm việc này hay việc kia,&nbsp; phải làm như thế này, không được làm như thế kia… ) hay ca ngợi rõ ràng nhưng không chi tiết. Theo mô hình NCBH các giáo viên hợp tác cùng nhau xây dựng kế hoạch bài học và nó là sản phẩm của cả nhóm, tất cả các thành viên đều phải chịu trách nhiệm về bài học cho dù nó thành công hay thất bại chứ không phải chỉ riêng giáo viên đứng lớp, và do đó sẽ không có thái độ phê phán cách dạy của giáo viên, vì cách dạy đó đã được cả nhóm thống nhất trong kế hoạch của bài học, nếu cách dạy đó chưa phù hợp, đó là khuyết điểm của cả nhóm và việc họ cần làm là cùng nhau khắc phục.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-08 14:35:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2658057430</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Mai Doãn Quý ăn: 5/10/1984 Trường THPT Mường Kim Than Uyên Lai Châu </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659447581</link>
         <description><![CDATA[<div>1. Dễ chia sẻ<br>2. Dễ tương tác<br>3. Lưu trữ tốt hơn </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:26:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659447581</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Việc dậy học và kt đánh giá trong giáo dục trở nên linh hoạt và  rút ngắn khoảng cách hơn. Ví dụ như guao bài kt qua azota, học trực tuyến onlie </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659448696</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:28:31 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659448696</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Ngọc Lý 14/8/1992</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659449415</link>
         <description><![CDATA[<div>Trước khi có CNGD:&nbsp;<br>Khó tương tác&nbsp;<br>Khó chia sẻ<br>Khó lưu trữ<br>Sau khi có CNGD:<br>Dễ tương tác<br>Dễ chia sẻ<br>Dễ lưu trữ<br>Dễ cá nhân hoá quá trình học<br>Hs hứng thú trong học tập<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:29:33 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659449415</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Sự khác nhau đó là khi có cngd việc tương tác giữa giáo viên và học sinh linh hoạt đa dạng thường xuyên và nhiều hơn. Việc quản lý trong giáo dục được thực hiện hiệu quả hơn. Khai thác học liệu số giúp ích rất nhiều cho việc dạy và học....</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659449823</link>
         <description><![CDATA[<div>Phan Thị Tám trường DTNT THPT huyện Than Uyên Lai Châu<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:30:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659449823</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nông thị thùy linh  09/06/1987Thpt mường kim</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659450595</link>
         <description><![CDATA[<div>Việc&nbsp;dậy học khi có công nghệ số trở nên thú hút hơn và rút ngắn khoảng cách hơn. Ví dụ như học onlie, làm bài kt qua mạng ....</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:31:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659450595</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Hạnh - THPT Tân Uyên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659450689</link>
         <description><![CDATA[<div><br>Theo quan niệm của dạy học truyền thống, học là quá trình tiếp thu và lĩnh hội, qua đó hình thành kiến thức, kỹ năng, tư tưởng, tình cảm - Dạy học hiện đại cho rằng học là quá trình kiến tạo, nghiên cứu, tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lý thông tin… tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất. Do quan niệm và bản chất khác nhau nên mục tiêu hướng đến cũng khác nhau. Dạy theo lối cũ chú trọng đến việc cung cấp tri thức, kỹ xảo, học để thi cử, nên thường thi xong người học sẽ quên đi ngay kiến thức đã học trước đó, ngược lại dạy học ngày nay chú trọng đến việc rèn luyện tư duy phân tích, tổng hợp, phản biện, khuyến khích sáng tao, tăng cường hợp tác, dạy phương pháp, rèn kỹ năng đọc hiểu và tự nghiên cứu. Qua đó, người học học để đáp ứng được những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và chuẩn bị hành trang cho tương lai. Người học thấy việc học là cần thiết, giúp ích cho chính mình và gián tiếp mang lại lợi ích cho xã hội.<br><br></div><div><br>Nội dung của dạy học truyền thống gói chọn trong sách vở và những gì nhận được trên lớp do giáo viên truyền đạt. Với cách học hiện đại, người học được tiếp cận kiến thức từ nhiều nguồn khác nhau, đó là: giáo viên, sách, báo, bảo tàng, các học liệu mở, học qua internet. Việc khai thác tìm hiểu những thông tin nào là hoàn toàn tùy thuộc vào nhu cầu, kinh nghiệm của người học. Phương pháp diễn giảng, truyền thụ kiến thức một chiều, hình thức tổ chức cố định giới hạn trong bốn bức tường của lớp học khác xa với hình thức tổ chức lớp ở dạy học hiện đại. Dạy học trong môi trường hiện nay hết sức cơ động và linh hoạt, học ở lớp, học online, học trong phòng thí nghiệm, thực nghiệm ở hiện trường, thực tập tại các nhà máy, doanh nghiệp, tự học cá nhân, học và làm việc theo nhóm.Và trên hết, sự khác nhau đặc biệt giữa dạy và học truyền truyền thống với dạy và học hiện đại đó là việc ứng dụng một cách phổ biến những ứng dụng của khoa học công nghệ hiện đại vào công tác giảng dạy và học tập.&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:31:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659450689</guid>
      </item>
      <item>
         <title>DƯƠNG BÁ TÌNH - 04/04/1981 - THPT VÂN CỐC</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659450773</link>
         <description><![CDATA[<div>Công nghệ phát triển thần tốc đang tạo ra một cuộc “Cách mạng Giáo dục” thay đổi toàn diện từ cách tạo ra công cụ học tập mới, giấy trắng bảng đen thành các tài liệu “mềm” trên thiết bị điện tử; quá trình học tập thay vì đến lớp học trực tiếp học sinh có thể học trực tuyến tại nhà; cho đến các quy trình được sử dụng để đánh giá kết quả giáo dục cũng được liên tục cải tiến và phát triển, như sổ liên lạc trực tuyến giúp phụ huynh theo sát tình hình học tập của trẻ 24/7.<br><br></div><div>Cải tiến công nghệ còn mang đến cơ hội giúp trẻ học tập theo những cách thức hoàn toàn mới, dễ dàng ứng dụng và cá nhân hóa kiến thức nhờ những lớp học một thầy một trò qua mạng, những cộng đồng học tập trực tuyến khổng lồ khắp thế giới ở tất cả các lĩnh vực. Tất cả đã làm thay đổi vai trò truyền thống của giáo viên và tạo ra vô vàn trải nghiệm học tập mới mẻ và thú vị.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:31:32 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659450773</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đỗ Thị Thanh Huyền (26/06/1988) THPT Mường Kim, Than Uyên, Lai Châu</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659450848</link>
         <description><![CDATA[<div>Việc dạy học trước và sau khi có CNGD<br>Trước khi có CNGD việc dạy học diễn ra theo hình thức truyền thống: thầy truyền đạt, trò tiếp thu. Kêng kiến thức chủ yếu đến từ SGK, STK<br>Sau khi có CNGD: lớp học số hóa, các thiết bị thông minh, thiết bị không dây và đa phương tiện kỹ thuật số ảo được phát triển mạnh, khóa học trên thiết bị di động và thiết kế trò chơi học tập là những công nghệ được hình thành trong kỷ nguyên số, làm cho giáo dục thay đổi đáng kể theo hướng tích cực. Hình thức học tập đa dạng hơn, không gian học tập mở rộng ra ngoài lớp học....</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:31:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659450848</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659451301</link>
         <description><![CDATA[<div>Dương Thanh Dương 2/5/1984- THPT Thăng Long<br>&nbsp;- Trước khi có CNGD, việc dạy và học chưa phát huy được hết năng lực chủ động, tích cực của HS. GV làm việc thụ động.<br>- Sau khi có CNGD, GV vất vả hơn vì phải tự tìm tòi, tự học thêm các kĩ năng sử dụng CNGD. Tuy nhiên, hoạt động học tập của HS lại tích cực và hiệu quả hơn, phù hợp với xu hướng của thời đại.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:32:22 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659451301</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Chu Phú Vinh - THPT Tân Uyên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659451900</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em><br>Thứ nhất, ứng dụng công nghệ vào giảng dạy có vai trò thúc đẩy giáo dục mở, giúp hoạt động giáo dục đạt hiệu quả cao hơn</em></strong><em>:</em> Công nghệ thúc đẩy một nền giáo dục mở, giúp con người tiếp cận thông tin đa chiều, rút ngắn khoảng cách, thu hẹp mọi không gian, tiết kiệm tối ưu về thời gian. Từ đó con người phát triển nhanh hơn về kiến thức, nhận thức và tư duy. Chương trình giáo dục mở giúp con người trao đổi và tìm kiếm kiến thức một cách hiệu quả. Học và dạy hiện đại yêu cầu cần phải tiếp cận một vấn đề từ nhiều nguồn thông tin khác nhau, dưới nhiều góc nhìn khác nhau, qua đó người đọc có được cái nhìn phổ quát, có cơ hội đào sâu kiến thức, tìm ra được bản chất cốt yếu, nguyên nhân sâu xa của vấn đề, góp phần nâng cao kiến thức, thay đổi tư duy, điều này gián tiếp giúp cho công tác học tập nghiên cứu đạt hiệu quả cao hơn. Đi kèm với giáo dục mở là tài nguyên học liệu mở, giúp người học, người dạy kết nối với kiến thức hiệu quả dù họ ở đâu và trong khoảng thời gian nào. Tài nguyên học liệu mở là một xu hướng phát triển tất yếu của nền giáo dục hiện đaị.<br><br></div><div><strong><em><br>Thứ hai, người dạy và học dễ dàng thu thập, tổng hợp, lưu trữ được lượng kiến thức phong phú đa dạng và được cập nhật thường xuyên</em></strong>: Với giáo dục truyền thống, sinh viên tiếp nhận kiến thức chủ yếu từ sách vở, giáo trình và ngồi nghe giáo viên giảng trên lớp thì hiện nay, nguồn kiến thức đa dạng này được cung cấp trực tuyến qua kết nối internet, chúng ta có thể tìm thấy hàng nghìn hàng triệu kết quả tra cứu sau một cú click chuột. <strong>Công nghệ giúp truy cập tức thời tới các nguồn tri thức, </strong>từ kiến thức phổ thông tới tri thức học thuật đều có thể dễ dàng tìm kiếm và áp dụng trong các quy trình giảng dạy thông qua các hệ thống tra cứu của thư viện, các máy tìm kiếm (search engines) như Google Search, Google Scholars, Google Books, các cơ sở dữ liệu học thuật như Scopus, các mạng xã hội học thuật như Academia, Resarch Gates,… Trong giáo dục hiện đại, người dạy là người truyền thu kiến thức cơ bản, cốt lõi, đóng vai trò là người hướng dẫn người học cách thức khai thác thông tin dồi dào, đa chiều từ Internet. Điều này đóng một vai trò to lớn trong quá trình đổi mới giáo dục giúp cá nhân hóa học tập, rèn luyện, nâng cao tinh thần học tập chủ động, học tập đi đôi với thực tiễn, nhằm phát huy tối đa tính sáng tạo của mình.<br><br></div><div><strong><em><br>Thứ ba là mang lại sự tiện lợi bởi không gian và thời gian học tập nghiên cứu linh động</em></strong><em>:</em> Người học có thể tự học ở mọi lúc (bất kể thời gian nào được cho là phù hợp với từng cá nhân), mọi nơi (bất kể nơi nào miễn có kết nối internet với chương trình trực tuyến, hoặc có thể lưu lại để học trên máy tính, điện thoại (khi không có kết nối internet). Ứng dụng công nghệ cho phép tất cả mọi người có thể tham gia thảo luận một vấn đề nào đó (hội thảo, hội nghị, họp,…) mà không cần phải tập trung tại một địa điểm, không phải ở cùng 1 quốc gia,&nbsp; qua đó góp phần tạo ra một xã hội học tập rộng lớn mà ở đó, người học có thể chủ động học tập, trao đổi kiến thức, trau dồi kinh nghiệm suốt đời.<br><br></div><div><strong><em><br>Thứ tư là vai trò trong việc thúc đẩy phát triển năng lực cá nhân:</em></strong> Với sự thuận tiện cho việc học ở mọi lúc mọi nơi, ứng dụng công nghệ sẽ tạo cơ hội cho người học có thể lựa chọn những vấn đề mà mình ưa thích, phù hợp với năng khiếu, sở thích, từ đó phát triển theo thế mạnh của từng người. Chính điều đó sẽ thúc đẩy sự phát triển của các tài năng. Chương trình học sẵn có, học liệu mở phong phú khiến cho việc tra cứu dễ dàng sẽ gián tiếp thúc đẩy các cá nhân chủ động trang bị thêm nhiều những kiến thức mới, lấp đầy những lỗ hổng, kích thích tìm tòi, khám phá và sáng tạo. Bên cạnh đó, với <strong>công nghệ phù hợp, hấp dẫn nên dễ dàng gắn kết người học</strong>. Các thiết bị như máy tính, máy tính bảng, điện thoại thông minh có kết nối Internet đều là những công cụ mà người học có thể sử dụng ở nhà hay bất cứ đâu ngay cả trên đường di chuyển. Do đó, người học sẽ thoải mái và tích cực hơn khi dùng các công cụ này để kết nối với bạn học, thầy cô và với nhà trường. Sử dụng công nghệ trong lớp học giúp người học dễ dàng biểu thị mối quan tâm, sự chú ý, những mong đợi và thái độ tích cực với việc học, qua đó nâng cao chất lượng dạy và học.<br><br></div><div><strong><em><br>Thứ năm là vai trò trong việc nghiên cứu, chuyển giao KHCN:</em></strong> Việc ứng dụng công nghệ thông tin nói chung trong quản trị hoạt động nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ trong các trường đại học bao gồm các nội dụng cơ bản như: Ứng dụng trong quản trị việc đăng ký và cấp mã số các đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ; Ứng dụng trong quản trị hoạt động nghiên cứu khoa học của chủ thể nghiên cứu khoa học; Ứng dụng trong quản trị đầu ra của sản phẩm nghiên cứu khoa học; Ứng dụng trong quản trị và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Như vậy, các trường đại học, làm tốt việc ứng dụng công nghệ trong quản trị hoạt động nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ, sẽ góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cho người làm công tác nghiên cứu khoa học, qua đó cũng nâng tầm vị thế, khẳng định được thương hiệu, xây dựng được hình ảnh của các cơ sở giáo dục đào tạo.<br><br></div><div><strong><em><br>Thư sáu, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao về chất lượng</em></strong><em> </em><strong><em>nguồn nhân lực, thích ứng nhanh với công việc trong tương lai:</em></strong> Xu hướng giáo dục và đào tạo ngày nay là đào tạo đi đôi với sử dụng, dạy nghề đi đối với hướng nghiệp ngày càng trở nên phổ biến đối với các trường đại học ở trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Việc người học được tiếp cận những ứng dụng công nghệ ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường sẽ giúp rèn luyện những kỹ năng thực hành, làm việc trong môi trường công nghệ, khi ra trường sẽ sớm hòa nhập với môi trường làm việc mới đòi hỏi những kỹ năng cũng như hiểu biết nhất định về công nghệ. Trên thực tế không chỉ dừng ở kỹ năng số, người học còn được rèn kỹ năng mềm, tư duy phản biện, khả năng nghiên cứu độc lập, và thành thạo trong phối hợp sử dụng công nghệ nên nhanh chóng đáp ứng được những đòi hỏi cấp thiết của thực hiễn thực hành nghề nghiệp. Do đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục có tác động trực tiếp đến nguồn nhân lực có chất lượng cao cho doanh nghiệp, tạo điều kiện mở rộng hợp tác lao động. Việc hợp tác lao động trên thị trường, sẽ tạo sự liên kết giữa nhà trường - doanh nghiệp - người học, mang lại lợi ích cho tất cả các các bên: Đối với người học, được cam kết tuyển dụng ngay sau khi tốt nghiệp. Đối với nhà trường, sẽ nâng cao thương hiệu, uy tín và vị thế trên thị trường giáo dục, đồng thời ngày càng thu hút được người học. Đối với doanh nghiệp, mô hình này sẽ giúp họ chủ động nguồn nhân lực được đào tạo bài bản theo đúng yêu cầu của doanh nghiệp.<br><br></div><div><br>Như vậy, ứng dụng công nghệ trong giảng dạy và học tập hay nói cách khác việc đổi mới chương trình đào tạo theo hướng cập nhật các công nghệ tiên tiến, hiện đại sẽ là nền tảng để cung ứng được nguồn nhân lực dồi dào có chất lượng cao cho nền kinh tế thị trường hiện nay.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:33:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659451900</guid>
      </item>
      <item>
         <title>HOÀNG THỊ NỤ (27/03/1992) TRUNG TÂM GDNN- GDTX THANH TRÌ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659452033</link>
         <description><![CDATA[<div>THẢO LUẬN: Phân tích việc dạy và học trước và sau khi có CNGD?&nbsp;<br>Lấy ví dụ minh họa<br>Trả lời: sau khi có CNGD thì việc dạy và học dễ dàng, dễ tiếp cận, phổ biến và nhiều lợi ích hơn: dễ thu hút người học  hơn bằng các  thí nghiệm ảo,video hình ảnh minh họa, ....</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:33:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659452033</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Đăng Tình( 7/5/1983),  trường DTNT THPT  Than Uyên, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659452120</link>
         <description><![CDATA[<div>Sự&nbsp;khác biệt giữa CNGD là truy cập không giới hạn việc sự dụng dữ liệu với nhanh, còn giáo dục truyền thống là giới hạn nội dung kiến thức</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:33:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659452120</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị HUyền - THPT Hàn THuyên </title>
         <author>nthuyenhoac3ht</author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659452370</link>
         <description><![CDATA[<div>Đó là sử dụng ứng dụng thiết bị cộng nghệ thông tin  vào quá trình giảng dạy </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:33:33 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659452370</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659452530</link>
         <description><![CDATA[<div>Chu Thị Hiền (11/05/1996) TT GDNN GDTX Thanh Trì<br>Việc dạy và học:&nbsp;<br>- Trước khi có CNGD: mang tính truyền thống, chủ yếu thầy và trò sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống, học liệu chủ yếu là sách giáo khoa, tài liệu băng giấy khó chia sẻ, lưu trữ và sử dụng.<br>- Sau khi có CNGD: việc dạy và học trở nên dễ dàng, thuận tiện hơn, GV và HS có thể dễ dàng tiếp cận, sử dụng, chia sẻ và lưu trữ nguồn học liệu điện tử, ứng dụng nguồn CNGD vào quá trình dạy và học để tăng hiệu quả mỗi bài học. </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:33:47 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659452530</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thanh Toàn - THPT Mường Kim - Than Uyên - Lai Châu</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659452702</link>
         <description><![CDATA[<div>Sự thay đổi trong việc dạy học trước và sau khi có CNGD:<br>Công nghệ trong giáo dục cũng giúp học sinh và giáo viên tương tác dễ dàng hơn. Các bên liên quan đến giáo dục có thể sử dụng các diễn đàn trực tuyến, phòng trò chuyện, hội thảo video... để chia sẻ ý tưởng và cùng nhau thực hiện các dự án, bất kể họ đang ở đâu.</div><div>Công nghệ trong giáo dục mang lại nhiều lợi ích, chẳng hạn như cá nhân hóa việc học, <a href="https://laodong.vn/cong-nghe/ceo-tiktok-thua-nhan-co-viec-truy-cap-du-lieu-thong-tin-nguoi-dung-1063522.ldo">truy cập</a> tài liệu đa phương tiện và khả năng tương tác từ xa.</div><div>Việc sử dụng công nghệ hợp lý có thể cải thiện đáng kể chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục cho nhiều sinh viên trên toàn thế giới.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:34:04 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659452702</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659452930</link>
         <description><![CDATA[THẢO LUẬN: Phân tích việc dạy và học t]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:34:27 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659452930</guid>
      </item>
      <item>
         <title>NGUYỄN THỊ HOÀN- THPT PHÙNG KHẮC KHOAN- THẠCH THẤT</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659453491</link>
         <description><![CDATA[<div>* Việc dạy và học trước khi có CNGD chủ yếu diễn ra trên lớp. Công cụ học tập và dạy là SGK, bảng, phấn, bút, vở ghi chép<br><br>*Việc dạy và học sau khi có CNGD có thể diễn ra trên các nền tảng số : zoom, Ms team... . Công cụ học tập, dạy học : sách mềm, bài giảng điện tử, tài liệu tham khảo, công cụ trợ giảng, kiểm tra. đánh giá, quản lý điểm, quản lý hs  cũng phong phú, đa dạng hơn nhờ sự trợ giúp của Internet </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:35:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659453491</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Văn Phú THPT MƯỜNG KIM, KIỀU THỊ HƯƠNG THPT THAN UYÊN( CHUNG 1 MÁY)</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659453854</link>
         <description><![CDATA[<div>Trước khi có công nghệ thông tin hỗ trợ, dạy học thường diễn ra theo hình thức truyền thống, tức là giáo viên trực tiếp truyền đạt kiến thức cho học sinh thông qua bảng đen, sách giáo trình và giảng giảng bài. Học sinh phải ghi chép và hoặc nhớ kiến thức dựa trên lời giảng của giáo viên và tư duy của mình.<br><br></div><div><br>Tuy nhiên, sau khi có công nghệ thông tin hỗ trợ, quá trình dạy học đã có nhiều thay đổi. Giáo viên có thể sử dụng máy tính, máy chiếu, bảng tương tác và các phần mềm giáo dục để giảng dạy. Điều này giúp tăng tính tương tác và hiệu quả trong quá trình học tập.<br><br></div><div><br>Công nghệ thông tin cũng mang lại nhiều lợi ích, cho phép giáo viên và học sinh truy cập vào các nguồn tài liệu phong phú và đa dạng trên internet, từ đó nâng cao sự hiểu biết và khả năng nghiên cứu của học sinh. Ngoài ra, học sinh cũng có thể sử dụng các ứng dụng và phần mềm giáo dục để tăng cường kỹ năng và kiến thức của mình.<br><br></div><div><br>Không chỉ trong lớp học truyền thống, công nghệ thông tin còn giúp mở ra nhiều cơ hội học tập trực tuyến. Học sinh có thể tham gia vào các khóa học trực tuyến, xem video hướng dẫn và thảo luận trực tiếp với giáo viên và sinh viên khác từ xa thông qua các nền tảng học tập trực tuyến.<br><br></div><div><br>Tóm lại, công nghệ thông tin đã mang lại nhiều lợi ích trong quá trình dạy học. Nó giúp tăng cường tương tác, nâng cao sự hiểu biết và mở rộng cơ hội học tập không chỉ trong lớp học truyền thống mà còn qua các khóa học trực tuyến và các nguồn tài liệu trực tuyến</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:35:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659453854</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lê Thị Hà 26/8/1988 THPT Tân Uyên Lai Châu</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659453926</link>
         <description><![CDATA[<div>Dạy học truyền thống là những các thức, phương pháp dạy học quen thuộc, đã có từ rất lâu. Khi dạy học theo truyền thống này thì việc ứng dụng công nghệ thông tin vào bài học là cực kỳ ít hoặc gần như không có. Phương pháp dạy học truyền thông bao gồm ba nhóm:<br>	•	Nhóm phương pháp dùng lời: thuyết trình, vấn đáp…<br>	•	Phương pháp trực quan: minh hoạ, quan sát…<br>	•	Nhóm phương pháp thực hành: thực hành thí nghiệm, luyện tập…<br>Hiểu đơn giản thì phương pháp dạy học này lấy giáo viên làm trung tâm. Giáo viên là người trực tiếp giảng giải kiến thức cho học sinh. Về phía học sinh thì chỉ cần tập trung lắng nghe, ghi chép rồi học thuộc lại toàn bộ kiến thức.<br>Phương pháp giảng dạy truyền thống đã được thực hiện từ rất lâu, đem lại nhiều hiệu quả tích cực cho việc giảng dạy. Cách dạy học truyền thống đặc biệt coi trọng việc truyền tải kiến thức nên nội dung bài dạy sẽ có tính hệ thống và logic cao. Từ đó, người dạy truyền được nhiều kiến thức tới cho người học. Bên cạnh đó, vào cuối mỗi học phần sẽ có một bài kiểm tra miệng hoặc kiểm tra viết nhằm kiểm tra lại khả năng ghi nhớ kiến thức của người học.<br>*dạy học áp dụng công nghệ<br><br>- ứng dụng công nghệ vào giảng dạy có vai trò thúc đẩy giáo dục mở, giúp hoạt động giáo dục đạt hiệu quả cao hơn<br>- người dạy và học dễ dàng thu thập, tổng hợp, lưu trữ được lượng kiến thức phong phú đa dạng và được cập nhật thường xuyên<br>- mang lại sự tiện lợi bởi không gian và thời gian học tập nghiên cứu linh động:<br>- vai trò trong việc thúc đẩy phát triển năng lực cá nhân<br>- vai trò trong việc nghiên cứu, chuyển giao KHCN<br>- đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao về chất lượng nguồn nhân lực, thích ứng nhanh với công việc trong tương lai</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:36:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659453926</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Sự khác nhau đó là khi có cngd việc tương tác giữa giáo viên và học sinh linh hoạt đa dạng thường xuyên và nhiều hơn. Việc quản lý trong giáo dục được thực hiện hiệu quả hơn. Khai thác học liệu số giúp ích rất nhiều cho việc dạy và học....</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659453983</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:36:04 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659453983</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đỗ Minh Hùng (15/01/1998) Trường trung tâm GDTX huyện Giao Thuỷ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659454192</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1977072073/017dbee02e735cbae37b180529336d56/B_i_l_m____Minh_H_ng.docx" />
         <pubDate>2023-08-10 13:36:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659454192</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Hồng Nhung- 17/03/1992 TT GDNN-GDTX huyện Thanh Trì</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659454234</link>
         <description><![CDATA[<div>Khi&nbsp;có sự hỗ trợ của công nghệ trong giáo dục đã làm chuyển biến quá trình dạy học và tiếp nhận tri thức. Người dạy chuyển từ truyền đạt kiến thức 1 chiều trở thành người hướng dẫn, dẫn dắt người học tìm hiểu và lĩnh hội kiến thức. Người học từ tiếp thu kiến thức 1 cách thụ động chuyển sang chủ động tìm kiếm các kiến thức thông qua các nguồn tài liệu mở, nguồn tài liệu nhiều hơn nhờ công nghệ. Người học có thể chủ động tìm kiếm kiến thức nhiều hơn, rộng hơn không những thế còn phát huy được sự sáng tạo trong người học thông qua các phần mền, các trang mạng xã hội. Không những thế, người dạy còn tiết kiệm được thời gian cho việc lưu trữ, soạn thảo tài liệu mà thay vào đó sẽ có nhiều thời gian phát triển chuyên môn, sáng tạo cách dạy và hỗ trợ người học được nhiều hơn.  Công nghệ còn kéo gần khoảng cách giữa người dạy và người học cả về địa lý và cách làm việc giúp tiết kiệm thời gian, công sức hơn.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:36:28 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659454234</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Thị Chiên (10/3/1987) - THPT Ninh Giang - Hải Dương </title>
         <author>phamchien0310</author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659454268</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>*CNGD mang lại rất nhiều lợi ích như:&nbsp;</strong></div><div>- ứng dụng công nghệ vào giảng dạy có vai trò thúc đẩy giáo dục mở, giúp hoạt động giáo dục đạt hiệu quả cao hơn</div><div>- người dạy và học dễ dàng thu thập, tổng hợp, lưu trữ được lượng kiến thức phong phú đa dạng và được cập nhật thường xuyên</div><div>- mang lại sự tiện lợi bởi không gian và thời gian học tập nghiên cứu linh động</div><div>- CNGD thúc đẩy phát triển năng lực cá nhân&nbsp;<br>*Ví dụ: Trước đây hs thường chỉ được tiếp cận qua tài liệu giấy mà thầy cô phát, ngày nay HS có thể tiếp cận các bài giảng điện tử, học liệu điện tử dễ dàng </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:36:32 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659454268</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Thị Thu Trang- TT GDNN-GDTX Tân Lạc 01/11/1988</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659454531</link>
         <description><![CDATA[<div>Ứng dụng công nghệ trong dạy học là việc sử dụng các thành tựu của khoa học, công nghệ vào giáo dục, giúp người học giữ vai trò chủ động hơn. Điều này đã làm thay đổi cách giáo dục một chiều truyền thống, không còn tình trạng giáo viên luôn là người giảng và đặt câu hỏi, còn trò chỉ trả lời và ghi chép một cách máy móc.<br><br></div><div><strong>Ví dụ:<br></strong><br></div><ul><li>Cách sử dụng truyền thống: Ứng dụng trình chiếu PowerPoint, sử dụng máy chiếu, kết hợp đa phương tiện vào bài giảng,…</li><li>Cách ứng dụng mới: Dạy học qua nền tảng lớp học ảo, các khóa học trực tuyến, sử dụng tính năng bảng trắng kỹ thuật số Whiteboard, trang bị màn hình tương tác thông minh trong lớp học,…</li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:36:48 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659454531</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659454935</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2104884869/806e301f7ca1b4de357bca1ca1941406/IMG_8406.jpeg" />
         <pubDate>2023-08-10 13:37:22 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659454935</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Thị Thúy Lộc - THPT Tân Uyên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659455055</link>
         <description><![CDATA[<div>Thứ nhất, ứng dụng công nghệ vào giảng dạy có vai trò thúc đẩy giáo dục mở, giúp hoạt động giáo dục đạt hiệu quả cao hơn: Công nghệ thúc đẩy một nền giáo dục mở, giúp con người tiếp cận thông tin đa chiều, rút ngắn khoảng cách, thu hẹp mọi không gian, tiết kiệm tối ưu về thời gian. Từ đó con người phát triển nhanh hơn về kiến thức, nhận thức và tư duy. Chương trình giáo dục mở giúp con người trao đổi và tìm kiếm kiến thức một cách hiệu quả. Học và dạy hiện đại yêu cầu cần phải tiếp cận một vấn đề từ nhiều nguồn thông tin khác nhau, dưới nhiều góc nhìn khác nhau, qua đó người đọc có được cái nhìn phổ quát, có cơ hội đào sâu kiến thức, tìm ra được bản chất cốt yếu, nguyên nhân sâu xa của vấn đề, góp phần nâng cao kiến thức, thay đổi tư duy, điều này gián tiếp giúp cho công tác học tập nghiên cứu đạt hiệu quả cao hơn. Đi kèm với giáo dục mở là tài nguyên học liệu mở, giúp người học, người dạy kết nối với kiến thức hiệu quả dù họ ở đâu và trong khoảng thời gian nào. Tài nguyên học liệu mở là một xu hướng phát triển tất yếu của nền giáo dục hiện đaị.<br>Thứ hai, người dạy và học dễ dàng thu thập, tổng hợp, lưu trữ được lượng kiến thức phong phú đa dạng và được cập nhật thường xuyên: Với giáo dục truyền thống, sinh viên tiếp nhận kiến thức chủ yếu từ sách vở, giáo trình và ngồi nghe giáo viên giảng trên lớp thì hiện nay, nguồn kiến thức đa dạng này được cung cấp trực tuyến qua kết nối internet, chúng ta có thể tìm thấy hàng nghìn hàng triệu kết quả tra cứu sau một cú click chuột. Công nghệ giúp truy cập tức thời tới các nguồn tri thức, từ kiến thức phổ thông tới tri thức học thuật đều có thể dễ dàng tìm kiếm và áp dụng trong các quy trình giảng dạy thông qua các hệ thống tra cứu của thư viện, các máy tìm kiếm (search engines) như Google Search, Google Scholars, Google Books, các cơ sở dữ liệu học thuật như Scopus, các mạng xã hội học thuật như Academia, Resarch Gates,… Trong giáo dục hiện đại, người dạy là người truyền thu kiến thức cơ bản, cốt lõi, đóng vai trò là người hướng dẫn người học cách thức khai thác thông tin dồi dào, đa chiều từ Internet. Điều này đóng một vai trò to lớn trong quá trình đổi mới giáo dục giúp cá nhân hóa học tập, rèn luyện, nâng cao tinh thần học tập chủ động, học tập đi đôi với thực tiễn, nhằm phát huy tối đa tính sáng tạo của mình.<br><br>Thứ ba là mang lại sự tiện lợi bởi không gian và thời gian học tập nghiên cứu linh động: Người học có thể tự học ở mọi lúc (bất kể thời gian nào được cho là phù hợp với từng cá nhân), mọi nơi (bất kể nơi nào miễn có kết nối internet với chương trình trực tuyến, hoặc có thể lưu lại để học trên máy tính, điện thoại (khi không có kết nối internet). Ứng dụng công nghệ cho phép tất cả mọi người có thể tham gia thảo luận một vấn đề nào đó (hội thảo, hội nghị, họp,…) mà không cần phải tập trung tại một địa điểm, không phải ở cùng 1 quốc gia,&nbsp; qua đó góp phần tạo ra một xã hội học tập rộng lớn mà ở đó, người học có thể chủ động học tập, trao đổi kiến thức, trau dồi kinh nghiệm suốt đời.<br>Thứ tư là vai trò trong việc thúc đẩy phát triển năng lực cá nhân: Với sự thuận tiện cho việc học ở mọi lúc mọi nơi, ứng dụng công nghệ sẽ tạo cơ hội cho người học có thể lựa chọn những vấn đề mà mình ưa thích, phù hợp với năng khiếu, sở thích, từ đó phát triển theo thế mạnh của từng người. Chính điều đó sẽ thúc đẩy sự phát triển của các tài năng. Chương trình học sẵn có, học liệu mở phong phú khiến cho việc tra cứu dễ dàng sẽ gián tiếp thúc đẩy các cá nhân chủ động trang bị thêm nhiều những kiến thức mới, lấp đầy những lỗ hổng, kích thích tìm tòi, khám phá và sáng tạo. Bên cạnh đó, với công nghệ phù hợp, hấp dẫn nên dễ dàng gắn kết người học. Các thiết bị như máy tính, máy tính bảng, điện thoại thông minh có kết nối Internet đều là những công cụ mà người học có thể sử dụng ở nhà hay bất cứ đâu ngay cả trên đường di chuyển. Do đó, người học sẽ thoải mái và tích cực hơn khi dùng các công cụ này để kết nối với bạn học, thầy cô và với nhà trường. Sử dụng công nghệ trong lớp học giúp người học dễ dàng biểu thị mối quan tâm, sự chú ý, những mong đợi và thái độ tích cực với việc học, qua đó nâng cao chất lượng dạy và học.<br><br>Thứ năm là vai trò trong việc nghiên cứu, chuyển giao KHCN: Việc ứng dụng công nghệ thông tin nói chung trong quản trị hoạt động nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ trong các trường đại học bao gồm các nội dụng cơ bản như: Ứng dụng trong quản trị việc đăng ký và cấp mã số các đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ; Ứng dụng trong quản trị hoạt động nghiên cứu khoa học của chủ thể nghiên cứu khoa học; Ứng dụng trong quản trị đầu ra của sản phẩm nghiên cứu khoa học; Ứng dụng trong quản trị và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Như vậy, các trường đại học, làm tốt việc ứng dụng công nghệ trong quản trị hoạt động nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ, sẽ góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cho người làm công tác nghiên cứu khoa học, qua đó cũng nâng tầm vị thế, khẳng định được thương hiệu, xây dựng được hình ảnh của các cơ sở giáo dục đào tạo.Thư sáu, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao về chất lượng nguồn nhân lực, thích ứng nhanh với công việc trong tương lai: Xu hướng giáo dục và đào tạo ngày nay là đào tạo đi đôi với sử dụng, dạy nghề đi đối với hướng nghiệp ngày càng trở nên phổ biến đối với các trường đại học ở trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Việc người học được tiếp cận những ứng dụng công nghệ ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường sẽ giúp rèn luyện những kỹ năng thực hành, làm việc trong môi trường công nghệ, khi ra trường sẽ sớm hòa nhập với môi trường làm việc mới đòi hỏi những kỹ năng cũng như hiểu biết nhất định về công nghệ. Trên thực tế không chỉ dừng ở kỹ năng số, người học còn được rèn kỹ năng mềm, tư duy phản biện, khả năng nghiên cứu độc lập, và thành thạo trong phối hợp sử dụng công nghệ nên nhanh chóng đáp ứng được những đòi hỏi cấp thiết của thực hiễn thực hành nghề nghiệp. Do đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục có tác động trực tiếp đến nguồn nhân lực có chất lượng cao cho doanh nghiệp, tạo điều kiện mở rộng hợp tác lao động. Việc hợp tác lao động trên thị trường, sẽ tạo sự liên kết giữa nhà trường - doanh nghiệp - người học, mang lại lợi ích cho tất cả các các bên: Đối với người học, được cam kết tuyển dụng ngay sau khi tốt nghiệp. Đối với nhà trường, sẽ nâng cao thương hiệu, uy tín và vị thế trên thị trường giáo dục, đồng thời ngày càng thu hút được người học. Đối với doanh nghiệp, mô hình này sẽ giúp họ chủ động nguồn nhân lực được đào tạo bài bản theo đúng yêu cầu của doanh nghiệp.<br><br>Như vậy, ứng dụng công nghệ trong giảng dạy và học tập hay nói cách khác việc đổi mới chương trình đào tạo theo hướng cập nhật các công nghệ tiên tiến, hiện đại sẽ là nền tảng để cung ứng được nguồn nhân lực dồi dào có chất lượng cao cho nền kinh tế thị trường hiện nay.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:37:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659455055</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Thỏa Trường THPT Tân Uyên, Lai Châu</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659455170</link>
         <description><![CDATA[<div>Đối với người dạy: Nâng cao tính sáng tạo và trở nên linh hoạt hơn trong quá trình giảng dạy của mình. Thầy cô không chỉ bó buộc trong khối lượng kiến thức hiện có mà còn được tìm hiểu thêm và kết nối những kiến thức của cả những chuyên ngành khác như tin học và học hỏi được các kỹ năng sử dụng hình ảnh, âm thanh trong việc thiết kế bài giảng; Bài giảng ngày càng phong phú, hấp dẫn hơn; Dễ dàng chia sẻ bài giảng với đồng nghiệp, cùng nhau thảo luận và nâng cao chất lượng bài giảng của mình.<br><br></div><div>Đối với người học: Được tiếp cận phương pháp dạy học mới hấp dẫn hơn hẳn phương pháp đọc - chép truyền thống; Sự tương tác giữa thầy cô và học trò cũng được cải thiện đáng kể, học sinh có nhiều cơ hội được thể hiện quan điểm cũng như chính kiến riêng của mình; Giúp cho giáo viên hiểu thêm về năng lực, tính cách và mức độ tiếp thu kiến thức của học trò, từ đó có những điều chỉnh phù hợp và khoa học để thúc đẩy phát triển năng lực của từng cá nhân người học; Rèn luyện kỹ năng cần thiết ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.<br><br></div><div>Đối với xã hội: Chất lượng giáo viên được nâng cao, các phương pháp giảng dạy được thay đổi theo chiều hướng tích cực.&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:37:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659455170</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Bình - THPT Thăng Long, HN</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659455173</link>
         <description><![CDATA[<div>Dạy học dựa trên nhu cầu của người học và biết cách tổ chức để học sinh, sinh viên thực hiện bằng được những nhu cầu bản thân là cả một nghệ thuật. Nó đòi hỏi người dạy phải thật sự tâm huyết, năng động và sáng tạo, phải thay đổi tư tưởng trong cách dạy, không chỉ là một người truyền đạt kiến thức mà còn là người chia sẽ các phương pháp học tập, nghiên cứu khoa học và cách tích lũy, tìm tòi kiến thức; giúp người học phát huy được khả năng tự nghiên cứu, tự học của bản thân.<br>(1) Thay đổi phương pháp giảng dạy: Thay đổi quan trọng nhất là giảng viên phải thay đổi phương pháp giảng dạy từ người truyền đạt các kiến thức trở thành người giúp sinh viên thay đổi kỹ năng giải quyết vấn đề, tư duy sáng tạo và xóa mù thông tin. Cách dạy cũ không thể tạo ra những công dân thích hợp cho thế kỉ XXI – những công dân toàn cầu.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:37:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659455173</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Bình- THPT Thăng Long, HN</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659455387</link>
         <description><![CDATA[<div>Từ cuộc CMCN 4.0 dẫn đến kết quả tất yếu là nền giáo dục tương lai tiên tiến định hình và phát triển, nền “Giáo dục 4.0”. Trong nền giáo dục 4.0, nguồn lực con người chất lượng cao mới là nguồn lực chủ yếu cho sự phát triển kinh tế xã hội thay vì nguồn lực tài chính hay nhân công rẻ, kém chất lượng như hiện nay. Lớp học số hóa, các thiết bị thông minh, thiết bị không dây và đa phương tiện kỹ thuật số ảo được phát triển mạnh, khóa học trên thiết bị di động và thiết kế trò chơi học tập là những công nghệ được hình thành trong kỷ nguyên số, làm cho giáo dục phải thay đổi để phù hợp và tiệm cận với xu thế phát triển của công nghệ. Công nghệ giáo dục thay đổi thì những xu hướng học tập trong nền giáo dục 4.0 cũng phải thay đổi, một số xu hướng giáo dục sẽ hình thành như xã hội học tập, chia nhỏ bài học, tài nguyên giáo dục mở và thiết bị học tập cá nhân sẽ xuất hiện.<br><br></div><div>Giáo dục 4.0 thay đổi hoàn toàn các mục tiêu học tập, những kỹ năng mới cần phải đạt được cho người tốt nghiệp ra trường cũng phải thay đổi, tư duy sáng tạo, phối hợp hợp tác, phán quyết và định hướng dịch vụ cũng như ra quyết định trong những tình huống phức tạp là những kỹ năng cần thiết trong kỷ nguyên 4.0 để đáp ứng yêu cầu của một thị trường lao động mới. Sự thay đổi về công nghệ, những kỹ năng mới hình thành do yêu cầu của xã hội thời hiện đại và những xu thế giáo dục mới làm cho giáo dục tương lai, giáo dục 4.0 phải có tầm nhìn mới, khác biệt căn bản với nền giáo dục hiện tại. Học mọi lúc mọi nơi, cá nhân hóa việc học tập cũng như tự do lựa chọn học tập của người học, học tập và trải nghiệm thực tế cũng như việc gắn kết việc học tập với xã hội là những ưu điểm vượt trội trong nền giáo dục 4.0. Đối với mỗi cá nhân và xã hội, các công cụ và nguồn lực giáo dục thời kỳ mới hứa hẹn các cơ hội cho các cá nhân phát triển năng lực, kỹ năng và kiến thức đầy đủ và mở ra tiềm năng sáng tạo cho con người. Sự thay đổi căn bản về thị trường lao động trong thời kỳ hiện đại đã đặt ra rất nhiều thách thức cho các trường đại học, đòi hỏi các trường phải đổi mới toàn diện từ phương thức quản trị trường, đến đổi mới chương trình và phương thức tổ chức đào tạo cho phù hợp với xu thế phát triển của nền giáo dục 4.0.<br><br></div><div>Để đạt được điều đó, sự thay đổi cơ bản đầu tiên là thay đổi về phương pháp dạy và học, thay đổi về tư tưởng của giảng viên và sinh viên về việc phương pháp dạy và học, phù hợp với yêu cầu của CMCN 4.0 cũng như nền giáo dục 4.0 đặt ra.<br><strong><br></strong><br></div><div>Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư được cho là đã bắt đầu từ vài năm gần đây, đại thể là cuộc cách mạng về sản xuất thông minh dựa trên các thành tựu đột phá trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ nano,... với nền tảng là các đột phá của công nghệ số.<br><br></div><div>Khái niệm “công nghiệp 4.0” được đưa ra vào năm 2011 tại Hội chợ Hannover, giới thiệu các dự kiến của chương trình công nghiệp 4.0 của nước Đức, nhằm nâng cao nền công nghiệp cơ khí truyền thống của Đức. Điều khác biệt giữa CMCN 4.0 với 3 cuộc cách mạng trước đó là CMCN 4.0 không gắn với sự ra đời của một công nghệ nào cụ thể mà là kết quả hội tụ của nhiều công nghệ khác nhau, trong đó trọng tâm là công nghệ nano, công nghệ sinh học và công nghệ thông tin - truyền thông. CMCN 4.0 bắt nguồn từ cuộc cách mạng lần thứ 3, nó kết hợp các công nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh học.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:37:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659455387</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Huế. THPT Mường Kim        1. Trước khi có công nghệ giáo dục công cụ của giáo viên là bảng đen giấy trắng và tài liệu bằng sách vở , học sinh tiếp thu kiến thức bằng nghe trực tiếp và ghi chép trên giấy    2. Sau khi có công nghệ giáo dục hs và gv có thể  tiếp thu các tài liệu sách mềm trên các thiết bị điện tử, có thể học tập trực tuyến, kết quả học hiệu quả hơn nhờ CNGD, phụ huynh có thể nắm bắt tình hình hs</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659456022</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:38:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659456022</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Tiến Đô, TTGDNN-GDTX Thanh Thủy,  Phú Thọ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659456025</link>
         <description><![CDATA[<div>Việc dạy và học trước và sau khi có ứng dụng CNTT:<br>- CNTT mang lại lợi ích lớn: Hỗ trợ GV trong việc soạn và giảng dạy; tạo điều kiện thích nghi với công nghệ mới; hỗ trợ người học tạo điều kiện tự học hiệu quả; kiến thức đa dạng và được cập nhật thường xuyên; nâng cao chất lượng bài giảng, chất lượng đào&nbsp; tạo; đa dạng hóa&nbsp; các hình thức dạy học...&nbsp;<br>- GV ứng dụng CNTT ở nhiều mức độ, tạo môi trường học tập thú vị và chất lượng học tập tốt hơn. </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:38:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659456025</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Quỳnh. TT GDNN-GDTX Thanh Trì</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659456030</link>
         <description><![CDATA[<div>*TRƯỚC KHI CÓ CNGD<br>&nbsp;Dạy và học là quá trình truyền thụ, tiếp thu và lĩnh hội. Chưa tạo ra sự đa dạng, phong phú trong cách thức triển khai các hoạt động dạy và học.<br>* SAU KHI CÓ CNGD:&nbsp;<br>- Tạo ra những bài học thú vị thu hút sự chú ý của người học<br>- Hỗ trợ các lớp học diễn ra liên tục, không bị ngắt quãng<br>- Tạo điều kiện thuận lợi cho nhóm người học đặc biệt<br>- Tăng cường kết nối, thúc đẩy sự hợp tác và xây dựng&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:38:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659456030</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Tuyết Nhung Trung tâm GDNN-GDTX Thường Tín</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659456119</link>
         <description><![CDATA[<div>Trước khi có CNGD: Nội dung của việc dạy học truyền thống người học và người dạy phải trực tiếp dạy và học trong lớp học, gói chọn trong sách vở và những gì nhận được trên lớp do giáo viên truyền đạt. Bó gọn trong 1 không gian và thời gian nhất định. Với cách học hiện đại người học được tiếp nhận từ nhiều nguồn kiến thức khác nhau: sách vở, intenet, các học liệu sô... Dạy học trong môi trường hết sức cơ động&nbsp; và linh hoạt: học ở lớp, học online, học theo nhóm...</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:39:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659456119</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Đức Đình - Trường THPT Mường Kim - Than Uyên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659456131</link>
         <description><![CDATA[<div>Dạy học hiện nay với việc ứng dụng công nghệ giáo dục đã làm thay đổi hoàn toàn về mục tiêu học tập,&nbsp; kỹ năng cần đạt cho người dạy cũng như người học... Nhằm đáp ứng chương trình phổ thông 2018.<br>Ví dụ: - Đối với người dạy phải nâng cao năng lục sử dụng các phương tiện công nghệ phục vụ quá trình dạy học,&nbsp; nâng cao năng lực bồi dưỡng...<br>- Đối với hs: giúp các e có thể truy cập các kênh thông tin để tìm hiểu thêm kiến thức mới,  giúp học mọi lúc,  mọi nơi... </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:39:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659456131</guid>
      </item>
      <item>
         <title>NGUYỄN BÁ TƯỞNG- THPT TÂN LẬP- HÀ NỘI;                                                                        bản chất cốt yếu, nguyên nhân sâu xa của vấn đề,</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659456161</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2104883746/6477be87b416f752b562cca0d9838175/NGUY_N_B__T__NG.docx" />
         <pubDate>2023-08-10 13:39:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659456161</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vũ Thị Thanh Phương - 01/09/1983 - THPT Mường Kim</title>
         <author>vttphuong83</author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659456189</link>
         <description><![CDATA[<div>Một số lợi ích trong việc dạy và học sau khi có CNGD</div><div>- Tạo ra những bài học thú vị thu hút sự chú ý của người học</div><div>Người dạy có thể sử dụng các phông nền màu sắc sinh động, chèn thêm các tệp tin đa phương tiện để minh họa cho bài học, đưa ra câu hỏi trắc nghiệm ngay trong buổi học,… để thu hút sự chú ý của người học. Theo đó, người học sẽ quan tâm hơn tới nội dung bài học và chủ động tham gia xây dựng bài, kể cả khi chỉ đang học trực tuyến.</div><div>Ví dụ: GV sử dụng các phần mềm như PowerPoint, Canva, Azota, Quizziz, Kahoot,…</div><div>- Tăng cường kết nối, thúc đẩy sự hợp tác và xây dựng nhóm</div><div><br>Với công nghệ trong lớp học, việc kết nối và làm bài tập giữa các nhóm người học trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết.&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:39:08 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659456189</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659456309</link>
         <description><![CDATA[<div>Họ và tên: Trần Thị Duyên - Trung tâm GDNN - GDTX Thường Tín<br>Trả lời:&nbsp;<br>- Việc dạy học trước khi có công nghệ GD: đa số giảng dạy theo phương pháp truyền thống với các phương pháp như diễn giảng, thuyết trình , đàm thoại, làm việc với sách giáo khoa, sử dụng các dụng cụ trực quan.&nbsp;<br>Việc dạy học khi ứng dụng công nghệ số việc giảng dạy có nhiều thuận lợi:<br>+giúp học sinh và giáo viên tiếp cận nhiều học liệu mới<br>+ truy cập được nhiều tài liệu, khóa học trên khắp thế giới<br>+ Sử dụng tài liệu không cần in ấn tốn kém lại có hiệu quả sinh động.<br>+ đa dạng trong cách kiểm tra đánh giá<br><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:39:15 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659456309</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phân tích việc dạy và học trước và sau khi có CNGD? Lấy ví dụ minh họa </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659456310</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Trước:</strong> học sinh học bài trên lớp, nghe giảng trực tiếp, thầy cô giảng bài theo cách đọc chép. Khả năng tiếp thu kiến thức chưa triệt để.&nbsp;<br><br></div><div>Giáo viên làm trung tâm truyền đạt kiến thức, học sinh sẽ là người tiếp thu, học sinh sẽ không phát huy khả năng sáng tạo, tư duy, áp dụng thực tế.<br><br></div><div><strong>Sau:</strong> Học sinh có thể học mọi lúc, mọi nơi (đa dạng địa điểm: học ở nhà, công viên,… và thời gian: sáng , trưa, chiều, tối)&nbsp;<br><br></div><div>Học sinh được trải nghiệm thực tế, học sinh&nbsp; có năng lực tư duy và sáng tạo, đổi mới, có kỹ năng phân tích và tổng hợp thông tin, có khả năng làm việc độc lập và ra quyết định.&nbsp;<br><br></div><div>Các lớp học đã tương tác nhiều hơn với nhau, với thầy cô, hoạt động nhiều hơn, học sinh&nbsp; đã tích cực chủ động. Ví dụ: học sinh tự làm bài PowPoint thuyết trình, làm video, tự quay các bài tập…<br><br></div><div>Giáo viên thay đổi phương pháp giảng dạy ,phải thay đổi phương pháp giảng dạy từ người truyền đạt các kiến thức trở thành người giúp sinh viên thay đổi kỹ năng giải quyết vấn đề, tư duy sáng tạo người dạy cũng cần thay đổi phương pháp giảng dạy, dần dần chuyển đổi từ phương pháp đọc – chép - học thuộc lòng sang hình thức giảng dạy khác phù hợp hơn như dạy học nêu vấn đề, thảo luận nhóm, báo cáo – thảo luận, học tập lý thuyết kết hợp sinh hoạt thực tế,....<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:39:15 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659456310</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659456358</link>
         <description><![CDATA[<div>THẢO LUẬN: Phân tích việc dạy và học trước và sau khi có CNGD? 
Lấy ví dụ minh họa<strong><br>Đối với người dạy: </strong>Nâng cao tính sáng tạo và trở nên linh hoạt hơn trong quá trình giảng dạy của mình. Thầy cô không chỉ bó buộc trong khối lượng kiến thức hiện có mà còn được tìm hiểu thêm và kết nối những kiến thức của cả những chuyên ngành khác như tin học và học hỏi được các kỹ năng sử dụng hình ảnh, âm thanh trong việc thiết kế bài giảng; Bài giảng ngày càng phong phú, hấp dẫn hơn; Dễ dàng chia sẻ bài giảng với đồng nghiệp, cùng nhau thảo luận và nâng cao chất lượng bài giảng của mình.<br><br></div><div><strong>Đối với người học:</strong> Được tiếp cận phương pháp dạy học mới hấp dẫn hơn hẳn phương pháp đọc - chép truyền thống; Sự tương tác giữa thầy cô và học trò cũng được cải thiện đáng kể, học sinh có nhiều cơ hội được thể hiện quan điểm cũng như chính kiến riêng của mình; Giúp cho giáo viên hiểu thêm về năng lực, tính cách và mức độ tiếp thu kiến thức của học trò, từ đó có những điều chỉnh phù hợp và khoa học để thúc đẩy phát triển năng lực của từng cá nhân người học; Rèn luyện kỹ năng cần thiết ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.<br><br></div><div><strong><br>Đối với xã hội: </strong>Chất lượng giáo viên được nâng cao, các phương pháp giảng dạy được thay đổi theo chiều hướng tích cực. Chúng ta có thể hy vọng vào một ngày không xa, nền giáo dục Việt Nam sẽ theo kịp được sự phát triển của các nước có nền giáo dục hàng đầu trên thế giới.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:39:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659456358</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lê Thị Thu Hòa ( 9/10/1977)- THPT Hàn Thuyên- BắcNinh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659456601</link>
         <description><![CDATA[<div>Việc dạy và học trước và sau khi có CNGD<br>học sinh học nghiêm túc, gv là trung tâm<br>sau khi có CNGD chúng ta lấy hs làm trung tâm</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:39:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659456601</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Khuất Hữu Cường THPT Phùng Khắc Khoan -Thạch Thất-Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659456748</link>
         <description><![CDATA[<div>Ứng dụng chuyển đổi số trong việc dạy học trong thời đại 4.0 mang lại nhiều hiệu quả tích cực.Trước khi có CNGD ta dạy theo pp truyền thống chưa mang lại hiệu quả cao ,chưa tạo tính chủ động nhiều cho người học,Khi CNGD được áp dụng mang lại hiểu quả cao trong giảng dạy cũng như đánh giá học sinh..</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:39:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659456748</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659456837</link>
         <description><![CDATA[<div>Trước khi có CNGD&nbsp; khó chia sẻ, khó tương tác, khó lưu trữ.&nbsp;<br>Sau khi có CNGD dễ chia sẻ dễ tương tác. HS hứng thú học tập.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:40:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659456837</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Sau khi có CNGD  việc dạy thu hút được sự chú ý, kích thích tư duy và sáng tạo của HS; </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659456897</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:40:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659456897</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vũ Thị Tuyết thpt Ngọc Tảo 27/10/1989</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659456906</link>
         <description><![CDATA[<div>THẢO LUẬN: Phân tích việc dạy và học trước và sau khi có CNGD?&nbsp;<br>Trước: nguồn tài liệu chủ yếu là giấy, dc lưu giữ chia sẻ dc ít đối tượng hs.<br>Sau: Nguồn tài liệu phong phú, lấy hs làm trung tâm, chia sẻ dc nhiều<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:40:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659456906</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Khuất Thị Hường 15/08/1982- thpt Phúc  Thọ - Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659457013</link>
         <description><![CDATA[<div>- Trước khi có CNGD: Việc dạy học chỉ mang tính truyền thống, giáo viên và học sinh tương tác với nhau qua những phương pháp đơn giản , học liệu chủ yếu là sgk, giáo án,...<br>- Sau khi có CNGD: mang lại rất nhiều lợi ích: hợp tác giữ giáo viên và học sinh , lấy học sinh là trung tâm , học liệu phong phú đa dạng dễ trao đổi, dễ tiếp cận<br><br>+&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:40:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659457013</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hà văn Hùng_ THPT Mường Kim_ Lai châu</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659457175</link>
         <description><![CDATA[<div>Sau&nbsp;khi có CNGD thì việc dạy học thuận lợi hơn. Việc truyền tải kiến thức giữa giáo viên và hs diễn ra thường xuyên hơn. Lấy hs làm trung tâm dạy học theo hình thức mở.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:40:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659457175</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Huyền Thanh 16/6/1999 TT GDNN-GDTX huyện Thanh Trì</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659457421</link>
         <description><![CDATA[<div>Khi&nbsp;có sự hỗ trợ của công nghệ trong giáo dục đã làm chuyển biến quá trình dạy học và tiếp nhận tri thức. Người dạy chuyển từ truyền đạt kiến thức 1 chiều trở thành người hướng dẫn, dẫn dắt người học tìm hiểu và lĩnh hội kiến thức. Người học từ tiếp thu kiến thức 1 cách thụ động chuyển sang chủ động tìm kiếm các kiến thức thông qua các nguồn tài liệu mở, nguồn tài liệu nhiều hơn nhờ công nghệ. Người học có thể chủ động tìm kiếm kiến thức nhiều hơn, rộng hơn không những thế còn phát huy được sự sáng tạo.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:41:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659457421</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659458032</link>
         <description><![CDATA[<div>ứng dụng công nghệ vào giảng dạy có vai trò thúc đẩy giáo dục mở, giúp hoạt động giáo dục đạt hiệu quả cao hơn: Công nghệ thúc đẩy một nền giáo dục mở, giúp con người tiếp cận thông tin đa chiều, rút ngắn khoảng cách, thu hẹp mọi không gian, tiết kiệm tối ưu về thời gian. Từ đó con người phát triển nhanh hơn về kiến thức, nhận thức và tư duy. Chương trình giáo dục mở giúp con người trao đổi và tìm kiếm kiến thức một cách hiệu quả. Học và dạy hiện đại yêu cầu cần phải tiếp cận một vấn đề từ nhiều nguồn thông tin khác nhau, dưới nhiều góc nhìn khác nhau, qua đó người đọc có được cái nhìn phổ quát, có cơ hội đào sâu kiến thức, tìm ra được bản chất cốt yếu, nguyên nhân sâu xa của vấn đề, góp phần nâng cao kiến thức, thay đổi tư duy, điều này gián tiếp giúp cho công tác học tập nghiên cứu đạt hiệu quả cao hơn. Đi kèm với giáo dục mở là tài nguyên học liệu mở, giúp người học, người dạy kết nối với kiến thức hiệu quả dù họ ở đâu và trong khoảng thời gian nào. Tài nguyên học liệu mở là một xu hướng phát triển tất yếu của nền giáo dục hiện đaị.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:41:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659458032</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đỗ Thị Thanh Thuỷ - THPT Tân Uyên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659458652</link>
         <description><![CDATA[<div>ứng dụng công nghệ vào giảng dạy có vai trò thúc đẩy giáo dục mở, giúp hoạt động giáo dục đạt hiệu quả cao hơn: Công nghệ thúc đẩy một nền giáo dục mở, giúp con người tiếp cận thông tin đa chiều, rút ngắn khoảng cách, thu hẹp mọi không gian, tiết kiệm tối ưu về thời gian. Từ đó con người phát triển nhanh hơn về kiến thức, nhận thức và tư duy. Chương trình giáo dục mở giúp con người trao đổi và tìm kiếm kiến thức một cách hiệu quả. Học và dạy hiện đại yêu cầu cần phải tiếp cận một vấn đề từ nhiều nguồn thông tin khác nhau, dưới nhiều góc nhìn khác nhau, qua đó người đọc có được cái nhìn phổ quát, có cơ hội đào sâu kiến thức, tìm ra được bản chất cốt yếu, nguyên nhân sâu xa của vấn đề, góp phần nâng cao kiến thức, thay đổi tư duy, điều này gián tiếp giúp cho công tác học tập nghiên cứu đạt hiệu quả cao hơn. Đi kèm với giáo dục mở là tài nguyên học liệu mở, giúp người học, người dạy kết nối với kiến thức hiệu quả dù họ ở đâu và trong khoảng thời gian nào. Tài nguyên học liệu mở là một xu hướng phát triển tất yếu của nền giáo dục hiện đaị.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:42:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659458652</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659459479</link>
         <description><![CDATA[<div>Nguyễn Thị Mai Hương 27/10/79 THPT Cầu Giấy&nbsp;<br>-Trc chưa có CNDH thì gv dạy truyền thống lấy gv là trung tâm<br>-Khi có CNDH hỗ trợ cho gv rất nh lấy hs làm trung tâm và phát huy tính chủ động tích cực ở hs , gv tổ chức dc nh hoạt động trg dạy học&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:43:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659459479</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đỗ Thị Ngọc Hà Thpt Hoài Đức A</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659459508</link>
         <description><![CDATA[<div>Trước khi có CNGD thì dạy học mang tính truyền thống và nghe giảng nhiều ,học sinh tương tác ít và học sinh ko chủ động sáng tạo<br>Khi có CNgD thì Hs có làm việc nhóm và các phương pháp dạy học tích cực và áp dụng được các CNGD và từ đó phát triển phẩm chất và năng lực ngưòi học</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:44:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659459508</guid>
      </item>
      <item>
         <title>-	Việc dạy:  Hỗ trợ người thầy trong việc soạn giảng và giảng dạynay với thời đại công nghệ thông tin đã giúp cho người dạy tiết kiệm thời gian soạn bài giảng hơn rất nhiều,. Việc học: Hỗ trợ người học trong việc học tậpĐối với người học, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đã giúp họ được tiếp cận phương pháp dạy học mới hấp dẫn hơn phương pháp đọc - chép truyền thống. </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659460148</link>
         <description><![CDATA[<div>Kiều Thị Hảo THPT Ngọc Tảo</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:44:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659460148</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hà Thị Thanh Phương (18/07/1989)+Lã Văn Thinh (24/09/1988) - THPT Mường Kim, Than Uyên, Lai Châu </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659460237</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; PPDH truyền thống là những cách thức dạy học quen thuộc được truyền từ lâu đời và được bảo tồn, duy trì qua nhiều thế hệ. Về cơ bản, phương pháp DH này lấy hoạt động của người thầy là trung tâm. Theo Frire - nhà xã hội học, nhà giáo dục học nổi tiếng người Braxin đã gọi PPDH này là "Hệ thống ban phát kiến thức", là quá trình chuyển tải thông tin từ đầu thầy sang đầu trò. Thực hiện lối dạy này, giáo viên là người thuyết trình, diễn giảng, là "kho tri thức" sống, học sinh là người nghe, nhớ, ghi chép và suy nghĩ theo. Với PPDH truyền thống, giáo viên là chủ thể, là tâm điểm, học sinh là khách thể, là quỹ đạo. Giáo án dạy theo phương pháp này được thiết kế kiểu đường thẳng theo hướng từ trên xuống. Do đặc điểm hàn lâm của kiến thức nên nội dung bài dạy theo phương pháp truyền thống có tính hệ thống, tính logic cao. Song do quá đề cao người dạy nên nhược điểm của PPDH truyền thống là học sinh thụ động tiếp thu kiến thức, giờ dạy dễ đơn điệu, buồn tẻ, kiến thức thiên về lý luận, ít chú ý đến kỹ năng thực hành của người học; do đó kỹ năng hành dụng vào đời sống thực tế bị hạn chế.<br>Sau khi có CNGD thì CNTT tạo điều kiện để đa dạng hóa hình thức dạy học, giáo dục, đáp ứng mục tiêu học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập dựa trên sự kích hoạt mối tương tác xã hội, khuyến khích sự tham gia của các nhà giáo dục và chuyên gia, tạo dựng một cộng đồng chia sẻ thông tin và nguồn tài nguyên học tập trong dạy học, giáo dục có trách nhiệm. Nhiều khóa học đã được xây dựng với những hình thức khác nhau, nhưng tựu trung lại có thể phân loại thành: dạy học trực tiếp hoàn toàn, dạy học trực tiếp có ứng dụng CNTT, dạy học trực tuyến hỗ trợ dạy học trực tiếp, hoàn toàn dạy học trực tuyến thay thế dạy học trực tiếp. Không chỉ HS mà nhiều người học đa dạng cũng được hỗ trợ bồi dưỡng, tự bồi dưỡng để nâng cao năng lực nghề nghiệp góp phần đáp ứng nhu cầu thực tiễn.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:45:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659460237</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659461977</link>
         <description><![CDATA[<div>Trước đây việc dạy học mang tích chất giáo viên đọc học sinh chép, sự tương tác giữa gv và hs rất ít. Học sinh học thường học thụ động, không trao đổi, tương tác, ít đặt câu hỏi phản hồi. Giáo viên là trung tâm. Còn sau khi có CNGD thì lấy người học là trung tâm, gv là người hướng dẫn. Người gv sử dụng cntt vào việc giảng dạy, người học có thể tương tác nhiều hơn, nắm bắt bài học tốt và hiểu nội dung bài học sâu hơn. CNGD sử dụng rộng rãi, nhiều người học.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:47:08 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659461977</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Huyền Thanh-16/6/1999- Trung tâm GDNN - GDTX Thanh Trì</title>
         <author>huyenthanh16061999</author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659466922</link>
         <description><![CDATA[<div>Khi&nbsp;có sự hỗ trợ của công nghệ trong giáo dục đã làm chuyển biến quá trình dạy học và tiếp nhận tri thức. Người dạy chuyển từ truyền đạt kiến thức 1 chiều trở thành người hướng dẫn, dẫn dắt người học tìm hiểu và lĩnh hội kiến thức. Người học từ tiếp thu kiến thức 1 cách thụ động chuyển sang chủ động tìm kiếm các kiến thức thông qua các nguồn tài liệu mở, nguồn tài liệu nhiều hơn nhờ công nghệ. Người học có thể chủ động tìm kiếm kiến thức nhiều hơn, rộng hơn không những thế còn phát huy được sự sáng tạo trong người học thông qua các phần mền, các trang mạng xã hội. Không những thế, người dạy còn tiết kiệm được thời gian cho việc lưu trữ, soạn thảo tài liệu mà thay vào đó sẽ có nhiều thời gian phát triển chuyên môn, sáng tạo cách dạy và hỗ trợ người học được nhiều hơn. Công nghệ còn kéo gần khoảng cách giữa người dạy và người học cả về địa lý và cách làm việc giúp tiết kiệm thời gian, công sức hơn.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-10 13:54:27 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2659466922</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660214794</link>
         <description><![CDATA[<div>Trước: soạn giáo án bằng tay.    Sau: soạn giáo án điện tử, bài giảng điện tử </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:25:47 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660214794</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Hồng (17/06/1988) Trường mầm non Mai Đình B - Sóc Sơn - Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660216522</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Trước khi có CNGD:</strong> học sinh học bài trên lớp, nghe giảng trực tiếp, thầy cô giảng bài theo cách đọc chép. Khả năng tiếp thu kiến thức chưa triệt để.&nbsp;<br>Giáo viên làm trung tâm truyền đạt kiến thức, học sinh sẽ là người tiếp thu, học sinh sẽ không phát huy khả năng sáng tạo, tư duy, áp dụng thực tế.<br><strong>Sau khi có CNGD:</strong> Học sinh có thể học mọi lúc, mọi nơi (đa dạng địa điểm: học ở nhà, công viên,… và thời gian: sáng , trưa, chiều, tối)&nbsp;<br>Học sinh được trải nghiệm thực tế, học sinh&nbsp; có năng lực tư duy và sáng tạo, đổi mới, có kỹ năng phân tích và tổng hợp thông tin, có khả năng làm việc độc lập và ra quyết định.&nbsp;<br>Các lớp học đã tương tác nhiều hơn với nhau, với thầy cô, hoạt động nhiều hơn, học sinh&nbsp; đã tích cực chủ động. Ví dụ: học sinh tự làm bài PowPoint thuyết trình, làm video, tự quay các bài tập…<br>Giáo viên thay đổi phương pháp giảng dạy ,phải thay đổi phương pháp giảng dạy từ người truyền đạt các kiến thức trở thành người giúp sinh viên thay đổi kỹ năng giải quyết vấn đề, tư duy sáng tạo người dạy cũng cần thay đổi phương pháp giảng dạy, dần dần chuyển đổi từ phương pháp đọc – chép - học thuộc lòng sang hình thức giảng dạy khác phù hợp hơn như dạy học nêu vấn đề, thảo luận nhóm, báo cáo – thảo luận, học tập lý thuyết kết hợp sinh hoạt thực tế,....&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:28:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660216522</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Tuyền 15/08/1982. Trường mn Mai Đình B - Sóc Sơn - Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660217077</link>
         <description><![CDATA[<div>Trước khi đưa CN vào dạy học thì gv viên phải soạn giáo án bằng tay </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:29:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660217077</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đặng Thị Hà - 29/03/1993 - Trường Mầm non Mai Đình B - Sóc Sơn - Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660217552</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;Phân tích việc dạy và học trước và sau khi có CNGD?&nbsp;<br>- Trước khi có CNGD: Việc dạy học chỉ mang tính truyền thống, giáo viên và học sinh tương tác với nhau qua những phương pháp đơn giản , học liệu chủ yếu là sgk, giáo án,...<br>- Sau khi có CNGD: mang lại rất nhiều lợi ích: hợp tác giữ giáo viên và học sinh , lấy học sinh là trung tâm , học liệu phong phú đa dạng dễ trao đổi, dễ tiếp cận<br>- Ví dụ:&nbsp;Trước đây, việc học dùng sách giáo khoa thì số lượng người được tiếp xúc, sự sinh động hạn chế, khả năng lưu trữ chưa cao nhưng khi có CNGD - ví dụ như một bài giảng điện tử - có thể chuyển cho nhiều người học, sinh động, lưu trữ được lâu hơn.<br>&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:30:40 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660217552</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Linh Giang 30/04/1998</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660217858</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Ứng dụng công nghệ</strong> trong lĩnh vực giáo dục là việc áp dụng, sử dụng kết hợp những phát minh, những thành tựu của công nghệ vào hoạt động giảng dạy để cải tiến phương pháp, hình thức và công cụ giảng dạy và học tập. Có thể duy trì hoạt động dạy và học trên phạm vi cả nước ở tất cả các cấp học nói chung ngay trong đại dịch Covid từ đầu năm 2020 đến nay bằng <strong>hình thức trực tuyến</strong> đã thực sự là một minh chứng rõ nét, là bước đột phá trong việc triển khai ứng dụng công nghệ trong giáo dục.<br><br>E-learning là một hình thức giáo dục, học tập dựa trên sự kết nối của internet. Giảng viên và học viên đều có thể tham gia vào lớp học được mở trên hệ thống thông qua máy tính máy tính bảng hay điện thoại thông minh có kết nối internet. Khi đăng nhập vào hệ thống, không gian được tổ chức như một lớp học, giảng viên có thể trực tiếp giảng dạy cho người học hoặc giao bài tập, lưu trữ bài giảng, tài liệu học tập dưới nhiều định dạng khác nhau như Word, PDF, Video,… Học viên có thể theo dõi bài giảng trực tuyến hoặc có thể học tập bất cứ lúc nào, nộp bài tập cho giáo viên, thảo luận trong forum, thực hiện các bài kiểm tra trác nghiệm, tự luận, đúng sai,… Cụ thể E-learning có những công cụ hỗ trợ giảng dạy như: Sử dụng công cụ soạn bài điện tử; Công cụ mô phỏng; Công cụ tạo bài kiểm tra; Công cụ tạo bài trình bày có multimedia; Công cụ seminar điện tử,…<br><br></div><div><br>Ngoài ra còn có một số các ứng dụng phần mềm như Camtasia Studio. Những phần mềm này cho phép chúng ta dễ dàng tạo các video hướng dẫn, giải thích, các khóa học trực tuyến với khả năng của chương trình là không giới hạn. Kết nối với người học thông qua các phim ghi hình màn hình, âm thanh, tường thuật giọng nói, PowerPoint, các video hình trong hình và webcam. Các công cụ chủ yếu như: Ghi hình lại mọi thứ; Thiết lập các tùy biến; Thêm một số hiệu ứng; Ghi hình trong hình; Hiệu chỉnh lại đoạn phim ghi được; Xuất phim ra một định dạng theo yêu cầu; Chia sẻ và trình chiếu giáo án điện tử. Microsoft Teams, Zoom là những ứng dụng được nhiều trường đại học sử dụng để thực hiện giảng dạy trực tuyến trong thời kỳ Covid bởi giao diện thân thiện, dễ sử dụng và tích hợp nhiều tính năng phục vụ cho các hoạt động liên quan đến công tác giảng dạy một cách đầy đủ nhất có thể. Người học sử dụng tích hợp công nghệ trong thời đại số trong việc học có thể coi là người học số, người giảng dạy là người dạy số và môi trường học tập giảng dạy là một môi trường số.<br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:31:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660217858</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lê Thị Hằng 24/06/1984 -MN Xuân Đỉnh A</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660218053</link>
         <description><![CDATA[<div>Với sự phát triển của công nghệ, <a href="https://laodong.vn/giao-duc/bo-giao-duc-va-dao-tao-ban-hanh-quy-dinh-moi-ve-xep-luong-giao-vien-1180156.ldo">giáo dục</a> đã trở nên dễ tiếp cận và hiệu quả hơn. Việc sử dụng công nghệ hiện đại mang đến cơ hội nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục cho sinh viên trên khắp thế giới.</div><div><strong>Khả năng tiếp cận giáo dục</strong></div><div>Một trong những lợi ích chính của công nghệ trong giáo dục là khả năng mở rộng phạm vi tiếp cận giáo dục cho mọi người.</div><div>Nhờ có internet và các nền tảng học trực tuyến, mọi người từ khắp nơi trên thế giới có khả năng truy cập các khóa học và tài liệu mà trước đây họ chỉ có thể tiếp cận theo cách tuyền thống.</div><div>Ngoài ra, việc học trực tuyến có thể linh hoạt và phù hợp với nhu cầu của từng người.</div><div><strong>Truy cập tài nguyên giáo dục</strong></div><div>Hiện nay, có rất nhiều trang web chính thống giúp người dùng truy cập vào các tài liệu giáo dục khác nhau. Hầu hết trường học ngày nay đều tiếp cận công nghệ và phát triển các thư viện số giúp học sinh, sinh viên dễ tiếp cận hơn.</div><div>Chúng ta có thể tìm và tải xuống các tài liệu học thuật mà không cần in ấn như trước. Điều này đặc biệt phù hợp với sinh viên có nguồn lực hạn chế hoặc những người không có khả năng mua sách giáo khoa và tài liệu đắt tiền.</div><div><strong>Phát triển kỹ năng công nghệ</strong></div><div>Một lợi ích khác của công nghệ trong giáo dục là phát triển kỹ năng công nghệ của học sinh.</div><div>Thế giới ngày nay đòi hỏi mọi người phải có kiến ​​thức và kỹ năng về máy tính và internet. Việc sử dụng công nghệ trong giáo dục sẽ giúp học sinh học những kỹ năng này và áp dụng trong cuộc sống tương lai.</div><div><strong>Cá nhân hóa việc học</strong></div><div>Công nghệ cho phép giáo viên tập trung hơn vào nhu cầu cá nhân của học sinh. Với các nền tảng và hướng dẫn trực tuyến, sinh viên có thể học tài liệu theo tốc độ của riêng mình và khắc phục những điểm còn yếu.</div><div><strong>Tài liệu đa phương tiện</strong></div><div>Học sinh có thể hiểu rõ hơn các khái niệm và lý thuyết phức tạp với các tài liệu đa phương tiện như video, âm thanh và các phần mềm hỗ trợ khác như trình chiếu... Điều này đặc biệt hữu ích cho những sinh viên có khả năng ghi nhớ nhanh khi tiếp xúc với các dạng tài liệu như vậy.</div><div><strong>Phương pháp đánh giá hiện đại</strong></div><div>Công nghệ cũng cung cấp các phương pháp mới để đánh giá và theo dõi kết quả học tập của học sinh. Các bài kiểm tra trực tuyến và phần mềm phân tích dữ liệu giúp giáo viên theo dõi tiến độ của học sinh và điều chỉnh quá trình học tập.</div><div>Đồng thời, hệ thống đánh giá cũng cho phép học sinh đưa ra ý kiến về quá trình giảng dạy cũng như về giáo viên để điều chỉnh cho phù hợp.</div><div><strong>Tăng tương tác trong giảng dạy&nbsp;</strong></div><div>Công nghệ trong giáo dục cũng giúp học sinh và giáo viên tương tác dễ dàng hơn. Các bên liên quan đến giáo dục có thể sử dụng các diễn đàn trực tuyến, phòng trò chuyện, hội thảo video... để chia sẻ ý tưởng và cùng nhau thực hiện các dự án, bất kể họ đang ở đâu.</div><div>Công nghệ trong giáo dục mang lại nhiều lợi ích, chẳng hạn như cá nhân hóa việc học, <a href="https://laodong.vn/cong-nghe/ceo-tiktok-thua-nhan-co-viec-truy-cap-du-lieu-thong-tin-nguoi-dung-1063522.ldo">truy cập</a> tài liệu đa phương tiện và khả năng tương tác từ xa.</div><div>Việc sử dụng công nghệ hợp lý có thể cải thiện đáng kể chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục cho nhiều sinh viên trên toàn thế giới.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:31:40 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660218053</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Ngô Thị Biên - Trường MN Phùng Xá - Thạch Thất - Hà Nội.      Trước khi có CNGD việc dạy và học thụ động hơn, việc tìm kiếm thông tin chậm hơn và lượng thông tin tìm kiếm được ít hơn. Còn sau khí có CNGD việc tìm kiếm thông tin nhanh hơn, đa dạng hơn. </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660218214</link>
         <description><![CDATA[<div>VD: Khi tìm kiếm 1 giáo án bài dạy. Khi có CNGD chúng ta tìm thấy kết quả nhanh hơn, và nhiều thông tin hơn như từ word, powerpoint hay video. </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:31:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660218214</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đinh Thị Thoa( 14/06/1989) Trường Mầm non Mai Đình B - Sóc Sơn - Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660219383</link>
         <description><![CDATA[<div>Khi có sự hỗ trợ của công nghệ trong giáo dục đã làm chuyển biến quá trình dạy học và tiếp nhận tri thức. Người dạy chuyển từ truyền đạt kiến thức 1 chiều trở thành người hướng dẫn, dẫn dắt người học tìm hiểu và lĩnh hội kiến thức. Người học từ tiếp thu kiến thức 1 cách thụ động chuyển sang chủ động tìm kiếm các kiến thức thông qua các nguồn tài liệu mở, nguồn tài liệu nhiều hơn nhờ công nghệ. Người học có thể chủ động tìm kiếm kiến thức nhiều hơn, rộng hơn không những thế còn phát huy được sự sáng tạo trong người học thông qua các phần mền, các trang mạng xã hội. Không những thế, người dạy còn tiết kiệm được thời gian cho việc lưu trữ, soạn thảo tài liệu mà thay vào đó sẽ có nhiều thời gian phát triển chuyên môn, sáng tạo cách dạy và hỗ trợ người học được nhiều hơn. Công nghệ còn kéo gần khoảng cách giữa người dạy và người học cả về địa lý và cách làm việc giúp tiết kiệm thời gian, công sức hơn.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:34:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660219383</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đặng Thị Thu Hiên - MN Cổ Nhuế 2 22/12/1974                                       Việc dạy và học trước đây khi không có CNGD người dạy rất  vất vả đi tìm hình ảnh, ví dụ cho hoạt động dạy của mình (nhất là đối với giáo viên MN), và người học không có được sự tương tác tốt nhất với giáo viên. Ngày nay người học sẽ chủ động hơn khi được tiếp nhận các nội dung chính của bài học thông qua hình ảnh chân thực rõ nét, phát huy được nhiều lĩnh vực hơn. </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660219412</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:34:20 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660219412</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Hằng 20/7/1988. MN Phùng Xá, Thạch Thất</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660219424</link>
         <description><![CDATA[<div>Trước: GV dạy học kiểu truyền thống, chưa phát huy được tính sáng tạo của cô và trò.&nbsp;<br>Sau: GV phải tìm tòi đổi mới phương pháp để thu hút học sinh, lấy học sinh làm trung tâm, người học là trung tâm, được trải nghiệm và chia sẻ quan điểm cá nhân.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:34:22 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660219424</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dương Thị Ngát - sinh ngày 19/04/1985. Trường mầm non Quang Tiến - Sóc Sơn - Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660220325</link>
         <description><![CDATA[<div>Trước khi có CNGD thì dạy học còn mang tính thô sơ, đơn giản, chưa phong phú cả về phương thức dạy học cũng như học liệu sử dụng trong dạy học còn nghèo nàn. Đề tài chưa phong phú,....<br>Và <strong>Nếu như trước đây khi nhắc đến công nghệ trong lớp học, chúng ta chỉ thường nghĩ đến những chiếc điện thoại mà học sinh sử dụng. Ngoài những tác động tiêu cực trong việc gây ra sự mất tập trung cho học sinh, nó hầu như không có tác dụng gì tốt.</strong></div><div>Tuy nhiên, sau khoảng thời gian chuyển sang hình thức học tập trực tuyến do những tác động của đại dịch Covid-19, việc sử dụng công nghệ trong giảng dạy là điều tất yếu và nó cho thấy những hiệu quả nhất định. Tất cả các giáo viên đều thấy được công nghệ và các công cụ kỹ thuật số đang góp phần tăng sự tương tác, khơi dậy sự đổi mới và khả năng học tập của học sinh.</div><div>Đó là lý do mà công nghệ đã thay đổi giáo dục, giúp tối đa chức năng của lớp học mặc dù giáo viên và học sinh không nhất thiết phải ở cùng một vị trí.</div><div><strong>Công nghệ cho phép truy cập tốt hơn vào các nguồn tài nguyên</strong></div><div>Nhờ kết nối Internet, học sinh có thể truy cập thông tin trong tầm tay 24 giờ một ngày. Học sinh có thể truy cập vào mọi thứ từ tài liệu nghiên cứu và ứng dụng giáo dục đến giáo dục giải trí tương tác và tài nguyên mở khác. Tuy nhiên, học sinh cũng cần được hướng dẫn về cách tìm các nguồn đáng tin cậy và hướng dẫn về cách trích nguồn tác giả.<br><br></div><div>Tại PennSchool, học sinh được tiếp cận với nguồn tư liệu sách online với trên 10,000 đầu sách khác nhau, hỗ trợ cho việc học tập và nghiên cứu của các em học sinh. Các em học sinh có thể đăng nhập vào nguồn tài liệu của trường và tìm kiếm theo chủ đề mà mình quan tâm.<br><br></div><div><strong>Công nghệ cải thiện sự tham gia của học sinh</strong></div><div>Công nghệ có thể giúp học sinh bằng cách làm cho việc học trở nên hấp dẫn và tương tác dễ dàng hơn. Bài học không còn khô khan trên sách vở mà được kết hợp với những tài liệu bổ trợ như video, hình ảnh… giúp học sinh nắm kiến thức hiệu quả. Học sinh có thể tham gia vào các hoạt động nhóm ở bất kỳ đâu thông qua các ứng dụng như Google Chat, <a href="https://zoom.us/">Zoom</a>…</div><div>Công nghệ được áp dụng trong hầu hết các môn học của trường. Thông qua công nghệ, các bài toán đơn thuần trở nên thú vị hơn bằng việc kết hợp các thử thách một cách sinh động. Thay vì chỉ ghi nhớ thông tin, học sinh rèn luyện được năng lực tư duy phản biện thông qua các bài tập tương tác trong lớp hoặc tham gia các cuộc thảo luận nhóm dưới sự hỗ trợ của công nghệ.<br><br></div><div><strong>Công nghệ hỗ trợ mở rộng ranh giới lớp học</strong></div><div>Nhờ công nghệ, lớp học không còn bị bó buộc trong ranh giới của bốn bức tường. Ngay cả khi học sinh không thể trực tiếp tham gia vào một thí nghiệm, công nghệ vẫn có thể hỗ trợ các em hiểu tường tận về trải nghiệm đó.</div><div>Ví dụ, trong thí nghiệm phải sử dụng axit trong quá trình thực hiện thí nghiệm hóa học. Thay vì cho học sinh trải nghiệm thực tiếp và có thể gặp những nguy hiểm không mong đợi, giáo viên có thể liên hệ với một phòng thí nghiệm thực hiện phản ứng cho học sinh quan sát. Từ đó đặt ra các câu hỏi liên quan để học sinh hiểu hơn về những phản ứng xảy ra trong thí nghiệm đó. Mọi quan sát đều có sự hỗ trợ bởi công nghệ giúp học sinh tiếp thu bài học mà không gặp bất kỳ sự cố gì.</div><div><strong>Công nghệ hỗ trợ học sinh theo kịp nhịp độ học của lớp</strong></div><div>Trong một lớp học truyền thống, những học sinh đang gặp khó khăn trong việc học các khái niệm mới sẽ nhanh chóng bị tụt lại phía sau các bạn cùng trang lứa. Tuy nhiên, với sự giúp đỡ từ chương trình hỗ trợ học tập sau giờ học như Peer Tutors, Cross-Age Tutoring, Teacher Tutoring, học sinh gặp khó khăn có thể được bổ sung kiến thức kịp thời và hiểu bài hơn. Lúc này, công nghệ đóng vai trò là công cụ giúp giáo viên kết nối học sinh sau giờ học. Đồng thời, nó cũng cung cấp thêm nguồn tài liệu trong quá trình học thêm của các em.</div><div>Tại PennSchool, ngay cả trước khi dịch bệnh diễn ra và việc học trực tuyến trở thành bắt buộc, các giáo viên luôn áp dụng nhiều công nghệ khác nhau giúp bài giảng thêm thú vị và dễ hiểu. Thông qua công nghệ, thầy cô cũng dễ dàng đánh giá được mức độ hiểu bài của học sinh, từ đó có những điều chỉnh cần thiết giúp học sinh đạt được mục tiêu học tập của mình. Đó cũng là lý do mà nhà trường luôn có kế hoạch phát triển và cập nhật các công nghệ mới nhất trong giảng dạy, giúp học sinh có nhiều trải nghiệm thú vị và đáp ứng nhu cầu đổi mới trong giáo dục.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:35:40 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660220325</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Thị Duyên(06/11/1992) Trường mầm non Mai Đình B - Sóc Sơn - Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660220722</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Khả năng tiếp cận giáo dục</strong></div><div>Một trong những lợi ích chính của công nghệ trong giáo dục là khả năng mở rộng phạm vi tiếp cận giáo dục cho mọi người.</div><div>Nhờ có internet và các nền tảng học trực tuyến, mọi người từ khắp nơi trên thế giới có khả năng truy cập các khóa học và tài liệu mà trước đây họ chỉ có thể tiếp cận theo cách tuyền thống.</div><div>Ngoài ra, việc học trực tuyến có thể linh hoạt và phù hợp với nhu cầu của từng người.</div><div><strong>Truy cập tài nguyên giáo dục</strong></div><div>Hiện nay, có rất nhiều trang web chính thống giúp người dùng truy cập vào các tài liệu giáo dục khác nhau. Hầu hết trường học ngày nay đều tiếp cận công nghệ và phát triển các thư viện số giúp học sinh, sinh viên dễ tiếp cận hơn.</div><div>Chúng ta có thể tìm và tải xuống các tài liệu học thuật mà không cần in ấn như trước. Điều này đặc biệt phù hợp với sinh viên có nguồn lực hạn chế hoặc những người không có khả năng mua sách giáo khoa và tài liệu đắt tiền.</div><div><strong>Phát triển kỹ năng công nghệ</strong></div><div>Một lợi ích khác của công nghệ trong giáo dục là phát triển kỹ năng công nghệ của học sinh.</div><div>Thế giới ngày nay đòi hỏi mọi người phải có kiến ​​thức và kỹ năng về máy tính và internet. Việc sử dụng công nghệ trong giáo dục sẽ giúp học sinh học những kỹ năng này và áp dụng trong cuộc sống tương lai.</div><div><strong>Cá nhân hóa việc học</strong></div><div>Công nghệ cho phép giáo viên tập trung hơn vào nhu cầu cá nhân của học sinh. Với các nền tảng và hướng dẫn trực tuyến, sinh viên có thể học tài liệu theo tốc độ của riêng mình và khắc phục những điểm còn yếu.</div><div><strong>Tài liệu đa phương tiện</strong></div><div>Học sinh có thể hiểu rõ hơn các khái niệm và lý thuyết phức tạp với các tài liệu đa phương tiện như video, âm thanh và các phần mềm hỗ trợ khác như trình chiếu... Điều này đặc biệt hữu ích cho những sinh viên có khả năng ghi nhớ nhanh khi tiếp xúc với các dạng tài liệu như vậy.</div><div><strong>Phương pháp đánh giá hiện đại</strong></div><div>Công nghệ cũng cung cấp các phương pháp mới để đánh giá và theo dõi kết quả học tập của học sinh. Các bài kiểm tra trực tuyến và phần mềm phân tích dữ liệu giúp giáo viên theo dõi tiến độ của học sinh và điều chỉnh quá trình học tập.</div><div>Đồng thời, hệ thống đánh giá cũng cho phép học sinh đưa ra ý kiến về quá trình giảng dạy cũng như về giáo viên để điều chỉnh cho phù hợp.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:36:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660220722</guid>
      </item>
      <item>
         <title> Bùi Thị Giang- 03/12/1984- Trường MN Liên Mạc.Việc dạy và học trước và sau khi có công nghệ giáo dục</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660220744</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp;-Trước khi có công nghệ thì việc dạy và học chưa hấp dẫn trẻ, chưa đa dạng...<br>_ Sau khi có công nghệ thì việc dạy và học trẻ hứng thú, bài dạy đa dạng, hình ảnh sống động..<br>Ví dụ:&nbsp; trong giờ dạy kỹ năng sống " Thoát khỏi hỏa hoạn"<br>- Trước khi có công nghệ thì trẻ ko được nhìn hình ảnh mà thực nghiệm trực tiếp thì ko an toàn.<br>-Sau khi có công nghệ  GD thì trẻ hứng thú và được xem hình ảnh qua các kênh khác nhau.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:36:27 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660220744</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phùng Thị Hồng Nhung 7/4/1989 Mn Phùng Xá-Thạch Thất-Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660220815</link>
         <description><![CDATA[<div>Việc dạy học trước và sau khi có CNGD khác nhau rất nhiều. Giáo viên nói ít hơn, có thể truyền đạt kiến thức cho nhiều thành viên trong mọi thời điểm. Hình thức trực quan, sinh động how.Học sinh có thể tương tác tốt hơn qua những bài giảng sinh động. Ví dụ: trước giáo viên kể chuyện bằng miệng, tranh, khi có công nghệ trẻ có thể tương tác bằng cách tự mở các slides để học và trả lời các câu hỏi</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:36:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660220815</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660220898</link>
         <description><![CDATA[<div>Ngày trước soạn giáo án bằng tay, sau soạn giáo án điện tử và bài giảng điện tử </div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet.com/padlets/3goqoykutr2toknk" />
         <pubDate>2023-08-11 13:36:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660220898</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Bá Thị Hằng 05/02/1991. Mn Xuân đỉnh a </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660220933</link>
         <description><![CDATA[<div>Với sự phát triển của công nghệ, giáo dục đã trở nên dễ tiếp cận và hiệu quả hơn. Việc sử dụng công nghệ hiện đại mang đến cơ hội nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục cho sinh viên trên khắp thế giới.<br><br>Khả năng tiếp cận giáo dục<br><br>Một trong những lợi ích chính của công nghệ trong giáo dục là khả năng mở rộng phạm vi tiếp cận giáo dục cho mọi người.<br><br>Nhờ có internet và các nền tảng học trực tuyến, mọi người từ khắp nơi trên thế giới có khả năng truy cập các khóa học và tài liệu mà trước đây họ chỉ có thể tiếp cận theo cách tuyền thống.<br><br>Ngoài ra, việc học trực tuyến có thể linh hoạt và phù hợp với nhu cầu của từng người.<br><br>Truy cập tài nguyên giáo dục<br><br>Hiện nay, có rất nhiều trang web chính thống giúp người dùng truy cập vào các tài liệu giáo dục khác nhau. Hầu hết trường học ngày nay đều tiếp cận công nghệ và phát triển các thư viện số giúp học sinh, sinh viên dễ tiếp cận hơn.<br><br>Chúng ta có thể tìm và tải xuống các tài liệu học thuật mà không cần in ấn như trước. Điều này đặc biệt phù hợp với sinh viên có nguồn lực hạn chế hoặc những người không có khả năng mua sách giáo khoa và tài liệu đắt tiền.<br><br>Phát triển kỹ năng công nghệ<br><br>Một lợi ích khác của công nghệ trong giáo dục là phát triển kỹ năng công nghệ của học sinh.<br><br>Thế giới ngày nay đòi hỏi mọi người phải có kiến ​​thức và kỹ năng về máy tính và internet. Việc sử dụng công nghệ trong giáo dục sẽ giúp học sinh học những kỹ năng này và áp dụng trong cuộc sống tương lai.<br><br>Cá nhân hóa việc học<br><br>Công nghệ cho phép giáo viên tập trung hơn vào nhu cầu cá nhân của học sinh. Với các nền tảng và hướng dẫn trực tuyến, sinh viên có thể học tài liệu theo tốc độ của riêng mình và khắc phục những điểm còn yếu.<br><br>Tài liệu đa phương tiện<br><br>Học sinh có thể hiểu rõ hơn các khái niệm và lý thuyết phức tạp với các tài liệu đa phương tiện như video, âm thanh và các phần mềm hỗ trợ khác như trình chiếu... Điều này đặc biệt hữu ích cho những sinh viên có khả năng ghi nhớ nhanh khi tiếp xúc với các dạng tài liệu như vậy.<br><br>Phương pháp đánh giá hiện đại<br><br>Công nghệ cũng cung cấp các phương pháp mới để đánh giá và theo dõi kết quả học tập của học sinh. Các bài kiểm tra trực tuyến và phần mềm phân tích dữ liệu giúp giáo viên theo dõi tiến độ của học sinh và điều chỉnh quá trình học tập.<br> </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:36:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660220933</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660221231</link>
         <description><![CDATA[<div>Đặng thị thu phương 16/10/1992<br>Trường mầm non hữu bằng thạch thất hà nội trước :nghe gv xem gv trẻ học bài trên lớp nghe giảng trực tiếp khả năng tiếp thu kiến thức chưa triệt để giáo viên làm trung tâm truyền đặt kiến thức học sinh là người tiếp thu học sinh sẽ không phát huy tư duy sáng tạo áp dụng thực tế.<br>Sau : trẻ có thể học ở mọi lúc mọi nơi VD: trong thời Covid trẻ có thể học tập qua bài giảng&nbsp; ELearning …<br>Trẻ được trải nghiệm trẻ có khả năng tư duy sáng tạo đổi mới có kỹ năng phân tích và tổng hợp thông tin <br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:37:31 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660221231</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660221559</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet.com/dinhminh2609/th-o-lu-n-ph-n-t-ch-vi-c-d-y-v-h-c-tr-c-v-sau-khi-c-cngd-l-y-3goqoykutr2toknk" />
         <pubDate>2023-08-11 13:38:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660221559</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660221567</link>
         <description><![CDATA[<div>Chu thị từ chính 05/11/1986 trường mn phùng xá thạch thất hà nội&nbsp;<br>Với sự phát triển của công nghệ, giáo dục đã trở nên dễ tiếp cận và hiệu quả hơn. Việc sử dụng công nghệ hiện đại mang đến cơ hội nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục cho sinh viên trên khắp thế giới. Khả năng tiếp cận giáo dục.<br><br>Một trong những lợi ích chính của công nghệ trong giáo dục là khả năng mở rộng phạm vi tiếp cận giáo dục cho mọi người.<br><br>Nhờ có internet và các nền tảng học trực tuyến, mọi người từ khắp nơi trên thế giới có khả năng truy cập các khóa học và tài liệu mà trước đây họ chỉ có thể tiếp cận theo cách tuyền thống. Ngoài ra, việc học trực tuyến có thể linh hoạt và phù hợp với nhu cầu của từng người.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:38:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660221567</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn thị Tửu mn phùng xá thất hà nội </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660221636</link>
         <description><![CDATA[<div>Việc&nbsp;học và dạy trước CNGD là soạn viết tay phân tích bằng lời vòn sau là dùng máy tính ti vi máy chiéu.....</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:38:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660221636</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lưu Thị Liễu Nhàn 22/3/1993-MN XUÂN ĐINH A</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660221662</link>
         <description><![CDATA[<div>Với sự phát triển của công nghệ, giáo dục đã trở nên dễ tiếp cận và hiệu quả hơn. Việc sử dụng công nghệ hiện đại mang đến cơ hội nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục cho sinh viên trên khắp thế giới.<br><br>Khả năng tiếp cận giáo dục<br><br>Một trong những lợi ích chính của công nghệ trong giáo dục là khả năng mở rộng phạm vi tiếp cận giáo dục cho mọi người.<br><br>Nhờ có internet và các nền tảng học trực tuyến, mọi người từ khắp nơi trên thế giới có khả năng truy cập các khóa học và tài liệu mà trước đây họ chỉ có thể tiếp cận theo cách tuyền thống.<br><br>Ngoài ra, việc học trực tuyến có thể linh hoạt và phù hợp với nhu cầu của từng người.<br><br>Truy cập tài nguyên giáo dục<br><br>Hiện nay, có rất nhiều trang web chính thống giúp người dùng truy cập vào các tài liệu giáo dục khác nhau. Hầu hết trường học ngày nay đều tiếp cận công nghệ và phát triển các thư viện số giúp học sinh, sinh viên dễ tiếp cận hơn.<br><br>Chúng ta có thể tìm và tải xuống các tài liệu học thuật mà không cần in ấn như trước. Điều này đặc biệt phù hợp với sinh viên có nguồn lực hạn chế hoặc những người không có khả năng mua sách giáo khoa và tài liệu đắt tiền.<br><br>Phát triển kỹ năng công nghệ<br><br>Một lợi ích khác của công nghệ trong giáo dục là phát triển kỹ năng công nghệ của học sinh.<br><br>Thế giới ngày nay đòi hỏi mọi người phải có kiến ​​thức và kỹ năng về máy tính và internet. Việc sử dụng công nghệ trong giáo dục sẽ giúp học sinh học những kỹ năng này và áp dụng trong cuộc sống tương lai.<br><br>Cá nhân hóa việc học<br><br>Công nghệ cho phép giáo viên tập trung hơn vào nhu cầu cá nhân của học sinh. Với các nền tảng và hướng dẫn trực tuyến, sinh viên có thể học tài liệu theo tốc độ của riêng mình và khắc phục những điểm còn yếu.<br><br>Tài liệu đa phương tiện<br><br>Học sinh có thể hiểu rõ hơn các khái niệm và lý thuyết phức tạp với các tài liệu đa phương tiện như video, âm thanh và các phần mềm hỗ trợ khác như trình chiếu... Điều này đặc biệt hữu ích cho những sinh viên có khả năng ghi nhớ nhanh khi tiếp xúc với các dạng tài liệu như vậy.<br><br>Phương pháp đánh giá hiện đại<br><br>Công nghệ cũng cung cấp các phương pháp mới để đánh giá và theo dõi kết quả học tập của học sinh. Các bài kiểm tra trực tuyến và phần mềm phân tích dữ liệu giúp giáo viên theo dõi tiến độ của học sinh và điều chỉnh quá trình học tập.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:38:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660221662</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Thị Hòa - 15/03/1993 - Trường mầm non Mai Đình B, Sóc Sơn, Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660222222</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; Việc dạy và học trước và sau khi có CNGD:<br>- Trước khi có CNGD, giáo viên dạy học kiểu truyền thống, học sinh học bài trên lớp, nghe giảng trực tiếp, thầy cô giảng bài theo cách đọc chép. Giáo viên soạn bài bằng tay và bài soạn không sáng tạo.<br>- Sau khi có CNGD, giáo viên soạn bài bằng máy tính</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:39:29 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660222222</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Tuyền 15/08/1982- Trường mầm non Mai Đình B</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660222259</link>
         <description><![CDATA[<div>Trước khi có CNGD việc dạy và học thụ động hơn, việc tìm kiếm thông tin chậm hơn và lượng thông tin tìm kiếm được ít hơn. Còn sau khí có CNGD việc tìm kiếm thông tin nhanh hơn, đa dạng hơn.&nbsp;</div><div>VD: Khi tìm kiếm 1 giáo án. Khi có CNTT chúng ta tìm thấy kết quả nhanh hơn và nhiều thông tin hơn</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:39:33 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660222259</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660222265</link>
         <description><![CDATA[<div>Đỗ Thị Thật 24/ 01/1989. Trường Mn Phùng xá .trước khi có CNGD việc dạy học mang tính truyền thống , gv và học sinh tương tác với nhau qua những học liệu chủ yếu là sgk, giáo án</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:39:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660222265</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Thị Hương 15/04/1996 trươngg mầm non Mai đình B</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660222492</link>
         <description><![CDATA[<div>Trước khi có CNGD thì dạy học còn mang tính thô sơ, đơn giản, chưa phong phú cả về phương thức dạy học cũng như học liệu sử dụng trong dạy học còn nghèo nàn. Đề tài chưa phong phú,....<br>Và <strong>Nếu như trước đây khi nhắc đến công nghệ trong lớp học, chúng ta chỉ thường nghĩ đến những chiếc điện thoại mà học sinh sử dụng. Ngoài những tác động tiêu cực trong việc gây ra sự mất tập trung cho học sinh, nó hầu như không có tác dụng gì tốt.</strong></div><div>Tuy nhiên, sau khoảng thời gian chuyển sang hình thức học tập trực tuyến do những tác động của đại dịch Covid-19, việc sử dụng công nghệ trong giảng dạy là điều tất yếu và nó cho thấy những hiệu quả nhất định. Tất cả các giáo viên đều thấy được công nghệ và các công cụ kỹ thuật số đang góp phần tăng sự tương tác, khơi dậy sự đổi mới và khả năng học tập của học sinh.</div><div>Đó là lý do mà công nghệ đã thay đổi giáo dục, giúp tối đa chức năng của lớp học mặc dù giáo viên và học sinh không nhất thiết phải ở cùng một vị trí.</div><div><strong>Công nghệ cho phép truy cập tốt hơn vào các nguồn tài nguyên</strong></div><div>Nhờ kết nối Internet, học sinh có thể truy cập thông tin trong tầm tay 24 giờ một ngày. Học sinh có thể truy cập vào mọi thứ từ tài liệu nghiên cứu và ứng dụng giáo dục đến giáo dục giải trí tương tác và tài nguyên mở khác. Tuy nhiên, học sinh cũng cần được hướng dẫn về cách tìm các nguồn đáng tin cậy và hướng dẫn về cách trích nguồn tác giả.<br><br></div><div>Tại PennSchool, học sinh được tiếp cận với nguồn tư liệu sách online với trên 10,000 đầu sách khác nhau, hỗ trợ cho việc học tập và nghiên cứu của các em học sinh. Các em học sinh có thể đăng nhập vào nguồn tài liệu của trường và tìm kiếm theo chủ đề mà mình quan tâm.<br><br></div><div><strong>Công nghệ cải thiện sự tham gia của học sinh</strong></div><div>Công nghệ có thể giúp học sinh bằng cách làm cho việc học trở nên hấp dẫn và tương tác dễ dàng hơn. Bài học không còn khô khan trên sách vở mà được kết hợp với những tài liệu bổ trợ như video, hình ảnh… giúp học sinh nắm kiến thức hiệu quả. Học sinh có thể tham gia vào các hoạt động nhóm ở bất kỳ đâu thông qua các ứng dụng như Google Chat, <a href="https://padlet.com/redirect?url=https%3A%2F%2Fzoom.us%2F">Zoom</a>…</div><div>Công nghệ được áp dụng trong hầu hết các môn học của trường. Thông qua công nghệ, các bài toán đơn thuần trở nên thú vị hơn bằng việc kết hợp các thử thách một cách sinh động. Thay vì chỉ ghi nhớ thông tin, học sinh rèn luyện được năng lực tư duy phản biện thông qua các bài tập tương tác trong lớp hoặc tham gia các cuộc thảo luận nhóm dưới sự hỗ trợ của công nghệ.<br><br></div><div><strong>Công nghệ hỗ trợ mở rộng ranh giới lớp học</strong></div><div>Nhờ công nghệ, lớp học không còn bị bó buộc trong ranh giới của bốn bức tường. Ngay cả khi học sinh không thể trực tiếp tham gia vào một thí nghiệm, công nghệ vẫn có thể hỗ trợ các em hiểu tường tận về trải nghiệm đó.</div><div>Ví dụ, trong thí nghiệm phải sử dụng axit trong quá trình thực hiện thí nghiệm hóa học. Thay vì cho học sinh trải nghiệm thực tiếp và có thể gặp những nguy hiểm không mong đợi, giáo viên có thể liên hệ với một phòng thí nghiệm thực hiện phản ứng cho học sinh quan sát. Từ đó đặt ra các câu hỏi liên quan để học sinh hiểu hơn về những phản ứng xảy ra trong thí nghiệm đó. Mọi quan sát đều có sự hỗ trợ bởi công nghệ giúp học sinh tiếp thu bài học mà không gặp bất kỳ sự cố gì.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:40:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660222492</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660222693</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet.com/dinhminh2609/th-o-lu-n-ph-n-t-ch-vi-c-d-y-v-h-c-tr-c-v-sau-khi-c-cngd-l-y-3goqoykutr2toknk" />
         <pubDate>2023-08-11 13:40:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660222693</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Danh Thị Huệ ( 22/07/1991) - trường mầm non Xuân Đỉnh A</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660222871</link>
         <description><![CDATA[<div>Với sự phát triển của công nghệ, giáo dục đã trở nên dễ tiếp cận và hiệu quả hơn. Việc sử dụng công nghệ hiện đại mang đến cơ hội nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục cho sinh viên trên khắp thế giới.<br><br>Khả năng tiếp cận giáo dục<br><br>Một trong những lợi ích chính của công nghệ trong giáo dục là khả năng mở rộng phạm vi tiếp cận giáo dục cho mọi người.<br><br>Nhờ có internet và các nền tảng học trực tuyến, mọi người từ khắp nơi trên thế giới có khả năng truy cập các khóa học và tài liệu mà trước đây họ chỉ có thể tiếp cận theo cách tuyền thống.<br><br>Ngoài ra, việc học trực tuyến có thể linh hoạt và phù hợp với nhu cầu của từng người.<br><br>Truy cập tài nguyên giáo dục<br><br>Hiện nay, có rất nhiều trang web chính thống giúp người dùng truy cập vào các tài liệu giáo dục khác nhau. Hầu hết trường học ngày nay đều tiếp cận công nghệ và phát triển các thư viện số giúp học sinh, sinh viên dễ tiếp cận hơn.<br><br>Chúng ta có thể tìm và tải xuống các tài liệu học thuật mà không cần in ấn như trước. Điều này đặc biệt phù hợp với sinh viên có nguồn lực hạn chế hoặc những người không có khả năng mua sách giáo khoa và tài liệu đắt tiền.<br><br>Phát triển kỹ năng công nghệ<br><br>Một lợi ích khác của công nghệ trong giáo dục là phát triển kỹ năng công nghệ của học sinh.<br><br>Thế giới ngày nay đòi hỏi mọi người phải có kiến ​​thức và kỹ năng về máy tính và internet. Việc sử dụng công nghệ trong giáo dục sẽ giúp học sinh học những kỹ năng này và áp dụng trong cuộc sống tương lai.<br><br>Cá nhân hóa việc học<br><br>Công nghệ cho phép giáo viên tập trung hơn vào nhu cầu cá nhân của học sinh. Với các nền tảng và hướng dẫn trực tuyến, sinh viên có thể học tài liệu theo tốc độ của riêng mình và khắc phục những điểm còn yếu.<br><br>Tài liệu đa phương tiện<br><br>Học sinh có thể hiểu rõ hơn các khái niệm và lý thuyết phức tạp với các tài liệu đa phương tiện như video, âm thanh và các phần mềm hỗ trợ khác như trình chiếu... Điều này đặc biệt hữu ích cho những sinh viên có khả năng ghi nhớ nhanh khi tiếp xúc với các dạng tài liệu như vậy.<br><br>Phương pháp đánh giá hiện đại<br><br>Công nghệ cũng cung cấp các phương pháp mới để đánh giá và theo dõi kết quả học tập của học sinh. Các bài kiểm tra trực tuyến và phần mềm phân tích dữ liệu giúp giáo viên theo dõi tiến độ của học sinh và điều chỉnh quá trình học tập.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Đồng thời, hệ thống đánh giá cũng cho phép học sinh đưa ra ý kiến về quá trình giảng dạy cũng như về giáo viên để điều chỉnh cho phù hợp.<br><br>Tăng tương tác trong giảng dạy&nbsp;<br><br>Công nghệ trong giáo dục cũng giúp học sinh và giáo viên tương tác dễ dàng hơn. Các bên liên quan đến giáo dục có thể sử dụng các diễn đàn trực tuyến, phòng trò chuyện, hội thảo video... để chia sẻ ý tưởng và cùng nhau thực hiện các dự án, bất kể họ đang ở đâu.<br><br>Công nghệ trong giáo dục mang lại nhiều lợi ích, chẳng hạn như cá nhân hóa việc học, truy cập tài liệu đa phương tiện và khả năng tương tác từ xa.<br><br>Việc sử dụng công nghệ hợp lý có thể cải thiện đáng kể chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục cho nhiều sinh viên trên toàn thế giới.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:40:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660222871</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Hương 20/07/1979 Trường mầm non Mai Đình B Sóc sơn</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660222883</link>
         <description><![CDATA[<div>Trước khi có CNGD thì dạy học còn mang tính thô sơ, đơn giản, chưa phong phú cả về phương thức dạy học cũng như học liệu sử dụng trong dạy học còn nghèo nàn. Đề tài chưa phong phú,....<br>Và <strong>Nếu như trước đây khi nhắc đến công nghệ trong lớp học, chúng ta chỉ thường nghĩ đến những chiếc điện thoại mà học sinh sử dụng. Ngoài những tác động tiêu cực trong việc gây ra sự mất tập trung cho học sinh, nó hầu như không có tác dụng gì tốt.</strong></div><div>Tuy nhiên, sau khoảng thời gian chuyển sang hình thức học tập trực tuyến do những tác động của đại dịch Covid-19, việc sử dụng công nghệ trong giảng dạy là điều tất yếu và nó cho thấy những hiệu quả nhất định. Tất cả các giáo viên đều thấy được công nghệ và các công cụ kỹ thuật số đang góp phần tăng sự tương tác, khơi dậy sự đổi mới và khả năng học tập của học sinh.</div><div>Đó là lý do mà công nghệ đã thay đổi giáo dục, giúp tối đa chức năng của lớp học mặc dù giáo viên và học sinh không nhất thiết phải ở cùng một vị trí.</div><div><strong>Công nghệ cho phép truy cập tốt hơn vào các nguồn tài nguyên</strong></div><div>Nhờ kết nối Internet, học sinh có thể truy cập thông tin trong tầm tay 24 giờ một ngày. Học sinh có thể truy cập vào mọi thứ từ tài liệu nghiên cứu và ứng dụng giáo dục đến giáo dục giải trí tương tác và tài nguyên mở khác. Tuy nhiên, học sinh cũng cần được hướng dẫn về cách tìm các nguồn đáng tin cậy và hướng dẫn về cách trích nguồn tác giả.<br><br></div><div>Tại PennSchool, học sinh được tiếp cận với nguồn tư liệu sách online với trên 10,000 đầu sách khác nhau, hỗ trợ cho việc học tập và nghiên cứu của các em học sinh. Các em học sinh có thể đăng nhập vào nguồn tài liệu của trường và tìm kiếm theo chủ đề mà mình quan tâm.<br><br></div><div><strong>Công nghệ cải thiện sự tham gia của học sinh</strong></div><div>Công nghệ có thể giúp học sinh bằng cách làm cho việc học trở nên hấp dẫn và tương tác dễ dàng hơn. Bài học không còn khô khan trên sách vở mà được kết hợp với những tài liệu bổ trợ như video, hình ảnh… giúp học sinh nắm kiến thức hiệu quả. Học sinh có thể tham gia vào các hoạt động nhóm ở bất kỳ đâu thông qua các ứng dụng như Google Chat, <a href="https://padlet.com/redirect?url=https%3A%2F%2Fzoom.us%2F">Zoom</a>…</div><div>Công nghệ được áp dụng trong hầu hết các môn học của trường. Thông qua công nghệ, các bài toán đơn thuần trở nên thú vị hơn bằng việc kết hợp các thử thách một cách sinh động. Thay vì chỉ ghi nhớ thông tin, học sinh rèn luyện được năng lực tư duy phản biện thông qua các bài tập tương tác trong lớp hoặc tham gia các cuộc thảo luận nhóm dưới sự hỗ trợ của công nghệ.<br><br></div><div><strong>Công nghệ hỗ trợ mở rộng ranh giới lớp học</strong></div><div>Nhờ công nghệ, lớp học không còn bị bó buộc trong ranh giới của bốn bức tường. Ngay cả khi học sinh không thể trực tiếp tham gia vào một thí nghiệm, công nghệ vẫn có thể hỗ trợ các em hiểu tường tận về trải nghiệm đó.</div><div>Ví dụ, trong thí nghiệm phải sử dụng axit trong quá trình thực hiện thí nghiệm hóa học. Thay vì cho học sinh trải nghiệm thực tiếp và có thể gặp những nguy hiểm không mong đợi, giáo viên có thể liên hệ với một phòng thí nghiệm thực hiện phản ứng cho học sinh quan sát. Từ đó đặt ra các câu hỏi liên quan để học sinh hiểu hơn về những phản ứng xảy ra trong thí nghiệm đó. Mọi quan sát đều có sự hỗ trợ bởi công nghệ giúp học sinh tiếp thu bài học mà không gặp bất kỳ sự cố gì.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:40:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660222883</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Thị Thúy - 21/12/1984- Trường mầm non Mai Đình B - Sóc Sơn - Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660222980</link>
         <description><![CDATA[<div><br></div><div><strong>Trước khi có CNGD:</strong> học sinh học bài trên lớp, nghe giảng trực tiếp, thầy cô giảng bài theo cách đọc chép. Khả năng tiếp thu kiến thức chưa triệt để. <br>Giáo viên làm trung tâm truyền đạt kiến thức, học sinh sẽ là người tiếp thu, học sinh sẽ không phát huy khả năng sáng tạo, tư duy, áp dụng thực tế.<br><strong>Sau khi có CNGD:</strong> Học sinh có thể học mọi lúc, mọi nơi (đa dạng địa điểm: học ở nhà, công viên,… và thời gian: sáng , trưa, chiều, tối)&nbsp;<br>Học sinh được trải nghiệm thực tế, học sinh&nbsp; có năng lực tư duy và sáng tạo, đổi mới, có kỹ năng phân tích và tổng hợp thông tin, có khả năng làm việc độc lập và ra quyết định.&nbsp;<br>Các lớp học đã tương tác nhiều hơn với nhau, với thầy cô, hoạt động nhiều hơn, học sinh&nbsp; đã tích cực chủ động. Ví dụ: học sinh tự làm bài PowPoint thuyết trình, làm video, tự quay các bài tập…<br>Giáo viên thay đổi phương pháp giảng dạy ,phải thay đổi phương pháp giảng dạy từ người truyền đạt các kiến thức trở thành người giúp sinh viên thay đổi kỹ năng giải quyết vấn đề, tư duy sáng tạo người dạy cũng cần thay đổi phương pháp giảng dạy, dần dần chuyển đổi từ phương pháp đọc – chép - học thuộc lòng sang hình thức giảng dạy khác phù hợp hơn như dạy học nêu vấn đề, thảo luận nhóm, báo cáo – thảo luận, học tập lý thuyết kết hợp sinh hoạt thực tế,....&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:40:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660222980</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Hồng Nhung ( 10/01/1979) Trường mầm non Hoa Sữa</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660223208</link>
         <description><![CDATA[<div>Việc dạy học trước và sau khi có CNGD<br>Trước khi có CNGD việc dạy học diễn ra theo hình thức truyền thống: thầy truyền đạt, trò tiếp thu. Kêng kiến thức chủ yếu đến từ SGK, STK<br>Sau khi có CNGD: lớp học số hóa, các thiết bị thông minh, thiết bị không dây và đa phương tiện kỹ thuật số ảo được phát triển mạnh, khóa học trên thiết bị di động và thiết kế trò chơi học tập là những công nghệ được hình thành trong kỷ nguyên số, làm cho giáo dục thay đổi đáng kể theo hướng tích cực. Hình thức học tập đa dạng hơn, không gian học tập mở rộng ra ngoài lớp học....</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:41:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660223208</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trước khi có CNGD: Việc dạy học mang tính truyền thống, phương pháp đơn giản, học liệu chủ yếu là sgk, giáo án..Sau khi có CNGD:  mang lại nhiều tích cực, hợp tác giữa giáo viên và học sinh, lấy học sinh là trung tâm.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660223530</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:42:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660223530</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Ngô Thị Oanh 15/02/1989</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660223550</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em>ứng dụng công nghệ vào giảng dạy có vai trò thúc đẩy giáo dục mở, giúp hoạt động giáo dục đạt hiệu quả cao hơn</em></strong><em>:</em> Công nghệ thúc đẩy một nền giáo dục mở, giúp con người tiếp cận thông tin đa chiều, rút ngắn khoảng cách, thu hẹp mọi không gian, tiết kiệm tối ưu về thời gian. Từ đó con người phát triển nhanh hơn về kiến thức, nhận thức và tư duy. Chương trình giáo dục mở giúp con người trao đổi và tìm kiếm kiến thức một cách hiệu quả. Học và dạy hiện đại yêu cầu cần phải tiếp cận một vấn đề từ nhiều nguồn thông tin khác nhau, dưới nhiều góc nhìn khác nhau, qua đó người đọc có được cái nhìn phổ quát, có cơ hội đào sâu kiến thức, tìm ra được bản chất cốt yếu, nguyên nhân sâu xa của vấn đề, góp phần nâng cao kiến thức, thay đổi tư duy, điều này gián tiếp giúp cho công tác học tập nghiên cứu đạt hiệu quả cao hơn. Đi kèm với giáo dục mở là tài nguyên học liệu mở, giúp người học, người dạy kết nối với kiến thức hiệu quả dù họ ở đâu và trong khoảng thời gian nào. Tài nguyên học liệu mở là một xu hướng phát triển tất yếu của nền giáo dục hiện đaị.<br><strong><em>&nbsp;người dạy và học dễ dàng thu thập, tổng hợp, lưu trữ được lượng kiến thức phong phú đa dạng và được cập nhật thường xuyên</em></strong>: Với giáo dục truyền thống, sinh viên tiếp nhận kiến thức chủ yếu từ sách vở, giáo trình và ngồi nghe giáo viên giảng trên lớp thì hiện nay, nguồn kiến thức đa dạng này được cung cấp trực tuyến qua kết nối internet, chúng ta có thể tìm thấy hàng nghìn hàng triệu kết quả tra cứu sau một cú click chuột. <strong>Công nghệ giúp truy cập tức thời tới các nguồn tri thức, </strong>từ kiến thức phổ thông tới tri thức học thuật đều có thể dễ dàng tìm kiếm và áp dụng trong các quy trình giảng dạy thông qua các hệ thống tra cứu của thư viện, các máy tìm kiếm (search engines) như Google Search, Google Scholars, Google Books, các cơ sở dữ liệu học thuật như Scopus, các mạng xã hội học thuật như Academia, Resarch Gates,… Trong giáo dục hiện đại, người dạy là người truyền thu kiến thức cơ bản, cốt lõi, đóng vai trò là người hướng dẫn người học cách thức khai thác thông tin dồi dào, đa chiều từ Internet. Điều này đóng một vai trò to lớn trong quá trình đổi mới giáo dục giúp cá nhân hóa học tập, rèn luyện, nâng cao tinh thần học tập chủ động, học tập đi đôi với thực tiễn, nhằm phát huy tối đa tính sáng tạo của mình.<br><strong><em> mang lại sự tiện lợi bởi không gian và thời gian học tập nghiên cứu linh động</em></strong><em>:</em> Người học có thể tự học ở mọi lúc (bất kể thời gian nào được cho là phù hợp với từng cá nhân), mọi nơi (bất kể nơi nào miễn có kết nối internet với chương trình trực tuyến, hoặc có thể lưu lại để học trên máy tính, điện thoại (khi không có kết nối internet). Ứng dụng công nghệ cho phép tất cả mọi người có thể tham gia thảo luận một vấn đề nào đó (hội thảo, hội nghị, họp,…) mà không cần phải tập trung tại một địa điểm, không phải ở cùng 1 quốc gia,&nbsp; qua đó góp phần tạo ra một xã hội học tập rộng lớn mà ở đó, người học có thể chủ động học tập, trao đổi kiến thức, trau dồi kinh nghiệm suốt đời.<br><strong><em>vai trò trong việc thúc đẩy phát triển năng lực cá nhân:</em></strong> Với sự thuận tiện cho việc học ở mọi lúc mọi nơi, ứng dụng công nghệ sẽ tạo cơ hội cho người học có thể lựa chọn những vấn đề mà mình ưa thích, phù hợp với năng khiếu, sở thích, từ đó phát triển theo thế mạnh của từng người. Chính điều đó sẽ thúc đẩy sự phát triển của các tài năng. Chương trình học sẵn có, học liệu mở phong phú khiến cho việc tra cứu dễ dàng sẽ gián tiếp thúc đẩy các cá nhân chủ động trang bị thêm nhiều những kiến thức mới, lấp đầy những lỗ hổng, kích thích tìm tòi, khám phá và sáng tạo. Bên cạnh đó, với <strong>công nghệ phù hợp, hấp dẫn nên dễ dàng gắn kết người học</strong>. Các thiết bị như máy tính, máy tính bảng, điện thoại thông minh có kết nối Internet đều là những công cụ mà người học có thể sử dụng ở nhà hay bất cứ đâu ngay cả trên đường di chuyển. Do đó, người học sẽ thoải mái và tích cực hơn khi dùng các công cụ này để kết nối với bạn học, thầy cô và với nhà trường. Sử dụng công nghệ trong lớp học giúp người học dễ dàng biểu thị mối quan tâm, sự chú ý, những mong đợi và thái độ tích cực với việc học, qua đó nâng cao chất lượng dạy và học.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:42:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660223550</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lê Thị Thu Huyền - 02/01/1983- Trường Mầm Non Cổ Nhuế 2         - Việc dạy và học trước đây khi không có CNGD người dạy rất  vất vả đi tìm hình ảnh, ví dụ cho hoạt động dạy của mình (nhất là đối với giáo viên MN), và người học không có được sự tương tác tốt nhất với giáo viên. Ngày nay người học sẽ chủ động hơn khi được tiếp nhận các nội dung chính của bài học thông qua hình ảnh chân thực rõ nét, phát huy được nhiều lĩnh vực hơn.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660223990</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:42:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660223990</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lê Thị Hương 1/4/1989 Trường MN Xuân Đỉnh a</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660224198</link>
         <description><![CDATA[<div>Với sự phát triển của công nghệ, giáo dục đã trở nên dễ tiếp cận và hiệu quả hơn. Việc sử dụng công nghệ hiện đại mang đến cơ hội nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục cho sinh viên trên khắp thế giới.<br><br>Khả năng tiếp cận giáo dục<br><br>Một trong những lợi ích chính của công nghệ trong giáo dục là khả năng mở rộng phạm vi tiếp cận giáo dục cho mọi người.<br><br>Nhờ có internet và các nền tảng học trực tuyến, mọi người từ khắp nơi trên thế giới có khả năng truy cập các khóa học và tài liệu mà trước đây họ chỉ có thể tiếp cận theo cách tuyền thống.<br><br>Ngoài ra, việc học trực tuyến có thể linh hoạt và phù hợp với nhu cầu của từng người.<br><br>Truy cập tài nguyên giáo dục<br><br>Hiện nay, có rất nhiều trang web chính thống giúp người dùng truy cập vào các tài liệu giáo dục khác nhau. Hầu hết trường học ngày nay đều tiếp cận công nghệ và phát triển các thư viện số giúp học sinh, sinh viên dễ tiếp cận hơn.<br><br>Chúng ta có thể tìm và tải xuống các tài liệu học thuật mà không cần in ấn như trước. Điều này đặc biệt phù hợp với sinh viên có nguồn lực hạn chế hoặc những người không có khả năng mua sách giáo khoa và tài liệu đắt tiền.<br><br>Phát triển kỹ năng công nghệ<br><br>Một lợi ích khác của công nghệ trong giáo dục là phát triển kỹ năng công nghệ của học sinh.<br><br>Thế giới ngày nay đòi hỏi mọi người phải có kiến ​​thức và kỹ năng về máy tính và internet. Việc sử dụng công nghệ trong giáo dục sẽ giúp học sinh học những kỹ năng này và áp dụng trong cuộc sống tương lai.<br><br>Cá nhân hóa việc học<br><br>Công nghệ cho phép giáo viên tập trung hơn vào nhu cầu cá nhân của học sinh. Với các nền tảng và hướng dẫn trực tuyến, sinh viên có thể học tài liệu theo tốc độ của riêng mình và khắc phục những điểm còn yếu.<br><br>Tài liệu đa phương tiện<br><br>Học sinh có thể hiểu rõ hơn các khái niệm và lý thuyết phức tạp với các tài liệu đa phương tiện như video, âm thanh và các phần mềm hỗ trợ khác như trình chiếu... Điều này đặc biệt hữu ích cho những sinh viên có khả năng ghi nhớ nhanh khi tiếp xúc với các dạng tài liệu như vậy.<br><br>Phương pháp đánh giá hiện đại<br><br>Công nghệ cũng cung cấp các phương pháp mới để đánh giá và theo dõi kết quả học tập của học sinh. Các bài kiểm tra trực tuyến và phần mềm phân tích dữ liệu giúp giáo viên theo dõi tiến độ của học sinh và điều chỉnh quá trình học tập.Đồng thời, hệ thống đánh giá cũng cho phép học sinh đưa ra ý kiến về quá trình giảng dạy cũng như về giáo viên để điều chỉnh cho phù hợp.<br><br>Tăng tương tác trong giảng dạy&nbsp;<br><br>Công nghệ trong giáo dục cũng giúp học sinh và giáo viên tương tác dễ dàng hơn. Các bên liên quan đến giáo dục có thể sử dụng các diễn đàn trực tuyến, phòng trò chuyện, hội thảo video... để chia sẻ ý tưởng và cùng nhau thực hiện các dự án, bất kể họ đang ở đâu.<br><br>Công nghệ trong giáo dục mang lại nhiều lợi ích, chẳng hạn như cá nhân hóa việc học, truy cập tài liệu đa phương tiện và khả năng tương tác từ xa.<br><br>Việc sử dụng công nghệ hợp lý có thể cải thiện đáng kể chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục cho nhiều sinh viên trên toàn thế giới.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:43:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660224198</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Hồng Nhung: 04/07/1993 MN Xuân Đỉnh A</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660224273</link>
         <description><![CDATA[<div>Với sự phát triển của công nghệ, giáo dục đã trở nên dễ tiếp cận và hiệu quả hơn. Việc sử dụng công nghệ hiện đại mang đến cơ hội nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục cho sinh viên trên khắp thế giới.<br><br>Khả năng tiếp cận giáo dục<br><br>Một trong những lợi ích chính của công nghệ trong giáo dục là khả năng mở rộng phạm vi tiếp cận giáo dục cho mọi người.<br><br>Nhờ có internet và các nền tảng học trực tuyến, mọi người từ khắp nơi trên thế giới có khả năng truy cập các khóa học và tài liệu mà trước đây họ chỉ có thể tiếp cận theo cách tuyền thống.<br><br>Ngoài ra, việc học trực tuyến có thể linh hoạt và phù hợp với nhu cầu của từng người.<br><br>Truy cập tài nguyên giáo dục<br><br>Hiện nay, có rất nhiều trang web chính thống giúp người dùng truy cập vào các tài liệu giáo dục khác nhau. Hầu hết trường học ngày nay đều tiếp cận công nghệ và phát triển các thư viện số giúp học sinh, sinh viên dễ tiếp cận hơn.<br><br>Chúng ta có thể tìm và tải xuống các tài liệu học thuật mà không cần in ấn như trước. Điều này đặc biệt phù hợp với sinh viên có nguồn lực hạn chế hoặc những người không có khả năng mua sách giáo khoa và tài liệu đắt tiền.<br><br>Phát triển kỹ năng công nghệ<br><br>Một lợi ích khác của công nghệ trong giáo dục là phát triển kỹ năng công nghệ của học sinh.<br><br>Thế giới ngày nay đòi hỏi mọi người phải có kiến ​​thức và kỹ năng về máy tính và internet. Việc sử dụng công nghệ trong giáo dục sẽ giúp học sinh học những kỹ năng này và áp dụng trong cuộc sống tương lai.<br><br>Cá nhân hóa việc học<br><br>Công nghệ cho phép giáo viên tập trung hơn vào nhu cầu cá nhân của học sinh. Với các nền tảng và hướng dẫn trực tuyến, sinh viên có thể học tài liệu theo tốc độ của riêng mình và khắc phục những điểm còn yếu.<br><br>Tài liệu đa phương tiện<br><br>Học sinh có thể hiểu rõ hơn các khái niệm và lý thuyết phức tạp với các tài liệu đa phương tiện như video, âm thanh và các phần mềm hỗ trợ khác như trình chiếu... Điều này đặc biệt hữu ích cho những sinh viên có khả năng ghi nhớ nhanh khi tiếp xúc với các dạng tài liệu như vậy.<br><br>Phương pháp đánh giá hiện đại<br><br>Công nghệ cũng cung cấp các phương pháp mới để đánh giá và theo dõi kết quả học tập của học sinh. Các bài kiểm tra trực tuyến và phần mềm phân tích dữ liệu giúp giáo viên theo dõi tiến độ của học sinh và điều chỉnh quá trình học tập.<br>Đồng thời, hệ thống đánh giá cũng cho phép học sinh đưa ra ý kiến về quá trình giảng dạy cũng như về giáo viên để điều chỉnh cho phù hợp.<br><br>Tăng tương tác trong giảng dạy&nbsp;<br><br>Công nghệ trong giáo dục cũng giúp học sinh và giáo viên tương tác dễ dàng hơn. Các bên liên quan đến giáo dục có thể sử dụng các diễn đàn trực tuyến, phòng trò chuyện, hội thảo video... để chia sẻ ý tưởng và cùng nhau thực hiện các dự án, bất kể họ đang ở đâu.<br><br>Công nghệ trong giáo dục mang lại nhiều lợi ích, chẳng hạn như cá nhân hóa việc học, truy cập tài liệu đa phương tiện và khả năng tương tác từ xa.<br><br>Việc sử dụng công nghệ hợp lý có thể cải thiện đáng kể chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục cho nhiều sinh viên trên toàn thế giới.<br><br>Ví du: Trẻ được tìm hiểu nhiều nguồn tài liệu khác nhau, cô sẽ học hỏi được phương pháp dạy học mới<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:43:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660224273</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thuỷ Tiên Mn Xuân Đỉnh A. Trước khi có công nghệ thông tin: lấy giao viên làm trung tâm. Sau khi có công nghệ thông tin : giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, cung cấp các tài liệu giảng dạy đa dạng, anh phong phú, đa dạng. Học sinh có thể học tập mọi lúc mọi nơi </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660224511</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:43:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660224511</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660224658</link>
         <description><![CDATA[<div>Đặng Thị Quyên 20/07/1988 trường mn phùng xá thạch thất hà nội&nbsp;<br>Với sự phát triển của công nghệ, giáo dục đã trở nên dễ tiếp cận và hiệu quả hơn. Việc sử dụng công nghệ hiện đại mang đến cơ hội nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục cho sinh viên trên khắp thế giới. Khả năng tiếp cận giáo<br><br>dục<br><br>Một trong những lợi ích chính của công nghệ trong giáo dục là khả năng mở rộng phạm vi tiếp cận giáo dục cho mọi người.<br><br>Nhờ có internet và các nền tảng học trực tuyến, mọi người từ khắp nơi trên thế giới có khả năng truy cập các khóa học và tài liệu mà trước đây họ chỉ có thể tiếp cận theo cách tuyền thống. Ngoài ra, việc học trực tuyến có thể linh hoạt và phù hợp với nhu cầu của từng người.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:43:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660224658</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Ánh Thu.13/08/1973.Trường MNCN2</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660224783</link>
         <description><![CDATA[<div>Với sự phát triển của công nghệ, giáo dục đã trở nên dễ tiếp cận và hiệu quả hơn. Việc sử dụng công nghệ hiện đại mang đến cơ hội nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục cho sinh viên trên khắp thế giới.<br><br>Khả năng tiếp cận giáo dục<br><br>Một trong những lợi ích chính của công nghệ trong giáo dục là khả năng mở rộng phạm vi tiếp cận giáo dục cho mọi người.<br><br>Nhờ có internet và các nền tảng học trực tuyến, mọi người từ khắp nơi trên thế giới có khả năng truy cập các khóa học và tài liệu mà trước đây họ chỉ có thể tiếp cận theo cách tuyền thống.<br><br>Ngoài ra, việc học trực tuyến có thể linh hoạt và phù hợp với nhu cầu của từng người.<br><br>Truy cập tài nguyên giáo dục<br><br>Hiện nay, có rất nhiều trang web chính thống giúp người dùng truy cập vào các tài liệu giáo dục khác nhau. Hầu hết trường học ngày nay đều tiếp cận công nghệ và phát triển các thư viện số giúp học sinh, sinh viên dễ tiếp cận hơn.<br><br>Chúng ta có thể tìm và tải xuống các tài liệu học thuật mà không cần in ấn như trước. Điều này đặc biệt phù hợp với sinh viên có nguồn lực hạn chế hoặc những người không có khả năng mua sách giáo khoa và tài liệu đắt tiền.<br><br>Phát triển kỹ năng công nghệ<br><br>Một lợi ích khác của công nghệ trong giáo dục là phát triển kỹ năng công nghệ của học sinh.<br><br>Thế giới ngày nay đòi hỏi mọi người phải có kiến ​​thức và kỹ năng về máy tính và internet. Việc sử dụng công nghệ trong giáo dục sẽ giúp học sinh học những kỹ năng này và áp dụng trong cuộc sống tương lai.<br><br>Cá nhân hóa việc học<br><br>Công nghệ cho phép giáo viên tập trung hơn vào nhu cầu cá nhân của học sinh. Với các nền tảng và hướng dẫn trực tuyến, sinh viên có thể học tài liệu theo tốc độ của riêng mình và khắc phục những điểm còn yếu.<br><br>Tài liệu đa phương tiện<br><br>Học sinh có thể hiểu rõ hơn các khái niệm và lý thuyết phức tạp với các tài liệu đa phương tiện như video, âm thanh và các phần mềm hỗ trợ khác như trình chiếu... Điều này đặc biệt hữu ích cho những sinh viên có khả năng ghi nhớ nhanh khi tiếp xúc với các dạng tài liệu như vậy.<br><br>Phương pháp đánh giá hiện đại<br><br>Công nghệ cũng cung cấp các phương pháp mới để đánh giá và theo dõi kết quả học tập của học sinh. Các bài kiểm tra trực tuyến và phần mềm phân tích dữ liệu giúp giáo viên theo dõi tiến độ của học sinh và điều chỉnh quá trình học tập.<br>Đồng thời, hệ thống đánh giá cũng cho phép học sinh đưa ra ý kiến về quá trình giảng dạy cũng như về giáo viên để điều chỉnh cho phù hợp.<br><br>Tăng tương tác trong giảng dạy&nbsp;<br><br>Công nghệ trong giáo dục cũng giúp học sinh và giáo viên tương tác dễ dàng hơn. Các bên liên quan đến giáo dục có thể sử dụng các diễn đàn trực tuyến, phòng trò chuyện, hội thảo video... để chia sẻ ý tưởng và cùng nhau thực hiện các dự án, bất kể họ đang ở đâu.<br><br>Công nghệ trong giáo dục mang lại nhiều lợi ích, chẳng hạn như cá nhân hóa việc học, truy cập tài liệu đa phương tiện và khả năng tương tác từ xa.<br><br>Việc sử dụng công nghệ hợp lý có thể cải thiện đáng kể chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục cho nhiều sinh viên trên toàn thế giới.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:44:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660224783</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dương thị sơn- 28/12/1993- Trường MN xuân đỉnh A</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660224922</link>
         <description><![CDATA[<div>Với sự phát triển của công nghệ, giáo dục đã trở nên dễ tiếp cận và hiệu quả hơn. Việc sử dụng công nghệ hiện đại mang đến cơ hội nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục cho sinh viên trên khắp thế giới.<br><br>Khả năng tiếp cận giáo dục<br><br>Một trong những lợi ích chính của công nghệ trong giáo dục là khả năng mở rộng phạm vi tiếp cận giáo dục cho mọi người.<br><br>Nhờ có internet và các nền tảng học trực tuyến, mọi người từ khắp nơi trên thế giới có khả năng truy cập các khóa học và tài liệu mà trước đây họ chỉ có thể tiếp cận theo cách tuyền thống.<br><br>Ngoài ra, việc học trực tuyến có thể linh hoạt và phù hợp với nhu cầu của từng người.<br><br>Truy cập tài nguyên giáo dục<br><br>Hiện nay, có rất nhiều trang web chính thống giúp người dùng truy cập vào các tài liệu giáo dục khác nhau. Hầu hết trường học ngày nay đều tiếp cận công nghệ và phát triển các thư viện số giúp học sinh, sinh viên dễ tiếp cận hơn.<br><br>Chúng ta có thể tìm và tải xuống các tài liệu học thuật mà không cần in ấn như trước. Điều này đặc biệt phù hợp với sinh viên có nguồn lực hạn chế hoặc những người không có khả năng mua sách giáo khoa và tài liệu đắt tiền.<br><br>Phát triển kỹ năng công nghệ<br><br>Một lợi ích khác của công nghệ trong giáo dục là phát triển kỹ năng công nghệ của học sinh.<br><br>Thế giới ngày nay đòi hỏi mọi người phải có kiến ​​thức và kỹ năng về máy tính và internet. Việc sử dụng công nghệ trong giáo dục sẽ giúp học sinh học những kỹ năng này và áp dụng trong cuộc sống tương lai.<br><br>Cá nhân hóa việc học<br><br>Công nghệ cho phép giáo viên tập trung hơn vào nhu cầu cá nhân của học sinh. Với các nền tảng và hướng dẫn trực tuyến, sinh viên có thể học tài liệu theo tốc độ của riêng mình và khắc phục những điểm còn yếu.<br><br>Tài liệu đa phương tiện<br><br>Học sinh có thể hiểu rõ hơn các khái niệm và lý thuyết phức tạp với các tài liệu đa phương tiện như video, âm thanh và các phần mềm hỗ trợ khác như trình chiếu... Điều này đặc biệt hữu ích cho những sinh viên có khả năng ghi nhớ nhanh khi tiếp xúc với các dạng tài liệu như vậy.<br><br>Phương pháp đánh giá hiện đại<br><br>Công nghệ cũng cung cấp các phương pháp mới để đánh giá và theo dõi kết quả học tập của học sinh. Các bài kiểm tra trực tuyến và phần mềm phân tích dữ liệu giúp giáo viên theo dõi tiến độ của học sinh và điều chỉnh quá trình học tập.<br>Đồng thời, hệ thống đánh giá cũng cho phép học sinh đưa ra ý kiến về quá trình giảng dạy cũng như về giáo viên để điều chỉnh cho phù hợp.<br><br>Tăng tương tác trong giảng dạy&nbsp;<br><br>Công nghệ trong giáo dục cũng giúp học sinh và giáo viên tương tác dễ dàng hơn. Các bên liên quan đến giáo dục có thể sử dụng các diễn đàn trực tuyến, phòng trò chuyện, hội thảo video... để chia sẻ ý tưởng và cùng nhau thực hiện các dự án, bất kể họ đang ở đâu.<br><br>Công nghệ trong giáo dục mang lại nhiều lợi ích, chẳng hạn như cá nhân hóa việc học, truy cập tài liệu đa phương tiện và khả năng tương tác từ xa.<br><br>Việc sử dụng công nghệ hợp lý có thể cải thiện đáng kể chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục cho nhiều sinh viên trên toàn thế giới.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:44:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660224922</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trước khi có CNGD việc dạy và học thụ động hơn, việc tìm kiếm thông tin chậm hơn và lượng thông tin tìm kiếm được ít hơn. Còn sau khí có CNGD việc tìm kiếm thông tin nhanh hơn, đa dạng hơn. VD: Khi tìm kiếm 1 giáo án. Khi có CNTT chúng ta tìm thấy kết quả nhanh hơn và nhiều thông tin hơn</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660225074</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:44:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660225074</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660225710</link>
         <description><![CDATA[<div>Lê Thị Thanh Lâm Trường mầm non Phú Minh - Sóc Sơn - Hà Nội<br>- Khi chưa có CNDH thì trong tiết dạy gv sẽ là trung tâm<br>- Khi có CNDH thì gv sẽ chủ động tích cực trong việc&nbsp;dạy và học hơn </div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet.com/dinhminh2609/th-o-lu-n-ph-n-t-ch-vi-c-d-y-v-h-c-tr-c-v-sau-khi-c-cngd-l-y-3goqoykutr2toknk/wish/2660222259" />
         <pubDate>2023-08-11 13:45:47 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660225710</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phùng Thị Ánh 01/02/1983</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660226675</link>
         <description><![CDATA[<div>Trường Mn Phùng Xá . Trước khi có CNGD việc dạy học mang tinh truyền thống , gv và hoc sinh tương tác với nhau qua những học liệu chủ yếu là sgk, giáo án</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:47:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660226675</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Thu Phương(22-10/1992) -MN Xuân Đỉnh A- Bắc Từ Liêm- Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660227076</link>
         <description><![CDATA[<div>Với sự phát triển của công nghệ, giáo dục đã trở nên dễ tiếp cận và hiệu quả hơn. Việc sử dụng công nghệ hiện đại mang đến cơ hội nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục cho sinh viên trên khắp thế giới.<br><br>Khả năng tiếp cận giáo dục<br><br>Một trong những lợi ích chính của công nghệ trong giáo dục là khả năng mở rộng phạm vi tiếp cận giáo dục cho mọi người.<br><br>Nhờ có internet và các nền tảng học trực tuyến, mọi người từ khắp nơi trên thế giới có khả năng truy cập các khóa học và tài liệu mà trước đây họ chỉ có thể tiếp cận theo cách tuyền thống.<br><br>Ngoài ra, việc học trực tuyến có thể linh hoạt và phù hợp với nhu cầu của từng người.<br><br>Truy cập tài nguyên giáo dục<br><br>Hiện nay, có rất nhiều trang web chính thống giúp người dùng truy cập vào các tài liệu giáo dục khác nhau. Hầu hết trường học ngày nay đều tiếp cận công nghệ và phát triển các thư viện số giúp học sinh, sinh viên dễ tiếp cận hơn.<br><br>Chúng ta có thể tìm và tải xuống các tài liệu học thuật mà không cần in ấn như trước. Điều này đặc biệt phù hợp với sinh viên có nguồn lực hạn chế hoặc những người không có khả năng mua sách giáo khoa và tài liệu đắt tiền.<br><br>Phát triển kỹ năng công nghệ<br><br>Một lợi ích khác của công nghệ trong giáo dục là phát triển kỹ năng công nghệ của học sinh.<br><br>Thế giới ngày nay đòi hỏi mọi người phải có kiến ​​thức và kỹ năng về máy tính và internet. Việc sử dụng công nghệ trong giáo dục sẽ giúp học sinh học những kỹ năng này và áp dụng trong cuộc sống tương lai.<br><br>Cá nhân hóa việc học<br><br>Công nghệ cho phép giáo viên tập trung hơn vào nhu cầu cá nhân của học sinh. Với các nền tảng và hướng dẫn trực tuyến, sinh viên có thể học tài liệu theo tốc độ của riêng mình và khắc phục những điểm còn yếu.<br><br>Tài liệu đa phương tiện<br><br>Học sinh có thể hiểu rõ hơn các khái niệm và lý thuyết phức tạp với các tài liệu đa phương tiện như video, âm thanh và các phần mềm hỗ trợ khác như trình chiếu... Điều này đặc biệt hữu ích cho những sinh viên có khả năng ghi nhớ nhanh khi tiếp xúc với các dạng tài liệu như vậy.<br><br>Phương pháp đánh giá hiện đại<br><br>Công nghệ cũng cung cấp các phương pháp mới để đánh giá và theo dõi kết quả học tập của học sinh. Các bài kiểm tra trực tuyến và phần mềm phân tích dữ liệu giúp giáo viên theo dõi tiến độ của học sinh và điều chỉnh quá trình học tập.<br>Đồng thời, hệ thống đánh giá cũng cho phép học sinh đưa ra ý kiến về quá trình giảng dạy cũng như về giáo viên để điều chỉnh cho phù hợp.<br><br>Tăng tương tác trong giảng dạy&nbsp;<br><br>Công nghệ trong giáo dục cũng giúp học sinh và giáo viên tương tác dễ dàng hơn. Các bên liên quan đến giáo dục có thể sử dụng các diễn đàn trực tuyến, phòng trò chuyện, hội thảo video... để chia sẻ ý tưởng và cùng nhau thực hiện các dự án, bất kể họ đang ở đâu.<br><br>Công nghệ trong giáo dục mang lại nhiều lợi ích, chẳng hạn như cá nhân hóa việc học, truy cập tài liệu đa phương tiện và khả năng tương tác từ xa.<br><br>Việc sử dụng công nghệ hợp lý có thể cải thiện đáng kể chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục cho nhiều sinh viên trên toàn thế giới.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:48:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660227076</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660227375</link>
         <description><![CDATA[<div>Trước khi đưa CN dạy học thì giáo viên phải soạn giáo án bằng tay và chuẩn bị đồ dùng cho tiết dạy.          Trước khi soạn giáo án bằng tay, sau soạn giáo án bằng điện tử, bài giảng bằng điện tử </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:48:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660227375</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660227899</link>
         <description><![CDATA[<div>Nguyễn Thị Nhâm - Trường MN Phùng Xá<br>Việc dạy học trước và sau khi có CNGD khác nhau rất nhiều , giáo viên nói it hơn có thể truyền đạt kiến thức cho nhiều thành viên trong mọi trong mọi thời điểm. NgOài ra học truc tuyến có thể linh hoạt và phù hợp với nhu cầu từng người . Học sinh và giáo viên co thể tương tác tốt hơn</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:49:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660227899</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Họ và tên: Nguyễn Thị MaiSinh ngày 19/02/1993Đơn vị : Trường MN Xuân Đỉnh A</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660227906</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Họ và tên: Nguyễn Thị Mai<br></strong><br></div><div><strong>Sinh ngày 19/02/1993<br></strong><br></div><div><strong>Đơn vị : Trường MN Xuân Đỉnh A<br></strong><br></div><div>Câu hỏi: Phân tích việc dạy và học trước và sau khi có CNGD?<br><br></div><div>Lấy ví dụ minh họa.</div><div>Bài làm</div><div>Với sự phát triển của công nghệ, giáo dục đã trở nên dễ tiếp cận và hiệu quả hơn. Việc sử dụng công nghệ hiện đại mang đến cơ hội nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục cho sinh viên trên khắp thế giới.<br><br></div><div>Khả năng tiếp cận giáo dục<br><br></div><div>Một trong những lợi ích chính của công nghệ trong giáo dục là khả năng mở rộng phạm vi tiếp cận giáo dục cho mọi người.<br><br></div><div>Nhờ có internet và các nền tảng học trực tuyến, mọi người từ khắp nơi trên thế giới có khả năng truy cập các khóa học và tài liệu mà trước đây họ chỉ có thể tiếp cận theo cách tuyền thống.<br><br></div><div>Ngoài ra, việc học trực tuyến có thể linh hoạt và phù hợp với nhu cầu của từng ngườ.<br><br></div><div>Truy cập tài nguyên giáo dục<br><br></div><div>Hiện nay, có rất nhiều trang web chính thống giúp người dùng truy cập vào các tài liệu giáo dục khác nhau. Hầu hết trường học ngày nay đều tiếp cận công nghệ và phát triển các thư viện số giúp học sinh, sinh viên dễ tiếp cận hơn.<br><br></div><div>&nbsp;<br><br></div><div>Chúng ta có thể tìm và tải xuống các tài liệu học thuật mà không cần in ấn như trước. Điều này đặc biệt phù hợp với sinh viên có nguồn lực hạn chế hoặc những người không có khả năng mua sách giáo khoa và tài liệu đắt tiền.<br><br></div><div>Phát triển kỹ năng công nghệ<br><br></div><div>Một lợi ích khác của công nghệ trong giáo dục là phát triển kỹ năng công nghệ của học sinh.<br><br></div><div>Thế giới ngày nay đòi hỏi mọi người phải có kiến ​​thức và kỹ năng về máy tính và internet. Việc sử dụng công nghệ trong giáo dục sẽ giúp học sinh học những kỹ năng này và áp dụng trong cuộc sống tương lai.<br><br></div><div>Cá nhân hóa việc học<br><br></div><div>Công nghệ cho phép giáo viên tập trung hơn vào nhu cầu cá nhân của học sinh. Với các nền tảng và hướng dẫn trực tuyến, sinh viên có thể học tài liệu theo tốc độ của riêng mình và khắc phục những điểm còn yếu.<br><br></div><div>Tài liệu đa phương tiện<br><br></div><div>Học sinh có thể hiểu rõ hơn các khái niệm và lý thuyết phức tạp với các tài liệu đa phương tiện như video, âm thanh và các phần mềm hỗ trợ khác như trình chiếu... Điều này đặc biệt hữu ích cho những sinh viên có khả năng ghi nhớ nhanh khi tiếp xúc với các dạng tài liệu như vậy.<br><br></div><div>Phương pháp đánh giá hiện đại<br><br></div><div>Công nghệ cũng cung cấp các phương pháp mới để đánh giá và theo dõi kết quả học tập của học sinh. Các bài kiểm tra trực tuyến và phần mềm phân tích dữ liệu giúp giáo viên theo dõi tiến độ của học sinh và điều chỉnh quá trình học tập.<br><br></div><div>&nbsp;Đồng thời, hệ thống đánh giá cũng cho phép học sinh đưa ra ý kiến về quá trình giảng dạy cũng như về giáo viên để điều chỉnh cho phù hợp. Tăng tương tác trong giảng dạy Công nghệ trong giáo dục cũng giúp học sinh và giáo viên tương tác dễ dàng hơn. Các bên liên quan đến giáo dục có thể sử dụng các diễn đàn trực tuyến, phòng trò chuyện, hội thảo video... để chia sẻ ý tưởng và cùng nhau thực hiện các dự án, bất kể họ đang ở đâu. Công nghệ trong giáo dục mang lại nhiều lợi ích, chẳng hạn như cá nhân hóa việc học, truy cập tài liệu đa phương tiện và khả năng tương tác từ xa. Việc sử dụng công nghệ hợp lý có thể cải thiện đáng kể chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục cho nhiều sinh viên trên toàn thế giới.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:49:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660227906</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Họ và tên: Dương thùy Dung :sinh  ngày 24/08/1991 Đơn vị : Trường MN Xuân Đỉnh A</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660228597</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Họ và tên: Dương thùy Dung<br></strong><br></div><div><strong>Sinh ngày 24/08/1991<br></strong><br></div><div><strong>Đơn vị : Trường MN Xuân Đỉnh A</strong></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:51:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660228597</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Cấn Thị Giang 02/08/1985 Trường Mầm Non Phùng Xá Trước khi có CNGD việc dạy và học thụ động hơn, việc tìm kiếm thông tin chậm hơn và lượng thông tin tìm kiếm được ít hơn. Còn sau khí có CNGD việc tìm kiếm thông tin nhanh hơn, đa dạng hơn. VD: Khi tìm kiếm 1 giáo án. Khi có CNTT chúng ta tìm thấy kết quả nhanh hơn và nhiều thông tin hơn</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660228767</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:51:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660228767</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660229105</link>
         <description><![CDATA[<div>Ngô Thị Yến sn 13/8/1975 Trường mầm non phùng xá thạch thất hà nội.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Trước khi đưa CN dạy học thì giáo viên phải soạn giáo án bằng tay và chuẩn bị đồ dùng cho tiết dạy.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Trước soạn giáo an bằng tay :Sau soạn giáo án bằng điện tử ,bài giảng bằng điện tử</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:51:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660229105</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đặng Thị Chúc: 08/08/1990: MN Xuân Đỉnh A</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660229328</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Họ và tên: Đặng Thị Chúc<br></strong><br></div><div><strong>Sinh ngày 08/08/1990<br></strong><br></div><div><strong>Đơn vị : Trường MN Xuân Đỉnh A</strong></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:52:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660229328</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Thúy Hiền (10-10-1989) Trường mầm non Hoa Sữa</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660229345</link>
         <description><![CDATA[<div>Một số lợi ích trong việc dạy và học sau khi có CNGD</div><div>- Tạo ra những bài học thú vị thu hút sự chú ý của người học</div><div>Người dạy có thể sử dụng các phông nền màu sắc sinh động, chèn thêm các tệp tin đa phương tiện để minh họa cho bài học, đưa ra câu hỏi trắc nghiệm ngay trong buổi học,… để thu hút sự chú ý của người học. Theo đó, người học sẽ quan tâm hơn tới nội dung bài học và chủ động tham gia xây dựng bài, kể cả khi chỉ đang học trực tuyến.</div><div>Ví dụ: GV sử dụng các phần mềm như PowerPoint, Canva, Azota, Quizziz, Kahoot,…</div><div>- Tăng cường kết nối, thúc đẩy sự hợp tác và xây dựng nhóm</div><div><br>Với công nghệ trong lớp học, việc kết nối và làm bài tập giữa các nhóm người học trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:52:20 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660229345</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thanh Tuyền- 08/12/1991- Trường mầm non Liên Mạc</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660229727</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>* Dạy và học truyền thống</strong></div><div><strong>- Giáo viên còn thụ động và chưa có sự linh hoạt, sáng tạo trong giảng dạy. GV sẽ bị bó buộc trong khối lượng kiến thức hiện có và các đồ dùng dạy học sẽ không phong phú</strong></div><div>- Đồ dùng dạy học chủ yếu là những đồ dùng sẵn có như giấy, bút, kéo, hồ dán…</div><div>- Khả năng tiếp cận thông tin và tài liệu giáo dục bị hạn chế</div><div>- Việc dạy và học thường diễn ra trong môi trường lớp học trực tiếp</div><div><strong>Dạy và học khi có công nghệ</strong></div><div><strong>Đối với người dạy: </strong>Nâng cao tính sáng tạo và trở nên linh hoạt hơn trong quá trình giảng dạy của mình. Thầy cô không chỉ bó buộc trong khối lượng kiến thức hiện có mà còn được tìm hiểu thêm và kết nối những kiến thức của cả những chuyên ngành khác như tin học và học hỏi được các kỹ năng sử dụng hình ảnh, âm thanh trong việc thiết kế bài giảng; Bài giảng ngày càng phong phú, hấp dẫn hơn; Dễ dàng chia sẻ bài giảng với đồng nghiệp, cùng nhau thảo luận và nâng cao chất lượng bài giảng của mình.</div><div><strong>Đối với người học:</strong> Được tiếp cận phương pháp dạy học mới hấp dẫn hơn hẳn phương pháp đọc - chép truyền thống; Sự tương tác giữa thầy cô và học trò cũng được cải thiện đáng kể, học sinh có nhiều cơ hội được thể hiện quan điểm cũng như chính kiến riêng của mình; Giúp cho giáo viên hiểu thêm về năng lực, tính cách và mức độ tiếp thu kiến thức của học trò, từ đó có những điều chỉnh phù hợp và khoa học để thúc đẩy phát triển năng lực của từng cá nhân người học; Rèn luyện kỹ năng cần thiết ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:53:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660229727</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Việc giảng dạy trước khi đưa CNTT thì giáo viên soạn bài trên giấy và khi đưa CNTT thì GV soạn bài trên máy thuận lợi trong việc lưu trữ và phong phú nhiều tiện ích hơn</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660230160</link>
         <description><![CDATA[<div>- Trước khi đưa CNTT học sinh học trực tiếp trên lớp còn sau khi đưa CNTT thì học  sinh có thể học mọi lúc mọi nơi rất thuận lợi </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:53:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660230160</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vũ thị Bằng - MN Cổ Nhuế 2. SN 4/2/1979</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660230492</link>
         <description><![CDATA[<div>Với sự phát triển của công nghệ, giáo dục đã trở nên dễ tiếp cận và hiệu quả hơn. Việc sử dụng công nghệ hiện đại mang đến cơ hội nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục cho sinh viên trên khắp thế giới.<br><br>Khả năng tiếp cận giáo dục<br><br>Một trong những lợi ích chính của công nghệ trong giáo dục là khả năng mở rộng phạm vi tiếp cận giáo dục cho mọi người.<br><br>Nhờ có internet và các nền tảng học trực tuyến, mọi người từ khắp nơi trên thế giới có khả năng truy cập các khóa học và tài liệu mà trước đây họ chỉ có thể tiếp cận theo cách tuyền thống.<br><br>Ngoài ra, việc học trực tuyến có thể linh hoạt và phù hợp với nhu cầu của từng người.<br><br>Truy cập tài nguyên giáo dục<br><br>Hiện nay, có rất nhiều trang web chính thống giúp người dùng truy cập vào các tài liệu giáo dục khác nhau. Hầu hết trường học ngày nay đều tiếp cận công nghệ và phát triển các thư viện số giúp học sinh, sinh viên dễ tiếp cận hơn.<br><br>Chúng ta có thể tìm và tải xuống các tài liệu học thuật mà không cần in ấn như trước. Điều này đặc biệt phù hợp với sinh viên có nguồn lực hạn chế hoặc những người không có khả năng mua sách giáo khoa và tài liệu đắt tiền.<br><br>Phát triển kỹ năng công nghệ<br><br>Một lợi ích khác của công nghệ trong giáo dục là phát triển kỹ năng công nghệ của học sinh.<br><br>Thế giới ngày nay đòi hỏi mọi người phải có kiến ​​thức và kỹ năng về máy tính và internet. Việc sử dụng công nghệ trong giáo dục sẽ giúp học sinh học những kỹ năng này và áp dụng trong cuộc sống tương lai.<br><br>Cá nhân hóa việc học<br><br>Công nghệ cho phép giáo viên tập trung hơn vào nhu cầu cá nhân của học sinh. Với các nền tảng và hướng dẫn trực tuyến, sinh viên có thể học tài liệu theo tốc độ của riêng mình và khắc phục những điểm còn yếu.<br><br>Tài liệu đa phương tiện<br><br>Học sinh có thể hiểu rõ hơn các khái niệm và lý thuyết phức tạp với các tài liệu đa phương tiện như video, âm thanh và các phần mềm hỗ trợ khác như trình chiếu... Điều này đặc biệt hữu ích cho những sinh viên có khả năng ghi nhớ nhanh khi tiếp xúc với các dạng tài liệu như vậy.<br><br>Phương pháp đánh giá hiện đại<br><br>Công nghệ cũng cung cấp các phương pháp mới để đánh giá và theo dõi kết quả học tập của học sinh. Các bài kiểm tra trực tuyến và phần mềm phân tích dữ liệu giúp giáo viên theo dõi tiến độ của học sinh và điều chỉnh quá trình học tập.<br>Đồng thời, hệ thống đánh giá cũng cho phép học sinh đưa ra ý kiến về quá trình giảng dạy cũng như về giáo viên để điều chỉnh cho phù hợp.<br><br>Tăng tương tác trong giảng dạy&nbsp;<br><br>Công nghệ trong giáo dục cũng giúp học sinh và giáo viên tương tác dễ dàng hơn. Các bên liên quan đến giáo dục có thể sử dụng các diễn đàn trực tuyến, phòng trò chuyện, hội thảo video... để chia sẻ ý tưởng và cùng nhau thực hiện các dự án, bất kể họ đang ở đâu.<br><br>Công nghệ trong giáo dục mang lại nhiều lợi ích, chẳng hạn như cá nhân hóa việc học, truy cập tài liệu đa phương tiện và khả năng tương tác từ xa.<br><br>Việc sử dụng công nghệ hợp lý có thể cải thiện đáng kể chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục cho nhiều sinh viên trên toàn thế giới.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:54:28 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660230492</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Thị Duy Đào 13/10/1988 mầm non Hoa sữa đông anh hà nội.khi không có CNGD người dạy rất vất vả đi tìm hình ảnh, ví dụ cho hoạt động dạy của mình (nhất là đối với giáo viên MN), và người học không có được sự tương tác tốt nhất với giáo viên. Ngày nay người học sẽ chủ động hơn khi được tiếp nhận các nội dung chính của bài học thông qua hình ảnh chân thực rõ nét, phát huy được nhiều lĩnh vực hơn.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660230730</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:54:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660230730</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Xuyến 16/10/1989 MN Phùng Xá Thạch Thất Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660232783</link>
         <description><![CDATA[<div>trước chưa có CNGD Việc dạy hoc giáo viên và học sinh trực tiếp trên lớp<br>sau có CNGD trẻ có thể hoạt động mọi nơi</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 13:58:22 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660232783</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660234712</link>
         <description><![CDATA[<div>Nguyễn Thị Thơm 23/09/1990 trường mn phùng xá thạch thất hà nội&nbsp;<br>Với sự phát triển của công nghệ, giáo dục đã trở nên dễ tiếp cận và hiệu quả hơn. Việc sử dụng công nghệ hiện đại mang đến cơ hội nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục cho sinh viên trên khắp thế giới. Khả năng tiếp cận giáo<br><br>dục<br><br>Một trong những lợi ích chính của công nghệ trong giáo dục là khả năng mở rộng phạm vi tiếp cận giáo dục cho mọi người.<br><br>Nhờ có internet và các nền tảng học trực tuyến, mọi người từ khắp nơi trên thế giới có khả năng truy cập các khóa học và tài liệu mà trước đây họ chỉ có thể tiếp cận theo cách tuyền thống. Ngoài ra, việc học trực tuyến có thể linh hoạt và phù hợp với nhu cầu của từng người.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 14:01:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660234712</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Kiều Thị Thu Phương(28/05/1980) Trường mầm non phùng xá-TT-HN</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660235431</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>* Dạy và học truyền thống</strong></div><div><strong>- Giáo viên còn thụ động và chưa có sự linh hoạt, sáng tạo trong giảng dạy. GV sẽ bị bó buộc trong khối lượng kiến thức hiện có và các đồ dùng dạy học sẽ không phong phú</strong></div><div>- Đồ dùng dạy học chủ yếu là những đồ dùng sẵn có như giấy, bút, kéo, hồ dán…</div><div>- Khả năng tiếp cận thông tin và tài liệu giáo dục bị hạn chế</div><div>- Việc dạy và học thường diễn ra trong môi trường lớp học trực tiếp</div><div><strong>Dạy và học khi có công nghệ</strong></div><div><strong>Đối với người dạy: </strong>Nâng cao tính sáng tạo và trở nên linh hoạt hơn trong quá trình giảng dạy của mình. Thầy cô không chỉ bó buộc trong khối lượng kiến thức hiện có mà còn được tìm hiểu thêm và kết nối những kiến thức của cả những chuyên ngành khác như tin học và học hỏi được các kỹ năng sử dụng hình ảnh, âm thanh trong việc thiết kế bài giảng; Bài giảng ngày càng phong phú, hấp dẫn hơn; Dễ dàng chia sẻ bài giảng với đồng nghiệp, cùng nhau thảo luận và nâng cao chất lượng bài giảng của mình.</div><div><strong>Đối với người học:</strong> Được tiếp cận phương pháp dạy học mới hấp dẫn hơn hẳn phương pháp đọc - chép truyền thống; Sự tương tác giữa thầy cô và học trò cũng được cải thiện đáng kể, học sinh có nhiều cơ hội được thể hiện quan điểm cũng như chính kiến riêng của mình; Giúp cho giáo viên hiểu thêm về năng lực, tính cách và mức độ tiếp thu kiến thức của học trò, từ đó có những điều chỉnh phù hợp và khoa học để thúc đẩy phát triển năng lực của từng cá nhân người học; Rèn luyện kỹ năng cần thiết ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 14:03:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660235431</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Mến 24/10/1981 Mầm Non Quang Tiến</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660235729</link>
         <description><![CDATA[<div>Lợi ích khi ứng dụng công nghệ trong lớp học</div><div>Việc ứng dụng công nghệ trong lớp học ngày càng được nhiều người chấp nhận đã chứng tỏ điều này mang đến lợi ích cho giáo dục, các lợi ích này sẽ là:<br><br></div><div>&nbsp;Tạo ra những bài học thú vị thu hút sự chú ý của người học</div><div>Người dạy có thể sử dụng các phông nền màu sắc sinh động, chèn thêm các tệp tin đa phương tiện để minh họa cho bài học, đưa ra câu hỏi trắc nghiệm ngay trong buổi học,… để thu hút sự chú ý của người học. Theo đó, người học sẽ quan tâm hơn tới nội dung bài học và chủ động tham gia xây dựng bài, kể cả khi chỉ đang học trực tuyến.<br><br></div><div><strong>Ví dụ:</strong> Nền tảng lớp học ảo myViewBoard cung cấp các tính năng viết, vẽ, vẽ khối, ghi chú, chèn hình ảnh, video, GIF,… giúp người dạy giảng dạy trực quan và sinh động hơn. Bên cạnh đó người dạy còn có thể chia sẻ quyền cho người học, để người học chỉnh sửa trực tiếp trên bài giảng, tham gia xây dựng bài.<br><br></div><div>Bạn có thể tham khảo thêm về các bước chuẩn bị bài giảng trên nền tảng myViewBoard trong video dưới đây.<br><br></div><div>&nbsp;Hỗ trợ các lớp học diễn ra liên tục, không bị ngắt quãng</div><div>Việc ứng dụng công nghệ trong lơp học tại trường lớp đôi khi sẽ bị gián đoạn do thời tiết, thiên tai, dịch bệnh,… Chẳng hạn như dịch bệnh Covid-19 đã khiến hàng loạt trường học phải tạm nghỉ, khi đó học trực tuyến trở thành “vị cứu tinh” để các lớp học có thể tiếp tục diễn ra, giúp công việc của người học và người dạy không bị gián đoạn <br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 14:03:43 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660235729</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đinh Thị Chuyên 14/2/1985 Mầm Non Thanh Xuân </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660237234</link>
         <description><![CDATA[<div>Lợi ích khi ứng dụng công nghệ trong lớp học</div><div>Việc ứng dụng công nghệ trong lớp học ngày càng được nhiều người chấp nhận đã chứng tỏ điều này mang đến lợi ích cho giáo dục, các lợi ích này sẽ là:<br><br></div><div>Tạo ra những bài học thú vị thu hút sự chú ý của người học</div><div>Người dạy có thể sử dụng các phông nền màu sắc sinh động, chèn thêm các tệp tin đa phương tiện để minh họa cho bài học, đưa ra câu hỏi trắc nghiệm ngay trong buổi học,… để thu hút sự chú ý của người học. Theo đó, người học sẽ quan tâm hơn tới nội dung bài học và chủ động tham gia xây dựng bài, kể cả khi chỉ đang học trực tuyến.<br><br></div><div><strong>Ví dụ:</strong> Nền tảng lớp học ảo myViewBoard cung cấp các tính năng viết, vẽ, vẽ khối, ghi chú, chèn hình ảnh, video, GIF,… giúp người dạy giảng dạy trực quan và sinh động hơn. Bên cạnh đó người dạy còn có thể chia sẻ quyền cho người học, để người học chỉnh sửa trực tiếp trên bài giảng, tham gia xây dựng bài.<br><br></div><div>Bạn có thể tham khảo thêm về các bước chuẩn bị bài giảng trên nền tảng myViewBoard trong video dưới đây.<br><br></div><div>&nbsp;Hỗ trợ các lớp học diễn ra liên tục, không bị ngắt quãng</div><div>Việc ứng dụng công nghệ trong lơp học tại trường lớp đôi khi sẽ bị gián đoạn do thời tiết, thiên tai, dịch bệnh,… Chẳng hạn như dịch bệnh Covid-19 đã khiến hàng loạt trường học phải tạm nghỉ, khi đó học trực tuyến trở thành “vị cứu tinh” để các lớp học có thể tiếp tục diễn ra, giúp công việc của người học và người dạy không bị gián đoạn <br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 14:06:29 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660237234</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đàm Thị Bích Nguyệt 13/07/1992 MN Xuân Đỉnh A</title>
         <author>lethihangmnxd</author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660238311</link>
         <description><![CDATA[<div>Với sự phát triển của công nghệ, giáo dục đã trở nên dễ tiếp cận và hiệu quả hơn. Việc sử dụng công nghệ hiện đại mang đến cơ hội nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục cho sinh viên trên khắp thế giới.<br>Khả năng tiếp cận giáo dục<br>Một trong những lợi ích chính của công nghệ trong giáo dục là khả năng mở rộng phạm vi tiếp cận giáo dục cho mọi người.<br>Nhờ có internet và các nền tảng học trực tuyến, mọi người từ khắp nơi trên thế giới có khả năng truy cập các khóa học và tài liệu mà trước đây họ chỉ có thể tiếp cận theo cách tuyền thống.<br>Ngoài ra, việc học trực tuyến có thể linh hoạt và phù hợp với nhu cầu của từng người.<br>Truy cập tài nguyên giáo dục<br>Hiện nay, có rất nhiều trang web chính thống giúp người dùng truy cập vào các tài liệu giáo dục khác nhau. Hầu hết trường học ngày nay đều tiếp cận công nghệ và phát triển các thư viện số giúp học sinh, sinh viên dễ tiếp cận hơn<br>Chúng ta có thể tìm và tải xuống các tài liệu học thuật mà không cần in ấn như trước. Điều này đặc biệt phù hợp với sinh viên có nguồn lực hạn chế hoặc những người không có khả năng mua sách giáo khoa và tài liệu đắt tiền.<br>Phát triển kỹ năng công nghệ<br>Một lợi ích khác của công nghệ trong giáo dục là phát triển kỹ năng công nghệ của học sinh.<br>Thế giới ngày nay đòi hỏi mọi người phải có kiến ​​thức và kỹ năng về máy tính và internet. Việc sử dụng công nghệ trong giáo dục sẽ giúp học sinh học những kỹ năng này và áp dụng trong cuộc sống tương lai.<br>Cá nhân hóa việc học<br>Công nghệ cho phép giáo viên tập trung hơn vào nhu cầu cá nhân của học sinh. Với các nền tảng và hướng dẫn trực tuyến, sinh viên có thể học tài liệu theo tốc độ của riêng mình và khắc phục những điểm còn yếu.<br>Tài liệu đa phương tiện<br>Học sinh có thể hiểu rõ hơn các khái niệm và lý thuyết phức tạp với các tài liệu đa phương tiện như video, âm thanh và các phần mềm hỗ trợ khác như trình chiếu... Điều này đặc biệt hữu ích cho những sinh viên có khả năng ghi nhớ nhanh khi tiếp xúc với các dạng tài liệu như vậy.<br>Phương pháp đánh giá hiện đại<br>Công nghệ cũng cung cấp các phương pháp mới để đánh giá và theo dõi kết quả học tập của học sinh. Các bài kiểm tra trực tuyến và phần mềm phân tích dữ liệu giúp giáo viên theo dõi tiến độ của học sinh và điều chỉnh quá trình học tập.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 14:08:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660238311</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Thu Hằng 22/04/1990 Trường Mầm non Phùng Xá </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660248493</link>
         <description><![CDATA[<div>Với sự phát triển của công nghệ, giáo dục đã trở nên dễ tiếp cận và hiệu quả hơn. Việc sử dụng công nghệ hiện đại mang đến cơ hội nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục cho sinh viên trên khắp thế giới. Khả năng tiếp cận giáo<br>dục<br>Một trong những lợi ích chính của công nghệ trong giáo dục là khả năng mở rộng phạm vi tiếp cận giáo dục cho mọi người.<br>Nhờ có internet và các nền tảng học trực tuyến, mọi người từ khắp nơi trên thế giới có khả năng truy cập các khóa học và tài liệu mà trước đây họ chỉ có thể tiếp cận theo cách tuyền thống. Ngoài ra, việc học trực tuyến có thể linh hoạt và phù hợp với nhu cầu của từng người.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 14:25:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660248493</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đỗ Thị Bích Vân (04-06-1977) Trường   mầm non Hoa Sữa</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660263754</link>
         <description><![CDATA[<div>Với sự phát triển của công nghệ, giáo dục đã trở nên dễ tiếp cận và hiệu quả hơn. Việc sử dụng công nghệ hiện đại mang đến cơ hội nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục cho sinh viên trên khắp thế giới. Khả năng tiếp cận giáo<br><br>dục<br><br>Một trong những lợi ích chính của công nghệ trong giáo dục là khả năng mở rộng phạm vi tiếp cận giáo dục cho mọi người.<br><br>Nhờ có internet và các nền tảng học trực tuyến, mọi người từ khắp nơi trên thế giới có khả năng truy cập các khóa học và tài liệu mà trước đây họ chỉ có thể tiếp cận theo cách tuyền thống. Ngoài ra, việc học trực tuyến có thể linh hoạt và phù hợp với nhu cầu của từng người.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 14:50:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660263754</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dương Thị Hương (31-05-1990) Trường mầm non Hoa Sữa</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660293427</link>
         <description><![CDATA[<div>Khi có sự hỗ trợ của công nghệ trong giáo dục đã làm chuyển biến quá trình dạy học và tiếp nhận tri thức. Người dạy chuyển từ truyền đạt kiến thức 1 chiều trở thành người hướng dẫn, dẫn dắt người học tìm hiểu và lĩnh hội kiến thức. Người học từ tiếp thu kiến thức 1 cách thụ động chuyển sang chủ động tìm kiếm các kiến thức thông qua các nguồn tài liệu mở, nguồn tài liệu nhiều hơn nhờ công nghệ. Người học có thể chủ động tìm kiếm kiến thức nhiều hơn, rộng hơn không những thế còn phát huy được sự sáng tạo trong người học thông qua các phần mền, các trang mạng xã hội. Không những thế, người dạy còn tiết kiệm được thời gian cho việc lưu trữ, soạn thảo tài liệu mà thay vào đó sẽ có nhiều thời gian phát triển chuyên môn, sáng tạo cách dạy và hỗ trợ người học được nhiều hơn. Công nghệ còn kéo gần khoảng cách giữa người dạy và người học cả về địa lý và cách làm việc giúp tiết kiệm thời gian, công sức hơn.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-11 15:40:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660293427</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lê thị sim 28/08/1996 trường PTDTBT THCS LÝ TỰ TRỌNG</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660629711</link>
         <description><![CDATA[<div><br></div><div>Lợi ích khi ứng dụng công nghệ trong lớp học</div><div>Việc ứng dụng công nghệ trong lớp học ngày càng được nhiều người chấp nhận đã chứng tỏ điều này mang đến lợi ích cho giáo dục, các lợi ích này sẽ là:<br><br></div><div>Tạo ra những bài học thú vị thu hút sự chú ý của người học</div><div>Người dạy có thể sử dụng các phông nền màu sắc sinh động, chèn thêm các tệp tin đa phương tiện để minh họa cho bài học, đưa ra câu hỏi trắc nghiệm ngay trong buổi học,… để thu hút sự chú ý của người học. Theo đó, người học sẽ quan tâm hơn tới nội dung bài học và chủ động tham gia xây dựng bài, kể cả khi chỉ đang học trực tuyến.<br><br></div><div><strong>Ví dụ:</strong> Nền tảng lớp học ảo myViewBoard cung cấp các tính năng viết, vẽ, vẽ khối, ghi chú, chèn hình ảnh, video, GIF,… giúp người dạy giảng dạy trực quan và sinh động hơn. Bên cạnh đó người dạy còn có thể chia sẻ quyền cho người học, để người học chỉnh sửa trực tiếp trên bài giảng, tham gia xây dựng bài.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:20:33 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660629711</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Võ Song Hà -22/07/1997-PTDTBT TH-THCS Phiêng Pằn</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660629787</link>
         <description><![CDATA[<div><br><br>Với sự phát triển của công nghệ, giáo dục đã trở nên dễ tiếp cận và hiệu quả hơn. Việc sử dụng công nghệ hiện đại mang đến cơ hội nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục cho sinh viên trên khắp thế giới.<br><br>Khả năng tiếp cận giáo dục<br><br>Một trong những lợi ích chính của công nghệ trong giáo dục là khả năng mở rộng phạm vi tiếp cận giáo dục cho mọi người.<br><br>Nhờ có internet và các nền tảng học trực tuyến, mọi người từ khắp nơi trên thế giới có khả năng truy cập các khóa học và tài liệu mà trước đây họ chỉ có thể tiếp cận theo cách tuyền thống.<br><br>Ngoài ra, việc học trực tuyến có thể linh hoạt và phù hợp với nhu cầu của từng người.<br><br>Truy cập tài nguyên giáo dục<br><br>Hiện nay, có rất nhiều trang web chính thống giúp người dùng truy cập vào các tài liệu giáo dục khác nhau. Hầu hết trường học ngày nay đều tiếp cận công nghệ và phát triển các thư viện số giúp học sinh, sinh viên dễ tiếp cận hơn.<br><br>Chúng ta có thể tìm và tải xuống các tài liệu học thuật mà không cần in</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:21:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660629787</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Vân - THCS Phương Liệt</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660630178</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Nếu như trước đây khi nhắc đến công nghệ trong lớp học, chúng ta chỉ thường nghĩ đến những chiếc điện thoại mà học sinh sử dụng. Ngoài những tác động tiêu cực trong việc gây ra sự mất tập trung cho học sinh, nó hầu như không có tác dụng gì tốt.<br></strong><br></div><div>Tuy nhiên, sau khoảng thời gian chuyển sang hình thức học tập trực tuyến do những tác động của đại dịch Covid-19, việc sử dụng công nghệ trong giảng dạy là điều tất yếu và nó cho thấy những hiệu quả nhất định. Tất cả các giáo viên đều thấy được công nghệ và các công cụ kỹ thuật số đang góp phần tăng sự tương tác, khơi dậy sự đổi mới và khả năng học tập của học sinh.&nbsp;<br><br></div><div>Đó là lý do mà công nghệ đã thay đổi giáo dục, giúp tối đa chức năng của lớp học mặc dù giáo viên và học sinh không nhất thiết phải ở cùng một vị trí.<br>Nhờ công nghệ, lớp học không còn bị bó buộc trong ranh giới của bốn bức tường. Ngay cả khi học sinh không thể trực tiếp tham gia vào một thí nghiệm, công nghệ vẫn có thể hỗ trợ các em hiểu tường tận về trải nghiệm đó</div><div><br></div><div>Ví dụ, trong thí nghiệm phải sử dụng axit trong quá trình thực hiện thí nghiệm hóa học. Thay vì cho học sinh trải nghiệm thực tiếp và có thể gặp những nguy hiểm không mong đợi, giáo viên có thể liên hệ với một phòng thí nghiệm thực hiện phản ứng cho học sinh quan sát. Từ đó đặt ra các câu hỏi liên quan để học sinh hiểu hơn về những phản ứng xảy ra trong thí nghiệm đó. Mọi quan sát đều có sự hỗ trợ bởi công nghệ giúp học sinh tiếp thu bài học mà không gặp bất kỳ sự cố gì.<br><br></div><div><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:21:48 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660630178</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phan Thuỳ Dương - THCS Tứ Liên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660630208</link>
         <description><![CDATA[<div>Nếu như trước đây khi nhắc đến công nghệ trong lớp học, chúng ta chỉ thường nghĩ đến những chiếc điện thoại mà học sinh sử dụng. Ngoài những tác động tiêu cực trong việc gây ra sự mất tập trung cho học sinh, nó hầu như không có tác dụng gì tốt.<strong><br></strong><br></div><div>Tuy nhiên, sau khoảng thời gian chuyển sang hình thức học tập trực tuyến do những tác động của đại dịch Covid-19, việc sử dụng công nghệ trong giảng dạy là điều tất yếu và nó cho thấy những hiệu quả nhất định. Tất cả các giáo viên đều thấy được công nghệ và các công cụ kỹ thuật số đang góp phần tăng sự tương tác, khơi dậy sự đổi mới và khả năng học tập của học sinh.&nbsp;<br><br></div><div>Đó là lý do mà công nghệ đã thay đổi giáo dục, giúp tối đa chức năng của lớp học mặc dù giáo viên và học sinh không nhất thiết phải ở cùng một vị trí.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:21:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660630208</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Giang THCS Suối Hoa- Bắc Ninh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660630249</link>
         <description><![CDATA[<div>Cách mạng công nghiệp (CMCN) 4.0 hay còn gọi là cuộc cách mạng số là xu hướng tự động hóa và trao đổi dữ liệu trong công nghệ sản xuất. Bản chất của CMCN 4.0 là dựa trên nền tảng công nghệ số và tích hợp tất cả các công nghệ thông minh để tối ưu hóa quy trình, phương thức sản xuất; nhấn mạnh những công nghệ đang và sẽ có tác động lớn nhất là công nghệ in 3D, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hóa, người máy... bao gồm các hệ thống không gian mạng, internet vạn vật (IoT) và điện toán đám mây. Qua đó, tạo ra những nhà máy thông minh với hệ thống máy móc tự kết nối với nhau, tự tổ chức và quản lý. Cũng như mọi cuộc CMCN trước đây, cuộc CMCN 4.0 có thể đưa đến tình trạng bất bình đẳng lớn hơn trong xã hội, đặc biệt là nguy cơ phá vỡ thị trường lao động truyền thống, tiến tới thiết lập một thị trường lao động mới mà ở đó là sự cạnh tranh của tri thức sáng tạo, của nền giáo dục chất lượng cao.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:22:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660630249</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660630271</link>
         <description><![CDATA[<div>NGUYỄN THỊ HƯơNG GIANG 23/05/1993. THCS HỢP THÀNH<br><br>Với sự phát triển của công nghệ, giáo dục đã trở nên dễ tiếp cận và hiệu quả hơn. Việc sử dụng công nghệ hiện đại mang đến cơ hội nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục cho sinh viên trên khắp thế giới.<br><br>Khả năng tiếp cận giáo dục<br><br>Một trong những lợi ích chính của công nghệ trong giáo dục là khả năng mở rộng phạm vi tiếp cận giáo dục cho mọi người.<br><br>Nhờ có internet và các nền tảng học trực tuyến, mọi người từ khắp nơi trên thế giới có khả năng truy cập các khóa học và tài liệu mà trước đây họ chỉ có thể tiếp cận theo cách tuyền thống.<br><br>Ngoài ra, việc học trực tuyến có thể linh hoạt và phù hợp với nhu cầu của từng người.<br><br>Truy cập tài nguyên giáo dục<br><br>Hiện nay, có rất nhiều trang web chính thống giúp người dùng truy cập vào các tài liệu giáo dục khác nhau. Hầu hết trường học ngày nay đều tiếp cận công nghệ và phát triển các thư viện số giúp học sinh, sinh viên dễ tiếp cận hơn.<br><br>Chúng ta có thể tìm và tải xuống các tài liệu học thuật mà không cần in ấn như trước. Điều này đặc biệt phù hợp với sinh viên có nguồn lực hạn chế hoặc những người không có khả năng mua sách giáo khoa và tài liệu đắt tiền.<br><br>Phát triển kỹ năng công nghệ<br><br>Một lợi ích khác của công nghệ trong giáo dục là phát triển kỹ năng công nghệ của học sinh.<br><br>Thế giới ngày nay đòi hỏi mọi người phải có kiến ​​thức và kỹ năng về máy tính và internet. Việc sử dụng công nghệ trong giáo dục sẽ giúp học sinh học những kỹ năng này và áp dụng trong cuộc sống tương lai.<br><br>Cá nhân hóa việc học<br><br>Công nghệ cho phép giáo viên tập trung hơn vào nhu cầu cá nhân của học sinh. Với các nền tảng và hướng dẫn trực tuyến, sinh viên có thể học tài liệu theo tốc độ của riêng mình và khắc phục những điểm còn yếu.<br><br>Tài liệu đa phương tiện<br><br>Học sinh có thể hiểu rõ hơn các khái niệm và lý thuyết phức tạp với các tài liệu đa phương tiện như video, âm thanh và các phần mềm hỗ trợ khác như trình chiếu... Điều này đặc biệt hữu ích cho những sinh viên có khả năng ghi nhớ nhanh khi tiếp xúc với các dạng tài liệu như vậy.<br><br>Phương pháp đánh giá hiện đại<br><br>Công nghệ cũng cung cấp các phương pháp mới để đánh giá và theo dõi kết quả học tập của học sinh. Các bài kiểm tra trực tuyến và phần mềm phân tích dữ liệu giúp giáo viên theo dõi tiến độ của học sinh và điều chỉnh quá trình học tập.<br>Đồng thời, hệ thống đánh giá cũng cho phép học sinh đưa ra ý kiến về quá trình giảng dạy cũng như về giáo viên để điều chỉnh cho phù hợp.<br><br>Tăng tương tác trong giảng dạy&nbsp;<br><br>Công nghệ trong giáo dục cũng giúp học sinh và giáo viên tương tác dễ dàng hơn. Các bên liên quan đến giáo dục có thể sử dụng các diễn đàn trực tuyến, phòng trò chuyện, hội thảo video... để chia sẻ ý tưởng và cùng nhau thực hiện các dự án, bất kể họ đang ở đâu.<br><br>Công nghệ trong giáo dục mang lại nhiều lợi ích, chẳng hạn như cá nhân hóa việc học, truy cập tài liệu đa phương tiện và khả năng tương tác từ xa.<br><br>Việc sử dụng công nghệ hợp lý có thể cải thiện đáng kể chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục cho nhiều si</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:22:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660630271</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Ninh Thị Sen (25/5/1990) THCS Yên Hòa, Cầu Giấy, HN</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660630314</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Trước khi có CNGD:</strong> học sinh học bài trên lớp, nghe giảng trực tiếp, thầy cô giảng bài theo cách đọc chép. Khả năng tiếp thu kiến thức chưa triệt để. <br>Giáo viên làm trung tâm truyền đạt kiến thức, học sinh sẽ là người tiếp thu, học sinh sẽ không phát huy khả năng sáng tạo, tư duy, áp dụng thực tế.<br><strong>Sau khi có CNGD:</strong> Học sinh có thể học mọi lúc, mọi nơi (đa dạng địa điểm: học ở nhà, công viên,… và thời gian: sáng , trưa, chiều, tối)&nbsp;<br>Học sinh được trải nghiệm thực tế, học sinh&nbsp; có năng lực tư duy và sáng tạo, đổi mới, có kỹ năng phân tích và tổng hợp thông tin, có khả năng làm việc độc lập và ra quyết định.&nbsp;<br>Các lớp học đã tương tác nhiều hơn với nhau, với thầy cô, hoạt động nhiều hơn, học sinh&nbsp; đã tích cực chủ động. Ví dụ: học sinh tự làm bài PowPoint thuyết trình, làm video, tự quay các bài tập…<br>Giáo viên thay đổi phương pháp giảng dạy ,phải thay đổi phương pháp giảng dạy từ người truyền đạt các kiến thức trở thành người giúp sinh viên thay đổi kỹ năng giải quyết vấn đề, tư duy sáng tạo người dạy cũng cần thay đổi phương pháp giảng dạy, dần dần chuyển đổi từ phương pháp đọc – chép - học thuộc lòng sang hình thức giảng dạy khác phù hợp hơn như dạy học nêu vấn đề, thảo luận nhóm, báo cáo – thảo luận, học tập lý thuyết kết hợp sinh hoạt thực tế,....</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:22:32 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660630314</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lương Thị Thúy Mai - THCS Xuân Khanh, Sơn Tây, Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660630424</link>
         <description><![CDATA[<div>Khi có sự hỗ trợ của công nghệ trong giáo dục đã làm chuyển biến quá trình dạy học và tiếp nhận tri thức. Người dạy chuyển từ truyền đạt kiến thức 1 chiều trở thành người hướng dẫn, dẫn dắt người học tìm hiểu và lĩnh hội kiến thức. Người học từ tiếp thu kiến thức 1 cách thụ động chuyển sang chủ động tìm kiếm các kiến thức thông qua các nguồn tài liệu mở, nguồn tài liệu nhiều hơn nhờ công nghệ. Người học có thể chủ động tìm kiếm kiến thức nhiều hơn, rộng hơn không những thế còn phát huy được sự sáng tạo trong người học thông qua các phần mền, các trang mạng xã hội. Không những thế, người dạy còn tiết kiệm được thời gian cho việc lưu trữ, soạn thảo tài liệu mà thay vào đó sẽ có nhiều thời gian phát triển chuyên môn, sáng tạo cách dạy và hỗ trợ người học được nhiều hơn. Công nghệ còn kéo gần khoảng cách giữa người dạy và người học cả về địa lý và cách làm việc giúp tiết kiệm thời gian, công sức hơn.</div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:23:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660630424</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Hồng Nhung- THCS Từ Sơn - 10/05/1998</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660630473</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Đối với người dạy<br></strong><br></div><div>Dạy học dựa trên nhu cầu của người học và biết cách tổ chức để học sinh, sinh viên thực hiện bằng được những nhu cầu bản thân là cả một nghệ thuật. Nó đòi hỏi người dạy phải thật sự tâm huyết, năng động và sáng tạo, phải thay đổi tư tưởng trong cách dạy, không chỉ là một người truyền đạt kiến thức mà còn là người chia sẽ các phương pháp học tập, nghiên cứu khoa học và cách tích lũy, tìm tòi kiến thức; giúp người học phát huy được khả năng tự nghiên cứu, tự học của bản thân.<br>(1) Thay đổi phương pháp giảng dạy: Thay đổi quan trọng nhất là giảng viên phải thay đổi phương pháp giảng dạy từ người truyền đạt các kiến thức trở thành người giúp sinh viên thay đổi kỹ năng giải quyết vấn đề, tư duy sáng tạo và xóa mù thông tin. Cách dạy cũ không thể tạo ra những công dân thích hợp cho thế kỉ XXI – những công dân toàn cầu.<br>Thay đổi về tư duy, giúp sinh viên có kỹ năng giải quyết vẫn đề, tư duy sáng tạo là rất quan trọng, giúp sinh viên cần làm gì, học gì và như thế nào để đạt được mục đích học tập mình đề ra. Nếu đến trường chỉ được truyền đạt kiến thức thì sách, sách điện tử, công nghệ dạy học được trang bị đầy đủ với không gian rộng hơn rất nhiều so với lớp học,... cũng có thể đảm đương nhiệm vụ này.<br><br></div><div>Trong xã hội thông tin, giảng viên phải giúp sinh viên điều chỉnh định hướng về chất lượng và ý nghĩa của nguồn thông tin, phải là nhà giáo dục chuyên nghiệp có đầu óc sáng tạo, biết phê phán, tư duy độc lập, năng lực hợp tác tích cực và hỗ trợ có hiệu quả giữa người học với những gì họ muốn biết, là người cung cấp cách hiểu mới cho người học. Sự biến đổi lớn về vai trò người dạy - truyền thụ kiến thức theo cách truyền thống sang vai trò xúc tác và điều phối, họ phải chuyển sang chức năng hướng dẫn người học.<br><br></div><div>Với điện toán đám mây (cloud computingy), công nghệ số kết nối toàn cầu và giao tiếp trong không gian rộng và thời gian đa chiều, bởi trong thế giới “ảo” lại hóa thật và sâu, tưởng rộng và xa nhưng rất gần và hữu ích với việc học và cả trong cuộc sống. Đồng thời người dạy cũng cần thay đổi phương pháp giảng dạy, dần dần chuyển đổi từ phương pháp đọc – chép - học thuộc lòng sang hình thức giảng dạy khác phù hợp hơn như dạy học nêu vấn đề, thảo luận nhóm, seminar, báo cáo – thảo luận, học tập lý thuyết kết hợp sinh hoạt thực tế,....<br><br></div><div>(2) Nâng cao năng lực sử dụng các phương tiện công nghệ: Người dạy phải có năng lực quản lý tài nguyên mạng, có khả năng sử dụng thành thạo các phương tiện công nghệ phục vụ quá trình dạy học, chuyển đổi từ các hình thức giảng dạy truyền thống sang các hình thức giảng dạy áp dụng công nghệ số hóa. Các hình thức học trực tuyến E-Learning: học thông qua các thiết bị điện tử; Mobile Learning: Học thông qua các thiết bị di động; Blended-learning: mô hình học kết hợp giữa học trên lớp và học online; context aware u-learning: học theo ngữ cảnh, thông qua các thiết bị định vị; collaborative environments: học trong các môi trường mang tính tương tác cao; cloud computing: sử dụng công nghệ điện toán đám mây cần được đẩy mạnh áp dụng.<br><br></div><div>(3) Bồi dưỡng năng lực chuyên môn bằng các phương pháp hiện đại, tiên tiến: Hiện nay, nhiều giảng viên chưa tiếp cận được với các mô hình dạy học mới sẽ làm hạn chế việc rèn kỹ năng nghề cho sinh viên sư phạm. Vì thế công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giảng viên nên kết hợp các mô hình đào tạo tiên tiến 4.0, đào tạo trực tuyến, từ xa để giảng viên sư phạm vừa nâng cao trình độ chuyên môn, vừa tiếp cận các mô hình dạy học mới. Các hình thức dạy học này sẽ giúp giảng viên bổ sung vào kiến thức nghiệp vụ, làm phong phú hơn các hình thức dạy học của mình.<br><br></div><div>Bên cạnh đó, có một số mô hình giảng viên dạy trực tuyến đã và sẽ được ứng dụng trong đào tạo và bồi dưỡng giảng viên như Mô hình E-learning (đây là mô hình hệ thống quản lý qua mạng); mô hình B-learning (mô hình dạy học kết hợp hình thức học tập trên lớp với hình thức học hợp tác qua mạng máy tính và tự học); mô hình ứng dụng kỹ thuật hội thảo truyền hình (là dịch vụ cho phép nhiều người hội thảo từ xa, với sự xuất hiện của hình ảnh và âm thanh từ một người đến những người còn lại); Mô hình 4.0 là mô hình giáo dục thông minh, liên kết chủ yếu giữa các yếu tố nhà trường - nhà quản lý - nhà doanh nghiệp, tạo điều kiện cho việc đổi mới, sáng tạo và năng suất lao động trong xã hội tri thức.<br><br></div><div>(4) Nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học: Đẩy mạnh công tác NCKH, bồi dưỡng giảng viên theo hướng nghiên cứu. Bên cạnh việc bồi dưỡng năng lực chuyên môn nghiệp vụ, giảng viên sư phạm cần phải bồi dưỡng năng lực NCKH.<br><br></div><div>(5) Nâng cao trình độ ngoại ngữ: Để tiếp cận những tri thức khoa học và công nghệ tiên tiến do sự phát triển của công nghệ 4.0 mang lại, con người không thể không thông thạo ngoại ngữ. Đây là điều cần thiết để giảng viên hội nhập với xu hướng kết nối toàn cầu, hội nhập với giáo dục đại học thế giới. Vì thế người giảng viên cần nâng cao trình độ ngoại ngữ bằng nhiều biện pháp khác nhau như học theo các chương trình đào tạo, tự học hay thông qua sách báo, phim ảnh,....<br><strong>Đối với người học</strong></div><div><br></div><div>(1) Học mọi lúc, mọi nơi (đa dạng địa điểm và thời gian): Sinh viên có nhiều cơ hội học tập trong những khoảng thời gian khác nhau và ở những nơi khác nhau. Việc học tập sẽ trở nên dễ dàng và thuận tiện khi có các công cụ học tập trực tuyến hỗ trợ cho việc học tập từ xa và tự học. Các lớp học dường như sẽ bị đảo ngược so với các lớp học truyền thống hiện nay, phần lý thuyết sẽ là tự học, học trực tuyến bên ngoài lớp học, còn phần thực hành sẽ được giảng dạy và hướng dẫn trực tiếp trên lớp.<br><br></div><div>(2) Cá nhân hóa việc học tập: Sinh viên sẽ học cách thích nghi với các công cụ hỗ trợ học tập phù hợp với khả năng của mỗi cá nhân. Mỗi nhóm sinh viên có trình độ khác nhau sẽ được thử thách bởi các nhiệm vụ có mức độ khó khăn khác nhau. Sinh viên có cơ hội thực hành nhiều hơn đối với các học phần khó cho đến khi đạt yêu cầu. Sinh viên sẽ được củng cố kiến thức cũng như có được kinh nghiệm tích cực trong quá trình học tập độc lập của mình, họ sẽ có động lực hơn cũng như tự tin hơn về khả năng học tập của mình. Hơn nữa, giảng viên sẽ dễ dàng thấy được trình độ của từng sinh viên để can thiệp và giúp đỡ kịp thời.<br><br></div><div>(3) Tự do lựa chọn: Mặc dù mỗi môn học được giảng dạy với cùng một mục đích, tuy nhiên, con đường để đạt được mục đích đó thì có thể khác nhau đối với mỗi sinh viên. Mỗi sinh viên đều có thể lựa chọn cho mình một chiến lược học tập của riêng mình với những công cụ học tập mà họ cảm thấy là cần thiết và phù hợp nhất với họ. Sinh viên sẽ học tập cùng với các thiết bị hỗ trợ khác nhau, các chương trình khác nhau và các công nghệ khác nhau dựa trên sở thích riêng của từng người. Học tập theo phương thức truyền thống kết hợp với học trực tuyến sẽ tạo nên sự thay đổi quan trọng trong xu hướng học tập hiện nay. Hiện nay, chương trình học tập theo học chế tín chỉ đã đáp ứng được một phần của vấn đề này; xu hướng sắp tới người học sẽ quyết định học tập gì, cần kiến thức gì cho bản thân để vận dụng vào cuộc sống sau khi tốt nghiệp ra trường.<br><br></div><div>(4) Thực hiện dự án: Nghề nghiệp trong tương lai sẽ gắn với nền kinh tế tự do, do vậy sinh viên ngày càng phải thích nghi với việc học tập theo kiểu dự án. Điều này có nghĩa học phải học cách áp dụng các kỹ năng trong một thời gian rất ngắn để giải quyết nhiều tình huống khác nhau. Sinh viên nên sẵn sàng làm quen với các kỹ năng dựa trên dự án trong trường đại học, đó là các kỹ năng quản lý tổ chức, kỹ năng quản lý thời gian có thể được giảng dạy như những điều cơ bản mà mọi sinh viên có thể sử dụng trong quá trình học tập của mình.<br><br></div><div>(5) Trải nghiệm thực tế: Mỗi một chương trình học đều được gắn liền với một lĩnh vực ngành nghề nhất định trong xã hội, do vậy, kinh nghiệm trong từng lĩnh vực sẽ được ẩn mình trong từng chương trình, từng môn học. Các trường đại học sẽ tạo nhiều cơ hội để sinh viên có được các kỹ năng thực tế ở mỗi lĩnh vực đại diện cho chương trình học của mình. Điều này có nghĩa là chương trình sẽ tạo ra nhiều khoảng trống cho sinh viên hoàn thiện thông qua thực hành thực tế, tư vấn và tham gia vào các dự án hợp tác.<br><br></div><div>(6) Giải thích số liệu: Mặc dù toán học được coi là một môn học có thể tính toán và giải thích, tuy nhiên phần tính toán này sẽ trở nên không quan trọng trong tương lai gần khi máy tính đã làm thay phần tính toán, thống kê mô tả và phân tích dữ liệu cũng như dự đoán tương lai. Do đó, sự giải thích của con người về những dữ kiện đó sẽ trở thành một phần quan trọng hơn ở chương trình giảng dạy trong tương lai. Áp dụng kiến thức lý thuyết cho các con số, sử dụng lý luận của con người để suy luận logic và xu hướng từ những dữ liệu này sẽ trở thành một nền móng căn bản của việc học toán học.<br><br></div><div>(7) Tư vấn sẽ trở nên ngày càng quan trọng hơn: Sinh viên sẽ ngày càng độc lập hơn trong việc học tập của mình, lấy tự học là chính, giáo viên như một người hướng dẫn và là một tâm điểm trong nguồn dữ liệu thông tin khổng lồ mà sinh viên sẽ phải đi qua.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2103376328/b204cf162c4ef4afa032e93cc26835e8/E5727312_E288_4F67_83AE_6E3BABE82D59.jpeg" />
         <pubDate>2023-08-12 13:23:31 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660630473</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Xuyến-THCS Phú Đô, Nam Từ Liêm, Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660630546</link>
         <description><![CDATA[<div>Khi có sự hỗ trợ của công nghệ trong giáo dục đã làm chuyển biến quá trình dạy học và tiếp nhận tri thức. Người dạy chuyển từ truyền đạt kiến thức 1 chiều trở thành người hướng dẫn, dẫn dắt người học tìm hiểu và lĩnh hội kiến thức. Người học từ tiếp thu kiến thức 1 cách thụ động chuyển sang chủ động tìm kiếm các kiến thức thông qua các nguồn tài liệu mở, nguồn tài liệu nhiều hơn nhờ công nghệ. Người học có thể chủ động tìm kiếm kiến thức nhiều hơn, rộng hơn không những thế còn phát huy được sự sáng tạo trong người học thông qua các phần mền, các trang mạng xã hội. Không những thế, người dạy còn tiết kiệm được thời gian cho việc lưu trữ, soạn thảo tài liệu mà thay vào đó sẽ có nhiều thời gian phát triển chuyên môn, sáng tạo cách dạy và hỗ trợ người học được nhiều hơn. Công nghệ còn kéo gần khoảng cách giữa người dạy và người học cả về địa lý và cách làm việc giúp tiết kiệm thời gian, công sức hơn.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:23:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660630546</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Thuỳ Linh - Trường PTDTBT TH và THCS Phiêng Cằm, Sơn La</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660630582</link>
         <description><![CDATA[<div>Sự thay đổi khi áp dụng CNS trong giáo dục:<strong><br>Đối với người dạy: </strong>Nâng cao tính sáng tạo và trở nên linh hoạt hơn trong quá trình giảng dạy của mình. Thầy cô không chỉ bó buộc trong khối lượng kiến thức hiện có mà còn được tìm hiểu thêm và kết nối những kiến thức của cả những chuyên ngành khác như tin học và học hỏi được các kỹ năng sử dụng hình ảnh, âm thanh trong việc thiết kế bài giảng; Bài giảng ngày càng phong phú, hấp dẫn hơn; Dễ dàng chia sẻ bài giảng với đồng nghiệp, cùng nhau thảo luận và nâng cao chất lượng bài giảng của mình.</div><div><strong>Đối với người học:</strong> Được tiếp cận phương pháp dạy học mới hấp dẫn hơn hẳn phương pháp đọc - chép truyền thống; Sự tương tác giữa thầy cô và học trò cũng được cải thiện đáng kể, học sinh có nhiều cơ hội được thể hiện quan điểm cũng như chính kiến riêng của mình; Giúp cho giáo viên hiểu thêm về năng lực, tính cách và mức độ tiếp thu kiến thức của học trò, từ đó có những điều chỉnh phù hợp và khoa học để thúc đẩy phát triển năng lực của từng cá nhân người học; Rèn luyện kỹ năng cần thiết ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.</div><div><strong>Đối với xã hội: </strong>Chất lượng giáo viên được nâng cao, các phương pháp giảng dạy được thay đổi theo chiều hướng tích cực. Chúng ta có thể hy vọng vào một ngày không xa, nền giáo dục Việt Nam sẽ theo kịp được sự phát triển của các nước có nền giáo dục hàng đầu trên thế giới.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:24:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660630582</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Điêu Thị Thu Trang - Trường PTDTBT TH &amp; THCS Phiêng Cằm - Mai Sơn - Sơn La</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660630823</link>
         <description><![CDATA[<div>Trước khi có công nghệ giáo dục, nội dung của dạy học truyền thống gói chọn trong sách vở và những gì học sinh nhận được trên lớp là do giáo viên truyền đạt.&nbsp;<br>Sau khi có công nghệ giáo dục, việc dạy và học trở nên linh động và sáng tạo hơn, người học được tiếp cận kiến thức từ nhiều nguồn khác nhau, đó là: giáo viên, sách, báo, bảo tàng, các học liệu mở, học qua internet. Việc khai thác tìm hiểu những thông tin nào là hoàn toàn tùy thuộc vào nhu cầu, kinh nghiệm của người học. Phương pháp diễn giảng, truyền thụ kiến thức một chiều, hình thức tổ chức cố định giới hạn trong bốn bức tường của lớp học khác xa với hình thức tổ chức lớp ở dạy học hiện đại. Dạy học trong môi trường hiện nay hết sức cơ động và linh hoạt, học ở lớp, học online, học trong phòng thí nghiệm, thực nghiệm ở hiện trường, thực tập tại các nhà máy, doanh nghiệp, tự học cá nhân, học và làm việc theo nhóm.Và trên hết, sự khác nhau đặc biệt giữa dạy và học truyền truyền thống với dạy và học hiện đại đó là việc ứng dụng một cách phổ biến những ứng dụng của khoa học công nghệ hiện đại vào công tác giảng dạy và học tập.<br>Đối với người dạy: Nâng cao tính sáng tạo và trở nên linh hoạt hơn trong quá trình giảng dạy của mình. Thầy cô không chỉ bó buộc trong khối lượng kiến thức hiện có mà còn được tìm hiểu thêm và kết nối những kiến thức của cả những chuyên ngành khác như tin học và học hỏi được các kỹ năng sử dụng hình ảnh, âm thanh trong việc thiết kế bài giảng; Bài giảng ngày càng phong phú, hấp dẫn hơn; Dễ dàng chia sẻ bài giảng với đồng nghiệp, cùng nhau thảo luận và nâng cao chất lượng bài giảng của mình.<br>Đối với người học: Được tiếp cận phương pháp dạy học mới hấp dẫn hơn hẳn phương pháp đọc - chép truyền thống; Sự tương tác giữa thầy cô và học trò cũng được cải thiện đáng kể, học sinh có nhiều cơ hội được thể hiện quan điểm cũng như chính kiến riêng của mình; Giúp cho giáo viên hiểu thêm về năng lực, tính cách và mức độ tiếp thu kiến thức của học trò, từ đó có những điều chỉnh phù hợp và khoa học để thúc đẩy phát triển năng lực của từng cá nhân người học; Rèn luyện kỹ năng cần thiết ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:25:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660630823</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Thị Loan - THCS Phú Đô - Nam Từ Liêm Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660630856</link>
         <description><![CDATA[<div>Dạy học khi áp dụng CNGD<br>- Học liệu phong Phú<br>- người học có thể học bất cứ thời gian và địa điểm nào<br>- Kết nối được nhiều hình thức học, nhiều đối tượng học<br>- Với sự phát triển của công nghệ, giáo dục đã trở nên dễ tiếp cận và hiệu quả hơn. Việc sử dụng công nghệ hiện đại mang đến cơ hội nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục cho sinh viên trên khắp thế giới.<br><br>Khả năng tiếp cận giáo dục<br><br>Một trong những lợi ích chính của công nghệ trong giáo dục là khả năng mở rộng phạm vi tiếp cận giáo dục cho mọi người.<br><br>Nhờ có internet và các nền tảng học trực tuyến, mọi người từ khắp nơi trên thế giới có khả năng truy cập các khóa học và tài liệu mà trước đây họ chỉ có thể tiếp cận theo cách tuyền thống.<br><br>Ngoài ra, việc học trực tuyến có thể linh hoạt và phù hợp với nhu cầu của từng người.<br><br>Truy cập tài nguyên giáo dục<br><br>Hiện nay, có rất nhiều trang web chính thống giúp người dùng truy cập vào các tài liệu giáo dục khác nhau. Hầu hết trường học ngày nay đều tiếp cận công nghệ và phát triển các thư viện số giúp học sinh, sinh viên dễ tiếp cận hơn.<br><br>Chúng ta có thể tìm và tải xuống các tài liệu học thuật mà không cần in</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:25:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660630856</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hoàng thị kiều trang -thcs mộc bắc</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660630928</link>
         <description><![CDATA[<div>Ứng dụng công nghệ vào giảng dạy có vai trò thúc đẩy giáo dục mở, giúp hoạt động giáo dục đạt hiệu quả cao hơn:&nbsp;Công nghệ thúc đẩy một nền giáo dục mở, giúp con người tiếp cận thông tin đa chiều, rút ngắn khoảng cách, thu hẹp mọi không gian, tiết kiệm tối ưu về thời gian. Từ đó con người phát triển nhanh hơn về kiến thức, nhận thức và tư duy. Chương trình giáo dục mở giúp con người trao đổi và tìm kiếm kiến thức một cách hiệu quả. Học và dạy hiện đại yêu cầu cần phải tiếp cận một vấn đề từ nhiều nguồn thông tin khác nhau, dưới nhiều góc nhìn khác nhau, qua đó người đọc có được cái nhìn phổ quát, có cơ hội đào sâu kiến thức, tìm ra được bản chất cốt yếu.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:25:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660630928</guid>
      </item>
      <item>
         <title>với sự pt của công nghệ, GD đã trở nên dễ tiếp cận và hiệu quả hơn. Việc sử dụng công nghệ hiện đại mang đến cơ hội nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận  giáo dục cho học sinh và sinh viên trên toàn thế giới. Khi có sự hỗ trựo của công nghệ, GD đã chuyển bién quá trình dạy hoc và tiếp nhận tri thức. Người dạy chuyền từ truyền đạt keién thức 1 chiều trửo thành người hướng dẫn, dẫn dắt người học tìm hiểu và lĩnh hội kiến thức một cách nhanh chóng, chủ động, hiệu quả.  </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660630981</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:25:59 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660630981</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Tuyết Lan -thcs Thị Cầu </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660631025</link>
         <description><![CDATA[<div>Khi có cngd, quá trình truyền thụ tri thức sẽ thay đổi. Intonet sẽ kết nối người học với nhiều dữ liệu , giúp người học tiếp thu nhanh và chuẩn xác hơn<br>Trước khi có cngd, người học và người dạy tương tác với nhau chủ yếu theo một chiều<br>Sau khi có cngd, người dạy đóng vai trò nhân tố thúc đẩy, người học chủ động tìm tòi, khám phá, sáng tạo</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:26:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660631025</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660631210</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/2106028921/447bb1f9213455e2746e954b56a4c162/image.png" />
         <pubDate>2023-08-12 13:27:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660631210</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660631270</link>
         <description><![CDATA[<div>Quàng Mai Anh - TH&amp; ThCS Nặm Păm<br>1. Trước khi có CNGD:&nbsp;<br>Chủ yếu là sử dụng giấy bút, các công cụ đồ dungf mô hình trực quan để giảng dạy. Các bài giảng chưa sinh động chưa thu hút đến học sinh.&nbsp;<br>2. Sau khi có CNGD<br>- đối với người dạy: có nhiều phương tiện, phương thức dạy học sinh động nhờ có internet, với điện toán đám mây công nghệ số dễ dàng kết nối giữa thầy cô và hs trong không gian rộng và thời gian đa chiều, dần dần chuyển đổi từ phương pháp đọc - chép học thuộc sang hình thức giảng dạy khác như nêu vấn đề, thảo luận nhóm, senimar,....nâng cao năng lực NCKH, nâng cao trình độ ngoại ngữ<br>- đối với người học: có thể học mọi lúc, mọi nơi đa dạng địa điểm và thời gian, cá nhân hoá việc học tập, tự do lựa chọn, thực hiện dự án, trải nghiệm thực tế, công nghệ giúp hs theo kịp nhịp độ của lớp, </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:27:29 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660631270</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hoàng Minh Chính 29/07/1991 trường PTDTBT THCS CAO PHẠ </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660631309</link>
         <description><![CDATA[<div>Với sự phát triển của công nghệ, giáo dục đã trở nên dễ tiếp cận và hiệu quả hơn. Việc sử dụng công nghệ hiện đại mang đến cơ hội nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục cho sinh viên trên khắp thế giới. Khả năng tiếp cận giáo<br>dục<br>Một trong những lợi ích chính của công nghệ trong giáo dục là khả năng mở rộng phạm vi tiếp cận giáo dục cho mọi người.<br>Nhờ có internet và các nền tảng học trực tuyến, mọi người từ khắp nơi trên thế giới có khả năng truy cập các khóa học và tài liệu mà trước đây họ chỉ có thể tiếp cận theo cách tuyền thống. Ngoài ra, việc học trực tuyến có thể linh hoạt và phù hợp với nhu cầu của từng người.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:27:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660631309</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Nho Nghĩa THCS Thanh Đa - Phúc thọ - Hà Nội: Việc dạy và học trước đây thường được áp dụng theo phương pháp truyền thống với các nguồn dữ liệu bản in nên việc truyền tải và tiếp nhận tri thức mang tính khô khan cứng nhắc thiếu sự sáng tạo. việc ứng dụng KHCN vào giảng dạy giúp cho việc dạy và học trở nên dễ dàng, thuận tiện và hiệu quả hơn. Ví dụ với môn Tiếng Anh ta có thể tra từ điển trực tuyến giúp học sinh không những biết nghĩa của từ mà còn biết cách phát âm từ đó.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660631335</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:27:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660631335</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hoàng Tuấn Linh - 01/10/1985 - THCS Phú Đô - Nam Từ Liêm - Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660631338</link>
         <description><![CDATA[<div>Dạy học khi áp dụng CNGD<br>- Học liệu phong Phú<br>- người học có thể học bất cứ thời gian và địa điểm nào<br>- Kết nối được nhiều hình thức học, nhiều đối tượng học<br>- Với sự phát triển của công nghệ, giáo dục đã trở nên dễ tiếp cận và hiệu quả hơn. Việc sử dụng công nghệ hiện đại mang đến cơ hội nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục cho sinh viên trên khắp thế giới.<br><br>Khả năng tiếp cận giáo dục<br><br>Một trong những lợi ích chính của công nghệ trong giáo dục là khả năng mở rộng phạm vi tiếp cận giáo dục cho mọi người.<br><br>Nhờ có internet và các nền tảng học trực tuyến, mọi người từ khắp nơi trên thế giới có khả năng truy cập các khóa học và tài liệu mà trước đây họ chỉ có thể tiếp cận theo cách tuyền thống.<br><br>Ngoài ra, việc học trực tuyến có thể linh hoạt và phù hợp với nhu cầu của từng người.<br><br>Truy cập tài nguyên giáo dục<br><br>Hiện nay, có rất nhiều trang web chính thống giúp người dùng truy cập vào các tài liệu giáo dục khác nhau. Hầu hết trường học ngày nay đều tiếp cận công nghệ và phát triển các thư viện số giúp học sinh, sinh viên dễ tiếp cận hơn.<br><br>Chúng ta có thể tìm và tải xuống các tài liệu học thuật mà không cần in.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:27:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660631338</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn thị Hiếu - thcs hợp thành</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660631361</link>
         <description><![CDATA[<div><br><br>Với sự phát triển của công nghệ, giáo dục đã trở nên dễ tiếp cận và hiệu quả hơn. Việc sử dụng công nghệ hiện đại mang đến cơ hội nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục cho sinh viên trên khắp thế giới.<br><br>Khả năng tiếp cận giáo dục<br><br>Một trong những lợi ích chính của công nghệ trong giáo dục là khả năng mở rộng phạm vi tiếp cận giáo dục cho mọi người.<br><br>Nhờ có internet và các nền tảng học trực tuyến, mọi người từ khắp nơi trên thế giới có khả năng truy cập các khóa học và tài liệu mà trước đây họ chỉ có thể tiếp cận theo cách tuyền thống.<br><br>Ngoài ra, việc học trực tuyến có thể linh hoạt và phù hợp với nhu cầu của từng người.<br><br>Truy cập tài nguyên giáo dục<br><br>Hiện nay, có rất nhiều trang web chính thống giúp người dùng truy cập vào các tài liệu giáo dục khác nhau. Hầu hết trường học ngày nay đều tiếp cận công nghệ và phát triển các thư viện số giúp học sinh, sinh viên dễ tiếp cận hơn.<br><br>Chúng ta có thể tìm và tải xuống các tài liệu học thuật mà không cần in</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:27:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660631361</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vừ A Chạư trường PTDT BT TH THCS Nậm Giôn Mường La Sơn La </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660631395</link>
         <description><![CDATA[<div>Chưa&nbsp;có cngd tài liệu kồng kềnh , số lượng ít. Khi có cngd tài liệu cần thiết cho công việc gọn nhẹ, dễ vận chuyển, phong phú, hấp dẫn... Ví dụ tất cả các bài giảng cho HS chỉ cần lưu trong máy tính </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:28:08 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660631395</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vũ Thị Hiền - THCS Phụng Thượng - Phúc Thọ - Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660631419</link>
         <description><![CDATA[<div>Trước khi có công nghệ giáo dục, nội dung của dạy học truyền thống gói chọn trong sách vở và những gì học sinh nhận được trên lớp là do giáo viên truyền đạt.&nbsp;<br>Sau khi có công nghệ giáo dục, việc dạy và học trở nên linh động và sáng tạo hơn, người học được tiếp cận kiến thức từ nhiều nguồn khác nhau, đó là: giáo viên, sách, báo, bảo tàng, các học liệu mở, học qua internet. Việc khai thác tìm hiểu những thông tin nào là hoàn toàn tùy thuộc vào nhu cầu, kinh nghiệm của người học. Phương pháp diễn giảng, truyền thụ kiến thức một chiều, hình thức tổ chức cố định giới hạn trong bốn bức tường của lớp học khác xa với hình thức tổ chức lớp ở dạy học hiện đại. Dạy học trong môi trường hiện nay hết sức cơ động và linh hoạt, học ở lớp, học online, học trong phòng thí nghiệm, thực nghiệm ở hiện trường, thực tập tại các nhà máy, doanh nghiệp, tự học cá nhân, học và làm việc theo nhóm.Và trên hết, sự khác nhau đặc biệt giữa dạy và học truyền truyền thống với dạy và học hiện đại đó là việc ứng dụng một cách phổ biến những ứng dụng của khoa học công nghệ hiện đại vào công tác giảng dạy và học tập.<br>Đối với người dạy: Nâng cao tính sáng tạo và trở nên linh hoạt hơn trong quá trình giảng dạy của mình. Thầy cô không chỉ bó buộc trong khối lượng kiến thức hiện có mà còn được tìm hiểu thêm và kết nối những kiến thức của cả những chuyên ngành khác như tin học và học hỏi được các kỹ năng sử dụng hình ảnh, âm thanh trong việc thiết kế bài giảng; Bài giảng ngày càng phong phú, hấp dẫn hơn; Dễ dàng chia sẻ bài giảng với đồng nghiệp, cùng nhau thảo luận và nâng cao chất lượng bài giảng của mình.<br>Đối với người học: Được tiếp cận phương pháp dạy học mới hấp dẫn hơn hẳn phương pháp đọc - chép truyền thống; Sự tương tác giữa thầy cô và học trò cũng được cải thiện đáng kể, học sinh có nhiều cơ hội được thể hiện quan điểm cũng như chính kiến riêng của mình; Giúp cho giáo viên hiểu thêm về năng lực, tính cách và mức độ tiếp thu kiến thức của học trò, từ đó có những điều chỉnh phù hợp và khoa học để thúc đẩy phát triển năng lực của từng cá nhân người học; Rèn luyện kỹ năng cần thiết ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.</div><div>5</div><div>263</div><div><br>chevron_right_center<br>chevron_left_center</div><div><br>note_filled<br>dot_3_horizontal</div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:28:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660631419</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Là Văn Máy-THCS Chiềng Lao, Mường La, Sơn La</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660631463</link>
         <description><![CDATA[<div>Khi chưa có công nghệ việc tìm kiếm thông tin của giáo viên chủ yếu thông qua sách, vở cho nên rất hạn hữu.<br><br>CN giúp ta tìm kiếm thông tin một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn, Không gian lưu trữ tốt hơn, ta có thể tìm kiếm học liêu mọi lúc mọi nơi. Ngoài ra với CNTT các sản phẩm tri thức trở nên sinh động hơn.<br>Hiện nay rất nhiều phần mềm hỗ trợ trong việc giảng dậy giúp giáo viên làm việc và tương tác với học sinh rất nhanh và hiệu quả như Plicker, Azota,..</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:28:29 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660631463</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Thị Hồng (09/11/1988) - THCS Phương Liệt, Thanh Xuân, Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660631583</link>
         <description><![CDATA[<div>-Trước khi&nbsp; có CNGD:&nbsp;<br>+ giáo án soạn tay, không sử dụng được powerpoint hay các thiết bị trình chiếu. Các giáo cụ trực quan phục vụ việc giảng dạy thô sơ, thiếu và cồng kềnh,...<br>+ Kiểm tra bài cũ truyền thống (gọi vấn đáp do đó câu hỏi không sinh động, khó khắc sâu kiến thức)<br>+ Việc tìm kiếm tài liệu, học liệu tương đối khó khăn.<br>- Sau khi có CNGD:<br>+ Khả năng tiếp cận giáo dục linh hoạt (VD trong thời gian thiên tai dịch bệnh có thể thay thế học trực tiếp bằng trực tuyến.)<br>+Phát triển được kỹ năng công nghệ bản thân trong việc soạn giảng, trình chiếu, tìm kiếm tài liệu, áp dụng các phần mềm mới phục vụ cho giảng dạy.<br>+ Phương pháp kiểm tra, đánh giá hiện đại, kiểm tra được nhiều đối tượng học sinh trong 1 khoảng thời gian (VD sử dụng phần mềm Plicker)<br>+ Tài liệu được lưu trữ và chia sẻ 1 cách dễ dàng, thuận tiện<br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:28:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660631583</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dương Thị Liên- THCS Võng Xuyên B- Phúc Thọ- Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660631652</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học</strong> là sử dụng các thiết bị kết nối với internet và tích hợp thêm các phần mềm để giảng dạy. Mục đích là trang bị cho người học những kiến thức, kỹ năng và các phương thức giải quyết vấn đề. Những kiến thức này sẽ không đơn thuần truyền đạt bằng bảng đen chữ trắng mà có thể thông qua màn hình tivi, máy tính, trình chiếu slide, học online…</div><div>Rất nhiều tổ chức giáo dục đã sử dụng các thiết bị như máy tính, phần mềm giảng dạy để truyền tải thông tin, mô tả kiến thức một cách sinh động hơn giúp học sinh tiếp thu một cách đa dạng và có nguồn hứng thú hơn.</div><div>Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ vào trong dạy học giúp người dùng khai thác tốt các phần mềm thiết kế cơ bản như: Word, Excel, Powerpoint,… Học sinh, sinh viên và giáo viên sẽ tăng cường việc sử dụng Internet để nghiên cứu và tham khảo thông tin, cũng như xây dựng các giáo án điện tử chất lượng.</div><div>Trước đây khi chưa có công nghệ số. Việc kiểm tra đánh giá HS bằng giấy mất nhiều thời gian và lãng phí. Nhưng khi có công nghệ, GV chỉ việc dùng các phần mềm kiểm tra như azota sẽ tiết kiệm thời gian chấm bài và hiệu quả hơn&nbsp;</div><div><br>&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:29:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660631652</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thảo luận trước và sau có cntt lấy vd minh họa</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660631654</link>
         <description><![CDATA[<div>Trước&nbsp;không có cntt mọi thứ với mỗi người dân đều khó nắm bắt về thông tin thời sự kinh tế và mọi hoạt động thay đổi của trong nước và ngoài nước, sau khi có cntt con người đã được tiếp cận gần hon và nhanh nhất có thể với mọi thông tin minh cần và các hoạt động về kinh tế trính trị trong nước và thế giới. Vd với hs khi k có cntt thì kiến thức và bài học k được mở rộng nhiều và bài  học không được sinh động lôi cuốn được như khi các em được học vơi cntt các e rất thích và hứng thú, giáo viên rất dễ dàng chuyển tải được lượng kiến thức tốt hơn hiệu quả nhiều hơn tới các em.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:29:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660631654</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đinh Thu Hà- Trường PTDTBT TH &amp; THCS Phiêng Cằm</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660631660</link>
         <description><![CDATA[<div><br>Theo quan niệm của dạy học truyền thống, học là quá trình tiếp thu và lĩnh hội, qua đó hình thành kiến thức, kỹ năng, tư tưởng, tình cảm - Dạy học hiện đại cho rằng học là quá trình kiến tạo, nghiên cứu, tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lý thông tin… tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất. Do quan niệm và bản chất khác nhau nên mục tiêu hướng đến cũng khác nhau. Dạy theo lối cũ chú trọng đến việc cung cấp tri thức, kỹ xảo, học để thi cử, nên thường thi xong người học sẽ quên đi ngay kiến thức đã học trước đó, ngược lại dạy học ngày nay chú trọng đến việc rèn luyện tư duy phân tích, tổng hợp, phản biện, khuyến khích sáng tao, tăng cường hợp tác, dạy phương pháp, rèn kỹ năng đọc hiểu và tự nghiên cứu. Qua đó, người học học để đáp ứng được những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và chuẩn bị hành trang cho tương lai. Người học thấy việc học là cần thiết, giúp ích cho chính mình và gián tiếp mang lại lợi ích cho xã hội.<br><br></div><div><br>Nội dung của dạy học truyền thống gói chọn trong sách vở và những gì nhận được trên lớp do giáo viên truyền đạt. Với cách học hiện đại, người học được tiếp cận kiến thức từ nhiều nguồn khác nhau, đó là: giáo viên, sách, báo, bảo tàng, các học liệu mở, học qua internet. Việc khai thác tìm hiểu những thông tin nào là hoàn toàn tùy thuộc vào nhu cầu, kinh nghiệm của người học. Phương pháp diễn giảng, truyền thụ kiến thức một chiều, hình thức tổ chức cố định giới hạn trong bốn bức tường của lớp học khác xa với hình thức tổ chức lớp ở dạy học hiện đại. Dạy học trong môi trường hiện nay hết sức cơ động và linh hoạt, học ở lớp, học online, học trong phòng thí nghiệm, thực nghiệm ở hiện trường, thực tập tại các nhà máy, doanh nghiệp, tự học cá nhân, học và làm việc theo nhóm.Và trên hết, sự khác nhau đặc biệt giữa dạy và học truyền truyền thống với dạy và học hiện đại đó là việc ứng dụng một cách phổ biến những ứng dụng của khoa học công nghệ hiện đại vào công tác giảng dạy và học tập.<br><br></div><div><br>Chỉ nói riêng đến lĩnh vực giáo dục đại học, trong thời đại công nghệ số với sự bùng nổ của internet, việc người học sở hữu những chiếc máy tính hay điện thoại thông minh có kết nối internet ngày càng trở nên phổ biến. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến phương pháp dạy và học, đã làm thay đổi hoàn toàn phương thức giáo dục truyền thống, vươn tới một không gian giáo dục chủ động và toàn cầu. Những nền tảng số cho giáo dục ngày càng được ứng dụng rộng rãi ở hầu hết các trường đại học trong nước.<br><br></div><div><br><br><br><br></div><div>Với những ứng dụng các công nghệ mới hiện nay trong lĩnh vực giáo dục, người học có thể kết nối với các nguồn thông tin đa dạng về lĩnh vực, phong phú về định dạng, ngôn ngữ, tất cả đều vượt ra khỏi khuôn viên của nhà trường. Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ giáo viên giảng dạy phải liên tục cập nhật, tìm hiểu và triển khai áp dụng những công nghệ mới đang thay đổi hàng ngày hàng giờ để đáp ứng được nhu cầu của người học. Trên nền tảng công nghệ, người dạy thực hiện vai trò hướng dẫn, truyền tải, kết nối người học với nguồn dữ liệu, học liệu; Giáo viên là người dạy số, phải làm chủ được công nghệ để sẵn sàng hỗ trợ người học cách tiếp cận, chấp nhận sử dụng, truyền cảm hứng cho người học để có thể sử dụng công nghệ, khai thác được tối đa nguồn tài nguyên vô giá này. Ngày nay, việc sử dụng các Apps hỗ trợ học tập với tư cách là “nhà giáo ảo”, sử dụng các công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), kết nối Internet vạn vật (IoT), máy học (Learning machine), học sâu (Deep learning), Robot dạy học ngày càng trở nên phổ biến. Với sự hỗ trợ của những “chuyên gia ảo” này, dường như người học cũng ngày càng trở nên hứng thú hơn với việc học tập và nghiên cứu, sẵn sàng thử trải nghiệm và đăng ký sử dụng các Apps hỗ trợ thông minh này.<br><br></div><div><strong><br>&nbsp;Vai trò của ứng dụng công nghệ trong dạy và học đại học<br></strong><br></div><div><br>Qua những phân tích về xu thế giáo dục hiện đại một lần nữa ta phải khẳng định một điều là vai trò của việc ứng dụng khoa học công nghệ vào đời sống nói chung và trong lĩnh vực giáo dục nói riêng vô cùng to lớn. Vai trò đó được thể hiện ở những khía cạnh chính sau đây:<br><br></div><div><strong><em><br>Thứ nhất, ứng dụng công nghệ vào giảng dạy có vai trò thúc đẩy giáo dục mở, giúp hoạt động giáo dục đạt hiệu quả cao hơn</em></strong><em>:</em> Công nghệ thúc đẩy một nền giáo dục mở, giúp con người tiếp cận thông tin đa chiều, rút ngắn khoảng cách, thu hẹp mọi không gian, tiết kiệm tối ưu về thời gian. Từ đó con người phát triển nhanh hơn về kiến thức, nhận thức và tư duy. Chương trình giáo dục mở giúp con người trao đổi và tìm kiếm kiến thức một cách hiệu quả. Học và dạy hiện đại yêu cầu cần phải tiếp cận một vấn đề từ nhiều nguồn thông tin khác nhau, dưới nhiều góc nhìn khác nhau, qua đó người đọc có được cái nhìn phổ quát, có cơ hội đào sâu kiến thức, tìm ra được bản chất cốt yếu, nguyên nhân sâu xa của vấn đề, góp phần nâng cao kiến thức, thay đổi tư duy, điều này gián tiếp giúp cho công tác học tập nghiên cứu đạt hiệu quả cao hơn. Đi kèm với giáo dục mở là tài nguyên học liệu mở, giúp người học, người dạy kết nối với kiến thức hiệu quả dù họ ở đâu và trong khoảng thời gian nào. Tài nguyên học liệu mở là một xu hướng phát triển tất yếu của nền giáo dục hiện đaị.<br><br></div><div><strong><em><br>Thứ hai, người dạy và học dễ dàng thu thập, tổng hợp, lưu trữ được lượng kiến thức phong phú đa dạng và được cập nhật thường xuyên</em></strong>: Với giáo dục truyền thống, sinh viên tiếp nhận kiến thức chủ yếu từ sách vở, giáo trình và ngồi nghe giáo viên giảng trên lớp thì hiện nay, nguồn kiến thức đa dạng này được cung cấp trực tuyến qua kết nối internet, chúng ta có thể tìm thấy hàng nghìn hàng triệu kết quả tra cứu sau một cú click chuột. <strong>Công nghệ giúp truy cập tức thời tới các nguồn tri thức, </strong>từ kiến thức phổ thông tới tri thức học thuật đều có thể dễ dàng tìm kiếm và áp dụng trong các quy trình giảng dạy thông qua các hệ thống tra cứu của thư viện, các máy tìm kiếm (search engines) như Google Search, Google Scholars, Google Books, các cơ sở dữ liệu học thuật như Scopus, các mạng xã hội học thuật như Academia, Resarch Gates,… Trong giáo dục hiện đại, người dạy là người truyền thu kiến thức cơ bản, cốt lõi, đóng vai trò là người hướng dẫn người học cách thức khai thác thông tin dồi dào, đa chiều từ Internet. Điều này đóng một vai trò to lớn trong quá trình đổi mới giáo dục giúp cá nhân hóa học tập, rèn luyện, nâng cao tinh thần học tập chủ động, học tập đi đôi với thực tiễn, nhằm phát huy tối đa tính sáng tạo của mình.<br><br></div><div><strong><em><br>Thứ ba là mang lại sự tiện lợi bởi không gian và thời gian học tập nghiên cứu linh động</em></strong><em>:</em> Người học có thể tự học ở mọi lúc (bất kể thời gian nào được cho là phù hợp với từng cá nhân), mọi nơi (bất kể nơi nào miễn có kết nối internet với chương trình trực tuyến, hoặc có thể lưu lại để học trên máy tính, điện thoại (khi không có kết nối internet). Ứng dụng công nghệ cho phép tất cả mọi người có thể tham gia thảo luận một vấn đề nào đó (hội thảo, hội nghị, họp,…) mà không cần phải tập trung tại một địa điểm, không phải ở cùng 1 quốc gia,&nbsp; qua đó góp phần tạo ra một xã hội học tập rộng lớn mà ở đó, người học có thể chủ động học tập, trao đổi kiến thức, trau dồi kinh nghiệm suốt đời.<br><br></div><div><strong><em><br>Thứ tư là vai trò trong việc thúc đẩy phát triển năng lực cá nhân:</em></strong> Với sự thuận tiện cho việc học ở mọi lúc mọi nơi, ứng dụng công nghệ sẽ tạo cơ hội cho người học có thể lựa chọn những vấn đề mà mình ưa thích, phù hợp với năng khiếu, sở thích, từ đó phát triển theo thế mạnh của từng người. Chính điều đó sẽ thúc đẩy sự phát triển của các tài năng. Chương trình học sẵn có, học liệu mở phong phú khiến cho việc tra cứu dễ dàng sẽ gián tiếp thúc đẩy các cá nhân chủ động trang bị thêm nhiều những kiến thức mới, lấp đầy những lỗ hổng, kích thích tìm tòi, khám phá và sáng tạo. Bên cạnh đó, với <strong>công nghệ phù hợp, hấp dẫn nên dễ dàng gắn kết người học</strong>. Các thiết bị như máy tính, máy tính bảng, điện thoại thông minh có kết nối Internet đều là những công cụ mà người học có thể sử dụng ở nhà hay bất cứ đâu ngay cả trên đường di chuyển. Do đó, người học sẽ thoải mái và tích cực hơn khi dùng các công cụ này để kết nối với bạn học, thầy cô và với nhà trường. Sử dụng công nghệ trong lớp học giúp người học dễ dàng biểu thị mối quan tâm, sự chú ý, những mong đợi và thái độ tích cực với việc học, qua đó nâng cao chất lượng dạy và học.<br><br></div><div><strong><em><br></em></strong><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:29:15 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660631660</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Sang THCS Phụng Thượng Phúc Thọ Hà Nội </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660631696</link>
         <description><![CDATA[<div>Khi ứng dụng CN trong GD sẽ giúp Gv Trước khi có công nghệ giáo dục, nội dung của dạy học truyền thống gói chọn trong sách vở và những gì học sinh nhận được trên lớp là do giáo viên truyền đạt.&nbsp;<br>Sau khi có công nghệ giáo dục, việc dạy và học trở nên linh động và sáng tạo hơn, người học được tiếp cận kiến thức từ nhiều nguồn khác nhau, đó là: giáo viên, sách, báo, bảo tàng, các học liệu mở, học qua internet. Việc khai thác tìm hiểu những thông tin nào là hoàn toàn tùy thuộc vào nhu cầu, kinh nghiệm của người học. Phương pháp diễn giảng, truyền thụ kiến thức một chiều, hình thức tổ chức cố định giới hạn trong bốn bức tường của lớp học khác xa với hình thức tổ chức lớp ở dạy học hiện đại. Dạy học trong môi trường hiện nay hết sức cơ động và linh hoạt, học ở lớp, học online, học trong phòng thí nghiệm, thực nghiệm ở hiện trường, thực tập tại các nhà máy, doanh nghiệp, tự học cá nhân, học và làm việc theo nhóm.Và trên hết, sự khác nhau đặc biệt giữa dạy và học truyền truyền thống với dạy và học hiện đại đó là việc ứng dụng một cách phổ biến những ứng dụng của khoa học công nghệ hiện đại vào công tác giảng dạy và học tập.<br>Đối với người dạy: Nâng cao tính sáng tạo và trở nên linh hoạt hơn trong quá trình giảng dạy của mình. Thầy cô không chỉ bó buộc trong khối lượng kiến thức hiện có mà còn được tìm hiểu thêm và kết nối những kiến thức của cả những chuyên ngành khác như tin học và học hỏi được các kỹ năng sử dụng hình ảnh, âm thanh trong việc thiết kế bài giảng; Bài giảng ngày càng phong phú, hấp dẫn hơn; Dễ dàng chia sẻ bài giảng với đồng nghiệp, cùng nhau thảo luận và nâng cao chất lượng bài giảng của mình.<br>Đối với người học: Được tiếp cận phương pháp dạy học mới hấp dẫn hơn hẳn phương pháp đọc - chép truyền thống; Sự tương tác giữa thầy cô và học trò cũng được cải thiện đáng kể, học sinh có nhiều cơ hội được thể hiện quan điểm cũng như chính kiến riêng của mình; Giúp cho giáo viên hiểu thêm về năng lực, tính cách và mức độ tiếp thu kiến thức của học trò, từ đó có những điều chỉnh phù hợp và khoa học để thúc đẩy phát triển năng lực của từng cá nhân người học; Rèn luyện kỹ năng cần thiết ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:29:28 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660631696</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nông Lâm Tỉnh.21/10/1988. Trường thcs hợp thành Việc ứng dụng công nghệ giáo dục đem đến nhiều lợi ích.ví dụ, nhiều giáo viên đã sử dụng các phần mềm tạo bài giảng để tạo ra các bài giảng cuốn hút, đa nội dung, đa sắc màu giúp trẻ có thể vừa học, vừa chơi một cách hiệu quả. Nếu các bạn đang có nhu cầu tạo bài giảng E-Learning cũng có thể tham khảo phần mềm Avina Authoring Tools, phần mềm tích hợp nhiều công cụ mới mẻ, chuyên nghiệp, giao diện đơn giản</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660631844</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:29:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660631844</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đặng thị hải yến - thcs đại lâm</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660631968</link>
         <description><![CDATA[<div><br>Với sự phát triển của công nghệ, giáo dục đã trở nên dễ tiếp cận và hiệu quả hơn. Việc sử dụng công nghệ hiện đại mang đến cơ hội nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục cho sinh viên trên khắp thế giới.<br><br>Khả năng tiếp cận giáo dục<br><br>Một trong những lợi ích chính của công nghệ trong giáo dục là khả năng mở rộng phạm vi tiếp cận giáo dục cho mọi người.<br><br>Nhờ có internet và các nền tảng học trực tuyến, mọi người từ khắp nơi trên thế giới có khả năng truy cập các khóa học và tài liệu mà trước đây họ chỉ có thể tiếp cận theo cách tuyền thống.<br><br>Ngoài ra, việc học trực tuyến có thể linh hoạt và phù hợp với nhu cầu của từng người.<br><br>Truy cập tài nguyên giáo dục<br><br>Hiện nay, có rất nhiều trang web chính thống giúp người dùng truy cập vào các tài liệu giáo dục khác nhau. Hầu hết trường học ngày nay đều tiếp cận công nghệ và phát triển các thư viện số giúp học sinh, sinh viên dễ tiếp cận hơn.<br><br>Chúng ta có thể tìm và tải xuống các tài liệu học thuật mà không cần in ấn như trước. Điều này đặc biệt phù hợp với sinh viên có nguồn lực hạn chế hoặc những người không có khả năng mua sách giáo khoa và tài liệu đắt tiền.<br><br>Phát triển kỹ năng công nghệ<br><br>Một lợi ích khác của công nghệ trong giáo dục là phát triển kỹ năng công nghệ của học sinh.<br><br>Thế giới ngày nay đòi hỏi mọi người phải có kiến ​​thức và kỹ năng về máy tính và internet. Việc sử dụng công nghệ trong giáo dục sẽ giúp học sinh học những kỹ năng này và áp dụng trong cuộc sống tương lai.<br><br>Cá nhân hóa việc học<br><br>Công nghệ cho phép giáo viên tập trung hơn vào nhu cầu cá nhân của học sinh. Với các nền tảng và hướng dẫn trực tuyến, sinh viên có thể học tài liệu theo tốc độ của riêng mình và khắc phục những điểm còn yếu.<br><br>Tài liệu đa phương tiện<br><br>Học sinh có thể hiểu rõ hơn các khái niệm và lý thuyết phức tạp với các tài liệu đa phương tiện như video, âm thanh và các phần mềm hỗ trợ khác như trình chiếu... Điều này đặc biệt hữu ích cho những sinh viên có khả năng ghi nhớ nhanh khi tiếp xúc với các dạng tài liệu như vậy.<br><br>Phương pháp đánh giá hiện đại<br><br>Công nghệ cũng cung cấp các phương pháp mới để đánh giá và theo dõi kết quả học tập của học sinh. Các bài kiểm tra trực tuyến và phần mềm phân tích dữ liệu giúp giáo viên theo dõi tiến độ của học sinh và điều chỉnh quá trình học tập.<br>Đồng thời, hệ thống đánh giá cũng cho phép học sinh đưa ra ý kiến về quá trình giảng dạy cũng như về giáo viên để điều chỉnh cho phù hợp.<br><br>Tăng tương tác trong giảng dạy&nbsp;<br><br>Công nghệ trong giáo dục cũng giúp học sinh và giáo viên tương tác dễ dàng hơn. Các bên liên quan đến giáo dục có thể sử dụng các diễn đàn trực tuyến, phòng trò chuyện, hội thảo video... để chia sẻ ý tưởng và cùng nhau thực hiện các dự án, bất kể họ đang ở đâu.<br><br>Công nghệ trong giáo dục mang lại nhiều lợi ích, chẳng hạn như cá nhân hóa việc học, truy cập tài liệu đa phương tiện và khả năng tương tác từ xa.<br><br>Việc sử dụng công nghệ hợp lý có thể cải thiện đáng kể chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục cho nhiều si</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:30:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660631968</guid>
      </item>
      <item>
         <title>PHAN QUỐC TUẤN - 22/12/1988 - thcs HỢP THANHVới sự phát triển của công nghệ, giáo dục đã trở nên dễ tiếp cận và hiệu quả hơn. Việc sử dụng công nghệ hiện đại mang đến cơ hội nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục cho sinh viên trên khắp thế giới.Khả năng tiếp cận giáo dụcMột trong những lợi ích chính của công nghệ trong giáo dục là khả năng mở rộng phạm vi tiếp cận giáo dục cho mọi người.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660631969</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:30:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660631969</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Thị Hoài Xâm - THCS Mộc Nam.Trước khi có CNGD: ng dạy và ng học sẽ giảng dạy, truyền đạt và lĩnh hội kiến thức trực tiếp trên lớp.ng dạy phải tìm hiểu nhiều tài liệu như sách, báo, TL tham khảo....ng học phải ghi chép, tiếp thu kiến thức trực tiếp từ ng dạy.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660631996</link>
         <description><![CDATA[<div>Sau khi có CNGD thì việc dạy và học đc dựa trên nền tảng người học số, ng dạy số, học liệu số và môi trường học tập số. Đối với người dạy: Nâng cao tính sáng tạo và trở nên linh hoạt hơn trong quá trình giảng dạy của mình. Thầy cô không chỉ bó buộc trong khối lượng kiến thức hiện có mà còn được tìm hiểu thêm và kết nối những kiến thức của cả những chuyên ngành khác như tin học và học hỏi được các kỹ năng sử dụng hình ảnh, âm thanh trong việc thiết kế bài giảng; Bài giảng ngày càng phong phú, hấp dẫn hơn; Dễ dàng chia sẻ bài giảng với đồng nghiệp, cùng nhau thảo luận và nâng cao chất lượng bài giảng của mình.Đối vs ng học: Được tiếp cận phương pháp dạy học mới hấp dẫn hơn hẳn phương pháp đọc - chép truyền thống; Sự tương tác giữa thầy cô và học trò cũng được cải thiện đáng kể, học sinh có nhiều cơ hội được thể hiện quan điểm cũng như chính kiến riêng của mình; Giúp cho giáo viên hiểu thêm về năng lực, tính cách và mức độ tiếp thu kiến thức của học trò, từ đó có những điều chỉnh phù hợp và khoa học để thúc đẩy phát triển năng lực của từng cá nhân người học; Rèn luyện kỹ năng cần thiết ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:30:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660631996</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Linh Giang (21/07/1999) - THCS Yên Hoà, Cầu Giấy, Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660632149</link>
         <description><![CDATA[<div>Nhờ có công nghệ giáo dục, việc dạy và học đã thay đổi theo hướng tích cực hơn rất nhiều.<br>GV có thể tạo ra những bài học thú vị thu hút sự chú ý của người học. Người dạy có thể sử dụng các phông nền màu sắc sinh động, chèn thêm các tệp tin đa phương tiện để minh họa cho bài học, đưa ra câu hỏi trắc nghiệm ngay trong buổi học,… để thu hút sự chú ý của người học. Theo đó, người học sẽ quan tâm hơn tới nội dung bài học và chủ động tham gia xây dựng bài, kể cả khi chỉ đang học trực tuyến.<br><br></div><div><strong>Ví dụ:</strong> Nền tảng lớp học ảo myViewBoard cung cấp các tính năng viết, vẽ, vẽ khối, ghi chú, chèn hình ảnh, video, GIF,… giúp người dạy giảng dạy trực quan và sinh động hơn. Bên cạnh đó người dạy còn có thể chia sẻ quyền cho người học, để người học chỉnh sửa trực tiếp trên bài giảng, tham gia xây dựng bài.<br><br>Việc ứng dụng công nghệ trong lớp học tại trường lớp đôi khi sẽ bị gián đoạn do thời tiết, thiên tai, dịch bệnh,… Ví dụ như các trường học đã sử dụng Zoom, Google Meet.<br><br>Những nhóm người gặp khó khăn với hình thức giáo dục truyền thống, đặc biệt là nhóm người khuyết tật sẽ thuận lợi hơn nếu được sử dụng công nghệ trong lớp học.<br><strong>Ví dụ</strong>: Người gặp khó khăn trong việc viết chữ: Có thể sử dụng ứng dụng chuyển giọng nói thành văn bản để ghi chép lại bài học.<br><br>Với công nghệ trong lớp học, việc kết nối và làm bài tập giữa các nhóm người học trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết. Bên cạnh đó, công nghệ còn hỗ trợ nâng cao việc học tập nhóm.<br><br>Công nghệ trong lớp học cho phép người học phản hồi tức thì cho giáo viên thông qua việc giơ tay xin phát biểu, nhắn tin trong thời gian thực,… Giúp cả lớp có thể cùng tham gia xây dựng bài học và chỉnh sửa kịp thời những nội dung chưa hợp lý trong bài giảng. Ví dụ như phần mềm Zoom cho phép GV và học sinh cùng chat, giơ tay thảo luận.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:31:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660632149</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thế Anh - THCS Trung Sơn Trầm.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660632171</link>
         <description><![CDATA[<div>Nguyễn Thế Anh&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<br>Cách mạng 4.0 trong giáo dục cũng buộc người học phải chủ động thay đổi và chủ động hơn trong việc học tập của mình.Tác động đối với phương pháp dạy học và hình thức tổ chức lớp họcChúng ta có thể thấy sự tác động rõ rệt nhất của cách mạng công nghiệp 4.0 trong giáo dục ở chỗ thay vì chỉ sử dụng giấy, bút, bảng, phấn để truyền tải nội dung học thì ngày nay rất nhiều công nghệ thông minh đã được đưa vào để hỗ trợ việc giảng dạy. Thậm chí, trước những biến động trong cuộc sống ví dụ như đại dịch Covid19 hiện nay, công nghệ 4.0 còn tạo ra cho người học một môi trường học mới đó là các phòng học trực tuyến.Sự tác động này không chỉ giúp người dạy phát huy được hết khả năng, đa dạng hoá cách truyền tải nội dung bài học mà còn giúp người học có một môi trường học tập thoải mái, sáng tạo hơn. Đặc biệt, công nghệ 4.0 còn giúp các trường quản lý, bố trí được cán bộ giảng dạy cũng như các lớp học một cách hợp lý, hiệu quả nhờ vào các mô hình ảo, mô hình mô phỏng hay mô hình số hoá.4. Giải pháp đổi mới và thích nghi giữa những tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 và giáo dụcVới những tác động lớn của công nghiệp 4.0 và giáo dục, trước hết cần phải thay đổi về vai trò và nhận thức của giáo viên trong giảng dạy.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Ví dụ: Thay đổi hình thức dạy và học, đổi mới trong kiểm tra đánh giá.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:31:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660632171</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hoàng Thị Thùy Linh-THCS Vân Phúc</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660632285</link>
         <description><![CDATA[<div>Trước khi có công nghệ giáo dục, nội dung của dạy học truyền thống gói chọn trong sách vở và những gì học sinh nhận được trên lớp là do giáo viên truyền đạt.&nbsp;<br>Sau khi có công nghệ giáo dục, việc dạy và học trở nên linh động và sáng tạo hơn, người học được tiếp cận kiến thức từ nhiều nguồn khác nhau, đó là: giáo viên, sách, báo, bảo tàng, các học liệu mở, học qua internet. Việc khai thác tìm hiểu những thông tin nào là hoàn toàn tùy thuộc vào nhu cầu, kinh nghiệm của người học. Phương pháp diễn giảng, truyền thụ kiến thức một chiều, hình thức tổ chức cố định giới hạn trong bốn bức tường của lớp học khác xa với hình thức tổ chức lớp ở dạy học hiện đại. Dạy học trong môi trường hiện nay hết sức cơ động và linh hoạt, học ở lớp, học online, học trong phòng thí nghiệm, thực nghiệm ở hiện trường, thực tập tại các nhà máy, doanh nghiệp, tự học cá nhân, học và làm việc theo nhóm.Và trên hết, sự khác nhau đặc biệt giữa dạy và học truyền truyền thống với dạy và học hiện đại đó là việc ứng dụng một cách phổ biến những ứng dụng của khoa học công nghệ hiện đại vào công tác giảng dạy và học tập.<br>Đối với người dạy: Nâng cao tính sáng tạo và trở nên linh hoạt hơn trong quá trình giảng dạy của mình. Thầy cô không chỉ bó buộc trong khối lượng kiến thức hiện có mà còn được tìm hiểu thêm và kết nối những kiến thức của cả những chuyên ngành khác như tin học và học hỏi được các kỹ năng sử dụng hình ảnh, âm thanh trong việc thiết kế bài giảng; Bài giảng ngày càng phong phú, hấp dẫn hơn; Dễ dàng chia sẻ bài giảng với đồng nghiệp, cùng nhau thảo luận và nâng cao chất lượng bài giảng của mình.<br>Đối với người học: Được tiếp cận phương pháp dạy học mới hấp dẫn hơn hẳn phương pháp đọc - chép truyền thống; Sự tương tác giữa thầy cô và học trò cũng được cải thiện đáng kể, học sinh có nhiều cơ hội được thể hiện quan điểm cũng như chính kiến riêng của mình; Giúp cho giáo viên hiểu thêm về năng lực, tính cách và mức độ tiếp thu kiến thức của học trò, từ đó có những điều chỉnh phù hợp và khoa học để thúc đẩy phát triển năng lực của từng cá nhân người học; Rèn luyện kỹ năng cần thiết ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:31:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660632285</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Xuân Giang, Trường THCS Khương Mai , Quận Thanh Xuân Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660632387</link>
         <description><![CDATA[<div>Phân tích việc dạy và học trước và sau khi có CNGD? Lấy ví dụ minh họa</div><div>THẢO LUẬN: Phân tích việc dạy và học trước và sau khi có CNGD? Lấy ví dụ minh họa<br>Đối với ng dạy: Nâng cao tính sáng tạo, trở nên linh hoạt trong quá trình giảng dạy của mình:<br>- Học liệu phong phú<br>- Tiết kiệm được thời gian, công sức<br>- Người học và người dạy tương tác với nhau dễ dàng hơn, thông tin chính xác hơn.<br>- Sau khi có CNGD người dạy đóng vai trò là nhân tố thúc đẩy còn người học cũng sẽ phát huy được nhiều năng lực như : tư duy, tự tìm tòi, sáng tạo , tự học...<br>VD: Hiện nay có nhiều trang web chính thống giúp người dạy và người học tiếp cận được với nhiều nguồn tri thức khác nhau.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:32:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660632387</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phan công thinh 06/06/1990Với sự phát triển của công nghệ, giáo dục đã trở nên dễ tiếp cận và hiệu quả hơn. Việc sử dụng công nghệ hiện đại mang đến cơ hội nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục cho sinh viên trên khắp thế giới.Khả năng cho nhiều si</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660632416</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:32:31 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660632416</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Vân Anh, THCS Đồng Phú, Chương Mỹ, Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660632491</link>
         <description><![CDATA[<div>Trước khi có CNTT và CNDH kiến thức học sinh nhận được chủ yếu là trong sách vở và do gv truyền đạt, cách tiếp cận với tri thức thô sơ và khô khan<br>Sau khi có CNDH người học được tiếp cận tri thức với nhiều hình thái và màu sắc giúp người học hứng thú hơn với việc học</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:32:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660632491</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Hoàng Giang, THCS Phụng thượng, Phúc Thọ, Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660632525</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>TRƯỚC KHI CÓ CNGD</strong></div><div><strong>- Trước khi có công nghệ giáo dục, nội dung gói gọn trong sách vở,giấy bút, bảng đen.&nbsp;<br>- Dạy học trực tiếp</strong></div><div>&nbsp;</div><div><strong>SAU KHI CÓ CNGD</strong></div><div><a href="https://laodong.vn/cong-nghe"><strong>Công nghệ</strong></a><strong> giúp tiếp cận giáo dục dễ dàng hơn trong nhiều khía cạnh, nâng cao chất lượng học tập và giảng dạy cho giáo viên và học sinh</strong></div><div>Một trong những lợi ích chính của công nghệ trong giáo dục là khả năng mở rộng phạm vi tiếp cận giáo dục cho mọi người.</div><div>Nhờ có internet và các nền tảng học trực tuyến, mọi người từ khắp nơi trên thế giới có khả năng truy cập các khóa học và tài liệu mà trước đây họ chỉ có thể tiếp cận theo cách tuyền thống.<br><br></div><div>Ngoài ra, việc học trực tuyến có thể linh hoạt và phù hợp với nhu cầu của từng người.<br><br></div><div><strong>Truy cập tài nguyên giáo dục</strong></div><div>Hiện nay, có rất nhiều trang web chính thống giúp người dùng truy cập vào các tài liệu giáo dục khác nhau. Hầu hết trường học ngày nay đều tiếp cận công nghệ và phát triển các thư viện số giúp học sinh, sinh viên dễ tiếp cận hơn.<br><br></div><div>Chúng ta có thể tìm và tải xuống các tài liệu học thuật mà không cần in ấn như trước. Điều này đặc biệt phù hợp với sinh viên có nguồn lực hạn chế hoặc những người không có khả năng mua sách giáo khoa và tài liệu đắt tiền.<br><br></div><div><strong>Phát triển kỹ năng công nghệ</strong></div><div>Một lợi ích khác của công nghệ trong giáo dục là phát triển kỹ năng công nghệ của học sinh.<br><br></div><div>Thế giới ngày nay đòi hỏi mọi người phải có kiến ​​thức và kỹ năng về máy tính và internet. Việc sử dụng công nghệ trong giáo dục sẽ giúp học sinh học những kỹ năng này và áp dụng trong cuộc sống tương lai.<br><br></div><div><strong>Cá nhân hóa việc học</strong></div><div>Công nghệ cho phép giáo viên tập trung hơn vào nhu cầu cá nhân của học sinh. Với các nền tảng và hướng dẫn trực tuyến, sinh viên có thể học tài liệu theo tốc độ của riêng mình và khắc phục những điểm còn yếu.<br><br></div><div><strong>Tài liệu đa phương tiện</strong></div><div>Học sinh có thể hiểu rõ hơn các khái niệm và lý thuyết phức tạp với các tài liệu đa phương tiện như video, âm thanh và các phần mềm hỗ trợ khác như trình chiếu... Điều này đặc biệt hữu ích cho những sinh viên có khả năng ghi nhớ nhanh khi tiếp xúc với các dạng tài liệu như vậy.<br><br></div><div><strong>Phương pháp đánh giá hiện đại</strong></div><div>Công nghệ cũng cung cấp các phương pháp mới để đánh giá và theo dõi kết quả học tập của học sinh. Các bài kiểm tra trực tuyến và phần mềm phân tích dữ liệu giúp giáo viên theo dõi tiến độ của học sinh và điều chỉnh quá trình học tập.<br><br></div><div>Đồng thời, hệ thống đánh giá cũng cho phép học sinh đưa ra ý kiến về quá trình giảng dạy cũng như về giáo viên để điều chỉnh cho phù hợp.<br><br></div><div><strong>Tăng tương tác trong giảng dạy&nbsp;<br></strong><br></div><div>Công nghệ trong giáo dục cũng giúp học sinh và giáo viên tương tác dễ dàng hơn. Các bên liên quan đến giáo dục có thể sử dụng các diễn đàn trực tuyến, phòng trò chuyện, hội thảo video... để chia sẻ ý tưởng và cùng nhau thực hiện các dự án, bất kể họ đang ở đâu.<br><br></div><div>Công nghệ trong giáo dục mang lại nhiều lợi ích, chẳng hạn như cá nhân hóa việc học, <a href="https://laodong.vn/cong-nghe/ceo-tiktok-thua-nhan-co-viec-truy-cap-du-lieu-thong-tin-nguoi-dung-1063522.ldo">truy cập</a> tài liệu đa phương tiện và khả năng tương tác từ xa.<br><br></div><div>Việc sử dụng công nghệ hợp lý có thể cải thiện đáng kể chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục cho nhiều sinh viên trên toàn thế giới.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:33:04 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660632525</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660632676</link>
         <description><![CDATA[<div><br>trực tuyến, đào tạo từ xa và truy cập thông tin mới. Bởi mỗi sinh viên sẽ có cách diễn giải thông tin khác nhau, nên công nghệ có thể cho phép người học nghiên cứu nhiều hơn về các chủ đề khó.</div><div><strong><br>4. Giúp sinh viên chuẩn bị cho sự nghiệp tương lai</strong></div><div><br>Trong xã hội ngày nay, công nghệ được sử dụng rộng rãi bởi các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực cũng như ngành công nghiệp. Việc đưa công nghệ vào lớp học có thể giúp học sinh cảm thấy dễ dàng và quen thuộc hơn khi bắt đầu sự nghiệp trong tương lai. Ngoài ra, công nghệ cũng có thể tăng cường sự tương tác trong lớp, bằng cách khuyến khích sự phối hợp giữa các phương thức học tập khác nhau.</div><div><strong><br>5. Học sinh yêu cầu công nghệ</strong></div><div><br>Nhiều trẻ ngày nay cảm thấy thoải mái khi sử dụng công nghệ, thậm chí là từ khi các em còn nhỏ. Khi giáo viên giới thiệu các ý tưởng hoặc chủ đề mới thông qua việc sử dụng công cụ mà học sinh đã thành thạo, trẻ sẽ cảm thấy tự tin vào khả năng tiếp thu kiến thức mới. Thậm chí, người học cũng sẽ cảm thấy có nhiều động lực hơn trong việc hỗ trợ bạn đồng trang lứa học tập.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:33:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660632676</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Thùy Dung 21/02/1989 T H C S Khương Đình</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660632769</link>
         <description><![CDATA[<div>-Trước khi&nbsp; có CNGD:&nbsp;<br>+ giáo án soạn tay, không sử dụng được powerpoint hay các thiết bị trình chiếu. Các giáo cụ trực quan phục vụ việc giảng dạy thô sơ, thiếu và cồng kềnh,...<br>+ Kiểm tra bài cũ truyền thống (gọi vấn đáp do đó câu hỏi không sinh động, khó khắc sâu kiến thức)<br>+ Việc tìm kiếm tài liệu, học liệu tương đối khó khăn.<br>- Sau khi có CNGD:<br>+ Khả năng tiếp cận giáo dục linh hoạt (VD trong thời gian thiên tai dịch bệnh có thể thay thế học trực tiếp bằng trực tuyến.)<br>+Phát triển được kỹ năng công nghệ bản thân trong việc soạn giảng, trình chiếu, tìm kiếm tài liệu, áp dụng các phần mềm mới phục vụ cho giảng dạy.<br>+ Phương pháp kiểm tra, đánh giá hiện đại, kiểm tra được nhiều đối tượng học sinh trong 1 khoảng thời gian (VD sử dụng phần mềm Plicker)<br>+ Tài liệu được lưu trữ và chia sẻ 1 cách dễ dàng, thuận tiện</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:33:59 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660632769</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vàng A Trống - Trường PTDTBTTH &amp; THCS Phiêng Pằn</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660632817</link>
         <description><![CDATA[<div>Khi ứng dụng CN trong GD sẽ giúp Gv Trước khi có công nghệ giáo dục, nội dung của dạy học truyền thống gói chọn trong sách vở và những gì học sinh nhận được trên lớp là do giáo viên truyền đạt.&nbsp;<br>Sau khi có công nghệ giáo dục, việc dạy và học trở nên linh động và sáng tạo hơn, người học được tiếp cận kiến thức từ nhiều nguồn khác nhau, đó là: giáo viên, sách, báo, bảo tàng, các học liệu mở, học qua internet. Việc khai thác tìm hiểu những thông tin nào là hoàn toàn tùy thuộc vào nhu cầu, kinh nghiệm của người học. Phương pháp diễn giảng, truyền thụ kiến thức một chiều, hình thức tổ chức cố định giới hạn trong bốn bức tường của lớp học khác xa với hình thức tổ chức lớp ở dạy học hiện đại. Dạy học trong môi trường hiện nay hết sức cơ động và linh hoạt, học ở lớp, học online, học trong phòng thí nghiệm, thực nghiệm ở hiện trường, thực tập tại các nhà máy, doanh nghiệp, tự học cá nhân, học và làm việc theo nhóm.Và trên hết, sự khác nhau đặc biệt giữa dạy và học truyền truyền thống với dạy và học hiện đại đó là việc ứng dụng một cách phổ biến những ứng dụng của khoa học công nghệ hiện đại vào công tác giảng dạy và học tập.<br>Đối với người dạy: Nâng cao tính sáng tạo và trở nên linh hoạt hơn trong quá trình giảng dạy của mình. Thầy cô không chỉ bó buộc trong khối lượng kiến thức hiện có mà còn được tìm hiểu thêm và kết nối những kiến thức của cả những chuyên ngành khác như tin học và học hỏi được các kỹ năng sử dụng hình ảnh, âm thanh trong việc thiết kế bài giảng; Bài giảng ngày càng phong phú, hấp dẫn hơn; Dễ dàng chia sẻ bài giảng với đồng nghiệp, cùng nhau thảo luận và nâng cao chất lượng bài giảng của mình.<br>Đối với người học: Được tiếp cận phương pháp dạy học mới hấp dẫn hơn hẳn phương pháp đọc - chép truyền thống; Sự tương tác giữa thầy cô và học trò cũng được cải thiện đáng kể, học sinh có nhiều cơ hội được thể hiện quan điểm cũng như chính kiến riêng của mình; Giúp cho giáo viên hiểu thêm về năng lực, tính cách và mức độ tiếp thu kiến thức của học trò, từ đó có những điều chỉnh phù hợp và khoa học để thúc đẩy phát triển năng lực của từng cá nhân người học; Rèn luyện kỹ năng cần thiết ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:34:17 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660632817</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Quang Nghĩa - THCS Phụng Thượng</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660632827</link>
         <description><![CDATA[<div>NCBH là một mô hình bồi dưỡng, phát triển nghề nghiệp cho giáo viên, nhưng nó có sự khác biệt cơ bản với cách bồi dưỡng, dự giờ truyền thống ở chỗ:</div><div>Thứ nhất, thay cho việc cung cấp kiến thức được xác định từ các chuyên gia bên ngoài nhà trường, NCBH xuất phát từ chính nhu cầu giải quyết những vấn đề trong thực tiễn lớp học mà giáo viên đang phải đối mặt. Trong các lớp bồi dưỡng giáo viên truyền thống các chuyên gia bên ngoài là người cung cấp kiến thức, còn các giáo viên là những người thụ động tiếp nhận kiến thức. Khi tham gia NCBH, các nhóm nghiên cứu tự nhận thấy những yêu cần giải quyết đối với mỗi bài học nhất định và cùng nhau thảo luận để tìm cách giải quyết các yêu cầu đó. Trong NCBH cũng có thể có sự tham gia của các chuyên gia bên ngoài nhưng họ chỉ đóng vai trò là người quan sát, tư vấn, rút kinh nghiệm cho nhóm và cung cấp thêm những kinh nghiệm của các nhóm nghiên cứu khác chứ không đóng vai trò chủ đạo như trong các phương pháp truyền thống khác.</div><div>Thứ hai, mối quan hệ giữa những người tham gia NCBH là bình đẳng khác với quan hệ thứ bậc, giữa người dạy với người học trong các lớp tập huấn. Trong các phương pháp bồi dưỡng giáo viên truyền thống, giáo viên khi đó đóng vai trò là người học và những chuyên gia đóng vai trò là thầy giáo, là người cung cấp kiến thức. Trong NCBH, những người tham gia có vai trò như nhau, cùng nhau hợp tác, cùng nghiên cứu, cùng thảo luận hướng tới một mục tiêu chung của sự phát triển. Những người tham gia NCBH đều trên tinh thần tự nguyện và có vai trò như nhau trong việc phát triển bài học đạt được những mục tiêu đề ra.</div><div>Thứ ba, trong các lớp tập huấn, giáo viên là người tiếp nhận kiến thức mới (ở vị thế bị động), còn trong nghiên cứu bài học giáo viên giữ vai trò chủ động, là một người cải cách, một nhà quan sát, tự đánh giá thực tiễn của mình. Với phương pháp truyền thống giáo viên được tiếp xúc với cái mới thông qua các chuyên gia, hoàn toàn theo kiểu thầy truyền thụ trò lắng nghe. Trong khi ở NCBH, giáo viên là người mang cái mới vào dạy học, là nhà quan sát thực tế có thể tự đánh giá khả năng của mình thông qua việc quan sát trực tiếp lớp học.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:34:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660632827</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Cao Phương Ngọc, 05/03/1992, THCS Võng Xuyên B, Phúc Thọ, Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660632879</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>THẢO LUẬN: Phân tích việc dạy và học trước và sau khi có CNGD?&nbsp;<br></strong><br></div><div><strong>Công nghệ thông tin</strong> được ứng dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như: y tế, quản lý, giải trí,… và đặc biệt là ngành giáo dục. Có thể thấy, áp dụng công nghệ vào giáo dục giúp cho quá trình dạy học diễn ra nhanh chóng, dễ dàng và tiện lợi hơn.&nbsp;</div><div><strong>1. Hỗ trợ người dạy soạn giáo án, bài giảng<br></strong><br></div><div>Nếu như trước đây, giáo viên thường soạn giáo án giấy rất mất thời gian và khó sửa chữa khi có những thay đổi mới về kiến thức. Thì hiện nay, công nghệ thông tin đã được ứng dụng vào quá trình soạn giáo án điện tử để giúp giáo viên bớt vất vả. Các ứng dụng như word, powerpoint là nền tảng soạn giáo án điện tử nhanh chóng, hiệu quả. Ngoài ra, phần mềm này cũng dễ dàng sửa chữa nếu giáo viên muốn cập nhật các kiến thức mới vào giáo án của mình.<br><br></div><div>Nếu như học tập theo phương pháp truyền thống khiến học sinh cảm thấy nhàm chán. Các công cụ như powerpoint, canva cũng giúp thầy cô tạo ra slide bài giảng thu hút, thú vị. Từ đó tạo cho lớp học không khí vui vẻ, hứng khởi và nâng cao hiệu quả dạy học.<br><br></div><div><strong>2. Hỗ trợ học sinh, sinh viên học tập hiệu quả<br></strong><br></div><div>Vai trò của công nghệ thông tin trong dạy học còn khiến các bạn học sinh, sinh viên học tập tốt hơn. Có thể thấy, internet là kho dữ liệu khổng lồ, là nơi chứa tất cả những thông tin mà bạn muốn tìm kiếm. Vì thế, học sinh sinh viên có thắc mắc gì trong quá trình học hoặc muốn tự học để biết thêm nhiều điều hơn có thể tìm kiếm trên internet. Ngoài ra, kiến thức trên internet luôn được cập nhật liên tục, đảm bảo cho các bạn không bị lỗi thời, lạc hậu so với sự thay đổi nhanh chóng của xã hội.<br><br></div><div><strong>3. Tạo sự tiện lợi cho người dạy, người học<br></strong><br></div><div>Học tập có ứng dụng công nghệ thông tin mang lại sự linh động về thời gian cũng như địa điểm học tập. Ví dụ: một bạn sinh viên theo học hệ đào tạo trực tuyến có thể theo dõi bài giảng vào thời gian rảnh rỗi và học tập ở bất kì nơi đâu nếu cảm thấy thuận tiện. Ngoài ra, các thành viên trong lớp học cũng dễ dàng liên lạc, trao đổi với nhau bài vở hoặc bài tập nhóm dù ở xa nhau.<br><br></div><div>&nbsp;<strong>Lấy ví dụ minh họa<br></strong><br></div><div>Hiện nay có rất nhiều hình thức ứng dụng công nghệ vào giáo dục, trong đó bạn sẽ thường xuyên bắt gặp các hướng phát triển chính sau:<br><br></div><div>Ứng dụng xây dựng bài giảng<br><br></div><div>Ứng dụng công nghệ trong dạy học này giúp người dạy có thể chuẩn bị bài giảng nhanh chóng qua các mẫu bài giảng có sẵn, đồng thời tận dụng được nhiều nguồn tài nguyên như video, hình ảnh, tài liệu điện tử,… Nhờ đó giúp thu hút người học và nâng cao hiệu quả giảng dạy.<br><br></div><div>Các ứng dụng giúp xây dựng bài giảng phổ biến hiện nay là:<br><br></div><ul><li><strong>Powerpoint:</strong> Powerpoint là phần mềm đã được sử dụng từ lâu, cho phép người dùng soạn thảo trên những mẫu đồ họa có sẵn hoặc tự sáng tạo. Bài giảng sẽ dễ dàng tích hợp các video, hình ảnh,… giúp minh họa trực quan hơn và thu hút người học.</li><li><strong>Canva:</strong> Canva chứa những mẫu đồ họa có sẵn thuộc nhiều chủ đề khác nhau, đồng thời cũng có video, hình ảnh, GIF,… để minh họa cho bài giảng. Người dùng có thể lưu trữ bài giảng ngay trên Canva hoặc tải về máy dưới dạng Powerpoint.</li><li><a href="https://myviewboard.com/"><strong>myViewBoard</strong></a><strong>: </strong>myViewBoard cho phép người dùng sử dụng kho video, hình ảnh, GIF khổng lồ mà không cần lo lắng vấn đề bản quyền. Bên cạnh đó, nền tảng còn cho phép bạn tạo ra các trò chơi thú vị, giúp thu hút và tăng độ tương tác của người học.</li></ul><div>&nbsp;Ứng dụng sử dụng công nghệ trong quản lý lớp học</div><div>Ứng dụng quản lý lớp học giúp thống kê điểm số, đánh giá sự tiến bộ của từng học viên và phân chia nhóm, quản lý mức độ tham gia của người học. Các ứng dụng quản lý lớp học nổi bật hiện nay là:<br><br></div><ul><li><strong>Schoology:</strong> Phần mềm cho phép xây dựng hồ sơ, quản lý bài giảng của người dạy cũng như bài tập của người học. Ngoài ra, Schoology còn tạo một mạng xã hội giúp người dạy và người học chia sẻ kiến thức, kỹ năng và tương tác với nhau ngoài lớp học.</li><li><strong>Moodle:</strong> Hệ thống này giúp gửi thông báo từ trường đến người học nhanh chóng. Bên cạnh đó còn cung cấp các tính năng như thống kê điểm số, giao bài tập, đăng tải bài học, tạo bài thi, bài điều tra, khảo sát,…</li><li><strong>myViewBoard</strong>: myViewBoard là một nền tảng quản lý giúp đánh giá mức độ tham gia của từng người học, có khả năng chia nhóm để người học trao đổi, thảo luận với nhau. Ngoài ra, người học có thể giơ tay mỗi khi muốn phát biểu, hệ thống sẽ gửi thông báo đến người dạy.</li><li>&nbsp;Ứng dụng tổ chức thi và chống gian lận thi cử</li></ul><div>Hiện nay, nhiều buổi kiểm tra được tổ chức trực tuyến khiến giám thị khó khăn giám sát được người học, vì vậy cần sự hỗ trợ của các phần mềm chống gian lận. Những phần mềm thường dùng hiện nay là:<br><br></div><ul><li><strong>EduNow:</strong> EduNow sử dụng camera quét khuôn mặt và chứng minh thư để xác nhận danh tính của người thi. Sau đó yêu cầu quét camera 360 độ để tránh trường hợp có người hỗ trợ.</li></ul><div>Trong quá trình sử dụng công nghệ trong dạy học để kiểm tra, phần mềm sẽ kích hoạt Mic để thu âm quá trình thi, khóa hoàn toàn tính năng sao chép và mở tab mới, nếu có sai phạm thì người thi sẽ nhận được thông báo cảnh cáo từ hệ thống.<br><br></div><ul><li><strong>Azota:</strong> Đây là một phần mềm giúp chấm điểm và trả bài trực tuyến, ngoài ra còn được trang bị tính năng giám sát tự động. Nếu phát hiện người thi chuyển tab, phần mềm sẽ thông báo và ghi lại số lần thoát khỏi trang thi của người học và gửi đến cho giám thị gác thi.</li></ul><div>&nbsp;Sử dụng thiết bị công nghệ thông minh</div><div>Các thiết bị thông minh đang dần được sử dụng nhiều trong lớp, giúp tăng độ tương tác với người học và tính trực quan của bài giảng, các công cụ thường gặp là:<br><br></div><ul><li><a href="https://www.viewsonic.com/vn/products/viewboard/"><strong>Màn hình tương tác thông minh</strong></a><strong>:</strong> Là một thiết bị có tính năng cảm ứng đa điểm và truy cập Internet, hình dạng tương tự như tivi. Trong giờ học, người dạy có thể thông qua việc thao tác trực tiếp trên màn hình để viết, vẽ, chèn thêm tệp tin, đưa bài kiểm tra…</li><li><a href="https://www.viewsonic.com/vn/products/projectors/"><strong>Máy chiếu tương tác</strong></a><strong>:</strong> Người dùng có thể tương tác với hình chiếu thông qua bút cảm ứng, giúp giảng dạy tương tự như bảng đen, thêm nữa có thể chèn thêm các tệp video, hình ảnh, GIF,…</li></ul><div>&nbsp;Ứng dụng lưu trữ dữ liệu, chia sẻ thông tin<br><br></div><div>Ứng dụng công nghệ trong dạy học như lưu trữ dữ liệu và chia sẻ thông tin giúp tạo một kho tài liệu chung cho cả lớp. Ở đây, người dạy có thể tải lên tài liệu, bài giảng, ghi hình bài giảng,… Các nền tảng thường dùng là:<br><br></div><ul><li><strong>Google Drive</strong>: Nền tảng cho phép người dùng tải tệp lên, sắp xếp dưới dạng các thư mục và có thể tìm kiếm dễ dàng thông qua việc nhập tên tài liệu trên thanh tìm kiếm.</li></ul><div>Ngoài ra, nền tảng cho phép thiết lập chế độ chia sẻ, người dùng có thể chọn chia sẻ cho những email cố định, chia sẻ cho một tổ chức hoặc cho bất cứ ai có được đường link.<br><br></div><ul><li><strong>OneDrive:</strong> Đây là một nền tảng lưu trữ của Microsoft, cho phép người dùng máy vi tính tải và đồng bộ các tệp tin trong máy lên điện toán đám mây.</li><li><strong>FreeCommander:</strong> Ứng dụng cho phép đồng bộ dữ liệu máy tính và quản lý dễ dàng dưới dạng cây, hỗ trợ cho nhiều dạng file khác nhau, đặc biệt xử lý tốt file nén.</li></ul><div>&nbsp;</div><div>&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:34:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660632879</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660633094</link>
         <description><![CDATA[<div>Với sự phát triển của công nghệ, việc dạy và học trở nên dễ tiếp cận và hiệu quả hơn. Chính vì vậy trong quá dạy và học người giáo viên dễ tiếp cận các hình ảnh, vì deo phục vụ bài giảng truyền thụ cho học sinh, kiến kế các bài giảng phù hợp với khả năng hoc sinh nhằm phát huy tính tích cực tự học, tự sáng tạo của học sinh. Còn đối với người học phát huy tính tích cực chủ động, làm chủ kiến thức. Ví dụ học sinh tự làm bài tập...dưới sự hướng dẫn của giáo viên.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:35:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660633094</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dương Tiến Huyền Thcs Suối Hoa Tp Bắc Ninh </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660633116</link>
         <description><![CDATA[<div><br>- Trước khi có CNGD: Việc dạy và học được thực hiện theo phương pháp truyền thống. Giáo viên làm trung tâm trực tiếp giảng giải kiến thức còn học sinh thì chỉ cần lắng nghe, ghi chép rồi học thuộc lại toàn bộ kiến thức. Do chưa có CNGD nên có nhiều hạn chế và khó khăn trong dạy và học.&nbsp;<br>- Sau khi có CNGD: Việc dạy và học được thực hiện dễ dàng hơn. Do ứng dụng CNGD vào giảng dạy nên việc soạn giảng nhanh hơn, sáng tạo hơn, có nhiều tài liệu hơn, thông tin luôn được cập nhật thường xuyên,… HS tiếp cận tài liệu dễ dàng hơn, có nhiều công cụ để học tập hơn,…</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:35:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660633116</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phan Tiến Dũng 01/09/1980 Trường PTDTBT THCS CAO PHẠ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660633187</link>
         <description><![CDATA[<div>Trước khi&nbsp; có CNGD:&nbsp;<br>+ giáo án soạn tay, không sử dụng được powerpoint hay các thiết bị trình chiếu. Các giáo cụ trực quan phục vụ việc giảng dạy thô sơ, thiếu và cồng kềnh,...<br>+ Kiểm tra bài cũ truyền thống (gọi vấn đáp do đó câu hỏi không sinh động, khó khắc sâu kiến thức)<br>+ Việc tìm kiếm tài liệu, học liệu tương đối khó khăn.<br>- Sau khi có CNGD:<br>+ Khả năng tiếp cận giáo dục linh hoạt (VD trong thời gian thiên tai dịch bệnh có thể thay thế học trực tiếp bằng trực tuyến.)<br>+Phát triển được kỹ năng công nghệ bản thân trong việc soạn giảng, trình chiếu, tìm kiếm tài liệu, áp dụng các phần mềm mới phục vụ cho giảng dạy.<br>+ Phương pháp kiểm tra, đánh giá hiện đại, kiểm tra được nhiều đối tượng học sinh trong 1 khoảng thời gian (VD sử dụng phần mềm Plicker)<br>+ Tài liệu được lưu trữ và chia sẻ 1 cách dễ dàng, thuận tiện</div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:36:04 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660633187</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyen Thi Thu Van - THCS Kim Chan, Bac Ninh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660633311</link>
         <description><![CDATA[<div>Với sự phát triển của công nghệ, việc dạy và học trở nên dễ tiếp cận và hiệu quả hơn. Chính vì vậy trong quá dạy và học người giáo viên dễ tiếp cận các hình ảnh, vì deo phục vụ bài giảng truyền thụ cho học sinh, kiến kế các bài giảng phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh, nhằm phát huy tính tích cực tự học, tự sáng tạo của học sinh. Còn đối với người học phát huy tính tích cực chủ động, làm chủ kiến thức. Ví dụ học sinh tự làm bài tập...dưới sự hướng dẫn của giáo viên.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:36:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660633311</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660633397</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><br>Đối với người dạy: </strong>Nâng cao tính sáng tạo và trở nên linh hoạt hơn trong quá trình giảng dạy của mình. Thầy cô không chỉ bó buộc trong khối lượng kiến thức hiện có mà còn được tìm hiểu thêm và kết nối những kiến thức của cả những chuyên ngành khác như tin học và học hỏi được các kỹ năng sử dụng hình ảnh, âm thanh trong việc thiết kế bài giảng; Bài giảng ngày càng phong phú, hấp dẫn hơn; Dễ dàng chia sẻ bài giảng với đồng nghiệp, cùng nhau thảo luận và nâng cao chất lượng bài giảng của mình.<br><br></div><div><strong><br>Đối với người học:</strong> Được tiếp cận phương pháp dạy học mới hấp dẫn hơn hẳn phương pháp đọc - chép truyền thống; Sự tương tác giữa thầy cô và học trò cũng được cải thiện đáng kể, học sinh có nhiều cơ hội được thể hiện quan điểm cũng như chính kiến riêng của mình; Giúp cho giáo viên hiểu thêm về năng lực, tính cách và mức độ tiếp thu kiến thức của học trò, từ đó có những điều chỉnh phù hợp và khoa học để thúc đẩy phát triển năng lực của từng cá nhân người học; Rèn luyện kỹ năng cần thiết ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.<br><br></div><div><strong><br>Đối với xã hội: </strong>Chất lượng giáo viên được nâng cao, các phương pháp giảng dạy được thay đổi theo chiều hướng tích cực. Chúng ta có thể hy vọng vào một ngày không xa, nền giáo dục Việt Nam sẽ theo kịp được sự phát triển của các nước có nền giáo dục hàng đầu trên thế giới.<br><br></div><div><br>Rõ ràng, những ứng dụng công nghệ mới sẽ không chỉ mang lại lợi ích cho người học và người dạy mà còn có ý nghĩa rất trọng với sự phát triển của cả xã hội và đất nước.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:37:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660633397</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Thanh Loan THCS Kinh Bắc TP Bắc Ninh </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660633580</link>
         <description><![CDATA[<div><br><br></div><div>&nbsp;có thể thấy việc ứng dụng công nghệ vào giảng dạy là một xu thế tất yếu, có vai trò quan trọng và sẽ đem lại lợi ích nhất định cho các cá nhân, tập thể và cho toàn xã hội. Khi nhận thức được vấn đề này một cách rõ ràng và chắc chắn, chúng ta sẽ sẵn sàng chấp nhận, tích cực phấn đấu, thay đổi tư duy, chung tay đổi mới toàn diện giáo dục theo hướng hiện đại.<br><br>Đối với người dạy:&nbsp;Nâng cao tính sáng tạo và trở nên linh hoạt hơn trong quá trình giảng dạy của mình. Thầy cô không chỉ bó buộc trong khối lượng kiến thức hiện có mà còn được tìm hiểu thêm và kết nối những kiến thức của cả những chuyên ngành khác như tin học và học hỏi được các kỹ năng sử dụng hình ảnh, âm thanh trong việc thiết kế bài giảng; Bài giảng ngày càng phong phú, hấp dẫn hơn; Dễ dàng chia sẻ bài giảng với đồng nghiệp, cùng nhau thảo luận và nâng cao chất lượng bài giảng của mình.<br><br>Đối với người học:&nbsp;Được tiếp cận phương pháp dạy học mới hấp dẫn hơn hẳn phương pháp đọc - chép truyền thống; Sự tương tác giữa thầy cô và học trò cũng được cải thiện đáng kể, học sinh có nhiều cơ hội được thể hiện quan điểm cũng như chính kiến riêng của mình; Giúp cho giáo viên hiểu thêm về năng lực, tính cách và mức độ tiếp thu kiến thức của học trò, từ đó có những điều chỉnh phù hợp và khoa học để thúc đẩy phát triển năng lực của từng cá nhân người học; Rèn luyện kỹ năng cần thiết ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.<br><br>Đối với xã hội:&nbsp;Chất lượng giáo viên được nâng cao, các phương pháp giảng dạy được thay đổi theo chiều hướng tích cực. Chúng ta có thể hy vọng vào một ngày không xa, nền giáo dục Việt Nam sẽ theo kịp được sự phát triển của các nước có nền giáo dục hàng đầu trên thế giới.<br><br>Rõ ràng, những ứng dụng công nghệ mới sẽ không chỉ mang lại lợi ích cho người học và người dạy mà còn có ý nghĩa rất trọng với sự phát triển của cả xã hội và đất nước.<br><br>có thể thấy việc ứng dụng công nghệ vào giảng dạy là một xu thế tất yếu, có vai trò quan trọng và sẽ đem lại lợi ích nhất định cho các cá nhân, tập thể và cho toàn xã hội. Khi nhận thức được vấn đề này một cách rõ ràng và chắc chắn, chúng ta sẽ sẵn sàng chấp nhận, tích cực phấn đấu, thay đổi tư duy, chung tay đổi mới toàn diện giáo dục theo hướng hiện đại.<br><br>Đối với người dạy:&nbsp;Nâng cao tính sáng tạo và trở nên linh hoạt hơn trong quá trình giảng dạy của mình. Thầy cô không chỉ bó buộc trong khối lượng kiến thức hiện có mà còn được tìm hiểu thêm và kết nối những kiến thức của cả những chuyên ngành khác như tin học và học hỏi được các kỹ năng sử dụng hình ảnh, âm thanh trong việc thiết kế bài giảng; Bài giảng ngày càng phong phú, hấp dẫn hơn; Dễ dàng chia sẻ bài giảng với đồng nghiệp, cùng nhau thảo luận và nâng cao chất lượng bài giảng của mình.<br><br>Đối với người học:&nbsp;Được tiếp cận phương pháp dạy học mới hấp dẫn hơn hẳn phương pháp đọc - chép truyền thống; Sự tương tác giữa thầy cô và học trò cũng được cải thiện đáng kể, học sinh có nhiều cơ hội được thể hiện quan điểm cũng như chính kiến riêng của mình; Giúp cho giáo viên hiểu thêm về năng lực, tính cách và mức độ tiếp thu kiến thức của học trò, từ đó có những điều chỉnh phù hợp và khoa học để thúc đẩy phát triển năng lực của từng cá nhân người học; Rèn luyện kỹ năng cần thiết ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.<br><br>Đối với xã hội:&nbsp;Chất lượng giáo viên được nâng cao, các phương pháp giảng dạy được thay đổi theo chiều hướng tích cực. Chúng ta có thể hy vọng vào một ngày không xa, nền giáo dục Việt Nam sẽ theo kịp được sự phát triển của các nước có nền giáo dục hàng đầu trên thế giới.<br><br>Rõ ràng, những ứng dụng công nghệ mới sẽ không chỉ mang lại lợi ích cho người học và người dạy mà còn có ý nghĩa rất trọng với sự phát triển của cả xã hội và đất nước.<br><br>Ví dụ: Địa bàn trường tôi dạy là Học sinh thuần nông, nên khi xây dựng kế hoạch giáo dục cần căn cứ vào điều kiện của địa phương, hình thức tổ chức hoạt động giáo dục chủ yếu là trên lớp kết hợp với xem video giới thiệu, chưa có điều kiện tham quan thực tế, tuy nhiên nhà trường cũng đã trang bị đầy đủ ti vi, máy chiếu.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:38:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660633580</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Thị Quê - THCS Xuân Sơn  - Sơn Tây  - Hà Nội </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660637765</link>
         <description><![CDATA[<div>- Khi chưa có công nghệ thông tin, việc dạy học ltập trung vào giáo viên. Giáo viên sử dụng những trang thiết bị truyền thống như sách vở và những học liệu để dạy nên việc tiếp thức kiến thức của HS có phần hạn chế.<br>- Khi có công nghệ thông tin trong giáo dục. giáo viên có thể linh hoạt hơn trong quá trình giảng dạy, có thể tương tác với học sinh, học sinh mọi lúc mọi nơi. Bên cạnh đó, nhờ có công nghệ thông tin, giáo viên có thể thiết kế một bài giảng có nhiều hình ảnh, gói gọn vào các thiết bị, tránh sự cồng kềnh với các cuốn giáo án dày.<br>Đối với người học, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đã giúp họ tiếp cận với phương pháp dạy học mới hấp dẫn hơn phương pháp đọc - sao chép hệ thống. Ngoài ra, sự tương tác giữa người dạy và người học cũng được cải thiện rất nhiều, người học không còn thụ động trong giảng giải, không còn chăm chú ghi chép mà các em sẽ có nhiều thời gian được thể hiện cũng như quan điểm như chính kiến ​​của mình đối với môn học.</div><div>Việc truyền thụ, cung cấp kiến ​​thức, tăng dần sẽ thực hiện công nghệ thông tin chắc chắn, giải phóng người thầy khỏi sự thiếu thời gian, để người thầy có thể tập trung giúp người học phương pháp tiếp cận và giải quyết vấn đề , tổ chức các hoạt động học tập gắn với thực tiễn Phát triển năng lực của người học.<br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-12 13:55:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2660637765</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Chu Thị Hường 30/01/1984 MN Hoa sữa Đông Anh - Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2661070412</link>
         <description><![CDATA[<div>Với sự phát triển của công nghệ, giáo dục đã trở nên dễ tiếp cận và hiệu quả hơn. Việc sử dụng công nghệ hiện đại mang đến cơ hội nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục cho sinh viên trên khắp thế giới.<br>Khả năng tiếp cận giáo dục<br>Một trong những lợi ích chính của công nghệ trong giáo dục là khả năng mở rộng phạm vi tiếp cận giáo dục cho mọi người.<br>Nhờ có internet và các nền tảng học trực tuyến, mọi người từ khắp nơi trên thế giới có khả năng truy cập các khóa học và tài liệu mà trước đây họ chỉ có thể tiếp cận theo cách tuyền thống.<br>Ngoài ra, việc học trực tuyến có thể linh hoạt và phù hợp với nhu cầu của từng người.<br>Truy cập tài nguyên giáo dục<br>Hiện nay, có rất nhiều trang web chính thống giúp người dùng truy cập vào các tài liệu giáo dục khác nhau. Hầu hết trường học ngày nay đều tiếp cận công nghệ và phát triển các thư viện số giúp học sinh, sinh viên dễ tiếp cận hơn<br>Chúng ta có thể tìm và tải xuống các tài liệu học thuật mà không cần in ấn như trước. Điều này đặc biệt phù hợp với sinh viên có nguồn lực hạn chế hoặc những người không có khả năng mua sách giáo khoa và tài liệu đắt tiền.<br>Phát triển kỹ năng công nghệ<br>Một lợi ích khác của công nghệ trong giáo dục là phát triển kỹ năng công nghệ của học sinh.<br>Thế giới ngày nay đòi hỏi mọi người phải có kiến ​​thức và kỹ năng về máy tính và internet. Việc sử dụng công nghệ trong giáo dục sẽ giúp học sinh học những kỹ năng này và áp dụng trong cuộc sống tương lai.<br>Cá nhân hóa việc học<br>Công nghệ cho phép giáo viên tập trung hơn vào nhu cầu cá nhân của học sinh. Với các nền tảng và hướng dẫn trực tuyến, sinh viên có thể học tài liệu theo tốc độ của riêng mình và khắc phục những điểm còn yếu.<br>Tài liệu đa phương tiện<br>Học sinh có thể hiểu rõ hơn các khái niệm và lý thuyết phức tạp với các tài liệu đa phương tiện như video, âm thanh và các phần mềm hỗ trợ khác như trình chiếu... Điều này đặc biệt hữu ích cho những sinh viên có khả năng ghi nhớ nhanh khi tiếp xúc với các dạng tài liệu như vậy.<br>Phương pháp đánh giá hiện đại<br>Công nghệ cũng cung cấp các phương pháp mới để đánh giá và theo dõi kết quả học tập của học sinh. Các bài kiểm tra trực tuyến và phần mềm phân tích dữ liệu giúp giáo viên theo dõi tiến độ của học sinh và điều chỉnh quá trình học tập.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-14 01:41:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2661070412</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Yến 18/02/1985. MN Hoa Sữa- Đông Anh - Hà Nội</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2661071692</link>
         <description><![CDATA[<div>- Trước khi có CNGD: Việc dạy và học được thực hiện theo phương pháp truyền thống. Giáo viên làm trung tâm trực tiếp giảng giải kiến thức còn học sinh thì chỉ cần lắng nghe, ghi chép rồi học thuộc lại toàn bộ kiến thức. Do chưa có CNGD nên có nhiều hạn chế và khó khăn trong dạy và học.&nbsp;<br>- Sau khi có CNGD: Việc dạy và học được thực hiện dễ dàng hơn. Do ứng dụng CNGD vào giảng dạy nên việc soạn giảng nhanh hơn, sáng tạo hơn, có nhiều tài liệu hơn, thông tin luôn được cập nhật thường xuyên,… HS tiếp cận tài liệu dễ dàng hơn, có nhiều công cụ để học tập hơn,…</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-08-14 01:43:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2661071692</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Hoà 20/10/1991 Trường Mầm Non Tam Giang</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830678091</link>
         <description><![CDATA[<p>Trước khi có CNGD: Việc dạy và học được thực hiện theo phương pháp truyền thống. Giáo viên làm trung tâm trực tiếp giảng giải kiến thức còn học sinh thì chỉ cần lắng nghe, ghi chép rồi học thuộc lại toàn bộ kiến thức. Do chưa có CNGD nên có nhiều hạn chế và khó khăn trong dạy và học.&nbsp;<br>- Sau khi có CNGD: Việc dạy và học được thực hiện dễ dàng hơn. Do ứng dụng CNGD vào giảng dạy nên việc soạn giảng nhanh hơn, sáng tạo hơn, có nhiều tài liệu hơn, thông tin luôn được cập nhật thường xuyên,… HS tiếp cận tài liệu dễ dàng hơn, có nhiều công cụ để học tập hơn,</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 13:17:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830678091</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830678524</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Nguyễn Thị Tình 23/11/1997. MN Hương Mạc 2 </strong></p><p><br/></p><p>- Trước khi có CNGD: Việc dạy và học được thực hiện theo phương pháp truyền thống. Giáo viên làm trung tâm trực tiếp giảng giải kiến thức còn học sinh thì chỉ cần lắng nghe, ghi chép rồi học thuộc lại toàn bộ kiến thức. Do chưa có CNGD nên có nhiều hạn chế và khó khăn trong dạy và học.&nbsp;<br>- Sau khi có CNGD: Việc dạy và học được thực hiện dễ dàng hơn. Do ứng dụng CNGD vào giảng dạy nên việc soạn giảng nhanh hơn, sáng tạo hơn, có nhiều tài liệu hơn, thông tin luôn được cập nhật thường xuyên,… HS tiếp cận tài liệu dễ dàng hơn, có nhiều công cụ để học tập hơn,…</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 13:18:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830678524</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Hậu- 25-8/1992- Trường Mn Hương Mạc 2</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830678544</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 13:18:27 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830678544</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Phượng 22/06/1997- MN Trung Nghĩa</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830678812</link>
         <description><![CDATA[<p>NCBH là một mô hình bồi dưỡng, phát triển nghề nghiệp cho giáo viên, nhưng nó có sự khác biệt cơ bản với cách bồi dưỡng, dự giờ truyền thống ở chỗ:</p><p>Thứ nhất, thay cho việc cung cấp kiến thức được xác định từ các chuyên gia bên ngoài nhà trường, NCBH xuất phát từ chính nhu cầu giải quyết những vấn đề trong thực tiễn lớp học mà giáo viên đang phải đối mặt. Trong các lớp bồi dưỡng giáo viên truyền thống các chuyên gia bên ngoài là người cung cấp kiến thức, còn các giáo viên là những người thụ động tiếp nhận kiến thức. Khi tham gia NCBH, các nhóm nghiên cứu tự nhận thấy những yêu cần giải quyết đối với mỗi bài học nhất định và cùng nhau thảo luận để tìm cách giải quyết các yêu cầu đó. Trong NCBH cũng có thể có sự tham gia của các chuyên gia bên ngoài nhưng họ chỉ đóng vai trò là người quan sát, tư vấn, rút kinh nghiệm cho nhóm và cung cấp thêm những kinh nghiệm của các nhóm nghiên cứu khác chứ không đóng vai trò chủ đạo như trong các phương pháp truyền thống khác.</p><p>Thứ hai, mối quan hệ giữa những người tham gia NCBH là bình đẳng khác với quan hệ thứ bậc, giữa người dạy với người học trong các lớp tập huấn. Trong các phương pháp bồi dưỡng giáo viên truyền thống, giáo viên khi đó đóng vai trò là người học và những chuyên gia đóng vai trò là thầy giáo, là người cung cấp kiến thức. Trong NCBH, những người tham gia có vai trò như nhau, cùng nhau hợp tác, cùng nghiên cứu,&nbsp; cùng thảo luận hướng tới một mục tiêu chung của sự phát triển. Những người tham gia NCBH đều trên tinh thần tự nguyện và có vai trò như nhau trong việc phát triển bài học đạt được những mục tiêu đề ra.</p><p>Thứ ba, trong các lớp tập huấn, giáo viên là người tiếp nhận kiến thức mới (ở vị thế bị động),&nbsp; còn trong nghiên cứu bài học giáo viên giữ vai trò chủ động, là một người cải cách, một nhà quan sát, tự đánh giá thực tiễn của mình. Với phương pháp truyền thống giáo viên được tiếp xúc với cái mới thông qua các chuyên gia, hoàn toàn theo kiểu thầy truyền thụ trò lắng nghe. Trong khi ở NCBH, giáo viên là người mang cái mới vào dạy học, là nhà quan sát thực tế có thể tự đánh giá khả năng của mình thông qua việc quan sát trực tiếp lớp học.</p><p>Với các phương pháp dạy học truyền thống phẩm chất và năng lực của giáo viên luôn luôn là một vấn đề để đánh giá trong những buổi dự giờ, giáo viên luôn mang nặng tâm lí về xếp hạng và chủ yếu chú trọng tới bài giảng,&nbsp; giáo án của mình mà ít quan tâm xem học sinh học như thế nào. Hơn nữa, nếu có quan tâm đến học sinh thì đó là những học sinh nổi bật trong các lớp học. Trong khi đó đối với NCBH, thì sự quan sát hướng đến tất cả học sinh trong lớp không riêng gì các học sinh nổi bật, thậm chí là chú ý hơn tới những học sinh cá biệt trong lớp để xem cách học sinh học, cách học sinh tư duy, chứ phẩm chất hay năng lực của giáo viên không phải là vấn đề được đánh giá. Trong các phương pháp dự giờ truyền thống yếu tố phẩm chất nghề nghiệp của giáo viên luôn là một vấn đề được xem xét đánh giá cho nên có một số hạn chế trong việc nhận xét, góp ý của các giáo viên khác, nhất là đối với các giáo viên trẻ thì vấn đề nhận xét, đánh giá các giáo viên nhiều kinh nghiệm là điều cực kì khó khăn; còn với NCBH các giáo viên góp ý với tinh thần cùng giúp nhau hoàn thiện hơn chứ không phải để đánh giá giáo viên, do vậy sự góp ý là chân thành và mọi thành viên có thể tự do nói nên ý kiến của mình mà không sợ làm giảm tình đoàn kết giữa các đồng nghiệp.</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Dự giờ bài học: theo phương pháp dự giờ truyền thống các giáo viên dự giờ chỉ chú ý đến giáo viên dạy và họ thích ngồi ở đằng sau và ít chú ý tới học sinh. Theo mô hình NCBH trọng tâm quan sát giờ học là bài học và quá trình học của học sinh, giáo viên dự giờ quan sát từ phía trước để có thể thấy nét mặt của học sinh.</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Suy ngẫm về bài học: theo phương pháp dự giờ truyền thống có nhiều giáo viên có thái độ phê phán giáo viên dạy (như thường nhận xét: cô, thầy không thể làm việc này hay việc kia,&nbsp; phải làm như thế này, không được làm như thế kia… ) hay ca ngợi rõ ràng nhưng không chi tiết. Theo mô hình NCBH các giáo viên hợp tác cùng nhau xây dựng kế hoạch bài học và nó là sản phẩm của cả nhóm, tất cả các thành viên đều phải chịu trách nhiệm về bài học cho dù nó thành công hay thất bại chứ không phải chỉ riêng giáo viên đứng lớp, và do đó sẽ không có thái độ phê phán cách dạy của giáo viên, vì cách dạy đó đã được cả nhóm thống nhất trong kế hoạch của bài học, nếu cách dạy đó chưa phù hợp, đó là khuyết điểm của cả nhóm và việc họ cần làm là cùng nhau khắc phục.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 13:18:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830678812</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Dự giờ là đánh giá xếp loại giáo viên thông qua tiết dạy để rút kinh nghiệm các giờ học sau còn nghiên cứu bài học là quá trình bản thân tự nghiên cứu tìm tòi nâng cao năng lực chuyên môn</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830678848</link>
         <description><![CDATA[<p>Nguyễn thị Ngọc 05/03/1999 mầm non Độg Phong</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 13:18:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830678848</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trương Thị Tính 21/2/1997 MN Hương Mc 2</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830679501</link>
         <description><![CDATA[<p>- Trước khi có CNGD: Việc dạy và học được thực hiện theo phương pháp truyền thống. Giáo viên làm trung tâm trực tiếp giảng giải kiến thức còn học sinh thì chỉ cần lắng nghe, ghi chép rồi học thuộc lại toàn bộ kiến thức. Do chưa có CNGD nên có nhiều hạn chế và khó khăn trong dạy và học. </p><p><br/></p><p>- Sau khi có CNGD: Việc dạy và học được thực hiện dễ dàng hơn. Do ứng dụng CNGD vào giảng dạy nên việc soạn giảng nhanh hơn, sáng tạo hơn, có nhiều tài liệu hơn, thông tin luôn được cập nhật thường xuyên,… HS tiếp cận tài liệu dễ dàng hơn, có nhiều công cụ để học tập hơn,…</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 13:19:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830679501</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830679715</link>
         <description><![CDATA[<p>Đàm Thị Quyên 29/09/2001. MN Hương Mạc 2</p><p>- Trước khi có CNGD: Việc dạy và học được thực hiện theo phương pháp truyền thống. Giáo viên làm trung tâm trực tiếp giảng giải kiến thức còn học sinh thì chỉ cần lắng nghe, ghi chép rồi học thuộc lại toàn bộ kiến thức. Do chưa có CNGD nên có nhiều hạn chế và khó khăn trong dạy và học. </p><p>- Sau khi có CNGD: Việc dạy và học được thực hiện dễ dàng hơn. Do ứng dụng CNGD vào giảng dạy nên việc soạn giảng nhanh hơn, sáng tạo hơn, có nhiều tài liệu hơn, thông tin luôn được cập nhật thường xuyên,… HS tiếp cận tài liệu dễ dàng hơn, có nhiều công cụ để học tập hơn,…</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 13:19:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830679715</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn thị phương-27/03/2000.Trường mầm non Long Châu </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830679804</link>
         <description><![CDATA[<p>-/Trước khi có CNGD: Việc dạy và học được thực hiện theo phương pháp truyền thống. Giáo viên làm trung tâm trực tiếp giảng giải kiến thức còn học sinh thì chỉ cần lắng nghe, ghi chép rồi học thuộc lại toàn bộ kiến thức. Do chưa có CNGD nên có nhiều hạn chế và khó khăn trong dạy và học.&nbsp;<br>- Sau khi có CNGD: Việc dạy và học được thực hiện dễ dàng hơn. Do ứng dụng CNGD vào giảng dạy nên việc soạn giảng nhanh hơn, sáng tạo hơn, có nhiều tài liệu hơn, thông tin luôn được cập nhật thường xuyên,… HS tiếp cận tài liệu dễ dàng hơn, có nhiều công cụ để học tập hơn,</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 13:20:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830679804</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830679917</link>
         <description><![CDATA[<p>nguyễn thị thanh 17/06/1993</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 13:20:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830679917</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đỗ Thị Thuỳ Dương 15/11/1999- TMN Tam Đa</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830680385</link>
         <description><![CDATA[<ul><li><p>Nghiên cứu bài học: là trước khi lên bài dạy lên tiết học các thầy cô cần nghiên cứu kỹ các tiết mình chuẩn bị dạy. từ khâu chuẩn bị các đồ đùng dạy học đến các bước dạy trong bài dạy đến các cách tiếp cận trẻ và truyền đạt kiến thức cho trẻ. các mục trong giáo án - giáo án điện tử…vv</p></li><li><p>bồi dưỡng chuyên môn - dự giờ giáo viên : là quá trình góp ý sau khi gv dạy các giáo viên và các bgh cho ý kiến về những thiếu sót trong quá trình bài dạy. để rút kinh nghiệm bài dạy cho các cô . góp ý để các cô có những bài dạy sau tốt hơn hỗ trợ các cô thêm kiến thức chuyên môn còn thiếu .các cô dự giờ sẽ góp ý cho các cô day như đã đủ các bước dạy hay chưa, đồ dùng chuẩn bị như thế nào đã đầy đủ chưa, các tiếp cận học sinh của giáo viên đã tốt chưa …</p></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 13:20:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830680385</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830680458</link>
         <description><![CDATA[<p>Truóc khi có CNGD   Việc dạy và học chỉ theo phương pháp truyền thống. Giáo viên là trung tâm. Học sinh chỉ ngồi nghe và xem. Vì chưa có CNGD nên gặp nhiều khó khắn và hạn chế trong việc hoc</p><p>Sau kho có CNGD: Việc học được cải thiện hơn dễ dàng hơn.có nhiều tài liệu nên việc giảng dạy sáng tạo hơn. </p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 13:20:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830680458</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Thị Lan 06/11/1993</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830680482</link>
         <description><![CDATA[<p>Phân biệt NCBH với cách bồi dưỡng, dự giờ GV hiện nay</p><ul><li><p>NCBH là một mô hình bồi dưỡng, phát triển chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên bởi những lợi ích to lớn mà nó mang lại cho những người tham gia. Mục đích của NCBH là tìm hiểu những gì học sinh nghĩ,&nbsp;những gì học sinh tư duy để có những phương pháp dạy cho phù hợp chứ không phải là một bài học biểu diễn. Tất cả các thành viên trong nhóm đều phải có những đóng góp và các ý tưởng đó cần phải được tôn trọng. Do vậy, bài học là thuộc về cả nhóm chứ không phải của riêng người dạy. Như vậy khi các thành viên tham gia vào NCBH thì sẽ kết hợp được những ưu điểm và cùng hoàn thiện bài học hơn. Thông qua NCBH, giáo viên cảm thấy tập trung hơn vào bài học và tăng sự thích thú trong công việc dạy học.</p></li><li><p>Cách bồi dưỡng, dự giờ giáo viên hiện nay sẽ giúp cho giáo viên chủ động, tích cực hơn trong tiết dạy của mình. Đây là việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa đối với mỗi giáo viên. Việc bồi dưỡng, dự giờ, không chỉ giúp cho giáo viên đi dự giờ học tập, rút kinh nghiệm từ tiết dạy của đồng nghiệp mà còn giúp họ sáng tạo trong việc xử lý các tình huống trong việc dạy học.</p></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 13:20:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830680482</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thu Uyên 08/12/2000</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830681261</link>
         <description><![CDATA[<p>Khi tham gia NCBH, các giáo viên sẽ họp thành từng nhóm nhỏ 4-6 người có thể khác nhau về trình độ chuyên môn, khác nhau về chuyên ngành thậm chí có thể khác trường. Tuy nhiên, để thuận lợi cho quá trình thực hiện bài học, thông thường các nhóm NCBH là các giáo viên cùng trường và có cùng chuyên ngành. Trong quá trình tiến hành bài học nghiên cứu có thể có sự tham gia của các giáo viên khác ngoài nhóm hoặc có thể mời những học giả, những giáo sư tiến sĩ đến từ các trường Đại học, những chuyên viên của Bộ giáo dục, v.v… những người này sẽ đóng góp những ý kiến chuyên môn, quan sát bài học và đưa ra những ý kiến, nhận xét, góp ý để quá trình trở nên hiệu quả hơn.</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Các giáo viên cùng nhau nghiên cứu, xây dựng mục tiêu học tập cho học sinh. Sự tham gia của các thành viên phải mang tính chất tự nguyện trên cơ sở muốn nâng cao hiệu quả học tập của học sinh. Trong nhóm các thành viên cùng nhau hợp tác hướng đến mục tiêu chung của bài học, cùng chia sẻ kinh nghiệm và cùng nhận xét, bổ sung giúp nhau hoàn thiện hơn về chuyên môn nghiệp vụ. Cần tránh những biểu hiện tiêu cực như sự phê phán nhau về năng lực chuyên môn hay phẩm chất nghề nghiệp của các giáo viên với nhau. Các nhóm sẽ làm việc trung bình từ 2-3 bài học/ năm do việc nghiên cứu có cường độ cao và chiếm khá nhiều thời gian.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 13:21:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830681261</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830681418</link>
         <description><![CDATA[<p>Nguyễn Thị Hường 09/11/1988.                Theo e việc NCBH là việc phải tìm hiểu thật kỹ trước kế hoạch kỹ năng bài soạn cần dạy trước khi dạy cho trẻ. Có thể đưa ra nhiều cách tiếp cận khác nhau cho trẻ hướng vào bài dạy.Còn dự giờ giáo viên phải theo định hướng chuẩn đã được đưa ra và đã được xem xét </p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 13:22:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830681418</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn thị xuyến 30.12.1992</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830681588</link>
         <description><![CDATA[<p>Theo e hiểu nghiên cứu bài học là quá trình người giáo viên tự tìm hiểu nâng cao  hiểu biết về bài học mình chuẩn bị giảng . Giúp tăng hiệu quả bài giảng và tránh được sự cố không mong muốn trong tiết dạy.  Còn việc bồi dưỡng , dự giờ giáo viên để củng  hoàn thiện và nâng cao kiến thức, kỹ năng về mọi mặt cho giáo viên. </p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 13:22:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830681588</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Theo ý kiến của e nghiêm cứu bài học là bàn luận về một lĩnh vực học trong phạm vi bài học từ phần ổn định đến nội dung và kết thúc xem các phần có hợp lí ko .Còn với phần dự giờ thì bao gồm phần giảng dạy của cô kết hợp vs sự hợp của trẻ sao cho có sự hợp tác hài hoà tạo ra 1tiết dạy tốt .</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830681932</link>
         <description><![CDATA[<p>Với e dự giờ áp lực hơn ạ  </p><p>Nguyễn thị xuyến 25/04/1996</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 13:22:48 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830681932</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830681991</link>
         <description><![CDATA[<p>Nguyễn Thị Hương (08/02/1995)</p><p>Trước khi CNDG việc dạy học theo truyền thống  </p><p>Sau khi CNDG : việc dạy học được thực hiện dễ dàng hơn </p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 13:22:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830681991</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Huyền Lương . 1/7/1984  MN Hương Mạc 2 </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830682536</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 13:23:31 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830682536</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Yến </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830682719</link>
         <description><![CDATA[<p>14/02/2000 Trường Mầm Non Dũng Liệt </p><p>Phân biệt nghiên cứu bài học với cách bồi dưỡng, dự giờ hiện nay .</p><ul><li><p>Nghiên cứu bài học là tổ, nhóm cùng nhau chia sẻ nghiên cứu 1 bài dạy, chia sẽ giữa giáo viên với giáo viên</p></li><li><p>Bồi dưỡng dự giờ là giáo viên phải nghiên cứu và phải rèn trẻ dạy, chuẩn bị dạy và gv phải nhớ giáo án dạy</p></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 13:23:43 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830682719</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830682787</link>
         <description><![CDATA[<p>Nghiên cứu bài học là đee <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="http://m.ng">m.ng</a> dc thảo luận k ai đánh giá ai.còn dự giờ là đánh giá năng lực ,trình độ của mk</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 13:23:48 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830682787</guid>
      </item>
      <item>
         <title>TRẦN THỊ NHUNG MN TAM ĐA 01-12-2001</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830682973</link>
         <description><![CDATA[<p>Như đã trình bày ở trên, NCBH là một mô hình bồi dưỡng, phát triển nghề nghiệp cho giáo viên, nhưng nó có sự khác biệt cơ bản với cách bồi dưỡng, dự giờ truyền thống ở chỗ:</p><p>Thứ nhất, thay cho việc cung cấp kiến thức được xác định từ các chuyên gia bên ngoài nhà trường, NCBH xuất phát từ chính nhu cầu giải quyết những vấn đề trong thực tiễn lớp học mà giáo viên đang phải đối mặt. Trong các lớp bồi dưỡng giáo viên truyền thống các chuyên gia bên ngoài là người cung cấp kiến thức, còn các giáo viên là những người thụ động tiếp nhận kiến thức. Khi tham gia NCBH, các nhóm nghiên cứu tự nhận thấy những yêu cần giải quyết đối với mỗi bài học nhất định và cùng nhau thảo luận để tìm cách giải quyết các yêu cầu đó. Trong NCBH cũng có thể có sự tham gia của các chuyên gia bên ngoài nhưng họ chỉ đóng vai trò là người quan sát, tư vấn, rút kinh nghiệm cho nhóm và cung cấp thêm những kinh nghiệm của các nhóm nghiên cứu khác chứ không đóng vai trò chủ đạo như trong các phương pháp truyền thống khác.</p><p>Thứ hai, mối quan hệ giữa những người tham gia NCBH là bình đẳng khác với quan hệ thứ bậc, giữa người dạy với người học trong các lớp tập huấn. Trong các phương pháp bồi dưỡng giáo viên truyền thống, giáo viên khi đó đóng vai trò là người học và những chuyên gia đóng vai trò là thầy giáo, là người cung cấp kiến thức. Trong NCBH, những người tham gia có vai trò như nhau, cùng nhau hợp tác, cùng nghiên cứu,&nbsp; cùng thảo luận hướng tới một mục tiêu chung của sự phát triển. Những người tham gia NCBH đều trên tinh thần tự nguyện và có vai trò như nhau trong việc phát triển bài học đạt được những mục tiêu đề ra.</p><p>Thứ ba, trong các lớp tập huấn, giáo viên là người tiếp nhận kiến thức mới (ở vị thế bị động),&nbsp; còn trong nghiên cứu bài học giáo viên giữ vai trò chủ động, là một người cải cách, một nhà quan sát, tự đánh giá thực tiễn của mình. Với phương pháp truyền thống giáo viên được tiếp xúc với cái mới thông qua các chuyên gia, hoàn toàn theo kiểu thầy truyền thụ trò lắng nghe. Trong khi ở NCBH, giáo viên là người mang cái mới vào dạy học, là nhà quan sát thực tế có thể tự đánh giá khả năng của mình thông qua việc quan sát trực tiếp lớp học.</p><p>Với các phương pháp dạy học truyền thống phẩm chất và năng lực của giáo viên luôn luôn là một vấn đề để đánh giá trong những buổi dự giờ, giáo viên luôn mang nặng tâm lí về xếp hạng và chủ yếu chú trọng tới bài giảng,&nbsp; giáo án của mình mà ít quan tâm xem học sinh học như thế nào. Hơn nữa, nếu có quan tâm đến học sinh thì đó là những học sinh nổi bật trong các lớp học. Trong khi đó đối với NCBH, thì sự quan sát hướng đến tất cả học sinh trong lớp không riêng gì các học sinh nổi bật, thậm chí là chú ý hơn tới những học sinh cá biệt trong lớp để xem cách học sinh học, cách học sinh tư duy, chứ phẩm chất hay năng lực của giáo viên không phải là vấn đề được đánh giá. Trong các phương pháp dự giờ truyền thống yếu tố phẩm chất nghề nghiệp của giáo viên luôn là một vấn đề được xem xét đánh giá cho nên có một số hạn chế trong việc nhận xét, góp ý của các giáo viên khác, nhất là đối với các giáo viên trẻ thì vấn đề nhận xét, đánh giá các giáo viên nhiều kinh nghiệm là điều cực kì khó khăn; còn với NCBH các giáo viên góp ý với tinh thần cùng giúp nhau hoàn thiện hơn chứ không phải để đánh giá giáo viên, do vậy sự góp ý là chân thành và mọi thành viên có thể tự do nói nên ý kiến của mình mà không sợ làm giảm tình đoàn kết giữa các đồng nghiệp.</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Dự giờ bài học: theo phương pháp dự giờ truyền thống các giáo viên dự giờ chỉ chú ý đến giáo viên dạy và họ thích ngồi ở đằng sau và ít chú ý tới học sinh. Theo mô hình NCBH trọng tâm quan sát giờ học là bài học và quá trình học của học sinh, giáo viên dự giờ quan sát từ phía trước để có thể thấy nét mặt của học sinh.</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Suy ngẫm về bài học: theo phương pháp dự giờ truyền thống có nhiều giáo viên có thái độ phê phán giáo viên dạy (như thường nhận xét: cô, thầy không thể làm việc này hay việc kia,&nbsp; phải làm như thế này, không được làm như thế kia… ) hay ca ngợi rõ ràng nhưng không chi tiết. Theo mô hình NCBH các giáo viên hợp tác cùng nhau xây dựng kế hoạch bài học và nó là sản phẩm của cả nhóm, tất cả các thành viên đều phải chịu trách nhiệm về bài học cho dù nó thành công hay thất bại chứ không phải chỉ riêng giáo viên đứng lớp, và do đó sẽ không có thái độ phê phán cách dạy của giáo viên, vì cách dạy đó đã được cả nhóm thống nhất trong kế hoạch của bài học, nếu cách dạy đó chưa phù hợp, đó là khuyết điểm của cả nhóm và việc họ cần làm là cùng nhau khắc phục.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 13:24:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830682973</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn thị Huyền Trang 15/12/1999</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830684006</link>
         <description><![CDATA[<p>Trước</p><p>Với giáo dục truyền thống, sinh viên tiếp nhận kiến thức chủ yếu từ sách vở, giáo trình và ngồi nghe giáo viên giảng trên lớp </p><p>Sau</p><p>Công nghệ thúc đẩy một nền giáo dục mở, giúp con người tiếp cận thông tin đa chiều, rút ngắn khoảng cách, thu hẹp mọi không gian, tiết kiệm tối ưu về thời gian.</p><p><br/></p><p>kiến thức phổ thông tới tri thức học thuật đều có thể dễ dàng tìm kiếm và áp dụng trong các quy trình giảng dạy thông qua các hệ thống tra cứu của thư viện, các máy tìm kiếm (search engines) như Google Search, Google Scholars, Google Books, các cơ sở dữ liệu học thuật như Scopus, các mạng xã hội học thuật như Academia, Resarch Gates,…</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 13:25:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830684006</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Thanh (02/03/1995)</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830684496</link>
         <description><![CDATA[<p>Trước khi có CNGD: Việc dạy và học được thực hiện theo phương pháp truyền thống. Giáo viên làm trung tâm trực tiếp giảng giải kiến thức còn học sinh thì chỉ cần lắng nghe, ghi chép rồi học thuộc lại toàn bộ kiến thức. Do chưa có CNGD nên có nhiều hạn chế và khó khăn trong dạy và học.&nbsp;<br>- Sau khi có CNGD: Việc dạy và học được thực hiện dễ dàng hơn. Do ứng dụng CNGD vào giảng dạy nên việc soạn giảng nhanh hơn, sáng tạo hơn, có nhiều tài liệu hơn, thông tin luôn được cập nhật thường xuyên,… HS tiếp cận tài liệu dễ dàng hơn, có nhiều công cụ để học tập hơn,…</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 13:25:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830684496</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Hồng Thắm 10/4/2000</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830684743</link>
         <description><![CDATA[<ul><li><p>Đảm bảo cho tất cả học sinh có cơ hội tham gia thực sự vào quá trình học tập, giáo viên quan tâm đến khả năng học tập của từng học sinh, đặt biệt những học sinh có khó khăn về học.</p></li><li><p>Tạo cơ hội cho tất cả giáo viên nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng sư phạm và phát huy khả năng sáng tạo trong việc áp dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học thông qua việc dự giờ, trao đổi, thảo luận, chia sẻ sau khi dự giờ.</p></li><li><p>Nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường.</p></li><li><p>Góp phần làm thay đổi văn hóa ứng xử trong nhà trường: cải thiện mối quan hệ giữa Ban giám hiệu với giáo viên; giáo viên với giáo viên, giáo viên với học sinh, cán bộ quản lý/giáo viên/học sinh với các nhân viên trong nhà trường; giữa học sinh với học sinh. Tạo môi trường làm việc, dạy và học dân chủ, thân thiện cho tất cả mọi người.</p></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 13:26:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830684743</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830684837</link>
         <description><![CDATA[<p>Nguyễn Thị Hoa Nho 09-02-2001</p><p>Sự khác nhau giữa nghiên cứu bài học với cách bồi dưỡng, dự giờ giáo viên hiện nay: Quan điểm, thảo luận, vẫn đề quan tâm của người dự giờ, ghi chép, thời gian thảo luận, cách chia sẻ, nêu ý kiến, phương pháp, cách thức bài học.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 13:26:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830684837</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Thảo 03/06/2000 trường mn Liên Cơ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830684952</link>
         <description><![CDATA[<p>Việc chuẩn bị NCBH trước khi ta bắt đầu dạy một tiết học sẽ giúp chúng ta trao đổi về chuyên môn của mình để có thêm phương pháp cách thức dạy học của mình. Còn về dự giờ sẽ áp lực hơn cho người dạy là người dự, việc dạy tốt hay không nó liên quan đến lời nhận xét, điểm số cho một tiết học đầy đủ.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 13:26:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830684952</guid>
      </item>
      <item>
         <title> Ngô Thị Lanh (19/08/2001) Trường MN Dũng Liệt                            2.1. Yêu cầu đối với giáo viên khi tham gia nghiên cứu bài học</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830685117</link>
         <description><![CDATA[<p><br/></p><p><br/></p><p>Khi tham gia NCBH, các giáo viên sẽ họp thành từng nhóm nhỏ 4-6 người có thể khác nhau về trình độ chuyên môn, khác nhau về chuyên ngành thậm chí có thể khác trường. Tuy nhiên, để thuận lợi cho quá trình thực hiện bài học, thông thường các nhóm NCBH là các giáo viên cùng trường và có cùng chuyên ngành. Trong quá trình tiến hành bài học nghiên cứu có thể có sự tham gia của các giáo viên khác ngoài nhóm hoặc có thể mời những học giả, những giáo sư tiến sĩ đến từ các trường Đại học, những chuyên viên của Bộ giáo dục, v.v… những người này sẽ đóng góp những ý kiến chuyên môn, quan sát bài học và đưa ra những ý kiến, nhận xét, góp ý để quá trình trở nên hiệu quả hơn.</p><p><br/></p><p>Các giáo viên cùng nhau nghiên cứu, xây dựng mục tiêu học tập cho học sinh. Sự tham gia của các thành viên phải mang tính chất tự nguyện trên cơ sở muốn nâng cao hiệu quả học tập của học sinh. Trong nhóm các thành viên cùng nhau hợp tác hướng đến mục tiêu chung của bài học, cùng chia sẻ kinh nghiệm và cùng nhận xét, bổ sung giúp nhau hoàn thiện hơn về chuyên môn nghiệp vụ. Cần tránh những biểu hiện tiêu cực như sự phê phán nhau về năng lực chuyên môn hay phẩm chất nghề nghiệp của các giáo viên với nhau. Các nhóm sẽ làm việc trung bình từ 2-3 bài học/ năm do việc nghiên cứu có cường độ cao và chiếm khá nhiều thời gian.</p><p><br/></p><p>2.2. Quá trình nghiên cứu bài học</p><p><br/></p><p>NCBH để đánh giá hoặc cung cấp cho giáo viên những thông tin phản hồi về thực tiễn dạy học. Giáo viên thực hiện NCBH thì thu thập được những nhận xét, kết quả cho việc sử dụng các phương pháp của mình đến sự tư duy của học sinh. Có nhiều cách phân chia các giai đoạn của quá trình NCBH.</p><p><br/></p><p>Stigler và Hiebert(1999) chia quá trình NCBH thành 7 bước cụ thể:</p><p><br/></p><p>+Lập kế hoạch nghiên cứu bài học.</p><p><br/></p><p>+ dạy học và quan sát các bài học nghiên cứu.</p><p><br/></p><p>+ Đánh giá, nhận xét các bài học đã được dạy.</p><p><br/></p><p>+ Chỉnh sửa các bài học dựa trên sự góp ý, bổ sung sau những gì thu thập được sau khi tiến hành bài học nghiên cứu lần 1.</p><p><br/></p><p>+ Tiến hành dạy các bài học đã được chỉnh sửa.</p><p><br/></p><p>+ Tiếp tục đánh giá, nhận xét kết quả lần 2.</p><p><br/></p><p>+ Đưa vào ứng dụng rộng rãi trong quá trình dạy học.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 13:26:33 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830685117</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Thuý Nga 29/11/1999 _ MN Tương Giang 2</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830685191</link>
         <description><![CDATA[<p><br>Như đã trình bày ở trên, NCBH là một mô hình bồi dưỡng, phát triển nghề nghiệp cho giáo viên, nhưng nó có sự khác biệt cơ bản với cách bồi dưỡng, dự giờ truyền thống ở chỗ:</p><p>Thứ nhất, thay cho việc cung cấp kiến thức được xác định từ các chuyên gia bên ngoài nhà trường, NCBH xuất phát từ chính nhu cầu giải quyết những vấn đề trong thực tiễn lớp học mà giáo viên đang phải đối mặt. Trong các lớp bồi dưỡng giáo viên truyền thống các chuyên gia bên ngoài là người cung cấp kiến thức, còn các giáo viên là những người thụ động tiếp nhận kiến thức. Khi tham gia NCBH, các nhóm nghiên cứu tự nhận thấy những yêu cần giải quyết đối với mỗi bài học nhất định và cùng nhau thảo luận để tìm cách giải quyết các yêu cầu đó. Trong NCBH cũng có thể có sự tham gia của các chuyên gia bên ngoài nhưng họ chỉ đóng vai trò là người quan sát, tư vấn, rút kinh nghiệm cho nhóm và cung cấp thêm những kinh nghiệm của các nhóm nghiên cứu khác chứ không đóng vai trò chủ đạo như trong các phương pháp truyền thống khác.</p><p>Thứ hai, mối quan hệ giữa những người tham gia NCBH là bình đẳng khác với quan hệ thứ bậc, giữa người dạy với người học trong các lớp tập huấn. Trong các phương pháp bồi dưỡng giáo viên truyền thống, giáo viên khi đó đóng vai trò là người học và những chuyên gia đóng vai trò là thầy giáo, là người cung cấp kiến thức. Trong NCBH, những người tham gia có vai trò như nhau, cùng nhau hợp tác, cùng nghiên cứu,&nbsp; cùng thảo luận hướng tới một mục tiêu chung của sự phát triển. Những người tham gia NCBH đều trên tinh thần tự nguyện và có vai trò như nhau trong việc phát triển bài học đạt được những mục tiêu đề ra.</p><p>Thứ ba, trong các lớp tập huấn, giáo viên là người tiếp nhận kiến thức mới (ở vị thế bị động),&nbsp; còn trong nghiên cứu bài học giáo viên giữ vai trò chủ động, là một người cải cách, một nhà quan sát, tự đánh giá thực tiễn của mình. Với phương pháp truyền thống giáo viên được tiếp xúc với cái mới thông qua các chuyên gia, hoàn toàn theo kiểu thầy truyền thụ trò lắng nghe. Trong khi ở NCBH, giáo viên là người mang cái mới vào dạy học, là nhà quan sát thực tế có thể tự đánh giá khả năng của mình thông qua việc quan sát trực tiếp lớp học.</p><p>Với các phương pháp dạy học truyền thống phẩm chất và năng lực của giáo viên luôn luôn là một vấn đề để đánh giá trong những buổi dự giờ, giáo viên luôn mang nặng tâm lí về xếp hạng và chủ yếu chú trọng tới bài giảng,&nbsp; giáo án của mình mà ít quan tâm xem học sinh học như thế nào. Hơn nữa, nếu có quan tâm đến học sinh thì đó là những học sinh nổi bật trong các lớp học. Trong khi đó đối với NCBH, thì sự quan sát hướng đến tất cả học sinh trong lớp không riêng gì các học sinh nổi bật, thậm chí là chú ý hơn tới những học sinh cá biệt trong lớp để xem cách học sinh học, cách học sinh tư duy, chứ phẩm chất hay năng lực của giáo viên không phải là vấn đề được đánh giá. Trong các phương pháp dự giờ truyền thống yếu tố phẩm chất nghề nghiệp của giáo viên luôn là một vấn đề được xem xét đánh giá cho nên có một số hạn chế trong việc nhận xét, góp ý của các giáo viên khác, nhất là đối với các giáo viên trẻ thì vấn đề nhận xét, đánh giá các giáo viên nhiều kinh nghiệm là điều cực kì khó khăn; còn với NCBH các giáo viên góp ý với tinh thần cùng giúp nhau hoàn thiện hơn chứ không phải để đánh giá giáo viên, do vậy sự góp ý là chân thành và mọi thành viên có thể tự do nói nên ý kiến của mình mà không sợ làm giảm tình đoàn kết giữa các đồng nghiệp.</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Dự giờ bài học: theo phương pháp dự giờ truyền thống các giáo viên dự giờ chỉ chú ý đến giáo viên dạy và họ thích ngồi ở đằng sau và ít chú ý tới học sinh. Theo mô hình NCBH trọng tâm quan sát giờ học là bài học và quá trình học của học sinh, giáo viên dự giờ quan sát từ phía trước để có thể thấy nét mặt của học sinh.</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Suy ngẫm về bài học: theo phương pháp dự giờ truyền thống có nhiều giáo viên có thái độ phê phán giáo viên dạy (như thường nhận xét: cô, thầy không thể làm việc này hay việc kia,&nbsp; phải làm như thế này, không được làm như thế kia… ) hay ca ngợi rõ ràng nhưng không chi tiết. Theo mô hình NCBH các giáo viên hợp tác cùng nhau xây dựng kế hoạch bài học và nó là sản phẩm của cả nhóm, tất cả các thành viên đều phải chịu trách nhiệm về bài học cho dù nó thành công hay thất bại chứ không phải chỉ riêng giáo viên đứng lớp, và do đó sẽ không có thái độ phê phán cách dạy của giáo viên, vì cách dạy đó đã được cả nhóm thống nhất trong kế hoạch của bài học, nếu cách dạy đó chưa phù hợp, đó là khuyết điểm của cả nhóm và việc họ cần làm là cùng nhau khắc phục.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 13:26:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830685191</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đàm Thị thanh Phương 07/08/1997- MN Hương Mạc 2</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830685459</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 13:26:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830685459</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830687809</link>
         <description><![CDATA[<p>Dương Thị Huyền 28/07/2001 </p><p>Đảm bảo cho tất cả học sinh có cơ hội tham gia thực sự vào quá trình học tập, giáo viên quan tâm đến khả năng học tập của từng học sinh, đặt biệt những học sinh có khó khăn về học.</p><p>Tạo cơ hội cho tất cả giáo viên nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng sư phạm và phát huy khả năng sáng tạo trong việc áp dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học thông qua việc dự giờ, trao đổi, thảo luận, chia sẻ sau khi dự giờ.</p><p>Nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường.</p><p>Góp phần làm thay đổi văn hóa ứng xử trong nhà trường: cải thiện mối quan hệ giữa Ban giám hiệu với giáo viên; giáo viên với giáo viên, giáo viên với học sinh, cán bộ quản lý/giáo viên/học sinh với các nhân viên trong nhà trường; giữa học sinh với học sinh. Tạo môi trường làm việc, dạy và học dân chủ, thân thiện cho tất cả mọi người.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 13:29:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830687809</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trương Thị Phượng 19/03/2001</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830688080</link>
         <description><![CDATA[<p>-NCBH là một mô hình phát triển nghề nghiệp của GV được sử dụng rộng rải tại các trường học tại Nhật Bản, đã được giới thiệu trên nhiều quốc gia khác và nhận được sự ủng hộ nhiệt liệt. Điều đó cho thấy tính ưu việt và sức hấp dẫn tô lớn của NCBH. Ở đây chúng ta cần phải phân biệt “NCBH” khác với “bài học nghiên cứu” (chỉ những tiết học cụ thể được lựa chọn để đạt được mục đích nghiên cứu).</p><p>-Dự giờ minh họa đòi hỏi sự tập trung cao độ của các GV. Vị trí quan sát của người dự giờ rất quan trọng. Muốn có thông tin chính xác về việc học của HS người dự giờ cần phải đứng đối diện với HS để thấy được nét mặt, hành động, thao tác, sản phẩm của HS.</p><p>– Người dự giờ cần vẽ sơ đồ chỗ ngồi, quan sát, nghe, nhìn, suy nghĩ và ghi chép diễn biến hoạt động học của HS trong giờ học hay những biểu hiện tâm lý của HS thể hiện trong các hoạt động/tình huống cụ thể mà không bị bỏ sót khi quan sát.</p><p>– Người dự có thể chụp ảnh hoặc quay phim các hoạt động học của HS trong các tình huống nhưng không làm ảnh hưởng đến giờ học. Quan sát ghi chú các hoạt động học của HS, thái độ, cử chỉ, sự tham gia hay không tham gia của HS vào nội dung bài học.</p><p><br/></p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 13:30:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830688080</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Kiều Trinh  ( 12/11/1998)</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830688745</link>
         <description><![CDATA[<p>Nghiên cứu bài học là lên nội dung trong bài dạy để hoàn thành tốt giáo án để thực hiện trong giảng dạy . </p><p>Bồi dưỡng dự giờ là nghe giảng các hoạt động cần thiết và  góp ý , góp phần nâng cao chất lượng dạy và học cho các cô . </p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 13:30:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830688745</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830689428</link>
         <description><![CDATA[<p>Đỗ Thị Thơm </p><p>sinh ngày: 13-7-1997</p><p> Trước khi có CNGD: Việc dạy và học được thực hiện theo phương pháp truyền thống. Giáo viên làm trung tâm trực tiếp giảng giải kiến thức còn học sinh thì chỉ cần lắng nghe, ghi chép rồi học thuộc lại toàn bộ kiến thức. Do chưa có CNGD nên có nhiều hạn chế và khó khăn trong dạy và học. </p><p>- Sau khi có CNGD: Việc dạy và học được thực hiện dễ dàng hơn. Do ứng dụng CNGD vào giảng dạy nên việc soạn giảng nhanh hơn, sáng tạo hơn, có nhiều tài liệu hơn, thông tin luôn được cập nhật thường xuyên,… HS tiếp cận tài liệu dễ dàng hơn, có nhiều công cụ để học tập hơn,</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 13:31:20 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830689428</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Hồng Nhung ( 27/6/2001) -MN Hoà Tiến </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830690687</link>
         <description><![CDATA[<ul><li><p>dự giờ gv là việc các cô giáo tham khảo từ đồng nghiệp những tiết dạy hay để học hỏi và nâng cao khả năng của mình. thông thường các tiết được lên dự giờ sẽ được các cô nghiên cứu rất kĩ càng. việc thảo luận, đóng góp ý kiến sau mỗi lần dự giờ sẽ giúp cả người dạy và người dự giờ rút ra được những kinh nghiệm qua bài dạy </p></li><li><p>Nghiên cứu bài học là tìm tòi những tiết học hay để rút ra những lưu ý cần thiết cho lớp để tạo cho lớp 1 tiết học hay đúng chủ đề đúng lĩnh vực , lập kế hoạch tốt hơn . </p><p><br/></p></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 13:32:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830690687</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Thuý Hường (24/11/2000)</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830690755</link>
         <description><![CDATA[<p>Nghiên cứu bài học</p><p>-Giáo viên là người nghiên cứu bài học</p><p>+Lập kế hoạch nghiên cứu bài học.</p><p>+ dạy học&nbsp; và quan sát các bài học nghiên cứu.</p><p>+ Đánh giá, nhận xét các bài học đã được dạy.</p><p>+ Chỉnh sửa các bài học dựa trên sự góp ý, bổ sung sau những gì thu thập được sau khi tiến hành bài học nghiên cứu lần 1.</p><p>+ Tiến hành dạy các bài học đã được chỉnh sửa.</p><p>+ Tiếp tục đánh giá, nhận xét kết quả lần 2.</p><p>+ Đưa vào ứng dụng rộng rãi trong quá trình dạy học.</p><p>Giao vien  sẽ đóng góp những ý kiến chuyên môn, quan sát bài học và đưa ra những ý kiến, nhận xét, góp ý để quá trình trở nên hiệu quả hơn.</p><p>*Bồi dưỡng dự giờ</p><p>-Thực hiện Kế hoạch giảng dạy</p><p>-Lập kế hoạch</p><p>-phê duyệt </p><p>-Thông báo kế hoạch</p><p>-Chuẩn bị</p><p>-Dự giờ</p><p>-Góp í và đánh giá</p><p><br></p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 13:32:48 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830690755</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830691152</link>
         <description><![CDATA[<p> Trước khi có CNGD: Việc dạy và học được thực hiện theo phương pháp truyền thống. Giáo viên làm trung tâm trực tiếp giảng giải kiến thức còn học sinh thì chỉ cần lắng nghe, ghi chép rồi học thuộc lại toàn bộ kiến thức. Do chưa có CNGD nên có nhiều hạn chế và khó khăn trong dạy và học. </p><p>- Sau khi có CNGD: Việc dạy và học được thực hiện dễ dàng hơn. Do ứng dụng CNGD vào giảng dạy nên việc soạn giảng nhanh hơn, sáng tạo hơn, có nhiều tài liệu hơn, thông tin luôn được cập nhật thường xuyên,… HS tiếp cận tài liệu dễ dàng hơn, có nhiều công cụ để học tập hơn,</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 13:33:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830691152</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đàm thị thanh phương- 7/8/1997- MN Hương Mạc 2</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830691194</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 13:33:20 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830691194</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Thanh (02/03/1995)</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830691789</link>
         <description><![CDATA[<p>NCBH là một mô hình phát triển nghề nghiệp của GV được sử dụng rộng rải tại các trường học tại Nhật Bản, đã được giới thiệu trên nhiều quốc gia khác và nhận được sự ủng hộ nhiệt liệt. Điều đó cho thấy tính ưu việt và sức hấp dẫn tô lớn của NCBH. Ở đây chúng ta cần phải phân biệt “NCBH” khác với “bài học nghiên cứu” (chỉ những tiết học cụ thể được lựa chọn để đạt được mục đích nghiên cứu).</p><p>-Dự giờ minh họa đòi hỏi sự tập trung cao độ của các GV. Vị trí quan sát của người dự giờ rất quan trọng. Muốn có thông tin chính xác về việc học của HS người dự giờ cần phải đứng đối diện với HS để thấy được nét mặt, hành động, thao tác, sản phẩm của HS.</p><p>– Người dự giờ cần vẽ sơ đồ chỗ ngồi, quan sát, nghe, nhìn, suy nghĩ và ghi chép diễn biến hoạt động học của HS trong giờ học hay những biểu hiện tâm lý của HS thể hiện trong các hoạt động/tình huống cụ thể mà không bị bỏ sót khi quan sát.</p><p>– Người dự có thể chụp ảnh hoặc quay phim các hoạt động học của HS trong các tình huống nhưng không làm ảnh hưởng đến giờ học. Quan sát ghi chú các hoạt động học của HS, thái độ, cử chỉ, sự tham gia hay không tham gia của HS vào nội dung bài học.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 13:34:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830691789</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phân biệt NCBH với cách bồi dưỡng, dự giờ giáo viên hiện nay</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830692060</link>
         <description><![CDATA[<p>NCBH là một mô hình bồi dưỡng phát triển nghề nghiệp cho giáo viên, nhưng nó có sự khác biệt cơ bản : </p><p>Thứ nhất: xuất phát từ chính nhu cầu giải quyết những vấn đề trong thực tiễn lớp học mà giáo viên đang phải đối mặt. Trong các lớp bồi dưỡng giáo viên truyền thống các chuyên gia bên ngoài là người cung cấp kiến thức, còn các giáo viên là những người thụ động tiếp nhận kiến thức.</p><p>Thứ hai: NCBH là bình đẳng khác với quan hệ thứ bậc, giữa người dạy với người học trong các lớp tập huấn.</p><p>Thứ 3: Giao viên là người mang cái mới vào dạy học, là nhà quan sát thực tế có thể tự đánh giá khả năng của mình thông qua việc quan sát trực tiếp lớp học. </p><p><br/></p><p>Dự giờ bài học: Theo phương pháp dự giờ truyền thống các giáo viên dự giờ chỉ chú ý đến giáo viên dạy và họ thích ngồi ở đằng sau và ít chú ý tới học sinh. Theo mô hình NCBH trọng tâm quan sát giờ học là bài học và quá trình học của học sinh, giáo viên dự giờ quan sát từ phía trước để có thể thấy nét mặt của học sinh.Suy ngẫm về bài học: theo phương pháp dự giờ truyền thống có nhiều giáo viên có thái độ phê phán giáo viên dạy (như thường nhận xét: cô, thầy không thể làm việc này hay việc kia,&nbsp; phải làm như thế này, không được làm như thế kia… ) hay ca ngợi rõ ràng nhưng không chi tiết. Theo mô hình NCBH các giáo viên hợp tác cùng nhau xây dựng kế hoạch bài học và nó là sản phẩm của cả nhóm, tất cả các thành viên đều phải chịu trách nhiệm về bài học cho dù nó thành công hay thất bại chứ không phải chỉ riêng giáo viên đứng lớp, và do đó sẽ không có thái độ phê phán cách dạy của giáo viên, vì cách dạy đó đã được cả nhóm thống nhất trong kế hoạch của bài học, nếu cách dạy đó chưa phù hợp, đó là khuyết điểm của cả nhóm và việc họ cần làm là cùng nhau khắc phục.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 13:34:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830692060</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Minh Huệ 28/8/1999</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830692296</link>
         <description><![CDATA[<p><br/></p><p>NCBH là một mô hình bồi dưỡng, phát triển nghề nghiệp cho giáo viên, nhưng nó có sự khác biệt cơ bản với cách bồi dưỡng, dự giờ truyền thống ở chỗ:</p><p>Thứ nhất, thay cho việc cung cấp kiến thức được xác định từ các chuyên gia bên ngoài nhà trường, NCBH xuất phát từ chính nhu cầu giải quyết những vấn đề trong thực tiễn lớp học mà giáo viên đang phải đối mặt. Trong các lớp bồi dưỡng giáo viên truyền thống các chuyên gia bên ngoài là người cung cấp kiến thức, còn các giáo viên là những người thụ động tiếp nhận kiến thức. Khi tham gia NCBH, các nhóm nghiên cứu tự nhận thấy những yêu cần giải quyết đối với mỗi bài học nhất định và cùng nhau thảo luận để tìm cách giải quyết các yêu cầu đó. Trong NCBH cũng có thể có sự tham gia của các chuyên gia bên ngoài nhưng họ chỉ đóng vai trò là người quan sát, tư vấn, rút kinh nghiệm cho nhóm và cung cấp thêm những kinh nghiệm của các nhóm nghiên cứu khác chứ không đóng vai trò chủ đạo như trong các phương pháp truyền thống khác.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 13:34:40 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830692296</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830692465</link>
         <description><![CDATA[<p>Nguyễn Thị Thư 02/01/2001. MN Trung Nghĩa</p><p>- Trước khi có CNGD: Việc dạy và học được thực hiện theo phương pháp truyền thống. Giáo viên làm trung tâm trực tiếp giảng giải kiến thức còn học sinh thì chỉ cần lắng nghe, ghi chép rồi học thuộc lại toàn bộ kiến thức. Do chưa có CNGD nên có nhiều hạn chế và khó khăn trong dạy và học. </p><p>- Sau khi có CNGD: Việc dạy và học được thực hiện dễ dàng hơn. Do ứng dụng CNGD vào giảng dạy nên việc soạn giảng nhanh hơn, sáng tạo hơn, có nhiều tài liệu hơn, thông tin luôn được cập nhật thường xuyên,… HS tiếp cận tài liệu dễ dàng hơn, có nhiều công cụ để học tập hơn,…Nguyễn Thị Yến 18/02/1985. MN Hoa Sữa- Đông Anh - Hà Nội</p><p>- Trước khi có CNGD: Việc dạy và học được thực hiện theo phương pháp truyền thống. Giáo viên làm trung tâm trực tiếp giảng giải kiến thức còn học sinh thì chỉ cần lắng nghe, ghi chép rồi học thuộc lại toàn bộ kiến thức. Do chưa có CNGD nên có nhiều hạn chế và khó khăn trong dạy và học. </p><p>- Sau khi có CNGD: Việc dạy và học được thực hiện dễ dàng hơn. Do ứng dụng CNGD vào giảng dạy nên việc soạn giảng nhanh hơn, sáng tạo hơn, có nhiều tài liệu hơn, thông tin luôn được cập nhật thường xuyên,… HS tiếp cận tài liệu dễ dàng hơn, có nhiều công cụ để học tập hơn,…</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 13:34:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830692465</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nghiên cứu bài học là công việc hàng ngày của giáo viên trước khi lên lớp dạy 1 tiết học đảm bảo phù hợp với độ tuổi và năng lực của trẻ phù hợp với môi trường mk đang dạy.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830693467</link>
         <description><![CDATA[<p>Dự giờ giáo viên là việc các cô giáo tham khảo từ đồng nghiệp từ các nguồn khác nhau những tiết dạy hay để học hỏi và thay đổi phù hợp với mình. thông thường các tiết được lên dự giờ sẽ được các cô nghiên cứu rất kĩ càng. việc thảo luận, đóng góp ý kiến sau mỗi lần dự giờ sẽ giúp cả ng dạy và ng dự giờ rút ra được những kinh nghiệm cho bản thân mình giúp cho gv hoàn thiện bản thân hơn.</p><p>Nguyễn Thị Hồng Hiên (2/10/2000)- MN Hòa Tiến</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 13:36:08 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830693467</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Thị Thanh Phương 28/9/1994</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830715119</link>
         <description><![CDATA[<p>Phân biệt Nghiên cứu bài học với cách bồi dưỡng dự giờ GV hiện nay?</p><p><br/></p><p>Theo ý kiến của em thì NCBH là sự chủ động tìm hiểu nghiên cứu bài học và có thể nghiên cứu trong nhóm hoặc hỏi ý kiến với đồng nghiệp để xây dựng bài học tốt hơn, hợp lý hơn và không bị đánh giá xếp loại. </p><blockquote><p>Còn bồi dưỡng dự giờ GV hiện nay thì là cách để kiểm tra thanh tra đánh giá xếp loại giáo viên về năng lực giảng dạy chăm sóc trẻ kỹ năng xử lý ứng xử của GV tạo áp lực rất nhiều cho giáo viên ạ.</p></blockquote>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-20 14:00:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2830715119</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trươc </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2831675811</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-21 13:24:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2831675811</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2831679277</link>
         <description><![CDATA[<p>Trướ học bản cứng. Giờ nhiều hình thức dạy học</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-21 13:28:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2831679277</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thi Nga 17/11/1996</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2831680020</link>
         <description><![CDATA[<p><strong><em>ứng dụng công nghệ vào giảng dạy có vai trò thúc đẩy giáo dục mở, giúp hoạt động giáo dục đạt hiệu quả cao hơn</em></strong></p><p><strong><em>người dạy và học dễ dàng thu thập, tổng hợp, lưu trữ được lượng kiến thức phong phú đa dạng và được cập nhật thường xuyên</em></strong></p><p>   <strong><em>mang lại sự tiện lợi bởi không gian và thời gian học tập nghiên cứu linh động</em></strong><em>:</em></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-21 13:29:48 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2831680020</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nông Thị Tấm 22/04/2000 - Trường TH và THCS Nam Quang, Bảo Lâm, Cao Bằng</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2831681532</link>
         <description><![CDATA[<p>CNDG có tầm ảnh hướng đến giáo dục</p><ul><li><p>Trước khi có CNGD: GD vẫn diễn ra bình thường tuy nhiên chưa làm cho học sinh là người chủ đạo trong quá trình dạy - học, giáo viên vẫn đóng vai trò chủ đạo</p></li><li><p>Sau khi có CNGD: Giáo viên có thể tận dụng công nghệ để<strong> </strong>đạt được mức năng suất mới, triển khai các công cụ kỹ thuật số hữu ích để mở rộng cơ hội học tập cho học sinh, đồng thời tăng cường hỗ trợ và tham gia của học sinh. Nó cũng cho phép giáo viên cải thiện phương pháp giảng dạy và cá nhân hóa việc học.</p><p>+ Thông qua nội dung hấp dẫn và mang tính giáo dục, giáo viên có thể khơi dậy tính tò mò ở trẻ em và thúc đẩy sự tò mò của chúng, điều mà nghiên cứu cho biết có liên quan đến thành công trong học tập.</p><p>Ví dụ: Trong bài dạy về các loài hoa, trc khi có CNGD thì học sinh chỉ quan sát và hoạc theo gợi ý trong sách còn sau khi có CNGD học sinh được tìm hiểu kĩ hơn, các em có thể được xem các video, clip về sự sinh trưởng và phát triển của cây hoa</p></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-21 13:32:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2831681532</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đồng Thị Tươm. 24/7/1995. Tiểu học Yên Thổ, Bảo Lâm, Cao Bằng. Nếu như trước đây khi nhắc đến công nghệ trong lớp học, chúng ta chỉ thường nghĩ đến những chiếc điện thoại mà học sinh sử dụng. Ngoài những tác động tiêu cực trong việc gây ra sự mất tập trung cho học sinh, nó hầu như không có tác dụng gì tốt.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2831682041</link>
         <description><![CDATA[<p>Tuy nhiên, sau khoảng thời gian chuyển sang hình thức học tập trực tuyến do những tác động của đại dịch Covid-19, việc sử dụng công nghệ trong giảng dạy là điều tất yếu và nó cho thấy những hiệu quả nhất định. Tất cả các giáo viên đều thấy được công nghệ và các công cụ kỹ thuật số đang góp phần tăng sự tương tác, khơi dậy sự đổi mới và khả năng học tập của học sinh.</p><p><br/></p><p>Đó là lý do mà công nghệ đã thay đổi giáo dục, giúp tối đa chức năng của lớp học mặc dù giáo viên và học sinh không nhất thiết phải ở cùng một vị trí.</p><p><strong>Công nghệ cho phép truy cập tốt hơn vào các nguồn tài nguyên</strong></p><p>Nhờ kết nối Internet, học sinh có thể truy cập thông tin trong tầm tay 24 giờ một ngày. Học sinh có thể truy cập vào mọi thứ từ tài liệu nghiên cứu và ứng dụng giáo dục đến giáo dục giải trí tương tác và tài nguyên mở khác. Tuy nhiên, học sinh cũng cần được hướng dẫn về cách tìm các nguồn đáng tin cậy và hướng dẫn về cách trích nguồn tác giả.</p><p>Tại PennSchool, học sinh được tiếp cận với nguồn tư liệu sách online với trên 10,000 đầu sách khác nhau, hỗ trợ cho việc học tập và nghiên cứu của các em học sinh. Các em học sinh có thể đăng nhập vào nguồn tài liệu của trường và tìm kiếm theo chủ đề mà mình quan tâm.</p><p><strong>Công nghệ cải thiện sự tham gia của học sinh</strong></p><p>Công nghệ có thể giúp học sinh bằng cách làm cho việc học trở nên hấp dẫn và tương tác dễ dàng hơn. Bài học không còn khô khan trên sách vở mà được kết hợp với những tài liệu bổ trợ như video, hình ảnh… giúp học sinh nắm kiến thức hiệu quả. Học sinh có thể tham gia vào các hoạt động nhóm ở bất kỳ đâu thông qua các ứng dụng như Google Chat, <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://zoom.us/">Zoom</a>…</p><p>Công nghệ được áp dụng trong hầu hết các môn học của trường. Thông qua công nghệ, các bài toán đơn thuần trở nên thú vị hơn bằng việc kết hợp các thử thách một cách sinh động. Thay vì chỉ ghi nhớ thông tin, học sinh rèn luyện được năng lực tư duy phản biện thông qua các bài tập tương tác trong lớp hoặc tham gia các cuộc thảo luận nhóm dưới sự hỗ trợ của công nghệ.</p><p><strong>Công nghệ hỗ trợ học sinh theo kịp nhịp độ học của lớp</strong></p><p>Trong một lớp học truyền thống, những học sinh đang gặp khó khăn trong việc học các khái niệm mới sẽ nhanh chóng bị tụt lại phía sau các bạn cùng trang lứa. Tuy nhiên, với sự giúp đỡ từ chương trình hỗ trợ học tập sau giờ học như Peer Tutors, Cross-Age Tutoring, Teacher Tutoring, học sinh gặp khó khăn có thể được bổ sung kiến thức kịp thời và hiểu bài hơn. Lúc này, công nghệ đóng vai trò là công cụ giúp giáo viên kết nối học sinh sau giờ học. Đồng thời, nó cũng cung cấp thêm nguồn tài liệu trong quá trình học thêm của các em.</p><p>Tại PennSchool, ngay cả trước khi dịch bệnh diễn ra và việc học trực tuyến trở thành bắt buộc, các giáo viên luôn áp dụng nhiều công nghệ khác nhau giúp bài giảng thêm thú vị và dễ hiểu. Thông qua công nghệ, thầy cô cũng dễ dàng đánh giá được mức độ hiểu bài của học sinh, từ đó có những điều chỉnh cần thiết giúp học sinh đạt được mục tiêu học tập của mình. Đó cũng là lý do mà nhà trường luôn có kế hoạch phát triển và cập nhật các công nghệ mới nhất trong giảng dạy, giúp học sinh có nhiều trải nghiệm thú vị và đáp ứng nhu cầu đổi mới trong giáo dục.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-21 13:32:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2831682041</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2831682610</link>
         <description><![CDATA[<p>TÓM TẮT:</p><p>Ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực giáo dục là việc áp dụng, sử dụng kết hợp những phát minh, những thành tựu của công nghệ vào hoạt động giảng dạy để cải tiến phương pháp, hình thức và công cụ giảng dạy và học tập. Có thể duy trì hoạt động dạy và học trên phạm vi cả nước ở tất cả các cấp học nói chung ngay trong đại dịch Covid từ đầu năm 2020 đến nay bằng hình thức trực tuyến đã thực sự là một minh chứng rõ nét, là bước đột phá trong việc triển khai ứng dụng công nghệ trong giáo dục.</p><p>Bài viết tập trung nghiên cứu, phân tích xu hướng giáo dục đại học trong thời đại số qua đó khẳng định vai trò, tầm quan trọng của ứng dụng công nghệ trong dạy và học đại học tại Việt Nam.</p><p>Từ khóa: giáo dục thông minh, giáo dục 4.0, ứng dụng công nghệ, dạy và học đại học.TÓM TẮT:  Ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực giáo dục là việc áp dụng, sử dụng kết hợp những phát minh, những thành tựu của công nghệ vào hoạt động giảng dạy để cải tiến phương pháp, hình thức và công cụ giảng dạy và học tập. Có thể duy trì hoạt động dạy và học trên phạm vi cả nước ở tất cả các cấp học nói chung ngay trong đại dịch Covid từ đầu năm 2020 đến nay bằng hình thức trực tuyến đã thực sự là một minh chứng rõ nét, là bước đột phá trong việc triển khai ứng dụng công nghệ trong giáo dục.  Bài viết tập trung nghiên cứu, phân tích xu hướng giáo dục đại học trong thời đại số qua đó khẳng định vai trò, tầm quan trọng của ứng dụng công nghệ trong dạy và học đại học tại Việt Nam.  Từ khóa: giáo dục thông minh, giáo dục 4.0, ứng dụng công nghệ, dạy và học đại học.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-21 13:33:40 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2831682610</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hoàng Thị Như TH Cốc Lỳ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2831683459</link>
         <description><![CDATA[<p>Trước khi có CNGD: việc dạy học theo truyền thống. Giáo viên làm trung tâm kiến thức, học sinh là người tiếp thu</p><p>Sau khi có CNGD: việc dạy học được thực hiện dễ dàng hơn do ứng dụng CNGD vào giảng dạy nhanh hơn, sáng tạo hơn, có nhiều tài liệu hơn; thông tin được cập nhật thường xuyên nên học sinh được tiếp cận tài liệu nhanh hơn</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-21 13:35:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2831683459</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nông Mạnh Toàn 30/06/98 trường TH Quảng Lâm</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2831683601</link>
         <description><![CDATA[<p>Thưa thầy em xin phép được trả lời.</p><p>Trong một tiết học khi chưa có CNGD để đảm bảo mức độ hiểu bài của học sinh thì giáo viên rất vất vả trong việc tìm tư liệu, giải thích cho học sinh và mất rất nhiều thời gian. Khi áp dụng CNGD thì việc tìm tư liệu dễ dàng hơn, giảng dạy dễ hiểu hơn, dẫn đến việc hiệu quả trong giảng dạy đạt mức độ cao nhất có thể. </p><p>VD: khi dạy một tiết khoa học về cơ quan trong cơ thể người nếu chỉ sử dụng sách giáo khoa thì học sinh khó có thể tưởng tượng được hình dáng của cơ qua đó như thế nào. Còn khi áp dụng CNGD thì chúng ta có thể cho hs xem video 3D mô phỏng hình dáng của cơ quan đó.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-21 13:35:15 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2831683601</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lục Thị Hằng TH Cốc Lỳ</title>
         <author>lucthihang88</author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2831685129</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-21 13:37:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2831685129</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Trung Đức - 10/01/1993- Trường Tiểu học Lý Bôn.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2831686196</link>
         <description><![CDATA[<p>Theo ý kiến của em nhờ có công nghệ giáo dục mà làm thay đổi toàn bộ các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học. Nhờ có các học liệu số mà bản thân những người dạy và người học có nhiều cách tiếp cận những kiến thức, kĩ năng từ phức tạp trở nên đơn giản hơn từ đó hình thành cho bản thân tinh thần ham học hỏi với những đổi mới của công nghệ đáp ứng phục vụ cho nhu cầu công việc của mình đạt hiệu quả hơn.Nó làm cho việc học tập của bản thân mỗi người trở nên dễ dàng hơn.</p><p>Ví dụ: Trong  môn  lịch sử thay vì chỉ quan sát tranh đọc thông tin trong sách giáo khoa khi áp dụng CNGD thì người giáo viên có thể sử dụng những hình ảnh ngoài sách giáo khoa, những thước phim lịch sử, câu chuyện lịch sử , bài phỏng vấn nhưng nhân vật lịch sử....để học sinh dễ hiểu hơn , tiếp cận tốt hơn với bài học.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-21 13:39:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2831686196</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đào Thu Thảo  10/10/2000 TH Nguyễn Du</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2831686400</link>
         <description><![CDATA[<div>Dạy theo lối cũ chú trọng đến việc cung cấp tri thức, kỹ xảo, học để thi cử, nên thường thi xong người học sẽ quên đi ngay kiến thức đã học trước đó, ngược lại dạy học ngày nay chú trọng đến việc rèn luyện tư duy phân tích, tổng hợp, phản biện, khuyến khích sáng tao, tăng cường hợp tác, dạy phương pháp, rèn kỹ năng đọc hiểu và tự nghiên cứu. Qua đó, người học học để đáp ứng được những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và chuẩn bị hành trang cho tương lai. Người học thấy việc học là cần thiết, giúp ích cho chính mình và gián tiếp mang lại lợi ích cho xã hội.</div><div><br></div><div>Nội dung của dạy học truyền thống gói chọn trong sách vở và những gì nhận được trên lớp do giáo viên truyền đạt. Với cách học hiện đại, người học được tiếp cận kiến thức từ nhiều nguồn khác nhau, đó là: giáo viên, sách, báo, bảo tàng, các học liệu mở, học qua internet. Việc khai thác tìm hiểu những thông tin nào là hoàn toàn tùy thuộc vào nhu cầu, kinh nghiệm của người học. Phương pháp diễn giảng, truyền thụ kiến thức một chiều, hình thức tổ chức cố định giới hạn trong bốn bức tường của lớp học khác xa với hình thức tổ chức lớp ở dạy học hiện đại. Dạy học trong môi trường hiện nay hết sức cơ động và linh hoạt, học ở lớp, học online, học trong phòng thí nghiệm, thực nghiệm ở hiện trường, thực tập tại các nhà máy, doanh nghiệp, tự học cá nhân, học và làm việc theo nhóm.Và trên hết, sự khác nhau đặc biệt giữa dạy và học truyền truyền thống với dạy và học hiện đại đó là việc ứng dụng một cách phổ biến những ứng dụng của khoa học công nghệ hiện đại vào công tác giảng dạy và học tập.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-21 13:39:33 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2831686400</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2831687632</link>
         <description><![CDATA[<p>Trước khi có CNGD việc tiếp cận, chia sẻ, tương tác khó khăn hơn. Sau khi có công nghệ giáo dục thì tiếp cận giáo dục dễ dàng hơn trong nhiều khía cạnh, nâng cao chất lượng học tập và giảng dạy cho giáo viên và học sinh.</p><p><br/></p><p>Với sự phát triển của công nghệ, giáo dục đã trở nên dễ tiếp cận và hiệu quả hơn. Việc sử dụng công nghệ hiện đại mang đến cơ hội nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục cho sinh viên trên khắp thế giới.</p><p><br/></p><p>Khả năng tiếp cận giáo dục</p><p><br/></p><p>Một trong những lợi ích chính của công nghệ trong giáo dục là khả năng mở rộng phạm vi tiếp cận giáo dục cho mọi người.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-21 13:41:31 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2831687632</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2831688031</link>
         <description><![CDATA[<p>Hoàng Thị Hồng Nhung</p><p>30/05/1999</p><p>Trường Tiểu học lý Bôn - Bảo Lâm - Cao Bằng.</p><p>- Trước khi có CNGD việc dạy và học được thực hiện theo phương pháp truyền thống. Giáo viên làm trung tâm trực tiếp giảng giải kiến thức còn học sinh thì chỉ cần lắng nghe, ghi chép rồi học thuộc lại toàn bộ kiến thức. Do chưa có CNGD nên có nhiều hạn chế và khó khăn trong dạy và học.</p><p>-Sau khi có CNGD việc dạy và học được thực hiện dễ dàng hơn. Do ứng dụng CNGD vào giảng dạy nên việc soạn giảng nhanh hơn, sáng tạo hơn, có nhiều tài liệu hơn, thông tin luôn được cập nhật thường xuyên, … HS tiếp cận tài liệu dễ dàng hơn, có nhiều công cụ để học tập hơn,…</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-21 13:42:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2831688031</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2831689029</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Hà Văn Duy 31/03/1996 TH Thạch Lâm</strong></p><p>Trước khi có công nghệ thông tin, HS và GV không có hình ảnh trực quan. Không nắm được hết các đặc điểm của  sự vật, hiện tượng ...</p><p>Sau khi có công nghệ  GD các em HS và GV được quan sát một cách tỉ mỉ, tương tác nhiều hơn với những tri thức mới</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-21 13:43:32 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2831689029</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lý Thị Thanh Hiền - 28/09/2000- TH Lý Bôn</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2831689144</link>
         <description><![CDATA[<p>trước khi có CNGD việc dạy học vẫn diễn ra theo hình thức truyền thống, HS bị thụ động tiếp nhận kiến thức, Giáo viên nói nhiều và là trung tâm trực tiếp giảng dạy cho HS. Còn HS chỉ cần lắng nghe và ghi chép. Chính vì vậy còn tồn tại nhiều khó khăn trong dạy và học. khi xuất hiện CNGD quá trình dạy học diễn ra nhẹ nhàng hơn, HS hứng  thú hơn như thông qua các hình thức trò chơi điện tử, HS được khắc sâu KT, được trải nghiệm.. Thông qua đó, GV dễ dàng hơn trong việc soạn giảng. Nếu như trước đây, GV soạn giáo án tay viết giấy thì rất mất thời gian và khó chỉnh sửa, thì nay công nghệ đã được ứng dụng vào giúp giáo viên bớt phần nào vất vả hơn. bài giảng sẽ ngày càng phong phú hơn, thầy cô dễ dàng chia sẻ bàng giảng với đồng nghiệp., cùng nhau thảo luận và nâng cao chất lượng học tập.</p><p>Thông qua đó sự tương tác giữa người dạy và học cũng được cải thiện đáng kể, HS có cơ hội được nêu ý kiến, thể hiện quan điểm của mình.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-21 13:43:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2831689144</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nông Thị Hương - 22/08/1997 - Trường TH Quảng Lâm</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2831691158</link>
         <description><![CDATA[<p>Trước khi có CNGD: Việc dạy và học được thực hiện theo phương pháp truyền thống. Giáo viên làm trung tâm trực tiếp giảng giải kiến thức còn học sinh thì chỉ cần lắng nghe, ghi chép rồi học thuộc lại toàn bộ kiến thức. Do chưa có CNGD nên có nhiều hạn chế và khó khăn trong dạy và học.</p><p>- Sau khi có CNGD: Việc dạy và học được thực hiện dễ dàng hơn. Do ứng dụng CNGD vào giảng dạy nên việc soạn giảng nhanh hơn, sáng tạo hơn, có nhiều tài liệu hơn, thông tin luôn được cập nhật thường xuyên,... HS tiếp cận tài liệu dễ dàng hơn, có</p><p>Ví dụ:</p><p>Thay vì dạy học truyền thống trên lớp học giấy trắng bảng đen. Ứng dụng công nghệ dạy học, giáo viên có thể mở lớp học qua nền tảng lớp học ảo, các khóa học trực tuyến, sử dụng tính năng bảng trắng kỹ thuật số Whiteboard, trang bị màn hình tương tác thông minh trong lớp học…</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-21 13:45:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2831691158</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vy Thị Huế - 17/08/1996 - Trường TH Lý Bôn</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2831692177</link>
         <description><![CDATA[<p><br/></p><p><strong> Đối với người học</strong></p><p>“Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học để làm người”, đó là bốn trụ cột của giáo dục mà tổ chức UNESCO đưa ra. Giáo dục phải tạo ra những giá trị thực sự phù hợp với nhịp sống của thời đại mới, trong quá trình học HS được nghiên cứu, trải nghiệm, tự nắm bắt được kiến thức tạo nên những con người có đức, có tài sẽ công hiến hết mình cho sự phát triển của xã hội.</p><p><br/></p><p><strong> Đối với người dạy</strong></p><p>Dạy học dựa trên nhu cầu của người học và biết cách tổ chức để học sinh, sinh viên thực hiện bằng được những nhu cầu bản thân là cả một nghệ thuật thầy  không chỉ là một người truyền đạt kiến thức mà còn là người chia sẽ các phương pháp học tập, nghiên cứu khoa học và cách tích lũy, tìm tòi kiến thức; giúp người học phát huy được khả năng tự nghiên cứu, tự học của bản thân thông qua các HĐ trải nghiệm khám phá</p><p><br/></p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-21 13:47:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2831692177</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2831693030</link>
         <description><![CDATA[<p>Nông Viết Mạnh 12/05/1996- Trường TH Thạch Lâm </p><p>TL: Với sự phát triển của công nghệ, GD đã trở nên dễ tiếp cận và hiệu quả hơn. Việc sử dụng công nghệ hiện đại mang đến cơ hội nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục cho học sinh.</p><p><strong>Khả năng tiếp cận giáo dục</strong></p><p>Một trong những lợi ích chính của công nghệ trong giáo dục là khả năng mở rộng phạm vi tiếp cận giáo dục cho mọi người.&nbsp;</p><p>Nhờ có internet và các nền tảng học trực tuyến, mọi người từ khắp nơi trên thế giới có khả năng truy cập các khóa học và tài liệu mà trước đây họ chỉ có thể tiếp cận theo cách tuyền thống.</p><p>Ngoài ra, việc học trực tuyến có thể linh hoạt và phù hợp với nhu cầu của từng người.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-21 13:48:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2831693030</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2831693181</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Triệu Thị Liễu 25/06/1996 TH Thạch Lâm</strong></p><p>Trước khi có CNGD đa số HS học tập được chỉ thông qua  GV truyền thụ. HS không được quan sát trực quan. Khó được tiếp xúc với những tri thức đó. Còn sau khi CNGD, GV và HS thực hiện dạy và học nhanh hơn. HS tiếp thu nhanh hơn, được thực hiện tương tác nhiều hơn. Tạo hứng thú cho các em HS.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-21 13:48:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2831693181</guid>
      </item>
      <item>
         <title>lâm Thị Lập -27/02/2000-Trường TH Quảng Lâm </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2831693270</link>
         <description><![CDATA[<p>Trước khi có CNGD: Việc dạy và học được thực hiện theo phương pháp truyền thống. Giáo viên làm trung tâm trực tiếp giảng giải kiến thức còn học sinh thì chỉ cần lắng nghe, ghi chép rồi học thuộc lại toàn bộ kiến thức. Do chưa có CNGD nên có nhiều hạn chế và khó khăn trong dạy và học.</p><p>- Sau khi có CNGD: Việc dạy và học được thực hiện dễ dàng hơn. Do ứng dụng CNGD vào giảng dạy nên việc soạn giảng nhanh hơn, sáng tạo hơn, có nhiều tài liệu hơn, thông tin luôn được cập nhật thường xuyên,... HS tiếp cận tài liệu dễ dàng hơn, có</p><p>Ví dụ:</p><p>Thay vì dạy học truyền thống trên lớp học giấy trắng bảng đen. Ứng dụng công nghệ dạy học, giáo viên có thể mở lớp học qua nền tảng lớp học ảo, các khóa học trực tuyến, sử dụng tính năng bảng trắng kỹ thuật số Whiteboard, trang bị màn hình tương tác thông minh trong lớp học…</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-21 13:48:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2831693270</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2833985687</link>
         <description><![CDATA[<p>Họ và tên: Chu Nông Thơ</p><p>Sinh ngày: 11/05/1997</p><p>Trường: Tiểu học Nam Cao</p><p>&nbsp;</p><p>Qua những phân tích về xu thế giáo dục hiện đại một lần nữa ta phải khẳng định một điều là vai trò của việc ứng dụng khoa học công nghệ vào đời sống nói chung và trong lĩnh vực giáo dục nói riêng vô cùng to lớn. Vai trò đó được thể hiện ở những khía cạnh chính sau đây:</p><p><strong><em>Thứ nhất, ứng dụng công nghệ vào giảng dạy có vai trò thúc đẩy giáo dục mở, giúp hoạt động giáo dục đạt hiệu quả cao hơn</em></strong><em>:</em>&nbsp;Công nghệ thúc đẩy một nền giáo dục mở, giúp con người tiếp cận thông tin đa chiều, rút ngắn khoảng cách, thu hẹp mọi không gian, tiết kiệm tối ưu về thời gian. Từ đó con người phát triển nhanh hơn về kiến thức, nhận thức và tư duy. Chương trình giáo dục mở giúp con người trao đổi và tìm kiếm kiến thức một cách hiệu quả. Học và dạy hiện đại yêu cầu cần phải tiếp cận một vấn đề từ nhiều nguồn thông tin khác nhau, dưới nhiều góc nhìn khác nhau, qua đó người đọc có được cái nhìn phổ quát, có cơ hội đào sâu kiến thức, tìm ra được bản chất cốt yếu, nguyên nhân sâu xa của vấn đề, góp phần nâng cao kiến thức, thay đổi tư duy, điều này gián tiếp giúp cho công tác học tập nghiên cứu đạt hiệu quả cao hơn. Đi kèm với giáo dục mở là tài nguyên học liệu mở, giúp người học, người dạy kết nối với kiến thức hiệu quả dù họ ở đâu và trong khoảng thời gian nào. Tài nguyên học liệu mở là một xu hướng phát triển tất yếu của nền giáo dục hiện đaị.</p><p><strong><em>Thứ hai, người dạy và học dễ dàng thu thập, tổng hợp, lưu trữ được lượng kiến thức phong phú đa dạng và được cập nhật thường xuyên</em></strong>: Với giáo dục truyền thống, sinh viên tiếp nhận kiến thức chủ yếu từ sách vở, giáo trình và ngồi nghe giáo viên giảng trên lớp thì hiện nay, nguồn kiến thức đa dạng này được cung cấp trực tuyến qua kết nối internet, chúng ta có thể tìm thấy hàng nghìn hàng triệu kết quả tra cứu sau một cú click chuột.&nbsp;<strong>Công nghệ giúp truy cập tức thời tới các nguồn tri thức,&nbsp;</strong>từ kiến thức phổ thông tới tri thức học thuật đều có thể dễ dàng tìm kiếm và áp dụng trong các quy trình giảng dạy thông qua các hệ thống tra cứu của thư viện, các máy tìm kiếm (search engines) như Google Search, Google Scholars, Google Books, các cơ sở dữ liệu học thuật như Scopus, các mạng xã hội học thuật như Academia, Resarch Gates,… Trong giáo dục hiện đại, người dạy là người truyền thu kiến thức cơ bản, cốt lõi, đóng vai trò là người hướng dẫn người học cách thức khai thác thông tin dồi dào, đa chiều từ Internet. Điều này đóng một vai trò to lớn trong quá trình đổi mới giáo dục giúp cá nhân hóa học tập, rèn luyện, nâng cao tinh thần học tập chủ động, học tập đi đôi với thực tiễn, nhằm phát huy tối đa tính sáng tạo của mình.</p><p><strong><em>Thứ ba là mang lại sự tiện lợi bởi không gian và thời gian học tập nghiên cứu linh động</em></strong><em>:</em>&nbsp;Người học có thể tự học ở mọi lúc (bất kể thời gian nào được cho là phù hợp với từng cá nhân), mọi nơi (bất kể nơi nào miễn có kết nối internet với chương trình trực tuyến, hoặc có thể lưu lại để học trên máy tính, điện thoại (khi không có kết nối internet). Ứng dụng công nghệ cho phép tất cả mọi người có thể tham gia thảo luận một vấn đề nào đó (hội thảo, hội nghị, họp,…) mà không cần phải tập trung tại một địa điểm, không phải ở cùng 1 quốc gia, &nbsp;qua đó góp phần tạo ra một xã hội học tập rộng lớn mà ở đó, người học có thể chủ động học tập, trao đổi kiến thức, trau dồi kinh nghiệm suốt đời.</p><p><strong><em>Thứ tư là vai trò trong việc thúc đẩy phát triển năng lực cá nhân:</em></strong>&nbsp;Với sự thuận tiện cho việc học ở mọi lúc mọi nơi, ứng dụng công nghệ sẽ tạo cơ hội cho người học có thể lựa chọn những vấn đề mà mình ưa thích, phù hợp với năng khiếu, sở thích, từ đó phát triển theo thế mạnh của từng người. Chính điều đó sẽ thúc đẩy sự phát triển của các tài năng. Chương trình học sẵn có, học liệu mở phong phú khiến cho việc tra cứu dễ dàng sẽ gián tiếp thúc đẩy các cá nhân chủ động trang bị thêm nhiều những kiến thức mới, lấp đầy những lỗ hổng, kích thích tìm tòi, khám phá và sáng tạo. Bên cạnh đó, với&nbsp;<strong>công nghệ phù hợp, hấp dẫn nên dễ dàng gắn kết người học</strong>. Các thiết bị như máy tính, máy tính bảng, điện thoại thông minh có kết nối Internet đều là những công cụ mà người học có thể sử dụng ở nhà hay bất cứ đâu ngay cả trên đường di chuyển. Do đó, người học sẽ thoải mái và tích cực hơn khi dùng các công cụ này để kết nối với bạn học, thầy cô và với nhà trường. Sử dụng công nghệ trong lớp học giúp người học dễ dàng biểu thị mối quan tâm, sự chú ý, những mong đợi và thái độ tích cực với việc học, qua đó nâng cao chất lượng dạy và học.</p><p><strong><em>Thứ năm là vai trò trong việc nghiên cứu, chuyển giao KHCN:</em></strong>&nbsp;Việc ứng dụng công nghệ thông tin nói chung trong quản trị hoạt động nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ trong các trường đại học bao gồm các nội dụng cơ bản như: Ứng dụng trong quản trị việc đăng ký và cấp mã số các đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ; Ứng dụng trong quản trị hoạt động nghiên cứu khoa học của chủ thể nghiên cứu khoa học; Ứng dụng trong quản trị đầu ra của sản phẩm nghiên cứu khoa học; Ứng dụng trong quản trị và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Như vậy, các trường đại học, làm tốt việc ứng dụng công nghệ trong quản trị hoạt động nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ, sẽ góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cho người làm công tác nghiên cứu khoa học, qua đó cũng nâng tầm vị thế, khẳng định được thương hiệu, xây dựng được hình ảnh của các cơ sở giáo dục đào tạo.</p><p><strong><em>Thư sáu,&nbsp;đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao về chất lượng</em></strong><em>&nbsp;</em><strong><em>nguồn nhân lực, thích ứng nhanh với công việc trong tương lai:</em></strong>&nbsp;Xu hướng giáo dục và đào tạo ngày nay là đào tạo đi đôi với sử dụng, dạy nghề đi đối với hướng nghiệp ngày càng trở nên phổ biến đối với các trường đại học ở trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Việc người học được tiếp cận những ứng dụng công nghệ ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường sẽ giúp rèn luyện những kỹ năng thực hành, làm việc trong môi trường công nghệ, khi ra trường sẽ sớm hòa nhập với môi trường làm việc mới đòi hỏi những kỹ năng cũng như hiểu biết nhất định về công nghệ. Trên thực tế không chỉ dừng ở kỹ năng số, người học còn được rèn kỹ năng mềm, tư duy phản biện, khả năng nghiên cứu độc lập, và thành thạo trong phối hợp sử dụng công nghệ nên nhanh chóng đáp ứng được những đòi hỏi cấp thiết của thực hiễn thực hành nghề nghiệp. Do đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục có tác động trực tiếp đến nguồn nhân lực có chất lượng cao cho doanh nghiệp, tạo điều kiện mở rộng hợp tác lao động. Việc hợp tác lao động trên thị trường, sẽ tạo sự liên kết giữa nhà trường - doanh nghiệp - người học, mang lại lợi ích cho tất cả các các bên: Đối với người học, được cam kết tuyển dụng ngay sau khi tốt nghiệp. Đối với nhà trường, sẽ nâng cao thương hiệu, uy tín và vị thế trên thị trường giáo dục, đồng thời ngày càng thu hút được người học. Đối với doanh nghiệp, mô hình này sẽ giúp họ chủ động nguồn nhân lực được đào tạo bài bản theo đúng yêu cầu của doanh nghiệp.</p><p>Như vậy, ứng dụng công nghệ trong giảng dạy và học tập hay nói cách khác việc đổi mới chương trình đào tạo theo hướng cập nhật các công nghệ tiên tiến, hiện đại sẽ là nền tảng để cung ứng được nguồn nhân lực dồi dào có chất lượng cao cho nền kinh tế thị trường hiện nay.</p><p>Có thể thấy việc ứng dụng công nghệ vào giảng dạy là một xu thế tất yếu, có vai trò quan trọng và sẽ đem lại lợi ích nhất định cho các cá nhân, tập thể và cho toàn xã hội. Khi nhận thức được vấn đề này một cách rõ ràng và chắc chắn, chúng ta sẽ sẵn sàng chấp nhận, tích cực phấn đấu, thay đổi tư duy, chung tay đổi mới toàn diện giáo dục theo hướng hiện đại.</p><p><strong>Đối với người dạy:&nbsp;</strong>Nâng cao tính sáng tạo và trở nên linh hoạt hơn trong quá trình giảng dạy của mình. Thầy cô không chỉ bó buộc trong khối lượng kiến thức hiện có mà còn được tìm hiểu thêm và kết nối những kiến thức của cả những chuyên ngành khác như tin học và học hỏi được các kỹ năng sử dụng hình ảnh, âm thanh trong việc thiết kế bài giảng; Bài giảng ngày càng phong phú, hấp dẫn hơn; Dễ dàng chia sẻ bài giảng với đồng nghiệp, cùng nhau thảo luận và nâng cao chất lượng bài giảng của mình.</p><p><strong>Đối với người học:</strong>&nbsp;Được tiếp cận phương pháp dạy học mới hấp dẫn hơn hẳn phương pháp đọc - chép truyền thống; Sự tương tác giữa thầy cô và học trò cũng được cải thiện đáng kể, học sinh có nhiều cơ hội được thể hiện quan điểm cũng như chính kiến riêng của mình; Giúp cho giáo viên hiểu thêm về năng lực, tính cách và mức độ tiếp thu kiến thức của học trò, từ đó có những điều chỉnh phù hợp và khoa học để thúc đẩy phát triển năng lực của từng cá nhân người học; Rèn luyện kỹ năng cần thiết ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2023-12-26 09:17:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/dinhminh2609/3goqoykutr2toknk/wish/2833985687</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
