<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title>Ghé thăm nền Văn học Trung đại Việt Nam by Hang Vu</title>
      <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8</link>
      <description>Trải nghiệm, khám phá để thêm yêu và tự hào vì được là người Việt!</description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2021-12-02 14:45:27 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2026-03-03 21:55:28 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url>https://saigonstartravel.com/wp-content/uploads/2020/02/van-mieu-quoc-tu-giam-ghe-tham-truong-dai-hoc-dau-tien-cua-viet-nam-2.jpg</url>
      </image>
      <item>
         <title>Hoàn cảnh Lịch Sử- Xã hội- Văn hóa</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1927289918</link>
         <description><![CDATA[<div>Văn học Trung đại Việt Nam luôn:<br>– <mark>Gắn bó</mark> với vận mệnh đất nước và số phận của con người.<br>– <mark>Tiếp nhận </mark>nguồn VHDG<br>– Từng bước <mark>tiếp thu</mark> văn hoá Trung Hoa trên cơ sở tinh thần và bản lĩnh dân tộc, từng bước phát triển bộ phận văn chương bác học và xác lập những giá trị văn học đậm đà bản sắc dân tộc, vận động theo chiều hướng dân tộc hoá và dân chủ hoá.<br>– <mark>Phản ánh</mark> sắc nét những cuộc đấu tranh không ngừng vì khát vọng độc lập dân tộc và những giá trị tinh thần cao cả của con người.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-03 13:19:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1927289918</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Biểu hiện của cảm hứng yêu nước và tinh thần nhân đạo trong văn học trung đại</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1927301548</link>
         <description><![CDATA[<div><br></div><div><em><mark>1.Chủ nghĩa yêu nước:</mark></em> Là nội dung lớn và xuyên suốt trong tiến trình của văn học trung đại.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; Hiếm thấy một dân tộc nào trên thế giới lại phải liên tục tiến hành những cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm như dân tộc Việt Nam. Nhà Tiền Lê, nhà Lý chống Tống. Nhà Trần chống Nguyên Mông. Nhà Hậu Lê chống giặc Minh. Quang Trung chống giặc Thanh... Những cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại được tiến hành trong trường kỳ lịch sử nhằm bảo vệ nền độc lập, thống nhất của Tổ quốc không những tôi luyện bản lĩnh dân tộc, nâng cao lòng tự hào, tự tin, khí thế hào hùng của dân tộc mà còn góp phần làm nên một truyền thống lớn trong văn học Việt Nam: CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;- Biểu hiện của chủ nghĩa yêu nước:Gắn với tư tưởng “trung quân ái quốc"</div><ul><li>Ý thức độc lập tự chủ, tự cường, tự hào dân tộc.</li><li>&nbsp;Lòng căm thù giặc, xót xa bi tráng lúc nước mất nhà tan.</li><li>Tinh thần quyết chiến quyết thắng kẻ thù.</li><li>&nbsp;Biết ơn ca ngợi những người hi sinh vì nước.</li><li>Trách nhiệm khi xây dựng đất trong thời bình.&nbsp;</li><li>Tình yêu thiên nhiên.</li></ul><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Quá trình đấu tranh giữ nước tác động sâu sắc đến sự phát triển của văn học nên chế độ phong kiến có thể hưng thịnh hay suy vong nhưng ý thức dân tộc, nội dung yêu nước trong văn học vẫn phát triển không ngừng.<br><mark><br>&nbsp; &nbsp;</mark><em><mark>2 . Chủ nghĩa nhân đạo:</mark></em> Tinh thần nhân đạo là một điều cần có để một tác phẩm trở thành bất tử đối với nhân loại.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;- Biểu hiện của chủ nghĩa nhân đạo:</div><ul><li>Lối sống “ thương người như thể thương thân ”</li><li>Lên án tố cáo những thế lực tàn bạo chà đạp con người,lên quyền sống, quyền hạnh phúc của con người</li><li>Khẳng định đề cao phẩm chất tài năng, những khát vọng chân chính ( quyền sống, quyền hạnh phúc, quyền tự do, công lí, chính nghĩa… ) của con người</li><li>Cảm thông chia sẻ với số phận bất hạnh của con người.</li><li>Đề cao giá trị tốt đẹp của cuộc sống; niềm tin vào vẻ đẹp tâm hồn của những kiếp người nhỏ bé trong xã hội.</li></ul><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Cảm hứng nhân đạo trong giai đoạn này hướng vào quyền sống của con người, nhất là con người trần thế; ý thức về cá nhân đậm nét hơn, ý thức về quyền sống cá nhân, hạnh phúc cá nhân, tài năng cá nhân.... qua các tác phẩm như <em>Tự tình</em> (Hồ Xuân Hương), <em>Bài ca ngất ngưởng</em> (Nguyễn Công Trứ)….<br><br> <mark>&nbsp; </mark><em><mark>3. Cảm hứng thế sự:</mark></em></div><ul><li>Bày tỏ suy nghĩ, tình cảm về cuộc sống con người, về việc đời.</li><li>Tác giả hướng tới hiện thực cuộc sống, xã hội đương thời để ghi lại “những điều trông thấy”.</li><li>Viết về nhân tình thế thái: Nguyễn Bỉnh Khiêm.</li><li>Đời sống nông thôn: Nguyễn Khuyến.</li><li>Xã hội thành thị: Trần Tế Xương.</li></ul><div><br></div><div><br>&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-03 13:24:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1927301548</guid>
      </item>
      <item>
         <title>* Vị trí của Văn học Trung đại Việt Nam: </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1927302666</link>
         <description><![CDATA[<div>Văn học trung đại có vị trí cực kì quan trọng trong nền văn học dân tộc.</div><div>-&nbsp; &nbsp; Nó có tính chất <strong>mở đầu</strong> cho văn học viết Việt Nam.<br> -&nbsp; &nbsp; Đóng <strong>vai trò to lớn</strong> trong việc hình thành, kết tinh những truyền thông quý báu của văn học dân tộc..<br>- <strong>Kế thừa và phát huy tinh hoa </strong>văn học dân gian</div><div>-&nbsp; &nbsp; Các giai đoạn phát triển của văn học trung đại Việt Nam có mối quan hệ với hoàn cảnh lịch sử, tư tưởng:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; + Giai đoạn văn học từ thế kỉ X đến thế kỉ XIV&nbsp;<br>+ Giai đoạn văn học từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVII&nbsp;<br>+ Giai&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;đoạn văn học từ thế kỉ XVII đến nửa đầu thế kỉ XIX + Giai đoạn văn học nửa cuối thế kỉ XIX</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-03 13:25:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1927302666</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Sự thể hiện nội dung yêu nước và nhân đạo qua một số tác phẩm văn học</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1927316238</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><br></strong><em><mark>1. Nội dung yêu nước</mark></em><em><br></em>- <em>Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc</em> (Nguyễn Đình Chiểu): Sự biết ơn những người đã hi sinh vì Tổ quốc.<br>-Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi): Khẳng định chính nghĩa vốn được xây nền từ truyền thống văn hiến, vị thế chủ động của một đất nước có chủ quyền và niềm tự hào trước thế hệ anh hùng hào kiệt.</div><div>– Bạch Đằng giang phú (Trương Hán Siêu):</div><ul><li>Khái quát những quy luật lớn lao của cõi sông nước.</li><li>Khẳng định cơ sở chiến thắng là con người, tài trí con người.</li><li>Ca ngợi hai vị vua như là biểu tựơng của người tài đức, văn võ song toàn.</li></ul><div>– Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão.</div><ul><li>&nbsp;Khí thế ba quân và hình ảng võ tướng, người anh hùng mang tầm vóc vũ trụ đo điếm bằng chiều kích của giang sơn núi rộng sông dài.</li></ul><div><br></div><div><em><mark>2. Nội dung nhân đạo</mark></em><em><br></em>– Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi: Khát vọng về đất nước thái bình ND được ấm no hạnh phúc.<br>– Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn: Tiếng kêu thương của người phụ nữ chờ chồng, nhớ thương chồng đi chinh chiến phương xa. Con người cá nhân được gắn liền với nỗi lo sợ tuổi trẻ, hạnh phúc chóng phai tàn do chiến tranh.<br>– Cung oán ngâm của Nguyễn Gia Thiều: Lên án chế độ cung tần mĩ nữ trong cung vua phủ chúa ngày xưa. Nỗ đau của người cung nữ bị Vua ruồng bỏ.<br>- <em>Truyện Kiều</em> (Nguyễn Du) đề cao vai trò của tình yêu, biểu hiện cao nhất của sự đề cao con người cá nhân. Tình yêu không chỉ đem lại cho con người vẻ đẹp cuộc sống, qua tác phẩm, nhà thơ muốn đặt ra và chống lại định mệnh.<br>- Thơ Hồ Xuân Hương là con người cá nhân bản năng khao khát sống, khao khát hạnh phúc, tình yêu đích thực, bày tỏ thẳng thắn những ước mơ của người phụ nữ với cá tính mạnh mẽ.<br><br></div><div><br>=&gt; Nhìn chung nội dung yêu nước và nhân đạo gắn bó với nhau, bổ sung cho nhau và là những giá trị luôn tồn tại trong nhau, làm nên hai dòng chủ lưu trong nền văn học dân tộc.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-03 13:32:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1927316238</guid>
      </item>
      <item>
         <title>* Khái niệm của văn học Trung đại Việt Nam:                                                                                     kiến Việt Nam) cho đến hết thế kỉ XIX.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1927322898</link>
         <description><![CDATA[<div>- <strong><mark>VHTĐ</mark></strong> là một cách gọi mang tính quy ước, đó là một giai đoạn mà văn học <strong>hình thành và phát triển trong khuôn khổ của nhà nước phong kiến . </strong>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <br>- Được gọi bằng những cái tên khác nhau:<strong> văn học thành văn, văn học phong kiến, văn học cổ đại,...&nbsp; &nbsp; &nbsp; </strong>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<br>- Và được phát triển trong một môi trường xã hội phong kiến với ý thức hệ nho giáo, thi pháp văn chương cổ điển .&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<br>&nbsp;- Nền văn học trung đại được xác định <strong>từ thế kỉ X - Hết XIX</strong></div>]]></description>
         <enclosure url="https://danhgiasach.com/wp-content/uploads/2019/12/van-hoc-viet-nam-trung-dai-1-e1577800542420.jpg" />
         <pubDate>2021-12-03 13:35:32 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1927322898</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Chặng 1 : Từ thế kỉ X đến thế kỉ  XIV</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1927337506</link>
         <description><![CDATA[<div><br>&nbsp;-&nbsp; <strong>Hoàn cảnh lịch sử :<br>&nbsp; &nbsp;</strong>+ Năm 938 , Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán&nbsp; trên sông Bạch Đằng .<br>&nbsp; &nbsp;+<mark> Mở ra 1 kỉ nguyên mới cho đất nước : Đó là đất nước độc lập , chấm dứt hơn 1000 năm bắc thuộc</mark>. <br><br></div><div>-<strong>Nội dung :</strong> Tinh thần yêu nước với âm hưởng hào hùng , <mark>đặc biệt là giai đoạn nhà Trần với hào khí Đông A sục sôi</mark>. Hào khí Đông A là hào khí nhà Trần , là câu nói dùng để chỉ ý chí mạnh mẽ , oai hùng, hào sảng của thời nhà Trần.<br><br></div><div>-<strong> Nghệ thuật : </strong>Văn học viết được ra đời&nbsp; ( thế kỉ X) và sự xuất hiện của văn học chữ Nôm ( cuối thể kỉ XIII) . Không phân biệt văn – sử- triết . <mark>Tiếp thu</mark> các thể loại của Trung Quốc nhưng không lấy toàn bộ như là Truyện kiều của Nguyễn Du <br>&nbsp; <strong>- Tác giả , tác phẩm : </strong>Các tác phẩm như Vận nước ( Quốc tộ ) của Pháp Thuận ;&nbsp; Chiếu dời đô của Lí Công Uẩn , Tỏ lòng ( Thuận&nbsp; Hoài ) ,… . Sông núi nước Nam . <br><mark>*&nbsp; &nbsp; &nbsp;</mark><strong><mark>Một số nhận xét về các tác phẩm nổi tiếng :</mark></strong><strong><br></strong><br></div><div>+ Chiếu dời đô : Nhận xét 1 : Chiếu dời đô hay Thiên đô chiếu là bài chiếu có ý nghĩa rất lớn đối với lịch sử Hoa Lư và Thăng&nbsp; Long . Nó làm nên <mark>tính chất trọng đại của hành trình 1000 năm lịch sử từ Hoa Lư đến Thăng Long – một bước ngoặt hào hùng của dân tộc Việt Nam . </mark><br><br></div><div>&nbsp;+ Hịch tướng sĩ : Là bài hịch thể hiện tinh thần <mark>yêu nước</mark> và <mark>lòng căm thù giặc</mark> sâu sắc của Trần Quốc Tuấn , thông qua đó thể hiện ý chí quyết thắng kẻ thù xâm lược . Bài hịch này đã kêu gọi được <mark>tinh thần đồng lòng chống giặc của nhân dân và toàn thể tướng sĩ . </mark><br><br></div><div>&nbsp;+ Đại Việt sử kí : Đại Việt sử kí là một tác phẩm vô cùng <mark>đáng giá</mark> , không chỉ giúp người đọc có được <mark>cái nhìn chân thực nhất</mark> về từng thời kỳ lịch sử mà còn <mark>tôn vinh</mark> lên bề dày lịch sử Việt Nam .&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://lh6.googleusercontent.com/qeru_u8NxFAhMluExdXVTRhb6tjGHrZEEU2lL9bZnykIDQTylw-c1y6-kW_HC5xllr7cqnj2DsI5bXaW3FzG-f_UwqGVyMzZwERpW_G9QsSZFtf4k17JL97aRf4LeB4TYC7p4Rbf1qzO_7X4_w=w1200-h630-p-k-no-nu" />
         <pubDate>2021-12-03 13:41:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1927337506</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Chặng 2: Từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVII</title>
         <author>dungnguyenhs1509</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1927357733</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>- Hoàn cảnh lịch sử - xã hội:</strong><br>&nbsp; + Văn học thời kì này <mark>được đánh dấu sau chiến thắng quân Minh, sau dần dần xuất hiện những cuộc nội chiến gay gắt</mark>.<br>&nbsp; + Chế độ phong kiến ngày càng khủng hoảng.<br><strong>- Nội dung:</strong><br>&nbsp; + <mark>Ngợi ca</mark> tư tưởng nhân nghĩa, yêu nước và chủ nghĩa anh hùng <br>&nbsp; + <mark>Phản ánh số phận con người</mark> miệt mài đau khổ trên mũi nhọn của <mark>phong kiến mục rữa.</mark><br><strong>- Nghệ thuật:<br>&nbsp;</strong>&nbsp;+<strong> </strong>Văn học <mark>có sự chuyển biến</mark> mạnh mẽ theo hướng <mark>dân tộc hóa </mark>về cả nội dung lẫn hình thức.<br>&nbsp; +<mark> Văn học chữ Hán</mark> cùng <mark>văn học chữa Nôm</mark> phát triển <mark>song song.</mark><br>&nbsp; + Văn học chữ hán ngày càng <mark>phong phú </mark>hơn với nhiều <mark>thể loại mới.</mark><br>&nbsp; + Các <mark>thể loại </mark>văn học từ <mark>Trung Quốc</mark>, được <mark>tiếp thu</mark> và <mark>Việt hóa </mark>theo hướng phát triển của văn học chữ Nôm. Xuất hiện nhiều <mark>thể loại văn học dân tộc mới.</mark><br><strong>- Các tác giả - tác phẩm tiêu biểu:</strong><br>&nbsp; + "Truyền kì mạn lục" của Nguyễn Dữ: Giáo sư Đinh Gia Khánh trong giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam đã không tiếc lời khen: "Truyền kì mạn lục tuy có vẻ ngoài là <mark>những chuyện kỳ lạ</mark> xảy ra hàng nghìn năm về trước nhưng thực chất lại <mark>phản ánh</mark> được những phần sâu sắc của <mark>hiện thực đương thời".</mark><br>&nbsp; + "Quốc Âm thi tập" của Nguyễn Trãi: được Xuân Diệu ví như "<mark>tác phẩm mở đầu nền thơ cổ điển Việt Nam</mark>". <br>&nbsp; + " Bình Ngô Đại Cáo" của Nguyễn Trãi:<br>được coi là <mark>bản tuyên ngôn độc lập</mark> mạnh mẽ và cương quyết.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; "Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi"<br>=&gt; <mark>Văn học trung đại từ thế kỉ XV đến XVII</mark> đã có nhiều <mark>thành tựu rực rỡ.</mark> Dù là văn học chữa Nôm hay chữ Hán vẫn thể hiện <mark>đậm đà bản sắc dân tộc</mark>, giàu nghệ thuật, phong phú và phát triển lớn mạnh.</div><div><br><br></div><div><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484180584/305bbfd642d3dc1f6c9675d3a50abac2/t_i_xu_ng__9_.jpg" />
         <pubDate>2021-12-03 13:50:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1927357733</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Chặng 3: Từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1927419803</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>- Hoàn cảnh lịch sử - xã hội :<br>&nbsp; &nbsp;</strong>+<mark> Chế độ phong kiến khủng hoảng</mark> trầm trọng.<br>&nbsp; &nbsp;+ <mark>Phong trào Tây Sơn</mark>,<mark> lật đổ </mark>các<mark> tập đoàn phong kiến</mark> của chúa Nguyễn (Đàng Trong), vua Lê chúa Trịnh (Đàng Ngoài); quân Xiêm ở phía nam, nhà Thanh ở phía bắc nhưng về sau <mark>chúa Nguyễn vẫn</mark> quay trở lại <mark>nắm chính quyền</mark>.<br>=&gt; Văn học viết vẫn phát triển và đạt đến độ rực rỡ nhất.<br><strong>- Nội dung :<br>&nbsp; &nbsp;</strong>+ Phơi bày <mark>hiện thực xã hội bất công</mark> và <mark>quan tâm đến số phận con người bình thường</mark>.<br>&nbsp; &nbsp;+ <mark>Đấu tranh đòi quyền sống</mark>, quyền hưởng<mark> hạnh phúc lứa đôi</mark>.<br>=&gt; Những <mark>quy phạm</mark> vốn chặt chẽ của <mark>văn học trung đại</mark> trở nên <mark>lỏng lẻo dần</mark>.<br><strong>- Nghệ thuật :<br>&nbsp; &nbsp;</strong>+<strong> </strong><mark>Từ Hán Việt</mark> được sử dụng <mark>linh hoạt</mark> và <mark>tinh tế</mark>.<br>&nbsp; &nbsp;+ <mark>Lời ăn tiếng nói hằng ngày</mark> của <mark>nhân dân</mark> đã đi vào thơ ca.<br>&nbsp; &nbsp;+ <mark>Ngôn ngữ mềm mại</mark>, <mark>giàu sức biểu cảm</mark> và <mark>vươn tới trình độ thẩm mĩ cô điển</mark>.<br>=&gt; Đánh dấu bước trưởng thành <mark>vượt bậc</mark> của <mark>tiếng Việt văn học</mark>.<br><strong>- Các tác giả, tác phẩm tiêu biểu : </strong><br>&nbsp; &nbsp;+ "Truyện Kiều" - Nguyễn Du: truyện thơ Nôm đã đưa Nguyễn Du lên hàng danh nhân văn hóa thế giới. “Truyện Kiều là một tiếng khóc vĩ đại… Nguyễn Du đã nhìn thấy, đã cảm xúc, đã tổng kết hàng vạn vạn đau khổ của người đời dưới chế độ phong kiến suy đồi” (Xuân Diệu)</div><div>&nbsp; &nbsp;+ ''Chinh phụ ngâm'' - Đặng Trần Côn: phản ánh thái độ oán ghét chiến tranh phong kiến phi nghĩa, đề cao quyền sống, khao khát tình yêu của con người.<br>&nbsp; &nbsp;+ ''Hoàng Lê nhất thống chí'' - Ngô gia văn phái: thuộc thể loại tiểu thuyết chương hồi, phản ánh cuộc tranh chấp quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến thời Lê và phong trào Tây Sơn.<br>=&gt; Đánh dấu <mark>thời kì toàn thịnh</mark> của <mark>văn học trung đại Việt Nam</mark> và tạo ra những biến đổi về chất so với các thời kì trước.<br>&nbsp; &nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484350492/4e3b2636b2bbb19da2818e0ead549fe8/maxresdefault.jpg" />
         <pubDate>2021-12-03 14:17:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1927419803</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Chặng 4 : Nửa cuối thế kỉ XIX</title>
         <author>halap78</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1927423312</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>- Hoàn cảnh lịch sử - xã hội :<br></strong>&nbsp; + Triều đình cùng <mark>chế độ phong kiến suy tàn</mark> trầm trọng<br>&nbsp; + Thực dân <mark>Pháp xâm lược</mark> nước ta<br>&nbsp; + Những cuộc <mark>kháng chiến bùng nổ</mark> giành tự do dân tộc<br>=&gt; Các tác phẩm với tinh thần yêu nước ra đời<br><strong>- Nội dung :<br></strong>&nbsp; + <mark>Lòng yêu nước</mark> của nhân dân, phản ánh và cổ vũ ý chí đấu tranh cũng như lòng tự tôn dân tộc<br>&nbsp; + Những sĩ phu lo nghĩ việc nước cũng kiến nghị <mark>canh tân cải cách đất nước</mark> trong xu thế chung của thế giới<br>&nbsp; + <mark>Trào phúng, đả kích</mark> thực dân Pháp cùng xã hội thuộc địa nửa phong kiến mục nát, tàn ác<br><strong>- Nghệ thuật :<br></strong>&nbsp; + Văn học <mark>chữ Hán</mark> và <mark>chữ Nôm</mark> <mark>tiếp tục phát triển</mark><br>&nbsp; + Sự <mark>xuất hiện</mark> của văn học <mark>chữ quốc ngữ</mark><br>&nbsp; + <mark>Tiếp thu</mark> một cách <mark>chọn lọc</mark> tinh hoa <mark>văn học nước ngoài</mark> khiến cho các tác phẩm thời kì cuối thế kỉ XIX càng trở nên thăng hoa và độc đáo hơn<br>&nbsp; + <mark>Đánh dấu</mark> bước <mark>chuyển mình đầu tiên</mark> của văn học trung đại Việt Nam <mark>sang thời kì văn học hiện đại</mark> Việt Nam.<br><strong>- Các tác giả, tác phẩm tiêu biểu :<br></strong>&nbsp; + "<em>Hoàn Kiếm Hồ"</em> - Nguyễn Khuyến<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;"Khả liên ngũ bách văn chương địa,<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Thượng hữu cô sơn thạch nhất quyền."<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Sự hiu quạnh và nhung nhớ hoài niệm của Nguyễn Khuyến khi trở về Hoàn Kiếm Hồ đã không còn dáng vẻ cổ kính bình yên như năm xưa, mà giờ đây như ông đã tả, nó chỉ còn là <em>" cô sơn thạch"</em> một mình giữa lòng hồ nguội lạnh cùng tiếng súng tiếng kèn của khói lửa chiến tranh lụi tàn.<br>&nbsp; + "<em>Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc"</em> - Nguyễn Đình Chiểu<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng nhận định "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" của Nguyễn Đình Chiểu là khúc ca của những người thất thế nhưng vẫn hiên ngang. [1]<br>&nbsp; + <em>Gia định báo</em> - Trương Vĩnh Ký sáng lập : đay được cho là tờ báo viết bằng chữ quốc ngữ đầu tiên, được ra mắt năm 1865 tại Sài Gòn, làm cho chữ quốc ngữ có cơ hội phổ biến trong dân chúng cũng như các tác phẩm văn học. [2] [3]<br><em>( Nguồn : </em><a href="https://loigiaihay.com/nhan-dinh-ve-bai-van-te-nghia-si-can-giuoc-cua-nguyen-dinh-chieu-pham-van-dong-cho-rang-do-la-khuc-ca-cua-nhung-nguoi-that-the-nhung-van-hien-ngang-hay-phan-tich-bai-van-de-lam-sang-to-nhan-dinh-tren-c38a2586.html"><em>[1]</em></a><em> </em><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Gia_%C4%90%E1%BB%8Bnh_b%C3%A1o"><em>[2]</em></a><em> </em><a href="https://tuoitre.vn/kiep-phong-tran-tieu-thuyet-quoc-ngu-dau-tien-o-viet-nam-1194613.htm"><em>[3]</em></a><em>)</em></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1483642670/04bbbe96fa759448fe0f71af9997dbde/image.png" />
         <pubDate>2021-12-03 14:19:31 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1927423312</guid>
      </item>
      <item>
         <title>1. Tính quy phạm và sự phá vỡ tính quy phạm</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1927429444</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp; Tính quy phạm là tính chất <mark>mẫu mực, khuôn sáo </mark>&nbsp;thể hiện ở các quy ước về nội dung và hình thức của tác phẩm, các cách thức miêu tả, biểu hiện mà người viết phải <mark>tuân thủ nghiêm ngặt</mark>. Tính quy phạm trong văn học trung đại có nguồn gốc sâu xa từ ý thức sùng cổ, tập cổ, tôn trọng các chuẩn mực mà xã hội đã quy định.<br>&nbsp; &nbsp; <strong><em>Quan niệm văn học:</em></strong> Đề cao chức năng xã hội của văn học, coi trọng mục đích giáo huấn, thơ dĩ ngôn chí, văn dĩ tải đạo.<br>&nbsp; <strong><em>&nbsp;Tư duy nghệ thuật:</em></strong> Lối tư duy trừu tượng, gián tiếp sử dụng biện pháp ước lệ, tượng trưng, bút pháp gợi hơn tả…<br>&nbsp; <strong><em>&nbsp;Quan niệm thẩm mĩ:</em></strong> Cái đẹp của quá khứ là chuẩn mực, tạo nên tính sùng cổ, sử dụng nhiều điển tích, điển cố, nhiều thi liệu truyền thống…<br>&nbsp; &nbsp;<strong><em>Thể loại:</em></strong> Sử dụng những thể loại có kết cấu định hình.<br>&nbsp; &nbsp;<strong><em>Ngôn ngữ:</em></strong> uyên bác, trang trọng, đề cao phép đối, điển tích, điển cố…<br>&nbsp; &nbsp;<br>&nbsp; &nbsp;<mark>Ví dụ:</mark> Tính quy phạm trong Cảnh ngày hè:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;- Quan niệm văn học: Nói chí tỏ lòng – lý tưởng dân giàu đủ khắp đòi phương<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;- Tư duy nghệ thuât: Miêu tả cảnh ngày hè bằng những hình ảnh ước lệ (ngày hè, lựu, sen, lầu tịch dương…)<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;- Sử dụng điển tích, điển cố <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;- Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật<br>&nbsp; &nbsp; <br>&nbsp; &nbsp; Nhưng các nhà thơ tài năng như Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Khuyến... đã <mark>phá vỡ tính quy phạm</mark> ấy, thể hiện <mark>cá tính sáng tạo </mark>rất độc đáo và tạo nên <mark>dấu ấn riêng</mark> của phong trào văn học trung đại Việt Nam. Sự phá vỡ tính quy phạm thể hiện trên một số phương diện cơ bản sau:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;<strong><em>Quan niệm văn học:</em></strong> hướng vào đời sống cá nhân,&nbsp; mô tả hiện thực khách quan…<br> <strong><em>&nbsp; &nbsp;Tư duy nghệ thuật:</em></strong><em> </em>xuất<em> </em>hiện lối tư duy trực quan cụ thể, đưa những hình ảnh chân thực của cuộc sống vào thơ.<br>&nbsp; &nbsp; <strong><em>Thể loại:</em></strong> những thể thơ mới, thay đổi tiết tấu, nhịp điệu…<br>&nbsp; &nbsp; <strong><em>Ngôn ngữ:</em></strong> Vận dụng lời ăn tiếng nói hàng ngày, câu thơ mang ngữ điệu nói…<br><br>&nbsp; <mark>&nbsp;  Ví dụ:</mark><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;- Trong “Hồng Đức quốc âm thi tập”. Đề tài ngâm vịnh không cao quý, mà ngâm vịnh đủ thứ đồ vật trong nhà từ cái hũ, cái vò, cái đầu rau, cái cối xay, cái điếu…<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;- Phú Hán thanh nhã, cao sang còn phú Nôm lấy đề tài thông tục: tổ tôm, cờ bạc, thầy đồ ngông…</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-03 14:22:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1927429444</guid>
      </item>
      <item>
         <title>NHỮNG NHẬN ĐỊNH VỀ VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM: Chỉnh sửa, bổ sung</title>
         <author>ngaphuongnguyen26</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1927455689</link>
         <description><![CDATA[<div>Nói về sự giao nhập của phương Tây đối với nền văn học Việt Nam: Hoài Than trong bài viết: “Một thời đại trong thi ca” đã viết: “Sự gặp gỡ phương Tây là cuộc biến thiên lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ mấy mươi thế kỷ”.Cũng có ý kiến cho rằng: “Một trong những nét nổi bật nhất của văn học trung đại Việt Nam giai đoạn này là tình cảm nhân đạo sâu sắc, thấm thía.”:+ “Văn học trung đại tồn tại và phát triển trong suốt 10 thế kỉ nhưng không bao giờ tách khỏi cảm hứng yêu nước.”+ Văn học cổ nước ta thể hiện lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần tự hào dân tộc sâu sắc.”Hay các nhận định về tác phẩm Trung Đại:Lê Trí Viễn trong sách “Văn học trung đại Việt Nam” đã viết: “Thơ Hồ Xuân Hương là tiếng nói tâm tình của người phụ nữ, thể hiện một bản lĩnh sống mạnh mẽ khác thường.Đinh Gia Trinh, một nhà phê bình văn học đã nói: “Hơn một trang trong Balzac để tả thân thể của Eugenie Grandet, hai câu thơ nhỏ trong Nguyễn Du để vẽ về hình&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-03 14:33:15 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1927455689</guid>
      </item>
      <item>
         <title> Văn học trung đại Việt Nam có vai trò như thế nào đối với đời sống tinh thần và văn học dân tộc nhỉ ?</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1927458490</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>1.Đối với đời sống tinh thần dân tộc:</strong><br>🖋Văn học trung đại đã góp phần <mark>gìn giữ và phát triển những truyền thống, tinh thần </mark>của nhân dân Việt Nam và tiêu biểu nhất chính là <mark>truyền thống yêu nước </mark>và<mark> truyền thống nhân đạo</mark> qua những trang văn, những vần thơ. Phạm Ngũ Lão đã hào hùng viết trong " Tỏ lòng " rằng :<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; "Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu,<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Tam quân tì hổ khí thôn ngưu"<br>với <mark>vẻ đẹp hình tượng người lính </mark>và <mark>quân đội nhà Trần</mark> thời bấy giờ làm bật lên<mark> tinh thần yêu nước, sức mạnh </mark>của một đại dân tộc. Còn là hình ảnh con người đầy kì vỹ, hiên ngang trước đất trời sông núi với giọng điệu đậm chất anh hùng ca. Bài thơ ấy không chỉ là sản phẩm của thời đại nhà Trần mà còn là <mark>sự khẳng định và phát huy</mark> <mark>Hào khí Đông Á </mark>trong đời sống tinh thần của người dân Việt Nam.<br>🖋Mặt khác ta đã không quá xa lạ với tác phẩm "Truyện Kiều" của Đại thi hào Nguyễn Du cùng cô Kiều - hồng nhan bạc phận trải qua bao đắng cay cơ cực, bao lần máu rỏ trên cung đàn mới có thể trở về đoàn tụ với chàng Kim. Nguyễn Du nhờ Kiều mà bật lên cái <mark>ý thức về quyền sống, quyền hạnh phúc của con người </mark>ta trong <mark>thế kỉ XVIII, nửa đầu thế kỉ XIX</mark> mà góp phần <mark>vun đắp nên những giá trị nhân đạo sâu sắc, gìn giữ và phát triển</mark> mang đến tận những người của thế kỉ tương lai kia.<br>🖋Không chỉ lấy gốc từ đời sống của chính nhân dân Việt Nam mà văn học trung đại còn <mark>góp phần làm phong phú, đa dạng và làm giàu nên đời sống tinh thần của dân tộc từ việc tiếp thu các tinh hoa văn hóa nước ngoài </mark>. Trung Hoa là nước có nền văn học lâu đời và phát triển rực rỡ. Bởi vậy nên sau khi giành lại độc lập, dân tộc ta có nhu cầu tiếp thu toàn diện nền văn học Trung Hoa nên ta sử dụng chữ Hán, <mark>tiếp thu tinh hoa văn học Trung Hoa trên nền tinh thần dân tộc đã tạo nên các giá trị văn học đa dạng và đậm đà bản sắc Việt Nam.<br><br></mark><strong>2.Đối với văn học dân tộc :<br></strong>🖋&nbsp; Văn học dân gian của bất cứ dân tộc nào cũng là sự kết tinh tư tưởng, tình cảm, trí tuệ và tài hoa của nhân dân. Bởi vậy nên <mark>văn học Trung đại đã hấp thụ mạch nguồn từ văn học dân gian </mark>để làm nền tảng vững chắc để phát triển. <br>Các tác gia lớn của dân tộc ta như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Dữ, Hồ Xuân Hương,...đều nhờ tựa mình nơi suối nguồn văn hóa dân gian của dân tộc, ngấm vào trong mình những dưỡng chất giàu có, lành mạnh mà sự nghiệp mới tỏa hương,đơm hoa kết trái rực rỡ.<br>🖋 <mark>Văn học Trung đại Việt Nam còn làm nên những thành tựu nghệ thuật, quan điểm thẩm mĩ về hệ thống thể loại, hệ thống ngôn ngữ, hệ thống hình tượng</mark>,...Như đỉnh cả của nghệ thuật thơ ca ngôn từ như tác thi gia Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm,...<br>🖋 Văn học Trung đại đã trở thành một <mark>kho tàng quý giá </mark>để văn học hiện đại có thể tiếp thu, kế thừa và tiếp tục phát triển theo nhiều hình thức khác nhau.<mark><br><br></mark><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://thcsdaoduytuhn.vn/wp-content/uploads/2017/08/chi-em-thuy-kieu.jpg" />
         <pubDate>2021-12-03 14:34:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1927458490</guid>
      </item>
      <item>
         <title>2. Khuynh hướng trang nhã và xu hướng bình dị</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1927480774</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp; Văn học Việt Nam trung đại có khuynh hướng trang nhã và bình dị. Tại sao nói như vậy? Tính trang nhã là một nét đặc sắc trong văn học trung đại, thể hiện:<br>&nbsp; &nbsp; <strong><em>Ở đề tài, chủ đề:</em></strong> luôn hướng tới chọn các đề tài <mark>cao cả trang trọng</mark> hơn là cái đời thường bình dị. Đề tài về chủ nghĩa yêu nước (Hịch Tướng Sĩ - Trần Quốc Tuấn, Thuật hoài - Phạm Ngũ Lão...) và chủ nghĩa nhân đạo (Truyện người con gái Nam Xương - Nguyễn Dữ...) là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong thời kì văn học trung đại.<br>&nbsp; &nbsp; <strong><em>Ở hình tượng nghệ thuật:</em></strong> hướng ngòi bút tới những v<mark>ẻ đẹp kiều diễm, cao quý</mark>, thanh tao, mĩ lệ hơn là vẻ đẹp đơn sơ, mộc mạc. Ví dụ như vẻ đẹp của Thúy Kiều trong Truyện Kiều (Nguyễn Du): "Làn thu thủy nét xuân sơn/ Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh."<br>&nbsp; &nbsp; <strong><em>Ngôn ngữ nghệ thuật:</em></strong> sử dụng chất liệu ngôn ngữ có tính chọn lọc cao, cách diễn đạt <mark>trau chuốt, hoa mĩ</mark> hơn là thông tục, tự nhiên, gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày.<br>&nbsp; &nbsp; <br>&nbsp; &nbsp; Trong quá trình phát triển văn học trung đại, càng về giai đoạn cuối, hình tượng nghệ thuật, ngôn ngữ nghệ thuật càng <mark>gắn bó với hiện thực đời sống</mark>, càng <mark>tự nhiên</mark>, <mark>bình dị</mark>. Ví dụ như bài "Bạn đến chơi nhà" (Nguyễn Khuyến) chan chứa nét mộc mạc, dân dã khi sử dụng những hình ảnh gần gũi, quen thuộc của làng quê, những từ ngữ mang tính chất khẩu ngữ để nói về một nỗi lòng rất đỗi bình thường mà tình cảm:&nbsp;<br>"Đã bấy lâu nay bác tới nhà,<br>Trẻ thì đi vắng, chợ thời xa.<br>Ao sâu, sóng cả, khôn chài cá;<br>Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà.<br>Cải chửa ra cây, cà mới nụ;<br>Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.<br>Đầu trò tiếp khách, trầu không có,<br>Bác đến chơi đây, ta với ta."</div>]]></description>
         <enclosure url="https://i.vdoc.vn/data/image/2020/07/29/ban-den-choi-nha-nguyen-khuyen.jpg" />
         <pubDate>2021-12-03 14:43:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1927480774</guid>
      </item>
      <item>
         <title>3. Tiếp thu và dân tộc hóa tinh hoa văn học Việt Nam</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1927536982</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp; Văn học trung đại Việt Nam <mark>tiếp thu</mark> văn học từ các nước nhưng <mark>trên tinh thần dân tộc hóa</mark> tinh hoa văn học nước ngoài. Văn học trung đại chủ yếu tiếp thu tinh hoa văn học Trung Hoa về ngôn ngữ, thể loại, cách thể hiện. <br>&nbsp; &nbsp; <strong><em>Về ngôn ngữ:</em></strong> dùng chữ Hán để sáng tác. Tác phẩm tiêu biểu Thanh Hiên thi tập, Bắc hành tạp lục, Nam Trung tạp ngâm của Nguyễn Du<br>&nbsp; &nbsp; <strong><em>Về thể loại:</em></strong> văn vần ( thể cổ phong và Đường Luật); văn xuôi (chiếu, biểu, hịch, cáo, tiểu thuyết chương hồi,...). Ví dụ như "Hoàng lê nhất thống chí" của Ngô Thì Chí và Ngô Thì Du, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn...<br>&nbsp; &nbsp;<strong><em>&nbsp;Về thi liệu:</em></strong> Sử dụng thi liệu và điển tích, điển cố Trung Hoa. Không thể không nhắc đến là "Truyện Kiều" của Nguyễn Du dù mượn cốt truyện từ "Kim Vân kiều Truyện" của Thanh Tâm Tài Nhân nhưng dưới ngòi bút tài năng của đại thi hào đã vượt xa nguyên mẫu, mang nhiều giá trị sâu sắc hơn.<br><br>&nbsp; &nbsp; Nhưng với lòng tự tôn dân tộc, các nhà văn đã sáng tạo ra những <mark>nét riêng đậm đà bản sắc Việt Nam</mark>. Quá trình dân tộc hóa những tinh hoa của văn học Trung Quốc thể hiện ở việc các tác giả Việt Nam đã:<br>&nbsp; &nbsp; Sáng tạo ra chữ Nôm và dùng nó để sáng tác văn học.<br>&nbsp; &nbsp; Việt hóa thơ Đường luật thành thơ Nôm Đường luật, thất ngôn xen lục ngôn.<br>&nbsp; &nbsp; Sáng tạo ra các thể thơ thuần Việt như: lục bát, song thất lục bát, hát nói, các khổ ngâm khúc, truyện thơ.&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp; Sử dụng lời ăn tiếng nói của nhân dân trong sáng tác văn học.<br>&nbsp; &nbsp;&nbsp;</div><div><br></div><div><br></div><div><br></div><div><br></div><div><br></div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?v=LTyq1vUL8p0" />
         <pubDate>2021-12-03 15:08:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1927536982</guid>
      </item>
      <item>
         <title>I. Khái quát về thể loại thơ </title>
         <author>hangtrang191</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928318042</link>
         <description><![CDATA[<div>https://kenh14.vn/doc-cham/dinh-nghia-ve-tho-cua-nhung-cay-but-tho-2013091604553542.chn<br><br><br><br><strong><mark>1. Khái niệm:</mark></strong> Thơ là thể loại văn học sử dụng ngôn từ nghệ thuật hàm súc, cô đọng để bộc lộ cảm xúc mãnh liệt, da diết, dạt dào của chủ thể sáng tác....<br><strong><mark>2. Đặc trưng:</mark></strong><br><strong><mark>- Nội dung: </mark></strong><br><strong><em>+</em></strong><strong><em><mark>Thể hiện tình cảm mãnh liệt đã được ý thức của nhà thơ</mark></em></strong><strong><em> -&gt; Giải toả, bộc lộ cảm xúc không thể kìm nén của chính nhà thơ</em></strong><em><br>+ </em><strong><em>Cái tôi trữ tình là cái tôi luôn luôn cảm xúc thực sự trên tư cách </em></strong><strong><em><mark>phổ quát</mark></em></strong><strong><em> mang tính chất tâm hồn, động </em></strong><strong><em><mark>chạm tới cái chung của mọi cá thể con người.</mark></em></strong><em><mark> </mark></em><br><strong><mark>- Hình thức: <br>+ </mark></strong><strong>Ngôn từ được chắt lọc, gọt rũa, hàm súc, cô động, sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật.<br>+ Có nhịp điệu, nhạc điệu,... <br>+ Hình ảnh giàu tính biểu tượng, khơi gợi cảm xúc.</strong><strong><mark><br></mark></strong><br><strong><mark>3. Khái quát về thơ trung đại VN</mark></strong><strong><br>* Mang những đặc trưng của thơ ca nói chung.<br>* Có đặc trưng riêng:<br>- Mang tính quy phạm chặt chẽ.<br>+ Thể thơ theo khuôn mẫu.<br>+ Chủ đề, đề tài, hình ảnh rập khuôn<br>+ ...<br>- Có sự phá vỡ tính quy phạm: Thể thơ (thất ngôn xen lục ngôn), xưng danh trực tiếp trong thơ,...<br>- Thể hiện chủ yếu nỗi lòng của nho sĩ phong kiến (nam sinh, vị quan, vị tướng, nhà vua,..)</strong></div>]]></description>
         <enclosure url="https://kenh14.vn/doc-cham/dinh-nghia-ve-tho-cua-nhung-cay-but-tho-2013091604553542.chn" />
         <pubDate>2021-12-04 01:08:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928318042</guid>
      </item>
      <item>
         <title>II. Cách đọc - hiểu THƠ</title>
         <author>hangtrang191</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928325291</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><mark>*Bước 1:</mark></strong><strong> </strong>Đọc hiểu tác giả - tác phẩm<br><strong><mark>*Bước 2:</mark></strong> Đọc hiểu <strong>QUA</strong> bài thơ<br>- Đọc hiểu nhan đề<br>- Đọc hiểu thể loại -&nbsp; bố cục <br>-So sánh dịch thơ và bản phiên âm.<br>- Xác định chủ đề - nhân vật trữ tình - Cảm xúc chủ đạo.<br><strong><mark>*Bước 3:</mark></strong> Đọc hiểu <strong>KĨ</strong> bài thơ <br>- Truy xuất các từ ngữ, hình ảnh thể hiện cảm xúc nhân vật trữ tình. <br>- Chỉ ra - Phân tích các biện pháp tu từ nghệ thuật.<br><strong><mark>* Bước 4: </mark></strong>Đọc hiểu <strong>SÂU</strong> bài thơ&nbsp;<br>- Liên hệ, so sánh với các bài thơ khác cùng đề tài, chủ đề của cùng tác giả, hoặc tác giả khác.<br>- Liên hệ bản thân, rút ra bài học sâu sắc cho chính mình và mọi người.<br>- Từ bài thơ đã đọc hiểu nhận ra đặc trưng, giá trị của văn chương.<br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-04 01:18:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928325291</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Yêu cầu: 100% hs hoàn thành cá nhân. Hạn nộp trước 10h tối 5/12/2021</title>
         <author>hangtrang191</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928325957</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-04 01:19:27 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928325957</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Yêu cầu làm việc nhóm:                                                 * Yêu cầu 1:   Đọc - hiểu tác giả, tác phẩm; Đọc hiểu QUA bài thơ               </title>
         <author>hangtrang191</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928336867</link>
         <description><![CDATA[<div><br><br>- Chia nhóm: <strong><mark>6</mark></strong> nhóm ngẫu nhiên<br>- Các nhóm cử nhóm trưởng<br>- Phân công nhau <strong><mark>hoàn thành các yêu cầu đọc hiểu bước 1+2.&nbsp; Gửi kết quả lên padlet.</mark></strong><br>- Thời gian: <strong><mark>15</mark></strong> phút.<br>- <strong><mark>Nhận xét</mark></strong> kết quả của nhau: 3-2-1 (10p)<br>- GV <strong><mark>chấm</mark></strong>, cho điểm hoạt động nhóm, chốt lại ý<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1475486360/60a61ab27d3773e7e0afe8ecf1d13db8/Screen_Shot_2021_12_04_at_1_13_40_PM.png" />
         <pubDate>2021-12-04 01:33:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928336867</guid>
      </item>
      <item>
         <title>* Yêu cầu 2: đọc hiểu KĨ</title>
         <author>hangtrang191</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928495256</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><mark><br></mark></strong>- Chia nhóm: 5 nhóm ngẫu nhiên<br>- Các nhóm cử nhóm trưởng<br>- Phân công nhau hoàn thành các yêu cầu đọc hiểu bước 3<br>( Nhóm 1+2: Đọc hiểu câu 1+2; Nhóm 3+4+5: Đọc hiểu câu 3+4)<br>- Thời gian: 20 phút.<br>- Nhận xét, đánh giá kết quả của nhau: 3-2-1 (10p)<br>- GV chấm, cho điểm hoạt động nhóm, chốt lại ý</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1475486360/6dedb3695157c310f32def504a20b63e/Screen_Shot_2021_12_04_at_1_26_47_PM.png" />
         <pubDate>2021-12-04 05:57:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928495256</guid>
      </item>
      <item>
         <title>* Yêu cầu 3: đọc hiểu SÂU bài &quot;Thuật hoài&quot;</title>
         <author>hangtrang191</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928507853</link>
         <description><![CDATA[<div>- Học sinh làm việc nhóm đôi<br>- Thời gian: 10phút<br>- Báo cáo kết quả: Up lên padlet.<br>- Các nhóm nhận xét, bình chọn chéo nhau.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-04 06:29:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928507853</guid>
      </item>
      <item>
         <title>~ Thành viên ~</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928542319</link>
         <description><![CDATA[<div>1. Nguyễn Hà Phương (Nhóm trưởng)<br>2. Nguyễn Trần Quỳnh Anh<br>3. Vũ Thị Hồng Nhung<br>4. Nguyễn Thị Anh Thư<br>5. Hà Nhật Vy<br>6. Tạ Mỹ Duyên</div>]]></description>
         <enclosure url="https://thuthuatnhanh.com/wp-content/uploads/2020/05/hinh-nen-hoa-huong-duong.jpg" />
         <pubDate>2021-12-04 07:38:43 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928542319</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thành viên </title>
         <author>halap78</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928545959</link>
         <description><![CDATA[<div>1. Phạm Minh Anh (nhóm trưởng)<br>2. Phạm Hà Châu<br>3. Lê Phương Linh<br>4. Lê Thảo Nguyên<br>6. Trần Vi Thảo</div>]]></description>
         <enclosure url="https://media1.giphy.com/media/l3q2Nln5BABEk8NFe/giphy.gif" />
         <pubDate>2021-12-04 07:44:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928545959</guid>
      </item>
      <item>
         <title>1. Đọc hiểu tác giả</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928546485</link>
         <description><![CDATA[<div><mark>a) Cuộc đời</mark><br>- Phạm Ngũ Lão (1255 - 1320) người làng Phù Ủng, huyện Đường Hào (nay thuộc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên).<br>- Là con rể (lấy con gái nuôi) của Trần Hưng Đạo, được giữ đội quân hữu vệ.<br>- Theo sách <em>Tông phả kỷ yếu tân biên</em> của Phạm Côn Sơn dẫn gia phả họ Phạm, ông là cháu 8 đời của tướng Phạm Hạp thời nhà Đinh.<br>- Một lần, Hưng Đạo Vương có việc quân qua vùng đất Phù Ủng. Phạm Ngũ Lão đang ngồi đan sọt ngoài đường mải nghĩ về cuốn sách Binh thư nên khi quân lính dẹp đường, ông vẫn cứ ngồi yên. Người lính bèn dùng giáo xuyên vào đùi kẻ cản đường, ông cũng không nhúc nhích. Tướng công thấy vậy bèn ra nói chuyện với ông và thấy rằng ông sẽ là một vị lương tướng của triều đình. Sau khi về kinh đô, Hưng Đạo Vương tiến cử Phạm Ngũ Lão lên Triều đình với chức cai quản quân Cấm vệ. <br><br><mark>b) Con người</mark><br>- Từ thủa nhỏ ông đã bộc lộ khí chất khác người, tính tình khảng khái. Khi ở làng có người đỗ Tiến sĩ (Bùi Công Tiến) tổ chức ăn mừng, cả làng kéo đến, riêng Ngũ Lão thì không. Người mẹ hỏi con tại sao không đến, Ngũ Lão thưa với mẹ: chí làm trai phải lập công danh rạng rỡ non sông mà con chưa lập được bằng người, đi mừng người ta nhục lắm. <br>- Ông là người "thích đọc sách, người phóng khoáng, có chí làm việc lớn, thích ngâm thơ, về việc võ hình như ít bận tâm."<br>- Ngũ Lão là vị tướng giỏi, trị quân có kỉ luật, đối đãi với quân như cha con, đội quân của ông đều đồng lòng, đánh đâu thắng đấy.<br><br><mark>c) Sự nghiệp<br></mark>- Ông làm đến chức Điện súy thượng tướng quân, được phong tước Quan nội hầu.<br>- Không chỉ có tài về quân sự, mà ông còn để lại nhiều bài thơ về chí trai, lòng yêu nước. Tiêu biểu là hai tác phẩm còn sót lại là <strong><em>Thuật hoài </em></strong>(Tỏ lòng) và <strong><em>Vãn Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương </em></strong>(<em>Viếng Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương</em>).<mark><br><br>d) Vị trí</mark><br>- Phạm Ngũ Lão là một trong những vị tướng xuất sắc của triều đại nhà Trần với nhiều chiến công hiển hách và tài năng thơ ca của mình.<br>- Ông còn là một nhân vật lịch sử quan trọng và đáng tự hào của dân tộc Việt Nam.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://1.bp.blogspot.com/-shQxz9aKzFI/WNJ9mUMtYSI/AAAAAAABFCQ/ozNIOtF1cngevpEHTy7L8mDLsuW2bVHeQCEw/s1600/thuat%2Bhoai%2B1.png" />
         <pubDate>2021-12-04 07:46:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928546485</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thành viên</title>
         <author>dungnguyenhs1509</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928547446</link>
         <description><![CDATA[<div>1, Phạm Nguyễn Thảo Vi<br>2, Vũ Thị Thu An<br>3, Phạm Thu Huyền<br>4, Nguyễn Thanh Thảo<br>5, Nguyễn Thùy Dung<br>6, Nguyễn Ngọc Lan<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484180584/d37fd98d3dc7708df808c6e7634c2672/e9af20e8f72849c3b08d337e1d952411.jpg" />
         <pubDate>2021-12-04 07:47:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928547446</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thành viên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928547683</link>
         <description><![CDATA[<div>1. Trần Thanh Thủy<br>2. Nguyễn Hà My<br>3. Nguyễn Thu Huyền<br>4. Bùi Vũ Hoài Thanh<br>5. Nguyễn Hà Vy<br>6. Chu Ngọc Minh Trang</div>]]></description>
         <enclosure url="https://o.rada.vn/data/image/2020/11/16/cam-nhan-thuat-hoai.jpg" />
         <pubDate>2021-12-04 07:48:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928547683</guid>
      </item>
      <item>
         <title>NHÓM 3</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928550179</link>
         <description><![CDATA[<div>1.Nguyễn Thúy Hằng -nhóm trưởng<br>2 .Nguyễn Phương Nga<br>3.Phạm Thị Thanh Thư<br>4.Nguyễn Diệu Ngân<br>5.Nguyễn Thanh Ngân<br>&nbsp;&nbsp;<br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://media0.giphy.com/media/2juhjHA7yzuGPBw9jX/giphy.gif" />
         <pubDate>2021-12-04 07:51:59 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928550179</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đọc hiểu tác giả</title>
         <author>halap78</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928551729</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>* Cuộc đời :</strong><br>- SGK: Phạm Ngũ Lão ( 1255-1320): quê ở làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, tỉnh Hưng yên, thuộc tầng lớp bình dân. <br>- Ngoài SGK: Ông là danh tướng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Tr%E1%BA%A7n">nhà Trần</a> trong <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Vi%E1%BB%87t_Nam">lịch sử Việt Nam</a>. Đương thời, danh tiếng của ông chỉ xếp sau <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_H%C6%B0ng_%C4%90%E1%BA%A1o">Hưng Đạo Vương</a> Trần Quốc Tuấn – người được xem như vị tướng vĩ đại nhất trong lịch sử quân sự phong kiến Việt Nam.<br><strong>* Con người :</strong><br>- SGK : Năm ông ngoài 20 tuổi, Hưng Đạo Vương thấy ông là người có tài, tin dùng trong nhà và đem con gái nuôi gả cho.<br>- Ngoài SGK: Ngay từ thuở nhỏ, cậu bé Ngũ Lão đã tỏ ra khác thường, tính tình khẳng khái. <br><strong>* Sự nghiệp :</strong><br>- Tác phẩm của ông hiện còn hai bài thơ là: Tỏ lòng ( Thuật hoài ) và Viếng Thượng tướng quốc công Trần Hưng Đạo ( Văn Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương).<br><strong>* Vị trí, đóng góp :</strong><br>- Ông có nhiều công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên, làm đến chức Đi súy, được phong tước Quan nội hầu.<br>- Người là một võ tướng nhưng ông thích đọc sách, ngâm thơ, được ca ngợi là văn võ toàn tài.</div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1483642670/b8608f0327477f28225369f9bf12cc7e/image.png" />
         <pubDate>2021-12-04 07:54:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928551729</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đọc hiểu tác phẩm</title>
         <author>halap78</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928551941</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>* Hoàn cảnh ra đời:</strong><br>- Bài thơ được sáng tác sau chiến thắng quân Mông – Nguyên của quân đội nhà Trần với hào khí Đông A ngút trời<br><strong>* Thể thơ :</strong><br>Thất ngôn tứ tuyệt<br>* Ý nghĩa nhan đề :<br>- "Thuật hoài” (thuật: kể lại, bày tỏ; hoài: nỗi lòng) được hiểu là sự thổ lộ khát khao, mong muốn, bày tỏ hoài bão lớn lao và quan điểm riêng của tác giả. Qua đó thấy được vẻ đẹp của con người và sức mạnh thời đại của một trang lịch sử của dân tộc<br><strong>* Bố cục :</strong><br>- Hai câu đầu : vẻ đẹp của con người với tầm vóc tư thế, hành động lớn lao<br>- Hai câu cuối : Ước vọng , hoài bão của người tráng sĩ đời Trần<br><strong>* So sánh bản phiên âm và dịch thơ :</strong><br>- Giống :<br>&nbsp; + Đều sử dụng thể thơ Thất ngôn tứ tuyệt<br>&nbsp; + Đều nêu được những lý tưởng, khát vọng của nhà thơ<br>- Khác :<br>&nbsp; + Hoành sóc<br>&nbsp; + Múa giáo<br>&nbsp; + Khí thôn ngưu -&gt; nuốt trôi trâu<br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1483642670/f4d09bd52fcedf66658d22a1b4108d7c/image.png" />
         <pubDate>2021-12-04 07:54:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928551941</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thành viên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928553545</link>
         <description><![CDATA[<div>1. Đặng Hà Trân (Nhóm trưởng)<br>2.Trần Anh Thư<br>3. Quách Thảo Nguyên<br>4. Nguyễn Thu Trang<br>5. Phạm Ngọc Minh Anh<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://media0.giphy.com/media/mlvseq9yvZhba/giphy.gif" />
         <pubDate>2021-12-04 07:56:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928553545</guid>
      </item>
      <item>
         <title>1. Đọc hiểu tác giả</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928553905</link>
         <description><![CDATA[<div>a, Tiểu sử<br>- Phạm Ngũ Lão (1255 - 1320) người làng Phù Ủng, huyện Đường Hào (nay thuộc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên).<br>- Là con rể (lấy con gái nuôi) của Trần Hưng Đạo, được giữ đội quân hữu vệ.<br>- Ông có nhiều công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên, làm đến chức Điện súy, được phong tước Quan nội hầu.<br>- Là võ tướng nhưng ông thích đọc sách, ngâm thơ và từng được ngợi ca là người văn võ toàn tài.<br>- Lúc ông qua đời, vua Trần Minh Tông ra lệnh nghỉ chầu năm ngày để tỏ lòng thương nhớ.<br>b. Sự nghiệp văn học<br>-Tác phẩm của ông hiện còn hai bài thơ là: Tỏ lòng ( Thuật hoài ) và Viếng Thượng tướng quốc công Trần Hưng Đạo ( Văn Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương).</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-04 07:57:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928553905</guid>
      </item>
      <item>
         <title>2. Đọc hiểu tác phẩ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928554536</link>
         <description><![CDATA[<div><mark>- Hoàn cảnh ra đời:</mark> bài thơ ra đời trong không khí quyết chiến, quyết thắng quân Mông - Nguyên của quân đội nhà Trần.<br><br><mark>- Thể thơ:</mark> thất ngôn tứ tuyệt Đường Luật - viết bằng chữ Hán<br><br><mark>- Nhan đề:</mark> "Thuật hoài"<br>&nbsp; &nbsp;+ thuật: bày tỏ, giãi bày<br>&nbsp; &nbsp;+ hoài: nỗi lòng<br>=&gt; Nhan đề của bài thơ đã bày tỏ khát vọng, hoài bão trong lòng tác giả <br><br><mark>- Bố cục:</mark> 2 phần<br>&nbsp; &nbsp;+Phần 1 (2 câu đầu): hình tượng con người, quân đội thời Trần<br>&nbsp; &nbsp;+Phần 2 (2 câu sau): nỗi lòng tác giả<br><br><mark>*So sánh bản phiên âm và dịch thơ:</mark><br><mark>- 2 câu đầu:</mark><br>&nbsp; &nbsp;+ Phiên âm: "Hoành sóc" - cắp ngang ngọn giáo→ thế tĩnh→ tư thế chủ động, tự tin, điềm tĩnh của con người có sức mạnh, nội lực.<br>&nbsp; &nbsp;+ Dịch thơ: "Múa giáo"→ thế động→ gợi trình độ thuần thục của nghề cung kiếm trong thao tác thực hành, có chút phô trương, biểu diễn.<br>→ Dịch chưa thật đạt. Thơ Đường luật chữ Hán rất hàm súc, uyên bác, khó dịch cho thấu đáo.<br>→ Dịch giả muốn giữ đúng luật thơ (nhị tứ lục phân minh: chữ 2, 4, 6 đối thanh, bài thơ có luật trắc→ thanh 2, 4, 6: T-B-T)<br>- Khí thôn ngưu- “nuốt trôi trâu” → phù hợp với hình ảnh so sánh phóng đại: “ba quân như hổ báo”</div>]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?v=xW8u3AjIFO8" />
         <pubDate>2021-12-04 07:58:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928554536</guid>
      </item>
      <item>
         <title>1. Đọc hiểu tác giả</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928555448</link>
         <description><![CDATA[<div>- Cuộc đời : Phạm Ngũ Lão<br>&nbsp; &nbsp;+ SGK : quê ở làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, tỉnh Hưng Yên.  Thuộc tầng lớp bình dân&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp;+ Ngoài SGK : sinh năm 1255 và mất năm 1320 tại Hà Nội . Thê Tử là Lương Thái Tần&nbsp;<br>- Con người :<br>&nbsp; &nbsp; + SGK : ông là người có tài, được Hưng Đạo Vương tin dùng và đem con gái nuôi gả cho<br>- Sự nghiệp :<br>   + SGK : làm Điện súy thượng tướng quân, được phong tước Quan nội hầu và có nhiều công lớn trong kháng chiến chống quân Mông - Nguyên</div>]]></description>
         <enclosure url="https://i.ytimg.com/vi/SbQ6dPah7mc/maxresdefault.jpg" />
         <pubDate>2021-12-04 08:00:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928555448</guid>
      </item>
      <item>
         <title>1. Đọc hiểu tác giả</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928555942</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><mark>-Cuộc đời:</mark></strong><br>+Phạm Ngũ Lão (1255-1320) quê ở làng Phù Ủng, huyện Đường Hào (nay thuộc huyện Ân Thi), tỉnh Hưng Yên, ông thuộc tầng lớp bình dân. Hưng Đạo Vương thấy ông là người có tài, tin dùng trong nhà đem con gái nuôi gả cho năm ông ngoài hai mươi. Sau Phạm Ngũ Lão làm đến chức Điện súy thượng tướng quân,được phong tước Quan nội hầu. Ông có nhiều công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên.(SGK)<br>+Không chỉ có tài về quân sự, mà ông còn để lại nhiều bài thơ về chí trai, lòng yêu nước. Tiếc là hiện nay tác phẩm của ông chỉ còn lại hai bài là Thuật hoài (Tỏ lòng) và <em>Vãn Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Vương</em> (<em>Viếng Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương</em>).<br>+Ngày 1 tháng 11 năm 1320, Phạm Ngũ Lão mất, hưởng thọ 65 tuổi. Vua Trần Minh Tông nghỉ chầu 5 ngày và phong ông là Thượng Đẳng Phúc Thần, đây là một đặc ân của nhà vua đối với ông.<br><strong><mark>-Con người:</mark></strong><br>+Ông thông minh, văn võ toàn tài bậc nhất, có chí lớn và đạo đức cao.<br>+ Ông là danh tướng nhà Trần trong lịch sử Việt Nam.<br>+ Ông là một người thích đọc sách, con người phóng khoáng, có chí làm việc lớn, thích ngâm thơ, về việc võ hình như ít bận tâm<br><mark>-</mark><strong><mark>Sự nghiệp:</mark></strong></div><div>+Tác phẩm của ông hiện còn 2 bài thơ là: " Tỏ lòng " ( Thuật Hoài ) và " Viếng Thượng tướng quốc công Trần Hưng Đạo( Văn thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương )<sup><br></sup><strong><mark>-Vị trí, đóng góp:</mark></strong><br>+SGK: Ông có nhiều công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Mông-Nguyên.<br>+Ngoài SGK: đã lập nên những chiến công lừng lẫy, góp phần lớn lao trong sự nghiệp bảo vệ lãnh thổ phía Tây của Đại Việt và khẳng định chủ quyền quốc gia.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://i.pinimg.com/originals/d9/63/6d/d9636dc1945998f0402853706ae2da90.jpg" />
         <pubDate>2021-12-04 08:01:40 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928555942</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>dungnguyenhs1509</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928556329</link>
         <description><![CDATA[<div><br>- Vị trí, đóng góp:<br>+ SGK: Phạm Ngũ Lão có nhiều công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên<br>+ Ngoài SGK: Phạm Ngũ Lão đã lập nên những chiến công lừng lẫy, góp phần lớn lao trong sự nghiệp bảo vệ lãnh thổ phía Tây của quốc gia Đại Việt cũng như bảo vệ và khẳng định chủ quyền quốc gia ở miền biên giới phía Nam, tạo nền tảng vững chắc cho bước tiến về phía Nam của người Việt trong các thế kỷ sau.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484180584/9b851a5a99792a4ba052c4304753df88/t_i_xu_ng__13_.jpg" />
         <pubDate>2021-12-04 08:02:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928556329</guid>
      </item>
      <item>
         <title>2, Tác phẩm</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928557964</link>
         <description><![CDATA[<div>a, Hoàn cảnh ra đời<br>Biểu hiện<br>&nbsp; - Bài thơ được sáng tác sau chiến thắng quân Mông – Nguyên của quân đội nhà Trần với hào khí Đông A ngút trời<br>Ý nghĩa </div><div>&nbsp;  - Bài thơ là loại thơ “nói chí tỏ lòng” qua bài thơ mà bày tỏ và thể hiện nỗi lòng cùng chí hướng của người viết.</div><div>-Bài thơ mang âm hưởng tự hào, ca ngợi, cổ vũ, khích lệ.</div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-04 08:05:31 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928557964</guid>
      </item>
      <item>
         <title>b, Thể thơ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928558388</link>
         <description><![CDATA[<div>Bài thơ được viết theo thể thơ Thất ngôn tứ tuyệt đường luật</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-04 08:06:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928558388</guid>
      </item>
      <item>
         <title>c, Nhan đề</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928558903</link>
         <description><![CDATA[<div>biểu hiện: “thuật” : kể lại, bày tỏ; hoài: nỗi lòng<br><br><br>ý nghĩa: một lời thổ lộ, khát vọng chiến công của người anh hùng. Qua đó thấy được vẻ đẹp của con người và sức mạnh thời đại của một trang lịch sử của dân tộc</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-04 08:07:20 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928558903</guid>
      </item>
      <item>
         <title>d, Bố cục</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928559274</link>
         <description><![CDATA[<div>Phần 1 (2 câu đầu): Hình tượng con người và quân đội thời Trần<br>- Phần 2 (2 câu còn lại): Nỗi lòng của tác giả</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-04 08:08:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928559274</guid>
      </item>
      <item>
         <title>e, So sánh phiên âm và dịch thơ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928559688</link>
         <description><![CDATA[<div>- Hoành sóc: cắp ngang ngọn giáo→ thế tĩnh→ tư thế chủ động, tự tin, điềm tĩnh của con người có sức mạnh, nội lực.<br>- Múa giáo→ thế động→ gợi trình độ thuần thục của nghề cung kiếm trong thao tác thực hành, có chút phô trương, biểu diễn.<br>→ Dịch chưa thật đạt→ Thơ Đường luật chữ Hán rất hàm súc, uyên bác, khó dịch cho thấu đáo.<br>→ Dịch giả muốn giữ đúng luật thơ (nhị tứ lục phân minh: chữ 2, 4, 6 đối thanh, bài thơ có luật trắc→ thanh 2, 4, 6: T-B-T)<br>- Khí thôn ngưu- “nuốt trôi trâu” → phù hợp với hình ảnh so sánh phóng đại: “ba quân như hổ báo”</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-04 08:08:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928559688</guid>
      </item>
      <item>
         <title>ĐỌC - HIỂU TÁC GIẢ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928560279</link>
         <description><![CDATA[<div>*<strong>Trong sách giáo khoa:</strong><br>- Cuộc đời tác giả: 1255-1320, quê ở làng Phù Ủng, huyện Đường Hào (nay thuộc huyện Ân Thi), tỉnh Hưng Yên.</div><div>- Con người: là người có tài, Hưng Đạo Vương tin dùng trong nhà và đem con gái gả cho; Đại Việt sử kí toàn thư ghi chép : “Ngũ Lão thích đọc sách, người phóng khoáng, có chí làm việc lớn, thích ngâm thơ về việc võ hình như ít bận tâm. Nhưng đội quân của ông đều một long thân yêu như cha với con, đánh đâu được đấy”.</div><div>- Sự nghiệp: làm đến chức Điện suý thượng tướng quân, được phong lên chức Quan nội hầu, nhiều công lớn trong kháng chiến quân Mông – Nguyên.<br><strong>* Ngoài sách giáo khoa:<br></strong>- Cuộc đời tác giả: Phạm Ngũ Lão là người văn võ song toàn: ông có nhiều công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Mông. <br>– Con người :<br>+ Ông là cháu 8 đời của tướng Phạm Hạp thời nhà Đinh.&nbsp;<br>+ Ngay từ thuở nhỏ, cậu bé Ngũ Lão đã tỏ ra khác thường, tính tình khẳng khái. Khi ở làng có người đỗ Tiến sĩ (Bùi Công Tiến) tổ chức ăn mừng, cả làng kéo đến, riêng Ngũ Lão thì không. Người mẹ hỏi con tại sao không đến, Ngũ Lão thưa với mẹ: chí làm trai phải lập công danh rạng rỡ non sông mà con chưa lập được bằng người, đi mừng người ta nhục lắm.&nbsp;<br>+ Sau khi về kinh đô, Hưng Đạo Vương tiến cử Phạm Ngũ Lão lên Triều đình với chức cai quản quân Cấm vệ. Vệ sĩ biết ông là nông dân thì không phục bèn xin tâu được cùng ông thử sức. Phạm Ngũ Lão bằng lòng, nhưng trước khi vào đấu sức, ông xin về quê 3 tháng. Hết hạn, ông trở về cấm thành, cùng các vệ sĩ so tài. Thấy ông tiến thoái như bay, tay đấm, chân đá thoăn thoắt, xem ra sức có thể địch nổi cả vài chục người. Từ đó, quân vệ sĩ bái phục ông.&nbsp;<br>+ Lúc ông qua đời, vua Trần Minh Tông ra lệnh nghỉ chầu năm ngày để tỏ lòng thương nhớ.<br>- Sự nghiệp:&nbsp;<br>+ Ông có nhiều sáng tác nói về chí làm trai và lòng yêu nước nhưng hiện nay chỉ còn lại hai tác phẩm bằng chữ Hán là Tỏ lòng (Thuật hoài) và Viếng Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương (Văn Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương).</div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484350492/8423153abdf8017c73818aff213124e1/maxresdefault__2_.jpg" />
         <pubDate>2021-12-04 08:09:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928560279</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phân chia: Tổ 1- nhận xét tổ 2; tổ 2- nhận xét tổ 3; tổ 3- nhận xét tổ 4; Tổ 4- nhận xét tổ 5; Tổ 5 nhận xét tổ 6; tổ 6 nhận xét tổ 1</title>
         <author>hangtrang191</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928561663</link>
         <description><![CDATA[<div>Cách&nbsp;nhận xét: 2 ưu điểm - 1 bổ sung - 1 góp ý</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-04 08:12:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928561663</guid>
      </item>
      <item>
         <title>ĐỌC- HIỂU TÁC PHẨM</title>
         <author>ngaphuongnguyen26</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928564560</link>
         <description><![CDATA[<div>*Hoàn cảnh ra đời:<br>&nbsp;Bài thơ được sáng tác sau chiến thắng quân Mông – Nguyên của quân đội nhà Trần với hào khí Đông A ngút trời<br>- Bài thơ là loại thơ “nói chí tỏ lòng” qua bài thơ mà bày tỏ và thể hiện nỗi lòng cùng chí hướng của người viết.<br>*Thể thơ:&nbsp;<br>Thơ thất ngôn tứ tuyệt đường luật là thể thơ đã du nhập và tồn tại ở Việt Nam từ khá lâu đời.Là thể thơ yêu thích của các bậc tiền bối cao nhân thời xưa rất hay sử dụng để sáng tác.Thể thơ này được ra đời vào thời kỳ nhà Đường và có nguồn gốc từ Trung Hoa.<br>*Nhan đề:</div><div>"Thuật hoài” (thuật: kể lại, bày tỏ; hoài: nỗi lòng) được hiểu là sự thổ lộ khát khao, mong muốn, bày tỏ hoài bão lớn lao và quan điểm riêng của tác giả – một dũng tướng tuổi trẻ tài cao.<br>*Bố cục:<br>Phần 1 (2 câu đầu): Hình tượng con người và quân đội thời Trần<br><br></div><div>- Phần 2 (2 câu còn lại): Nỗi lòng của tác giả<br>*So sánh phiên âm và dịch thơ:<br>- Hoành sóc: cắp ngang ngọn giáo→ thế tĩnh→ tư thế chủ động, tự tin, điềm tĩnh của con người có sức mạnh, nội lực.<br>- Múa giáo→ thế động→ gợi trình độ thuần thục của nghề cung kiếm trong thao tác thực hành, có chút phô trương, biểu diễn.<br>→ Dịch chưa thật đạt→ Thơ Đường luật chữ Hán rất hàm súc, uyên bác, khó dịch cho thấu đáo.<br>→ Dịch giả muốn giữ đúng luật thơ (nhị tứ lục phân minh: chữ 2, 4, 6 đối thanh, bài thơ có luật trắc→ thanh 2, 4, 6: T-B-T)<br>- Khí thôn ngưu- “nuốt trôi trâu” → phù hợp với hình ảnh so sánh phóng đại: “ba quân như hổ báo”</div><div><br></div><div><br></div><div><br><br></div><div><br><br><br></div><div><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://baitaplamvan.com/wp-content/uploads/2018/03/phan-tich-bai-tho-to-long-2.jpg" />
         <pubDate>2021-12-04 08:17:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928564560</guid>
      </item>
      <item>
         <title>2. Đọc hiểu tác phẩm</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928568122</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;<strong>- Hoàn cảnh sáng tác : </strong><br>&nbsp; &nbsp; + Biểu hiện :Bài thơ được sáng tác sau chiến thắng quân Mông – Nguyên của quân đội nhà Trần với hào khí Đông A ngút trời. <br>&nbsp; + Ý nghĩa : Bài thơ là loại thơ “nói chí tỏ lòng” qua bài thơ mà bày tỏ và thể hiện nỗi lòng cùng chí hướng của người viết.<br><strong>&nbsp;- Thể thơ : </strong><br>&nbsp; + Biểu hiện : Bài thơ được viết bằng chữ Hán.&nbsp; Viết theo thể tứ tuyệt Đường luật. <br>&nbsp; + Ý nghĩa :khắc họa thành công vẻ đẹp của những con người có sức mạnh, lí tưởng nhân cách cao cả cùng khí thế hào hùng của thời đại<br>&nbsp;<strong>- Nhan đề </strong><br>&nbsp;+ Biểu hiện : '' Tỏ lòng '' ( Thuật hoài )<br>&nbsp;+ Ý nghĩa : như một lời thổ lộ khát vọng chiến công người anh hùng, thấy được vẻ đẹp con người và sức mạnh thời đại của trang lịch sử dân tộc.<br>&nbsp;<strong>- Bố cục : </strong><br>&nbsp; + Biểu hiện : 2 câu đầu và 2 câu cuối <br>&nbsp; + Ý nghĩa : hình tượng con người hùng dũng, kiên cường, có sức mạnh phi thường và tâm tình trí làm trai , khát vọng cống hiến,&nbsp; và hổ thẹn vì chưa trả nợ nước.<br>&nbsp;<strong>-&nbsp; So sánh :</strong><br>GIỐNG :&nbsp;<br>&nbsp; + Sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú tứ tuyệt .&nbsp;<br>&nbsp; + Câu từ đanh thép, chí khí.<br>&nbsp; + Thể hiện được ý chí của bậc danh tướng nhà Trần.<br>KHÁC :&nbsp;<br>&nbsp; + Dịch thơ : từ ngữ gần gũi, dễ hiểu. Dù hay nhưng chưa có âm điệu chắc chắn.<br>&nbsp; + Phiên âm : từ ngữ cổ điển, phức tạp. Âm điệu hùng hồn, quyết chí.<br>&nbsp;<br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://e.dowload.vn/data/image/2020/08/26/to-long.jpg" />
         <pubDate>2021-12-04 08:23:40 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928568122</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tổ 2 nhận xét tổ 3:</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928570879</link>
         <description><![CDATA[<div>*Ưu điểm:<br>-Nội dung tương đối đầy đủ<br>-Không bị lạc ý&nbsp;<br>*Góp ý:&nbsp;<br>-Nhóm bạn nên tách các mục sự nghiệp, cuộc đời, con người thành từng phần rõ ràng hơn<br>*Bổ sung:<br>-Nên cho thêm hình ảnh để bài thêm sinh động hơn</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-04 08:29:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928570879</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhận xét</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928570908</link>
         <description><![CDATA[<div>1. Ưu điểm<br>- Có cố gắng làm bài<br>- Tìm hiểu kĩ về cuộc đời tác giả<br>- Bố cục rành mạch, rõ ràng<br>2. Hạn chế<br>- Thiếu phần so sánh phiên âm và dịch thơ<br>3. Lời khuyên<br>- Nên phân chia hợp lí để bài hoàn thành đúng thời gian cô cho nhéee</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-04 08:29:04 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928570908</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tổ 3 nhận xét tổ 4:</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928572339</link>
         <description><![CDATA[<div>ƯU ĐIỂM:<br>- Hình thức trình bày: đẹp, dễ nhìn<br>- Nội dung: rõ rangf, rành mạch<br>BỔ SUNG:<br>- Cần thêm nội dung ngoài sgk<br><br></div><div>&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-04 08:31:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928572339</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tổ 5 nhận xét tổ 6</title>
         <author>dungnguyenhs1509</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928572841</link>
         <description><![CDATA[<div>- Ưu điểm:<br>&nbsp;+ Cách trình bày rõ ràng<br>&nbsp;+ Nội dung đầy đủ, chi tiết<br>- Góp ý:<br>&nbsp;+ Form chữ nên chỉnh to hơn một xíu thì sẽ rõ ràng hơn<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-04 08:32:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928572841</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 4 nhận xét nhóm 5</title>
         <author>halap78</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928574322</link>
         <description><![CDATA[<div>Ưu điểm :<br>- Đã có những thông tin cần thiết về tác giả<br>Nhược điểm :<br>- Chưa có phần tác phẩm<br>- Phần tác giả còn chưa lấy được nhiều thông tin ngoài SGK<br>Góp ý :<br>- Nên phân chia công việc hợp lí hơn để hoàn thành bài đầy đủ</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-04 08:34:04 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928574322</guid>
      </item>
      <item>
         <title>2. Đọc hiểu tác phẩm.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928574806</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><mark>Hoàn cảnh ra đời</mark></strong><mark>:</mark> Được sáng tác sau chiến thắng quân Mông-Nguyên của quân đội nhà Trần.<br><br><strong><mark>Thể thơ:</mark></strong> Thất ngôn tứ tuyệt.<br><br><strong><mark>Bố cục:</mark></strong><strong><br></strong>+ Phần 1 (2 câu đầu): hình tượng con người và quân đội thời Trần.<br>+ Phần 2 (2 câu cuối): nỗi lòng của người sáng tác.<br><br><strong><mark>Nhan đề:</mark></strong><strong> </strong>"Thuật hoài” (thuật: kể lại, bày tỏ; hoài: nỗi lòng) được hiểu là sự thổ lộ khát khao, mong muốn, bày tỏ hoài bão lớn lao và quan điểm riêng của tác giả – một dũng tướng tuổi trẻ tài cao.<br><strong><mark>So sánh phiên âm và dịch thơ:</mark></strong><br>Giống:<br>+ Đều là thể thơ thất ngôn tứ tuyệt<br>+ Thể hiện ý chí anh dũng của vị tướng nhà Trần.<br>Khác:<br>+ Dịch thơ chưa thể hiện rõ ý chí mà bản phiên âm mang lại. VD: hai từ “múa giáo” chưa thể hiện được hết ý nghĩa của hai từ “hoành sóc”.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://i.pinimg.com/originals/6b/43/5e/6b435e7a2da8bdd2df3e1fedba12091a.jpg" />
         <pubDate>2021-12-04 08:34:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928574806</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tổ 6 nhận xét tổ 1</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928578351</link>
         <description><![CDATA[<div>* Ưu điểm:<br>- Trình bày ngắn gọn, cô đọng<br>- Các mục phân tích rõ ràng<br>* Bổ sung:<br>- Hình ảnh minh hoạ<br>* Góp ý:<br>- các bạn cần thêm một số hình ảnh minh hoạ cho nội dung bắt mắt hơn</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-04 08:41:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928578351</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đọc hiểu kĩ tác phẩm</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928597647</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><mark>1. Câu 1:</mark></strong><mark> Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu</mark><strong><br>-Từ ngữ: </strong><br><mark>+ </mark>"Hoành sóc" với nghĩa là cầm ngang ngọn giáo làm bật lên tư thế hiên ngang, hùng dũng, oai nghiêm sẵn sàng đương đầu với hiểm nguy để bảo vệ tổ quốc. Cầm ngang ngọn giáo-&gt; múa giáo.<br><mark>+</mark>"Giang sơn" - non sông : không gian rộng lớn, mênh mông.<br><mark>+</mark>"Kháp kỉ thu": nghĩa là "vừa vặn mấy thu": Thể hiện sự đấu tranh không mệt mỏi dù thời gian đã trôi qua rất nhiều.<br><strong>-Hình ảnh:<br></strong><strong><mark>+</mark></strong><strong> </strong>Câu thơ mở đầu làm bật lên hình ảnh một tráng sĩ thời Trần đầy dũng cảm, mạnh mẽ với từ " Hoành sóc".<br><strong>-Biện pháp tu từ :</strong> <br><mark>+</mark> Hình ảnh ước lệ "kháp kỉ thu" thể hiện thời gian dài đằng đẵng ko biết đã trải qua bao mùa thu, thể hiện tinh thần đấu tranh bền bỉ.<br><strong>-Giọng điệu:</strong>&nbsp; <br><mark>+</mark>Mạnh mẽ, khí phách hiên ngang, lẫm liệt.<br><strong>-Nhận xét:</strong> <br><mark>+</mark>Câu thơ khiến hình ảnh tráng sĩ thời Trần ấy hiện lên đầy bền bỉ, anh dũng dù đã trôi qua ngần nấy mùa thu vẫn giữ vững cái phong độ ấy. Hình ảnh ấy vừa đẹp đẽ, biểu tượng cho sự kiên cường, bất khuất trấn giữ giang sơn vừa khiến con cháu đời sau phải nể phục vì cái đẹp ấy.</div><div><strong><br></strong><strong><mark>2. Câu 2: </mark></strong><mark>Tam quân tì hổ khí thôn ngưu</mark><br><strong>-Từ ngữ:</strong> <br><mark>+</mark>“Tam quân”: Ba quân –tiền quân, trung quân, hậu quân. Hình ảnh chỉ quân đội nhà Trần.<br><mark>+</mark>Quân đội được so sánh với “tì hổ” – hổ báo: loài mãnh thú chốn rừng sâu qua đó cụ thể hóa sức mạnh và sự dũng mãnh, khí thế hừng hực làm chủ của quân đội nhà Trần.<br><strong>-Hình ảnh: <br></strong><strong><mark>+</mark></strong>Tác giả làm rõ sức mạnh ấy bằng hình ảnh “khí thôn ngưu”: Là biểu tượng chỉ người trẻ tuổi mà khí phách anh hùng.<br><strong>-Biện pháp tu từ: <br></strong><mark>+</mark>So sánh, phóng đại.<br><strong>-Giọng điệu/nhịp điệu:</strong> <br><mark>+</mark>Bừng bừng khí thế, hiên ngang, hùng dũng, bất khuất.<br><strong>-Nhận xét:</strong> <br><mark>+</mark>Với các hình ảnh, tác giả đã thể hiện sự ngợi ca, tự hào về sức mạnh, khí thế của quân đội nhà Trần đập tan âm mưu xâm lược của kẻ thù.<br><br><strong><mark>3. Câu 3:</mark></strong><mark> Nam nhi vị liễu công danh trái<br></mark><strong>- Từ ngữ:</strong> vị liễu<br><strong>-&nbsp; Hình ảnh: </strong><br>&nbsp; <mark>+</mark> Nam nhi: chỉ một chàng trai còn trẻ<br>&nbsp; <mark>+</mark> Công danh: chiến công, sự nghiệp, danh thơm cho hậu thế<br><strong>- Biện pháp tu từ:</strong> nói quá<br><strong>- Giọng điệu:</strong> <br><mark>+</mark>Trầm lắng, suy tư=&gt; bộc lộ cảm xúc băn khoăn, trăn trở<br><strong>- Nhận xét: <br></strong><strong><mark>+</mark></strong>Qua câu thơ đã khẳng định được nghĩa vụ của một nam tử. Đồng thời nêu lên được khát vọng lập công của Phạm Ngũ Lão về quan điểm thiện chí làm trai.<strong><br><br></strong><strong><mark>4. Câu 4:</mark></strong><mark> Tu thính nhân gian tuyết vũ hầu</mark><br><strong>-Từ ngữ:</strong><br><mark>+</mark> Thính: lắng nghe.<br><mark>+</mark> Nhân gian: con người trên cõi đời.<br><mark>+</mark> Thuyết: hệ thống tư tưởng hoặc những câu chuyện.<br><strong>-Hình ảnh:</strong><br><mark>+</mark>Khi nghe người ta kể chuyện Vũ hầu, Phạm Ngũ Lão trong lòng chỉ thấy "thẹn" trước tấm gương tài, cái "thẹn" ở đây vừa là sự tôn kính đối với Gia Cát Lượng, đồng thời cũng là khát vọng của trang nam tử với muốn mong muốn lập nhiều công danh hơn nữa.<br><strong>-Biện pháp tu từ:</strong> <br><mark>+</mark>Sử dụng biện pháp ẩn dụ để làm rõ nội tâm mình.<br><strong>-Giọng điệu thơ:</strong> <br><mark>+</mark>Đầy tâm trạng, ngẫm nghĩ, suy tư của một trang nam tử.<br><strong>-Nhận xét: <br></strong><strong><mark>+</mark></strong>Câu thơ thể hiện rõ con người của Phạm Ngũ Lão, người luôn mong muốn được lập nhiều chiến công hơn nữa mới xứng với thân phận nam nhi, xứng với Tổ quốc. Đó là cái tâm chân thành và đầy chí khí của một vị anh hùng.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://e.dowload.vn/data/image/2020/08/26/to-long.jpg" />
         <pubDate>2021-12-04 09:15:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928597647</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đọc KĨ bài thơ</title>
         <author>halap78</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928609924</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><mark>1. Hai câu thơ đầu</mark></strong><br><em>" Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu,<br>Tam quân tì hổ khí thôn ngưu "<br>( Múa giáo non sông trải mấy thu<br>Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu )</em><br><strong>- Ngôn từ :</strong></div><ul><li>“Hoành sóc” : tư thế vững trãi, kiên cường, uy dũng, sẵn sàng chiến đấu của người lính</li><li>“giang sơn” : Không gian rộng lớn chỉ chỉ non sông, đất nước, tổ quốc</li><li>“kháp kỉ thu” : mấy thu – mấy năm, thời gian trải dài, thể hiện quá trình bền bỉ chiến đấu lâu dài.</li></ul><div>=&gt; Nâng cao tầm vóc của người anh hùng vệ quốc, khiến họ trở nên lớn lao kì vĩ, sánh ngang tầm vũ trụ, trời đất, bất chấp sự tàn phá của thời gian họ vẫn luôn bền bỉ cùng nhiệm vụ với đất nước</div><ul><li>"Tam quân tì hổ" : ý chỉ quân đội dũng mãnh</li><li>"thôn ngưu" : có thể hiểu theo dịch thơ là "nuốt trâu" hoặc ý nghĩa khác là "khí thế át sao Ngưu", nhưng tóm lại đều ca ngợi sức mạnh vô địch, khí thế hiên ngang của quân đội nhà Trần</li></ul><div><strong>- Hình tượng</strong> : vẻ đẹp hùng dũng của người tráng sĩ cũng như hào khí hùng mạnh của quân đội thời đại Đông A<br><strong><mark>2. Hai câu thơ cuối</mark></strong><strong><br></strong><em>" Nam nhi vị liễu công danh trái,<br>Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu "<br>( Công danh nam tử còn vương nợ<br>Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu )<br></em><strong>- Ngôn từ :</strong></div><ul><li>“Công danh” : lập "công" là làm nên sự nghiệp, lập "danh" là để lại tiếng thơm. Ở đây thể hiện lý tưởng sống phổ biến của người con trai thời phong kiến</li><li>“Nợ” : Nghĩa vụ cần thực hiện, ở đây là nghĩa vụ của "nam tử" ngày xưa</li></ul><div>=&gt; Đó không là món nợ của bản thân mà là món nợ lớn với đất nước, là ý trí và tài năng của một người nam tử hán đại trượng phu, đầu đội trời chân đạp đất, dám hi sinh vì nghĩa lớn, vì sự nghiệp chung của toàn dân tộc.</div><ul><li>" Luống thẹn" : cảm thấy xấu hổ, không xứng đáng vì một việc nào đó</li><li>"Vũ hầu" : chỉ Gia Cát Lượng, người nổi tiếng có tài dùng bình, chung thành, có công giúp Lưu Bị lập nên nhà Thục Hán</li></ul><div>=&gt; Đó chính là sự chân thành, sự khiêm tốn, là cái tâm của Phạm Ngũ Lão – của con người thời Trần với khát khao trở thành một đấng nam nhi đích thực tựa nhân vật lịch sự lỗi lạc như Vũ hầu, lưu danh sử sách muôn đời.</div><div><strong>- Hình tượng</strong> : thể hiện lý tưởng sống cao đẹp của nam nhi thời phong kiến cùng cái chí, cái tâm của người anh hùng<br><br><strong><mark>Tóm lại<br></mark></strong>Với bút pháp nghệ thuật xây dựng hình tượng ngắn gọn, súc tích, "Tỏ lòng" của Phạm Ngũ Lão đã góp một làn gió thổi bừng những trang lịch sử chói lọi trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước của dân tộc. Đâu đó là hình ảnh một tướng sĩ oai nghiêm nhưng lại có trong mình trái tim nhạy cảm của một thi sĩ.<strong><mark><br></mark></strong><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://wallpapercave.com/wp/jRyVXqk.jpg" />
         <pubDate>2021-12-04 09:37:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928609924</guid>
      </item>
      <item>
         <title>3. Đọc hiểu kĩ bài thơ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928738771</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="http://www.knox.edu/images/_News/news_media/img/2020/Students_Studying_Library_Interior_12384.jpg" />
         <pubDate>2021-12-04 13:06:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928738771</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Câu 1: Hình tượng trang nam nhi nhà Trần</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928744905</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em>"Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu"<br>(Múa giáo non sông trải mấy thu)</em></strong><br><br><mark>- Tư thế “hoành sóc” - múa giáo</mark><br>&nbsp; &nbsp;+ Bản dịch nghĩa dịch “cắp ngang ngọn giáo” diễn đạt sự vững trãi, kiên cường, uy dũng, tư thế sẵn sàng chiến đấu của người lính.<br>&nbsp; &nbsp;+ Bản dịch thơ dịch thành “múa giáo”: Thiên về phô trương biểu diễn, không thể hiện sức mạnh nội lực vì vậy không truyền tải được ý nghĩa hình ảnh thơ trong nguyên tác.<br>- &gt; Bổ sung: sự chủ động <br><br><mark>- Không gian:</mark> “giang sơn” đây là một từ ghép rất hay, “giang” tức chỉ sông cũng tượng trưng cho đất, “sơn” tức chỉ núi cũng tượng trưng cho trời, như vậy ghép lại có nghĩa là sông núi. <strong><mark>(đất nước) </mark></strong>→ Không gian vũ trụ rộng lớn để nam nhi nói chí tỏ lòng, đặt con người sánh ngang với trời đất.<br><br><mark>- Thời gian:</mark> “kháp kỉ thu” - mấy thu, mấy năm<br>→ Thời gian trải dài, thể hiện quá trình bền bỉ chiến đấu lâu dài.<br><br>⇒ Cả câu thể hiện nhận thức sâu sắc của một người trai thời Trần,  <mark>tầm vóc con người lớn lao </mark>&nbsp;con người thời đại nhà Trần với tâm thế bền bỉ qua bao năm tháng khi đối diện với đất nước, non sông lớn lao, kì vĩ mang tầm vũ trụ. Đó là tầm vóc mang tính sử thi.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://e.dowload.vn/data/image/2020/11/23/Ket-bai-To-long-700.jpg" />
         <pubDate>2021-12-04 13:16:15 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928744905</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Câu 2: Sức mạnh của quân đội nhà Trần</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928755270</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em>"Tam quân tì hổ khí thôn ngưu"<br>(Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu)</em></strong><br><br><mark>- “Tam quân”:</mark> là tổ chức phiên thế quân đội thời xưa. Tiền quân, trung quân, hậu quân - quân đội của cả đất nước, tượng trưng cho sức mạnh dân tộc.</div><div><br><mark>-&nbsp; “tì hổ, khí thôn ngưu”:</mark><br>&nbsp; &nbsp;+ “tì hổ” – hổ báo: Tì là loài thú lai giống cọp và beo, hổ là cọp, "tì hổ" chỉ loài mãnh thú chốn rừng sâu dũng mãnh. -&gt; So sánh thể hiện <mark>sự dũng mãnh, oai hùng bậc nhất của quân đội nhà Trần.</mark><br>&nbsp; &nbsp;+ “Khí thôn ngưu”: ngưu ở đây có thể hiểu là con trâu (Phóng đại) hoặc sao ngưu. Là biểu tượng chỉ người trẻ tuổi mà <mark>khí phách anh hùng, mạnh mẽ</mark> lấn át cả trời cao, cả không gian vũ trụ bao la, rộng lớn -&gt; Ngụ ý quân đội nhà Trần bừng bừng khí thế chiến đấu và chiến thắng.&nbsp;<br>-&gt; Bổ sung: Câu thơ có sự kết hợp giữa bút pháp lãng mạn và hiện thực</div><div><br>-&gt; Lời thơ ước lệ, hào tráng, hình ảnh kì vĩ, đã cụ thể hóa sức mạnh, khí thế ngút trời của quân đội đời Trần qua ba lần chiến thắng bọn xâm lược Mông Nguyên.</div><div><br>=&gt; Với các hình ảnh <mark>so sánh, phóng đại</mark>, tác giả đã ngợi ca,&nbsp; <mark>sức mạnh, khí thế</mark> của <mark>quân đội nhà Trần</mark> đập tan âm mưu xâm lược của kẻ thù cũng như khí thế của <mark>dân tộc</mark>, của thời đại.<br><strong><mark>- Thái độ, tình cảm của tác giả: Lòng tự hào sâu sắc về sức mạnh của quân đội nhà Trần.</mark></strong></div><div><br><br><br></div><div><br><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://e.dowload.vn/data/image/2020/11/17/ve-dep-con-nguoi-va-quan-doi.jpg" />
         <pubDate>2021-12-04 13:30:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928755270</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Câu 3: Tự nhận thức sâu sắc về nghĩa vụ kẻ làm trai</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928764585</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em>"Nam nhi vị liễu công danh trái"<br>(Công danh nam tử còn vương nợ)</em></strong><br><br><mark>-“Công danh”:</mark> là công lao và danh tiếng, công danh là đỗ đạt và làm quan.<br><br><mark>- "công danh trái" - món nợ công danh:</mark> Theo quan niệm Nho giáo, đây là món nợ lớn mà một trang nam nhi khi sinh ra phải mang trong mình. Nó gồm 2 phương diện:<br>&nbsp; &nbsp;+ Lập công (để lại chiến công, sự nghiệp)<br>&nbsp; &nbsp;+ Lập danh (để lại danh thơm cho hậu thế)<br><br>=&gt; Kẻ làm trai phải làm xong hai nhiệm vụ này mới được coi là hoàn trả món nợ. Trong xã hội phong kiến, chí làm trai trở thành tuyên ngôn chung, xu hướng chung, quan niệm chung của tất cả các bậc nam nhi, trở thành lí tưởng tích cực có tác dụng to lớn đối với con người và xã hội.<br><br>- "vị liễu": chủ động, là lí tưởng.<br>- "vương nợ": bị động, bị ràng buộc.<br>-&gt; Bản dịch thơ chưa thể hiện được đúng ý thơ.<br><br><mark>- Giọng điệu:</mark> trầm lắng, suy tư, qua đó bộc lộ tâm trạng băn khoăn, trăn trở.<br><br>=&gt;&nbsp; Câu thơ thể hiện <mark>ý thức</mark> của nhà thơ nói riêng và các đấng nam nhi nói chung về <mark>trách nhiệm to lớn</mark> của mình đối <mark>với giang sơn, xã tắc.</mark></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-04 13:44:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928764585</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Câu 4: Nỗi thẹn của tác giả</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928766699</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em>"Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu"<br>(Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu)<br></em></strong><br><mark>- "Tu thính":</mark> hổ thẹn khi nghe<br><br><mark>- "nhân gian thuyết":</mark> nghe nhân dân, dân gian truyền tụng<br><br>- Theo quan niệm của Phạm Ngũ Lão, làm trai mà <mark>chưa trả được nợ công danh</mark> thì quả là <mark>đáng thẹn.</mark><br>&nbsp; &nbsp;+ "thẹn": cảm thấy xấu hổ, thua kém với người khác<br>&nbsp; &nbsp;+ "chuyện Vũ Hầu": tác giả sử dụng tích về Khổng Minh - tấm gương về tinh thần <em>"cúc cung tận tụy, đến chết mới thôi".</em><br>&nbsp; &nbsp;+ Ông <mark>so sánh</mark> mình <mark>với Vũ Hầu</mark> (Gia Cát Lượng - vị thừa tướng tài đức song toàn) để biết bản thân cần phải học hỏi, cố gắng, nỗ lực, đó là một tinh thần cầu tiến đáng trọng.&nbsp;</div><div><br>-&gt; Nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lão hết sức cao cả, đó là <mark>nỗi thẹn của một nhân cách lớn </mark>- một con người “cắt ngang ngọn giáo”, xông ra giữa trận tiền chống giặc suốt mấy thu rồi không nhớ nữa. Thế mà vẫn nghĩ mình chưa làm tròn trách nhiệm, còn nợ với non sông, đất nước; vẫn thấy “thẹn” khi nghĩ mình công danh vẫn chưa bằng được Vũ Hầu. Điều đó thể hiện v<mark>ẻ đẹp tâm hồn tác giả</mark>, thể hiện <mark>cái tâm vì nước vì dân</mark> cao đẹp.</div><div><br>=&gt; Thể hiện khát khao, hoài bão hướng về phía trước để thực hiện lí tưởng, đánh thức ý chí làm trai, chí hướng lập công cho các trang nam tử.</div><div><br>⇒ Với <mark>âm hưởng trầm lắng</mark>, suy tư và việc sử dụng <mark>điển cố điển tích</mark>, hai câu thơ cuối đã thể hiện <mark>tâm tư và khát vọng lập công</mark> của Phạm Ngũ Lão cùng <mark>quan điểm về chí làm trai</mark> rất tiến bộ của ông.</div><div><br>- Ngoài ra, các soạn giả còn cho rằng câu thơ cuối “thực chất là một lời thề suốt đời tận tụy với chủ tướng Trần Hưng Đạo...”, “có thể hiểu “thẹn” là cách nói thể hiện khát vọng , hoài bão muốn sánh với Vũ Hầu...”<br><br><br><br></div><div><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://img.ntdvn.com/2020/01/gcl-2.jpg" />
         <pubDate>2021-12-04 13:47:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928766699</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tổng kết</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928783153</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em>*Giá trị nội dung:<br></em></strong>- Bài thơ đã thể hiện được vẻ đẹp của con người thời Trần với tầm vóc vĩ đại, chí làm trai, nỗi thẹn toát lên vẻ đẹp của một nhân cách lớn.<br>- Đồng thời, bài thơ đã ngợi ca vẻ đẹp của thời đại với khí thế hào hùng mang tinh thần quyết chiến quyết thắng.<br><br><strong><em>* Đặc sắc nghệ thuật:</em></strong></div><div>- Sử dụng phép so sánh phóng đại, các hình ảnh ước lệ, điển cố.</div><div>- Bút pháp gợi, không tả, thiên về ấn tượng bao quát đạt tới độ súc tích cao, có tính sử thi.</div><div>- Ngôn ngữ ngắn gọn, hàm súc.<br><br><br></div><div><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://thuthuat.taimienphi.vn/cf/Images/ngoc/2020/11/16/so-do-tu-duy-bai-tho-to-long.jpg" />
         <pubDate>2021-12-04 14:11:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928783153</guid>
      </item>
      <item>
         <title>3, Đọc hiểu bài thơ</title>
         <author>dungnguyenhs1509</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928783832</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em><mark>a) Hai câu đầu</mark></em></strong></div><div>&nbsp;<mark>* Câu 1 – Vẻ đẹp của con người, tráng sĩ thời Trần.</mark></div><div>&nbsp; &nbsp; - <mark>Chủ thể</mark> trữ tình: tác giả - tráng sĩ đời Trần.</div><div>&nbsp; &nbsp; - Tư thế của con người: <em><mark>hoành sóc</mark></em><mark> </mark>=&gt; cầm ngang ngọn giáo.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; + Thể hiện tinh thần <mark>xông pha</mark>, dáng vóc <mark>hiên ngang</mark>, vững chãi, <mark>oai phong</mark>, lẫm liệt .&nbsp;</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; + Tư thế <mark>sẵn sàng</mark> xung trận với vũ khí chĩa thẳng về phía <mark>kẻ thù.</mark></div><div>&nbsp; &nbsp;- <mark>Thời gian</mark>: kháp kỉ thu (không phải trong <mark>chốc lác</mark> mà mấy năm rồi (<mark>trãi dà</mark>i theo năm tháng).</div><div>&nbsp; &nbsp;- Không gian: giang sơn, non sông, đất nước.</div><div>=&gt; <mark>Bối cảnh</mark> thời gian và không gian <mark>lớn lao, kì vĩ,</mark> làm nổi bật tầm vóc của con người. Có thể nói, ngọn giáo mà con người cầm chắc trong tay có chiều dài được đo bằng chiều dài của núi sông và con người ấy cũng mang tầm vóc của núi sông, của trời đất.</div><div>&nbsp; &nbsp;- <mark>Sứ mệnh</mark> của con người: <mark>trấn giữ</mark>, bảo vệ giang sơn =&gt; sứ mệnh <mark>thiêng liêng</mark>, cao cả.</div><div>=&gt; Câu thơ đầu của bài thơ dựng lên hình ảnh người tráng sĩ cầm ngang ngọn giáo mà trấn giữ đất nước, oai phong lẫm liệt.</div><div>&nbsp; <mark>* Câu 2: Vẻ đẹp của quân đội nhà Trần.</mark></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;- “Tam quân”: ba quân =&gt; hình ảnh quân đội nhà Trần, cũng là hình ảnh <mark>biểu trưng cho sức mạnh của dân tộc</mark>.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;- Hình ảnh so sánh: “tam quân tì hổ khí thôn ngưu”:</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;+ Ba quân như hổ báo, khí thế nuốt trôi trâu.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;+ Ba quân như hổ báo, khí thế át sao Ngưu.</div><div>=&gt; Hình ảnh so sánh vừa <mark>cụ thể hóa sức mạnh vật chất </mark>của ba quân, vừa <mark>khái quát hóa sức mạnh tinh thần</mark>, dũng khí của quân đội nhà Trần. Câu thơ gây ấn tượng mạnh bởi sự kết hợp giữa hình ảnh khách quan và cảm nhận chủ quan, giữa hiện thực và lãng mạn.</div><div>=&gt; Trong hai câu thơ đầu, hình ảnh tráng sĩ được lồng vào hình ảnh dân tộc một cách hài hòa, thể hiện rõ chất sử thi và hào khí Đông A</div><div><strong><mark>b)</mark></strong><strong><em><mark> Hai câu sau</mark></em></strong></div><div>&nbsp; &nbsp; <strong>- </strong>“Công danh trái”: <mark>nợ công danh</mark>, món nợ phải trả của kẻ làm trai, món nợ với cuộc đời, với non sông, đất nước.</div><div>&nbsp; &nbsp; - “Tu tính nhân gian thuyết Vũ Hầu”: t<mark>hẹn</mark> khi nghe chuyện Vũ Hầu =&gt; “Thẹn” vì chưa có tài mưu lược lớn Vũ Hầu Gia Cát Lượng để trừ giặc, cứu nước =&gt; Nỗi thẹn của sự <mark>khiêm tốn,</mark> của nhân cách cao đẹp, của một con người mang hoài bão, <mark>ý chí lớn lao</mark>.</div><div>=&gt; Hai câu thơ đã thể hiện thái độ <mark>tự vấn nghiêm khắc</mark>, lí tưởng sống cao đẹp, <mark>tình yêu</mark> nhân dân, đất nước <mark>cháy bỏng</mark> của Phạm Ngũ Lão.</div><div>=&gt; Nhà thơ đã không chỉ bộc lộc khát vọng riêng của mình mà còn thể hiện khát vọng của một dân tộc, một đất nước, một triều đại trong cuộc đấu tranh chống quân xâm lược Mông – Nguyên.<br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484180584/865366c4c7c49e906dc3bf785081bfb6/maxresdefault.jpg" />
         <pubDate>2021-12-04 14:11:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928783832</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phân tích Tỏ Lòng 2 câu đầu</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928794066</link>
         <description><![CDATA[<div>A,Từ Ngữ<br>-" hoành sóc ": Tư thế sẵn sàng chiến đấu oai phong lẫm liệt, ý chí lớn lao<br>-" giang sơn " : không gian rộng lớn, mênh mông<br>-" kháp kỉ thu ": thời gian bao la rộng mở được đo bằng năm<br>-" Tam quân tì hổ khí thôn ngưu": phép ẩn dụ ước lệ cộng thêm phép phóng đại đã cho thấy ba quân khí thế hùng mạnh át sao Ngưu&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp;<br>-&gt; Hình ảnh con người được tái hiện trong không gian, thời gian đó càng trở nên anh dũng, kì vĩ<br><br>B,Hình Tượng<br>-Hình ảnh người Tráng sĩ thời Trần hiện lên thật oai phong, vẻ đẹp hiên ngang, hùng mạnh cùng với ngọn giáo, được thể hiện qua từ " hoành sóc" , họ liên tục phải đấu tranh để bảo vệ quê hương, tổ quốc. Đó là tinh thần luôn muốn đem sức lực để cống hiến cho " giang sơn " đến từ ý thức của mỗi cá nhân<br><br>C,Nghệ Thuật<br>-Ngôn từ hàm súc, hình ảnh giàu sức khái quát<br>-Bút pháp nghệ thuật ẩn dụ ước lệ, phóng đại, so sánh đã cho thấy sức mạnh và tầm vóc của quân đội nhà Trần<br><br>D,Giọng điệu<br>-Giọng điệu hào hùng,mạnh mẽ</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-04 14:25:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928794066</guid>
      </item>
      <item>
         <title>2 câu sau: ước mơ, khát vọng của các tráng sĩ thời Trần.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928794612</link>
         <description><![CDATA[<div><br>A, Từ ngữ:&nbsp;<br><br>- Chí “nam nhi” – “công danh trái”: thời phong kiến, theo quy chuẩn nam nhi ngũ thường thì cuộc đời người nam nhi phải gắn liền với công trái.&nbsp;<br><br>- “Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu”: tác giả thấy hổ thẹn trước Vũ hầu (Vũ hầu ở đây là Khổng Minh, một vị tướng tài giỏi) vì chưa trả được công danh cho đất nước, cho cuộc đời.<br><br>B, Hình tượng:&nbsp;<br><br>- Hình tượng nam nhi đại trượng phu trong xã hội cũ, ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các quy chuẩn phong kiến. Son sắt cho rằng là nam nhi thì phải lập nên công trạng, công danh, để lại tiếng thơm cho đời. Đến khi nào vẫn chưa làm được thì thấy hổ thẹn với người đi trước, đồng thời đứng trước tướng tài, tâm sáng là Khổng Minh, ông cũng cảm thấy “thẹn”, cái thẹn ấy thể hiện sự kính trọng, muốn noi theo gương người. Tuy nhiên, gắn liền với hoàn cảnh ra đời có thể thấy dù Phạm Ngũ Lão đã dốc lòng làm việc cho Tổ quốc nhưng vẫn thấy thẹn với đời thì thấy được ông là một người có nhiều khát vọng, hoài bão về cống hiến.<br><br>C, Nghệ thuật:&nbsp;<br><br>- Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật<br>- Ngôn ngữ ngắn gọn, hàm súc.&nbsp;<br><br>D, Giọng điệu:<br><br>- Trái với hai câu đầu, hai câu cuối của bài mang giọng điệu trầm lắng, suy tư.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-04 14:26:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928794612</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tâm trạng của tác giả được bộc lộ qua bài thơ</title>
         <author>dungnguyenhs1509</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928814490</link>
         <description><![CDATA[<div>- Với <mark>tinh thần</mark> tràn đầy <mark>niềm tin </mark>cùng khí phách <mark>hiên ngang</mark> phi thường, Phạm Ngũ Lão đặt bút nói lên <mark>tiếng lòng ẩn sâu</mark> trong mình qua những trang giấy lưu danh. <br>- Không chỉ vậy, vị danh tướng nhà Trần luôn có một <mark>sự kiêu hãnh, tự hào</mark> về dân tộc, về nước non, về "<mark> Tam quân khí thế"</mark> của quê nhà. <br>- Cùng với đó, là <mark>ý chí ngay thẳng</mark>, quyết tâm nghiệp lớn của một nam nhân trong thời nước loạn giặc tràn, <mark>khẳng định</mark> những <mark>phẩm chất</mark>, những <mark>cốt cách</mark> mà một đấng hùng anh cần có để bảo vệ quê hương đất nước, chống giặc ngoại xâm</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484180584/a29fca8ce0b3f0367f68c458e0e8e001/t_i_xu_ng__14_.jpg" />
         <pubDate>2021-12-04 14:43:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928814490</guid>
      </item>
      <item>
         <title>ĐỌC HIỂU KĨ BÀI THƠ :</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928826167</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Hai câu thơ đầu :<br></strong><br><mark>“Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu”</mark><br>(Múa giáo non sông trải mấy thu)<br><br></div><div>- Hình ảnh người tráng sĩ đời Trần cầm ngang ngọn giáo trấn giữ đất nước được thể hiện qua những tầng bậc hình ảnh, ngôn từ.<br>- "Hoành sóc": Cầm ngang ngọn giáo thể hiện tư tưởng hiên ngang, vững chãi, oai phong lẫm liệt, luôn sẵn sàng giáp mặt với kẻ thù<br>- "Hoành sóc giang sơn": một hành động cụ thể của người tráng sĩ - trấn giữ non sông.<br>- "Kháp kỉ thu" (trải mấy thu): Con người xuất hiện với một tinh thần chiến đấu không hề mệt mỏi<br><br></div><div><mark>&nbsp;“Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”<br></mark>(Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu)<br><br></div><div>- Câu thơ "Tam quân tì hổ" đã sử dụng thủ pháp nghệ thuật so sánh. So sánh quân đội với loài hổ - chúa sơn lâm một thời của rừng xanh. Đó là sự khẳng định sức mạnh hùng vĩ của quân đội đồng thời nói lên tinh thần của đội quân đội ta đã biểu tượng cho cả một dân tộc.</div><div>- Hình ảnh “khí thôn ngưu” hay còn được hiểu là khí thế nuốt trâu. Ở đây, ta có thể ngưu ở hai khía cạnh là con trâu hoặc chòm sao Kim Ngưu. Mỗi một cách hiểu ta lại thấy khí thể của quân đội được bộc lộ khác nhau. Hiểu theo nghĩa thứ nhất, ta có thể nói khí thế của quân đội đã mạnh mẽ đến mức “nuốt” được cả một con trâu, một loài vật to lớn và mạnh mẽ. Thế nhưng ở lớp nghĩa thứ hai, khí thế ấy lại được phóng đại đến mức hùng vĩ, khi đã vươn lên tất thảy mọi quy luật thông thường để chạm tới cả vì sao và “nuốt” vì sao ấy.&nbsp;<br><br></div><div><strong>Hai câu thơ tiếp :</strong><br><br></div><div><mark>“Nam nhi vị liễu công danh trái”</mark><br>(Công danh nam tử còn vương nợ)<br><br></div><div>- Lí tưởng của người anh hùng đang được thể hiện rõ qua hai cặp từ “nam nhi và công danh”. Nhắc đến chí là nhắc đến chí làm trai, lập công là để lại công danh, sự nghiệp để lại danh tiếng cho muôn đời, công danh được coi là món nợ phải trả của kẻ làm trai. - Một danh tướng có nỗi trăn trở, canh cánh trong lòng là chưa trả xong nợ công danh mặc dù con người ấy đã lập lên bao nhiêu chiến công rồi. Đó chính là khát vọng, lí tưởng lớn lao muốn được phò vui giúp nước, trong không khí sục sôi của thời đại bấy giờ, chí làm trai có tác dụng cỗ vũ cho con người sẵn sàng chiến đấu giành lại hòa bình cho đất nước.<br><br></div><div><mark>“Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu”</mark><br>(Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu)<br><br></div><div>- “Vũ hầu” ở đây ý chỉ Khổng Minh Gia Cát Lượng, người giúp Lưu Bị lập nên nhà Thục Hán, là con người tận trung đã cống hiến cả cuộc đời cho nhà Thục và là một biểu tượng về chí làm trai.&nbsp;<br>- Phạm Ngũ Lão xấu hổ khi nghe chuyện Vũ hầu vì trước hết, ông thấy mình chưa lập được công danh, chưa trả xong nợ cho quê hương, đất nước.&nbsp;<br>- Mặt khác, ông thấy “thẹn” khi đứng trước tấm gương sáng cả về nhân cách lẫn tài năng của Gia Cát Lượng.<br>+ Cái “thẹn” ấy là sự kính trọng đối với Vũ hầu đồng thời cũng là khát vọng của trang nam tử muốn noi bước người xưa tận trung báo quốc, trả nợ công danh. Nếu chưa lập được công danh thì nói thẹn là điều dễ hiểu. Nhưng&nbsp; khi đã dốc hết lòng cho giang sơn gấm vóc mà vẫn nói thẹn thì phải thấy khát vọng của nhân vật trữ tình lớn đến độ nào.<br><br></div><div><strong>=&gt;</strong>&nbsp; Qua bài thơ, hiện lên hình ảnh của đấng nam nhi thời đại Bình Nguyên, với khát vọng có thể phá được cường địch để báo đáp hoàng ân, để non sông được vững vàng. Vẻ đẹp của người anh hùng lồng trong vẻ đẹp của thời đại làm nên hào khí của thời đại nhà Trần, hào khí Đông A. Bài thơ cũng là nỗi lòng riêng của Phạm Ngũ Lão về khát vọng lí tưởng, về nhân cách của con người phải được giữ gìn.<br><strong>Các biện pháp nghệt thuật :</strong></div><div>- Sử dụng điển cố, các hình ảnh ước lệ<br>- Bút pháp gợi, không tả, kể chi tiết kết hợp với biểu cảm</div><div>- Sử dụng các biện pháp so sánh, ước lệ độc đáo</div><div>- Ngôn ngữ ngắn gọn, hàm súc.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-04 14:59:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1928826167</guid>
      </item>
      <item>
         <title>📍Nguyễn Hà Phương </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929161243</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1485117878/fb11f4b9b345aecfbdbbce976de7e5c2/inbound5731028112170303550.webp" />
         <pubDate>2021-12-05 02:54:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929161243</guid>
      </item>
      <item>
         <title>4, Tổng kết:</title>
         <author>dungnguyenhs1509</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929164520</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;<mark>&nbsp;- Nội dung:</mark><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;+ Bài thơ là <mark>bức chân dung tinh thần</mark> của tác giả đồng thời cũng là <mark>vẻ đẹp </mark>của <mark>con người thời Trần</mark>- có sức mạnh, lí tưởng, nhân cách cao đẹp, mang <mark>hào khí Đông A.</mark><br><mark>&nbsp; - Nghệ thuật<br></mark>&nbsp; &nbsp; &nbsp;+ Bài thơ được viết theo <mark>nhịp 4/3</mark><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;+ <mark>Thủ pháp gợi</mark>, thiên về ấn tượng bao quát, hàm súc, <mark>bộc lộ</mark> được toàn bộ <mark>tâm tư, suy nghĩ </mark>của tác giả trong từng câu thơ.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;+ <mark>Bút pháp nghệ thuật</mark> hoành tráng <mark>có tính sử thi</mark> với hình tượng thơ lớn lao, kì vĩ.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-05 03:01:48 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929164520</guid>
      </item>
      <item>
         <title>🍀 Phạm Nguyễn Thảo Vi</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929217200</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1485940117/315aa314e179ecc9460c4a6d86f5f54a/image.jpg" />
         <pubDate>2021-12-05 04:57:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929217200</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lê Thảo Nguyên </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929257096</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484333354/25b3a426778ccc995c9c86a6fcd92170/263373637_270764181578891_736983831978906003_n.jpg" />
         <pubDate>2021-12-05 06:22:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929257096</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lê Thảo Nguyên ( tiếp)</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929257368</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484333354/273d9b63a405fc5be3b3de9e643ebbf3/263285179_650189906139287_6649038007102843936_n.jpg" />
         <pubDate>2021-12-05 06:23:27 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929257368</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thanh Thảo</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929317663</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1485081461/a9361d8d98eb15523919b9ba8a0bb421/IMG_20211205_151632.jpg" />
         <pubDate>2021-12-05 08:18:59 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929317663</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thuý Hằng</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929371581</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484350492/ebf27b7d4818dfc0cd92d866056d0669/z2994708507600_61f909b12e39f79d6a6c872d443ee1ca.jpg" />
         <pubDate>2021-12-05 09:46:17 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929371581</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đỗ Minh Ngọc</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929523454</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1486200089/85cd5ea5defb4935271868f9e7ed078d/received_624688385618480.jpeg" />
         <pubDate>2021-12-05 13:22:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929523454</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đặng Hà Trân </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929524212</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1486200089/dc6bb0873a43a0e2c20b43b9c516689a/IMG_20211205_201901.jpg" />
         <pubDate>2021-12-05 13:22:47 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929524212</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Ngọc Minh Anh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929537335</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1483642706/f35e7ddcf0c458f0d9713a2dc4eac955/16387113469905649032995391751120.jpg" />
         <pubDate>2021-12-05 13:37:20 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929537335</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vũ Thị Thu An</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929550311</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1485208644/2fe31e402b6a6e2f60d9a8257d289f7f/IMG_20211205_122110.jpg" />
         <pubDate>2021-12-05 13:50:43 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929550311</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Anh Thư</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929556768</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1485080867/2fe0f63aaa54ac31cdc0e7ef29daa05c/IMG20211205205634.jpg" />
         <pubDate>2021-12-05 13:57:32 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929556768</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Vi Thảo </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929573506</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1486244242/2043ce7c07bcd17763dfc69a2e06e43f/image.jpg" />
         <pubDate>2021-12-05 14:14:32 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929573506</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thu Huyền </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929585290</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1486270998/ff02a1e82b92d8d0876b66c4ca37a4c9/77F0A264_6169_4E37_9DC5_91B3DEF818C2.jpeg" />
         <pubDate>2021-12-05 14:26:32 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929585290</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Gợi ý</title>
         <author>hangtrang191</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929585764</link>
         <description><![CDATA[<div>- Liên hệ, so sánh với các bài thơ khác cùng đề tài, chủ đề của cùng tác giả, hoặc tác giả khác.<br>- Liên hệ bản thân, rút ra bài học sâu sắc cho chính mình và mọi người.<br>- Từ bài thơ đã đọc hiểu nhận ra đặc trưng, giá trị của văn chương.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://images.unsplash.com/photo-1571235722431-c2b865ecaa4b?crop=entropy&amp;cs=srgb&amp;fm=jpg&amp;ixid=Mnw3ODI2fDB8MXxzZWFyY2h8NzAwfHwlQzQlOTElRTElQkIlOERjJTIwaGklRTElQkIlODN1JTIwdiVDNCU4M24lMjBiJUUxJUJBJUEzbiUyMHMlQzMlQTJ1fGVufDB8fHx8MTYzODcxNDUyNQ&amp;ixlib=rb-1.2.1&amp;q=85" />
         <pubDate>2021-12-05 14:27:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929585764</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Bùi Vũ Hoài Thanh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929588422</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1485248956/b48e6e202f13803c21380bdd8cfcccb0/image.png" />
         <pubDate>2021-12-05 14:29:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929588422</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Thị Thanh Thư</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929613708</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1486336943/c5ce3185134bdcd1e8746bbea1863dcb/inbound139418942330156846.jpg" />
         <pubDate>2021-12-05 14:55:07 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929613708</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Minh Anh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929615904</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1486338330/cba29694669b21a3299266109b538a6b/20211205_215617.jpg" />
         <pubDate>2021-12-05 14:57:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929615904</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Thu Huyền </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929618353</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1486340236/98ede8abf23b52c1b8d5e778c6c9cd5e/782D5F57_DF6F_479E_A7FB_3C58C81AABF2.jpeg" />
         <pubDate>2021-12-05 14:59:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929618353</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thùy Dung</title>
         <author>dungnguyenhs1509</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929623130</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484180584/f86b10e0e171312be1ca13c63686acd9/z2995557912139_ac0a39a7c5c62ccb3bab6840f0e5c1e8.jpg" />
         <pubDate>2021-12-05 15:04:07 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929623130</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>ngaphuongnguyen26</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929625677</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1483652031/e1032d022393d958b669028e2a2dd5bb/image.png" />
         <pubDate>2021-12-05 15:06:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929625677</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Quách Thảo Nguyên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929631824</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1486307711/f7e9dcf8864c9aa0f56f8a9a1f409613/6CEB7611_EF52_48FE_9941_E0AB8A1EACC7.jpeg" />
         <pubDate>2021-12-05 15:13:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929631824</guid>
      </item>
      <item>
         <title>📍Nguyễn Hà Phương</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929688982</link>
         <description><![CDATA[<div><mark>*So sánh Tỏ lòng (Phạm Ngũ Lão) và Cảnh ngày hè (Nguyễn Trãi)</mark><br> <br><strong>&nbsp;- Điểm chung</strong> của hai bài thơ: Vẻ đẹp của hùng tâm tráng chí, của lòng yêu nước. <br> <br><strong>&nbsp;- Điểm Khác:</strong><br> + Tỏ lòng: là lời bày tỏ, <mark>bộc lộ trực tiếp lí tưởn</mark>g cao cả, khí phách anh hùng, chí hướng lập thân của Phạm Ngũ Lão. Nỗi thẹn của người anh hùng chính là sự thể hiện hoài bão, khát vọng lập công lớn và lưu lại tiếng thơm muôn đời. Mong muốn được sánh ngang Vũ Hầu để phò tá Hưng Đạo Vương, giúp ích cho đất nước. =&gt; Bài thơ thiên về bày tỏ <mark>chí làm trai </mark>của một trang nam nhi, <mark>hình ảnh thơ kì vĩ, hiên ngang. </mark><br>&nbsp;<br>&nbsp;+Cảnh ngày hè: <mark>thể hiện tâm hồn</mark> thiết tha yêu đời, nặng lòng vì dân, vì nước <mark>qua bức tranh thiên nhiên</mark> tràn đầy sức sống cùng khung cảnh <mark>cuộc sống</mark> gợi vẻ đẹp thanh bình, ấm no. Lí tưởng mà Nguyễn Trãi ôm ấp là giúp vua làm cho đất nước thái bình, nhân dân thịnh vượng. Lúc được nhà vua tin dùng cũng như khi thất sủng, nỗi niềm lo nước, thương dân luôn canh cánh bên lòng ông =&gt; Bài thơ thiên về <mark>nỗi lòng vì nước vì dân,</mark> mong giang sơn được thái bình ấm no, <mark>hình ảnh thiên nhiên thơ mộng, rực rỡ. <br>&nbsp;</mark><br>&nbsp;<br>&nbsp;<mark>*So sánh Cảm Hoài (Đặng Dung) và Tỏ lòng</mark><br> <br><strong>&nbsp;- Điểm chung:</strong> hình ảnh người tráng sĩ trong cả hai bài thơ đều có lòng yêu nước sâu sắc, có ý chí, hoài bão lớn lao, đều là những con người đáng trọng. <br> <br> <strong>– Điểm riêng:</strong><br>&nbsp; + Trong Thuật hoài: <mark>tráng sĩ gặp thờ</mark>i -&gt; mang âm hưởng hào hùng, dũng mãnh của một đấng nam nhi có chí khí, quyết tâm phấn đấu để giúp ích cho đất nước, nhân dân.<br> <br> + Trong Cảm hoài: <br> • hình tượng người anh hùng bất đắc chí bởi “sinh bất phùng thời”. <br> • <mark>tráng sĩ thất thế </mark>-&gt; tâm trạng bi phẫn, âm hưởng bi tráng đớn đau của một người có chí hướng nhưng vì tuổi tác, tháng ngày chẳng còn bao lâu mà không làm nên nghiệp lớn. Dẫu vậy, ý thơ vẫn lấp lánh một khát vọng lớn lao, cao cả - khát vọng phò vua cứu nước: "Trí chủ hữu hoài phù địa trục." <br><br><mark>*Bài học rút ra:</mark><br>- Không cần phải lập công lớn, làm những việc vĩ đại như Phạm Ngũ Lão, chỉ cần bản thân cố gắng phấn đâu hoàn thiện mình, sống đẹp, làm những việc nhỏ nhưng có ích cho xã hội. Ví dụ trong thời điểm dịch bệnh, mình chỉ cần không đi chơi lung tung và học onl chăm chỉ là đã đóng góp cho xã hội rồi. Mỗi cá nhân đều có ảnh hưởng tới xã hội!&nbsp;<br>- Không nên tự cao, ngạo mạn mà nên khiêm tốn, phấn đấu cải thiện bản thân, trở thành phiên bản tốt nhất của mình.<br><br><br><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-05 16:16:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929688982</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thuý Hằng</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929694789</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>*Điểm giống với bài thơ “Nợ nam nhi” của Nguyễn Công Trứ:<br></strong><br></div><div>- Điểm chung là khao khát khẳng định một cái gì đó của người nam nhi trong cuộc đời này, là khao làm nên một sự nghiệp bằng hành động thực tiễn chứ không phải lí thuyết, sách vở. Họ đứng từ góc độ hành động thực tiễn để phát huy chí nam nhi. Người quân tử không sợ khó khăn gian khổ, không sợ kẻ mạnh, không sợ chết; quyết tâm bảo vệ non sông đất nước khỏi bị xâm lăng.<br><br></div><div><strong>*Liên hệ bản thân:</strong><br><br></div><div>- Đối với bản thân em, đó là một trong những đức tính tốt và cần thiết trong mỗi người, kể cả con gái. Dù trong hoàn cảnh nào, thời đại nào thì cũng cần phải biết nhìn xa trông rộng, biết đặt lợi ích chung lên hàng đầu, luôn luôn có chí tiến thủ, nghĩ đến công danh sự nghiệp. Không tự cao tự đại, không ngại khó, cố gắng vượt qua mọi thử thách và nhiệm vụ được giao để phát triển bản thân, tích luỹ kiến thức và kinh nghiệm.<br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-05 16:23:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929694789</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Anh Thư</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929705525</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484160620/9c64ff0c5d5692fda6e6e77547bbf49c/_nh.jpg" />
         <pubDate>2021-12-05 16:36:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929705525</guid>
      </item>
      <item>
         <title>bài làm đọc sâu</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929708317</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>-Diệu Ngân ( nộp bài ạ )</strong><br>Yêu nước và tự hào dân tộc là một trong những tình cảm thiêng liêng nhất của mỗi người dân Việt Nam. Tình cảm ấy thấm đẫm trong tâm hồn dân tộc và dạt dào lai láng trên những trang thơ văn.Tỏ lòng là một áng thơ như thế ! .Tỏ lòng không phải là sáng tác duy nhất về những con người bất khuất hùng mạnh thời Trần mà bên cạnh đó bài thơ Nam Quốc Sơn Hà cũng khơi nguồn tinh thần yêu nước vững mạnh của nhân dân ta.Ở bài thơ Tỏ lòng, hình ảnh người tráng sĩ cho ta thấy một tư thế hiên ngang, mạnh mẽ, hào hùng, sẵn sàng lập nên những chiến công vang dội được sánh với núi sông, đất nước, với tầm vóc hùng vĩ của&nbsp; vũ trụ thì qua bài thơ Nam Quốc Sơn Hà của Lý Thường Kiệt đã khắc họa niềm tin chiến thắng kẻ thù ,bảo vệ chủ quyền bằng giọng điệu hào hùng ,mãnh liệt ,khí thế.Như vậy hai bài thơ trên đã đem lại cho chúng ta những bài học cũng như những tấm gương quý giá về con người , về tinh thần yêu nước sâu sắc của nhan dân ta.Đó là thứ tìnhh cảm thiêng liêng vô cùng quý giá.Mỗi người chúng ta đang được sống trong thế giới hòa bình là sự hi sinh của ông cha ta đổi lại.Vì vây,hãy sống có ước mơ hoài bão ,không bị khuất phục bởi khó khăn ,thử thách mà hãy vượt lên trên tất cả để biến ước mơ thành hiện thực.Hãy có trách nhiệm với cá nhân và đặc biệt là đất nước.<br><br></div><div><br></div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-05 16:40:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1929708317</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>ngaphuongnguyen26</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930042542</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1483652031/02ba9d7e16646085d4798af9c6905c9b/T__L_NG.docx" />
         <pubDate>2021-12-06 00:27:40 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930042542</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Thanh Thuỷ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930118676</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1486809891/9cdf4f198459c7ccbbf5341a4286c774/image.jpg" />
         <pubDate>2021-12-06 01:30:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930118676</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hà Phương nhận xét</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930196428</link>
         <description><![CDATA[<div>- Ưu điểm:&nbsp;<br>+ Các bạn đã có ý thức tìm hiểu bài<br>+ Trình bày dễ nhìn<br>+ Nội dung khá đầy đủ<br>- Bổ sung:<br>+ Các bạn nên có phần nhận xét, chốt lại sau khi phân tích một câu thơ<br>+ phần tổng kết nên có thêm giá trị nội dung<br>- Lời khuyên: chia các phần thành từng mục riêng để phần trình bày khoa học hơn<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 02:26:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930196428</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Anh Thư - Nhóm 2</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930197447</link>
         <description><![CDATA[<div>Ưu điểm<br>- Về nội dung: tương đối đầy đủ<br>Góp ý<br>- Các bạn nên tách thành các ý<br>- Nên thêm các hình ảnh cho bài thêm sinh động</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 02:27:07 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930197447</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thùy Dung ( Nhóm 5 )</title>
         <author>dungnguyenhs1509</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930197734</link>
         <description><![CDATA[<div>- Ưu điểm:<br>&nbsp; + Phân tích chi tiết, đầy đủ, dễ hiểu<br>&nbsp; + Phân chia các mục rõ ràng.<br>&nbsp;- Góp ý:<br>&nbsp; + Nên bổ sung phần nhận xét, đánh giá tổng quát về nội dung và nghệ thuật của bài thơ<br>  + Nên highlight các từ khóa quan trọng</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 02:27:20 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930197734</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 5: Phạm Nguyễn Thảo Vi🍀 </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930199364</link>
         <description><![CDATA[<div>2 ưu điểm:&nbsp;<br>- Các bạn đã có nội dung đầy đủ, khá chi tiết và rõ ràng.&nbsp;<br>- Từ ngữ dễ phân tích, dễ hiểu, khái quát được các ý trong bài&nbsp;<br>1 bổ sung:&nbsp;<br>- Phần biện pháp tu từ có thể chỉ rõ hơn là được sử dụng ở đâu.&nbsp;<br>1 góp ý:&nbsp;<br>- Các ý mong sẽ được tách bạch và câu từ rõ hơn một chút nha</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 02:28:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930199364</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hồng Nhung nxet bài nhóm 3</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930200679</link>
         <description><![CDATA[<div>*Ưu điểm:<br>- Nội dung bài viết khá đầy đủ<br>- Có phân chia các phần nội dung ( trong và ngoài sgk)<br>*Góp ý:<br>- Nên tách các phần ra thành nhiều tab để dễ quan sát hơn<br>*Bổ sung:<br>- Nên có nhiều hình ảnh để giúp bài đặc sắc hơn<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 02:29:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930200679</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Duyên nhận xét: </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930200869</link>
         <description><![CDATA[<div>*Ưu điểm:<br>-Nội dung tương đối đầy đủ<br>-Không bị lạc ý&nbsp;<br>*Góp ý:&nbsp;<br>-Nhóm bạn nên tách các mục rõ ràng hơn<br>*Bổ sung:<br>-Nên cho thêm hình ảnh để bài thêm sinh động hơn và phong phú hơn</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 02:29:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930200869</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Minh Anh (nhóm 4) nhận xét nhóm 5</title>
         <author>halap78</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930202794</link>
         <description><![CDATA[<div>- Ưu điểm :<br>&nbsp; + Đã phân tích được những từ ngữ làm nổi bật hình ảnh, ý nghĩa bài thơ<br>&nbsp; + Từ những câu từ đã phân tích rút ra được suy nghĩ của tác giả<br>&nbsp; + Trình bày đủ ý, có highlight các từ ngữ quan trọng, có hình minh họa đặc sắc<br>- Nhược điểm : còn một số phần nội dung tương đương nhau lặp lại làm bài bị dài<br>- Bổ sung :<br>&nbsp; + Nên lược bớt một số từ ngữ và câu từ với ý nghĩa tương đương nhau để bài trông gọn hơn<br>&nbsp; + Nên để các câu, chữ phân tích vào ngoặc kép để thể hiện trích từ bài thơ ra</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 02:30:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930202794</guid>
      </item>
      <item>
         <title>nhận xet</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930203245</link>
         <description><![CDATA[<div>Nguyễn Diệu Ngân<br>*Ưu điểm<br>-Nội dung đầy đủ,rõ ràng<br>-Phân tích dễ đọc dễ nhìn dễ hiểu<br>-Tinh thần làm vc nhóm cao<br>*Góp í<br>Các bạn nên khái quát lại nội dung phần tổng kết<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 02:31:17 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930203245</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhận xét của Nguyễn Thuý Hằng:</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930204137</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Ưu điểm:</strong><br>- Bài làm đầy đủ, chia bố cục để phân tích rõ ràng.<br>- Trình bày khoa học, dễ hiểu.<br><strong>Bổ sung:</strong><br>- Khái quát thêm về nghệ thuật.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 02:31:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930204137</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đặng Hà Trân (Tổ 6) Nhận xét tổ 1</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930204913</link>
         <description><![CDATA[<div>Ưu điểm :<br>&nbsp;- Các bạn đã đọc hiểu được bài thơ<br>- Giải thích được từ Hán Việt và nghĩa của câu thơ<br>- Tìm ra được nghệ thuật của bài thơ và giọng điệu riêng của 2 mặt khác nhau trong bài.<br>Nhược điểm :<br>- Nhóm bạn vẫn chưa so sánh với bản dịch thơ&nbsp;<br>- Chưa có phần hình ảnh khiến bài đăng đẹp mắt hơn.<br>&nbsp;Lời khuyên :<br>Nên so sánh với bản dịch thơ để bài đọc hiểu được sâu hơn và có thể chèn được hình ảnh để bài thu hút hơn<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 02:32:31 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930204913</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Minh Trang nhận xét tổ 2</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930205005</link>
         <description><![CDATA[<div>* Ưu điểm<br>&nbsp;Bài làm rõ ràng, rành mạch, khá đầy đủ. Có sự tìm hiểu kĩ về cuộc đời tác giả<br>&nbsp;* Nhược điểm<br>Vì các bạn tìm hiểu kĩ nên có hơi dài , khó ghi nhớ nhiều thông tin<br>* Lời khuyên<br>Các bạn nên rút gọn í để bài được hoàn hảo hơn nhe<br>&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 02:32:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930205005</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 5 : Nguyễn Thanh Thảo</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930205897</link>
         <description><![CDATA[<div>- Về phần ưu điểm : nhóm bạn đã làm được phần nội dung rõ ràng , chi tiết và dễ hiểu. Không bị lạc ý và bố cục hoàn chỉnh.<br>- Về phần góp ý : ở câu 2 nên chỉ rõ biện pháp so sánh và phép phóng đaị<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 02:33:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930205897</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Thị Thanh Thư - Nhóm 3</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930206106</link>
         <description><![CDATA[<div>* Ưu điểm</div><div>- Các bạn đã có ý thức làm bài</div><div>- Nội dung tương đối đầy đủ</div><div>* Bổ sung</div><div>- Các bạn nên bổ sung thêm bài học rút ra</div><div>* Góp ý</div><div>- Các bạn nên thêm nhiều hình ảnh để bài làm sinh động hơn<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 02:33:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930206106</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thu Trang Tổ 6 nhận xét Tổ 1</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930206303</link>
         <description><![CDATA[<div>- Ưu điểm:<br>+ Hình thức trình bày đẹp, rõ ràng, dễ nhìn.<br>+ Nội dung phân tích kĩ và dễ hiểu.<br>- Nhược điểm.<br>+ Không có hình ảnh minh họa nội dung nên nhìn phần trình bày khá là đơn giản.<br>- Góp ý<br>+ Các bạn nên có thêm nhiều hình ảnh minh họa hơn.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 02:33:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930206303</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phương Nga nhận xét nhóm 4</title>
         <author>ngaphuongnguyen26</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930207465</link>
         <description><![CDATA[<div>*Ưu điểm: &nbsp;<br>&nbsp;Các bạn đã nêu được các nội dung ở bản cần biết, phân tích kĩ được bài thơ và tóm được ý chính.&nbsp;<br>Hình ảnh minh họa phong phú.&nbsp;<br>Phân chia bố cục rõ ràng, rành mạch.&nbsp;<br>*Lời khuyên:&nbsp;<br>Các bạn nên bổ sung cả những thông tin ở ngoài sgk<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 02:34:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930207465</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Quách Thảo Nguyên-nhóm 6</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930208069</link>
         <description><![CDATA[<div>Ưu điểm:                                                              - Nội dung tương đối đầy đủ                                   - Các phần rõ ràng                                                         Góp ý:                                                                           - Các bạn nên cho thêm ảnh để bài thêm sinh động hơn                                                                     Bố sung                                                                                         - Phần tổng kết, đánh giá toàn bài thơ                                                                         </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 02:34:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930208069</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thu Trang tổ 6 nhận xét tổ 1</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930208951</link>
         <description><![CDATA[<div>- Ưu điểm:<br>+ Hình thức trình bày đẹp, rõ ràng, dễ nhìn.<br>+ Nội dung phân tích kĩ và dễ hiểu.<br>- Nhược điểm.<br>+ Không có hình ảnh minh họa nội dung nên nhìn phần trình bày khá là đơn độc và không hút mắt độc giả cho lắm<br>- Góp ý<br>+ Các bạn nên có thêm nhiều hình ảnh minh họa hơn.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 02:35:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930208951</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hoài Thanh Nhận Xét</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930208993</link>
         <description><![CDATA[<div>-Ưu điểm + Nội dung khá đầy đủ<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; + Trình bày khoa học<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; + Khái quát ngắn gọn, súc tích<br>-Góp ý + cần thêm một số từ ngữ giúp tăng sự lôi cuốn và thuyết phục</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 02:35:20 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930208993</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 5: Nguyễn Ngọc Lan</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930210307</link>
         <description><![CDATA[<div>- Ưu điểm: bài của các bạn nội dung đầy đủ, trình bày rõ ràng.&nbsp; &nbsp; &nbsp; - Góp ý: Nên bổ sung hình ảnh thêm sinh động</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 02:36:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930210307</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Vi Thảo nhận xét nhóm 5</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930211054</link>
         <description><![CDATA[<div>các bạn nhóm 5 có ý thức hoàn thành bài tốt , trình bày dễ hiểu - khoa học , đủ ý ạ </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 02:36:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930211054</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Anh Thư nhận xét nhóm 1</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930212728</link>
         <description><![CDATA[<div>* ưu điểm:<br>- Trình bày khoa học, rõ ràng<br>- Đầy đủ ý, nội dung chi tiết<br>* Góp ý:<br>- nên cho thêm hình ảnh minh hoạ vào từng ND.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 02:37:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930212728</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hà Phương</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930293925</link>
         <description><![CDATA[<div>Theo em trong thời đại ngay nay, xã hội hướng tới nam nữ bình đẳng, ai cũng có thể thể hiện phát huy khả năng của mình. Vì vậy không chỉ nam nhi cần lập công danh mà nữ nhi cũng cần cố gắng phấn đấu, đóng góp cho xã hội. Hiện nay có rất nhiều người phụ nữ đã thành đạt, sánh ngang với các bậc nam nhi.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 03:36:08 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930293925</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vũ T Hồng Nhung </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930294160</link>
         <description><![CDATA[<div>Trong thời đại ngày nay, không chỉ Nam nhi mới cần lập công, danh. Vì hiện tại chúng ta đang sống trong một thế giới bình đẳng hơn trước kia, nên việc lập công danh là việc của tất cả mọi người. Không chỉ vậy, khi những nữ nhi lập công, lập danh thì chính là đang tự khẳng định vị trí, khả năng của bản thân, không thua kém bất kì nam nhi nào.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 03:36:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930294160</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Thu Huyền </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930294602</link>
         <description><![CDATA[<div>Trong xã hội hiện đại ngày nay, không chỉ có nam nhi cần có bản lĩnh và chí hướng mà tất cả mọi người đều cần sống có mục tiêu, có quyết tâm khẳng định chính mình, đóng góp cho cộng đồng, xã hội. </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 03:36:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930294602</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vũ Thị Thu An</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930295032</link>
         <description><![CDATA[<div>em nghĩ trong xã hội ngày nay cả nam và nữ đều phải có trách nhiệm lập công danh gây dựng công danh cho cuộc đời vì ngày nay xã hội đã bình đẳng giới và mỗi một công dân bất kể nam hay nữ đều phải có ý thức  , nghĩa vụ về trách nhiệm cao cả này . Ai cũng phải có chí tiến thủ , ước mơ , khát vọng lập được một chiến công lớn lao.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 03:37:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930295032</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thùy Dung</title>
         <author>dungnguyenhs1509</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930295189</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; Theo em, trong thời đại ngày nay, không chỉ có nam nhi mới cần lập công danh mà phụ nữ cũng cần phải làm điều tương tự. Việc phụ nữ lập nhiều công danh sẽ góp phần phá vỡ quan niệm " trọng nam khinh nữ" , khẳng định vai trò quan trọng của phụ nữ trong cuộc sống.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 03:37:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930295189</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Phương Nga</title>
         <author>ngaphuongnguyen26</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930295616</link>
         <description><![CDATA[<div>Em nghĩ trong thời đại ngày nay không chỉ trang nam nhi mới phải lập danh. Vì bây giờ thời đại đã tiến bộ, việc lập danh là để họ chứng tỏ bản thân của mình, đồng thời khẳng định vị trí của người phụ nữ trong xã hội đang ngày càng có chỗ đứng, sánh với nam nhi. Đồng thời điều ấy cũng làm giàu đẹp cho xã hội.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 03:37:33 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930295616</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thuý Hằng</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930295820</link>
         <description><![CDATA[<div>Theo em, ngày nay không chỉ con trai mới cần lập công và lập danh, điều này con gái hoàn toàn có thế làm. Xã hội bình đẳng, con trai có thế làm được gì thì con gái cũng có thế. Con gái có thế tự lập công danh cho mình, làm mọi thứ mà con trai có thế làm và có thể làm tốt hơn. Điều này rất cần thiết trong tất cả mọi người không chỉ riêng con trai.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 03:37:43 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930295820</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lê Thảo Nguyên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930295937</link>
         <description><![CDATA[<div>Theo em nghĩ, trong thời đại ngày nay không phải chỉ mỗi nam nhi mới cần lập công, lập danh mà kể cả nữ nhi cũng cần. Từ thời xa xưa, nữ nhi vẫn luôn bị đặt nhẹ hơn, lúc nào cũng bị nghĩ là phe yếu đuối, chỉ nên làm những việc nhỏ. Ngay cả thời đại ngày nay, nhiều người cx vẫn còn suy nghĩ ấy. Nên việc lập công, lập danh ở nữ nhi sẽ khiến đấng nam nhi phải nhìn bằng họ bằng cách khác, khiến họ tôn trọng người phụ nữ hơn.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 03:37:48 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930295937</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đỗ Minh Ngọc</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930296002</link>
         <description><![CDATA[<div>theo em thì không chỉ các đấng nam nhi mới cần lập công danh mà tất cả mọi người đều có quyền ước mơ, khát vọng và theo đuổi ước mơ riêng mình. Đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội mới, khi định kiến gần như mờ nhạt thì cơ hội để người phụ nữ thể hiện chính mình ngày càng nâng cao, họ sẽ dễ dàng tìm được niềm vui khi được theo đuổi đam mê của mình</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 03:37:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930296002</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Thanh Thuỷ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930296085</link>
         <description><![CDATA[<div>Theo em, trong thời đại tất cả chúng ta đang đấu tranh cho sự bình đẳng với phái nữ và cái nhìn thoáng hơn cho phái nam thì việc lựa chọn mình sống như nào là quyền của mỗi người. Xã hội không thể gò ép, cả nữ và nam hoàn toàn có thể sống lập công danh, hoặc không. </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 03:37:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930296085</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trả lời</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930296477</link>
         <description><![CDATA[<div>Diệu Ngân<br>-Ngày nay không phải chỉ nam nhi mới cần lập danh và lập công.Trong thế giới bình đẳng phụ nữ cũng có thể lập danh và công để làm chủ cuộc sống mình,làm chủ tài chính.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 03:38:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930296477</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Anh Thư</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930296597</link>
         <description><![CDATA[<div>Theo em ngày nay ko chỉ trang nam nhi mới cần lập công và lập danh mà những nữ nhi cũng cần phải làm như vậy. Vì ngày nay là thời đại nam nữ bình đẳng, những việc công danh, chính trị nữ giới vẫn có thể đảm nhiệm được.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 03:38:17 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930296597</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đặng Hà Trân</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930296824</link>
         <description><![CDATA[<div>Trong thời đại ngày nay không chỉ có các nam nhi phải lập công danh mà còn là các nữ nhi khi hiện nay hầu như cả hai bên nam nữ gần như bình đẳng, có quyền hạn và trách nhiệm tương đối giống nhau. Việc lập công danh cho mình,cho tổ quốc là việc chung không riêng gì của một cá nhân tập thể nào cả và mỗi người cần có trách nhiệm thực hiện và hoàn thành nó. Không quan trọng kết quả có quá rực rỡ hay quá nhỏ bé nhưng hãy cảm thấy vui vì bản thân đã lập nên công danh riêng bằng chính sức mình góp vào xã hội, vào cuộc đời và khẳng định bản thân mình trước những định kiến cổ hủ nữ nhi chỉ làm được những việc nhỏ, nam nhi mới làm được việc lớn<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://media0.giphy.com/media/3ohze1y2AJUOHiid8I/giphy.gif" />
         <pubDate>2021-12-06 03:38:28 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930296824</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Nguyễn Thảo Vi🍀</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930296919</link>
         <description><![CDATA[<div> Theo em, trong thời đại xã hội công bằng, nam nữ bình đẳng như ngày nay, thì không chỉ nam nhi mới cần lập công, lập danh.&nbsp;Bởi lẽ, giờ đây vẫn đã và đang có rất nhiều nữ nhi đóng góp cho sự phát triển và thành công của một đất nước hay cả xã hội, chúng ta đều có nghĩa vụ phải công hiến danh trạng của mình để ghi tên vào trang sử vẻ vang của cuộc đời. </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 03:38:32 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930296919</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Minh Anh</title>
         <author>halap78</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930297133</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;Theo em thì trong thời đại ngày nay không chi riêng nam nhi mới phải lập công danh, bởi xã hội đã phát triển hơn, bình đẳng giới đang ngày càng được khẳng định và những nữ nhi đang được tạp điều kiện để thể hiện tài năng của mình. Đã có nhiều tấm gương cho thấy phụ nữ cũng có thể lập công danh như bà Marie Curie, Park Geun-hye... Từ đó mà việc lập công danh đã trở thành nghĩa vụ của tất cả mọi người chứ không riêng gì đấng nam nhi như quan niệm xưa nữa.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 03:38:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930297133</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hoài Thanh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930297271</link>
         <description><![CDATA[<div>Khác với thời đại phong kiến, ngày nay yêu cầu có sự bình đẳng giới gữa nam và nữ. Chính vì vậy, không phải chỉ nam nhi mới cần lập công lập danh mà kể cả nữ nhi cũng cần được góp mặt. ai cũng có quyền và nghĩa vụ được phát triển, có ước mơ và một cái đích để hướng đến</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 03:38:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930297271</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930297381</link>
         <description><![CDATA[<div>Trong thời đại ngày nay, tất cả mọi người đều phải phát triển bản thân không chỉ mỗi nam nhi. Xã hội bình đẳng vậy nên mỗi người nên cố gắng, nỗ lực để tạo giá trị riêng cho bản thân, đóng góp những điều tốt đẹp cho xã hội</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 03:38:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930297381</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Ngọc Lan</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930297400</link>
         <description><![CDATA[<div>Em nghĩ trong thời đại ngày nay không chỉ nam nhi mới cần lập công danh. Vì tất cả mọi người đều nên có trách nhiệm với bản thân, gia đình và đất nước</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 03:38:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930297400</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Hà My                                                                  Em thưa cô là không ạ vì thời đại bình đẳng giữa nam và nữ vì thế mà phụ nữ cũng phải lập công để khẳng định tiếng nói, vị thế cũng như sức ảnh hưởng của mình trong thời đại xã hội hiện nay. Không giống như trc kia là phụ nữ luôn mờ nhạt và ko được coi trọng.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930297619</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 03:39:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930297619</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hà Nhật Vy</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930297921</link>
         <description><![CDATA[<div>Trong thời đại ngày ko chỉ có những nam nhi mới cần lập công và lập danh mà nữ quyền cũng làm được đó. Phái nữ dần đã gạt bỏ đinh kiến con gái phải ở nhà nấu cơm. Họ chứng minh đươc mình có thể cầm quyền. Dần dần xã hội đã bình đẳng hơn khi có những nữ quyền mãnh mẽ dám làm, dám đứng lên</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 03:39:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930297921</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thanh Thảo</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930298051</link>
         <description><![CDATA[<div>Trong thời đại ngày nay, khi xã hội đã có sự bình đẳng giữa nam và nữ thì e nghĩ không chỉ đấng nam nhi mới cần lập công và lập danh mà phụ nữ cũng có thể làm được điều đó , tất cả mọi người cũng có thể làm nên điều lớn lao để phát triển xã hội.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 03:39:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930298051</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Anh Thư</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930298231</link>
         <description><![CDATA[<div>Trong&nbsp;thời đại ngày nay, không phải chỉ nam nhi mới cần lập công lập danh, bởi nữ nhi cũng cần làm điều đó, bởi xã hội ngày nay đã trở nên phát triển công bằng và bình đẳng. Vì vậy, mỗi người chúng ta dù là nam hay nữ cũng cần có ước mơ, khát vọng, hoài bão để cống hiến cho đất nước, làm đất nước ngày càng phát triển hơn.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 03:39:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930298231</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn hà vy</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930298617</link>
         <description><![CDATA[<div>Theo&nbsp;em, không chủ nam nhi mới cần lập công danh mà nữ nhi cũng vậy. Việc này góp một phần không nhỏ vào việc đấu tranh cho sự bình đẳng giới. Hơn nữa, việc lập công danh là để khẳng định và nâng cao giá trị bản thân mỗi người chứ đó không phải là việc của riêng nam nhi</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 03:39:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930298617</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Ngọc Minh Anh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930298689</link>
         <description><![CDATA[<div>Trong thời đại ngày nay, không chỉ các trang nam nhi mới phải lập công, lập danh mà cả phụ nữ cũng vậy. Bởi vì trong xã hội hiện đại, nam và nữ có sự bình đẳng về vai trò và nghĩa vụ. Khi phụ nữ lập công đồng nghĩa với việc họ đã khẳng định vai trò quan trọng của mình trong xã hội, đồng thời góp phần xây dựng đất nước, xã hội phát triển.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 03:39:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930298689</guid>
      </item>
      <item>
         <title>phương linh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930299254</link>
         <description><![CDATA[<div>dù là nam nhi hay nữ nhi đều cần có ý thức&nbsp;<br>&nbsp;đóng góp công danh của mình cho cộng đồng xã hội.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 03:40:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930299254</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Quách Thảo Nguyên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930300991</link>
         <description><![CDATA[<div>trong thời đại ngày nay, em nghĩ không phải chỉ có nam nhi mới cần lập công và danh. Bởi ngày nay cuộc sống đã bình đẳng hơn, người phụ nữ cũng có thể theo đuổi công danh, sự nghiệp của mình. Xã hội cũng không bắt buộc con người họ phải theo một quy chuẩn chung để được tự do thực hiện ước mơ của mình</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 03:41:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930300991</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Duyên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930301050</link>
         <description><![CDATA[<div>theo em, ở thời đại hiện nay ko chỉ nam chi mới cần lập công danh, vì hiện nay cta dng ở thế giới&nbsp;bình đẳng, phụ nữ cũng có thể lập, những gì nam nhi làm thì nữ nhi cũng có khả năng làm dc</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 03:41:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930301050</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thu Trang</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930302043</link>
         <description><![CDATA[<div>Xã hội ngày nay đã có được sự bình đẳng nên sự công bằng giữa na và nữ đều như nhau. Không chỉ nam nhi mới cần phải lập công và lập danh mà nữ nhi cũng cần phấn đấu cố gắng, nếu nam nhi làm được thì nữ nhi cũng làm được. </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 03:42:31 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930302043</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thu Huyền</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930305538</link>
         <description><![CDATA[<div>Trong cuộc sống hôm nay, chí làm trai của lớp thanh niên có sự thay đổi do thời đại đã đổi thay vì thế không nên chỉ hiểu là chí hướng của nam giới mà nữ giới cũng cần lập công danh để tự khẳng định vai trò của bản thân . Chúng ta ngày nay đang sống trong thời bình và thời đại toàn cầu hoá. Để tồn tại và sống có ý nghĩa, mỗi người phải có công ăn việc làm, có trình độ học vấn, có bản lĩnh và biết thích nghi với những sự thay đổi, có phẩm chất và nhân cách tốt…</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 03:45:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930305538</guid>
      </item>
      <item>
         <title>HNhung</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930328015</link>
         <description><![CDATA[<div>1<strong>. Giá trị nội dung<br></strong><br></div><div>&nbsp; &nbsp; Bài thơ mang vẻ đẹp hào khí Đông A, thể hiện qua vẻ đẹp của con người và quân đội nhà Trần. Đồng thời, qua đó thể hiện tâm sự và lí tưởng sống cao đẹp của tác giả.<br><br></div><div>2<strong>. Giá trị nghệ thuật<br></strong><br></div><div>- Ngôn từ hàm súc, hình ảnh thơ giàu sức khái quát.<br><br></div><div>- Bút pháp nghệ thuật phóng đại, so sánh cùng âm hưởng khi hào hùng, mạnh mẽ, khi trầm lắng, suy tư để lại dư âm trong lòng người đọc.<br><br></div><div><br>3.<br>-Bài thơ Thuật hoài (Tỏ lòng) được làm bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn tứ tuyệt luật Đường, niêm luật chặt chẽ, ý tứ hàm súc, hình tượng kì vĩ, âm điệu hào hùng, sảng khoái. Hai câu thơ đầu khắc họa vẻ đẹp gân guốc, lẫm liệt, tràn đầy sức sống của những trang nam nhi - chiến binh quả cảm đang xả thân vì nước, qua đó thể hiện hào khí Đông A ngút trời của quân đội nhà Trần thời ấy.<br>-Lấy gương sáng trong lịch sử cổ kim soi mình vào đó mà so sánh, phấn đấu vươn lên cho bằng người, đó là lòng tự ái, lòng tự trọng đáng quý cần phải có ở một đấng nam nhi. Là một tùy tướng thân cận của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, Phạm Ngũ Lão luôn sát cánh bên cạnh chủ tướng, chấp nhận xông pha nơi làn tên mũi đạn, làm gương cho ba quân tướng sĩ, dồn hết tài năng, tâm huyết để tìm ra cách đánh thần kì nhất nhằm quét sạch quân xâm lược ra khỏi bờ cõi. Suy nghĩ của Phạm Ngũ Lão rất cụ thể và thiết thực; một ngày còn bóng quân thù là nợ công danh của tuổi trẻ với giang sơn xã tắc vẫn còn vương, chưa trả hết. Mà như vậy là phận sự với vua, với nước chưa tròn, khát vọng công danh chưa thỏa. Cách nghĩ, cách sống của Phạm Ngũ Lão rất tích cực, tiến bộ. Ông muốn sống xứng đáng với thời đại anh hùng.</div><div>Hai câu thơ sau âm hưởng khác hẳn hai câu thơ trước. Cảm xúc hào sảng ban đầu dần chuyển sang trữ tình, sâu lắng, như lời mình nói với mình cho nên âm hưởng trở nên thâm trầm, da diết.</div><div>Phạm Ngũ Lão là một võ tướng tài ba nhưng lại có một trái tim nhạy cảm của một thi nhân. Thuật hoài là bài thơ trữ tình bày tỏ được hùng tâm tráng trí và hoài bão lớn lao của tuổi trẻ đương thời. Bài thơ có tác dụng giáo dục rất sâu sắc về nhân sinh quan và lối sống tích cực đối với thanh niên mọi thời đại. Thuật hoài đã làm vinh danh vị tướng trẻ văn võ song toàn Phạm Ngũ Lão.</div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 04:05:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930328015</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phương Linh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930340807</link>
         <description><![CDATA[<div><mark>SO SÁNH</mark><strong><mark> :</mark></strong><strong><br> Tỏ lòng-Phạm Ngũ Lão &amp; Cảnh Ngày Hè - Nguyễn Trãi <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;</strong>Điểm chung của hai bài thơ: Vẻ đẹp của <em>hùng tâm tráng chí<br>* Tỏ lòng – Phạm Ngũ Lão:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;</em>Phạm Ngũ Lão là vị tướng trẻ tài giỏi thời Trần, bài thơ ra đời trong khí thế quyết chiến quyết thắng của nhân dân Đại Việt trong cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên lần thứ hai.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Phạm Ngũ Lão làm bài Thuật hoài vào cuối năm 1284, khi cuộc kháng chiến lần thứ hai đã đến rất gần. Bài thơ này là một tác phẩm nổi tiếng, được lưu truyền rộng rãi vì nó bày tỏ khát vọng mãnh liệt của tuổi trẻ trong xã hội phong kiến đương thời. Nội dung bài thơ khắc họa nổi bật vẻ đẹp của một con người có sức mạnh, có lí tưởng, nhân cách cao cả cùng khí thế hào hùng của thời đại . Bài thơ thể hiện quan niệm sống tích cực :làm trai phải trả cho xong món nợ công danh, có nghĩa là phải thực hiện đến cùng lí tưởng trung quân, ái quốc.Bài thơ là lời bày tỏ lí tưởng cao cả, khí phách anh hùng, chí hướng lập thân của Phạm Ngũ Lão. Nỗi thẹn của người anh hùng chính là sự thể hiện hoài bão, khát vọng lập công lớn và lưu lại tiếng thơm muôn đời.Bài thơ có tác dụng giáo dục sâu sắc về nhân sinh quan và lối sống tích cực đối với thanh niên mọi thời đại.<br><em>* Cảnh ngày hè – Nguyễn Trãi:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;</em>Nguyễn Trãi là vị anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Là bậc công thần dưới triều vua Lê Thái Tổ, tuy nhiên do bị bọn gian thần dèm pha nên có thời gian dài Nguyễn Trãi là “nhàn quan”. Bài thơ có thể ra đời trong cảnh ngộ đó. <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;<em>Cảnh ngày hè</em> là một bức tranh thiên nhiên và cuộc sống không chỉ vẽ bằng cặp mắt tinh tường mà còn bằng một tâm hồn rộng mở: những sắc màu tươi sáng, rực rỡ; những nét vẽ táo bạo, tràn đầy sức sống; khung cảnh cuộc sống gợi vẻ đẹp thanh bình, ấm no. Qua đó, hiện lên cái nhìn của một tâm hồn thiết tha yêu đời, nặng lòng cùng dân, nước. Nguyễn Trãi tự “răn mình” luôn thực hiện lí tưởng nhân nghĩa vì độc lập của nước, vì hạnh phúc của dân. Lí tưởng mà Nguyễn Trãi ôm ấp là giúp vua làm cho đất nước thái bình, nhân dân thịnh vượng. Lí tưởng cao đẹp ấy là nguồn động viên mạnh mẽ khiến ông vượt qua mọi thử thách, gian nan trên đường đời. Lúc được nhà vua tin dùng cũng như khi thất sủng, nỗi niềm lo nước, thương dân luôn canh cánh bên lòng ông. Giông bão cuộc đời không thể dập tắt nổi ngọn lửa nhiệt tình trong tâm hồn người chí sĩ tài đức vẹn toàn ấy.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Qua 2 bài thơ đều thể hiện được vẻ đẹp lí tưởng và nhân cách nhà thơ. Từ đó chúng ta ý thức và trách nhiệm của mỗi người. Và ý thức và trách nhiệm đó không chỉ là những lời biết ơn tới ông cha , tổ tiên đã đổ mồ hôi-máu-nước mắt đem lại độc lập , hòa bình cho đất nước mà chúng ta hãy hành động mỗi người hãy góp công góp sức dù chỉ là nhỏ nhất để bảo vệ,đóng góp những gì chúng ta đã-đang-sẽ có. Sinh thời, Bác Hồ kính yêu của chúng ta từng căn dặn: “Mỗi người tốt, mỗi việc tốt là một bông hoa đẹp, cả dân tộc ta là một rừng hoa đẹp”. Vì vậy hãy là những bông hoa đẹp nhất<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 04:16:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930340807</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Thu Huyền </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930344519</link>
         <description><![CDATA[<div>Nhắc đến "Tỏ lòng": bài thơ thể hiện ý chí làm trai, bản lĩnh và khát khao của người chính nhân quân tử là nhắc đến chủ đề trí khí làm trai trong Văn học cổ&nbsp;<br>- Ngược về dòng lịch sử, ta dễ dàng bắt gặp chủ đề lớn này xuất hiện liên tục và được đề cao trong văn học:&nbsp;<br>&nbsp;+ Bắt đầu từ khi đất nước chịu ảnh hưởng của nên Văn hoá Trung Hoa với bài thơ " Đề đình Sông Ô" có đoạn viết:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; " Thắng bại bình gia sự bất kì<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Bao tu nhẫn sỉ thị nam nhi"&nbsp;<br>-&gt; Thể hiện bản lĩnh nam nhân là quen với " thắng bại", đôi khi phải nén lòng hổ nhục để làm nên nghiệp lớn&nbsp;<br>+ Rồi đến thời phong kiến Việt Nam, vị chính nhân quân tử Phan Bội Châu cũng từng bộc bạch trong bài "Chết"&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;" Chết là vì nước, chết vì dân<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Chết đấng nam nhi trả nợ Trần<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Chết buổi Đông Chu hồn thất đức<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Chết như Tây Hán lúc tan quân"&nbsp;<br>-&gt; Điệp ngữ "Chết" liên tục lặp lại bốn lần như nhấn mạnh, khẳng định khí thế, lời thề chắc chắn nguyện chết vì dân vì nước, vì lý tưởng cao cả của đời mình mà không oán không hận.&nbsp;<br>+ Cả hai bài thơ trên đều nhấn mạnh sâu sắc ý nghĩa và hào khí của bài " Tỏ lòng"- Phạm Ngũ Lão đang góp phần vào kho tàng Văn học cổ, khẳng định sâu sắc bản lĩnh của những đấng nam nhi sinh ra đã mang trên mình trọng trách xây dựng công danh, sự nghiệp nước nhà.&nbsp;<br><br>Không những chỉ có giá trị quá khứ , hiện tại thời điểm bài thơ này ra đời, nó vẫn vẹn nguyên giá trị cho đến tận ngày nay:<br>+ Giáo dục đấng nam nhi sống phải có chí có mưu, có bản lĩnh sắc đá để làm nên nghiệp lớn&nbsp;<br>+ Phê phán nhắc nhở những kẻ không đáng mặt nam nhân, còn sống ỷ lại, thiếu trách nhiệm với cộng đồng, không có chí tiến thủ..<br>+ Ngoài ra còn là bài học chung cho tất cả mọi người, kể cả những người phụ nữ hiện đại ngày nay cần kiên định chứng tỏ bản thân mình, sống có hoài bão, có lí tưởng để được quyền bình đẳng, được xã hội công nhận rằng những gì đàn ông làm được thì phụ nữ cũng có thể làm được, thậm chí làm tốt hơn rất nhiều <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 04:19:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930344519</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Ngọc Minh Anh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930473744</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><mark>So sánh Tỏ lòng (Phạm Ngũ Lão) với Tụng giá hoàn kinh sư (Trần Quang Khải)</mark></strong><br><br><mark>Giống:</mark><br>+ Đều là hai bài thơ được viết dưới thời Trần, thể hiện khí thế hào hùng và khát vọng cống hiến, xây dựng đất nước.<br>+ Tác giả của hai bài thơ đều có nhiều công lao to lớn trong việc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.<br><mark>Khác:</mark><br><strong>*) Hai câu đầu:</strong><br>+ Trong "Tụng giá hoàn kinh sư", Trần Quang Khải kể lại những chiến công uy hùng của mình:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<em>&nbsp; &nbsp;"Đoạt sáo Chương Dương độ<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Cẩm Hồ Hàm Tử quan"</em><br>Hai câu thơ như một bản tin chiến sự, có một sức nén và vang xa, dạt dào tự hào.<br>+ Ở "Tỏ lòng", Phạm Ngũ Lão lại miêu tả khí thế hiên ngang, hào hùng, sẵn sàng lập nên những chiến công vang dội của quân đội nhà Trần:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; <em>"Hoàng sóc giang sơn kháp kỉ thu<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Tam quân tì hổ khí thôn ngưu"</em><br>→ Các câu thơ trên đều mang giọng điệu hoành tráng, bi hùng, dạt dào khí thế sẵn sàng và sức mạnh chiến đấu.<br><strong>*) Hai câu cuối</strong><br>+ Ở "Tụng giá hoàn kinh sư", hai câu cuối như một lời tự nhắc của nhà thơ. Dù đã đánh đuổi quân thù, song vẫn còn công cuộc xây dựng đất nước ngày càng phát triển và bảo vệ tổ quốc trước những ngọn giáo đang nhăm nhe xâm lược. Đây cũng là mong ước của tác giả, niềm mong ước non sông thái bình và bền vững:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<em>&nbsp; “Thái bình tu trí lực,<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Vạn cổ thử giang san”</em><br>+ Trong "Tỏng lòng" lại là nỗi trăn trở vì cái nợ công danh mà một trang nam nhi đang mang bên mình. Đối với Phạm Ngũ Lão, ông có khát vọng lập thêm thật nhiều chiến công hơn nữa để có thể trả hết "nợ". Mong muốn sánh ngang Vũ hầu để giúp ích cho đất nước.<br>→ Đều thể hiện nỗi lòng, những lo toan và khát vọng xây dựng tổ quốc của hai nhà thơ.<br><br>Cả hai bài thơ đều ngập tràn tinh thần yêu nước và khí thế hào hùng, khát vọng được lập công, cống hiến cho đất nước và dân tộc.<br><br><strong><mark>Bài học rút ra:</mark></strong> Dù đang sống trong cảnh thái bình nhưng chúng ta - những người công dân vẫn còn nhiều điều có thể làm để tiếp bước cha ông bảo vệ và xây dựng đất nước phát triển. Chúng ta kế thừa ý chí và tinh thần yêu nước của những bậc anh hùng đi trước, vậy nên phải rèn luyện bản thân và tích lũy kinh nghiệm không ngừng để góp phần xây dựng đưa tổ quốc đi lên.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 06:23:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930473744</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hướng dẫn học bài</title>
         <author>hangtrang191</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930651182</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><mark>*Yêu cầu 1: </mark></strong><br>- <mark>Nhóm 1:</mark> Các bạn số thứ tự từ 1-4 đọc hiểu về tác giả <br>- <mark>Nhóm 2:</mark>Các bạn số thứ tự 5-8 đọc hiểu khái quát tác phẩm.<br>- <mark>Nhóm 3: </mark>Các bạn số thứ tự 9-12: Đọc hiểu 2 câu đầu.<br>- <mark>Nhóm 4</mark>:Các bạn số thứ tự 13-16: Đọc hiểu 2 câu 3+4<br>- <mark>Nhóm 5:</mark> Các bạn số thứ tự 17-20: Đọc hiểu 2 câu 5+6<br>- <mark>Nhóm 6: </mark>Các bạn số thứ tự 20-24: Đọc hiểu 2 câu 7+8.<br>-&nbsp; <mark>Nhóm 7: </mark>Các bạn số 25-28: tìm hình ảnh minh hoạ làm video đọc diễn cảm bài thơ.<br>- <mark>Nhóm 8: </mark>&nbsp;Các bạn số thứ tự 29-31: Sưu tầm các câu thơ/ bài thơ viết về chủ đề mùa hè trong văn học Việt Nam; Sưu tầm các lời bình hay về bài "Cảnh ngày hè" và về thơ Nôm Nguyễn Trãi.<br>- <mark>Nhóm 9:</mark> Các bạn số thứ tự 32-34: Tìm hình ảnh, thu âm đọc diễn cảm bài "tỏ lòng", ghép thành video.<br><strong><mark>Hạn hoàn thành: 12h tối 6/12 <br><br>* yêu cầu 2: Chấm chéo kết quả của nhau </mark></strong>(làm việc cá nhân, đánh giá nhận xét xuống phía dưới bài của các bạn)<strong><mark><br></mark></strong><strong>Phân công nhận xét:&nbsp;<br>+ Nhóm 1- nhận xét nhóm 2<br>+&nbsp; Nhóm 2- nhận xét nhóm 3<br>+&nbsp; Nhóm 3- nhận xét nhóm 4<br>+ Nhóm 4&nbsp; - nhận xét nhóm 5<br>+&nbsp; Nhóm 5- nhận xét nhóm 6<br>&nbsp;+ Nhóm 6- nhận xét nhóm 7<br>+&nbsp; Nhóm 7- nhận xét nhóm 8<br>&nbsp;+ Nhóm 8- nhận xét nhóm 9<br>&nbsp;+ Nhóm 9- nhận xét nhóm 1</strong></div>]]></description>
         <enclosure url="http://giaiphaphotrodn.com/wp-content/uploads/2018/06/brainstorming.jpg" />
         <pubDate>2021-12-06 08:43:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930651182</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đỗ Minh Ngọc</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930669540</link>
         <description><![CDATA[<div>1, Mở rộng, so sánh với tác phẩm "Tỏ lòng" của Phạm Ngũ Lão</div><div>&nbsp;+Đập đá ở Côn Lôn - Phan Châu Chinh</div><div>Giống: đều khẳng định cái khí phách anh hùng đứng giữa hai vùng đất rộng lớn ( một người đứng giữa đất Côn Lôn còn một người đứng giữa non sông). Dẫu nhỏ bé nhưng hào khí tỏ ra đủ sức để gánh cả bầu trời rộng lớn.</div><div>Khác: khó khăn giữa họ khác nhau nhưng sức nặng của chúng đều là thử thách cho chí làm trai mạnh mẽ.&nbsp;</div><div>&nbsp; &nbsp; -Tỏ lòng: Nhân vật trong tác phẩm mang nặng khát khao và kỳ vọng của mọi người. Không chỉ thế, ở đây tác giả bộc lộ nỗi thẹn của chính mình, điều ấy càng dấy lên trong ta niềm cảm phục đối với người anh hùng tài năng mà khiêm tốn này.</div><div>&nbsp; &nbsp; -Đập đá ở Côn Lôn: Người anh hùng ở đây cũng mạng một trọng trách lớn như thế nhưng khó khăn lớn nhất ghim chặt lấy anh là sự tù túng đối với thân phận một nhà chí sĩ yêu nước. Nhưng điều ấy chẳng cản trở được tâm hồn lạc quan và chí hướng, ước mơ bay cao bay xa để tìm ra con đường sống cho đất nước mình.</div><div>*Ngoài ra, bên cạnh Đập đá ở Côn Lôn còn có tác phẩm "Lưu Biệt khi xuất dương" của Phan Bội Châu. Ông khẳng định chí làm trai thì phải "lạ", phải vượt bước qua vòng an toàn của chính mình, phải vượt qua đau khổ và biết hy sinh. Ông quan niệm rằng mỗi người phải chịu hy sinh vì lợi ích chung của tập thể và đó cũng là ý nghĩa xa rộng của tác phẩm " Tỏ lòng".</div><div>&nbsp; &nbsp;Như vậy, nhưng bài thơ dù đã sờn trên trang giấy nhưng lại bừng sáng trong mắt người đọc ngày nay rằng sự cống hiến là điều đáng quý và là trách nhiệm của tất thảy mọi người, ai cũng cần hy sinh và hoà mình vào cộng đồng thì xã hội mới trở nên lớn mạnh.&nbsp;</div><div>&nbsp;&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 08:57:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930669540</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đặng Hà Trân</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930672342</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Điểm giống và khác nhau giữa "Tỏ lòng " của Phạm Ngũ Lão và "Lưu biệt khi xuất dương"của Phan Bội Châu<br></strong><strong><mark>*Điểm giống:<br>Đều bàn về chí làm trai </mark></strong><br>*Điểm khác biệt:<br>1. "Tỏ lòng" của Phạm Ngũ Lão:<br>- "Tỏ lòng" là bày tỏ nỗi lòng, mong muốn của Phạm Ngũ Lão mong rằng tương lai gần sẽ <mark>gặt hái được nhiều chiến công </mark>hơn nữa để <mark>xứng với phận làm nam nhi, xứng với giang sơn </mark>cùng một lòng thành kính cùng chữ "thẹn". Vẽ nên vẻ đẹp của<mark> người lính, quân đội nhà Trần </mark>tạo nên bức tranh về sức mạnh của thời đại, của cái kiên cường,bền bỉ tràn đầy <mark>Hào khí Đông A</mark><br>2. " Lưu biệt khi xuất dương" của Phan Bội Châu:<br>- Phan Bội Châu đã nêu <mark>tuyên ngôn về chí làm trai</mark>: Phải sống cùng <mark>khát vọng</mark>,cùng<mark> tin tưởng vào bản thân không thể bị lay chuyển</mark> cùng với <mark>ý thức, trách nhiệm</mark> với<mark> vai trò của cá nhân </mark>trong từng trang sử của cuộc đời mình, của thời cuộc.<br>- Thay đổi quy tắc hành xử khi đứng trước vận mệnh của đất nước, nếu là quy tắc cũ ta hẳn sẽ coi trọng lẽ vinh-nhục theo sự tồn tại của đất nước nhưng Phan Bội Châu với <mark>tư tưởng mới</mark> đã thay đổi quy tắc cũ chỉ ngồi im mà hưởng ấy. <mark>Nhiệm vụ giải phóng đất nước</mark> thời bấy giờ <mark>được đặt lên hàng đầu</mark> và đó cũng là <mark>trách nhiệm của người nam nhi </mark>cần có và thực hiện đối với vận mệnh dân tộc.<br><br><strong><mark>Liên hệ bản thân:</mark></strong><br>Chính bài thơ "Tỏ lòng" đã cho em thấy được <mark>vẻ đẹp của binh lính,quân đội nhà Trần</mark> thời bấy giờ, nó không chỉ tồn tại và nở rực ở thời ấy mà còn <mark>tác động đến cả con cháu sau này</mark> cũng thấy được cái đẹp ấy và thêm phần <mark>tự hào về lịch sử dân tộc</mark> bất khuất, kiên cường, bền bỉ.<br>"Tỏ lòng" cũng cho em thấy được<mark> nỗi lòng của đấng nam nhi </mark>rằng phải xây dựng nên công danh mới xứng hai chữ"nam nhi". Và chính chữ "thẹn" của Phạm Ngũ Lão cũng thôi thúc em phải có<mark> trách nhiệm, nghĩa vụ với bản thân và chính tổ quốc </mark>thân yêu của mình . Nghĩa vụ và trách nhiệm xây dựng công danh <mark>không phải chỉ riêng cho ai </mark>cả mà chúng ta hãy tự ý thức lấy nó, tự thực hiện nó như một sự phát triển, khẳng định bản thân trên trang sách của cuộc đời.<br><br><strong>Đặc trưng, giá trị của văn chương thông qua " Tỏ lòng" :</strong><br><strong><mark>1. Đặc trưng:</mark></strong><br><strong><em>a,&nbsp; Ngôn từ :</em></strong><br>- <mark>"Hoành sóc" </mark>tư thế cầm ngang ngọn giáo đầy khí thế làm hiện lên vẻ đẹp người lính thời Trần<br>- <mark>So sánh</mark> :"ba quân như hổ báo"&nbsp; và điển tích "nuốt trôi trâu" tạo nên vẻ đẹp quân đội nhà Trần<br>- "<mark>Công danh trái"</mark> món nợ công danh của đấng nam nhi <br>- Điển tích "<mark>Vũ Hầu"</mark> : Gia Cát Lượng - một nhân vật tài đức vẹn toàn,công danh to lớn trong lịch sử Trung Hoa<br>- "<mark>thẹn"</mark>: nỗi hổ thẹn trước công danh và tài đức của "Vũ Hầu"<br><strong><em>b, Hình tượng</em></strong><em>:<br></em>- Hình tượng đẹp đẽ của <mark>người lính và quân đội nhà Trần</mark><br>- Hình tượng <mark>đấng nam nhi trong xã hội phong kiến </mark>cùng món nợ công danh trở thành một lí tưởng to lớn trong cuộc đời của nam nhi thời bấy giờ<br><strong><em>c, Cuộc sống:</em></strong><em><br></em>- <mark>Xã hội phong kiến </mark>đặt lên chuẩn mực, nhiệm vụ, lí tưởng cho nam nhi rằng : <mark>Công danh và sự nghiệp là món nợ đời phải trả của kẻ làm trai</mark>. Phải lập công, lập danh, để lại sự nghiệp mới xứng làm nam nhi như ca dao, tục ngữ tự xưa đưa lời đặt&nbsp; :"Làm trai.." để lại tiếng thơm cho đời, cho nước.<em><br></em><strong><em>d, Tác giả:</em></strong><em><br></em>- Khổ tâm, thẹn trước "Vũ Hầu" về công danh của kẻ làm trai.<br>- Đồng cảm chung với nam nhi thời phong kiến <br>- Ca ngợi vẻ đẹp binh sĩ, quân đội nhà Trần.<br><br>2.<strong>Giá trị của văn chương:</strong><br>- Cho thấy được những<mark> biện pháp tu từ </mark>mà tác giả sử dụng làm nổi bật được điều muốn hướng độc giả tới<br>- Khiến thế hệ bây giờ <mark>nhìn lại lịch sử </mark>đầy tự hào,máu lửa không kém phần khó khăn nhưng tinh thần chiến đấu không mệt mỏi của dân tộc đã làm nên kỳ tích.<br>-Nhìn thấy được&nbsp; vẻ hào hùng, khí thế của lực lượng nhà Trần thời bấy giờ<br>- <mark>Thấu hiểu, đồng cảm </mark>trước nỗi lòng của đấng nam nhi trong xã hội phong kiến. Chính "chí làm trai" này đã có tác động xuyên suốt hàng thế kỉ đến tận bây giờ đã được bình đẳng hóa.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://1.bp.blogspot.com/-shQxz9aKzFI/WNJ9mUMtYSI/AAAAAAABFCQ/ozNIOtF1cngevpEHTy7L8mDLsuW2bVHeQCEw/s1600/thuat%2Bhoai%2B1.png" />
         <pubDate>2021-12-06 08:59:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930672342</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lê Thảo Nguyên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930685824</link>
         <description><![CDATA[<div>1-&nbsp; &nbsp; &nbsp; So sáng bài thơ “ Tỏ lòng” – Phạm Ngũ Lão với bài thơ “ Xuất dương lưu biệt” – Phan Bội Châu</div><div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Điểm<mark> giống nhau</mark> của hai bài thơ: Thể hiện<mark> ý chí </mark>của người<mark> làm trai</mark>, <mark>nặng lòng</mark> với <mark>nghiệp công danh</mark>&nbsp; , <mark>tinh thần yêu nước</mark> của phận <mark>nam nhi</mark> nói chung và cũng là của<mark> tác giả</mark> nói riêng</div><div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Điểm khác nhau của 2 bài thơ</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; “Xuất dương lưu biệt”:&nbsp;</div><div>+ Thể hiện <mark>tâm hồn yêu đời</mark>, cùng những <mark>khát vọng</mark>, <mark>lý tưởng</mark> cao lớn muốn vươn ra biển lớn của <mark>người chí sĩ</mark>. Tầm vóc con người trở nên<mark> kì vĩ</mark>, <mark>lớn lao</mark> nổi bật hẳn trên cái nền của thiên nhiên bởi sự<mark> kiêu hãnh</mark>, <mark>tráng chí</mark> hùng mạnh bên trong tâm hồn nhân vật trữ tình</div><div>-&gt; Lưu biệt khi xuất dương là một bài thơ <mark>hay</mark>, có <mark>nội dung</mark> và <mark>ý nghĩa lớn</mark>, không chỉ bộc lộ những <mark>khát vọng</mark>,<mark> lý tưởng cao đẹp </mark>của một nhà hoạt động cách mạng thời đại mới, mà còn là lời <mark>động viên khích lệ</mark>, <mark>khơi dậy tinh thần yêu nước, lòng tự tôn dân tộc</mark>, cũng như thức tỉnh<mark> sự tự tin</mark>, <mark>lý tưởng</mark> và <mark>khát vọng </mark>cao đẹp của <mark>thanh niên Việt Nam </mark>trong bối cảnh đất nước có nhiều biến động.</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; “ Tỏ lòng”:</div><div>+ “Thẹn với Vũ Hầu” – Vũ Hầu chính là Gia Cát Lượng, một tài năng, một nhân cách, một người có tâm, tác giả thẹn vì chưa có tài mưu lược như Gia Cát Lượng chăng? Mặc dù tác giả là người lập nhiều công cho đất nước nhưng vẫn thấy thẹn. Qua nỗi thẹn ấy, người đọc nhận ra thái độ <mark>khiêm nhường</mark>, một ý nguyện cháy bỏng được giết giặc, <mark>lập công</mark> đóng góp <mark>cho sự nghiệp chung.</mark></div><div>-&gt; Qua bài thơ, hiện lên hình ảnh của<mark> đấng nam nhi thời đại Bình Nguyên</mark>, với <mark>khát vọng </mark>có thể <mark>phá</mark> được cường địch để <mark>báo đáp</mark> hoàng ân, để <mark>non sông</mark> được <mark>vững vàng</mark>. Vẻ đẹp của người anh hùng lồng trong vẻ đẹp của thời đại làm nên hào khí của thời đại nhà Trần, hào khí Đông A. Bài thơ cũng là <mark>nỗi lòng riêng</mark> của Phạm Ngũ Lão về <mark>khát vọng lí tưởng</mark>, về<mark> nhân cách</mark> của con người phải được<mark> giữ gìn.</mark></div><div>2-&nbsp; &nbsp; &nbsp; Rút ra bài học</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Bài thơ đã thôi thúc trong lòng người đọc <mark>ý thức sống trách nhiệm</mark> với bản thân, gia đình và đất nước.</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Khiến mỗi người đọc nhận ra rằng <mark>không cao ngạo</mark>, phải học cách <mark>khiêm tốn </mark>thì mới biết được rằng mình còn những chỗ nào thiếu sót để mà hoàn thiện</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Qua bài thơ, ta cũng rút ra được, việc <mark>lập công, lập danh</mark> <mark>không chỉ</mark> ở mỗi đấng <mark>nam nhi</mark>, mà ngay cả <mark>nữ nhi </mark>cũng<mark> có thể làm </mark>và<mark> nên làm.</mark><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 09:09:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930685824</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thành viên </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930769463</link>
         <description><![CDATA[<div>Chu Ngọc Minh Trang<br>Nguyễn Thu Trang<br>Đặng Hà Trân</div>]]></description>
         <enclosure url="https://media1.giphy.com/media/hw5rhsIvk2lCE/giphy.gif" />
         <pubDate>2021-12-06 10:07:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930769463</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thành viên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930791433</link>
         <description><![CDATA[<div>1. Nguyễn Hà Phương (leader)<br>2. Trần Vi Thảo<br>3. Nguyễn Thanh Thảo<br>4. Bũi Vũ Hoài Thanh</div>]]></description>
         <enclosure url="https://tailieufree.net/wp-content/uploads/2020/09/hinh-nen-phong-canh-dep-cua-viet-nam-43.jpg" />
         <pubDate>2021-12-06 10:23:33 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930791433</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Minh Anh</title>
         <author>halap78</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930798913</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1483642670/356875f79973b993ade66ebdf1865051/__c_S_U.docx" />
         <pubDate>2021-12-06 10:29:22 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930798913</guid>
      </item>
      <item>
         <title>                     _Thành viên_</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930800280</link>
         <description><![CDATA[<div>1<strong><em>. Đỗ Minh Ngọc</em></strong><br><strong><em>2. Lê Thảo Nguyên<br>3. Quách Thảo Nguyên<br>4. Vũ Thị Hồng Nhung</em></strong></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484306743/97cf3dff0639f30aa80843f61328b7e9/logo_chu___N_84.png" />
         <pubDate>2021-12-06 10:30:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930800280</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Ước muốn của tác giả</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930844273</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em>"Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng"<br></em></strong><br>- Sử dụng <mark>điển tích "Ngu cầm"</mark> - đàn của vua Ngu Thuấn<br>&nbsp; &nbsp;<br>&nbsp; &nbsp;+ Ngu Thuấn là vị vua của triều đại nhà Ngu, triều đại đó đất nước thái bình thịnh trị. Lúc nhàn rỗi, vua lấy đàn gảy khúc Nam phong, lấy tiếng đàn ngợi ca cuộc sống thái bình. <br>--&gt; tác giả ước mình có cây đàn để <mark>ngợi ca cảnh thái bình của đất nước</mark>&nbsp; đồng thời thể hiện <mark>mong muốn được hòa điệu</mark>, chung vui cái vui của nhân dân.<br>&nbsp; <br>&nbsp; &nbsp;+Lấy chuyện xưa để nói hiện tại, cho thấy <mark>tấm lòng yêu nước, thương dân</mark> của Nguyễn Trãi đến trọn đời.</div><div>&nbsp; &nbsp;<br>&nbsp; &nbsp;+Lời ngợi ca sự hưng thịnh của triều đại, nhưng đồng thời cũng là <mark>lời nhắc nhở</mark> các bậc quân vương luôn quan tâm đến nhân dân.</div><div><br>- Từ <mark>"Dẽ có"</mark>: ngẫm kĩ ý thơ, ta thấy "Dẽ có"(lẽ ra nên có) thoáng một chút <mark>ưu tư</mark>, khắc khoải, mong mỏi. Đất nước hiện nay tuy đã yên bình nhưng tác giả còn <mark>mong mỏi nhiều hơn</mark> thế.<br><br>=&gt; Câu thơ vừa thể hiện <mark>tâm hồn thư thái</mark> của tác giả khi đang <mark>thưởng thức cảnh đẹp thiên nhiên</mark> của đất nước. Vừa phảng phất đâu đó một <mark>nỗi ưu tư</mark>. Để đến câu thơ sau, nỗi lòng của Nguyễn Trãi được bộc lộ rõ.<br><br><strong><em>"Dân giàu đủ, khắp đòi phương."</em></strong><br><br>-<mark> Nhịp 3/3</mark> chắc khỏe thể hiện khát khao mãnh liệt.<br><br>- Câu thơ kết có <mark>sáu chữ</mark>, khiến âm điệu đang 7 chữ dồn lại trong 6 chữ, tạo điểm nhấn cũng như kết tinh ý thơ của cả bài: tác giả <mark>mong muốn nhân dân ở mọi phương trời đều hạnh phúc, ấm no</mark>. Câu thơ cháy bỏng một niềm khát khao và sâu lắng một tinh thần trách nhiệm cao cả.<br><strong><mark>Liên hệ cuộc đời Nguyễn Trãi</mark></strong><br>=&gt; Hai câu thơ cuối đã cho thấy <mark>vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Trãi, tư tưởng nhân nghĩa của ông. </mark>Dù tâm thế hướng về cảnh vật nhưng tâm hồn, tình cảm lại hướng về nhân dân. Lời thơ lấp lánh một <mark>tình yêu đất nước, tấm lòng thương dân sâu sắc và mong ước, khát vọng về cuộc sống ấm no, thái bình cho muôn dân.</mark><br><br>⇒ Cảm xúc được dồn nén, nhưng dư âm của nó lại mở ra, rằng khát khao, mong ước đất nước được bình yên, nhân dân ấm no hạnh phúc là một ước mong đáng quý, cao cả mà ở mọi con người, mọi thời đại đều nên có.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://www.tkbooks.vn/wp-content/uploads/2017/04/phan-tich-bai-tho-canh-ngay-he-cua-nguyen-trai04.jpg" />
         <pubDate>2021-12-06 11:03:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930844273</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thùy Dung</title>
         <author>dungnguyenhs1509</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930912293</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484180584/599a68856bdb3d6a2eb48d94fa3de343/__c_hi_u_s_u_b_i_th__T__l_ng.docx" />
         <pubDate>2021-12-06 11:55:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930912293</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thành viên 😎 (chỉ có chữ A)</title>
         <author>halap78</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930940845</link>
         <description><![CDATA[<div>1. Vũ Thị Thu An<br>2. Nguyễn Trần Quỳnh Anh<br>3. Phạm Minh Anh<br>4. Phạm Ngọc Minh Anh</div>]]></description>
         <enclosure url="https://media1.giphy.com/media/xUPGcMkmmdezbgGI12/giphy.gif" />
         <pubDate>2021-12-06 12:17:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930940845</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Cuộc đời</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930942040</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><mark>Ngoài SGK:</mark></strong><br><strong>Nguyễn Trãi</strong> (1380 - 1442) là người làng Nhị Khê (Thường Tín, Hà Nội); quê gốc ở làng Chi Ngại, huyện Phượng Sơn, lộ Lạng Giang (nay thuộc Chí Linh,<strong><mark> Hải Dương</mark></strong>).<br>- Năm 1400, ông thi đỗ Thái học sinh và làm quan dưới thời nhà Hồ.<br>- Nguyễn Trãi tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo với vai trò là mưu sĩ của nghĩa quân Lam Sơn cũng như soạn thảo các văn thư ngoại giao.<br>- Năm 1442, do bị hàm oan, toàn thể gia đình Nguyễn Trãi tru di tam tộc trong vụ án Lệ Chi Viên. Năm 1464, sau quá trình xem xét lại, vua Lê Thánh Tông xuống chiếu giải oan cho ông.<br>- Năm 1980, Nguyễn Trãi được UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa thế giới.<br><mark>&nbsp;</mark><strong><mark>Trong SGK:</mark></strong><strong> </strong>Ông đã để lại di sản phong phú về các mặt chính trị, quân sự, văn hoá, văn học cho nước nhà.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?v=2n8BIkNHRqo" />
         <pubDate>2021-12-06 12:18:04 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930942040</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Con người </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930949978</link>
         <description><![CDATA[<div><br>+ Năm 1400, giặc Minh cướp nước ta , Nguyễn Trãi theo Lê Lợi tham gia khởi nghĩa và góp phần to lớn vào chiến thắng vẻ vang của dân tộc.<br>+ Ông là một nhà chính trị gia lỗi lạc , nhà ngoại giao kiệt xuất , nhà quân sự tài năng .<br>+Với lịch sử văn học , Nguyễn Trãi là nhà khai sáng , tấm lòng và văn chương của ông rực sáng như Lê Thánh Tông ca ngợi :&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;" Ức trai tâm thượng quang Khuê tảo " . , là ' núi Thái Sơn' , là sao " Bắc đẩu" là người có tài " Kinh bang hoa quốc cổ vô tiền , là " sông Giang sông Hán trong các sông " . Là nhà thơ đặt nền móng cho giai đoạn khai sáng của nền văn học cổ Việt Nam.<br>+ Một số nhận định về thơ ca , con người của ông :&nbsp;<br>+ Phạm Văn Đồng có nhận định rằng:&nbsp;<br>" Văn chương của Nguyễn Trãi đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật, đều hay và đẹp lạ thường"&nbsp;<br>+ Xuân Diệu :&nbsp;<br>&nbsp; " Trán thi sĩ vượt mây nhưng trong ruột thơ vẫn cháy lên ngọn lửa đời rất ấm ".<br>&nbsp;+ Lê Quý Đôn đánh giá ông là :&nbsp;<br>&nbsp;"&nbsp; Văn thư thảo hịch giỏi hơn hết một thời." <br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="http://thpt.daytot.vn/uploads/thpt/2016_10/nguyen-trai.jpg" />
         <pubDate>2021-12-06 12:23:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930949978</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Sự Nghiệp: Rất đồ sộ, phong phú (văn chính luận, thơ)</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930971336</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Về văn chính luận:</strong></div><div>-“Bình Ngô đại cáo” là kiệt tác bất hủ của Nguyễn Trãi. Với lời văn đầy khí khái, giọng điệu hào hùng đã nêu bậc được thắng lợi vẻ vang của nghĩa quân Lam Sơn và hào khí của thời đại.&nbsp;</div><div>-“Quân trung từ mệnh tập” là tập văn mang tính luận chiến, nhằm cổ vũ tinh thần quân sĩ và làm nao núng ý chí quân giặc, vừa mang tính thuyết phục, giảng giải cho quân địch thấy rõ lẽ tất yếu phải rút quân và thừa nhận chủ quyền độc lập của Đại Việt. Lập luận sắc bén, văn phong sáng gọn, gợi cảm, có lí, có tình.&nbsp; Vận dụng chiêu pháp công tâm làm cho quân địch tự tan rã là kế sách tài tình mà không phải ai cũng làm được.</div><div><strong>Về thơ ca:</strong></div><div>-Tập thơ “Ức Trai thi tập” gồm 105 bài thơ chữ Hán. ở thơ chữ Hán, Nguyễn trãi không chú trọng đến niêm luật mà phóng khoáng, tự do để biểu đặt được cái hồn của sự vật. Nắm bắt thần thái, trả cảnh vật về với tự nhiên là bút pháp nổi bậc trong văn thơ Nguyễn trãi.&nbsp;<br>-Tập thơ “Quốc âm thi tập” gồm 254 bài thơ Nôm. Đây là tập thơ Nôm đầu tiên và cổ xưa nhất của nước ta còn cho đến ngày nay. Với tập thơ này, Nguyễn Trãi đánh một móc son rực rỡ trong tiến trình phát triển và hoàn thiện chữ Nôm ở nước ta.</div><div><strong>Về khảo cứu lịch sử:</strong></div><div>-Bộ lược sử “Lam Sơn thực lục” là quyển lịch sử ký sự ghi chép về công cuộc 10 năm khởi nghĩa Lam Sơn, do vua Lê Thái Tổ sai soạn vào năm 1432.</div><div>-“Vĩnh Lăng thần đạo bi” là bài văn bia ở Vĩnh Lăng – lăng của vua Lê Thái Tổ, kể lại thân thế và sự nghiệp của Lê Thái Tổ.</div><div><strong>Về nghiên cứu địa lý:</strong></div><div>-Bộ khảo cứu “Dư địa chí” là bộ sách về địa lý học cổ nhất còn lại của Việt Nam, đặt nền móng căn bản, trở thành nguồn tư liệu quý về địa lí nước Đại việt. Ngoài ra, Nguyễn Trãi còn có một số tác phẩm khác như “Ngọc đường di cảo”, “Thạch khánh đồ”,  “Luật thư”, “Giao tự đại lễ” nhưng đều không còn lại đến ngày nay.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 12:36:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930971336</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930982643</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>*Câu 5:&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Lao xao chợ cá làng ngư phủphủ<br>- Các câu thơ trước nhà thơ tập trung khắc hoạ bức tranh thiên nhiên thì đến câu số 5, nhà thơ đã khắc hoạ bức tranh cuộc sống con người.</strong></div><div>+ Hình ảnh:&nbsp; <mark>“Chợ cá”: </mark>&nbsp;là không gian quen thuộc, biểu trưng hình ảnh cuộc sống con người: chợ đông vui là nước thái bình, người dân đầy đủ, ấm no. Ngươc lại chỡ thưa thớt, ảm đạm,...&nbsp;<mark>Làng ngư phủ</mark>: Là làng chuyên về chài lưới</div><div>- Âm thanh: <mark>&nbsp;lao xao - âm thanh từ xa vọng lại, âm thanh rộn rã, đông đúc, tấp nập,...&nbsp;<br>-&gt; Bức tranh cuộc sống ấm no, hạnh phúc, an vui.<br>-&gt; Tâm trạng nhà thơ: Vui cùng với niềm vui của những người lao động -&gt; Yêu cuộc sống, yêu con người.</mark></div><div><br></div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484306743/0c513bac5735ceec55a062edcc1711e9/download.jpg" />
         <pubDate>2021-12-06 12:43:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930982643</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930990129</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<strong>Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương</strong><br><strong>*Câu 6</strong></div><div>&nbsp;-Hình ảnh: lầu t<mark>ịch dương</mark> là nơi ngắm cảnh mặt trời lặn. N.ắng chiều, là màu sắc chủ đạo cho bức tranh thêm sức sống, khiến sự thanh vắng của ngôi lầu chỉ còn ấm áp, thiết tha, thơ mộng của thiên nhiên.<br>- Âm thanh:<br>+ Dắng dỏi: sôi động, ồn ã - đặc trưng, quen thuộc mùa hè<br>+ <mark>Cầm ve</mark>: liên tưởng, so sánh mơ mọng và bay bổng, tiếng ve như tiếng đàn</div><div>-&gt;&nbsp; <mark>Tiếng ve kêu lúc chiều tà</mark> gợi lên những điều rộn ràng, vui vẻ. Tiếng ve inh ỏi, tiếng chợ cá lao xao là những âm thanh của cuộc sống thanh bình yên vui, no ấm. Bức tranh mùa hè sôi động, đáng yêu.</div><div><strong><em>=&gt; Tâm hồn của nhà thơ như hòa vào với cảnh vật, cùng chung các sắc điệu tươi vui, ấm áp của các sự vật quanh mình&nbsp;</em></strong></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484306743/b1fb95a2247d31bc9f3d3022cb692671/download__1_.jpg" />
         <pubDate>2021-12-06 12:47:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930990129</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nghệ thuật</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930996869</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em>- Từ láy, từ tượng thanh:</em></strong><em>&nbsp;</em></div><div>+ <mark>Lao xao</mark>: thể hiện âm thanh từ xa vọng lại. Là những âm thanh nhỏ nhưng hoà trộn với nhau, không đều cũng không rõ nhắm gợi tả cảnh chợ cá sinh động hơn, nhiều âm sắc hơn, dễ liên tưởng hơn. Bức tranh ấy không đơn thuần là bức tranh bình thường mà là bức tranh có cảnh người, có tiếng người<br><br></div><div><em>=&gt; Đây là âm thanh duy nhất thuộc về thế giới con người trong bài thơ. Nó làm nên chất thơ của cuộc sống nhân sinh</em>.<br><br></div><div>+ <mark>Dắng dỏi</mark>: Là thứ âm thanh liên tục mà vang dội cả một vùng, ở đây cụ thể là tiếng ve sầu âm vang tạo nên dư âm giữa khu lầu yên tĩnh, gợi tả rõ nét của bức tranh cuộc sống yên ả và lặng lẽ không có con người. Chính điều này khiến cho ánh tịch dương trong câu thơ không còn đem lại cái buồn bàng bạc mà đã làm cho ánh nắng chiều bừng lên, ấm áp, thơ mộng</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484306743/3c92b962dcd2a08f8e5d055d9c136a23/cam_nhan_bai_tho_canh_ngay_he.jpg" />
         <pubDate>2021-12-06 12:51:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1930996869</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1931002066</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em>Đảo ngữ và phép đối</em></strong><br>- <mark>Đảo ngữ</mark>: <em>Đưa 2 từ “ Lao xao” và “Dắng dỏi” lên trước</em><br>+ Đây là một biện pháp nghệ thuật quen thuộc của thất ngôn bát cú đường luật<br>+ nhấn mạnh, thể hiện một cách rõ nét âm thanh sôi động của cuộc sống &nbsp;<br>+ Làm cho hình ảnh trong câu thơ trở nên sinh động, có sức sống và dễ dung nhập vào người đọc hơn<br><br></div><div>&nbsp;- <mark>Phép đối</mark>: <em>lao xao chợ cá làng ngư phủ/dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương</em><br>&nbsp; &nbsp; Phép đối rất hoàn mĩ, cảnh với cảnh, âm thanh với âm thanh, vật với vật và thanh bằng với thanh trắc biến câu thơ tưởng như đơn giản lại nhịp nhàng đối xứng với nhau. Qua đó mở rộng không gian, từ nơi chợ đông đúc đến nơi thanh vắng ít người gợi sự rộng lớn của đất nước đa sắc đa thanh.<br><br></div><div>&nbsp;<strong><em>=&gt; Làm câu thơ cân đối, giàu tính nhạc.</em></strong><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 12:53:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1931002066</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tóm lại</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1931009353</link>
         <description><![CDATA[<div>Cả hai câu thơ đã được Nguyễn Trãi thổi hồn bằng những <mark>biện pháp nghệ thuật</mark> độc đáo kết hợp với những sự vật gần gũi với con người đã khiến bức tranh khiến không còn nằm dưới những lớp vỏ chữ nghĩa mà xa hơn là liên tưởng hình thành rõ nét trong mắt người đọc. Từ đó khẳng định sự <mark>nhạy cảm, khéo léo</mark> của người thi sĩ và <mark>tình yêu con người, khát vọng bình yên</mark> của một vị quan đã trở về ở ẩn<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484306743/f545284f40aaee8cc88bb026d3523816/thuyet_minh_ve_nha_van_nguyen_trai_1.jpg" />
         <pubDate>2021-12-06 12:57:40 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1931009353</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vị trí, đóng góp</title>
         <author>halap78</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1931030181</link>
         <description><![CDATA[<ul><li>Nguyễn Trãi viết nhiều và đã đóng góp cho việc xây dựng nền văn hiến nước nhà nhiều <mark>thành tựu to lớn</mark>, bao gồm các tác phẩm có giá trị cả về văn xuôi và thơ ca.</li><li>Những đóng góp đó đã làm cho tên tuổi Nguyễn Trãi rạng rỡ, khiến ông có vai trò vô cùng quan trọng và to lớn trong lịch sử Việt Nam, đến hiện tại và cả tương lai.<br><br><br><br><br></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="https://baitaplamvan.com/wp-content/uploads/2018/03/thuyet-minh-ve-tac-gia-nguyen-trai-4.jpg" />
         <pubDate>2021-12-06 13:07:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1931030181</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thành viên:</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1931101970</link>
         <description><![CDATA[<div>- Nguyễn Thuỳ Dung (nhóm trưởng)<br>- Phạm Hà Châu<br>- Tạ Mỹ Duyên<br>- Nguyễn Thuý Hằng</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484350492/61810fc0758704d48a1f15ee5be8c2d6/e7eaf2b7204b74a41aed9e2910cd3d11.jpg" />
         <pubDate>2021-12-06 13:39:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1931101970</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Những bài thơ hay viết về mùa hè trong văn học Việt Nam</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1931135972</link>
         <description><![CDATA[<div>NẮNG MÙA HÈ<br><br>Thơ: Ngư Phạm<br><br>Chào những chùm hoa nắng<br>Vương trên mái tóc em<br>Đọng trên má em hiền<br>Tô làn môi em đẹp…<br>Long lanh trong ánh mắt<br>Những giọt nắng mùa hè<br>Ngân đầy điệp khúc ve<br>Cho một mùa thương nhớ !<br><br>MÙA HÈ NẮNG NÓNG<br><br>Thơ: Trần Nhạc<br><br>Bình minh như giữa trưa !<br>Nắng chang chang đổ lửa<br>Nóng ập vào gõ cửa<br>Gió trốn biệt nơi đâu ?<br>Bầu trời cao thật cao<br>Nền trời trong leo lẻo<br>Đất cong mình dưới Nắng<br>Cây rủ lá che thân<br>Nắng tràn ngập khắp sân<br>Nhựa sôi trong cây sống<br>Mặt ao hồ nóng bỏng<br>Không gian ngập tiếng ve<br>Gạo tung hoa cháy bỏng<br>Phương đốt lửa giữa trời<br>Sợ quá Mùa hè ơi !<br>Ở nơi đâu cũng Nóng.<br><br>KHI CON TU HÚ<br><br>THƠ: TỐ HỮU<br><br>Khi con tu hú gọi bầy<br>Lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần<br>Vườn râm dậy tiếng ve ngân<br>Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào<br>Trời xanh càng rộng càng cao<br>Đôi con diều sáo lộn nhào từng không...Ta nghe hè dậy bên lòng<br>Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi!<br>Ngột làm sao, chết uất thôi<br>Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu!<br><br>MÙA HẠ<br><br>THƠ: NGUYỄN NHO SA MẠC<br><br>Là mùa hạ nắng khô rồi anh ơi<br>Hai người yêu nhau không tìm ra chỗ hẹn<br>Lạc tinh cầu theo gió mát mây trôi...<br>Hai đứa nhìn nhau không biết cười hay thẹn<br><br>HẠ NHỚ<br><br>THƠ: THANH TRÁC NGUYỄN VĂN<br><br>Ta ngẩn ngơ lặng ngắm<br>Cánh phượng hồng rụng rơi<br>Sân trường mùa hạ thắm<br>Bóng em xa, xa rồi...<br><br>MÙA HẠ<br><br>THƠ: XUÂN QUỲNH<br><br>Mùa hạ của tôi, mùa hạ đã đi chưa<br>Ôi tuổi trẻ bao khát khao còn, hết?<br>Mà mặt đất màu xanh là vẫn biển<br>Quả ngọt ngào thắm thiết vẫn màu hoa.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 13:53:04 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1931135972</guid>
      </item>
      <item>
         <title>KHÁI QUÁT TÁC PHẨM:</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1931149294</link>
         <description><![CDATA[<div>- <strong>Hoàn cảnh ra đời</strong>: bài thơ "Cảnh ngày hè" được <mark>sáng tác</mark> vào khoảng những năm <mark>1438 – 1439</mark> khi tác giả về ở ẩn <mark>Côn Sơn</mark>. (liên hệ: "Côn Sơn ca")<br><strong><mark>- Xuất xứ:&nbsp; </mark></strong>Bài thơ" Cảnh ngày hè" là <mark>bài </mark>số<mark> 43</mark>, thuộc mục <mark>Bảo kính cảnh giới</mark> (61 bài) trong "<mark>Quốc âm thi tập"</mark>.<br>+ <strong>Quốc âm thi tập</strong>: gồm 254 bài, là tập thơ Nôm sớm nhất hiện còn. Với tập thơ này, Nguyễn Trãi là một trong những <strong><mark>người đặt nền móng và mở đường cho sự phát triển của thơ tiếng Việt.</mark></strong><br>+ Quốc âm thi tập được chia thành <mark>bốn phần</mark>: Vô đề, Môn thì lệnh (Thời tiết), Môn hoa mộc (Cây cỏ), Môn cầm thú (Thú vật).<br>+ “Bảo kính cảnh giới” (gương báu răn mình), nằm ở phần<strong> </strong>Vô đề của tập thơ.<br>- <strong>Thể thơ</strong>: <mark>Thất ngôn xen lục ngôn</mark>.<br>- <strong>Chủ đề</strong> : <mark>bộc lộ</mark> <mark>nỗi lòng</mark>, chí hướng, t<mark>ư tưởng nhân nghĩa yêu nước thương dân</mark> của Nguyễn Trãi.<br>- <strong>Bố cục</strong>:<br>+<mark> Phần 1</mark> (6 câu thơ đầu): Bức tranh cảnh ngày hè.<br>+ <mark>Phần 2</mark> (2 câu thơ còn lại): Tấm lòng và mong ước của nhà thơ.<br>- <strong>Ý nghĩa nhan đề</strong> : Bài thơ có nhan đề là cảnh ngày hè giúp chúng ta liên tưởng đến nội dung chính của bài thơ, <mark>miêu tả</mark> <mark>cảnh ngày hè</mark> nơi <mark>thôn quê hồn hậu</mark>. Ở đây, nhà thơ còn muốn nói đến <mark>hoàn cảnh sống</mark> của mình , tuy <mark>nghèo</mark> <em>nhưng</em> <mark>bình yên, nhàn rỗi</mark>.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484350492/3b519224d4cac31327c17ed0d7f31b94/Canh_ngay_he_co_ban.jpg" />
         <pubDate>2021-12-06 13:58:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1931149294</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Những câu thơ hay viết về mùa hè trong văn học Việt Nam</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1931149838</link>
         <description><![CDATA[<div>Thầy bạn lúc này đi đâu cả<br>Trống trường im lặng đến mênh mang<br>Trăng mang câu hát đi xa lắm<br>Phượng vẫn bừng hoa, vẫn đệm đàn...​<br><br>(Sưu tầm)<br><br>Cơn nắng hạ thẩn thờ theo nỗi nhớ<br>Thuở học trò mộc mạc những vần thơ<br><br>(Sưu tầm)<br><br>Mùa hè nào gặp gỡ<br>Mùa hè nào chia ly<br>Mùa hè nào hội ngộ<br>Tôi cầm trên tay hai mùa hè rực rỡ<br>Còn mùa hè cuối cùng rơi đi đâu ?<br><br>(Sưu tầm)<br><br>Nắng mùa hạ sao nỡ vàng đến thế<br>Để phượng hồng lưu luyến cánh hoa rơi<br>Có làn gió cứ cong mình kể lể<br>Chuyện ngày xưa tím biếc cả khung trời.<br><br>(Sưu tầm)<br><br>Một vùng trời rộng thênh thang<br>Đủ cho vạt nắng mơn man cùng nàng<br>Nắng hôn làn tóc khẽ khàng<br>Gió nghe hờn dỗi vội sang bên này<br><br>(Sưu tầm)</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 13:58:27 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1931149838</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Các lời bình hay về bài &quot;Cảnh ngày hè&quot; và về thơ Nôm Nguyễn Trãi.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1931154930</link>
         <description><![CDATA[<div>Lê Thánh Tông cũng đã có một câu đánh giá tài năng văn chương của ông: “Văn chương Nguyễn Trãi làm vẻ vang cho nước"<br><br>“Trán thi sĩ vượt mây nhưng trong ruột thơ vẫn cháy lên ngọn lửa đời rất ấm” (Xuân Diệu)<br><br>“Nếu chúng ta chịu khó bỏ ra đôi chút thời giờ để cho tâm hồn lắng xuống, để tập trung thông cảm sâu sắc với người xưa, thì tôi nghĩ thơ Nguyễn Trãi có thể làm cho lòng ta rung động xao xuyến” ( Trần Thanh Mại -&nbsp; Vài nét về tư tưởng Nguyễn Trãi qua thơ văn của ông, in trên Tạp chí văn học, số 9, 1962)<br><br>“Với thơ Nôm Nguyễn Trãi, ta bắt gặp một con người có ý thức cao đối với đức tài, lý tưởng đại dụng, khôn khéo sâu sắc, tự tin, dũng cảm tự khẳng định, chọi lại thói phàm tục của người đời, không hoàn toàn trùng khít với khuôn mẫu nào hết. Đó là một nhân cách lớn hết sức phong phú” (Tế Hanh)<br><br>"Cảnh ngày hè chất chứa một tư tưởng lớn xuyên suốt sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Trãi là tư tuỏng nhân nghĩa yêu nước thương dân"<br><br>Bài thơ không chỉ khắc họa vẻ đẹp của bức tranh ngày hè mà còn cho ta thấy được tấm lòng Nguyễn Trãi thiết tha với cuộc đời, với nhân dân, đất nước.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 14:00:20 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1931154930</guid>
      </item>
      <item>
         <title>BÀI THƠ &quot;CẢNH NGÀY HÈ&quot;</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1931188164</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em>Rồi hóng mát thuở ngày trường,<br>Hoè lục đùn đùn tán rợp giương.<br>Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ,<br>Hồng liên trì đã tiễn mùi hương.<br>Lao xao chợ cá làng ngư phủ,<br>Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.<br>Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,<br>Dân giàu đủ khắp đòi phương.</em></strong><em><br></em><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-06 14:12:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1931188164</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thành viên 🎄</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1931242433</link>
         <description><![CDATA[<div>1. Nguyễn Thị Anh Thư<br>2. Phạm Thị Thanh Thư<br>3. Trần Anh Thư<br>4. Trần Thanh Thủy</div>]]></description>
         <enclosure url="https://e.dowload.vn/data/image/2020/08/21/canh-ngay-he.jpg" />
         <pubDate>2021-12-06 14:32:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1931242433</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thành viên của nhóm</title>
         <author>ngaphuongnguyen26</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1931258692</link>
         <description><![CDATA[<div>1. Nguyễn Diệu Ngân<br>2. Nguyễn Thanh Ngân<br>3. Nguyễn Hà My<br>4. Nguyễn Phương Nga </div>]]></description>
         <enclosure url="https://media1.giphy.com/media/11IfCrxlB9E7io/giphy.gif" />
         <pubDate>2021-12-06 14:38:20 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1931258692</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Câu 3: &quot;Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ&quot;</title>
         <author>ngaphuongnguyen26</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1931262422</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em><mark>"Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ"</mark></em></strong><br>- Hình ảnh: Thạch lựu hiên - cây hoa lựu: bình dị, gần gũi với cuộc sống và mùa hè- loài cây đặc trưng của mùa hè (Liên hệ: Dưới trăng quyên đã gọi hè/ Đầu tường lửa <mark>lựu</mark> lập loè đơm bông)<br><br></div><div>- Từ “còn” - Tiếp tục: Những bông hoa lựu đỏ rực vẫn đang tiếp tục rực rỡ hơn điểm tô cho vẻ rực rỡ, đầy sức sống của cảnh ngày hè.<br>&nbsp;Để khẳng định mùa hè dường như sắp qua đi, vậy nhưng những sự vật gắn bó, biểu tượng với nó vẫn còn đó.<br><br></div><div>- Động từ mạnh: “phun” cho thấy sức sống mạnh mẽ đang sinh sôi, nảy nở, căng tràn của cây lá vào mùa hè.<br><br></div><div>- Màu sắc: “đỏ”: Đây là màu sắc trong gam màu nóng, cho thấy sự nổi bật và rực rỡ.<br>-&gt; Nét vẽ thứ 2 trong bức tranh ngày hè: rực rỡ, căng tràn sức sống.&nbsp;<br>-&gt; Tâm hồn yêu thiên nhiên, nhạy cảm, tinh tế của nhà thơ.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://static.perfumista.vn/note/231_slide_4" />
         <pubDate>2021-12-06 14:39:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1931262422</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thành viên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1931330371</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>1</strong>, Phạm Nguyễn Thảo Vi <br><strong>2</strong>, Hà Nhật Vy <br><strong>3</strong>, Nguyễn Hà Vy</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484109670/2c91c33ef265d8473193439f4628bf95/inbound6746766196443836940.jpg" />
         <pubDate>2021-12-06 15:03:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1931330371</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1931368286</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1485221725/42cc489bfc38cf783259ab75d1afab0a/lv_0_20211206214925_001.mp4" />
         <pubDate>2021-12-06 15:16:59 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1931368286</guid>
      </item>
      <item>
         <title>câu 4</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1931393139</link>
         <description><![CDATA[<div>“Hồng liên trì đã tiễn mùi hương “. <br><mark>- Hình ảnh:</mark>&nbsp; ,<strong><em>”hồng liên”</em></strong>chính là hoa sen. Sen là biểu tượng cảnh sắc mùa hè gần gũi, quen thuộc với làng quê.<br>- Từ ngữ: <strong><em>“Tiễn” </em></strong>là ngát, "Mùi hương"- ngào ngạt, ngát hương rất đặc trưng của mùa hè.</div><div>+&gt; Khung cảnh làng quê thanh bình ,không khí thanh cao thoát tục, xinh đẹp và bình dị</div><div>=&gt;&nbsp; Nhà thơ đã gắn tâm hồn của mình với cảnh vật mùa hè bằng một tình quê đẹp và cảm nhận vẻ đẹp của nó bằng nhiều giác quan. Chọn lọc được những hình ảnh tiêu biểu cho mùa hè,...</div>]]></description>
         <enclosure url="https://canhquan.net/Content/Images/FileUpload/2018/5/sen-1.jpg" />
         <pubDate>2021-12-06 15:25:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1931393139</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1931440485</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484160620/4fa8da66cdef3244e4e8138f7ecf5dc5/v_n_ch__ng_m_i_ng_y.mp4" />
         <pubDate>2021-12-06 15:43:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1931440485</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Anh Thư</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1932474655</link>
         <description><![CDATA[<div>Phần đọc sâu:<br>* So sánh hình tượng người tráng sĩ trong hai tác phẩm: Tỏ lòng( Phạm Ngũ Lão) và Cảm hoài( Đặng Dung)<br>&nbsp;<br>- Điểm giống nhau:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Cả hai bài thơ cùng dựng lên hình tượng chung đó là người con trai trong thời đất nước chiến tranh với vẻ đẹp oai hùng của khát vọng luôn hướng về phía trước thực hiện lí tưởng cứu và bảo vệ non sông đất nước.<br><br>- Điểm khác nhau:<br>&nbsp; &nbsp;+ Hình tượng người nam tử trong "tỏ lòng"( Phạm Ngũ Lão) là một người còn trẻ tuổi đang đắc thời, nhiều lợi thế -&gt; anh hùng gặp thời.<br>&nbsp; &nbsp;+ Hình tượng người nam tử trong" cảm hoài"( Đặng Dung) là người tuổi ko còn được trẻ nữa, đã hết thời, bất lợi về nhiều mặt -&gt; tráng sĩ bi phẫn, tuyệt vọng.<br>&nbsp; &nbsp;+ Hình ảnh người tráng sĩ trong " tỏ lòng" có tinh thần oai phong lẫm liệt " cắp ngang ngọn giáo" -&gt; chí khí làm trai hào hùng.<br>&nbsp; &nbsp;+ Hình ảnh người tráng sĩ trong" cảm hoài"&nbsp; với vẻ đẹp bi tráng, bi phẫn "Quốc thù chưa trả sao già vội” với hành động bền bỉ “mài gươm dưới nguyệt đã bấy chầy” của người tráng sĩ.<br>&nbsp; &nbsp;<br>* Liên hệ bản thân<br>&nbsp; &nbsp;<br>Thời đại nhà Trần được biết đến là một trong những thời đại hào hùng nhất trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam với chiến công ba lần đánh thắng giặc Mông - Nguyên xâm lược, làm nên hào khí Đông A vang dội một thời. Nhắc tới thời đại huy hoàng này ta không thể không nhắc đến những trang nam nhi anh dũng. Với chí khí làm trai đầy hào hùng họ luôn luôn khát khao hoài bão hướng về phía trước để thực hiện lí tưởng, đánh thức ý chí, chí hướng lập công mang tầm vũ trụ. Song chính trong thời đại ấy vẫn tồn tại những trang nam nhi hèn nhát với danh nghĩa&nbsp; " anh hùng rơm" luôn cho mình là tài giỏi, là anh hùng nhưng thực chất chẳng có tài cán gì. Chính những thành phần này lại góp phần khiến cho một đất nước đang trg thời chiến phải chịu nhiều tổn thất nghiêm trọng. Bởi vậy nên đã là một trang nam nhi hãy biết sống như một vị anh hùng "thực thụ" để có thể bảo vệ được giang sơn gấm vóc của mình.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-07 01:36:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1932474655</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hoài Thanh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1932801587</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Đọc Sâu Tác phẩm Tỏ Lòng (Thuật Hoài)<br></strong><br></div><div>*Ngôn Từ<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp;" hoành sóc ": khí thế mạnh mẽ,&nbsp; “hoành” trong tung hoành còn sóc tức là ngọn giáo dài, vốn là loại vũ khí kinh điển trong các cuộc chiến của quân đội.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp;" giang sơn " : tái hiện một không gian mênh mông&nbsp;<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp;" kháp kỉ thu ": thời đo bằng năm-&gt;ý chí kiên cường bền bỉ của quân đội thời Trần<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp;" Tam quân tì hổ khí thôn ngưu": phép ẩn dụ ước lệ cộng thêm phép phóng đại đã cho thấy ba quân khí thế hùng mạnh. "Hổ khí thôn ngưu" mang ý nghĩa như hổ báo "nuốt trôi trâu" có ý nghĩa lớn trong việc tái hiện khí thế hào hùng của đội quân nhà Trần.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp;<br><br></div><div>-&gt; Hình ảnh con người được tái hiện trong không gian, thời gian đó càng trở nên hùng dũng. Trường tồn mãi với quang cảnh bao la kì vĩ&nbsp;<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp;“<em>công danh trái”:</em> món nợ của các đấng nam nhi, “nợ công danh” đã đem đến cho con người dưới các triều đại phong kiến trong lịch sử một mục đích sống, lý tưởng sống cao đẹp và đáng quý<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp;“thẹn”: "thẹn" khi đối sánh mình với cha ông, tự thấy bản thân chưa thể sánh được với họ. “thẹn” còn được hiểu là cách nói thể hiện khát vọng, hoài bão muốn sánh với Vũ hầu.<br><br></div><div>*Hình Tượng<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp;Hình ảnh người Tráng sĩ thời Trần hiện lên thật oai phong lẫm liệt, vẻ đẹp hiên ngang, hùng mạnh cùng với ngọn giáo, được thể hiện qua từ " hoành sóc" , họ liên tục phải đấu tranh để bảo vệ quê hương, tổ quốc. Đó là tinh thần luôn muốn đem sức lực để cống hiến cho " giang sơn " đến từ ý thức của mỗi cá nhân. Hình ảnh quân đội nhà Trần với sức mạnh lớn lao, mạnh mẽ có thể nuốt trôi sao ngưu. Đó không chỉ là sức mạnh của quân đội nhà Trần mà còn là sức mạnh của cả dân tộc, thời đại.&nbsp;<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp;Bài thơ cũng là nỗi lòng của tác giả với những suy tư bộn bề về chí làm trai của người đan ông trong xã hội trước. (chí làm trai là phẩm chất không thể thiếu). Đối với Phạm Ngũ Lão thì công danh vẫn là một thứ mà còn vấn vương với ông. Và chính vì thế nên ông thấy hổ thẹn khi nghe chuyện về Vũ Hầu. “Thuật hoài” chính là kiệt tác, thể hiện nỗi lòng của tác giả cũng như nỗi lòng chung của tuổi trẻ.<br><br></div><div>&nbsp;<br><br></div><div>*Nghệ Thuật<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp;Ngôn từ hàm súc, hình ảnh giàu sức khái quát<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp;Bút pháp nghệ thuật ẩn dụ ước lệ, phóng đại, so sánh đã cho thấy sức mạnh và tầm vóc của quân đội nhà Trần<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp;Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật<br><br></div><div>*Giọng điệu<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp;Giọng điệu hào hùng,mạnh mẽ khi tái hiện lại dũng khí của trai tráng thời Trần mà thâm trầm, da diết khi nhắc tới nỗi lòng của tác giả là một võ tướng tài ba nhưng mang trong mình một trái tim nhạy cảm, thổn thức của một thi nhân<br><br></div><div>&nbsp;<br><br></div><div><strong>-Liên Hệ Bản Thân<br></strong><br></div><div><strong>&nbsp; &nbsp;</strong>Không nhất thiết thực sự phải là lập được những công lao to lớn cho xã hội. Chúng ta chỉ cần không ngừng nỗ lực rèn luyện, có chí cầu tiền và hoàn thiện bản thân. Có thể thấy, Hào khí Đông A, sức mạnh của quân đội thời Trần đã trở thành niềm tự hào của mỗi người.Chúng ta phải ý thức được trách nhiệm của một công dân đối với Tổ Quốc. Phải giữ gìn, phát triển đất nước như cái cách mà ông cha ta đã vùng dậy đấu tranh để dành lại giang sơn.&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-07 05:42:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1932801587</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Chu Ngọc Minh Trang ( nhóm 8)</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1936108123</link>
         <description><![CDATA[<div>*Ưu điểm<br>- Sáng tạo, có ý thức phân chia để hoàn thành nhiệm vụ<br>- Nội dung đầy đủ<br>- Sáng tạo, sinh động, lôi cuốn người xem<br>* Hạn chế<br>&nbsp;- Âm thanh chèn vào hơi to lấn át ng đọc<br>* Lời khuyên: Âm thanh nên chèn nhỏ hơn để nổi bật nội dung chia sẻ nheee<br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-08 15:18:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1936108123</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thành viên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1937548886</link>
         <description><![CDATA[<div>Nguyễn Thu Huyền<br>Phạm Thu Huyền<br>Nguyễn Ngọc Lan<br>Lê Phương Linh</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-09 06:49:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1937548886</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Câu đầu tiên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1937554071</link>
         <description><![CDATA[<div><br><strong><mark>"Rồi hóng mát thuở ngày trường"</mark></strong><strong><br>- Tâm thế ngắm cảnh ngày hè: </strong><br>+ “Rồi”: là một từ cổ có nghĩa là <mark>rảnh rỗi, nhàn hạ </mark><br>+ “Ngày trường”: ngày<mark> dài</mark>, chỉ khoảng thời gian rảnh rỗi.<br>+ Hóng mát: hoạt động <mark>an nhàn, tĩnh tại, thư thả </mark><br>+ Nhịp điệu: 1/2/3 ung dung, tự tại<br>=&gt; Con người thảnh thơi, thứ thái, không vướng bận, toàn tâm toàn ý ngắm cảnh ngày hè. Đây là những giây phút hiếm hoi của cuộc đời ông, ngay khi có thời gian rảnh rỗi, việc NT làm chính là mở rộng lòng mình cảm nhận vẻ đẹp thiên nhiên.<br>-&gt; Tình yêu thiên nhiên sâu sắc.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-09 06:54:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1937554071</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Câu thứ hai</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1937557072</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong><em><mark>Hoè </mark></em></strong><strong><em>lục đùn đùn tán rợp giương</em></strong><br>- Vẽ nên bức tranh ngày hè qua hình ảnh đầu tiên: Bức tranh thiên nhiên tràn đầy sức sống, cảnh vật tươi tắn, rực rỡ<br>&nbsp; &nbsp; + Hình ảnh thơ: <strong>hoa hòe </strong><br>&nbsp; &nbsp; + Màu sắc: <mark>lục</mark> màu xanh của cây hòe, màu sắc tươi tắn, rực rỡ, mát mẻ, căng tràn nhựa sống. (Khác hẳn với những gam màu thường thấy vào mùa hè)<br>&nbsp; &nbsp; + Sử dụng các động từ mạnh: <strong><mark>đùn đùn</mark></strong>, <strong>Rợp</strong>, <strong>giương</strong>. Cảnh vật được miêu tả với những động từ mạnh thể hiện một sức sống <mark>mãnh liệt </mark>như có một cái gì đó thôi thúc bên trong, sức sống như <mark>ứa căng, tràn đầy</mark><br>=&gt; Bức tranh tràn đầy sức sống, mát mẻ, ấn tượng. Tác giả sử dụng những hình ảnh thơ bình dị, gần gũi, quen thuộc, độc đáo và có sự phá cách, khác hẳn với những hình ảnh thơ mang tính ước lệ, tượng trưng vốn thường được sử dụng trong Đường thi.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://mrhoa.com/wp-content/uploads/2018/03/hinh-hoa-hoe.jpg" />
         <pubDate>2021-12-09 06:57:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1937557072</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hà Phương</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1937579605</link>
         <description><![CDATA[<div>- Ưu điểm:&nbsp;<br>+ các bạn chèn nhạc nền hợp, âm lượng giữa giọng đọc và nhạc phù hợp.<br>+ hình ảnh minh họa sinh động, thú vị.<br>+ Nội dung hay, phần dẫn vào sáng tạo.<br>- Góp ý:<br>+ Các bạn có thể tự đọc diễn cảm bài thơ như nhóm&nbsp;9<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-09 07:17:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1937579605</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhận xét nhóm 1: Phạm Nguyễn Thảo Vi ( nhóm 9) 🍀 </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1937584856</link>
         <description><![CDATA[<div>Ưu điểm:&nbsp;<br>- Nội dung đầy đủ, sáng tạo, có kèm hình ảnh video sinh động.&nbsp;<br>Bổ sung:&nbsp;<br>- Phần vị trí đóng góp của các bạn câu từ có chỗ chưa hoàn thiện.&nbsp;<br>Góp ý:&nbsp;<br>- Mong các bạn có thể chỉnh sửa các từ ngữ hơn để bài ngắn gọn và súc tích hơn. </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-09 07:21:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1937584856</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 2:</title>
         <author>dungnguyenhs1509</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1937601168</link>
         <description><![CDATA[<div>* Nhận xét:<br>- Ưu điểm:<br>&nbsp; &nbsp;+ Phần trinh bày rõ ràng, chi tiết.<br>&nbsp; &nbsp;+ Phân chia các mục rõ ràng, dễ hiểu.<br>- Bổ sung: nên highlight những từ khóa quan trọng<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-09 07:33:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1937601168</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Minh Anh</title>
         <author>halap78</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1937795975</link>
         <description><![CDATA[<div>Em thích câu "Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ" vì lựu là một loại cây điển hình của mùa hè, nó có sắc đỏ rực rỡ mang sức sống dồi dào, làm bức tranh mùa hè càng hiện lên rõ ràng và đẹp đẽ. (Một vài lí do khác là vì em thích màu đỏ và thích ăn lựu ^^)</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-09 09:44:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1937795975</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thùy Dung</title>
         <author>dungnguyenhs1509</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1937798381</link>
         <description><![CDATA[<div>Câu thơ em thích nhất trong bài thơ Cảnh ngày hè là :&nbsp;" Hông liên trì đã tiễn mùi hương".<br>Câu thơ gợi lên cảnh hè dịu mát, hương sen ngào ngạt tỏa trong không khí kiến cho làng quee càng thêm bình dị.<br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-09 09:45:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1937798381</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vũ Thị Thu An </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1937798715</link>
         <description><![CDATA[<div>Em&nbsp;thích nhất câu thơ ' Lao xao chợ cá làng Ngư Phủ " Vì câu thơ thể hiện được cuộc sống hạnh phúc , an vui , tự tại của đời sống nhân nhân từ đó thấy được đất nước ta đang thái bình . </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-09 09:45:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1937798715</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hoài Thanh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1937799627</link>
         <description><![CDATA[<div>Trong tác phẩm Cảnh Ngày hè của Nguyễn Trãi thì em thích nhất câu thơ " dân giàu đủ khắp đòi phương ". Bởi ở đó toát lên vẻ đẹp trong tâm hồn của tác giả. Đó là tình yêu quê hương đất nước, mong cho nhân dân được ấm no, đầy đủ.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-09 09:46:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1937799627</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Phương Ngaa</title>
         <author>ngaphuongnguyen26</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1937800742</link>
         <description><![CDATA[<div>Em thích câu thơ thứ 3 trong bài "Cảnh ngày hè": "Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ" vì câu thơ cho em cảm thấy thiên nhiên rất tươi đẹp, và màu đỏ ở đây cho em cảm giác căng tràn sức sống. Hơn nữa là tại e khá thích vị chua ngọt với cảm giác mát khi ăn lựu nên&nbsp;em thấy câu thơ không tạo cho em cảm giác nóng bức của mùa hè mà làm e thấy tươi mát ạ.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://perfumista.vn/note/169_slide_1" />
         <pubDate>2021-12-09 09:47:20 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1937800742</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hà Phương</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1937801038</link>
         <description><![CDATA[<div>em thích câu "Dân giàu mạnh, khắp đòi phương" nhất, vì nó thể hiện tư tưởng nhân nghĩa cao cả của Nguyễn Trãi và cũng là ước mong muôn đời của những nhân cách cao cả như ông. Đồng thời giọng thơ thiết tha, cảm xúc dồn nén khiến em khá xúc động và tự hào, kính trọng Nguyễn Trãi</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-09 09:47:32 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1937801038</guid>
      </item>
      <item>
         <title>HNhung</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1937801164</link>
         <description><![CDATA[<div>Em thích câu: Lao xao chợ cá làng ngư phủ vì nó mang đến cảm giác về 1 đất&nbsp; nước yên bình, tiếng lao xao vang lên đầy niềm hứng khởi. Góp phần làm cho bức tranh Cảnh ngày hè thêm sức sống của con người</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-09 09:47:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1937801164</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lê Thảo Nguyên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1937801944</link>
         <description><![CDATA[<div>em thik nhất là câu thơ thứ 5, " Lao xao chợ cá làng ngư phủ". Bởi vì ,"Chợ" là hình ảnh của sự thái bình trong tâm thức của người Việt. Chợ đông vui gợi lên hình ảnh đất nước thái bình, thịnh trị, dân giàu đủ ấm no.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-09 09:48:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1937801944</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hướng dẫn học bài &quot;Nhàn&quot;</title>
         <author>hangtrang191</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1937802972</link>
         <description><![CDATA[<div>Phân chia các thành viên nhóm theo số thứ tự trong danh sách lớp:&nbsp;</div><div>&nbsp;</div><div><strong>Nhóm 1: số tt 1,3,5,7,9:<br>&nbsp;Nhóm 2: số tt 2,4,6,8,10<br>&nbsp;Nhóm 3: số tt 11,13,15,17,19<br>&nbsp;Nhóm 4: số tt 12,14,16,18,20<br>&nbsp;Nhóm 5: Số tt 21,23,25,27,29<br>&nbsp;Nhóm 6: Số tt 22,24,26,28,30<br>&nbsp;Nhóm 7: Số 31,32,33,34<br>Ghi&nbsp;chú: Phần việc nào ghi 2 nhóm là cả 2 nhóm cùng thực hiện 1 nhiệm vụ nhé! Để có sự so sánh kết quả làm việc với nhau.</strong></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1475486360/5ab130df369e170e36584fdc517a648a/Screen_Shot_2021_12_09_at_8_21_01_PM.png" />
         <pubDate>2021-12-09 09:48:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1937802972</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Nguyễn Thảo Vi🍀</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1937807147</link>
         <description><![CDATA[<div>Em thích nhất câu thơ " Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng"&nbsp;<br> Bởi câu thơ ấy nói lên ước muốn của Nguyễn Trãi, ông muốn cất lên tiếng nói, khát vọng người dân đời đời được yên ấm, sung túc, an bình. Muốn mượn những tiếng cầm vang để bày tỏ nỗi lòng, ngay cả khi ông đã cáo quan và không tham gia vào việc triều chính nữa. </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-09 09:51:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1937807147</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phương Linh </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1937811043</link>
         <description><![CDATA[<div>câu thơ em thích nhất là " Lao xao chợ cá làng ngư phủ ".  Câu thơ gợi lên trong tâm trí em hình ảnh quen thuộc là chợ - nơi đông vui tấp nập mang lại cho con người ta cảm giác ấm no , thanh bình . Không khí chợ cá làng ngư phủ hiện rõ hơn khi cảm nhận qua thính giác qua từ  " lao xao". Từ khi dịch covid diễn biến căng thẳng đến giờ đã khá lâu rồi . Em sắp quên cái cảm giác vui vẻ, tấp nập đông đúc này làm em càng yêu thích câu thơ </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-09 09:54:17 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1937811043</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Quách Thảo Nguyên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1937829646</link>
         <description><![CDATA[<div>Em thích nhất câu thơ " Lao xao chợ cá làng ngư phủ" bởi câu thơ&nbsp; mang lại một cảm giác ồn ào, nhộn nhịp của người dân làng chài cá. Đó là một khung cảnh quen thuộc, bình yên và giản dị </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-09 10:06:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1937829646</guid>
      </item>
      <item>
         <title>duyên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1937837653</link>
         <description><![CDATA[<div>em thích nhất câu “Lao xao chợ cá làng ngư phủ", vì từ láy “lao xao” như thể hiện được hết cái vui tươi của con người lao động trong những buổi chợ. Chợ có đông thì mới có niềm vui như thế, có âm thanh như thế. Chợ cá kia dường như có rất nhiều đồ khiến cho người dân nơi đây náo nức, mua bán. Đó chỉ là cuộc sống đời thường thôi nhưng lại có thể cảm nhận được ở đấy vui vẻ như thế nào.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-09 10:11:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1937837653</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thu Trang</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1937915824</link>
         <description><![CDATA[<div>Em&nbsp;thích câu "Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ" vì khi đọc đến câu thơ ấy em cảm thấy có một cảm giác thật tươi mát của mùa hè. Cau này thơ cũng gợi nên một sắc đỏ tươi mới cho bức tranh "Cảnh ngày hè", dù là sắc đỏ nhưng không gây cái nóng nực của mùa hè mà nó mang đến làn hương tươi mát của lựu.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://tutukit.com/ba-bau-co-an-duoc-qua-luu-khong/imager_42288.jpg" />
         <pubDate>2021-12-09 11:06:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1937915824</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Anh Thư</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1938240519</link>
         <description><![CDATA[<div>Trong bài " Cảnh ngày hè" em thích nhất câu thơ " Hồng tiên trì đã tiễn mùi hương" vì câu thơ có nhắc đến loài hoa sen- loài hoa quen thuộc của mùa hè, nó mang một vẻ đẹp bình dị, thanh tao, trang nhã của làng quê Việt Nam. Đồng thời đây cũng là quốc hoa của Việt Nam.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://hoatuoivannam.com/wp-content/uploads/2018/08/hoa-sen-dep.jpg" />
         <pubDate>2021-12-09 13:56:59 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1938240519</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thanh Thảo</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1938255512</link>
         <description><![CDATA[<div>Em thích câu " Hoè lục đùn đùn tán rợp giương " vì câu thơ khiến e nghĩ đến bức tranh mùa hè tràn đầy sức sống với loài hoa hoè mang màu sắc rực rỡ, tươi tắn. Câu thơ sử dụng những thứ rất gần gũi với cuộc sống hàng ngày để thể hiện màu sắc tươi đẹp của vạn vật thiên nhiên và nhịp sống của con người.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-09 14:02:15 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1938255512</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Anh Thư</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1938486876</link>
         <description><![CDATA[<div>Qua bài thơ "Cảnh ngày hè", em ấn tượng nhất với câu thơ "Lao xao chợ cá làng ngư phủ". Câu thơ tuy ngắn gọn nhưng đã khắc họa nên khung cảnh chợ cá thân thuộc với nhân dân làng chài. Từ láy "Lao xao" là âm thanh từ xa vọng lại, thể hiện chợ cá đang rất đong vui, tấp nập người mua người bán. Câu thơ gợi lên cho ta bức tranh cuộc sống ấm no, hạnh phúc, an nhiên của nhân dân lao động. Tác giả đã sử dụng hình ảnh tuy đơn giản, mộc mạc nhưng gợi cho ta cảm giác thân thuộc, yêu đời, vui vẻ, lạc quan hòa chung không khí với dân làng chài. Tuy chưa được đi chợ cá, nhưng qua câu thơ trên, em đã cảm nhận ít nhiều về không khí đông vui, náo nhiệt của một làng chài. </div>]]></description>
         <enclosure url="https://phuquocxanh.com/vi/wp-content/uploads/2017/04/lang-chai-ham-ninh-phu-quoc.jpg" />
         <pubDate>2021-12-09 15:23:47 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1938486876</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đỗ Minh Ngọc</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1939386356</link>
         <description><![CDATA[<div>Em&nbsp;thích nhất là câu "dân giàu đủ, khắp đòi phương" bởi đây không chỉ là câu thơ ca ngợi cảnh đẹp của con người, cảnh no ấm, giàu mạnh mà còn là khát vọng ngàn đời của dân tộc ta cũng như của Nguyễn Trãi</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-10 00:50:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1939386356</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đặng Hà Trân</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1939494780</link>
         <description><![CDATA[<div>Trong thi phẩm "Cảnh ngày hè" em ấn tượng nhất với câu thơ: " Hồng tiên trì đã tiễn mùi hương" vì nó gợi em nhớ đến cảnh quê nội với những đầm sen be bé xinh xinh mà ngát hương phủ toàn nội làng . Nó đem đến một cảm giác thanh tao, đầy thư thái, trang nhã mà hiếm ai tìm được ở chốn thành thị. </div>]]></description>
         <enclosure url="https://c1.staticflickr.com/5/4280/35410605221_9fc190bee0_o.jpg" />
         <pubDate>2021-12-10 01:59:59 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1939494780</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thành viên nhóm 5</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1939636083</link>
         <description><![CDATA[<div>1. Trần Thanh Thủy (nhóm trưởng)<br>2. Nguyễn Hà Phương<br>3. Phạm Thị Thanh Thư<br>4. Nguyễn Thanh Thảo<br>5. Chu Ngọc Minh Trang</div>]]></description>
         <enclosure url="http://www.helloasia.com.au/wp-content/uploads/2017/08/GhibliShowcase.png" />
         <pubDate>2021-12-10 03:37:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1939636083</guid>
      </item>
      <item>
         <title>_ Thành viên _ </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1939651513</link>
         <description><![CDATA[<div>1, Đặng Hà Trân&nbsp;<br>2, Phạm Nguyễn Thảo Vi&nbsp;<br>3, Hà Nhật Vy&nbsp;<br>4, Nguyễn Hà Vy</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484109670/34c73e308aea183902f38bda24c96de2/inbound8587178125800445289.jpg" />
         <pubDate>2021-12-10 03:49:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1939651513</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 1 ~ Hai câu luận : Cuộc sống của tác giả ở chốn quê nhà</title>
         <author>halap78</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1939657810</link>
         <description><![CDATA[<div><em>"Thu ăn măng trúc, đông ăn giá<br>Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao"<br><br></em><strong>-&nbsp; &nbsp; Ngôn từ :</strong></div><div>&nbsp; + ĂN: “măng trúc”, “giá” : những thức ăn “cây nhà lá vườn” <mark>dân dã</mark>, <mark>quen thuộc, mùa nào thức nấy </mark>do chính tác giả làm ra.&nbsp;<br>&nbsp; + "giá" : còn là một loại gạo cổ, rất hiếm và ngon</div><div>&nbsp; + “tắm hồ sen”, “tắm ao” : Tác giả cũng tắm hồ, ao <mark>như bao người dân</mark> quê bình thường</div><div>&nbsp; + Bốn mùa <em>Xuân, Hạ, Thu, Đông</em> : Sống <mark>hòa quyện với thiên nhiên</mark>, thể hiện <mark>vòng lặp</mark> của các hoạt động đi kèm với từng mùa đó</div><div>&nbsp; + Nghệ thuật : Cách ngắt <mark>nhịp 4/3</mark> nhịp nhàng, kết hợp với cách điệp cấu trúc câu, <mark>liệt kê</mark> các món ăn và hoạt động qua các mùa</div><div><strong>-&nbsp; &nbsp; Hình tượng :</strong></div><div>&nbsp; + Sự <mark>hài lòng</mark> với cuộc sống <mark>giản dị</mark> mà <mark>thanh cao</mark>, <mark>tự do</mark>, thoải mái, hòa quyện với thiên nhiên suốt 4 mùa của tác giả</div><div>&nbsp; + Ngoài ra, qua hai câu thơ ta có thể thấy tác giả đang phác họa lên bức tranh thiên nhiên đất Bắc quê hương với vẻ đẹp <mark>bình dị</mark> và <mark>cảnh sinh hoạt</mark> con người <mark>gần gũi<br></mark>=&gt;<strong>&nbsp;NHÀN: </strong></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1483642670/8a3e9e0fbac64ac739b9199ae6f27266/image.png" />
         <pubDate>2021-12-10 03:54:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1939657810</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Quê hương - Gia đình</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1939659339</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp;- <strong>Quê hương: <br>&nbsp; &nbsp; </strong>&nbsp; Quê ngoại của Nguyễn Bỉnh Khiêm ở làng An Tử Hạ, huyện Tiên Minh, phủ Nam Sách, trấn Hải Dương (nay là thôn Nam Tử, xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng). <br><br>&nbsp; &nbsp;- <strong>Gia Đình</strong><br>      Cha của ông là giám sinh Nguyễn Văn Định, đạo hiệu là Cù Xuyên, nổi tiếng hay chữ nhưng chưa hiển đạt trong đường khoa cử. Mẹ của ông là bà Nhữ Thị Thục, con gái út của quan Tiến sĩ Thượng thư bộ Hộ Nhữ Văn Lan triều Lê Thánh Tông, bà là người phụ nữ có bản lĩnh khác thường, học rộng biết nhiều lại giỏi tướng số</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484071319/6c45930469b430d63eeb0869c3f684e7/inbound2039292761974121811.jpg" />
         <pubDate>2021-12-10 03:56:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1939659339</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Khái quát về bài thơ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1939664137</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>a) Hoàn cảnh sáng tác</strong><br>- Bài thơ được sáng tác khi Nguyễn Bỉnh Khiêm đã chán ghét cảnh quan trường và trở về <mark>ở ẩn</mark> tại làng quê.<br><strong>b) Xuất xứ</strong><br>- Là <mark>bài thơ Nôm số 73</mark>, trong <mark>Bạch Vân quốc ngữ thi</mark>. <br><strong>c) Bố cục: </strong><strong><mark>4 phần</mark></strong><br>- Phần 1 (hai câu đề): <mark>Hoàn cảnh sống</mark> của Nguyễn Bỉnh Khiêm<br>- Phần 2 (hai câu thực): <mark>Quan niệm sống</mark> của Nguyễn Bỉnh Khiêm.<br>-Phần 3 (hai câu luận): <mark>Cuộc sống</mark> của Nguyễn Bỉnh Khiêm <mark>ở chốn quê nhà.</mark><br>- Phần 4 (hai câu kết): <mark>Triết lí sống nhàn</mark><br><strong>d) Thể thơ:<br></strong>- Thất ngôn bát cú đường luật<br><strong>e) Nhan đề: "Nhàn" <br>(</strong>Nhan đề bài thơ do người đời sau đặt.)<br>- Nhàn là một <mark>phong thái sống an nhàn</mark>, không chút vướng bận những điều trong cuộc sống.<br><br>- Hành trình hưởng nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm nằm trong quy luật: <mark>tìm về với nhân dân</mark>, đối lập với bọn người tầm thường bằng cách nói ngụ ý vừa ngông ngạo, vừa thâm thúy.<br><br>- Với bài thơ “Nhàn” Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thể hiện <mark>triết lí sống</mark>: <mark>Hòa hợp với thiên nhiên, coi thường danh lợi, giữ cốt cách thanh cao</mark> trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484370501/78da6e947eba47248ef513c52a2334d2/5052454363845601792.mp4" />
         <pubDate>2021-12-10 04:00:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1939664137</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 4:                                                                      </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1939664252</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>1. Hai câu đề: Hoàn cảnh sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm.</strong></div><div>-<mark> Mai, quốc, cần câu:</mark> Là những dụng cụ lao động cần thiết, quen thuộc của người nông dân.</div><div>- Phép <mark>liệt kê</mark> kết hợp với số từ “một”: Gợi hình ảnh người nông dân đang điểm lại công cụ làm việc của mình và mọi thứ đã sẵn sàng.</div><div>- <mark>Nhịp thơ 2-2-3</mark> thong thả đều đặn</div><div>→ Cuộc sống ở quê nhà của Nguyễn Bỉnh Khiêm gắn bó với công việc nặng nhọc, vất vả, lam lũ của một lão canh điền. Nhưng tác giả rất yêu và tự hào về thú vui điền viên ấy</div><div>- Trạng thái <mark>“thơ thẩn”</mark>: chăm chú vào công việc, tỉ mẩn</div><div>→ Tâm trạng hài lòng, vui vẻ cùng trạng thái ung dung, tự tại của nhà thơ.</div><div>- Cụm từ phủ định <mark>“dầu ai vui thú nào”:</mark> Phủ nhận những thú vui mà người đời thường hay theo đuổi.</div><div><strong><em>⇒ Hai câu thơ khái quát hoàn cảnh sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm ở quê nhà vất vả, lam lũ, mệt nhọc nhưng tâm hồn lúc nào cũng thư thái, thanh thản.</em></strong></div><div><strong><em>⇒ Tâm thế ung dung, tự tại, triết lí sống nhàn của ẩn sĩ “nhàn tâm”.</em></strong></div>]]></description>
         <enclosure url="https://toplist.vn/images/800px/bai-van-phan-tich-tac-pham-nhan-so-2-396521.jpg" />
         <pubDate>2021-12-10 04:01:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1939664252</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 4:</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1939667325</link>
         <description><![CDATA[<div><br><strong>2. Hai Câu thực: Quan niệm sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm</strong></div><div>- Cách<mark> xưng hô:</mark> ta- người</div><div><strong><em>=&gt; Hai vế tương phản làm nổi bật ý nghĩa, nhấn mạnh phương châm, quan niệm sống của tác giả khác với thông thường. Ngầm phê phán thói đời, thói người và thể hiện cái cao ngạo của kẻ sĩ.</em></strong></div><div>- Sử dụng<mark> phép đối:</mark> Dại &gt;&lt; Khôn, nơi vắng vẻ &gt;&lt; chốn lao xao: cho thấy sự khác nhau giữa lối sống của tác giả và người đời thường</div><div><br></div><div>-Ẩn dụ:</div><div>+ <mark>Nơi vắng vẻ</mark>: tượng trưng cho chốn yên tĩnh, thưa người, nhịp ống yên bình, êm ả. Ngụ ý chỉ chốn quê nhà.</div><div>+ <mark>Chốn lao xao</mark>: Tượng trưng cho chốn ồn ào, đông đúc huyên náo, tấp nập, cuộc sống xô bồ, bon chen, giành giật, đố kị. Ngụ ý chỉ chốn quan trường.</div><div>- Cách <mark>nói ngược:</mark>&nbsp;<br>+ Ban đầu có vẻ hợp lý vì ở chốn quan trường mới đem lại cho con người tiền tài danh vọng, còn ở thôn dã cuộc sống vất vả, cực khổ.</div><div>+ Tuy nhiên, “dại” thực chất là khôn bởi nơi thôn quê, con người mới được sống an yên, thanh thản. “khôn” thực chất là dại bởi chốn quan trường con người không được sống là chính mình.</div><div><strong><em>=&gt; Thể hiện quan niệm sống “lánh đục về trong” của Nguyễn Bỉnh Khiêm</em></strong></div>]]></description>
         <enclosure url="https://hosodanhnhan.com/wp-content/uploads/2021/08/Trang-Trinh-Nguyen-Binh-Khiem-va-nhung-loi-tien-tri-sam-truyen-noi-tieng-nhat-su-Viet-0.jpg" />
         <pubDate>2021-12-10 04:03:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1939667325</guid>
      </item>
      <item>
         <title>b, Cuộc đời và con người </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1939671147</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em>- Cuộc đời : </em></strong><br>+ Nguyễn Bỉnh Khiêm sống gần trọn thế kỉ XVI, sinh năm 1491 và mất năm 1585 tại quê nhà Hải Dương. <br>+ Nguyễn Bỉnh Khiêm học rất giỏi, nhưng đến khi 40 tuổi mới thi Hương lần đầu ( đời vua Mạc Đăng Doanh ) , năm sau thi tiếp ( khoa Ất Mùi năm 1535 )&nbsp; thì ông đỗ Trạng Nguyên. <br>+ Ông được triều đình trọng dụng và làm quan được 8 năm. Khi dâng sớ chém 18 kẻ lộng thần và không được chấp thuận, ông bèn xin cáo quan về quê nhà ở ẩn. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tự đặt hiệu là Bạch Vân cư sĩ, ý chỉ người " chí để ở sự nhàn dật" . <br>+ Ông về quê dựng am Bạch Vân, lập quán Trung Tân và mở trường dạy học. Học trò của ông có nhiều người nổi tiếng nên sau đó được gọi là " Tuyết Giang phu tử' . <br>+ Tuy đã cáo quan nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn thường được vua nhà Mạc gọi về kinh để tham gia triều sự. Ông có những đóng góp to lớn cho đất nước nên được thêm tước là Trình Tuyền hầu, sau thăng lên là Trình Quốc công, hay được dân gian gọi với cái tên thân thuộc là Trạng Trình. <br>+ Nguyễn Bỉnh Khiêm được coi là nhân chứng sống và là nhân tố quan trọng trong thời kỳ chuyển biến không ngừng của lịch sử nước nhà thế kỷ XVI.&nbsp; <br>+ Tuy rằng được phong quan tước, nhưng Trạng Trình không lấy việc làm quan trở thành lý tưởng của cuộc đời, mà cái ông theo đuổi lại chính là nhân đạo chủ nghĩa, đề cao tư tưởng yêu nước thương dân trong sách lược trị quốc của mình.<br><strong><em>- Con người :</em></strong>&nbsp;<br>+ Ông là người thương dân, yêu nước sâu sắc. Gần cuối đời, Nguyễn Bỉnh Khiêm tiếp xúc nhiều với cuộc sống của nhân dân, nhờ đó vốn hiểu biết của ông càng thêm phong phú, sâu sắc về đời sống lam lũ, vất vả, về nếp sống chất phác, giản dị cũng như nguyện vọng chính đáng của nhân dân.<br>+ Xuất thân trong một gia đình trí thức, thuở thiếu thời, Nguyễn Bỉnh Khiêm là người nổi tiếng thông minh, học giỏi, sớm bộc lộ những đức tính cao quý...<br>Nguyễn Bỉnh Khiêm còn là là nhà nho có cái nhìn thời thế rất sâu sắc, độc đáo.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484109670/266317b22594ecd5eee12cc096958247/inbound3067983925781324178.jpg" />
         <pubDate>2021-12-10 04:07:20 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1939671147</guid>
      </item>
      <item>
         <title>NHÓM 3 : Diệu Ngân , Hà My , Minh Ngọc, Ngọc Lan, Quach Thảo Nguyên.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1939675000</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Hai câu đề: Hoàn cảnh sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm</strong></div><blockquote><mark>"Một mai, một cuốc một cần câu"</mark></blockquote><ul><li>- Số từ một thể hiện sự cô đơn, trong một câu thơ nhà thơ đã sử dụng biện pháp điệp từ nhằm nhấn mạnh sự cô đơn, trống vắng của một con người mang đầy chí lớn nhưng lựa chọn trở về sống ẩn dật, hoà mình với thiên nhiên, con người làng quê</li><li>- mai, cuốc, cần câu :tác giả đã sử dụng biện pháp liệt kê chỉ ra những vật dụng quen thuộc, đơn giản, thô sơ của người dân lao động dùng để đào đất, xới đất, câu cá. Ở đây, cũng thể hiện lối sống giản dị, thô sơ nhưng điều ấy lại vừa đủ làm vừa lòng nhà ẩn sĩ.</li></ul><div><strong>=&gt; cả câu thơ là hoàn cảnh sống khi trở về ở ẩn của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Dẫu khó khăn, thiếu thốn nhưng lại mang đến cho tác giả niềm vui khi được sống bình dị, hoà mình với thiên nhiên và cuộc sống.</strong></div><blockquote><mark>"Thơ thẩn dầu ai vui thú nào"</mark></blockquote><div><br></div><ul><li>+ Từ láy “Thơ thẩn” : diễn tả trạng thái ung dung, nhàn nhã, tự cho mình là đã xa lánh cõi trần tục đầy tham vọng, sân si, trong lòng không còn vướng bận những âm mưu, toan tính, phiền muộn trong cuộc sống xung quanh.</li><li>+ Dầu ai: mặc kệ cho ai có những thú vui như nào, sống theo cách của ta ung dung, thảnh thơi giữa cuộc đời , sống ko lo âu, bản lĩnh của người thi sĩ có bản chất thanh cao trước mọi thời cuộc.</li><li>+ Thú vui nào: là những sự xa hoa, sung sướng, giàu sang nhưng nhà thơ lại ko nhó ngàng gì đến những thú vui ấy.</li><li>+ Nhịp thơ 2/2/3 thể hiện phong cách ung dung, thư thái của người nông dân dưới ngòi bút của Nguyễn Bỉnh Khiêm giữa chốn thôn quê dân dã ko còn những suy nghĩ trắc trở và cũng là nhịp điệu cuộc sống thường nhật của nhân vật trữ tình.</li></ul><div><br><strong>-&gt; Có thể nhận thấy được câu thơ như một lời thách thức chúng ta dù ai vui thú nào đi chăng nữa thì ta đây vẫn vui thú an nhà với cuộc sống thôn quê . Câu thơ hiện lên với hình ảnh cuộc sống đời thường, giản dị gạt bỏ đi những vất vả gian lao, sống tự do, sống thanh nhàn, chọn một lối sống không phải suy nghĩ gì về những điều phiền toái</strong>.</div><div><br></div><div><br></div><div><br></div><div><br><br></div><div><strong><br></strong><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://png.pngtree.com/png_detail/18/09/10/pngtree-cute-cartoon-image-of-the-sun-png-clipart_552157.jpg" />
         <pubDate>2021-12-10 04:11:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1939675000</guid>
      </item>
      <item>
         <title>c, Sự nghiệp văn học</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1939685354</link>
         <description><![CDATA[<div>- Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà thơ lớn của dân tộc<br><br>- Ông để lại tập thơ chữ Hán "Bạch Vân am thi tập" (khoảng 700 bài) và tập thơ chữ Nôm "Bạch Vân quốc ngữ thi" (khoảng 170 bài).<br><br><strong><em>- Nội dung thơ :</em></strong>&nbsp;<br>+ Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm mang đậm chất triết lý, giáo huấn, ngợi ca của kẻ sĩ, thú thanh nhàn, đồng thời phê phán những điều xấu xa trong xã hội.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484109670/b0ba822829c901bd1cbcf9b5a207e607/inbound3815668724669058884.jpg" />
         <pubDate>2021-12-10 04:21:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1939685354</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 3</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1939687141</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Hai câu thực: Quan niệm sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm.<br></strong><br><em><mark>"Ta dại,ta tìm nơi vắng vẻ "&nbsp; </mark></em><em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;</em></div><ul><li>+Không gian : 'nơi vắng vẻ"-thủ pháp ẩn dụ nói lên những nơi vắng vẻ thường là những nơi yên bình,thanh tĩnh ,an toàn không có những đấu tranh ,nguy hiểm. &nbsp;</li></ul><div><em>-&gt; Ý nghĩa: Xa lánh chốn quan trường hiểm ác, tìm về nơi vắng vẻ, sống hòa hợp với thiên nhiên để “di dưỡng tinh thần”.</em></div><ul><li>&nbsp;+"Ta dại ":&nbsp; <em>Khẳng định tuyên ngôn sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm những năm tháng sau khi cáo quan về ở ẩn. Ông tự nhận mình "dại" khi tìm nơi vắng vẻ đến sống, nhưng đây là cái "dại" khiến nhiều người ghen tỵ và ngưỡng mộ.&nbsp; &nbsp;</em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<mark>"Người khôn, người đến chốn lao xao"</mark></li><li>-từ láy tượng thanh lao xao: những âm thanh không rõ ràng, ồn ào hoà lại tạo nên cho tao những liên tưởng về một cuộc sống bất ổn với nhiều sự đấu tranh, nguy hiểm.</li><li>- chốn lao xao: đây không phải là một nơi yên tĩnh mà là xã hội.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp;</li></ul><div>- từ " đến": dù đọc lên nhưng ta vẫn thấy rõ đến và tìm có chút khác biệt . Tìm là tìm tòi những điều mà mình muốn còn đến là mục tiêu không chỉ của chính ta mà còn là của nhiều người khác, là xu hướng của tất thảy mọi người. Nhưng tác giả lại lựa chọn đi tìm nơi vắng vẻ thay vì như mọi người đến những nơi lao xao, nơi tranh đấu của nhiều người với nhau.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;- phép đối với câu "ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ": thường phép đối luôn là một bpnt quen thuộc của thơ Đường luật nhưng hẳn nhiên, ở đây, phép đối ấy lại có phần sáng tao hơn do cấu tứ và nhịp thơ thay đổi. Dẫu vậy vẫn không thể phủ nhận sự&nbsp; kết hợp uyển chuyển nhẹ nhàng của 2 câu thơ, người với người, dại với khôn, nơi vắng vẻ và chốn lao xao. Điều này còn thể hiện một con người khiêm nhường, thu mình lại tách biệt với thế giới người khác. Việc tác giả tự nhận mình là dại, còn tôn người khác là khôn chính là biểu hiện cho sự buông bỏ, nỗi lòng không muốn tranh đua với đời.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; - nhịp thơ 2/2/3: nhịp nhàng, thể hiện giọng điệu thư thái, chấp nhận và buông bỏ. Điều ấy càng khẳng định khát vọng được sống giản dị, mộc mạc, tránh xa những bụi bặm của cuộc đời</div><div>&nbsp; &nbsp;<strong>=&gt; Như vậy, thấy được Nguyễn Bỉnh Khiêm là con người rất đỗi mộc mạc, không ham mê những thú vui vật chất hay tranh đấu như người thường. Ông nhận ra có những điều đẹp và thoả mãn mình hơn khi ta được sống là chính mình, ta được nhận và trận trọng những điều của mình. Ông rất khéo léo trong việc dùng từ ngữ độc đáo, lột tả được hết phong thái</strong></div><div><br></div><div><br></div><div><br><br></div><div><strong><br></strong><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://i.pinimg.com/originals/7d/7d/d3/7d7dd3f2c23c37f43938d37f3ae2646c.jpg" />
         <pubDate>2021-12-10 04:23:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1939687141</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 5</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1939694374</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1483642398/c0284b89972a5eabf300f17bad1f3df3/5052454363845601792.mp4" />
         <pubDate>2021-12-10 04:30:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1939694374</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 1 ~ Hai câu kết : Triết lí sống nhàn</title>
         <author>halap78</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1939694521</link>
         <description><![CDATA[<div><em>"Rượu đến cội tây, ta sẽ uống<br>Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao"<br><br></em><strong>-&nbsp; &nbsp; Ngôn từ :</strong></div><div>&nbsp; &nbsp;+ Sử dụng <mark>điển tích</mark> mộng đêm hòe : kể rằng Thuần Vu Phần uống rượu say nằm ngủ dưới gốc cây hòe rồi mơ thấy mình ở nước Hòe An, đạt được công danh phú quý. Sau bừng tỉnh dậy mới biết đó chỉ là giấc mơ</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Động từ “Nhìn xem” : biểu hiện thế đứng cao hơn, từ bên ngoài, đầy tự tin của tác giả</div><div><strong>-&nbsp; &nbsp; Hình tượng :</strong></div><div>&nbsp; &nbsp;+ Nhà thơ tìm đến “say” để “tỉnh” : Tỉnh ra rằng công danh, của cải, tiền bạc chỉ là giấc mộng chiêm bao</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Thể hiện <mark>quan niệm sống</mark> nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là an nhàn, hòa hợp với thiên nhiên, chọn đứng ngoài sự cám dỗ của những danh lợi, vinh hoa, của cải…</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1483642670/2f588910a516604b860ad3270c2612f3/image.png" />
         <pubDate>2021-12-10 04:30:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1939694521</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 6: Thành viên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1939696865</link>
         <description><![CDATA[<div>1. Bùi Vũ Hoài Thanh<br>2. Trần Vi Thảo<br>3. Nguyễn Thị Anh Thư<br>4. Nguyễn Thu Trang<br>5. Trần Anh Thư</div>]]></description>
         <enclosure url="https://tranhtheuthienphung.com/Images/image/MAI%20NHA.jpg" />
         <pubDate>2021-12-10 04:32:47 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1939696865</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Khái quát bài thơ &quot;Nhàn&quot;</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1939722788</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>a) Hoàn cảnh sáng tác<br>&nbsp; </strong>&nbsp;- Bài thơ được sáng tác khi tác giả <mark>cáo quan </mark>về <mark>ở ẩn làng quê</mark>, bài thơ là cuộc sống <mark>thanh nhàn nơi thôn dã</mark> và <mark>triết lí sống</mark> của tác giả.<br><strong>b) Xuất xứ</strong><br>&nbsp; - Nhàn là bài thơ <mark>Nôm số 73</mark>, trong tập <mark>Nôm Bạch Vân quốc ngữ thi</mark>. Nhan đề bài thơ do người đời sau đặt.<br><strong>c) Bố cục<br>&nbsp;</strong>&nbsp;- Phần 1 (Hai câu đầu): <mark>Hoàn cảnh sống</mark> của nhà thơ.<br>&nbsp; - Phần 2 (Hai câu tiếp): <mark>Quan niệm sống</mark> của nhà thơ.<br>&nbsp; - Phần 3: (Hai câu tiếp): <mark>Cuộc sống</mark> của nhà thơ ở chốn thôn quê.<br>&nbsp; - Phần 4 (Hai câu cuối): <mark>Triết lý sống</mark> "Nhàn".<br>&nbsp; - Thể thơ: <mark>Thất ngôn bát cú đường luật</mark>.<br><strong>d) Nhan đề "Nhàn" <br>&nbsp; </strong>- "Nhàn": là <mark>có ít</mark> hay <mark>không có việc</mark> gì phải làm, phải lo nghĩ đến, thể hiện đây là một <mark>phong thái sống an nhàn</mark>, <mark>không vướng bận</mark> điều gì trong cuộc sống.<br>&nbsp; -"Nhàn" trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm mang ý nghĩa cô cùng<mark> sâu sắc và phong phú</mark>. Nó trở thành <mark>triết lý sống</mark> cao đẹp của tác giả trong suốt hơn bốn mươi năm sống ẩn dật. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã sáng tác cả trăm bài thơ về lối sống nhàn và luôn <mark>tự hào về lựa chọn</mark> của mình:"Thanh nhàn ấy ắt là tiên khách".<br>&nbsp; - "Nhàn" đã trở thành <mark>đề tài chủ đạo</mark> trong sáng tác nghệ thuật của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Vì vậy, người biên soạn lấy <mark>"Nhàn"</mark> làm nhan đề cho bài thơ.<strong><br></strong><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484160620/4944aea4346bf691e759acf1be17ccc2/nh_n.mp4" />
         <pubDate>2021-12-10 05:00:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1939722788</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 2: </title>
         <author>dungnguyenhs1509</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1939747561</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><mark>* Hai câu kết: Triết lý sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm:</mark></strong><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Nhìn xem Phú quý tựa chiêm bao.<br>- Câu thơ: “Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống,” đã <mark>mượn điển tích cổ “Giấc mộng Nam Kha”</mark><br>→ Thể hiện sự <mark>tự cảnh tỉnh</mark> mình và người đời, khuyên mọi người nên xem nhẹ <mark>vinh hoa phù phiếm.</mark><br>- <mark>Phú quý:</mark> giàu có, trang trọng.<br>- <mark>So sánh</mark> “phú quý tựa chiêm bao”: <mark>giàu có, sung túc </mark>đối với tác giả chỉ <mark>như một giấc mơ,</mark> khi tỉnh dậy thì sẽ tan, sẽ hết mà thôi. <br>- Nhìn xem: biểu hiện thế đứng từ bên ngoài, <mark>coi thường danh lợi</mark>. <mark>Khẳng định</mark> lối sống mà mình đã <mark>chủ động lựa chọn</mark>, đứng ngoài vòng cám dỗ của vinh hoa phú quý. <br> =&gt; <mark>Thức tỉnh một chân lí:</mark> của cải, vật chất chỉ là <mark>ảo mộng</mark>, như một giấc chiêm bao, bất chợt đến rồi lại bất chợt đi.<br>=&gt; <mark>Quan niệm sống nhàn</mark> của Nguyễn Bỉnh Khiêm là sống <mark>hòa hợp với thiên nhiên</mark>, <mark>xa lánh</mark> những vinh hoa quyền quý <mark>thoát khỏi</mark> <mark>vòng danh lợi</mark> với tâm hồn <mark>thanh thản</mark>, thư thái; nương theo tự nhiên để di dưỡng tinh thần, đồng thời giữ được <mark>cốt cách thanh cao</mark>, không bị cuốn vào vòng danh lợi tầm thường.&nbsp;<br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484180584/85b49c862a0e856034e4b2465d8b4cf5/images.jpg" />
         <pubDate>2021-12-10 05:30:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1939747561</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 2:</title>
         <author>dungnguyenhs1509</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1939747666</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><mark>* Hai câu luận: Cuộc sống nơi thôn quê bình dị:</mark></strong><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao<br>- <mark>Hình ảnh thiên nhiên:</mark> xuân - hạ - thu - đông.<br>-<mark>"măng trúc", "giá"</mark>: những thức ăn <mark>"cây nhà lá vườn"</mark> dân dã quen thuộc do chính tác giả làm ra, không giàu sang, không hào nhoáng. <br>-<mark>"hồ sen", "ao"</mark> là những khung cảnh <mark>giản dị, bình yên</mark> quen thuộc của thiên nhiên. <br>- Từ <mark>"tắm” </mark>được lặp lại <mark>hai lần</mark> cho thấy những <mark>nhu cầu</mark> sống của nhà thơ đều được đáp ứng đủ đầy. <br>- <mark>Phép đối + Liệt kê</mark>: tạo nên âm hưởng thư thái, ung dung.<br>- Cách ngắt <mark>nhịp 4/3</mark> nhịp nhàng.<br>➝ Gợi cho ta <mark>thói quen</mark> sinh hoạt <mark>bình dị</mark> của nhà thơ tại nơi dân dã, sự <mark>hài lòng</mark> với cuộc sống thực tại, song cũng là <mark>sự hoà hợp, gắn bó</mark> giữa con người <mark>với thiên nhiên</mark>. Đồng thời thể hiện cuộc sống <mark>nhàn nhã, </mark>không khắc khổ, <mark>đạm bạc</mark> mà <mark>thanh cao,</mark> chan hòa của tác giả lúc bấy giờ.<br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484180584/0d760b83cec50bf73058c7883729b78f/t_i_xu_ng.jpg" />
         <pubDate>2021-12-10 05:30:48 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1939747666</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Chốt, bổ  sung</title>
         <author>hangtrang191</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1939973477</link>
         <description><![CDATA[<div>Nhàn - triết&nbsp; lí sống<br><strong>1. Hai câu đề: Hoàn cảnh sống Nhàn</strong></div><div>- Số từ “một” (lặp&nbsp; 3 lần): Gợi hình ảnh người nông dân đang điểm lại công cụ làm việc của mình và mọi thứ đã sẵn sàng. Tâm&nbsp; thế&nbsp; ung dung, nhàn&nbsp; tản của&nbsp; con&nbsp; ngườii.<br>- <mark>Liệt&nbsp; kê: Mai, cuốc, cần câu:</mark> Là những dụng cụ lao động cần thiết, quen thuộc của người nông dân -&gt; NBK&nbsp; hoà&nbsp; vào&nbsp; cuộc sống của những người nông dân nơi thôn dã. Nhà&nbsp; thơ&nbsp; trở&nbsp; thành một người nông dân đích thực.</div><div>- <mark>Nhịp thơ 2-2-3</mark> thong thả đều đặn -&gt; Phong&nbsp; thái&nbsp; ung&nbsp; dung, tự&nbsp; tại&nbsp; của&nbsp; con&nbsp; ngườii.</div><div>→ Cuộc sống ung&nbsp; dungg, thảnh&nbsp; thơi&nbsp; của&nbsp; một một lão nông&nbsp; chi điền.&nbsp; Lão&nbsp; nông&nbsp; ấy&nbsp; cảm&nbsp; thấy&nbsp; vui&nbsp; thú&nbsp; với&nbsp; cuộc&nbsp; sống&nbsp; mình đang có.</div><blockquote><mark>"Thơ thẩn dầu ai vui thú nào"<br></mark>+ Từ láy “Thơ thẩn” ( đảo&nbsp; ngữ) : Nhấn&nbsp; mạnh, diễn tả phong thái ung dung, nhàn nhã, tự cho mình là đã xa lánh cõi trần tục đầy tham vọng, sân si, trong lòng không còn vướng bận những âm mưu, toan tính, phiền muộn trong cuộc sống xung quanh.</blockquote><ul><li>+ Dầu ai: ai - đại&nbsp; từ&nbsp; phiếm&nbsp; chỉỉ, chỉ&nbsp; người&nbsp; đời&nbsp; nói chung, có&nbsp; thể&nbsp; nhưng&nbsp; nhà&nbsp; Nho vẫn đang&nbsp; bon&nbsp; chen&nbsp; chốn&nbsp; triều&nbsp; đìnhh)</li><li>Dầu&nbsp; ai&nbsp; vui&nbsp; thú&nbsp; nào: Giống&nbsp; như&nbsp; một&nbsp; lời&nbsp; tuyên&nbsp; bốố: mặc kệ người&nbsp; đời&nbsp; vẫn&nbsp; mê&nbsp; mải&nbsp; bon chen danh lợi, ta&nbsp; dứt&nbsp; khoát , an&nbsp; nhiên&nbsp; lựa&nbsp; chọn&nbsp; lối&nbsp; sống&nbsp; điền&nbsp; viên&nbsp; nơi&nbsp; thôn&nbsp; dã.</li><li>+ Nhịp thơ 2/2/3 thể hiện phong cách ung dung, thư thái của "lão&nbsp; nông" - Nguyễn Bỉnh Khiêm giữa chốn thôn quê dân dã.</li></ul><div><br><strong>-&gt; NHÀN: AN NHIÊN TỰ TẠI, DỨT KHOÁT LỰA CHỌN CS NƠI THÔN DÃ<br></strong><br></div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-10 09:08:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1939973477</guid>
      </item>
      <item>
         <title>2. Hai câu thực: Quan niệm sống Nhà của Nguyễn Bỉnh Khiêm (BỔ SUNG, CHỐTT)</title>
         <author>hangtrang191</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1940013350</link>
         <description><![CDATA[<div><br></div><div><br></div><div>- Sử dụng<mark> phép đối:</mark> Cách<mark> xưng hô:</mark> ta- người; Dại &gt;&lt; Khôn, nơi vắng vẻ &gt;&lt; chốn lao xao: cho thấy sự khác nhau giữa lối sống của tác giả và người đời thường</div><div><strong><em>=&gt; Hai vế tương phản làm nổi bật ý nghĩa, nhấn mạnh phương châm, quan niệm sống của tác giả khác với thông thường. Ngầm phê phán thói đời, thói người và thể hiện cái cao ngạo của kẻ sĩ.</em></strong></div><div>Ta&nbsp; (bản&nbsp; thân&nbsp; tg) - Người&nbsp; (Mọi&nbsp; người, kẻ&nbsp; sĩ&nbsp; mải&nbsp; mê&nbsp; bon&nbsp; chen&nbsp; danh&nbsp; lợii).</div><div>-Ẩn dụ:</div><div>+ <mark>Nơi vắng vẻ</mark>: tượng trưng cho chốn yên tĩnh, thưa người, nhịp ống yên bình, êm ả. Ngụ ý chỉ chốn quê nhà -&gt; Dại: Theo&nbsp; quan&nbsp; điểm&nbsp; của&nbsp; mọi&nbsp; người&nbsp; đây&nbsp; là&nbsp; một&nbsp; nơi&nbsp; không&nbsp; đáng sống.</div><div>+ <mark>Chốn lao xao</mark>: Tượng trưng cho chốn ồn ào, đông đúc huyên náo, tấp nập, cuộc sống xô bồ, bon chen, giành giật, đố kị. Ngụ ý chỉ chốn quan trường.-&gt; Khôn: Theo&nbsp; quan&nbsp; điểm&nbsp; của&nbsp; mọi&nbsp; người&nbsp; đây&nbsp; là&nbsp; một&nbsp; nơi&nbsp; có&nbsp; những&nbsp; thứ&nbsp; đáng&nbsp; để&nbsp; theo&nbsp; đuổi.</div><div>- Cách <mark>nói ngược:</mark>&nbsp;<br>+ Ban đầu có vẻ hợp lý vì ở chốn quan trường mới đem lại cho con người tiền tài danh vọng, còn ở thôn dã cuộc sống vất vả, cực khổ.</div><div>+ Tuy nhiên, “<mark>dại” thực chất là khôn</mark> bởi nơi thôn quê, con người mới được sống an yên, thanh thản, được&nbsp; là chính mình. <mark>“khôn” thực chất là dại </mark>bởi chốn quan trường con người không được sống là chính mình, bon&nbsp; chen&nbsp; mệt&nbsp; mỏi.<br>- Cách&nbsp; ngắt&nbsp; nhịp: 2/2/3 tâm&nbsp; trạng&nbsp; thư thái, lâng&nbsp; lâng&nbsp; của&nbsp; con&nbsp; người&nbsp; ngộ&nbsp; ra&nbsp; được chân lí, tím&nbsp; được&nbsp; cho&nbsp; mình&nbsp; lẽ&nbsp; sống&nbsp; đúng&nbsp; đắnn, đnags&nbsp; để&nbsp; theo&nbsp; đuổi.&nbsp;<br><br></div><div><strong><em>=&gt;&nbsp; NHÀN : XA LÁNH CHỐN BON CHEN GIỮ GÌN KHÍ CHẤT THANH CAO.<br></em></strong><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-10 09:37:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1940013350</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Nguyễn Thảo Vi🍀</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1940281477</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em>* So sánh bài thơ “ Tỏ lòng” và bài ca dao : <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; “ Làm trai quyết chí tu thân,<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Công danh chớ vội, nợ nần chớ lo.”</em></strong><br><em><mark>- Giống nhau : </mark></em><br>+ Nội dung đều nói về chí làm trai, về những trách nhiệm và sức nặng của một người đàn ông cần phải gánh vác trong cuộc sống xã hội.<br>+ Bài thơ và bài ca dao trên đều là những tác phẩm tiêu biểu trong chủ đề này. <br><em><mark>- Khác nhau : </mark></em><br>+ Bài ca dao : <br>&nbsp; • Là văn học dân gian viết theo thể thơ lục bát. <br>&nbsp; • Trong bài có nhắc tới 1 trong 4 nghĩa vụ, trọng trách của người đàn ông dưới thời phong kiến : tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. <br>-&gt; Nhằm để nhắc nhở người con trai phải biết giữ mình, nâng cao năng lực, tri thức của bản thân. Đừng vội vàng để ý tới công danh, đừng lấy thưởng lộc quan tước làm mục tiêu và động lực để ta phấn đấu, cũng đừng chớ lo nghĩ tới việc bản thân đã nợ nần gì với cuộc đời, với quê hương đất nước. Mà chỉ cần nhớ rèn luyện chăm chỉ, học rộng hiểu sâu để ta thành tài và giỏi giang hơn. <br>+ Bài thơ “ Tỏ lòng” <br>&nbsp; &nbsp;• Nằm trong mảng văn học trung đại, được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. <br>&nbsp; &nbsp;• Nhắc tới vị quân sư Vũ Hầu Gia Cát Lượng thời Xuân Thu-Chiến Quốc và những công lao trị quốc bình dân của ông. <br>&nbsp; &nbsp;• Bài thơ nói lên được sự cường mạnh của quân đội nhà Trần bấy giờ.<br>-&gt; Nhắc nhở những đấng nam nhi khi trưởng thành phải trả ơn nghĩa với quốc gia, dùng sức mình cống hiến, nỗ lực không ngừng để góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh, bảo vệ nhân dân an lành, bình yên. <br><strong><em>* Rút ra bài học : </em></strong><br>&nbsp;Bài thơ “ Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão cho ta thấy được khí thế và sự hào hùng của những chiến sĩ anh dũng trên chiến trường. Không chỉ vậy, “ Tỏ lòng” còn là lời thủ thỉ, lời bộc bạch của tác giả về nỗi bận tâm về những nợ nần chưa trả cho đất nước quê hương và nỗi thẹn khi nhìn vào bản thân mà nghĩ đến Vũ Hầu. Qua đây, ta càng thêm yêu thương và kính trọng hơn vị tướng sĩ hào kiệt của ta, cũng như&nbsp; soi vào bản thân, phải biết cống hiến hết mình cho tổ quốc, cho cuộc đời tươi đẹp này.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-10 13:09:32 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1940281477</guid>
      </item>
      <item>
         <title>So  sánh</title>
         <author>hangtrang191</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1940379885</link>
         <description><![CDATA[<div>Cảm &nbsp;nhận  của  em  về tình  yêu thiên nhiên và lòng yêu nước của tác giả qua hai bài thơ?</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-10 14:00:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1940379885</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vận  dụng</title>
         <author>hangtrang191</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1940389656</link>
         <description><![CDATA[<div><mark>Câu&nbsp; 1: </mark>Những&nbsp; con người hết lòng vì nước vì dân như Nguyễn Trãi, Nguyễn&nbsp; Bỉnh&nbsp; Khiêm&nbsp; liệu&nbsp; có&nbsp; còn&nbsp; trong&nbsp; đời&nbsp; sống&nbsp; hiện&nbsp; nay?<br><mark>Câu&nbsp; 2:</mark> Theo&nbsp; em&nbsp; triết&nbsp; lí&nbsp; sống&nbsp; "nhàn " của&nbsp; Nguyễn&nbsp; Bỉnh&nbsp; Khiêm&nbsp; đến nay có còn phù hợp không?</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-10 14:04:48 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1940389656</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thanh Thảo</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1940499100</link>
         <description><![CDATA[<div>* <strong><mark>Điểm giống với bài thơ " Chí anh hùng" của Nguyễn Công Trứ</mark></strong><br>&nbsp; &nbsp; - Hai bài thơ đều nói lên khao khát đấu tranh, vẫy vùng lập công danh, làm nên sự nghiệp lớn cho cả đất nước của những đấng nam nhi. Chí anh hùng của tuổi trẻ thời kháng chiến trong hai bài thơ :" Trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng".<br>* <strong><mark>Liên hệ bản thân</mark></strong><br>   - Đối với em bài thơ " Tỏ lòng " và những bài thơ khác cùng chủ đề đều&nbsp; nói lên bài học vô cùng sâu sắc đối với các thế hệ thanh niên ngày nay : Sống phải có ước mơ, hoài bão, biết vượt qua khó khăn, thử thách để biến ước mơ thành hiện thực, có ý thức trách với cá nhân và cộng đồng. &nbsp;<br>   - Không chỉ với những đấng nam nhi mà ngay cả những người phụ nữ, tất cả mọi người trong xã hội đều phải có trong mình những ý chí lớn lao thì mới làm ra được nhiều thành quả cho đời , khiến cuộc sống ngày càng trở nên ý nghĩa , không vô vị và tẻ nhạt.<br><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-10 14:55:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1940499100</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Anh Thư</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1940747411</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>So sánh Tỏ lòng và bài thơ Tây Tiến<br></strong><mark>* Điểm giống</mark>: hình ảnh người tráng sĩ trong cả hai bài thơ đều chan chứa lòng yêu nước, với ý chí, hoài bão lớn, đều là những con người đáng nể trọng.<br>&nbsp; - Thể hiện khí thế hào hùng và khát vọng cống hiến, xây dựng đất nước.<br><mark>* Khác nhau:</mark><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<mark>Tỏ lòng (Thuật Hoài)</mark><br>&nbsp; - Hình ảnh người tráng sĩ thời Trần hiện lên thật oai phong, vẻ đẹp hiên ngang, hùng mạnh cũng ngọn giáo. Họ phải đấu tranh để bảo vệ đất nước -&gt; thể hiện tinh thần luôn muốn đem sức lực cống hiến cho đất nước.<br>&nbsp; - Thể hiện ý thức của nhà thơ và các đấng nam nhi về trách nhiệm to lớn của mình với giang sơn, xã tắc.<br>&nbsp; - Đã xông ra giữa trận tiền chống giặc suốt mấy thu rồi, nhưng vẫn thấy thẹn, còn nợ non sông, nghĩ mình công danh vẫn chưa bằng Vũ Hầu.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <mark>Tây Tiến<br></mark>&nbsp; - Tinh thần bi tráng lẫm liệt của đoàn binh Tây Tiến một vẻ đẹp có sự công hưởng của âm vang truyền thống và tinh thần thời đại.<br>  - "Chiến trường đi chẳng tiếc trời xanh": cái kết bi thảm bỗng trở nên bi tráng. Với tinh thần dấn thân, tự nguyện, quãng đời thanh xuân tươi đẹp nhất họ đã hiến dâng cho một lý tưởng cao đẹp nhất. Họ luôn đặt đát nước lên đầu, họ ngã xuống thanh thản mà không chút vướng bận, không mảy may hói tiếc, cái chết được xem "nhẹ tựa lông hồng".</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-10 16:59:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1940747411</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thùy Dung</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942612639</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1483973498/5a4b2081abe6303262d82b35f8ad9942/z3015907967235_3ab506208cfef9a582e8ac2929ad7650.jpg" />
         <pubDate>2021-12-12 12:41:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942612639</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Anh Thư</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942659921</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484160620/e70b1746cd8cea6a8cb4836cf8d45bb1/z3016022303611_326370f5dbe8c227e22359969fe9a78e.jpg" />
         <pubDate>2021-12-12 13:21:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942659921</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vũ Thị Thu An: Chọn câu 1</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942668688</link>
         <description><![CDATA[<div>Trong xã hội hiện nay , vẫn còn những con người hết lòng vì nước vì dân như Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm . Điển hình là ông Nguyễn Văn Rô là " kỹ sư chân đất " ở Cà Mau với chiếc máy cày phao nổi để thực hiện ước mơ người nông dân quê hương Theo chia sẻ của ông, sau một thời gian nuôi tôm thì đất bạc màu, đổi màu dẫn đến hiệu quả nuôi tôm thấp, thậm chí bốc khí độc lên khiến con tôm chậm lớn, thậm chí dễ bệnh. Vì thế với sáng chế máy cày phao nổi để trục đất, bà con nuôi tôm nhanh lớn, hiệu quả hơn và giảm chi phí. Dù là người chưa học hết cấp 1 nhưng với nỗ lực và quyết tâm nên ông đã học hỏi, mày mò để chế tạo ra chiếc máy hữu ích này. Thậm chí khi bán cho người nông dân với "lãi không đáng là bao", nhưng ông còn cho họ nợ vì thấy nghèo tội quá, khi nào trúng mùa thì trả cho ông cũng được. Tuy có công lớn như vậy và vì yêu thương người dân nhưng khi được ngỏ lời làm người có công nhưng ông không đồng ý . Vì vậy ta có thể thấy rằng vẫn có những người có tấm lòng yêu nước thương dân như Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-12 13:28:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942668688</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thuý Hằng</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942711204</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484350492/acd6e28ddf459c8177096d25580f7a1e/z3016156819518_b95f7154fa39992da868e8029808fb85.jpg" />
         <pubDate>2021-12-12 14:00:40 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942711204</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thùy Dung</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942712666</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; <strong><mark>* Triết lý sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm đến nay có còn phù hợp hay không? </mark></strong><br><br>&nbsp; &nbsp;Chúng ta đang sống trong một cuộc sống mà con người luôn phải chạy theo công việc, học tập để hòa nhập vào sự phát triển của xã hội nếu không thì khó mà tồn tại. Vì vậy khó mà thực hiện được một cuộc sống nhàn, ẩn dật, hòa mình với thiên nhiên như Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tuy nhiên, triết lý sống " nhàn" của Nguyễn Bỉnh khiêm vẫn luôn hiện hữu trong cuộc sống và biến đổi để phù hợp với xã hội hiện đại. Ngày nay, sống nhàn có thể là dành cả ngày nghỉ để ra ngoài chơi cùng bạn bè hay chỉ là việc ngồi bên cạnh của sổ để vẽ một bức tranh. Hặc đơn giản hơn là ngồi đọc cuốn sách mình yêu thích hay nghe một bài nhạc quen thuộc. Con người hiện đại là vậy, chỉ cần được dành ngày thứ bảy để làm việc mình thích, thì đó chính là sống nhàn. Như một câu hát trong bài nhạc quen thuộc: "Đừng để đời chỉ là những chuỗi ngày được chấm công", dù cuộc sống có xô bồ, chúng ta vẫn nên dành một chút thời gian để nghỉ ngơi, tận hưởng một cuộc sống bình yên.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-12 14:01:43 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942712666</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thuý Hằng</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942731199</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Cảm&nbsp; nhận của em về tình yêu thiên nhiên và lòng yêu nước của tác giả qua hai bài thơ?<br></strong><br></div><div>Sau khi học xong hai bài thơ “Cảnh ngày hè” và “Nhàn”, em thấy tình yêu thiên nhiên và lòng yêu nước của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm vô cùng to lớn. Tình yêu ấy được thế hiển qua con mắt tinh đời, cách nhìn đời của hai tác giả. Đó là những cái nhìn chân thật về thiên nhiên, hoa lá, những góc nhỏ trong cuộc sống hàng ngày, điều giản dị nhưng mang tầng ý nghĩa to lớn. Chỉ là những cảnh đời thường bình dị thôi nhưng đối với con người yêu thiên nhiên thì đó là cả một khoảnh khắc đẹp, nó diễn ra thường ngày nhưng không phải ai cũng thấy được điều đó.Từ đó thể hiện được lòng yêu nước, niềm tự hào về những điều đã có từ lâu đời, nổi bật lên những giá trị về mặt tinh thần và đời sống của nhân dân ta.<br><br></div><div><strong>Những&nbsp;con người hết lòng vì nước vì dân như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh&nbsp;Khiêm liệu&nbsp;có&nbsp;còn&nbsp;trong&nbsp;đời sống hiện&nbsp;nay?<br></strong><br></div><div>Theo em, những&nbsp;con người hết lòng vì nước vì dân như Nguyễn Trãi, Nguyễn&nbsp;Bỉnh&nbsp; Khiêm còn rất nhiều trong đời sống hiện nay. Điều này thể hiện qua nhiều thứ: tình yêu thiên nhiên, lòng yêu nước, yêu cái đẹp đẽ, cái truyền thống của quê hương. Đặc biệt, nó còn thể hiện qua công việc của mỗi người. Người đánh cá, người chiến sĩ hay bác sĩ, họ đều đang cống hiến hết mình cho tổ quốc. Tất cả mọi công việc đều do tinh thần vì dân vì nước của con người Việt Nam. Bởi vậy mà nghề nào cũng đáng quý, đáng trân trọng. Vậy nên mỗi việc mà con người làm đều đang minh chứng cho sự yêu nước, cống hiến sức mình để góp phần thêm giàu đẹp và phát triển đất nước.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-12 14:14:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942731199</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Vũ Thị Thu An hâm =kkk</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942742279</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1483747877/802d0f498fe379fb532a4215982d53f4/inbound9173660956975793780.jpg" />
         <pubDate>2021-12-12 14:23:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942742279</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Hà Phương</title>
         <author>haphuong05ths</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942747096</link>
         <description><![CDATA[<div><mark>*So sánh:</mark><br>Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm - hai tượng đài nhân cách lớn của dân tộc với tình yêu thiên nhiên và lòng yêu nước thương dân sâu sắc. Trong bài thơ “Cảnh ngày hè”, cảnh vật thiên nhiên mùa hè của cuộc sống thanh bình qua ngòi bút của Nguyễn Trãi đã trở thành một bức tranh tuyệt mĩ có hình sắc, âm thanh sống động. Thi nhân đã huy động mọi giác quan và tâm hồn tinh tế để thu trọn cảnh vật vào tầm mắt: từ những tán hòe xanh “đùn đùn”, tươi tắn, mát mẻ đến màu hoa lựu đỏ rực rỡ, căng tràn sức sống, từng bông từng bông “phun” trào mạnh mẽ như pháo hoa làm bừng sáng cả hiên nhà. Từ khung cảnh làng quê bình dị với mùi hương thơm ngát, thuần khiết của những đóa “hồng liên” trong đầm tới bức tranh cuộc sống rộn rã, náo động với âm thanh “lao xao” của chợ cá và tiếng ve kêu “dắng dỏi” ở lầu tịch dương. Nếu không phải một người có tấm lòng hòa hợp, có tình yêu sâu sắc với thiên nhiên làm sao cảm nhận được những vẻ đẹp ấy. Ở bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm, tình yêu thiên nhiên của ông lại hiện lên ở việc thấu hiểu quy luật tự nhiên và cách sống hòa quyện với thiên nhiên bốn mùa: <strong><em>"Thu ăn măng trúc đông ăn giá/ Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao."</em></strong><em> </em>Nhà thơ chẳng ngần ngại ăn nào “măng, tre, trúc, giá” - những món ăn dân dã, gắn liền với cuộc sống thôn quê, ông cũng “tắm hồ, tắm ao” như những lão nông điền thực sự. Đọc thơ, ta thấy một tấm lòng đã hòa mình vào cuộc sống thôn quê thuần hậu, sống cuộc sống thanh đạm, an nhàn, thảnh thơi, mùa nào thức nấy. Dù cách thể hiện tình yêu với thiên nhiên tạo vật là khác nhau, nhưng tấm lòng yêu nước thương dân sâu sắc đã khiến hai tâm hồn như đồng điệu. Cùng tìm đến thiên nhiên sống cuộc sống bình dị, thảnh thơi, tránh xa thứ vinh quang phú quý hư ảo và tấm lòng thì vẫn luôn hướng đến đất nước, nhân dân với khát vọng cao cả: “Dân giàu đủ, khắp đòi phương”, chính những điều ấy đã làm hình tượng của hai vị anh hùng dân tộc ghi tạc vào năm tháng và sống mãi với non sông Việt Nam.&nbsp;</div><div><br><mark>*Vận dụng (chọn câu 1):</mark><br>Theo em, hiện nay vẫn có những con người đang hết lòng vì nhân dân, vì đất nước. Trong tâm tưởng họ vẫn thấm nhuần tư tưởng yêu nước thương dân mà ông cha ta để lại. Như Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam trong tình hình dịch bệnh căng thẳng đã dốc sức đưa ra các chính sách đối phó kịp thời, khích lệ tinh thần nhân dân, những chiến sĩ áo trắng gồng mình chiến đấu với đại dịch. Hay "kĩ sư chân đất" Nguyễn Văn Rô đã quyết tâm chế tạo ra chiếc máy cày phao nổi để giúp đỡ cho bà con nông dân tăng gia sản xuất mà chẳng màng đến lợi nhuận. Dù ở thời đại nào, em tin rằng vẫn sẽ luôn có những tấm lòng yêu nước cao cả! <br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-12 14:26:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942747096</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hoài Thanh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942784075</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1485248956/425e987a5c1a8ed92aebe8a0e4f7d2cb/image.png" />
         <pubDate>2021-12-12 14:53:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942784075</guid>
      </item>
      <item>
         <title>HNhung</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942797949</link>
         <description><![CDATA[<div><mark>*Tình yêu thiên nhiên và lòng yêu nước</mark></div><div>&nbsp; &nbsp;Qua bài thơ “ Cảnh ngày hè” và “ Nhàn” , ta thấy được tác giả Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm là những người mang trong mình một tình yêu thiên nhiên sâu sắc và một tấm lòng nồng nàn yêu nước. Thiên nhiên trong thơ của 2 tác giả được khắc họa vô cùng sinh động và rõ nét, những phong cảnh thiên nhiên giản dị, đời thường được Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đem vào trong thơ theo một cách rất mới, rất riêng. Điều đó mang đến cho thơ văn của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm một làn gió mới, đưa những điều giản dị vào những dòng thơ vốn rất lãng mạn. Qua tình yêu thiên nhiên sâu nặng đó, ta còn thấy được một lòng nồng nàn yêu nước, yêu nước mới hiểu về thiên nhiên của đất nước, yêu nước mới đem những điều thân thuộc nhất vào trong tác phẩm mang đậm dấu ấn cá nhân của mình.</div><div><mark>*Những con người hết lòng vì nước vì dâ như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm liệu có còn trong đời sống hiện nay?</mark></div><div>&nbsp; &nbsp;Theo em, những người hết lòng vì nước vì dân như Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện nay vẫn còn. Tất nhiên, họ không “hô to nói lớn” về những việc họ làm, mà đều là những việc làm vô cùng thầm lặng. Có thể kể đến chuyện vài năm trước, khi tình hình thương mại giữa Mĩ và Việt Nam đang vô cùng căng thẳng, thì bác Nguyễn Xuân Phúc trong cuộc họp thượng đỉnh đã bỏ qua mọi thứ, cúi đầu trước ông Trump, và đổi lại là quan hệ thương mại giữa 2 nước phát triển rực rỡ. Hay như người sáng tạo ra vacxin Astra, bà đã không lấy một đồng công sức nào, không ai biết bà là ai, bà đã hết mình trong công cuộc phòng chống covid… Ngoiaf ra, còn là những công an, bộ đội, y bác sĩ…. Học đang ngày đêm gồng mình bảo vệ tổ quốc&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-12 15:03:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942797949</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phương Linh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942802722</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484071308/db46b61c106b170c73beb80335aecd71/3920E3FA_A26A_4ECF_B520_0DCF25982619.jpeg" />
         <pubDate>2021-12-12 15:07:17 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942802722</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hà Phương</title>
         <author>haphuong05ths</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942812754</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1495544629/a6b4f21d9ddcdad4518c7dbd185aaba5/image.png" />
         <pubDate>2021-12-12 15:15:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942812754</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Quách Thảo Nguyên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942841163</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484291481/252af31f5e348fa3d2353c4cb0ba39a5/263756328_1307654829741044_5852992065432134142_n.jpg" />
         <pubDate>2021-12-12 15:35:08 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942841163</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thảo Vi🍀</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942855348</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em>* So sánh :</em></strong> <br>&nbsp; " Cảnh ngày hè" và " Nhàn" có thể coi là hai tác phẩm đắt giá trong cuộc đời của vị thi nhân Nguyễn Trãi hay Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Với lối viết cùng đề tài không giống nhau, nhưng cớ gì trong đó vẫn có sự đồng điệu hợp lý đến lạ thường. " Cảnh ngày hè" gợi lên khung cảnh dịu dàng, thanh mát của "hòe lục", sự rực rỡ phun trào của " thạch lựu hiên", hay dáng vẻ nhẹ nhàng, thuần khiết của "hồng liên trì" đã họa thành bức tranh mùa hạ có cả niềm náo nhiệt vốn mang cũng như sự bình yên chốn quê nhà. Và hãy nhìn xem, thiên nhiên trong lối sống " Nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng đã mang nét riêng độc đáo cho mình. Hình ảnh "hồ sen, ao cá" tựa tiên cảnh nơi thôn dã khiến ta cảm thấy yên bình và ấm áp làm sao. Tác giả chọn nơi này làm lí tưởng, sẵn lòng rời xa chốn quan trường để trở thành một lão điền thực thụ. Điều quan trọng, thứ mà cả Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm hướng đến và sẵn có đó chính là tình cảm yêu nước thương dân vô bờ bến. Chính vì tình yêu ấy, mà Nguyễn Trãi cáo quan , đến gần hơn với cuộc sống của nhân dân, chỉ cầu muôn dân được yên ấm hạnh phúc, no đủ an khang. Chính vì tình yêu ấy, mà Nguyễn Bỉnh Khiêm bỏ mặc giàu sang quan quyền, hòa mình vào nhịp sống của người dân để nhìn roc hơn và thấu hiểu hơn mỗi vất vả cũng như niềm vui nhỏ bé của họ. Hai mảnh ghép tình yêu thiên nhiên và tình yêu nước khi được gắn liền, nó sẽ biến thành một phép màu giúp người đời sau tỉnh ngộ trước lợi lộc tiền tài, giúp những người cùng thời đại biết điều mình nên làm chính là lo cho nhân dân, cho tương lai của dân tộc. <br><br> <strong><em>* Vận dụng : câu 2 </em></strong><br>&nbsp; Khi thời gian vẫn tiếp tục làm việc, thời đại vẫn tiếp tục bước đi, thì con người cũng vẫn đang tiếp tục chạy theo cái gọi là nhu cầu sống. Vậy nhưng ta có thể thấy một điều, triết lý sống mà Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm gửi gắm qua tác phẩm " Nhàn" sẽ luôn phù hợp trong mọi thời gian và không gian. Bởi lẽ, triết lý " nhàn" của ông là "nhàn" ở trong tâm, không phải là sự nhàn rỗi thảnh thơi thông thường của chúng ta. Cũng không phải là suy nghĩ vô dục vô cầu trong quan niệm về sống để tâm thái thư thản. Mà sự "nhàn" trong tác phẩm là khi mọi người nhìn vào thấy ta cực nhọc, khó khăn thì chính ta lại đang thấy vui vẻ và hạnh phúc. Ta nhàn hạ trong tâm trí, trong cảm giác mỗi khi làm một điều gì đó, chứ không phải nhàn hạ trong hành động khi ta không có gì để làm. Mà, thời đại ngày nay rất cần những con người và những lối tư duy không màng danh lợi, không quan tâm thế cục bên ngoài, sống có giá trị thực thụ. Vậy nên, cái " nhàn" trong triết lý sống " Nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn sẽ luôn và mãi mãi phù hợp với con người trong cuộc đời này.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-12 15:45:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942855348</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thanh Thảo</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942859295</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484199004/87304d8cc19d793d7ad19ab93282c58f/inbound6664241482086991988.jpg" />
         <pubDate>2021-12-12 15:47:59 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942859295</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Bùi Vũ Hoài Thanh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942871185</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Cảm&nbsp; nhận của em về tình yêu thiên nhiên và lòng yêu nước của tác giả qua hai bài thơ?<br></strong><br></div><div>&nbsp; &nbsp;Cả hai tác phẩm “nhàn” và “cảnh ngày hè” đều thể hiện được lối sống<strong> </strong>nhàn tản, xuất thế, cách ứng xử tiêu cực của những nhà nho không gặp thời. Đối chiếu với hoàn cảnh cụ thể của hai bài thơ, ta thấy việc về nhàn là cách duy nhất để giữ gìn phẩm chất, cốt cách của mình. Bức tranh sống động “cảnh ngày hè” được Nguyễn Trãi tái hiện một cách sắc nét.Tác giả đã đón nhận cảnh ngày hè trong tư thế ung dung, thoải mái khi ở ẩn, nhưng ông vẫn luôn suy nghĩ, lo lắng cho nhân dân, cho đất nước.&nbsp; Ông ước mong mình có cây đàn của vua Ngu Thuấn để có thể mang tới cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân và đất nước. Qua đó, ta thấy được vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Trãi. Ông vừa là người có tài vừa là người có tâm, ông nhàn cư chứ không nhàn tâm. Còn đối với thi phẩm “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm thì “nhàn” ở đây lại trở thành một triết lí sống, ông đã thật sự tìm được sự thoải mái về tinh thần cũng như về thể xác đó chính là tách mình ra khỏi cuộc sống bon chen tấp nập. Sự hài lòng về cuộc sống đạm bạc, giản dị, hòa hợp với tự thiên mà vẫn thanh cao, tự do thoải mái của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khiến cho cuộc sống rất đỗi bình thường lại trở nên thanh cao đến lạ thường. Qua hai bài thơ, ta nhận ra ngoài ngoài tình yêu thiên nhiên, con người còn hằn chứa tình yêu nước, thương dân sâu nặng, cả hai bài thơ đều cho thấy cách sống lạc quan và đặc biệt là tâm hồn thanh cao của các vị danh nho.<br><br></div><div><strong>Theo&nbsp; em&nbsp; triết&nbsp; lí&nbsp; sống&nbsp; "nhàn " của&nbsp; Nguyễn&nbsp; Bỉnh&nbsp; Khiêm&nbsp; đến nay có còn phù hợp không</strong>?<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp;Thời đại 4.0 – thời đại mà phương diện về khoa học kĩ thuật phát triển thịnh hành khắp mọi nơi. Con người luôn phải chạy đua với thời gian với đồng tiền, cuộc sống dường như thu lại chỉ bằng một chiếc laptop, điện thoại. Đô thị phồn vinh tấp nập mệt mỏi, đôi khi thú vui duy nhất chỉ là được trở về quê hương yên bình, nơi có đồng ruộng chín vàng không gian thoáng đãng và không có khói bụi. Điều đó chứng tỏ triết lí sống “nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm chưa bao giờ là lụi tàn. Sau những tuần học tập, làm việc căng thẳng chúng ta cần một ngày chủ nhật để thư giãn, làm những điều mình thích và dành thời gian cho gia đình. Con người mải mê, bận rộn với một mớ hỗn độn do sức mạnh của đồng tiền tạo nên để sau này mới thấu đáo rằng hạnh phúc chỉ xuất phát từ những điều giản đơn,nhỏ nhoi trong cuộc sống. “Nhàn” cần được ươm mầm từ trong tâm trí, nó có thể làm cho cuộc sống của chúng ta bình thường nhưng không tầm thường.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-12 15:56:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942871185</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đỗ Minh Ngọc</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942880350</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484109670/7d04214d4d0bb8cbfa13ac3e59bd995a/inbound7862309758544247648.jpg" />
         <pubDate>2021-12-12 16:03:28 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942880350</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phương Linh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942885624</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><br>So sánh<br></strong><br></div><div><mark>Cảm&nbsp; nhận của em về tình yêu thiên nhiên và lòng yêu nước của tác giả qua hai bài thơ?</mark><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Hai bài thơ " Cảnh ngày hè " và " Nhàn" đều khắc họa lên trước mắt người đọc bức tranh thiên nhiên rực rỡ và tâm hồn chan chứa tình yêu thiên nhiên, đất nước của thi nhân. Để có thể vẽ nên một bức tranh ngày hè đẹp, tràn đầy sức sống và rực rỡ màu sắc Nguyễn Trãi đã phải huy động tất cả các giác quan của mình .Cảnh thiên nhiên ở đây không tĩnh vắng như những bức tranh thiên nhiên thường thấy trong thơ trung đại, trái lại rất sống động. Nó khiến ta cảm nhận được sự cựa quậy, sinh sôi của sự sống trong từng đường nét, màu sắc. Chính điều đó đã mang lại vẻ đẹp riêng, không thể trộn lẫn của bức tranh thiên nhiên trong bài thơ này. Nó cũng thể hiện tâm trạng thư thái và tâm hồn nghệ sĩ đặc biệt tinh tế, nhạy cảm trước thiên nhiên của Nguyễn Trãi. Hay nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã bỏ hết tienf tài, danh vọng dứt khoát lựa chọn cuộc sông nơi thôn dã , xa lánh chốn bon chen để sống một cuộc đời giản dị mà thanh cao , tự do , hòa quyện với thiên nhiên bốn mùa . Bức tranh thiên nhiên đất Bắc quê hương được tác giả phác họa với vẻ đẹp bình dị và cảnh sinh hoạt con người gần gũi . Như vậy có thể thấy tình yêu bao la của Nguyễn Bỉnh Khiên và Nguyễn Trải dành cho vẻ đẹp thiên nhiên đất nước . Chính thiên nhiên làm cho nhà thơ ngây ngất, cảm hứng của tác giả càng dạt dào, mãnh liệt<br><br><mark>Câu&nbsp; 2:</mark> Theo&nbsp; em&nbsp; triết&nbsp; lí&nbsp; sống&nbsp; "nhàn " của&nbsp; Nguyễn&nbsp; Bỉnh&nbsp; Khiêm&nbsp; đến nay có còn phù hợp không?<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Thời đại công nghê số ngày nay, con người ta chỉ mải chạy theo đồng tiền và những thứ hoa mĩ. Lối sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm đặt vào thời thế ấy là một lối sống tích cực. Vậy thay đổi như thế nào? Để hiểu rõ về triết lí sống nhàn trong thời điểm hiện nay, có thể chia làm hai mặt: Cái nhàn trong thể xác và cái nhàn trong tâm hồn. Đầu tiên sống nhàn có thể hiểu là con người có khoảng thời gian rảnh rỗi để thư giản, làm điều mình thích sau khoảng thời gian bận rộn của công việc, học tập.Cái nhàn thứ hai cũng không khó để tìm được trong cuộc sống này. Con người tìm một việc làm đơn giản, nhẹ nhàng, sống một cuộc sống không ganh đua, không tranh giành để thăng tiến, chỉ cần như vậy là đủ.Trong cuộc sống hiện nay, tiền tài,của cải vật chất, có thể rất quan trọng. Nhưng nếu không giữ cho mình một tâm hồn đẹp, làm sao bạn có thể sống tốt, sống thanh thản được?. Là vì không giữ được cái nhàn trong tâm hồn, không hướng đến những giá trị tinh thần để giữ cho mình cái tâm hồn thanh cao, đẹp đẽ mà chỉ lo lắng mãi miết chạy theo vật chất. Vào thời điểm hiện đại, có ai cảm thấy được cuộc sống quá nặng nề và khó khăn hay không? Có ai cảm thấy cuộc sống thật đáng chán và đen tối? Tại sao bạn không thể sống nhàn, dành chút thời gian thảnh thơi, sống chậm lạị? Tại sao bạn không thể vất hết những toan tính, lo nghĩ về địa vị, tiền của, vật chất. Cứ xem nó là một thứ công cụ phù trợ cho bạn. Hãy chỉ hướng đến những gì xuất phát từ tình cảm, những cảm xúc chân thành giữa người với người, chắc hẳn sẽ nhẹ nhàng, mềm mại lắm. Tôi tin bạn sẽ tìm được một cuốc sống và tâm hồn thật sự nhàn.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-12 16:06:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942885624</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lê Thảo Nguyên </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942892861</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>So sánh: Cảm&nbsp; nhận của em về tình yêu thiên nhiên và lòng yêu nước của tác giả qua hai bài thơ?</strong><br><br></div><div>Nhắc đến thơ ca trung đại Việt Nam, không thể không nhắc đến Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm, một trong những tác giả kiệt xuất của dân tộc với tình yêu thiên nhiên và lòng yêu nước sâu sắc. Trong bài “ Cảnh ngày hè”- Nguyễn Trãi, cảnh vật thiên nhiên được ông khắc họa hết đỗi bình dị nhưng cũng không kém phần đẹp đẽ. Bức tranh cảnh ngày hè nổi lên với bức tranh thiên nhiên ngày hè rực rỡ. “ Hòe”, “ Thạch lựu”, “Hồng liên”, “Cầm ve” những hình ảnh đó khiến cho cảnh vật ngày hè tươi tắn tràn đầy sức sống. Bên cạnh đó, ông còn sử dụng những biện pháp nghệ thuật để người đọc có thể dễ dàng hình dung, “ Lao xao”, “ Dắng dỏi”. Thi sĩ đã cảm nhận những cảnh vật thiên nhiên ấy bằng cả thính giác và thị giác. Tâm hồn nhà thơ Nguyễn Trãi được hòa vào thiên nhiên, nói lên được tác giả là người rất yêu đời, yêu cuộc sống. Không chỉ vậy, qua bài thơ, ta cũng có thể thấy rõ tình yêu nước thương dân của Nguyễn Trãi. Phong thái ung dung, tự tại, không quan tâm việc triều chính khi lui về ở ẩn, nhưng trong thâm tâm, ông luôn lo cho dân, cho nước, mong cho đất nước yên bình, nhân dân ấm no, “Dân giàu đủ, khắp đòi phương”. Với bài “ Nhàn”- Nguyễn Bỉnh Khiêm, ta dễ dàng thấy được sự nhàn nhã, bình thản trong từng câu thơ. Ở đây, thi nhân thể hiện tình yêu thiên nhiên bằng cách đồng điệu với nó, “ Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,” / “Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.”. “Măng trúc”, “Giá” những món dân dã, quen thuộc, mùa nào thức nấy do chính tác giả làm ra. “tắm hồ sen”, “tắm ao” : Tác giả cũng tắm hồ, ao như bao người dân quê bình thường. Qua đó, để thấy được sự hài lòng với cuộc sống giản dị mà thanh cao, tự do, thoải mái, hòa quyện với thiên nhiên suốt 4 mùa của tác giả.&nbsp; Đọc bài thơ khiến ta cũng muốn sống giống như tác giả, bình thản, nhẹ nhàng, rời xa trốn xô bồ, vội vã. Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm là 2 nhà thơ vừa có tài vừa có tâm, luôn muốn cống hiến nhiệt huyết của mình để nhân dân hạnh phúc, ấm no, đất nước giàu mạnh.<br><br><strong>Câu&nbsp; 2: Theo&nbsp; em&nbsp; triết&nbsp; lí&nbsp; sống&nbsp; "nhàn " của&nbsp; Nguyễn&nbsp; Bỉnh&nbsp; Khiêm&nbsp; đến nay có còn phù hợp không?<br></strong><br></div><div>Thật khó để nói rằng liệu triết lí sống “ Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm đến hiện nay còn phù hợp hay không, nhưng cá nhân em thấy triết lí sống ấy vẫn phù hợp. Nói như vậy cũng bởi lẽ, trong cuộc sống vội vã như hiện nay, đa phần giới trẻ luôn luôn muốn đổi mới, phá cách, luôn thay đổi mình để bắt kịp thời đại, đôi khi họ vội cũng bởi họ muốn nhanh chóng đạt đến cái đích của bạn thân, thu nhận được những thành phẩm mà mình tạo ra. Nhưng một bộ phận khác, họ lại không nghĩ vậy, họ tuy sống trong xã hội vội vã, thấy những người bạn đồng trang lứa ngoài kia cứ vội vàng đuổi theo thời đại, họ lại muốn mình cứ chậm lại một chút, chậm lại không phải để thụt ở phía sau, mà chậm lại để quan sát mọi thứ, để thấy trong những thứ nhỏ nhặt nhưng ý nghĩa vô cùng mà có lẽ nếu họ vội vàng họ sẽ không bao giờ thấy được. Không phải họ không lo lắng về vấn đề tiền bạc, cũng không phải họ không có ước mơ để thực hiện mà chỉ là do họ muốn khi làm việc bản thân mình cảm thấy nhẹ nhàng, chẳng quan tâm bao giờ thì nó sẽ thu được thành quả. Những người chọn sống nhàn, họ sẽ có nhiều thời gian dành cho bản thân, gia đình và bạn bè của mình hơn. Chẳng cần để ý quá nhiều mọi việc xung quanh, chỉ cần tinh thần thoải mái là được. Đây cũng là tiết lí sống mà mọi người đều nên sống thử một lần, để tâm trạng ta thư thái, bình thản.<br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-12 16:12:08 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942892861</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Duyên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942892915</link>
         <description><![CDATA[<div>*<strong>So sánh Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão và Chí khí anh hùng của Nguyễn Du</strong><br><em><mark>- Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão:</mark></em><br>+ Thể hiện niềm tự hào về chí nam nhi và khát vọng chiến công của người anh hùng khi Tổ quốc bị xâm lăng. Nó là bức chân dung tự họa của danh tướng Phạm Ngũ Lão<br>+ Thể hiện tư thế người chiến sĩ thuở "bình Nguyên" ra trận hiên ngang, hào hùng như các dũng sĩ trong huyền thoại. Chủ nghĩa yêu nước được biểu hiện qua một vần thơ cổ kính trang nghiêm: cắp ngang ngọn giáo, xông pha trận mạc suốt mấy mùa thu để bảo vệ giang sơn yêu quý<br>+ Người con trai thời xưa có một khát vọng tột bậc là phải lập nên sự nghiệp ở đời. Chưa thực hiện được thì coi như còn “mắc nợ” với quê hương đất nước và phải phấn đấu để trả cho bằng được.<br><em><mark>- Chí khí anh hùng trong Truyện Kiều của Nguyễn Du:</mark></em><br>+ Từ Hải là con người có ý chí, nội lực mạnh mẽ và khát vọng "đầu đội trời, chân đạp đất" của một đấng nam tử hán trong xã hội<br>+ Với chí khí anh hùng, hoài bão lớn lao và niềm tin chắc chắn, Từ Hải đem đến cho cuộc đời Kiều không phải cái rung động chớm hé của buổi yêu đầu, không phải cuộc sống bình thường mà thức dậy ở Kiều những điều người khác không có được: đó là khát vọng về công bằng, chính nghĩa.<br>+ Người anh hùng phải làm được những việc lớn lao, dám nghĩ dám làm, có dáng vẻ phóng khoáng, dứt khoát, oai nghiêm.<br><em><mark>=&gt; Rút ra bài học: </mark></em>2<em> b</em>ài thơ đã thôi thúc trong lòng em ý thức sống trách nhiệm với bản thân, gia đình và đất nước mình, sẽ sống hết mình, cống hiến thật nhiều cho sự phát triển của Tổ quốc hôm nay và mai sau.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-12 16:12:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942892915</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Thanh Thuỷ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942898104</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;* So sánh “Tỏ lòng” và “Cảnh ngày hè”&nbsp;</div><div><br></div><div>+ Điểm chung:</div><div>Tuy là những người có địa vị và khía cạnh cống hiến khác nhau nhưng đều là những bậc anh tài viết nên, lòng yêu nước mãnh liệt với khát khao đem lại lợi ích cho non sông gấm vóc.&nbsp;</div><div><br></div><div>+Điểm khác:</div><div><br></div><div>Bài thơ “Tỏ lòng” có giọng điệu mạnh mẽ, khí thế, hiên ngang, khẳng định khát khao đã và đang cống hiến và nỗi hổ thẹn khi chưa trả được công danh cho đời, cho người.&nbsp;</div><div><br></div><div>Bài “Cảnh ngày hè” với giọng điệu trầm lắng, theo đó là cảnh yên bình, nhàn hạ của làng quê và lòng yêu nước sâu sắc, một lòng trung hiếu. Dù đã xa chốn quan trường vẫn khắc khoải nỗi lo cuộc sống của bách tính.&nbsp;</div><div><br></div><ul><li>Liên hệ bản thân:&nbsp;</li></ul><div><br></div><div>Là một công dân đang sống và luân chuyển theo thời đại bình thường mới. Em cho rằng việc khát khao cống hiến phải theo sát với thanh thiếu niên trẻ ngày nay, bởi cuộc sống chúng ta đang sống đang từng ngày thay đổi, nếu không cố gắng bắt kịp và tiếp cận thay đổi đất nước thì chúng ta sẽ bị lùi lại phía sau. Trở nên lạc hậu.&nbsp;</div><div><br></div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-12 16:16:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942898104</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Diệu Ngân nộp bài ạ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942901426</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1485081747/3f2b718107119e4fdbfe4d76359f256d/_nh_s____.png" />
         <pubDate>2021-12-12 16:18:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942901426</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Quách Thảo Nguyên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942904894</link>
         <description><![CDATA[<div>* <strong>Cảm nhận của em về tình yêu thiên nhiên qua hai bài thơ:</strong></div><div>Tình yêu thiên nhiên của hai nhà thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm vô cùng mãnh liệt và nồng nàn. Tình yêu đó đã được thể hiện qua hai bài thơ Cảnh ngày hè và Nhàn một cách rõ rệt. Qua đó hiện lên những khung cảnh bình dị, chất phác và thân thuộc của làng quê Việt Nam. Với tâm hồn của một nhà thi sĩ, hai nhà thơ đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên đầy màu sắc, vẽ nên từng ngóc ngách của cuộc sống hàng ngày, yên bình và nhàn rỗi.<br><strong><mark>Câu 1:</mark></strong> <strong>Những con người hết lòng vì dân vì nước như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm liệu có còn đến đời sống hiện nay?</strong><br>&nbsp; Theo em, những con người hết long vì dân vì nước như Nguyễn Trãi Và Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn còn đến đời sống ngày nay. Có thể nhắc đến hình ảnh những người lính biên phòng ngày đêm canh gác nơi biên giới cam go hẳn không quá xa lạ, họ là những người luôn đặt mạng sống của nhân dân, đặt tương lai của đất nước lên hàng đầu mà quên thân mình. Hay đơn giản như những bác sĩ, điều dưỡng rồi đến các bạn tình nguyện viên sẵn sàng cung cấp, hỗ trợ chống lại đại dịch nguy hiểm. Những người luôn hết lòng nghĩ đến người dân và đất nước, họ không quan tâm đến việc xưng danh, lập công mà họ chỉ cần người dân đầy đủ ấm no, đất nước phồn vinh phát triển là cũng cảm thấy tự hào.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-12 16:21:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942904894</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Duyên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942920801</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1497059758/44328824e5fee920c589dcf687124c0c/image.jpg" />
         <pubDate>2021-12-12 16:34:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942920801</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Minh Anh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942928274</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1486338330/59bc3af44ba7f12ebd73ced3fd1df489/20211212_233954.jpg" />
         <pubDate>2021-12-12 16:41:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942928274</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Quách Thảo Nguyên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942929305</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>So sánh bài thơ “Tỏ lòng” ( Phạm Ngũ Lão ) với “Cảnh ngày hè” ( Nguyễn Trãi )</strong><br>-	Điểm chung: Cả hai bài thơ đều nói lên những người toàn tâm lo cho dân, cho đất nước. Luôn cống hiến hết mình cho sự nghiệp của dân tộc<br>-	Điểm khác :<br> + Bài thơ “Tỏ lòng” mang trong mình hào khí cường tráng của đấng nam nhi thời Trần vĩ đại, cùng với nỗi thẹn toát lên vẻ đẹp của một nhân cách lớn. Đồng thời nói lên ý chí sắt thép, hoài bão to lớn của những người làm trai thời Trần.<br>+ Bài thơ “Cảnh ngày hè” lại vẽ nên bức tranh thiên nhiên mùa hè rực rỡ đầy sắc màu, đó là sự hòa hợp giữa tâm hồn người thi sĩ với khung cảnh thiên nhiên trữ tình. Tuy vậy lòng yêu nước thương dân vẫn là hàng đầu đối với nhà thơ khi đi ở ẩn.<br>-	Liên hệ bản thân : Cả 2 bài thơ đã giúp em hiểu được rằng: một con người đang sống tại thời bình nên làm gì để thể hiện tâm hồn cao cả, hướng tới đất nước, sống hết mình vì những điều to lớn, vĩ đại. Có trách nhiệm hơn với việc mình làm để không uổng những công lao của các vị tiền bối đi trước.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-12 16:41:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942929305</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Vi Thảo nộp sơ đồ ạ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942930002</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1497039502/8736abf73081b9fc3d73843211daea55/image.jpg" />
         <pubDate>2021-12-12 16:42:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942930002</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Thị Thanh Thư</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942930014</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1494295366/1fbdfa69cc59efd89d917a920e9cc2e9/inbound8513872563155926380.jpg" />
         <pubDate>2021-12-12 16:42:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942930014</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thu Huyền</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942941194</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><mark>Câu 2:&nbsp; Theo em, triết lí sống “ Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm đến nay có còn phù hợp?<br></mark></strong>Những lời thơ trong bài "Nhàn" đã thể hiện một cách chân thực triết lí sống nhàn của nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, đồng thời gợi ra cho em những suy nghĩ về quan niệm sống nhàn của một số bộ phận thanh niên học sinh trong xã hội hiện nay. Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm ấy là sống gần gũi vui trọn với thiên nhiên. Đó là thái độ sống không vướng bận việc đời, không màng danh lợi. Đặt trong hoàn cảnh xã hội hiện nay, lối sống nhàn có thể hiểu là sống biết dành thời gian cho bản thân, biết nghỉ ngơi, thư giãn, sống hòa mình với thiên nhiên. Hiểu đúng theo nghĩa này, nhàn thực sự là lối sống có những tác động tích cực đến cuộc sống của chúng ta. Nó sẽ giúp con người tận hưởng trọn vẹn từng phút giây của cuộc sống, cảm nhận cuộc sống. Tuy nhiên, một bộ phận giới trẻ, thanh niên học sinh trong xã hội hiện đại ngày nay đang có những suy nghĩ hoặc hiểu lầm về lối sống "nhàn" ấy. Biểu hiện ấy chính là họ thường sống an phận thủ thường, đua đòi, ăn chơi chác táng, không theo quy củ hay nề nếp.&nbsp; Họ lười biếng, không chịu lao động, thờ ơ với tất cả mọi thứ. Họ để thời gian trôi qua kẽ tay mà không làm gì cả. Sống hôm nay không biết ngày mai, không ước mơ, lí tưởng, khi đã sa chân rồi thì mặc cảm, buông xuôi, thiếu ý chí, nghị lực vươn lên. VÌ vậy bản thân mỗi người thanh niên cần phân biệt thế nào là lối sống nhàn đúng nghĩa. Không nên sa vào việc buông thả bản thân, an nhàn khi còn trẻ.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-12 16:52:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942941194</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Duyên-chọn câu 1</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942943309</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Những con người hết lòng vì nước vì dân như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm liệu có còn trong đời sống hiện nay? <br></strong><br>Theo em, những con ng hết lòng vì dân vì nước như Nguyễn Trãi và Ng Bỉnh Khiêm vẫn còn có trong đời sống hiện nay. Ví dụ như các y bác sĩ vẫn luôn hết mình chống lại dịch covid vì dân, vì nước, vì tất cả mọi người. Họ đã hy sinh, cống hiến cho đất nước ta rất nhiều, tất cả các việc mà họ làm đều xuất phát từ lòng yêu nước, tình yêu quê hương dân tộc, tinh thần cao cả. Hay các anh chiến sĩ bộ đội vẫn luôn giúp đỡ những hộ nhà nghèo lương thực, thực phẩm để họ chống dịch. Những hành động đấy rất đáng khen ngợi và trân trọng. Vì vậy, mỗi 1 việc làm, công việc đều dng thể hiện tình yêu nước của mọi người, mỗi ng chúng ta đều dng chung tay góp sức xây dựng đất nước ngày 1 phát triển và tốt đẹp hơn.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-12 16:54:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942943309</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Thanh Thuỷ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942944486</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1485083009/91579a90284b307e8182192e9e5574d2/image.jpg" />
         <pubDate>2021-12-12 16:54:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942944486</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Thu Huyền </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942953943</link>
         <description><![CDATA[<div>** So sánh<br>"Cảnh ngày hè"(Nguyễn Trãi) và "Nhàn"(Nguyễn Bỉnh Khiêm) đều là hai tác phẩm thơ ra đời trong hoàn cảnh cả hai nhà thơ đều xuất quan về quê nhà ở ẩn. Sau một thời gian dài làm quan, ít nhiều để lại trong lòng hai tác giả những cái nhìn giống và khác biệt nhau. Nếu "Cảnh ngày hè" gợi tả bức tranh làng quê yên bình, tươi đẹp cùng thiên nhiên, cảnh sắc hồn hậu . Kết lại là nỗi trăn trở, trằn trọc không yên lo cho vận nước, quốc thái dân an của vị quan thanh liêm một lòng vì nước thì "Nhàn" lại mượn cảnh sắc thiên nhiên, lối sống giản dị, gần gũi nơi làng quê để ngầm bày tỏ thái độ châm biếm, phê phán, giúp người đời tỉnh giấc mộng hào quang, danh vọng để rũ bỏ lo âu, tranh đoạt, trở về với những giá trị đơn giản, bình yên nhất. Qua hai lối suy nghĩ và cảm nhận cuộc sống khác nhau, hai nhà thơ đều vô cùng thành công khi truyền tải đầy đủ tới người đọc bức thông điệp về lí tưởng sống, về lòng yêu thiên nhiên, về trách nhiệm với cuộc đời với đất nước và cả với chính mình. Sau tất cả, hai bài thơ đều muốn góp một phần mình vào cách nhìn nhận, đánh giá, cách sống không đơn thuần là thoả mãn với giá trị xa xỉ tầm thường. Hướng con người tìm về với thiên nhiên, với chính những gì mộc mạc, giản dị nhất mới là sống đúng nghĩa.<br><br>** Trả lời câu hỏi 2:&nbsp;</div><div>Theo em, trong cuộc sống con người từ xưa đến nay, lối sống mà Nguyễn Bỉnh Khiêm gửi gắm qua tác phẩm "Nhàn" vẫn luôn còn vẹn nguyên giá trị. Bởi lẽ, bài học mà nó gửi gắm không chỉ đúng với quá khứ, đúng trong thời điểm nó ra đời, vấn đề tranh đoạt giữa địa vị xã hội, sẵn sàng chà đạp, bon chen lên người khác để giành về phần mình vẫn là một vấn nạn nhức nhối tồn tại trong xã hội. Giữa người với người không còn gắn bó, chia sẻ và hoà hợp với nhau, mọi người sống ngột ngạt hơn, mệt mỏi và đôi lúc muốn buông xuôi hơn. Dần dần lối sống tiêu cực ấy cứ lan toả sâu rộng trong cộng đồng, khiến mọi người quên đi rằng mình sinh ra là để sống một cuộc đời hạnh phúc. Ngay như trong vấn nạn " tiến sĩ giấy" từng một thời gây xôn xao dư luận, lối sống tiêu cực nguy hiểm khi nó nảy sinh ngay từ trong giới trẻ, những mầm xanh tương lai của nước nhà. Qua đó thấy rõ "hữu danh vô thực" thì cũng chẳng có ích lợi gì tốt đẹp. Hãy tìm về với lối sống an nhàn, bỏ sau lưng danh vọng, tiền tài mà tìm về chốn bình tên hạnh phúc của cuộc đời. Đấy mới thực sự là sống cho đúng nghĩa, sống vì mình, cảm thấy bình yên, không vướng bận, buồn lo. </div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-12 17:02:48 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942953943</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đỗ Minh Ngọc</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942954326</link>
         <description><![CDATA[<div>Cảm nhận của em về tình yêu thiên nhiên và lòng yêu nước của tác giả qua hai bài thơ "Nhàn" và "Cảnh ngày hè"</div><div>&nbsp; &nbsp;</div><div>&nbsp; &nbsp; Nổi bật lên giữa dòng thời gian xuôi chảy của xã hội phong kiến, "Nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm và "Cảnh ngày hè" của Nguyễn Trãi xoay vần trong những thông điệp, tình yêu thiên nhiên và tình yêu nước thanh tao mà tha thiết. Người ta cất lên tiếng thơ mà như cất lên tiếng thở thoả mãn, cảnh thơ bừng lên niềm xúc động rưng rưng của cả hai nhà nho sĩ, họ cùng trở về sau chuỗi ngày miệt mài bên việc nước. Ngắm lại giang sơn hùng vĩ từ đó họ nảy sinh những khát khao, tình yêu nước mãnh liệt dẫu không còn trực tiếp lo việc dân việc nước mà thay vào đó họ âm thầm ca ngợi tổ quốc với những điều kiện tự nhiên giản dị, mộc mạc như "Thu ăn măng trúc, đông ăn giá/ Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao" hay hoè, thạch lựu, hồng liên cứ "đùn đùn" nảy nở mạnh mẽ. Nếu Nguyễn Bỉnh Khiêm nhìn nhận thiên nhiên, con người quanh năm suốt tháng, tĩnh lặng không người qua lại thì với Nguyễn Trãi, ông đặc biệt miêu tả duy nhất cảnh ngày hè, thời khắc không chỉ thiên nhiên đâm chồi mạnh mẽ mà con người cũng đang hết mình cho sự thịnh vượng của đất nước. Bởi thế họ buộc vào cánh chim thơ thông điệp về cuộc đời sâu sắc sau cũng để bộc lộ niềm khát khao, trăn trở một cuộc sống thanh bình, người dân ấm no trong lao động và đời sống.&nbsp;</div><div>&nbsp; &nbsp; Theo em, triết lí sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm đến nay có còn phù hợp không?</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; Thông điệp mà Nguyễn Bỉnh Khiêm gửi vào chữ "nhàn" không chỉ đơn thuần là nét nhàn hạ trong cuộc sống thường ngày mà là nhàn hạ trong cách sống, biết mình cần dừng lại ở đâu để xua tan những ham muốn, tranh đua với đời. Nhàn chính là một cách sống thanh tao, giúp ta hiểu đời hơn, giữ gìn manh áo nhân cách bền mà đẹp. Nếu không hiểu "nhàn" sao ta sống giữ thói đời bon chen vì hàng trăm tư lợi cá nhân bởi thế mà triết lí của Nguyễn Bỉnh Khiêm cứ tồn tại đời đời nhằm giáo dục cho những tâm hồn cách sống thanh cao, an nhàn trong chốn đời ranh mãnh.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-12 17:03:08 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942954326</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lê Thảo Nguyên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942965817</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484333354/ea7865a31de36a86f27d1d9e60570fa8/264949063_414228747049970_755251827614189851_n.jpg" />
         <pubDate>2021-12-12 17:13:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942965817</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Vi Thảo C2 ạ :</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942970725</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;<br>Theo em đặt trong bối cảnh xã hội hiện nay, quan niệm sống nhàn vừa có những nét tích cực vừa còn những điểm chưa phù hợp, hạn chế. Với thế hệ trẻ ngày nay, sống “nhàn” cũng là sống hòa mình với thiên nhiên, không quá coi trọng vật chất, danh lợi. Bên cạnh đó sống ‘nhàn” còn là biết sắp xếp thời gian hợp lý cho công việc, dành thời gian để nghỉ ngơi, thư thái. Có như vậy, ta mới giữ được tâm hồn thanh cao, mới cảm nhận thấy cuộc sống thật sự có ý nghĩa.</div><div>Cuộc sống là một guồng quay hối hả và sẽ là quá nhanh nếu ta cứ mải mê chạy theo những nhu cầu vật chất mà quên đi giá trị đích thực của cuộc sống. Chính vì vậy sống ‘nhàn” luôn là lối sống tích cực giúp con người tìm được những giá trị thiết yếu, được sống hòa mình với tự nhiên.</div><div>Thế nhưng, liệu sống “nhàn” có hoàn toàn tích cực hay không? Ngay bên cạnh chúng ta, hàng ngày vẫn còn biết bao con người không nơi nương tựa, sống lang thang khắp nơi. Hàng ngày, bố mẹ ta vẫn tần tảo sớm hôm chăm lo đồng tiền bát gạo để lo cho con được bằng bạn, bằng bè. Và người anh em của chúng ta- Đồng bào miền Trung ruột thịt vẫn đang phải gánh chịu bao nhiêu hậu quả của thiên tai lũ lụt...thật xót xa làm sao!</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-12 17:17:29 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942970725</guid>
      </item>
      <item>
         <title>diệu ngân (bài cảm nhận)</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942979756</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1485081747/0d449244b5c5edfb1ef16ef4b18b19f7/_nh_c_u_1.png" />
         <pubDate>2021-12-12 17:26:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942979756</guid>
      </item>
      <item>
         <title>diệu ngân chọn câu 1 ạ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942980320</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1485081747/bbae90069116bb8c79fbfdd187d7e945/_nh_c_u_2.png" />
         <pubDate>2021-12-12 17:26:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942980320</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Thanh Thuỷ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942989305</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>So sánh:&nbsp;<br></strong><br></div><div><br></div><div>Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đều là những người đã đóng góp rất nhiều cho sự nghiệp đấu tranh và xây dựng vì đất nước. Hiển nhiên trong lòng họ, đất nước luôn chiếm độc tôn về tình cảm.&nbsp; Qua lăng kính thi ca của họ, tình yêu đất nước được thể hiện từ tâm hồn khi đứng trước cảnh đẹp yên bình, họ để ý từ những chi tiết nhỏ nhất, qua đó bộc lộ khao khát sống vì đất nước, yêu nước yêu dân.&nbsp;</div><div><br></div><div>Vận dụng: Câu số 2</div><div><br></div><div>Lối sông “nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm còn phù hợp với hiện nay hay không sẽ tuỳ thuộc vào từng thời điểm và trải nghiệm sống của mỗi người. Khi ta còn trẻ mọi người sẽ bảo với ta rằng hãy lao vào tất cả những khó khăn, thử thách, lấy được cái mình không có và có được những thứ người khác mong ước nhưng liệu đến tuổi xế chiều, khi mà ta không còn quá năng động và ham muốn nữa thì điều ta cần sẽ là gì? Đó chính là giữ tâm bình yên và để cuộc sống lặng lẽ trôi qua. Quan sát và tìm ra vẻ đẹp ở những chi tiết ta không bao giờ để ý khi trẻ, để tâm không xao động trước những thứ phù phiếm, đó là cả một quá trình trải nghiệm về cuộc sống. Khi đã đủ bản lĩnh, lối sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm sẽ là hành trang để đi suốt quãng đường đời còn lại.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-12 17:34:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1942989305</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Anh Thư</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943010034</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>* So sánh<br>&nbsp; &nbsp; </strong>Nhắc đến thơ trung đại Việt Nam, Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm là những thi nhân kiệt suất của dân tộc với tình yêu thiên nhiên và lòng yêu nước sâu sắc. Qua bài "Cảnh ngày hè", Nguyễn Trãi có khoảng thời gian rảnh rỗi ngồi hóng mát trong an nhàn, thư thái. Ông đã khắc họa lên bức tranh thiên nhiên bằng những màu sắc rất đỗi giản dị, mà tràn đầy sức sống, cảnh vật tươi tắn, rực rỡ: sắc xanh của hoa hòe mát mẻ, căng tràn nhựa sống; sắc đỏ của thạch lưu hiên - hoa lựu nổi bật và rực rỡ; hồng liên ngát mùi hương. Động từ mạnh: đùn đùn, rợp, giương, phun thể hiện một sức sống mãnh liệt như có thứ gì bên trong, sức sống như ứa căng, tràn đầy. Bức tranh ấy không đơn thuần là bức tranh bình thường mà là bức tranh với những âm thanh thật sinh động. Âm thanh "lao xao" từ xa vọng lại, là âm thanh nhỏ nhưng hòa quyện với nhau, gợi lên sự rộn rã, tấp nập, đông đúc của chợ cá làng ngư phủ, chợ có đông vui là nước thái bình. Âm thanh "dắng dỏi" là âm thanh liên tục mà vang dội cả một vùng, tiếng ve sầu âm vang làm cho ánh nắng chiều bừng lên, ấm áp, thơ mộng. "Dân giàu đủ, khắp đòi phương", bên cạnh tình yêu thiên nhiên của Nguyễn Trãi là sự mong muốn nhân dân ở mọi phương trời đều hạnh phúc, ấm no, một tinh thần trách nhiệm cao cả vì nước, vì dân. Với bài "Nhàn" - Nguyễn Bỉnh Khiêm, cuộc sống ung dung, nhàn nhã được thể hiện qua tưng câu thơ. Nguyễn Bỉnh Khiêm hòa mình vào cuộc sống của những người nông dân nơi thôn dã, bốn mùa xuân, hạ, thu, đông sống hòa hợp với thiên nhiên: ăn măng trúc, giá, tắm hồ sen, ao. Tác giả cảm thấy hài lòng với cuộc sống giản dị mà thanh cao, tự do, thoải mái, hòa quyện với thiên nhiên. Cuộc sống của hai nhà thơ thật bình thản, ung dung và nhàn nhã, khiến ta cũng muốn sống như họ, bỏ qua mọi thứ bon chen, xô bồ chốn quan trường, lựa chọn về ở ẩn nơi thôn dã. Chọn đứng ngoài vòng danh lợi, giữ cốt cách thanh cao, được hòa mình với thiên nhiên. Nhưng họ vẫn cháy bỏng một niềm khát khao, mong muốn muôn dân được sống ấm no, hạnh phúc. <br><br><strong>* Câu 2:<br>&nbsp; &nbsp; </strong>&nbsp;Thật khó để trả lời câu hỏi triết lý sống "Nhàn" của Nguyễn bỉnh Khiêm còn phù hợp đến ngày nay không. Theo quan điểm cá nhân em, trong xã hội ngày nay, khi con người cứ mãi chạy theo hay lạc trong vòng xoáy của cuộc đời. Cuộc sống của họ chỉ có công việc và công việc, họ phải làm mọi thứ để thích nghi với cuộc sống ngày một hiện đại này. Đến mức không còn thời gian để nghỉ ngơi, để nghĩ cho gia đình, nghĩ cho bản thân. Nhiều lúc cảm giác mỗi ngày trôi qua thật nhanh chóng. Sống "nhàn" đôi khi không phải là có tiền bạc, có của cải, vật chất, để hưởng lạc, mà nó đơn giản là những giây phút được sống chọn vẹn, là khoảng thời gian để thư giãn, được sống chậm lại để cảm nhận, cảm nhận những thứ nhỏ nhặt nhất. Như lời bài hát của Đen: " Miệng cười như nắng hạ, nhưng trong lòng thì chớm đông./Nếu mà mệt quá, giữa thành phố sống chồng lên nhau./Cùng lắm thì mình về quê, mình nuôi cá và trồng thêm rau.". Trong cuộc sống hiện nay, dòng đời xô bồ, bon chen, đôi khi chúng ta không được sống là chính mình, sống "nhàn" có thể là tâm được thanh thản, vô lo vô nghĩ và được sống là chính mình. Có nhiều thời gian dành cho gia đình, cho bạn bè và quan trọng hơn cả là cho chính bản thân mình. Đôi khi sống "nhàn" là có thời gian cho những chuyến đi, để được thanh lọc bản thân, giữ cho mình một trạng thái thư thả, để tiếp tục cho một hành trình dài phía trước. "Hít vào là quá khứ, thở ra là tương lai. Hít vào màn đêm tối, thở ra là sương mai. Hít vào những hoài nghi, không còn những áp lực. Thở ra là tự hào sẵn sàng cho một chương hai". Sống "nhàn" lại một khái niệm đơn giản, nhưng để thực hiên nó là cả một quá trình. Vì vậy, hãy luôn sống thật trọn vẹn từng khoảnh khắc, dành nhiều thời gian bên những người thân yêu. Để khi nghĩ lại ta không còn những hối tiếc, mà thay vào đó là sự tự hào vì bản thân đã sống thật trọn vẹn.<br><strong><br></strong><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-12 17:52:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943010034</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thanh Thảo</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943053666</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>&nbsp; &nbsp;*So sánh<br></strong>Hai tác phẩm '' Cảnh ngày hè '' và '' Nhàn'' đã làm nổi bật được tình yêu thiên nhiên và lòng yêu nước nồng nàn của hai nhà thi sĩ . Cùng là một bức tranh về thiên nhiên nhưng Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đều thể hiện lối khắc hoạ riêng. '' Cảnh ngày hè '' được Nguyễn Trãi vẽ lên thật rực rỡ và tươi đẹp với nhiều màu sắc. Đó là màu xanh của cây hoè, màu đỏ của hoa lựu, màu hồng của hoa sen, màu vàng lung linh của ánh nắng chiều. Tất cả hoà quyện lại với nhau tạo nên bức tranh thiên nhiên mới mẻ. Còn với '' Nhàn'' , Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nhắc tới hình ảnh '' măng trúc, giá, sen,ao'' làm ta liên tưởng đến cuộc sống nơi thôn quê, bình dị, khung cảnh quen thuộc thời thơ ấu không bao giờ phai nhoà theo năm tháng. Nhưng điều mà cả hai hướng tới đó chính là lòng yêu nước, luôn sẵnsàng cống hiến vì nước vì dân, chính cái tình yêu thiên nhiên đó đã khiến cho Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm có được khát vọng bảo vệ đất nước, muốn cho nhân dân được cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đất nước giàu mạnh.<br>&nbsp; <strong>&nbsp;* Vận dụng : câu 2</strong><br> Có ai đang đặt cho mình câu hỏi về việc triết lí " Nhàn " của Nguyễn Bỉnh Khiêm có còn phù hợp với thời đại ngày nay không ? Theo quan điểm cá nhân em triết lí sống ấy vẫn còn phù hợp. '' Nhàn '' của Nguyễn Bỉnh Khiêm là sống gần gũi, hoà mình với thiên nhiên. Đó là thái độ sống không vướng bận việc đời, không màng danh lợi. Và trong hoàn cảnh xã hội hiện nay, lối sống '' nhàn '' có thể hiểu là sống biết dành thời gian cho bản thân, biết nghỉ ngơi, thư giãn, sống hòa mình với thiên nhiên. Hiểu đúng theo nghĩa này,&nbsp; ''nhàn'' thực sự là lối sống có những tác động tích cực đến cuộc sống của chúng ta. Nó sẽ giúp con người tận hưởng trọn vẹn từng phút giây của cuộc sống, cảm nhận cuộc sống. Vì vậy mà triết lí sống '' nhàn '' của Nguyễn Bỉnh Khiêm sẽ luôn đi theo ta mọi quãng đường , cả không gian lẫn thời gian.<br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-12 18:32:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943053666</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Ngọc Lan</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943276883</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1485082000/f9f6a0305b1c3c08ff5c7e3a73eb9bd8/16393481310632011474632801045622.jpg" />
         <pubDate>2021-12-12 22:30:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943276883</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Ngọc Lan</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943340087</link>
         <description><![CDATA[<div><mark>*Cảm&nbsp; nhận của em về tình yêu thiên nhiên và lòng yêu nước của tác giả qua hai bài thơ:<br></mark>&nbsp; &nbsp; &nbsp; Qua hai bài thơ "Cảnh ngày hè" và "Nhàn", ta có thể thấy được tình yêu thiên nhiên của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm.Hai nhà thơ đã vẽ ra hai bức tranh thiên nhiên vô cùng bình yên và giản dị. Nhà thơ Nguyễn Trãi đã vẽ nên một bức tranh cảnh ngày hè đầy màu sắc với màu xanh của cây hòe, màu đỏ của hoa lựu, màu hồng của hoa sen; âm thanh "lao xao" của làng chài, "dắng dỏi" của tiếng ve. Cùng với đó bức tranh làng quê đầy yên bình được Nguyễn Bỉnh Khiêm phác họa trong bài thơ "Nhàn", từ những sự vật rất gần gũi như măng trúc, giá, hồ sen, ao. Có thể thấy hai bức tranh đều toát lên sự nhẹ nhàng, thanh bình nhưng ẩn trong đó là hai cách sống khác nhau. Nguyễn Trãi mặc dù tư thế ung dung, thoải mái nhưng ông vẫn lo lắng cho nhân dân và đất nước. Còn Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông đã hoàn toàn rũ bỏ danh vọng, thoải mái và tự do tận hưởng cuộc sống. Qua hai lối sống khác nhau, hai nhà thơ đã thể hiện được tình yêu thiên nhiên và tình yêu nước, truyền đạt lối sống tích cực và hướng con người tới những điều bình thường giản dị<br>*<mark>Những&nbsp; con người hết lòng vì nước vì dân như Nguyễn Trãi, Nguyễn&nbsp; Bỉnh&nbsp; Khiêm&nbsp; liệu&nbsp; có&nbsp; còn&nbsp; trong&nbsp; đời&nbsp; sống&nbsp; hiện&nbsp; nay?<br></mark>&nbsp; &nbsp; &nbsp; Trong đời sống hiến nay, vẫn còn có những con người hết lòng vì nước vì dân như Nguyễn Trãi, Nguyễn&nbsp; Bỉnh&nbsp; Khiêm. Có thể nói đến những bác sĩ đang ngày đêm cố gắng, nỗ lực để phòng chống dịch bệnh. Tuy họ không được nêu danh trên báo, nhưng mỗi bác sĩ y tá vẫn miệt mài cố gắng và góp công rất lớn vào công cuộc chống dịch. Không chỉ các nhân viên ý tế mà tất cả mọi ngành nghề trên đất nước đều đang chung tay đẩy lùi dịch bệnh.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-12 23:57:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943340087</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Phương Nga chọn câu 1</title>
         <author>ngaphuongnguyen26</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943340338</link>
         <description><![CDATA[<div>Theo em, trong thời hiện đại- thời đại công nghệ 4.0 bây giờ vẫn còn tồn tại rất nhiều người hết lòng vì dân, vì nước như Nguyễn Bình Khiêm hay Nguyễn Trãi. Đó là bởi truyền thống yêu nước của dân tộc ta vô cùng hào hùng, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Khi xưa, từ thời mới thành lập tới giai đoạn kết thúc kháng chiến chống Mỹ, nước ta luôn phải chịu sự xâm lược của các nước khác, chịu sự bất công, không có được độc lập tự do. Vậy nên dân ta nồng nàn yêu nước, và công lao của những vị tướng đứng lên hi sinh vì nước vì dân như Nguyễn Trãi, hay Nguyễn Bình Khiêm thực sự rất to lớn. Đến bây giờ, khi cuộc sống đã yên bình thì tinh thần yêu nước, thương dân đó chả những không mất đi mà còn được tiếp tục kế thừa, phát triển trong hoàn cảnh đất nước đang trên đà trở thành nước phát triển. Trong thời đại này, yêu nước, vì dân cũng là một trách nghiệm của bất kì ai. Ta có thể thấy những tấm gương tiêu biểu cho điều đó như ông Nguyễn Xuân Thắng, Giám đốc Trung tâm Phục hồi chức năng. Trợ giúp trẻ khuyết tật ông đã có 32 năm công tác và 25 năm trực tiếp tham gia điều trị, chăm sóc cho trẻ khuyết tật. Đó là những con số vô cùng vĩ đại để làm nên cuộc đời của mỗi người, ông đã dành cả đời mình để cống hiến. Hay trong thời kì dịch bệnh hoành hành, làm thiệt hại đến của cải vật chất, tinh thần, sức khỏe hay thậm chí là tính mạng con người thì tinh thần ấy càng được nâng cao. Yêu dân, yêu nước đã không chỉ là những hành động quyên góp, giúp đỡ người nghèo mà còn là tiếp thêm tinh thần cho dân tộc ta tiếp tục đứng lên chống lại bệnh dịch. Đó là phóng sự "Ranh rới"- phóng sự nói về sự mỏng manh giữa sự sống và cái chết của con người trong dịch bệnh. Và để làm nên sức lan tỏa mạnh mẽ và sức hút mãnh liệt, phóng sự đã nói về sự thật.&nbsp;Những sự hi sinh vì đất nước, vì người dân vẫn luôn ở đây. Có thể đó là sự hi sinh lớn lao ai cũng biết tới, hay sự hi sinh thầm lặng, đều quý giá. Trong thời đại này, những người như Nguyễn Trãi hay Nguyễn Bình Khiêm vẫn tồn tại, và họ đang tiếp tục cố gắng làm cho đất nước phát triển, giúp nhân dân có đời sống ấm no, hạnh phúc.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-12 23:57:28 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943340338</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thu Huyền </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943341309</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1497428287/d95ea210fe9a9ada8f37f934712828c4/7EFDCD69_C39A_494D_A063_FC897FFBD1FD.jpeg" />
         <pubDate>2021-12-12 23:58:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943341309</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thu Trang</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943385338</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1485080805/a500ade0d8f5491cb59501c243795a36/image.png" />
         <pubDate>2021-12-13 00:44:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943385338</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Phương Nga</title>
         <author>ngaphuongnguyen26</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943390011</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1483652031/cf8dfc9f2e22ba93bdd31a76909ce465/Nh_n.jpg" />
         <pubDate>2021-12-13 00:48:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943390011</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thu Trang</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943415352</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1485080805/7a5f8ca4a2c65eb7e5c94ff956407ac5/image.png" />
         <pubDate>2021-12-13 01:08:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943415352</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thu Trang</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943429419</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;<mark>Câu&nbsp; 2:</mark> <strong>Theo&nbsp; em&nbsp; triết&nbsp; lí&nbsp; sống&nbsp; "nhàn " của&nbsp; Nguyễn&nbsp; Bỉnh&nbsp; Khiêm&nbsp; đến nay có còn phù hợp không?</strong><br>Theo quan điểm của cá nhân em thì triết lí ấy đến nay vẫn còn phù hợp. Đặt trong hoàn cảnh xã hội thời Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhàn là một quan niệm sống tích cực. Trạng Trình sống gần gũi vui trọn với thiên nhiên. Đặt trong bối cảnh xã hội hiện nay, quan niệm sống nhàn vừa có những nét tích cực vừa còn những điểm chưa phù hợp, hạn chế. Với thế hệ trẻ ngày nay, sống “nhàn” cũng là sống hòa mình với thiên nhiên, không quá coi trọng vật chất, danh lợi. Bên cạnh đó sống ‘nhàn” còn là biết sắp xếp thời gian hợp lý cho công việc, dành thời gian để nghỉ ngơi, thư thái. Có như vậy, ta mới giữ được tâm hồn thanh cao, mới cảm nhận thấy cuộc sống thật sự có ý nghĩa. Giữa những bộn bề, lo toan của cuộc sống hôm nay, hãy dành chút khoảng lặng để suy ngẫm về quan niệm sống “nhàn”. Hãy biết sống “nhàn” phù hợp với từng hoàn cảnh nhất định. Có như vậy chúng ta mới cảm nhận được ý nghĩa trọn vẹn của cuộc sống và “khỏi ân hận vì những tháng năm đã sống hoài, sống phí” (Ôtxtơrốpxki).<br><br></div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-13 01:19:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943429419</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Ngọc Minh Anh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943433112</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><mark>So sánh:</mark></strong><br>Hai trong những thi sĩ thể hiện sâu sắc và rõ nét về tình yêu thiên nhiên cùng tình yêu đất nước của mình qua từng trang thơ hẳn là Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm. Qua tác phẩm "Cảnh ngày hè", ta thấy khung cảnh thôn quê hiện lên với những gì quen thuộc, thân thiết nhất. Đó là "hoè", là "thạch lựu hiên", là "hồng liên trì". Tất cả những sự vật ấy đã làm bừng sáng lên một không gian tươi tắn, mát mẻ của mùa hạ trước mắt nhà thơ. Không chỉ thiên nhiên tươi đẹp, bình yên của Nguyễn Trãi còn đến từ những phiên&nbsp; "lao xao chợ cá", bức tranh cuộc sống ồn ã, tấp nập của người dân đã làm ánh lên mong ước nhân dân ấm no, đất nước thái bình của nhà thơ. Phải là một người có lòng yêu thiên nhiên biết chừng nào Nguyễn Trãi mới có thể gợi tả lại không khí quen thuộc của ngày hè một cách chân thật và tinh tế đến như vậy. Còn với "Nhàn", bài thơ là định nghĩa, là triết lý sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ấy là cuộc sống được hoà mình với thiên nhiên, giản dị trong từng nếp sống, trong sinh hoạt hằng ngày. Dù phải làm những công việc chân tay lam lũ, vất vả, gắn liền với "mai", "cuốc", "cần câu" nhưng được tận hưởng những món ăn dân dã như "măng trúc" và "giá" mới thật ngon miệng và thanh bình làm sao. Không chỉ thế, nhà thơ còn được tận hưởng bốn mùa xuân, hạ, thu, đông một cách trọn vẹn nhất. Bởi lẽ tâm hồn ông đã thư thái và hòa hợp với thiên nhiên cuộc sống, không cần phải lo toan những ưu phiền của chốn tấp nập, sô bồ. Nhờ tình yêu và tâm hồn tinh tế có thể cảm nhận rõ nét những điều đẹp đẽ bình dị trong cuộc sống mà Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khắc hoạ thành công hai bức tranh thiên nhiên thanh bình, đầy tươi sáng theo cách của riêng mình.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-13 01:22:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943433112</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Hà Vy</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943443569</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Câu 2</strong><br>Trong xã hội ngày càng phát triển, nhịp sống của con người ngày càng nhanh hơn, lối sống xa lánh mọi sự xồ bồ, sống hòa mình với thiên nhiên là một việc khá khó để có thể thực hiện. Nhưng không phải là hoàn toàn không thể sống " Nhàn". Dành ra mỗi ngày cuối tuần để đi dạo, chăm sóc cây cảnh, khám phá một điều gì đó mới lạ, đó gọi là sống " Nhàn". Đọc một cuốn sách, lắng nghe một bản nhạc, đó gọi là sống " Nhàn". Không nhất thiết phải là một cuộc đời ẩn dật như NBK, chỉ cần bạn thả lỏng đầu óc, để tâm hồn mình thanh thản, nhẹ nhàng. Đó cũng chính là lối sống " Nhàn". Cuộc sống ngày càng hiện đại, càng trở nên xô bồ. Con người cũng vì thế mà đánh mất đi lối sống " Nhàn", đánh mất đi sự thảnh thơi. Vì vậy, hãy đơn giản hóa lối sống " Nhàn". Mỗi ngày hãy dành một chút thời gian thả lỏng tâm hồn mình, hãy thử hào mình vào với thiên nhiên xung quanh. Bạn sẽ thấy "Nhàn" luôn hiện hữu trong đời sống hàng ngày.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-13 01:30:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943443569</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thanh Ngân</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943446382</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484440421/69d75ded083500e528a9206a5612199a/inbound5234740166735633570.jpg" />
         <pubDate>2021-12-13 01:32:20 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943446382</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Hà Châu</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943451077</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1496979574/64dc4c84c9d7bd702b269135471ba5fc/48C45FC9_8543_4532_A45A_E603119BF752.png" />
         <pubDate>2021-12-13 01:36:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943451077</guid>
      </item>
      <item>
         <title>HƯỚN DẪN HỌC BÀI</title>
         <author>hangtrang191</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943456538</link>
         <description><![CDATA[<div>- Tổ trưởng họp&nbsp; nhóm, thống&nbsp; kê&nbsp; các&nbsp; công&nbsp; việc&nbsp; cần&nbsp; làm, giao&nbsp; cho&nbsp; các&nbsp; thành&nbsp; viên&nbsp; hoàn&nbsp; thànhh.<br>- Nội&nbsp; dung&nbsp; cần hoàn thành: Đọc - hiểu&nbsp; bài&nbsp; thơ&nbsp; được&nbsp; giao&nbsp; (Căn&nbsp; cứ&nbsp; vào&nbsp; các&nbsp; bước&nbsp; đọc&nbsp; hiểu&nbsp; đã&nbsp; được&nbsp; hướng&nbsp; dẫn&nbsp; ở&nbsp; các bài trước).<br>- Thời&nbsp; gian: 60 phút.<br>- Hình&nbsp; thức&nbsp; nộp&nbsp; sản&nbsp; phẩm: up&nbsp; lên&nbsp; padlett<br>- Các  nhóm  sẽ  chấm  chéo  sản  phẩm  của  nhau  theo  phiếu  chấm gv cung cấp. </div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-13 01:40:07 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943456538</guid>
      </item>
      <item>
         <title>HNhung</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943460063</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484306743/520c464dd01414c8e8e76a1cd1cd4213/S_RD_Nh_n.jpg" />
         <pubDate>2021-12-13 01:42:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943460063</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Minh Anh</title>
         <author>halap78</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943461638</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>*So sánh</strong> : Cảm nhận của em về tình yêu thiên nhiên và lòng yêu nước của tác giả qua hải bài thơ<br><br></div><div>Cả “Cảnh ngày hè” – Nguyễn Trãi và “Nhàn” – Nguyễn Bỉnh Khiêm đều là những bức tranh thiên nhiên đẹp đẽ cùng lòng yêu nước sâu sắc trong chùm thơ văn học trung đại. Nếu “Cảnh ngày hè” đem đến sắc màu rực rỡ, tràn đầy sứng sống của “Hòe”,”thạch lựu”, “hồng liên”… thì “Nhàn” lại vẽ lên vẻ đẹp của bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông với những đặc trưng riêng mà tác giả sống hòa hợp với những gì thiên nhiên mang lại: “măng trúc”, “giá”, “tắm hồ sen”, “tắm ao”. Nhưng ta bắt gặp điểm chung của cả hai tác giả qua chính hai bài thơ này đó là tâm hồn thanh cao, giữ gìn thanh khí, sống giản dị, hòa hợp với thiên nhiên, không màng đến những sa hoa, danh lợi nơi triều chính. Họ chọn cách về quê ở ẩn để cho mình có cuộc sống nhàn hạ, thư thản. Dù vậy, không thể nói là cả hai ông đều rời xa triều đình thì sẽ không liên can, quan tâm đến đất nước nữa. Như bao con người Việt Nam, trong họ vẫn luôn có một lòng yêu nước nồng nàn và họ sẵn sàng giúp vua, giúp dân với mong muốn dân giàu nước mạnh.<br><br></div><div><strong>*Câu 2 </strong>: Theo em triết lí sống "nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm đến nay có còn phù hợp ?<br><br>Theo em, triết lí sống “nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm đến nay vẫn còn phù hợp. Bởi nhìn theo hướng chủ quan có thể thấy con người ta ngày nay luôn chạy theo những cái hiện đại, cái mới của xã hội với suy nghĩ không muốn bị lùi lại phía sau. Còn theo nhìn theo hướng khách quan thì vì xã hội đã cuốn con người theo nó, tạo nên những áp lực cuộc sống khiến cả thể xác và tâm hồn ta đều trở nên mệt mỏi. Chính vì vậy mà ai cũng cần có một khoảng thời gian để dừng lại. Không phải bỏ cuộc, chịu bản thân bị lùi lại với mọi người hay biến mình thành một con người vô tâm mà là để nghỉ ngơi, để tâm hôn ta được chữa lành. Và đó chính là sống “nhàn” mà Nguyễn Bỉnh Khiêm muốn chúng ta hướng đến. Làm những điều mình thích, dành thời gian cho người mà mình thương yêu, sống hòa mình với thiên nhiên, tắm mình trong những dòng suy nghĩ tích cực, thả trí tưởng tượng của mình vào một quyển sách… Và sau đó bạn sẽ nhìn thấy một bản thân mình nhưng hoàn toàn khác.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-13 01:43:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943461638</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Thị Thanh Thư</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943468889</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>So sánh: </strong>Cảm&nbsp; nhận của em về tình yêu thiên nhiên và lòng yêu nước của tác giả qua hai bài thơ?</div><div>Bài làm</div><div>Sau khi học xong hai bài thơ “Cảnh ngày hè” và “Nhàn”,&nbsp; ta thấy được hai tác giả Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm dành một tình yêu vô cùng to lớn cho thiên nhiên và một lòng nồng nàn yêu nước. Hình ảnh thiên nhiên được cả hai nhà thơ khắc hoạ hiện lên vô cùng bình yên, giản dị nhưng lại rất đẹp, mang nhiều ý nghĩa to lớn. Hình ảnh thiên nhiên là những hình ảnh thường ngày đều diễn ra cả Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đã quan sát từng chi tiết nhỏ nhất để đưa vào trong thơ văn. Từ đó đã in dấu một cách rất riên, rất mới lạ của cả hai nhà thơ . Tình yêu thiên nhiên to lớn là vậy nhưng song đó cả hai nhà thơ đều mang trong mình một lòng nồng nàn yêu nước. Yêu nước mới nhìn được đổi thay nhỏ nhất của thiên nhiên, vì thiên nhiên là vẻ đẹp của đất nước. Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm chắc hẳn vô cùng tự hào về đất nước, tự hào về thiên nhiên của nước ta<br><br></div><div><strong>Vận dụng: </strong>Những con người hết lòng vì nước vì dân như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm liệu có còn trong đời sống hiện nay?</div><div>Bài làm</div><div>Chắc chắn rằng những con người hết lòng vì nước, vì dân như Nuyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn còn có trong đời sống hiện nay. Những con người đó vẫn ngày đêm thầm lặng cống hiến cho đất nước. Cả thế giới nói chung và Việt Nam ta nói riêng đều đang gồng mình chống chọi với đại dịch Covid–19, thì ở Việt Nam ta vẫn có các người hùng mang trên mình màu áo trắng hay những anh hùng mang màu áo lính, họ sẵn sàng không màng đến nguy hiểm mà đi vào tâm dịch giúp đỡ mọi người. Chúng ta không thể không nhớ đến Nguyễn Văn Rô-“Kĩ sư chân đất”, tuy là một người nông dân chân chất nhưng ông mang cho mình một quyết tâm phải chế toạ ra máy cày phao nổi để có thể giúp để những người nông dân dễ dàng tăng năng suất sản xuất. Ông không hề quan tâm đến lợi nhuận hay lợi ích mà chiếc máy cày phao đó mang lại cho bản thân mình. Như vậy cho ta thấy dù họ là ai, họ làm nghề gì thì tất cả mọi người đều hướng đến một mục tiêu chung đó chính là vì nước, vì dân. Lòng yêu nước, muốn cống hiến hết mình cho đất nước, để đất nước ngày một phát triển – đó mãi mãi là mục tiêu chung của con người Việt Nam ta trong quá khứ, ở hiện tại và chắc chắn sẽ có trong tương lai</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-13 01:48:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943468889</guid>
      </item>
      <item>
         <title>HƯỚNG DẪN HỌC BÀI</title>
         <author>hangtrang191</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943470857</link>
         <description><![CDATA[<div>- Tổ trưởng họp&nbsp; nhóm, thống&nbsp; kê&nbsp; các&nbsp; công&nbsp; việc&nbsp; cần&nbsp; làm, giao&nbsp; cho&nbsp; các&nbsp; thành&nbsp; viên&nbsp; hoàn&nbsp; thànhh.<br>- Nội&nbsp; dung&nbsp; cần hoàn thành: Đọc - hiểu&nbsp; bài&nbsp; thơ&nbsp; được&nbsp; giao&nbsp; (Căn&nbsp; cứ&nbsp; vào&nbsp; các&nbsp; bước&nbsp; đọc&nbsp; hiểu&nbsp; đã&nbsp; được&nbsp; hướng&nbsp; dẫn&nbsp; ở&nbsp; các bài trước).<br>- Thời&nbsp; gian: 60 phút.<br>- Hình&nbsp; thức&nbsp; nộp&nbsp; sản&nbsp; phẩm: up&nbsp; lên&nbsp; padlett<br>- Các&nbsp; nhóm&nbsp; sẽ&nbsp; chấm&nbsp; chéo&nbsp; sản&nbsp; phẩm&nbsp; của&nbsp; nhau&nbsp; theo&nbsp; phiếu&nbsp; chấm gv cung cấp.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-13 01:50:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943470857</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thanh Ngân</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943470914</link>
         <description><![CDATA[<div>*So sánh Tỏ Lòng (Phạm Ngũ Lão) và Cảnh Ngày Hè ( Nguyễn Trãi )<br>​- Điểm chung hai bài thơ: Vẻ đẹp của hùng tâm tráng chí.<br>​- Điểm riêng:<br>* Tỏ lòng – Phạm Ngũ Lão:<br>- Phạm Ngũ Lão là vị tướng trẻ tài giỏi thời Trần, bài thơ ra đời trong khí thế quyết chiến quyết thắng của nhân dân Đại Việt trong cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên lần thứ hai.<br>- Phạm Ngũ Lão làm bài Thuật hoài vào cuối năm 1284, khi cuộc kháng chiến lần thứ hai đã đến rất gần. Bài thơ này là một tác phẩm nổi tiếng, được lưu truyền rộng rãi vì nó bày tỏ khát vọng mãnh liệt của tuổi trẻ trong xã hội phong kiến đương thời. Nội dung bài thơ khắc họa nổi bật vẻ đẹp của một con người có sức mạnh, có lí tưởng, nhân cách cao cả cùng khí thế hào hùng của thời đại . Bài thơ thể hiện quan niệm sống tích cực :làm trai phải trả cho xong món nợ công danh, có nghĩa là phải thực hiện đến cùng lí tưởng trung quân, ái quốc.Bài thơ là lời bày tỏ lí tưởng cao cả, khí phách anh hùng, chí hướng lập thân của Phạm Ngũ Lão. Nỗi thẹn của người anh hùng chính là sự thể hiện hoài bão, khát vọng lập công lớn và lưu lại tiếng thơm muôn đời.Bài thơ có tác dụng giáo dục sâu sắc về nhân sinh quan và lối sống tích cực đối với thanh niên mọi thời đại.<br>* Cảnh ngày hè – Nguyễn Trãi:<br>- Nguyễn Trãi là vị anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Là bậc công thần dưới triều vua Lê Thái Tổ, tuy nhiên do bị bọn gian thần dèm pha nên có thời gian dài Nguyễn Trãi là “nhàn quan”. Bài thơ có thể ra đời trong cảnh ngộ đó.<br>- Cảnh ngày hè là một bức tranh thiên nhiên và cuộc sống không chỉ vẽ bằng cặp mắt tinh tường mà còn bằng một tâm hồn rộng mở: những sắc màu tươi sáng, rực rỡ; những nét vẽ táo bạo, tràn đầy sức sống; khung cảnh cuộc sống gợi vẻ đẹp thanh bình, ấm no. Qua đó, hiện lên cái nhìn của một tâm hồn thiết tha yêu đời, nặng lòng cùng dân, nước. Nguyễn Trãi tự “răn mình” luôn thực hiện lí tưởng nhân nghĩa vì độc lập của nước, vì hạnh phúc của dân.Lí tưởng mà Nguyễn Trãi ôm ấp là giúp vua làm cho đất nước thái bình, nhân dân thịnh vượng. Lí tưởng cao đẹp ấy là nguồn động viên mạnh mẽ khiến ông vượt qua mọi thử thách, gian nan trên đường đời. Lúc được nhà vua tin dùng cũng như khi thất sủng, nỗi niềm lo nước, thương dân luôn canh cánh bên lòng ông. Giông bão cuộc đời không thể dập tắt nổi ngọn lửa nhiệt tình trong tâm hồn người chí sĩ tài đức vẹn toàn ấy.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-13 01:50:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943470914</guid>
      </item>
      <item>
         <title>HƯỚNG DẪN HỌC BÀI</title>
         <author>hangtrang191</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943471313</link>
         <description><![CDATA[<div>- Tổ trưởng họp&nbsp; nhóm, thống&nbsp; kê&nbsp; các&nbsp; công&nbsp; việc&nbsp; cần&nbsp; làm, giao&nbsp; cho&nbsp; các&nbsp; thành&nbsp; viên&nbsp; hoàn&nbsp; thànhh.<br>- Nội&nbsp; dung&nbsp; cần hoàn thành: Đọc - hiểu&nbsp; bài&nbsp; thơ&nbsp; được&nbsp; giao&nbsp; (Căn&nbsp; cứ&nbsp; vào&nbsp; các&nbsp; bước&nbsp; đọc&nbsp; hiểu&nbsp; đã&nbsp; được&nbsp; hướng&nbsp; dẫn&nbsp; ở&nbsp; các bài trước).<br>- Thời&nbsp; gian: 60 phút.<br>- Hình&nbsp; thức&nbsp; nộp&nbsp; sản&nbsp; phẩm: up&nbsp; lên&nbsp; padlett<br>- Các&nbsp; nhóm&nbsp; sẽ&nbsp; chấm&nbsp; chéo&nbsp; sản&nbsp; phẩm&nbsp; của&nbsp; nhau&nbsp; theo&nbsp; phiếu&nbsp; chấm gv cung cấp.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-13 01:50:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943471313</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đặng Hà Trân</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943471447</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><mark>1. So sánh :</mark></strong><br>Ta yêu nước chính là yêu những cái giản dị nhất, yêu từng ngọn cây hàng cỏ, yêu từng con sông, dòng suối. Và Nguyễn Trãi yêu từ"Cảnh ngày hè" với cuộc sống yên bình, từ những tán hòe rồi đến sắc đỏ của lựu lại thơm ngát như những đóa hồng liên thuần khiết. Những âm thanh của cuộc sống ta cũng chỉ khao khát bắt nhịp trong tim bằng "lao xao" của chợ cá làng ngư phủ cùng tiếng ve kêu" rắn rỏi" tựa lầu tịch dương. Nguyễn Trãi yêu bức tranh tuyệt mĩ đầy sức sống ấy còn Nguyễn Bỉnh Khiêm chính lại quyện cùng thiên nhiên bốn mùa. Ông thu ăn "măng trúc", đông thì"ăn giá", cũng chẳng ngần ngại mà "Xuân tắm hồ sen hạ tắm áo" như những người nông dân. Đó là một sự hòa mình vào nhịp sống dân giã, sống thảnh thơi, an nhàn. Dù cả hai thi gia có sự bộc lộ là khác nhau nhưng tâm hồn lại như hai vòng tròn đồng tâm cùng tìm đến sự thanh bình, không màng danh lợi nhưng vẫn thương dân sâu sắc.<br><strong><mark>2. Vận dụng</mark></strong><br><strong><mark>Câu 2: </mark></strong><br>Theo em, triết lí sống "Nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm đến nay vẫn còn phù hợp, bởi vì:<br>Xã hội đang ngày một phát triển, con người cũng vì vậy mà hối hả chạy theo sự phát triển ấy không ngừng nghỉ. Vì không ngừng&nbsp; nghỉ nên con người ta sẽ luôn mong muốn có một khoảng nào đó để dừng lại, để sống "Nhàn" như triết lí của Nguyễn Bỉnh Khiêm.&nbsp;<br>Một tư tưởng sống không màng danh lợi, làm những việc mà bản thân thấy vui mà sống trở nên có giá trị hơn. Như trong đời sống hiện đại ngày nay, "Nhàn" là thảnh thơi đọc một cuốn sách,yêu thích hay có một khoảng thời gian với gia đình, bạn bè, những điều ao ước muốn thực hiện. Và đối với em " Nhàn" là được đọc những cuốn truyện mình thích, không phải lo nghĩ.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-13 01:50:47 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943471447</guid>
      </item>
      <item>
         <title>HƯỚNG DẪN HỌC BÀI</title>
         <author>hangtrang191</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943472214</link>
         <description><![CDATA[<div>- Tổ trưởng họp&nbsp; nhóm, thống&nbsp; kê&nbsp; các&nbsp; công&nbsp; việc&nbsp; cần&nbsp; làm, giao&nbsp; cho&nbsp; các&nbsp; thành&nbsp; viên&nbsp; hoàn&nbsp; thànhh.<br>- Nội&nbsp; dung&nbsp; cần hoàn thành: Đọc - hiểu&nbsp; bài&nbsp; thơ&nbsp; được&nbsp; giao&nbsp; (Căn&nbsp; cứ&nbsp; vào&nbsp; các&nbsp; bước&nbsp; đọc&nbsp; hiểu&nbsp; đã&nbsp; được&nbsp; hướng&nbsp; dẫn&nbsp; ở&nbsp; các bài trước).<br>- Thời&nbsp; gian: 60 phút.<br>- Hình&nbsp; thức&nbsp; nộp&nbsp; sản&nbsp; phẩm: up&nbsp; lên&nbsp; padlett<br>- Các&nbsp; nhóm&nbsp; sẽ&nbsp; chấm&nbsp; chéo&nbsp; sản&nbsp; phẩm&nbsp; của&nbsp; nhau&nbsp; theo&nbsp; phiếu&nbsp; chấm gv cung cấp.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-13 01:51:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943472214</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Châu</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943473907</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>SO SÁNH THUẬT HOÀI(TỎ LÒNG) VỚI CHÍ KHÍ ANH HÙNG</strong><br>- Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão:<br>+ Thể hiện niềm tự hào về chí nam nhi và khát vọng chiến công của người anh hùng khi Tổ quốc bị xâm lăng. Nó là bức chân dung tự họa của danh tướng Phạm Ngũ Lão<br>+ Thể hiện tư thế người chiến sĩ thuở "bình Nguyên" ra trận hiên ngang, hào hùng như các dũng sĩ trong huyền thoại. Chủ nghĩa yêu nước được biểu hiện qua một vần thơ cổ kính trang nghiêm: cắp ngang ngọn giáo, xông pha trận mạc suốt mấy mùa thu để bảo vệ giang sơn yêu quý<br>+ Người con trai thời xưa có một khát vọng tột bậc là phải lập nên sự nghiệp ở đời. Chưa thực hiện được thì coi như còn “mắc nợ” với quê hương đất nước và phải phấn đấu để trả cho bằng được.&nbsp;<br>- Chí khí anh hùng trong Truyện Kiều của Nguyễn Du:<br>+ Từ Hải là con người có ý chí, nội lực mạnh mẽ và khát vọng "đầu đội trời, chân đạp đất" của một đấng nam tử hán trong xã hội<br>+ Với chí khí anh hùng, hoài bão lớn lao và niềm tin chắc chắn, Từ Hải đem đến cho cuộc đời Kiều không phải cái rung động chớm hé của buổi yêu đầu, không phải cuộc sống bình thường mà thức dậy ở Kiều những điều người khác không có được: đó là khát vọng về công bằng, chính nghĩa.<br>+ Người anh hùng phải làm được những việc lớn lao, dám nghĩ dám làm, có dáng vẻ phóng khoáng, dứt khoát, oai nghiêm.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-13 01:52:33 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943473907</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đặng Hà Trân</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943474922</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484323007/132dccfa49c7070526825b0f5a1985ea/261756700_905239047019983_2152002226361118517_n.jpg" />
         <pubDate>2021-12-13 01:53:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943474922</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thảo Vi🍀</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943476718</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484109670/e55316e2985b542208708bea26209625/inbound1846361212815592950.jpg" />
         <pubDate>2021-12-13 01:54:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943476718</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Chu Ngọc Minh Trang</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943478824</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484306743/806485612954c8e437b12c4131a6f404/mtrang.gif" />
         <pubDate>2021-12-13 01:56:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943478824</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Hà My </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943478907</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1492923967/e90460a131d72b45231a45df006249a1/9E613849_1EA7_4354_B2E7_E2FD5806F4E7.jpeg" />
         <pubDate>2021-12-13 01:56:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943478907</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Chu Ngọc Minh Trang</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943479734</link>
         <description><![CDATA[<div>So sánh<br>Qua hai bài thơ Cảnh ngày hè và Nhàn của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đã làm cho người đọc cảm nhận được tư tưởng, tình cảm yêu đời, yêu thiên nhiên và ước vọng cao đẹp của nhà thơ. Đồng thời, cả hai bài thơ đều thể hiện chữ “Nhàn”; thực chất đây là lối sống nhàn tản, xuất thế, cách ứng xử tiêu cực của những nhà nho không gặp thời. Đối chiếu với hoàn cảnh cụ thể của hai bài thơ, ta thấy việc về nhàn là cách duy nhất để giữ gìn khí tiết. Nhưng một khi đã về “nhàn”, các nhà thơ lại rộng mở tấm lòng, hòa mình với cuộc sống nơi thôn dã. Mỗi nhà thơ đều khắc họa trước mắt người đọc khung cảnh thiên nhiên tràn đầy sức sống, mát mẻ, ấn tượng. Tuy có những biểu hiện, hình ảnh khác nhau nhưng cả hai bài thơ đều cho thấy cách sống lạc quan và đặc biệt là tâm hồn thanh cao của các vị danh nho<br>*<br>Trong bối cảnh xã hội hiện nay, quan niệm sống nhàn vừa có những nét tích cực vừa còn những điểm chưa phù hợp, hạn chế. Với thế hệ trẻ ngày nay, sống “nhàn” cũng là sống hòa mình với thiên nhiên, không quá coi trọng vật chất, danh lợi. Bên cạnh đó sống ‘nhàn” còn là biết sắp xếp thời gian hợp lý cho công việc, dành thời gian để nghỉ ngơi, thư thái. Có như vậy, ta mới giữ được tâm hồn thanh cao, mới cảm nhận thấy cuộc sống thật sự có ý nghĩa.<br>Tuy nhiên, không phải lúc nào sống “ nhàn” như Nguyễn Bỉnh Khiêm đều hợp lí trong xã hội ngày nay. Từng ngày từng giờ vẫn có những con người đang cố gắng, nỗ lực vượt qua khó khăn của chính bản thân họ. Vì vậy,&nbsp; Hãy biết sống “nhàn” phù hợp với từng hoàn cảnh nhất định. Có như vậy chúng ta mới cảm nhận được ý nghĩa trọn vẹn của cuộc sống và “khỏi ân hận vì những tháng năm đã sống hoài, sống phí” (Ôtxtơrốpxki).</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-13 01:56:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943479734</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Hà Châu</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943480008</link>
         <description><![CDATA[<div>Theo em,không  chỉ nam nhi, mà phụ nữ cũng hoàn toàn có cơ hội khẳng định cá nhân, vươn tầm thế giới. Hơn nữa, không chỉ văn hay chữ tốt mới được coi là tài giỏi, mà hoạt động thể chất, tinh thần, xã hội cũng ngày một được chú trọng nhằm hoàn thiện mọi khía cạnh phát triển thế giới quan, nhân sinh quan.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-13 01:56:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943480008</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Hà Châu</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943487239</link>
         <description><![CDATA[<div>Câu thơ em thích nhất trong bài thơ ’’Cảnh ngày hè’’ là&nbsp;<em>Rồi hóng mát thuở ngày trường”.<br></em><br></div><div>Với cương vị là một bậc công thần của dân tộc, ngày ngày mang vác trên vai gánh nặng chính sự, quốc sự thì hình ảnh Nguyễn Trãi trong câu thơ đầu này quả thực có chút lạ lẫm. Nhưng “Hóng mát thuở ngày trường”, phần nào cho người đọc thấy một tâm thế khác của Nguyễn Trãi, ông phải chăng đã tạm gác việc triều chính, thế sự nhiễu nhương sang một bên, tạm lánh đục về trong, sống đời sống của một hiền nhân thanh cao không vướng bụi trần.&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-13 02:02:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943487239</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thanh Ngân</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943490609</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484440421/4875a1a70fcf6ac07e5033ee1ede06f1/inbound8462584882341803540.jpg" />
         <pubDate>2021-12-13 02:04:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943490609</guid>
      </item>
      <item>
         <title>phần so sánh của Trần Vi Thảo ạ:</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943510004</link>
         <description><![CDATA[<div>Nguyễn Bỉnh Khiêm không những là một ông quan thanh liêm và có học vấn uyên thâm, nhưng vì sống trong cảnh quan trường có nhiều bất công cho nên ông đã cáo quan về ở ẩn. Ông lựa chọn một nơi an nhàn, thảnh thơi nơi thôn quê và bài thơ “Nhàn” là một bài thơ viết về những tháng ngày tác giả ở ẩn. Bài thơ đã thể hiện được tiếng lòng của Nguyễn Bỉnh Khiêm về một cuộc sống nhiều niềm vui có biết bao nhiêu an nhàn và thanh thản nơi đồng quê.Bài thơ Nhàn đã thể hiện được một tâm hồn tràn ngập niềm vui và sự thanh tịnh trong tâm hồn tác giả, với những cảm xúc thanh nhàn chính là tinh thần chủ đạo của bài thơ.Nguyễn Trãi là một danh nhân văn hóa lớn của dân tộc. Ông là người văn võ toàn tài, có cái tâm trong sáng, luôn sống ngay thẳng với phẩm cách trung thực, cao thượng. Nguyễn Trãi đã dành trọn cuộc đời mình để chiến đấu cho độc lập của dân tộc, cho sự bình yên, no ấm của nhân dân.Cảnh ngày hè (Bảo kính cảnh giới) là một tác phẩm tiêu biểu trong tập Quốc âm thi tập - tập thơ Nôm đầu tiên trong lịch sử văn học viết Việt Nam. Bài thơ đã vẽ lên bức tranh thiên nhiên ngày hè rực rỡ và tâm hồn chan chứa tình yêu thiên nhiên, đất nước của thi nhân.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-13 02:18:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943510004</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hà Nhật Vy</title>
         <author>haphuong05ths</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943511405</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1495544629/326f84d0ca876447c362c93fb6c8c30e/image.png" />
         <pubDate>2021-12-13 02:19:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943511405</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Danh sách chưa nộp</title>
         <author>halap78</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943513641</link>
         <description><![CDATA[<div>1. Phạm Hà Châu<br>2. Nguyễn Trần Quỳnh Anh<br>3. Nguyễn Hà My<br>4. Nguyễn Thanh Ngân<br>5. Trần Anh Thư<br>6. Hà Nhật Vy</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-13 02:20:59 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943513641</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hà Nhật Vy</title>
         <author>haphuong05ths</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943513815</link>
         <description><![CDATA[<div><mark>&nbsp;So sánh</mark><br>&nbsp; &nbsp;Qua hai tác phẩm 'Cành ngày hè' và ' Nhàn" chúng ta đều thấy đc Nguyễn Trãi và Nguyễn Bình Khiêm đều là những người có lòng vì nước, vì dân. Đồng thời cả hai đều rũ bỏ danh lợi, về ở ẩn, hoà đồng với thiên nhiên để di dưỡng tinh thần. Với ngôn từ hết sức giản dị cũng đều cho thấy cả hai ông có một tình yêu đặc biệt với thiên nhiên. là một tâm hồn yêu thiên nhiên, hòa mình cùng thiên nhiên, phủ nhận danh lợi. Bài thơ mang một triết lí sống đẹp đẽ đáng nể, làm gương cho bao thế hệ mai sau. Bên cạnh đó còn là những con người biết cống hiến cho đất nước. Thể hiện một tinh thần yêu nước yêu dân<br><br>*Vận dụng:<br>Triết lí sống “ nhàn” của Nguyễn Bình&nbsp; Khiêm có còn phù hợp cuộc sống hiện nay. Phù hợp ở chỗ, cta phải sống hoà mình với thiên nhiên. Bởi phần lớn cta chỉ chăm chú vào mạng xã hội những thiết bị di động giải trí mà lãng quên đi những thứ đơn giản mà luôn ở cạnh ta. Đồng thời<br>chúng ta đừng để đồng tiền làm mờ mắt, làm mất đi giá trị đích thực con người. Sống “nhàn” phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh còn giúp cho chúng ta giữ được một tâm hồn thanh cao. Tâm hồn chúng ta sẽ cảm thấy thanh thản, thoải mái thì không bị vướng bận vào điều gì.</div><div><br></div><div><br></div><div><br></div><div><br></div><div><br><br></div><div><br><br></div><div><br></div><div><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-13 02:21:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943513815</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Hà Vy</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943516256</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484071319/b3a151c3a48c3eb6349a47ce7774a6c3/inbound4097834389465048852.jpg" />
         <pubDate>2021-12-13 02:22:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943516256</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Thu Huyền </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943517241</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1495606534/818a8f413501dd277c6ceb99d35a3da5/56761D0C_CF49_456C_9171_6DBFD346BB8C.jpeg" />
         <pubDate>2021-12-13 02:23:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943517241</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Hà Châu</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943522693</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1496979574/29a5a672c214ab1a102a8a44a50242ba/6F4B331A_9DCA_4ED3_918F_21A48AFD2A18.png" />
         <pubDate>2021-12-13 02:27:48 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943522693</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Hà My</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943535276</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>So sánh: </strong>Cảm&nbsp; nhận của em về tình yêu thiên nhiên và lòng yêu nước của tác giả qua hai bài thơ?</div><div>Bài làm</div><div>Tác giả muốn cống hiến nhiệt huyết của mình để nhân dân ấm no , dân giàu, nước mạnh. Gửi đến cho thế hệ trẻ lòng yêu nước và ước mơ cống hiến cho đất nước. Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đã rung cảm trước vẻ đẹp của thiên thiên tuyệt đẹp và con người nơi đây mộc mạc giản dị nhưng lại mang trong mình những phẩm chất đẹp đẽ và súc mạnh phi thường</div><div>&nbsp;</div><div><strong>Vận dụng: </strong>Những con người hết lòng vì nước vì dân như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm liệu có còn trong đời sống hiện nay?</div><div>Bài làm</div><div>Theo em những con người hết lòng vì dân vì nước vẫn còn rất nhiều ở xung quanh ta. Như trong mùa dịch hiện nay các y bác sĩ đang cố gắng nỗ lực hết mình để cứu chữa cho những bệnh nhân vị mắc covid. Ngoài ra, còn có các nhà hảo tâm sáng lập ra các cây gạo atm với mục đích giúp cho những người nghèo có được cái ăn trong thời điểm khó khăn hiện nay. Chắc chắn dù ở qkhu hiện tại hay tương lai vẫn mng vẫn luôn hướng đến mục tiêu vì nước vì dân để đất nước phát triển giàu mạnh hơn</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-13 02:36:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943535276</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Anh Thư</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943537438</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1485080867/1bd71160f35829bf79ded648937d3076/IMG20211213093654.jpg" />
         <pubDate>2021-12-13 02:38:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943537438</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Châu</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943549434</link>
         <description><![CDATA[<div>- Cả hai bài thơ đều thể hiện chữ “Nhàn”; thực chất đây là lối sống nhàn tản, xuất thế, cách ứng xử tiêu cực của những nhà nho không gặp thời. Đối chiếu với hoàn cảnh cụ thể của hai bài thơ, ta thấy việc về nhàn là cách duy nhất để giữ gìn khí tiết. Nhưng một khi đã về “nhàn”, các nhà thơ lại rộng mở tấm lòng, hòa mình với cuộc sống nơi thôn dã.<br>- Mức độ thể hiện của chữ “Nhàn” ở hai bài thơ có sự khác nhau:<br>+ Nguyễn Trãi tuy về nhàn nhưng vẫn đau đáu trong nỗi niềm ái quốc ưu dân. Ông nhàn cư chứ không nhàn tâm. Đây chính là tinh thần nhập thế tích cực ngay cả khi đã về nhàn.<br>+ Ở Nguyễn Bỉnh Khiêm, “Nhàn” được nâng lên thành triết lí sống, thành một lựa chọn. Về nhàn ông đã thật sự tìm được sự thoải mái về tinh thần cũng như về thể xác (“nội đắc tâm thân lạc”.<br>- Tuy có những biểu hiện khác nhau nhưng cả hai bài thơ đều cho thấy cách sống lạc quan và đặc biệt là tâm hồn thanh cao của các vị danh nho</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-13 02:46:17 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943549434</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Anh Thư</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943581503</link>
         <description><![CDATA[<div>Câu&nbsp; 2: Theo&nbsp; em&nbsp; triết&nbsp; lí&nbsp; sống&nbsp; "nhàn " của&nbsp; Nguyễn&nbsp; Bỉnh&nbsp; Khiêm&nbsp; đến nay có còn phù hợp không?<br><br><br>Trước hết ta thấy được quan niệm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là cuộc sống gắn bó, hoà hợp với thiên nhiên, xa lánh những vinh hoa quyền quý thoát khỏi vòng danh lợi, tiền bạc với tâm hồn thanh thản, thư thái, nương theo tự nhiên để di dưỡng tinh thần. Đồng thời giữ được cốt cách thanh tao để không bị xoay cuốn vào vòng danh lợi tầm thường. Nhưng đó là quan điểm sống " nhàn" của những con người thời bấy giờ còn đối với thời nay thì sao? Cuộc sống mỗi ngày một chuyển biến, thời thế thay đổi chính vì thế mà quan điểm sống của con người cũng thay đổi theo. Cụ thể ở đây là quan điểm sống " nhàn", theo con người hiện đại thời nay cuộc sống này là một cuộc sống rảnh rỗi, không phải làm, phải lo bất cứ chuyện gì. Là khi có thời gian thư giãn con người sẽ cảm thấy thể xác nhàn hạ, không vướng bận điều gì mệt nhọc,... Qua đó ta&nbsp; thấy được " nhàn" của thời xưa và thời nay sẽ khác nhau, một bên là nhàn về tinh thần, còn một bên là nhàn về thể xác. Và đặt trong bối cảnh xã hội hiện nay quan điểm sống nhàn vừa có những nét tích cực, vừa có những điểm chưa phù hợp. Với thế hệ trẻ ngày nay sống " nhàn" cũng là sống hoà mình với thiên nhiên ko quá coi trọng vật chất, danh lợi. Bên cạnh đó, sống nhàn còn là biết sắp xếp thời gian cho công việc, dành thời gian để nghỉ ngơi, thư thái. Có như vậy ta mới giữ đc tâm hồn thanh cao,mới cảm nhận đc cuộc sống có ý nghĩa như thế nào. Bên cạnh đó ta cũng cần phê phán sống một cách nhàn thân quá mức, thờ ơ với xã hội, với vận mệnh đất nước. Tóm lại ta phải biết gắn quan điểm sống "nhàn" vào mình một cách phù hợp để ko bị quá xa đà vào lối sống đó.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-13 03:08:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943581503</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Hà My </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943587639</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1492923967/ea8c5cffc0858940944848392ebe5ccd/2E7840EB_4608_438C_A948_C97D20A9FB57.jpeg" />
         <pubDate>2021-12-13 03:13:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943587639</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Chưa nộp</title>
         <author>haphuong05ths</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943635395</link>
         <description><![CDATA[<div>Nguyễn Trần Quỳnh Anh<br>Phạm Ngọc Minh Anh<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-13 03:49:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943635395</guid>
      </item>
      <item>
         <title>1. Tác giả Đặng Dung(? – 1414) </title>
         <author>haphuong05ths</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943693772</link>
         <description><![CDATA[<div><br><strong><em><mark>- Quê hương</mark></em></strong>: người huyện Thiên Lộc (nay là huyện Can Lộc), tỉnh Hà Tĩnh.<br><br><strong><em><mark>- Gia đình:</mark></em></strong> ông là <mark>con trai cả của tướng quân Đặng Tất </mark>- người theo phò vua Giản Định đế của nhà Hậu Trần, sau bị Giản Định đế giết chết cùng với tướng Nguyễn Cảnh Chân.&nbsp; <br><br><strong><em><mark>- Cuộc đời:&nbsp;</mark></em></strong></div><ul><li>&nbsp;Dưới triều nhà Hồ, ông giúp cha <mark>cai quản đất Thuận Hóa</mark> (là Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng hiện nay)</li><li><mark>Năm 1408</mark> khi quân Minh sang xâm lược ta, Đặng Tất cùng cha <mark>tham gia vào khởi nghĩa của Trần Ngỗi</mark> (Giản Định Đế) . Đặng Tất dâng con gái cho vua Giản Định đế, sau đó được phong làm Quốc công.</li><li><mark>Năm 1409</mark>, sau trận đại chiến Bô Cô vì nghe lời của hoạn quan Nguyễn Quỹ và học sinh Nguyễn Mộng Trang nói rằng Đặng Tất chuyên quyền, vua Giản Định Đế đem lòng ngờ vực đã giết Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân. Đặng Dung tức giận bỏ Trần Ngỗi, cùng Nguyễn Cảnh Dị (con của Nguyễn Cảnh Chân)<mark> tôn Trần Quý Khoáng làm minh chủ,</mark> tức Trùng Quang Đế. Đặng Dung<mark> làm Đồng bình chương sự.</mark></li><li>Ông từng giao chiến với quân Minh lớn nhỏ hơn trăm trận chưa từng nhụt chí.</li><li><mark>Năm 1414</mark>, Đặng Dung bị giặc Minh bắt đưa sang Trung Quốc, dọc đường ông <mark>nhảy xuống sông tự tử</mark>.</li></ul><div><br><strong><em><mark>- Con người:</mark></em></strong>&nbsp;</div><ul><li>Đặng Dung <mark>có tài làm tướng</mark>, trung thành, yêu nước, hết mình đánh đuổi quân xâm lược, có chí khí.&nbsp;</li><li>Ngô Sĩ Liên đã từng ca ngợi ông: “Trong khoảng 5 năm, kiên trì chiến đấu với giặc, dẫu có bất lợi, nhưng ý chí không núng, khí thế càng hăng, đến kiệt sức mơí chịu thôi. <mark>Lòng trung vì nước</mark> của người bề tôi dẫu trăm đời sau vẫn còn tưởng thấy được.”&nbsp;</li></ul><div><br><strong><em><mark>- Sự nghiệp văn học:</mark></em></strong><strong><em>&nbsp;</em></strong></div><ul><li><em>S</em>áng tác của Đặng Dung <mark>chỉ còn lại bài thơ </mark><em><mark>Nỗi lòng</mark></em>, bài thơ từng được Tử Tấn (đời Lê) đánh giá: “phi kẻ sĩ hào kiệt thì không làm nổi”(nếu không phải là người hào kiệt ,tráng sĩ thì không thể sáng tác nổi).&nbsp;</li><li>Thơ ông toát lên <mark>vẻ đẹp bi tráng của bậc anh hùng.</mark></li></ul><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="http://vanhocvn.com/wp-content/uploads/2016/02/phan-tich-bai-tho-cam-hoai-cua-dang-dung-300x225.jpg" />
         <pubDate>2021-12-13 04:42:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943693772</guid>
      </item>
      <item>
         <title>2. Bài thơ &quot;Cảm Hoài&quot;</title>
         <author>haphuong05ths</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943702716</link>
         <description><![CDATA[<div><br><strong><em><mark>- Thể thơ</mark></em></strong>: thất ngôn bát cú Đường luật<br><br><strong><em><mark>- Hoàn cảnh sáng tác:</mark></em></strong> Trên đường bị đưa về Yên kinh ( Bắc Kinh ngày nay) để làm nhục, Đặng Dung trong vai trò lãnh đạo cuộc kháng chiến đã ngâm cho vua tôi nghe khúc ca cảm khái này, vừa ngâm vừa gõ nhịp xuống ván gỗ thuyền, cùng vui và sẵn sàng đón nhận mọi sự trả thù tàn bạo của kẻ thù.<br><br><strong><em><mark>- Xuất xứ:</mark></em></strong> Do tiến sĩ Lý tử Tấn đời Lê thánh Tông ghi chép lại dưới tên là Cảm hoài và viết lời bình, hai là của Lê Quí Đôn trong “Toàn Việt Thi Lục” có chép lại bài này dưới tên Thuật hoài.&nbsp;</div><div><br><strong><em><mark>- Bố cục:</mark></em></strong> <mark>4 phần</mark></div><ul><li>Phần 1 (Hai câu đề): Tình thế bi kịch của một tráng sĩ thất thế.</li><li>Phần 2 (hai câu thực): Nỗi niềm thời thế và tâm trạng oán hận của tác giả.</li><li>Phần 3 (hai câu luận): Tình thế bất lực, cảm giác bi kịch được tiếp tục trong những hình ảnh khoáng đạt, đượm màu bi tráng.</li><li>Phần 4 (hai câu kết): vẻ đẹp của chí khí quật cường, sự bền bỉ, nhiệt huyết anh hùng của kẻ lỡ vận.<br><br></li></ul><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1495544629/61fe79c393104d20ed11559e1f1063ea/image.png" />
         <pubDate>2021-12-13 04:50:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1943702716</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm tổ 3: Thành viên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944179538</link>
         <description><![CDATA[<div>Phạm Thị Thanh Thư<br>Nguyễn Ngọc Lan<br>Vũ Thị Hồng Nhung<br>Nguyễn Thu Trang<br>Lê Phương Linh<br>Bùi Vũ Hoài Thanh<br>Chu Ngọc Minh Trang<br>Nguyễn Thu Huyền<br>Nguyễn Trần Quỳnh Anh<br>Nguyễn Thị Anh Thư</div>]]></description>
         <enclosure url="https://baoquocte.vn/stores/news_dataimages/nguyennga/012021/07/11/mua-dong.jpg?rt=20210107110800" />
         <pubDate>2021-12-13 10:55:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944179538</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tác giả: Nguyễn Du</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944212902</link>
         <description><![CDATA[<div>- <mark>Nguyễn Du</mark> (1765-1820) tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên. <br>- <mark>Quê quán</mark>: làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh<br>- <mark>Gia đình</mark>: Nguyễn Du sinh ra trong gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan và có truyền thống về văn học. Cha là Nguyễn Nghiễm, đỗ tiến sĩ, từng giữ chức Tể tướng trong triều đình. Có thể coi đây là cái nôi đã nuôi dưỡng nên tài năng văn học của Nguyễn Du. <br>- <mark>Thời đại</mark>: Cuộc đời Nguyễn Du gắn bó sâu sắc với những biến cố lịch sử của giai đoạn cuối thế kỉ XVIII – XIX. Đây là giai đoạn lịch sử đầy biến động với hai đặc điểm nổi bật là <strong>chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng trầm trọng</strong> và <strong>phong trào nông dân khởi nghĩa nổi lên khắp nơi</strong>, đỉnh cao là phong trào Tây Sơn. Yếu tố thời đại đã ảnh hưởng sâu sắc tới ngòi bút của Nguyễn Du khi viết về hiện thực đời sống. <br><mark>* Cuộc đời</mark>: Nguyễn Du phiêu bạt nhiều năm trên đất Bắc, đi nhiều, tiếp xúc nhiều đã trau dồi cho Nguyễn Du vốn sống phong phú và niềm thông cảm sâu sắc với những đau khổ của nhân dân. Có thể nói Nguyễn Du là một thiên tài văn học, một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn.<br> <mark>*Sự nghiệp văn học</mark>: sáng tác của Nguyễn Du gồm những tác phẩm có giá trị cả chữ Hán và chữ Nôm: <br>- <mark>Sáng tác bằng chữ Hán</mark>: gồm ba tập thơ là Thanh Hiên thi tập, Nam Trung tạp ngâm và Bắc Hành tạp lục. <br>- <mark>Sáng tác bằng chữ Nôm</mark>: Đoạn trường tân thanh (thường gọi là Truyện Kiều), Văn chiêu hồn <br>- <mark>Đặc điểm sáng tác</mark>: các tác phẩm đều thể hiện tư tưởng, tình cảm, nhân cách của tác giả&nbsp;</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; + <strong>Thể hiện tư tưởng nhân đạo</strong>: đề cao giá trị nhân văn con người. Các tác phẩm đó đều thể hiện sự cảm thông sấu sắc của Nguyễn Du đối với cuộc sống của con người, nhất là những người nhỏ bé, bất hạnh, ... đó là kết quả của quá trình quan sát, suy ngẫm về cuộc đời, về con người của tác giả.&nbsp;</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; + <strong>Lên án, tố cáo</strong> những thế lực đen tối chà đạp lên quyền sống, quyền hạnh phúc... của con người.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://vhoc.net/wp-content/uploads/2015/03/nha-tho-nguyen-du-01.png" />
         <pubDate>2021-12-13 11:18:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944212902</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tác phẩm: Đọc tiểu thanh kí</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944221280</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<strong><em>*Khái quát tác phẩm</em></strong><br><mark>1. Hoàn cảnh sáng tác</mark><br>- Tiểu Thanh là người Quảng Lăng, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Nàng là người rất thông minh và nhiều tài nghệ<br>- Tương truyền Tiểu Thanh là một cô gái Trung Quốc có tài có sắc, sống khoảng đầu thời Minh. Năm 16 tuổi, cô được gả vào làm vợ lẽ cho một nhà quyền quý. Bà vợ cả là người hay ghen nên bắt cô phải sống một mình cô độc ở Cô Sơn cạnh Tây Hồ. Vì quá đau buồn, cô sinh bệnh và mất ở tuổi 18. Nỗi uất ức của thân phận vợ lẽ được gửi gắm trong những bài thơ do Tiểu Thanh sáng tác, nhưng những trang thơ này đều bị bà vợ cả đốt hết.<br>- Thương xót cho số phận bất hạnh của nàng Tiểu Thanh, Nguyễn Du đã sáng tác ra bài thơ “Đọc Tiểu Thanh kí”.<br><mark>2. Tác phẩm</mark><br>- Trích từ tập thơ “ Thanh Hiên thi tập”<br>- Thể loại: Thất ngôn bát cú Đường luật<br>- Bố cục: gồm 4 phần theo lối: Đề - Thực - Luận - Kết<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;<strong>Hai câu đề</strong>: Nguyễn Du đọc được phần dư cảo của Tiểu Thanh để lại.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;<strong>Hai câu thực</strong>: Số phận tài hoa, bạc mệnh của nàng Tiểu Thanh</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;<strong>Hai câu luận</strong>: Niềm cảm thương của tác giả dành cho Tiểu Thanh</div><div>&nbsp; &nbsp; <strong>&nbsp;Hai câu kết</strong>: Niềm thương xót cho chính mình của nhà thơ.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="https://hocvanvanhoc.com/wp-content/uploads/2018/08/phan-tich-doc-tieu-thanh-ky.png" />
         <pubDate>2021-12-13 11:24:48 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944221280</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hai câu đề: Đọc phần dư cảo, thương cảm cho Tiểu Thanh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944321719</link>
         <description><![CDATA[<div><em>Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khu<br>Độc điếu song tiền nhất chỉ thư<br>( Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang<br>Thổn thức bên song mảnh giấy tàn)<br></em><strong><em>* Câu 1</em></strong>: <br>-<em> </em><em><mark>Tây Hồ hoa uyển</mark></em> ( vườn hoa bên Tây Hồ)- <em><mark>thành khư</mark></em> ( gò hoang) --&gt; Hình ảnh thơ <mark>đối lập</mark> giữa quá khư và hiện tại<br>- <em><mark>"Tẫn"</mark></em>: đến cùng, triệt để, hết<br>--&gt; Nguyễn Du mượn sự thay đổi của cảnh sắc để nói lên được sự thay đổi của cuộc sống: Hồ Tây là một cảnh đẹp xưa kia thì giờ đây trở thành một bãi gò hoang.</div><div>=&gt; <mark>Đau xót, ngậm ngùi</mark> cho vẻ đẹp chỉ còn trong dĩ vãng.<br><strong><em>* Câu 2</em></strong><br>- <mark>"</mark><em><mark>độc điếu</mark></em><mark>"</mark>: một mình viếng - <mark>"</mark><em><mark>thổn thức</mark></em><mark>"</mark>: trạng thái thương xót, đồng cảm</div><div>-<mark> "</mark><em><mark>nhất chỉ thư</mark></em><mark>"</mark>: một tập sách - <mark>"</mark><em><mark>mảnh giấy tàn</mark></em><mark>"</mark>: bài viếng nàng Tiểu Thanh của Nguyễn Du.</div><div>-&gt; Một mình nhà thơ ngậm ngùi đọc một tập sách (di cảo của Tiểu Thanh)</div><div>-&gt; <mark>Nhấn mạnh </mark>sự cô đơn lắng sâu trầm tư, sự xót thương với người xưa</div><div><strong>=&gt; Hai câu thơ thể hiện được sự thương xót của nhà thơ dành cho Tiểu Thanh, người con gái tài sắc nhưng có một cuộc đời thật bạc bẽo. Người mất đi rồi chỉ còn lại cảnh Hồ Tây nhưng nó cũng không còn đẹp như khi nàng còn sống nữa.&nbsp;</strong></div><div><em><br></em><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484306743/67e71babc7713967c115a98b79b9f237/_TTK.jpg" />
         <pubDate>2021-12-13 12:29:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944321719</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hai câu thực: Số phận bi thương, uất hận của Tiểu Thanh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944333396</link>
         <description><![CDATA[<div><em>Chi phấn hữu thần liên tử hậu<br>Văn chương vô mệnh lụy phần dư<br>( Son phấn có thần chôn vẫn hận<br>Văn chương không mệnh đốt còn vương)</em><br><strong><em>* Câu 3</em></strong><br>- <mark>"</mark><em><mark>Son phấn</mark></em><mark>"</mark>: vật trang điểm của phụ nữ, tượng trưng cho vẻ đẹp, sắc đẹp của người phụ nữ</div><div>--&gt; Sắc đẹp <mark>nghiêng nước nghiêng thành</mark> của Tiểu Thanh<br><strong><em>* Câu 4</em></strong><br>-<mark> "Văn chương"</mark>: tượng trưng cho tài năng.</div><div>- <mark>"hận, vương"</mark>: diễn tả cảm xúc</div><div>- <mark>“Chôn”,</mark> <mark>“đốt”</mark>: động từ cụ thể hóa sự ghen ghét, sự vùi dập phũ phàng của người vợ cả đối với nàng Tiểu Thanh.</div><div>--&gt; Triết lí về số phận con người: tài hoa bạc mệnh, tài mệnh tương đố, hồng nhan đa truân… cái tài, cái đẹp thường bị vùi dập.</div><div>--&gt; <mark>Thái độ</mark> của xã hội phong kiến không chấp nhận những con người tài sắc.</div><div><strong>=&gt; Gợi lại cuộc đời và số phận bi thương của Tiểu Thanh, ca ngợi, khẳng định tài sắc của Tiểu Thanh đồng thời xót xa cho số phận bi thảm của nàng - cái nhìn nhân đạo mới mẻ, tiến bộ.</strong></div>]]></description>
         <enclosure url="https://baitaplamvan.com/wp-content/uploads/2017/12/phan-tich-bai-tho-doc-tieu-thanh-ki-768x452.jpg" />
         <pubDate>2021-12-13 12:36:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944333396</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hai câu luận: Niềm suuy tư và mối đồng cảm của tác giả với Tiểu Thanh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944339178</link>
         <description><![CDATA[<div><em>Cổ kim hận sự thiên nan vấn</em><br> <em>Phong vận kỳ oan ngã tự cư</em></div><div><em>(Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi</em></div><div><em>Cái án phong lưu khách tự mang)</em></div><div>- <mark>“</mark><em><mark>Cổ kim hận sự</mark></em><mark>”:</mark> mối hận xưa và nay, mối hận muôn đời, mối hận truyền kiếp <br>--&gt; <mark>Mối hận</mark> của những người tài hoa mà bạc mệnh.</div><div>- <mark>"</mark><em><mark>Thiên nan vấn</mark></em><mark>"</mark>: khó mà hỏi trời được</div><div>--&gt; <mark>Nỗi oan khuất</mark> của thân phận người phụ nữ tài hoa trong xã hội phong kiến đầy bất công: người có sắc thì bất hạnh, nghệ sĩ có tài thường cô độc.</div><div>- <mark>"</mark><em><mark>Kì oan</mark></em><mark>"</mark>: nỗi oan lạ lùng</div><div>-<mark> "Ngã": </mark>ta (chỉ bản thể cá nhân)</div><div>-&gt; Nỗi oan lạ lùng vì nết phong nhã. Số phận <mark>cay đắng</mark> của những con người tài hoa trong xã hội xưa.</div><div><strong>=&gt; Nguyễn Du không chỉ thương xót cho nàng Tiểu Thanh mà còn bàn ra tới nỗi hận của muôn người, muôn đời trong đó có bản thân nhà thơ. Qua đó, thể hiện sự cảm thông sâu sâu sắc đến độ “tri âm tri kỉ”.</strong></div>]]></description>
         <enclosure url="http://onthitot.com/wp-content/uploads/2018/02/phan-tich-doc-tieu-thanh-ki-cua-nguyen-du-1.jpg" />
         <pubDate>2021-12-13 12:39:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944339178</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hai câu kết: Từ cảm thương cho người, tác giả xót thương cho chính mình</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944346599</link>
         <description><![CDATA[<div><em>Bất tri tam bách dư niên hậu</em></div><div><em>Thiên hà hà nhân khấp Tố Như</em></div><div><em>(Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa</em></div><div><em>Người đời ai khóc Tố Như chăng)</em></div><div>- <mark>"</mark><em><mark>Tam bách dư niên</mark></em><mark>"</mark>: Con số mang tính ước lệ, ý chỉ thời gian dài.</div><div>- <mark>"</mark><em><mark>Tố Như</mark></em><mark>"</mark>: Tên chữ của Nguyễn Du</div><div>--&gt; Tiếng khóc cho nàng Tiểu Thanh nay đã có tác giả <mark>thấu hiểu và giải oan</mark> cho nàng, ông băn khoăn không biết hậu thế ai sẽ khóc ông.</div><div>=&gt; Ý thơ chuyển đột ngột từ <mark>“thương người” sang “thương mình”</mark> với khát vọng tìm được sự đồng cảm nơi hậu thế.</div><div>- <mark>Câu hỏi tu từ</mark>: "Người đời ai khóc Tố Như chăng" -&gt; một câu hỏi nhức nhối, da diết, thể hiện nỗi buồn thống thiết, ngậm ngùi cho sự cô độc của chính tác giả trong hiện tại.</div><div>--&gt; <mark>Khao khát</mark> tìm gặp được tấm lòng tri kỉ giữa cuộc đời.</div><div><strong>=&gt; Tâm trạng hoài nghi, đau khổ, thương người, thương mình của nhà thơ. Tấm lòng nhân đạo mênh mông vượt qua mọi không gian và thời gian.</strong></div>]]></description>
         <enclosure url="http://img.cdn2.vietnamnet.vn/Images/english/2015/11/14/15/20151114152442-1.jpg" />
         <pubDate>2021-12-13 12:43:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944346599</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Giá trị nội dung- nghệ thuật</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944354341</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em>* Giá trị nội dung</em></strong><br>- Thấy được <mark>chân dung tinh thần</mark>, <mark>tâm hồn</mark> của người nghệ sĩ đa sầu đa cảm, triết lí giàu suy tư<br>- Tình cảm <mark>nhân đạo</mark> sâu sắc, mới mẻ và niềm <mark>khát khao</mark> tri âm của tác giả - Thể hiện cảm xúc, suy tư của Nguyễn Du về số phận bất hạnh của người phụ nữ có tài có sắc trong xã hội phong kiến <br><strong>=&gt; Chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc trong sáng tác của Nguyễn Du.</strong><br><strong><em>*Giá trị nghệ thuật </em></strong><br>- <mark>Thể thơ</mark> thất ngôn bát cú đường luật<br>- Nghệ thuật <mark>đối</mark>, <mark>câu hỏi tu từ </mark><br>- <mark>Ngôn ngữ</mark> thơ trang trọng <br>- Bài thơ Đường luật với <mark>niêm luật chỉnh tề</mark>, hình ảnh thơ cụ thể mà<mark> giàu tính biểu tượng </mark><br><strong>=&gt; Thể hiện được dòng vận động nội tâm của tác giả: thương người, đồng cảm với người rồi thương mình</strong>&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484306743/eed0adb8b55bd98059fd9c944735aac1/_ttk2.png" />
         <pubDate>2021-12-13 12:47:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944354341</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đọc sâu tác phẩm</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944423939</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em>* So sánh tác phẩm " Đọc tiểu thanh kí" ( Nguyễn Du) và tác phẩm "Đàn ghita của Lorca" ( Thanh Thảo)</em></strong><br><strong>1. Điểm tương đồng:</strong><br>&nbsp; &nbsp;Cả hai tác phẩm đều có chung <mark>cảm hứng về số phận</mark> của cái đẹp và <mark>khai thác bi kịch</mark> của người nghệ sĩ tài hoa nhưng bạc mệnh. Niềm <mark>đồng cảm sâu sắc</mark>, niềm <mark>tiếc thương</mark> day dứt, phẫn nộ, bất bình cho cái Tài, cái Đẹp bị lấn át đầy đoạ, dập vùi. Tiếng lòng đồng cảm của hai nhà thơ thực chất là tiếng đồng vọng của người nghệ sĩ thế hệ này với thế hệ kia. <em>Chính điều đó đã làm nên giá trị nhân văn của cả hai thi phẩm.</em><br><strong>2. Điểm khác biệt </strong><br><a href="https://www.youtube.com/watch?v=dpACi4jWmX8">a. Tác Phẩm Độc Tiểu Thanh Kí (Nguyễn Du) </a><br><strong><em>Về nội dung: </em></strong><br>- Trong tác phẩm “Độc tiểu thanh kí” được Nguyễn Du <mark>giãi bày</mark> niềm đồng cảm trực tiếp một cách sâu sắc. Ông <mark>khóc thương</mark>,<mark> đồng cảm</mark>, <mark>xót xa</mark> cho một người con gái Trung Quốc sống trước mình mấy trăm năm về trước. <mark>Uất ức</mark> thay cho cái Đẹp. <br>- Nguyễn Du <mark>xót xa</mark>, <mark>thương cảm</mark> cho Tiểu Thanh - một hồng nhan bạc mệnh, một tài năng thi ca đoản mệnh, mất trong nỗi cô đơn, buồn tủi; đồng thời cũng là sự cảm thương cho những kiếp hồng nhan đa truân, tài tử đa nói chung trong xã hội. Dù chỉ là tiếp nhận thông qua truyện nhưng Nguyễn Du như <mark>đặt mình phận nhân vật</mark> để nói lên nỗi tủi trong lòng mình. <br>- Bài thơ không chỉ khép lại ở số phận của Tiểu Thanh, mà khi Nguyễn Du nhìn vào còn thấy bóng hình của <mark>bản thân ông</mark>. <em>Khóc cho nàng, Nguyễn Du đồng thời khóc cho chính mình.</em> Tìm được <mark>tiếng nói tri âm</mark> trong văn chương nghệ thuật quả rất khó.<br>- Với <em>Độc Tiểu Thanh kí</em>, Nguyễn Du đã có được tiếng nói đồng điệu, tri âm đó. Thương người, thương mình cũng chính là niềm<mark> thương xót </mark>cho những kiếp người tài hoa, mệnh bạc của Nguyễn Du – <mark>trái tim lớn, người nghệ sĩ lớn</mark>. Nguyễn Du từng mơ ước một xã hội biết trân trọng, nâng niu những vẻ đẹp, những tài hoa. Nhưng sinh thời, cụ Nguyễn đã không tìm được, cũng không hình dung được một xã hội như vậy. Cho nên nỗi đau của Nguyễn Du thật là <mark>sâu sắc</mark> và <mark>tuyệt vọng.</mark> <br> <strong><em>Về Nghệ Thuật</em></strong>: <br>- <mark>Ngôn ngữ trữ tình</mark> kết hợp với <mark>giọng điệu lưu luyến</mark> buồn đau. Tác phẩm là thơ chữ Hán theo thể thơ Đường luật cổ điển. Nhà thơ nói bằng <mark>nghệ thuật đối</mark>, bằng những <mark>câu hỏi tu từ</mark> như xoáy vào hồn người, bằng cách xưng tên da diết khắc khoải, bằng <mark>giọng thơ trang trọng</mark> mà <mark>tràn đầy cảm xúc yêu thương…</mark><br> <a href="https://www.youtube.com/watch?v=Jw3YenaGdNs">b. Tác phẩm Đàn ghita của Lorca ( Thanh Thảo)</a><br><strong><em>Về nội dung:</em></strong><br>- Đến với tác phẩm “Đàn ghita của Lorca” của Thanh Thảo lại thể hiện gián tiếp, ông khắc hoạ một cách <mark>tài tình</mark>. Tác giả <mark>không bộc bạch</mark> tình cảm của mình trên <mark>phương diện từ ngữ </mark>mà dùng <mark>hình ảnh</mark> để minh chứng cho nỗi lòng của mình. Hình tượng Lor-ca trong bài thơ là hình tượng bi tráng về người nghệ sĩ <mark>chân chính</mark> trong môi trường bạo lực chính trị và phải chịu một cái chết <mark>oan khuất</mark>, <mark>bi phẫn</mark> bời thế lực tàn ác.<br>- Thanh Thảo bày tỏ lòng <mark>đồng cảm</mark>, <mark>xót thương</mark> và sự <mark>tri ân</mark>, ngưỡng mộ cuộc đời, tài năng, nhân cách của một nghệ sĩ thiên tài. Nhà thơ cũng gửi tới người đọc một thông điệp: <em>cái đẹp của nhân cách, cái đẹp của sự sáng tạo nghệ thuật chân chính sẽ có sức sống bất diệt.</em><br>- Thanh Thảo bày tỏ sự <mark>đồng cảm</mark>, <mark>thương tiếc</mark> và <mark>ngưỡng mộ</mark> sâu sắc người nghệ sĩ - chiến sĩ vĩ đại của đất nước Tây Ban Nha.<em> Phải hiểu, phải trân trọng, ngưỡng mộ người nghệ sĩ thiên tài đến mức nào, Thanh Thảo mới có được những sáng tạo độc đáo và sâu sắc đến vậy.</em><br>- Với tất cả sự kính trọng dành cho Lorca, Thanh Thảo đã “chọn” cho Lorca một cách ra đi thật đẹp, thật sang đúng với tầm vóc, tư tưởng, nhân cách người nghệ sĩ tài danh: <em>luôn muốn hậu thế chôn nghệ thuật của mình để tiến về phía trước. </em><br><strong><em>Về nghệ thuật:</em></strong> <br>- Bài thơ Đàn ghita của Lorca sử dụng <mark>thể thơ tự do</mark>.Tác giả sử dụng biện pháp <mark>điệp từ</mark> “tiếng ghita” lặp đi lặp lại 4 lần. Cùng với đó là biện pháp <mark>ẩn dụ</mark> tiếng ghita nâu là đại diện cho tình yêu tuổi trẻ, quê hương đất nước, tiếng ghita lá xanh là đại diện cho sự mạnh mẽ, khát vọng sống của Lorca, tiếng ghita nghe như bọt nước vỡ tan, cắt đứt tất cả những đam mê, sự nghiệp của ông. <br>- Kết hợp hài hóa hai <mark>yếu tố thơ và nhạc. </mark><br>- Hình ảnh thơ phong phú, <mark>đa dạng</mark>, <mark>giàu sức gợi</mark> .Sự mới mẻ về ngôn từ.<br>-<mark> Âm điệu</mark> khỏe khoắn, bi tráng, trầm hùng, trữ tình. <br><strong>3. Đánh giá Hai thi phẩm “Độc Tiểu Thanh Kí” và “Chiếc đàn ghita của Lorca”</strong> <br>- Hướng con người tới những tình cảm <mark>nhân văn</mark> cao đẹp, đặt ra những câu hỏi lớn lao cho thời đại. Đó là sự sẻ chia, đồng cảm, trân trọng cái tài cái đẹp trong con người. Khách thể với chủ thể hoà làm. <em>Điểm tương đồng làm nên tính thống nhất của văn học, làm cho mọi người đồng cảm với nhau qua văn học</em>. <em>Điểm khác biệt độc đáo sẽ làm tiến trình văn học ngày một dài hơn, kho tàng văn học nhân loại phong phú hơn. Nhân cách cao đẹp cùng số phận bi thảm, oan khuất của nhà thơ lớn được gửi gắm trong dòng cảm xúc tuôn trào trở thành hình tượng nghệ thuật. </em><br><strong>4. Bài học rút ra</strong><br>- Sự <mark>thấu hiểu</mark>, <mark>cảm thông</mark> cần được ươm mầm và nảy sinh từ tận đáy lòng. <em>Điều đó sẽ làm cho mối quan hệ giữa người với người càng trở nên </em><em><mark>gắn bó </mark></em><em>hơn, </em><em><mark>bền chặt</mark></em><em> hơn, xã hội được an ổn và cao hơn nữa là đem lại vùng trời bình yên cho thế giới.</em><br>- Lòng thương yêu này <mark>không hạn chế</mark> ở một phương diện nào,nó luôn hiện hữu trong cuộc sống và luôn dang rộng vòng tay để chào đón mọi người. đôi khi nó chỉ là cái gật đầu tán thưởng, là cái vỗ tay động viên, là ánh mắt đầy thiện cảm, là lời cảm ơn chân thành là tiếng nói yêu thương.<br>- Chúng ta phải<mark> lên án</mark> những người chỉ biết ganh ghét, đố kị, thù hằn. Nên <mark>yêu thương</mark> và <mark>đồng cảm</mark> với những số phận bất hạnh, kém may mắn hơn.<br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://theki.vn/wp-content/uploads/2020/08/soan-bai-doc-tieu-thanh-ki-nguyen-du.jpg" />
         <pubDate>2021-12-13 13:18:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944423939</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tổ 2 : _Thành viên_</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944460677</link>
         <description><![CDATA[<div>1, Vũ Thị Thu An&nbsp;<br>2, Nguyễn Thùy Dung<br>3, Nguyễn Thúy Hằng<br>4, Phạm Minh Anh&nbsp;<br>5, Hà Nhật Vy<br>6, Nguyễn Hà Vy&nbsp;<br>7, Đỗ Minh Ngọc<br>8, Phạm Nguyễn Thảo Vi</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484109670/62044d3d46d8f49704c69f0a20487a3e/inbound2617118803719742518.jpg" />
         <pubDate>2021-12-13 13:31:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944460677</guid>
      </item>
      <item>
         <title>KHÁI QUÁT TÁC GIẢ : THIỀN SƯ MÃN GIÁC</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944571647</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em>1, Quê hương- Gia đình</em></strong><br>&nbsp; - Mãn Giác thiền sư quê tại Lũng Chiền làng An Cách, nơi ở trước khi xuất gia không có nhiều thông tin về sư.<br> - Phụ thân của thiền sư là Hoài Tố làm chức Trung thơ Viên ngoại lang. Vì xuất sư nên gia đình cũng rất kín tiếng, theo thời gian nên đều bị phai mờ không thể lưu giữ. <br><strong><em>2, Cuộc đời - Con người</em></strong><br> - Con người:<br>+ Mãn Giác, 1052 – 1096, Đại sư Mãn Giác tên tục là Nguyễn Trường, cha là Hoài Tố làm chức Trung thơ Viên ngoại lang. Quê ở Lũng Chiền, làng An Cách, Sư là một thiền sư Việt Nam thuộc đời thứ 8 của dòng thiền Vô Ngôn Thông. Sư nối pháp Thiền sư Quảng Trí và truyền tâm ấn lại cho đệ tử là Bản Tịnh. Với bài thơ "Cáo tật thị chúng", ông được nhiều người coi là một nhà thơ đại biểu của dòng văn thơ Lý – Trần.<br>- Cuộc đời:<br>+ Thiếu thời, Lý Nhân Tông thường mời con em các danh gia vào hầu hai bên, Nguyễn Trường nhờ nghe nhiều, nhớ kỹ học thông cả Nho, Thích nên được dự tuyển. Sau những lúc việc quan, Nguyễn Trường thường chú tâm vào Thiền học. Đến khi vua lên ngôi, vì rất mến chuộng nên vua Lý Nhân Tông ban cho Nguyễn Trường hiệu Hoài Tín.<br>+ Khoảng niên hiệu Anh Võ Chiêu Thắng (1076-1084), Hoài Tín dâng biểu xin xuất gia, học với Thiền sư Quảng Trí và vân du khắp nơi. Vua và bà Hoàng Thái Hậu Cảm Linh Nhâm (Ỷ Lan) dựng chùa cạnh cung Cảnh Hưng hiệu là Giáo Nguyên thỉnh Ngài trụ trì để tiện việc tới lui học hỏi. Đối với Sư chẳng dám gọi danh thường, chỉ xưng là Trưởng lão.<br><strong><em>3, Sự nghiệp văn học </em></strong><br>&nbsp;- Với bài thơ "Cáo tật thị chúng", ông được nhiều người coi là một nhà thơ đại biểu của dòng văn thơ Lý-Trần.&nbsp;<br><br><br><br><br><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484109670/cb2ce47bc62b85d7d5368e08b1cf7e3c/inbound1796511416752896619.jpg" />
         <pubDate>2021-12-13 14:09:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944571647</guid>
      </item>
      <item>
         <title>KHÁI QUÁT TÁC PHẨM : CÁO TẬT THỊ CHÚNG</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944597416</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em>&nbsp;1, Hoàn cảnh sáng tác : </em></strong><br>&nbsp;- "Cáo tật thị chúng" được viết vào cuối năm 1096, khi thiền sư Mãn Giác cáo bệnh, viết lên những lời trăng trối với các đệ tử cũng như bảo với mọi người về bệnh tình của mình, đồng&nbsp; thời truyền&nbsp; thụ lại những chiêm nghiệm sâu sắc về&nbsp; cuộc&nbsp; đời của thiền sư.<br><strong><em>2, Xuất xứ tác phẩm</em></strong> <br> - Bài thơ kệ "Cáo tật thị chúng" là <mark>bài duy nhất còn sót</mark> lại trong sách "Thiền uyển tập anh" ( Chọn lọc những bậc anh tú trong vườn thiền ) nên nó <mark>có vị trí rất quan trọng </mark>và là một trong số không nhiều những di sản văn học thời kỳ đầu của nước ta và cũng là <mark>tài liệu lịch sử cổ nhất</mark> của Phật giáo Việt Nam còn lưu giữ lại đến ngày nay. <br>- "Thiền tuyển tập anh" còn ghi lại các tiểu truyện về những vị thiền sư nổi tiếng trong giai đoạn khác nhau.<br><strong><em>3, Bố cục bài thơ kệ :</em></strong><br>– Bốn câu thơ đầu : Quy luật bất biến của cuộc đời.<br>– Hai câu thơ sau : Quan niệm nhân sinh của tác giả.<br>4. Thể&nbsp; loại: Kệ là thể loại VH Phật giáo , tóm tắt tư tưởng của bài thuyết pháp để dạy đệ tử , còn gọi là thi kệ . Chủ yếu dùng để truyền bá giáo lý Phật giáo , viết bằng văn vần<br>5. Nham đề:<br><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484109670/ea948f3d1eea557e5a14a1ee0043622c/inbound6679738273479728942.jpg" />
         <pubDate>2021-12-13 14:18:33 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944597416</guid>
      </item>
      <item>
         <title>ĐỌC-HIỂU BÀI THƠ KỆ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944642184</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em>1, Bốn câu thơ đầu : </em></strong><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Xuân khứ bách hoa lạc<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; (Xuân qua, trăm hoa rụng)<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Xuân đáo bách hoa khai<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; (Xuân tới, trăm hoa tươi)<br>- “Xuân”:<mark> là mùa đẹp nhất</mark>, thời khắc nảy nở mạnh mẽ của muôn hoa. Ở đây xuân là ẩn dụ cho<mark> thời gian tươi đẹp nhất</mark>, sức sống căng tràn của một đời người. <br>- Lặp cấu trúc “Xuân…bách hoa…” vừa để nhấn mạnh khoảnh khắc chuyển dời của thời gian vô cùng nhanh chóng vừa tạo nên hai sự đối lập: xuân qua và xuân đến; trăm hoa rụng và trăm hoa nở. <br>+ Trăm: là số từ, vô cùng nhiều <br>+ Hoa: là vẻ đẹp của cuộc sống mà ở đây là ẩn dụ cho cuộc đời mỗi con người, ẩn dụ cho quãng thời gian họ sống và cống hiến.<br>=&gt; Đọc cả hai câu thơ, Mãn Giác cho ta thấy quy luật tất yếu của thiên nhiên, không một bông hoa nào tránh khỏi vòng xoáy của luân hồi, khi tàn héo khi thì nở bừng lên mạnh mẽ. Từ đó càng dấy lòng người đọc những suy ngẫm về quy luật định hình cho sự bắt đầu và kết thúc của một đời người.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Sự trục nhãn tiền quá,<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; (Trước mắt việc đi mãi)<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Lão tòng đầu thượng lai<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; (Trên đầu, già đến rồi)<br>- Rõ ràng hơn, hai câu thơ tiếp càng khẳng định rõ ràng về thời gian ngắn ngủi của mỗi cuộc đời con người. <br>- Phải nói, Mãn Giác sử dụng khéo léo biện pháp nhân hoá cho sự vật “việc” và “già”. Chúng không chỉ khiến lời thơ sinh động mà bất giác ta cảm thấy như những sự vật ấy có linh tính, có sự chủ động, và chính ta không bao giờ níu lại được điều đã qua.<br>+ Việc đi mãi: chính là nói về thời gian đã trôi qua không bao giờ trở lại<br>+ Già đến rồi: dùng tính từ già để khắc hoạ đời người đã đi đến điểm cuối<br>+ Trước mắt: ý chỉ sự nhận thức tức thời, nhận thức về sự việc trước<br>+ Trên đầu: nhận thức về bản thân sau khi cảm nhận thấy dấu chân thời gian ngày càng bước xa ta.<br>=&gt; Cả hai câu thơ sử dụng phép đối, thời gian trôi đi thì tuổi già ập đến, chính phép đối đó càng chắc chắn khẳng định mối tơ vò trong vòng xoáy luân hồi, có sinh có tử, không một ai cưỡng lại được.<br><strong><em>2, Hai câu thơ cuối </em></strong><br>&nbsp;" Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận"&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp;<br>&nbsp;( Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết ).&nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp;" Đình tiền tạ dạ nhất chi mai ".&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp;( Đêm qua sân trước một cành mai ).&nbsp; &nbsp;<br>&nbsp;+ Hai tiếng " mạc vị" ( đừng tưởng) như một lời nhắc khẽ , thấm thía .&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<br>+ Câu thơ kệ có cấu trúc liên hoàn , tương phản : " hoa rụng hết " và "một cành mai" nở ra . Hình ảnh " nhất chi mai" ( một cành mai) là một thi&nbsp; liệu ta thường bắt gặp trong thơ cổ . " Đối ngạn : nhất chi mai " , ( Bên suối : một nhành mai ) - Hồ Chí Minh .... nhành mai là tượng trưng cho vẻ đẹp tinh khiết , thanh cao , lộng lẫy của thiên nhiên và con người.<br>+ Trong bài theo kệ này , cành mai nở hoa buổi xuân tàn là một hoán dụ nghệ thuật , nhà thơ lấy nó để nói về mình , chỉ về mình , biểu lộ một quan niệm nhân sinh của một vị chân tu.&nbsp; &nbsp;&nbsp;<br>=&gt; Vạn vật sinh ra , tồn tại rồi mất đi , có sinh , trưởng , lão , bệnh ,&nbsp; tử ,.. nhưng nhà tu hành chân chính , đắc đạo có thể vượt qua khỏi vòng sinh tử .&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; =&gt; Từ đó ta có thể thấy rằng ( Thiền sư Mãn Giác ) đang có bệnh là chuyện thường tình theo quy luật của tự nhiên thì không có gì đáng băn khoăn . Ngoài triết lí sống sâu xa của đạo phật , được cụ thể hoá và hình tượng hoá qua hình ảnh " nhất chi mai" .&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; =&gt; Câu thơ còn ẩn chứa một ý nghĩa đẹp: nhà sư rất lạc quan yêu đời . Với ông , thiên nhiên hữu sắc , hữu hương , tràn đầy sức sống , tươi mát trẻ trung , cuộc sống không ngừng vươn lên mạnh mẽ theo dòng chảy của thời gian .<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484109670/65a1b11d67fd675bb756ae01fd164b6d/inbound3612814118936543993.jpg" />
         <pubDate>2021-12-13 14:33:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944642184</guid>
      </item>
      <item>
         <title>ĐỌC SÂU - MỞ RỘNG </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944683248</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em>* Cảm nhận về tác phẩm " Cáo tật, thị chúng" </em></strong><br>&nbsp; Nếu “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm mang đến cho ta triết lí sống “nhàn” là sống hòa hợp với thiên nhiên, giữ thanh tiết, không màng danh lợi thì ở “Cáo tật, thị chúng” của Mãn Giác ta sẽ bắt gặp một triết lí sống khác – lạc quan, yêu đời, luôn căng tràn sức sống như “một cành mai”.<br>	Ở “Nhàn”, bức tranh thiên nhiên hiện lên gần gũi với tác giả qua bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông&nbsp; qua những đặc trưng của từng mùa “măng trúc”, “giá”, “tắm hồ sen”, “tắm ao”. Mùa nào thức nấy đưa tác giả hòa mình với thiên nhiên, tâm hồn thanh thản, không phải lo đến tranh đua danh lợi nơi triều chính. Còn ở “Cáo tật, thị chúng”, bức tranh thiên nhiên được vẽ lên qua hình ảnh hoa tàn và hoa nở vào cuối xuân và đầu xuân, đó là quy luật tự nhiên của mọi sự vật: sinh, lão, bệnh, tử. Tác giả đã mượn hình ảnh cành mai dù biết một ngày ta sẽ tàn nhưng cành mai kia vẫn nở rộ, vẫn làm đẹp cho mùa xuân và kể cả khi xuân đã tàn, nó vẫn có một sức sống mạnh mẽ. Đó cũng chính là lối sống lạc quan mà tác giả muốn mọi người hướng đến.<br>	Dù bài thơ đã ra đời từ bao thế kỉ qua nhưng bài học mà “Cáo bệnh, bảo mọi người” đem đến cho con người đời sau vẫn luôn sâu đậm. Nhất là trong tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến đầy phức tạp trên thế giới hiện nay, cái nhìn lạc <mark>quan</mark> luôn là một liều thuốc tâm hôn đáng quý nhất. Mọi người cùng tin vào một ngày Covid không còn, một ngày mà thế giới lại yên bình. Bên cạnh đó là luôn tạo cho mình một năng lượng sống tràn đầy, không cho bản thân mình gục ngã trước những hậu quả mà Covid mang lại thì chắc chắn chúng ta sẽ chiến thắng tất cả.<br><strong><em>* So sánh : </em></strong><br>Nếu trở về men theo dòng lịch sử, lang thang vô định bên ngưỡng cửa Phật giáo, vô tình ta bắt gặp tư tưởng của vị thiền sư Viên Chiếu và Mãn Giác. Giữa họ không đơn thuần là sự kết nối của thi ca mà còn là sự kết nối của thi pháp Phật giáo.</div><div>&nbsp; &nbsp; "Thân như tường bích thuở huy lay</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; Lật đật đời người, những xót thay</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; Thấu lẽ tâm không, không sắc tướng</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; Sắc không, ẩn hiện, mặc vần xoay"</div><div>Rõ ràng, giống như Mãn Giác, vị sư Viên Chiếu cũng thấu tỏ rằng đời người ngắn ngủi, với biện pháp so sánh ông ví chúng như những vách tường sẽ đến ngày đổ nát. Ông viết lời kệ như muốn con người ta nhìn rõ vào thực tế, nhìn vào quy luật nhân sinh, quy luật của sinh, lão, bệnh, tử mà không còn cảm thấy chấp niệm, lo buồn. Bởi thế, ông không như Mãn Giác mà đi thẳng vào khẳng định. Giữa đời người, có tồn tại "sắc" và "không", buông bỏ được chúng thì người đời sẽ làm chủ được cuộc sống, làm chủ được bản sống. Còn với Mãn Giác, bài kệ của ông cũng đồng điệu không chỉ về tư tưởng với Viên Chiếu mà còn phảng phất tình yêu với cuộc sống, niềm lạc quan và sự thanh thản sau buông bỏ chấp niệm với sự sinh sự tử. Dường như khái niệm thời gian không còn quá ảnh hưởng đến người thiền định, họ sống như không sống, nhìn trời cao đất rộng mà nhận ra những điều cao cả thấu tỏ cả tấm lòng của con người.<br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484109670/d803fa9eefbff92673cd002f599c3180/inbound5892093505992615326.jpg" />
         <pubDate>2021-12-13 14:46:04 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944683248</guid>
      </item>
      <item>
         <title>SƠ ĐỒ TƯ DUY</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944710227</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484109670/7cbf3f778f5d5844d5ed23aa96a66751/inbound7737903107643447473.jpg" />
         <pubDate>2021-12-13 14:54:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944710227</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tổ Hạ (Tổ 1)</title>
         <author>ngaphuongnguyen26</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944711957</link>
         <description><![CDATA[<div>*Thành viên:<br>+Đặng Hà Trân.<br>+Lê Thảo Nguyên.<br>+Quách Thảo Nguyên.<br>+Phạm Thu Huyền.<br>+Nguyễn Thanh Thảo.<br>+Trần Vi Thảo.<br>+Nguyễn Thanh Ngân.<br>+Nguyễn Phương Nga.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://media3.giphy.com/media/yaUG0KDAcIcWA/giphy.gif" />
         <pubDate>2021-12-13 14:55:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944711957</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Trung Ngạn là...</title>
         <author>ngaphuongnguyen26</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944721340</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; Cuộc đời</strong><br>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Nguyễn Trung Ngạn ( 1289 – 1370) thuở nhỏ tên là Cốt, sau đổi là Trung Ngạn, tự là Bang Trực, hiệu Giới Hiên, người làng Thổ Hoàng, tổng Thổ Hoàng, huyện Thiên Thi, phủ Khoái Châu (nay là thôn Hoàng Cả, thị trấn Ân Thi, huyện Ân Thi - <mark>Hưng&nbsp; Yên</mark>).</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; Lúc nhỏ, ông nổi tiếng <mark>thông minh</mark>, được đương thời tôn vinh là “thần đồng”. Năm 12 tuổi, ông đỗ Thái học sinh, năm 16 tuổi, đỗ <mark>Hoàng giáp</mark> (học vị Tiến sỹ nho học), là vị Hoàng giáp đầu tiên của nước ta và cũng là ông tổ khai khoa của làng Thổ Hoàng, vị Kinh sư đại doãn (chức danh người đứng đầu kinh thành Thăng Long thời Trần), làm quan tới bậc T<mark>ể tướng </mark>- đứng đầu hàng ngũ quan lại trong triều.</div><div><strong>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Vị trí:</strong></div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Ông làm quan trải qua 5 triều vua Trần, xuất sắc trên mọi phương diện chính trị, quân sự, ngoại giao, luật pháp, sử học... Nhà bác học Phan Huy Chú đã xếp Hoàng giáp Nguyễn Trung Ngạn là một trong <mark>10 danh thần lỗi lạc nhất</mark> <mark>của thời Trần.</mark> Còn nhà sử học Ngô Thì Sĩ phải thốt lên rằng: “Nho thần cả thời nhà Trần chưa thấy ai được tin dùng như Trung Ngạn”. Trần Nguyên Đán, một nhân cách lớn thời Trần ca ngợi Nguyễn Trung Ngạn “Sáng rực như sao Bắc Đẩu, cao vòi vọi như núi Thái Sơn”.&nbsp;</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Ông là một nhà chính trị, một đại thần có tài, được xếp vào hàng "Người phò tá có công lao tài đức đời Trần".</div><div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Sự nghiệp triều trính:</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <mark>Ông được vua Trần bổ nhiệm giữ nhiều chức vụ quan trọng.</mark> Năm 1326, ông được cử làm An Phủ sứ Thanh Hoa (nay là Thanh Hóa). Năm 1329, ông hộ giá vua Trần Minh Tông đi đánh Đà Giang và vâng lệnh vua viết quyển Thục lục về cuộc hành quân này. Năm 1332, ông coi việc ở viện Thẩm hình, kiêm An Phủ sứ Nghệ An, coi việc chép quốc sử, rồi làm Tào Vận sứ ở lộ Khoái Châu. Ông đặt Tào Thương kho, chuẩn cấp cho dân đói. Năm 1341, ông cùng với Trương Hán Siêu biên định bộ “Hoàng Triều đại điển” và khảo soạn bộ “Hình thư thi hành”. Năm 1342, ông được thăng chức Hành khiển coi viện Khu mật. Năm 1355, ông được thăng Kinh lược sứ trấn Lạng Giang, Nhập nội Đại hành khiển, Thượng thư hữu bật, kiêm viện Khu mật, Đại học sĩ hầu ở tòa Kinh diên, Trụ quốc, Khai Huyện bá. Về sau, ông làm quan đến chức Nhập nội Đại Hành khiển (tức Tể tướng), tước Thân Quốc công, đứng đầu hàng ngũ quan lại trong triều đình.</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Trong cuộc đời mình, Nguyễn Trung Ngạn trải qua nhiều chức vụ từ chức Thông giám đến Tể tướng, <mark>luôn thanh liêm, hết lòng tận tụy với công việc làm lợi cho nước, cho dân</mark>. Ông là nhà chính trị, nhà ngoại giao có tài. Ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong hai lần đi sứ nhà Nguyên, có ảnh hưởng lớn đến việc bảo đảm chủ quyền và độc lập dân tộc trong cuộc bang giao Nam - Bắc. Trong cuộc đời làm quan của mình, với tính cương trực, hai lần Nguyễn Trung Ngạn bị giáng chức, trong đó có lần do ông can vua không được. Nhưng cả hai lần nhờ tài năng và đức độ trong điều hành chính sự, giải quyết được nhiều vụ việc phức tạp, ông lại được vua thăng chức.&nbsp;</div><div><strong>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Sự nghiệp văn học</strong></div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Nguyễn Trung Ngạn còn là <mark>nhà văn, nhà thơ có tài.</mark> Thơ ông kết hợp yêu nước, thương dân, trung quân là một, nghệ thuật thơ giàu âm thanh, nhạc điệu, lời lẽ thanh tao, điêu luyện. Phan Huy Chú trong cuốn sách Lịch triều hiến chương loại chí nhận xét thơ Nguyễn Trung Ngạn như sau: “Lời thơ hài mại, phóng khoáng, có khí phách và cốt cách Đỗ Lăng (tức Đỗ Phủ). Những câu thơ hay nhiều không kể xiết. Thơ tứ tuyệt lại càng hay, không kém gì thơ thời thịnh Đường”.</div><div><strong>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Tác phẩm:&nbsp;</strong></div><div>+ Giới Hiên thi tập.</div><div>+ Hoàng triều đại điển.</div><div>+ Hình luật thư</div><div>+ Thanh chinh Đà Giang thực lục.</div><div>+ Ma Nhai kỷ công bi văn.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="http://visinhxulynuocthai.com/ckfinder/userfiles/images/Info/anh-thien-nhien-viet-nam/anh-thien-nhien-que-huong-viet-nam-1.jpg" />
         <pubDate>2021-12-13 14:58:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944721340</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944745955</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484071319/676b0151938ee83caa83a29f7378f3c5/inbound6215511930782783685.mp4" />
         <pubDate>2021-12-13 15:06:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944745955</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tác phẩm &quot;Quy hứng&quot;</title>
         <author>ngaphuongnguyen26</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944746806</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>-Hoàn cảnh sáng tác</strong>: <mark>Bài thơ được sáng tác năm 1311, khi tác giả cùng Phạm Mai vâng mệnh vua Trần Minh Tông đi sứ Trung Quốc.&nbsp;</mark></div><div><strong>-Bố cục</strong>: 2 phần</div><div>+ <mark>Phần 1</mark>: Hai câu đầu: Nỗi nhớ quê hương</div><div>+ <mark>Phần 2: </mark>Hai câu sau: Lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc</div><div><strong>-Thể loại</strong>: <mark>Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật</mark>.</div><div><strong>-Phương thức biểu đạt</strong>: Biểu cảm, miêu tả.</div><div><strong>-Giá trị nội dung:</strong></div><div>+ Lòng yêu quê hương đất nước, niềm tự hào về dân tộc là cảm xúc chủ đạo của bài thơ quy hứng.</div><div>+ Bài thơ giúp người đọc ý thức một chân lí: không gì bằng quê hương xứ sở của mình; giúp ta thêm yêu, thêm quý nơi mình sinh ra, lớn lên và trưởng thành.</div><div><strong>-Giá trị nghệ thuật:</strong></div><div>- Cách nói chân thật, giản dị</div><div>- Sử dụng nhiều hình ảnh giàu sức gợi</div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?v=fzBs92Jkuag" />
         <pubDate>2021-12-13 15:06:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944746806</guid>
      </item>
      <item>
         <title>3. Đọc- hiểu tác phẩm</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944747056</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><mark>Hai câu đề : Thể hiện khát vọng được cống hiến cho dân, cho nước nhưng đồng thời cũng thể hiện sự bất lực khi tuổi tác đã lớn của tác giả</mark></strong><mark>.</mark></div><blockquote>“Thế sự du du nại lão hà,<br>Vô cùng thiên địa nhập hàm ca”&nbsp; &nbsp; &nbsp;<ul><li>"Thế sự" : cuộc đời của chính tác giả.</li></ul></blockquote><ul><li>"hà" : báo hiệu một câu hỏi, thể hiện sự băn khoăn, day dứt của tác giả. Nghiệp lớn chưa thành mà tuổi già đã cận kề</li><li><strong>&nbsp;</strong>"Hàm ca": là khúc ca vui khi đấng trượng phu mượn rượu để nói lên chí khí của mình&nbsp;</li><li>"Vô cùng thiên địa": cuộc đời rộng lớn cùng, việc đời dằng dặc nhưng tác giả thì đã già --&gt; câu thơ là lời than thở xót xa, thời gian đã không ủng hộ tác giả. Vì quá bất lực, uất hận ông chìm vào men say ca hát để quên đi nỗi đau nhưng không thể.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Lời ca của ông không mang cái tầm thường mà trong đó có cả cái mênh mông vô tận của trời đất, đó là nỗi ưu tư của một đấng anh hùng có chí khí muốn lập công, dựng xây nghiệp lớn nhưng "sinh bất phùng thời"&nbsp;</li></ul><div>&nbsp;<strong>=&gt; Hai câu thơ thể hiện nỗi chán chường của tác giả, cũng như nỗi băn khoăn khi không thể cống hiến cho đất nước được nữa </strong>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;</div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1485081747/5c6c78b75f8fd1b2d9399351d5343deb/_nh_b_i_t_p.png" />
         <pubDate>2021-12-13 15:06:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944747056</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944764369</link>
         <description><![CDATA[<div><br><strong><mark>2 câu thực: Nỗi oán hận của vị tướng già.&nbsp;<br></mark></strong><br></div><blockquote>“Thời lai đồ điếu thành công dị<br>Vận khứ anh hùng ẩm hận đa”.</blockquote><div><br></div><ul><li>Đồ điếu: đồ tể, người làm nghề mổ thịt, hay còn chỉ Phàn Khoái, chiến hữu của Hán Lưu Bang.</li><li>Điếu: câu cá, chỉ Hàn Tín, đại tướng của Lưu Bang</li></ul><div><em>=&gt; Cả hai đều giúp Lưu Bang lập nên nhà Hán (dưới mắt Đặng Dung cả hai đều là kẻ bần tiệt, tiểu tốt)</em>&nbsp;</div><ul><li>Vận khứ: anh hùng thất thế, chỉ vận thời Trần đã qua, sự việc Giản Định giết cha Đặng Dung khiến cho sức chiến đấu của lực lượng khởi nghĩa suy yếu.&nbsp;</li><li>Ẩm hận đa: phải uống nhiều hận</li></ul><div><br></div><ul><li><mark>Hai hình ảnh đối lập</mark>: đồ điếu &gt;&lt; anh hùng. Song tác giả đối lập "đồ điếu" và "anh hùng" không phải nhằm xem thường, coi Phàn Khoái và Hàn Tín là bất tài mà chủ yếu để bày tỏ cảm khái thời vận lỡ dở.</li></ul><div><em>-&gt;&nbsp; Hai câu thơ chính là cảm hoài của tác giả. Với thời thế lúc bấy giờ, những kẻ bần tiện, vô danh cũng dễ dàng làm nên việc lớn. Còn bậc anh hùng đã từng cống hiến thật nhiều cho đất nước như Đặng Dung nay sa cơ lỡ vận, vì tuổi già mà dù có muốn cũng chẳng thể lập công lần nữa. Khi Đặng Dung ngẫm lại điều ấy, nó đã trở thành một nỗi đắng cay uất hận chỉ có thể nén vào lòng.</em><br><strong>=&gt; Lời thơ tràn đầy uất hận, cùng đó là triết lí sâu cay và có lẽ sẽ tồn tại đến mãi đời sau. Thời thế chọn anh hùng, nay dù mang trong mình khát vọng lớn lao, có khí phách hiên ngang, người anh hùng ấy vẫn phải ngậm ngùi.</strong></div><div><br></div><div><br></div><div><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-13 15:12:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944764369</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944771354</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><mark>Hai câu luận : Sự dũng mạnh, chí lớn của một người anh hùng dám xông pha ra trận chiến với hình ảnh hùng tráng, kì vĩ.</mark></strong></div><blockquote>&nbsp; &nbsp;“ Trí chủ hữu hoài phù địa trục “</blockquote><ul><li>Trí chủ: báo đáp công ơn của vua</li><li>Phù địa trục : xoay trục đất ( nâng đỡ giang sơn đang nghiêng đổ), một lòng muốn đem tài giúp chúa, xoay thời chuyển thế mong lật lại thế cờ, giành lại non sông.</li></ul><div><strong>-&gt; Ước muốn được cống hiến cho đất nước, giành lại độc lập cho dân tộc, lật lại tình thế để nhân dân có cuộc sống ổn định hơn.&nbsp;</strong></div><blockquote>&nbsp; &nbsp;“ Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà “</blockquote><ul><li>&nbsp;Điển cố “ Tẩy binh “ (rửa vũ khí) : ý muốn nói ko cần phải dùng đến vũ khí nữa, chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình.</li><li>&nbsp;Vô lộ : ko có con đường nào; thời vận đã hết, ko còn cách nào có thể&nbsp; cứu chữa được.</li><li>Vãn thiên hà (sông Ngân) : ko thể kéo sông Ngân xuống mà rửa phát binh, kết thúc chiến tranh, giành lại bờ cõi non sông<mark>. (Đọc&nbsp; hiểu&nbsp; thêm)</mark></li></ul><div><em>-&gt;&nbsp; khát vọng được thoát khỏi giải phóng khỏi chiến tranh, sống trong một thế giới hoà bình ko có vũ khí, ko có sự chết chóc đã không thể được đáp ứng.</em> <br><strong>=&gt; những ý trên đều nói lên sự khao khát nồng cháy, mãnh liệt nhất của cuộc đời người anh hùng Đặng Dung với mơ ước xoay chuyển tình thế, mong muốn có thể góp sức mình cho sự nghiệp cứu nước của vua chúa. Ngoài ra còn thể hiện tính nhân văn, tẩy rửa giáp binh mong ước về một tương lai hoà bình.</strong></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-13 15:15:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944771354</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đọc- hiểu tác phẩm</title>
         <author>ngaphuongnguyen26</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944778952</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>1. Hai câu thơ đầu: những hình ảnh quen thuộc của quê hương.</strong></div><div>&nbsp;</div><div>- Hai câu thơ mở đầu đã cho ta thấy hình ảnh hết sức quen thuộc của làng quê:</div><div>“Lão tang diệp lạc tàm phương tận,</div><div>Tảo đạo hoa hương giải chính phì.”</div><div>(Dâu già lá rụng tằm vừa chín,</div><div>Lúa sớm bông thơm cua béo ghê.)</div><div>&nbsp;Nào là những bông lúa chín vàng, rồi những con cua đồng béo ngộ ngộ, những cành dâu chín rộ đỏ vàng cả góc ao.</div><div>&nbsp;</div><div>=&gt; Đây đều là những cảnh vật, con vật gắn bó với những đứa trẻ lớn lên ở nông thôn .&nbsp;</div><div>&nbsp;</div><div>-Nhà thơ không sử dụng hình ảnh ước lệ mà dùng những hình ảnh bình dị, giản đơn nhất để diễn tả nỗi nhớ một cách chân thực, sâu sắc.&nbsp;</div><div>&nbsp;</div><div>- Nỗi nhớ ấy cũng rất cụ thể, dân dã làm nổi lên gốc gác đồng quê, nghề trồng dâu nuôi tằm, nghề trồng lúa và sinh hoạt đạm bạc “cua béo ghê”. Cách nói mộc mạc dễ làm rung động lòng người.&nbsp;</div><div>&nbsp;</div><div>=&gt; Những hình ảnh này là những dòng hồi tưởng của Nguyễn Trung Ngạn về quê nhà, ông đang nhớ quê hương, nhớ từ những vật đơn thuần nhất, quen thuộc nhất với tuổi thơ của mình. Điều này đã góp một phần không nhỏ khẳng định xu hướng bình dị hóa trong thơ ca cổ, phá vỡ quy phạm trang trọng trong văn chương trung đại.</div><div>&nbsp;</div><div><strong>2. Hai câu thơ sau: Lòng yêu nước và tự hào dân tộc.</strong></div><div>&nbsp;</div><div>“Kiến thiết tại gia bần diệc hảo”&nbsp;</div><div>(Nghe nói ở nhà nghèo vẫn tốt)</div><div>&nbsp;</div><div>-“Ở&nbsp; nhà" - ở quê hương, gia đình, đất&nbsp; nước của mình. "nghèo" - ý&nbsp; nói&nbsp; sự thiếu thốn về mọi <mark>vật chất</mark>.</div><div>-Tuy vậy nhưng đối với tác giả, “nhà nghèo vẫn tốt” vì đây là nơi sinh ra ông, trao cho ông tình yêu thương. Tác giả có thể phải chịu cực nhọc, nghèo đói, khó khăn khi trở lại về quê nhà, đất nước, thế nhưng những điều đó “vẫn tốt” bởi đây mới thực sự là nơi ông sinh ra, lớn lên, nơi mà ông yêu thương gắn bó sâu sắc, máu thịt. (Giàu&nbsp; <mark>tinh&nbsp; thần</mark>)</div><div>&nbsp;</div><div>" Giang Nam tuy lạc bất như quy"&nbsp;</div><div>( Dầu vui đất khách chẳng bằng về).</div><div>Ông đi sứ với bao sự tiếp đón, thiết đãi nồng nhiệt trong sự phồn hoa, hào nhoáng của nước bạn. Nguyễn Trung Ngạn cũng rất khéo léo khi đặt Đại Việt ta trên nước bạn Trung Quốc, dù được tận hưởng sự phồn hoa của cường quốc lớn mạnh về kinh tế và văn hóa ấy vẫn không thể sánh bằng nơi chôn rau cắt rốn, thanh bình, giản dị của mình.</div><div>&nbsp;Đất&nbsp; khách&nbsp; giàu&nbsp; có &lt; Quê&nbsp; nhà&nbsp; nghèo&nbsp; khó<br><br></div><div>=&gt; Tác giả sử dụng nghệ thuật đối và so sánh ở hai câu thơ để làm nổi bật sự khác nhau về mặt vật chất giữa nơi đất khách giữa quê hương càng khẳng định tình yêu quê hương đất nước tha thiết sâu nặng. Cũng như triết lí sống của các bậc hiền triết xưa, luôn yêu thích cuộc sống thanh tao, chân phương chốn quê nhà.<br><br></div><div>&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="https://teams.microsoft.com/l/meetup-join/19:WSSsXp8F_GQdsBiKUw3xC31GjSLJK_yZyttiWALOHRA1@thread.tacv2/1639464915224?context=%7B%22Tid%22:%224279fed8-1d79-49f6-95fb-1ff8077c4e46%22,%22Oid%22:%2285998440-3c13-4348-b1a9-affb518a59a9%22%7D" />
         <pubDate>2021-12-13 15:17:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944778952</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944788705</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><mark>Hai câu kết: Chí khí quật cường, tinh thần chiến đấu sục sôi nhiệt huyết.</mark></strong></div><blockquote>&nbsp; &nbsp; &nbsp; " Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Kỉ độ long tuyền đới nguyệt ma"&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;</blockquote><div><br></div><ul><li>&nbsp; &nbsp;<em>&nbsp;"Quốc thù vị báo"</em>: thực tế lịch sử bấy giờ: quân Minh đang hoành hành.</li><li>"Đầu tiên bạch": cuộc chiến chưa hoàn thành, lòng đầy xót xa khi ý thức về tuổi già. Bi kịch về tuổi tác choáng ngợp trong tâm trí. Dù là qui luật tự nhiên nhưng vẫn thấy xót xa, phải chăng vì chưa trả xong nợ nước nên tác giả muốn quên đi tuổi già – tấm lòng nước non cao quý.</li></ul><blockquote><ul><li>"Long tuyền" là gươm báu, thanh gươm để giết giặc, trả mối thù nước, đem lại thái bình cho đất nước và nhân dân.</li><li>"Nguyệt"-Trăng: biểu tượng hòa bình, gươm đao biểu tượng chiến tranh. Con người ấy dẫu phải xông pha trận mạc, sức cùng lực kiệt vẫn ung dung thanh thản.</li></ul></blockquote><div><em>-&gt; Hình ảnh khép lại bài thơ là hình ảnh tráng lệ: người anh hùng tóc đã bạc nhưng bền bỉ mài gươm dưới bóng trăng. Đó là “di hận” của người anh hùng vận khứ – lỡ vận.</em><br><strong>-&gt; Nhà thơ Đặng Dung dường như cũng đã lại trở về với nỗi trăn trở, buồn bã của bản thân. Thực sự đó cũng chính là sự mâu thuẫn giữa khát vọng được dâng hiến với giới hạn của đời người.<br></strong><mark>Không thể lấy sự thành, bại để luận anh hùng. Đặng Dung thực sự là một anh hùng hào kiệt. Bài thơ thấm đượm một tình yêu nước, nhức nhối nỗi đau của người anh hùng lỡ bước. Cốt cách thi sĩ lồng trong cốt cách anh hùng. Đó là tư thế hiên ngang lẫm liệt, cho đến chết vẫn mang nặng mối thù nước không nguôi.</mark></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-13 15:21:17 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944788705</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tình cảm gia đình và tinh yêu đất nước trong bài thơ đã chạm đến trái tim của độc giả.</title>
         <author>ngaphuongnguyen26</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944823601</link>
         <description><![CDATA[<div>Tình cảm gia đình đã thấm đẫm trong con người của tác giả, ông đang hình dung về những hình ảnh rất đỗi quen thuộc đó, nó mang âm điệu nhẹ nhàng và thấm đẫm tình yêu gia đình tình yêu quê hương sâu sắc niềm tin yêu đang tràn ngập và nó có những ảnh hưởng lớn lao đến con người và những điều thật tuyệt vời đến cho người đọc.<br><br>Mỗi người mỗi khi nhớ thương tới quê hương chắc hẳn đều có cảm xúc và nỗi nhớ về những bông lúa chín thơm, những hình ảnh con cua đồng béo ngậy, làng quê Việt Nam gắn bó và có sức ảnh hưởng lớn tới những hình ảnh này, nó nhẹ nhàng và tình cảm, mang trong làn điệu quê hương những cảm xúc riêng biệt, gắn bó với con người và miền đất quê hương, bởi quê hương là nơi mình sinh ra, mình gắn bó với những hình ảnh bình dị trong đó, hình ảnh bình dị mà thân thương nó mang âm điệu nhẹ nhàng và cũng hết sức vui tươi, mỗi chúng ta đều có quê hương nơi mình sinh ra và lớn lên vì vậy nó có những ảnh hưởng lớn đến tâm hồn của bạn đọc hôm nay và mai sau, hình ảnh đó còn mang đậm khoảnh khắc và mang những âm điệu nhẹ nhàng trong con người của tác giả. Tình yêu quê hương đất nước sâu đậm đó đã có những ảnh hưởng vô cùng lớn lao và nó mang đậm những âm thanh nhẹ nhàng và cũng có những sức lay chuyển rất sâu sắc mang những điệu hết sức nhẹ nhàng và cũng ảnh hưởng lớn đến tâm lý và cảm xúc của người đọc hôm nay và mai sau.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://hocde.vn/wp-content/uploads/2020/07/bai-van-mau-ke-ve-que-huong-em-van-mau-lop-3-4.jpg" />
         <pubDate>2021-12-13 15:32:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1944823601</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đọc sâu</title>
         <author>haphuong05ths</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1945886270</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>*So sánh "Cảm hoài" của Đặng Dung và "Thuật hoài" của Phạm Ngũ Lão<br></strong><br>- Điểm giống nhau: Cả hai đoạn thơ đều dựng lên <mark>hình ảnh của người trai thời loạn</mark> với vẻ đẹp của <mark>khát vọng, ý chí và tinh thần yêu nước</mark> mang tầm vóc vũ trụ. <br><br>- Điểm khác nhau: <br>&nbsp; &nbsp; + Hình ảnh tráng sĩ trong bài thơ "Thuật hoài" là người <mark>tráng sĩ trẻ tuổi đang đắc thời, lợi thế</mark> còn người tráng sĩ trong bài thơ Cảm hoài (Đặng Dung) là một <mark>tráng sĩ đầu thì đã bạc mà vận hội đã hết</mark>. <mark><br></mark><br></div><ul><li>Hình ảnh người tráng sĩ trong Thuật hoài mang <mark>vẻ đẹp oai phong, lẫm liệt hào hùng</mark> (thể hiện qua mối quan hệ giữa hình ảnh cầm ngang ngọn giáo của người tráng sĩ với không gian và thời gian mang tầm vóc lớn lao của vũ trụ, với hình ảnh ba quân khí thế hùng mạnh ngất trời thể hiện qua biện pháp so sánh vật hóa).</li><li>Hình ảnh người tráng sĩ – lão tướng trong bài thơ Cảm hoài mang <mark>vẻ đẹp bi tráng</mark> (thể hiên trong mối quan hệ giữa tâm sự bi phẫn “ Quốc thù chưa trả sao già vội” với hành động bền bỉ “mài gươm dưới nguyệt đã bấy chầy” của người tráng sĩ).</li></ul><div><br>&nbsp; &nbsp; + Giọng điệu:</div><ul><li>hai câu đầu của bài thơ Thuật hoài mang âm hưởng <mark>hào sảng, mạnh mẽ.</mark></li><li>hai câu cuối bài Cảm hoài mang âm điệu ngậm ngùi, <mark>bi phẫn.</mark></li></ul><div><br><strong>*Bài học:</strong><br>- Lòng yêu nước bất khuất của một bậc anh hùng khiến ta không khỏi tự hào và biết yêu đất nước, yêu con người Việt Nam hơn.<br><br>-&nbsp; Ta còn thấy chí khí, sự quật cường sẵn sàng đón nhận mọi sự trả thù tàn bạo của kẻ thù, không kêu than khóc lóc mà đối mặt với thái độ hiên ngang, thà chết chứ không chịu nhục. --&gt; tinh thần bất khuất của con người Việt Nam khi đối mặt với giặc ngoại xâm từ xưa đến nay, đó là một truyền thống đáng tự hào.<br><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://www.thetrumpet.com/files/W1siZiIsIjIwMTgvMDMvMDgvODZkNnhpbWZ0d19pU3RvY2tfNTk5NDkzODIwLmpwZyJdLFsicCIsInRodW1iIiwiMTAyNHgiXSxbInAiLCJlbmNvZGUiLCJqcGciLCItcXVhbGl0eSA4MCJdXQ/6a6572da85fd73be/iStock-599493820.jpg.jpg" />
         <pubDate>2021-12-14 01:22:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1945886270</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thành viên </title>
         <author>haphuong05ths</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1945944197</link>
         <description><![CDATA[<div>1. Nguyễn Diệu Ngân<br>2. Nguyễn Hà Phương<br>3. Phạm Hà Châu<br>4. Tạ Mỹ Duyên<br>5. Trần Anh Thư<br>6. Nguyễn Hà My<br>7. Phạm N. Minh Anh<br>8. Trần Thanh Thủy</div>]]></description>
         <enclosure url="https://images.unsplash.com/photo-1599583959475-135eba3c13b0?crop=entropy&amp;cs=srgb&amp;fm=jpg&amp;ixid=Mnw3ODI2fDB8MXxzZWFyY2h8M3x8Y29uYW58ZW58MHx8fHwxNjM5NDAxODA5&amp;ixlib=rb-1.2.1&amp;q=85" />
         <pubDate>2021-12-14 02:01:15 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1945944197</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tham khảo đề này nhé! Cô sẽ ra đề dễ như này thôi :) </title>
         <author>hangtrang191</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1953239210</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;| <strong>BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO</strong> ĐỀ MINH HỌA | <strong>ĐỀ KIỂM TRA CUỐI KÌ I</strong> <strong>Năm học 2020 -&nbsp; 2021</strong> <strong>Môn: Ngữ văn, lớp 10 </strong><em>Thời gian làm bài</em>: 90 phút, <em>không kể thời gian phát đề</em></div><div><em><br>Họ và tên học sinh:…………....…………………..........……... Mã số học sinh:…………<br></em><br></div><div><strong>I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)</strong></div><div><strong>Đọc bài ca dao:</strong></div><div><em>Hôm qua tát nước đầu đình,</em></div><div><em>Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen.</em></div><div><em>Em được thì cho anh xin,</em></div><div><em>Hay là em để làm tin trong nhà?</em></div><div><em>Áo anh sứt chỉ đường tà,</em></div><div><em>Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu,</em></div><div><em>Áo anh sứt chỉ đã lâu,</em></div><div><em>Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng.</em></div><div><em>Khâu rồi anh sẽ trả công,</em></div><div><em>Đến lúc lấy chồng, anh sẽ giúp cho,</em></div><div><em>Giúp em một thúng xôi vò</em></div><div><em>Một con lợn béo, một vò rượu tăm,</em></div><div><em>Giúp cho đôi chiếu em nằm,</em></div><div><em>Đôi chăn em đắp, đôi trằm em đeo,</em></div><div><em>Giúp cho quan tám tiền cheo,</em></div><div><em>Quan năm tiền cưới, lại đèo buồng cau.</em></div><div>(<em>Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam</em>, Vũ Ngọc Phan,&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; NXB Văn học, 2005, tr. 271)</div><div><strong>Thực hiện các yêu cầu sau:</strong></div><div><strong>Câu 1</strong>. Xác định thể thơ của bài ca dao.</div><div><strong>Câu 2</strong>. Theo lời chàng trai trong bài ca dao, hoàn cảnh gia đình của anh như thế nào?</div><div><strong>Câu 3</strong>. Anh/Chị hiểu như thế nào về từ “<em>cô ấy</em>” được chàng trai nhắc đến câu “<em>Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng</em>”?</div><div><strong>Câu 4</strong>.&nbsp; Anh/Chị có nhận xét gì về cách bày tỏ tình cảm của chàng trai trong bài ca dao?<br><br></div><div><strong>II. LÀM VĂN (7,0 điểm)<br>Câu 1: (2đ) </strong>Viết đoạn văn (khoảng 150) chữ trình bày về vai trò của sự chân thành trong cuộc sống.<br><strong>Câu 2: (5đ)</strong></div><div>Trình bày cảm nhận của anh/chị về bài thơ sau:&nbsp;</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<strong>NHÀN</strong></div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Nguyễn Bỉnh Khiêm -</div><div><em>Một mai, một cuốc, một cần câu,</em></div><div><em>Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.</em></div><div><em>Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ,</em></div><div><em>Người khôn, người đến chốn lao xao.</em></div><div><em>Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,</em></div><div><em>Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao.</em></div><div><em>Rượu, đến cội cây ta sẽ uống,</em></div><div><em>Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.</em></div><div><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; (Theo <em>Ngữ văn</em> <em>10</em>, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2020, tr. 129)<br><br></div><div><strong><br>----------------HẾT --------------<br></strong><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-17 07:14:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1953239210</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 4 : KHUÊ OÁN</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1964271377</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em>*&nbsp; Thành viên : </em></strong><br>- Đỗ Minh Ngọc<br>- Phạm Nguyễn Thảo Vi&nbsp;<br>- Hà Nhật Vy&nbsp;<br>- Nguyễn Hà Vy</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1513413366/8e75035f828b70ced84b8bd99dbdadae/08C5FA21_B08C_421D_8B29_9128F581564B.jpeg" />
         <pubDate>2021-12-26 13:59:22 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1964271377</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tác giả Vương Xương Linh và bài thơ “Khuê oán”</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1964277078</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em>I, Khái quát tác giả<br></em></strong><em>1, Cuộc đời - Con người : </em><br>- Vương Xương Linh (698 ? – 757), tự là <mark>Thiếu Bá</mark>, quê ở Trường An, tỉnh <mark>Thiểm Tây</mark>, Trung Quốc<br>- Ông nổi tiếng rất sớm về tài văn chương, tuy đỗ tiến sĩ nhưng chỉ được giữ những chức quan nhỏ và bị biếm trích rất nhiều lần. Trong <mark>loạn An - Sử</mark>, ông lánh nạn ở vùng Giang, Hoài, bị tên thứ sử <mark>Lư Khâu Hiểu giết</mark> hại.<br><em>2, Sự nghiệp văn học : </em><br>- Vương Xương linh là nhà thơ kiệt xuất <mark>thời Thịnh Đường</mark>, thơ ông thường đề cập đến cuộc sống của <mark>tướng sĩ nơi biên cương</mark>, <mark>nỗi oán hờn của người cung nữ, nỗi li sầu biệt hận của người thiếu phụ khuê các, tình bằng hữu chân thành, trong sáng</mark>...<br>- Phong cách thơ ông rất <mark>trong trẻo, tinh tế</mark>, thanh tân, vừa giàu <mark>tính hiện thực</mark>, vừa đậm đà <mark>chất trữ tình</mark>, phản ánh những vấn đề lớn của thời đại như chiến tranh, đau thương, mất mát... Đặc biệt, ông thường đi sâu phân tích và thể hiện tâm lí, tình cảm của nhiều loại người như tầng lớp trí thức, tướng sĩ, binh lính, những thiếu phụ có chồng ngoài mặt trận...<br><br><strong><em>II, Khái quát tác phẩm</em></strong> <br><em>1, Hoàn cảnh sáng tác : </em><br>- "Khuê oán" không rõ năm sáng tác, được coi là một trong những tác phẩm nổi bật nhất khi tác giả Vương Xương Linh tại thế. <br><em>2, Thể thơ :</em><br> - Bài thơ được viết bằng <mark>chữ Hán</mark>, theo thể <mark>thất ngôn tuyệt cú</mark> Đường Luật. <br><em>3, Nhan đề : </em><br>- "Khuê oán" hay " Nỗi oán của người phòng khuê" <br>&nbsp;+ "Khuê" : ý chỉ <mark>buồng khuê</mark>, phòng riêng của phụ nữ thời xưa.<br> + " Oán" : chỉ sự <mark>bất mãn</mark>, giận hờn.<br>-&gt; Tác phẩm như lời than vãn, oán hận của một người phụ nữ trẻ cô đơn một mình nơi phòng riêng, nơi mà nàng đã cùng chồng chung sống hạnh phúc với nhau nay lại phải chia ly vì chiến tranh khốc liệt.<br><em>4, Bố cục : </em><br>- Hai câu thơ đầu : Hình ảnh <mark>lẻ loi </mark>của người thiếu phụ chốn khuê phòng <br>- Hai câu thơ sau : <mark>tâm trạng</mark> người thiếu phụ khi thấy câu dương liễu đầu đường <br><em>5, Nội dung : </em><br>- "Khuê oán" mang nỗi sầu của người thiếu phụ có chồng tham gia chinh chiến. Người đàn bà trẻ tuổi nơi khuê các thơ dại không biết gì, khi nhìn thấy dương liễu mới nhận ra rằng mình đang nhớ về chồng. <br><em>6, Nghệ thuật </em><br>- Ngôn ngữ thơ hàm súc, tình cảm. <br>- Với đặc trưng của thơ Đường là phép đối, khiến nổi bật các hình ảnh mang tính trái ngược nhưng vẫn luôn hòa hợp và bổ sung cho nhau.<br><strong><em>III, Đọc - hiểu tác phẩm </em></strong><br><em>1, Hai câu thơ đầu : </em><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;“Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu”</div><div>(Bản dịch 1: trẻ trung nàng biết chi sầu</div><div>&nbsp;Bản dịch 2: thiếu phụ phòng khuê chẳng biết sầu)</div><div>&nbsp;- “Khuê trung thiếu phụ” : người thiếu phụ trong góc phòng riêng của mình, <mark>bộc lộ nỗi cô đơn</mark> trong thế giới riêng của người phụ nữ đã có chồng.&nbsp;</div><div>&nbsp; - “Bất tri sầu” : tức không biết buồn hoặc chưa từng biết buồn, là tâm trạng nghệ thuật gợi đến sự lạc quan, vui vẻ, sung sướng trong những ấn phong hầu của người chồng.</div><div>&nbsp; &nbsp; “Xuân nhật ngưng trang thướng thúy lâu”</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; (Bản dịch 1: Ngày xuân trang điểm lên lầu ngắm gương.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Bản dịch 2: Ngày xuân chải chuốt, bước lên lầu)</div><div>&nbsp; &nbsp;- “Xuân nhật” tức là ngày xuân, là thời gian nghệ thuật, ngày mà người người vui chung <mark>niềm mơ ước, đoàn tụ và sức trẻ sôi trào</mark>. Đây cũng đang ẩn dụ cho sắc xuân phơi phới của người thiếu phụ khi nàng còn sắc xuân xanh, khi sắc nàng chưa phai tàn.</div><div>&nbsp;- “Ngưng trang thướng thúy lâu” : đây là thú vui của những con gái trẻ, khi sức trẻ chưa tận nàng vẫn vui vẫn lạc quan mà chẳng biết đến buồn.</div><div>&nbsp; &nbsp;* So sánh với hai bản dịch thơ, ta nhận thấy bản của Tản Đà được viết theo thể lục bát dễ dàng bộc lộ tình cảm hơn, sử dụng "đảo ngữ" nhấn nhá một cách khéo léo đồng thời mang nét trẻ trung, nỗi buồn phảng phất nhưng không chân thật và đau lòng như bản gốc.<br>==&gt; Hai câu thơ như nói lên tiếng lòng trong nỗi <mark>cô quạnh, hiu vắng</mark> một thân một mình của nàng thiếu phụ. Song song là cái <mark>ngây thơ, hồn nhiên </mark>mà một cô gái thời xuân sắc mang lại.<br><em>2, Hai câu thơ sau : </em><br>"Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc,"<br>(Bản dịch 1: Nhác trông vệ liễu ven đường<br>Bản dịch 2: Đầu đường chợt thấy màu dương liễu)<br>• "Dương liễu sắc" ở đây chỉ sắc màu của cây dương liễu. <br>• Đồng thời cũng là tượng trung cho mốc thời gian của bài thơ. Nếu như "Xuân nhật" là quá khứ thì "Dương liễu sắc" là hiện tại. Ẩn dụ cho <mark>mùa thu</mark>, cho sắc thu<br>==&gt; Tuổi xuân của người khuê phụ dần trôi qua một cách lặng lẽ sau bao tháng ngày cô đơn đợi chờ chồng.<br>"Hối giao phu tế mịch phong hầu"<br>(Bản dịch 1: "Phong hầu", nghĩ dại, xui chàng kiếm chi.<br>Bản dịch 2: Hối để chàng đi kiếm tước hầu.)<br>• Khuê phụ<mark> hối hận</mark>, tự trách bản thân mình vì đã để chồng xuất chinh. Ấy là cái giá mà nàng phải trả cho giấc mộng công hầu. <br>• Người chồng có thể sẽ phải <mark>giãi thây nơi chiến trường ác liệt</mark>. Người khuê phụ oán trách, than thở bản thân mình, cho duyên phận của mình.<br>=&gt; Hai câu cuối là <mark>tiếng khóc, tiếng thở dài</mark> đầy ai oán của người vợ có chồng xuất chinh nơi chiến trường.&nbsp;<br>*So sánh hai bản dịch thơ, có thể thấy, bản dịch của Tản Đà bộc lộ nhiều cảm xúc hơn. Sử dụng từ ngữ linh hoạt, đảo trật tự từ. Từ đó thể hiện sự hối hận, đau khổ của người khuê phụ một cách sâu sắc hơn. Song, không hoàn toàn biểu đạt được trọn vẹn ý nghĩa, tâm tư của người khuê phụ như bản gốc.</div><div><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1513413366/454b7bac2014f96be32d2fbdb2a6dd64/403F07C8_1E4D_4BF9_A735_3431DC445689.jpeg" />
         <pubDate>2021-12-26 14:04:08 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1964277078</guid>
      </item>
      <item>
         <title>THU HỨNG ( Nhóm 2)</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1964283114</link>
         <description><![CDATA[<div>THÀNH VIÊN<br>- BÙI VŨ HOÀI THANH<br>- TRẦN ANH THƯ<br>- NGUYỄN THU HUYỀN<br>- CHU NGỌC MINH TRANG<br><strong>1. Tác giả</strong><br>-Đỗ Phủ sinh năm 712, mất năm 770, tự là Tử Mĩ<br>- Quê quán: huyện Củng, tỉnh Hà Nam<br>- Ông xuất thân trong một gia đình có truyền thống Nho học và thơ ca lâu đời. Ông sống trong nghèo khổ và chết trong bệnh tật<br>-<em> Sự nghiệp sáng tác</em>: Đỗ Phủ là nhà thơ hiện thực vĩ đại của Trung Quốc, thơ Đỗ Phủ hiện còn khoảng 1500 bài<br>- <em>Nội dung thơ Đỗ Phủ: </em>phản ánh hiện thực và bày tỏ cảm xúc, thái độ, tâm trạng đau khổ trước hiện thực đời sống của nhân dân trong chiến tranh, trong nạn đói chan chứa tình yêu nước và tinh thần nhân đạo.<br>- <em>Phong cách thơ Đỗ Phủ:</em> điêu luyện, trầm uất, nghẹn ngào<br>-Được Nguyễn Du tôn vinh là “<mark>Bậc thầy muôn đời của văn chương muôn đời”</mark><br><strong>2. Tác phẩm</strong><br>* <em>Hoàn cảnh ra đời</em><br>&nbsp; &nbsp; - Bài thơ được sáng tác năm 766, khi nhà thơ đang ở Quỳ Châu. Đỗ Phủ sáng tác chùm “Thu hứng” gồm 8 bài thơ, trong đó cảm xúc mùa thu là bài thơ thứ nhất.<br><em>* Thể thơ</em>: thất ngôn bát cú đường luật <br>*<em> Bố cục (2 phần)</em><br>- Phần 1 (4 câu đầu): Cảnh mùa thu<br>- Phần 2 (4 câu còn lại): Tình thu<br><em>* Ý nghĩa nhan đề </em><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Thu hứng nghĩa là cảm xúc mùa thu đã nói lên được nội dung của cả bài thông qua hình ảnh mùa thu. Đó là tâm trạng cảm nhận của thu nhân trước cảnh mùa thu là nỗi lòng u uất, là nỗi buồn man mác của nhà thơ bao trùm lên cả cảnh vật. Nỗi lo ấy bắt nguồn nỗi buồn của tác giả khi ông chứng kiến cảnh đất nước kiệt quệ vì sự tàn phá của chiến tranh. Bài thơ cũng là nỗi lòng của kẻ xa quê, là nỗi ngậm ngùi, xót xa cho thân phận của kẻ tha hương lưu lạc.</div><div><br></div><div><strong>3. Đọc hiểu</strong><br><strong><em>a, Bốn câu thơ đầu : Cảnh thu ảm đạm, hắt hiu</em></strong><em><br></em>&nbsp; &nbsp;<strong><em>* Hai câu đề: </em></strong><br>&nbsp;" Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm, <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Vu sơn, Vu giáp khí tiêu sâm."<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; ( Lác đác rừng phong hạt mộc sa, <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; Ngàn non hiu hắt, khí thu loà)<br><br>- Hình ảnh thơ <mark>cổ điển</mark>, là những hình ảnh được dùng để miêu tả mùa thu ở Trung Quốc: “ngọc lộ”, “phong thụ lâm”<br>&nbsp; &nbsp; + <mark>Ngọc lộ</mark>: Miêu tả hạt sương móc trắng xóa, dầy đặc làm tiêu điều, hoang vu cả một rừng phong.<br>+ <mark>Phong thụ lâm</mark>:hình ảnh thường được dùng để tả cảnh sắc mùa thu và nỗi sầu li biệt. Người ta liên tưởng đến mùa thu vì mỗi đợt thu về rừng phong lại đỏ úa thể hiện sự li biệt, buồn thương.<br>- “<mark>Vu sơn Vu giáp”</mark>: tên những địa danh nổi tiếng ở vùng Quỳ Châu, Trung Quốc, vào mùa thu, khí trời âm u, mù mịt. Bản dịch thơ là “ngàn non”: Đánh mất hai địa danh cụ thể lại không diễn tả được hết không khí của mùa thu.<br>- “<mark>Khí tiêu sâm”</mark>: hơi thu hiu hắt, ảm đạm<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; → Bức tranh về cảnh núi rừng mùa thu, sự<mark> tiêu điều, hiu hắt, bi thương</mark> lan tỏa khắp không gian khác hoàn toàn cảnh thu trong thơ ca truyền thống.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<br><strong><em>*Hai câu thực:</em></strong><br>" Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng,<br>&nbsp; Tái thượng phong vân tiếp địa âm"<br>&nbsp; ( Lưng trời sóng rợn lòng sông thẳm,<br>&nbsp; &nbsp; Mặt đất mây đùn cửa ải xa)<br>&nbsp; <br>- Hướng nhìn của bức tranh của nhà thơ di chuyển từ vùng rừng núi xuống lòng sông và bao quát theo chiều rộng.<br>- Cảnh thu chuyển động dữ dội tạo nên bức tranh thu vừa <mark>hùng vĩ </mark>vừa <mark>bi tráng</mark>.<br>- Hình ảnh đối lập, phóng đại: sóng – vọt lên tận trời (thấp – cao), mây – sa sầm xuống mặt đất (cao – thấp), qua đó không gian được mở rộng ra nhiều chiều:<br>&nbsp; &nbsp; + Chiều cao: sóng vọt lên lưng trời, mây sa sầm xuống mặt đất<br>&nbsp; &nbsp; + Chiều sâu: sâu thẳm<br>&nbsp; &nbsp; + Chiều xa: cửa ải<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; → Không gian <mark>hoành tráng, mĩ lệ</mark><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; ⇒ Bốn câu thơ vẽ nên bức tranh mùa thu <mark>xơ xác, tiêu điều, hoành tráng mà dữ dội.<br></mark>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; ⇒ Thể hiện tâm trạng buồn lo và sự bất an của nhà thơ trước hiện thực tiêu điều, âm u.<br><strong>b, Bốn câu còn lại : Tình thu<br></strong>&nbsp;<strong><em>&nbsp;* Hai câu luận</em></strong><br>"Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ, <br>&nbsp; Cô chu nhất hệ cố viên tâm"<br><br>- Hình ảnh<mark> ẩn dụ, tượng trưng:</mark><br>&nbsp; &nbsp; + <mark>Hoa cúc</mark>: hình ảnh ước lệ chỉ mùa thu<br>&nbsp; &nbsp; + Khóm cúc đã hai lần nở hoa: Có hai cách hiểu khóm cúc nở ra làm rơi giọt nước mắt, khóm cúc nở ra giọt nước mắt.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; → Dù hiểu theo cách nào thì cũng giúp chúng ta thấy được <mark>tâm sự buồn của tác giả</mark><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;+<mark> Cô chu – con thuyền cô độc: </mark>là một <mark>ẩn dụ </mark>đầy ý nghĩa không chỉ vì tính chất <mark>trôi nổi, đơn độc </mark>của nó mà còn vì nó là phương tiện duy nhất để <mark>chở ước vọng</mark> của nhà thơ về với quê hương trong tâm tưởng.<br>- Cách sử dụng từ ngữ <mark>độc đáo, hàm súc, cô đọng:</mark><br>&nbsp; &nbsp; +<mark> “Lưỡng khai”: </mark>Nỗi buồn lưu cữu trải dài từ quá khứ đến hiện tại<br>&nbsp; &nbsp; + <mark>“ Nhất hệ</mark>”: Dây buộc thuyền cũng là sợi dây buộc mối tình nhà của tác giả.<br>&nbsp; &nbsp; + <mark>“Cố viên tâm</mark>”: Tấm lòng hướng về quê cũ. Thân phận của kẻ tha hương, li hương luôn khiến lòng nhà thơ thắt lại vì nỗi nhớ quê (Lạc Dương), nhớ nước (Trường An – kinh đô nhà Đường).<br>- Tác giả đã <mark>đồng nhất giữ tình và cảnh</mark> trong hai câu thơ<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;+ Tình – cảnh: Nhìn cúc nở hoa mà lòng buồn tuôn giọt lệ<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;+ Quá khứ hiện tại: Hoa cúc nở hai lần năm ngoái – năm nay mà không thay đổi<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;+ Sự vật – con người: Sợi dây buộc thuyền cũng là sợi dây buộc chặt tâm hồn người.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; → Hai câu thơ diễn tả <mark>nỗi lòng da diết, dồn nén </mark>nỗi nhớ quê hương của tác giả.<br>&nbsp;<em>*</em><strong><em> Hai câu kết</em></strong><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;"Hàn y xứ xứ thôi đao xích, <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Bạch Đế thành cao cấp mộ châm"<br><br><mark>- Hình ảnh:</mark><br>&nbsp; &nbsp; + Mọi người nhộn nhịp may áo rét<br>&nbsp; &nbsp; + Giặt áo rét chuẩn bị cho mùa đông<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;→ Không khí chuẩn bị cho mùa đông, <mark>gấp gáp, thúc giục.</mark><br>- <mark>Âm thanh:</mark> tiếng chày đập vải<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; → Âm thanh <mark>báo hiệu </mark>mùa đông đến, đồng thời đó là <mark>âm thanh của tiếng lòng, diễn tả sự thổn thức, mong ngóng, chờ đợi ngày được trở về quê.</mark> Âm thanh của mùa thu may áo vừa kết thúc bài thơ, vừa mở ra nỗi buồn nhớ mênh mang...<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; ⇒ Bốn câu thơ diễn tả nỗi buồn của người xa quê, ngậm ngùi, mong ngóng ngày trở về quê hương.<br><br></div><div><strong>4. Tổng kết</strong><br>* <em>Giá trị nội dung</em><br>Bài thơ vẽ nên bức tranh mùa thu hiu hắt, mang đặc trưng của núi rừng, sông nước Quỳ Châu. Đồng thời, bài thơ còn là bức tranh tâm trạng buồn lo của nhà thơ trong cảnh loạn li: nỗi lo cho đất nước, nỗi buồn nhớ quê hương và nỗi ngậm ngùi, xót xa cho thân phận mình.<br>*<em> Giá trị nghệ thuật</em><br>- Tứ thơ trầm lắng, u uất<br>- Lời thơ buồn, thấm đẫm tâm trạng, câu chữ tinh luyện<br>- Bút pháp đối lập, tả cảnh ngụ tình<br>- Ngôn ngữ ước lệ nhiều tầng ý nghĩa.<br><br></div><div><br></div><div><br></div><div><br><br></div><div><br><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-26 14:09:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1964283114</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 1: Khe chim kêu</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1964299299</link>
         <description><![CDATA[<div>- Lê Thảo Nguyên<br>- Phạm Thu Huyền<br>- Nguyễn Thanh Ngân<br>- Quách Thảo Nguyên</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484333354/4239a898948fbc74642a6b2a509eaa77/download.jfif" />
         <pubDate>2021-12-26 14:23:28 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1964299299</guid>
      </item>
      <item>
         <title>I - Khái quát về tác giả, tác phẩm</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1964301290</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>1.</strong>&nbsp; &nbsp; &nbsp;<strong>Khái quát về tác giả</strong></div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<strong>Quê hương – gia đình</strong>: Vương Duy người huyện Kỳ, Tấn Trung, Sơn Tây, Trung Quốc. Ông xuất thân trong gia tộc rất danh giá thời Đường là Thái Nguyên Vương thị. Cha ông là Vương Xử Liêm, mẹ là Thôi thị, trong nhà ông là trưởng, sau đó tới Vương Tấn cùng 2 em trai và một em gái.</div><div>&nbsp;</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<strong>Cuộc đời:</strong></div><div>&nbsp;</div><div>+&nbsp; Năm Khai Nguyên thứ 9 (721), thời Đường Huyền Tông, Vương Duy đỗ tiến sĩ, nhận chức quan Đại nhạc thừa, sau phạm điều cấm, bị khiển trách và phải đến Tế Châu làm tham quân. Năm Khai Nguyên thứ 14 (726), ông từ bỏ quan chức, nhưng sau đó lại nhận chức Hữu thập di, thăng tới Giám sát ngự sử. Năm 40 tuổi, được thăng lên Điện trung truyền ngự sử.</div><div>+&nbsp; Năm Thiên Bảo thứ 14 (755), An Lộc Sơn chiếm Trường An. Vương Duy bị An Lộc Sơn bức bách ra làm quan, nhưng sau không được như ý, ông đã lui về ở tại biệt thự Lam Điền, sáng tác thơ ca để biểu đạt lòng mình. Sau khi An Lộc Sơn thất bại, nhờ có em trai là Vương Tấn khi dó đang giữ chức quan cao nên Vương Duy được miễn tội và được phong chức Thái tử trung doãn, sau thăng tới Thượng thư hữu thừa, vì thế người đời còn gọi ông là Vương hữu thừa&nbsp;</div><div>+&nbsp; Vương Duy nổi tiếng không chỉ thi ca mà còn về hội họa. Thi sĩ trứ danh Tô Đông Pha đời Tống khi viết về Vương Duy có câu: "Thưởng thức thơ của Ma Cật, trong thơ có hoạ đồ; ngắm họa đồ của Ma Cật, trong họa đồ có thơ".Ông đặc biệt rất được biết đến trong thể loại sơn thủy thi ,cùng với Mạnh Hạo Nhiên. Cả hai được gọi chung là Vương Mạnh .Vào những năm cưới đời, ông chuyên tâm nghiên cứu Phật giáo, và thi ca của ông có phản ánh tính Phật, vì vậy mới gọi ông là Thi Phật.</div><div>+&nbsp; Ông còn được biết đến về khả năng hội họa, mô tả con người và rừng trúc. Đồng Kỳ Xương đời Minh thì cho Vương Duy là ông tổ của phong cách họa sơn thủy Nam tông (Nam tông họa chi tổ).</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<strong>Con người:&nbsp;</strong></div><div>+&nbsp; Ông giỏi văn nghệ, ưa tiêu dao, nên tuy làm việc với triều đình nhưng vẫn thích nơi có cảnh quan yên tĩnh. Ông được gần vua, các cận thần và được quý trọng vì am hiểu văn chương nghệ thuật. Song trong lòng đã sẵn hướng về thiên nhiên nên thơ ông tả nhiều thú điền viên sơn thuỷ. Ông có một trang viên riêng cho mình, ở đó ông gảy đàn, thổi sáo và làm thi phú.</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<strong>&nbsp;Sự nghiệp văn học:&nbsp;</strong></div><div>+ Ông để lại khoảng 400 bài thơ, trong đó có những bài thơ thời trẻ, bộc lộ tâm trạng của lớp tri thức có tài có chí không được dùng, sống trong cảnh hàn vi.</div><div>+&nbsp; Những tháng năm ở biên cương, thơ ông có tình điệu khẳng khái, hiên ngang, đề cao lòng yêu nước, tinh thần hăng hái của những người lính canh giữ biên cương, sẵn lòng vì một triều đại đang mở mang, hướng tới thịnh vượng (Sứ chí tái thượng, Lũng đầu ngâm, Lão tướng hành,...). Thơ ông có một phần nổi bật quan trọng đó là thơ thiên nhiên. Do thú ưa thích một lối sống thanh tao, phong nhã, tâm hồn ông hoà nhập với cảnh sống thanh bình của làng quê yên ấm. Thơ ông miêu tả núi sông hùng vĩ, cảnh làm ruộng, gặt hái, lấy sự chất phác đôn hậu của đời sống dân chúng cần mẫn trên đồng ruộng làm nền. Thơ ông còn đắm trong tư tưởng hỷ xả từ bi của đạo Phật.</div><div>+&nbsp; Thơ ông được rất nhiều thi sĩ Việt Nam như Tản Đà, Trần Trọng San, Phụng Hà, Trần Nhất Lang, Thái Thanh Nguyên, Trần Ngọc Hưởng, Đinh Vũ Ngọc, Bùi Khánh Đản, Bùi Hạnh Cẩn... dịch lại với nhiều thể lục bát, tứ tuyệt, thất ngôn bát cú.</div><div><strong>2.</strong>&nbsp; &nbsp; &nbsp;<strong>Khái quát tác phẩm</strong></div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Khe Chim Kêu là bài thơ khá tiêu biểu cho phong cách thơ Vương Duy : cảnh vật thiên nhiên vô cùng yên tĩnh, thơ giàu chất hoạ, âm thanh lại rất sinh động. Bài thơ vẽ nên một bức tranh thiên nhiên trong sáng nhưng gợi buồn.&nbsp;</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Gieo vần theo luật thơ Đường, ngắt nhịp 2/3 ; bản dịch thơ thứ nhất theo cách gieo vần thơ lục bát, nhịp 2/4, 4/4, 2/4, 4/4 ; bản dịch thơ thứ hai ngắt nhịp 2/3 và gieo vần cách (các chữ cuối câu chẵn vần với nhau)</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-26 14:25:20 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1964301290</guid>
      </item>
      <item>
         <title>II - Đọc hiểu tác phẩm</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1964301871</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>a.</strong>&nbsp; &nbsp; &nbsp;<strong>Hai câu đầu&nbsp;</strong></div><div>Nhân nhàn hoa quế lạc</div><div>Dạ tĩnh xuân sơn không.</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Hai câu thơ đầu thể hiện hình ảnh con người sống trong cảnh nhàn hạ, đó là cuộc sống của người ẩn sĩ nơi điền viên sơn thủy, hòa mình vào thiên nhiên. - Có sự giao hòa, giao cảm một cách tự nhiên giữa người và cảnh: Trong đêm tĩnh lặng, thi nhân nghe được tiếng hoa quế rơi.</div><div>Ø Cho thấy sự nhạy cảm và tĩnh lặng trong chính tâm hồn của thi nhân.&nbsp;</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Có sự kết hợp của ba từ "lạc" (rụng), "tĩnh" (vắng lặng), "không" (vắng không)</div><div>Ø Gợi sự tịch mịch của cảnh đêm nơi rừng núi.&nbsp;</div><div>è Cảnh và người thật hòa hợp, người thì nhàn nhã, cảnh thì thanh tao, những bông hoa li ti nhẹ rơi càng làm tăng thêm vẻ tĩnh mịch. Đêm đã yên tĩnh, đêm trên núi vắng mùa xuân lại càng tĩnh lặng hơn.</div><div><strong>b.</strong>&nbsp; &nbsp; <strong>Hai câu cuối<br></strong><br></div><div>Nguyệt xuất kinh sơn điểu,<br>&nbsp;Thời minh giản tại trung.<br><br></div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Không khí yên tĩnh tới mức mà một ấn tượng về thị giác (trăng lên) đã tạo nên hiệu quả như một tiếng động. Ánh sáng của ánh trăng lan tỏa làm kinh động đến tiếng chim núi, làm chim núi bừng tỉnh, giật mình, thảng thốt. Ánh trăng lên không tiếng động vậy mà cũng làm chim núi giật mình&nbsp;</div><div>Ø Điều đó cho thấy cảnh yên đến mức chỉ một sự thay đổi nhỏ cũng đủ làm khuấy động sự yên tĩnh.</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Hai câu thơ dường như có sự chuyển dịch từ không gian tính và tối (hai câu đầu) sang động, sáng rõ hơn. Đó là sự xuất hiện của ánh sáng (trăng lên) và âm thanh (chim núi cất tiếng kêu) làm tô điểm thêm cho sự tĩnh lặng của cảnh vật.<br><strong>Tổng kết:</strong></div><div>- Nhà thơ lấy cái động để thể hiện cái tĩnh - sự tĩnh lặng của đêm và sự bình yên trong tâm hồn.</div><div>è Với nghệ thuật lấy động tả tĩnh, lấy hình gợi âm đầy tài tình, bài thơ đã miêu tả một bức tranh với những thanh âm nhẹ nhàng của thiên nhiên, qua đó ta thấy được tình yêu thiên nhiên đầy tinh tế.<br><br></div><div>-&nbsp; Lời thơ ngắn gọn, thể thơ ngũ ngôn quen thuộc trong thơ Đường, Vương Duy đã kết hợp nhuần nhuyễn các yếu tố người - cảnh - vật, tạo nên một bức sơn thủy hữu tình vừa mộng mơ, vừa hùng vĩ. Thể thơ điền viên sơn thủy, nêu cao tinh thần ung dung tự tại, không màng danh lại đã được tác giả sử dụng một cách khôn khéo, trong thơ có họa, một bức họa vẽ nên một bài thơ. Có thể nói, đây là bài thơ đã tạo nên Vương Duy, tạo nên tên tuổi và sức ảnh hưởng của thể thơ này trong suốt bề dày văn học thơ Đường.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-26 14:25:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1964301871</guid>
      </item>
      <item>
         <title>NHÓM 3: TÌ BÀ HÀNH</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1964333149</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><mark>A. Tìm hiểu về tác giả - tác phẩm</mark></strong></div><div><strong><mark><br></mark></strong><strong>1. Tác giả</strong></div><div>-<mark> Bạch Cư Dị </mark>( 772 - 846), biểu tự Lạc Thiên, hiệu Hương Sơn cư sĩ Túy ngâm tiên sinh hay Quảng Đại giáo hóa chủ. <br><br><strong>- Quê quán:</strong> Tổ tiên ông là người gốc Thái Nguyên, Sơn Tây, sau di cư tới huyện Vị Nam, Thiểm Tây.<br><br><strong>- Gia đình: </strong>Ông xuất thân trong một gia đình quan lại nhỏ, nhà nghèo nhưng rất thông minh, đã am tường nỗi vất vả của người lao động.<br><br><strong>- Con người:</strong> <br>+ Là nhà thơ Trung Quốc nổi tiếng thời nhà Đường. Ông là một trong những nhà thơ hàng đầu của lịch sử thi ca Trung Quốc.<br>+ Năm Trinh Nguyên thứ 16 (năm 800), ông thi đỗ tiến sĩ được bổ làm quan trong triều, giữ chức Tả thập di.<br>+ Do mâu thuẫn với tể tướng Lý Lâm Phủ, ông chuyển sang làm Hộ Tào tham quân ở Kinh Triệu.<br>+ Năm Nguyên Hòa thứ 10 (815), do hạch tội việc tể tướng Vũ Nguyên Hành bị hành thích và ngự sử Bùi Độ bị hành hung, nhóm quyền thần cho là ông vượt qua quyền hạn, đày làm Tư mã Giang Châu. Ngoài ra ông còn làm Thứ sử Hàng Châu, Thứ sử Tô Châu, sau được triệu về kinh làm Thái Tử Thiếu phó.<br>+ Năm Hội Xương thứ 2 (842) về hưu với hàm Thượng thư bộ Hình, sau mất tại Hương Sơn, Lạc Dương.<br><br><strong>-Sự nghiệp văn học:</strong> <br>+ Thơ ông mang đậm tính hiện thực, lại hàm ý châm biếm nhẹ nhàng kín đáo. Ngoài ra, trong thơ, ông luôn công kích đời sống xa hoa dâm dật của bọn quý tộc, bóc trần sự bóc lột của bọn quan lại, thông cảm với nỗi thống khổ của dân chúng.<br>+ Thơ ông thấm nhuần tư tưởng nhân đạo, nhân văn. Thể hiện tình cảm, tư tưởng giàu tính nhân dân, nói được nỗi lòng của mọi người trước thế sự, phản ánh nổi thống khổ của nhân dân Trung Quốc đương thời nên gây được cảm xúc mạnh.<br><br><strong>-Một số sáng tác: </strong>Trường hận ca, Tì bà hành, Tần trung ngâm, Dữ nguyên cửu thư,...</div><div><br><strong>2. Tác phẩm<br>_ </strong><mark>Tì bà hành</mark> là một trong những bài thơ nổi tiếng nhất trong toàn bộ lịch sử thơ ca cổ điển Trung Hoa.<br><br>_ <strong>Hoàn cảnh sáng tác:</strong> bài thơ được sáng tác vào năm 816, khi nhà thơ bị giáng chức làm quan Tư mã ở một vùng đất hẻo lánh, đang rơi vào tâm trạng bi quan. Bài thơ là tiếng lòng cảm thương đậm chất nhân văn của nhà thơ đối với tài năng bị cuộc đời vô tình lãng quên.<br><br>_ <strong>Thể thơ: </strong>thất ngôn cổ thể với 616 tiếng. Bản dịch thơ dịch thành song thất lục bát, cũng 616 từ.<br><br>_ <strong>Nhan đề:</strong> nói về tiếng đàn tì bà của một giai nhân bạc mệnh trên bến Tầm Dương một đêm trăng thu.<br><br><strong>_ Bố cục:</strong><br><em>Phần 1 (câu 1 – 8)</em>: cuộc đưa tiễn bạn buồn lưu luyến giữa một đêm trăng thu hiu hắt trên bến Tầm Dương.<br><em>Phần 2 (câu 9 – 38)</em>: gặp ca nữ và nghe nàng đàn.<br><em>Phần 3 (câu 39 – 62)</em>: ca nữ ngậm ngùi nói về cuộc đời nhiều bất hạnh của mình.<br><em>Phần 4 (câu 63 – 82)</em>: nhà thơ thương người rồi tự thương mình lận đận.<br><em>Phần 5 (câu 83 – 88)</em>: ca nữ đàn lần thứ hai. Tiệc hoa đầy lệ.<br><br><strong><mark>B. Đọc - hiểu tác phẩm</mark></strong><strong><br></strong><br></div><blockquote><strong>Bến Tầm Dương, canh khuya đưa khách.<br>Quạnh hơi thu, lau lách đìu hiu.<br>Người xuống ngựa, khách dừng chèo,<br>Chén quỳnh mong cạn, nhớ chiều trúc ti.<br>Say những luống ngại khi chia rẽ,<br>Nước mênh mông đượm vẻ gương trong.<br>Đàn ai nghe vẳng ven sông,<br>Chủ khuây khoả lại, khách dùng dằng xuôi.</strong></blockquote><div><br>_Một đêm khuya trên bến Tầm Dương, trong hơi thu quạnh quẽ, gió thổi đìu hiu, bờ lau xào xạc đã diễn ra một cuộc tiễn đưa “người xuống ngựa, khách dừng chèo…”.<br>_ Chén quỳnh đưa tiễn nhiều lưu luyến. Một khung cảnh đầy chất thơ: dòng sông, con thuyền, vầng trăng, đôi bạn thơ.<br>_ Khách và chủ đang bâng khuâng "ngại khi chia rẽ” lòng khao khát được nghe một tiếng sáo, tiếng đàn “nhớ chiều trúc, ti” thì bỗng đâu, lúc đó tiếng tỳ bà vẳng lại. Dòng sông như mênh mông hơn. Vầng trăng thu như trong và sáng hơn.<br>_ Một hình ảnh nên thơ: "Nước mênh mông đượm vẻ gương trong”.<br><br><mark>=&gt;</mark> Không gian, thiên nhiên, cỏ cây, gió thu, hơi thu như thấm một nỗi buồn man mác. Hồn Đường thấm vào, quyện vào những vần thơ thất ngôn và thơ song thất lục bát, réo rắt du dương trầm bổng.<br><br><br></div><blockquote><strong><em>Tìm tiếng sẽ hỏi ai đàn tá?<br>Dừng dây tơ nấn ná làm thinh.<br>Dời thuyền theo hỏi thăm tình,<br>Chong đèn, thêm rượu, còn dành tiệc vui.<br>Mời mọc mãi thấy người bỡ ngỡ,<br>Tay ôm đàn che nửa mặt hoa.<br>Vặn đàn vài tiếng dạo qua,<br>Dẫu chưa nên khúc tình đà thoảng bay.</em></strong></blockquote><div><br>_ Giữa đất trời sông nước trăng thu ấy, không hẹn mà nên, cuộc gặp gỡ giữa thi nhân và kĩ nữ qua khúc đàn tì bà đã diễn ra vô cùng cảm động.<br>Thi nhân “dời thuyền ghé lại thăm tình ” cất tiếng hỏi: "sẽ ai đàn tá? ”, kĩ nữ “dừng dây tơ nấn ná làm thinh”. Thi nhân ân cần “mời mọc mãi”, người đẹp tần ngần, chín mười phần bỡ ngỡ. Sự xuất hiện của mĩ nhân được tả ít gợi nhiều.<br>_ Qua dáng điệu và cử chỉ bỡ ngỡ, ngượng ngùng "che nửa mặt hoa". Tiếng dạo đàn giãi bày bao nỗi buồn u uất.<br><br><br></div><blockquote><strong><em>Nghe não nuột mấy dây buồn bực,</em></strong><br><strong><em>Dường than niềm tấm tức bấy lâu.<br>Mày chau tay gảy khúc sầu,<br>Giãi bày mọi nỗi trước sau muôn vàn.</em></strong></blockquote><div><br>_"giãi bày": thể hiện những cảm xúc dồn nén, tâm tư trong lòng của một người.<br>_các từ chỉ nỗi buồn: "bứt rứt", "tấm tức".<br>Ta thấy hình ảnh một ca nữ với biết bao phiền muộn dồn nén nhưng tất thảy chỉ có thể "giãi bày" qua việc gảy khúc đàn. Tiếng đàn của cô cất lên nghe não nề tựa như lời tự thương xót cho số phận lạc lõng, trôi nổi của chính mình. Ấy là những âm trầm đầy "bứt rứt", buồn thương.<br><br><mark>=&gt; </mark>Bạch Cư Dị thưởng đàn nhưng cũng không quên quan sát người đàn để cảm nhận cho trọn vẹn tâm tinh của khúc nhạc, chỉ một cái "chau mày" cũng đã đủ hiểu người ca nữ có biết bao phiền muộn muốn tỏ bày. Nhờ sự tinh tế ấy, ta mới có thể thấu hiểu trọn vẹn tâm trạng của cô ca nữ.<br><br></div><blockquote><strong><em>Ngón buông bắt khoan khoan dìu dặt,<br>Trước Nghệ thường sau thoắt Lục yêu.<br>Dây to dường đổ mưa rào,<br>Ni non dây nhỏ khác nào chuyện riêng.</em></strong></blockquote><div><br>_"Nghê thường", "Lục yêu": tên gọi từng khúc nhạc.<br>_"dìu dặt": liên tiếp, hết phần nọ đến phần kia. Ở đây ý chỉ sự nhuần nhuyễn, thành thục của người ca nữ trong việc chơi đàn.<br>Với khả năng cảm thụ âm nhạc, nhà thơ thấy được cả những ngón tay linh hoạt của người ca nữ khi gảy đàn. Tiếng đàn hoà nhịp với cảnh vật, biến hoá kì ảo, lúc dồn dập, mạnh mẽ tựa như trời "đổ mưa rào" rồi lại tạnh, sau đó lại tinh tế chuyển sang âm sắc tỉ tê, thủ thỉ tâm tình "nỉ non dây nhỏ khác nào chuyện riêng".<br><br><mark>=&gt;</mark> Ta nhận ra người ca nữ mang một ngón đàn đầy điêu luyện, hết sức tài tình. Nhưng có lẽ bởi chính tài sắc hơn người ấy mà cuộc đời nàng mới vấp phải nhiều bất trắc,&nbsp; truân chuyên. Dẫu hiểu biết sâu rộng và có nhiều phẩm chất nhưng lại bị lưu đày nơi khỉ ho cò gáy một cách buồn tủi.<br><br></div><blockquote><strong><em>Tiếng cao thấp lựa chen lần gảy,<br>Mâm ngọc đầu bỗng nảy hạt châu,<br>Trong hoa oanh ríu rít nhau,<br>Nước tuôn róc rách, chảy mau xuống ghềnh.</em></strong></blockquote><div><br>_Nhà thơ ẩn dụ tiếng đàn của cô gái trong trẻo và đẹp đẽ giống như "mâm ngọc", "hạt châu".<br>_"Tiếng cao thấp" xen kẽ nhau qua mỗi lần gảy đàn.<br>Tiếng đàn với âm trầm day dứt nhưng cũng du dương khiến cho người nghe chìm đắm. Ấy là thanh âm thanh thúy như "Mâm ngọc đâu bỗng nảy hạt châu". Tài năng của người ca nữ còn thể hiện rõ nét hơn với khả năng chơi đàn đến cảnh giới khiến người nghe tưởng như mình lạc vào cảnh tiên với hoa thơm, với tiếng chim ríu rít, tiếng suối róc rách chảy xuống ghềnh.<br><br><mark>=&gt;</mark> Nhà thơ cảm nhạc bằng cả tâm hồn, miêu tả kết hợp với các biện pháp tu từ để khắc hoạ những âm điệu tinh tế của khúc đàn.<br><br><br></div><blockquote><strong><em>Nước suối lạnh, dây mành ngừng đứt,<br>Ngừng đứt nên phút bặt tiếng tơ.<br>Ôm sầu mang giận ngẩn ngơ,<br>Tiếng tơ lặng ngắt, bây giờ càng hay.</em></strong></blockquote><div><br>_Từ "lạnh" làm cho tiếng đàn vang lên với nhiều âm sắc bỗng nhiên chết cứng lại, không còn bay bổng tuyệt vời nữa.<br>_ "ngừng đứt" được lặp lại hai lần làm tăng không khí nặng nề, nhấn mạnh vào thực tế cuộc đời người ca kĩ lúc đó.<br>_"bặt" chỉ mức độ im lặng của âm thanh bị nén lại, bị đông cứng trong một giới hạn nào đó giữa cái buồn thảm, nuối tiếc.<br>Lúc này đây, người ca nữ ngừng gảy đàn sau những thanh âm sầu muộn. Nàng "ôm sầu", ôm "giận ngẩn ngơ" trước số phận đìu hiu của chính mình. Tiếng đàn "lặng ngắt", im hẳn và không thể nghe thêm một âm thanh gì khác. "Bây giờ càng hay" là cảm nhận của tác giả trước nốt lặng đã tích tụ lâu nay, chứa đựng những giọt nước mắt và tâm tư của người ca kĩ đầy sầu muộn, tổn thương.<br><br><mark>=&gt;</mark> Ta thấy được sự tài tình của Bạch Dị Cư qua việc miêu tả nốt lặng, liên kết với những khổ thơ trên có âm hưởng hài hòa đã tạo nên mặt đối lập đầy tinh tế. Xuyên suốt là nỗi lòng của người con gái gắn liền với việc chơi đàn đã chạm đến trái tim người đọc.<br><br><br></div><blockquote><strong><em>Bình bạc vỡ tuôn đầy dòng nước,</em></strong><br><strong><em>Ngựa sắt giong, xô xát tiếng đao.</em></strong><br><strong><em>Cung đàn trọn khúc thanh tao,</em></strong><br><strong><em>Tiếng buông xé lụa lựa vào bốn dây.</em></strong></blockquote><div><br>_ Tiếng đàn như sầu thương, như giận dữ, làm mê say, đắm đuối lòng người.<br>_ Bốn ẩn dụ cuối, là biến thái của giai điệu tì bà như nước tuôn trào ra khỏi bình bạc vỡ, rầm rập như đoàn quân thiết kị xung trận, như tiếng đao khua trên chiến địa, như tiếng xé lụa vang lên.<br><mark>=&gt;</mark> Hình ảnh nào cũng thần tình, câu thơ nào cũng đẹp, cũng "thanh tao”. Ngôn ngữ thơ tràn ngập âm thanh.</div><div><br><br></div><blockquote><strong><em>Thuyền mấy lá đông tây lặng ngắt,</em></strong><br><strong><em>Một vầng trăng trong vắt dòng sông.</em></strong><br><strong><em>Ngậm ngùi đàn bát xếp xong,</em></strong><br><strong><em>Áo xiêm khép nép hầu mong giãi lời.</em></strong></blockquote><div><br></div><div>_Trong suối âm thanh tì bà, ngoại cảnh (dòng sông, con thuyền, bầu trời, vầng trăng thu) như ru hồn trong mộng tưởng, say đắm, bâng khuâng, tất cả đều “lặng ngắt” tận hưởng dư âm tỳ bà.<br>_Khung cảnh hiện lên qua một nét vẽ đầy chất thơ.<br><mark>=&gt;</mark> Giữa kỹ nữ và thi nhân không chỉ có mối liên tài mà còn là đôi bạn tri âm. Bao nhiêu âm thanh là bấy nhiêu tấc lòng, bấy nhiêu tình đời cay đắng, u uất.<br><br>Kĩ nữ nói về cuộc đời nàng. Đã có một thời oanh liệt, vàng son “giáo phường đệ nhất chỉ đào chép tên Tài sắc của nàng từng làm mê đắm bao công tử vương tôn một thời. Chìm đắm trong truy hoan, tuổi xuân vung phí:</div><blockquote><strong><em>“Năm… năm lần nữa vui cười,</em></strong><br><strong><em>Mải trăng hoa chẳng đoái hoài xuân thu”.</em></strong></blockquote><div>Như đóa hoa sớm nở tối tàn, cuộc đời kĩ nữ phôi pha: sắc đẹp phai tàn, người dì chết, đứa em trai ra lính, tình duyên hẩm hiu "thân già mới kết duyên cùng khách thương”. Kết cục nàng vẫn sống trong cô đơn, trong lạnh lẽo trên con thuyền giữa mênh mông sông nước:</div><blockquote><strong><em>"Thuyền không đậu bến mặc ai,</em></strong><br><strong><em>Quanh thuyền trăng dãi, nước trôi lạnh lùng”.</em></strong></blockquote><div>Hình ảnh con thuyền, vầng trăng, dòng nước trong câu thơ mang ý nghĩa tượng trưng cho thân phận một kiếp phù hoa cô đơn của các kĩ nữ trong cuộc đời. Lời thơ buồn não nuột.</div><div>Sau lời tâm sự là suối lệ tuôn trào, nuối tiếc một thời xuân sắc rực rỡ. Lần thứ hai, thi sĩ làm rõ thêm tâm cảnh kĩ nữ:</div><blockquote><strong><em>“Đêm khuya sực nhớ vòng tuổi trẻ,</em></strong><br><strong><em>Chợt mơ màng dòng lệ đỏ hoen”</em></strong></blockquote><div>Có thể nói lời tâm sự của kĩ nữ cùng với tiếng đàn tì bà của nàng là hai nốt trầm, bổng của hợp âm trong hãn đàn “bạc mệnh” của một giai nhân.</div><div>Bạch Cư Dị đã dùng 20 câu thơ nói lên tâm sự của mình. Nghe đàn, rồi nghe kỹ nữ giãi bày tâm sự, thi nhân lòng nặng trĩu buồn thương:</div><blockquote><strong><em>"Nghe đàn ta đã chạnh buồn,</em></strong><br><strong><em>Lại rầu nghe nỗi nỉ non mấy lời”</em></strong></blockquote><div>Nhà thơ thương người rồi xót xa thân phận mình bị trôi giạt "Tầm Dương đất trích gối sầu hôm mai”, cay đắng đang sống buồn tẻ nhạt thảm trong cô đơn nơi xa xôi hoang vu quạnh vắng. Những câu thơ miêu tả tâm trạng đau buồn của một ông quan bị thất thế, một thi nhân đa tài đa cảm mang nặng nỗi đau đời làm ta nhớ mãi:</div><blockquote><strong><em>"Sông Bồn gần chốn cát lầm</em></strong><br><strong><em>Lau vàng trúc võ âm thầm quanh hiên”</em></strong></blockquote><div>Sống giữa nơi “cuốc kêu sầu, vượn hót véo von" mượn chén rượu nhạt giải sầu, thi nhân vô cùng xúc động khi nghe tiếng tì bà ngỡ là đang được thưởng thức “tiên nhạc”Nỗi đau như được xoa dịu:</div><blockquote><strong><em>"Tỳ bà nghe dạo canh khuya,</em></strong><br><strong><em>Dường như tiên nhạc gần kề bên tai”.</em></strong></blockquote><div>Giọng thơ buồn thương. Thi sĩ khóc mình cũng là khóc người. Giai nhân, tài tử tương ngộ. Khóc cho số phận, khóc cho tài năng, khóc cho một đời tài hoa mà nhiều cay đắng lận đận. Nhạc điệu thơ song thất lục bát diễn tả tuyệt hay, làm đẹp thêm nhiều lần hồn thơ nguyên tác. Có thể mượn ý câu thơ Kiều nói lên điệu tâm hồn của Bạch Cư Dị trong đêm tiệc hoa ấy: "Ai tri âm đó…”</div><div>Lần thứ nhất, tiếng tì bà vang lên từ xa "nghe vẳng bên sông ” hòa với hơi thu, vớt tiếng lau lách đìu hiu.</div><blockquote><strong><em>“Lệ ai chan chứa hơn người,</em></strong><br><strong><em>Giang Châu Tư mã đượm mùi áo xanh”.</em></strong></blockquote><div>Tiếng đàn càng trở nên thê lương hơn, sầu não hơn với cả tấm lòng đồng điệu. Tiếng đàn hay quá nghe mãi cũng không chán, nghe đến tàn canh vẫn còn muốn nghe.<br><br><strong><mark>C. Tổng kết<br><br></mark></strong>Trong bài thơ Tì Bà Hành thì tiếng đàn kỹ nữ, chén rượu tiệc hoa, giọt lệ trên màu xanh lam – chiếc áo của quan Tư mã trong đêm thu Tầm Dương mang ý nghĩa sâu sắc, tượng trưng cho số phận bi kịch nhiều đắng cay và chìm nổi của khách tài tử, giai nhân trong cuộc đời. Thăng trầm trong cuộc đời và sự nhào nặn ấy với những đau khổ và cay đắng khôn nguôi cho một kiếp người.<br><br></div><div>Tì Bà Hành bộc lộ tài năng tuyệt đỉnh trong nghệ thuật miêu tả tiếng đàn tì bà của Bạch Cư Dị. Đồng thời mượn nỗi lòng của giai nhân qua tiếng tì bà mà nói lên tâm trạng của mình, gửi gắm theo đó là những đắng cay, thăng trầm đầy đau khổ mà cuộc đời của một con người phải trải qua. Để từ đó mà thấy được một chân lí nhân sinh: Làm người là phải chịu khổ và không có gì là trường tồn vĩnh cửu.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://soanbai123.com/wp-content/uploads/2016/12/ti-ba-hanh.jpg" />
         <pubDate>2021-12-26 14:53:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1964333149</guid>
      </item>
      <item>
         <title>LẦU HOÀNG HẠC TIỄN MẠNH HẠO NHIÊN ĐI QUẢNG LĂNG</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1964349606</link>
         <description><![CDATA[<div>VŨ THỊ HỒNG NHUNG<br>NGUYỄN NGỌC LAN<br>TRẦN THANH THỦY<br>NGUYỄN HÀ MY<br><strong>I. Tác giả<br></strong>Lý Bạch (chữ Hán: 李白; 701[1] - 762), tự Thái Bạch (太白), hiệu Thanh Liên cư sĩ (青莲居士), là một trong những nhà thơ theo chủ nghĩa lãng mạn nổi tiếng nhất thời Thịnh Đường nói riêng và Trung Hoa nói chung.<br><br><br>Suốt cuộc đời của mình, ông được tán dương là một thiên tài về thơ ca, người đã mở ra một giai đoạn hưng thịnh của thơ Đường. Từ trẻ, ông đã xa gia đình để đi du lịch, tìm đường lập công danh sự nghiệp. Dẫu muốn góp phần cứu đời giúp dân song chưa bao giờ ông được toại nguyện. Ông cùng người bạn Đỗ Phủ trở thành hai biểu tượng thi văn lỗi lạc không chỉ trong phạm vi nhà Đường, mà còn trong toàn bộ lịch sử Trung Hoa, thậm chí toàn bộ khu vực Đông Á đồng văn. Do sự lỗi lạc của mình, ông được hậu bối tôn làm Thi Tiên (詩仙) hay Thi Hiệp (詩俠). Giới thi nhân bấy giờ thì rất kính nể tài uống rượu làm thơ bẩm sinh, nên gọi Lý Bạch là Tửu Tiên (酒仙) hay Trích Tiên Nhân (谪仙人). Hạ Tri Chương gọi ông là Thiên Thượng Trích Tiên (天上謫仙).<br>Ông đã viết cả ngàn bài thơ bất hủ.[2] Hơn ngàn bài thơ của ông được tổng hợp lại trong tập Hà Nhạc Anh Linh tập (河岳英靈集), một tuyển tập thơ rất đồ sộ thời Vãn Đường do Ân Phan (殷璠) chủ biên vào năm 753, và hơn 43 bài của ông được ghi trong Đường Thi Tam Bách Thủ (唐诗三百首) được biên bởi Tôn Thù (孫洙), một học giả thời nhà Thanh. Vào thời đại của ông, thơ của ông đã xuất hiện các bản dịch tại phương Tây, chủ đề của ông nhấn mạnh tán dương mối quan hệ bạn bè, sự thần bí của thiên nhiên, tâm trạng tĩnh mịch và thú vui uống rượu rất đặc trưng của ông<br>Cuộc đời của ông đi vào truyền thuyết, với phong cách yêu rượu hiếm có, những truyện ngụ ngôn và truyền thuyết về tinh thần trượng nghĩa, cũng như điển tích nổi tiếng về việc ông đã chết đuối khi nhảy khỏi thuyền để bắt cái bóng phản chiếu của mặt trăng.<br><strong>II. Tác phẩm</strong><br>1. Tìm hiểu chung<br><em>a. Hoàn cảnh sáng tác</em><br>- Mạnh Hạo Nhiên (689 - 740) là một nhà thơ nổi tiếng của Trung Quốc đời Đường, là người bạn văn chương rất thân thiết của Lý Bạch.<br>- Bài thơ được sáng tác khi tác giả tiễn bạn đi Quảng Lăng tại lầu Hoàng Hạc<br>Thể thơ<br>* Thất ngôn tứ tuyệt<br>* Hình ảnh chân thực, cụ thể<br><em>b. Bố cục </em>(2 phần)<br>- 2 câu thơ đầu: cảnh tiễn biệt ở Hoàng Hạc lâu<br>- 2 câu còn lại: cảm xúc của tác giả<br><em>c. Chủ đề</em><br>- Ca ngợi tình bạn chân thành, sâu sắc<br><strong>III. Tác phẩm</strong><br>1. <em>Hai câu thơ đầu: Cảnh đưa tiễn bạn hiền của thi nhân:</em><br><mark>"Cố nhân tây từ Hoàng Hạc Lâu"</mark><br>(Ngoái về phía tây, bạn cũ giã từ lầu Hoàng Hạc)<br>* Bối cảnh không gian:<br>- Hoàng Hạc lâu:<br>+ Là nơi chia tay của Lý Bạch và Mạnh Hạo Nhiên.<br>+ Nằm ở Vũ Hán, Hồ Bắc, về phía tây so với thành Giang Tô tức là Quảng Lăng và Dương Châu cũ.<br>+ Là cảnh sắc thần tiên, tượng trưng cho sự thanh tĩnh, yên bình, tao nhã.<br>* Con người:<br>- "Cố nhân": Gợi ra mối quan hệ giữa người đi kẻ ở, đó là mối quan hệ bằng hữu đã thành tri kỷ, gắn bó sâu sắc.<br><mark>"Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu"</mark><br>(Xuôi về Dương Châu giữa tháng ba mùa hoa nở rộ)<br>- Dương Châu (Quảng Lăng):<br>+ Là nơi đến của Mạnh phu tử.<br>+ Nằm ở phía đông của tỉnh Giang Tô ngày nay.<br>+ Chốn phồn hoa đô hội bậc nhất, tượng trưng cho không gian động, nhộn nhịp.<br>=&gt; Không gian rộng lớn, mênh mông.<br>* Thời gian:<br>- "Yên hoa tam nguyệt": Tức là mùa xuân hoa nở rộ.<br>- "Tam nguyệt" là chỉ khoảng thời gian hoa nở rực rỡ và nhiều nhất, thời tiết ấm áp, trong lành.<br>- "Yên hoa": Chính là chỉ cảnh hoa nở trắng xóa diễm lệ như sương khói hai bên bờ sông, phụ là chỉ cảnh sương khói trên sông nước phủ lên trên rừng hoa tạo nên cảnh "hoa khói" lạ lùng.<br>* Con người:<br>- "Cố nhân": Gợi ra mối quan hệ giữa người đi kẻ ở, đó là mối quan hệ bằng hữu đã thành tri kỷ, gắn bó sâu sắc.<br>-&gt; bức tranh hoa lệ với hình ảnh đẹp và không khí gợi cảm<br>=&gt; Bên trong không khí bịn rịn của buổi đưa tiễn ta thấy được nỗi lo âu của người tiễn đưa khi phải tiễn bạn đến nơi phồn hoa đô thị, nơi náo nhiệt bon chen không giống với tâm hồn của bạn<br><em>2. Hai câu thơ còn lại: Nỗi lòng của tác giả</em><br><mark>&nbsp; “ Cô phàm viễn ảnh bích ko tận “</mark><br>&nbsp; &nbsp;( Bóng buồm đã khuất bầu không )<br>- Hình ảnh “cô phàm” – cánh buồm cô đơn: hình ảnh tượng trưng cho sự hiu quạnh, là hình ảnh dùng để chỉ Mạnh Hạo Nhiên ra đi một mình trong cô đơn, lẻ loi. Đồng thời thể hiện diễn tả nỗi lòng cô đơn, lạc lõng của nhà thơ.<br>- "Viễn ảnh bích không tận", tức là sự vận động xa dần của cánh buồm rồi mất hút vào khoảng không bao la, trong màu xanh bát ngát của trời nước → Sự cô đơn, lưu luyến của người ra đi và người ở lại<br>- Nghệ thuật đối lập giữa hình ảnh “cô phàm” và “bích không tận”: diễn tả sựu nhỏ bé, đơn côi, lẻ bóng của con người trước khoảng không gian bao la rộng lớn, mênh mông.<br>-&gt;Câu thơ thể hiện tâm trạng lưu luyến, tiếc thương với “ cố nhân “ và sự cô đơn của nhà thơ trước khoảng không gian rộng lớn,<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;<mark>“ Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu “</mark><br>&nbsp; ( Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời. )<br> - Cái tâm cảnh của Lí Bạch được diễn tả bằng hai chữ “duy kiến” – chỉ nhìn thấy. Trên con sông Trường Giang suốt đêm ngày thuyền bè ngược xuôi. Thế mà trong muôn ngàn cánh buồm ở trên sông, Lý Bạch ”duy kiến” chiếc “cô phàm” của bạn, nhìn mãi cho đến lúc nó mất hút trong “bầu trời xanh biếc”. Chỉ sống với một tình bạn tri âm, thắm thiết thì mới có cái nhìn “duy kiến” ấy.<br> - Hình ảnh phi lý : Trường Giang vốn là con đường giao thông huyết mạch của Trung Quốc thế nhưng trong thơ của Lý Bạch lại chỉ có độc một cánh buồm lẻ loi trên dòng sông<br> - “Trường Giang thiên tế lưu”: hình ảnh đẹp, lãng mạn, thiên nhiên thoáng đãng, kì vĩ, gợi tả cảm giác hụt hẫng, trống trải của tác giả.<br>&nbsp; -&gt;Cảnh và tình hoà quyện với nhau cho thấy tâm trạng lưu luyến, cô đơn cùng nỗi nhớ da diết của người ở lại.<br>=&gt;Hai câu cuối đã chuyển sang nói về tâm tình của người ở lại. Nhìn vào nó như một bài thơ tả cảnh thuần tuý, đạt được mức độ xuất sắc nhưng thực chất lại là tả tình.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-12-26 15:08:27 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1964349606</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hoàng Hạc lâu ( Nhóm 5 )</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1964359847</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><mark>Thành viên: <br></mark></strong>- Vũ Thị Thu An<br>- Phạm Minh Anh<br>- Nguyễn Thùy Dung<br>- Nguyễn Thúy Hằng<br><strong><mark>I, Tác giả: <br></mark></strong><mark>1, Cuộc đời - Con người:</mark><strong><mark><br></mark></strong>- <mark>Thôi Hiệu</mark> là <mark>thi nhân thời nhà Đường</mark>, người Biện Châu 汴州 (nay là tỉnh Hà Nam, Trung Quốc), <mark>đỗ tiến sĩ</mark> năm Khai Nguyên thứ 11 (723), làm quan đến <mark>chức Tư Huân</mark> viên ngoại lang. <br>- Thích ngao du sơn thuỷ.<br>- Còn để lại 40 bài thơ.<br><mark>2, Sự nghiệp văn học :&nbsp; </mark><br>&nbsp; &nbsp; Thơ ông còn truyền lại <mark>hơn 40 bài</mark>, một số lượng không nhiều so với các nhà thơ đương thời. Song chỉ với <em>Hoàng Hạc lâu</em>, tên tuổi của ông đã lưu danh thiên cổ. Tương truyền rằng, Lý Bạch khi đến Hoàng Hạc lâu đã thấy thơ Thôi Hiệu đề trên vách, đọc xong, vứt bút không làm thơ nữa! Cùng với Vương Duy, ông được coi là một trong những người tinh thông cận thể thi.</div><div><mark>- Các tác phẩm nổi tiếng: </mark><br><em>+ Hành kinh Hoa Âm (Đi qua Hoa Âm)</em></div><div><em>+ Hoàng Hạc lâu (Lầu Hoàng Hạc)</em></div><div><em>+ Trường Can hành kỳ 1&nbsp;</em></div><div><em>+ Trường Can hành kỳ 2</em></div><div><em>+ Trường Can hành kỳ 3&nbsp;</em></div><div><em>+ Trường Can hành kỳ 4&nbsp;</em></div><div><em>+ Vị Thành thiếu niên hành (bài Hành tuổi trẻ thành Vị)</em></div><div><em>+ Nhập Nhược Da khê (Vào suối Nhược Da)</em></div><div><em>+ Cổ ý (Ý xưa)</em></div><div><em>+ Mạnh Môn hành (Bài hành qua Mạnh Môn)</em></div><div><em>+ Nhạn Môn Hồ nhân ca (Bài ca của người Hồ ở Nhạn Môn)</em></div><div><br><strong><mark>II, Tác phẩm:<br>1, Hoàn cảnh sáng tác:</mark></strong><strong><br></strong>- Đến thăm lầu Hoàng Hạc, nhà thơ đã nhớ đến huyền thoại xưa, nuối tiếc điều tốt đẹp đã qua và suy ngẫm về cuộc sống. Nhà thơ đã thổi linh hồn vào lầu Hoàng Hạc, nhắc lại chuyện người xưa để thể hiện một quan niệm nhân sinh sâu sắc.<br><strong><mark>2, Bố cục:</mark></strong><strong><br></strong>- Phần 1 (Sáu câu thơ đầu): khung cảnh ở lầu Hoàng Hạc.<br>- Phần 2 (Hai câu thơ cuối): tâm trạng của nhà thơ trước khung cảnh xung quanh.<br><strong><mark>3, Phương thức biểu đạt:</mark></strong> miêu tả, biểu cảm.<br><em>- Hoàng Hạc Lâu được đánh giá là một trong những bài thơ Đường hay nhất.<br>- Tương truyền, Lí Bạch đến thăm lầu, thấy bài thơ này của Thôi Hiệu, đã viết vào vách rằng: “Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc/ Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu” (Trước mắt có cảnh đẹp nhưng ko nói được/ Vì thơ Thôi Hiệu ở trên đầu).<br></em><strong>4, Thể loại: </strong>Thất ngôn bát cú<em><br></em><strong><mark>III, Đọc hiểu:<br></mark></strong><mark>1, Hai câu đề:</mark><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.<br>Tản Đà dịch:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Hạc vàng ai cưỡi đi đâu,<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ.<br>Khương Hữu Dụng dịch:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Ai cưỡi hạc vàng đi mất hút,<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Trơ lầu Hoàng Hạc chốn này thôi.</div><div>- Tác giả sử dụng <mark>khéo léo</mark> các <mark>sự vật đối lập</mark>, mượn cảnh để luận sự.<br>&nbsp; +<mark>” Tích nhân”</mark>: người xưa; hạc vàng &gt;&lt; Lầu Hoàng Hạc<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Cái mất&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &gt;&lt;&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Cái còn<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Cõi tiên&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &gt;&lt;&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Cõi trần<br>-&nbsp; Tác giả tìm đến <mark>một di chỉ thần tiên</mark> nhưng người tiên, hạc tiên đâu còn, chỉ còn trơ lại lầu Hoàng Hạc như một <mark>dấu tích kỉ niệm.</mark> Từ sự đối lập của <mark>quá khứ với hiện tại</mark>, tác giả ghi nhận <mark>sự tiêu vong</mark> của người tiên, hạc tiên.<br>- <mark>Tâm trạng</mark> của tác giả: nuối tiếc, bàng hoàng, ngẩn ngơ trước thực tại biến cải.<br><mark>2, Hai câu thực:</mark><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Bạch vân thiên tỉa, không du du.</div><div>&nbsp;Tản Đà dịch:</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Hạc vàng đi mất từ xưa,</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay.</div><div>&nbsp;</div><div>Khương Hữu Dụng dịch:</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Hạc vàng một đã đi, đã biệt,</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Mây trắng ngàn năm bay chơi vơi.</div><div>&nbsp;- Hình ảnh <mark>hạc vàng</mark> gắn liền với <mark>khung cảnh thần tiên.</mark> Hạc vàng bay mất không bao giờ quay trở lại mang theo tất cả những gì là <mark>huyền ảo</mark> nhất, <mark>thơ mộng</mark> nhất của lầu Hoàng Hạc. Chỉ còn mây trắng vẫn bay giống như ngàn năm trước.&nbsp;</div><div>- Khung cảnh <mark>được miêu tả bằng cảm xúc</mark> ngậm ngùi, nuối tiếc của nhà thơ.&nbsp;</div><div>- Nhà thơ chìm đắm trong <mark>tâm trạng hoài cổ</mark>, giữa không gian tịch mịch cô liêu.&nbsp;</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Hạc vàng” với “mây trắng”, quá khứ với hiện tại, cái mất đi từ nghìn xưa với cái hữu hình “còn bay”… <mark>hô ứng nhau, đối ứng nhau,</mark> tạo nên những <mark>vần thơ đẹp</mark> vô cùng gợi cảm. <br>&nbsp; + Trong phần “đề” và “thực” của bài thơ, <mark>ba từ “Hoàng Hạc”</mark> ba lần xuất hiện trên cái nền “mây trắng ngàn năm bay chơi vơi” (câu thơ dịch của Khương Hữu Dụng); <mark>màu sắc hài hòa</mark> tuyệt đẹp làm gợi lên một <mark>cảnh quan mỹ lệ</mark> nên thơ.<br>&nbsp; +&nbsp; Đặc biệt câu thơ thứ 4 “Hoàng Hạc nhất khứ bất phục phản” gồm<mark> 6 thanh trắc</mark> xuất hiện liên tiếp, <mark>luật bằng trắc</mark> của thơ Đường <mark>bị phá cách</mark>. Âm hưởng câu thơ như bị “thắt” biểu hiện cái <mark>cảm giác ngẩn ngơ</mark>, bâng khuâng, <mark>tiếc nuối</mark> của du khách khi ngắm lầu vàng<br>=&gt; Tâm trạng của nhà thơ lúc này cũng đang <mark>hòa quyện</mark> với <mark>khung cảnh thiên nhiên</mark> ở lầu Hoàng Hạc: tâm trạng buồn rầu cô đơn hiu quạnh, trống trải trong tâm hồn nhà thơ. Đó là những <mark>kỉ niệm</mark> về những thứ đã qua, tác giả <mark>tiếc nuối</mark> những quãng thời gian đó nhưng giờ đã <mark>mất đi và vĩnh viễn </mark>không quay trở lại. <br>&nbsp; + Không chỉ có <mark>sự đối lập</mark> giữa <mark>quá khứ và hiện tại</mark> mà còn có sự đối lập giữa <mark>cõi tiên và cõi tục</mark>. Hạc vàng đã bay về cõi tiên nên nơi đây, dưới còn trơ lại lầu Hoàng Hạc, trên trời mây trắng bay chơi vơi, dường như còn mong nhớ tiếc nuối điều gì đó. Đó là một nghĩ suy mang <mark>triết lí nhân sinh </mark>sâu sắc – <mark>triết lí về sự còn – mất</mark>, về sự vô hạn và hữu hạn của trời đất và nhân sinh. Cái gì đã qua đi thật khó trở lại, thời gian cũng vậy, vậy nên người xưa mới từng nói: “thời gian quý như vàng”.<br><mark>3, Hai câu luận:<br></mark>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;“Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Phương thảo thê thê Anh Vũ châu”<br>&nbsp; <mark>- Hình ảnh :</mark><br>&nbsp; &nbsp; + Hán Dương : một địa điểm bên sông Trường Giang, đối diện lầu Hoàng Hạc<br>&nbsp; &nbsp; + Anh Vũ : một bãi giữa sông Trường Giang<br>=&gt; Tác giả <mark>đưa mắt ngắm nhìn</mark> khung cảnh quanh lầu Hoàn Hạc. Khung cảnh lúc này đã mở rộng hơn<br>&nbsp; &nbsp; + “tình xuyên lịch lịch”, “phương thảo thê thê” : cây, cỏ xanh mơn mở<br>=&gt; Khung cảnh thiên nhiên với màu xanh là chủ đạo, thể hiện <mark>sự sinh trưởng và phát triển</mark> không ngừng của cây cỏ<br> - Nội dung : 2 câu thơ như vẽ lên một <mark>bức tranh thủy mạc</mark> có xa – gần, đậm – nhạt. Nhưng lại có sự đối lập với hai câu thơ trước khi mà những đám mây trên trời bao năm không thay đổi thì dưới đất luôn có những loài cây tiếp tục hồi sinh và xanh mơn mởn. Điều này đã làm rõ thêm cảm xúc của nhà thơ về nhưng gì gọi là <mark>“mất – còn”<br>4, Hai câu kết:<br></mark>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Nhật mộ hương quan hà xứ thị ?<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Yên ba giang thượng sử nhân sầu.<br>Tản Đà dịch:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Quê hương khuất bóng hoàng hôn<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai ? <br>Khương Hữu Dụng dịch:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Hoàng hôn về đó, quê đâu tá ?<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Khói sóng trên sông não dạ người<mark><br></mark>- <mark>Hai câu kết</mark> tạo ra<mark> sự đối lập</mark> với <mark>hai câu luận</mark> : <br>- Ở câu thơ “ Nhật mộ hương qan hà xứ thị “ ( Quê hương khuất bóng hoàng hôn ) có <mark>sự chuyển biến về mặt thời gian</mark> từ khi có ánh nắng chan hoà đến khi hoàng hôn buông xuống <br>- Tác giả đã&nbsp; sử dụng <mark>hình ảnh ước lệ tượng trưng</mark> “ hoàng hôn “ để gợi tả tâm trạng của mình qua hình ảnh thiên nhiên . Khi nhìn ngắm khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp cùng với cảnh hoàng hôn buông xuống lúc triều tà càng làm ông thêm nhớ quê hương của mình . Mà hoàng hôn lúc nhớ nhà là một trong những tứ thơ quen thuộc của thi ca nhà Đường .<br>- Ngoài nỗi nhớ quê hương bâng khuâng, nao nao, của mình, nếu nối mạch cảm xúc với cả đoạn thơ có thể hiểu thêm rằng : Câu hỏi tu từ :&nbsp; hương quan xứ hà thị ? không chỉ là câu hỏi về quê hương ở nơi nào mà còn có thể hiểu rộng rằng : Nơi nào để dừng chân ? Nơi nào là nơi có thể <mark>sống bình yên</mark> cho đời người ? =&gt; Đây là <mark>triết lí sống</mark> của tác giả , bài thơ . ). <br>- “Trên sông khói sóng” (Yên ba giang thượng) là một <mark>hình ảnh đầy thi vị, huyền ảo,</mark> gợi tả cảnh sông nước phủ mờ sương khói lúc hoàng hôn. Câu thơ<mark> tả ít mà gợi nhiều</mark>. Một nỗi buồn thương thấm thía. Một tình quê vơi đầy lâng lâng. Hình ảnh ấy, thi liệu ấy đã được tái tạo, được nhập thân vào hồn thơ dân tộc ta, làm nên vẻ đẹp phong vị Đường thi cổ kính, hoa lệ<br>- Bức tranh thiên nhiên trong hai câu 5 và 6 hiện lên với những chi tiết thực, hàng cây đất Hán Dương soi bóng rõ mồn một xuống lòng sông tạnh, bãi Anh Vũ cỏ thơm mơn mởn xanh tươi. Cảnh sắc <mark>tươi tắn, bình dị</mark> và giàu sức sống khiến cho bài thơ miêu tả một di tích, một cổ lâu mà vẫn <mark>gần gũi cuộc đời thực tại.</mark> Hai câu kết đưa người đọc trở lại với nỗi trăn trở và cảm xúc của một người khách xa nhà.<br>- Điệu văn ở câu 5 và 6 <mark>chậm lại và đi song song</mark> với nhau nghiêm trọng, tề chỉnh và tiếp tục nặng nề đi đến câu cuối bài tận cùng bằng vần trầm tĩnh thay duy nhất (sầu) diễn tả <mark>nỗi sầu miên man</mark>, dằng dặc đến vô cùng (Trần Trung San).<br>=&gt; 4 câu thơ cuối cùng với <mark>ba mảng cảm xúc dồn nén</mark> (cõi tiên, cảnh thực và nỗi sầu nhớ), bài thơ nói về một di tích xưa mà vẫn gắn bó với cuộc đời, con người, khơi lên những <mark>tình cảm nhân bản</mark> đẹp đẽ, hàm chứa <mark>quan niệm nhân sinh</mark> tích cực, tiến bộ.<br><strong><mark>IV, Tổng kết:<br></mark></strong>1, Nghệ thuật<br>- Ngôn ngữ: hàm súc.<br>- Sự phá cách luật thơ Đường tài hoa.<br>2, Nội dung:&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp;Với ba mảng cảm xúc dồn nén (cõi tiên, cảnh thực và nỗi sầu nhớ), bài thơ tuy nói về một di tích xưa mà vẫn gắn bó với cuộc đời, con người, khơi lên những tình cảm nhân bản đẹp đẽ, hàm chứa quan niệm nhân sinh tích cực, tiến bộ<br><br></div><div><br>&nbsp;<br>&nbsp;</div><div><br>&nbsp;<br><br></div><div><br><br></div><div><br><br></div><div><br><strong><mark><br></mark></strong><br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1483973498/e6465b919b0a682793225b69a82e2690/t_i_xu_ng__3_.jpg" />
         <pubDate>2021-12-26 15:16:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/1964359847</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thu đi để lại lá vàng 🍂</title>
         <author>phamnguyenthaovi2910</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2068190039</link>
         <description><![CDATA[<div>Thành viên :&nbsp;<br>1, Thúy Hằng ( phần tác giả )&nbsp;<br>2, Nhật Vy ( phần tác phẩm )&nbsp;<br>3, Thu An ( đoạn 1)&nbsp;<br>4, Minh Ngọc ( đoạn 2)&nbsp;<br>5, Minh Anh ( đoạn 3 )&nbsp;<br>6, Thùy Dung ( phần tổng kết)&nbsp;<br>7, Thùy Dung + Minh Ngọc ( phần mở rộng)&nbsp;<br>8, Hà Vy + Thảo Vi ( soát lại ) </div>]]></description>
         <enclosure url="https://baonga.com/FileUpload/Images/thu_vang_kosiugina.jpg" />
         <pubDate>2022-02-27 13:55:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2068190039</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tổ Đông đến rùi đâyy</title>
         <author>thanhthu07052006</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2068190870</link>
         <description><![CDATA[<div><mark>Thành viên</mark><br>1. Nguyễn Thị Anh Thư<br>2. Phạm Thị Thanh Thư<br>3. Vũ Thị Hồng Nhung<br>4. Nguyễn Ngọc Lan<br>5. Lê Phương Linh<br>6. Nguyễn Thu Trang<br>7. Chu Ngọc Minh Trang<br>8. Bùi Vũ Hoài Thanh<br>9. Nguyễn Trần Quỳnh Anh<br>10. Nguyễn Thu Huyền</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1525421250/ec601304a5e69c8419e0dcf02bc6476c/Mua_dong_700.jpg" />
         <pubDate>2022-02-27 13:56:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2068190870</guid>
      </item>
      <item>
         <title>I, Tác giả : Đặng Trần Côn</title>
         <author>phamnguyenthaovi2910</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2068195017</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em>1, Quê hương, gia đình: </em></strong><br>- Đặng Trần Côn (không rõ năm sinh, năm mất), sống trong khoảng <mark>nửa đầu thế kỉ XVIII</mark>, quê ở làng Nhân Mục, huyện Thanh Trì (nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân), <mark>Hà Nội</mark>.<br><strong><em>2, Cuộc đời, con người : </em></strong><br>- Thời bé ông nổi tiếng thông minh, ham học, lớn lên ưa sống phóng túng, đậu Hương cống nhưng hỏng kì thi Hội, <mark>bỏ đường công danh thanh cử</mark>, sau ra làm Huấn đạo ở một trường phủ, về sau làm <mark>tri huyện Thanh Oai</mark>. Cuối đời làm đến chức Ngự sử đài đại phu thời Lê-Trịnh<br>- Theo sử gia Phan Huy Chú: "Thời đó, các cuộc nổi dậy chống lại triều đình thường uy hiếp kinh thành nên chúa Trịnh hạ lệnh ban đêm cấm lửa rất ngặt, Đặng Trần Côn phải đào hầm xuống đất để đọc sách và làm bài. Hễ ông làm được bài văn, bài thơ nào thì nhiều người đua nhau sao chép và truyền tụng" (Lịch triều hiến chương loại chí). Phạm Đình Hồ nhận xét: "Tính ông đuềnh đoàng phóng túng, không muốn bị ràng buộc về chuyện thi cử" (Tang thương ngẫu lục).<br><strong><em>3, Sự nghiệp văn học : </em></strong><br>- Về sáng tác thơ văn:<br>+ Chinh phụ ngâm khúc.<br>+ Tiêu Tương bát cảnh (Tám cảnh đẹp ở Tiêu Tương)<br>+ Trương Hàn tư thuần lô phú (Bài phú về Tương Hàn nhớ rau thuần cá vược)<br>+ Trương Lương bố y phú (Bài phú về Trương Lương mặc áo vải)<br>+ Khẩu môn thanh: (Tiếng gõ cửa).&nbsp;<br>+ Phủ chương tân thư (chép trong sách Danh ngôn tạp trứ)<br>+ Yên hữu thưởng xuân thiếp<br>+ Đặng Trần Côn phú sao (tập phú lấy đề tài ở sư Trung Quốc)<br>+ Tiêu Tương bát cảnh đồ thi thảo (tức Tiêu Tương bát vịnh một số bài thơ đề tranh vịnh và cảnh đẹp Tiêu Tương)<br>+ Lãn trai di cảo (tức Thanh Trì Nhân Mục Đặng Trần Côn soạn tế văn&nbsp; các đạo gồm hơn 90 bài văn tế) v.v…<br>- Theo Phạm Đình Hồ, ông còn là tác giả truyện Bích câu kỳ ngộ mà nhiều người cho đó là truyện được chép trong Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm ? Những dự đoán trên còn cần phải nhiều công tra cứu thêm.&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1525424361/492b7f0c58e2a0f6acac9d1fb3cc1154/inbound1233813139063316225.jpg" />
         <pubDate>2022-02-27 14:03:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2068195017</guid>
      </item>
      <item>
         <title>II, Tác phẩm : Chinh phụ ngâm</title>
         <author>phamnguyenthaovi2910</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2068206610</link>
         <description><![CDATA[<div>- <mark>Hoàn cảnh ra đời</mark>: thời kì đầu nhà vua Lê Hiền Tông có nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra quanh kinh thành Thăng Long, triều đình cất quân đánh dẹp. Đặng Trần Côn “cảm thời thế mà làm ra”.<br>- <mark>Thể loại</mark>: Ngâm khúc, là một thể loại trữ tình có quy mô tương đối lớn. Tác phẩm ngắn nhất có đến trăm câu thơ, thậm chí vài trăm câu thơ. Đó là những khúc tự tình trên cơ sở xây dựng hình tượng nhân vật độc thoại.<br>- <mark>Ý nghĩa nhan đề</mark> : <br> + "Chinh phụ" : người phụ nữ có chồng đi chinh chiến sa trường, gieo mình đến nơi gần như một đi không trở lại. <br>+ "ngâm" : khúc tự tình, nhân vật được bộc lộ cảm xúc nhưng dưới hình thức độc thoại nội tâm.<br>-&gt; Nhan đề bài thơ nói lên phần nào sự buồn tủi, ủy khuất và cô vắng của người phụ nữ trong bức rèm phong ngày đêm ngóng đợi tin thắng trận trở về của lang quân như ý.<br>- <mark>Số lượng câu</mark> : 476 câu, bản dịch 412 câu<br>- <mark>Thể thơ</mark>: Trường đoản cú (câu thơ dài ngắn khác nhau) .<br>- <mark>Bản dịch</mark>: Thể thơ song thất lục bát.<br>- <mark>Bố cục</mark>: 3 phần&nbsp;<br>+ Đoạn 1 ( 16 câu đầu) : Tình cảnh lẻ loi, cô đơn của người chinh phụ&nbsp;<br>+ Đoạn 2( 12 câu tiếp) : nỗi thương nhớ người chồng ở phương xa&nbsp;<br>+ Đoạn 3( còn lại) : niềm khao khát hạnh phúc lứa đôi của người chinh phụ.&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://thuvienmienphi.com/html/10/776213/776213.pdf5.jpg" />
         <pubDate>2022-02-27 14:19:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2068206610</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tác giả: Nguyễn Gia Thiều</title>
         <author>thanhthu07052006</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2068221118</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em>1, Quê hương, con người</em></strong></div><div>- <mark>Nguyễn Gia Thiều </mark>(1741-1798), tức <mark>Ôn Như Hầu </mark>là một nhà thơ thời Lê Hiển Tông.&nbsp;</div><div>- Ông là <mark>tác giả của "Cung oán ngâm khúc",</mark> tác phẩm <mark>nổi tiếng </mark>của <mark>văn học Việt Nam.</mark>&nbsp;</div><div>- <mark>Nguyễn Gia Thiều</mark> sinh ngày 5 tháng 2 năm Tân Dậu, tức ngày 22 tháng 3 năm 1741, cuối thời vua Lê chúa Trịnh, ở làng Liễu Ngạn, tổng Liễu Lâm, huyện Siêu Loại, phủ Thuận Thành, xứ Kinh Bắc, nay là <mark>huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. </mark><br><br></div><div><strong><em>2, Gia đình</em></strong></div><div>- Ông <mark>xuất thân</mark> trong một <mark>gia đình đại quý tộc,</mark> có nhiều người làm tướng, làm quan cho triều đình. <mark>Ông nội</mark> Nguyễn Gia Thiều<mark> là Nguyễn Gia Châu,</mark> một võ quan nhưng thông kinh sử được phong tước công. <mark>Cha </mark>của Nguyễn Gia Thiều <mark>là Nguyễn Gia Cư,</mark> một võ quan cao cấp được phong tước hầu. <mark>Mẹ</mark> của ông <mark>là quận chúa Quỳnh Liên, con gái chúa Trịnh Cương.</mark> Nguyễn Gia Thiều gọi chúa Trịnh Doanh đang cầm quyền lúc bấy giờ là cậu ruột, và là anh em họ với chúa Trịnh Sâm. Vợ của Nguyễn Gia Thiều là con gái trưởng của quan Chưởng phủ sư Đại tư đồ Bùi Thế Đạt. Vì gia đình bên ngoại thuộc họ nhà chúa, nên từ lúc lên năm, sáu tuổi Nguyễn Gia Thiều đã được vào học trong phủ chúa.&nbsp;<br><br></div><div><strong><em>3, Cuộc đời</em></strong></div><div>-<mark> Năm 1759,</mark> khi mới 18 tuổi, ông giữ chức Hiệu úy, quản Trung mã tả đội. Sau đó ông làm chỉ huy Thiêm sự, năm 1782 thăng Tổng binh coi giữ xứ Hưng Hóa. Nguyễn Gia Thiều là một người rất được chúa Trịnh tin dùng. Vì có công nên ông được phong tước hầu - Ôn Như Hầu. Các em của ông cũng lần lượt được phong tước hầu, tước bá, như Nguyễn Gia Thưởng là Thưởng Vũ Bá; Nguyễn Gia Xuyên là Du Lãnh Hầu.&nbsp;</div><div>- <mark>Thời gian làm Tổng binh ở Hưng Hóa</mark>, mặc dù có công được khen thưởng, Nguyễn Gia Thiều vẫn thường hay bỏ về nhà riêng ở gần hồ Tây để vui chơi, làm thơ và cùng bạn bè bàn luận về triết học. Ông tự xưng là Hy Tôn tử và Như ý thiền, lấy biệt hiệu là Tân Thi viện tử và Sưu Nhân. Có người bảo giai đoạn này chúa Trịnh không còn tin ông như trước, mới đẩy ông đi trấn giữ Hưng Hóa, và Nguyễn Gia Thiều biết điều đó, nên ông chán nản bỏ về.&nbsp;</div><div>- <mark>Năm 1786</mark>, khi Tây Sơn kéo quân ra Bắc diệt chúa Trịnh, Nguyễn Gia Thiều trốn lên miền núi xứ Hưng Hóa. Năm 1789, Nguyễn Huệ đánh thắng quân Thanh, lập ra triều Tây Sơn. Vua Quang Trung trọng người tài, thu dụng một số quan lại cũ của triều đình Lê - Trịnh, Nguyễn Gia Thiều được mời ra cộng tác, nhưng ông cáo bệnh từ chối.&nbsp;</div><div>- Nguyễn Gia Thiều về lại làng cũ, sống ở đấy cho tới khi mất vài ngày 9 tháng 5 Mậu Ngọ, tức ngày 22 tháng 6 năm 1798, thọ 57 tuổi.<br><br></div><div><strong><em>4, Sự nghiệp văn học</em></strong></div><div>- Nguyễn Gia Thiều là người có <mark>sự hiểu biết sâu rộng về văn học, sử học và triết học.</mark> Ông còn tinh thông nhiều bộ môn nghệ thuật như âm nhạc, hội họa, kiến trúc, trang trí. Về âm nhạc, Nguyễn Gia Thiều sở trường các bài ca, bài tán, ông là tác giả các bản Sơn trung âm và Sở từ điệu.</div><div>- <mark>Về sáng tác</mark>, Nguyễn Gia Thiều có hai tập <mark>thơ chữ Hán là “Ôn Như thi tập”,</mark> khoảng một nghìn bài, nhưng đã thất truyền. Những <mark>tác phẩm chữ Nôm,</mark> ngoài <mark>“Cung oán ngâm khúc”</mark>, ông còn có <mark>“Tây hồ thi tập” </mark>và <mark>“Tứ trai thi tập”</mark>, hiện cũng chỉ còn vài ba bài chép trong tập “Tạp ký” của Lý Văn Phức như Cảnh trong vườn và Miếng tình.</div><div>- Nguyễn Gia Thiều tuy thuộc<mark> tầng lớp quý tộc</mark>, nhưng sống trong một thời kỳ nhiều biến động, loạn lạc. Tác phẩm <mark>“Cung oán ngâm khúc” </mark>của ông nói lên tâm trạng ai oán của một cung phi sống trong hoàng cung. Nhiều nhà phê bình đánh giá “Cung oán ngâm khúc” chịu ảnh hưởng bởi “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn qua bản dịch của Đoàn Thị Điểm, từ thể loại ngâm khúc viết bằng song thất lục bát đến cách phát triển chủ đề cũng như bút pháp nghệ thuật.</div><div>- Nguyễn Gia Thiều có nhiều con, trong số đó bốn người con đầu giỏi văn chương, có một tác phẩm chung là “Tứ trai thi tập”, gồm sáng tác của Tâm Trai - tức Nguyễn Gia Thiều, Kỷ Trai - Nguyễn Gia Cơ, Hoà Trai - Nguyễn Gia Diễm và Thanh trai - Nguyễn Gia Chu.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1525421250/36701289569eb70369bbf710e81f7b53/baam.jpg" />
         <pubDate>2022-02-27 14:42:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2068221118</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tác phẩm: Nỗi sầu oán của người cung nữ</title>
         <author>thanhthu07052006</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2068223686</link>
         <description><![CDATA[<div><mark>1. Hoàn cảnh sáng tác</mark></div><div>- Tác phẩm ra đời vào cuối thế kỉ XIX, khi xã hội Việt Nam đang đi vào suy thoái với lối sống hưởng thụ, ăn chơi xa đọa của vua chúa. Những số phận bất hạnh không chỉ có người nông dân mà còn có những cung nữ. Vua chúa tự đặt ra quyền tuyển hàng trăm, hàng ngàn thiếu nữ vào cung. Tuổi xuân của người con gái, hạnh phúc của cả một đời người khi vào cung bỗng hóa phù du, mong manh, khó nắm bắt. Cất lên từ thể thơ song thất lục bát, Nguyễn Gia Thiều đã nói hộ nỗi niềm của bao người phụ nữ bất hạnh ấy.<br><br></div><div><mark>2. Xuất xứ</mark></div><div>- Trích “Cung oán ngâm” gồm 36 câu (từ câu 209 đến câu 244)<br><br></div><div><mark>3. Bố cục</mark></div><div>- Đoạn 1 (bốn khổ thơ đầu): Cuộc sống tồi tàn của cung nữ đối lập với cảnh xa hoa tráng lệ ở nơi cung cấm.</div><div>- Đoạn 2 (bốn khổ thơ cuối): Cung nữ thất vọng nặng nề trong cảnh ngày ngóng đêm trông.<br><br></div><div><mark>4. Thể loại&nbsp;</mark></div><div>- Thuộc thể loại: Song thất lục bát<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1525421250/fa19c9b6d672d56d0f54c1e31723dd31/cung_oan_105345394.jpg" />
         <pubDate>2022-02-27 14:46:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2068223686</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đoạn 1: Cuộc sống tồi tàn của cung nữ đối lập với cảnh xa hoa tráng lệ ở nơi cung cấm (bốn khổ thơ đầu)</title>
         <author>thanhthu07052006</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2068227603</link>
         <description><![CDATA[<div><mark>a) Hai khổ 1,2:</mark><br><br></div><div><em>“ Trong cung quế âm thầm chiếc bóng,</em></div><div><em>Đêm năm canh trông ngóng lần lần.”<br></em><br></div><div>- Thời gian, không gian nghệ thuật:</div><div>+ Không gian: trong cung quế - nơi người cung nữ ở. Nơi đó vốn tĩnh mịch, đêm khuya càng vắng vẻ, yên ắng hơn.</div><div>+ Thời gian: đêm năm canh. Đây cũng là một khoảng thời gian phù hợp để nhân vật trữ tình xuất hiện và bộc bạch nỗi niềm.</div><div>-&gt; Tác giả chọn thời điểm là ban đêm để nhân vật dễ dàng bộc lộ tâm trạng. Bị nhà vua bỏ rơi trong cung quế, người cung nữ suốt năm canh đứng tủi ngồi sáu, khác khoải chờ mong và tuyệt vọng.&nbsp;</div><div>- Nỗi niềm của nhân vật trữ tình. Lời thơ diễn tả tâm trạng:</div><div>+ Lẻ loi: chiếc bóng âm thầm. Cách đảo ngữ: “Âm thầm chiếc bóng” diễn tả tình cảnh lẻ loi, buồn tẻ của người cung nữ.</div><div>+ Chờ đợi: “Tiếng ngóng lần lần”: Trông nghĩa là chờ đợi nhưng là chờ đợi một cái gì đó xa vời, biết là xa vời mà chờ vẫn đợi. Hai chữ “lần lần” cụ thể hóa hơn sự chờ đợi ngóng trông hết đêm này đến đêm khác.&nbsp;</div><div>-&gt; Người cung nữ ý thức rất rõ thân phận bất hạnh của mình. Nàng đã bị giết chết không phải bằng gươm đao mà bằng chính cuộc sống buồn bã và tuyệt vọng, bởi cảnh chiếu chăn lẻ loi, lạnh lẽo...<br><br></div><div><em>“Khoảnh làm chi bấy chúa xuân!</em></div><div><em>Chơi hoa cho rữa nhụy dần lại thôi.”<br></em><br></div><div>+ Oán trách nhà vua: khoảnh (chơi khăm, ác); chúa xuân (hình ảnh ẩn dụ, chỉ nhà vua); “Chơi hoa cho rữa nhụy dần lại thôi”; sử dụng từ ngữ biểu cảm, hình ảnh ẩn dụ nhằm gợi bộ mặt tàn bạo, tráo&nbsp; trở của nhà vua.</div><div>-&gt; Lời thơ là lời đay nghiến, trách cứ có cái gì đó xót xa trong tâm trạng nhân vật trữ tình: lúc còn xuân sắc được vua yêu chiều, giờ nhan sắc tàn phai vua lại bỏ rơi. Giờ đây, nàng đã thực sự bị quên lãng ( tình cảnh thê thảm).<br><br></div><div><em>“Lầu đãi nguyệt đứng ngồi dạ vũ,</em></div><div><em>Gác thừa lương thức ngủ thu phong.</em></div><div><em>Phòng tiêu lạnh ngắt như đồng,</em></div><div><em>Gương loan bẻ nửa, dải đồng xẻ đôi.”</em></div><div><br></div><div>- Cuộc sống lạnh lẽo, tồi tàn:</div><div>+ Tác giả dung nhiều từ Hán Việt: lầu đãi nguyệt, dạ vũ, gác thừa lưng, thu phong, phòng tiêu: những từ ngữ có tính ước lệ, tượng trưng cho cuộc sống xa hoa nơi cung cấm.&nbsp;</div><div>+ Hình ảnh so sánh “Phòng tiêu lạnh ngắt như đồng”</div><div>&nbsp;-&nbsp; Câu giàu giá trị biểu cảm: “Gương loan bẻ nửa dải đồng xé đôi”.</div><div>-&gt; Cuộc sống xa hoa nơi cung cấm hoàn toàn đối lập với cuộc sống tồi tàn lạnh lẽo của người cung nữ càng làm cho hình ảnh của họ trở nên nhỏ bé đến tội nghiệp. Những tiện nghi đầy đủ, đẹp trở nên trớ trêu, vô nghĩa khi người cung nữ thêm sầu thêm tủi.&nbsp;</div><div><mark>b) Hai khổ 3,4:</mark><br><br></div><div><em>“Chiều ủ dột giấc mai khuya sớm,</em></div><div><em>Vẻ bâng khuâng hồn bướm vẩn vơ.”<br></em><br></div><div>- Cuộc sống buồn tủi cô đơn: Người cung nữ mong mòi sự có mặt của nhà vua đến mức gần như tuyệt vọng&nbsp;</div><div>+ Miêu tả trực tiếp tâm trạng: ủ dột, bang khuâng, vẩn vơ – buồn bã ủ ê.<br><br></div><div><em>“Thâm khuê vắng ngắt như tờ,</em></div><div><em>Cửa châu gió lọt, rèm ngà sương gieo.</em></div><div><em>Ngấn phượng liễn chòm rêu lỗ chỗ,</em></div><div><em>Dấu dương xa đám cỏ quanh co.</em></div><div><em>Lầu Tần, chiều nhạt vẻ thu,</em></div><div><em>Gối loan tuyết đóng, chăn cù giá đông.</em></div><div><em>Ngày sáu khắc, tin mong nhạn vắng,</em></div><div><em>Đêm năm canh, tiếng lắng chuông rền.</em></div><div><em>Lạnh lùng thay giấc cô miên !”<br></em><br></div><div>- Sử dụng hình ảnh, hình thức tiểu đối:&nbsp;</div><div>+ So sánh gợi cảm “Vắng ngắt” (sự trống vắng lạnh lẽo đến ghê người) – hình ảnh ước lệ tượng trưng: “ngấn phượng liễn”,”dấu dương xa” (gợi sự đầm ấm)</div><div>+ Hình ảnh thực “rêu lỗ chỗ”, “cỏ quanh co” (thực tế phũ phàng đối lập với cảnh đầm ấm. Sự đầm ấm giờ chỉ còn trong quá khứ) – hình ảnh ước lệ đan xen hình ảnh thực: “Gối loan tuyết đóng, chăn cù giá đông” (Gối hạnh phúc mà có cảnh tuyết đóng. Chăn đắp cho ấm mà vẫn “giá đông”. Cái lạnh lẽo buốt giá ấy không phải từ bên ngoài mà từ tâm trạng cô đơn, sầu tủi).</div><div>-&gt; Hai khổ thơ 3,4 không dùng các từ miêu tả tâm trạng mà vẫn đầy ắp tâm trạng (tả cảnh ngụ tình).</div><div>-&gt; Nỗi cô đơn khiến giấc ngủ của nàng trở nên lạnh lẽo, đáng thương. Hương đót lên cho tiêu phòng ấm áp, thơm tho nhưng lại gợi cảm giác vắng, lặng, tịch mịch như một nấm mổ chôn vùi tuổi thanh xuân... Tâm trạng con người diễn biến theo chiều bi kịch, càng lúc càng nặng nề.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1525421250/71c88d73919dd15e1ccf68f3da187216/soan_bai_noi_sau_oan_cua_nguoi_cung_nu.jpg" />
         <pubDate>2022-02-27 14:51:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2068227603</guid>
      </item>
      <item>
         <title>A, 16 câu đầu: Tình cảnh cô đơn, lẻ loi của người chinh phụ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2068229149</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em>1. Hành động lặp đi lặp lại một cách nhàm chán vô vị: </em></strong><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <mark>' Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen ' </mark><br>- <mark>" Dạo hiên vắng", Thầm gieo từng bước " </mark>:&nbsp; Bước chân lặng lẽ, nặng nề&nbsp; trên hiên vắng -&gt; Tâm trạng: năng nề chất chứa trong lòng.<br>- <mark>" Rủ thác đòi phen "</mark> : Vào trong phòng cuốn rèm, buông rèm, lặp đi lặp lại một cách vô thức.<br>- <mark>" Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen "</mark> : Hành động buông rèm xuống, kéo rèm lên lặp đi lặp lại trong vô thức diễn tả nỗi <mark>chán chường</mark>, tô đậm thêm <mark>nỗi buồn cô đơn</mark> trong khuê các . <br><mark>- Chữ " vắng ", " thưa "</mark> : Không chỉ gợi sự vắng lặng của không gian mà còn cho thấy nỗi trống vắng trong lòng người chinh phụ .<br>=&gt; Tâm trạng nặng nề, chán nản, mệt mỏi<br><strong><em>2. Thao thức ngóng trông tin chồng :</em></strong><br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; <em>&nbsp;" Ngoài rèm thước chẳng mạch tin<br>&nbsp; Trong rèm dường đã có đèn biết chăng <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Đèn có biết dường bằng chẳng biết <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Buồn rầu nói.....<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Hoa đèn kia với ....." </em><br>- Ban ngày : <br>+ Người chinh phụ gửi niềm tin hi vọng vào tiếng chim thước - loài chim khách báo tin lành <br>&nbsp;+ Nhưng thực tế “thước chẳng mách tin”: Tin tức chồng vẫn bặt vô âm tín -&gt; Thất vọng<br>- Ban đêm: <br>+ Người chinh phụ thao thức cùng ngọn đèn hi vọng đèn biết tin tức về chồng, san sẻ nỗi lòng cùng nàng.<br>+ Thực tế: “Đèn chẳng biết” “lòng thiếp riêng bi thiết”: Câu thơ có hình thức đặc biệt khẳng định rồi lại phủ định, ngọn đèn có biết cũng như không vì nó chỉ là vật vô tri không thể san sẻ nỗi lòng cùng người chinh phụ.<br>+ So sánh với bài ca dao<mark> “khăn thương nhớ ai”</mark>, bài ca dao cũng có xuất hiện hình ảnh ngọn đèn. Nếu “đèn” trong bài ca dao là tri âm tri kỉ với người phụ nữ thì ở đây ngọn “đèn” lay lắt lại cứa sâu thêm nỗi<br>&nbsp; &nbsp;- Hình ảnh so sánh “hoa đèn” và “bóng người”: <br> +&nbsp; “Hoa đèn” đầu bấc ngọn đèn, thực tế là than. Cũng giống như ngọn đèn cháy hết mình để rồi chỉ con hoa đèn tàn lụi, người phụ nữ đau đáu hết lòng chờ chồng nhưng cuối cùng nhận lại sự cô đơn, trống trải. (Cái bóng - Chuyện ng con gái NX)<br>+ Liên hệ với nỗi cô đơn của Thúy Kiều sau khi từ biệt Thúc Sinh trở về với chiếc bóng năm canh:<br>“Người về chiếc bóng năm canh/Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi”.<br>=&gt; Ngóng trông, hi vọng, thất vọng, cô đơn<br>&nbsp; <strong><em>3. Cảm nhận khác thường của người chinh phụ về ngoại cảnh:&nbsp; ( Trích thơ)</em></strong><br>“ + Gà gáy”, “sương”, “hòe”: Là những hình ảnh gắn với cuộc sống thôn quê bình dị, yên ả<br>+ Từ láy “eo óc, phất phơ”: Cực tả vẻ hoang vu, ớn lạnh đến ghê rợn của cảnh vật.<br>→ Dưới con mắt trống trải cô đơn cả người chinh phụ, những cảnh vật vốn gắn với cuộc sống yên bình, êm ả nay trở nên khác thường, hoang vu, ớn lạnh. Đó là cách nói tả cảnh để ngụ tình.<br>=&gt; Nỗi cô đơn lẻ loi khắp không gian thân thuộc<br><strong><em>&nbsp;4. Cảm nhận khác thường của người chinh phụ về thời gian: <br>(Trích thơ)</em></strong><br><mark>+ "Khắc giờ đằng đẵng như niên ”, “</mark><strong><mark>mối sầu</mark></strong><mark> dằng dặc tựa miền biển xa ”: </mark>Thể hiện sự dàn trải của nỗi nhớ miên man không dứt.<br>+ Biện pháp so sánh kết hợp với các từ láy giàu giá trị gợi hình gợi cảm “dằng dặc, đằng đẵng” cho thấy sự cảm nhận khác thường về thời gian, mỗi phút mỗi giờ ngắn ngủi trôi qua mà nặng nề như một năm dài, thời gian càng dài mối sầu càng nặng nề hơn.<br>→ Câu thơ cực tả nỗi cô đơn tột cùng tột độ trong lòng người chinh phụ.<br>(Bài thơ Tương tư....)<br><strong><em>&nbsp;5. Hoạt động gắng gượng duy trì nếp sống hằng ngày: </em></strong><br>- Điệp từ “gượng”: nhấn mạnh sự cố gắng gò ép.<br>- Mâu thuẫn giữa lí trí và tình cảm:<br>+ Đốt hương tìm sự thanh thản nhưng tình cảm lại mê man theo những suy nghĩ viển vông, khắc khoải, những dự cảm chẳng lành<br>+ Soi gương nhưng chỉ thấy hiện lên đó gương mặt đau khổ đầm đìa nước mắt.<br>+ Gượng gảy đàn sắt đàn cầm để ôn lại kỉ niệm vợ chồng nhưng lại lo lắng có điềm gở. Sự lo lắng không chỉ cho thấy nỗi cô đơn mà còn cho thấy niềm khát khao hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ.<br>=&gt; Tiểu kết:<br>- <mark>Nội dung</mark>: Khắc họa tâm trạng cô đơn, lẻ loi, trống vắng của người phụ nữ, ẩn sau đó thái độ cảm thông, chia sẻ của tác giả đối với nỗi đau khổ của con người.<br>- <mark>Nghệ thuật</mark>:<br>+ Giọng thơ trầm buồn, khắc khoải, da diết, trầm lắng.<br>+ Khắc họa nội tâm nhân vật tài tình, tinh tế thông qua hành động nhân vật, yếu tố ngoại cảnh, độc thoại nội tâm<br>( Các biện pháp tu từ: So sánh, điệp từ, từ láy.)</div>]]></description>
         <enclosure url="https://theki.vn/wp-content/uploads/2020/12/hinh-anh-nguoi-chinh-phu-trong-phu-ngam-dang-tran-con.png" />
         <pubDate>2022-02-27 14:53:40 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2068229149</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tổ hạ nàyy</title>
         <author>ngaphuongnguyen26</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2068230119</link>
         <description><![CDATA[<div>Thành viên:<br>1. Phạm Thu Huyền<br>2. Nguyễn Thanh Thảo<br>3. Nguyễn Thanh Ngân<br>4. Quách Thảo Nguyên<br>5. Lê Thảo Nguyên<br>6. Đặng Hà Trân<br>7. Trần Vi Thảo<br>8. Nguyễn Phương Nga</div>]]></description>
         <enclosure url="https://wikicachlam.com/wp-content/uploads/2018/01/nhung-bai-tho-tinh-mua-ha-hay-duoc-nhieu-nguoi-tim-kiem-1.jpg" />
         <pubDate>2022-02-27 14:55:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2068230119</guid>
      </item>
      <item>
         <title>I. Tìm hiểu chung</title>
         <author>ngaphuongnguyen26</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2068231189</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><mark>1.Tác giả: Nguyễn Dữ </mark></strong><br><br></div><div>- Nguyễn Dữ là người xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân nay là xã Phạm Kha, huyện <mark>Thanh Miện, Hải Dương. </mark><br><br></div><div>- GĐ: <mark>Quý tộc </mark>- Ông là con trai cả Tiến sĩ Nguyễn Tường Phiêu.<br><br></div><div>- <mark>Chưa rõ Nguyễn Dữ sinh và mất năm nào.&nbsp;<br></mark><br></div><div>- Tương truyền ông là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm và bạn học của Phùng Khắc Khoan, tức là <mark>vào khoảng thế kỷ 16</mark>. Tuy nhiên mối quan hệ giữa ba người (mà phần lớn từ nguồn dân gian lưu truyền trong nhiều thế kỷ nhưng thiếu chứng cứ lịch sử) ngày nay đang gặp phải sự bác bỏ của giới nghiên cứu văn học sử. đã từng đỗ hương tiến sĩ (cử nhân), từng làm quan nhưng không bao lâu thì lui về ẩn dật.&nbsp;<br><br></div><div>- Lúc nhỏ Nguyễn Dữ chăm học, đọc rộng, nhớ nhiều, từng ôm ấp lý tưởng lấy văn chương nối nghiệp nhà.&nbsp;<br><br></div><div>- Sau khi đậu Hương tiến (tức Cử nhân), ông làm quan với nhà Mạc, rồi về với nhà Lê làm Tri huyện Thanh Tuyền (nay là Bình Xuyên, Vĩnh Phú); nhưng mới được một năm, vì bất mãn với thời cuộc, lấy cớ nuôi mẹ, xin về ở núi rừng Thanh Hóa. Từ đó trải mấy năm dư, chân không bước đến thị thành rồi mất tại Thanh Hóa. <mark>Nguyễn Dữ sống ở thế kỉ XVI</mark>, thời ông sống, triều đình nhà Lê đã bắt đầu khủng hoảng suy thoái, các tập đoàn phong kiến tranh giành quyền lực gây ra liên tiếp các cuộc nội chiến kéo dài &nbsp;<br><br></div><div>- Ông để lại tác phẩm nổi tiếng là <mark>"Truyền kì mạn lục" </mark>thể hiện rõ quan điểm sống và tấm lòng của ông với cuộc đời.<br><br></div><div><strong><mark>2. Tác phẩm:</mark></strong><br><br></div><div><mark>a. Tập truyện "Truyền kì mạn lục" </mark>(quyển sách ghi chép tản mạn những điều kì lạ đang được lưu truyền):<br><br></div><div>- <mark>Gồm 20 truyện ngắn viết bằng chữ Hán theo thể văn xuôi tự sự </mark>(có xen văn biền ngẫu và thơ ca)<br><br></div><div>- <mark>Ra đời trong chế độ phong kiến Việt Nam cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI nhìn chung vẫn đang trên đà phát triển.</mark> Tuy nhiên sự cường thịnh của những giai đoạn trước đó thì đã giảm sút rõ rệt, bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu của sự suy thoái. Trong tập đoàn giai cấp thông trị không còn những vua sáng tôi hiền. Triều đình nhà Lê với những ông vua nổi tiếng xa hoa đồi bại như Lê Uy Mục, Lê Tương Dực đã gây nên bao nỗi thống khổ cho nhân dân. Ngoài xã hội, tình trạng đạo đức suy đồi, nhân tình thế thái đảo điên đang trở thành một hiện thực phổ biến và nhức nhối. Sống giữa bối cảnh lịch sử xã hội như vậy, là một trí thức có tâm huyết, Nguvễn Dữ đã không thể không lên tiếng.<br><br></div><div>- Nhìn tổng quát, <em>Truyền kì mạn lục</em> nổi bật ba vấn đề nội dung tư tưởng:<br><br></div><div>+Thứ nhất là <mark>tinh thần phê phán, tố cáo giai cấp thống trị.</mark><br><br></div><div>+Thứ hai là <mark>thể hiện ý thức xây dựng, bảo vệ tình cảm gia đình, hạnh phúc lứa đôi</mark>.<br><br></div><div>+Thứ ba, thông qua Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ còn bộc bạch <mark>những nỗi niềm ưu tư sâu kín trước thời thế.</mark><br><br></div><div>+Ngoài ba vấn đề cơ bản trên trong&nbsp; <em>Truyền kì mạn lục</em> còn có nhiều vấn đề khác khiến cho tác phẩm có một giá trị nội <mark>dung tư tưởng hết sức sâu sắc. Bao trùm lên tất cả những vấn đề là mơ ước về một xã hội công bằng, lý tưởng, là khát vọng về hạnh phúc cho con người của nhà văn nói riêng và nhân dân lao động nói chung.</mark><br><br></div><div>- Nguyễn Dữ đã sưu tầm, đồng thời bổ sung, nhào nặn, chau chuốt, gọt giũa, biên những câu chuyện còn thô sơ, đơn giản trở thành những tác phẩm văn học tinh tế giàu ý nghĩa và có hiệu quả nghệ thuật cao. <mark>Nghệ thuật kể chuyện, nghệ thuật kết cấu, dẫn dắt tình huống kết hợp với cách xây dựng nhân vật là những thành công rõ nét nhất trong quá trình sáng tạo của nhà văn, đem lại cho những cốt truyện quen thuộc một sức sống và sự hấp dẫn mới.</mark><br><br></div><div>b) <strong><mark>Chuyện chức phán sự đền Tản Viên:</mark></strong><br><br></div><div>- Thuộc “Truyền kì mạn lục”.<br><br></div><div>- Gồm 3 phần: mở đầu, nội dung và kết thúc.<br><br></div><div>*) Mở truyện: Giới thiệu nhân vật Ngô Tử Văn.<br><br></div><div>*) Thân truyện: Chia làm 4 đoạn:<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Đoạn 1: Ngô Tử Văn và hành động đốt đền.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Đoạn 2 (Đốt đền xong đến khó lòng thoát nạn): Tử Văn gặp hồn ma tên Bách hộ Thôi và Thổ thần.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; + Đoạn 3 (Tử Văn vâng lời đến không bệnh mà chết): Tử Văn bị bắt và cuộc đối chất ở Minh ti trước Diêm Vương.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;+ Đoạn 4 (Phần còn lại): Tử Văn thắng lợi trở về, nhận chức Tản Viên.<br><br></div><div>*) Kết truyện: Cuộc gặp gỡ giữa quan phán sự và người quen cũ + lời bình của tác giả<br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://revelogue.com/wp-content/uploads/2020/03/nguyen-du-truyen-ki-man-luc.gif" />
         <pubDate>2022-02-27 14:56:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2068231189</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đoạn 2: Cung nữ thất vọng nặng nề tỏng cảnh ngày ngóng đêm trông (bốn khổ thơ cuối)</title>
         <author>thanhthu07052006</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2068231960</link>
         <description><![CDATA[<div><mark>a) Hai khổ 5, 6</mark></div><div>- Điểm khác nhau: mỗi khổ thơ diễn tả một cung bậc khác nhau của<br>nỗi buồn.</div><div>+ Khổ 5: nỗi buồn tủi trong sự chán ngán.</div><div>+ Khổ 6: nỗi buồn tủi đến khắc khoải, chán ngán đến ngẩn ngơ . -<br>Các yếu tố nghệ thuật biểu hiện tâm trạng</div><div><strong>* Khổ thơ 5</strong></div><div><em><br>“Mùi hương tịch mịch, bóng đèn thâm u.”</em></div><div><br>- Mùi hương không còn quyến rũ nữa, mà trở nên “tịch mịch ” ẩm mốc, bóng đèn giữa năm canh trở nên “âm u” tối tăm, mờ ảo. Mùi hương, bóng đèn chẳng làm ấm hơn, sáng hơn mà còn làm tăng cảm giác cô độc. Nỗi đau như vò xé, cào nát tâm hồn người cung nữ tội nghiệp.</div><div><em><br>“Tranh biếng ngắm trong đồ tố nữ,</em></div><div><em>Mặt buồn trông trên cửa nghiêm lâu.</em></div><div><em>Một mình đứng tủi, ngồi sầu,</em></div><div><em>Đã than với nguyệt, lại rầu với hoa”.</em></div><div><br>- Hiện lên rõ nhất trong đoạn trích vẫn là hình ảnh người cung nữ mỏi mòn trong trông ngóng, nàng chỉ đau khổ và chờ đợi, để rồi cô đơn và tuyệt vọng. Một điểm nổi bật về nghệ thuật viết ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều là tài năng lựa chọn và sử dụng các từ ngữ gợi tả cảm giác. Một loạt những từ ngữ như “biếng ngắm”, “buồn trông”, “đứng tủi ngồi sầu”, “than”, “rầu”, “khắc khoải”, “ngẩn ngơ” đã thể hiện được nỗi sầu oán của người cung nữ trong cảnh cô đơn, tủi nhục và trông mong vô vọng. Đôm đêm, người cung nữ chỉ biết âm thầm sống với cái bóng của mình: Một mình đứng tủi ngồi sáu, Hết than với bóng lại rầu với hoa...</div><div>&nbsp;=&gt; Cả đoạn thơ khắc hoạ nổi bật hình dáng và tâm trạng cô độc, buồn tủi đến đớn đau, khắc khoải tức tối của người cung nữ trổ đạp mà bị coi như đã chết.</div><div>&nbsp;</div><div><strong>* Khổ thơ 6</strong><mark><br></mark><br></div><div><em>“Buồn mọi nỗi lòng đà khắc khoải,</em></div><div><em>Ngán trăm chiều, bước lại ngẩn ngơ.</em></div><div><em>&nbsp;</em></div><div>- Từ miêu tả tâm trạng</div><div>+ Biếng, buồn, tủi, sầu, rầu diễn tả tâm trạng chán chường, buồn<br>tủi của người cung nữ. Đối với nàng tranh đẹp, trăng trong, lầu vàng đều trở<br>nên vô nghĩa khi nàng phải sống trong cảnh chờ đợi vô vọng.</div><div>+ Buồn / ngán; khắc khoải / ngẩn ngơ. Nghệ thuật đối diễn tả những cung bậc khác nhau của nỗi buồn. Từ buồn đến khắc khoải (băn khoăn, không yên tâm); từ chán ngán đến ngẩn ngơ (mất hết cả tinh thần).</div><div>+ Khắc khoải: diễn tả chính xác trạng thái băn khoăn, không yên tâm của người cung nữ. Người cung nữ biết mình bị bỏ rơi nhưng thẳm sâu trong lòng người cung nữ vẫn hi vọng có một ngày nào đó nhà vua sẽ nghĩ lại.</div><div>- Từ tâm lí đó người cung nữ lo sợ nhan sắc sẽ tàn phai<br><br></div><div><em>“Hoa này bướm nỡ thờ ơ,</em></div><div><em>Để gầy bông thắm, để xơ nhuỵ vàng!</em></div><div><em>Đêm năm canh lần nương vách quế.”<br></em><br></div><div>+ Hình ảnh ẩn dụ: Hoa, bướm, các tính từ gầy, xơ tả cuộc đời thê thảm của người cung nữ, trong đó có cái buồn quằn quại, tức tối, chua chát, có lời oán trách gắt gao<br><br></div><div><mark>b) Khổ 7, 8</mark></div><div>-Nội dung chính: cả 2 khổ thơ đều diễn tả nỗi buồn tủi, oán giận. Nhưng mỗi khổ biểu hiện một cung bậc tâm trạng khác nhau</div><div>+ Khổ 7: Nỗi giận hờn choán đầy nỗi lòng</div><div>+ Khổ 8: Nỗi giận hờn quyết liệt</div><div>-Yếu tố nghệ thuật biểu hiện tâm trạng</div><div><strong>* Khổ thơ 7:&nbsp;<br></strong><br></div><div><em>“ Cái buồn này ai dễ giết nhau.</em></div><div><em>Giết nhau chẳng cái lưu cầu,</em></div><div><em>Giết nhau bằng cái u sầu, độc chưa!</em></div><div><em>Tay nguyệt lão chẳng xe thì chớ!</em></div><div><em>Xe thế này có dở dang không? ”<br></em><br></div><div>- Thời gian nghệ thuật được lặp lại. Diễn tả cảm giác đai dằng dặc, tưởng như không bao giờ kết thúc. Nỗi buồn tủi như vượt quá sức chịu đựng của con người&nbsp;</div><div>- Điệp ngữ “giết nhau” Lập lại ba lần gây ấn tượng về một sự tàn bạo độc ác&nbsp;</div><div>&nbsp;=&gt; Cả khổ thơ khơi sâu nỗi đau trong tâm hồn nhân vật trữ tình và cắt cứa tâm can người đọc</div><div><strong>* Khổ thơ 8:<br></strong><br></div><div><em>“ &nbsp; Đang tay muốn dứt tơ hồng</em></div><div><em>Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra!”<br></em><br></div><div>- Câu hỏi tu từ thể hiện ý trách móc chất vấn kẻ se duyên “se thế này có dở dang không thể hiện sự dồn nén tâm lý bực mình”. Đó là tâm lý của người đang bị đẩy vào ngõ cụt của cuộc đời tài sắc</div><div>- Hành động quyết liệt: dứt Tơ hồng, đạp tiêu phòng. Người cung nữ muốn bứt phá để thoát khỏi sự giam hãm</div><div>- So sánh tâm trạng của người chinh phụ với tình cảnh của người cung nữ</div><div>+ Người chinh phụ lẻ loi vì nhớ chồng muốn gửi nỗi nhớ thương cho chồng. Trong khi đó thiên nhiên lộng lẫy nguyệt hoa quấn quýt giao hoà mà người chinh phụ vẫn cô đơn. Nhưng dẫu sao vẫn còn hy vọng ngày chồng trở về</div><div>+ Người cung nữ bị vua ruồng bỏ, ngày đêm đứng tủi, ngồi sầu, khắc khoải chờ đợi vô vọng muốn bứt phá thoát khỏi cảnh giam hãm mà bế tắc tuyệt vọng đến thê thảm<br><br></div><div><mark>c) Tiểu kết</mark></div><div>- Âm điệu của đoạn thơ: Sự phối vần giữa câu thất trắc với câu lục bát vần bằng; Vần lưng giữa câu thất bằng, câu bát; Vần chân giữa câu thất trước với câu lục tạo âm hưởng réo rắt rất phù hợp với tâm trạng của nhân vật trữ tình</div><div>- Bút pháp tả tình của tác giả: bút pháp tả tình tinh tế mỗi khổ<br>thơ như một nét tâm trạng, đúng như lời bình của Lý Văn Phức :” Bút pháp tả tình của Ôn Như thiên đoàn bách luyện, ngữ ngữ kinh nhân”. Nghĩa là:” Trăm nghìn lần tôi luyện mỗi câu đọc lên nghe đến ghê người”</div><div>- Đoạn thơ đã miêu tả những diễn biến tâm lý phức tạp trong tâm hồn nhân vật trữ tình, từ sự chờ đợi ngóng trông triền miên dai dẳng đến nỗi buồn tủi ngậm ngùi. Từ sự bế tắc đến chán ngán, ngẩn ngơ… tất cả tích tụ dồn nén và biến thành hành động mạnh mẽ quyết liệt</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1525421250/29d8db8cdf5d2a10d414da6a75297302/N_i_s_u_o_n_c_a_ng__i_cung_n_.jpg" />
         <pubDate>2022-02-27 14:57:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2068231960</guid>
      </item>
      <item>
         <title>II. Đọc- hiểu văn bản</title>
         <author>ngaphuongnguyen26</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2068233136</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><mark>1.&nbsp; &nbsp; Nhân vật Ngô Tử Văn:</mark></strong></div><div><mark>a) Lời giới thiệu mở đầu:</mark><br>- Tên: .... Quê quán: .....<br>( Ngô Tử Văn tên là Soạn, người huyện Yên Dũng đất Lạng Giang )</div><div>- Tính cách:&nbsp; Vốn có tính khảng khái, cương trực, nóng nảy, thấy sự gian tà thì không thể chịu được...</div><div>=&gt; Cách mở đầu trực tiếp ngắn gọn, lối mở đầu truyền thống, vốn là đặc trưng của lối kể chuyện trong dân gian. Lối mở đầu này được lặp lại trong các tác phẩm của Nguyễn Dữ tạo nên một dấu ấn đặc biệt.<br><mark>b) Hình tượng nhân vật Ngô Tử Văn </mark><br><mark>* Hành động đốt đền:&nbsp;</mark></div><div><mark>- Nguyên nhân: </mark>Biết được sự việc "viên Bách hộ họ Thôi, tử trận ở gần đền, từ đấy làm yêu quái trong nhân gian"&nbsp;</div><div>+ thái độ: tức giận, bất bình&nbsp;</div><div>-&gt; Hành động dũng cảm, biểu hiện của bậc anh hùng, muốn bảo vệ con dân, biết phân định thiện ác, bênh vực cái thiện, sẵn sàng trừng trị cái ác.<br><mark>- Cách thức tiến hành việc đốt đền:&nbsp;</mark></div><div>+ Có sự chuẩn bị từ trước: hành động: tắm gội sạch sẽ<br>+Tự tin vào việc mình làm là đúng đắn: khấn trời<br>+ Dũng cảm: châm lửa đốt đền, mọi ng lắc đầu lè lưỡi - NTV vung tay</div><div>-&gt; Trước cái ác chưa được phân định và vạch trần vẫn thể hiện thái độ cẩn trọng, giữ bản thân trong sạch không chút nhuốc nhơ để trời phật chứng giám việc làm chính nghĩa của mình. Hơn nữa còn chứng tỏ đây là hành động có suy tính kĩ lưỡng của lí trí chứ không phải hành động bản năng nhất thời mà bồng bột làm càn.&nbsp;</div><div>=&gt; Qua lời giới thiệu khái quát và lý do đốt đền, Tử Văn hiện lên là bậc anh hùng hảo hán, biết trừ gian diệt ác, dũng cảm, táo bạo, dám nghĩ dám làm,chính trực không màng bản thân mà đặt lợi ích dân chúng lên trên hết( ý thức dân tộc mạnh mẽ)&nbsp;<br><br></div><div><mark>* Hậu quả của việc đốt đền </mark><br><br></div><div><mark>-&nbsp; Đầu tiên: bị bệnh nặng</mark>, "đầu lảo đảo và bụng run run, rồi nổi lên một cơn sốt nóng, sốt rét" -&gt; Thể xác ốm đau.</div><div><mark>-&nbsp; Bị doạ nạt bởi hồn ma Bách Hộ:&nbsp;</mark></div><div>+ Ngoại hình, biểu hiện tên Bách hộ: "người khôi ngô, cao lớn, đầu đội mũ trụ, nói năng và quần áo giống người phương Bắc, tự xưng là cư sĩ, đòi trả lại ngôi đền cũ" -&gt; hèn nhát, chỉ biết giả mạo người khác tác oai tác quái lại còn ra oai, không biết hối cải. Doạ sẽ kiện Ngô Tử Văn.</div><div>-&gt; Thái độ: Nghe lời than trách, sau là đe doạ của tên yêu ma tác oai tác quái: <mark>mặc kệ, ngồi ngất ngưởng tự nhiên</mark>&nbsp;<br>=&gt; thái độ khinh thường, đã xác định trước mọi hậu quả xấu nhất nên không còn gì hoảng sợ, không nhún nhường trước cái ác, sẵn sàng đối đầu và tin tưởng công lí sẽ chiến thắng.&nbsp;</div><div><mark>- Khi gặp Thổ công:&nbsp;</mark></div><div>+ Ngoại hình, biểu hiện: "một ông già áo vải mũ đen, phong độ nhàn nhã, bước đi thủng thỉnh"; hành động: "vái chào"</div><div>+ Chủ động xưng rõ họ tên; sau khi Tử Văn đi còn dặn dò cách thoát nạn. -&gt; người điềm đạm, đứng tuổi và xử sự lịch thiệp, gặp được kẻ sĩ tính tình khẳng khái có thể giúp mình giải oan thì hết mực phò tá, giúp đỡ&nbsp;</div><div>+ Nghe Thổ công phân trần nỗi oan khuất bị "tranh chiếm miếu đền"; "giả mạo họ tên" ; bị tên Bách hộ"đánh đuổi đi" lưu tán đến Tả Viên: kinh ngạc, bất bình, bức xúc tại sao Thổ công không kiện</div><div>-&gt; càng thêm quyết tâm đòi lại lẽ phải, ra tay giúp đỡ thổ công bị hãm hại, chịu oan khuất<br><br></div><div>&nbsp;<mark>* Khi  đưa xuống âm phủ&nbsp;</mark></div><div>- Quang cảnh: "đến một toà nhà rất lớn, xung quanh có thành sắt cao vọi đến mấy chục trượng"; "ra phía Bắc là một con sông lớn, cái cầu dài ước hơn nghìn bước, gió tanh sóng xám, hơi lạnh thấu xương"; "Hai bên cầu có quỷ dạ xoa, đều mắt xanh tóc đỏ..."<br><br></div><div>&nbsp;-&gt; Âm ti địa phủ hiện ra với tất cả những hình ảnh rùng rợn, làm bất cứ ai cũng phải khiếp đảm nhưng trái ngược với đó, Ngô Tử Văn nổi bật len với vẻ gan góc, can trường, dù bị mắng và vu tội vẫn"lời rất cứng chỉ, không chịu nhún nhường chút nào" để minh oan xá tội cho bản thân và vạch mặt kẻ sảo quyệt Bách hộ.&nbsp;<br><br></div><div>- Diễn biến vụ sử kiện:&nbsp;<br><br></div><div>+&gt; Bách hộ kiện Tử Văn trước mặt Diêm Vương và giả giọng như người chịu oan, bị Tử Văn hãm hại&nbsp;<br><br></div><div>+&gt; Diêm Vương ban đầu "sai dẫn Tử Văn vào cửa điện" rồi quở mắng tội"kẻ hàn sĩ dám hỗn láo, gây tội ác tự mình ...."&nbsp;<br><br></div><div>+&gt; Tử Văn một mực phân trần, kể lại đầu đuôi và đề nghị Diêm Vương thực đến Tản Viên gặp Thổ công thật bị hàm oan làm chứng&nbsp;<br><br></div><div>+&gt; Sau đó Diêm Vương trừng trị Bách hộ và ban thưởng cho Tử Văn&nbsp;<br><br></div><div>- Kết quả:&nbsp;<br><br></div><div>+&gt; Tử Văn đại diện cho chính nghĩa đã giành phần thắng, kẻ gian tà xảo quyệt là Bách hộ phải chịu sự trừng trị thích đáng.&nbsp;<br><br></div><div>+&gt; Sau sự gan dạ, dám đứng lên bênh vực cái thiện của Tử Văn, nhân dân đã được bình yên, Thổ Công được giải oan và trả lại đền.&nbsp;<br><br></div><div>* Khi nhận chức Phán sự: Phần thưởng xứng đáng&nbsp;<br><br></div><div>- Giúp dân chúng được sống bình yên, không lo cái ác hoành hành bạo ngược, không ai phải chịu oan khuất&nbsp;<br><br></div><div>- Cái ác, giặc thù xâm lược được đẩy lùi, làm sáng tỏ và phục hồi danh dự, vị trí của Thổ thần nước Việt - Phần thưởng xứng đáng nhằm công nhận và khích lệ con cháu đời sau tiếp tục gìn giữ, ti tưởng vào chính nghĩa, dũng cảm đứng lên bảo vệ lí tưởng, bảo vệ con dân, bảo vệ công lí và danh dự đất nước.&nbsp;<br><br></div><div><mark>3. Nhận xét lời bình cuối truyện </mark><br><br></div><div>- Phơi bày bộ mặt xảo trá, quỷ kế đa đoan của giặc họ Thôi, cao hơn là của xã hội phong kiến thối nát đương thời luôn đầy rãy bất công, cái ác dễ dàng hoành hành, ngỗ ngược trong dân mà những kẻ sĩ lại hiếm dám đứng lên chống lại - Vấn nạn mê tín dị đoan cổ hủ chưa được nhận thức trong dân chúng&nbsp;<br><br></div><div>=&gt; Mong muốn những kẻ sĩ hãy dám đứng lên, không sợ thất bại mà bảo vệ chính nghĩa, giúp dân ấm no. Bởi lẽ nếu ai cũng kiêng rè không dũng cảm đấu tranh thì cái ác sẽ còn hoành hành và thâu tóm xã hội. Dám đứng lên là cách duy nhất để bảo vệ, đẩy lùi cái xấu.<br><br></div><div><mark>III. Tổng kết tác phẩm:</mark><br><br></div><div>1. Giá trị nội dung:<br><br></div><div>-Phản ánh xã hội phong kiến đương thời đầy rẫy những bất công vô nhân đạo khi bọn quan lại cầm quyền, quân xâm lược liên tục áp bức dân lành.<br><br></div><div>-Tác phẩm đề cao những con người trung thực, ngay thẳng, dám đấu tranh để chống lại cái ác trừ hại cho dân qua nhân vật Ngô Tử Văn – một người tri thức đất Việt<br><br></div><div>-Thể hiện niềm tin vào công lí, chính nghĩa sẽ nhất định chiến thắng cái gian tà.&nbsp;<br><br></div><div>-Ước mơ về một xã hội công bằng, tốt đẹp cho con người<br><br></div><div>2. Giá trị nghệ thuật:<br><br></div><div>- Yếu tố kì ảo, hoang đường, xen chuyện người, chuyện thần, ma, trần gian, địa ngục,..<br><br></div><div>- Cốt truyện kịch tính, chặt chẽ, logic.<br><br></div><div>- Cách dẫn truyện khéo léo, biến hóa, có cao trào, có thắt nút, mở nút.<br><br></div><div>- Xây dặng nhân vật sắc nét, sinh động.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-02-27 14:59:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2068233136</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Giá trị nội dung – nghệ thuật</title>
         <author>thanhthu07052006</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2068237098</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>a, Nội dung</strong></div><div>- Cất lên tiếng nói <mark>tố cáo tội ác</mark> của chế độ đa thê, chế độ cung tần tàn bạo</div><div>- Đồng thời đoạn trích cũng <mark>thể hiện tấm lòng</mark> nhân đạo cao cả của tác giả khúc ngâm, người đã rất <mark>thấu hiểu</mark> và <mark>đồng cảm</mark> sâu sắc với <mark>số phận oan nghiệt</mark> của những cô gái đầy <mark>khát vọng sống</mark> đã không may <mark>bị đẩy vào kiếp cung tần.</mark></div><div>=&gt; Qua tâm trạng của người cung nữ, đoạn trích đã <mark>cất lên tiếng nói đòi quyền sống</mark>, <mark>đòi sự công bằng</mark> cho con người, nhất là <mark>người phụ nữ </mark>dưới <mark>chế độ phong kiến</mark>.<br><br></div><div><strong>b, Nghệ thuật&nbsp;</strong></div><div>- Với <mark>nghệ thuật</mark> <mark>miêu tả tâm trạng</mark> đặc sắc, tác giả "Cung oán ngâm" đã <mark>góp phần hoàn thiện</mark> thể thơ <mark>song thất lục bát</mark>, đồng thời thể hiện <mark>khả năng</mark> sử dụng <mark>ngôn ngữ điêu luyện</mark> và <mark>tinh tế</mark>.</div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1525421250/8a903f466c84f1861bcaacc9d41483cf/phan_tich_noi_sau_oan_cua_nguoi_cung_nu.jpg" />
         <pubDate>2022-02-27 15:06:08 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2068237098</guid>
      </item>
      <item>
         <title>B, 12 câu thơ tiếp: Nỗi nhớ thương người chồng ở phương xa    </title>
         <author>ngnhang247</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2068239336</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; <mark>"Lòng này gửi gió đông có tiện?</mark></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;<mark>&nbsp;Nghìn vàng xin gửi đến non Yên"</mark></div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp;"lòng này" tức tấm lòng thiết tha nhỏ bé của người vợ xa chồng thương nhớ.</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp;"nghìn vàng này" tức ý nói tấm lòng trân trọng quý tựa nghìn vàng. Có thể thấy người chinh phụ rất trân trọng, khao khát tình yêu, được gần gũi với chồng.</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; động từ "xin gửi" cùng câu hỏi tu từ chính là nỗi khát khao mà người phụ nữ trăn trở hàng đêm, mong nỗi nhớ đến với chồng, chia sẻ vơi bớt nỗi cô đơn hiện tại.</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; "gió đông" là gió mùa xuân, gợi đến gia đình sum họp, đoàn tụ, vui vầy</div><div>-&nbsp; "non Yên" là điển tích chỉ núi Yên Nhiên, nói biên ải mà người chồng đang chinh chiến.</div><div><strong>=&gt; </strong>không gian rộng lớn, xa muôn trùng càng dấy lên nỗi cô đơn, nhỏ bé và khát khao đoàn tụ với chồng của kẻ chinh phụ.</div><div>&nbsp;</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<mark>"Non Yên dù chẳng tới miền,</mark></div><div><mark>Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời"</mark></div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp;Nỗi nhớ được khắc hoạ một cách mới lạ "nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời". Không phải tính từ mức độ nhiều hay ít mà nỗi nhớ vẫn hiện lên dạt dào vô bờ bến.&nbsp;</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; Tính từ láy " thăm thẳm" dùng để chỉ độ sâu của biển này được dùng như tình yêu sâu đậm của người chinh phụ.</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; nỗi nhớ được bộc lộ trực tiếp, một điểm lạ và đặc sắc trong văn học trung đại.</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp; Không gian xa rộng khiến người phụ nữ nhỏ bé bất lực, vô vọng trong nỗi nhớ chồng da diết.</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp;"đường lên bằng trời" ý nói nỗi nhớ xa vời vô biên ải.</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp;Điệp ngữ "non Yên" và "trời" như nhấn mạnh sự xa cách muôn trùng, dai dẳng mà chẳng yên lòng. Cho người đọc cảm giác tăng tiến, dồn dập, đau cùng một nhịp với người phụ nữ.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<mark>"Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu</mark></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <mark>Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong"</mark></div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp;Bất lực, nàng tự hỏi ông trời sao mà quá xa nên không thể thấu hiểu cho nỗi cô đơn day dứt của nàng. Câu thơ thể hiện sự oán trách, đau lòng của nàng những phản ánh hiện thực chiến tranh đã cướp đi hạnh phúc của những con người tội nghiệp.</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp;Từ "đau đáu" càng bóc tách ra khoảng trống trong người chinh phụ, nỗi nhớ vần vũ giằng xé chưa bao giờ thôi nguôi ngoai.</div><div>&nbsp;<strong>=&gt; </strong>hình ảnh trời đấy và hình ảnh nỗi nhớ nỗi cô đơn càng khiến tâm trạng người chinh phụ hiện lên rõ ràng và đau xót.</div><div>&nbsp;</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <mark>"Cảnh buồn người thiết tha lòng</mark></div><div>&nbsp; &nbsp;<mark>Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun"</mark></div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp;Đã buồn vì nỗi nhớ khôn nguôi lại gặp cảnh trời tang thương, hoang vắng, nàng càng cô đơn hơn. Nỗi nhớ như hoà vào cảnh thiên nhiên đến não nề.</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp;Từ "thiết tha" ở đây có nghĩa là đau đớn, xót xa như bị cắt, bị mài càng giúp ta đau và đồng cảm với gánh nặng trong tâm hồn của người phụ nữ xa chồng.</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp;"Cành cây sương đượm": hình ảnh đơn côi, buồn bã.</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp;"tiếng trùng mưa phun": tiếng mưa hoà với tiếng con trùng, gợi ra một không gian ảo não, sầu buồn.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;<mark>"Sương như búa, bổ mòn gốc liễu</mark></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; <mark>Tuyết dường cưa, xẻ héo cành khô."</mark></div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp;Hình ảnh sương và tuyết được nhắc đến gợi nhớ đến mùa động quạnh quẽ và lạnh lẽo.</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp;Biện pháp so sánh được tác giả thể hiện rõ nét ví sương như búa, tuyết như cưa. Một sự so sánh không cân xứng và dường như không liên quan lắm với nhau. Thế nhưng ở đây, dưới con mắt của người chinh phụ, ta thấy sương rơi như lòng nàng đau thắt, tuyết xẻ mà như cưa vào tấm thân mềm yếu.</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp;Động từ mạnh "bổ", "xẻ" kết hợp cùng tính từ "mòn", " héo" càng gợi đến sự ủ rũ.</div><div>- Hình ảnh "gốc liễu" và "cành khô" là những sự vật mềm yếu nên người coi như tượng trưng cho người con gái.</div><div><strong>=&gt;</strong> Cả hai câu thơ được sử dụng phép đối, một nghệ thuật phổ biến thời bấy giờ nhưng lại được thổi hồn tư tưởng và những liên tưởng độc đáo.</div><div>&nbsp;</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; <mark>"Giọt sương phủ bụi chim gù<br>Sâu tường kêu vắng chuông chùa nện khơi"</mark></div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp;Những hình ảnh thiên nhiên nối tiếp diễn ra. Chim gù là loài chim có thể gọi bạn đời của mình nhưng tiếng kêu của nó bây giờ lại bị giọt sương phủ lấy, lạnh lẽo và im ắng. Đau đớn, cô đơn không thể chia sớt khiến lòng người chinh phụ đã buồn lại càng não nề. Từ "phủ bụi" gợi cảm giác lòng người như trùng xuống, không niềm vui.&nbsp;</div><div>-&nbsp; &nbsp; &nbsp;Tiếng chuông chùa là âm thanh duy nhất bao trọn và văng vẳng trong tâm thức người chinh phụ. Từ "nện khơi" càng tỏ rõ âm thanh lớn đầy cả khoảng không gian, khác hẳn với tiếng nỉ non, sầu buồn như trên.</div><div>&nbsp;<strong>&nbsp;=&gt; </strong>Như vậy, người chinh phụ hiện lên với nỗi cô đơn và nỗi đau da diết. Nỗi nhớ chồng xa ngàn vạn dặm kể đâu cho vừa, một nỗi nhớ phải bộc lộ trực tiếp vì không thể che giấu, nỗi nhớ hoà lẫn làm cảnh vật đương theo mà suy tàn, não nề hoang vắng. Từ đó, thấy được tình yêu sâu đậm và tình cảnh lẻ loi cần được khoả lấp bằng yêu thương của người phụ nữ phải xa chồng.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1525425865/83bc2532ba23f3e2d8d82c60e1a6c5d4/phan_tich_chinh_phu_ngam_1.jpg" />
         <pubDate>2022-02-27 15:09:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2068239336</guid>
      </item>
      <item>
         <title>C. Còn lại : Niềm khao khát hạnh phúc lứa đôi của người chinh phụ</title>
         <author>ngnhang247</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2068242826</link>
         <description><![CDATA[<div><em><mark>"Vài tiếng dế nguyệt soi trước ốc,<br>Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên.</mark></em></div><div><em><mark>Lá màn lay ngọn gió xuyên,</mark></em></div><div><em><mark>Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm.<br>Hoa dãi nguyệt, nguyệt in một tấm,<br>Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông.<br>Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng,<br>Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đâu !"</mark></em><em><br></em><br></div><div>- “tiếng dế nguyệt soi” : âm thanh của màn đêm tĩnh lặng chỉ có tiếng dế kêu, cùng với ánh trăng ảm đạm hiện lên trước hiên “ốc” – nhà của người chinh phụ</div><div>- “gió thốc” : gió làm khung cảnh thêm lạnh lẽo, cô đơn. Kèm động từ mạnh “thốc” như thể hiện một tác động mạnh từ bên ngoài vào tấm lòng đang mỏng manh, tổn thương của người chinh phụ và báo hiệu cho sự chuyển biến mới trong tâm trạng của người phụ nữa ấy</div><div>- “Lá màn” : màn ở đây là màn trong phòng khuê của người phụ nữ</div><div>- “Bóng hoa theo bóng nguyệt” : điệp từ “bóng” nhấn mạnh sự đồng điệu giữa cái bóng của hoa và cái bóng của trăng cùng phản chiếu lên chiếc rèm nơi căn phòng tối tăm của người chinh phụ<br><br></div><div><strong>=&gt;</strong> Khung cảnh màn đêm im ắng, đìu hiu trước hiên nhà được người chinh phụ thu vào tầm mắt. Gió làm lay động lá màn cùng bóng trăng soi lên tấm rèm làm căn phòng đã trống vắng lại thêm lạnh lẽo, đìu hiu, khiến cho lòng người chinh phụ cũng thêm buồn, cô đơn, nhớ nhung chồng nơi xa.<br><br></div><div>- Trong 4 câu cuối, từ “hoa” và “nguyệt” xuất hiện đến 6 lần cho thấy hai sự vật này gắn bó với nhau không rời</div><div>+ “Hoa dãi” và “nguyệt in” : hoa phơi bày vẻ đẹp của nó dưới ánh trăng, còn ánh trăng lại phản chiếu bóng hình đẹp đẽ đó</div><div>+ “Nguyệt lồng hoa” làm “hoa thắm từng bông” : chúng đẹp khi ở bên nhau, cùng nhau khoe sắc</div><div>+ “trùng trùng” : từ láy thể hiện sự đan xen vào nhau thành tầng tầng, lớp lớp của “hoa” và “nguyệt” đẹp vô cùng</div><div>- Nhưng ở câu cuối, tác giả không miêu tả sự gắn bó của hoa và trăng như những câu trên nữa mà tạo ra hình ảnh đối lập giữa sự quấn quýt của thiên nhiên với cảnh cô đơn, buồn tủi của người chinh phụ. Khiến cô ấy phải thốt ra một câu chua xót “trong lòng xiết đâu!”<br><br></div><div><strong>=&gt;</strong> Bút pháp tả cảnh ngụ tình hết sức đặc sắc và tinh tế. Tác giả chọn những từ ngữ mang tính tượng hình cao, miêu tả chi tiết hình ảnh quấn quýt, âu yếm, lãng mạn của hoa và trăng – biểu tượng của tình yêu đôi lứa, để kín đáo thể hiện sự trào dâng cảm xúc mãnh liệt trong trái tim người phụ nữ khao khát được ở bên người mình yêu.<br><br></div><div><strong>=&gt;</strong> 8 câu thơ cuối được coi là đặc sắc nhất bởi có nhiều hình ảnh tinh tế cùng bút pháp tả cảnh ngụ tình điêu luyện của tác giả đã đưa nỗi buồn, nỗi cô đơn và nỗi nhớ da diết của người chinh phụ lên đến đỉnh điểm. Từ những cảm xúc đó, trong lòng người phụ nữ dâng trào khát khao được đoàn tụ cùng người chồng nơi đất khách. Đó cũng là mong muốn của tác giả về tình yêu đôi lứa, nỗi thương cảm cho những người chinh phụ và đồng thời lên án cuộc chiến tranh phi nghĩa chia cắt họ.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1525425865/dba22d6294b4c708ee26e4d9d6fb517e/Chinh_phu.jpg" />
         <pubDate>2022-02-27 15:14:47 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2068242826</guid>
      </item>
      <item>
         <title>D. Tổng kết : </title>
         <author>ngnhang247</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2068244746</link>
         <description><![CDATA[<div>1) Nội dung : &nbsp;<br>- Ghi lại nỗi cô đơn buồn khổ của người chinh phụ trong tình cảnh lẻ loi cơ đơn. Đề cao hạnh phúc lứa đôi và tiếng nói tố cáo chiến tranh phong kiến.<br>2) Nghệ thuật:&nbsp;<br>- Bút pháp tả cảnh ngụ tình, miêu tả tinh tế nội tâm nhân vật.</div><div>- Ngôn từ chọn lọc, nhiều biện pháp tu từ.<br><br></div><div>&nbsp;<br><br></div><div><strong><br></strong><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1525425865/2d3728bf15efcfaa8539437509fa82f3/tinh_canh_le_loi_cua_nguoi_chinh_phu_01.png" />
         <pubDate>2022-02-27 15:17:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2068244746</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Xuân về mang đến yêu thương !</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2068275985</link>
         <description><![CDATA[<pre>member : 
Phạm Ngọc Minh Anh
Phạm Hà Châu
Tạ Mỹ Duyên
Nguyễn Hà My
Trần Thanh Thủy
Nguyễn Hà Phương
Trần Anh THư
Nguyễn Diệu Ngân

<br></pre><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://media4.giphy.com/media/82SkwGvNTiGA8Qp0fB/giphy.gif" />
         <pubDate>2022-02-27 16:05:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2068275985</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thái phó Tô Hiến Thành</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2068293697</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>I. TÌM HIỂU CHUNG</strong><br><br><em>1) Tác phẩm: Đại Việt sử lược:</em><br>-Được biên soạn vào cuối thế kỉ XIV, chưa rõ tác giả là ai.<br>- Ghi chép lịch sử nước ta từ thời Triệu Đà đến năm 1225.<br>- Gồm ba quyền<br><em>2) Đoạn trích:Thái phó Tô Hiến Thành</em><br>- Được trích từ quyển 3, viết về nhân vật Tô Hiến Thành (?- 1179).<br><em>3) Khái niệm “Sử":</em><br>- Ghi chép về các sự kiện và nhân vật lịch sử có thật với thái độ khen chế rõ ràng.<br>- Gồm hai thể : Biên niên và ki sự.<br>- Tác phẩm Đại Việt sử lược được viết theo thể biên niên kết hợp với ki sự.</div><div><br></div><div><strong>II.ĐỌC HIỂU CHI TIẾT</strong><br><mark>1.Việc phế lập Long Cán năm 1175</mark></div><div>.<strong>a) Các sự kiện lịch sử diễn ra năm 1175 :</strong></div><div>- Vua Lí Anh Tông mất, không truyền ngôi cho con trưởng là Long Sưởng mà truyền cho Long Cán mới hai tuối<br>- Thái phó Tô Hiến Thành trung thành với vua, phò Long Cán chống lại âm mưu của Thái Hậu ( Phế Long Cán lập Long Xưởng ).<br><br><strong>b) Âm mưu phế truất Long Cán của Thái Hậu.</strong><br>- Dùng vật chất để lôi kéo Tô Hiến Thành làm theo ý của mình (mang vàng lụa đến hối lộ Lã Thị- Vợ Tô Hiến Thành).<br>- Dùng danh vọng và phú quý để làm lung lạc Tô Hiến Thành ( Chi bằng, lập vua đã trưởng thành...ban cho).<br>- Dùng uy quyền bất chấp pháp luật (Triệu bảo Quốc Vương Long Sưởng vào để tự lập làm vua).<br><em>-&gt; Thái Hậu biết rõ vai trò của Tô Hiến Thành trong việc phế lập Long Cán, vì vậy bà có nhiều âm mưu và mánh khóe, tiến hành từng bước âm mưu của mình.</em><br><strong>c) Tô Hiến Thành trước âm mưu của Thái Hậu:</strong><br>- Dùng đạo lí làm người, trách nhiệm chức tể tướng của mình và tín ngưỡng của dân tộc để thuyết phục vợ không nhận hối lộ.(Ta ở ngôi tế tướng...dưới suối vàng).<br> -Dùng lời dạy về đạo lí làm người của Khổng Tử và cách đối xử với người quá cố trong truyền thống dân tộc để trực tiếp bác lời dụ dỗ của Thái hậu.(bất nghĩa mà được phú quý...Thần không dánm vâng lời).<br>- Kiên quyết dùng pháp luật để trị kẻ không tuân theo pháp luật.( Nếu Vương cố ý...Lính là vậy).<br><em>-&gt; Tô Hiến Thành: là người trung quân ái quốc, chính trực và sáng suốt.</em><br>* Nghệ thuật: Chọn sự việc có kịch tính, lời kể ngăn gọn, lời nói nhân vật mang cá tính rõ rệt<br><mark>2. Việc chọn người thay Tô Hiến Thành khi ông qua đời.</mark><br>-Dù bệnh tật chỉ có Vũ Tán Đường bên cạnh chăm sóc, nhưng khi trả lời câu hỏi ai là người thay thế ông khi mất thì Hiến Thành nói đến Trung Tá.<br> - Tô Hiến Thành chọn Trần Trung Tá mà không chọn Vũ Tán Đường: Vì Trung Tá là người đủ tài đức gánh vác trọng trách trong triều.<br><strong><em>=&gt;</em></strong><em> Người chính trực, thẳng thắn, có sự phân biệt rạch ròi trong công việc, không thiên vị ai. Nhưng khi Tô Hiến Thành mất, Thái hậu lại đưa Đỗ Thuận An, em trai bà lên coi việc triều chính.</em><br><strong><em>-&gt; </em></strong><em>Thái hậu đã đặt quyền lợi quốc gia xuống dưới quyền lợi gia đình và lợi ích bản thân.</em></div><blockquote>Phản ánh được hiện thực phức tạp của đất nước dưới triều đại cuổi cùng của nhà Lí: những người như Tô Hiến Thành mang hết tâm sức để giữ gìn sự yên bình cho<br>đất nước, còn những người như Thái hậu lại luôn tìm mọi cơ hội, dùng mọi âm<br>mưu đen tối để thực hiện tham vọng của mình.</blockquote><div><strong><em>-&gt;</em></strong><em> Sự đối lập trong cách ứng xử của Thái Hậu và Tô Hiến Thành đã làm nổi bật lên<br>nhân cách cao đẹp của Thái Phó.</em><br><strong>-&gt;</strong> <em>Đặc sắc nghệ thuật: Kết hợp ghi chép sự<br>kiện với kể người, kể việc, sử dụng ngôn<br>ngữ đối thoại mang đậm sắc thái cá nhân.</em></div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://plclagi.com/wp-content/uploads/2020/04/tuong-to-hien-thanh-thumbnail.jpg" />
         <pubDate>2022-02-27 16:31:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2068293697</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thái sư Trần Thủ Độ</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2068297811</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>I.TÌM HIỂU CHUNG</strong><br><mark>1 ) Tác giả:</mark><br><br>- Ngô Sĩ Liên sinh năm 1400, ở huyện Chương Đức (nay là thôn Ngọc Giả, xã Ngọc Hòa, huyện Chương Mỹ, Hà Nội), là người có công dựng nên nhà Trần, giúp Trần Nhân Tông, Trần Thánh Tông ổn định chính trị, kinh tế đất nước.<br>- Là một nhà sử học thời Lê sơ , sống ở thế kỷ 15, đỗ tiến sĩ năm 1442 . Ông là người đã tham gia khởi nghĩa Lam Sơn và có vai trò to lớn trong việc biên soạn bộ Đại Việt sử ký toàn thư – bộ quốc sử chính thống cũ nhất của Việt Nam được lưu truyền tới ngày nay.<br><mark>2 ) Tác phẩm</mark><br>- Hoàn cảnh sáng tác :&nbsp; Hoàn cảnh sáng tác: <strong><em>Đại Việt sử kí toàn thư</em></strong> là bộ chính sử lớn của Việt Nam thời trung đại do Ngô Sĩ Liên biên soạn, hoàn tất năm 1479, gồm 15 quyển, ghi chép lịch sử từ thời Hồng Bàng cho đến khi Lê Thái Tổ lên ngôi (năm 1428).<br>- Đại Việt sử kí toàn thư gồm có hai phần chính:<br>+ Ngoại kỉ: Ghi chép lịch sử của Việt Nam từ thời Hồng Bàng đến thế kỉ X.<br><em>+ Bản kỉ</em>: Tiếp tục ghi chép những sự kiện lịch sử từ nhà Đinh đến thời Hậu Lê.<br>- Đoạn trích “Thái sư Trần Thủ Độ” là một trích đoạn từ quyển năm, phần bản kỉ của cuốn Đại Việt sử kí toàn thư<br><em>- Thể loại:</em> Kí</div><div><em>- Phương thức biểu đạt</em> : Tự sự</div><div><em>- Bố cục</em>: 3 phần<br>+ Phần 1: Từ đầu đến “phải nhờ cậy, quyền hơn cả vua”:&nbsp; Phần này thông báo về cái chết của Trần Thủ Độ và vài nét khái quát về nhân vật.<br>+ Phần 2: Tiếp đến “Vua hèn thôi”: Tác giả kể lại bốn sự kiện tiêu biểu trong quá trình làm quan của Trần Thủ Độ.<br>+ Phần 3: Còn lại: Tác giả đi đến khẳng định vai trò và vị trí của Trần Thủ Độ trong lịch sử.<br><br><strong>II.ĐỌC HIỂU CHI TIẾT</strong><br><br></div><div>1<mark>. Giới thiệu thời gian và sự kiện</mark><br>- Sự kiện: Thái sư từ trần.<br>- Vị trí và công trạng của thái sư: được truy tặng "Thượng phụ Thái sư Trung Vũ Đại Vương".<br>⇒ Cách giới thiệu: Ngắn gọn, hấp dẫn.<br><mark>2. Bốn câu chuyện có thật về Thái sư</mark></div><ul><li>*Chuyện xử người hạch tội mình</li></ul><div>- Trước hết: ông thừa nhận người hặc tội nói đúng về mình.<br>- Sau đó: Khen thưởng cho anh ta.<br>⇒ Công minh, thẳng thắn, nghiêm khắc với bản thân → Tôn trọng sự thật, độ lượng.<br><br></div><ul><li>*Chuyện bắt tên quân hiệu</li></ul><div>- Khi nghe Linh từ quốc mẫu nói: sai bắt tên lính quân hiệu -&gt; yêu thương, bảo vệ vợ.<br>- Nghe được sự thật: không trách, khen ngợi thưởng vàng<br>⇒ Chí công vô tư giữ nghiêm phép nước.</div><div><br></div><ul><li>* Chuyện về cậy nhờ xin chức tước:</li></ul><div>- Khi có người đòi xin chức tước: Trần Thủ Độ đầu tiên đã gật đầu phê duyệt hồ sơ. Sau đó ông đã bắt hắn chặt một ngón chân đế phân biệt với những người xin khác.<br>-&gt; Cách cư xử tế nhị, vừa răn đẻ kẻ hay ỷ thế cậy nhờ nơi quyền thế để xin xỏ chức tước mà bản thân lại không đủ tư cách đảm nhiệm, vừa răn đe vợ không dựa vào quyền thế của chồng để giúp người khác câu đương.<br>&nbsp;</div><ul><li>&nbsp;*Chuyện về việc chống lại anh em, họ hàng:&nbsp;</li></ul><div>- Khi vua Thái Tông muốn đưa anh của Thủ Độ là An Quốc làm tướng, Thủ Độ đã xin nghỉ việc, cho rằng việc hai an hem cùng làm tướng trong triều sẽ không phải lẽ, vua Thái Tông chỉ được chọn một trong hai người.<br>-&gt; Trần Thủ Độ biết nhìn xa trông rộng, ngăn cản việc đưa anh em, họ hàng vào nắm giữ những chức vụ quan trọng trong triều để tránh kéo bè kết đảng.<br><br><strong>III. TỔNG KẾT</strong> <br><mark>a )&nbsp; Giá trị nội dung</mark> : Ca ngợi nhân cách cao cả, tấm lòng yêu nước của Trần Thủ Độ. Người giữ nghiêm phép nước: Chí công vô tư, thẳng thắn và luôn khích lệ cấp dưới làm như mình. Cao thượng bao dung, không để tình riêng lấn át.<br><mark>b )&nbsp; Giá trị nghệ thuật</mark> :&nbsp;<br>- Xây dựng tình huống giàu kịch tính, lựa chọn chi tiết đắt giá.</div><div>- Mỗi câu chuyện đều có những xung đột đi đến cao trào và được giải quyết một cách bất ngờ.</div><div>- Ngôn từ hàm súc, chỉ kể, không bình luận. Lời kể khách quan, trung thành với sự thật.<br>- Lối viết sử rất kiệm lời, không miêu tả phân tích tâm lí, nhân vật vẫn hiện lên sâu sắc.</div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://daivietkynhan.com/wp-content/uploads/2021/05/Tran-Thu-Do-12.4x7.4-scaled-e1620811169136-774x800.jpg" />
         <pubDate>2022-02-27 16:37:32 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2068297811</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Sơ đồ tư duy : Thái sư Trần Thủ Độ.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2068310203</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1571293636/1b99d6d69f7871989faafc3bf102113d/image.png" />
         <pubDate>2022-02-27 16:54:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2068310203</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Mở rộng bài “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2068585075</link>
         <description><![CDATA[<div><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;    Đặng Trần Côn là một trong số ít nhà thơ nam dám đứng lên và đồng cảm với người phụ nữ. Thơ ông là vũ khí, là cánh tay đắc lực giúp ông đòi lại công bằng của người con gái thời phong kiến mà đặc biệt là những người đàn bà sống xa chồng bởi chiến tranh. Ông tiếc thương cho những cánh hoa đang tàn đang lụi, những cánh hoa đãng lãng phí những ngày xuân của mình để chờ đợi tin lành từ lang quân. Những nỗi nhớ cứ chồng chất theo năm tháng, nỗi cô đơn uể oải trói chặt họ trong những đêm không ngủ. Hối tiếc và đau lòng, những người đàn bà ấy chưa bao giờ được chia sớt những u sầu. Chiến tranh đã cướp đi tháng ngày bình yên của người đàn ông nhưng cũng cướp đi xuân sắc của người đàn bà. Như “Khuê oán” của Vương Xương Linh, ông cất tiếng lòng thay người con gái xa chồng để lấy ấn phong hầu:</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu,</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Xuân nhật ngưng trang thướng thuý lâu.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc,</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Hối giao phu tế mịch phong hầu.</div><div>&nbsp; &nbsp; Tuy thế mà người con gái ấy bỗng đâu thấy mình thật lạ lẫm khi bắt gặp nhánh dương liễu đầu đường đang xanh tốt, những dự cảm và những hụt hẫng khi nàng nhận ra không có ai chăm chút và yêu thương mình. Đó là bắt đầu của nỗi cô đơn và khi chúng trở nên lớn hơn, đó sẽ là những chuỗi ngày day dứt và đau xót mà không phải là mình mà là nỗi lo cho người chồng ở phương xa đang bên bờ của cái chết. Hay rõ ràng và chân thực hơn khi ta bắt gặp “Cung oán ngâm” của Nguyễn Gia Thiều. Họ gặp nhau khi cùng khắc họa nỗi cô đơn phòng không chiếc bóng của người con gái khi xưa. Họ đều sống trong buồn thương, đau xót vì thân phận đơn chiếc của bản thân, đều có một khao khát nhỏ nhoi là hạnh phúc riêng mình. Thế nhưng, người phụ nữ trong tấm giấy của Nguyễn Gia Thiều lại bị động trước nỗi đau khốn cùng còn người chinh phụ đây lại tìm mọi cách để vượt khỏi nỗi cô đơn, tìm mọi cách để nỗi cô đơn không trói buộc sức sống của chính mình. Hai nhà nghệ sĩ với hai bức tranh khác nhau nhưng đều khắc họa được nỗi đau và lên án chiến tranh vô nghĩa. Từ đó ta thấy ta trong hiện tại, những phái yếu ra đời không bao giờ cam chịu trước khó khăn mà hãy chủ động đi tìm tình yêu đích thưc để xây dựng hạnh phúc riêng mình. Đó là bài học mới mẻ muôn đời, là tư tưởng tiến bộ của nhà nhân đạo chân chính. Lan tỏa tình yêu và đồng cảm để con người ta thấy được giá trị thật sự của bản thân và cổ vũ họ đứng lên để bảo vệ hạnh phúc của cuộc đời mình</div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1483973498/72059366caba6ddca9c246355ab76f14/images__2_.jpg" />
         <pubDate>2022-02-28 00:30:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2068585075</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 5: Hà Trân, Thu An, Lê Thảo Nguyên, Trần Anh Thư, Minh Trang</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2083003526</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Bối cảnh sống</strong></div><div>-Giống nhau: Cả hai đều trong sống trong nỗi cô đơn, thương nhớ.</div><div>-Khác nhau:</div><div>+ Người chinh phụ: sống nơi vùng quê</div><div>+ Người cung nữ: sống trong cung</div><div><strong>Mục đích sống</strong><br>- Giống: Cả hai nhân vật đều đang sống chờ đợi một người.<br>- Khác:<br>+Chinh phụ: sống để chờ đợi người chồng từ nơi chiến trường khó hẹn ngày trở về.&nbsp;<br>+Cung nữ: sống để chờ đợi tình yêu vô vọng của nhà vua và khao khát được giải thoát cho đời mình</div><div><strong>Tính cách :</strong>&nbsp;</div><div>-Giống nhau : Đều là người phụ nữ yếu lòng mềm yếu , sống nội tâm , khát khoa hạnh phúc , hay buồn lòng, cô đơn , khoa khát có đuoc tình yêu mãnh liệt&nbsp;</div><div>-Khác nhau :</div><div>+ Chinh phụ ngâm : Là người phụ nữ chung thuỷ , hay lo lắng cho chồng , là người phụ nữ biết chăm lo cho gia đình , khao khát hạnh phúc lứa đôi , giàu đức hy sinh , cô đơn .&nbsp;</div><div>+ Nỗi sầu người cung nữ : Là người phụ nữ khao khát tự do , khao khát được sống như người bình thường , tự do bay nhảy , được yêu . Tính cách có phần tức giận căm uất hơn so với chinh phụ ngâm</div><div><strong>Số phận :</strong></div><div>&nbsp;- Giống nhau: Cả hai người phụ nữ trong hai đoạn trích đều có cùng chung một số phận. Họ đều là những người phụ nữ xinh đẹp nhưng bị dòng đời vùi dập, xô đẩy hay hiểu theo cách khác là "hồng nhan bạc mệnh". Họ phải chịu sự bất công, oan nghiệt đó là yêu nhưng không được ở bên người mình thương. Nhìn chung số phận của những người phụ nữ ấy luôn gặp phải sự bất công, khinh rẻ, phải chịu nhiều đau thương mất mát, mãi luôn là người cô độc lẻ loi giữa trần đời.</div><div>&nbsp;- Khác nhau:&nbsp;</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Người chinh phụ: được sống trong cuộc đời tự do, không bị giam cầm .&nbsp;</div><div>&nbsp; &nbsp;+ Người cung nữ: sống trong cuộc đời bị giam cầm trong cung cấm, không được thoát ra ngoài, ko có sự tự do.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-03-08 02:26:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2083003526</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thảo Vi, Phạm N Minh Anh, Hà Phương, My, Thanh Thảo</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2083004273</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;- Giống nhau: Cả hai nhân vật trữ tình đều sống trong nhớ nhung, sầu muộn, đều đau đáu đợi chờ trong cô đơn phòng không chiếc bóng, buồn tủi trong nỗi đau khổ khôn nguôi về thân phận đơn chiếc của bản thân mình cùng với sự nhớ mong trong vô vọng khi người mình yêu thương không ở bên cạnh, khát khao có được hạnh phúc của cả hai nhân vật.&nbsp;<br>&nbsp;<br>- Khác nhau:&nbsp;<br>+ tình cảnh sống:&nbsp;<br>• Người chinh phụ có chồng đi chiến trận, sống trong cảnh chia lìa&nbsp;<br>• Người cung nữ bị đưa vào hầu hạ cho vua chúa&nbsp;<br>&nbsp;<br>+ thân phận:&nbsp;<br>• Người chinh phụ là vợ của một người dân bình thường, không có địa vị và quyền thế&nbsp;<br>• Người cung nữ là thê thiếp của vua chúa, đứng đầu cai trị có quyền chức và địa vị tôn quý&nbsp;<br>&nbsp;<br>+ Hoàn cảnh xa chồng:&nbsp;<br>• Người chinh phụ hãnh diện khi chồng đi chinh chiến; xa chồng vì hoàn cảnh chiến tranh.&nbsp;<br>• Người cung nữ có chồng là bị ép buộc; xa chồng vì bị bỏ rơi.&nbsp;<br>&nbsp;<br>+Thái độ trước hoàn cảnh:&nbsp;<br>• Người chinh phụ tuy lẻ loi đơn độc, buồn nhớ cùng cực nhưng vẫn nhẫn nhục cam chịu. Bơ phờ, héo úa vì phải lo lắng cho chồng nơi chiến trường khốc liệt. Người chinh phụ vì nhớ chồng quá đứng ngồi không yên nên đã chủ động nhờ gió đông gửi tấm lòng của mình đến nơi chồng đang chinh chiến.&nbsp;<br>• Người cung nữ bị nhà vua ruồng bỏ, chôn vùi tuổi xuân trong vách quế hắt hiu, lạnh lẽo nàng muốn bứt phá để thoát khỏi cảnh bị giam hãm. Người cung nữ tự tin xem mình là người có “tài sắc ai bì” mà lại bị nhà vua phụ bạc, bội ước. Người cung nữ ngày ngày nhớ mong nhớ đến nỗi “đứng tuổi ngồi sầu” nhưng nàng vẫn bị động vò võ chờ người phụ bạc chứ không hành động như người chinh phụ.&nbsp;<br>&nbsp;<br>+ Tính cách:&nbsp;<br>• Người chinh phụ kiên nhẫn đợi chồng về; có ước mơ, khao khát nhưng chỉ là vô vọng khi không thể thực hiện được cũng bởi người chồng đang ở phương xa; một mực tha thiết yêu thương chồng.&nbsp;<br>• Người cung nữ có ý thức xã hội rõ hơn, bộc lộ thái độ lên án, tố cáo mạnh mẽ dữ dội hơn.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-03-08 02:27:17 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2083004273</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 2: Thanh Thủy, Hồng Nhung, Phương Nga, Anh Thư, Thùy Dung, Thu Trang</title>
         <author>ngaphuongnguyen26</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2083006724</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><mark>Bối cảnh sống:</mark></strong><br> *Giống nhau:<br> Đều sống trong xã hội phong kiến đầy biến động, chế độ nam quyền.<br><br></div><div>*Khác nhau:&nbsp;<br>&nbsp;- Một người là vợ của một người dân bình thường; cuộc sống đơn sơ, giản dị.<br>&nbsp;- Một người là vợ lẻ của vua, dân tộc; vinh hoa, phú quý có thừa.<br><br></div><div><strong><mark>Tình cảnh:</mark></strong><br> * Đều sống trong sự sầu muộn, sự trông ngóng, cô đơn chờ đợi.<br><strong><mark>&nbsp;Tư tưởng: </mark></strong><br>&nbsp;*Giống nhau: <br>&nbsp;- Đều mong chờ hạnh phúc.<br>&nbsp;*Khác nhau:<br>&nbsp;- Người chinh phụ trong “Chinh phụ ngâm” lẻ loi vì nhớ chồng, có nỗi thất vọng nhưng chưa bị đẩy đến bi thảm bởi vẫn nuôi niềm hi vọng chồng trở về, vẫn tin tưởng vào hạnh phúc lứa đôi<br>&nbsp;-Người cung nữ bị vua ruồng bỏ, ngày đêm đứng tủi ngồi sầu, muốn bứt phá mà không thể được còn đáng thương<br><strong><mark>&nbsp;Cách đối mặt với hoàn cảnh:</mark></strong><br> * Khác nhau:<br> -Người cung nữ ngày ngày nhớ mong nhớ đến nỗi “đứng tuổi ngồi sầu” nhưng nàng vẫn bị động vò võ chờ người phụ bạc chứ không hành động như người chinh phụ.<br> -Người chinh phụ đã tìm mọi cách để thoát ra được nỗi cô đơn đang bao trùm, bủa vây như: đốt trầm hương, gảy đàn nhưng mọi gắng gượng đều là vô ích.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-03-08 02:28:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2083006724</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 1: PMinh Anh, Ng Huyền, Phạm Thư, Thanh, Duyên</title>
         <author>halap78</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2083007739</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><mark>* Giống</mark></strong><br>- Cả hai nhân vật đều sống trong nhớ nhung, sầu muộn, cô đơn trong không gian tối tăm, lạnh lẽo khi người mình yêu thương không ở bên<br>- Cả 2 cùng khát khao có được tình yêu<br><mark><br></mark><strong><mark>* Khác</mark></strong><br><em>a) Hoàn cảnh sống</em><br>- Chinh phụ: Trong ngôi nhà đơn sơ, giản dị, gắn với nhiều kỉ niệm của người chồng, hãnh diện khi chồng đi chinh chiến, xa chồng vì hoàn cảnh chiến tranh.<br>- Cung nữ: Trong cung điện xa hoa, lộng lẫy, có chồng là bị ép buộc; xa chồng vì bị bỏ rơi<br><em>b) Tính cách</em><br>- Chinh phụ: kiên nhẫn đợi chồng về; có ước mơ, khao khát nhưng chỉ là vô vọng khi không thể thực hiện được cũng bởi người chồng đang ở phương xa; một mực tha thiết yêu thương chồng.<br>- Cung nữ: có ý thức xã hội rõ hơn, bộc lộ thái độ lên án, tố cáo mạnh mẽ dữ dội hơn.<br>c<em>) Hành động</em><br>- Chinh phụ: tuy lẻ loi đơn độc, buồn nhớ cùng cực, bị động mong chờ ngườichồng, nhẫn nhục cam chịu.<br> - Cung nữ: bị nhà vua ruồng bỏ, chôn vùi tuổi xuân trong vách quế hắt hiu, lạnh lẽo nàng muốn chủ động bứt phá để thoát khỏi cảnh bị giam hãm.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-03-08 02:29:07 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2083007739</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 3: P.Huyền, Vi Thảo, Phương linh,..</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2083008193</link>
         <description><![CDATA[<ol><li>Giống</li></ol><ul><li>Cả hai đều là người phụ nữ sống trong cảnh nhớ nhung chồng, chờ đợi, nhớ mong khôn nguôi</li><li>Có khát khao về hạnh phúc, khát khao được yêu thương</li><li>Đều sống trong xã hội phong kiến, người phụ nữ phải chịu bất hạnh, bị khinh rẻ, không có quyền tự do </li><li>Đều có được quãng thời giản hạnh phúc ngắn ngủi với người lang quân của mình&nbsp;</li></ul><ol><li>Khác&nbsp;</li></ol><div>Chinh phụ ngâm</div><ul><li>Cô đơn buồn tủi khi phải xa chồng</li><li>Người chinh phụ hãnh diện khi chồng đi chinh chiến; xa chồng vì hoàn cảnh của đất nước</li><li>Chỉ là một nữ nhi bình thường, có một người chồng bình thường, sống ở làng quê nghèo</li><li>Ở lại chờ tin chồng trong cô quạnh, biết chủ động gửi gió đông tấm lòng mình cho chồng&nbsp;</li><li>Vẫn còn niềm tin vào ngày chồng trở về, vợ chồng đoàn tụ, hạnh phúc như trước</li><li>Chủ động tìm cách vơi dần nỗi đau, nỗi cô đơn&nbsp;</li><li>Tính cách: kiên nhẫn đợi chồng về, có ước mơ khát khao về hạnh phúc đôi lứa, yêu thương, thuỷ chung với chồng</li></ul><div>Cung oán ngâm&nbsp;</div><ul><li>Cô đơn, đau khổ khi bị vua lãng quên, ruồng bỏ</li><li>Người phụ nữ lấy chồng là bị bắt ép, bị chồng bỏ rơi nơi phòng khuê</li><li>Lấy chồng là vị vua, có quyền lực tối cao, sống trong nhung lụa xa hoa, quyền quý hơn bất cứ ai</li><li>Đau khổ, muốn bứt phá thoát ra mà không được, cũng không thể tự giải thoát nỗi đau mình đang mang</li><li>Không còn chút hi vọng nào về tình cảm, sự quan tâm của vua dàng cho mình&nbsp;</li><li>Chỉ còn biết thụ động chờ vua, không thể tự thoát ra khỏi nỗi đau tự bên trong&nbsp;</li><li>Tính cách: ý thức về xã hội và thân phận rõ ràng hơn, biết trách hờn, lên án, tố cáo xã hội mạnh mẽ</li></ul><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-03-08 02:29:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2083008193</guid>
      </item>
      <item>
         <title>nhóm 6 : Minh Ngọc , Hà Châu , Nhật Vy , Diệu Ngân , Thúy Hằng </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2083011393</link>
         <description><![CDATA[<div>*GIỐNG NHAU :&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp;<br>+&nbsp; Người phụ nữ phải gánh chịu những bất công trong xã hội, với tam quan "tam tòng tứ đức", không được học hành, gò bó cả thể xác và tinh thần&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp;<br>&nbsp;+Xã hội đề cao người nam giới, còn phụ nữ bị bó buộc trong những định kiến xã hội khiến họ rơi vào bi kịch.&nbsp;<br>+ Cả hai nhân vật trữ tình đều sống trong nhớ nhung, sầu muộn, đều đau đáu đợi chờ trong cô đơn phòng không chiếc bóng&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<br>+Họ đều khao khát yêu thương và trân&nbsp;<br>trọng&nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp;<br>* KHÁC NHAU :&nbsp;<br>-Tính cách :&nbsp;<br>&nbsp;+Ng chinh phụ: chung thuỷ chờ chồng, luôn chờ đợi, nhung nhớ về chồng, có chút yếu đuối, mỏng manh</div><div>+ Ng cung nữ: luôn trông ngóng người mình yêu trong tuyệt vọng, có hành động quyết liệt, dũng cảm khi nỗi hờn đã lên đỉnh điểm<br>- Tình cảnh sống:&nbsp;<br>+ Người chinh phụ có chồng đi chiến trận, sống trong cảnh chia lìa&nbsp;<br>+ Người cung nữ bị đưa vào hầu hạ cho vua chúa&nbsp;<br>- Số phận&nbsp;<br>+ Người chinh phụ hãnh diện khi chồng đi chinh chiến; xa chồng vì hoàn cảnh chiến tranh.<br>+ Người cung nữ có chồng là bị ép buộc; xa chồng vì bị bỏ rơi.</div><div>&nbsp;- Hành động :&nbsp;<br>&nbsp;+ Người chinh phụ đã tìm mọi cách để thoát ra được nỗi cô đơn đang bao trùm, bủa vây như: đốt trầm hương, gảy đàn nhưng mọi gắng gượng đều là vô ích&nbsp;<br>+Người cung nữ ngày ngày phải chờ đợi, trông ngống một cách vô vọng và cái u sầu ấy nó có thể giết người trong vô hình mà chẳng cần vũ khí</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-03-08 02:31:04 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2083011393</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 3: P. Huyền, Vi Thảo, Phương Linh, Hà Vy..</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2083121155</link>
         <description><![CDATA[<ol><li>Giống&nbsp;</li></ol><ul><li>Thể loại: đều là các tác phẩm sử kí: ghi chép về các sự kiện và nhân vật có thật trong lịch sử-&gt; Thể hiện được thái độ khen chê rõ ràng</li><li>Tính cách: Cả Tô Hiến Thành và Trần Thủ Độ đều là người có tấm lòng yêu nước, trung hiếu chính trực, công tư phân minh</li><li>Chức vị: Đều là những vị quan lớn trong triều, chức cao vọng trọng</li><li>Đặc sắc nghệ thuật: có sự kết hợp giữa kể sự kiện xen kể người, sử dụng ngôn từ đối thoại đậm sắc thái cá nhân, cốt truyện hấp dẫn, tình tiết đắt giá</li></ul><ol><li>Khác</li></ol><ul><li>Bối cảnh lịch sử:&nbsp;</li></ul><div>+&gt; Tố Hiến Thành giúp vua mới mất phò Long Cán kế vị tránh âm mưu Thái Hậu</div><div>+&gt; Trần Thủ Độ- người giúp vua Thái Tông bình thiên hạ, quyền cao chức trọng</div><ul><li>Cách giải quyết các tình huống:</li></ul><div>+&gt; Tô Hiến Thành: Dùng đạo lí làm người, trách nhiệm chức Tể Tướng, kiên quyết dùng đến pháp luật trừng trị, chọn ra người tài không chọn người chăm lo cho mình&nbsp;</div><div>+&gt; Trần Thủ Độ: Dùng sự khiêm khắc với bản thân, giữ yên phép nước, không cậy người nhà mà thiên vị, biết nhìn xa trông rộng&nbsp;</div><ul><li>Nghệ thuật miêu tả khắc hoạ tâm trạng:&nbsp;</li></ul><div>+&gt; Tô Hiến Thành: lời nói sắt đá, nêu bật nhân vật qua 2 tình huống và giai đoạn khác nhau</div><div>+&gt; Trần Thủ Độ: bốn câu chuyện có mối liên kết, mức độ tăng tiến, có thắt nút mở nút kịch tính&nbsp;</div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-03-08 03:29:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2083121155</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 1</title>
         <author>halap78</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2083122743</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Giống</strong><br>- Đều là những người có tài, có đức. Giữ chức quan lớn trong Triều đình phong kiến, nắm giữ trọng trách lớn lao<br>- Đặt lợi ích đất nước lên đầu, giữ nghiêm phép nước<br>- Quang minh, chính trực, trung thành, nghiêm khắc với bản thân<br>- Đều là những nhân vật có công, được chép trong Đại Việt sử kí toàn thư<br><br><strong>Khác<br>* </strong>Chức vụ<strong><br></strong>- Tô Hiến Thành: Thái phó<br>- Trần Thủ Độ: Thái sư<strong><br></strong><br>* Tính cách<br>- Tô Hiến Thành: biết giữ chữ tín không chỉ với người sống, mà với người đã khuất cũng vẫn phải một mực tuân thủ, sáng suốt trong việc quyết định vận mệnh đất nước<br>- Trần Thủ Độ: kiên trung, dũng cảm, dám thẳng thắn vạch tội những người mắc sai lầm<br><br>* Lối sống<br>- Tô Hiến Thành: không sợ cường quyền, không bị danh vọng, vật chất hào nhoáng lay động mà thay đổi lòng trung thành<br>- Trần Thủ Độ: thẳng thắn, biết nhìn xa trông rộng. Ông có lòng tin riêng với vị vua Trần Thánh Tông</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-03-08 03:30:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2083122743</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 4: Thảo Vi, Minh Anh, Hà Phương, My, Thảo</title>
         <author>haphuong05ths</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2083124476</link>
         <description><![CDATA[<div>*Giống:&nbsp;<br>+ Vị trí: đều là những nhân tài kiệt xuất của đất nước, có những đóng góp to lớn cho sự hưng thịnh của từng triều đại.&nbsp;<br><br>+ Tài năng: tài giỏi trong việc chỉnh đốn đất nước, thao lược sa trường hay chính trị&nbsp;<br><br>+ Phẩm chất, lối sống: một lòng vì đất nước, vì dân tộc, chính trực, sáng suốt, công tư phân minh, có trách nhiệm, không ham danh lợi<br><br>+ Thể loại: cùng thể loại sử kí<br><br>+Nghệ thuật: lựa chọn chi tiết đắt giá, ngôn ngữ hàm súc, cô đọng, lời kể khách quan, trung thực, cách kể hấp dẫn</div><div><br><br>*Khác nhau:&nbsp;<br>- Thời đại:<br>+ Trần Thủ Độ sống ở thời Trần</div><div>+ Tô Hiến Thành thời Lý<br><br>- Chức vụ:&nbsp;<br>+ Tô Hiến THành là thái phó phò tá cho vua Long Cán.<br>+ Trần Thủ Độ là thái sư có phẩm trật cao hơn tể tướng, có sức ảnh hưởng trong cả triều đình lẫn đời sống nhân dân.<br><br>- Nhiệm vụ:&nbsp;<br>+ Thái phó phụ trách việc nuôi nấng vua, ở đây là vua Long Cán khi lên ngôi lúc 2 tuổi.&nbsp;<br>+ Thái sư nắm giữ quyền chức cao quý. trong triều thần, có tiếng nói với các vấn đề chính trị.<br><br>- Tính cách:&nbsp;<br>+Tô Hiến Thành là người chính trực, đứng về lẽ phải, cương nghị và vững chí.&nbsp;<br>+Trần Thủ Độ có phần ôn nhu và bao dung, dịu dàng hơn<br><br>- Nghệ thuật:<br>+ Thái Phó Tô Hiến Thành: qua 2 sự kiện, chỉ kể chứ không có lời bình<br>+Thái sư Trần Thủ Độ: qua bốn mẩu chuyện ngắn gọn khắc nhân vật, có lời nhận xét</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-03-08 03:31:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2083124476</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 2: Thanh Thủy, Hồng Nhung, Thu Trang, Anh Thư, Thùy Dung, Phương Nga</title>
         <author>ngaphuongnguyen26</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2083126877</link>
         <description><![CDATA[<div>*Giống nhau:&nbsp;<br><br></div><div>-Đều là những người trung quân ái quốc, chí công vô tư, thẳng thắn, chính trực.<br>&nbsp;-Đều là nhân vật trong lịch sử được ghi chép, tường thuật lại.<br>-Đều là những người có chức vụ lớn trong triều đình.<br>&nbsp;*Khác :<br>&nbsp;-Lai lịch:&nbsp;<br>+Tên tuổi, năm sinh, chức vụ, thời đại sinh sống.<br><br></div><div>-Hoàn cảnh:<br>&nbsp;+Tô Hiến Thành phải đối mặt với thái hậu.<br><br></div><div>+Trần Thủ Độ đối mặt với hoàn cảnh bị oan; đối xử với người bề dưới.&nbsp;<br><br></div><div>-Đức tính:<br><br></div><div>+Tô Hiến Thành là tấm gương về lòng trung thành tận lực với nhà vua, xứng đáng là bậc trung thần nghĩa sĩ. Biết giữ chữ tín kể cả đối với người đã mất<br>&nbsp;+Trần Thủ Độ là tấm gương về lòng cao thượng bao dung, ko để tình riêng lấn át, công tâm trong công việc.<br><br>-Tính cách:<br>+Tô Hiến Thành: Cương trực, dứt khoát.<br>+Trần Thủ Độ: Mềm mỏng hơn, hiểu lòng người.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-03-08 03:33:17 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2083126877</guid>
      </item>
      <item>
         <title>nhóm 6 : Minh Ngọc , Diệu Ngân , Nhật Vy , Hà Châu , Thúy Hằng </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2083128702</link>
         <description><![CDATA[<div><mark>* ĐIỂM CHUNG</mark> : <br>-Thái phó Tô Hiến Thành và Thái sư Trần Thủ Độ là hai danh nhân văn hoá đất Việt, hai người có công rất lớn đối với sự thịnh vượng của hai triều đại phong kiến Việt Nam. Họ là những tấm gương sáng về lối sống và nhân cách.<br>-Cả hai vị t¬ướng đầu triều này đều luôn đặt quyền lợi của dân tộc, đất nước lên trên quyền lợi gia đình và cộng đồng<br>- Nghệ thuật : <br>+cả hai đoạn trích đều có ghi thời gian cụ thể trên đầu mỗi tác phẩm,<br>+Cả hai tác phẩm đều được viết ngắn gọn, súc tích, thiên về tự sự, kể ra nhằm phê phán và ngợi ca một cách gián tiếp làm tăng sự chính xác<br><br><mark>* ĐIỂM RIÊNG :</mark><br><strong>- Xuất thân</strong> <br>+Tô Hiến Thành giữ chức Tể tướng dưới triều vua Lí Anh Tông, kiêm chức Thái phó giúp việc cho Thái tử Lí Cao Tông. Năm sinh của ông chưa được xác định rõ, còn năm mất là 1179. ông là người có nhân cách lớn, một lòng vì dân vì nước.<br>+Trần Thủ Độ tuy ít học nhưng thông minh, sáng suốt hơn người. Nhờ có công lớn lập ra nhà Trần nên ông được phong chức Thái sư – chức quan cao nhất trong triều, có quyền tham gia ý kiến trong mọi việc chính sự. ở ông, nổi bật nhất là tính cách thẳng thắn, trung thực và không vụ lợi. về quyền lực mà nói, thì Thái Sư hơn cả vua Trần Thái Tông thời bấy giờ.<br><strong>- Tính cách và phẩm chất </strong><br><br>+Thái phó Tô Hiến Thành:</div><ul><li>Tấm lòng trung thành tuyệt đối, phải biết giữ chữ tín không chỉ với người sống, mà với người chết cũng vẫn phải một mực tuân thủ.</li><li>Sự ngay thẳng, chính trực, không sợ cường quyền, đồng thời cũng không bị danh vọng, vật chất hào nhoáng lay động mà thay đổi lòng trung thành, cũng như chữ tín với người đã mất.</li><li>&nbsp;Sự kiên trung, quyết giữ nghiêm phép nước, không sợ cường quyền, một lòng phò tá tân vương, tận tụy vì nước của Tô Hiến Thành, thể hiện tầm nhìn, sự sáng suốt của Tô Hiến Thành trong việc quyết định vận mệnh dân tộc.</li><li>Cách lựa chọn nhân tài sáng suốt, công bằng, một lòng vì đất nước của Tô Hiến Thành, đồng thời cũng học được cách đối nhân xử thế tế nhị của ông khi đối đáp với Thái hậu.</li></ul><div>+ Thái sư Trần Thủ Độ:</div><ul><li>&nbsp;Sự nghiêm khắc, thẳng thắn trong lối sống, tấm lòng khuyến khích sự trung thành, dũng cảm, dám thẳng thắn vạch tội những người có sai lầm.</li><li>sẵn sàng khích lệ ủng hộ những người dưới giữ nghiêm phép nước, bộc lộ tấm lòng ngay thẳng, chính trực không vì có quyền thế mà chèn ép, hay làm trái phép nước.</li><li>&nbsp;Tính cương trực, liêm chính, không vì tình thân mà để những kẻ bất tài vào làm quan.</li><li>&nbsp;Là một người chí công vô tư, thẳng thắn, sáng suốt, biết nhìn xa trông rộng, chống lại việc anh em cùng làm quan gây chia bè kết phái, áp lực lên triều đình.</li></ul><div><strong>-Nghệ thuật </strong>:&nbsp;<br> + Đoạn trích về Thái sư Trần Thủ Độ chỉ có một câu chuyện duy nhất nhưng về Hưng đâọ vương trần quốc tuấn thì có đên bốn câu chuyện. Lời kể của đoạn trích Thái sư trần thủ độ được chêm một số lời nhận xét về ông còn đoạn trích còn lại thiên về kể, không có lời nhận xét</div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-03-08 03:34:29 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2083128702</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhóm 5 : Thu An, Hà Trân , Thảo Nguyên , Anh Thư, Minh Trang</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2083140988</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>Giống nhau</strong> : Đều có công lớn với đất nước , non sông . Có nhân cách lớn , luôn đặt sự nghiệp đất nước lên trên hết , chí công vô tư , trung thực , quyết đoán , không nao núng trước cám dỗ , danh lợi . Cả hai đều là những người tài giỏi , xuất sắc. Bối cảnh đều được đặt trong tình huống bộc lộ được nhân cách cao đẹp của hai người</div><div><strong>Khác nhau</strong>:</div><ul><li><em>Bối cảnh lịch sử: </em>Trần Thủ Độ và Tô Hiến Thành sống trong những thời kì khác nhau,&nbsp; cách nhau 100 năm.</li></ul><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; - Trần Thủ Độ: là một vị quan lớn trong triều được người người kính trọng và đồng thời là cánh tay đắc lực giúp vua Thái Tông bình định đất nước lúc bấy giờ</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;- Tôn Hiến Thành: Đặt trong bối cảnh phế lập Long Cán 1175 liên quan đến vận mệnh đất nước</div><ul><li><em>Tính cách:&nbsp;</em></li></ul><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; - Tôn Hiến Thành là một người làm tốt đạo làm con, không lệ thuộc vào một ai</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; - Trần Thủ Độ : độ lượng , thằng thắn</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-03-08 03:42:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2083140988</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hướng dẫn</title>
         <author>hangtrang191</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2221958894</link>
         <description><![CDATA[<div>Như đã phân công khi học Teams các nhóm xong việc thì up bài của mình lên đây nhé!&nbsp;<br>Sau đó các nhóm đọc bài cá nhân, up nhận xét cá nhân (ghi rõ tên) theo phân công sau: tổ 1 nhận xét tổ 4; Tổ 2 nhận xét tổ 1; Tổ 3 nhận xét tổ 2, Tổ 4 nhận xét tổ 3.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-15 13:12:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2221958894</guid>
      </item>
      <item>
         <title>TIẾN SĨ GIẤY - NGUYỄN KHUYẾN</title>
         <author>hongnhung1702206</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2221964710</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-15 13:17:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2221964710</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tác giả Nguyễn Khuyến</title>
         <author>hongnhung1702206</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2221966526</link>
         <description><![CDATA[<div>- <mark>Nguyễn Khuyến (1835-1909) hiệu là Quế Sơn, lúc nhỏ tên là Nguyễn Thắng.</mark></div><div>- Sinh ra tại quê ngoại - <mark>xã Hoàng Xá (nay là xã Yên Trung), huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.</mark></div><div>- Lớn lên và sống chủ yếu ở quê nội -<mark> làng Và, xã Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.</mark></div><div><strong><em>a, Gia đình</em></strong></div><div>- Ông xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo.Cha Nguyễn Khuyến là <mark>Nguyễn Tông Khởi</mark>, thường gọi là Mền Khởi, đỗ ba khóa tú tài, dạy học. Mẹ là <mark>Trần Thị Thoan</mark> nguyên là con của Trần Công Trạc, từng đỗ tú tài</div><div><strong><em>b, Bản thân</em></strong></div><div>- Năm <mark>1864</mark>, ông <mark>đỗ đầu kì thi Hương</mark>. Mấy kì sau thi tiếp lại trượt, đến năm <mark>1871,</mark> ông <mark>đỗ đầu cả thi Hội và thi Đình</mark></div><div>=&gt; Do đỗ đầu cả ba kì thi nên Nguyễn Khuyến được gọi là <strong><em><mark>Tam Nguyên Yên Đổ</mark></em></strong></div><div>- Tuy đỗ đạt cao nhưng ông chỉ <mark>làm quan hơn mười năm</mark>, còn phần lớn cuộc đời là dạy học và sống thanh bạch ở quê nhà.</div><div>- Nguyễn Khuyến là người <mark>tài năng, có cốt cách thanh cao, có tấm lòng yêu nước thương dân, từng bày tỏ thái độ kiên quyết không hợp tác với chính quyền thực dân Pháp.</mark></div><div><strong><em>c, Sự nghiệp văn học</em></strong></div><div>*Tác phẩm chính</div><div>- Sáng tác của Nguyễn Khuyến gồm cả <mark>chữ Hán và chữ Nôm</mark> với số lượng lớn, hiện còn<mark> trên 800 bài gồm thơ, văn, câu đối nhưng chủ yếu là thơ.</mark></div><div>- Các tác phẩm gồm có <mark>Quế Sơn thi tập, Yên Đổ thi tập, Bách Liêu thi văn tập, Cẩm Ngữ, cùng nhiều bài ca, hát ả đào, văn tế, câu đối truyền miệng.</mark></div><div>- Quế sơn thi tập khoảng 200 bài thơ bằng chữ Hán và 100 bài thơ bằng Chữ Nôm với nhiều thể loại khác nhau.</div><div>- Trong bộ phận thơ Nôm, Nguyễn Khuyến vừa là nhà thơ trào phúng vừa là nhà thơ trữ tình, nhuỗm đậm <mark>tư tưởng Lão Trang và triết lý Đông Phương.</mark></div><div>- Thơ chữ Hán của ông hầu hết là<mark> thơ trữ tình.</mark></div><div>=&gt; Có thể nói cả trên hai lĩnh vực, Nguyễn Khuyến đều thành công.</div><div>- Nội dung: thơ Nguyễn Khuyến nói lên<mark> tình yêu quê hương đất nước, gia đình, bè bạn; phản ánh cuộc sống của những con người khổ cực, thuần hậu, chất phác; châm biếm, đả kích thực dân xâm lược, tầng lớp thống trị, đồng thời bộc lộ tấm lòng ưu ái đối với dân, với nước.</mark></div><div><strong><em>d, Tầm ảnh hưởng của tác giả</em></strong></div><div>- Đóng góp nổi bật của Nguyễn Khuyến cho nền văn học dân tộc là mảng <mark>thơ Nôm</mark>, <mark>thơ viết về làng quê</mark>, <mark>thơ trào phúng</mark></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://backlinks.vn/phan-tich-bai-tho-thu-dieu/imager_200156.jpg" />
         <pubDate>2022-06-15 13:19:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2221966526</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tác phẩm TIẾN SĨ GIẤY</title>
         <author>hongnhung1702206</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2221967621</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em>a, Lối thơ song quan</em></strong> (hai cánh cửa) là lối thơ mà đối tượng được miêu tả trực tiếp trong đó gợi người đọc liên tưởng tới một đối tượng khác có <mark>nhiều nét tương đồng về mặt hình thức, tính chất</mark> với nó. Hình tượng thơ song quan thường gây chút phân vân cho người đọc, <mark>buộc họ phải tích cực nhiều hơn trong việc phân định đâu là đối tượng chính, điều chính mà tác giả muốn nói.</mark></div><div><strong><em>b, Tác phẩm&nbsp;</em></strong></div><div>- Thể thơ: <mark>Thất ngôn bát cú Đường luật</mark></div><div>- Nhan đề: <strong>"Tiến sĩ giấy"&nbsp;</strong></div><div>+ Hình nộm ông tiến sĩ làm bằng giấy cho trẻ em chơi trung thu, giả hình ông tiến sĩ giấy với đủ lệ bộ: Cờ, cân, đai, áo, mặt bôi son, ngồi trên ghế tréo <mark>khơi dậy trẻ em lòng ham học và ý thức phấn đấu theo con đường khoa cử</mark>.</div><div>+ <mark>Phê phán tính chất hư danh của học vị tiến sĩ trong buổi Hán học suy tàn, Tây học lấn át.</mark></div><div><strong>- Hoàn cảnh ra đời:&nbsp;</strong></div><div>+ Cuối thế kỉ XIX, xã hội nước ta trở thành <mark>xã hội thực dân nửa phong kiến</mark>, có nhiều thay đổi lớn, trong đó có sự thay đổi về chế độ khoa cử.</div><div>+ Nho học suy vi, các rường mối xã hội trở nên rệu rạ, tệ mua quan bán tước phổ biến, xuất hiện nhiều kẻ có hư danh mà không có thực. <mark>Những người có thực tài cũng không đóng vai trò quốc gia đại sự.</mark></div><div>-&gt; Đứng trước hoàn cảnh đó Nguyễn Khuyến đã viết nhiều bài thơ có <mark>giọng điệu trào phúng</mark> để thể hiện thái độ và tâm trạng của mình trước hiện thực.Tiến sĩ giấy một trong những bài thơ thuộc chùm thơ trào phúng đó</div><div>- Bố cục: 4 phần&nbsp;</div><div>+ Đề</div><div>+ Thực</div><div>+ Luận</div><div>+ Kết</div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-15 13:20:47 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2221967621</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hai câu đề   </title>
         <author>hongnhung1702206</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2221974500</link>
         <description><![CDATA[<div>Hình tượng tiến sĩ giấy hiện lên với những nét phác hoạ khái quát nhất :&nbsp;</div><div><strong>"Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai</strong></div><div><strong>Cũng gọi ông nghè có kém ai."</strong></div><div>- <mark>Đối tượng: “cờ”,”biển”</mark></div><ul><li>“Ân tứ vinh quy”: khăn bịt tóc để đội mũ</li><li>“Cân đai”: Đai đeo ngang lưng</li></ul><div>=&gt; Tạo nên bộ y phục của quan lại, quý tộc lớn thời phong kiến</div><div>-<mark>Điệp từ "cũng":</mark> nhắc lại bốn lần ở đầu mỗi dòng thơ khiến người đọc không thể nghi ngờ bản chất của đối tượng. Tuy giống nhưng đó không phải là ông tiến sĩ thật, hóa ra đó chỉ là ông tiến sĩ làm bằng giấy để tạo thành đồ chơi cho trẻ con.&nbsp;</div><div><mark>=&gt; Câu thơ vì thế thoáng chút mỉa mai, châm biếm của tác giả.</mark></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-15 13:27:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2221974500</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hai câu thực</title>
         <author>hongnhung1702206</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2221974964</link>
         <description><![CDATA[<div>Trong hai câu thực này, <mark>nghệ thuật đối </mark>được Nguyễn Khuyến sử dụng hết sức đắc địa:</div><div>-<mark> "Mảnh giấy" đối với "thân giáp bảng", "nét son" đối với "mặt văn khôi".</mark></div><div>=&gt;Thủ pháp đối lập đã được vận dụng một cách tối đa. Tác giả đã miêu tả chi tiết thành phần cấu tạo của ông tiến sĩ đồ chơi: <mark>được tạo nên từ mảnh giấy vụn sau khi được cắt tỉa và tô điểm thêm một ít phẩm màu.</mark></div><div>- <mark>"Giáp bảng"</mark>: bảng công bố kết quả thi cử ngày xưa, còn được gọi một cách trang trọng là bảng rồng.</div><div>- <mark>"Thân giáp bảng"</mark>: người đỗ đạt cao nhưng thực chất ở đây chỉ được chế tác từ một mảnh giấy vụn.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<br>- Còn chỉ bằng vài <mark>"nét son"</mark> là có thể tạo nên <mark>"mặt văn khôi": </mark> chỉ người đứng đầu làng văn.</div><div>- Mảnh giấy, nét son– những thứ thật <mark>đơn giản, nhỏ bé được đặt cạnh những thứ rất trang trọng Thân giáp bảng, mặt văn khôi khiến sắc thái trào phúng được tô đậm, khiến cho độc giả dễ dàng nhận ra những sự đồng nhất giữa hai hình tượng</mark>: ông tiến sĩ giấy đồ chơi và những ông tiến sĩ thật trong xã hội thực dân nửa phong kiến thời bấy giờ.</div><div><em><mark>=&gt; Nguyễn Khuyến đã đặt những sự vật có giá trị khác hẳn nhau vào trong một kết cấu song hành, đối lập, cho mọi người thấy được việc tạo ra một ông tiến sĩ giả bằng giấy thực chẳng khó khăn gì, qua đó thể hiện tính chất rẻ mạt, vô nghĩa của danh hiệu tiến sĩ thực của cái thời cuối phong kiến đầu thực dân này.</mark></em></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-15 13:27:27 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2221974964</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hai câu luận</title>
         <author>hongnhung1702206</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2221975394</link>
         <description><![CDATA[<div><mark>"Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?</mark></div><div><mark>Cái giá khoa danh ấy mới hời!".</mark></div><div>- Cặp câu luận là sự bình phẩm, đánh giá về xiêm áo, về khoa danh của ông nghè: <mark>"sao mà nhẹ", "thế mới hời".</mark>&nbsp;</div><div>&nbsp;+ <mark>Hời</mark> là tiếng cổ, nghĩa là dễ dãi, giá rẻ. Nhẹ và hời vì tầm thường. Không phải là thực tài, thực danh nên mới nhẹ, nên mới hời.&nbsp;</div><div>&nbsp;+ <mark>Nhẹ và hời</mark> vì vô dụng và chỉ là hư danh, hư vị mà thôi.&nbsp;</div><div><mark>=&gt; Sử dụng câu nghi vấn và câu cảm thán khẳng định, đối chọi nhau rất tài tình để châm biếm, để giễu cợt; giọng điệu thơ nhẹ nhàng mà mỉa mai.</mark></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-15 13:27:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2221975394</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hai câu kết</title>
         <author>hongnhung1702206</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2221975885</link>
         <description><![CDATA[<div><mark>"Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh chọe,</mark></div><div><mark>Nghĩ rằng đồ thật hoá đồ chơi".</mark></div><div>- Tư thế ngồi rất oai: <mark>"ngồi bảnh chọe"</mark> trên <mark>"ghế tréo"</mark>, "dưới lọng xanh".&nbsp;</div><div><mark>=&gt; Ra vẻ vênh vang và tự đắc, hợm mình về sự cao sang phú quý. Nhưng "chỉ là đồ chơi".&nbsp;</mark></div><div><mark>=&gt; Tương phản giữa "đồ thật" với "đồ chơi". =&gt; Châm biếm cái hư danh, hư vị của những tiến sĩ giấy dưới thời Pháp thuộc.</mark></div><div>- Câu kết:<mark> “Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi”</mark> <br><mark>=&gt; Bất ngờ, đột ngột nhưng tự nhiên tạo nên tính chất trào phúng và giá trị phê phán cho tác phẩm.</mark></div><div>&nbsp;+ Nhà thơ đang nói về thứ đồ chơi của trẻ em vào ngày tết bỗng dung <mark>“nghĩ rằng đồ thật”</mark> <br><mark>=&gt; Nhằm lột trần thực chất trỗng rỗng của những ông nghè bằng xương bằng thịt.</mark></div><div><mark>=&gt; Châm biếm, phê phán tệ mua quan bán tước. Sự mất lòng tin vào hình mẫu con người từng được chế độ phong kiến đề cao. Đằng sau là sự day dứt về sự tồn tại vô vị của hình mẫu con người nhà thơ trước những đòi hỏi mới của thời cuộc.&nbsp;</mark></div><div><mark>=&gt; Bài thơ đã mang đến cho người đọc những suy nghĩ sâu sắc về cái danh và cái thực, về thái độ cần có của người có học trong thời cuộc. Sống ở trên đời không nên coi trọng hư danh. Điều quan trọng là làm được gì có ích cho đời chứ không nên theo đuổi hư danh hão huyền. Người có học phải ý thức được vị trí và trách nhiệm của mình trước cuộc đời. Phải sống sao để không trở thành kẻ vô tích sự với cuộc đời.</mark></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-15 13:28:15 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2221975885</guid>
      </item>
      <item>
         <title>I, Tiểu dẫn:</title>
         <author>dungnguyenhs1509</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2221976777</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><mark>1, Tác giả:</mark></strong><br>- <mark>Nguyễn Đình Chiểu (01/07/1822 – 03/07/1888)</mark>, tên tự là <mark>Mạnh Trạch</mark>, hiệu <mark>Trọng Phủ</mark><br>&nbsp; + Là <mark>nhà nho thiết tháo</mark>, sống theo <mark>đao nghĩa nhân dân</mark><br>&nbsp; + Là người <mark>có hiếu</mark>, người thầy <mark>mẫu mực</mark>, là chiến sĩ <mark>yêu nước</mark> tham gia mưu lược với các chí sĩ thời chống Pháp<br> - <mark>Quê hương:</mark> làng Tân Thới, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh)<br> - <mark>Gia đình:</mark><br>&nbsp; &nbsp;+ Cha là <mark>Nguyễn Đình Huy</mark>, người Thừa Thiên (nay là Thừa Thiên – Huế), <mark>làm thư lại trong dinh Tổng trấn Lê Văn Duyệt</mark> tại Gia Định<br>&nbsp; &nbsp;+ Mẹ là <mark>Trương Thị Thiệt</mark><br>- <mark>Cuộc đời:</mark><br>&nbsp; &nbsp;+ <mark>Thuở bé</mark>, Nguyễn Đình Chiểu <mark>được mẹ nuôi dạy</mark>. Năm lên 6, 7 tuổi, ông theo học với một ông thầy đồ ở làng. <br>&nbsp; &nbsp;+ Nguyễn Đình Chiểu <mark>sống ở Huế từ 11 tuổi</mark> (1833) đến <mark>18 tuổi</mark> (1840) thì trở về Gia Định. <br>&nbsp; &nbsp;+ <mark>Năm Quý Mão (1843)</mark>, ông đỗ <mark>Tú tài</mark> ở trường thi Gia Định lúc <mark>21 tuổi.</mark> <br>&nbsp; &nbsp;+ Mẹ mất, bị mù lòa:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; · Ngày rằm tháng 11 năm Mậu Thân (31 tháng 12 năm 1848), <mark>mẹ Nguyễn Đình Chiểu mất ở Gia Định.</mark> Được tin, ông <mark>bỏ thi</mark>, dẫn em theo đường bộ trở về Nam chịu tang mẹ.&nbsp;</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; · Trên đường trở về, vì quá <mark>thương khóc</mark> mẹ, vì <mark>vất vả</mark> và <mark>thời tiết thất thường</mark> nên đến Quảng Nam thì Nguyễn Đình Chiểu bị <mark>ốm nặng</mark>, sau đó <mark>mù cả hai mắt</mark><br>&nbsp; &nbsp;+ Dạy học, làm thuốc và sáng tác thơ văn yêu nước <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; · Năm <mark>1858, quân Pháp nổ súng vào Đà Nẵng.</mark>&nbsp; Nguyễn Đình Chiểu đưa gia đình về sống ở <mark>Thanh Ba</mark> (Cần Giuộc), tức <mark>quê vợ</mark> ông.&nbsp;</div><div>&nbsp; &nbsp;+<mark>Ngày 24 tháng 5 năm Mậu Tý</mark> (3 tháng 7 năm 1888), Nguyễn Đình Chiểu cũng qua đời tại Ba Tri, <mark>thọ 66 tuổi. </mark><br><mark>-Con người:</mark> Nguyễn Đình Chiểu là người luôn đề cao <mark>đạo lí nhân nghĩa.</mark> Phẩm chất này thể hiện trong thơ văn làm nên đặc sắc văn chương <mark>trữ tình đạo đức</mark> của Nguyễn Đình Chiểu.<br><mark>- Sự nghiệp văn chương: </mark><br>&nbsp; &nbsp;+ Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ có quan niệm văn chương nhất quán.<br>&nbsp; &nbsp;+ Đặc trưng phong cách nội dung: <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Thể hiện đạo lý, chiến đấu cho chính nghĩa, khen chê rạch ròi. <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Bày tỏ lòng yêu nước thương dân. <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Đề cao tư tưởng Nho gia, gắn chặt với ý thức trách nhiệm đất nước, có ý nghĩa xã hội to lớn.<br>&nbsp; &nbsp;+ Nghệ thuật: <br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Ông thường dùng chữ Nôm, bằng ngôn ngữ nghệ thuật bình dị, giàu sức gợi.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Xây dựng thành công hình ảnh người nông dân, anh hùng Nam Bộ trong công cuộc chống Pháp. <br><mark>- Các tác phẩm tiêu biểu:</mark> "Truyện Lục Vân Tiên", " Dương Từ- Hà Mậu", "Chạy giặc",...<br><strong><mark>2, Tác phẩm:</mark></strong><br><mark>a) Hoàn cảnh sáng tác:</mark> <br>- Nhân sự kiện ngày 16 tháng 12 năm 1861, theo <mark>yêu cầu</mark> của <mark>Tuần phủ Gia Định</mark> là Đỗ Quang, Nguyễn Đình Chiểu viết "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" để đọc tại <mark>buổi truy điệu</mark> các nghĩa sĩ đã hi sinh trong trận đánh tập kích đồn Pháp năm Tân Dậu. Họ vốn là nông dân, nhưng vì quá căm phẫn giặc Pháp xâm lược tiến đánh nên đã đứng lên phản kháng, tập kích đồn Pháp tại Cần Giuộc. <br><mark>b) Thể loại: Văn tế</mark> <br>- Chữ Nho là <mark>"Tế văn"</mark>, còn có tên gọi khác là <mark>Kì văn</mark> hay <mark>Chúc văn</mark>, là một thể loại văn học gắn với <mark>phong tục tang lễ</mark> của người dân Việt Nam.<br>- Theo <mark>tập tục</mark> xa xưa khi <mark>cúng bái thiên địa</mark> thường dùng bài văn cầu chúc. Sau này khi chôn cất người thân cũng dùng văn tế để <mark>tưởng nhớ</mark> người đã mất.<br>- <mark>Nội dung:</mark> văn tế có hai ý chính <br>+ Kể lại cuộc đời người quá cố <br>+ Bộc lộ tình cảm của người sống trong giờ phút li biệt. <br>- <mark>Hình thức:</mark> Theo hình thức tế-hưởng, có thể là văn vần, văn xuôi hoặc biền văn. <br>- <mark>Âm hưởng:</mark> bi thương<br>- <mark>Giọng điệu:</mark> lâm ly, thống thiết<br><mark>c) Bố cục của một bài văn tế: </mark><br>- <mark>Phần 1 (Lung khởi):</mark> luận chung về lẽ sống chết, thường bắt đầu bằng mấy chữ "Than ôi", "Than rằng", "Thương ôi"...<br>- <mark>Phần 2 (Thích thực):</mark> kể phẩm hạnh, công đức, cuộc đời của người đã chết, thường bắt đầu bằng mấy chữ " Nhớ cha (linh, ông) xưa"...<br>- <mark>Phần 3 (Ai vãn):</mark> nói lên niềm thương tiếc đối với người đã chết, thường bắt đầu bằng mấy chữ "Hỡi ôi" hoặc "Ôi"...<br>- <mark>Phần 4 (Kết):</mark> bày tỏ lòng tiếc thương và lời cầu nguyện, lời mời của người đứng tế đối với linh hồn người chết, thường bắt đầu bằng mấy chữ "con (tôi, chúng tôi, bản chức…) nay" và kết lại bằng mấy chữ "Phục duy", "Thượng hưởng"...<br>- <mark>Một số bài văn tế nổi tiếng như:</mark> "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu"; " Văn tế thập loại chúng sinh" của Nguyễn Du"; "Văn tế chị" của Nguyễn Hữu Chỉnh; ... <br><mark>d) Bố cục của tác phẩm:</mark><br>- <mark>Đoạn 1: Từ đầu đến "vang như mõ”:</mark> (lung khởi) khái quát bối cảnh thời đại và khẳng định cái chết bất tử của người chiến sĩ nông dân.<br>- <mark>Đoạn 2: Tiếp theo đến “tàu đồng súng nổ”:</mark> (thích thực): tái hiện hình ảnh người nghĩa sĩ nông dân trong đời thường và trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm.<br>- <mark>Đoạn 3: Tiếp theo đến “ai cũng mộ”: (ai vãn):</mark> bài tỏ lòng thương tiếc, sự cảm phục của tác giả và nhân dân đối với người đã chết.<br>- <mark>Đoạn 4: Còn lại (kết):</mark> ca ngợi linh hồn bất diệt của các nghĩa sĩ.&nbsp; &nbsp; &nbsp; <br><mark>e) Tóm tắt văn bản:</mark>&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp; "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" được Nguyễn Đình Chiểu viết để đọc tại buổi truy điệu các nghĩa sĩ nông dân đã hi sinh trong trận tập kích đồn Pháp năm 1861. Tác phẩm kể lại những chiến công lừng lẫy của những người lính áo vải, dù đã giết được một số quân của đối phương và viên tri huyện người Việt làm cộng sự cho Pháp, nhưng khoảng 20 nghĩa sĩ đã hi sinh tại đây. Bài văn tế cũng bày tỏ nỗi xót xa, đau thương, cũng như sự kính trọng, biết ơn của quần chúng nhân dân đối với các nghĩa sĩ anh dũng.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484180584/acd40a0792eea0a5426d79c27e553012/t_i_xu_ng__17_.jpg" />
         <pubDate>2022-06-15 13:29:07 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2221976777</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Liên hệ, mở rộng</title>
         <author>hongnhung1702206</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2221976906</link>
         <description><![CDATA[<div><mark>a,Tưởng nhớ thi nhân Nguyễn Khuyến, nhà thơ Trần Đăng Thao viết bài thơ Gặp lại người xưa :</mark></div><div>Ông ngồi lặng, giữa trời mây</div><div>Chiều buông. Còn một chút ngày khơi vơi</div><div>Chén nghiêng, đăm đắm nhìn trời</div><div>Nước cờ thế sự, một đời chưa xong.</div><div>Tưởng rằng, xe đã qua sông</div><div>Ngờ đâu tốt lại nhập cung mất rồi</div><div>Tri âm, còn được mấy người</div><div>Bảng vàng, bia đá ngậm ngùi lòng ai.</div><div>Tuổi già chợt thắm, chợt phai</div><div>Ngọn đèn trước gió, ban mai trước chiều</div><div>Nặng niềm non nước cô liêu</div><div>Đớn đau chi, trái tim nhiều xót xa</div><div>áo xiêm, nghĩ thẹn thân già</div><div>Ông nghè, ông cống cũng là giấy thôi !</div><div>Cuốc kêu khắc khoải bên hồi</div><div>Vườn khuya. Sương xuống trắng trời</div><div>Trăng lên.</div><div>Vườn Bùi, 1976<br><br><mark>b, Trong những ngày làm gia sư ở nhà Hoàng Cao Khải, Nguyễn Khuyến rất buồn bực. Bởi vậy, hàng ngày, sau buổi học, ông thường lững thững một mình, dạo vườn thăm cảnh cho khuây khoả.</mark></div><div>Vườn nhà Khải có một hòn non bộ lớn dựng giữa một hồ nước rộng, cảnh trí rất xinh. Trên non bộ, có đặt một ông phỗng sành đứng trầm mặc, đăm đăm nhìn xuống mặt nước hồ. Nguyễn Khuyến thường hay tha thẩn quanh đó.</div><div>Một hôm, Khải dạo vườn, bất chợt gặp Nguyễn Khuyến đang tần ngần đứng ngắm ông phỗng. Hắn mời ông thử vịnh một bài. Ông ứng khẩu đọc:</div><div>Ông đứng làm chi đó hỡi ông ?</div><div>Trơ trơ như đá vững như đồng !</div><div>Đêm ngày gìn giữ cho ai đó ?</div><div>Non nước đầy vơi có biết không ?</div><div>Nhà thơ vịnh phỗng sành hay vịnh chính nhà chủ ?</div><div>Nghe nói sau đó, Khải phải để Nguyễn Khuyến về quê. Hắn không thể chịu đựng được Nguyễn Khuyến lâu hơn nữa.</div><div><br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-15 13:29:15 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2221976906</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tổng kết</title>
         <author>hongnhung1702206</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2221977357</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em>1.Nội dung:</em></strong>&nbsp;</div><div>Mượn hình ảnh ông tiến sĩ giấy, tác giả <mark>phê phán hạng người mang danh khoa bảng mà không có thực chất cùng thoáng tự trào chính mình.</mark></div><div><strong><em>2.Nghệ thuật&nbsp;</em></strong></div><div>- Thơ trào phúng, châm biếm với nụ cười <mark>tự trào nhẹ nhàng mà sâu cay</mark></div><div>- Giọng điệu <mark>mỉa mai, chua chát</mark></div><div>- Cách dùng từ ngữ <mark>giản dị</mark> mà tạo hiệu quả cao trong biểu đạt</div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-15 13:29:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2221977357</guid>
      </item>
      <item>
         <title>II, Đọc- Hiểu văn bản:</title>
         <author>dungnguyenhs1509</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2221996150</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><mark>1, Khái quát bối cảnh đầy bão táp của thời đại và khẳng đinh ý nghĩa cái chết cao đẹp của nông dân-nghĩa sĩ.</mark></strong><br><mark>- Mở đầu:</mark> “Hỡi ôi!” =&gt; Tiếng than đầy <mark>thương xót</mark> dành cho những người đã khuất <br>=&gt; Tiếng than <mark>lay động lòng người</mark>, đầy nỗi <mark>u uất, căm phẫn</mark> của đất nước trước giặc xâm lăng, chất chứa <mark>nỗi đau xót xa </mark>của những người ở lại.<br><mark>- Câu 1:</mark><br>&nbsp; &nbsp;+ <mark>Nghệ thuật đối:</mark> “Súng giặc đất rền” &gt;&lt; “Lòng dân tỏ” =&gt; Khắc họa khung cảnh <mark>bão táp</mark> của thời đại.<br>&nbsp; &nbsp;+ <mark>Hình ảnh “đất”, “trời”</mark> + động từ gợi sự <mark>khếch tán của âm thanh, ánh sáng </mark>“rền”, “tỏ” =&gt; Không gian rộng lớn, ngang tàn, khốc liệt.<br>=&gt; Cuộc <mark>đụng độ gay cấn</mark> giữa <mark>thế lực hung bạo</mark> cùng vũ khí tối tân với ý chí quyết tâm chiến đấu của <mark>nhân dân ta</mark> thời bấy giờ.<br><mark>- Câu 2:</mark><br>+ <mark>Phép đối:</mark> “Mười năm công vỡ ruộng”- “Một trận nghĩa đánh Tây”<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Nông dân&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; -&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Nghĩa sĩ<br>+ <mark>“chưa ắt còn danh nổi như phao”:</mark> phận cày cuốc bán quanh năm suốt tháng chỉ biết cày ruộng, tưởng chừng không một danh phận nhưng lại được đất nước ghi công.<br>+ <mark>“tuy là mất tiếng vang như mõ”:</mark> hi sinh vì dân, vì nước, được người đời ghi công<br>=&gt; Yếu tố thời gian thể hiện sự <mark>chuyển biến độc xuất, sức vùng dậy đấu tranh mau lẹ </mark>của người dân yêu nước.<br>=&gt; Ý chí đấu tranh, tinh thần <mark>quyết tâm cao độ</mark> của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội. Tuy đã mất, nhưng <mark>tiếng thơm còn lưu mãi</mark>, là tấm gương, nguồn cổ vũ cho phong trào đấu tranh chống giặc ngoại xâm.<br><strong><mark>2, Hình ảnh người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc</mark></strong><br>- Đều là những người <mark>nông dân khốn khó, chăm chỉ kiếm sống</mark><br>+ <mark>“cui cút làm ăn”:</mark> sử dụng từ láy để miêu tả t<mark>hái độ và cách kiếm sống</mark> của những người lính xưa, vừa phải <mark>cúi đầu</mark> vừa phải <mark>cố gắng</mark> nuôi mình, nuôi gia đình vì không có ai nương tựa.<br>- <mark>Nghệ thuật tương phản</mark> “chưa quen - chỉ biết, vốn quen - chưa biết" như một cách để <mark>nhấn mạnh sự mưu sinh khó nhọc</mark> và cảnh những người lính bị buộc phải ra chiến trường <mark>chinh chiến</mark>, buộc phải <mark>"tập khiên, tập mác, ..."</mark> dù trước đó họ chỉ mong được sống yên bình và làm giàu đất nước bằng những việc nông thường ngày.<br>- <mark>Khi giặc đến: </mark>mùi tinh chiên vấy vá.../ ghét thói mọi .../ bữa thấy bòng bong ...=&gt; hành động <mark>độc địa</mark> gieo rắc <mark>tội ác và sự hoành hành</mark> ngang nhiên, khiêu khích của quân thù đang tàn phá và&nbsp; cuộc sống của người nông dân<br>+ Trải qua một <mark>khoảng thời gian quá dài</mark> trong còn đau khổ, giận dữ bị kìm nén: hơn 10 tháng, đã 3 năm đến mức chính những con người phải <mark>nổi dậy</mark> với những cảm xúc mãnh liệt: muốn tới ăn gan, muốn ra cắn cổ, ...<br>+ Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu -&gt; tức là lòng <mark>căm thù</mark> giặc lên tới đỉnh điểm, mà hơn cả là lòng tự tôn dân tộc, nhận thấy <mark>trách nhiệm</mark> của mình trước hoàn cảnh đất nước.<br>+ <mark>Hành động:</mark> Nào đợi ai đòi, ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình; chẳng thèm trốn ngược, trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ -&gt; đây là <mark>tinh thần tự nguyện</mark> bổ sung vào đội quân chiến đấu với <mark>quyết tâm sắt đá</mark> dù khó khăn cũng chẳng màng. <br><mark>- Cuộc chiến đấu với kẻ thù của nghĩa sĩ Cần Giuộc:</mark><br>+ Điều kiện chiến đấu:<br>&nbsp; &nbsp;Lực lượng: không quen binh đao<br>&nbsp; &nbsp;Vũ khí: vật dụng thô sơ<br>&nbsp; &nbsp;Binh thư, binh pháp: không quen, không biết<br>=&gt; Vô cùng <mark>khó khăn</mark><br>+ Chiến đấu:<br>&nbsp; &nbsp;Tinh thần: theo tình cảm tự nhiên, không tính toán, quả cảm, khí thế vũ bão<br>&nbsp; &nbsp;Hành động: đạp, xô, đấm, đánh, đâm, chém, ...<br>- Sử dụng một loạt các <mark>động từ gợi sức mạnh</mark>, tư thế hiên ngang, tinh thần quả cảm của nghĩa sĩ.<br>=&gt; Bức tranh chiến trận thể hiện rõ <mark>tinh thần bão táp, hào hùng</mark> của người nghĩa sĩ Cần Giuộc.<br>=&gt; Tượng đài nghệ thuật <mark>sừng sững, rực rỡ</mark> về hình ảnh người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc<br><strong><mark>3, Ai vãn (Nỗi tiếc thương cảm phục, của tác giả và nhân dân đối với những người nghĩa sĩ )</mark></strong><br>- <mark>Mở đầu " Ôi "</mark> <br>=&gt; Bày tỏ trực tiếp cảm xúc <mark>nuối tiếc, đau khổ</mark> tột cùng của tác giả với người nghĩa sĩ<br>- <mark>Tiếng khóc</mark> được cộng hưởng từ nhiều nguồn cảm xúc khác nhau:<br>+ Nỗi <mark>xót xa</mark> của những gia đình mất người thân, <mark>tổn thất </mark>không thể bù đắp đối với những người mẹ già, vợ trẻ : "Đau đớn bấy, mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều; não nùng thay vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ".<br>+ Nỗi <mark>xót xa </mark>của tác giả khi người hi sinh <mark>còn nhiều dang dở</mark>, <mark>nguyện ý chưa thành</mark> để lại nhiều điều còn cất giữ với quê nhà .<br>+ Nỗi <mark>căm thù kẻ giặc</mark> của cả tác giả và người dân, kê&nbsp; đã gây nên nhiều nỗi đau cho người dân Việt nhất là nạn nhân và người thân đã hy sinh trên chiến trường .<br>+ Đất nước, quê hương vô cùng <mark>thương tiếc</mark>. Một không gian rông lớn <mark>bùi ngùi, đau đớn</mark>: "Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng; nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng lụy nhỏ". <br>+ Niềm <mark>cảm phục và tự hào</mark> của những người nông dân bình dị, dũng cảm đứng lên bảo vệ từng tấc đất, khoảng rau, …rạng danh nước nhà và bảo vệ được cái <mark>chân lý tốt đẹp ở đời. </mark>=&gt; <mark>Tiếng khóc</mark> không chỉ của tác giả mà còn của tất cả đồng bảo cả nước đối với người liệt sĩ. Tiếng khóc đó không chỉ là sự <mark>cảm thương, đau xót, tự hào</mark>, mà còn là <mark>niềm khích lệ</mark> cho người còn sống, còn đang chiến đấu hết mình, và là sự <mark>biết ơn vô bờ bến</mark> của đất nước<br><strong><mark>4, Ca ngợi linh hồn bất tử của người nghĩa sĩ</mark></strong><br>- <mark>“Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia”:</mark> ý chí chiến đấu bảo vệ đất nước của nghĩa sĩ luôn sống mãi, dù chết vẫn muốn giúp dân dẹp giặc đến cùng, trả thù nước.</div><div>-&nbsp; <mark>“sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó”:</mark> <mark>trung thành</mark> với vua tức là trung thành với nước, đó là <mark>lời dạy bảo</mark> của bao đời nay.</div><div>-&nbsp; <mark>“Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân; cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm”:</mark> thể hiện được nỗi <mark>xót thương</mark> và lòng <mark>tưởng nhớ, tôn vinh</mark> những người anh hùng đã khuất, họ là những người dân <mark>hiền lành, yêu nước</mark> và họ cũng thương dân tộc, đồng bào của họ bị áp bức, bóc lột.</div><div>- <mark>“cám bởi một câu vương thổ”:</mark> đặt sự <mark>ngợi ca và tôn vinh</mark> của các nghĩa sĩ cạnh <mark>“vương thổ”</mark> với ý trách nhà vua trong bốn bể ai cũng là tôi tớ của vua thế mà vua lại để dân chúng bị <mark>rơi vào tay giặc</mark>, để họ chịu nhiều <mark>đau khổ.</mark></div><div>- “Hỡi ôi thương thay! <mark>Có linh xin hưởng”:</mark> câu <mark>cảm thán</mark> như một <mark>lời than cho số phận</mark> của các nghĩa sĩ hi sinh cùng với lời kết cho bài văn tế</div><div>=&gt; Khẳng định tinh thần <mark>yêu nước bất tử</mark> của các nghĩa sĩ Cần Giuộc cũng như những anh hùng đã hi sinh vì nền độc lập của nước ta. Kín đáo <mark>phê phán triều đình</mark> không để tâm đến bảo vệ đất nước, để người dân lâm vào tay giặc hung hãn.<br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1484180584/138533df15e088cd3e25f9186041d539/t_i_xu_ng__16_.jpg" />
         <pubDate>2022-06-15 13:45:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2221996150</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Bài ca ngất ngưởng- Nguyễn Công Trứ</title>
         <author>ngaphuongnguyen26</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2222009963</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-15 13:57:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2222009963</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tác giả: Nguyễn Công Trứ</title>
         <author>ngaphuongnguyen26</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2222010697</link>
         <description><![CDATA[<div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Tiểu sử:<br><br></div><div>-<strong><em>Nguyễn Công Trứ </em></strong>( 1778- 1858) tự Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hi Văn</div><div>-<strong><em>Quê quán:</em></strong> người làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh</div><div><strong><em>-Gia đình:</em></strong>&nbsp;</div><div>+ Xuất thân trong một gia đình <mark>nhà Nho nghèo</mark>.</div><div>+ Cha là Nguyễn Công Tấn, đậu cử nhân năm 24 tuổi, làm giáo phụ phủ An Sơn, sau thăng làm tri huyện Quỳnh Côi.</div><div>+ Mẹ ông là con gái quan quản Nội Thị Cảnh Nhạc bá.</div><div>+ Gia đình Nguyễn Công Trứ có 6 anh em, ba trai, ba gái, có một bà rất thông minh, giỏi thơ văn, người đương thời gọi là Năng văn nữ sĩ.</div><div>&nbsp;<br><br></div><div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Cuộc đời<br><br></div><div>+ Nguyễn Công Trứ là <mark>người thích lối sống phóng khoáng, tự do, có tài, ham học, có chí và rất hăm hở trong việc lập danh</mark>. Ông đi thi rất nhiều lần, trượt vẫn không nản, 41 tuổi mới đạt giải nguyên, 42 tuổi mới ra làm quan ( chức hành Tẩu ở Sứ quán ) và về hưu vào năm 71 tuổi.<br><br></div><div>+ Ông <mark>đóng góp nhiều công lao </mark>cho triều đình.<br><br></div><div>+<mark> Con đường làm quan của ông có nhiều thăng trầm</mark> dưới triều Nguyễn. Trong thời gian làm quan ông đã bị cắt chức và giáng chức năm lần:<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp;Ông từng bị Công Nhàn vu oan cho tội “đặt mua sừng tê và đậu khấu hạng” nên bị cắt hết chức tước và phải làm lính.<br><br></div><div>=&gt; Cuộc đời của ông có nhiều thăng trầm, sóng gió vậy nhưng Nguyễn Công Trứ vẫn luôn giữ được phẩm chất cao cả, cống hiến hết mình cho đất nước và sống phóng khoáng, tự do.<br><br></div><div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Con người<br><br></div><div>-Ông là người rất<mark> thanh liêm, chính trực</mark>. Thuở bé nghèo xác, lớn lên thi đỗ, làm quan, về già Nguyễn Công Trứ vẫn sống đạm bạc.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;+ Câu chuyện Nguyễn Công Trứ không chịu nhận tiền hối lộ của Phạm Nguyên Trung, Ngô Huy Phác, bắt giải cả hai người cùng tang vật sang Nam Định để xét xử về tội đi hối lộ. Hay ông nhận tiền gạo của nhà nước cấp cho dân nghèo làm vốn, số dư thừa Nguyễn Công Trứ đều đem nộp lại cho công khố.</div><div>&nbsp;</div><div>-Ông là <mark>người yêu dân yêu nước</mark>:</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;+ khi nghe tin Pháp đánh Đà Nẵng, ông đã tám mươi tuổi, nhà thơ vẫn dâng sớ lên vua, tha thiết xin được tòng quân đánh giặc</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;+ Lãnh đạo các chống lại các cuộc khởi nghĩa chống triều đình.</div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp;+Chăm lo cho cuộc sống đói nghèo của nông dân:&nbsp; đề nghị “đặt nhà học” cho con em nhân dân được học hành... “đặt xã thương” ở các làng giúp nhân dân trong kinh tế và đời sống. Ông tố cáo “cái hại cường hào” làm cho đời sống nhân dân khổ cực, buồn đau và đề nghị triều đình “trị tội rất nặng”.</div><div>&nbsp;</div><div>-Có sự <mark>ngông cuồng, cái tôi rõ ràng, riêng biệt</mark>: ngất ngưởng cưới bò về hưu.</div><div>&nbsp;</div><div>&nbsp;</div><div>·&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Sự nghiệp sáng tác</div><div>&nbsp;<br><br></div><div>-Nguyễn Công Trứ sáng tác rất nhiều (tương truyền có trên dưới 1000 bài thơ, vậy nhưng phần lớn bị thất lạc, chỉ còn lại khoảng 100 bài) , chủ yếu là thơ văn chữ Nôm, gồm các thể nhưng ông <mark>thành công nhất là trong những bài thơ viết bằng thể hát nói</mark>. Với thể hát nói , Nguyễn Công Trứ <mark>đã chuẩn bị một bước đổi mới về sau cho thi ca Tiếng Việt</mark>.<br><br></div><div>- Thơ ca của ông thường ngợi ca<mark> </mark><a href="https://giaovienvan.com/tag/con-nguoi"><mark>con người</mark></a> hành động, <a href="https://giaovienvan.com/tag/con-nguoi">con người</a> trung hiêu, <mark>đề cao chí nam nhi, đề cao vai trò của kẻ sĩ theo tinh thần nho giáo</mark>, đả kích phật giáo, đạo giáo và tràn đầy <mark>tinh thần lạc quan, tin tưởng</mark>.&nbsp;</div><div>&nbsp;</div><div><strong>-Tác phẩm tiêu biểu:</strong></div><div>+ Chữ Nôm: Chí làm trai, tự thuật, trò đời,..</div><div>+ Hát nói: Xuân, Hạ, Thu, Đông, Vịnh mùa đông, Vịnh câu thông,..</div><div>&nbsp;</div><div>&nbsp;</div><div>-Nguyễn Công Trứ chiếm một vị trí <mark>khá đặc biệt trong văn học Việt Nam</mark>: sáng tác của chứa đựng những vấn đề quan trọng, lí thú và phức tạp, là nguồn gốc của nhiều đánh giá, tranh luận trong nghiên cứu và phê bình văn học.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://salt.tikicdn.com/cache/w444/media/catalog/product/n/g/nguyen-cong-tru.jpg" />
         <pubDate>2022-06-15 13:58:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2222010697</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tác phẩm: Bài ca ngất ngưởng</title>
         <author>ngaphuongnguyen26</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2222011655</link>
         <description><![CDATA[<div>* Hoàn cảnh sáng tác:<br><br></div><div>- Được sáng tác sau 1848, khi ông đã cáo quan về hưu và sống cuộc đời tự do nhàn tản.<br><br></div><div>*Thể loại:<br><br></div><div>- Hát nói: là thể tổng hợp giữa ca nhạc và thơ, có tính chất tự do thích hợp với việc thể hiện con người cá nhân.<br><br></div><div>- Hát nói đã khá phổ biến từ các thế kỉ trước, nhất là cuối thế kỉ XVIII, song Nguyễn Công Trứ là người đầu tiên đã có công đem đến cho hát nói một nội dung phù hợp với chức năng và cấu trúc của nó.<br><br></div><div>*Bố cục<br><br></div><div>- Phần 1 (6 câu thơ đầu): quan điểm sống ngất ngưởng khi làm quan<br><br></div><div>- Phần 2 (13 câu thơ tiếp): quan niệm sống ngất ngưởng khi về hưu<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://vignette.wikia.nocookie.net/mon-hoc/images/c/cc/B%C3%A0i_ca_ng%E1%BA%A5t_ng%C6%B0%E1%BB%9Fng_S%C3%A1ch.jpg/revision/latest?cb=20170807143908&amp;path-prefix=vi" />
         <pubDate>2022-06-15 13:59:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2222011655</guid>
      </item>
      <item>
         <title>ĐỌC- HIỂU VĂN BẢN</title>
         <author>ngaphuongnguyen26</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2222012199</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>A.</strong>&nbsp; &nbsp;<strong>6 câu đầu: Ngất ngưởng khi làm quan:<br></strong><br></div><div><em>“Vũ trụ nội mạc khi phận sự,<br></em><br></div><div><em>Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng.<br></em><br></div><div><em>Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông,<br></em><br></div><div><em>Gồm thao lược đã lên tay ngất ngưởng.<br></em><br></div><div><em>Lúc bình Tây cờ đại tướng,<br></em><br></div><div><em>Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên.”<br></em><br></div><div><strong>a.</strong>&nbsp; &nbsp; <strong>2 câu đầu: Ngất ngưởng trong quan niệm về cuộc sống, công danh<br></strong><br></div><div>“Vũ trụ nội mạc phi phận sự”<br><br></div><div>(Trong vòng trời đất, chẳng có việc việc gì không phải việc của mình)<br><br></div><div>* Ngất ngưởng trong sự tự nhận thức về sức mệnh của bậc nam nhi<br><br></div><div>-Không gian: “Vũ trụ”: Không gian rộng lớn, bao la, không giới hạn<br><br></div><div>=&gt; Trong văn học thời bấy giờ, bậc nam nhi hay sử dụng những hình ảnh như núi non, giang sơn,… để cho thấy chí làm trai của mình. Thế nhưng Nguyễn Công Trứ lại hào hùng hơn tất thảy khi cho rằng việc của trời đất này, của tất thảy cuộc đời này đều là việc của mình. Đây là sự tự nhận thức sứ mệnh, nghĩa vụ của một bậc nam nhi trong xã hội phong kiến xưa, phải gánh vác những việc lớn lao trong cuộc đời.<br><br></div><div>“Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng.”<br><br></div><div>*Ngất ngưởng trong cách xưng tên:<br><br></div><div>-“Ông”: Đặt mình cao hơn người khác.<br><br></div><div>-“Hi Văn”: Tự xưng tên mình =&gt; Thể hiện được cái tôi cá nhân rất lớn, rất độc lập, tự chủ trong thời đại ông sinh sống.<br><br></div><div>-“tài bộ”-tài hoa: tự nhận thức về tài năng hơn người của mình.<br><br></div><div>=&gt; Sự ngất ngưởng của người uôn đặt mình trên người khác, ý thức về cái tôi các nhân, tài năng của mình.<br><br></div><div>* Ngất ngưởng trong suy nghĩ về việc làm quan.<br><br></div><div>-“đã vào lồng”: thể hiện được thái độ của ông trước việc làm quan:<br><br></div><div>+ “đã”: việc đã xảy ra rồi, không thể thay đổi nữa =&gt; Thái độ chấp nhận với số phận.<br><br></div><div>+”vào lồng”: gò bóm trói buộc, không còn được tự do.<br><br></div><div>Đối với các nhà Nho khác, có thể kể như Tú Xương, Cao Bá Quát,… việc làm quan là ước mơ, niềm tự hào, điều mang lại cho họ cuộc sống sung túc hơn. Thế nhưng riêng với Nguyễn Công Trứ, ông lại có thái độ chấp nhận, thậm chí là khó chịu khi mất đi tự do của mình vì phải buộc mình trong thể chế xã hội mục nát, cổ hủ.<br><br></div><div>Sự chấp nhận của ông cho thấy tình yêu nước, thương dân, chấp nhận đánh đổi tự do của cá nhân.<br><br></div><div><strong>b.&nbsp; &nbsp; 4 câu sau: Ý thức về cái tôi tài năng:</strong><br><br></div><div>" Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông,<br><br></div><div>Gồm thao lược đã lên tay ngất ngưởng.<br><br></div><div>Lúc bình Tây cờ đại tướng,<br><br></div><div>Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên.”<br><br></div><div>*Biện pháp:&nbsp;<br><br></div><div>-Liệt kê các chức tước đã làm: Thủ khoa, Tham tán, Tổng đốc Đông.<br><br></div><div>-Điệp ngữ: “khi” lặp lại 3 lần.<br><br></div><div>=&gt; Thái độ tự hào khi nhìn lại con đường làm quan đầy thăng trầm nhưng lại ý nghĩa của mình.<br><br></div><div>*Ngất ngưởng trong sự tự nhận thức về tài năng của mình:<br><br></div><div>-“thao lược”: không chỉ là quan văn mà còn có tài dùng binh.<br><br></div><div>=&gt; Đã cụ thể hóa cái tài bộ, cho thấy ông là người toàn tài.<br><br></div><div>-“tay ngất ngưởng”: sử dụng biện pháp hoán dụ, điều này ám chỉ việc Nguyễn Công Trứ đã là người quen thói sống ngất ngưởng =&gt; Thái độ tự tin, ngạo nghễ&nbsp; của một con người ý thức rất rõ tài năng của mình, luôn đặt mình cao hơn người khác<br><br></div><div>&nbsp;<br><br></div><div>*Ngất ngưởng trong sự tự tổng kết những sự kiện lớn, tài dùng binh trên con đường làm quan:<br><br></div><div>-“Lúc”, “Có khi”: Sự kiện quan trọng, không thể quên được trong tâm trí, nhớ cả lúc ông làm quan cho tới lúc ông giáng trức.<br><br></div><div>-“bình Tây cờ đại tướng”, “về Phủ doãn Thừa Thiên”: Những truyện quá khứ đã xảy đến với cuộc đời của ông, đó là việc ông làm tướng và góp công đánh giặc, là khi ông làm quan đầu tỉnh Doãn Thừa Thiên.<br><br></div><div>=&gt; Tài năng của ông rất lớn, có thể cầm binh, cũng có thể làm văn, rất được coi trọng.<br><br></div><div>&nbsp;<br><br></div><div>Trong 6 câu đầu khẳng định về lối sống ngất ngưởng là thái độ sống của con người có ý thức trách nghiệm lới lao, có thực tài, là người sống ngạo nghễ, luôn đặt mình lên cao hơn người khác.<br><br></div><div>&nbsp;<br><br></div><div><strong>B. &nbsp; 12 câu cuối: Ngất ngưởng khi về ở ẩn:</strong><br><br></div><div>Không chỉ ngất ngưởng ở chốn làm quan, Nguyễn Công Trứ còn ngất ngưởng cả trong lối sống sau khi đã cáo quan về hưu, điều đó được thể hiện chân thực và rõ nét trong mười hai câu còn lại của bài thơ.&nbsp;<br><br></div><div>&nbsp;<br><br></div><div><em>“Đô môn giải tổ chi niên<br>&nbsp;Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng<br>&nbsp;Kìa núi nọ phau phau mây trắng<br>&nbsp;Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi<br>&nbsp;Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì<br>&nbsp;Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng<br>&nbsp;Được mất dương dương người tái thượng<br>&nbsp;Khen chê phơi phới ngọn đông phong<br>&nbsp;Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng<br>&nbsp;Không Phật, không tiên, không vướng tục<br>&nbsp;Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú<br>&nbsp;Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung<br>&nbsp;Trong triều ai ngất ngưởng như ông!”<br></em><br></div><div>&nbsp;<br><br></div><div><em>&nbsp;“ Đô môn giải tổ chi niên<br></em><br></div><div><em>Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng .”<br></em><br></div><div><mark>*Ngất ngưởng trong thái độ từ quan:</mark><br><br></div><div>-“giải tổ”: tự cởi dây đeo ấn =&gt; Đây là hành động chủ động thoái vị, thoải mái, không chút níu kéo.<br><br></div><div>=&gt; Tác giả là người không coi trọng vật chất, tiền của.<br><br></div><div><mark>*Ngất ngưởng trong lối sống khác người, khác đời:<br></mark><br></div><div>“<em>Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng</em>.”<br><br></div><div>- Câu thơ đã gợi lên trước mắt chúng ta là dáng ngồi ngất nghểu của tác giả trên lưng con “ bò vàng được ” trang sức bằng đạc ngựa&nbsp;<br><br></div><div>=&gt; Một hành động khác người, như muốn khiêu khích, trêu ngươi, trái khoáy. Điều ấy làm ta nhớ về một hành động thực trong cuộc đời: lấy mi cau đeo vào đít bò và nói đó là che miệng thế gian. Sự khác biệt ấy đã thể hiện được cá tính mạnh mẽ, bản lĩnh của Nguyễn Công Trứ và thái độ khinh thường miệng lưỡi thế gian.<br>&nbsp;<br>&nbsp;<br><br></div><div>“Kìa núi nọ phau phau mây trắng”<br><br></div><div>-Điểm nhìn: “Núi nọ”, “mây trắng” =&gt; Đây là điểm nhìn cao và xa. Điều ấy đã thể hiện thái độ sống tự tin, mặc kệ sự đời.<br><br></div><div>-Trong hoàn cảnh “Đặc ngựa bò vàng” =&gt; Ông thực sự không để tâm tới những lời xôn xao bàn tiếu mà trong mắt ông lúc bất giờ, chỉ còn cảnh thiên nhiên hùng vĩ, tươi đẹp.<br><br></div><div><em>“Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi<br></em><br></div><div><em>Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi gì<br></em><br></div><div><em>Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng. ”<br></em><br></div><div>- “ Tay kiếm cung” &gt;&lt; “nên dạng từ bi”: Đây là hai từ dường như trái ngược nhau, thế nhưng trong lời của Nguyễn Công Trứ lại là “Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi”:<br><br></div><div>+ “Tay kiếm cung”: Một ông tướng có quyền sinh sát.<br><br></div><div>+ “nên dạng từ bi”: Dáng vẻ tu hành, trái hẳn với trước.<br><br></div><div>=&gt; Thể hiện cương vị, cuộc sống đã thay đổi. Cuộc sống của vị quan, tướng sau khi ở ẩn yên bình, êm ả và từ bi hơn trước.<br><br></div><div>-Có lẽ trong nền văn học, chưa bao giờ chúng ta thấy một người nào đi vãn cảnh chùa giống như Nguyễn Công Trứ. Đi vãn cảnh chùa - nơi chốn thanh cao, tao nhã vậy mà lại mang theo một cô gái hầu:<br><br></div><div>+Gót tiên đủng đỉnh: Thanh thản, chậm rãi trong từng động tác.<br><br></div><div>ð Đây là sở thích kì lạ, khác thường.<br><br></div><div>-“Bụt cũng nực cười”: thể hiện hành động của tác giả là những hành động khác thường, ngược đời, đối nghịch với quan diểm của nhà Nho phong kiến.&nbsp;<br><br></div><div>=&gt; Cá tính rất riêng của người nghệ sĩ mong muốn sống theoc cách riêng.<br><br></div><div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp;<br><br></div><div>- Bởi sinh thời Nguyễn Công Trứ là một người biết chơi theo quan niệm sống hết mình và chơi cũng hết mình. Trong trần hoàn mấy mặt làng chơi... Biết mùi chơi chưa dễ mấy người hay ông từng tuyên bố “ Nếu không chơi thiệt ấy ai bù...” Vậy cũng có thể hiểu đây là một lối sống phóng túng, không chịu gò bó vào phép tắc hay quy luật nào cả . Câu thơ được ông miêu tả bằng nụ cười hóm hỉnh, đầy tự hào của tác giả, phải chăng đó là cười cho sự khen chê của thiên hạ, có lẽ là cả hai điều đó tạo nên một điều thật đơn giản.&nbsp; &nbsp;&nbsp;<br><br></div><div><em>“&nbsp; Được mất dương dương người thái thượng<br></em><br></div><div><em>&nbsp; &nbsp; Khen chê phơi phới ngọn đông phong. ”&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<br></em><br></div><div>-Dương dương: nhơn nhơn tự đắc.<br><br></div><div>-Người thái thượng: người của thời xưa.<br><br></div><div>-Phơi phới: vui tươi, đầy sức sống.<br><br></div><div>-Ngọn đông phong: gió xuân.<br><br></div><div>=&gt; Tự tin đặt người sánh với “người thái thượng”, tức sống ung dung tự tại, không quan tâm đến chuyện khen chê được mất của thế gian.<br><br></div><div>-Với Nguyễn Công Trứ một khi đã thoát khỏi vòng danh lợi thì những chuyện được mất, khen chê ở đời xin bỏ ngoài tai, như ngọn gió đông thổi qua. Điều này chỉ có được khi người ta có bản lĩnh, sự tự tin về tài năng của mình. Đó cũng chính là cái ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ trong đó chứa đựng hạt nhân của phong cách sống phóng túng, hiếm có của ông. Chính vì vậy mà ông có được một cuộc sống thanh cao vui vẻ, tự do :<br><br></div><div>&nbsp;<br><br></div><div><em>“ Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng<br></em><br></div><div><em>Không Phật, không Tiên, không vướng tục.”<br></em><br></div><div><em>&nbsp;<br></em><br></div><div>-Câu thơ được ngắt nhịp hai, kết hợp với lối diễn đạt trùng điệp tạo cho câu thơ chậm rãi, qua đó lột tả được phong thái ung dung yêu đời, thanh cao của nhà nho Nguyễn Công Trứ. Thái độ sống như vậy của ông có được từ con người luôn tự tin vào bản thân mình, luôn ý thức được bản thân. Sự phô bày bản ngã được bộc lộ rõ nét một cách cực độ ở khổ thơ cuối chê của thiên hạ, có lẽ là cả hai điều đó tạo nên một điều thật đơn giản.<br><br></div><div>+ “ Chẳng trái Nhạc.. Nghĩa vua tôi cho trọn đạo sơ chung”: Sử dụng điển cố , ví mình sánh ngang với những người nổi tiếng có sự nghiệp hiển hách như Trái Tuân, Hàn Kì, Phú Bật…&nbsp;<br><br></div><div>⇒ Khẳng định bản lĩnh, khẳng định tài năng sánh ngang bậc danh tướng. Tự khẳng định mình là bề tôi trung thành.&nbsp;<br><br></div><div>+ “Trong triều ai ngất ngưởng như ông”: Đây là câu hỏi tu từ nhưng lại khẳng định vị trí đầu triều về cách sống ngất ngưởng.<br><br></div><div>=&gt; Tuyên ngôn khẳng định cá tính, sự mong muốn vượt ngoài quan điểm đạo đức Nho gia thông thường. Đối với ông, ngất ngưởng phải có thực danh và thực tài. Vậy cái ngất ngưởng của ông không phải tiêu cực mà sự khẳng định bản thân của mình, là bản lĩnh dám sống ở đời, và một phong cách sống tài hoa tài tử.<br><br></div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://1.bp.blogspot.com/-fDQ5wyajvds/YOLFnnyVNdI/AAAAAAAAqII/E6o_UF-EZWY4Gjw5oSevgD5YEwZNBy8wgCLcBGAsYHQ/w1200-h630-p-k-no-nu/bai-ca-ngat-nguong_020215400.jpg" />
         <pubDate>2022-06-15 13:59:47 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2222012199</guid>
      </item>
      <item>
         <title>TỔNG KẾT</title>
         <author>ngaphuongnguyen26</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2222013632</link>
         <description><![CDATA[<div><strong>* Giá trị nội dung</strong><br><br></div><div>- Bài thơ thể hiện rất rõ <mark>thái độ sống</mark> của Nguyễn Công Trứ giai đoạn cuối đời, sau những trải nghiệm đắng cay của cuộc sống quan trường. Đó là thái độ <mark>coi thường danh lợi, vượt lên thói thường để sống cuộc sống tự do tự tại</mark>. Giữa cái xã hội mà mọi cá tính đều bị thủ tiêu thì <mark>cái tôi “ngất ngưởng”</mark> của Nguyễn Công Trứ chẳng những bộc lộ một <mark>bản lĩnh cứng cỏi</mark>, sự thức tỉnh<mark> ý thức cá nhân</mark> mà còn thể hiện rõ một <mark>nhân sinh quan tiến bộ hiện đại.</mark><br><br></div><div><strong>* Giá trị nghệ thuật</strong><br><br></div><div>- Vận dụng thành công thể <mark>hát nói</mark><br><br></div><div>- Giọng điệu thơ <mark>hóm hỉnh, khoa trương, ý vị trào phúng</mark><br><br></div><div>- Sử dụng <mark>điển tích, điển cố<br></mark><br></div><div>&nbsp;<br><br></div><div>&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-15 14:00:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2222013632</guid>
      </item>
      <item>
         <title>III, Tổng kết</title>
         <author>dungnguyenhs1509</author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2222031355</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><mark>1, Nội dung:</mark></strong> <br>&nbsp; &nbsp;Ca ngợi <mark>vẻ đẹp, phẩm chất anh hùng</mark> của người nghĩa sĩ nông dân, bày tỏ <mark>xót thương</mark> trước vong linh của người nghĩa sĩ và là <mark>lời khẳng định thiết tha</mark> về tình yêu đất nước và dân tộc của Đồ Chiểu<br><strong><mark>2, Nghệ thuật:</mark></strong> <br>&nbsp; &nbsp;Giọng văn <mark>thống thiết bi ai</mark> nhưng đầy vẻ <mark>oai hùng</mark>, bằng việc sử dụng <mark>ngôn ngữ Nam bộ</mark>, hình ảnh nhân vật hiện lên quá <mark>độc đáo và đẹp đẽ lạ kì. </mark><br><br></div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-15 14:18:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2222031355</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lẽ Ghét Thương - Nguyễn Đình Chiểu</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2222086778</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://lamvan.net/uploads/images/editor/nguy%E1%BB%85n%20%C4%91%C3%ACnh%20chi%E1%BB%83u.JPG" />
         <pubDate>2022-06-15 15:12:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2222086778</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tác giả : Nguyễn Đình Chiểu</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2222090542</link>
         <description><![CDATA[<div>*Tác giả: <br>-Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888), tục gọi là Đồ Chiểu (khi dạy học), tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai (sau khi bị mù).<br><br><em>-Quê quán</em>: làng Tân Thới, Gia Định Thành, Đại Nam. <br><br>*<em>Cuộc đờ</em>i: <br>- Ngay từ khi còn nhỏ, Nguyễn Ðình Chiểu đã theo cha chạy giặc. Từ một cậu ấm bỗng chốc đã thành một đứa trẻ thường dân sống trong cảnh chạy loạn. Lớn lên, ông bị bệnh mù mắt, bị gia đình giàu có bội ước; công danh đang còn dang dở. Mặc dù gặp nhiều bất hạnh nhưng cuộc đời của ông lúc nào cũng gắn bó với nhân dân. <br>- Tuy bị mù nhưng Nguyễn Đình Chiểu đã tiến thân thành danh bằng con đường hành đạo của chính mình. Ông đã mở lớp để dạy học; viết văn và bốc thuốc chữa bệnh cho dân và quan tâm lo lắng cho chiến sự. Lúc nào ông cũng làm cùng một lúc ba nhiệm vụ của ba người tri thức để cứu dân, giúp đời.<br>-&nbsp; Thời đại:&nbsp; Nguyễn Đình Chiểu sinh ra trong thời kỳ chế độ phong kiến mục nát bộc lộ những mâu thuẫn xã hội gay gắt và đang đi vào con đường bế tắc. Tình hình nước nhà dưới triều Nguyễn thật bi đát. Nông dân ngày càng bần cùng hóa. Ruộng đất hầu hết đều nằm trong tay triều đình, quan lại, địa chủ phong kiến. nông dân nhiều nơi không có một tấc đất cắm dùi.<br><br>-Gia đình: ông sinh ra trong một gia đình nhà Nho.<br><br>- Con người: ông có nghị lực phi thường, vượt qua những bất hạnh của cá nhân và thời cuộc. Tất cả điều đó cô đúc lại thành khí tiết của một nhà nho yêu nước tiêu biểu cho giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX.<br><br>*<em>Sự nghiệp văn học:</em>&nbsp;<br><br>-Các tác phẩm chính: chủ yếu bằng chữ Nôm<br>+ Truyện thơ dài: truyện Lục Vân Tiên, Dương Tử - Hà Mậu được sáng tác trước khi thực dân Pháp xâm lược.<br>+ Một số tác phẩm mang nội dung tư tưởng tình cảm, nghệ thuật: Chạy giặc, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Ngư tiều y thuật vấn đáp,... sáng tác sau khi Pháp xâm lược.<br>+Mang nặng lí tưởng đạo đức nhân nghĩa, lòng yêu nước thương dân. Nghệ thuật thơ văn: Bút pháp trữ tình nồng đậm hơi thở cuộc sống, đậm đà sắc thái Nam Bộ.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-15 15:16:29 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2222090542</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tác Phẩm : Lẽ Ghét Thương</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2222092363</link>
         <description><![CDATA[<div>*Tác phẩm: Lẽ ghét thương. <br><br><strong>-Xuất xứ</strong>: Đoạn trích nằm phần đầu của truyện “Lục Vân Tiên”, từ câu 473 đến câu 504<br><strong>-Nội dung</strong>: Kể về cuộc đối thoại giữa ông Quán với bốn chàng nho sinh trong quán rượu trước khi họ vào trường thi.<br><strong>-Bố cục</strong><br>+ Phần 1 (6 câu đầu): cuộc đối thoại của ông Quán và Vân Tiên<br>+ Phần 2 (10 câu tiếp): Lời ông Quán về lẽ ghét<br>+ Phần 3 (14 câu tiếp): lời ông Quán bàn về lẽ thương<br>+ Phần 4 (2 câu cuối): tư tưởng và tấm lòng của tác giả</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-15 15:18:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2222092363</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đọc -Hiểu văn bản</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2222098245</link>
         <description><![CDATA[<div>a) <strong>6 câu đầu: Thái độ ghét thương qua lời đối đáp giữa ông Quán với Vân Tiên</strong><br>- Nhân vật ông Quán (chủ quán rượu) thuộc lực lượng chính nghĩa hỗ trợ nhân vật chính ( trên đường tìm chính nghĩa)<br>- Ông Quán có phong thái của một nhà nho ở ẩn, am tường kinh sử, và quặn lòng với những kẻ làm băng hoại xã hội, đau khổ dân lành.<br>- “Vì chưng hay ghét cũng là hay thương”: Biết ghét là vì biết thương. Vì thương dân nên ghét những kẻ làm hại dân. Ông Quán bày tỏ thái độ thương ghét phân minh.<br><mark>=&gt; Đây là câu nói có tính chất khái quát tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu trong cả đoạn trích. Tác giả đã lí giải căn nguyên chuyện ghét thương của mình</mark>.<br><br>b) <strong>10 câu tiếp theo :&nbsp; lời của ông Quán về lẽ ghét</strong> <br>*Ghét thế lực cầm quyền bạo tàn<br>_ Điệp từ "ghét" (8 lần): bộc lộ sâu sắc và mãnh liệt tình cảm ghét trong tâm hồn nhân vật, cũng là của tác giả.<br>_ "cay", "đắng" là những từ chỉ mùi vị, ở đây dùng để ẩn dụ cho độ sâu tăng dần của cái ghét.<br>_ "ghét vào tận tâm": nhấn mạnh thái độ căm ghét đến tận cùn.<br>_ Liệt kê nhiều điển cố rút ra từ sách sử Trung Quốc, nhưng vẫn dễ hiểu vì tác giả đã diễn giải cụ thể các điều mà ông Quán ghét:<br>+ Đời Kiệt, Tụ thì hoang dâm vô độ.<br>+ Đời U, Lệ thì đa đoan, lắm chuyện rắc rối.<br>+ Đời ngũ bá, thúc quí thì lộn xộn, chia lìa, đổ nát, chiến tranh liên miên.<br>-&gt; Tất cả các triều đại này đều có điểm chung là chính sự suy tàn, vua chúa đắm say tửu sắc, không chăm lo đến đời sống nhân dân.<br>=&gt; Ông Quán căm thù, khinh bỉ, tức giận tất cả những gì khiến nhân dân phải chịu cảnh thống khổ, dày vò. Đối tượng bị ông Quán ghét không chỉ thuộc phạm vi một thời đại nào mà nó có trong mọi thời đại. <br><br>*) Thương dân lầm than<br>_ Có bốn câu thơ nói về cung bậc, mức độ khác nhau trong nỗi khổ mà dân lành phải gánh chịu:<br>+ "Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hoang."<br>+ "Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần."<br>+ "Chuộng bề dối trá làm dân nhọc nhằn."<br>+ "Sớm đầu tối đánh lằng nhằng dối dân."<br>=&gt; Khác với thái độ ghét bỏ khi nói về các triều đại, bốn câu thơ thể hiện sự cảm thông, thấu hiểu, chia sẻ của nhà thơ đối với nỗi khổ đau và những bất bình mà nhân dân phải chịu.<br><br><mark>=&gt; Chốt: Qua lời của ông Quán, tác giả đã đứng về phía nhân dân, xuất phát từ quyền lợi của nhân dân mà phẩm bình lịch sử. Đó là cơ sở của tình cảm ghét. Thể hiện tấm lòng thương dân sâu sắc của Nguyễn Đình Chiểu.<br><br></mark>c)<strong>14 câu tiếp : lời ông Quán về lẽ thương</strong><br> Thái độ: Từ " thương" lặp 8 lần<br>-&gt; nhấn mạnh tình cảm "thương" xót, thái độ chân thành<br><br>- Giọng điệu của ông Quán: nhẹ nhàng, tha thiết, có phần thương cảm tiếc nuối<br><br>- Liệt kê hàng loạt các danh sĩ trong sử sách:<br><br>+ “đức thánh nhân” Khổng Tử: không được thỏa chí truyền đạo, lận đận<br>+ thầy Nhan Tử: học hành giỏi giang mà chết sớm <br>+ Gia Cát Lượng: tài đức mà mệnh yểu, sự nghiệp chưa thành mà mất. <br>+&nbsp; Đổng Tử: tài cao học rộng&nbsp; nhưng không được tin dùng.&nbsp; Bất đắc chí trở về quê nhà với ruộng vườn, ao cá, chôn vùi tài năng cả một đời.<br>+ Nguyên Lượng: học rộng, thơ văn lỗi lạc mà về ở ẩn vì không ưa lối quỵ lụy quan trên.<br>+ Hàn Dũ: ngay thẳng nhưng chính vì vậy mà mang họa<br>+ Liêm, Trạc: triết gia nhưng không được trọng dụng, lui về ở ẩn dạy học<br><br><em>=&gt; Điểm chung: là những người có tài, có chí, mong muốn được hành đạo giúp nước, giúp dân nhưng đều vì thời cuộc mà không đạt sở nguyện.</em><br><br><mark>=&gt; Những lẽ thương của ông Quán là thương cho những bậc anh hùng tài hoa nhưng có số phận chông chênh, éo le, bất đắc chí, không gặp thời. Cũng như chính cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu, bởi thế đoạn thơ là sự thấu hiểu, niềm cảm thông sâu sắc từ tận đáy lòng tác giả. Ông ghét thế lực cầm quyền bạo tàn, thương hiền tài không được trọng dụng</mark>.<br><br>d) <strong>2 câu cuối : tư tưởng và tấm lòng của tác giả<br></strong>“Xem qua kinh mấy lần thi cử<br>Nửa phần lại ghét nửa phần thương.”<br>- Nghệ thuật tiểu đối “thương” và “ghét” sự đối lập của cảm xúc này bắt nguồn từ thực tế với lòng yêu dân và khát khao có cuộc sống hoà bình, tự do cho dân. Qua đó thể hiện được thái độ thất vọng, chán ghét với sự mục ruỗng, suy tàn của nhà Nguyễn dưới cái nhìn của Nguyễn Đình Chiểu<br>=&gt;&gt; Trong cái ghét đó lại có một cảm xúc khác len lỏi trong đó là tình thương.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-15 15:24:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2222098245</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tổng kết </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2222107040</link>
         <description><![CDATA[<div><strong><em>. Giá trị nội dung<br></em></strong><br></div><div>- Thông qua lời ông Quán, Nguyền Đình Chiểu đã giãi bày tâm huyết của mình về lẽ ghét, tình thương với con người. Lời giãi bày đó thể hiện được quan điểm đạo đức yêu - ghét trước cuộc đời mà xuất phát của tình cảm đó là bởi vì cuộc sống của nhân dân. Bởi vậy có thế khẳng định tư tưởng cốt lõi của đoạn trích là ở tấm lòng yêu thương nhân dân sâu sắc, tha thiết của nhà thơ.<br><br></div><div><strong><em>. Giá trị nghệ thuật<br></em></strong><br></div><div>- Bút pháp trữ tình nồng hậu<br><br></div><div>- Ngôn ngữ bình dị<br><br></div><div>- Sử dụng nhiều điệp từ “thương”, “ghét” (mỗi từ 12 lần)<br><br></div><div>- Sử dụng phép đối, phép tiểu đối<br><br></div><div><br><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2022-06-15 15:34:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hangtrang191/3bzr58d3h87y2jv8/wish/2222107040</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
