<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title>Tìm hiểu về các danh nhân ở Hà Nội  by Le Giang Hoang</title>
      <link>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt</link>
      <description></description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2025-09-25 06:02:58 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2025-09-25 15:35:36 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url></url>
      </image>
      <item>
         <title>Nguyễn Hương Giang</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3603776047</link>
         <description><![CDATA[<p>Ngô Thì Sĩ (1726-1780)</p><p><strong><mark>là danh nhân Hà Nội thời hậu kỳ Lê-Trịnh, nổi tiếng là một nhà sử học, nhà văn, nhà thơ có học vấn uyên bác và văn phong hùng vĩ, là người sáng lập ra Ngô gia văn phái danh tiếng</mark></strong>. Ông có nhiều đóng góp quan trọng cho nền sử học và văn học Việt Nam với các tác phẩm như <em>Việt sử tiêu án </em>, <em>Đại Việt sử ký tiền biên</em>, <em>Ngọ phong văn tập </em>và <em>Anh ngôn thi tập</em>.&nbsp;</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-09-25 10:59:32 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3603776047</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Chu Văn An</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3603808029</link>
         <description><![CDATA[<p>Ông được gọi là người thầy của mọi thời đại, nhà giáo lỗi lạc của Việt Nam, đã dành cả cuộc đời cho sự nghiệp dạy học, với triết lý giáo dục nhân văn, không phân biệt giàu nghèo, học đi đôi với thực hành, học suốt đời để biết, để làm việc và cống hiến cho xã hội. Tư tưởng đó của ông không những có ảnh hưởng tới nhiều thế hệ người Việt Nam mà còn góp phần phát triển các giá trị nhân văn trong khu vực. Quan điểm giáo dục của ông có những giá trị tiến bộ vượt thời đại, gần gũi với mục đích giáo dục của thế giới hiện nay.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-09-25 11:24:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3603808029</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tô Hiến Thành</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3603816290</link>
         <description><![CDATA[<p>Tô Hiến Thành (1102-1179) &nbsp;sinh ngày 22 tháng 1 năm&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A2m_Ng%E1%BB%8D">Nhâm Ngọ</a>&nbsp;(<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/11_th%C3%A1ng_2">11 tháng 2</a>&nbsp;năm&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1102">1102</a>) và mất ngày 12 tháng 6 năm&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/K%E1%BB%B7_H%E1%BB%A3i">Kỷ Hợi</a>&nbsp;(<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/17_th%C3%A1ng_7">17 tháng 7</a>&nbsp;năm&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1179">1179</a>). Ông sinh ra ở xóm Lẻ, hương Ô Diên, huyện Vĩnh Khang, thành Thăng Long, nay là xóm Lẻ, thôn Hạ Mỗ, xã&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BA%A1_M%E1%BB%97">Hạ Mỗ</a>, huyện&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90an_Ph%C6%B0%E1%BB%A3ng">Đan Phượng</a>, thủ đô&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_N%E1%BB%99i">Hà Nội</a>).</p><p>Ông&nbsp;<strong><mark>là một vị đại thần kiệt xuất thời Lý, phụng sự hai triều vua Lý Anh Tông và Lý Cao Tông</mark></strong>.&nbsp;Ông nổi tiếng với tài năng "văn võ song toàn," sự công minh, chính trực, liêm khiết và lòng trung thành tuyệt đối với đất nước.&nbsp;Ông là một vị quan vừa giỏi về quân sự, vừa tinh thông về văn học, với những đóng góp lớn cho cả việc dẹp giặc lẫn chấn chỉnh việc học hành, khoa cử.&nbsp;Ông được phong tước Vương, giữ chức Tể tướng, có công lớn trong việc củng cố triều chính, mở mang bờ cõi, đánh bại quân xâm lược và xây dựng nền văn hóa Đại Việt.&nbsp;Sự nghiệp của ông đã khẳng định vị thế của quốc gia và ông được tôn vinh là một nhân vật lịch sử quan trọng.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-09-25 11:31:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3603816290</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Võ Nguyên Giáp</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3603862063</link>
         <description><![CDATA[<p><mark>Võ Nguyên Giáp (1911-2013): Là tướng quân đội, nhà chiến lược, đã lãnh đạo quân đội Việt Nam trong nhiều cuộc chiến tranh, đặc biệt là Chiến dịch Điện Biên Phủ.</mark> Vị tướng binh nghiệp ấy - “Người anh Cả” của Quân đội Nhân dân Việt Nam, dù trải qua biết bao trận chiến lớn nhỏ, dù đã quá quen với thương vong nhưng lại là người luôn cân nhắc để làm sao từng chiến sĩ của mình ít phải đổ máu nhất.Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, dù ở đâu và trên cương vị nào, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng cống hiến hết sức mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Đặc biệt, trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã có đóng góp quan trọng, trực tiếp cùng Trung ương Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh lãnh đạo, chỉ đạo cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi, mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4442350184/f973c2c7af6d4577d7562df296ed94ee/vo_nguyen_giap.PNG" />
         <pubDate>2025-09-25 12:03:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3603862063</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Du</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3603873719</link>
         <description><![CDATA[<p><br/></p><p>👉 Nguyễn Du (1765 – 1820) là đại thi hào dân tộc, quê ở Tiên Điền, Hà Tĩnh. Ông là tác giả của “Truyện Kiều” – tác phẩm nổi tiếng, phản ánh số phận con người và ước mơ công lý. Năm 1965, UNESCO công nhận Nguyễn Du là Danh nhân văn hóa thế giới.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-09-25 12:11:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3603873719</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3603894924</link>
         <description><![CDATA[<p>Lê Thánh Tông (tên thật Lê Tư Thành)<strong><mark>là vị Hoàng đế thứ năm của nhà Hậu Lê, trị giá từ năm 1460 đến 1497, được coi là một trong những vị vua vĩ đại nhất lịch sử Việt Nam, với sự cải cách triệt để về chính trị, kinh tế, quân sự và văn hóa, đưa Đại Việt lên thời kỳ giai đoạn nhất</mark></strong>. Ông đã mở rộng lãnh thổ về phía Nam, ban hành bộ luật Hồng Đức, thành lập Hội Tao Đàn, và là một nhà thơ tài hoa. &nbsp;</p><p><strong>Thân thế và niên thiếu</strong></p><ul><li><p><strong>Tên thật:</strong></p><p>Lê Thành, sau đổi là Lê Hạo.&nbsp;</p></li><li><p><strong>Cha mẹ:</strong></p><p>Con trai thứ tư của Vua Lê Thái Tông và cung phi Ngô Thị Ngọc Dao.&nbsp;</p></li><li><p><strong>Thiên tư:</strong></p><p>Được miêu tả là người thông minh, tuấn tú, nhân hậu, có tài trí và khí phách phi thường ngay từ nhỏ.&nbsp;</p></li><li><p><strong>Bối cảnh:</strong></p><p>Ông là em ruột của Vua Lê Nhân Tông. Sau cuộc biến đổi chính năm 1460, Lê Tư Thành được đưa lên ngôi.&nbsp;</p></li></ul><p><strong>Sự nghiệp chính và quân sự</strong></p><ul><li><p><strong>Thống nhất và củng cố quyền lực:</strong></p><p>Đã chấm dứt tình trạng chia rẽ trong triều đình, dẹp loạn, ổn định xã hội.&nbsp;</p></li><li><p><strong>Cải cách hành chính:</strong></p><p>Tổ chức lại bộ máy Nhà nước theo chế độ tập trung, chuyên chế.&nbsp;</p></li><li><p><strong>Xây dựng luật pháp:</strong></p><p>Ban hành luật Hồng Đức, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật Hậu Lê.&nbsp;</p></li><li><p><strong>Mở rộng và bảo vệ lãnh thổ:</strong></p><p>Thực hiện chiến dịch Nam tiến, đánh bại quân Chiêm Thành và sáp nhập nhiều vùng đất, mở rộng bờ biển Đại Việt.&nbsp;</p></li></ul><p><strong>Phát triển kinh tế và văn hóa</strong></p><ul><li><p><strong>Kinh tế:</strong></p><p>Chú trọng phát triển nông nghiệp, khuyến khích khai khẩn đất hoang, đào kênh, mở mang đường sá.&nbsp;</p></li><li><p><strong>Văn hóa – giáo dục:</strong></p><p>Phát triển giáo dục, khoa cử, vẽ <a rel="noopener noreferrer nofollow" class="DTlJ6d" href="https://www.google.com/search?sca_esv=558dd4a087cc4d90&amp;cs=1&amp;sxsrf=AE3TifOvEPJMLA4bRk8t0UrsVCt9bmf82A%3A1758802852596&amp;q=H%E1%BB%93ng+%C4%90%E1%BB%A9c+b%E1%BA%A3n+%C4%91%E1%BB%93&amp;sa=X&amp;ved=2ahUKEwj-zrGZ8_OPAxWmafUHHTzNNK8QxccNegQIRxAB&amp;mstk=AUtExfCvuqgF_Q7qWaIWQKropxYSmRkZl1WG0hA7KoBfYBoWZ5toiOYIP5MdtnP6RBmtsa4JiuHPEz12wWFwWjDNpYpplTFhokjZF24NakNM9nBEM3cKqJBEZ_I3eFIupcHvWGZalJDmJNQR2aGlR2b4gu72wemuNB9tbtfuazr2SNut5qd7JTcJ_sKNzGuKtzvdlOd-3WQcDGkfAO-3uzm2tEtp3mY3d9_VyJKG4Axm3GVfIh5AS1gNoIZ4plzT8B6ODCpqqqwS-9UKeHrMVR1p2wgQguIBqqqMIMpIN6EkCa1gEw&amp;csui=3">bản đồ Hồng Đức</a> , đặt quy tắc ghi tên tiến sĩ.&nbsp;</p></li><li><p><strong>Sáng tác thơ ca:</strong></p><p>Ông còn là một nhà thơ tài hoa, sáng lập ra Hội Tao Đàn do ông làm Tao Đàn đô nguyên soái, và để lại nhiều tác phẩm quý báu.&nbsp;</p></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4442500659/a04608d69a90cf9a516269ff2acdd62e/1.jpg" />
         <pubDate>2025-09-25 12:23:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3603894924</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hồ Xuân Hương</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3603903713</link>
         <description><![CDATA[<p>Hồ Xuân Hương (1772–1822) là <strong><mark>nữ thi sĩ nổi tiếng của Việt Nam, được mệnh danh là "Bà chúa thơ Nôm"</mark></strong>. Bà có xuất thân từ Quỳnh Đôi, Nghệ An, nhưng sống chủ yếu ở Thăng Long (Hà Nội) và làm thơ bằng cả chữ Nôm và chữ Hán. Cuộc đời bà đầy éo le với hai lần làm vợ lẽ và chồng mất sớm, nhưng bà vẫn giữ khí chất mạnh mẽ, phóng khoáng, để lại nhiều tác phẩm độc đáo, thể hiện tiếng nói thương cảm cho phụ nữ và phê phán xã hội đương thời.&nbsp;</p><ul><li><p><strong>Tác phẩm:</strong></p><p>Bà sáng tác bằng cả chữ Nôm và chữ Hán, nổi tiếng với tập thơ "Lưu hương ký".</p></li><li><p><strong>Phong cách:</strong></p><p>Thơ của Hồ Xuân Hương có phong cách độc đáo, vừa trào phúng, vừa trữ tình, đậm đà chất dân gian.</p></li><li><p><strong>Nội dung:</strong></p><p>Tác phẩm của bà thể hiện tiếng nói thương cảm đối với phụ nữ, đề cao vẻ đẹp và khát vọng của họ, đồng thời phê phán sâu sắc những bất công trong xã hội phong kiến.</p><p>Hồ Xuân Hương được coi là một trong những hiện tượng văn học độc đáo và nổi bật nhất lịch sử văn học Việt Nam.&nbsp;</p><p>Bà là biểu tượng của người phụ nữ tài hoa, bản lĩnh và sáng tạo, để lại dấu ấn sâu sắc trong văn hóa Việt Nam</p></li></ul><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-09-25 12:29:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3603903713</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Trãi </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3603951312</link>
         <description><![CDATA[<p>Nguyễn Trãi, hiệu là Ức Trai sinh năm 1380 mất năm 1442, cha Nguyễn Trãi là Nguyễn Ứng Long, tức Nguyễn Phi Khanh, một nho sĩ hay và mẹ là Trần Thị Thái, con gái thứ ba của quan Tư đồ Trần Nguyên Đán. Ông quê gốc ở làng Chi Ngại, huyện Phượng Sơn, lộ Lạng Giang (nay thuộc Chí Linh, Hải Dương).</p><p>Năm 1400, ông thi đỗ Thái học sinh và từng làm quan dưới triều Hồ. Sau khi nước ta rơi vào sự cai trị của nhà Minh, Nguyễn Trãi tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo chống lại ách Minh thuộc với vai trò là mưu sĩ của nghĩa quân Lam Sơn cũng như soạn thảo các văn thư ngoại giao. Năm 1442, do bị hàm oan, toàn thể gia đình Nguyễn Trãi tru di tam tộc trong vụ án Lệ Chi Viên Năm 1464, sau quá trình xem xét lại, vua Lê Thánh Tông xuống chiếu giải oan cho ông.</p><p><br></p><p><em>Nguyễn Trãi dâng lên Lê Lợi Bình Ngô sách tại căn cứ khởi nghĩa Lam Sơn.</em></p><p>Những đóng góp của Nguyễn Trãi vô cùng lớn lao trong lịch sử của dân tộc. Ông là vị anh hùng, là một khí phách, là tinh hoa của dân tộc. Công lao quý giá và sự nghiệp vĩ đại nhất của Nguyễn Trãi là tấm lòng vì nước thương dân tha thiết và sự nghiệp đánh giặc cứu nước vô cùng vẻ vang. Ông đã giành cả tâm hồn, trí tuệ, tài năng cống hiến cho lợi ích của dân tộc trong phong trào khởi nghĩa Lam Sơn. Tư tưởng chính trị quân sự ưu tú và tài ngoại giao kiệt xuất của ông đã góp phần không nhỏ cho phong trào khởi nghĩa Lam Sơn đi tới thắng lợi. Với những đóng góp của Nguyễn Trãi trong thời đại của ông nói riêng, cho lịch sử quốc gia nói chung thể hiện ở những góc độ khác nhau:</p><p>Nguyễn Trãi được coi là một nhà tư tưởng lớn của Việt Nam, tư tưởng của ông là sản phẩm của nền văn hóa Việt Nam thời đại nhà Hậu Lê khi mà xã hội Việt Nam đang trên đà phát triển, đánh dấu một giai đoạn quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Nét nổi bật trong tư tưởng Nguyễn Trãi là sự hòa quyện, chắt lọc giữa tư tưởng Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo (trong đó Nho giáo đóng vai trò chủ yếu), có sự kết hợp chặt chẽ với hoàn cảnh thực tiễn Việt Nam thời bấy giờ, nhưng nổi bật hơn cả là tư tưởng anh hùng, yêu nước, thương dân.</p><p>Trong lĩnh vực Thơ - Văn, Nguyễn Trãi đã để lại rất nhiều trước tác văn chương, cả bằng chữ Hán và chữ Nôm, rất phong phú về thể loại, bao gồm các lĩnh vực văn học, lịch sử, địa lý, luật pháp, lễ nghi... song đa phần đã bị thất lạc trong vụ án Lệ Chi Viên, những tác phẩm còn lại đến nay của ông, phần lớn được sưu tầm và tập hợp trong bộ <em>Ức Trai thi tập</em> của Dương Bá Cung, khắc in vào năm 1868 đời nhà Nguyễn.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/2/29/T%C6%B0%E1%BB%A3ng_Nguy%E1%BB%85n_Tr%C3%A3i_t%E1%BA%A1i_%C4%90%E1%BA%A7m_Sen%2C_th%C3%A1ng_5_n%C4%83m_2020_%284%29.jpg" />
         <pubDate>2025-09-25 12:58:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3603951312</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Chủ tịch HỒ CHÍ MINH </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3603954009</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Chủ tịch Hồ Chí Minh (tên lúc nhỏ là Nguyễn Sinh Cung, tên khi đi học là Nguyễn Tất Thành, trong nhiều năm hoạt động cách mạng trước đây lấy tên là Nguyễn Ái Quốc), sinh ngày 19/5/1890 ở làng Kim Liên, xã Nam Liên (nay là xã Kim Liên), huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An; mất ngày 02/9/1969 tại Hà Nội.</strong></p><p>Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, lớn lên ở một địa phương có truyền thống anh dũng chống giặc ngoại xâm. Sống trong hoàn cảnh đất nước chìm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, thời niên thiếu và thanh niên của mình, Hồ Chí Minh đã chứng kiến nỗi khổ cực của đồng bào và những phong trào đấu tranh chống thực dân, Hồ Chí Minh sớm có chí đuổi thực dân, giành độc lập cho đất nước, đem lại tự do, hạnh phúc cho đồng bào.</p><p>Với ý chí và quyết tâm đó, tháng 6/1911, Hồ Chí Minh đã rời Tổ quốc đi sang phương Tây để tìm con đường giải phóng dân tộc.</p><p>Ngày 28/1/1941, Nguyễn Ái Quốc về nước sau hơn 30 năm xa Tổ quốc.</p><p>Tháng 5/1941, Nguyễn Ái Quốc triệu tập Hội nghị lần thứ VIII Ban Chấp hành Trung ương Đảng, quyết định đường lối cứu nước trong thời kỳ mới, thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh), tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang giải phóng, xây dựng căn cứ địa cách mạng.</p><p>Tháng 8/1942, lấy tên là Hồ Chí Minh, Người đại diện cho Mặt trận Việt Minh và Phân hội Việt Nam thuộc Hiệp hội Quốc tế chống xâm lược sang Trung Quốc tìm sự liên minh quốc tế, cùng phối hợp hành động chống phát xít trên chiến trường Thái Bình Dương. Người bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt giam trong các nhà lao của tỉnh Quảng Tây. Trong thời gian một năm 14 ngày bị tù, Người đã viết tập thơ “Nhật ký trong tù” với 133 bài thơ chữ Hán. Tháng 9/1943, Hồ Chí Minh được trả tự do.</p><p>Tháng 9/1944, Hồ Chí Minh trở về căn cứ Cao Bằng. Tháng 12/1944, Hồ Chí Minh chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam.</p><p>Tháng 5/1945, Hồ Chí Minh rời Cao Bằng về Tân Trào (Tuyên Quang). Tại đây theo đề nghị của Hồ Chí Minh, Hội nghị toàn quốc của Đảng và Đại hội Quốc dân đã họp quyết định Tổng khởi nghĩa. Đại hội Quốc dân đã bầu ra Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.</p><p>Tháng 8/1945, Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Hồ Chí Minh đọc “Tuyên ngôn độc lập”, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và ra mắt Chính phủ lâm thời do Người làm Chủ tịch kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; tổ chức Tổng tuyển cử tự do trong cả nước, bầu Quốc hội và thông qua Hiến pháp dân chủ đầu tiên của Việt Nam.</p><p>Ngày 01/01/1946, Chính phủ liên hiệp lâm thời được thành lập do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.</p><p>Tháng 01/1946, Quốc hội khóa I đã bầu Người làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.</p><p>Ngày 02/3/1946, Chính phủ liên hiệp kháng chiến được thành lập do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.</p><p>Ngày 3/11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh được Quốc hội giao nhiệm vụ thành lập Chính phủ mới do Người làm Chủ tịch nước kiêm Thủ tướng Chính phủ (từ 11/1946 đến 9/1955) và kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (từ 11/1946 đến 1947).</p><p>Cùng với Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo toàn Đảng, toàn quân, toàn dân Việt Nam phá tan âm mưu của đế quốc, giữ vững và củng cố chính quyền cách mạng.</p><p>Ngày 19/12/1946, người kêu gọi cả nước kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc, bảo vệ và phát triển những thành quả của Cách mạng Tháng Tám.</p><p>Tại Đại hội lần thứ II của Đảng (1951), Người được bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược đã giành được thắng lợi to lớn, kết thúc bằng chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ (7/5/1954).</p><p>Sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng (1955) Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đồng thời đấu tranh giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.</p><p>Tháng 10/1956, tại Hội nghị Trung ương mở rộng lần thứ X (khóa II), Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Đảng, kiêm làm Tổng Bí thư của Đảng.</p><p>Tại Đại hội lần thứ III của Đảng (1960) đã nhất trí bầu lại Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam.</p><p>Quốc hội khóa II, khóa III đã bầu Người làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.</p><p>Năm 1964, đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân đánh phá miền Bắc Việt Nam. Người động viên toàn thể nhân dân Việt Nam vượt mọi khó khăn gian khổ, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Người khẳng định: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quí hơn độc lập, tự do! Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!”.</p><p>Chủ tịch Hồ Chí Minh mất ngày 02/9/1969, tại Hà Nội.</p><p><br/></p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/1/12/Portrait_of_Ho_Chi_Minh.jpg" />
         <pubDate>2025-09-25 12:59:48 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3603954009</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đỗ Nhật Nam</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3603986479</link>
         <description><![CDATA[<p>Là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến giáo dục, rèn luyện và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Bởi hơn bao giờ hết: “Đảng viên tốt thì chi bộ mới tốt. Muốn đảng viên tốt thì chi bộ phải thường xuyên giáo dục mỗi đồng chí”. Vì vậy, giáo dục, rèn luyện đảng viên có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong “cải tạo con người cũ, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa”.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-09-25 13:16:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3603986479</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3604035617</link>
         <description><![CDATA[<p>Hồ Xuân Hương (cuối thế kỷ 18 - đầu thế kỷ 19) <strong>là một nữ thi sĩ Việt Nam nổi tiếng, được mệnh danh là "Bà chúa thơ Nôm" vì những tác phẩm độc đáo, phóng túng, phản ánh thân phận người phụ nữ và các vấn đề xã hội trong thời phong kiến.</strong> Bà sử dụng cả thơ Nôm và thơ Hán, nổi bật với các bài thơ trữ tình, trào phúng, bộc lộ tư tưởng nhân đạo và tinh thần phê phán. Năm 2021, UNESCO đã vinh danh bà là danh nhân văn hóa thế giới.&nbsp;</p><p><strong>Sự nghiệp và phong cách thơ</strong></p><ul><li><p><strong>Bà chúa thơ Nôm:</strong></p><p>Nữ sĩ Hồ Xuân Hương được vinh danh là "Bà chúa thơ Nôm" do tài năng sử dụng chữ Nôm để tạo nên những tác phẩm có sức biểu cảm mạnh mẽ, vừa "thanh thanh" vừa có yếu tố "tục" một cách tinh nghịch, phản ánh sâu sắc xã hội.&nbsp;</p></li><li><p><strong>Tập trung vào thân phận phụ nữ:</strong></p><p>Thơ của bà thể hiện sự thấu cảm sâu sắc với thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến, qua đó thể hiện khát vọng tự do và sự công bằng.&nbsp;</p></li><li><p><strong>Táo bạo, hiện thực:</strong></p><p>Các sáng tác của bà thường táo bạo, mang tính phê phán xã hội, và phản ánh thực trạng cuộc sống đầy éo le của nhiều tầng lớp, đặc biệt là phụ nữ.&nbsp;</p></li><li><p><strong>Sáng tác đa dạng:</strong></p><p>Bà để lại di sản thơ ca cả bằng chữ Hán và chữ Nôm. Theo các nghiên cứu, có khoảng hơn 40 bài thơ Nôm được cho là của bà, cùng với tập thơ "Lưu Hương Ký" gồm 24 bài chữ Hán và 26 bài chữ Nôm.&nbsp;</p></li></ul><p><strong>Cuộc đời và đóng góp</strong></p><ul><li><p><strong>Cuộc đời lận đận:</strong></p><p>Hồ Xuân Hương có một cuộc đời nhiều éo le, hai lần làm vợ lẽ nhưng cuối cùng vẫn sống cô độc.&nbsp;</p></li><li><p><strong>Tài năng và giao thiệp rộng:</strong></p><p>Bà là một người tài hoa, thông minh, có cá tính mạnh mẽ và sắc sảo, giao thiệp rộng rãi với nhiều nhân vật nổi tiếng đương thời.&nbsp;</p></li><li><p><strong>Tầm vóc nhân loại:</strong></p><p>Sự nghiệp thơ ca của Hồ Xuân Hương mang tầm vóc nhân loại, vượt ra khỏi phạm vi quốc gia, tạo ra sức lan tỏa và truyền cảm hứng cho nhiều người trên thế giới.&nbsp;</p></li><li><p><strong>Vinh danh quốc tế:</strong></p><p>Vào năm 2021, bà cùng với Nguyễn Đình Chiểu, là hai nhà thơ Việt Nam được UNESCO vinh danh là "danh nhân văn hóa thế giới", khẳng định tầm vóc và giá trị di sản của bà.&nbsp;</p></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-09-25 13:42:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3604035617</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Danh nhân Cao Bá Quát </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3604042367</link>
         <description><![CDATA[<p>Thuở nhỏ, Cao Bá Quát sống trong cảnh nghèo khó, nhưng nổi tiếng là trẻ thông minh, chăm chỉ và văn hay chữ tốt. Năm <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2n_T%E1%BB%B5">Tân Tỵ</a> (<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/1821">1821</a>), ông thi khảo hạch ở trường lúc đó mới 13 tuổi, nhưng <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Thi_H%C6%B0%C6%A1ng">thi Hương</a> (lần đầu) không đỗ.</p><p>Năm <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2n_M%C3%A3o">Tân Mão</a> (<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/1831">1831</a>) đời vua <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Minh_M%E1%BA%A1ng">Minh Mạng</a>, ông <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Thi_H%C6%B0%C6%A1ng">thi Hương</a> đỗ Á Nguyên tại trường thi <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_N%E1%BB%99i">Hà Nội</a>, nhưng đến khi duyệt quyển, bị <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/B%E1%BB%99_L%E1%BB%85">Bộ Lễ</a> kiếm cớ xếp xuống cuối bảng <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Cao_B%C3%A1_Qu%C3%A1t#cite_note-8"><sup>[8]</sup></a> xếp ông xuống hạng cuối cùng trong số 20 người đỗ <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/H%C6%B0%C6%A1ng_c%E1%BB%91ng">cử nhân</a>.</p><p>Năm <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A2m_Th%C3%ACn">Nhâm Thìn</a> (<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/1832">1832</a>), Cao Bá Quát vào <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/C%E1%BB%91_%C4%91%C3%B4_Hu%E1%BA%BF">kinh đô Huế</a> dự <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Thi_H%E1%BB%99i">thi Hội</a> nhưng không đỗ. Sau đó, ông vào kinh dự thi mấy lần nữa, nhưng lần nào cũng hỏng.</p><p>Năm <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/1841">1841</a> đời vua <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Thi%E1%BB%87u_Tr%E1%BB%8B">Thiệu Trị</a>, được quan tỉnh <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/B%E1%BA%AFc_Ninh">Bắc Ninh</a> tiến cử, Cao Bá Quát được triệu vào <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/C%E1%BB%91_%C4%91%C3%B4_Hu%E1%BA%BF">kinh đô Huế</a> bổ làm Hành tẩu ở <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/B%E1%BB%99_L%E1%BB%85">bộ Lễ</a>. <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A1ng_t%C3%A1m">Tháng 8</a> (<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/%C3%82m_l%E1%BB%8Bch">âm lịch</a>) năm đó, ông được cử làm sơ khảo trường thi <a rel="noopener noreferrer nofollow" class="mw-redirect" href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%ABa_Thi%C3%AAn_Hu%E1%BA%BF">Thừa Thiên</a><a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Cao_B%C3%A1_Qu%C3%A1t#cite_note-9"><sup>[9]</sup></a>. Thấy một số bài thi hay nhưng có chỗ phạm trường quy, ông bàn với bạn đồng sự là Phan Nhạ lấy son hòa với muội đèn chữa lại. Việc bị phát giác, ông bị bắt giam vào ngục Trấn Phủ (ngày 7 <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A1ng_ch%C3%ADn">tháng 9</a> <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/%C3%82m_l%E1%BB%8Bch">âm lịch</a>), rồi chuyển đến ngục <a rel="noopener noreferrer nofollow" class="mw-redirect" href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%ABa_Thi%C3%AAn_Hu%E1%BA%BF">Thừa Thiên</a> (21 <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A1ng_m%E1%BB%99t">tháng 1</a> <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/%C3%82m_l%E1%BB%8Bch">âm lịch</a> năm <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A2m_D%E1%BA%A7n">Nhâm Dần</a>, <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/1842">1842</a>). Suốt thời gian dài bị giam cầm, ông thường bị nhục hình tra tấn. Nhưng khi án đưa lên, vua <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Thi%E1%BB%87u_Tr%E1%BB%8B">Thiệu Trị</a> đã giảm cho ông từ tội "trảm quyết" xuống tội "giảo giam hậu", tức được giam lại đợi lệnh.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4443181365/c6ff266ebb8a4ba7e861e5f9edafe92a/images.webp" />
         <pubDate>2025-09-25 13:45:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3604042367</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Danh nhân chính trị quân sự Ngô Quyền (897-944)</title>
         <author>phamminhtrang3a3</author>
         <link>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3604055636</link>
         <description><![CDATA[<p>Ngô Quyền (897 – 944)</p><p>Quê quán: Làng Đường Lâm, huyện Ba Vì (nay thuộc Sơn Tây, Hà Nội).</p><p>Xuất thân: Sinh trong gia đình hào trưởng địa phương, giỏi văn võ, có chí lớn.</p><p>Sự nghiệp:</p><p>Ban đầu phò tá Dương Đình Nghệ – Tiết độ sứ Tĩnh Hải quân, tham gia chống quân Nam Hán.</p><p>Năm 937, Kiều Công Tiễn giết Dương Đình Nghệ để cướp quyền. Ngô Quyền kéo quân ra Bắc tiêu diệt Kiều Công Tiễn.</p><p>Nhà Nam Hán nhân cơ hội đem quân xâm lược. Ngô Quyền đã chủ động bố trí trận địa cọc gỗ trên sông Bạch Đằng.</p><p>Năm 938, ông chỉ huy trận quyết chiến trên sông Bạch Đằng, đại phá quân Nam Hán, chấm dứt hơn 1.000 năm Bắc thuộc.</p><p><strong>Công lao:</strong></p><p><strong>Lập nên nhà Ngô (939</strong> – <strong>965).</strong></p><p>Đặt nền móng cho nền độc lập lâu dài của dân tộc Việt Nam.</p><p>Qua đời: Năm 944, hưởng dương 47 tuổi.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-09-25 13:52:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3604055636</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Bình định Vương-Lê Lợi</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3604068897</link>
         <description><![CDATA[<p>Hoàng đế Lê Thái Tổ (1385 - 1433), tên húy là Lê Lợi, sinh ra và lớn lên tại vùng đất Lam Sơn (nay thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa).</p><p>Ngay từ khi còn trẻ, Lê Lợi đã tỏ rõ tư chất thông minh, dũng lược, đức độ hơn người.</p><p>Trước bối cảnh giặc Minh đặt ách nô lệ lên đất nước ta, năm 1418, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa, xưng là Bình Định Vương, được nhân dân và hào kiệt khắp nơi hưởng ứng.</p><p>Dưới sự lãnh đạo tài tình của chủ tướng Lê Lợi, nghĩa quân Lam Sơn ngày càng phát triển lớn mạnh, trở thành đội quân tinh nhuệ có tổ chức, kỷ luật và gắn bó chặt chẽ với nhân dân.</p><p>Sau 10 năm chiến đấu gian khổ, “nếm mật nằm gai”, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã toàn thắng, giang sơn thu về một mối.</p><p>Ngày 15/4 năm Mậu Thân (1428), Bình Định Vương Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Thuận Thiên, đặt tên nước là Đại Việt, lập ra vương triều Hậu Lê.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4443229406/a967b9dc42572723c55b2b12547c08e9/e73bf0ed977a561ee67952db88c2f873.jpg" />
         <pubDate>2025-09-25 13:59:59 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3604068897</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3604070109</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>4. Chu Văn An</strong></p><p><strong>Chu Văn An&nbsp;</strong>(25 tháng 8 năm 1292, ông không rõ năm mất, có một số tài liệu ghi là năm 1370), tên thật là Chu An, hiệu là Tiều Ẩn, tên chữ là Linh Triệt, là một nhà giáo, thầy thuốc, quan viên Đại Việt cuối thời Trần, "danh nhân văn hóa thế giới". Sau khi mất, ông được vua Trần truy phong tước Văn Trinh công nên đời sau quen gọi là Chu Văn An hay Chu Văn Trinh. Ông được Đại Việt sử ký toàn thư đánh giá là ông tổ của các nhà nho nước Việt.</p><p>Ông được gọi là người thầy của mọi thời đại, nhà giáo lỗi lạc của Việt Nam, đã dành cả cuộc đời cho sự nghiệp dạy học, với triết lý giáo dục nhân văn, không phân biệt giàu nghèo, học đi đôi với thực hành, học suốt đời để biết, để làm việc và cống hiến cho xã hội. Tư tưởng đó của ông không những có ảnh hưởng tới nhiều thế hệ người Việt Nam mà còn góp phần phát triển các giá trị nhân văn trong khu vực. Quan điểm giáo dục của ông có những giá trị tiến bộ vượt thời đại, gần gũi với mục đích giáo dục của thế giới hiện nay.</p><p>Ngày 7.11.2019, tại Paris (Pháp), Đại hội đồng UNESCO khóa 40 đã thống nhất biểu quyết “Tổ chức lễ kỷ niệm 650 năm ngày mất của Chu Văn An - Nhà sư phạm Việt Nam”. Như vậy, cùng với Nguyễn Trãi (1980), Chủ tịch Hồ Chí Minh (1990) và Nguyễn Du (2015), thì Chu Văn An là Danh nhân văn hóa thứ tư của Việt Nam được tổ chức này vinh danh</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4443279337/d1a690416bc9571b5b0bec908496d226/image.png" />
         <pubDate>2025-09-25 14:00:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3604070109</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Hưng Đạo</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3604083522</link>
         <description><![CDATA[<p>Trần Hưng Đạo (tên thật là <a rel="noopener noreferrer nofollow" class="DTlJ6d" href="https://www.google.com/search?client=mobilesearchapp&amp;sca_esv=3d074f00401c233b&amp;bih=716&amp;biw=414&amp;channel=iss&amp;cs=1&amp;hl=vi&amp;rlz=1MDAPLA_viVN1059VN1059&amp;v=387.1.809473243&amp;q=Tr%E1%BA%A7n+Qu%E1%BB%91c+Tu%E1%BA%A5n&amp;sa=X&amp;sqi=2&amp;ved=2ahUKEwj-34TmifSPAxUCavUHHSIBLJAQxccNegQILhAB&amp;mstk=AUtExfAy49oPazeZcsGcmQfvWsaZxEGOEYrm1T0IN-YMMJbQ63BZDUohAwPSce8dB6sPZUb1Kstdc_Twud9PzEyWAPnrIXHPMgehjlYR3UwFR0AXqWyTeDjN34CE55Xy1FhlIRI&amp;csui=3">Trần Quốc Tuấn</a>,1228–1300) là một nhà chính trị, quân sự kiệt xuất thời nhà Trần, nổi tiếng với vai trò chỉ huy ba lần đánh tan quân xâm lược Mông Nguyên hùng mạnh, bảo vệ vững chắc nền độc lập Đại Việt. Ông là con của <a rel="noopener noreferrer nofollow" class="DTlJ6d" href="https://www.google.com/search?client=mobilesearchapp&amp;sca_esv=3d074f00401c233b&amp;bih=716&amp;biw=414&amp;channel=iss&amp;cs=1&amp;hl=vi&amp;rlz=1MDAPLA_viVN1059VN1059&amp;v=387.1.809473243&amp;q=An+Sinh+V%C6%B0%C6%A1ng+Tr%E1%BA%A7n+Li%E1%BB%85u&amp;sa=X&amp;sqi=2&amp;ved=2ahUKEwj-34TmifSPAxUCavUHHSIBLJAQxccNegQIMBAB&amp;mstk=AUtExfAy49oPazeZcsGcmQfvWsaZxEGOEYrm1T0IN-YMMJbQ63BZDUohAwPSce8dB6sPZUb1Kstdc_Twud9PzEyWAPnrIXHPMgehjlYR3UwFR0AXqWyTeDjN34CE55Xy1FhlIRI&amp;csui=3">An Sinh Vương Trần Liễu</a>,có tài năng văn võ song toàn, viết nhiều tác phẩm quan trọng như "Hịch tướng sĩ", và được nhân dân tôn sùng là "Đức Thánh Trần".&nbsp;</p><p><strong>Thân thế và Gia thế</strong></p><ul><li><p><strong>Tên thật:</strong></p><p>Trần Quốc Tuấn.&nbsp;</p></li><li><p><strong>Xuất thân:</strong></p><p>Là con trai thứ ba của An Sinh Vương Trần Liễu, anh cả của vua Trần Thái Tông, nên Trần Quốc Tuấn gọi vua bằng chú ruột.&nbsp;</p></li><li><p><strong>Nơi sinh:</strong></p><p>Thôn Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay thuộc tỉnh Nam Định).&nbsp;</p></li><li><p><strong>Thời gian sinh:</strong></p><p>Năm sinh của ông không rõ ràng, các tài liệu ghi là 1228, 1230 hoặc 1231.&nbsp;</p></li></ul><p><strong>Sự nghiệp quân sự&nbsp;</strong></p><ul><li><p><strong>Chiến công:</strong> Ông là tổng chỉ huy quân dân Đại Việt, lãnh đạo ba lần đánh thắng quân Mông Cổ xâm lược.</p><ul><li><p><strong>Lần 1 (1258):</strong> Vua Trần Thái Tông phong Trần Quốc Tuấn làm tướng chỉ huy các lực lượng ở biên giới chống quân Mông Cổ xâm lược.</p></li><li><p><strong>Lần 2 (1285):</strong> Nhà Nguyên trở lại xâm lược Đại Việt, Trần Hưng Đạo được giao trọng trách thống lĩnh quân đội, đánh tan quân Nguyên trong các trận Hàm Tử, Chương Dương, Vạn Kiếp.</p></li><li><p><strong>Lần 3 (1288):</strong> Lại một lần nữa, ông dẫn quân dân Đại Việt đánh bại quân Nguyên trong trận Bạch Đằng lịch sử, vĩnh viễn chấm dứt tham vọng xâm lược phương Nam của Đế chế Mông Cổ.</p></li></ul></li></ul><p>Tác phẩm tiêu biểu "Binh thư yếu lược, "Vạn Kiếp tông bí truyền thư, "Hịch tướng sĩ.</p><p><strong>Di sản</strong></p><ul><li><p>Sau khi mất vào ngày 20 tháng 8 năm Canh Tý (1300), ông được tôn phong là Thái sư Thượng phụ, Thượng Quốc công, Nhân Vũ Hưng Đạo Đại vương.&nbsp;</p></li><li><p>Nhân dân tôn sùng ông là "Đức Thánh Trần" và lập đền thờ ở khắp nơi, trong đó nổi tiếng nhất là đền Kiếp Bạc ở Hải Dương.&nbsp;</p></li><li><p>Ông được xem là một trong những anh hùng dân tộc kiệt xuất nhất của Việt Nam.&nbsp;</p></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4443289049/f37d131db0ebdbaf6aa4c434a76290ea/image.png" />
         <pubDate>2025-09-25 14:08:08 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3604083522</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lý Thường Kiệt</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3604084634</link>
         <description><![CDATA[<p>` <mark>Lý Thường Kiệt (chữ Hán: 李常傑; 1019 – 1105) là một nhà quân sự, nhà chính trị rất nổi tiếng vào thời nhà Lý nước Đại Việt. Ông làm quan qua 3 triều Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông và đạt được nhiều thành tựu to lớn, khiến ông trở thành một trong hai danh tướng vĩ đại nhất nhà Lý, bên cạnh Lê Phụng Hiểu</mark>.</p><p>Trong lịch sử Việt Nam, ông nổi bật với việc chinh phạt Chiêm Thành (1069), đánh phá 3 châu Khâm, Ung, Liêm nước Tống (1075–1076), rồi đánh bại cuộc xâm lược Đại Việt của quân Tống do Quách Quỳ, Triệu Tiết chỉ huy. Đặc biệt, trận chiến ở ba châu Khâm, Ung, Liêm đã khiến tên tuổi của ông vang dội ra khỏi Đại Việt và được biết đến ở đất Tống.</p><p>Năm 2013, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch liệt ông vào một trong 14 vị anh hùng dân tộc tiêu biểu nhất trong lịch sử Việt Nam.</p><p>Lý Thường Kiệt họ Ngô tên Tuấn, tự là Thường Kiệt, sinh năm Kỷ Mùi 1019, quê ở phủ Thái Hoà, thành Thăng Long (Hà Nội). Từ nhỏ, Ông đã có chí hướng, ham đọc sách, say sưa nghiên cứu binh thư, luyện tập võ nghệ. Ông có tài văn, võ; Năm 23 tuổi được bổ nhiệm làm quan theo hầu vua Lý Thái Tông. Trải qua 3 triều vua: Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Ông có nhiều công lao trong việc chống Tống bình Chiêm, đóng góp xây dựng đất nước phồn vinh.</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Năm 1061, các tù trưởng ở miền Thanh Hoá, Nghệ An nổi lên quấy rối, chống lại triều đình. Vua Lý Thánh Tông cử Ông giữ chức Kinh phòng sứ, sau một thời gian Ông đã đem lại trật tự yên vui cho miền này. Vua rất quý Ông và ban cho Quốc tính. Từ đó, Ông mang họ Lý. Lịch sử cũng đã lưu lại tư tưởng quân sự vô cùng táo bạo và thần tốc của Ông: “Ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân ra trước để chặn mũi nhọn của giặc”. Ông đã chỉ huy quân đội nhanh chóng đánh chiếm hai Châu Khâm, Liêm, rồi hạ thành Ung Châu của giặc Tống, phá tan các vị trí tập kết quân và lương thảo chuẩn bị xâm lược nước ta.</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tháng 4 năm 1076 , Ông rút quân về lập phòng tuyến sông Cầu. Tại khúc sông Như Nguyệt thuộc phòng tuyến này, ở vào lúc gay go nhất, Ông đã làm một bài thơ bất hủ, cổ vũ tinh thần quyết chiến quyết thắng của quân dân ta. Bài thơ khẳng định quyền độc lập dân tộc tự chủ thiêng liêng của Tổ quốc. Bài thơ đã đi vào lịch sử của dân tộc ta như một bản tuyên ngôn độc lập thứ nhất :</p><p>“Nam quốc sơn hà Nam đế cư,</p><p>Tiệt nhiên định phận tại thiên thư,</p><p>Như hà nghịch lỗ, lai xâm phạm,</p><p>Nhữ đẵng hành khan thủ bại hư”.</p><p>Năm 1164, nhà Tống thừa nhận nước ta là một nước riêng biệt.</p><p>Năm Ất Dậu 1105, Lý Thường Kiệt mất, Ông thọ 86 tuổi, đựoc truy tặng Kiểm hiệu Thái Uý Việt Quốc Công.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4443277524/6ab1708198944b1399f251092100abd0/den_tholy_thuong_kiet2023do_quan_4_1674460665620__1_.webp" />
         <pubDate>2025-09-25 14:08:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3604084634</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Ngọc Thảo Nhi</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3604098785</link>
         <description><![CDATA[<p>bác Hồ Chí Minh</p><p>Bác sinh ngày 19/5/1890Kim Liên</p><p>Bác mất vào ngày 2 tháng 9 năm 1969, Hà Nội</p><p>Cha của bác tên là: Nguyễn Sinh Sắc</p><p>Mẹ của bác tên là: Hoàng Thị Loan</p><p>Bác hồ tên lúc nhỏ là Nguyễn Sinh cung tên khi đi học là Nguyễn Tất Thành</p><p>Bác sinh ra ở làng kim Liên xã Nam Liên nay là xã kim Liên huyện Nam đàn tỉnh Nghệ an</p><p>Bác Hồ mất lúc 79 tuổi</p><p>Bác hồ có thể nói được 6 thứ tiếng Pháp ,anh ,Trung Quốc ,Ý ,Đức ,Nga</p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-09-25 14:16:22 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3604098785</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Đình Chiểu</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3604122011</link>
         <description><![CDATA[<p>Nguyễn Đình Chiểu tự Mạch Trạch, Hiệu Trọng Phủ Hối Trai, sinh ngày 01/07/1822 tại Làng Tân Thới, Phủ Tân Bình, Huyện Bình Dương, Tỉnh Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông xuất thân gia đình nhà nho, cha là Nguyễn Đình Huy, người Thừa Thiên vào Gia Đình làm Thư Lại tại Dinh Tổng Trần Lê Văn Duyệt.</p><p>Năm 1833, Lê Văn Khôi nổi dậy chiếm thành Gia Định, Nguyễn Đình Chiểu được cha đưa ra Huế, gửi ăn học. Khoảng năm 1840, Nguyễn Đình Chiểu trở về Nam, và đến năm 1843 thi đỗ tú tài tại trường thi Gia Định. Năm 1846, cậu Tú Chiểu lại ra kinh đô Huế chuẩn bị thi tiếp. Nhưng không may, Nguyễn Đình Chiểu nhận được tin mẹ mất, phải bỏ thi về Nam chịu tang. Phần vì đường sá xa xôi, vất vả, phần vì thương khóc mẹ nhiều. Nguyễn Đình Chiểu bị đau mắt nặng và mù cả hai mắt, Nguyễn Đình Chiểu về Gia Định và mở trường dạy học. Danh tiếng thầy Đồ Chiểu vang khắp miền lục tỉnh. Ông còn bốc thuốc chữa cho dân với tấm lòng nhân ái bao la.</p><p>Khi thực dân Pháp đánh vào Gia Định (1859), trong lúc quan tướng triều đình hoảng hốt chạy dài, Nguyễn Đình Chiểu đã ngay lập tức, cùng nhân dân và các sĩ phu yêu nước chiến dấu để bảo vệ từng tấc đất của cha ông. Không thể trực tiếp cầm gươm cầm súng xông ra giữa trận tiền, Nguyễn Đình Chiểu tích cực cùng các lãnh tụ nghĩa quân bàn mưu tính kế đánh giặc, đồng thời sáng tác những vần thơ cháy bỏng căm hờn để khích lệ tinh thần chiến đấu chống giặc của nhân dân. Gia Định mất, ông chạy về Cần Giuộc. Cần Giuộc mất, Nguyễn Đình Chiểu chạy về Ba Tri (Bến Tre)… Rồi cả Nam Kì lục tỉnh đều lọt vào tay giặc, nỗi đau dồn lên đầu ngọn bút và tấm lòng vẫn sáng tựa gương, <em>nhà thơ mù đất Đồng Nai đã nêu cao tấm gương kiên trung, bất khuất trước kẻ thù. </em>Mọi sự đe dọa, mọi thủ đoạn dụ dỗ, mua chuộc bằng tiền tài, đất đai, danh vọng của thực dân đều không lung lạc nổi ý chí Nguyễn Đình Chiểu. Ông vẫn tiếp tục chiến dấu bằng ngòi bút cho đến hơi thở cuối cùng.</p><p>Nguyễn Đình Chiểu mất ngày 03/07/1888 tại Ba Tri. Đám tang ông cả cánh đồng Ba Tri rợp trong khăn tang, rất đông học trò và đồng bào thương tiếc tiễn đưa người thầy giáo, nhà thơ, người con ưu tú của dân tộc về nơi an nghỉ cuối cùng.</p><p><br/></p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4443450703/160f14ef9da643a2fa09f4c1cdc5da27/IMG_2443.jpeg" />
         <pubDate>2025-09-25 14:28:08 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3604122011</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Trần Minh Anh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3604128906</link>
         <description><![CDATA[<p><br/></p><p>Thông tin tổng quan do AI tạo</p><p><br/></p><p><br/></p><p>Lý Nam Đế tên thật là Lý Bí hoặc Lý Bôn, sinh ngày 17 tháng 10 năm 503 tại Giao Châu, và mất ngày 13 tháng 4 năm 548 ở tuổi 44. Ông là vị vua đầu tiên của nhà Tiền Lý, người đã lập nên nhà nước Vạn Xuân.  Ông là 1 trong 14 anh hùng tiêu biểu của dân tộc Việt Nam.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4443438973/c6964945f758f08ab036ed7295280435/Screenshot_20250925_212644_Google.jpg" />
         <pubDate>2025-09-25 14:31:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3604128906</guid>
      </item>
      <item>
         <title>HỌA SĨ BÙI XUÂN PHÁI</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3604128997</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Bùi Xuân Phái</strong>&nbsp;(<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1_th%C3%A1ng_9">1 tháng 9</a>&nbsp;năm&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1920">1920</a>&nbsp;–&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/24_th%C3%A1ng_6">24 tháng 6</a>&nbsp;năm&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1988">1988</a>) là một họa sĩ&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam">Việt Nam</a>, nổi tiếng với các tác phẩm vẽ về&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Khu_ph%E1%BB%91_c%E1%BB%95_H%C3%A0_N%E1%BB%99i">Phố cổ Hà Nội</a>.</p><p>Ông sinh ngày&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1_th%C3%A1ng_9">1 tháng 9</a>&nbsp;năm&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1920">1920</a>&nbsp;tại thôn Kim Hoàng, xã Vân Canh, huyện&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0i_%C4%90%E1%BB%A9c_(huy%E1%BB%87n)">Hoài Đức</a>&nbsp;(nay là xã&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/S%C6%A1n_%C4%90%E1%BB%93ng">Sơn Đồng</a>), thành phố&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_N%E1%BB%99i">Hà Nội</a>. Ông tốt nghiệp khoa Hội họa trường&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_M%E1%BB%B9_thu%E1%BA%ADt_Vi%E1%BB%87t_Nam">Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương</a>&nbsp;khóa 1941–1945.</p><p>Bùi Xuân Phái tham gia kháng chiến, tham dự triển lãm nhiều nơi. Năm 1952 ông về Hà Nội, sống tại nhà số 87&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ph%E1%BB%91_Thu%E1%BB%91c_B%E1%BA%AFc&amp;action=edit&amp;redlink=1">Phố Thuốc Bắc</a>&nbsp;cho đến khi mất.</p><p>Năm 1956-1957 ông giảng dạy tại&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_M%E1%BB%B9_thu%E1%BA%ADt_H%C3%A0_N%E1%BB%99i&amp;action=edit&amp;redlink=1">Trường Mỹ thuật Hà Nội</a>. Năm đó Bùi Xuân Phái tham gia phong trào&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Phong_tr%C3%A0o_Nh%C3%A2n_V%C4%83n_-_Giai_Ph%E1%BA%A9m">Nhân văn Giai phẩm</a>, phải đi học tập lao động trong một xưởng mộc tại&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_%C4%90%E1%BB%8Bnh">Nam Định</a>&nbsp;và ban giám hiệu nhà trường đã đề nghị ông phải viết đơn xin thôi không giảng dạy tại trường Mỹ thuật.</p><p>Bùi Xuân Phái là một trong những họa sĩ thuộc thế hệ cuối cùng của sinh viên trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Ông chuyên về chất liệu sơn dầu,<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%B9i_Xu%C3%A2n_Ph%C3%A1i#cite_note-2"><sup>[2]</sup></a>&nbsp;đam mê mảng đề tài phố cổ Hà Nội. Ngay từ lúc sinh thời, sáng tạo của ông đã được quần chúng mến mộ gọi dòng tranh này là Phố Phái. Tranh phố của Bùi Xuân Phái vừa cổ kính lại rất hiện thực, thể hiện rõ&nbsp;<em>hồn cốt</em>&nbsp;của phố cổ Hà Nội những thập niên 50, 60, 70. Ngoài phố cổ, ông còn vẽ các mảng đề tài khác, như:&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A8o">chèo</a>, chân dung, nông thôn, khỏa thân, tĩnh vật... rất thành công. Nhiều tranh của Bùi Xuân Phái đã được giải thưởng trong các cuộc triển lãm toàn quốc và thủ đô.</p><p>Ông đã góp phần rất lớn vào lĩnh vực minh họa báo chí và trình bày bìa sách, được trao tặng giải thưởng quốc tế (Leipzig) về trình bày cuốn sách "Hề chèo" (1982).</p><p>Năm 1984 ông mới có được cuộc triển lãm cá nhân (đầu tiên và cũng là duy nhất), nhận được sự đánh giá cao từ phía công chúng, đồng nghiệp. Với 24 bức tranh được khách hàng đặt mua ngay trong ngày khai mạc, có thể coi đây là triển lãm thành công nhất so với trước đó tại Việt Nam.</p><p>Ông cũng là&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8Da_s%C4%A9">họa sĩ</a>&nbsp;đã gạt bỏ mọi toan tính đời thường để cho ra đời các tác phẩm dung dị, đơn giản nhưng đầy tâm tư sâu lắng. Ông mất ngày&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/24_th%C3%A1ng_6">24 tháng 6</a>&nbsp;năm&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1988">1988</a>&nbsp;tại&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_N%E1%BB%99i">Hà Nội</a>. Năm 1996, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh và huy chương Vì sự nghiệp Mỹ thuật Việt Nam năm 1997.</p><p>Một số tác phẩm nổi tiếng của Bùi Xuân Phái:</p><ul><li><p>Phố cổ Hà Nội - Sơn dầu 1972</p></li><li><p>Hà Nội kháng chiến - Sơn dầu 1966</p></li><li><p>Xe bò trong phố cổ - Sơn dầu 1972</p></li><li><p>Phố vắng - Sơn dầu 1981</p></li><li><p>Hóa trang sân khấu chèo - Sơn dầu 1968</p></li><li><p>Sân khấu chèo - Sơn dầu 1968</p></li><li><p>Vợ chồng chèo - Sơn dầu 1967</p></li><li><p>Trước giờ biểu diễn - 1984</p></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-09-25 14:31:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3604128997</guid>
      </item>
      <item>
         <title>DOANH NHÂN CHU VĂN AN</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3604135081</link>
         <description><![CDATA[<p>Danh nhân&nbsp;Chu Văn An tên thật là Chu An, tự là Linh Triệt, quê ở thôn Văn, xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội.</p><p>Ông là nhà giáo dục có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử Việt Nam. Ông&nbsp;được coi là người thầy của mọi thời đại, người đã dành cả cuộc đời cho sự nghiệp dạy học, với triết lý giáo dục nhân văn, không phân biệt giàu nghèo, học đi đôi với thực hành, học suốt đời để biết, để làm việc và cống hiến cho xã hội.</p><p>Tư tưởng đó của ông không những có ảnh hưởng tới nhiều thế hệ người Việt Nam mà còn góp phần phát triển các giá trị nhân văn trong khu vực. Quan điểm giáo dục của ông có những giá trị tiến bộ vượt thời đại, gần gũi với mục đích giáo dục của thế giới hiện nay.&nbsp;Tên tuổi của ông đã đi vào lịch sử dân tộc là một tấm gương sáng về đạo làm người, đạo làm thầy với danh xưng “Vạn Thế Sư Biểu” - “Người Thầy của muôn đời”.</p><p>Tháng 11/2019, tại Kỳ họp lần thứ 40 Đại hội đồng các quốc gia thành viên UNESCO đã vinh danh Danh nhân Chu Văn An và ra Nghị quyết cùng Việt Nam tiến hành các hoạt động kỷ niệm 650 ngày mất của ông vào năm 2020.&nbsp;Quyết định này không chỉ khẳng định sự đánh giá cao của cộng đồng quốc tế về những giá trị văn hóa, giáo dục của Việt Nam, mà còn góp phần quảng bá cho các mục tiêu bình đẳng trong giáo dục và tinh thần học tập suốt đời mà UNESCO thúc đẩy.</p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4443512795/096e6038c4d74b4f138ba6dfeceda22f/chuvanan22_15_56_11.jpg" />
         <pubDate>2025-09-25 14:35:20 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3604135081</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Ngô Quyền </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3604135164</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Ngô Quyền</strong> (898–944), quê ở Đường Lâm.</p><p>Năm 938, ông đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng bằng kế cọc ngầm.</p><p>Chiến thắng này chấm dứt hơn 1000 năm Bắc thuộc.</p><p>Năm 939, ông xưng vương, đóng đô ở Cổ Loa, mở ra thời kỳ độc lập lâu dài cho dân tộc.</p><p><br/></p><p><br/></p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4443467436/dc7d37e4ae32b84f2ccdd29fe363edb7/IMG_20250925_213125.jpg" />
         <pubDate>2025-09-25 14:35:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3604135164</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Ngọc Hoài An</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3604139448</link>
         <description><![CDATA[<p>Hai Bà Trưng ( sinh năm <strong>14 sau Công nguyên và mất năm 43 sau Công nguyên )</strong></p><p>Hai bà là con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh, thuộc dòng dõi vua Hùng. Họ đã cùng nhau lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của nhà Đông Hán.&nbsp;</p><p>Hai Bà Trưng đánh giặc <strong><mark>bằng cuộc khởi nghĩa bùng nổ vào tháng 3 năm 40, đánh bại nhanh chóng chính quyền đô hộ nhà Hán, giải phóng đất nước chỉ trong vòng chưa đầy một tháng</mark></strong>. Dưới sự lãnh đạo tài tình của Hai Bà Trưng, phong trào khởi nghĩa lan rộng khắp bốn quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, khiến quân Hán hoảng sợ tháo chạy về nước.&nbsp;</p><p>Hai Bà Trưng đánh giặc <strong><mark>bằng cuộc khởi nghĩa bùng nổ vào tháng 3 năm 40, đánh bại nhanh chóng chính quyền đô hộ nhà Hán, giải phóng đất nước chỉ trong vòng chưa đầy một tháng</mark></strong>. Dưới sự lãnh đạo tài tình của Hai Bà Trưng, phong trào khởi nghĩa lan rộng khắp bốn quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, khiến quân Hán hoảng sợ tháo chạy về nước.&nbsp;<strong>ẫn đến khởi nghĩa</strong></p><ul><li><p><strong>Sự áp bức của nhà Hán:</strong></p><p>Quân Hán áp bức, bóc lột nhân dân ta rất dã man, gây ra oán hận ngút trời trong dân chúng.&nbsp;</p></li><li><p><strong>Cái chết của Thi Sách:</strong></p><p>Tướng giặc Tô Định giết chết Thi Sách, chồng bà Trưng Trắc, khiến Hai Bà Trưng quyết tâm trả thù nhà, đền nợ nước.&nbsp;</p></li></ul><p><strong>2. Quá trình khởi nghĩa</strong></p><ul><li><p><strong>Phát động khởi nghĩa:</strong></p><p>Vào tháng 3 năm 40, Trưng Trắc và Trưng Nhị phát động khởi nghĩa tại cửa sông Hát (Hát Môn).&nbsp;</p></li><li><p><strong>Đoàn quân khởi nghĩa:</strong></p><p>Hai Bà Trưng dẫn đầu đoàn quân khởi nghĩa, bọc giáp phục đẹp để dân chúng thêm phấn khích, khiến quân giặc kinh hồn.&nbsp;</p></li><li><p><strong>Tấn công chớp nhoáng:</strong></p><p>Quân khởi nghĩa nhanh chóng làm chủ Mê Linh, sau đó tiến đánh Cổ Loa và Luy Lâu – trung tâm đầu não của chính quyền đô hộ.&nbsp;</p></li><li><p><strong>Sự tan rã của chính quyền đô hộ:</strong></p><p>Quân Hán không kịp trở tay, chính quyền đô hộ sụp đổ.&nbsp;</p></li></ul><p><strong>3. Kết quả và ý nghĩa</strong></p><ul><li><p><strong>Thắng lợi</strong>: Cuộc khởi nghĩa hoàn toàn thắng lợi, giành lại nền độc lập dân tộc chỉ trong vòng chưa đầy một tháng.&nbsp;</p></li><li><p><strong>Trưng Vương lên ngôi</strong>: Bà Trưng Trắc được suy tôn làm vua (Trưng Vương).&nbsp;</p></li><li><p><strong>Ý nghĩa lịch sử</strong>: Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng trở thành một trang sử vàng, tô thắm truyền thống anh hùng bất khuất của dân tộc Việt Nam</p></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?pdlt=1&amp;v=vqvXYvF4Yes" />
         <pubDate>2025-09-25 14:37:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3604139448</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Phú Trọng</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3604151881</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Nguyễn Phú Trọng</strong> là một chính trị gia kỳ cựu của Việt Nam, sinh ngày <strong>14/4/1944</strong> tại xã Đông Hội, huyện Đông Anh, Hà Nội. Ông là <strong>Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam</strong> từ năm <strong>2011</strong> đến nay (2025), và là người đầu tiên trong lịch sử hiện đại giữ cương vị này <strong>ba nhiệm kỳ liên tiếp</strong>.</p><p>Trước đó, ông từng giữ nhiều chức vụ quan trọng như:</p><ul><li><p><strong>Chủ tịch Quốc hội</strong> (2006–2011)</p></li><li><p><strong>Chủ tịch nước</strong> (2018–2021, kiêm nhiệm khi Chủ tịch nước Trần Đại Quang qua đời)</p></li></ul><p>Ông được biết đến là người kiên định lập trường chính trị, có tư duy lý luận vững vàng, và đặc biệt nổi bật với chiến dịch <strong>chống tham nhũng</strong> sâu rộng, thường được gọi là “lò nóng”</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads-usc1.storage.googleapis.com/4443548025/87e693aa6c71070225adb828aee6ff2a/chan_dung_1721473692832631731095.jpg" />
         <pubDate>2025-09-25 14:45:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3604151881</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Hữu Minh Khang</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3604153734</link>
         <description><![CDATA[<p>Danh nhân Chu Văn An:</p><p>- Sinh năm 1292 tại thôn Văn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Đàm ( nay thuộc xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội) </p><p>- Mất năm 1370.</p><p>- Là một danh nhân kiệt xuất của Việt Nam, được tôn vinh là Người thầy của muôn đời nhờ những đóng góp to lớn trong sự nghiệp giáo dục và là tấm gương đạo đức sáng ngời, chính trực. Ông là nhà giáo dục có tư tưởng tiến bộ, lập trường kiên định, đã một lòng vì sự nghiệp dạy học và cống hiến cho dân tộc, được UNESCO công nhận là Danh nhân văn hóa thế giới.&nbsp;</p><p>- Ông đã mở trường Huỳnh Cung tại quê nhà, thu hút hàng nghìn người theo học. Chu Văn An là thầy giỏi nhưng nghiêm khắc, trọng tài năng của học trò và ghét những người cậy giàu ham chơi.</p><p>- Ông được vua Trần Minh Tông mời làm hiệu trưởng trường Quốc Tử Giám, trông coi việc học cho cả nước. Ông cho mở mang trường, viết Tứ thư thuyết ước, tóm tắt bốn bộ sách lớn là Luận ngữ, Mạnh tử, Đại học và Trung dung, làm giáo trình dạy học. Kể từ thời Chu Văn An trở về sau, Quốc Tử Giám mỗi ngày được củng cố, mở rộng.</p><p>- Sau khi rời trường Quốc Tử Giám, Chu Văn An về vùng đất Chí Linh (Hải Dương ngày nay) mở trường tiếp tục dạy học. Từ khi Chu Văn An về, Chí Linh dấy lên phong trào học tập, nhiều người học giỏi nổi tiếng.</p><p>- Cuối đời, Chu Văn An sống thanh thản trong cảnh nghèo, vui với lớp học, văn chương. Nhưng dù ở hoàn cảnh nào, ông vẫn là một người yêu nước.</p><p>- Tuổi cao, sức yếu lại sống ẩn dật nơi rừng núi Phượng Hoàng, Chí Linh vào những ngày cuối năm 1370, ông trút hơi thở cuối cùng. Sau khi mất, triều đình đã đưa Chu Văn An vào thờ ở Văn Miếu Quốc Tử Giám, xem ông ngang hàng với những bậc thánh hiền ngày xưa.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-09-25 14:46:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3604153734</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hai Bà Trưng</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3604169463</link>
         <description><![CDATA[<p><strong><em>Trong lịch sử đánh giặc ngoại xâm hào hùng cuộc dân tộc đã có nhiều cuộc khởi nghĩa anh dũng và hào hùng. Trong đó, lịch sử Hai Bà Trưng được nhắc đến như một trong những chiến công hiển hách nhất, đánh thắng quân Nam Hán, giành được độc lập, tự do cho dân tộc.</em></strong></p><p>Trưng Trắc, Trưng Nhị là hai chị em sinh đôi (sinh vào ngày mồng một tháng tám năm Giáp Tuất, năm 14 sau công nguyên), là con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh (người đứng đầu bộ lạc huyện Mê Linh, thuộc tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay) thuộc dòng dõi Hùng Vương. Mẹ là bà Man Thiện.</p><p>Hai Bà mồ côi cha sớm nhưng được mẹ quan tâm nuôi nấng, dạy cho nghề trồng dâu, nuôi tằm, dạy con lòng yêu nước, rèn luyện sức khoẻ, rèn luyện võ nghệ. Chồng bà Trưng Trắc là Thi Sách, con trai Lạc tướng huyện Chu Diên (tỉnh Hà Tây ngày nay).</p><p>Trong sử sách, hai bà được biết đến như những thủ lĩnh khởi binh chống lại chính quyền đô hộ của Đông Hán, lập ra một quốc gia với kinh đô tại Mê Linh và Trưng Trắc tự phong là Nữ vương. Thời kì của hai bà xen giữa Bắc thuộc lần 1 và Bắc thuộc lần 2 trong lịch sử Việt Nam. Đại Việt sử ký toàn thư coi Trưng Trắc là một vị vua trong lịch sử, với tên gọi Trưng Nữ vương.</p><p>Hai Bà Trưng được coi là <strong>anh hùng dân tộc của Việt Nam</strong> và được thờ cúng tại nhiều đền thờ, trong đó lớn nhất là Đền Hát Môn thờ Hai Bà Trưng tại xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, Hà Nội, Đền Đồng Nhân ở quận Hai Bà Trưng, Hà Nội và Đền Hạ Lôi tại thôn Hạ Lôi, xã Mê Linh, huyện Mê Linh, Hà Nội - quê hương của hai bà.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-09-25 14:56:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3604169463</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Trãi </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3604236548</link>
         <description><![CDATA[<p>Nguyễn Trãi (1380-1442), hiệu là Ức Trai, quê ở Chi Ngại (nay thuộc Chí Linh, Hải Dương) sau rời về làng Ngọc Ổi (nay thuộc Nhị Khê, Thường Tín, Hà Nội).</p><p> Cha là Nguyễn Phi Khanh, một học trò nghèo, học giỏi, đỗ Thái học sinh. Mẹ là Trần Thị Thái, con quan tư đồ Trần Nguyên Đán, dòng dõi quí tộc. Ông ngoại và cha đều là người có lòng yêu nước thương dân. Nguyễn Trái đã được thừa hưởng tấm lòng vì dân vì nước ấy.</p><p>Lên sáu tuổi, mất mẹ, lên mười, ông ngoại qua đời, Nguyễn Trãi về ở Nhị Khê nơi cha dạy học. Ông gần gũi nông thôn từ đó. Năm hai mươi tuổi, 1400, ông đỗ Thái học sinh và hai cha con cùng làm quan cho nhà Hồ. Năm 1407, giặc Minh sang cướp nước ta, Nguyễn Phi Khanh bị bắt đem về Trung Quốc cùng với cha con Hồ Quí Li và các triều thần khác. Nguyễn Trãi và người em trai đi theo chăm sóc. Nghe lời cha khuyên, ông trở về, nhưng lại bị giặc Minh bắt giữ ở Đông Quan. Trốn thoát khỏi tay giặc, ông náu mình trong nhân dân, tìm đường cứu nước. Đây là thời gian ông đi sâu vào nông thôn, hiểu được đời sống nhân dân, thấm thía sức mạnh của dân, và nhờ đó, ông nhận ra chân lí: muốn cứu nước phải dựa vào dân. Ông tìm theo Lê Lợi, dâng Bình Ngô sách, tham gia khởi nghĩa Lam Sơn. Và Nguyễn Trãi đã sống, chiến đấu cùng nhân dân. Ông có đóng góp lớn vào phương kế đuổi giặc. Ông là vị quân sư xuất sắc giúp Lê Lợi chiến lược, chiến thuật trong kháng chiến chống quân Minh xâm lược. Đó là:</p><p>"Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,</p><p>Lấy chí nhân để thay cường bạo."</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-09-25 15:35:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/hoanglegiang91/2wppzol7iqaozmpt/wish/3604236548</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
