<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title> Luyện tập viết đoạn văn (11 CV) by Duy Trần</title>
      <link>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV</link>
      <description>Viết đoạn văn 300 chữ cảm nhận về hai câu thơ trong bài &quot;Thương vợ&quot; hoặc &quot;Tự tình&quot;</description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2021-10-18 03:14:58 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2023-01-29 16:17:21 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url>https://padlet.net/icons/png/1f436.png</url>
      </image>
      <item>
         <title>KĨ NĂNG VIẾT ĐOẠN VĂN</title>
         <author>leduysuphamvan</author>
         <link>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1823043969</link>
         <description><![CDATA[<div>Xem clip bài dạy sau để ôn tập kĩ năng viết đoạn văn</div>]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?v=acKkf32T9fo" />
         <pubDate>2021-10-18 03:16:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1823043969</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phân tích mẫu và tiêu chí đánh giá</title>
         <author>leduysuphamvan</author>
         <link>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1823044912</link>
         <description><![CDATA[<div>Xem tiêu chí đánh giá và phân tích mẫu để thực hiện</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1315314767/a28a7d0757d547a5e05e1e020361bb61/K__N_NG_VI_T__O_N_V_N_11__PH_N_T_CH_M_U.docx" />
         <pubDate>2021-10-18 03:16:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1823044912</guid>
      </item>
      <item>
         <title>QUY TRÌNH THỰC HIỆN</title>
         <author>leduysuphamvan</author>
         <link>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1823050587</link>
         <description><![CDATA[<div>1. Mỗi thành viên trong nhóm chọn 2 câu thơ bất kì trong bài thơ thực hành viết đoạn văn 300 chữ.<br><br>2. Các thành viên còn lại dựa vào bảng tiêu chí đánh giá để nhận xét, góp ý cho đoạn văn của bạn, chỉ rõ ở từng tiêu chí:<br>+ Đạt hay không đạt?<br>+ Vì sao không đạt?<br>+ Đề xuất chỉnh sửa nếu không đạt<br><br>3. Như vậy, kết thúc hoạt động, mỗi thành viên sẽ có một đoạn văn mình viết và phần góp ý của tất cả thành viên còn lại trong nhóm.<br><br>4. Từ kinh nghiệm đã thực hiện, chuẩn bị luyện tập chuẩn bị cho kiểm tra tập trung tuần sau.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://images.unsplash.com/photo-1509239129736-8c395375220d?crop=entropy&amp;cs=srgb&amp;fm=jpg&amp;ixid=Mnw3ODI2fDB8MXxzZWFyY2h8MXx8SU5TVFJVQ1RJT058ZW58MHx8fHwxNjM0NTE4MTQ3&amp;ixlib=rb-1.2.1&amp;q=85" />
         <pubDate>2021-10-18 03:19:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1823050587</guid>
      </item>
      <item>
         <title>2 câu đề _ Ái My</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1823462982</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Không ngẫu nhiên mà Nguyễn Công Hoan lại suy tôn Trần Tế Xương là bậc "thần thơ thánh chữ". Bởi lẽ, thơ Tú Xương chữ nghĩa giản dị, nhưng điêu luyện, thần tình, đầy dụng ý và ta có thể nhìn thấy điều này rõ nhất trong tác phẩm "Thương vợ". Qua hai câu đề của bài thơ, hình ảnh bà Tú hiện lên đầy gian truân, vất vả: "Quanh năm buôn bán ở mom sông/ Nuôi đủ năm con với một chồng". Chỉ bằng qua vài nét đơn sơ, giản dị, Tú Xương đã cho người đọc hình dung được công việc và hoàn cảnh của vợ mình - người mang trên vai gánh nặng gia đình, lặn lội nơi đầu sông, bến chợ. Trước hết, từ ngữ "quanh năm" cho độc giả thấy rõ thời gian làm việc liên tục, dẫu bốn mùa xuân hạ thu đông, bà Tú vẫn cứ tiếp tục bươn chải không ngơi nghỉ ngày nào. "Mom sông" là không gian làm việc của bà Tú - một mảnh đất nhô ra phía lòng sông - cheo leo và nguy hiểm. Ở cái mảnh đất này, hình ảnh bà càng nhỏ bé, trơ trọi và cô đơn. Công việc của bà càng thêm phần gian nan hơn khi ta đọc đến câu thơ :"Nuôi đủ năm con với một chồng". "Nuôi đủ" thể hiện sự chịu thương chịu khó, tảo tần cho gia đình. Chỉ một mình bà Tú lao động nhưng lại phải nuôi cả "năm con" lẫn "một chồng". Cụm từ "năm con với một chồng" được Tú Xương sử dụng một cách đầy dụng ý. Cách đếm con và chồng như vậy ẩn chứa một nỗi niềm chua chát về một gia đình nhiều khó khăn: nhân khẩu thì nhiều mà người chồng đang còn phải "ăn lương vợ". Nuôi “năm con” đã khó, bà Tú phải nuôi thêm cả đức lang quân, ngoài học hành, còn thêm cả những thú tiêu pha phong tình:“Bài bạc kiệu cờ cao nhất xứ<em>/ </em>Rượu chè trai gái đủ tam khoanh” (Tự trào). Nói là “nuôi đủ”, nhưng với sự đủ đầy đó, có ai biết được người phụ nữ tảo tần ấy đã chắt chiu đến mức nào? Tú Xương là đại diện cho kiểu nhà nho “dài lưng tốn vải”, mọi chi tiêu sinh hoạt trong nhà hết thảy đều dựa vào vợ của ông. Đáng lẽ, người trượng phu phải là người lập nghiệp lớn, che chở cho gia đình nhưng đằng này, bà Tú phải là người lao động chính gánh gồng mọi việc. Dường như đọc đến đây, mọi độc giả đều thấy được giọng điệu chua xót, ngậm ngùi của Tú Xương, một giọng tự giễu cợt chính mình là kẻ vô tích sự khiến đôi vai nhỏ của người đầu ấp tay gối với mình đã gầy nay còn gầy hơn. Nói tóm lại, chỉ với những dòng thơ đơn giản, hoàn cảnh và công việc khó khăn, cực nhọc của bà Tú đã được khắc họa rõ ràng. Không dùng từ ngữ “phun châu nhả ngọc” mà chỉ với lời thơ mộc mạc, giản dị, từ ngữ chân thành, Tú Xương đã thành công xây dựng hình ảnh người tri kỷ đời mình với thái độ yêu thương và trân trọng hết mực. Hiếm có người nào trong thời đại “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” ngày đó nhìn thấu được nỗi truân chuyên, vất vả của vợ mình để yêu, để cảm thông, và cả ân hận vì bản thân không thể “lấp biển vá trời” giúp họ.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1320166245/d57cd033ed308409cffb48aa2171e029/Th__ng_v___Tr_n_T__X__ng_.png" />
         <pubDate>2021-10-18 07:36:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1823462982</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hai câu đề</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1823598218</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; <strong>&nbsp; </strong>Không quá ngoa cho Xuân Diệu khi phong cho Hồ Xuân Hương là ”bà chúa thơ Nôm”. Có thể nói,thơ Hồ Xuân Hương chính là sự ý thức cao độ về vẻ đẹp hình thức và nhân cách.Qua đó,cũng chính là nỗi đau duyên phận bẽ bàng,cụ thể qua bài Tự tình hai.Từ hai câu đề ta thấy rõ cảm thức về thời gian và tâm trạng của bà : “ Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn / Trơ cái hồng nhan với nước non”. “Đêm khuya”chính là thời khắc để con người đối diện với bản ngã của mình tô đậm sự cô đơn,lẻ loi.Từ láy “văng vẳng”diễn tả tiếng trống cầm canh như xa như gần vọng lại kết hợp nhuần nhuyễn bút pháp “lấy động tả tĩnh” khiến hình ảnh con người giữa đêm khuya thật nhỏ bé.Ngoài ra,từ ”dồn” thể hiện sự gấp gáp,bế tắc và thúc giục của thời gian,tuổi xuân,hạnh phúc đã trôi qua không ngoảnh lại. Đảo ngữ “trơ” kết hợp với nhịp thơ 1/3/4 , làm mênh mang thêm sự trơ trọi,cô đơn tịch mịch nhưng cũng là sự trơ lì,thách thức,phản kháng . Từ Hán-Việt “hồng nhan “ chỉ xuân sắc ,tuổi trẻ lại bị vật hoá khi đặt cạnh từ “cái” khiến nó trở nên đáng thương. Trong thơ Hồ Xuân Hương sao có thể thiếu“nước non” chỉ cái lớn lao,tầm vóc,vũ trụ bên cạnh hình ảnh người phụ nữ . Đúng vậy, sự đối sánh trên đã thể hiện rất rõ nỗi cô đơn,tịch mịch của con người trong vũ trụ,cuộc đời nhưng cũng biểu hiện cho cá tính rất “Xuân Hương”-mạnh mẽ,kiên quyết. Tóm lại,hai câu đầu là bức tranh tâm cảnh của Hồ Xuân Hương trơ trọi,bẽ bàng nhưng ẩn sâu trong đó cũng chính là một Xuân Hương trơ lì,bản lĩnh.Hai câu đầu chính là kết tinh của bút pháp “lấy động tả tĩnh” tài tình,nghệ thuật đảo ngữ và cách dùng từ Hán-Việt đầy sáng tạo.<strong><br></strong><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1409453391/bb30bcb7abe10f02ec14cb5da14d35c6/4B37CA6C_7EE5_4713_B9B3_EE34713E0790.jpeg" />
         <pubDate>2021-10-18 08:56:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1823598218</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hai câu luận</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1823725389</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Vốn mang dòng máu cương phương của kẻ sĩ Bắc Hà, thấm nhuần chất phong kiến Nho giáo, đặt nặng quan niệm “trọng nam khinh nữ”, ấy vậy mà nhà thơ Trần Tế Xương đã hạ mình phá bỏ cái xiềng xích xã hội vô nghĩa ấy bằng những vần thơ trong "Thương vợ" đầy trào phúng nhưng cũng không kém phần trữ tình, tôn vinh vẻ đẹp đức hạnh trong ngần của vợ. Bằng hai câu luận, ông đã tinh tế gợi lên những suy tư, ưu phiền về số phận của vợ và tấm lòng hy sinh vô bờ bến của bà Tú dành cho chồng, cho con: “Một duyên hai nợ âu đành phận/ Năm nắng mười mưa dám quản công”. Ở đây nổi bật lên cấu trúc đếm số của ca dao dân ca xưa theo lối tăng tiến: “một duyên hai nợ”, “năm nắng mười mưa”, càng khắc họa rõ nét tần tảo sớm hôm, chịu thương chịu khó vì mái ấm nhỏ của người phụ nữ giàu đức hy sinh. Tú Xương dụng rất đúng khi miêu tả số phận bà Tú, cuộc đời bà như vậy vừa là duyên, vừa là nợ, duyên một thì nợ hai. Duyên nợ là do thiên định, ông trời se tơ nối tóc, gắn kết cái nghĩa vợ chồng trăm năm. Dựa vào điển tích điển cố của nhà Phật, Nguyễn Du đã viết: “Ví chăng duyên nợ ba sinh/ Làm chi quen thói khuynh thành trêu ngươi” ẩn ý thể hiện rằng dù “duyên” hay “nợ” thì đều là tình nghĩa bà Tú trân trọng, tự nguyện gánh vác “giang sơn nhà chồng” bằng tất cả tình yêu thương. Điều đó cho thấy, bà Tú là người vợ không chỉ hy sinh tuổi xuân thì, vun vén cho hạnh phúc gia đình mà còn bao dung, chan chứa tình yêu thương. Đã vận vào cái số phận làm sao thoát ra, câu thơ kết thúc bằng thanh trắc “âu đành phận” cũng khiến cho cảm xúc bị dồn nén nhiều hơn, rằng bà cam chịu bằng sự ân cần chứ không miễn cưỡng và chấp nhận chức phận thiêng liêng mà số mệnh trao cho bà. Giọng thơ càng lúc càng thêm chua xót, bẽ bàng, thương cảm bởi Tế Xương dành cho bà Tú. Bên cạnh đó, sở dĩ tác giả không dùng thành ngữ “một nắng hai sương” mà thay bằng “năm nắng mười mưa” nhằm lột tả chân thực nỗi vất vả dai dẳng – cuộc đời bà Tú gắn liền với công việc mưu sinh không bao giờ ngơi nghỉ. Đặc biệt “dám quản công” tức không dám nề hà, không dám kể công dù có tất tả ngược xuôi. Tóm lại, thông qua hai câu luận, câu thơ Tế Xương toát lên sự trân trọng, yêu quý vợ hết mực và thể hiện thái độ tự trách mình sâu sắc. Ẩn đằng sau ấy là bao nỗi niềm của ông, một người chồng khổ tâm để người bạn đời chịu cực kiếm sống mà chẳng giúp được gì. Đồng thời, Trần Tế Xương thể hiện một tài năng điêu luyện trong cách sử dụng ngôn ngữ, phép tăng tiến, dùng số từ phiếm chỉ và sáng tạo hình ảnh, bộc lộ rõ tâm trạng nhân vật trữ tình tạo nên ấn tượng và sức hấp dẫn văn chương.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1320136794/b3b2803fec8743b505cb5c997703c6e5/Ket_bai_thuong_vo_700.jpg" />
         <pubDate>2021-10-18 10:15:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1823725389</guid>
      </item>
      <item>
         <title>2 câu đề - Hải Minh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1823787684</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Bà chúa thơ Nôm - Hồ Xuân Hương đã vẽ nên một bức tranh đa chiều, kết hợp giữa chiều rộng của không gian, chiều dài của thời gian và nỗi cô đơn, trơ trọi của người phụ nữ qua hai câu đề trong tác phẩm “Tự tình II”: “ Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn/ Trơ cái hồng nhan với nước non”. Đầu tiên, “đêm khuya” là một thời gian tĩnh lặng đến tận cùng, là khi xung quanh không còn sự xô bồ, là lúc được nghỉ ngơi sau một ngày dài mệt mỏi.&nbsp; Con người lại thổn thức nhận ra những cung bậc cảm xúc sâu kín trong tâm hồn, nhận ra những bản ngã của bản thân được soi chiếu trong đêm hiu quạnh ấy. Từ láy “văng vẳng” thể hiện một âm thanh xa vắng, không rõ ràng, biến một bức tranh ngoại cảnh thành một bức tranh tâm cảnh chứa đầy tâm sự. Thật sự có phải do cảnh vật tác động đến con người hay vì “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Ngoài ra với từ “dồn”, một từ gợi tả thể hiện sự vội vã, gấp gáp, khiến ta cảm thấy thời gian trôi qua nhanh và không trở lại, khiến ta cảm nhận rõ bi kịch của sự mất mát. Bên cạnh đó, con người bé nhỏ, lạc lõng khi đối diện với bản thân mình: “Trơ cái hồng nhan với nước non”. Đảo ngữ “trơ” có hai tầng nghĩa. Trước hết, “trơ” có nghĩa là trơ trọi, là cô độc, là một thân phận bé nhỏ, lẻ loi, hữu hạn, tội nghiệp, “trơ “ được đặt ở đầu câu như muốn nhấn mạnh nỗi đau, sự bất hạnh của người phụ nữ. Không những thế, “trơ” còn là gan lì, là một bản lĩnh thách thức trước những bất công của xã hội. Hàm nghĩa này tương đương với chữ “trơ” của Bà huyện Thanh Quan: ”Đá vẫn trơ gan cùng tế nguyệt”. Bao nhiêu bất công, khó khăn mà người phụ nữ phải chịu đựng đã khiến họ như trơ ra trước cảnh vật, không còn cảm giác gì trước những vẻ đẹp ấy. Từ Hán Việt “hồng nhan” mang thái độ nâng niu, trân trọng đối với vẻ đẹp người con gái nay lại kết hợp với từ “cái” lại mang đến một hàm ý mỉa mai, chua chát, rẻ rúng và chà đạp lên thân phận ấy. Không gian “nước non” mênh mông, rộng lớn đến vô cùng, toát lên hai tầng nghĩa: một bên là sự bé nhỏ, mong manh của người phụ nữ, một bên lại là bản lĩnh dám sánh ngang trời đất. Tóm lại, ở hai câu đề của “Tự tình”, Hồ Xuân Hương đã khắc hoạ lên nỗi cô đơn, quạnh hiu thấm vào bức tranh về không gian và thời gian với bút pháp tài tình, kết hợp từ Hán-Việt và nghệ thuật đảo ngữ. Giọng thơ mang đến cho ta sự thức tỉnh của ý thức cá nhân, vừa buồn thương, xót xa nhưng cũng đầy bản lĩnh, thách thức.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-18 10:59:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1823787684</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hai câu kết _ Tịnh Khuê.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1824080807</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp; Những hình ảnh thơ thể hiện cái tôi ngang tàng sáng ngang với vũ trụ ấy của Hồ Xuân Hương dường như đã dừng lại để rồi được thay thế bằng sự cô đơn, lạc lõng đến tột cùng vì phải ngậm ngùi với bi kịch của tình duyên, số phận: "Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại/ Mảnh tình san sẻ tí con con.” Hai câu kết được mở đầu bằng tiếng thở dài ngao ngán đầy chua xót trước quy luật của tự nhiên khiến mạch thơ như chùng xuống, mang một nỗi niềm hoang hoải khôn nguôi. Việc sử dụng một loạt các từ ngữ đa nghĩa, gần gũi đã tạo nên một vòng luẩn quẩn bế tắc. Theo nghĩa đen, “xuân” là mùa thiên nhiên vạn vật đâm chồi nảy lộc, là mùa của thời gian vũ trụ tuần hoàn bất diệt. “Xuân” còn là tuổi xuân, là tuổi trẻ của một con người, chỉ những khoảnh khắc chợt lóe chợt tắt nếu so với thời gian bất tận của tạo hóa. Từ “lại” thứ nhất là phụ từ mang nghĩa thêm lần nữa, từ “lại” thứ hai chính là động từ, chỉ sự tuần hoàn, trở lại. Đọc “Tự tình”, ta thấu hiểu tâm trạng mong manh, trơ trọi của Hồ Xuân Hương trước sự mênh mông vô tận của vũ trụ, là sự đối lập đến tàn nhẫn giữa từng khoảnh khắc chợt lóe chợt tắt trong đời người và sự tuần hoàn bất tận của thời gian tạo hóa. Bà chúa Thơ Nôm rõ có một nhân cách luôn khao khát có được hạnh phúc trọn vẹn nhưng lại bắt gặp toàn những cảnh dang dở, bất hạnh, lỡ dở. <br>&nbsp; &nbsp; <em>Lã Nhâm Thìn đã từng nói: “Ý thức tuổi trẻ, về tình yêu thường đi liền với cảm thức về thời gian. Hồ Xuân Hương là một người ý thức rất sâu, rất đậm về duyên tình, hơn nữa bà lại là nhà thơ của ý thức về nữ tính nên yếu tố về thời gian càng sâu đậm.”</em> Chính sự thấu hiểu sâu sắc về cái vô thường của đời người, ngay cả duyên phận cũng hẩm hiu, câu cuối cùng của “Tự tình” càng mang âm hưởng bâng khuâng, trầm buồn nỗi bật lên số phận đáng thương và tâm trạng đơn độc của nữ thi sĩ: “Mảnh tình san sẻ tí con con.” Biện pháp tăng cấp “Mảnh tình-san sẻ- tí- con con” là từ gợi tả, từ láy làm bổ ngữ. Giống như những cung bậc tăng cấp của nỗi sầu tủi cho bi kịch số phận rót lên từng con chữ, trĩu nặng trong một tiếng thở dài chán chường, vang vọng trong đêm tịch mịch rồi dần biến mất vào hư không. “Mảnh tình” chứ không phải “Khối tình”. Ân tình nhận được đã ít ỏi, mỏng manh vậy mà lại phải “san sẻ” với người khác, vậy nó càng dễ vở và khó níu giữ hơn nữa. Cắt xẻ mãi, cắt xẻ mãi “tí-con con”, cho đến khi không còn gì, cho đến khi không còn gì, chỉ còn đọng lại tiếng thở dài buồn tủi trong đêm tối. Nói tóm lại, câu thơ là kết quả của một chuỗi tâm trạng cô đơn đến xót xa, cay đắng, rỗi phẫn uất phản kháng và cuối cùng là chán chường trước hiện thực bẽ bàng. Không phải chỉ riêng nữ sĩ Hồ Xuân Hương phải trải qua bi kịch của đời người mà đây còn là bi kịch chung của toàn nhân loại.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1390871241/27db97e3e974199dea0d27aded7ab47e/wallcoo_com_addaeji_010174.jpg" />
         <pubDate>2021-10-18 13:19:29 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1824080807</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hai câu đề - Uyên Trang</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1824107417</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Hai câu đề bài thơ “Tự tình” đã khắc họa một cách rõ nét hình ảnh nhỏ bé, trơ trọi của người phụ nữ trong xã hội phong kiến phũ phàng và tàn nhẫn: “Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn/ Trơ cái hồng nhan với nước non.”. Trước nhất ta phải kể đến không gian “đêm khuya” thanh vắng, tĩnh mịch. Đây chính là khoảng thời gian của nỗi niềm xâm chiếm, biết bao xô bồ, vồn vã bên ngoài tạm gác lại, dành sự lắng đọng cho những chất chứa, những thao thức, trằn trọc khi con người đối diện với chính mình. Tiếng trống canh được miêu tả bằng từ láy “văng vẳng” càng kiến khoảng không thêm rộng lớn, thanh âm từ xa vọng lại mơ hồ, vô định như tiếng lòng của người phụ nữ. Phải chăng đây chỉ đơn giản là tiếng trống canh hay còn là những “thầm kín” của Hồ Xuân Hương vang vọng trong xã hội phong kiến đương thời. Ngoài ra, từ “dồn” thể hiện sự gấp gáp, thúc giục mang lại cảm giác bế tắc. Thời gian trong giờ phút ấy, mỗi lúc một vội vã cuốn theo tuổi xuân, khát vọng và cả hạnh phúc không cách nào níu giữ. Trong “Tự tình” ta không còn thấy một Hồ Xuân Hương mạnh mẽ: “Chém cha cái kiếp lấy chồng chung” mà là sự đơn độc, nỗi niềm khắc khoải về một cuộc sống giày vò, không viên mãn. Nổi bật hơn cả, “hồng nhan” là từ Hán Việt duy nhất trong bài mang dụng ý mỉa mai. Nó tượng trưng cho thanh xuân, sức trẻ của biết bao người phụ nữ, bị vật thể hóa bởi chữ “cái”, phận con ong cái kén hẩm hiu, nay lại càng thêm bẽ bàng, ê chề biết mấy. Tác giả đã đặt mình giữa “nước non” phần nào khẳng định cái tôi vững vàng cũng như cá tính mạnh mẽ sánh mình với vũ trụ lớn lao. Ta thấy sự đối sánh rất rõ nét giữa sự nhỏi nhoi của con người và tầm vĩ đại của “nước non”, cuộc đời. “Thân em” vẫn “Bảy nổi ba chìm với nước non”(Bánh Trôi nước). Tóm lại, hình ảnh người phụ nữ trong hai câu để của bài “Tự tình” như một tấm gương phản chiếu những số phận chua chát, đáng thương trong xã hội đầy rẫy bất công. Đồng thời cất lên tiếng lòng, đấu tranh cho khát vọng yêu thương một cách kiên quyết, mãnh liệt. Hai câu thơ cũng đã sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật, từ ngữ độc đáo, sáng tạo.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-18 13:26:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1824107417</guid>
      </item>
      <item>
         <title>2 câu đề-Hà An</title>
         <author>kiradesu2103</author>
         <link>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1824226584</link>
         <description><![CDATA[<div>Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương đã khắc họa hình ảnh người phụ nữ cô đơn, lẻ bóng chịu nhiều bất công trong xã hội xưa và khát khao được làm chủ cuộc đời mình một cách trọn vẹn qua bài “Tự tình II”.&nbsp; Đặc biệt qua hai câu thơ “Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn/Trơ cái hồng nhan với nước non”, sự trơ trọi trông đêm hiu quạnh của người phụ nữ nhỏ bé được hiện lên một cách đặc sắc. Mở đầu bài thơ là thời gian đêm khuya vắng lặng, đìu hiu, khoảng thời gian mà dường như con người chỉ còn đối diện với chính mình, đối diện với thực tại. Một âm thanh từ xa vọng về mơ hồ qua hai từ láy “văng vẳng”, đây chính là nghệ thuật “lấy động tả tĩnh” đặc sắc làm cho màn đêm trở nên mênh mông vô tận. Ngoài ra, “văng vẳng” không chỉ là tiếng trống mà còn có thể là âm thanh nội tâm người phụ nữ. Từ “dồn” là một sự dồn nén, thúc giục và có phần bế tắc, làm cho thời gian ngày càng gấp gáp và thúc giục trong cảm nhận của chủ thể chủ tình. Bên cạnh đó, câu thơ tiếp theo đã thể hiện sự phản kháng, thức tỉnh của người phụ nữ mạnh mẽ, không chịu khuất phục trước số phận. Từ “trơ” không chỉ thể hiện sự đơn độc, tủi hổ, bẽ bàng mà còn là sự thách thức, chai sạn trước sóng gió cuộc đời, cùng với biện pháp đảo ngữ đã cho thấy được cá tính, sự kiên quyết và mạnh mẽ của nhà thơ. Từ Hán Việt “hồng nhan” vốn chỉ vẻ đẹp của người con gái, nhưng khi ghép với chữ “cái” dường như vẻ đẹp ấy đã bị vật thể hóa, khiến người phụ nữ càng trở nên trơ trọi hơn. Đặt “cái hồng nhan” trong mối tương quan với “nước non” đã cho thấy bản lĩnh và cá tính của Hồ Xuân Hương. Tóm lại, chỉ với hai câu thơ kết hợp các biện pháp nghệ thuật độc đáo và từ ngữ đặc sắc, nhà thơ đã thể hiện được ý thức cá nhân, khẳng định cái tôi mạnh mẽ và khát vong được yêu thương, trân trọng.&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-18 14:01:31 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1824226584</guid>
      </item>
      <item>
         <title>2 câu kết - Thảo Nguyên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1824273282</link>
         <description><![CDATA[<div>"Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng<br>&nbsp;Chém cha cái kiếp lấy chồng chung."<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; _Hồ Xuân Hương_<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Xã hội đầy bất công, ngang trái đã tạo nên một hồn thơ Hồ Xuân Hương đầy mạnh mẽ, quyết liệt. Xứng danh là "Bà chúa thơ Nôm", thơ của bà là tiếng nói thương cảm với người phụ nữ, là khát vọng dành lấy cuộc sống công bằng, tự do và điển hình là tập thơ&nbsp; "Tự tình", đặc biệt là "Tự tình II". Trải qua những hình ảnh phản kháng, quẫy đạp như xô lệch con chữ ở hai câu thực, hai câu kết lại trở về với hiện thực tàn khốc, bế tắc; càng mơ ước bao nhiêu thì sẽ càng đau khổ, xót xa bấy nhiêu. Một tiếng thở dài vang lên: "Ngán", giọng thơ như chùng xuống, thể hiện rõ sự chán chường, bế tắc, một nỗi cô đơn, buồn tủi vô hình ẩn sau người phụ nữ mạnh mẽ ấy. "Xuân" tức là mùa xuân của thiên nhiên, của đất trời, của thời gian vũ trụ trôi chảy vô thủy vô chung, tuần hoàn bất diệt. "Xuân" cũng mang nghĩa thanh xuân của đời người, là lứa tuổi đẹp nhất, rực rỡ nhất của cuộc đời người con gái nhưng nó vô cùng mong manh, ngắn ngủi so với thời gian bất tận của tạo hóa. Câu thơ như một lời than vãn về bi kịch của số phận, về sự trơ trọi, bé nhỏ của đời người hữu hạn và vũ trụ vô hạn. Thời gian tuần hoàn đối lập với tuổi xuân của con người nhưng sự bế tắc vẫn hiện hữu, vẫn đầy đọa số phận oan nghiệt của người con gái: "Xuân khứ bách khoa lạc/ Xuân đáo bách khoa khai" (TS Mãn Giác). Câu cuối cùng kết lại bài thơ trong một âm hưởng tiếc nuối, bâng khuâng, trầm buồn. Thanh xuân thì cứ trôi theo dòng thời gian vô tận, mà ân tình nhận được thì bé nhỏ, hẩm hiu. Tác giả sử dụng "Mảnh tình" chứ không phải "khối tình", vốn đã ít ỏi, mỏng manh lại còn phải "san sẻ", cắt xẻ chỉ còn đọng lại "tí con con". Nhịp 2/2/3 cùng biện pháp tăng cấp như một sự tăng bậc của nỗi buồn tủi, đau đớn của thân phận người làm lẽ, "chăn đơn gối chiếc". Có thể thấy, từ bi kịch số phận làm lẽ, ngòi bút của nữ sĩ họ Hồ hướng về thân phận điển hình "năm thê bảy thiếp" bẽ bàng, bạc bẽo của người phụ nữ xưa. Thế nhưng, trong câu thơ vẫn tồn tại về khát vọng có được tình yêu, ý thức được bản thân xứng đáng có được hạnh phúc dù chỉ là "tí con con". Dẫu chịu thua số phận nhưng Hồ Xuân Hương không bị nhấn chìm bởi bi kịch. Dù có đau buồn, xót xa nhưng giọng thơ vẫn phảng phất chút gì đó bướng bỉnh, ngạo nghễ. Đứng trong tận cùng của bi kịch, Hồ Xuân Hương vẫn giữ có mình thế đứng hiên ngang, không khuất phục trước số phận, đó là sự thức tỉnh mạnh mẽ và sâu sắc của ý thức cá nhân. Thơ Hồ Xuân Hương xứng đáng trở thành tiếng nói chung cho tất cả người phụ nữ lúc bấy giờ.</div><div><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1399193546/71c89ca2660b915b942be0545d52a094/tu___ti_nh_2.jpeg" />
         <pubDate>2021-10-18 14:16:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1824273282</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hai câu thực - Đức Anh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1824355886</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;    Được mệnh danh là “Bà chúa thơ Nôm”, Hồ Xuân Hương đã đem “tiếng lòng” của mình và những người phụ nữ xã hội xưa vào thơ ca.Tiêu biểu phải nói đến là tác phẩm “Tự Tình II”. Qua hai câu thực, Hồ Xuân Hương đã tái hiện nỗi niềm day dứt, xót xa cho tình duyên không trọn vẹn. Trong thời khắc đêm khuya yên ắng, khi chủ thể trữ tình vẫn còn thao thức chưa ngủ ắt hẳn có điều gì trăn trở. Như thách thức số phận, nhà thơ mượn rượu để quên đi nỗi sầu của thực tại. Cụm từ “say lại tỉnh” như một vòng luẩn quẩn lặp đi lặp lại, tình duyên như trở thành trò đùa, càng say lại càng tỉnh, càng cảm nhận rõ nỗi đau thân phận mình. Tâm trạng chủ thể trữ tình ở đây còn có nét tương đồng với nàng Kiều: “Khi tỉnh rượu lúc tàn canh/ Giật mình mình lại thương mình xót xa”. Tác giả dùng thủ pháp tả cảnh ngụ tình để mong muốn chút niềm an ủi từ thiên nhiên, cảnh vật. Câu thơ là ngoại cảnh mà cũng là tâm cảnh, tạo nên sự đồng nhất giữa ánh trăng và con người. Vầng trăng là biểu tượng của tình duyên đôi lứa, là biểu tượng cho số phận con người.Cảnh tình của nữ thi sĩ được thể hiện qua hình ảnh thơ chứa đựng sự éo le như trăng sắp tàn mà vẫn “khuyết chưa tròn”, tuổi xuân đã trôi qua mà tình duyên còn chưa trọn vẹn. Hương rượu để lại vị đắng chát, hương tình thoảng qua để chỉ còn vương lại “phận hẩm duyên ôi”. Sự đối lập giữa “say”-“tỉnh”, “khuyết”-“tròn” đã gợi lên cho người đọc cảm giác chông chênh, vô định. Những nỗi niềm giờ đây như “trăm mối tơ vò” quấn lấy suy nghĩ nữ thi sĩ, để lại nỗi tiếc thương, ê chề ngày càng xoáy sâu vào tâm hồn bà. Tuổi xuân ngày một qua đi không bao giờ quay trở lại mà tình yêu thì không tìm được người tri âm, tri kỉ, để rồi từ đó mà hạnh phúc cũng trở nên bẽ bàng, lỡ làng. Tóm lại, Hồ Xuân Hương đã dùng hai câu thực này để khắc họa nên ba nỗi bi kịch lớn là bi kịch tuổi xuân, bi kịch tình duyên và bi kịch hạnh phúc để bày tỏ nỗi lòng mình, đồng thời nói thay cho thân phận “con ong cái kiến” của những người phụ nữ xưa.</div><div>&nbsp;</div><div>&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1320802952/d6ee99e74b50d552e6bab92be0dc0003/IMG_0670.jpg" />
         <pubDate>2021-10-18 14:41:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1824355886</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phương Nghi - Hai câu thực</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1824364408</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;           Sinh ra trong thời loạn, khi trật tự giai cấp phong kiến lung lay dữ dội, xã hội ngột ngạt chà đạp khát khao chính đáng của con người, Hồ Xuân Hương là nữ thi sĩ đầu tiên cất tiếng than thở về cuộc đời, lớn tiếng bênh vực số phận người phụ nữ.&nbsp; Xuân Hương cảm thương nỗi sầu nhân thế bằng chính nỗi đau riêng của mình để viết nên bộ ba bài thơ “Tự tình” mà “bài nào cũng tiêu tao, cũng nói ra tự đáy lòng của một người phụ nữ” (lời Xuân Diệu). Trong đó bài thơ “Tự tình II” là nỗi thương mình trong cô đơn, lẻ mọn cùng tâm trạng buồn tủi, phẫn uất của nhà thơ mà hai câu thực đã bày tỏ nỗi niềm day dứt, xót xa trước tình duyên không trọn vẹn: “Chén rượu hương đưa say lại tỉnh/ Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”. Xưa nay “chén rượu” vẫn là tri âm của biết bao thi sĩ, đặc biệt khi chất chứa sầu muộn trong lòng, muốn dìm hồn trong đáy cốc. Song nàng càng uống lại càng sầu, càng cô đơn, buồn tủi, càng “say” lại càng “tỉnh”, “hương rượu” như hương tình, lúc thắm thiết lúc đắng cay làm người ta chao đảo. Xuân Hương chập chờn giữa hai bờ “say” – “tỉnh”, hai trạng thái đối lập trong tâm thức nhưng chén rượu có làm vơi đi chén đắng cuộc đời ? Bởi vốn là “Mượn hoa, mượn rượu giải buồn/ Sầu làm rượu nhạt, buồn làm hoa ôi” (“Chinh phụ ngâm”), say để tìm quên chứ phận nào có đổi. Từ “lại” vẽ nên vòng quẩn quanh giam cầm con người, triền miên không dứt, say để lại càng tỉnh thức trước thực tại phũ phàng, càng đau nỗi đau thân phận. Hình ảnh “vầng trăng” có thể là thực cảnh khi nữ sĩ còn thức suốt khi trời đã về sáng, chỉ thấy đêm tàn trăng khuyết. Nhưng câu thơ còn là tâm cảnh, nghịch lí thời gian trăng đã tàn nhưng vẫn “khuyết chưa tròn” cũng là nghịch lí thân phận con người. Theo lẽ thường, trăng phải tròn rồi mới khuyết, nhưng với Hồ Xuân Hương đã đi đến con dốc bên kia cuộc đời nhưng hạnh phúc, tình duyên vẫn dở dang, tuổi xuân đã qua đi nhưng chưa một lần viên mãn. Phép đối đã góp phần đan cài bi kịch càng “ngổn ngang trăm mối tơ vò”. Nhưng ẩn sâu trong câu thơ, Xuân Hương gửi gắm niềm hi vọng sâu thẳm trong lòng, “chưa” là vẫn mong đợi rằng sẽ có, dù chỉ là hi vọng lẻ loi giữa bi kịch chẳng thể vượt qua. Tóm lại, hai câu thực hội tụ cả ba bi kịch: tuổi xuân, tình yêu và hạnh phúc. Tuổi xuân đi qua không bao giờ trở lại, tình yêu lẻ bóng khi không người tri âm và hạnh phúc từ đó mà “Cho duyên đằm thắm ra duyên bẽ bàng” (“Truyện Kiều”). Hồ Xuân Hương đã thành công khi dùng không gian nghệ thuật cùng từ ngữ thuần Việt giàu đường nét “say – tỉnh”, “bóng xế”, “khuyết” để bộc lộ niềm cô đơn, nỗi bất hạnh của thân phận mình, cũng là thân phận bảy nổi ba chìm của người phụ nữ khi xưa.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1389290457/8dda423216948a6d56bce29e195423eb/image.png" />
         <pubDate>2021-10-18 14:44:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1824364408</guid>
      </item>
      <item>
         <title>2 câu thực - Hương Hương</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1824412469</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp;  Hồ Xuân Hương là một trong những nữ sĩ tài ba bậc nhất của nền văn học Trung đại Việt Nam và bà còn được gọi là Bà chúa thơ Nôm. Bài thơ "Tự tình" cũng được viết bởi bà và là một trong những bài thơ nổi tiếng của Hồ Xuân Hương. Trong đó, nhân vật trữ tình được diễn tả rõ nét hơn về tình cảnh lẻ loi và nỗi niềm buồn tủi của mình qua hai câu thực của bài thơ "Tự tình". "Chén rượu đưa hương say lại tỉnh/Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn". Trước hết, đọc qua câu thơ đầu ta cảm nhận được trong cái cô đơn, đáng thương đến tột cùng thì con người lại tìm đến rượu để khuây khỏa nỗi buồn. Mặc cho rượu cứ vào nhưng cứ "say lại tỉnh". Từ đó, nhân vật trữ tình cũng cảm nhận sâu sắc hơn về nỗi cơ đơn, lẻ bóng của mình. Đây chính là một vòng quay luẩn quẩn, tình duyên như một trò đùa, càng say lại càng tỉnh, càng cảm nhận được nỗi đau của thân phận. Từ đó đã tạo nên sự đồng nhất giữa tâm trạng và cảnh "trăng" sắp tàn "bóng xế" mà vẫn "khuyết chưa tròn". Quả thực " Cảnh nào cảnh chẳng gieo sầu/Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ". Ánh trăng là biểu tượng của sự chung thủy trong tình yêu đôi lứa. Nhưng giờ đây, ánh trăng đó sắp tàn và đang dần khuất bóng. Trăng "khuyết" nhưng "chưa tròn" này hệt như câu chuyện tình yêu dang dở của một người phụ nữ. Đây có lẽ là suy nghĩ về lẽ đời, về sự hạnh phúc mà tác giả mong đợi ở nhân vật trữ tình. Tóm lại, thông qua những ngôn từ đặc sắc và phép tu từ đảo ngữ đã làm nổi bật lên tâm trạng, nỗi cô đơn và lẻ bóng của nhân vật. Đây cũng là hoàn cảnh chung của số phận những người phụ nữ thời bấy giờ, phải chịu tình cảnh nghiệt ngã lắm truân chuyên như thế này.      </div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1304832382/0643321abcad55007eec8df56aa1988a/tu_tinh.jpg" />
         <pubDate>2021-10-18 15:00:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1824412469</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Hưng</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1824428379</link>
         <description><![CDATA[<div>           Mở đầu thi phẩm "Thương vợ" , Trần Tế Xương đã khắc hoạ rõ nét về công việc của "bà Tú" cũng như là hoàn cảnh khó khăn của gia đình đang ngày ngày đè nặng lên đôi vai bà.Bản thân Tú Xương lúc bấy giờ là một thi sĩ trong thời kì Nho giáo , Đạo giáo lụi tàn , ông chọn cho mình con đường công danh sự nghiệp nhằm thay đổi số kiếp nghèo khó. Bởi thế "sự sống" trong căn nhà bé nhỏ của thi nhân dựa hết vào đồng tiền kiếm được từ người vợ đáng thương "Quanh năm buôn bán ở mom sông/ Nuôi đủ năm con với một chồng" Nuôi cùng lúc" sáu miệng ăn" đã là một công việc vô cùng thử thách đối với một người phụ nữ. Thế nhưng, hai tiếng"quanh năm" đã báo hiệu đây sẽ là một vòng thời gian tuần hoàn , khép kín, nó sẽ lặp đi lặp lại, triền miên dai dẳng. Gánh vác việc "nuôi cơm" quanh năm suốt tháng, thế nhưng không gian bà Tú "kiếm cơm" còn ẩn giấu nhiều nguy hiểm , gian nan. Bà làm việc ở phần đất nhô ra phía lòng sông, nơi người làng chài vẫn thường tụ tập buôn bán , đó là "mom sông" Nơi này là một mũi đất chênh vênh , cheo leo , trắc trở nơi đầu sóng ngọn gió , đất có thể lở, nước có thể trào lên bất cứ lúc nào. Qua đó , Tú Xương đã cho độc giả thấy hình ảnh "bà Tú" hiện ra trong không gian lẻ loi, cô đơn. Mưu sinh bằng cái nghề buôn gánh bán bưng , theo sách vở "Bà Tú buôn gạo hàng đội , hàng thúng , chứ không có vốn buôn hàng thuyền" (Xuân Diệu). Từ đó ta thấy người phụ nữ này đã phải cực khổ, nhọc nhằn nhiều để nuôi sống gia đình nhỏ của mình. Thế nhưng , bao nhiêu công sức ấy cũng chỉ "nuôi đủ năm con với một chồng" Điều đó làm cho ta thêm yêu , thêm trân trọng bà Tú. Người phụ nữ này làm việc đến đầu tắt mặt tối, tằn tiện , chắt chiu như thế nhưng cũng chỉ "đủ" mà thôi. Thân cò mẹ gầy guộc , xanh xao nuôi "đủ" năm chú cò con đã là khó. Nhưng trên thực tế, bà Tú còn phải làm "mẹ" cúa đức lang quân mình- ông Tú Xương.&nbsp; Nuôi cơm ăn , áo mặc đã rất khó, nhưng đáng thương thay,&nbsp; bà phải gánh thêm lên&nbsp; mình những thú chơi phong tình, xa hoa của ông Tú. Như cách ông đã tự trào về mình " Bài bạc kiệu cờ cao nhất xứ/ Rượu chè trai gái đủ tam khoanh" (Tự trào) hay "Cao lâu thường ăn quịt / Thổ đĩ lại chơi lường" (Tự vịnh). Cách Tú Xương sử dụng biện pháp liệt kê "năm con với một chồng" vừa hài hước , tếu táo nhưng lẫn vào đó là sự ngậm ngùi , nghẹn ngào. Phép liệt kê đã thể hiện bao tâm sự của Tú ông , hoàn cảnh gia đình như một vở bi hài kịch khi xưa nay , trong gia đình có người đỗ đạt làm quan thì cả họ nhờ. Tuy nhiên , sinh ra trong thời loạn , Nho giáo bước vào buổi lụi tàn nên học vấn của Tú Xương không được trân trọng. Tú Xương đã bỏ sức dùi mài kinh sử suốt bao năm , miếng cơm manh áo nhờ cả vào vợ với hi vọng sau khi đỗ đạt sẽ vinh quy bái tổ , đền đáp ơn nuôi dưỡng của bà Tú. Thế mà, hiện thực đất nước tàn khốc bấy giờ đã cướp đi viễn cảnh tươi đẹp ấy. Bà Tú vẫn phải nuôi "năm con với một chồng" và Xuân Diệu đã nhận ra trong phép liệt kê ấy là tiếng đếm "năm " , "một" đầy xót xa. Mang chồng ra đếm với con , ví chồng như một loại con cũng cần phải nuôi, ấy thế mà chồng xếp sau con , tức nuôi chồng khó hơn nuôi con bội phần , đức ông chồng "vô tích sự" này phải ăn ké với con. Người đọc như hình dung ra, hai gánh nặng đang đè ép lên đôi vai gầy của bà Tú. Người phụ nữ ấy chắc hẳn đã mệt lả với bên chồng , bên con , năm đứa con thơ thêm ông chồng "vô tích sự" chỉ biết ngày ngày đèn sách , cùng với các thú chơi phong tình hao tiền phí của.Đó là một gánh nặng rất lớn về mặt vật chất lẫn tinh thần, khi hai ông bà cũng chẳng biết mình sẽ phải sống thế này đến bao giờ. Câu thơ hai của cặp câu đề như một sự tự giễu của Tú Xương và nó mang một âm hưởng của sự bùi ngùi , chua chát. Kết thúc hai câu đề, Trần Tế Xương đã miêu tả về công việc của bà Tú và hoàn cảnh gia đình khốn khổ . Nhưng sâu thẳm bên trong , độc giả còn cảm nhận được nỗi đắng cay, dằn vặt của ông Tú khi bất lực nhìn vợ mình như thế. Bà Tú được ông miêu tả , hiện ra là một người phụ nữ tảo tần , lam lũ sống một đời tận lực vì chồng , vì con.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1409117035/1926f88f6fa8db4e95fa55c15bd4d7f6/1568_1215623559.jpg" />
         <pubDate>2021-10-18 15:06:04 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1824428379</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hai câu luận - Tuyết Vy</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1824467340</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Hồ Xuân Hương - một nữ sĩ đầy cá tính, những vần thơ của bà luôn mang chất riêng độc đáo, dám đứng lên, dám nói lòng mình, ta có thể thấy điều ấy rõ hơn cả trong hai câu luận bài thơ “Tự tình” ý chí muốn phản kháng rất mạnh mẽ: “Xiên ngang mặt đất rêu từng đám/ Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn”. Cảnh vật thiên nhiên không còn mang dáng dấp như bình thường mà bao trùm cả là sự đè nén của lòng người, phép đảo ngữ kết hợp với những động từ mạnh như “xiên”, “đâm” cùng bổ ngữ “ngang” “toạc” vừa nhấn mạnh trạng thái thiên nhiên vừa nhấn mạnh tâm trạng con người đầy phẫn uất. Không chỉ thế, những sự vật vốn vô tri như “rêu” mềm yếu, “đá” muôn đời tĩnh tại lại dám vươn mình, thách thức “mặt đất” rộng khắp và “chân mây” vô tận, chúng muốn phá bỏ giới hạn của chính mình, “rêu và đá” còn là ẩn dụ cho cho thân phận người phụ nữ nói chung và Xuân Hương nói riêng, họ nhỏ bé, không có tiếng nói, bị những cổ tục, quy tắc đày đọa và chèn ép, họ khát khao thay đổi số phận của chính mình để tìm một hạnh phúc trọn vẹn. Lẽ ấy, Hồ Xuân Hương căm ghét kiếp lỡ làng mà thốt lên rằng: “Chém cha cái kiếp lấy chồng chung/ Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng” phải thật đau đớn, chua xót biết bao, phản kháng tuy mạnh mẽ nhưng thực tại vẫn đắng cay, không thể thoát ra. Nói tóm lại,  trong hoàn cảnh bi thảm, thơ Xuân Hương vẫn ẩn chứa một sức mạnh tiềm tàng, một sức sống mãnh liệt. Hình ảnh bình dị, phép đảo ngữ độc đáo đã góp phần tạo ấn tượng sâu sắc đến người đọc, hòa cùng cảm xúc với nữ sĩ.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-18 15:18:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1824467340</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nghi Trân -  Hai câu kết </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1824487066</link>
         <description><![CDATA[<div>Trong bài thơ “ Thương vợ” của Trần Tế Xương, ta cảm nhận được rằng sau cốt cách khôi hài, trào phúng là một tấm lòng yêu thương, tri ân vợ đến mức tự trách và dằn vặt lương tâm. Điều đó thể hiện rõ qua hai câu kết “ Cha mẹ thói đời ăn ở bạc/ Có chồng hờ hững cũng như không” .Tấm lòng thương vợ không chỉ dừng lại ở sự thấu hiểu, cảm thông, thương yêu, tri ân và trách móc bản thân mà còn bật ra thành một nỗi uất ức – một niềm bi phẫn “ Cha mẹ thói đời ăn ở bạc” Tú Xương đang tự chửi mình,chửi đời hay nói đúng hơn là chửi cái xã hội đương thời với nếp sống, nếp nghĩ và những định kiến khắc khe của xã hội. Theo tập tục phong kiến bất công của cái xã hội “Trọng nam khinh nữ”, người phụ nữ dường như bị kìm kẹp bởi “Tam tòng tứ đức”. Chính thành luỹ phong kiến này đã không cho phép Tú Xương có thể thương vợ bằng những hành đồng thiết thực. Ông chẳng thể cùng vợ eo sèo, lam lũ nơi bến sông đông đúc, không thể tần tảo, bươn chải sớm hôm cùng vợ. Nhiệm vụ của một anh đồ Nho như Tú Xương là đi thi lấy công danh, còn gánh nặng cơm áo gạo tiền là trách nhiệm, là nghĩa vụ của người vợ. Vậy nên ông mới mượn lời vợ để tự trách móc mình “ Có chồng hờ hững cũng như không”.Nhưng đằng sau lời trách , tiếng chửi là cả một tâm trạng phẫn uất, cả một bi kịch thời đại. Điều gì đã khiến Tú Xương cất lên tiếng chửi chua chát -chửi đời và tự chửi mình ? Điều gì đã khiến ông cay đắng tự trào mình được vợ nuôi như một đứa con đặc biệt ? Đó là bởi chữ Hán đã đến ngày mạt vận, thi cử đã đảo lộn tung giá trị thực, hoàn toàn không có chổ cho một tài năng, một cá tính như Tú Xương. Tú Xương đau đớn và bất lực đến mức “ Muốn mù trời chẳng cho mù nhỉ/ Giương mắt trông chi buổi bạc tình”. Đằng sau lời thương vợ là cả một bi kịch chất chứa, phẫn uất và tê tát của một tri thức có tâm đương thời.Tóm lại qua hai câu kết, ta cảm nhận được sự thấu hiểu, trân trọng, biết ơn của ông Tú với bà Tú.Hai câu thơ được xây dựng bởi những từ ngữ gần gũi như lời nói thường ngày,sử dụng nhiều từ láy gợi cảm. Bài thơ đưa vào tiếng chửi nhưng không đem lại cảm giác thô tục, thậm chí còn bày tỏ bộc lộ được hết tâm trạng phẫn uất của một tri thức có tâm với thời buổi nhố nhăng ấy.</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-18 15:25:17 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1824487066</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Ngọc Lý - Hai câu thực</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1824545858</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Qua hai câu thực trong tác phẩm "Tự Tình" (bài II) Hồ Xuân Hương đã thể hiện nỗi niềm day dứt, xót xa cho tình duyên không trọn vẹn một cách vô cùng chân thật: "Chén rượu hương đưa say lại tỉnh/ Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn". Đầu tiên, hình ảnh nổi bật nhất ta thấy là "chén rượu", "vầng trăng". Hai hình ảnh đó đều là thi liệu quen thuộc trong thơ xưa, đều là những hình ảnh chỉ những tình cảm gắn bó, tri âm tri kỉ. Như Đại thi hào Nguyễn Du khi nói về tình bạn Kim-Kiều sau đoàn viên: "Khi chén rượu, khi cuộc cờ/ Khi xem hoa nở khi chờ trăng lên<em>". </em>Nhưng ở đây chỉ gợi những nỗi niềm xót xa, hiu quạnh, lẻ bóng. Tiếp theo là cặp từ "say" - "tỉnh" đối lập với nhau. Đó là hai trạng thái đối lập, chập chờn trong tâm thức. Chủ thể trữ tình tìm sự bầu bạn trong hơi rượu, nhưng càng uống nàng càng cảm thấy sự cô đơn, trống vắng chiếm lấy chính mình. Nhân vật trữ tình tìm quên trong cơn say, nhưng càng say nàng như đang đối diện với chính mình, với nhưng sự thật đau lòng làm nỗi niềm lại càng đau đáu, thăm thẳm. Từ "lại" là dấu hiệu của sự lặp đi lặp lại, triền miên dai dẳng không dứt. Đáng chú ý hơn cả là ở câu thứ hai xuất hiện nghịch lý của thời gian là "bóng xế". Vầng trăng đã tàn vậy mà vẫn "khuyết chưa tròn". Vầng trăng ấy là biểu&nbsp; tượng cho tình yêu đôi lứa, số phận con người. Tuy đã trải qua nhiều đắng cay, đau khổ, mang trong mình nỗi buồn man mác nhưng vẫn chưa được trọn vẹn, hạnh phúc. Bên cạnh đó, phép đối ở hai câu thực khiến những nỗi niềm, tâm trạng ở hai câu thơ soi chiếu, đan cài, càng như "trăm mối tơ vò". Tuy chỉ với hai câu thơ bảy chữ, Hồ Xuân Hương đã tập hợp ba bi kịch: Bi kích tuổi xuân, bi kịch tình yêu, bi kịch hạnh phúc. Nỗi niềm day dứt, xót xa cho tình duyên không trọn vẹn để lại bao điều tiếc nuối, bẽ bàng được nhà thơ khắc hoạ hết sức chân thật qua hai câu thực, như các độc giả có thể cảm nhận được nỗi chua xót qua từng câu chữ bà viết.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1327802161/947cc82f210197c80801c14cb8faf974/tu_tinh.jpg" />
         <pubDate>2021-10-18 15:44:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1824545858</guid>
      </item>
      <item>
         <title>04_Phạm Phương Anh_Hai câu kết</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1824603898</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp; Bằng hai câu kết với những nỗi niềm uất ức dồn nén, Trần Tế Xương đã bộc bạch lời tự trách đầy day dứt của một lương tâm đang dằn vặt: " Cha mẹ thói đời ăn ở bạc/ Có chồng hờ hững cũng như không". Tấm lòng thương vợ của ông không chỉ dừng lại ở sự thấu hiểu, cảm thông, thương yêu, tri ân và trách móc mà còn bật ra thành một nỗi uất ức, và nỗi niềm dồn nén trào dâng thành "tiếng chửi"_Tú Xương chửi đời và chửi cả chính mình, hay nói đúng hơn là đang chửi cái xã hội đương thời đáng chê trách với những <strong>"thói đời"</strong> của tập tục phong kiến đầy rẫy bất công "Tại gia tòng phụ...", "trọng nam khinh nữ", "nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô" khiến cho người phụ nữ phải tảo tần cực nhọc gánh vác gia đình nhưng không được trân trọng. Cũng chính bức tường thành này đã không cho phép Tú Xương có thể thương vợ bằng những hành động thiết thực, không thể sẻ chia, không thể cùng gánh vác những khó khăn, đau đớn, cực nhọc, lam lũ mà vợ phải chịu. Câu thơ như hiện rõ lên sự dằn vặt, áy náy, đau đớn của ông Tú, dù yêu thương, luôn dõi theo và thấu hiểu vợ, nhưng rốt cuộc lại chẳng thể làm gì được, vậy nên dường như ông mượn lời vợ để tự trách mình <strong>"hờ hững"</strong>, và giáo sư Trần Thanh Mại, người cùng thời với Tú Xương kể rằng: "Khi nghe ông Tú đọc hết hai câu cuối, bà Tú khẽ đưa mắt, nguýt ông, thoắt sáng lên niềm tự hào, tự đắc chính đáng. Có lẽ đây là người đàn bà vất vả, cực nhọc suốt cuộc đời nhưng cảm thấy hạnh phúc nhất, sung sướng nhất...". Nhưng đằng sau tiếng chửi&nbsp; là một tâm trạng phẫn uất, là giọt nước mắt đau đớn bi kịch của Trần Tế Xương đã dồn nén bấy lâu, nay phải bật ra thành con chữ cho vơi bớt. Nhưng sâu xa, nỗi niềm đắng cay ấy lại chính là bi kịch của ông trước sự biến đổi của thời đại, bởi xét cho cùng, chỉ vì không thành được cái nợ công danh, ông đã không thể giúp gì cho vợ, nhưng đớn đau hơn khi ông nhận ra rằng, công danh không thành đó là bởi vì thi cử đã lộn tung giá trị thực, xã hội đương thời đảo lộn, giá trị đạo đức đảo lộn, giá trị thi cử rối ren, chữ Hán đã đến thời mạt vận, hoàn toàn không có chỗ cho một tài năng, một cá tính như Tú Xương. Đối diện với hiện thực ngồn ngộn ấy, ông đã phải bất lực kêu lên: "Muốn mù trời chẳng cho mù nhỉ/ Giương mắt trông chi buổi bạc tình". Nói tóm lại, đó là bi kịch của một nhà Nho trong thời mạt vận của Nho học_cũng chính là bi kịch dở dang của cả một thế hệ. Nói thương vợ cũng là đang tê tái thương cho chính mình, đằng sau lời thương vợ là nỗi niềm phẫn uất chất chứa đau đớn, bất lực!</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1295612798/21c893b2c00171e948122e31e34eee3c/Thuong_vo_700.jpg" />
         <pubDate>2021-10-18 16:05:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1824603898</guid>
      </item>
      <item>
         <title>2 Câu kết _Ngọc Quyền</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1824652998</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; <mark>Chính như Xuân Diệu khi bàn luận về làn sóng thơ của Tú Xương: "Ông nghè, ông thám vô mây khói/ Đứng lại văn chương một tú tài"</mark>, những ngòi thơ nét bút ấy của ông được đúc kết tinh xảo và điêu luyện qua hai câu kết trong bài "Thương vợ". Bằng những tiếng chửi đời và chửi chính mình, Tú Xương đã thể hiện được sự xót xa và tấm lòng yêu thương vợ hết mực: "Cha mẹ thói đời ăn ở bạc/ Có chồng hờ hững cũng như không". Mở đầu hai câu thơ, tiếng chửi “cha mẹ” đã đi vào lời thơ của Tú Xương một cách rất tự nhiên và đời thường, chắc hẳn những đè nén trong tâm can đã đạt đến đỉnh điểm khiến ông phải bật ra những từ chửi nặng nề đến thế. Ông Tú cho rằng cái “thói đời ăn ở bạc” của mình là nguyên nhân sâu xa khiến cho bà Tú phải chịu vất vả và khổ cực. Nhưng ngoài ra nó còn mang một tầng nghĩa xã hội sâu sắc rằng thói đời bạc bẽo là nguyên nhân khiến cho bà Tú nói riêng và những người vợ trong gia đình nói chung phải chịu cực nhọc, lam lũ. Trong câu thơ tiếp theo, ông Tú tiếp tục dằn vặt, tự chửi mát chính mình “Có chồng hờ hững cũng như không”, câu nói này đồng thời đã bật lên một phẩm chất tốt đẹp của ông Tú, ông tự trách móc bản thân một cách thậm tệ chứ không đổ vấy cho thói đời. Là một nhà Nho sống trong xã hội cũ còn nhiều định kiến về nam nữ, vợ chồng, Tú Xương cũng không ngần ngại lên án thói xấu này của chính mình, dám sòng phẳng với cuộc đời, luôn nhận khuyết điểm và coi mình là một kẻ "ăn lương vợ”. Việc Tú Xương tự trách bản thân ấy còn là bài học, là tấm gương cho những người đàn ông của gia đình trong xã hội lúc bấy giờ, khi tư tưởng "chồng chúa vợ tôi" vẫn hiện diện trong các mối quan hệ người nhà. Giá trị của bài học đó vẫn tồn tại đến tận ngày nay, vẹn nguyên và sâu sắc gửi đến những người đàn ông: phải biết trân trọng người vợ của mình. Hơn thế nữa, <mark>đằng sau cái day dứt ấy của ông Tú chính là sự bất lực về thời cuộc bấn loạn lúc bấy giờ, ông vừa không giúp gì được cho vợ mà cũng không thể hòa hợp với xã hội thời đảo lộn giá trị, đó là tâm trạng bi kịch của một nhà tri thức có tâm trong xã hội đương thời.</mark> Nói tóm lại, hai câu thơ cuối được kết lại bằng những tiếng chửi hết sức bình dị và tự nhiên. Nhà thơ lên án thói đời bạc bẽo, cũng như tự rủa chính mình một cách gay gắt vì sống hờ hững với vợ, qua đó không chỉ thấy được tình nghĩa sâu nặng, chân thành ông dành cho bà Tú mà còn cả nhân cách cao đẹp của bản thân ông.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1233037469/a9c648f8e467e0ef71252c8276b3579f/image.png" />
         <pubDate>2021-10-18 16:21:28 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1824652998</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hai câu kết - Minh Thư</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1824943921</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Thơ của Hồ Xuân Hương từ lâu đã trở thành biểu tượng của khí phách ngang tàng, đồng thời cũng là ý chí phản kháng số phận, chống lại những lễ giáo phong kiến cổ hủ. Thơ của bà là tiếng nói cất lên để đòi lại công bằng và quyền được sống, quyền được hạnh phúc của những người phụ nữ trong xã hội thời bấy giờ. Và có lẽ, cũng chính vì tính cách cùng cái tôi mạnh mẽ của bà, nên dẫu cho có đứng trong tận cùng của bi kịch, thơ của bà cũng vẫn tỏ ra ngán chứ không xót, cùng chứ không bức, vẫn toát lên được cái khí chất ngạo nghễ của bản thân. Hình ảnh đó của Hồ Xuân Hương được thể hiện rõ qua tác phẩm “Tự tình II”, nhất là hai câu kết, khi bà dường như đã quá mệt mỏi để tiếp tục vùng vẫy giữa xã hội đầy bất công: <em>“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại/Mảnh tình san sẻ tí con con.” </em>Khép lại những tháng ngày ấp ủ hi vọng rồi vùng vẫy như xô lệch con chữ để chống lại xã hội phong kiến, giờ đây bà phải đối mặt với sự thật tàn khốc, rằng bà đã thất bại trước số phận đầy trớ trêu, oan trái. Tiếng thở dài bà cất lên qua từ “ngán” đã tạo nên một nhịp điệu quẩn quanh, u buồn, như nỗi niềm lúc bấy giờ của bà, một nỗi đau cùng sự bất lực khi phải chia sẻ thứ mà bà chẳng thể nào chia sẻ được. Lúc này, ta mới hiểu được vì sao giọng của bà dường như nghèn nghẹn mặc dù đã cố giấu đi: “xuân lại lại”. “Xuân” ở đây là “mùa xuân” của thiên nhiên đất trời, là mùa xuân của thời gian tuần hoàn bất diệt; xuân còn là “tuổi xuân”, là khoảng thời gian mà người ta hay ví von là khoảng thời gian đẹp nhất của một đời người, dẫu cho nó có ngắn ngủi, mỏng manh. Và con người ta khi nhắc đến xuân, cũng đều sẽ hiểu theo một ý nghĩa tốt, xuân là những thứ đẹp đẽ, còn là sự khởi đầu mới. Ấy vậy mà khi kết hợp với “lại lại”, cả câu thơ dường như ẩn chứa những bi kịch cùng tâm trạng dày vò, day rứt. Từ “lại” thứ nhất là phụ từ, nghĩa là “lại lần nữa”, từ “lại” thứ hai là động từ, nghĩa là “quay lại, trở lại”. Cả câu thơ lúc này trở nên đầy cô đơn và trống vắng, đó là sự mỏng manh, đơn độc của một kiếp người, của những khoảnh khắc ngắn ngủi khi đứng giữa sự tuần hoàn bất tận của thời gian, thể hiện sự đối lập vô cùng tàn nhẫn. Xuân Hương chỉ còn lại một mảnh tình, chứ chẳng phải “khối tình”, vốn đã ít ỏi mà còn bị “san sẻ”, chia nhỏ, nên duy sót lại “tí con con”. Biên pháp tăng cấp trong câu thể hiện những cung bậc của nỗi buồn khi đứng trước số phận đầy bi kịch, đến cuối cùng chỉ còn lại tiếng thể dài ngao ngán. Cô đơn, xót xa rồi phẫn uất vùng vẫy phản kháng rồi cuối cùng lại buông xuôi, đến cuối cùng cũng không thể chiến thắng nỗi thời gian cùng cái xã hội thối nát. Nhưng dẫu vậy, bà chỉ thừa nhận thất bại nhưng không bi lụy, bà vẫn giữ cho mình cái thế đứng hiên ngang ngẩng cao đầu, cùng một nụ cười mỉa mai chua xót. Qua đó, càng nổi bật lên cái tôi, cái khí phách mạnh mẽ, cùng sự thức tỉnh và khao khát một cuộc sống hạnh phúc yêu thương dẫu có bị kìm kẹp trong cái xã hội phong kiến đầy gay gắt.<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-18 18:05:17 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1824943921</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hai câu thực-Quỳnh Như 17</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1825560863</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp;"Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,<br>&nbsp; &nbsp;Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn"<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Qua hai câu thực trong bài Tự Tình (II) của Hồ Xuân Hương đã khắc hoạ rõ nét nỗi lòng đau đớn, day dứt trước những mối tình lận đận đau thương. Hồ Xuân Hương được biết đến với một danh hiệu "Bà chúa Thơ Nôm", bà là một nhà thơ phụ nữ, cất lên tiếng nói cảm thương cho thân phận người phụ nữ bị những định kiến áp đặt trong xã hội phong kiến. Trong bài thơ Tự Tình cũng vậy, bà đã nói lên tiếng lòng của họ, những nỗi xót xa trước những mối duyên không trọn vẹn. Hai câu thơ trên chính là mối quan hệ giữa thực cảnh và tâm cảnh trong lòng tác giả. " Chén rượu", "vầng trăng" là những thi liệu quen thuộc trong thơ xưa, là những tình cảm gắn bó, là sự tri âm tri kỷ, thế nhưng trong hai câu thơ ấy lại là chỉ nối buồn cô đơn. Nếu như hình ảnh "chén rượu" gợi ra bóng dáng người phụ nữ đang nhấm nháp nổi sầu thì "vầng trăng" "khuyết chưa tròn" trong buổi "bóng xế" là nổi đau thân phận. Hương rượu khiến con người chao đảo trong cái vòng xoay quẩn quanh của tạo vật còn vầng trăng làm nàng mủi lòng trước chữ duyên không vẹn. Nàng uống rượu để say, như để trốn tránh khỏi hiện thực khốc liệt, nhưng mà đã "say" thì sẽ có lúc "tỉnh", đay là hai trạng thái đối lập, chập chờn trong tâm thức, nàng tìm đến hơi rượu để bầu bạn nhưng càng uống lại càng cô đơn trống vắng, nỗi niềm càng thêm đau đáu, thăm thẳm. Như thế, ta lại liên tưởng tới nàng Kiều, cũng giống như nàng, Kiều đã phải từ bỏ mối duyên tốt đẹp của mình, giờ đây nàng cũng chỉ làm bạn cùng rượu nhưng càng uống thì lại càng thâm thía nổi đau hơn, khi tỉnh lại nỗi đau ấy như nhân lên gấp bội:<br>&nbsp; " Khi tỉnh rượu lúc tàn canh<br>&nbsp; Giật mình mình lại thương mình xót xa"<br>Thế mà cứ say "lại" tỉnh, nỗi đau này cứ triền miên day dứt, như giam cầm con người. Thời gian như nghịch lý, vốn dĩ vầng trăng luôn là một hình ảnh đẹp, nhưng nó chỉ đẹp khi đầy đặn, bóng đã xế mà vầng trăng cứ "khuyết chưa tròn", nó như nói lên tình duyên ấy, số phận ấy phải chịu nhiều cay đắng. Phép đối ở hai câu thực khiến những nổi niềm, tâm trang của của hai câu thơ được soi chiếu, đan cài, như "trăm nổi tơ vò".Tình cảm không được trọn vẹn ấy cũng phần nào giống như trong bài "Vấn vương" của Xuân Diệu:<br>&nbsp; "Vẫn là mắt ấy, làn môi ấy<br>&nbsp; Anh vẫn còn thương, chẳng hết thương"&nbsp;<br>Tình càm không được nối liền, tình yêu không thể tíến tới qua thật như thể chia lìa trái tim, xót xa đau đớn vô cùng. Có lẽ Hồ Xuân Hương đã đặt mình vào hoàn cảnh ấy, hoặc cũng có thể chủ thể trữ tình trong bài thơ này chính là nàng nên đã miêu tả nỗi đau ấy chân thật như vậy.&nbsp;</div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-19 00:13:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1825560863</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Diễm Phương Anh - 2 câu đề</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1826238146</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Qua hai câu đề của bài thơ “Thương vợ”, Trần Tế Xương đã phát họa nên hình ảnh tảo tần của bà Tú một cách chân thực thông qua những nỗi vất vả, sự chịu thương chịu khó trong trong công việc của bà: “Quanh năm buôn bán ở mom sông/ Nuôi đủ năm con với một chồng”. Mở đầu câu thơ, Trần Tế Xương không để hình ảnh của vợ mình xuất hiện một cách trực tiếp theo lẽ thông thường mà kể theo một cách gián tiếp khi vẽ nên thời gian và không gian làm việc của bà. Trước hết là thời gian, “quanh năm” cái trạng từ&nbsp; gợi lên cái vòng lập miên viễn không ngơi nghỉ, là từng ngày này sang tháng khác, là năm qua năm khác, bà Tú “quanh năm” đã vất vả ngược xuôi, chẳng một giây phút nào bản thân bà được phép nghỉ ngơi, tận hưởng. Động từ “buôn bán” vốn để chỉ một công việc chẳng mấy thanh nhàn, “buôn bán” ở đây không chỉ việc bà Tú được làm chủ của một cửa hàng mà chỉ “buôn bán” bằng những gánh hàng rong ở “mom sông”, từ đó càng gợi lên rõ nét hơn sự bấp bênh, cơ cực, chịu nhiều mưa nắng của bà Tú trong việc chăm lo gia đình, chưa kể còn có phần khốc liệt bởi tính cạnh tranh của môi trường. Bên cạnh đó, nỗi vất vả ấy như được nhân lên khi đặt trong không gian “ở mom sông”. “Mom sông”, cái mũi đất nhô ra ở phía sông vừa tạo thế chông chênh bất ổn, vừa là nơi hứng chịu đầu sóng ngọn gió, đất có thể lở, nước có thể tràn lên bất kì lúc nào, hình ảnh bà tú hiện ra trong không gian ấy càng lẻ loi, cô đơn. Chỉ cần những dòng thơ đầu ngắn ngủi vậy thôi mà đã thấy bao chông gai, vất vả của người phụ nữ ấy. Vất vả, nguy hiểm là thế, nhưng cũng chỉ “nuôi đủ năm con với một chồng” chứ không có dư dả là mấy. “Nuôi”, động từ nói lên sự chăm dưỡng, cách liệt kê “năm con với một chồng” của ông Tú vừa hài hước, tếu táo vừa ngậm ngùi vì bà Tú không chỉ làm tròn trách nhiệm của một người mẹ mà bà còn đóng vai trò là trụ cột gia đình khi còn phải nuôi chồng. Xuân Diệu đã từng có một nhận xét rất hay khi đọc đến câu thơ này:”Hoá ra ông chồng cũng phải nuôi, tựa hồ như lũ con bé bỏng nên mới đếm ngang hàng với chúng nó: một miệng ăn, hai miệng ăn...", trong gánh nợ đời mà bà Tú phải gánh, với ông Tú dù chỉ là số ít dù chỉ là “một chồng” những đã trĩu nặng đi rất nhiều. Bên cạnh đó, từ “đủ” trong câu thơ đã cho ta thấy cả một bàn tay chu đáo, tảo tần và cũng thật vất vả vì gia đình của bà Tú đâu phải ít miệng ăn, vất vả mưu sinh với đời bà Tú vẫn cố gắng lo cho gia đình “đủ” đầy tất cả, không chỉ “đủ” về vật chất là ăn no mặc ấm mà còn “đủ” về tinh thần. Tóm lại, qua hai câu đề Trần Tế Xương đã khắc họa lên hình ảnh vợ mình một người tần tảo, đầu tắt mặt tối nhưng cũng thật khéo léo, giỏi giang, qua đó cũng thể hiện tấm lòng biết ơn, sâu sắc của ông Tú đối với vợ mình.</div><div>&nbsp;</div><div>&nbsp;</div><div>&nbsp;<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1332652380/739bf28f02e2052d1a3f5cfdd08d635d/Phan_tich_bai_tho_Thuong_Vo_cua_Tu_Xuong__1_.jpg" />
         <pubDate>2021-10-19 05:55:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1826238146</guid>
      </item>
      <item>
         <title>2 câu luận_Lan Anh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1826293670</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Qua hai câu luận trong bài thơ, ta có thể thấy những suy tư và trăn trở của Trần Tế Xương về số phận và đức hi sinh của vợ mình: “Một duyên hai nợ âu đành phận/ Năm nắng mười mưa dám quản công”. Đây là lời tâm sự của bà Tú, nhưng thực chất là lời ông Tú thổ lộ giùm vợ. Các thành ngữ “một duyên hai nợ”, “năm nắng mười mưa” mang đậm sắc dân gian được tác giả sử dụng thật khéo léo, hài hòa. Duyên, nợ” trong quan niệm xưa thường được sử dụng cho mối quan hệ phu thê, vợ chồng. Như người xưa có câu “có duyên mới gặp, có nợ mới yêu”, khi hai người nên duyên kết tóc tức là hai người phải có duyên, có nợ mới đến được với nhau, gặp được nhau trong đời này. “Duyên” biểu trưng cho những gì tốt đẹp, “nợ” ngược lại là những cái ràng buộc người ta từ tiền kiếp đến kiếp này phải trả cho nhau. Nhưng vợ chồng đến với nhau nhờ duyên là một, nhờ nợ mới là hai, bà Tú lấy ông Tú cũng như vậy. Nghe có vẻ chua chát nhưng ẩn sau đó vẫn có cái gì đó dịu ngọt và đáng yêu mà người ta thường gọi là tình nghĩa vợ chồng. Người ta xót thương cho cảnh ngộ lam lũ, vất vả của bà Tú khi gặp phải nhà nho “dài lưng tốn vải” như Tú Xương. Thế nhưng, bà nào có than phiền, mà cũng chỉ chấp nhận “âu đành phận”. Nếu số phận đã định như thế, thì mình cứ thuận theo mà thôi, hẳn hai người phải nợ nhau cái gì từ kiếp trước, đời trước, để bây giờ có duyên gặp lại để trả cho nhau. Mọi sự khổ cực của bà như được tăng cấp qua cách đếm số tăng dần của Tú Xương “một…hai…năm…mười”, đức hi sinh của bà qua đó cũng nổi lên rõ ràng hơn. Bà sẵn sàng gánh vác đất cả vì gia đình, mọi sự đã rồi lên bà không có một lời than oán. Thử hỏi, có một người vợ bao dung, cao cả, giàu đức hi sinh như vậy, sao ông Tú lại không trân trọng và dành cho bà tình yêu thương. Giọng thơ Tú Xương ở đây phần nhiều là cảm thương và trân trọng hết mực với người tri kỳ của mình. Bà Tú là kết tinh cho vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam, là một chuẩn mực về đạo đức và cái đẹp trong mắt Tú Xương. Bằng những thủ pháp nghệ thuật tài tình, vận dụng chất liệu dân gian khéo léo, Trần Tế Xương đã khắc họa chân dung tần tảo của bà Tú đồng thời bày tỏ lòng yêu thương, quý trọng của mình với bà.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1320153680/52e2ec7857e60be02311ea6d55e124aa/TH__NG_V_.png" />
         <pubDate>2021-10-19 06:30:28 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1826293670</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Bảo Trâm - 2 Câu Luận</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1829199340</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;    &nbsp; Bà Tú tuy phải chịu nhiều cực khổ, nhọc nhằn nhưng bà lại có được niềm hạnh phúc lớn lao mà không bất kì người vợ xưa nào được tận hưởng: Bà được đi vào thơ Tú Xương với tất cả niềm yêu thương, trân trọng nhất từ chồng. Trong hai câu luận của bài thơ “Thương Vợ”, ông Tú một lần nữa <mark>cảm phục sự hy sinh hết mực của vợ mình</mark>: <strong><em>“ Một duyên hai nợ âu đành phận/Năm nắng trời mưa dám quản công.”</em></strong> Trước hết, nhân dân ta vẫn hay nói “vợ chồng là duyên nợ” nhưng ở đây Tú Xương đã tách ra “duyên-nợ” là hai từ riêng biệt. “Duyên” là từ ngữ mang sự tiền định của mối quan hệ giữa người và người, mang sắc thái của số phận như ta thường biết <strong><em>“Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ - Vô duyên đối diện bất tương phùng”.&nbsp; &nbsp;</em></strong>“Nợ” lại là trách nhiệm nặng nề. Như thể nói rằng, đây là một gánh nặng bà Tú phải mang trên mình không thể gỡ bỏ do có sự sắp đặt từ khi bà đến với mối lương duyên này. “Hai nợ” mà bà Tú mang là nợ chồng-nợ con, ông Tú tự hạ mình trở thành món nợ để đề cao phẩm chất chịu thương chịu khó của vợ mình. Nhưng sau tất cả bà vẫn không kêu than một lời, bà xem rằng đó là “âu đành phận”. Như bao người phụ nữ khác, bà làm mọi việc âm thầm, không đòi hỏi, không oán trách. Trong thơ của Tú Xương, hình ảnh bà Tú Xương mang vẻ điển hình của người vợ trong truyền thống Việt Nam. Bên cạnh đó, tác giả đã biến tấu sáng tạo thành ngữ “một nắng hai sương” thành “<strong><em>năm nắng mười mưa</em></strong>” nhằm lột tả đầy đủ nỗi gian truân, vất vả dai dẳng - cả cuộc đời buôn bán mưu sinh, gồng gánh cả gia đình như gồng gánh cả giang sơn . Hai cụm “nắng-mưa” và “năm-mười” vừa đối nhau về từ vừa đối nhau về ý khiến cho câu thơ mang lại nỗi trầm lắng trước sự thống khổ của bà. Từ đó,&nbsp; thể hiện rõ rệt đức tính chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng con của người phụ nữ quê Lương Đường. Nhưng bà nào “<strong><em>dám quản công</em></strong>”, tức chẳng dám nề hà, kể công kể khổ mà chỉ xem như trách nhiệm của mình mà tiếp tục mỗi ngày, tròn bổn phận làm vợ và làm mẹ thiêng liêng, cao cả. Tóm lại, qua hai câu thơ thực, Trần Tế Xương một lần nữa thể hiện sự trân trọng, yêu thương hết mực đến người phụ nữ bên cạnh mình mỗi ngày. Và hơn hết, ông bộc lộ nỗi niềm của một người chồng, thái độ tự trách mình vì đã trở thành gánh nặng cho vợ, không thể mang đến cho bà cuộc sống hạnh phúc, đủ đầy. Giọng điệu đan xen hài hòa giữa trữ tình và trào phúng càng làm nổi bật vẻ đẹp nhân cách và phẩm chất của bà Tú.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1405468105/03522857b1a2fc10bd202eed571ac655/unnamed.jpg" />
         <pubDate>2021-10-20 03:13:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1829199340</guid>
      </item>
      <item>
         <title>2 câu kết - Gia Hân</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1829200541</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp;Trong các bài thơ viết về vợ của Tú Xương, bao giờ cũng gặp hình ảnh bà Tú hiện ra trước, ông Tú khuất lấp phía sau. Đằng sau cốt cách khôi hài, trào phúng là một tấm lòng yêu thương, tri ân vợ. Càng vẽ ra hình ảnh bà Tú đáng thương, đáng nể, đáng trọng bao nhiêu thì ta càng thấy bức chân dung tự hoạ của tác giả trở nên tầm thường, vô tích sự bấy nhiêu. Qua hai câu kết của bài thơ, ta nhận thấy rõ được hình ảnh Tú Xương qua nỗi lòng thương vợ, tự coi mình là cái nợ đời mà bà Tú phải gánh chịu. “Cha mẹ thói đòi ăn ở bạc/Có chồng hờ hững cũng như không”. Hai câu thơ như một tiếng chửi bật ra, bật ra như một logic tất yếu: sau tất cả những gì bà Tú, người vợ tần tảo ấy đã làm cho gia đình, đã chịu đựng và hi sinh, ông Tú tự thấy bản thân nhỏ bé, vô dụng và trách thói đời bất công, bất nhẫn. Đây là tiếng chửi của ông Tú vận vào hình ảnh vợ mình, chứ bà Tú vốn là con gái nhà dòng, nết na hiền thục, có bao giờ lại cất tiếng chửi chua chát thế. Hiểu như vậy để thấy đây là lời tự trách của chính nhà thơ. “cha mẹ” là lời chửi của tác giả – đó là một cách chửi nanh nọc, gay gắt, mạnh mẽ, quyết liệt. Nhà thơ chửi “thói đời” chứ không phải “cuộc đời” nói chung. Ông chỉ hướng vào nếp sống, nếp nghĩ, vào những định kiến khắt khe của xã hội. Ông chửi đời, trách đời ăn ở bạc tức là thói đời trớ trêu và bất công, bạc bẽo với người hiền hậu, nết na, chịu thương chịu khó và giàu đức hi sinh như bà Tú, để bà phải chịu nhiều nhọc lao. Dù cho đó có là lời trách đời đi nữa thì ta vẫn nhận ra đối tượng thật sự đằng sau đó là Tú Xương, nhà thơ đang căm giận chính mình, căm giận sự bạc bẽo của mình đối với người vợ tảo tần. Bên cạnh đó, Tú Xương tự thấy mình “hờ hững” với vợ, tự trách mình hờ hững với gia đình và thấy mình đối với gia đình chỉ có độc một sự vô dụng, “cũng như không”. Nếu như ở câu trên, nhà thơ tự hạ mình xuống ngang bằng một đứa con thì ở đây ông đặt mình dưới hình ảnh bà Tú như một người vô dụng, vô ích, không làm được gì cho gia đình, cho vợ. Đó là sự tự ý thức, sự tự trách, tự mai mỉa và tự căm giận của nhà thơ. Như vậy, ta có thể nhận thấy rằng khác với hầu hết các tác phẩm văn học trung đại khác, người phụ nữ hay chính xác hơn là người vợ trong “Thương vợ” của Tú Xương không phải người phụ nữ kiêu sa, đài các mà chỉ là người phụ nữ dân dã, bình dị với tất cả sự mộc mạc, hồn hậu và đức hi sinh, sự tần tảo của người phụ nữ truyền thống. Tóm lại, qua 2 câu kết Tú Xương đã sử dụng từ ngữ gần gũi, giản dị, gắn liền với đời sống sinh hoạt hàng ngày, ông đã đặt người vợ của mình vào trang thơ với tất cả lòng biết ơn, sự cảm thông và thương yêu của một người chồng, một người hàm ơn và đây cũng là lần đầu tiên người phụ nữ bình dị xuất hiện trong thơ ca cổ với một vẻ đẹp gần gũi mà rất mực nhân văn, đẹp đẽ thật giống cái danh “Thần thơ thánh chữ” (Nguyễn Công Hoan).</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1327205979/b1eab1d04c20c91d5730d07cc1ba93c1/image.png" />
         <pubDate>2021-10-20 03:13:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1829200541</guid>
      </item>
      <item>
         <title>2 câu thực _ Ái My </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1829209776</link>
         <description><![CDATA[<div>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp;Hiếm có ai trong thời đại “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” nhìn thấu được nỗi truân chuyên, vất vả của vợ mình để yêu, để cảm thông, và cả ân hận vì bản thân không thể “lấp biển vá trời” giúp họ. Tuy nhiên, Tú Xương có lẽ là một trường hợp ngoại lệ, kho tàng sáng tác của ông có hẳn một chủ đề để viết về người đầu ấp tay gối của mình và nổi tiếng nhất là “Thương vợ”. Qua hai câu thực của bài thơ, ta có thể cảm nhận rõ những khó khăn, vất vả trong công việc của bà Tú: “Lặn lội thân cò khi quãng vắng/ Eo sèo mặt nước buổi đò đông”. Hình ảnh người vợ của Trần Tế Xương được gợi tả cụ thể qua công việc tần tảo, vất vả, gian lao của bà. Trước hết, Tú Xương sử dụng ta từ láy “lặn lội”, “eo sèo” cùng biện pháp đảo ngữ đã giúp ta hình dung rõ hơn về cuộc sống mưu sinh của bà Tú. “Lặn lội” là bươn chải, tảo tần không ngơi nghỉ. Ca dao có câu: “Nước non lận đận một mình/ Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay”. Hình ảnh “thân cò” trong ca dao đã được Tú Xương vận dụng để nói về người vợ của mình. “Thân cò” lúc nào cũng gắn với những gì cực nhọc; cái cò luôn chịu “lận đận một mình”, nỗi đau nào cũng tự ôm lấy, nước mắt luôn nuốt ngược vào trong. Bà Tú được so sánh với “thân cò” càng nhấn mạnh đức hi sinh của bà – một người phụ nữ lam lũ, cực khổ lặn lội vì cả gia đình. “Eo sèo” – từ láy gợi tả những lời ra tiếng vào không hay nơi đầu sông, bến chợ, những tiếng chèo kéo, giành khách hàng, hay những “miệng đời” làm cực khổ thêm người phụ nữ bé nhỏ. Không gian làm việc của bà Tú cũng chẳng phải thoải mái như đức lang quân chỉ miệt mài đèn sách. Bà Tú phải tảo tần từ “khi quãng vắng” cho đến “buổi đò đông”. “Khi quãng vắng” là những buổi sáng sớm tĩnh mịch hoặc buổi chập tối đơn độc, là không gian đầy heo hút, vắng lặng. Ngược lại, “buổi đò đông” lại là không gian chen chúc của nơi chợ búa. Ông bà ta có câu: “Con ơi nhớ lấy câu này/ Sông sâu chớ lội đò đầy chớ qua” cho thấy rằng “buồi đò đông” là một không gian nguy hiểm, không nên đến gần. Sự vất vả của bà Tú được nhân đối nhờ phép đối “khi quãng vắng” và “buổi đò đông”, một mình khi quãng vắng đã khó khăn, bà còn phải chịu thêm cảnh bon chen, xô đẩy để nuôi 6 miệng ăn cho chồng lẫn cho con. Tóm lại, thông qua hai câu thơ, Tú Xương đã gợi tả được hình ảnh vất vả của bà Tú. Bà phải lặn lội trong nắng mưa, trả giá mồ hôi và nước mắt để lo chu toàn cho gia đình. Tú Xương đã vận dụng nhiều chất liệu dân gian khiến lời thơ thêm gần gũi, giàu tình cảm và thấm thía, đúng như Nguyễn Công Hoan nói ông chính là bậc “thần thơ thánh chữ”.</div>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/1320166245/d854e233dc3fdca3261268bb34cc743b/pasted_image_0.png" />
         <pubDate>2021-10-20 03:18:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1829209776</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Yến Linh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1829216327</link>
         <description><![CDATA[<div>Hai câu kết.<br>"Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,</div><div><br></div><div>Mảnh tình san sẻ tí con con!”</div><div>Tiếng thở dài trong từ “ngán”, mang một nỗi niềm hoang hoải, buồn tủi, nhịp điệu quẩn quanh, u buồn, có gì đó như chán chường bế tắc.&nbsp;</div><div>Cái mùa “Xuân” có thể là mùa xuân của thiên nhiên, đất trời, mùa xuân của tuần hoàn bất diệt. “Xuân” cũng có thể là tuổi xuân của con người, là tuổi trẻ, là tình yêu, là hạnh phúc, ngắn ngủi, mong manh chợt thoáng qua của con người đọng lại trong họ một chút dư âm.&nbsp;</div><div>Từ “lại” mang sắc thái thêm lần nữa, từ “lại” thứ hai chính là động từ, chỉ sự tuần hoàn, ẩn chứa bi kịch của số phận người phụ nữ trong xã hội “trai năm thê bảy thiếp” lúc bấy giờ. Như một sự trơ trọi, mênh mông của con người giữa cái bất tận của không gian mênh mông, rộng lớn của vũ trụ.&nbsp;</div><div>“Mảnh tình” vốn đã rất ít ỏi, mỏng manh vậy mà vẫn phải “san sẻ” chia nhỏ, phân li, cắt xẻ, lại càng ít ỏi lại càng thêm ít hơn. Nỗi sầu tủi cho bi kịch số phận như rót lên từng con chữ, trĩu nặng trong một tiếng thở dài não nề, u hoài, vang vào đêm rồi mất hút.</div><div><br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-20 03:21:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1829216327</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Hai câu luận-Lê Mỹ Tú</title>
         <author>10cvlemytu</author>
         <link>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1832050959</link>
         <description><![CDATA[<div>Nadimetlicmet đã từng nói rằng: “Con hãy lắng nghe nỗi buồn của cành cây héo khô, của chim muông què quặt, của hành tinh lạnh ngắt. Nhưng trước hết con hãy lắng nghe nỗi buồn của con người.” “Tự Tình” chính nhan đề của bài thơ đã phần nào nói lên được tâm sự, nỗi niềm của bà chú thơ Nôm Hồ Xuân Hương. Một bài thơ gợi nên cho độc giả sự xót xa, xót xa cho sự phản kháng, nổi loạn của một sức sống mạng mẽ, bền bỉ, xót xa cho tâm hồn một người phụ nữ đa sầu, đa cảm.</div><div>“Xiên ngang mặt đất rêu từng đám</div><div>Đâm toạc chân mây đá mấy hòn”</div><div>Nếu hai câu&nbsp;</div><div>Hai câu đề là sự cô đơn trong đêm hiu quạnh, hai câu thực là nỗi niềm day dứt, xót xa của nhân vật trữ tình cho tình duyên không trọn vẹn thì hai câu luận lại chính là sự phản kháng, nổi loạn dữ dội. Rêu và đá là hai sự vật nhỏ bé nhưng lại mang một sức sống mãnh liệt. Tác giả đã vận dụng những động từ mạnh như “xiên”, “đâm” kết hợp với những bổ ngữ “ngang”, “toạc” kết hợp với nghệ thuật đảo ngữ hai lần làm xáo trộn cấu trúc câu thơ. Tựa như tả cảnh ngụ tình không chỉ vừa nhấn mạnh trạng thái của thiên nhiên, sự cứng rắn, mạnh mẽ của đá, sức sống mãnh liệt của rêu nhưng đồng thời cũng nhấn mạnh sức sống mạnh liệt, khát vọng sống, tâm trạng của con người phẫn uất, phản kháng không chịu chấp nhận số phận. Những động từ mạnh này đã gợi ra một sức sống mãnh liệt, sự vùng vẫy mạnh mẽ của đá và rêu những vật nhỏ bé, hèn mọn, dễ bị dẫm đạp trước một chiều tích không gian rộng lớn bao la rộng lớn “chân mây”, “mặt đất”. Mượn hình ảnh rêu và đá phải chăng tác giả muốn xé bỏ những mẫu mực, định kiến của lễ giáo phong kiến đương thời. Vạn vật rồi sẽ đều sinh sôi nảy nở, vươn lên mà bám víu lấy sự sống huống chi một người có tài có chí như Hồ Xuân Hương.Hai câu thơ này chính là ý chí phản kháng mãnh liệt, thể hiện cá tính mạnh mẽvà khí phách ngang tàng của tác giả. Là sự vùng vẫy, sự trỗi dậy chống lại những bất công, định kiến trong xã hội, là sự phản kháng đối với chế độ đa thê. Là ham muốn đòi lại công bằng, quyền hạnh phúc chính đáng cho tình yêu đôi lứa. Đã là con người, sinh ra ai chẳng muốn được yêu thương? “Tự tình”-bộc lộ tâm tình thầm kín, viết cho mình nhưng lại đại diện cho tiếng nói của những người phụ nữ thân phận vợ lẽ dưới thời phong kiến. Bài thơ đã mang những tư tưởng, giá trị nhân đạo vượt thời đại. Là một bài thơ rất đăc trưng cho phong cách của nữ sĩ Hồ Xuân Hương…<br><br></div>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2021-10-21 01:05:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/leduysuphamvan/luyentapvietdoan_11CV/wish/1832050959</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
