<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title>Bài 2 - Thực hành viết; Nói và nghe by Trần Doãn Quyết</title>
      <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g</link>
      <description></description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2024-11-10 11:15:05 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2024-12-08 15:54:35 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url>https://padlet.net/icons/png/1f4d1.png</url>
      </image>
      <item>
         <title>Yêu cầu 1</title>
         <author>trandoanquyet</author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209688401</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Theo hình thức cá nhân, hãy đọc tri thức thể loại trong sách giáo khoa trang 61 và trả lời các câu hỏi sau bên cột "Tri thức kiểu bài". Lưu ý: ghi rõ họ tên khi thực hiện yêu cầu.</strong></p><ol><li><p>Theo em, một bài văn phân tích, đánh giá về một tác phẩm thơ có giống với một bài phát biểu cảm nhận đơn thuần? Không không phải thì yếu tố nào làm nên sự khác biệt giữa chúng.</p></li><li><p>Bài văn phân tích, đánh giá về tác phẩm thơ đòi hỏi những tiêu chuẩn gì trong lập luận, sắp xếp luận điểm, tổ chức bài viết.</p></li><li><p>Khi phân tích đánh giá về một tác phẩm thơ cần nắm chắc điều gì?</p></li><li><p>Theo em, bài văn phân tích, đánh giá về một tác phẩm thơ cần đáp ứng những yêu cầu gì:</p><ul><li><p>Về nội dung</p></li><li><p>Về kỹ năng</p></li><li><p>Về bố cục</p></li></ul></li></ol>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 11:27:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209688401</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Yêu cầu 2: Đọc và phân tích văn bản mẫu</title>
         <author>trandoanquyet</author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209691287</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Theo hình thức cá nhân, đọc bài viết tham khảo “Những điệu xanh của mùa xuân” sách giáo khoa trang 61-64. Đối chiếu ngữ liệu tham khảo và tri thức kiểu bài, trả lời các câu hỏi sau (trên thẻ "Đọc phân tích bài viết mẫu": ghi rõ họ tên khi thực hiện yêu cầu.</strong></p><p><em>1. Vấn đề được phân tích, đánh giá trong bài viết là gì?</em></p><p><em>2. Ngữ liệu tham khảo trên có phải là một bào viết hoàn chỉnh không. Căn cứ vào đâu để nhận định như vậy?</em></p><p><em>3. Nội dung phân tích, đánh giá được trình bày theo cách tách riêng chủ để, những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật hay kết hợp hai nội? Cách trình bày như vậy có ưu điểm gì?</em></p><p><em>4. Xác định các ý chính được trình bày trong bài viết tham khảo?</em></p><p><em>5. Để làm sáng tỏ “những điệu xanh” trong bài thơ Mùa xuân xanh tác giả đã dùng những dẫn chứng, lí lẽ nào?</em></p><p><em>6. Việc đánh giá chủ đề và hình thức nghệ thuật có xuất phát từ đặc trưng thể loại tác phẩm không?</em></p><p><em>7. Theo em bài viết mẫu cần cải thiện điều gì không</em></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 11:34:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209691287</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Mai Trang-yêu cầu 1</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209779355</link>
         <description><![CDATA[<ol><li><p>Theo em, một bài văn phân tích, đánh giá về một tác phẩm thơ không giống với một bài phát biểu cảm nhận đơn thuần. Yếu tố làm nên sự khác biệt giữa chúng:</p><p>- phân tích, đánh giá về một tác phẩm cần xem xét tác phẩm một cách toàn diện, khách quan, phân tích đánh giá nội dung, ý nghĩa...</p><p>- cảm nhận là trình bày những suy nghĩ, cảm xúc, nhận xét, đánh giá về cái hay, đẹp của tác phẩm.           </p></li><li><p> Kiểu bài văn phân tích, đánh giá về một tác phẩm thơ đòi hỏi sự chặt chẽ trong lập luận, sự sáng rõ, sắc nét của luận điểm và sự mạch lạc trong tổ chức bài viết.</p></li><li><p>Cần nắm chắc các tri thức về đặc trưng thi ca đã được giới thiệu trong bài học và được làm rõ qua các tiết đọc văn bản để có những phân tích đánh giá thuyết phục.</p></li><li><p>Yêu cầu:</p><p>a) nội dung:</p><ul><li><p>Giới thiệu ngắn gọn về bài thơ được chọn (tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, lý do lựa chọn bài thơ để phân tích, đánh giá).</p></li><li><p>Đánh giá giá trị của bài thơ về phương diện nghệ thuật cũng như ý nghĩa.</p></li><li><p>Chỉ ra và phân tích những nét đặc sắc, độc đáo của bài thơ (từ ngữ, hình ảnh, cách tổ chức nhịp điệu, nhạc điệu, mạch cảm xúc, hình ảnh, ...)</p><p>b) kĩ năng: phân tích, cảm nhận, đánh giá,...</p><p>c) bố cục: 3 phần</p></li><li><p>mở bài: giới thiệu ngắn gọn về tác phẩm thơ.</p></li><li><p>thân bài: phân tích, đánh giá mạch ý tưởng, cảm xúc, sự phát triển, nét hấp dẫn riêng.</p></li><li><p>kết bài: khẳng định giá trị tư tưởng, thẩm mĩ, ý nghĩa.</p><p><br></p></li></ul></li></ol>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 14:01:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209779355</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Mai Trang-yêu cầu 2</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209779462</link>
         <description><![CDATA[<ol><li><p>Vấn đề được phân tích, đánh giá: “Mùa xuân xanh” là bài thơ của niềm vui sống, của sự chan hoà giữa con người với tạo vật, là khúc dạo đầu của tình yêu lứa đôi. Những giá trị nhân bản ấy lại được thể hiện bằng một thứ ngôn từ thơ ca tự nhiên, giản dị nhưng vẫn có tính hiện đại.&nbsp;</p></li><li><p>Ngữ liệu tham khảo trên là một bài viết hoàn chỉnh. căn cứ vào bố cục, luận điểm, mạch cảm xúc, ý chính.</p></li><li><p>Nội dung phân tích đánh giá được trình bày theo cách kết hợp hai nội dung chủ đề và những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật. Điều này giúp bố cục bài rõ ràng và các ý sẽ được thể hiện rõ và logic hơn, dễ dàng cho người đọc và hiểu được.</p></li><li><p>giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm và các vấn đề chính sẽ được tập trung phân tích trong bài viết.</p><p>ấn tượng trước sự gợi mở của nhan đề và câu mở đầu bài thơ.</p><p>mạch hệ thống hình ảnh trong bài thơ.</p><p>phân tích phép đối, điệp, hiệu quả thẩm mĩ</p><p>liên hệ, so sánh với thơ truyền thống</p><p>khẳng định giá trị của bài thơ</p></li><li><p>Tác giả đã dùng những dẫn chứng, lí lẽ: hình ảnh tượng trưng: bầu trời, lúa, cỏ, lũy tre; từ ngữ trong bài</p></li><li><p>Việc đánh giá chủ đề và hình thức nghệ thuật xuất phát từ đặc trưng thể loại của tác phẩm. Mỗi thể loại sẽ có những đặc điểm nhận dạng khác nhau như các bài thơ trữ tình sẽ thiên về hình ảnh với cảm xúc lãng mạn,... Việc đánh giá như vậy sẽ giúp người đọc, người nghe hình dung rõ ràng nhất về thể loại mà bài viết muốn nói đến.</p></li><li><p>theo em bài viết mẫu cần cải thiện việc đánh giá cảm xúc của nhân vật trữ tình trong bài.</p><p><br></p></li></ol><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 14:02:07 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209779462</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Thanh Tâm - Yêu cầu 1</title>
         <author>tamthanhnguyen27082009</author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209805838</link>
         <description><![CDATA[<p>1. Theo em một bài văn phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ không giống với bài phát biểu cảm nhận đơn thuần vì:</p><p>+ Khi ta phân tích một tác phẩm thơ ta cần  phân tích, đánh giá tác phẩm thơ về mọi khía cạnh, mang tính khách quan</p><p>+ Còn khi ta phát biểu cảm nhận đơn thuần thì ta sẽ nhận xét về âm thanh (giọng điệu), ngôn ngữ, cảm xúc, mang tính chất nghiêng về chủ quan hơn</p><p>2. Bài văn phân tích, đánh giá về tác phẩm thơ đòi hỏi những tiêu chuẩn như sự chặt chẽ, làm rõ được nội dung, chủ đề tác phẩm, nghệ thuật của tác phẩm đó trong lập luận, sắp xếp luận điểm, tổ chức bài viết.</p><p>3. Khi phân tích đánh giá về một tác phẩm thơ cần nắm chắc những điều như: nội dung, mạch cảm xúc, âm thanh, nghệ thuật, ...</p><p>4. Theo em, bài văn phân tích, đánh giá về một tác phẩm thơ cần đáp ứng những yêu cầu:</p><p>- Về nội dung: xác định được chủ đề và phân tích, đánh giá ý nghĩa, giá trị của chủ đề bài thơ. Phân tích, đánh giá được một số nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật như dạng thức xuất hiện của chủ thể trữ tình, biện pháp tu từ, vần, nhịp, ngôn ngữ, ...</p><p>- Về kĩ năng:  Lập luận chặt chẽ, thể hiện được những suy nghĩ; cảm nhận của người viết về bài thơ đồng thời sử dụng các câu chuyển tiếp giúp bài thêm phần sinh động, hấp dẫn.</p><p>- Về bố cục: đảm bảo đúng và đủ bố cục 3 phần của bài viết, gồm Mở bài, Thân bài, Kết bài.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 14:39:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209805838</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Phương Nguyên - Yêu cầu 1</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209811215</link>
         <description><![CDATA[<p>1. Bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ không phải là một bài phát biểu cảm nhận đơn thuần. Yếu tố tạo nên sự khác biệt</p><p>- Giới thiệu ngắn gọn về bài thơ được chọn (tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, khuynh hướng, trào lưu văn học gắn với bài thơ, lý do lựa chọn bài thơ để phân tích, đánh giá).</p><p>- Chỉ ra và phân tích những nét đặc sắc, độc đáo của bài thơ (từ ngữ, hình ảnh, cách tổ chức nhịp điệu, nhạc điệu, cách liên kết mạch cảm xúc và hình ảnh, ...)</p><p>- Đánh giá giá trị của bài thơ về phương diện nghệ thuật cũng như ý nghĩa nhân sinh.</p><p>2.Kiểu bài viết này đòi hỏi sự chặt chẽ trong lập luận, sự sáng rõ, sắc nét của luận điểm và sự mạch lạc trong tổ chức bài viết. </p><p>3.Bởi vậy, người viết cần nắm chắc các tri thức về đặc trưng thi ca đã được giới thiệu trong bài học và được làm rõ qua các tiết đọc văn bản để có những phân tích, đánh giá thuyết phục. Mặt khác, kiểu bài này cũng vẫn khuyến khích người viết thể hiện những rung cảm và tưởng tượng của mình khi chiếm lĩnh bài thơ.</p><p>4. Yêu cầu khi phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ:</p><p>- Về nội dung:</p><p>+ Xác định được chủ đề và phân tích, đánh giá ý nghĩa, giá trị của chủ đề bài thơ.</p><p>+ Phân tích, đánh giá được một số nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật như dạng thức xuất hiện của chủ thể trữ tình, kết cấu, từ ngữ, hình ảnh, vần, nhịp, biện pháp tu từ,…</p><p>- Về kĩ năng:</p><p>+ Lập luận chặt chẽ, thể hiện được những suy nghĩ, cảm nhận của người viết về bài thơ.</p><p>+ Có bằng chứng tin cậy từ bài thơ.</p><p>+ Diễn đạt mạch lạc, sử dụng được các câu chuyển tiếp, các từ ngữ liên kết giúp người đọc nhận ra mạch lập luận.</p><p>-Về bố cục bài viết gồm 3 phần:</p><p>Mở bài: giới thiệu bài thơ và tác giả, nêu nhận xét khái quát về nội dung, nghệ thuật của bài thơ.</p><p>Thân bài: lần lượt phân tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ.</p><p>Kết bài: khẳng định lại giá trị chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ; tác động của bài thơ đối với bản thân hoặc cảm nghĩ về tác phẩm.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 14:47:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209811215</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Quốc Bảo-yêu cầu 1</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209814099</link>
         <description><![CDATA[<ol><li><p>Theo em, một bài văn phân tích, đánh giá về một tác phẩm không giống với một bài phát biểu cảm nhận đơn thuần. Yếu tố làm nên sự khác biệt giữa chúng:</p><ul><li><p>Phân tích, đánh giá cần: xem xét tác phẩm về mọi phương diện một cách khách quan, phân tích và đánh giá nội dung, ý nghĩa</p></li><li><p>Cảm nhận: là trình bày về suy nghĩ, cảm xúc, nhận xét và đánh giá về cái hay, cái đẹp của tác phẩm</p></li></ul></li><li><p>Kiểu bài văn phân tích, đánh giá về 1 tác phẩm thơ đòi hỏi sự chặt chẽ trong lập luận, tính tường minh, sắc nét của luận điểm và sự mạch lạc trong bài viết</p></li><li><p>Khi phâ tích đánh giá về 1 tác phẩm thơ cần nắm chắc về các thức đặc trưng thi ca đã được giới thiệu trong bài học và được làm rõ qua các tiết đọc văn bản để có những phân tích hợp lí và phù hợp.</p></li><li><p>Yêu cầu:</p><p>*Nội dung:</p><ul><li><p>giới thiệu ngắn gọn về bài thơ được chọn</p></li><li><p>chỉ ra những nét đặc sắc, độc đáo của bài thơ, qua đó phân tích những chi tiết đó</p></li></ul><p>*Kĩ năng: phân tích, cảm nhận, đánh giá...</p><p>*Bố cục: gồm có 3 phần</p><ul><li><p>mở bài: giới thiệu ngắn gọn về bài thơ</p></li><li><p>thân bài: phân tích, đánh giá về mạch ý tưởng, sự phát triển của từng câu thơ, chỉ ra nét hấp dẫn, thu hút</p></li><li><p>kết bài: khẳng định giá trị, ý nghĩa tư tưởng, nhân văn... mà bài thơ đem lại</p></li></ul></li></ol>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 14:51:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209814099</guid>
      </item>
      <item>
         <title>yêu cầu 1( Trần Gia Minh)</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209814789</link>
         <description><![CDATA[<p><br/></p><p>1. </p><p>Bài phân tích, đánh giá khác với bài cảm nhận ở chỗ nó đi sâu vào các yếu tố nghệ thuật, cấu trúc, ý nghĩa của bài thơ một cách khách quan, có dẫn chứng và lập luận. Bài cảm nhận thì chủ yếu là cảm xúc chủ quan, không đòi hỏi phân tích chi tiết.</p><p>2. </p><p>Bài phân tích phải có lập luận chặt chẽ, luận điểm rõ ràng, dẫn chứng cụ thể. Cấu trúc gồm mở bài (giới thiệu), thân bài (phân tích chi tiết), kết bài (tổng kết giá trị tác phẩm).</p><p>3.</p><p>Cần hiểu rõ nội dung, ý nghĩa bài thơ, các biện pháp nghệ thuật và ý đồ của tác giả để làm rõ giá trị của tác phẩm.</p><p>4.</p><p>•	Nội dung: Phân tích ý nghĩa và giá trị của bài thơ.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 14:51:59 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209814789</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phương Trang-yêu cầu 1</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209817571</link>
         <description><![CDATA[<ol><li><p><strong>Sự khác biệt giữa bài văn phân tích, đánh giá và bài cảm nhận đơn thuần:</strong></p><ul><li><p>Một bài <strong>phân tích, đánh giá</strong> tác phẩm thơ không chỉ dừng lại ở cảm nhận cá nhân mà cần phải đưa ra những lập luận, dẫn chứng cụ thể từ tác phẩm để phân tích sâu về các yếu tố nghệ thuật (như thể loại, hình thức, ngôn ngữ, cách dùng từ, nhịp điệu, hình ảnh, v.v.) và những thông điệp mà tác phẩm gửi gắm. Bài viết cần thể hiện sự suy nghĩ phản biện, đánh giá giá trị của tác phẩm dựa trên các tiêu chí rõ ràng.</p></li><li><p>Ngược lại, bài <strong>cảm nhận</strong> thường mang tính chủ quan hơn, chỉ đơn giản là cảm nhận, cảm xúc cá nhân về tác phẩm mà không yêu cầu phân tích sâu hay đưa ra đánh giá có căn cứ.</p></li></ul></li><li><p><strong>Tiêu chuẩn trong lập luận và sắp xếp luận điểm trong bài phân tích, đánh giá về tác phẩm thơ:</strong></p><ul><li><p><strong>Lập luận rõ ràng</strong>: Mỗi luận điểm cần phải được thể hiện một cách logic, chặt chẽ, có căn cứ, dựa trên những yếu tố trong tác phẩm như chủ đề, hình ảnh, ngôn ngữ, v.v.</p></li><li><p><strong>Sắp xếp luận điểm hợp lý</strong>: Bài viết cần có một kết cấu chặt chẽ, dễ hiểu, từ việc mở bài giới thiệu về tác phẩm, thân bài phân tích các yếu tố nghệ thuật và nội dung, đến kết luận đánh giá về tác phẩm. Các luận điểm cần được sắp xếp theo một trình tự hợp lý, từ chung đến cụ thể hoặc theo chiều sâu.</p></li></ul></li><li><p><strong>Điều cần nắm chắc khi phân tích, đánh giá tác phẩm thơ:</strong></p><ul><li><p><strong>Hiểu rõ tác phẩm</strong>: Đọc kỹ và hiểu được nội dung, thông điệp chính của tác phẩm.</p></li><li><p><strong>Phân tích các yếu tố nghệ thuật</strong>: Tác phẩm thơ thường sử dụng hình ảnh, ẩn dụ, đối lập, điệp từ… Việc nắm vững các yếu tố nghệ thuật này giúp hiểu rõ hơn cách tác giả xây dựng nội dung và truyền tải thông điệp.</p></li><li><p><strong>Tìm hiểu về tác giả và bối cảnh sáng tác</strong>: Việc hiểu bối cảnh ra đời của tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác, cũng như phong cách sáng tác của tác giả giúp việc đánh giá trở nên chính xác và có chiều sâu.</p></li></ul></li><li><p><strong>Yêu cầu đối với bài phân tích, đánh giá tác phẩm thơ:</strong></p><ul><li><p><strong>Về nội dung</strong>:</p><ul><li><p>Cần thể hiện rõ ý nghĩa và thông điệp của tác phẩm.</p></li><li><p>Phân tích các yếu tố chủ đề, nhân vật, cốt truyện (nếu có), thông điệp tác giả muốn gửi gắm.</p></li></ul></li><li><p><strong>Về kỹ năng</strong>:</p><ul><li><p>Kỹ năng phân tích các yếu tố nghệ thuật như hình ảnh, từ ngữ, nhịp điệu, cấu trúc, v.v.</p></li><li><p>Kỹ năng sử dụng dẫn chứng cụ thể từ tác phẩm để minh họa cho lập luận.</p></li></ul></li><li><p><strong>Về bố cục</strong>:</p><ul><li><p>Mở bài: Giới thiệu tác phẩm và tác giả.</p></li><li><p>Thân bài: Phân tích, đánh giá các yếu tố nghệ thuật và nội dung.</p></li><li><p>Kết bài: Tổng kết lại nhận định, đưa ra đánh giá cuối cùng về tác phẩm.</p></li></ul></li></ul></li></ol><p>Bài phân tích cần có sự kết hợp giữa việc đánh giá lý tính và cảm xúc thẩm mỹ, đồng thời thể hiện được sự sâu sắc, khoa học trong việc nhận xét tác phẩm.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 14:56:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209817571</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phương Trang-yêu cầu 2</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209819609</link>
         <description><![CDATA[<ol><li><p><strong>Vấn đề được phân tích, đánh giá trong bài viết là gì?</strong></p><ul><li><p>Vấn đề phân tích, đánh giá trong bài viết có thể là <strong>nội dung, thông điệp, chủ đề và các yếu tố nghệ thuật</strong>của một tác phẩm thơ. Cụ thể, tác giả có thể phân tích cách sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh, nhịp điệu, cũng như những đặc trưng văn học của tác phẩm để làm rõ những giá trị nghệ thuật mà tác giả muốn thể hiện.</p></li></ul></li><li><p><strong>Ngữ liệu tham khảo trên có phải là một bài viết hoàn chỉnh không? Căn cứ vào đâu để nhận định như vậy?</strong></p><ul><li><p>Để xác định liệu ngữ liệu tham khảo có phải là bài viết hoàn chỉnh hay không, ta cần xét xem nó có <strong>đầy đủ các phần</strong> cơ bản của một bài văn phân tích (mở bài, thân bài, kết luận), đồng thời xem xét nội dung có <strong>rõ ràng, logic</strong> và có <strong>đưa ra những lập luận, dẫn chứng</strong> cụ thể hay không. Nếu thiếu một trong các yếu tố này, bài viết có thể chưa hoàn chỉnh.</p></li></ul></li><li><p><strong>Nội dung phân tích, đánh giá được trình bày theo cách tách riêng chủ đề, những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật hay kết hợp hai nội dung? Cách trình bày như vậy có ưu điểm gì?</strong></p><ul><li><p>Nếu bài viết <strong>tách riêng chủ đề và hình thức nghệ thuật</strong>, điều này có thể giúp <strong>làm rõ từng yếu tố</strong> của tác phẩm một cách chi tiết, tạo sự mạch lạc trong phân tích. Cách này cũng dễ dàng giúp người đọc nắm bắt được từng khía cạnh của tác phẩm, từ nội dung đến hình thức.</p></li><li><p>Nếu kết hợp cả hai, bài viết sẽ thể hiện <strong>mối liên hệ giữa nội dung và hình thức</strong>, giúp người đọc hiểu rằng những yếu tố nghệ thuật không chỉ là hình thức mà còn phục vụ cho việc truyền tải thông điệp của tác phẩm. Cách này giúp thể hiện một cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về tác phẩm.</p></li></ul></li><li><p><strong>Xác định các ý chính được trình bày trong bài viết tham khảo?</strong></p><ul><li><p>Các ý chính trong bài viết tham khảo có thể bao gồm:</p><ul><li><p><strong>Giới thiệu tác phẩm và tác giả</strong>.</p></li><li><p><strong>Phân tích chủ đề và thông điệp</strong> của tác phẩm.</p></li><li><p><strong>Đánh giá các yếu tố nghệ thuật</strong> như hình ảnh, ngôn ngữ, nhịp điệu, hình thức cấu trúc.</p></li><li><p><strong>Kết luận</strong> về giá trị của tác phẩm.</p></li></ul></li></ul></li><li><p><strong>Để làm sáng tỏ "những điệu xanh" trong bài thơ "Mùa xuân xanh", tác giả đã dùng những dẫn chứng, lý lẽ nào?</strong></p><ul><li><p>Để làm sáng tỏ "những điệu xanh", tác giả có thể đưa ra các dẫn chứng về <strong>hình ảnh, ngôn từ, âm điệu</strong>, những từ ngữ liên quan đến màu sắc, ánh sáng và mùa xuân. Ví dụ, việc miêu tả <strong>hình ảnh thiên nhiên</strong>, <strong>những chuyển động nhẹ nhàng</strong>, hay <strong>màu sắc tươi sáng</strong> có thể gợi mở ý nghĩa về sự mới mẻ, sự sống, và sự tự do trong "những điệu xanh".</p></li></ul></li><li><p><strong>Việc đánh giá chủ đề và hình thức nghệ thuật có xuất phát từ đặc trưng thể loại tác phẩm không?</strong></p><ul><li><p><strong>Có</strong>. Việc đánh giá chủ đề và hình thức nghệ thuật cần phải dựa trên <strong>đặc trưng thể loại</strong> của tác phẩm. Mỗi thể loại văn học có những quy tắc và đặc điểm riêng, vì vậy, việc đánh giá tác phẩm phải phù hợp với thể loại đó. Ví dụ, một bài thơ lục bát sẽ có những đặc điểm nghệ thuật riêng biệt mà không thể áp dụng cách phân tích của thể loại văn xuôi.</p></li></ul></li><li><p><strong>Theo em, bài viết mẫu cần cải thiện điều gì không?</strong></p><ul><li><p>Bài viết mẫu có thể cần cải thiện ở một số điểm sau:</p><ul><li><p><strong>Chắc chắn hơn trong việc đưa ra dẫn chứng</strong>: Bài viết cần phải có những dẫn chứng cụ thể từ tác phẩm để minh họa cho các luận điểm được nêu ra.</p></li><li><p><strong>Liên kết giữa các luận điểm</strong>: Cần chú trọng việc tạo ra mối liên kết logic giữa các ý tưởng để bài viết không bị rời rạc.</p></li><li><p><strong>Nhấn mạnh vào đánh giá tổng quan</strong>: Kết luận bài viết cần phải thể hiện rõ ràng sự đánh giá về giá trị của tác phẩm, có thể là một nhận xét tổng thể về mặt nghệ thuật và nội dung.</p></li></ul></li></ul></li></ol><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 14:58:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209819609</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Phương Nguyên - Yêu cầu 2</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209820338</link>
         <description><![CDATA[<p>1.“Mùa xuân xanh” là bài thơ của niềm vui sống, của sự chan hoà giữa con người với tạo vật, là khúc dạo đầu của tình yêu lứa đôi. Những giá trị nhân bản ấy lại được thể hiện bằng một thứ ngôn từ thơ ca tự nhiên, giản dị nhưng vẫn có tính hiện đại.&nbsp;</p><p>2.Ngữ liệu tham khảo trên là một bài viết hoàn chỉnh. căn cứ vào bố cục, luận điểm, mạch cảm xúc, ý chính.</p><p>3.Nội dung phân tích đánh giá được trình bày theo cách kết hợp hai nội dung chủ đề và những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật. Mỗi đoạn văn là một trích dẫn câu đề và kèm sau đó là lời phân tích nghệ thuật của câu đề đó. Điều này giúp bố cục bài rõ ràng và các ý sẽ được thể hiện rõ và logic hơn, dễ dàng cho người đọc và hiểu được</p><p>4.Các ý chính được viết trong bài</p><p>+Mạch ý tưởng, cảm xúc của nhân vật trữ tình (nhân vật trữ tình muốn biểu đạt điều gì, thông qua hình tượng nào, với cái nhìn và thái độ ra sao...)</p><p>+ Sự phát triển của hình tượng chính (qua các khổ, đoạn trong bài) và tính độc đáo của những phương tiện ngôn từ đã được sử dụng (từ ngữ, cách gieo vần, ngắt nhịp, các biện pháp tu từ,...)</p><p>+ Nét hấp dẫn riêng của bài thơ so với những sáng tác khác cùng đề &nbsp;tài, chủ đề, thể loại (của chính nhà thơ hoặc của những tác giả khác)</p><p>5.Tác giả đã dùng những dẫn chứng, lí lẽ: hình ảnh tượng trưng: bầu trời, lúa, cỏ, lũy tre; từ ngữ trong bài</p><p>6.Việc đánh giá chủ đề và hình thức nghệ thuật <strong>xuất phát từ đặc trưng thể loại của tác phẩm</strong>. Mỗi thể loại sẽ có những đặc điểm nhận dạng khác nhau như các bài thơ trữ tình sẽ thiên về hình ảnh với cảm xúc lãng mạn,...</p><p>7.Theo em bài viết mẫu cần cải thiện việc đánh giá cảm xúc của nhân vật trữ tình trong bài.</p><p><br></p><p><br/></p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 15:00:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209820338</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209820468</link>
         <description><![CDATA[<p>Đặng Khánh Chi - yêu cầu 1</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3014542978/2463d15dcd5bd858e5a4da38c287b5c4/z6019417551296_b096a5a92b6aaaf42b47e29190c910fe.jpg" />
         <pubDate>2024-11-10 15:00:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209820468</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209820719</link>
         <description><![CDATA[<p>Đặng Khánh Chi </p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3014542978/4de28d8fa608f3e0d2ee145c10d35304/z6019417542202_7083dde4844ed5d023657eded5f2d043.jpg" />
         <pubDate>2024-11-10 15:00:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209820719</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209820935</link>
         <description><![CDATA[<p>Đặng Khánh Chi - yêu cầu 2</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3014542978/d21e84bce116d90e3f6e46fd98e69518/z6019417542202_7083dde4844ed5d023657eded5f2d043.jpg" />
         <pubDate>2024-11-10 15:00:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209820935</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209821328</link>
         <description><![CDATA[<p>Đặng Khánh Chi</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3014542978/7a437090c323da800533de0632f14478/z6019417550073_e1035b636b4f69f627f00214ad5892cd.jpg" />
         <pubDate>2024-11-10 15:01:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209821328</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lê Hồng Hạnh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209824235</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3014281296/a59f536510b17e8ad360b711aee8f556/12.jpg" />
         <pubDate>2024-11-10 15:05:43 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209824235</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Quốc Bảo-yêu cầu 2</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209824865</link>
         <description><![CDATA[<ol><li><p>     Vấn đề được phân tích, đánh giá: "Mùa xuân xanh" là bài thơ của niềm vui, sự sống, sự chan hoà giữa con người với thiên nhiên, là khúc dạo đầu của tình yêu mới chớm nở. Những giá trị nhân văn ấy được thể hiện bằng 1 thứ ngôn ngữ từ thơ ca tự nhiên, đầy mộc mạc và giản dị, nhưng vẫn mang đậm chất của xã hội hiện đại</p></li><li><p>    Ngữ liệu tham khảo trên là 1 bài viết hoàn chỉnh. Căn cứ vào bố cục, luận điểm, mạch cảm xúc, ý chính.</p></li><li><p>     Nội dung phân tích đánh giá được trình bày theo cách kết hợp 2 nội dung chủ đề và những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật. Điều này giúp bố cục bài thêm rõ ràng và các ý sẽ được thể hiện chính xác và logic hơn, giúp người đọc dễ dàng hiểu và bị thu hút hơn.</p></li><li><p>     Giới thiêu ngắn về tác giả, tác phẩm và các vấn đề chính sẽ được tập trung phân tích trong bài viết.</p><p>      Ấn tượng về khả năng gợi mở của nhan đề và câu mở đầu của bài thơ</p><p>      Mạch hệ thống hình ảnh trong bài thơ </p><p>       Phân tích phép đói, điệp, hiệu quả về mặt thẩm mĩ</p><p>       Liên hệ, so sánh với thơ truyền thống</p><p>       Khẳng định giá trị của bài thơ</p></li><li><p>     Tác giả đã sử dụng những dẫn chứng, lí lẽ, hình ảnh tượng trưng: bầu trời, lúa, cỏ, luỹ tre; từ ngơ trong bài</p></li><li><p>      Việc đánh giá chủ đề và hình thức nghệ thuật xuất phát từ đặc trưng thể loại của tác phẩm. Mỗi thể loại sẽ có những đặc điểm nhận dạng khác nhau thư các bài thơ trữ tình sẽ thiên về hình ảnh với cảm xúc đầy lãng mạn,...Việc đánh giá như vậy sẽ giúp người đọc, người nghe hình dung rõ ràng nhất về thể loại mà bài viết muốn nói đến.</p></li><li><p>       Theo em bài viết mẫu cần cải thiện thêm phần đánh giá cảm xúc của nhân vật trữ tình trong bài</p></li></ol>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 15:06:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209824865</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Vân Khánh - yêu cầu 1 ( trang 1)</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209825056</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3014637393/3a55c56b8071d54d50b544d82fd7b522/24FB20B9_7051_4D78_BBB2_432F25BFF733.jpeg" />
         <pubDate>2024-11-10 15:06:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209825056</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Vân Khánh - yêu cầu 1 ( trang 1)</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209825759</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3014637393/d967e006ea7da2f15f82e54754070185/15EF8745_8836_4AB6_A2D4_7E66713D6585.jpeg" />
         <pubDate>2024-11-10 15:08:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209825759</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Vân Khánh - yêu cầu 2</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209825998</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3014637393/53b7a0240dd5431a1683ce4afb6a6e71/67A15E38_F3A2_43FA_9089_9A70D8A37963.jpeg" />
         <pubDate>2024-11-10 15:08:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209825998</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lò Thiên Đăng-Nội Dung 2</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209828607</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3014631733/2f8bc46ec09dcf94baccced135cb7b1c/IMG_1158.jpeg" />
         <pubDate>2024-11-10 15:12:32 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209828607</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Thanh Tâm - Yêu cầu 2</title>
         <author>tamthanhnguyen27082009</author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209828742</link>
         <description><![CDATA[<p>1. Vấn đề được phân tích, đánh giá trong bài viết là phân tích, đánh giá tác phẩm " Mùa xuân xanh" của Nguyễn Bích </p><p>2. Ngữ liệu tham khảo trên đã là một bài viết hoàn chỉnh. </p><p>Căn cứ vào bài viết đã đảm bảo bố cục 3 phần, giới thiệu ngắn gọn về bài thơ, phân tích được những nét đặc sắc, độc đáo của bài thơ,...</p><p>3. Nội dung phân tích, đánh giá nên được trình bày theo cách tách riêng chủ để, những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật vì: Cách cảm nhận và phân tích này thể hiện được rõ ràng mạch cảm xúc của bài thơ, nhấn mạnh được các chi tiết, chủ đề và những nét đặc sắc trong bài thơ từ đó giúp người đọc cảm nhận bài thơ một cách dễ hơn, rõ ràng hơn. Tuy nhiên ta cũng có thể kết hợp giữa chủ đề và những nét nghệ thuật đặc sắc trong bài.</p><p>4. Các ý chính được trình bày trong bài viết tham khảo là</p><p>+ Giới thiệu khái quát tác giả tác phẩm </p><p>+ Phân tích chủ đề nội dung của tác phẩm </p><p>+ Đánh giá những nét đặc sắc về nghệ thuật trong tác phẩm </p><p>+ Kết luận thông điệp của tác phẩm </p><p>5. Để làm sáng tỏ "những điệu xanh" trong bài thơ Mùa xuân xanh tác giả đã dùng những dẫn chứng, lí lẽ như hình ảnh, ngôn ngữ, ...</p><p>6. Việc đánh giá chủ đề và hình thức nghệ thuật có xuất phát từ đặc trưng thể loại tác phẩm vì mỗi thể loại sẽ có những đặc điểm nhận dạng khác nhau.</p><p>7. Theo em bài viết mẫu cần cải thiện về cách liên kết luận điểm và đánh giá cảm xúc của nhân vật trữ tìnhcảm xúc của nhân vật trữ tình</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 15:12:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209828742</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lò Thiên Đăng-Nôi Dung 1</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209829215</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3014631733/65651843bed13d1851589d0dde107e85/IMG_1156.jpeg" />
         <pubDate>2024-11-10 15:13:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209829215</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lê Hồng Hạnh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209832083</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3014281296/ab17290501aa2415baa1f86bad7f302b/89.jpg" />
         <pubDate>2024-11-10 15:17:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209832083</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Lan Phương -yêu cầu 1</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209838076</link>
         <description><![CDATA[<p>1.Bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ không phải là một bài phát biểu cảm nhận đơn thuần.yếu tố làm nên sự khác biệt: - Phân tích đánh giá về một tác phẩm là khái quát phân tích những nội dung , ý nghĩa và nghệ thuật có trong bài - Cảm nhận về một tác phẩm thơ là trinhg bày những suy nghĩ, tình cảm, cảm xúc về cái đẹp cái hay trong 1 tác phẩm thơ 2.bài văn phân tích ,đánh giá vè tác phẩm thơ đòi hỏi sự chặt chẽ trong lập luận, sự sáng rõ, sắc nét của luận điểm và sự mạch lạc trong tổ chức bài viết 3.cần nắm chắc những điều : + Xác định đề tài, mục đích viết + Lập dàn ý + Bài viết phải đủ 3 phần mở, thân, kết + Luận điểm, dẫn chứng phải cụ thể, rõ ràng 4.cần đáp ứng yêu cầu: - Về nội dung: + Xác định được chủ đề và phân tích, đánh giá ý nghĩa, giá trị của chủ đề bài thơ. + Phân tích, đánh giá được một số nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật như dạng thức xuất hiện của chủ thể trữ tình, kết cấu, từ ngữ, hình ảnh, vần, nhịp, biện pháp tu từ,… - Về kĩ năng: + Lập luận chặt chẽ, thể hiện được những suy nghĩ, cảm nhận của người viết về bài thơ. + Có bằng chứng tin cậy từ bài thơ. + Diễn đạt mạch lạc, sử dụng được các câu chuyển tiếp, các từ ngữ liên kết giúp người đọc nhận ra mạch lập luận. + Bố cục bài viết gồm 3 phần: Mở bài: giới thiệu bài thơ và tác giả, nêu nhận xét khái quát về nội dung, nghệ thuật của bài thơ. Thân bài: lần lượt phân tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ. Kết bài: khẳng định lại giá trị chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ; tác động của bài thơ đối với bản thân hoặc cảm nghĩ về tác phẩm.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 15:27:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209838076</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Lan Phương - yêu cầu 2</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209838363</link>
         <description><![CDATA[<p>1.vấn đề được phận tích đánh giá trong bài viết là nói về vẻ đẹp của “mùa xuân xanh” thông qua hình thức và nội dung độc đáo. <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="http://2.ng">2.ng</a>ữ liệu tham khảo trên là một bài viết hoàn chỉnh. Căn cứ vào bố cục 3, những luận điểm , luận cứ rõ ràng, mạch cảm xúc và nội dung chính 3.nội dung phân tích , đánh giá được trình bày theo cách kết hợp hai nội dung chủ đề và hình thức nghệ thuật thông qua cách sử dụng trên sẽ làm cho bài văn đặc sắc hơn , giúp bộc lộ được những nội dung , ý chính mà tác giả muốn truyền đạt cho người đọc, dễ hình dung , nắm được điều tác giả muốn nói 4.1-giới thiệu khái quát về tác giả tác phẩm , nội dung tác phẩm. 2-nêu những ấn tượng về nhan đề hình ảnh thơ. 3-Phân tích về nội dung và nghệ thuật sử dụng trong tác phẩm.4-liên hệ so sánh với các tác phẩm thơ khác. <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="http://6.vi">6.vi</a>ệc đánh giá chủ đề và hình thức nghệ thuật xuất phát từ đặc trưng của thể <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="http://lo%E1%BA%A1i.Th">loại.Th</a>ể laoij thể hiện những đặc điểm khác nhau và những nét riêng của mình VD : thơ trữ tình sẽ thiên về bộc lộ tư tưởng tình cảm ,…Từ đó làm cho độc giả hình dung về thể loại mà tác phẩm nói đến 7 tác giả cần tập trung và đánh giá chi tiết về những tư tưởng tình cảm của nhân vật trữ tình trong bài</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 15:27:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209838363</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Ngọc Diệp - Yêu cầu 1</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209838740</link>
         <description><![CDATA[<p>1.Theo em, một bài văn phân tích, đánh giá về một tác phẩm thơ không giống với một bài phát biểu cảm nhận thơ đơn thuần, khác nhau ở chỗ:</p><p>- Mục đích:</p><p>&nbsp;• Phân tích, đánh giá: Mục đích là để xem xét và giải thích các yếu tố nghệ thuật, nội dung, tư tưởng của bài thơ. Nó yêu cầu người viết phải có cái nhìn sâu sắc và khách quan, đồng thời sử dụng lý lẽ, dẫn chứng để làm rõ giá trị của tác phẩm.</p><p>&nbsp;• Cảm nhận đơn thuần: Được viết từ cảm xúc cá nhân, nó chủ yếu xoay quanh suy nghĩ, cảm nhận chủ quan của người viết khi đọc tác phẩm. Bài viết không cần phân tích sâu, mà chỉ là chia sẻ cảm xúc và ấn tượng của cá nhân.</p><p>&nbsp;- Cấu trúc và cách diễn đạt:</p><p>&nbsp;• Phân tích, đánh giá: Thường theo một cấu trúc rõ ràng và có tổ chức, bao gồm phần mở bài, thân bài (trong đó chia nhỏ thành các phần phân tích nội dung, nghệ thuật, ngôn ngữ), và kết bài. Ngôn ngữ thường mang tính học thuật và sử dụng lý lẽ chặt chẽ.</p><p>&nbsp;• Cảm nhận đơn thuần: Cấu trúc đơn giản, không yêu cầu phân tích cụ thể từng phần của tác phẩm. Ngôn ngữ tự do, cảm xúc và ít phụ thuộc vào lý lẽ hay dẫn chứng.</p><p>&nbsp;-  Cách tiếp cận tác phẩm:</p><p>&nbsp;• Phân tích, đánh giá: Tiếp cận tác phẩm từ nhiều khía cạnh như nội dung, nghệ thuật, hình ảnh, giọng điệu, ngôn ngữ, từ đó đưa ra đánh giá về ý nghĩa và giá trị nghệ thuật của bài thơ.</p><p>&nbsp;• Cảm nhận đơn thuần: Tiếp cận tác phẩm một cách tự nhiên, qua cảm giác, cảm xúc. Người viết không cố gắng bóc tách hoặc lý giải mà để cảm xúc dẫn dắt.</p><p>=&gt; Như vậy, một bài phân tích, đánh giá thường yêu cầu kỹ năng phân tích, hiểu biết về văn học, và có cái nhìn khách quan, trong khi một bài cảm nhận đơn thuần chỉ cần sự chân thành trong cảm xúc của người viết mà không cần đi sâu vào chi tiết hoặc lý luận.</p><p><br/></p><p>2.Bài phân tích, đánh giá về tác phẩm thơ cần đáp ứng các tiêu chuẩn sau:</p><p>&nbsp;-  Lập luận chặt chẽ: Mỗi nhận xét phải dựa trên dẫn chứng cụ thể từ tác phẩm. Các lập luận cần rõ ràng, hợp lý, không suy diễn quá mức.</p><p>&nbsp;- Sắp xếp luận điểm hợp lý: Các luận điểm nên được tổ chức theo trình tự logic, chẳng hạn theo bố cục nội dung (từ ý chính đến ý phụ), theo yếu tố nghệ thuật (hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu) hoặc theo tiến trình của bài thơ.</p><p>&nbsp;- Tổ chức bài viết mạch lạc: Bài viết nên có bố cục rõ ràng với ba phần:</p><p>&nbsp;• Mở bài: Giới thiệu ngắn gọn tác phẩm, tác giả và vấn đề chính sẽ phân tích.</p><p>&nbsp;• Thân bài: Triển khai từng luận điểm một cách cụ thể, có dẫn chứng và phân tích.</p><p>&nbsp;• Kết bài: Tóm lược nội dung và khẳng định giá trị của bài thơ.</p><p>=&gt; Cách tổ chức này giúp bài văn có sự mạch lạc, dễ hiểu và thuyết phục hơn.</p><p><br/></p><p>3.Khi phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ, cần nắm chắc các yếu tố sau:</p><p>&nbsp;- Nội dung và tư tưởng: Hiểu rõ thông điệp, ý nghĩa của bài thơ, cảm xúc và tư tưởng mà tác giả muốn truyền tải.</p><p>&nbsp;- Nghệ thuật ngôn ngữ: Chú ý đến cách dùng từ ngữ, hình ảnh, các biện pháp tu từ (ẩn dụ, nhân hóa, so sánh), vì chúng tạo nên phong cách và chiều sâu cho bài thơ.</p><p>&nbsp;- Giọng điệu và cảm xúc: Xác định giọng điệu chung (như trữ tình, u buồn, phấn khởi) và dòng cảm xúc chính của tác phẩm, vì chúng ảnh hưởng đến cách người đọc cảm nhận.</p><p>&nbsp;- Bối cảnh sáng tác: Hiểu biết về hoàn cảnh ra đời và tâm trạng của tác giả giúp giải mã ý nghĩa sâu xa hơn của bài thơ.</p><p>&nbsp;- Phong cách tác giả: Nắm vững phong cách và đặc trưng sáng tác của tác giả để thấy bài thơ nằm trong mạch sáng tác chung hay có sự độc đáo riêng.</p><p>=&gt; Hiểu rõ các yếu tố này giúp phân tích sâu sắc và đưa ra đánh giá chính xác về giá trị tác phẩm.</p><p><br/></p><p>4.Để bài văn phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ đạt hiệu quả cao, cần đáp ứng các yêu cầu sau:</p><p>&nbsp;- Về nội dung:</p><p>&nbsp;• Hiểu rõ nội dung và tư tưởng của tác phẩm.</p><p>&nbsp;• Phân tích các yếu tố nghệ thuật (ngôn ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ) và ý nghĩa của chúng trong việc truyền tải thông điệp.</p><p>&nbsp;• Đánh giá sâu sắc về giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ.</p><p>&nbsp;- Về kỹ năng:</p><p>&nbsp;• Kỹ năng phân tích: Biết cách bóc tách và lý giải từng yếu tố trong bài thơ.</p><p>&nbsp;• Kỹ năng lập luận: Lập luận chặt chẽ, dẫn chứng cụ thể, không suy diễn chủ quan.</p><p>&nbsp;• Kỹ năng ngôn ngữ: Diễn đạt trong sáng, mạch lạc, dùng từ ngữ phù hợp và chính xác.</p><p>&nbsp;- Về bố cục:</p><p>&nbsp;• Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm và vấn đề chính sẽ phân tích.</p><p>&nbsp;• Thân bài: Triển khai từng luận điểm một cách logic, có dẫn chứng và phân tích chi tiết.</p><p>&nbsp;• Kết bài: Tóm lược nội dung, khẳng định giá trị của bài thơ và ý nghĩa sâu xa.</p><p>&nbsp;=&gt; Bài viết đáp ứng tốt những yêu cầu này sẽ có sự mạch lạc, sâu sắc và thuyết phục.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 15:28:17 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209838740</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Ngọc Diệp - Yêu cầu 2</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209841115</link>
         <description><![CDATA[<p>1. Bài viết “Những điệu xanh của mùa xuân” phân tích vẻ đẹp thiên nhiên và tinh thần mùa xuân qua sắc xanh trong bài thơ Mùa xuân xanh của Nguyễn Bính. Bài viết đánh giá nghệ thuật sử dụng hình ảnh và biện pháp tu từ, làm nổi bật phong cách độc đáo của Nguyễn Bính và ý nghĩa nhân văn của bài thơ</p><p><br/></p><p>2.&nbsp;Ngữ liệu tham khảo “Những điệu xanh của mùa xuân” không phải là một bài viết hoàn chỉnh. Căn cứ vào cấu trúc, bài viết được phân tích chỉ bao gồm các đoạn mô tả ngắn về nội dung, nghệ thuật, và đánh giá các yếu tố trong bài thơ, nhưng thiếu phần mở bài và kết bài rõ ràng. Một bài viết hoàn chỉnh cần có bố cục đầy đủ với mở bài (giới thiệu tác giả, tác phẩm), thân bài (phân tích chi tiết) và kết bài (tóm tắt giá trị, khẳng định ý nghĩa tác phẩm)</p><p><br/></p><p>3.&nbsp;</p><ul><li><p>Trong bài phân tích “Những điệu xanh của mùa xuân,” nội dung được trình bày kết hợp giữa việc tách riêng chủ đề và các nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật. Các yếu tố như hình ảnh thiên nhiên, biện pháp tu từ, và nghệ thuật sử dụng sắc xanh trong bài thơ được phân tích kỹ lưỡng, nhưng bài viết cũng đánh giá giá trị tổng thể của tác phẩm về mặt nghệ thuật và nhân văn.</p></li><li><p>Cách trình bày này có ưu điểm là giúp người đọc dễ dàng tiếp cận và hiểu rõ từng khía cạnh của tác phẩm. Việc tách riêng từng yếu tố (chủ đề, nghệ thuật) giúp bài viết có sự rõ ràng, mạch lạc, làm nổi bật các điểm đặc sắc của tác phẩm mà không bị lẫn lộn. Đồng thời, kết hợp đánh giá tổng thể về cả nội dung lẫn hình thức giúp người đọc có cái nhìn toàn diện về giá trị của bài thơ.</p></li></ul><p><br/></p><p>4.&nbsp;</p><ul><li><p>Giới thiệu ngắn gọn về bài thơ, tác giả</p></li></ul><ul><li><p>Mạch cảm xúc của bài thơ</p></li><li><p>Cách xây dựng hình tượng nhân vật</p></li><li><p>Nét hấp dẫn riêng của bài thơ, so sánh với các tác phẩm khác</p></li><li><p>Khẳng định lại giá trị nghệ thuật và nội dung</p><p><br/></p></li></ul><p>5.&nbsp;Việc đánh giá chủ đề và hình thức nghệ thuật trong Mùa xuân xanh xuất phát từ đặc trưng thể loại thơ. Thơ chú trọng vào cảm xúc, hình ảnh và các biện pháp tu từ. Chủ đề và hình thức nghệ thuật trong bài thơ giúp làm rõ vẻ đẹp thiên nhiên và mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, đồng thời thể hiện qua cách sử dụng nhịp điệu và phép tu từ như điệp ngữ, phép đối </p><p><br/></p><p>6. Bài viết mẫu có thể cải thiện ở những điểm sau:</p><ul><li><p> Cấu trúc rõ ràng hơn: Tách rõ phần phân tích chủ đề và hình thức nghệ thuật để dễ tiếp cận hơn.</p></li><li><p> Đánh giá sâu sắc: Phân tích ý nghĩa nhân sinh và thông điệp của bài thơ một cách chi tiết hơn.</p></li><li><p> Liên hệ thực tế: Đưa vào các liên hệ giữa bài thơ và các vấn đề xã hội, thiên nhiên sẽ làm bài thêm thuyết phục.</p></li><li><p> Ngôn ngữ dễ hiểu: Sử dụng từ ngữ rõ ràng và dễ tiếp cận để tăng hiệu quả truyền đạt.</p></li></ul><p>=&gt; Những cải tiến này sẽ giúp bài viết mạch lạc và hấp dẫn hơn.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 15:31:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209841115</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209842357</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Nguyễn Phạm Liên Hoa 10 sử - yêu cầu 1 </strong></p><p>1 .theo em, một bài văn phân tích , đánh giá về một tác phẩm thơ không giống với một bài phát biểu cảm nhận đơn thuần .</p><p>- Những yếu tố làm nên sự khác biệt giữa chúng : </p><p>+ Đòi hỏi sự chặt chẽ trong lập luận sáng rõ , sắc nét trong luận điểm và sự mạnh lạc trong bài viết </p><p>+ Ý tứ  mà người viết muốn thể hiện lại là những rung cảm và tượng tượng của mình trong quá trình chiếm lĩnh bài thơ</p><p><br/></p><p>2. Bài văn phân tích , đánh giá về tác phẩm thơ đòi hỏi những tiêu chuẩn trong luận điểm là :</p><p>- chặt chẽ , chính xác , hợp lí , mạnh lạc , đúng trình tự</p><p>3. Khi đánh giá về một tác phẩm thơ cần nắm chắc được tri thức về đặc trưng của thơ  ca  từ đó dựa vào phần tri thức để phân tích</p><p>4. Yêu cầu của một tác phẩm thơ </p><p>- Về nội dung </p><p>+ Hiểu và giới thiệu khái quát về hoàn cảnh , tác giả , tác phẩm , nội dung của toàn bài thơ </p><p>+ Đánh giá , phân tích làm sáng tỏ các luận điểm chính trong bài nêu ra được lí lẽ bằng chứng làm nổi bật vấn đề nghị luận </p><p>+ đánh giá các biện pháp nghệ thuật , từ ngữ , hình ảnh nêu trong bài </p><p>+ Đánh giá mở rộng ( liên hệ bài thơ với nhiều bài thơ khác có cùng điểm chung )</p><p>- Về kĩ năng : cần có phân tích , đánh giá , cảm thụ , lập luận , ...</p><p>- Về bố cục gồm 3 phần :</p><p>a . mở bài : giới thiệu khái quát vấn đề nghị luận </p><p>+ dẫn dắt đến vấn đề nghị luận</p><p>b. Thân bài : </p><p>+ đánh giá , phân tích nội dung vấn đề </p><p>+ đánh giá , phân tích nghệ thuật </p><p>+ mở rộng , liên hệ </p><p>c, kết bài : nêu cảm nhận của bản thân về bài thơ </p><p>+ khẳng định lại giá trị của tác phẩm</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 15:33:28 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209842357</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209844963</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Nguyễn Phạm Liên Hoa 10 sử - yêu cầu 2 </strong></p><p>1 . Vấn đề được phân tích đánh giá trong bài " Mùa xuân xanh" là mùa xuân với sự tươi vui , sự kết hợp giữa thiên nhiên và con người đã tạo nên một mùa xuân đầy sức sống cũng tạo nên chất trữ tình là sự khởi sắc của tình yêu đôi lứa</p><p>2 . Ngữ liệu tham khảo trên là một bài viết hoàn chỉnh </p><p>Vì : căn cứ vào sự lập luận các ý trong bài đã có bố cục ba phần trong ba phần đấy đã làm sáng rõ nội dung vấn đề nghị luận mà tác phẩm hướng tới</p><p>3. Nội dung phân tích , đánh giá được trình bày theo cách kết hợp cả hai hình thức chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ thuật . Cách trình bày như vậy giúp người đọc hình dung một cách dễ dàng hơn trong việc hình rung ý nghĩa của bài thơ . Dễ dàng biết được bố cục của bài thơ và các  luận điểm sẽ thể hiện được rõ nét</p><p>4. Những ý chính được trình bày trong bài viết </p><p>- giới thiệu tác giả tác phẩm </p><p>- những ấn tượng ban đầu về bài thơ </p><p>- mạnh hệ thống hình ảnh thơ trong bài </p><p>- các biện pháp tu từ : điệp , đối , tác dụng của các biện pháp nghệ thuật </p><p>- đánh giá mở rộng : liên hệ so sánh giữa hai lối thơ hiện đại và truyền thống  </p><p>- khẳng định lại giá trị thẩm mỹ và giá trị nhân bản của bài thơ  </p><p>- khái quát lại vấn đề nghị luận</p><p>5. Những lí lẽ và dẫn chứng để làm sáng tỏ " những điệu xanh " </p><p>+ " ý niệm mùa xuân đc thể hiện cụ thể hoá trong các hình ảnh trải dọc bài thơ: bầu trời , cây lá , ruộng đồng , luỹ tre , cuối cùng là cái " thắt lưng xanh " ...</p><p>+ "mỗi hình ảnh lại gợi ra những sắc thái khác nhau của mùa xanh : trời xanh trong , lá xanh biếc ... chiếc thắt lưng xanh thắm "</p><p>6. Việc đánh giá chủ đề và hình thức nghệ thuật có xuất phát từ đặc trưng thể loại . Bởi lẽ mỗi thể loại khác nhau có đặc trưng thể loại khác nhau thì thơ cũng vậy cũng cần có các đặc trưng ấy để nhận diện</p><p>7. Theo em bài viết cần cải thiện vấn đề phân tích nội dung nhiều hơn vì phần nội dung của bài thơ khá ít , chủ yếu là tập trung vào vấn đề mạnh cảm xúc và phần biện pháp khiên phần đánh giá nội dung chính của bài bị lược bớt . Ngoài ra nên so sánh với một tác phẩm có nội dung tương tự chi tiết hơn nữa để hiểu rõ hơn về bài thưo</p><p><br/></p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 15:37:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209844963</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lê Thái Quỳnh Anh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209844977</link>
         <description><![CDATA[<p>Yêu cầu 1</p><p><br/></p><p><strong>1. Theo em, một bài văn phân tích, đánh giá về một tác phẩm thơ có giống với một bài phát biểu cảm nhận đơn thuần không? Nếu không phải thì yếu tố nào làm nên sự khác biệt giữa chúng?</strong></p><p><br/></p><p>Một bài văn phân tích, đánh giá về một tác phẩm thơ khác với một bài phát biểu cảm nhận đơn thuần. Bài phân tích, đánh giá yêu cầu người viết phải có sự nghiên cứu, khám phá sâu sắc về nội dung, nghệ thuật, và ý nghĩa của tác phẩm. Trong khi đó, bài cảm nhận chỉ thể hiện cảm xúc, suy nghĩ cá nhân đối với bài thơ. Yếu tố làm nên sự khác biệt là ở chiều sâu phân tích và lập luận chặt chẽ trong bài phân tích, đánh giá, giúp người đọc hiểu rõ hơn về tác phẩm.</p><p><br/></p><p><strong>2. Bài văn phân tích, đánh giá về tác phẩm thơ đòi hỏi những tiêu chuẩn gì trong lập luận, sắp xếp luận điểm, tổ chức bài viết?</strong></p><p><br/></p><p>Bài phân tích, đánh giá về tác phẩm thơ đòi hỏi:</p><p>• Lập luận logic, chặt chẽ, có dẫn chứng rõ ràng từ nội dung bài thơ.</p><p>• Luận điểm cần sắp xếp hợp lý, từ việc phân tích từng yếu tố của thơ đến những luận điểm chính, phụ.</p><p>• Bài viết cần có bố cục mạch lạc, rõ ràng, gồm mở bài, thân bài, và kết bài để thể hiện được các ý chính một cách nhất quán và thuyết phục.</p><p><br/></p><p><strong>3. Khi phân tích đánh giá về một tác phẩm thơ cần nắm chắc điều gì?</strong></p><p><br/></p><p>Khi phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ, cần nắm chắc:</p><p>• Nội dung chính của bài thơ, chủ đề mà tác giả muốn truyền tải.</p><p>• Các biện pháp nghệ thuật được tác giả sử dụng để tăng thêm sức gợi hình, gợi cảm.</p><p>• Ý nghĩa sâu xa, thông điệp của bài thơ cũng như ngữ cảnh sáng tác, giúp giải thích rõ hơn các hình ảnh, câu chữ trong tác phẩm.</p><p><br/></p><p><strong>4. Theo em, bài văn phân tích, đánh giá về một tác phẩm thơ cần đáp ứng những yêu cầu gì:</strong></p><p>• <strong>Về nội dung:</strong> Bài viết phải phân tích được các khía cạnh nội dung của bài thơ, đưa ra nhận xét và đánh giá về giá trị nghệ thuật, ý nghĩa của tác phẩm.</p><p>• <strong>Về kỹ năng:</strong> Người viết cần có khả năng lập luận, phân tích các yếu tố nghệ thuật, hình ảnh trong bài thơ một cách rõ ràng và sâu sắc.</p><p>• <strong>Về bố cục:</strong> Bố cục cần được sắp xếp mạch lạc, bao gồm mở bài giới thiệu tác phẩm, thân bài phân tích chi tiết, và kết bài tóm tắt đánh giá và cảm nhận chung.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 15:37:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209844977</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lê Thái Quỳnh Anh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209846890</link>
         <description><![CDATA[<p>yêu cầu 2</p><p><br/></p><p><strong>1. Vấn đề được phân tích, đánh giá trong bài viết là gì?</strong></p><p><br/></p><p>Vấn đề được phân tích, đánh giá trong bài viết là vẻ đẹp của mùa xuân qua hình ảnh “những điệu xanh” trong bài thơ <em>Mùa xuân xanh</em>. Bài viết tập trung khám phá ý nghĩa, sức gợi cảm của hình ảnh mùa xuân qua sắc xanh và cách tác giả thể hiện vẻ đẹp đó trong tác phẩm.</p><p><br/></p><p><strong>2. Ngữ liệu tham khảo trên có phải là một bài viết hoàn chỉnh không? Căn cứ vào đâu để nhận định như vậy?</strong></p><p><br/></p><p>Ngữ liệu tham khảo là một bài viết hoàn chỉnh vì nó có đầy đủ các phần: mở bài, thân bài, và kết bài. Mở bài giới thiệu vấn đề cần phân tích, thân bài triển khai phân tích và đánh giá chi tiết, kết bài tóm lược và khẳng định ý nghĩa của vấn đề.</p><p><br/></p><p><strong>3. Nội dung phân tích, đánh giá được trình bày theo cách tách riêng chủ đề, những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật hay kết hợp hai nội dung? Cách trình bày như vậy có ưu điểm gì?</strong></p><p><br/></p><p>Nội dung phân tích, đánh giá được trình bày theo cách kết hợp cả chủ đề và các nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật. Cách trình bày này giúp người đọc dễ dàng nhận thấy mối liên kết giữa ý nghĩa nội dung và các biện pháp nghệ thuật mà tác giả sử dụng, làm nổi bật vẻ đẹp của tác phẩm một cách trọn vẹn.</p><p><br/></p><p><strong>4. Xác định các ý chính được trình bày trong bài viết tham khảo?</strong></p><p><br/></p><p>Các ý chính trong bài viết bao gồm:</p><p>• Mô tả vẻ đẹp của mùa xuân qua “những điệu xanh” trong bài thơ.</p><p>• Phân tích cách tác giả sử dụng các biện pháp nghệ thuật để tái hiện sắc xanh của mùa xuân.</p><p>• Đánh giá ý nghĩa sâu sắc và sức gợi cảm của hình ảnh màu xanh trong việc thể hiện vẻ đẹp thiên nhiên và tình yêu của con người với mùa xuân.</p><p><br/></p><p><strong>5. Để làm sáng tỏ “những điệu xanh” trong bài thơ <em>Mùa xuân xanh</em>, tác giả đã dùng những dẫn chứng, lí lẽ nào?</strong></p><p><br/></p><p>Tác giả đã sử dụng các dẫn chứng từ chính bài thơ để phân tích “những điệu xanh,” tập trung vào các hình ảnh và từ ngữ gợi hình ảnh mùa xuân. Những lí lẽ được đưa ra nhằm nhấn mạnh màu xanh là màu sắc chủ đạo và biểu tượng của sức sống, niềm hy vọng.</p><p><br/></p><p><strong>6. Việc đánh giá chủ đề và hình thức nghệ thuật có xuất phát từ đặc trưng thể loại tác phẩm không?</strong></p><p><br/></p><p>Việc đánh giá chủ đề và hình thức nghệ thuật có xuất phát từ đặc trưng thể loại thơ trữ tình, nơi cảm xúc, hình ảnh và các biện pháp nghệ thuật đóng vai trò chủ đạo. Bài viết đã khai thác sâu sắc các yếu tố đặc trưng này để làm nổi bật vẻ đẹp của thơ ca.</p><p><br/></p><p><strong>7. Theo em bài viết mẫu cần cải thiện điều gì không?</strong></p><p><br/></p><p>Theo em, bài viết mẫu có thể bổ sung thêm phần kết nối giữa cảm nhận cá nhân của người viết với vẻ đẹp của mùa xuân được thể hiện trong bài thơ. Điều này sẽ làm cho bài viết thêm phần sinh động, gần gũi, đồng thời giúp độc giả cảm nhận rõ hơn cảm xúc của người phân tích.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 15:40:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209846890</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tùng Lâm - yêu cầu 1</title>
         <author>damtunglam4</author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209847928</link>
         <description><![CDATA[<ol><li><p>Theo em, một bài văn phân tích, đánh giá về một tác phẩm thơ không giống với một bài phát biểu cảm nhận đơn thuần. Yếu tố làm nên sự khác biệt giữa chúng:</p><p>- phân tích, đánh giá về một tác phẩm cần xem xét tác phẩm một cách toàn diện, khách quan, phân tích đánh giá nội dung, ý nghĩa...</p><p>- cảm nhận là trình bày những suy nghĩ, cảm xúc, nhận xét, đánh giá về cái hay, đẹp của tác phẩm.</p></li><li><p>Kiểu bài văn phân tích, đánh giá về một tác phẩm thơ đòi hỏi sự chặt chẽ trong lập luận, sự sáng rõ, sắc nét của luận điểm và sự mạch lạc trong tổ chức bài viết.</p></li><li><p>Cần nắm chắc các tri thức về đặc trưng thi ca đã được giới thiệu trong bài học và được làm rõ qua các tiết đọc văn bản để có những phân tích đánh giá thuyết phục.</p></li><li><p>Yêu cầu:</p><p>a) nội dung:</p><ul><li><p>Giới thiệu ngắn gọn về bài thơ được chọn (tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, lý do lựa chọn bài thơ để phân tích, đánh giá).</p></li><li><p>Đánh giá giá trị của bài thơ về phương diện nghệ thuật cũng như ý nghĩa.</p></li><li><p>Chỉ ra và phân tích những nét đặc sắc, độc đáo của bài thơ (từ ngữ, hình ảnh, cách tổ chức nhịp điệu, nhạc điệu, mạch cảm xúc, hình ảnh, ...)</p><p>b) kĩ năng: phân tích, cảm nhận, đánh giá,...</p><p>c) bố cục: 3 phần</p></li><li><p>mở bài: giới thiệu ngắn gọn về tác phẩm thơ.</p></li><li><p>thân bài: phân tích, đánh giá mạch ý tưởng, cảm xúc, sự phát triển, nét hấp dẫn riêng.</p></li><li><p>kết bài: khẳng định giá trị tư tưởng, thẩm mĩ, ý nghĩa.</p></li></ul></li></ol>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 15:41:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209847928</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tùng Lâm - yêu cầu 2</title>
         <author>damtunglam4</author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209848313</link>
         <description><![CDATA[<ol><li><p>Vấn đề được phân tích, đánh giá: “Mùa xuân xanh” là bài thơ của niềm vui sống, của sự chan hoà giữa con người với tạo vật, là khúc dạo đầu của tình yêu lứa đôi. Những giá trị nhân bản ấy lại được thể hiện bằng một thứ ngôn từ thơ ca tự nhiên, giản dị nhưng vẫn có tính hiện đại.&nbsp;</p></li><li><p>Ngữ liệu tham khảo trên là một bài viết hoàn chỉnh. căn cứ vào bố cục, luận điểm, mạch cảm xúc, ý chính.</p></li><li><p>Nội dung phân tích đánh giá được trình bày theo cách kết hợp hai nội dung chủ đề và những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật. Điều này giúp bố cục bài rõ ràng và các ý sẽ được thể hiện rõ và logic hơn, dễ dàng cho người đọc và hiểu được.</p></li><li><p>giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm và các vấn đề chính sẽ được tập trung phân tích trong bài viết.</p><p>ấn tượng trước sự gợi mở của nhan đề và câu mở đầu bài thơ.</p><p>mạch hệ thống hình ảnh trong bài thơ.</p><p>phân tích phép đối, điệp, hiệu quả thẩm mĩ</p><p>liên hệ, so sánh với thơ truyền thống</p><p>khẳng định giá trị của bài thơ</p></li><li><p>Tác giả đã dùng những dẫn chứng, lí lẽ: hình ảnh tượng trưng: bầu trời, lúa, cỏ, lũy tre; từ ngữ trong bài</p></li><li><p>Việc đánh giá chủ đề và hình thức nghệ thuật xuất phát từ đặc trưng thể loại của tác phẩm. Mỗi thể loại sẽ có những đặc điểm nhận dạng khác nhau như các bài thơ trữ tình sẽ thiên về hình ảnh với cảm xúc lãng mạn,... Việc đánh giá như vậy sẽ giúp người đọc, người nghe hình dung rõ ràng nhất về thể loại mà bài viết muốn nói đến.</p></li><li><p>theo em bài viết mẫu cần cải thiện việc đánh giá cảm xúc của nhân vật trữ tình trong bài.</p></li></ol>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 15:42:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209848313</guid>
      </item>
      <item>
         <title>huy anh yêu cầu 1</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209848471</link>
         <description><![CDATA[<p><br/></p><p><br/></p><ol><li><p>Theo em, một bài văn phân tích, đánh giá về một tác phẩm thơ không giống với một bài phát biểu cảm nhận đơn thuần. Yếu tố làm nên sự khác biệt giữa chúng:</p><p>- phân tích, đánh giá về một tác phẩm cần xem xét tác phẩm một cách toàn diện, khách quan, phân tích đánh giá nội dung, ý nghĩa...</p><p>- cảm nhận là trình bày những suy nghĩ, cảm xúc, nhận xét, đánh giá về cái hay, đẹp của tác phẩm.</p></li><li><p>Kiểu bài văn phân tích, đánh giá về một tác phẩm thơ đòi hỏi sự chặt chẽ trong lập luận, sự sáng rõ, sắc nét của luận điểm và sự mạch lạc trong tổ chức bài viết.</p></li><li><p>Cần nắm chắc các tri thức về đặc trưng thi ca đã được giới thiệu trong bài học và được làm rõ qua các tiết đọc văn bản để có những phân tích đánh giá thuyết phục.</p></li><li><p>Yêu cầu:</p><p>a) nội dung:</p><ul><li><p>Giới thiệu ngắn gọn về bài thơ được chọn (tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, lý do lựa chọn bài thơ để phân tích, đánh giá).</p></li><li><p>Đánh giá giá trị của bài thơ về phương diện nghệ thuật cũng như ý nghĩa.</p></li><li><p>Chỉ ra và phân tích những nét đặc sắc, độc đáo của bài thơ (từ ngữ, hình ảnh, cách tổ chức nhịp điệu, nhạc điệu, mạch cảm xúc, hình ảnh, ...)</p><p>b) kĩ năng: phân tích, cảm nhận, đánh giá,...</p><p>c) bố cục: 3 phần</p></li><li><p>mở bài: giới thiệu ngắn gọn về tác phẩm thơ.</p></li><li><p>thân bài: phân tích, đánh giá mạch ý tưởng, cảm xúc, sự phát triển, nét hấp dẫn riêng.</p></li><li><p>kết bài: khẳng định giá trị tư tưởng, thẩm mĩ, ý nghĩa.</p><p><br></p></li></ul></li></ol>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 15:42:47 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209848471</guid>
      </item>
      <item>
         <title>huy anh yêu cầu 2</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209848785</link>
         <description><![CDATA[<ol><li><p>Vấn đề được phân tích, đánh giá: “Mùa xuân xanh” là bài thơ của niềm vui sống, của sự chan hoà giữa con người với tạo vật, là khúc dạo đầu của tình yêu lứa đôi. Những giá trị nhân bản ấy lại được thể hiện bằng một thứ ngôn từ thơ ca tự nhiên, giản dị nhưng vẫn có tính hiện đại.&nbsp;</p></li><li><p>Ngữ liệu tham khảo trên là một bài viết hoàn chỉnh. căn cứ vào bố cục, luận điểm, mạch cảm xúc, ý chính.</p></li><li><p>Nội dung phân tích đánh giá được trình bày theo cách kết hợp hai nội dung chủ đề và những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật. Điều này giúp bố cục bài rõ ràng và các ý sẽ được thể hiện rõ và logic hơn, dễ dàng cho người đọc và hiểu được.</p></li><li><p>giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm và các vấn đề chính sẽ được tập trung phân tích trong bài viết.</p><p>ấn tượng trước sự gợi mở của nhan đề và câu mở đầu bài thơ.</p><p>mạch hệ thống hình ảnh trong bài thơ.</p><p>phân tích phép đối, điệp, hiệu quả thẩm mĩ</p><p>liên hệ, so sánh với thơ truyền thống</p><p>khẳng định giá trị của bài thơ</p></li><li><p>Tác giả đã dùng những dẫn chứng, lí lẽ: hình ảnh tượng trưng: bầu trời, lúa, cỏ, lũy tre; từ ngữ trong bài</p></li><li><p>Việc đánh giá chủ đề và hình thức nghệ thuật xuất phát từ đặc trưng thể loại của tác phẩm. Mỗi thể loại sẽ có những đặc điểm nhận dạng khác nhau như các bài thơ trữ tình sẽ thiên về hình ảnh với cảm xúc lãng mạn,... Việc đánh giá như vậy sẽ giúp người đọc, người nghe hình dung rõ ràng nhất về thể loại mà bài viết muốn nói đến.</p></li><li><p>theo em bài viết mẫu cần cải thiện việc đánh giá cảm xúc của nhân vật trữ tình trong bài.</p></li></ol>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 15:43:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209848785</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đỗ Hà Diệu Châu - yêu cầu 1</title>
         <author>thudoanxem09</author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209848981</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>1. Theo em, một bài văn phân tích, đánh giá về một tác phẩm thơ có giống với một bài phát biểu cảm nhận đơn thuần? Không không phải thì yếu tố nào làm nên sự khác biệt giữa chúng.</strong></p><p>- Bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ không phải là một bài phát biểu cảm nhận đơn thuần.</p><p>- Khi đề bài yêu cầu&nbsp;<strong>phân tích</strong>, tức là đòi hỏi phải xem xét tác phẩm một cách toàn diện, khách quan từ hình thức đến nội dung. Nếu là thơ thì phải tìm hiểu ngôn từ, hình ảnh, giọng điệu… Nếu là truyện thì phải tìm hiểu nhân vật, nghệ thuật kể, ý nghĩa cốt truyện… Điều quan trọng là khi gặp dạng đề này, cần phân tích dẫn chứng trước, rút ra nhận xét, đánh giá.</p><p>- <strong>Cảm nhận</strong>&nbsp;là trình bày những suy nghĩ, cảm xúc, nhận xét , đánh giá của mình về cái hay, cái đẹp của tác phẩm. Cảm nhận thường xoáy vào những ấn tượng chủ quan của người viết về những điểm sáng nghệ thuật trong tác phẩm văn chương. Vì vậy, người viết cần lắng nghe, chắt lọc những cảm xúc , những rung động của chính mình xem yếu tố nào gây ấn tượng sâu đậm nhất. </p><p><strong>2. Bài văn phân tích, đánh giá về tác phẩm thơ đòi hỏi những tiêu chuẩn gì trong lập luận, sắp xếp luận điểm, tổ chức bài viết.</strong></p><p>- Kiểu bài viết này đòi hỏi sự chặt chẽ trong lập luận, sự sáng rõ, sắc nét của luận điểm và sự mạch lạc trong tổ chức bài viết.</p><p><strong>3. Khi phân tích đánh giá về một tác phẩm thơ cần nắm chắc điều gì?</strong></p><p>- Người viết cần nắm chắc các tri thức về đặc trưng thi ca đã được giới thiệu trong bài học và được làm rõ qua các tiết đọc văn bản để có những phân tích, đánh giá thuyết phục. Mặt khác, kiểu bài này cũng vẫn khuyến khích người viết thể hiện những rung cảm và tưởng tượng của mình khi chiếm lĩnh bài thơ.</p><p><strong>4. Theo em, bài văn phân tích, đánh giá về một tác phẩm thơ cần đáp ứng những yêu cầu gì:</strong></p><p><strong>Về nội dung</strong></p><p>- Xác định được chủ đề và phân tích, đánh giá ý nghĩa, giá trị của chủ đề bài thơ.</p><p>- Phân tích, đánh giá được một số nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật như dạng thức xuất hiện của chủ thể trữ tình, kết cấu, từ ngữ, hình ảnh, vần, nhịp, biện pháp tu từ,…</p><p>&nbsp;<strong>Về kỹ năng</strong></p><p>- Lập luận chặt chẽ, thể hiện được những suy nghĩ, cảm nhận của người viết về bài thơ.</p><p>- Có bằng chứng tin cậy từ bài thơ.</p><p>- Diễn đạt mạch lạc, sử dụng được các câu chuyển tiếp, các từ ngữ liên kết giúp người đọc nhận ra mạch lập luận.</p><p>&nbsp;<strong>Về bố cục</strong></p><p>- Bố cục bài viết gồm 3 phần:</p><p>Mở bài: giới thiệu bài thơ và tác giả, nêu nhận xét khái quát về nội dung, nghệ thuật của bài thơ.</p><p>Thân bài: lần lượt phân tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ.</p><p>Kết bài: khẳng định lại giá trị chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ; tác động của bài thơ đối với bản thân hoặc cảm nghĩ về tác phẩm.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 15:43:33 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209848981</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đỗ Hà Diệu Châu - yêu cầu 2</title>
         <author>thudoanxem09</author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209849377</link>
         <description><![CDATA[<p><strong><em>1. Vấn đề được phân tích, đánh giá trong bài viết là gì?</em></strong></p><p>- Vấn đề được phân tích, đánh giá trong bài viết là Những điệu xanh của mùa xuân</p><p><strong><em>2. Ngữ liệu tham khảo trên có phải là một bào viết hoàn chỉnh không. Căn cứ vào đâu để nhận định như vậy?</em></strong></p><p>- <em>Ngữ liệu tham khảo trên có là một bào viết hoàn chỉnh.</em></p><p>- Căn cứ vào bố cục 3 phần:</p><p>+ Mở bài</p><p>+ Thân bài</p><p>+ Kết bài</p><p><strong><em>3. Nội dung phân tích, đánh giá được trình bày theo cách tách riêng chủ để, những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật hay kết hợp hai nội? Cách trình bày như vậy có ưu điểm gì?</em></strong></p><p><em>- Nội dung phân tích, đánh giá được trình bày theo cách tách riêng chủ để, những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật.</em></p><p><em>* Ưu điểm:</em></p><p>- Cách cảm nhận và phân tích này chỉ ra được các hình ảnh nổi bật trong bài thơ từ đó đánh giá và nhận xét được suy nghĩ, quan niệm của tác giả một cách chính xác nhất.</p><p>- Cách cảm nhận và phân tích này thể hiện được rõ ràng mạch cảm xúc của bài thơ.</p><p>- Nhấn mạnh được các chi tiết, hình ảnh quan trọng trong bài thơ.</p><p>=&gt; Giúp người đọc cảm nhận bài thơ một cách dễ hơn, rõ ràng hơn.</p><p><strong><em>4. Xác định các ý chính được trình bày trong bài viết tham khảo?</em></strong></p><p>- Ấn tượng trước sự gợi mở của nhan đề và câu mở đầu bài thơ</p><p>- Phân tích mạch triển khai hệ thống hình ảnh trong bài thơ</p><p>- Phân tích phép đối, phép điệp và hiệu quả thẩm mĩ mà các phép yu từ này gợi ra</p><p>- Liên hệ, so sánh với thơ truyền thống để làm rõ những nét mới mẻ của bài thơ</p><p>- Khẳng định giá trị thẩm mĩ và giá trị nhân bản của bài thơ</p><p><strong><em>5. Để làm sáng tỏ “những điệu xanh” trong bài thơ Mùa xuân xanh tác giả đã dùng những dẫn chứng, lí lẽ nào?</em></strong></p><p>* Dẫn chứng, lí lẽ:</p><p>- “Mùa xuân là cả một mùa xanh”: “mùa xuân” và “mùa xanh” không chỉ gần âm mà còn gần nghĩa. Cả hai đều khơi dậy những liên tưởng tương đồng về ý nghĩa như sự khởi đầu, niềm hi vọng, sức sống, tuổi trẻ.</p><p>- Ý niệm “mùa xuân” được cụ thể hóa trong các hình ảnh trải dọc bài thơ: bầu trời, cây lá, ruộng đồng, lũy tre và cuối cùng là “cái thắt lưng xanh” của người thôn nữ.</p><p>- Mỗi hình ảnh lại gợi ra những sắc thái khác nhau của mùa xanh: trời xanh trong, lá xanh biếc, lúa xanh mát,…</p><p><strong><em>6. Việc đánh giá chủ đề và hình thức nghệ thuật có xuất phát từ đặc trưng thể loại tác phẩm không?</em></strong></p><p>- Việc đánh giá chủ đề và hình thức nghệ thuật xuất phát từ đặc trưng thể loại của tác phẩm. Mỗi thể loại sẽ có những đặc điểm nhận dạng khác nhau như các bài thơ trữ tình sẽ thiên về hình ảnh với cảm xúc lãng mạn,... Việc đánh giá như vậy sẽ giúp người đọc, người nghe hình dung rõ ràng nhất về thể loại mà bài viết muốn nói đến.</p><p><strong><em>7. Theo em bài viết mẫu cần cải thiện điều gì không</em></strong></p><p>- Bài viết cần cải thiện thêm các dẫn chứng từ những bài thơ khác có cùng chủ đề, viết nhiều hơn về nội dung, để ý cách dùng…</p><p>&nbsp;</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 15:44:17 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209849377</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đinh Tuệ Minh  </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209851648</link>
         <description><![CDATA[<p>Yêu cầu 1</p><ul><li><p>Theo em, một bài văn phân tích, đánh giá về một tác phẩm thơ không giống với một bài phát biểu cảm nhận đơn thuần. Yếu tố làm nên sự khác biệt giữa chúng:</p><p>- phân tích, đánh giá về một tác phẩm cần xem xét tác phẩm một cách toàn diện, khách quan, phân tích đánh giá nội dung, ý nghĩa...</p><p>- cảm nhận là trình bày những suy nghĩ, cảm xúc, nhận xét, đánh giá về cái hay, đẹp của tác phẩm.</p></li><li><p>Kiểu bài văn phân tích, đánh giá về một tác phẩm thơ đòi hỏi sự chặt chẽ trong lập luận, sự sáng rõ, sắc nét của luận điểm và sự mạch lạc trong tổ chức bài viết.</p></li><li><p>Cần nắm chắc các tri thức về đặc trưng thi ca đã được giới thiệu trong bài học và được làm rõ qua các tiết đọc văn bản để có những phân tích đánh giá thuyết phục.</p></li><li><p>Yêu cầu:</p><p>a) nội dung:</p><ul><li><p>Giới thiệu ngắn gọn về bài thơ được chọn (tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, lý do lựa chọn bài thơ để phân tích, đánh giá).</p></li><li><p>Đánh giá giá trị của bài thơ về phương diện nghệ thuật cũng như ý nghĩa.</p></li><li><p>Chỉ ra và phân tích những nét đặc sắc, độc đáo của bài thơ (từ ngữ, hình ảnh, cách tổ chức nhịp điệu, nhạc điệu, mạch cảm xúc, hình ảnh, ...)</p><p>b) kĩ năng: phân tích, cảm nhận, đánh giá,...</p><p>c) bố cục: 3 phần</p></li><li><p>mở bài: giới thiệu ngắn gọn về tác phẩm thơ.</p></li><li><p>thân bài: phân tích, đánh giá mạch ý tưởng, cảm xúc, sự phát triển, nét hấp dẫn riêng.</p></li><li><p>kết bài: khẳng định giá trị tư tưởng, thẩm mĩ, ý nghĩa.</p><p><br/></p></li></ul></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 15:48:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209851648</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đinh Tuệ Minh </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209852027</link>
         <description><![CDATA[<p>Yêu cầu 2</p><ol><li><p>Vấn đề được phân tích, đánh giá: “Mùa xuân xanh” là bài thơ của niềm vui sống, của sự chan hoà giữa con người với tạo vật, là khúc dạo đầu của tình yêu lứa đôi. Những giá trị nhân bản ấy lại được thể hiện bằng một thứ ngôn từ thơ ca tự nhiên, giản dị nhưng vẫn có tính hiện đại.&nbsp;</p></li><li><p>Ngữ liệu tham khảo trên là một bài viết hoàn chỉnh. căn cứ vào bố cục, luận điểm, mạch cảm xúc, ý chính.</p></li><li><p>Nội dung phân tích đánh giá được trình bày theo cách kết hợp hai nội dung chủ đề và những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật. Điều này giúp bố cục bài rõ ràng và các ý sẽ được thể hiện rõ và logic hơn, dễ dàng cho người đọc và hiểu được.</p></li><li><p>giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm và các vấn đề chính sẽ được tập trung phân tích trong bài viết.</p><p>ấn tượng trước sự gợi mở của nhan đề và câu mở đầu bài thơ.</p><p>mạch hệ thống hình ảnh trong bài thơ.</p><p>phân tích phép đối, điệp, hiệu quả thẩm mĩ</p><p>liên hệ, so sánh với thơ truyền thống</p><p>khẳng định giá trị của bài thơ</p></li><li><p>Tác giả đã dùng những dẫn chứng, lí lẽ: hình ảnh tượng trưng: bầu trời, lúa, cỏ, lũy tre; từ ngữ trong bài</p></li><li><p>Việc đánh giá chủ đề và hình thức nghệ thuật xuất phát từ đặc trưng thể loại của tác phẩm. Mỗi thể loại sẽ có những đặc điểm nhận dạng khác nhau như các bài thơ trữ tình sẽ thiên về hình ảnh với cảm xúc lãng mạn,... Việc đánh giá như vậy sẽ giúp người đọc, người nghe hình dung rõ ràng nhất về thể loại mà bài viết muốn nói đến.</p></li><li><p>theo em bài viết mẫu cần cải thiện việc đánh giá cảm xúc của nhân vật trữ tình trong bài.</p><p><br/></p></li></ol>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 15:48:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209852027</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Kỳ Phương 1</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209855244</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3014802865/0df855a6b9a9d1c41f663b8bcc7551b0/462562389_582137344493023_381334002970513646_n.jpg" />
         <pubDate>2024-11-10 15:53:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209855244</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Kỳ Phương 2</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209855383</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3014802865/df567165903d89c68b61c8764ea61b82/462646934_2363053224067782_2980534431324134937_n.jpg" />
         <pubDate>2024-11-10 15:54:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209855383</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Kỳ Phương 3</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209855646</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3014802865/9170f470fff5440e4e2a4e3dd16ec6bc/462571176_1717738652352190_3976647087417021469_n.jpg" />
         <pubDate>2024-11-10 15:54:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209855646</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Kỳ Phương 4</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209855834</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3014802865/9c4ee3467671dec79fcab7ec4bf58ed1/462559345_2100958380306804_5285846107517218790_n.jpg" />
         <pubDate>2024-11-10 15:54:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209855834</guid>
      </item>
      <item>
         <title>nguyễn kỳ phương 1</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209857256</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3014802865/7a4394dcc43ed7c46d334848483ad96f/462546485_550594374499943_8212455859081187796_n__1_.jpg" />
         <pubDate>2024-11-10 15:56:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209857256</guid>
      </item>
      <item>
         <title>nguyễn kỳ phương 2</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209857396</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3014802865/82564c0bb7cd3f0c4de155b3d3353b2a/462563131_869284091987932_7736183229519147298_n__1_.jpg" />
         <pubDate>2024-11-10 15:56:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209857396</guid>
      </item>
      <item>
         <title>nguyễn kỳ phương 3</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209857511</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3014802865/660d1a32688ba085ecdbaf704d3bd831/462650457_553843263909327_6656460128010192803_n__1_.jpg" />
         <pubDate>2024-11-10 15:57:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209857511</guid>
      </item>
      <item>
         <title>nguyễn kỳ phương 4</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209857609</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3014802865/f1c4e1d32eba5b98055ab2f7598cf1cf/462582265_905267207874907_679979560790385270_n__1_.jpg" />
         <pubDate>2024-11-10 15:57:20 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209857609</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Anh thư ( yêu cầu 1)</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209862512</link>
         <description><![CDATA[<p><br/></p><p><strong>1</strong></p><p>- Bài văn phân tích, đánh giá về một tác phẩm thơ <strong>không giống</strong> với một bài phát biểu cảm nhận đơn thuần.</p><p>- Lý do: Bài phân tích và đánh giá yêu cầu lập luận chặt chẽ, có dẫn chứng và luận cứ rõ ràng, khác với bài cảm nhận đơn thuần chỉ mang tính cá nhân và cảm xúc. Các yếu tố khác biệt bao gồm: cách lập luận, cách sắp xếp ý, và mức độ phân tích chi tiết.</p><p><strong> 2 </strong>Bài văn phân tích, đánh giá về tác phẩm thơ đòi hỏi tiêu chuẩn như:</p><p>- <strong>Lập luận chặt chẽ</strong>: cần có luận điểm rõ ràng, giải thích chi tiết cho từng luận điểm.</p><p>- <strong>Sắp xếp luận điểm hợp lý</strong>: các ý cần được bố trí theo một trình tự logic, dễ hiểu.</p><p>- <strong>Tổ chức bài viết</strong>: mạch lạc, có mở bài, thân bài, và kết bài rõ ràng</p><p><strong>3</strong> Khi phân tích đánh giá về một tác phẩm thơ, cần nắm chắc các điều sau:</p><p>- <strong>Nội dung</strong>: hiểu rõ ý nghĩa, thông điệp của bài thơ.</p><p>- <strong>Nghệ thuật</strong>: cách sử dụng ngôn từ, hình ảnh, biện pháp tu từ.</p><p>- <strong>Giá trị</strong>: tác động của bài thơ đối với người đọc, giá trị về mặt văn hóa, xã hội</p><p>4</p><p>- <strong>Về nội dung</strong>: thể hiện hiểu biết về ý nghĩa, chủ đề của bài thơ.</p><p>- <strong>Về kỹ năng</strong>: sử dụng kỹ năng phân tích, lập luận logic.</p><p>- <strong>Về bố cục</strong>: bài viết phải rõ ràng, mạch lạc, có cấu trúc hợp lý</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 16:04:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209862512</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Anh Thư - yêu cầu 2</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209867236</link>
         <description><![CDATA[<p><br/></p><p>1. Vấn đề được phân tích, đánh giá trong bài viết là ý nghĩa, đặc điểm nghệ thuật, và giá trị nội dung của tác phẩm “Những điều xanh của mùa xuân”.</p><p>2.Ngữ liệu tham khảo không phải là một bài viết hoàn chỉnh vì có thể thiếu các phần như mở bài, kết bài, hoặc không đủ dẫn chứng, luận cứ. Nhận định này dựa trên cấu trúc của bài viết và mức độ chi tiết trong các phần trình bày.</p><p>3. Nội dung phân tích, đánh giá có thể được trình bày theo cách kết hợp cả hai yếu tố: chủ đề và hình thức nghệ thuật. Cách trình bày này giúp bài viết trở nên mạch lạc, dễ hiểu, đồng thời làm nổi bật cả nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.</p><p>4. </p><p>- Ý nghĩa của mùa xuân trong bài thơ.</p><p>- Các hình ảnh và ngôn ngữ nghệ thuật đặc trưng.</p><p>- Giá trị nhân văn và triết lý sống được truyền tải qua bài thơ.</p><p>5. Tác giả có thể đã sử dụng các hình ảnh thiên nhiên (như cây xanh, hoa lá), các biện pháp tu từ (như ẩn dụ, so sánh) và ngôn ngữ giàu cảm xúc để làm nổi bật sự tươi mới, tràn đầy sức sống của mùa xuân</p><p>6.Việc đánh giá chủ đề và hình thức nghệ thuật thường xuất phát từ đặc trưng thể loại của tác phẩm. Đối với thơ, đặc trưng thể loại bao gồm sự cô đọng, giàu hình ảnh và cảm xúc, do đó, việc phân tích và đánh giá tập trung vào chủ đề (nội dung) và nghệ thuật (ngôn ngữ, hình ảnh) là rất cần thiết để làm rõ giá trị của tác phẩm.</p><p>7. Bài viết mẫu có thể cần cải thiện ở các điểm sau: <strong>bổ sung dẫn chứng cụ thể</strong>, l<strong>ời văn rõ ràng, chính xác hơn</strong>, ca<strong>u trúc bài viết hoàn chỉnh</strong></p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 16:13:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209867236</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Cầm Việt Thái- Yêu cầu 1</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209872493</link>
         <description><![CDATA[<p><br/></p><p>1. </p><p>• Một bài văn phân tích, đánh giá về tác phẩm thơ khác với một bài phát biểu cảm nhận đơn thuần. Bài phân tích, đánh giá yêu cầu lập luận chặt chẽ, đi sâu vào các yếu tố nghệ thuật, nội dung của tác phẩm để khám phá giá trị và ý nghĩa sâu sắc. Ngược lại, bài phát biểu cảm nhận chỉ thiên về cảm xúc cá nhân, suy nghĩ chủ quan của người đọc mà không cần phân tích chi tiết hay tính học thuật.</p><p>2. </p><p>• Bài phân tích, đánh giá cần lập luận chặt chẽ, có dẫn chứng cụ thể để chứng minh các luận điểm. Luận điểm phải được sắp xếp logic và hợp lý, các ý cần liên kết chặt chẽ với nhau. Bài viết thường theo cấu trúc ba phần: mở bài (giới thiệu bài thơ và vấn đề phân tích), thân bài (phân tích chi tiết các khía cạnh nghệ thuật và nội dung), và kết bài (đánh giá giá trị tổng thể).</p><p>3. </p><p>• Cần nắm chắc nội dung, ý nghĩa của bài thơ và các yếu tố nghệ thuật như hình ảnh, ngôn từ, nhịp điệu, biện pháp tu từ. Ngoài ra, người viết cần hiểu về bối cảnh sáng tác và ý đồ nghệ thuật của tác giả để phân tích chính xác và sâu sắc hơn.</p><p>4.</p><p>• Về nội dung<strong>:</strong> Làm rõ nội dung, tư tưởng của bài thơ; phân tích các yếu tố nghệ thuật nổi bật; nêu lên giá trị và ý nghĩa của tác phẩm.</p><p>• Về kỹ năng<strong>:</strong> Có khả năng phân tích, lập luận logic; biết cách chọn và sử dụng dẫn chứng phù hợp; diễn đạt mạch lạc và rõ ràng.</p><p>• Về bố cục<strong>:</strong> Bố cục ba phần rõ ràng: mở bài, thân bài, và kết bài; các ý trong thân bài cần được sắp xếp hợp lý, liên kết chặt chẽ để tạo thành một tổng thể thống nhất.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 16:22:40 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209872493</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Cầm Việt Thái-Yêu cầu 2</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209876855</link>
         <description><![CDATA[<p><br/></p><p>1. </p><p>• Vấn đề được phân tích, đánh giá trong bài viết là hình ảnh “những điệu xanh” của mùa xuân trong bài thơ <em>Mùa xuân xanh</em>. Tác giả bài viết làm rõ cách nhà thơ dùng hình ảnh mùa xuân để truyền tải vẻ đẹp thiên nhiên và niềm vui sống.</p><p>2.</p><p>•Theo em đây là có, đây là một bài viết hoàn chỉnh. Bài viết có đủ ba phần chính: mở bài (giới thiệu về bài thơ và vấn đề phân tích), thân bài (phân tích từng khía cạnh nội dung và nghệ thuật của bài thơ), và kết bài (kết luận về ý nghĩa của bài thơ).</p><p>3. </p><p>• Nội dung được trình bày theo cách kết hợp cả chủ đề và các nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật. Cách này giúp bài viết vừa nêu bật được ý nghĩa của chủ đề mùa xuân, vừa phân tích rõ những hình ảnh nghệ thuật, tạo nên sự hài hòa và sinh động trong bài phân tích.</p><p>4. </p><p>• Các ý chính gồm:</p><p>• Giới thiệu về bài thơ <em>Mùa xuân xanh</em> và chủ đề mùa xuân.</p><p>• Phân tích hình ảnh “điệu xanh” trong bài thơ và ý nghĩa của nó.</p><p>• Đánh giá các biện pháp nghệ thuật như cách dùng từ ngữ, nhịp điệu.</p><p>• Đưa ra kết luận về giá trị và ý nghĩa của bài thơ.</p><p>5.</p><p>• Tác giả dùng các câu thơ tiêu biểu có chứa hình ảnh “xanh” của mùa xuân làm dẫn chứng, và giải thích từng ý nghĩa của từ ngữ, hình ảnh. Những dẫn chứng này giúp người đọc cảm nhận được sắc xanh tươi mới và cảm xúc trong trẻo của mùa xuân trong bài thơ.</p><p>6. </p><ul><li><p>Việc đánh giá chủ đề và hình thức nghệ thuật có xuất phát từ đặc trưng thể loại tác phẩm việc đánh giá này phù hợp với đặc trưng của thơ trữ tình, vì bài thơ tập trung vào miêu tả cảm xúc và vẻ đẹp thiên nhiên qua hình ảnh và ngôn ngữ. Điều này giúp người đọc cảm nhận sâu sắc hơn về ý nghĩa của mùa xuân trong thơ.</p></li></ul><p>7. </p><p>• Em thấy bài viết mẫu khá đầy đủ và mạch lạc, nhưng có thể thêm vài đoạn phân tích sâu hơn về cảm xúc mà hình ảnh mùa xuân mang lại để người đọc dễ cảm nhận hơn.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 16:30:15 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209876855</guid>
      </item>
      <item>
         <title>yêu cầu 1 - Lý Phương Chi</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209877915</link>
         <description><![CDATA[<ol><li><p>bài phân tích, đánh giá tập trung vào việc lập luận chặt chẽ, sử dụng dẫn chứng cụ thể để làm sáng tỏ nội dung, nghệ thuật của tác phẩm. trong khi đó bài cảm nhận đơn thuần thiên về cảm xúc cá nhân, bày tỏ những suy nghĩ , ấn tượng chủ quan</p></li><li><p>bài phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ cần có lập luận chặt chẽ ( bao gồm luận điểm rõ ràng, dẫn chứng chính xác, lí giải chặt chẽ ) sắp xếp hợp lí ( bao gồm bố cục và các đoạn được liên kết chuẩn chỉnh ) ngôn ngữ chắt lọc ( bao hàm cảm xúc được thể hiện qua ngôn từ )</p></li><li><p>khi phân tích một bài thơ cần nắm chắc: thông tin của tác giả và tác phẩm, chủ đề và nội dung, hình thức và kĩ thuật, cảm xúc và tâm trạng, bối cảnh lịch sử và xã hội, cuối cùng là khái quát và đánh giá tổng thể</p></li><li><p>về nội dung: cần nắm rõ tác phẩm, phân tích sâu, đánh giá tổng quan</p><p>về kĩ năng: phân tích rõ ràng, logic, đưa ra dẫn chứng cụ thể. kết nối nội dung và hình thức trong bài</p><p>về bố cục: đủ 3 phần mở bài, thân bài, kết bài và đầy đủ các luận điểm, luận cứ</p></li></ol>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 16:31:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209877915</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Cầm Việt Thái-Yêu cầu 2</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209879236</link>
         <description><![CDATA[<p><br/></p><p>1. </p><p>• Vấn đề mà em nhận thấy được phân tích, đánh giá trong bài viết là hình ảnh “những điệu xanh” của mùa xuân trong bài thơ <em>Mùa xuân xanh</em>. Em thấy tác giả bài viết làm rõ cách nhà thơ dùng hình ảnh mùa xuân để truyền tải vẻ đẹp thiên nhiên và niềm vui sống.</p><p>2. </p><p>• Theo em, đây là một bài viết hoàn chỉnh vì bài viết có đủ ba phần chính: mở bài (giới thiệu về bài thơ và vấn đề phân tích), thân bài (phân tích từng khía cạnh nội dung và nghệ thuật của bài thơ), và kết bài (kết luận về ý nghĩa của bài thơ).</p><p>3. </p><p>• Em thấy nội dung được trình bày theo cách kết hợp cả chủ đề và các nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật. Cách này giúp bài viết vừa nêu bật được ý nghĩa của chủ đề mùa xuân, vừa phân tích rõ những hình ảnh nghệ thuật, tạo nên sự hài hòa và sinh động trong bài phân tích.</p><p>4. </p><p>• Các ý chính mà em nhận thấy bao gồm:</p><p>• Giới thiệu về bài thơ <em>Mùa xuân xanh</em> và chủ đề mùa xuân.</p><p>• Phân tích hình ảnh “điệu xanh” trong bài thơ và ý nghĩa của nó.</p><p>• Đánh giá các biện pháp nghệ thuật như cách dùng từ ngữ, nhịp điệu.</p><p>• Đưa ra kết luận về giá trị và ý nghĩa của bài thơ.</p><p>5. </p><p>• Để làm sáng tỏ hình ảnh “những điệu xanh”, em thấy tác giả dùng các câu thơ tiêu biểu chứa hình ảnh “xanh” của mùa xuân làm dẫn chứng và giải thích từng ý nghĩa của từ ngữ, hình ảnh. Những dẫn chứng này giúp em cảm nhận được sắc xanh tươi mới và cảm xúc trong trẻo của mùa xuân trong bài thơ.</p><p>6.</p><p>• Theo em, có. Việc đánh giá này phù hợp với đặc trưng của thơ trữ tình, vì bài thơ tập trung vào miêu tả cảm xúc và vẻ đẹp thiên nhiên qua hình ảnh và ngôn ngữ. Điều này giúp em cảm nhận sâu sắc hơn về ý nghĩa của mùa xuân trong thơ.</p><p>7. </p><p>• Theo em, bài viết mẫu khá đầy đủ và mạch lạc, nhưng có thể thêm vài đoạn phân tích sâu hơn về cảm xúc mà hình ảnh mùa xuân mang lại để người đọc dễ cảm nhận hơn.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 16:34:28 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209879236</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Quàng Trâm Anh - Yêu cầu 1</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209881230</link>
         <description><![CDATA[<ol><li><p>Theo em, một bài văn phân tích, đánh giá về một tác phẩm thơ không giống với một bài phát biểu cảm nhận đơn thuần. Yếu tố làm nên sự khác biệt giữa chúng: lập luận, mục đích phân tích, ngôn ngữ, ...</p></li><li><p>Bài văn phân tích, đánh giá về tác phẩm thơ đòi hỏi những tiêu chuẩn sau: lập luận chặt chẽ, sắp xếp luận điểm hợp lý, tổ chức bài viết rõ ràng, mạch lạc</p></li><li><p>Khi phân tích và đánh giá một tác phẩm thơ, có một số yếu tố quan trọng cần nắm bắt: hiểu rõ nội dung, bối cảnh tác phẩm, giá trị tư tưởng và nghệ thuật, ...</p></li><li><p>Để viết một bài văn phân tích, đánh giá về một tác phẩm thơ một cách hoàn chỉnh, bài viết cần đáp ứng các yêu cầu sau:</p><ul><li><p>Về nội dung: hiểu rõ tác phẩm, phân tích chi tiết, đánh giá,...</p></li><li><p>Về kĩ năng: kỹ năng lập luận, kỹ năng viết, kỹ năng tổng hợp và phân tích, ...</p></li><li><p>Về bố cục: đủ mở bài, thân bài, kết bài</p></li></ul></li></ol>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 16:38:04 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209881230</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Quàng Trâm Anh - Yêu cầu 2</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209888052</link>
         <description><![CDATA[<p>1. “Mùa xuân xanh” là bài thơ của niềm vui sống, của sự chan hoà giữa con người với tạo vật, là khúc dạo đầu của tình yêu lứa đôi. Những giá trị nhân bản ấy lại được thể hiện bằng một thứ ngôn từ thơ ca tự nhiên, giản dị nhưng vẫn có tính hiện đại.&nbsp;</p><p>2. Ngữ liệu tham khảo trên là một bài viết hoàn chỉnh. căn cứ vào bố cục, luận điểm, mạch cảm xúc, ý chính.</p><p>3. Nội dung phân tích đánh giá được trình bày theo cách kết hợp 2 nội dung chủ đề và những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật. Điều này giúp bố cục bài thêm rõ ràng và các ý sẽ được thể hiện chính xác và logic hơn, giúp người đọc dễ dàng hiểu và bị thu hút hơn.</p><p>4. Những ý chính được trình bày trong bài viết:</p><p>- giới thiệu tác giả tác phẩm</p><p>- những ấn tượng ban đầu về bài thơ</p><p>- mạnh hệ thống hình ảnh thơ trong bài</p><p>- các biện pháp tu từ</p><p>- đánh giá mở rộng</p><p>- khẳng định lại giá trị thẩm mỹ và giá trị nhân bản của bài thơ</p><p>- khái quát lại vấn đề nghị luận</p><p>5. Tác giả đã sử dụng các dẫn chứng từ chính bài thơ để phân tích “những điệu xanh,” tập trung vào các hình ảnh và từ ngữ gợi hình ảnh mùa xuân. Những lí lẽ được đưa ra nhằm nhấn mạnh màu xanh là màu sắc chủ đạo và biểu tượng của sức sống, niềm hy vọng.</p><p>6. Việc đánh giá chủ đề và hình thức nghệ thuật có xuất phát từ đặc trưng thể loại tác phẩm vì mỗi thể loại sẽ có những đặc điểm nhận dạng khác nhau.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 16:50:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209888052</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Mạnh Dũng _ Yêu cầu 1</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209889360</link>
         <description><![CDATA[<p><br/></p><p>1. Theo em, một bài văn phân tích, đánh giá về một tác phẩm thơ có giống với một bài phát biểu cảm nhận đơn thuần không? Không giống thì yếu tố nào làm nên sự khác biệt giữa chúng?</p><p> • Một bài văn phân tích, đánh giá về một tác phẩm thơ khác với một bài phát biểu cảm nhận đơn thuần. Bài văn phân tích không chỉ dừng lại ở việc nêu lên cảm xúc cá nhân mà còn yêu cầu người viết phải phân tích sâu sắc các yếu tố nghệ thuật, nội dung, hình thức của tác phẩm. Để làm rõ sự khác biệt này, một bài phân tích đòi hỏi sự logic, có cấu trúc chặt chẽ và lập luận cụ thể, dựa vào dẫn chứng từ tác phẩm để làm sáng tỏ ý kiến. Trong khi đó, một bài phát biểu cảm nhận đơn thuần có thể chỉ tập trung vào cảm xúc và suy nghĩ của người viết mà không cần phân tích sâu về cấu trúc và nghệ thuật.</p><p>2. Bài văn phân tích, đánh giá về tác phẩm thơ đòi hỏi những tiêu chuẩn gì trong lập luận, sắp xếp luận điểm, tổ chức bài viết?</p><p> • Một bài văn phân tích, đánh giá về tác phẩm thơ cần tuân theo các tiêu chuẩn nhất định về lập luận và tổ chức. Cụ thể:</p><p> • Lập luận: Cần rõ ràng, logic và có dẫn chứng cụ thể từ tác phẩm. Các luận điểm phải được trình bày một cách chặt chẽ và có sự liên kết với nhau.</p><p> • Sắp xếp luận điểm: Các luận điểm cần được sắp xếp theo trình tự hợp lý, từ ý chính đến ý phụ, giúp bài viết có mạch lạc và dễ theo dõi.</p><p> • Tổ chức bài viết: Một bài văn phân tích thường có ba phần chính: mở bài (giới thiệu tác phẩm và vấn đề cần phân tích), thân bài (triển khai các luận điểm và dẫn chứng cụ thể), và kết bài (tóm lược và đưa ra kết luận).</p><p>3. Khi phân tích đánh giá về một tác phẩm thơ cần nắm chắc điều gì?</p><p> • Khi phân tích đánh giá về một tác phẩm thơ, cần nắm chắc các yếu tố sau:</p><p> • Nội dung: Hiểu rõ ý nghĩa, thông điệp của bài thơ, cũng như cảm xúc mà tác giả muốn truyền tải.</p><p> • Nghệ thuật: Nắm bắt các biện pháp tu từ, hình ảnh, ngôn từ, và cách cấu trúc câu chữ mà tác giả sử dụng để thể hiện ý tưởng và cảm xúc.</p><p> • Bối cảnh sáng tác: Hiểu được hoàn cảnh lịch sử, xã hội và cuộc sống của tác giả khi sáng tác bài thơ, từ đó giúp phân tích sâu hơn về nội dung và ý nghĩa của tác phẩm.</p><p> • Phong cách của tác giả: Nhận biết phong cách đặc trưng của tác giả trong việc xây dựng hình ảnh và ngôn ngữ.</p><p>4. Theo em, bài văn phân tích, đánh giá về một tác phẩm thơ cần đáp ứng những yêu cầu gì về nội dung, kỹ năng và bố cục?</p><p> • Về nội dung: Bài viết cần bám sát vào nội dung và chủ đề của bài thơ, nêu bật được các ý nghĩa, thông điệp mà tác giả muốn truyền tải, đồng thời phân tích sâu sắc các chi tiết để làm sáng tỏ chủ đề.</p><p> • Về kỹ năng: Người viết cần có kỹ năng phân tích, hiểu sâu và diễn đạt rõ ràng. Cần có khả năng lập luận mạch lạc, sử dụng dẫn chứng thuyết phục từ bài thơ và trình bày suy nghĩ một cách logic.</p><p> • Về bố cục: Bài viết cần có cấu trúc rõ ràng, gồm ba phần chính: mở bài (giới thiệu về bài thơ và tác giả), thân bài (phân tích nội dung và nghệ thuật của bài thơ), và kết bài (đánh giá tổng quát và nêu suy nghĩ cá nhân).</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 16:52:59 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209889360</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Mạnh Dũng_Yêu cầu 2</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209893358</link>
         <description><![CDATA[<p><br/></p><p>1. Vấn đề được phân tích, đánh giá trong bài viết là gì?</p><p> • Vấn đề được phân tích, đánh giá trong bài viết tham khảo “Những điều xanh của mùa xuân” là những nét đẹp, ý nghĩa sâu sắc của mùa xuân, biểu tượng cho sức sống, hy vọng và niềm vui của con người. Bài viết nhằm làm rõ vẻ đẹp của thiên nhiên mùa xuân và các giá trị nhân văn mà mùa xuân mang lại.</p><p>2. Ngữ liệu tham khảo trên có phải là một bài viết hoàn chỉnh không? Căn cứ vào đâu để nhận định như vậy?</p><p> • Ngữ liệu tham khảo trên không phải là một bài viết hoàn chỉnh, vì có thể thiếu các yếu tố như mở bài, thân bài và kết bài đầy đủ, hoặc chưa có sự phát triển toàn diện về các luận điểm. Căn cứ để nhận định điều này là nếu bài viết chỉ tập trung vào một phần nội dung hay một khía cạnh mà không có sự phân tích bao quát, đầy đủ cấu trúc của một bài phân tích hoàn chỉnh.</p><p>3. Nội dung phân tích, đánh giá được trình bày theo cách tách riêng chủ đề, những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật hay kết hợp hai nội dung? Cách trình bày như vậy có ưu điểm gì?</p><p> • Nội dung phân tích, đánh giá trong bài viết có thể được trình bày theo cách kết hợp cả chủ đề và những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật. Cách trình bày này giúp làm nổi bật mối quan hệ chặt chẽ giữa nội dung và hình thức, cho thấy nghệ thuật đã góp phần thế nào vào việc truyền tải chủ đề và ý nghĩa của bài thơ. Điều này giúp bài phân tích có tính thuyết phục cao hơn và người đọc dễ dàng hiểu sâu sắc hơn về tác phẩm.</p><p>4. Xác định các ý chính được trình bày trong bài viết tham khảo?</p><p> • Các ý chính trong bài viết tham khảo có thể bao gồm:</p><p> • Ý nghĩa và chủ đề của bài thơ “Mùa xuân xanh”, đặc biệt là biểu tượng mùa xuân trong việc thể hiện sức sống, niềm hy vọng.</p><p> • Những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật như từ ngữ, hình ảnh, và biện pháp tu từ mà tác giả sử dụng để làm nổi bật “những điều xanh” của mùa xuân.</p><p> • Đánh giá tổng thể về giá trị nhân văn và nghệ thuật của bài thơ, làm rõ sự đóng góp của tác phẩm vào văn học.</p><p>5. Để làm sáng tỏ “những điều xanh” trong bài thơ “Mùa xuân xanh”, tác giả đã dùng những dẫn chứng, lí lẽ nào?</p><p> • Tác giả có thể đã sử dụng các dẫn chứng như hình ảnh thiên nhiên mùa xuân tươi đẹp, sự sống sinh sôi và những biểu tượng về màu xanh để làm nổi bật tinh thần của mùa xuân. Các lý lẽ có thể bao gồm sự liên hệ giữa mùa xuân và niềm vui, hy vọng, cũng như cách mùa xuân đại diện cho sự đổi mới và phát triển của cuộc sống.</p><p>6. Việc đánh giá chủ đề và hình thức nghệ thuật có xuất phát từ đặc trưng thể loại tác phẩm không?</p><p> • Có, việc đánh giá chủ đề và hình thức nghệ thuật nên xuất phát từ đặc trưng thể loại thơ. Thơ có đặc trưng ngôn ngữ cô đọng, hình ảnh giàu biểu cảm và sử dụng nhiều biện pháp tu từ. Do đó, việc phân tích và đánh giá cần bám sát những đặc trưng này để thấy rõ cách tác giả đã sử dụng chúng để truyền tải nội dung và ý nghĩa.</p><p>7. Theo em, bài viết mẫu cần cải thiện điều gì không?</p><p> • Bài viết mẫu có thể cần cải thiện một số khía cạnh như:</p><p> • Tăng cường sự liên kết giữa các ý để bài viết mạch lạc hơn.</p><p>• Phát triển thêm các phân tích chi tiết về hình ảnh và biện pháp tu từ cụ thể để tăng tính thuyết phục.</p><p> • Cải thiện phần kết luận, làm rõ hơn giá trị và ý nghĩa của bài thơ đối với người đọc, để tạo ấn tượng sâu sắc hơn.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 16:58:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209893358</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Mùi Ngọc Gia Nhi -Yêu cầu 1</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209952898</link>
         <description><![CDATA[<p>1. Theo em một bài phân tích, đánh giá tác phẩm không giống với một bài nêu cảm nhận đơn thuần.<br>- Một bài phân tích đánh giá cần phải hiểu rõ về mọi khía cạnh của tác phẩm ấy, cần đưa ra những luẩn điểm, luận cứ để phân tích tác phẩm. <br>- Một bài nêu cảm nhận đơn thuần là nêu những cảm xúc đọng lại, những ấn tượng đầu tiên khi đọc tác phẩm ấy. <br><br>2. Tiêu chuẩn của bài văn phân tích, đánh giá:<br>Cần có sự chặt chẽ trong lập luận. Những luận điểm đưa ra phải sắc nét và thuyết phục. Song cần có sự mạch lạc trong cách thi triển bài viết. <br><br>3.&nbsp; Khi phân tích về tác phẩm thơ cần nắm chắc về kĩ năng phân tích một tác phẩm thơ, tác giả - tác phẩm, nội dung bài thơ, các hình ảnh, chi tiết trong bài thơ và các yếu tố nghệ thuật trong bài thơ đó. <br><br>4. <strong>1. Về nội dung:</strong><br><strong>-</strong> Bài viết cần thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về nội dung, ý nghĩa và thông điệp mà tác phẩm muốn truyền tải. Bao gồm việc phân tích chủ đề chính, các hình ảnh, biểu tượng, ý nghĩa ẩn dụ, và cảm xúc mà tác giả thể hiệ trong bài thơ.<br>- Cần đánh giá các yếu tố nghệ thuật như ngôn ngữ, nhịp điệu, âm điệu, cách gieo vần, phong cách cá nhân của tác giả, và những điểm đặc sắc trong cách biểu đạt của bài thơ.<br>- Nhận xét về giá trị tư tưởng, giá trị nghệ thuật và giá trị nhân văn nhân đạo của tác phẩm. Xác định tác phẩm mang lại những suy nghĩ gì về đời sống, con người, thiên nhiên, và có tác động gì đến người đọc.<br><strong>2. Về kỹ năng:</strong><br><strong>- Kỹ năng phân tích</strong>: Cần có kỹ năng phân tích sâu sắc, biết cách làm rõ từng chi tiết của bài thơ để hiểu rõ nội dung và giá trị nghệ thuật của nó.<br><strong>- Kỹ năng lập luận</strong>: Bài viết cần có lập luận rõ ràng, chặt chẽ và mạch lạc. Các ý kiến và nhận xét phải được minh chứng bằng dẫn chứng cụ thể từ bài thơ.<br><strong>- Kỹ năng diễn đạt</strong>: Sử dụng ngôn từ chính xác, giàu cảm xúc và truyền đạt đúng ý tưởng. Văn phong nên linh hoạt, sinh động, tạo hứng thú cho người đọc.<br><strong>3. Về bố cục:</strong><br>Mở bài: giới thiệu bài thơ và tác giả, nêu nhận xét khái quát về nội dung, nghệ thuật của bài thơ. <br><br>Thân bài: lần lượt phân tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ. <br><br>Kết bài: khẳng định lại giá trị chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ; tác động của bài thơ đối với bản thân hoặc cảm nghĩ về tác phẩm.<br><br></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 18:45:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209952898</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Mùi Ngọc Gia Nhi - yêu cầu 2</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209953552</link>
         <description><![CDATA[<p>1. Vấn đề được phân tích đánh giá trong bài viết là những hình ảnh nổi nổi bật của bài thơ, giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật.<br>2. Ngữ liệu tham khảo trên là một bài viết hoàn chỉnh. Dựa trên các yếu tố như bố cục 3 phần: mở bài, thân bài, kết bài, mạch cảm xúc, ý chính.<br>3. Nội dung phân tích đánh giá được trình bày theo cách kết hợp chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ thuật. Phương pháp này giúp cho&nbsp; bài viết chở nên hoàn chỉnh hơn, thuyết phục hơn và dễ dàng dẫn dắt bạn đọc hơn.<br>4. Những ý chính được trình bày trong bài viết:<br>- giới thiệu, tác giả, tác phẩm<br>- những hình ảnh, chi tiết đặc sắc trong bài thơ.<br>-giá trị nghệ thuật.<br>- giá trị nhân văn.<br>- đánh giá mở rộng.<br>5.tác giả đã sử dụng những dẫn chứng, lí lẽ, hình ảnh tượng trưng: bầu trời, lúa, cỏ, từ ngữ trong bài.<br>6. Việc đánh giá chủ đề và hình thức nghệ thuật xuất phát từ đặc trưng thể loại của tác phẩm. Mỗi thể loại sẽ có những đặc điểm nhận dạng khác nhau như các bài thơ trữ tình sẽ thiên về hình ảnh với cảm xúc lãng mạn,... Việc đánh giá như vậy sẽ giúp người đọc, người nghe hình dung rõ ràng nhất về thể loại mà bài viết muốn nói đến.<br>7. Theo em bài viết mẫu cần cải thiện hơn về ngô từ sao cho các&nbsp; phần liên kết giữa các câu thơ trở nên uyển chuyển hơn, không bị quá trực tiếp và khô khan.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 18:46:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3209953552</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhật Dũng yêu cầu 1</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3210069287</link>
         <description><![CDATA[<ol><li><p>Yếu tố làm nên sự khác biệt là:</p><ul><li><p>phân tích, đánh giá một cách toàn diện tác phẩm</p></li><li><p>Còn khi ta phát biểu cảm nhận thì ta sẽ nhận xét về ngôn ngữ, mạch xảm xúc, có tính chất chủ quan hơn</p><ol start="2"><li><p>Bài văn phân tích, đánh giá về tác phẩm thơ đòi hỏi những tiêu chuẩn như sự liên kết, làm rõ được nội dung, chủ đề tác phẩm, yếu tố nghệ thuật có trong chuyện, tổ chức luận điểm.</p></li><li><p>Khi phân tích đánh giá về một tác phẩm thơ cần nắm chắc: nghệ thuật, ngôn từ, cảm xúc, âm thanh,..</p></li><li><p>Theo rm, bài văn phân tích hay đánh giá một tác phẩm thơ cần:</p><p>-Về nội dung: xác định được chủ đề và phân tích, đánh giá nội dung và ý nghĩa của thơ. Phân tích và làm rõ những yếu tố nghệ thuật đặc sắc.</p><p>-Về kĩ năng: Lập luận chặt chẽ, có bằng chứng tin cậy từ thơ, diễn đạt mạch lạc</p><p>-Về bố cục: gồm 3 phần đầy đủ</p><p>+Mở bài: giới thiệu khái quát về thơ hoặc tác giả</p><p>+Thân bài: phân tích đánh giá về mạch ý tưởng, sự phát triển của thơ, chỉ ra những yếu tố hấp dẫn và thu hút</p><p>+Kết bài: Khẳng định lại giá trị, ý nghĩa mà bài thơ đem lại</p></li></ol></li></ul></li></ol>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 22:54:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3210069287</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhật Dũng yêu cầu 2</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3210074019</link>
         <description><![CDATA[<p>1.Vấn đề được phân tích, đánh giá trong bài viết là nội dung, thông điệp và các yếu tố nghệ thuật</p><p>2.Chúng ta cần phải xem xét các phần cơ bản của một bài văn phân tích bao gồm mở bài, thân bài và kết bài.</p><p>3.Nội dung phân tích đánh giá được trình bày theo cách kết hợp chủ đề và những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật. Một đoạn văn là một trích dẫn câu và kèm theo lời phân tích nghệ thuật làm bố cục trở nên rõ ràng và logic hơn</p><p>4.các ý chính được trình bày trong bài viết tham khảo là mạch cảm xúc, ý tưởng của nhân vật trữ tình, sự phát triển của hình tượng chính, nét hấp dẫn riêng của bài thơ so với các bài thơ khác cùng chủ đề</p><p>5.Tác giả đã dùng dẫn chứng: hình ảnh bầu trời, lúa, cỏ, lũy tre xanh</p><p>6.Việc đánh giá chủ đề và hình thức nghệ thuật xuất phát từ đặc trưng của mỗi thể loại. Mỗi bài thơ khác nhau sẽ có nét đặc trưng khác nhau</p><p>7.Theo em, bài viết mẫu cần cải thiện thêm về sự liên kết giữa các luận điểm, luận cứ; có thêm những liên hệ thực tế, đánh giá sâu sắc.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-10 23:03:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3210074019</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Bảo nam -yêu cầu 1</title>
         <author>labaonam1311</author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3210477957</link>
         <description><![CDATA[<p>Sự khác biệt giữa bài văn phân tích, đánh giá về tác phẩm thơ và bài phát biểu cảm nhận đơn thuần:</p><p><br/></p><p>Bài văn phân tích, đánh giá không chỉ thể hiện cảm nhận cá nhân mà còn cần lý giải, phân tích các yếu tố nghệ thuật và nội dung của tác phẩm. Nó đòi hỏi lập luận có chiều sâu, hệ thống, và đưa ra nhận xét có căn cứ. Ngược lại, một bài phát biểu cảm nhận chỉ đơn thuần là bày tỏ cảm xúc và suy nghĩ cá nhân, thường không yêu cầu phân tích chi tiết.</p><p>Tiêu chuẩn lập luận, sắp xếp luận điểm và tổ chức bài viết:</p><p><br/></p><p>Bài viết cần lập luận rõ ràng, chặt chẽ, các luận điểm sắp xếp hợp lý, mạch lạc. Tổ chức bài cần có phần mở đầu giới thiệu tác phẩm, nội dung và nghệ thuật cần phân tích, phần thân chia thành các luận điểm cụ thể, và phần kết luận rút ra đánh giá tổng thể.</p><p>Điều cần nắm chắc khi phân tích, đánh giá tác phẩm thơ:</p><p><br/></p><p>Cần hiểu rõ nội dung, chủ đề và các biện pháp nghệ thuật của tác phẩm. Đồng thời, phải nắm được ngữ cảnh sáng tác, phong cách của tác giả, và những yếu tố văn hóa, xã hội ảnh hưởng đến tác phẩm.</p><p>Yêu cầu của bài văn phân tích, đánh giá về một tác phẩm thơ:</p><p><br/></p><p>Về nội dung: Phải chính xác, đầy đủ về ý nghĩa, chủ đề, hình tượng nghệ thuật, và phong cách của tác giả.</p><p>Về kỹ năng: Cần biết cách phân tích nghệ thuật, diễn đạt mạch lạc, có cảm xúc và thể hiện được cái nhìn sâu sắc, khách quan về tác phẩm.</p><p>Về bố cục: Rõ ràng, mạch lạc, với các phần mở bài, thân bài, kết bài đầy đủ.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-11 03:55:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3210477957</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Bảo nam yc2</title>
         <author>labaonam1311</author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3210479172</link>
         <description><![CDATA[<p>Vấn đề được phân tích, đánh giá trong bài viết:</p><p><br/></p><p>Bài viết tập trung phân tích những vẻ đẹp và sắc thái của mùa xuân trong bài thơ “Mùa xuân xanh”, nhấn mạnh các yếu tố nghệ thuật và ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh mùa xuân.</p><p>Ngữ liệu tham khảo có phải là một bài viết hoàn chỉnh không?</p><p><br/></p><p>Đây là một bài viết hoàn chỉnh vì có đầy đủ phần mở bài, thân bài và kết bài; lập luận rõ ràng và mạch lạc, các luận điểm được trình bày tuần tự.</p><p>Cách trình bày nội dung phân tích, đánh giá:</p><p><br/></p><p>Nội dung phân tích kết hợp cả chủ đề và nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật, giúp người đọc dễ dàng nắm bắt cả ý nghĩa lẫn giá trị nghệ thuật của tác phẩm.</p><p>Các ý chính được trình bày trong bài viết tham khảo:</p><p><br/></p><p>Giới thiệu hình ảnh mùa xuân trong thơ, phân tích biểu tượng “điệu xanh” của mùa xuân, phân tích các yếu tố nghệ thuật làm nên vẻ đẹp của hình ảnh mùa xuân trong bài thơ.</p><p>Dẫn chứng và lí lẽ làm sáng tỏ “những điệu xanh” trong bài thơ Mùa xuân xanh:</p><p><br/></p><p>Tác giả sử dụng dẫn chứng từ những câu thơ tiêu biểu, phân tích cách dùng từ ngữ và hình ảnh thể hiện sắc thái tươi mới của mùa xuân, giúp người đọc cảm nhận được sự sống động và tràn đầy sức sống.</p><p>Đánh giá chủ đề và hình thức nghệ thuật có xuất phát từ đặc trưng thể loại tác phẩm không?</p><p><br/></p><p>Có, vì bài viết tập trung vào đặc trưng thơ ca với những yếu tố như hình ảnh, từ ngữ biểu cảm, và các thủ pháp nghệ thuật điển hình của thơ.</p><p>Những điều cần cải thiện trong bài viết mẫu:</p><p><br/></p><p>Bài viết có thể làm phong phú thêm các dẫn chứng hoặc diễn giải sâu hơn một số hình ảnh để làm rõ nét hơn sắc thái đặc trưng của bài thơ.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-11 03:56:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3210479172</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhiệm vụ 3</title>
         <author>trandoanquyet</author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3211366021</link>
         <description><![CDATA[<p>Từng cá nhân tham khảo phiếu học tập do giáo viên phát tại lớp. chú ý các gợi ý về thông tin tác phẩm, mục tiêu, đối tượng người đọc và hoàn thành bài viết.</p><ul><li><p>Học sinh viết bài trực tiếp trên padlet (Cột "Bài viết hoàn chỉnh"), không cần viết ra giấy (trừ trường hợp không có máy tính hoặc HS có thể đính kèm tệp PDF, word chứa dữ liệu bài viết)</p></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-11 14:53:43 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3211366021</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Vân Khánh-yêu cầu 3</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3211532349</link>
         <description><![CDATA[<p>Tác giả Đỗ Phủ là nhà thơ hiện thực vĩ đại của Trung Quốc với những vần thơ phản ánh hiện thực và bày tỏ cảm xúc, thái độ, tâm trạng đau khổ trước hiện thực đời sống của nhân dân trong chiến tranh, trong nạn đói chan chứa tình yêu nước và tinh thần nhân đạo. Cảm xúc mùa thu là bài thơ đầu tiên trong chòm 8 bài thơ Thu hứng của Đỗ Phủ thể hiện nỗi lòng của nhà thơ với quê hương, đất nước.</p><p>Bài thơ mở đầu với bốn câu thơ:</p><p>Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm,<br>Vu sơn, Vu giáp khí tiêu sâm.<br>Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng,<br>Tái thượng phong vân tiếp địa âm.</p><p>Bốn câu thơ này nói về cảnh vật mùa thu. Hai câu đề với hình ảnh thơ cổ điển, là những hình ảnh được dùng để miêu tả mùa thu ở Trung Quốc: “ngọc lộ”, “phong thụ lâm”. "Vu sơn Vu giáp” là tên những địa danh nổi tiếng ở vùng Quỳ Châu, Trung Quốc, vào mùa thu, khí trời âm u, mù mịt. “Khí tiêu sâm” là hơi thu hiu hắt, ảm đạm. Với hai câu thực tiếp theo, tác giả sử dụng hình ảnh đối lập, phóng đại: sóng – vọt lên tận trời (thấp – cao), mây – sa sầm xuống mặt đất (cao – thấp), qua đó không gian được mở rộng ra nhiều chiều:Tầng xa là ở giữa dòng sông thăm thẳm là “sóng vọt lên tận lưng trời”. Tầng cao là miền quan ải với hình ảnh mây sa sầm giáp mặt đấy. Tầng rộng là mặt đất, bầu trời, dòng sông đều cho ta hình dung về không gian rộng lớn. Bốn câu thơ vẽ nên bức tranh mùa thu xơ xác, tiêu điều, hoành tráng, dữ dội.Tâm trạng buồn lo và sự bất an của nhà thơ trước hiện thực tiêu điều, âm u.</p><p>Tùng cúc&nbsp;lưỡng khai tha nhật lệ,<br>Cô chu nhất hệ cố viên tâm.<br>Hàn y xứ xứ thôi đao xích,<br>Bạch Đế&nbsp;thành cao cấp mộ châm.</p><p>Với bốn câu thơ tiếp theo, tác giả miêu tả về “tình thu”. Hai câu luận đầu tiên tác giả sử dụng hình ảnh ẩn dụ, tượng trưng: Hoa cúc là hình ảnh ước lệ chỉ mùa thu. Khóm cúc đã hai lần nở hoa: Có hai cách hiểu khóm cúc nở ra làm rơi giọt nước mắt, khóm cúc nở ra giọt nước mắt. “Cô phàm” &nbsp;là phương tiện đưa tác giả trở về “cố viên”, đồng thời gợi thân phận lẻ loi, cô đơn, trôi nổi của tác giả. Cách sử dụng từ ngữ độc đáo, hàm súc, cô đọng:“Lưỡng khai” là nỗi buồn lưu cữu trải dài từ quá khứ đến hiện tạ. “Nhất hệ” là dây buộc thuyền cũng là sợi dây buộc mối tình nhà của tác giả.“Cố viên tâm” là tấm lòng hướng về quê cũ. Thân phận của kẻ tha hương, li hương luôn khiến lòng nhà thơ thắt lại vì nỗi nhớ quê. Tóm lại hai câu thơ diễn tả nỗi lòng da diết, dồn nén nỗi nhớ quê hương của tác giả. Với hai câu thơ tiếp theo là câu thơ kết của bài thơ, tác giả sử dụng hình ảnh “Mọi người nhộn nhịp may áo rét; Giặt áo rét chuẩn bị cho mùa đông.” Cùng với âm thanh là tiếng chày đập vải. Đó là âm thanh báo hiệu mùa đông đến, đồng thời đó là âm thanh của tiếng lòng, diễn tả sự thổn thức, mong ngóng, chờ đợi ngày được trở về quê. Bốn câu thơ diễn tả nỗi buồn của người xa quê, ngậm ngùi, mong ngóng ngày trở về quê hương.</p><p>Cảm xúc mùa thu là bài thơ mang đậm dấu ấn phong cách thơ trữ tình của Đỗ Phủ. Qua bài thơ ta thấy được một tâm hồn thi sĩ vừa nhạy cảm lại rung động mãnh liệt với cảnh sắc. Trái tim Đỗ Phủ đã dành trọn cho quê hương, cũng qua bài thơ, cái tư tưởng "yêu nước thương đời" lại càng thể hiện rõ. Với Đỗ Phủ, mùa thu đồng nghĩa với nỗi buồn và niềm thương nhớ không nguôi, nhất là khi ông đang phải sống trong cảnh nghèo khổ, bệnh tật, cô đơn nơi xứ lạ. Những vần thơ của ông có sức lay động mãnh liệt, đặc biệt những vần thơ như bật lên khỏi trang giấy, mở ra một khung cảnh rất rõ. Ông xứng đáng được người đời tôn vinh là bậc “Thi thánh” của thời Thịnh Đường mà tên tuổi lưu danh muôn thuở.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-11 16:42:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3211532349</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3211534927</link>
         <description><![CDATA[<p><strong> NHIỆM VỤ 3: VIẾT (Đặng Khánh Chi) </strong></p><p><strong>SANG THU - HỮU THỈNH</strong></p><p><strong><em>BÀI LÀM </em></strong></p><p>     Cũng như mùa Xuân, mùa thu luôn là đề tài gợi nhiều cảm xúc cho các thi nhân. Mỗi người lại có cách nhìn, cách miêu tả rất riêng, mang đậm dấu ấn cá nhân của mình. Có nhà thơ, mùa thu là dáng liễu buồn, là màu áo mờ phai, là tiếng đạp lá vàng của con nai vàng ngơ ngác. Hữu Thỉnh cũng vậy, cũng góp vào tuyển tập thơ mùa thu của dân tộc một cái nhìn mới mẻ. </p><p>    Ông là nhà thơ viết nhiều, viết hay về những con người, cuộc sống ở nông thân về mùa thu. Những vần thơ của ông mang cảm xúc bâng khuâng vương vấn trước đất trời trong trẻo đnag chuyển biến nhẹ nhàng. Điều này được thể hiện rõ qua bài thơ "Sang Thu" được ông sáng tác cuối năm 1977. </p><p>        Bài thơ được tác giả viết theo thể thơ 5 chữ. Toàn bộ bài cũng chỉ có 3 khổ, ngắn gọn nhưng súc tích. Thi phẩm không chỉ vẽ lên được cảnh đẹp của giây phút chuyển mùa mà còn thể hiện được tâm trạng và cảm xúc của tác giả trước cảnh đẹp thiên nhiên: </p><p><strong><em>"Bỗng nhận ra hương ổi<br>Phả vào trong gió se<br>Sương chùng chình qua ngõ<br>Hình như thu đã về"</em></strong></p><p>       Khác với thơ xưa khi miêu tả mùa thu thường nhắc đến màu vàng của lá với hình ảnh lá rụng mùa thu. Ở thơ Hữu Thỉnh, ông cảm nhận mùa thu qua nhiều giác quan khác nhau. Đó là khứu giác, là xúc giác, là thị giác và là tri giác. Mùa thu trong Hữu Thỉnh đến từ mùi hương của những bông hoa ổi và những quả ổi chín vàng ươm. Mùa thu còn đến từ những cơn gió se, không lạnh như gió mùa đông cũng không nóng như gió mùa hè. Nó dịu mát và làm tâm hồn con người thêm thư thái. Mùa thu với đặc trưng sương mù cũng bắt đầu hiện hữu, chúng “chùng chình qua ngõ” và len lỏi khắp mọi ngõ ngách của đường phố. Tất cả những điều ấy khiến cho tác giả đặt ra một câu nghi vấn. Ông không khẳng định mà chỉ nói rằng “hình như thu đã về”. Từ “hình như” gợi lên cho người đọc một sự ngỡ ngàng, một sự bâng khuâng không dám tin rằng đây lại là sự thật.</p><p>        Sau sự cảm nhận của các giác quan thì lúc này, dường như mùa thu đã hiện hữu rõ nét hơn thông qua những hình ảnh cụ thể:</p><p><strong><em>"Sông được lúc dềnh dàng<br>Chim bắt đầu vội vã<br>Có đám mây mùa hạ<br>Vắt nửa mình sang thu"</em></strong></p><p>        Tác giả Hữu Thỉnh đã rất khéo léo khi sử dụng những tính từ để chỉ sự chảy trôi của dòng sông và của những cánh chim bay. Sông thì “dềnh dàng” bởi mùa thu những cơn gió sẽ khiến cho dòng nước lững lờ trôi. “Dềnh dàng” ý chỉ sự chậm rãi, ung dung, tự tại cũng giống như từ “chùng chình” khi miêu tả sương ở câu thơ trên. Nhưng đối lập với sự chậm rãi ấy lại là sự “vội vã” của những chú chim. Đó là sự nhạy cảm của tác giả khi nhìn cảnh vật xung quanh. Ông hiểu rằng, mùa đông là thời điểm lũ chim sẽ bay về phương nam tránh rét. Vì vậy mà khi trời chuyển sang thu, chúng sẽ bắt đầu chuẩn bị cho một hành trình dài bay về phương xa. Sự vội vã ở đây cũng là điều rất dễ hiểu. Nhưng hình ảnh đám mây mới là hình ảnh tinh tế nhất. Vì đây là khoảnh khắc sang thu nên tiết trời vẫn còn chút vấn vương của mùa hạ. Điều đó thể hiện qua hình ảnh đám mây “vắt nửa mình sang thu”. Một nửa của nó vẫn còn đang ở mùa hạ. Dường như giữa hai mùa chỉ cách nhau một ranh giới trên bầu trời. Chỉ cần đám mây kia di chuyển qua vạch ranh giới ấy là mùa thu sẽ chính thức gõ cửa.</p><p>         Khổ thơ cuối cùng, tác giả đã cảm nhận mùa thu bằng lý trí của mình. Ông lồng ghép trong đó những tâm sự của con người trước thời cuộc:</p><p><strong><em>"Vẫn còn bao nhiêu nắng<br>Đã vơi dần cơn mưa<br>Sấm cũng bớt bất ngờ<br>Trên hàng cây đứng tuổi"</em></strong></p><p>        Mùa thu mới chớm tới, nắng dù vẫn còn nhiều nhưng những cơn mưa đã thưa thớt dần, sấm chớp cũng không còn dữ dội và khiến người ta bất ngờ như những ngày đầu hè nữa. Ở đây, có thể hiểu câu thơ của tác giả theo hai lớp nghĩa, một là đơn thuần tả cảnh thiên nhiên, hai là nói đến cảm xúc của con người. Nếu những hàng cây cổ thụ không còn bất ngờ bởi tiếng sấm thì những con người đã trải qua biết bao biến cố của cuộc đời cũng không e ngại bất cứ một sóng gió nào nữa.</p><p>       Bằng cách dùng tính từ chỉ con người để nói về cảnh vật, nhà thơ Hữu Thỉnh đã sử dụng biện pháp nghệ thuật nhân hóa một cách tài tình khiến cảnh vật trở nên sống động và có hồn hơn. Câu thơ đọc lên đến đâu là gợi mở cảm xúc cho con người đến đó. Đồng thời khiến cho người đọc cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước khi chuyển mùa.</p><p>         Sự tài tình và tinh tế của tác giả còn được thể hiện qua việc xây dựng nghệ thuật đặc sắc cùng với thể thơ 5 chữ. Ngôn ngữ, hình ảnh vừa giản dị, tự nhiên mà giàu sức gợi, vừa độc đáo, mới lạ. Giọng thơ nhỏ nhẹ, sâu lắng. Qua đó mà lay động, chạm đến tâm hồn độc giả.</p><p>        "Sang Thu" là khúc ngân giao mùa đầy mộng mơ khiến lòng ta không khỏi khắc khoải, vừa thấy yên bình, lại thấy bâng khuâng. Bài thơ mang đến cho ta những suy ngẫm về cuộc đời, về tuổi trẻ và thời gian, để từ đó thêm ý thức hơn về lẽ sống đời người, thêm yêu và trân trọng mọi vẻ đẹp của đất nước, của thiên nhiên.</p><p><br></p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-11 16:43:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3211534927</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Cầm Việt Thái-Yêu cầu 3</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3211552862</link>
         <description><![CDATA[<p>    <strong>Bài thơ: Đoàn thuyền đánh cá-Huy Cận</strong></p><p>    Bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” của nhà thơ Huy Cận là một tác phẩm đặc sắc của nền thơ ca hiện đại Việt Nam, ra đời trong giai đoạn xây dựng đất nước sau hòa bình, khi niềm tin yêu cuộc sống và tinh thần lao động được đề cao. Bài thơ không chỉ là một bức tranh thiên nhiên kỳ vĩ của biển cả mà còn là bài ca lao động, biểu tượng cho sức mạnh tập thể, và niềm tin vào một tương lai tươi sáng.</p><p>    Ngay từ những dòng thơ đầu tiên, Huy Cận đã tạo nên một không gian bao la của biển trời:</p><p><br></p><p>“Mặt trời xuống biển như hòn lửa,</p><p>Sóng đã cài then đêm sập cửa.”</p><p><br></p><p>Ở đây, hình ảnh mặt trời được ví như một “hòn lửa”, làm nổi bật vẻ đẹp mạnh mẽ của thiên nhiên. Hình ảnh này vừa chân thực, vừa mang tính chất tượng trưng. Biển cả trong thơ Huy Cận hiện lên không chỉ rộng lớn mà còn có vẻ huyền bí, sâu lắng. Hình ảnh “sóng cài then” và “đêm sập cửa” là cách nhà thơ ví von cảnh hoàng hôn buông xuống biển, như một cánh cửa khổng lồ đang khép lại, đưa con người vào một thế giới của bóng tối, nhưng lại là khởi đầu cho một hành trình lao động.</p><p>    Bài thơ không chỉ miêu tả cảnh thiên nhiên, mà còn khắc họa vẻ đẹp của những người ngư dân – những con người mạnh mẽ, đoàn kết và tràn đầy khí thế:</p><p><br></p><p>“Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời,</p><p>Mặt trời đội biển nhô màu mới.”</p><p><br></p><p>Hình ảnh “chạy đua cùng mặt trời” thể hiện tốc độ, niềm say mê trong lao động của những người ngư dân. Họ không chỉ lao động vì miếng cơm manh áo mà còn vì lòng tự hào về nghề nghiệp của mình. Huy Cận đã dùng từ ngữ đầy sức sống để tôn vinh hình ảnh người lao động như những người hùng chinh phục thiên nhiên. Họ hòa quyện vào thiên nhiên, làm chủ biển cả, và chính điều đó đã làm nổi bật ý chí kiên cường của con người trong công cuộc xây dựng cuộc sống mới.</p><p>    Bài thơ không chỉ là một lời ca ngợi về thiên nhiên và con người, mà còn mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc về niềm tin vào tương lai. Hình ảnh người ngư dân mạnh mẽ, đầy sức sống giữa biển khơi thể hiện niềm tin yêu vào cuộc sống và tinh thần hướng về ngày mai tươi sáng. Bài thơ kết thúc bằng những dòng thơ tràn đầy hy vọng:</p><p><br></p><p>“Câu hát căng buồm cùng gió khơi,</p><p>Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,</p><p>Câu hát căng buồm cùng gió khơi.”</p><p><br></p><p>Hình ảnh “câu hát căng buồm” không chỉ là một hình ảnh thơ mộng mà còn là biểu tượng cho niềm vui lao động. Chính tiếng hát là động lực thúc đẩy con người tiến lên, vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Những người ngư dân hát vang giữa biển khơi là biểu hiện của một cuộc sống tự do, hạnh phúc và no đủ.</p><p>    Về nghệ thuật, “Đoàn thuyền đánh cá” là một tác phẩm xuất sắc trong cách sử dụng hình ảnh, ngôn từ và nhịp điệu. Ngôn ngữ thơ giản dị nhưng giàu hình ảnh, tạo nên một không gian vừa hiện thực vừa mộng mơ. Nhịp điệu của bài thơ nhẹ nhàng nhưng không kém phần mạnh mẽ, dồn dập, gợi lên hình ảnh những con thuyền lao ra khơi, cũng như tinh thần lao động hăng say của người dân. Huy Cận đã khéo léo kết hợp giữa yếu tố tả thực và yếu tố lãng mạn, từ đó tạo nên một bức tranh thiên nhiên sinh động, đồng thời làm nổi bật vẻ đẹp của con người lao động.</p><p>    “Đoàn thuyền đánh cá” không chỉ là bài thơ tả cảnh mà còn là khúc ca tôn vinh con người lao động, biểu tượng cho sức mạnh và niềm tin yêu vào cuộc sống. Qua đó, Huy Cận đã gửi gắm thông điệp về tinh thần lạc quan, khát vọng xây dựng một cuộc sống mới, và ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên hòa quyện với con người trong cuộc hành trình lao động.</p><p>    Bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ Huy Cận sau Cách mạng tháng Tám – phong cách thơ hướng về cuộc sống đời thường, tươi vui và mang ý nghĩa cộng đồng sâu sắc. Tác phẩm không chỉ thể hiện tinh thần lao động, niềm tự hào dân tộc mà còn là minh chứng cho tài năng và tâm hồn của Huy Cận, một nhà thơ luôn gắn bó với đất nước, với con người Việt Nam. “Đoàn thuyền đánh cá” vẫn luôn là khúc ca sáng ngời của thi ca Việt Nam, khắc sâu trong lòng độc giả về vẻ đẹp của biển cả và tinh thần lao động bất</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-11 16:55:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3211552862</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Ngọc Diệp - Nhiệm vụ 3</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3211554959</link>
         <description><![CDATA[<p>     Xuân Diệu là một tác giả lớn của nền văn học Việt Nam, một nhà thơ xuất sắc có đóng góp lớn vào quá trình hiện đại hóa thơ ca Việt Nam. Ông là con người toàn tâm, toàn trí, toàn hồn, nhiệt thành cống hiến sự sống cho thơ ca, chạy đua với thời gian để giành giật lấy từng phút giây của cuộc đời. Cuộc đời và sự nghiệp của Xuân Diệu không chỉ đơn giản là một hành trình sáng tác thơ. Nó còn là một hành trình tìm kiếm và thể hiện bản thân, sự giao cảm mạnh mẽ với cuộc sống, và niềm tin vào giá trị của nghệ thuật trong xã hội. Điều này đã thể hiện rõ trong các tác phẩm của ông, nơi mà tình yêu, niềm tin và nỗi lo sợ đều được biểu hiện một cách chân thành và sâu sắc. Và cũng bởi lẽ không muốn hòa lẫn cái tôi của mình vào biển đời mờ nhân ảnh mà Xuân Diệu tự khẳng định mình là đỉnh Hy Mã Lạp sơn, “là một, là riêng, là thứ nhất”:</p><p><em>“Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt</em><br><em>Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”</em></p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Nếu&nbsp;“<em>Thơ duyên”</em>&nbsp;là một bài thơ rất Xuân Diệu, thì xem ra những lời bình mà tác giả&nbsp;<em>Thi nhân Việt Nam</em>&nbsp;dành cho thi phẩm này cũng&nbsp;rất Hoài Thanh. Cơ chừng chỉ nhờ những ấn tượng mà ngòi bút bình thơ tài hoa tinh tế kia lẩy ra, nhiều người mới tìm đọc toàn bài. Còn trước đó ít ai ngó ngàng đến cả thi phẩm. Cho đến khi giành được một chỗ xứng đáng trong sách giáo khoa phổ thông trung học, người ta mới thấy&nbsp;“<em>Thơ duyên”</em>&nbsp;được giới phê bình si mê hơn.&nbsp;“<em>Thơ duyên”</em>&nbsp;vậy là bén duyên với Hoài Thanh mà vẫn luôn mặn duyên với giới phê bình!</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Bài thơ được Xuân Diệu viết khi mới chỉ 16 tuổi và được in trong Tuyển tập Xuân Diệu (Thơ), NXB Văn học, Hà Nội năm 1986. Như cái tên của nó,&nbsp;“<em>Thơ duyên”</em>&nbsp;có một bình diện nội dung rất dễ thấy là sự xúc động trước cuộc giao duyên huyền diệu của cả thế gian này, mà nhìn kĩ chính là sự hoà quyện của ba mối tơ duyên chính: thiên nhiên với thiên nhiên, con người với thiên nhiên và con người với con người. Từ những mối tơ duyên ấy Xuân Diệu đã thầm gợi ra một nội dung có vẻ thầm bí mà ít người có thể phát hiện ra được nhưng lại góp phần hết sức quan trọng trong bài thơ và nó cần được tìm hiểu một cách chu đáo hơn ấy là nội dung cắt nghĩa. Bài thơ cho thấy khung cảnh mùa thu đẹp đẽ, thơ mộng, tinh khôi và tươi mới, đầy sức sống qua cái nhìn của những người trẻ đang tràn đầy nhiệt huyết, yêu đời, yêu người. Và cũng từ cái tuổi trẻ bồng bột mới lớn ấy đã thể hiện được tình cảm, nỗi niềm yêu mến của những người trẻ dành cho nhau vừa chân thành, tha thiết nhưng cũng vừa ngại ngùng, xốn xang. Cho thấy cảm xúc đôi lứa dành cho nhau từ khi gặp gỡ đến lúc rung động rồi đến khi nhận ra đã phải lòng nhau từ lúc nào gắn với thiên nhiên, cảnh sắc và thời gian, khung cảnh của trời thu, mùa thu. Từ những cảm xúc, rung động đầu đời ấy dễ dàng cho ta thấy rằng đó là tình cảm đẹp đẽ, tinh khôi, đáng nhớ, đáng trân trọng. Chỉ từ những chi tiết mà ta xem là bình thường ở tuổi mới lớn ấy, thi sĩ đã viết lên một bài thơ với một tâm hồn đầy nhạy cảm và tinh tế như Thế Lữ đã từng nhận xét về Xuân Diệu rằng: “Một tâm hồn đằm thắm và rất dễ cảm xúc”.</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Chủ thể trữ tình trong “Thơ duyên” đó là nhân vật “anh” trong bài thơ, được xuất hiện một cách trực tiếp. “Anh” – một chàng trai trẻ đang ở độ tuổi lớn với một tâm hồn hết sức yêu đời kết hợp với đôi chút bẽn lẽn khi mới biết yêu.</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Dựa vào cấu tứ của bài thơ ta có thể dễ dàng chia bài thơ thành 2 phần. Phần 1 là ba khổ đầu, phần 2 là hai khổ cuối. Các phần này đều được đi theo một trình tự khá giống nhau. Đều được bắt đầu với bức tranh thiên nhiên sau đó là sự chuyển biến thầm kín bên trong của nhân vật trữ tình. Hai phần nội dung này nối liền nhau vừa theo bước đi của thời gian, vừa theo bước chuyển trong tâm tình của nhân vật.</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;Từ những dòng thơ đầu ta thấy đó là sự hòa quyện giữa thiên nhiên và con người “Chiều mộng hòa thơ trên nhánh duyên, Cây me ríu rít cặp chim chuyền...”. Đó là bức tranh chiều thu hết sức bình thường nhưng kết hợp với hình ảnh cặp chim huyền ríu rít như là một địa điểm gặp mặt thích hợp của con vật. Từ địa điểm ấy tác giả đã chuyển sang một địa điểm khác “Con đường nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu/Lả lả cành hoang nắng trở chiều”, đây cũng là một địa điểm lí tưởng để gặp mặt nhưng trái với địa điểm trên, địa điểm này là dành cho con người.</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Hay ở khổ thơ thứ ba, từ “vô tâm” đã hóa thành hữu ý của tác giả. Ban đầu em có thể bước điềm nhiên, còn anh thì đi lững thững nhưng giữa một vườn hoa tình ái ấy làm sao có thể “vô tâm” được cơ chứ? Cùng với câu thơ “Anh với em như một cặp vần” thật thi vị biết bao khi anh với em lại là một cặp vần. Vần chỉ đi với đôi với cặp mà thôi, nó rất khó để tách ra. Vậy là trời đất đã hoàn thành việc xe duyên, tơ duyên đã buộc hai kẻ vô tâm vào một cặp vần.</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Với những cảm nhận tinh tế của mình, Xuân Diệu đã sử dụng những hình ảnh hết sức đời thường kết hợp với ngôn từ bay bổng thi sĩ đã thành công trong việc sử dụng hình ảnh và xây dựng ngôn từ theo phong cách riêng của mình</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Khi đọc bài thơ ta thấy thế giới dường như được quy chiếu về hai hình mẫu tổng quát:&nbsp;“Mảnh vườn tình ái” và “Sa mạc vô liêu”. Hình ảnh tạo vật thiên nhiên hết sức đa dạng và sống động trong thơ ông chỉ là những hoá thân, những biến thể khác nhau của hai hình ảnh ấy mà thôi. Thực ra, chúng chỉ là hai phía đối lập biện chứng của cùng một cảm quan nghệ thuật Xuân Diệu. Bởi vì, hai hình ảnh tổng quát này vừa tương sinh lại vừa tương khắc - chúng tương phản nhau nhưng lại chuyển hoá sang nhau. Ở phía này, thế giới hiện ra như một mảnh vườn tình ái, trong đó vạn vật đang rạo rực đắm say, đang giao duyên tình tự với nhau - Tình thổi gió màu yêu lên phấp phới; bao trùm lên là một bầu sinh khí ngập tràn ánh sáng và hơi ấm. Ở phía kia, thế giới lại hiện ra trong diện mạo một hoang mạc vô liêu, tất cả cứ như một cõi hoang vắng, sinh khí suy biến tiêu tán - và cảnh đời là sa mạc vô liêu; tạo vật thành lẻ loi, trống trải, lạnh lẽo, âm u, âu sầu. Nếu mảnh vườn tình ái là thiên nhiên gợi tình, thì hoang mạc vô liêu là thiên nhiên gợi buồn. Một đằng đánh thức dậy trong con người khát khao luyến ái yêu đương, một đằng lại đánh thức nỗi cô đơn cố hữu trong từng cá thể. Dù gợi tình hay gợi buồn, thế giới xung quanh đều dẫn lối cho con người đến một cái đích duy nhất thôi: tình yêu! Bởi chỉ đến với tình yêu con người mới được thoả những khát khao tình ái, cũng chỉ đến với tình yêu mỗi cá thể mới vượt thoát được nỗi cô đơn. Có thể nói, trong thiên nhiên tạo vật của Xuân Diệu luôn giăng mắc hai sợi tơ như thế và sẵn sàng xe duyên cho mọi lứa đôi. Tơ duyên nảy sinh giữa những cá thể vốn xa lạ nhau chính là ý muốn của một thế giới như vậy. Một ý muốn không ai có thể cưỡng được. Không phải tơ duyên hình thành từ kiếp trước một cách siêu hình theo quan niệm nhà Phật. Mà chính tạo vật thiên nhiên quanh chúng ta đây đã xe duyên cho con người. Đó là một quan niệm rất trần thế của Xuân Diệu.</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Bài thơ được viết theo thể thở bảy chữ với cách ngắt nhịp linh động lúc 4/3, lúc 2/5 cùng với cách gieo vần chân và các biện pháp tu từ đã làm cho bài thơ trở nên sinh động hơn, tươi tắn hơn. Qua đó, càng làm nổi bật thêm bức tranh thiên nhiên đầy tinh tế mà Xuân Diệu đã thành công khắc họa.</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Bài “Thơ duyên” của tác giả Xuân Diệu thể hiện khung cảnh mùa thu đẹp đẽ, thơ mộng, tinh khôi và tươi mới. Bức tranh thiên nhiên qua cái nhìn của những người trẻ tràn đầy nhiệt huyết, yêu đời, yêu người. Nội dung chính của bài thơ là sự miêu tả về cảnh một buổi chiều thu lãng mạn, khi ánh hoàng hôn rực rỡ chiếu sáng lên bỡ cỏ đường quê. Phong cách nghệ thuật của Xuân Diệu trong bài thơ này được thể hiện qua việc ông sử dụng ngôn ngữ tinh tế, mượt mà để diễn đạt cảm xúc và hình ảnh. Ông biết cách kết hợp từ ngữ để tạo ra những bức tranh thi vị, gợi lên trong lòng người đọc những cảm xúc sâu lắng về vẻ đẹp của thiên nhiên và tình yêu.</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;“Thơ duyên” không chỉ đơn giản là một bài thơ mà nó còn là một hành trình đầy niềm tin và sự sống. Cùng với cảm quan nghê thuật đầy chất riêng của Xuân Diệu ta hoàn toàn có thể coi,&nbsp;<em>Thơ duyên</em>&nbsp;là sự thu nhỏ của Thế giới Xuân Diệu vào khuôn khổ một thi phẩm.&nbsp;</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-11 16:57:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3211554959</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Mùi Ngọc Gia Nhi- yêu cầu 3</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3211580654</link>
         <description><![CDATA[<p>Bài làm:<br>&nbsp;&nbsp;&nbsp;Chủ đề về số phận của người phụ nữ thời phong kiến vốn đã không còn xa lạ nữa, đã có rất nhiều các nhà văn, nhà thơ viết về nó. Cũng cùng là chủ đề ấy Hồ Xuân Hương đã khai thác nó theo một cách rất riêng và độc đáo qua hình ảnh bánh trôi nước. Đọc những vần thơ của nữ thi sĩ, tôi không thể không ấn tượng với tài năng ngôn ngữ của bà trong tác phẩm thơ " Bánh trôi nước".<br>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Hồ Xuân Hương, lai lịch chưa rõ ràng. Quê bà ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An. Bà được mệnh danh là&nbsp;&nbsp; "Bà chúa thơ nôm". Đồng cảm và thấu hiểu cho nỗi bất hạnh của người phụ nữ thời phong kiến cho nên bà đã chiêm nghiệm và viết ra bài thơ "Bánh trôi nước". Đây chính là một trong những bài thơ nổi tiếng nhất của bà cho đến mãi tận sau này.&nbsp; <br>&nbsp;&nbsp;&nbsp;Bánh trôi nước là bài thơ trữ tình đặc sắc. Tác giả mượn chiếc bánh trôi để thể hiện vẻ đẹp hình thể và tâm hồn của người con gái có thân phận nhỏ nhoi, chìm nổi, phụ thuộc mà vẫn giữ trọn phẩm giá của mình. Toàn bộ bài thơ là hình ảnh nhân hóa, tượng trưng. Với khả năng quan sát và liên tưởng kỳ lạ, chất liệu dân gian là chiếc bánh trôi nước. Loại bánh dân gian xưa được cho là tinh khiết, thường dùng và việc cúng tế. Nữ sĩ đã phát hiện ra những nét tương đồng giữa chiếc bánh trôi bình thường với hình ảnh phụ nữ.Nói cái bánh trôi mà thành chuyện con người. Người phụ nữ, người con gái hình thể đẹp, da trắng nõn nà, thân hình căng tràn nhựa sống, tâm hồn nhân hậu, hiền hòa.<br><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Thân em vừa trắng lại vừa tròn</em> <br><br>&nbsp; Với vẻ đẹp hình thể như vậy, đáng lẽ phải có cuộc sống sung sướng, hạnh phúc. Nhưng cuộc đời con người, đặc biệt là với người phụ nữ tài hoa nhưng bạc mệnh phải chịu bao đắng cay, vất vả:<br><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Bảy nổi ba chìm với nước non</em><br>&nbsp;&nbsp;Được cha mẹ sinh ra để làm người nhưng người phụ nữ không làm chủ được mình. Cuộc đời họ luôn phụ thuộc do người khác định đoạt. Cuộc đời của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến luôn bị xã hội nhào nặn, xô đẩy.<br><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn</em><br>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Nhưng dẫu cuộc đời có phũ phàng bất hạnh họ vẫn giữ vẹn phẩm giá tâm hồn cao đẹp của mình.<br><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;  Mà em vẫn giữ tấm lòng son</em><br>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Sự sáng tạo của nữ sĩ khá độc đáo và lựa chọn chi tiết không nhiều nhưng lại nói được nhiều. Hai từ "thân em" được đặt trước chiếc bánh. Chiếc bánh được nhân hóa, đó chính là lời tự sự của người phụ nữ. nét nghệ thuật này gợi cho trí tưởng tượng của người đọc được chắp cánh và hình ảnh người phụ nữ hiện đại hiện lên rõ nét hơn.<br>&nbsp;&nbsp;&nbsp;Từ thoáng chút hài lòng, giọng thơ truyền hẳn sang than oán về số phận hẩm hiu. Hồ Xuân Hương đã đảo lại thành ngữ quen thuộc&nbsp;"<em>Ba chìm bảy nổi"&nbsp;</em>thành<em>&nbsp;"bảy nổi ba chìm" &nbsp;</em>đối lập với vừa trắng lại vừa tròn, tạo sự bất ngờ và tô đậm thêm sự bất hạnh của người phụ nữ.<br>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Đến đây ta không còn thấy giọng thơ than vãn, cam chịu<em>&nbsp;rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn. C</em>uộc đời họ họ không làm chủ được bản thân mà phụ thuộc hoàn toàn và tay kẻ khác. Thế nhưng&nbsp;"<em>mà em vẫn giữ tấm lòng son".</em><br>&nbsp;&nbsp;&nbsp;Không những sự đối lập giữa thái độ người phụ nữ trong câu ba và bốn là sự đối lập giữa thái độ cam chịu và thái độ bảo vệ phẩm chất trong sáng của tâm hồn con người. Từ "vẫn" thể hiện sự khẳng định, quả quyết vượt lên số phận để giữ tấm lòng son. Người phụ nữ đã ý thức rất rõ về cuộc sống và phẩm giá của mình. Dẫu cho cuộc đời cay đắng, nhào nặn, chìm, nổi thì đối với họ, phẩm giá luôn là điều đáng trân quý nhất.<br>&nbsp;&nbsp;&nbsp;Trong xã hội xưa, với ý thức hệ Nho giáo hà khắc như vậy quan niệm&nbsp;"<em>Tam tòng tứ đức, trọng nam khinh nữ"</em>&nbsp;đã ăn sâu và ý thức con người. Nói được như Hồ Xuân Hương thật đáng trân trọng. Bài thơ chỉ có bốn câu, đề tài bình dị nhưng dưới ngòi bút của Hồ Xuân Hương đã tạo nên viên bánh trôi nước mang vẻ đẹp sáng ngời của một viên ngọc lấp lánh, nhiều màu. Bài thơ đã phản ánh về ý thức xã hội bất công, vùi dập người phụ nữ và giá trị nhân phẩm của họ.<br>&nbsp;&nbsp;&nbsp;Bánh trôi nước có giá trị hiện thực và xã hội sâu sắc. Đó là tiếng nói chung của người phụ nữ đối với sự bất công của xã hội xưa và khẳng định phẩm giá của bản thân. Nhà thơ đã đại diện cho những số phận bất hạnh lên tiếng nói của chính mình. Bài thơ thể hiện khẩu khí của bà Chúa thơ Nôm.<br></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-11 17:17:22 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3211580654</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Lan Phương</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3211670990</link>
         <description><![CDATA[<p>Mùa thu luôn là đề tài khiến thi nhân phải động lòng thương yêu bởi đó là mùa của những gì nhẹ nhàng và dịu êm nhất, mùa của sự tĩnh lặng và những rung động sâu sắc nhất. Mùa thu đi vào thơ Nguyễn Khuyến bình dị, gần gũi; đi vào thơ Nguyễn Đình Thi là tiếng vọng từ đất nước ngàn đời. Còn mùa thu của Hữu Thỉnh qua bài thơ "Sang thu" thật đẹp, thật nên thơ và trữ tình, và tấm lòng của nhà thơ cũng thật duyên. Bài thơ đã phác họa thành công sự chuyển mùa kỳ diệu của đất trời và của lòng người.</p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp;"Sang thu" là một bài thơ tái hiện lại một cách nhẹ nhàng sự chuyển mùa tinh tế, trời đất lúc sang thu có chút gì đó bối rối, có chút gì đó ngập ngừng và hơn hết là sự ngỡ ngàng, bồi hồi của nhà thơ khi nhận ra sự thay đổi của trời đất. Mùa thu về, mùa thu mang lại cho con người ta những giai điệu dịu êm nhất.</p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Dấu hiệu của mùa thu trong thơ Hữu Thỉnh thực sự rất bình dị và gần gũi, không phải là hương cốm mùa thu, không phải mặt hồ tĩnh lặng, cũng không phải những mùa lá rụng. Mùa thu trong thơ ông chính là "hương ổi", là thứ hương đặc trưng của vùng quê Việt Nam mỗi khi thu về.</p><p><em>Bỗng nhận ra hương ổi</em></p><p><em>Phả vào trong gió se</em></p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Phải thật tinh tế, thật khéo léo tác giả mới có thể nhận ra được thứ hương rất đỗi nhẹ nhàng và có thể bị gió cuốn đi lúc nào. Cụm từ "bỗng nhận ra" giống như một phát hiện mới, một sự ngạc nhiên rất thú vị như khi khám phá ra điều gì đó đẹp đẽ. Đây là cụm từ diễn ra trạng thái ngỡ ngàng của tác giả khi nhận ra mùa thu đã chạm ngõ chỉ với "hương ổi", mùi hương đồng nội thân quen khiến những người con xa quê khó quên được. Mùi hương ổi ấy đã "phả" vào trong "gió se" đầu mùa thu dịu nhẹ, se sắt. Động từ "phả" đã làm toát lên thần thái của mùa thu, của hương ổi. Nó diễn tả sự quyện chặt vào, sự gắn kết giữa hương ổi và làn gió đầu mùa.</p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Chỉ qua hai câu thơ đầu, Hữu Thỉnh đã mang đến cho người đọc một cảm nhận mới về mùa thu, về sự chuyển mùa tinh tế nhất, về những điều bình dị ở xung quanh chúng ta.</p><p><em>Sương chùng chình qua ngõ</em></p><p><em>Hình như thu đã về</em></p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Hai câu thơ rất duyên, rất tinh tế nhưng rất sâu sắc, gợi lên sự mơ hồ của giây phút chuyển mùa. Hình ảnh "sương chùng chình qua ngõ" khiến người đọc tưởng tượng ra khung cảnh sương đang ngập ngừng giăng mắc ở đầu ngõ. Từ láy "chùng chình" dùng rất đắt, đã làm toát lên thần thái của mùa thu, không vội vàng, hồ hởi mà luôn tạo nên sự mơ hồ và mông lung nhất. Tác giả phải thốt lên "hình như", là chưa chắc chắn, không chắc chắn nhưng thực ra là tác giả tự khẳng định rằng mùa thu về thật rồi.</p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Có lẽ mùa thu đã sang, là mùa thu của đất trời và mùa thu của lòng người mênh mang, nhiều tâm trạng. Đến khổ thơ thứ hai thì dường như mùa thu đã hiện rõ ra từng đường nét hình khối trong cảm nhận của tác giả:</p><p><em>Sông được lúc dềnh dàng</em></p><p><em>Chim bắt đầu vội vã</em></p><p><em>Có đám mây mùa hạ</em></p><p><em>Vắt nửa mình sang thu</em></p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Nước mùa thu dâng lên theo mùa "dềnh dàng", những cánh chim trời bắt đầu "vội vã" bay. Thiên nhiên khi mùa thu về có chút gì đó vội vàng, gấp gáp hơn và trĩu nặng hơn nhưng vẫn giữ được thần thái đặc trưng nhất. Đường nét của mùa thu hiện lên rất rõ nét, không còn mơ hồ như ở khổ thơ thứ nhất nữa. Đây cũng là quá trình và là sự chuyển biến trong thiên nhiên và trong nhận thức của tác giả. Sự quan sát tinh tế, tỉ mỉ của tác giả còn thể hiện ở cách nhìn "đám mây mùa hạ" như "vắt" sang thu. Thật tài hoa, thật khéo léo và dường như ông động lòng với mùa thu, khí thu, vị thu rất nhiều nên mới tưởng tượng ra viễn cảnh đám mây cao trên trời như đang chuyển mình cùng nhịp đập của mùa thu.</p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Từ "vắt" dùng rất hay, rất độc đáo đã diễn tả được quá trình chuyển mình của mùa thu rất uyển chuyển, nhịp nhàng. Mùa thu có chút gì đó độc đáo, tinh nghịch và cũng không kém phần duyên dáng qua cảm nhận của Hữu Thỉnh. Mùa thu đã đến thật rồi, mùa thu mang theo những gì tinh khôi, nhẹ nhàng và dịu êm nhất.</p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Bức tranh chuyển mùa qua lời thơ Hữu Thỉnh thực sự mềm mại, nhẹ nhàng và uyển chuyển biết bao. Đó chính là cái Tài của tác giả, tài dùng chữ vẽ tranh.</p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Điều bất ngờ nằm ở khổ thơ cuối, mùa thu đã thực sự đến rồi và đất trời đã có những chuyển biến khiến con người có thể nhận ra, nhưng tác giả đã chiêm nghiệm mùa thu bằng cách nhìn nhận của một đời người:</p><p><em>Vẫn còn bao nhiêu nắng</em></p><p><em>Đã vơi dần cơn mưa</em></p><p><em>Sấm cũng bớt bất ngờ</em></p><p><em>Trên hàng cây đứng tuổi</em></p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Mùa thu có nắng, là thứ nắng dịu nhẹ và tinh khôi, thứ nắng có chút se se lạnh của gió đầu mùa. Thiên nhiên mùa thu cũng trở nên tĩnh lặng và trầm ngâm hơn. Tiếng sấm không còn khiến con người giật mình nữa mà nó trở nên lặng lẽ hơn trên hàng cây đứng tuổi. Tác giả đã đúc kết chiêm nghiệm và sự từng trải của một đời người qua sự liên tưởng đến "hàng cây đứng tuổi". Tiếng sấm và hàng cây ở hai câu thơ cuối dường như là hiện thân của những con người từng trải, đã qua giai đoạn tuổi trẻ bồng bột, nhiều hối hả. Ở giai đoạn con người ta "đứng tuổi" mọi thứ cần chắc chắn và đứng đắn, tĩnh lặng hơn. Tác giả đã mượn hình ảnh "hàng cây đứng tuổi" để nói lên đời người ở tuổi xế chiều, cũng như mùa thu vậy; có chăng mùa thu là mùa của tuổi con người ta không còn trẻ trung nữa. Nhịp đập của mùa thu, sự chuyển động của mùa thu rất nhẹ nhàng và êm đềm. Có lẽ khi con người ta trải qua tuổi bồng bột, đến một lúc nào đó cần bình thản nhìn lại và nhẹ nhàng cảm nhận chúng. Khổ thơ cuối với giọng điệu trầm lắng khiến người đọc nhận ra rất nhiều điều trong cuộc sống này đáng suy ngẫm.</p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Hữu Thỉnh với bài thơ "Sang thu" độc đáo và thú vị, cách cảm nhận tinh tế nhẹ nhàng cùng những chiêm nghiệm đáng suy ngẫm đã khiến cho người đọc có cái nhìn khái quát và mới mẻ hơn về mùa thu. Gấp trang sách lại, mùa thu của Hữu Thỉnh vẫn còn quẩn quanh đâu đây trong trí óc của mỗi chúng ta.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-11 18:32:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3211670990</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Bảo Ngọc</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3211879405</link>
         <description><![CDATA[<p>Bài Làm </p><p>Nhắc đến  Hàn Mặc Tử, một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ mới Việt Nam, đã để lại nhiều tác phẩm nổi bật, trong đó có bài thơ "Thôn Vĩ Dạ". Bài thơ được sáng tác trong hoàn cảnh tác giả đang sống trong cảnh đời đầy bất hạnh, mang nỗi buồn cô đơn và khao khát một tình yêu chân thật của một tâm hồn nhạy cảm với tài nănh xuất chúng.</p><p>Bài thơ "Thôn Vĩ Dạ" mở đầu bằng hình ảnh đẹp và thanh bình của một làng quê Việt Nam. Nơi đây không chỉ có cảnh vật mà còn là nơi gợi nhớ những kỷ niệm và nỗi niềm của tác giả. Hình ảnh núi, sông, và con người trong tác phẩm hòa quyện với nhau tạo nên một bức tranh tuyệt đẹp, song lại mang những nỗi buồn ẩn sâu,khiến người đọc cảm nhận được nỗi buồn của bài.</p><p>Bài thơ "Đây thôn Vĩ Dạ" của Hàn Mặc Tử không chỉ là một tác phẩm nổi bật trong phong trào Thơ Mới mà còn là một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp cùng những tâm tư khắc khoải của tác giả trước sự chia ly, mất mát. Qua ba khổ thơ, Hàn Mặc Tử đã khéo léo vẽ lên hình ảnh thơ mộng của xứ Huế và tâm trạng đơn phương, nhớ nhung của chính mình.</p><p>Mở đầu bài thơ là câu hỏi tu từ "Sao anh không về chơi thôn Vĩ?" mang sắc thái gần gũi, trách móc. Câu hỏi này vừa như lời mời gọi vừa như một tiếng thở dài của một cô gái chờ đợi. Nó không chỉ thể hiện nỗi niềm của người con gái mà còn gợi lên nỗi trăn trở khắc khoải của chính thi nhân đang phải xa rời quê hương yêu dấu. Sau câu hỏi, bức tranh thiên nhiên hiện ra với vẻ đẹp tươi sáng: "Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc “,”Lá trúc che ngang mặt chữ điền." Hình ảnh "nắng hàng cau nắng mới lên" gợi cảm giác thanh khiết, bình yên. Dòng nắng đầu tiên của buổi sáng len lỏi qua các hàng cau, làm nổi bật sắc xanh đầy sức sống của vườn cây. Nỗi nhớ về quê hương càng thêm sâu sắc qua hình ảnh "Vườn ai mướt quá xanh như ngọc", thể hiện sự trèn trừ sự sống, màu sắc tươi tắn, sinh động. Tác giả đã sử dụng biện pháp so sánh "xanh như ngọc" để khắc họa vẻ đẹp quý giá, lấp lánh của thiên nhiên nơi đây. Kề bên khung cảnh xinh đẹp ấy là hình ảnh người con gái với "mặt chữ điền" ẩn hiện sau lá trúc, gợi lên sự nhẹ nhàng, kín đáo, phúc hậu của người con gái Huế. Chính cái không gian gần gũi ấy làm cho nỗi nhớ của Hàn Mặc Tử càng thêm sâu sắc và mãnh liệt.</p><p>Đến khổ thơ thứ hai, không gian và cảm xúc của tác giả bỗng chuyển sang một sắc thái khác: "Gió theo lối gió, mây đường mây “Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay." Câu thơ như một bản hòa tấu giữa cơn gió và hình ảnh mây trời, nhưng lại mang nỗi buồn chia ly. Hình ảnh "dòng nước buồn thiu" thể hiện tâm trạng ảm đạm, lặng lẽ, như chính cuộc sống của thi nhân đang bị giằng xé bởi bệnh tật. Đến câu thơ tiếp theo, thay vì những hình ảnh tươi mới, ánh sáng, sự buồn tẻ và cô đơn bao trùm: "Thuyền ai đậu bến sông trăng đó “Có chở trăng về kịp tối nay?" Hình ảnh thuyền và trăng luôn gắn liền với vẻ đẹp lãng mạn, nhưng ở đây mang theo nỗi hoài nghi về thời gian, về sự sống và cái chết, về một tình yêu đơn phương có thể không bao giờ đạt được.</p><p>Khổ cuối cùng của bài thơ là sự trăn trở cùng cực của nhà thơ: "Mơ khách đường xa, khách đường xa “ Áo em trắng quá nhìn không ra." "Khách" ở đây chính là hình bóng người con gái mà tác giả đã yêu thương. Nhưng "áo em trắng quá" lại cho ta cảm giác về niềm thương nhớ, không thể chạm tới, không thể đạt được. Hình ảnh "ở đây sương khói mờ nhân ảnh" tích tụ cái hư ảo, cái mờ nhòa trong khó khăn đã theo bước chân tác giả. Hai câu hỏi cuối cùng thể hiện nỗi đau của một tâm hồn khao khát yêu đương nhưng lại đầy nghi ngại: "Ai biết tình ai có đậm đà?" Đây là câu hỏi không chỉ phản ánh sự cô đơn của một tâm hồn yêu nhưng không được đáp trả mà còn là nỗi lo lắng về tính chân thành của tình cảm đã dành cho người con gái.Tóm lại, "Đây thôn Vĩ Dạ" vừa là bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp của xứ Huế, vừa là tiếng lòng đầy khắc khoải của người thi sĩ. Hàn Mặc Tử đã sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật độc đáo và giàu hình ảnh để thể hiện tâm trạng của mình. Bài thơ không chỉ thu hút người đọc bởi vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên mà còn chạm vào nỗi sự đau thương trong lòng người thi sĩ, điều này khiến cho tác phẩm sống mãi trong lòng người đọc.</p><p>Cảnh sắc thiên nhiên: Trong bài thơ, thiên nhiên được mô tả bằng những hình ảnh sinh động, kết hợp với cảm xúc chủ quan của tác giả, như một cách để thể hiện tâm trạng của mình.</p><p> Tình yêu và nỗi nhớ: Tình yêu trong bài thơ không chỉ là tình yêu đôi lứa, mà còn là tình yêu quê hương, đất nước. Hàn Mặc Tử đã khéo léo lồng ghép những hình ảnh thiên nhiên và xúc cảm của con người, tạo nên sự liên kết chặt chẽ.</p><p>Nỗi cô đơn: Dưới bề ngoài tươi đẹp của thiên nhiên là nỗi cô đơn sâu thẳm của tác giả. Cảm giác lạc lõng, không tìm thấy chốn bình yên khiến bài thơ trở nên trĩu nặng tình cảm,tâm tư của tác giả.</p><p>Bài thơ "Thôn Vĩ Dạ" không chỉ là một tác phẩm nghệ thuật mà còn là tiếng lòng của Hàn Mặc Tử, thể hiện nỗi đau một cách tinh tế. Qua bài thơ, người đọc không chỉ cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn hiểu được những đấu tranh nội tâm của một tâm hồn nghệ sĩ. Đây là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ của Hàn Mặc Tử, để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc.</p><p>Kết bài về bài thơ "Đây thôn Vĩ Dạ" của Hàn Mặc Tử có thể được xây dựng bằng cách khẳng định tài năng và tâm hồn sâu sắc của tác giả trong việc thể hiện nỗi lòng yêu thương và khát khao sống giữa những bi kịch cuộc đời. Bài thơ mở ra một không gian thơ mộng, đầy sức sống của thôn Vĩ, nhưng đồng thời cũng ẩn chứa những nỗi đau, sự cô đơn, và khát vọng của một tâm hồn nhạy cảm. Hàn Mặc Tử không chỉ gợi lên vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên mà còn lồng ghép vào đó những nỗi niềm cá nhân, tạo nên một tác phẩm vừa đẹp vừa sâu lắng.Kết hợp giữa ngôn ngữ giàu hình ảnh và cảm xúc chân thành, "Đây thôn Vĩ Dạ" không chỉ là một bài thơ tình yêu đơn thuần mà còn là một di sản tâm hồn của một thi sĩ chịu nhiều đớn đau. Những câu hỏi tu từ trong thơ tạo cảm giác day dứt, làm nổi bật thông điệp về tình yêu và sự đơn côi mà Hàn Mặc Tử muốn gửi gắm. Chính vì vậy, tác phẩm này sẽ mãi sống trong lòng người đọc, là tiếng lòng phản ánh xót xa của một tâm hồn yêu đời nhưng bi thương. "Đây thôn Vĩ Dạ" khẳng định vị trí đặc biệt trong nền thơ ca Việt Nam và chắc chắn sẽ vẫn còn vang vọng trong tâm trí những thế hệ sau này .</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-11 22:27:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3211879405</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đinh Tuệ Minh </title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3211970111</link>
         <description><![CDATA[<p>Đến với thơ của Bà Huyện Thanh Quan chúng ta thưởng thức được những lời thơ trang nhã, mang tính chất cung đình, luôn gợi nỗi buồn man mác. Ngược lại học thơ của Bà Hồ Xuân Hương ta lại gặp một phong cách hoàn toàn khác. Giọng điệu thơ mạnh mẽ, rắn rỏi, đề tài thơ bình thường dân dã, ý thơ sâu sắc thâm thuý, chua cay, chất chứa nỗi niềm phẫn uất, đả kích xã hội đương thời. Bánh trôi nước là một bài thơ quen thuộc thể hiện rõ phong cách thơ của bà.</p><p>Đây là bài thơ trữ tình đặc sắc. Tác giả đã mượn chiếc tránh trôi nước để thể hiện vẻ đẹp về hình thể và tâm hồn của người con gái thân phận nhỏ bé, bị chìm nổi, phụ thuộc mà vẫn giữ gìn trọn vẹn phẩm giá của mình.</p><p>Toàn bài thơ là một hình ảnh nhân hoá tượng trưng. Nhờ tài quan sát, nhờ khả năng liên tưởng kì lạ, Hồ Xuân Hương đã phát hiện được những nét tương đồng giữa chiếc bánh trôi nước tầm thường và hình ảnh cũng như cuộc đời người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Cả hai đều có vẻ bề ngoài đẹp (trắng, tròn) có tâm hồn cao quý (tấm lòng son), cuộc sống chìm, nổỉ, lênh đênh (trong nồi nước sôi luộc bánh cũng như trong cuộc đời), không làm chủ được số phận của mình. Chính những nhận xét riêng rất mới này, hình tượng thơ đã được xây dựng. Nhà thơ ngay từ những từ đầu tiên đã nhân hoá cái bánh trôi, gắn liền những chi tiết tả thực với những từ ngữ đa nghĩa tạo lên một trường liên tưởng rộng rãi cho người đọc. Do đó, bài thơ tả thực mà hàm nghĩa tượng trưng, nói về cái bánh trôi với đầy đủ đặc điểm của nó mà thành chuyện người phụ nữ chìm nổi trong cuộc đời. Người con gái ở đây có hình thể thật đẹp, da trắng nõn nà, thân hình đầy đặn, xinh xắn, có tâm hồn thật trong trắng nhân hậu hiền hoà:</p><p>Thân em vừa trắng lại vừa tròn.</p><p>Lẽ ra với vẻ đẹp như thế, nàng phải có cuộc đời sung sướng. Nhưng không, cuộc đời nàng phải long đong, vất vả, phiêu dạt, chìm nổi không chỉ một lần, trong cuộc đời rộng lớn:</p><p>Bảy nổi ba chìm ưới nước non.</p><p>Người phụ nữ không làm chủ được cuộc đời, sô phận của họ do người khác định đoạt, nàng bị phũ phàng, vùi dập:</p><p>Rắn nát mặc dầu tay kể nặn</p><p>Nhưng không, dù đời có phũ phàng, dù trải bao bất hạnh người phụ nữ vẫn giữ trọn vẹn phẩm giá và tâm hồn cao đẹp của mình.</p><p>Mà em vẫn giữ tấm lòng son</p><p>ơ đây ta lại thấy được tài năng sáng tạo của nữ sĩ. Ngay trong câu thơ đầu, bà chọn chi tiết không nhiều nhưng chọn kĩ và tả đúng với đặc điểm cua chiếc bánh và tác giả chỉ cần đặt trước những từ miêu tả ấy hai từ thân em. Câu thơ lại sinh động hẳn lên. Thân em lời xưng hô của cái bánh được nhân hoá mà đó cũng chính là lời của người phụ nữ tự giới thiệu. Nhờ hai từ này, trí tưởng tượng của người đọc được chắp cánh và hình ảnh người phụ nữ đẹp hiện ra trong tâm trí mọi người. Cặp quan hệ từ vừa... lại vừa phụ trợ cho tứ thơ khiến giọng thơ hàm chứa một ý thức và một chút hài lòng kiêu hãnh về vẻ đẹp hình thể đó.</p><p>Thế nhưng sang câu thứ hai giọng thơ đột ngột chuyển hẳn. Từ thoáng chút hài lòng, tự hào chuyển sang than vãn về số phận hẩm hiu. Đảo lại một thành ngữ quen thuộc (ba chìm bảy nổi), nhà thơ đã tạo nên cách nói mới, nhấn mạnh hơn vào sự long đong. Thành ngữ này đi liền với hình ảnh vừa trắng vừa tròn tạo ra sự đối lập bất ngờ càng tô đậm nỗi bất hạnh của người phụ nữ. Cụm từ với nước non đi kèm theo hình ảnh bảy nổi ba chìm như một lời oán trách: Tại sao xã hội bất công lại vùi dập cuộc đời người phụ nữ như vậy?</p><p>Và từ giọng than vãn lời thơ lại chuyển sang giọng ngậm ngùi cam chịu Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn người phụ nữ không làm chủ được cuộc dời mình mà phụ thuộc vào tay kẻ khác. Nhưng đến câu cuối cùng giọng thơ, ý thơ đột ngột chuyển lại Mà em vẫn giữ tấm lòng son. ơ đây kết cấu đối lập được tác giả khai thác triệt để. Đó là sự đối lập giữa thái độ người phụ nữ trong câu ba và câu bốn, đối lập giữa thái độ cam chịu và thái độ quả quyết bảo vệ phần trong sáng trong tâm hồn con người. Sự đối lập này tràn ra cả ngôn từ Mặc dù... mà em vẫn giữ... chỉ quan hệ đối lập nhưng do đặt vị trí đầu câu lại được tăng cường thêm của từ vẫn khiến cho ý nghĩa đối lập càng thêm sắc, mạnh. Từ mà là một "nhãn từ" (chữ hay nhất trong câu thơ) nói lên một cách dõng dạc và dứt khoát sự kiên trì cố gắng đến cùng để giữ tấm lòng son. ở đây người phụ nữ dám đối lập tấm lòng son với tất cả sóng gió, bảy nổi ba chìm của cuộc đời. Đó là người phụ nữ có ý thức rất rõ về cuộc sống và phẩm chất của mình. Đó là lời khẳng định giá trị đáng kính của người phụ nữ.</p><p>Bài thơ vỏn vẹn chỉ có bốn câu, đề tài lại là sự vật bình thường nhưng dưới ngòi bút thần diệu, Hồ Xuân Hương đã tạo nhiều vẻ. Bài thơ chứa đựng một luồng ánh sáng ý thức về xã hội bất công vùi dập người phụ nữ và ý thức về giá trị, phẩm giá của người phụ nữ chân chính, của con người luôn giữ tấm lòng son dù ở bất cứ hoàn cảnh nào..</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-12 00:16:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3211970111</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Quàng Trâm Anh yêu cầu 3</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3212068437</link>
         <description><![CDATA[<p>   Bài thơ Viếng lăng Bác (Viễn Phương)</p><p>Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại, người cha già muôn vàn kính yêu của dân tộc Việt Nam. Người ra đi để lại niềm tiếc thương vô hạn cho toàn thể nhân dân. Để rồi 7 năm sau - tháng 4 năm 1976, nhà thơ Viễn Phương bồi hồi thương nhớ Người và sáng tác lên bài thơ “Viếng lăng Bác”. Bài thơ thể hiện niềm kính yêu, sự xót thương và lòng biết ơn sâu sắc của tác giả nói riêng, của toàn thể đồng bào Việt nói chung với vị lãnh tụ của dân tộc.</p><p>   Bài thơ được viết vào tháng 4 năm 1976, một năm sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Bài thơ được in trong tập thơ “Như mây mùa xuân” (1978). Bố cục bài thơ có 4 phần, tương ứng với bốn khổ thơ. Mạch vận động của cảm xúc trong bài theo trình tự của một cuộc viếng thăm.</p><p>   Mở đầu bài thơ, người đọc cảm nhận được niềm xúc động và tự hào của nhà thơ khi được đến thăm lăng Bác sau 7 năm kể từ ngày Người ra đi:</p><p>“Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác</p><p>Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát</p><p>Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam</p><p>Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng”</p><p>    Câu thơ mở đầu như một lời thông báo ngắn gọn, lời lẽ giản dị nhưng chứa đựng trong nó biết bao điều sâu xa, Nhà thơ nói mình ở miền Nam, ở tuyến đầu của Tổ quốc, ở nơi máu đổ suốt mấy chục năm trời. Như vậy, không đơn giản là chuyên đi thăm công trình kiến trúc, không chỉ chiêm ngưỡng trước di hài một vĩ nhân mà đó là cây tìm về cội, lá tìm về cành, máu chảy về tim, sông trở về nguồn. Đó là cuộc trở về để báo công với Bác, để được Bác ôm vào lòng và ngợi khen. Viễn Phương xưng hô “con -Bác” gợi cảm giác gần gũi thân thương, gợi mối quan hệ gắn bó như cha con ruột thịt. Nhà thơ trong đó giống như một người con xa nhà, lâu ngày mới có dịp trở về thăm hỏi người cha già kính yêu. Đồng thời, động từ “thăm” được sử dụng như cách nói giảm nói tránh cho sự ra đi của Bác để nén lại bớt cảm xúc mất mát đau thương chưa thể nguôi ngoai của cả dân tộc. Câu thơ không có một dụng công nghệ thuật nào nhưng lại vô cùng gợi cảm, dồn nén biết bao cảm xúc. Cách xưng hô và cách dùng từ của Viễn Phương giúp cho người đọc cảm nhận được tình cảm xúc động, nhớ thương của một người con đối với cha. Đó không chỉ là tình cảm riêng của nhà thơ mà còn là tình cảm chung của dân tộc Việt Nam. Thế hệ này tiếp nối thế hệ khác song tất cả đều có chung một tình cảm như thế với Bác Hồ kính yêu.</p><p>   Đến lăng Bác, hình ảnh đầu tiên mà tác giả quan sát được, cảm nhận được, và có ấn tượng đậm nét là hình ảnh hàng tre. Khi xây dựng lăng Bác, các nhà thiết kế đã đưa về từ mọi miền đất nước các loài cây, loài hoa, tiêu biểu cho mọi miền quê hương đất nước để trồng ở lăng Bác bởi Bác là một tâm hồn rộng mở trước thiên nhiên và Bác cũng là biểu tượng cho tinh hoa, chođất nước, cho dân tộc Việt Nam. Và ai đã từng đến lăng Bác đều có thể nhận thấy hình ảnh đầu tiên về cảnh vật hai bên lăng là những hàng tre đằng ngà bát ngát. Nhà thơ Viễn Phương cũng vậy! Hình ảnh “hàng tre bát ngát” ẩn hiện trong làn sương sớm mờ ảo trên đường đến thăm Bác chính là hình ảnh tả thực mang dáng hình quê hương đất nước thân yêu, bình dị. Nó cũng là biểu tượng cho con người Việt Nam kiên cường bất khuất, vượt qua “bão táp mưa sa” muôn vàn gian khổ để thống nhất đất nước theo di ngôn của Người, rồi trở về nghiêng mình kính cẩn trước anh linh của Người. Những hình ảnh gợi tả gợi cảm kết hợp với nhau đã tạo nên một trường liên tưởng độc đáo, thú vị. Lăng Bác hiện lên dưới ngòi bút nhà thơ như một làng quê yên bình</p><p>   Tác giả bước theo dòng người chầm chậm vào lăng, tâm hồn trào dâng niềm thành kính, biết ơn và ngưỡng mộ sâu sắc:</p><p>“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng</p><p>Thấy một Mặt Trời trong lăng rất đỏ</p><p>Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ</p><p>Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân”</p><p>Đến đây, nhà thơ tiếp tục sáng tạo những hình ảnh thơ vô cùng độc đáo. Hình ảnh “mặt trời đi qua trên lăng” là hình ảnh thực. Đó là mặt trời thiên tạo, là hành tinh quan trọng nhất của vũ trụ, nó gợi ra sự kì vĩ, sự bất tử, vĩnh hằng. Mặt trời là nguồn cội của sự sống, ánh sáng. Hình ảnh “mặt trời trong lăng” là một ẩn dụ đầy sáng tạo, độc đáo – đó là hình ảnh của Bác Hồ. Giống như “mặt trời”, Bác Hồ cũng là nguồn ánh sáng, nguồn sức mạnh. “Mặt trời” – Bác Hồ soi đường dẫn lối cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do, thống nhất đất nước. Bác đã cùng nhân dân vượt qua trăm ngàn gian khổ, hi sinh để đi tới chiến thắng quanh vinh, trọn vẹn. “Mặt trời” – Bác Hồ tỏa hơi ấm tình thương bao la trong lòng mỗi con người Việt Nam. Nhà thơ Tố Hữu đã so sánh Bác như: “Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ”. Cái nghĩa, cái nhân lớn lao của Bác đã tác động mạnh mẽ, sâu xa tới mỗi số phận con người  </p><p>   Để rồi khi đứng trước di hài của Bác, trái tim nhà thơ trào dâng cảm xúc nghẹn ngào không thể kìm nén, lay động trái tim của hàng triệu người:</p><p>“Bác nằm trong giấc ngủ bình yên</p><p>Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền</p><p>Vẫn biết trời xanh là mãi mãi</p><p>Mà sao nghe nhói ở trong tim”</p><p>Viễn Phương vẫn tiếp tục dùng phép nói giảm, nói tránh “giấc ngủ bình yên” như muốn cố gắng giảm bớt sự thật đau đớn về sự ra đi của Bác. Chỉ là mệt nên Bác ngủ thôi bởi “Suốt cuộc đời Bác có ngủ yên đâu/ Nay Bác ngủ chúng con canh giấc ngủ” (Chúng con canh giấc Bác ngủ, Bác Hồ ơi- Hải Như). Hình ảnh “vầng trăng sáng dịu hiền” gợi cho chúng ta nghĩ đến tâm hồn, cách sống cao đẹp, thanh cao, sáng trong của Bác và những vần thơ tràn ngập ánh trăng của Người. Trăng với Bác đã từng vào thơ Bác trong nhà lao, trên chiến trận, giờ đây trăng cũng đến để giữ giấc ngủ ngàn thu cho Người. Chỉ có thể bằng trí tưởng tượng, sự thấu hiểu và yêu quí những vẻ đẹp trong nhân cách của Hồ Chí Minh thì nhà thơ mới sáng tạo nên được những ảnh thơ đẹp như vậy! Hình ảnh “trời xanh” được hiểu theo nghĩa tả thực đó là thiên nhiên mà chúng ta hằng ngày vẫn đang chiêm ngưỡng, nó tồn tại mãi mãi và vĩnh hằng. Mặt khác, “trời xanh” còn là một hình ảnh ẩn dụ sâu xa: Bác vẫn còn mãi với non sông đất nước, như “trời xanh” vĩnh hằng. Nhà thơ Tố Hữu đã viết: “Bác sống như trời đất của ta”, bởi Bác đã hóa thân thành thiên nhiên, đất nước và dân tộc. Cặp quan hệ từ “vẫn biết – mà sao” diễn tả cảm xúc nghẹn ngào trào dâng. Biết rằng Người sẽ luôn sống mãi trong lòng dân tộc nhưng sự thật Bác đã ra đi mãi mãi vẫn khiến nhà thơ cũng như  mấy chục triệu người dân Việt Nam “nghe nhói ở trong tim”. Nghệ thuật ẩn dụ chuyển đổi cảm giác “nghe nhói” nhấn mạnh niềm đau xót tột cùng của nhà thơ trước thực tại Bác không còn nữa.</p><p>  Với bài thơ “Viếng lăng Bác” Viễn Phương đã đóng góp không nhỏ cho thi ca đề tài về Bác. Dù bao năm qua đi, bài thơ mãi mãi là tác phẩm đầy xúc cảm gửi gắm những giá trị tốt đẹp vĩnh cửu mà nhà thơ và toàn thể dân tộc dành cho Bác. Cảm ơn Viễn Phương đã để lại cho đời một bài thơ hay như thế để em biết mình phải làm gì? Phải sống ra sao để xứng đáng với công lao trời biển ấy.</p><p>   </p><p>   </p><p>   </p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-12 01:14:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3212068437</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Mai Trang-bản 2</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3212847635</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3023155108/457c21ffd3ff1e4ec931a2047e025b13/ph_n_t_ch____nh_gi__b_i_th__qu__h__ng_c_a____Trung_Qu_n___b_n_2.docx" />
         <pubDate>2024-11-12 09:46:40 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3212847635</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn thủy tiên</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3213051737</link>
         <description><![CDATA[<p>Phân tích bài thơ Viếng Lăng Bác  </p><p><br></p><p>Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhân vật lịch sử thân yêu nhất của dân tộc Việt Nam. Người để lại hình ảnh một người Cha già hiền từ, một tên gọi Bác thân thiết, người hiện thân cho những gì cao đẹp và mạnh mẽ của dân tộc. Lăng Bác trở thành nơi lưu giữ bóng dáng Bác lúc sinh thời, nơi chiêm ngưỡng thành kính của nhân dân cả nước và bạn bè quốc tế.</p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Biết bao nhà thơ đã làm thơ về Người, về lăng Người. “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương là một bài thơ ngắn đầy xúc động, thể hiện tấm lòng của đồng bào miền Nam đối với Người. Mở đầu bài thơ, tác giả tự giới thiệu: "Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác". Lời thơ giản dị chứa đựng rất nhiều cảm xúc. Sinh thời, Người luôn nghĩ đến miền Nam. Nhà thơ Tố Hữu từng viết:</p><p><em>Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà</em></p><p><em>Miền Nam mong Bác nỗi mong Cha</em></p><p>(Bác ơi)</p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Lời bài thơ đúng là lời của người con miền Nam ra thăm lăng Bác, nơi yên nghỉ của người Cha già dân tộc. Tình cảm trong bài đúng là tình cảm của người con ở xa mà nỗi niềm nhớ thương ấp ủ bấy lâu như chỉ chờ gặp lại bóng dáng thân yêu là trào dâng, thổn thức. Từ xa, nhà thơ vừa nhìn thấy hàng tre quanh lăng, đã biết bao xúc động:</p><p><em>Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát</em></p><p><em>Ôi hàng tre xanh xanh Việt Nam</em></p><p><em>Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng</em></p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Nhà thơ hẳn phải đến rất sớm để xếp hàng vào viếng, khi sương sớm còn bao phủ quanh lăng. Theo con đường quanh quanh dẫn tới lăng nổi lên hàng tre bát ngát. Bát ngát của tre và bát ngát của sương. Nhà thơ bắt gặp một hình ảnh thân thuộc mà bao năm đã in hẳn tiềm thức: “hàng tre xanh xanh Việt Nam / Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng”.</p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Một tình cảm vừa thân quen, vừa thương xót và tự hào. Thân quen vì người Việt Nam nào mà không biết tre. Thương xót vì tre phải chịu đựng bão táp, mưa sa, và tự hào vì tre vẫn thẳng hàng, không nghiêng ngả. Từ sương sa mà liên tưởng đến bão táp, mưa sa cũng rất tự nhiên. Từ cây tre mà nghĩ đến Việt Nam, rồi sẽ nghĩ đến Bác cũng là tự nhiên, bởi từ lâu “cây tre”, ‘Việt Nam”, “Hồ Chí Minh” là những từ ngữ có mối liên hệ nội tại.</p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Khổ thứ hai nói tới cảm xúc trước cảnh đoàn người xếp hàng vào lăng. Hẳn là đoàn người rất dài, tốc độ đi rất chậm. Khổ thơ trên, cảnh vật đang còn sương phủ, bây giờ mặt trời đã lên cao trên đầu. Mặt trời trên lăng lại gợi lên một liên hệ mới:</p><p><em>Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng</em></p><p><em>Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ</em></p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Ví Bác với mặt trời là hình ảnh đã quen, nhưng đem so sánh mặt trời trên lăng và mặt trời trong lăng là một sáng tạo mới xuất thần, thoát sáo, chưa hề có. Mặt trời “rất đỏ” làm nhớ đến trái tim, trái tim nhiệt huyết, chân thành, trái tim thương nước, thương dân. Ngắm nhìn dòng người vào viếng, nhà thơ lại nghĩ đến vòng hoa:</p><p><em>Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ</em></p><p><em>Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân...</em></p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Tràng hoa là chuỗi hoa vòng kết thành tròn. Từng đoàn người đi viếng di chuyển từ phía sau lăng, qua bên lăng, vòng ra trước lăng rồi quay vào chính diện của lăng, đúng là tạo thành một vòng tròn, khiến nhà thơ nghĩ đến tràng hoa. Bởi vì con người là hoa của đất, những con người từng được Bác Hồ quan tâm.</p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Mọi người hình như không phải đến viếng một người đã từ trần, viếng một thi hài, mà là đến viếng một cuộc đời bảy mươi chín mùa xuân đã hiến dâng bao nhiêu hoa trái. Ở đây tác giả không chỉ liên tưởng sâu sắc, mà còn dùng từ tinh tế, đầy tình cảm nâng niu, quý trọng.</p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Những chữ “ngày ngày” được lặp lại hai lần gây cảm giác một thời gian vô tận, vĩnh viễn, không bao giờ ngừng, như tấm lòng nhân dân không nguôi nhớ Bác.</p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Khổ thơ thứ ba nói về cảm xúc khi đã vào đến trong lăng. Đây là nơi ngự trị của cái im lặng trang nghiêm của sự yên nghỉ đời đời. Câu thơ đã viết rất đỗi chân thực và thơ mộng:</p><p><em>Bác nằm trong giấc ngủ bình yên</em></p><p><em>Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền</em></p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Khung cảnh bình yên, lặng lẽ gợi lên giấc ngủ ban đêm, êm đềm dưới vầng trăng sáng dịu hiền. Nhà thơ một mặt không muốn cảm nhận đây là giấc ngủ vĩnh viễn, ngủ giữa ban ngày, nhưng mặt khác không thể không thấy một sự thật rằng con người đang nằm kia đã vĩnh viễn ra đi:</p><p><em>Vẫn biết trời xanh là mãi mãi</em></p><p><em>Mà sao nghe nhói ở trong tim</em></p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Dù biết Bác sống vĩnh viễn như trời xanh thì cũng không che giấu được một sự thật mất mát, làm đau nhói con tim. Câu thơ nghe như một tiếng khóc nghẹn ngào. Khổ thơ cuối cùng là cảm xúc trước khi ra về:</p><p><em>Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác</em></p><p><em>Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây</em></p><p><em>Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này</em></p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Nghĩ đến ngày mai về miền Nam, nỗi thương xót làm trào rơi nước mắt. Không phải rưng rưng, rơm rớm, mà là trào, một cảm xúc mãnh liệt. Tình thương xót như nén giữa tâm hồn, làm nảy sinh bao ước muốn. Ước muốn làm con chim hót quanh lăng Bác, để lại chút vui tươi, nhí nhảnh bên một người đã hy sinh cả gia đình, tình riêng vì đất nước. Ước muốn làm đóa hoa tỏa hương quanh lăng, một làn hương như thực như hư “đâu đây”, thoang thoảng.</p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Ước muốn làm cây tre trung hiếu quanh lăng. Mọi ước muốn đều quy tụ vào một điểm là mong được gần Bác mãi mãi, hẳn là muốn làm vui, làm khuây, làm vợi nỗi lạnh lẽo của con người đã suốt đời hy sinh cho sự nghiệp giải phóng Tổ quốc, giải phóng dân tộc, một con người lúc sinh thời đã dành trọn tình thương yêu cho mọi tầng lớp nhân dân và đặc biệt cho đồng bào miền Nam ruột thịt.</p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Bài thơ tả lại một ngày ra thăm lăng Bác, từ tinh sương đến trưa, đến chiều. Nhưng thời gian trong tưởng niệm là thời gian vĩnh viễn của vũ trụ, của tâm hồn. Cả bài thơ bốn khổ, khổ nào cũng trào dâng một niềm thương nhớ bao la và xót thương vô hạn. Bốn khổ thơ, khổ nào cũng đầy ắp ẩn dụ, những ẩn dụ đẹp và trang nhã, thể hiện sự thăng hoa của tình cảm từ cõi hằng ngày lên cõi cao cả.</p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Tình cảm đối với Bác chỉ có thể là tình cảm cao cả, nâng cao tâm hồn con người. Viếng lăng Bác của nhà thơ Viễn Phương là một đóng góp quý báu vào kho tàng thi ca viết về Hồ Chủ tịch, vị lãnh tụ vĩ đại, kính yêu của dân tộc.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-12 12:22:04 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3213051737</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhiệm vụ 4</title>
         <author>trandoanquyet</author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3213167502</link>
         <description><![CDATA[<p>Từng cá nhân:</p><ol><li><p>Tham khảo nội dung dàn ý và bài viết mẫu giáo viên đã cung cấp. Đọc và Sửa lại bài viết của cá nhân đã đăng trên padlet theo định hướng.</p></li><li><p>Từ nội dung bài viết đã có sẵn, em có thể chuyển hóa thành nội dung bài nói bằng cách:</p><ul><li><p>Tóm tắt nội dung bài nói thành hệ thống ý chính (dạng sơ đồ, dạng dàn ý, dạng sketchnote,...) và đánh dấu các ý quan trọng.</p></li><li><p>Chuyển hóa các nội dung ở ngôn ngữ viết thành ngôn ngữ nói một cách ngắn gọn (dạng các cụm từ, từ khóa, ý chính,...)</p></li><li><p>Sử dụng thêm các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ hỗ trợ như hình ảnh, đoạn phim, sơ đồ, bảng biểu,... Dự kiến phần trao đổi của người nghe và giải đáp.</p></li><li><p>Chuẩn bị phần mở đầu và kết thúc ấn tượng, phù hợp với nội dung bài nói. </p><p><strong>Đăng sản phẩm bài nói theo các hình thức sau: Dàn ý/sơ đồ/video lại phần nói lên padlet, cột Nói và nghe. </strong></p></li></ul></li></ol>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-12 13:36:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3213167502</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lê Hồng Hạnh - Yêu cầu 3</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3213186647</link>
         <description><![CDATA[<p>Với tâm hồn nhạy cảm sâu sắc và tình yêu thiên nhiên tha thiết, Hữu Thỉnh trong bài thơ “Sang thu” đã nêu lên những cảm nhận tinh tế của mình về sự biến đổi của đất trời từ cuối hạ sang đầu thu. Tâm hồn nhạy cảm của tác giả hòa quyện vài khoảnh khắc giao mùa, với một cảm giác mơn man khó tả:</p><p>"Bỗng nhận ra hương ổi<br>Phả vào trong gió se<br>Sương chùng chình qua ngõ<br>Hình như thu đã về."</p><p>Khoảnh khắc giao mùa đến với tác giả bằng nhiều giác quan: Khứu giác (hương ổi), xúc giác (gió se lạnh), thị giác (sương chùng chình). Mỗi giác quan mang đến cho tác giả một cảm nhận riêng và mỗi giác quan là một dấu hiệu nhận biết sự chuyển mùa. Đầu thu, hương ổi lan tỏa đi khắp nơi hòa quyện vào làn gió se lạnh trở thành một mùi thơm đặc biệt, nồng nặc cả hai cánh mũi. Thứ hương thơm ấy cứ nhẹ trôi trong không gian, xoa dịu lòng người và bất ngờ đến với tác giả (“bỗng”). Những màn sương giăng mắc bắt đầu xuất hiện. “Chùng chình” là cố ý chậm lại, quyến luyến không muốn bước qua “ngõ” – ngưỡng cửa của thời gian. Hình ảnh “Sương chùng chình qua ngõ” vừa có tính tạo hình trong không gian vừa diễn tả sự chuyển mùa. Tất cả chỉ là những cảm nhận ban đầu của tác giả (“hình như”), không có một căn cứ xác thực cho “sang thu”. Mùa thu dần được hiện ra qua những kinh nghiệm của tác giả:</p><p>"Sông được lúc dềnh dàng<br>Chim bắt đầu vội vã<br>Có đám mây mùa hạ<br>Vắt nửa mình sang thu."</p><p>Bằng kinh nghiệm của mình tác giả nhận ra cái đặc trưng của mùa thu. Thu sang, sông không còn chảy gấp gáp, cuộc khúc nữa mà nhẹ nhàng trôi, êm ả như đang suy ngẫm. Ngược lại, những chú “chim bắt đầu vội vã” tìm nơi trú ẩn vì gió se lạnh đã đến. “Đám mây mùa hạ” “vắt nửa mình sang thu” gợi cho ta hình ảnh một cô gái thướt tha với chiếc khăn the uốn lượn. Đặc biệt, tác giả đã sáng tạo nên hình ảnh “vắt nửa mình sang thu” vừa có tính tạo hình trong không gian vừa diễn tả sự chuyển mùa. Đám mây cứ nhẹ trôi và thời gian thì cũng trôi heo. Đến đây mùa thu đã hiện ra một cách rõ ràng, không thể nào phủ nhận được. Mùa thu hiện ra, tác giả dang tay đón nhận cùng những suy ngẫm triết lí của mình:&nbsp;</p><p>"Vẫn còn bao nhiêu nắng<br>Đã vơi dần cơn mưa<br>Sấm cũng bớt bất ngờ<br>Trên hàng cây đứng tuổi."</p><p>Mùa thu sang, nắng giảm dần, không còn gắt, những cơn mưa giảm dần và sấm thì cũng vơi đi. Mọi thứ đến một cách nhẹ nhàng, êm dịu, không ồn ào gấp gáp. Hình ảnh “Sấm cũng bớt bất ngờ – Trên hàng cây đứng tuổi” có thể hiểu theo hai lớp nghĩa. Thứ nhất, những cây đã lớn không còn bất ngờ trước tiếng sấm. Thứ hai, những người từng trải thì không còn sợ hãi trước sóng gió cuộc đời nữa. Có phải chăng tác giả muốn gởi đến ta một triết lí của cuộc đời con người. Những người khi “sang thu” thì không vòn sôi nổi như khi còn trẻ, nhưng họ đã từng trải, đã bước qua những thời khắc khó khăn nhất của cuộc đời thì không còn ngại sóng gió nữa.</p><p>“Sang thu” là tiếng lòng của tác giả, của một người với tâm hồn nhạy cảm và tình yêu thiên nhiên tha thiết. Nghệ thuật nhân hóa, ẩn dụ cùng cách chọn lọc từ ngữ tinh tế đã làm nên thành công của bài thơ.</p><p>&nbsp;</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-12 13:46:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3213186647</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Thị Thanh Tâm - yêu cầu 3</title>
         <author>tamthanhnguyen27082009</author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3213289188</link>
         <description><![CDATA[<p>     Bài làm</p><p>Quê hương luôn là một đề tài lớn một "mảnh đất màu mỡ" để nhiều tác giả có thể khai thác, nhiều bài thơ đi qua và để lại trong mỗi độc giả một cảm nhận riêng biệt có thể kể đến như Quê hương (Tế Hanh), Bài thơ quê hương (Nguyễn Bính), Quê hương (Giang Nam),... Mỗi tác giả đều có "một làn gió riêng biệt thổi vào bài thơ của mình" và nhà thơ Đỗ Trung Quân cũng không phải ngoại lệ nhưng cái người đọc níu giữ, đọng lại ở Quê hương của Đỗ Trung Quân là những điều giản đơn và bình dị, mang ý nghĩa đặc biệt.</p><p>   Bài thơ Quê Hương được Đỗ Trung Quân viết vào năm 1986, cho đến nay, đây vẫn là một tác phẩm đặc biệt. Tác giả miêu tả về quê hương một cách quen thuộc, giản đơn. Với những hình ảnh vô cùng bình dị mà đôi khi trong cuộc sống chúng ta lại bỏ qua nó. Điều này được thể hiện qua hai khổ thơ đầu.</p><p>              “Quê hương là gì hở mẹ</p><p>                Mà cô giáo dạy phải yêu?</p><p>                Quê hương là gì hả mẹ</p><p>                Ai đi xa cũng nhớ nhiều?</p><p><br/></p><p>               Quê hương là chùm khế ngọt</p><p>               Cho con trèo hái mỗi ngày</p><p>               Quê hương là đường đi học</p><p>                Con về rợp bướm vàng bay”</p><p>    Mở đầu bài thơ, tác giả đặt một câu hỏi tu từ thật ngọt ngào tuy đơn giản nhưng vô cùng ý nghĩa “Quê hương là gì hở mẹ”. Câu hỏi được lặp đi lặp lại 2 lần, nhằm nhấn mạnh sự da diết, lưu luyến của nó. Chỉ là một câu hỏi nhẹ nhàng của em nhỏ đã gợi lên trong mỗi chúng ta "những cảm xúc chân thành, tha thiết về quê hương yêu dấu". Quê hương là nơi chúng ta sinh ra và lớn lên, là nơi khi đi xa luôn một lòng nhớ về. Sự giản đơn còn được thể hiện ở câu đáp lại của người mẹ "Quê hương là chùm khế ngọt", "Quê hương là đường đi học". Dù là ai hay cho dù là gì đi nữa thì nơi ta luôn nhớ mãi, luôn nuôi nấng, bảo vệ ta trước mọi khó khăn cuộc đời, luôn chỉ có một chính là quê hương.   </p><p>     Qua bài thơ Quê hương của Đỗ Trung Quân để thấy hình ảnh quen thuộc, thân thương nhất. Dù có đi đến bất cứ đâu, chúng ta luôn có 1 quê hương để trở về, luôn bên cạnh chở che. Sống với quê hương, chúng ta được là chính mình, yên lặng, giản dị, đơn giản nhất. Cụm từ “quê hương là” được lặp lại rất nhiều lần, khẳng định đa nghĩa về khái niệm của nó. Nhịp thơ đều đặn, nhịp nhàng, gần như cả bài thơ chỉ có một nhịp 2/4. Hình ảnh thơ trong sáng, gần gũi, quê hương đẹp đẽ, lung linh, trọn vẹn và thiêng liêng qua những kỉ niệm bình dị và ngọt ngào. </p><p>   Qua bài thơ ta thấy được tình yêu quê hương tha thiết, yêu từ những cái bình dị. Từ nội dung và nghệ thật tác giả đã mang tới cho chúng ta một thông điệp vô cùng ý nghĩa và sâu sắc từ đó biết thương yêu, biết ơn tới quê hương hơn. Với việc sử dụng các hình ảnh đơn giản và biện pháp điệp từ đã giúp cho bài thơ trở nên sinh động, hấp dẫn hơn từ đó thu hút người đọc.</p><p>  Đối với mỗi người, quê hương là cả ký ức, linh hồn, thương nhớ, thậm chí là không thể rời xa. Sự gắn bó của quê hương thật kỳ diệu, cũng chính nơi đó có tình thương, có bạn bè, người thân, thầy cô, …</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-12 14:38:08 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3213289188</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lò Thiên Đăng- yêu cầu 3</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3213312947</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Phân tích bài "Cảnh Khuya" của tác giả Hồ Chí Minh</strong></p><p> Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, vị cha già kính yêu của dân tộc, một chiến sĩ, nhà hoạt dộng cách mạng, một chính trị gia xuất sắc. Ngoài ra, Người còn là một nhà thơ, nhà văn lỗi lạc của Thế kỉ 20. Trong sự nghiệp sáng tác, với tư duy, ngòi bút sắc bén cùng tâm hồn bay bổng của bậc thi sĩ Bác đã sáng tác một khối lượng tác phẩm đồ sộ. Và một trong số các bài thơ hay tiêu biểu của Bác đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng người đọc có lẽ phải kể đến tác phẩm Cảnh khuya.</p><p>“Tiếng suối trong như tiếng hát xa</p><p>Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa</p><p>Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ</p><p>&nbsp;Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.”</p><p>&nbsp;Bài thơ theo thể 8 chữ ra đời giữa lúc cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta đang hồi gay go, quyết liệt trong năm 1947. Bài thơ miêu tả cảnh trăng sáng ở chiến khu Việt Bắc trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, qua đó thể hiện tình yêu thiên nhiên, tâm hồn nhạy cảm, lòng yêu nước sâu nặng và phong thái ung dung, lạc quan của Bác Hồ Trên chiến khu Việt Bắc, sau những giờ phút mỏi mệt, trong cảnh đêm của núi rừng, Người bồi hồi xúc động trước cảnh đêm khuya êm ái. Điều đầu tiên Bác cảm nhận được nơi thiên nhiên hoang sơ là tiếng suối róc rách tuôn theo dòng chảy:</p><p>“Tiếng suối trong như tiếng hát xa”</p><p>“Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa”</p><p>&nbsp;</p><p>&nbsp;Bức tranh thiên nhiên giống như một bức tranh động chứ không phải bức tranh tĩnh.Lối so sánh của Bác thật kì lạ! Tiếng suối vốn được cảm nhận bằng thính giác nhưng nghe tiếng suối, Người cảm nhận được độ “trong” của dòng chảy. Dòng suối ấy là thứ quà riêng mà thiên nhiên núi rừng ban &nbsp;cho những người chiến sĩ trên đường hành quân xa xôi mệt mỏi. Chẳng những vậy, tiếng suối trong như là “trong như tiếng hát xa”. “Tiếng hát xa” là thứ âm thanh rất đặc biệt. Đó phải là tiếng hát rất cao để có sức lan toả mạnh mẽ, để từ xa con người vẫn có thể cảm nhận được. Đó cũng là tiếng hát vang lên trong thời khắc yên lặng bởi nếu không, nó sẽ bị lẫn vào biết bao âm thanh phức tạp của sự sống, liệu từ xa, con người còn có thể cảm nhận được? Điều thú vị trong câu thơ của Bác Hồ là một âm thanh của tự nhiên được so sánh với tiếng hát của con người. Điều đó thể hiện cảm hứng nhân văn sâu sắc trong những vần thơ của Bác.</p><p>&nbsp;Vậy thì có lẽ, đây là chút yên ả hiếm hoi của thiên nhiên núi rừng vào thời khắc đêm khuya. Thiên nhiên yên tĩnh nhưng cũng là tâm hồn con người yên tĩnh, thanh thản hoà mình vào vẻ đẹp của tự nhiên.</p><p>Hai từ "lồng" cùng nằm trong một câu thơ tạo những ấn tượng rất đặc biệt. "Lồng" là động từ chỉ việc các vật nằm vào trong một cách thật khớp. Câu thơ hữu tình như một bức tranh duyên: ánh trăng mênh mông toả sáng bao trùm lên cây cổ thụ, bóng cây cổ thụ lại dịu dàng phủ mình lên những nhành hoa. Bác dùng từ "lồng" . Chỉ với một từ ấy, cảnh vật như đang giao hoà, nương dựa vào nhau một cách duyên dáng, đáng yêu. Đôi mắt người chiến sĩ cách mạng Hồ Chí Minh thật hữu tình, bác ái.</p><p>&nbsp;Mỗi nét đều nâng vẻ đẹp của nét khác nên, cái tĩnh hòa vào cái động, cái động làm nổi bật cái tĩnh, mảng sáng chén mảng tối tạo thành một tổng thể hoàn hảo lạ lùng. Đâu phải ai cũng nhìn thấy điều ấy. Bác đã nghe và ngắm cảnh vật Việc Bắc trong đêm khuya bởi Bác thức cùng Việt Bắc.</p><p>“Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ”</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.”</p><p>&nbsp;Câu thứ ba trong bài thất ngôn tứ tuyệt là một câu chuyển, Ở đây, nhà thơ đã tạo ra một hình thức chuyển tiếp mới giữa những ý thơ rất uyển chuyển, độc đáo. "Cảnh khuya như vẽ..." - Với bốn chữ đầu câu này, Bác muốn nói gì? Cảnh vật như được vẽ nên hay cảnh vật muốn vẽ nên cái gì đó ngoài vẻ đẹp đẹp của chính mình? Có lẽ điều đó không quan trọng, bởi vì chúng ta có bao nhiêu cách hiểu về những ý thơ "gợi mở" của Bác.</p><p>&nbsp;Điều quan trọng là câu thơ chuyển từ tả cảnh sang tả tình. "Người chưa ngủ" trong một cảnh khuya tuyệt vời đến như vậy phải chăng chỉ là để cùng sống với thiên nhiên? Câu trả lời đến thật đơn giản nhưng mang bản sắc riêng của vị lãnh tụ kháng chiến cao cả: "Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà". Hai từ "chưa ngủ" được lặp lại một lần nữa , nối tiếng và nhấn mạnh cho câu thơ trên.</p><p>&nbsp;Cảnh khuya đẹp thật đấy, và con mắt bác đã thu hết cảnh vật ấy vào tâm hồn của mình, nhưng trong lòng bác còn có một nỗi niềm thao thức lớn - đó là "nỗi nước nhà", là vận mệnh của cả dân tộc, là cuộc chiến đấu còn vô vàn thử thách gian lao. Dấu ngã trong từ "nỗi" có một cái gì đó như day dứt, trăn trở kéo dài, và tuy không xoáy vào tâm trí ta như dấu hỏi nhưng nó cũng thể hiện tâm trạng băn khoăn, day dứt dìu dặt, trong hình ảnh quấn quýt đầm ấm của đêm rừng Việt Bắc, nỗi thao thức của người như lớn dần lên, ngày càng day dứt không nguôi.</p><p>Bài thơ khép lại với bao dư âm mênh mang lan toả. Đã hơn một lần chúng ta xúc động trước tấm lòng cao cả, bác ái của Bác Hồ nhưng mỗi lần đọc lại “Cảnh khuya” ta lại bồi hồi với những tâm tình của một người mà cả cuộc đời chưa bao giờ nghỉ ngơi, chưa bao giờ ẩn mình trong giấc ngủ.</p><p>&nbsp;Có thể nói, thiên nhiên là nguồn cảm hứng sáng tác cho người nghệ sĩ sáng tạo cái đẹp, và ngược lại, chính tài năng của người nghệ sĩ đã làm nên cái hồn cho cảnh sắc thiên nhiên Bài thơ “cảnh khuya” đã đem đến cho người đọc &nbsp;bức tranh thiên nhiên tại chiến khu Việt Bắc hiền hòa với màu sắc của ánh trăng, sống động trong trẻo với âm thanh của tiếng suối, lại vừa thể hiện tâm trạng âu lo của nhà thơ qua đó thấy được tấm lòng đối với thiên nhiên và con người của nhà thơ bằng các hình ảnh thơ mang màu sắc cổ điển mà bình dị, gần gũi, các biện pháp so sánh, điệp từ, tả cảnh ngụ tình.</p><p>&nbsp; Bài thơ&nbsp;miêu tả khung&nbsp;cảnh&nbsp;đêm&nbsp;khuya&nbsp;dưới ánh trăng ở chiến khu Việt Bắc trong những năm đầu&nbsp;của&nbsp;cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, từ đó thể hiện tâm hồn đầy chất&nbsp;thơ, tình yêu thiên nhiên, tình yêu nước sâu sắc và phong thái lạc quan, ung dung&nbsp;của&nbsp;Bác Hồ. Tác phẩm đã mang đến cho người đọc vô số cảm nhận sâu sắc về khung cảnh thiên nhiên thơ mộng tại chiến khu kháng chiến quan trọng của dân ta cũng như giúp người đọc có thể hiểu được tấm lòng yêu thiên nhiên, tâm hồn thơ mộng trước với vẻ đẹp đất rừng nước nhà của Hồ Chí Minh.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-12 14:49:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3213312947</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phương Chi - yêu cầu 3</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3213413215</link>
         <description><![CDATA[<p>phân tích, đánh giá tác phẩm Ánh Trăng của nhà thơ Nguyễn Duy</p><p>                             bài làm</p><p>Nguyễn Duy là nhà thơ quân đội, ông trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, thơ ông cuốn hút người đọc ở cảm xúc chân thành, gần gũi. Thơ ông giàu chất triết lí, đi sâu vào nhưng suy tư, trăn trở về cuộc sống và con người. Ánh trăng cũng là một bài thơ như vậy, tác phẩm như một lời nhắc nhở, tự vấn của tác giả về cách ứng xử với quá khứ.</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tác phẩm được sáng tác năm 1978, ba năm sau khi đất nước thống nhất hoàn toàn. Người chiến sĩ trở về với cuộc sống đời thường, với những lo toan, tất bật của cuộc sống bởi vậy đã vô tình lãng quên bội bạc với quá khứ. Tác phẩm chính là lời nhắc nhở, cảnh tỉnh con người trước thái độ sống ấy.</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Ngay từ nhan đề bài thơ đã chứa đựng tính biểu tượng, giàu ý nghĩa. Vầng trăng vừa là một hiện tượng thiên nhiên nhưng nó còn là một biểu tượng nghệ thuật. Ánh trăng tượng trưng cho những gì tinh túy, trong sáng, đẹp đẽ nhất, là quá khứ thủy chung, vẹn nguyện. Ánh trăng còn là biểu tượng cho con người chân chất, giản dị, nghĩa tình: là đồng đội, là nhân dân.</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Mở đầu bài thơ tác giả tái hiện lại quá khứ đầy đẹp đẽ giữa con ngươi và vầng trăng: Hồi nhỏ sống với đồng/ với sông rồi với bể/ hồi chiến tranh ở rừng/ vầng trăng thành tri kỉ. Những năm tháng tuổi thơ êm đềm, thiên nhiên gần gũi: đồng, sông, bể luôn ở bên, đó là không gian chứa đầy tình yêu thương. Ở đây cần đặc biệt chú ý trình tự liệt kê, tác giả đi từ nhỏ hẹp đến rộng lớn: từ đồng ruộng quê hương đến biển cả đất nước. Đó là không gian của kỉ niệm tuổi thơ luôn có ánh trăng bầu bạn, ánh trăng còn là nơi lưu giữ biết bao kỉ niệm hồn nhiên, ngọt ngào của tuổi thơ. Không chỉ vậy, khi đã trưởng thành, vào chiến trường đối mặt với nhiều khó khăn, gian khổ, thậm chí cái chết, vầng trăng không chỉ còn là người bạn mà còn là tri kỉ của những người lính. Những năm tháng đó con người được sống một cuộc sống vô tư, hồn nhiên: Trần trụi với thiên nhiên/ hồn nhiên như cây cỏ. Giữa con người và thiên nhiên không còn khoảng cách, tác giả sử dụng biện pháp so sánh hồn nhiên như cây cỏ đã giúp hữu hình hóa tâm hồn con người, cho thấy đó là tâm hồn vô tư, không toan tính thiệt hơn. Từ đó tác giả đã khẳng định: ngỡ không bao giờ quên/ cái vầng trăng tình nghĩa. Trong lòng tác giả vẫn luôn đinh ninh rằng tình cảm hồn nhiên, trong sáng, bền chặt ấy sẽ khiến tác giả không bao giờ quên lãng. Hai khổ thơ đầu đã tái hiện chân thực hình ảnh vầng trăng trong quá khứ, đồng hành cùng người lính, là tri âm, tri kỉ của họ.</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Hai khổ thơ tiếp tác giả tái hiện con người và vầng trăng ở thời điểm hiện tại. Câu thơ từ hồi về thành phố là bản lề khép mở giữa phần trước và phần sau của bài thơ, đánh dấu những thay đổi của con người, họ bước vào cuộc sống đời thường. Họ sống trong không gian thành phố đông đúc, quen ánh điện cửa gương, quen với cuộc sống tiện nghi hàng ngày. Bởi vậy, đã dẫn đến hệ quả tất yếu: vầng trăng đi qua ngõ/ như người dưng qua đường. Vầng trăng vốn là tri kỉ nay lại chỉ là người dưng, thật đắng cay và chua xót biết nhường nào. Con người bị những ồn ào, sa hoa của cuộc sống mà quên đi người bạn tình nghĩa, không cảm nhận được vầng trăng trong cuộc sống hàng ngày của họ. Ánh sáng nhân tạo của những bóng đèn cao áp đã làm vầng trăng bị lu mờ. Con người không chỉ mất đi những cảm nhận về thiên nhiên mà còn đánh mất cả nghĩa tình sâu nặng trong quá khứ. Và một cuộc hội ngộ đầy bất ngờ đã diễn ra: Thình lình đèn điện tắt/ phòng buyn-đinh tối ôm/vội bật tung cửa sổ/đột ngột vầng trăng tròn. Hoàn cảnh diễn ra cuộc hội ngộ vô cùng bất ngờ, ánh sáng nhân tạo vụt tắt, như một lẽ tự nhiên con người vội vàng mở cửa sổ để tìm lại ánh sáng. Và cũng chính lúc ấy vầng trăng đột ngột hiện ra. Đột ngột được đảo lên đầu câu, gợi lên cảm giác bàng hoàng, ngỡ ngàng khi con người gặp lại người bạn xưa. Vầng trăng vẫn vậy, vẫn tròn, vẹn nguyên như thuở xưa, vẫn rất gần gũi bên con người, theo dõi con người không oán thán dù nhận lại chỉ là sự thờ ơ, dửng dưng. Hai khổ thơ đã cho thấy và lí giải sự đổi thay của họ trước và sau chiến tranh, đồng thời tạo dựng nên tình huống kịch tính thức tỉnh tâm hồn họ.</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Ngẩng mặt lên nhìn mặt</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Có cái gì rưng rưng</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Như là đồng là bể</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Như là sông là rừng</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Điệp từ mặt được dùng với lối chuyển nghĩa độc đáo, mặt thứ nhất là nghĩa gốc, mặt của con người, mặt thứ hai là mặt trăng được nhân hóa. Hai gương mặt vốn tri âm tri kỉ, sau thời gian dài xa cách nay được gặp lại nhau. Nhưng đây đồng thời cũng là giây phút để con người soi chiếu vào chính mình, để nhận ra những thay đổi theo chiều hướng tiêu cực của bản thân, quên đi quá khứ ân tình khi xưa. Để rồi cái rưng rưng xúc động cũng là giây phút con người thức tỉnh lương tri của chính mình. Và đồng thời hình ảnh những người bạn thuở thiếu thời, khi ở rừng lại ùa về trong kí ức tác giả: đồng, sông, bể, rừng. Và con người càng thức tỉnh hơn khi quá khứ vẫn vẹn nguyên tình nghĩa : Trăng cứ còn vành vạnh/ kể chi người vô tình/ ánh trăng im phăng phắc/ đủ cho ta giật mình. Ánh trăng vẫn vành vạnh tròn, nghĩa tình không thay đổi, không vơi cạn đó cũng là ẩn dụ cho tình cảm vẹn nguyên của nhân dân đất nước. Nhưng đồng thời ánh trăng ấy cũng hết sức nghiêm khắc im phăng phắc vừa bao dung lại vừa nghiêm khắc để nhắc nhở, cảnh báo và cũng là để thức tỉnh con người. Cái giật mình của con người đã đánh dấu sự thức tỉnh trong họ. Nhận ra những cám dỗ vật chất tầm thường mà quên đi những giá trị tinh thần đẹp đẽ, khiến tâm hồn nghèo nàn quá khứ. Nhận ra cần phải biết trân trọng, nâng niu và biết ơn quá khứ.</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tác phẩm sử dụng thể thơ ngũ ngôn với nhiều sáng tạo độc đáo: Chữ cái đầu khổ viết hoa và dùng duy nhất một dấu phẩy và một dấu chấm kết bài, khiến cho các câu thơ liền mạch, dòng cảm xúc triền miên hơn. Sự kết hợp hài hòa giữa tự sự và trữ tình. Ngôn ngữ, hình ảnh giản dị, gần gũi nhưng giàu sức gợi. Giọng điệu tâm tình, tha thiết, chứa đựng nhiều cảm xúc, suy tư.</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Bài thơ với giọng điệu tha thiết, chứa đựng nhiều suy tư, triết lí đem đến những bài học sâu sắc cho con người. Đó là lời nhắn gửi đến mỗi chúng ta không được lãng quên quá khứ ân tình, thủy chung. Là lời nhắc nhở về đạo lí giản dị mà cao quý thiêng liêng của dân tộc uống nước nhớ nguồn.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-12 15:38:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3213413215</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Huy Anh yêu cầu 3</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3213453424</link>
         <description><![CDATA[<p>Phân tích bài thơ đồng chí của chính hữu             Đồng chí là bài thơ hay nhất của Chính Hữu viết về người nông dân mặc áo lính trong những năm đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Bài thơ được viết vào đầu xuân 1948, sau chiến thắng Việt Bắc thu đông 1947.                                                                          Bài thơ Đồng chí ca ngợi tình đồng đội gian khổ, vào sinh ra tử có nhau của các anh bộ đội Cụ Hồ, những người nông dân yêu nước đi bộ đội đánh giặc trong những năm đầu gian khổ thời 9 năm kháng chiến chống Pháp (1946 -1954).</p><p><em>   Vẻ đẹp mộc mạc của tình đồng chí, đồng đội được thể hiện rõ nét qua lời tâm sự, giới thiệu về quê hương trong hai câu thơ đầu:</em></p><p>    “Quê hương anh nước mặn đồng chua</p><p>      Làng tôi nghèo đất cày nên sỏi đá’’</p><p>   Hai câu thơ cho thấy, những người lính tuy cầm súng ra trận nhưng thực chất họ chỉ là những người nông dân lao động nơi quê hương. Một nơi thì “nước mặn đồng chua”, một nơi thì “đất cày lên sỏi đá”. Từ những miền quê khác nhau, họ đã tìm thấy điểm chung để đến với nhau trong một mối quan hệ thật mới mẻ.Sử dụng đại từ nhân xưng “anh” và “tôi” tác giả đã gợi lên không khí trò chuyện gần gũi, như lời tâm tình, thủ thỉ của hai người bạn thân thiết.</p><p>   Sử dụng thủ pháp đối được trong hai câu thơ đầu, tác giả đã gợi lên sự tương đồng trong xuất thân hay quê hương của hai người lính.&nbsp;Tác giả mượn thành ngữ “nước mặn đồng chua” để nhắc đến những vùng đồng chiêm, nước trũng, vùng ngập mặn ven biển, khó sống và làm ăn. Ở nơi đó, cái đói, cái nghèo như manh nha từ trong nước, người nông dân có cố gắng đến mấy cũng không thoát nổi sự cơ cực, thiên tai. Sử dụng hình ảnh “đất cày lên sỏi đá” để miêu tả những vùng trung du, miền núi, nơi đất đá bị ong hóa, bạc màu, khó làm ăn canh tác. Ở nơi đây, cái đói, cái nghèo như rễ mọc từ trong lòng đất, người nông dân đối diện với những khó khăn như một lẽ đương nhiên. “Quê hương anh” và “làng tôi”, người miền xuôi và kẻ miền ngược,&nbsp; tuy có khác nhau về địa giới nhưng đều có điểm chung là cái nghèo, cái khổ. Chiến tranh đã đưa hai người nông dân này thành chiến sĩ cùng chiến tuyến, sự đồng cảm giai cấp đã kết nối họ trở thành đôi bạn thân thiết, trở thành những người đồng chí, đồng đội với nhau.</p><p>   Năm câu thơ tiếp theo nói lên một quá trình thương mến: từ “đôi người xa lạ" rồi "thành đôi tri kỉ", về sau kết thành “đồng chí”. Câu thơ biến hóa, 7, 8 từ rồi rút lại, nén xuống 2 từ, cảm xúc vần thơ như dồn tụ lại, nén chặt lại. Những ngày đầu đứng dưới lá quân kì: "Anh với tôi đôi người xa lạ - Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau". Đôi bạn gắn bó với nhau bằng bao kỉ niệm đẹp:</p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;"Súng bên súng, đầu sát bên đầu,</p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ</p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Đồng chí!"</p><p>&nbsp; &nbsp;&nbsp;"Súng bên súng" là cách nói hàm súc, hình tượng: cùng chung lí tưởng chiến đấu; "anh với tôi" cùng ra trận đánh giặc để bảo vệ đất nước quê hương, vì độc lập, tự do và sự sống còn của dân tộc. "Đầu sát bên đầu" là hình ảnh diễn tả ý hợp tâm đầu của đôi bạn tâm giao. Câu thơ "Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ” là câu thơ hay và cảm động, đầy ắp kỉ niệm một thời gian khổ. Chia ngọt sẻ bùi mới "thành đôi tri kỉ". "Đôi tri kỉ" là đôi bạn rất thân, biết bạn như biết mình. Bạn chiến đấu thành tri kỉ, về sau trở thành đồng chí! Câu thơ 7, 8 từ đột ngột rút ngắn lại hai từ "đồng chí!" diễn tả niềm tự hào xúc động ngân nga mãi trong lòng. Xúc động khi nghĩ về một tình bạn đẹp. Tự hào về mối tình đồng chí cao cả thiêng liêng, cùng chung lí tưởng chiến đấu của những người binh nhì vốn là những trai cày giàu lòng yêu nước ra trận đánh giặc. Các từ ngữ được sử dụng làm vị ngữ trong vần thơ: bên, sát, chung, thành đã thể hiện sự gắn bó thiết tha của tình tri kỉ, tình đồng chí. Cái tấm chăn mỏng mà ấm áp tình tri kỉ, tình đồng chí ấy mãi mãi là kỉ niệm đẹp của người lính, không bao giờ có thể quên.</p><p>   Ba câu thơ tiếp theo nói lên hai người đồng chí cùng nhau một nỗi nhớ: nhớ ruộng nương, nhớ bạn thân cày, nhớ gian nhà, nhớ giếng nước, gốc đa. Hình ảnh nào cũng thắm thiết một tình quê vơi đầy:</p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Ruộng nương anh &nbsp;gửi bạn thân cày,</p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay,</p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; Giếng nước, gốc đa nhớ người ra lính.</p><p>&nbsp; &nbsp;&nbsp;Giếng nước gốc đa là hình ảnh thân thương của làng quê được nói nhiều trong ca dao xưa: "Cây đa, bến đò xưa... Gốc đa, giếng nước, sân đình...", được Chính Hữu vận dụng, đưa vào thơ rất đậm đà, nói ít mà gợi nhiều, thấm thìa. Gian nhà, giếng nước, gốc đa được nhân hóa, đang đêm ngày dõi theo bóng hình anh trai cày ra trận? Hay "người ra lính" vẫn đêm ngày ôm ấp hình bóng quê hương? Có cả 2 nỗi nhớ ở cả hai phía chân trời. Tình yêu quê hương đã góp phần hình thành tình đồng chí, làm nên sức mạnh tinh thần để người lính vượt qua mọi thử thách gian lao, ác liệt thời máu lửa.</p><p>   Bảy câu thơ tiếp theo ngồn ngộn những chi tiết rất thực phản ánh hiện thực kháng chiến buổi đầu. Sau 80 năm bị thực dân Pháp thống trị, nhân dân ta đã quật khởi đứng lên giành lại non sông. Rồi với gậy tầm vông, với giáo mác,... nhân dân ta phải chống lại xe tăng, đại bác của giặc Pháp xâm lược. Những ngày đầu kháng chiến, quân và dân ta trải qua muôn vàn khó khăn: thiếu vũ khí, thiếu quân trang, thiếu lương thực, thuốc men... Người lính ra trận "áo vải chân không đi lùng giặc đánh", áo quần rách tả tơi, ốm đau bệnh tật, sốt rét rừng, "Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi".</p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp;Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh,</p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp; &nbsp;Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi.</p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Áo anh rách vai</p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Quần tôi có vài mảnh vá                                       Miệng cười buốt giá</p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Chân không giày...</p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp;Chữ "biết" trong đoạn thơ này nghĩa là nếm trải, cùng chung chịu gian nan thử thách. Các chữ: "anh với tôi", "áo anh... quần tôi" xuất hiện trong đoạn thơ như một sự kết dính, gắn bó keo sơn tình đồng chí thắm thiết cao đẹp. Câu thơ 4 tiếng cấu trúc tương phản: "Miệng cười buốt giá" thể hiện sâu sắc tinh thần lạc quan của hai chiến sĩ, hai đồng chí. Đoạn thơ được viết dưới hình thức liệt kê, cảm xúc từ dồn nén bỗng trào lên: "Thường nhau tay nắm lấy bàn tay”. Tình thương đồng đội được biểu hiện bằng cử chỉ thân thiết, yêu thương: "tay nắm lấy bàn tay". Anh nắm lấy tay tôi, tôi nắm lẩy bàn tay anh, để động viên nhau, truyền cho nhau tình thường và sức mạnh, để vượt qua mọi thử thách, "đi tới và làm nên thắng trận".</p><p>Phần cuối bài thơ ghi lại cảnh hai người chiến sĩ hai đồng chí trong chiến đấu. Họ cùng "đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới", cảnh tượng chiến trường là "rừng hoang sương muối", một đêm đông vô cùng lạnh lẽo hoang vu giữa núi rừng chiến khu. Trong gian khổ ác liệt, trong căng thẳng “chờ giặc tới", hai chiến sĩ vẫn "đứng cạnh bên nhau", vào sinh ra tử có nhau. Đó là một đêm trăng trên chiến khu. Một tứ thơ đẹp bất ngờ xuất hiện:</p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Đầu súng trăng treo.</p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp;Người chiến sĩ trên đường ra trận thì "ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan". Người lính đi phục kích giặc giữa một đêm đông "rừng hoang sương muối" thì có “ đầu súng trăng treo", cảnh vừa thực vừa mộng, về khuya trăng tà, trăng lơ lửng trên không như đang “treo” vào đầu súng, vầng trăng là biểu tượng cho vẻ đẹp đất nước thanh bình. Súng mang ý nghĩa cuộc chiến đấu gian khổ hi sinh. "Đầu súng trăng treo" là một hình ảnh thơ mộng, nói lên trong chiến đấu gian khổ, anh bộ đội vẫn yêu đời, tình đồng chí thêm keo sơn gắn bó, họ cùng mơ ước một ngày mai đất nước thanh bình. Hình ảnh "Đầu súng trăng treo" là một sáng tạo thi ca mang vẻ đẹp lãng mạn của thơ ca kháng chiến, đã được Chính Hữu lấy nó đặt tên cho tập thơ đóa hoa đầu mùa của mình. Trăng Việt Bắc, trăng giữa núi ngàn chiến khu, trăng trên bầu trời, trăng tỏa trong màn sương mờ huyền ảo. Mượn trăng để tả cái vắng lặng của chiến trường, để tô đậm cái tư thế trầm tĩnh "chờ giặc tới". Mọi gian nan căng thẳng của trận đánh sẽ diễn ra, đang nhường chỗ cho vẻ đẹp huyền diệu, thơ mộng của vầng trăng, và chính đó cũng là vẻ đẹp cao cả thiêng liêng của tình đồng chí, tình chiến đấu.</p><p>&nbsp; Qua bài thơ “Đồng chí” Chính Hữu đã khám phá, ngợi ca một tình cảm đẹp giữa những người lính cách mạng, đó là tình đồng chí. Trong đó, những người lính chính là những anh vệ quốc đoàn, những chiến sĩ Ðiện Biên… là những người nông dân vừa rời cuốc cày đã bước vào chiến trận. Mặt khác, tác phẩm còn tô đậm hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ thời kì đầu kháng chiến chống Pháp, với nét đời thường, đời sống tình cảm mộc mạc, chân thành với đồng đội và quê hương.&nbsp;</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-12 16:01:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3213453424</guid>
      </item>
      <item>
         <title>trần gia minh- yêu cầu 3</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3213458786</link>
         <description><![CDATA[<p>Bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh là một tác phẩm tiêu biểu miêu tả khoảnh khắc giao mùa từ hạ sang thu, khi đất trời, thiên nhiên dần chuyển mình với những biến đổi nhẹ nhàng mà tinh tế. Qua cảm nhận tinh tế trước những dấu hiệu đầu tiên của mùa thu, Hữu Thỉnh đã giúp người đọc thấu hiểu sự điềm tĩnh trong từng nhịp điệu của thiên nhiên và cảm nhận về sự trưởng thành, của con người trước những đổi thay của cuộc sống. “Sông được lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu.” Khổ thơ thứ hai trong bài “Sang thu” của Hữu Thỉnh mang đến hình ảnh thiên nhiên sinh động trong khoảnh khắc chuyển giao giữa hạ và thu. Mỗi câu thơ miêu tả một sự thay đổi tinh tế của cảnh vật, từ đó gợi lên không khí nhẹ nhàng, trầm lắng mà sâu sắc của mùa thu. “Sông được lúc dềnh dàng” Hình ảnh dòng sông chảy chậm rãi, thong thả phản ánh nhịp điệu dịu êm của đất trời khi thu về. Từ “dềnh dàng” không chỉ mô tả trạng thái của sông mà còn thể hiện cảm giác thư thái, yên bình, như thể thiên nhiên đang tận hưởng sự tĩnh lặng của mùa thu. “Chim bắt đầu vội vã” Đối lập với sự thư thả của dòng sông là hình ảnh cánh chim “vội vã.” Đàn chim cảm nhận được sự thay đổi của thời tiết nên hối hả chuẩn bị cho hành trình di cư. Điều này báo hiệu mùa thu đang dần chiếm lĩnh, và tiết trời sẽ chuyển lạnh. “Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu” Đây là một hình ảnh độc đáo và giàu sức gợi. Đám mây như còn vương vấn mùa hạ, nhưng đã bắt đầu nghiêng mình về phía thu. Sự “vắt nửa mình” ấy là ranh giới mong manh giữa hai mùa, cho thấy sự giao thoa mềm mại giữa hạ và thu. Khổ thơ thứ hai của “Sang thu” thể hiện sự chuyển tiếp nhẹ nhàng của thiên nhiên khi vào thu, không đột ngột mà êm đềm, chậm rãi. Qua đó, Hữu Thỉnh không chỉ miêu tả cảnh vật mà còn gửi gắm suy tư về những biến chuyển của thời gian, gợi lên cảm giác bình yên, sâu lắng khi con người nhận thức sự vận động nhẹ nhàng, chín muồi của cuộc sống.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-12 16:04:47 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3213458786</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tòng Quang Vinh bài viết phân tích tác phẩm &quot;Đây mùa thu tới&quot; tác giả Xuân Diệu (phần 1)</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3213461533</link>
         <description><![CDATA[<p>Thơ là thu của lòng người, thu là thơ của đất trời. Câu nói ngỡ như một trò chơi chữ này của người xưa hoá ra đã thể hiện được mối tương thông kỳ lạ giữa mù thu và thơ ca. Có phải vì thế mà trong bốn mùa, thơ ca thiên vị với mùa thu hơn cả và mùa thu cũng ban tặng cho thi nhân nhiều thi tứ hơn? Mùa thu gắn bó với thi ca đến nồi chỉ cần xem xét thơ viết về mùa thu qua các thời đại cũng có thể thấy, được phần nào các thời đại thơ ca. Kể tên những áng thơ thu đẹp nhất trong thơ Việt, người ta phải nhắc đến những Nguyễn Trãi, Nguyên Du, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Khuyến, Tần Đà, Lưu Trọng Lư, Tế Hanh, Tố Hữu… và không thể không nhắc đến Xuân Diệu. Thoạt nhìn, dễ nghĩ Xuân Diệu chỉ là thi sĩ của mùa xuân. Thậm chí, đọc bài Xuân không mùa, chúng ta có thể quyết rằng: Xuân không mùa - ấy là Xuân Diệu! Thực thì, Xuân Diệu còn là thi sĩ của mùa thu. Không chỉ vì ông có nhiều bài thơ thu đặc sắc. Điều cốt yếu là, với thi sĩ, Xuân hay Thu cũng đều là mùa Tình.</p><p>Nói thế, không có nghĩa là Xuân Diệu không dành một quan niệm riêng cho cái mùa của những bông cúc vàng ẩn dật này. Trong cảm quan của thi sĩ, thiên nhiên cũng như một giai nhân đầy nhan sắc. Thời kỳ rực rỡ hoàng kim là thuộc về mùa xuân. Qua hạ vào thu là bước vào kì tàn phai. Một sự tàn phai không thể tránh khỏi. Mùa thu là mùa phôi pha. Nhưng đối với thi sĩ này, thì ngay trong độ phai tàn, giai nhân ấy vẫn cứ kiêu sa, đài các, lộng lẫy. Đây mùa thu tới có lẽ là thi phẩm được nảy sinh trực tiếp từ cảm quan ấy.</p><p>Cũng không riêng chuyện cảm quan. Đây mùa thu tới còn thuộc về một cảm hứng rất Xuân Diệu: cảm hứng nghiêng về thời gian. Như cái tên của nó, Đây mùa thu tới đã chọn một thời điểm riêng để đến với mùa thu. Ấy là thời điểm giao mùa. Chỉ cần làm một so sánh nhỏ với chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến sẽ thấy rõ hơn cảm hứng này của Xuân Diệu. Trong chùm thơ nổi tiếng của mình, Tam nguyên Yên Đổ viết về một mùa thu đã hoàn toàn định hình, đã ngự trị từ lâu ở làng cảnh Việt Nam. Thi nhân chỉ đi tìm kiếm những gì là đắc trưng nhất để về lên bức tranh thu. Nghệ thuật của Nguyễn Khuyến có phần nghiêng về không gian, nghiêng về cái tĩnh. Còn thi sĩ Xuân Diệu thì chờ cái lúc mùa thu từ phương xa về, đáp xuống xứ sở này, dần dần từng bước xâm chiếm toàn bộ thiên nhiên, cây cỏ và con người. Ngòi bút Xuân Diệu bám từng bước đi của thời gian, nắm bắt cái dáng vẻ, cái trạng thái sự vật đang ngả dần sang thu, đất trời cứ thu dần thu dần để thành thu hẳn. Nghệ thuật Xuân Diệu, rõ ràng, nghiêng về thời gian, nghiêng về cái động.</p><p>Trong cái thế giới riêng của bài thơ, cảnh sắc đầu tiên mà mùa thu xâm chiếm là rặng liễu - nó lập tức biến thành liễu thu: Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang / Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng. Hành trình xâm lấn của mùa thu, từ đó, dường như cứ lan dần, loang dần ra những khu vườn, những rặng núi, những dòng sông, những tầng trời... và cuối cùng, nó xâm chiếm lòng người. Khi đã tràn ngập những tâm hồn thiếu nữ, ấy là lúc mùa thu đã đi trọn một con đường của nó. Và, mùa thu tới, cảnh sắc cũng theo đó phôi pha. Sắc lá rũa phai đi, cành nhánh gầy guộc đi, trăng ngẩn ngơ đi, dáng núi nhạt nhòa hơn, sông vắng vẻ hơn, khí trời lạnh lẽo hơn, lòng người u sầu hơn... Khi những thiếu nữ cũng "buồn không nói, tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì", ấy là lúc mùa thu đã làm xong phần việc của nó: chuyển toàn bộ xứ sở này thành thu. Chẳng phải mùa thu cũng là mùa phai đó ư? Như thế, hành trình của mùa thu cũng chính là trình tự cấu tứ của Đây mùa thu tới.</p><p>Đúng là mỗi thi sĩ thường tìm cho mình những tín hiệu riêng để nhận biết mùa thu. Người xưa thấy thu về trong một chiếc lá ngô đồng rụng. Nguyễn Du thấy thu về trong sắc đỏ lá phong. Nguyễn Khuyến nhận ra thu trong dáng cần trúc lơ phơ. Lưu Trọng Lư nghe thấy tiếng thu trong tiếng lá kêu xào xạc.... Còn Xuân Diệu? Ấy là dáng liễu. Khi rặng liễu bắt đầu mang dáng đứng chịu tang, thi sĩ biết rằng mùa thu đã hiện diện ở xứ sở này:</p><p>Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang</p><p>Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng</p><p>Đây mùa thu tới - mùa thu tới:</p><p>với áo mơ phai đệt lá vàng.</p><p>Chúng ta biết Thơ Mới bắt đầu mới trong cảm xúc. Cảm xúc mới nảy nở, bùng nổ, nó phải kiếm tìm thi pháp mới. Ở Xuân Diệu - "mới nhất trong các nhà thơ mới”-cảm xúc và thi pháp đã giúp nhà thơ làm mới những thư liệu cũ. Nét dễ thấy ở đây là một lối liên tưởng mới. Chính lối liên tưởng này đã tạo ra một vẻ đẹp mới cho đối tượng cũ. Ai cũng biết, liễu là hình ảnh đã quá quen thuộc trong thơ cổ điển. Trong Truyện Kiều thật nhiều những dáng liễu đẹp:</p><p>- ﻿﻿Lơ thơ tơ liễu buông mành</p><p>- ﻿﻿Dưới cầu nước chảy trong veo</p><p>Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-12 16:06:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3213461533</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tòng Quang Vinh phân tích tác phẩm &quot;Đây mùa xuân tới&quot; của tác giả Xuân Diệu (phần cuối)</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3213463931</link>
         <description><![CDATA[<p>Trong các câu thơ trên của Nguyễn Du, liễu có phần nghiêng về vẻ đẹp khách quan, liễu hiện lên chủ yếu bằng vẻ đẹp của bản thân liễu. Nhà Thơ Mới Xuân Diệu không chịu làm thế. Ông đã "áp đặt" vào liễu một vẻ đẹp chủ quan, liễu mang trong nó vẻ đẹp người. Dáng liễu là dáng người. Từng dòng lá liễu rủ xuống mang trong nó những dòng tóc đang buông xuống và trăm nghìn giọt lệ đang tuôn xuống. Tâm trạng liễu là tâm trạng người. Cảm nhận liễu, người ta cứ thấy phảng phất trong liễu bóng dáng những giai nhân đài các, kiêu sa mà âu sầu buồn bã. Trước Xuân Diệu, xem ra, chưa có một dáng liễu nào giống thế. Trước tín hiệu báo mùa ấy, thi sĩ đã kêu lên: Đây mùa thu tới mùa thu tới. Câu thứ ba đúng là một tiếng reo (có lẽ tiếng kêu thì đúng hơn). Nhưng không phải reo vui như có người tưởng. Làm sao có thể reo vui khi cảnh buồn đến thế. Đó chỉ có thể là tiếng kêu ngỡ ngàng. Vì sững sờ nhận ra thế là mùa thu đã về, ngay nhỡn tiền đây thôi. Cũng còn vì: dấu là mùa tàn phai, mà thu vẫn cứ yêu kiều thế</p><p>- Với áo mơ phai đệt lá vàng. Trong cảm nhận của Xuân Diệu, mùa thu vốn vô hình đã trở nên hữu hình. Và, dường như mùa thu cũng về trong bóng hình, phong thái của của một giai nhân. Ta không nhìn thấy rô khuôn mặt nàng, nhưng ta nhận ra nàng trong cái và điệu bay đến và trong sắc áo hư ảo, chùng như đẹt bằng lá vàng và náng vàng của nàng:</p><p>Đây mùa thu tới mùa thu tới</p><p>Với áo mơ phai dệt lá vàng</p><p>Nó gợi ta nhớ đến hình ảnh trăng trong bài thơ Lời kỹ nữ, cũng dáng điệu ấy, phong thái ấy:</p><p>... Trăng từ viễn xứ</p><p>Đi khoan thai lên ngự đỉnh trời tròn.</p><p>Cảm xúc thẩm mỹ mới về mùa thu của Xuân Diệu, rõ ràng, đã gần liền với một khía cạnh thi pháp mới, đó là một trường liên tưởng tân kỳ: vẻ đẹp tạo vật thiên nhiên được quy chiếu về vẻ đẹp của những giai nhân.</p><p>Chỉ bốn câu đầu đã là bức tranh thu trọn vẹn và mới mẻ. Không chỉ thế, lắng nghe kĩ còn thấy trong bức tranh kia đang ngân lên một điệu nhạc nào nữa. Đúng thế, Xuân Diệu đã triệt để khai thác nhạc tính của ngôn ngữ để tạo ra chất thơ và chuyển tải cảm xúc của mình. Câu thất ngôn thườngđi nhịp 2/2/3. Ở đây Xuân Diệu ngắt thành 4/3:</p><p>kh cn g phụ hoa vào lối tao hình áy. Câu thát ngôn thưởng đi nhp</p><p>Đây mùa thu tới/ mùa thu tới</p><p>Cơ hồ nhịp điệu đã mô phòng được cả ngữ điệu của một tiếng kêu ngỡ ngàng, cả vi điệu luân chuyển nào đó rất vô hình của mùa thu nữa. Dùng âm nhạc của ngôn ngữ để tạo hình như vậy, Xuân Diệu đã tỏ rõ thi pháp tượng trưng ngấm vào ngòi bút của mình nhuần nhị như thế nào.</p><p>Tuy nhiên, nói đến Xuân Diệu là còn phải nói đến một hồn thơ nhạy cảm với những biến thái tinh vi mơ hồ trong hồn người và hồn tạo vật. Mùa thu chạm vào rặng liễu và làm liễu biến đổi. Mùa thu đi vào vườn, cảnh vật trong vườn cũng từng bước biến suy. Trong cái vẻ biến đổi quen thuộc, thi nhân đã nhận ra những điều thật khó thấy:</p><p>Hơn một loài hoa đã rụng cành</p><p>Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh</p><p>Tôi không muốn nói đến vẻ tân kỳ, vẻ Tây trong việc dùng các chữ "hơn một" và "rụng cành". Điều muốn nói và đáng nói hơn chính là chữ "rũa". Có người đã hiểu đây là chữ "rữa". Không phải: Xuân Diệu đâu có diễn tả sự phân huỷ của xác lá.&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Điều thi nhân muốn diễn tả tinh vi và thanh nhã hơn nhiều: sự phôi pha trên màu lá. Cũng nói về sự chuyển mùa bằng việc chuyển màu trên thảo mộc cỏ cây,</p><p>Nguyễn Du từng có câu:</p><p>Người lên ngựa kẻ chia bào</p><p>Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Cùng thời với Xuân Diệu, Nguyễn Bính cũng viết:</p><p>Ngày qua ngày lại qua ngày</p><p>Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Sau này, Tố Hữu cũng có những câu tinh tế:</p><p>Ve kêu rừng phách đổ vàng</p><p>Nhớ cô em gái hái măng một mình.</p><p>Gần nhau đến thế mà mỗi chữ vẫn mang một sắc thái riêng, một vẻ thần tình riêng. "Nhuốm" mới bắt đầu, đang diễn ra, chưa hoàn kết: còn "nhuộm" hình như đã kết thúc, hoàn tất. Một chữ xem chừng động hơn, nói được nỗi buồn lan ra từ cuộc chia ly Kiều - Thúc vương phủ lên rừng phong, khiến màu cây biến sắc. Chữ "nhuộm" có lẽ tĩnh hơn (dĩ nhiên là trong văn cảnh này), nói cái thời gian của kẻ tương tư dài đằng đằng đến nỗi đủ làm cây héo úa, làm người héo hon. Chữ "đổ" lại nhấn mạnh sắc thái mau lẹ. Những ngày cuối của mùa xuân, phách hãy còn xanh. Thế mà khi những tiếng ve đầu tiên của mùa hè cất lên, rừng phách đã nhất loạt trở hoa vàng. Ngỡ có ai đem đổ cả một bình màu lớn khiến rừng phách kia lênh láng sắc vàng. Và cũng trong những tiếng ve ấy, hoa phách rụng như trút vàng xuống đất, như những cơn mưa hoa, cơn mưa vàng vậy.</p><p>Còn câu thơ và chữ nghĩa Xuân Diệu thì sao? Thi sĩ này không lặp lại sự biến màu trên toàn cục, mà có phần nghiêng về sự biến màu trên mỗi chiếc lá, Thâm chí sự phôi pha trong từng hạt diệp lục. Chữ “rũa” là thế. Ta không chỉ thấy mùa thu trên những vòm là, những dòng sông, những chân trời,. Nếu màu xanh thay thu đến trong tùng hạt diệp lực đang phai màu. Nếu màu xanh thuộc về mùa ha, thì màu đỏ là mùa thu. Trên từng chiếc lá, thì sĩ thấy thu về và đương tranh chấp với mùa hạ. Màu đỏ lấn tới đâu làm màu xanh phôi pha tới đó. Mùa thu lan tới đâu, mùa hạ lùi bước tới đó. Cứ thế thu về cùng với nhịp điệu am thầm của sắc đỏ mài mòn màu xanh. " Trong vườn sắc đỏ rữa màu xanh", câu thơ như đã thu nhỏ cả cuộc đổi mùa lớn lao vào một góc vườn, vào từng chiếc lá đang phai.</p><p>Cũng ở trong vườn, trước một hình ảnh ngỡ quá quen thuộc này, vẫn có những cảm nhận thật mới lạ:</p><p>Những luồng run rẩy rung rinh lá</p><p>Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh</p><p>Có người đã hiểu sự cách tân của Xuân Diệu ở đây là: thay vì gọi</p><p>"luồng gió" thi sĩ đã gọi là "luồng run rẩy" (!) Nếu thi sĩ có làm thế thật, thì cũng chẳng mới được là bao. Nhưng, cái Xuân Diệu định nói ở đây chính là luồng run rẩy. Vâng, chính là thoáng rùng mình của những thân cành mảnh mai gầy guộc trước làn hơi giá của mùa thu đang lan trong không trung một cách vô hình. Cảm nghe được cả những sóng âm mang hơi thu mơ hồ ấy, thì những nhánh cây mùa thu kia thật nhạy cảm biết nhường nào. Luồng rung động toàn thân ấy gọi t nhớ đến cái thoáng "Linh lung bóng sáng bỗng rung mình" hay cái trạng thái "Tất cả tôi run rẩy tựa dây đàn", " Khắp xương nhánh chuyển một luồng tê tái" ... rất đặc trưng cho thi cảm Xuân</p><p>Diệu. Như một người quay phim tinh tế, thi sĩ đa ghé sát óng kính của thơ mình để đặc tả thật cần cảnh, khiến cho những cành nhánh nhỏ nhoi mảnh mai nhất cùng như đang run rấy lên tựa dây đàn tiền công thơ. Và ta có thể thấy rô không chỉ bằng thì giác mà bàng cả thính giác và xúc giác nữa cái luông rung dong tinh vi ấy đang truyền theo nhịp rung qua một chuỗi bốn âm "r" kế tiếp.</p><p>Cứ kĩ lưỡng tinh vi như thế, Xuân Diệu thả hồn mình cảm nhân những nét đang tượng hình, đang hiện hình trong mỗi tạo vật thiên nhiên càng lúc càng lan xa mãi:</p><p>Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ...</p><p>Non xa khởi sự nhạt sương mờ</p><p>Đã nghe rét mướt luồn trong gió...</p><p>Đã vắng người sang những chuyến đò</p><p>Đến đây ta mới thật sự bị cái giá lạnh của mùa thu xâm chiếm, cái cảm giác thu đã thành sắc nét trên da thịt ta. Mùa thu cứ lan ra, xa nhất, rộng nhất, cao nhất với dòng sông, ngọn núi, với mây trời, cánh chim và cả nàng trăng nữa. Nhưng chỉ đến khi xâm chiếm tâm hồn các thiếu nữ thì mùa thu mới chiếm ngự được nơi sâu nhất của cõi này:</p><p>Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói</p><p>Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì</p><p>Mùa thu - mùa phôi pha đã gieo buồn vào hồn người? Đã đánh thức dậy nỗi cô đơn? Tựa cửa nhìn xa với khao khát lứa đôi? Hay mùa phôi pha phai lạt đang đánh thức dậy một dự cảm mơ hồ về cái độ phai tàn tuy còn xa xôi mà đã như diễu qua nhỡn tiền đó? Làm sao ta biết được! Chỉ biết rằng khuất sâu trong cái dáng "buồn không nói",</p><p>"tựa của nhìn xa" ngỡ bất động kia lại chất chứa biết bao xôn xao thấm thía vào bậc nhất của cõi thu này.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-12 16:07:31 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3213463931</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Cầm Việt Thái-Yêu cầu 3(sửa)</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3213467754</link>
         <description><![CDATA[<p>    Huy Cận là một trong những tên tuổi tiêu biểu của phong trào Thơ mới trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, với những tác phẩm nổi tiếng như “Lửa thiêng”, “Vũ trụ ca”... Sau khi hòa bình được lặp lại, ông nhanh chóng hòa mình vào cuộc sống sinh hoạt của con người với một niềm tin tươi sáng. Một trong những sáng tác tiêu biểu của ông thời kì này là bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” được sáng tác ở Hòn Gai, năm 1958 sau khi tác giả có một chuyến đi thực tế dài ngày. Tác phẩm được đánh giá là một trong những bài hay của thơ ca Việt Nam hiện đại.Bốn câu thơ đầu tác giả miêu tả cảnh đoàn thuyền ra khơi đánh bắt cá:</p><p><em>“Mặt trời xuống biển như hòn lửa</em></p><p><br/></p><p><em>Sóng đã cài then đêm sập cửa</em></p><p><em>Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi</em></p><p><em>Câu hát căng buồm cùng gió khơi”</em></p><p>    Mở ra trước mắt người đọc đầu tiên là khung cảnh mặt trời xuống biển. Bằng việc sử dụng nghệ thuật so sánh “xuống biển như hòn lửa” gợi hình dung vầng mặt trời to tròn đỏ rực đang từ từ đi xuống, khép lại một ngày và mở ra một màn đêm. Tác giả đã sử dụng nghệ thuật nhân hóa “sóng cài then đêm sập cửa” khiến cho câu thơ trở nên sinh động : biển cả như một ngôi nhà có then có cửa đang từ từ đóng lại, bóng tối đã tràn ngập khắp muôn nơi, ngự trị trên vạn vật. Và đây cũng là thời điểm đoàn thuyền đánh cá bắt đầu ra khơi. Từ “ lại” cho thấy đây là công việc lặp đi lặp lại hàng ngày và đã trở thành nếp sống của người dân nơi đây. Họ hát vang câu hát của mình như thể hiện niềm tin vào một chuyến ra khơi đầy thuận lợi.Những khổ thơ tiếp theo nhà thơ sử dụng để miêu tả cảnh đoàn thuyền đánh bắt cá trên biển:</p><p><em>“Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng,</em></p><p><em>Cá thu biển Đông như đoàn thoi</em></p><p><em>Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng.</em></p><p><em>Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!”</em></p><p>    Câu hát của họ vang vọng khắp biển. Nghệ thuật liệt kê kết hợp với nghệ thuật so sánh đã làm hiện lên trước mắt người đọc một khung cảnh vô cùng sinh động với muôn vàn các loài cá đủ loại màu sắc đang tung tăng bơi lội trên biển. Đồng thời câu hát cũng thể hiện mong muốn niềm tin của người dân chài vào một vụ đánh bắt đầy bội thu.</p><p>    Hình ảnh đoàn thuyền đánh bắt cá trên biển vào buổi đêm được hiện lên thật cụ thể dưới ngòi bút tài năng của Huy Cận. Họ hiện lên thật điêu luyện với “ lái gió với buồm trăng”, “ lướt”,” dò bụng biển”… Những người dân chài lưới hiện lên giống thật to lớn vĩ đại, sánh ngang tầm với thiên nhiên vũ trụ và dường như còn trở thành những người chế ngự thiên nhiên vũ trụ rộng lớn. Dưới biển khơi, các loại cá cũng hiện lên thật đẹp huyền diệu biết bao: nào là cá nhụ cá chim cá đé, rồi có cả cá song lấp lánh với cái đuôi quẫy dưới nước được phản ánh bởi ánh trăng mới đẹp làm sao… Những người dân chài bắt đầu gõ thuyền dụ cá vào lưới, từng động tác điêu luyện nhịp nhàng làm sao. Dưới ánh trăng vàng, hình ảnh người dân chài cùng với tiếng gõ mõ khiến cho khung cảnh nơi đây mới sinh động tuyệt đẹp làm sao, nó như một bức tranh thủy mặc hữu tình. Vẻ đẹp lãng mạn của bài thơ có lẽ được toát lên từ chính những hình ảnh này.</p><p><em>“Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng,</em></p><p><em>Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng,</em></p><p><em>…</em></p><p><em>Mặt trời đội biển nhô màu mới</em></p><p><em>Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi”</em></p><p>    Khi ông mặt trời chuẩn bị thức giấc thì cùng là lúc chuyến đánh bắt cá sắp sửa hoàn thành. Hình ảnh “ kéo xoăn tay chùm cá nặng” vừa gợi liên tưởng đến những cánh tay mạnh mẽ khỏe khoắn vừa ngụ ý về một chuyến đánh bắt cá đầy thành công. Câu hát lại một lần nữa được vang lên. Nếu như ở đầu bài thơ đó là câu hát thể hiện niềm tin của người dân chài thì đến bây giờ đó là bài ca chiến thắng trở về. Hình ảnh “ đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời” thật đẹp cho thấy con người đã thực sự sánh ngang tầm với thiên nhiên vũ trụ và thực sự đã chiến thắng chế ngự được thiên nhiên biển khơi.Như vậy, bằng ngòi bút đầy tài hoa của mình, tác giả đã phác họa cho chúng ta một chuyến ra khơi đầy thắng lợi với những hình ảnh thật sinh động và đẹp đẽ.         Đồng thời qua đây cũng thế hiện niềm tin của nhà thơ vào một tương lai tươi sáng của đất nước trong thời kì dựng xây xã hội chủ nghĩa</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-12 16:09:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3213467754</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Mạc Kỳ Phương- yêu cầu 3 bài mới</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3213484362</link>
         <description><![CDATA[<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tố Hữu là một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ ca cách mạng Việt Nam trước và sau cách mạng tháng 8. Thơ ông tràn đầy lý tưởng sống cao đẹp đồng thời thể hiện tinh thần sáng tạo không mệt mỏi trên con đường nghệ thuật. “ Khi con tu hú kêu’’ là một trong những tác phẩm tiêu biểu thể hiện khát khao tự do và tình yêu thiên nhiên của nhà thơ. Hình ảnh tiếng chim tu hú gợi lên cảm giác mùa hè, tự do và phóng khoáng đồng thời là điểm nhấn xuyên suốt bài thơ, như một lời gọi trong lòng người tù khao khát thoát khỏi cảnh giam cầm.</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;&nbsp;Bài thơ Khi con tu hú được Tố Hữu sáng tác vào năm 1939, khi ông bị giam cầm trong nhà lao Thừa Phủ (Huế). Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là khát vọng tự do mãnh liệt của người tù cách mạng. Tiếng tu hú như một lời nhắc nhở về cuộc sống bên ngoài, về tự do, khơi dậy trong lòng người tù những nỗi nhớ da diết và khát khao được thoát khỏi cảnh ngục tù. Mạch cảm xúc của bài thơ diễn biến một cách tự nhiên, chân thật, từ vui tươi đến đau khổ, rồi lại bùng lên khát vọng mãnh liệt. Bài thơ ‘’Khi con tu hú kêu’’ ca ngợi vẻ đẹp của mùa hè với hình ảnh cánh đồng lúa chín vàng, trái cây ngọt ngào, tiếng tu hú vang vọng... đã vẽ lên một bức tranh mùa hè tươi đẹp, tràn đầy sức sống. Điều này thể hiện tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống của con người. Sức sống mãnh liệt của tự nhiên: Mùa hè là mùa của sự sinh sôi, nảy nở, tượng trưng cho sức sống mãnh liệt của tự nhiên. Qua đó, tác giả gợi lên khát vọng sống. Đồng thời thể hiện khát vọng tự do mãnh liệt của người tù,&nbsp; sự đối lập giữa không gian tươi đẹp bên ngoài và ngục giam tăm tối của người tù bên trong, ý chí đấu tranh không bao giờ khuất phục của người chiến sĩ cách mạng, dù trong hoàn cảnh nào vẫn hướng về phía trước.</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tuy không xuất hiện một cách trực tiếp nhưng ta có thể nhận định ra chủ thể trữ tình là người tù cách mạng, là khát vọng tự do mãnh liệt của người tù. Tiếng tu hú như một lời nhắc nhở về cuộc sống bên ngoài, về tự do, khơi dậy trong lòng người tù những nỗi nhớ da diết và khát khao được thoát khỏi cảnh tù đày. Bài thơ gồm 2 khổ. Khổ một là miêu tả mùa hè tươi đẹp bên ngoài. Khổ hai là thể hiện nỗi khát khao tự do của người tù. Cả hai khổ đểu truyền tải rõ ràng về chủ đề và cảm xúc tạo nên một bài thơ đặc sắc. Qua bài thơ, bài thơ đã &nbsp;xây dựng những hình ảnh đối lập giữa cảnh vật mùa hè bên ngoài và không gian ngục tù bên trong làm nổi bật khát vọng tự do của người tù. Kết hợp yếu tố ngôn ngữ giản dị, giàu hình ảnh, âm thanh và màu sắc, giúp người đọc dễ dàng hình dung và cảm nhận. Tỗ Hữu đã vẽ nên những bức tranh sống động, khiến người đọc được tận mắt chứng kiến cảnh vật mùa hè. Ông còn khéo léo dùng những từ ngữ đối lập để làm nổi bật nỗi khát khao tự do của người tù. Hơn nữa, ngoài ngôn ngữ và hình ảnh, nghệ thuật được tác giả đưa vào bài thơ, ông khéo lẻo sử dụng biện pháp tu từ một cách đặc sắc như liệt kê để kể ra thật nhiều hình ảnh đẹp của mùa hè để nhấn mạnh sự đối lập với cảnh tù, lặp lại từ như nhấn mạnh ý muốnphá tan, thể hiện sự bực bội tột cùng. Hình ảnh tiếng tu hú không chỉ là tiếng chim kêu, mà còn gợi nhớ về cuộc sống tự do bên ngoài. Ngoài ra từ hình ảnh mùa hè còn vẽ nên một bức tranh tươi đẹp so sánh với khung cảnh nhà tù, câu thơ "Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi!": thể hiện sự bực bội, khát khao tự do mãnh liệt. Với thể thơ tám chữ, cùng với cách gieo vần và ngắt nhịp linh hoạt đã tạo nên một bài thơ "Khi con tu hú" độc đáo, giàu cảm xúc và mang đậm dấu ấn cá nhân của nhà thơ Tố Hữu. Nhờ đó, bài thơ đã trở thành một trong những tác phẩm kinh điển của thơ ca Việt Nam hiện đại.</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;Có thể nói bài thơ "Khi con tu hú" của Tố Hữu đã vẽ nên một bức tranh đối lập đầy ấn tượng với bên ngoài là khung cảnh mùa hè tươi đẹp, rộn rã tiếng ve, lúa chín vàng, trái cây ngọt; còn bên trong là không gian ngục tù chật hẹp, ngột ngạt. Từ đó ta thấy được sức mạnh của tinh thần yêu nước, ý chí đấu tranh bất khuất của những người chiến sĩ cách mạng. Đồng thời, bài thơ cũng gợi cho chúng ta suy ngẫm về giá trị của tự do và cuộc sống.</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Qua hình ảnh mùa hè tươi đẹp bên ngoài và không gian tù ngục ngột ngạt bên trong, tác giả Tố Hữu đã thể hiện một cách chân thực và mãnh liệt khát vọng tự do của người tù cách mạng. Các biện pháp nghệ thuật như so sánh,liệt kê, lặp từ... cùng với ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu cảm xúc đã góp phần tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt của bài thơ. "Khi con tu hú" không chỉ là một tác phẩm văn học mà còn là tiếng nói của những con người yêu nước, khao khát tự do. Bài thơ không chỉ là một tác phẩm văn học mà còn là một bài học về cuộc sống. Dạy chúng ta trân trọng những gì mình đang có, đặc biệt là tự do. Đồng thời, bài thơ cũng khơi dậy trong mỗi người lòng yêu nước, ý chí đấu tranh vì một cuộc sống tốt đẹp hơn.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-12 16:18:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3213484362</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Thao-yêu cầu 3</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3213487162</link>
         <description><![CDATA[<p>Là một trong những nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Nguyễn Duy được biết đến với nhiều bài thơ hay, nhẹ nhàng, giàu cảm xúc chẳng hạn như Hơi ấm ổ rơm, Tre Việt Nam,… Một trong những bài thơ được nhiều người chú ý đó chính là bài thơ Ánh trăng. Bài thơ đã thể hiện được sự tài hoa của ông và thể hiện rõ chất suy tư trong thơ của Nguyễn Duy.</p><p>Bài thơ “Ánh trăng” được viết năm 1978 tại thành phố Hồ Chí Minh, 3 năm sau giải phóng đất nước. Không còn chiến tranh, những người lính còn sống sót lúc này trở về làm quen với cuộc sống mới tại chốn phồn hoa đô thị.Bài thơ được in trong tập thơ cùng tên, từng được trao tặng giải A của Hội nhà văn Việt Nam năm 1984.Ánh trăng từ lâu đã trở thành đề tài để các tác giả khai thác, khơi gợi những cảm xúc bất tận của các nhà văn, nhà thơ. Ánh trăng qua mỗi dòng văn, dòng thơ của các tác giả khác nhau sẽ hiện lên với những hình ảnh riêng biệt. Nếu như ánh trăng trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu là "đầu súng trăng treo" đầy thơ mộng, thì ánh trăng của Nguyễn Duy lại đem đến hình ảnh ánh trăng như một người bạn tri kỉ trong những năm tháng gian lao chống giặc.Tác phẩm “Ánh trăng” được nhà thơ Nguyễn Duy sáng tác vào năm 1978 khi đất nước đã giải phóng được khoảng ba năm. Bước ra khỏi cuộc sống chiến đấu gian khổ đề sống những ngày tháng hòa bình, độc lập, con người đã dần lãng quên đi những quá khứ gian lao mà tình nghĩa của một thời. Bởi vậy, để nhắc nhở chính mình cũng như mọi người, Nguyễn Duy đã sáng tác nên bài thơ này, trong đó hình ảnh ánh trăng chính là sự ẩn dụ cho một người chứng kiến những</p><p> khó khăn, gian khổ ấy.</p><p>Mở đầu bài thơ, tác giả đã  miêu tả sự gắn bó giữa bản thân và vầng trăng:</p><p><br></p><p>''Hồi nhỏ sống với đồng</p><p><br></p><p>với sông rồi với bể</p><p><br></p><p>Hồi chiến tranh ở rừng</p><p><br></p><p>vầng trăng thành tri kỉ''</p><p><br></p><p>Trăng ở bốn câu thơ đầu được nhắc đến những cùng với hình ảnh đồng, sông,  gợi lên không gian bao la nhưng đầy thân quen của những năm thời ấu thơ, kết hợp với giọng kể nhẹ nhàng, tâm tình ''hồi nhỏ'', ''hồi chiến tranh'' đã đưa người đọc trở về quá khứ, một quá khứ đầy ắp kỷ niệm của tác giả. Điệp từ ''với'' như sự gắn kết ý thơ nhưng cũng là gắn kết con người với thiên nhiên, với vũ trụ, với vầng trăng tri kỷ. Đến khi ra chiến trường, trăng thành người bạn tri kỉ, gắn bó. Ánh trăng khi ấy là ánh sáng trong đêm tối chiến tranh, là niềm vui bầu bạn với người lính trong những ngày tháng khắc nghệtcủa cuộc kháng chiến.</p><p><br></p><p>''Trần trụi với thiên nhiên</p><p><br></p><p>hồn nhiên như cây cỏ</p><p><br></p><p>ngỡ không bao giờ quên</p><p><br></p><p>cái vầng trăng tình nghĩa.''</p><p><br></p><p>Với phép liên tưởng đầy nghệ thuật ''trần trụi với thiên nhiên'' kết hợp với lối so sánh  ''hồn nhiên như cây cỏ'' đã cho người đọc sự ấn tượng về ánh trăng chân thành, không một  chút giả tạo và đầy tình nghĩa trong .Ánh trăng ở trên trời, luôn hướng ánh sáng xuống thế gian làm bạn với các đồng chí, cũng chính vì vậy mà nhà thơ đã đinh ninh rằng bản thân sẽ không bao giờ quên được ánh trăng tình nghĩa ấy. Thế nhưng từ ''ngỡ'' lại như dự báo trước cho sự chuyển biến trong suy nghĩ, tâm trạng và thái độ của nhà thơ.</p><p>Chiến tranh qua đi, đất nước nay đã phát triển, đời sống ngày càng được cải thiện. Và như một lẽ thường tình, hoàn cảnh sống thay đổi, lòng người cũng dễ dàng đổi thay:</p><p><br></p><p>''Từ hồi về thành phố</p><p><br></p><p>quen ánh điện cửa gương</p><p><br></p><p>vầng trăng đi qua ngõ</p><p><br></p><p>như người dưng qua đường''</p><p><br></p><p>Nếu như trước đây ở trong rừng tối, những người chiến sĩ chỉ có ánh trăng làm bạn, ánh trăng soi rọi cho chiến sĩ sinh hoạt, thì bây giờ khi đã về thành phố, ánh trăng được thay thế bằng ánh đèn điện. Ánh đèn điện đã làm lu mờ đi những tia sáng dịu nhẹ, chân thành phát ra từ vầng trăng . Ánh trăng vẫn vậy, vẫn tỏa sáng và ngày ngày hiện hữu trong đời sống con người, chỉ duy nhất có lòng người đã đổi thay. Cái bạc bẽo, vô tình đến với người ta một cách từ từ, kín đáo, khó nhận ra: Từ'' vầng trăng tri kỉ'', ''vầng trăng tình nghĩa ''bỗng chốc trở thành ''người dưng qua đường'' lúc nào không hay. Chỉ với hình ảnh so sánh "vầng trăng'' với ''người dưng qua đường'' cũng đủ để thấy được thái độ thờ ơ, vô tâm của con người với người bạn đã từng gắn bó với họ suốt nửa cuộc đời, khi mà chỉ với vài ánh đèn điện ở nơi thành thị xa hoa đã làm cho con người quên đi vầng trăng tình nghĩa sát cánh bên mình những năm tháng khó khăn gian khổ. Có lẽ vầng trăng sẽ mãi đi vào lãng quên nếu không có sự kiện thành phố bị mất điện</p><p><br></p><p>''Thình lình đèn điện tắt</p><p><br></p><p>phòng buyn-đinh tối om</p><p><br></p><p>vội bật tung cửa sổ</p><p><br></p><p>đột ngột vầng trăng tròn''</p><p><br></p><p>Khoảnh khắc ấy như mở ra nút thắt  trong lòng tác giả. Các từ "thình lình", "vội", "đột ngột" như diễn tả tâm trạng gấp gáp của tác giả. Chỉ khi không còn đèn điện, người ta mới “vội” bật tung cửa sổ để rồi “đột ngột” phát hiện ra vầng trăng tròn tỏa sáng lung linh vẫng đang hiện hữu. Chỉ khi không còn thứ ánh sáng nhân tạo kia, người ta mới nhận ra người bạn lâu năm vẫn đứng ở đó, vẹn nguyên, thủy chung và tròn đầy. Cuộc hội ngộ ấy đã thức tỉnh lương tâm con người, để từ đó tác giả thấy day dứt, suy tư, bao kỉ niệm xưa bỗng chốc ùa về:</p><p>niệm xưa bỗng chốc ùa về:</p><p><br></p><p>"Ngửa mặt lên nhìn mặt</p><p><br></p><p>có cái gì rưng rưng</p><p><br></p><p>như là đồng, là bể</p><p><br></p><p>như là sông là rừng</p><p><br></p><p>''Nhà thơ lặng lẽ đối diện với vầng trăng trong tư thế im lặng, có phần thành kính: ''ngửa mặt lên nhìn mặt''.sự đối diện ấy là đối diện với quá khứ, với sự ăn năn, day dứt với người bạn tri kỉ của mình năm xưa. Nhìn trăng, nhân vật trữ tình cũng như nhìn thấy chính mình trong quá khứ để rồi nhận ra giá trị cũng như vẻ đẹp vầng trăng - người bạn năm nào của mình:</p><p><br></p><p>Trăng cứ tròn vành vạnh</p><p><br></p><p>kể chi người vô tình</p><p><br></p><p>ánh trăng im phăng phắc</p><p><br></p><p>đủ cho ta giật mình''</p><p><br></p><p>tác giả sử dụng biện pháp nhân hóa để diễn tả vầng trăng như đang giận hờn, trách móc: "kể chi người vô tình". Nhưng liệu có phải vầng trăng đang giận hờn hay không, hay đó chính là sự trách móc của chính tác giả đối với bản thân mình? Đằng sau cánh cửa, vầng trăng xuất hiện ''tròn vành vạnh'' không chút thay đổi. Trăng lặng lẽ nhưng rất nhân hậu, bao dung, không oán hờn, không trách móc người bạn đã từng quay lưng với mình. Thế nhưng, cũng chính sự im lặng ấy lại khiến cho bản thân con người phải giật mình thức tỉnh. ''Giật mình'' để không chìm vào lãng quên, để không đánh mất quá khứ, đánh mất người bạn tốt của mình.</p><p><br></p><p>Với giọng điệu tâm tình tự nhiên, hình ảnh giàu tính biểu cảm, "Ánh trăng" của Nguyễn Duy như một lời tự nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước bình dị, hiền hậu. Điều đặc biệt, cả bài thơ ''Ánh trăng'' chỉ có duy nhất một dấu chấm khiến ta liên tưởng dòng hồi tưởng của Nguyễn Duy như một dòng chảy xiết, nó cứ triền miên mãi không nguôi mà lại đầy sâu lắng. Qua đó, Nguyễn Duy cũng muốn gửi gắm tới mọi người lời nhắc nhở về thái độ sống "ân tình, thuỷ chung'', ''uống nước nhớ nguồn'' của không chỉ riêng những người lính thời kỳ kháng chiến chống Mĩ cứu nước mà còn của tất cả mọi người, mọi thời - trong đó có chúng ta.</p><p><br></p><p><br></p><p><br></p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-12 16:20:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3213487162</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Quốc Bảo-yêu cầu 3</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3213517074</link>
         <description><![CDATA[<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” là 1 trong những tác phẩm thơ tiêu biểu ca ngợi về tinh thần lao động, phấn khởi và hăng say của những người dân chài trên vùng biển quê hương, &nbsp;và đồng thời cũng là 1 trong nhưng bài thơ làm nên tên tuổi cho nhà thơ Huy Cận. Huy Cận (1919-2005) quê ở làng Ân Phú, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Huy Cận là nhà thơ lớn, một đại biểu xuất sắc của phong trào Thơ Mới với hồn thơ ảo não, thơ của Huy Cận giàu hàm súc, giàu chất suy tưởng triết lí. Những tác phẩm chính của ông bao gồm: Lửa thiêng, Kinh cầu tự, Trời mỗi ngày lại sáng, Đất nở hoa,...&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Chuyến đi thực tế của Huy Cận vào vùng mỏ Quảng Ninh vào năm 1958 đã ghi dấu ấn mạnh mẽ trong cuộc đời và sự sáng tạo thơ của ông. Qua chuyến đi này, đã tạo ra nguồn động lực mạnh mẽ, làm thay đổi phần nào về phong cách viết thơ của và qua đó đã giúp cho ông thể hiện được tình với yêu thiên nhiên đất nước, vẻ đẹp của sự lao động. Bài thơ là tác phẩm tiêu biểu, đồng thời cũng là thứ để tác giả thể hiện tình yêu thiên nhiên, đất nước của tác giả. Bài thơ có bảy khổ thơ, được triển khai theo hành trình một chuyến ra khơi. Đó là cảnh đoàn thuyền ra khơi, tiếp nối là cảnh đánh cá trên biển và cảnh đoàn thuyền trở về. Cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi khi hoàng hôn xuống được tác giả miêu tả sinh động trong hai khổ thơ đầu:</p><p><em>“Mặt trời xuống biển như hòn lửa</em></p><p><em>Sóng đã cài then, đêm sập cửa</em></p><p><em>Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi</em></p><p><em>Câu hát căng buồm cùng gió khơi”</em></p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Mở đầu bài thơ là hình ảnh thiên nhiên đầy quen thuộc của con người đó là hình ảnh “Mặt trời” lặn vào chiều muộn. Dưới sự liên tưởng phong phú của tác giả, hình ảnh đó được nhân hoá như con người đang xuống biển, so sánh với với “hòn lửa” đầy rực rỡ. Hình ảnh sóng, mặt trời, đêm được tác giả nhân hoá với hành động “cài then”, “sập cửa” đại diện sự chuyển giao giữa ngày và đêm. Với 2 câu 3 và 4 trong khổ 1, ta thấy được không khí ra khơi của tập thể hết sức nhộn nhịp, náo nức, đầy khí thế được gợi ra qua những câu hát.</p><p><em>“Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng,</em></p><p><em>Cá thu biển Đông như đoàn thoi</em></p><p><em>Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng,</em></p><p><em>Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!”</em></p><p>Nhà thơ đã sử dụng phép liệt kê và nghệ thuật so sánh tinh tế để ngợi ca sự giàu có của biển cả quê hương đêm ngày, từng đoàn cá đã tạo nên 1 bức tranh biển cả đầy màu sắc rực rỡ. Lời thơ đã thể hiện mong muốn công việc đánh cá thuận lợi 1 cách tốt đẹp và bội thu. Tiếng ca trên biển thể hiện khao khát chinh phục biển rộng của những người ngư dân nơi đây.Tiếp theo cảnh ra khơi, bốn khổ thơ sau, tác giả miêu tả cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển bao la, hùng vĩ. Mỗi khổ thơ là một nét vẽ về biển, trời, trăng, sao đầy độc đáo:</p><p><em>“Thuyền ta lái gió với buồm trăng</em></p><p><em>Lướt giữa mây cao với biển bằng</em></p><p><em>Ra đậu dặm xa dò bụng biển</em></p><p><em>Dàn đan thế trận lưới vây giăng”</em></p><p>Bằng phong cách thơ của mình, tác giả đã vẽ ra trước mặt người đọc một hình ảnh đầy kỳ vĩ, ở trên biển cả mênh mông, đáng ra chiếc thuyền sẽ đầy nhỏ bé, nhưng ở đây chiếc thuyền dường như hóa lớn sao cho phù hợp với không gian rộng lớn của thiên nhiên. Gió là người cầm lái, trăng là cánh buồm như đưa đoàn thuyền chạm tới mây trời. Những người ngư dân cũng như trở thành những người chiến binh của biển khơi. Họ đi ra xa bờ biển, dò trong lòng biển luồng cá để khai thác, và rồi dàn đan thế trận thả lưới vây giăng. Các động từ mạnh được nhà thơ sử dụng đã gợi tả vẻ đẹp lao động, khỏe khoắn, của người ngư dân. Công việc lao động nhọc nhằn của người đánh cá đã trở thành bài ca đầy hứng khởi giữa thiên nhiên, như những người lính chiến đấu đầy anh dũng.</p><p><em>“Cá nhụ cá chim cùng cá đé,</em></p><p><em>Cá song lấp lánh đuốc đen hồng</em></p><p><em>Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe,</em></p><p><em>Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long”</em></p><p>Nghệ thuật liệt kê “cá chim, cá nhụ, cá đé, cá song” đã ngợi ca sự giàu có, thật nhiều tài nguyên của biển khơi đất nước. Biển cả không chỉ giàu mà còn rất đẹp, với ngọn “đuốc đen hồng” cá song đang lao đi trong biển cả dưới ánh trăng lấp lánh. Tác giả đã rất tinh ý khi thấy chấm tròn đen, hồng trên thân cá song, nhìn như những ngọn đuốc rực rỡ. Tô đậm thêm vẻ đẹp nơi biển cả, chính là ánh trăng vàng óng ánh, ánh trăng như dát vàng trên mặt nước để cá quẫy đuôi như quẫy ánh trăng tan ra. Trí tưởng tượng của Huy Cận đã tạo nên hình ảnh nhân hóa, “đêm thở”, “sao lùa”. Sao trên trời in hình xuống dòng nước, những con sóng đánh lên, mà nhìn như sao đang di chuyển dưới biển như một sinh vật đang di chuyển, tiếng rì rào của sóng biển chính là tiếng thở của đêm.Sau khi thả lưới và đợi chờ, người ngư dân bắt đầu gõ thuyền, dồn cá vào lưới trong tiếng hát ngân vang:</p><p><em>“Ta hát bài ca gọi cá vào</em></p><p><em>Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao”</em></p><p>Đó là tiếng hát đầy thu hút, vang xa với tinh thần lạc quan, niềm vui phấn khởi đã tạo động lực cho người dân chài gọi cá đến mắc lưới. Thiên nhiên dường như cũng bị thu hút bởi tiếng hát mà sa mình vào những cái lưới dưới hình dạng là những chú cá đầy màu sắc. Trong đêm trăng sáng, vầng trăng in mình trên mặt nước, sóng xô bóng trăng vào mạn thuyền khiến nhà thơ tưởng tượng mặt trăng đang giữ nhịp cho tiếng gõ thuyền đều đặn như những tiếng trống, hòa nhịp cùng khúc ca lao động.</p><p><em>“Biển cho ta cá như lòng mẹ</em></p><p><em>Nuôi lớn đời ta tự buổi nào”</em></p><p>Biển được nhân hóa như lòng mẹ bao dung, yêu thương thủy đầy bao la. Biển cho con người cá, đem đến cuộc sống ấm no cho con người, lời hát đã thể hiện lòng biết ơn chân thành, sâu sắc của người ngư dân với biển cả quê hương.. Khi những ngôi sao dần biến mất, màn đêm dần dần nhường chỗ cho ánh sáng, một ngày mới bắt đầu thì cũng là lúc người ngư dân bắt đầu kéo lưới, thu hoạch thành quả:</p><p><em>“Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng,</em></p><p><em>Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng,</em></p><p><em>Vảy bạc đuôi vàng lóe rạng đông</em></p><p><em>Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng.”</em></p><p>Chi tiết “ta kéo xoăn tay” đã khắc họa vẻ đẹp của con người lao động vùng biển. Con người như đang chạy đua với thời gian được thể hiện qua những động tác kéo lưới rất căng, rất khỏe, kéo thật mạnh, thật đều tay để thu hoạch được những thành quả tốt nhất. Thành quả ấy chính là “chùm cá nặng”, một hình ảnh tượng trưng cho mùa cá bội thu, một thành quả vô cùng xứng đáng với công sức của những người ngư dân. Cùng lúc ấy, từ phía chân trời bắt đầu bừng sáng, những con cá quẫy dưới ánh sáng rạng đông và lóe lên màu hồng gợi khung cảnh thật rực rỡ, huy hoàng. Phải chăng biển bạc, biển vàng đang ban tặng cho tinh thần lao động miệt mài, hăng say, không biết mệt mỏi của người dân làng chài?Bài thơ kết thúc bằng cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về bến, sau một ngày lao động. trên biển tràn ngập âm thanh tiếng hát của những người ngư dân:</p><p><em>“Câu hát căng buồm với gió khơi</em></p><p><em>Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời</em></p><p><em>Mặt trời đội biển nhô màu mới</em></p><p><em>Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi”.</em></p><p>Câu hát vang lên như một điệp khúc suốt từ đầu tới cuối bài thơ, suốt hành trình của người ngư dân. Đây cũng chính là nét thay đổi trong phong cách sáng tác Huy Cận từ trước Cách mạng tháng Tám đến thời kỳ miền Bắc đã giành hòa bình, đang xây dựng xã hội chủ nghĩa. Khi con người về bến, mặt trời cũng bắt đầu một ngày mới. Bằng bút pháp hiện lãng mạn, bay bổng, liên tưởng phong phú, sáng tạo của mình, nhà thơ đã ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên hài hòa với vẻ đẹp con người lao động, tạo nên khúc tráng ca hùng tráng, mĩ lệ. Qua đó, Huy Cận đã thể hiện tấm lòng ca ngợi, niềm tự hào về con người mới, cuộc sống mới trong thời kì miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-12 16:37:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3213517074</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Tùng Lâm - yêu cầu 3</title>
         <author>damtunglam4</author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3213560559</link>
         <description><![CDATA[<p>Bài thơ “Quê Hương” của Đỗ Trung Quân là một tác phẩm xúc động về tình yêu và sự gắn bó với quê hương. Qua hình ảnh quen thuộc như “chùm khế ngọt,” “con đường đi học,” “cánh diều,” “con đò nhỏ,” “cầu tre,” và “nón lá,” tác giả đã khắc họa một vùng quê bình dị và thân thương, nơi lưu giữ những ký ức tuổi thơ và kỷ niệm đẹp đẽ.</p><p><br/></p><p>"Quê hương là gì hở mẹ</p><p>&nbsp;&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; ….<br>Bay trong giấc ngủ đêm hè”</p><p><br/></p><p>Mở đầu bài thơ với câu hỏi “Quê hương là gì hở mẹ,” Đỗ Trung Quân khéo léo dẫn dắt người đọc khám phá ý nghĩa của quê hương từ góc nhìn hồn nhiên của một đứa trẻ. Câu hỏi được lặp lại nhiều lần như nhấn mạnh tình cảm sâu sắc và nỗi nhớ quê hương. Mỗi hình ảnh gợi lên những ký ức đẹp, nhắc nhở về sự bình yên, yêu thương mà quê hương dành cho mỗi người.</p><p><br/></p><p>“Quê hương là con diều biếc<br>Tuổi thơ con thả trên đồng<br>Quê hương là con đò nhỏ<br>Êm đềm khua nước ven sông</p><p><br/></p><p>Quê hương là cầu tre nhỏ<br>Mẹ về nón lá nghiêng che<br>Là hương hoa đồng cỏ nội<br>Bay trong giấc ngủ đêm hè”</p><p><br/></p><p>Cụm từ “quê hương là” xuất hiện nhiều lần nhằm khẳng định rằng quê hương mang nhiều ý nghĩa và giá trị tinh thần không thể thay thế. Đây không chỉ là nơi ta sinh ra, mà còn là nơi chứa đựng tình thương của gia đình, bạn bè, những kỷ niệm tuổi thơ không thể phai mờ. Bài thơ nhấn mạnh rằng, dù ta đi xa đến đâu, quê hương luôn là nơi để trở về, chốn yên bình giúp ta tìm lại chính mình.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-12 16:59:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3213560559</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Đỗ Hà Diệu Châu - yêu cầu 3</title>
         <author>thudoanxem09</author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3213580339</link>
         <description><![CDATA[<p>                             Bài làm</p><p>Tố Hữu khẳng định :”Thơ chỉ tràn ra khi trong tim ta cuộc sống đã thật đầy.” Thơ ca bén rễ từ hiện thực và là mảnh đất màu mỡ để các nhà thơ đặt bút sáng tác. Nói đến thơ ca là nói đến xúc cảm, những trạng thái tinh thần mãnh liệt của con người. Đứng trước vầng trăng sáng Nguyễn Duy đã để sợi dây cảm xúc của mình bung nở trong bài thơ “Ánh trăng”. Nguyễn Duy là một trong những nhà thơ nổi tiếng trong nền thơ ca Việt Nam. Ông được coi là “Thi sĩ thảo dân”, thơ của Nguyễn Duy thường bám chặt vào gốc rễ của cuộc sống đời thường, tinh tế, tài hoa khi miêu tả những vấn đề của xã hội. Bài thơ “Ánh trăng” là tác phẩm tiêu biểu trong thơ ca hiện đại nói chung và mảng thơ ca viết về ánh trăng nói riêng ở cả khía cạnh giá trị nội dung và hình thức nghệ thuật.</p><p>Bài thơ “Ánh trăng” in trong tập thơ cùng tên, được Nguyễn Duy sáng tác vào năm 1978, tại thành phố Hồ Chí Minh. Cảm hứng nghệ thuật của bài thơ Ánh trăng được kể lại theo trình tự thời gian từ quá khứ đến hiện tại với các mốc sự kiện trong cuộc đời con người. Dòng cảm xúc được bộc lộ theo mạch tự sự trên. Tác giả nhớ về những kỉ niệm thuở xưa khi còn ở làng quê, núi rừng trăng là người bạn tri kỷ. Cho đến khi trở hòa bình trở về thành phố, trăng trở thành người dưng, để rồi cuối cùng dẫn đến cái “giật mình” cuối bài thơ.</p><p>Bài thơ là tình yêu quê hương đất nước, những dòng cảm xúc dạt dào, hoài niệm tha thiết trước vầng trăng tri kỉ, vằng trăng nghĩa tình, sự giao thoa giữa hiện tại và quá khứ, thành thị và thiên nhiên,…là những suy tư trăn trở về thái độ sống “uống nước nhớ nguồn”, ân nghĩa thủy chung cùng quá khứ được thể hiện qua ánh trăng. Qua bức tranh khung cảnh thiên nhiên về ánh trăng, ta nhận ra tình cảm, sự trân trọng quá khứ của người lính bước ra từ chiến tranh để từ đó khiến người đọc cảm nhận được và yêu mến thêm cuội nguồn của dân tộc, sự hòa bình được đánh đổi bằng máu và nước mắt của cha ông ta, qua đó giáo dục con người không được quên quá khứ, biết trân trọng thiên nhiên cuộc sống.</p><p>Chủ thể trữ tình trong bài thơ “Ánh trăng” là chủ thể ẩn, xuất hiện gián tiếp. Chúng ta không thấy có bất cứ một đại từ xưng hô nào trong bài thơ, tuy nhiên, người đọc vẫn nhận ra, đằng sau vầng trăng ấy là một con người đang trằn trọc suy nghĩ về quá khứ, bỏ quên những kỉ niệm đẹp với ánh trăng để đến khi nhìn lại ta mới thấy mình thật vô tình, coi ánh trăng người bạn gắn bó lâu dài của mình trở thành người dưng.</p><p>Qua bài thơ, tác giả miêu tả ánh trăng chân thực qua những hình ảnh không gian thiên nhiên bao la, bát ngát “đồng, sông, bể, rừng” mở đầu trong vầng trăng quá khứ đến những tào nhà cao tầng, “ánh điện cửa gương” ở vầng trăng hiện tại.</p><p>Không khí hồn nhiên, vui tươi khi sống hòa mình với thiên nhiên, khi có tri kỉ là vầng trăng tình nghĩa được thể hiện sâu sắc qua các nghệ thuật nhân hóa vầng trăng như là một người bạn tri kỉ, cùng chiến đấu trong lúc chiến tranh ở rừng,…hay so sánh tâm trạng, cảm xúc của mình hồn nhiên như cây cỏ…Có thể nói, sự độc đáo của ánh trăng không chỉ ở hình ảnh chân thật, nghệ thuật ngôn từ giàu hình ảnh mà còn nằm ở việc tác giả đã rất thành công trong việc nhân hóa, so sánh để các sự vật trở nên sinh động, tự nhiên hơn.</p><p>Trong bài thơ “Ánh trăng”, với thể thơ 5 chữ được vận dụng sáng tạo. Toàn bộ bài thơ gần như không có dấu chấm câu, không viết hoa đầu dòng gợi mạch cảm xúc tự nhiên, thoải mái. Hình ảnh thơ trong sáng, giọng thơ tâm tình sâu lắng.</p><p>Mai-a Cốp-skin có viết: “Trên đời có những vấn đề chỉ có thể giải quyết bằng thơ.” Bởi thơ ca vừa là kết tinh của tâm hồn người sáng tác, vừa là sợi dây truyền cho người đọc sự sống mà người nghệ sĩ mang trong lòng. Bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy đã truyền cho người đọc lời tự nhắc nhở về những tháng gian lao vất vả trong thời kì chiến tranh và sự hòa bình được đánh đổi bởi rất nhiều máu và nước mắt của ông cha ta, đồng thời khẳng định thái độ trân trọng quá khứ, sống biết uống nước nhớ nguồn,…Phải chăng dù thời gian qua đi nhưng những giá trị từ nội dung và nghệ thuật đem lại bài thơ “Ánh trăng” vẫn còn bền vững và nối dài, vượt qua sự băng hoại của thời gian để tồn tại trong nền văn học thơ ca Việt Nam.</p><p>&nbsp;</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-12 17:11:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3213580339</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Phạm Liên Hoa yêu cầu 3</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3213589352</link>
         <description><![CDATA[<p>           Trong bài thơ Con chim chiếc lá, Tố Hữu có viết: “Nếu là con chim, con chim phải hót/ Nếu là chiếc lá chiếc lá phải xanh/ Lẽ nào vay mà không trả/Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”. Và lẽ sống cao đẹp ấy cũng được nhà thơ Thanh Hải thể hiện thật cảm động trong bài thơ Mùa xuân nho nhỏ. Lí do em chọn bài thơ này bởi lẽ nó hấp dẫn người đọc từ cái hoàn cảnh mà tác giả sáng tác bài thơ hết sức đặc biệt . Không những vậy con khiến bạn đọc thu hút ngay từ lần đầu tiên với khung cảnh thiên nhiên xứ Huế đầy thơ mộng sau dần thể hiện được khát vọng sống của nhà thơ chính điều đấy đã làm nên ấn tượng khó phải khiên em ấn tượng và quyết định chọn bài thơ làm tác phẩm em sẽ phân tích. </p><p>            Trước hết , Thanh Hải là một nhà thơ của xứ Huế mộng mơ, có công xây dựng nền cách mạng miền Nam ngay từ những ngày đầu “Mùa xuân nho nhỏ” sáng tác năm 1980 khi ông đang nằm trên giường bệnh và không lâu sau ông qua đời. Bài thơ là tiếng lòng là ước nguyện cống hiến chân thành, tha tiết của ông. Đồng thời tác phẩm thể hiện niềm tha thiết mến yêu cuộc đời yêu quê hương đất nước của một trái tim dạt dào cảm xúc trữ tình. </p><p>          Bài thơ đã xuất sắc miêu tả bức tranh thiên nhiên mùa xuân của xứ Huế và của đất nước khi vào xuân qua đó ta thấy được cả khát vọng , lí tưởng sống cao đẹp của tác giả dù chỉ góp một chút ít công sức nhỏ bé vào Tổ Quốc cũng khiến tác giả mãn nguyện .Từ đó , bài thơ đã giúp người đọc xích lại gần hơn với với thiên nhiên cảm nhận sâu sắc về mùa xuân của đất nước khiên lòng người lại bồi hồi , xao xuyến trước cảnh thiên nhiên ấy . Và rồi lại nhớ về người luôn hi sinh thầm lặng dù đã phải rời xa cõi trần thế nhưng vẫn không quên cống hiến sức mình vào với lí tưởng chung của đất nước . Cũng chính sự kết thúc  bằng đều hò xứ Huế ấy lại khiến lòng người day dứt không nguôi về những tâm nguyện cao cả của nhà thơ.</p><p>          Với bài thơ " Mùa xuân nho nhỏ  " , chủ thể chữ tình là chủ thể ẩn , tức là không xuất hiện trực tiếp . Chúng ta không thấy bất cứ một đại từ xưng hô nào trong bài thơ , tuy thế , người ta vẫn ra đằng sau cảnh sắc bức tranh mùa xuân ấy là bóng dáng của một thi nhân đang tận hưởng cống hiến những sức lực bé nhỏ cuối cùng của mình cho đời. Dù phải chịu cơn đau bệnh tật vẫn không thể nào che lấp đi sự say sưa ngây ngất của tác giả với mùa xuân . Thanh Hải đã mang mùa xuân nho nhỏ của mình để góp vào mùa xuân chung của đất nước.</p><p>         Bài thơ " Mùa xuân nho nhỏ " gồm 6 khổ mỗi khổ gồm 5 chữ . Khổ 1 là cảm xúc trước mùa xuân thiên nhiên, đất trời. Khổ 2 + 3: Cảm xúc về mùa xuân của đất nước. Khổ 4 + 5: Suy nghĩ và ước nguyện của tác giả trước mùa xuân đất nước. Khổ cuối: Lời ngợi ca quê hương, đất nước qua điệu dân ca xứ Huế.Cả 6 khổ trên đã miêu tả được vẻ đẹp của mùa xuân thiên nhiên xứ Huế và mùa xuân của đất nước qua đó thấy được tâm nguyện muốn hoá thân vào đất trời của nhà thơ.</p><p>            Qua bài thơ bức tranh mùa xuân đã được miêu tả một cách sinh động và đặc sắc với hệ thống hình ảnh , màu sắc đặc trưng của thiên nhiên xứ Huế và cảnh lao động nhiệm vụ chiến đấu của các người lính . Bức tranh xứ Huế được miêu tả với sự tươi tắn , thanh mát với những gam màu sắc hài hoà . Bằng bút pháp chấm phá chỉ gợi chứ không tả nhà thơ đã vẽ lên bức tranh thiên nhiên chỉ bằng " dòng sông xanh " mang lại cảm giác hiền hoà trong trẻo , thanh khiết của mùa xuân cùng với " một bông hoa tím biếc " khác với vẻ buồn mông mơ thường thấy , thì màu " tím biếc " trong bài lại thể hiện rõ nét sự thay đổi của đất trời từ xanh sang tím nhấn mạnh sự rực rỡ , thanh nhã khi mùa xuân đến .Bên cạch đó , nhà thơ còn nói về mùa xuân của đất nước. Có thể thấy rõ rằng mùa xuân của đất nước được tạo nên từ hai nhiệm vụ cơ bản là nhiệm vụ bảo vệ Tổ Quốc của " mùa xuân người cầm súng " và nhiệm vụ xây dựng đất nước là " mùa xuân người ra đồng " . Hình ảnh ẩn dụ " lộc " và phép điệp từ này , khiến người đọc liên tưởng đến khí thế chiến đấu và lao động khẩn trương.</p><p>           Ngoài nét đặc sắc trong nghệ thuật sử dụng ngôn từ , hình ảnh , bài thơ còn gây ấn tượng cho người đọc bởi cách vận dụng các biện pháp tu từ linh hoạt và độc đáo . Sử dụng nghệ thuật đảo ngữ ” Mọc “. Từ “mọc” được đưa lên đầu đã tô đậm sức sống mạnh mẽ của bông hoa tím trên dòng sông, gợi sức sống mãnh liệt, tràn trề của mùa xuân. Bên cạch đó tác giả còn sử dụng biện pháp ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: “Từng giọt long lanh rơi / Tôi đưa tay tôi hứng”: “giọt long lanh rơi” có thể hiểu là giọt sương, giọt mưa xuân, nhưng đặt trong mối quan hệ với câu trước, ta có thể hiểu đây là giọt âm thanh của tiếng chim chiền chiện . Dường như , không chỉ có vậy mà còn rất nhiều biện pháp nghệ thuật khác được tác giả sử dụng nhưng quan trọng hơn cả phép điệp cấu trúc: “Ta làm”, “Ta nhập” để  thể hiện khát vọng mãnh liệt, cháy bỏng, mong muốn được cống hiến của tác giả muốn được hoá thân hoà vào thiên nhiên đất trời để dâng hiến những gì đẹp đẽ nhất cho cuộc đời cho lí tưởng chung của đất nước . Ngoài ra còn sử dụng một số biện pháp khác ẩn dụ từ "lộc" , đảo ngữ từ "lặng lẽ " . Chính những biện pháp nghệ thuật ấy đã làm nên thành công trong tác phẩm "Mùa xuân nho nhỏ ". </p><p>           Có thể nói đề tài lí tưởng sống và khát vọng mong muốn cống hiến luôn là triết lí sống lâu đời không gì có thể bào mòn triết lí ấy . Nhờ tài sáng tác của mình mà nhiều người nghệ sĩ đã mượn cảnh sắc thiên nhiên để gửi gắm triết lí sống vào trong tác phẩm của mình . Bài thơ mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải cũng vậy đã đem đến cho người đọc sự đặc trưng của của xứ Huế và thấy được mùa xuân của đất nước thời kì  xây dựng sau khi miền Nam được giải phóng  , qua đó thấy được tâm nguyện của nhà thơ muốn đóng góp mùa xuân " nho nhỏ " của mình vào trong mùa xuân chung của Tổ Quốc. </p><p>             Mùa xuân nho nhỏ là một bài thơ rất hay, bởi âm điệu trầm bổng, ngân nga, câu từ giản dị nhưng sâu sắc. Bộc lộ được tấm lòng yêu mến mùa xuân của thiên nhiên, mùa xuân của đất nước, và những khát khao cháy bỏng, mãnh liệt được dâng hiến hết cái phần đẹp đẽ, một mùa xuân nho nhỏ mang tên Thanh Hải cho cuộc đời này bằng những xúc cảm chân thành, tha thiết, khiêm nhường, giản dị của một con người sắp đi xa. Và có lẽ rằng tác phẩm Mùa xuân nho nhỏ chính là cống hiến, chính là mùa xuân mà tác giả đã để lại cho đời, cho nền văn học Việt Nam một cách chân thành và đáng quý nhất với vai trò là một thi nhân.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-12 17:16:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3213589352</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nguyễn Mạnh Dũng.Yêu cầu 3. Bản chỉnh sửa, &quot;Mùa xuân nho nhỏ&quot;- Hữu Thỉnh.</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3213590211</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3025633578/dc42107c120d06a29c4b344fa7cc5312/M_A_XU_N_NHO_NH_.docx" />
         <pubDate>2024-11-12 17:17:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3213590211</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Mùi Ngọc Gia Nhi- yêu cầu 3 ( sửa)</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3213660881</link>
         <description><![CDATA[<p>                     BÀI LÀM</p><p>      Chủ đề về số phận của người phụ nữ thời kiến vốn đã không còn xa lạ nữa, đã có rất nhiều các nhà văn, nhà thơ viết về nó. Cũng cùng là chủ đề ấy Hồ Xuân Hương đã khai thác nó theo một cách rất riêng và độc đáo qua hình ảnh bánh trôi nước. Hồ Xuân Hương, lai lịch chưa rõ ràng. Quê bà ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An. Bà được mệnh danh là&nbsp;&nbsp; "Bà chúa thơ nôm". Đồng cảm và thấu hiểu cho nỗi bất hạnh của người phụ nữ thời phong kiến cho nên bà đã chiêm nghiệm và viết ra bài thơ "Bánh trôi nước". Đây chính là một trong những bài thơ nổi tiếng nhất của bà cho đến mãi tận sau này.&nbsp; <br>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Bánh trôi nước là bài thơ trữ tình đặc sắc. Tác giả mượn chiếc bánh trôi để thể hiện nét đẹp hình thể và tâm hồn của người con gái có số phận bé nhỏ, chìm nổi, phải sống phụ thuộc mà vẫn giữ trọn phẩm giá của mình. Qua đó, tác giả Hồ Xuân Hương đã dùng tài năng ngôn ngữ của mình để nói lên số phận của người phụ nữ khi xưa đồng thời phê phán chế độ trọng nam kinh nữ khi thời bấy giờ. <br>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Bài thơ được viết bằng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, dựa trên ngôn ngữ bình dị, dùng hình ảnh thân thuộc. Bài thơ được chia thành hai phần chính, phần một bao gồm hai câu thơ đầu, mô tả hình ảnh chiếc bánh trôi. Hai câu thơ cuối, là nói về thân phận, phẩm chất của người phụ nữ qua hình ảnh chiếc bánh trôi. Cả bài thơ khi đọc sơ qua tưởng chừng đơn giản chỉ là hình ảnh mô tả về chiếc bánh trôi nước quen thuộc đối với người Việt nhưng lại là những vần thơ nói thay tiếng lòng của những người phụ nữ thời xưa.<br>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Toàn bộ bài thơ là hình ảnh nhân hóa, tượng trưng. Với khả năng quan sát và liên tưởng kỳ lạ, chất liệu dân gian là chiếc bánh trôi nước. Loại bánh dân gian xưa được cho là tinh khiết, thường dùng và việc cúng tế. Nữ sĩ đã phát hiện ra những nét tương đồng giữa chiếc bánh trôi bình thường với hình ảnh phụ nữ.Nói cái bánh trôi mà thành chuyện con người. Người phụ nữ, người con gái có hình thể đẹp, nước da trắng nõn nà.<br><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Thân em vừa trắng lại vừa tròn</em> <br><br>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Với vẻ đẹp hình thể như vậy, đáng lẽ phải có cuộc sống sung sướng, hạnh phúc. Nhưng cuộc đời con người, đặc biệt là với người phụ nữ bạc mệnh phải chịu bao đắng cay, vất vả:<br><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Bảy nổi ba chìm với nước non</em><br>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Được cha mẹ sinh ra để làm người nhưng người phụ nữ không làm chủ được mình. Cuộc đời họ luôn phụ thuộc do người khác định đoạt. Cuộc đời của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến luôn bị xã hội nhào nặn, xô đẩy.<br><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn</em><br>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Nhưng dẫu cuộc đời có phũ phàng bất hạnh họ vẫn giữ vẹn phẩm giá tâm hồn cao đẹp của mình.<br><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Mà em vẫn giữ tấm lòng son</em><br>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Sự sáng tạo của nữ sĩ khá độc đáo và lựa chọn chi tiết không nhiều nhưng lại nói được nhiều. Hai từ "thân em" được đặt trước chiếc bánh. Chiếc bánh được nhân hóa, đó chính là lời tự sự của người phụ nữ. nét nghệ thuật này gợi cho trí tưởng tượng của người đọc được chắp cánh và hình ảnh người phụ nữ hiện đại hiện lên rõ nét hơn.<br>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Từ thoáng chút hài lòng, giọng thơ truyền hẳn sang than oán về số phận hẩm hiu. Hồ Xuân Hương đã đảo lại thành ngữ quen thuộc&nbsp;"<em>Ba chìm bảy nổi"&nbsp;</em>thành<em>&nbsp;"bảy nổi ba chìm" &nbsp;</em>đối lập với vừa trắng lại vừa tròn, tạo sự bất ngờ và tô đậm thêm sự bất hạnh của người phụ nữ.<br>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Đến đây ta không còn thấy giọng thơ than vãn, cam chịu<em>&nbsp;rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn. C</em>uộc đời họ họ không làm chủ được bản thân mà phụ thuộc hoàn toàn và tay kẻ khác. Thế nhưng&nbsp;"<em>mà em vẫn giữ tấm lòng son".</em><br>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Không những sự đối lập giữa thái độ người phụ nữ trong câu ba và bốn là sự đối lập giữa thái độ cam chịu và thái độ bảo vệ phẩm chất trong sáng của tâm hồn con người. Từ "vẫn" thể hiện sự khẳng định, quả quyết vượt lên số phận để giữ tấm lòng son. Người phụ nữ đã ý thức rất rõ về cuộc sống và phẩm giá của mình. Dẫu cho cuộc đời cay đắng, nhào nặn, chìm, nổi thì đối với họ, phẩm giá luôn là điều đáng trân quý nhất.<br>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Trong xã hội xưa, với ý thức hệ Nho giáo hà khắc như vậy quan niệm&nbsp;"<em>Tam tòng tứ đức, trọng nam khinh nữ"</em>&nbsp;đã ăn sâu vào tâm thức con người. Nói được như Hồ Xuân Hương thật đáng trân trọng. Bài thơ tuy chỉ có bốn câu, đề tài bình dị nhưng dưới ngòi bút của Hồ Xuân Hương đã tạo nên viên bánh trôi nước mang vẻ đẹp sáng ngời của một viên ngọc lấp lánh. Bài thơ đã phản ánh về ý thức xã hội bất công, vùi dập người phụ nữ và về giá trị nhân phẩm của họ.<br>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Bánh trôi nước có giá trị hiện thực và xã hội sâu sắc. Đó là tiếng nói chung của người phụ nữ đối với sự bất công của xã hội xưa và khẳng định phẩm giá của bản thân. Nhà thơ đã đại diện cho những số phận bất hạnh lên tiếng nói của chính mình. Bài thơ thể hiện khẩu khí của bà Chúa thơ Nôm. Sau khi đọc và ngẫm về những vần thơ của Hồ Xuân Hương, bài thơ đã cho chúng ta hiểu thêm về số phận hẩm hiu, bất công của người phụ nữ khi xưa. Qua đó bài thơ khiến ta biết trân quý hơn những người phụ nữ xung quanh chúng ta và biết yêu thương họ hơn.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-12 18:03:40 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3213660881</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Lan Phương - bài mới</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3213984249</link>
         <description><![CDATA[<p>Đề tài mà những người nghệ sĩ luôn hướng đến và là nguồn cảm hứng sáng tác bất tận phải nói đến chính là về mùa thu , mùa thu mang lại những hình ảnh đẹp đẽ và cảm xúc khó tả trong thơ ca ,dường như có cảm xúc lưu luyến thiết tha không thể nói nên lời. &nbsp;&nbsp;Như “mùa thu” trong thơ của Nguyễn Khuyến thì &nbsp;bình dị, gần gũi, “mùa thu”trong thơ của &nbsp;Nguyễn Đình Thi lại tiếng vọng từ đất nước ngàn đời. Còn mùa thu được miêu tả qua tác giả Hữu Thỉnh qua bài thơ "Sang thu"lại có một nét riêng , nó thật đẹp, thật nên thơ và trữ tình, thể hiện sự độc&nbsp; qua cách mới lạ của bài thơ qua cảm nhận tinh tế của tác giả qua bài thơ.Tác phẩm đã phác họa thành công sự chuyển mùa kỳ diệu của đất trời và của lòng người.</p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp;"Sang thu" được Hữu Thỉnh sáng tác vào cuối năm 1977 , bài thơ đã tái hiện lại một cách nhẹ nhàng sự chuyển mùa tinh tế, trời đất lúc sang thu có chút gì đó bối rối, có chút gì đó ngập ngừng và hơn hết là sự ngỡ ngàng, bồi hồi của nhà thơ khi nhận ra sự thay đổi của trời đất. Mùa thu về, mùa thu mang lại cho con người ta những giai điệu dịu êm nhất.</p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp; Không giống như các nhà thơ khác cảm nhận sự&nbsp; giao mùa của mùa thu bằng các hình ảnh như : bầu trời, hương cốm ,mặt hồ… thif ở Hữu Thỉnh ông lại có cách cảm nhận vô cùng mới lạ , nhưng cũng bình dị và thân thuộc đó chính là mừi hương của “hương ổi chín,là thứ hương đặc trưng của vùng quê Việt Nam mỗi khi thu về.</p><p><em>“Bỗng nhận ra hương ổi</em></p><p><em>Phả vào trong gió se”</em></p><p>&nbsp; &nbsp; Nhà thơ phải thật tinh tế, thật khéo léo thì mới có thể nhận ra được thứ hương rất đỗi nhẹ nhàng và có thể bị gió cuốn đi lúc nào. Cụm từ "bỗng nhận ra" giống như một phát hiện mới, một sự ngạc nhiên rất thú vị như khi khám phá ra điều gì đó đẹp đẽ. Đây là cụm từ diễn ra trạng thái ngỡ ngàng của tác giả khi nhận ra mùa thu đã chạm ngõ chỉ với "hương ổi", mùi hương thân quen khiến những người con xa quê khó quên được. Mùi hương ổi ấy đã "phả" vào trong "gió se" đầu mùa thu dịu nhẹ, se sắt. Động từ "phả" đã làm toát lên thần thái của mùa thu, của hương ổi. Nó diễn tả sự quyện chặt vào, sự gắn kết giữa hương ổi và làn gió đầu mùa.</p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Qua 2 câu thơ đầu nguiowf nghệ sí đã cho thấy được những tín hiệu mờ nhạt sủa mùa thu nhưng càng về sau những tín hiệu đó lại càng trở nên rõ ràng hơn</p><p><em>“Sương chùng chình qua ngõ</em></p><p><em>Hình như thu đã về”</em></p><p>Hai câu thơ đã gợi ra cho người đọc về tín hiệu rõ ràng của mùa thu . Hình ảnh "sương chùng chình qua ngõ" khiến người đọc tưởng tượng ra khung cảnh sương dường như đang &nbsp;ngập ngừng ,bỡ ngỡ ở đầu ngõ. Từ láy "chùng chình” đã làm toát lên thần thái của mùa thu, không vội vàng, hồ hởi mà luôn tạo nên sự mơ hồ và mông lung nhất. Nó làm cho tác giả phải hoài nghi &nbsp;"hình như", là chưa chắc chắn, không chắc chắn về sự có mặt của mùa thu nhưng thực ra là tác giả tự khẳng định rằng mùa thu về thật rồi.</p><p>&nbsp; &nbsp;Những tín hiệu báo thu đến đã được tác giả miêu tả rõ nhất , những chuyển biến của thiên nhiên , vạn vật dường như cũng đang nhắc nhở về sự xuất hiện của mùa thu. Thể hiện bức tranh mùa thu sống động tràn ngập những gam màu tươi sáng.</p><p><em>“Sông được lúc dềnh dàng</em></p><p><em>Chim bắt đầu vội vã</em></p><p><em>Có đám mây mùa hạ</em></p><p><em>Vắt nửa mình sang thu”</em></p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Nước mùa thu dâng lên theo mùa "dềnh dàng", những cánh chim trời bắt đầu "vội vã" bay về những nơi ở mới. Thiên nhiên khi mùa thu về có chút gì đó vội vàng, gấp gáp hơn và trĩu nặng hơn nhưng vẫn giữ được thần thái đặc trưng nhất. Đường nét của mùa thu hiện lên rất rõ nét, không còn mơ hồ như ở khổ thơ thứ nhất nữa. Đây cũng là quá trình và là sự chuyển biến trong thiên nhiên và trong nhận thức của tác giả. Sự quan sát tinh tế, tỉ mỉ của tác giả còn thể hiện ở cách nhìn "đám mây mùa hạ" như "vắt" sang thu. Thật tài hoa, thật khéo léo và dường như ông động lòng với mùa thu, khí thu, vị thu rất nhiều nên mới tưởng tượng ra viễn cảnh đám mây cao trên trời như đang chuyển mình cùng nhịp đập của mùa thu.Động từ "vắt" dùng rất độc đáo đã diễn tả được quá trình chuyển mình của mùa thu rất uyển chuyển, nhịp nhàng. Mùa thu có chút gì đó độc đáo, tinh nghịch và cũng không kém phần duyên dáng qua cảm nhận của Hữu Thỉnh. Mùa thu đã đến thật rồi, mùa thu mang theo những gì tinh khôi, nhẹ nhàng và dịu êm nhất.</p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Ở &nbsp;khổ thơ cuối, mùa thu đã thực sự đến rồi và đất trời đã có những chuyển biến khiến con người có thể nhận ra, thông qua đó tác giả đã thể hiện những chiêm nghiệm sâu sắc về con người trước những khó khăn và những biến dộng sẽ làm chúng ta phải vượt qua</p><p><em>“Vẫn còn bao nhiêu nắng</em></p><p><em>Đã vơi dần cơn mưa</em></p><p><em>Sấm cũng bớt bất ngờ</em></p><p><em>Trên hàng cây đứng tuổi”</em></p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Mùa thu có nắng, là thứ nắng dịu nhẹ và tinh khôi, thứ nắng có chút se se lạnh của gió đầu mùa. Thiên nhiên mùa thu cũng trở nên tĩnh lặng và trầm ngâm hơn. Tiếng sấm không còn khiến con người giật mình nữa mà nó trở nên lặng lẽ hơn trên hàng cây đứng tuổi. Tác giả đã đúc kết chiêm nghiệm và sự từng trải của một đời người qua sự liên tưởng đến "hàng cây đứng tuổi". Tiếng sấm và hàng cây ở hai câu thơ cuối dường như là hiện thân của những con người từng trải, đã qua giai đoạn tuổi trẻ bồng bột, nhiều hối hả. Ở giai đoạn con người ta "đứng tuổi" mọi thứ cần chắc chắn và đứng đắn, tĩnh lặng hơn. Tác giả đã mượn hình ảnh "hàng cây đứng tuổi" để nói lên đời người ở tuổi xế chiều, cũng như mùa thu vậy; có chăng mùa thu là mùa của tuổi con người ta không còn trẻ trung nữa. Nhịp đập của mùa thu, sự chuyển động của mùa thu rất nhẹ nhàng và êm đềm. Có lẽ khi con người ta trải qua tuổi bồng bột, đến một lúc nào đó cần bình thản nhìn lại và nhẹ nhàng cảm nhận chúng. Khổ thơ cuối với giọng điệu trầm lắng khiến người đọc nhận ra rất nhiều điều trong cuộc sống này đáng suy ngẫm.</p><p>&nbsp; &nbsp; &nbsp;Tác giả đã sử dụng những biện pháp nghệ thuật độc đáo cùng với nghệ thuật sử dụng ngôn từ tài hoa ,mà tác phẩm đã để lại choi người đọc những ấn tượng khó quên và dồng thời cũng thể hiện được giá trị và thông điệp quý giá mà người nghệ sĩ muốn truyền tải đến người đọc.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-12 22:40:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3213984249</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Lê Thái Quỳnh Anh</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3214392363</link>
         <description><![CDATA[<p>Bài thơ <em>“Viếng lăng Bác”</em> của Viễn Phương là một trong những tác phẩm nổi bật trong nền văn học Việt Nam, viết về cảm xúc chân thành, trân trọng và lòng ngưỡng mộ của tác giả khi vào viếng lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tác phẩm mang đậm nét thiêng liêng, chứa đựng tình cảm sâu sắc của người dân miền Nam nói riêng và của cả dân tộc Việt Nam nói chung đối với Bác Hồ.</p><p><br/></p><p><br/></p><p><strong>1. Khổ 1</strong></p><p><br/></p><p>Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác,</p><p>Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát.</p><p>Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam,</p><p>Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng.</p><p><br/></p><p>Khổ thơ đầu tiên thể hiện tình cảm chân thành, gần gũi của tác giả. Từ “con” và “Bác” làm nổi bật mối quan hệ thân thuộc, giản dị. “Miền Nam” ở đây không chỉ là một địa danh mà còn biểu tượng cho một phần quê hương từng bị chia cắt, nay được đoàn tụ với người cha già của dân tộc.</p><p><br/></p><p>Hình ảnh “hàng tre” gợi lên hình ảnh truyền thống của làng quê Việt Nam, biểu tượng cho sự kiên cường, bất khuất và bền bỉ của con người Việt Nam qua bao gian khó, phong ba. Từ “bát ngát” và “đứng thẳng hàng” khẳng định sức sống mãnh liệt, tinh thần quật cường mà Bác Hồ đã luôn khơi gợi trong lòng nhân dân.</p><p><br/></p><p><strong>2. Khổ 2</strong></p><p><br/></p><p>Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng,</p><p>Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.</p><p>Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ,</p><p>Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân…</p><p><br/></p><p>Tác giả so sánh Bác Hồ như “mặt trời trong lăng rất đỏ,” một ẩn dụ sâu sắc về công lao to lớn của Bác, người đã đem ánh sáng và nhiệt huyết đến cho cách mạng Việt Nam. “Mặt trời” là hình ảnh vừa lớn lao, vừa thiêng liêng, tượng trưng cho sức mạnh và lòng yêu thương của Bác. Câu thơ cũng nhấn mạnh sự tồn tại vĩnh hằng của Bác trong lòng dân tộc.</p><p><br/></p><p>Hình ảnh “dòng người đi trong thương nhớ” là sự ngưỡng vọng, tưởng nhớ của nhân dân dành cho Bác. Mọi người không ngừng “kết tràng hoa” – biểu tượng của sự kính trọng và biết ơn đối với cuộc đời và sự nghiệp của Bác, người đã dành trọn “bảy mươi chín mùa xuân” cống hiến cho đất nước.</p><p><br/></p><p><strong>3. Khổ 3</strong></p><p><br/></p><p>Bác nằm trong giấc ngủ bình yên,</p><p>Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền.</p><p>Vẫn biết trời xanh là mãi mãi,</p><p>Mà sao nghe nhói ở trong tim!</p><p><br/></p><p>Trong khổ thơ này, tác giả miêu tả Bác Hồ đang “ngủ bình yên” trong lăng, như một sự hiện diện vĩnh cửu, lặng lẽ nhưng đầy thiêng liêng. “Vầng trăng sáng dịu hiền” là biểu tượng của sự trong sáng, gần gũi, bình dị của Bác.</p><p><br/></p><p>Dù hiểu rằng “trời xanh là mãi mãi,” nghĩa là hình ảnh và tư tưởng của Bác sẽ sống mãi, nhưng Viễn Phương vẫn “nghe nhói ở trong tim.” Nỗi đau mất mát và niềm tiếc thương dành cho Bác Hồ trở nên mãnh liệt hơn, diễn tả cảm xúc của cả dân tộc khi không còn được thấy Bác.</p><p><br/></p><p><strong>4. Khổ 4</strong></p><p><br/></p><p>Mai về miền Nam thương trào nước mắt,</p><p>Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác,</p><p>Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây,</p><p>Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này…</p><p><br/></p><p>Trong khổ thơ cuối, tác giả bày tỏ tình cảm sâu sắc và sự gắn bó đặc biệt với Bác. Ông muốn hóa thân thành những hình ảnh nhỏ bé, như “con chim,” “đóa hoa,” và đặc biệt là “cây tre trung hiếu,” biểu tượng cho sự bền bỉ, trung thành và kiên cường của nhân dân Việt Nam. Khát vọng ở bên Bác, bảo vệ và giữ gìn sự yên bình nơi Người an nghỉ, là tâm nguyện của tác giả cũng như của toàn dân.</p><p><br/></p><p><strong>Ý nghĩa tổng thể</strong></p><p><br/></p><p><em>Viếng lăng Bác</em> là một tác phẩm xúc động, thể hiện lòng kính trọng, tình yêu thương và lòng biết ơn vô hạn của nhân dân đối với Bác Hồ. Bài thơ không chỉ là nỗi niềm riêng của tác giả mà còn là tiếng lòng chung của cả dân tộc. Những hình ảnh và biểu tượng trong bài thơ đều mang đậm giá trị dân tộc, để lại ấn tượng sâu sắc về tình cảm và lòng trung hiếu mà người dân Việt Nam dành cho Bác Hồ kính yêu.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-11-13 03:13:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3214392363</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Phạm Phương Nguyên - Yêu cầu 3</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3215105188</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://docs.google.com/document/d/1EiVobxfAPNW5QuiIUjEJfh_U2tfbMQUL3j0tPIn_qdM/edit?usp=sharing" />
         <pubDate>2024-11-13 12:53:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3215105188</guid>
      </item>
      <item>
         <title>Nhật Dũng yêu cầu 3 (Ánh trăng-Nguyễn Duy)</title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3215146843</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3030009153/3cd619e3b5cc222e08e6c4ba3b0474ba/AT.docx" />
         <pubDate>2024-11-13 13:19:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/trandoanquyet/1kaquni5hmnerg3g/wish/3215146843</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
