<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0">
   <channel>
      <title>GÓC PHÁT THANH HÀNG TUẦN TRÊN SÓNG LỚP 5A4 by Ngo Van Nghia</title>
      <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v</link>
      <description>Đăng phản hồi của bạn về chủ đề thảo luận bằng cách nhấp vào nút dấu cộng dưới đây.</description>
      <language>en-us</language>
      <pubDate>2024-12-06 07:14:31 UTC</pubDate>
      <lastBuildDate>2025-05-07 15:21:07 UTC</lastBuildDate>
      <webMaster>hello@padlet.com</webMaster>
      <image>
         <url>https://padlet.net/icons/png/1f4ac.png</url>
      </image>
      <item>
         <title></title>
         <author>ngovannghiac1pkts</author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3249395773</link>
         <description><![CDATA[<p>Chủ đề: THẾ GIỚI TUỔI THƠ - CÁC BẠN CÙNG SƯU TẦM ĐỌC CUỐN SÁCH NÀY NHÉ.</p><p><strong>"Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ" - Cuốn sách của những kí ức đẹp, hồn nhiên và trong sáng</strong></p><p>Chia sẻ</p><p>Đọc bài</p><p>Lưu</p><p><strong><em>Ai trong chúng ta mà chẳng có một tuổi thơ hồn nhiên, vui vẻ. Tuổi thơ của tôi cũng vậy, tràn ngập niềm vui, tiếng cười, những trò đùa quậy phá và những suy nghĩ ngây thơ, trong sáng. Ở đó có biết bao kỉ niệm với những trưa nắng không đi ngủ trưa mà trốn đi chơi, những buổi chơi ô ăn quan hay thảy đá, nhảy lò cò…&nbsp; Đó là nơi ta chẳng cần lo lắng, suy nghĩ gì nhiều và có những ngày tháng bình yên đến lạ kì. Nhưng rồi khi lớn lên, con người ta luôn bận rộn với công việc hàng ngày, những lo toan trong cuộc sống, lúc đó ta đều muốn quay trở về tuổi thơ. Nếu bạn cũng như vậy thì hãy đọc cuốn sách “Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ”- một tác phẩm của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh.&nbsp;</em></strong></p><p>Nguyễn Nhật Ánh là một nhà văn nổi tiếng với nhiều tác phẩm về đề tài tuổi thơ, các tác phẩm của ông được nhiều người đọc yêu thích và có một số tác phẩm được chuyển thành thể phim. Với lối viết trong sáng, chân thực và gần gũi, ai đã từng đọc tác phẩm của ông đều có thể cảm nhận và hòa mình vào nhân vật khi tìm được bản thân ở trong đó. Được mệnh danh là người viết truyện cho thiếu nhi và lứa tuổi mới lớn, Nguyễn Nhật Ánh đem lại dấu ấn đặc sắc với tác phẩm " Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ ”.</p><p>Cuốn sách “Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ” là cuốn sách được phát hành nhiều nhất năm 2008, đến nay sách đã được tái bản hơn 65 lần. Tác phẩm giành giải Sách hay của Hội Xuất bản Việt Nam và Giải thưởng Văn học của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2009. Cuốn sách này đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng khác nhau và đạt giải thưởng Văn học ASEAN 2010. Tác phẩm “Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ”&nbsp;của Nguyễn Nhật Ánh đã khai thác nhiều khía cạnh khác nhau trong văn chương ở câu chuyện về thế giới trẻ thơ, giúp gợi nhớ lại những kí ức đẹp mà chúng ta đã từng trải qua. Nhưng điều đặc biệt ở tác phẩm này là lời tác giả nói ở cuối sách <em>“Tôi không viết cuốn này cho trẻ em, tôi viết cuốn này cho ai từng là trẻ em’’. ''Cho Tôi Xin Một Vé Đi Tuổi Thơ&nbsp;</em>''chính là&nbsp;một tấm vé lên chuyến tàu đặc biệt mà Nguyễn Nhật Ánh dành cho những ai có ước muốn quay trở lại thời non dại của mình.</p><p>Trên mạch kể hấp dẫn của câu chuyện, ngược dòng thời gian, nhà văn đã đưa độc giả trở lại những năm tháng tuổi thơ vui vẻ với cốt truyện xoay quanh 4 bạn nhỏ nghịch ngợm, hồn nhiên cu Mùi, thằng Hải cò, Tí sún và con Tủn. Trong thế giới tuổi thơ tươi đẹp ấy của những đứa trẻ, chúng không hề có những lo toan, bộn bề về cuộc sống vật chất và tinh thần mà chỉ hạnh phúc đắm chìm vào những trò chơi, những vui đùa của tuổi nhỏ. Trải dài trên từng trang viết là những câu chuyện hài hước, dí dỏm, những trò đùa vui vẻ khiến độc giả thực sự ước ao được quay lại những cảm xúc trong sáng, quãng thời gian vô tư như vậy một lần nữa.</p><p><br/></p><p>-“Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ” là cuốn sách được phát hành nhiều nhất năm 2008-</p><p>Câu chuyện bắt đầu bằng việc nhận định cuộc sống buồn chán và tẻ nhạt của cậu bé tám tuổi cu Mùi. Cậu than rằng mỗi ngày của cậu đều là sự lặp lại quen thuộc của mọi sự vật xung quanh mình, chẳng còn điều gì mới mẻ để cậu chờ đợi. Và cùng với đó là rất nhiều việc cu Mùi không thích như phải làm rất nhiều việc mình không thích theo ý mẹ như phải đi học trong khi mình còn muốn ngủ hoặc phải ăn những món mình chã hợp khẩu vị tí nào. Rồi tiếp đó là tất tần tật những bất công của&nbsp;<em>“thế giới”</em>&nbsp;này mà một cậu bé tám tuổi phải chịu đựng. Đó dường như là một ngày bình thường của cậu. Không chỉ thế, bằng trí tưởng tượng xen lẫn sự nghịch ngợm ngây ngô của trẻ con, Cu Mùi cùng đám bạn đã bày ra những trò chơi, từ đánh nhau đến rách áo chảy máu cho tới chơi trò vợ chồng. Chúng còn muốn “đặt tên cho thế giới” như biến mẫu gối thành búp bê, biến nón thành cuốn tập, gọi cái đầu là chân và gọi thằng bạn thân là Thầy hiệu trưởng, tự đặt tên cho bản thân như Cu Mùi gọi là hiệu trưởng, cái Tủn là tiếp viên hàng không, Hải Cò là cảnh sát trưởng còn Tí Sún là Bạch Tuyết.. Chúng cho rằng: học bài là lêu lổng; chạy nhảy, trèo cây, tắm sông, đánh lộn mới là con ngoan. Ngay đến cả bảng cửu chương, 2 nhân 4 cũng không muốn là 8, mà “phải là cái gì cũng được, miễn là khác đi”. Thậm chí, việc trái đất quay quanh mặt trời cũng là 1 việc hết sức buồn tẻ, mà trường hợp chúng là trái đất, chúng sẽ “tìm phương pháp quay theo hướng khác”. Những thay đổi đó đã tạo ra những chuyện dở khóc dở cười nhưng cuối cùng chúng cũng phải ngậm ngùi chấp nhận những chuyện đó không thể thay đổi được và trở lại như cuộc sống thường ngày. Không bỏ cuộc ở đó chúng lại bày ra trò tìm kho báu và xới tung hết khu vườn, cả câu chuyện tình yêu tuổi thơ và sự ghen tuông đáng yêu của Cu Mùi và Tủn nữa.</p><p><strong>Xuyên suốt tác phẩm&nbsp;“<em>Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ”</em>&nbsp;là những trò nghịch ngợm, những suy nghĩ rất đỗi hồn nhiên, trong trẻo của những đứa trẻ mà người lớn thường cho là “trò trẻ con”. Nhưng qua đó, để những độc giả đang làm cha mẹ phải ngỡ ngàng nhận ra rằng: đôi khi mình đã sai khi cho tự bản thân cái quyền phán xét con trẻ. Có ý kiến độc giả cho rằng những đứa trẻ trong truyện đã mở cả một phiên tòa phán xét người lớn. Phiên tòa ấy phản ánh rất thật, rất đúng nguyện vọng và chính đáng của tuổi thơ: đó là sự công bằng.</strong></p><p><br/></p><p>-Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ”&nbsp; đã vẽ lên cả một thế giới tràn ngập những kí ức tuổi thơ&nbsp;của mỗi người-</p><p>Với giọng điệu nhẹ nhàng, trong trẻo, cách viết hồn nhiên, mang đậm chất trẻ thơ, sử dụng những ngôn từ bình dị, gần gũi, chân thật gắn liền với suy nghĩ và tính cách nhân vật là trẻ em khiến người đọc nghĩ rằng đây là quyển nhật kí của một đứa trẻ. Vậy mà thật ra đó lại là lời văn của một nhà văn trưởng thành. Chắc hẳn nhà văn cũng là người từng trải nên ông mới viết nên những tháng năm tuổi thơ sâu sắc như vậy.&nbsp;</p><p>Cuốn sách “Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ” chỉ vỏn vẹn 12 chương ngắn ngủi nhưng đã vẽ lên cả một thế giới tràn ngập những kí ức tuổi thơ&nbsp;của mỗi người chúng ta. Tôi tin chắc&nbsp;rằng tất cả chúng ta đều muốn có một tấm vé trên chuyến tàu hành trình tìm về với những kí ức để được sống lại khoảng thời gian rất đỗi bình dị và đầy ngọt ngào của tuổi thơ sau khi đọc cuốn sách này.</p><p>Và&nbsp;sẽ có không ít người cảm thấy mình thật khờ khạo và ngây thơ khi còn bé, đừng ngại ngùng xấu hổ hay cố gắng né tránh nó bởi vì đó chính là một phần quá khứ của mỗi chúng ta. Đó là những kí ức rất đẹp đẽ, hồn nhiên trong sáng và đáng&nbsp;để&nbsp;được trân trọng. Đây chính là tất cả những gì mà nhà văn Nguyễn Nhật Ánh&nbsp;muốn gửi gắm đến cho các bạn độc giả thông qua cuốn sách Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ này.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://multicontents.com/cho-toi-xin-mot-ve-di-tuoi-tho/" />
         <pubDate>2024-12-06 07:16:29 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3249395773</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>ngovannghiac1pkts</author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3249397432</link>
         <description><![CDATA[<p>Chủ đề: THIÊN NHIÊN KỲ THÚ</p><p>CUỐN SÁCH "SỰ TÍCH CÁC LOÀI VẬT"</p><p>       Là một áng văn chương đặc sắc, ngôn ngữ hài hước, mỗi chuyện kể, sự tích trong cuốn sách luôn mang vẻ kì diệu cùng những nhân vật tuyệt vời mà tác giả, với tình yêu thương,sự hóm hỉnh đã khắc họa nên nhằm khơi dậy tình nhân ái và khích lệ lòng can đảm của con người. Bạn đọc sẽ không bao giờ quên được mỗi câu chuyện trong Sự Tích Các Loài Vật (Chuyện như thế đó). Cuốn truyện sẽ dẫn dắt độc giả dù ở bất cứ tuổi nào, đến với một khung cảnh khác lạ, không xác định không gian và thời gian. Bằng trí tưởng tượng và tài năng xuất chúng, tác giả Rudyard Kipling nhà văn Anh người được giải Nobel văn học năm 1907 đã mở ra một thế giới nhiệm màu với những chú Voi Con mũi ngắn, những chú Lạc Đà không mang bướu trên lưng, những chú Kăng-gu-ru chạy miệt mài bởi lúc nào cũng bị chó Dingo bám đuổi... Tác giả viết tặng cho con gái ông những truyện kể kì diệu này. Nhưng những truyện kể của người cha dành tặng cho con gái đã được chia sẻ với tất cả chúng ta. Tuyệt vời hơn nữa, nếu mỗi khi truyện được đọc vang lên, rất có thể sẽ tạo thành những âm điệu đẹp đẽ khắc ghi trong ký ức trẻ thơ. Và dù bằng cách này hay cách khác thì chắc chắc mỗi câu chuyện sẽ còn được in sâu trong trí nhớ của chúng ta, như một kỷ niệm say mê mà tiếng vọng mãi còn vượt cả thời gian. Chắc chắn các bạn sẽ có những giây phút tuyệt vời bên cuốn sách hấp dẫn này! Tác giả: Rudyard Kipling Khuôn Khổ: 20x24 cm Số trang: 112 Trọng lượng: 580 gram NXB Kim Đồng Năm phát hành: 2020</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3099689265/8ff9f4613f502c7bfddcb7c1fbf2e81a/SA_CH_CA_C_LOA_I_V__T.jpg" />
         <pubDate>2024-12-06 07:18:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3249397432</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>ngovannghiac1pkts</author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3249397754</link>
         <description><![CDATA[<p>Chủ đề : TRÊN CON ĐƯỜNG HỌC TẬP</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-12-06 07:18:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3249397754</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3273267714</link>
         <description><![CDATA[<p>Đây là câu truyện “ Truyền thuyết Hồ Gươm “ của mình có chủ đề:Lịch sử nước nhà (mình tự đặt)câu chuyện như sau:</p><p>Vào thời giặc Minh tràn sang nước ta, chúng vơ vét của cải và giết hại dân lành ở khắp nơi, tại vùng Lam Sơn, một nhóm anh hùng đã đứng lên đấu tranh chống lại bọn chúng. Do lực lượng mỏng và yếu nên gặp nhiều thất bại.</p><p>Lúc bấy giờ, có một anh chàng tên là Lê Thận làm nghề đánh cá và vào một đêm nọ, anh chàng vớt lên một thanh sắt tới tận ba lần. Thấy sự việc trùng hợp nên anh đã đem về rèn với lửa thì phát hiện đó là một thanh gươm,</p><p>Sau đó, Thận gia nhập nghĩa quân Lam Sơn. Trong lúc bị giặc truy đuổi, Lê Lợi và mọi người đã chia nhau ra. Bỗng nhiên đến một khu rừng nọ thì Lê Lợi thấy có ánh sáng thì phát hiện đó là chuôi gươm.</p><p>Ông nhớ đến lưỡi gươm phát sáng của Lê Thận và mang chuôi về tra vào lưỡi gươm thì vừa in. Thanh gươm đã nâng cao tinh thần đoàn kết của binh sĩ và giúp nghĩa quân giành lại thắng lợi nhanh chóng. Một năm sau, trong lúc vua Lê Lợi cưỡi thuyền rồng dạo quanh hồ Tả Vọng thì có thần Kim Quy hiện lên đòi lại gươm thần và nhà vua đã không do dự mà hoàn trả lại thanh gươm ngay lập tức. Từ đó trở đi, người dân đặt tên cho hồ nước là Hồ Gươm hay hồ Hoàn Kiếm.</p><p>Câu chuyện đến đây là kết thúc rồi mong các bạn thích câu chuyện này</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-12-29 09:18:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3273267714</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3273374895</link>
         <description><![CDATA[<p>Đây là câu chuyện "Sự Tích Hai Bà Trưng" của mình có chủ đề lịch sử Việt Nam.Câu chuyện như sau:</p><p> " Một ngày mùa xuân năm Canh Tý [ tức 40 năm sau Công nguyên], trên cửa sông Hát, nghĩa quân bạt ngàn đứng kín cả các cánh bãi bồi, dưới sông neo dài những đoàn chiến thuyền binh tay rìu tay giáo đang đứng tề chỉnh, mắt hướng về đàn tế dựng giữa trung quân.Trong tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng ngựa hí, voi rống vang động, Hai Bà Trưng làm lễ tế cáo trời đất, ra quân giết giặc cứu nước.</p><p>    Trước đó, có người khuyên Trưng Trắc mặc tang phục để làm lễ xuất quân, nhưng Trưng Trắc đã khảng khái trả lời:"Mặc áo tang sẽ làm mất nhuệ khí binh sĩ".Trong bộ giáp sáng lấp lánh, Trưng Trắc long trọng thề:</p><p>"Một xin rửa sạch nước nhà,</p><p> Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng.</p><p> Ba kẻo oan ức lòng chồng,</p><p> Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh này"."</p><p>Đây là một câu chuyện lịch sử, mình mong các bạn sẽ thích và đọc câu chuyện này   </p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2024-12-29 15:06:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3273374895</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3278125914</link>
         <description><![CDATA[<p>Xin chào các bạn, sau đây mình xin giới thiệu một câu chuyện "Hà Nội Điện Biên Phủ trên không" trong chủ đề mỗi ngày một cuốn sách hay</p><p>     Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không"-Một bản anh hùng ca không bao giờ quên.</p><p>Hơn năm mươi năm đã trôi qua, nhưng âm hưởng hào hùng của chiến thắng Hà Nội-"Điện Biên Phủ trên không" vẫn là mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Đó là những ngày tháng đau thương nhưng cũng thật bi hùng của quân dân Thủ đô. Trong chuyên đề "Mỗi tuần một câu chuyện đẹp, một cuốn sách hay, một tấm gương sáng", Liên đội trường Tiểu học Kiền Bái giới thiệu cuốn sách"Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không".Cuốn sách do Thiếu tướng PSG. TS Trịnh Vương Hồng - nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự chủ biên, cùng những nhà sử học có uy tín nghiên cứu về lịch sử quân sự Việt Nam biên soạn.</p><p>   Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta đã để lại những mốc son chói lọi, không chỉ đối với lịch sử dân tộc ta mà còn cả với toàn thế giới. Ghi tạc vào lịch sử như một trong những trang vàng chói lọi nhất, một kì tích có một không hai - chiến thắng" Hà Nội -Điện Biên Phủ trên không". Theo dòng lịch sử, chiến thắng oai hùng ấy đã đi vào không biết bao nhiêu trang sách, lịch sử được tái hiện qua biết bao góc nhìn nhưng cuốn Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không do Nhà xuất bản Hà Nội tổ chức biên soạn và xuất bản năm 2019 thuộc dự án Tủ sách Thăng Long ngàn năm văn hiến [ Gia đoạn 11] đã tái hiện một cách cụ thể, chân thực và rõ nét nhất. Cuốn sách do Thiếu tướng, PSG. TS Trịnh Vương Hồng - nguyên Viện trưởng Viện lịch sử quân sự chủ biên, cùng những nhà sử học có uy tín nghiên cứu về lịch sử quân sự Việt Nam biên soạn.</p><p>    Cuốn sách "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không" không trình bày theo hình thức và quy mô của một chuyên khảo về một chiến dịch phòng không cũng không phải là một công trình lịch sử thuần túy. Với phương pháp lịch sử - tổng kết, cùng cách tiếp cận sự kiện trong khung cảnh chiến tranh giải phóng dân tộc của nhân vật Việt Nam, các tác giả đã tập trung khai thác và phân tích những thông tin trong các tư liệu thời đó cùng các tư liệu hình thành sau này, kết hợp với những nghiên cứu của các học giả nước ngoài. Do đó cuốn sách có nội dung khách quan, sinh động, hấp dẫn, làm nổi bật hào khí Thăng Long thời đại Hồ Chí Minh.</p><p>    Xin mời bạn đọc hãy cùng nhau nhìn lại trận Điện Biên Phủ trên không qua cuốn" Hà Nội - Điện Biên Phủ phủ trên không " do Trịnh Vương Hồng chủ biên, Nhà Xuất bản Hà Nội ấn hành và xuất bản năm 2019. Xin trân trọng giới thiệu với các bạn </p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-01-01 15:31:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3278125914</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3290632532</link>
         <description><![CDATA[<p>Mình xin được giới thiệu cho các bạn câu chuyện Thánh Gióng Câu chuyện này như sau :</p><p>    Vào thời Hùng Vương, có một người đàn bà đã nhiều tuổi nhưng sống một mình và không có con. Một sáng nọ bà đi thăm nương, bỗng nhìn thấy một vế chân giẫm nát cả mấy luống cà. Bà kêu lên:</p><p>- Ôi bàn chân ai mà to thế này!</p><p>Bỗng bà cảm thấy rùng mình khi đưa bàn chân ướm thử vào dấu chân lạ. Sau khi ướm thử vào dấu chân lạ, bà có mang. Đủ tháng đủ ngày bà sinh được một đứa con trai bụ bẫm. Bà đặt tên là Gióng.</p><p>Nhưng thằng bé lên 3 tuổi rồi mà vẫn nằm ngửa đòi ăn, không biết ngồi, không biết lẫy, cũng không biết nói hay cười.</p><p>Ngày ấy, giặc Ân kéo vào cướp nước ta. Giặc Ân rất hung tàn, cầm đầu là một tên tướng gọi là Ân vương. Chúng đi đến đâu là đốt nhà, phá cửa, giết người cướp của đến đấy. Hùng Vương nhiều lần xuất trận nhưng không đánh nổi lại chúng. Vua hùng lấy làm lo lắng vội phái sứ giả đi khắp nơi tìm tướng tài cứu nước.</p><p>Một hôm, sứ giả đi đến làng của chú bé Gióng. Gióng nghe loa thấy việc nhà Vua đang tìm người tài đánh giặc cứu nước, mẹ Gióng đang ru con liền đùa rằng:</p><p>- Con ơi! Con của mẹ chậm đi chậm nói thì biết bao giờ mới đi đánh giặc giữ nước được đây!</p><p>Không ngờ, Gióng nhìn mẹ mở miệng cất thành tiếng:</p><p>- Mẹ cho gọi sứ giả vào đây cho con!</p><p>Nói xong lại im bặt. Bà mẹ vừa mừng, vừa sợ vội kể chuyện với xóm giềng. Mọi người tới nhà ai nấy cũng cho là một sự lạ. Sau cùng, 1 người nói:</p><p>- Ta cứ đi mời sứ giả đến xem thử nó muốn cái gì.</p><p>Khi sứ giả của nhà Vua bước vào, nhìn thấy cậu bé Gióng liền nói:</p><p>- Mày là đứa trẻ lên ba mới học nói, mày định mời ta đến đây để làm gì?</p><p>Gióng trả lời đầy chững chạc:</p><p>- Về bảo với nhà Vua rèn cho ta một con ngựa sắt, một thanh gươm sắt, một áo giáp sắt và một nón sắt, ta sẽ đánh đuổi giặc giữ cho.</p><p>Ai nấy nghe xong đều khôn xiết lạ lùng, cho rằng thần nhân xuất hiện. Sứ giả lập tức phi ngựa về tâu với nhà Vua. Nghe nói, Hùng Vương mừng rỡ, ra lệnh cho thợ rèn gom tất cả sắt lại rèn ngựa, gươm, áo giáp và nón như lời xin của cậu bé. Khi mọi thứ rèn xong nặng không thể tưởng tượng nổi. Hàng chục người mó vào thanh gươm mà không nhúc nhích. Hùng Vương phải cho hàng ngàn quân sĩ tìm mọi cách để mang đến cho cậu bé Gióng.</p><p>Khi được tin quân sĩ khiêng ngựa sắt sắp đến làng, mẹ Gióng sợ hãi chạy về bảo với con:</p><p>- Con ơi! Việc nhà vua đâu phải là chuyện chơi. Hiện quân sĩ đang kéo đến ầm ầm ngoài bãi rồi, biết làm thế nào bây giờ con?</p><p>Nghe nói thế, Gióng vụt đứng dậy và nói:</p><p>- Việc đánh giặc thì mẹ đừng lo. Nhưng mẹ phải cho con ăn thật nhiều mới được!</p><p>Bà mẹ vội thổi cơm cho con ăn, nhưng cứ nấu lên được nồi nào Gióng ăn hết ngay nồi ấy. Mỗi lần ăn một nồi cơm thì Gióng lại lớn thêm được một ít và đòi ăn thêm. Mẹ càng cho con ăn thì con lại càng lớn nhanh như thổi, bỗng chốc đã trở thành một cậu thanh niên vô cùng khỏe mạnh.</p><p>Hết gạo, bà mẹ kêu gọi hàng xóm láng giềng. Cả làng nô nức đem gạo khoai, trâu, rượu, hoa quả, bánh trái mang đến đầy một sân. Nhưng đưa đến bao nhiêu thì Gióng ăn vợi hết bấy nhiêu, mà vẫn đòi ăn không nghỉ.</p><p>Sau đó, Gióng lại bảo tiếp:</p><p>- Mẹ phải kiếm vải cho con mặc.</p><p>Người ta lại đua nhau mang vải lụa tới may áo quần cho Gióng mặc. Nhưng thân thể Gióng lớn vượt trội một cách kỳ lạ, áo quần vừa may xong đã thấy chật, thấy ngắn, lại phải mang vải lụa tới để chắp nối thêm. Không mấy chốc đầu Gióng đã chạm đến nóc nhà. Ai nấy chưa hết kinh ngạc thì vừa lúc quân sĩ đã hì hục khiêng được ngựa, gươm, áo giáp và nón sắt tới. Gióng bước ra khỏi nhà vươn vai một cái, người bỗng cao to sừng sững, chân dài hơn trượng, hét lên một tiếng như tiếng sấm:</p><p>- Ta là tướng nhà Trời!</p><p>Nói rồi Gióng mặc giáp sắt, đội nón sắt, tay cầm gươm múa quanh mấy vòng. Đoạn từ biệt mẹ và dân làng, nhảy lên lưng ngựa. Ngựa sắt bỗng chồm lên, phun thẳng ra đằng trước một luồng lửa đỏ rực. Gióng thúc chân, ngựa phi như bay, sải từng bước dài hàng chục con sào. Chỉ trong chớp mắt, ngựa đã xông đến đồn trại giặc đang đóng la liệt cả mấy khu rừng. Lưỡi gươm của Gióng vung lên loang loáng như chớp giật. Quân giặc xông ra chừng nào chết chừng ấy. Ngựa thét ra lửa thiêu cháy từng dãy đồn trại, lửa thiêu luôn cả mấy khu rừng.</p><p>Nhưng tướng giặc Ân vương vẫn còn cố gào thét hô quân xáp tới, Gióng càng đánh càng khỏe, thây giặc nằm ngổn ngang. Bỗng chốc gươm gãy, Gióng không chút bối rối, thuận tay nhổ những bụi tre hai bên đường quật tới tấp vào các toán giặc đang cố gắng trụ lại theo lệnh chủ tướng. Chẳng mấy chốc quân giặc đã tẩu tán bỏ chạy khắp nơi, Ân vương bị quật chết tan xác. Bọn tàn binh giặc lạy lục xin hàng. Quân đội của Hùng Vương cũng như dân các làng chỉ còn việc xông ra trói chúng lại. Không đầy một buổi, Gióng đã trừ xong nạn cho nước nhà. Lúc bấy giờ ngựa Gióng đã tiến đến chân núi Sóc Sơn. Đến đây, Gióng bèn cởi giáp bỏ nón lại, rồi cả người lẫn ngựa bay thẳng lên trời.</p><p>Sau khi thắng trận, để nhớ ơn người anh hùng, vua Hùng sai lập đền thờ Thánh Gióng ở làng quê, phong làm Phù Đổng thiên vương.</p><p>Ngày nay chúng ta còn thấy vẫn còn những dấu vết như dãy ao tròn nối nhau kéo dài suốt từ Kim Anh, Đa Phúc cho đến Sóc Sơn, người ta bảo đó là những vết chân ngựa của Thánh Gióng. Khu rừng bị ngựa sắt phun lửa thiêu cháy nay còn mang cái tên là làng Cháy. Những cây tre mà Gióng đã nhổ quật vào giặc bị lửa đốt màu xanh ngả thành màu vàng và có những vết cháy lốm đốm, ngày nay giống ấy vẫn còn, người ta gọi là tre là ngà (hay đằng ngà).</p><p><strong>Ý nghĩa câu chuyện Thánh Gióng</strong></p><p>Hình tượng Thánh Gióng được xây dựng là người anh hùng đánh giặc ngoại xâm. Thánh Gióng được sinh ra một cách kỳ lạ và lớn nhanh như thổi để đi giết giặc.</p><p>Ý nghĩa hình tượng đó được xây dựng nói lên tình yêu nước, tinh thần đấu tranh chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta.</p><p>Thánh Gióng là hiện thân của sức mạnh thiên nhiên và con người, sức mạnh đó dung hòa và kết tinh lại thành sức mạnh to lớn để quật ngã mọi kẻ thù to lớn.</p><p>Từ lịch sử chống giặc ngoại xâm, hình tượng Thánh Gióng được thần thánh hóa để trở thành nhân vật anh hùng, mang tinh thần ý chí quật khởi trong cuộc chiến chống giặc giữ nước của nhân dân ta. </p><p>Câu chuyện đến đây là kết thúc rồi </p><p>Cảm ơn các bạn đã được câu chuyện này</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-01-14 15:10:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3290632532</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3290641880</link>
         <description><![CDATA[<p>Mình xin kể câu chuyện Bánh chưng bánh giày </p><p>    Ngày xưa, đời vua&nbsp;Hùng Vương thứ sáu, sau khi đánh dẹp xong giặc Ân, vua có ý định truyền ngôi cho con.</p><p>Nhân dịp đầu xuân, vua mới họp các hoàng tử lại, bảo rằng: “Con nào tìm được thức ăn ngon lành, để bày cỗ cho có ý nghĩa nhất, thì ta sẽ truyền ngôi vua cho”.</p><p>Các hoàng tử đua nhau tìm kiếm của ngon vật lạ dâng lên cho vua cha, với hy vọng mình lấy được ngai vàng.</p><p>Trong khi đó, người con trai thứ 18 của Hùng Vương, là Tiết Liêu (còn gọi là Lang Liêu) có tính tình hiền hậu, lối sống đạo đức, hiếu thảo với cha mẹ. Vì mẹ mất sớm, thiếu người chỉ vẽ, nên ông lo lắng không biết làm thế nào.</p><p>Một hôm, Tiết Liêu nằm mơ&nbsp;thấy có vị Thần đến bảo: “Này con, vật trong Trời Đất không có gì quý bằng gạo, vì gạo là thức ăn nuôi sống con người. Con hãy lấy gạo nếp làm bánh hình tròn và hình vuông, để tượng trưng cho&nbsp;hình Trời và Đất. Hãy lấy lá bọc ngoài, đặt nhân trong ruột bánh, để tượng hình Cha Mẹ sinh thành.”</p><p>Tiết Liêu tỉnh dậy, vô cùng mừng rỡ. Ông làm theo lời Thần dặn, chọn gạo nếp thật tốt làm bánh vuông để tượng hình Đất, bỏ vào chõ chưng chín gọi là Bánh Chưng. Và ông giã xôi làm bánh tròn, để tượng hình Trời, gọi là Bánh Giầy. Còn lá xanh bọc ở ngoài và nhân ở trong ruột bánh là tượng hình cha mẹ yêu thương đùm bọc con cái.</p><p>Đến ngày hẹn, các hoàng tử đều đem thức ăn đến bày trên mâm cỗ. Ôi thôi, đủ cả sơn hào hải vị, nhiều món ngon lành. Hoàng tử Tiết Liêu thì chỉ có bánh chưng&nbsp;và bánh giầy. Vua Hùng Vương lấy làm lạ hỏi, thì Tiết Liêu đem chuyện Thần báo mộng kể, giải thích ý nghĩa của bánh chưng, bánh giầy.&nbsp;Vua cha nếm thử, thấy bánh ngon, khen có ý nghĩa, và tuyên bố truyền ngôi vua lại cho Tiết Liêu.</p><p>Cũng kể từ đó, vào mỗi dịp Tết Nguyên đán&nbsp;thì mỗi gia đình đều quây quần bên nhau để làm bánh chưng&nbsp;và bánh giầy để dâng lên ông bà, tổ tiên,&nbsp;truyền thống đó vẫn còn được&nbsp;lưu truyền cho đến ngày nay.</p><p><br/></p><p>Qua câu chuyện&nbsp;<strong>"Sự tích&nbsp;bánh chưng, bánh giầy"</strong>&nbsp;chúng mình đã được hiểu thêm về tục lệ làm bánh chưng, bánh giầy trong ngày Tết Nguyên đán, đồng thời câu chuyện còn thể hiện sự biết ơn đối&nbsp;với những&nbsp;thế hệ đi trước.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-01-14 15:16:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3290641880</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3294947568</link>
         <description><![CDATA[<p>Sau đây mình xin giới thiệu câu chuyện Thạch Sanh</p><p>  Xưa ở quận Cao Bình có gia đình bác tiều phu Thạch Nghĩa, vợ chồng tuổi cao mà vẫn không con. Ông bà lo buồn và ra sức làm việc nghĩa. Ông thì sửa cầu, sửa cống, khơi rãnh, đắp đường. Bà thì nấu nước cho người qua đường uống. Việc làm của gia đình họ Thạch thấu đến trời, Ngọc Hoàng cho Thái tử đầu thai xuống trần làm con nhà họ Thạch.&nbsp;Thạch bà thụ thai ba năm, chưa sinh con thì Thạch ông mất. Sau đó, Thạch bà sinh một con trai khôi ngô tuấn tú đặt tên là&nbsp;Thạch Sanh. Cách ít năm sau, Thạch bà cũng mất, Thạch Sanh sống côi cút một mình trong túp lều tranh dưới gốc đa với một mảnh khố che thân và một cái búa đốn củi.</p><p>Năm Thạch Sanh mười ba tuổi, Ngọc Hoàng sai tiên ông xuống dạy cho chàng các môn võ nghệ và mọi phép thần thông.<br>Một hôm có anh hàng rượu tên là Lý Thông, đi bán rượu ghé vào gốc đa nghỉ chân, thấy Thạch Sanh khỏe mạnh, lanh lợi, ở một mình, bèn kết làm anh em và đưa Thạch Sanh về nhà.<br>Bấy giờ ở trong vùng có một con Trăn Tinh thường bắt người ăn thịt, quan quân nhiều lần vây đánh không được. Vì nó có phép thần thông biến hóa; nhà vua phải cho lập miếu thờ và mỗi năm nộp mạng một người cho nó. Năm ấy đến lượt Lý Thông phải nộp mình. Mẹ con&nbsp;Lý Thông&nbsp;nghe tin hoảng hốt, bàn mưu tính kế đưa Thạch Sanh đi thế mạng. Khi Thạch Sanh đi lấy củi về, Lý Thông đon đả mời chàng uống rượu và nói: “Ðêm nay anh phải đi canh miếu thờ trong rừng, nhưng trót cất mẻ rượu, anh đi sợ hỏng, nhờ em thay anh canh miếu một đêm”. Thạch Sanh vui vẻ nhận lời và đi ngay.<br>Nửa đêm Trăn Tinh hiện về, giơ vuốt, nhe răng hà hơi, nhả lửa, định xông vào miếu ăn thịt Thạch Sanh. Thạch Sanh bình tĩnh trổ tài đánh nhau với Trăn Tinh, cuối cùng chàng chém được đầu nó, đốt xác nó thành than, và thấy hiện lên trong miếu một bộ cung tên bằng vàng ngời sáng. Thạch Sanh mừng rỡ giắt búa, đeo cung và xách đầu Trăn Tinh chạy thẳng một mạch về nhà. Nghe tiếng Thạch Sanh gọi, mẹ con Lý Thông hoảng sợ, cho là oan hồn của Thạch Sanh sau khi bị Trăn Tinh ăn thịt, trở về nhà oán trách, bèn cất lời cầu khấn, van xin: “Sống khôn, thác thiêng em hãy tạm đi, ngày mai mẹ cùng anh sẽ mua sắm vàng hương, cơm canh, cỗ bàn cúng em chu tất!”. Bấy giờ, Thạch Sanh mới biết rõ tâm địa và mưu kế của mẹ con Lý Thông nhưng chàng không giận, vẫn vui vẻ kể chuyện giết Trăn Tinh cho mẹ con họ Lý nghe. Lý Thông liền nảy ra một mưu thâm độc mới. Nó nói Trăn Tinh là báu vật nhà vua nuôi, ai giết sẽ bị tội lớn. Thạch Sanh lo sợ, Lý Thông bảo Thạch Sanh trốn đi cho an toàn, một mình y sẽ tự lo liệu thu xếp giúp cho.  </p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-01-17 14:21:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3294947568</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3298871659</link>
         <description><![CDATA[<p>Mình xin kể câu chuyện “truyền thuyết Mỵ Châu Trọng Thủy “</p><p>    Sau khi An Dương Vương xây thành Cổ Loa, thần Kim Quy cho An Dương Vương một cái móng của mình để làm lẫy nỏ mà giữ thành. Theo lời thần dặn, nỏ có được cái lẫy làm bằng móng chân thần sẽ là chiếc nỏ bắn trăm phát trúng cả trăm, và chỉ một phát có thể giết hàng ngàn quân địch. An Dương Vương chọn trong đám gia thần được một người làm nỏ rất khéo tên là Cao Lỗ và giao cho Lỗ làm chiếc nỏ thần. Lỗ gắng sức trong nhiều ngày mới xong. Chiếc nỏ rất lớn và rất cứng, khác hẳn với những nỏ thường, phải tay lực sĩ mới giương nổi. An Dương Vương quý chiếc nỏ thần vô cùng, lúc nào cũng treo gần chỗ nằm.</p><p>Lúc bấy giờ Triệu Đà làm chúa đất Nam Hải, mấy lần đem quân sang cướp đất Âu Lạc, nhưng vì An Dương Vương có nỏ thần, quân Nam Hải bị giết hại rất nhiều nên Đà đành cố thủ đợi chờ thời cơ. Triệu Đà thấy dùng binh không lợi, bèn xin giảng hòa với An Dương Vương, sai con trai là Trọng Thuỷ sang cầu thân, nhưng chủ ý là tìm cách phá chiếc nỏ thần.</p><p>Trong những ngày đi lại để giả kết tình hoà hiếu, Trọng Thuỷ được gặp Mỵ Châu, con gái yêu của An Dương Vương, một thiếu nữ mày ngài, mắt phượng, nhan sắc tuyệt trần. Trọng Thuỷ đem lòng yêu dấu Mỵ Châu, Mỵ Châu dần dần cũng xiêu lòng. Hai người trở nên thân thiết, không còn chỗ nào trong Loa thành mà Mỵ Châu không dẫn người yêu đến xem. An Dương Vương không nghi kỵ gì cả. Thấy đôi trẻ thương yêu nhau, vua liền gả Mỵ Châu cho Trọng Thuỷ.</p><p>Một đêm trăng sao vằng vặc, Mỵ Châu cùng Trọng Thuỷ ngồi trên phiến đá trắng giữa vườn, cùng nhau nhìn dãy tường thành cao nhất. Trong câu chuyện tỷ tê, Trọng Thuỷ hỏi vợ rằng: Nàng ơi, bên Âu Lạc có bí quyết gì mà không ai đánh được? Mỵ Châu đáp: Có bí quyết gì đâu chàng, Âu Lạc đã có thành cao, hào sâu, lại có nỏ thần bắn một phát chết hàng nghìn quân địch, như thế còn có kẻ nào đánh nổi được? Trọng Thuỷ làm bộ ngạc nhiên, vờ như mới nghe nói đến nỏ thần lần đầu. Chàng ngỏ ý muốn xem chiếc nỏ. Mỵ Châu không ngần ngại, chạy ngay vào chỗ nằm của cha, lấy nỏ thần đem ra cho chồng xem. Nàng lại chỉ cho chàng biết cái lẫy vốn là chiếc móng chân thần Kim Quy và giảng cho Trọng Thuỷ cách bắn. Trọng Thuỷ chăm chú nghe, chăm chú nhìn cái lẫy, nhìn khuôn khổ cái nỏ hồi lâu, rồi đưa cho vợ cất đi.</p><p>Hôm sau, Trọng Thủy xin phép An Dương Vương về thăm cha. Hắn thuật lại cho Triệu Đà biết về chiếc nỏ thần. Đà sai một gia nhân chuyên làm nỏ, chế một chiếc lẫy nỏ giống hệt của An Dương Vương. Lẫy giả làm xong, Trọng Thuỷ giấu vào trong áo, lại trở sang Âu Lạc.</p><p>An Dương Vương vốn chiều con gái, thấy con mỗi khi gặp chồng thì vui vẻ sung sướng, liền sai gia nhân bày tiệc rượu để ba cha con cùng vui. Trọng Thuỷ uống cầm chừng, còn An Dương Vương và Mỵ Châu say tuý luý. Thừa lúc bố vợ say, Trọng Thuỷ lẻn ngay vào phòng tháo lấy cái lẫy bằng móng chân thần Kim Quy và thay cái lẫy giả bằng móng rùa thường vào.</p><p>Hôm sau, thấy chồng có vẻ bồn chồn, hết đứng lại ngồi không yên, Mỵ Châu hỏi chồng rằng: Chàng như có gì lo lắng phải không? Trọng Thuỷ đáp: Ta sắp phải đi, Phụ vương dặn phải về ngay để còn lên miền Bắc, miền Bắc xa lắm nàng ạ. Mỵ Châu buồn rầu lặng thinh, Trọng Thuỷ nói tiếp: Bây giờ đôi ta sắp phải xa nhau, không biết đến bao giờ gặp lại! Nếu chẳng may xảy ra binh đao, tôi biết đâu mà tìm? Mỵ Châu nói: Thiếp có cái áo lông ngỗng, hễ thiếp chạy về hướng nào thì thiếp sẽ rắc lông ngỗng dọc đường, chàng cứ chạy theo dấu lông ngỗng mà tìm. Nói xong Mỵ Châu nức nở khóc.</p><p>Về đất Nam Hải, Trọng Thuỷ đưa cái móng rùa vàng cho cha, Triệu Đà mừng rỡ vô cùng, reo lên rằng: “Phen này đất Âu Lạc sẽ về tay ta”. Chỉ ít ngày sau, Triệu Đà đã ra lệnh cất quân sang đánh Âu Lạc.</p><p>Nghe tin báo, An Dương Vương cậy có nỏ thần, không phòng bị gì cả. Đến khi quân giặc đã đến sát chân thành, An Dương Vương sai đem nỏ thần ra bắn thì không thấy linh nghiệm nữa. Quân Triệu Đà phá cửa thành, ùa vào. An Dương Vương vội lên ngựa, đèo Mỵ Châu sau lưng, phi ngựa thoát ra cửa sau. Ngồi sau lưng cha, Mỵ Châu bứt lông ngỗng ở áo rắc khắp dọc đường.</p><p>Đường núi gập ghềnh hiểm trở, ngựa chạy luôn mấy ngày đêm đến Dạ Sơn gần bờ biển. Hai cha con định xuống ngựa ngồi nghỉ thì quân giặc đã gần đến. Thấy đường núi quanh co dốc ngược, bóng chiều đã xuống, không còn lối nào chạy, An Dương Vương liền hướng ra biến, khấn thần Kim Quy phù hộ cho mình. Vua vừa khấn xong thì một cơn gió lốc cát bụi bốc lên mù mịt, làm rung chuyển cả núi rừng. Thần Kim Quy xuất hiện, bảo An Dương Vương rằng “giặc ở sau lưng nhà vua đấy”. An Dương Vương tỉnh ngộ, liền rút gươm chém Mỵ Châu, rồi nhảy xuống biểu tự vẫn.</p><p>Quân của Triệu Đà kéo vào chiếm đóng Loa thành, còn Trọng Thuỷ một mình một ngựa theo dấu lông ngỗng đi tìm Mỵ Châu. Đến gần bờ biển, thấy xác vợ nằm trên đám cỏ, tuy chết mà nhan sắc không mờ phai. Trọng Thuỷ khóc oà lên, thu nhặt thi hài đem về chôn trong thành, rồi đâm đầu xuống giếng trong thành mà xưa kia Mỵ Châu thường tắm.</p><p>Ngày nay, ở làng cổ Loa, trước đền thờ An Dương Vương, còn cái giếng gọi là giếng Trọng Thuỷ. Tục truyền khi Mỵ Châu đã bị cha giết chết rồi, máu nàng chảy xuống biển, trai ăn được nên mới có ngọc châu. Lấy được ngọc trai ấy đem về rửa bằng nước giếng trong thành Cổ Loa thì ngọc trong sáng vô cùng.</p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-01-21 14:34:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3298871659</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3309432994</link>
         <description><![CDATA[<p>Câu chuyện Yết Kiêu </p><p>   Ngày xưa có một người tên là Yết Kiêu ở làng Hạ Bì làm nghề đánh cá. Một hôm, ông ta đi dọc theo bờ biển về làng bỗng thấy trên bãi có hai con trâu đang ghì sừng húc nhau dưới bóng trăng khuya<br>Sẵn đòn ống, ông cầm xông lại phang mạnh mấy cái vào mình chúng nó. Tự dưng hai con trâu chạy xuống biển rồi biến mất. Ông rất kinh ngạc đoán biết là trâu thần. Khi nhìn lại đòn ống thì thấy có mấy cái lông trâu dính vào đấy. Ông mừng quá bỏ vào miệng nuốt đi.<br>Từ đó sức khỏe của Yết Kiêu vượt hẳn mọi người, không một ai dám đương địch. Đặc biệt là có tài lội nước. Mỗi lần ông lặn xuống biển bắt cá, người ta cứ tưởng như ông đi trên đất liền. Nhiều khi ông sống ở dưới nước luôn sáu bảy ngày mới lên.<br>Hồi ấy có quân giặc ở nước ngoài sang cướp nước ta. Chúng cho một trăm chiếc tàu lớn tiến vào cửa biển Vạn Ninh vây bọc, bắt tất cả thuyền bè, đốt phá chài lưới. Đi đến đâu, chúng cướp của giết người gây tang tóc khắp mọi vùng duyên hải. Chiến thuyền nhà vua ra đối địch bị giặc đánh đắm mất cả. Nhà vua rất lo sợ, sai rao trong thiên hạ ai có cách gì lui được giặc dữ sẽ phong cho quyền cao chức trọng.<br><br>Yết Kiêu bèn tìm đến tâu vua rằng: – “Tôi tuy tài hèn sức yếu nhưng cũng quyết cho lũ chúng nó vào bụng cá”. Vua hỏi: – “Nhà ngươi cần bao nhiêu người’? bao nhiêu thuyền bè?” – “Tâu bệ hạ – ông đáp – chỉ một mình tôi cũng có thể đương được với chúng nó”. Nhà vua mừng lắm, liền phong cho ông làm Đô thống cầm thủy quân đánh giặc.<br>Ông đến Vạn Ninh cho quân sĩ nghỉ ngơi, chỉ bảo họ sắm cho mình một cái khoan, một cái búa. Đoạn, một mình ông lặn xuống đáy biển đi ra chỗ tàu giặc. Ông tìm đến đáy tàu vừa khoan, vừa đục. Ông làm rất lẹ và im lặng, tàu giặc cứ đắm hết chiếc này đến chiếc khác. Trong một hôm, chúng bị đắm luôn một lúc hơn hai mươi chiếc. Thấy thế, quân giặc hoảng loạn cả lên. Chúng sai những tên quân có tài bơi lặn lặn xuống nước do thám. Mấy tên quân đó tìm mãi mới thấy Yết Kiêu đang khoan một chiếc tàu. Bọn chúng xông lại nhưng chúng đâu có phải là địch thủ của ông, cho nên cuối cùng ông không để cho một đứa nào trở về.<br>Quân giặc vô cùng sợ hãi. Mãi về sau tên tướng giặc đem một cái ống dòm thủy tinh có phép nhìn được thấu qua nước đến đáy biển. Chúng thấy ông đi lại thoăn thoắt như đi trên bộ. Chúng bèn đem cái vó bằng sắt nhân lúc ông đang mải đục một chiếc tàu, buông xuống chụp lấy ông. Nhờ thế chúng bắt sống được Yết Kiêu. Lập tức chúng tra khảo ông: – “Trong nước mày những người lặn như mày có bao nhiêu người?”. Ông bảo chúng: – “Không kể những người đi lại dưới nước suốt 10 ngày không lên, còn như hạng ta thì một trăm chiếc tàu của chúng bay cũng không thể chở hết. Hiện giờ ở dưới đó hết lớp này xuống lại lớp kia lên không mấy khi vắng người”. Nghe nói thế, bọn giặc kinh sợ cuối cùng chúng dỗ dành: – “Mày muốn tốt phải đưa chúng tao đi bắt sẽ có hậu thưởng, bằng không thì sẽ giết chết”. – “Được, theo ta, ta chỉ cho!”.<br>Quân giặc tưởng thật, bắt ông cùng với mười tên quân đem vó sắt ngồi trên thuyền nhỏ ra biển dò tìm. Thừa lúc chúng vô ý, ông nhảy tòm xuống nước trốn đi. Chúng nó trông nhau ngơ ngác. Bấy giờ quân giặc đã bị thiệt hại khá nặng, lại nghe Yết Kiêu nói nước Nam có nhiều người tài lặn nên cuối cùng chúng đành phải quay tàu trở về không dám quấy nhiễu nữa.<br>Nhà vua mừng quá, khen ngợi Yết Kiêu vô cùng, phong ông làm đại vương. Sau khi ông mất, mọi người nhớ ơn lập đền thờ ở cửa Vạn Ninh và ở nhiều cửa biển khác.</p><p><br/></p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-01-30 07:41:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3309432994</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3309438651</link>
         <description><![CDATA[<p><br/></p><p>   Thuở xưa vào đời vua Hùng thứ 17 có một chàng trai khôi ngô tháo vát nhanh nhẹn nên được nhà vua nhận làm con nuôi đặt tên là Mai Yển ( hiệu An Tiêm) và thường được vua ban cho nhiều của ngon vật lạ.</p><p><br/></p><p><em>Sự tích quả dưa hấu Mai An Tiêm</em></p><p>Trong một buổi thiết yến An Tiêm đã thẳng thắn nói:”Của được biếu là của phải lo, của được cho là của phải nợ.”Chàng cho rằng những thứ chàng có được đều do bàn tay chàng làm ra chứ không phụ thuộc vào ai cả</p><p>Lời này truyền đến tai vua khiến vua cha rất tức giận, cho rằng An Tiêm là kẻ kiêu bạc vô ơn và ra lệnh đày vợ chồng Mai An Tiêm ra đảo hoang để xem, trông vào hai bàn tay của chàng thì chàng có sống nổi không.</p><p>Cả gia đình của Mai An Tiêm bị đày ra hòn đảo ngoài biển Nga Sơn (Thanh Hoá). Tuy bị đày ra hoang đảo nhưng An Tiêm vẫn rất mạnh mẽ an ủi vợ con của mình:”Trời đã sinh ra ta, sống chết là ở Trời và ở ta, việc gì phải lo”</p><p>Đây là hòn đảo hoang vu và không có người nên cả gia đình An Tiêm phải tự dùng sức lao động của mình để kiếm miếng ăn. Hằng ngày chàng đi khắp hòn đảo để kiếm rau rừng, quả dại về ăn và trồng trọt xung quanh nơi ở của mình. Vợ chàng, nàng Ba ra biển mò ngao bắt ốc, đứa con lớn cùng chàng thường đặt bẫy săn bắn chim thú trên đảo, nhờ vào đức tính siêng năng cần cù mà cả gia đình tuy khốn khó nhưng vẫn có miếng ăn sống qua ngày.</p><p><em>Mai An Tiêm tìm ra hạt dưa hấu</em></p><p>Một hôm đang đi xung quanh tìm rau rừng chàng liền bắt gặp một con chim đang ăn một loại quả lạ có màu đỏ, thấy chàng lại gần chim bị hoảng sợ liền bay đi. Chàng nghĩ:”Chim ăn được thì chắc người cũng sẽ ăn được” . Sau đó chàng nếm thử thì thấy mùi vị thơm và ngon ngọt, tươi mát.An Tiềm liền cầm hạt về nhà bảo vợ và hai vợ chồng cùng nhau gieo hạt khắp nơi. Giống cây này rất dễ trồng chỉ ít lâu sau đã nảy mầm, mọc dây lá lan rộng xung quanh.</p><p>Chẳng bao lâu sau vườn dưa ngày càng sai trái, vỏ ngoài mỏng dần và thịt dưa ngày càng đỏ và ngọt hơn. An Tiêm thường khắc chữ lên dưa và thả trôi trên biển với hy vọng có thuyền buôn nào vớt được sẽ đổi được thức ăn và gạo cho gia đình.</p><p><em>An Tiêm thường khắc chữ lên dưa</em></p><p>Nhờ loại quả mới ngọt mát mà tiếng lành đồn xa, nên rất nhiều thuyền buôn ghé tới muốn mua dưa mang vào đất liền, từ đó cả gia đình An Tiêm đã có thêm thức ăn và đồ dùng, cuộc sống khấm khá hơn.</p><p>Vì chim đã mang hạt từ phương Tây đến nơi này nên chàng đặt tên loại quả này là Tây Qua, về sau người tàu ăn thấy ngon nên khen “hảo” từ đó có tên là dưa hấu.</p><p><em>Rất nhiều thuyền buôn ghé tới muốn mua dưa mang vào đất liền</em></p><p>Vào lúc này, trong đất liền vua Hùng được một thị thần dâng cho quả lạ, khi ăn rất ngọt mát nên bèn hỏi xuất xứ. Khi biết được loại quả này là của An Tiêm trồng ngoài đảo thì lúc này vua biết mình đã sai nên cho người đón vợ chồng An Tiêm trở lại đất liền. Khi trở lại vợ chồng An Tiêm mang theo rất nhiều hạt giống về phân phát cho bà con và truyền dạy cách gieo trồng, chăm bón. Từ đó trên khắp nước ta đều có dưa hấu và trở thành một loại quả quen thuộc đối với người dân. Ngày nay người ta vẫn thường bảo nhau rằng chỉ có huyện Nga Sơn là trồng dưa hấu ngon hơn cả là vì sau nghìn năm bồi cát, hòn đảo Mai An Tiêm năm ấy đã liền vào với đất.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3336053152/18fe6f77e71c1898c215ec79133231d1/image.jpeg" />
         <pubDate>2025-01-30 07:48:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3309438651</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3315215680</link>
         <description><![CDATA[<p>Mình xin kể câu chuyện Sọ dừa và mình dặt ra chủ đề đó là Những câu chuyện cổ tích câu chuyện này như sau</p><p>    Ngày xửa ngày xưa, tại một ngôi làng nọ, có đôi vợ chồng già đi ở đợ cho nhà ông phú hộ. Dù tuổi đã cao nhưng mãi mà họ vẫn chưa có lấy một mụn con.</p><p>Một hôm, người vợ đi vào rừng hái củi.<strong> Trời hôm ấy nắng nóng như đổ lửa, trong lúc khát nước quá thì bà vô tình thấy một cái sọ dừa đựng đầy nước mưa bên gốc cây. Bà bèn bưng lên uống một hơi cho đỡ khát.</strong></p><p>Ít lâu sau, bỗng dưng bà có thai và hạ sinh ra một đứa bé <strong>không tay, không chân, tròn ủng như quả dừa trông rất kỳ dị. Bà sợ hãi, định đem vứt đứa trẻ đi thì nó liền ra sức cầu xin bà hãy giữ lại và đặt tên cho nó là Sọ Dừa.</strong></p><p>May thay, Sọ Dừa là đứa trẻ hiểu chuyện, thương mẹ làm lụng vất vả nên đã xin chăn đàn bò cho nhà phú hộ, phụ mẹ kiếm sống. Hôm nọ, khi tôi tớ đi làm hết, ông phú hộ liền sai ba cô con gái thay phiên nhau đưa cơm cho Sọ Dừa.</p><p><br/></p><p>Hai cô chị thì kiêu kỳ, thâm độc lúc nào cũng khinh khi Sọ Dừa.<strong> Còn cô em út dịu dàng, tốt bụng nên đối xử với Sọ Dừa vô cùng tử tế. Vô tình khi cô út mang cơm đến thì phát hiện Sọ Dừa hóa ra là một chàng trai khôi ngô tuấn tú, nhưng khi nghe tiếng động thì lại biến trở về </strong></p><p><br/></p><p>Sau lần gặp gỡ đó, cô đã đem lòng yêu quý Sọ Dừa. <strong>Một hôm, Sọ Dừa giục mẹ đến nhà ông phú hộ hỏi cưới vợ cho mình. Trong khi hai cô con gái lớn chua ngoa, dè bỉu thì cô em út lại nguyện ý lấy Sọ Dừa làm chồng.</strong></p><p><br/></p><p>Đến ngày cưới, Sọ Dừa mới biến thành hình dáng thực sự của mình khiến hai cô chị vô cùng tiếc nuối và đem lòng ghen tức với cô em.<strong> Sọ Dừa vốn là chàng trai thông minh nên đã đỗ trạng nguyên và nhà được nhà vua cử đi xứ. Trước khi đi, chàng đã nghi ngờ điều gì đó nên đã đưa cho vợ một hòn đá lửa, hai quả trứng và một con dao để phòng tai họa.</strong></p><p>Đúng như linh cảm của chàng, hai cô chị nhân lúc Sọ Dừa vắng nhà đã tìm cách hãm hại và đẩy cô út xuống biển. Nhờ nhớ như in các vật dụng của chàng dặn mà cô út đã thoát chết trong gang tấc. Cuối cùng, nàng đã được chồng cứu trên đường đi xứ về và hai vợ chồng đoàn tụ. Hai cô chị sau khi bị phát hiện làm việc tàn ác đã bỏ nhà ra đi biệt tích, không bao giờ trở lại.</p><p><strong>  </strong></p><p><br/></p><p><strong>       </strong></p><p><strong>     </strong></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-04 12:43:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3315215680</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3316314397</link>
         <description><![CDATA[<p>Hôm nay mình sẽ kể câu chuyện Chử đồng tử và tiên dung </p><p>Tương truyền Chử Đồng Tử sống cùng cha là Chử Cù Vân tại Chử Xá (huyện Văn Giang, Hưng Yên); có bản viết là Chử Vi Vân. Theo “Việt sử giai thoại” của Nguyễn Khắc Thuần – NXB Giáo dục). Chẳng may nhà cháy, mất hết của cải, hai cha con chỉ còn lại một chiếc&nbsp;khố phải thay nhau mà mặc. Lúc người cha lâm chung, ông gọi con lại bảo rằng hãy giữ chiếc khố lại cho bản thân. Thương cha nên Chử Đồng Tử liệm&nbsp;khố theo cha, mình thì chịu cảnh trần truồng khổ sở, kiếm sống bằng cách ban đêm câu cá, ban ngày dầm nửa người dưới nước, đến gần thuyền bán cá hoặc&nbsp;xin ăn.</p><p>Thời ấy Vua&nbsp;Hùng Vương&nbsp;thứ ba có cô con gái tên là Tiên Dung&nbsp;đến tuổi cập kê mà vẫn chỉ thích ngao du sơn thủy, không chịu lấy chồng. Vào một ngày đẹp trời, nàng cho thuyền dạo chơi dọc sông Hồng, lúc đó Chử Đồng Tử đang ngâm mình bắt cá dưới sông, nghe tiếng chuông trống, đàn sáo lại thấy nghi trượng, người hầu tấp nập, Chử Đồng Tử hoảng sợ vội vùi mình vào cát lẩn tránh . Ngắm phong cảnh hữu tình, công chúa Tiên Dung cho dừng thuyền, sai thị nữ lên bờ quây màn tắm bên một khóm lau, chẳng ngờ lại đúng nơi chàng trai họ Chử giấu mình. Nước dội cát trôi, phút chốc nàng thấy lộ ra thân hình một chàng trai trẻ cũng không quần áo. Tr­ước ng­ười con gái có thân thể ngọc ngà, Chử sợ hãi định chạy trốn nhưng Tiên Dung ngẫm thấy là duyên trời định bèn nói: “Ta và chàng tình cờ gặp nhau thế này, âu cũng là nhân duyên do trời sắp đặt”, liền đó nàng truyền mang quần áo cho Chử Đồng Tử và cùng chàng làm lễ kết duyên ngay trên thuyền.</p><p>Vua Hùng nghe chuyện thì giận dữ vô cùng, không cho Tiên Dung về cung. Tiên Dung thấy vậy không dám về, ở lại cùng Chử Đồng Tử sống cuộc đời bình dị mà hạnh phúc. Họ mưu sinh bằng nghề chài lưới và trao đổi hàng hoá trên sông. Nơi ấy trở thành nơi đô hội, thuyền bè buôn bán tấp nập.</p><p>Một hôm có người bày cho cách ra ngoài buôn bán nhiều lãi, Tiên Dung khuyên chồng nghe theo. Chử Đồng Tử bèn theo khách buôn đi khắp ngược xuôi. Một hôm qua ngọn núi giữa biển tên Quỳnh Tiên (có bản ghi là Quỳnh Vi – tham khảo “Việt sử giai thoại” – Chuyện kể Chử Đồng Tử; đây là tên một ngọn núi chỉ có trong thần thọai), Chử Đồng Tử trèo lên am trên núi và gặp một đạo sĩ tên Phật Quang. Chàng bèn giao tiền cho khách buôn đi mua hàng, còn mình thì ở lại học phép thuật. Sau thuyền quay lại đón, Phật Quang tặng Chử Đồng Tử một cây gậy và một chiếc nón lá, dụ rằng đây là vật thần thông.</p><p>Về nhà, Chử Đồng Tử truyền mọi sự lại cho vợ. Tiên Dung giác ngộ bèn bỏ việc buôn bán, cùng chồng chu du tìm thầy học đạo. Một hôm tối trời, đã mệt mà không có hàng quán ven đường, hai vợ chồng dừng lại cắm gậy úp nón lên trên cùng nghỉ. Bỗng nửa đêm, chỗ đó nổi dậy thành quách, cung vàng điện ngọc sung túc, người hầu lính tráng la liệt. Sáng hôm sau, dân chúng quanh vùng kinh ngạc bèn dân hương hoa quả ngọt đến xin làm bầy tôi. Từ đấy chỗ đó phồn thịnh, sung túc như một nước riêng.</p><p>Sau kẻ nịnh thần về kinh đô tâu với vua rằng vợ chồng công chúa Tiên Dung dùng phép lạ dựng thành quách, muốn lập riêng bờ cõi. Ngỡ con làm phản, vua Hùng sai quân đến dẹp. Vợ chồng Chử Đồng Tử không dám cưỡng lại mệnh cha, chờ chịu tội. Nửa đêm hôm ấy một trận cuồng phong nổi lên, cả lâu đài thành quách của vợ chồng Chử Đồng Tử cùng bay lên trời, để lại một đầm nước rộng mênh mông. Người đời sau gọi đầm ấy là đầm Nhất Dạ.</p><p>Nhân dân cho đó là điều linh dị bèn lập miếu thờ, bốn mùa cúng tế và gọi đầm đó là đầm Nhất Dạ Trạch (Đầm Một Đêm), bãi cát đó là Bãi Tự Nhiên hoặc Bãi Màn Trù và chợ đó là chợ Hà Thị.</p><p>    </p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-05 03:48:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3316314397</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3316315512</link>
         <description><![CDATA[<p>Hôm nay mình sẽ kể câu chuyện Chử đồng tử và tiên dung</p><p> Tương truyền Chử Đồng Tử sống cùng cha là Chử Cù Vân tại Chử Xá (huyện Văn Giang, Hưng Yên); có bản viết là Chử Vi Vân. Theo “Việt sử giai thoại” của Nguyễn Khắc Thuần – NXB Giáo dục). Chẳng may nhà cháy, mất hết của cải, hai cha con chỉ còn lại một chiếc&nbsp;khố phải thay nhau mà mặc. Lúc người cha lâm chung, ông gọi con lại bảo rằng hãy giữ chiếc khố lại cho bản thân. Thương cha nên Chử Đồng Tử liệm&nbsp;khố theo cha, mình thì chịu cảnh trần truồng khổ sở, kiếm sống bằng cách ban đêm câu cá, ban ngày dầm nửa người dưới nước, đến gần thuyền bán cá hoặc&nbsp;xin ăn.</p><p>Thời ấy Vua&nbsp;Hùng Vương&nbsp;thứ ba có cô con gái tên là Tiên Dung&nbsp;đến tuổi cập kê mà vẫn chỉ thích ngao du sơn thủy, không chịu lấy chồng. Vào một ngày đẹp trời, nàng cho thuyền dạo chơi dọc sông Hồng, lúc đó Chử Đồng Tử đang ngâm mình bắt cá dưới sông, nghe tiếng chuông trống, đàn sáo lại thấy nghi trượng, người hầu tấp nập, Chử Đồng Tử hoảng sợ vội vùi mình vào cát lẩn tránh . Ngắm phong cảnh hữu tình, công chúa Tiên Dung cho dừng thuyền, sai thị nữ lên bờ quây màn tắm bên một khóm lau, chẳng ngờ lại đúng nơi chàng trai họ Chử giấu mình. Nước dội cát trôi, phút chốc nàng thấy lộ ra thân hình một chàng trai trẻ cũng không quần áo. Tr­ước ng­ười con gái có thân thể ngọc ngà, Chử sợ hãi định chạy trốn nhưng Tiên Dung ngẫm thấy là duyên trời định bèn nói: “Ta và chàng tình cờ gặp nhau thế này, âu cũng là nhân duyên do trời sắp đặt”, liền đó nàng truyền mang quần áo cho Chử Đồng Tử và cùng chàng làm lễ kết duyên ngay trên thuyền.</p><p>Vua Hùng nghe chuyện thì giận dữ vô cùng, không cho Tiên Dung về cung. Tiên Dung thấy vậy không dám về, ở lại cùng Chử Đồng Tử sống cuộc đời bình dị mà hạnh phúc. Họ mưu sinh bằng nghề chài lưới và trao đổi hàng hoá trên sông. Nơi ấy trở thành nơi đô hội, thuyền bè buôn bán tấp nập.</p><p>Một hôm có người bày cho cách ra ngoài buôn bán nhiều lãi, Tiên Dung khuyên chồng nghe theo. Chử Đồng Tử bèn theo khách buôn đi khắp ngược xuôi. Một hôm qua ngọn núi giữa biển tên Quỳnh Tiên (có bản ghi là Quỳnh Vi – tham khảo “Việt sử giai thoại” – Chuyện kể Chử Đồng Tử; đây là tên một ngọn núi chỉ có trong thần thọai), Chử Đồng Tử trèo lên am trên núi và gặp một đạo sĩ tên Phật Quang. Chàng bèn giao tiền cho khách buôn đi mua hàng, còn mình thì ở lại học phép thuật. Sau thuyền quay lại đón, Phật Quang tặng Chử Đồng Tử một cây gậy và một chiếc nón lá, dụ rằng đây là vật thần thông.</p><p>Về nhà, Chử Đồng Tử truyền mọi sự lại cho vợ. Tiên Dung giác ngộ bèn bỏ việc buôn bán, cùng chồng chu du tìm thầy học đạo. Một hôm tối trời, đã mệt mà không có hàng quán ven đường, hai vợ chồng dừng lại cắm gậy úp nón lên trên cùng nghỉ. Bỗng nửa đêm, chỗ đó nổi dậy thành quách, cung vàng điện ngọc sung túc, người hầu lính tráng la liệt. Sáng hôm sau, dân chúng quanh vùng kinh ngạc bèn dân hương hoa quả ngọt đến xin làm bầy tôi. Từ đấy chỗ đó phồn thịnh, sung túc như một nước riêng.</p><p>Sau kẻ nịnh thần về kinh đô tâu với vua rằng vợ chồng công chúa Tiên Dung dùng phép lạ dựng thành quách, muốn lập riêng bờ cõi. Ngỡ con làm phản, vua Hùng sai quân đến dẹp. Vợ chồng Chử Đồng Tử không dám cưỡng lại mệnh cha, chờ chịu tội. Nửa đêm hôm ấy một trận cuồng phong nổi lên, cả lâu đài thành quách của vợ chồng Chử Đồng Tử cùng bay lên trời, để lại một đầm nước rộng mênh mông. Người đời sau gọi đầm ấy là đầm Nhất Dạ.</p><p>Nhân dân cho đó là điều linh dị bèn lập miếu thờ, bốn mùa cúng tế và gọi đầm đó là đầm Nhất Dạ Trạch (Đầm Một Đêm), bãi cát đó là Bãi Tự Nhiên hoặc Bãi Màn Trù và chợ đó là chợ Hà Thị.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-05 03:49:33 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3316315512</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3316322084</link>
         <description><![CDATA[<p>Hôm nay mình sẽ kể câu chuyện. Hồ ba bể  chuyện hay Việt Nam    </p><p><br/></p><p>Ngày xưa dân làng thường xuyên có phong tục mở hội cầu Phật vào dịp đầu năm. Cả làng ai cũng diện đồ đẹp đẽ để cúng kiến và tế lễ với Phật. Bỗng một hôm có một cụ già ăn xin thân hình lở loét và gầy gò đến xin ăn. Nhưng mọi người đều sợ hãi và nhanh chóng xua đuổi bà đi.</p><p>Bà lão ra về thì gặp hai mẹ con nọ đi chợ về. Họ thấy bà tội nghiệp nên đã đưa về nhà và lấy cơm cho ăn cũng như cho nghỉ qua đêm. Đến khuya thì họ thấy chỗ bà cụ nằm phát sáng với hình dáng của một con giao long khổng lồ đang nằm cuộn mình và hai mẹ con đều kinh hãi nhắm mắt mong rằng sẽ không sao.</p><p>Sáng ra, họ chỉ thấy bà cụ ăn mày vẫy tay đi và báo rằng sắp có lụt lớn và đưa cho một gói tro bếp dặn rắc xung quanh nhà. Nghe vậy, người mẹ lo lắng hỏi làm sao để cứu những người còn lại thì bà liền nhặt hạt thóc, cắn vỡ và đưa hai mảnh vỏ trấu. Sau đó bà liền vụt mất, hai mẹ con vội mang chuyện kể lại cho dân làng nhưng chẳng ai tin.</p><p>Tối hôm đó, trong lúc mọi người đang làm lễ thì một cột nước dưới đất dâng trào lên và đất sụp xuống khiến nước dâng cao xô ngã cây cối và nhà cửa của người dân. Ngôi nhà của hai mẹ con thì không sao vì nước dâng tới đâu thì nhà nổi lên theo tới đó. Người mẹ rất xót xa cho dân làng và nhớ lời bà lão, thả hai mảnh vỏ trấu xuống nước. Chúng liền biến thành hai chiếc thuyền to lớn và họ đã dùng thuyền để cứu cả dân làng thoát khỏi biển nước.</p><p>Khi nước rút, phần đất bị sụp được người dân đặt là hồ Ba Bể, còn nền nhà của hai mẹ được người dân gọi là gò Bà Góa.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-05 03:56:43 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3316322084</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3317267502</link>
         <description><![CDATA[<p>Hôm nay mình sẽ giới thiệu câu chuyện mang tên Thánh Gióng.</p><p>Tương truyền rằng vào đời vua Hùng thứ 6, tại thôn nhỏ có tên là Gióng có hai ông bà lão già hiền hậu và tốt bụng nhưng đã mấy năm không có nổi một mụn con.</p><p>Một hôm nọ, trong lúc ra ngoài thăm đồng, bà lão nhìn thấy một dấu chân rất to và bà đã ướm thử nhưng kết quả là chỉ sau vài tháng bà đã mang thai. Cả làng ai cũng bất ngờ khi biết bà mang thai, sau thời gian dài mang nặng đẻ đau, một bé trai đã ra đời.</p><p>Tuy nhiên, ba tuổi mà đứa bé vẫn không biết nói, không biết cười, không biết đi, đặt đâu thì nằm đấy. Lúc bấy giờ, có giặc n muốn xâm lấn bờ cõi nên nhà vua cho gọi anh hùng hào kiệt đứng lên bảo vệ nước nhà. Đúng lúc đó, đứa bé đột nhiên mở lời với sứ giả đưa tin cho biết cậu cần con ngựa sắt có thể khè lửa, một cây roi và chiếc áo bằng sắt để tiêu diệt quân giặc.</p><p>Trong thời gian chuẩn bị hành trang, cậu bé đã ăn nhiều hơn và lớn nhanh như thổi. Vừa lúc quân địch đến núi Trâu, cậu bay ra và ướm vào bộ áo giáp sắt nhảy lên lưng ngựa sắt lao vào đám giặc và đánh tan bọn chúng. Sau khi diệt giặc xong, cậu đa tạ ơn dưỡng dục của cha mẹ và cưỡi ngựa bay về trời. Người đời mang ơn và phong cậu là Phù Đổng Thiên Vương</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-05 16:56:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3317267502</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3317888511</link>
         <description><![CDATA[<p>Tôi sẽ cho các bạn nghe một câu chuyện là cóc kiện trời </p><p>Trong dân gian vẫn thường lưu truyền câu hát:</p><p><em>Con Cóc là cậu ông Trời</em><br><em>Ai mà đánh Cóc thì trời đánh cho.</em></p><p>Hôm nay tôi sẽ kể cho các bạn nghe về nguồn gốc câu hát ấy trong câu chuyện Cóc kiện Trời. Truyện bắt đầu đã lâu lắm rồi, từ ngày xửa ngày xưa, khi muôn loài chung sống hòa bình, ông trời cũng không xa mặt đất đến vạn dặm như bây giờ. Có một năm, hạn hán kéo dài, côi cối héo khô, nước sống cạn nứt, muôn loài khát nằm chờ chết, thế là Cóc quyết định lên thiên đình kiện Trời.</p><p>Trong cuộc hành trình lên kiện ông Trời,Cóc gặp Cua, Gấu, Cọp, Ong và Cáo. Nghe Cóc nói đi kiện Trời, tất cả đều xin theo.</p><p>Qua bao gian nan vất vả, cuối cùng chúng muôn loài cũng lên tới thiên đình. Trước cửa nhà Trời có để một cái trống to. Cóc phân công những con vật khác: “Anh Cua bò vào chum nước này. Cô Ong đợi sau cánh cửa kia. Còn chị Cáo, anh Gấu, anh Cọp thì nấp ở hai bên”. Mọi người làm theo lệnh của Cóc.</p><p>TIếp theo, Cóc tiến lên đánh ba hồi trống. Tiếng trống vang rền khiến Trời phải ngó ra. Thấy chỉ có một chú Cóc bé tí tẹo mà dám náo động thiên đình, Trời nổi giận sai Gà ra mổ Cóc. Gà vừa bay đến, Cóc đã ra hiệu cho Cáo nhảy xổ tới cắn cổ Gà tha đi. Trời sai Chó xông ra bắt Cáo. Chó vừa tới cửa đã bị Gấu quật chết tươi. Trời nổi giận lôi đình, sai thần Sét trừng trị Gấu. Thấn Sét hùng hổ vác lưỡi búa chạy ra thì bị Ong đốt túi bụi vào mặt, vào đầu. Sợ quá, thần vội vứt búa rồi nhảy vào chum nước. Bị Cua giơ càng kẹp một phát đau điếng, thần Sét vội nhảy vọt khỏi chum và bị Cọp vồ.</p><p>Túng thế. Trời đành xuống giọng, mời Cóc vào nói chuyện. Cóc lễ phép thưa rằng:</p><p>- Muôn tâu Thượng Đế! Đã lâu lắm rồi, trần gian không được một giọt mưa. Thượng Đế cần làm mưa ngay để cứu muôn loài, không thì chết hết!</p><p>Sợ trần gian nổi loạn, Trời bèn hứa:</p><p>- Thôi, cậu cứ về đi, ta sẽ cho mưa xuống ngay!</p><p>Rồi Trời còn dặn thêm là từ nay về sau, nếu cần mưa thì Cóc cứ nghiến răng báo cho Trời biết, khỏi phải mất công khó nhọc lên tận thiên đình.</p><p>Đoàn quân của Cóc về đến hạ giới thì mưa đã tràn ngập cả sông ngòi, đồng ruộng. Sự sống trên mặt đất lại hồi sinh. Từ đó, câu nói <em>Con Cóc là cậu ông Trời... </em>cũng được lưu truyền đến tận ngày nay.</p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-06 03:06:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3317888511</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3319515589</link>
         <description><![CDATA[<p>Đất nước Việt Nam đã trải qua một nghìn năm Bắc thuộc. Trong suốt giai đoạn đó, nhiều vị anh hùng đã đứng lên đấu tranh, bảo vệ đất nước. Nhưng em cảm thấy ấn tượng nhất với Hai Bà Trưng - những vị nữ anh hùng dũng cảm. Hai Bà Trưng là tên gọi chung của Trưng Trắc và Trưng Nhị. Trưng Trắc và Trưng Nhị nổi tiếng là xinh đẹp, tài giỏi. Thuở ấy khi nước ta bị nhà Hán đô hộ, chúng bóc lột nhân dân ta vô cùng dã man. Chồng bà Trưng Trắc là Thi Sách cũng mang trong mình chí hướng giành lại non sông. Tướng giặc là Tô Định biết vậy, bèn lập mưu giết chết Thi Sách. Sau khi nghe tin, Hai Bà liền kéo quân về thành Luy Lâu hỏi tội kẻ thù. Hai Bà Trưng mặc giáp phục lộng lẫy, bước lên vành voi đầy uy nghi. Đoàn quân hùng hồn lên đường. Giáo lao, cung nỏ, rìu búa, khiên mộc cuồn cuộn tràn theo bóng voi ẩn hiện của hai bà. Đi đến đâu, tiếng trống đồng của quân ta dội vang đất trời tới đó. Cuối cùng giặc cũng nhận phải kết cục thất bại. Hai Bà Trưng là những vị anh hùng đầu tiên trong lịch sử dân tộc. Họ còn là những nữ anh hùng đầu tiên, đó chính là điều khiến em cảm thấy vô cùng khâm phục</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-07 05:23:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3319515589</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3319792891</link>
         <description><![CDATA[<p>Hôm nay mình sẽ kể cho các bạn về câu chuyện cây khế</p><p>Truyện cổ tích "Cây khế" kể về hai anh em có tính cách hoàn toàn đối lập nhau. Người em là người hiền lành và chăm chỉ, trong khi người anh lại tham lam và lười biếng. Sau khi chiếm hết gia sản của ba mẹ, người anh tiếp tục sống một cuộc sống thảnh thơi và thoải mái. Ngược lại, người em phải làm việc vất vả nhưng không hề than trách hay oán trách gì.</p><p>Nhờ cây khế trong vườn cho quả sai trái, vợ chồng người em được một con chim lạ đưa ra đảo lấy vàng để trả lại cho cây khế mà chim đã ăn. Nhờ đó, họ trở nên giàu có và hạnh phúc. Người anh tham lam đã cố bắt chước người em để có cơ hội được chim chở ra đảo vàng. Tuy nhiên, do lấy quá nhiều vàng bạc và không chịu nghe lời chim, anh ta không thể bay được và khi gặp mưa bão, anh ta đã rơi xuống biển sâu.</p><p>Kết thúc của câu chuyện này thể hiện rõ quan niệm "ở hiền gặp lành, ác gặp ác báo" của tác giả dân gian.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-07 10:44:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3319792891</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3319949127</link>
         <description><![CDATA[<p>Hôm nay mình sẽ giới thiệu câu chuyện Truyền Thuyết Hồ Ba Bể</p><p>Ngày xưa dân làng thường xuyên có phong tục mở hội cầu Phật vào dịp đầu năm. Cả làng ai cũng diện đồ đẹp đẽ để cúng kiến và tế lễ với Phật. Bỗng một hôm có một cụ già ăn xin thân hình lở loét và gầy gò đến xin ăn. Nhưng mọi người đều sợ hãi và nhanh chóng xua đuổi bà đi.</p><p>Bà lão ra về thì gặp hai mẹ con nọ đi chợ về. Họ thấy bà tội nghiệp nên đã đưa về nhà và lấy cơm cho ăn cũng như cho nghỉ qua đêm. Đến khuya thì họ thấy chỗ bà cụ nằm phát sáng với hình dáng của một con giao long khổng lồ đang nằm cuộn mình và hai mẹ con đều kinh hãi nhắm mắt mong rằng sẽ không sao.</p><p>Sáng ra, họ chỉ thấy bà cụ ăn mày vẫy tay đi và báo rằng sắp có lụt lớn và đưa cho một gói tro bếp dặn rắc xung quanh nhà. Nghe vậy, người mẹ lo lắng hỏi làm sao để cứu những người còn lại thì bà liền nhặt hạt thóc, cắn vỡ và đưa hai mảnh vỏ trấu. Sau đó bà liền vụt mất, hai mẹ con vội mang chuyện kể lại cho dân làng nhưng chẳng ai tin.</p><p>Tối hôm đó, trong lúc mọi người đang làm lễ thì một cột nước dưới đất dâng trào lên và đất sụp xuống khiến nước dâng cao xô ngã cây cối và nhà cửa của người dân. Ngôi nhà của hai mẹ con thì không sao vì nước dâng tới đâu thì nhà nổi lên theo tới đó. Người mẹ rất xót xa cho dân làng và nhớ lời bà lão, thả hai mảnh vỏ trấu xuống nước. Chúng liền biến thành hai chiếc thuyền to lớn và họ đã dùng thuyền để cứu cả dân làng thoát khỏi biển nước.</p><p>Khi nước rút, phần đất bị sụp được người dân đặt là hồ Ba Bể, còn nền nhà của hai mẹ được người dân gọi là gò Bà Góa.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-07 13:17:47 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3319949127</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3319952325</link>
         <description><![CDATA[<p>Hôm nay mình sẽ thiệu câu chuyện Chử Đồng Tử và Tiên Dung</p><p>Ngày xưa, có hai cha con, người cha tên là Chử Cù Văn và người con tên là Chử Đồng Tử. Vì nhà nghèo rớt mồng tơi nên hai cha con chỉ có một chiếc khố để mặc, chỉ ai có việc đi đâu thì đóng khố. Sau này, người cha lâm bệnh mà chết, dặn con cứ lấy khố mà dùng nhưng Chử Đồng Tử không nở nhìn cha trần truồng vào lúc lâm chung nên đã lấy khố đóng cho cha rồi mới chôn.</p><p>Lúc này có một nàng công chúa tên là Tiên Dung nhan sắc nghiêng nước nghiêng thành nhưng chưa chịu lấy chồng cho cha mẹ yên tâm. Trong một lần dạo thuyền trên sông nàng thấy cảnh đẹp nên đã xuống tắm. Bất ngờ thay, nàng đã thấy Chử Đồng Tử đang giấu mình trong cát vì ngượng ngùng, nàng mới hỏi ra nguyên do và từ đó hai người kết duyên với nhau.</p><p>Vì sợ vua cha mắng nhiếc nên Tiên Dung đã ở lại sống cùng Đồng Tử. Sau một thời gian ăn nên làm ra, nàng Tiên Dung đã khuyên Đồng Tử ra biển tìm vật lạ để đem bán kiếm thêm tiền. Tuy nhiên trên đường đi, Đồng Tử gặp một vị sư tên là Phật Quang và được thầy truyền phép.</p><p>Chàng đã ở lại và học đạo, sau khi xong xong chàng được tặng một cây gậy và chiếc nón có phép lạ. Nhờ những món vật thần thánh ấy mà Tiên Dung và Đồng Tử đã dựng nên một cơ đồ đáng mơ ước. Khi nhà vua biết tin và nghĩ rằng họ làm loạn nên đã sai quân sang đánh nhưng khi đến thì họ đã bay lên trời. Bãi đất họ bay lên đã được người dân lập đền thờ ngay trên bãi</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-07 13:20:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3319952325</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3319955419</link>
         <description><![CDATA[<p><a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://mn10atanbinh.hcm.edu.vn/"><strong>Tôi vừa đọc câu chuyện Chiếc áo đẹp.Các bsnj có thể đọc ở đây nhé.Cảm ơn bạn rất nhiều.</strong></a></p><p>Gió bấc thổi ào ào qua khu rừng vắng. Một chú Thỏ bước ra, tay cầm lá cọ che thân. Bỗng cơn gió bay vèo kéo theo tấm lá của Thỏ xuống nư6ớc. Rét quá, Thỏ co ro trhầm nghĩ trong bụng: “Giá như mình có một chiếc áo thì hay biết mấy”.<br> Vừa lúc đó nhím đi tới, Thỏ mừng quá:<br>– Bạn Nhím ơi, trời rét quá mà tôi thì ko có áo mặc, bạn giúp tôi may một chiếc áo nhé.</p><p><br/></p><p>Nhím gật đầu ngay:<br>–&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tôi sẵn lòng, kim thì tôi nhiều lắm, bạn xem này!<br> Nói xong Nhím rút một chiếc lông nhọn trên mình. Rồi như chợt nhớ ra điều gì:<br>– Kim thì có rồi, nhưng phỉa có chỉ thì mới may được áo chứ. Chúng mình đi tìm bạn nào có chỉ đi.<br> Cả hai đi một lúc đếm bãi nương dâu. Trên lá dâ là chị Tằm đang ra sức nhả tơ làm kén. Thỏ và Nhím&nbsp; cùng nói:<br>– Chị TẰm ơi, giá chị giúp chúng tôi được ít tơ làm chỉ may áo thì tốt biết mấy.</p><p><br/></p><p>Chị Tằm thả mình xuống đưa cuộn tơ cho Thỏ và Nhím một cách vui vẻ.<br>– Có chỉ, có kim nhưng chưa có người cắt vải vẫn chưa may áo được. Chúng ta phải đi tìm người cắt vải đã.<br> Đi một quãng, họ gặp anh Bọ Ngựa đang vung kiếm cắt lá. Quả thật đúng là một tay cắt cừ khôi rồi!</p><p><br/></p><p>Bọ Ngựa vung kiếm lên cắt ào ào, mọi người ngạc nhiên nói:<br>– Phải cắt theo kích thước chứ! Cắt bừa sẽ hỏng hết vải…<br> Bọ Ngựa vùng vằng:<br>– Đã bảo mà! Tôi có quen giúp ai đâu?<br> Nói rồi Bọ Ngựa giận dỗi bỏ đi. Thấy vậy Nhím liền nói:<br>– Chúng ta phải đi tìm người vặt giỏi nữa.<br> Đang đi thì họ gặp một ông Ốc Sên đang bò chậm chạm ven đường., Thỏ mừng quá réo lên:<br>–&nbsp;&nbsp;&nbsp; A đây rồi! ta đã có người vạch giỏi rồi.</p><p><br/></p><p>Rồi cuối cùng chiếc áo đã hòan tành, Thò vui mừng khoác lên mình chiếc áo đẹp đầy nghĩa bạn bè.<br> Trong rừng gió bấc vẫn vi vu thổi, lá vàng vẫn rơi rơi. Nhưng các bạn cùng nhau nắm tay nhảy múa ca hát tưng bừng, chúng không còn lo Thỏ bị rét nữa.<br> Thế là một xưởng may quần áo toàn thợ lành nghề ra mắt.,&nbsp; khách hàng tấp nập đến xưởng. Trong xưởng may ai nấy đều cùng làm việc rất vui vẻ, chan hòa tình yêu thương.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-07 13:22:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3319955419</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3319966625</link>
         <description><![CDATA[<p>Tôi đã đọc câu chuyện Sự tích mùa Xuân.Nếu các bạn muốn hãy đọc ở đây nhé.Cảm ơn bạn rất nhiều.</p><p>Ngày xửa ngày xưa, không có mùa Xuân đâu bé ạ. Một năm chỉ có ba mùa thôi nhé, mùa Hạ, mùa Thu, và mùa Đông. Người ta bảo rằng, mùa Xuân chỉ đến khi một chiếc cầu vồng nhiều màu sắc xuất hiện và muôn hoa cùng đua nhau nở cơ!</p><p>Cầu vồng thì chỉ có vào mùa Hạ, khi ông mặt trời xuất hiện sau cơn mưa rào. Còn hoa thì nở rải rác quanh năm, rải rác khắp nơi trên trái đất nên không thể hẹn nhau cùng nở một lúc được. Vì thế, sau mùa Đông giá lạnh là đến ngay mùa Hạ nóng bức, thời tiết thay đổi đột ngột khiến cho muôn loài hết sức khổ sở. Ai cũng mong ước có một mùa ấm áp, nên ai cũng thích nghe câu chuyện về mùa Xuân và ước ao được đón mùa Xuân.</p><p><br/></p><p>Có một chú Thỏ sống trong khu rừng xanh nọ với mẹ. Mỗi lần chuyển mùa, mẹ của Thỏ lại bị ốm. Thương mẹ quá, Thỏ con liền bàn với bác Khỉ già thông thái:</p><p>- Bác Khỉ ơi, hay là chúng ta hãy cùng nhau làm một chiếc cầu vồng thật đẹp để đón cô mùa Xuân đến với chúng ta?</p><p>- Nhưng làm bằng cách nào? – Bác Khỉ già đắn đo hỏi lại.</p><p>- Cháu sẽ rủ các bạn trong rừng góp những chiếc lông đẹp nhất để làm chiếc cầu vồng thật nhiều màu sắc.</p><p><br/></p><p>Bác Khỉ đồng ý với Thỏ. Tin tức lan truyền đi khắp nơi. Muôn thú trong rừng đều muốn gặp mùa Xuân dịu hiền, ấm áp nên vui vẻ góp những màu sắc đẹp nhất. Nào là màu nâu của Gấu, màu vàng tơ của Hươu sao, màu xám của Sóc… Rồi chim Công, Vẹt, Vành Khuyên cũng góp những chiếc lông sặc sỡ của mình. Bầy cá cũng cử cá Chép mang đến một túi đầy vây cá lấp lánh sắc cầu vồng. Chim Sâu khéo tay bắt đầu kết nối những mảng màu với nhau để làm chiếc cầu vồng.</p><p><br/></p><p>Trong khi đó, Thỏ lên đường đi tìm các loài hoa. Thỏ đi khắp nơi, băng qua hết khu rừng này đến khu rừng khác để gặp từng loại hoa, thuyết phục các loài hoa nở cùng một lúc để đón mùa Xuân về. Cảm động trước tấm lòng hiếu thảo của Thỏ dành cho mẹ, các loài hoa đều đồng ý sẽ tích tụ dưỡng chất để chờ chị Gió báo tin đồng loạt nở.</p><p>Một buổi sáng cuối mùa Đông, chim Sâu đã dệt xong những mảng màu cuối cùng. Chiếc cầu vồng xuất hiện làm muôn loài trên mặt đất xôn xao. Chị Gió nhanh chóng báo tin cho các loài hoa. Như đã hẹn, những nụ hoa lần lượt vươn lên, nở muôn màu rực rỡ. Cả mặt đất lộng lẫy sắc màu. Nàng mùa Xuân xinh đẹp đã đến với trái đất. Từ đó, trên trái đất có đủ bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Nếu để ý, các bé sẽ thấy các loài hoa đều khoe sắc rực rỡ khi những làn gió xuân nhè nhẹ thổi về. Còn riêng chú Thỏ đáng yêu thì đã được mùa Xuân tặng một chiếc áo trắng tinh, mềm mại vì tấm lòng hiếu thảo và đã biết đoàn kết các bạn muông thú cùng các loài hoa để cùng nhau đón mùa Xuân về.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-07 13:31:47 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3319966625</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3319987844</link>
         <description><![CDATA[<p>Danh tướng Lý Thường Kiệt là một trong những vị anh hùng để lại ấn tượng vô cùng sâu sắc trong em. Bài thơ Nam Quốc sơn hà mà rất nhiều thế hệ người Việt Nam thuộc nằm lòng chính là bài thơ được ông sáng tác:</p><p><em>Nam quốc sơn hà nam đế cư</em><br><em>Tiệt nhiên định phận tại thiên thư</em><br><em>Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?</em><br><em>Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!</em></p><p><em>(Sông núi nước Nam vua Nam ở</em><br><em>Rành rành định phận tại sách trời</em><br><em>Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm?</em><br><em>Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời!)</em></p><p>Nhưng ngoài tài văn chương thơ phú, tấm lòng, tinh thần và những đóng góp của ông cho đất nước và dân tộc cũng là những vấn đề đáng được nói đến. Năm 1077, nhà Tống kéo quân sang xâm lược nước ta, Lý Thường Kiệt đã lãnh đạo nhân dân ta kháng chiến chống quân giặc và giành thắng lợi. Chiến lược đánh giặc của ông cũng rất hay. Cũng chính nhờ bài thơ Nam quốc sơn hà trên của ông được lan truyền đi khắp nơi, đến tai quân giặc và khiến chúng hoang mang, hoảng sợ trước khí thế của dân tộc ta, đóng góp phần công sức tinh thần làm cho quân giặc đại bại, phải cầu hòa xin về nước.</p><p>Lý Thường Kiệt được ghi nhận là một trong số những anh hùng kiệt xuất của dân tộc Việt Nam. Một danh tướng văn võ song toàn rất đáng được ghi nhận. Em rất khâm phục tinh thần trượng nghĩa anh hùng và tấm lòng yêu nước thương dân của ông.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-07 13:48:28 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3319987844</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3320727667</link>
         <description><![CDATA[<p>Hôm nay mình sẽ kể câu chuyện BÓ ĐŨA.</p><p> Ngày xưa, ở một làng nọ có một người nhà rất giàu. Ông ta sinh được những năm người con. Vì quá giàu có nên những người con của ông ta có một đời sống sung sướng thừa thãi về vật chất. Nhưng chuyện đời thường vốn vô cùng. Có một thì đòi hai, có voi thì đòi tiên. Sung sướng quá nên các con ông sinh ra tham lam, ích kỉ, tranh giành lẫn nhau.</p><p>Đến khi khôn lớn, cả năm người con vì nhờ tiền của cha mẹ nên đều trở nên giàu có. Tuy mỗi người một cơ ngơi, nhưng vẫn giữ thói ganh ghét, tị nạnh, cãi cọ nhau về những của cải mà họ có. Nhìn cảnh các con không hòa thuận, người cha buồn lắm. Ông cố gắng khuyên bảo nhưng dù ông có cố gắng thế nào, các con ông cũng không bỏ được lòng đô" kị đã ăn sâu vào máu thịt. Ông rất đau lòng nên ngã bệnh. Sau một thời gian ốm liệt giường, ông biết rằng mình không còn sống được bao lâu nữa. Ong cho gọi các con đến bên giường và bảo gia nhân đem đến cho ông hai bó đũa. Các con ông còn đang nhìn nhau ngơ ngác không hiểu người cha có ý định gì thì ông lấy một bó đũa, đưa cho mỗi người một chiếc và bảo:</p><p><br/></p><p>- Các con mỗi đứa lần lượt bẻ chiếc đũa này cho cha.</p><p><br/></p><p>Ông vừa dứt lời, trong chớp mắt, năm người con bẻ năm chiếc đũa thật dễ dàng. Nhìn những chiếc đũa gãy đôi, ông im lặng và các con ông cũng yên lặng đợi chờ Một lát sau, ông đưa nguyên bó đũa cho người con cả và dịu dàng nói:</p><p><br/></p><p>- Các con đã rất dễ dàng thành công trong việc bẻ một chiếc đũa. Bây giờ, các con lại thay phiên nhau bẻ nguyên cả bó đũa này cho cha xem.</p><p><br/></p><p>Người con trưởng cầm bó đũa ra sức bẻ. Anh vận dụng sức mạnh đến nỗi mặt mũi đỏ gay nhưng không thể nào làm cho bó đũa gẫy được. Chờ đến lúc anh chịu thua, người cha bảo người con thứ hai tiếp tục. Cũng như người con lớn, người con thứ hai không bẻ được và chịu thua. Ong kiên nhẫn chờ đến khi người con thứ năm bỏ cuộc mới ôn tồn nói:</p><p><br/></p><p>- Đó, các con xem, thế nào là sức mạnh của sự đoàn kết. Nêu các con cứ tiếp tục tị nạnh nhau, chia rẽ nhau thì các con cũng lẻ loi, yếu đuối không khác gi một chiếc đũa và các con sẽ bị kẻ thù bẻ gãy dễ dàng. Nhưng nếu các con biết thương yêu đoàn kết lại với nhau như bó đũa thì không một sức mạnh nào bẻ gãy được các con.</p><p><br/></p><p>Năm người con ông hiểu ý cha và bài học ông vừa dạy. Cảm động và hối hận vì ăn ở với nhau không phải rồi còn làm cha buồn, các con ông ôm lấy ông vừa khóc, vừa hứa là từ nay về sau sẽ bỏ thói ích kỷ để yêu thương đoàn kết với nhau.</p><p><br/></p><p>Sau đó, người cha mất đi. Năm người con vâng lời cha dạy. Họ rất đoàn kết và thương mến lẫn nhau. Đời sống gia đình họ rất hòa thuận và không một ai có thể cạnh tranh được với sự giàu mạnh trong việc làm ăn buôn bán của gia đình họ...</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-08 09:35:48 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3320727667</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3320728703</link>
         <description><![CDATA[<p>Hôm nay mình sẽ kể câu chuyện TÍCH CHU.</p><p><br/></p><p>Ngày xưa, có một cậu bé tên là Tích Chu. Bố mẹ Tích Chu mất sớm, Tích Chu ở với bà. Hàng ngày bà phải làm việc quần quật để kiếm tiền nuôi Tích Chu, có thức ăn gì ngon bà cũng nhường cho Tich Chu. Ban đêm khi Tích Chu ngủ thì bà thức để quạt. Thấy bà thương Tích Chu, có người nói với bà:</p><p><br/></p><p>- Bà ơi! Lòng bà thương Tích Chu cao hơn trời, rộng hơn biển. Lớn lên thể nào Tích Chu cũng không bao giờ quên ơn bà đâu.</p><p><br/></p><p>Truyện cổ tích Cậu Bé Tích Chu</p><p><br/></p><p>Truyện cổ tích Cậu Bé Tích Chu</p><p><br/></p><p>Thế nhưng Tích Chu lớn lên lại chẳng thương bà. Bà thì làm việc vất vả, còn Tích Chu thì suốt ngày rong chơi với bạn bè. Vì làm việc mệt nhọc, ăn uống lại kham khổ nên bà bị ốm. Bà lên cơn sốt nhưng chẳng ai trông nom. vì Tích Chu còn mải rong chơi với bạn bè. Một buổi trưa, trời nóng nực, cơn sốt lên cao, bà khát nước quá liền gọi:</p><p><br/></p><p>- Tích Chu ơi, cho bà ngụm nước nào. Bà khát khô cả cổ rồi!</p><p><br/></p><p>Bà gọi một lần… hai lần… rồi ba lần… nhưng vẫn không thấy Tích Chu đáp lại. Khi Tích Chu về nhà thì thấy bà đã hóa thành con chim và vỗ cánh bay lên trời. Tích Chu hoảng quá kêu lên:</p><p><br/></p><p>- Bà ơi, bà đi đâu? Bà ở lại với cháu. Cháu sẽ mang nước cho bà. Bà ơi!</p><p><br/></p><p>- Cúc… cu… cu! Cúc… cu…cu! Chậm mất rồi cháu ạ. Bà khát quá, không thể chụi nổi, phải hóa thành con chim để bay đi kiếm nước. Bà đi đây! Bà không về với cháu nữa đâu!</p><p><br/></p><p>Nói rồi chim vỗ cánh bay đi. Tích Chu vội chạy theo bà, cứ nhằm theo hướng chim bay mà chạy. Cuối cùng Tích Chu gặp chim đang uống nước ở một dòng suối mát. Tích Chu gọi:</p><p><br/></p><p>- Bà ơi! Bà trở về với cháu đi. Cháu sẽ đi lấy nước cho bà. Cháu sẽ giúp đỡ bà. Cháu sẽ không làm cho bà buồn nữa đâu!</p><p><br/></p><p>- Cúc… cu… cu, muộn quá rồi cháu ơi! Bà không trở lại được nữa đâu!</p><p><br/></p><p>Nghe tiếng chim nói, Tích Chu òa lên khóc. Tích Chu thương bà và hối hận lắm. Giữa lúc đó một bà Tiên hiện ra. Bà Tiên bảo Tích Chu:</p><p><br/></p><p>- Tích Chu ơi! Nếu cháu muốn cho bà cháu trở lại thành người thì cháu phải đi lấy nước suối Tiên cho bà cháu uống. Đường lên suối Tiên xa lắm, cháu có đi được không?</p><p><br/></p><p>Cậu bé Tích Chu mừng rỡ vô cùng, vội vàng hỏi đường đến suối Tiên, rồi chẳng một phút chần chừ, Tích Chu hăng hái đi ngay. Tích Chu chạy mãi, chạy mãi vượt qua bao nhiêu rừng núi hiểm trở, cuối cùng Tích Chu cũng đến được suối tiên. Chú vội vàng lấy đầy bình nước mang về cho bà. Về đến nhà Tích Chu gọi to:</p><p><br/></p><p>– Bà ơi! Bà ơi! Cháu mang nước về cho bà rồi đây. Bà mau uống đi.</p><p><br/></p><p>Vừa được uống nước bà Tích Chu trở lại thành người. Tích Chu ôm chầm lấy bà vừa khóc vừa nói:</p><p><br/></p><p>– Bà ơi! Cháu biết lỗi rồi, từ nay trở đi cháu sẽ luôn ở bên và chăm sóc bà.</p><p><br/></p><p>Từ đấy, cậu bé Tích Chu hết lòng yêu thương chăm sóc bà. Hai bà cháu lại chung sống hạnh phúc bên nhau.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-08 09:38:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3320728703</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3320729491</link>
         <description><![CDATA[<p>Mình sẽ kể câu chuyện BA LƯỠI RÌU.</p><p><br/></p><p>Xưa có một anh chàng tiều phu nghèo, cha mẹ anh bệnh nặng nên qua đời sớm, anh phải sống mồ côi cha mẹ từ nhỏ và tài sản của anh chỉ có một chiếc rìu. Hàng ngày anh phải xách rìu vào rừng để đốn củi bán để lấy tiền kiếm sống qua ngày. Cạnh bìa rừng có một con sông nước chảy rất xiết, ai đó lỡ trượt chân rơi xuống sông thì rất khó bơi vào bờ.</p><p>Một hôm, như thường ngày chàng tiều phu vác rìu vào rừng để đốn củi, trong lúc đang chặt củi cạnh bờ sông thì chẳng may chiếc rìu của chàng bị gãy cán và lưỡi rìu văng xuống sông. Vì dòng sông nước chảy quá xiết nên mặc dù biết bơi nhưng anh chàng vẫn không thể xuống sông để tìm lưỡi rìu. Thất vọng anh chàng tiều phu ngồi khóc than thở.</p><p><br/></p><p>Truyện cổ tích về tính trung thực  - Ba lưỡi rìu</p><p><br/></p><p>Bỗng từ đâu đó có một ông cụ tóc trắng bạc phơ, râu dài, đôi mắt rất hiền từ xuất hiện trước mặt chàng, ông cụ nhìn chàng tiêu phu và hỏi:</p><p><br/></p><p>-Này con, con đang có chuyện gì mà ta thấy con khóc và buồn bã như vậy?</p><p><br/></p><p>Anh chàng tiều phu trả lời ông cụ:</p><p><br/></p><p>-Thưa cụ, bố mẹ cháu mất sớm, cháu phải sống mồ côi từ nhỏ, gia cảnh nhà cháu rất nghèo, tài sản duy nhất của cháu là chiếc rìu sắt mà bố mẹ cháu trước lúc qua đời để lại. Có chiếc rìu đó cháu còn vào rừng đốn củi kiếm sống qua ngày, giờ đây nó đã bị rơi xuống sông, cháu không biết lấy gì để kiếm sống qua ngày nữa. Vì vậy cháu buồn lắm cụ ạ!</p><p><br/></p><p>Ông cụ đáp lời chàng tiều phu:</p><p><br/></p><p>-Ta tưởng chuyện gì lớn, cháu đừng khóc nữa, để ta lặn xuống sông lấy hộ cháu chiếc rìu lên.</p><p><br/></p><p>Dứt lời, ông cụ lao mình xuống dòng sông đang chảy rất xiết. Một lúc sau, ông cụ ngoi lên khỏi mặt nước tay cầm một chiếc rìu bằng bạc sáng loáng và hỏi anh chàng tiều phu nghèo:</p><p><br/></p><p>– Đây có phải lưỡi rìu mà con đã làm rơi xuống không ?</p><p><br/></p><p>Anh chàng tiều phu nhìn lưỡi rìu bằng bạc thấy không phải của mình nên anh lắc đầu và bảo ông cụ:</p><p><br/></p><p>– Không phải lưỡi rìu của cháu cụ ạ, lưỡi rìu của cháu bằng sắt cơ.</p><p><br/></p><p>Lần thứ hai, ông cụ lại lao mình xuống dòng sông chảy xiết để tìm chiếc rìu cho chàng tiều phu. Một lúc sau, ông cụ ngoi lên khỏi mặt nước tay cầm chiếc rìu bằng vàng và hỏi chàng tiều phu:</p><p><br/></p><p>-Đây có phải là lưỡi rìu mà con đã sơ ý làm rơi xuống sông không?</p><p><br/></p><p>Anh chàng tiều phu nhìn lưỡi rìu bằng vàng sáng chói, anh lại lắc đầu và bảo:</p><p><br/></p><p>-Không phải là lưỡi rìu của con cụ ạ</p><p><br/></p><p>Lần thứ ba, ông cụ lại lao mình xuống sông và lần này khi lên ông cụ cầm trên tay là chiếc rìu bằng sắt của anh chàng tiều phu đánh rơi. Ông cụ lại hỏi:</p><p><br/></p><p>-Vậy đây có phải là lưỡi rìu của con không!</p><p><br/></p><p>Thấy đúng là lưỡi rìu của mình rồi, anh chàng tiều phu reo lên sung sướng:</p><p><br/></p><p>-Vâng cụ, đây đúng là lưỡi rìu của con, con cảm ơn cụ đã tìm hộ con lưỡi rìu để con có cái đốn củi kiếm sống qua ngày.</p><p><br/></p><p>Ông cụ đưa cho anh chàng tiều phu lưỡi rìu bằng sắt của anh và khen:</p><p><br/></p><p>-Con quả là người thật thà và trung thực, không hề ham tiền bạc và lợi lộc. Nay ta tặng thêm cho con hai lưỡi rìu bằng vàng và bạc này. Đây là quà ta tặng con, con cứ vui vẻ nhận.</p><p><br/></p><p>Truyện cổ tích về tính trung thực  - Ba lưỡi rìu</p><p><br/></p><p>Anh chàng tiều phu vui vẻ đỡ lấy hai lưỡi rìu mà ông cụ tặng và cảm tạ. Ông cụ hóa phép và biến mất. Lúc đó anh chàng tiều phu mới biết rằng mình vừa được bụt giúp đỡ.</p><p><br/></p><p>Đây là câu chuyện điển hình khi nhắc tới đức tính trung thực. Tác giả viết câu chuyện này nhằm mục đích ca ngợi những con người thật thà, trung thực, không ham vật chất. Những ai nếu như anh tiều phu, không bao giờ tham những thứ không phải của mình, luôn chân thành thật thà thì cuối cùng sẽ được giúp đỡ lại có được thành công và hạnh phúc. Trong cuộc sống, không nên vì lợi ích vật chất mà bán rẻ đi sự chân thật của lương tâm, hãy luôn thành thật với người khác và với chính bản thân mình.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-08 09:40:40 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3320729491</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3320730514</link>
         <description><![CDATA[<p>Ngày xưa, có hai anh em nhà kia, sau khi </p><p>cha mẹ qua đời, người anh chiếm tất cả gia tài, chỉ cho em mỗi một cây khế ở góc vườn. Người em đành nhẫn nhịn, hằng ngày chăm sóc, mong cây sớm ra quả.</p><p>Đến mùa, cây khế bói rất nhiều quả to, chín mọng. Một hôm, có con chim đại bàng lớn từ đâu bay tới, đậu trên cây, ăn hết quả này đến quả khác. Người em buồn rầu than thở : “Chim ăn hết khế, ta lấy gì mà sống đây ?”. Nghe vậy, đại bàng liền đáp: “Ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang, mang đi mà đựng”. Sau đó, chim cất cánh bay đi.</p><p>Người em lấy vải may một cái túi nhỏ. Vài ngày sau, đại bàng đến chở người em bay ra một hòn đảo vắng. Trên đảo có rất nhiều vàng bạc. Người em đựng vàng vào túi rồi cưỡi lên lưng chim bay về. Từ đó, người em trở nên giàu có và thường giúp đỡ dân nghèo.</p><p><br/></p><p>Ít lâu sau, người anh sang chơi, thấy em giàu có thì hết sức ngạc nhiên, bèn gặng hỏi. Người em thành thực kể lại mọi chuyện. Người anh nài nỉ đòi đổi gia tài của mình lấy cây khế. Người em chiều anh nên cũng bằng lòng. Người anh ngày ngày chực sẵn bên gốc cây. Đại bàng lại đến ăn khế. Người anh giả vờ phàn nàn. Chim cũng đáp lời: “Ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang, mang đi mà đựng”.</p><p>Người anh may sẵn một cái túi mười hai gang. Khi chim đưa anh ta ra đảo, anh ta nhặt vàng nhét đầy vào tủi, lại còn giắt thêm vào xung quanh người. Đại bàng cố sức đập cánh bay lên. Bởi túi vàng to và nặng quá nên đến giữa biển, chim kiệt sức lảo đảo. Thế là người anh và cả túi vàng rơi tõm xuống biển sâu.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-08 09:43:47 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3320730514</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3320731654</link>
         <description><![CDATA[<p>Mình sẽ kể câu chuyện THÁNH GIÓNG.</p><p><br/></p><p>Chuyện kể rằng: vào đời Hùng Vương thứ 6, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông lão chăm làm ăn và có tiếng là phúc đức. Hai ông bà ao ước có một đứa con. Một hôm bà ra đồng trông thấy một vết chân to quá, liền đặt bàn chân mình lên ướm thử để xem thua kém bao nhiêu. Không ngờ về nhà bà thụ thai và mười hai tháng sau sinh một thằng bé mặt mũi rất khôi ngô. Hai vợ chồng mừng lắm. Nhưng lạ thay! Ðứa trẻ cho đến khi lên ba vẫn không biết nói, biết cười, cũng chẳng biết đi, cứ đặt đâu thì nằm đấy.</p><p><br/></p><p>Bấy giờ có giặc Ân đến xâm phạm bờ cõi nước ta. Thế giặc mạnh, nhà vua lo sợ. Bèn truyền cho sứ giả đi khắp nơi tìm người tài giỏi cứu nước. Ðứa bé nghe tin, bỗng dưng cất tiếng nói: “Mẹ ra mời sứ giả vào đây”. Sứ giả vào, đứa bé bảo: “Ông về tâu vua sắm cho ta một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt, ta sẽ phá tan lũ giặc này”.</p><p><br/></p><p>Sứ giả vừa kinh ngạc, vừa mừng rỡ, vội vàng về tâu vua. Nhà vua truyền cho thợ ngày đêm làm gấp những vật chú bé dặn.</p><p><br/></p><p>Càng lạ hơn nữa, sau hôm gặp sứ giả, chú bé lớn nhanh như thổi. Cơm ăn mấy cũng không no, áo vừa mặc xong đã căng đứt chỉ. Hai vợ chồng làm ra bao nhiêu cũng không đủ nuôi con, thành thử phải chạy nhờ bà con, hàng xóm. Bà con đều vui lòng gom góp gạo thóc nuôi chú bé, vì ai cũng mong chú giết giặc, cứu nước.</p><p><br/></p><p>Giặc đã đến chân núi Trâu. Thế nước rất nguy, người người hoảng hốt. Vừa lúc đó, sứ giả đem ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt đến. Chú bé vùng dậy, vươn vai một cái bỗng biến thành một tráng sĩ mình cao hơn trượng, oai phong lẫm liệt. Tráng sĩ bước lên vỗ vào mông ngựa. Ngựa hí dài mấy tiếng vang dội. Tráng sĩ mặc áo giáp, cầm roi nhảy lên mình ngựa. Ngựa phun lửa, tráng sĩ thúc ngựa phi thẳng đến nơi có giặc, đón đầu chúng đánh giết hết lớp này đến lớp khác, giặc chết như rạ. Bỗng roi sắt gẫy. Tráng sĩ bèn nhổ những cụm tre cạnh đường quật vào giặc. Giặc tan vỡ. Ðám tàn quân giẫm đạp nhau chạy trốn, tráng sĩ đuổi đến chân núi Sóc (Sóc Sơn).Thánh Gióng về nhà dập đầu lạy mẹ, tạ ơn công nuôi dưỡng sinh thành rồi lên đỉnh núi cởi giáp sắt bỏ lại,cả người lẫn ngựa từ từ bay về trời.</p><p><br/></p><p>Vua nhớ công ơn, phong là Phù Ðổng Thiên Vương và lập đền thờ ngay ở quê nhà.</p><p><br/></p><p>Hiện nay vẫn còn đền thờ ở làng Phù Ðổng, tục gọi là làng Gióng. Mỗi năm đến tháng tư làng mở hội to lắm. Người ta kể rằng những bụi tre đằng ngà ở huyện Gia Bình vì ngựa phun lửa bị cháy mới ngả mầu vàng óng như thế, còn những vết chân ngựa nay thành những hồ ao liên tiếp. Người ta còn nói khi ngựa thét lửa, lửa đã thiêu cháy một làng, cho nên làng đó về sau gọi là làng Cháy .</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-08 09:46:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3320731654</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3320741480</link>
         <description><![CDATA[<p>Hôm nay tôi sẽ kể về một câu chuyện cổ tích Việt Nam là bánh trưng bánh dày</p><p>Vua Hùng Vương thứ sáu muốn tìm trong số hai mươi người con trai một người thật tài đức để nối ngôi nên đã ra điều kiện: không nhất thiết là con trưởng, ai làm vừa ý nhà vua trong lễ Tiên vương sẽ được truyền ngôi. Các lang đua nhau sắm lễ thật hậu, thật ngon. Lang Liêu, người con trai thứ mười tám, rất buồn vì nhà nghèo, chỉ quen với việc trồng khoai trồng lúa, không biết lấy đâu ra của ngon vật lạ làm lễ như những lang khác. Sau một đêm nằm mộng, được một vị thần mách nước, chàng bèn lấy gạo nếp, đậu xanh và thịt lợn làm thành hai thứ bánh, loại hình tròn, loại hình vuông dâng lên vua cha. Vua thấy bánh ngon, lại thể hiện được ý nghĩa sâu sắc nên lấy hai thứ bánh ấy lễ Trời, Đất và lễ Tiên vương, đặt tên bánh hình tròn là bánh giầy, bánh hình vuông là bánh chưng và truyền ngôi cho Lang Liêu. Từ đó, việc gói bánh chưng và bánh giầy cúng lễ tổ tiên trở thành phong tục không thể thiếu trong ngày Tết của người Việt Nam.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-08 10:11:27 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3320741480</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3320902542</link>
         <description><![CDATA[<p>Hôm nay, mình xin kể lại câu chuyện Chú cuội cung trăng .</p><p>Ngày xửa ngày xưa, có một anh chàng tiều phu hiền lành tên là Cuội. Một hôm, trong khi đang đốn củi trong rừng sâu, thì giật mình khi gặp một cái hang cọp. Phát hiện thấy trong hang chỉ có bốn con cọp con đang vờn nhau, Cuội liền xông tới bổ mỗi con một nhát rìu. Vừa lúc đó, cọp mẹ trở về hang thấy các con mình nằm chết trên mặt đất, cọp mẹ gầm rú vang cả núi rừng. Cuội hoảng sợ quẳng rìu trèo tót lên cây cao.</p><p>Nhìn từ trên xuống, Cuội thấy cọp mẹ lầm lũi tiến lại một gốc cây gần chỗ Cuội đang ẩn náu, ngoặm một ít lá trở về nhai và mớm cho con. Trong chốc lát, bốn con cọp con đã sống lại. Chờ cho cọp mẹ tha con đi nơi khác, Cuội mới lần xuống tìm đến cây lạ kia đào gốc và mang về trồng. Trên đường về, Cuội gặp ông lão ăn mày nằm chết trên bụi cỏ. Cuội mớm lá cây chưa bao lâu thì ông lão tỉnh dậy, ông dặn cụ hãy chăm sóc câu nhưng đừng tưới nước bẩn, nếu không cây sẽ bay lên trời.</p><p>Nhờ có lá của cây thuốc quý, Cuội đã cứu sống được vô số người dân trong vùng khỏi bệnh tật. Một lần nọ, một lão nhà giàu ở làng bên hớt hải chạy đến tìm Cuội để nài nỉ cứu cho con gái mình vừa sẩy chân chết đuối. Cuội vui lòng theo về nhà, lấy lá chữa cho. Sau khi sống lại, cô gái xin làm vợ chàng.&nbsp;</p><p>Tuy nhiên, tai họa bất ngờ ập đến, vợ Cuội bị giặc hãm hại, dù Cuội dùng lá thuốc cứu sống được vợ nhưng nàng lại mắc bệnh hay quên. Ngày đó, nàng đã vô tình tưới nước bẩn lên cây thuốc. Ngay lập tức, cây thuốc bay vút lên trời cao. Vì không muốn mất đi cây thuốc quý, Cuội vội vàng bám lấy rễ cây và bị cuốn theo lên cung trăng. Từ đó, Cuội mãi mãi gắn bó với cung trăng, bên cạnh cây thuốc quý.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-08 16:10:08 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3320902542</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3320905714</link>
         <description><![CDATA[<p>Hôm nay, mình xin kể lại câu chuyện bó đũa .</p><p><br/></p><p>Ngày xửa ngày xưa, có một gia đình nọ gồm ông bố và ba người con. Nhìn thấy các con ít khi quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau, ông bố vô cùng buồn lòng. Mong muốn gắn kết tình cảm anh em, ông gọi các con lại, đặt trước mặt mỗi người một bó đũa và yêu cầu bẻ gãy nó.&nbsp;</p><p>Người con cả gắng hết sức nhưng không thể bẻ nổi bó đũa. Người con thứ cũng cố gắng bẻ, nhưng vô ích. Người con út lấy hết sức để bẻ, bó đũa vẫn không bị gãy một chiếc nào. Người cha thấy vậy cầm lấy bó đũa và tháo ra, rồi bẻ từng chiếc một, rồi từ tốn nói với các con: “Đó chính là sức mạnh của sự đoàn kết. Nếu các con biết đoàn kết với nhau thì không ai có thể đánh bại được các con. Hãy hứa với cha rằng, ba con sẽ chung sống hoà thuận và đoàn kết, thương yêu nhau sau khi cha nhắm mắt xuôi tay.”</p><p>Sau khi, người cha chết đã để lại cho các con của ông rất nhiều tài sản, nhưng lại không phân chia. Ba anh em đều muốn mình tranh lấy phần hơn, họ dứt khoát chia riêng rẽ mỗi người một gian nhà và không qua lại với nhau nữa.</p><p>Chẳng bao lâu sau, có một chủ nợ đến nhà, đòi món nợ mà cha họ đã vay trước đây. Ba anh em đùn đẩy nhau, không ai chịu trả nợ cho cha. Chủ nợ kiện ba người lên quan, bắt ba anh em phải bỏ ra một phần đủ để trả món nợ. Nhưng họ vẫn không chịu, quan liền tịch thu tài sản của họ. Đến lúc này, họ mới nhớ tới lời cha dặn thì tất cả đều đã muộn.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-08 16:15:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3320905714</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3321091116</link>
         <description><![CDATA[<p>Hôm nay mình sẽ kể về câu chuyện lục Vân tiên </p><p>Lục Vân Tiên quê ở huyện Đông Thành, khôi ngô tuấn tú, tài kiêm văn võ. Nghe tin triều đình mở khoa thi, Vân Tiên từ giã thầy xuống núi đua tài. Trên đường về nhà thăm cha mẹ, gặp bọn cướp Phong Lai đang hoành hành, bức hại dân lành chàng vô cùng tức giận. Tiên nghĩ rằng, kẻ cướp ỷ thế mạnh hiếp đáp kẻ lành, quả là bọn bất nhân, chàng liền ra tay cứu giúp. Không có vũ khí, chàng đã bẻ cây làm gậy, dũng mãnh xông vào giữa bọn cướp. Kẻ cướp hung bạo, thấy chàng càng thêm dữ tợn, quyết trừng trị cho bằng được. Nào ngờ, chúng bị chàng đánh cho một trận, kẻ tử nạn, người trọng thương, bỏ chạy tán loạn. Đánh tan bọn cướp, chàng còn ân cần hỏi han người gặp nạn, mới biết rằng đó là Kiều Nguyệt Nga, một cô gái đang trên đường cùng tỳ nữ trở về nhà thì gặp nạn. Nguyệt Nga cảm tạ ân công, muốn đền đáp xứng đáng nhưng Vân Tiên đều từ chối tất cả. Chàng cho rằng, đó là việc nghĩa, hành động phải làm của người quân tử, không cần phải báo đáp. Cảm ân đức ấy, lại thêm mến phục khí tiết trọng nghĩa khinh tài của Lục Vân Vân Tiên, Nguyệt Nga tự nguyện gắn bó suốt đời với Vân Tiên và tự tay vẽ một bức hình chàng giữ luôn bên mình. Còn Vân Tiên tiếp tục cuộc hành trình.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-09 01:50:25 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3321091116</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3321091528</link>
         <description><![CDATA[<p>Hôm nay mình sẽ kể về câu chuyện kiều </p><p>Thuý Kiều là con gái cả của một gia đình trung lưu lương thiện. Nàng có nhan sắc kiều diễm cùng tài cầm, kì, thi, họa xuất chúng. Cuộc sống của Thúy Kiều trôi qua êm đềm bên cạnh cha mẹ và hai em là Thúy Vân và Vương Quan. Vào tiết thanh minh, Thuý Kiều đã gặp mối tình đầu của mình - Kim Trọng. Hai người nảy sinh tình cảm và chủ động đính ước dưới trăng.</p><p>Khi Kim Trọng trở về Liêu Dương chịu tang chú, biến cố bất ngờ ập đến. Gia đình Kiều bị vu oan, nàng phải bánh mình chuộc cha và em rồi nhờ Thúy Vân trả nghĩa cho Kim Trọng. Tên Mã Giám Sinh mua Kiều rồi lừa Kiều vào lầu xanh. Kiều bị Tú bà – chủ của lầu xanh ép tiếp khách làng chơi. Tại đây, nàng gặp được Thúc Sinh. Thúc Sinh thương yêu Kiều, chuộc Kiều khỏi lầu xanh và đón nàng về nhà. Vợ của Thúc Sinh là Hoạn Thư ghen tuông, làm nhục Kiều khiến Kiều phải trốn đi. Lần này, nàng nương nhờ cửa Phật và gặp sư Giác Duyên. Nhà sư thương xót cho số phận người con gái, gửi nàng cho một Phật tử thường tới chùa là Bạc bà. Không ngờ, bà ta lại đưa Kiều vào lầu xanh lần nữa. Ở đây, nàng gặp được anh hùng Từ Hải. Từ Hải chuộc nàng, lấy nàng làm vợ và giúp nàng báo ân báo oán. Hạnh phúc ngắn chẳng tày gang, tên quan tham Hồ Tôn Hiến lừa giết Từ Hải. Hắn làm nhục Kiều, buộc nàng phải lấy một viên thổ quan. Quá đau đơn, Kiều nhảy sông tự vẫn nhưng lại được sư Giác Duyên cứu.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-09 01:52:04 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3321091528</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3321289885</link>
         <description><![CDATA[<p><br/></p><p>KỂ CHUYỆN BÁC HỒ Mỗi tuần một câu chuyện đẹp, một cuốn sách hay, một tấm gương sáng “Bác chỉ muốn các cháu được học hành”</p><p>Kính thưa các thầy cô giáo!</p><p>Thưa toàn thể các bạn học sinh thân mến!</p><p>Sinh thời, Bác Hồ muôn vàn kính yêu của chúng ta luôn dành cho thiếu nhi một tình yêu thương vô bờ bến. Người từng nói: “Ai yêu các nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh”…</p><p> Câu chuyện được trích từ cuốn: “Những chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, trang 10 – 11; Nxb. Phụ nữ, 2013.</p><p>Câu chuyện mang tên “Bác chỉ muốn các cháu được học hành”.</p><p>Chuyện kể rằng:</p><p>           Sau khi quân Pháp rút khỏi Hà Nội, trên đường đi công tác, Hồ Chủ tịch ghé thăm một thôn nhỏ. Thôn này nằm trong vùng du kích những ngày kháng chiến chống giặc Pháp. Khắp thôn những nhà nhỏ vừa dựng lại, mái rạ vàng tươi. Hay tin Bác đến, Đồng bào, già trẻ, trai gái ùa ra đón Bác. Bác hỏi thăm, các cụ già, các cháu thanh niên về việc đánh giặc, chia ruộng đất. Người dạy bảo nhana dân việc làm đồng và xây dựng làng xóm. Sau đó, Người chia kẹo cho các cháu nhỏ. Các cháu rất sung sướng vừa bóc kẹo ăn vừa nhìn Bác.</p><p>Bỗng có một bé gái chừng năm, sáu tuổi tay cầm kẹo, đứng nhìn Bác không chớp mắt. Thấy vậy, Bác âu yếm, bảo:</p><p>– Ăn kẹo đi cháu.</p><p>– Cháu để phần mẹ cháu ạ.</p><p>Tiếng cháu bé nho nhỏ đủ nghe. Câu trả lời làm mọi người phải chú ý.</p><p>Một cán bộ cùng đi với Bác liền lấy thêm một phần kẹo trao cho cháu, và nói:</p><p>  – Cháu ăn phần kẹo này, còn phần kia dành cho mẹ.</p><p>          Cháu bé cầm lấy kẹo nhưng vẫn không ăn mà trân trân nhìn Bác. Chia kẹo xong, Bác quay lại nhìn cháu bé và lại nhắc:</p><p>          – Cháu ăn kẹo đi.</p><p>          – Cháu chờ mẹ cháu cùng ăn ạ.</p><p>         Nghe câu trả lời dễ thương của cháu nhỏ, Bác Hồ cúi xuống vuốt tóc cháu, hỏi:</p><p>        – Cháu tên là gì?</p><p>        – Mẹ cháu gọi cháu là cái Chiến ạ.</p><p>         Bác gật đầu, nhắc lại:</p><p>         – Tên cháu là Chiến?</p><p>Như đã quen với việc giải thích về cái tên của mình, cháu bé nói luôn:</p><p>        – Mẹ cháu bảo phải đuổi hết giặc đi mới sống được nên gọi cháu là cái Chiến.</p><p>           Bác kéo bé Chiến vào lòng. Một cụ già trong thôn bèn kể cho Bác nghe về hoàn cảnh của gia đình cháu. Ông cháu bị giặc Pháp bắt đi phu, không trở về. Bố cháu bị Pháp giết khi cháu vừa chào đời. Mẹ cháu vừa sản xuất nông nghiệp, nuôi con, vừa tham gia đánh giặc, vì vậy cháu rất yêu quý mẹ và căm thù giặc.</p><p>Nghe chuyện Bác rất cảm động. Người khuyên bà con chăm sóc các cháu và gia đình thương binh, liệt sĩ.</p><p>Từ nãy đến giờ, đứng bên Bác Hồ, nghe cụ già kể chuyện mình với Bác Hồ, bé Chiến tỏ vẻ nóng ruột như muốn nói điều gì. Nhưng mãi đến lúc Bác sắp lên xe, bé mới níu tay Bác hỏi:</p><p>– Bác ơi, cháu lớn lên còn giặc để đánh không?</p><p>Bác cúi xuống, thơm lên trán của cháu, rồi Người nhẹ nhàng bảo:</p><p>– Bác chỉ muốn các cháu được học hành, lớn lên xây dựng đất nước.</p><p>Bà con trong thôn tiễn Bác lên xe. Xe đã đi xa, bé Chiến vẫn còn ngây người nhìn theo xe Bác.</p><p>Kính thưa thầy cô và các bạn!</p><p>Kính thưa các thầy cô giáo cùng toàn thể các bạn hs thân mến!</p><p>Qua câu chuyện trên, chúng ta hiểu được BH yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, yêu các cháu thiếu niên nhi đồng đến nhường nào. Cả cuộc đời chiến đấu vì lý tưởng cao đẹp, vì tự do và hạnh phúc của đồng bào và nhân loại, Bác đã quên đi tình thân, quên đi hạnh phúc riêng để cống hiến trọn cuộc đời mình cho dân cho nước. Cho đến khoảnh khắc cuối cùng của đời người, Bác cũng chỉ có một ước nguyện duy nhất: “là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có ai cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành".</p><p>   Các bạn biết không? Khi đất nước ta còn trong bom đạn và đau thương, không phải bạn nhỏ nào cũng được đến trường. Nhưng bạn nào cũng yêu nước và căm thù giặc. Vậy nên, hôm nay đây, được cắp sách tới trường là một niềm hạnh phúc lớn lao của chúng ta. Niềm hạnh phúc đó được đánh đổi bằng xương máu của biết bao thế hệ cha ông đã ngã xuống cho nền độc lập, tự do của dân tộc. Hiểu được điều thiêng liêng đó, mong rằng chúng mình sẽ luôn cùng nhau thi đua học tập, tu dưỡng, rèn luyện thật tốt để trở thành con ngoan, trò giỏi, đội viên tốt, cháu ngoan Bác Hồ, góp sức mình xây dựng và bảo vệ tổ quốc như niềm mong mỏi của Bác Hồ trong câu chuyện nhé.</p><p>Câu chuyện của em  xin được khép lại tại đây. Em xin kính chúc sức khỏe thầy cô và các bạn! Em xin trân trọng cảm ơn thầy cô và các bạn đã lắng nghe!</p><p>Em xin trân trọng cảm ơn!</p><p>  </p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-09 11:40:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3321289885</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3321341258</link>
         <description><![CDATA[<p><br/></p><p><br/></p><p>Hôm nay mình sẽ kể câu chuyện  THẠCH SANH. </p><p><br/></p><p>Xưa ở quận Cao Bình có gia đình bác tiều phu Thạch Nghĩa, vợ chồng tuổi cao mà vẫn không con. Ông bà lo buồn và ra sức làm việc nghĩa. Ông thì sửa cầu, sửa cống, khơi rãnh, đắp đường. Bà thì nấu nước cho người qua đường uống. Việc làm của gia đình họ Thạch thấu đến trời, Ngọc Hoàng cho Thái tử đầu thai xuống trần làm con nhà họ Thạch. Thạch bà thụ thai ba năm, chưa sinh con thì Thạch ông mất. Sau đó, Thạch bà sinh một con trai khôi ngô tuấn tú đặt tên là Thạch Sanh. Cách ít năm sau, Thạch bà cũng mất, Thạch Sanh sống côi cút một mình trong túp lều tranh dưới gốc đa với một mảnh khố che thân và một cái búa đốn củi.</p><p><br/></p><p>Năm Thạch Sanh mười ba tuổi, Ngọc Hoàng sai tiên ông xuống dạy cho chàng các môn võ nghệ và mọi phép thần thông.</p><p>Một hôm có anh hàng rượu tên là Lý Thông, đi bán rượu ghé vào gốc đa nghỉ chân, thấy Thạch Sanh khỏe mạnh, lanh lợi, ở một mình, bèn kết làm anh em và đưa Thạch Sanh về nhà.</p><p>Bấy giờ ở trong vùng có một con Trăn Tinh thường bắt người ăn thịt, quan quân nhiều lần vây đánh không được. Vì nó có phép thần thông biến hóa; nhà vua phải cho lập miếu thờ và mỗi năm nộp mạng một người cho nó. Năm ấy đến lượt Lý Thông phải nộp mình. Mẹ con Lý Thông nghe tin hoảng hốt, bàn mưu tính kế đưa Thạch Sanh đi thế mạng. Khi Thạch Sanh đi lấy củi về, Lý Thông đon đả mời chàng uống rượu và nói: “Ðêm nay anh phải đi canh miếu thờ trong rừng, nhưng trót cất mẻ rượu, anh đi sợ hỏng, nhờ em thay anh canh miếu một đêm”. Thạch Sanh vui vẻ nhận lời và đi ngay.</p><p>Nửa đêm Trăn Tinh hiện về, giơ vuốt, nhe răng hà hơi, nhả lửa, định xông vào miếu ăn thịt Thạch Sanh. Thạch Sanh bình tĩnh trổ tài đánh nhau với Trăn Tinh, cuối cùng chàng chém được đầu nó, đốt xác nó thành than, và thấy hiện lên trong miếu một bộ cung tên bằng vàng ngời sáng. Thạch Sanh mừng rỡ giắt búa, đeo cung và xách đầu Trăn Tinh chạy thẳng một mạch về nhà. Nghe tiếng Thạch Sanh gọi, mẹ con Lý Thông hoảng sợ, cho là oan hồn của Thạch Sanh sau khi bị Trăn Tinh ăn thịt, trở về nhà oán trách, bèn cất lời cầu khấn, van xin: “Sống khôn, thác thiêng em hãy tạm đi, ngày mai mẹ cùng anh sẽ mua sắm vàng hương, cơm canh, cỗ bàn cúng em chu tất!”. Bấy giờ, Thạch Sanh mới biết rõ tâm địa và mưu kế của mẹ con Lý Thông nhưng chàng không giận, vẫn vui vẻ kể chuyện giết Trăn Tinh cho mẹ con họ Lý nghe. Lý Thông liền nảy ra một mưu thâm độc mới. Nó nói Trăn Tinh là báu vật nhà vua nuôi, ai giết sẽ bị tội lớn. Thạch Sanh lo sợ, Lý Thông bảo Thạch Sanh trốn đi cho an toàn, một mình y sẽ tự lo liệu thu xếp giúp cho.</p><p><br/></p><p><br/></p><p><br/></p><p>Sau khi Thạch Sanh từ giã mẹ con Lý Thông trở về gốc đa xưa, Lý Thông đi ngay về Kinh, tâu vua là đã trừ được Trăn Tinh. Nhà vua vui mừng trọng thưởng và phong cho Lý Thông làm Ðô đốc quận công. Tiếp đó, nhà vua mở hội kén chồng cho con gái là công chúa Quỳnh Nga. Hội kén chồng kéo dài hàng tháng nhưng công chúa không chọn được ai vừa ý đẹp lòng. Một hôm công chúa đang dạo chơi vườn đào thì một con chim đại bàng khổng lồ khác sà xuống cắp đi. Thấy chim cắp người bay qua, Thạch Sanh giương cung bắn, đại bàng bị trúng tên vào cánh trái, nó dùng mỏ ngậm tên rút ra rồi bay tiếp về hang ổ. Thạch Sanh lần theo vết máu tìm đến cửa hang đại bàng, chàng đánh dấu cửa hang ác điểu rồi trở lại gốc đa.</p><p>Nhà vua sai Lý Thông đi tìm công chúa, tìm được thì sẽ được lấy công chúa, làm phò mã, nối ngôi vua, không tìm được phải chịu tội. Lý Thông vừa mừng, vừa lo, y lập kế mở hội hát xướng mười ngày để nghe ngóng dò la tin tức. Ðến ngày thứ mười, biết tin Lý Thông mở hội, Thạch Sanh đến thăm và kể cho Lý Thông nghe việc bắn chim đại bàng, Lý Thông mừng vui khôn xiết, hậu đãi Thạch Sanh và nhờ chàng dẫn đường đến hang Ðại bàng cứu công chúa.</p><p>Thạch Sanh dùng thang dây xuống hang gặp công chúa và đưa thuốc mê cho đại bàng uống. Công chúa hẹn ước kết duyên cùng Thạch Sanh rồi Thạch Sanh buộc dây đưa nàng lên mặt đất. Lý Thông sai quân lính đưa công chúa lên kiệu rước về cung, còn y nói dối là ở lại đánh nhau với quái vật. Sau đó, Lý Thông dùng đá lấp kín cửa hang và trở về triều đình mạo nhận công trạng. Không thấy Thạch Sanh trở về, công chúa buồn thương rầu rĩ và bặt câm, không hé môi nói nửa lời. Nhà vua buồn bã, Lý Thông cầu đảo thuốc thang khắp nơi đều vô hiệu, việc tổ chức cưới xin phải đình hoãn.</p><p>Hết liều thuốc mê, đại bàng tỉnh dậy hóa phép thần thông hãm hại Thạch Sanh, chàng dũng sĩ “mặt đỏ mày xanh”, đã dám cả gan “phá nhà, cướp vợ” của nó. Thạch Sanh dùng tài võ nghệ và phép thần thông của mình tiêu diệt được đại bàng. Nhìn lên cửa hang kín bưng không còn một khe hở nhỏ, Thạch Sanh dạo khắp hang động của đại bàng và gặp Thái tử con vua Thủy Tề đang bị yêu quái nhốt trong cũi sắt. Thạch Sanh phá tan cũi sắt giải thoát cho Thái tử. Thái tử mời Thạch Sanh về Thủy Tề gặp vua cha. Vua Thủy Tề cảm ơn và hậu đãi chàng. Trong thời gian lưu lại thủy cung, một hôm Thạch Sanh đang cùng Thái tử dạo chơi thì một con Hồ Tinh xuất hiện, biến thành một cô gái xinh đẹp để cám dỗ, mê hoặc hại chàng. Thạch Sanh bắt nó phải hiện nguyên hình là một con cáo chín đuôi và hóa phép giam nó lại. Vua Thủy Tề mời Thạch Sanh ở lại thủy cung và sẽ phong chức tước cho chàng, nhưng Thạch Sanh từ chối. Vua Thủy Tề tặng Thạch Sanh một cây đàn thần và sai sứ giả rẽ nước đưa chàng trở lại trần gian. Thạch Sanh lại về với gốc đa xưa. Vắng bóng Thạch Sanh cây đa buồn ủ ê, khi Thạch Sanh trở về cây đa lại xanh tươi như cũ. Hồn hai con quái vật bị Thạch Sanh giết (Trăn Tinh và Ðại Bàng) gặp nhau tìm cách hãm hại Thạch Sanh. Chúng vào kho châu báu của nhà vua lấy cắp vàng bạc ném vào gốc đa nơi Thạch Sanh ở. Quân lính nhà vua bắt Thạch Sanh tống ngục, nhà vua giao cho Lý Thông xử tội. Lý Thông khép Thạch Sanh vào tội tử hình để bịt đầu mối. Trong lúc bị giam trong ngục, chờ hành hình, Thạch Sanh đem đàn ra gảy. Cây đàn thần vang lên tiếng tơ, tiếng trúc, cung thảm, cung sầu; cung thì kể tội Lý Thông vong ân, bạc nghĩa, cướp công Thạch Sanh; cung thì trách nàng công chúa sai lời hẹn ước dưới hang (tích tịch tình tang, ai đem công Chúa dưới hang mà về?)…</p><p>Nghe tiếng đàn, công chúa bừng tỉnh dậy, cười cười, nói nói. Nhà vua vui mừng nghe công chúa nói rõ ngọn ngành. Lập tức nhà vua hạ lệnh tha cho Thạch Sanh và bắt Lý Thông tống ngục. Tiếp đó, vua làm lễ thành hôn cho Thạch Sanh cùng công chúa và truyền ngôi cho Thạch Sanh. Vua giao toàn quyền cho Thạch Sanh xử tội Lý Thông. Thạch Sanh tha tội cho Lý Thông, cho mẹ con họ Lý về quê quán làm ăn. Nhưng về giữa đường, trời nổi giông gió, mẹ con Lý Thông bạc ác bị sét đánh chết, Lý Thông hóa thành con bọ hung suốt đời chui rúc nơi bẩn thỉu.</p><p><br/></p><p>Biết tin Thạch Sanh kết duyên với công chúa Quỳnh Nga và lên ngôi trị vì thiên hạ, các hoàng tử, công hầu của mười tám nước chư hầu, những người đã từng kéo đến cầu hôn công chúa không được, vô cùng ghen tức, họ kéo quân đến gây sự với Thạch Sanh và công chúa. Thạch Sanh cùng công chúa ra tiếp đãi họ một cách tử tế. Tiếng đàn thần của Thạch Sanh phân rõ lẽ thiệt hơn, phải trái, làm cho quân sĩ các nước chư hầu mềm lòng, nản chí. Kẻ nhớ mẹ nhớ cha, người thương con nhớ vợ, ai cũng muốn về và ngại việc binh đao, cuối cùng các nước chư hầu đều thuận lui binh. Thạch Sanh mời họ ăn cơm. Chàng có niêu cơm thần nhỏ bé nhưng xới bao nhiêu bát, cơm vẫn đầy lên như cũ, khiến cho các nước chư hầu càng thêm kính phục.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-09 13:20:27 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3321341258</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3325280362</link>
         <description><![CDATA[<p>Người đầu tiên ghi tên mình vào những trang vàng chói lọi của lịch sử Việt Nam sau hơn 1000 năm dân ta bị giặc phương Bắc đô hộ, chính là Ngô Quyền.</p><p>Ngô Quyền là một vị tướng tài giỏi, thông minh và sáng suốt. Từ khi còn rất trẻ, ông đã được Dương Đình Nghệ tin tưởng giao quyền cai quản cả một vùng đất rộng lớn. Khi Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn phản bội để soán ngôi, Ngô Quyền vô cùng căm phẫn. Đã vậy, tên phản bội đấy còn cõng rắn cắn gà nhà, dẫn đường cho quân Nam Hán sang xâm lược nước ta. Điều đó khiến Ngô Quyền lập tức đem quân đến trị tội, giết chết Kiều Công Tiễn để rửa hận. Sau đó, Ngô Quyền liền ổn định tướng sĩ, chủ động tiến về biên giới, chặn đánh quân Nam Hán. Trong các trận chiến mà ông tham gia, trận đánh trên sông Bạch Đằng là trận đánh lớn nhất và mang tính quyết định, khiến quân giặc tổn thất nặng nề, vội rút lui về nước. Sau chiến thắng ấy, Ngô Quyền chính thúc lên ngôi vua, mở ra thời đại độc lập cho dân tộc ta.</p><p>Những chiến công hiển hách của Ngô Quyền đã đưa ông trở thành một tượng đài to lớn, vững chãi mà khó ai vượt qua trong những năm tháng vàng son của lịch sử nước nhà.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-12 05:36:22 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3325280362</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3325339476</link>
         <description><![CDATA[<p>Mik xin kể câu chuyện Tấm Cám </p><p>   Tấm Cám là câu chuyện dân gian kể về hai chị em Tấm Cám. Tấm mồ côi mẹ từ nhỏ sống với mẹ con dì ghẻ và Cám. Mẹ con Cám thường xuyên hành hạ đối xử bất công với Tấm. Khi thì cướp hết cá mà Tấm bắt được, khi thì lại giết hại cả bống bạn của Tấm, lúc lại không cho Tấm đi trẩy hội, bắt Tấm ở nhà nhặt thóc và gạo. Tuy nhiên khi được Bụt giúp đỡ Tấm đã được đi chơi hội và gặp gỡ nhà vua. Khi trở về từ dạ tiệc Tấm đánh rơi chiếc hài và nhà vua theo đó mà tìm được người để cưới về làm vợ. Tấm trở thành hoàng hậu, điều đó làm mẹ con Cám ganh ghét và lập mưu giết hại Tấm. Nhưng Tấm đã hóa thành chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi, quả thị. Và cuối cùng Tấm gặp lại nhà vua và sống trong cung hạnh phúc đến suốt đời. Còn mẹ con Cám phải chịu báo ứng vì những tội ác mà mình đã gây ra.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-12 06:44:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3325339476</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3325349390</link>
         <description><![CDATA[<p>Câu chuyện ba chú lợn con </p><p>    Ngày xưa có một bà mẹ heo sinh được ba chú heo con. Ba chú heo hay ăn nên lớn rất nhanh, khi thấy những đứa con của mình cũng đã lớn, bà mẹ heo mới nói với ba chú heo con rằng:</p><p>“Các con giờ cũng đã lớn cả rồi, không còn bé bỏng như ngày xưa nữa. Giờ cũng là lúc ta cho các con ra đi và các con phải tự xây cho mỗi đứa một căn nhà. Nhưng các con phải cẩn thận, đừng để gặp chó sói mà nó bắt ăn thịt”.</p><p>Ba chú heo con bắt đầu lên đường, các chú tự bảo với nhau rằng: “Ba&nbsp;<a rel="noopener noreferrer" href="http://truyencotich.vn/">anh em</a>&nbsp;chúng ta phải cẩn thận, đừng để chó Sói bắt ăn thịt nhé”.</p><p>Đi được một đoạn đường thì 3 chú heo gặp một bác nông dân đang vác trên mình một bó rơm to. Ba chú heo đứng lại chào bác nông dân, Chú heo cả nói với bác: “Bác nông dân ơi, bác cho cháu bó rơm này nhé, cháu sẽ tự làm cho mình một ngôi nhà bằng rơm”.</p><p>Bác nông dân vui vẻ trả lời: “Cháu định làm một ngôi nhà bằng rơm thật sao cậu bé, được thôi ta cho cháu cả bó rơm này đó”.</p><p>Chú heo cả vui mừng lấy số rơm mà bác nông dân cho và dựng một ngôi nhà bằng rơm. Dựng xong chú nói: “Giờ ta đã có một ngôi nhà bằng rơm để ở, chó sói không bao giờ bắt được ta để ăn thịt nữa”</p><p><a rel="noopener noreferrer" href="http://truyencotich.vn/">Chú heo</a>&nbsp;thứ 2 nói: “Em sẽ tự mình làm một ngôi nhà chắc chắn hơn ngôi nhà bằng rơm của anh”</p><p>Chú heo út nói: “Em cũng vậy, ngôi nhà bằng rơm của anh rất mong manh, không thể chống lại được gió lớn, em cũng sẽ làm cho mình một ngôi nhà chắc chắn”</p><p>Chú heo thứ 2 và chú heo út tiếp tục lên đường còn chú heo cả thì ở lại với ngôi nhà bằng rơm vừa làm được. Đi được một đoạn đường thì 2 chú heo gặp một bác tiều phu đang vác trên mình một bó cành cây lớn.</p><p><a rel="noopener noreferrer" href="http://truyencotich.vn/">Chú heo</a>&nbsp;thứ 2 nói với bác tiều phu: “Bác tiều phu ơi, bác cho cháu bó cây này, cháu muốn làm cho mình một ngôi nhà bằng những cành cây trên”.</p><p>Bác tiều phu mỉm cười nói: “Được thôi cậu bé, bác cho cháu hết số cành cây này đó, nếu được cháu hãy thử dựng cho mình một ngôi nhà xem sao”.</p><p>Được bác tiều phu cho hết số cành cây, chú heo thứ hai liền dựng cho mình một ngôi nhà bằng cành cây, dựng xong chú nói: “Ngôi nhà bằng cành cây này nhìn trông chắc chắn hơn ngôi nhà bằng rơm của anh cả rất nhiều, giờ thì không có con sói nào ăn thịt được ta nữa”.</p><p>Chú heo út nói: “Em sẽ dựng cho mình một ngôi nhà vững trãi hơn ngôi nhà bằng cành cây của anh”.</p><p>Thế là chú heo út tiếp tục một mình lên đường, còn chú heo thứ hai thì ở lại với ngôi nhà mà chú vừa mới làm xong. Đi được một quãng đường, chú heo út gặp một bác thợ xây đang kéo trên xe rất nhiều viên gạch.</p><p>Chú heo út đứng lại chào bác, chú nói: “Bác thợ xây ơi, bác có thể cho cháu số gạch trên được không bác?, cháu sẽ xây cho mình một ngôi nhà bằng gạch”.</p><p>” Được thôi, chú bé,” Bác ấy cho chú heo con một số gạch.</p><p>Rồi chú heo út tự mình xây một ngôi nhà bằng gạch.&nbsp;Phải mất thời gian khá lâu mới hoàn thành, không sao vì đó là một ngôi nhà chắc chắn.</p><p>Chú heo út rất hài lòng với căn nhà của mình. Chú nói, ” Bây giờ, Chó sói sẽ không bao giờ bắt và ăn thịt ta được”</p><p>Hôm sau một chó sói xuất hiện trên đường. Nó đi đến ngôi nhà bằng rơm của&nbsp;<a rel="noopener noreferrer" href="http://truyencotich.vn/">chú heo</a>&nbsp;cả.&nbsp;Khi trông thấy chó sói, chú heo cả vội vàng chạy vào nhà và đớng cửa lại.</p><p>Chó sói gõ cửa và nói, ” Này heo con, này heo con, mở cửa cho ta vào với.”</p><p>” Không, không” chú heo con nói. ” Ta đã thề, ta đã thề, Ta không để mi vào.”</p><p>” Được rồi Ta bực mình và ta bực mình và Ta sẽ thổi tung căn nhà của ngươi,” chó sói gầm gừ.</p><p>Nói rồi nó thổi và nó thổi,nó thổi và nó thổi. Ngôi nhà bằng rơm xập xuống, chó sói ăn thịt chú heo cả dễ dàng”</p><p>Hôm sau chó sói vẫn dọc theo con đường đi xa hơn. Nó đến ngôi nhà bằng cành cây của&nbsp;<a rel="noopener noreferrer" href="http://truyencotich.vn/">chú heo</a>kế.&nbsp;Chú heo kế trông thấy chó sói, liền chạy vào nhà đóng cửa lại.</p><p>Chó sói gõ cửa và nói, ” Này heo con, này heo con, hãy mở cửa cho ta vào.”</p><p>” Không, không,” chú heo con nói. ” Ta đã thề, ta đã thề, Ta không để mi vào.”</p><p>” Được rồi Ta bực mình và ta bực mình và Ta sẽ thổi tung căn nhà của ngươi,” chó sói gầm gừ.</p><p>Nói rồi nó thổi và nó thổi,nó thổi và nó thổi. Ngôi nhà bằng cây xập xuống, chó sói ăn thịt chú heo kế dễ dàng”</p><p>Hôm sau&nbsp;<a rel="noopener noreferrer" href="http://truyencotich.vn/">chó sói</a>&nbsp;vẫn dọc theo con đường đi xa hơn nữa. Nó đến ngôi nhà bằng gạch của chú heo út.&nbsp;Chú heo út trông thấy chó sói, liền chạy vào nhà đóng cửa lại.</p><p>Chó sói gõ cửa và nói, ” Này heo con, này heo con, hãy mở cửa cho ta vào.”</p><p>” Không, không,” chú heo con nói. ” Ta đã thề, ta đã thề, Ta không để mi vào.”</p><p>” Được rồi Ta bực mình và ta bực mình và Ta sẽ thổi tung căn nhà của ngươi,” chó sói gầm gừ.</p><p>Nói rồi nó thổi và nó thổi, nó thổi và nó thổi. Nhưng căn nhà bằng gạch thật chắc chắn không hề ngã xập.&nbsp;Chó sói giận quá, nhưng nó giả vờ như không có chuyện gì xảy ra. Nó nghĩ, ” Chú heo con này rất thông minh. Nếu mình muốn bắt nó, mình phải giả vờ thân thiện mới được”</p><p>Nghĩ như thế nó nói, ” Này chú heo con, lúc sáu giờ sáng ngày mai, tôi sẽ dẫn bạn đến trang trại của ông Smith. Chúng ta sẽ lấy những củ cải tươi ngon cho bữa tối.”</p><p>“Oh! Tốt quá,” Chú heo con nói. Nhưng chú heo út rất thông minh. Chú biết rất rõ chó sói chỉ mong ăn thịt chú thôi.</p><p>Vì thế sáng hôm sau chú heo út khởi hành đến trang trại của nhà nông Smith lúc năm giờ. Chú lấy đầy giỏ củ cải và hối hả quay trở về nhà trước sáu giờ.</p><p>Đúng sáu giờ, chó sói đến gõ cửa nhà chú heo. ” Bạn đã chuẩn bị chưa, bạn heo con?” nó nói.</p><p>“Oh! Tôi đã đến cánh đồng của ông Smith rồi,” chú heo con nói. ” Tôi đã lấy đầy giỏ củ cải và đang nấu cho bữa ăn tối đây.”</p><p>Chó sói giận quá, nhưng vẫn tiếp tục giả vờ.</p><p>Sau đó chó sói nói tiếp, ” Vậy sáng ngày mai bạn chuẩn bị nhé, lúc năm giờ tôi sẽ dẫn bạn đến cây táo của nhà nông Brown. Chúng ta sẽ hái những quả táo đỏ tươi.”</p><p>“Ồ! Tốt quá,” Chú heo con nói.</p><p>Sáng hôm sau, chú heo con lên đường lúc bốn giờ. Chú tìm được cây táo. Chú trèo lên cây, trong lúc đang hái táo, chó sói bỗng xuất hiện.</p><p>Chú heo con hoảng sợ, nhưng chú giả vờ bình thường. Chú nói, ” Đây là những quả táo ngon nhất, ông Sói. Tôi ném cho ông một trái nhé”.</p><p>Chú ném xuống một trái táo, trái táo lăn tròn cách xa con đường.&nbsp;<a rel="noopener noreferrer" href="http://truyencotich.vn/">Chó sói</a>&nbsp;chạy theo nhặt.&nbsp;Chú heo con liền leo xuống. Chú chạy một mạch về nhà và đóng cửa lại.</p><p>Chó sói vô cùng giận dữ, nhưng vẫn giả vờ bình thường.&nbsp;Nó đi đến căn nhà của chú heo con và gõ cửa. ” Này heo con,” nó gọi, ” Nếu bạn chuẩn bị sẵn sàng lúc bốn giờ chiều nay, tôi sẽ dẫn bạn đi hội chợ. Chúng ta sẽ thích thú khi chơi đánh đu và cưỡi ngựa vòng xoay.</p><p>“Ồ! Tốt quá,” chú heo nói.</p><p>Lúc hai giờ trưa chú heo con đi dến hội chợ. Chú vô cùng thích thú với những trò chơi đánh đu và cưỡi ngựa vòng xoay.&nbsp;Sau đó chú heo con mua một thùng đựng bơ. Cái thùng trông giống như một thùng rượu lớn.&nbsp;Chú heo con trở về nhà và trông thấy chó sói đang đi lên đồi. Chú sợ quá, nhảy ngay vào thùng đựng bơ.&nbsp;Thùng đựng bơ bắt đầu lăn tròn lăn tròn xuống đồi. Càng lúc lăn càng nhanh. Nó húc chó sói ngã nhào.&nbsp;Chó sói ngơ ngẩn không biết cái gì đã húc vào mình. Nó sợ quá chạy trối chết.&nbsp;Chú heo con nhảy ra khỏi thùng đựng bơ và vác nó về nhà.</p><p>Hôm sau chó sói đến nhà chú heo con và gõ cửa.&nbsp;Nó nói, ” Bạn heo ơi, Tôi không đi được hội chợ ngày hom qua. Ôi chao, một cái gì đó to lắm lăn từ trên đồi xuống và húc vào tôi.”</p><p>“Ha &nbsp;ha” chú heo nói, ” Tôi đó, tôi ở trong thùng đựng bơ “</p><p>Khi chó sói nghe như vậy, cơn giận dâng lên, dâng lên, dâng lên.</p><p>Nó nói, “Này heo con, ta sẽ ăn thịt mi. Ta sẽ leo lên ống khói và xuống bắt mi.”</p><p>Chú heo con hoảng sợ, nhưng chú nói không sao. Chú đặt một nồi nước to trên lửa, nấu sôi lên.&nbsp;<a rel="noopener noreferrer" href="http://truyencotich.vn/">Chó sói</a>&nbsp;leo lên mái nhà. Nó chui vào ống khói và leo xuống.&nbsp;Chú heo con mở nắp nồi nuớc sôi. Chó sói rơi từ trên ống khói xuống ngay nồi nước rất mạnh. Thế là hết đời chó sói.&nbsp;Chú heo út quá thông minh so với chó sói.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-12 06:54:07 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3325349390</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3325355145</link>
         <description><![CDATA[<p>Câu chuyện Sự tích chú Cuội cung trăng </p><p>    Ngày xưa ở một miền nọ có một người tiều phu tên là Cuội. Một hôm, như lệ thường, Cuội vác rìu vào rừng sâu tìm cây mà chặt. Khi đến gần một con suối nhỏ, Cuội bỗng giật mình trông thấy một cái hang cọp. Nhìn trước nhìn sau anh chỉ thấy có bốn con cọp con đang vờn nhau. Cuội liền xông đến vung rìu bổ cho mỗi con một nhát lăn quay trên mặt đất. Nhưng vừa lúc đó, cọp mẹ cũng về tới nơi. Nghe tiếng gầm kinh hồn ở sau lưng, Cuội chỉ kịp quẳng rìu leo thoắt lên ngọn một cây cao.</p><p>Từ trên nhìn xuống, Cuội thấy cọp mẹ lồng lộn trước đàn con đã chết. Nhưng chỉ một lát, cọp mẹ lẳng lặng đi đến một gốc cây gần chỗ Cuội ẩn, đớp lấy một ít lá rồi trở về nhai và mớm cho con. Chưa đầy ăn giập miếng trầu, bốn con cọp con đã vẫy đuôi sống lại, khiến cho Cuội vô cùng sửng sốt. Chờ cho cọp mẹ tha con đi nơi khác, Cuội mới lần xuống tìm đến cây lạ kia đào gốc vác về.</p><p>Dọc đường gặp một ông lão ăn mày nằm chết vật trên bãi cỏ, Cuội liền đặt gánh xuống, không ngần ngại, bứt ngay mấy lá nhai và mớm cho ông già! Mầu nhiệm làm sao, mớm vừa xong, ông lão đã mở mắt ngồi dậy. Thấy có cây lạ, ông lão liền hỏi chuyện. Cuội thực tình kể lại đầu đuôi. Nghe xong ông lão kêu lên:</p><p>– Trời ơi! Cây này chính là cây có phép “cải tử hoàn sinh” đây. Thật là trời cho con để cứu giúp thiên hạ. Con hãy chăm sóc cho cây nhưng nhớ đừng tưới bằng nước bẩn mà cây bay lên trời đó!</p><p>Nói rồi ông lão chống gậy đi. Còn Cuội thì gánh cây về nhà trồng ở góc vườn phía đông, luôn luôn nhớ lời ông lão dặn, ngày nào cũng tưới bằng nước giếng trong.</p><p>Từ ngày có cây thuốc quý, Cuội cứu sống được rất nhiều người. Hễ nghe nói có ai nhắm mắt tắt hơi là Cuội vui lòng mang lá cây đến tận nơi cứu chữa. Tiếng đồn Cuội có phép lạ lan đi khắp nơi.</p><p>Một hôm, Cuội lội qua sông gặp xác một con chó chết trôi. Cuội vớt lên rồi giở lá trong mình ra cứu chữa cho chó sống lại. Con chó quấn quít theo Cuội, tỏ lòng biết ơn. Từ đấy, Cuội có thêm một con vật tinh khôn làm bạn.</p><p>Một lần khác, có lão nhà giàu ở làng bên hớt hải chạy đến tìm Cuội, vật nài xin Cuội cứu cho con gái mình vừa sẩy chân chết đuối. Cuội vui lòng theo về nhà, lấy lá chữa cho. Chỉ một lát sau, mặt cô gái đang tái nhợt bỗng hồng hào hẳn lên, rồi sống lại. Thấy Cuội là người cứu sống mình, cô gái xin làm vợ chàng. Lão nhà giàu cũng vui lòng gả con cho Cuội.</p><p>Vợ chồng Cuội sống với nhau thuận hòa, êm ấm thì thốt nhiên một hôm, trong khi Cuội đi vắng, có bọn giặc đi qua nhà Cuội. Biết Cuội có phép cải tử hoàn sinh, chúng quyết tâm chơi ác. Chúng bèn giết vợ Cuội, cố ý moi ruột người đàn bà vứt xuống sông, rồi mới kéo nhau đi. Khi&nbsp;Cuội&nbsp;trở về thì vợ đã chết từ bao giờ, mớm bao nhiêu lá vẫn không công hiệu, vì không có ruột thì làm sao mà sống được.</p><p><br></p><p>Thấy chủ khóc thảm thiết, con chó lại gần xin hiến ruột mình thay vào ruột vợ chủ. Cuội chưa từng làm thế bao giờ, nhưng cũng liều mượn ruột chó thay ruột người xem sao. Quả nhiên người vợ sống lại và vẫn trẻ đẹp như xưa. Thương con chó có nghĩa, Cuội bèn nặn thử một bộ ruột bằng đất, rồi đặt vào bụng chó, chó cũng sống lại. Vợ với chồng, người với vật lại càng quấn quít với nhau hơn xưa.</p><p>Nhưng cũng từ đấy, tính nết vợ Cuội tự nhiên thay đổi hẳn. Hễ nói đâu là quên đó, làm cho Cuội lắm lúc bực mình. Ðã không biết mấy lần, chồng dặn vợ: “Có đái thì đái bên Tây, chớ đái bên Ðông, cây dông lên trời!”. Nhưng vợ&nbsp;Cuội&nbsp;hình như lú ruột, lú gan, vừa nghe dặn xong đã quên biến ngay.</p><p>Một buổi chiều, chồng còn đi rừng kiếm củi chưa về, vợ ra vườn sau, không còn nhớ lời chồng dặn, cứ nhằm vào gốc cây quý mà đái. Không ngờ chị ta vừa đái xong thì mặt đất chuyển động, cây đảo mạnh, gió thổi ào ào. Cây đa tự nhiên bật gốc, lững thững bay lên trời.</p><p>Vừa lúc đó thì Cuội về đến nhà. Thấy thế, Cuội hốt hoảng vứt gánh củi, nhảy bổ đến, toan níu cây lại. Nhưng cây lúc ấy đã rời khỏi mặt đất lên quá đầu người. Cuội chỉ kịp móc rìu vào rễ cây, định lôi cây xuống, nhưng cây vẫn cứ bốc lên, không một sức nào cản nổi. Cuội cũng nhất định không chịu buông, thành thử cây kéo cả Cuội bay vút lên đến cung trăng.</p><p>Từ đấy Cuội ở luôn cung trăng với cả cái cây quý của mình. Mỗi năm cây chỉ rụng xuống biển có một lá. Bọn cá heo đã chực sẵn, khi lá xuống đến mặt nước là chúng tranh nhau đớp lấy, coi như món thuốc quý để cứu chữa cho tộc loại chúng. Nhìn lên mặt trăng, người ta thấy một vết đen rõ hình một cây cổ thụ có người ngồi dưới gốc, người ta gọi cái hình ấy là hình chú&nbsp;Cuội&nbsp;ngồi gốc cây đa….</p><p>&nbsp;</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-12 07:01:08 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3325355145</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3325361719</link>
         <description><![CDATA[<p>Chuyện bông hoa cúc trắng </p><p>    Ngày xưa, có hai mẹ con nhà nọ sống trong một cái lều nơi xóm vắng. Người chồng mất sớm, nên mẹ con làm lụng vất vả lắm mới đủ ăn. Hằng ngày gà chưa gáy sáng bà mẹ đã phải dậy làm việc cho đến đêm khuya.<br><br>Một hôm, gà gáy lâu lắm rồi mà bà mẹ vẫn chưa dậy. Cô bé thức giấc vội đến bên mẹ, cô biết là mẹ đã ốm rồi! Làm thế nào bây giờ, giữa nơi hoang vắng và cảnh nghèo túng này? Cô chỉ còn biết đắp chiếc áo ấm độc nhất của mình cho mẹ, rồi ngồi đấy chăm sóc mẹ. Mẹ cô thỉnh thoảng hé đôi mắt khô héo nhìn con.<br><br>Một buổi chiều khi ánh nắng chiếu qua khe liếp, bà mẹ chợt tỉnh lại.<br><br>– Con ơi! Con đi mời thầy thuốc về đây. Mẹ thấy trong người khó chịu lắm.<br><br>Cô bé vội vã ra đi. Vừa đi cô vừa lo cho mẹ. Được một đoạn đường dài, cô gặp một cụ già tóc bạc phơ. Thấy cô bé đi một mình, cụ liền hỏi:<br>– Cháu đi đâu mà vội thế?<br>– Thưa cụ, cháu đi tìm thầy thuốc. Mẹ cháu ốm đã lâu, mà bệnh ngày một nặng thêm.<br>Tự nhận là thầy thuốc, cụ bảo em dẫn về nhà để xem bệnh giúp. Về đến nhà, xem mạch cho người ốm xong, cụ quay lại hỏi cô bé:<br>– Chỉ có cháu và mẹ cháu ở đây thôi ư?<br>– Thưa vâng!<br>– Từ hôm mẹ ốm, cháu chăm sóc thế nào?<br>– Thưa cụ, cháu chỉ biết quanh quẩn bên giường làm vui lòng mẹ cháu.<br>– Mẹ cháu bị bệnh nặng lắm. Ta sẽ cố chưa cho mẹ cháu khỏi. Cháu hãy đi đến gốc đa đầu rừng, hái cho ta một bông hoa trắng thật đẹp về đây.<br><br>&nbsp;Bên ngoài trời rất lạnh. Cô bé chỉ có mỗi một chiếc áo mỏng trên mình. Cô lẳng lặng bước đều trong gió rét. Vừa đi cô vừa lo cho mẹ. Cô đi đã mỏi chân mới đến gốc đa đầu rừng. Quả nhiên cô thấy trên bụi cây trước mặt có một bông hoa trắng rất đẹp. Co ngắt bông hoa, tay nâng niu với tất cả tấm lòng tha thiết cầu mong cho mẹ tai qua nạn khỏi. Bỗng cô nghe như văng vẳng bên tai tiếng cụ già tóc bạc ban nãy lại khuyên nhủ cô:<br><br>– Cháu hãy yên tâm, mỗi cánh hoa trên bông hoa sẽ là một ngày mẹ cháu được sống thêm.<br>Cô bé cúi xuống nhìn hoa, cô đếm: “Một, hai, ba, bốn, …, hai mươi. Trời ơi! Còn có hai mươi ngày nữa thôi ư?…”<br>Suy nghĩ một lát, cô rón rén chạy ra phía sau cây đa. Cô nhẹ tay xé mỗi cánh hoa ra thành nhiều sợi. Bông hoa trở nên kì lạ. Mỗi sợi nhỏ biến thành từng cánh nhỏ dài và mượt, trắng bong như tấm lòng ngây thơ trong trắng của cô. Những cánh hoa mọc thêm ra nhiều không sao đếm được! Cô bé nâng niu trên tay bông hoa lạ đó. Trời ơi! Sung sướng quá! Cô vùng chạy về. Đến nhà, cụ già tóc bạc bước ra cửa tươi cười đón cô và nói:<br><br>– Mẹ cháu đã khỏi bệnh! Phần thưởng cho tấm lòng hiếu thảo của cháu đấy!<br><br>Từ đó hàng năm, về mua thu, thường nở những bông hoa có nhiều cánh nhỏ dài mượt, trông rất đẹp.<br><br>Đó chính là bông hoa cúc trắng.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-12 07:07:02 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3325361719</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3325363573</link>
         <description><![CDATA[<p>Sự tích hoa mào gà </p><p>   Sự tích hoa mào gà” là câu chuyện cổ tích rất hay và ý nghĩa mà em đọc được gần đây.</p><p>Câu chuyện xảy ra từ cách đây rất lâu rồi, nên không rõ về mốc thời gian. Nhân vật chính trong câu chuyện là một cô gà mái mơ xinh đẹp và tốt bụng. Cô có một chiếc mào màu đỏ tươi xinh xắn như chiếc vương miện ở trên đỉnh đầu, không hề kém cạnh các anh gà trống. Mỗi ngày khi bước đi trên đường, cô luôn hãnh diện vươn cao cổ lên để khoe với mọi người chiếc mào của mình. Một ngày nọ, khi cô gà mái mơ đang uống nước ở cạnh giếng thì bất ngờ nghe thấy tiếng khóc nức nở vang lên từ phía sau. Lần theo tiếng khóc, cô nhìn thấy một cây cỏ xanh đang thu mình và khóc rất buồn bã. Sau khi hỏi chuyện, mái mơ biết rằng bạn cỏ đã rất buồn và tự ti vì bản thân không có hoa như các bạn, nên chẳng ai chơi cùng. Nghe xón, mái mơ rất thương bạn, nên cũng buồn theo. Sau vài phút suy nghĩ, mái mơ đã hái chiếc mào đỏ trên đầu của mình xuống, đội cho cây cỏ. Thế là cây cỏ xanh đã có một bông hoa màu đỏ tươi ở trên đầu. Cây cỏ bất ngờ, ngước lên nhìn mái mơ bằng ánh mắt ngỡ ngãng. Thấy vậy, mái mơ liền bảo rằng sẽ tặng mào của mình cho cây, để cây cũng có hoa đẹp giống bạn bè, không cần phải buồn nữa. Nghe thế, cây cỏ mừng lắm, rối rít cảm ơn mái mơ rồi chạy đi khắp nơi khoe với mọi người. Từ ngày hôm đó, cây cỏ được mọi người biết đến với cái tên hoa mào gà. Còn mái mơ tốt bụng, thì tuy không còn chiếc mào đỏ tươi kia nữa, nhưng đã mọc lại một chiếc mào đỏ nhỏ xinh hơn. Chiếc mào đó tượng trưng cho lòng tốt của mái mơ, nên cô rất yêu thích và tự hào về nó.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-12 07:08:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3325363573</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3325364506</link>
         <description><![CDATA[<p><br>“Sự tích ngày và đêm” là một câu chuyện cổ tích thú vị và giàu ý nghĩa về tình bạn mà em vừa được đọc.</p><p>Câu chuyện xoay quanh ba nhân vật, gồm Mặt Trời, Mặt Trăng và Gà Trống. Theo chuyện kể, năm xưa, cả ba người bạn này rất yêu thương nhau, cùng sống hạnh phúc và vui vẻ trên bầu trời cao. Một ngày nọ, Mặt Trăng xin đổi chiếc áo trắng của mình để lấy cái mũ đỏ của Gà Trống. Nhưng do không thích áo trắng nên Gà Trống không đồng ý đổi. Ngờ đâu, Mặt Trăng vậy mà bất chấp tất cả, muốn cướp lấy mũ của bạn. Cả hai tranh dành, xô đẩy nhau khiến mũ của Gà Trống rơi xuống mặt đất. Ngay lập tức, Gà Trống bay theo để tìm lại mũ. Nhưng dưới mặt đất tối quá, chú chẳng nhìn thấy gì để tìm cả. Thế là Gà Trống cất tiếng gọi Mặt Trời dậy, chiếu sáng khắp trần gian giúp mình. Nhờ ánh sáng của Mặt Trời, Gà Trống tìm thấy mũ đang mắc lại trên ngọn cây. Tuy nhiên, sau khi đội mũ, Gà Trống nhận ra mình không thể nào bay lên trời được cả. Mặt Trời muốn giúp bạn nhưng lại không biết phải làm gì. Sau một hồi vật lộn, Gà Trống đành bỏ cuộc, chấp nhận việc ở lại mãi trên mặt đất. Mặt Trời thương bạn lắm, nên hứa rằng, mỗi ngày đều sẽ đến chơi với Gà Trống. Hai bạn lấy tín hiệu là tiếng gáy ò ó o. Hễ nghe tiếng gáy, dù đang làm gì, Mặt Trời cũng sẽ xuất hiện ngay. Còn Mặt Trăng, do quá ân hận về hành động của mình, không dám nói chuyện với hai bạn, nên đành chờ khi Mặt Trời và Gà Trống đi ngủ mới dám xuất hiện trên bầu trời. Và Gà Trống vừa ngủ dậy, cất tiếng gáy là Mặt Trăng lại trốn đi ngay.</p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-12 07:09:53 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3325364506</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3325366864</link>
         <description><![CDATA[<p><br>“Ba lưỡi rìu” là một câu chuyện cổ tích không chỉ thú vị, hấp dẫn, mà còn chứa đựng bài học ý nghĩa về lòng trung thực trong cuộc sống.</p><p>Câu chuyện kể về một anh tiều phu có cuộc sống vô cùng khó khăn, vất vả. Hằng ngày, anh lên rừng đốn củi kiếm sống qua ngày. Cả gia tài của anh, đáng giá nhất chỉ có chiếc lưỡi rìu bằng sắt mà cha anh để lại. Một ngày nọ, khi anh đang hăng say đốn củi cạnh bờ sông, thì lưỡi rìu đột ngột rơi ra và lăn xuống nước. Nước sông rất sâu lại chảy xiết, mà anh thì không biết bơi nên loay hoay mãi vẫn chưa có cách nào tìm lại chiếc rìu được. Bỗng, một ông cụ đột ngột xuất hiện trước mặt anh với nụ cười hiền hậu. Ông bảo anh hãy bình tĩnh, để ông lặn xuống tìm lưỡi rìu cho. Nói là làm, trong sự ngỡ ngàng của anh tiều phu, ông lão đột ngột lặn xuống nước. Một lát sau, ông xuất hiện với một lưỡi rìu bằng vàng và đưa cho anh tiều phu. Nhưng anh lắc đầu từ chối, nói rằng đó không phải là lưỡi rìu của mình. Thế là ông lão lại lặn xuống nước. Lần thứ hai xuất hiện, ông lão cầm đến một lưỡi rìu bằng bạc sắc bén, nhưng anh tiều phu vẫn tiếp tục từ chối. Phải đến lần thứ ba, khi ông lão đưa cho anh một lưỡi rìu bằng sắt đã cũ, thì anh mới vui mừng nhận lấy. Khi anh đang rối rít cảm ơn ông lão, thì trên tay ông bỗng xuất hiện lại lưỡi rìu bằng vàng và bạc lúc nãy, rồi đưa cho anh. Ông nói rằng đó là phần thưởng vì anh đã vượt qua thử thách về lòng trung thực của ông. Nói rồi, ông biến mất giữa làn khói trắng mờ.</p><p>Kết thúc của câu chuyện “Ba lưỡi rìu” khiến em rất thích thú và ấn tượng. Kết thúc đó là bài học nhắc nhở chúng ta chớ có tham lam, dối trá, phải luôn trung thực và thành thật với mọi người.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-12 07:12:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3325366864</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3325367746</link>
         <description><![CDATA[<p>Trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, em thích nhất là câu chuyện Cây khế.</p><p>Câu chuyện kể về hai anh em trai cùng chung sống trong một gia đình, nhưng có tính cách trái ngược nhau hoàn toàn. Người anh tham lam, xảo trá, người em hiền lành, lương thiện lại chăm chỉ. Sau khi người cha qua đời, người anh xấu xa đã cướp hết toàn bộ gia sản, đuổi vợ chồng người em ra ngoài, chỉ để cho họ một cây khế già và một túp lều nhỏ. Thế là hai vợ chồng người em đành bắt đầu cuộc sống mưu sinh vất vả.</p><p>Năm nọ, cây khế ra nhiều trái ngon, hai vợ chồng định bụng đem bán kiếm thêm thu nhập. Ngờ đâu, có một con chim lớn từ nơi khác bay đến, ăn rất nhiều trái. Người em than thở với chim, mong chim đừng ăn nữa. Ngờ đâu, chim hiểu tiếng người, đã chở người em ra một hòn đảo để lấy vàng đổi cho số khế mình đã ăn. Nhờ vậy, gia đình người em trở nên giàu có, sung túc. Biết được, người anh tham lam nằng nặc xin đổi gia sản để lấy cây khế của người em. Hắn bắt chước em mình than thở để được chim chở ra đảo vàng, nhưng vì tham lam, lấy quá nhiều nên chim không chở nổi, rớt xuống biển và mất tích.</p><p>Kết thúc câu chuyện, người em hiền lành được hưởng cuộc sống hạnh phúc, còn người anh xấu xa thì nhận cái kết thích đáng. Bài học ở hiền gặp lành trong câu chuyện ấy đến nay vẫn còn vẹn nguyên giá trị. </p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-12 07:13:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3325367746</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3325368714</link>
         <description><![CDATA[<p>   Cây tre trăm đốt là câu chuyện cổ tích mà em yêu thích nhất.</p><p>Câu chuyện kể về một anh chàng nông dân hiền lành, tốt bụng, thật thà lại chăm chỉ, chịu khó. Để mưu sinh, anh đến làm việc cho nhà phú ông. Phú ông thấy anh khỏe mạnh, chịu khó làm việc nên nghĩ mưu lừa tiền anh. Hắn nói rằng nếu anh làm việc chăm chỉ cho hắn, không lấy tiền công, thì sau ba năm sẽ gả con gái cho anh. Thế là, suốt ba năm, anh nông dân ra sức cày cuốc, làm việc cả ngày lẫn đêm, giúp cho lão phú ông có thêm rất nhiều của cải.</p><p>Đến hẹn, lão phú ông tìm cách lừa gạt anh nông dân. Đòi sính lễ là cây tre có một trăm đốt. Trong lúc anh nông dân vất vả tìm kiếm trong bất lực, ở nhà, lão phú ông đã làm đám cưới gả con mình cho con trai của một phú hộ khác. Ngờ đâu, anh nông dân được ông bụt hiện lên giúp đỡ. Dạy cho câu thần chú “khắc nhập, khắc nhập” để ghép một trăm đốt tre thành cây tre trăm đốt. Trở về nhà, nhìn thấy đám cưới linh đình, biết mình bị lừa, anh nông dân tức giận lắm. Anh đọc câu thần chú, dính cả phú ông vào cây tre, bắt ông ta phải thực hiện lời hứa mới thả ra.</p><p>Cuối truyện, anh nông dân khổ tận cam lai, cưới được vợ như mong ước. Qua đó, câu chuyện dạy cho em bài học “ở hiền gặp lành” mà ông cha ta luôn tin tưởng.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-12 07:14:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3325368714</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3325370683</link>
         <description><![CDATA[<p>Sọ Dừa là một câu chuyện cổ tích hay và tiêu biểu thuộc nhóm các câu chuyện có nhân vật xấu xí. Ngay từ lần đọc đầu tiên, em đã rất yêu thích câu chuyện này.</p><p>Câu chuyện kể về một người phụ nữ sau khi uống nước mưa đọng trong cái gáo dừa thì mang thai. Bà sinh ra một đứa con không tay không chân, tròn lông lốc như cục thịt, nên đặt tên con là Sọ Dừa. Khi lớn lên, tuy cơ thể khiếm khuyết, nhưng Sọ Dừa vẫn rất chăm chỉ. Cậu xin mẹ đi chăn bò cho nhà phú ông và làm việc rất tốt, khiến ai cũng bất ngờ. Nhờ làm việc ở đây, cậu biết đến cô Út hiền lành, tốt bụng, vì vậy đã nhờ mẹ hỏi cưới cô Út cho mình. Ngày hôn lễ diễn ra, Sọ Dừa trở về hình dáng của một chàng trai khôi ngô tuấn tú, lại còn biến ra ngôi nhà khang trang, có kẻ hầu người hạ. Điều đó làm hai chị gái của cô Út rất ganh ghét. Sau đám cưới, Sọ Dừa ra sức dùi mài kinh sử, và đỗ đầu trong năm đó. Chàng được nhà vua tin tưởng, cử đi sứ nước ngoài. Nhân lúc Sọ Dừa đi vắng, hai cô chị xấu xa đã rủ cô Út đi chơi thuyền rồi đẩy cô xuống biển. May mắn thay, cô Út được chồng dặn dò từ trước đó, nên đã luôn mang theo một hòn đá, một con dao và hai quả trứng gà. Nhờ các đồ vật đó, cô đã sống sót được trên đảo hoang. Cho đến ngày có thuyền quan sứ đi qua, trên thuyền chính là Sọ Dừa. Hai vợ chồng đoàn tụ với nhau, hạnh phúc vô cùng. Trở về nhà, họ làm tiệc linh đình thiết đãi bà con. Hai cô chị nhục nhã quá nên đã bỏ đi biệt xứ.</p><p>Đọc câu chuyện, em thấm nhuần được bài học ý nghĩa về đạo làm người mà ông cha ta gửi gắm. Đó chính là ở hiền thì gặp lành, còn kẻ gieo gió thì ắt sẽ gặp bão.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-12 07:16:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3325370683</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3325372324</link>
         <description><![CDATA[<p> Ngày xưa có một người con trai thần Long Nữ tên là Lạc Long Quân thuộc giống rồng. Thân ở dưới nước và ở cả trên cạn, sức khỏe vô địch, có nhiều phép lạ. Thần giúp dân trừ yêu quái, dạy dân cách trồng trọt, chăn nuôi và ăn ở. Ở vùng núi cao phương Bắc, có nàng Âu Cơ thuộc dòng hạ Thần Nông, xinh đẹp tuyệt trần. Nàng đến thăm vùng đất Lạc Việt có nhiều hoa thơm cỏ lại. Hai người gặp nhau, yêu nhau và trở thành vợ chồng.</p><p>Ít lâu sau Âu Cơ mang thai và sinh ra một cái bọc trăm trứng, nở ra trăm người con, người nào cũng đều hoàn hảo, đẹp lạ thường.</p><p>Lạc Long Quân vì nhớ mẹ và không quen ở trên cạn nên đành từ biệt Âu Cơ và đàn con trở về Thuỷ Cung.</p><p>Âu Cơ ở lại nuôi đàn con, tháng ngày chờ đợi Lạc Long Quân trở lại, nhưng nỗi nhớ chồng khiến nàng buồn tủi. Cuối cùng nàng gọi chồng lên than thở:</p><p>- Sao chàng đành bỏ thiếp mà đi, không cùng thiếp nuôi đàn con nhỏ?</p><p>Lạc Long Quân nói:</p><p>- Ta vốn ở miền nước thẳm, nàng thì ở chốn núi cao, nhiều điều khác nhau, khó mà ở cùng nhau một nơi được lâu dài được. Nay ta đưa năm mươi con xuống biển, nàng đưa năm mươi con lên núi, chia nhau cai quản các phương. Khi có việc gì cần giúp đỡ lẫn nhau, đừng quên lời hẹn, đây là giao ước của vợ chồng, con cái.</p><p>Âu Cơ ưng thuận. Trước khi đưa năm mươi con lên núi, nàng nói với chồng:</p><p>- Thiếp xin nghe lời chàng. Vợ chồng ta đã sống với nhau thắm thiết, nay phải chia hai, lòng thiếp thật là đau xót.</p><p>Lạc Long Quân củng cố nén nỗi buồn trong buổi chia li, chàng khuyên giải vợ:</p><p>- Tuy xa nhau nhưng tình cảm đôi ta không hề phai nhạt, khi nào cần chúng ta lại gặp nhau.</p><p>Âu Cơ vẫn quyến luyến, rồi buồn bã nói:</p><p>- Thiếp rất nhớ chàng và thương các con, biết đến khi nào chúng ta mới gặp nhau.</p><p>Lạc Long Quân nắm chặt tay vợ, an ủi:</p><p>- Nàng đừng làm mủi lòng ta. Xa nàng và các con lòng ta cũng đau lắm! Âu cũng là mệnh trời, mong nàng hiểu và cảm thông cùng ta.</p><p>Âu Cơ và các con nghe theo lời cùng nhau chia tay lên đường.</p><p>Lạc Long Quân và các con về nơi biển cả, Âu Cơ đưa các con về đất Phong Châu. Người con trưởng được tôn lên làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang.</p><p>Cũng bởi sự tích này mà người Việt Nam ta đều luôn tự hào mình là dòng dõi con Rồng cháu Tiên, coi tổ tiên mình là vua Hùng.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-12 07:18:43 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3325372324</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3328773258</link>
         <description><![CDATA[<p>Câu chuyện lịch sử Việt Nam mang ý nghĩa sâu sắc mời các bạn cùng xem </p>]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?v=sOq4tkEHQr4" />
         <pubDate>2025-02-14 11:12:31 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3328773258</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3328870125</link>
         <description><![CDATA[<p>Hôm nay mình sẽ kể câu chuyện trầu cau</p><p><br/></p><p>Ngày xưa, một nhà quan lang họ Cao có hai người con trai hơn nhau một tuổi và giống nhau như in, đến nỗi người ngoài không phân biệt được ai là anh, ai là em. Năm hai anh em mười bảy mười tám tuổi thì cha mẹ đều chết cả. Hai anh em vốn đã thương yêu ngau, nay gặp cảnh hiu quạnh, lại càng yêu thương nhau hơn trước.</p><p><br/></p><p>Không còn được cha dạy dỗ cho nữa, hai anh em đến xin học ông đạo sĩ họ Lưu. Hai anh em học hành chăm chỉ lại đứng đắn nên được thầy yêu như con. Thầy Lưu có một cô con gái tuổi chừng mười sáu mười bảy, nhan sắc tươi tắn, con gái trong vùng không người nào sánh kịp.</p><p><br/></p><p>Trông thấy hai anh em họ Cao vừa đẹp vừa hiền, người con gái đem lòng yêu mến, muốn kén người anh làm chồng, nhưng không biết người nào là anh, người nào là em.</p><p><br/></p><p>Một hôm, nhân nhà nấu cháo, người con gái lấy một bát cháo và một đôi đũa mời hai người ăn. Thấy người em nhường người anh ăn, người con gái mới nhận được ai là anh, ai là em. Sau đó, người con gái nói với cha mẹ cho phép mình lấy người anh làm chồng.</p><p><br/></p><p>Từ khi người anh có vợ thì thương yêu giữa hai anh em không được thắm thiết nữa. Người em rất là buồn, nhưng người anh vô tình không để ý đến.</p><p><br/></p><p>Một hôm hai anh em cùng lên nương, tối mịt mới về, người em vào nhà trước; chàng vừa bước chân qua ngưỡng cửa thì người chị dâu ở trong buồng chạy ra lầm chàng là chồng mình, vội ôm chầm lấy. Người em liền kêu lên, cả hai đều xấu hổ. Giữa lúc ấy, người anh cũng bước vào nhà. Từ đấy người anh nghi em có tình ý với vợ mình, càng hững hờ với em hơn trước.</p><p><br/></p><p>Một buổi chiều, anh chị đều đi vắng cả, người em ngồi một mình nhìn ra khu rừng xa xa, cảm thấy cô quạnh, lại càng buồn tủi, vùng đứng dậy ra đi.</p><p><br/></p><p>Chàng đi, đi mãi cho đến khu rừng phía trước mặt, rồi theo đường mòn đi thẳng vào rừng âm u. Trời bắt đầu tối, trăng đã lên, mà chàng vẫn cứ đi. Đi đến một con suối rộng nước sâu và xanh biếc, chàng không lội qua được, đành ngồi nghỉ bên bờ. Chàng khóc thổn thức, tiếng suối reo và cứ reo, át cả tiếng khóc của chàng. Đêm mỗi lúc một khuya, sương xuống mỗi lúc một nhiều, sương lạnh thấm dần vào da thịt chàng, chàng chết mà vẫn ngồi trơ trơ, biến thành một tảng đá.</p><p>Người anh cùng vợ về nhà, không thấy em đâu, lẳng lặng đi tìm, không nói cho vợ biết. Theo con đường mòn vào rừng, chàng đi mãi, đi mãi, và sau cùng đến con suối xanh biếc đang chảy cuồn cuộn dưới ánh trăng và không thể lội qua được, đành ngồi bên bờ suối, tựa mình vào một tảng đá. Chàng có ngờ đâu chính tảng đá là em mình! Sương vẫn xuống đều, sương lạnh rơi lã chã từ cành lá xuống. Chàng rầu rĩ khóc than hồi lâu, ngất đi và chết cứng, biến thành một cây không cành, mọc thẳng bên tảng đá.</p><p><br/></p><p>Ở nhà, vợ không thấy chồng đâu, vội đi tìm và cũng theo con đường mòn đi vào rừng thẳm. Nàng đi mãi, bước thấp bước cao, rồi cuối cùng gặp con suối nước sâu và xanh biếc. Nàng không còn đi được nữa. Nàng ngồi tựa vào gốc cây không cành mọc bên tảng đá, vật mình than khóc. Nàng có ngờ đâu nàng đã ngồi tựa vào chồng mình và sát đó là em chồng. Nàng than khóc, nhưng tiếng suối to hơn cả tiếng than khóc của nàng. Đêm đã ngả dần về sáng, sương xuống càng nhiều, mù mịt cả núi rừng, nàng vật vã khóc than. Chưa đầy nửa đêm mà nàng đã mình gầy xác ve, thân mình dài lêu nghêu, biến thành một cây leo quấn chặt lấy cây không cành mọc bên tảng đá.</p><p><br/></p><p><br/></p><p>Về sau chuyện ấy đến tai mọi người, ai nấy đều thương xót. Một hôm, vua Hùng đi qua chỗ ấy, nhân dân đem chuyện ba người kể lại cho vua nghe và đến xem. Vua bảo thử lấy lá cây leo và lấy quả ở cái cây không cành nghiền với nhau xem sao, thì thấy mùi vị cay cay. Nhai thử, thấy thơm ngon và nhổ nước vào tảng đá thì thấy bãi nước biến dần ra sắc đỏ. Nhân dân gọi cái cây mọc thẳng kia là cây cau, cây dây leo kia là cây trầu, lại lấy tảng đá ở bên đem về nung cho xốp để ăn với trầu cau, cho miệng thơm, môi đỏ.</p><p>Tình duyên của ba người tuy đã chết mà vẫn keo sơn, thắm thiết, cho nên trong mọi sự gặp gỡ của người Việt Nam, miếng trầu bao giờ cũng là đầu câu chuyện, để bắt đầu mối lương duyên, và khi có lễ nhỏ, lễ lớn, cưới xin, hội hè, tục ăn trầu đã trở nên tục cố hữu của dân tộc Việt Nam.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-14 12:55:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3328870125</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3328874530</link>
         <description><![CDATA[<p>Cái bài đăng uanusual... là của mình nhé mình bấm nhầm</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-14 12:59:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3328874530</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3328912225</link>
         <description><![CDATA[<p>Mik xin kể câu chuyện Bó đũa theo cách tóm tắt lại và kể ý nghĩa nhân văn của câu chuyện. </p><p>     Một gia đình nọ có ông bố sống cùng bốn người con. <strong>Vì buồn các con không yêu thương lẫn nhau, ông ra một thử thách cho bốn người con nếu dùng tay bẻ gãy được bó đũa sẽ được thưởng lớn.</strong></p><p>Tuy cố gắng nhưng lần lượt bốn anh em không ai có thể bẻ gãy bó đũa đó cả. Thấy vậy ông bố liền tách bó đũa ra và bẻ gãy từng cây đũa một một cách dễ dàng.</p><p><strong>Ý nghĩa nhân văn của truyện</strong></p><p>Bài học rút ra từ câu chuyện là khi chúng ta chỉ có một mình thì rất dễ bị lung lay, đàn áp, thế nhưng nếu hợp lực lại thì sẽ luôn mạnh mẽ, vững chãi. Đặc biệt với anh em trong cùng một nhà phải luôn biết yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ và luôn đoàn kết với nhau trước mọi khó khăn hoạn nạn.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-14 13:34:47 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3328912225</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3329138300</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Chử Đồng Tử là tên của một vị thánh nổi tiếng, một trong “Tứ bất tử” trong tín ngưỡng Việt Nam.Truyền thuyết về Chử Đồng Tử – Tiên Dung là một trong những&nbsp;<em>huyền sử</em>&nbsp;được ghi chép trong Lĩnh Nam chích quái kể về thời kì cổ xưa của nước Việt Nam</strong>.</p><p><strong>Chử Đồng Tử – Tiên Dung,</strong>&nbsp;những con người không tham danh vọng, không màng phú quý vinh hoa, suốt đời chỉ tìm đến với những cái đẹp trong thiên nhiên, khai phá tạo dựng những bãi bồi phù sa đã đi vào cõi bất tử trong tâm linh của người dân đất Việt.</p><p>Sự gặp gỡ có phần kì bí đã thêu dệt nên một thiên tình sử lạ vào loại bậc nhất trong lịch sử dân tộc. Lạ lùng là ở đây có một tình yêu và quan niệm bạo dạn, tới mức dũng cảm, vượt qua tất cả mọi ranh giới. Nàng Tiên Dung dám yêu, dám lấy chàng Chử Đồng Tử nghèo hèn, bất chấp mọi lễ giáo phong kiến và ngôi vị thứ bậc trong xã hội. Đây là một nét đẹp đậm chất nhân văn nhất trong bốn vị Thánh của “Tứ bất tử”. Câu chuyện thể hiện nguyện vọng xây dựng một cuộc sống phồn vinh vật chất trên nền tảng một tình yêu đích thực.</p><p><strong>Truyền thuyết về Chử Đồng Tử – Tiên Dung:</strong></p><p>Tương truyền Chử Đồng Tử sống cùng cha là Chử Cù Vân tại Chử Xá (huyện Văn Giang, Hưng Yên); có bản viết là Chử Vi Vân. Theo “Việt sử giai thoại” của Nguyễn Khắc Thuần – NXB Giáo dục). Chẳng may nhà cháy, mất hết của cải, hai cha con chỉ còn lại một chiếc&nbsp;khố phải thay nhau mà mặc. Lúc người cha lâm chung, ông gọi con lại bảo rằng hãy giữ chiếc khố lại cho bản thân. Thương cha nên Chử Đồng Tử liệm&nbsp;khố theo cha, mình thì chịu cảnh trần truồng khổ sở, kiếm sống bằng cách ban đêm câu cá, ban ngày dầm nửa người dưới nước, đến gần thuyền bán cá hoặc&nbsp;xin ăn.</p><p>Thời ấy Vua&nbsp;Hùng Vương&nbsp;thứ ba có cô con gái tên là Tiên Dung&nbsp;đến tuổi cập kê mà vẫn chỉ thích ngao du sơn thủy, không chịu lấy chồng. Vào một ngày đẹp trời, nàng cho thuyền dạo chơi dọc sông Hồng, lúc đó Chử Đồng Tử đang ngâm mình bắt cá dưới sông, nghe tiếng chuông trống, đàn sáo lại thấy nghi trượng, người hầu tấp nập, Chử Đồng Tử hoảng sợ vội vùi mình vào cát lẩn tránh . Ngắm phong cảnh hữu tình, công chúa Tiên Dung cho dừng thuyền, sai thị nữ lên bờ quây màn tắm bên một khóm lau, chẳng ngờ lại đúng nơi chàng trai họ Chử giấu mình. Nước dội cát trôi, phút chốc nàng thấy lộ ra thân hình một chàng trai trẻ cũng không quần áo. Tr­ước ng­ười con gái có thân thể ngọc ngà, Chử sợ hãi định chạy trốn nhưng Tiên Dung ngẫm thấy là duyên trời định bèn nói: “Ta và chàng tình cờ gặp nhau thế này, âu cũng là nhân duyên do trời sắp đặt”, liền đó nàng truyền mang quần áo cho Chử Đồng Tử và cùng chàng làm lễ kết duyên ngay trên thuyền.</p><p>Vua Hùng nghe chuyện thì giận dữ vô cùng, không cho Tiên Dung về cung. Tiên Dung thấy vậy không dám về, ở lại cùng Chử Đồng Tử sống cuộc đời bình dị mà hạnh phúc. Họ mưu sinh bằng nghề chài lưới và trao đổi hàng hoá trên sông. Nơi ấy trở thành nơi đô hội, thuyền bè buôn bán tấp nập.</p><p>Một hôm có người bày cho cách ra ngoài buôn bán nhiều lãi, Tiên Dung khuyên chồng nghe theo. Chử Đồng Tử bèn theo khách buôn đi khắp ngược xuôi. Một hôm qua ngọn núi giữa biển tên Quỳnh Tiên (có bản ghi là Quỳnh Vi – tham khảo “Việt sử giai thoại” – Chuyện kể Chử Đồng Tử; đây là tên một ngọn núi chỉ có trong thần thọai), Chử Đồng Tử trèo lên am trên núi và gặp một đạo sĩ tên Phật Quang. Chàng bèn giao tiền cho khách buôn đi mua hàng, còn mình thì ở lại học phép thuật. Sau thuyền quay lại đón, Phật Quang tặng Chử Đồng Tử một cây gậy và một chiếc nón lá, dụ rằng đây là vật thần thông.</p><p>Về nhà, Chử Đồng Tử truyền mọi sự lại cho vợ. Tiên Dung giác ngộ bèn bỏ việc buôn bán, cùng chồng chu du tìm thầy học đạo. Một hôm tối trời, đã mệt mà không có hàng quán ven đường, hai vợ chồng dừng lại cắm gậy úp nón lên trên cùng nghỉ. Bỗng nửa đêm, chỗ đó nổi dậy thành quách, cung vàng điện ngọc sung túc, người hầu lính tráng la liệt. Sáng hôm sau, dân chúng quanh vùng kinh ngạc bèn dân hương hoa quả ngọt đến xin làm bầy tôi. Từ đấy chỗ đó phồn thịnh, sung túc như một nước riêng.</p><p>Sau kẻ nịnh thần về kinh đô tâu với vua rằng vợ chồng công chúa Tiên Dung dùng phép lạ dựng thành quách, muốn lập riêng bờ cõi. Ngỡ con làm phản, vua Hùng sai quân đến dẹp. Vợ chồng Chử Đồng Tử không dám cưỡng lại mệnh cha, chờ chịu tội. Nửa đêm hôm ấy một trận cuồng phong nổi lên, cả lâu đài thành quách của vợ chồng Chử Đồng Tử cùng bay lên trời, để lại một đầm nước rộng mênh mông. Người đời sau gọi đầm ấy là đầm Nhất Dạ.</p><p>Nhân dân cho đó là điều linh dị bèn lập miếu thờ, bốn mùa cúng tế và gọi đầm đó là đầm Nhất Dạ Trạch (Đầm Một Đêm), bãi cát đó là Bãi Tự Nhiên hoặc Bãi Màn Trù và chợ đó là chợ Hà Thị.</p><p><strong><em>Thực sự về mặt lịch sử thì có thể Chử Đồng Tử cũng là một trong những đệ tử đầu tiên của Phật giáo cổ ở nước ta. Truyền thuyết cũng khẳng định đạo Phật cổ đã du nhập vào nước ta từ thời kỳ Hùng vương khoảng 200-300 năm trước công nguyên. Truyền thuyết cũng cho thấy ban đầu cũng có xung đột chính trị giữa tín ngưỡng đạo Phật và tín ngưỡng cổ Văn Lang, giữa Phật giáo cổ và giới cầm quyền của các vua Hùng.</em></strong></p><p>Cảm động tr­ước mối tình bất tử, đền thờ Đức thánh Chử Đồng Tử và Tiên Dung công chúa được nhân dân thờ phụng nhiều nơi trên địa bàn đồng bằng và Trung du Bắc bộ, chủ yếu là các làng ven sông Hồng.</p><p><br/></p><p>Lễ hội Chử Đồng Tử – Tiên Dung (hay còn gọi là lễ hội Đa Hòa – Dạ Trạch) được tổ chức ở hai ngôi đền là đền Đa Hòa (xã Bình Minh) và đền Hóa (xã Dạ Trạch) cùng huyện Khoái Châu. Lễ hội hằng năm đều đ­ược tổ chức như­ng với quy mô tổng (tổng Mễ xưa có 9 làng) thì 3 năm một lần. Lễ mang giá trị văn hoá sâu sắc, là bức tranh về đời sống hết sức phong phú, sinh động của người Việt cổ trong việc khai phá đầm lầy, phù sa ven sông Hồng từ hàng ngàn năm về tr­ước. Đây không chỉ là huyền thoại về tình yêu mà còn là minh chứng cho nền văn hóa lâu đời của dân tộc Việt Nam.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-14 16:46:27 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3329138300</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3329531461</link>
         <description><![CDATA[<p>Mik xin kể câu chuyện anh kim đồng </p><p>   <strong>Kim Đồng tên thật là Nông Văn Dền, người đội trưởng đầu tiên của Đội TNTP Hồ Chí Minh, sinh năm 1928, người dân tộc Nùng, ở thôn Nà Mạ, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Nhà Kim Đồng rất nghèo. Cha bị chết vì nạn phu phen lao dịch của thực dân Pháp. Anh trai đi công tác luôn. ở nhà chỉ có mẹ tàn tật và người em họ mồ côi là Cao Sơn.</strong></p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Từ bé, Kim Đồng đã có tinh thần yêu nước, căm ghét giặc Pháp. Vùng quê hương Kim Đồng là nơi có phong trào cách mạng rất sớm. Ngày 15 tháng 5 năm 1941, Đội Nhi đồng cứu quốc được thành lập có 5 đội viên và Kim Đồng được bầu là đội trưởng đầu tiên của Đội. Trong công tác, Kim Đồng luôn tỏ ra dũng cảm và có nhiều mưu trí.<br>Một lần, sau khi làm nhiệm vụ dẫn cán bộ vào căn cứ, Kim Đồng đang trên đường trở về nhà thì nghe có tiếng động lạ ở trong rừng. Kim Đồng liền rủ Cao Sơn tìm cách báo động cho các anh cán bộ đang ở trong xóm biết. Sau khi quan sát, Kim Đồng đã nhìn thấy bọn lính đang lợi dụng sương mù phục kích trên đường vào xóm và im lặng đợi bắt người. Kim Đồng bảo Cao Sơn lùi về phía sau, chạy về báo cáo. Đợi cho bạn đi rồi, Kim Đồng ngắm kĩ địa hình, để chạy vọt qua suối, lên phía rừng. Như vậy, bọn lính sẽ phải nổ súng hoặc kêu lên. Chúng nó sẽ bị lộ. Quả nhiên, thấy có bóng người chạy, bọn giặc lên đạn và hô: “Đứng lại!”.<br>&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;Kim Đồng không dừng chân. Giặc bắn theo. Anh Kim Đồng đã anh dũng hi sinh. Hôm ấy là sáng sớm ngày 15 tháng 02 năm 1943.</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Anh Kim Đồng đã được Đảng và Nhà nước phong tặng anh hùng liệt sỹ năm 1997. Khu di tích Kim Đồng được xây dựng ngay trên quê hương anh gồm có mộ anh Kim Đồng và tượng đài khang trang tại chân rặng núi đá cao vững chắc, bên cạnh là 2 cây nghiến xanh biếc, luôn toả bóng mát với những làn gió vi vu, như đang ru anh yên giấc ngàn thu.  </p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-15 06:18:20 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3329531461</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3329538444</link>
         <description><![CDATA[<p> Nguyễn Bá Ngọc sinh năm 1952 tại xã Quảng Trung huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Năm 1965, khi đang học lớp 4B trường PTCS Quảng Trung, Ngọc là một học sinh chăm ngoan học giỏi và rất hay giúp đỡ bạn bè. Cũng năm đó giặc Mĩ mở rộng chiến tranh và cho máy bay đánh phá các tỉnh miền Bắc nước ta, chúng ném bom cả trường học, bệnh viện...<strong><br></strong>Sáng ngày 4 tháng 4 năm 1965 đế quốc Mĩ cho máy bay bắn phá vào xã Quảng Trung, quê hương của Nguyễn Bá Ngọc. Bố mẹ đi làm đồng, Ngọc một mình đưa các em nhỏ xuống hầm tránh bom. Trong lúc bom đạn đang gầm rú, Ngọc bỗng nghe tiếng khóc bên nhà bạn Khương. Không quản nguy hiểm Ngọc ra khỏi hầm và băng mình sang nhà Khương. Bạn Khương đã bị thương nặng, hai em của Khương đang sợ hãi gào khóc.&nbsp;&nbsp;Ngọc vội lấy thân mình che chở cho hai em và dìu các em xuống hầm. Cứu được hai em nhỏ an toàn, nhưng Ngọc bị trúng bom bi của giặc. Mặc dù đã được các bác sĩ tận tình cứu chữa nhưng do vết thương quá nặng Nguyễn Bá Ngọc đã anh dũng hy sinh vào lúc 2 giờ sáng ngày 5-4-1965, khi ấy Ngọc mới bước sang tuổi 14.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3409732995/cd09756805f473f96bb5c1f4f8a236a3/image.jpeg" />
         <pubDate>2025-02-15 06:44:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3329538444</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3329669590</link>
         <description><![CDATA[<p>Hôm nay mình sẽ giới thiệu câu chuyện Võ Thị Sáu</p><p><br/></p><p>Đất nước Việt Nam đã trải qua hơn 4000 năm lịch sử đầy biến động, thăng trầm và đối mặt với vố số cuộc xâm lăng từ các nước lớn. Nhưng dưới cái vẻ hiền lành, dân tộc Việt Nam luôn ẩn chứa một tinh thần kiên cường và bất khuất. Khi quê hương gặp nguy hiểm, tình yêu nước bùng cháy trong lòng nhân dân và họ tỏ ra mạnh mẽ như một làn sóng để chống lại kẻ thù, bảo vệ đất nước và giữ nguyên chủ quyền.</p><p><br/></p><p>Trong lịch sử yêu nước đó, không ít anh hùng đã nổi lên và chị Võ THị Sáu là một trong số những người khiến chúng ta cảm phục. Sinh vào năm 1933 tại xã Phước Thọ, huyện Đất Đỏ, tỉnh Vũng Tàu- Côn Đảo, chị đã gia nhập cuộc cách mạng từ khi mới 14 tuổi. Không mất quá nhiều thời gian, chị trở thành một nữ chiến sĩ trinh sát được biết đến với lòng gan dạ, quyết tâm bất khuất trong đội công an xung phong Đất Đỏ.</p><p><br/></p><p>Năm 1950, trong lúc tham gia trận dánh tiêu diệt một nhóm địch ở chợ quê gần nhà, chị Sáu đã bị bắt. Cả một năm trôi qua trong khám Chí Hào, chị phải chịu đựng những đòn roi tra tấn và bị tra hỏi đủ thứ. Nhưng dù gian khó, chị Võ Thị Sáu vẫn kiên cường không bỏ cuộc, không khuất phục trước áp lực của kẻ thù.</p><p><br/></p><p>Tấm gương dũng cảm, ý chí kiên cường của chị Võ Thị Sáu là nguồn cảm hứng vô cùng to lớn khiến cho những người xung quanh phải trầm trồ kính phục. Không chỉ là một anh hùng, chị còn là biểu tượng cho tinh thần không khuất phục, quyết tâm bảo vệ quê hương và dân tộc. Câu chuyện về chị Võ Thị Sáu là một phần không thể thiếu trong hành trình gian khó của dân tộc Việt Nam là đề tài để chúng ta luôn nhớ về lòng yêu nước và sẵn lòng hy sinh tương lai tương sáng của đất nước.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-15 11:58:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3329669590</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3329671527</link>
         <description><![CDATA[<p>Hôm nay mình sẽ giới thiệu câu chuyện Lý Thường Kiệt</p><p>Trải qua hàng thế kỷ dựng nước và bảo vệ đất nước, dân tộc Việt Nam đã tạo nên nhiều tấm gương sáng rực rỡ. Trong số đó, có một vị anh hùng đã để lại trong lòng em nhiều ấn tượng khó phai, đó chính là vị danh tướng Lý Thường Kiệt. Khi quân xâm lược đế quốc Tống dám tấn công lãnh thổ Việt Nam, ông đã đứng lên lãnh đạo nhân dân lực lượng kháng chiến, và cuối cùng giành được một chiến thắng vẻ vang.</p><p><br/></p><p>Trong lần xâm lược đại chiến của quân Tống, Lý Thường Kiệt đã sáng tác một bài thơ tứ tuyệt cực kỳ tinh xảo. Bài thơ ấy không chỉ đơn thuần là một tác phẩm văn chương, mà còn trở thành bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam trước mặt kẻ thù. Những câu thơ ngắn gọn nhưng sắc bén của ông đã khiến quân giặc run sợ, và cuộc tiến công của họ đã bị đánh tan tác. Lịch sử đã ghi nhận Lý Thường Kiệt là một anh hùng kiệt xuất, và em không khỏi tự hào và khâm phục ông.</p><p><br/></p><p>Lý Thường Kiệt không chỉ là một danh tướng tài ba, mà còn là một người lính vĩ đại và một nhà thơ tài hoa. Ông không ngại hy sinh bản thân, dũng cảm dẫn dắt quân dân Việt Nam chống lại quân thù hung ác. Trong những trận đánh cam go, ông luôn đứng đầu, dẫn dắt quân và dân ta chiến đấu với tinh thần cao cả và lòng yêu nước mãnh liệt. Những chiến công vang dội của Lý Thường Kiệt đã truyền cảm hứng cho hàng triệu người dân Việt Nam, là nguồn động lực lớn để chúng ta tiếp tục chiến đấu bảo vệ tổ quốc.</p><p><br/></p><p>Lý Thường Kiệt đã trở thành biểu tượng của lòng yêu nước và sự hy sinh cao cả. Tên tuổi ông đã trở thành một nguồn cảm hứng và một lời nhắc nhở cho chúng ta về tinh thần đoàn kết, quyết tâm và sự kiên trì trong cuộc sống. Em hy vọng rằng trong tương lai, chúng ta sẽ tiếp tục trân trọng và theo gương Lý Thường Kiệt, để xây dựng một đất nước vững mạnh, tự hào và phát triển hơn.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-15 12:02:08 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3329671527</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3329674247</link>
         <description><![CDATA[<p><br/></p><p>Hôm nay mình sẽ giới thiệu câu chuyện Quang Trung - Nguyễn Huệ</p><p>Vào thế kỷ XVI, quê hương chúng ta đối mặt với thời kỳ nội chiến do sự đối đầu của hai triều đình mạnh: triều đình của Chúa Trịnh, mạnh ở Đàng Ngoài, và triều đình của Chúa Nguyễn, đang cố gắng tạo dựng và mở rộng sự ảnh hưởng ở Đàng Trong. Cái nội chiến nội bộ của nước ta đã tạo điều kiện thuận lợi cho phong kiến Bắc phương xâm lấn và chiếm đóng.</p><p><br/></p><p>Vào năm 1786, ba anh em thuộc gia đình Tây Sơn đã khẳng định sự dũng cảm của họ bằng việc khởi nghĩa, nắm quyền tại nhiều vùng lãnh thổ. Hai năm sau, vào năm 1788, quân đội Thanh mạnh mẽ xâm lấn Thăng Long. Lúc này, Nguyễn Huệ đã lên ngôi vua và dẫn đầu toàn bộ lực lượng để chống lại cuộc xâm lược từ phía Bắc. Với hành quân nhanh nhẹn và chỉ sau năm ngày ác liệt của chiến tranh, Vua Quang Trung Nguyễn Huệ đã đánh bại quân Thanh, giải phóng hoàn toàn Thăng Long và đuổi đối thủ ngoại xâm khỏi lãnh thổ nước ta.</p><p><br/></p><p>Sau khi đánh chiếm và giải phóng nước, vua Quang Trung đã hợp tác với mọi người để xây dựng lại Tổ quốc. Đáng tiếc thay, trong khi ông đang tiến hành những cải cách quan trọng, ông đã đột ngột qua đời. "Người anh hùng áo vải, cờ đào" kia, lúc đó mới chỉ ở tuổi đôi mươi, đã ra đi, để lại trong lòng người dân Việt Nam sự kính trọng sâu sắc và niềm tiếc nuối không dứt, đồng thời đánh dấu sự tự hào về một anh hùng vĩ đại đã đứng lên chống lại sự xâm lấn từ bên ngoài.</p><p><br/></p><p> </p><p><br/></p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-15 12:09:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3329674247</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3329685089</link>
         <description><![CDATA[<p>Sau đây tôi sẽ kể cho các bạn nghe câu chuyện Cổ tích Cây khế.</p><p>Ngày xửa ngày xưa nhà nọ có hai anh em, người anh thì vô cùng tham lam, người em thì hiền lành chịu khó. Sau khi cha mẹ qua đời người anh lấy vợ ra ở riêng đã vơ vét hết tài sản và chỉ để lại cho người em một cây khế ở góc vườn.<br><br>Người em được chia tài sản đã không một lời phàn nàn, dựng túp lều gần cây khế. Hàng ngày, người em chăm bón cây khế và làm thuê kiếm tiền nuôi thân.<br><br>Cây khế cứ lớn dần, năm ấy bỗng sai trĩu quả. Vì vậy người em mừng lắm. Một hôm, bỗng dưng có con chim lạ từ đâu bay tới cây khế và ăn khế của người em. Thấy vậy người em buồn lòng than thở với chim. Chim lạ đáp lại “Ăn một quả trả cục vàng may túi ba gang mang đi mà đựng”.<br><br>Mấy hôm sau như lời hứa chim đến đón người em tới một hòn đảo rất nhiều vàng bạc, châu báu. Người em từ trên cao ngắm nhìn hòn đảo và lấy vàng chỉ đầy túi ba gang rồi cưỡi lên lưng chim trở về. Người em về nhà dùng số vàng bạc lấy được đổi lấy thóc lúa để giúp đỡ những người khó khăn trong làng.<br><br>Thấy vậy, người anh sang chơi và đòi đổi nhà, ruộng vườn của mình để lấy cây khế của người em. Người em một lần nữa không phàn nàn và đồng ý đổi cho anh.<br><br>Năm ấy cây khế cũng sai trĩu quả chim lạ cũng đến ăn. Người anh cũng than thở khóc lóc. Chim đáp lại và hứa mang đi lấy vàng. Bản chất tham lam, người anh liên bảo vợ may túi sáu gang để đựng được thật nhiều vàng.<br><br>Mấy hôm sau chim lạ đến đón người anh và đưa người anh đến hòn đảo đầy vàng bạc, châu báu. Người anh đã lấy đầy chặt vàng bạc trên đảo vào chiếc túi sáu gang mình mang đi. Trên đường trở về, vì phải chở nhiều vàng bạc lại bay ngược gió, chim lạ mỏi cánh. Chim giục người anh vứt bớt vàng đi nhưng người anh nhất quyết không nghe.<br><br>Chim phượng hoàng bực tức, không chịu nổi sức nặng nó nghiêng cánh hất người anh tham lam cùng vàng bạc xuống biển. Thế là hết đời kẻ tham lam.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-15 12:35:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3329685089</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3329944395</link>
         <description><![CDATA[<p>Mình sẽ kể câu chuyện Bà Triệu <strong><em>Muốn coi lên núi mà coi<br>Có Bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng”</em></strong></p><p>Khi nói đến gương anh hùng liệt nữ, đến truyền thống đấu tranh xâm lược của ngoại bang, người Việt Nam qua nhiều thời đại thường không quên nhắc đến cái tên Bà Triệu bên cạnh các gương liệt nữ khác như Hai Bà Trưng…</p><p>Triệu thị Trinh sinh ngày 2 tháng 10 nǎm 226 (Bính Ngọ) tại huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hoá trong một gia đình hào trưởng. Triệu thị Trinh là một phụ nữ có tướng mạo kỳ là, người cao lớn vú dài nǎm thước. Bà là người tính tình vui vẻ, khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, trí lực hơn người. Truyền thuyết kể rằng, có lần xuất hiện một coi voi trắng một ngà phá phách ruộng nương, làng xóm, lầm chết người. Triệu Thị Trinh dũng cảm cầm búa nhảy lên đầu giáng xuống huyệt làm con voi lạ gục đầu xin qui thuận.</p><p>Khi nhà Ngô xâm lược đất nước gây nên cảnh đau thương cho dân chúng, khoảng 19 tuổi Triệu thị Trinh bỏ nhà vào núi xây dựng cǎn cứ, chiêu mộ nghĩa quân đánh giặc. Khi anh trai nhắn về nhà chồng, bà đã trả lời tỏ rõ khí phách của mình mà đến nay không mấy người Việt Nam là không biết: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá Kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ tôi không chịu khom lưng là tì thiếp người ta”. Truyền thuyết kể rằng, nǎm 248 khi Triệu Thị Trinh khởi nghĩa trời đã sai đá núi loan tin tập hợp binh sĩ trong vùng. Đêm khuya từ lòng núi đá phát ra rằng: “Có Bà nữ tướng. Vâng lệnh trời ra. Trị voi một ngà. Dựng cờ mở nước. Lệnh truyền sau trước. Theo gót Bà Vương”. Theo đó dân chúng trong vùng hưởng ứng nhiệt liệt, có người mang theo cả bộ giáp vàng, khǎn vàng…. dâng cho bà. Anh trai bà là Triệu Quốc Đạt được tôn làm Chủ tướng. Bà Triệu là Nhuỵ Kiều tướng quân (Vị tướng yêu kiều như nhuỵ hoa). Khi ra trận Bà mặc áo giáp vàng, chít khǎn vàng, đi guốc ngà, cưỡi voi một ngà. Quân Bà đi đến đâu dân chúng hưởng ứng, quân thù khiếp sợ. Phụ nữ quanh vùng thúc giục chồng con ra quân theo Bà Vương đánh giặc. Cho đến nay nhân dân vùng Thanh Hoá và lân cận còn nhiều câu ca, lời ru con nói về sự kiện này.</p><p>Sau hàng chục trận giao tranh với giặc, trận thứ 39 anh trai bà là Triệu Quốc Đạt tử trận, Bà Triệu lên làm chủ tướng và lập nên một cõi giang sơn riêng vùng Bồ Điền khiến quân giặc khó lòng đánh chiếm. Biết bà có tính yêu sự sạch sẽ, ghét tính dơ bẩn, quân giặc bố trí một trận đánh từ tướng đến quân đều loã thể. Bà không chịu được chiến thuật đê hèn đó phải lui voi giao cho quân sĩ chiến đấu rồi rút về núi Tùng. Bà quì xuống vái trời đất: “Sinh vi tướng, tử vi thần” (Sống làm tướng, chết làm thần) rồi rút gươm tự vẫn. Sau khi bà mất dân vùng Bồ Điền, Phú Điền vẫn nghe trên không trung tiếng cồng thúc quân, voi gầm, ngựa hí. Bà còn phù hộ cho nhiều thủ lĩnh sa này đánh tan quân xâm lược đất nước. Có người sau này lên làm ngôi vua, như Lý Bô, đã xây đền, lǎng mộ để ghi nhớ công ơn của Bà.</p><p>Đến nay chuyện Bà Triệu từ thế kỷ thứ II vẫn còn hằn đậm trong tâm thức mỗi người Việt Nam với lòng ngưỡng mộ và tự hào. Lǎng và đền thờ Bà vẫn còn mãi với thời gian tại huyện&nbsp; Hậu Lộc tỉnh Thanh Hoá là di tích lịch sử quan trọng của quốc gia là bằng chứng về niềm tự hào một người phụ nữ liệt oanh của Dân tộc Việt Nam.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-16 00:33:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3329944395</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3329944836</link>
         <description><![CDATA[<p>Mình sẽ kểu câu chuyện Tháng Gióng<strong>Truyện cổ tích Thánh Gióng nói về người hùng Phù Đổng Thiên Vương giúp dân đánh đuổi giặc Ân cứu nước. Câu chuyện với rất nhiều bài học bổ ích và lý thú đang chờ các em nhỏ khám phá</strong></p><p>&nbsp;</p><p><strong>Truyện cổ tích Thánh Gióng Việt Nam</strong></p><p>&nbsp;</p><p>Vào thời Hùng Vương, có một người đàn bà đã nhiều tuổi nhưng sống một mình và không có con. Một sáng nọ bà đi thăm nương, bỗng nhìn thấy một vế chân giẫm nát cả mấy luống cà. Bà kêu lên:</p><p>- Ôi bàn chân ai mà to thế này!</p><p>Bỗng bà cảm thấy rùng mình khi đưa bàn chân ướm thử vào dấu chân lạ. Sau khi ướm thử vào dấu chân lạ, bà có mang. Đủ tháng đủ ngày bà sinh được một đứa con trai bụ bẫm. Bà đặt tên là Gióng.</p><p>Nhưng thằng bé lên 3 tuổi rồi mà vẫn nằm ngửa đòi ăn, không biết ngồi, không biết lẫy, cũng không biết nói hay cười.</p><p>Ngày ấy, giặc Ân kéo vào cướp nước ta. Giặc Ân rất hung tàn, cầm đầu là một tên tướng gọi là Ân vương. Chúng đi đến đâu là đốt nhà, phá cửa, giết người cướp của đến đấy. Hùng Vương nhiều lần xuất trận nhưng không đánh nổi lại chúng. Vua hùng lấy làm lo lắng vội phái sứ giả đi khắp nơi tìm tướng tài cứu nước.</p><p>Một hôm, sứ giả đi đến làng của chú bé Gióng. Gióng nghe loa thấy việc nhà Vua đang tìm người tài đánh giặc cứu nước, mẹ Gióng đang ru con liền đùa rằng:</p><p>- Con ơi! Con của mẹ chậm đi chậm nói thì biết bao giờ mới đi đánh giặc giữ nước được đây!</p><p>Không ngờ, Gióng nhìn mẹ mở miệng cất thành tiếng:</p><p>- Mẹ cho gọi sứ giả vào đây cho con!</p><p>Nói xong lại im bặt. Bà mẹ vừa mừng, vừa sợ vội kể chuyện với xóm giềng. Mọi người tới nhà ai nấy cũng cho là một sự lạ. Sau cùng, 1 người nói:</p><p>- Ta cứ đi mời sứ giả đến xem thử nó muốn cái gì.</p><p>Khi sứ giả của nhà Vua bước vào, nhìn thấy cậu bé Gióng liền nói:</p><p>- Mày là đứa trẻ lên ba mới học nói, mày định mời ta đến đây để làm gì?</p><p>Gióng trả lời đầy chững chạc:</p><p>- Về bảo với nhà Vua rèn cho ta một con ngựa sắt, một thanh gươm sắt, một áo giáp sắt và một nón sắt, ta sẽ đánh đuổi giặc giữ cho.</p><p>Ai nấy nghe xong đều khôn xiết lạ lùng, cho rằng thần nhân xuất hiện. Sứ giả lập tức phi ngựa về tâu với nhà Vua. Nghe nói, Hùng Vương mừng rỡ, ra lệnh cho thợ rèn gom tất cả sắt lại rèn ngựa, gươm, áo giáp và nón như lời xin của cậu bé. Khi mọi thứ rèn xong nặng không thể tưởng tượng nổi. Hàng chục người mó vào thanh gươm mà không nhúc nhích. Hùng Vương phải cho hàng ngàn quân sĩ tìm mọi cách để mang đến cho cậu bé Gióng.</p><p>Khi được tin quân sĩ khiêng ngựa sắt sắp đến làng, mẹ Gióng sợ hãi chạy về bảo với con:</p><p>- Con ơi! Việc nhà vua đâu phải là chuyện chơi. Hiện quân sĩ đang kéo đến ầm ầm ngoài bãi rồi, biết làm thế nào bây giờ con?</p><p>Nghe nói thế, Gióng vụt đứng dậy và nói:</p><p>- Việc đánh giặc thì mẹ đừng lo. Nhưng mẹ phải cho con ăn thật nhiều mới được!</p><p>Bà mẹ vội thổi cơm cho con ăn, nhưng cứ nấu lên được nồi nào Gióng ăn hết ngay nồi ấy. Mỗi lần ăn một nồi cơm thì Gióng lại lớn thêm được một ít và đòi ăn thêm. Mẹ càng cho con ăn thì con lại càng lớn nhanh như thổi, bỗng chốc đã trở thành một cậu thanh niên vô cùng khỏe mạnh.</p><p>Hết gạo, bà mẹ kêu gọi hàng xóm láng giềng. Cả làng nô nức đem gạo khoai, trâu, rượu, hoa quả, bánh trái mang đến đầy một sân. Nhưng đưa đến bao nhiêu thì Gióng ăn vợi hết bấy nhiêu, mà vẫn đòi ăn không nghỉ.</p><p>Sau đó, Gióng lại bảo tiếp:</p><p>- Mẹ phải kiếm vải cho con mặc.</p><p>Người ta lại đua nhau mang vải lụa tới may áo quần cho Gióng mặc. Nhưng thân thể Gióng lớn vượt trội một cách kỳ lạ, áo quần vừa may xong đã thấy chật, thấy ngắn, lại phải mang vải lụa tới để chắp nối thêm. Không mấy chốc đầu Gióng đã chạm đến nóc nhà. Ai nấy chưa hết kinh ngạc thì vừa lúc quân sĩ đã hì hục khiêng được ngựa, gươm, áo giáp và nón sắt tới. Gióng bước ra khỏi nhà vươn vai một cái, người bỗng cao to sừng sững, chân dài hơn trượng, hét lên một tiếng như tiếng sấm:</p><p>- Ta là tướng nhà Trời!</p><p>Nói rồi Gióng mặc giáp sắt, đội nón sắt, tay cầm gươm múa quanh mấy vòng. Đoạn từ biệt mẹ và dân làng, nhảy lên lưng ngựa. Ngựa sắt bỗng chồm lên, phun thẳng ra đằng trước một luồng lửa đỏ rực. Gióng thúc chân, ngựa phi như bay, sải từng bước dài hàng chục con sào. Chỉ trong chớp mắt, ngựa đã xông đến đồn trại giặc đang đóng la liệt cả mấy khu rừng. Lưỡi gươm của Gióng vung lên loang loáng như chớp giật. Quân giặc xông ra chừng nào chết chừng ấy. Ngựa thét ra lửa thiêu cháy từng dãy đồn trại, lửa thiêu luôn cả mấy khu rừng.</p><p>Nhưng tướng giặc Ân vương vẫn còn cố gào thét hô quân xáp tới, Gióng càng đánh càng khỏe, thây giặc nằm ngổn ngang. Bỗng chốc gươm gãy, Gióng không chút bối rối, thuận tay nhổ những bụi tre hai bên đường quật tới tấp vào các toán giặc đang cố gắng trụ lại theo lệnh chủ tướng. Chẳng mấy chốc quân giặc đã tẩu tán bỏ chạy khắp nơi, Ân vương bị quật chết tan xác. Bọn tàn binh giặc lạy lục xin hàng. Quân đội của Hùng Vương cũng như dân các làng chỉ còn việc xông ra trói chúng lại. Không đầy một buổi, Gióng đã trừ xong nạn cho nước nhà. Lúc bấy giờ ngựa Gióng đã tiến đến chân núi Sóc Sơn. Đến đây, Gióng bèn cởi giáp bỏ nón lại, rồi cả người lẫn ngựa bay thẳng lên trời.</p><p>Sau khi thắng trận, để nhớ ơn người anh hùng, vua Hùng sai lập đền thờ Thánh Gióng ở làng quê, phong làm Phù Đổng thiên vương.</p><p>Ngày nay chúng ta còn thấy vẫn còn những dấu vết như dãy ao tròn nối nhau kéo dài suốt từ Kim Anh, Đa Phúc cho đến Sóc Sơn, người ta bảo đó là những vết chân ngựa của Thánh Gióng. Khu rừng bị ngựa sắt phun lửa thiêu cháy nay còn mang cái tên là làng Cháy. Những cây tre mà Gióng đã nhổ quật vào giặc bị lửa đốt màu xanh ngả thành màu vàng và có những vết cháy lốm đốm, ngày nay giống ấy vẫn còn, người ta gọi là tre là ngà (hay đằng ngà).</p><p><strong>Ý nghĩa câu chuyện Thánh Gióng</strong></p><p>Hình tượng Thánh Gióng được xây dựng là người anh hùng đánh giặc ngoại xâm. Thánh Gióng được sinh ra một cách kỳ lạ và lớn nhanh như thổi để đi giết giặc.</p><p>Ý nghĩa hình tượng đó được xây dựng nói lên tình yêu nước, tinh thần đấu tranh chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta.</p><p>Thánh Gióng là hiện thân của sức mạnh thiên nhiên và con người, sức mạnh đó dung hòa và kết tinh lại thành sức mạnh to lớn để quật ngã mọi kẻ thù to lớn.</p><p>Từ lịch sử chống giặc ngoại xâm, hình tượng Thánh Gióng được thần thánh hóa để trở thành nhân vật anh hùng, mang tinh thần ý chí quật khởi trong cuộc chiến chống giặc giữ nước của nhân dân ta.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-16 00:35:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3329944836</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3329984215</link>
         <description><![CDATA[<p>Mik xin kể câu chuyện Hai Bà Trưng </p><p>   <strong>Chuyện kể về Hai Bà Trưng</strong></p><p>Đất Mê Linh là đất bản bộ của các vua Hùng, kéo dài trên hai bờ sông Hồng từ phía trên của đỉnh tam giác châu Việt Trì (Phú Thọ) cho đến gần Hà Nội và trải rộng từ vùng núi Ba Vì (Hà Tây) sang vùng núi Tam Đảo (Vĩnh Phúc), tương đương với phần lớn các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hà Tây hiện nay.</p><p>Sách Đại việt sử ký toàn thư chép: Trưng Trắc “nguyên là họ Lạc, con gái của Lạc tướng huyện Chu Diên (vùng lưu vực sông Đáy và mở sang cả sông Hồng bao gồm khu vực Hà tây, Hà Nội, Hà Nam hiện nay).</p><p>Hai Bà Trưng, Trưng Trắc và Trưng Nhị, hai chị em sinh đôi là con gái Lạc tướng Mê Linh, đất bản bộ cũ của vua Hùng. Chồng Bà Trưng Trắc là Thi Sách, con trai lạc tướng Chu Diên. Lãnh thổ Mê Linh và Chu Diên liền cõi, hai gia đình lạc tướng là thông gia, khiến thanh thế của họ càng thêm mạnh, uy danh càng thêm lớn.</p><p><br/></p><p>Những năm đầu công nguyên, Cổ Loa với vị thế là một kinh đô cổ của đất nước đã sớm trở thành một trung tâm của các cuộc nổi dậy, đấu tranh giành độc lập của nhân dân, trong đố tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng.</p><p>Chính sách cai trị hà khắc, tàn bạo của nhà Đông Hán càng thôi thúc vợ chồng Trưng Trắc-Thi Sách hiệp mưu tính kế nổi dậy chống nhà Hán. Theo truyền thuyết và sử cũ, Thái Thú Tô Định đã giết chết Thi Sách trước khi cuộc khởi nghĩa nổ ra. Hành vi bạo ngược của Tô Định càng làm cho Bà Trưng Trắc cùng em gái là Trưng Nhị thêm quyết tâm tiến hành cuộc khởi nghĩa đánh đổ chính quyền đô hộ, rửa nợ nước, trả thù nhà, dựng lại cơ nghiệp xưa cho các Vua Hùng</p><p>Cửa sông Hát (Hát Môn, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây) là nơi khởi phát công cuộc tụ nghĩa và khởi nghĩa. Thời điểm nổ ra cuộc khởi nghĩa là niên hiệu Kiến Vũ thứ 16 tức năm 40 SCN.</p><p><br/></p><p>Khởi nghĩa Hai Bà Trưng lập tức được sự hưởng ứng của các lạc tướng và nhân dân quận Giao Chỉ rồi toàn miền Nam Việt và Âu Lạc cũ. Xuất phát từ Hát Môn, Hai Bà đánh phá đô uý trị của giặc ở Hạ Lôi (Mê Linh) sau đó kéo quân từ Mê Linh xuống Tây Vu đánh chiếm Cổ Loa, từ Cổ Loa, quân của Hai Bà vượt sông Hoàng, sông Đuống đánh chiếm Luy Lâu (nay ở Lũng Khê, Thuận Thành, Bắc Ninh) là châu trị và quận trị của bọn đô hộ nhà Hán</p><p>Hoảng sợ trước khí thế ngút trời của nhân dân Âu Lạc, bọn địch không dám chống cự bỏ chạy tháo thân về nước. Thái thú Tô Định cũng lẻn trốn về nước. Chỉ trong vòng hai tháng, nghĩa quân Hai Bà Trưng giải phóng toàn bộ đất nước (65 quận, huyện, thành), giành chủ quyền về tay dân tộc.</p><p>Mùa hè năm Canh tý (40) Bà Trưng Trắc được tướng sĩ tôn lên làm vua, hiệu là Trưng Nữ Vương, đóng đô ở quê nhà là lỵ sở huyện Mê Linh cũ. Bà Trưng Nhị được phong là Bình khôi Công chúa. Các tướng sĩ khác đều được phong thưởng chức tước, tiền bạc, ruộng đất. Dân cả nước được xá thuế hai năm liền.</p><p>Mùa hè năm 42 (niên hiệu Kiến Vũ thứ 17), nhà Đông Hán phong Mã Viện làm phục Ba tướng quân, thống lĩnh quân sĩ sang đánh nước ta. Mùa hè năm 43 (niên hiệu Kiến Vũ thứ 18), quân Mã Viện tiến qua Long Biên, Tây Vu đến Lãng Bạc ở phía đông Cổ Loa. Hai Bà Trưng đã tiến quân từ Mê Linh qua Cổ Loa xuống Lãng Bạc đánh quân xâm ược. Mã Viện là viên tướng có dày dặn kinh nghiệm trận mạc, có số quân đông, thiện chiến, có các lực lượng thủy bộ phối hợp, lại rất thành thạo lối đánh tập trung theo kiểu trận địa chiến. Nhưng vì tương quan lực lượng quá chênh lệch và sau một thời gian hồi sức trở lại, Mã Viện đã dần dần giành thế chủ động. Trong khi đó Hai Bà Trưng lực lượng vừa tập hợp, còn quá non trẻ và chưa có nhiều kinh nghiệm chiến đấu, không có khả năng cầm cự lâu dài với quân xâm lược Đông Hán ở Lãng Bạc. Quân của Trưng Vương càng ngày càng bộc lộ rõ thế yếu, bị thiệt hại nặng. Có đến hàng nghìn người bị bắt và hy sinh trêm chiến lũy. Nếu cứ tiếp tục duy trì lực lượng ở Lãng Bạc thì quân đội Trưng Vương sẽ không thể giữ nổi căn cứ này và có thể sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn.</p><p>Thấy không thể kéo dài thời gian cầm cự với Mã Viện được nữa. Trưng Trắc quyết định rút quân khỏi Lãng Bạc, lui về giữ thành Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội). Thành Cổ Loa kiên cố, thủy bộ liên hoàn đã được Trưng Vương sử dụng, khai thác tất cả lợi thế của nó để hy vọng chặn đứng và tiêu diệt đoàn quân xâm lược đã giành được thế chủ động và đang ào ạt tiến về hướng kinh thành Mê Ling. Lúc này chiến trường trải rộng khắp vùng Từ Sơn, Tiên Du, Đông Anh và nhất là khu vực xung quanh Cổ Loa. Nhiều tướng lĩnh của Trưng Vương đã chiến đấu và hy sinh trong những ngày tháng này như Đồng Bảng ở Gia Lộc (Đại Hùng, Đông Anh) Thủy Hải, Đăng Giang ở Đại Vĩ (Hà Vĩ, Liên Hà, Đông Anh)…</p><p>Tòa thành Cổ Loa kiên cố cũng không giúp Trưng Trắc bảo toàn được lực lượng trước sức tấn công ào ạt của Mã Viện, bà phải đem quân về kinh thành Mê Linh ở Hạ Lôi (Mê Linh, Vĩnh Phúc). Nhưng quân Đông Hán rất mạnh, nên Hai Bà Trưng phải lui quân về giữ các thành ở Hạ Lôi, Cự Triền. Mã Viện đem quân thuỷ, bộ đuổi theo. Cuộc cầm cự diễn ra ác liệt cuối cùng Hai Bà bị thương nặng và gieo mình xuống dòng sông Hát tự trẫm chứ không chịu sa vào tay giặc. Các tướng của Hai Bà phần nhiều bị thương phải chạy về bản doanh của mình, có người đã hy sinh.</p><p>Cuộc khởi nghĩa bị thất bại. Sau ba năm, đất nước và nhân dân ta lại bị phong kiến phương Bắc đô hộ. Nhưng khởi nghĩa Hai Bà Trưng mở đầu cho truyền thống đấu tranh chống các thế lực phương Bắc đô hộ nước ta. Là tấm gương để các bậc anh hùng hào kiệt dân tộc kế tiếp nhau đứng lên đánh đuổi ngoại xâm giành độc lập chủ quyền dân tộc. </p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-16 02:04:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3329984215</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3329985515</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Câu chuyện về Nguyên phi Ỷ Lan</strong></p><p>Câu chuyện về người con gái tài sắc vẹn toàn Nguyên phi Ỷ Lan cho đến nay vẫn còn nhiều giai thoại, nhưng những công lao và đóng góp của bà cho nền thịnh trị nước nhà thì không ai có thể phủ nhận.</p><p>Theo truyền thuyết, Ỷ Lan sinh ngày mùng 7 tháng 3 năm Giáp Thân (1044) tại hương Thổ Lỗ (sau này đổi là Siêu Loại), nay thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội. Ỷ Lan là một cô gái xinh đẹp và chăm làm.</p><p>Cho đến nay, tên thật của bà cũng chưa được xác định rõ. Có sách ghi là Lê Thị Yến, cũng có sách chép là tên của bà là Lê Thị Yến Loan hay Lê Thị Khiết. Chỉ biết rằng, cho đến tận ngày này, mọi người vẫn nhắc đến bà với cái tên đầy trang trọng và kính mến: Nguyên phi Ỷ Lan.</p><p><br/></p><p>Hai chữ “Ỷ Lan” là do vua Lý Thánh Tông đặc biệt đặt riêng cho bà. Cái tên như để ghi nhớ lại kỉ niệm của buổi đầu gặp gỡ. Câu chuyện về cuộc gặp gỡ giữa nhà vua và người thôn nữ như một cuộc gặp gỡ tình cờ mà lãng mạn, hợp ý trời. Tục truyền rằng, vua Lý Thánh Tông đã 40 tuổi mà chưa có con trai nối dõi bèn đi cầu tự ở khắp nơi. Và trong một lần đi cầu tự ở Chùa Dâu (Thuận Thành, Bắc Ninh), khi đi qua hương Thổ Lỗi, ngài vén rèm nhìn ra thấy người dân dâng sụp lạy, duy chỉ có một người con gái đang dựa vào cây lan và cất tiếng hát trong trẻo.</p><p>Cuộc gặp gỡ như duyên tiền định, bắt đầu cho một trang lịch sử của đất nước có dấu ấn của người con gái mang tên Ỷ Lan. Ỷ Lan sinh hạ hoàng tử Càn Đức (sau này là vua Lý Nhân Tông), được phong làm Nguyên phi, cùng giúp vua trị nước bình thiên hạ.</p><p>Bà không chỉ là một người con gái đẹp mà còn là một người tài cao, thông minh, sắc sảo và có bản lĩnh. Những câu chuyện, những giai thoại về bà cho đến nay vẫn còn lưu truyền rộng khắp. Người người mọi thế kỉ qua đều nhớ ơn đức của bà, mà tôn vinh bà là “Quan Âm nữ”. Quần thể di tích Ỷ Lan nay thuộc xã Dương Xá, huyện Gia Lâm, Hà Nội chính là nơi tôn thờ và tưởng nhớ đến bà, Nguyên phi Ỷ Lan, một danh nhân có tài trị nước xuất chúng của dân tộc, một phụ nữ sáng danh của lịch sử nước nhà.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-16 02:10:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3329985515</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3330001482</link>
         <description><![CDATA[<p>Đinh Bộ lĩnh dẹp Loạn 12 sứ quân là một giai đoạn loạn lạc của lịch sử Việt Nam, xen giữa <a rel="noopener" href="https://www.twinkl.com.vn/teaching-wiki/lich-su-trieu-dai-nha-ngo-939-1009">nhà Ngô</a> và nhà Đinh. Giai đoạn này hình thành và phát triển kể từ khi Dương Tam Kha cướp ngôi nhà Ngô, các nơi không chịu thuần phục, các thủ lĩnh nổi lên cát cứ một vùng và đem quân đánh chiếm lẫn nhau. Giai đoạn Loạn 12 sứ quân kéo dài hơn 20 năm (944-968) và kết thúc khi Đinh Bộ Lĩnh thống nhất đất nước, lập ra nhà nước Đại Cồ Việt - nhà nước phong kiến tập quyền đầu tiên trong<a rel="noopener" href="https://www.twinkl.com.vn/teaching-wiki/cac-giai-doan-lich-su-viet-nam"> lịch sử Việt Nam</a>.</p><p><br/></p><p><strong>Tiểu sử Đinh Tiên Hoàng: Hoàng đế đầu tiên của Đại Cồ Việt</strong></p><p>Đinh Tiên Hoàng (tên thật là Đinh Bộ Lĩnh), người làng Đại Hữu, châu Đại Hoàng (nay là thôn Văn Bòng, xã Gia Phương, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình), là con thứ của Thứ sử Đinh Công Trứ (Thứ sử Châu Hoan, kiêm Ngự phiên Đô đốc dưới thời Dương Đình Nghệ và Ngô Quyền); mẹ là Đàm Thị. Sau khi cha mất, Đinh Bộ Lĩnh cùng mẹ và đám gia nhân về quê Đại Hoàng sinh sống. Uy thế chính trị của cha đã tạo cho cậu thiếu niên Đinh Bộ Lĩnh một vị thế của "con nhà nòi", dòng họ vọng tộc ở châu Đại Hoàng mà không một đứa trẻ nào ở vùng núi rừng này có được.<br>Thuở nhỏ sống với mẹ ở Đàm Gia, thường cùng lũ trẻ chăn trâu chơi trò đánh nhau, lấy bông lau làm cờ. Nhờ có tài chỉ huy, lại có chí lớn nên được bạn bè kính phục. Với tài trí hơn người, Đinh Bộ Lĩnh được tôn làm Tù trưởng sách Đào Áo (nay thuộc các xã Gia Hưng, Gia Phú, Liên Sơn, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình).</p><p>Đại Việt sử ký toàn thư viết: "Vua lúc còn nhỏ chơi cùng với lũ trẻ chăn trâu ngoài đồng, lũ trẻ tự biết kiến thức không bằng vua, nên cùng nhau tôn làm trưởng. Phàm khi chơi đùa, tất bắt chúng khoanh tay làm kiệu để khiêng và lấy hoa lau đi hai bên để rước như là nghi vệ thiên tử. Ngày rỗi sang đánh trẻ con thôn khác, đến đâu chúng đều sợ phục, rủ nhau hàng ngày đến kiếm củi thổi cơm để phục dịch. Bà mẹ thấy thế mừng lắm, mổ lợn của nhà cho chúng ăn. Phụ lão các sách bảo nhau rằng đứa trẻ này khí độ như thế, tất sẽ làm nên việc, bọn chúng ta nếu không theo về, ngày sau hối không kịp".</p><p>Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân</p><p>Năm 944, khi Đinh Bộ Lĩnh tròn 20 tuổi thì vua Ngô Quyền mất. Một năm sau, Dương Tam Kha chiếm khôi và xưng là Bình Vương. Con trai Ngô Quyền là Ngô Xương Ngập chạy về Nam Sách (Hải Dương) tạo nên cuộc tranh chấp ngôi báu giữa nhà Ngô và ngoại tộc.</p><p>Kết quả, Dương Tam Kha bại trận, Ngô Xương Ngập cùng em là Ngô Xương Văn nắm lại quyền lực. Bởi cả hai anh em cùng nắm quyền, triều đình nhà Ngô trở nên rối ren hơn bao giờ hết, các sứ quân cát cứ hình thành và nổi dậy.</p><p>Biết được tình hình đó, Đinh Bộ Lĩnh với vị thế là "con viên quan" triều đình nhà Ngô, danh thế gia tộc, lại là người có tài năng và ý chí, đã sớm tập hợp lực lượng để trở thành người đứng đầu sách Đào Úc, làm thủ lĩnh châu Đại Hoàng, lấy động Hoa Lư làm căn cứ ban đầu, thực hiện sự nghiệp thống nhất đất nước.</p><p>Thấy Đinh Bộ Lĩnh tích cực xây dựng lực lượng tại căn cứ Hoa Lư, triều đình nhà Ngô, lúc ấy đang rệu rã, đã cho quân đến đánh dẹp. Đinh Bộ Lĩnh liền cho con mình là Đinh Liễn đến triều đình Cổ Loa làm con tin để hòa hoãn.</p><p>Biết được ý định tạm hòa hoãn để xây dựng lực lượng của Đinh Bộ Lĩnh, hai vương Xương Văn và Xương Ngập đã cho quân tiến đánh động Hoa Lư, nhưng bị chống trả quyết liệt, liền treo Đinh Liễn lên cây dọa giết.</p><p>Lúc này, Đinh Bộ Lĩnh đanh thép nói "Đại trượng phu chỉ mong lập được công danh, há lại bắt chước thói đàn bà xót con hay sao" rồi sai hơn chục người cầm cung nỏ nhằm bắn vào Đinh Liễn khiến hai vương nhà Ngô phải cho quân rút lui. Đinh Liễn cũng thoát chết.</p><p>Từ đó, thế lực của Đinh Bộ Lĩnh ngày càng lớn mạnh với nhiều tướng lĩnh tài ba và các tráng đinh từ vùng Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa ngày nay.</p><p>Năm 954, Ngô Xương Ngập bị bệnh và chết. Hơn 10 năm sau, Ngô Xương Văn đem quân đi đánh các thế lực chống đối và chết trận. Không còn chính quyền trung ương, đất nước càng thêm rối loạn rồi bị chia rẽ sâu sắc bởi sự nổi lên của 12 sứ quân. Cùng lúc đó, triều đình phương Bắc nhăm nhe khôi phục ách đô hộ. Trước tình hình này, Đinh Bộ Lĩnh đã đứng lên dẹp loạn.</p><p>Từ năm 966 hình thành đầy đủ 12 sứ quân chiếm giữ các địa phương:</p><ol><li><p>Ngô Xương Xí giữ Bình Kiều (xã Hợp Lý, Hợp Tiến, huyện Triệu Sơn, Thanh Hoá ngày nay).</p></li><li><p>Kiều Công Hãn xưng là Kiều Tam Chế giữ Phong Châu (Phú Thọ ngày nay).</p></li><li><p>Nguyễn Khoan xưng là Nguyễn Thái Bình giữ Tam Đái (Vĩnh Tường, Vĩnh Phú ngày nay).</p></li><li><p>Ngô Nhật Khánh xưng là Ngô Lãm Công giữ Cam Lâm (Ba Vì, Hà Tây ngày nay).</p></li><li><p>Đỗ Cảnh Thạc xưng là Đỗ Cảnh Công giữ Đỗ Động Giang (Thanh Oai, Quốc Oai, Hà Tây ngày nay).</p></li><li><p>Lý Khuê xưng là Lý Lãng Công giữ Siêu Loại (huyện Thuận Thành, Bắc Ninh ngày nay).</p></li><li><p>Nguyễn Thủ Tiệp xưng Nguyễn Lệnh Công giữ Tiên Du (huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh ngày nay).</p></li><li><p>Lã Đường xưng là Lã Tá Công giữ Tế Giang (huyện Mỹ Văn, Hưng Yên ngày nay).</p></li><li><p>Nguyễn Siêu xưng là Nguyễn Hữu Công giữ Tây Phù Liệt (Thanh Trì, Hà Nội ngày nay).</p></li><li><p>Kiều Thuận xưng là Kiều Lệnh Công giữ Hồi Hồ (Cẩm Khê, Phú Thọ ngày nay).</p></li><li><p>Phạm Bạch Hổ xưng là Phạm Phòng Át giữ Đằng Châu (Hưng Yên ngày nay).</p></li><li><p>Trần Lãm xưng là Trần Minh Công giữ Bố Hải Khẩu (thị xã Thái Bình ngày nay).</p></li></ol><p>Suốt hai năm, Đinh Bộ Lĩnh thuyết phục, vận động, liên kết, hàng phục và dùng sức mạnh quân sự để đánh dẹp các thế lực cát cứ. Đối với cánh quân Trần Lãm, Phạm Bạch Hổ, Ngô Nhật Khánh, Ngô Xương Xí, ông dùng phương pháp liên kết và hàng phục; đối với cánh quân Đỗ Cảnh Thạc, Nguyễn Siêu, Kiều Công Hãn, Nguyễn Thủ Tiệp, Kiều Thuận, Lý Khuê thì đánh dẹp. Còn lại Lã Đường và Nguyễn Khoa không đánh cũng tự thua.</p><p>Cuối cùng, Đinh Bộ Lĩnh đã lần lượt thu phục các sứ quân, chấm dứt tình trạng phân chia cát cứ, thống nhất đất nước, được gọi là Vạn Thắng Vương. Năm Mậu Thìn (968), Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, tức Đinh Tiên Hoàng đế, đặt tên nước là Đại Cồ Việt và cho định đô ở Hoa Lư.</p><p><strong>Chính sách trị vì đất nước của Đinh Tiên Hoàng</strong></p><ul><li><p><strong>Thành lập nước Đại Cồ Việt</strong></p></li></ul><p>Năm Mậu Thìn 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, tự xưng là Đại Thắng Minh Hoàng đế,đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, dời Kinh ấp về động Hoa Lư, bắt đầu dựng đô mới, đắp thành đào hào, xây cung điện, đặt triều nghi.</p><p>Tên Đại Cồ Việt 大瞿越. Đại là từ Hán-Việt và có nghĩa “vĩ đại: great”; Cồ là một chữ Việt có nghĩa “to lớn, vĩ đại: great“; được ký âm bằng một chữ Hán có âm tương ứng.</p><p>Đinh Tiên Hoàng cho xây cung điện, chế triều nghi, định phẩm hàm quan văn, quan võ. Vua phong cho Nguyễn Bặc là Định Quốc công, Đinh Điền là Ngoại giáp, Lê Hoàn làm Thập đạo tướng quân, Lưu Cơ làm Đô hộ phủ sĩ sư, Tăng thống Ngô Chân Lưu được ban hiệu là Khuông Việt đại sư, Trương Ma Ni làm Tăng lục, Đạo sĩ Đặng Huyền Quang được làm Sùng chân uy nghi và phong cho con là Đinh Liễn là Nam Việt vương. Vua lập 5 hoàng hậu là Đan Gia, Trinh Minh, Kiều Quốc, Cồ Quốc và Ca Ông.</p><p>Từ năm Canh Ngọ 970, bắt đầu đặt hiệu năm là Thái Bình. Đinh Tiên Hoàng truyền cho đúc tiền đồng, là tiền tệ xưa nhất ở Việt Nam, gọi là tiền đồng Thái Bình. Nhà Đinh là triều đại đầu tiên đặt nền móng cho nền tài chính - tiền tệ của Nhà nước phong kiến Việt Nam. Đồng tiền Thái Bình được đúc bằng đồng, hình tròn, lỗ vuông, có thể xâu thành chuỗi. Mặt phải có đúc bốn chữ "Thái Bình Hưng Bảo", mặt sau có chữ "Đinh". Hầu hết gần 70 triều vua sau đó, triều nào cũng cho đúc tiền của mình bằng đồng.</p><p>Về chính trị trong nước có phần quá thiên về sử dụng hình phạt nghiêm khắc. Vua muốn dùng uy chế ngự thiên hạ, bèn đặt vạc lớn ở sân triều, nuôi hổ dữ trong cũi, hạ lệnh rằng: "Kẻ nào trái phép phải chịu tội bỏ vạc dầu, cho hổ ăn". Mọi người đều sợ phục, không ai dám phạm.</p><p>Về quân sự, Đinh Tiên Hoàng phân ra đạo, quân, lữ, tốt, ngũ. Mỗi một đạo có 10 quân, 1 quân 10 lữ, 1 lữ 10 tốt, 1 tốt 10 ngũ, 1 ngũ 10 người. Như vậy quân đội nhà Đinh khi đó có 10 đạo, là khoảng 1 triệu người trong khi dân số đất nước khoảng 3 triệu. Vua thực hiện "ngụ binh ư nông", đó là hình thức vũ trang toàn dân, dựa vào nghề nông mà phát triển quân đội.</p><ul><li><p>Kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình)</p></li></ul><p>Kinh đô nhà Đinh đóng tại Hoa Lư (Ninh Bình), thuộc về Trường Châu thời Bắc thuộc lần 3. Dựa vào các khối đá vôi cao dựng đứng ôm lấy vùng đất cao không bị ngập do thủy triều và nước lũ, lại có sông Hoàng Long ở phía bắc, sông Sào Khê chảy xuyên qua kinh thành thuận lợi giao thông. Đinh Tiên Hoàng đã cho đắp những đoạn tường thành nhân tạo nối liền các dãy núi thiên nhiên để tạo thành một đô thành vững chắc bảo vệ cung vua bên trong.</p><p>Việc Đinh Tiên Hoàng chọn Hoa Lư mà không chọn Cổ Loa của nhà Ngô hay Đại La thời Bắc thuộc được nhà nghiên cứu Lê Văn Siêu xem là quyết định khôn ngoan. Với hoàn cảnh đương thời, sau nhiều năm loạn lạc, Hoa Lư là địa điểm chiến lược, nằm ở trung tâm đất nước thời đó, khống chế được cả khu vực sơn cước từ Thanh Hóa đổ ra, sông Đà đổ xuống, thêm địa thế vừa hùng vừa hiểm có thể cầm cự với Trung Hoa, nếu có cuộc xâm lăng của phía này tới. Với việc chọn Hoa Lư quê hương làm kinh đô, Đinh Tiên Hoàng có thêm sức mạnh của yếu tố nhân hòa, bởi do thời loạn 12 sứ quân trước đó mà nhân dân các vùng khác có thể còn hoài cổ về sứ quân chiếm đóng.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-16 03:06:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3330001482</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3330075126</link>
         <description><![CDATA[<p>Mời các bạn đón xem nhé </p>]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?v=RjCWU2RDEh4" />
         <pubDate>2025-02-16 07:22:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3330075126</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3330077741</link>
         <description><![CDATA[<p>Để góp phần vào sự thành công của chiến thắng Điện Biên Phủ tháng 05/1954 đã có biết bao tấm gương anh dũng hy sinh khi tuổi đời vẫn còn xuân xanh. Những người chiến sĩ mang trên mình một tình yêu Tổ quốc, sẵn sàng hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc như: Bế Văn Đàn lấy vai làm giá súng, Tô Vĩnh Diện dùng thân chèn pháo, Trần Can hiên ngang dẫn đầu tiểu đội vượt qua lô cốt tiền duyên để xông vào sở chỉ huy, rồi cắm cờ lên lô cốt Him Lam… Nhưng ấn tượng với tôi nhất là người anh hùng lấy thân mình lấp lỗ châu mai – Phan Đình Giót.</p><p>Phan Đình Giót (1922-1954) là một trong 16 “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân” được tuyên dương vì thành tích trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Chức vụ cuối của ông là Tiểu đội phó bộ binh Đại đội 58, Tiểu đoàn 428, Trung đoàn 141, Đại đoàn 312, là một Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.</p><p>Phan Đình Giót sinh ở làng Vĩnh Yên (nay là thôn 8), xã Cẩm Quan, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh , trong một gia đình rất nghèo. Bố ông bị chết vì đói. Ông phải đi ở từ năm 13 tuổi và chịu cảnh cực nhọc, vất vả. Sau Cách mạng tháng Tám, Phan Đình Giót tham gia tự vệ chiến đấu. Đến năm 1950, Phan Đình Giót xung phong đi bộ đội chủ lực. Phan Đình Giót đã tham gia nhiều chiến dịch lớn như: Trung Du, Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên Phủ.</p><p>Mùa đông năm 1953, đơn vị được lệnh tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Lực lượng hành quân gần 500 người, vượt qua nhiều đèo dốc, mang vác nặng nhưng theo lời kể, ông vẫn kiên trì, giúp đồng đội về tới đích. Chiều ngày 13 tháng 3 năm 1954, đơn vị của ông nổ súng tiêu diệt Him Lam. Bộ đội đại đội 58 lao lên mở đường, đã liên tiếp đánh đến quả bộc phá thứ tám. Phan Đình Giót đánh quả thứ chín thì bị thương vào đùi nhưng vẫn xung phong đánh tiếp quả thứ mười. Quân Pháp tập trung hỏa lực trút đạn như mưa xuống trận địa. Bộ đội bị thương vong nhiều. Sau đó, Phan Đình Giót đánh liên tiếp hai quả bộc phá nữa, phá hàng rào cuối cùng, mở thông đường để quân đội lên đánh lô cốt đầu cầu. Quân Pháp hoang mang, vận dụng thời cơ, Phan Đình Giót vọt tiến công lô cốt số 2, ném thủ pháo, bắn kiềm chế cho đơn vị tiến lên. Trong đợt này, Phan Đình Giót bị thương vào vai, mất máu nhiều.</p><p>Bất ngờ, hỏa điểm lô cốt số 3 của lính Pháp bắn mạnh. Lực lượng xung kích Việt Nam bị ùn lại, Phan Đình Giót đến lô cốt số 3 với ý nghĩ là dập tắt ngay lô cốt này. Phan Đình Giót đã nâng tiểu liên bắn vào lỗ châu mai, miệng hô to:</p><blockquote><p><strong><em>“Quyết hy sinh vì Đảng, vì dân”</em></strong></p><p><strong><em>AHLLVTND Phan Đình Giót</em></strong></p></blockquote><p>Rồi sau đó, Phan Đình Giót lao cả thân mình vào bịt kín lỗ châu mai. Hỏa điểm bị dập tắt, quân Việt Nam tiếp tục xung phong tiêu diệt gọn cứ điểm Him Lam vào ngày 13 tháng 3 năm 1954, giành thắng lợi trong trận đánh mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ.&nbsp;</p><p>Phan Đình Giót hy sinh lúc 22 giờ 30 phút ngày 13/3/1954 ở tuổi 34. Phan Đình Giót được nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân ngày 31/3/1955. Khi hy sinh, anh là Tiểu đội phó bộ binh Đại đội 58, Tiểu đoàn 428, Trung đoàn 141, Đại đoàn 312, là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, được tặng Huân chương Quân công hạng nhì.</p><p>Trải qua 56 ngày đêm khoét núi ngủ hầm mưa dầm cơm vắt máu trộn bùn non, ngày 7/5/1954 quân ta đã toàn thắng ở Điện Biên Phủ, bắt sống tướng Christian de Castries và toàn bộ ban tham mưu tập đoàn cứ điểm. Cho đến tận bây giờ chúng ta vẫn luôn xúc động nhớ tới những anh hùng liệt sĩ đã anh dũng hi sinh. Gương hi sinh của Phan Đình Giót đã được cả thế giới biết đến với chiến thắng lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu. Bằng sự biết ơn vô hạn đó, nhà thơ Bùi Quang Thanh có viết:</p><blockquote><p><strong><em>Khi lồng ngực anh ấp trùm lên hỏa điểm<br>Súng giặc nghẽn đồng đội anh xông đến<br>Tổ quốc bật lên khúc khải hoàn<br>Tràn ngập đỉnh đồi A1 Him Lam.</em></strong></p><p><strong><em>Bên tượng đài Anh hùng Phan Đình Giót, 04/05/2004</em></strong></p></blockquote><p>Phan Đình Giót – ông ra đi khi tuổi đời còn quá trẻ, nhưng những gì ông cống hiến và hy sinh cho quê hương sẽ còn ghi mãi vào sử sách và tâm khảm của tôi và người dân Việt Nam. Tấm gương của ông về lớp đàn anh, người chỉ huy dũng cảm, kiên trung, luôn luôn quan tâm đến đồng đội, không lùi bước trước mọi gian khổ hiểm nguy, giành lấy khó khăn về mình để đồng đội tiếp tục bước tiếp. Một tấm gương sáng ngời về nghị lực phi thường, tình yêu quê hương sâu sắc, căm thù giặc quyết tâm giữ vững tay súng chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Để kỷ niệm 67 năm ngày chiến thắng Điện Biên Phủ (07/05/1954 – 07/05/2021), tôi và tất cả chúng ta xin được dành sự tri ân sâu sắc đến người anh hùng Phan Đình Giót – người con ưu tú của đất Hà Tĩnh, tên tuổi và những chiến công của ông không bao giờ có thể quên lãng trong tâm trí tôi và những thế hệ mai sau.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3412382459/d56bfd91b6597fb82181f014d5898fd5/image.jpeg" />
         <pubDate>2025-02-16 07:30:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3330077741</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3330080818</link>
         <description><![CDATA[<p>   Ngày xưa, ở làng kia có một lão nhà giàu. Lão thuê một anh nông dân nghèo, khỏe mạnh để cày ruộng cho lão. Lão nhà giàu nhiều thóc, nhiều tiền nhưng tính tình lại keo kiệt. Lão rất sợ phải trả tiền công cày cho anh nông dân, vì thế lão suy tính ngày đêm. Cuối cùng thì lão đã nghĩ ra một kế để lừa anh. Lão nhà giàu cho gọi anh nông dân đến và dỗ dành:</p><p>– Anh chịu khó cày ruộng cho ta trong ba năm. Hết thời gian đó, ta sẽ cho anh cưới con gái ta.</p><p>Anh nông dân thật thà tin ngay vào lời của lão. Hết vụ lúa mùa đến vụ lúa chiêm, không quản nắng mưa, sương gió, anh chăm chỉ cày bừa trên cánh đồng của lão nhà giàu. Mỗi mùa gặt, anh thu về cho lão ta rất nhiều thóc lúa. Nhà lão đã giàu lại càng giàu hơn nữa.</p><p>Thấm thoát ba năm đã trôi qua, thời hạn làm thuê của anh nông dân cũng đã hết. Lão nhà giàu không muốn cho anh nông dân nghèo khổ cưới con gái của mình, lão lại tìm mưu kế để đánh lừa anh. Lão nhà giàu gọi anh đến và bảo:</p><p>– Con ơi, bấy lâu nay con đã chăm chỉ làm việc, ta sẽ cho con cưới con gái ta. Bây giờ, con phải vào rừng tìm cho được cây tre trăm đốt, đem về đây để làm đũa cho cả làng ăn cỗ cưới.</p><p>Anh nông dân thật thà, vác dao đi ngay vào rừng để chặt tre.</p><p>Đợi anh nông dân đi khỏi làng, lão nhà giàu bèn gả con gái lão cho một tên nhà giàu khác ở trong làng. Lão cho giết bò, giết lợn, nấu xôi, mở rượu làm cỗ cưới thật là linh đình.</p><p>Trong khi lão nhà giàu làm cỗ thì anh nông dân một mình lang thang trong rừng. Anh ngả hết cây tre này đến cây tre khác. Anh cẩn thận đếm từng đốt trên các cây tre nhưng chẳng cây nào có đủ một trăm đốt. Vẫn chưa nản lòng, anh lại tìm đến bụi tre già, anh cố chặt một cây cao nhất, mặc cho gai làm rách cả áo, sước cả da, cây tre đổ xuống, anh đếm đi, đếm lại vẫn chỉ có hơn bốn mươi đốt. Anh buồn quá, ngồi bên đống tre đốn dở và khóc. Bỗng nhiên anh thấy một ông lão đầu tóc bạc phơ, da dẻ hồng hào khoan thai đi đến, ông lão hỏi anh:</p><p>– Làm sao cháu khóc?</p><p>Anh lễ phép thưa rõ đầu đuôi câu chuyện. Nghe xong ông lão nói:</p><p>– Cháu hãy đi chặt cho đủ một trăm đốt tre mang lại đây, ông sẽ giúp cháu.</p><p>Anh nông dân mừng quá, liền chặt đủ một trăm đốt tre đem đến cho ông lão. Ông lão chỉ tay vào đống tre và bảo anh đọc “ Khắc nhập, khắc nhập” ba lần. Lạ thay, anh vừa đọc xong thì một trăm đốt tre dính liền lại với nhau thành một cây tre dài trăm đốt. Ông lão căn dặn anh:</p><p>– Cháu không thể vác cây tre này về nhà được vì nó quá dài cháu ạ. Cháu hãy đọc ba lần câu “Khắc xuất, khắc xuất”, các đốt tre sẽ rời ra như cũ. Cháu hãy bó lại và đem về nhà.</p><p>Anh nông dân chưa kịp cảm ơn ông lão thì ông lão đã biến mất. Anh đành vác hai bó tre đi về làng.</p><p>Về tới nơi, thấy mọi người đang ăn uống vui vẻ, anh nông dân mới biết lão nhà giàu đã lừa dối anh. Anh lẳng lặng để bó tre ngoài sân rồi vào nhà gọi lão nhà giàu ra nhận. Lão nhà giàu không thấy tre, mà chỉ thấy toàn là đốt tre. Lão cười bảo anh:</p><p>– Tao bảo mày chặt đem về một cây tre có trăm đốt, chứ có bảo mày đem về một trăm đốt tre đâu?</p><p>Chẳng cần trả lời lão, anh lẩm nhẩm đọc “Khắc nhập, khắc nhập” ba lần, tức thì các đốt tre dính liền lại thành cây tre. Lão nhà giàu nhìn thấy lạ quá, bèn chạy lại sờ tay vào cây tre. Anh nông dân thấy vậy đọc luôn “Khắc nhập, khắc nhập”, lão nhà giàu bị dính ngay vào cây tre, không có cách nào gỡ ra được. Thấy vậy mấy tên nhà giàu khác chạy tới định gỡ cho lão, anh nông dân lại đọc “Khắc nhập, khắc nhập” thế là cả bọn lại bị dính hết vào cây tre. Lão nhà giàu ra sức van xin anh, lão hứa sẽ cho anh cưới ngay con gái lão và từ nay về sau không dám bày mưu lừa gạt anh nữa. Lúc bấy giờ anh nông dân mới khoan thai đọc “Khắc xuất, khắc xuất” ba lần, tức thì cả bọn nhà giàu rời ra khỏi cây tre. Anh nông dân cưới cô con gái lão nhà giàu làm vợ và hai người sống bên nhau rất hạnh phúc.</p><p>&nbsp;</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3412382459/0779e7aa87a8eec41ef9dda01fd31c8d/image.jpeg" />
         <pubDate>2025-02-16 07:37:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3330080818</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3330180058</link>
         <description><![CDATA[<p>Yết Kiêu là một vị tướng dũng mãnh có biệt tài bơi lội thần kỳ.Nhờ tài hoa và sự mưu trí, dũng cảm hơn người của mình, ông đã đục thủng tàu thuyền của địch trên biển Vạn Ninh.Âm mưu của ông đã làm cho giặc ngoại xâm thất bại.Càng tìm hiểu về Yết Kiêu em lại càng yêu mến hơn khi là một là người con của đất Việt.Suốt chiều dài lịch sử dựng nước, có biết bao người anh hùng có công lớn như Yết Kiêu, cũng có biết bao người anh hùng chưa được nhớ mặt, đặt tên.Câu chuyện thôi thúc em tìm hiểu, đào sâu về những con người đáng tôn vinh như vậy.Em rất thích câu chuyện này</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-16 11:31:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3330180058</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3330187671</link>
         <description><![CDATA[<p>Kim Đồng là một thiếu niên anh hùng. Anh là người dân tộc Nùng. Anh là thành viên đầu tiên và là đội trưởng của Đội Nhi đồng cứu quốc. Kim Đồng có nhiệm vụ giao liên, đưa đón Việt Minh và vận chuyển thư từ. Một lần, khi các cán bộ đang có cuộc họp, Kim Đồng phát hiện quân địch. Anh nhanh trí đánh lạc hướng giặc, phát tín hiệu cho cán bộ rút lui. Sau này, Kim Đồng đã được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang.</p><p><strong>Dàn ý Viết đoạn văn kể về anh hùng Kim Đồng</strong></p><p><strong>1. Mở đoạn</strong></p><p>- Giới thiệu về anh hùng Kim Đồng.</p><p><strong>2. Thân đoạn</strong></p><p>- Khái quát cuộc đời của anh hùng Kim Đồng.</p><p>- Kể về quá trình anh hùng Kim Đồng tham gia Cách mạng.</p><p>- Những thành tích và chiến công của anh.</p><p><strong>3. Kết đoạn</strong></p><p>- Nêu cảm nghĩ của em về anh hùng Kim Đồng.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-16 11:49:04 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3330187671</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3330196655</link>
         <description><![CDATA[<p>Trần Quốc Toản là một tông nhất nhà Trần với công lao to lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai. Ông đã sống và cống hiến hết mình vì sứ mệnh của dân tộc, ông ra đi để lại một tấm gương sáng về tấm lòng yêu nước cho ngàn đời sau nói theo. Câu chuyện cuộc đời ông cứ thế được lưu truyền qua bao đời nay và được ca tụng dưới ngòi bút của Nguyễn Huy Tưởng với hình ảnh “Lá cờ thêu sáu chữ vàng”.</p><p>Ngay từ đầu tác phẩm cho ta biết về ý nghĩa nhan đề “Lá cờ thêu sáu chữ vàng” viết về người anh hùng thiếu niên Trần Quốc Toản. Có lẽ bởi vì Trần Quốc Toản chính là tấm bia chói lóa lý tưởng cách mạng, tấm lòng nồng nàn yêu nước, đó chính là thứ cần đó giúp lớp lớp thế hệ mầm non tương lai dựa vào. Tác giả còn khẳng định tác phẩm như một thiên truyện giáo dục, nâng cao ý thức của trẻ thơ về lịch sử nước nhà, tạo sự gắn kết, bồi đắp thêm tấm lòng biết ơn ông cha, yêu thương đất nước cho các em nhỏ.</p><p>Chí lớn của Trần Quốc Toản, tác giả kể về giấc mơ khi Trần Quốc Toản còn bé, ông mơ bắt sống được tên sứ nhà Nguyên hống hách. Tuy còn nhỏ nhưng ông đã ý thức được bổn phận của đấng nam nhi, còn nhỏ nhưng ấp ủ hoài bão lớn, chính là hoài bão của dân tộc. Tuy chỉ nhỏ hơn các anh trai “dăm sáu tuổi” mà được tham gia bàn việc nước, điều đó càng làm tâm can Trần Quốc Toản nóng như lửa đốt. Thậm chí chàng còn có suy nghĩ xô ngã lính để chạy xuống nơi quan quân bàn bạc thế sự”, chi tiết đó đủ để ta hiểu được tấm lòng thương nước, lo cho dân của chàng. Đường đường là một bậc nam nhi khí phách oai hùng, sao có thế dửng dửng trước cảnh nước nhà đang khốn khó. Càng nghĩ chàng càng thêm nôn nóng, chàng quyết định xô ngã lính để vào tâu với nhà vua. Thế nhưng tài của chàng khó mà được nhà vua công nhận bởi trong mắt vua “chàng như một đứa trẻ”. Không được vua trọng dụng nhưng sao mà tránh được lệnh vua, chàng chỉ biết “bóp nát quả cam trong tay từ lúc nào”. Phải chăng bóp nát quả cam không phải vì giận hờn vua? Phải chăng bóp nát quả cam đó chính là nỗi căm hờn giặc ngoại xâm đến nỗi muốn nghiền chúng thành chăm mảnh? Đó quả thực là vì lòng khát khao yêu nước, thương dân. Ngày ngày chàng chăm chỉ luyện tập, chàng hạ quyết tâm trên bến Bình Than rằng: “Rồi xem ai giết được giặc, ai báo được ơn vua, xem ai hơn, ai kém. Rồi triều đình sẽ biết tay ta”.</p><p>Người anh hùng Trần Quốc Toản xuất hiện dưới ngòi bút miêu tả tinh thế chính là thành công của tác phẩm. Bằng sức tưởng tượng phong phú, ca từ giàu chất biểu cảm, lập luận chặt chẽ, tác phẩm chinh phục tấm lòng người đọc biết ơn, ghi công người anh hùng dân tộc với tinh thần yêu nước quật cường. Đặc biệt, “Lá cờ thêu sáu chữ vàng” chắc chắn rằng sẽ là một tác phẩm không bao giờ cũ dành cho thế hệ mầm non của đất nước, là tấm gương sáng cho các em noi theo.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-16 12:05:32 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3330196655</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3330214262</link>
         <description><![CDATA[<p>Trong lịch sử phong kiến nước ta, rất nhiều các anh hùng hào kiệt đã xuất hiện để kinh bang tế thế. Trong đó, người mà em vô cùng ấn tượng và kính trọng chính là Lý Thường Kiệt.</p><p>Lý Thường Kiệt là một vị tướng quân dưới thời nhà Lý của nước ta. Chính ông là người đã làm trên chiến công hiển hách, đánh bại đại quân nhà Tống sang xâm lược nước ta. Đồng thời, ông còn đem quân đánh sang tận đất Tống, chiếm ba châu khiến triều thần nước họ phải sợ hãi. Ông đặc biệt khiến em ấn tượng với chiến thuật mạnh mẹ, bạo dạn va quyết đoán. Ngay khi mọi người đang suy nghĩ tìm đối sách để chống quân Tống, thì ông đã cướp thời cơ, tấn công trước để dành thế chủ động. Đồng thời, ông rất tài tình khi tấn công vào cả mặt tinh thần của quân địch. Khiến chúng phải hoang mang, sợ hãi, mất đi ý chí chiến đấu bằng bài thơ Nam quốc sơn hà:</p><p><em>Nam quốc sơn hà Nam đế cư,</em><br><em>Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.</em><br><em>Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,</em><br><em>Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.</em></p><p>Dù sau này, em được học, được biết đến rất nhiều những vị anh hùng khác của nước ta, nhưng hình tượng vĩ đại của Lý Thường Kiệt mãi mãi không bao giờ bị xóa mờ.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-16 12:39:32 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3330214262</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3330216123</link>
         <description><![CDATA[<p>Bác Hồ là người cha già của dân tộc Việt Nam, một người lãnh tụ được cả thế giới kính trọng và mến mộ. Mặc dù khi em ra đời thì Bác đã mất nhiều năm, nhưng thông qua những bức ảnh của Bác và những câu chuyện về Bác, thì em biết, Bác là người hiền từ thế nào.&nbsp;Bác có một mái tóc bạc với bộ râu trắng xóa. Đôi mắt của Bác lúc nào cũng ánh lên sự tinh tường nhưng cũng rất ấm áp. Cả cuộc đời Bác chưa từng có một suy nghĩ riêng cho bản thân mình. Dân tộc được độc lập, nhân dân được ấm no có lẽ là niềm hạnh phúc lớn nhất của cuộc đời Bác.&nbsp;Cho dù Bác đã ra đi mãi mãi nhưng trong lòng mỗi người dân Việt Nam luôn dành một vị trí đặc biệt cho Bác, vị cha già kính yêu của dân tộc.</p><p>Có rất nhiều bức ảnh về Bác được gìn giữ cho đến ngày nay. Đó là bức ảnh Bác đang tập trung làm việc. Trên bàn là một quyển vở cũ. Bác đang viết điều gì đó lên quyển vở ấy vì vậy mà đầu Bác hơi cúi xuống. Bác mặc trên người bộ quần áo kaki đã cũ. Đó chính là bộ quần áo mà Bác thường mặc khi còn sống. Dường như Bác chỉ tập trung vào những gì đang viết mà không hề để ý đến khung cảnh xung quanh. Bác là vậy, lúc nào cũng hết mình cho công việc, cho sự nghiệp cách mạng. Dưới chân Bác đi một đôi dép cao su màu đen. Đây cũng là đôi dép đồng hành cùng với Bác trên biết bao chặng đường.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-16 12:43:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3330216123</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3330225464</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://thtanhungq7.hcm.edu.vn/khong-gian-van-hoa-ho-chi-minh/ke-chuyen-ve-bac-ho-120-mau-chuyen-ve-bac-ngan-hay-va-y-nghia-nhat/ctmb/130916/1120860" />
         <pubDate>2025-02-16 13:01:21 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3330225464</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3330229194</link>
         <description><![CDATA[<p>  Hôm nay tôi sẽ kể một câu chuyện về" Tình cảm thiêng liêng, xúc động về Bác Hồ kính yêu"</p><p>   <strong>“Ngày 25/8/1969, một cơn đau tim đột ngột làm Bác choáng ngất, sức khỏe dần xấu đi và suy yếu trầm trọng. 9h47 phút ngày 2/9/1969, Bộ Chính trị, những người túc trực bên giường bệnh đều òa khóc. Bác nằm đó, bất động – Người đã vĩnh viễn ra đi... Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, người đã đi vào cõi bất tử, một trong những anh hùng vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc...” – Nhớ từng câu, từng chữ, chia sẻ lại thời khắc Bác vĩnh viễn ra đi hơn 50 năm trước, cô Trần Thị Diện, 76 tuổi, Tổ dân phố Nguyễn Khuyến, thị trấn Vĩnh Trụ, huyện Lý Nhân (Hà Nam) không giấu được nỗi xúc động nghẹn ngào.</strong></p><p>Cô Diện nói: Tôi không có may mắn được gặp Bác, nhưng qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua sách báo, hình ảnh giản dị và gần gũi cùng tình yêu bao la của Bác luôn đậm sâu trong trái tim tôi. Đúng như câu thơ của nhà thơ Tố Hữu đã viết trong bài Sáng tháng Năm - “Người là Cha, là Bác, là Anh/ Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ”.</p><p>Sinh ra và lớn lên ở quê hương nhà văn Nam Cao (làng Đại Hoàng, xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân), năm 1969 cô Trần Thị Diện về nhận công tác tại Phòng Văn hóa- Thông tin huyện Lý Nhân, trực tiếp phụ trách thư viện và phong trào đọc của huyện Lý Nhân. Do đặc thù công việc, cô Diện được tiếp cận và đọc rất nhiều sách, trong đó có sách viết về Bác. Trò chuyện với chúng tôi cô Diện xúc động nhớ lại: Ngày 3/9/1969, trên đường đi công tác từ xã Nhân Đạo về Vĩnh Trụ, tới địa phận thôn Ngò, xã Đức Lý qua hệ thống loa công cộng tôi nghe được tin Bác mất. Tôi lập tức dừng xe lại bên đường, đứng dưới rặng phi lao, ngay dưới loa công cộng để nghe cho rõ hơn. Lúc đó, các cô, các bác nông dân đang làm đồng và những người qua đường cũng đều dừng lại, tập trung dưới loa im lặng lắng nghe. Nghe tin Bác mất, mọi người ai cũng lặng đi, xúc động nghẹn ngào, nước mắt trào dâng. Cũng như mọi người, không kìm được xúc động, nước mắt tôi chảy tràn. Bác mất đi để lại nỗi đau và nỗi tiếc thương không nguôi trong lòng người dân cả nước. Tình cảm mọi người dành cho Bác là tình cảm hết sức thiêng liêng và kính trọng. Sau này mỗi khi đọc những cuốn sách viết về Bác tôi lại nhớ về giây phút hết sức xúc động và sâu sắc trong ngày 3/9/1969 - thời khắc nghe tin Bác đã ra đi mãi mãi.</p><p>   Trong thời gian công tác (hơn 30 năm) ở Phòng Văn hóa-Thông tin huyện Lý Nhân, cô Diện được đi thăm Lăng Bác hai lần, lần nào cũng để lại trong cô cảm xúc rưng rưng xúc động. Lần thứ nhất, về thời gian cô Diện chỉ nhớ đó là khi Lăng Bác mới hoàn thành xây dựng, mở cửa đón khách đến thăm. Lần ấy cô Diện vinh dự được đi cùng đoàn dành cho những Đội trưởng đội sản xuất tiêu biểu của huyện. Trước hôm đi, ai cũng hồi hộp, háo hức, chờ đợi. Giây phút lặng lẽ theo dòng người trang nghiêm nối nhau vào Lăng viếng Bác, được nhìn thấy Bác nằm bình yên như đang ngủ cô Diện lại trào nước mắt. Những câu chuyện cảm động về Bác, hình ảnh bình dị, gần gũi của Bác mà cô được xem trên tivi, cảm xúc buồn thương lúc nghe tin Bác mất năm nào lại ùa về... Lần thứ hai cô Diện được vào Lăng viếng Bác đó là năm 2001, trước khi nghỉ hưu. Cảm xúc của cô Diện vẫn vậy, vẫn bồi hồi và xúc động nghẹn ngào...</p><p>Hơn 30 năm công tác, với nỗ lực không ngừng trong thực hiện nhiệm vụ được giao, cô Diện tự hào bởi Thư viện huyện Lý Nhân nhiều năm liên tục đạt danh hiệu đơn vị thi đua xuất sắc toàn quốc; là đơn vị dẫn đầu tỉnh suốt hơn 30 năm. Về nghỉ hưu, ở Tổ dân phố Nguyễn Khuyến, thị trấn Vĩnh Trụ, với kinh nghiệm nhiều năm là cán bộ thư viện, tuy tuổi đã cao, nhưng cô Diện vẫn luôn nhiệt tình, tận tâm, trách nhiệm hướng dẫn, giúp đỡ cô giáo cùng các học sinh được lựa chọn những kỹ năng, biểu cảm... khi tham gia các hội thi về tuyên truyền, giới thiệu sách. Trong năm 2023, nhân ngày sách và văn hóa đọc Việt Nam, cô Diện được chọn là người giới thiệu sách dành cho đối tượng là người cao tuổi trên địa bàn thị trấn. Cô Diện đã chọn giới thiệu cuốn sách “Hồ Chí Minh – Hành trình 79 mùa xuân”. Hoàn thiện xong đề cương giới thiệu sách, nhưng không may nhà có chuyện buồn, cô Diện đành chuyển đề cương mình viết nhờ một cô giáo giới thiệu thay. Cô Diện chia sẻ: Đây là tác phẩm viết về Bác hết sức xúc động, tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần. Tác phẩm được chia thành 3 phần. Phần I – Tuổi ấu thơ đến ngày Bác ra đi tìm đường cứu nước; Phần II – 50 năm sự nghiệp cách mạng của người; Phần III – Bản di chúc – Một văn kiện lịch sử vô giá.</p><p>Trong cuốn sách, tôi xúc động nhất là đoạn viết về thời khắc mẹ Bác mất khi Bác còn nhỏ tuổi: Bác bồi hồi nhớ tới người mẹ hiền thân yêu đã khuất khi Bác mới 11 tuổi. Mẹ mất, cha vắng nhà, Nguyễn Sinh Cung ôm xác mẹ khóc nức nở. Nỗi đau thương đó xảy ra vào ngày 22 tháng Chạp năm 1901. Đây là sự mất mát lớn nhất và cũng là tình cảm sâu sắc nhất về mẹ trên bước đường cách mạng hơn 60 năm Bác đã đi qua. Ngoài ra, khi đọc bức điện Bác gửi về quê ngày 19/11/1951 khi nhận được tin người anh trai Nguyễn Tất Đạt từ trần tôi cũng không kìm được nước mắt: “Nghe tin anh cả mất, lòng tôi rất buồn rầu, vì việc nước nặng nhiều, đường sá xa cách, lúc anh đau yếu, tôi không trông nom; lúc anh tạ thế, tôi không thể lo liệu. Than ôi, tôi xin chịu tội bất đễ trước linh hồn anh và xin bà con hãy nguyên lượng cho một người con đã hy sinh tình nhà vì phải lo việc nước”.</p><p>Đặc biệt, trước khi “ra đi” Bác đã để lại bản Di chúc thể hiện lòng yêu nước, thương dân vô bờ bến: Bản di chúc là một văn kiện lịch sử vô giá, mỗi câu mỗi chữ của di chúc đã dồn nén bao cảm xúc, chứa chan bao tình yêu thương và sự gắn bó sâu xa với thiên nhiên, với con người của một cuộc đời. Di chúc mãi mãi là áng văn tuyệt bút, là những lời căn dặn thiết tha, là sức mạnh thôi thúc hành động chẳng những đối với nhân dân ta mà còn đối với tất cả những ai đang đấu tranh cho tự do, độc lập, cho hòa bình công lý, cho cuộc sống ấm no, hạnh phúc của con người.</p><p>Những năm qua, thực hiện học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác, cô Diện luôn là đảng viên gương mẫu đi đầu trong việc chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước; các quy định của địa phương; tích cực hưởng ứng tham gia các phong trào thi đua yêu nước trên địa bàn. Liên tục nhiều năm liền cô Diện được cán bộ, đảng viên trong chi bộ tin tưởng bình chọn là đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Hiện cô Diện đang hướng dẫn, giúp đỡ một cô giáo và hai học sinh chuẩn bị tham dự Hội thi kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh của huyện với những câu chuyện hết sức bình dị mà cao cả về tình yêu bao la của Bác. Đó là những câu chuyện: “Tình yêu của Bác dành cho những khúc dân ca”, “Bác chỉ muốn các cháu được học hành” và “Bác không thăm những người như mẹ con cháu thì thăm ai”.</p><p>Cô Diện xúc động nói với chúng tôi: Cả cuộc đời Bác đã cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, cho hòa bình độc lập, cho cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Bác đã đi xa, nhưng tình cảm của Bác, hình ảnh của Bác, tấm gương đạo đức của Bác vẫn sống mãi trong lòng người dân, trong lòng dân tộc Việt Nam.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-16 13:08:15 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3330229194</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3330230396</link>
         <description><![CDATA[<p>Thiên Trường vãn vọng hay còn được biết đến với cái tên Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra, là một thi phẩm nổi tiếng của thi sĩ Trần Nhân Tông.</p><p>Bài thơ Thiên Trường vãn vọng được viết bằng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật. Và cũng là một sáng tác mẫu mực, điển phạm cho thể thơ này, được nhiều nhà văn, nhà thơ ca ngợi hết mực.</p><p>Thôn hậu, thôn tiền đạm tự yên,<br>Bán vô, bán hữu tịch dương biên</p><p>Ở hai câu thơ đầu, nhà thơ khắc họa một không gian làng quê đẹp và mộng ảo tựa như tranh vẽ. Toàn bộ ngôi làng, từ đầu làng cho đến cuối làng đều được bao phủ bởi làn khói chiều. Đây là khói được tạo ra từ những căn bếp đốt bằng rơm khô, bay qua ống khói rồi chảy ngược lên trời. Nhà nhà đều đang nấu cơm, nên khói bay lên nhiều tạo thành cả màn khói bảng lảng phủ kín ngôi làng. Điều đó cho thấy các gia đình ở đây đều có cuộc sống ấm no, đến tối đều được nấu cơm để ăn uống, nghỉ ngơi. Cùng với đó, là ánh hoàng hôn vàng cam hắt xuống mặt đất, xuyên qua những làn khói mờ ảo, nhuộm lên cả ngôi làng một màu sắc mờ ảo, tựa như chốn bồng lai tiên cảnh. Điêp từ bán được lặp lại hai lần, tỏ rõ sự ngờ vực, băn khoăn khó phân biệt của nhà thơ trước cảnh đẹp này.</p><p>Mục đồng địch lý quy ngưu tận,<br>Bạch lộ song song phi há điền.</p><p>Giữa cảnh đẹp thần tiên ấy, xuất hiện hình ảnh chú bé mục đồng dẫn trâu trở về nhà. Chi tiết ấy khiến cảnh vật trở nên thực hơn, chân thật hơn và ấm cúng hơn. Cậu bé ấy đang trở về mái ấm của mình, về căn bếp đang đỏ lửa. Tiếng sáo của chú bé mục đồng là âm thanh dẫn trâu đi đúng lối về nhà, và cũng là tín hiệu cho những cánh cò trắng phía đằng xa. Hình ảnh đôi cò trắng bay xuống cánh đồng trong dòng thơ cuối được tác giả gửi gắm nhiều ngụ ý. Cò không xuất hiện đơn lẻ, mà là từng đôi bay song song với nhau, chính là biểu tượng cho đôi lứa nông dân, cho sự phát triển dòng giống của dân tộc. Đó chính là xuất phát điểm cho những gia đình, những làng quê nhỏ bé. Các làng quê đó là nền móng cho đất nước phát triển ngày càng thịnh vượng hơn.</p><p>Bài thơ Thiên Trường vãn vọng của Trần Nhân Tông là một sáng tác thơ với những cảm xúc lắng đọng sâu sắc. Từ cảnh đẹp đầm ấm, sum vầy của làng quê được miêu tả, tác giả thể hiện niềm tự hào về sự phát triển của giang sơn, về cuộc sống ấm no của bà con. Cùng với đó, tác giả gửi gắm những hi vọng về sự phát triển, mở rộng hơn nữa của làng quê qua hình ảnh biểu tượng đôi có trắng.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-16 13:10:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3330230396</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3330232571</link>
         <description><![CDATA[<p>Trong lịch sử Việt Nam, việc dời đô là một quyết định lớn, đánh dấu một sự chuyển biến quan trọng trong việc quản lý đất nước. Lý Công Uẩn, một trong những vị vua thông thái và quyết đoán của Việt Nam cổ đại, đã đưa ra quyết định quan trọng này dựa trên sự nhận thức sâu sắc về tình hình và triển vọng của đất nước. Tại giai đoạn đó, đất nước Đại Việt đang trải qua một giai đoạn phát triển mạnh mẽ, và việc mở rộng lãnh thổ và tăng cường quốc phòng trở thành một ưu tiên. Các triều đại trước đó, như nhà Đinh và nhà Lê, đã đặt đô ở Hoa Lư dựa trên những điều kiện địa lý và chiến lược phòng thủ. Tuy nhiên, sự mở mang và phát triển của đất nước đã khiến cho việc đóng đô ở Hoa Lư không còn phù hợp nữa. Trong tác phẩm, tác giả không chỉ trình bày lý do lịch sử và chiến lược quân sự, mà còn chứng minh sự chính xác và sự phù hợp của quyết định dời đô đến Đại La. Đại La không chỉ là một nơi có địa lý đẹp, mà còn là nơi thích hợp cho sự phát triển của văn hóa và giao thương. Nhà vua Lý Công Uẩn đã nhìn nhận một cách tỉ mỉ và chi tiết từ góc độ phong thủy, thấy rằng chỉ có ở Đại La, đất đai và địa hình là tốt nhất, hợp với một sự phát triển mạnh mẽ và bền vững của đất nước Đại Việt. Như vậy, việc dời đô đến Đại La không chỉ là một sự chuyển biến đơn thuần trong việc chuyển đổi địa điểm, mà còn là một biểu hiện của sự hiểu biết sâu sắc về đất nước, con người và thiên nhiên. Sự chính xác trong quyết định này không chỉ giúp đất nước đối diện với những thách thức một cách hiệu quả mà còn tạo nên một trang mới trong lịch sử phồn thịnh và văn minh của Đại Việt. Đó không chỉ là một chiến lược quân sự, mà còn là một nét đẹp tinh thần và tri thức của những người lãnh đạo và những người xây dựng đất nước. Từ đó, việc dời đô đến Đại La không chỉ là một hành động thay đổi địa lý mà còn là một biểu hiện của tinh thần và tri thức trong quản lý và phát triển đất nước.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-16 13:14:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3330232571</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3330233627</link>
         <description><![CDATA[<p>Đây là câu chuyện lịch sử Hai Bà Trưng mời xá bạn đọc</p><p>Ngàn năm trang sử còn ghi,</p><p>Mê Linh sông Hát chỉ vì non sông.</p><p>Chị em một dạ một lòng,</p><p>Đuổi quân Tô Định khỏi vùng biên cương.”Là con dân đất Việt, ai cũng sẽ biết “chị em” ấy chính là hai nữ tướng anh hùng của dân tộc: Hai Bà Trưng.Thưở xưa, nước ta bị giặc ngoại xâm đô hộ, chúng thẳng tay chém giết dân lành, cướp hết ruộng nương màu mỡ. Chúng bắt dân ta lên rừng săn thú lạ, xuống biển mò ngọc trai khiến bao người dân lành mất mạng vì hổ báo, cá sấu, thuồng luồng,… Lòng dân oán hận ngút trời, họ chỉ mong chờ ngày vùng lên đánh đuổi giặc.Bấy giờ, ở huyện Mê Linh có hai người con gái tài giỏi Trưng Trắc và Trưng Nhị. Cha mất sớm, mẹ tần tảo, dồn bao tâm huyết để nuôi dạy hai người con khôn lớn. Hai chị em không ai chịu thua kém ai, kết hợp thành một cặp văn võ song toàn. Họ nuôi chí giành lại non sông. Chồng bà Trưng Trắc là Thi Sách cũng cùng chí hướng với vợ. Tướng giặc Tô Định biết được, bèn lập mưu giết chết Thi Sách.Nghe tin dữ, Hai Bà Trưng liền kéo quân về thành Luy Lâu hỏi tội kẻ thù. Trước lúc trẩy quân, có người xin nữ chủ tướng cho mặc để tang. Trưng Trắc dõng dạc trả lời: </p><p>  - Không! Ta sẽ mặc giáp phục thật đẹp để dân chúng thêm phấn khích, còn giặc trông thấy sẽ kinh hồn.Hai Bà Trưng bước lên bành voi. Đoàn quân rung rung lên đường. Giáo lao, cung nỏ, rìu búa, khiên mộc cuồn cuộn tràn theo bóng với ẩn hiện của Hai Bà. Tiếng trống đồng dội lên vòm cây, đập vào sườn đồi, theo suốt đường hành quân. Chẳng bao lâu, thành trì của giặc lần lượt sụp đổ dưới chân của đoàn quân khởi nghĩa. Tên tướng giặc ôm đài chạy về nước. Đất nước ta sạch bóng quân thù.Hai Bà Trưng trở thành hai vị anh hùng chống giặc ngoại xâm đầu tiên trong lịch sử đất Việt. Bao đời nay, con cháu đất Việt vẫn tưởng nhớ công ơn của hai nữ tướng này. Hình ảnh Hai Bà Trưng cưỡi voi ra trận đã trở thành biểu tượng bất khuất của những người phụ nữ Việt Nam kiên cường, dũng cảm.</p><p><br/></p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-16 13:15:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3330233627</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3331228975</link>
         <description><![CDATA[<ul><li><p>Tôi vừa đọc câu chuyện Thánh Gióng.Câu chuyện như sau:</p></li></ul><p>Thánh Gióng là truyện cổ tích Việt Nam quen thuộc với hầu hết mọi người. Chuyện kể từ thời vua Hùng thứ sáu có hai vợ chồng lương thiện nhưng mãi vẫn chưa có con. Một hôm người vợ ra đồng nhìn thấy một dấu chân rất to, bà ướm thử chân mình lên đó và khi về nhà thì bất ngờ mang thai. Sau mười hai tháng, bà đã sinh hạ một cậu bé và đặt tên là Gióng. Nhưng đến năm 3 tuổi mà cậu vẫn nằm ngửa đòi ăn, không biết ngồi, không biết lẫy, cũng không biết nói hay cười..&nbsp;</p><p>Ngày đó, giặc Ân xâm chiếm đất nước, vua cho sứ giả đi khắp nơi để tìm người tài. Khi người của nhà vua đi qua làng, cậu bé bỗng cất tiếng nói: “Mẹ cho gọi sứ giả vào đây cho con!”. Gióng chững chạc&nbsp; yêu cầu sứ giả về tâu với nhà vua rèn cho mình một bộ giáp sắt, một con ngựa sắt và một cây roi sắt để đánh giặc.&nbsp;</p><p>Kể từ lúc ấy cậu bé lớn nhanh như thổi, cơm ăn mãi không no, cứ nấu lên được nồi nào Gióng lại ăn hết ngay nồi ấy. Nhà hết gạo, bà mẹ kêu gọi hàng xóm láng giềng đem gạo khoai, trầu, rượu, hoa quả, bánh trái mang đến đầy một sân. Khi quân sĩ hì hục khiêng được ngựa, gươm, áo giáp và nón sắt tới thì Gióng bước ra khỏi nhà vươn vai một cái, người bỗng cao to sừng sững, chân dài hơn trượng, hét lên một tiếng như tiếng sấm: “Ta là tướng nhà Trời!”.</p><p>Lưỡi gươm của Gióng vung lên nhanh như chớp giật. Quân giặc xông ra chừng nào chết hết chừng ấy. Ngựa sắt thét ra lửa thiêu cháy từng dãy đồn trại, lửa thiêu luôn cả mấy khu rừng. Gióng càng đánh càng khỏe, xác giặc nằm ngổn ngang chất thành đống. Bất ngờ gươm gãy, Gióng không chút bối rối, cậu thuận tay nhổ những bụi tre hai bên đường quật tới tấp vào các toán giặc. Chẳng mấy chốc quân giặc đã bỏ chạy khắp nơi, Ân vương bị quật chết tan xác.</p><p>Xong việc cậu cởi bỏ giáp sắt, từ biệt cha mẹ và bay về trời. Để ca ngợi&nbsp; công ơn, vua đã phong cho cậu là Phù Đổng Thiên Vương và lập đền thờ tưởng nhớ.</p><p><strong>Giá trị nhân văn của truyện</strong>:&nbsp;</p><p>Sự tích Thánh Gióng là bài ca về lòng yêu nước, tinh thần dũng cảm, sức mạnh đoàn kết và niềm tin chiến thắng của nhân dân ta. Truyện đã và đang tiếp tục giáo dục cho thế hệ trẻ về những giá trị tốt đẹp của dân tộc, góp phần hun đúc lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm bảo vệ quê hương đất nước.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-17 11:11:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3331228975</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3331231301</link>
         <description><![CDATA[<p>Tôi vừa đọc câu chuyện có tên là Tấm Cám.Câu chuyện như sau:</p><p>Truyện cổ tích Việt Nam Tấm Cám kể về hai chị em cùng cha khác mẹ là Tấm và Cám. Tấm là cô gái hiền lành, nhân hậu, cha mất sớm nên phải sống chung với dì ghẻ và cô em tên Cám. Tấm luôn bị hai mẹ con ăn hiếp và đối xử bất công. Một hôm bà mẹ bảo hai chị em Tấm và Cám ra đồng đi bắt cá và dặn ai bắt nhiều hơn sẽ được thưởng. Tấm vâng lời dặn của mẹ, chăm chỉ bắt cá đầy giỏ, còn Cám mải rong chơi nên đến chiều vẫn chưa bắt được con nào. Thấy chị Tấm bắt được nhiều cá, Cám liền bày mưu lấy hết cá của chị bỏ vào giỏ mình. Tấm phát hiện và ngồi khóc nức nở thì bỗng nhiên ông Bụt hiện lên hỏi: “Tại sao con khóc?”. Tấm kể hết sự tình, sau đó trong giỏ Tấm xuất hiện con cá bống. Bụt dặn Tấm cho cá ăn mỗi ngày, lúc cho ăn thì nhớ gọi: “Bống bống bang bang, lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta, chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người.”</p><p>Mẹ con Cám biết chuyện liền bày kế cho Tấm đi chăn trâu xa, ở nhà bắt cá bống lên làm thịt. Đến chiều chăn trâu về, Tấm đem cơm ra giếng kêu mà không thấy bống lên, chỉ thấy nổi lên một cục máu đỏ. Bụt lại hiện lên và bảo Tấm về nhà lượm lấy xương cá bỏ vào bốn cái hũ và chôn dưới bốn chân giường.&nbsp;</p><p>Ít lâu sau, nhà vua mở hội, Tấm muốn đi nhưng dì ghẻ bắt cô ở nhà nhặt thóc, gạo đến khi xong thì mới được đi hội. Bụt hiện ra và sai một đàn chim sẻ xuống nhặt cho Tấm. Sau đó Tấm nghe lời Bụt đào bốn hũ xương lên, hũ thứ nhất mở ra là một bộ váy áo đẹp rực rỡ, hũ thứ hai là một đôi giày thêu rất đẹp, hũ thứ ba là một con ngựa, hũ cuối cùng là một yên cương vững chắc. Tấm vui mừng khôn xiết, vội thay đồ rồi lên đường tiến kinh. Ngựa đi một lúc đã tới kinh thành, nhưng chẳng may trên đường đi Tấm đã vô tình đánh rơi một chiếc giày không kịp nhặt.</p><p>Giữa lúc ấy, đoàn quân hộ tống nhà vua đi qua con đường mà Tấm đánh rơi mất giày. Nhà vua nhặt được và ra lệnh cho tất cả đàn bà con gái đi trẩy hội thử giày, nếu ai đi vừa chiếc giày thì sẽ lấy về làm vợ. Khi đến lượt Tấm thử giày, chiếc giày vừa như in, cô mang tiếp chiếc thứ hai đang cầm trong tay thì đúng là một đôi, nhà Vua thấy thế thì mừng rỡ, vội cho người rước nàng về cung..&nbsp;</p><p>Vì ghen tị, nhân ngày giỗ của cha, mẹ con Cám đã lừa Tấm trèo lên cây hái cau dâng bàn thờ cha và chặt cây hại chết Tấm. Sau đó, Cám tiến cung thay thế vị trí của Tấm. Tấm đã nhiều lần tái sinh dưới hình dạng chim Vàng Anh, xoan đoàn, khung cửi và quả thị. Khi Tấm biến thành quả thị, có bà lão đã đem về để trên gối, bà chỉ ngửi chứ bà không ăn. Hàng ngày bà ra chợ, đến lúc về nhà đã sạch sẽ tinh tươm, bà liền sinh nghi. Một lần bà giả vờ đi chợ thì thấy một cô gái chui ra từ quả thị, dọn dẹp và nấu cơm giúp bà. Chứng kiến cảnh đó bà liền chạy vội vào nhà xé vỏ quả thị và ôm chầm lấy cô Tấm. Từ đó, bà nhận cô làm con gái.&nbsp;</p><p>Tấm ở nhà giúp bà làm việc và phụ bà bán quán nước, Tấm còn biết têm trầu cánh phượng. Một lần nhà vua đi qua, dừng chân nghỉ bên quán nước, thấy trầu têm giống như Tấm têm ngày xưa. Nhà vua ngỏ ý muốn gặp con gái của bà, bà mới gọi Tấm ra, vua vui mừng khi nhận ra Tấm nên đã cho người đem nàng về cung. Về đến cung, Tấm kể rõ những sự tình cho nhà vua nghe, nhà vua tức giận xử tội mẹ con Cám, đuổi ra khỏi cung, vừa ra khỏi thành, mẹ con Cám bị sét đánh chết giữa đồng. Từ đó nhà Vua và Tấm sống hạnh phúc đến trọn đời.</p><p><strong>Giá trị nhân văn của truyện</strong>:</p><p>Sự tích Tấm Cám ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của con người: hiền lành, tốt bụng, chịu thương chịu khó và giàu lòng vị tha. Truyện còn thể hiện niềm tin mãnh liệt vào chiến thắng của cái thiện trước cái ác, minh chứng cho câu tục ngữ “Ở hiền gặp lành” của ông cha ta. Ngoài ra, tác phẩm còn có giá trị giáo dục sâu sắc, giúp con người rèn luyện phẩm chất đạo đức tốt đẹp và hướng đến một cuộc sống tốt đẹp hơn.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-17 11:14:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3331231301</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3331233508</link>
         <description><![CDATA[<p>Tôi vừa đọc câu chuyện Thạch Sanh-Lý Thông.Câu chuyện như sau:</p><p>Quận Cao Bình ngày trước có đôi vợ chồng nhà nọ, tuổi cũng đã già nhưng chưa có mụn con nào. Gia đình nhà này rất nghèo, thường phải leo lên rừng để mà chặt củi, rồi đem đi đổi lấy gạo để mà nuôi hai thân già. Vì thương&nbsp; đôi vợ chồng lương thiện nhưng mãi vẫn chưa có mụn con, Ngọc Hoàng đã sai Thái tử xuống đầu thai làm con của họ. Người mẹ mang thai suốt nhiều năm trời mới sinh được Thạch Sanh. Sau khi cha mẹ qua đời, chàng sống một mình dưới gốc đa bằng nghề đốn củi và tài sản duy nhất là chiếc rìu do cha để lại.&nbsp;</p><p>Một ngày nọ, có người làm hàng rượu là Lý Thông vô tình đi ngang qua và ngồi xuống nghỉ ngơi ở dưới gốc đa. Vừa lúc ấy, hắn trông thấy Thạch Sanh gánh củi từ trong rừng trở về. Lý Thông âm mưu lân la đến hỏi chuyện với Thạch Sanh. Vì hiền lành, cả tin nên Thạch Sanh đã bị Lý Thông gạt kết nghĩa anh em và bị hắn lợi dụng để kiếm tiền cho mẹ con mình.&nbsp;</p><p>Lúc bấy giờ ở vùng này có con chằn tinh vô cùng hung dữ, có nhiều phép biến hóa rất kỳ lạ, chuyên bắt người để ăn thịt. Đã không ít lần quan quân của triều đình tới tiêu diệt nhưng đều thất bại Sau cùng, không còn cách nào khác nên đành phải thương lượng, xây cho nó cái miếu thờ, hằng năm còn phải dâng cho nó một người, như vậy nó mới không đi phá phách khắp nơi.</p><p>Không may, năm ấy đến lượt của Lý Thông phải đi nộp mình cho chằn tinh. Hai mẹ con nhà hắn đã bày mưu lừa Thạch Sanh phải đi nộp mạng thay. Nhưng Thạch Sanh đã anh dũng chiến đấu và đem đầu của chằn tinh về nhà. Mẹ con Lý Thông lại tiếp tục lừa Thạch Sanh, nói dối với chàng con chằn tinh là thú nuôi của nhà vua, giết nó sẽ mang tội chết, nên hãy trốn vào rừng để tránh tội. Trong khi đó, Lý Thông mang đầu chằn tinh lên kinh gặp nhà vua để nhận thưởng.</p><p>Bấy giờ, công chúa đã đến tuổi cặp kê, nhà vua tổ chức hội lớn để cho tất cả những hoàng tử của các nước, cùng với tất cả thanh niên trai tráng trong thiên hạ về đây tụ hội để kén rể. Tuy nhiên, trong lúc lễ hội xảy ra, xuất hiện một con đại bàng sải cánh bay tới cắp công chúa đi. Khi ấy Thạch Sanh vô tình trông thấy con đại bàng kia bay ngang qua, dưới chân nó còn đương quắp người, tiện cung tên bên cạnh, chàng liền đưa lên bắn nó một phát. Thạch Sanh lần theo những vết máu của nó mà tìm đến được nơi trú ẩn của đại bàng.</p><p>Khi Thạch Sanh gặp lại Lý Thông thì đã kể hết sự tình cho hắn nghe. Lý Thông tiếp tục âm mưu nhờ Thạch Sanh cứu công chúa. Khi đưa được công chúa lên hang, Lý Thông sai người tới lấp kín cửa hang bằng một khối đá lớn, sau đó bỏ về. Công chúa ngày đó trở về cung thì hoá câm.</p><p>Trong hang động, Thạch Sanh giết chết đại bàng và cứu được con vua Thủy Tề, chàng được tặng một cây đàn và một niêu cơm. Bị hồn của chằn tinh và đại bàng vu oan trộm vàng, Thạch Sanh bị tống vào ngục.&nbsp;</p><p>Nhờ tiếng đàn của Thạch Sanh, công chúa đã chữa được bệnh câm, chàng được minh oan. Mẹ con Lý Thông thì bị trừng phạt, nhưng Thạch Sanh lại quá bao dung nên tha cho hai mẹ con hắn được trở lại quê nhà để làm ăn. Hai người vừa đi được nửa đường thì đã bị sét đánh chết tươi..&nbsp;</p><p>Về sau, khi đánh đuổi được quân chư hầu nhờ niêu cơm và tiếng đàn thần kỳ, Thạch Sanh đã được cưới công chúa và nối ngôi vua.</p><p><strong>Giá trị nhân văn của truyện</strong>:</p><p>Sự tích Thạch Sanh - Lý Thông thể hiện niềm tin vào một xã hội công bằng, tốt đẹp, nơi người tốt được đền đáp, kẻ ác bị trừng trị. Tác phẩm còn ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của người lao động: hiền lành, tốt bụng, chăm chỉ, luôn sẵn sàng giúp đỡ người khác. Truyện cũng đề cao sức mạnh của sự đoàn kết, tương thân tương ái, khẳng định vai trò quan trọng của người lao động trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Đồng thời, giáo dục con người về lòng nhân ái, sự trung thực, dũng cảm và tinh thần yêu nước.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-17 11:16:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3331233508</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3331268014</link>
         <description><![CDATA[<p>Tôi vừa đọc câu chuyện Cây tre trăm đốt.Câu chuyện như sau:</p><p>Ngày xưa có chàng trai tên Khoai hiền lành, chất phác làm thuê cho gia đình một phú ông. Vì tin vào lời hứa sẽ gả con gái nếu chăm chỉ, chàng đã ra sức làm việc không ngại khó khăn. Ba năm sau, thời hạn làm thuê của chàng đã hết. Phú ông không muốn gả con gái cho chàng Khoai, ông ta đã bày mưu để đánh lừa chàng. Phú ông yêu cầu chàng&nbsp; tìm bằng được cây tre trăm đốt để đem về làm đũa cho cả làng ăn cỗ cưới. Đợi Khoai đi khỏi làng, phú ông bèn gả con gái cho một tên nhà giàu khác ở trong làng.</p><p>Chàng Khoai đi vào rừng tìm mãi không thấy cây tre trăm đốt, chàng ôm mặt khóc thì Bụt hiện lên giúp đỡ. Bụt dạy chàng Khoai hai câu thần chú là “Khắc nhập, khắc nhập” để gắn một trăm đốt tre thành cây tre và “Khắc xuất, khắc xuất” để tách các đốt tre. Về tới nơi, thấy mọi người trong làng đang ăn cỗ cưới vui vẻ, chàng Khoai mới biết phú ông đã lừa mình.&nbsp;</p><p>Khi phú ông hỏi về cây tre trăm đốt thì chàng ẩm nhẩm đọc “Khắc nhập, khắc nhập” ba lần, tức thì các đốt tre dính liền lại thành cây tre. Phú ông nhìn thấy lạ quá, bèn chạy lại sờ tay vào cây tre. Chàng Khoai thấy vậy đọc luôn “Khắc nhập, khắc nhập”, phú ông và bọn nhà giàu bị dính ngay vào cây tre, không có cách nào gỡ ra được. Đến khi phú ông van xin và hứa gả con gái thì chàng đọc “Khắc xuất, khắc xuất” ba lần, tức thì cả bọn mới rời khỏi cây tre. Sau cùng, phú ông phải giữ lời hứa gả con gái cho chàng, hai vợ chồng sống bên nhau rất hạnh phúc. .</p><p><strong>Giá trị nhân văn của truyện</strong>:</p><p>Nội dung truyện là lời nhắc nhở về luật nhân quả: người hiền lành, chăm chỉ và tốt bụng sẽ luôn được đền đáp, còn kẻ ác sẽ phải chịu quả báo. Qua đó, tác phẩm cũng giúp trẻ em phân biệt được những điều đúng sai, biết đối xử công bằng với mọi người.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-17 11:48:20 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3331268014</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3334202439</link>
         <description><![CDATA[<p>Tôi vừa đọc câu chuyện Sự tích cây sú sữa.Câu chuyện như sau:</p><p>Xưa kia có một cậu bé được mẹ nuông chiều, vì vậy mà ham chơi, la cà khắp nơi. Một hôm, vì bị mẹ mắng, cậu bé giận dỗi bỏ nhà đi lang thang, không chịu về. Thương con, lo lắng cho con, người mẹ ngóng trông mãi mà không thấy con đâu, bà liền gục xuống bên đường và hóa thành một gốc cây to lớn.&nbsp;</p><p>Khi hoàng hôn buông xuống, cậu bé hối hận trở về nhà, nhưng không còn thấy mẹ đâu nữa. Nỗi buồn bao trùm lấy cậu, cậu bật khóc nức nở và ôm lấy gốc cây bên đường. Lạ thay, gốc cây rung rinh, từ các cành lá, những đài hoa bé tí trổ ra, nở trắng như mây. Hoa tàn, quả xuất hiện, lớn nhanh, da căng mịn, xanh óng ánh. Cây nghiêng cành, một quả to rơi vào tay cậu bé. Vì tò mò nên cậu bé đã nếm thử quả đó.&nbsp;</p><p>Thoạt đầu, cậu cảm nhận vị chát từ lớp vỏ bên ngoài, đến quả thứ hai rơi xuống cậu lột vỏ, cắn vào hạt quả thì cứng quá. Quả thứ ba rơi xuống, cậu khẽ bóp quanh quả, lớp vỏ mềm dần rồi khẽ nứt ra một kẽ nhỏ. Một dòng sữa trắng sóng sánh trào ra, ngọt thơm như sữa mẹ lan tỏa khắp khoang miệng. Từ đó, người dân trong vùng biết đến câu chuyện cảm động này và gọi loại cây ấy là "cây vú sữa".</p><p><strong>Giá trị nhân văn của truyện</strong>:</p><p>Sự tích thể hiện tình yêu thương vô bờ bến của mẹ dành cho con, luôn sẵn sàng hi sinh tất cả vì con, mang đến cho con những điều tốt đẹp nhất. Truyện còn nhắc nhở mỗi người về lòng hiếu thảo, yêu thương và kính trọng với cha mẹ.&nbsp;</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-19 11:34:29 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3334202439</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3334203772</link>
         <description><![CDATA[<p>Tôi vừa đọc câu chuyện Bó đũa.Câu chuyện như sau:</p><p>Ngày xửa ngày xưa, có một gia đình nọ gồm ông bố và ba người con. Nhìn thấy các con ít khi quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau, ông bố vô cùng buồn lòng. Mong muốn gắn kết tình cảm anh em, ông gọi các con lại, đặt trước mặt mỗi người một bó đũa và yêu cầu bẻ gãy nó.&nbsp;</p><p>Người con cả gắng hết sức nhưng không thể bẻ nổi bó đũa. Người con thứ cũng cố gắng bẻ, nhưng vô ích. Người con út lấy hết sức để bẻ, bó đũa vẫn không bị gãy một chiếc nào. Người cha thấy vậy cầm lấy bó đũa và tháo ra, rồi bẻ từng chiếc một, rồi từ tốn nói với các con: “Đó chính là sức mạnh của sự đoàn kết. Nếu các con biết đoàn kết với nhau thì không ai có thể đánh bại được các con. Hãy hứa với cha rằng, ba con sẽ chung sống hoà thuận và đoàn kết, thương yêu nhau sau khi cha nhắm mắt xuôi tay.”</p><p>Sau khi, người cha chết đã để lại cho các con của ông rất nhiều tài sản, nhưng lại không phân chia. Ba anh em đều muốn mình tranh lấy phần hơn, họ dứt khoát chia riêng rẽ mỗi người một gian nhà và không qua lại với nhau nữa.</p><p>Chẳng bao lâu sau, có một chủ nợ đến nhà, đòi món nợ mà cha họ đã vay trước đây. Ba anh em đùn đẩy nhau, không ai chịu trả nợ cho cha. Chủ nợ kiện ba người lên quan, bắt ba anh em phải bỏ ra một phần đủ để trả món nợ. Nhưng họ vẫn không chịu, quan liền tịch thu tài sản của họ. Đến lúc này, họ mới nhớ tới lời cha dặn thì tất cả đều đã muộn.</p><p><strong>Giá trị nhân văn của truyện</strong>:&nbsp;</p><p>Câu chuyện bó đũa là một bài học đạo đức sâu sắc về sức mạnh của sự đoàn kết. Khi chúng ta ở bên nhau, yêu thương, đùm bọc lẫn nhau thì sẽ tạo nên một sức mạnh to lớn, giúp vượt qua mọi khó khăn và thử thách trong cuộc sống. Câu chuyện cũng là lời nhắc nhở mỗi người về tầm quan trọng của tình cảm gia đình. Gia đình là nơi che chở, bảo vệ và là chỗ dựa tinh thần vững chắc giúp chúng ta vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-19 11:35:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3334203772</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3334378857</link>
         <description><![CDATA[<p>  Hôm nay tôi sẽ kể các ban nghe câu chuyện : CÓC KIỆN TRỜI </p><p><br/></p><p>    Một năm nọ, trời làm hạn hán rất lâu khiến cho ruộng đồng nứt nẻ, cây cối trụ trơ, còn muôn loài thì khát khô cả họng. Loài Ong như chúng tôi cũng không thể sống được. Nghe theo lời Cóc, tôi và Cua, Gấu, Cọp và Cáo lên thiên đình kiện trời.</p><p>Đến cửa Trời, chúng tôi thấy một cái trống rất to. Cóc liền bảo anh Cua:</p><p>Anh Cua bò vào chum nước này.</p><p>Rồi quay sang bảo với tôi:</p><p>Còn cô Ông hãy đợi sau cánh cửa.</p><p>Cóc lại bảo anh Gấu, Cọp và chị Cáo nấp ở hai bên. Dù không hiểu ý đồ của Cóc, nhưng vì tin tưởng nên chúng tôi vẫn làm theo. Tôi nấp sau cánh cửa nhưng vẫn lén nhìn xem Cóc đang làm gì.</p><p>Sắp đặt mọi thứ xong, Cóc liền một mình bước tới, lấy dùi đánh ba hồi trống. Sau đó, từ đâu có một chú Gà bay đến. Biết là do trời sai Gà đến trị tội, Cóc liền ra hiệu cho Cáo. Anh Cáo nhảy xổ tới cắn cổ Gà tha đi. Một lúc sau, Trời lại sai Chó ra bắt Cáo. Nhưng Chó vừa ra tới cửa thì đã bị Gấu quật chết.</p><p>Lúc này, Trời tức lắm, sai Thần Sét ra trị anh Gấu. Thần Sét cầm lưỡi tầm sét rất hùng hổ đi ra. Cóc liền ra hiệu cho tôi. Hiểu ý Cóc, tôi lao ra đốt Thần Sét túi bụi. Thần phải nhảy vào chum nước gần đóm thì lập tức bị anh Cua giơ càng ra kẹp làm thần đau điếng. Đến khi thần nhảy ra thì lại bị anh Cọp vồ lấy.</p><p>Cuối cùng, Trời túng thế đành phải mời chúng tôi vào. Cóc liền thưa với Trời:</p><p>Muôn tâu Thượng đế! Đã lâu rồi dưới trần gian không có lấy một giọt mưa. Kính xin Thượng đế hãy cho mưa cứu muôn loài.</p><p>Trời liền nói:</p><p>Cậu hãy về đi, ta sẽ cho mưa xuống. Lần sau, nếu muốn mưa chỉ cần cậu nghiến răng báo cho ta biết.</p><p>Chúng tôi ra về, trong lòng vui mừng khôn xiết. Đến khi về trần gian, nước đã ngập cả ruộng đồng. Từ đó, mỗi khi anh Cóc khiến răng là Trời đều sẽ đổ mưa.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3427546603/198d1a803451d8a969beb92431ff4984/3.png" />
         <pubDate>2025-02-19 14:10:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3334378857</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3334392467</link>
         <description><![CDATA[<p> </p><p>   Tôi vừa được đọc câu chuyện : CẬU BÉ THÔNG MINH .Tôi sẽ lại một cách chuyện gắn gọn cho các bạn nghe :</p><p>    Có ông vua nọ, vì muốn tìm người hiền tài nên đã cho một viên quan đi dò la khắp cả nước. Viên quan ấy đến đâu cũng ra những câu đố oái oăm, hóc búa để thử tài. Một hôm, viên quan thấy hai cha con đang làm ruộng bèn hỏi một câu rất khó về số đường cày con trâu cày được trong một ngày. Ông bố không trả lời được, cậu con trai nhanh trí hỏi vặn lại khiến viên quan thua cuộc. Biết đã gặp được người tài, viên quan nọ về bẩm báo với vua. Vua tiếp tục thử tài, bắt dân làng đó phải làm sao cho trâu đực đẻ ra trâu con. Bằng cách để cho nhà vua tự nói ra sự vô lí trong yêu cầu của mình, cậu bé đã cứu dân làng thoát tội. Cậu tiếp tục chứng tỏ tài năng bằng cách giải các câu đố tiếp theo và được nhà vua ban thưởng rất hậu. Vua nước láng giềng muốn kéo quân sang xâm lược nhưng trước hết muốn thử xem nước ta có người tài hay không bèn cho sứ giả mang sang một chiếc vỏ ốc vặn thật dài và đố xâu sợi chỉ qua. Tất cả triều đình không ai giải được lại tìm đến cậu bé. Với trí thông minh khác người, lại sống gần gũi với thực tế, cậu bé vừa chơi vừa giải đố, kết quả là tránh được cho đất nước một cuộc chiến tranh. Nhà vua thấy thế bèn xây dinh thự ngay cạnh hoàng cung để cậu ở cho tiện việc hỏi han đồng thời phong cho cậu làm Trạng nguyên.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3427546603/d96b90aa542b322f9b4cc265954d8fd9/4.png" />
         <pubDate>2025-02-19 14:19:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3334392467</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3334407092</link>
         <description><![CDATA[<p> </p><p>  Sau đây  mình  kể lại câu chuyện : THÁNH GIÓNG</p><p>   Dưới thời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông lão hiền lành mà chưa có con. Một hôm, bà lão ra đồng ướm thử bàn chân mình lên những vết chân lạ, về nhà mang thai đến mười hai tháng mới sinh hạ một đứa con trai khôi ngô. Nuôi đến ba tuổi, đứa bé vẫn nằm một chỗ, chưa biết đi đứng, cười nói.</p><p>Gặp lúc giặc Ân quấy nhiễu, vua sai sứ giả đi rao khắp nơi tìm bậc hiền tài ra đánh giặc cứu dân. Nghe tin, cậu bé làng Gióng bỗng bật lên tiếng nói nhờ mẹ mời sứ giả vào. Cậu yêu cầu sứ giả xin vua đúc cho ngựa sắt, roi sắt áo giáp sắt để mình dẹp tan giặc dữ. Từ đó, cậu lớn nhanh, ăn mạnh đến nỗi dân làng phải rủ nhau góp cơm gạo đến giúp.</p><p>Nhận được đủ lễ vua ban, cậu bé vươn vai trở thành một tráng sĩ oai nghi lẫm liệt. Nai nịt xong, chàng lên ngựa, vung roi vun vút. Ngựa phun lửa xông thẳng vào đội hình giặc khiến chúng ngã chết như rạ.</p><p>Roi gãy, tráng sĩ nhổ những bụi tre bên đường. Quân giặc thua to, tan vỡ cả, đám sống sót tìm đường lẩn trốn. Tráng sĩ đuổi theo đến chân núi Sóc, cởi áo giáp bỏ lại, cả người lẫn ngựa bay vút lên trời.</p><p>Vua Hùng nhớ ơn phong làm Phù Đổng Thiên Vương và cho lập đền thờ tại quê nhà. Từ đó hàng năm vào tháng tư, ở đây hội Gióng được mở ra tưng bừng, nô nức, thu hút người khắp nơi về tham dự.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3427546603/b310bd9d65028b6bf690beb5b9a4c40d/th_nh_gi_ng.png" />
         <pubDate>2025-02-19 14:30:28 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3334407092</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3334414979</link>
         <description><![CDATA[<p> </p><p> Sau đây mình vừa đọc câu chuyện : CÂY KHẾ .</p><p>  Ngày xửa ngày xưa nhà nọ có hai anh em, người anh thì vô cùng tham lam, người em thì hiền lành chịu khó. Sau khi cha mẹ qua đời người anh lấy vợ ra ở riêng đã vơ vét hết tài sản và chỉ để lại cho người em một cây khế ở góc vườn.<br><br>Người em được chia tài sản đã không một lời phàn nàn, dựng túp lều gần cây khế. Hàng ngày, người em chăm bón cây khế và làm thuê kiếm tiền nuôi thân.<br><br>Cây khế cứ lớn dần, năm ấy bỗng sai trĩu quả. Vì vậy người em mừng lắm. Một hôm, bỗng dưng có con chim lạ từ đâu bay tới cây khế và ăn khế của người em. Thấy vậy người em buồn lòng than thở với chim. Chim lạ đáp lại “Ăn một quả trả cục vàng may túi ba gang mang đi mà đựng”.<br><br>Mấy hôm sau như lời hứa chim đến đón người em tới một hòn đảo rất nhiều vàng bạc, châu báu. Người em từ trên cao ngắm nhìn hòn đảo và lấy vàng chỉ đầy túi ba gang rồi cưỡi lên lưng chim trở về. Người em về nhà dùng số vàng bạc lấy được đổi lấy thóc lúa để giúp đỡ những người khó khăn trong làng.<br><br>Thấy vậy, người anh sang chơi và đòi đổi nhà, ruộng vườn của mình để lấy cây khế của người em. Người em một lần nữa không phàn nàn và đồng ý đổi cho anh.<br><br>Năm ấy cây khế cũng sai trĩu quả chim lạ cũng đến ăn. Người anh cũng than thở khóc lóc. Chim đáp lại và hứa mang đi lấy vàng. Bản chất tham lam, người anh liên bảo vợ may túi sáu gang để đựng được thật nhiều vàng.<br><br>Mấy hôm sau chim lạ đến đón người anh và đưa người anh đến hòn đảo đầy vàng bạc, châu báu. Người anh đã lấy đầy chặt vàng bạc trên đảo vào chiếc túi sáu gang mình mang đi. Trên đường trở về, vì phải chở nhiều vàng bạc lại bay ngược gió, chim lạ mỏi cánh. Chim giục người anh vứt bớt vàng đi nhưng người anh nhất quyết không nghe.<br><br>Chim phượng hoàng bực tức, không chịu nổi sức nặng nó nghiêng cánh hất người anh tham lam cùng vàng bạc xuống biển. Thế là hết đời kẻ tham lam.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3427546603/321b466ece04d09bd72723ee99fdd946/5.png" />
         <pubDate>2025-02-19 14:36:31 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3334414979</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3334440807</link>
         <description><![CDATA[<p>   </p><p>  Mình sẽ kể mội câu chuyện : KHỈ BIẾT VÂNG LỜI</p><p>   Một buổi sáng, Khỉ mẹ dặn Khỉ con xuống núi đi hái trái cây. Khỉ con mang giỏ trên lưng, rong chơi trên đường đi và quên mất lời mẹ dặn. Khỉ con thấy chó Thỏ đang đuổi bắt Chuồn Chuồn. Khỉ con cũng muốn rong chơi nên cùng Thỏ chạy đuổi theo Chuồn Chuồn.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Đến chiều về tới nhà, Khỉ con không mang được trái cây nào về nhà cho mẹ cả. Mẹ buồn lắm, mẹ nói với Khỉ con:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;– Mẹ thấy buồn khi con không nghe lời mẹ dặn. Bây giờ trong nhà không có cái gì ăn cả là tại vì con mải chơi, không đi tìm trái cây.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Khỉ con biết lỗi, cúi đầu xin lỗi me. Mẹ cõng Khỉ con trên lưng đi tìm trái cây ăn cho bữa tối.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Một hôm, mẹ bị trượt chân ngã, đau quá không đi kiếm ăn được. Mẹ nói với Khỉ con:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;– Mẹ bị đau chân,đi không được. Con tự mình đi kiếm trái cây để ăn nhé!<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Khỉ con nghe lời mẹ dặn, mang giỏ trên lưng và chạy xuống núi đi tìm trái cây. Trên đường đi, Khỉ con thấy bắp bèn bẻ bắp, thấy chuối bèn bẻ chuối và khi thấy Thỏ con đang đuổi bắt Chuồn Chuồn, Khỉ bèn tự nhủ: “Mình không nên ham chơi, về nhà kẻo mẹ mong”.<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Và thế là Khỉ con đi về nhà.Mẹ thấy Khỉ con về với thật nhiều trái cây thì mừng lắm. Mẹ khen:<br>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;– Khỉ con biết nghe lời mẹ, thật là đáng yêu!</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3427546603/9fe40327b19189cb8912d1919c2fa1bb/6.png" />
         <pubDate>2025-02-19 14:53:32 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3334440807</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3334450572</link>
         <description><![CDATA[<p>   </p><p>   Mình vừa đọc câu chuyện : RÙA VÀ THỎ , và mình sẽ kể cho các bạn bài này</p><p><strong>   Ngày xửa ngày xưa, trong khu rừng nọ có thỏ và rùa là đôi bạn rất thân thiết với nhau. Thế nhưng, vào một ngày kia, cả hai lại xảy ra trận cãi vã chỉ vì muốn biết ai là người chạy nhanh nhất. Vậy là thỏ và rùa liền tổ chức một cuộc thi chạy để quyết định ra ai là người chạy nhanh hơn.</strong></p><p>Lúc bắt đầu cuộc đua, chú thỏ chạy rất nhanh, vượt xa chú rùa cả một đoạn đường rất dài. Thỏ ta thấy vậy liền nghĩ bụng rằng rùa còn lâu mới đuổi kịp với mình nên chú thỏ cứ vui vẻ chậm rãi đi bộ, bắt bướm, đùa vui hái hoa, từ chỗ này đến chỗ khác cho đến khi thỏ mệt quá liền tìm gốc cây lớn để ngồi nghỉ và ngủ quên lúc nào không hay.&nbsp;</p><p>Trong lúc đó, chú rùa vẫn chậm rãi kiên trì vượt mọi vất vả khó nhọc, để đi từng bước trên đường đua.</p><p>Sau một khoảng thời gian rất lâu, Thỏ mới chợt tỉnh dậy, nhận ra Rùa đã đi rất xa và gần tới vạch đích. Thỏ thấy vậy liền ba chân bốn cẳng chạy đuổi theo nhưng đã muộn, chú rùa đã tới vạch đích đầu tiên. Và thế là chú thỏ đành phải chịu thua trước chú rùa.</p><p>Qua câu chuyện cổ tích loài vật này, lời khuyên cho các bé là không nên coi thường người khác, không nên tự cao tự đại trong mọi công việc nhé.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3427546603/d1ae442e5cfad64ab395417a24abd3b0/7.png" />
         <pubDate>2025-02-19 15:00:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3334450572</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3337741141</link>
         <description><![CDATA[<p>Câu chuện Lý Chiêu Hoàng <strong>Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, Lý Chiêu Hoàng lên ngôi và trị vì đất nước được đúng một năm. Bà là vị vua thứ 9 và cũng là cuối cùng của nhà Lý. Bà là con thứ của vua Lý Huệ Tông, sinh tháng 9 năm Mậu Dần (1218), tên húy là Phật Kim, sau đổi là Thiên Hinh, tước hiệu là Chiêu Thánh công chúa. Mẹ bà là Trần Thị Dung. Chị gái là công chúa Thuận Thiên, cả hai chị em bà sau này đều có thời là hoàng hậu của vua Trần Thái Tông.</strong></p><p><strong>Năm 1224, Trần Thủ Độ chuyên quyền, ép vua Lý Huệ Tông đi tu. Lý Huệ Tông không có con trai, ông phải lập công chúa Chiêu Thánh làm Thái tử, rồi truyền ngôi, đổi niên hiệu là Thiên Chương Hữu Đạo và gọi là Lý Chiêu Hoàng.</strong></p><p><strong>Năm 1225, họ Trần nắm giữ binh quyền và các chức vụ quan trọng trong triều đình nhà Lý lúc bấy giờ. Dưới sự đạo diễn của Trần Thủ Độ, Trần Cảnh là cháu họ và là con của Trần Thừa, khi đó mới 8 tuổi được đưa vào cung làm Chánh thủ hầu hạ Lý Chiêu Hoàng. Trần Cảnh được Chiêu Hoàng gần gũi, yêu mến, hay trêu đùa. Trần Thủ Độ lấy dịp đó dựng nên cuộc hôn nhân giữa Lý Chiêu Hoàng và Trần Cảnh rồi chuyển giao triều chính bằng cách để Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng.</strong></p><p><strong>Đại Việt sử ký toàn thư đã chép lại sự việc này như sau: Một hôm, Cảnh lúc ấy mới lên 8 tuổi, phải giữ việc bưng nước rửa, nhân thế vào hầu bên trong. Chiêu Hoàng trông thấy làm ưa, mỗi khi chơi đêm cho gọi Cảnh đến cùng chơi, thấy Cảnh ở chỗ tối thì thân đến trêu chọc, hoặc nắm lấy tóc, hoặc đứng lên bóng. Có một hôm, Cảnh bưng chậu nước hầu, Chiêu Hoàng rửa mặt lấy tay vốc nước té ướt cả mặt Cảnh rồi cười trêu, đến khi Cảnh bưng khăn trầu thì lấy khăn ném cho Cảnh. Cảnh không dám nói gì, về nói ngầm với Thủ Độ và Trần Thủ Độ đã nói rằng:</strong></p><p><strong>- Nếu thực như thế thì họ ta thành hoàng tộc hay bị diệt tộc đây?</strong></p><p><strong>Lại một hôm, Chiêu Hoàng lấy khăn trầu ném cho Cảnh, Cảnh lạy rồi nói:</strong></p><p><strong>- Bệ hạ có tha tội cho thần không? Thần xin vâng mệnh.</strong></p><p><strong>Chiêu Hoàng cười và nói: Ta tha tội cho ngươi. Nay ngươi đã biết nói khôn đó.</strong></p><p><strong>Trần Cảnh lại về nói với Thủ Độ và Thủ Độ sợ việc tiết lộ thì bị giết cả, bấy giờ mới tự đem gia thuộc thân thích vào trong cung cấm. Thủ Độ đóng cửa thành và các cửa cung, sai người coi giữ, các quan vào chầu không được vào. Rồi sau đó Thủ Độ loan báo rằng: Bệ hạ đã có chồng rồi.</strong></p><p><strong>Các quan đều vâng lời, xin chọn ngày vào chầu. Tháng ấy, ngày 21, các quan vào chầu lạy mừng và nhà vua đã xuống chiếu rằng:</strong></p><p><strong>- Từ xưa nước Nam Việt ta đã có đế vương trị thiên hạ. Duy triều Lý ta vâng chịu mệnh trời, có cả bốn biển, các tiên thánh truyền nối hơn hai trăm năm, chỉ vì thượng hoàng có bệnh, không người nối dõi, thế nước nghiêng nguy, sai trẫm nhận minh chiếu, cố gượng lên ngôi, từ xưa đến giờ chưa từng có việc ấy. Khốn nỗi trẫm là nữ chúa, tài đức đều thiếu, không người giúp đỡ, giặc cướp nổi lên như ong, làm sao mà giữ nổi ngôi báu nặng nề? Trẫm dậy sớm, thức khuya, chỉ sợ không cáng đáng nổi, vẫn nghĩ tìm người hiền lương quân tử để cùng giúp chính trị, đêm ngày khẩn khoản đến thế là cùng cực rồi. Kinh thi có nói “Quân tử tìm bạn, tìm mãi không được, thức ngủ không nguôi, lâu thay lâu thay”.</strong></p><p><strong>Nay trẫm suy đi tính lại một mình, duy có Trần Cảnh là người văn chất đủ vẻ, thực thể cách quân tử hiền nhân, uy nghi đường hoàng, có tư chất thánh thần văn võ, dù đến Hán Cao Tổ, Đường Thái Tông cũng không hơn được. Sớm hôm nghĩ chín từ lâu nghiệm xem nên nhường ngôi báu, để thỏa lòng trời, cho xứng lòng trẫm, mong đồng lòng hết sức, cùng giúp vận nước, hưởng phúc thái bình. Vậy bố cáo thiên hạ để mọi người đều biết.</strong></p><p><strong>Lời bàn:</strong></p><p><strong>Theo sử cũ thì Trần Thủ Độ đã chuẩn bị sẵn kịch bản cho việc trị vì đất nước về sau của họ Trần bằng cách đưa Trần Cảnh, cháu họ của mình vào cung giữ chức chánh thủ, chuyên lo công việc hầu hạ Lý Chiêu Hoàng. Và Lý Chiêu Hoàng đã có cảm tình với Trần Cảnh từ khi đó. Thấy thời cơ đã đến, Trần Thủ Độ lập tức tiến tới một bước ngoặt quyết định: Thuyết phục (thực chất là ép) Lý Chiêu Hoàng lấy Trần Cảnh và lập tức nhường ngôi cho chồng.</strong></p><p><strong>Đã không ít sử gia cho rằng đây là nguyên nhân chính dẫn đến việc Lý Chiêu Hoàng tuy cũng là vua nhưng không được thờ cùng tám vị tiền triều của nhà Lý tại Đền Đô ở làng Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh. Quan điểm trên hoàn toàn không đúng, mà nguyên nhân là do triều đình nhà Lý bắt đầu suy vong từ đời vua Lý Cao Tông và nhà Lý sụp đổ là tất yếu khách quan. Nếu họ Trần không thay thế thì cũng sẽ có một lực lượng khác lên thay. Vả lại, nếu Lý Chiêu Hoàng không chịu lấy Trần Cảnh và nhường ngôi cho chồng thì tất yếu sẽ xảy ra một cuộc đảo chính đẫm máu. Vậy nên không thể đổ lỗi cho Lý Chiêu Hoàng là người đã làm mất ngôi nhà Lý. Và theo suy nghĩ của người viết lời bàn này, nguyên nhân là do tư tưởng trọng nam khinh nữ của các chế độ phong kiến ngày xưa, nên Lý Chiêu Hoàng không được thờ ở Đền Đô.</strong></p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-21 14:10:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3337741141</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3337745479</link>
         <description><![CDATA[<p>Lý Bí và nhà nước Vạn Xuân Lý Bí xuất thân từ một hào trưởng địa phương. Theo sử cũ, quê ông ở huyện Thái Bình (có lẽ ở phía trên thị xã Sơn Tây, <em>trên hai bờ sông Hồng)</em>. Một thời, ông có ra làm việc với chính quyền đô hộ, nhận một chức quan nhỏ: giám quận (kiểm soát quân sự) ở Cửu Đức, Đức Châu (Đức Thọ, Hà Tĩnh). Yêu nước, thương dân, bất bình với bè lũ đô hộ, ông sớm bỏ quan, về quê ở Thái Bình. Vùng quê ông có <em>Tinh Thiều, </em>giỏi văn chương, lặn lội sang kinh đô nhà Lương (Nam Kinh) xin bổ một chức quan (trước năm 521). Nam triều Trung Quốc cho đến thời Lương, phân biệt tôn ti chặt chẽ giữa quý tộc và bình dân. Lại bộ thượng thư nhà Lương là Sái Tôn bảo họ Tinh là hàn môn, không có tiên hiền, chỉ cho Thiều làm Quảng Dương môn lang tức là chân canh cổng thành phía tây kinh đô Kiến Khang. Tinh Thiều lấy thế làm xấu hổ, không nhận chức về quê, cùng Lý Bí mưu tính việc khởi nghĩa, chiêu tập hiền tài.</p><p>Lý Bí, nhân lòng oán hận của dân, đã liên kết với hào kiệt các châu thuộc miền đất&nbsp; Giao Châu nước ta (Việt Nam xưa), đồng thời nổi dậy chống Lương. Theo sử cũ Việt Nam, thủ lĩnh Chu Diên (vùng Đan Hoài, nay thuộc ngoại thành Hà Nội) là <em>Triệu Túc </em>và con là <em>Triệu Quang Phục, </em>phục tài đức Lý Bí đã đem quân theo trước tiên, <em>Phạm Tu </em>cũng là một tướng tài của Lý Bí từ buổi đầu khởi nghĩa.</p><p>Cuộc khởi nghĩa thành công nhanh. Đứng trước cuộc khởi nghĩa lớn, có sự liên kết giữa các địa phương Tiêu Tư thứ sử Giao Châu khiếp hãi, không dám chống cự chạy trốn về Việt Châu (bắc Hợp Phố) và Quảng Châu.</p><p>Nổi dậy từ tháng 1 năm 542, không quá 3 tháng nghĩa quân đã chiếm được châu thành Long Biên (Bắc Ninh).</p><p>Sau những giờ phút kinh hoàng buổi đầu, chính quyền nhà Lương lập tức có phản ứng đối phó. Tháng 4 năm 542 vua Lương sai thứ sử Việt Châu là Trần Hầu, thứ sử La Châu là Nịnh Cư, thứ sử An Châu là Lý Trí, thứ sử ái Châu là Nguyễn Hán, từ 2 phía bắc nam Giao Châu cùng tiến đánh nghĩa quân Lý Bí. Cuộc phản kích này của giặc Lương đã hoàn toàn thất bại. Nghĩa quân thắng lớn và nắm quyền làm chủ đất nước. Từ đồng bằng Bắc Bộ, Lý Bí đã kiểm soát được tới vùng Đức Châu (Hà Tĩnh) ở phía nam và vùng bán đảo Hợp Phố ở phía bắc.</p><p>Thua đau, vua Lương lại sai thứ sử Cao Châu là Tôn Quýnh, thứ sử Tân Châu là Lư Tử Hùng điều khiển binh mã đi đánh Lý Bí vào mùa đông năm ấy. Bọn này dùng dằng không chịu tiến quân, lấy cớ mùa xuân lam chướng, xin đợi mùa thu hẵng khởi binh song vẫn bất đắc dĩ phải động binh (tháng 1 năm 543).</p><p>Chủ động đánh giặc, nghĩa quân Lý Bí tổ chức một trận tiêu diệt lớn ngay trên miền cực bắc Châu Giao. Cuộc chiến diễn ra ở <em>Hợp Phố. </em>Quân giặc, 10 phần chết tới 7,8 phần, bọn sống sót đều tan vỡ cả, tướng sĩ ngăn cấm cũng không được. Bọn Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng phải dẫn tàn binh quay về Quảng Châu. Tiêu Tư dâng tờ khải về triều, vu cho Tôn Quýnh, Tử Hùng "giao thông với giặc, dùng dằng không tiến quân". Thấy quân lính bị thiệt hại quá nặng, Lương Vũ Đế xuống chiếu bắt cả 2 tên tướng cầm đầu bị tội chết ở Quảng Châu.</p><p>Sau những&nbsp; thắng lợi cả hai chiến trường biên giới Bắc, Nam. Mùa Xuân, tháng Giêng theo lịch Trăng (2-544), Lý Bí dựng lên một nước mới, với quốc hiệu <em>Vạn Xuân, </em>đóng đô ở miền cửa sông Tô Lịch (Hà Nội). Sử cũ (<em>Đại Việt sử ký) </em>đã bình luận rằng, với quốc hiệu mới, người đứng đầu nhà nước Vạn Xuân có "ý mong xã tắc được bền vững muôn đời"</p><p>Lý Bí là người Việt Nam đầu tiên tự xưng <em>hoàng đế,&nbsp; Việt đế </em>theo sử Bắc (<em>Tự trị thông giám) </em>hay <em>Nam đế </em>theo sử Nam. Và bãi bỏ chính sóc (lịch) của Trung Quốc, ông cũng đặt cho Vạn Xuân và triều đại mới một niên hiệu riêng, <em>Đại Đức </em>theo sử Bắc hay <em>Thiên Đức </em>theo sử Nam (Thiên Đức phải hơn, vì khảo cổ học đã tìm thấy những đồng tiền Thiên Đức đúc thời Lý Nam Đế).</p><p>Xưng đế, định niên hiệu riêng, đúc tiền riêng, lấy Nam đối chọi với Bắc, lấy Việt đối sánh với Hoa, những điều đó nói lên sự trưởng thành của ý thức dân tộc, lòng tự tin vững chắc ở khả năng tự mình vươn lên, phát triển một cách độc lập. Đó là sự ngang nhiên phủ định quyền làm "bá chủ toàn thiên hạ" của hoàng đế phương bắc, vạch rõ sơn hà, cương vực, và là sự khẳng định dứt khoát rằng nòi giống Việt phương Nam là một thực thể độc lập, là chủ nhân của đất nước và nhất quyết giành quyền làm chủ vận mệnh của mình.</p><p>Lý Nam Đế cũng là người đầu tiên nhận ra vị trí địa lý trung tâm đất nước của miền sông nước Tô Lịch. Hà Nội cổ, từ giữa thế kỷ 6, bước lên hàng đầu của lịch sử đất nước.</p><p>Cơ cấu triều đình mới, hẳn còn sơ sài, nhưng ngoài hoàng đế đứng đầu, bên dưới đã có hai ban văn võ. Tinh Thiều làm tướng văn, Phạm Tu làm tướng võ, Triệu Túc làm thái phó, Lý Phục Man được cử làm tướng quân coi giữ một miền biên cảnh, từ Đỗ Động (Thanh Oai, Hà Sơn Bình) đến Đường Lâm (Ba Vì) "để phòng ngừa Di Lão" &nbsp; Triều đình Vạn Xuân là mô hình, lần đầu tiên, được Việt Nam thâu hóa và áp dụng của một cơ cấu nhà nước mới, theo chế độ&nbsp; tập quyền trung&nbsp; ương. Lý Nam Đế cho xây một <em>đài Vạn Xuân </em>để làm nơi văn võ bá quan triều hội.</p><p>&nbsp;&nbsp;Nhà nước Vạn Xuân, dù mới dựng, cũng bỏ tiền xây một ngôi chùa lớn, sau trở thành một trung tâm Phật giáo và Phật học lớn của Việt Nam. Đó là chùa <em>Khai Quốc, </em>tiền thân của chùa Trấn Quốc ở Hà Nội ngày nay. Ngay cái tên, <em>"chùa Mở Nước"</em>cũng đã hàm chứa nhiều ý nghĩa!</p><p>Đầu năm 545, nhà Lương bắt đầu tổ chức cuộc xâm lược Vạn Xuân nhằm chinh phục lại châu Giao, "thuộc quốc" cũ. Dương Phiêu được cử làm thứ sử châu Giao. Trần Bá Tiên, viên tướng vũ dũng xuất thân "hàn môn" nhưng có công đánh dẹp châu Quảng, được cử làm tư mã Giao Châu, lĩnh thái thú Vũ Bình, cùng Dương Phiêu tổ chức cuộc chinh phục Vạn Xuân.</p><p>Quân Vạn Xuân có khoảng vài vạn người giữ <em>thành ở cửa sông Tô Lịch, </em>chiến đấu chống giặc.</p><p>Thành đất, lũy tre gỗ, không mấy kiên cố, bị Trần Bá Tiên thúc giục quân vũ dũng công thành ráo riết. Lý Nam Đế buộc phải lui binh ngược sông Hồng, về giữ <em>thành Gia Ninh </em>trên miền đồi núi trung du vùng ngã ba sông Trung Hà - Việt Trì.</p><p>Cục diện cố thủ của Lý Nam Đế ở thành Gia Ninh kéo dài suốt mùa khô năm 545. Sang tháng 2 năm 546, quân vũ dũng của Bá Tiên, có hậu quân Dương&nbsp; Phiêu tới phối hợp, bao vây và công phá, cuối cùng đã hạ được thành Gia Ninh vào ngày 25. Nhưng Lý Nam Đế cùng một số binh tướng đã thoát chạy được vào miền động Lão ở Tân Xương (miền đồi núi Vĩnh Phú trên lưu vực sông Lô). Chiến tranh giữ nước chuyển sang một hình thái khác. Lý Nam Đế vào vùng núi rừng Việt Bắc, ngoài số binh tướng còn lại sau trận&nbsp; thất thủ Gia Ninh, đã mộ thêm được nhiều nghĩa quân. Nghĩa quân dựng lán trại&nbsp; trong&nbsp; rừng, hạ nhiều cây rừng, xẻ ván đóng thuyền bè.</p><p>Sau một thời gian chỉnh đốn lại lực lượng, tháng 10 năm 546, Lý Nam Đế lại kéo quân từ trong núi rừng "Di Lão" ra hạ thủy trại ở vùng <em>hồ Điển Triệt </em>(tên nôm là Đầm Miêng) thuộc xã Tứ Yên huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phú, nằm bên bờ sông Lô, cách Bạch Hạc khoảng 15 km về phía bắc. Tuy nhiên, những trận mưa lũ cuối mùa đã khiến cho nước sông Lô đột nhiên lên to, tràn vào vùng chằm ao&nbsp; và ruộng trũng, nước ngập tràn, chảy như rót vào hồ, thuyền lớn có thể đi lại tha hồ mà khu căn cứ nghĩa quân trở thành một vùng&nbsp; cô đảo giữa biển nước mênh mông... Lợi dụng nước lớn, Trần Bá Tiên xua chiến thuyền xông trận, đánh trống reo hò mà tiến vào Điển Triệt. Lý Nam Đế và nghĩa quân bị địch tập kết bất ngờ, không kịp phòng bị, không sao chống đỡ nổi.</p><p>Đây là trận đánh lớn cuối cùng của Lý Nam Đế. Sau lần thất bại lớn thứ ba này, ông phải vào nương náu&nbsp; trong <em>động Khuất Lão </em>(Tam Nông, Vĩnh Phú).</p><p>Tương truyền, về cuối đời, Lý Nam Đế bị mù. Thần thành hoàng Danh Hựu vẫn được các làng chung quan gọi là "Vua mù" và khi tế lễ, phải xướng tên các vật phẩm để thần biết.</p><p>Theo sử cũ của Việt Nam, từ sau khi rút về động Khuất Lão, Lý Nam Đế bị đau yếu luôn. Hai năm sau ông mất (548).</p><p>Cuộc kháng chiến chống ách Bắc thuộc của người Việt sau đó được tiếp tục dưới sự lãnh đạo của Triệu Quang Phục, một tướng cũ của Lý Bí với căn cứ khởi nghĩa tại đầm Dạ Trạch.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-21 14:14:15 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3337745479</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3337749727</link>
         <description><![CDATA[<p>Câu chuyện Triệu Quang Phục <strong>Triệu Việt Vương</strong>&nbsp;(?-571), tên thật là&nbsp;<strong>Triệu Quang Phục</strong>, là&nbsp;vua Việt Nam&nbsp;cai trị từ năm&nbsp;548&nbsp;đến năm&nbsp;571. Ông có công kế tục&nbsp;Lý Nam Đế&nbsp;đánh đuổi quân xâm lược nhà Lương, giữ nền độc lập cho nước&nbsp;Vạn Xuân. Năm&nbsp;571, ông bịLý Phật Tử&nbsp;đánh úp và thua trận. Ông tự tử ở cửa&nbsp;sông Đáy, kết thúc triều đại Triệu Việt Vương.</p><p><strong>Sự nghiệp</strong></p><p>Triệu Quang Phục là con&nbsp;Triệu Túc, người huyện Chu Diên. Ông cùng cha theo&nbsp;Lý Nam Đế&nbsp;khởi nghĩa từ ngày đầu (541), có công lao đánh đuổi quân Lương về nước, được trao chức tả tướng quân nước Vạn Xuân.</p><p>Tháng 5 năm&nbsp;545, quân Lương do Dương Phiêu và&nbsp;Trần Bá Tiên&nbsp;chỉ huy lại sang đánh Vạn Xuân. Lý Nam Đế giao chiến bất lợi. Năm&nbsp;546, sau khi&nbsp;Lý Nam Đế&nbsp;thua trận phải lui về động Khuất Lạo, đã ủy thác cho ông giữ việc nước, điều quân đi đánh&nbsp;Trần Bá Tiên&nbsp;của&nbsp;nhà Lương.</p><p>Năm&nbsp;547, tháng giêng, ông lui về giữ&nbsp;đầm Dạ Trạch&nbsp;(bãi Màn Trò, huyện Khoái Châu, tỉnh&nbsp;Hưng Yên). Đầm này rộng, cỏ cây um tùm, bụi rậm che kín, ở giữa có nền đất cao có thể ở được, bốn mặt bùn lầy, người ngựa khó đi, chỉ có thể dùng thuyền độc mộc nhỏ chống sào đi lướt trên cỏ nước mới có thể vào được. Nếu không quen biết đường đi thì lạc không biết là đâu, lỡ rơi xuống nước liền bị rắn độc cắn chết. Quang Phục thuộc rõ đường đi lối lại, đem hơn 2 vạn người vào đóng ở nền đất trong đầm,Ông dùng chiến thuật du kích, ban ngày tuyệt không để khói lửa và dấu người, ban đêm dùng thuyền độc mộc đem quân ra đánh doanh trại của quân Bá Tiên cướp hết lương thực vũ khí, giết và bắt sống rất nhiều, lấy được lương thực để làm kế cầm cự lâu dài. Bá Tiên không đánh được. Người trong nước gọi ông là&nbsp;<strong>Dạ Trạch Vương</strong>&nbsp;(夜澤王). Bãi ấy gọi là “bãi Tự Nhiên”, đầm ấy là “đầm Nhất Dạ”, ngày nay vẫn còn tên gọi cũ.</p><p>Năm&nbsp;550, Trần Bá Tiên mưu tính cầm cự lâu ngày để làm cho quân của ông lương hết, quân mệt mỏi thì có thể phá được. Gặp lúc nhà Lương có loạn Hầu Cảnh, gọi Trần Bá Tiên về (sau này Trần Bá Tiên cướp ngôi vua của nhà Lương năm 557.), ủy cho tì tướng là Dương Sàn ở lại. Ông tung quân ra đánh. Sàn chống cự, thua chết. Quân Lương tan vỡ chạy về Bắc. Ông vào thành Long Biên ở.</p><p>Anh của Lý Nam Đế là&nbsp;Lý Thiên Bảo, ở đất của người Di Lạo, xưng là&nbsp;Đào Lang Vương, lập nước gọi là nước Dã Năng. Trước đó, khi Lý Nam Đế tránh ở động Khuất Lạo, Thiên Bảo cùng với tướng người trong họ là Lý Phật Tử đem 3 vạn người vào Cửu Chân. Trần Bá Tiên đuổi theo đánh, Lý Thiên Bảo thua, thu nhặt quân còn sót được vạn người chạy sang đất người Di Lạo ở&nbsp;Ai Lao, thấy động Dã Năng ở đầu nguôn Đào Giang, đất phẳng rộng màu mỡ có thể ở được, mới đắp thành để ở, nhân tên đất ấy mà đặt quốc hiệu. Đến bây giờ quân chúng tôn làm chúa, xưng là Đào Lang Vương.</p><p>Năm&nbsp;555, Đào Lang Vương mất ở nước Dã Năng, không có con nối, quân chúng suy tôn Lý Phật Tử lên nối ngôi, thống lĩnh quân chúng.</p><p>Năm&nbsp;557, Lý Phật Tử đem quân xuống miền Đông đánh nhau với quân của Triệu Việt Vương ở huyện Thái Bình, năm lần giáp trận, chưa phân thắng bại, mà quân của Lý Phật Tử luôn thua, ngờ là ông có thuật lạ, bèn xin giảng hòa. Ông nghĩ rằng Lý Phật Tử là người trong họ của Lý Nam Đế, không nỡ cự tuyệt, bèn chia địa giới ở bãi Quân Thần (nay là hai xã Thượng Cát, Hạ Cát ở huyện Từ Liêm,&nbsp;Hà Nội) cho ở phía tây của nước, Lý Phật Tử dời đến thành Ô Diên (nay là xã Hạ Mỗ, huyện Từ Liêm, xã ấy nay có đền thờ thần Bát Lang, tức là đền thờ Nhã Lang). Lý Phật Tử có con trai là Nhã Lang, xin lấy con gái của ông là Cảo Nương. Ông bằng lòng, kết thành&nbsp;thông gia. Ông yêu quý Cảo Nương, cho Nhã Lang ở gửi rể. Triệu Quang Phục quá tin vào sức mạnh quân sự của mình, mất cảnh giác nên đã bị suy yếu đáng kể. Nhã Lang ở rể, thực chất là để hoạt động&nbsp;gián điệp&nbsp;nên nội tình của Triệu Việt Vương đã bị Lý Phật Tử nắm rõ.</p><p>Năm&nbsp;571, Lý Phật Tử phụ lời thề, đem quân đánh. Ông yếu thế không thể chống được, bèn đem con gái chạy về phía nam, tìm nơi đất hiểm để ẩn náu, nhưng đến đâu cũng bị quân của Lý Phật Tử đuổi theo sát gót. Ông cưỡi ngựa chạy đến cửa biển Đại Nha, bị nước chắn, bèn nhảy xuống biển tự vẫn. Họ Triệu mất nước.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-21 14:17:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3337749727</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3337753446</link>
         <description><![CDATA[<p>Câu chuyện phungf hungwBố Cái Đại Vương – Vị vua đầu tiên của Đường Lâm – đất hai vua không chỉ nổi danh với truyền thuyết diệt hổ bảo vệ dân làng mà còn gắn liền với những câu chuyện thực ảo về sự linh thiêng của người đã đứng lên chống lại cuộc xâm lược của nhà Đường, giành độc lập cho đất Việt trong 9 năm…</p><p>Phùng Hưng xuất thân từ dòng dõi cự tộc lâu đời ở đất Đường Lâm nay là xã Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội. Đường Lâm xưa kia vốn là vùng đất gò đồi và rừng cây rậm rạp bởi vậy mới có tên gọi là “đường lâm”.</p><p>Phùng Hưng có tên tự là Công Phấn, cháu 7 đời của Phùng Tói Cái, người đã từng vào trong cung vua Đường Cao Tổ, thời niên hiệu Vũ Đức, dự yến tiệc và làm quan lang ở đất Đường Lâm. Bố của Phùng Hưng là Phùng Hạp Khanh, một người hiền tài đức độ.</p><p>Cho tới nay ngày sinh và mất của Phùng Hưng đều chưa rõ. Theo những thông tin của dã sử thì Phùng Hưng sinh ngày 25/11/760 và mất ngày 13/8 năm Nhâm Ngọ, tức ngày 13 tháng 9 năm 802, thọ 41 tuổi.</p><p>Tuy nhiên, các sách chính sử như “Đại Việt Sử ký Toàn thư”, “Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục” ghi ông mất năm 791 chỉ một thời gian ngắn sau khi đuổi được giặc Bắc phương.</p><p>Khoảng năm Nhâm Tuất (722) đời Đường Huyền Tông niên hiệu Khai Nguyên, Phùng Hạp Khanh đã tham gia cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan. Sau đó, ông trở về quê chăm chú công việc điền viên, trở nên giàu có, trong nhà nuôi nô tỳ có đến hàng nghìn người.</p><p>Theo sự tích, Phùng Hạp Khanh có một người vợ họ Sử. Ông bà sinh một lần được 3 người con trai khôi ngô khác thường, lớn lên ai cũng có sức khỏe, có thể kéo trâu, quật hổ. Anh cả là Phùng Hưng, em thứ hai là Phùng Hải, tự là Tư Hào và em út là Phùng Dĩnh, tự là Danh Đạt.</p><p>Tranh Phùng Hưng giết hổ</p><p>Đến năm ba anh em 18 tuổi thì bố mẹ đều mất. Trong ba anh em, anh cả Phùng Hưng là người có sức khỏe và khí phách đặc biệt. Phùng Hưng nối nghiệp cha trở thành hào trưởng đất Đường Lâm. Cho tới nay dân gian vẫn còn lưu truyền câu chuyện ông dùng mưu kế giết hổ dữ mang lại bình yên cho làng xóm.</p><p>Chuyện kể rằng thuở Phùng Hưng đang còn trai tráng, bỗng vùng Đường Lâm, Hà Tây quê ông có một con hổ dữ từ rừng về giết người, bắt gia súc, mọi ngưới không làm gì nổi. Phùng Hưng bèn tìm cách trị hổ cứu dân lành, ông làm con bù nhìn bằng rơm, cho mặc quần áo như người thật, đặt ở nơi hổ thường xuất hiện.</p><p>Hổ đi qua thấy bù nhìn tưởng người, lao vào cắn xé nhưng chỉ có cọc gỗ độn rơm. Vài lần như thế, hổ không còn chú ý tới bù nhìn rơm nữa. Một hôm trời chập choạng tối, Phùng Hưng cởi trần, thân đóng khố, trát bùn khắp người đứng thế vào chỗ hay đặt bù nhìn rơm.</p><p>Khi hổ xuất hiện, hơi bùn non át hơi người nên hổ không phân biệt được, cứ rảo bước qua như mọi lần. Phùng Hưng bất ngờ xông tới nhảy lên mình hổ, ghì chặt con mãnh thú, sau một hồi người hổ vật nhau, hổ đuối sức, Phùng Hưng giáng một cú thôi sơn đập vỡ sọ nó. Hổ chết, mối họa cho dân được trừ vua đánh hổ Phùng Hưng.</p><p>Việt Nam thời thuộc Đường gọi là An Nam đô hộ phủ, khi đó đang nằm dưới ách cai trị hà khắc của bọn quan đô hộ. Các quan đô hộ nhà Đường ra sức vơ vét của cải của người dân Việt Nam, bắt người dân Việt phải đóng sưu cao thuế nặng khiến lòng người ngày càng căm phẫn.</p><p>Năm 767, Cao Chính Bình, hiệu úy châu Vũ Định, tức miền Việt Bắc giúp kinh lược sứ An Nam là Trương Bá Nghi đánh bại được cuộc xâm lược của quân Chà Và ở Chu Diên, sau đó được cử làm đô hộ An Nam. Chính Bình ra sức vơ vét của cải của nhân dân, đánh thuế rất nặng.</p><p>Sinh trưởng trong một gia đình đời đời làm hào trưởng đất Đường Lâm. Chứng kiến cảnh quan lại nhà Đường, đứng đầu là đô hộ phủ Cao Chính Bình tàn ngược, áp bức vơ vét của cài cùa nhân dân không cùng, lòng người oán thán, Phùng Hưng quyết định dựng cờ chiêu hiền đãi sĩ, phát động khởi nghĩa.</p><p>Khoảng niên hiệu Đại Lịch (766-779), chưa rõ đích xác vào năm nào, nhân lòng căm phẫn của người dân, lợi dụng khi quân lính ở Tống Bình (Hà Nội) nổi loạn, Phùng Hưng đã phát động một cuộc khởi nghĩa lớn chống chính quyền đô hộ.</p><p>Cuộc khởi nghĩa do Phùng Hưng phát động nhận được sự hưởng ứng rộng rãi của người dân từ khắp các miền đất Giao châu. Thoạt đầu, anh em họ Phùng nổi dậy làm chủ Đường Lâm rồi nghĩa quân tiến lên đánh chiếm được cả một miền rộng lớn quanh vùng thuộc Phong Châu, xây dựng thành căn cứ chống giặc.</p><p>Phùng Hưng xưng là Đô Quân, Phùng Hải xưng là Đô Bảo và Phùng Dĩnh xưng là Đô Tổng, chia quân đi trấn giữ những nơi hiểm yếu. Cao Chính Bình đem quân đi đàn áp nhưng chưa phân thắng bại. Tình hình diễn ra như vậy hơn 20 năm.</p><p>Được sự trợ giúp của người cùng làng có nhiều mưu lược là Đỗ Anh Hàn, tháng 4 năm Tân Mùi (791), Phùng Hưng từ chỗ cầm cự đã cùng các tướng lĩnh đem quân vây đánh thành Tống Bình.</p><p>Quân của Phùng Hưng chia làm 5 đạo do các tướng Phùng Hải, Phùng Dĩnh, Đỗ Anh Hàn, Bồ Phá Cần và chủ tướng Phùng Hưng tiến công vây thành. Phần lớn các truyền thuyết đều kể rằng Phùng Hưng nhận thấy lực lượng chưa thật đủ mạnh để đè bẹp quân địch.</p><p>Vì thế, ông đã cùng các tướng tỏa đi xung quanh chiêu mộ thêm binh lính và sắm thêm vũ khí. Còn việc vây thành được giao cho 3 người cháu gái họ Phùng, gọi Phùng Hưng bằng bác.</p><p>Cuộc chiến đấu sau đó diễn ra quyết liệt, quân Đường chết nhiều, Cao Chính Bình phải vào cố thủ trong thành, lo sợ cuối cùng bị ốm rồi chết. Phùng Hưng chiếm lĩnh thành trì và vào phủ Đô hộ, coi chính sự đất nước.</p><p>Chính sử chép rằng ông cầm quyền cai trị không lâu sau đó đã qua đời ngay trong năm 791. Các sử gia hiện nay xác định ông mất khoảng tháng 5 năm 791. Sau khi mất, Phùng Hưng được nhân dân suy tôn là Bố Cái Đại Vương.</p><p>Về danh hiệu này, vì hiểu nghĩa “Bố Cái” là “Cha Mẹ”, sách “Đại Việt sử ký toàn thư” đã có câu viết - để giải thích là: “Con (Phùng Hưng, sau khi cha mẹ mất) tôn xưng (cha) là Bố Cái Đại Vương. Tục gọi cha là Bố, mẹ là Cái cho nên lấy làm hiệu”.</p><p>Tuy nhiên, trong công trình Việt giám thông khảo tổng luận, sử thần Lê Tung lại gọi Phùng Hưng nguyên văn là “Phùng Bố Cái”. Cấu trúc của cụm từ này cho thấy ở đây, nghĩa của “Bố” chính là vua (Bua - Bố) và “Cái” là lớn.</p><p>Vì thế, trong “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” ghi là: “Dân chúng tôn (Phùng) Hưng làm Bố Cái Đại Vương” (chứ không phải là: con Phùng Hưng tôn xưng cha). Và việc Phùng Hưng được dân chúng suy tôn là “Vua Lớn” còn thấy rõ trong câu sử bút sau đây:</p><p>“Vương thường hiển linh, dân cho là thần, mới làm đền thờ ở phía tây phủ đô hộ, tuế thời cúng tế”. Sau khi Phùng Hưng mất, con trai ông là Phùng An lên nối ngôi. An nối nghiệp được 2 năm thì đất nước lại rơi vào tay giặc.</p><p>Nền tự chủ vừa mới xây dựng, chỉ tồn tại vẻn vẹn trên dưới 9 năm. Sau khi đặt nền cai trị, bọn quan quân nhà Đường liên tục truy sát những người trong gia tộc họ Phùng. Theo các dòng sông lớn dòng họ Phùng toả về các vùng núi, trung du, các vùng hạ lưu các con sông lớn nhỏ để lập nghiệp.</p><p>Nhưng phần lớn vẫn là ở các vùng như Hà Tây, Vĩnh Phúc, Phú Thọ mà tập trung lớn nhất phải kể đến như dòng họ Phùng Quang ở Vĩnh Phúc, dòng họ Phùng Xuân thuộc hữu ngạn sông Bùi Chương Mỹ - Hà Tây, dòng họ Phùng Văn ở Ba Vì, Phùng Huy ở Thanh Hoá.</p><p>Trong “Việt điện u linh tập”, Lý Tế Xuyên đã chép chuyện về chuyện này như sau: “Hai năm sau đó, vua Đường Đức Tông sai Triệu Xương sang làm đô hộ nước ta. Triệu Xương tới nới, trước hết, cho sứ giả mang lễ vật đến dụ dỗ Phùng An. Phùng An xin hàng phục. Từ đó, họ Phùng tản mác mỗi người một nơi”.</p><p>Sử liệu và truyền thuyết dân gian cho đến nay vẫn lưu truyền những câu chuyện về sự linh thiêng của vị Bố Cái Đại Vương. Trong “Việt Điện U Linh” viết rằng: “Sau khi mất, Bố Cái Đại Vương rất hiển linh.</p><p>Dân các làng thường nghe có tiếng ngựa xe đi lại ầm ầm trên nóc nhà hoặc trên ngọn cây cao, ngẩng trông thì thấy ẩn hiện trong những đám mây là cờ ngũ sắc và kiệu vàng rực rỡ, lại có cả tiếng nhạc văng vẳng nữa.</p><p>Bấy giờ, nếu có việc lành hay dữ sắp xảy ra thì thế nào đêm đến cũng sẽ có dị nhân báo cho các vị hào trưởng biết để thông tin cho cả làng hay, cho nên, ai cũng lấy làm lạ, bèn cùng nhau lập đền thờ Vương ở phía Tây của phủ đô hộ.</p><p>Đền thờ Vương rất linh thiêng, mọi việc cầu mưa, cầu tạnh đều được linh ứng. Ai gặp việc khó khăn như bị kẻ xấu lấy trộm hoặc giả là muốn cầu tài, đến lễ thần đều được như ý. Bởi vậy, người đến lễ rất đông, khói hương chẳng lúc nào dứt.</p><p>Khi Ngô Tiên Chủ dựng nước, bọn giặc Nam Hán sang cướp nước ta. Ngô Tiên Chủ ngày đêm lo nghĩ tìm cách chống đánh. Thế rồi một đêm, Ngô Tiên Chủ nằm mơ, thấy có một cụ già áo mũ chỉnh tề, đến nói rõ họ tên của mình và bảo rằng:</p><p>Tôi đã trù tính, sắp sẵn các đội thần binh để giúp sức Nhà vua, xin Nhà vua hãy gấp tiến binh, đừng lo nghĩ gì cả. Đến khi Ngô Tiên Chủ ra đánh giặc ở sông Bạch Đằng, nghe trên không có tiếng binh mã ầm ầm, và quả nhiên trận ấy được đại thắng.</p><p>Ngô Tiên Chủ lấy làm lạ, liền sai sửa sang ngôi đền, khiến cho đền rộng rãi và lịch sự hơn xưa. Xong, Ngô Tiên Chủ đem các thứ lễ vật cùng cờ quạt chiêng trống đến để tế lễ. Sau, các triều quen dần thành lệ. Thời Trần, vào năm Trùng Hưng thứ nhất (1285), Nhà vua sắc phong là Phù Hựu Đại Vương.</p><p>Năm Trùng Hưng thứ tư lại gia phong thêm hai chữ Chương Tín. Năm Hưng Long thứ 20, Vua (Trần Anh Tông) gia phong thêm hai chữ Sùng Nghĩa nữa. Đến nay, sự linh thiêng vẫn được sùng phụng như xưa”.</p><p>Lăng mộ Phùng Hưng ngày nay nằm ở đầu phố Giảng Võ, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Đền thờ ông được dựng lên ở nhiều nơi như quê hương Đường Lâm, đình Quảng Bá, Tây Hồ, đình Triều Khúc, Thanh Trì, Hà Nội, lăng Đại Áng, Phương Trung, Hoạch An hay phủ Thanh Oai, Hà Nội…</p><p>Riêng ở đất Đường Lâm, sau khi Phùng Hưng mất còn xuất hiện thêm một vị vua nữa là Ngô Quyền, người đánh bại cuộc xâm lược của Nam Hán, chấm dứt 1000 năm Bắc thuộc (938). Do vậy Đường Lâm còn được biết đến với tên gọi “Đất hai vua”.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-21 14:20:43 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3337753446</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3337784042</link>
         <description><![CDATA[<p>  </p><p>  Sau đây tôi kể cho các bạn nghe về một cau chuyện : BÀ CHÔNG CHÁU NGÃ </p><p>  Tình cảm gia đình, tình cảm bà cháu là một trong những tình cảm thiêng liêng của mỗi con người. Và bài thơ Cháu nghe câu chuyện của bà trong chương trình chính tả lớp 4 đã thể hiện được điều đó.</p><p>Chiều rồi bà mới về nhà<br>Cái gậy đi trước, chân bà theo sau.<br>Mọi ngày bà có thế đâu<br>Thì ra cái mỏi làm đau lưng bà !</p><p>Những câu thơ đầu thể hiện rõ sự lo lắng quan tâm của người cháu dành cho người bà của mình. Bạn nhỏ lo lắng khi chiều rồi mới thấy bà mình về nhà, bà về trễ với một cái gậy đi trước, hình ảnh đó thể hiện sự mỏi của người bà.</p><p>Thực tế, hình ảnh gậy đi trước, chân theo sau không phải hình ảnh quen thuộc mà người cháu thường thấy. Vậy mà hôm nay hình ảnh ấy của bà lại xuất hiện, điều đó xuất phát từ việc bà bị đau lưng.</p><p>Tiếp theo cháu được nghe câu chuyện tại sao hôm nay bà về trễ:</p><p>Lạc đường, nên phải nhờ bà dẫn đi<br>Một đời một lối đi về<br>Bỗng nhiên lạc giữa đường quê, cháu à ! </p><p>Nghe câu chuyện của bà, người cháu bỗng bật khóc vì xúc động “Hai hàng nước mắt cứ nhòa rưng rưng”. Thật buồn khi biết bà vì giúp một cụ bà lạc đường nên mới về trễ, từ đó cháu bé cũng nhận ra rằng ngoài kia có nhiều người đáng thương hơn nữa, em mong rằng sẽ không có ai sẽ bị lạc đường như cụ già trong câu chuyện của bà em.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3437757072/d9abc746909765f0e167d5dd15bc02ad/8.png" />
         <pubDate>2025-02-21 14:45:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3337784042</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338389688</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Câu chuyện Cậu bé thông minh</strong></p><p><strong>Tóm tắt nội dung truyện</strong></p><p>Vì để tìm ra hiền tài cho đất nước, nhà vua ra lệnh cho quan viên dò ra khắp cả nước và đặt ra những câu hỏi hóc búa nhằm thử tài. <strong>Hai cha con đang làm ruộng được quan viên thách đố với câu hỏi hóc búa, đứa bé đã có thể trả lời thoăn thoắt. Cậu bé còn dùng “gậy ông đập lưng ông” để giải câu hỏi và giúp dân làng thoát tội khiến vua nể phục.</strong></p><p><strong>Sau đó cậu bé còn thử thách với những câu hỏi khó hơn và trả lời được cả câu hỏi của vua láng giềng, tránh chiến tranh cho đất nước</strong>. Nhà vua bèn xây dinh thự cho cậu cạnh hoàng cung và phong cậu làm Trạng nguyên.</p><p><strong>Ý nghĩa nhân văn của truyện</strong></p><p>Truyện đề cao trí thông minh và sự nhanh nhẹn của con người, đồng thời ca ngợi những người sáng dạ, biết vận dụng vào cuộc sống.</p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3440254166/9feddf4276808a94526b806f593c2c74/image.jpeg" />
         <pubDate>2025-02-22 07:50:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338389688</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338390661</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>                  Thạch Sanh</strong></p><p><br/></p><p><strong>Tóm tắt nội dung truyện</strong></p><p>Thạch Sanh vốn là Thái tử, <strong>được Ngọc Hoàng sai xuống đầu thai làm con của hai vợ chồng nông dân nghèo. Mất cha mẹ từ sớm, cậu sống dưới một gốc cây đa và được dạy đủ phép thần thông, võ nghệ.</strong></p><p>Lý Thông lợi dụng Thạch Sanh về sống chung để thay mình cống nạp cho Chằn Tinh.<strong> Thạch Sanh đã dũng cảm diệt trừ Chằn Tinh, tuy nhiên lại bị Lý Thanh cướp công trắng trợn. Cuối cùng Thạch Sanh cũng đã được giải oan và cưới công chúa còn Lý Thông đã bị trừng trị thích đáng.</strong></p><p><strong>Ý nghĩa nhân văn của truyện</strong></p><p>Truyện cổ tích Thạch Sanh đề cao công lý và lẽ phải, ca ngợi những hành động cao cả để bảo vệ người dân là đất nước. <strong>Thạch Sanh cũng là một hình tượng người anh hùng dân gian với tinh thần bất khuất, tấm lòng cao thượng và dũng cảm.</strong></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3440254166/d87b2f84792e5a9c8f8f9bc70232b508/image.jpeg" />
         <pubDate>2025-02-22 07:52:44 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338390661</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338391396</link>
         <description><![CDATA[<p><strong><br>Cậu bé Tích Chu</strong></p><p><br/></p><p>Tóm tắt nội dung truyện</p><p>Cậu bé Tích Chu vì ba mẹ mất sớm nên sống cùng với người bà của mình.<strong> Vì quá ham chơi, cậu bỏ mặc người bà bị bệnh của mình. Bà của cậu hóa thành chim và bay lên trời.</strong></p><p>Khi biết mình đã sai, cậu khóc òa và được một bà Tiên chỉ dẫn cách cứu bà trở lại<strong>. Mặc dù đường đi qua thử thách rất khó khăn và nguy hiểm nhưng cậu vẫn không ngần ngại. Cuối cùng, bà đã trở lại thành người và từ đó cậu luôn hết lòng yêu thương bà.</strong></p><p><strong>Ý nghĩa nhân văn của truyện</strong></p><p>Truyện đã cho thấy tình yêu cao cả của bà dành cho Tích Chu, <strong>luôn hết lòng yêu thương Tích Chu dù cậu bé luôn ham chơi, không nghe lời. Qua đó, ta cũng có thể thấy được cậu bé Tích Chu vừa đáng khen vừa đáng trách, tuy nhiên cậu đã ân hận và sửa sai.</strong></p><p>Câu chuyện Cậu bé Tích Chu dạy cho các bé phải biết quan tâm, yêu thương mọi người trong gia đình, nghe lời người lớn, không vì ham chơi mà bỏ mặc người khác khi bệnh hoạn.</p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3440254166/5b8c87599d561acf6458d1ebf11528e0/image.jpeg" />
         <pubDate>2025-02-22 07:54:40 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338391396</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338392254</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Trí khôn của ta đây</strong></p><p><strong>Tóm tắt nội dung truyện</strong></p><p>Ngày xửa ngày xưa có một bác nông dân chăm chỉ ngày ngày dắt trâu đi cày.<strong> Một hôm khi đang nghỉ ngơi, có một con cọp đến là hỏi rằng muốn xem trí khôn của con người.</strong></p><p>Bác nông dân suy nghĩ rồi bảo với cọp đã để trí khôn ở nhà. <strong>Cọp để cho bác nông dân trói mình vào cột cây để yên tâm về nhà lấy trí khôn mà không sợ cọp ăn mất trâu. Thế nhưng bác đã lấy rơm chất xung quanh cọp và đốt cháy.</strong></p><p>Trâu thấy vậy cười lớn làm răng va vào đá gãy không còn cái nào. L<strong>ửa cháy làm dây thừng đứt, cọp vùng ra chạy vào rừng, từ đó nó mang trên mình những vằn đen dài.</strong></p><p><strong>Ý nghĩa nhân văn của truyện</strong></p><p><strong>Truyện mang đến bài học nhân văn sâu sắc cho các em nhỏ về trí khôn và sự vượt trội hơn của con người với những loài vật khác.</strong> Trí khôn phải được sử dụng đúng chỗ, đúng mục đích để xử lý các tình huống khó khăn, nguy hiểm.</p><p>Ngoài ra truyện còn cho trẻ thấy những ý đồ của những kẻ xấu luôn rình rập và phải luôn dùng trí khôn để cẩn thận với chúng.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3440254166/e934317a55c5f4abc5323f4d0fcc6bc0/image.jpeg" />
         <pubDate>2025-02-22 07:57:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338392254</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338392941</link>
         <description><![CDATA[<p>Chú cuội cung trăng </p><p><strong>Tóm tắt nội dung truyện:</strong></p><p>Ngày xửa ngày xưa có một tiều phu tên là Cuội. <strong>Vào một lần vào rừng Cuội vô tình phát hiện hổ mẹ mớm cho hổ con một loại lá khiến hổ con sống lại sau khi bị đánh ngất. Cuội đào gốc cây thuốc kia rồi mang về.</strong></p><p>Từ đó, Cuội cứu sống được rất nhiều người nhờ lá của cây đó. <strong>Tuy nhiên vào một ngày vì quên mất, vợ của Cuội đã đem nước giải tưới cho cây thuốc khiến nó bay lên trời. Cuội túm lấy rễ cây và bay theo cây thuốc lên cung trăng.</strong></p><p><strong>Ý nghĩa nhân văn của truyện</strong></p><p>Câu chuyện thể hiện những ước mơ to lớn về việc khám phá những vùng đất mới. Thông qua đó, câu chuyện cũng đem đến cho trẻ những góc nhìn sáng tạo, thú vị về hiện tượng mặt trăng có dạng lõm giống như người đang ngồi dưới gốc cây đa.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3440254166/a491386a70240fc61100b5bf8533ce93/image.jpeg" />
         <pubDate>2025-02-22 07:59:47 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338392941</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338393432</link>
         <description><![CDATA[<p><a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://cdn.tgdd.vn/Files/2022/08/04/1453048/tuyen-chon-x-truyen-co-tich-viet-nam-hay-nhat-nhan-van-202208040731541206.jpg"><strong>Sự tích Mai An Tiêm</strong></a></p><p><strong>Tóm tắt nội dung truyện</strong></p><p>Sự tích quả dưa hấu gắn liền với hình ảnh Mai An Tiêm là một hoàng tử được vua yêu thương hết mực.<strong> Vì cho rằng “của biếu là của lo, của cho là của nợ”, nhà vua đã cho đày cả gia đình chàng ra đảo hoang.</strong></p><p>Với sự thông minh, tháo vát, Mai An Tiêm đã tìm thấy và trồng được một loại quả có vỏ xanh thẩm, <strong>ruột đỏ tươi mọng nước, vị ngọt, thơm mát. Chàng đổi loại quả này lấy gạo và muối cho cả gia đình.</strong></p><p>Vua rất ngạc nhiên và khâm phục tinh thần của Mai An Tiêm nên cho đón gia đình chàng về. Từ đó loại quả này trở thành phần không thể thiếu trong đời sống của người Việt Nam.</p><p><strong>Ý nghĩa nhân văn của truyện</strong></p><p>Qua sự tích Mai An Tiêm, ta có thể thấy rằng sự cố gắng, nỗ lực không bao giờ là vô ích. <strong>Dù phải trải qua bao nhiêu khó khăn, đối mặt với nghịch cảnh, chăm chỉ cần cù sẽ luôn hái được quả ngọt.</strong></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3440254166/2ff30f3839f05819d024261a2a6b5166/image.jpeg" />
         <pubDate>2025-02-22 08:01:17 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338393432</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338393972</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Câu chuyện bó đũa</strong></p><p><strong>Tóm tắt nội dung truyện</strong></p><p>Một gia đình nọ có ông bố sống cùng bốn người con. <strong>Vì buồn các con không yêu thương lẫn nhau, ông ra một thử thách cho bốn người con nếu dùng tay bẻ gãy được bó đũa sẽ được thưởng lớn.</strong></p><p>Tuy cố gắng nhưng lần lượt bốn anh em không ai có thể bẻ gãy bó đũa đó cả. Thấy vậy ông bố liền tách bó đũa ra và bẻ gãy từng cây đũa một một cách dễ dàng.</p><p><strong>Ý nghĩa nhân văn của truyện</strong></p><p>Bài học rút ra từ câu chuyện là khi chúng ta chỉ có một mình thì rất dễ bị lung lay, đàn áp, thế nhưng nếu hợp lực lại thì sẽ luôn mạnh mẽ, vững chãi. Đặc biệt với anh em trong cùng một nhà phải luôn biết yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ và luôn đoàn kết với nhau trước mọi khó khăn hoạn nạn.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3440254166/81011f09a514d5d2f3a6fefeb26abc7f/image.jpeg" />
         <pubDate>2025-02-22 08:02:43 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338393972</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338394436</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Sự tích cây vú sữa </strong></p><p><strong>Tóm tắt nội dung truyện</strong></p><p>Ngày xưa có một cậu bé được mẹ nuông chiều nên rất ham chơi.<strong> Một ngày nọ vì bị mẹ mắng mà cậu la cà khắp nơi không chịu về nhà. Vì mong ngóng con, mẹ cậu gục xuống và hóa thành gốc cây bên cạnh. Khi trở về nhà không thấy mẹ đâu, cậu bật khóc nức nở.</strong></p><p>Cậu gục xuống và ôm gốc cây đó thì bất ngờ cây vỗ về, r<strong>ơi một loại quả vào tay cậu. Loại quả này tuy vỏ ngoài chát nhưng bên trong ngọt thơm như sữa mẹ. Từ đó người đời gọi loại cây này là cây vú sữa.</strong></p><p><strong>Ý nghĩa nhân văn của truyện</strong></p><p>Không chỉ giải thích một cách sáng tạo sự tích của cây vú sữa, câu chuyện này còn dạy cho trẻ rằng phải biết hiếu thảo với cha mẹ. Bởi dù đi đâu về đâu, vòng tay âu yếm của mẹ vẫn mang tình yêu bao la, vĩnh cửu không nơi nào có.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3440254166/c1d944cc21ea1fe5f196bd7ddc420680/image.jpeg" />
         <pubDate>2025-02-22 08:04:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338394436</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338395111</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Thánh Gióng</strong></p><p><strong>Tóm tắt nội dung truyện</strong></p><p>Vào thời Hùng Vương thứ 6, có một cặp vợ chồng không có con, <strong>vào một lần bà vợ vô tình ướm vào một dấu chân ngoài đồng thì liền có thai và sinh ra một bé trai khôi ngô tuấn tú. Thế nhưng đến ba tuổi cậu vẫn chưa biết đi, cũng chẳng biết nói, cười.</strong></p><p>Khi đó giặc n xâm lược bờ cõi, cậu bé đã cất tiếng nói đầu tiên và xin đi đánh giặc. <strong>Thánh Gióng lớn nhanh như thổi, thoáng chốc ra trận đánh giặc tan tác. Sau đó Thánh Gióng một mình phi ngựa lên đỉnh núi rồi bay lên trời.</strong></p><p><strong>Ý nghĩa nhân văn của truyện</strong></p><p>Câu chuyện trên cho ta thấy rõ tinh thần yêu nước bất khuất chảy trong máu người dân Việt Nam ta từ thời xa xưa. Yêu nước, yêu dân tộc luôn là một phẩm chất tốt cần được phát huy và tuyên truyền.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3440254166/49396d438c1b39d3039fa448ee95dadb/image.jpeg" />
         <pubDate>2025-02-22 08:05:59 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338395111</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338396761</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Sự tích bông hoa cúc trắng</strong></p><p><strong>Tóm tắt nội dung truyện</strong></p><p>Một cô bé sống cùng mẹ trong một túp lều tranh dột nát, không may mẹ cô bé mắc bệnh nặng.<strong> Vì không có tiền mua thuốc, cô bé buồn bã ngồi khóc nức nở.</strong></p><p>Thấy vậy một ông lão chỉ cho cô bé đi tìm bông hoa cúc trắng duy nhất trên gốc cây cổ thụ để cứu mẹ.<strong> Số cánh hoa trên bông cũng là số ngày còn sống của mẹ cô bé.</strong></p><p>Thấy bông cúc trắng chỉ có bốn cành, cô bé nhanh trí xé nhỏ từng cánh hoa ra đến nỗi không thể đếm nổi.</p><p><strong>Ý nghĩa nhân văn của truyện</strong></p><p>Câu chuyện cho thấy lòng hiếu thảo và yêu thương mẹ vô bờ bến mặc kệ mọi khó khăn.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3440254166/2ce33f1060fa7e12231951dbfe49ca30/image.jpeg" />
         <pubDate>2025-02-22 08:10:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338396761</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338397331</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Tấm cám</strong></p><p>Câu chuyện kể về người thiếu nữ xinh đẹp, thùy mị, nết na là nàng Tấm và phải sống chung với dì ghẻ cùng con gái của bà là cô Cám. <strong>Sau khi trải qua nhiều khổ cực, ăn hiếp và thậm chí là bị giết hại, nhờ có sự giúp đỡ của ông Bụt mà đến cuối Tấm cũng được ở hạnh phúc bên hoàng tử, còn những kẻ ác thì bị trừng phạt rất thích đáng, nặng nề.</strong></p><p>Nhờ câu chuyện trên,<strong> các bạn nhỏ sẽ được học về những đức tính ngoan hiền, hiếu thảo và đảm đang của nàng Tấm, đồng thời cũng giúp các bé nhận diện được cái sai, cái xấu trong cuộc sống để từ đó tránh né và không trở nên như vậy.</strong></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3440254166/aee1cea03efd993f01b6d5d17182ec53/image.jpeg" />
         <pubDate>2025-02-22 08:11:28 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338397331</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338397708</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Cóc kiện trời</strong></p><p>Vào năm kia, khi hạn hán xảy đến và kéo dài nặng nề, có một chú cóc quyết định lên đường để kiện ông Trời về chuyện đó.<strong> Trên đường đi, cóc còn gặp những người bạn khác là cua, cọp, gấu, ong và cáo. Nhờ sự thông minh, can đảm và nhạy bén, cuối cùng cóc cũng gặp được ông Trời và giúp mưa đổ xuống trên ngôi làng của mình.</strong></p><p>Từ câu chuyện này, ta có thể thấy được rằng, chỉ cần có sự dũng cảm, gan dạ, lòng quyết tâm cùng trí thông minh của mình<strong>, ta có thể vượt qua được tất cả mọi khó khăn dù lớn hay nhỏ và thậm chí là kiện cả ông Trời như chàng cóc như ta vừa đọc.</strong></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3440254166/55cc41f5a83591a732ac813d153b7a6d/image.jpeg" />
         <pubDate>2025-02-22 08:12:32 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338397708</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338398291</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Ba lưỡi rìu</strong></p><p>Câu chuyện xoay quanh một chàng tiều phu mồ côi, nghèo khó và phải vào rừng kiếm sống từ nhỏ. <strong>Khi đang chặt cây, anh vô ý làm rơi chiếc rìu của mình xuống con sông kế bên và bị nó cuốn đi mất. Thế nhưng nhờ sự trung thực của mình, anh không những được có thể lấy lại rìu mà còn được ông tiên tặng thêm cho 2 chiếc rìu vàng và bạc.</strong></p><p>Qua đó, ta có thể dạy các bé bài học rằng, dù trong bất kỳ tình huống nào, các con đều phải thành thật, ngay thẳng và không được nói dối. <strong>Như thế, con sẽ trở thành những đứa bé ngoan, được mọi người thương yêu và thậm chí có thể nhận phần thưởng lớn.</strong></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3440254166/6d808fde7520a20ea52641115ae36a06/image.jpeg" />
         <pubDate>2025-02-22 08:14:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338398291</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338398799</link>
         <description><![CDATA[<p><a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://cdn.tgdd.vn/Files/2022/08/02/1452690/15-truyen-co-tich-chon-loc-hay-nhat-viet-nam-va-the-gioi-202208021513421923.jpg"><strong>Aladdin và cây đèn thần</strong></a></p><p>Tại vương quốc Ba Tư, có một chàng thanh niên trẻ sống lang thang khắp nơi và vô cùng tốt bụng. <strong>Trong một lần vô tình, anh tìm thấy chiếc đèn thần và được thần đèn giúp đỡ trong nhiều sự. Đến cuối, nhờ sự dũng cảm và trí thông minh, anh đã chiến thắng kẻ ác, cưới được công chúa và trở thành hoàng tử nước Ba Tư.</strong></p><p>Từ câu chuyện này, ta có thể rút ra bài học rằng, chỉ cần bản thân luôn giữ được sự ngay thẳng, gan dạ cũng như rèn luyện cho mình trí thông minh, kinh nghiệm và sự nhạy bén, ta có thể đánh bại mọi khó khăn và đạt được những thành công rực rỡ.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3440254166/2e5b196c6696014204c696c3008fb173/image.jpeg" />
         <pubDate>2025-02-22 08:15:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338398799</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338399184</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Cô bé Lọ Lem</strong></p><p>Cô bé Lọ Lem là câu chuyện kể về người con gái cùng tên, có vẻ ngoài xinh đẹp, luôn dịu dàng, đảm đang nhưng lại bị hiếp đáp bởi người mẹ kế và 2 cô em cùng cha khác mẹ. <strong>Thế nhưng, nhờ sự giúp đỡ của bà tiên đỡ đầu cũng như tấm lòng nhân hậu của mình, nàng đã cưới được chàng hoàng tử của đời mình và sống hạnh phúc mãi về sau.</strong></p><p>Qua câu chuyện trên, các em nhỏ không chỉ được học về sự chăm chỉ, siêng năng làm việc của nàng Lọ Lem mà đồng thời, ta còn dạy cho các bé về sự tốt bụng, luôn biết giúp đỡ tất cả mọi người xung quanh mình.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3440254166/be82234b23e112ff8cecc9759a00a02c/image.jpeg" />
         <pubDate>2025-02-22 08:17:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338399184</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338399651</link>
         <description><![CDATA[<p><a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://cdn.tgdd.vn/Files/2022/08/02/1452690/15-truyen-co-tich-chon-loc-hay-nhat-viet-nam-va-the-gioi-202208021514060504.jpg"><strong>Nàng tiên cá </strong></a></p><p>Ở sâu thẳm đại dương, có một nàng tiên cá luôn ao ước được đặt chân lên vùng đất trên bờ. <strong>Để đạt được việc đó, nàng phải đổi đi giọng hát tuyệt đẹp của mình cho mụ phù thủy bạch tuộc thâm hiểm. Thế nhưng, nhờ sự giúp đỡ của mọi người và tinh thần dũng cảm, nàng tiên cá đã lấy lại giọng hát và được ở bên cạnh chàng hoàng tử mãi về sau.</strong></p><p>Từ câu chuyện trên, ta có thể rút ra một bài học nhân văn rằng: <strong>để đổi lấy điều mình mơ ước, đôi khi, ta cần phải trả một cái giá rất đắt. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất đó là ta phải luôn tỉnh táo, dũng cảm và quyết tâm theo đuổi ước mơ ấy của mình.</strong></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3440254166/9859a7fd2e1c4e61a31db148e2d4a8fd/image.jpeg" />
         <pubDate>2025-02-22 08:18:40 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338399651</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338400075</link>
         <description><![CDATA[<p><a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://cdn.tgdd.vn/Files/2022/08/02/1452690/15-truyen-co-tich-chon-loc-hay-nhat-viet-nam-va-the-gioi-202208021514176381.jpg"><strong>Cô bé bán diêm</strong></a></p><p>Vào đêm giao thừa lạnh buốt, có một cô bé phải ngồi nép trong góc tường, không dám về nhà vì sợ bố đánh phạt do chẳng bán được que diêm nào.<strong>Để tự sưởi ấm cho mình, cô đã quẹt những que diêm và tưởng tượng thấy những điều huyền diệu. Buổi sáng hôm sau, người ta nhìn thấy thi thể của cô bé giữa đống bao diêm với nụ cười trên môi.</strong></p><p>Qua câu chuyện ý nghĩa, sâu sắc này, <strong>bạn có thể dạy cho con mình tấm lòng yêu thương, đồng cảm, quan tâm đến những hoàn cảnh khó khăn, bên cạnh đó là rèn cho bé tấm lòng nhân hậu cũng như là biết giúp đỡ mọi người xung quanh mình.</strong></p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3440254166/28867e2c4ebadab8cd3eef152f519641/image.jpeg" />
         <pubDate>2025-02-22 08:20:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338400075</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338400453</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Cô bé quàng khăn đỏ</strong></p><p>Câu chuyện kể về một cô bé luôn quàng trên mình chiếc khăn đỏ, do không nghe lời mẹ mà mải mê ham chơi, chó sói đã đến nhà bà của cô bé trước và nuốt bà vào bụng. <strong>Đến khi cô bé tới, chó sói nằm trên giường, giả làm bà cô bé và sau đó cũng nuốt chửng cô. May mắn, thợ săn lúc sau đã đến nhà cô bé và giải cứu 2 bà cháu khỏi bụng chó sói.</strong></p><p>Với câu chuyện này, cha mẹ qua đó có thể dạy cho các bé phải luôn biết vâng nghe lời cha mẹ, không được la cà ở ngoài đường, <strong>đồng thời không được tiếp xúc với người lạ để tránh gặp phải những nguy hiểm hay các hậu quả trầm trọng hơn.</strong></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3440254166/81179af38eee3c69d39a164d20c49c52/image.jpeg" />
         <pubDate>2025-02-22 08:21:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338400453</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338400770</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Rùa học bay</strong></p><p>Câu chuyện kể về một chú rùa nhỏ, vì muốn được bay thật cao trên trời nên đã nài nỉ chim đại bàng dạy cho mình, do thế tuy ban đầu không muốn nhận lời nhưng đến cuối thì đại bàng cũng đồng ý. <strong>Thế nhưng, khi đại bàng nhấc cao rùa lên không trung và thả xuống, do không thể bay nên rùa đã rơi trúng một tảng đá to và khiến mai rùa bị vỡ rạn.</strong></p><p>Từ câu chuyện trên, ta có thể rút ra bài học rằng: <strong>Thay vì chỉ mù quáng học đòi những điều mình ngưỡng mộ ở người khác, ta hãy cứ tập trung vào chính bản thân và cố gắng phát huy những điểm mạnh của chính mình.</strong></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3440254166/14a873aaa519cafb9f06f3bc40c49569/image.jpeg" />
         <pubDate>2025-02-22 08:22:07 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338400770</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338401178</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Rùa và thỏ</strong></p><p>Câu chuyện xoay quanh 2 nhân vật chính là rùa và thỏ, trong một cuộc đua của toàn khu rừng, thỏ chê cười vì sự chậm chạp của rùa, đồng thời tin chắc rằng mình sẽ đứng nhất toàn cuộc đua. <strong>Thế nhưng, do sự ỷ y mà ngủ quên của mình, rùa đã vượt qua thỏ và trở thành người chiến thắng cuối cùng.</strong></p><p>Từ nội dung trên, câu chuyện đề cao sự kiên trì,<strong>bền bỉ của những người tuy có khả năng chưa tốt nhưng luôn tập trung vào mục tiêu của riêng mình. Bên cạnh đó là chê cười những ai hay khoe khoang, tự mãn mà bỏ lỡ cơ hội quý giá để vươn đến thành công.</strong></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3440254166/24830f9190404e67a39e5b910429ab07/image.jpeg" />
         <pubDate>2025-02-22 08:23:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338401178</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338403629</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Thầy bói xem voi</strong></p><p>Đây là một câu chuyện ngụ ngôn của Việt Nam kể về 5 ông thầy bói mù. Một lần nọ, khi nghe có người dắt voi đi qua, 5 ông đã xin được sờ voi vì không biết con đó là gì. <strong>Thế nhưng, do mỗi người sờ một bộ phận khác nhau nên 5 ông lại đưa ra những nhận xét về con voi khác nhau, từ đó gây tranh cãi và đánh nhau đến sứt đầu mẻ trán.</strong></p><p>Qua câu chuyện này, ta có thể rút ra được bài học rằng, khi đánh giá bất kỳ sự vật,<strong> sự việc nào trong cuộc sống, ta đều phải có cái nhìn khách quan, thấu đáo và trung thực để tránh sự hiểu lầm cũng như những hậu quả không mong muốn.</strong></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-22 08:29:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338403629</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338403982</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Con quạ và cái bình </strong></p><p>Câu chuyện kể về một chú quạ nhỏ đang bay tìm nước uống thì thấy có một chiếc bình nước ở trên mặt đất. Thế nhưng, <strong>do chiếc bình có cổ quá cao nên chú không thể cho miệng của mình vào uống được. Tuy nhiên, nhờ sự thông minh, chú đã cho các viên sỏi nhỏ vào bình, giúp nước trong bình dâng lên để chú có thể uống nước cách dễ dàng.</strong></p><p>Từ câu chuyện này, <strong>ta có thể học được ở chú quạ đen ấy sự kiên trì, không bỏ cuộc và nhẫn nại tìm ra cách giải quyết những khó khăn trong cuộc sống, nhờ đó mà giúp ta đạt được những mong muốn của riêng bản thân mình</strong></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-22 08:30:20 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338403982</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338404838</link>
         <description><![CDATA[<p>Mik mời các bn xem bộ phim lịch sử Việt Nam 🇻🇳 </p>]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?v=MjeFdeEBZBo" />
         <pubDate>2025-02-22 08:32:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338404838</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338826082</link>
         <description><![CDATA[<p>Tôi vừa đọc câu chuyện Bó đữa.Câu chuyện như sau:</p><p>Ngày xửa ngày xưa, có một gia đình nọ gồm ông bố và ba người con. Nhìn thấy các con ít khi quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau, ông bố vô cùng buồn lòng. Mong muốn gắn kết tình cảm anh em, ông gọi các con lại, đặt trước mặt mỗi người một bó đũa và yêu cầu bẻ gãy nó.&nbsp;</p><p>Người con cả gắng hết sức nhưng không thể bẻ nổi bó đũa. Người con thứ cũng cố gắng bẻ, nhưng vô ích. Người con út lấy hết sức để bẻ, bó đũa vẫn không bị gãy một chiếc nào. Người cha thấy vậy cầm lấy bó đũa và tháo ra, rồi bẻ từng chiếc một, rồi từ tốn nói với các con: “Đó chính là sức mạnh của sự đoàn kết. Nếu các con biết đoàn kết với nhau thì không ai có thể đánh bại được các con. Hãy hứa với cha rằng, ba con sẽ chung sống hoà thuận và đoàn kết, thương yêu nhau sau khi cha nhắm mắt xuôi tay.”</p><p>Sau khi, người cha chết đã để lại cho các con của ông rất nhiều tài sản, nhưng lại không phân chia. Ba anh em đều muốn mình tranh lấy phần hơn, họ dứt khoát chia riêng rẽ mỗi người một gian nhà và không qua lại với nhau nữa.</p><p>Chẳng bao lâu sau, có một chủ nợ đến nhà, đòi món nợ mà cha họ đã vay trước đây. Ba anh em đùn đẩy nhau, không ai chịu trả nợ cho cha. Chủ nợ kiện ba người lên quan, bắt ba anh em phải bỏ ra một phần đủ để trả món nợ. Nhưng họ vẫn không chịu, quan liền tịch thu tài sản của họ. Đến lúc này, họ mới nhớ tới lời cha dặn thì tất cả đều đã muộn.</p><p><strong>Giá trị nhân văn của truyện</strong>:&nbsp;</p><p>Câu chuyện bó đũa là một bài học đạo đức sâu sắc về sức mạnh của sự đoàn kết. Khi chúng ta ở bên nhau, yêu thương, đùm bọc lẫn nhau thì sẽ tạo nên một sức mạnh to lớn, giúp vượt qua mọi khó khăn và thử thách trong cuộc sống. Câu chuyện cũng là lời nhắc nhở mỗi người về tầm quan trọng của tình cảm gia đình. Gia đình là nơi che chở, bảo vệ và là chỗ dựa tinh thần vững chắc giúp chúng ta vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-02-23 03:17:17 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3338826082</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>thuyetnt12</author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3347266348</link>
         <description><![CDATA[<p>mình sẽ tóm tắt câu chuyện TRẦN NHÂN TÔNG</p>]]></description>
         <enclosure url="https://baoquangninh.vn/cau-chuyen-tran-nhan-tong-voi-yen-tu-3200294.html" />
         <pubDate>2025-03-01 04:22:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3347266348</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3347398141</link>
         <description><![CDATA[<p>Hôm nay mình sẽ kể về câu chuyện ba chú heo </p><p>Vậy là ba chú Lợn con cùng chào tạm biệt mẹ để ra ở riêng.</p><p>Trong ba anh em Lợn con, anh cả là người lười biếng nhất, lúc nào cũng chỉ muốn mau chóng xây xong nhà để có thể lăn ra ngủ một giấc ngon lành mà thôi. Thế nên anh cả kéo về một xe đầy cỏ khô, chẳng mấy chốc đã dựng xong một túp lều bằng cỏ. Anh thứ hai lại là một chú lợn rất tham ăn, chú chỉ muốn xây nhà thật nhanh để ngày nào cũng được nấu&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://giadinh.tv/nau-an/">những món ăn ngon</a>&nbsp;cho mình. Thế là, anh hai vào rừng và chặt vài cây gỗ đem về, chỉ mất ba ngày đã dựng xong một ngôi nhà bằng gỗ. Khác với hai anh của mình, Lợn út vừa thông minh vừa nhanh nhẹn, lại khéo léo, chú muốn xây một ngôi nhà thật kiên cố và đẹp đẽ. Chú đã đến một nơi rất xa để kéo gạch về xây nhà, từng xe từng xe một, phải mất một tháng, chú mới xây xong ngôi nhà của riêng mình và đó là một căn nhà gạch đỏ tươi rất vững chắc.</p><p>Một hôm, một con Sói xám đang đói ngấu nghiến tìm đến trước túp lều cỏ của Lợn anh cả. Sói xám hít một hơi thật sâu và thổi “phù…” một cái, túp lều bằng cỏ đã bay đi đằng nào. Lợn anh cả sợ quá, vội vàng chạy đến trốn ở nhà Lợn anh hai.</p><p>Sói xám lại đuổi theo tới trước ngôi nhà làm bằng gỗ của Lợn anh hai, nó lấy đà và dùng đầu xô một cái thật mạnh vào căn nhà gỗ, thế là căn nhà bị đổ nghiêng sang một bên. Hai chú Lợn sợ quá, liền chạy đến trốn ở nhà Lợn út.</p><p>Sói xám lại đuổi tới nhà của Lợn út, nó cũng hít một hơi thật sâu và thổi thật mạnh, nhưng căn nhà vẫn đứng yên. Nó lại dùng đầu húc mạnh vào tường nhưng căn nhà vẫn không hề suy chuyển, ngược lại đầu Sói xám còn bị sưng lên đau đớn. Sói xám nhìn thấy trên nóc nhà có một cái ống khói, nó bèn nảy ra ý định vào nhà bằng đường ống khói. Nhưng ba chú Lợn con đã chuẩn bị trước rồi, các chú đã đun một nồi nước sôi dưới chân ống khói, đợi Sói xám tự chui xuống. Kết quả là Sói xám rơi trúng vào nồi nước sôi và bị chết bỏng</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-01 11:18:48 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3347398141</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3347398435</link>
         <description><![CDATA[<p>Đây là một video về câu chuyện ba chú lợn con</p>]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?v=u_w-7DsKmIc" />
         <pubDate>2025-03-01 11:19:59 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3347398435</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3347678983</link>
         <description><![CDATA[<p>Tóm tắt lại câu chuyện Lý Thường Kiệt </p><p>Lý Thường Kiệt là danh tướng, đại thần nhà Lý, ông tên thật là Ngô Tuấn, sinh năm Kỷ Mùi(1019). Người làng An Xá, huyện Quảng Đức, phủ Thái Hoà, thành Thăng Long(nay thuộc Hà Nội).</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Ông có tài văn võ, năm 23 tuổi được bổ nhiệm làm Hoàng Môn Chi Hầu rồi thăng dần tới Thái Uý.</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Lý Thường Kiệt làm quan trải qua 3 triều vua: Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông và lập công lớn trong cuộc phá Tống bình Chiêm, bảo vệ vững chắc nền độc lập nước nhà, xây dựng đất nước phòng vinh.</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Lý Thường Kiệt là người toàn đức, toàn tài được mọi người cảm phục và được vua Lý Nhân Tông nhận làm Thiên Tử Nghĩa Đệ.</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Năm 1077, khi đánh đuổi 25 vạn quân Tống trên tuyến sông Như Nguyệt, tương truyền bài thơ thần “NAM QUỐC SƠN HÀ” ra đời, được xem là bản tuyên ngôn độc lập hùng hồn đầu tiên của lịch sử dân tộc, làm kẻ thù khiếp sợ.</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;“Nam quốc Sơn hà Nam đế cư.</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm.</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.”</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Ông mất vào tháng 5 năm Ất Dậu(1105) thọ 86 tuổi, được truy tặng Thái Uý Việt Quốc Công. </p><p>    </p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-02 01:56:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3347678983</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3349016860</link>
         <description><![CDATA[<p>Hôm nay mình sẽ kể câu chuyện thánh gióng  </p><p> </p>]]></description>
         <enclosure url="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A1nh_Gi%C3%B3ng" />
         <pubDate>2025-03-03 12:36:20 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3349016860</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3349037771</link>
         <description><![CDATA[<p>Mik mời các bạn đón xem video này</p>]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?v=EnD0dW7oTb4" />
         <pubDate>2025-03-03 12:55:30 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3349037771</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3349052211</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Ngày 25/8/1969, một cơn đau tim đột ngột làm Bác choáng ngất, sức khỏe dần xấu đi và suy yếu trầm trọng. 9h47 phút ngày 2/9/1969, Bộ Chính trị, những người túc trực bên giường bệnh đều òa khóc. Bác nằm đó, bất động – Người đã vĩnh viễn ra đi... Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, người đã đi vào cõi bất tử, một trong những anh hùng vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc...” – Nhớ từng câu, từng chữ, chia sẻ lại thời khắc Bác vĩnh viễn ra đi hơn 50 năm trước, cô Trần Thị Diện, 76 tuổi, Tổ dân phố Nguyễn Khuyến, thị trấn Vĩnh Trụ, huyện Lý Nhân không giấu được nỗi xúc động nghẹn ngào.</strong></p><p><br/></p><p>Cô Diện nói: Tôi không có may mắn được gặp Bác, nhưng qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua sách báo, hình ảnh giản dị và gần gũi cùng tình yêu bao la của Bác luôn đậm sâu trong trái tim tôi. Đúng như câu thơ của nhà thơ Tố Hữu đã viết trong bài Sáng tháng Năm - “Người là Cha, là Bác, là Anh/ Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ”.</p><p>Sinh ra và lớn lên ở quê hương nhà văn Nam Cao (làng Đại Hoàng, xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân), năm 1969 cô Trần Thị Diện về nhận công tác tại Phòng Văn hóa- Thông tin huyện Lý Nhân, trực tiếp phụ trách thư viện và phong trào đọc của huyện Lý Nhân. Do đặc thù công việc, cô Diện được tiếp cận và đọc rất nhiều sách, trong đó có sách viết về Bác. Trò chuyện với chúng tôi cô Diện xúc động nhớ lại: Ngày 3/9/1969, trên đường đi công tác từ xã Nhân Đạo về Vĩnh Trụ, tới địa phận thôn Ngò, xã Đức Lý qua hệ thống loa công cộng tôi nghe được tin Bác mất. Tôi lập tức dừng xe lại bên đường, đứng dưới rặng phi lao, ngay dưới loa công cộng để nghe cho rõ hơn. Lúc đó, các cô, các bác nông dân đang làm đồng và những người qua đường cũng đều dừng lại, tập trung dưới loa im lặng lắng nghe. Nghe tin Bác mất, mọi người ai cũng lặng đi, xúc động nghẹn ngào, nước mắt trào dâng. Cũng như mọi người, không kìm được xúc động, nước mắt tôi chảy tràn. Bác mất đi để lại nỗi đau và nỗi tiếc thương không nguôi trong lòng người dân cả nước. Tình cảm mọi người dành cho Bác là tình cảm hết sức thiêng liêng và kính trọng. Sau này mỗi khi đọc những cuốn sách viết về Bác tôi lại nhớ về giây phút hết sức xúc động và sâu sắc trong ngày 3/9/1969 - thời khắc nghe tin Bác đã ra đi mãi mãi.&nbsp;&nbsp;</p><p><strong><em>Cô Trần Thị Diện (bên trái) kể chuyện về những lần được đi thăm Lăng Bác.</em></strong></p><p>Trong thời gian công tác (hơn 30 năm) ở Phòng Văn hóa-Thông tin huyện Lý Nhân, cô Diện được đi thăm Lăng Bác hai lần, lần nào cũng để lại trong cô cảm xúc rưng rưng xúc động. Lần thứ nhất, về thời gian cô Diện chỉ nhớ đó là khi Lăng Bác mới hoàn thành xây dựng, mở cửa đón khách đến thăm. Lần ấy cô Diện vinh dự được đi cùng đoàn dành cho những Đội trưởng đội sản xuất tiêu biểu của huyện. Trước hôm đi, ai cũng hồi hộp, háo hức, chờ đợi. Giây phút lặng lẽ theo dòng người trang nghiêm nối nhau vào Lăng viếng Bác, được nhìn thấy Bác nằm bình yên như đang ngủ cô Diện lại trào nước mắt. Những câu chuyện cảm động về Bác, hình ảnh bình dị, gần gũi của Bác mà cô được xem trên tivi, cảm xúc buồn thương lúc nghe tin Bác mất năm nào lại ùa về... Lần thứ hai cô Diện được vào Lăng viếng Bác đó là năm 2001, trước khi nghỉ hưu. Cảm xúc của cô Diện vẫn vậy, vẫn bồi hồi và xúc động nghẹn ngào...</p><p>Hơn 30 năm công tác, với nỗ lực không ngừng trong thực hiện nhiệm vụ được giao, cô Diện tự hào bởi Thư viện huyện Lý Nhân nhiều năm liên tục đạt danh hiệu đơn vị thi đua xuất sắc toàn quốc; là đơn vị dẫn đầu tỉnh suốt hơn 30 năm. Về nghỉ hưu, ở Tổ dân phố Nguyễn Khuyến, thị trấn Vĩnh Trụ, với kinh nghiệm nhiều năm là cán bộ thư viện, tuy tuổi đã cao, nhưng cô Diện vẫn luôn nhiệt tình, tận tâm, trách nhiệm hướng dẫn, giúp đỡ cô giáo cùng các học sinh được lựa chọn những kỹ năng, biểu cảm... khi tham gia các hội thi về tuyên truyền, giới thiệu sách. Trong năm 2023, nhân ngày sách và văn hóa đọc Việt Nam, cô Diện được chọn là người giới thiệu sách dành cho đối tượng là người cao tuổi trên địa bàn thị trấn. Cô Diện đã chọn giới thiệu cuốn sách “Hồ Chí Minh – Hành trình 79 mùa xuân”. Hoàn thiện xong đề cương giới thiệu sách, nhưng không may nhà có chuyện buồn, cô Diện đành chuyển đề cương mình viết nhờ một cô giáo giới thiệu thay. Cô Diện chia sẻ: Đây là tác phẩm viết về Bác hết sức xúc động, tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần. Tác phẩm được chia thành 3 phần. Phần I – Tuổi ấu thơ đến ngày Bác ra đi tìm đường cứu nước; Phần II – 50 năm sự nghiệp cách mạng của người; Phần III – Bản di chúc – Một văn kiện lịch sử vô giá.</p><p>Trong cuốn sách, tôi xúc động nhất là đoạn viết về thời khắc mẹ Bác mất khi Bác còn nhỏ tuổi: Bác bồi hồi nhớ tới người mẹ hiền thân yêu đã khuất khi Bác mới 11 tuổi. Mẹ mất, cha vắng nhà, Nguyễn Sinh Cung ôm xác mẹ khóc nức nở. Nỗi đau thương đó xảy ra vào ngày 22 tháng Chạp năm 1901. Đây là sự mất mát lớn nhất và cũng là tình cảm sâu sắc nhất về mẹ trên bước đường cách mạng hơn 60 năm Bác đã đi qua. Ngoài ra, khi đọc bức điện Bác gửi về quê ngày 19/11/1951 khi nhận được tin người anh trai Nguyễn Tất Đạt từ trần tôi cũng không kìm được nước mắt: “Nghe tin anh cả mất, lòng tôi rất buồn rầu, vì việc nước nặng nhiều, đường sá xa cách, lúc anh đau yếu, tôi không trông nom; lúc anh tạ thế, tôi không thể lo liệu. Than ôi, tôi xin chịu tội bất đễ trước linh hồn anh và xin bà con hãy nguyên lượng cho một người con đã hy sinh tình nhà vì phải lo việc nước”.</p><p>Đặc biệt, trước khi “ra đi” Bác đã để lại bản Di chúc thể hiện lòng yêu nước, thương dân vô bờ bến: Bản di chúc là một văn kiện lịch sử vô giá, mỗi câu mỗi chữ của di chúc đã dồn nén bao cảm xúc, chứa chan bao tình yêu thương và sự gắn bó sâu xa với thiên nhiên, với con người của một cuộc đời. Di chúc mãi mãi là áng văn tuyệt bút, là những lời căn dặn thiết tha, là sức mạnh thôi thúc hành động chẳng những đối với nhân dân ta mà còn đối với tất cả những ai đang đấu tranh cho tự do, độc lập, cho hòa bình công lý, cho cuộc sống ấm no, hạnh phúc của con người.&nbsp;</p><p>Những năm qua, thực hiện học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác, cô Diện luôn là đảng viên gương mẫu đi đầu trong việc chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước; các quy định của địa phương; tích cực hưởng ứng tham gia các phong trào thi đua yêu nước trên địa bàn. Liên tục nhiều năm liền cô Diện được cán bộ, đảng viên trong chi bộ tin tưởng bình chọn là đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Hiện cô Diện đang hướng dẫn, giúp đỡ một cô giáo và hai học sinh chuẩn bị tham dự Hội thi kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh của huyện với những câu chuyện hết sức bình dị mà cao cả về tình yêu bao la của Bác. Đó là những câu chuyện: “Tình yêu của Bác dành cho những khúc dân ca”, “Bác chỉ muốn các cháu được học hành” và “Bác không thăm những người như mẹ con cháu thì thăm ai”.</p><p>Cô Diện xúc động nói với chúng tôi: Cả cuộc đời Bác đã cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, cho hòa bình độc lập, cho cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Bác đã đi xa, nhưng tình cảm của Bác, hình ảnh của Bác, tấm gương đạo đức của Bác vẫn sống mãi trong lòng người dân, trong lòng dân tộc Việt Nam.</p><p><br/></p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="https://www.baohanam.com.vn/amp.aspx?itemid=122562#" />
         <pubDate>2025-03-03 13:06:47 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3349052211</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3350490311</link>
         <description><![CDATA[<p>Hôm nay mình sẽ kể về câu chuyện bó đũa </p><p>Ngày xưa, ở một gia đình nọ, cha mẹ sinh được hai người con trai. Lúc nhỏ, hai anh em luôn yêu thương, đùm bọc lẫn nha. Thế nhưng, lớn lên, anh có vợ, em có chồng, tình cảm anh em không còn như xưa nữa. Tuy ở cùng một nhà nhưng vẫn hay va chạm.</p><p>Thấy các con là anh em lại chẳng yêu thương nhau. Người cha rất buồn lòng. Một hôm, cha gọi cả bốn người con, con trai, con gái, con dâu, con rể lại phòng. Ông đặt trên bàn một bó đũa và một túi tiền rồi nói với các con rằng:</p><p>- Ai bẻ gãy được bó đũa này thì cha thưởng cho túi tiền.</p><p>Nghe lời cha, bốn người con lần lượt bẻ bó đũa. Thế nhưng cho dù họ có cố gắng thế nào cũng không sao bẻ gãy được cả bỏ đũa.</p><p>Đến lúc này, người cha mới cởi bó đũa ra. Ông thong thả bẻ gãy từng chiếc đũa một cách dễ dàng.</p><p>Thấy vậy, bốn người con cùng nói:</p><p>- Thưa cha, lấy từng chiếc mà bẻ thì có khó gì!</p><p>Người cha bèn nói:</p><p>- Đúng vậy! Chia lẻ ra thì yếu, hợp lại mới mạnh. Cha hy vọng anh em con cũng như vậy. Các con là anh em cùng một nhà thì cần phải yêu thương, đùm bọc lẫn nhau. Có đoàn kết thì mới có sức mạnh.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-04 09:52:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3350490311</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3350491828</link>
         <description><![CDATA[<p>Đây là video về câu chuyện bó đũa </p>]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?v=tjq1ffyFM7U" />
         <pubDate>2025-03-04 09:53:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3350491828</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3350771949</link>
         <description><![CDATA[<p> </p><p>   Mình sẽ kể cho các bạn nghe một câu chuyện : NHỔ CỦ CẢI</p><p>   Ngày xửa, ngày xưa có hai ông bà già và một cô cháu gái sống trong ngôi nhà bằng gỗ bên cạnh manh vườn xinh xắn. Trong nhà còn có một con Chó, một con Mèo và một chú Chuột nhắt.<br>Vào mùa thu, ông già mang về một cây củ cải nhỏ và trồng trong vườn. Ngày ngày, ông ra sức chăm chút cho cây. Sáng nào ông cũng cho cây cải uống một gáo nước. Chiều nào ông cũng bắt sâu, nhổ cỏ cho cây. Cây cải cũng không phụ lòng tốt của ông, nó lớn nhanh như thổi. Chẳng bao lâu nó trở thành một cây cải khổng lồ, to chưa từng thấy.<br>Một buổi sáng, ông già ra vườn định nhổ củ cải về cho bà già và cháu gái. Ông nhổ mãi, nhổ mãi mà cây cải không hề nhúc nhích.</p><p>+ Ông gọi bà già: «Bà già ơi! Mau lại đây! Mau giúp tôi nhổ củ cải!.Bà già liền chạy lại, bà túm áo ông, ông nắm cây cải nhổ mãi, nhổ mãi vẫn không được.</p><p>+ Bà già gọi cháu gái: «Cháu gái ơi! Mau lại đây! Mau giúp bà nhổ củ cải!. Cháu gái liền chạy lại kéo áo bà, bà túm áo ông, ông nắm cây cải nhổ mãi, nhổ mãi chẳng ăn thua gì.</p><p>+ Cháu gái gọi Chó con: «Chó con ơi! Mau lại đây! Mau giúp tôi nhổ củ cải!. Chó con chạy lại ngậm lấy bím tóc của cháu gái. Cháu kéo áo bà ba, bà túm áo ông, ông nắm cây cải. Kéo mãi nhổ mãi cây cải vẫn nằm ì ra.</p><p>+ Mèo con gọi Chuột nhắt: «Chuột nhắt ơi! Mau lại đây!Mau giúp tôi nhổ củ cải!» Chuột nhắt chạy lại, bám đuôi Mèo, Mèo cắn đuôi Chó, Chó ngậm biếm tóc cháu gái, cháu gái kéo áo bà, bà túm áo ông, ông nắm cây cải. Một, hai, ba… Cây cải gan lì đã bị kéo lên khỏi mặt đất.<br>Tất cả sung sướng, nhảy múa quanh vây cải:</p><p>“Nhổ cải lên! Nhổ cải lên!<br>Ái chà chà! Lên được rồi! ”</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-04 13:54:35 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3350771949</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3350777706</link>
         <description><![CDATA[<p>   Mình sẽ kể cho các bạn nghe về một câu chuyện : SỰ TÍCH CHÁT DƯA HẤU</p><p><strong>   Ngày xưa, thời vua Hùng Vương, đất nước ta có núi cao, có sông rộng, trời đẹp nắng vàng, nhưng đồng ruộng thưa thớt, hoa quả chưa có nhiều thứ thơm ngọt như bây giờ. Vua Hùng Vương thứ mười bảy có một người con nuôi là An Tiêm có tài tháo vát và có trí hơn người.</strong></p><p><strong>Vua yêu mến An Tiêm thường ban cho của ngon vật quý. Thói thường, các quan được một chút lộc vua thì nâng niu ca tụng; riêng An Tiêm thường bảo: "Của biếu là của lo, của cho là của nợ!" và xem thường các thứ ấy. Việc đến tai vua, vua giận lắm, bảo: "Đã thế ta cho nó cứ trông vào tài sức của nó xem có chết rũ xương ra không?".</strong></p><p><strong>Thế là một buổi sớm, tự nhiên An Tiêm thấy lính đến giải cả chàng lẫn vợ con xuống thuyền, chẳng cho mang theo một cái gì hết. Chàng nói mãi chúng mới để cho đem một cái gươm cùn hộ thân. Buồm căng gió, thuyền tròng trành nhằm biển khơi thẳng tiến. Bãi cát trắng, vệt cây xanh trong bờ lần lượt khuất đi, rồi bèo bọt, rác rểu, dấu vết của dân cư cũng không còn nữa, bây giờ chỉ thấy trời với nước xanh ngắt một mầu.</strong></p><p><strong>Hôm sau thuyền đến một đảo nhỏ. Họ để gia đình An Tiêm lên bờ với năm ngày lương thực, một chiếc nồi, rồi nhổ neo quay lái. Nàng Ba, vợ An Tiêm, bế con nhìn theo chiếc thuyền dần dần ra xa rồi khuất mất, nước mắt nhỏ như mưa. Từ nay có bao giờ nàng lại được cùng hàng xóm chia nhau những bắp ngô đầu mùa, hay nói một câu chuyện gia đình dưới ánh trăng! Quay vào hòn đảo hoang vu nàng lại càng khiếp sợ hãi hùng, không biết rồi đây lấy gì mà ăn để sống tạm cho qua ngày tháng.</strong></p><p><strong>An Tiêm dắt vợ con tìm được một cái hốc đá ở tạm. Rồi chàng cắp gươm đi thăm dò. Hòn đảo quả thật hoang vu, chỉ có ít cây cỏ lơ thơ và mấy loài chim biển. Tìm mãi mới thấy vài thứ quả chát chua và rau dại ăn tạm cho đỡ đói. Từ đấy, ngày ngày An Tiêm trồng rau và tìm quả, nàng Ba thì ra bờ biển mò con ngao, cái hến. Đứa con lớn của An Tiêm bắt chước cha cũng cặm cụi làm bẫy đánh chim. Nhưng rồi chim dần dần quen bẫy, có khi suốt ngày thằng bé không bắt được một cái lông. Cá nhiều nhưng không lưới, quả thì có mùa. Cho nên thức ăn chính của vợ chồng con cái An Tiêm vẫn là mấy thứ rau dại mà chàng trồng thành rau vườn. Cuộc đời của bốn người vô cùng lao đao, vất vả, chẳng khác giống chim muông bao nhiêu. Tuy vậy An Tiêm vẫn tin rằng một ngày kia, mình có thể làm cho đời sống khá lên.</strong></p><p><strong>Một hôm có con chim đương ăn ngoài bãi thấy An Tiêm đến, vội bay đi, bỏ lại một miếng mồi đo đỏ. An Tiêm cầm lên xem thì là một mảnh quả dưa bằng hai ngón tay. Chàng nghĩ thầm chim ăn được có lẽ người cũng ăn được, bèn nếm thử thì thấy có vị ngọt. Chàng ăn hết miếng dưa và nhặt hạt gói lại. Ngồi nghỉ một lát thấy mát ruột, đỡ đói, chàng có ý mừng, lấy gươm xới một khoảnh đất mà gieo hạt xuống. Ít ngày sau mấy hạt da mọc mầm đâm lá, bò tỏa ra khắp khoảnh đất. Nàng Ba cũng giúp chồng sớm chiều săn sóc mấy dây dưa lạ. Vợ chồng hồi hộp trông thấy mấy cái hoa đầu tiên hé nở, rồi hoa kết quả, lúc đầu bằng ngón tay út, ít lâu sau đã như con chuột, rồi con lợn con. Thấy nó lớn mãi như không bao giờ thôi, An Tiêm cũng không biết lúc nào nên hái.</strong></p><p><strong>Một buổi sớm tinh mơ, nghe tiếng quạ kêu ngoài bãi, nàng Ba bảo chồng:&nbsp;Ở đây hoang vắng, quạ không tụ họp bao giờ, nay chúng nó kêu inh ỏi một nơi, tất là có sự lạ. Anh ra xem thế nào! An Tiêm ra đến bãi thì đàn quạ bay đi bỏ lại quả dưa chúng vừa mổ thủng vài nơi. Chàng cắt dưa về. Khi chàng bổ dưa ra, cả nhà lóa mắt vì mầu đỏ tươi của ruột dưa. Đây đó giữa mầu đỏ, có những hạt đen như hạt huyền và bọc ngoài một lớp vỏ trắng viền xanh. Hai đứa bé thèm nhỏ nước rãi, nàng Ba thì cứ tấm tắc khen quả trông ngon mắt. An Tiêm cẩn thận cắt cho mỗi người một mảnh nhỏ ăn thử. Bốn người như một, khen ngợi cái vị thanh ngọt, cái mùi thơm nhẹ nhàng của quả lạ, ăn vào không những không xót ruột lại còn thấy đỡ khát và khỏe người ra. Đến tra, An Tiêm mạnh dạn bổ hết quả dưa cho con ăn đến no. Bấy giờ cả nhà An Tiêm mừng rỡ, bồng bế nhau ra bãi, chọn những quả sẫm mầu dưa đem về, còn lại thì thay phiên nhau canh quả. Và từ đấy, họ cứ trồng thêm ra mãi. Tất cả nông cụ chỉ gồm có một cái gươm cùn và mấy hòn đá mài bén, vì vậy thêm một gốc dưa là thêm không biết bao nhiêu mồ hôi nước mắt. Nhưng họ chăm sóc hết lòng, nhờ vậy giống dưa càng ngày càng sai, quả càng to, thịt dày thêm mãi, vỏ mỏng dần đi, vị càng thơm ngọt. Cứ mỗi lần hái dưa, An Tiêm lấy mấy quả đánh dấu thả ra biển. Dưa trôi biệt tăm tích không biết bao lần, trăng non rồi trăng già không biết bao bận, An Tiêm vẫn không ngã lòng. Quả nhiên một hôm có một chiếc thuyền ghé đến hỏi xem ai đã trồng được giống dưa quý, để đổi về đem bán trên đất liền. Từ đấy An Tiêm đổi được các thức ăn dùng thường ngày và còn cất được một cái nhà lá xinh xinh.</strong></p><p><strong>Về phần vua Hùng Vương, từ ngày bỏ An Tiêm ra hoang đảo, vua yên trí rằng An Tiêm đã chết rồi, đôi khi nghĩ đến cũng có bùi ngùi thương hại. Cho đến một ngày kia, thị thần dâng quả da lạ, vua ăn ngon miệng bèn hỏi thăm tung tích, mới biết là do An Tiêm trồng ngoài đảo. Vua ngẫm nghĩ thấy mình sai, cho thuyền ra đón gia đình An Tiêm. An Tiêm và nàng Ba mừng rỡ, thu lượm hết những quả dưa chín và hạt giống đem về phân phát cho bà con hàng xóm, và truyền dạy cách gieo trồng, chăm bón. Đó là nguồn gốc giống dưa hấu mà chúng ta ăn ngày nay.</strong></p><p><strong>Về sau khắp nước ta đều có giống dưa hấu. Nhưng người ta nói chỉ có huyện Nga Sơn là trồng được những quả ngon hơn cả, vì nơi ấy xa là hòn đảo An Tiêm ở, trải qua mấy nghìn năm nước cạn, cát bồi nay đã liền vào với đất.</strong></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-04 13:58:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3350777706</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3350784623</link>
         <description><![CDATA[<p>   Mình vừa đọc câu chuyện : CÔ BÉ BÁN DIÊM</p><p>   Giữa trời đông giá rét, một em gái nhỏ đầu trần, chân đi đất, đang dò dẫm trong đêm tối. Lúc ra khỏi nhà em có đi giày vải, nhưng giày vải phỏng có tác dụng gì kia chứ !</p><p>Giày ấy của mẹ em để lại, rộng quá, em đã liên tiếp làm văng mất cả hai chiếc khi em chạy qua đường, vào lúc hai chiếc xe ngựa đang phóng nước đại.</p><p>Chiếc thứ nhất bị xe song mã nghiến, rồi dính theo tuyết vào bánh xe; thế là mất hút. Còn chiếc thứ hai, một thằng bé lượm được, cười sằng sặc, đem tung lên trời. Nó còn nói với em bé rằng nó sẽ giữ chiếc giày để làm nôi cho con chó sau này.</p><p>Thế là em phải đi đất, chân em đỏ ửng lên, rồi tím bầm lại vì rét. Chiếc&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="http://truyencotich.vn/">tạp dề</a>&nbsp;cũ kỹ của em đựng đầy diêm và tay em còn cầm thêm một bao. Em cố kiếm một nơi có nhiều người qua lại. Nhưng trời rét quá, khách qua đường đều rảo bước rất nhanh, chẳng ai đoái hoài đến lời chào hàng của em. Suốt ngày em chẳng bán được gì cả và chẳng ai bố thí cho em chút đỉnh.&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="http://truyencotich.vn/">Em bé</a>&nbsp;đáng thương, bụng đói cật rét, vẫn lang thang trên đường. Bông tuyết bám đầy trên mái tóc dài xõa thành từng búp trên lưng em, em cũng không để ý.</p><p>Cửa sổ mọi nhà đều sáng rực ánh đèn và trong phố sực nức mùi ngỗng quay. Chả là đêm giao thừa mà ! Em tưởng nhớ lại năm xưa, khi bà nội hiền hậu của em còn sống, em cũng được đón&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="http://truyencotich.vn/">giao thừa</a>&nbsp;ở nhà. Nhưng thần chết đã đến cướp bà em đi mất, gia sản tiêu tán và gia đình em đã phải lìa ngôi nhà xinh xắn có dây trường xuân leo quanh, nơi em đã sống những ngày đầm ấm, để đến chui rúc trong một xó tối tăm, luôn luôn nghe những lời mắc nhiếc, chửi rủa.</p><p>Em ngồi nép trong một góc tường, giữa hai&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="http://truyencotich.vn/">ngôi nhà</a>, một cái xây lùi lại một chút.Em thu đôi chân vào người, nhưng mỗi lúc em càng thấy rét buốt hơn. Tuy nhiên em không thể nào về nhà nếu không bán được ít bao diêm, hay không ai bố thí cho một đồng xu nào đem về; nhất định là cha em sẽ đánh em. Vả lại ở nhà cũng rét thế thôi. Cha con em ở trên gác, sát mái nhà và, mặc dầu đã nhét giẻ rách vào các kẽ hở trên vách, gió vẫn thổi rít vào trong nhà. Lúc này đôi bàn tay em đã cứng đờ ra. Chà ! Giá quẹt một&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="http://truyencotich.vn/">que diêm</a>&nbsp;lên mà sưởi cho đỡ rét một chút nhỉ ? Giá em có thể rút một que diêm ra quẹt vào tường mà hơ ngón tay nhỉ ? Cuối cùng em đánh liều quẹt một que diêm. Diêm bén lửa thật là nhạy. Ngọn lửa lúc đầu xanh lam, dần dần biếc đi, trắng ra, rực hồng lên quanh que gỗ, sáng chói trông đến vui mắt.</p><p>Em hơ đôi tay trên que diêm sáng rực như than hồng. Chà ! Ánh sáng kỳ diệu làm sao ! Em tưởng chừng như đang ngồi trước một lò sưởi bằng sắt có những hình nổi bằng đồng bóng nhoáng. Trong lò, lửa cháy nom đến vui mắt và tỏa ra hơi nóng dịu dàng.</p><p>Thật là dễ chịu ! Đôi bàn tay em hơ trên ngọn lửa; bên tay cầm diêm, cái ngón cái nóng bỏng lên. Chà ! Khi tuyết phủ kín mặt đất, gió bấc thổi vun vút mà được ngồi hàng giờ như thế, trong đêm đông rét buốt, trước một lò sưởi, thì khoái biết bao! Em vừa duỗi chân ra sưởi thì lửa vụt tắt, lò sưởi biến mất. Em ngồi đó, tay cầm&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="http://truyencotich.vn/">que diêm</a>&nbsp;đã tàn hẳn. Em bần thần cả người và chợt nghĩ ra rằng cha em đã giao cho em đi bán diêm; đêm nay, về nhà thế nào cũng bị cha mắng.</p><p>Em quẹt que diêm thứ hai, diêm cháy và sáng rực lên. Bức tường như biến thành một tấm rèm bằng vải màn. Em nhìn thấu tận trong nhà. Bàn ăn đã dọn, khăn trải trắng tinh, trên bàn bày toàn bát đĩa bằng sứ quý giá, và có cả một con ngỗng quay. Nhưng điều kỳ diệu nhất là ngỗng ta nhảy ra khỏi dĩa và mang cả dao ăn, phóng sết, cắm trên lưng, tiến về phía em bé. Rồi… que diêm vụt tắt; trước mặt em chỉ còn là những bức tường dầy đặc và lạnh lẽo.</p><p>Thực tế đã thay thế cho mộng mị: chẳng có bàn ăn thịnh soạn nào cả, mà chỉ có phố xá vắng teo, lạnh buốt, tuyết phủ trắng xoá, gió bấc vi vu và mấy ngừơi khách qua đường quần áo ấm áp vội vã đi đến những nơi hẹn hò, hoàn toàn lãnh đạm với cảnh nghèo khổ của em bé bán diêm.</p><p>Em quẹt&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="http://truyencotich.vn/">que diêm</a>&nbsp;thứ ba. Bỗng em thấy hiện ra một cây thông Noel. Cây này lớn và trang trí lộng lẫy hơn cây mà em đã được thấy năm ngoái qua cửa kính một nhà buôn giàu có. Hàng ngàn ngọn nến sáng rực, lấp lánh trên cành lá xanh tươi và rất nhiều bức tranh màu sắc rực rỡ như những bức bày trong các tủ hàng, hiện ra trước mắt em bé. Em với đôi tay về phía cây… nhưng diêm tắt. Tất cả những ngọn nến bay lên, bay lên mãi rồi biến thành những ngôi sao trên trời.</p><p><br/></p><p>– Chắc hẳn có ai vừa chết, em bé tự nhủ, vì bà em, người hiền hậu độc nhất đối với em, đã chết từ lâu, trước đây thường nói rằng: “Khi có một vì sao đổi ngôi là có một linh hồn bay lên trời với thượng đế”.</p><p>Em quẹt một que diêm nữa vào tường, một ánh sáng xanh tỏa ra xung quanh và em bé nhìn thấy rõ ràng là bà em đang mỉm cười với em.</p><p>– Bà ơi !&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="http://truyencotich.vn/">Em bé</a>&nbsp;reo lên, cho cháu đi với ! Cháu biết rằng diêm tắt thì bà cũng biến đi mất như lò sưởi, ngỗng quay và cây Noel ban nãy, nhưng xin bà đừng bỏ cháu ở nơi này; trước kia, khi bà chưa về với thượng đế chí nhân, bà cháu ta đã từng sung sướng biết bao ! Dạo ấy bà đã từng nhủ cháu rằng nếu cháu ngoan ngoãn cháu sẽ được gặp lại bà; bà ơi! cháu van bà, bà xin với Thượng Đế chí nhân cho cháu về với bà. Chắc Người không từ chối đâu.</p><p>Que diêm tắt phụt và ảo ảnh rực sáng trên khuôn mặt em bé cũng biết mất.</p><p>Thế là em quẹt tất cả những que diêm còn lại trong bao. Em muốn níu bà em lại ! Diêm nối nhau chiếu sáng như giữa ban ngày. Chưa bao giờ em thấy bà em to lớn và đẹp lão như thế này. Bà cụ cầm lấy tay em, rồi hai bà cháu bay vụt lên cao,cao mãi, chẳng còn đói rét, đau buồn nào đe dọa họ nữa. Họ đã về với Thuợng đế.</p><p>Sáng hôm sau, tuyết vẫn phủ kín mặt đất, nhưng mặt trời lên, trong sáng, chói chang trên bầu trời xanh nhợt. Mọi người vui vẻ ra khỏi nhà. Trong buổi sáng lạnh lẽo ấy, ở một xó tường người ta thấy một em gái có đôi má hồng và đôi môi đang mỉm cười. Em đã chết vì giá rét trong đêm giao thừa.</p><p>Ngày mồng một đầu năm hiện lên trên tử thi em bé ngồi giữa những&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="http://truyencotich.vn/">bao diêm</a>, trong đó có một bao đã đốt hết nhẵn. Mọi người bảo nhau: “Chắc nó muốn sưởi cho ấm!.” Nhưng chẳng ai biết những cái kỳ diệu em đã trông thấy, nhất là cảnh huy hoàng lúc hai bà cháu bay lên để đón lấy những niềm vui đầu năm.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-04 14:03:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3350784623</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3352474647</link>
         <description><![CDATA[<p>Đây là câu chuyện bánh chưng bánh giày</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?v=wwrukr0YSyI" />
         <pubDate>2025-03-05 13:14:22 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3352474647</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3352486895</link>
         <description><![CDATA[<p>Mình sẽ kể cho các bạn nghe một câu chuyện: Sự tích Thánh Gióng</p><p> </p><p>Thánh Gióng là truyện cổ tích Việt Nam quen thuộc với hầu hết mọi người. Chuyện kể từ thời vua Hùng thứ sáu có hai vợ chồng lương thiện nhưng mãi vẫn chưa có con. Một hôm người vợ ra đồng nhìn thấy một dấu chân rất to, bà ướm thử chân mình lên đó và khi về nhà thì bất ngờ mang thai. Sau mười hai tháng, bà đã sinh hạ một cậu bé và đặt tên là Gióng. Nhưng đến năm 3 tuổi mà cậu vẫn nằm ngửa đòi ăn, không biết ngồi, không biết lẫy, cũng không biết nói hay cười..&nbsp;</p><p>Ngày đó, giặc Ân xâm chiếm đất nước, vua cho sứ giả đi khắp nơi để tìm người tài. Khi người của nhà vua đi qua làng, cậu bé bỗng cất tiếng nói: “Mẹ cho gọi sứ giả vào đây cho con!”. Gióng chững chạc&nbsp; yêu cầu sứ giả về tâu với nhà vua rèn cho mình một bộ giáp sắt, một con ngựa sắt và một cây roi sắt để đánh giặc.&nbsp;</p><p>Kể từ lúc ấy cậu bé lớn nhanh như thổi, cơm ăn mãi không no, cứ nấu lên được nồi nào Gióng lại ăn hết ngay nồi ấy. Nhà hết gạo, bà mẹ kêu gọi hàng xóm láng giềng đem gạo khoai, trầu, rượu, hoa quả, bánh trái mang đến đầy một sân. Khi quân sĩ hì hục khiêng được ngựa, gươm, áo giáp và nón sắt tới thì Gióng bước ra khỏi nhà vươn vai một cái, người bỗng cao to sừng sững, chân dài hơn trượng, hét lên một tiếng như tiếng sấm: “Ta là tướng nhà Trời!”.</p><p>Lưỡi gươm của Gióng vung lên nhanh như chớp giật. Quân giặc xông ra chừng nào chết hết chừng ấy. Ngựa sắt thét ra lửa thiêu cháy từng dãy đồn trại, lửa thiêu luôn cả mấy khu rừng. Gióng càng đánh càng khỏe, xác giặc nằm ngổn ngang chất thành đống. Bất ngờ gươm gãy, Gióng không chút bối rối, cậu thuận tay nhổ những bụi tre hai bên đường quật tới tấp vào các toán giặc. Chẳng mấy chốc quân giặc đã bỏ chạy khắp nơi, Ân vương bị quật chết tan xác.</p><p>Xong việc cậu cởi bỏ giáp sắt, từ biệt cha mẹ và bay về trời. Để ca ngợi&nbsp; công ơn, vua đã phong cho cậu là Phù Đổng Thiên Vương và lập đền thờ tưởng nhớ.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-05 13:23:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3352486895</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3352497897</link>
         <description><![CDATA[<p>Mình vừa đọc câu chuyện: Lý Thái Tổ</p><p><br/></p><p>Lý Công Uẩn sinh năm 974, là người làng Cổ Pháp (nay thuộc Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh, nơi vẫn còn lưu giữ ngôi đền Lý Bát Đế nổi tiếng thờ 8 vị vua triều Lý). Theo truyền thuyết, Lý Công Uẩn mồ côi cả cha lẫn mẹ, được thiền sư Lý Khánh Văn nhận làm con nuôi.</p><p>Về thân thế của Lý Công Uẩn, truyền thuyết kể rằng thân phụ Lý Công Uẩn là người làm thuê ở chùa Tiêu Sơn thuộc vùng Bắc Ninh. Trong thời kỳ làm công ở đây, người này phải lòng một tiểu nữ rồi làm nàng có thai. Bị đuổi ra khỏi chùa, hai vợ chồng bìu díu nhau đến khu rừng báng thì vừa mệt, vừa khát, bèn dừng chân nghỉ ngơi. Người chồng để vợ ngồi lại nghỉ, còn mình tìm đến giếng nước giữa rừng lấy nước uống cho cả hai vợ chồng. Không may, người chồng ngã xuống giếng mà chết. Người vợ chờ lâu bèn đến giếng tìm chồng thì thấy giếng đã bị đất đùn lấp kín thành hình bông hoa có 8 cánh. Than khóc một hồi, thân xác rã rời, người vợ đành lết đi tìm nơi tá túc và may mắn được sư trụ trì chùa Ứng Tâm (nay là chùa Dặn) gần đấy thương hại cho ở lại.</p><p>Lại nói về sư trụ trì chùa Ứng Tâm Lý Khánh Văn. Đêm trước, ông nằm mơ thấy Long thần báo mộng: “Ngày mai dọn chùa cho sạch, có Hoàng đế đến”. Nửa thực nửa ngờ, sáng hôm sau, nhà sư sai chú tiểu quét dọn chùa sạch sẽ. Thầy trò túc trực từ sáng đến chiều mới thấy người phụ nữ có thai khổ sở đến xin ngủ nhờ qua đêm. Sau khi nghe rõ nguồn cơn câu chuyện, nhà sư thương tình cho người phụ nữ bất hạnh ở lại trong chùa chờ kỳ khai hoa mãn nhụy. Mấy tháng sau, trong một đêm vần vũ, từ chái nhà nơi người phụ nữ tá túc bỗng tỏa ánh hào quang rực rỡ, hương thơm bay ngào ngạt. Thấy sự lạ, nhà sư cùng bà hộ chùa tìm đến xem thì thấy người đàn bà đã trở dạ, sinh được cậu con trai kháu khỉnh, mặt mũi khôi ngô, sáng láng, trên hai bàn tay có bốn chữ son: “Sơn hà xã tắc”. Người đàn bà ấy chết ngay sau khi sinh được con. Sau đó, trời nổi mưa giông, sấm chớp giật liên hồi. Thương cảm đứa bé mồ côi, sư Khánh Văn bèn nhận lấy làm con nuôi, đặt tên là Lý Công Uẩn. Khi Công Uẩn đến tuổi đi học, thiền sư Khánh Văn bèn gửi sang chùa Lục Tổ là nơi người anh có pháp danh Vạn Hạnh làm trụ trì, nhờ thiền sư Vạn Hạnh dạy bảo.</p><p>Cũng có truyền thuyết khác nói rằng mẹ Lý Công Uẩn là bà Phạm Thị Ngà, người làng Dương Lôi (Bắc Ninh). Một hôm, bà Ngà đi chùa lễ Phật, buổi trưa nằm ngủ dưới gốc cây nằm mơ thấy có thần nhân đến giao hoan cùng. Tỉnh dậy, bà có thai. Đến kỳ lâm bồn, bà sinh được cậu con trai, đặt tên là Lý Công Uẩn. Khi Công Uẩn lên 3 tuổi, bà Ngà bèn mang Công Uẩn vào chùa cho làm con nuôi sư Khánh Văn. Đoạn sau của truyền thuyết này cũng giống truyền thuyết trên.</p><p>Lý Công Uẩn tư chất thông minh, sáng láng, được sư Vạn Hạnh khen “<em>không phải là người thường. Sau này lớn lên, tất có thể giải quyết được mọi việc khó khăn, làm chúa trong thiên hạ</em>”.</p><p>Sau này, khi được vua Lê Đại Hành sùng kính, phàm những việc lớn nhỏ trong triều đình hay bình thiên hạ nhà vua đều tham vấn ý kiến, thiền sư Vạn Hạnh bèn tiến cử Lý Công Uẩn. Vào triều làm quan, Lý Công Uẩn càng tỏ rõ là người có tài thao lược, được vua Lê Đại Hành rất tin dùng. Dưới triều Tiền Lê, Lý Công Uẩn được phong tới chức Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ. Sau này, khi vua Lê Đại Hành băng hà, ngôi báu được truyền cho hoàng tử thứ 3 là Lê Long Việt, tức vua Lê Trung Tông. Sau khi lên ngôi được 3 ngày, Lê Trung Tông bị chính em ruột của mình là Lê Long Đĩnh sát hại, tiếm ngôi vua, sử gọi là Ngọa Triều. Khi ấy, quần thần ai cũng kinh sợ lánh xa, duy có Lý Công Uẩn ôm xác vua Trung Tông kêu khóc. Long Đĩnh khen là người trung nghĩa bèn cho giữ nguyên chức Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ.</p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-05 13:30:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3352497897</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3353632482</link>
         <description><![CDATA[<p>Mình sẽ kể cho các bạn nghe một câu chuyên: Cây Khế</p><p>Ngày xửa ngày xưa nhà nọ có hai anh em, người anh thì vô cùng tham lam, người em thì hiền lành chịu khó. Sau khi cha mẹ qua đời người anh lấy vợ ra ở riêng đã vơ vét hết tài sản và chỉ để lại cho người em một cây khế ở góc vườn.<br><br>Người em được chia tài sản đã không một lời phàn nàn, dựng túp lều gần cây khế. Hàng ngày, người em chăm bón cây khế và làm thuê kiếm tiền nuôi thân.<br><br>Cây khế cứ lớn dần, năm ấy bỗng sai trĩu quả. Vì vậy người em mừng lắm. Một hôm, bỗng dưng có con chim lạ từ đâu bay tới cây khế và ăn khế của người em. Thấy vậy người em buồn lòng than thở với chim. Chim lạ đáp lại “Ăn một quả trả cục vàng may túi ba gang mang đi mà đựng”.<br><br>Mấy hôm sau như lời hứa chim đến đón người em tới một hòn đảo rất nhiều vàng bạc, châu báu. Người em từ trên cao ngắm nhìn hòn đảo và lấy vàng chỉ đầy túi ba gang rồi cưỡi lên lưng chim trở về. Người em về nhà dùng số vàng bạc lấy được đổi lấy thóc lúa để giúp đỡ những người khó khăn trong làng.<br><br>Thấy vậy, người anh sang chơi và đòi đổi nhà, ruộng vườn của mình để lấy cây khế của người em. Người em một lần nữa không phàn nàn và đồng ý đổi cho anh.<br><br>Năm ấy cây khế cũng sai trĩu quả chim lạ cũng đến ăn. Người anh cũng than thở khóc lóc. Chim đáp lại và hứa mang đi lấy vàng. Bản chất tham lam, người anh liên bảo vợ may túi sáu gang để đựng được thật nhiều vàng.<br><br>Mấy hôm sau chim lạ đến đón người anh và đưa người anh đến hòn đảo đầy vàng bạc, châu báu. Người anh đã lấy đầy chặt vàng bạc trên đảo vào chiếc túi sáu gang mình mang đi. Trên đường trở về, vì phải chở nhiều vàng bạc lại bay ngược gió, chim lạ mỏi cánh. Chim giục người anh vứt bớt vàng đi nhưng người anh nhất quyết không nghe.<br><br>Chim phượng hoàng bực tức, không chịu nổi sức nặng nó nghiêng cánh hất người anh tham lam cùng vàng bạc xuống biển. Thế là hết đời kẻ tham lam.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-06 04:49:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3353632482</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354213481</link>
         <description><![CDATA[<p>Mình vừa đọc câu chuyện: Sự tích Hồ Ba Bể</p><p>Ngày xưa, ở vùng Bắc Cạn, mỗi năm dân làng Năm Mẫu đều có tổ chức lễ cúng Phật lớn, gọi là lễ Vô Giá. Dân chúng khắp miền mạn ngược tề tựu lại rất đông. Một hôm, có một bà lão bệnh cùi đến làng dự lễ. Quần áo bà rách rưới, tả tơi. Người bà bốc mùi hôi hám, rất khó chịu, khiến mọi người phải lánh xa. Bà lão hủi này đến nhà nào xin ăn, đều bị xua đuổi, mắng nhiếc. Người ta sợ lây bệnh cùi hủi.</p><p>Tuy nhiên, có người biết động lòng thương hại. Đó là một người đàn bà goá, ở với con trai. Bà không kinh tởm, gọi bà lão hủi vào nhà cho ăn uống no đủ. Sau đó, bằng lòng cho bà lão ăn mày ngủ nhờ một đêm, ở góc vựa lúa, trong lều. Đến nửa đêm, hai mẹ con bỗng giật mình thức giấc, nghe có tiếng động ầm ầm dữ dội từ phiá vựa thóc. Mở cửa vựa thóc ra, không thấy bà lão cùi đâu, mà là một con rắn lớn uốn mình ầm ầm như tiếng sấm. Hai mẹ con kinh hãi trở ra, thao thức, lo sợ, không ngủ được nữa. Đến sáng, thấy bà lão đi ra từ vựa thóc, nói:</p><p>– Tôi thật sự không phải là người, chỉ giả dạng ăn mày để thử lòng từ thiện của tín hữu nam nữ đến làng Năm Mẫu lễ Phật. Tất cả mọi người đều xua đuổi tôi, ngoại trừ 2 mẹ con nhà này. Họ đều là khẩu Phật tâm xà, sẽ không tránh khỏi hình phạt của bề trên đã giao phó cho tôi thi hành. Hai mẹ con bà biết thương kẻ khốn cùng, cho nên tôi xin báo trước là sắp có tai họa lớn xảy ra. Hễ khi nào thấy có nước nguồn bắt đầu đổ về đây, thì hai mẹ con hãy mau mau chạy lên đỉnh núi mà tránh.</p><p>Nói xong, bà lão biến mất. Qua ngày hôm sau, trong lúc mọi người đang chen nhau đến dự lễ Phật giữa làng, bỗng nhiên, nước ở đâu cuồn cuộn đổ tới tứ phía, tràn vào thung lũng. Người ta trèo lên mái nhà, trèo lên cây. Nhưng nước cứ dâng tràn đầy lên mãi, ngập cả những nóc nhà và cây cao. Tất cả mọi người đều bị chết ngộp, trừ 2 mẹ con bà goá kia đã chạy vội thoát lên được trên đỉnh núi cao.</p><p>Trên núi, hai mẹ con dựng lên một gian nhà nhỏ sinh sống. Nơi này, về sau trở thành một ngôi làng đông đúc, và ngày nay vẫn có tên là làng Năm Mẫu. Cả thung lũng bị nước tràn ngập thì hoá thành 3 cái hồ rộng lớn, mênh mông như bể, nên người ta gọi là Hồ Ba Bể. Nước ở ba hồ lưu thông nhau, nhưng ghe thuyền không thể đi được từ hồ này sang hồ kia, vì có các đập đá lớn ngăn trở. Hồ Ba Bể rộng bát ngát, nước trong xanh như ngọc bích, nổi bật giữa núi rừng hùng vĩ của miền thượng du Bắc Việt.</p><p><br/></p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-06 12:42:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354213481</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354360420</link>
         <description><![CDATA[<p>Đây là câu chuyện Sự tích cây cú sữa</p>]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?v=8j9QZ_x1whM" />
         <pubDate>2025-03-06 14:21:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354360420</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354365445</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Truyện cổ tích dân gian Việt Nam – Sự Tích Hoa Đại</strong></p><p>Ở một ngôi làng nọ có một em bé mồ côi cha sống chung với mẹ. Gia cảnh nghèo khổ, em phải đi ở đợ cho lão đồ tể cùng làng. Trong một lần lên núi, em bắt gặp chú hươu con lạc mẹ và kết bạn với nó. Nhưng không may lão đồ tể đã phát hiện ra sự tồn tại của chú hươu và định giết hươu. Em bé đã bảo vệ cho hươu trốn thoát nhưng lại suýt bị lão đồ tể đánh chết trong cơn giận. Hươu con đã quay lại cứu em. Em quay về nhà và may mắn được người chú hứa dẫn đi xa, trốn khỏi lão đồ tề.&nbsp;</p><p>Trước khi đi, em bé đã hứa sẽ quay về để gặp lại người bạn thân thiết của mình. Thời gian trôi qua hươu vẫn còn nhớ lời hẹn ước khi xưa và luôn chờ đợi bạn mình nhưng tuổi thọ hươu không dài bằng con người. Khi em bé trưởng thành và quay về cố hương thì hươu đã chết và biến thành một cây hoa có mùi hương sâu đậm, dẫn lối để bạn tìm đến mình. Cây hoa này có tên là hoa Đại, có người nói cái tên này xuất phát từ chữ Đợi.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-06 14:25:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354365445</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354368106</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Truyện cổ tích Việt Nam dành cho bé – Cậu Bé Tích Chu </strong></p><p>Tích Chu là một cậu bé mồ côi cha mẹ và sống chung với bà mình. Khi còn bé Tích Chu hứa với bà rằng lớn lên sẽ hiếu thảo, đỡ đần công việc cho bà. Nhưng lớn hơn vài tuổi, Tích Chu lại ham chơi không quan tâm đến bà. Một ngày bà sốt cao, khát nước, gọi Tích Chu mãi không được. Tích Chu về nhà phát hiện ra bà đã biến thành chim và sắp bay đi. Hối hận, Tích Chu quyết tâm phải tìm được suối tiên để cứu bà. Cuối cùng lòng hiếu thảo và sự kiên trì của cậu bé đã được đền đáp. Bà Tích Chu quay về làm người và sống hạnh phúc bên đứa cháu ngoan ngoãn, chăm chỉ của mình.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3496835454/f6d207d1db0d593db5bd5a589e7460eb/image.jpeg" />
         <pubDate>2025-03-06 14:26:32 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354368106</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354369090</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Truyện cổ tích Việt Nam hay nhất thế giới – Bà Chúa Bèo</strong></p><p>Một năm nọ, ngôi làng kia gặp hạn mất mùa, lúa nghẹn đòng, cả làng có nguy cơ gặp nạn đói. Bên bờ ruộng có một cô bé dân làng ôm mặt khóc vì lo cho cả làng. Tiếng khóc của cô khiến Bụt hiện ra, Bụt nói rằng chỉ cần cô đưa cho Bụt món đồ quý nhất của mình thì cánh đồng lúa sẽ được cứu. Cô bé đã đưa ra đôi hoa tai hình hoa dâu mà người mẹ quá cố tặng cô. Bụt đã biến đôi hoa tai này thành cây bèo và bảo cô bé chạm vào nó để nhân giống bèo lên. Sau khi bèo xuất hiện, cây lúa tươi tốt trở lại. Dân làng rất biết ơn cô bé và tôn cô thành Bà Chúa Bèo.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-06 14:27:08 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354369090</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354370843</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Truyện cổ tích Việt Nam ngày xưa – Sự Tích Hoa Ban</strong></p><p>Ở bản làng nọ có cô gái tên Ban đẹp người đẹp nết, nàng đem lòng yêu chàng Khum khỏe mạnh, giỏi săn bắn làm nương. Nhưng cha nàng chê Khum nghèo, quyết gả nàng cho con trai nhà tạo mường, vừa lười vừa gù. Ban chạy đi tìm người yêu nhưng đúng lúc Khum đi xa, nàng bèn buộc chiếc khăn piêu của mình ở nhà Khum rồi trèo đèo vượt suối đi tìm chàng. Cuối cùng nàng kiệt sức mà chết hóa thành hoa Ban. Còn Khum quay về biết chuyện bèn đi tìm người yêu nhưng mãi không thấy nên chết hóa thành chim, xuân đến hoa ban nở, chim tha thiết gọi bạn tình.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-06 14:28:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354370843</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354372673</link>
         <description><![CDATA[<p>Ngày xưa trời cách mặt đất rất gần, gần đến nỗi chỉ cần con người vung chày giã gạo là có thể chạm vào bụng trời. Con người một lúc một đông, tiếng giã gạo mỗi lúc một nhiều. Điều này khiến nhà trời rất tức giận. Nhà trời bèn phái bọ hung xuống trần truyền lệnh cho con người rằng ba ngày mới được một bữa, mỗi bữa chỉ được ăn ba bát cơm. Vì bọ hung có tính hay quên nên nó cứ lẩm nhẩm lại câu lệnh này và bị một người nông dân nghe được. Anh bèn nhảy ra hù dọa khiến bọ hung quên mất câu lệnh và sửa nó thành: ngày ăn ba bữa, ăn vặt không kể. Câu lệnh này đã khiến con người chăm giã gạo hơn, bọ hung thì bị nhà trời phạt đi hốt phân suốt kiếp còn nhà trời thì nâng trời lên cao, cách xa trần gian.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3496835454/26e4397410a8ca9502d0389ed010e092/image.jpeg" />
         <pubDate>2025-03-06 14:29:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354372673</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354374448</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Truyện cổ tích Việt Nam cho trẻ em – Sự Tích Con Muỗi</strong></p><p>Ngày xưa có một đôi vợ chồng tên Ngọc Tâm – Nhan Diệp. Người chồng chăm chỉ, chịu khó, người vợ xinh đẹp, ham thích xa hoa. Bỗng một ngày biến cố ập tới, Nhan Diệp lăn ra chết. Ngọc Tâm thương xót mang xác vợ giong thuyền đi khắp nơi, đến núi Thiên Thai thì gặp được thần tiên bày kế. Ngọc Tâm cho vợ 3 giọt máu để vợ sống lại. Sau khi Nhan Diệp sống lại, cô gặp được gã nhà giàu ham mê sắc đẹp của cô và đi theo gã, bỏ rơi chồng mình. Ngọc Tâm đau khổ, quyết đòi lại 3 giọt máu, khiến Nhan Diệp mất mạng. Từ đó, Nhan Diệp hóa thành con muỗi, tìm kiếm Ngọc Tâm để lấy 3 giọt máu hồi <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://cdn.popsww.com/blog-kids/sites/3/2023/02/tuyen-tap-truyen-co-tich-viet-nam-.jpg">sinh.</a></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3496835454/5aea4d7bccb47a22ee4ecb0e2df0b1c5/image.jpeg" />
         <pubDate>2025-03-06 14:30:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354374448</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354376176</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Truyện cổ tích Việt Nam dành cho trẻ em – Quả Bầu Tiên</strong></p><p>Ở một ngôi làng nọ có một cậu bé tính tình hiền lành, lương thiện. Một lần cậu cứu được một chú én nhỏ đang bị thương và lạc bầy. Sau khi chăm sóc cho én khỏe lại cậu bé đã thả én bay về với đàn để đi tránh rét. Mùa xuân tới, én quay về và mang cho cậu bé một hạt bầu giống. Cậu bé trồng hạt giống này và thu hoạch được một quả bầu đầy vàng bạc, châu báu. Tên địa chủ trong làng biết chuyện bèn tìm một con én, bẻ gãy cánh nó rồi giả vờ mang về chăm sóc. Nhưng không ngờ lần này én lại mang về hạt giống quả bầu chứa đầy rắn rết và cắn chết tên địa chủ tham lam độc ác.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3496835454/5b06882ac9ba1437d30b1b9c26c0d76b/image.jpeg" />
         <pubDate>2025-03-06 14:31:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354376176</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354377123</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Truyện cổ tích Việt Nam có thật – Đứa Con Trời Đánh</strong></p><p>Xưa kia có một gã vũ phu sống cùng mẹ và vợ, gã hay ra tay đánh chửi vợ mình, thứ duy nhất mà gã trân trọng là con gà chọi mang lại cho gã nhiều giải thưởng. Một hôm gã có việc đi xa nhà, dặn vợ nếu để gà chết thì gã cũng lấy mạng vợ luôn. Chị vợ ở nhà vì đuổi gà mổ đậu mà lỡ tay chém chết gà. Mẹ gã quyết định nhận tội thay chị để tránh cơn thịnh nộ của gã. Ai ngờ đến cả mẹ mình mà gã cũng nhẫn tâm lấy mạng. Ngọc Hoàng biết mọi chuyện bèn phái Thiên Lôi đánh chết gã và thích lên mặt dòng chữ “quý gà chôn mẹ, tội ác không tha”.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-06 14:32:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354377123</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354377667</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Truyện cổ tích Việt Nam chọn lọc – Sự Tích Chim Đa Đa</strong></p><p>Cậu bé Đa Đa mồ côi mẹ năm bảy tuổi, cha cậu không có thời gian chăm sóc cậu nên cưới một người vợ mới về. Vợ kế là người độc ác, thường xuyên mắng nhiếc, đánh đập Đa Đa. Cậu không chịu được bèn nói với cha, mẹ kế biết thì càng thêm ghét cậu. Ả ta xúc một bát cát rồi phủ cơm trắng lên cho Đa Đa ăn, Đa Đa không ăn ngồi khóc thì ả ta mắng vốn với chồng mình. Người cha vốn nóng tính nên đánh cậu, ai ngờ sảy tay khiến cậu chết, bát cơm vỡ tung toàn cát là cát. Hiểu ra mọi chuyện, người cha chôn cất con và đuổi vợ kế đi. Hồn Đa Đa hóa thành chim và hát: “Bát cơm cát trả cho cha, đánh bể óc ác la, ác la đa.”</p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-06 14:32:28 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354377667</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354377916</link>
         <description><![CDATA[<p>Đây là câu chuyện Sự tích Hồ Gươm</p><p>Vào thời giặc Minh&nbsp;xâm lược nước ta, đi đến đâu chúng cũng tàn sát người dân vô tội, cướp bóc của cải của nhân dân. Cuộc sống của người dân vô cùng cực khổ, và lầm than. Thấy cuộc sống của trăm dân như vậy một số người có lòng yêu nước đã tụ họp lại với nhau cùng bàn bạc làm một cuộc khởi nghĩa để chống lại sự tàn ác và bạo ngược của quân giặc. Trong đó có nghĩa quân ở vùng Lam Sơn.</p><p>Tuy nhiên, nghĩa quân cũng chỉ toàn là những người nông dân áo vải, binh khí thì thô sơ mà chưa thu hút được nhiều người nên chưa có đủ sức mạnh để chiến đấu chống lại quân giặc. Rất nhiều lần nghĩa quân đã đứng lên khởi nghĩa nhưng lần nào cũng bị binh tướng nhà Minh đánh cho bại trận. Đức Long Quân&nbsp;nhìn thấy tấm lòng chiến đấu quả cảm và tinh thần yêu nước của nghĩa quân, liền quyết định cho nghĩa quân mượn thanh gươm thần để tăng thêm sức mạnh và sĩ khí chiến đấu cho họ.</p><p>Hồi ấy ở Thanh Hóa, có một người đi đánh cá dưới sông, khi kéo lên thấy lưới rất nặng. Anh ta nghĩ thầm trong bụng: “Phen này chắc là được nhiều cá lắm đây!“. Tuy nhiên khi lưới được kéo lên thì không có một con cá nào mà chỉ là một lưỡi gươm cũ. Anh ta liền vứt lưỡi gươm trở lại sông, lần thứ hai chàng kéo lưới, lưỡi gươm ấy lại vướng vào. Lần này anh quăng lưỡi gươm đi xa hơn nữa.</p><p>Đến lần thứ ba kéo lưới vẫn là lưỡi gươm đó mắc vào. Thấy lạ, anh liền cầm lưỡi gươm cũ lên và mang về để trong góc nhà. Người đó tên là Lê Thận – một nông dân quê ở Thanh Hóa, có lòng yêu nước nồng nàn, từ lâu đã có ý muốn gia nhập cùng nghĩa quân Lam Sơn.</p><p>Lực lượng của nghĩa quân Lam Sơn lúc bấy giờ đã ngày càng đông, muốn chiêu binh thêm những người tài giỏi và có lòng yêu nước tham gia. Lê Thận có sức khỏe cùng với lòng yêu nước mong đánh đuổi giặc ngoại xâm từ lâu nên đã gia nhập nghĩa quân. Anh tham gia những trận chiến quan trọng và góp nhiều công sức trong các trận thắng lớn, được Lê Lợi vô cùng tin tưởng.</p><p>Một lần Lê Lợi đưa quân qua vùng Thanh Hóa đã vào nhà Lê Thận để nghỉ ngơi. Vừa vào tới nhà, Lê Lợi và các tướng lĩnh thấy lưỡi gươm cũ vứt ở xó nhà của Lê Thận phát ra ánh hào quang sáng chói. Mọi người tiến lại cầm lên xem thì thấy trên lưỡi gươm có khắc hai chữ “thuận thiên”. Tất cả vô cùng ngạc nhiên nhưng cũng không nghĩ đó là báu vật, chỉ cho đó là lưỡi gươm bình thường mà thôi.</p><p>Thời gian sau, nghĩa quân tổ chức rất nhiều trận đánh trả quân Minh. Trong một đánh không may nghĩa quân bại trận, Lê Lợi bị quân giặc đuổi theo vào trong rừng sâu. Khi đang chạy trốn, ông nhìn thấy có một vật sáng chói trên cành cây. Lấy làm tò mò, Lê Lợi liền trèo lên cành cây thì thấy một cái chuôi gươm nạm ngọc&nbsp;sáng lấp lánh. Lại nhớ tới hôm ở nhà Lê Thận có lưỡi gươm phát sáng Lê Lợi liền cầm chuôi gươm về.</p><p>Vài hôm sau, gặp Lê Thận, Lê Lợi kể lại chuyện nhặt được chuôi gươm phát sáng và bảo Lê Thận cho mượn lưỡi gươm cũ. Không ngờ sau khi cho lưỡi gươm vào trong chuôi gươm thì lại vừa in như một cặp, lưỡi gươm trở lên sáng chói và sắc nhọn vô cùng.</p><p>Lê Thận và mọi người ở đó đều quỳ rạp dưới chân Lê Lợi mà rằng: “Có lẽ đây là gươm báu trời ban, giúp nghĩa quân đánh giặc xâm lược. Nay xin chủ tướng cầm gươm báu để lãnh đạo nghĩa quân đánh đuổi giặc Minh ra khỏi bờ cõi nước ta, để cho muôn dân được hưởng cuộc sống yên bình”.</p><p>Lê Lợi nhận thanh gươm từ tay Lê Thận, hứa sẽ dốc hết lòng lãnh đạo nghĩa quân thuận theo ý trời.</p><p>Kể từ đó, nghĩa quân đánh đâu thắng đó, trăm trận trăm thắng. Dần dần lực lượng quân Minh bị suy yếu, nghĩa quân không còn phải trốn ở trong rừng nữa, mà chuyển sang đối đầu trực diện. Kho lương thực cũng ngày càng đầy đủ do chiếm được của quân giặc càng giúp cho quân lính cóthêm khí thế chiến đấu hơn trước.</p><p>Chẳng bao lâu sau, dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi và nhờ gươm thần mà nghĩa quân đã đánh bại quân Minh. Giặc sợ hãi bỏ tháo chạy về phương Bắc, muôn dân lại được thái bình.</p><p>Sau khi đánh đuổi hết giặc Minh, Lê Lợi lên ngôi vua để trị vì và thống nhất đất nước.</p><p>Một năm sau, khi nhà vua cùng các bề tôi thân tín ngồi thuyền đi dạo trên hồ Tả Vọng trước kinh thành. Đức Long Quân sai rùa vàng lên để lấy lại thanh gươm thần.</p><p>Khi thuyền ra tới giữa hồ thì bất ngờ từ dưới làn nước trong xanh, có một con rùa vàng ngoi đầu lên, cất tiếng:</p><p>– Thưa nhà vua, lúc trước Đức Long Quân có cho nhà vua mượn thanh gươm thần để đánh giặc. Nay nghiệp lớn đã hoàn thành, xin nhà vua hãy trả lại gươm thần!</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-06 14:32:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354377916</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354378758</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Truyện cổ tích Việt Nam có ý nghĩa – Nàng Tiên Gạo</strong></p><p>Một năm nọ, dân làng gặp phải cảnh mất mùa nên phải kéo nhau tới làm thuê cho lão nhà giàu nhất vùng. Dù giàu nhưng lão rất keo kiệt, chỉ trả công bằng một bát cơm độn nhiều ngô sắn. Có cô gái nọ thương mẹ, chỉ ăn một nửa còn một nửa mang về cho mẹ già. Sau đó một cơn lũ kéo tới, cuốn phăng lúa nhà lão địa chủ khiến lão trắng tay. Cô gái quay về cuộc sống hàng ngày bên mẹ. Một lần cô cứu được một bà lão và được bà tặng cho một gùi thóc. Cô chia thóc cho dân làng, vụ mùa đó dân làng bội thu và không còn chịu cảnh đói khát.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3496835454/952fdc9433debceb1f865976ce75e87f/image.jpeg" />
         <pubDate>2025-03-06 14:33:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354378758</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354380216</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Truyện cổ tích Việt Nam đặc sắc – Tại Sao Trâu Đen Bò Vàng</strong></p><p>Trâu và Bò là anh em kết nghĩa thân thiết, khi còn nhỏ lông chúng trắng phau, mềm mịn. Lớn lên, Trâu&nbsp; chăm chỉ, giúp đỡ con người cày bừa nên được người yêu thích cho ăn no, còn để Trâu canh chừng kho rơm. Ngược lại, Bò ham ăn biếng làm nên bị bỏ đói. Bò tìm đến Trâu xin đồ ăn nhưng Trâu cự tuyệt, Bò tức lắm bèn tìm cách đốt kho rơm khiến da Trâu cháy đen thui, còn mình cố gắng lao vào kiếm ít rơm ăn, bị lửa hơ nóng nên da biến thành màu vàng.</p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-06 14:33:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354380216</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354381709</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Đọc truyện cổ tích Việt Nam cho bé – Sự Tích Hoa Đào</strong></p><p>Ngày xưa, có hai vị thần tên là&nbsp; Trà và Uất Lũy, ngự ở cây hoa đào, chuyên đánh đuổi yêu quái, bảo vệ người dân. Lũ yêu quái rất sợ hai thần cùng với hoa đào mà thần ngự. Dịp cuối năm, hai thần về chầu Trời, người dân lo sợ yêu quái lại mò đến phá hoại nên tìm hoa đào về để trong nhà, đồng thời vẽ hình hai thần lên giấy hồng điều và dán lên trước cửa nhà. Dần dần nó trở thành tục lệ trong dịp Tết của người Việt.</p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3496835454/acb746504a8ad4b6628a532c088878e3/image.jpeg" />
         <pubDate>2025-03-06 14:34:43 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354381709</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354382627</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Truyện cổ tích ở Việt Nam – Sự Tích Củ Mài</strong></p><p>Một năm mất mùa, vợ chồng con cái nhà kia chịu cảnh đói khát. Thương con, vợ chồng họ cố gắng đi xa kiếm lúa giống rồi lên nương trồng trọt. Mấy đứa con vì quá đói nên kéo nhau vào rừng kiếm ăn, vừa đi vừa kêu đói quá cha mẹ ơi. Cha mẹ chúng nghe tiếng kêu thì rất xót con. Cuối cùng lúa cũng chín, họ vội vàng đổ xôi mang về nhà nhưng con họ đã biến mất. Họ vào rừng tìm kiếm thì thấy con mình hóa thành chim. Đau khổ, kiệt sức, vợ chồng họ chết đi, những chú chim lấy xôi đắp lên thân thể cha mẹ mình khiến họ hóa thành một loài cây có củ, củ nó mềm dẻo như xôi, người ta đặt tên là củ mài.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3496835454/21dee8f5e702c6b2cfab64c088da6cd1/image.jpeg" />
         <pubDate>2025-03-06 14:35:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354382627</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354385092</link>
         <description><![CDATA[<p>TRUYỆN SƠN TINH THUỶ TINH</p><p>Vào đời Vua Hùng thứ 18, Vua có một người con gái đã đến tuổi cập kê, công chúa có dung nhan xinh đẹp tuyệt trần, lại còn có một làn da trắng trẻo mịn màng, dáng người nàng cũng cao ráo. Tên của nàng công chúa này là Mỵ Nương. Khi thấy con gái của mình đã tới tuổi để gả chồng nên Vua liền cho ban truyền tìm kiếm nhân kiệt ở khắp nhân gian hòng kén được một người phò mã đủ tài đủ đức.</p><p>Nghe được tin Vua Hùng ban tin kén rể khắp nơi cho con gái, vua nước Tây Âu liền đem tới rất nhiều những vàng bạc cùng châu báu như là cau vàng, trầu bạc để mà dạm hỏi cưới nàng Mỵ Nương. Thấy vậy Vua Hùng lập tức cho triệu tất cả Lạc Hầu của mình vào cung để mà hội ý. Những Lạc Hầu này tâu rằng:</p><p>– Vua nước Tây Âu ấy là một con người rất cường bạo, tuổi cũng khá cao rồi, mà hình dáng cũng rất kì quái, làm sao mà có thể xứng đôi với công chúa của chúng ta được.</p><p>Nghe những lời khuyên can của đám Lạc Hầu nên Vua Hùng liền từ chối lời cầu hôn của vua nước Tây Âu kia. Cũng chính từ ngày đó mà mối quan hệ giữa nước Văn Lang cùng Tây Âu xấu đi, nảy sinh hiềm khích khó tháo gỡ.</p><p>Bẵng đi một thời gian thì lại có hai chàng trai tới để dạm hỏi cưới nàng công chúa Mỵ Nương. Hai chàng trai này đều vô cùng xuất sắc và tuấn tú. Một người là Sơn Tinh (Chính là thần núi Tản Viên, hay còn gọi là Thánh Tản), người còn lại là Thủy Tinh (Chính là Thần Nước, hay Thần Biển Cả).</p><p>Vua Hùng liền cho truyền cả hai chàng trai này vào triều để trổ tài, nếu như ai có tài hơn thì Vua sẽ chấp nhận gả con gái mình, tức công chúa Mỵ Nương cho người đó.</p><p>Chàng Sơn Tinh&nbsp;trổ tài trước, chàng có phép chỉ tay tới đâu thì nơi đó lại mọc lên những rừng núi hùng vĩ, chim muông đông đúc từng đàn. Còn chàng Thủy Tinh lại có phép vẫy tay thì nước sẽ ào ào mà dâng lên thật cao, còn có cả thuồng luồng và ba ba hàng đàn kéo nhau nổi lên mặt nước nữa.</p><p>Cả hai chàng trai đều vô cùng tài giỏi, có thể gọi là ngang tài cân sức nên Vua Hùng không biết phải chọn ai mới được. Vì vậy để quyết định thắng thua mà Vua đã phải ra thêm thử thách khác, người nào chiến thắng thì sẽ trở thành phò mã. Vua nói rằng:</p><p>– Hai ngươi đều rất tài giỏi, ngang tài cân sức với nhau, vì vậy nên ta không thể chọn một trong hai được. Bây giờ sẽ như thế này, ngày mai nếu như một trong hai ngươi, người nào có thể đem được đồ sính lễ gồm có một trăm ván cơm nếp, một trăm tệp bánh trưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, mỗi thứ phải có một đôi tới đây sớm hơn thì người đó sẽ được cưới con gái của ta.</p><p>Tuy nói rằng không thể chọn ai nhưng tất cả những đồ lễ mà Vua Hùng yêu cầu hai chàng chuẩn bị thì tất cả đều là những sản vật ở trên đất liền. Điều đó có thể cho thấy được Vua Hùng cũng đã ngầm đồng ý gả nàng Mỵ Nương cho Sơn Tinh rồi.</p><p>Ngày hôm sau, khi bầu trời bên ngoài chỉ vừa hửng sáng thì Sơn Tinh đã đem được đầy đủ các loại lễ vật theo đúng yêu cầu của Vua Hùng đến cung vua để xin hỏi cưới nàng Mỵ Nương. Bởi vì những đồ lễ vật ấy với một thần núi như chàng thì vô cùng dễ để chuẩn bị.Vua Hùng vô cùng hài lòng với biểu hiện của Sơn Tinh nên đã bằng lòng cho phép Sơn Tinh được cưới con gái Mỵ Nương của mình.</p><p>Còn Thủy Tinh bởi vì khó tìm kiếm những món lễ vật hỏi cưới đó nên đến trễ hơn một chút, chàng vô cùng hốt hoảng khi được tin nàng Mỵ Nương đã cùng đi với phu quân của mình là Sơn Tinh. Vì thế nên Thủy Tinh lập tức đuổi theo, đem cả đám binh tướng của mình tới đánh Sơn Tinh thề phải cướp lại nàng Mỵ Nương cho bằng được.</p><p>Thủy Tinh cứ thế hô mưa rồi gọi gió làm rung chuyển trời đất, khiến cho nước biển cuồn cuộn dâng lên để đánh Sơn Tinh. Khi nước dâng cao khiến cho lúa ngập, đồng cũng ngập, sau đó thì nhà cửa cũng ngập nốt. Và giông tố cứ mỗi lúc lại càng dữ dội hơn, nước cũng càng ngày càng dâng cao hơn nữa, đám thủy quái thì cứ đông lên nhiều lần, chúng rầm rầm rộ rộ làm theo tất cả những mệnh lệnh của Thủy Tinh.</p><p>Tất cả cư dân của nước Văn Lang lúc bấy giờ đều chung sức và chung lòng ra tay để giúp đỡ cho Sơn Tinh. Hơn nữa thần trống đồng thiêng liêng cũng hiện về để giục giã, cổ vũ cho mọi người ra trận mà tiêu diệt đám thủy quái hung bạo kia, đồng thời chống cả lũ lụt dữ dội. Những người nào khỏe mạnh thì đi đào đất để đắp thành đê. Chính vì thế mà ra đời những con đê dùng để chống lụt hiện nay của người Việt ta. Những đoạn đê dựng lên ngày càng cao hơn, chắc hơn, ngăn chia rồi chặn đứng được tất cả sự phá phách khủng khiếp của lũ lụt.</p><p>Đối mặt với tình cảnh này, Sơn Tinh không hề có chút nao núng nào cả, chàng liền dùng phép của mình để bốc những quả đồi, rồi dời đi những dãy núi để mà tạo thành bức tường vững chắc ngăn chặn dòng nước lũ của đối thủ. Dòng nước lũ của Thủy Tinh dâng cao bao nhiêu thì những dãy núi của Sơn Tinh lại mọc cao lên bằng ấy. Đội quân của Sơn Tinh bê những hòn đá lớn, nhỏ ném tới tấp vào đám quân của Thủy Tinh ở dưới nước khiến chúng chết vô số kể. Xác cá, xác thuồng luồng, xác ba ba cứ nổi đầy kín cả mặt nước.</p><p>Thủy Tinh cứ dâng nước lên một trào, Sơn Tinh lại nâng núi, nâng đất đá cao lên một vì. Khi Thủy Tinh lại dâng nước lên hai đợt thì Sơn Tinh lại tiếp tục mà dựng núi của mình lên hai vì. Vào đợt thứ ba thì Thủy Tinh liền xô nước tới, Sơn Tinh nhanh chóng nâng núi của mình lên đến ba vì. Cũng chính vì trận chiến này mà núi Tản Viên xưa còn được gọi với cái tên Ba Vì.</p><p>Cả hai bên đã đánh nhau kéo dài tới mấy tháng ròng. Nhưng sau cùng bởi vì đuối sức nên Thủy Tinh phải cho quân rút trở về. Kể từ ngày đó thì chàng Sơn Tinh và nàng Mỵ Nương cũng được sống bên nhau vui vẻ, hạnh phúc.</p><p>Tuy nhiên thì ân oán của Sơn Tinh cùng Thủy Tinh lại càng ngày càng nặng, hận thù cũng càng ngày càng sâu hơn. Mỗi năm vào tầm tháng 7 theo Âm lịch thì Thủy Tinh lại nghĩ tới ân oán khi xưa, lập tức đem dâng nước kéo tới đánh nhau cùng Sơn Tinh. Tuy vậy nhưng mỗi lần như vậy thì Thủy Tinh đều nhận lấy thất bại rồi phải kéo quân ra về.</p><p>Truyền thuyết về Sơn Tinh – Thủy Tinh vô cùng nổi tiếng, và là một trong những cách lý giải của người Việt xưa về hiện tượng lũ lụt cùng những cách để chống lũ lụt của nước mình.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-06 14:36:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354385092</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354387242</link>
         <description><![CDATA[<p>Bạn có biết những cơn mưa và lũ lụt luôn kéo đến vào các thời điểm trong năm đều được người đời cho là bắt nguồn từ truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh không. Truyền thuyết kể rằng, ngày xưa vào đời <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://www.bachhoaxanh.com/kinh-nghiem-hay/su-tich-vua-hung-truyen-thuyet-ve-cong-dung-nuoc-1468212">vua Hùng</a> thứ 18, nhà vua có một cô con gái vô cùng xinh đẹp tên là Mỵ Nương và muốn con gái có một tấm chồng, ông đã mở một đại hội kén rể.</p><p>Trong đó, có hai vị thần quyền năng muốn tham gia vào đại hội kén rể là Sơn Tinh - sơn thần của núi Tản Viên và Thủy Tinh - thủy thần cai trị biển cả. Hai vị thần đều ngang sức ngang tài chẳng ai nhường nhịn ai nên nhà vua đã bèn nghĩ ra lễ vật cầu hôn.</p><p>Ngạc nhiên là các món lễ vật đều ở trên cạn như 100 phần cơm nếp, 100 nồi bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao. Do sản vật đều nghiêng về Sơn Tinh nên chàng đã dâng lên nhà vua nhanh hơn Thủy Tinh.</p><p>Thủy Tinh rất tức giận và không cam tâm nên đã dâng nước lên đánh với Sơn Tinh nhưng lần nào phần thắng cũng thuộc về Sơn Tinh.</p><p>Do không bằng lòng với kết quả trên nên mỗi năm Thủy Tinh sẽ tiếp tục dâng nước lên thật cao để một ngày nào đó sẽ đánh bại Sơn Tinh.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3496835454/cce269c1650d89192793282cdacc2b6e/image.jpeg" />
         <pubDate>2025-03-06 14:37:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354387242</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354388565</link>
         <description><![CDATA[<p><em>Con Rồng Cháu Tiên</em></p><p>Trong chúng ta ai cũng muốn tìm hiểu nguồn gốc hình thành nên con người là như thế nào và ra sao. Truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên sẽ cho bạn biết chúng ta được hình thành ra sao nhé. Truyện kể rằng, vào đời vua Lạc Long Quân vốn là con Rồng, chàng có cảm tình với nàng Âu Cơ vốn là con của Tiên.</p><p>Sau đó, cả hai được gia đình chấp thuận và lấy nhau làm vợ chồng. Âu Cơ cấn thai và đã sinh ra một bọc trăm trứng có trai có gái. Vì Âu Cơ là dòng dõi Tiên còn Lạc Long Quân là con cháu của Rồng nên cả hai không thể ở chung để nuôi con. Do đó họ quyết định đem 50 người con xuống biển với cha và 50 người con lên non cùng mẹ.</p><p>Trăm người con đó trở thành tổ tiên của tộc người Bách Việt. Người con trưởng ở đất Phong Châu được tôn làm vua nước Văn Lang lấy hiệu là Hùng Vương và truyền ngôi báu duy trì được 18 đời vua</p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3496835454/e00b334650b7a33c2af245cdca3dc60e/image.jpeg" />
         <pubDate>2025-03-06 14:38:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354388565</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354395905</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Truyền thuyết Thánh Gióng - Truyện cổ tích thần kỳ</strong></p><p><strong><em>Đời Hùng Vương thứ Sáu. Có một người đàn bà đã 60 tuổi. Một hôm bà đặt chân vào một vết chân rất to lớn sau đó về nhà bà có thai. Bà sinh ra một đứa con trai đặt tên là Gióng lên ba vẫn không biết nói. Nhưng khi nghe sứ giả tìm người đánh giặc thì tự nhiên nói với mẹ mời sứ giả đến. Lúc ấy gióng thành người to lớn ăn bao nhiêu cũng không đủ. Sau đó ra trận đánh giặc khi đã đủ những thứ dặn dò sứ giả mang đến.&nbsp;Đánh tan giặc, Gióng trút bỏ quần áo bay thẳng lên trời.</em></strong></p><p>Vào thời vua Hùng Vương có một người đàn bà đã nhiều tuổi nhưng sống một mình. Như thường lệ, một buổi sáng dậy bà đi thăm nương, bỗng nhìn thấy một vết chân giẫm nát cả mấy luống cà của mình. Nhìn vết chân bà ngạc nhiên kêu lớn: – “Chao ôi! Bàn chân ai mà to thế này!”.</p><p>Tò mò nên bà đưa chân vào ướm thử vết chân lạ kia, bỗng bà cảm thấy rùng mình khi đưa bàn chân ướm thử vào dấu chân lạ. Và từ đó bà có mang. Đủ ngày tháng, bà sinh được một đứa con trai bụ bẫm đặt tên là Gióng. Nhưng thằng bé đã lên ba tuổi rồi mà vẫn nằm ngửa đòi ăn, không biết ngồi biết lẫy, cũng không biết nói hay biết cười.</p><p>Bấy giờ có giặc Ân kéo vào cướp nước ta. Giặc Ân rất hung tàn, cầm đầu là một viên tướng tên gọi Ân vương. Chúng đi đến đâu là đốt phá nhà cửa, giết người cướp của đến đấy. Quân đội Hùng Vương nhiều phen xuất trận, nhưng đánh không nổi lại chúng. Vua Hùng lấy làm lo lắng vội phái sứ giả đi khắp nơi trong nước tìm tướng tài để giúp vua cứu nước.</p><p>Một hôm sứ giả đi đến làng chú bé Gióng. Nghe tiếng loa rao nói đến việc nhà vua cầu người tài, bà mẹ Gióng đang ru con, liền bảo đùa con rằng:</p><p>– Con ơi! Con của mẹ chậm đi chậm nói thì biết bao giờ mới đi đánh giặc giúp vua được đây!</p><p>Không ngờ Gióng nhìn mẹ mở miệng bật lên thành tiếng:</p><p>– Mẹ cho gọi sứ giả vào đây cho con!</p><p>Nói xong lại im bặt. Bà mẹ vừa mừng vừa sợ, vội đi kể chuyện với xóm giềng. Mọi người tới nhà ai nấy cho là một sự lạ. Sau cùng một người nói:</p><p>– Ta cứ đi mời sứ giả đến xem thử nó muốn cái gì.</p><p>Khi sứ giả của nhà vua bước vào nhìn thấy chú bé Gióng liền hỏi rằng:</p><p>– Mày là đứa trẻ lên ba mới học nói, mày định mời ta đến đây để làm gì?</p><p>Gióng trả lời rất chững chạc:</p><p>– Về bảo với nhà vua rèn cho ta một con ngựa sắt, một thanh gươm sắt, một giáp sắt và một nón sắt, ta sẽ đánh đuổi giặc dữ cho!</p><p>Ai nấy đứng nghe khôn xiết lạ lùng. Cho là thần nhân xuất hiện, sứ giả lập tức phi ngựa về tâu với nhà vua. Nghe nói, Hùng Vương mừng rỡ liền ra lệnh cho thợ rèn góp tất cả sắt lại rèn ngựa, gươm, áo giáp và nón như lời xin của chú bé. Mọi thứ rèn đã xong nặng không thể tưởng tượng nổi. Hàng chục người mó vào thanh gươm mà không nhúc nhích. Vua Hùng phải cho hàng ngàn quân sĩ tìm mọi cách để chở đến cho chú bé Gióng.</p><p>Khi được tin quân sĩ khiêng ngựa sắt sắp đến làng, mẹ Gióng sợ hãi chạy về bảo con:</p><p>– Con ơi! Việc nhà vua đâu phải là chuyện chơi. Hiện quân sĩ đang kéo đến ầm ầm ngoài bãi rồi, biết làm thế nào bây giờ con?</p><p>Nghe nói thế, Gióng vụt ngồi dậy, nói:</p><p>– Việc đánh giặc thì mẹ đừng lo. Nhưng mẹ phải cho con ăn thật nhiều mới được!</p><p>Mẹ vội thổi cơm cho con ăn, nhưng cứ nấu lên được nồi nào Gióng ngốn hết ngay nồi ấy. Mỗi lần ăn một nồi cơm thì Gióng lại lớn thêm một ít và đòi ăn thêm. Mẹ càng cho con ăn thì con lại càng lớn như thổi, bỗng chốc đã thành một chàng thanh niên vô cùng khỏe mạnh. Hết gạo, bà mẹ đi kêu gọi xóm làng. Mọi người nô nức đem gạo khoai, trâu, rượu, hoa quả, bánh trái mang đến đầy một sân. Nhưng đưa đến bao nhiêu thì Gióng ăn vợi hết bấy nhiêu, mà vẫn đòi ăn không nghỉ.</p><p>Sau đó, Gióng lại bảo tiếp:</p><p>– Mẹ kiếm vải cho con mặc.</p><p>Người ta lại đua nhau mang vải lụa tới may áo quần cho Gióng mặc. Nhưng thân thể Gióng lớn vượt trội một cách kỳ lạ, áo quần vừa may xong đã thấy chật, thấy ngắn, lại phải mang vải lụa tới để chắp nối thêm. Không mấy chốc đầu Gióng đã chạm đến nóc nhà. Ai nấy chưa hết kinh ngạc thì vừa lúc quân sĩ đã hì hục khiêng được ngựa, gươm, áo giáp và nón sắt tới. Gióng bước ra khỏi nhà vươn vai một cái, người bỗng cao to sừng sững, chân dài hơn trượng, hét lên một tiếng như tiếng sấm:</p><p>– Ta là tướng nhà Trời!</p><p>Thế rồi Gióng mặc giáp sắt, đội nón sắt, tay cầm gươm múa quanh mấy vòng. Đoạn từ biệt mẹ và dân làng, nhảy lên lưng ngựa. Ngựa sắt bỗng chồm lên, phun thẳng ra đằng trước một luồng lửa đỏ rực. Gióng thúc chân, ngựa phi như bay, sải từng bước dài hàng chục con sào. Chỉ trong chớp mắt, ngựa đã xông đến đồn trại giặc đang đóng la liệt cả mấy khu rừng. Lưỡi gươm của Gióng vung lên loang loáng như chớp giật. Quân giặc xông ra chừng nào chết chừng ấy. Ngựa thét ra lửa thiêu cháy từng dãy đồn trại, lửa thiêu luôn cả mấy khu rừng.</p><p>Nhưng tướng giặc Ân vương vẫn còn cố gào thét hô quân xáp tới, Gióng càng đánh càng khỏe, thây giặc nằm ngổn ngang. Bỗng chốc gươm gãy, Gióng không chút bối rối, thuận tay nhổ những bụi tre hai bên đường quật tới tấp vào các toán giặc đang cố gắng trụ lại theo lệnh chủ tướng. Chẳng mấy chốc quân giặc đã tẩu tán bỏ chạy khắp nơi, Ân vương bị quật chết tan xác. Bọn tàn binh giặc lạy lục xin hàng. Quân đội của Hùng Vương cũng như dân các làng chỉ còn việc xông ra trói chúng lại. Không đầy một buổi, Gióng đã trừ xong nạn cho nước nhà. Lúc bấy giờ ngựa Gióng đã tiến đến chân núi Sóc Sơn. Đến đây, Gióng bèn cởi giáp bỏ nón lại, rồi cả người lẫn ngựa bay thẳng lên trời.</p><p>Sau khi thắng trận, để nhớ ơn người anh hùng, vua Hùng sai lập đền thờ Gióng ở làng quê, phong làm Phù Đổng thiên vương.</p><p>Ngày nay chúng ta còn thấy vẫn còn những dấu vết như dãy ao tròn nối nhau kéo dài suốt từ Kim Anh, Đa Phúc cho đến Sóc Sơn, người ta bảo đó là những vết chân ngựa của Thánh Gióng. Khu rừng bị ngựa sắt phun lửa thiêu cháy nay còn mang cái tên là làng Cháy. Những cây tre mà Gióng đã nhổ quật vào giặc bị lửa đốt màu xanh ngả thành màu vàng và có những vết cháy lốm đốm, ngày nay giống ấy vẫn còn, người ta gọi là tre là ngà (hay đằng ngà).</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-06 14:42:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354395905</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354413139</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Câu chuyện: "SỰ TÍCH BÔNG CÚC TRẮNG"</strong></p><p>&nbsp;</p><p><strong>Ngày xửa ngày xưa, ở một xóm vắng có nhà nọ chỉ có hai mẹ con nương tựa nhau mà sống.</strong></p><p><strong>Còn người cha thì đã mất từ rất sớm, để lại hai mẹ con đơn côi trong túp lều nhỏ. Họ phải làm việc vô cùng vất vả thì mới kiếm vừa đủ ăn.</strong></p><p><strong>Vào một ngày kia, người mẹ vì làm việc quá nhiều nên bị ốm. Bà liền gọi con gái tới và bảo rằng:</strong></p><p><strong>– Con ơi! Giờ con hãy đi tìm thầy thuốc tới đây giúp mẹ.Cô bé vâng lời mẹ, vội vàng ra đi, cô cứ vừa đi vừa lo lắng cho mẹ của mình. Trên đường, cô vô tình gặp một cụ già tóc bạc, râu trắng. Cụ già thấy cô bé vội vã như vậy thì hỏi thăm:– Này cô bé, cháu đi đâu sao mà lại vội thế?</strong></p><p><br/></p><p><strong>Dù đương vội nhưng cô bé cũng dừng lại trả lời cụ già:</strong></p><p><strong>– Thưa cụ, giờ cháu đang đi mời thầy thuốc ạ, mẹ của cháu đang bị bệnh nặng.</strong></p><p><strong>Nghe vậy cụ già lại bảo cô bé:</strong></p><p><strong>– Ta chính là thầy thuốc. Vậy giờ cháu dẫn ta tới nhà cháu đi, ta sẽ khám bệnh giúp mẹ cháu.</strong></p><p><strong>Cô bé hết sức vui mừng, dẫn đường cho cụ già về nhà mình. Đến nơi, cụ già liền khám bệnh cho mẹ của cô. Sau đó thì cụ già mới bảo cô bé là:</strong></p><p><strong>– Bệnh của mẹ cháu đã nặng lắm rồi. Nhưng ta sẽ cố gắng hết sức để có thể chữa khỏi bệnh cho mẹ cháu. Giờ thì cháu phải đi ngay ra chỗ gốc đa ở đầu rừng, cháu sẽ thấy gần đó có bông hoa màu trắng, sau đó cháu hãy đem bông hoa về đây.</strong></p><p><strong>Ngoài trời bây giờ đang rất là lạnh. Mà cô bé của chúng ta chỉ mặc có một chiếc áo rất mỏng ở trên người. Nhưng thương mẹ, cô cứ đi mãi, đi mãi, cho đến khi đôi chân đã mỏi nhừ thì cô mới tới được chỗ gốc đa nơi đầu rừng như lời chỉ của cụ già kia.</strong></p><p><strong>Khi cô nhìn ngó xung quanh thì thấy ngay ở bụi cây gần đó có một bông hoa màu trắng rất là đẹp. Không chần chừ lâu, cô bé hái bông hoa, nâng niu nó trên tay như là vật quý. Đột nhiên cô bé lại nghe thấy có tiếng nói của cụ già đang văng vẳng ở bên tai mình:</strong></p><p><strong>– Bông hoa có bao nhiêu cánh nghĩa là mẹ cháu sống được bấy nhiêu ngày.</strong></p><p><strong>Cô bé lập tức nhìn xuống bông hoa và cẩn thận đếm từng cánh một:</strong></p><p><strong>– Một cánh, hai cánh, ba cánh, bốn cánh… hai mươi cánh. Trời ơi! Nghĩa là mẹ mình chỉ còn có thể sống được hai mươi ngày nữa sao?</strong></p><p><strong>Sau một hồi suy nghĩ thì cô bé liền ngồi xuống, nhẹ nhàng xé từng cánh hoa ra thành rất nhiều sợi nhỏ khác. Và mỗi sợi nhỏ ấy lại trở thành một cánh hoa vừa dài vừa mượt. Từ bông hoa chỉ có hai mươi cánh giờ đã trở thành bông hoa có vô vàn là cánh hoa.</strong></p><p><strong>Sau đó cô bé mới đem theo bông hoa chạy nhanh về nhà. Về đến nơi cô đã thấy cụ già kia đứng ngay cửa để chào đón mình. Cụ già tươi cười mà nói với cô rằng:</strong></p><p><strong>– Mẹ của cháu khỏi bệnh rồi đấy. Đó chính là phần thưởng cho lòng hiếu thảo, ngoan ngoãn của cháu!</strong></p><p><strong>Kể từ đó về sau, hằng năm cứ vào mùa thu là những bông hoa có nhiều cánh lại đua nhau nở rộ, vô cùng xinh đẹp. Và người ta đặt tên cho chúng là bông cúc trắng, nó là biểu tượng cho lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ.</strong></p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-06 14:49:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354413139</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354429151</link>
         <description><![CDATA[<p>Câu chuyện:" Bó Đũa"</p><p>&nbsp;Ngày xưa, ở một làng nọ có một người nhà rất giàu. Ông ta sinh được những năm người con. Vì quá giàu có nên những người con của ông ta có một đời sống sung sướng thừa thãi về vật chất. Nhưng chuyện đời thường vốn vô cùng. Có một thì đòi hai, có voi thì đòi tiên. Sung sướng quá nên các con ông sinh ra tham lam, ích kỉ, tranh giành lẫn nhau.</p><p>Đến khi khôn lớn, cả năm người con vì nhờ tiền của cha mẹ nên đều trở nên giàu có. Tuy mỗi người một cơ ngơi, nhưng vẫn giữ thói ganh ghét, tị nạnh, cãi cọ nhau về những của cải mà họ có. Nhìn cảnh các con không hòa thuận, người cha buồn lắm. Ông cố gắng khuyên bảo nhưng dù ông có cố gắng thế nào, các con ông cũng không bỏ được lòng đô" kị đã ăn sâu vào máu thịt. Ông rất đau lòng nên ngã bệnh. Sau một thời gian ốm liệt giường, ông biết rằng mình không còn sống được bao lâu nữa. Ong cho gọi các con đến bên giường và bảo gia nhân đem đến cho ông hai bó đũa. Các con ông còn đang nhìn nhau ngơ ngác không hiểu người cha có ý định gì thì ông lấy một bó đũa, đưa cho mỗi người một chiếc và bảo:</p><p>- Các con mỗi đứa lần lượt bẻ chiếc đũa này cho cha.</p><p>Ông vừa dứt lời, trong chớp mắt, năm người con bẻ năm chiếc đũa thật dễ dàng. Nhìn những chiếc đũa gãy đôi, ông im lặng và các con ông cũng yên lặng đợi chờ Một lát sau, ông đưa nguyên bó đũa cho người con cả và dịu dàng nói:</p><p>- Các con đã rất dễ dàng thành công trong việc bẻ một chiếc đũa. Bây giờ, các con lại thay phiên nhau bẻ nguyên cả bó đũa này cho cha xem.</p><p>Người con trưởng cầm bó đũa ra sức bẻ. Anh vận dụng sức mạnh đến nỗi mặt mũi đỏ gay nhưng không thể nào làm cho bó đũa gẫy được. Chờ đến lúc anh chịu thua, người cha bảo người con thứ hai tiếp tục. Cũng như người con lớn, người con thứ hai không bẻ được và chịu thua. Ong kiên nhẫn chờ đến khi người con thứ năm bỏ cuộc mới ôn tồn nói:</p><p>- Đó, các con xem, thế nào là sức mạnh của sự đoàn kết. Nêu các con cứ tiếp tục tị nạnh nhau, chia rẽ nhau thì các con cũng lẻ loi, yếu đuối không khác gi một chiếc đũa và các con sẽ bị kẻ thù bẻ gãy dễ dàng. Nhưng nếu các con biết thương yêu đoàn kết lại với nhau như bó đũa thì không một sức mạnh nào bẻ gãy được các con.</p><p>Năm người con ông hiểu ý cha và bài học ông vừa dạy. Cảm động và hối hận vì ăn ở với nhau không phải rồi còn làm cha buồn, các con ông ôm lấy ông vừa khóc, vừa hứa là từ nay về sau sẽ bỏ thói ích kỷ để yêu thương đoàn kết với nhau.</p><p>Sau đó, người cha mất đi. Năm người con vâng lời cha dạy. Họ rất đoàn kết và thương mến lẫn nhau. Đời sống gia đình họ rất hòa thuận và không một ai có thể cạnh tranh được với sự giàu mạnh trong việc làm ăn buôn bán của gia đình họ...</p><p>Bài học:&nbsp;</p><p>Đoàn kết tạo nên sức mạnh. Giống như một bó đũa, nếu chúng ta tách từng chiếc ra để bẻ thì rất dễ dàng, nhưng khi để cả bó thì không thể bẻ được. Anh em trong một nhà phải biết yêu thương, đùm bọc lẫn nhau để cùng vượt qua những khó khăn, trắc trở trong cuộc sống.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?v=34sv-7g-nnI" />
         <pubDate>2025-03-06 14:58:27 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354429151</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354437453</link>
         <description><![CDATA[<p>Đây là câu chuyện:" Sọ Dừa"</p><p>Ngày xưa, có hai vợ chồng một lão nông nghèo đi ở cho nhà một phú ông. .&nbsp;Họ hiền lành, chăm chỉ nhưng đã ngoài năm mươi tuổi mà chưa có lấy một mụn con.</p><p>Một hôm, người vợ vào rừng lấy củi. Trời nắng to, khát nước quá, thấy cái sọ dừa bên gốc cây to đựng đầy nước mưa, bà bèn bưng lên uống. Thế rồi, về nhà, bà có mang.</p><p>ít lâu sau, người chồng mất. Bà sinh ra một đứa con không có chân tay, mình mẩy, cứ tròn lông lốc như một quả dừa. Bà buồn, toan vứt nó đi thì đứa bé lên tiếng bảo.</p><p>- Mẹ ơi! Con là người đấy! Mẹ đừng vứt con mà tội nghiệp. Bà lão thương tình để lại nuôi rồi đặt tên cho cậu là Sọ Dừa.</p><p>Lớn lên, Sọ Dừa vẫn thế, cứ lăn lông lốc chẳng làm được việc gì. Bà mẹ lấy làm phiền lòng lắm. Sọ Dừa biết vậy bèn xin mẹ đến chăn bò cho nhà phú ông.</p><p>Nghe nói đến Sọ Dừa, phú ông ngần ngại. Nhưng nghĩ: nuôi nó thì ít tốn cơm, công sá lại chẳng đáng là bao, phú ông đồng ý. Chẳng ngờ cậu chăn bò rất giỏi. Ngày ngày, cậu lăn sau đàn bò ra đồng, tối đến lại lăn sau đàn bò về nhà. Cả đàn bò, con nào con nấy cứ no căng. Phú ông lấy làm mừng lắm!</p><p>Sọ Dừa chăn bò cho phú ông</p><p>Vào ngày mùa, tôi tớ ra đồng làm hết cả, phú ông bèn sai ba cô con gái thay phiên nhau đem cơm cho Sọ Dừa. Trong những lần như thế, hai cô chị kiêu kì, ác nghiệt thường hắt hủi Sọ Dừa, chỉ có cô em vốn tính thương người là đối đãi với Sọ Dừa tử tế.</p><p>Một hôm đến phiên cô út mang cơm cho Sọ Dừa. Mới đến chân núi, cô bỗng nghe thấy tiếng sáo véo von. Rón rén bước lên cô nhìn thấy một chàng trai khôi ngô tuấn tú đang ngồi trên chiếc võng đào thổi sáo cho đàn bò gặm cỏ. Thế nhưng vừa mới đứng lên, tất cả đã biến mất tăm, chỉ thấy Sọ Dừa nằm lăn lóc ở đấy. Nhiều lần như vậy, cô út biết Sọ Dừa không phải người thường, bèn đem lòng yêu quý.</p><p>Đến cuối mùa ở thuê, Sọ Dừa về nhà giục mẹ đến hỏi con gái phú ông về làm vợ. Bà lão thấy vậy tỏ ra vô cùng sửng sốt, nhưng thấy con năn nỉ mãi, bà cũng chiều lòng.</p><p>Thấy mẹ Sọ Dừa mang cau đến dạm, phú ông cười mỉa mai:</p><p>- Muốn hỏi con gái ta, hãy về sắm đủ một chĩnh vàng cốm, mười tấm lụa đào, mười con lợn béo, mười vò rượu tăm đem sang đây.</p><p>Bà lão đành ra về, nghĩ là phải thôi hẳn việc lấy vợ cho con. Chẳng ngờ, đúng ngày hẹn, bỗng dưng trong nhà có đầy đủ mọi sính lễ, lại có cả gia nhân ở dưới nhà chạy lên khiêng lễ vật sang nhà của phú ông. Phú ông hoa cả mắt lúng túng gọi ba cô con gái ra hỏi ý. Hai cô chị bĩu môi chê bai Sọ Dừa xấu xí rồi ngúng nguẩy đi vào, chỉ có cô út là cúi đầu e lệ tỏ ý bằng lòng.</p><p>Trong ngày cưới, Sọ Dừa cho bày cỗ thật linh đình, gia nhân chạy ra chạy vào tấp nập. Lúc rước dâu, chẳng ai thấy Sọ Dừa trọc lốc, xấu xí đâu chỉ thấy một chàng trai khôi ngô tuấn tú đứng bên cô út. Mọi người thấy vậy đều cảm thấy sửng sốt và mừng rỡ, còn hai cô chị thì vừa tiếc lại vừa ghen tức.</p><p>Từ ngày ấy, hai vợ chồng Sọ Dừa sống với nhau rất hạnh phúc. Không những thế, Sọ Dừa còn tỏ ra rất thông minh. Chàng ngày đêm miệt mài đèn sách và quả nhiên năm ấy, Sọ Dừa đỗ trạng nguyên. Thế nhưng cũng lại chẳng bao lâu sau, Sọ Dừa được vua sai đi sứ. Trước khi đi, chàng đưa cho vợ một hòn đá lửa, một con dao và hai quả trứng gà nói là để hộ thân.</p><p>Ganh tị với cô em, hai cô chị sinh lòng ghen ghét rắp tâm hại em để thay làm bà trạng. Nhân quan trạng đi vắng, hai chị sang rủ cô út chèo thuyền ra biển rồi cứ thế lừa đẩy cô em xuống nước. Cô út bị cá kình nuốt chửng, nhưng may có con dao mà thoát chết. Cô dạt vào một hòn đảo, lấy dao khoét bụng cá chui ra, đánh đá lấy lửa nướng thịt cá ăn. Sống được ít ngày trên đảo, hai quả trứng gà cũng kịp nở thành một đôi gà đẹp để làm bạn cùng cô út.</p><p>Một hôm có chiếc thuyền đi qua đảo, con gà trống nhìn thấy bèn gáy to:</p><p>ò… ó… o</p><p>Phải thuyền quan trạng rước cô tôi về.</p><p>Quan cho thuyền vào xem, chẳng ngờ đó chính là vợ mình. Hai vợ chồng gặp nhau, mừng mừng tủi tủi. Đưa vợ về nhà, quan trạng mở tiệc mừng mời bà con đến chia vui, nhưng lại giấu vợ trong nhà không cho ai biết. Hai cô chị thấy thế khấp khởi mừng thầm, tranh nhau kể chuyện cô em rủi ro ra chiều thương tiếc lắm. Quan trạng không nói gì, tiệc xong mới cho gọi vợ ra. Hai cô chị nhìn thấy cô em thì xấu hổ quá, lén bỏ ra về rồi từ đó bỏ đi biệt xứ.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?v=KZPfVyzE-HU" />
         <pubDate>2025-03-06 15:04:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354437453</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354456249</link>
         <description><![CDATA[<p><em>Trọng Thủy - Mỵ Châu</em></p><p>Sau khi giúp vua An Dương Vương hoàn thành Cổ Loa Thành, thần Kim Quy đã tặng cho nhà vua một chiếc vuốt để làm cây nỏ thần. Nhờ sức mạnh của nỏ thần bên nhà vua luôn thắng lợi trước sự tấn công của quân Triệu Đà và giữ được bình yên cho đất nước. Biết được bí mật về cây nỏ thần, Triệu Đà bèn nghĩ kế cầu hôn Mị Châu cho Trọng Thuỷ và vua An Dương Vương đồng ý.</p><p>Sau khi Trọng Thủy đã lừa Mị Châu để nàng cho mình nhìn thấy nỏ thần và hắn đã tìm cách ăn cắp nó và đánh tráo bằng một cây nỏ giả. Do đã có trong tay nỏ thần, Triệu Đà đem quân sang đánh u Lạc.Nhà vua nghĩ rằng mình giữ trong tay nỏ thần nên không mảy may lo sợ. Khi biết chiếc nỏ thần là giả thì đất nước cũng đã về tay của giặc, nhà vua đã cùng Mị Châu chạy về phương Nam.</p><p>Đúng lúc này thì thần Kim Quy hiện lên kết tội Mỵ Châu và nói rằng nàng đã rải lông trên chiếc áo để làm dấu cho giặc. Nhà vua biết được rất tức giận liền chém chết con rồi đi xuống biển. Trọng Thủy đến và đưa thi thể của Mỵ Châu về chôn cất tại Loa Thành, thân thể của nàng liền hóa thành ngọc thạch. Vì mặc cảm tội lỗi và tình yêu mãnh liệt dành cho Mỵ Châu, Trọng Thủy đã gieo mình xuống giếng sâu tự tử.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-06 15:16:47 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354456249</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354456902</link>
         <description><![CDATA[<p><em>Bánh Chưng - Bánh Giầy</em></p><p><a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://www.bachhoaxanh.com/kinh-nghiem-hay/y-nghia-cua-banh-chung-banh-giay-trong-ngay-tet-co-truyen-1145479">Truyền thuyết Bánh Chưng - Bánh Giầy</a> bắt nguồn từ đời vua Hùng Vương thứ 6, nhà vua đã già và muốn tìm người con trai xứng đáng để nối ngôi. Nhà vua cho ra quy tắc là phải làm đúng các nghi thức trong ngày lễ Tiên Vương thì sẽ được làm Vua.</p><p>Các thái tử đều đua nhau sắm đủ loại lễ vật để dâng lên nhà vua. Tuy nhiên người con trai thứ 18 là Lang Liêu lại rất buồn vì hàng ngày chàng phải đi làm đồng áng và nhà cũng nghèo nên không tìm được lễ vật nào trịnh trọng dâng cho vua cha. Sau một đêm nằm mơ, chàng đã được một vị thần chỉ cách rằng hãy lấy <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://www.bachhoaxanh.com/gao-gao-nep-gao-nep">gạo nếp</a>, <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://www.bachhoaxanh.com/dau-cac-loai/dau-xanh-hat-cao-cap-vietfresh-150g">đậu xanh</a> và<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://www.bachhoaxanh.com/thit-heo"> thịt heo</a>làm thành hai thứ bánh, loại hình tròn, loại hình vuông dâng lên vua cha.</p><p>Nhà vua thấy bánh có mùi vị rất đặc biệt, lại biểu trưng cho đất và trời mang lại phúc khí cho đất nước. Nhà vua đã đặt tên bánh tròn là <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://www.bachhoaxanh.com/kinh-nghiem-hay/cach-lam-banh-day-gio-deo-thom-cuc-de-lam-1373448">bánh giầy</a>và bánh hình vuông là <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://www.bachhoaxanh.com/kinh-nghiem-hay/cach-lam-va-goi-banh-chung-ngon-dep-mat-932155">bánh chưng</a> và làm lễ sắc phong cho Lang Liêu.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-06 15:17:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354456902</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354457496</link>
         <description><![CDATA[<p><em>Truyền thuyết Hồ Ba Bể</em></p><p>Ngày xưa dân làng thường xuyên có phong tục mở hội cầu Phật vào dịp đầu năm. Cả làng ai cũng diện đồ đẹp đẽ để cúng kiến và tế lễ với Phật. Bỗng một hôm có một cụ già ăn xin thân hình lở loét và gầy gò đến xin ăn. Nhưng mọi người đều sợ hãi và nhanh chóng xua đuổi bà đi.</p><p>Bà lão ra về thì gặp hai mẹ con nọ đi chợ về. Họ thấy bà tội nghiệp nên đã đưa về nhà và lấy cơm cho ăn cũng như cho nghỉ qua đêm. Đến khuya thì họ thấy chỗ bà cụ nằm phát sáng với hình dáng của một con giao long khổng lồ đang nằm cuộn mình và hai mẹ con đều kinh hãi nhắm mắt mong rằng sẽ không sao.</p><p>Sáng ra, họ chỉ thấy bà cụ ăn mày vẫy tay đi và báo rằng sắp có lụt lớn và đưa cho một gói tro bếp dặn rắc xung quanh nhà. Nghe vậy, người mẹ lo lắng hỏi làm sao để cứu những người còn lại thì bà liền nhặt hạt thóc, cắn vỡ và đưa hai mảnh vỏ trấu. Sau đó bà liền vụt mất, hai mẹ con vội mang chuyện kể lại cho dân làng nhưng chẳng ai tin.</p><p>Tối hôm đó, trong lúc mọi người đang làm lễ thì một cột nước dưới đất dâng trào lên và đất sụp xuống khiến nước dâng cao xô ngã cây cối và nhà cửa của người dân. Ngôi nhà của hai mẹ con thì không sao vì nước dâng tới đâu thì nhà nổi lên theo tới đó. Người mẹ rất xót xa cho dân làng và nhớ lời bà lão, thả hai mảnh vỏ trấu xuống nước. Chúng liền biến thành hai chiếc thuyền to lớn và họ đã dùng thuyền để cứu cả dân làng thoát khỏi biển nước.</p><p>Khi nước rút, phần đất bị sụp được người dân đặt là hồ Ba Bể, còn nền nhà của hai mẹ được người dân gọi là gò Bà Góa.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-06 15:17:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354457496</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354458904</link>
         <description><![CDATA[<p><em>Chử Đồng Tử và Tiên Dung</em></p><p>Ngày xưa, có hai cha con, người cha tên là Chử Cù Văn và người con tên là Chử Đồng Tử. Vì nhà nghèo rớt mồng tơi nên hai cha con chỉ có một chiếc khố để mặc, chỉ ai có việc đi đâu thì đóng khố. Sau này, người cha lâm bệnh mà chết, dặn con cứ lấy khố mà dùng nhưng Chử Đồng Tử không nở nhìn cha trần truồng vào lúc lâm chung nên đã lấy khố đóng cho cha rồi mới chôn.</p><p>Lúc này có một nàng công chúa tên là Tiên Dung nhan sắc nghiêng nước nghiêng thành nhưng chưa chịu lấy chồng cho cha mẹ yên tâm. Trong một lần dạo thuyền trên sông nàng thấy cảnh đẹp nên đã xuống tắm. Bất ngờ thay, nàng đã thấy Chử Đồng Tử đang giấu mình trong cát vì ngượng ngùng, nàng mới hỏi ra nguyên do và từ đó hai người kết duyên với nhau.</p><p>Vì sợ vua cha mắng nhiếc nên Tiên Dung đã ở lại sống cùng Đồng Tử. Sau một thời gian ăn nên làm ra, nàng Tiên Dung đã khuyên Đồng Tử ra biển tìm vật lạ để đem bán kiếm thêm tiền. Tuy nhiên trên đường đi, Đồng Tử gặp một vị sư tên là Phật Quang và được thầy truyền phép.</p><p>Chàng đã ở lại và học đạo, sau khi xong xong chàng được tặng một cây gậy và chiếc nón có phép lạ. Nhờ những món vật thần thánh ấy mà Tiên Dung và Đồng Tử đã dựng nên một cơ đồ đáng mơ ước. Khi nhà vua biết tin và nghĩ rằng họ làm loạn nên đã sai quân sang đánh nhưng khi đến thì họ đã bay lên trời. Bãi đất họ bay lên đã được người dân lập đền thờ ngay trên bãi.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-06 15:18:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354458904</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354461043</link>
         <description><![CDATA[<p><em>Yết Kiêu</em></p><p>Vào đời vua nhà Trần, có một danh tướng hùng dũng tên là Yết Kiêu. Lúc bấy giờ, quân Nguyên đang manh nha xâm lược nước ta, chúng luôn dựa vào đường sông hiểm trở mà đem quân chiếm đóng. Tuy nhiên với sức lực cường tráng và ý chí cao cả, Yết Kiêu đã diện kiến nhà vua xin đem một toán quân đến mai phục trong bụi lau sậy ven bờ sông.</p><p>Sau đó một mình ông sẽ dùng chiếc khoan nhọn khoan thủng các đáy thuyền của bọn quân Nguyên. Khoan xong một lỗ, ông lấy giẻ bịt lại và dùng dây buộc lại thành một chùm.</p><p>Chờ khi giặc ngủ say, Yết Kiêu giật các đầu dây và đoàn thuyền của giặc chìm trong biển nước. Sau đó, Yết Kiêu cho quân tiến đến và đánh tan quân giặc đang hoảng loạn. Vua Trần phong cho Yết Kiêu chức "Đệ nhất bộ đô soái thủy quân".</p><p>Từ đó, người dân luôn xem danh tướng Yết Kiêu là một vị anh hùng đã góp công làm nên chiến thắng vẻ vang của quân nhà Trần hùng hậu.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-06 15:19:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354461043</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354461932</link>
         <description><![CDATA[<p><em>Truyền thuyết Hồ Gươm</em></p><p>Vào thời giặc Minh tràn sang nước ta, chúng vơ vét của cải và giết hại dân lành ở khắp nơi, tại vùng Lam Sơn, một nhóm anh hùng đã đứng lên đấu tranh chống lại bọn chúng. Do lực lượng mỏng và yếu nên gặp nhiều thất bại.</p><p>Lúc bấy giờ, có một anh chàng tên là Lê Thận làm nghề đánh cá và vào một đêm nọ, anh chàng vớt lên một thanh sắt tới tận ba lần. Thấy sự việc trùng hợp nên anh đã đem về rèn với lửa thì phát hiện đó là một thanh gươm,</p><p>Sau đó, Thận gia nhập nghĩa quân Lam Sơn. Trong lúc bị giặc truy đuổi, Lê Lợi và mọi người đã chia nhau ra. Bỗng nhiên đến một khu rừng nọ thì Lê Lợi thấy có ánh sáng thì phát hiện đó là chuôi gươm.</p><p>Ông nhớ đến lưỡi gươm phát sáng của Lê Thận và mang chuôi về tra vào lưỡi gươm thì vừa in. Thanh gươm đã nâng cao tinh thần đoàn kết của binh sĩ và giúp nghĩa quân giành lại thắng lợi nhanh chóng. Một năm sau, trong lúc vua Lê Lợi cưỡi thuyền rồng dạo quanh hồ Tả Vọng thì có thần Kim Quy hiện lên đòi lại gươm thần và nhà vua đã không do dự mà hoàn trả lại thanh gươm ngay lập tức. Từ đó trở đi, người dân đặt tên cho hồ nước là Hồ Gươm hay hồ Hoàn Kiếm.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-06 15:20:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3354461932</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>thuyetnt12</author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3355352326</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://reference.vn/tom-tat-tieu-su-ba-trieu.html" />
         <pubDate>2025-03-07 03:48:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3355352326</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>thuyetnt12</author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3355352825</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://www.vietnambotschaft.org/tom-tat-tieu-su-dai-tuong-vo-nguyen-giap/" />
         <pubDate>2025-03-07 03:49:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3355352825</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>thuyetnt12</author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3355353650</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://luatminhkhue.vn/ke-tom-tat-truyen-thach-sanh.aspx" />
         <pubDate>2025-03-07 03:49:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3355353650</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>thuyetnt12</author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3355354217</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://mytour.vn/vi/blog/bai-viet/tom-tat-huyen-thoai-thanh-giong.html" />
         <pubDate>2025-03-07 03:50:12 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3355354217</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>thuyetnt12</author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3355354697</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?v=8h8A0GvbvO0" />
         <pubDate>2025-03-07 03:50:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3355354697</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>thuyetnt12</author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3355355051</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://thtanhungq7.hcm.edu.vn/khong-gian-van-hoa-ho-chi-minh/ke-chuyen-ve-bac-ho-120-mau-chuyen-ve-bac-ngan-hay-va-y-nghia-nhat/ctmb/130916/1120860" />
         <pubDate>2025-03-07 03:51:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3355355051</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author>thuyetnt12</author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3355355647</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://olm.vn/hoi-dap/tim-kiem?id=223196068158&amp;q=k%E1%BB%83+l%E1%BA%A1i+t%C3%B3m+t%E1%BA%AFt+c%C3%A2u+truy%E1%BB%87n+s%C6%A1n+tinh+,+th%E1%BB%A7y+tinh%C2%A0" />
         <pubDate>2025-03-07 03:51:27 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3355355647</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3355382815</link>
         <description><![CDATA[<p>Đây là câu chuyện Tấm Cám</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="https://thnguyenthuonghien.haiphong.edu.vn/truyen-thieu-nhi/truyen-co-tich-tam-cam/ctmb/16851/45241" />
         <pubDate>2025-03-07 04:20:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3355382815</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3355411524</link>
         <description><![CDATA[<p>Hôm nay mình sẽ kể về câu chuyện quả dưa hấu</p><p>Ngày xưa có một chàng trai tên là Mai An Tiêm. Chàng rất tài giỏi nên được Vua Hùng tin dùng và gả con gái nuôi cho. Mọi người thường tấm tắc khen chàng may mắn. Có lần, An Tiêm nhún nhường bảo họ:</p><p>– Tất cả cũng là nhờ chịu thương chịu khó thôi.</p><p>Ai ngờ có kẻ ghen ghét, tâu với Vua Hùng. Vua tức giận, bảo:</p><p>– Cho nó ra một đảo hoang xem nhờ ai mà nó có cuộc sống như hôm nay. Thế là vợ chồng chàng bị đày ra một đảo xa.</p><p>Hôm đặt chân lên bãi cát hoang vu, vợ chàng lo lắng bảo:</p><p>– Chúng ta chết ở đây mất thôi</p><p>– Trời luôn có mắt. Nàng đừng lo! – An Tiêm an ủi vợ.</p><p>Hai vợ chồng làm nhà cửa, tìm nguồn nước, đánh cá,… để sinh sống. Bỗng một hôm, có đàn chim từ đầu bay đến, nhả xuống bãi cát mấy hạt cây. Ít lâu sau, hạt nảy mầm, mọc ra một loại cây bò lan, xanh um cả bãi cát. Rồi cây ra quả. Hoá ra, đó là một loại dưa ruột đỏ tươi, hạt đen nhánh, vị ngọt và thanh mát. Từ hôm đó, hai vợ chồng cố trồng thêm thật nhiều dưa làm thức ăn</p><p>Một hôm, có chiếc thuyền đánh cá đi lạc ra đảo. Mai An Tiêm giúp người trên thuyền sửa buồm lái để trở về, không quên gửi tặng dưa để người ở đất liền nếm thử. Tiếng đồn về loại dưa ngon lan xa. Từ đó, các tàu buôn tấp nập ghế đến đổi hàng lấy dưa. Gia đình An Tiêm lại sống đầy đủ như xưa.</p><p>Một lần, Vua Hùng sai người ra đảo dò xét xem An Tiêm sống thế nào. Nghe sứ thần kể lại, nhà vua khen thầm vợ chồng người con, bèn cho triệu họ về. Hạt giống An Tiêm đem về được dân chúng trồng ở những vùng đất cát, trở thành một thứ cây danh tiếng. Đó là cây dưa hấu ngày nay.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-07 04:47:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3355411524</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3355413450</link>
         <description><![CDATA[<p>Đây là video về câu chuyện quả dưa hấu</p>]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?v=d2sRb-iSDx8" />
         <pubDate>2025-03-07 04:48:42 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3355413450</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3355717797</link>
         <description><![CDATA[<p>Mình sẽ kể câu chuyện Rùa và Thỏ</p><p><strong>Ngày xửa ngày xưa, trong khu rừng nọ có thỏ và rùa là đôi bạn rất thân thiết với nhau. Thế nhưng, vào một ngày kia, cả hai lại xảy ra trận cãi vã chỉ vì muốn biết ai là người chạy nhanh nhất. Vậy là thỏ và rùa liền tổ chức một cuộc thi chạy để quyết định ra ai là người chạy nhanh hơn.</strong></p><p>Lúc bắt đầu cuộc đua, chú thỏ chạy rất nhanh, vượt xa chú rùa cả một đoạn đường rất dài. Thỏ ta thấy vậy liền nghĩ bụng rằng rùa còn lâu mới đuổi kịp với mình nên chú thỏ cứ vui vẻ chậm rãi đi bộ, bắt bướm, đùa vui hái hoa, từ chỗ này đến chỗ khác cho đến khi thỏ mệt quá liền tìm gốc cây lớn để ngồi nghỉ và ngủ quên lúc nào không hay.&nbsp;</p><p>Trong lúc đó, chú rùa vẫn chậm rãi kiên trì vượt mọi vất vả khó nhọc, để đi từng bước trên đường đua.</p><p>Sau một khoảng thời gian rất lâu, Thỏ mới chợt tỉnh dậy, nhận ra Rùa đã đi rất xa và gần tới vạch đích. Thỏ thấy vậy liền ba chân bốn cẳng chạy đuổi theo nhưng đã muộn, chú rùa đã tới vạch đích đầu tiên. Và thế là chú thỏ đành phải chịu thua trước chú rùa.</p><p>Qua câu chuyện cổ tích loài vật này, lời khuyên cho các bé là không nên coi thường người khác, không nên tự cao tự đại trong mọi công việc nhé.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-07 09:37:24 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3355717797</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3355719396</link>
         <description><![CDATA[<p> Đây là câu chuyện:" CON RỒNG CHÁU TIÊN"</p>]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?v=4CI52V3lQTA" />
         <pubDate>2025-03-07 09:38:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3355719396</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3355722084</link>
         <description><![CDATA[<p>Đây là câu chuyện sự tích tràu cau</p><p><strong>Ngày xưa có Tân và Lang là hai anh em ruột, dáng người và mặt mày giống nhau như đúc, chính người nhà cũng nhiều phen nhầm lẫn. Cha họ là một người cao to nhất trong vùng từng được vua Hùng triệu về Phong Châu ban thưởng và đặt tên là Cao. Từ đó gia đình lấy họ "Cao".</strong></p><p>Hai anh em lớn lên thì cha mẹ qua đời. Cả hai quyến luyến nhau không rời nửa bước. Người cha trước khi mất có gửi gắm Tân cho một đạo sĩ họ Lưu, Lang không chịu ở nhà một mình cũng cố xin cùng được học với anh. Đạo sĩ họ Lưu có cô con gái cùng lứa tuổi với họ.</p><p>Để biết ai là anh, ai là em, một hôm cô gái họ Lưu bày ra một mẹo nhỏ. Giữa lúc họ đang đói, nàng chỉ dọn cho họ một bát cháo với một đôi đũa. Đứng sau khe vách, nàng thấy người này nhường cháo cho người kia ăn nên cô biết đó là người anh.Tân và cô gái gặp gỡ và yêu nhau. Đạo sĩ họ Lưu vui lòng gả con cho Tân. Sau khi cưới, hai vợ chồng đến ở một ngôi nhà mới, có Lang ở chung.</p><p>Từ ngày lấy vợ, Tân không âu yếm em như trước nữa. Lang nghĩ anh "mê vợ quên ta" trong lòng chán nản buồn bực.</p><p>Một hôm Lang và Tân cùng lên nương đến tối mịt mới về. Lang về trước làm vợ Tân nhầm liền ôm chầm lấy, lúc đó Tân bước vào nhà và ghen em, hững hờ với Lang. Lang vừa giận vừa thẹn. Chàng bỏ nhà ra đi lúc trời mới mờ sáng, trong lòng bực bội. Mấy ngày đường, Lang tới bờ một con sông lớn nước chảy xiết. Lang quyết không chịu trở lại, cúi gục trên bờ, ôm mặt khóc. Chàng khóc mãi, khóc mãi, đến nỗi những con chim đi kiếm ăn khuya vẫn còn nghe tiếng nức nở. Sáng hôm sau, Lang hóa đá.</p><p><br/></p><p>Mãi sau vẫn không thấy em về, Tân bổ đi tìm không thấy tăm dạng. Biết là em bỏ đi vì giận mình, chàng hối hận. Hôm sau nữa, cũng không thấy về, Tân hoảng hốt để vợ lại nhà, cất bước đi tìm. Chàng đến bờ con sông thấy em đã hóa thành đá. Tân đứng bên cạnh hòn đá khóc mãi cho đến lúc chết và hóa thành một cây thân mọc thẳng lên trời, bên cạnh hòn đá.</p><p>Vợ Tân chờ mãi không thấy chồng về, cũng bỏ nhà đi tìm. Nàng cũng tới con sông khóc cạn cả nước mắt và chết hóa thành một cây dây quấn quanh lấy cây kia.</p><p>Đợi mãi không thấy ba người về, vợ chồng đạo sĩ nhờ mọi người chia nhau tìm kiếm. Trước hòn đá và hai cây lạ, họ dựng miếu thờ cả ba người trẻ tuổi ở ven sông. Nhân dân quanh vùng gọi là miếu "anh em hòa thuận, vợ chồng tiết nghĩa".</p><p>Một năm nọ trời hạn hán rất dữ chỉ có hai cây mọc bên cạnh hòn đá trước miếu là vẫn xanh mượt. Mọi người cho là linh dị. Vua Hùng một hôm ngự giá qua xứ đó. Khi đi qua trước miếu, vua ngạc nhiên hỏi: -"Miếu này thờ vị thần nào? Mấy loại cây này ta chưa từng thấy bao giờ?". Lạc tướng cho gọi mấy cụ già ở quanh vùng đến hỏi. Hùng Vương càng nghe, không ngăn được sự cảm động. Vua vạch lá trèo lên nhìn khắp mọi chỗ và sai một người trèo cây hái quả xuống nếm thử. Vị chát không có gì lạ. Nhưng khi nhai với lá cây dây thì một vị là lạ đến ở đầu lưỡi: nó vừa ngon ngọt, vừa thơm cay.</p><p>Tự nhiên có một viên quan hầu kêu lên: - "Trời ơi! Máu!". Thì ra những bãi nhai quả và lá của hai thứ cây đó một khi nhổ xuống đá bỗng đỏ ối ra như máu. Vua sai lấy cả ba thứ nhai lẫn với nhau thì bỗng người thấy nóng bừng như có hơi men, môi đỏ tươi sắc mặt hồng hào tươi đẹp. Vua bảo:</p><p>- Thật là linh dị! Đúng là họ rồi! Tình yêu thương của họ thật là nồng nàn thắm đỏ.</p><p>Từ đó vua Hùng ra lệnh cho mọi nơi phải gây giống cho nhiều hai loại cây ấy, bắt buộc trai gái khi kết hôn thế nào cũng phải tìm cho được ba món: trầu, cau và vôi cho mọi người nhai nhai nhổ nhổ một tý để ghi nhớ tình yêu không bao giờ phai lạt. Từ đó dân Việt mới có tục ăn trầu.</p><p>Cho đến ngày nay, trầu cau vẫn là thứ không thể thiếu việc giao hiếu, kết thân và cưới hỏi của người Việt. Thể hiện rõ tình cảm thắm thiết giữa những người thân trong gia đình.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?v=sg-nxaJhDlo" />
         <pubDate>2025-03-07 09:41:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3355722084</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3355724937</link>
         <description><![CDATA[<p>Câu chuyện cóc kiện trời</p><p>Thủa xa xưa, Ngọc Hoàng cai quản tất cả các việc trên trời và dưới đất. Ngọc Hoàng giao cho thần Mưa chịu trách nhiệm làm mưa cho tất cả các con vật và cây cỏ có nước uống.</p><p>Nhưng đã ba năm nay, không có một giọt mưa nào. Khắp nơi đất đai nứt nẻ, cây cỏ khát nước chết rụi, các con thú cũng chết dần chết mòn vì khát. Muôn loài đều kêu than ai oán, vậy mà trời đâu có thấu.</p><p>Một hôm, các con vật họp bàn nhau lại, chúng quyết định cử Cóc lên gặp Ngọc Hoàng. Cùng đi với Cóc có Cáo, Gấu và Cọp.</p><p>Bốn con vật đi mãi, cuối cùng cũng lên đến cửa nhà trời. Ở cửa có đặt cái trống rất to. Theo tục lệ nếu ai có điều gì oan ức thì đánh trống lên. Ngọc Hoàng sẽ ra giải quyết. Cóc bảo Cáo, Gấu, Cọp nấp vào bụi rậm, còn Cóc thì nhảy lên đánh trống inh ỏi.</p><p>Ngọc Hoàng nghe tiếng trống liền sai một thiên thần ra nhìn xem ai. Thiên thần bước ra nhìn ngược, nhìn xuôi mãi cũng không thấy ai, chỉ thấy con Cóc bé nhỏ ngồi trên trống. Khi biết Cóc có ý định gặp Ngọc Hoàng để kêu oan, thiên thần tỏ ý khinh bỉ Cóc, lẳng lặng đi vào và thưa với Ngọc Hoàng.</p><p>- Thưa Ngọc Hoàng, kẻ dám cả gan đánh trống ầm ĩ nhà trời là một con Cóc bé tí, xấu xí khinh khủng, thần hỏi nó đi đâu, nó nói lên Ngọc Hoàng để kiện.</p><p>Ngọc Hoàng nghe thiên thần nói như vậy thì lấy làm giận lắm, bèn sai bầy Gà ra mổ Cóc. Nhưng bầy Gà vừa ló khỏi cửa, Cóc ra hiệu cho Cáo từ bụi rậm xong ra vồ gà.</p><p>Biết Gà bị Cáo vồ mất, Ngọc Hoàng liền sai Chó ra giết Cáo. Chó chạy ra chỉ kịp sủa “Gâu gâu gâu ” mấy tiếng đã bị Gấu ra chộp lấy tha đi. Ngọc Hoàng lại sai một toán lính ra trị Gấu. Lần này, Cọp xông ra quật chết toán lính không còn sót một người nào.</p><p>Ngọc Hoàng không ngờ Cóc tuy bé nhỏ mà lại khó trị như vậy, Ngọc Hoàng đổi giận thành làm lành sai thiên thần ra mời Cóc vào. Ngọc Hoàng hỏi Cóc:</p><p>- “Cậu” lên đây có việc gì?</p><p>Cóc thưa:</p><p>- Muôn tâu Ngọc Hoàng, đã 3 năm nay chúng tôi không được một giọt mưa nào. Loài vật cử tôi lên đây để kiện trời, vì sao không làm mưa?</p><p>Ngọc Hoàng cho gọi thần mưa đến. Té ra thần Mưa mải rong chơi tối về đắp chiếu nằm ngủ, quên không làm mưa bị Ngọc Hoàng trách mắng, thần Mưa vội sai các con rồng phun nước ào ào xuống đất. Ngọc Hoàng đưa tiễn Cóc ra về và dặn:</p><p>- Từ nay về sau, nếu cần mưa thì Cóc nghiến răng ken két báo cho Ngọc Hoàng biết. Ta sẽ sai thần làm mưa ngay. Cóc không phải lên kiện trời nữa.</p><p>Cóc, Cáo, Gấu, Cọp từ biệt Ngọc Hoàng trở về dưới đất. Khi bốn con vật đến nơi thì thấy nước đã tràn đầy hồ, ao, sông, suối, cây cỏ, muôn loài uống nước thỏa thuê. Tất cả đều phục Cóc bé tí mà kiện được trời nên đặt ra câu hát:</p><p>“Con cóc là cậu ông trời</p><p>Hễ ai đánh Cóc thì trời đánh cho”.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?v=tcwaBwwej9g" />
         <pubDate>2025-03-07 09:44:34 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3355724937</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3355727565</link>
         <description><![CDATA[<p>Câu chuyện sự tích tích chu</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?v=xvjiPjjbJBI" />
         <pubDate>2025-03-07 09:47:14 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3355727565</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3356814677</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Nạn đói lịch sử năm Ất Dậu</strong></p><p>Trong ký ức người Việt Nam, "nạn đói năm Ất Dậu" vẫn là một cơn ác mộng, nỗi nhức nhối khó quên. Thảm họa ấy bắt đầu từ tháng 10/1944 kéo dài đến giữa năm 1945.</p><p>Công trình nghiên cứu về nạn đói năm 1945 của GS Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam và GS Furuta Moto (người Nhật) chỉ rõ: <strong>chính sách vơ vét thóc gạo của phát xít Nhật và thực dân Pháp lúc bấy giờ cùng với thiên tai, mất mùa ở nhiều tỉnh đồng bằng Bắc Bộ là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thảm cảnh trên.</strong></p><p>Sống ngắc ngoải&nbsp;trong nạn đói 1945.<em>&nbsp;Ảnh tư liệu.</em></p><p>Tháng 10/1940, khi đặt chân đến Đông Dương, Nhật thi hành hàng loạt chính sách đánh vào nền kinh tế:&nbsp;buộc thực dân Pháp phải ký kết nhiều hiệp ước yêu cầu cung cấp lương thực, giao nộp lúa, gạo cho Nhật hàng năm; cấm vận chuyển lương thực từ Nam ra Bắc, hạn chế chuyên chở tự do, chỉ cho chở dưới 50 cân gạo trong một tỉnh; bắt người dân nhổ lúa trồng đay, dành ruộng trồng lạc.</p><p>Trong khi Nhật vơ vét cho chiến tranh thì Pháp dự trữ lương thực phòng khi quân Đồng minh chưa tới,phải đánh Nhật hoặc dùng cho cuộc tái xâm lược Việt Nam. Thuế đinh, thuế điền, tô tức trở thành những chiếc thòng lọng buộc vào cổ nông dân.</p><p>Quảng cáo</p><p>Năm 1944, Việt Nam bị mất mùa nhưng Pháp và chính quyền phong kiến vẫn phải cung cấp cho Nhật hơn 900.000 tấn gạo để nuôi chiến tranh phát xít và làm nguyên liệu để người Pháp nấu rượu, cùng thóc dùng đốt lò thay cho than đá. Hàng chục nghìn mẫu ngô bị phá, hàng triệu tấn thóc bị thu nộp. Theo thống kê, năm 1940, diện tích trồng đay là 5.000 ha nhưng đến năm 1944 đã tăng lên 45.000 ha.</p><p>Nhật cấm vận chuyển lúa từ miền Nam ra, vơ vét thóc ở miền Bắc khiến giá thóc, gạo tăng vọt.Năm 1943, một tạ gạo giá chính thức là 31 đồng, giá chợ đen là 57 đồng; năm 1944 tăng lên 40 đồng, giá chợ đen là 350 đồng, nhưng đến đầu năm 1945 thì giá chính thức vọt lên 53 đồng còn giá chợ đen từ 700-800 đồng. Giá gạo "phi nước đại" khiến người dân không đủ sức mua, phải chịu cảnh chết đói.</p><p>Tháng 9/1944, lụt vỡ đê La Giang (Hà Tĩnh), đê sông Cả (Nghệ An) làm cho nạn đói diễn ra trầm trọng hơn.Theo những người dân trải qua nạn đói khủng khiếp ở Tây Lương (Tiền Hải, Thái Bình) thì vụ mùa năm 1944, lúa trên các cánh đồng rộng hàng trăm mẫu đều bị "rù" (rầy phá hoại), chết trắng, chết vàng. Cả mẫu ruộng không thu nổi vài chục cân thóc mẩy.</p><p>Quảng cáo</p><p>Trại Giáp Bát, Hà Nội, nơi tập trung những nạn nhân đói năm 1945. <em>Ảnh tư liệu.</em></p><p><strong>Nạn đói đã diễn ra ở 32 tỉnh miền Bắc và Bắc Trung Bộ, từ Quảng Trị trở ra. Trọng điểm là các tỉnh đồng bằng, nơi dân số tập trung đông,</strong> có nhiều ruộng, như Thái Bình, Nam Định, Hải Phòng, Thanh Hóa. Cái đói không buông tha ai, trọng tâm là những người dân nghèo, người lao động, đặc biệt là nông dân không có ruộng đất chuyên đi làm thuê và nông dân ít ruộng đất.</p><p>Để chống lại cái đói, cái chết cận kề, người dân ăn từ rau dại, đến củ chuối, vỏ cây, giết cả trâu bò, chó mèo; dân chài thì ăn củ nâu, cá chết. Khi không còn gì ăn thì họ ngồi chờ chết, để người nhà mang đi chôn hoặc chết ở bờ bụi khi đi kiếm ăn. Cái chết đến từ từ, thảm khốc, dày vò cả thể xác lẫn tinh thần. Cái đói khiến cha bỏ con, chồng bỏ vợ, tình người đứt đoạn, đi xin ăn không được thì cướp giật. Ở các vùng quê, hàng nghìn hộ gia đình chết cả nhà, nhiều dòng họ chỉ một vài người sống sót.</p><p><strong>Tháng 3/1945, nạn đói lên đến đỉnh điểm. Lũ lượt người ngược, kẻ xuôi chạy đói đến các thành phố lớn, họ bán cơ nghiệp để lấy tiền đi đường.&nbsp;</strong>Người dân Hà Nội khi ấy đã phát động <em>Ngày cứu đói</em>, lập trại tế bần phát cháo. Người sắp chết thì được đưa về trại Giáp Bát, còn người chết đói thì xác chất đầy xe bò đem đi "hất xuống hố như hất rác" tại nghĩa trang Hợp Thiện (Hai Bà Trưng).</p><p>Mục sư Lê Văn Thái, nguyên Hội trưởng Hội thánh Tin lành Việt Nam thời kỳ 1942-1960 viết lại: "Tôi thường nghe tiếng rên xiết của những người sắp chết, thấy những đống thịt quằn quại gần những xác chết, nơi này 5-3 xác chết, chỗ khác từng đống người sống nằm lẫn với người chết. Trên những đoàn xe bò đầy những xác chết, mỗi xe chỉ phủ một chiếc chiếu, trong những cái hầm mấy trăm xác chết mới lấp một lần. Một vài lá cải thối trong đống rác, một vài hột cơm đổ bên cạnh vò nước gạo thì họ kéo nhau từng lũ đến tranh cướp".</p><p>"Họ đi thành rặng dài bất tuyệt gồm cả gia đình, già lão có, trẻ con có, đàn ông có, đàn bà có, người nào người nấy rúm người dưới sự nghèo khổ, toàn thân lõa lồ, gầy guộc, giơ xương ra và run rẩy. Ngay cả đến những thiếu nữ tuổi dậy thì, đáng lẽ hết sức e thẹn cũng thế. Thỉnh thoảng họ dừng lại để vuốt mắt cho một người trong bọn họ đã ngã và không bao giờ dậy được nữa, hay để lột miếng giẻ rách không biết gọi là gì cho đúng hãy còn che thân người đó", tác giả Vespy viết trong một bức thư vào tháng 4/1945.</p><p>Giữa lúc nạn đói lên đến đỉnh điểm thì ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp. Mặt trận Việt Minh phát động&nbsp;nhân dân phá hàng trăm kho thóc của Nhật để cứu đói. Phong trào diễn ra sôi nổi khắp nơi khiến nạn đói phần nào được đẩy lui. Nông dân bắt đầu trở về quê tiếp tục sản xuất. Đến vụ chiêm (tháng 6) có gạo mới, mức sống thay đổi đột ngột lại khiến nhiều người chết vì ăn quá no. Môi trường bị ô nhiễm nặng bởi xác chết không được xử lý và trải qua cơn đói lâu dài kéo theo dịch tả và dịch sốt vàng da lại giết thêm nhiều người ở Bắc Giang, Cao Bằng.</p><p>Nhiều làng xã chết 50-80% dân số, nhiều gia đình, dòng họ chết không còn ai.. Làng Sơn Thọ, xã Thụy Anh (Thái Thụy, Thái Bình) có hơn 1.000 người thì chết đói mất 956 người. Chỉ trong 5 tháng, số người chết đói toàn tỉnh lên đến 280.000 người, chiếm 25% dân số Thái Bình khi đó. Lịch sử đảng bộ Hà Sơn Bình cũ ghi rõ: "Trong nạn đói năm 1945, khoảng 8 vạn người (gần 10% dân số trong tỉnh) chết đói, nhiều nơi xóm làng xơ xác tiêu điều, nhất là ở những nơi nghề thủ công bị đình đốn. Làng La Cả (Hoài Đức) số người chết đói hơn 2.000/4.800 dân, có 147 gia đình chết không còn một ai. Làng La Khê (Hoài Đức) có 2.100 người thì 1.200 người chết đói, bằng 57% số dân".</p><p>Một điểm chôn tập thể người&nbsp;bị chết đói, đổ xác đến đâu lấp đất đến đấy.&nbsp;<em>Ảnh tư liệu.</em></p><p>Tháng 5/1945, bảy tháng sau khi nạn đói bùng nổ tại miền Bắc, tòa khâm sai tại Hà Nội lệnh cho các tỉnh miền Bắc phúc trình về tổn thất. Có 20 tỉnh báo cáo số người chết vì đói và chết bệnh là 400.000, chỉ tính miền Bắc. Số liệu nghiên cứu trong cuốn <em>Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam - Những chứng tích lịch sử</em> của GS Văn Tạo thống kê: "Riêng tỉnh Thái Bình, nơi nạn đói diễn ra trầm trọng nhất, đã được Ban lịch sử tỉnh điều tra, con số tương đối sát thực tế là cả tỉnh chết đói mất 280.000 người. Chỉ tính số người chết đói ở Thái Bình cùng với Nam Định hơn 210.000 người, Ninh Bình 38.000, Hà Nam chết 50.000 thì số người chết đói đã lên đến hơn 580.000. Như vậy, con số 2 triệu người Việt Nam chết đói trong 32 tỉnh cũ tính từ Quảng Trị trở ra và hai thành phố lớn Hà Nội, Hải Phòng là gần với sự thực".</p><p>So sánh nạn đói năm 1945 ở Việt Nam với tổn thất của các cuộc chiến tranh Pháp - Đức, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Nạn đói nguy hiểm hơn nạn chiến tranh. Thí dụ trong 6 năm chiến tranh, nước Pháp chết một triệu người, nước Đức chết chừng 3 triệu. Thế mà nạn đói nửa năm ở Bắc Bộ, ta đã chết hơn 2 triệu người".</p><p>70 năm trôi qua, những chứng tích lịch sử về nạn đói năm xưa không còn nhiều, ngoài những nấm mồ tập thể sâu dưới lòng đất lạnh. Những nhân chứng từng đi qua tai họa lịch sử ấy thì ghi nhớ nỗi đau thương sâu trong tâm, mỗi lần nhắc đến chỉ biết rưng rưng nước mắt.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="https://padlet-uploads.storage.googleapis.com/3505581592/f8cca659f10a6216608f2cd8b8c833ee/image.jpeg" />
         <pubDate>2025-03-08 13:54:13 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3356814677</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3356816540</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>12. Hòn Vọng Phu - Truyền Thuyết Nàng Tô Thị</strong></p><p>Ngày xưa, ở trấn Kinh Bắc, có đôi vợ chồng nọ sinh được hai mụn con, đứa con trai tên là Tô Văn, con gái tên là Tô Thị. Mỗi khi đi làm đồng sẽ để hai anh em chơi với nhau. Một hôm, Tô Văn chơi ném đá trúng ngay vào giữa đầu em. Tô Thị ngã vật xuống đất, máu chảy ra lênh láng. Tô Văn thấy thế sợ quá, chạy một mạch ra đường, không còn dám ngoái cổ lại. May sao, một bà hàng xóm chạy sang lấy lá thuốc dấu rịt cho Tô Thị, cầm được máu. Đến khi người mẹ đi mò cua về thì cô con gái đã ngồi dậy được. Còn Tô Văn thì bỏ đi biệt tích. Người mẹ nhớ con, sinh ra buồn phiền, chẳng bao lâu ốm nặng rồi chết, bỏ lại Tô Thị một mình.</p><p>Sau này, hai vợ chồng người chủ hàng cơm nhận nuôi Tô Thị rồi mang nàng lên xứ Lạng mở hàng nem. Tô Thị thấm thoắt đã hai mươi tuổi, lớn lên xinh đẹp, hàng nem của nàng ngày càng nức tiếng. Tuy có nhiều mối manh, nhưng nàng chưa thuận nơi nào.&nbsp;</p><p>Một hôm, có một thanh niên tuổi ngoài hai mươi, vẻ người tuấn tú, mang thuốc Bắc về xứ Lạng bán và đem lòng thương Tô Thị. Hai người lấy nhau không bao lâu thì có được hai mụn con. Một hôm, người chồng về nhà, thấy vợ đang ngồi gội đầu ở ngoài hè. Chàng vừa bế con ngồi trên bậc cửa xem vợ gội đầu, vừa kể đôi câu chuyện vặt cho vợ nghe. Chợt thấy đầu vợ có cái sẹo to, chàng hỏi chuyện mới biết Tô Thị hoá ra là người em gái năm xưa của mình.</p><p>Lòng Tô Văn từ ngày ấy rối bời, cuối cùng chàng tìm cách xin đăng lính mãi chẳng về. Từ ngày chồng đi, Tô Thị chẳng thiết gì đến việc bán hàng. Ngày ngày nàng bế con lên chùa Tam Thanh cầu cho chồng đi được bình yên, chóng được trở về. Một hôm, nàng ôm con lên chùa Tam Thanh khấn thì mây đen kéo đến, gió rít từng cơn, mưa như trút nước, sấm chớp cả vùng trời. Nàng vẫn bế con đứng trơ trơ, đăm đăm nhìn về hướng chồng đi. Sáng hôm sau, mưa tạnh, gió yên, mặt trời tỏa ánh sáng xuống núi rừng. Nàng Tô Thị bế con đã hóa đá tự bao giờ. Người dân trong vùng gọi đấy là hòn Vọng Phu.</p><p><strong>Giá trị nhân văn của truyện</strong>:&nbsp;</p><p>Sự tích Hòn Vọng Phu là một câu chuyện cảm động về lòng chung thủy, son sắt của người phụ nữ Việt Nam, đồng thời thể hiện niềm thương cảm cho số phận của họ. Câu chuyện cũng thể hiện sức mạnh của tình yêu thương, niềm tin và hy vọng.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-08 13:58:33 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3356816540</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3357229394</link>
         <description><![CDATA[<p>Vào thời Hùng Vương, có một người đàn bà đã nhiều tuổi nhưng sống một mình và không có con. Một sáng nọ bà đi thăm nương, bỗng nhìn thấy một vế chân giẫm nát cả mấy luống cà. Bà kêu lên:</p><p>- Ôi bàn chân ai mà to thế này!</p><p>Bỗng bà cảm thấy rùng mình khi đưa bàn chân ướm thử vào dấu chân lạ. Sau khi ướm thử vào dấu chân lạ, bà có mang. Đủ tháng đủ ngày bà sinh được một đứa con trai bụ bẫm. Bà đặt tên là Gióng.</p><p>Nhưng thằng bé lên 3 tuổi rồi mà vẫn nằm ngửa đòi ăn, không biết ngồi, không biết lẫy, cũng không biết nói hay cười.</p><p>Ngày ấy, giặc Ân kéo vào cướp nước ta. Giặc Ân rất hung tàn, cầm đầu là một tên tướng gọi là Ân vương. Chúng đi đến đâu là đốt nhà, phá cửa, giết người cướp của đến đấy. Hùng Vương nhiều lần xuất trận nhưng không đánh nổi lại chúng. Vua hùng lấy làm lo lắng vội phái sứ giả đi khắp nơi tìm tướng tài cứu nước.</p><p>Một hôm, sứ giả đi đến làng của chú bé Gióng. Gióng nghe loa thấy việc nhà Vua đang tìm người tài đánh giặc cứu nước, mẹ Gióng đang ru con liền đùa rằng:</p><p>- Con ơi! Con của mẹ chậm đi chậm nói thì biết bao giờ mới đi đánh giặc giữ nước được đây!</p><p>Không ngờ, Gióng nhìn mẹ mở miệng cất thành tiếng:</p><p>- Mẹ cho gọi sứ giả vào đây cho con!</p><p>Nói xong lại im bặt. Bà mẹ vừa mừng, vừa sợ vội kể chuyện với xóm giềng. Mọi người tới nhà ai nấy cũng cho là một sự lạ. Sau cùng, 1 người nói:</p><p>- Ta cứ đi mời sứ giả đến xem thử nó muốn cái gì.</p><p>Khi sứ giả của nhà Vua bước vào, nhìn thấy cậu bé Gióng liền nói:</p><p>- Mày là đứa trẻ lên ba mới học nói, mày định mời ta đến đây để làm gì?</p><p>Gióng trả lời đầy chững chạc:</p><p>- Về bảo với nhà Vua rèn cho ta một con ngựa sắt, một thanh gươm sắt, một áo giáp sắt và một nón sắt, ta sẽ đánh đuổi giặc giữ cho.</p><p>Ai nấy nghe xong đều khôn xiết lạ lùng, cho rằng thần nhân xuất hiện. Sứ giả lập tức phi ngựa về tâu với nhà Vua. Nghe nói, Hùng Vương mừng rỡ, ra lệnh cho thợ rèn gom tất cả sắt lại rèn ngựa, gươm, áo giáp và nón như lời xin của cậu bé. Khi mọi thứ rèn xong nặng không thể tưởng tượng nổi. Hàng chục người mó vào thanh gươm mà không nhúc nhích. Hùng Vương phải cho hàng ngàn quân sĩ tìm mọi cách để mang đến cho cậu bé Gióng.</p><p>Khi được tin quân sĩ khiêng ngựa sắt sắp đến làng, mẹ Gióng sợ hãi chạy về bảo với con:</p><p>- Con ơi! Việc nhà vua đâu phải là chuyện chơi. Hiện quân sĩ đang kéo đến ầm ầm ngoài bãi rồi, biết làm thế nào bây giờ con?</p><p>Nghe nói thế, Gióng vụt đứng dậy và nói:</p><p>- Việc đánh giặc thì mẹ đừng lo. Nhưng mẹ phải cho con ăn thật nhiều mới được!</p><p>Bà mẹ vội thổi cơm cho con ăn, nhưng cứ nấu lên được nồi nào Gióng ăn hết ngay nồi ấy. Mỗi lần ăn một nồi cơm thì Gióng lại lớn thêm được một ít và đòi ăn thêm. Mẹ càng cho con ăn thì con lại càng lớn nhanh như thổi, bỗng chốc đã trở thành một cậu thanh niên vô cùng khỏe mạnh.</p><p>Hết gạo, bà mẹ kêu gọi hàng xóm láng giềng. Cả làng nô nức đem gạo khoai, trâu, rượu, hoa quả, bánh trái mang đến đầy một sân. Nhưng đưa đến bao nhiêu thì Gióng ăn vợi hết bấy nhiêu, mà vẫn đòi ăn không nghỉ.</p><p>Sau đó, Gióng lại bảo tiếp:</p><p>- Mẹ phải kiếm vải cho con mặc.</p><p>Người ta lại đua nhau mang vải lụa tới may áo quần cho Gióng mặc. Nhưng thân thể Gióng lớn vượt trội một cách kỳ lạ, áo quần vừa may xong đã thấy chật, thấy ngắn, lại phải mang vải lụa tới để chắp nối thêm. Không mấy chốc đầu Gióng đã chạm đến nóc nhà. Ai nấy chưa hết kinh ngạc thì vừa lúc quân sĩ đã hì hục khiêng được ngựa, gươm, áo giáp và nón sắt tới. Gióng bước ra khỏi nhà vươn vai một cái, người bỗng cao to sừng sững, chân dài hơn trượng, hét lên một tiếng như tiếng sấm:</p><p>- Ta là tướng nhà Trời!</p><p>Nói rồi Gióng mặc giáp sắt, đội nón sắt, tay cầm gươm múa quanh mấy vòng. Đoạn từ biệt mẹ và dân làng, nhảy lên lưng ngựa. Ngựa sắt bỗng chồm lên, phun thẳng ra đằng trước một luồng lửa đỏ rực. Gióng thúc chân, ngựa phi như bay, sải từng bước dài hàng chục con sào. Chỉ trong chớp mắt, ngựa đã xông đến đồn trại giặc đang đóng la liệt cả mấy khu rừng. Lưỡi gươm của Gióng vung lên loang loáng như chớp giật. Quân giặc xông ra chừng nào chết chừng ấy. Ngựa thét ra lửa thiêu cháy từng dãy đồn trại, lửa thiêu luôn cả mấy khu rừng.</p><p>Nhưng tướng giặc Ân vương vẫn còn cố gào thét hô quân xáp tới, Gióng càng đánh càng khỏe, thây giặc nằm ngổn ngang. Bỗng chốc gươm gãy, Gióng không chút bối rối, thuận tay nhổ những bụi tre hai bên đường quật tới tấp vào các toán giặc đang cố gắng trụ lại theo lệnh chủ tướng. Chẳng mấy chốc quân giặc đã tẩu tán bỏ chạy khắp nơi, Ân vương bị quật chết tan xác. Bọn tàn binh giặc lạy lục xin hàng. Quân đội của Hùng Vương cũng như dân các làng chỉ còn việc xông ra trói chúng lại. Không đầy một buổi, Gióng đã trừ xong nạn cho nước nhà. Lúc bấy giờ ngựa Gióng đã tiến đến chân núi Sóc Sơn. Đến đây, Gióng bèn cởi giáp bỏ nón lại, rồi cả người lẫn ngựa bay thẳng lên trời.</p><p>Sau khi thắng trận, để nhớ ơn người anh hùng, vua Hùng sai lập đền thờ Thánh Gióng ở làng quê, phong làm Phù Đổng thiên vương.</p><p>Ngày nay chúng ta còn thấy vẫn còn những dấu vết như dãy ao tròn nối nhau kéo dài suốt từ Kim Anh, Đa Phúc cho đến Sóc Sơn, người ta bảo đó là những vết chân ngựa của Thánh Gióng. Khu rừng bị ngựa sắt phun lửa thiêu cháy nay còn mang cái tên là làng Cháy. Những cây tre mà Gióng đã nhổ quật vào giặc bị lửa đốt màu xanh ngả thành màu vàng và có những vết cháy lốm đốm, ngày nay giống ấy vẫn còn, người ta gọi là tre là ngà (hay đằng ngà).</p><p>    Hình tượng Thánh Gióng được xây dựng là người anh hùng đánh giặc ngoại xâm. Thánh Gióng được sinh ra một cách kỳ lạ và lớn nhanh như thổi để đi giết giặc.</p><p>Ý nghĩa hình tượng đó được xây dựng nói lên tình yêu nước, tinh thần đấu tranh chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta.</p><p>Thánh Gióng là hiện thân của sức mạnh thiên nhiên và con người, sức mạnh đó dung hòa và kết tinh lại thành sức mạnh to lớn để quật ngã mọi kẻ thù to lớn.</p><p>Từ lịch sử chống giặc ngoại xâm, hình tượng Thánh Gióng được thần thánh hóa để trở thành nhân vật anh hùng, mang tinh thần ý chí quật khởi trong cuộc chiến chống giặc giữ nước của nhân dân ta.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?v=W7n0A0ei0h4" />
         <pubDate>2025-03-09 08:57:07 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3357229394</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3357381253</link>
         <description><![CDATA[<p>Câu chuyện Trần Quốc Toản</p><p>Mới 15 tuổi, tính theo “tuổi ta” là 16, nhưng chàng thiếu niên này đã hừng hực chí lớn muốn diệt giặc bạo tàn, bảo vệ sự toàn vẹn cho non sông nước Việt. Chàng thiếu niên dũng mãnh ấy đã từng bóp nát quả cam vua ban vì không được dự bàn việc nước, dốc lòng xông pha trận mạc với lá cờ thêu sáu chữ vàng “Diệt cường địch, báo hoàng ân” nổi danh sử sách. Có lẽ, nói đến đây, ai cũng biết, chàng thiếu niên ấy chính là Hoài văn vương Trần Quốc Toản.</p><p>Trần Quốc Toản sinh năm 1267, là con trai của Trung Thành vương (sử liệu không ghi rõ Trung Thành vương có tên thật là gì), nên được phong là Hoài Văn hầu.</p><p>Trước khi Hoài Văn hầu chào đời 10 năm, quân, dân Đại Việt đã khiến giặc Nguyên Mông thua tan tác trong trận quyết chiến Đông Bộ Đầu, giành thắng lợi tưng bừng trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ nhất. Biết rằng giặc Nguyên Mông không bao giờ từ bỏ giấc mộng thôn tính Đại Việt, triều đình nhà Trần một mặt giảng hòa với nhà Nguyên, một mặt tích cực chuẩn bị lực lượng sẵn sàng ứng phó. Suốt từ năm 1258 trở đi, trong khoảng 1/4 thế kỷ, nhà Trần áp dụng phương sách đối ngoại mềm dẻo, linh hoạt nhưng cũng không kém phần cương quyết, không ít lần vua Trần khéo léo từ chối những yêu sách quá quắt của Hốt Tất Liệt, hoàng đế Nguyên Mông. Điều này càng khiến Hốt Tất Liệt nung nấu quyết tâm thôn tính Đại Việt và càng ngày càng đưa ra những yêu sách quá quắt để “nắn gân” và “dọn đường” cho cuộc tấn công xuống Đại Việt. Đó là lý do vua Trần triệu tập hội nghị Bình Than vào tháng 10 năm 1282, khởi đầu cho câu chuyện “bóp nát quả cam” hy hữu trong lịch sử của Trần Quốc Toản.</p><p><br/></p><p>Trước nguy cơ giặc Nguyên Mông đánh chiếm Đại Việt hiện hữu, tháng 10 năm 1282, vua Trần Nhân Tông triệu tập Hội nghị Bình Than để bàn phương hướng kháng chiến, tiến cử và quyết định nhân sự cho cuộc kháng chiến khi Nguyên Mông xua quân đánh chiếm nước ta. Hội nghị này bao gồm quan lại, vương hầu và được đích thân vua Trần chủ trì. Do mới 16 tuổi (theo cách tính tuổi như bây giờ thì khi ấy, Trần Quốc Toản mới 15 tuổi), nên Hoài Vương hầu không được mời dự Hội nghị. Tuy vậy, Hoài Vương hầu vẫn tới bến Bình Than, đòi được vào dự Hội nghị. Bị lính canh chặn cửa, Hoài Văn hầu vặn hỏi:</p><p>– Ta là Hoài Văn hầu, quan gia truyền gọi tất cả vương, hầu tới họp. Ta là hầu, cớ sao không cho vào?</p><p>Thấy chuyện ầm ĩ bên ngoài, Trần Nhân Tông hỏi ra mới biết chuyện, bèn cho người mang ban cho Hoài Văn hầu một quả cam và khuyên Hoài Văn hầu lui bước vì chưa đến tuổi bàn việc nước. Về chuyện này, Đại Việt sử ký toàn thư chép lại như sau: <em>Vua thấy Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản, Hoài Nhân Vương Kiện đều còn trẻ tuổi, không cho dự bàn. Quốc Toản trong lòng hổ thẹn, phẫn kích, tay cầm quả cam, bóp nát lúc nào không biết.</em></p><p>Trở về từ Hội nghị Bình Than, Hoài Văn hầu vẫn quyết tâm tìm cách đánh giặc cứu nước. Chàng thiếu niên có vóc dáng vạm vỡ hơn người do sớm thao luyện võ nghệ bèn quy tập gia nhân, trai tráng trong vùng được hơn 1000 người, rèn luyện binh khí, tích trữ lương thảo, ngày đêm luyện võ, tập trận. Trần Quốc Toản còn cho thêu trên một lá cờ lớn 6 chữ vàng: “Phá cường địch, báo hoàng ân”.</p><p>Cuối tháng 2 năm 1285, quân Nguyên Mông ồ ạt tấn công Đại Việt. Trong các trận chiến chống giặc ngoại xâm, Trần Quốc Toản thường dẫn quân xông lên trước lính triều đình, tả xung hữu đột đương đầu trực tiếp với thế giặc đang mạnh. Lá cờ thêu 6 chữ vàng của Trần Quốc Toản xuất hiện trên nhiều mặt trận, góp phần quan trọng làm chậm bước tiến của quân Nguyên. Về chuyện này, sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “<em>khi đối trận với giặc, (Hoài Văn hầu) tự mình xông lên trước quân sĩ, giặc trông thấy phải lui tránh, không dám đối địch”.</em></p><p>Cảm kích trước tấm lòng trung chinh và tinh thần dũng cảm của chàng thiếu niên Hoài Văn hầu, khi Trần Nhân Tông chuẩn y mưu kế lập vườn không nhà trống, rút toàn bộ khỏi thành Thăng Long, nhà vua đã cho Hoài Văn hầu đi theo hộ giá vào Thanh Hóa.</p><p>Do không chiếm được lương thảo, chỉ sau đó vài tháng, quân Nguyên Mông bắt đầu rơi vào tình cảnh khốn cùng. Kế vườn không nhà trống của nhà Trần đã mang lại cơ hội không thể tốt hơn cho việc tổng phản công giặc. Trong khoảng từ đầu tháng 5 tới đầu tháng 6 năm 1285, Hoài Văn hầu cùng các tướng lĩnh theo Quốc công tiết chế Trần Hưng Đạo, Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải và Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật đốc quân ngược ra Bắc để phản công giặc.</p><p>Dọc theo phòng tuyến sông Hồng, quân triều đình chia làm 3 mũi tấn công, Hoài Văn hầu theo mũi tấn công do Chiêu Thành vương và tướng quân Nguyễn Khoái chỉ huy đánh thẳng vào bến Tây Kết (gần bãi Đà Mạc-Thiên Mạc, nay thuộc địa phận huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam), khiến quân giặc thua chạy táo tác. Những chiến thắng liên tiếp có công sức không nhỏ của Trần Quốc Toản khiến quân giặc liên tục vỡ trận phải tháo chạy, trong đó có chiến thắng lịch sử ở Chương Dương Độ. Trần Quốc Toản cùng đội quân thiện chiến và lá cờ theo 6 chữ vàng hòa cùng đại quân triều đình vây khốn quân Nguyên ở thành Thăng Long, khiến Thoát Hoan phải mở đường máu qua sông Hồng để tháo chạy. Trần Quốc Toản lại dẫn quân truy đuổi, tới bờ sông Như Nguyệt thì đón đầu được quân Nguyên. Không địch nổi với Trần Quốc Toản, không vượt sông Như Nguyệt được, quân Nguyên phải tháo chạy lên Vạn Kiếp. Chàng thiếu niên dũng mãnh Trần Quốc Toản quyết truy đuổi tới cùng. Tuy nhiên, trong lúc truy đuổi, Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản không may hy sinh. Tuy tử trận, nhưng Trần Quốc Toản đã góp công không nhỏ trong sự thành công của cuộc tổng phản công của quân đội triều đình, quét sạch bóng xâm lăng chỉ trong vòng khoảng 2 chục ngày đêm.</p><p>Nhận được tin Hoài Văn hầu tử trận, Trần Nhân Tông rất đỗi thương tiếc. Khi đất nước sạch bóng giặc, nhà vua cử hành tang lễ rất trọng thể, đích thân làm văn tế và truy tặng Trần Quốc Toản tước Hoài Văn vương.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-09 13:36:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3357381253</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3360044421</link>
         <description><![CDATA[<p>Đây là câu chuyện Lý Thường Kiệt</p><p>Tháng 12 năm 1075, biết nhà Tống đang tích trữ lương thảo, vũ khí để chuẩn bị xâm lược nước ta, Lý Thường Kiệt đem quân phá tan ba thành trì của địch. Mất lương thảo, vũ khí, hơn một năm sau, nhà Tống mới cử Quách Quỳ chỉ huy đại quân tràn vào Đại Việt.</p><p>2. Quân Tống đến bờ bắc sông Như Nguyệt, làm cầu phao vượt sông. Bất ngờ, quân ta mai phục từ trước xông ra vây đánh dữ dội. Quân Tống không chống đỡ nổi, định rút quân nhưng cầu phao đã bị chặt đứt từ bao giờ. Bí thế, chúng lao bừa xuống sông, bị dòng nước cuốn trôi vô số.</p><p>3. Quách Quỷ cho quân đóng bè lớn để vượt sông lần thứ hai. Lý Thường Kiệt đợi bè tới giữa dòng, cho lính bắn tên và quăng đá khiến nhiều bè bị vỡ, hàng ngàn tên giặc bị vùi dưới sông. Số quân Tống lên được bờ thì bị quân Đại Việt từ các chiến luỹ tràn xuống tiêu diệt.</p><p>4. Lý Thường Kiệt quyết định cho quân đánh thẳng vào trại địch. Đêm ấy, trước khi xuất quân, ông cho người vào đền thờ thần bên bờ sông, bắc loa đọc vang một bài thơ:</p><p>QUẢNG CÁO</p><p>Pause</p><p>00:00</p><p>01:07</p><p>Unmute</p><p>Sông núi nước Nam vua Nam ở</p><p>Rành rành định phận tại sách trời</p><p>Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm</p><p>Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.</p><p>Quân sĩ Đại Việt tin đó là lời thần dạy nên hăng hái xông thẳng vào trại địch. Quân giặc sợ mất mật, giẫm đạp lên nhau mà chạy, chết đến quá nửa.</p><p>5. Đến lúc ấy, Lý Thường Kiệt mới cử người sang nghị hoà, mở đường cho quân xâm lược rút lui để sớm kết thúc chiến tranh. Quách Quỷ mừng rỡ, lập tức đồng ý và nhanh chóng rút quân. Đất nước sạch bóng quân thù, cuộc sống nh</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-11 03:40:16 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3360044421</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3360045248</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?v=aMaHEE-bw2w" />
         <pubDate>2025-03-11 03:40:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3360045248</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3363959616</link>
         <description><![CDATA[<p>Đây là câu chuyện tháng gióng</p><p>Đời Hùng Vương thứ sáu, làng Gióng có hai vợ chồng ông lão chăm chỉ, phúc đức nhưng không có con. Một hôm bà vợ ra đồng ướm vào vết chân to, về nhà thụ thai. Mười hai tháng sau sinh cậu con trai khôi ngô. Lên ba tuổi mà chẳng biết đi, không biết nói cười. Giặc xâm lược, nhà vua chiêu mộ người tài, cậu bé cất tiếng nói yêu cầu vua rèn roi sắt, áo giáp sắt, ngựa sắt để đánh giặc. Cậu ăn khỏe, lớn nhanh như thổi. Cả làng phải góp gạo nuôi. Giặc đến, chú bé vùng dậy, vươn vai biến thành tráng sĩ, giáp sắt, ngựa sắt, roi sắt xông ra đánh tan giặc, roi sắt gãy tráng sĩ nhổ những cụm tre quật giặc. Tráng sĩ một mình một ngựa, lên đỉnh núi cởi bỏ giáp sắt cùng ngựa bay lên trời. Nhân dân nhớ ơn lập đền thờ, giờ vẫn còn hội làng Gióng và các dấu tích ao hồ.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-13 03:49:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3363959616</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3363960497</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?pdlt=1&amp;pp=ygUXI3RydXllbnRodXlldHRoYW5oZ2lvbmc%3D&amp;v=lhJghGyF-NY" />
         <pubDate>2025-03-13 03:50:33 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3363960497</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3364728619</link>
         <description><![CDATA[<p>1000 năm Thăng Long – Hà Nội khởi đầu từ quyết định dời đô sáng suốt, mang tính chiến lược của vị vua khai mở triều Lý, Thái Tổ Lý Công Uẩn. Tầm nhìn chiến lược trong việc lựa đất đóng đô giữ nguyên giá trị trong hầu hết chiều dài 1000 năm đã đưa Lý Thái Tổ thành vị vua chói sáng nhất trong số các vị vua tài giỏi của lịch sử phong kiến nước Nam.</p><p><br/></p><p><em>Vua Lý Thái Tổ</em></p><p>Lý Công Uẩn sinh năm 974, là người làng Cổ Pháp (nay thuộc Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh, nơi vẫn còn lưu giữ ngôi đền Lý Bát Đế nổi tiếng thờ 8 vị vua triều Lý). Theo truyền thuyết, Lý Công Uẩn mồ côi cả cha lẫn mẹ, được thiền sư Lý Khánh Văn nhận làm con nuôi.</p><p>Về thân thế của Lý Công Uẩn, truyền thuyết kể rằng thân phụ Lý Công Uẩn là người làm thuê ở chùa Tiêu Sơn thuộc vùng Bắc Ninh. Trong thời kỳ làm công ở đây, người này phải lòng một tiểu nữ rồi làm nàng có thai. Bị đuổi ra khỏi chùa, hai vợ chồng bìu díu nhau đến khu rừng báng thì vừa mệt, vừa khát, bèn dừng chân nghỉ ngơi. Người chồng để vợ ngồi lại nghỉ, còn mình tìm đến giếng nước giữa rừng lấy nước uống cho cả hai vợ chồng. Không may, người chồng ngã xuống giếng mà chết. Người vợ chờ lâu bèn đến giếng tìm chồng thì thấy giếng đã bị đất đùn lấp kín thành hình bông hoa có 8 cánh. Than khóc một hồi, thân xác rã rời, người vợ đành lết đi tìm nơi tá túc và may mắn được sư trụ trì chùa Ứng Tâm (nay là chùa Dặn) gần đấy thương hại cho ở lại.</p><p>Lại nói về sư trụ trì chùa Ứng Tâm Lý Khánh Văn. Đêm trước, ông nằm mơ thấy Long thần báo mộng: “Ngày mai dọn chùa cho sạch, có Hoàng đế đến”. Nửa thực nửa ngờ, sáng hôm sau, nhà sư sai chú tiểu quét dọn chùa sạch sẽ. Thầy trò túc trực từ sáng đến chiều mới thấy người phụ nữ có thai khổ sở đến xin ngủ nhờ qua đêm. Sau khi nghe rõ nguồn cơn câu chuyện, nhà sư thương tình cho người phụ nữ bất hạnh ở lại trong chùa chờ kỳ khai hoa mãn nhụy. Mấy tháng sau, trong một đêm vần vũ, từ chái nhà nơi người phụ nữ tá túc bỗng tỏa ánh hào quang rực rỡ, hương thơm bay ngào ngạt. Thấy sự lạ, nhà sư cùng bà hộ chùa tìm đến xem thì thấy người đàn bà đã trở dạ, sinh được cậu con trai kháu khỉnh, mặt mũi khôi ngô, sáng láng, trên hai bàn tay có bốn chữ son: “Sơn hà xã tắc”. Người đàn bà ấy chết ngay sau khi sinh được con. Sau đó, trời nổi mưa giông, sấm chớp giật liên hồi. Thương cảm đứa bé mồ côi, sư Khánh Văn bèn nhận lấy làm con nuôi, đặt tên là Lý Công Uẩn. Khi Công Uẩn đến tuổi đi học, thiền sư Khánh Văn bèn gửi sang chùa Lục Tổ là nơi người anh có pháp danh Vạn Hạnh làm trụ trì, nhờ thiền sư Vạn Hạnh dạy bảo.</p><p>Cũng có truyền thuyết khác nói rằng mẹ Lý Công Uẩn là bà Phạm Thị Ngà, người làng Dương Lôi (Bắc Ninh). Một hôm, bà Ngà đi chùa lễ Phật, buổi trưa nằm ngủ dưới gốc cây nằm mơ thấy có thần nhân đến giao hoan cùng. Tỉnh dậy, bà có thai. Đến kỳ lâm bồn, bà sinh được cậu con trai, đặt tên là Lý Công Uẩn. Khi Công Uẩn lên 3 tuổi, bà Ngà bèn mang Công Uẩn vào chùa cho làm con nuôi sư Khánh Văn. Đoạn sau của truyền thuyết này cũng giống truyền thuyết trên.</p><p>Lý Công Uẩn tư chất thông minh, sáng láng, được sư Vạn Hạnh khen “<em>không phải là người thường. Sau này lớn lên, tất có thể giải quyết được mọi việc khó khăn, làm chúa trong thiên hạ</em>”.</p><p>Sau này, khi được vua Lê Đại Hành sùng kính, phàm những việc lớn nhỏ trong triều đình hay bình thiên hạ nhà vua đều tham vấn ý kiến, thiền sư Vạn Hạnh bèn tiến cử Lý Công Uẩn. Vào triều làm quan, Lý Công Uẩn càng tỏ rõ là người có tài thao lược, được vua Lê Đại Hành rất tin dùng. Dưới triều Tiền Lê, Lý Công Uẩn được phong tới chức Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ. Sau này, khi vua Lê Đại Hành băng hà, ngôi báu được truyền cho hoàng tử thứ 3 là Lê Long Việt, tức vua Lê Trung Tông. Sau khi lên ngôi được 3 ngày, Lê Trung Tông bị chính em ruột của mình là Lê Long Đĩnh sát hại, tiếm ngôi vua, sử gọi là Ngọa Triều. Khi ấy, quần thần ai cũng kinh sợ lánh xa, duy có Lý Công Uẩn ôm xác vua Trung Tông kêu khóc. Long Đĩnh khen là người trung nghĩa bèn cho giữ nguyên chức Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ.</p><p>Do chơi bời trác táng, Ngọa Triều bị bệnh nặng và qua đời khi mới 24 tuổi. Khi ấy, con của Long Đĩnh là hoàng tử Sạ còn quá bé, đất nước lại lâm cảnh khốn khó do nạn tranh giành quyền lực và sự tha hóa của vua Ngọa Triều, quần thần bèn đồng loạt tôn cử Lý Công Uẩn lên ngôi vua với ước mong đất nước sẽ được thái bình, thịnh trị. Là người trung nghĩa, thắng thắn, Lý Công Uẩn nhiều lần từ chối lời thỉnh cầu của quần thần. Vì nghĩa lớn, thái hậu Dương Vân Nga (hoàng hậu của vua Lê Đại Hành) phải đích thân khoác hoàng bào lên người cho Lý Công Uẩn, khi ấy, Lý Công Uẩn mới nhận lời lên ngôi vua, lập ra triều Lý. Ấy là năm 1009.</p><p>Lên ngôi báu, nhận thấy đất Hoa Lư chật hẹp, bốn bề núi giăng, không xứng là đất định đô của một quốc gia độc lập, càng khó để xây dựng đất nước phồn thịnh, Lý Thái Tổ bèn nghĩ tới việc dời đô. “Xem khắp đất Việt”, thấy chỉ có Đại La là “nơi thắng địa”, “ở trung tâm của trời đất”, “được thế rồng chầu hổ phục, đã thuận hướng nam bắc đông tây, lại tiện nghi núi sông sau trước”, “mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa”, Lý Thái Tổ bèn soạn thiên chiếu dời đô nổi tiếng sử sách để tham vấn ý kiến quần thần. Vua tôi nhất trí đồng lòng, bèn quyết dời đô từ Hoa Lư ra Đại La.</p><p>Mùa thu năm 1010, đoàn thuyền dời đô của nhà vua cập bến thành Đại La. Ngay lúc ấy, theo truyền thuyết, nhà vua nhìn thấy có hình ảnh rồng vàng bay lên, nhân đó đổi tên thành Đại La thành thành Thăng Long.</p><p>Định đô tại Thăng Long, Lý Công Uẩn cho đổi tên cố đô Hoa Lư thành phủ Tràng An, đổi tên quê hương Cổ Pháp thành phủ Thiên Đức, chia cả nước làm 24 lộ, gọi Hoan Châu và Ái Châu là trại.</p><p>Đất nước ta dưới thời vua Lý Thái Tổ trị vì rất ổn định. Thiên hạ được yên ổn, nhân dân chí thú làm ăn, ngày càng no ấm.</p><p>Lý Thái Tổ ở ngôi được 19 năm thì băng hà, thọ 55 tuổi.</p><p>Nhà Lý truyền ngôi được 8 đời (không kể vua Lý Chiêu Hoàng đánh mất ngôi vua về tay nhà Trần), nên dân gian vẫn coi hình bông hoa 8 cánh đất đùn trên mộ thân phụ nhà vua là điềm báo nhà Lý giữ ngôi vua được 8 đời. Tại đền Lý Bát Đế (thuộc Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh) nay vẫn chỉ thờ 8 vị vua này.</p><p>Lý Thái Tổ ở ngôi từ năm 1010 đến năm 1028, lấy niên hiệu là Thuận Thiên. Năm 1028, Lý Thái Tổ băng hà, được đặt thụy hiệu là Thần vũ Hoàng đế. Linh cữu Lý Thái Tổ được táng tại Thọ Lăng.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-13 13:29:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3364728619</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3364898560</link>
         <description><![CDATA[<p>Câu chuyện ba lưỡi rìu</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?pdlt=1&amp;v=rxjFBnmsFuA" />
         <pubDate>2025-03-13 15:08:36 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3364898560</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3367555298</link>
         <description><![CDATA[<p>Hôm nay mình sẽ kể về câu chuyện cây tre trăm đốt</p><p>Khi còn nhỏ, em thường được nghe ông và bà kể cho nghe những câu chuyện cổ tích rất ý nghĩa. Một trong số truyện cổ tích ông kể mà em ấn tượng nhất là truyện Cây tre trăm đốt, ông kể trong lúc em và ông cùng đi chặt tre làm diều.</p><p>Ngày xưa có một phú ông nhà giàu nhưng lại bủn xỉn keo kiệt, ông ta thuê anh nông dân nghèo có tính cần cù chịu thương chịu khó cày ruộng. Ông ta chỉ muốn anh nông dân làm cho mình mà lại không mất tiền thuê nên đã hứa hẹn rằng "Anh hãy chịu khó cày ruộng cho ta trong ba năm, hết thời gian đó ta sẽ gả con gái cho anh". Anh chàng này tưởng thật, làm ngày làm đêm không quản mệt nhọc, mang về cho phú ông lúa thóc chất đầy kho.</p><p>Cuối cùng cũng đến hạn ba năm, đang háo hức được lấy con gái phú ông thì anh nông dân lại bị lão ta lừa. Một mặt phú ông bảo anh vào rừng chặt cây tre trăm đốt về làm đũa mời cỗ cả làng, mặt khác sau khi anh đi lão ta bèn mở tiệc gả con gái cho tên nhà giàu khác. Ở bên này anh nông dân sau khi vào rừng chặt hết cả rặng tre, quần áo rách tơi tả, chân tay bị cứa chảy máu vẫn không tìm được cây tre đủ 100 đốt. Nghe tiếng khóc của anh đã có một ông bụt hiện lên và trao cho anh câu thần chú "Khắc nhập, khắc xuất", anh chặt đủ 100 đốt tre, đọc câu "khắc nhập" là từng đốt tre nhập thành cây tre đủ 100 đốt. Anh vui mừng đem tre về thì phát hiện ra phú ông lừa mình, anh liền đọc câu thần chú "khắc nhập" nhốt ông vào cây tre, sau khi nghe ông ta van xin và hứa không bày mưu lừa hại anh nữa anh mới đọc "khắc xuất" để thả ông ta ra. Từ đó anh nông dân lấy con gái phú ông và sống hạnh phúc đến cuối đời</p><p>Tuy chỉ là truyện cổ tích nhưng thực sự rất gần gũi với cuộc sống hàng ngày, phú ông và cây tre trăm đốt giống như những khó khăn, thử thách và chướng ngại mà ta phải vượt qua trong cuộc sống. Hãy luôn cố gắng và sống thật tốt, mọi chuyện sẽ luôn có cách giải quyết.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-16 02:07:54 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3367555298</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3367555653</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?pdlt=1&amp;v=l2Lv7hBl0nY" />
         <pubDate>2025-03-16 02:08:39 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3367555653</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3367785729</link>
         <description><![CDATA[<p>Câu chuyện Sự tích con muỗi</p>]]></description>
         <enclosure url="https://eva.vn/nuoi-con-khoe-day-con-khon/su-tich-con-muoi-truyen-co-tich-viet-nam-c429a502921.html" />
         <pubDate>2025-03-16 11:53:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3367785729</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3367786485</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?v=_D4KBOJPhTs" />
         <pubDate>2025-03-16 11:54:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3367786485</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3367790406</link>
         <description><![CDATA[<p>Mình sẽ kể câu chuyện: '' BÀ CHÙA BÉO''</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?v=H7owoFg9c-c" />
         <pubDate>2025-03-16 12:01:50 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3367790406</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3367813326</link>
         <description><![CDATA[<p>Môn học sẽ kể câu chuyện TRẦU CAU</p>]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?v=rQM8fP9gJ4Y" />
         <pubDate>2025-03-16 12:44:57 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3367813326</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3373141391</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>18. Trí Khôn Ta Đây</strong></p><p>Xưa kia, có con cọp từ trong rừng sâu ra ngoài, nó trông thấy bác nông dân cùng con trâu chăm chỉ cày cuốc. Tuy rằng con trâu kia rất chăm chỉ kéo cày nhưng vẫn bị bác nông dân quất roi vào mông. Cọp thấy lạ, nó đợi đến trưa bác nông dân tháo hết cày cho trâu thì lại hỏi chuyện, trâu bảo rằng con người tuy nhỏ bé nhưng họ có trí khôn, nếu muốn biết thì cứ tìm họ mà hỏi.</p><p>Nghe trâu nói như vậy thì cọp ta lại đến hỏi bác nông dân. Bác nông dân bình tĩnh đáp: "Trí khôn của ta để hết ở nhà." Nghe bác nông dân bảo vậy thì cọp ta hết sức mừng rỡ, vội vàng giục bác về nhà lấy. Nhưng bác nông dân đưa ra thoả thuận với cọp, trói nó vào cây để yên tâm về nhà lấy trí khôn mà không sợ nó ăn mất trâu.</p><p>Tất nhiên là cọp chẳng có chút nghi ngờ nào về chuyện này nên chấp thuận. Bác nông dân đợi cọp đồng ý thì đem tới dây thừng và trói cọp thật chặt vào dưới gốc cây cạnh đó. Xong rồi bác lại đem tới rất nhiều rơm khô để chất xung quanh chỗ cọp. Sau cùng thì bác châm lửa để đốt rơm, rơm cháy và bác liền quát: “Trí khôn của ta đây! Trí khôn của ta đây!”</p><p>Nhìn thấy cảnh này thì con trâu bò lăn ra đất mà cười, không may là hàm trên của nó đập phải đá và rụng hết răng. Trong lúc đó, cọp hết sức vùng vẫy ở bên trong đám cháy. Đến khi lửa cháy lớn làm đám dây thừng bị đứt, thì cọp mới thoát được. Nó co chân co cẳng vùng dậy và chạy thẳng vào trong rừng sâu. Kể từ ngày đó, đám cọp con được sinh ra đều có thêm những vằn màu đen và kéo dài ở trên người. Những vết vằn ấy chính là dấu vết còn sót lại của những vệt cháy ngày xưa. Còn đám trâu cũng kể từ ngày đó con nào cũng đều không có răng ở hàm trên, chỉ có mỗi lợi mà thôi.</p><p><strong>Giá trị nhân văn của truyện</strong>:</p><p>Câu chuyện này nhắc nhở chúng ta rằng, bên cạnh sức mạnh, trí tuệ và sự mưu trí cũng đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống. Truyện còn cho thấy ý đồ của những kẻ xấu luôn rình rập và phải luôn vận dụng trí khôn của mình trong mọi tình huống.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-19 13:35:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3373141391</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3376072103</link>
         <description><![CDATA[<p>Mình sẽ kể câu chuyện Sự tích chim đa đa</p><p>Ngày xưa có một em bé mồ côi cha từ hồi còn nhỏ. Người mẹ sau một thời gian tang chế cũng đi lấy chồng. Vì bà con thân thích nội ngoại không còn ai nên nó phải theo mẹ về ở với bố ghẻ. Bố ghẻ tính rất vũ phu, coi cả hai mẹ con&nbsp; như kẻ ăn đứa ở. Nhất là thằng bé chưa biết làm gì cả, nên hắn lại càng ghét dữ. Nhiều lúc có việc trái ý, hắn đánh thằng bé thâm tím cả mình mẩy.</p><p>Nhà hắn cũng không có gì. Hắn thường sinh nhai bằng cách lên rừng đốn củi. Người đàn bà vừa về với hắn được một ngày đã phải gánh củi của chồng đi bán ở chợ.</p><p>Không may, năm đó trời làm mất mùa. Miếng ăn kiếm rất chật vật. Củi rẻ như bèo. Trước kia một gánh củi nuôi sống gia đình được mấy ngày thì bây giờ không đủ nuôi được một bữa. Thằng bé chưa làm được nghề ngỗng gì cả, trở nên một cái gai trước mắt bố ghẻ.</p><p>- Thằng bé này chỉ ăn hại đái nát. Chỉ làm cho ta khó khăn thêm.</p><p>Hắn bảo vợ thế và khuyên vợ đem con đi bán cho kẻ khác nuôi. Nhưng người đàn bà nhất quyết không chịu. Thà là cả hai mẹ con cùng chết chứ bà không đời nào chịu lìa con.</p><p>Người bố ghẻ bèn có ý định muốn giết chết con riêng của vợ. Mạng người lúc này nhỏ bằng cái tơ cái tóc. Huống chi đối với hắn, hắn chẳng coi ra gì. Nạn đói coi chừng đang kéo dài và ngày càng dữ dội. Một gánh củi lớn bây giờ không đổi nổi một bát gạo.</p><p>Hôm đó, chờ lúc vợ đi chợ sớm, hắn đưa thằng bé lên rừng. Hắn rủ:</p><p>- Mày có muốn trèo ổi và bắt bướm không? Trên ấy thì tha hồ.</p><p>Thằng bé nghe thế lấy làm thích, cố xin đi theo cho được.</p><p>Cảnh rừng có nhiều cái lạ làm cho thằng bé lon ton chạy theo bố ghẻ không biết mệt. Người đàn ông đưa nó vào rừng sâu. Khi đến chỗ mấy cây ổi rừng, hắn bảo thằng bé:</p><p>- Ổi đấy. Và có bát cơm đây. Chốc nữa tao lại tìm.</p><p>Thế rồi hắn bỏ mặc thằng bé, lẳng lặng lui ra, đến một chỗ khác kiếm củi. Nhưng buổi chiều, khi bước chân vào nhà hắn lấy làm ngạc nhiên thấy thằng bé đã về trước hắn rồi. Số là thằng bé trong khi đang bơ vơ giữa rừng rậm thì may mắn gặp một bọn đi đào khoai mài về ngang. Thế là họ đưa nó về. Nhờ có bát cơm, nó vẫn đủ sức đi được đến nhà.</p><p>Nghe đứa bé kể, hắn bực mình vô hạn. Hắn vờ mắng:</p><p>- Chỉ vì mày, làm tao tìm mãi không được!</p><p>Một lần khác hắn lại dỗ được đứa bé đi theo lên rừng. Lần này hắn cố tâm đưa nó vào thật sâu, đến những nơi chưa ai dám tìm vào hái củi bao giờ. Khi trốn khỏi thằng bé, hắn nghĩ bụng: - "Không chết vì thú dữ thì cũng chết vì lạc, không chết vì lạc thì cũng chết đói mà thôi".</p><p>Mãi đến chiều tối vẫn không thấy bố ghẻ trở lại, thằng bé khóc lóc, kêu gào nhưng chỉ có tiếng vọng của núi rừng trả lời nó thôi. Nó cuống cuồng chạy tìm khắp mọi ngả nhưng không hề thấy một bóng người. Khi đã mệt lử và đói bụng, nó tìm đến chỗ bát cơm của bố ghẻ để lại thì không ngờ đấy là một bát cát trên có rắc một lớp cơm với một quả cà để đánh lừa. Thằng bé nhặt những hạt cơm phủi cát bỏ vào miệng. Cuối cùng đói quá, nó cầm lấy bát chạy khắp nơi và kêu lên: - "Bố ghẻ ơi! Bát cát quả cà! Bát cát quả cà!". Nhưng tiếng kêu gào của nó chỉ làm cho một vài con chim rừng giật mình mà thôi.</p><p>Rồi thằng bé chết, hóa thành chim đa đa, luôn luôn kêu những tiếng "Bát cát quả cà! Bát cát quả cà!".</p><p>Đợi mãi không thấy con về, người đàn bà khóc thương vô hạn. Đoán biết thằng chồng tàn bạo đã ám hại con mình, bà ta đứng lên xỉa xói vào mặt hắn. Cuối cùng bà ta bắt hắn phải đi kiếm con mình về ngay, nếu không sẽ lên quan tố cáo. Túng thế hắn phải vào rừng. Hắn tìm mãi. Đột nhiên trong khu rừng hẻo lánh nổi lên mấy tiếng "Bát cát quả cà! Bát cát quả cà!". Hắn rụng rời. Đích thị là oan hồn thằng bé đã lên tiếng vạch tội ác của hắn. Nghe luôn mấy tiếng liên tiếp, hắn không còn hồn vía nào nữa, vội bỏ chạy. Nhưng mấy tiếng "Bát cát quả cà" đuổi theo hắn. Hắn chạy mãi, băng hết khu rừng nọ sang khu rừng kia. Tự nhiên hắn vấp phải đá ngã xuống bất tỉnh nhân sự.</p><p>Mấy ngày sau, những người tiều phu thấy thi thể hắn nằm vật ở mé rừng[1].</p><p>KHẢO DỊ</p><p>Về truyện này có hai dị bản lưu truyền ở miền Nam:</p><p>a) Một người vào năm đói đi xin con rể một ít thóc về ăn. Lúc đến nơi, chàng rể đi vắng, chỉ có con gái của mình ở nhà. Nhưng con gái từ khi giàu có, quên mất cả bố; cho bố một bị "chẹp" (thóc lép) trên có rắc một ít thóc. Bố ra về dọc đường gặp chàng rể. Chàng rể tốt bụng cầm bị thóc của vợ cho bố, biết rõ sự thật, bèn dắt bố về lấy cho bố một bị thóc, và trong khi giận dữ đánh vợ một bắp cày, không may vợ chết. Vợ hóa ra chim đa đa luôn mồm kêu câu: "Cách ca ca, bốc chép (hay giẹp) cho cha"[2].</p><p>b) Có hai vợ chồng một người kiếm củi đẻ một con trai đặt tên là Đa Đa. Con lên 7 tuổi thì mẹ từ trần. Vợ kế của bố đối đãi với con chồng không tốt, luôn luôn gây chuyện mắng chửi. Một hôm, bố đi kiếm củi về, thấy con khóc trước một bát cơm đầy. Bố toan hỏi con thì dì ghẻ chạy ra lu loa xin chồng dạy con kẻo nó nhục mạ không thể chịu được. Bố giận sẵn rìu đánh con, không ngờ chém vỡ đầu con ở khoảng mặt, con lăn ra chết. Lúc làm lễ "mở cửa mả", tự nhiên có con chim trong mộ bay ra kêu lên: - "Bát cơm cát trả cho cha, đánh chác đầu ra, bạc ác đa đa". Bố về lục tìm xem lại bát cơm dì ghẻ với cho con, mới thấy là một bát cát chỉ có một ít cơm phủ lên trên. Giận quá, bố lại choảng cho vợ một rìu chết tuốt. Người ta nói ngày nay dòng dõi chim đa đa có một vạch đen từ mắt đến tai đó là dấu tích vết rìu chém phải; còn lông rằn ri trên người nó là vết tích roi đánh lằn ngang lằn dọc của dì ghẻ[3].</p><p>Cũng có người[4] cho tiếng kêu của chim đa đa là "Bất thực cốc Chu gia" nghĩa là không ăn lúa nhà Chu. Họ cho giống chim này là kiếp sau của Bá Di, Thúc Tề. Đó là truyện do nhà nho kể theo điển tích của Trung-quốc[5].</p><p>Xem thêm truyện Gốc tích tiếng kêu của Vạc, Cộc, Dù dỉ, Đa đa và Chuột (số 17).</p><p>&nbsp;</p><p>[1][1]. Theo Jê-ni-bren (Génibrel). Truyện đời xưa mới in ra lần đầu hết, và dựa theo lời kể của người miền Bắc... Theo lời kể của người Quảng-ngãi.</p><p> Theo Lê Văn Phát. Sách đã dẫn.</p><p> Theo lời kể của người Hà-tĩnh, Vĩnh-phú và người miền Nam.</p><p> Bá Di, Thúc Tề là con vua nước Cô-trúc đời nhà Thương. Lúc cha sắp mất bảo lập em là Thúc Tề làm vua. Cha chết, Thúc Tề nhường cho Bá Di, Bá Di không chịu, bảo đó là mệnh cha, rồi trốn đi. Thúc Tề cũng không làm vua mà trốn nốt. Khi Chu Vũ Vương đánh nhà Thương, Bá Di đón đường để can; can không được bèn nói rằng từ nay không ăn lúa nhà Chu nữa; cả hai anh em vào ẩn ở núi Thú-dương và bị chết đói&nbsp; (Từ hải)</p>]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?v=SDfUFUQ92m4" />
         <pubDate>2025-03-21 04:05:41 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3376072103</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3376075348</link>
         <description><![CDATA[<p>Đây là câu chuyện Sự tích cây vú sữa</p><p><strong>Ngày xưa, có một cậu bé được mẹ cưng chiều nên rất nghịch và ham chơi. Một lần, bị mẹ mắng, cậu vùng vằng bỏ đi. Cậu la cà khắp nơi, mẹ cậu ở nhà không biết cậu ở đâu nên buồn lắm. Ngày ngày mẹ ngồi trên bậc cửa ngóng cậu về. Một thời gian trôi qua mà cậu vẫn không về. Ví quá đau buồn và kiệt sức, mẹ cậu gục xuống. Không biết cậu đã đi bao lâu. Một hôm, vừa đói vừa rét, lại bị trẻ lớn hơn đánh, cậu mới nhớ đến mẹ.<br>-“Phải rồi, khi mình đói, mẹ vẫn cho mình ăn, khi mình bị đứa khác bắt nạt, mẹ vẫn bênh mình, về với mẹ thôi”.</strong></p><p><strong>Cậu liền tìm đường về nhà. Ở nhà, cảnh vật vẫn như xưa, nhưng không thấy mẹ đâu. Cậu khản tiếng gọi mẹ:</strong></p><p><strong>– Mẹ ơi, mẹ đi đâu rồi, con đói quá ! – Cậu bé gục xuống, rồi ôm một cây xanh trong vườn mà khóc.</strong></p><p><strong>Kỳ lạ thay, cây xanh bỗng run rẩy. Từ các cành lá, những đài hoa bé tí trổ ra, nở trắng như mây. Hoa tàn, quả xuất hiện, lớn nhanh, da căng mịn, xanh óng ánh. Cây nghiêng cành, một quả to rơi vào tay cậu bé.</strong></p><p><strong>Cậu bé cắn một miếng thật to. Chát quá</strong></p><p><strong>Quả thứ hai rơi xuống. Cậu lột vỏ, cắn vào hạt quả. Cứng quá.</strong></p><p><strong>Quả thứ ba rơi xuống. Cậu khẽ bóp quanh quanh quả, lớp vỏ mềm dần rồi khẽ nứt ra một kẽ nhỏ. Một dòng sữa trắng sóng sánh trào ra, ngọt thơm như sữa mẹ.</strong></p><p><strong>Cậu bé ghé môi hứng lấy dòng sữa ngọt ngào, thơm ngon như sữa mẹ.</strong></p><p><strong>Cây rung rinh cành lá, thì thào :</strong></p><p><strong>“Ăn trái ba lần mới biết trái ngon. Con có lớn khôn mới hay lòng mẹ”.</strong></p><p><strong>Cậu oà lên khóc. Mẹ đã không còn nữa. Cậu nhìn lên tán lá, lá một mặt xanh bóng, mặt kia đỏ hoe như mắt mẹ khóc chờ con. Cậu ôm lấy thân cây mà khóc, thân cây xù xì, thô ráp như đôi bàn tay làm lụng của mẹ. Nước mắt cậu rơi xuống gốc cây, Cây xòa cành ôm cậu, rung rinh cành lá như tay mẹ âu yếm vỗ về.</strong></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 04:09:07 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3376075348</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3376079350</link>
         <description><![CDATA[<p>Mình sẽ kể câu chuyện Sự tích con bọ hung</p><p><strong>Truyện cổ tích– Sự Tích Con Bọ Hung</strong></p><p>Ngày xưa trời cách mặt đất rất gần, gần đến nỗi chỉ cần con người vung chày giã gạo là có thể chạm vào bụng trời. Con người một lúc một đông, tiếng giã gạo mỗi lúc một nhiều. Điều này khiến nhà trời rất tức giận. Nhà trời bèn phái bọ hung xuống trần truyền lệnh cho con người rằng ba ngày mới được một bữa, mỗi bữa chỉ được ăn ba bát cơm. Vì bọ hung có tính hay quên nên nó cứ lẩm nhẩm lại câu lệnh này và bị một người nông dân nghe được. Anh bèn nhảy ra hù dọa khiến bọ hung quên mất câu lệnh và sửa nó thành: ngày ăn ba bữa, ăn vặt không kể. Câu lệnh này đã khiến con người chăm giã gạo hơn, bọ hung thì bị nhà trời phạt đi hốt phân suốt kiếp còn nhà trời thì nâng trời lên cao, cách xa trần gian.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 04:13:22 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3376079350</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3376082815</link>
         <description><![CDATA[<p>Mình sẽ kể Câu chuyện:''SỰ TÍCH QUẢ BẦU TIÊN"</p><p>Ngày xửa, ngày xưa có một chú bé con nhà nghèo, nhưng vô cùng ngoan ngoãn và tốt bụng. Chú luôn luôn sẵn lòng giúp đỡ, quan tâm tới mọi người, và chăm sóc mọi vật xung quanh mình. Chú bé được các loài chim yêu quý lắm. Vì thế cứ mỗi độ xuân về, chim chóc lại ríu rít kéo nhau tới làm tổ, hót vang quanh nhà chú bé.</p><p>Một hôm có một con Cáo ở đâu mà tới bắt chim Én ở đầu nhà chú bé. Con Én non nớt bị rơi xuống đất gãy cánh. Chú bé vội lao ra cứu con chim.&nbsp;Chú bé ôm ấp, vỗ về con Én nhỏ. Chú quyết định mang chú chim Én tội nghiệp về nhà chăm sóc, và làm cho Én một cái tổ khác và hàng ngày chăm cho Én ăn, hết mực thương yêu và quan tâm đến Én nhỏ. Nhờ sự chăm sóc tận tình của chú bé, Én đã dần dần lành vết thương</p><p><br/></p><p>Cuối thu, trời lạnh dần. Hằng ngày khi nhìn lên trời thấy từng đàn Én hối hả bay đi tránh rét ở phương Nam, Én phân vân nửa muốn bay theo đàn, nửa lại lưu luyến không nỡ rời chú bé. Hiểu được lòng Én, chú bé âu yếm bảo: "Én cứ bay theo đàn đi đến phương Nam ấm áp đi. Đến mùa xuân Én lại trở về với anh". Nói xong chú bé tung Én lên trời. Én nhỏ chấp chới bay lên nền trời xanh. Nó nhập vào một đàn Én lớn bay về những xứ sở ấp áp ở phương Nam, lòng lưu luyến chú bé.</p><p>Mùa xuân tươi đẹp đã tới. Én tìm về ngôi nhà đơn sơ nhưng đầm ấm tình thương của chú bé.&nbsp;Nó kêu lên thành tiếng mừng vui khi thấy chú bé đang ngồi đan sọt giữa sân. Đôi cánh Én chao liệng sà xuống và Én thả trước mặt chú bé một hạt bầu rất to. Chú bé chọn một đám đất tốt trước nhà, vùi hạt bầu xuống đất.</p><p>Hằng ngày chú bé ra tưới nước chăm sóc và thăm đám đất. Chẳng bao lâu hạt đã nảy mầm thành cây bầu. Cây bầu lớn nhanh như thổi, ra hoa, kết quả. Nhưng lạ thay, cây bầu rất tươi tốt nhưng chỉ ra có mỗi một quả. Hàng ngày chú bé vẫn yêu quý chăm sóc cây bầu.</p><p>Cứ thế, nhờ sự chăm sóc tận tình của chú bé,&nbsp;<strong>quả bầu</strong>&nbsp;ngày càng lớn lên.&nbsp;<strong>Quả bầu</strong>&nbsp;cứ to mãi to mãi, to hơn nhiều các quả bầu bình thường cao to hơn cả chú bé. Chú bé vui lắm!</p><p><br/></p><p>Đến mùa thu hoạch, chú bé muốn đem&nbsp;<strong>quả bầu tiên</strong>&nbsp;về nhà. Nhưng quả bầu to quá, cả nhà chú bé phải cùng nhau khiêng mới đưa được về nhà. Ai lấy cũng đều vui.</p><p>Khi bổ quả bầu ra, mọi người rất ngạc nhiên... Ôi! Thật kỳ diệu! Trong quả bầu đầy vàng bạc, châu báu nhiều không kể xiết. Gia đình chú bé vui mừng gọi bà con hàng xóm láng giềng sang, và chia sẻ cùng họ số vàng bạc, châu báu có<strong>&nbsp;trong ruột quả bầu tiên</strong>.</p><p>Trong làng có một tên địa chủ tham lam, độc ác. Hắn nghe được chuyện ấy. Hắn cũng muốn được chim Én cho nhiều hạt bầu tiên. Hắn bèn tìm cách bắt một con chim Én con rồi bẻ gãy cánh. Sau đó hắn giả vờ thương xót con Én rồi đem về nuôi.</p><p><br/></p><p>Đến mùa thu, khi nhìn lên trời thấy đàn Én đầu tiên xuất hiện, hắn vội vàng ném con Én lên trời và bảo: "Bay đi Én con! Mau đi kiếm hạt bầu tiên về đây cho ta!" Con Én khốn khổ chập chững bay đi.</p><p>Kỳ diệu thay mùa Xuân năm sau nó cũng trở về và đem theo một hạt bầu. Lão địa chủ tham lam hí hửng lắm. Lão nghĩ bụng "Phen này giàu to rồi !!"</p><p>Tên địa chủ hí hửng sai người đem gieo và ngày đêm canh giữ. Hắn bắt người hầu tong nhà ngày đêm chăm sóc quả bầu, không được lơi lỏng. Quả bầu cũng lớn nhanh như thổi, to dần, to dần...</p><p>Khi quả bầu đã già, hắn bảo mọi người khiêng về. Quả bầu thật khổng lồ, phải mấy người thay phiên nhau mới khiêng nổi về nhà hắn.</p><p>Khi đã khiêng quả bầu về nhà, tên địa chủ tham lam đuổi tất cả mọi người ra ngoài. Hắn đóng cửa lại rồi một mình hắn bổ quả bầu tiên, hí hửng với số vàng bạc châu báu sắp có.</p><p>Quả bầu vừa được bổ ra, vàng bạc châu báu chẳng thấy đâu, chỉ có rắn rết. Rắn rết từ trong quả bầu thi nhau xông ra bò lổm ngổm khiến lãi địa chủ hoảng sợ, ngã ngửa người ra và bị rắn rết cắn chết. Thật đáng đời kẻ tham lam độc ác.</p><p><strong>Ý nghĩa và bài học từ truyện cổ tích Quả bầu tiên</strong></p><p><strong>Truyện Quả bầu tiên</strong>&nbsp;là một câu truyện cổ tích đặc sắc dành cho thiếu nhi trong&nbsp;<a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://sachhay24h.com/truyen-co-tich.html"><strong>kho tàng truyện cổ tích Việt Nam</strong></a>.</p><p><strong>Với nhiều bài học ý nghĩa về đức tính nhân hậu và lòng biết ơn.</strong></p><ul><li><p>Trong truyện cổ tích quả bầu tiên, chú chim én nhỏ khi còn non nớt bị rớt khỏi tổ rơi xuống đất và gẫy cánh. Thật may mắn cho én, em đã được cậu bé hiền lành tốt bụng vỗ về, ôm ấp và tận tình săn sóc. Không quên ơn của cậu bé, đến mùa xuân năm sau chim én đã trả ơn cậu bằng hạt giống của quả bầu tiên.</p></li><li><p>Cậu bé nghèo nhưng nhờ đức tính hiền lành tốt bụng, luôn sẵn&nbsp;sàng giúp đỡ quan tâm tới mọi người, và sống chan hòa với thiên nhiên. Cuộc sống thật hạnh phúc “cứ mỗi độ xuân về, rất nhiều loài chim lại ríu rít bay về làm tổ, hót vang xung quanh ngôi nhà cậu bé”. Cùng với đức tính cần cù, chịu thương chịu khó nên khi được chim én tặng hạt giống quả bầu tiên, cậu bé đã vun trồng chăm sóc cây cẩn thận. Thành quả lao động là gia đình cậu bé đã được đền đáp xứng đáng. Trái bầu chứa đầy vàng bạc và châu báu. Gia đình cậu bé đã có cuộc sống sung túc, giàu có.Quả bầu vừa được bổ ra, vàng bạc chẳng có, chỉ có rắn rết. Rắn rết từ trong quả bầu xông ra cắn chết tên địa chủ tham lam độc ác.</p></li></ul><p><strong>Bài học trừng phạt thích đáng dành cho những kẻ tham lam độc ác</strong></p><ul><li><p>Tên địa chủ tham lam và độc ác đã tìm cách bắt và bẻ gãy cánh một con chim én. Và sau đó giả vờ thương xót con én đem về nuôi. Sự tham lam và rất độc ác của tên địa chủ đã bị con chim nhỏ trừng phạt một cách thích đáng. Hắn đã bị rắn rết từ trong quả bầu xông ra cắn chết. Đó cũng là hình phạt thích đáng dành cho cho tên địa chủ gian ác!</p></li></ul><p>Qua câu chuyện cổ tích quả bầu tiên các em thiếu nhi rút ra được nhiều bài thật ý nghĩa đó là phải sống chan hòa với thiên nhiên, chăm chỉ và luôn sẵn sàng giúp đỡ mọi người trong những lúc khó khăn. Đồng thời lên án những kẻ sống tham lam và độc ác!</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-21 04:17:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3376082815</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3376084062</link>
         <description><![CDATA[<p>Mình sẽ kể câu chuyện Cô bé bán diêm</p>]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?v=A8QaZ0uQgdI" />
         <pubDate>2025-03-21 04:18:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3376084062</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3376087062</link>
         <description><![CDATA[<p>Đây là câu chuyện Sự tích con muỗi</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="https://eva.vn/nuoi-con-khoe-day-con-khon/su-tich-con-muoi-truyen-co-tich-viet-nam-c429a502921.html" />
         <pubDate>2025-03-21 04:21:18 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3376087062</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3387343329</link>
         <description><![CDATA[<p>Mình sẽ kể câu chuyện Kim Đồng</p>]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?v=04sagZIV1L8" />
         <pubDate>2025-03-29 05:27:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3387343329</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3387346898</link>
         <description><![CDATA[<p>Mình sẽ kể câu chuyện Thánh Gióng</p><p>Ngày xửa ngày xưa vào đời vua hùng thứ 16, tại một làng Gióng nọ có đôi vợ chồng già tuy nghèo nhưng chăm chỉ làm ăn và sống nhân hậu. Tuy vậy, nhưng đến tuổi xế chiều họ vẫn chưa có lấy mụn con. Vào một hôm trên đường đi làm về, người vợ thấy một vết chân to ngoài đồng liên đưa chân ướm thử. Không ngờ rằng khi trở về lại mang thai. Có một điều kỳ lạ hơn, thai kỳ mà người vợ phải mang đến tận 12 tháng. Bà đã sinh được một cậu bé khôi ngô tuấn tú nhưng mãi vẫn không chịu nói cười dù đến tận 3 tuổi.&nbsp;</p><p><em>Truyện cổ tích Việt Nam Thánh </em>Gióng</p><p>Vào một ngày kia khi giặc Ân xâm chiếm nước ta, nhà Vua sai lính truyền tin đi khắp các làng tìm người tài cứu nước. Nghe thấy vậy, cậu bé cất tiếng nói đầu tiên với cha mẹ và xin được lên đường cứu lấy đất nước. Cậu bé đã yêu cầu sử giả về tâu lại với Đức Vua hãy sắm cho cậu một con ngựa sắt, một áo giáp sắt và một roi sắt để đánh giặc.</p><p>Ngay sau đó, cậu bỗng ăn nhiều hơn và lớn nhanh như thổi. Sau cái vươn vai đã hóa thành tráng sĩ cao lớn ra trận chống giặc ngoại xâm. Một lần chiến đấu roi sắt đã bị đứt, cậu nhổ bụi tre ngang đường thay cho vũ khí. Khi đã đuổi được giặc, cậu cưỡi ngựa sắt chạy lên đỉnh núi rồi bay thẳng lên trời. Để ghi nhớ công ơn, dân làng đã lập đền thờ để thờ ông.</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?pdlt=1&amp;v=W7n0A0ei0h4" />
         <pubDate>2025-03-29 05:46:31 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3387346898</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3387348499</link>
         <description><![CDATA[<p>Đây là câu chuyện cây tre trăm đốt</p><p>Ngày xưa, ở làng kia có một lão nhà giàu. Lão thuê một anh nông dân nghèo, khỏe mạnh để cày ruộng cho lão. Lão nhà giàu nhiều thóc, nhiều tiền nhưng tính tình lại keo kiệt. Lão rất sợ phải trả tiền công cày cho anh nông dân, vì thế lão suy tính ngày đêm. Cuối cùng thì lão đã nghĩ ra một kế để lừa anh. Lão nhà giàu cho gọi anh nông dân đến và dỗ dành:</p><p>– Anh chịu khó cày ruộng cho ta trong ba năm. Hết thời gian đó, ta sẽ cho anh cưới con gái ta.</p><p>Anh nông dân thật thà tin ngay vào lời của lão. Hết vụ lúa mùa đến vụ lúa chiêm, không quản nắng mưa, sương gió, anh chăm chỉ cày bừa trên cánh đồng của lão nhà giàu. Mỗi mùa gặt, anh thu về cho lão ta rất nhiều thóc lúa. Nhà lão đã giàu lại càng giàu hơn nữa.</p><p>Thấm thoát ba năm đã trôi qua, thời hạn làm thuê của anh nông dân cũng đã hết. Lão nhà giàu không muốn cho anh nông dân nghèo khổ cưới con gái của mình, lão lại tìm mưu kế để đánh lừa anh. Lão nhà giàu gọi anh đến và bảo:</p><p>– Con ơi, bấy lâu nay con đã chăm chỉ làm việc, ta sẽ cho con cưới con gái ta. Bây giờ, con phải vào rừng tìm cho được cây tre trăm đốt, đem về đây để làm đũa cho cả làng ăn cỗ cưới.</p><p>Anh nông dân thật thà, vác dao đi ngay vào rừng để chặt tre.</p><p>Đợi anh nông dân đi khỏi làng, lão nhà giàu bèn gả con gái lão cho một tên nhà giàu khác ở trong làng. Lão cho giết bò, giết lợn, nấu xôi, mở rượu làm cỗ cưới thật là linh đình.</p><p>Trong khi lão nhà giàu làm cỗ thì anh nông dân một mình lang thang trong rừng. Anh ngả hết cây tre này đến cây tre khác. Anh cẩn thận đếm từng đốt trên các cây tre nhưng chẳng cây nào có đủ một trăm đốt. Vẫn chưa nản lòng, anh lại tìm đến bụi tre già, anh cố chặt một cây cao nhất, mặc cho gai làm rách cả áo, sước cả da, cây tre đổ xuống, anh đếm đi, đếm lại vẫn chỉ có hơn bốn mươi đốt. Anh buồn quá, ngồi bên đống tre đốn dở và khóc. Bỗng nhiên anh thấy một ông lão đầu tóc bạc phơ, da dẻ hồng hào khoan thai đi đến, ông lão hỏi anh:</p><p>– Làm sao cháu khóc?</p><p>Anh lễ phép thưa rõ đầu đuôi câu chuyện. Nghe xong ông lão nói:</p><p>– Cháu hãy đi chặt cho đủ một trăm đốt tre mang lại đây, ông sẽ giúp cháu.</p><p>Anh nông dân mừng quá, liền chặt đủ một trăm đốt tre đem đến cho ông lão. Ông lão chỉ tay vào đống tre và bảo anh đọc “ Khắc nhập, khắc nhập” ba lần. Lạ thay, anh vừa đọc xong thì một trăm đốt tre dính liền lại với nhau thành một cây tre dài trăm đốt. Ông lão căn dặn anh:</p><p>– Cháu không thể vác cây tre này về nhà được vì nó quá dài cháu ạ. Cháu hãy đọc ba lần câu “Khắc xuất, khắc xuất”, các đốt tre sẽ rời ra như cũ. Cháu hãy bó lại và đem về nhà.</p><p>Anh nông dân chưa kịp cảm ơn ông lão thì ông lão đã biến mất. Anh đành vác hai bó tre đi về làng.</p><p>Về tới nơi, thấy mọi người đang ăn uống vui vẻ, anh nông dân mới biết lão nhà giàu đã lừa dối anh. Anh lẳng lặng để bó tre ngoài sân rồi vào nhà gọi lão nhà giàu ra nhận. Lão nhà giàu không thấy tre, mà chỉ thấy toàn là đốt tre. Lão cười bảo anh:</p><p>– Tao bảo mày chặt đem về một cây tre có trăm đốt, chứ có bảo mày đem về một trăm đốt tre đâu?</p><p>Chẳng cần trả lời lão, anh lẩm nhẩm đọc “Khắc nhập, khắc nhập” ba lần, tức thì các đốt tre dính liền lại thành cây tre. Lão nhà giàu nhìn thấy lạ quá, bèn chạy lại sờ tay vào cây tre. Anh nông dân thấy vậy đọc luôn “Khắc nhập, khắc nhập”, lão nhà giàu bị dính ngay vào cây tre, không có cách nào gỡ ra được. Thấy vậy mấy tên nhà giàu khác chạy tới định gỡ cho lão, anh nông dân lại đọc “Khắc nhập, khắc nhập” thế là cả bọn lại bị dính hết vào cây tre. Lão nhà giàu ra sức van xin anh, lão hứa sẽ cho anh cưới ngay con gái lão và từ nay về sau không dám bày mưu lừa gạt anh nữa. Lúc bấy giờ anh nông dân mới khoan thai đọc “Khắc xuất, khắc xuất” ba lần, tức thì cả bọn nhà giàu rời ra khỏi cây tre. Anh nông dân cưới cô con gái lão nhà giàu làm vợ và hai người sống bên nhau rất hạnh phúc.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?v=YesGjcgVvbM" />
         <pubDate>2025-03-29 05:55:40 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3387348499</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3387348913</link>
         <description><![CDATA[<p>Mình sẽ kể câu chuyện:'' SỰ TÍCH QUẢ DƯA HẤU''</p><p><strong>Ngày xưa, thời vua Hùng Vương, đất nước ta có núi cao, có sông rộng, trời đẹp nắng vàng, nhưng đồng ruộng thưa thớt, hoa quả chưa có nhiều thứ thơm ngọt như bây giờ. Vua Hùng Vương thứ mười bảy có một người con nuôi là An Tiêm có tài tháo vát và có trí hơn người.</strong></p><p><strong>Vua yêu mến An Tiêm thường ban cho của ngon vật quý. Thói thường, các quan được một chút lộc vua thì nâng niu ca tụng; riêng An Tiêm thường bảo: "Của biếu là của lo, của cho là của nợ!" và xem thường các thứ ấy. Việc đến tai vua, vua giận lắm, bảo: "Đã thế ta cho nó cứ trông vào tài sức của nó xem có chết rũ xương ra không?".</strong></p><p><strong>Thế là một buổi sớm, tự nhiên An Tiêm thấy lính đến giải cả chàng lẫn vợ con xuống thuyền, chẳng cho mang theo một cái gì hết. Chàng nói mãi chúng mới để cho đem một cái gươm cùn hộ thân. Buồm căng gió, thuyền tròng trành nhằm biển khơi thẳng tiến. Bãi cát trắng, vệt cây xanh trong bờ lần lượt khuất đi, rồi bèo bọt, rác rểu, dấu vết của dân cư cũng không còn nữa, bây giờ chỉ thấy trời với nước xanh ngắt một mầu.</strong></p><p><strong>Hôm sau thuyền đến một đảo nhỏ. Họ để gia đình An Tiêm lên bờ với năm ngày lương thực, một chiếc nồi, rồi nhổ neo quay lái. Nàng Ba, vợ An Tiêm, bế con nhìn theo chiếc thuyền dần dần ra xa rồi khuất mất, nước mắt nhỏ như mưa. Từ nay có bao giờ nàng lại được cùng hàng xóm chia nhau những bắp ngô đầu mùa, hay nói một câu chuyện gia đình dưới ánh trăng! Quay vào hòn đảo hoang vu nàng lại càng khiếp sợ hãi hùng, không biết rồi đây lấy gì mà ăn để sống tạm cho qua ngày tháng.</strong></p><p><strong>An Tiêm dắt vợ con tìm được một cái hốc đá ở tạm. Rồi chàng cắp gươm đi thăm dò. Hòn đảo quả thật hoang vu, chỉ có ít cây cỏ lơ thơ và mấy loài chim biển. Tìm mãi mới thấy vài thứ quả chát chua và rau dại ăn tạm cho đỡ đói. Từ đấy, ngày ngày An Tiêm trồng rau và tìm quả, nàng Ba thì ra bờ biển mò con ngao, cái hến. Đứa con lớn của An Tiêm bắt chước cha cũng cặm cụi làm bẫy đánh chim. Nhưng rồi chim dần dần quen bẫy, có khi suốt ngày thằng bé không bắt được một cái lông. Cá nhiều nhưng không lưới, quả thì có mùa. Cho nên thức ăn chính của vợ chồng con cái An Tiêm vẫn là mấy thứ rau dại mà chàng trồng thành rau vườn. Cuộc đời của bốn người vô cùng lao đao, vất vả, chẳng khác giống chim muông bao nhiêu. Tuy vậy An Tiêm vẫn tin rằng một ngày kia, mình có thể làm cho đời sống khá lên.</strong></p><p><strong>Một hôm có con chim đương ăn ngoài bãi thấy An Tiêm đến, vội bay đi, bỏ lại một miếng mồi đo đỏ. An Tiêm cầm lên xem thì là một mảnh quả dưa bằng hai ngón tay. Chàng nghĩ thầm chim ăn được có lẽ người cũng ăn được, bèn nếm thử thì thấy có vị ngọt. Chàng ăn hết miếng dưa và nhặt hạt gói lại. Ngồi nghỉ một lát thấy mát ruột, đỡ đói, chàng có ý mừng, lấy gươm xới một khoảnh đất mà gieo hạt xuống. Ít ngày sau mấy hạt da mọc mầm đâm lá, bò tỏa ra khắp khoảnh đất. Nàng Ba cũng giúp chồng sớm chiều săn sóc mấy dây dưa lạ. Vợ chồng hồi hộp trông thấy mấy cái hoa đầu tiên hé nở, rồi hoa kết quả, lúc đầu bằng ngón tay út, ít lâu sau đã như con chuột, rồi con lợn con. Thấy nó lớn mãi như không bao giờ thôi, An Tiêm cũng không biết lúc nào nên hái.</strong></p><p><strong>Một buổi sớm tinh mơ, nghe tiếng quạ kêu ngoài bãi, nàng Ba bảo chồng:&nbsp;Ở đây hoang vắng, quạ không tụ họp bao giờ, nay chúng nó kêu inh ỏi một nơi, tất là có sự lạ. Anh ra xem thế nào! An Tiêm ra đến bãi thì đàn quạ bay đi bỏ lại quả dưa chúng vừa mổ thủng vài nơi. Chàng cắt dưa về. Khi chàng bổ dưa ra, cả nhà lóa mắt vì mầu đỏ tươi của ruột dưa. Đây đó giữa mầu đỏ, có những hạt đen như hạt huyền và bọc ngoài một lớp vỏ trắng viền xanh. Hai đứa bé thèm nhỏ nước rãi, nàng Ba thì cứ tấm tắc khen quả trông ngon mắt. An Tiêm cẩn thận cắt cho mỗi người một mảnh nhỏ ăn thử. Bốn người như một, khen ngợi cái vị thanh ngọt, cái mùi thơm nhẹ nhàng của quả lạ, ăn vào không những không xót ruột lại còn thấy đỡ khát và khỏe người ra. Đến tra, An Tiêm mạnh dạn bổ hết quả dưa cho con ăn đến no. Bấy giờ cả nhà An Tiêm mừng rỡ, bồng bế nhau ra bãi, chọn những quả sẫm mầu dưa đem về, còn lại thì thay phiên nhau canh quả. Và từ đấy, họ cứ trồng thêm ra mãi. Tất cả nông cụ chỉ gồm có một cái gươm cùn và mấy hòn đá mài bén, vì vậy thêm một gốc dưa là thêm không biết bao nhiêu mồ hôi nước mắt. Nhưng họ chăm sóc hết lòng, nhờ vậy giống dưa càng ngày càng sai, quả càng to, thịt dày thêm mãi, vỏ mỏng dần đi, vị càng thơm ngọt. Cứ mỗi lần hái dưa, An Tiêm lấy mấy quả đánh dấu thả ra biển. Dưa trôi biệt tăm tích không biết bao lần, trăng non rồi trăng già không biết bao bận, An Tiêm vẫn không ngã lòng. Quả nhiên một hôm có một chiếc thuyền ghé đến hỏi xem ai đã trồng được giống dưa quý, để đổi về đem bán trên đất liền. Từ đấy An Tiêm đổi được các thức ăn dùng thường ngày và còn cất được một cái nhà lá xinh xinh.</strong></p><p><strong>Về phần vua Hùng Vương, từ ngày bỏ An Tiêm ra hoang đảo, vua yên trí rằng An Tiêm đã chết rồi, đôi khi nghĩ đến cũng có bùi ngùi thương hại. Cho đến một ngày kia, thị thần dâng quả da lạ, vua ăn ngon miệng bèn hỏi thăm tung tích, mới biết là do An Tiêm trồng ngoài đảo. Vua ngẫm nghĩ thấy mình sai, cho thuyền ra đón gia đình An Tiêm. An Tiêm và nàng Ba mừng rỡ, thu lượm hết những quả dưa chín và hạt giống đem về phân phát cho bà con hàng xóm, và truyền dạy cách gieo trồng, chăm bón. Đó là nguồn gốc giống dưa hấu mà chúng ta ăn ngày nay.</strong></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-29 05:57:45 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3387348913</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3387349437</link>
         <description><![CDATA[<p>Đây là câu chuyện:''Chú Cuội Cung Trăng''</p><p><strong>SỰ TÍCH CHÚ CUỘI CUNG TRĂNG</strong></p><p><strong>Nghe truyện </strong><a rel="noopener noreferrer nofollow" href="https://www.youtube.com/watch?v=QWBBCO5cFVM"><strong>tại đây.</strong></a></p><p>Ngày xưa ở một miền nọ có một người tiều phu tên là Cuội. Một hôm, như lệ thường, Cuội vác rìu vào rừng sâu tìm cây mà chặt. Khi đến gần một con suối nhỏ, Cuội bỗng giật mình trông thấy một cái hang cọp. Nhìn trước nhìn sau anh chỉ thấy có bốn con cọp con đang vờn nhau. Cuội liền xông đến vung rìu bổ cho mỗi con một nhát lăn quay trên mặt đất. Nhưng vừa lúc đó, cọp mẹ cũng về tới nơi. Nghe tiếng gầm kinh hồn ở sau lưng, Cuội chỉ kịp quẳng rìu leo thoắt lên ngọn một cây cao.</p><p>Từ trên nhìn xuống, Cuội thấy cọp mẹ lồng lộn trước đàn con đã chết. Nhưng chỉ một lát, cọp mẹ lẳng lặng đi đến một gốc cây gần chỗ Cuội ẩn, đớp lấy một ít lá rồi trở về nhai và mớm cho con. Chưa đầy ăn giập miếng trầu, bốn con cọp con đã vẫy đuôi sống lại, khiến cho Cuội vô cùng sửng sốt. Chờ cho cọp mẹ tha con đi nơi khác, Cuội mới lần xuống tìm đến cây lạ kia đào gốc vác về.</p><p>Dọc đường gặp một ông lão ăn mày nằm chết vật trên bãi cỏ, Cuội liền đặt gánh xuống, không ngần ngại, bứt ngay mấy lá nhai và mớm cho ông già! Mầu nhiệm làm sao, mớm vừa xong, ông lão đã mở mắt ngồi dậy. Thấy có cây lạ, ông lão liền hỏi chuyện. Cuội thực tình kể lại đầu đuôi. Nghe xong ông lão kêu lên:</p><p>– Trời ơi! Cây này chính là cây có phép “cải tử hoàn sinh” đây. Thật là trời cho con để cứu giúp thiên hạ. Con hãy chăm sóc cho cây nhưng nhớ đừng tưới bằng nước bẩn mà cây bay lên trời đó!</p><p>Nói rồi ông lão chống gậy đi. Còn Cuội thì gánh cây về nhà trồng ở góc vườn phía đông, luôn luôn nhớ lời ông lão dặn, ngày nào cũng tưới bằng nước giếng trong.</p><p>Từ ngày có cây thuốc quý, Cuội cứu sống được rất nhiều người. Hễ nghe nói có ai nhắm mắt tắt hơi là Cuội vui lòng mang lá cây đến tận nơi cứu chữa. Tiếng đồn Cuội có phép lạ lan đi khắp nơi.</p><p>Một hôm, Cuội lội qua sông gặp xác một con chó chết trôi. Cuội vớt lên rồi giở lá trong mình ra cứu chữa cho chó sống lại. Con chó quấn quít theo Cuội, tỏ lòng biết ơn. Từ đấy, Cuội có thêm một con vật tinh khôn làm bạn.</p><p>Một lần khác, có lão nhà giàu ở làng bên hớt hải chạy đến tìm Cuội, vật nài xin Cuội cứu cho con gái mình vừa sẩy chân chết đuối. Cuội vui lòng theo về nhà, lấy lá chữa cho. Chỉ một lát sau, mặt cô gái đang tái nhợt bỗng hồng hào hẳn lên, rồi sống lại. Thấy Cuội là người cứu sống mình, cô gái xin làm vợ chàng. Lão nhà giàu cũng vui lòng gả con cho Cuội.</p><p>Vợ chồng Cuội sống với nhau thuận hòa, êm ấm thì thốt nhiên một hôm, trong khi Cuội đi vắng, có bọn giặc đi qua nhà Cuội. Biết Cuội có phép cải tử hoàn sinh, chúng quyết tâm chơi ác. Chúng bèn giết vợ Cuội, cố ý moi ruột người đàn bà vứt xuống sông, rồi mới kéo nhau đi. Khi&nbsp;Cuội&nbsp;trở về thì vợ đã chết từ bao giờ, mớm bao nhiêu lá vẫn không công hiệu, vì không có ruột thì làm sao mà sống được.</p><p><br/></p><p>Thấy chủ khóc thảm thiết, con chó lại gần xin hiến ruột mình thay vào ruột vợ chủ. Cuội chưa từng làm thế bao giờ, nhưng cũng liều mượn ruột chó thay ruột người xem sao. Quả nhiên người vợ sống lại và vẫn trẻ đẹp như xưa. Thương con chó có nghĩa, Cuội bèn nặn thử một bộ ruột bằng đất, rồi đặt vào bụng chó, chó cũng sống lại. Vợ với chồng, người với vật lại càng quấn quít với nhau hơn xưa.</p><p>Nhưng cũng từ đấy, tính nết vợ Cuội tự nhiên thay đổi hẳn. Hễ nói đâu là quên đó, làm cho Cuội lắm lúc bực mình. Ðã không biết mấy lần, chồng dặn vợ: “Có đái thì đái bên Tây, chớ đái bên Ðông, cây dông lên trời!”. Nhưng vợ&nbsp;Cuội&nbsp;hình như lú ruột, lú gan, vừa nghe dặn xong đã quên biến ngay.</p><p>Một buổi chiều, chồng còn đi rừng kiếm củi chưa về, vợ ra vườn sau, không còn nhớ lời chồng dặn, cứ nhằm vào gốc cây quý mà đái. Không ngờ chị ta vừa đái xong thì mặt đất chuyển động, cây đảo mạnh, gió thổi ào ào. Cây đa tự nhiên bật gốc, lững thững bay lên trời.</p><p>Vừa lúc đó thì Cuội về đến nhà. Thấy thế, Cuội hốt hoảng vứt gánh củi, nhảy bổ đến, toan níu cây lại. Nhưng cây lúc ấy đã rời khỏi mặt đất lên quá đầu người. Cuội chỉ kịp móc rìu vào rễ cây, định lôi cây xuống, nhưng cây vẫn cứ bốc lên, không một sức nào cản nổi. Cuội cũng nhất định không chịu buông, thành thử cây kéo cả Cuội bay vút lên đến cung trăng.</p><p>Từ đấy Cuội ở luôn cung trăng với cả cái cây quý của mình. Mỗi năm cây chỉ rụng xuống biển có một lá. Bọn cá heo đã chực sẵn, khi lá xuống đến mặt nước là chúng tranh nhau đớp lấy, coi như món thuốc quý để cứu chữa cho tộc loại chúng. Nhìn lên mặt trăng, người ta thấy một vết đen rõ hình một cây cổ thụ có người ngồi dưới gốc, người ta gọi cái hình ấy là hình chú&nbsp;Cuội&nbsp;ngồi gốc cây đa….</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-29 05:59:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3387349437</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3387349825</link>
         <description><![CDATA[<p>Mình sẽ kể câu chuyện Cây Khế</p>]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?pdlt=1&amp;v=A1OzVM9-N0s" />
         <pubDate>2025-03-29 06:01:40 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3387349825</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3387350189</link>
         <description><![CDATA[<p>Đây là câu chuyện Sơn tinh thuỷ tinh</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?pdlt=1&amp;pp=0gcJCfcAhR29_xXO&amp;v=6b_ftItlmuQ" />
         <pubDate>2025-03-29 06:03:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3387350189</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3387350636</link>
         <description><![CDATA[<p>TRÊN LÀ VIDEO CỦA CÂU CHUYỆN TẤM CÁM</p>]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?pdlt=1&amp;v=yk1no2SBQf4" />
         <pubDate>2025-03-29 06:04:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3387350636</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3387351152</link>
         <description><![CDATA[<p>Mình sẽ kể câu chuyện Thạch Sanh Lý Thông</p><p>Xưa ở quận Cao Bình có gia đình bác tiều phu Thạch Nghĩa, vợ chồng tuổi cao mà vẫn không con. Ông bà lo buồn và ra sức làm việc nghĩa. Ông thì sửa cầu, sửa cống, khơi rãnh, đắp đường. Bà thì nấu nước cho người qua đường uống. Việc làm của gia đình họ Thạch thấu đến trời, Ngọc Hoàng cho Thái tử đầu thai xuống trần làm con nhà họ Thạch.&nbsp;Thạch bà thụ thai ba năm, chưa sinh con thì Thạch ông mất. Sau đó, Thạch bà sinh một con trai khôi ngô tuấn tú đặt tên là&nbsp;Thạch Sanh. Cách ít năm sau, Thạch bà cũng mất, Thạch Sanh sống côi cút một mình trong túp lều tranh dưới gốc đa với một mảnh khố che thân và một cái búa đốn củi.</p><p>Năm Thạch Sanh mười ba tuổi, Ngọc Hoàng sai tiên ông xuống dạy cho chàng các môn võ nghệ và mọi phép thần thông.<br>Một hôm có anh hàng rượu tên là Lý Thông, đi bán rượu ghé vào gốc đa nghỉ chân, thấy Thạch Sanh khỏe mạnh, lanh lợi, ở một mình, bèn kết làm anh em và đưa Thạch Sanh về nhà.<br>Bấy giờ ở trong vùng có một con Trăn Tinh thường bắt người ăn thịt, quan quân nhiều lần vây đánh không được. Vì nó có phép thần thông biến hóa; nhà vua phải cho lập miếu thờ và mỗi năm nộp mạng một người cho nó. Năm ấy đến lượt Lý Thông phải nộp mình. Mẹ con&nbsp;Lý Thông&nbsp;nghe tin hoảng hốt, bàn mưu tính kế đưa Thạch Sanh đi thế mạng. Khi Thạch Sanh đi lấy củi về, Lý Thông đon đả mời chàng uống rượu và nói: “Ðêm nay anh phải đi canh miếu thờ trong rừng, nhưng trót cất mẻ rượu, anh đi sợ hỏng, nhờ em thay anh canh miếu một đêm”. Thạch Sanh vui vẻ nhận lời và đi ngay.<br>Nửa đêm Trăn Tinh hiện về, giơ vuốt, nhe răng hà hơi, nhả lửa, định xông vào miếu ăn thịt Thạch Sanh. Thạch Sanh bình tĩnh trổ tài đánh nhau với Trăn Tinh, cuối cùng chàng chém được đầu nó, đốt xác nó thành than, và thấy hiện lên trong miếu một bộ cung tên bằng vàng ngời sáng. Thạch Sanh mừng rỡ giắt búa, đeo cung và xách đầu Trăn Tinh chạy thẳng một mạch về nhà. Nghe tiếng Thạch Sanh gọi, mẹ con Lý Thông hoảng sợ, cho là oan hồn của Thạch Sanh sau khi bị Trăn Tinh ăn thịt, trở về nhà oán trách, bèn cất lời cầu khấn, van xin: “Sống khôn, thác thiêng em hãy tạm đi, ngày mai mẹ cùng anh sẽ mua sắm vàng hương, cơm canh, cỗ bàn cúng em chu tất!”. Bấy giờ, Thạch Sanh mới biết rõ tâm địa và mưu kế của mẹ con Lý Thông nhưng chàng không giận, vẫn vui vẻ kể chuyện giết Trăn Tinh cho mẹ con họ Lý nghe. Lý Thông liền nảy ra một mưu thâm độc mới. Nó nói Trăn Tinh là báu vật nhà vua nuôi, ai giết sẽ bị tội lớn. Thạch Sanh lo sợ, Lý Thông bảo Thạch Sanh trốn đi cho an toàn, một mình y sẽ tự lo liệu thu xếp giúp cho.</p><p><br/></p><p>Sau khi&nbsp;Thạch Sanh&nbsp;từ giã mẹ con Lý Thông trở về gốc đa xưa, Lý Thông đi ngay về Kinh, tâu vua là đã trừ được Trăn Tinh. Nhà vua vui mừng trọng thưởng và phong cho Lý Thông làm Ðô đốc quận công. Tiếp đó, nhà vua mở hội kén chồng cho con gái là công chúa Quỳnh Nga. Hội kén chồng kéo dài hàng tháng nhưng công chúa không chọn được ai vừa ý đẹp lòng. Một hôm công chúa đang dạo chơi vườn đào thì một con chim đại bàng khổng lồ khác sà xuống cắp đi. Thấy chim cắp người bay qua, Thạch Sanh giương cung bắn, đại bàng bị trúng tên vào cánh trái, nó dùng mỏ ngậm tên rút ra rồi bay tiếp về hang ổ. Thạch Sanh lần theo vết máu tìm đến cửa hang đại bàng, chàng đánh dấu cửa hang ác điểu rồi trở lại gốc đa.<br>Nhà vua sai Lý Thông đi tìm công chúa, tìm được thì sẽ được lấy công chúa, làm phò mã, nối ngôi vua, không tìm được phải chịu tội. Lý Thông vừa mừng, vừa lo, y lập kế mở hội hát xướng mười ngày để nghe ngóng dò la tin tức. Ðến ngày thứ mười, biết tin Lý Thông mở hội, Thạch Sanh đến thăm và kể cho Lý Thông nghe việc bắn chim đại bàng, Lý Thông mừng vui khôn xiết, hậu đãi Thạch Sanh và nhờ chàng dẫn đường đến hang Ðại bàng cứu công chúa.<br>Thạch Sanh&nbsp;dùng thang dây xuống hang gặp công chúa và đưa thuốc mê cho đại bàng uống. Công chúa hẹn ước kết duyên cùng Thạch Sanh rồi Thạch Sanh buộc dây đưa nàng lên mặt đất. Lý Thông sai quân lính đưa công chúa lên kiệu rước về cung, còn y nói dối là ở lại đánh nhau với quái vật. Sau đó, Lý Thông dùng đá lấp kín cửa hang và trở về triều đình mạo nhận công trạng. Không thấy Thạch Sanh trở về, công chúa buồn thương rầu rĩ và bặt câm, không hé môi nói nửa lời. Nhà vua buồn bã, Lý Thông cầu đảo thuốc thang khắp nơi đều vô hiệu, việc tổ chức cưới xin phải đình hoãn.<br>Hết liều thuốc mê, đại bàng tỉnh dậy hóa phép thần thông hãm hại Thạch Sanh, chàng dũng sĩ “mặt đỏ mày xanh”, đã dám cả gan “phá nhà, cướp vợ” của nó. Thạch Sanh dùng tài võ nghệ và phép thần thông của mình tiêu diệt được đại bàng. Nhìn lên cửa hang kín bưng không còn một khe hở nhỏ, Thạch Sanh dạo khắp hang động của đại bàng và gặp Thái tử con vua Thủy Tề đang bị yêu quái nhốt trong cũi sắt. Thạch Sanh phá tan cũi sắt giải thoát cho Thái tử. Thái tử mời Thạch Sanh về Thủy Tề gặp vua cha. Vua Thủy Tề cảm ơn và hậu đãi chàng. Trong thời gian lưu lại thủy cung, một hôm Thạch Sanh đang cùng Thái tử dạo chơi thì một con Hồ Tinh xuất hiện, biến thành một cô gái xinh đẹp để cám dỗ, mê hoặc hại chàng. Thạch Sanh bắt nó phải hiện nguyên hình là một con cáo chín đuôi và hóa phép giam nó lại. Vua Thủy Tề mời Thạch Sanh ở lại thủy cung và sẽ phong chức tước cho chàng, nhưng&nbsp;Thạch Sanh&nbsp;từ chối. Vua Thủy Tề tặng Thạch Sanh một cây đàn thần và sai sứ giả rẽ nước đưa chàng trở lại trần gian. Thạch Sanh lại về với gốc đa xưa. Vắng bóng Thạch Sanh cây đa buồn ủ ê, khi Thạch Sanh trở về cây đa lại xanh tươi như cũ. Hồn hai con quái vật bị Thạch Sanh giết (Trăn Tinh và Ðại Bàng) gặp nhau tìm cách hãm hại Thạch Sanh. Chúng vào kho châu báu của nhà vua lấy cắp vàng bạc ném vào gốc đa nơi Thạch Sanh ở. Quân lính nhà vua bắt Thạch Sanh tống ngục, nhà vua giao cho Lý Thông xử tội. Lý Thông khép Thạch Sanh vào tội tử hình để bịt đầu mối. Trong lúc bị giam trong ngục, chờ hành hình, Thạch Sanh đem đàn ra gảy. Cây đàn thần vang lên tiếng tơ, tiếng trúc, cung thảm, cung sầu; cung thì kể tội Lý Thông vong ân, bạc nghĩa, cướp công Thạch Sanh; cung thì trách nàng công chúa sai lời hẹn ước dưới hang (tích tịch tình tang, ai đem công Chúa dưới hang mà về?)…<br>Nghe tiếng đàn, công chúa bừng tỉnh dậy, cười cười, nói nói. Nhà vua vui mừng nghe công chúa nói rõ ngọn ngành. Lập tức nhà vua hạ lệnh tha cho Thạch Sanh và bắt Lý Thông tống ngục. Tiếp đó, vua làm lễ thành hôn cho Thạch Sanh cùng công chúa và truyền ngôi cho&nbsp;Thạch Sanh. Vua giao toàn quyền cho Thạch Sanh xử tội Lý Thông. Thạch Sanh tha tội cho Lý Thông, cho mẹ con họ Lý về quê quán làm ăn. Nhưng về giữa đường, trời nổi giông gió, mẹ con Lý Thông bạc ác bị sét đánh chết, Lý Thông hóa thành con bọ hung suốt đời chui rúc nơi bẩn thỉu.</p><p>Biết tin Thạch Sanh kết duyên với công chúa Quỳnh Nga và lên ngôi trị vì thiên hạ, các hoàng tử, công hầu của mười tám nước chư hầu, những người đã từng kéo đến cầu hôn công chúa không được, vô cùng ghen tức, họ kéo quân đến gây sự với Thạch Sanh và công chúa. Thạch Sanh cùng công chúa ra tiếp đãi họ một cách tử tế. Tiếng đàn thần của Thạch Sanh phân rõ lẽ thiệt hơn, phải trái, làm cho quân sĩ các nước chư hầu mềm lòng, nản chí. Kẻ nhớ mẹ nhớ cha, người thương con nhớ vợ, ai cũng muốn về và ngại việc binh đao, cuối cùng các nước chư hầu đều thuận lui binh. Thạch Sanh mời họ ăn cơm. Chàng có niêu cơm thần nhỏ bé nhưng xới bao nhiêu bát, cơm vẫn đầy lên như cũ, khiến cho các nước chư hầu càng thêm kính phục.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-03-29 06:07:08 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3387351152</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3392839438</link>
         <description><![CDATA[<p>Mình sẽ kể câu chuyện Ông trạnh nồi</p>]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?pdlt=1&amp;v=Wvzpt7_Ms1I" />
         <pubDate>2025-04-02 14:05:00 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3392839438</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3392847300</link>
         <description><![CDATA[<p>Đây là câu chuyện Sọ Dừa</p>]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?pdlt=1&amp;v=KZPfVyzE-HU" />
         <pubDate>2025-04-02 14:09:49 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3392847300</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3392849402</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?pdlt=1&amp;pp=ygUJI8OidWxhY3R2&amp;v=KoQYufozNVQ" />
         <pubDate>2025-04-02 14:11:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3392849402</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3398707223</link>
         <description><![CDATA[<p>Trong lịch sử đánh giặc ngoại xâm hào hùng của dân tộc, cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng được tôn vinh như một trong những chiến công hiển hách nhất, đánh thắng quân Nam Hán, giành được độc lập, tự do cho dân tộc.</p><p><br/></p><p>Trưng Trắc, Trưng Nhị là hai chị em sinh đôi, sinh vào ngày mồng một tháng tám năm Giáp Tuất, năm 14 sau công nguyên. Cha là Lạc tướng huyện Mê Linh, thuộc tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay, thuộc dòng dõi Hùng Vương. Mẹ là bà Man Thiện. Hai Bà mồ côi cha sớm nhưng được mẹ quan tâm nuôi nấng, dạy cho nghề trồng dâu, nuôi tằm, dạy con lòng yêu nước, rèn luyện sức khoẻ, rèn luyện võ nghệ. Chồng bà Trưng Trắc là Thi Sách, con trai Lạc tướng huyện Chu Diên, tỉnh Hà Tây ngày nay.</p><p>Thời kỳ của hai Bà xen giữa Bắc thuộc lần 1 và Bắc thuộc lần 2 trong lịch sử Việt Nam. Lúc bấy giờ nhà Đông Hán đang cai trị hà khắc nước Việt, viên Thái thú Tô Định là người vô cùng bạo ngược, tham lam. Hai bà cùng Thi Sách chiêu mộ nghĩa quân, chuẩn bị khởi nghĩa, nhưng Thi Sách bị Tô Định giết chết. Hận giặc hãm hại nhân dân, giết hại chồng mình, Trưng Trắc đã cùng em gái Trưng Nhị phát động cuộc khởi nghĩa ở cửa Sông Hát trên Sông Hồng (thuộc địa phận huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây) với lời thề trước giờ xuất binh:</p><p>“Một xin rửa sạch nước thù</p><p>Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng</p><p>Ba kêu oan ức lòng chồng</p><p>Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh này”</p><p>Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng được nhân dân khắp nơi ủng hộ, tạo thành sức mạnh như vũ bão, đánh đuổi Tô Định phải bỏ chạy về nước. Dưới sự lãnh đạo của Hai Bà Trưng, nhiều cuộc khởi nghĩa địa phương được thống nhất thành một phong trào rộng lớn từ miền xuôi đến miền núi, bao gồm cả người Việt và các dân tộc khác trong nước Âu Lạc cũ. Chỉ trong một thời gian ngắn, Hai Bà Trưng đã đánh chiếm được 65 huyện thành, nghĩa là toàn bộ lãnh thổ nước Việt hồi đó. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng năm 40 đã giành được thắng lợi hoàn toàn, đất nước được hoàn toàn độc lập. Hai bà lên làm vua, được suy tôn là Trưng Vương, đóng đô ở Mê Linh.</p><p>Hiểu rõ sự thống khổ của nhân dân, nên khi lên ngôi vua, dù chỉ trong thời gian ngắn nhưng Trưng nữ Vương đã có những quyết sách quan trọng như: ra lệnh miễn thuế khoá cho dân hai năm.</p><p>Năm 42, nhà Hán tăng cường chi viện, Mã Viện là người chỉ đạo cánh quân xâm lược này. Nhân dân ở Hợp Phố đã anh dũng chống trả nhưng vẫn gặp thất bại trước quân Hán. Sau khi nhận được tin tức, Hai Bà Trưng kéo quân từ Mê Linh về nghênh chiến với địch tại Lẵng Bạc. Quân ta giữ vững được Cổ Loa &nbsp;và Mê Linh nhưng Mã Viện tiếp tục đuổi theo buộc quân ta phải lùi về Cẩm Khê (nay thuộc Ba Vì – Hà Nội). Tháng 3 năm 43, Hai Bà Trưng hy sinh ở Cẩm Khê. Cuộc kháng chiến vẫn kéo dài đến tháng 11 năm 43 sau đó mới bị dập tắt.</p><p>Anh hùng dân tộc Trưng nữ Vương đã lập nên và giữ vững nền độc lập, quyền tự chủ dân tộc trong gần 3 năm. Khí thiêng sông núi, truyền thống bất khuất và tinh thần thượng võ của dân tộc ta đã hun đúc và sản sinh ra hai vị nữ anh hùng kiệt xuất và hàng chục nữ tướng tài ba thời Hai Bà. Đây là biểu tượng của ý chí hiên ngang và khí phách quật cường của dân tộc ta; thể hiện truyền thống yêu nước nồng nàn của phụ nữ Việt&nbsp;Nam&nbsp;“Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”./.</p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-04-07 11:35:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3398707223</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3407674219</link>
         <description><![CDATA[<p>Mình sẽ giới thiệu câu chuyện:'' Kim Đồng''</p><p>Từ năm 1940, tại khu vực Trường Hà, Hà Quảng đã có phong trào cách mạng. Dền được anh trai và anh cán bộ Đức Thanh giác ngộ theo các anh làm các công việc: canh gác, chuyển thư từ, nghe nói chuyện về tội ác của quân giặc… nhờ đó Dền đã sớm giác ngộ cách mạng và trở thành một liên lạc viên tin cậy của tổ chức Đảng. Dền đã mau chóng làm quen với cách thức làm công tác bí mật, nhiều lần đưa, chuyển thư từ, đưa đường cho cán bộ lọt qua sự bao vây, canh gác của địch. Năm 1941, Mặt trận Việt Minh ra đời cùng với sự thành lập của nhiều hội cứu quốc. Trong số đó, tại xóm Nà Mạ, Đội Nhi đồng cứu quốc ra đời với 05 đội viên đầu tiên gồm: Nông Văn Dền (bí danh là Kim Đồng),<strong>&nbsp;</strong>Nông Văn Thàn (bí danh là Cao Sơn), Lý Văn Tinh (bí danh là Thanh Minh), Lý Thị Nì (bí danh là Thủy Tiên) và Lý Thị Xậu (bí danh là Thanh Thủy).&nbsp;Với bí danh Kim Đồng, Nông Văn Dền được tổ chức bầu làm đội trưởng của Đội Nhi đồng cứu quốc.</p><p>Đội Nhi đồng cứu quốc được thành lập có mục đích tham gia đánh Tây, đuổi Nhật, giành độc lập cho nước nhà, với nhiệm vụ giao thông liên lạc, đưa đón, bảo vệ cán bộ, canh gác các cuộc họp của Đảng. Kim Đồng với vai trò đội trưởng trong bộ quần áo chàm, đầu đội mũ nồi, tay xách lồng chim hoặc cần câu cá luôn nhanh nhẹn mưu trí và đảm bảo bí mật trong mọi hành động. Các thành viên trong đội đều là anh em sinh ra cùng một xóm, vì vậy mỗi khi được giao nhiệm vụ mới, mọi người đều đồng lòng và tin tưởng đội trưởng Kim Đồng.</p><p>Năm 1941, Bác Hồ về Pác Pó lãnh đạo phong trào cách mạng. Tháng 8/1942, Kim Đồng vinh dự được gặp Bác Hồ tại hang Nộc Én ở trên núi sau xóm Nà Mạ. Bác khen ngợi đội trưởng Kim Đồng mưu trí, nhanh nhẹn, dũng cảm. Bác khuyên Kim Đồng cùng đội viên hãy giúp đỡ, tích cực bảo vệ cách mạng, vừa hoạt động vừa học văn hoá, chính trị để sau này nước nhà giành được độc lập, góp phần xây dựng đất nước.<br><br>&nbsp;</p><p><br/></p><p><br>Tranh: Kim Đồng được&nbsp;gặp Bác Hồ&nbsp;</p><p><br>Bước sang năm 1943, bọn địch khủng bố, đánh phá dữ dội vùng Pác Pó. Trong một lần đi liên lạc về, phát hiện một toán địch phục kích,&nbsp;Kim Đồng cử Cao Sơn chạy về báo cho các đồng chí cán bộ, còn mình nhanh trí đánh lạc hướng địch. Trúng kế của Kim Đồng, địch nổ súng bắn theo.&nbsp;Nhờ tiếng súng báo động ấy, các đồng chí cán bộ ở gần đó tránh thoát lên núi phía sau nhà. Kim Đồng chạy qua suối, địch đuổi bắn, Kim Đồng bị trúng đạn và anh dũng hy sinh ngay bên bờ suối Lê-nin. Hôm ấy là ngày 15/2/1943, Kim Đồng vừa tròn 14 tuổi.</p><p>Biết ơn sự hy sinh anh dũng quả cảm của Kim Đồng, ngày nay, Khu di tích lịch sử Kim Đồng đã được xây dựng ngay đúng nơi anh ngã xuống tại quê hương Nà Mạ. Ngày 15/5/1986, nhân kỷ niệm 45 năm&nbsp;Ngày thành lập Đội, mộ và tượng người đội viên liệt sĩ anh hùng Kim Đồng trong bộ quần áo dân tộc Nùng đang vươn mình tung con chim sáo bay lên đã được khánh thành. Trước tượng đài có 14 bậc đá và 14 cây lát vươn cao xanh ngắt tượng trưng cho 14 mùa xuân của anh. Nơi đây có một khoảng sân rộng, hàng năm thiếu niên và nhi đồng cả nước thường tụ hội về đây tổ chức các hoạt động vui chơi, dâng hương tưởng nhớ người Đội trưởng đầu tiên của Đội nhi đồng cứu quốc. Năm 1997, Kim Đồng được Đảng và Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang.&nbsp;Năm 2011, Khu di tích đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích quốc gia. Đến năm 2012,&nbsp;Trung ương Đoàn và Hội đồng Đội Trung ương đã phát động phong trào kế hoạch nhỏ cho các em thiếu nhi trong cả nước quyên góp đầu tư, tôn tạo, mở rộng khu di tích khang trang hơn.</p><p>Hình tượng người anh hùng nhỏ tuổi Kim Đồng mãi mãi khắc sâu trong tâm trí của thiếu nhi Việt Nam và đã trở thành một trong những tấm gương anh hùng tiêu biểu, gần gũi nhất đối với thế hệ trẻ. Tên tuổi anh gắn liền với núi sông, trở thành niềm tự hào, động lực phấn đấu cho lớp lớp thế hệ thiếu niên nhi đồng trên khắp cả&nbsp;nước./.</p><p>&nbsp;</p>]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?v=04sagZIV1L8" />
         <pubDate>2025-04-13 13:22:04 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3407674219</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3408854248</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Câu chuyện về Nguyên phi Ỷ Lan</strong></p><p>Câu chuyện về người con gái tài sắc vẹn toàn Nguyên phi Ỷ Lan cho đến nay vẫn còn nhiều giai thoại, nhưng những công lao và đóng góp của bà cho nền thịnh trị nước nhà thì không ai có thể phủ nhận.</p><p>Theo truyền thuyết, Ỷ Lan sinh ngày mùng 7 tháng 3 năm Giáp Thân (1044) tại hương Thổ Lỗ (sau này đổi là Siêu Loại), nay thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội. Ỷ Lan là một cô gái xinh đẹp và chăm làm.</p><p>Cho đến nay, tên thật của bà cũng chưa được xác định rõ. Có sách ghi là Lê Thị Yến, cũng có sách chép là tên của bà là Lê Thị Yến Loan hay Lê Thị Khiết. Chỉ biết rằng, cho đến tận ngày này, mọi người vẫn nhắc đến bà với cái tên đầy trang trọng và kính mến: Nguyên phi Ỷ Lan.</p><p><br/></p><p>Hai chữ “Ỷ Lan” là do vua Lý Thánh Tông đặc biệt đặt riêng cho bà. Cái tên như để ghi nhớ lại kỉ niệm của buổi đầu gặp gỡ. Câu chuyện về cuộc gặp gỡ giữa nhà vua và người thôn nữ như một cuộc gặp gỡ tình cờ mà lãng mạn, hợp ý trời. Tục truyền rằng, vua Lý Thánh Tông đã 40 tuổi mà chưa có con trai nối dõi bèn đi cầu tự ở khắp nơi. Và trong một lần đi cầu tự ở Chùa Dâu (Thuận Thành, Bắc Ninh), khi đi qua hương Thổ Lỗi, ngài vén rèm nhìn ra thấy người dân dâng sụp lạy, duy chỉ có một người con gái đang dựa vào cây lan và cất tiếng hát trong trẻo.</p><p>Cuộc gặp gỡ như duyên tiền định, bắt đầu cho một trang lịch sử của đất nước có dấu ấn của người con gái mang tên Ỷ Lan. Ỷ Lan sinh hạ hoàng tử Càn Đức (sau này là vua Lý Nhân Tông), được phong làm Nguyên phi, cùng giúp vua trị nước bình thiên hạ.</p><p>Bà không chỉ là một người con gái đẹp mà còn là một người tài cao, thông minh, sắc sảo và có bản lĩnh. Những câu chuyện, những giai thoại về bà cho đến nay vẫn còn lưu truyền rộng khắp. Người người mọi thế kỉ qua đều nhớ ơn đức của bà, mà tôn vinh bà là “Quan Âm nữ”. Quần thể di tích Ỷ Lan nay thuộc xã Dương Xá, huyện Gia Lâm, Hà Nội chính là nơi tôn thờ và tưởng nhớ đến bà, Nguyên phi Ỷ Lan, một danh nhân có tài trị nước xuất chúng của dân tộc, một phụ nữ sáng danh của lịch sử nước nhà.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-04-14 10:11:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3408854248</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3408856668</link>
         <description><![CDATA[<p>Nhà cách mạng Lê Quang Đạo, tên khai sinh là Nguyễn Đức Nguyện, sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước tại thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Trong những năm 1937 - 1939, ông đã tham dự Đoàn Thanh niên Dân chủ Hà Nội rồi Thanh niên Phản đế; tháng 8/1940 được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam). Giữa năm 1941, ông lấy tên là Lê Quang Đạo</p><p>Trong quá trình hoạt động cách mạng và kháng chiến chống Pháp, ông đảm nhiệm các chức vụ khác nhau. Từ tháng 9/1950, ông được phân công sang Quân đội, đến tháng 5/1955 là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, trực tiếp chỉ đạo công tác tuyên huấn, địch vận, đối ngoại. Năm 1958, được phong quân hàm Thiếu tướng; năm 1974 được thăng quân hàm Trung tướng.</p><p>Cuối năm 1978, ông rời Quân đội và được phân công là Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Hà Nội. Năm 1982, ông được cử giữ chức Trưởng ban Khoa giáo Trung ương; năm 1983, phụ trách công tác dân vận của Trung ương và tham gia Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Tháng 6/1987, kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa VIII, ông được bầu giữ chức Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước.</p><p>Đầu năm 1993, ông thôi giữ chức Chủ tịch Quốc hội để về công tác Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc và được bầu làm Chủ tịch của cơ quan này.</p><p>Chủ tịch Quốc hội khóa VIII Lê Quang Đạo (giữa) gặp gỡ các đại biểu Quốc hội tại Kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa VIII (ảnh T.L).</p><p><strong>Dấu ấn trên cương vị Chủ tịch Quốc hội</strong></p><p>Sinh thời, ông Vũ Mão (1939-2020), nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại, nguyên Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, thường hay nhắc tới Chủ tịch Quốc hội khóa VIII Lê Quang Đạo mỗi khi chúng tôi sang phỏng vấn về chủ đề đổi mới hoạt động của Quốc hội.</p><p>Ngoài lời kể, ông Vũ Mão còn tặng chúng tôi cuốn sách "Mãi còn tin yêu" của ông, sách do Nhà xuất bản Thanh niên ấn hành. Cuốn sách có bài viết "Lê Quang Đạo nụ cười nhân hậu".</p><p>Cuốn sách cho biết: Vào năm 1986, có lần ông Lê Quang Đạo phải đi bệnh viện cấp cứu. Lúc đầu, tưởng ông bệnh nặng nên Tiểu ban nhân sự của Đại hội VI dự định để ông nghỉ, không tham gia Trung ương khóa VI nữa. Nhưng với nghị lực phi thường, ông đã vượt qua được cơn bệnh hiểm nghèo.</p><p><br/></p><p>Hội đồng Bảo vệ sức khỏe cán bộ Trung ương sau khi xét nghiệm cẩn trọng đã kết luận, ông Lê Quang Đạo vẫn đủ sức khỏe để tiếp tục tham gia Ban Chấp hành Trung ương khóa VI.</p><p>Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ thắp hương tưởng niệm cố Chủ tịch Quốc hội Lê Qiang Đạo (ảnh TTXVN).</p><p>Nhiệm kỳ Quốc hội khóa VIII (1987-1992), việc lựa chọn chức danh Chủ tịch Quốc hội không dễ dàng chút nào. Lúc đầu dự kiến một vị Ủy viên Bộ Chính trị đảm nhận nhưng sau khi cân nhắc kỹ lưỡng thì phương án tối ưu cho chức danh Chủ tịch Quốc hội chính là ông Lê Quang Đạo.</p><p>Theo ông Vũ Mão, một trong những dấu ấn quan trọng của Chủ tịch Quốc hội khóa VIII Lê Quang Đạo, đó là:</p><p>Tại kỳ họp Quốc hội giữa năm 1988, Quốc hội bầu Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng mới (nay là Thủ tướng Chính phủ), thay cho ông Phạm Hùng vừa mới từ trần. Theo quy định của Hiến pháp năm 1980, Hội đồng Nhà nước giới thiệu chức danh Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng để Quốc hội bầu.</p><p>Việc giới thiệu của Hội đồng Nhà nước trên cơ sở kết quả thảo luận và biểu quyết của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ban Chấp hành Trung ương lúc đó đã giới thiệu ông Đỗ Mười (1917-2018) để Quốc hội bầu làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.</p><p>Sau khi Hội đồng Nhà nước trình Quốc hội phương án trên, các Đoàn đại biểu Quốc hội tiến hành thảo luận. Ông Vũ Mão lúc đó là Trưởng Đoàn Thư ký kỳ họp có trách nhiệm chỉ đạo tổng hợp ý kiến của các Đoàn đại biểu Quốc hội.</p><p>Kết quả cho thấy, tất cả các Đoàn đều đồng ý giới thiệu ông Đỗ Mười, đồng thời có 37/53 Đoàn giới thiệu thêm ông Võ Văn Kiệt (1922-2008) để Quốc hội bầu chức danh Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.</p><p>Cuộc họp Hội đồng Nhà nước để thảo luận vấn đề này rất sôi nổi. Đa số các thành viên Hội đồng Nhà nước nhất trí để hai ứng cử viên, coi đây là sự đổi mới tư duy, thể hiện tính dân chủ trong hoạt động của Quốc hội.</p><p>Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (nay là Chủ tịch nước) lúc đó là ông Võ Chí Công (1912-2011) đề nghị Chủ tịch Quốc hội Lê Quang Đạo và Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Vũ Mão đến báo cáo Tổng Bí thư (khóa VI) Nguyễn Văn Linh.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-04-14 10:14:19 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3408856668</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3409043678</link>
         <description><![CDATA[<p>Mình sẽ kể câu chuyện Sự tích hồ gươm</p><p>Vào thời ấy, giặc Minh đặt ách đô hộ ở nước Nam. Chúng coi dân ta như cỏ rác, thi hành nhiều điều bạo ngược làm cho thiên hạ căm giận đến tận xương tủy. Bấy giờ, ở vùng Lam-sơn nghĩa quân đã nổi dậy chống lại chúng, nhưng buổi đầu thế lực còn non yếu nên nhiều lần bị giặc đánh cho tan tác, Thấy vậy, đức Long quân quyết định cho họ mượn thanh gươm thần để họ giết giặc.</p><p>Hồi ấy ở Thanh-hóa có một người làm nghề đánh cá tên là Lê Thận. Một đêm nọ. Thận thả lưới ở một bến vắng như thường. Tự nhiên trong một lần kéo lưới, chàng thấy nằng nặng, trong bụng mừng thầm chắc là có cá to. Nhưng khi thò tay bắt cá. Thận mới biết đó là một thanh sắt. Chàng vứt luôn xuống nước rồi lại thả câu ở một chỗ khác.</p><p>Lần thứ hai cất lưới lên cũng thấy nặng tay. Thận không ngờ thanh sắt vừa rồi lại chui vào lưới mình. Chàng lại nhặt lên và ném xuống sông. Lần thứ ba vẫn là thanh sắt ấy mắc vào lưới. Lấy làm quái lạ, Thận ghé mồi lửa lại nhìn xem. Bỗng chàng reo lên một mình:</p><p>- Ha ha! Một lưỡi gươm!</p><p>Thận về sau gia nhập quân đoàn khởi nghĩa Lam-sơn. Chàng đã mấy lần vào sinh ra tử ở nơi trận mạc để diệt lũ cướp nước. Một hôm, chủ tướng Lê Lợi cùng mấy người tùy tòng đến nhà Thận. Trong gian nhà tối om, thanh sắt hôm đó chợt sáng quắc lên ở một xó nhà. Lấy làm lạ, Lê Lợi đến gần cầm lấy xem và nhận ra chữ "Thuận Thiên" khắc sâu vào lưỡi. Song tất cả mọi người đều không biết đó là báu vật.</p><p>Một hôm bị giặc đuổi, Lê Lợi và các tướng chạy tháo thân mỗi người một ngả. Lúc đi qua một khu rừng, Lê Lợi bỗng thấy ánh sáng trên ngọn cây đa. Ông trèo lên mới biết đó là cái chuôi gươm nạm ngọc. Nhớ tới lưỡi gươm ở nhà Lê Thận, Lê Lơi rút lấy chuôi gươm giắt vào lưng.</p><p>Ba ngày sau, Lê Lợi gặp lại tất cả các bạn, trong đó có Lê Thận. Khi lắp lưỡi vào với chuôi thì kỳ lạ thay, vừa vặn khớp nhau. Lê Lợi bèn kể lại câu chuyện. Mọi người nghe xong đều hồ hởi vui mừng. Lê Thận nâng gươm lên ngang đầu nói với chủ tướng:</p><p>- Đây là thần có ý phó thác cho "minh công" làm việc lớn. Chúng tôi nguyện đem xương da của mình theo "minh công" và thanh gươm thần này để báo đền xã tắc!</p><p><br/></p><p>Từ đó khí thế của nghĩa quân ngày một tăng. Trong tay Lê Lợi, thanh gươm thần tung hoàng trên mọi trận địa và làm cho quân Minh bạt vía. Chẳng mấy chốc tiếng tăm của quân Lam-sơn lan khắp nơi. Họ không phải trốn tránh trong rừng nữa mà xông xáo đi tìm giặc. Họ không phải ăn uống khổ cực như trước nữa, đã có những kho lương thực của giặc mới cướp được tiếp tế cho họ. Gươm thần đã mở đường cho họ đánh tràn ra mãi cho đến lúc không còn bóng một tên giặc nào trên đất nước.</p><p>Sau khi đuổi giặc Minh về được một năm, ngày hôm ấy Lê Lợi - bấy giờ đã là một vị thiên tử - cưỡi thuyền rồng dạo quanh hồ Tả-vọng trước kinh thành. Nhân dịp đó, Long quân sai rùa vàng lên đòi lại thanh gươm thần. Khi chiếc thuyền chèo ra giữa hồ thì tự nhiên có một con rùa lớn nhô đầu và mai lên khỏi làn nước xanh. Theo lệnh vua, thuyền đi chậm lại. Vua đứng trên và nhận thấy lưỡi gươm đeo bên mình cũng đang cử động. Con rùa vàng không sợ người, nhô thêm nữa, tiến sát về phía thuyền vua. Nó đứng nổi lên trên mặt nước và nói:</p><p>- Bệ hạ hoàn gươm cho Long quân!</p><p>Nghe nói thế nhà vua bỗng hiểu ra bèn thò tay rút gươm ra khỏi bao. Chỉ một lát thanh gươm thần rời khỏi tay vua bay đến phía rùa vàng. Nhanh như cắt, rùa há miệng đớp lấy ngang lưỡi. Cho đến khi gươm và rùa lặn xuống, người ta vẫn thấy có vệt sáng le lói dười mặt nước hồ xanh.</p><p>Khi những chiếc thuyền của bá quan tiến lên kịp thuyền rồng thì vua liền báo ngay cho họ biết:</p><p>- Đức Long quân cho chúng ta mượn thanh gươm thần để trừ giặc Minh. Nay đất nước đã thanh bình, Người sai rùa lấy lại.</p><p>Và từ đó, hồ bắt đầu được mang tên là hồ Gươm hay hồ Hoàn-kiếm.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://thnguyenthuonghien.haiphong.edu.vn/truyen-thieu-nhi/su-tich-ho-guom-truyen-truyen-thuyet-viet-nam/ctmb/16851/45231" />
         <pubDate>2025-04-14 13:15:46 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3409043678</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3409047112</link>
         <description><![CDATA[<p>Mình sẽ kể câu chuyện THÁNH GIÓNG</p><p>Chuyện kể rằng: vào đời Hùng Vương thứ 6, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông lão chăm làm ăn và có tiếng là phúc đức. Hai ông bà ao ước có một đứa con. Một hôm bà ra đồng trông thấy một vết chân to quá, liền đặt bàn chân mình lên ướm thử để xem thua kém bao nhiêu.</p><p><br></p><p>Không ngờ về nhà bà thụ thai và mười hai tháng sau sinh một thằng bé mặt mũi rất khôi ngô. Hai vợ chồng mừng lắm. Nhưng lạ thay! Ðứa trẻ cho đến khi lên ba vẫn không biết nói, biết cười, cũng chẳng biết đi, cứ đặt đâu thì nằm đấy.</p><p><br></p><p>Bấy giờ có giặc Ân đến xâm phạm bờ cõi nước ta. Thế giặc mạnh, nhà vua lo sợ. Bèn truyền cho sứ giả đi khắp nơi tìm người tài giỏi cứu nước. Ðứa bé nghe tin, bỗng dưng cất tiếng nói: "Mẹ ra mời sứ giả vào đây". Sứ giả vào, đứa bé bảo: "Ông về tâu vua sắm cho ta một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt, ta sẽ phá tan lũ giặc này".</p><p><br></p><p>Sứ giả vừa kinh ngạc, vừa mừng rỡ, vội vàng về tâu vua. Nhà vua truyền cho thợ ngày đêm làm gấp những vật chú bé dặn.</p><p><br></p><p>Càng lạ hơn nữa, sau hôm gặp sứ giả, chú bé lớn nhanh như thổi. Cơm ăn mấy cũng không no, áo vừa mặc xong đã căng đứt chỉ. Hai vợ chồng làm ra bao nhiêu cũng không đủ nuôi con, thành thử phải chạy nhờ bà con, hàng xóm. Bà con đều vui lòng gom góp gạo thóc nuôi chú bé, vì ai cũng mong chú giết giặc, cứu nước.</p><p><br></p><p>Giặc đã đến chân núi Trâu. Thế nước rất nguy, người người hoảng hốt. Vừa lúc đó, sứ giả đem ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt đến. Chú bé vùng dậy, vươn vai một cái bỗng biến thành một tráng sĩ mình cao hơn trượng, oai phong lẫm liệt. Tráng sĩ bước lên vỗ vào mông ngựa. Ngựa hí dài mấy tiếng vang dội. Tráng sĩ mặc áo giáp, cầm roi nhảy lên mình ngựa. Ngựa phun lửa, tráng sĩ thúc ngựa phi thẳng đến nơi có giặc, đón đầu chúng đánh giết hết lớp này đến lớp khác, giặc chết như rạ. Bỗng roi sắt gẫy. Tráng sĩ bèn nhổ những cụm tre cạnh đường quật vào giặc. Giặc tan vỡ. Ðám tàn quân giẫm đạp nhau chạy trốn, tráng sĩ đuổi đến chân núi Sóc (Sóc Sơn). Ðến đấy, một người một ngựa, tráng sĩ lên đỉnh núi cởi giáp sắt bỏ lại, rồi cả người lẫn ngựa từ từ bay lên trời.</p><p><br></p><p>Vua nhớ công ơn, không biết lấy gì đền đáp, phong là Phù Ðổng Thiên Vương và lập đền thờ ngay ở quê nhà.</p><p><br></p><p>Hiện nay vẫn còn đền thờ ở làng Phù Ðổng, tục gọi là làng Gióng. Mỗi năm đến tháng tư làng mở hội to lắm. Người ta kể rằng những bụi <a rel="noopener noreferrer nofollow" href="http://yeudulich.vn/userfiles/6-2012/08-06/Hoang%20Long%20Resort/hoang-long-resort11.jpg"><strong>tre đằng ngà</strong></a><strong> </strong>ở huyện Gia Bình vì ngựa phun lửa bị cháy mới ngả mầu vàng óng như thế, còn những vết chân ngựa nay thành những hồ ao liên tiếp. Người ta còn nói khi ngựa thét lửa, lửa đã thiêu cháy một làng, cho nên làng đó về sau gọi là làng Cháy.</p><p><br><strong>Sử sách - Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi chép lại về Thánh Gióng như sau:</strong><br><br></p><p>Đời Hùng Vương thứ 6, ở hương Phù Đổng, bộ Vũ Ninh có người nhà giàu, sinh một con trai, đến năm hơn ba tuổi ăn uống béo lớn nhưng không biết nói cười. Gặp lúc trong nước có tin nguy cấp, vua sai người đi tìm người có thể đánh lui được giặc. Ngày hôm ấy, đứa trẻ bỗng nói được, bảo mẹ ra mời thiên sứ vào, nói: "Xin cho một thanh gươm, một con ngựa, vua không phải lo gì". Vua ban cho gươm và ngựa, đứa trẻ liền phi ngựa vung gươm tiến lên trước, quan quân theo sau, đánh tan quân giặc ở chân núi Vũ Ninh . Quân giặc tự quay giáo đánh lẫn nhau, chết rất nhiều, bọn sống sót đều rạp lạy, tôn gọi đứa trẻ ấy là thiên tướng, liền đến xin hàng cả. Đứa trẻ phi ngựa lên trời mà đi. Vua sai sửa sang chỗ vường nhà của đứa trẻ để lập đền thờ, tuế thời cúng tế. Về sau, Lý Thái Tổ phong là Xung Thiên Thần Vương. (Đền thờ ở cạnh chùa Kiến Sơ, hương Phù Đổng).</p><p><br></p><p><strong>Truyền thuyết</strong> Thánh Gióng thể hiện tinh thần và sức mạnh của người Việt trong đấu tranh chống ngoại xâm, giữ nước.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?v=W7n0A0ei0h4" />
         <pubDate>2025-04-14 13:18:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3409047112</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3409049099</link>
         <description><![CDATA[<p>TRUYỆN CỔ TÍCH TẤM CÁM</p><p>Ngày xửa ngày xưa, có hai chị em cùng cha khác mẹ tên là Tấm và Cám. Mẹ Tấm mất sớm, còn cha Tấm cưới thêm mẹ Cám, cha Tấm vô cùng hết mực yêu thương cô, nhưng rồi ông bệnh nặng, không lâu sau đó thì qua đời.</p><p>Tấm phải sống chung với dì ghẻ là mẹ của Cám. Bà mẹ ghẻ là người cay nghiệt, hàng ngày bắt Tấm phải làm hết mọi công việc trong nhà còn Cám thì ngược lại được lêu lổng vui chơi tối ngày.</p><p>Một hôm bà mẹ bảo 2 chị em Tấm và Cám ra đồng đi bắt cá. Bà mẹ dặn: “Hễ đứa nào bắt được nhiều cá hơn sẽ được thưởng”. Tấm vâng lời dặn của mẹ, chăm chỉ siêng năng bắt cá, chẳng chốc mà giỏ cá đã đầy, còn Cám mải rong chơi nên đã xế chiều rồi mà Cám vẫn chưa bắt được con nào. Thấy chị Tấm bắt được nhiều cá, Cám mới nảy ra ý định bảo Tấm:</p><p>- Chị Tấm ơi chị Tấm. Đầu chị lấm, chị hụp cho sâu kẻo về mẹ mắng.</p><p>Tấm tin lời em mình nên để giỏ cá nhờ em coi, lội xuống ao gội đầu. Trên bờ Cám đã trút hết giỏ cá của Tấm vào giỏ mình rồi chạy về nhà trước. Khi Tấm bước lên bờ thì giỏ cá không còn. Tấm ngồi khóc nức nở thì bỗng đột nhiên ông Bụt hiện lên hỏi:</p><p>- Tại sao con khóc?</p><p>Tấm kể hết sự tình xảy ra cho ông Bụt nghe, ông Bụt bảo Tấm tìm xem trong giỏ còn con nào không thì còn duy nhất một con cá bống. Ông Bụt mới cất lời:</p><p>- Thôi con hãy nín đi. Con đem con cá bống này về bỏ xuống giếng nuôi, mỗi ngày đem cơm cho bống ăn. Khi cho ăn con nhớ gọi bống: “Bống bống bang bang, Lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta, chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người.”</p><p>Nói xong Bụt biến mất. Tấm nghe lời Bụt dặn nên đem Bống về bỏ xuống giếng nuôi. Hàng ngày cứ đến bữa Tấm lại mang cơm ra cho bống, hai bát cơm thì Tấm chỉ ăn một, để dành một bát lại cho cá bống. Chẳng bao lâu sau, cá bống đã lớn nhanh như thổi.</p><p>Thấy Tấm ngày ngày đem cơm ra giếng, dì ghẻ mới đem lòng sinh nghi, sai Cám rình xem thế nào. Cám về kể hết mọi chuyện cho mẹ biết. Sáng ngày hôm sau mẹ ghẻ cho Tấm đi chăn trâu ở đồng xa, bà ngọt ngào dặn Tấm rằng:</p><p>- Con ơi, đồng làng mình cấm chăn trâu. Con đi chăn trâu thì chăn đồng xa, chớ chăn đồng nhà làng bắt mất trâu.</p><p>Tấm nghe lời mẹ nên dẫn trâu đi thật xa. Ở nhà mẹ con Cám ra giếng gọi y như Tấm hay gọi mỗi ngày, cá nghe tiếng trồi lên miệng giếng, hai mẹ con Cám bắt bống đem làm thịt. Đến chiều chăn trâu về, Tấm đem cơm ra giếng kêu mà không thấy Bống lên, chỉ thấy nổi lên một cục máu đỏ. Thấy vậy Tấm ngồi khóc nức nở, Bụt hiện lên và hỏi:</p><p>- Làm sao con khóc?</p><p>Tấm lại kể hết cho Bụt nghe, lúc này Bụt mới bảo:</p><p>- Bống của con đã bị người ta ăn thịt rồi. Thôi con hãy nín đị! Về nhà lượm lấy xương cá bỏ vào bốn cái hũ và chôn dưới bốn chân giường.</p><p>Tấm nghe lời vào nhà tìm xương bống, nhưng tìm mãi không thấy đâu. Bỗng có con gà ở đâu chạy ra: “cục ta cục tác, cho ta nắm thóc, ta bới xương cho”. Tấm lấy nắm thóc cho gà ăn, gà vào trong bếp, bới đống tro ra thì thấy xương bống ở đó. Tấm nhặt lấy đem bỏ vào 4 lọ chôn bốn chân giường.</p><p>Ít lâu sau nhà Vua mở hội, mọi người nô nức đi xem hội. Mẹ con Cám chuẩn bị đi từ rất sớm, Tấm xin mẹ cho đi xem cùng thì dì ghẻ trộn một đấu thóc với một đấu gạo rồi bắt Tấm ngồi nhặt, khi nào nhặt xong thì mới được đi xem hội. Tấm lại khóc nức nở.</p><p>Bụt lại hiện lên và hỏi:</p><p>- Làm sao con khóc?</p><p>Tấm kể rõ sự tình cho Bụt nghe, Bụt sai một đàn chim sẻ xuống nhặt cho Tấm, chỉ một loáng một cái là đã xong. Nhưng Tấm không có quần áo đẹp đi xem hội, thế là cô lại ôm mặt khóc. Bụt lại hiện lên:</p><p>- Làm sao con khóc?</p><p>Tấm sụt sùi:</p><p>- Quần áo con rách rưới thế này sao có thể đi xem hội được?</p><p>Bụt đáp:</p><p>- Con hãy đào bốn hũ chôn ở bốn chân giường lên đi.</p><p>Tấm nghe lời vào đào bốn hũ lên, hũ thứ nhất mở ra là một bộ váy áo đẹp rực rỡ, hũ thứ hai mở ra là một đôi giày thêu rất đẹp, hũ thứ 3 là một con ngựa nhỏ xíu, nhưng kì lạ là khi đặt xuống đất, con ngựa bỗng chốc biến thành ngựa thật, hũ cuối cùng là một yên cương vững chắc. Tấm vui mừng khôn xiết, vội thay đồ rồi lên đường tiến kinh. Ngựa phóng một lúc đã tới kinh thành, nhưng chẳng may trên đường đi qua chỗ lội, Tấm đã vô tình đánh rơi một chiếc giày không kịp nhặt. Đến hội Tấm lấy khăn gói chiếc giày còn lại và chen vào biển người.</p><p>Giữa lúc ấy, đoàn quân hộ tống nhà Vua đi qua chỗ lầy mà Tấm đánh rơi mất giày, hai con voi ngự đầu đàn cứ cắm đầu xuống, không chịu đi, vua cho lính xem xét thì tìm ra được một chiếc giày, nhà Vua đưa lên ngắm nghía: “Giày đẹp thế này, hẳn là người đi nó cũng rất đẹp”.</p><p>Nhà vua ra lệnh cho tất cả đàn bà con gái đi trẩy hội thử giày, nếu ai đi vừa chiếc giày thì sẽ lấy về làm vợ. Ai ai cũng nô nức đến thử giày nhưng không một ai vừa, mẹ con Cám cũng qua thử nhưng không được, đến lượt Tấm, dì ghẻ mới bĩu môi: “Chuông khánh còn chẳng ăn ai. Nữa là mảnh chĩnh mảnh chai bờ rào”</p><p>Nhưng trái lại, khi Tấm thử giày, chiếc giày vừa như in, nàng đưa nốt chiếc thứ hai đang cầm trong tay thì đúng là một đôi, quân lính reo hò, nhà Vua thấy thế thì mừng khôn xiết, vội cho người rước nàng về cung.</p><p>&nbsp;</p><p>Từ ngày đó mẹ con Cám căm giận lắm, nhân ngày giỗ cha, Tấm xin phép nhà vua về nhà để làm giỗ. Thấy Tấm về mẹ con Cám sẵn bụng không ưa nên đã bày mưu giết Tấm.</p><p>Mẹ ghẻ bảo Tấm:</p><p>- Nay là ngày giỗ cha con, con hãy trèo lên cây cau hái xuống cúng cha</p><p>Tấm vâng lời trèo lên cây cau thì ở dưới bà mẹ ghẻ đốn gốc, Tấm thấy cây rung rung mới hỏi.</p><p>- Dì ơi dì làm gì dưới đó thế ạ?</p><p>Dì ghẻ trả lời:</p><p>- Gốc này nhiều kiến quá, dì bắt kiến cho nó khỏi đốt con.</p><p>Tấm ngã xuống ao chết chìm. Bà mẹ ghẻ đem quần áo của Tấm cho Cám mặc và về cung nói dối với Vua rằng.</p><p>- Chị Tấm không may rớt xuống ao chết. Nay Cám là em vào thế chị.</p><p>Nhà Vua giận dữ nhưng không nói lời nào. Tấm chết đi biến thành con chim Vàng Anh, bay vào cung vua. Một lần Cám đang giặt áo cho nhà vua, bỗng nghe tiếng hót:</p><p>“Giặt áo chồng tao thì giặt cho sạch</p><p>Phơi áo chồng tao phơi lao phơi sào</p><p>Chớ phơi bờ rào rách áo chồng tao”</p><p>Cám nghe thấy thế sợ lắm,Vàng Anh ở trong cung thì hót líu lo, nhà Vua đi đâu Vàng Anh bay theo đó, thấy chim quyến luyến theo mình Vua bảo: “Vàng ảnh vàng anh, có phải vợ anh chui vào tay áo”</p><p>Chim bay đến đậu trên tay nhà vua rồi chui vào tay áo. Từ ngày đó nhà vua chỉ chăm lo cho chim, làm cho chim một cái chuồng bằng vàng, ngày ngày chăm sóc chim.</p><p>Cám thấy thế tức lắm về nhà hỏi ý mẹ, bà mẹ ghẻ xúi Cám bắt chim ăn thịt, lông chim mang đem chôn vào góc vườn, nhà vua biết được chuyện thì giận lắm. Góc vườn chỗ chôn lông chim Vàng Anh mọc ra hai cây xoan đào tỏa bóng sum suê, nhà vua thấy vậy bèn mắc võng ra nằm nghỉ ngơi. Cám lại về kể chuyện với mẹ, mẹ Cám lại xúi chặt hai cây xoan đi làm khung cửi, một lần ngồi dệt áo cho nhà Vua, nghe tiếng khung cửi kêu:</p><p>“Cót ca cót két</p><p>Lấy tranh chồng chị</p><p>Chị khoét mắt ra”</p><p>Cám vô cùng sợ hãi vội sai người mang khung cửi đi đốt, từ đống tro mọc lên một cây thị cành lá xanh tốt um tùm, nhưng lại chỉ có một quả. Một buổi nọ, có một bà cụ đi chợ qua, ngồi nghỉ dưới gốc cây, thấy quả thị bà mới ngỏ:</p><p>“Thị ơi thị rụng bị bà</p><p>Bà để bà ngửi</p><p>Chứ bà không ăn”</p><p>Bà lão nói xong thị rụng vào bị của bà. Bà đem về nhà để trên gối, chỉ ngửi mà không ăn. Hàng ngày bà ra chợ, về đến nhà là cơm nước đã tinh tươm, nhà cửa sạch sẽ, mấy ngày như vậy, bà sinh nghi. Một lần bà giả vờ đi chợ, nhưng đi đến nửa đường bà lại quay về. Bà đứng bên ngoài cửa nhìn vào thì thấy một cô gái chui ra từ quả thị, dọn dẹp nhà cửa, bà vội vàng chạy vào xé ngay vỏ thị và ôm chầm lấy cô. Bà nhận cô làm con gái.&nbsp;</p><p>Từ đó, Tấm ở nhà giúp bà làm việc, bà lão mở quán nước ngay tại nhà, Tấm giúp bà têm trầu cánh phượng, quán mỗi ngày lại một đông khách. Một lần nhà Vua đi qua, dừng chân nghỉ bên quán nước, thấy trầu têm giống như Tấm têm ngày xưa mới ngỏ ý hỏi:</p><p>- Bà ơi, trầu này ai têm mà khéo vậy?</p><p>Bà lão thật thà:</p><p>- Trầu này con gái bà têm.</p><p>Nhà vua muốn gặp con gái của bà, bà mới gọi Tấm ra, vua vui mừng khi nhận ra Tấm nên đã cho người đem nàng về cung. Về đến cung, Tấm kể rõ những sự tình cho nhà vua nghe, nhà vua tức giận cho người đem mẹ con Cám lên xử tội, nhưng Tấm thương cảm, xin nhà vua tha tội. Nhà vua đuổi mẹ con Cám ra ngoài cung, vừa ra khỏi thành, giông tố ập đến, mẹ con Cám bị sét đánh chết giữa đồng. Từ đó nhà Vua và Tấm sống hạnh phúc đến trọn đời.</p><p>&nbsp;</p>]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?v=WZnlFDGBZQw" />
         <pubDate>2025-04-14 13:19:48 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3409049099</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3409050847</link>
         <description><![CDATA[<p>Xưa ở quận Cao Bình có gia đình bác tiều phu Thạch Nghĩa, vợ chồng tuổi cao mà vẫn không con. Ông bà lo buồn và ra sức làm việc nghĩa. Ông thì sửa cầu, sửa cống, khơi rãnh, đắp đường. Bà thì nấu nước cho người qua đường uống. Việc làm của gia đình họ Thạch thấu đến trời, Ngọc Hoàng cho Thái tử đầu thai xuống trần làm con nhà họ Thạch.&nbsp;Thạch bà thụ thai ba năm, chưa sinh con thì Thạch ông mất. Sau đó, Thạch bà sinh một con trai khôi ngô tuấn tú đặt tên là&nbsp;Thạch Sanh. Cách ít năm sau, Thạch bà cũng mất, Thạch Sanh sống côi cút một mình trong túp lều tranh dưới gốc đa với một mảnh khố che thân và một cái búa đốn củi.</p><p>Năm Thạch Sanh mười ba tuổi, Ngọc Hoàng sai tiên ông xuống dạy cho chàng các môn võ nghệ và mọi phép thần thông.<br>Một hôm có anh hàng rượu tên là Lý Thông, đi bán rượu ghé vào gốc đa nghỉ chân, thấy Thạch Sanh khỏe mạnh, lanh lợi, ở một mình, bèn kết làm anh em và đưa Thạch Sanh về nhà.<br>Bấy giờ ở trong vùng có một con Trăn Tinh thường bắt người ăn thịt, quan quân nhiều lần vây đánh không được. Vì nó có phép thần thông biến hóa; nhà vua phải cho lập miếu thờ và mỗi năm nộp mạng một người cho nó. Năm ấy đến lượt Lý Thông phải nộp mình. Mẹ con&nbsp;Lý Thông&nbsp;nghe tin hoảng hốt, bàn mưu tính kế đưa Thạch Sanh đi thế mạng. Khi Thạch Sanh đi lấy củi về, Lý Thông đon đả mời chàng uống rượu và nói: “Ðêm nay anh phải đi canh miếu thờ trong rừng, nhưng trót cất mẻ rượu, anh đi sợ hỏng, nhờ em thay anh canh miếu một đêm”. Thạch Sanh vui vẻ nhận lời và đi ngay.<br>Nửa đêm Trăn Tinh hiện về, giơ vuốt, nhe răng hà hơi, nhả lửa, định xông vào miếu ăn thịt Thạch Sanh. Thạch Sanh bình tĩnh trổ tài đánh nhau với Trăn Tinh, cuối cùng chàng chém được đầu nó, đốt xác nó thành than, và thấy hiện lên trong miếu một bộ cung tên bằng vàng ngời sáng. Thạch Sanh mừng rỡ giắt búa, đeo cung và xách đầu Trăn Tinh chạy thẳng một mạch về nhà. Nghe tiếng Thạch Sanh gọi, mẹ con Lý Thông hoảng sợ, cho là oan hồn của Thạch Sanh sau khi bị Trăn Tinh ăn thịt, trở về nhà oán trách, bèn cất lời cầu khấn, van xin: “Sống khôn, thác thiêng em hãy tạm đi, ngày mai mẹ cùng anh sẽ mua sắm vàng hương, cơm canh, cỗ bàn cúng em chu tất!”. Bấy giờ, Thạch Sanh mới biết rõ tâm địa và mưu kế của mẹ con Lý Thông nhưng chàng không giận, vẫn vui vẻ kể chuyện giết Trăn Tinh cho mẹ con họ Lý nghe. Lý Thông liền nảy ra một mưu thâm độc mới. Nó nói Trăn Tinh là báu vật nhà vua nuôi, ai giết sẽ bị tội lớn. Thạch Sanh lo sợ, Lý Thông bảo Thạch Sanh trốn đi cho an toàn, một mình y sẽ tự lo liệu thu xếp giúp cho.</p><p><br/></p><p>Sau khi&nbsp;Thạch Sanh&nbsp;từ giã mẹ con Lý Thông trở về gốc đa xưa, Lý Thông đi ngay về Kinh, tâu vua là đã trừ được Trăn Tinh. Nhà vua vui mừng trọng thưởng và phong cho Lý Thông làm Ðô đốc quận công. Tiếp đó, nhà vua mở hội kén chồng cho con gái là công chúa Quỳnh Nga. Hội kén chồng kéo dài hàng tháng nhưng công chúa không chọn được ai vừa ý đẹp lòng. Một hôm công chúa đang dạo chơi vườn đào thì một con chim đại bàng khổng lồ khác sà xuống cắp đi. Thấy chim cắp người bay qua, Thạch Sanh giương cung bắn, đại bàng bị trúng tên vào cánh trái, nó dùng mỏ ngậm tên rút ra rồi bay tiếp về hang ổ. Thạch Sanh lần theo vết máu tìm đến cửa hang đại bàng, chàng đánh dấu cửa hang ác điểu rồi trở lại gốc đa.<br>Nhà vua sai Lý Thông đi tìm công chúa, tìm được thì sẽ được lấy công chúa, làm phò mã, nối ngôi vua, không tìm được phải chịu tội. Lý Thông vừa mừng, vừa lo, y lập kế mở hội hát xướng mười ngày để nghe ngóng dò la tin tức. Ðến ngày thứ mười, biết tin Lý Thông mở hội, Thạch Sanh đến thăm và kể cho Lý Thông nghe việc bắn chim đại bàng, Lý Thông mừng vui khôn xiết, hậu đãi Thạch Sanh và nhờ chàng dẫn đường đến hang Ðại bàng cứu công chúa.<br>Thạch Sanh&nbsp;dùng thang dây xuống hang gặp công chúa và đưa thuốc mê cho đại bàng uống. Công chúa hẹn ước kết duyên cùng Thạch Sanh rồi Thạch Sanh buộc dây đưa nàng lên mặt đất. Lý Thông sai quân lính đưa công chúa lên kiệu rước về cung, còn y nói dối là ở lại đánh nhau với quái vật. Sau đó, Lý Thông dùng đá lấp kín cửa hang và trở về triều đình mạo nhận công trạng. Không thấy Thạch Sanh trở về, công chúa buồn thương rầu rĩ và bặt câm, không hé môi nói nửa lời. Nhà vua buồn bã, Lý Thông cầu đảo thuốc thang khắp nơi đều vô hiệu, việc tổ chức cưới xin phải đình hoãn.<br>Hết liều thuốc mê, đại bàng tỉnh dậy hóa phép thần thông hãm hại Thạch Sanh, chàng dũng sĩ “mặt đỏ mày xanh”, đã dám cả gan “phá nhà, cướp vợ” của nó. Thạch Sanh dùng tài võ nghệ và phép thần thông của mình tiêu diệt được đại bàng. Nhìn lên cửa hang kín bưng không còn một khe hở nhỏ, Thạch Sanh dạo khắp hang động của đại bàng và gặp Thái tử con vua Thủy Tề đang bị yêu quái nhốt trong cũi sắt. Thạch Sanh phá tan cũi sắt giải thoát cho Thái tử. Thái tử mời Thạch Sanh về Thủy Tề gặp vua cha. Vua Thủy Tề cảm ơn và hậu đãi chàng. Trong thời gian lưu lại thủy cung, một hôm Thạch Sanh đang cùng Thái tử dạo chơi thì một con Hồ Tinh xuất hiện, biến thành một cô gái xinh đẹp để cám dỗ, mê hoặc hại chàng. Thạch Sanh bắt nó phải hiện nguyên hình là một con cáo chín đuôi và hóa phép giam nó lại. Vua Thủy Tề mời Thạch Sanh ở lại thủy cung và sẽ phong chức tước cho chàng, nhưng&nbsp;Thạch Sanh&nbsp;từ chối. Vua Thủy Tề tặng Thạch Sanh một cây đàn thần và sai sứ giả rẽ nước đưa chàng trở lại trần gian. Thạch Sanh lại về với gốc đa xưa. Vắng bóng Thạch Sanh cây đa buồn ủ ê, khi Thạch Sanh trở về cây đa lại xanh tươi như cũ. Hồn hai con quái vật bị Thạch Sanh giết (Trăn Tinh và Ðại Bàng) gặp nhau tìm cách hãm hại Thạch Sanh. Chúng vào kho châu báu của nhà vua lấy cắp vàng bạc ném vào gốc đa nơi Thạch Sanh ở. Quân lính nhà vua bắt Thạch Sanh tống ngục, nhà vua giao cho Lý Thông xử tội. Lý Thông khép Thạch Sanh vào tội tử hình để bịt đầu mối. Trong lúc bị giam trong ngục, chờ hành hình, Thạch Sanh đem đàn ra gảy. Cây đàn thần vang lên tiếng tơ, tiếng trúc, cung thảm, cung sầu; cung thì kể tội Lý Thông vong ân, bạc nghĩa, cướp công Thạch Sanh; cung thì trách nàng công chúa sai lời hẹn ước dưới hang (tích tịch tình tang, ai đem công Chúa dưới hang mà về?)…<br>Nghe tiếng đàn, công chúa bừng tỉnh dậy, cười cười, nói nói. Nhà vua vui mừng nghe công chúa nói rõ ngọn ngành. Lập tức nhà vua hạ lệnh tha cho Thạch Sanh và bắt Lý Thông tống ngục. Tiếp đó, vua làm lễ thành hôn cho Thạch Sanh cùng công chúa và truyền ngôi cho&nbsp;Thạch Sanh. Vua giao toàn quyền cho Thạch Sanh xử tội Lý Thông. Thạch Sanh tha tội cho Lý Thông, cho mẹ con họ Lý về quê quán làm ăn. Nhưng về giữa đường, trời nổi giông gió, mẹ con Lý Thông bạc ác bị sét đánh chết, Lý Thông hóa thành con bọ hung suốt đời chui rúc nơi bẩn thỉu.</p><p>Biết tin Thạch Sanh kết duyên với công chúa Quỳnh Nga và lên ngôi trị vì thiên hạ, các hoàng tử, công hầu của mười tám nước chư hầu, những người đã từng kéo đến cầu hôn công chúa không được, vô cùng ghen tức, họ kéo quân đến gây sự với Thạch Sanh và công chúa. Thạch Sanh cùng công chúa ra tiếp đãi họ một cách tử tế. Tiếng đàn thần của Thạch Sanh phân rõ lẽ thiệt hơn, phải trái, làm cho quân sĩ các nước chư hầu mềm lòng, nản chí. Kẻ nhớ mẹ nhớ cha, người thương con nhớ vợ, ai cũng muốn về và ngại việc binh đao, cuối cùng các nước chư hầu đều thuận lui binh. Thạch Sanh mời họ ăn cơm. Chàng có niêu cơm thần nhỏ bé nhưng xới bao nhiêu bát, cơm vẫn đầy lên như cũ, khiến cho các nước chư hầu càng thêm kính phục.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?v=MtzDqwoLYIo" />
         <pubDate>2025-04-14 13:20:55 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3409050847</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3409051743</link>
         <description><![CDATA[<p>Câu chuyện sự tích cây khế</p>]]></description>
         <enclosure url="https://mnmyduc.haiphong.edu.vn/truyen/truyen-su-tich-cay-khe/ctmb/18108/58899" />
         <pubDate>2025-04-14 13:21:37 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3409051743</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3411875157</link>
         <description><![CDATA[<p>Hôm nay mình sẽ kể về câu chuyện anh kim đồng</p><p><strong>Kim Đồng tên thật là Nông Văn Dền, người đội trưởng đầu tiên của Đội TNTP Hồ Chí Minh, sinh năm 1928, người dân tộc Nùng, ở thôn Nà Mạ, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Nhà Kim Đồng rất nghèo. Cha bị chết vì nạn phu phen lao dịch của thực dân Pháp. Anh trai đi công tác luôn. ở nhà chỉ có mẹ tàn tật và người em họ mồ côi là Cao Sơn.</strong></p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Từ bé, Kim Đồng đã có tinh thần yêu nước, căm ghét giặc Pháp. Vùng quê hương Kim Đồng là nơi có phong trào cách mạng rất sớm. Ngày 15 tháng 5 năm 1941, Đội Nhi đồng cứu quốc được thành lập có 5 đội viên và Kim Đồng được bầu là đội trưởng đầu tiên của Đội. Trong công tác, Kim Đồng luôn tỏ ra dũng cảm và có nhiều mưu trí.<br>Một lần, sau khi làm nhiệm vụ dẫn cán bộ vào căn cứ, Kim Đồng đang trên đường trở về nhà thì nghe có tiếng động lạ ở trong rừng. Kim Đồng liền rủ Cao Sơn tìm cách báo động cho các anh cán bộ đang ở trong xóm biết. Sau khi quan sát, Kim Đồng đã nhìn thấy bọn lính đang lợi dụng sương mù phục kích trên đường vào xóm và im lặng đợi bắt người. Kim Đồng bảo Cao Sơn lùi về phía sau, chạy về báo cáo. Đợi cho bạn đi rồi, Kim Đồng ngắm kĩ địa hình, để chạy vọt qua suối, lên phía rừng. Như vậy, bọn lính sẽ phải nổ súng hoặc kêu lên. Chúng nó sẽ bị lộ. Quả nhiên, thấy có bóng người chạy, bọn giặc lên đạn và hô: “Đứng lại!”.<br>&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;Kim Đồng không dừng chân. Giặc bắn theo. Anh Kim Đồng đã anh dũng hi sinh. Hôm ấy là sáng sớm ngày 15 tháng 02 năm 1943.</p><p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Anh Kim Đồng đã được Đảng và Nhà nước phong tặng anh hùng liệt sỹ năm 1997. Khu di tích Kim Đồng được xây dựng ngay trên quê hương anh gồm có mộ anh Kim Đồng và tượng đài khang trang tại chân rặng núi đá cao vững chắc, bên cạnh là 2 cây nghiến xanh biếc, luôn toả bóng mát với những làn gió vi vu, như đang ru anh yên giấc ngàn thu.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-04-16 04:31:05 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3411875157</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3411876364</link>
         <description><![CDATA[]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?pdlt=1&amp;v=YA_lUdt4KqQ" />
         <pubDate>2025-04-16 04:32:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3411876364</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3413380970</link>
         <description><![CDATA[<p>Đây là câu chuyện 10 bạn câu hỏi chưa đu lực giải đáp </p>]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?pdlt=1&amp;pp=0gcJCdgAo7VqN5tD&amp;v=SXjOVOnZsIc" />
         <pubDate>2025-04-17 03:42:51 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3413380970</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3414096614</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Người con ưu tú của quê hương Bắc Ninh</strong></p><p>Nhà cách mạng Lê Quang Đạo, tên khai sinh là Nguyễn Đức Nguyện, sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước tại thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Trong những năm 1937 - 1939, ông đã tham dự Đoàn Thanh niên Dân chủ Hà Nội rồi Thanh niên Phản đế; tháng 8/1940 được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam). Giữa năm 1941, ông lấy tên là Lê Quang Đạo.</p><p>Chủ tịch Quốc hội khóa VIII Lê Quang Đạo (ảnh T.L).</p><p>Trong quá trình hoạt động cách mạng và kháng chiến chống Pháp, ông đảm nhiệm các chức vụ khác nhau. Từ tháng 9/1950, ông được phân công sang Quân đội, đến tháng 5/1955 là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, trực tiếp chỉ đạo công tác tuyên huấn, địch vận, đối ngoại. Năm 1958, được phong quân hàm Thiếu tướng; năm 1974 được thăng quân hàm Trung tướng.</p><p>Cuối năm 1978, ông rời Quân đội và được phân công là Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Hà Nội. Năm 1982, ông được cử giữ chức Trưởng ban Khoa giáo Trung ương; năm 1983, phụ trách công tác dân vận của Trung ương và tham gia Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Tháng 6/1987, kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa VIII, ông được bầu giữ chức Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước.</p><p>Đầu năm 1993, ông thôi giữ chức Chủ tịch Quốc hội để về công tác Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc và được bầu làm Chủ tịch của cơ quan này.</p><p>Chủ tịch Quốc hội khóa VIII Lê Quang Đạo (giữa) gặp gỡ các đại biểu Quốc hội tại Kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa VIII (ảnh T.L).</p><p><strong>Dấu ấn trên cương vị Chủ tịch Quốc hội</strong></p><p>Sinh thời, ông Vũ Mão (1939-2020), nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại, nguyên Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, thường hay nhắc tới Chủ tịch Quốc hội khóa VIII Lê Quang Đạo mỗi khi chúng tôi sang phỏng vấn về chủ đề đổi mới hoạt động của Quốc hội.</p><p>Ngoài lời kể, ông Vũ Mão còn tặng chúng tôi cuốn sách "Mãi còn tin yêu" của ông, sách do Nhà xuất bản Thanh niên ấn hành. Cuốn sách có bài viết "Lê Quang Đạo nụ cười nhân hậu".</p><p>Cuốn sách cho biết: Vào năm 1986, có lần ông Lê Quang Đạo phải đi bệnh viện cấp cứu. Lúc đầu, tưởng ông bệnh nặng nên Tiểu ban nhân sự của Đại hội VI dự định để ông nghỉ, không tham gia Trung ương khóa VI nữa. Nhưng với nghị lực phi thường, ông đã vượt qua được cơn bệnh hiểm nghèo.</p><p>close</p><p>Hội đồng Bảo vệ sức khỏe cán bộ Trung ương sau khi xét nghiệm cẩn trọng đã kết luận, ông Lê Quang Đạo vẫn đủ sức khỏe để tiếp tục tham gia Ban Chấp hành Trung ương khóa VI.</p><p>Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ thắp hương tưởng niệm cố Chủ tịch Quốc hội Lê Qiang Đạo (ảnh TTXVN).</p><p>Nhiệm kỳ Quốc hội khóa VIII (1987-1992), việc lựa chọn chức danh Chủ tịch Quốc hội không dễ dàng chút nào. Lúc đầu dự kiến một vị Ủy viên Bộ Chính trị đảm nhận nhưng sau khi cân nhắc kỹ lưỡng thì phương án tối ưu cho chức danh Chủ tịch Quốc hội chính là ông Lê Quang Đạo.</p><p>Theo ông Vũ Mão, một trong những dấu ấn quan trọng của Chủ tịch Quốc hội khóa VIII Lê Quang Đạo, đó là:</p><p>Tại kỳ họp Quốc hội giữa năm 1988, Quốc hội bầu Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng mới (nay là Thủ tướng Chính phủ), thay cho ông Phạm Hùng vừa mới từ trần. Theo quy định của Hiến pháp năm 1980, Hội đồng Nhà nước giới thiệu chức danh Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng để Quốc hội bầu.</p><p>Việc giới thiệu của Hội đồng Nhà nước trên cơ sở kết quả thảo luận và biểu quyết của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ban Chấp hành Trung ương lúc đó đã giới thiệu ông Đỗ Mười (1917-2018) để Quốc hội bầu làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.</p><p>Sau khi Hội đồng Nhà nước trình Quốc hội phương án trên, các Đoàn đại biểu Quốc hội tiến hành thảo luận. Ông Vũ Mão lúc đó là Trưởng Đoàn Thư ký kỳ họp có trách nhiệm chỉ đạo tổng hợp ý kiến của các Đoàn đại biểu Quốc hội.</p><p>Kết quả cho thấy, tất cả các Đoàn đều đồng ý giới thiệu ông Đỗ Mười, đồng thời có 37/53 Đoàn giới thiệu thêm ông Võ Văn Kiệt (1922-2008) để Quốc hội bầu chức danh Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.</p><p>Cuộc họp Hội đồng Nhà nước để thảo luận vấn đề này rất sôi nổi. Đa số các thành viên Hội đồng Nhà nước nhất trí để hai ứng cử viên, coi đây là sự đổi mới tư duy, thể hiện tính dân chủ trong hoạt động của Quốc hội.</p><p>Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (nay là Chủ tịch nước) lúc đó là ông Võ Chí Công (1912-2011) đề nghị Chủ tịch Quốc hội Lê Quang Đạo và Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Vũ Mão đến báo cáo Tổng Bí thư (khóa VI) Nguyễn Văn Linh.</p>]]></description>
         <enclosure url="https://danviet.vn/vi-tuong-duy-nhat-tro-thanh-chu-tich-quoc-hoi-va-dau-an-trong-cau-chuyen-gioi-thieu-2-ung-vien-de-bau-thu-tuong-20210807224315386-d968708.html" />
         <pubDate>2025-04-17 15:14:27 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3414096614</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3415764161</link>
         <description><![CDATA[<p>Ngày xưa, ở một ngôi làng nhỏ nằm giữa những ngọn núi xanh, có một cậu bé tên là Hùng. Hùng là con trai của một thợ rèn nổi tiếng trong làng. Tuy gia đình khá giả, nhưng Hùng lại không hứng thú với việc rèn sắt hay đúc kiếm như cha mình. Cậu bé thường xuyên lang thang trong rừng, khám phá những điều kỳ lạ mà không ai biết đến.</p><p>Một ngày nọ, trong khi đang dạo chơi trong rừng, Hùng vô tình phát hiện ra một cái hang nhỏ dưới gốc cây cổ thụ. Lúc đầu, cậu chỉ định xem qua, nhưng khi bước vào trong, cậu bất ngờ thấy một con rồng nhỏ, bị thương, đang nằm co ro trong bóng tối. Hùng không sợ hãi mà lại cảm thấy thương cảm, liền lấy một ít lá cây và nước suối để chăm sóc con rồng.</p><p>Ngày qua ngày, Hùng chăm sóc con rồng, và dần dần, nó khỏe lại. Con rồng, với bộ lông ánh kim và đôi mắt sáng rực, cảm ơn Hùng bằng cách cho cậu một món quà đặc biệt: một viên đá phát sáng. Con rồng nói rằng viên đá này có thể giúp Hùng giải quyết mọi khó khăn trong cuộc sống, nhưng chỉ khi cậu thật sự cần đến.</p><p>Về nhà, Hùng giữ viên đá trong lòng và chẳng kể cho ai về con rồng. Mấy năm sau, khi gia đình cậu gặp khó khăn vì một trận lụt lớn, Hùng nhớ đến viên đá. Cậu cầm nó trong tay và cầu nguyện. Ngay lập tức, một dòng nước sạch từ trên núi đổ xuống, cứu lấy cả làng.</p><p>Từ đó, Hùng trở thành người hùng trong làng, nhưng cậu luôn giữ bí mật về con rồng và viên đá kỳ diệu. Và cũng từ đó, cậu hiểu rằng, đôi khi, những điều kỳ diệu chỉ đến với những người có trái tim nhân hậu.</p><p>Câu chuyện của Hùng đã trở thành huyền thoại trong làng, nhắc nhở mọi người rằng lòng tốt và sự kiên nhẫn luôn mang lại những phần thưởng bất ngờ.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-04-19 06:48:03 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3415764161</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3415765743</link>
         <description><![CDATA[<p><br/></p><p>Nạn đói, một nỗi ám ảnh đau thương trong lịch sử nhân loại, không chỉ là một câu chuyện về sự thiếu thốn thức ăn, mà còn là biểu tượng của những khó khăn tột cùng mà con người phải đối mặt trong những thời điểm khắc nghiệt.</p><p>Một trong những nạn đói nổi tiếng nhất trong lịch sử Việt Nam là nạn đói năm 1945, xảy ra trong bối cảnh đất nước đang chịu sự tàn phá của chiến tranh và chính sách cai trị khắc nghiệt của thực dân Pháp. Thảm họa này đã cướp đi sinh mạng của hàng triệu người dân vô tội, để lại vết thương sâu sắc trong lòng dân tộc.</p><p>Nạn đói 1945 bắt nguồn từ sự kết hợp của nhiều yếu tố. Thứ nhất, do chiến tranh kéo dài, nguồn lương thực trong nước bị thiếu hụt nghiêm trọng. Thứ hai, chính sách thuế và chiếm đoạt lương thực của thực dân Pháp càng làm trầm trọng thêm tình hình. Khi mùa màng thất bát do thiên tai, lúa gạo trong các tỉnh miền Bắc trở nên khan hiếm, những người nông dân nghèo không thể tìm thấy đủ lương thực để nuôi sống gia đình.</p><p>Khi đó, lúa gạo, vốn là nguồn sống chính của người dân, trở thành thứ xa xỉ. Người dân không còn khả năng mua gạo, giá lúa gạo tăng vọt, trong khi nạn đói càng ngày càng trầm trọng hơn. Những người dân nghèo phải bán hết tài sản của mình, từ chiếc áo quần cũ, đôi dép mòn, đến cả những vật dụng gia đình quý giá chỉ để mua được một chút gạo ăn.</p><p>Trong cảnh đói kém, người ta đã phải ăn những thứ không thể tưởng tượng được: cỏ, lá cây, thậm chí là vỏ cây, hay các loại củ quả hoang dại. Có những gia đình phải nhìn thấy nhau chết dần vì đói. Trong cảnh ngặt nghèo, những đứa trẻ bị chết đói nhiều nhất, cơ thể suy kiệt, đôi mắt trũng sâu vì thiếu nước, là hình ảnh ám ảnh của nạn đói năm đó.</p><p>Chính trong hoàn cảnh tăm tối này, những cuộc biểu tình, những tiếng kêu gọi cứu đói từ khắp các làng mạc vang lên. Đến khi cách mạng tháng Tám nổ ra, người dân không chỉ vùng lên chống lại ách thống trị của thực dân Pháp mà còn tìm được hy vọng thoát khỏi nỗi khổ cực đói nghèo.</p><p>Nạn đói 1945 là một hồi chuông cảnh tỉnh về tình trạng khủng hoảng lương thực và những hậu quả của chiến tranh, sự bóc lột và bất công. Nó cũng là một minh chứng cho sức sống kiên cường của con người, dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn luôn tìm cách tồn tại, tìm hy vọng và đấu tranh vì cuộc sống tốt đẹp hơn.</p><p>Câu chuyện về nạn đói không chỉ là một bài học lịch sử mà còn là lời nhắc nhở về giá trị của sự đoàn kết, lòng nhân ái và sự chia sẻ trong những thời khắc khó khăn nhất của cuộc đời.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-04-19 06:49:11 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3415765743</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3415767026</link>
         <description><![CDATA[<p>Câu chuyện "Ba chú lợn con" là một trong những câu chuyện cổ tích nổi tiếng, truyền cảm hứng về sự kiên trì, sự thông minh và sự chuẩn bị cho tương lai.</p><p>Ngày xưa, có ba chú lợn con sống cùng mẹ trong một ngôi làng nhỏ. Khi chúng lớn lên, mẹ lợn bảo mỗi chú lợn phải tự xây dựng một ngôi nhà để bảo vệ mình khỏi những mối nguy hiểm. Mẹ dặn chúng rằng: "Hãy xây nhà thật vững chắc, vì cuộc sống không phải lúc nào cũng dễ dàng."</p><p>Chú lợn con đầu tiên, lười biếng và không muốn tốn nhiều công sức, quyết định xây một ngôi nhà bằng rơm. "Rơm rất nhẹ và dễ kiếm, mình sẽ xây nhanh chóng rồi đi chơi!" – chú nghĩ thế. Nhưng ngôi nhà bằng rơm rất yếu, chẳng mấy chốc, chú đã hoàn thành xong.</p><p>Chú lợn con thứ hai không lười biếng như chú đầu tiên, nhưng cũng không muốn làm quá vất vả. Chú quyết định xây ngôi nhà bằng gỗ. Nhà gỗ chắc chắn hơn nhà rơm một chút, nhưng vẫn không đủ bền để chống lại những thử thách lớn. Chú hoàn thành ngôi nhà của mình và tự mãn với công sức bỏ ra.</p><p>Còn chú lợn con thứ ba, là chú lợn cần mẫn và thông minh nhất. Chú quyết định xây ngôi nhà bằng gạch, mặc dù biết rằng sẽ mất nhiều thời gian và công sức hơn. Chú làm việc cẩn thận, từng viên gạch được đặt chắc chắn vào vị trí của nó, và cuối cùng, ngôi nhà gạch vững chãi của chú đã hoàn thành.</p><p>Một ngày nọ, có một con sói lớn đến gần khu làng, nghe thấy tiếng của ba chú lợn. Con sói nhìn thấy ngôi nhà rơm và quyết định thổi mạnh. "Húuuu!" – con sói thổi một hơi mạnh, và ngôi nhà rơm bị tan thành từng mảnh. Chú lợn con đầu tiên chạy thật nhanh đến ngôi nhà gỗ của chú thứ hai.</p><p>Con sói không bỏ qua, nó tiếp tục thổi vào ngôi nhà gỗ. "Húuuu!" – ngôi nhà gỗ cũng bị đổ sập. Hai chú lợn con sợ hãi chạy đến ngôi nhà gạch của chú thứ ba.</p><p>Con sói đến, nhìn thấy ngôi nhà gạch kiên cố, nó hít một hơi thật sâu và thổi thật mạnh. "Húuuu!" Nhưng ngôi nhà gạch vẫn đứng vững, không hề sứt mẻ. Con sói tức giận, quyết định leo lên ống khói để vào trong, nhưng chú lợn thông minh đã nhanh chóng đun một nồi nước sôi dưới ống khói. Khi con sói rơi xuống, nó bị bỏng và chạy trốn mãi mãi.</p><p>Ba chú lợn con mừng rỡ vì thoát được hiểm nguy. Chú lợn thứ ba dạy hai anh em rằng: "Không có gì quý giá hơn sự kiên nhẫn và chuẩn bị kỹ lưỡng. Công việc khó khăn hôm nay sẽ đem lại kết quả tốt đẹp mai sau."</p><p>Từ đó, ba chú lợn sống hạnh phúc và an toàn trong ngôi nhà vững chãi của mình, và không bao giờ quên bài học về sự cần cù và chuẩn bị cho tương lai.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-04-19 06:50:56 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3415767026</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3416216357</link>
         <description><![CDATA[<p>Mik xin kể câu chuyện sọ dừa </p><p>Ngày xưa, có hai vợ chồng một lão nông nghèo đi ở cho nhà một phú ông. .&nbsp;Họ hiền lành, chăm chỉ nhưng đã ngoài năm mươi tuổi mà chưa có lấy một mụn con.</p><p>Một hôm, người vợ vào rừng lấy củi. Trời nắng to, khát nước quá, thấy cái sọ dừa bên gốc cây to đựng đầy nước mưa, bà bèn bưng lên uống. Thế rồi, về nhà, bà có mang.</p><p>ít lâu sau, người chồng mất. Bà sinh ra một đứa con không có chân tay, mình mẩy, cứ tròn lông lốc như một quả dừa. Bà buồn, toan vứt nó đi thì đứa bé lên tiếng bảo.</p><p>- Mẹ ơi! Con là người đấy! Mẹ đừng vứt con mà tội nghiệp. Bà lão thương tình để lại nuôi rồi đặt tên cho cậu là Sọ Dừa.</p><p>Lớn lên, Sọ Dừa vẫn thế, cứ lăn lông lốc chẳng làm được việc gì. Bà mẹ lấy làm phiền lòng lắm. Sọ Dừa biết vậy bèn xin mẹ đến chăn bò cho nhà phú ông.</p><p>Nghe nói đến Sọ Dừa, phú ông ngần ngại. Nhưng nghĩ: nuôi nó thì ít tốn cơm, công sá lại chẳng đáng là bao, phú ông đồng ý. Chẳng ngờ cậu chăn bò rất giỏi. Ngày ngày, cậu lăn sau đàn bò ra đồng, tối đến lại lăn sau đàn bò về nhà. Cả đàn bò, con nào con nấy cứ no căng. Phú ông lấy làm mừng lắm!</p><p><br/></p><p><br/></p><p><em>Sọ Dừa chăn bò cho phú ông</em></p><p>Vào ngày mùa, tôi tớ ra đồng làm hết cả, phú ông bèn sai ba cô con gái thay phiên nhau đem cơm cho Sọ Dừa. Trong những lần như thế, hai cô chị kiêu kì, ác nghiệt thường hắt hủi Sọ Dừa, chỉ có cô em vốn tính thương người là đối đãi với Sọ Dừa tử tế.</p><p>Một hôm đến phiên cô út mang cơm cho Sọ Dừa. Mới đến chân núi, cô bỗng nghe thấy tiếng sáo véo von. Rón rén bước lên cô nhìn thấy một chàng trai khôi ngô tuấn tú đang ngồi trên chiếc võng đào thổi sáo cho đàn bò gặm cỏ. Thế nhưng vừa mới đứng lên, tất cả đã biến mất tăm, chỉ thấy Sọ Dừa nằm lăn lóc ở đấy. Nhiều lần như vậy, cô út biết Sọ Dừa không phải người thường, bèn đem lòng yêu quý.</p><p>Đến cuối mùa ở thuê, Sọ Dừa về nhà giục mẹ đến hỏi con gái phú ông về làm vợ. Bà lão thấy vậy tỏ ra vô cùng sửng sốt, nhưng thấy con năn nỉ mãi, bà cũng chiều lòng.</p><p>Thấy mẹ Sọ Dừa mang cau đến dạm, phú ông cười mỉa mai:</p><p>- Muốn hỏi con gái ta, hãy về sắm đủ một chĩnh vàng cốm, mười tấm lụa đào, mười con lợn béo, mười vò rượu tăm đem sang đây.</p><p>Bà lão đành ra về, nghĩ là phải thôi hẳn việc lấy vợ cho con. Chẳng ngờ, đúng ngày hẹn, bỗng dưng trong nhà có đầy đủ mọi sính lễ, lại có cả gia nhân ở dưới nhà chạy lên khiêng lễ vật sang nhà của phú ông. Phú ông hoa cả mắt lúng túng gọi ba cô con gái ra hỏi ý. Hai cô chị bĩu môi chê bai Sọ Dừa xấu xí rồi ngúng nguẩy đi vào, chỉ có cô út là cúi đầu e lệ tỏ ý bằng lòng.</p><p>Trong ngày cưới, Sọ Dừa cho bày cỗ thật linh đình, gia nhân chạy ra chạy vào tấp nập. Lúc rước dâu, chẳng ai thấy Sọ Dừa trọc lốc, xấu xí đâu chỉ thấy một chàng trai khôi ngô tuấn tú đứng bên cô út. Mọi người thấy vậy đều cảm thấy sửng sốt và mừng rỡ, còn hai cô chị thì vừa tiếc lại vừa ghen tức.</p><p>Từ ngày ấy, hai vợ chồng Sọ Dừa sống với nhau rất hạnh phúc. Không những thế, Sọ Dừa còn tỏ ra rất thông minh. Chàng ngày đêm miệt mài đèn sách và quả nhiên năm ấy, Sọ Dừa đỗ trạng nguyên. Thế nhưng cũng lại chẳng bao lâu sau, Sọ Dừa được vua sai đi sứ. Trước khi đi, chàng đưa cho vợ một hòn đá lửa, một con dao và hai quả trứng gà nói là để hộ thân.</p><p>Ganh tị với cô em, hai cô chị sinh lòng ghen ghét rắp tâm hại em để thay làm bà trạng. Nhân quan trạng đi vắng, hai chị sang rủ cô út chèo thuyền ra biển rồi cứ thế lừa đẩy cô em xuống nước. Cô út bị cá kình nuốt chửng, nhưng may có con dao mà thoát chết. Cô dạt vào một hòn đảo, lấy dao khoét bụng cá chui ra, đánh đá lấy lửa nướng thịt cá ăn. Sống được ít ngày trên đảo, hai quả trứng gà cũng kịp nở thành một đôi gà đẹp để làm bạn cùng cô út.</p><p>Một hôm có chiếc thuyền đi qua đảo, con gà trống nhìn thấy bèn gáy to:</p><p>ò… ó… o</p><p>Phải thuyền quan trạng rước cô tôi về.</p><p>Quan cho thuyền vào xem, chẳng ngờ đó chính là vợ mình. Hai vợ chồng gặp nhau, mừng mừng tủi tủi. Đưa vợ về nhà, quan trạng mở tiệc mừng mời bà con đến chia vui, nhưng lại giấu vợ trong nhà không cho ai biết. Hai cô chị thấy thế khấp khởi mừng thầm, tranh nhau kể chuyện cô em rủi ro ra chiều thương tiếc lắm. Quan trạng không nói gì, tiệc xong mới cho gọi vợ ra. Hai cô chị nhìn thấy cô em thì xấu hổ quá, lén bỏ ra về rồi từ đó bỏ đi biệt xứ.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-04-20 02:56:26 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3416216357</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3416217976</link>
         <description><![CDATA[<p>Lý Thái Tổ (tên thật là Lý Công Uẩn), là vị vua khai sáng triều đại nhà Lý trong lịch sử Việt Nam, trị vì từ năm 1009 đến năm 1028. Cuộc đời và sự nghiệp của ông là một câu chuyện đầy khí phách, nhân nghĩa và tầm nhìn xa trông rộng, mở đầu cho một thời kỳ phát triển rực rỡ của Đại Việt.</p><p><strong>Tuổi thơ và thân thế</strong></p><p>Lý Công Uẩn sinh năm 974, quê ở Cổ Pháp (nay là Bắc Ninh). Theo truyền thuyết, ông là con của một nhà sư tên là Lý Khánh Vân, hoặc có giả thuyết nói rằng ông là con của một người phụ nữ họ Phạm và được sư Vạn Hạnh – một vị cao tăng lỗi lạc – nuôi dưỡng, giáo dục từ nhỏ.</p><p>Ngay từ bé, Lý Công Uẩn đã tỏ ra thông minh, hiếu học và sớm có tinh thần nhân ái. Được sự dạy dỗ của sư Vạn Hạnh, ông không chỉ am hiểu Phật pháp mà còn giỏi văn võ, có tư chất làm minh quân.</p><p><strong>Sự nghiệp chính trị và lên ngôi</strong></p><p>Khi trưởng thành, Lý Công Uẩn làm quan dưới triều Tiền Lê và dần dần thăng tiến đến chức Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ – một chức vụ có nhiều quyền lực, gần gũi với vua.</p><p>Năm 1009, vua Lê Long Đĩnh – vị vua cuối cùng của nhà Tiền Lê – mất. Do Lê Long Đĩnh là một bạo chúa, dân chúng và triều thần đều bất mãn. Với uy tín cao trong triều và được sự ủng hộ của sư Vạn Hạnh cùng nhiều đại thần, Lý Công Uẩn được tôn lên làm vua, lập ra triều Lý – mở đầu cho một triều đại kéo dài hơn 200 năm.</p><p><strong>Chiếu dời đô – Tầm nhìn của một minh quân</strong></p><p>Một trong những việc lớn đầu tiên của Lý Thái Tổ là dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La (Hà Nội ngày nay). Năm 1010, ông ban <strong>Chiếu dời đô</strong>, nêu rõ lý do phải dời đô đến nơi đất rộng, bằng phẳng, trung tâm, thuận lợi cho phát triển đất nước lâu dài.</p><p>Đây là quyết định có ý nghĩa lịch sử to lớn, thể hiện tầm nhìn chiến lược và tư duy phát triển bền vững của một vị vua sáng suốt.</p><p><strong>Trị quốc và xây dựng đất nước</strong></p><p>Trong gần 20 năm trị vì, Lý Thái Tổ đã đặt nền móng cho một triều đại hùng mạnh:</p><ul><li><p>Xây dựng bộ máy hành chính vững chắc</p></li><li><p>Khuyến khích nho học và Phật giáo</p></li><li><p>Giữ vững biên cương, ổn định xã hội</p></li><li><p>Gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiện nhiều chính sách nhân đạo</p></li></ul><p>Ông cũng rất coi trọng đạo lý, khuyến khích sự hiếu thuận, tiết kiệm, chăm lo cho dân, và tránh xa thói xa hoa lãng phí.</p><p><strong>Qua đời và di sản</strong></p><p>Lý Thái Tổ qua đời năm 1028, truyền ngôi cho con là Lý Thái Tông. Sau khi mất, ông được thờ phụng và kính trọng như một vị vua khai quốc, được tôn miếu hiệu là Lý Thái Tổ.</p><p><strong>Kết luận</strong></p><p>Cuộc đời Lý Thái Tổ là một biểu tượng của lòng nhân, trí tuệ và sự can đảm. Ông không chỉ khai sáng một triều đại huy hoàng, mà còn để lại một bài học lớn về cách lãnh đạo, tầm nhìn và trách nhiệm với dân tộc.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-04-20 03:01:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3416217976</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3416218522</link>
         <description><![CDATA[<p>Nguyên Phi Ỷ Lan là một trong những người phụ nữ nổi bật và quyền lực nhất trong lịch sử Việt Nam, được mệnh danh là <strong>“Người đàn bà buông rèm chấp chính”</strong>. Bà không chỉ là sủng phi của vua Lý Thánh Tông, mà còn là người có công lớn trong việc trị quốc, an dân, phát triển đất nước.</p><p><strong>Thân thế và truyền thuyết</strong></p><p>Ỷ Lan tên thật là <strong>Lê Thị Yến</strong>, quê ở làng Thổ Lỗi (nay thuộc xã Dương Xá, huyện Gia Lâm, Hà Nội). Tương truyền, khi vua Lý Thánh Tông đi qua làng, bà đang tựa lan can (ỷ lan) ngắm cảnh – dáng vẻ dịu dàng, thông minh đã khiến vua chú ý và đưa bà vào cung.</p><p>Dù xuất thân không phải hoàng tộc, Ỷ Lan nhanh chóng được vua sủng ái vì sự thông minh, hiểu biết và đức hạnh. Từ đó, bà được gọi là <strong>Ỷ Lan phu nhân</strong> – “người phụ nữ tựa lan can”.</p><p><strong>Buông rèm nhiếp chính – Nữ chính trị gia đầu tiên</strong></p><p>Năm 1069, vua Lý Thánh Tông thân chinh đi đánh Chiêm Thành, giao việc triều chính lại cho bà Ỷ Lan. Trong thời gian đó, bà đã điều hành đất nước ổn định, được quần thần và dân chúng kính phục. Khi vua trở về, cảm nhận được tài năng của bà, phong cho bà làm <strong>Nguyên phi</strong> – vị trí cao nhất trong hậu cung.</p><p>Sau này, khi vua Thánh Tông mất, con trai bà là Lý Nhân Tông lên ngôi khi mới 7 tuổi. Ỷ Lan tiếp tục <strong>nhiếp chính</strong>, buông rèm điều hành quốc sự, trở thành <strong>người phụ nữ quyền lực nhất triều đình</strong>.</p><p><strong>Những đóng góp lớn</strong></p><ul><li><p><strong>Khuyến học, phát triển Phật giáo</strong>: Bà cho xây dựng nhiều chùa chiền, khuyến khích học hành, mở rộng Nho học.</p></li><li><p><strong>Chăm lo dân sinh</strong>: Lắng nghe dân tình, giảm sưu thuế, chăm sóc người nghèo.</p></li><li><p><strong>Cải cách hành chính</strong>: Bà có công chỉnh đốn lại bộ máy quan lại, thưởng phạt rõ ràng.</p></li></ul><p><strong>Bi kịch và nỗi đau riêng</strong></p><p>Tuy là người phụ nữ quyền lực và được nhân dân quý mến, nhưng cuộc đời Ỷ Lan cũng có nỗi đau. Một trong những bi kịch lớn là bà bị cho là đã có phần liên quan đến cái chết của Thái hậu Thượng Dương – vợ chính của vua Thánh Tông – người bị xử chết cùng 76 cung nữ sau khi vua qua đời. Việc này khiến danh tiếng bà bị ảnh hưởng và vẫn còn gây tranh cãi trong sử sách.</p><p><strong>Qua đời và tưởng niệm</strong></p><p>Nguyên phi Ỷ Lan mất năm 1117, hưởng thọ khoảng 73 tuổi. Bà được an táng tại quê nhà và nhân dân lập đền thờ, gọi là <strong>Đền Ỷ Lan</strong>, nay vẫn còn tại xã Dương Xá, Gia Lâm.</p><p><strong>Kết luận</strong></p><p>Nguyên phi Ỷ Lan là hình mẫu của một người phụ nữ tài giỏi, bản lĩnh, có tầm nhìn xa và lòng nhân ái. Bà là minh chứng cho việc phụ nữ cũng có thể đảm đương trọng trách quốc gia, thậm chí còn làm rất tốt.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-04-20 03:02:52 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3416218522</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3416219898</link>
         <description><![CDATA[<p>Thánh Gióng là một trong <strong>tứ bất tử</strong> của tín ngưỡng dân gian Việt Nam, cùng với Sơn Tinh, Chử Đồng Tử và Liễu Hạnh. Câu chuyện về Thánh Gióng là biểu tượng cho tinh thần yêu nước, ý chí quật cường và sức mạnh kỳ diệu của dân tộc Việt Nam. Dưới đây là phiên bản phổ biến, mang màu sắc huyền thoại:</p><p><strong>Sự ra đời kỳ lạ</strong></p><p>Ngày xưa, ở làng Phù Đổng (thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội ngày nay), có hai vợ chồng tuổi cao mà chưa có con. Một hôm, người vợ ra đồng, thấy một vết chân to kỳ lạ. Bà đặt chân mình vào thử, không ngờ về nhà thì có mang, sau đó sinh ra một cậu bé.</p><p>Nhưng lạ thay, cậu bé <strong>ba tuổi mà không biết nói, không biết cười, cũng chẳng biết đi</strong>, chỉ nằm một chỗ. Dân làng ai cũng thương hại, cha mẹ thì buồn rầu.</p><p><strong>Giặc Ân xâm lược – Sứ mệnh thần kỳ</strong></p><p>Một ngày kia, giặc Ân kéo quân sang xâm lược nước Nam. Vua sai sứ giả đi khắp nơi tìm người tài giúp nước.</p><p>Khi sứ giả đến làng Phù Đổng, cậu bé bỗng <strong>cất tiếng nói đầu tiên</strong>:</p><blockquote><p>"Mẹ ra gọi sứ giả vào đây cho con!"</p></blockquote><p>Ai cũng kinh ngạc! Gióng bảo sứ giả:</p><blockquote><p>"Về tâu với vua rèn cho ta một <strong>con ngựa sắt, một roi sắt và một áo giáp sắt</strong>, ta sẽ đánh giặc."</p></blockquote><p>Từ đó, cậu bé lớn nhanh như thổi. Mỗi bữa ăn hết cả nồi cơm, cả nong cà, khiến nhà nghèo không đủ nuôi, dân làng phải góp gạo nuôi Gióng.</p><p><strong>Lên đường đánh giặc</strong></p><p>Khi mọi thứ đã sẵn sàng, Gióng mặc áo giáp sắt, nhảy lên ngựa sắt, cầm roi vút lên trời, <strong>ngựa hí vang, phun ra lửa</strong>. Gióng phi ngựa ra trận, đánh tan quân Ân, tướng giặc bị tiêu diệt.</p><p>Khi roi sắt bị gãy, Gióng nhổ luôn bụi tre ven đường làm vũ khí – từ đó mà làng quê có tên là <strong>Tre Đà</strong> (nay là Sóc Sơn).</p><p><strong>Bay về trời</strong></p><p>Sau khi dẹp loạn, Gióng cưỡi ngựa lên đỉnh núi Sóc, <strong>cởi áo giáp, để lại vết chân khổng lồ</strong>, rồi <strong>cưỡi ngựa bay lên trời</strong>, hóa thành bất tử.</p><p><strong>Di tích và tưởng nhớ</strong></p><p>Người dân lập đền thờ ông gọi là <strong>Phù Đổng Thiên Vương</strong> – Vị vua trời sinh ra từ làng quê. Hằng năm, lễ hội Gióng được tổ chức ở nhiều nơi, nổi tiếng nhất là tại <strong>làng Phù Đổng</strong> và <strong>núi Sóc</strong>, tưởng nhớ công lao của người anh hùng thần thánh.</p><p><strong>Ý nghĩa</strong></p><ul><li><p><strong>Biểu tượng lòng yêu nước</strong>: Gióng là tinh thần quật cường, bất khuất trước giặc ngoại xâm.</p></li><li><p><strong>Hình ảnh đoàn kết dân tộc</strong>: Gióng lớn lên nhờ cơm gạo của cả làng – là sức mạnh của nhân dân nuôi dưỡng anh hùng.</p></li><li><p><strong>Tín ngưỡng dân gian</strong>: Gióng không chỉ là huyền thoại, mà còn là niềm tin tâm linh của người Việt.</p></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-04-20 03:05:38 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3416219898</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3416220438</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Nguyễn Văn Trỗi – Người thanh niên cảm tử vì Tổ quốc</strong></p><p><strong>Nguyễn Văn Trỗi</strong> sinh năm 1940, quê ở Quảng Nam, sau chuyển vào Sài Gòn sinh sống. Anh là một thợ điện bình thường, nhưng trái tim thì luôn nung nấu lòng yêu nước và căm thù giặc Mỹ.</p><p>Trong những năm 1960, miền Nam Việt Nam đang bị Mỹ chiếm đóng. Nguyễn Văn Trỗi tham gia <strong>Lực lượng Biệt động Sài Gòn</strong>, chuyên làm nhiệm vụ đặc biệt.</p><p><strong>Kế hoạch ám sát tướng Mỹ</strong></p><p>Năm 1964, anh nhận nhiệm vụ <strong>gài mìn ám sát Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ – Robert McNamara</strong>, người đang đến Sài Gòn thị sát. Anh chuẩn bị sẵn thuốc nổ dưới cầu Công Lý – nơi đoàn xe dự kiến sẽ đi qua.</p><p>Tuy nhiên, kế hoạch bị lộ. Anh bị bắt trước khi thực hiện. Chính quyền Sài Gòn khi đó đưa anh ra xử tử để răn đe, nhưng không ngờ <strong>Nguyễn Văn Trỗi đã trở thành biểu tượng của lòng quả cảm.</strong></p><p><strong>Lời nói bất hủ trước khi hy sinh</strong></p><p>Ngày 15/10/1964, tại pháp trường Chí Hòa, Nguyễn Văn Trỗi bị trói vào cột. Trước mũi súng quân thù, anh vẫn <strong>hiên ngang hô lớn</strong>:</p><blockquote><p>“<strong>Hãy nhớ lấy lời tôi – Đả đảo đế quốc Mỹ! Hồ Chí Minh muôn năm! Việt Nam muôn năm!</strong>”</p></blockquote><p>Anh <strong>đòi được tự mình trói tay lại</strong>, để tỏ rõ khí phách và không sợ chết.</p><p>Những lời cuối cùng ấy đã vang xa không chỉ trong lòng người dân Việt Nam, mà còn <strong>chấn động cả thế giới</strong>.</p><p><strong>Sau này...</strong></p><ul><li><p>Tên anh được đặt cho <strong>đường phố, trường học</strong> trên khắp cả nước.</p></li><li><p>Cuba – đất nước xa nửa vòng trái đất – đã lấy tên Nguyễn Văn Trỗi đặt cho <strong>một trường học ở Havana</strong>.</p></li><li><p>Anh trở thành <strong>biểu tượng sống của thế hệ thanh niên Việt Nam yêu nước</strong>.</p></li></ul><p><strong>Ý nghĩa</strong></p><p>Nguyễn Văn Trỗi không phải là một nhân vật huyền thoại, mà là một <strong>con người thực, bằng xương bằng thịt</strong>, dũng cảm hy sinh ở tuổi 24 vì đất nước.</p><p>Câu chuyện của anh nhắc chúng ta rằng:</p><ul><li><p>Lòng yêu nước không phân biệt nghề nghiệp, tuổi tác.</p></li><li><p>Một người bình thường cũng có thể trở thành người hùng nếu dám sống vì lý tưởng cao đẹp.</p></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-04-20 03:06:58 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3416220438</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3416221784</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Cô giáo cắm bản – Người mẹ thứ hai giữa đại ngàn</strong></p><p><strong>Hồ Quỳnh Hương</strong> sinh năm 1990, quê ở Quảng Trị. Sau khi tốt nghiệp trường Sư phạm, cô tình nguyện lên dạy học ở vùng cao <strong>xã Hướng Lập</strong>, huyện Hướng Hóa – một nơi heo hút giáp biên giới Lào, đường đi toàn rừng rậm và đá núi.</p><p><strong>Cuộc sống nơi "không sóng điện thoại"</strong></p><p>Ở bản Pa Nho, nơi cô được phân công dạy, <strong>không có điện, không có sóng điện thoại, không có đường xe máy vào mùa mưa</strong>. Muốn đến trường, cô phải đi bộ xuyên rừng, lội suối hơn 4 giờ đồng hồ. Có lần nước lũ về bất ngờ, cô suýt bị cuốn trôi khi đang băng qua suối để đến lớp.</p><p>Lớp học chỉ là một <strong>mái lều lợp tạm bằng tôn</strong>, tường ghép gỗ thô sơ. Bàn ghế xiêu vẹo, học trò <strong>không dép, không áo ấm</strong>, nhiều em đến lớp với cái bụng đói.</p><p><strong>Nhưng cô không bỏ cuộc</strong></p><p>Cô Hương <strong>vận động quyên góp</strong>, xin quần áo cũ, xin sách vở, vận chuyển từng món đồ nhỏ vào bản. Cô <strong>ở lại bản cả tuần, cả tháng</strong>, sống cùng bà con, dạy các em biết mặt chữ, dạy cả kỹ năng sống, giữ vệ sinh cá nhân, và cả… hát quốc ca.</p><p>Nhiều học sinh của cô, lần đầu tiên biết <strong>thế nào là ước mơ</strong>. Có em nói:</p><blockquote><p>"Lớn lên con muốn làm cô giáo, như cô Hương…"</p></blockquote><p><strong>Được vinh danh nhưng vẫn giản dị</strong></p><p>Năm 2021, cô Hồ Quỳnh Hương được <strong>vinh danh là “Nhà giáo trẻ tiêu biểu toàn quốc”</strong>, nhưng khi được hỏi, cô chỉ cười:</p><blockquote><p>"Em thấy mình vẫn chưa làm được gì nhiều. Chỉ mong các em không phải bỏ học giữa chừng…"</p></blockquote><p><strong>Ý nghĩa câu chuyện</strong></p><ul><li><p>Đây là minh chứng cho <strong>sức mạnh của giáo dục và lòng yêu thương con người</strong>.</p></li><li><p>Một cô giáo trẻ, không chọn cuộc sống nơi thành phố mà dấn thân vào nơi khó khăn nhất – tất cả vì <strong>tương lai của học trò nghèo</strong>.</p></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-04-20 03:10:23 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3416221784</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3416222018</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Nguyễn Hữu Tiến – Cậu học trò bán vé số giành huy chương quốc tế</strong></p><p>Nguyễn Hữu Tiến sinh ra trong một gia đình nghèo tại <strong>Long An</strong>. Cha em mất sớm vì tai nạn giao thông, mẹ em qua đời khi em học cấp 2 vì bệnh ung thư. Từ đó, <strong>em mồ côi cả cha lẫn mẹ</strong>, sống nhờ ông bà nội đã già yếu.</p><p><strong>Vừa học, vừa mưu sinh</strong></p><p>Để có tiền đi học, em Tiến <strong>bán vé số mỗi ngày, làm thuê, phụ hồ, nhặt ve chai</strong>. Buổi sáng đi học, buổi chiều đi bán vé số đến tối. Có hôm đi bộ mấy cây số chỉ để bán vài tờ vé số kiếm vài chục ngàn đồng.</p><p>Dù cuộc sống khó khăn, Tiến <strong>chưa từng bỏ học buổi nào</strong>. Em luôn đứng đầu lớp, đặc biệt giỏi môn Hóa học – thầy cô gọi là “cậu bé vàng của môn Hóa”.</p><p><strong>Bước ngoặt kỳ diệu</strong></p><p>Năm lớp 12, Tiến tham gia kỳ thi học sinh giỏi quốc gia và <strong>đoạt giải Nhất môn Hóa học</strong>. Từ đó, em được chọn vào đội tuyển Việt Nam thi <strong>Olympic Hóa học quốc tế</strong>.</p><p>Mọi người đều xúc động khi thấy một <strong>cậu học trò đi dép lê, áo sơ mi bạc màu</strong>, tay cầm cuốn sách cũ nát… lại chính là người đại diện Việt Nam đi thi quốc tế.</p><p>Kết quả: <strong>Nguyễn Hữu Tiến giành Huy chương Bạc Olympic Hóa học quốc tế</strong> năm đó.</p><p><strong>Từ vé số đến giảng đường mơ ước</strong></p><p>Sau khi giành huy chương, em được nhiều trường đại học danh tiếng trao học bổng. Cuối cùng, Tiến chọn <strong>Trường Đại học Y Hà Nội</strong>, với ước mơ trở thành bác sĩ, để <strong>chữa bệnh cho người nghèo như mẹ em năm xưa</strong>.</p><p>Hiện tại, Tiến vẫn đang học tập, làm thêm, sống khiêm tốn và tiếp tục giúp đỡ các em nhỏ khó khăn khác.</p><p><strong>Ý nghĩa</strong></p><ul><li><p>Câu chuyện của Nguyễn Hữu Tiến là biểu tượng của <strong>nghị lực sống</strong>, <strong>niềm tin và khát vọng vươn lên</strong>, bất chấp hoàn cảnh nghèo khổ.</p></li><li><p>Nó nhắc ta rằng: <strong>Không ai chọn được nơi mình sinh ra, nhưng có thể chọn cách mình sống</strong>.</p></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-04-20 03:11:20 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3416222018</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3416223222</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Bác sĩ Kiều Trinh – “Chiến binh áo trắng” nơi tâm dịch</strong></p><p><strong>Đinh Thị Kiều Trinh</strong> là một bác sĩ trẻ quê ở Đồng Tháp, công tác tại Bệnh viện đa khoa Sa Đéc. Khi dịch COVID-19 bùng phát dữ dội ở TP.HCM năm 2021, hàng nghìn ca bệnh nặng mỗi ngày, cô đã <strong>tình nguyện rời quê, gác lại mọi thứ để lên đường ra tâm dịch</strong>.</p><p><strong>"Em chỉ muốn góp chút sức mình"</strong></p><p>Khi được hỏi lý do, cô chỉ nói:</p><blockquote><p>“Em là bác sĩ, em không thể đứng nhìn. Em chỉ muốn góp chút sức mình…”</p></blockquote><p>Dù biết nguy hiểm, có thể nhiễm bệnh, thậm chí mất mạng, cô vẫn lên đường với <strong>một chiếc balo nhỏ</strong>, mang theo ít quần áo, một cuốn sổ tay và ảnh gia đình.</p><p><strong>Những ngày ở tuyến đầu</strong></p><p>Tại Bệnh viện dã chiến số 6 (TP.HCM), bác sĩ Trinh <strong>làm việc 12-14 tiếng mỗi ngày</strong>, mặc đồ bảo hộ suốt nhiều giờ liền, ăn cơm hộp, ngủ tạm trên ghế nhựa.</p><p>Có lần, cô ngất xỉu ngay trong ca trực vì quá mệt, nhưng khi tỉnh lại, lại tiếp tục công việc như chưa hề có gì xảy ra.<br>Cô từng <strong>nắm tay bệnh nhân hấp hối, dỗ dành họ bình tĩnh</strong>, từng <strong>bật khóc khi phải báo tin buồn cho gia đình</strong>, và từng <strong>cười òa vì vui sướng khi thấy một bệnh nhân được xuất viện</strong>.</p><p><strong>Và ngày trở về...</strong></p><p>Sau gần 3 tháng ở tuyến đầu, khi dịch đã bớt căng thẳng, cô mới trở về. Nhưng không về nhà ngay, cô <strong>cách ly thêm 21 ngày để đảm bảo an toàn cho người thân</strong>.</p><p>Khi gặp lại mẹ, hai mẹ con chỉ <strong>ôm nhau khóc không nói nên lời</strong>.</p><p><strong>Hình ảnh đẹp, truyền cảm hứng</strong></p><p>Hình ảnh bác sĩ Kiều Trinh, nhỏ nhắn trong bộ đồ bảo hộ ướt đẫm mồ hôi, vẫn luôn nở nụ cười với bệnh nhân, đã trở thành <strong>biểu tượng đẹp về lòng dũng cảm, sự hy sinh và tình người trong đại dịch</strong>.</p><p><strong>Ý nghĩa câu chuyện</strong></p><ul><li><p>Không phải người hùng nào cũng mang áo choàng. Có những người hùng <strong>mặc áo blouse trắng</strong>, lặng lẽ chiến đấu giữa đời thường.</p></li><li><p>Câu chuyện của bác sĩ Kiều Trinh là lời nhắc nhở về <strong>lòng nhân ái, tinh thần cống hiến và niềm tin vào điều tốt đẹp</strong></p></li></ul>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-04-20 03:12:10 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3416223222</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3416223459</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Cô lao công và giấc mơ học đại học cho 4 người con</strong></p><p>Chị <strong>Nguyễn Thị Thu</strong> là công nhân vệ sinh môi trường ở quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Mỗi ngày, chị làm việc từ 5 giờ chiều đến 3 giờ sáng hôm sau, cần mẫn với chiếc xe rác nặng trĩu giữa phố xá sầm uất.</p><p>Nhưng ít ai biết, sau lớp áo đồng phục đầy bụi bặm đó là <strong>một người mẹ phi thường</strong>, <strong>một mình nuôi 4 đứa con học đại học</strong> – điều tưởng chừng như không thể.</p><p><strong>Chồng mất sớm, gồng gánh cả gia đình</strong></p><p>Chồng chị mất sớm vì bạo bệnh, để lại chị và 4 đứa con thơ. Một mình chị phải lo tất cả. Ban ngày làm thuê, ban đêm đẩy xe rác.</p><p>Có hôm trời mưa lạnh tê buốt, chị ướt sũng cả người, tay run lập cập, nhưng vẫn không bỏ ca.</p><blockquote><p>“Nếu nghỉ, ai sẽ lo tiền học cho các con?” – chị cười hiền nói.</p></blockquote><p><strong>Tự hào về những đứa con hiếu học</strong></p><p>Dù nghèo, chị dạy các con phải <strong>sống tử tế, học hành chăm chỉ để thoát nghèo</strong>. Và đúng như kỳ vọng, <strong>cả 4 người con của chị đều đỗ đại học</strong> – trong đó có người học Bách Khoa, có người trở thành bác sĩ.</p><p>Các con của chị luôn ghi nhớ:</p><blockquote><p>“Chúng con đi học là đi bằng những đêm mẹ đẩy xe rác, bằng những bữa cơm rau muối mẹ tằn tiện từng đồng.”</p></blockquote><p><strong>Khi câu chuyện lan tỏa</strong></p><p>Câu chuyện của chị Thu được chia sẻ trên mạng xã hội và truyền hình, khiến nhiều người rơi nước mắt. Nhiều người gọi chị là</p><blockquote><p>“<strong>Người mẹ Việt Nam hiện đại – không cần huy chương mà vẫn là anh hùng</strong>.”</p></blockquote><p>Chị không nhận mình là đặc biệt.</p><blockquote><p>“Tôi chỉ là người mẹ muốn lo cho con đến nơi đến chốn…”</p></blockquote><p><strong>Ý nghĩa câu chuyện</strong></p><ul><li><p>Cô Thu là hình ảnh đẹp về <strong>người phụ nữ Việt Nam chịu thương chịu khó, hy sinh vì con cái</strong>.</p></li><li><p>Câu chuyện nhắc ta: <strong>hạnh phúc không nằm ở vật chất, mà ở nghị lực, ở tình yêu thương và ý chí vươn lên.</strong></p></li></ul><p>Mỗi con người là một câu chuyện. Và ở khắp Việt Nam này, vẫn còn bao người như cô Thu – lặng lẽ sống, nhưng tỏa sáng bằng tình yêu, hy vọng và nghị lực.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-04-20 03:13:09 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3416223459</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3423516201</link>
         <description><![CDATA[<p><strong>Câu chuyện của em bé Nguyễn Hữu Đăng Khoa – cậu bé giữ lời hứa với mẹ</strong></p><p>Nguyễn Hữu Đăng Khoa là một học sinh nghèo ở tỉnh An Giang. Năm 2018, mẹ của Khoa bị bệnh nặng và qua đời khi Khoa đang học lớp 6. Trước khi mất, mẹ dặn Khoa rằng: <em>“Con phải ráng học, học thật giỏi để có tương lai, để mẹ yên lòng.”</em></p><p>Kể từ đó, Khoa sống với ông bà ngoại, hoàn cảnh rất khó khăn, nhưng em chưa từng bỏ học hay nản lòng. Mỗi ngày, Khoa thức dậy từ 4 giờ sáng, phụ bà bán vé số, rồi mới đến trường. Dù vất vả, Khoa luôn là học sinh giỏi, đạt nhiều giải thưởng học sinh xuất sắc của trường và tỉnh.</p><p>Đặc biệt, năm lớp 9, Khoa đoạt giải Nhất kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh môn Toán. Em chia sẻ rằng mình luôn nhớ lời mẹ dặn, và mỗi lần mệt mỏi hay muốn bỏ cuộc, em lại tưởng tượng mẹ đang mỉm cười và nói: <em>“Cố lên con.”</em></p><p>Câu chuyện của Khoa đã lan tỏa khắp mạng xã hội, truyền cảm hứng cho nhiều học sinh khác, và là minh chứng cho lòng hiếu thảo, ý chí vượt khó và tình yêu gia đình sâu sắc.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-04-24 14:44:40 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3423516201</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3440118001</link>
         <description><![CDATA[<p>Mình sẽ kể câu chuyện Thánh Gióng</p><p><strong>Truyền thuyết Thánh Gióng - Truyện cổ tích thần kỳ</strong></p><p><strong><em>Đời Hùng Vương thứ Sáu. Có một người đàn bà đã 60 tuổi. Một hôm bà đặt chân vào một vết chân rất to lớn sau đó về nhà bà có thai. Bà sinh ra một đứa con trai đặt tên là Gióng lên ba vẫn không biết nói. Nhưng khi nghe sứ giả tìm người đánh giặc thì tự nhiên nói với mẹ mời sứ giả đến. Lúc ấy gióng thành người to lớn ăn bao nhiêu cũng không đủ. Sau đó ra trận đánh giặc khi đã đủ những thứ dặn dò sứ giả mang đến.&nbsp;Đánh tan giặc, Gióng trút bỏ quần áo bay thẳng lên trời.</em></strong></p><p>Vào thời vua Hùng Vương có một người đàn bà đã nhiều tuổi nhưng sống một mình. Như thường lệ, một buổi sáng dậy bà đi thăm nương, bỗng nhìn thấy một vết chân giẫm nát cả mấy luống cà của mình. Nhìn vết chân bà ngạc nhiên kêu lớn: – “Chao ôi! Bàn chân ai mà to thế này!”.&nbsp;</p><p><br></p><p>Tò mò nên bà đưa chân vào ướm thử vết chân lạ kia, bỗng bà cảm thấy rùng mình khi đưa bàn chân ướm thử vào dấu chân lạ. Và từ đó bà có mang. Đủ ngày tháng, bà sinh được một đứa con trai bụ bẫm đặt tên là Gióng. Nhưng thằng bé đã lên ba tuổi rồi mà vẫn nằm ngửa đòi ăn, không biết ngồi biết lẫy, cũng không biết nói hay biết cười.</p><p><br></p><p>Bấy giờ có giặc Ân kéo vào cướp nước ta. Giặc Ân rất hung tàn, cầm đầu là một viên tướng tên gọi Ân vương. Chúng đi đến đâu là đốt phá nhà cửa, giết người cướp của đến đấy. Quân đội Hùng Vương nhiều phen xuất trận, nhưng đánh không nổi lại chúng. Vua Hùng lấy làm lo lắng vội phái sứ giả đi khắp nơi trong nước tìm tướng tài để giúp vua cứu nước.</p><p>Một hôm sứ giả đi đến làng chú bé Gióng. Nghe tiếng loa rao nói đến việc nhà vua cầu người tài, bà mẹ Gióng đang ru con, liền bảo đùa con rằng:</p><p>– Con ơi! Con của mẹ chậm đi chậm nói thì biết bao giờ mới đi đánh giặc giúp vua được đây!</p><p>Không ngờ Gióng nhìn mẹ mở miệng bật lên thành tiếng:</p><p>– Mẹ cho gọi sứ giả vào đây cho con!</p><p>Nói xong lại im bặt. Bà mẹ vừa mừng vừa sợ, vội đi kể chuyện với xóm giềng. Mọi người tới nhà ai nấy cho là một sự lạ. Sau cùng một người nói:</p><p>– Ta cứ đi mời sứ giả đến xem thử nó muốn cái gì.</p><p>Khi sứ giả của nhà vua bước vào nhìn thấy chú bé Gióng liền hỏi rằng:</p><p>– Mày là đứa trẻ lên ba mới học nói, mày định mời ta đến đây để làm gì?</p><p>Gióng trả lời rất chững chạc:</p><p>– Về bảo với nhà vua rèn cho ta một con ngựa sắt, một thanh gươm sắt, một giáp sắt và một nón sắt, ta sẽ đánh đuổi giặc dữ cho!</p><p>Ai nấy đứng nghe khôn xiết lạ lùng. Cho là thần nhân xuất hiện, sứ giả lập tức phi ngựa về tâu với nhà vua. Nghe nói, Hùng Vương mừng rỡ liền ra lệnh cho thợ rèn góp tất cả sắt lại rèn ngựa, gươm, áo giáp và nón như lời xin của chú bé. Mọi thứ rèn đã xong nặng không thể tưởng tượng nổi. Hàng chục người mó vào thanh gươm mà không nhúc nhích. Vua Hùng phải cho hàng ngàn quân sĩ tìm mọi cách để chở đến cho chú bé Gióng.</p><p><br></p><p>Khi được tin quân sĩ khiêng ngựa sắt sắp đến làng, mẹ Gióng sợ hãi chạy về bảo con:</p><p>– Con ơi! Việc nhà vua đâu phải là chuyện chơi. Hiện quân sĩ đang kéo đến ầm ầm ngoài bãi rồi, biết làm thế nào bây giờ con?</p><p>Nghe nói thế, Gióng vụt ngồi dậy, nói:</p><p>– Việc đánh giặc thì mẹ đừng lo. Nhưng mẹ phải cho con ăn thật nhiều mới được!</p><p>Mẹ vội thổi cơm cho con ăn, nhưng cứ nấu lên được nồi nào Gióng ngốn hết ngay nồi ấy. Mỗi lần ăn một nồi cơm thì Gióng lại lớn thêm một ít và đòi ăn thêm. Mẹ càng cho con ăn thì con lại càng lớn như thổi, bỗng chốc đã thành một chàng thanh niên vô cùng khỏe mạnh. Hết gạo, bà mẹ đi kêu gọi xóm làng. Mọi người nô nức đem gạo khoai, trâu, rượu, hoa quả, bánh trái mang đến đầy một sân. Nhưng đưa đến bao nhiêu thì Gióng ăn vợi hết bấy nhiêu, mà vẫn đòi ăn không nghỉ.</p><p><br></p><p>Sau đó, Gióng lại bảo tiếp:</p><p>– Mẹ kiếm vải cho con mặc.</p><p>Người ta lại đua nhau mang vải lụa tới may áo quần cho Gióng mặc. Nhưng thân thể Gióng lớn vượt trội một cách kỳ lạ, áo quần vừa may xong đã thấy chật, thấy ngắn, lại phải mang vải lụa tới để chắp nối thêm. Không mấy chốc đầu Gióng đã chạm đến nóc nhà. Ai nấy chưa hết kinh ngạc thì vừa lúc quân sĩ đã hì hục khiêng được ngựa, gươm, áo giáp và nón sắt tới. Gióng bước ra khỏi nhà vươn vai một cái, người bỗng cao to sừng sững, chân dài hơn trượng, hét lên một tiếng như tiếng sấm:</p><p>– Ta là tướng nhà Trời!</p><p>Thế rồi Gióng mặc giáp sắt, đội nón sắt, tay cầm gươm múa quanh mấy vòng. Đoạn từ biệt mẹ và dân làng, nhảy lên lưng ngựa. Ngựa sắt bỗng chồm lên, phun thẳng ra đằng trước một luồng lửa đỏ rực. Gióng thúc chân, ngựa phi như bay, sải từng bước dài hàng chục con sào. Chỉ trong chớp mắt, ngựa đã xông đến đồn trại giặc đang đóng la liệt cả mấy khu rừng. Lưỡi gươm của Gióng vung lên loang loáng như chớp giật. Quân giặc xông ra chừng nào chết chừng ấy. Ngựa thét ra lửa thiêu cháy từng dãy đồn trại, lửa thiêu luôn cả mấy khu rừng.</p><p><br></p><p>Nhưng tướng giặc Ân vương vẫn còn cố gào thét hô quân xáp tới, Gióng càng đánh càng khỏe, thây giặc nằm ngổn ngang. Bỗng chốc gươm gãy, Gióng không chút bối rối, thuận tay nhổ những bụi tre hai bên đường quật tới tấp vào các toán giặc đang cố gắng trụ lại theo lệnh chủ tướng. Chẳng mấy chốc quân giặc đã tẩu tán bỏ chạy khắp nơi, Ân vương bị quật chết tan xác. Bọn tàn binh giặc lạy lục xin hàng. Quân đội của Hùng Vương cũng như dân các làng chỉ còn việc xông ra trói chúng lại. Không đầy một buổi, Gióng đã trừ xong nạn cho nước nhà. Lúc bấy giờ ngựa Gióng đã tiến đến chân núi Sóc Sơn. Đến đây, Gióng bèn cởi giáp bỏ nón lại, rồi cả người lẫn ngựa bay thẳng lên trời.</p><p>Sau khi thắng trận, để nhớ ơn người anh hùng, vua Hùng sai lập đền thờ Gióng ở làng quê, phong làm Phù Đổng thiên vương.</p><p><br></p><p>Ngày nay chúng ta còn thấy vẫn còn những dấu vết như dãy ao tròn nối nhau kéo dài suốt từ Kim Anh, Đa Phúc cho đến Sóc Sơn, người ta bảo đó là những vết chân ngựa của Thánh Gióng. Khu rừng bị ngựa sắt phun lửa thiêu cháy nay còn mang cái tên là làng Cháy. Những cây tre mà Gióng đã nhổ quật vào giặc bị lửa đốt màu xanh ngả thành màu vàng và có những vết cháy lốm đốm, ngày nay giống ấy vẫn còn, người ta gọi là tre là ngà (hay đằng ngà).</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-05-07 14:57:59 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3440118001</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3440121376</link>
         <description><![CDATA[<p>Mình sẽ kể câu chuyện Thánh Gióng</p><p><strong>Truyền thuyết Thánh Gióng - Truyện cổ tích thần kỳ</strong></p><p><strong><em>Đời Hùng Vương thứ Sáu. Có một người đàn bà đã 60 tuổi. Một hôm bà đặt chân vào một vết chân rất to lớn sau đó về nhà bà có thai. Bà sinh ra một đứa con trai đặt tên là Gióng lên ba vẫn không biết nói. Nhưng khi nghe sứ giả tìm người đánh giặc thì tự nhiên nói với mẹ mời sứ giả đến. Lúc ấy gióng thành người to lớn ăn bao nhiêu cũng không đủ. Sau đó ra trận đánh giặc khi đã đủ những thứ dặn dò sứ giả mang đến.&nbsp;Đánh tan giặc, Gióng trút bỏ quần áo bay thẳng lên trời.</em></strong></p><p>Vào thời vua Hùng Vương có một người đàn bà đã nhiều tuổi nhưng sống một mình. Như thường lệ, một buổi sáng dậy bà đi thăm nương, bỗng nhìn thấy một vết chân giẫm nát cả mấy luống cà của mình. Nhìn vết chân bà ngạc nhiên kêu lớn: – “Chao ôi! Bàn chân ai mà to thế này!”.&nbsp;</p><p><br/></p><p>Tò mò nên bà đưa chân vào ướm thử vết chân lạ kia, bỗng bà cảm thấy rùng mình khi đưa bàn chân ướm thử vào dấu chân lạ. Và từ đó bà có mang. Đủ ngày tháng, bà sinh được một đứa con trai bụ bẫm đặt tên là Gióng. Nhưng thằng bé đã lên ba tuổi rồi mà vẫn nằm ngửa đòi ăn, không biết ngồi biết lẫy, cũng không biết nói hay biết cười.</p><p><br/></p><p>Bấy giờ có giặc Ân kéo vào cướp nước ta. Giặc Ân rất hung tàn, cầm đầu là một viên tướng tên gọi Ân vương. Chúng đi đến đâu là đốt phá nhà cửa, giết người cướp của đến đấy. Quân đội Hùng Vương nhiều phen xuất trận, nhưng đánh không nổi lại chúng. Vua Hùng lấy làm lo lắng vội phái sứ giả đi khắp nơi trong nước tìm tướng tài để giúp vua cứu nước.</p><p>Một hôm sứ giả đi đến làng chú bé Gióng. Nghe tiếng loa rao nói đến việc nhà vua cầu người tài, bà mẹ Gióng đang ru con, liền bảo đùa con rằng:</p><p>– Con ơi! Con của mẹ chậm đi chậm nói thì biết bao giờ mới đi đánh giặc giúp vua được đây!</p><p>Không ngờ Gióng nhìn mẹ mở miệng bật lên thành tiếng:</p><p>– Mẹ cho gọi sứ giả vào đây cho con!</p><p>Nói xong lại im bặt. Bà mẹ vừa mừng vừa sợ, vội đi kể chuyện với xóm giềng. Mọi người tới nhà ai nấy cho là một sự lạ. Sau cùng một người nói:</p><p>– Ta cứ đi mời sứ giả đến xem thử nó muốn cái gì.</p><p>Khi sứ giả của nhà vua bước vào nhìn thấy chú bé Gióng liền hỏi rằng:</p><p>– Mày là đứa trẻ lên ba mới học nói, mày định mời ta đến đây để làm gì?</p><p>Gióng trả lời rất chững chạc:</p><p>– Về bảo với nhà vua rèn cho ta một con ngựa sắt, một thanh gươm sắt, một giáp sắt và một nón sắt, ta sẽ đánh đuổi giặc dữ cho!</p><p>Ai nấy đứng nghe khôn xiết lạ lùng. Cho là thần nhân xuất hiện, sứ giả lập tức phi ngựa về tâu với nhà vua. Nghe nói, Hùng Vương mừng rỡ liền ra lệnh cho thợ rèn góp tất cả sắt lại rèn ngựa, gươm, áo giáp và nón như lời xin của chú bé. Mọi thứ rèn đã xong nặng không thể tưởng tượng nổi. Hàng chục người mó vào thanh gươm mà không nhúc nhích. Vua Hùng phải cho hàng ngàn quân sĩ tìm mọi cách để chở đến cho chú bé Gióng.</p><p><br/></p><p>Khi được tin quân sĩ khiêng ngựa sắt sắp đến làng, mẹ Gióng sợ hãi chạy về bảo con:</p><p>– Con ơi! Việc nhà vua đâu phải là chuyện chơi. Hiện quân sĩ đang kéo đến ầm ầm ngoài bãi rồi, biết làm thế nào bây giờ con?</p><p>Nghe nói thế, Gióng vụt ngồi dậy, nói:</p><p>– Việc đánh giặc thì mẹ đừng lo. Nhưng mẹ phải cho con ăn thật nhiều mới được!</p><p>Mẹ vội thổi cơm cho con ăn, nhưng cứ nấu lên được nồi nào Gióng ngốn hết ngay nồi ấy. Mỗi lần ăn một nồi cơm thì Gióng lại lớn thêm một ít và đòi ăn thêm. Mẹ càng cho con ăn thì con lại càng lớn như thổi, bỗng chốc đã thành một chàng thanh niên vô cùng khỏe mạnh. Hết gạo, bà mẹ đi kêu gọi xóm làng. Mọi người nô nức đem gạo khoai, trâu, rượu, hoa quả, bánh trái mang đến đầy một sân. Nhưng đưa đến bao nhiêu thì Gióng ăn vợi hết bấy nhiêu, mà vẫn đòi ăn không nghỉ.</p><p><br/></p><p>Sau đó, Gióng lại bảo tiếp:</p><p>– Mẹ kiếm vải cho con mặc.</p><p>Người ta lại đua nhau mang vải lụa tới may áo quần cho Gióng mặc. Nhưng thân thể Gióng lớn vượt trội một cách kỳ lạ, áo quần vừa may xong đã thấy chật, thấy ngắn, lại phải mang vải lụa tới để chắp nối thêm. Không mấy chốc đầu Gióng đã chạm đến nóc nhà. Ai nấy chưa hết kinh ngạc thì vừa lúc quân sĩ đã hì hục khiêng được ngựa, gươm, áo giáp và nón sắt tới. Gióng bước ra khỏi nhà vươn vai một cái, người bỗng cao to sừng sững, chân dài hơn trượng, hét lên một tiếng như tiếng sấm:</p><p>– Ta là tướng nhà Trời!</p><p>Thế rồi Gióng mặc giáp sắt, đội nón sắt, tay cầm gươm múa quanh mấy vòng. Đoạn từ biệt mẹ và dân làng, nhảy lên lưng ngựa. Ngựa sắt bỗng chồm lên, phun thẳng ra đằng trước một luồng lửa đỏ rực. Gióng thúc chân, ngựa phi như bay, sải từng bước dài hàng chục con sào. Chỉ trong chớp mắt, ngựa đã xông đến đồn trại giặc đang đóng la liệt cả mấy khu rừng. Lưỡi gươm của Gióng vung lên loang loáng như chớp giật. Quân giặc xông ra chừng nào chết chừng ấy. Ngựa thét ra lửa thiêu cháy từng dãy đồn trại, lửa thiêu luôn cả mấy khu rừng.</p><p><br/></p><p>Nhưng tướng giặc Ân vương vẫn còn cố gào thét hô quân xáp tới, Gióng càng đánh càng khỏe, thây giặc nằm ngổn ngang. Bỗng chốc gươm gãy, Gióng không chút bối rối, thuận tay nhổ những bụi tre hai bên đường quật tới tấp vào các toán giặc đang cố gắng trụ lại theo lệnh chủ tướng. Chẳng mấy chốc quân giặc đã tẩu tán bỏ chạy khắp nơi, Ân vương bị quật chết tan xác. Bọn tàn binh giặc lạy lục xin hàng. Quân đội của Hùng Vương cũng như dân các làng chỉ còn việc xông ra trói chúng lại. Không đầy một buổi, Gióng đã trừ xong nạn cho nước nhà. Lúc bấy giờ ngựa Gióng đã tiến đến chân núi Sóc Sơn. Đến đây, Gióng bèn cởi giáp bỏ nón lại, rồi cả người lẫn ngựa bay thẳng lên trời.</p><p>Sau khi thắng trận, để nhớ ơn người anh hùng, vua Hùng sai lập đền thờ Gióng ở làng quê, phong làm Phù Đổng thiên vương.</p><p><br/></p><p>Ngày nay chúng ta còn thấy vẫn còn những dấu vết như dãy ao tròn nối nhau kéo dài suốt từ Kim Anh, Đa Phúc cho đến Sóc Sơn, người ta bảo đó là những vết chân ngựa của Thánh Gióng. Khu rừng bị ngựa sắt phun lửa thiêu cháy nay còn mang cái tên là làng Cháy. Những cây tre mà Gióng đã nhổ quật vào giặc bị lửa đốt màu xanh ngả thành màu vàng và có những vết cháy lốm đốm, ngày nay giống ấy vẫn còn, người ta gọi là tre là ngà (hay đằng ngà).</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-05-07 15:00:01 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3440121376</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3440125254</link>
         <description><![CDATA[<p>Đây là video kể chuyện về Bác Hồ cảm động</p><p><br/></p>]]></description>
         <enclosure url="https://www.youtube.com/watch?pdlt=1&amp;v=9asTi8RQYQ8" />
         <pubDate>2025-05-07 15:02:33 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3440125254</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3440127860</link>
         <description><![CDATA[<p>HiHiHiHiHi</p><p>Mình sẽ kể câu chuyện Cóc kiện trời</p><p>Thủa xa xưa, Ngọc Hoàng cai quản tất cả các việc trên trời và dưới đất. Ngọc Hoàng giao cho thần Mưa chịu trách nhiệm làm mưa cho tất cả các con vật và cây cỏ có nước uống.</p><p>Nhưng đã ba năm nay, không có một giọt mưa nào. Khắp nơi đất đai nứt nẻ, cây cỏ khát nước chết rụi, các con thú cũng chết dần chết mòn vì khát. Muôn loài đều kêu than ai oán, vậy mà trời đâu có thấu.</p><p>Một hôm, các con vật họp bàn nhau lại, chúng quyết định cử Cóc lên gặp Ngọc Hoàng. Cùng đi với Cóc có Cáo, Gấu và Cọp.</p><p>Bốn con vật đi mãi, cuối cùng cũng lên đến cửa nhà trời. Ở cửa có đặt cái trống rất to. Theo tục lệ nếu ai có điều gì oan ức thì đánh trống lên. Ngọc Hoàng sẽ ra giải quyết. Cóc bảo Cáo, Gấu, Cọp nấp vào bụi rậm, còn Cóc thì nhảy lên đánh trống inh ỏi.</p><p>Ngọc Hoàng nghe tiếng trống liền sai một thiên thần ra nhìn xem ai. Thiên thần bước ra nhìn ngược, nhìn xuôi mãi cũng không thấy ai, chỉ thấy con Cóc bé nhỏ ngồi trên trống. Khi biết Cóc có ý định gặp Ngọc Hoàng để kêu oan, thiên thần tỏ ý khinh bỉ Cóc, lẳng lặng đi vào và thưa với Ngọc Hoàng.</p><p>- Thưa Ngọc Hoàng, kẻ dám cả gan đánh trống ầm ĩ nhà trời là một con Cóc bé tí, xấu xí khinh khủng, thần hỏi nó đi đâu, nó nói lên Ngọc Hoàng để kiện.</p><p>Ngọc Hoàng nghe thiên thần nói như vậy thì lấy làm giận lắm, bèn sai bầy Gà ra mổ Cóc. Nhưng bầy Gà vừa ló khỏi cửa, Cóc ra hiệu cho Cáo từ bụi rậm xong ra vồ gà.</p><p>Biết Gà bị Cáo vồ mất, Ngọc Hoàng liền sai Chó ra giết Cáo. Chó chạy ra chỉ kịp sủa “Gâu gâu gâu ” mấy tiếng đã bị Gấu ra chộp lấy tha đi. Ngọc Hoàng lại sai một toán lính ra trị Gấu. Lần này, Cọp xông ra quật chết toán lính không còn sót một người nào.</p><p>Ngọc Hoàng không ngờ Cóc tuy bé nhỏ mà lại khó trị như vậy, Ngọc Hoàng đổi giận thành làm lành sai thiên thần ra mời Cóc vào. Ngọc Hoàng hỏi Cóc:</p><p>- “Cậu” lên đây có việc gì?</p><p>Cóc thưa:</p><p>- Muôn tâu Ngọc Hoàng, đã 3 năm nay chúng tôi không được một giọt mưa nào. Loài vật cử tôi lên đây để kiện trời, vì sao không làm mưa?</p><p>Ngọc Hoàng cho gọi thần mưa đến. Té ra thần Mưa mải rong chơi tối về đắp chiếu nằm ngủ, quên không làm mưa bị Ngọc Hoàng trách mắng, thần Mưa vội sai các con rồng phun nước ào ào xuống đất. Ngọc Hoàng đưa tiễn Cóc ra về và dặn:</p><p>- Từ nay về sau, nếu cần mưa thì Cóc nghiến răng ken két báo cho Ngọc Hoàng biết. Ta sẽ sai thần làm mưa ngay. Cóc không phải lên kiện trời nữa.</p><p>Cóc, Cáo, Gấu, Cọp từ biệt Ngọc Hoàng trở về dưới đất. Khi bốn con vật đến nơi thì thấy nước đã tràn đầy hồ, ao, sông, suối, cây cỏ, muôn loài uống nước thỏa thuê. Tất cả đều phục Cóc bé tí mà kiện được trời nên đặt ra câu hát:</p><p>“Con cóc là cậu ông trời</p><p>Hễ ai đánh Cóc thì trời đánh cho”.</p><p><br></p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-05-07 15:04:29 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3440127860</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3440150761</link>
         <description><![CDATA[<p>Mình sẽ kể về chiến dịch Hồ Chii Minh</p><p>Ngày xưa có một người con trai thần Long Nữ tên là Lạc Long Quân thuộc giống rồng. Thân ở dưới nước và ở cả trên cạn, sức khỏe vô địch, có nhiều phép lạ. Thần giúp dân trừ yêu quái, dạy dân cách trồng trọt, chăn nuôi và ăn ở. Ở vùng núi cao phương Bắc, có nàng Âu Cơ thuộc dòng hạ Thần Nông, xinh đẹp tuyệt trần. Nàng đến thăm vùng đất Lạc Việt có nhiều hoa thơm cỏ lại. Hai người gặp nhau, yêu nhau và trở thành vợ chồng.</p><p>Ít lâu sau Âu Cơ mang thai và sinh ra một cái bọc trăm trứng, nở ra trăm người con, người nào cũng đều hoàn hảo, đẹp lạ thường.</p><p>Lạc Long Quân vì nhớ mẹ và không quen ở trên cạn nên đành từ biệt Âu Cơ và đàn con trở về Thuỷ Cung.</p><p>Âu Cơ ở lại nuôi đàn con, tháng ngày chờ đợi Lạc Long Quân trở lại, nhưng nỗi nhớ chồng khiến nàng buồn tủi. Cuối cùng nàng gọi chồng lên than thở:</p><p>- Sao chàng đành bỏ thiếp mà đi, không cùng thiếp nuôi đàn con nhỏ?</p><p>Lạc Long Quân nói:</p><p>- Ta vốn ở miền nước thẳm, nàng thì ở chốn núi cao, nhiều điều khác nhau, khó mà ở cùng nhau một nơi được lâu dài được. Nay ta đưa năm mươi con xuống biển, nàng đưa năm mươi con lên núi, chia nhau cai quản các phương. Khi có việc gì cần giúp đỡ lẫn nhau, đừng quên lời hẹn, đây là giao ước của vợ chồng, con cái.</p><p>Âu Cơ ưng thuận. Trước khi đưa năm mươi con lên núi, nàng nói với chồng:</p><p>- Thiếp xin nghe lời chàng. Vợ chồng ta đã sống với nhau thắm thiết, nay phải chia hai, lòng thiếp thật là đau xót.</p><p>Lạc Long Quân củng cố nén nỗi buồn trong buổi chia li, chàng khuyên giải vợ:</p><p>- Tuy xa nhau nhưng tình cảm đôi ta không hề phai nhạt, khi nào cần chúng ta lại gặp nhau.</p><p>Âu Cơ vẫn quyến luyến, rồi buồn bã nói:</p><p>- Thiếp rất nhớ chàng và thương các con, biết đến khi nào chúng ta mới gặp nhau.</p><p>Lạc Long Quân nắm chặt tay vợ, an ủi:</p><p>- Nàng đừng làm mủi lòng ta. Xa nàng và các con lòng ta cũng đau lắm! Âu cũng là mệnh trời, mong nàng hiểu và cảm thông cùng ta.</p><p>Âu Cơ và các con nghe theo lời cùng nhau chia tay lên đường.</p><p>Lạc Long Quân và các con về nơi biển cả, Âu Cơ đưa các con về đất Phong Châu. Người con trưởng được tôn lên làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang.</p><p>Cũng bởi sự tích này mà người Việt Nam ta đều luôn tự hào mình là dòng dõi con Rồng cháu Tiên, coi tổ tiên mình là vua Hùng.</p><p><strong>Kể lại truyện Con Rồng cháu Tiên bằng lời văn của em - Mẫu 2</strong></p><p>Lạc Long Quân, là con trai của thần Long Nữ sống ở biển Đông. Ông là người có sức khỏe lạ thường và có nhiều phép thuật, Ông là người có đức độ, thần thường lên cạn để giúp dân diệt trừ yêu quái như Hồ Tinh, Mộc Tinh, Ngư Tinh... Thần còn dạy cách trồng trọt để xây dựng cuộc sống. Nhờ có thần mà con người có cuộc sống an bình.</p><p>Cùng thời điểm ấy có một nàng Tiên nữ tên là Âu Cơ, con của vị Thần Nông cai quản mặt đất cũng xuất hiện. Nàng là người xinh đẹp, tài sắc vẹn toàn. Rồi một ngày Âu Cơ và Lạc Long Quân đã tình cờ gặp nhau. Với tình yêu mãnh liệt của tuổi trẻ, bất chấp những khác biệt của hoàn cảnh, họ đem lòng yêu mến rồi kết duyên. Hai người đã nhanh chóng nên vợ thành chồng và cùng nhau sinh sống ở cung điện Long Trang.</p><p>Rồi niềm vui cũng nhanh chóng đến với hai người, Âu Cơ đã mang thai. Đến kỳ sinh nở, một điều kì lạ đã xảy ra, nàng sinh ra một cái bọc có trăm trứng. Rồi một điều còn lạ hơn nữa, từ trăm trứng trong bọc ấy nở thành trăm người con xinh đẹp và khỏe mạnh, chẳng cần bú mớm mà vẫn lớn nhanh như thổi. Mọi người rất đỗi vui mừng. Cung điện Long Trang thật yên bình, vui vẻ. Gia đình họ rất hạnh phúc, ấm êm.</p><p>Đang sống yên ổn một thời gian, Lạc Long Quân thấy nhớ quê nhà, nhớ mẹ già. Lúc nào cũng mong muốn được trở lại Thủy cung. Thần tạm biệt gia đình trở về với biển, về thăm mẹ và trị yêu quái chốn thủy cung. Âu Cơ sống trong sự chờ đợi, vò võ nuôi con suốt mấy năm liền.</p><p>Thời gian thấm thoát trôi nhanh, các con đã lớn nhưng nỗi nhớ chồng vẫn vò võ không nguôi, nàng ra biển gọi chồng. Nghe tiếng gọi của vợ, Lạc Long Quân lên cạn và cho gọi các con lại phân giải rằng:</p><p>- Ta và mẹ các con người nòi Rồng, kẻ dòng Tiên, phong tục tập quán khác nhau, môi trường sống khác nhau nên không ăn ở với nhau ở một nơi lâu dài được. Giờ ta đưa năm mươi con xuống biển, các con còn lại sẽ theo mẹ lên non, chia nhau cai quản các phương. Tuy xa nhau nhưng vẫn thắm tình, đượm nghĩa. Khi có việc gì thì giúp đỡ lẫn nhau.</p><p>Âu Cơ đã hiểu được sự tình, nên cũng đành chấp nhận cảnh chia ly.Các con của họ tuy không muốn vậy nhưng hiểu được hoàn cảnh, họ cũng vâng lời. Cả gia đình bịn rịn chia tay nhau, kẻ theo cha xuống biển, người theo mẹ lên non trong tâm trạng bùi ngùi xúc động.</p><p>Một thời gian không lâu sau đó, người con trưởng theo nàng Âu Cơ đã xây dựng đất nước đứng lên làm vua, và đặt tên nước là Văn Lang đóng đô ở đất Phong Châu. Đất nước rất hung mạnh, nhân dân no đủ. Triều đình của vị vua đầu tiên đã có tướng văn, tướng võ.</p><p>Ngay từ thời đó, luật nhà vua đã có quy định, khi vua cha chết thì ngôi được truyền cho con trai trưởng. Kể từ thời điểm đó, con cháu của nàng Âu Cơ đã truyền 18 đời. Các đời vua ấy lấy hiệu là Hùng Vương.</p><p>Câu chuyện trên đã nhắc nhở chúng là về nguồn gốc của mình. Mỗi người dân Việt Nam đều có chung là mẹ Âu Cơ và cha là Lạc Long Quân, vì vậy chúng ta phải biết yêu thương đùm bọc lẫn nhau. Đã là anh em con cháu Rồng Tiên chúng ta phải biết đoàn kết để tạo nên sức mạnh chống lại kẻ thù, chúng ta phải đùm bọc chia sẻ với những người gặp khó khăn hoạn nạn, cùng nhau xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc.</p><p>Câu truyện không chỉ có ý nghĩa giải thích nguồn gốc của người dân Việt Nam, mà còn là lời nhắc nhở đối với mỗi người dân về trách nhiệm xây dựng và bảo vệ đất nước của mình, chúng ta phải thực hiện bổn phận của những người con với cha mẹ, của anh em đối với nhau, vì tất cả chúng ta cùng có một cha mẹ.</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-05-07 15:18:47 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3440150761</guid>
      </item>
      <item>
         <title></title>
         <author></author>
         <link>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3440154193</link>
         <description><![CDATA[<p>Đây là câu chuyện cô bé quàng khăn đỏ</p><p>Ngày xửa ngày xưa, có một cô bé rất ngoan ngoãn tốt bụng, cô luôn được mọi người yêu mến, bà ngoại là người yêu cô nhất. Sinh nhật cô bé, bà đan tặng cô một chiếc khăn màu đỏ rất đẹp, hễ đi đâu cô bé cũng quàng. Vì thế nên mọi người gọi cô là cô bé quàng khăn đỏ. Một hôm nọ, bà ngoại bị ốm, mẹ dặn Khăn Đỏ đem bánh sang biếu bà. Trước khi cô bé ra khỏi nhà mẹ dặn cô rất kĩ:- Con à, sang bà thì con đi đường thẳng đến nhà bà luôn nhé, đừng la cà dọc đường. Đường vòng qua rừng có rất nhiều chó sói đấy.</p><p>Cô bé ngoan ngoãn nghe lời mẹ rồi cầm giỏ bánh đi sang nhà bà ngoại. Nhưng&nbsp;vốn tình ham chơi, trên đường đi, cô bé thấy đường qua rừng có rất nhiều hoa thơm, những con bướm màu sắc sặc sỡ đang tung tăng bay lượn, mải chơi quá cô bé quên mất lời mẹ dặn, cứ thế đi men theo đường rừng. Đi được 1 đoạn đường thì gặp bạn Sóc, Sóc nhắc nhở cô bé: – Cô bé quàng khăn đỏ ơi, cô quên lời mẹ dặn rồi à? Cô quay lại đi đường thẳng đi, đi đường vòng sẽ bị sói ăn thịt đấy. Mặc cho sóc can ngăn, cô bé vẫn rong ruổi theo đàn bướm. Cô bé vừa tung tăng trên đường, vừa bắt bướm hái hoa. Đến tới giữa khu rừng thì cô bé gặp chó Sói. Sói nhìn thấy Khăn Đỏ thì mừng lắm, vậy là đã có bữa ăn rồi. Sói ngay lập tức nhảy ra từ bụi rậm tiến đến trước mặt cô, chó Sói cất giọng ồm ồm: – Này, nhóc con, đang tung tăng đi đâu thế? Nhìn thấy chó Sói Khăn Đỏ sợ hãi, cô run run trả lời: – Bà ngoại cháu bị ốm, mẹ cháu sai mang bánh sang biếu bà ạ.&nbsp;</p><p>Sói nghe thấy&nbsp;cô bé quàng khăn đỏ&nbsp;nói đang đi sang bà ngoại tặng bánh, nó thầm nghĩ trong bụng: “À, hoá ra con bé này lại còn có bà ngoại nữa, thế thì ta phải tính ăn thịt cả 2 bà cháu nó mới được”. Sói tiếp tục hỏi: – Thế nhà bà ngoại cháu ở đâu? Cô bé quàng khăn đỏ đáp: – Nhà bà ngoại cháu ở bên kia khu rừng này. Ngôi nhà gỗ có cái ống khói cao tít, chỉ cần đẩy cửa là vào nhà được luôn. Biết tính cô ham chơi, sói ta liền bảo: – Bà cháu đang ốm, vậy cháu hãy đi hái ít hoa mang cho bà đi. Khăn đỏ&nbsp;tung tăng đi hái hoa. Còn Sói chạy thẳng 1 mạch tới nhà bà ngoại cô bé. Nó đẩy nhẹ cửa vào nhà rồi vồ lấy bà cụ nuốt chửng ngay. Ăn thịt xong bà ngoại cô bé, nó lên giường đắp kín chăn giả vờ bà ngoại đang ốm.&nbsp;</p><p>Khăn đỏ tung tăng hái hoa xong mới nhớ ra bà ngoại đang chờ, vội vã đến thăm bà.Nhưng lạ thay, cửa đã mở sẵn, khăn đỏ gọi nhưng không thấy tiếng trả lời. Lo lắng, khăn đỏ tiến tới gần giường và cất tiếng hỏi bà: – Bà ơi! Bà ốm lâu chưa bà? Sói không đáp giả vờ rên hừ… hừ… – Bà ơi, mẹ cháu bảo mang bánh sang biếu bà. Cô bé quàng khăn đỏ&nbsp;tiến đến cạnh giường, nhưng cô ngạc nhiên lùi lại hỏi; – Bà ơi! Sao hôm nay tai bà to thế? Chó Sói vừa rên vừa đáp: – Tai bà to để bà nghe cháu nói được rõ hơn – Thế còn mắt bà, sao hôm nay mắt bà to thế? – Mắt bà to để bà nhìn cháu được rõ hơn. Chưa tin, cô bé quàng khăn đỏ lại hỏi: – Thế còn mồm bà, sao hôm nay mồm bà to thế? – Mồm bà to để bà ăn thịt cháu dễ hơn. Khăn đỏ sợ hãi hét một tiếng thật to nhưng không kịp làm gì. Thế rồi Sói vùng dậy, nuốt chửng luôn cả Khăn Đỏ vào bụng, ăn no nê, Sói nằm giữa nhà ngáy o..o..&nbsp;</p>]]></description>
         <enclosure url="" />
         <pubDate>2025-05-07 15:21:06 UTC</pubDate>
         <guid>https://padlet.com/ngovannghiac1pkts/1k0kzm95r10v4w2v/wish/3440154193</guid>
      </item>
   </channel>
</rss>
